Linh Phong Tông Luận

靈峰宗論

Phần 9

Linh Phong Ngẫu Ích đại sư soạn

靈峰蕅益大師

Pháp sư Thành Thời biên tập

成時法師編輯

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă năm 1997)

Giảo duyệt: Đức Phong, Diệu Âm Trịnh Lộc và Huệ Trang

 

26. Tán

* Hai bài tán tượng Thích Ca Mâu Ni Phật

         

1) Bách vạn nhân thiên nhãn bổn minh, niêm hoa vô ngữ tịnh truyền chân. Ẩm Quang nhất tiếu sanh ba lãng, trực chí như kim vị thái bình (tướng giơ cành hoa lên).

          (Trăm ngàn trời, người mắt vốn sáng. Giơ hoa, chẳng nói, truyền chân thật. Ẩm Quang[1] mỉm cười, sanh sóng gió. Cho đến hiện thời chưa thái bình).

          2) Trần điểm kiếp tiền sanh kế tuyệt, quán tùng nhân thế lộng phong ma. Thế gian bất giải Càn thành ảnh. Mạn thuyết tu tùng giả lý quá (tướng khổ hạnh tại Tuyết Sơn).

          (Trần điểm kiếp trước, kế sống bặt. Khuấy sóng cõi đời vốn đã quen. Bóng Càn thành[2] thế gian chẳng hiểu. Đừng nói phải từ đó vượt qua).

 

* Chín bài tán tượng A Di Đà Phật

 

          1) Nhất chỉ quang châu pháp giới. Thập niệm thành, giai tự tại. Cảm ứng đạo giao, sanh Phật vô ngại. Thảo thậm tự tánh Di Đà, chỉ thử khởi thuộc tâm ngoại.

          (Quang minh một ngón, pháp giới trọn. Mười niệm thành tựu đều tự tại. Cảm ứng đạo giao, sanh, Phật[3] vô ngại. Tìm sâu tự tánh Di Đà Phật, há phải chỉ thuộc ở ngoài tâm).

          2) Quang minh thọ lượng vô luân thất. Từ nhãn bi tâm triệt để tŕnh. Chích thủ trường thư trần điểm kiếp. Nhất ban dã thị tích nhi tình.

          (Quang minh, thọ lượng đều khôn sánh. Mắt từ, tâm bi, triệt để bày. Một tay duỗi thẳng trần điểm kiếp. Một mực cũng vì thương tiếc con).

          3) Quán thường tác Phật, Phật thường tại quán. Tâm tưởng biến tri, đồng điều cộng quán[4].

          (Quán thường làm Phật, Phật thường tại quán. Tâm tưởng biết trọn khắp, sự lý sẵn tương thông).

          4) Như Lai pháp giới tạng thân, biến nhập chúng sanh tưởng, thí như nguyệt ấn thiên giang. Nhất thiết hữu mục đồng ngưỡng. Nhược dục ly thử mịch chân, hà dị xả thanh sách hưởng? Tổng vân giả cá tiện thị. Y cựu vô đoan thành lưỡng.

          (Như Lai pháp giới tạng thân, vào khắp tâm tưởng của chúng sanh. Ví như trăng in bóng ngàn sông. Hết thảy người có mắt cùng ngắm. Nếu muốn lìa đó để tìm chân, khác nào bỏ tiếng tìm âm vọng? Luôn nói điều này “vốn chính là”. Như cũ bỗng dưng thành hai chuyện).

          5) Cực Lạc đại thánh, pháp giới y vương. Nhập từ bi định, phóng trí huệ quang. Tận vị lai tế, hằng chiếu thập phương. Chúng sanh niệm giả, nhiếp thủ bất vong. Dĩ như huyễn lực, ứng vật hiện sắc. Vọng tưởng trù lâm, tướng hảo bách ức. Tức ảnh tức chân, bất nhị bất thắc. Ta bỉ sanh manh, địch diện phất thức. Biệt mịch huyền cơ, phiên đọa Kiến Hoặc. Ngã kim khể thủ, măn nguyệt vạn đức. Nguyện cộng hàm linh, quy An Dưỡng quốc.

          (Cực Lạc đại thánh, pháp giới y vương. Nhập từ bi định, tỏa trí huệ quang. Tột đời vị lai, luôn chiếu mười phương. Chúng sanh tâm niệm, nhiếp thủ chẳng quên. Dùng sức như huyễn, ứng cơ hiện sắc. Rừng rậm vọng tưởng, tướng hảo trăm ức. Ảnh chính là chân, chẳng hai, chẳng khác. Than ôi sanh manh[5], đối mặt chẳng biết. Tìm huyền cơ khác, đọa vào Kiến Hoặc. Con nay kính lễ, vạn đức trăng tròn. Nguyện cùng hàm linh, về nước An Dưỡng).

          6) Khể thủ hoằng nguyện tứ thập bát. Nhất nhất nguyện quang bất khả tận. Quả triệt nhân nguyên hằng độ sanh, liên hoa quốc độ như minh kính. Đổ ảnh văn danh sáng phát tâm, đốn nhập Bảo Vương tam-muội ấn. Đản cần chiêm lễ mạc từ lao. Chỉ mặc nguyên đồng pháp giới tánh. Duyên sanh đương thể Không, Giả, Trung. Tứ đức, tam thân bất biệt tịnh. Huống phục trừng không nguyệt chánh viên, tâm thủy trừng thanh nguyệt tự ánh.

          (Kính lễ hoằng nguyện bốn mươi tám. Mỗi một nguyện quang chẳng thể tận. Quả thấu nguồn nhân, luôn độ sanh. Cõi nước hoa sen như gương sáng. Thấy bóng, nghe danh, mới phát tâm. Chóng nhập Bảo Vương tam-muội ấn. Chỉ siêng chiêm lễ, chẳng ngại mệt. Giấy, mực vốn đồng tánh pháp giới. Bản thể duyên sanh Không, Giả, Trung. Tứ đức, tam thân chẳng cùng, khác. Huống hồ trăng tròn giữa trời trong. Nước tâm trong lặng, trăng tự rạng).

          7) Lưỡng đóa liên hoa túc để an, nhất song không thủ bi tâm thiết. Địch diện tương phùng pháp giới thân, hư không đại địa lưu tiễn huyết (dùng máu chép nguyện tiếp dẫn).

          (Hai đóa hoa sen đặt dưới chân, hai tay trống rỗng, tâm bi thiết. Chạm mặt gặp gỡ thân pháp giới, hư không đại địa tràn máu tươi).

          8) Chư Phật Chánh Biến Tri hải, bất ly chúng sanh tâm tưởng. Thị cố, nhãn kiến, nhĩ văn, tận thị Di Đà thanh tượng. Si nhân xả thử biệt cầu. Hoán tác Pháp Thân hướng thượng. Thùy tri khí Hữu mịch Không. Nhất thể vô đoan thành lưỡng. Nhược tri lưỡng ký bất tồn. Tất cánh nhất hà tu thượng? Xí nhiên lễ bái xưng danh, tức thị siêu phương kỹ lưỡng.

          (Biển Chánh Biến Tri của chư Phật, chẳng lìa tâm tưởng của chúng sanh. Do vậy, mắt thấy, tai được nghe. Toàn là hình tượng, tiếng Di Đà. Kẻ si bỏ đây, cầu thứ khác. Gọi đó là Pháp Thân hướng thượng. Ai biết vứt Hữu, tìm kiếm Không, một Thể bỗng dưng thành hai thứ! Nếu biết hai thứ đã chẳng có, rốt cuộc cần gì là một nữa? Hăm hở lễ bái cùng xưng danh, chính là thuật khéo vượt ngằn mé).

          9) Khể thủ Tây Phương Tu Ma Đề, vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác. Thừa ư lục bát đại nguyện luân, thị hiện bát vạn tứ thiên tướng. Tướng hữu bát vạn tứ thiên hảo, hảo hữu bát vạn tứ thiên quang. Nhất nhất quang trung chiếu pháp giới, phổ nhiếp niệm Phật chư hữu t́nh. Do như từ mẫu niệm nhất tử. Thị cố, nhập thử tam-muội vương. Danh vi Phổ Hiện Nhất Thiết Tướng. Họa sư thừa thử tam-muội lực, chỉ bút vi duyên diệu tướng sanh. Thử tướng tức thị nhân duyên sanh. Sanh tức vô sanh, cụ Tam Đế. Tam Đế tam thân kư uyển nhiên. Tứ đức ưng tri vô khuyết giảm. Sở lễ kư tức đế dữ đức. Năng lễ ưng tri tức Chỉ Quán. Đế, Quán danh biệt, Thể phục đồng. Thị cố năng sở tánh không tịch. Khể thủ như không vô sở y. Thị tức tự tánh vô lượng giác.

          (Đảnh lễ Tây Phương cõi Cực Lạc, vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác. Nương bốn mươi tám đại nguyện luân, thị hiện tám vạn bốn ngàn tướng. Tướng có tám vạn bốn ngàn hảo. Hảo có tám vạn bốn ngàn quang. Trong mỗi quang minh chiếu pháp giới. Nhiếp trọn các hữu t́nh niệm Phật, giống như mẹ hiền nhớ con một. Vì vậy, nhập tam-muội vương này, gọi là Hiện Khắp Hết Thảy Tướng. Thợ vẽ nương sức tam-muội này. Giấy, bút làm duyên, diệu tướng sanh. Tướng ấy chính là nhân duyên sanh. Sanh tức vô sanh, trọn Tam Đế. Tam Đế, tam thân đã rành rành. Nên biết tứ đức chẳng khuyết giảm. Được lễ là Đế cùng với đức. Nên biết người lễ là Chỉ Quán. Đế, Quán danh khác, Thể vẫn đồng. Vì thế, năng, sở tánh không tịch. Kính lễ như không, chẳng nương tựa. Đấy là tự tánh vô lượng giác).

 

* Hai bài tán tượng một vị Phật hai vị Bồ Tát

 

          1) Ma mạch mạn sung cơ, bình địa phong ba hiểm, miết ngộ bổn lai tâm, vô đoan thạch hỏa thiểm. Khóa sư chấp như ư, Phật, tổ cung bao biếm. Thừa tượng duyệt đại kinh, hà tằng hữu nhất điểm? Hoán tác Phật, Bồ Tát, hư không bất thọ nhiễm. Lễ bái nhậm chúng sanh. Tận lễ nguyên phi siểm. Đốt! Trực nhiêu nhẫm ma cử dương, dã thị bạch khuê chi điếm (tướng Xuất Sơn).

(Lúa mạch tạm đỡ đói. Đất bằng, sóng gió hiểm. Bỗng ngộ tâm sẵn có, tự dưng đá nháng lửa. Cưỡi sư tử cầm như ý, bèn khen, chê Phật, Tổ. Cưỡi voi xem đại kinh, há từng có một điểm? Gọi là Phật, Bồ Tát, hư không chẳng nhuốm nhiễm. Lễ bái mặc chúng sanh, lễ trọn chẳng siểm khúc! Ôi! Dẫu tuyên nói thế nào, bạch khuê vẫn tỳ vết!)

          2) Khể thủ A Di đại đạo sư, Quán Âm, Thế Chí đồng bi trí. Nguyện luân vô tận đẳng hư không. Lịch kiếp trường hành bất tư nghị. Sanh giới bất không hành bất hưu. Thử thị Tứ Hoằng vô tác thệ. Sanh giới bổn không, hành phi hành. Thùy tri Nhị Đế thị Nhất Đế? Nhị do nhất hữu, nhất mạc thủ. Phi nhất, phi nhị, phi tam tứ. Tam nhị uyển nhiên hiển Nhất Chân. Đại thánh dĩ thử thùy ân tế. Đản nguyện chúng sanh ngộ tự tâm. Tự tâm na phục tồn hoành thụ? Hoành thụ vô phi pháp giới tâm. Pháp giới diệc thị cưỡng danh tự. Tức tri tự tâm tam thánh nhân. Bổn dữ chúng sanh Thể bất dị. Địch diện tam thân tứ đức tân. Chỉ, mặc, bút, oản phi tha sự. Thân mạng quy y năng sở vong. Song vong, song chiếu hằng như thị (tượng Tây Phương Tam Thánh).

          (Kính lạy Di Đà đại đạo sư. Quán Âm, Thế Chí đồng bi trí. Nguyện luân vô tận như hư không. Trải kiếp hành lâu chẳng nghĩ bàn. Sanh giới chẳng không, hành chẳng đoạn. Đấy là Tứ Hoằng vô tác thệ. Sanh giới vốn không, hành chẳng hành. Ai biết Nhị Đế là Nhất Đế? Hai do một có, đừng giữ một. Chẳng một, chẳng hai, chẳng ba, bốn. Hai, ba rành rành hiển Nhất Chân. Đại thánh dùng đấy ban ân cứu. Chỉ mong chúng sanh ngộ tự tâm. Tự tâm há còn ngang với dọc? Ngang dọc đều là pháp giới tâm. Pháp giới cũng là tên cưỡng gọi, liền biết tự tâm tam thánh nhân[6], Thể cùng chúng sanh vốn chẳng khác. Đối diện tam thân, tứ đức mới. Giấy, mực, bút, tay chẳng chuyện khác. Thân mạng quy y, năng sở mất. Cùng mất, cùng chiếu luôn như thế).

 

* Tán tượng của ba vị Đại Sĩ

 

          Thành quần tác đội, vô phong khởi đào. Kỵ sư, khóa tượng, hà túc xưng cao? Luyện đắc thân h́nh tự hạc, chỉ thị tự khổ tự chiêu. Hốt nhiên ngộ trước Văn Hỷ, tất cánh như hà giải trào? Đốt! Dương liễu thùy thùy Xuân tận lục, thanh minh thời tiết vũ như cao.

          (Thành đoàn, lập đội, không gió mà sóng trào. Cưỡi sư tử, cưỡi voi trắng, há đáng xưng là cao? Tu luyện khiến thân hình như hạc, chỉ là tự mình chuốc khổ! Bỗng dưng gặp gỡ Văn Hỷ[7], rốt cuộc pha trò thế nào? Ôi! Dương liễu rủ, tiết Xuân xanh biếc. Thanh Minh thời tiết mưa dầm dề).

 

* Năm bài tán tượng Địa Tạng từ tôn

 

          1) Đồng thể đại bi, vô duyên hoằng thệ. Thiên Phật chi tổ, quần sanh chi duệ. Định nhập sát trần, châu huyền tam tế. Luân tướng phá nghi, biện tài hiển Đế. Dục linh giới học trùng minh, đảnh lễ mạc tồn phần tễ.

          (Đồng thể đại bi, vô duyên hoằng thệ. Tổ của ngàn Phật, hậu duệ quần sanh. Định nhập cõi nước số vi trần, châu treo ba đời. Luân tướng phá nghi, biện tài hiển thị Đế. Muốn cho giới học lại sáng ngời, đảnh lễ chẳng hề có ngằn mé).

          2) Nhân đản tri kỳ địa ngục cứu khổ, bất tri kỳ vô xứ bất hiện. Nhân đản tri kỳ lâm chung phù trì. Bất tri kỳ vô thời bất niệm. Tam bộ kinh vương, nhị chủng diệu quán, thập luân trùng khuông mạt pháp, tam luân tận liệt nghi quyến. Thử vô lượng môn trung, đệ nhất thần tốc pháp môn. Tùng lai nhược phùng bất phùng. Tự kiến phi kiến. Bất tiếu tử, nhất sanh cực lực cử dương, độc hứa quy tín vô gián. Thượng hữu nhất sự hoài nghi, vấn thủ Pháp Thân mạc biện.

          (Người chỉ biết Ngài cứu khổ địa ngục, chẳng biết Ngài không đâu chẳng hiện. Người chỉ biết Ngài nâng đỡ lúc lâm chung, chẳng biết Ngài không lúc nào chẳng niệm. Ba bộ kinh vương[8], hai loại diệu quán[9], thập luân lại khuông phò mạt pháp. Tam luân[10] xé sạch lưới nghi. Trong vô lượng môn, pháp môn này thần tốc bậc nhất. Trước nay dẫu gặp mà như chẳng gặp, dường như thấy mà chẳng thấy. Kẻ hèn này, suốt đời cực lực nêu bày, riêng dốc lòng quy ngưỡng, tin tưởng chẳng gián đoạn. Nếu còn một chuyện hoài nghi, thưa hỏi Pháp Thân chẳng biện định!)

          3) Chúng sanh đọa lạc địa ngục, giai do phá giới trọng chướng. Đại Sĩ nhập ngục cứu khổ, độc hiện Thanh Văn giới tướng. Bất giải, phẫu phán Pháp Thân, thiên giải niêm đề hướng thượng. Thử thị vô tác diệu sắc, chúng sanh tánh cụ gia đương. Ác châu kiên cường giới thân, Địa Tạng nhân nhân Địa Tạng.

          (Chúng sanh đọa lạc địa ngục, đều do chướng nặng phá giới. Đại Sĩ vào ngục cứu khổ, riêng hiện giới tướng Thanh Văn. Chẳng hiểu, vội phê phán Pháp Thân. Hiểu lệch, đề cao lẽ hướng thượng. Đấy là diệu sắc vô tác, chúng sanh vốn sẵn có nơi mình. Cầm châu, giới thân kiên cường. Địa Tạng: Ai nấy đều là Địa Tạng).

          4) Ngũ thừa cai tận hiếu từ tâm, tối thị y vương nguyện lực thâm. Bách thảo căn hành giai bất khí, doanh lai đại địa túc tri âm.

          (Năm thừa gồm trọn hiếu từ tâm, y vương nguyện lực tột sâu mầu. Rễ, thân thảo mộc đều chẳng bỏ, đạt khắp đại địa bạn tri âm).

          5) Thế xuất hà tu cánh trước tàm, quán nhân tương thức hận trường hàm. Nhất ai ngẫu ngộ hoành lưu lệ, xứ xứ lâm tang dục thoát tham.

          (Lệ ứa há cần chi phải thẹn, nhận biết quán nhân ôm hận dài. Nỗi buồn chợt gặp tuôn dòng lệ, chốn chốn tang ma sẽ tháo cương)[11].

 

* Hai bài tán tượng Phổ Hiền Nguyện Vương

 

          1) Giới nhĩ nhất tâm, vạn hạnh cụ túc. Biểu dĩ tượng vương, chi thất, nha lục. Trừ nhĩ sân tâm, tiện chuyển diệu cốc. Pháp giới tông sư, chiêu chương nhĩ mục. Viễn chứng độc tụng, cận nghiêm u độc. Mịch tức bất kiến, kiến tức thọ độc.

          (Cái tâm nhỏ nhoi, trọn đủ muôn hạnh. Dùng voi chúa biểu thị, đủ bảy chi, sáu ngà. Trừ diệt sân tâm, liền chuyển diệu cốc[12]. Pháp giới tông sư, rạng ngời tai, mắt. Xa: Chứng đọc tụng. Gần: Trang nghiêm, riêng mình thanh u. Tìm bèn chẳng thấy; hễ thấy, bèn trúng độc!)

          2) Thập đại nguyện vương, đạo quy Cực Lạc. Trần trần Hoa Tạng, tùng thử chương thước. Bất muội nhân quả, pháp giới khai thác. Vấn thủ Táo Bách, huyền châu tại tác.

          (Mười đại nguyện vương, dẫn về Cực Lạc. Hoa Tạng mỗi vi trần, từ đấy chiếu rạng ngời. Chẳng mê muội nhân quả, pháp giới rộng phô bày. Hỏi han ngài Táo Bách, huyền châu đang kiếm tìm).

 

* Hai bài tán Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử

 

          1) Khể thủ đại trí đức dũng kiện, biểu ư vô úy sư tử vương. Năng chiếu bát vạn tứ thiên luật, giai tác thậm thâm Bát Nhã quang. Thủ chấp như ư ma-ni bảo, sở du tự tại Diệu Cát Tường. Bố ma phá ác diệc trừ cận, Đại Thừa tăng nghĩa nan trắc lượng. Cự thạch, kiều tùng hằng diễn pháp. Vô thị phi thị thân đường đường!

          (Đảnh lễ đại trí, đức mạnh mẽ. Biểu thị vô úy sư tử vương. Chiếu soi tám vạn bốn ngàn luật, đều hành rất sâu Bát Nhã quang. Tay cầm báu như ư ma-ni, Diệu Cát Tường du hóa tự tại. Phá ác, dọa ma, trừ đói kém. Đại Thừa tăng nghĩa khó suy lường. Đá lớn, tùng cao, luôn diễn pháp. Thân chẳng đúng, sai, thật cao vời).

          2) Nhất phiến thanh sơn, vô biên ba lãng. Động, tĩnh bất sanh, kỳ hình dị trạng. Dũng xuất bảo liên, Văn Thù tại thượng. Đại trí dũng mănh, thức phong cổ đăng. Nhược dục tư lượng, mạng thất thân táng.

          (Một giải non xanh, vô biên sóng cuộn. Động, tĩnh chẳng sanh, hình trạng lạ kỳ. Sen báu vọt sanh, Văn Thù ngự trên. Đại trí dũng mãnh, gió thức khua rền. Nếu muốn suy lường, vùi thân mất mạng!)

 

* Hai mươi bốn bài tán dương Phổ Môn Đại Sĩ

 

          1) Nhất trích quân trì, uông dương phi thiển. Sái tận tam thiên, bất khuy, bất diễn. Sanh giới nhược không, tư hạnh nãi chuyển (tượng đi).

          (Một giọt nước quân trì[13], mênh mông chẳng hề cạn. Rưới trọn khắp tam thiên, chẳng thiếu, chẳng thừa thãi. Chúng sanh giới rỗng không, hạnh ấy mới xoay chuyển).

          2) Bạch giả thị chỉ, hắc giả thị mặc. Hà xứ thị Tử Trúc Lâm? Thậm ma thị bàn đà thạch? Hy hữu Đại Sĩ, vô tác diệu đức. Bất hướng không trung hiện ảnh, thiên tá linh ư thủ bút. Thức hải ba trừng nguyệt ảnh hàn. Bồ đoàn diệp thúy đài ngân bích. Nam Hải Ba Tư đáo ngạn lai, minh châu giá trị vi trần quốc.

          (Màu trắng là giấy, màu đen là mực. Nơi nào là Tử Trúc Lâm? Gì là hòn đá tảng? Hy hữu Đại Sĩ, vô tác diệu đức. Chẳng hiện thân ảnh nơi hư không, riêng nhờ tay bút hiện tướng thiêng. Biển thức sóng êm, bóng trăng lạnh. Bồ đoàn lá biếc, rêu xanh ngắt. Nam Hải, vua Ba Tư Nặc đến bờ. Minh châu giá trị vi trần cõi).

3) Như ư tung hoành, liên kinh xán lạn. Sư tư truy tùy, hư không bỉ ngạn. Dục thức lưỡng nhân chân diện mục, nhất ban thị hữu huyết tánh hán (dùng máu vẽ hình tướng Quán Âm và Thiện Tài).

          (Như ý tung hoành, kinh sen rạng ngời. Thầy trò theo gót, hư không bờ kia. Muốn biết hai người chân diện mục, thảy đều là kẻ tánh tình kiên cường).

          4) Thủ thảo vi tòa, danh viết Cát Tường. Định cộng, đạo cộng, tổng thử phù nang, vô phi Phật hạnh. Tượng cố sư hành. Phổ Môn thị hiện, tỳ-kheo trung vương (tướng tỳ-kheo).

          (Kết cỏ làm tòa, gọi là Cát Tường. Định cộng và đạo cộng giới. Toàn bộ cái phao ấy, không gì chẳng phải Phật hạnh. Voi nhìn thầy bước đi. Phổ Môn thị hiện, vua các tỳ-kheo).

          5) Bàn thạch yến tọa, vô đắc, vô thuyết. Diệu pháp lưỡng hàm, hồng lô điểm tuyết. Thủ túc phân minh, cơ quan huýnh biệt. Nghĩ nghị tư lượng, chứng quy tác miết.

          (Ngồi yên trên tảng đá. Chẳng đắc, chẳng nói năng. Hai hòm diệu pháp, mảnh tuyết trong lò rực. Tay chân đều phân minh, cơ quan khác vời vợi. Nghĩ bàn, suy lường, chứng rùa là ba ba[14]).

          6) Bồ đoàn tịch liêu, vân y xước ước. Đại bi pháp môn, tá bệnh tác dược. Giáo uyển thuyên đề, Thiền hà lược thược. Cố vấn Thiện Tài, Nam tuân lộ mạc.

          (Bồ đoàn lặng lẽ, áo mây thướt tha. Pháp môn Đại Bi, mượn bệnh làm thuốc. Phương tiện nơi vườn giáo, cầu nhỏ nơi sông Thiền. Vì thế, hỏi Thiện Tài, nẻo về Nam mênh mang).

          7) Phật pháp vô đa, thương lượng hạo hạo, thuyết tắc bất châu, hành tắc bất đáo. Nộ mục dương mi, phùng cường tu bạo. Nhất chú danh hương, ma quân vĩnh tảo.

          (Phật pháp chẳng nhiều, bàn bạc mênh mông. Nói ắt chẳng trọn, hành chẳng đạt đến. Trợn mắt, nhướng mày, gặp kẻ mạnh cần phải hung bạo. Một lọn hương quý, vĩnh viễn quét sạch ma quân).

          8) Bảo liên bổn hướng chân không dũng, nguyệt diện hoàn tùng tánh hải thăng. Đạp phá ba đào toàn thị thủy, bất lao bỉ ngạn giảo tiên đăng.

          (Sen báu vốn từ chân không nở. Trăng mọc từ trong biển tánh ra. Đạp nát sóng mòi toàn nước cả, chẳng nhọc bờ kia lên trước tiên).

          9) Phong lãng thiên tầm, thần thông nhất vị. Du hý phiên phiên, hà câu, hà hệ? Đạp phá Tu Di vạn đóa vân, chúng sanh kiến giả hàm như ư.

          (Sóng gió ngàn tầm, thần thông một vị! Dạo chơi thong dong, có chi ràng buộc? Đạp nát ngàn mây đảnh Diệu Cao, chúng sanh trông thấy đều như ý).

          10) Nhập Định hà như xuất Định thời, đình đình cam lộ tẩm dương chi. Đại thiên vô địa lưu phiền não, thặng hữu không quyền dụ tiểu nhi.

(Nhập Định sao bằng khi xuất Định, lặng trong cam lộ đẫm cành dương. Đại thiên không chỗ lưu phiền năo, còn nắm tay suông dụ trẻ thơ).

          11) Nhất khỏa ma-ni, quang biến pháp giới. Quyển chi, thư chi. Tùy tâm tự tại. Ỷ tọa nguy nham, vong hình tuyệt đăi. Cam lộ dương chi, diệu hiệp kiêm đới. Hoán tác Thiền cơ, không quyền niết quái. Độc hứa đồng tử truy tùy, anh vũ y nhiên vân ngoại.

          (Một viên ma-ni, chiếu trọn pháp giới. Cuộn vào, tỏa ra, tùy tâm tự tại. Ngồi dựa vách núi chon von, quên thân hình, bặt đối đãi. Cành dương rưới cam lộ, khéo giúp đỡ nhiệm mầu. Lay tỉnh Thiền cơ, nắm tay suông làm trò. Riêng cho đồng tử theo chân, chim két vẫn ở ngoài mây nổi).

          12) Nguy nhiên độc tọa đại hùng phong. Độ tận chúng sanh bất kiến công. Miêu xuất hư không thiên sắc thái, y hy vị đổ tử kim dung.

(Riêng ngồi vòi vọi đỉnh non hùng. Độ trọn chúng sanh chẳng kể công. Miêu tả hư không ngàn sắc thái, lờ mờ chẳng thấy tử kim dung).

          13) Khể thủ Đại Bi tự tại giác, viên măn vô ngại đà la ni. Từ oai chiết nhiếp bất tư nghị, định huệ trang nghiêm vô đẳng luân. Đốn ngộ nhất niệm cụ thiên pháp. Thông thân thủ nhãn bỉnh nhiên chương. Phương tiện trí huệ giai vô tác, nhất thiết niệm trung diệc phục nhiên. Niệm niệm hiển hiện bất tăng giảm, trần trần pháp tánh diệc phục nhiên. Thị cố xích chử thốn hào gian, tất cụ đại bi viên măn tướng. Hữu nhân hoạch đổ thử từ dung, tiện ngộ Pháp Thân chân tướng hảo. Thử thị Phổ Môn thị hiện lực, mạc tác chỉ mặc ảnh tượng quán (tượng Đại Bi).

          (Đảnh lễ Đại Bi tự tại giác, đà la ni viên măn vô ngại. Từ oai chiết nhiếp[15] chẳng nghĩ bàn. Định huệ trang nghiêm chẳng thể sánh! Đốn ngộ một niệm trọn ngàn pháp. Tay, mắt toàn thân hiện rạng ngời. Phương tiện, trí huệ đều vô tác, Trong hết thảy niệm, cũng đều vậy. Mỗi niệm hiển hiện chẳng tăng giảm. Mỗi trần pháp tánh cũng đều vậy. Do vậy, trong khoảng giấy nhỏ bé, ắt trọn tướng đại bi viên mãn. Có người được thấy từ dung ấy, liền ngộ chân tướng của Pháp Thân. Đó là sức Phổ Môn thị hiện, đừng coi như hình trên giấy, mực).

          14) Đắc căn bản viên thông, hiện tam thập nhị ứng. Thập tứ vô úy lực, biến liệu chúng sanh bệnh. Trần sát tận phân thân, chỉ mặc giai chân tánh. Địch diện thái phân minh, phát quang đồng hải ấn. Cánh vấn Đại Sĩ thùy, bát vu trùng thảo bính.

          (Đắc căn bản viên thông, hiện băm hai ứng thân. Mười bốn sức vô úy, trị khắp bệnh chúng sanh. Phân thân tận trần sát. Giấy, mực đều chân tánh. Đối diện thật phân minh, tỏa rạng như hải ấn. Còn hỏi ai là Ngài? Lại tìm cán nơi bát!)

15) Bích nhãn, tu mi. Trường lâu, phương giáp. Cách tỷ, bồ đoàn. Quân trì, bí cấp. Dữ bỉ Ứng Chân, thị đồng nhất nghiệp. Thị đại tỳ-kheo, thanh tịnh trác kiệt (tướng Phạm tăng).

(Mắt biếc, mày rậm, sọ dài, má vuông. Dép da, bồ đoàn, quân trì, tráp đựng. Thị hiện cùng một nghiệp với bậc Ứng Chân (La Hán). Là đại tỳ-kheo, thanh tịnh tót vời).

          16) Tùng châu nhược long, trùng nham tự ốc. Phu tòa liên đài, dương chi nộn lục. Thiện ứng quần cơ, như hưởng đáp cốc. Nhãn sắc, nhĩ thanh, phi nhất, phi lục. Mạc giao thác nhận cổ Quán Âm, tục nhân đới phát, tăng đầu thốc.

          (Cội tùng như rồng, đá chồng dường nhà. Trải tòa đài sen, cành dương xanh non. Khéo ứng các căn cơ, như hang dội tiếng vọng. Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, chẳng một, chẳng sáu! Đừng nên lầm nhận cổ Quán Âm, tục nhân để tóc, tăng đầu trọc).

          17) Bồ Tát từ chân, chúng sanh bệnh giả. Phiền nhiệt tràng trung, dương chi biến sái. Triệt thể thanh lương, bất tri vi giả. Thử tiện thị vô nhị, vô phân. Vô biệt, vô đoạn đích huyết mạch. Cánh hà dụng toản quy đả ngõa. Đốt, đốt! Phật pháp tuy diệu, chấp chi tắc thô. Long quỷ tuy tục, hiện chi tắc nhă. Nhược vân Quán Âm tất cụ diệu tướng, tiếu sát đông thôn đại thư!

          (Bồ Tát lòng từ sẵn chân thật, chúng sanh bệnh tật giả huyễn thôi! Trong chốn phiền nhiệt, cành dương rảy khắp. Trọn thể trong mát, nào ai biết hay! Đấy là chẳng hai, chẳng phân biệt. Huyết mạch chẳng khác, chẳng đoạn vậy. Sao lại dùng bói mai rùa, gõ ngói[16]. Ôi chao! Phật pháp tuy diệu, hễ chấp bèn thô. Rồng, quỷ tuy tục, hiện ra bèn nhã. Nếu nói Quán Âm ắt trọn diệu tướng, cười chết ngất bà chị thôn Đông).

          18) Âm văn tánh thanh tịnh, thanh tự hà tu tảo? Chấp quyển thị quần sanh, phổ thí ma-ni bảo. Trí sĩ ngộ căn nguyên, ngu nhân đả chi nhiễu. Đồng tử khiết ngư lam, chỉ vị kim lân thiểu. Nhị vĩ giá nhất tiền, vị thẩm thùy năng hiểu?

          (Nghe tiếng, tánh liền thanh tịnh. Tiếng, chữ cần chi quét sạch làu? Cầm quyển dạy quần sanh. Thí trọn báu ma-ni. Bậc trí ngộ nguồn cội. Kẻ ngu tự quấy nhiễu. Đồng tử xách giỏ cá[17], chỉ vì ít vảy vàng. Hai đuôi giá một tiền, chưa rõ ai hiểu được?)

          19) Nhất diệp liên châu, phiên phiên độc mại, lịch tận trần hoàn, bất ly châm, giới. Phân minh nhật dụng tầm thường, siêu việt thiên kỳ bách quái. Thức đắc kỳ trung nhất tuyến chân. Tư tắc danh vi Quán Tự Tại. Thử thị tam thập nhị ứng, thập tứ vô úy, tứ bất tư nghị, vô tác diệu đức đích toàn thể đại dụng. Triệt để hòa bàn cử tự nhân. Bất hứa nghĩ nghị tư lượng. Chỉ hứa kiều cần lễ bái.

          (Một cánh thuyền sen, thoăn thoắt riêng tiến tới. Trải trọn hoàn vũ, chẳng lìa mũi kim, hạt cải. Phân minh trong mọi việc hằng ngày. Siêu việt trăm ngàn điều quái lạ. Nhận biết một tia chân thật trong ấy, bèn gọi là Quán Tự Tại. Đấy là băm hai ứng thân, mười bốn vô úy, bốn chẳng nghĩ bàn, vô tác diệu đức toàn thể đại dụng. Triệt để giãi bày nêu cho người. Chẳng dung nghĩ ngợi, suy lường. Chỉ nên kiền thành, siêng năng lễ bái).

          20) Chung triêu kháp sổ châu. Thanh thanh Quán Tự Tại. Thường nhiên đại dụng môn, vị lai chung bất cải. Chúng sanh nhược khẳng tự niệm, hà lao chư Phật phi khải? Chỉ nhân địch tín bất chân, tọa tại phạn biên thọ nỗi.

          (Suốt ngày lần tràng hạt, từng tiếng Quán Tự Tại. Đại dụng môn thường hằng. Vị lai trọn chẳng đổi. Chúng sanh nếu chịu tự niệm, đâu phiền chư Phật mặc giáp? Chỉ do đã gặp mà tin chẳng thật, ngồi cạnh mâm cơm cam chịu đói).

          21) Chúng sanh mê bổn văn, tuần thanh vọng lưu chuyển. Chánh tại lưu chuyển thời, văn cơ nguyên bất viễn. Đại Sĩ tài phản quán, phương tri tánh tự thiện. Viên thông phục chân thường, xúc mục Bồ Đề măn. Biến ứng thập giới âm, cơ thành tiện năng cảm. Tịch nhĩ tọa nham a, xí nhiên tế quần nhiễm. Phi thị Đại Sĩ công, diệc phi tâm niệm lực. Lưỡng giai bất tư nghị, sở dĩ chung vô thắc. Tự tánh vô tự tánh, t́nh thức phi t́nh thức. Thứ phá chân vọng quan, phương tri pháp giới đức. Dĩ ngã hư vọng tưởng, đầu bỉ tịch diệt quốc, như tân nhập hỏa tùng, như băng ngộ thang phí. Vô minh bất động trí, lưỡng danh duy nhất thật.

          (Chúng sanh mê cái Nghe, theo tiếng, hư vọng chuyển. Ngay trong khi lưu chuyển, tánh Nghe vốn chẳng xa. Đại Sĩ vừa phản quán, liền biết tánh tự lành, viên thông lại chân thường. Mắt nhìn, Bồ Đề trọn. Ứng trọn tiếng mười giới, cơ thành liền cảm vời. Ngồi lặng bên vách đá, sốt sắng cứu chúng nhiễm. Chẳng do công Đại Sĩ, chẳng do sức tâm niệm. Hai đằng chẳng nghĩ bàn. Do vậy, trọn chẳng sai! Tự tánh vô tự tánh, t́nh thức chẳng t́nh thức. Nhìn thấu ải chân vọng, mới biết pháp giới đức. Dùng cái tưởng hư vọng, gieo vào cõi tịch diệt, như củi gieo lửa hừng, như băng gặp nước sôi. Trí vô minh bất động, hai tên chỉ nhất thật).

          22) Chấp Phật châu, duyên cửu giới. Thượng hạ hợp, từ bi trái. Dục ngộ viên thông, đản cần lễ bái. Tư bỉ tư ức, bất tư nghị tối (tướng nghĩ nhớ).

          (Cầm tràng hạt, duyên chín giới. Trên dưới hợp, nợ từ bi. Muốn ngộ viên thông, chỉ siêng lễ bái. Nghĩ ngài nghĩ nhớ, chẳng nghĩ bàn nhất).

          23) Tự tánh quang minh viên măn luân. Nguy nhiên lộ xuất tử kim thân. Phân minh sắc tướng ly t́nh vị. Hà tất trùng niêm vật ngoại chân?

(Tự tánh quang minh viên mãn luân. Tót vời tỏ lộ tử kim thân. Phân minh sắc tướng ly tình thức, lẽ chân ngoài vật há cần bày?)

          24) Diệp tác bồ đoàn, bố tác y. Mặc nhiên phu tọa đãi quần cơ. Chúng sanh giới tận, bi vô tận. Bất tự Quán Âm na đắc tri?

(Lá kết bồ đoàn, vải làm y. Xếp bằng ngồi lặng đợi quần cơ. Chúng sanh giới hết, bi chẳng hết. Chẳng phải Quán Âm, biết được ư?)

 

* Hai bài tán tượng A La Hán

 

          1) Đốt tai! Giả tự liễu hán, mộng đọa đại hà, bất đạn khúc quăng thư cước thục miên, khởi vấn trung lưu, lưỡng ngạn? Ngộ trước Hy Vận[18] thiền sư, hựu thiêm nhất trùng công án (tướng vượt biển ngủ).

          (Ôi chao! Kẻ riêng giải thoát, mộng rớt xuống sông to. Chẳng sợ co tay, duỗi chân ngủ kỹ! Há màng giữa dòng, đôi bờ? Gặp phải thiền sư Hy Vận, lại thêm một tầng công án!)

          2) Chứng đắc vô ngại giải thoát, khởi úy văn tự cát đằng? Niêm lai cú cú lậu đậu, tảo khứ diệc tự phi chân. Bất như tùy phần tiêu khiển, thanh sơn hà ngại bạch vân? (tướng xem kinh).

          (Chứng đắc giải thoát vô ngại, há sợ dây leo văn tự? Nêu ra từng câu sơ sót. Quét sạch tợ hồ cũng trật luôn! Chẳng bằng tùy phần tiêu khiển, non xanh nào ngại bạch vân?)

 

* Ba bài tán Bố Đại ḥa thượng

 

          1) Bất ly Đâu Suất, huyễn du nhân thế. Bố đại đầu khai, phùng trường trừu thuế. Tiếu khẩu ha ha, vô biên hoằng thệ. Lâm hành tự thuyết tánh danh, cuống sát kỷ đa hậu duệ.

          (Chẳng lìa Đâu Suất, huyễn du cõi đời. Túi vải mở ra, tùy dịp rút, thâu. Miệng cười ha hả, vô biên hoằng thệ. Sắp mất tự nói họ tên, gạt chết bao nhiêu hậu duệ).

          2) Tận vấn đại trung hà sở hữu, thùy tri tiếu lý tự tàng đao. Phù trầm nhân thế vô nhân hiểu, tháp viện sơ thành thân dĩ đào. Đốt! Bát vạn tuế thời trùng cử tự, thử hành đoan đích phó bồng hao.

          (Dò hỏi có gì trong đãy vải, ai hay nụ cười tự giấu đao? Cõi đời chìm nổi không ai biết, tháp viện vừa thành đã trốn rồi. Ôi! Lúc tám vạn năm nêu lần nữa, đầu mối dịp này mặc cỏ lau).

          3) Nhất cá bố đại, thiên như bách giới. Tánh cụ, tánh tạo, hỗ sanh hỗ tại. Bàn xuất, bàn nhập. Liễu từ bi trái. Tiếu kiểm ha ha, nhi đồng đa lại. Túng linh địch diện bất thức, đồng đáo Long Hoa tam hội.

          (Một cái túi vải, thiên như bách giới. Tánh trọn, tánh tạo, sanh tồn lẫn nhau. Dọn ra, xếp vào. Sạch nợ từ bi. Mặt cười ha h, nhiều trẻ bám dựa. Dẫu gặp mặt chẳng hề hay biết, ba hội Long Hoa vẫn gặp nhau).

 

* Ba bài tán tượng của Hàn Sơn và Thập Đắc

 

          1) Nhất Chân thật địa, bất giải bình tức. Thập tự nhai đầu, quán tác lãng khách. Quốc Thanh tự lư vô nhân hiểu, cổ chưởng dương mi, Lư Khâu thái thú[19] hốt tương truy. Tiềm tung độn tích. Tuy nhiên mạ phá lão Phong Can, bất miễn lưỡng xứ giai lang tịch.

          (Cõi thật Nhất Chân, chẳng hiểu nín thở. Nơi ngã tư đường, quen đi thơ thẩn. Chùa Quốc Thanh không ai hiểu rõ, vỗ tay, nhướng mày. Thái thú Lư Khâu bỗng truy tìm. Ẩn giấu hình tích. Dẫu chửi cụ Phong Can tan nát, chẳng khỏi hai chỗ đều bừa bộn).

          2) Thiên Thai thùy tích thùy năng phát, thượng lại Linh Sơn lưỡng tác gia, chủ bạn mạc phân tiền hậu thị, y nhiên nhất hội thuyết liên hoa.

          (Thị hiện Thiên Thai, ai thấu hiểu, hai vị bản lãnh hội Linh Sơn. Chủ bạn chỉ bày không sau trước, nghiễm nhiên một hội nói Liên Hoa).

          3) Nhất xứ, nhất thời đồng phủ chưởng, đương tri túc hữu đại nhân duyên. Nguyện vương khởi phục vi cộng chủ, trí hải an năng xuất Nghĩa Thiên? Nga nhĩ tàng thân phi ngẫu nhĩ, mạn nhiên nhiêu thiệt phỉ đồ nhiên. Sanh bình vô hạn thương tâm cú, tận phó thương mang lạc nhật biên.

          (Một chỗ, một thời cùng vỗ tay, biết rằng xưa có đại nhân duyên. Nguyện vương há trái, cùng thực hiện. Biển trí sao ra khỏi Nghĩa Thiên? Tùy tiện lắm mồm chẳng vô ý. Ẩn thân khoảnh khắc ngẫu nhiên ư? Suốt đời vô hạn đau lòng thốt, hoàng hôn phó mặc biển xanh rì).

 

* Năm bài tán tượng Đạt Ma đại sư

 

          1) Vấn cừ hà vãng, bổn tự vô gia. Nhất vi sơ chiết, độc cổ dĩ oa. Phong điềm lăng tĩnh tùng quân độ, khả tích nhi tôn tận đới già.

          (Hỏi Ngài đi về đâu? Vốn tự chẳng có nhà! Một cành lau vừa bẻ, trống bôi thuốc độc đã thúc rền. Gió ngừng, sóng lặng, theo Ngài vượt, đáng tiếc con cháu đều mang gông).

          2) Nhất cú an tâm ngữ, vạn kiếp hệ lư quyết. Chuyển đắc tỵ khổng lai, hư không xuất tiễn huyết. Quái để Đông Thi cưỡng hiệu tần, khước linh Tây Tử mông bất khiết. Hà như phân phó lão Vân Môn, tảo dữ Cù Đàm đồng đả sát.

          (Một câu nói an tâm, muôn kiếp cọc buộc lừa! Xoay chuyển cái lỗ mũi, hư không nhỏ máu tươi! Trách Đông Thi gượng bắt chước nhăn mày, khiến Tây Tử phải đeo tiếng xấu. Sao bằng căn dặn cụ Vân Môn, hãy sớm đánh giết cùng Cù Đàm).

          3) Mộ địa Tây lai, đại tự phong tiền lăng khởi; cánh gia chiết vi, bất miễn nhãn hạ mi thiêm. Nhiêu quân diện bích cửu niên, lạc đắc lộng xảo thành chuyết. Lại hữu Lăng Già tứ quyển, thả hỷ cứu đắc bán biên. Đốt! Phùng nhân thiết kỵ thác cử.

          (Bỗng từ phương Tây đến, hệt như gió thổi sóng trào, lại thêm bẻ cành lau, chẳng khỏi dưới mắt thêm lông mày! Dẫu Ngài nhìn vách chín năm, đâm ra biến khéo thành vụng! Nhờ có bốn quyển Lăng Già, mừng cứu được một nửa! Ôi! Gặp người kỵ nhất nói sai).

          4) Chấn Đán Đại Thừa cơ duyên thục, lao quân viễn tự Tây Thiên Trúc. Tiêu công bất thức chân đắc tủy, độ giang nghi sát nhân gian bộc. Thần Quang đoạn tý thỉ tâm an, Lăng Già tứ quyển khai my mục. Thùy tri pháp lập, tệ toàn sanh, ngũ gia phân phái không lao lộc. Minh đạo giả đa, hành giả thiểu. Thuyết đạo giả đa, minh giả độc. Chỉ kim giang thượng lô hoa hàn, kham sử Khuất Nguyên ca thả khốc.

          (Cơ duyên Đại Thừa Trung Hoa chín, nhọc Ngài xa tận Tây Thiên Trúc. Ông Tiêu[20] chẳng biết nếm tận tủy, vượt sông, ngờ giết kẻ tùy tùng. Thần Quang chặt tay mới an tâm, Lăng Già bốn quyển mở diện mục. Ai ngờ pháp lập, tệ liền sanh. Năm tông chia phái uổng nhọc nhằn. Kẻ hiểu đạo nhiều, người hành ít. Kẻ nói đạo nhiều, người hiểu hiếm! Chỉ nay hoa lau trên sông lạnh, khiến cho Khuất Nguyên ca rồi khóc).

          5) Diện bích phi do tâm bất an, Lương hoàng bất thức ư đa đoan. Thần long tình điểm ưng phi khứ, bả miết đồ bi hành lộ nan. Hành lộ nan, tử tế khán! Thủ châu đãi thố tri hà nhật, duyên mộc cầu ngư bị nhiệt man. Lăo Hồ song bích nhãn, cô quưnh chiếu nhân hàn.

(Nhìn vách chẳng vì tâm bất an, vua Lương chẳng hiểu ý đa đoan. Rồng thần điểm nhãn, bay đi mất. Rùa què chỉ thương bò khó hơn! Đi đường khó, nhìn kỹ càng. Ôm cây đợi thỏ biết ngày nào? Leo cây tìm cá bị nóng khổ. Cụ già người Hồ đôi mắt biếc, trơ trọi nhìn người lạnh cả lòng).

 

* Tán thán tượng Dung thiền sư, thỉ tổ khai sơn của U Khê

 

          Bằng dưỡng oai, dao thiên thụy. Lao đạo sư, thiều thiều chí. Tạt phá tọa quán tâm, hân phiên Phật danh tự. Hà vật phục hà nhân? Giả cá nguyên phi nhị. Chân phong Song Kính hàn, huyễn tích Ngưu Đầu bí. Phụ mễ khởi vân lao, thùy thế hề quan mỵ? Hoành nhất chi, kim vị trụy, kê lung nguyệt ảnh phù dung thúy.

          (Oai thế chim bằng, cõi trời lành. Nhọc nhằn đạo sư từ xa đến. Chấp trước phá sạch, ngồi quán tâm, lật nhào Phật pháp nơi danh tự. Chính là vật gì, người nào vậy? Vật ấy vốn sẵn chẳng phải hai. Song Kính chân phong thổi lạnh buốt, huyễn tích diệt mất tại Ngưu Đầu. Đội gạo há bảo mệt, tuôn lệ há vì? Một cành ngang, nay chưa rớt. Lồng gà, bóng trăng, phù dung thắm).

 

* Tán thán tượng Tứ Minh tôn giả Pháp Trí đại sư

 

          Giáo Quán cửu thất trụy, Phật tử năi tái lai. Pháp giới hà thứ đệ, phiến ngữ thanh như lôi. Thủ tọa thượng từ tang, huống phục chư dung tài! B́nh thủy kư quán khẩu, trí thủ diệc thao hồi. Khiết khương luận Lục Tức, Ấm vọng khởi trần ai? Lý độc dữ tánh ác, viên đốn vô nghi sai. Duy tâm diệc duy sắc, chí lư tùng thử khai. Đại bi truyền bí ấn, chỉ yếu phẫu mê thai. Nhất hát ngộ trực viện, cơ dụng phi an bài. Trung hưng tập đại thành, vạn cổ do kham hoài.

          (Giáo Quán suy lâu ngày, Phật tử bèn tái lai. Pháp giới chẳng thứ tự, đôi lời tiếng sấm rền. Thủ tọa còn cứng họng, huống hồ lũ kém tài! Nước bình đã rưới miệng, đầu trí cũng phục hồi[21]. Bọ hung luận Lục Tức[22], Ấm vọng bụi phủ ư? Lý độc và tánh ác, viên đốn chẳng đoán, ngờ. Duy tâm cũng duy sắc, lý tột từ đây bày. Đại bi truyền bí ấn, chỉ yếu[23] vạch quần mê. Hét to ngộ trực viện[24], cơ dụng chẳng an bài. Trung hưng kết đại thành, muôn đời tưởng nhớ mãi).

 

* Hai bài tán tượng Tử Bách tôn giả Đạt đại sư

         

          1) Phá tận lưu tục tri kiến, hoát khai tông giáo nhãn tình. Bất thị môn đ́nh thi thiết, cực lực tiễu tuyệt thức t́nh. Khế tâm ấn ư Giác Phạm, cứu ám chứng chi sanh manh. Pháp đạo thị trọng, nhất thân vi khinh. Thí nghiệm hoàn trung minh mục địa, thỉ tri bán kệ dĩ công thành.

          (Phá sạch tri kiến thói tục, mở toang tròng mắt tông giáo. Chẳng phải lập bày môn đình, cực lực trừ sạch thức tình. Khế tâm ấn nơi ngài Giác Phạm, cứu lũ ám chứng sanh manh. Pháp đạo là trọng, một thân nhẹ bâng. Ngẫm kẻ mắt mờ trong cõi thế, mới biết nửa kệ đã thành công).

          2) Thử thị Tử Bách lăo nhân, Phật pháp bất tác nhân t́nh. Xiển minh tánh tướng tông chỉ. Thước phá manh Thiền nhãn tình. Hà tất sư tư thọ thọ, tự khế Phật, tổ tâm tinh. Hà tất thượng đường thuyết pháp, tùy xứ quảng độ quần sanh. Kham sử ngoan liêm nọa lập, bách thế văn phong nhược tân.

          (Đây là Tử Bách lăo nhân, Phật pháp chẳng màng nhân t́nh. Xiển minh tông chỉ tánh tướng, phá tan con mắt Thiền mù. Cần gì thầy trò trao nhận, tự khế tinh tủy Phật, tổ. Cần chi thượng đường thuyết pháp? Tùy chốn rộng độ quần sanh. Kham khiến kẻ tham thành liêm khiết, kham dạy kẻ lười lập chí hùng. Trăm đời nghe danh vẫn mới toanh).

 

* Ba bài tán tượng Hám Sơn sư ông Thanh đại sư

 

          1) Hữu vị thử tượng thái tượng, thị kiến Lãnh Nam chi tư. Hữu vị thử tượng bất tượng, thị kiến Khuông nhạc chi nghi. Dư vị sư Tông bất Tông, Giáo bất Giáo, chánh dĩ tượng bất tượng nhi đắc kỳ bì, thả đạo thị tán y? Thị hủy y? Đốt! Thả khán nhãn thượng nhất song mi.

          (Có người bảo tượng quá giống, đó là thấy tư thái Lãnh Nam. Có người bảo tượng chẳng giống. Đó là thấy nghi dung Khuông nhạc. Tôi nói Sư tông chẳng tông, giáo chẳng giáo. Chính là do giống và chẳng giống chỉ đạt được bề ngoài, hãy nói xem: Tán thán ư? Hủy báng ư? Ôi! Hãy xem đôi lông mày trên mắt).

          2) Vĩ mạo phong thần, kiên dũng đại thế. Không định ngưng thần, quang minh sơ tễ. Ưu tại pháp môn, họa phước ninh kế. Xiết điện bôn lôi, Đức Sơn Lâm Tế. Mật dụng tiềm hành, hoàn trung hải tế. Tri chi giả vị thị chích thủ kình thiên. Bất tri giả vị thị anh hùng khi thế. Thùy tri kỳ cam xử ư phi Tông phi Giáo chi gian, bất dữ thời lưu đồng thệ.

          (Diện mạo hùng vĩ, thần thái sung mãn. Kiên cường, dũng mãnh, oai thế lớn lao. Ngưng thần trong không định, quang minh chiếu rạng ngời. Lo cho pháp môn, họa phước đâu sá? Nháng chớp, rền sấm, Đức Sơn, Lâm Tế. Mật dụng ngầm hành, mênh mang cõi trần. Người biết bảo Sư một tay chống trời. Kẻ chẳng biết nói Sư anh hùng dối đời. Ai biết Ngài cam ở trong khoảng chẳng Tông, chẳng Giáo, chẳng hùa theo thói tệ đương thời).

          3) Sanh bình bất thức sư ông diện, mộng trung tiếp dẫn tằng tam kiến. Kim nhật hân chiêm quyển thượng dung, phảng phất từ bi thân thị hiện. Vong thân vị pháp cổ lai hy, kinh cức lâm gian quán huyết chiến. Vạn lư viêm hoang tác chiến trường, vị thẩm hà nhân truy hậu điện?

          (Cả đời chưa biết mặt sư ông, trong mộng ba phen từng tiếp dẫn. Nay vui chiêm ngưỡng chân dung Ngài, mường tượng từ bi thị hiện cho. Quên thân vì pháp xưa nay hiếm, huyết chiến rừng gai vốn từng quen. Rừng hoang muôn dặm là chiến trường, chẳng biết rằng ai nối gót Ngài?)

 

* Tán dương Tuyết Lăng đại sư

 

          Tảo đăng chi ly, bất câu quỹ tắc. Tiêu sái phong lưu, lộ tỳ súc đức. Phân minh thị Huyền Trang tái lai, chẩm quái đắc nhục nhãn bất thức?

          (Quét sạch vụn vặt, chẳng câu nệ quy củ. Tiêu sái, phong lưu, lộ tỳ vết, ẩn giấu đức. Phân minh là Huyền Trang tái lai, lạ lùng sao nhục nhãn chẳng biết?)

 

* Ba bài tán tượng Vân Thê ḥa thượng Liên đại sư

 

          1) Oai nhi bất mănh, hòa nhi bất đồng. Từ tâm tế vật, phạm hạnh minh công. Truy tung vãng triết, khải địch quần mông. Di Đà nhất cú, hoành cắng thụ sung. Thiền quan bả định, vĩnh trấn ma phong. Ngã lai lễ tháp, hoảng đổ di dung. Di! Tư thục vị tu ngôn tự pháp, liêu tương tự đức phụ liên tông.

          (Có oai, chẳng hung hăng, hòa quang nhưng bất đồng. Từ tâm cứu chúng sanh, phạm hạnh công rạng ngời. Noi dấu bậc tiên triết, khơi gợi kẻ mê mờ. Một câu Di Đà, ngang thường hằng, dọc đầy ắp. Đặt vững ải Thiền, mãi trấn ma tà. Con đến lễ tháp, được ngắm di dung. Ôi! Học theo di trước chưa dám nói chính mình nối pháp, chỉ đành tiếp nối đức hòng giúp rập Liên tông).

          2) Thế cạnh quư kỳ đặc, Sư chuyên thủ b́nh thường. Nhân tận thượng cao tuấn, Sư độc tồn khiêm quang. Toàn vạn pháp nhi chỉ quy Tịnh Độ, mẫn ngũ trược nhi quảng tác tân lương. Văn từ phong hề khoan bỉ đôn bạc, tích thiện hóa hề nguyên viễn lưu trường. Ngưỡng di quy dĩ tư thục, quý tự đức chi vị hoàng.

          (Đời tranh chuộng kỳ đặc, Sư chuyên giữ bình thường. Ai nấy chuộng cao vót, riêng Sư giữ khiêm quang. Xoay muôn pháp chỉ quy Tịnh Độ, thương ngũ trược, rộng làm bến, cầu. Nghe phong thái từ bi khoan dung, thẹn mình thiếu chuyên dốc. Tích chứa điều thiện để giáo hóa, nguồn xa, dòng dài. Con kính ngưỡng di quy, noi theo tu luyện, thẹn chính mình đức hạnh chẳng vẹn toàn).

          3) Thử thị Vân Thê lăo hán, đỗ lý tối đa tư toán. Đế quán mạt thế pháp môn, bách quái thiên kỳ một cán. Nhiêu tha phạm ngữ, hoa ngôn, bất xuất Oai Âm na bạn. Sở dĩ toàn chuyển vạn lưu, trực chỉ Tây Phương bỉ ngạn. Chỉ đồ cước để trước thật, hà tất môn đình hảo khán! Bát thập tứ dư niên ám thất đăng, văn phong do sử ngoan phu đạn.

          (Đây là ông cụ Vân Thê. Bụng đầy ắp những điều toan tính. Quán kỹ pháp môn đời mạt, trăm ngàn kỳ quái chẳng hành. Dẫu cho tiếng Phạn, tiếng Hoa, chẳng vượt ngoài Oai Âm Vương được! Do vậy, xoay chuyển muôn dòng, chỉ thẳng bờ kia Tây Phương. Chỉ mong đặt vững gót chân, há màng môn đình dễ ngắm! Đèn soi phòng tối tám mươi bốn năm hơn, nghe phong cách Ngài vẫn khiến kẻ ngu run sợ).

 

* Hai bài tán dương tượng Bác Sơn Vô Dị sư bá

 

          1) Mạo vĩ thần phong, tâm từ, thể kính. Hướng Không Quán dĩ nhập môn, tùng Thọ Xương nhi đoạn mạng. Kiên tŕ bất khẳng gia phong, thống tẩy kim thời Thiền bệnh. Kư tồn triệt khổn bà tâm, hà tất đơn đề chánh lệnh. Chỉ hiềm nhất cú cát đằng khoa, lưu dữ nhi tôn tác thoại bính. Một tung tích xứ mạc tàng thân, lăo phụ y nhiên do thán kính.

          (Diện mạo khôi vĩ, thần thái sung mãn. Tâm từ, thể cứng cỏi. Dùng Không Quán để nhập môn. Do Thọ Xương mà đoạn mạng. Giữ vững, chẳng để mất gia phong. Thống thiết gột trừ Thiền bệnh đương thời. Ôm lòng tha thiết thấu triệt, há cần phải chỉ nêu chánh lệnh? Chỉ hiềm một câu “ổ dây leo”, lưu lại làm thoại đầu cho con cháu. Đừng ẩn thân nơi chỗ không dấu vết, bà già vẫn đối trước gương than vãn).

          2) Thử thị Bác Sơn lăo hán, đỗ lý tuyệt vô tư toán, trục xuất vơng lượng sơn tinh, tống dữ quần ma tác bạn. Tuy nhiên vị đắc nhi tôn, khước thắng chư phương tạp loạn. Di! Bả định lao quan bất phóng nhân. Chí kim văn giả do kinh đạn.

          (Đây là cụ già Bác Sơn, bụng trọn chẳng suy tính. Trục xuất võng lượng, sơn tinh, giao cho lũ ma làm bạn. Tuy chưa có được cháu con, đã hơn hẳn các phương tạp loạn. Ôi! Đặt vững ải kiên cố, chẳng thả người. Đến nay người nghe vẫn kinh sợ).

 

* Tán dương tượng huynh Linh Ẩn

 

          Tịnh Minh am lư, đả thất bán biên tỵ khổng, do vị toàn lộ bại khuyết. Thai nhạc thư trung, mô trước nhất cá xứng trùy, đáo để ngạnh như sanh thiết. Ha ha ha, hội dã ma? Đồng điều sanh bất đồng điều tử, mạc quái Nham Đầu khẩu thái đa!

          (Trong am Tịnh Minh, đánh mất nửa bên lỗ mũi, vẫn chưa lộ trọn bại khuyết. Nơi sách vở non Thiên Thai, mò trúng một quả cân, rốt cuộc cứng như sắt nguội! Ha, ha, ha, hiểu được chăng? Cùng cành sanh, bất cùng cành chết. Đừng trách Nham Đầu nói quá nhiều!)

         

* Tán dương tượng Tụng Trửu luật sư

 

          Lãnh diện, nhiệt tràng, đồng đầu, thiết ngạch. Bất tuần thời t́nh, chuyên đồ phá cách. Thiệp thủy đăng sơn. Thiền quan, giảng tịch, thắng hữu lương bằng. Phong triêu, nguyệt tịch. Thường biến Thần Nông bách thảo hoàn, Di Đà nhất cú thành an trạch.

          (Mặt lạnh, ruột nóng. Đầu đồng, trán sắt. Chẳng theo tình kiến đương thời, chuyên theo lối vượt ngoài khuôn khổ! Vượt sông, trèo núi. Thiền quan, giảng tịch, bạn bè tốt đẹp. Sáng gió, đêm trăng. Nếm trọn thuốc bách thảo của Thần Nông. Một câu Di Đà thành nơi an trụ).

 

* Hai bài tán dương tượng Tuyết Hàng pháp chủ

 

1) Nhất thế lão bà tâm thiết, vị miễn lộng xảo thành chuyết. Lâm hành ổn đạo liên cù, dã thị kim thời hào kiệt. Tây Phương công cứ hiện tồn, hà tất Phong Can nhiêu thiệt?

(Suốt đời tâm đau đáu thiết tha, chưa khỏi biến khéo thành vụng. Ra đi bước vững trên đường sen, cũng là bậc đương thời hào kiệt! Tây Phương công cứ nay còn đó, cần chi Phong Can phải lắm lời?)

          2) Hảo cá lanh lợi hán tử, quán yếu tha nê đới thủy. Tuy nhiên măn địa nhi tôn, vị thẩm a thùy đắc tủy? Lâm chung bất vong cựu giao, thiên lý hướng dư cầu hủy! Sách tánh tái mạ nhất đốn. Quả nhiên thị Thích Ca Văn Phật đích nô bộc, tỳ sử.

          (Đúng là một vị nam nhân lanh lợi, quen thói vẫy bùn vào nước. Dẫu cho con cháu khắp nơi, chẳng biết ai là người tiếp nhận tinh tủy? Lâm chung chẳng quên bạn cũ, ngàn dặm hướng về tôi cầu hủy[25]. Thẳng thừng lại trách mắng một trận. Quả nhiên là nô bộc, tôi tớ của Thích Ca Văn Phật).

 

* Tán dương tượng thiền sư Giám Không Ninh

 

          Cốt lân tuân, diện lãnh lạc. Nghiêm luật kiểm, trân nhiên nặc. Công thành bất cư, nhân quả bất thác. Di! Lục thập niên lai bất huyễn kỳ, lâm hành lạc đắc tâm vô tạc.

          (Gầy trơ xương, mặt lạnh lùng. Giữ nghiêm giới luật, quý lời hứa. Công thành chẳng kể công, nhân quả chẳng sai. Ôi! Sáu mươi năm qua chẳng phô chút lạ kỳ, lâm hành mừng được tâm không thẹn).

         

* Tán dương tượng Diễn Như thiền huynh

 

          Hân hân quyết dung, khiêm khiêm quyết đức. Vô sự oanh tâm, hữu hoài nghệ cực. Ấp xuân phong hề ẩm hòa, lịch tuế hàn hề tự đắc. Thời nhân thị chân thời nhân, Di Lặc thị chân Di Lặc.

          (Vẻ mặt hân hoan, đức hạnh khiêm cung. Không chuyện bận lòng, hoài bão tột bậc. Hòa hoãn tựa gió Xuân, an vui trải tiết lạnh. Thời nhân: Chân thời nhân, Di Lặc: Chân Di Lặc).

 

* Tán dương tượng Giác Không lão tôn túc

 

          Trịch kích đầu qua lễ giác vương, hiến hoa nham bạn lộ thần quang. Giới hương độc thiệu ngũ vân sắc, Phật hiệu thiên tông thập ức bang. Trấn nhật bồ đoàn tiêu khách mộng, bán sanh nhai hác tuyệt hành tàng. Trần Như tự tích xưng tăng thủ, bách thế do văn mi ảnh trường.

          (Quăng kích, buông mâu lễ giác vương, dâng hoa bên đá lộ thần quang. Giới hương riêng nối mây năm sắc, mười ức cõi rền tiếng Phật danh. Suốt buổi bồ đoàn tiêu khách mộng, nửa đời hang suối tuyệt hành tàng. Trần Như xưa gọi là tăng thủ, trăm thuở còn nghe bóng mày dài[26]).

 

* Tán dương tượng Tuyên Thánh (Khổng Tử)

 

          Không không vô tri, tri ngã giả thiên. Thánh nhân khởi cảm, bất nhị, bất thiên. Nhất dĩ quán chi, sơ tâm phương tiện. Thiên hạ quy nhân, tối hậu huyền thuyên. Tích tập đế vương chi hậu, bổn khai giác lộ chi tiên. Ký vi ngôn ư Dịch tượng, thôi đại thánh ư Tây Càn. Túng vô Đại Quán Đảnh kinh chi ký, diệc khả tín vi Phổ Môn thị hiện chi hiền.

          (Rỗng không chẳng biết, trời hiểu biết ta. Thánh nhân há dám, chẳng tái phạm, chẳng trút giận. Một đạo xuyên suốt, sơ tâm phương tiện. Thiên hạ quy vào lòng nhân, lời diệu huyền tối hậu. Tích là học theo đế vương, Bổn là người khai đường giác đầu tiên. Gởi lời nhỏ nhiệm nơi Dịch tượng, suy ra đại thánh chốn Tây Càn. Dẫu chẳng có lời thọ ký từ kinh Đại Quán Đảnh, cũng vẫn đáng tin là hiền nhân Phổ Môn thị hiện).

 

* Tán dương tượng Triệu Thập Ngũ

 

          Thị vật chi sanh, do kỷ chi sanh; thị nhân chi ách, do kỷ chi ách. Chỉ thử “dân bào, vật dữ” tâm trường, tiện thị đại từ đại bi huyết mạch. Dục tri bất nhị pháp môn, cánh thọ sơn tăng nhất quặc. Khởi bất kiến bác thí tế chúng, Nghiêu Thuấn do bệnh. Bồ Đề sơ phát, sanh giới tư tận. Hội đắc cá điểm huyền quan, tiện thị Duy Ma thoại bính. Đốt! Giác lộ bổn lai thường thản thản, mạc nhận thiên phong tác chánh lệnh.

          (Coi dân sanh như chính ta sanh. Coi người mắc tai ách, như chính mình bị tai ách. Chỉ do tâm can “dân là đồng bào, mọi loài giống như ta” ấy chính là huyết mạch đại từ đại bi. Muốn biết pháp môn bất nhị, liền lãnh sơn tăng một tát. Há chẳng thấy, rộng thí chúng sanh, Nghiêu Thuấn còn khuyết điểm. Bồ Đề vừa phát, chúng sanh giới bèn tận. Hiểu được cái ải u huyền ấy, bèn là câu nói của Duy Ma. Ôi! Nẻo giác vốn thường thẳng thớm, đừng nghĩ cơ phong là chánh lệnh).

 

* Tán dương chuyện vãng sanh của Trầm mẫu Kim thái nhụ nhân (có lời dẫn khởi)

 

          Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta vốn có cùng một Thể với A Di Đà Phật, nhưng hiếm ai có thể thẳng thừng biết quay về. Chẳng có chi khác! Do chưa trọn đủ ba điều Tín, Nguyện, Hạnh vậy. Tôi từng nói: - Tín như tướng lãnh, Nguyện như mưu lược, Hạnh như quân lữ. Có tướng, có mưu, [dẫu quân đội] già yếu vẫn có thể giành phần thắng. Nếu chẳng có tướng và mưu, dẫu [quân đội] dũng mãnh, tráng kiện, cũng tan vỡ. Vì thế, tín nên truyền, nguyện nên xét, hạnh nên không gì chẳng thâu. Đã chuyên lại còn suy xét, cho nên viên đốn, thẳng chóng, cao tột, không gì chẳng gồm thâu. Vì thế, độ trọn khắp ba căn, rộng tột bậc! Đấy là lý do Niệm Phật tam-muội là hoành siêu, thù thắng, lạ lùng. Xưa nay, những vị thuộc Tông hay Giáo hoặc coi Niệm Phật là rất dễ do tùy thuận căn cơ trung và hạ, hoặc ngỡ niệm Phật quá khó, vì trai giới cần phải toàn vẹn. Hễ [nghĩ là] rất dễ thì chẳng cao, quá khó thì chẳng rộng; há gọi là Bảo Vương tam-muội ư? Nay thấy thái quân[27] ngồi qua đời, đúng là có thể nhanh chóng giải trừ hai mối nghi. Chắp tay tán rằng:

          - Nhân tâm, Phật tâm, bổn tự vô nhị. Nhất niệm tương ứng, dục nhân nhân chí. Trác tai Trầm mẫu. Tín thử thật nghĩa, thánh hiệu nam nam. Nhật thời bất ly, đản trì thập trai, từ tường khải đễ, hãn độ nộ dung. Đa thiệm huệ thời. Bát thập lục niên, Tịnh nghiệp nãi túy. Tập ẩm hoan ngu, đại tỉnh như túy. Mộ trực Tây quy, tọa thoát nhược hý. Dục hiển chân nhân, thân hương biểu thụy. Tín hỹ cao viên, thành nhiên quảng bị, phỉ dị phỉ nan, thiên thu vĩnh xí. 

(Tâm người, tâm Phật, vốn tự chẳng hai. Một niệm tương ứng, muốn lòng nhân, nhân liền tới. Trác tuyệt thay Trầm mẫu! Tin thật nghĩa này, thánh hiệu rầm rì, suốt ngày chẳng lìa. Chỉ trì Thập Trai, từ bi, hòa mục, hiếm thấy vẻ giận, sẵn nhiều bố thí. Tám mươi sáu năm, Tịnh nghiệp bèn thuần. Hễ nhóm họp ăn uống, vui chơi, dẫu hết sức tỉnh táo mà làm như say khướt. Thẳng thừng về Tây, tọa thoát như bỡn. Muốn hiển lộ cái nhân chân thật, thân tỏa mùi thơm, biểu thị điềm lành. Đúng là cao, tròn, thật là rộng khắp. Chẳng dễ, chẳng khó, ngàn đời mãi ngóng trông).

 

* Tán thán bức vẽ Trầm Dực Vi ngồi xếp bằng

 

          Thất niên thủ thổ, dũ sát dũ từ. Nhị tải tỉnh phương, ân uy tịnh thí. Triều trung chánh lập, gian phách tiềm mi. Lâm hạ phảng dương, tri hùng thủ thư. Hiền mẫu niệm Phật, đoan tọa Tây trì. Thuần hiếu kế đức, thủ hữu thân sư, Quân bất kiến: Quân gia thái quân thân thị hiện, viên dung trực tiệt siêu phương tiện. Giả nhiêu thấu tận thiên thất quan. Ngũ bách nguyên lai chỉ bán xuyến. Trực hạ Văn Huân mạc cánh nghi. Trường An khởi ly Hàm Nguyên điện?

(Bảy năm giữ đất, càng giết, càng từ. Hai năm tuần tra bốn phương, ân, uy cùng thí. Đứng giữa triều đình, kẻ gian lẩn tránh. Quanh quẩn trong rừng, ẩn giấu bản lãnh. Mẹ hiền niệm Phật, ngồi ngay về Tây. Thuần hiếu nối đức, trọng bạn, thân thầy. Ông chẳng thấy: Thái quân trong nhà ông đích thân thị hiện, phương tiện viên dung thẳng chóng siêu việt. Giả sử thấu tận một ngàn bảy ải, năm trăm vốn chỉ nửa xâu[28]. Thẳng thừng Văn Huân đừng nghi nữa, Trường An há lìa điện Hàm Nguyên?)

 

* Tán thán tượng cư sĩ Đàm Tảo Am         

 

          Đầu đảnh thanh thiên, cước đạp thật địa. Vong thực, vong ưu, cùng niên cánh tuế. Độc tận thế gian hảo thư, thức tận cổ kim kỳ tự. Bất khẳng phân Phật, phân Nho, hà tất vi Tăng, vi lại! Khổng Mạnh xưng chi vi xuất thế tử tôn, Phật, tổ hoán chi vi tại gia pháp duệ. Đơn đắc Hám ông thọ ký thâm, tất cánh đồng quy Đệ Nhất Nghĩa.

(Đầu đội trời xanh, chân giẫm đất thật. Quên ăn, quên lo, suốt năm trọn tháng. Đọc trọn sách hay trong thế gian, biết hết xưa nay chữ lạ. Chẳng chịu phân cách Phật, nho, việc gì phải là Tăng hay quan? Khổng Mạnh gọi “cháu con xuất thế”. Phật tổ bảo “pháp duệ tại gia”. Chỉ riêng được ngài Hám Sơn thọ ký sâu xa. Rốt ráo cùng về Đệ Nhất Nghĩa).

 

* Tán thán tượng cư sĩ Trần Mân Chiêu

 

          Nguyện quảng bi thâm, tâm linh ngữ khoát. Dĩ pháp môn chi ưu vi ưu, dĩ quần sanh chi thoát vi thoát. Tận vị lai tế, thệ cư học địa. Dao thừa Thọ Xương, bất khẳng nhị tự chân chánh y bát, kiến nhân nhất vị hiệp chưởng đê đầu. Tiện thị kim thời Thường Bất Khinh Bồ Tát.

          (Nguyện rộng, bi sâu. Tâm linh thông, lời thông suốt. Lấy nỗi lo pháp môn làm nỗi lo của chính mình, coi chúng sanh giải thoát như chính mình giải thoát. Tột đời vị lai, thề thuộc địa vị Hữu Học. Học theo ngài Thọ Xương từ xa, chẳng chịu gánh vác hai chữ “y bát” thật sự. Thấy ai cũng một mực chắp tay, cúi đầu. Chính là Thường Bất Khinh Bồ Tát hiện thời).

 

* Tán thán tượng Trương Huyền Siêu

 

          Phân tông phán giáo lưỡng vô nhai, Ngô Việt nguyên lai thị nhất gia. Dục thức thanh tiền cú hậu sự. Niên niên đạp tuyết khán mai hoa.

(Chia tông, phán giáo chẳng hai đằng. Ngô, Việt xưa nay vẫn một nhà. Muốn biết các chuyện nơi văn tự, hằng năm giẫm tuyết ngắm hoa mai).

 

* Tán thán tháp Phật Thuyết A Di Đà Kinh

 

          Khể thủ A Di Đà Như Lai, nhiếp thọ chúng sanh bất tư nghị. Khể thủ quảng trường thiệt tướng kinh, chư Phật hộ niệm bất tư nghị. Khể thủ chấp tŕ danh hiệu nhân, kính đăng bất thoái bất tư nghị. Ngã tằng phát bất tư nghị nguyện, dục dĩ tôn kinh tác bảo tháp, ỷ hồi tuyền phục diệu trang nghiêm, linh kiến văn giả giai hoan duyệt. Thiện tai Thiên Lý Trịnh cư sĩ, tiên đắc ngã tâm sở dục vi. Xảo tư diệu bút đoạt thiên công. Phạn văn dĩ lý vô doanh khuy. Ngã kim hiệp chưởng đảnh lễ tháp, nguyện tháp phổ phóng quang vô lượng, Ngã kim hiệp chưởng đảnh lễ kinh. Nguyện kinh trụ thế thọ vô lượng. Kinh điển sở tại tức thị tháp. Tháp ảnh sở tại tức thị kinh. Nhược nhân cụ hữu quảng đại tín, thỉ hoạch đảnh lễ vô dư tình. Nhược nhân đắc ngộ thử kinh tháp. Tất cánh đương đắc quảng đại tín. Thị cố ngã kim tác tán tụng, quảng bất tư nghị Phật huệ mạng.

          (Đảnh lễ A Di Đà Như Lai, nhiếp thọ chúng sanh chẳng nghĩ bàn. Đảnh lễ kinh tướng lưỡi rộng dài, chư Phật hộ niệm chẳng nghĩ bàn. Đảnh lễ người chấp trì danh hiệu, chóng lên Bất Thoái chẳng nghĩ bàn. Con từng phát nguyện chẳng nghĩ bàn, muốn dùng tôn kinh tạo tháp báu, xoay vòng chuyển biến diệu trang nghiêm, khiến người thấy nghe đều vui sướng. Lành thay, cư sĩ Trnh Thiên Lý, làm trước chuyện tâm con muốn làm. Khéo nghĩ, khéo vẽ hơn thợ trời. Phạn văn xếp vòng chẳng thừa thiếu. Con nay chắp tay đảnh lễ tháp, nguyện tháp phóng quang vô lượng khắp. Con nay chắp tay đảnh lễ kinh, nguyện kinh trụ thế thọ vô lượng. Kinh điển nơi đâu, đấy là tháp. Bóng tháp nơi đâu chính là kinh. Nếu ai có lòng tin rộng lớn, mới được đảnh lễ chẳng sót thừa. Nếu ai được gặp kinh tháp này, rốt ráo sẽ đắc tín rộng lớn. Do vậy, con nay soạn tán tụng, huệ mạng Phật rộng chẳng nghĩ bàn).

 

* Hai bài tán kinh Hoa Nghiêm được chép bằng máu

 

          1) Pháp giới vô ngại, thù văn dị phái, thượng trung hạ tọa, đồng điều cộng hội. Chánh nhãn quán lai, viên dung tự tại, tùy triêm nhất trích, thương hải vi ải. Kỳ tai khai sĩ, phát hy hữu tâm, thích huyết thư tả, tự tự tinh kim. Phóng hồng hào quang, chiếu vi trần quốc, ngộ ảnh mông trần, đốn chứng diệu đức (Tỉnh Trung khai sĩ)

          (Pháp giới vô ngại, khác văn, khác phái. Thượng, trung, hạ tòa, cùng nhành, cùng hội. Chánh nhãn nhìn xem, viên dung tự tại. Hễ thấm một giọt, biển thẳm thành hẹp. Lạ thay khai sĩ, phát tâm hiếm có, trích máu biên chép, mỗi chữ vàng ròng. Phóng hào quang đỏ, chiếu vi trần cõi. Gặp ảnh, dính trần, mau chứng đức mầu).

          2) Thích huyết thư thành pháp giới kinh. Triển thời vô tự bất quang minh. Đạo quy Vô Lượng Quang vương sát. Bất đọa cuồng Thiền thử tức minh (Đạm Cư đại đức).

          (Trích máu chép thành kinh pháp giới. Khi mở, mỗi chữ tỏa quang minh. Dẫn về Vô Lượng Quang Vương quốc. Chẳng đọa cuồng Thiền, nói lý suông).

 

* Tán thán Hàm Sơ khai sĩ trì kinh Pháp Hoa

 

          Giới nhĩ nhất tâm, tam thiên tánh tướng. Quyền, Thật đồng quy, viên minh tuyệt chướng. Văn tự ly vi, thố giác trụ trượng. Tức thử ly thử, y nhiên lưỡng dạng. Năng thí, năng khai, tích niên điếm trướng. Nhận thủ a da, đương nhân bất nhượng. Thập diệu lâm ly, kim cổ như tư. Nhược Bổn, nhược Tích, quán tâm tiện tri. Tam pháp dung triệt, lục trần vô biệt. Giáo hành lý kinh, đồng luân cộng triệt. Trác tai khai sĩ, tâm giải khẩu tŕ. Đề hồ nhuận khát, cam lộ liệu cơ. Thất vạn dư ngôn, ngôn ngôn Thật Tướng. Nhất nhậm tư lượng, mi nguyên nhãn thượng. Phạm âm thanh nhă, pháp giới đồng huân. Nhất tự nhiễm thức, pháp vương chi côn.

          (Một tâm nhỏ bé, ba ngàn tánh tướng. Quyền, Thật đồng quy, tròn sáng, bặt chướng. Văn tự lìa nhỏ nhiệm, sừng thỏ làm gậy chống. Từ đây mà lìa đây, rành rành là hai thứ. Hay thí, hay khai, tính sổ bao năm. Đã nhận biết cha mình, gặp điều nhân chẳng nhường. Thập diệu đầm đìa, xưa nay đều như vậy. Dù Bổn hay Tích, quán tâm liền biết. Ba pháp dung thông thấu triệt, sáu trần chẳng khác biệt. Kinh giáo, hành, lý, cùng theo một đường. Trác tuyệt thay Khai Sĩ! Tâm hiểu, miệng trì. Đề hồ thấm nhuần khỏi khát, cam lộ chữa đói lòng. Hơn bảy vạn chữ, mỗi chữ đều là Thật Tướng. Mặc cho suy lường, lông mày vốn sẵn trên mắt. Phạm âm thanh nhă, pháp giới cùng được huân. Một chữ nhiễm thần thức, con cháu đấng pháp vương).

 

* Tán thán Vũ Bạch khai sĩ chép kinh Hoa Nghiêm bằng máu (có dẫn khởi)

 

          Khai sĩ dùng máu chép kinh vương này, thoạt đầu sợ đại sự khó thành, bèn trước hết đốt một trăm lẻ tám lọn hương để cầu gia bị. Chỉ hai năm bèn hoàn thành, chẳng chú trọng Thế Đế, làm đạo tràng viên mãn, riêng bế quan quán tưởng. Liền đốt ba ngón tay, cúng trọn khắp pháp giới Tam Bảo. Ôi! Tận lực hành điều thiện nhiệm mầu thế gian và xuất thế gian, chẳng nêu bày tên họ. Đó thật sự là hạnh Phổ Hiền thù thắng đấy chăng? Ngẫu Ích Trí Húc thâm tâm tùy hỷ, chắp tay tán rằng:

          - Vi thiện diệu tại mật, hữu đức diệu tại khiêm. Dĩ thử nghiêm tánh hải, dĩ thử ly thế gian. Tự tự Như Lai huyết, bút bút Hoa Tạng tuyền. Tam Thiền do khả hoại, vạn đức chung bất quyên. Tương tương bảo liên độ, tái thính Long Hoa thuyên.

          (Làm lành, diệu tại kín. Có đức, diệu tại khiêm. Dùng trang nghiêm biển tánh, dùng đấy lìa thế gian. Từng chữ máu Như Lai, mỗi bút suối Hoa Tạng. Trời Tam Thiền còn hoại, muôn đức trọn chẳng uổng. Thênh thang cõi sen báu, lại nghe pháp Long Hoa).

 

* Tán thán Hằng Sanh pháp chủ chép kinh Pháp Hoa bằng máu (kèm lời tựa)

 

          Trong giáo pháp suốt một đời của Như Lai, chỉ có Pháp Hoa là lời diễn nói rốt ráo, do kinh nêu thẳng thừng ý lập giáo, không chỉ biện thuyết cương mục của pháp môn. Do vậy, hiểu Pháp Hoa thì giáo pháp suốt một đời đức Phật đều hiểu. Mười phương ba đời hết thảy Quyền, Thật, Bổn, Tích đều hiểu rõ, như vậy thì tâm tánh trong một niệm nhỏ bé hiện tiền sẽ đều rốt ráo hiểu rõ. Trí Giả đại sư đích thân thấy một hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan; đúng là cảnh giới hiện lượng nơi tự tâm. Người cầu Pháp Hoa trong cõi đời đã chẳng biết cầu nơi tự tâm. Người cầu tự tâm lại chẳng biết cầu nơi Pháp Hoa. Tông và Thuyết tách rời, tìm cầu Giáo lẫn Quán đều tốt đẹp, giải và hạnh hợp nhất mà xả Thiên Thai sẽ quy vào đâu? Độn căn đời Mạt chướng sâu, huệ cạn, đối với tam đại, ngũ tiểu (ba bộ chú giải lớn và năm bộ chú giải nhỏ trong tông Thiên Thai), không chỉ nhìn biển cả mà thở than, lại còn xem như vật lạ! Diệu Phong đại sư chẳng bị mê muội vì các lời lẽ eo xèo, tận lực hoằng dương Nhất Thật, đúng như “chim phượng lẻ loi hót điều hay”, cho đến U Khê đại sư đạo ấy mới toàn vẹn. Chánh pháp khó được nghe lắm thay. Hằng công ở Tuy Lý là con của ngài Đồng Khê, cháu của ngài U Khê, ăn uống đạm bạc mười năm, bế quan một năm rưỡi, trích máu đầu lưỡi, chép bảy quyển kinh, chỉ một trăm ngày hoàn thành. Ôi! Khó hành mà có thể hành, đúng là diệu hạnh chẳng thể nghĩ bàn! Đọc duyên khởi ấy, hồi hướng, phát nguyện, mỗi chữ tương ứng với Bồ Đề tâm, hãy nên biết cũng là mỗi niệm ắt tương ứng với cảnh chẳng thể nghĩ bàn. Chắp tay tán rằng:

          - Khể thủ diệu kinh vương, Thật Tướng bất tư nghị. Quyền Thật dữ Bổn Tích, cứu cánh duy nhất sự. Khể thủ Thiên Thai sư, Đại Tô phát diệu ngộ. Ngũ huyền dữ tứ thích, khuếch triệt Bồ Đề lộ. Ước giáo, giản thiên Quyền, quán tâm dung khiếp bố. Cảo nhật lệ trung thiên, vạn lưu quy bổn nguyên. Sơn Ngoại đồ nghi úy, thùy tri Long Thọ Thiền. Phật mạng tùng tư tục, tâm ấn tùng tư truyền. Cố ngã Hằng khai sĩ, phát tâm đồng Phổ Hiền. Thân mạng thệ bất tích, đại nguyện kim cang kiên. Thất trục, thất vạn tự, tự tự giai kim liên. Phật thân toàn tại trung, văn kiến kết diệu duyên. Bất ly thử đương xứ, nhân măn quả diệc viên.

          (Kính lạy diệu kinh vương, Thật Tướng chẳng nghĩ bàn. Quyền Thật và Bổn Tích, rốt ráo chỉ một chuyện. Đảnh lễ Thiên Thai sư, Đại Tô khởi diệu ngộ. Ngũ huyền và tứ thích, thấu suốt đường Bồ Đề. Ước giáo, loại Thiên, Quyền. Quán tâm khá khiếp hãi! Mặt trời chói giữa vời, muôn dòng về nguồn cội. Sơn Ngoại chỉ nghi sợ, ai biết Long Thọ Thiền. Phật mạng từ đây nối, tâm ấn từ đây truyền. Vì thế, Hằng khai sĩ, phát tâm giống Phổ Hiền. Thân mạng thề chẳng tiếc, đại nguyện cứng kim cang. Bảy quyển, bảy vạn chữ. Mỗi chữ như sen vàng. Phật thân đều trong đó; nghe, thấy kết diệu duyên. Chẳng lìa ngay nơi này, nhân vẹn quả cũng tròn).

 

* Tán thán đồ hình Phổ Quán của ông Trác Vô Lượng

 

          Hội y báo vi liên hoa, nhiếp tam thân vi tự kỷ. Phi dĩ thân vãng bỉ phương, Phi di liên hoa đáo thử. Dục thức cá trung tiêu tức, vấn thủ Vô Lượng Trác tử.

          (Hợp y báo thành hoa sen, nhiếp ba thân làm chính mình. Chẳng đem thân đến nơi đó, chẳng dời hoa sen đến chỗ này. Muốn biết tin tức ấy, hỏi ông Trác Vô Lượng).

 

* Tán thán Tây Trai Tịnh Độ Thi

 

          Khể thủ Sở Thạch đại đạo sư, tức thị A Di Đà chánh giác. Dĩ tư vi diệu thắng già-đà, linh ngã độc tụng đương tham học. Nhất độc, nhị độc, trần niệm tiêu. Tam độc, tứ độc, nhiễm t́nh bạc. Độc chí thập bách thiên vạn biến, thử thân dĩ hướng liên hoa thác. Diệc nguyện hậu lai độc tụng giả, đồng tử tất cánh sanh Cực Lạc. Hoàn nhiếp vô biên niệm Phật nhân, vĩnh phá Sự Lý phân trương ác. Đồng Cư Tịnh cố tứ câu tịnh. Viên dung trực tiệp siêu phương lược.

          (Đảnh lễ Sở Thạch đại đạo sư, chính là A Di Đà chánh giác. Dùng kệ thù thắng, nhiệm mầu này, khiến tôi đọc tụng sẽ tham học. Một đọc, hai đọc, trần niệm tiêu. Ba đọc, bốn đọc, nhiễm tình mỏng. Đọc tới mười, trăm, ngàn, vạn lượt, thân này đã gởi tại hoa sen. Cũng nguyện người đọc tụng mai sau, cùng Ngài rốt ráo sanh Cực Lạc. Lại nhiếp vô biên người niệm Phật. Mãi phá điều ác tách Sự, Lý. Cõi Đồng Cư tịnh, bốn cõi tịnh. Viên dung, thẳng chóng, vượt ngằn mé).

 

* Tán thán tượng mười tám vị tổ và giới thiệu sơ lược (có lời dẫn khởi)

 

Một ngọn tâm đăng của đức Phật chia thành trăm ngàn ngọn; nếu chiếu thấu kẻ trong đêm dài thì đều là Phật quang. Chẳng nhờ vào ánh sáng ấy để giác chính mình lẫn người khác, sẽ đối với đèn mà ngang ngược phân biệt đây, kia, ngu muội lắm thay! Phàm ngọn lửa được truyền, tuy chẳng biết cùng tận, nhưng suy đến cội nguồn ban đầu, mỗi đằng đều được truyền thừa. Phải nên biết [dẫu dùng lửa] để nấu ăn hay trừ tối, công dụng chẳng khác. Đối với các chuyện như thân siêng gắng v.v… há chọn lựa ư? Nhưng muốn rộng tôn sùng, sẽ nhiều khôn xiết! Do vậy, đối với mỗi sự, chỉ đề cao một vị, dựa theo thứ tự thọ giới mà xếp trước sau. Không chỉ đề cao danh, mà còn chú trọng sự thật, không chỉ nhằm đề cao người trước mà còn hết sức tôn sùng, ngõ hầu huệ chiếu hừng hực, vĩnh viễn chiếu tan tối tăm vậy!

 

1) Vị được đức Phật phó chúc tại Tây Thổ: Tôn giả Đại Ca Diếp

 

Ngài ở thành Vương Xá, thuộc chủng tánh Đại Bà La Môn, tên là Tất Bát La (Pipala). Thân màu vàng ròng, đủ ba mươi tướng. Lấy cô Tử Kim Quang, trọn chẳng có ý niệm tham dục. Xuất gia tự thệ đắc giới, gặp đức Phật tại Trúc Viên, nghe pháp chứng quả. Đem y báu đổi lấy đại y phấn tảo của đức Phật, suốt đời hành hạnh Đầu Đà. Đức Phật từng chia nửa tòa cho tôn giả, bảo ngồi. Trong hội Niết Bàn, đức Phật bảo các vị tỳ-kheo: “Ta nay đem tất cả chánh pháp vô thượng đều phó chúc Ma Ha Ca Diếp, thầy ấy sẽ làm bậc đại y chỉ cho các vị”. Đức Phật nhập diệt bảy ngày, ngài Ca Diếp mới đến, khi trà-tỳ đã xong, Ngài liền cùng một ngàn vị A La Hán kết tập Tam Tạng, hoằng trì chánh pháp. Hai mươi năm sau liền phó chúc A Nan rồi nhập Định trong ngọn Kê Túc (Kukutapadagiri) núi Linh Thứu, giữ y ca-sa mười ba sợi vàng, đợi Di Lặc Phật [giáng thế]. Tán rằng:

          - Nguyện cư chúng nhân hậu, bất vi nhất vật tiên. Túng sử bất trị Phật, tự thành Độc Giác tiên. Căn thâm, chi năi mậu, chánh pháp toàn tử kiên. Niêm hoa lãnh vi chỉ, kết tập ấn chân truyền. Tam Tạng cấp tiên vụ, xá-lợi bằng nhân thiên. Diêm Phù đệ nhị sư, dụ hậu diệc quang tiền. Oai đức trọng vô tỷ, ma ngoại văn dao điên. An đắc tái du thử, nhất địch dã hồ diên (chuyện giơ cành hoa trích từ kinh Đại Phạm Vương Vấn Pháp Quyết Nghi. Đời Tống, Vương An Thạch thấy trong Nội Viện. Do Đại Tạng thiếu bản kinh này nên Thiền giả chẳng biết).

          (Nguyện ở sau mọi người, chẳng ở trước một ai. Nếu Ngài chẳng gặp Phật tự thành Độc Giác tiên. Rễ sâu, cành rậm rạp. Chánh pháp gánh vác tròn. Giơ hoa, lãnh ý chỉ. Kết tập ấn chân truyền. Tam Tạng gấp hàng đầu, xá-lợi cậy trời, người. Thầy thứ hai Diêm Phù, thịnh sau lại sáng trước[29]. Oai đức trọng khôn sánh, ma ngoại nghe chạy xa. Sao lại được gặp gỡ, gột sạch nước dãi chồn)[30]

 

2) Vị trì tạng Tỳ Ni: Tôn giả Ưu Ba Ly

 

 Năm trăm người họ Thích sắp xuất gia đều cởi sạch áo trân quý ban cho Ưu Ba Ly. Ưu Ba Ly nghĩ: “Họ còn có thể xả, ta tham luyến gì nữa?” Ngài bèn đến cầu Phật độ trước. Các vị họ Thích đến [xuất gia] sau, lễ các vị thượng tọa, đến trước tôn giả [Ưu Ba Ly] bèn chẳng lễ. Đức Phật dạy: “Thà nói tam thế Phật là kẻ hạ tiện, đừng nói Ưu Ba Ly là kẻ hạ tiện. Vị này trì giới bậc nhất, là kỷ cương cho đại chúng, được trời, người tôn trọng nhất”. Các vị họ Thích lễ dưới chân Ngài, đại địa chấn động sáu cách. Sau khi đức Phật thị hiện nhập diệt, ngài Ca Diếp bạch chùy[31], thỉnh tôn giả lên tòa sư tử, kết tập Luật Tạng. Tán rằng:

          - Giới thị Phật chân thân, Luật thị tăng phụ mẫu. Chánh pháp lại thử tồn, nhân thiên quân thị hỗ. Tiểu đại cộng tuân do, hà kim phục hà cổ? Khể thủ chúng kỷ cương, vạn thế Tỳ Ni tổ. Tŕ phạm dữ khai giá, tinh tích siêu quần ngũ. Ai tai mạt diệp trung, Sự Lý đa mãng lỗ. Hạnh thừa bi nguyện lai, tái tác long xà chủ. Đào chú thánh phàm trù, đồng vi Xá Na phụ.

          (Giới là chân thân Phật, Luật là cha mẹ Tăng. Chánh pháp nhờ đấy còn, trời người đều nương cậy. Tiểu, Đại cùng tuân hành, há phân biệt xưa nay? Đảnh lễ đấng tôn quý, kỷ cương của đại chúng, tổ Luật Học muôn đời. Trì, phạm, và khai, giá. Phân tích thật tinh vi, hơn hẳn bao người khác. Xót thay, trong đời Mạt, Sự Lý thường luông tuồng. Mong nương bi nguyện đến, lại làm chủ rắn rồng, đúc luyện thánh lẫn phàm, cùng giúp đức Xá Na).

 

3) Vị truyền trì pháp tạng tại Tây Thổ: Tôn giả A Nan Đà

 

Ngài là con của Bạch Phạn Vương (Śuklodana), là em họ bên nội của đức Phật. Sanh vào ngày đức Phật thành đạo. Mặt như trăng rằm, là thị giả của đức Phật, đa văn bậc nhất. Đức Phật diệt độ, ngài Ca Diếp bạch chùy, thỉnh tôn giả lên tòa sư tử, kết tập pháp tạng. Ngài Ca Diếp tịch, [tôn giả A Nan kế thừa] tuyên diễn hóa cơ trong hai mươi năm. [Sau đó], ở giữa dòng sông Hằng, nhập Phong Phấn Tấn tam-muội, chia thân thành bốn phần cho Đế Thích, long vương, Tỳ Xá Ly tử, và vua A Xà Thế để mỗi bên dựng tháp cúng dường. Tán rằng:

- Phật pháp đại hải thủy, lưu nhập A Nan tâm. Hoành mạc trắc kỳ tế, thụ mạc trắc kỳ thâm. Thỉ tự súc văn ngộ, chung đắc phản văn châm. Trừ bệnh, bất trừ pháp. Điểm thiết tiện thành kim. Như hà sanh manh loại, xả thử phục tha tầm. Ly kinh đọa ma thuyết, chấp thạch cưỡng tác sâm. Lăng Già, Kim Cang ấn. Tổ ư lương khả khâm. Thử ngôn như bất tín, cánh vấn cổ Quán Âm.

(Nước biển cả Phật pháp, rót vào tâm A Nan. Ngang khôn dò ngằn hạn, dọc khôn dò thẳm sâu. Thoạt đầu, do nghe nhiều, lầm lẫn càng thêm lắm. Rốt cuộc được cảnh tỉnh, xoay trở lại tánh Nghe. Trừ bệnh, chẳng trừ pháp. Điểm sắt liền thành vàng. Cớ sao bọn sanh manh, bỏ đây, tìm chi khác? Lìa kinh, đọa ma thuyết, cưỡng chấp đá là ngọc. Lăng Già, Kim Cang ấn, ý Tổ đáng khâm sùng. Nếu chẳng tin lời này, lại hỏi Cổ Quán Âm).

 

4) Hai vị tôn giả đến Đông Độ đầu tiên là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan

 

Đời Đông Hán, Minh Đế mộng thấy người vàng, sai sứ sang phương Tây cầu Phật đạo. [Sứ giả] gặp hai vị tôn giả ở nước Đại Nhục Chi[32] thuộc Trung Thiên Trúc, lãnh nhận tượng Phật đứng và kinh tiếng Phạn sáu mươi vạn chữ, dùng ngựa trắng để chở tới Lạc Dương. Ở ngoài Ung Môn tại phía Tây thành, dựng chùa Bạch Mã, dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương. Về sau, đạo sĩ thuộc ngũ nhạc, bát sơn dâng biểu thỉnh thử xem [Phật và Đạo] hơn kém. Lửa đốt Đạo kinh đều thành tro bụi; tất cả các chú thuật đều chẳng ứng nghiệm. Chỉ có kinh và tượng Phật quang minh sáng ngời, năm sắc thấu tận trời, chẳng suy xuyển mảy may! Ngài Ma Đằng thân vọt lên hư không, hiện các thần biến. Ngài Pháp Lan phát ra đại phạm âm, tuyên dương Phật pháp, trời mưa hoa báu, đại chúng vui thích. Sau khi ngài Ma Đằng tịch, ngài Trúc Pháp Lan dịch Phật Bổn Hạnh Kinh v.v… năm bộ kinh. Tán rằng:

          - Đường đường Chấn Đán cảnh, cửu dĩ mông Phật ảnh. Do sĩ thiên dư niên, chánh pháp năi chiêu bỉnh. Trác tai nhị Đại Sĩ, thần lực chân dũng mănh. Cảm ứng bất thất thời, định huệ phát thâm cảnh. Trừ bỉ sanh manh nhân, thùy năng kiến phất tỉnh. Chiết phục ma ngoại tâm, hân phiên ái kiến tỉnh. Vạn cổ ngưỡng dư huy, bích đàm viên nguyệt lănh. Hà thời phục hiện thần, gia phong đốn trùng chỉnh.

          (Cõi Chấn Đán mông mênh, Phật ảnh phủ đã lâu, gần hơn một ngàn năm. Chánh pháp mới tỏa rạng. Trác tuyệt, hai Đại Sĩ! Thần lực thật dũng mănh. Cảm ứng chẳng lỡ thời, định huệ phát thâm cảnh. Trừ kẻ mù lọt lòng, ai thấy mà chẳng tỉnh? Chiết phục tâm ma ngoại, lật nhào bẫy ái kiến. Muôn đời ngưỡng dư quang, đầm biếc ánh trăng lạnh. Khi nào, hiện thần biến, chỉnh đốn lại gia phong?)

 

5) Vị đầu tiên tới Giang Nam dựng tháp thờ xá-lợi: Tôn giả Khang Tăng Hội

 

          Sư người nước Khang Cư (Sogdiana)[33]. Năm Xích Ô thứ tư (241), Ngài gặp chúa nước Ngô, bảo: “Như Lai nhập diệt đã hơn ngàn năm, linh cốt xá-lợi thần ứng không ngằn mé”. Chúa nước Ngô nói: “Nếu cầu được xá-lợi, hãy nên dựng tháp. Nếu chẳng có hiệu nghiệm, quốc gia sẽ trừng trị”. Sư bảo đồ chúng: “Đại pháp hưng khởi hay bị phế trừ là do chuyện này. Hãy nên trai giới trong sạch để khẩn cầu suốt bảy ngày”. Tới ngày thứ hai mươi mốt, mọi người đều sợ hãi, bỗng có tiếng leng leng, trong bình có xá-lợi ngũ sắc. Chúa nước Ngô tự trút [xá-lợi] ra khay đồng, khay liền nứt. Dùng lửa đốt, dùng chùy đập, vẫn chẳng bị tổn hoại. Do vậy bèn dựng tháp, xây chùa Kiến Sơ, gọi nơi ấy là Phật Đà Lý (làng Phật), tức là chùa Đại Báo Ân hiện thời. Tán rằng:

          - Vô lượng giới định huệ, trang nghiêm thanh tịnh thân. Kiên cố bất khả hoại. Ứng vật hiện kỳ trân. Thùy năng thâm đế tín, khẩn đáo phục tinh thuần. Thâm khế cứu cánh quả. Kiến lập Bồ Đề nhân. Linh cốt văn thái cổ, chúng sanh nhĩ mục tân. Huưnh siêu tư nghị biểu, hằng thị mê lưu tân. Trường Can Phật Đà Lý, trần kiếp khai quang luân. Mạc ngôn thử thị huyễn, ly huyễn biệt vô chân.

          (Vô lượng giới định huệ, thân trang nghiêm thanh tịnh. Kiên cố chẳng thể hoại. Ứng cơ hiện báu lạ. Ai hay tin sâu chắc, thành khẩn đến tinh thuần. Ngầm khế quả rốt ráo, kiến lập Bồ Đề nhân. Xương thiêng rực rỡ cổ, tai mắt chúng sanh mới. Siêu việt mọi nghĩ bàn, luôn dạy nơi bến mê. Làng Phật nơi Trường Can, trần kiếp tỏa quang minh. Đừng bảo đấy là huyễn. Lìa huyễn chẳng có chân!)

 

6) Vị thọ Cụ Túc Giới đầu tiên ở Đông Độ: Sa-môn Châu Sĩ Hành (khi đó, người xuất gia vẫn giữ họ thế tục)

 

Từ thời Hán - Ngụy, người xuất gia chỉ thọ Tam Quy, đại sa-môn cũng chẳng khác. Vào năm Chánh Nguyên nguyên niên (254) thời Cao Quý Hương Công[34], tại Lạc Dương, ngài Đàm Ma Già La (Dharmakāla)[35] và Đàm Đế dịch pháp yết ma thọ giới thuộc Tứ Phần Giới Bổn. Sa-môn Châu Sĩ Hành là người đầu tiên thọ giới. Năm Cam Lộ thứ năm (260), Sư giảng kinh Đạo Hành Bát Nhã (khởi thủy giảng kinh), than thở lý [trong kinh ấy] chưa được dịch trọn vẹn, bèn rời Trường An đến nước Vu Điền[36] (Ngài là vị sa-môn đầu tiên sang Tây Vực), tìm được bản tiếng Phạn kinh Bát Nhã. Nhưng phép nước ấy cấm truyền sang Đông Độ. Sĩ Hành xin dùng lửa để nghiệm chứng, kinh chẳng bị tổn hại. Vua tin tưởng, lấy làm lạ, cho phép truyền, Sư liền gởi kinh về phương Đông, kinh có tên là Phóng Quang Bát Nhã. Tán rằng:

          - Thất chủng đắc giới trung, bạch yết-ma đệ nhất. Tăng bảo cửu trụ tŕ, tối thắng vô luân thất. Phật pháp nhập Chi Na, chiêu chương phỉ nhất nhật. Cam lộ hoạch tiên thường, sa-môn xưng thủ xuất. Huống phục đăng ṭa vương, nhẫn y từ vi thất. Phát túc thỉ Tây du, hoạch đắc hy hữu dật. Giới huệ cập thần thông, kham tác quần linh suất, đại viễn vọng văn tri, liêu vi khể thủ thuật.

          (Trong bảy loại đắc giới, bạch yết-ma bậc nhất. Tăng bảo lâu trụ trì, tối thắng chẳng ai sánh. Phật pháp vào Trung Hoa, rạng rỡ chẳng một ngày. Cam lộ được nếm trước, sa-môn tiếng đứng đầu. Huống còn lên tòa vương, nhẫn: y, từ làm thất. Sang phương Tây đầu tiên, có được kinh hy hữu. Giới, huệ, và thần thông, kham suất lãnh quần linh. Đời sau chưa nghe biết, đảnh lễ xin trần thuật).

 

7) Thỉ tổ của liên xã: Pháp sư Huệ Viễn

 

          Sư họ Giả, người xứ Lâu Phiền thuộc Nhạn Môn. Hiếu học từ bé, hiểu rộng lục kinh, càng giỏi Trang Lão. Lúc hai mươi mốt tuổi, tôn ngài Đạo An làm thầy. Lúc hai mươi bốn tuổi, đã hết sức quen giảng giải. Năm Thái Nguyên thứ sáu (381) đời Tấn Hiếu Vũ Đế (Tư Mã Diệu), Sư tới Lư Sơn, mộng thấy thần bảo “đừng sang nơi khác trụ”. Tối hôm ấy, sấm chớp dữ dội, rừng, khe nứt toác, cát trắng phủ đất, [các loại gỗ quý] như Tiện, Nam, Văn, Tử chất đầy trên đất. Thứ sử Cửu Giang là Hoàn Y bèn vì Sư dựng chùa Đông Lâm, đặt tên cho ngôi chánh điện là Thần Vận.

Sư từng nói: “Các loại tam-muội, danh xưng rất nhiều, nhưng công cao dễ tiến, Niệm Phật đứng đầu”. Ngài kết xã, có mười tám vị cao hiền, và một trăm hai mươi ba người đều lên An Dưỡng. Khi đó, vùng Giang Đông kinh sách chưa đầy đủ, chưa nghe Thiền pháp, Luật học phần nhiều thiếu sót. Sư sai đệ tử vượt Thông Lãnh (cao nguyên Pamir), từ xa tìm được [các kinh luận]. Sư viết Pháp Tánh Luận, nêu tỏ lý “Niết Bàn thường trụ” đầu tiên. Ngài La Thập tán thán luận ấy ngầm hợp Phật lý. Thời Tấn An Đế, Hoàn Huyền[37] ra lệnh buộc sa-môn lạy vua, Sư gởi thư can gián, viết Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận. Sư ở trong núi ba mươi năm, chuyên Tu tịnh nghiệp. Ba lượt thấy Phật nhưng không nói. Ngày Ba Mươi tháng Bảy năm Nghĩa Hy 12 (416), Phật tới đón, bảo: “Bảy ngày sau, Sư sẽ sanh về nước ta”. Tới ngày mồng Sáu tháng Tám, bậc kỳ túc thỉnh Sư dùng cổ tửu[38] để trị bệnh, Sư bảo: “Luật không có điều luật cho phép”. Lại thỉnh Sư uống nước cháo, Sư bảo: “Đã quá ngọ rồi”. Lại thỉnh uống nước mật, Sư bèn mở luật tìm xem. Chưa được nửa quyển, Ngài đã ngồi qua đời, thọ tám mươi ba tuổi. Tán rằng:

          - Niệm Phật tam-muội bảo, viên đốn pháp trung vương. Đĩnh sanh thần thánh sĩ, dũng mănh độc thừa đương. Hương tượng triệt lưu độ, đảo hoàn tập chúng hương. Đại đức căng tế hạnh, Thiền, Luật hàm thư quang. Pháp tánh ngộ thường trụ, tăng nghi siêu đế hoàng. Tài thức mại tiền triết, mật chứng bất tự chương. Văn thành ấn năi hoại, di nhiên phản cố hương. Cao phong thiên cổ tại, quy mạng phụ từ hàng.

          (Báu Niệm Phật tam-muội, viên đốn pháp trung vương. Nảy sanh bậc thần thánh, dũng mãnh riêng gánh gồng. Hương tượng riêng vượt dòng, nghiền thuốc gom các hương. Đại đức gìn tế hạnh, Thiền, Luật đều rạng ngời. Pháp tánh ngộ thường trụ, tăng nghi vượt trội vua. Tài trí hơn tiền triết, ngầm chứng chẳng tự phô. Nét khắc thành, ấn hoại. Vui mừng về cố hương. Cao phong muôn đời rạng, quy mạng giúp thuyền từ).

 

8) Vị đầu tiên sang Thiên Trúc cầu Luật: Sa-môn Pháp Hiển

 

          Năm Long An thứ hai (398), tức năm Kỷ Hợi thời Tấn An Đế, Sư từ Trường An cất bước sang Tây. Năm Nghĩa Hy 12 (416), tức năm Giáp Dần, Sư giong buồm vượt biển trở về, nếm đủ nỗi hiểm trở, được ghi chép đầy đủ trong tiểu truyện. Tán rằng:

          - Khể thủ dũng mănh sĩ, phát tâm cầu giới luật. Tây hành bất tích thân, an tri lao dữ dật. Vãng phản thập ngũ niên. Kinh lịch bát thiên truật. Đản niệm Quán Thế Âm, vân khai phục kiến nhật. Mẫn thử biên địa khổ, dục trụ hoàn Đông xuất. Khứ thời đa đồng hành, lai thời cẩn tồn nhất. Huệ ngã Tỳ Ni đăng, chiếu ngã thiên niên thất. Độc truyện, ức thâm ân, huyết lệ như tuyền tất.

          (Đảnh lễ bậc dũng mãnh, phát tâm cầu giới luật. Sang Tây, chẳng tiếc thân, nào biết mệt hay khỏe. Đi về mười lăm năm, trải qua tám ngàn nạn. Chỉ niệm Quán Thế Âm, mây tan, trời lại sáng. Thương nỗi khổ biên địa, muốn trụ lại về Đông. Lúc đi nhiều đồng bạn; khi về, chỉ một thân. Ban con đèn Tỳ Ni, chiếu thất tối ngàn năm! Đọc truyện, nhớ ân sâu. Huyết lệ như suối trào).

 

9) Sơ tổ Thiền Tông Đông Độ: Bồ Đề Đạt Ma đại sư

 

          Ngài là vương tử của vua Hương Chí ở Nam Thiên Trúc, được vị tổ thứ hai mươi bảy của Tây Thổ là Bát Nhã Đa La (Prajnātāra) phó chúc đại pháp, căn dặn sáu mươi năm sau, hãy sang Chấn Đán (Trung Hoa) hành hóa. Đại Thông nguyên niên (527) đời Lương, Sư theo thuyền vượt biển đến Quảng Châu. Vũ Đế xuống chiếu cầu kiến, hỏi: “Như thế nào là Thánh Đế Đệ Nhất Nghĩa?” Đáp: “Rỗng tuếch chẳng có thánh”. Hỏi: “Đối diện trẫm là ai?” Đáp: “Không biết!” Vua chẳng khế ngộ. Sư bèn vượt Trường Giang, vào đất Ngụy, trụ tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, nhìn vách chín năm. Về sau, phó pháp cho Nhị Tổ Huệ Khả, cũng trao cho y ca-sa để làm tin, lại nói: “Bốn quyển kinh Lăng Già có thể ấn tâm”. Sư sang chùa Thiên Thánh ở Vân Môn, ngồi qua đời, được chôn toàn thân ở núi Hùng Nhĩ. Năm sau, Tống Vân từ Tây Vực quay về, gặp Sư tay xách một chiếc dép, lững thững đi một mình. Quật mồ lên xem, chỉ có một chiếc dép trong quan tài rỗng! Tán rằng:

          - Chấn Đán đa Đại Thừa, ngang ngang thiên cổ anh. Thí như long dĩ tựu, đãi Sư nhất điểm tình. Khuếch nhiên vô thánh đế, Lăng Già ấn phân minh. Bất thức, chân bất thức. Đồng tử, bất đồng sanh. Đắc tủy y vị lập, chích lý nhưng Tây hành. Ai tai ngũ diệp hậu, Tông Thuyết hoàn phân tranh. Kinh ký thành danh tướng, tọa phục đồng lung manh. Thùy tín an tâm quyết, tùng lai phỉ thiệp tŕnh.

          (Chấn Đán lắm Đại Thừa, vòi vọi hùng muôn đời. Ví như rồng kéo đến, đợi Sư điểm nhãn cho. Rỗng tuếch vô thánh đế, Lăng Già ấn phân minh. Không biết, thật chẳng biết. Cùng chết, chẳng cùng sanh. Đắc tủy, đứng yên chỗ[39]. Chiếc dép đi về Tây. Buồn năm lá tươi tốt, Tông, Thuyết vẫn phân tranh. Kinh đã thành danh tướng. Ngồi, nằm như mù đui. Ai tin an tâm quyết? Trước nay chẳng dính vào!)

 

9) Thiên Thai giáo chủ Trí Giả đại sư

 

Sư tên Trí Nghĩ[40], tự Đức An, họ ngoài đời là Trần, cha là Ích Dương Hầu đời Lương. Mẹ là Từ Thị, mộng thấy khói hương năm màu, bèn có thai Sư. Khi Sư sanh, thần quang tỏa khắp nhà. Sư mày Nghiêu, mắt Thuấn, hễ nằm bèn chắp tay, mặt ắt ngoảnh về phương Tây. Mười bảy tuổi, Sư thề làm sa-môn, mười tám tuổi xuất gia. Hai mươi tuổi, thọ Cụ Túc Giới, tinh thông Luật Tạng, thường thích Thiền Duyệt. Hai mươi ba tuổi, bái yết thiền sư Huệ Tư tại núi Đại Tô thuộc Quang Châu. Ngài Huệ Tư nói: “Xưa kia tại Linh Sơn, cùng nghe Pháp Hoa”. Tổ liền dạy Phổ Hiền đạo tràng, nói Tứ An Lạc Hạnh. Sư sáng tối khổ công, đúng như lời dạy mà nghiên cứu cái tâm, [do không có gì cúng dường, bèn dùng lá bách đốt thay nhang], hết lá bách thì dùng hạt dẻ [để làm vật cúng dường], khi trăng lặn bèn đốt gỗ tùng [làm đuốc soi][41]. Hai mươi bảy tuổi, Sư rỗng rang đại ngộ.

Ba mươi tuổi, Sư sang Kim Lăng, ba mươi tám tuổi vào Thiên Thai, chọn sống ở Phật Lũng, hàng ma nơi Hoa đảnh. Trần Thiếu Chủ (Trần Thúc Bảo, vua cuối cùng của nhà Trần) lại thỉnh Sư trụ tại chùa Quang Trạch ở Kim Lăng để giảng kinh Pháp Hoa. Thái tử nhà Tùy (Dương Quảng) xin thọ giới, dâng hiệu cho Sư là Trí Giả. Kế đó, tại chùa Ngọc Tuyền ở Kinh Châu, truyền Ngũ Giới cho thần Quan Vân Trường (Quan Công), nói Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Ma Ha Chỉ Quán. Lúc năm mươi tám tuổi, Sư trở về Thiên Thai. Lúc sáu mươi tuổi, Ngài nói các pháp môn, ngồi yên lặng nhập diệt, an táng tại ngọn Tây Nam của Phật Lũng. Vào năm Đại Nghiệp nguyên niên (605) đời Tùy Dượng Đế, mở khám ra xem, chỉ thấy giường và trướng trống rỗng mà thôi! Cả đời Sư dựng ba mươi sáu ngôi chùa, tạo mười lăm bộ Đại Tạng Kinh, tạc tám mươi vạn bức tượng, xuống tóc cho một vạn bốn ngàn người, truyền pháp được ba mươi hai người. Hơn một ngàn người đắc ngộ. Suốt ba mươi năm, Sư chỉ có một tấm áo ca-sa. Tán rằng:

          - Quy mạng đại giáo chủ, nhân xưng tiểu Thích Ca. Bổn địa bất khả trắc, thị tích năi kham khoa. Linh tướng kiêm Nghiêu, Thuấn; thần đức động di, Hoa. Quyền Thật cùng áo chỉ, quy tông tại Pháp Hoa. Tứ biện chú diệu vũ, lưỡng túc nghiêm đại xa. Chỉ Quán truyền tâm ấn, Huyền Văn phục thiên tà. Vĩnh kiếp thuật nan tận, công nhược Hằng hà sa. Doãn hỹ vô thượng sĩ, hề chỉ áp bách gia?

(Quy mạng đại giáo chủ, người xưng Tiểu Thích Ca. Bổn địa chẳng thể lường, thị hiện đáng ngợi ca. Tướng thiêng kiêm Nghiêu, Thuấn, thần đức động di, Hoa. Tông chỉ Quyền và Thật, tột cùng lẽ sâu mầu. Quy tông nơi Pháp Hoa. Tứ biện tuôn mưa diệu, phước trí trang nghiêm xe. Chỉ Quán truyền tâm ấn, Huyền Văn[42] dẹp lệch, tà. Bao kiếp thuật khó trọn, công như cát sông Hằng. Đáng là vô thượng sĩ, đâu chỉ hơn trăm nhà?)

 

10) Từ Ân giáo chủ: Pháp sư Huyền Trang

 

          Sư là con nhà họ Trần ở Lạc Dương. Mười một tuổi đã tụng thông thạo Duy Ma và Pháp Hoa. Năm Trinh Quán thứ ba (629) đời Đường Thái Tông, Sư sang Tây Trúc, nếm đủ mọi nỗi hiểm trở, trải qua một trăm ba mươi nước. Phàm những nơi có dấu tích hóa hiện của Như Lai, không nơi nào chẳng lễ kính. Thoạt đầu, Sư muốn học tông Long Thọ, những người học tông ấy bảo phải uống thuốc cầu trường sanh thì mới có thể nghiên cứu tông chỉ. Sư vốn muốn cầu kinh, sợ trái túc nguyện ấy, bèn học Pháp Tướng với pháp sư Giới Hiền. Ngài Giới Hiền đã một trăm lẻ ba tuổi, được đức Văn Thù phó thác, ráng sống đợi Sư đến. Mùa Đông năm Trinh Quán 19 (645), Sư trở về phương Đông, soạn Tây Vực Ký, dịch Địa Luận, Duy Thức, kinh Đại Bát Nhã v.v… Tháng Hai năm Lân Đức nguyên niên (664) đời Đường Cao Tông, Sư sai đại chúng niệm Di Lặc Phật, nằm bên hông phải qua đời. Tối hôm ấy, bốn cái mống trắng vắt ngang sao Tỉnh[43]. Tán rằng:

- Pháp giới vô sai biệt, sai biệt vô lượng cụ. Ngũ vị, bách pháp môn. Sổ cú, phi sổ cú. Dục ngộ chân Viên Dung, na đắc phế Hàng Bố? Sở dĩ Cổ Văn Thù, khổ khuyến Hiền sư trụ. Trang sư kư Tây du, thử đạo nãi hữu phó. Khể thủ Du Già sư, nhất sanh bổ Phật xứ. Phú Thật, thả thi Quyền, thành tai hữu viễn lự. Sư dĩ khế từ tâm, Đâu Suất cung tiên cứ.

(Pháp giới chẳng sai biệt, đủ vô lượng sai biệt. Năm vị, trăm pháp môn. Sổ cú, phi sổ cú. Muốn ngộ Viên Dung thật, há nên phế Hàng Bố? Do vậy, Cổ Văn Thù, khổ công khuyên Giới Hiền, hãy cố gắng trụ thế. Huyền Trang đã sang Tây, đạo này được giao phó! Kính lạy Du Già sư, nhất sanh bổ Phật xứ. Ẩn Thật, lại hành Quyền, đúng là biết lo xa. Sư đã khế từ tâm. Đâu Suất cung chiếm trước).

 

11) Mật giáo sơ tổ: Kim Cang Trí Quán Đảnh quốc sư

 

          Sư là người Tây Thổ, đích thân truyền pháp của Long Trí (Nāgabodhi) A-xà-lê. Năm Khai Nguyên thứ bảy (719) đời Đường, Sư đến Quảng Châu, được triệu vào chầu vua, trụ tại chùa Đại Từ Ân, vẽ tượng Thất Câu Chi[44], khiến cho tượng tự mở mắt. Năm sau, Sư chuyển sang chùa Tiến Phước, tới chỗ kết đàn làm đạo tràng quán đảnh. Tháng Tám năm Khai Nguyên 20 (732), Sư bảo đồ chúng rằng: “Khi bạch nguyệt tròn, ta sẽ đi”. Tới kỳ, Sư nhiễu quanh tượng Tỳ Lô, đầu đội bối diệp kinh, ngồi qua đời. Tán rằng:

          - Hiển Mật nhị chủng giáo, các cụ Tứ Tất Đàn. Hiển hoặc khả nghĩ nghị, Mật cánh nan ngưỡng toản. Thọ thọ hữu bí ấn, thành tựu tu tịnh đàn. Khể thủ quán đảnh sư, hoài đạo lai chân đan. Viên đốn siêu ngôn tượng, vân vật liêu thị đoan. Bồ Đề năi tông yếu, Sự Lý phi thiên an. Truyền chí Kim Cang Thủ, đề hồ Phật sở thán. Nhiễu tượng đảnh bối diệp. Vạn cổ nguyệt đồng khan.

          (Hiển Mật hai loại giáo. Đều trọn Tứ Tất Đàn. Hiển có thể nghĩ bàn, Mật càng khó nhìn, đoán. Trao, nhận có bí ấn. Thành tựu cần tịnh đàn. Đảnh lễ quán đảnh sư, ôm đạo đạt chân đan. Viên đốn vượt lời, tướng. Mây, vật tỏ mối đầu. Bồ Đề là tông yếu, Sự Lý chẳng riêng an. Truyền tới Kim Cang Thủ, đề hồ Phật ngợi khen. Nhiễu tượng, đội kinh sách, trăng muôn thuở cùng xem).

 

12) Thanh Lương giáo chủ: Trừng Quán quốc sư

 

          Sư là người Cối Kê, họ Hạ Hầu. Mười bốn tuổi, Sư tụng kinh Pháp Hoa đắc độ. Trước là học Luật, kế đó là học Luận, sau là học Hiền Thủ Tông. Kế đó, theo ngài Kinh Khê học Thai Tông. Sau đấy, học trọn hai tông Nam, Bắc. Phàm là Nho, Lão trong cõi này, sách tiếng Phạn của Thiên Trúc, các dị thuyết của ngoại đạo, Tứ Vi Đà, Ngũ Minh, nghi quỹ Hiển, Mật, không gì chẳng thông hiểu. Sư sống tại chùa Đại Hoa Nghiêm, chuyên hành Phương Đẳng sám pháp. Sư giảng kinh Hoa Nghiêm, tạo tân sớ[45] và Diễn Nghĩa Sao. Sư thọ một trăm lẻ hai tuổi, pháp lạp tám mươi ba. Thân cao chín thước bốn tấc, tay rủ quá gối, ban đêm mắt tỏa sáng, ban ngày mắt chẳng nháy. Tài năng viết lách hơn người, mỗi ngày nhớ vạn chữ. Sư dùng mười lời thề để kiềm giữ thân, suốt đời ăn một bữa. Trải qua chín triều, làm thầy của bảy vị vua. Sư giảng kinh Hoa Nghiêm năm mươi lần, mười lăm lần mở Vô Giá đại hội. Đệ tử hoằng pháp gồm ba mươi tám vị. Tán rằng:

          - Hoa Nghiêm pháp giới hải, vạn phái hàm triều tông. Bất hữu đại long tượng, thùy năng lực hoằng thông? Thập huyền khải thâm áo, lục tướng minh viên dung. Tánh tướng ký phi nhị, sanh Phật khởi dị đồng? Phước huệ siêu kim cổ, nghi biểu đẳng thế hùng. Tông, Thuyết phân phục hợp. Thừa, giới thế hoàn long. Trùng trùng thập pháp giới, phức phức thập thệ phong. Khể thủ điều ngự sư, thiên tải khai manh lung.

          (Biển Hoa Nghiêm pháp giới, muôn phái đều chầu về. Chẳng có đại long tượng, ai tận lực hoằng thông? Thập huyền mở cao sâu, sáu tướng giảng viên dung. Tánh, tướng chẳng phải hai; sanh, Phật há khác, đồng? Phước huệ vượt nay, trước. Nghi biểu bằng Thế Hùng. Tông, Thuyết tách lại hợp. Thừa, giới suy lại hưng. Tầng tầng mười pháp giới, gió thập thệ thơm lừng. Đảnh lễ đấng Điều Ngự, ngàn năm soi điếc, mù).

 

13) Hội quy tông kính: Vĩnh Minh đại thiền sư

 

          Ngài tên là Diên Thọ, tự là Xung Huyền. Thời Ngô Việt Vương, Ngài làm quan coi thuế, dùng tiền từ công quỹ để phóng sanh. Sắp bị hành hình ngoài chợ, lúc đao sắp bổ xuống, Ngài chẳng đổi sắc mặt, nên được tha. Xuất gia, Ngài đắc pháp nơi Thiều quốc sư. Ngài nhập Định chín mươi ngày, chim làm tổ nơi chéo áo. Ngài hành Pháp Hoa Sám, thấy đức Phổ Hiền cầm hoa sen nơi tay. Ngài đặc biệt lên Thiên Thai Trí Giả Nham, làm hai cái thăm Giáp và Ất, Giáp là “suốt đời Thiền Định”. Ất là “tụng kinh, hành vạn thiện, trang nghiêm Tịnh Độ”. Bảy lượt rút đều là cái thăm Ất. Do vậy, chuyên tu Tịnh nghiệp. Ngài tụng kinh ba năm, Quán Âm dùng cam lộ rưới vào miệng. Công khóa hằng ngày hành một trăm lẻ tám sự, chưa từng tạm phế. Sư do thấy ba tông Thiên Thai, Hiền Thủ, và Từ Ân khác nhau, bèn tập hợp ý kiến của những người biết pháp trong đồ chúng của các tông ấy, đọc rộng khắp biển nghĩa, lại còn vấn nạn lẫn nhau để cân nhắc tâm tông. Lại tập hợp sáu mươi bộ kinh luận Đại Thừa, ngôn thuyết của hơn ba trăm vị thánh hiền hai cõi (Ấn Độ và Trung Hoa) để chứng thành ý chỉ duy tâm, tạo thành Tông Kính Lục một trăm quyển và Vạn Thiện Đồng Quy Tập v.v… Sau khi Sư ngồi qua đời, có vị tỳ-kheo ở Lâm Xuyên bị bệnh, vào cõi Âm, thấy Diêm Vương lạy tượng Sư, nói: “Ngài đã thọ sanh thượng phẩm nơi Tây Phương”. Tán rằng:

          - Pháp pháp bổn duy tâm, hà đồng phục hà dị? Ai tai vơng đăi lưu, chấp ngữ mê thật nghĩa. Các tùy biến kế t́nh, tranh lập ngã nhân xí. Ngô sư tập đại thành, vạn thiện quy đồng trí. Hướng thượng tối huyền cơ, nhật khóa bách bát sự. Cao đăng thượng phẩm liên, u minh diệc kiều xí. Tông Kính chiếu đại thiên, sanh manh hăn tri lợi. An đắc sư tái lai, trùng văn thiên nhạc thụy.

          (Mỗi pháp vốn duy tâm, gì là đồng hay dị? Buồn thay phường lười nhác, chấp lời, mê thật nghĩa. Tùy thuận Biến Kế chấp, tranh giương cờ nhân, ngã. Thầy ta tập đại thành, vạn thiện quy nhất trí. Lẽ hướng thượng huyền nhất, ngày hành trăm tám sự. Cao đăng sen thượng phẩm, u minh cũng ngóng về. Tông Kính chiếu đại thiên, sanh manh[46] hiếm biết lợi. Sao được Sư tái lai, lại nghe nhạc trời lành).

 

14) Đắc giới ḥa thượng: Vân Thê đại sư

 

Sư húy Châu Hoằng, tự Phật Huệ, biệt hiệu là Liên Trì. Sư là người xứ Cổ Hàng, họ Trầm, lúc trẻ là danh Nho, ba mươi tuổi xuất gia. Sư tham yết các vị đại lão như Biến Dung v.v… ngầm có khế ngộ. Ngài an trụ tại Vân Thê, bất giác [nơi đó] thành tùng lâm, giảng tịch. Sư chuyên tu Tịnh Độ, tận lực tôn sùng giới luật. Ngài chẳng niêm cơ duyên (không giảng Thiền), không xưng là phương trượng, không chuộng điện, gác, chẳng ăn mặc xa xỉ. Sư dùng sự bình dị, thật thà để tận lực vãn hồi phong thái hời hợt [của tăng, tục trong thuở ấy]. Hễ cảnh sách đại chúng, Sư khai thị chuyện xuất sanh tử, chưa hề chẳng vừa nói vừa rơi lệ. Sư phóng sanh kết duyên, thí thực, làm phước vô số. Ngài thị tịch lúc tám mươi hai tuổi. Húc thuở bé bị lầm lẫn bởi tà sư, tận lực xúc phạm Tam Bảo, đọc lời tựa nơi Tự Tri Lục của đại sư mới chuyển tà tâm. Hai mươi bốn tuổi xuất gia, vào núi [Vân Thê] làm tạp vụ, thấy trong quy ước có quy cách học giới, bèn phát Bồ Đề tâm, hồ quỳ trước tượng đại sư, đốt hương cung kính thọ hai loại giới bổn để góp phần vào việc học tập theo di trước. Tán rằng:

          - Tuyên Ni nhượng thánh nhân, Nghiêu Thuấn xưng do bệnh. Đại đạo khoáng vô nhai. Như hà nhất tựu tận. Ta thử kiêu ly thời, nhân các tranh cao tuấn. Ngôn hạnh mỗi tương vi, khi thế đồng kiêu kính. Trác tai chân đạo sư, trừng tục tùng tiên tấn. Chế tác tự Khổng, Châu, khiêm thoái như lâm tuấn. Bi dư phát tâm tŕ, phất hoạch thân từ huấn. Khể thủ phụng di dung, nguyện tác liên bang dận.

(Khổng Tử nhường lòng nhân, Nghiêu, Thuấn còn khuyết điểm. Đại đạo rộng không bờ, sao có thể thấu tận? Ôi! Thời nay bạc bẽo, ai nấy giành cao vời. Ngôn hạnh thường mâu thuẫn, dối đời hệt kiêu kính[47]. Tuyệt thay chân đạo sư! Gạn tục tiến lên trước. Tạo tác hệt Khổng, Châu, khiêm nhượng như vào vực. Con buồn phát tâm trễ, chẳng được nghe từ huấn. Kính lạy thờ di dung, nguyện làm con cháu sen).

 

15) Vị khắc in sách kinh tạng: Tử Bách đại sư

 

Ngài húy là Chân Khả, tự Đạt Quán, biệt hiệu là Tử Bách, là con nhà họ Trầm ở Ngô Giang. Khi Ngài hành cước, do nghi bài kệ của Trương Chuyết[48] bèn đại ngộ. Ngài tham yết Biến Dung tôn túc, nguyện tiếp nối đức hạnh của vị ấy. Sư nghĩ Đại Tạng số quyển trục quá nhiều, bèn vì những người ở nơi xa hẻo lánh chẳng thể nghe pháp mà đề xướng khắc in [kinh tạng] thành phương sách để tiện lưu thông. Nếu gặp kẻ khinh báng[49], Ngài nguyện chịu tội thay, khiến cho khắp nơi được thấy, nghe kinh pháp, gieo chủng tử kim cang, đều do sức của đại sư. Sư tự đảm nhiệm đại pháp, trọn chẳng có ngã tướng. Ngài tâm bộc trực, ăn nói bộc trực, chẳng màng những điều cố kỵ đương thời. Phát nguyện vào lao ngục để đền nợ trước. Trong ngục, Ngài độ vô lượng người rồi nói kệ, ngồi qua đời, thọ sáu mươi mốt tuổi.

Mười một năm sau, Hám Sơn đại sư trà tỳ [di thể của Ngài], xá-lợi vô số. Sư cả đời chuyên trì bài kệ của Tỳ Xá Phù Phật, cũng dùng đó để dạy người khác. Bốn mươi mấy năm, Sư chẳng ngả lưng xuống chiếu, chẳng thấy nữ nhân, thường ngồi ở chỗ trống, chẳng tránh gió, sương. Ngài trùng hưng mười lăm ngôi chùa. Đối với ngữ lục của cổ tôn túc, như các bài luận của tôn giả Tịch Âm, cõi đời chưa được nghe, Ngài đều tận lực sưu tập, khắc in. Tán rằng:

- Tăng phong cửu bất chấn, đĩnh sanh đại thánh hiền. Ái kiến nhất ác trảm, pháp đạo toàn tử kiên. Hùng mănh siêu long tượng, bi thệ chứng vô duyên. Thâm tri giáo ngoại chỉ, chung tạ văn tự truyền. Sáng khắc phương sách tạng, trợ hiển Trực Chỉ Thiền. Hoàn trung thù túc trái, lai khứ hồ phiên phiên. Xá-lợi trấn Song Kính, bán kệ công dĩ viên. Quư ngã sanh hồ hậu, hà thời thọ sách tiên?

(Tăng phong suy đã lâu, bỗng sanh đại thánh hiền. Nắm gươm chém ái kiến, pháp đạo gánh vẹn toàn. Hùng mãnh vượt long tượng, bi thệ chứng vô duyên. Đã biết sâu ý chỉ, ở ngoài giáo pháp rồi, rốt cuộc nhờ văn tự, để mãi được lưu truyền. Đề xướng khắc phương sách, giúp hiển Trực Chỉ Thiền. Trong ngục đền nợ cũ, đến đi thật thong dong. Xá-lợi trấn Song Kính, nửa kệ công đã tròn. Con thẹn dõi theo Ngài, thuở nào được cặp rèn?)

 

16) Tiếp dẫn trong mộng: Hám Sơn đại sư

 

Sư húy Đức Thanh, tự Trừng Ấn, biệt hiệu Hám Sơn, họ Thái, người xứ Hòa Châu. Lúc sanh ra, Sư được phủ trong bọc trắng, nước tắm có mùi hương lạ, miệng như vầng trăng ngửa, lông mày năm sắc, tóc có sắc xanh biếc. Mười hai tuổi xuất gia. Hai mươi sáu tuổi vào núi Yến Bàn, trụ hơn một tháng, thân thể rỗng không. Trong một biệt thất tại Hồ Thuận Am, Sư nhập định một thất, thảy đều không chấp trước. Sư trụ Ngũ Đài tám năm, mộng thấy pháp giới viên dung quán cảnh, lại mộng lên lầu gác của Di Lặc, nghe nói nghĩa sai biệt giữa thức và trí. Kế đó, trụ tại Lao Sơn ở Đông Hải, ngộ thông suốt quán cảnh của Lăng Nghiêm. Về sau, do lời đồn thổi của gã phương sĩ, vua hạ chiếu tống Sư vào ngục, chịu đủ mọi hình phạt, nhưng thần sắc chẳng khác. Sư mộng thấy Đại Sĩ an ủi, đem trăm vạn sanh linh phó thác. Sư bị đày đi làm lính thú ở Lôi Dương, tận lực khiến cho tổ đình Tào Khê thanh tịnh, vì thị giả Linh Thông thọ giới, thay đốc phủ dẫn quân, chinh phục người Dao, người Đồng[50], quả nhiên cứu được hơn trăm vạn mạng người.

Về sau, Sư được xá tội, trở về Nam Nhạc; kế đó, trụ tại ngọn Ngũ Nhũ ở Khuông Sơn, bế quan niệm Phật, ngày đêm sáu thời, mỗi công khóa là một vạn tiếng. Năm Canh Thân (1620), thầy Tuyết Lãnh Tuấn lên núi vấn an, Húc gởi một phiến hương, được đại sư từ bi ban thư dạy bảo, viết kệ ngữ khai thị. Năm Tân Dậu (1621), đại sư lại trụ Tào Khê. Năm Nhâm Tuất (1622), Húc quyết chí xuất gia, ba lượt mộng thấy đại sư tiếp dẫn, hận tài lực kém cỏi chẳng thể đi xa, bèn cầu ngài Tuyết Lãnh Tuấn xuống tóc, đó là được đại sư tán thán, hứa khả. Mùa Đông năm Quý Hợi (1623), Húc đả thất tại Thiên Thai, bỗng mộng thấy đại sư dung nhan hơi tiều tụy, dường như có điều căn dặn. Về sau biết đấy chính là lúc đại sư thị tịch. Sư thọ bảy mươi tám tuổi, khám dời sang Tào Khê. Sau hai mươi năm, mở khám ra xem, toàn thân kiên cố, y phục tươi đẹp, tóc lẫn móng tay đều dài, da dẻ trắng vàng, tươi nhuận như còn sống. [Đồ chúng] bèn dùng sơn pha vàng để gìn giữ, thờ phụng giống như nhục thân của Lục Tổ. Tán rằng:

          - Trường Can Phật Đà Lư, gián xuất danh thế hào. Khí vũ tự vương giả, bút trận nhược giang đào. Tông, Giáo nhậm du hý. Chân, Tục tùy tiêu dao. Lý hiểm bất dị thản, tựu ty năng khuất cao. Hiền trí vọng thả bố. Ngu liệt thân khả kiều. Sanh bình bán nghi tín. Mạt hậu thỉ giải trào. Thị ngã quy lộ ổn. Ai tai cam tự đào! Khể thủ từ thệ lực, chung đương vị ngã chiêu.

          (Làng Phật Đà Trường Can, bỗng vang danh thế hào. Khí độ tợ vương giả, bút trận dường sóng trào. Tông, Giáo mặc du hý, Chân, Tục mặc tiêu dao. Vào hiểm chẳng khác yên; ngộ hèn, biết khuất mình. Hiền trí nhìn kinh sợ, ngu kém ngưỡng mộ Ngài. Đời nửa tin, nửa ngờ, cuối cùng mới hết nghi. Dạy con nẻo an ổn, buồn thay cam tự trốn. Kính lạy sức từ thệ, rốt cuộc chuốc vời con).

 

* Ba mươi ba bài tán chân dung của chính mình

 

          1) Vị nhĩ vi Thiền, môn đình phất chuyên. Vị nhĩ vi Giáo, biện hương phất tuyên. Vị nhĩ vi Luật, tiêu bảng phất kiền. H́nh hài khô cảo hề, thần tình tự phong, tư tánh độn chuyết hề, thuyên biện tự hùng. Xúc trước cừ hề, mãnh hổ, độc long. Thức đắc cừ hề, hòa khí xuân phong. Cứ nhĩ nhất trạng, tự thủ mạn vân, hiến chương Tử Bách Khả, tổ thuật Vĩnh Minh Thọ. Tử tế kiểm điểm tương lai, bất miễn vạn niên di xú.

          (Nói ngươi là Thiền, môn đình chẳng chuyên. Nói ngươi là Giáo, mảnh hương chẳng tuyên. Nói ngươi là Luật, gương mẫu chẳng kiền thành. Hình hài tiều tụy, tinh thần tự sung túc. Bẩm tánh chậm chạp, vụng về, diễn nói, biện luận tự hùng hồn. Chạm đến ngươi à? Hổ dữ, rồng độc. Biết đến ngươi à? Hòa khí gió Xuân. Xét hành trạng ngươi, tự ngạo mạn nói noi theo khuôn phép của ngài Tử Bách Chân Khả, kế thừa, thực hiện đạo của Vĩnh Minh Diên Thọ. Tỉ mỉ kiểm điểm tương lai, chẳng khỏi để tiếng xấu vạn năm).

          2) Dị phiên Thiền giảng khỏa cữu, hân khai Phật, Tổ đầu lô, bút để oanh lôi, xiết điện, thiệt tiêm bình thủy, bàn châu, chỉ hữu nhất đoan khả tiếu. Y nhiên cụ phược phàm phu.

          (Lật nhào khuôn sáo Thiền giảng, mở toang đầu lâu Phật, Tổ. Dưới bút sấm nổi, chớp giăng. Đầu lưỡi bình nước, mâm châu[51]. Chỉ có một mối đáng cười, vẫn là cụ phược phàm phu[52] y hệt!)

3) Học vô thường sư, giao vô trạch hữu, trọng thật, khinh danh, từ tâm độc khẩu. Hữu thời tự hài đề chi đồng. Hữu thời tự tang gia chi cẩu. Bất giải xu cát tỵ hung. An tri thôi bạc cư hậu? Đạp phá khê sơn vạn đóa vân, nhân tiền xứ xứ dương gia xú.

(Học thầy vô thường, kết bạn không chọn lựa. Trọng thật, khinh danh. Tâm từ, miệng dữ. Có lúc như trẻ thơ non dại, có lúc như chó nhà có tang. Chẳng hiểu hướng lành, tránh dữ, há biết tránh bạc, trụ hậu? Đạp nát muôn đóa mây nơi núi, khe. Chốn chốn khoe cái xấu trước mọi người).

4) Bão anh chử chi khổ tư, mông Lý Lăng chi cấu nhục. Nhãn khổng thước phá thái không, hành lý hồn vô khả lục. Phế kư trung thanh trung quyền, ẩn cư phóng ngôn thành cục. Tán hủy nhất nhậm chư phương, Trí Húc nguyên thị Trí Húc.

(Mang nỗi khổ bảo vệ con côi, chuốc nỗi ô nhục của Lý Lăng[53]. Tròng mắt nhìn thấu hư không, cư xử chẳng có gì đáng chép! Đã phế “trung thanh, trung quyền”, ẩn cư phóng ngôn”[54] thành hạn cục. Khen, chê đành mặc các phương. Trí Húc vốn là Trí Húc).

          5) Tham Thiền, Thiền bất ngộ. Khán Giáo, Giáo bất thâm. Tŕ giới bất cụ túc, niệm Phật bất nhất tâm. Quán điệu xế không tý, xuất nhập kinh cức lâm. Ha Phật diệc mạ tổ, hiệp thú kiêm hữu cầm. Toàn thân đẳng vi vũ, phiến ngữ trọng thiên kim. Chi Na quốc lư lưu cá khanh khanh tiểu nhân chủng, thiên cổ vạn cổ vị thẩm thùy tri âm?

          (Tham Thiền, Thiền chẳng ngộ. Xem Giáo, Giáo chẳng sâu! Tŕ giới chẳng đầy đủ. Niệm Phật chẳng nhất tâm. Quen thói buông thõng tay, ra vào rừng gai góc. Quở Phật cùng chửi tổ, bỡn cợt cùng chim, thú. Khắp thân là lông chim, một lời nặng ngàn vàng. Trong nước Chi Na còn một thứ tiểu nhân lộc cộc, ngàn đời, vạn thuở chẳng rõ ai là tri âm?)

          6) Đốt tai Chung Đại Lang! Thắc sát vô câu thúc. Nhật dạ tứ vô minh, tăng trưởng tham sân độc. Tự tán phục hủy tha, trực chỉ hoàn tác khúc. Ngoạn lộng Phật dữ ma. Điên đảo chân dữ tục. Cử bút động thiệt thời, mỗi sử quỷ thần khốc. Nhân thuyết nhĩ thông minh, ngã thuyết nhĩ mộc cốc. Mạnh lãng quá nhất sanh, cứu cánh kết hà cục? Bất thị sanh Tây Phương, tiện thị đọa địa ngục.       

(Chao ôi Chung đại lang[55]! Quá đỗi chẳng gò bó. Đêm ngày ruổi vô minh, tăng trưởng độc tham sân. Tự khen, lại chê người. Bẻ cong lẽ trực chỉ. Đùa bỡn Phật cùng ma, điên đảo chân với tục. Mỗi khi viết hoặc nói, thường khiến quỷ thần khóc. Người nói ngươi thông minh, ta nói ngươi cùm gỗ! Sống phí uổng một đời, rốt cục sẽ ra sao? Nếu chẳng sanh Tây Phương, sẽ liền đọa địa ngục!)

          7) Đơn đề cực tắc chánh lệnh, bất đọa kim thời khoa quật. Giả nhiêu Hoàng Bá, Vân Môn, vị miễn tao ngô nhất quặc. Thả đạo hướng thượng nhất cú, tất cánh thị cá thậm ma? Hiệp chưởng xưng vân, nam-mô A Di Đà Phật (hình niệm Phật, tám bài sau giống như vậy).

          (Riêng nêu chánh lệnh tột cùng, chẳng lọt vào khuôn sáo hiện thời. Dẫu cho Hoàng Bá, Vân Môn, chẳng khỏi bị ta bợp tai. Lại nói một câu “hướng thượng”, rốt cuộc là cái gì vậy? Chắp tay xưng rằng: Nam-mô A Di Đà Phật).

          8) Bất độ đức, bất lượng lực. Vọng dục chỉ trụ trung lưu. Thùy đạo liên thân cốt một. Nỗ lực bát tương khởi lai, vị miễn cân bì cốt trắc. Lại hữu kim cang chủng tử, tùng lai bất thọ xâm thực. Di Đà nhất cú tác tân lương, A Tỵ trực đạt An Lạc quốc.

          (Chẳng lường đức, chẳng lượng sức. Hư vọng toan làm trụ đá giữa dòng. Ai ngờ thân cũng chìm đắm. Nỗ lực chèo chống thoát ra, chưa khỏi gân chùng, xương mỏi. Nhờ có chủng tử kim cang, trước nay chẳng bị ăn mòn. Một câu Di Đà làm cầu bến, A Tỵ đến thẳng Lạc bang).

          9) Hảo cá bất tức lưu hán, tiền hậu tuyệt vô tư toán. Phật pháp giảng đắc hứa đa. Phiền năo hà tằng thiểu đoạn. Tuy nhiên hà bất yểm du, tranh nại dạ do vị đán. Chỉ hữu Tây Phương lộ thục, thả hỷ cứu đắc nhất bán. Trực đãi Di Lặc hạ sanh, phương liễu giả trùng công án.

          (Hay sao một gã chẳng mẫn tiệp, trước sau trọn chẳng suy tính, nói Phật pháp cho lắm, phiền não chưa hề đoạn chút nào. Dẫu tỳ vết chẳng vùi lấp mỹ ngọc, hiềm rằng đêm vẫn chưa sáng. Chỉ có nẻo Tây Phương đã quen, lại vui được cứu một nửa. Chờ cho Di Lặc hạ sanh, mới hiểu rõ tầng công án này).

          10) Tín đắc thị tâm thị Phật, nãi tín thị tâm tác Phật. Sở dĩ khô tọa nam nam, chuyên niệm A Di Đà Phật. Thiên yếu ký xuyến, ký thiên. Bất học man han cốt đột. luận chuyên tâm, tán tâm. Thanh thanh diệt tội bát thập ức kiếp. Giả sử chúng sanh giới tận, hư không giới tận, ngã thử tŕ danh, chung vô hưu hiết.

          (Tin tưởng tâm này là Phật, bèn tin tâm này làm Phật. Do vậy, ngồi khô khốc rì rầm, chuyên niệm A Di Đà Phật. Riêng muốn nhớ chuỗi, hay nhớ ngàn tiếng[56], chẳng học mịt mờ, rối loạn; bất luận chuyên tâm, tán tâm, mỗi tiếng diệt tội tám mươi ức kiếp. Giả sử chúng sanh giới tận, hư không giới tận, sự trì danh của tôi trọn chẳng ngưng nghỉ).

          11) Bất nguyện thành Phật, bất cầu tác tổ. Bất khẳng tùng kim, bất cảm bạn cổ. Niệm niệm tư quy Cực Lạc hương, tâm tâm chỉ úy Sa Bà khổ. Lục tự Di Đà thị thoại đầu, thiên ma bách nạn thùy năng trở. Thiên hạ nguyên phi thủ khả viện, thả học Nhan Uyên quyền bế hộ. Trực đãi Tây Phương khứ phục lai, phổ dữ trần sa kích pháp cổ.

          (Chẳng nguyện thành Phật, chẳng cầu làm Tổ. Chẳng chịu theo nay, chẳng dám trái xưa. Mỗi niệm nghĩ về quê Cực Lạc. Mỗi tâm chỉ sợ khổ Sa Bà! Sáu chữ Di Đà là thoại đầu. Ngàn trăm vùi dập cùng tai nạn, ai cũng chẳng hề ngăn được ta! Chẳng thể ra tay giúp thiên hạ, đành học Nhan Uyên đóng cửa tu. Chờ từ Tây Phương quay trở lại, sẽ gióng trống pháp khắp trần sa).

          12) Nguyện đại bất di trần giới, đảm tiểu phạ đọa địa ngục. Kiến nhân hy tiếu măn dung, lễ Phật bi ai thống khốc. Chung nhật luân xuyến sổ châu, duy khủng vạn thanh vị túc. Túng hữu nhất khích độc minh, thả vô phiến trường khả lục. Chỉ đồ hạ phẩm liên sanh. Tiện thị chung thân định cục. Khởi cảm đại ngôn khi thế, trí sử pháp môn thọ nhục.

          (Nguyện to, chẳng sót vi trần cõi. Gan bé, chỉ sợ đọa địa ngục. Thấy người, đầy mặt tươi cười. Lễ Phật, buồn thương khóc rống. Suốt ngày luôn tay lần chuỗi, chỉ sợ chưa đủ vạn câu! Dẫu có một thoáng riêng sáng suốt, chẳng có chút sở trường đáng kể! Chỉ mong hạ phẩm liên sanh, chính là kết quả chắc chắn một đời. Há dám huênh hoang dối đời, đến nỗi pháp môn mang nhục).

          13) Dă tánh lăn thả phích, độc dữ trúc thạch nghi. Tuyền thanh diễn Phật hiệu, trợ ngã Tây Phương tư. Hữu thời minh mục tọa. Dao tùy lạc nhật trì. Hữu thời cao thanh hô, huyền tưởng mẫu ức nhi. Phả tín cảm ứng lý, ninh phục hoặc tha kỳ. Tu Di hoặc khuynh động, ngã chí bất khả di. Ai tai sanh tử mộng, cố tật thùy năng y? Thứ ky nhất khâu hác, liêu miễn dăng oa si.

          (Tánh đã lười lại kỹ, riêng hợp với đá, tre. Tiếng suối diễn Phật hiệu, giúp ta nhớ Tây Phương. Có khi nhắm mắt ngồi, ruổi theo mặt trời lặn. Có lúc lớn tiếng niệm, tưởng nghĩ mẹ nhớ con. Khá tin lý cảm ứng, chẳng mê rẽ lối khác. Tu Di dẫu lay động, chí ta chẳng thể dời! Buồn thay mộng sanh tử, bệnh ngặt ai chữa lành? Những mong chốn ẩn dật, hòng thỏa nỗi si mọn).

          14) Sanh bình thiểu thật đức. Thử tượng hà lao truyền? Độc hữu bất khi tâm, giảo thắng cận nhật Thiền. Nguyện cư chúng nhân hậu, bất vi nhất vật tiên. Tứ nghi tŕ Phật hiệu, phất luận tán dữ chuyên. Tín nguyện chung vô nhị, định dục trân tŕ liên. Dữ nhĩ chúng thượng thiện, lịch kiếp h́nh thần liên.

          (Cả đời kém thật đức, tượng này há nhọc truyền? Riêng tâm chẳng lừa dối, trội hơn Thiền gần đây. Nguyện ở sau mọi người, chẳng ở trước một ai. Tứ nghi[57] trì Phật hiệu, chẳng màng tán hay chuyên! Tín nguyện trọn chẳng hai, quyết tắm nơi ao báu, cùng các vị thượng thiện, trải kiếp gá thân sen).

          15) Bất tham Thiền, bất học Giáo, Di Đà nhất cú chân tâm yếu. Bất đàm huyền, bất thuyết diệu. Sổ châu nhất xuyến chân phong điều. Do tha cơ, nhậm tha tiếu, niệm bất trầm hề, diệc bất điệu. Trú dạ xưng danh thệ phất vong. Chuyên đăi từ tôn quang lư triệu. Huyền tri liên ngạc dĩ tiêu danh, thỉnh quân đồng thượng từ bi tạo.

          (Chẳng tham Thiền, chẳng học Giáo. Một câu Di Đà, chân tâm trọng. Chẳng bàn huyền, chẳng nói diệu. Một chuỗi tràng hạt chân thật lần. Mặc ai chê, kệ ai cười, niệm chẳng trầm trệ, chẳng lao chao. Ngày đêm xưng danh thề chẳng quên. Chuyên đợi từ tôn quang minh nhiếp. Biết sẵn búp sen đã ghi tên, xin ông cùng lên chốn từ bi).

          16) Kính Sơn lâu hạ, mê khước phụ mẫu sanh thân. Vĩnh Khánh đường trung, y hy chỉ lộc vi mã. Cửu Hoa tĩnh thất, tằng khiết hủ tể bỉ khang. Linh Phong tạng đường, hựu phục vi ư thời hạ. Nhi kim hướng thử khô thụ lý. Hồ tư loạn tưởng tác ma? Đốt! Hốt ngộ thụ đảo, đằng khô, thả hỷ tương tùy lai dã! (tượng như cây khô nhập Thiền).

          (Dưới lầu Kính Sơn, mê mất thân cha mẹ sanh. Nơi Vĩnh Khánh đường, phảng phất chỉ nai nói ngựa. Cửu Hoa tĩnh thất, từng ăn cặn hư cám bã. Linh Phong tạng đường, lại trái thời kết hạ. Nhưng nay hướng đến cội cây khô, suy tưởng loạn xạ để làm gì? Ôi! Bỗng gặp cây đổ, dây leo khô, lại mừng theo gót vậy).

          17) Nhược dục lợi nhân, hà bất hướng vạn chúng tùng tịch dương danh? Nhược dục tự lợi, hà bất hướng vạn sơn thâm xứ tàng thân? Khán nhĩ tấn thoái thất cứ, muội khước phát giác sơ nhân. Tuy nhiên bị tha giản điểm, thả hỷ hữu lư khả thân. Bất nguyện nhất nhật mại đắc thiên đảm giả, đản nguyện thiên nhật mại bất đắc nhất đảm chân (tướng thuyết pháp).

          (Nếu muốn lợi người, sao chẳng hướng đến tùng lâm giảng tịch vạn người để phô danh? Nếu muốn tự lợi, sao không hướng đến chỗ thẳm trong muôn núi để ẩn thân? Thấy ngươi tiến, thoái chẳng đúng lẽ, mê mất cái nhân phát khởi giác ngộ thuở đầu! Dẫu được người khác can gián, chỉ bày, vẫn mừng có lý để diễn bày. Chẳng nguyện một ngày bán được ngàn gánh giả, chỉ mong ngàn ngày chẳng bán được một gánh chân!)

          18) Hành niên ngũ thập, do vị tri phi. Thất điên bát đảo, bả thiệt, cổ bì. Kiến ác bất tỉnh, kiến thiện bất tề, hồ tư loạn tưởng, nhạ báng chiêu nghi. Dịch phá tánh tướng lưỡng gia giới hạn, phiên đảo Nam Tông, Bắc Giáo phiên ly. Hữu thời bất cung, tắc lạm đồng Hạ Huệ. Hữu thời biển ải, tắc phảng phất Bá Di. Độc đắc nhất điểm hảo quyết khiếu, thất tiện nghi xứ chiếm tiện nghi.

          (Tuổi đã năm mươi, vẫn chẳng biết sai! Thất điên bát đảo, khoe môi múa lưỡi, thấy ác chẳng tỉnh ngộ, thấy hiền chẳng mong bằng. Suy tưởng loạn xạ, chiêu báng, chuốc ngờ! Đạp đổ giới hạn giữa hai nhà Tánh, Tướng. Lật nhào rào giậu Bắc Giáo, Nam Tông. Có khi chẳng cung kính, lạm dự giống như Hạ Huệ. Có lúc hẹp hòi, phảng phất Bá Di. Chỉ được mỗi điểm quyết khiếu tốt đẹp, chiếm tiện nghi nơi chỗ chẳng tiện nghi).

          19) Tỳ Lô đảnh thượng, bất khẳng an thân lập mạng. Bả lư cước biên, thiên yếu xích thoái thốn tấn. Khả lân ngũ thập niên lai, nan đắc bán thời ninh tĩnh. Vị tri tánh cụ viên tông, uổng hướng bát vu thảo bính. Dĩ ngộ tánh ác pháp môn, nguyên lai tức thị bệnh hạnh.

          (Trên đảnh Tỳ Lô, chẳng chịu an thân lập mạng. Bên chân lừa què, riêng mong lùi một thước, tiến một tấc. Đáng thương năm chục năm qua, khó được nửa giờ yên tĩnh. Chưa biết viên tông tánh trọn, oan uổng tìm cán nơi bát. Do ngộ pháp môn ác tánh, vốn sẵn chính là bệnh hạnh).

          20) Do ức thập nhị tam thời, tiện yếu thụ hiền thánh xí, nhi kim ngũ thập dư niên, hà thường tri đắc thiên đức? Huống tấn tư tam thập vị lập, tứ thập đa Hoặc, ký bất kham tác Tuyên Ni tử tôn, hựu khởi kham xưng Thích Ca nhi tức? Tử tế giản tương lai, chỉ thị nhất cá biên phạn khiết đích lăo tặc.

          (Còn nhớ lúc mười hai, mười ba, liền muốn dựng cờ thánh hiền, mà nay hơn năm mươi năm, chưa từng biết đức trời! Huống suy xét ba mươi chưa lập, bốn mươi Hoặc nhiều, đã chẳng kham làm con cháu Tuyên Ni, há đáng kham xưng là con cháu Thích Ca? Suy tính cặn kẽ cho tương lai, chỉ là một tên giặc già lừa gạt cơm ăn).

          21) Hung trung một bán cá tự cước, bút hạ hữu vạn quyển thi thư, đỗ lý vô phân hào giới đế. Thiệt đầu hữu đa thiểu hủy dự. Hảo tượng nhất khoa đại thụ, chỉ thị kỳ danh viết xư (tướng trước thuật).

          (Trong bụng chẳng được một nửa chữ, dưới ngòi bút có vạn quyển thi thư. Trong bụng chẳng có mảy may phiền trách, đầu lưỡi có bao nhiêu lời khen, chê. Giống như một cội cây lớn, chỉ đáng gọi là cây xư[58])

          22) Dã thị bách vạn nhân thiên tri thức, dã thị tam gia thôn lư học cứu. Dã thị giới định huệ tiền mao. Dã thị tham sân si đích lănh tụ. Chỉ nhân một hữu đích xác sư thừa, đáo để chỉ thị cá bát bất tựu.

          (Cũng là tri thức của trăm vạn trời người. Cũng là kẻ có học vấn trong thôn ba nhà, cũng là tiền phương tiện giới định huệ, cũng là lãnh tụ của tham sân si. Chỉ do chẳng có sư thừa đích xác, rốt cuộc chỉ là một gã tám điều đều chẳng xong[59]).

          23) Sanh bình quá thất thâm trọng, do hạnh phả tri nội tụng. Hồn thân hà điếm như mang, do hạnh bất cảm phú tàng. Tạ thử tàm quý chủng tử, phương kham tống tưởng Lạc bang. Dĩ tư chân ngữ, thật ngữ, kiêm dục ký giới chư phương. Bất tất học tha khẩu trung, lạn phiên ngũ tông bát giáo. Thả tiên học tha nhất điểm, phác phác thật thật tâm tràng.

(Suốt đời lầm lỗi sâu nặng, còn may khá biết tự trách. Khắp thân tỳ vết như tua lúa mạch, còn may chẳng dám giấu che. Nhờ chủng tử hổ thẹn ấy, mới kham mong tưởng Lạc bang. Dùng chân ngữ, thật ngữ này, kiêm mong răn nhắc các phương: Đừng học đòi miệng chỉ nói suông, đạp nát năm tông, tám giáo. Trước hết, hãy học theo hắn[60] một điều, ruột gan chất phác, chân thật).

          24) Tích niên Dung sư hội lư, hoặc tằng thiêu hỏa, tảo địa. Sở dĩ kim tại U Thê, vọng niêm Đệ Nhất Nghĩa Đế. Bất thiệp nghĩ nghị tư lương, bất ly ngữ ngôn văn tự. Nhân thiên đại chúng, vị miễn kinh nghi. Lại hữu Trạm công, kham tác chứng chất. Thiết vật tương thử xú dung, thoán nhập bách tổ đội trung, đản khả lưu dữ nhi tôn, tác cá cổ đồng ngoạn khí.

          (Xưa kia trong hội của ngài Biến Dung, chắc đã từng đốt lửa, quét đất. Cho nên nay tại U Thê, hư vọng nêu ra Đệ Nhất Nghĩa Đế. Chẳng dính dáng toan tính, suy lường, chẳng lìa ngôn ngữ, văn tự. Đại chúng trời người, chưa khỏi kinh nghi. Nhờ có Trạm công, kham làm bậc chứng minh, cật vấn. Chớ đem dung mạo xấu xí này, lén xếp vào hàng ngũ chư tổ. Chỉ nên lưu lại cho con cháu, làm một thứ đồ cổ để chơi thôi!)

          25) Chú tận thập nhị bộ kinh, bất tằng tăng giảm nhất tự. Giảng tận bát vạn luật nghi, bất tằng hành đắc nhất sự. Thích Ca Như Lai, hoán tác bất tiếu xú nhi. Di Lặc Thế Tôn, ha vi si ngoan ngạo đệ. Độc hữu A Di Đà Phật, tàng cấu nạp ô, kim thủ tiếp hướng hạ phẩm liên hoa an trí.

          (Chú giải trọn mười hai bộ kinh, chưa từng tăng giảm một chữ. Giảng hết tám vạn luật nghi, chưa từng làm được một chuyện. Bị Thích Ca Như Lai gọi là đứa con tồi tệ chẳng ra gì. Di Lặc Thế Tôn quở là đứa học trò si, bướng, kiêu ngạo. Riêng có A Di Đà Phật dung nạp cấu dơ, tay vàng đón tiếp đặt nơi hoa sen hạ phẩm).

          26) Khể thủ Ngẫu Ích chân, đảnh đới Như Lai tượng. Thử tượng ký phi chân. Thử chân ninh hữu lưỡng? Đế quán tượng dữ chân. Duy thị tự tâm tưởng. Tâm bất thuộc thánh phàm, thánh phàm năi tịnh lăng. Phàm phu tọa bồ đoàn, thánh ưng cư kỳ thượng. Phàm nhân xí thánh quả, phân minh thị chư chưởng. Niệm niệm hằng hiện tiền, h́nh ảnh chung vô sảng. Ngã diệc tín phất nghi, nhĩ diệc an cưỡng. Địch diện ngữ mặc vong, hà lao phục trợ trưởng. Trấn cổ đản như tư, bất mịch thời lưu thưởng. Dục tùng diệc vị do, ninh tư cánh toản ngưỡng, bạch nhật lâm thanh thiên. Biến giới tiêu lỵ võng. Ngu muội nhậm cơ xuy, long thần nhậm khể tảng. Cá sự tuyệt thành khuy, thập xích nguyên nhất trượng, đản giá từ bi hàng, đồng dao Bát Nhã tương. Pháp giới vi tân lương, trực tầm khởi xích uổng. Cánh vấn cổ Quán Âm, phương tri nhược ưng hưởng.

          (Kính lạy Ngẫu Ích chân, đầu đội tượng Như Lai. Tượng ấy đã chẳng thật, thật há lại có hai? Quán kỹ tượng và thân, chỉ là tự tâm tưởng. Tâm chẳng thuộc thánh phàm, thánh phàm đều rỗng rang. Phàm phu ngồi bồ đoàn, thánh ắt ngự ở trên. Phàm do mong thánh quả, phân minh như chỉ tay. Niệm niệm luôn hiện tiền, h́nh ảnh trọn chẳng sai. Ta cũng tin chẳng ngờ, ngươi cũng đừng nên cưỡng! Đối diện, im, nói bặt, nhọc chi giúp tăng trưởng? Giữ xưa chỉ như thế, chưa từng theo thói nay. Muốn theo, vẫn chưa được; mong chi ngưỡng mộ, nghĩ? Mặt nhật rạng trời xanh, khắp cõi quỷ quái bặt. Mặc ngu muội chê gièm; mặc rồng, thần kính lễ. Chuyện này trọn thiếu sót, mười thước vốn một trượng. Chỉ thả thuyền từ bi, cùng vẫy chèo Bát Nhã. Pháp giới là cầu bến, vì tầm há uổng thước? Lại hỏi cổ Quán Âm, mới biết nên thế nào?)

          27) Uẩn Từ hiệp chưởng vấn trì giới. Ngã thuyết trì giới tu uẩn từ. Từ thị hạ hóa chúng sanh bổn. Từ thị thượng cầu Phật đạo cơ. Bất sát, bất đạo, bất dâm vọng. Bạt khổ, dữ lạc công thậm kỳ. Chuyên hộ tánh giá linh thanh tịnh. Nhưng tu niệm Phật cầu sanh Tây. Thiết bất cầu sanh Cực Lạc quốc, chỉ khủng nhưng tao cách ấm mê. Thiết năng tín nguyện cầu bỉ độ, tuy tằng hữu phạm diệc thành cơ. Thị dĩ ngã kim đản niệm Phật. Nhất cú Di Đà pháp giới sư. Bất lao học thấu Triệu Châu khẩu. Bất lao học phấn Vân Môn oai. Thanh thanh tọa đoạn thánh phàm lộ. Tứ cú hàm ly tuyệt bách phi. Tam thân Tứ Đức địch thể lộ, thước phá điểu không thử tức si. Uẩn Từ, Uẩn Từ ưng đế tín, Phật hiệu viên thành bát vạn nghi.

          (Uẩn Từ chắp tay hỏi trì giới. Tôi nói trì giới cần lòng từ. Từ là gốc hạ hóa chúng sanh. Từ là nền thượng cầu Phật đạo. Chẳng giết, chẳng trộm, chẳng dâm, dối. Dẹp khổ, ban vui, công lạ thay! Chuyên gìn tánh, giá khiến thanh tịnh. Vẫn cần niệm Phật cầu sanh Tây. Nếu chẳng cầu sanh cõi Cực Lạc, chỉ sợ vẫn mê khi cách ấm. Nếu như tín, nguyện cầu cõi ấy, tuy từng trót phạm vẫn còn duyên. Do vậy, tôi nay chỉ niệm Phật. Một câu Di Đà thầy pháp giới, chẳng học súc miệng theo Triệu Châu. Chẳng nhọc học Vân Môn ra oai. Từng tiếng cắt đứt nẻo thánh phàm. Bốn câu đều lìa, dứt bách phi. Tam thân, tứ đức thể hiển lộ. Phá sạch nỗi si nói lý suông. Uẩn Từ, Uẩn Từ hãy nên tin chắc, Phật hiệu trọn thành tám vạn oai nghi).

          28) Nhân tri kỳ biếm cổ xích kim, bất tư kỵ húy. Bất tri kỳ đàm Giáo thuyết Thiền, bất lập văn tự. Thượng pháp tòa hề, khẩu nhược huyền hà. Hạ pháp ṭa hề, mục vô sở thị. Tùng triêu chí mộ xưng A Di, khốt khốt tư tư tương số ký. Tam thập niên lai bất cải huyền, tùng tư kham tận vị lai tế. Thập chủng khả tận niệm vô tận, nhất thiết tam-muội nhất tam-muội. Cụ phược phàm phu thậm hy hữu, quyết bất vọng ngôn thánh hiền vị. Thương Huy nhược dục hằng tương tùy, sát na dũng phát Bồ Đề chí.

          (Người ta biết hắn chê xưa, quở nay, chẳng nghĩ kỵ húy. Chẳng biết bàn Giáo, luận Thiền, chẳng lập văn tự. Lên pháp tòa, miệng như sông cuồn cuộn. Bước xuống pháp tòa, chẳng để một ai vào mắt. Từ sáng tới tối xưng niệm A Di Đà, khăng khăng ghi nhớ số. Ba mươi năm qua chẳng đổi cách, từ nay tu miết tột vị lai. Mười loại dẫu tận, niệm vô tận. Hết thảy tam-muội chỉ là một tam-muội. Phàm phu phiền não thật hy hữu, quyết chẳng nói bừa địa vị thánh hiền. Thương Huy nếu muốn luôn theo bước, sát-na dũng mãnh phát chí Bồ Đề).

          29) Thương Vân truyền ngã dung, vấn ngã hà hành cước. Ngã hành khổ thả trường, vị quân thuyết kỳ lược. Thập nhị tùng ngoại phó, lập chí vị thánh học. Ngộ tạo báng pháp tội, ky chí đại đọa lạc. Thập thất văn Phật ngôn, phiên nhiên thỉ cải ác. Nhị thập đinh phụ ưu. Bi cực như mộng giác. Kiến Địa Tạng Bổn Nguyện, thả khốc, thả hân dược. Thứ niên, thư sám pháp, huân tửu giới bất khước. Nhập tam thính Lăng Nghiêm, cấp tham giả nhất trước. Nhập tứ đào xuất gia. Xứ xứ biến tầm mô. Vân Thê cập Song Kính, Thiên Thai lai vãng số. Đản tự cứu căn nguyên, bất vấn tha nhân thược. Phủ đắc môn lộ thanh, toại ngộ cảnh duyên ngược. Hư danh nhật dĩ chương, công hạnh nhật dĩ nhược. Chí niên tam thập bát, đại bệnh vi lương dược. Cao ngọa Cửu Tử phong, khang tể kham thư tước. Phủ chú Phạm Vơng kinh, toại hữu Ôn Lăng ước. Bão bệnh thuật Huyền Văn, quyết khai thiên cổ mạc. Tùng Mân chí Ngô Hưng, nãi đáo Trường Can quách. Chú thuật tuy vân phú, tương thác hoàn tựu thác. Kim niên ngũ thập tam, y nhiên thị cụ phược. Tổn kỷ dĩ lợi nhân. Cổ thánh sở ta ngạc. Thâm hối diệc giảo trì, Linh Phong liêu tạm thác. Nhất cú A Di Đà, kham vi lương dạ thác. Nhữ đản ấp ngã thanh, vật cánh đồng ngã trược!

          (Thương Vân truyền hình[61] tôi, hỏi tôi chuyện hành cước. Tôi hành khổ lại dài, kể với ông đại lược. Mười hai tuổi vào học, lập chí vì thánh học. Lầm tạo tội báng pháp, gần như đọa lạc to. Mười bảy nghe lời Phật, thoăn thoắt đổi lỗi ác. Hai mươi bị tang cha. Bi tột, như tỉnh giấc. Xem Địa Tạng Bổn Nguyện, vừa khóc, vui, hớn hở. Năm kế, chép sám pháp. Rượu thịt đều kiêng dứt. Hăm ba nghe Lăng Nghiêm, vội tham lẽ hướng thượng. Hăm bốn trốn đi tu. Tìm, mò trọn khắp nơi. Vân Thê và Song Kính, Thiên Thai qua lại nhiều. Chỉ tự tìm căn nguyên, chẳng hỏi người khác lối! Vừa mới hiểu đường nẻo, bèn gặp nghịch cảnh duyên. Hư danh ngày một rạng, công hạnh ngày thêm yếu. Tới tuổi ba mươi tám, bệnh ngặt là thuốc lành. Nằm cao ngọn Cửu Tử, kham nhấm nuốt cám, cặn. Vừa chú kinh Phạm Võng, bèn ước hẹn Ôn Lăng. Ôm bệnh soạn Huyền Văn, quyết bóc màng ngàn đời. Từ Mân đến Ngô Hưng, bèn tới gần Trường Can. Chú thuật tuy dồi dào, vẫn đem lầm đáp lỗi! Nay tuổi đã năm ba, phiền não trói y hệt. Tổn mình để lợi người, cổ thánh từng than thở. Rất hối cũng chậm rồi, Linh Phong đành tạm gởi. Một câu A Di Đà, kham làm mõ cầm canh. Ông chỉ chọn điều thanh, đừng giống tôi ô trược!)

30) Lộ xuất nương sanh bán thân, sổ xuất kim sanh bại khuyết. Mộ Hám ông chi đảm đương pháp môn. Bất năng học kỳ bất tỵ phủ việt. Mộ Tuyết Lăng lực tảo cát đằng, bất nghi học kỳ nhất vị khinh hốt. Mộ Vân Thê chi thịnh đức khiêm quang, bất năng học kỳ quảng tác châu phiệt. Mộ Thọ Xương chi chân tham thật ngộ, bất năng học kỳ đáo để bất hiết. Mộ U Khê chi trung hưng Thai Quán, bất nghi học kỳ đơn thủ nhất quyết. Mộ Chuyên Ngu chi băng sương thao lý, bất năng học kỳ đại biện nhược nột. Nguyện học Tử Bách chi tông giáo viên minh, viễn bất cập kỳ thuần cương chú cốt. Y! Thử thị Ngô Môn bất tức lưu đích Chung Chấn Chi, nhi kim hựu hoán tác Bắc Thiên Mục đích lăo khốt lốt. Kỷ phiên cổ dực dục đằng không, kỷ phiên hựu hướng hoang nguyên quyết. Chỉ hữu nhất cú A Di Đà Phật nhận đắc chân, nguyên tuyền tất cánh quy thương bột.

          (Để lộ nửa thân mẹ sanh, nhiều lượt lộ khuyết điểm đời này. Ngưỡng mộ ngài Hám Sơn gánh vác pháp môn, chẳng thể học Ngài không tránh né búa, rìu. Ngưỡng mộ ngài Tuyết Lăng tận lực quét sạch dây leo, chớ nên học Ngài một mực coi thường. Ngưỡng mộ ngài Vân Thê đức dày, khiêm quang, chẳng thể học Ngài rộng làm thuyền, bè. Ngưỡng mộ ngài Thọ Xương chân tham thật ngộ, chẳng thể học Ngài rốt cuộc chẳng ngưng. Ngưỡng mộ ngài U Khê trung hưng Thiên Thai Giáo Quán, chớ nên học Ngài chỉ giữ một đằng. Ngưỡng mộ ngài Chuyên Ngu phẩm tiết băng sương, chẳng thể học Ngài đại biện tài mà như kẻ khờ khạo. Nguyện học theo ngài Tử Bách Tông Giáo đều viên minh, nhưng thua xa Ngài khí tiết cứng cỏi! Ôi! Đấy là gã Chung Chấn Chi[62] chẳng mẫn tiệp ở Ngô Môn, nay lại gọi là lão ương bướng tại Bắc Thiên Mục. Mấy phen vỗ cánh toan vọt lên không, mấy phen lại rơi phịch xuống đồng hoang! Chỉ có một câu A Di Đà Phật hiểu chân thật; suối, nguồn rốt ráo về biển thẳm).

          31) Sanh bình bất giải tàng chuyết, lộ thử tàng tư ngoan liệt. Thuyết khởi phảng phất y hy. Địch diện hà thường thân thiết? Lại hữu nhất xuyến sổ châu, khước thị sanh bình bí quyết. Sở dĩ hoán tác Ngẫu Ích, vị thị chứng quy vi miết. Ký ngữ Lý an pháp hữu, bất tất tư lương phân biệt. Đản như Đinh Lan sự thân, quản thủ thích chi xuất huyết.

          (Suốt đời chẳng biết giấu vụng về, để lộ vẻ bướng hèn ẩn tàng. Nói thì phảng phất, lơ mơ, gặp mặt có bao giờ thân thiết? Nhờ có một chuỗi tràng hạt, chính là bí quyết cả đời. Do vậy, gọi là Ngẫu Ích, chưa phải là kẻ hàm hồ cưỡng lý đoạt từ. Gởi lời tới pháp hữu an trụ trong lý, chẳng cần phải suy lường, phân biệt. Chỉ như Đinh Lan[63] phụng sự cha mẹ, há bận tâm đâm ra máu).

          32) Thử thị Ngẫu Ích đạo nhân, sanh bình bất thiện đào danh. Xứ xứ tàng đầu lộ vĩ. Khả sỉ Thanh Văn quá tình, ngẫu hướng Phong Nam dương gia xú. Thiên cổ độc cổ nhưng tề minh. Tiễu tuyệt bách thiên kỳ khúc lộ, trực giao đồng tác liên bang dân.

          (Đây là Ngẫu Ích đạo nhân, suốt đời chẳng khéo ẩn danh. Nơi nơi giấu đầu lòi đuôi. Đáng thẹn tình kiến Thanh Văn quá mức, ngẫu nhiên hướng đến Phong Nam bêu cái xấu sẵn có. Trống trời, trống bôi thuốc độc vẫn cùng gióng, trừ sạch trăm ngàn đường vòng vèo, thẳng thừng cùng làm dân cõi sen).

          33) Bình sanh tự cứu bất liễu, chỉ vị môn tiền chi nhiễu, nhi kim thỉ giải tàng thân, mộ nhập Linh Phong thâm đảo. Phao khai thế thượng thằng tiên, thủ túc sơn trung thủy thảo. Thiếu Thất, Thiên Thai tận đạp phiên, Đông Độ Tây Thiên giai xúc đảo. Giản điểm thân tâm quá thất đa, bồi hồi kim cổ tri âm thiểu, tất cánh thùy vi Dương Tử Vân, vấn thủ Hòa Thành Diêu Quảng lăo.

          (Suốt đời tự cứu chẳng xong, chỉ vì trước cửa quấy nhiễu. Nhưng nay mới biết ẩn thân, liền vào đảo sâu Linh Phong. Quăng bỏ ràng buộc trên đời, đi lại trong nơi cỏ nước. Đạp nhào sạch Thiếu Thất, Thiên Thai; Đông Độ, Tây Thiên đều húc đổ. Suy xét thân tâm khuyết điểm nhiều, bồi hồi xưa nay tri âm ít. Rốt cuộc ai là Dương Tử Vân, cứ hỏi cụ Diêu Quảng[64] ở Hòa Thành).

 

27. Thi kệ

* Lời từ biệt chú khi sắp xuất gia

 

          Thế biến bất khả trắc, thử tâm thiên cổ nhiên. Vô hạn tha sơn ư, đinh ninh bất tại ngôn.

          (Đời biến đổi khôn lường, tâm thường hằng muôn đời. Ý non khác vô hạn, đinh ninh chẳng do lời).

 

* Nhất bút cú[65]

 

          Trạm hải phù âu, khởi diệt vô đoan hà nhật hưu? Mục ế, không hoa hữu. Ế tận, hoa tồn phủ? (trà) Mạc cánh vãng mê lưu, toan tân độc thọ. Tri vọng vô nhân, đương thể nguyên như cựu. Nhân thử bả thế giới thân tâm nhất bút cú.

          (Biển lặng, một bọt nước, bỗng dưng sanh diệt thuở nào ngừng? Mắt có màng, hoa đốm hiện. Màng mộng hết, hoa còn chăng? (Hừm) Đừng theo dòng mê nữa, riêng hứng chịu chua xót. Biết vọng chẳng có nhân, bản thể vốn như cũ. Do vậy, quy thân tâm, thế giới này vào một lời).

 

* Năm Ất Dậu viết nhất bút cú

 

          Hải trạm âu phù, bổn tự vô đoan khởi cánh hưu? Nhãn ế, hoa phi hữu. Ế tận, hoa vong phủ? (trà) Cập tảo ngộ chân lưu, an nhiên chánh thọ. Tri huyễn tức ly, na hữu tân hòa cựu? Bả thậm ma thế giới thân tâm nhất bút cú.

          (Biển lặng, bọt nổi, vốn tự không duyên cớ nổi lên rồi mất đi. Mắt có màng, hoa đốm chẳng có. Màng mộng hết, hoa mất chăng? (hừm) Sớm gấp ngộ chân lưu, an tường chánh thọ. Biết huyễn liền lìa, há có mới và cũ? Thế giới thâm chi nữa đều quy vào một lời).

 

* Kết chế[66]

 

          Lũ nhiên nhất bát biệt vô năng, một kỹ tầm thường chúc phạn tăng. Kết hạ khởi cam vi Phật chế, đàm kinh nguyên bất lạc thanh trần. Quắc đầu thanh chướng kham mai cốt, kính diện sương hành vị hữu bằng, dự tứ đồng nhân tương sách lệ, bất tu môn ngoại thiết tam thừa.

          (Một bát rỗng không, thiếu năng lực. Sư bất tài, chỉ biết cháo cơm. Kết hạ há đành trái Phật chế? Giảng kinh vốn chẳng đọa thanh trần. Moi đầu trừ chướng, kham vùi cốt. Gương sáng sương giăng, há đáng tin? Tự tứ mọi người cùng khích lệ, chẳng cần ngoài cửa đặt ba xe).

 

* Giải chế

 

          Kết chế thử phương thịnh, giải chế lương phong tác. Điều hốt yêm cửu tuần, quang hoa dịch tồ lạc. Điền hòa thanh tiệm hoàng, hà thủy lưu thả hạc. Diến tưởng nhật dụng trung. Do thị ỷ dữ thác. Yển nguyệt đàm liễu nghĩa, u thất bệnh vi dược. An cư cánh hà ích, huống phục tương hành cước. Tha sơn tuy nhập mộng, chỉ khủng nguyên như tạc.

          (Kết hạ trời vừa nóng, giải hạ gió mát thổi. Thoáng chốc chín mươi ngày, hoa tươi đã úa rụng. Ruộng lúa xanh dần vàng, nước sông trôi cạn dần. Nghĩ lại trong thường ngày, vẫn còn là dựa dẫm. Dưới trăng bàn liễu nghĩa, phòng kín bệnh là thuốc. An cư có ích gì? Huống lại sắp hành cước! Núi khác tuy vào mộng, chỉ sợ vốn như trước).

 

* Cuối Hạ năm Bính Dần, tiên từ (mẹ) bỏ cõi đời, vịnh Tứ Niệm Xứ để bày tỏ lòng đau buồn

 

          1) Ân ái mê t́nh, tứ đại duyên sanh vọng hữu thân. Nùng huyết giao tương nhuận, xú uế thường vô tận. (trà) Nhiêu nhĩ hội trang căng, họa nang thịnh phẩn. Nhất đán thần ly, bất phục kham thân cận. Thiết mạc bả vị lạn khô lâu nhận tác chân (quán thân bất tịnh).

          (Ân ái mê tình, tứ đại duyên sanh hư vọng có thân. Máu mủ hòa lẫn thấm nhuần, hôi nhơ thường vô tận. (Hừm) Dẫu ngươi biết điểm trang rực rỡ, túi đẹp đẽ đựng phân! Một mai thần thức chia lìa, chẳng còn kham thân cận. Chớ nên nghĩ đầu lâu khô khốc là chân thật).

          2) Vọng tưởng khu tŕ, hấp lăm tiền trần tác sở y. Nghiệp cảm nguyên vô ý, khổ lạc tùy nhân dị. (Trà) Khổ quả thật kham bi. Toan tân nan tỷ. Thế lạc tuy vinh, hưởng tận sầu hoàn chí. Thiết mạc bả ngũ dục trần lao uổng tự mê (quán thọ là khổ)

          (Vọng tưởng rong ruổi, thu hút tiền trần làm dựa nương. Nghiệp cảm vốn vô ý. Khổ lạc tùy nhân mà sai khác (Hừm) Khổ quả thật đáng buồn, chua xót khó thể sánh! Sự vui thế gian dẫu tràn trề; hưởng hết, sầu lại tới! Đừng oan uổng tự mê trong ngũ dục trần lao!   

          3) Mê khước chân thường, duyên khí phân vân tập nhất xoang. Ly bỉ tiền trần tướng, phân biệt thành hà trạng? (Trà) Nhiêu nhĩ hội tư lượng, chung quy võng tượng. Quá vị vô tung, hiện tại nguyên trường vãng. Thiết mạc bả lưu chú tâm cơ tác chủ trương (quán tâm vô thường)

          (Mê mất chân thường, duyên khí lăng xăng gom thành một mối. Lìa tướng tiền trần ấy, phân biệt thành hình trạng gì? (Hừm) Dẫu ngươi có thể suy lường, rốt cuộc là hư huyễn. Quá khứ, vị lai không tung tích, hiện tại vốn qua lâu rồi. Chớ đừng để cái tâm tuôn rót nắm quyền chủ động).

          4) Tạng tánh châu viên, tùy nghiệp tùy tâm pháp pháp toàn. Hòa hợp nhân duyên suyễn, hý luận tu bài khiển (trà). Ngoại đạo uổng củ triền, manh vô huệ nhăn. Diệu hữu chân không, mịch ngã đồng dương diệm. Thiết mạc bả thập giới y tha tác bổn nhiên (quán pháp vô ngă)

          (Tạng tánh tròn khắp, tùy nghiệp, tùy tâm mỗi pháp vẹn tròn. Hòa hợp nhân duyên lầm lạc, hý luận cần khử trừ (Hừm). Ngoại đạo oan uổng vấn vít, đui mù không huệ nhăn. Diệu hữu chân không, tìm Ngã giống như nắng gợn. Chớ đừng ngỡ pháp y tha trong mười pháp giới vốn sẵn như vậy).

 

* Giải chế, tự phúng điếu để chỉ bảo các bạn

 

          Cựu niên kết hạ Bành Thủy tân. Kim niên kết hạ Cô Tô thành. Cựu niên giải chế mẫu thượng tại. Kim niên giải chế đồ thương t́nh. Xuất thế đại hiếu vị hữu đương. Ô hô kim thả vi cùng manh. Khắc kỳ thủ quả tích hà giảo, tứ tải hữu dư đồ tự náo. Hốt hốt bất niệm tử đương chí. Cô phụ ngô y sắc dụng tạo. Thanh tiêu mỗi tự thân, trường chuyển hướng thùy trần. Danh văn lợi dưỡng tự tích bất thường tại, ca-sa nhất thất, thiên cổ, vạn cổ chung trầm luân.

          (Năm xưa kết hạ bến Bành Thủy. Năm nay kết hạ thành Cô Tô. Năm xưa giải chế, mẹ còn đó. Năm nay giải chế, lòng buồn tênh. Xuất thế đại hiếu chưa làm được. Than ôi! Nay lại là kẻ nghèo. Hạn kỳ chứng quả xưa mạnh mẽ, hơn bốn năm rồi chỉ uổng công! Mơ màng chẳng nghĩ mình sắp chết, cô phụ tấm y giặt bạc màu! Đêm thanh thường than thở, quặn lòng tỏ cùng ai? Tiếng tăm, lợi dưỡng xưa nay chẳng thường còn, một tấm ca-sa mất đi, ngàn thuở, muôn đời trọn trầm luân).

 

* Bài kệ thứ hai trong tám bài kệ từ biệt các bạn viết bằng máu trích từ đầu lưỡi nhân dịp Xuân Mậu Thìn (1628)

         

          Giáo Quán công nan khắc, hoành siêu niệm tối hiền. Nhất thanh Phật hiệu xử. Dĩ thị Thế Tôn tiền. Tham cứu tuy vân đốn, ta kim bội phục nan. Tiểu an thành đại vọng, hà tự dụng kim chuyên?

          (Giáo Quán công khó đạt, niệm hoành siêu tột lành. Trụ một tiếng Phật hiệu, đã hầu trước Thế Tôn. Tham cứu tuy gọi đốn, nay than khó bội phần! Tiểu an thành vọng lớn, nào khác dùng ngói vàng[67]?)

 

* Tặng Thọ huynh rút được cái thăm “tham phỏng rộng khắp”

 

          Giác Hoàng thời dĩ mại, hàm thức phương di bổn. Chấp giáo sính không đàm, y Thiền tư đa man. Chánh pháp di phồn ưu, trù tác tự tâm muộn. Hữu hoài Tinh Cốc Thọ, dữ ngã đồng sở thổn. Ngã dĩ thiên cổ giao, sưu tinh dụng bổ cổn. Quân dĩ bách thành lịch, thủ ích khai quần đồn. Lưỡng đồ các tŕ sính, quyết chỉ thích phi viễn. Tri quân ẩm pháp lưu, chung bất do hà yển. Nguyện quân hữu nhật ích, ngã nguyện năng nhật tổn.

          (Thời Giác Hoàng đã qua, hàm thức đều quên gốc. Chấp Giáo chuộng bàn suông. Tu Thiền nhiều mờ mịt. Chánh pháp thành rườm rà, toan tính tâm phiền muộn. Tinh Cốc Thọ hoài bão, cùng suy nghĩ với tôi. Tôi kết giao ngàn đời, tìm tinh túy bù đắp. Ông do trải trăm thành, đạt lợi khai quần mê. Hai đường đều rong ruổi, ý chỉ càng chẳng xa. Biết ông uống dòng pháp, trọn chẳng như chuột chũi, cố uống nước trong sông[68]. Nguyện ông ngày càng thêm, tôi nguyện ngày càng tổn).

 

* Gởi huynh Quy Nhất Trù

 

          Phá gia đăng sản anh hùng sự, khuê các vi ti phụ tự liên. Túng bác vạn tràng kim nhật thỉ, nhất trần tiện khả chú tam thiên.

          (Chuyện anh hùng: Phá tan gia sản, khuê các chút tiền vợ tự thương. Dẫu nay muôn chốn đem đánh đổi, một bụi tưới trọn khắp tam thiên).

 

* Hai bài kệ tặng huynh Tinh Cốc Thọ rút được cái thăm “xuất gia”, sắp sang Bác Sơn xuống tóc

 

          1) Tích niên tương thức Ngũ Vân gian, hà tự kim triêu khế cánh chuyên? Kỳ quá tụng ưng thâm kích lệ, tha sơn thạch bất tập nhu tiên. Xuân hồi đốn cải tàn Đông sắc, tuyết tích du tăng thúy trúc nghiên. Tùng thử cộng khư hàn khí tận, du du Thuấn nhật dữ Nghiêu thiên.

          (Ngũ Vân thuở trước từng quen biết, sao bằng hiện thời càng thân quen? Tự trách lỗi mình, sâu khích lệ. Đá nơi núi khác, chẳng xảo ngữ[69]. Xuân về nhanh đổi sắc Đông tàn. Tuyết đọng càng tăng trúc đẹp xinh. Từ đấy, cùng trừ khí lạnh hết, dài lâu ngày Thuấn với trời Nghiêu).

          2) Khứ niên ái ngã diệc phân phương. Độc thiện vi hoài đoái khả thương. Phá cách nhất triêu thành bất dị, khuông phù thiên cổ khởi tầm thường? Mang hài phá xứ, cước ngấn ổn. Trụ trượng hồi thời thủ nhãn lương. Ký ngữ thủ châu môn hạ khách, đồng tương tổ đạo khổ mính thường.

          (Năm xưa thương mến cũng thơm hương. Chí toan riêng thiện khéo nhủ khuyên. Phá lệ một hôm đâu phải dễ. Ngàn đời nâng đỡ há tầm thường? Hài cỏ dẫu rách, gót chân vững. Chống gậy về, tay mắt tỏ tường. Nhắn gởi kẻ ôm cây đợi thỏ, trà đắng tổ đạo hãy nếm xem).

 

* Nghỉ tại Huệ An

 

          Pháp lâm điêu tạ bất năng Xuân, hoàng diệp thu phong ách dũ trăn. Viên đảnh phương bào tuy biến giới, vong thân vị pháp quả thùy nhân.

          (Rừng pháp điêu tàn chẳng tốt tươi, lá vàng theo gió rụng đầy nơi. Đầu tròn, áo vuông tuy khắp cõi, vì pháp vong thân được mấy người?)

 

* Dâng lời lên sư bá Vô Dị (có lời tựa)

 

          Húc là kẻ chẳng ra gì, lúc mới tin Phật pháp, nghe nói có những kẻ giả xưng ngộ đạo dối gạt người đời, hết sức thương tâm. Đọc Bác Sơn Cảnh Ngữ, trộm mừng chánh pháp hãy còn, riêng cho rằng đấy là một phương thuốc tốt lành. Về sau thấy Thiền khách trong núi chỉ dùng một câu thoại đầu chết cứng để làm chiêu bài thoái thác, liền cho đó là cái cọc buộc lừa! Kẻ đã nhập Lý còn chẳng thể được, huống hồ kẻ “hướng thượng nhất trước” chẳng trụ trong Lý ư? Trong những năm ấy, kẻ cuồng vọng thường báng bổ ngài Bác Sơn, tôi bèn nghi Ngài ắt có chỗ khác với thói tục, cho nên cảm vời lời ác đưa đến. Tôi hỏi thầy Tinh Cốc, thầy Tinh Cốc nói: “Chẳng thể như đại y vương khéo trị các bệnh, nhưng chuyên ròng một khoa phá ung, tiêu độc. Chẳng thể như chủ binh thần[70] đánh đâu thắng đó, mà là vị quan già giữ ải xét rành lũ gian ngụy”. Do vậy, tôi kính ngưỡng tham thỉnh, mới biết đại sư nương đại nguyện, có đại lực, vận dụng đại bi, mở rộng đại lượng, thật sự chẳng giống như các nơi khác. Tôi là một đứa trẻ nít, dùng Thiền đối trị Hoặc, dùng Luật để phù trợ giáo pháp đã suy vi, tuy đơn đao trực nhập, chẳng thể là đứa con ruột thịt đích truyền, nhưng do Tam Học nâng đỡ cũng có thể làm chiếc chiếu bằng cỏ tranh[71]. Huống hồ giao du với thầy Tinh Cốc, có tình nghĩa với sư bá, kính dâng lời quê kệch:

          - Pháp vương thị tịch triêu nhật minh, chúng thánh bất trụ mộ phất điện. Hồ diên tinh xú tiễn Cửu Châu, sư nghê suyễn tức cẩn như tuyến. Thử thời bất hữu chí nhân điếu, thục dữ quần sanh tồi oán địch? Ngô sư mẫn thử thừa nguyện lai, trực ẩm Tào Khê nguyên nhất trích. Nhất trích niêm phúc triệt cốt khang. Xuất quật tần thân tăng oai lực. Tứ vọng cao hống thanh vị cực, bách thú lăng trăn kinh tỵ nặc. Kham ta dă can trá tương thân, thập thủ dư tàn cuống tha quốc. Tự tàm bất cụ siêu phương nhãn, dĩ nhĩ vi mục ninh tương thức? Kim nhật tương phùng phi ngẫu nhiên, tự pháp vô duyên liêu tự đức. Nguyện tương nhất trích Tào Khê nguyên, diễn tác bách thiên đại hải vực. Nguyện tương pháp hải bách thiên lưu, hối tác Tào Khê nguyên mạc trắc. Cửu bệ năng linh liêm mạc cao, tam tông mạc tác đảnh túc lặc. Miểu nhĩ dư hoài thứ khả thư, tùng tư cộng tác Năng Nhân dực.

          (Pháp vương thị tịch trời bỗng tối. Chư thánh chẳng trụ, đêm chẳng chớp. Nước dãi cáo tanh khắp Cửu Châu, sư tử thở thoi thóp như tơ. Lúc ấy, chí nhân chẳng ra tay, ai dẹp oán địch cho quần sanh? Thầy tôi thương xót, nương nguyện tới. Uống ngay một giọt nguồn Tào Khê. Một giọt vào bụng thấu xương tủy. Vươn mình ra hang, tăng oai lực. Dõi nhìn bốn phía rồi rống to, âm thanh chưa đạt tới cùng tột. Trăm thú lăn chiêng, hãi hùng ẩn. Xót thay chó rừng vờ thân cận, nhặt nhạnh tàn dư gạt nước khác. Tự thẹn chẳng đủ mắt tót vời, dùng tai làm mắt, há hay biết? Ngày nay gặp gỡ chẳng ngẫu nhiên; nối pháp, vô duyên nối đức hạnh. Nguyện đem giọt nước nguồn Tào Khê, mở thành trăm ngàn vực biển rộng. Nguyện đem trăm ngàn dòng biển pháp, gom về nguồn Tào chẳng thể lường. Chín bệ khiến cho rèm phủ cao. Ba tông chớ thành thế chân vạc. Lòng con hèn mọn mong rộng mở, từ đây phù tá bậc Năng Nhân).

 

* Tặng huynh Bích Như bế quan, dùng nguyên vận của ngài Bác Sơn

 

          Tiêu nhiên nhất thất thắng Tung Sơn, thứ phá Thiền cơ chỉ đẳng nhàn. Đản mạc tương tâm nghĩ tường bích. Khứ lai hà xứ bất Trường An.

          (Rỗng rang một thất vượt Tung Sơn, nhìn thấu Thiền cơ chỉ nhẹ tênh. Chỉ đừng ngỡ tâm như tường vách. Đến đi mọi chốn thảy Trường An).

 

* Tặng Giới Châu (có lời tựa)

 

          Thiền huynh Giới Châu là con cháu họ Mã ở Thiên Trường, Phượng Dương, từng cắt bắp đùi cứu cha, rạch gan cứu mẹ. Cho tới khi song thân tạ thế, huynh bèn xuất gia, nguyện dự vào Tịnh Xã của tôi, cho nên viết lời này.

          Tỳ Ni Thiền Quán hỗ trang nghiêm, huề thủ đồng quy Cực Lạc thiên, doanh đắc hiếu tư vi hành bổn, giới châu lăng ác chiếu tam thiên.

          (Trang nghiêm Thiền Quán lẫn Tỳ Ni, tay nắm cùng về Cực Lạc thiên, lòng hiếu tuyệt vời làm cội đạo, giới châu cầm chắc chiếu tam thiên).

 

* Nhiếp Sơn

 

          Thân thê bích hà ngoại, mục nhiếp loạn sơn phong. Tối thị quan tình sự. Giang phàm vạn lý phong.

          (Thân ở ngoài ráng biếc, mắt nhìn núi lô nhô. Ải tình kiến nặng nhất, gió vạn dặm căng buồm).

 

* Tặng đại đức Đạm Cư dùng máu chép kinh Hoa Nghiêm

 

          Vạn trích thư thành pháp giới kinh, thập vương trích trích phóng quang minh. Nam tuân mạt hậu nhất cú tử, bất đọa cuồng Thiền thử tức minh.

          (Muôn giọt chép thành pháp giới kinh, mười vương từng giọt tỏa quang minh. Đi về phương Nam: Một câu cuối. Chẳng đọa cuồng Thiền nói Lý suông).

 

* Cảnh tỉnh Thúy Trưng

 

          Nhật chiếu chỉ song minh, mộ nhiên khởi bi tư. Đản hữu hảo thuận nhân, tằng vô cương liệt chí. Do như bỉ si dăng, chỉ hướng song tiền trệ. Bất khẳng mãnh hồi đầu, vân hà đắc xuất thế?

          (Nắng soi sáng song giấy[72], bỗng dưng dấy niềm sầu. Chỉ thuận theo người khác, chí chưa từng cứng cỏi. Giống như con ruồi si, chỉ vướng ở trước song. Chẳng dũng mãnh quay đầu. Lẽ nào xuất thế được?)

 

* Mười bốn bài kệ Tịnh Độ (có lời tựa)

 

          Thiền sư Bác Sơn nói kệ Tịnh Độ, thường nói “Tịnh tâm tức là cõi Tây Phương” do Ngài dùng nhân nhiếp quả. Người đọc chẳng thấu đạt, đến nỗi dùng Lý đoạt Sự, gần như trở thành phá pháp.Tôi nghe mà cảm hoài, thường nói “Tây Phương tức cõi duy tâm”, ngõ hầu dùng Sự giúp Lý, mong góp phần bổ cứu thói tệ thiên lệch vậy.

          1) Tây Phương tức thị duy tâm độ, vô thượng thâm Thiền bất dụng tham. Phật hướng niệm trung toàn thể lộ. Cánh sanh nghi lự thái si hám.

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, vô thượng thâm Thiền há phải tham? Mỗi niệm, Phật tâm toàn thể lộ, còn sanh nghi lự, quá si khờ!)

          2) Tây Phương tức thị duy tâm độ, ly độ đàm tâm thật đảo điên. Niệm niệm tổng giai quy Phật hải, sanh manh trùng mịch Tổ Sư Thiền.

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, lìa cõi bàn tâm quá đảo điên! Mỗi niệm đều quy vào biển Phật, sanh manh lại kiếm Tổ Sư Thiền).

          3) Tây Phương tức thị duy tâm độ, đắc kiến Di Đà thỉ ngộ tâm. Thốn thổ bất tồn phi đoạn diệt, đường đường tướng hảo tịch quang thân.

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, được thấy Di Đà mới ngộ tâm. Tấc đất chẳng còn, không đoạn diệt. Tịch quang thân tướng hảo mênh mông).

          4) Tây Phương tức thị duy tâm độ, dục ngộ duy tâm đản niệm Tây. Thiệt tướng quảng trường chuyên vị thử, cánh cầu huyền diệu ức hà si.

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, muốn ngộ duy tâm chỉ niệm Tây. Tướng lưỡi rộng dài chuyên vì đó. Còn cầu huyền diệu quá si rồi).

          5) Tây Phương tức thị duy tâm độ, vô tướng phi tùng tướng ngoại cầu. Nghĩ dục tương tâm thủ vô tướng, linh quy duệ vĩ chuyển kham ưu.

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, vô tướng há ngoài tướng tìm cầu? Toan dùng cái tâm giữ vô tướng, đáng ngại rùa thiêng bị rụt đuôi).

          6) Tây Phương tức thị duy tâm độ, vị thức Tây Phương khởi thức tâm? Thệ tử mậu hy viên đốn giải, thập tương lạc diệp tác hoàng kim.

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm. Chưa hiểu Tây Phương, há biết tâm? Con trốn[73] lầm mong viên đốn giải, thâu gom lá rụng ngỡ vàng ròng).

          7) Tây Phương tức thị duy tâm độ, cánh mịch duy tâm kiến dĩ vi. Quang ảnh sủy ma thành hoạt kế, liên bang hà nhật bạc ngôn quy?

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, lại kiếm duy tâm, thấy sai rồi! Huyễn hư suy tưởng làm sanh kế, cõi sen há có thuở quay về?)

          8) Tây Phương tức thị duy tâm độ, nghĩ bát Tây Phương, lý tiện quai. Cực Lạc nhất trần đồng sát hải, giả nhiêu thiên nhăn vị tri nhai.

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm; toan bác Tây Phương, lý nghịch rồi, Cực Lạc một trần đồng sát hải, dẫu dùng thiên nhãn biết đâu ngằn?)

          9) Tây Phương tức thị duy tâm độ, sấn đáo Đồng Cư đệ nhất quan. Đản đắc cửu liên năng thác chất, Tịch Quang hà lự bất thời hoàn?

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, xông đến Đồng Cư nơi ải đầu. Chỉ cần gá thân sen chín phẩm, Tịch Quang nào sợ đúng thời về).

          10) Tây Phương tức thị duy tâm độ, độ tịnh phương tri tâm thể không. Nhất thiết cảnh phong do quải niệm, vân hà vọng thuyết nhậm Tây Đông?

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, cõi tịnh mới hay tâm thể không. Hết thảy cảnh quan do vướng niệm, sao đành nói nhảm mặc Tây Đông?)

          11) Tây Phương tức thị duy tâm độ, mạc bả duy tâm chỉ thú vu. Mê ngộ khứ lai nguyên tạng tánh, mạn ngôn bình đẳng khước thành vu.

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, chỉ thú duy tâm chớ có lầm. Mê, ngộ, đến, đi vốn tạng tánh, nói bừa bình đẳng trở thành xằng).

          12) Tây Phương tức thị duy tâm độ, bạch ngẫu tŕ khai bất dụng tài. Nhất niệm đốn giao quy Phật hải, hà lao Thiếu Thất dữ Thiên Thai?

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, ao sen trắng nở chẳng cần trồng. Một niệm rất nhanh về biển Phật, nhọc chi Thiếu Thất với Thiên Thai?)

          13) Tây Phương tức thị duy tâm độ, tam-muội trung vương đạo tối vi. Miết nhĩ sanh nghi thiên cổ cách, giảo đinh tước thiết mạc y vi.

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, bảo vương tam-muội tột tinh thâm. Bỗng chốc sanh nghi, muôn thuở cách; nhai đinh, nhá sắt, hãy thuận tùng).

          14) Tây Phương tức thị duy tâm độ, huệ nhật cao huyền đệ nhất cơ. Sự Lý song dung chân tịnh nghiệp, hiện tiền hà pháp bất huyền vi?

          (Tây Phương nào khác cõi duy tâm, huệ nhật treo cao diệu tuyệt trần. Sự Lý dung thông, chân tịnh nghiệp. Pháp hiện tiền nào chẳng huyền vi?)

 

* Họa thơ Bất Ngã

 

Mỗi thán tông thừa sự dĩ phi, manh tu hạt luyện dục hà vi? Tri quân độc cụ siêu phương nhãn, khô mộc nham tiền lộ khởi mê?

(Thường than tông thừa chuyện đã sai, tu luyện đui mù muốn làm chi? Biết ông riêng mắt nhìn siêu việt; vách đá, cây khô há lạc đường?)

 

* Chỉ dạy Trí Hằng tự Giám Như

 

          Giám triệt Chân Như thể, nguyên quang bổn tự hằng. Miết sanh minh giác vọng, huyễn tác tịch không trần. Liễu liễu nguyên vô vật, phương nghi phất thức cần. Tú Năng thân thiết chỉ, hội đắc bất tu phân.

          (Soi thấu Chân Như thể, sáng ngời vốn thường hằng. Bỗng sanh minh giác vọng, biến huyễn tịch không trần. Rành rành vốn không vật, phải nên siêng lau chùi. Ý thân thiết Năng, Tú[74], biết chẳng cần tách rời).

 

* Chỉ dạy Dụng Hằng trong dịp xuống tóc

 

          Minh tâm hảo hướng Tam Quy thỉ, lập chí hoàn tùng ngũ giới tiên. Cần khổ bất từ thành phước tụ, tụng tŕ vô khuyết ngộ linh nguyên.

          (Minh tâm phải hướng Tam Quy khởi, Ngũ Giới làm đầu lập chí bền. Siêng khổ chẳng nề, thành khối phước. Tụng trì chẳng khuyết, ngộ nguồn thiêng).

 

* Chỉ dạy nơi có của báu

 

          Trước Hữu lạc nhân thiên, trước Không đọa tam ác. Duy hữu Tây Phương độ, siêu xuất hữu vô phược. Xí nhiên cầu vãng sanh, mạc phục tồn nghi tưởng. Giới nhĩ tài trù tŕ, thiên tà kiến nhật trưởng. Tư lượng phân biệt pháp, báng ư chân trí huệ. Vĩnh kiếp trầm thâm khanh, chư Phật vô năng tế. Chủng mạch thiểu đạp thổ, diệc vật thừa không thủ. Trung hành tiễn thật địa, tật đắc chí bảo sở.

          (Chấp Hữu đọa trời, người. Chấp Không đọa tam ác. Chỉ có cõi Tây Phương, vượt hữu, vô ràng buộc. Hăm hở cầu vãng sanh, đừng ôm lòng nghi lo. Vừa chần chừ mảy may, tà kiến lệch càng tăng. Suy lường phân biệt pháp, báng bổ chân trí huệ. Bao kiếp chìm hố sâu, chư Phật chẳng cứu nổi. Trồng lúa đạp chút đất, cũng đừng tay không về. Trung đạo hành chân thật, chóng đến chỗ của báu).

 

* Qua Đông Tháp ở Tuy Lý, thấy người thượng đường cảm hoài (ba bài)

 

          1) Thụ diểu thanh thanh khấp lộ ai, ngạn châu ngư bối mạn tương sai. Tông Thừa đốn trục Đông lưu hạ, xúc mục nan cấm lệ mãn tai.

          (Đầu cành rền rĩ tiếng buồn thương, cập thuyền đếm cá đoán mò thôi. Tông Thừa chóng ruổi về Đông chảy. Mắt thấy, khôn cầm mặt lệ đầy).

          2) Nhất trích hồ diên triệt thể tinh, Đương Dương nha lập pháp vương đ́nh. Khước tàm Phổ Nhãn năng hoằng hộ, do sử thiên nhân yểm nhĩ thính.

          (Một giọt dãi cáo thể tanh hôi. Đương Dương quạ đậu tòa vua pháp. Thẹn cho Phổ Nhãn hay hoằng hộ, vẫn khiến trời người bịt chặt tai).

          3) Lung nhân thính khúc ách nhân ca, bả tích tương tương cộng phạt kha. Kim nhật dĩ thành minh ám giới, bất tri hướng hậu hựu như hà?

          (Kẻ điếc lắng nghe kẻ ngọng ca. Tướng quan chân thọt cùng vung rìu. Nay đã trở thành cõi tăm tối, mai sau nào biết sẽ ra sao?)

 

* Hai bài kệ gởi huynh Quy Nhất khi duyệt Luật Tạng lần nữa trong năm Kỷ Tỵ (1629)

 

1) Tuế vãn hàn phương thịnh, an cư tạ đạo huy. Ái du Đông nguyệt nhật, châm tỷ bội huyền vi. Cố mạng nghi tần tưởng, thời gian nguyện tảo huy. Thử duyên lương bất dị, hạnh vật cánh y vi.

(Năm tàn, trời chớm lạnh, an cư bóng đạo nương. Thích trải tháng mùa Đông. Ghi chép đầy lề sách. Nhiều lượt nghĩ cố mạng, lúc khó sớm quét phăng. Duyên này thật chẳng dễ, mong chớ đừng trái, thuận).  

2) Tự quý phi kiên chất, khuông phù lại hữu bằng. Cảm tư anh tuấn sĩ, cam tác liệt dung bằng. Quy mạng do hiềm văn, vong thân diệc sở ưng. Phục cần hàm trượng[75] nội, trữ vọng nhă tương căng.

          (Tự thẹn chẳng cứng cỏi, nâng đỡ cậy bạn bè. Thương cảm bậc anh tuấn, cam làm kẻ kém kèn. Quy mạng còn ngại trễ, vong thân cũng đáng nên. Siêng hầu bậc thầy dạy, mong ngóng rủ lòng thương),

 

* Tặng Tham Kỷ

 

          Tận đại địa thị cá tự kỷ. Di Đà diệc tại lý hứa an thân. Tận pháp giới bất xuất Di Đà nhất mao khổng quang minh. Tự kỷ cánh hướng hà xứ trước cước? Niệm niệm Di Đà niệm niệm kỷ, tự tha bất cách thị chân tham. Nhược tùng Thiếu Thất cầu đoan đích, độn trí kỷ linh thâm khả liên. Cố kim tham kỷ vô biệt sự. Lục thời trường ức tử kim tiên.

          (Trọn đại địa chỉ là chính mình. Di Đà cũng an thân trong ấy. Tận pháp giới chẳng ra ngoài quang minh nơi lỗ chân lông Di Đà. Chính mình còn tìm nơi nào đặt chân được nữa? Niệm niệm Di Đà, niệm niệm mình. Ta, người chẳng cách là chân tham. Nếu từ Thiếu Thất tìm đầu mối, thương thay ngu độn quên chân tánh. Nay tham chính mình, chẳng chi khác. Sáu thời luôn nhớ tử kim tiên[76]).

 

* Tặng Nhược Vân

 

          Tận thuyết thừa vi cấp, thùy tri giới bất vu? Phẫu b́nh nan trữ nhũ, ngư mục khởi thành châu? Sát hải tuân di giáo, triều tông hướng lạc đô. Tịnh nhân kỳ cộng úc, lực văn mạt thời xu.

          (Đều nói Thừa là gấp, ai hay giới chẳng sai? Bình rạn khôn đựng sữa, mắt cá há thành châu? Biển cõi tuân di giáo, chầu hầu hướng cõi lạc. Nhân tịnh hãy cùng gắng, tận lực cứu đời mạt).

 

* Cảnh tỉnh Thọ huynh

 

          Sắt đa bất dưỡng, trái đa bất sầu. Thế nhân muội muội, hà túc dữ trù? Nhất giới ế thiên, nhất trần phú địa, tối yếu pḥng nhàn, học nhân tập khí. Vị dự pháp lưu, chỉ danh Càn Huệ. Khai nhãn niệu sàng, bội kham tàm quý. Dục trăn nhị lợi, tu thận tế đức, luân dực bất khuy, cao viễn vô thất.

          (Rệp nhiều chẳng ngứa, nợ nhiều chẳng sầu. Người đời tăm tối, há đáng so đo? Hạt cải che trời, một trần phủ đất. Tập khí học nhân, đề phòng bậc nhất. Chưa dự dòng pháp, chỉ gọi Càn Huệ. Mở mắt đái dầm, bội phần hổ thẹn. Muốn đạt nhị lợi, cẩn thận đức nhiệm, giữ gìn chẳng sót, chẳng mất cao xa).

 

* Cắt thịt đùi cứu huynh Tinh Cốc

 

          Huyễn duyên hòa hợp thọ tư thân, dục oản thiên sang quý vị năng. Trảo hứa bạc bì liêu phụng cúng. Dụng thù nghiêm đạn thiết tha ân.

          (Huyễn duyên hòa hợp thọ thân này, muốn khoét ngàn vết, thẹn chưa thể. Vét chút da mỏng để dâng cúng, hòng báo ân dày kèm cặp răn).

 

* Đáp kệ phát nguyện của Sơ Bình

 

          Hữu nguyện vô hạnh, như nhân vô túc. Hữu hạnh vô nguyện, như manh vô đạo. Tín bộ tiền hành, hiểm ác nan bảo. Đinh tư mạt quư, pháp nhược ma cường. Túng hữu Càn Huệ, do nan ổn túc. Huống tuy lập chí, huệ nhăn vị khai. Kim sanh bất độ, cánh đãi hà sanh? A Di Đà Phật, đại nguyện thâm từ. Như mẫu ức tử, tử hà phất tư? Nhược bất chí tâm, tảo mộ hồi hướng. Du du hoãn túng, tức đào thệ nhân. Phi tất ha báng, năi danh đào thệ. Nhữ kim dĩ năng, phấn nhiên tự tân. Đương tri trân tŕ, tư manh liên nhị. Tùng kim sổ phát, tương tục bất đoạn. Tư khả danh vi, dũng mănh trượng phu. Như hoặc vị nhiên, nhưng tiền tập khí. Thỉ cần chung nọa, khẩu hướng tâm bối. Kư phi Bồ Tát, diệc phi Nhị Thừa. Thường tại tam giới, xuất một luân hồi. Tự vị năng độ, vân hà độ nhân? Như bị phiêu giả, dục chửng ngạn hành. Như lại bệnh giả, mại sang tiễn dược. Ngu si điên đảo, cử thế sở xuy. Nhữ kư phát tâm, ngã thâm tùy hỷ. Phục v khuyến trợ, sử đắc kiên nhẫn. Đồng cận từ tôn, cộng hóa trần sát. Tận vị lai tế, vĩnh thỉ phất huyên. Nguyện nhữ tinh cần, tiên thành Phật đạo. Ngã tác Văn Thù, trợ nhữ dương hóa.

          (Có nguyện không hạnh, như người không chân. Có hạnh không nguyện, như mù không người hướng dẫn. Nhắm mắt đi tới, hiểm ác khó tránh. Nhằm lúc thời mạt, pháp yếu, ma mạnh. Dẫu có Càn Huệ, vẫn khó vững chân. Huống tuy lập chí, huệ nhăn chưa mở. Đời này chẳng độ, còn đợi đời nào? A Di Đà Phật, nguyện lớn, từ sâu. Như mẹ nhớ con, sao con chẳng nhớ? Nếu chẳng chí tâm, sáng tối hồi hướng. Lần khân chểnh mảng, là kẻ bỏ trốn. Chẳng cần quở báng, mới là bỏ trốn. Ông nay có thể, hăm hở đổi mới. Nên biết ao quý, liền chớm búp sen. Nay nhiều lượt phát, liên tục chẳng ngừng. Đó được gọi là, trượng phu dũng mãnh. Nếu chẳng phải vậy, vẫn tập khí cũ, trước siêng, sau lười. Miệng hướng, tâm trái. Chẳng phải Bồ Tát, cũng chẳng Nhị Thừa. Thường trong tam giới, chìm nổi luân hồi. Tự chẳng thể độ, sao độ được người? Như kẻ chết đuối, cứu người trên bờ! Như kẻ bệnh cùi, mua thuốc trị ghẻ. Ngu si điên đảo, cõi đời chê cười. Ông đã phát tâm, tôi sâu tùy hỷ. Lại còn khuyến trợ, khiến được kiên nhẫn. Cùng chầu Từ Tôn, cùng dạy trần sát. Tột đời vị lai, vĩnh viễn chẳng phế. Mong ông siêng ròng, thành Phật đạo trước. Tôi làm Văn Thù, giúp ông giáo hóa).

 

* Dạy Sơ Bình phát tâm

 

          Mạc vị Bồ Đề tâm nan phát, đồ đao phóng hạ lập thành Phật. Mạc vị Bồ Đề tâm dị phát, bôi thủy khởi đình đảnh nội phí. Dục minh khoáng kiếp đại nhân duyên, tiên bả sanh bình hoài bão phất. Nhãn tiền kế hoạt nhược quan t́nh, bổn địa phong cảnh chung thọ khuất. Khuyến quân tốc phát nan phát tâm, vi nhân do kỷ[77] phi do vật.

          (Chớ bảo Bồ Đề tâm khó phát, buông dao đồ tể liền thành Phật. Đừng nói Bồ Đề tâm dễ phát, chén nước há ngăn vạc sôi sục? Muốn hiểu đại nhân duyên bao kiếp, trước hãy thực hiện hoài bão cả đời. Kế sống trước mắt nếu vướng mắc, phong cảnh bổn địa sẽ tự khuất. Khuyên ông mau phát tâm khó phát, tự hành lòng nhân chẳng cậy ai!)

 

* Nghe hủy báng

 

          Sở ngôn nhược hữu thật, tam căn hà danh báng? Sở ngôn nhược vô thật, bất can diệc khởi báng. Nhược dĩ ngữ ngôn vi báng sự, hậu tự vị xuất, tiền âm một. Nhược dĩ văn thư vi báng sự, bạch giả thị chỉ, hắc thị mặc. Báng an tại, vân hà nựu? Tứ đại không, uẩn phi ngã. Thùy năng báng, báng thùy thọ? Ký vô sân hám, ưng phát bi tâm. Ngã do vô thỉ mê Bổn Giác, huyễn nghiệp tích oán thành trù lâm. Thị cố kim nhật ác khẩu gia, giai nhân văng tích tự nghiệp xâm. Hựu phục tu đạo vị tinh thúy, oai đức tiển liệt trí quần nghi. Nhược bất tàm quý tự khắc trị, tổn bỉ tổn kỷ tội sở cơ. Ngã nhân báng, tăng trí đoạn. Báng giả tốc viên ân đức. Ân viên tức thị Như Lai, trí đoạn đức măn thành Phật. Báng vi minh kính thích ngã xú, báng vi cam lộ ẩm ngã dược. Báng thị viêm thời thanh lương phong. Báng thị miên thời đại cổ giác. Báng vi pháp giới thú bất quá. Báng báng cộng đăng vô thượng giác.

          (Lời nói nếu đúng thật, ba căn sao gọi báng? Nói năng nếu chẳng thật. Chẳng liên quan, sao báng? Nếu coi ngôn ngữ là hủy báng; chữ sau chưa ra, chữ trước đã mất. Nếu coi văn từ là hủy báng, thứ trắng là giấy, đen là mực. Báng ở đâu, sao lại bực? Tứ đại không, uẩn phi ngã. Ai hủy báng, báng ai chịu? Đã chẳng giận, tiếc, nên phát bi tâm. Ta do vô thỉ mê bổn giác, huyễn nghiệp tích oán thành rừng rậm. Vì thế, ngày nay bị nói ác, đều do nghiệp trước của bản thân. Lại do tu đạo chưa chuyên ròng, oai đức thiếu kém, các nghi sanh. Nếu chẳng hổ thẹn tự đối trị. Tổn người, tổn mình, tạo gốc tội! Ta do bị báng, trí đoạn tăng. Người báng mau chóng vẹn ân đức. Ân vẹn thì chính là Như Lai. Trí đoạn, đức măn liền thành Phật. Báng là gương sáng soi ta xấu. Báng là cam lộ chữa bệnh ta. Báng là gió mát khi trời nóng. Báng là trống ốc lớn khi ngủ[78]. Báng là pháp giới chẳng vượt được. Báng báng cùng lên vô thượng giác).

 

* Phúng điếu huynh Tinh Cốc Thọ

 

          Triệt để bà tâm vị khẳng hưu, đương trường nghiệp vận dĩ thiên lưu, phù âu ảnh trục hư duyên tán, nhiệt huyết tinh đồng Thật Tế lưu. Xạ mục quả nhiên nan hạ thủ, vị nhân tu thị tái đê đầu. Lâm hành tặng nhữ vô đa tử, nhất cú Di Đà tác đại châu.

          (Tâm triệt để thiết tha chưa ngớt, đương trường nghiệp vận đã xoay vần. Đuổi theo bọt nước hư duyên nát, nhiệt huyết theo dòng Thật Tế tươi. Dõi mắt quả nhiên khó thực hiện, vì người cần phải cúi đầu thôi. Ra đi nhắc bạn không nhiều cách, một tiếng Di Đà thuyền rất to).

 

* Dạy Tồn Phác

 

          Dục tác pháp vương thần, thị ngọc thiện tự dưỡng. Chỉ ác vô h́nh trừng, hành thiện vô cốc tưởng. Tam nghiệp tịnh duyên từ, tứ nghi hằng vật sảng. Giới vi thắng anh lạc, nhẫn thị kiên khải trượng. Tập khí tiệm tiệm tiêu, định huệ du du trưởng. Xả khước phiến thời mưu, phương hoạch sát trần đảng. Đàn chỉ phi tích nhân, tốc xuất Sa Bà vơng.

          (Muốn hầu đấng pháp vương, khéo tự dưỡng ngọc ấy. Dứt ác từ vô hình, hành thiện chẳng mong phước. Tam nghiệp duyên theo từ, tứ nghi chẳng hề sai. Giới: Anh lạc thù thắng. Nhẫn: Giáp, vũ khí chắc. Tập khí dần dần tiêu, định huệ tăng dồi dào. Bỏ mưu mô thoáng chốc, lời thẳng khắp sát trần. Khảy tay, thành người mới, mau thoát lưới Sa Bà).

 

* Dạy chư tứ hoàn

 

          Trượng phu chí khí tại thiên thu, tự lập thung dung quư học ưu. Tư ngữ trực giao ngôn hạ tín, phù vân khởi hướng thế gian cầu. Sơn hà quốc độ không trung ảnh, sự nghiệp công danh thủy thượng âu. Xúc trước nho đồng thanh đỗng xứ, liên hoa bảo địa cộng ngao du.

          (Trượng phu chí khí tại ngàn thu, thong dong tự lập học lẽ ưu. Nói thẳng lời này nên tin tưởng. Thế gian mây nổi, há mong cầu? Núi sông, cõi nước đều hư huyễn; sự nghiệp công danh bọt nước thôi! Nghe tiếng Nho Đồng than thống thiết, hoa sen đất báu cùng ngao du).

 

* Chỉ dạy Hàm Hoằng

 

          Dục cầu xuất thế huệ, tiên đoạn thế gian ngu. Thân giới nguyên phi thật, căn trần tánh bổn vô. Văn tư nghi tự húc, danh lợi bất kham ngu. Niệm mạc trì t́nh cảnh, cung hằng thận sở xu. Tam Quy tri cứu cánh, thập giới ác cơ xu. Hòa nhẫn thành tâm đức, tinh cần tác thắng mô. Tŕ kinh thần tại định, ức Phật trí năng phu. Duệ chuyển tùng tiền lý, siêu đăng tối thượng cù.

          (Muốn cầu xuất thế huệ, đoạn ngu thế gian trước. Thân, cõi vốn chẳng thật. Căn, trần tánh vốn vô. Văn tư nên tự gắng, danh lợi chớ trầm mê. Niệm đừng theo tình, cảnh. Thân luôn thận trọng gìn. Tam Quy biết rốt ráo, thập giới nắm trọng tâm. Hòa, nhẫn thành tâm đức, siêng ròng làm gương lành. Tŕ kinh tâm thần định, nhớ Phật, trí tăng thêm. Chuyển biến theo người trước, vượt lên nẻo tót vời).

 

* Cảnh tỉnh Sơ Bình

 

          Mạt kiếp tu hành, thiểu thành đa đăi. Thận vật sư tâm, ngạnh tác chủ tể. Qun sắc sát ngôn, như lâm như tại. Khiêm cung mục kỷ, vô tư lộ thái. Đản tỉnh ngã phi, bất niệm nhân tội. Bát dụ minh tâm, hằng quán pháp hải. Hư kiểu vị trừ, chân vị tư nỗi.

          (Tu hành trong đời mạt, thành ít, thất bại nhiều. Cẩn thận chớ tư tâm, ngang ngạnh làm chủ tể. Quán sắc, xét ngôn từ. Như vào vực, trên băng. Khiêm cung, uốn nắn mình. Chớ nghĩ làm ra vẻ. Chỉ xét lỗi chính mình, đừng nghĩ tội kẻ khác. Tám thí dụ[79] tạc dạ, luôn quán sát biển pháp. Hư dối hễ chưa trừ, chân vị thường khát đói).

 

* Ba bài kệ trong núi

 

          1) Huyễn cảnh minh vô định, Bồ Đề chí tự kiên. Dĩ tri thân thế lụy, ninh bị lợi danh thiên. Yến tịch tiên thư hậu, đàm kinh thọ thực tiền. Lăn tùng thương tứ sự, nhất bát thị lương điền.

          (Huyễn cảnh tối, vô định. Chí Bồ Đề tự bền. Biết thân do đời lụy, há bị lợi danh dời? Chú giải xong, ngồi lặng; trước lúc ăn, bàn kinh. Lười biện định bốn sự, một bát là ruộng lành).

          2) Bất vấn nhân gian thế, duy tham Đệ Nhất Thiên. Đế tùng quán cảnh phát, hỏa tất chỉ tân truyền. Vị thức Kiêm Sơn Cấn, đồ lao Tịch Dịch Càn. Trần duyên năng đốn tạ, chánh pháp khả toàn kiên.

          (Chẳng hỏi chuyện nhân gian, chỉ tham Đệ Nhất Thiên. Đế từ quán cảnh khởi, lửa ắt do củi truyền. Chưa biết Kiêm Sơn Cấn[80], uổng nhọc Tịch Dịch Càn. Trần duyên mau dứt sạch, chánh pháp gánh vẹn tròn).

          3) Lệ trạch công phi tế, cao hoang diệc khả thuyên. Danh ngôn tỉnh khát mộng, khoái luận nhập thâm Thiền. Bộ lý tông tiên triết, quy thằng khải hậu hiền. Ma-ni hề túc tiện, giới nguyệt chúc tam thiên.

          (Công lệ trạch chẳng bé, bệnh nguy ngập cũng lành. Lời hay khiến tỉnh mộng. Luận bàn nhập thâm Thiền. Noi bước bậc tiên triết, khuôn phép dạy hậu hiền. Ma-ni chẳng đáng mộ, trăng giới rạng tam thiên).

 

* Khóc Huệ Tế Thị Quyền luật chủ

 

          Vĩnh thán Tỳ Ni uyển, ư kim cửu dĩ hoang. Khai giá thùy thật am, khinh trọng kỷ tằng thương. Kư thiết hoành lưu thống, hằng ca như ngọc chương[81]. Thiên khuynh phù luật giả, thùy dữ cộng đàm thường?

          (Than mãi vườn Tỳ Ni, nay hoang phế đã lâu. Khai, giá ai thật hiểu? Khinh, trọng mấy lượt bàn! Đã xót cắt ngang dòng, luôn ca như ngọc chương. Trời dời người phù luật, còn ai cùng đàm thường?)

 

* Khất thực cảm hoài

 

          Đồng minh hữu tứ sĩ, nhị hữu dĩ tŕ Tây. Độc lại bá dữ trọng, tương kỳ đề thả tê. Huệ cơ hân bất viễn, huyền đức hám do khuê. Mạt hậu vị minh cú, hà thời cộng tỉnh mê.

          (Cùng chí có bốn vị, hai bạn đã về Tây. Riêng nhờ cả và hai[82], giúp nhau nhắc nhở hoài. Nền huệ mừng gần gũi, huyền đức tiếc xa vời. Câu cuối cùng chưa rõ, khi nào cùng tỉnh mê?)

 

* Chọn chỗ ở có mười tám sự (kèm theo lời tựa)

 

          Thuận theo sự chọn lựa của thầy Quy Nhất, vâng theo từ mạng của Đại Sĩ, kết lều tranh ở Tây Hồ, chẳng dám tự ruồng rẫy, vứt bỏ, thuận theo mỗi sự mà đặt thành một kệ.

          1) Nhất ban tùng địa phát, ph́ tích vị thùy thù? Tín thủ hòa căn thủ, tăng tiền thúy măn vu (hái rau).

          (Đều cùng từ đất mọc, mập, ốm khác vì ai? Thuận tay nhổ cả rễ, trước Tăng bát xanh đầy).

          2) Du tất tiên thời dụng, diêm nghi thục hậu gia, hà tu mịch hương liệu? Hỏa đáo vị năng xa (xào rau).

          (Dầu ắt dùng trước hết, chín rồi thêm muối sau. Cần gì tìm hương liệu? Lửa đủ, vị ngon lành).

          3) Hoàng lương lãnh thủy hạ, bạch sán phí thang ưng, thiết kỵ vô đoan động, nhân uân nhậm vận đằng (nấu cơm).

          (Kê vàng ngâm nước lạnh, gạo trắng cần nước sôi, rất kỵ vô cớ khuấy, sùng sục mặc nó sôi).

          4) Ngũ phí chiêm thang hậu, tam đầu nghiệm thích thời, tùng lai thanh dật vị, bất hứa túy ông tri (pha trà).

(Nước sôi năm lượt[83] rồi, ba phen kiểm thích nghi, trước nay vị thanh dật, chẳng để gã say hay).

          5) Tán, chuyên hằng thuận thế, văn vũ diệc tùy cơ, tích tận tân cùng tế, hôi tùng hà xứ phi (nhóm lửa).

          (Tán, chuyên luôn thuận thế; nhẹ, mạnh cũng tùy cơ, chẻ củi thành mảnh nhỏ, tro bay từ chỗ nào?)

          6) Kỷ nhân tân cựu vị, oản bát sổ phân minh, chỉ khủng đường trung khách, tham thường bất thấp canh (hành đường).

          (Mấy người chỗ mới cũ, chén bát đếm phân minh. Chỉ sợ khách đến dự, tham nếm bất thấp canh[84]).

          7) Địch khí tiên trừ tể, vô linh dư nị lưu, đê thanh quy bổn xứ, châm yên vị sanh sầu (rửa sạch bát).

          (Rửa chén trước bỏ cặn, chẳng để chất nhờn bám, khẽ khàng đặt đúng chỗ, lặng tiếng chẳng sanh sầu).

          8) Đới thủy tha nê khứ, bàn chuyên vận ngõa lai, tiễn ngư dữ ủng miết, mãn diện thả mông ai (trực viện).

          (Chuyển nước, gạn bỏ bùn, dọn gạch, chuyển ngói đến, cá tươi, rùa trong vò, khắp mặt phủ đầy bụi).

          9) Quả nhân chân bất muội, thủ dữ tự vô tư, vị vấn sanh khương lạt, ư kim vị thục tri? (tri khố)

          (Thật chẳng lầm nhân quả, cho, lấy chẳng riêng tư! Xin hỏi gừng tươi, ớt, nay biết rõ vị chưa?)

          10) Vấn tấn thường tiên ý, hàn ôn nhậm sở nghi, hiện thành trà nhất trản, mạc thọ Triệu Châu khi (tri khách).

          (Chào hỏi, đón ý trước; lạnh nóng đều thích nghi. Hiện thành trà một chén, chẳng bị Triệu Châu lừa)

          11) Tùy trí tùy t́nh thuyết, đồng điều phục dị chi. Thanh tiền nhất trước tử, lưu đãi đương gia nhi (đáp vấn).

          (Tùy trí, tùy tình nói, cùng nhánh lại khác cành. Đằng trước một câu nói, dành đợi cho con nhà).

          12) Cưỡng tiếp cơ nguyên dị, cang nhu khắc diệc thù, khí b́nh tâm tức hậu, giá trước khả tằng thâu? (hòa giải sự tranh cãi)

          (Hòa giải duyên do khác; mềm, cứng cũng khác nhau, sau khi tâm bình tĩnh, chuyện ấy há từng thua?)

          13) Vô thượng minh vương ấn, hàn đàm nguyệt nhất luân, bát phong xuy bất phá, băng tuyết diệc dương xuân (tŕ chú).

          (Ấn minh vương vô thượng, đầm lạnh một vầng trăng, tám gió thổi chẳng nát, băng tuyết vẫn xuân nồng).

14) Từ tôn vô lượng hiệu, giới nhĩ hữu tâm hàm. Sanh Phật nguyên phi cách, thâm Thiền hà tất tham? (niệm Phật )

          (Từ tôn vô lượng hiệu, tâm nhỏ nhoi chứa đầy. Chúng sanh, Phật chẳng cách, cần gì tham thâm Thiền?)

          15) Hảo sự bất như vô, mạc tác tử cú hội, nhất nhậm năng sở phân, tùng lai phi tánh ngoại (lễ bái)

          (Vô sự hơn hảo sự, văn tự đừng chấp chặt, mặc sức chia năng sở, trước nay tánh há ngoài?)

          16) Miết nhĩ y tha khởi, lai tung hà xứ tầm? Sát-na sanh tức diệt, vạn cổ tự trường kim (quán tâm).

          (Bỗng chốc y tha khởi, đến đâu chốn nào tìm? Sát-na sanh liền diệt, muôn thuở là hiện thời).

          17) Khất sĩ nguyên ngô hiệu, tuần gia khởi trạch bần, bất cầu Ứng Cúng quả, đẳng thí bội quan tình (khất thực).

          (Khất sĩ vốn hiệu tôi, theo từng nhà khất thực, há chọn nhà nghèo nàn. Chẳng cầu quả Ứng Cúng, bình đẳng thí tăng chúng, phước gấp bội chấp tình).

          18) Cao chẩm trường thư cước, ninh sầu minh nhật lương, kỷ đa điên đảo mộng, tỉnh hậu nhất tề vong (nghỉ ngơi).

          (Gối cao, chân duỗi thẳng. Đừng lo cơm bữa mai. Bao nhiêu mộng điên đảo, tỉnh giấc quên sạch rồi).

 

* Bài ca về “pháp thần” (bầy tôi của Phật pháp) vì thị giả Văn Đạo (có lời tựa)   

 

          Thiền sư Mật Tạng Khai thị tịch, Văn Đạo còn chưa xuống tóc, từ chỗ Tăng Thủy Bộ trở về, chẳng tìm thầy được, bèn đau lòng khóc lóc mà mất. Lục Hành Chi kể với tôi chuyện này.

          Tứ đại hải thủy mẫu nhũ doanh, Tỳ Phú La sơn tích cốt quân. Kinh Kha nhiếp Chánh, vị xưng anh. Điền Hoành ngũ bách siêu đẳng luân. Hà huống đầu thành sự tri thức, truyền lai bán kệ kham tri tân. Tuyết Sơn Đại Sĩ tiêu bảng tại, khả liên lưu tục đa tà nhân. Thuận chi tắc hỷ, nghịch tắc sân. Viễn chi tắc vong, cận thỉ thân. Tạng công ẩn khứ âm như kim. Văn Đạo cô thần thân vi trần. Nhân vị sanh tử năi vĩnh cách, ninh tri hỏa truyền phi do tân. Quân bất kiến, tỳ-kheo úy khát ẩm trùng thủy, hà như khát tử tiên phát chân.

          (Sữa mẹ tràn đầy nước bốn biển, núi Tỳ Phú La xương chất chồng. Kinh Kha[85] giết Tần: Chưa anh kiệt. Điền Hoành[86] năm trăm: Siêu tót vời. Hà huống chân thành thờ tri thức, được truyền nửa kệ biết đường về. Tuyết Sơn Đại Sĩ gương còn đó, đáng thương thói tục lắm tà nhân. Thuận thì vui, nghịch liền sân hận. Xa sẽ quên liền, gần mới thân. Tạng công thị tịch, tiếng như vàng. Văn Đạo cô thần thân bụi trần. Hay nói “tử sanh mãi cách biệt”, há biết truyền lửa cần củi ư? Ông chẳng thấy: Sư sợ khát, uống nước có trùng, sao bằng chết khát chứng ngộ trước?)

 

* Dạy Giới Minh

 

          Mạn vi công đức tặc, cần vi thiện pháp vương. Phước thủy huệ châu tiếp, vô thủy châu bất hành. Dục cầu chân thật huệ, mạc tùng khẩu nhĩ thương. Khổ chí lao cân cốt, đại nhậm nãi khắc tương. Phước chí tâm hốt khai, diệu nghĩa năng đốn chương. Thâm tạo kư tự đắc, thế trí thùy khả lượng?

          (Mạn là giặc công đức, siêng là pháp vương lành. Phước: Nước; huệ: Mái chèo. Không nước, thuyền chẳng bơi. Muốn cầu chân thật huệ; đừng từ tai, miệng bàn. Khổ chí nhọc gân cốt, trách nhiệm lớn quyết thành. Phước đến, tâm bỗng mở, diệu nghĩa chóng hiện bày. Bản lãnh sâu tự đạt, thế trí há sánh lường?)

 

* Lời than “cớ sao nhọc nhằn?”

 

          Vị vấn trượng phu nhi, hồ lao[87] phát hạo thán. Sa Bà bổn khổ không, lý dục nguyên băng thán. Thỉ tác kỳ nam tử, không hành dĩ kinh đạn. Huống phục ma vơng trù, xúc xứ giai nguy nan. Minh minh tam giới trung, hà thời dạ phương đán? Sở dĩ xuất thế tân, mỗi cần như huyễn quán. Tuế hàn tùng bách vinh, lô xí kim tụ xán. Nghịch cảnh thị lương sư, chỉ quư trung bất loạn. Tọa đoạn sanh tử t́nh, đương xứ tức bỉ ngạn. Phóng hạ tổ sanh tiên, niêm khởi Tần thời toản. Vị vấn trượng phu nhi, hồ lao phát hạo thán.

          (Hỏi han bậc trượng phu, than dài “sao nhọc nhằn?” Sa Bà vốn khổ, không, lý dục vốn băng, than. Thề làm kỳ nam tử, hành suông đã hãi hùng. Huống còn lưới ma dày, chỗ nào cũng nguy nan. Trong tam giới âm u, bao giờ đêm mới tàn? Vì vậy, khách xuất thế, thường siêng quán như huyễn. Tiết lạnh, tùng bách tươi; lò hừng, khối vàng rực. Nghịch cảnh là thầy tốt, cốt sao tâm chẳng loạn. Đoạn tình kiến sanh tử, nơi đây chính bờ kia. Buông roi bẩm sanh xuống, giương cao gương thời Tần. Hỏi han bậc trượng phu, than dài “sao nhọc nhằn?”)   

 

* Mười bài kệ cảm hoài trong khi bị bệnh

 

          1) Nga nhĩ Tây sơn, nga nhĩ Đông, y y sư hữu niệm hà cùng? Trường không nhạn ảnh nguyên vô trụ, vị khẳng chung vi cựu a mông.

          (Bỗng chốc Tây sơn, bỗng chốc Đông. Nương thầy, dựa bạn nghĩ sao cùng? Trên không, bóng nhạn vốn vô trụ, rốt cuộc ai người vẫn mịt mùng).

          2) Trung Nguyên trục lộc khổ vô ngu, nhất quyển tàn kinh thả tự cù. Liễu đắc mục tiền vô thừa pháp, Oai Âm na bạn[88] khước thành thâu.

          (Trung Thổ đuổi hươu[89], khổ chẳng yên. Một quyển kinh tàn tự gắng công. Hiểu rõ hiện tiền không pháp sót. Bên phía Oai Âm vẫn thua hoài).

          3) Tam sanh ngọc thực mộng trung hôi, trừng phát lao sanh mạnh lãng sai. Ký ngữ Linh Sơn thân phó chúc, dạ quang đạn tước sự kham ai.

          (Ba đời cơm quý: Tro trong mộng. Trừng mắt nhọc nhằn, đoán sóng to. Gởi gắm Linh Sơn lời phó chúc, dạ quang ném sẻ[90] đáng buồn thay!)

          4) Tuyên Văn kỹ lưỡng quư Ca Văn, xuy tán thanh vân phụ bạch vân. Kham thán truy lâm danh kiệt sĩ, lạc hoa lưu thủy loạn phân phân.

          (Khổng Tử há tài sánh Thích Ca, thổi tan mây xanh, nâng bạch vân. Đáng than hào kiệt trong tăng sĩ, nước chảy, hoa trôi tán loạn thôi).

          5) Vạn đằng đa thiểu thiến thùy san, cao giá trường khu mạc vấn quan. Ẩm khí thất thanh do vị miết, tượng vương dĩ quá vạn trùng sơn.

(Dây leo muôn mối, ai trừ khử? Quan san chẳng hỏi, mải rong ngựa. Chén uống thất thanh chẳng buồn liếc. Tượng vương đã vượt vạn trùng non).

          6) Xu tỵ nhân duyên vấn lục hào, chúc nhân vô kế đại phanh bào. Ứng Chân hữu cốt di hoang dă, trám đắc Kỳ Bà tử tế xao.

          (Sáu hào thưa hỏi chuyện nhân duyên. Cỗ tế quan nhân chẳng nấu thay. Đồng hoang La Hán xương phơi đó, tìm thử Kỳ Bà[91] gõ kỹ xem?)

          7) Thùy tương nha xú lập Đương Dương, nhạ đắc nhi tôn nhật dạ cuồng. Diệt khước bổn tông vô thật pháp, kỷ đa nhiệt náo nhất thời lương.

          (Ai đem chuyện xấu đặt Đương Dương, đến nỗi cháu con sáng tối cuồng! Diệt mất bổn tông, không thật pháp, bao nhiêu ồn náo nhất thời yên).

          8) Hoàng hoa uất uất trúc thanh thanh, Bát Nhã Chân Như ngữ thái tinh. Kiến sắc văn thanh tùy phận quá, tu tha kiểu cưỡng thiết môn đ́nh.

          (Hoa vàng rậm rạp, trúc xanh xanh. Bát Nhã Chân Như lời cực tinh. Thấy sắc, nghe âm, tùy phần hiểu. Thẹn thay kẻ cưỡng lập môn đình).

          9) Tối khổ Sa Bà tà kiến chưng, Thiền môn như thán, Giáo như băng. Sanh tâm vô trụ kim cang ấn, quư sát Hoàng Mai dữ Huệ Năng.

          (Khổ nhất Sa Bà tà kiến thịnh, Thiền môn đen thủi, Giáo như băng. Sanh tâm vô trụ kim cang ấn, thẹn chết Hoàng Mai với Huệ Năng).

          10) Sắc lư giao thanh, thủy lư diêm, y hi phảng phất tối kham hiềm. Hoàng liên thực tận vô phi khổ, thạch mật trung biên tận thị điềm.

          (Keo xanh trong sắc, muối trong nước; phảng phất dường như đáng chán nhàm. Ăn sạch hoàng liên đều đắng nghét. Thạch mật giữa, rìa thảy ngọt lành).

 

* Đề từ cho quyển sách về trinh phụ họ Hạ

 

          Quân bất kiến, tàm quý vô y phó hỏa nhân. Tu du cụ túc Phạm thiên thân. Thành ngữ thệ xuất phụ chi trinh. Tượng vương sản nạn tư khai tần. Do lai nhất tử vị xưng anh. Ô hô thử ý trù năng chân? Thị cô thân, tràng dục đoạn. Cực Lạc bang, khán lănh noăn. Hồi tương huyết lệ nhập trân tŕ, bất động phàm khu thánh nhân măn. Lan thuẫn tằng tằng thụ ảnh trùng, hà phương biến liệt Sa Bà bạn.

          (Ông chẳng thấy, người xấu hổ vì không áo, gieo thân vào lửa. Bỗng chốc trọn đủ thân Phạm Thiên. Lời chân thành thề nêu gương trinh tiết. Tượng vương sanh khó bao nguy hiểm. Đến nay dẫu chết chẳng được khen. Than ôi! Ý này ai thật sự hiểu? Hầu mẹ góa, ruột gần đứt; cõi Cực Lạc, xem nóng, lạnh. Ôm mối huyết lệ vào ao báu; chẳng động thân phàm, nhân thánh vẹn. Lan can tầng tầng, bóng cây lồng. Phương nào kể khắp bạn Sa Bà?)

 

* Tưởng nhớ Lỗ Trọng Liên[92]

 

          Chiến Quốc hữu kỳ sĩ, cao đàm sỉ đế Tần. Để chưởng giải phân nn, nhi phi nghi diễn thần. Thiên kim tiếu bất cố. Chung thân cư hải tân. Liêm khiết khởi túc mộ, nghĩa trọng phi cam bần. Ngã bi sĩ tập lậu, cạnh tác danh lợi thần. Xú phiến dữ thư trùng, trâm hốt nhi thùy thân. Độc sử phát vĩnh thán, thao thao thiên cổ luân.

          (Chiến Quốc có kỳ sĩ, cao luận, nhục vua Tần. Ra tay cứu loạn, nạn, chẳng hề múa mép suông. Ngàn vàng cười chẳng đoái, suốt đời sống ven biển. Liêm khiết há đáng mộ, trọng nghĩa chẳng cam nghèo. Tôi buồn cho kẻ sĩ, đã quen thói tệ rồi, tranh nhau làm tôi mọi, cho lệ với danh thôi. Ruồi nhặng và giòi bọ, phô phang hốt cùng trâm. Đọc sử than thở mãi, vằng vặc gương ngàn đời).

 

* Dạy Phí Kính Trai

 

          Ác nghiệp tuy bổn không, nghiệp duyên mỗi uất ông. Bất tùng tác pháp môn, chung thọ huyễn tội lung. Bất quán Thật Tướng tâm, ma cung vô tự động. Tàm quý kư giao công, Lý Sự tu nhất thống. Quân bất kiến, Thiện Tinh vọng thuyết pháp nguyên không. Trường dạ Nê Lê hà nhật lung. Niết Bàn hội thượng Vị Sanh Oán, đả phá tùng tiền hắc tất dũng.

          (Ác nghiệp tuy vốn không, nghiệp duyên thường rậm rì! Chẳng hành theo pháp môn, ắt mắc lồng tội huyễn. Chẳng quán tâm Thật Tướng, ma cung chẳng tự lay! Hổ thẹn cùng dốc sức, Lý Sự cần hợp công. Ông chẳng thấy: Thiện Tinh nói xằng pháp vốn không, đêm dài địa ngục thuở nào thoát? A Xà Thế trong hội Niết Bàn, phá nát thùng sơn đen trước kia).

 

* Giã biệt bạn

 

          Hồ hải phù du thập ngũ niên. Cước ngấn mang lý kỷ phiên xuyên. Thủ châu duyên mộc thời sư khẩu. Thố giác quy mao giáo ngoại truyện. Vạn khiếu bi phong hào khống địa, thiên tràng huyết lệ tẩm khể thiên. Ân cần phó dữ đồng nghiệp sĩ, triệt để hân phiên thả thục miên.

          (Mười lăm năm phù du hồ biển, hài cỏ dẫm bước đã bao phen. Ôm cây, trèo cành, luôn nói suông. Sừng thỏ, lông rùa, ngoài giáo truyền. Gió buồn muôn kẽ gào rền đất, ngàn mối huyết lệ đẫm bầu trời. Ân cần căn dặn người đồng nghiệp, triệt để lật nhào, ngủ kỹ thôi!)

 

 * Hai bài kệ vào núi

 

          1) Biện tài như vũ, bút như vân, bát lượng y nhiên thị bán cân. Giới nhĩ nhất tâm thùy tín cụ. Bất như trực hạ tự Văn Huân.

          (Biện tài như mưa, bút dường mây. Tám lượng rành rành đúng nửa cân. Cái tâm nhỏ tí ai tin trọn, chẳng bằng trực tiếp tu Văn Huân).

          2) Chúng sanh lương dược vô như bệnh! Bệnh cực, h́nh khô, tâm diệc hôi. Biến giới xuân phong phóng đào lư. Trường quăng do tự vị văn lôi.

          (Thuốc hay cho người chi bằng bệnh? Bệnh tột, thân còm, tâm lạnh tanh. Khắp cõi gió Xuân, đào, mận trổ. Duỗi tay như thể sấm chưa rền).

         

* Sáu mươi hai bài kệ ở trong núi (có lời tựa)

 

          Ôm bệnh vào trong núi để liễu đại sự, chẳng nhàn rỗi lắm ư? Nhưng có điều chẳng thể im lặng, chẳng thể hướng về đó để thở than, nếu hiểu ý quên lời, chưa chắc chẳng phải là một chuyện giúp cho đại sự vậy.

          1) Nhất tự mang hài phá. Tùng giao vạn lự dung. Đoản sam kham độ hạ. Tệ áo phục kinh đông. Tọa khởi dư trường khiếu, đàm thời cận đoản phong. Thần hôn bạn tịch mịch, nhai thượng kỷ thanh chung.

          (Một chiếc hài cỏ rách, khiến muôn lo tiêu dung. Áo ngắn đỡ mùa hè, áo kép rách qua Đông. Đứng, ngồi, bèn hú dài. Trò chuyện mấy ngọn núi. Tối sáng vui tịch mịch. Vách núi mấy tiếng chuông).

          2) Nhất bệnh ngũ bách nhật, h́nh thần tịnh dĩ khô. Truy tố ngẫu tương trị, xưng ngã vi Thiền Cù. Thiền Cù cánh hà giải, Phật pháp tùng lai vô. Quyện miên, tỉnh tiện khởi. Tiếu thử không đầu lô.

          (Bệnh hết năm trăm ngày, thân, trí đều khô cong. Tăng, tục chợt gặp gỡ, gọi tôi là Thiền Cù. Thiền Cù hiểu thế nào? Phật pháp chưa hề có! Mệt ngủ, tỉnh liền dậy. Cười cái sọ rỗng không!)

          3) Ngã ái sơn trung hành, an bộ bất tu mã. Hữu thời phỏng quái thạch, hữu thời xu thụ hạ. Bổn vô thủ cảnh tâm, hà lao cánh tu xả? Xuy bỉ thế đồ trung, toản quy phục đả ngõa!

          (Ta thích đi trong núi. Tản bộ, ngựa cần chi! Có lúc thăm đá lạ. Có lúc đến dưới cây. Tâm vốn chẳng giữ cảnh, nhọc chi cần phải xả? Cười cợt kẻ trong đời, hết bói lại xủ quẻ).

          4) Ngã ái sơn trung trụ, quán hóa phủ thả ngưỡng. Nhất pháp bất đương tình. Vạn duyên đồng kính tượng. Tài ngôn độc lộ thân, vô đoan dĩ thành lưỡng. Tiếu phá thái hư không, nham cốc tranh thù hưởng.

          (Ta thích ở trong núi. Xem ngó, ngửa lại cúi. Một pháp chẳng bận lòng. Muôn duyên: Bóng trong gương. Vừa nói riêng lộ thân, bỗng dưng thành hai đằng. Cười vỡ thái hư không, hang hốc đua tiếng vọng).

          5) Ngã ái sơn trung tọa, nhất nhật lưỡng nhật vĩnh. Đảnh tuy thước vị sào, thụ diệc chi vô ảnh. Ký bất nại huyên hoa, diệc bất vị u tĩnh. H́nh b́ tiện khởi hành, khô xuân biến phù ngạnh.

          (Ta thích ngồi trong núi. Một ngày như hai ngày. Tuy chim chưa kết tổ, ở ngay trên đỉnh đầu, bóng cành cây chẳng còn. Chẳng chịu đựng ồn náo, vẫn chưa phải u tĩnh. Thân mệt, đứng dậy đi. Cây khô thành cành trôi).

          6) Ngã ái sơn trung ngọa, dị mị hoàn dị tỉnh. Tỉnh mị duy huyễn h́nh, thùy thật tư khẳng khể? Đế quán Ngũ Ấm thân, phi biệt diệc phi tịnh. Bất tri hà sở duyên, do nhiên bất tự khẳng.

          (Ta thích nằm trong núi, dễ ngủ lại dễ tỉnh. Thức, ngủ chỉ huyễn hình, ai chịu thật ràng buộc? Quán kỹ thân Ngũ Ấm, chẳng khác cũng chẳng đồng. Chẳng biết duyên nơi đâu, vẫn cứ chẳng khẳng định).

          7) Uyên Minh thị bôi tửu, bất dữ liên hoa minh. Chiết yêu kư phất tiết, khúc nghiệt hồ thiên tŕnh. Dục thâm thiên cơ thiển, cách ngôn tiện Trang sanh. Tánh học khởi đa thuật, vô như lý thắng t́nh.

          (Uyên Minh mê chén rượu, đành phụ hội hoa sen. Gãy lưng há chuyện nhỏ? Men rượu riêng say mèm. Muốn sâu, căn cơ cạn, lời hay phục Trang sanh. Tánh học há nhiều thuật, sao bằng lý thắng tình?)

          8) Tráng sĩ huyết khí thịnh, quốc bộ khoa Hàm Đan. Sát nhân bất cảm nghễ, nhất ngữ minh phế can. Nghĩa dũng tuân tuyệt thế, nhân từ thể năi ngoan. Đồ cùng lộ chủy thủ, độc lâu thiên cổ hàn.

          (Tráng sĩ tánh hào hùng, lìa nước vượt Hàm Đan. Giết người chẳng dám liếc. Một lời tạc tâm can. Nghĩa dũng quả tuyệt thế, nhân từ thân bị bằm. Cùng đường, lòi chủy thủ, đầu lâu lạnh ngàn đời).

          9) Thố ngọc phủ Tây thệ, kim ô phục Đông thăng. Thiếu tráng nhật dĩ khứ, suy bệnh thời thời tăng. Mị giả chung bất giác, trí giả tư tự trừng. Đản sử băng thành thủy, vô linh thủy kết băng.

          (Thỏ ngọc vừa về Tây, quạ vàng phương Đông mọc. Thuở trẻ khỏe đã qua, suy bệnh mỗi lúc tăng. Kẻ ngủ trọn chẳng tỉnh, người trí nghĩ lắng trong. Chỉ cốt băng thành nước, chẳng để nước đóng băng).

          10) Hồ thố doanh kỳ quật, ô thước tranh kỳ sào. Thục tri hàm tại lữ, sanh tử quân phù bào. Mang mang khổ hải khoát, dục độ tu hệ bào. Mạc sử hoang giao cốt, hoàn linh phạm chí xao.

          (Cáo, thỏ lo đào hang; quạ, sẻ tranh xây tổ. Ai biết đều tạm bợ, toàn bọt nổi sanh tử. Biển khổ rộng mênh mang; muốn vượt, cần buộc phao. Xương đừng mặc đồng vắng, đợi Phạm chí gõ xem).

          11) Tiện nhân đăng lũng đoạn, Sào Hứa xu cao cương. Thanh trược cố tiêu nhưỡng. Thủ xả đồng cao hoang. Bất tri tam giới mộng. Oản nhục cưỡng tác sang. Nhất niệm ngộ vô tánh, thập hư nhậm thương dương.

          (Kẻ hèn ham thấp kém. Sào, Hứa hướng núi cao. Trong, đục tựa trời, vực. Lấy, bỏ lậm sâu rồi. Chẳng biết tam giới: Mộng! Cưỡng khoét thịt thành ghẻ! Một niệm ngộ vô tánh. Mười phương mặc ruổi rong).

          12) Thủy khí mỗi thành hồng, địa chưng mỗi tác khuẩn. Giới nhĩ bổn vô h́nh, sát-na dĩ hữu trẫm. Thận độc tuy căng căng, khởi đạt Vô Sanh Nhẫn. Nhất ế phủ tại tình, không hoa tư loạn vẫn.

(Hơi nước thường thành mống, hơi đất thường sanh khuẩn. Nhỏ nhoi vốn vô hình, sát-na bèn thành dạng. Tuy nơm nớp thận trọng, há đạt Vô Sanh Nhẫn? Tròng mắt vừa có màng, hoa đốm liền tán loạn).

          13) Thịnh thử hỷ thừa phong, nghiêm hàn ái hướng hỏa. T́nh tánh lũ tùy thời, cứu cánh thùy vi ngã? Vị xuất hữu vô quan. Không lao thử tĩnh tọa. Mãng thương tam phản nhân, phủ phúc do xứng quả.

(Nắng gắt ưa hứng gió, rét buốt chuộng gần lửa. Tình, tánh vốn lắm thời, rốt cuộc ai là ta? Chưa thoát ải hữu, vô, tĩnh tọa chỉ uổng sức! Đồng hoang, ăn no về, vỗ bụng vẫn lưng lửng[93]).

14) Phong lai vạn hác minh, nguyệt xuất thiên sơn kiểu. Tiếu thử ngoan hư không, thường vi minh động nhiễu. Bất động phục thị thùy, khởi cư phong nguyệt biểu. Li thử kư song phi, vấn quân liễu bất liễu. Hồ phất úy thâm khanh, đồ ưu đả chi nhiễu. Mộ trực chuyển y tà, không tranh nội ngoại thiệu.

(Gió lùa, muôn hang réo. Trăng mọc, ngàn núi ngời. Cười hư không trơ trơ, thường bị sáng động nhiễu. Bất động lại là ai? Há ở ngoài trăng, gió, lìa đó đều chẳng phải. Hỏi anh hiểu hay không? Sao chẳng sợ hố sâu, chỉ lo đánh động quanh? Bỗng chuyển theo ngoắt ngoéo, trong ngoài tranh giành suông)

          15) Kinh phác vị ưng phẫu, Biện Hòa đồ tự khấp. Lôi minh nhị nguyệt Xuân, nhuyễn động giai ly trập. Khuất thân tín hữu thời, hà dụng lao cấp cấp. Trúc toái thái hư không, tùng cổ nguyên vô trấp.

          (Đá Kinh chưa chẻ ngọc, Biện Hòa đành khóc suông. Sấm Xuân tháng Hai rền, sâu bọ đều lìa kén. Co, duỗi vừa đúng thời, cần chi phải vội vã? Trúc nát cõi hư không, từ cổ vốn không nhựa).

          16) Họa bính bất sung cơ, mỹ thực bất trung băo. Dục phược thụ đầu phong, cần thủ quy mao giảo. Lộng giả khởi thành chân, mại chuyết phiên vi xảo. Câu Lô nhật lạc sơn, Thiệm Bộ kê minh Măo.

          (Bánh vẽ chẳng đỡ đói, thức ngon chẳng no lòng. Muốn trói gió đầu cây, siêng lấy lông rùa bện. Giỡn giả há thành chân, bán khéo trở thành vụng. Câu Lô[94] mặt trời lặn. Thiệm Bộ gà gáy sáng).

          17) Thánh huấn hằng truân truân, linh quán ngũ thịnh uẩn. Dương diễm dữ không hoa, vô ngă thùy hân phẫn. Sanh tử mỵ tạm đ́nh, huyễn chất đồng triều cận. Liễu tri hô hấp quan, chí đạo tư vân cận.

          (Thánh huấn luôn ra rả, dạy quán năm thịnh uẩn, như gợn nắng, hoa đốm. Vô ngã: Ai ưa, giận? Sanh tử chẳng tạm ngừng, huyễn chất như triều cận[95]. Biết rõ ràng hít thở, chí đạo đã cận kề).

          18) Ngự hàn không phách tích, hồ khẩu bất canh điền. Phật chế cố như thử, thùy tư cộng tức kiên. Thần vương phiên bối diệp, h́nh b́ thả ổn miên. Hà tu học khô mộc, thất thử vô tâm Thiền.

          (Chống lạnh không bện, dệt. Húp cháo chẳng cấy cày. Phật chế định vốn vậy, ai nghĩ thoái thác ư? Thần vương lật lá bối, thân mệt nhưng ngủ yên. Há cần học khô mộc, đánh mất vô tâm Thiền!)

          19) Hữu trào bất dụng giải, hữu sơn bất dụng măi. Tuyền lưu nguyệt ảnh trường, vụ áp không h́nh ải. Khởi ngọa nhậm sở thích, ngữ mặc tùy tiêu sái. Duệ trượng đăng nham a, dã lộc tuần vô hăi.

          (Trào phúng chẳng cần hiểu, có núi chẳng cần mua. Suối chảy bóng trăng dài, sương phủ hình bóng lùn. Thức, ngủ tùy sở thích; nói, nín thật tiêu sái. Lê gậy lên mỏm đá, nai chạy quanh chẳng sợ).

          20) Luật pháp như loạn ti, Thiền Tông cánh mãng lỗ. Phân phân nghĩa học gia, do nhiên thủy thiêm nhũ. Du du Tịnh Độ môn, Sự Lý phân thủ xả. Các phi tổ phụ giáp, phiên ngạo phụ ngu hổ. Ai tai phục ai tai, tọa trí ma quân vũ.

          (Luật pháp như tơ rối, Thiền Tông càng lỗ mãng. Nghĩa học thì lăng xăng, dường như sữa thêm nước. Tịnh Độ môn ơ hờ, Sự Lý chia lấy, bỏ. Đều chẳng phải tổ huấn. Hổ ngạo nghễ xó núi. Buồn thay, đáng buồn thay, đến nỗi ma quân khinh).

          21) Chi diệp Thu dĩ tồi, trinh thật Đông vô bại. Sở dĩ chân ngụy quan, chung mạc đào lô bị. Dục sử đạo lương ph́, ân cần tiên khử bại. Chiết nhiếp tự phân đồ, đồng quy điều phục giới.

          (Cành nhánh Thu đã gãy; hạt chắc Đông chẳng hư. Do vậy, ải chân ngụy, trọn chẳng khỏi lò rèn! Muốn cho thóc lúa mập, siêng khử cỏ dại trước. Chiết, nhiếp dường chia nẻo, cùng gom giới điều phục).

          22) Nhân vũ phi tự vũ, tự vũ phi vũ nhân. Bất thọ lễ quy chủ, diệu dụ chân thả thân. Tu La mạn tràng chiết, Đế Thích thắng phan tân. Nhẫn vi lực trung tối, thắng địch ninh dương trần.

          (Người khinh, đừng tự khinh. Tự khinh, chớ khinh người. Chẳng nhận, quà về chủ[96]. Diệu dụ thật thân thiết. Bẻ tràng mạn Tu La, mới toanh phan Đế Thích. Nhẫn lực mạnh mẽ nhất, thắng địch chẳng tung bụi!)

          23) Điều tâm như đại địa, sủng nhục hà quan ư. Mỹ ngọc lương tự trân, giác thạch phiên thành tụy. Hà tai thụy hổ cơ, thiên cổ xưng nan xí. Nhẫn ký Ca Lợi vương, Lộc Uyển thành Thiện Thệ.

          (Điều tâm như cõi đất, vinh nhục há bận lòng? Ngọc đẹp tự trân quý, sừng, đá sẽ nát vụn. Xa xôi chốn hổ ngủ, ngàn đời nói khó mong! Nhẫn nhớ vua Ca Lợi, Lộc Uyển chứng đạo trước[97]).

          24) Ngôn cư Phật tổ tiên, hạnh lạc phàm ngu hậu. Mạn bão pháp môn ưu, tự tật cam vô cứu. Sỉ cung quư Nho tông, quy thoán tàm Ngự Khấu. Mạc khoa nhật chánh trường, thuấn tức văn canh lậu.

          (Nói thì vượt Phật, tổ, hạnh thua kém phàm phu. Quá lo cho pháp môn, bệnh mình đành chẳng cứu. Thẹn chẳng xứng Nho tông, khiêm hư thua Ngự Khấu[98]. Đừng khoe ngày còn dài, chớp mắt đã tàn canh).

          25) Yết miêu[99] đồ tự tổn, câu quái doanh hoàn hạc. Cửu nhận bất cập tuyền, uổng hướng cao nguyên tạc. Thận chung diệc mưu thỉ, sở hậu na kham bạc? Đề hồ nguyện cộng xan, thiện xảo tiên toản lạc.

          (Giơ mèo chỉ tự tổn, ngòi rãnh đầy lại khô. Chín nhận chẳng đến nước, uổng công đào cao nguyên[100]. Thận trọng nơi kết quả, cũng thận trọng từ đầu. Sâu dày há kham bạc? Nguyện cùng nếm đề hồ, hãy khéo xoay lạc trước[101]).

          26) Tam thập vị thỉ tráng, tứ thập kim dĩ lăo. Đồ nhĩ phí mang hài, y nhiên bất văn đạo. Kư trừng tùng tỉnh nhân, khởi học thủ viện tẩu[102]. Kiến đạn cầu hiêu chá, ta tai kế thái tảo.

          (Ba mươi chưa tráng niên, nay bốn mươi đã già. Uổng công mang hài cỏ, chẳng nghe đạo y hệt. Đã răn nhảy xuống giếng, để cứu vớt người khác. Há học thói kiêng kỵ, chẳng duỗi tay cứu chị? Thấy đạn, mong nướng cú. Than ôi, tính quá sớm!)

          27) Bích ảnh bổn phi si, hài đồng nghi tác quỷ. Bạch nhật hốt thăng thiên, kiến triệt vô đầu vĩ. Thu thâm nhiêu nguyệt hoa, xuân đáo đa phương hủy. Căn cảnh vị ly phiên, thọ dụng hữu năng kỷ?

          (Bóng tường đâu phải ma, trẻ thơ ngỡ là quỷ. Mặt trời bỗng lên cao, nhìn thấu chẳng đuôi đầu. Giữa Thu, trăng hoa thịnh. Xuân đến, cây ngát hương. Căn cảnh còn vướng mắc, thọ dụng được mấy đâu?)

          28) Ngưu độc bất úy hổ, thương điểu phố hư cung. An úy tuy dị cục, đối cảnh giai manh manh. Hà như kiến đế sĩ, liễu liễu tri vô xung. Du hý nghịch thuận giới, ninh thi thắng địch công?

          (Nghé con chẳng sợ cọp, chim bị thương sợ cung. An ủi tuy khác lẽ, đối cảnh đều mịt mờ. Sao bằng người kiến đế, biết rành chẳng lo âu. Dạo chơi cõi nghịch thuận, thắng địch há tốn công?)

          29) Thước táo cố vô ưu, nha minh diệc báo hỷ. Thanh tánh bổn phi thù, văn cơ ninh dị nhĩ. Nhất nhĩ thính lưỡng âm, lưỡng vong nhất tiện chỉ. Vô minh tùng thử vô, Thỉ Giác tùng thử thỉ.

          (Chim khách hót chẳng lo, quạ kêu cũng báo hỷ. Tánh âm thanh chẳng khác, tai nghe há khác ư? Một tai nghe hai âm; hai đằng quên, một dứt. Vô minh từ đấy không, Thỉ Giác từ đấy khởi).

          30) Hàm Lâm[103] cát năi lợi, ỷ phục tuân đa nghĩa. Phủ xướng bạt mao ca, toàn sanh bằng tác túy. Thế sự cố ưng nhiên, điều tâm vưu bất dị. Nan đề khởi Tứ Thiền, ma nữ thiên tương mỵ.

          (Hàm Lâm cát lại lợi, dựa dẫm[104] theo nhiều nghĩa. Vừa hát bài nhổ cỏ, khiến cho bạn giở trò. Thế sự vốn như thế, điều tâm càng chẳng dễ. Khó đề khởi Tứ Thiền, ma nữ riêng quyến rũ)

          31) Cư đức kỵ thành Quái. Dục đức quư như Mông. Đại đạo khoáng vô tế, hà dĩ nhĩ tự sung. Xuất quan kinh chẩm mộng, nhập tràng xuy lăo ông. Thục độc Hoắc Quang truyện, phương tri dưỡng chánh công.

          (Quẻ Quái[105] kỵ cậy đức, dưỡng đức quý như Mông[106]. Đại đạo rộng khôn ngằn, sao bịt tai chẳng nghe! Xuất quan, sợ tỉnh mộng. Vào học, lão bị cười. Đọc kỹ truyện Hoắc Quang[107], mới biết công dưỡng chánh[108]).

          32) Trục vọng hựu tầm chân. Dương hôi phục cổ trần. Vị ngộ tân trung chủ, an tri chủ lư tân. Mỹ thực băo sở khí, tao khang cơ sở trân. Thao thao thiên hạ sĩ, trở nịch đồng mê tân.

          (Đuổi vọng lại tìm chân, khuấy tro, bụi lại tung. Chưa ngộ chủ trong khách, sao biết khách nơi chủ? No rồi, đồ ngon lành, bị vứt bỏ chẳng tiếc. Nhưng hễ đang đói kém, cám bã quý muôn phần. Cuồn cuộn người thiên hạ, đắm chìm trong bến mê).

          33) Hy Nhan phục học Khổng, vị xuất tam giới lung. Bộ Lão phục xu Trang, y nhiên cựu tất dũng. Thái Cực vị sanh hình, tự tâm tảo vọng động. Thạch hỏa điện quang cơ, hà lao khoa nhất thống.

          (Mong Nhan, lại học Khổng, chưa thoát lồng tam giới. Học Lão, lại theo Trang. Thùng sơn[109] y như cũ. Thái Cực chưa sanh thân, tự tâm sớm vọng động. Đá xẹt lửa, chớp sáng, nhọc chi khoe cùng nguồn).

          34) Ký tàm đức bất tu, hựu quý học bất giảng, đức học bổn đồng điều, thùy năng tác lưỡng hạng? Tử Dương dữ Tượng Sơn, các khiết tam thập bổng. Thức thủ Tuyên Ni tông, phương lai chứng câu cảng.

          (Đã thẹn đức chẳng tu, xấu hổ học chẳng giảng. Đức, học vốn cùng gốc, ai chia thành hai đằng? Tử Dương và Tượng Sơn, đều ăn ba mươi gậy! Nhận biết tông Tuyên Ni, mới là chứng chí đạo).

          35) Đồng quan Nghi Thủy du, tam tử dị kỳ soạn. Nhất thẩn, nhất vị nhiên. Hắc đậu hoán khước nhãn. Ương Quật phát thành ngôn, thai nạn an nhiên sản. Độc chí Bất Động chương, Đại Huệ nhan đương noãn.

          (Thuở trẻ chơi Nghi Thủy, ba người ý bất đồng[110]. Người cười, người bảo đúng. Đậu đen thay cho mắt. Ương Quật[111] lời chân thành, thai nạn an tường sanh. Đọc đến chương Bất Động, mặt Đại Huệ đỏ bừng).

          36) Tiền tế bất khả cùng, hậu tế bất khả cập. Hiện tiền giới nhĩ tâm, biên tế miểu nan trắc. Minh minh pháp giới tông, diệu quán hồ mặc mặc. Phấn khởi kim cang quyền, đả phá vô sanh quốc.

          (Tiền tế chẳng thể cùng, hậu tế chẳng thể đạt. Tâm nhỏ nhoi hiện tiền, bờ mé khó thể lường. Tông pháp giới sáng ngời, diệu quán há mờ mịt? Vung nắm đấm kim cang, đập nát nước vô sanh).

          37) Dục tuyết tiên tập tản, dục lôi tiên xế điện. Như hà dục thành Phật, phước huệ hào vô phiến? Lưu tiểu thạch năng xuyên, toản tức hỏa nan hiện. Tu giáo thục xứ sanh, hoàn giáp đồng ao chiến.

          (Sắp tuyết, trời gom hoa tuyết trước. Nháng chớp xong rồi, sấm mới rền. Nếu như mong mỏi được thành Phật, chẳng mảy phước huệ há thành ư? Nước yếu rỏ mãi xuyên thủng đá, dùi lửa mà ngưng, lửa hiện sao? Chỗ chín phải tu cho thành sống, khoác giáp xông pha quyết chiến thôi!)

          38) Tinh hỏa liệu hoang nguyên, nhất chỉ tế sơn nhạc. Châu Dịch giới lý sương, Tuyên Ni quư tiên giác. Vị cùng học địa lưu, thận vật khoa vô học. Nê tại thủy phi thuần, sảo động hoàn thành trược.

          (Đốm lửa đốt đồng hoang. Một ngón che non núi. Châu Dịch răn giẫm sương[112], Tuyên Ni trọng tiên giác. Chưa tột cùng học địa, đừng khoe mình vô học. Nước chứa bùn chẳng thuần, khẽ khuấy lại đục ngòm).

          39) Trược thủy châu khả thanh, ám thất đăng năng phá. Duy hữu điện tŕ công, sư hống chung kinh ngọa. Khóa hạ diệc đăng đàn, đại tướng phi tùng hóa. Duyệt thảo phi hổ bì, đồ linh thiên cổ thóa.

          (Nước đục, châu lắng trong; nhà tối, đèn soi tỏ. Chỉ có ông ao biếc, sư tử rống vỡ mộng. Cưỡi sư tử lên đàn. Đại tướng chẳng bán buôn. Dê đội lốt da hổ, chỉ khiến muôn đời chửi).

          40) Giảo hồ năng hoặc hổ, mộc diêu nan bố cầm. Khả khi, bất khả võng. Thần toàn nãi mạc xâm. Diện nam khán Bắc Đẩu. Đoan đích thùy tri âm? Tằng kinh Thắng Nhiệt diễm, triệt cốt lương thả âm.

          (Cáo quỷ quyệt lừa cọp, diều hâu gỗ dọa chim. Dối được, chẳng hại được. Tâm nguyên vẹn chẳng hao. Hướng Nam ngắm Bắc Đẩu, mông lung ai tri âm? Từng qua lửa Thắng Nhiệt[113], mát mẻ thấu tận xương)

          41) Côn Luân phi túc hải, túc hải phi A Nậu. Thao thao vạn lư lưu, nhất trích nguyên thùy thấu? Mạn truyền thiên thượng lai, thác nhận Ngân Hà trụ. Lại thử đầu hải cơ, tùng tiền giai miễn cứu.    

          (Côn Luân khác biển thẳm, biển thẳm khác A Nậu. Muôn dòng tuôn cuồn cuộn, ai thấu hiểu giọt nguồn? Đồn rằng từ trời xuống, lầm tưởng giáp Ngân Hà. Nhờ đó, đổ vào biển, trước nay xét chẳng cùng).

          42) Lục trần bổn thái b́nh, lục căn diệc phi kiêu, vấn thủ lục thức thân, tung tích vưu yểu yểu. Thùy vi kết sử nguyên? Tế mịch chung nan liễu. Thử khán bình nội không, khuynh xuất tri đa thiểu?

          (Sáu trần vốn thái bình, sáu căn cũng chẳng phiền. Hỏi han thân sáu thức, tung tích càng mờ mịt. Đâu là nguồn kết sử? Tìm tòi trọn chẳng hay! Xem hư không trong bình, đổ ra được bao nhiêu?)

          43) Sắc sắc chương khổ không, thanh thanh diễn vô ngă. Niêm lai pháp giới thược, khai tận trần sa tỏa. Đổ giác tiện tri ngưu, vọng yên khởi hoặc hỏa. Nhược yếu thuyền đầu trực, đoan khước thuyền sao đà.

          (Mỗi sắc bày khổ, không; từng tiếng diễn vô ngã. Cầm lấy chìa pháp giới, mở trọn khóa trần sa. Thấy sừng liền biết trâu, ngó khói há lầm lửa? Nếu muốn đầu thuyền thẳng, chắc phải bỏ bánh đà).

          44) Côn[114] tiềm tri hải khoát. Bằng tỷ tri thiên cao. Thập hư tín liêu khoách, hà như Biến Cát mao? Túng bộ lịch trần kiếp, đồ linh đồng tử lao. Mê thử nhất khích lý, kim cổ đồng thao thao.

          (Côn lặn biết biển rộng. Bằng lượn biết trời cao. Tin hư không mênh mông, chẳng bằng một mảy lông, nơi thân ngài Biến Cát! Dẫu trải qua trần kiếp, chỉ khiến đồng tử nhọc. Mê một mảy lý này, xưa nay cuồn cuộn mãi).

          45) Kim tiết bất trước nhãn, độc khí bất trữ tương. Vương soạn vị cảm thực, hoa ốc đồ khuy tường. Cấu tận minh tự hiện, hồ lao tiện sắc trang. Xuân phong nhất dạ khởi, lan nhị biến khê hương.

          (Mắt chẳng dung mảy vàng, đồ đựng đã dính độc, chẳng thể chứa quỳnh tương. Cỗ vua chưa dám ăn, nhà đẹp liếc qua tường. Dơ trừ, sáng tự hiện, nhọc chi chuộng điểm trang? Gió đêm Xuân vừa thổi, suối khe lan ngát hương).

          46) Mang hài khí ốc hậu, bát đại quải mao am, phi cảm lạm vô học, tọa phỏng đồng hạnh tham. Thạch mật vị trung tối, thực năi tri kỳ cam, kiến nguyệt lương lại chỉ, ninh phục lao thâm đàm?

          (Hài cỏ, bỏ nhà rồi; bát, đãy treo lều tranh. Chẳng dám lạm vô học, để đồng hạnh tham phỏng. Thạch mật vị ngon nhất, ăn mới biết ngọt ngào. Thấy trăng nhờ ngón chỉ, há nhọc vớt đầm sâu?)

          47) Ngữ bất cạnh triều hoa, bệnh ưng tiêu túc nghiệp. Độc quư suy hủ thân, nan xí tôn giả hiếp. Pháp vô tâm ngoại truyền, đạo tự Oai Âm kiếp. Minh minh Phạm Vơng đăng, vị thẩm thùy tiên tiếp?

          (Lời chẳng đua bóng bảy, bệnh tiêu túc nghiệp mà. Chỉ thẹn thân suy bại, khó mong hông tôn giả. Pháp chẳng truyền ngoài tâm, đạo từ Oai Âm kiếp, rạng ngời đèn Phạm Võng, ai nối tiếp trước tiên?)

          48) Trực chỉ Tây lai ư[115], Lăng Già tâm khả an. Thuyết ngôn đồng giải thoát, nội thủ thiên bàn san. Hưu luyến thanh tiền cú, hoàn tư bộ ngoại can. Bất thường thiên hạ thố, na tín nhất ban toan.

          (Chỉ thẳng ý Tây lai, Lăng Già an tâm được. Nói năng dường giải thoát, trong tâm vướng chất chồng. Đừng mê nơi văn tự, đầu sào vẫn bước thêm. Chẳng nếm dấm thiên hạ, sao biết một mực chua!)

          49) Học sĩ úy khô tịch, thiền đức bố phồn văn. Phồn văn tín vô ích, khô tịch diệc thiêm cần. Xà thằng kiến phương xí, thủ xả đồ phân vân. Tróc tỵ mạn cao hoán, đăng chiếu tri phi phần.

          (Kẻ học sợ khô tịch, thiền đức sợ văn rườm. Văn rườm quả vô ích, khô tịch cũng bệnh thêm. Dây, rắn hăm hở thấy, lấy, bỏ uổng phân vân. Sờ mũi kêu ầm lên, đèn soi biết chẳng lợn).

          50) Vị minh tâm dữ tánh, độc tụng đồ nam nam. Phủ dục tư thượng đạt, ám chứng hoàn tự giam. Bất giải thuận lưu trạo, khởi tri nghịch phong phàm. Hạp tận tứ hải thủy, đáo đầu tư vị hàm.

          (Chưa hiểu tâm và tánh, chỉ đọc tụng rì rầm. Vừa toan nghĩ thượng đạt, ám chứng vẫn tự ràng. Chẳng biết chèo thuận nước, ngược gió khó căng buồm. Hớp sạch nước bốn biển, rốt cuộc đều mặn thôi!)

          51) Cạnh vi ngoại cách phong, vơng niệm tích thời điển. Nhân hộ nãi chí phệ, kham ta phạm chí khuyển. Tài khan thượng khả hồi, pháp chấp thùy năng khiển? Ngũ bách dã hồ thân, phúc triệt thiên tranh tiễn.

          (Tranh nhau làm lỗi lạc, chẳng nghĩ tới thời cơ. Do bảo vệ bèn sủa, buồn thay chó Phạm Chí. Tiếc của còn xoay được, pháp chấp ai trừ nổi? Thân chồn năm trăm năm, tranh giẫm vết xe đổ).

          52) Phật ngữ tức Phật tâm, Phật tâm phi Phật ngữ, ly thử tức phi quan, cứu cánh thùy vi nhữ? Nhất cú liễu nhiên siêu, vạn kiếp hợp đầu chử. Nhược yếu thiệt bổn điềm, cần thủ hoàng liên nhứ.

          (Phật ngữ tức Phật tâm, Phật tâm chẳng Phật ngữ. Lìa ải “tức, phi” ấy, cứu cánh ông là ai? Rành rành vượt một câu, muôn kiếp hợp đầu chày. Nếu muốn lưỡi ngọt ngào, siêng nếm sợi hoàng liên).

          53) Tâm can quải thụ diểu, thử lý tùng lai thiểu. Ly giáo mịch đơn truyền, si miết hà thời liễu? Diệu chỉ phát diệu âm, phi nội diệc phi biểu. Trắc nhĩ bất hội tâm, y nhiên đả chi nhiễu.

          (Tim gan treo đầu cành, lý ấy xưa nay hiếm. Lìa giáo kiếm đơn truyền, rùa si khi nào hiểu? Diệu chỉ phát diệu âm, chẳng ngoài cũng chẳng trong. Nghiêng tai, chẳng hiểu tâm, vẫn quẩn quanh như cũ).

          54) Quán tiễn độc du xí, vấn kiều lộ du tŕ. Lộ tŕ nhật dịch mộ, độc xí na kham y. Hữu dược bất tảo phục, hữu túc bất tảo trì. Mang mang sanh diệt hải, thùy dữ định quy kỳ.

          (Xem tên, độc càng mạnh; hỏi nẻo, càng chậm đường! Đường chậm, ngày dễ tối; độc hừng, chữa sao lành? Có thuốc chẳng sớm uống, có chân chẳng sớm đi. Biển sanh diệt mênh mông, ai dám chắc lúc về?)

          55) Độc xà vật tróc vĩ, cam lộ vật thiêm thủy. Thiêm thủy ẩm thành bệnh, tróc vĩ thích nhân tử. Chấp hạng thiện điều ngự, công quy hoạn long thị. Ngộ thời chuyển Pháp Hoa, lương tai Huệ Năng chỉ.

          (Rắn độc đừng nắm đuôi, cam lộ chớ thêm nước. Thêm nước, uống thành bệnh. Nắm đuôi, cắn người chết. Nắm cổ, khéo điều phục. Công thuộc người nuôi rồng. Khi ngộ, chuyển Pháp Hoa. Huệ Năng lành thay!)

          56) Thính pháp bất quán tâm, tử chí thành lang bối. Quán tâm bất thính pháp, chấp đao hoàn tự hại. Bất tri thuyết mặc nguyên, đồng điều khước dị hội. Tỵ khổng hướng hạ thùy, không tán Oai Âm ngoại.

          (Nghe pháp, chẳng quán tâm, lúc chết sẽ chật vật. Quán tâm chẳng nghe pháp, cầm đao vẫn tự hại. Chẳng biết nguồn nói, nín, cùng nguồn mà hiểu khác. Lỗ mũi hướng xuống dưới, khen suông Oai Âm Vương).

          57) Trường ngữ ngộ phi đa, tuyết điền tỉnh tiện vô. Yếu ngôn mê bất thiểu, tiểu độc hoàn sanh dụ. Hà lao vọng hân yếm, cộng bả chân tông vu. Tảo tu khai diễn trí, mạc họa cựu hồ lô.

          (Nói lắm, ngộ chẳng nhiều. Tuyết lấp, giếng chẳng còn. Muốn nói, mê chẳng ít. Chút độc đã mệt nhoài. Nhọc chi yêu, ghét xằng, khiến chân tông hư dối. Sớm tu trí khai diễn, đừng vẽ hồ lô xưa).

          58) Chấp dược mỗi thành bệnh, tá bệnh phiên thành dược. Thông tắc mỵ định tung, xúc cảnh tu thâm độ. Tri nhân vật chiêu chiêu. Tự chiếu vô mạc mạc. Nhất ngôn chúc căn nguyên, thiên sơn thắng hành cước.

          (Chấp thuốc thường thành bệnh. Nhờ bệnh, biến thành thuốc. Thông, tắc không nhất định. Chạm cảnh, cần nghĩ sâu. Biết người, đừng phô phang. Tự chiếu đừng mờ mịt. Một lời tỏ cội nguồn, hơn hành cước ngàn non).

          59) Tụ huỳnh bất nhiệt thảo, tụ tuyết bất thành sơn. Toản chỉ tín vô ích, khô tọa chung si ngoan. Bất lịch dương trường hiểm, an tri hành lộ nan? Thiên lý thỉ sơ bộ, hưu thương tối hậu quan.

          (Gom đóm, chẳng nóng cỏ. Tụ tuyết, há thành non? Dùi giấy cũ vô ích, khô tọa trọn bướng si. Đường quanh co, hiểm ác, hễ chưa từng trải qua, sao biết đường đi khó? Ngàn dặm mới cất bước, đừng bn ải cuối cùng).

          60) Hồng chung khấu năi minh, mỹ ngọc chung tu trác. Bất mịch ác kiềm chùy. Khởi phá vô minh xác? Hộ tư phiền năo t́nh, nhẫn sử linh quang bác. U u trường dạ hàn, nhiệt thụy thùy năng giác?

          (Hồng chung gõ mới kêu, ngọc đẹp vẫn cần mài. Chẳng kiếm rèn cặp nghiệt, há phá vỏ vô minh? Giữ tình kiến phiền não, nỡ để mất linh quang. Đêm dài lạnh tối tăm, ngủ say ai tỉnh được?)

          61) Ô yên hốt thành mã, triển chuyển vô phi thác. Phật diệt tằng kỷ thời, ai tai thủy lạo hạc! Thẩn tư tối hậu niên, hà địa tầm lược chước. Tư văn lại vị vong. Cộng thính năng nho đạc.

          (Ô, yên[116] lầm thành mã, lần lượt bị sai lầm. Phật diệt chưa bao lâu, buồn thay thủy lạo hạc[117]. Nghĩ đến năm cuối cùng, chốn nào tìm cầu tạm? Nhờ lễ nhạc chưa quên, cùng nghe mõ chân Nho).

          62) Nhật luân vãn tác kính, hải thủy ấp tác bồn. Chiếu ngã trung nghĩa đảm, dục ngã pháp thần hồn. Cửu tử tâm bất hối, trần kiếp nguyện do tồn. Vi hịch hư không giới, hà nhân cộng thử luân.

          (Kéo mặt trời làm gương, trút nước biển làm chậu. Chiếu tôi gan trung nghĩa, gột hồn tôi pháp thần[118]. Chín chết, tâm chẳng hối, trần kiếp nguyện mãi còn. Truyền hịch cõi hư không, ai cùng lên thuyền này?)

 

* Bài ca trừ bệnh

 

          Cửu Hoa phong đầu vân vụ nùng. Tam nguyệt, tứ nguyệt như long đông. Hậu ủng tệ bào cung cao ngọa. Noăn khí viễn độn lai vô tùng. Cửu Hoa sơn trung tuyền vị dật, bách cổn thiên phí trung biên mật. Thập thủ tùng cầu trấn nhật ổi, quyền tác sâm linh liệu ngã tật. Ngã tật kham ta liệu thiên nan. A Nan cách nhật, ngã tam nhật. Khởi hướng đán mộ luyến không hoa, bi ngã tri môn vị nghệ thất. Thị dĩ trì danh nhật tư tư, nghĩ khai đồng thể diệu tam từ. Ngã bệnh trị thời, sanh giới trị. Sát-na phi tốc, kiếp phi trì.

          (Đầu non Cửu Hoa, mây mù dày. Tháng Ba, tháng Tư như giữa Đông. Áo rách quấn chặt nằm cao ngất. Hơi ấm trốn xa chẳng thấy đâu! Nước suối Cửu Hoa vị khác thường, trăm trào ngàn sôi, giữa, bờ ngọt. Nhặt lấy quả thông vùi tro nóng, làm sâm, phục linh tạm trị bệnh. Than ôi, bệnh tôi riêng khó trị. A Nan cách nhật, tôi ba ngày. Há còn sáng chiều luyến hoa đốm? Xót tôi biết nẻo, chẳng thâm nhập. Do vậy, suốt ngày trì danh miết, mong khai đồng thể diệu tam từ[119]. Tôi khỏi bệnh, chúng sanh giới khỏi. Sát-na chẳng chóng, kiếp lâu sao?)

 

* Bệnh đỡ, viết bốn bài cảm hoài

 

          1) Nhất điều trụ trượng lưỡng mang hài, hải khoát thiên không nhậm vãng lai. Ái kiến từ bi chung tác tật. Bà hòa học lữ mạn vi sài.

          (Gậy chống một chiếc, đôi hài cỏ. Biển rộng trời cao mặc đến đi. Ái kiến, từ bi đều là bệnh. Lạm bảo Thiền hòa bạn lữ thôi!)

          2) Tông đ́nh độc lực trừ hoang thảo. Giáo luật thùy năng cộng chấp kha. Vũ lộ trọng thời ân niệm thiểu. Kiềm chùy lạt xứ oán tình đa.

          (Sân Thiền lủi thủi trừ cỏ dại, Giáo Luật ai cùng vác búa rìu? Ơn mưa móc nặng, ân ít nghĩ. Cặp kềm nghiêm ngặt, oán hiềm nhiều!)

          3) Thắng tâm tuy phát túc phàm t́nh. Thập tải y hy cựu lộ hành. Mạc tiếu Ba nhân[120] do thiểu hòa. Dẫn thương khắc vũ dục thùy canh.

          (Thắng tâm tuy phát, phàm tình ắp. Nẻo cũ mười năm vẫn giữ nguyên. Đừng cười người Ba ít hòa hoãn, tinh thông nhạc luật ai họa theo?)

          4) Đại, tiểu do lai xuất lộ kỳ. Vô đoan mai một hảo nam nhi. Tam niên thường đảm xuy phi cửu, tu học Hoa Nghiêm trần kiếp tư.

          (Đại, tiểu là do sanh ngã rẽ. Bỗng dưng mai một gã trai lành. Ba năm nếm mật, chẳng lâu chi. Tu học Hoa Nghiêm nghĩ trần kiếp).

 

* Lễ một ngàn vị Phật ở lầu tàng kinh của Cửu Hoa, tặng các bạn năm bài kệ

 

          1) Phi can khổ hồ hoán điềm qua. Xứ xứ từ tôn tịnh ngã gia. Niệm tánh uổng lao tham thủy nguyệt. Đê đầu dĩ giá bạch ngưu xa.

          (Đừng đem bầu đắng thay dưa ngọt. Chốn chốn từ tôn đều nhà ta. Niệm tánh uổng tham trăng trong nước. Cúi đầu điều khiển bạch ngưu xa).

          2) Đôi sơn tích nhạc tận trần ai. Lực bả từ phong nhất tịch thôi. Xuy tán Thiết Vi vô ám địa. Hà tu thức mc vấn minh lai!      

          (Chất núi chồng non, sạch bụi trần. Gió từ tận lực thổi tan ngay. Thiết Vi thổi nát, không nơi tối. Cần gì lau mắt hỏi quang minh).

          3) Tích niên khoa cữu sát-na hiên. Lạp tận Xuân hồi nhật dĩ huyên. Dục tín Côn Luân tuyền mạch động. Đản khn Hà Đông bất thắng viên.

          (Khuôn sáo năm xưa, sát-na đổ. Năm hết, Xuân về, ngày ấm dần. Muốn tin Côn Luân nguồn suối chảy, chỉ thấy Hà Đông xe khôn ngằn).

          4) Linh tê nhất điểm tánh nguyên thông. Xúc cảnh phùng cừ đạo tự dung. Mộ địa cử thời thanh lịch lịch. Tương khan đồng tại bảo lâu trung.

          (Linh tê[121] một điểm tánh vốn thông. Gặp cảnh, gặp nguồn, đạo tự dung. Ngay trong khi ấy, tiếng rành rẽ; lầu báu sẽ thấy cùng ở trong).

          5) Nhất thể hoành phân tưởng dữ t́nh, lãnh nhiên tánh kế tức Vô Sanh. Công thành ngũ hối phi lưu hoặc. Mạc thế lâu đầu tối hậu minh.

          (Một thể cưỡng phân tưởng với tình, rành rành tánh kế[122] tức Vô Sanh. Ngũ hối công thành, Hoặc hết sạch; lời ước bên lầu chớ để suy).

 

* Tặng thầy Đảnh Cù bế quan niệm Phật

 

          A Di Đà Phật thanh lịch lịch, tự tha cộng ly bất khả mịch. Thị tâm tác Phật, thị tâm thị. Xí nhiên cảm ứng chân không tịch. Mộ trực quy lai, mạc vấn tân. Vô minh thụy lư, oanh tích lịch. Tỉnh lai môn chẩm tiếu ha ha. Mộng đọa đại hà, thùy thật nịch. Mộng thời phi đọa, tỉnh phi siêu. Nhất nhậm khải phong đồng tấu tích. Kế châu giải xứ, thiệu công thành. Nội ngoại không tranh thứ dữ đích. Vô sanh khúc lư minh nguyệt hàn, bạch ngưu bối thượng xuy hoành địch.

          (A Di Đà Phật tiếng rành rành. Ta, người cùng lìa, chẳng thể tìm. Tâm này làm Phật, tâm là Phật. Hừng hực cảm ứng, chân không tịch. Thẳng thừng quay về, đừng hỏi bến. Say giấc vô minh, sấm nổ rền. Tỉnh ra, sờ gối cười ha hả. Mộng lọt sông to, ai thật chìm? Khi mộng chẳng rơi, tỉnh chẳng thoát. Mặc cho gió Nồm thổi phần phật. Tháo châu búi tóc thưởng công thành; trong ngoài tranh suông thứ và đích. Khúc nhạc vô sanh, trăng sáng lạnh. Lưng trâu trắng thổi sáo vi vu).

 

* Do gậy chống bị gãy bèn ghép thành mấy câu

 

          Tung hoành Bắc Đẩu hướng Nam khan, hồi thủ gia hương nguyệt ảnh hàn. Trụ trượng chiết thời, thủ nhãn miết. Mang hài phá xứ túc tâm toan. Bất lao tàng tích châm phong lý, thiên giải phao cầu cấp thủy than. Loan khiếu hốt truyền lâm cốc hưởng. Thạch nhân phủ chưởng bạch vân đoan.

          (Tung hoành Bắc Đẩu, xoay Nam ngắm. Ngó lại quê nhà, lạnh bóng trăng. Gậy chống gãy rồi, tay mắt mờ. Hài cỏ rách nát, bàn chân xót. Chẳng nhọc ẩn giấu mũi kim nữa, riêng hiểu ném cầu bến nước thôi. Chim kêu bỗng truyền rừng núi vọng. Người đá vỗ tay chót trắng mây).

 

* Mộng cảm chánh pháp suy bại, đau lòng khóc lóc tỉnh giấc bèn viết hai bài kệ cảm hoài

         

          1) Ma quân tà xí tam châu biến, nghiệt tử cô trung nhất tuyến vi. Mộng đoạn kim hà t́nh vị tận, tỉnh lai dư lệ thượng triêm y.

          (Cờ tà quân ma khắp ba châu, nghiệt tử cô trung một sợi mành. Mộng đứt sông vàng, tình chửa tận. Tỉnh ra, lệ vẫn ướt đầm y).

          2) Hưu ngôn tam giới tận sanh manh, châu hệ bần y tánh tự minh. Khẳng phóng nhăn tiền nhàn hoạt kế. Tiện kham kiếp ngoại độc xưng anh.

          (Đừng than tam giới mù bẩm sanh, châu buộc áo nghèo tánh sáng ngời. Kế sống an nhàn chịu buông xuống, liền xưng anh kiệt vượt ngoài kiếp).

 

* Đi qua Tề Vân, tham bái Chân Vũ[123]

 

          Yên hà thặng phích thử trung phân. Dao vọng danh loan thế dục phần. Trụ trượng thạch bình chiêm thụy khí. Ca-sa kim đảnh ấp hương phân. Thiên tầm khúc giản minh lưu thủy. Vạn đóa thanh sơn chuế bạch vân. Dư diệc Phật môn vi ngoại hộ, hà phương phá cách hữu chân quân.

          (Ráng khói mịt mờ chia rõ đây, thế núi nhìn xa uốn ngoằn ngoèo. Nương gậy trèo non, ngắm khí tốt. Ca sa, đỉnh vàng thơm ngát hương. Ngàn tầm núi cuộn, khe tuôn chảy. Vạn đóa non xanh điểm bạch vân. Tôi cũng là người ngoại hộ Phật, nào ngại phá lệ bạn Chân Quân).

 

* Vừa tròn bốn mươi tuổi

 

          Vật luận du du lý bổn tề, niên lai tiệm giác thoát thuyên đề. Quyền khai phi thật, chưởng nguyên tại. Ế khử duy không, nhãn bất mê. Lưu thủy hữu tâm chung hối hải, lạc hoa vô ngữ diệc thành khê. Sát-na sanh xứ sanh hà tánh? Khước tiếu Oai Âm kiếp ngoại đề.

          (Luận vật lăng xăng, lý vốn đồng. Rọ lồng dần hiểu, tìm phương thoát. Xòe tay, nắm đấm còn đâu nữa, nhưng một bàn tay vẫn đó thôi! Mắt trừ sạch mộng, há còn lòa! Nước chảy hữu tâm đổ vào biển, hoa rơi thinh lặng cũng thành khe. Sát-na xanh xứ, sanh tánh gì? Cười cợt Oai Âm kiếp ngoại nêu).

 

* Gởi gắm hoài bão chưa thể thực hiện

 

          Văn tự ly vi, ảnh bất lưu, huyền cơ dục xướng thục tương thù. Nhân liên lũ trúng thần do cách, phiên ức như ngu ích khả thu. Cửu Tử phong đầu tiêu nguyệt chỉ, thiên như kính lư biện kim đậu. Linh tê thông xứ tri vô trẫm, mạc phụ tŕ minh trợ viễn do.

          (Văn tự ly vi[124], ảnh chẳng lưu. Huyền cơ toan xướng, biết ai hùa? Bởi thương bao lượt, tâm còn cách. Tưởng nhớ như ngu, càng đáng thu. Đỉnh núi Cửu Hoa, tay chỉ nguyệt. Nơi kính thiên như, luận đậu vàng. Linh tê thông suốt, không điềm báo. Đừng phụ trì minh giúp kế sâu).

 

* Giã biệt Huyền Lăm

 

          Tùng Lãnh vũ hiết thấp vị thu, khiếp lộ hàn thiền thanh như trừu. Đồng trụ cửu tuần hốt vân biệt, bất ngữ cô hoài thiên du du. Trí sĩ tùng đại bất tùng tiểu. Ngu phu cận lự vô viễn ưu. Ái tích bì nang quyên hoang khâu, hư danh hách dịch hề khả lưu. Hà như khoáng lăm hoàn khu biểu, khoát bộ cao đăng tuân huyền du. Xuy tỉnh tuần giai mộng, tiên tham Từ Thị lâu. Quân bất kiến, thúy bách sương tàn thanh vị dĩ, nhượng nhượng mạn dã kim như hủy.

          (Tùng Lãnh tạnh mưa, còn ẩm ướt. Ve sợ sương lạnh, tiếng kêu khàn. Cùng trụ chín mươi ngày, bỗng chốc đã chia tay. Chẳng nói nỗi niềm dằng dặc buồn. Bậc trí theo Đại, chẳng theo Tiểu. Kẻ ngu nghĩ gần, chẳng lo xa. Yêu tiếc túi da vứt gò hoang, hư danh lừng lẫy há còn mãi? Sao bằng nhìn rộng ngoài tam giới? Rộng bước lên cao theo huyền du[125]. Thổi tỉnh cơn mộng noi từng bước, trước hãy tham kiến lầu Từ Thị. Ông chẳng thấy: Sương tàn, bách biếc vẫn xanh rờn, đồng hoang cây cỏ sương phủ đẫm, nay đã héo tàn như bị thiêu).

 

* Tặng Hoàng Khả Niệm

 

          Bàn kết Duẩn Giang Ôn Lăng Tây, khê măn triều lưu chử măn đề. Viễn giá phù lương như hồng nghê, du nhiên bỉ ngạn trưởng giả cư. Trưởng giả đương niên Cấp Cô hậu. Ư kim dục tác Long Thư trụ. Vạn thiện hối quy vô biệt lộ. Xí nhiên thủ xả duy tâm độ. Trần bồi Thái Nhạc điên, sô nghiêu vị quân truyền. Phiến niệm viên tam tụ, đồng trạch tử kim liên. Quân bất kiến Duẩn Giang nguyệt sắc bạch như luyện, quế thổ thu đề hưng bội tiên.

          (Cuộn chặt Duẩn Giang, Tây Ôn Lăng. Khe đầy sóng trào, bãi ngập cỏ. Cầu bắc xa xa như cầu vồng, trưởng giả an nhàn ở bờ ấy. Trưởng giả là Cấp Cô Độc hiện thời. Nay muốn khoác áo giáp Long Thư. Muôn thiện gom về, không nẻo khác. Hăm hở lấy bỏ cõi duy tâm. Bụi vun đỉnh non Thái. Kẻ cắt cỏ, tiều phu được ông dạy. Cùng nghĩ trọn tam tụ, cùng chọn sen tử kim. Ông chẳng thấy: Duẩn Giang ánh trăng trắng như lụa, quế ngát trên đê gấp bội tiên).

 

* Dạy vị sa-di trì kinh

 

          Ngũ trược mông lung dạ vị ương, nhất thanh kê hoán lậu thiên trường. Đản tương duyên chủng thôi tàn mộng, tự tự toàn chương Phật đảnh quang.

          (Ngũ trược mông lung, đêm chửa tàn. Một tiếng gà gáy, đêm dài thêm. Chỉ đem duyên chủng xua tàn mộng, mỗi chữ trọn bày Phật đảnh quang).

 

* Sang chơi Bắc Sơn

 

          Lân tuân bệnh cốt quư tri âm. Cưỡng thiến lam dư học thiếu lâm. Quái thạch tàng vân nghi báo biến, đoản tùng nhập mộ giải long ngâm. Tuyền Nam phong cảnh toàn quy kính. Hải ngoại yên ba bán địch khâm. Đề băi chá cô huyền cổ lạc, măn thiên tinh đẩu xán giang sầm.

          (Xương bệnh gầy gò, thẹn tri âm. Gượng nhờ kiệu trúc lên cao ngắm. Đá lạ mây giăng ngỡ báo vằn. Tùng nhuộm bóng chiều tưởng rồng ngâm. Tuyền Nam phong cảnh thu trọn kính, khói sóng ngoài khơi gột bóng y. Đa đa kêu tối, hoàng hôn xuống. Đầy trời sao rạng núi bên sông). 

 

* Sào Vân

 

          Mộ nhập Sào Vân bất kiến vân, tuyền thanh lưu đoạn Hải Nam trần. Khước nghi xuân tín tùng hà chí, dĩ đổ nham hoa măn mục tân.

          (Vào thẳng Sào Vân chẳng thấy mây, Hải Nam suối reo gột sạch trần. Còn ngờ Xuân đến từ đâu tá? Đã thấy hoa chen sắc khắp vùng).

 

* Họa đáp Trần Hạc Sầm

 

          Danh truyền Phật quốc nguyên phi lăng, tiếu ngã ngang tàng Bắc địa lai. Vô pháp khả linh trừ vọng tưởng, hữu tâm kham cộng kết liên thai. Tông phong chỉ hứa Bàng công thứ. Giáo nhãn liêu bằng bác địa sai. Niêm xuất đại thiên âu ảnh dụ. Bất tu trùng thuyết lặc minh tài.

          (Danh truyền cõi Phật vốn không ngoa, cười tớ ngang tàng cõi Bắc qua. Không cách để trừ bao vọng tưởng, thai sen cùng kết hữu tâm thôi. Tông phong chỉ để ông Bàng ngó. Giáo nhãn đành nhờ trí rộng lường. Đại thiên sánh ví như bọt bóng, chẳng cần nhắc lại khắc ghi gì).

 

* An ủi Trần Hoằng Cổn

 

          Quân bất kiến, xuất thế đại trượng phu, kiếp thành kiếp hoại đẳng hấp hô. Hựu bất kiến: Thế gian kỳ nam tử, công danh phú quư phù vân nhĩ. Lậu hạng thiên địa khoan, tệ ôn đắc thân an. Đa thiểu phong trần khách, phương tri hành lộ nan. Sân khả canh, Vị khả điếu. Khước liên học bộ Hàm Đan thiểu. Hậu điêu mạc đấu tảo xuân phương. Không linh tùng bách bi đồng điều. Tằng hoài trúc điển du, nghiệp quả giải ưng ưu. Nhất ế lao song mục, không hoa vũ vị hưu.

          (Ông chẳng thấy, bậc trượng phu xuất thế, kiếp thành, kiếp hoại như hơi thở. Lại chẳng thấy: Kỳ nam tử trong thế gian, công danh, phú quý tợ mây nổi. Ngõ hèn, trời đất rộng. Áo rách nhưng thân an. Khách trải bao phong trần, mới biết đường đi khó. Đất Sân có thể cày, sông Vị[126] có thể câu. Thương kẻ học theo Hàm Đan[127] ít. Tàn sau chẳng tranh cùng hoa Xuân nở sớm, chẳng khiến tùng bách buồn đồng điệu. Đã từng học kinh Phật, phải hiểu nghiệp quả rành. Mắt kéo màng, mệt hai mắt. Hoa đốm quay cuồng cứ chẳng ngừng).

 

* Tặng thầy Tụng Trửu bước vào tuổi năm mươi

 

          Tuyền Nam khai sĩ bát thập nhất, thương thương tế tế xưng TVân. Nhật nguyệt quang hoa lịch nhị bách, thạch tháp thụy khí trường nhân uân. Trung hữu tỳ-kheo hiệu Tụng Trửu. Tâm từ mạo cổ năng siêu quần. Trượng lê điểm tận thiên giang nguyệt. Mang hài bất đới Ngũ Lãnh ngân. Vấn quân thất tịch hà tŕ triệt, dung nhân khất xảo, ngã ái chuyết. Vấn quân tự tứ hà tảo sanh? Thế Tôn tương hỷ, ngã tiên duyệt. Bá Ngọc tri phi, hựu nhật tân. Vũ công tụng ức ư kim liệt. Cam lộ đàn trung vị chánh xa, thanh tâm khiết kỷ cựu danh gia. Đản khán tôn giả đương niên hiếp, khởi tiện Triệu Châu trụ hậu trà.

          (Tuyền Nam khai sĩ tám mươi mốt, người người nhất trí gọi Tử Vân. Nhật nguyệt dần trôi hai trăm năm, tháp đá khí lành vẫn dằng d        ặc. Trong ấy có tỳ-kheo hiệu Tụng Trửu. Tâm từ, dáng già, tài năng siêu quần. Gậy lê dạo khắp trăng ngàn sông. Hài cỏ chẳng in dấu Ngũ Lãnh. Hỏi ông Thất Tịch[128] quen làm gì? Kẻ tầm thường khất xảo, ta thích vụng. Hỏi ông tự tứ[129] sao sanh sớm? Thế Tôn sắp vui, ta mừng trước. Bá Ngọc biết sai, tự đổi mới hằng ngày. Vũ công “tụng ức”[130] nay còn rạng. Trong đàn cam lộ, vị rất tuyệt. Thanh tâm giữ mình, cựu danh gia. Chỉ thấy tôn giả luôn tinh tấn, há còn hâm mộ Triệu Châu trà).

 

* Phúng điếu thầy Như Thị

 

          Tạc mộng Đông Nam vẫn khí tinh, thương tâm thảm mục hoàn kinh thần. Triêu lai hiệp chưởng tống sư thệ. Phiên bi thử độ nhưng mê tân. Chánh pháp cẩn như tuyến, kiên chủng đa ma dân. Luật uyển dương cáo sóc, Giáo gia thiên vong trân. Trực chỉ hướng thượng sự, hư hưởng thành tà nhân. Du du đại địa cạnh ba trục, nham nham trung lưu tằng kỷ nhân? Sư kim độc hưởng hoa phu lạc, ai tai di ngã xưng cô thần.

          (Tối mộng Đông Nam sao rơi rụng, đau lòng, xót mắt, tâm kinh hoàng. Sáng ra chắp tay tiễn Sư đi, buồn cho cõi này vẫn bến mê. Chánh pháp chỉ còn tơ mỏng mnh, chen chân cùng với lũ ma dân. Vườn Luật nay hời hợt[131], nhà Giáo mất báu rồi. Chuyện hướng thượng trực chỉ, tiếng suông thành tà nhân. Ơ hờ cõi đất tranh đuổi sóng, bất khuất giữa dòng được mấy người? Nay Sư riêng hưởng vui hoa nở, buồn thay mình tôi xưng “cô thần”).

 

* Hòe quan (quan phòng gần gốc cây hòe)

 

          Khách mộng phân phân tận ký hòe. Bán gian liêu bàng lục âm khai. Trà thanh thôi tỉnh Nam Kha nghiệp. Bối diệp huân thành bỉ ngạn thai. Trần cụ đại thiên ưng cộng phẫu, thụ vô tiêm ảnh bất tu sai. Triêu lai độc bãi quan trung thảo, thặng hữu dư quang ánh nguyệt đài.

          (Khách mộng bời bời gởi giấc hòe, nửa gian cạnh đó bóng xanh rì. Tiếng trà lay tỉnh Nam Kha mộng. Kinh Phật huân thành bỉ ngạn thai[132]. Trần đủ đại thiên, nên cùng xẻ. Cây không bóng nhọn, chẳng cần ngờ. Sáng ra đọc hết quan trung thảo[133], còn sót dư quang chiếu nguyệt đài).

 

* Kệ bày tỏ niềm mừng rỡ tột cùng vì sáu người trì giới không ăn phi thời tại Di Đà Nham

 

          Thiệt đoan cạnh thị Dịch Nha[134] canh, thùy tín chân tu quư nghịch t́nh. Trai pháp dĩ thành vô lậu chủng, giới căn ưng bàng hữu tâm sanh. Luân trung nhật quỹ thành năng biện. Ngạch lý châu quang tự khả tŕnh. Tiến thủ duyên nhân tu vật thoái. Hóa thành bảo sở bất quan tŕnh.

          (Canh Dịch Nha lưỡi quen thói nếm, ai tin chân tu phải trái tình? Trai pháp đã thành vô lậu chủng, giới căn phải kèm hữu tâm sanh. Đồng hồ mặt trời[135] tự xác định, bóng châu trên trán[136] tự hiện bày. Duyên nhân tiến tu đừng để mất, hóa thành chỗ báu ngại xa chi!)

 

* Xem tượng đá của Lão Đam cảm hoài

 

          Vô dục vô danh lý cận Thiền. Man han chung cổ lăng xưng tiên. Do long nhất ngữ năng truyền thật. Dụ nguyệt tam ngôn phản thất quyền. Phiến thạch bất sầu dâm vũ đố, lưỡng thiên chỉ khủng tục nho tiên. Tiếu khan kim nhật tu mi bạch, thượng thị đương sơ vũ thái niên.

          (Vô dục, vô danh, lý gần Thiền. Mịt mờ đầu cuối, gọi là tiên. Một lời “giống rồng”[137] truyền được Thật; ba câu ví nguyệt đâm mất Quyền. Phiến đá chẳng sầu mưa dầm xối. Hai hôm chỉ sợ Tục nho gièm. Cười ông nay đã râu mày bạc, vẫn hệt thuở đầu tuổi tráng niên).

 

* Ngày mùa Đông sang Hổ Không thăm thủ tọa Diễn Như

 

          Thạch kính đài ngân cổ, vân đoan cách thị trần. Tuyền thanh lưu nhất tuyến, hổ khẩu lộ toàn thân. Quế phát nguyên vô ẩn, mai khai bất tá xuân. Đông phong tiêu tức cận, hựu kiến thụ chi tân.

          (Nẻo đá rêu in thành lối cũ, chòm mây cách biệt lối hồng trần. Suối reo chảy một giải, hổ khẩu lộ toàn thân. Quế trổ vốn chẳng ẩn, mai nở chẳng nhờ Xuân. Gió Đông đưa tin nhắn, cây lại nảy lộc mầm).

 

* Thế đạo suy đồi, lòng người bạc bẽo, dã nhân thương xót mà bày tỏ nỗi xót xa

 

          1) Mạc hỹ thái không, nhậm bỉ cuồng phong. Thản hỹ quân tử, mẫn bỉ ngoan mông. Cuồng phong xuy hề, không phỉ khuy hề. Ngoan mông nguy hề, quân tử tuy hề.

          (Hư không thăm thẳm, mặc tình cuồng phong. Quân tử thản nhiên, thương họ bướng tối. Cuồng phong thổi, hư không chẳng khuyết. Bướng tối nguy sao, quân tử vỗ về).

          2) Thảo chi thanh thanh, lôi duật minh chi. Thủy chi anh anh, vũ duật vinh chi. Vị vũ hà khổ, vị lôi hà nộ? Bất thi quyết ân, bất anh quyết vũ.

          (Cỏ xanh rờn rờn, sấm bèn rền tiếng. Nước trong văn vắt, mưa bèn đầy thêm. Nói mưa khổ gì, bảo sấm giận chi? Chẳng trọng ân đó, chẳng hưởng mưa đó).

          3) Đại khối chi lập, thùy dữ thành chi? Đại khối chi hủy, thùy dữ tranh chi? Miểu miểu nhất túc, nhân cạnh doanh chi. Đàn chỉ tư vãng, đạt sĩ b́nh chi.

          (Khối to được lập, ai tạo thành vậy? Khối to bị hủy, ai tranh giành vậy? Một hạt xa vời, đua nhau đoạt lấy. Khoảnh khắc qua đi, người thông đạt vẫn bình tâm).

          4) Măi sơn măi sơn, trắc bỉ duy gian. Khoáng vân vạn lư, y nhiên tại hoàn. Quyển diệp đẩu khoáng, bồ đào huyền lưu. Quân tử hữu ưu, quân tử hữu hưu.

          (Mua núi, mua núi, trèo lên gian nan. Rộng đến vạn dặm, vẫn trong trời đất. Lá cuộn kén vàng, nho treo chuỗi ngọc, quân tử lo âu, quân tử bèn thôi).

 

* Ngẫu thành (ngẫu nhiên viết)

 

          Chỉ đoan phiên phúc vi vân vũ, thế nhân bão phụ khinh như vũ. Mưu thần chiến sĩ nhật phân phân, triêu dục chi Tần, mộ dục Sở. Bách vạn trường thành huyết vị càn. Thủy Hoàng hài cốt quy hoang thự. Tang gia chi cẩu bi tuyệt lương. Y hy mã mạch liêu kham thường. Sở dĩ nhan lậu dung phục lãn, minh chiếu tuyên thời vu chánh hương. Đạo nhân hữu ngữ chỉ như thử. Thủ thí không nghi Đoan Mộc Thị. Dục thức quy diêu lưỡng bệnh ông, vấn thủ sào cư bái trạch song thụ tử.

          (Ngón tay lật ngửa tuôn mây mưa, người đời ôm nợ nhẹ như lông. Mưu thần chiến sĩ luôn lăng xăng. Sáng muốn sang Tần, tối sang Sở. Trăm vạn trường thành huyết chửa khô. Thủy Hoàng hài cốt vùi gò hoang. Chó nhà có tang buồn bỏ ăn. Dường như lúa ngựa đành kham nếm. Do vậy, mặt xấu, dáng lại lười. Chiếu sáng ban xuống, khoai đang thơm. Đạo nhân nói năng chỉ như vậy. Nhận thí dụ, ngờ suông Tử Cống[138]. Muốn biết hai người bệnh Quy Diêu[139], hỏi han hai đứa trẻ ngụ cư tại đầm hoang).

          Linh Phong Tông Luận, phần 9 hết



[1] Ẩm Quang là dịch nghĩa của tên ngài Ma Ha Ca Diếp.

[2] “Càn thành” là thành Càn Thát Bà, tức ảo ảnh hiện ra trên mặt biển, nhìn xa như có tòa thành trong đó có người đi lại. Các nhà khoa học giải thích đây là hiện tượng quang học đặc thù, vào một thời điểm thích hợp, không khí trên biển giống như một tấm gương khổng lồ soi chiếu hình ảnh của một tòa thành thật sự trên đất liền.

[3] “Sanh, Phật”: Chúng sanh và Phật.

[4] Đồng điều cộng quán (同條共貫) là một thành ngữ diễn tả sự vật liên kết mạch lạc, chặt chẽ với nhau, là Sự và Lý tương thông.

[5] Sanh manh: Kẻ bị mù từ thuở lọt lòng.

[6] Tây Phương Tam Thánh trong tự tâm.

[7] Văn Hỷ (820-899) là một vị tăng đời Đường. Lúc bảy tuổi, Sư theo Quốc Thanh thiền sư chùa Thường Lạc xuất gia. Về sau, tham yết ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, được nối pháp của tông Quy Ngưỡng. Sau khi trưởng thành, Ngài tham bái Ngũ Đài Sơn, gặp Văn Thù Bồ Tát hiện thân thành một ông lão chỉ điểm thiền cơ. Ngài có công án nổi tiếng “Văn Thù là Văn Thù, Văn Hỷ là Văn Hỷ”.

[8] Tức kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, Đại Thừa Địa Tạng Thập Luân và kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo.

[9] Hai loại diệu quán là hai pháp Quán được dạy trong kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, tức Duy Tâm Thức Quán và Chân Như Thật Tướng Quán.

[10] Tam luân là ba loại luân tướng được nói trong kinh Chiêm Sát:

- Luân tướng biểu thị các nghiệp chủng thiện ác sai biệt đã tạo trong các đời trước, gồm mười miếng mộc luân.

- Luân tướng biểu thị nghiệp chủng chứa nhóm trong đời trước, gồm ba miếng mộc luân.

- Luân tướng biểu thị thọ báo sai biệt trong ba đời, gồm sáu miếng mộc luân.

Xin xem chi tiết trong bộ Lược Giảng kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo của lão pháp sư Mộng Tham.

[11] Ở đây Tổ vận dụng một điển tích trong Lễ Ký: “Quán nhân” (館人) là người chuyên lo tiếp đãi khách lui tới trong các trạm xá tiếp đón sứ đoàn. “Thoát tham” (脫驂) là tháo dây cương đóng ngựa. Theo Lễ Ký, khi sang đất Vệ, thấy đám ma của một quán nhân đã từng quen biết, Khổng Tử vào viếng tang, khóc lóc buồn bã. Khi lui ra, ông bảo Tử Cống tháo bớt ngựa khỏi xe kéo đem bán để giúp chi phí cho tang ma. Tổ dùng điển tích này nhằm ca ngợi Địa Tạng Bồ Tát có bổn nguyện sâu rộng luôn cứu giúp người lâm chung.

[12] Cốc () chính là cái lõi giữa bánh xe để xỏ trục xe vào. “Chuyển diệu cốc” chính là chuyển pháp luân mầu nhiệm.

[13] Quân trì (Kundikā), còn phiên âm là Quẫn Trí Ca, Quân Đĩnh v.v… Dịch nghĩa là Tháo Bình (bình để múc nước tẩy rửa), hoặc Thủy Bình, là vật thường dùng trong số mười tám vật của Đại Thừa tỳ-kheo. Đây chính là bình để đựng nước hoặc chứa dầu, dấm, thạch mật v.v… Tùy theo cách sử dụng mà gọi tên khác nhau, như bình để múc nước tẩy rửa thì gọi là Tháo Bình, đựng nước uống thì là Tịnh Bình, Bất Tịnh Bình (bình dùng để múc nước rửa ráy sau khi tiêu, tiểu), chất liệu bằng sứ, đồng, sắt v.v… Dùng như pháp cụ thì đa phần dùng đồng xanh chế thành. Quán Âm Bồ Tát thường cầm tịnh bình đựng nước cam lộ.

[14] “Chứng quy tác miết” (證龜作鱉) là một thành ngữ, nghĩa đen là “bảo con rùa đen là ba ba”, tức là nói sai sự thật. Tổ dùng thành ngữ này ở đây với dụng ý: Hễ suy đoán, dò lường cảnh giới của Bồ Tát thì đều thành suy đoán hư vọng!

[15] Chiết nhiếp: Chiết phục và nhiếp thọ.

[16] “Toản quy đả ngõa” (鑽龜打瓦) là hai hình thức bói toán thời cổ. Dùng mai rùa xoi thủng, đem nướng trên lửa, quan sát các vết rạn quanh lỗ thủng sau khi nướng để bói cát hung thì gọi là “toản quy”. Đập nhẹ miếng ngói để xem hình dạng các vết nứt hòng bói điềm cát hung thì gọi là “đả ngõa”. Thiền môn mượn chuyện này để sánh ví thế gian do vọng tình phân biệt, đối với sự vật hoàn chỉnh lại lầm tưởng phân biệt, tạo thành tỳ vết.

[17] Đây là tán thán bức vẽ Quán Âm của Ngô Bân đời Minh, tức bức Ngư Lam Quán Âm (dựa theo truyền thuyết, Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân thành cô gái bán cá để hóa độ chúng sanh tại bãi Kim Sa tỉnh Thiểm Tây trong niên hiệu Nguyên Hòa đời Đường). Trong bức vẽ ấy, bên cạnh Quán Thế Âm Bồ Tát có vẽ một đứa trẻ tay xách giỏ cá.

[18] Ngài Hoàng Bá Hy Vận (?-850), thụy hiệu Đoạn Tế thiền sư, người Phước Châu, xuất gia tại núi Hoàng Bá (tỉnh Phước Kiến) là cao tăng Thiền Tông đời Đường. Ngài học Thiền với tổ Tây Đường Bách Trượng Hoài Hải, được ấn chứng bởi Nam Tuyền thiền sư. Những lời pháp ngữ của Ngài được Hà Đông Tiết Độ Sứ Bùi Hưu chép lại thành Hoàng Bá Hy Vận Thiền Sư Truyền Tâm Pháp Yếu. Một đệ tử lừng danh của Ngài là Lâm Tế Nghĩa Huyền đã lập ra Thiền phái Lâm Tế. Tông Lâm Tế đến đời Tống lại tách ra thành hai phái là Hoàng Long và Dương Kỳ. Do vậy, người ta thường nói Thiền tông Trung Hoa là Ngũ gia thất tông (năm phái Thiền chính và hai chi phái Thiền của Lâm Tế).

[19] Hàn Sơn và Thập Đắc vốn là trẻ mồ côi được hòa thượng Phong Can chùa Quốc Thanh đem về nuôi nấng. Hai người lớn lên, luôn biểu hiện dở điên, dở khùng, chuyên làm các việc nặng trong chùa. Tuy lời lẽ thoạt nghe kỳ quái, nhưng luôn chứa đựng Thiền cơ rất sâu.  Lư Khâu Dận là thái thú tân nhậm của Thai Châu. Trên đường đến lỵ sở, ông bỗng bị đau đầu dữ dội như có ngàn cây đinh đóng xuống, tay chân tê bại như bị trói, không thể cử động được, ói mửa không ngừng. Các y sĩ đều bó tay. Khi đó, Phong Can tìm đến, chỉ bảo người nhà lấy một chén nước, niệm lầm rầm vài câu rồi ngậm nước phun lên mặt, lên người Lư Khâu Dận. Ông bình phục ngay, hết sức cảm tạ, cầu hỏi pháp danh. Phong Can chỉ khuyên Lư Khâu Dận thương dân như con và cho biết trong chùa Quốc Thanh có hai vị Đại Sĩ là Hàn Sơn và Thập Đắc, khuyên ông Lư nên đến lễ bái. Sư căn dặn: Đừng thấy họ lôi thôi, nhếch nhác, dở dở ương ương mà không tôn kính, họ chính là Văn Thù và Phổ Hiền thị hiện. Sư cao giọng niệm: “Thấy mà chẳng biết, biết mà chẳng thấy. Nế muốn được gặp, chớ nên chấp tướng”. Nói xong, thoăn thoắt đi mất. Đến Thai Châu, Lư Khâu Dận lập tức tìm đến chùa Quốc Thanh. Khi hỏi đến Phong Can thì nhà chùa nói Sư vân du tứ hải, chẳng biết bao giờ về. Hỏi đến Hàn Sơn và Thập Đắc, tìm được họ, toan đảnh lễ thì hai người cười hề hề, nắm tay nhau chạy vào núi, xuyên qua vách đá biến mất. Trước khi biến mất, họ cười bảo: “Phong Can lắm miệng quá. Di Đà mà chẳng biết, lễ ta làm chi?” Do vậy, mọi người mới biết Phong Can hòa thượng là A Di Đà Phật hiện thân.

[20] Lương Vũ Đế tên thật là Tiêu Diễn.

[21] Ý nói: Do Ngài dùng pháp thủy tưới rót, khiến cho người học khôi phục trí huệ, nắm được lý chân thật trong Thiên Thai Giáo Quán.

[22] Tứ Minh tôn giả trong một bài luận đã nói: “Đối với vạn pháp, đều có thể luận định Lục Tức Phật, ngay cả bọ hung cũng có Lục Tức Phật.

[23] Chỉ ra những điểm trọng yếu.

[24] Trực Viện là danh xưng thời Tống để gọi quan viên được vào làm trong Hàn Lâm Viện, nhưng chưa được chánh thức phong tước Hàn Lâm Học Sĩ.

[25] Đây là một cách nói tự khiêm, ước lược của từ ngữ “cầu toàn chi hủy” (cầu được vẹn toàn, đâm ra chuốc lấy hủy báng). Do Tuyết Hàng pháp chủ lúc sắp lâm chung, đã khẩn khoản viết thư cầu tổ Ngẫu Ích đến khai thị và trợ niệm. Tổ tự khiêm mình chẳng giúp được gì, chỉ khiến cho Tuyết Hàng pháp chủ bị chê cười.

[26] Ngài Kiều Trần Như do nghe đức Phật chuyển pháp luân lần đầu, giác ngộ trước tiên, nên được tôn là “tăng thủ” (vị đứng đầu chư Tăng). Tương truyền Ngài có cặp lông mày rất dài, rủ xuống hai bên mắt.

[27] Thái quân (太君) là danh xưng tôn kính thời cổ dùng để gọi mẹ của người có quan chức. Thời Đường, mẹ của quan chức thuộc tứ phẩm sẽ được gọi là Quận Thái Quân, mẹ quan chức thuộc ngũ phẩm là Huyện Thái Quân. Đến đời Tống phát triển thành danh xưng Quận Thái Phu Nhân. Về sau, Thái Quân trở thành tiếng tôn xưng chung mẹ của người có chức tước.

[28] “Một ngàn bảy trăm ải” tức là một ngàn bảy trăm công án Thiền Tông. Một xâu tiền thời cổ gồm một ngàn đồng. Nửa xâu tức là năm trăm đồng.

[29] Câu này có ý ca ngợi do đạo đức và giới hạnh của Ngài, khiến cho đạo pháp được tiếp nối hưng thịnh đồng thời làm rạng rỡ đạo pháp do đức Phật đã truyền lại.

[30] Nước dãi chồn cáo (dã hồ diên): Theo truyền thuyết, người xưa dùng một cái vò miệng loe cổ thắt, bỏ thịt đã nướng chín vào đó, chồn, cáo ngửi thấy, chõ mõm vào đó toan ăn, nhưng không cách nào ăn được, nước miếng nó chảy đầy ra thấm vào đó. Người ta đem thịt ấy phơi khô, tán thành bột, hễ muốn mê hoặc ai, sẽ lén cho bột ấy vào thức ăn hoặc thức uống của người đó, người đó sẽ bị mê hoặc, một mực nghe lời kẻ bỏ thuốc. Do vậy, “dã hồ diên” được dùng như một ẩn dụ chỉ những lời lẽ hoặc phương cách mê hoặc lòng người.

[31] Bạch chùy (白椎) là gõ pháp khí, nhằm dứt mọi sự huyên náo, khiến đại chúng chú ý hòng cáo bạch một pháp sự nào đó. Về sau, Thiền Tông Trung Hoa đặc biệt lập quy chế: Trước khi thượng đường, một vị tôn túc biết pháp sẽ gõ khánh. Sau khi vị trưởng lão thuyết pháp an tọa rồi liền xướng kệ rằng: “Pháp diên long tượng chúng, đương quán Đệ Nhất Nghĩa”.

[32] Nhục Chi (còn gọi là Nguyệt Thị, Ngộ Thị, Ngộ Tri, Nguyệt Chi, Uyển Chi) là danh xưng của một bộ tộc du mục tồn tại từ thế kỷ thứ bảy trước Công Nguyên cho đến thế kỷ thứ nhất thuộc Công Nguyên, ưa buôn bán dụng cụ bằng ngọc, sống ở vùng thảo nguyên tại phía Tây tỉnh Cam Túc và Tân Cương. Năm 172 trước Công Nguyên, do bị người Hung Nô tấn công và tàn sát, họ phải thiên di chia làm hai bộ phận: Nhóm thiên di về phía Tây đến lưu vực sông Ile, gọi là Đại Nhục Chi. Nhóm sống ở vùng Thanh Hải gọi là Tiểu Nhục Chi. Về sau, Đại Nhục Chi lại bị bộ tộc Ô Tôn (Wusun) tấn công, phải di cư lần nữa sang vùng Bactria (thuộc địa bàn của A Phú Hãn, Uzbekistan và Tajikistan hiện thời, nằm giữa sông Oxus (Amu Daria) và phía Bắc rặng HinduKush). Do vậy, Đại Nhục Chi thường bị đồng nhất với vương quốc cổ Tokhara. Do nằm trên con đường tơ lụa, Đại Nhục Chi nhanh chóng trở thành thịnh vượng, nhất là dưới triều đại Quý Sương (Kushano, Kuṣāṇ).

[33] Khang Cư là tên gọi tiếng Hán của một vương quốc cổ ở Trung Á tồn tại từ đầu thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên đến thế kỷ thứ năm Công nguyên. Do dân cư trong nước này được người Hoa gọi là Khang, nên Sogdiana được dịch thành Khang Quốc (tuy vậy, có học giả cho rằng Khang Cư là phiên âm của chữ Kāṅka). Họ thuộc nhóm dân Ấn Âu (Indo-Europeans), thuộc ngữ hệ Đông Iran. Họ sống chủ yếu ở vùng thung lũng Ferghana và vùng bình nguyên giữa hai con sông Amur Daria và Syr Daria. Cha ngài Khang Tăng Hội là thương nhân Sogdian sang buôn bán tại Giao Châu (Bắc Việt Nam) và Ngài được sanh ra tại đó.

[34] Cao Quý Hương Công là phong hiệu của Tào Mao (Ngụy Thiếu Đế) trước khi trở thành hoàng đế thứ tư của nhà Tào Ngụy. Năm 254, quyền thần Tư Mã Sư phế trừ hoàng đế Tào Phương, toan đưa một người con của Tào Tháo là Tào Cứ lên ngôi, nhưng Quách Thái Hậu không tán thành, vì Tào Cứ thuộc vai chú, bà ta sẽ không thể giữ ngôi Thái Hậu được nữa. Tư Mã Sư bèn đưa cháu nội của Ngụy Văn Đế (Tào Phi) là Tào Mao lên ngôi. Khi đó, Tào Mao mới mười ba tuổi. Quyền hành hoàn toàn do Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu nắm giữ. Về sau, Tào Mao bị thuộc hạ của Tư Mã Chiêu là Thành Tề sát hại khi mới hai mươi tuổi. Như vậy là Tào Phương và Tào Mao đều không có thụy hiệu và miếu hiệu trong triều đại Tào Ngụy.

[35] Đàm Ma Già La, còn được phiên âm là Đàm Kha Ca La, Đàm Ma Kha La, dịch nghĩa là Pháp Thời. Ngài là người Trung Ấn Độ, thông minh, mẫn tiệp từ bé, tự nói “văn lý trong thiên hạ hoàn toàn ở trong bụng dạ của tôi”. Về sau, đọc A Tỳ Đàm Tâm Luận mờ mịt, chẳng hiểu, phải thỉnh một vị tỳ-kheo giảng giải nhiều lượt mới thấu hiểu. Do vậy, Ngài dẹp trừ lòng kiêu ngạo, thông đạt diệu lý nhân quả, bèn đi xuất gia, tinh tấn học tập kinh điển Tiểu, Đại Thừa, và các bộ Luật Tạng. Năm Hoàng Sơ thứ ba (222) đời Tào Ngụy, Ngài đến Hứa Xương. Năm Gia Bình thứ hai (250) đến chùa Bạch Mã ở Lạc Dương. Sau đó, Ngài dịch Tăng Kỳ Luật, và thỉnh Phạm Tăng chế định pháp Yết Ma, chuyên dạy giới luật.

Ngài Đàm Đế tổ tiên là gốc Khang Cư, sống vào thời Đông Tấn, không rõ năm sanh và năm mất. Chỉ biết tổ tiên Ngài di cư đến Trung Nguyên vào thời Hán Linh Đế, sau đó lại dời sang quận Ngô Hưng. Cha Ngài làm quan Biệt Giá ở Ký Châu, mẹ họ Hoàng. Ngài xuất gia lúc mười tuổi. Về già, Ngài trụ tại chùa Hổ Khâu, từng giảng Lễ Ký, kinh Dịch, Xuân Thu, kinh Pháp Hoa, kinh Đại Bát Nhã, Duy Ma Cật v.v… Ngài có biên soạn các bộ Hội Thông Luận, Thần Bổn Luận v.v… đều đã bị thất truyền.

[36] Vu Điền (Khotan, Godan, Hvatana, Gostana) là một vương quốc Phật giáo cổ nằm ở rìa sa mạc Taklamakan trong vùng trũng Tarim (Tháp Lý Mộc, nay thuộc Tân Cương của Trung Hoa) cho tới vùng Bắc rặng Côn Luân. Họ nói tiếng Khotan (một nhánh ngôn ngữ Tokhara thuộc ngữ hệ Đông Iran). Vương quốc này nổi tiếng do sự buôn bán tơ lụa.

[37] Hoàn Huyền (369-404) là quyền thần nhà Đông Tấn, giữ chức Đại Tư Mã. Về sau, hắn khống chế Tấn An Đế (Tư Mã Đức Tông), buộc vua phải phong cho mình làm Sở Vương. Sau đó, vào tháng 11 năm 403, hắn ép vua thoái vị, nhường ngôi cho mình, lập ra nhà Sở (Sử gọi là Hoàn Sở).

[38] Cổ Tửu là một phương thuốc chữa bệnh tê thấp, chân tay tê bại của người già. Thành phần chủ yếu của cổ tửu là đậu cổ (豆豉) tức hạt đậu đen đã lên men (thường gọi là đậu xị). Theo sách Thời Hậu Phương, dùng một thăng cổ đậu (đã qua ba lượt hấp và phơi) đem ngâm trong ba hộc rượu tốt, sau ba ngày là có thể uống để trị bệnh.

[39] Khi Tổ Đạt Ma muốn trao truyền ngôi vị tổ cho các đệ tử, bèn hỏi yếu nghĩa của đạo. Các vị đệ tử lần lượt nêu kiến giải, nhưng Tổ chỉ chê là mới đạt được ngoài da, ngoài thịt mà thôi. Đến khi hỏi ngài Huệ Khả Thần Quang, Ngài khoanh tay đứng yên tại chỗ. Tổ tán thán: “Ông đã đạt được tủy của ta” và giao phó ngôi vị Tổ cho ngài.

[40] Chữ “” theo các tự điển phải đọc là âm Nghĩ, nghĩa là “thanh tịnh, an lạc, dung mạo trang nghiêm kính cẩn. Nhưng trước nay, không hiểu vì sao các kinh sách của Việt Nam ta vẫn phiên âm tên Ngài thành Trí Khải. Ngu ý cho rằng có lẽ vì sách Tập Vận ghi chú cách đọc là “ngũ hợi thiết, âm Khải” (五亥切,音愷), cho nên cổ nhân mới đọc chữ này thành Khải.

[41] Ở đây, tổ Ngẫu Ích chỉ viết vắn tắt là “bách tận kế lật, nguyệt một liệu tùng” tức là dựa theo ý của Thiên Thai Đại Sĩ Trí Nghĩ Truyện: “Ư thị, hôn hiểu khổ đáo, như giáo nghiên tâm. Ư thời, đản dũng ư cầu pháp, nhi bần ư tư cúng, thiết bách vi hương, bách tận, tắc kế chi dĩ lật, quyển liêm tấn nguyệt, nguyệt một tắc liệu chi dĩ tùng” (Do vậy, sáng tối khổ công tu tập, đúng như lời dạy nghiên cứu cái tâm. Lúc đó, Ngài chỉ dũng mãnh cầu pháp, nhưng thiếu thốn vật cúng dường, bèn chặt cành bách làm hương đốt. Hết bách thì dùng hạt dẻ để cúng dường. Ngài cuốn rèm khi trăng mọc [để soi sáng], khi trăng lặn thì đốt cành tùng [làm đuốc]).

[42] Tức hai bộ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa và Pháp Hoa Văn Cú.

[43] Sao Tỉnh, gọi đầy đủ là Tỉnh Mộc Can, là một tinh tòa trong Nhị Thập Bát Tú, nằm ở phương Nam, tương ứng với chùm sao Gemini (Song Nam) trong thiên văn học Âu Tây. Tinh tòa này gồm hai mươi ngôi sao nhỏ như Tỉnh, Việt, Nam Hà, Bắc Hà, Thiên Tôn, Ngũ Chư Hầu, Tích Thủy v.v…

[44] Tức tượng Chuẩn Đề Bồ Tát, do Bồ Tát có danh xưng là Thất Câu Chi Phật mẫu (Saptakoṭi Buddha-Bhagavatī, Saptakoṭibuddhamatṛ, mẹ của bảy câu-chi Phật). Câu-chi (Koi, còn phiên âm là Câu Đê, Câu Trí, hoặc Câu Lê), có ba nghĩa là mười vạn, một trăm vạn, hay một ngàn vạn. Chuẩn Đề Bồ Tát (Cundī, Cundā, Cundrā, Candrā, Caṇḍā, Cuṇḍrā), còn được phiên âm hoặc dịch nghĩa thành Chuẩn Chi, Tôn Na, Tông Đạt, Thuần Đà, Tối Thắng Kim Cang, Thanh Tịnh Kim Cang, Chuẩn Đề Quán Âm, Thiên Nhân Trượng Phu Quán Âm, Thập Bát Thủ Quán Âm. Ngài vốn là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát và là một trong Lục Quán Âm để cứu độ sáu đường (Thánh Quán Âm cứu độ ngạ quỷ đạo, Thiên Thủ Quán Âm cứu độ địa ngục đạo, Chuẩn Đề Quán Âm cứu độ loài người, Mã Đầu Quán Âm cứu độ súc sanh đạo, Thập Nhất Diện Quán Âm cứu độ Tu La đạo, và Như Ý Quán Âm cứu độ thiên đạo).

[45] Do trước đó đã có bản sớ giải kinh Hoa Nghiêm của Phương Sơn Lý Thông Huyền (dựa trên bản Lục Thập Hoa Nghiêm đời Tấn), nên bản sớ giải của ngài Thanh Lương dựa trên Bát Thập Hoa Nghiêm được gọi là Tân Sớ, tức là bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Sớ. Diễn Nghĩa Sao chính là bộ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao nhằm giải thích lời Sớ cho các đệ tử như Tăng Duệ v.v… Ngài còn soạn sớ giải cho Tứ Thập Hoa Nghiêm với tựa đề là Trinh Nguyên Tân Dịch Hoa Nghiêm Kinh Sớ.

[46] Sanh manh: Kẻ mù từ lúc lọt lòng.

[47] Kiêu kính (梟獍) là hai loài động vật nổi tiếng bạc ác trong truyền thuyết. Theo đó, Kiêu là loài chim ăn thịt mẹ, còn Kính là loài thú ăn thịt cha. Do vậy, Kiêu Kính là từ ngữ chỉ kẻ vong ân phụ nghĩa, ác độc, hung tàn.

[48] Không rõ thân thế của Trương Chuyết, chỉ biết ông đã đậu Tú Tài, sống vào thời Ngũ Đại cuối đời Đường. Do được thiền sư Thiền Nguyệt chỉ điểm, ông đến bái yết ngài Thạch Sương Khánh Chư. Sư hỏi: “Ông tên họ gì?” Thưa: “Con tên Trương Chuyết”. Sư bảo: “Tìm khéo còn chẳng được, lấy đâu ra vụng?” (Chuyết () có nghĩa là vụng về). Trương Chuyết vừa nghe liền hoát nhiên đại ngộ, đọc kệ rằng: “Quang minh tịch chiếu biến hà sa, phàm thánh hàm linh cộng ngã gia, nhất niệm bất sanh toàn thể hiện, lục căn tài động bị vân già. Đoạn trừ phiền não trùng tăng bệnh, thú hướng Chân Như diệc thị tà. Tùy thuận thế duyên vô quái ngại, Niết Bàn sanh tử đẳng không hoa” (quang minh tịch chiếu khắp hà sa, phàm thánh hàm linh vốn sẵn nhà. Một niệm chẳng sanh toàn thể hiện, sáu căn vừa động, mây liền che. Đoạn trừ phiền não càng thêm bệnh, tiến hướng Chân Như cũng là tà. Tùy thuận duyên đời không vướng mắc. Niết Bàn, sanh tử hệt không hoa). Ngài Thạch Sương liền ấn khả Trương Chuyết là đệ tử đắc pháp.

[49] Cho tới thời ngài Tử Bách, kinh Phật vẫn in trên một tấm giấy dài, rồi cuộn thành trục để cất giữ. Ngài Tử Bách đề xướng in kinh Phật theo lối phương sách, tức là vẫn in thành một tờ giấy dài, nhưng chia thành trang để có thể xếp thành quyển sách, dùng chỉ khâu gáy như các quyển kinh chữ Hán hiện thời. Cách làm này gọi là “phương sách” (方冊), nhưng bị một số người chống đối, cho là đại sư không coi trọng kinh Phật, biến kinh Phật thành sách vở thế gian.

[50] Đây là hai sắc dân thiểu số sống ở vùng Lĩnh Nam. Người Dao (còn gọi là Dìu Miền, hay Miền. Trước kia, người Dao ở Việt Nam thường bị gọi không chính xác là Mán) sống chủ yếu ở Hồ Nam, Lưỡng Quảng và Vân Nam, cũng như tại Bắc Việt, Lào, Miến Điện và Thái Lan. Họ chia thành nhiều nhóm khác nhau như Bạch Khố Dao (Dao quần trắng), Bình Địa Dao v.v… tại Trung Hoa, hoặc các nhóm Dao Thanh Y, Dao Áo Dài, Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt, Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Khâu v.v… tại các nơi khác.

Người Đồng tức là dân tộc Tráng (Choang, còn gọi là Ô Hử, Bố Y, Bố Thổ, Bố Ương, Bố Việt, Nùng An, Nùng Cháo, Nùng Lôi) sống tại Vân Nam, Quảng Đông, Quý Châu và Hồ Nam. Tại Việt Nam, họ tự xưng là Tày và Nùng.

[51] Ý nói ăn nói lưu loát như nước từ trong bình tuôn ra, hoặc như các viên châu gieo xuống mâm bạc sẽ kêu rào rào. Ý Tổ tự giễu chính mình: Viết lách hùng hồn, ăn nói lưu loát, nhưng chỉ là kẻ khẩu đầu Thiền, chẳng có công hạnh thật sự!

[52] Phàm phu bị phiền não trói buộc nên gọi là “cụ phược phàm phu”.

[53] Lý Lăng, tên tự là Thiếu Khanh, quê ở Thành Kỷ (Lũng Tây). Ông là cháu nội của danh tướng Lý Quảng. Ông làm tướng dưới thời Hán Vũ Đế, vâng mệnh vua lãnh quân kháng cự quân Hung Nô. Năm 99 trước Công Nguyên, vua sai Lý Quảng Lợi đem ba vạn kỵ binh đánh quân Hung Nô ở Thiên Sơn, sai Lý Lăng vận chuyển lương thảo cho Lý Quảng Lợi. Lý Lăng muốn tác chiến độc lập, hứa đem năm ngàn bộ binh đánh Hung Nô. Vua sai đô úy Lộ Bác Đức vận chuyển lương thảo cho quân Lý Lăng. Lộ Bác Đức do đố kỵ, không muốn làm hậu đội của Lý Lăng, liền tâu vua xin giữ Lăng lại chờ đến mùa Xuân mới tấn công. Vua ngờ Lý Lăng hối hận, xuống chiếu bắt Lý Lăng tấn công ngay. Lý Lăng dũng cảm giao chiến với quân Hung Nô, nhưng binh ít, thế cô, thua trận, cuối cùng đành đầu hàng Hung Nô.

[54] Đây là một câu dựa theo lời khen ngợi Bá Di và Thúc Tề của Khổng Tử được chép trong Luận Ngữ: “Ẩn cư phóng ngôn, thân trung thanh, phế trung quyền”. Theo các vị chú giải, câu này phải hiểu là “ẩn cư, không còn nói năng bàn luận chuyện đời nữa. Giữ thân trong sạch, không còn hành xử dính líu đến thế sự. Tổ dùng câu này để tự giễu chính mình chẳng giữ được thân lánh ngoài cõi đời, chẳng thể không dính líu thế sự, nên nói là “ký phế trung thanh, trung quyền” (đã phế ‘trung thanh, trung quyền’). Đã thế, tuy mang tiếng ẩn cư, vẫn viết lách, giảng giải, cho nên chuyện “ẩn cư phóng ngôn” (ẩn cư, không còn nói năng bàn luận chuyện đời) chỉ thực hiện được rất ít!

[55] Tục danh của tổ là Chung Tế Minh. Tổ lại là con một trong gia đình nên gọi là Chung đại lang.

[56] Ý nói ghi nhớ số câu niệm Phật tính theo từng chuỗi (108 hạt) hay cứ mỗi một ngàn câu niệm Phật.

[57] Tức bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi.

[58] Xư (), tên khoa học là Ailanthus Attissima, còn gọi là Xú Xư, hoặc Xú Xuân, Xú Đồng, Đại Nhãn Đồng, thuộc họ Khổ Mộc, là một loại cây rụng lá, vốn sanh trưởng tại vùng Đông Bắc châu Á. Cây có thể cao đến mười lăm mét, rất to. Toàn bộ thân, cành, lá cây này tỏa ra mùi hôi như đậu phộng bị mục nát; do vậy, gọi là Xú Xư (cây Xư thối). Cây sinh trưởng rất nhanh, được coi là một giống cây có hại cho môi trường, đặc biệt cây này là chỗ sanh trưởng lý tưởng cho một loi bọ gọi là spotted lanternfly (có hình dáng như con ve lớn, cánh có chấm đen to) chuyên gây hại cho đậu nành, nho v.v… vì chúng hút nhựa khiến cây bị khô héo, phân của chúng khiến các loài thảo mộc bị cháy xém lá.

[59] Tổ cho rằng cổ nhân có Thiền, Nho, Giáo, Luật, nhưng chính mình chẳng thể sánh bằng. Đối với Thiền, Nho, Giáo, Luật của người đương thời, Ngài lại hoàn toàn chẳng dám học theo họ. Do vậy, tự xưng là Bát Bất Tựu (tám điều chẳng thành tựu được).

[60] “Hắn” ở đây là Tổ tự nói đến chính mình.

[61] Thương Vân lưu truyền hình chân dung của tổ Ngẫu Ích.

[62] Chấn Chi là tên tự của tổ Ngẫu Ích.

[63] Đinh Lan sống vào thời Đông Hán, ông được xếp vào Nhị Thập Tứ Hiếu. Cha ông mất sớm, mẹ ông nuôi lớn. Đinh Lan phải đi cày, mẹ hằng ngày mang cơm ra đồng cho ông ăn. Ông đối xử rất tệ với mẹ, dù mẹ đưa cơm sớm hay trễ đều quát mắng. Về sau, do nghe thầy giáo giảng giải, ông quyết tâm sửa lỗi đổi mới. Khi thấy mẹ mang cơm đến, ông chạy vội ra đón để cảm tạ mẹ, nhưng quên khuấy tay đang cầm cán cày. Mẹ thấy vậy, tưởng ông chạy đến đánh, ù té chạy, vấp phải cành cây lê, vỡ đầu chết tươi. Ông than khóc, chặt cành lê, nhờ thợ khéo tạc thành hình tượng mẹ để sớm tối hiếu kính. Do điển tích này, các thần vị (bài vị thờ tổ tiên) tại Trung Hoa đều khắc bằng gỗ hoa lê. Về sau, ông cưới vợ. Vợ thấy chồng sáng tối quỳ lạy cung kính tượng mẹ bèn nẩy sanh ý nghĩ bất kính. Bà ta dùng kim đâm tượng, thấy máu chảy ra, mắt tượng ứa nước mắt. Do vậy, Đinh Lan bèn bỏ vợ.

[64] Dương Tử Vân chính là Dương Duy (53-18 trước Công Nguyên), ông có tên tự là Tử Vân, quê ở Thành quận thuộc đất Thục (Tứ Xuyên), là một triết gia, văn gia và ngôn ngữ học gia sống vào thời Tây Hán. Tổ tiên ông vốn họ Cơ thuộc tông thất nhà Châu, nhưng đến đời Bá Kiều, do được phong ở Dương Ấp thuộc nước Tấn vào thời Xuân Thu, cho nên con cháu đổi sang họ Dương. Tới thời Chiến Quốc, do lánh nạn trong nước Tấn, dòng họ này chuyển sang sống tại Vu Sơn thuộc nước Sở. Khi Lưu Bang và Hạng Vũ tranh giành ngôi vua, họ Dương quá khổ vì chiến tranh, bèn chạy sang Giang Châu thuộc Ba Quận (nay là Ba Huyện ở phía Tây Trùng Khánh). Dương Duy chủ trương căn nguyên của vũ trụ là Huyền, nhấn mạnh sự hiểu biết tự nhiên vốn như thật. Ông chủ trương con người tánh xen lẫn thiện và ác, tùy thuộc tu thiện hay ác mà thành thiện nhân hay ác nhân.

Diêu Quảng lão chính là Diêu Quảng Hiếu (1355-1418), pháp danh là Đạo Diễn, tự là Tư Đạo, lại còn hiệu là Độc Am, Đào Hư Tử, là một tăng nhân thuộc tông Lâm Tế, sống vào cuối đời Nguyên đầu đời Minh. Ông cũng là một công thần trong việc giúp Minh Thành Tổ (Châu Lệ) soán đoạt ngôi của Châu Doãn Văn (Kiến Văn Đế). Vị này sanh trong một gia đình nhiều đời hành y, xuất gia lúc mười bốn tuổi, tinh thông giáo quán Thiên Thai, Mật Tông, cuối cùng đổi sang tu Thiền, lại còn bái đạo sĩ Thứ Ứng Chân làm thầy để học Âm Dương, bói toán. Thầy tướng Viên Củng trông thấy Diêu Quảng Hiếu từng than thở: “Sao lại có tăng nhân tướng mạo lạ lùng đến thế này. Góc mắt có hình tam giác, giống như con hổ đang bệnh, bẩm tánh ắt thích giết chóc, ắt là kẻ giống như Lưu Bỉnh Trung!” (Lưu Bỉnh Trung là tể tướng của Hốt Tất Liệt). Khi Minh Thái Tổ tuyển tăng lữ tinh thông Nho học để làm quan trong bộ Lễ, Diêu Quảng Hiếu không trúng tuyển. Về sau, khi Cao Hoàng Hậu băng, vua hạ lệnh tuyển tăng nhân theo hầu các thân vương để tụng kinh cầu phước, ông Diêu được bạn là ngài Tông Lặc tiến cử, Yên Vương Châu Lệ rất vui thích, bèn mời lên Bắc Kinh trụ trì chùa Chiêu Khánh. Khi Kiến Văn Đế âm mưu triệt phiên (dẹp trừ thế lực các thân vương), sau khi các thân vương như Châu Vương, Tương Vương, Tề Vương, Đại Vương v.v… kẻ bị hạch tội truất làm thứ dân hoặc ép tự sát, chính Diêu Quảng Hiếu đã xúi giục Yên Vương Châu Lệ đoạt ngôi. Khi Châu Lệ lên ngôi, phong cho Diêu Quảng Hiếu làm Thái Tử Thiếu Sư, kiêm chức Tả Thiện Thế của Tăng Lục Ty, và từng yêu cầu Diêu Quảng Hiếu hoàn tục, nhưng ông không chịu, vẫn thường mặc triều phục ra ngoài tăng phục lên chầu vua. Ông Diêu đã thâu Trịnh Hòa làm Bồ Tát giới đệ tử và chủ trì biên soạn các bộ sách Minh Thái Tổ Thực Lục và Vĩnh Lạc Đại Điển.

[65] Đây là một thể loại thơ hoặc viết văn, còn được gọi là “thiên ngoại phi lai nhất bút” (ngoài trời bay đến một nét bút), ngụ ý trong một đoạn thơ hoặc một đoạn văn, đột nhiên xen vào một câu hoàn toàn chẳng có ý nghĩa liên quan đến đoạn trước hay sau đó.

[66] Mỗi năm chư Tăng an cư kết hạ. Đó là theo quy chế của đức Phật, nên khi kết hạ còn gọi là “kết chế”. Khi khóa an cư kết hạ kết thúc thì gọi là “giải chế”.

[67] Ý nói: Chỉ chân thành niệm Phật, chẳng cần phải tham cứu câu ‘người niệm Phật là ai?’ Trong Yếu Giải, Tổ từng nói tổ sư hỏi câu ấy để cảnh tỉnh người chấp trước, nay người niệm Phật lại chấp vào câu thoại đầu ấy, khác nào dùng hòn ngói gõ cửa để ném cha mẹ đang ngồi trong nhà.

[68] “Hà yển” (河偃) vốn là nói tắt của thành ngữ “yển thử ẩm hà” (偃鼠飲河, chuột chũi uống nước sông). Đây là một tỷ dụ trích từ thiên Tiêu Dao Du của Trang Tử, hàm ý người tâm lượng hẹp hòi, chẳng có chí khí to lớn.

[69] Ở đây, Tổ dùng thành ngữ “tha sơn chi thạch, khả dĩ công ngọc” (đá nơi núi khác có thể dùng để mài ngọc). Câu này phát xuất từ bài thơ Hạc Minh trong phần Tiểu Nhã của kinh Thi, ngụ ý: Có thể dùng kinh nghiệm của người khác để bổ sung chỗ thiếu khuyết của bản thân. Tổ dùng thành ngữ này nhằm ca ngợi sự hỗ trợ, khích lệ, dùi mài của bạn bè với nhau. Ý thứ hai dựa theo một câu nói trong thiên Quý Thị sách Luận Ngữ “tổn giả tam hữu, hữu tiện tịch, hữu thiện nhu, hữu tiện nịnh” (có ba loại bạn tổn hại: Bạn siểm nịnh a dua, bạn làm ra vẻ ôn nhu, hòa thuận nhưng sau lưng thích phỉ báng kẻ khác, bạn ăn nói ngọt ngào nịnh nọt hư vọng). Do vậy, câu “tha sơn thạch bất tập nhu tiện” nhằm ca ngợi tình bạn chân thật, dùi mài lẫn nhau, đối xử chân thật với nhau, không xen tạp những thói xấu ăn nói ngọt ngào giả dối, dua nịnh, bợ đỡ, a dua nhau.

[70] Chủ binh thần là một trong thất bảo của Chuyển Luân Thánh Vương, tức vị tướng có tài cầm quân đánh đâu thắng đó. Thậm chí vị ấy chỉ cần dẫn quân đến đâu, nơi đó tự hàng phục, không cần giao tranh.

[71] Nguyên văn “bạch mao chi tịch” (白茅之藉, chiếu bằng cỏ tranh). Thời cổ, người xưa dùng cỏ tranh bện thành đệm hay chiếu để trải thành đệm ngồi cho người đáng tôn kính, hay dùng để lót dưới các vật cúng nhằm tỏ lộ sự tôn kính tột bậc. Ở đây, Tổ dùng từ ngữ này để tỏ ý mình có lòng tôn kính chân thật tột bậc đối với ngài Vô Dị, sẵn sàng phụng sự ngài Vô Dị.

[72] Thời đó, cổ nhân dùng giấy dán kín cửa sổ để tránh gió lùa, đồng thời lấy ánh sáng.

[73] Thệ tử (逝子): Đứa con bỏ nhà trốn đi.

[74] Phải khéo lãnh hội ý chỉ sâu xa trong lời dạy của Thần Tú và Huệ Năng để đừng phân biệt, so đo hư vọng là tiệm tu hay đốn tu.

[75] Hàm trượng (函丈) là kính ngữ để tôn xưng bậc học giả tiền bối hoặc thầy dạy của chính mình. Theo Lễ Ký, trong lễ nghi thời cổ, chiếu (hoặc đệm ngồi) của người giảng và người nghe đặt cách nhau một trượng, nên thầy được gọi là “hàm trượng” do nguyên nhân này.

[76] Thân Phật màu như vàng tía, nên đức Phật còn được gọi là “tử kim tiên” hay “kim tiên”.

[77] “Vi nhân do kỷ” là thành ngữ phát xuất từ một câu nói trong thiên Nhan Uyên sách Luận Ngữ: “Khắc kỷ phục lễ vi nhân, nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên. Vi nhân do kỷ, nhi do nhân hồ”. Khổng Dĩnh Đạt cho rằng câu này phải hiểu là: “Chế phục những ham muốn xằng bậy, tuân thủ lễ nghi, đó là lòng nhân. Chế phục tư dục, tuân thủ lễ nghi một ngày, thiên hạ sẽ đều quy vào lòng nhân. Thực hiện lòng nhân là do chính mình, chứ há phải do người khác ép buộc ư?”

[78] Ý nói hủy báng là sự cảnh tỉnh lớn lao trong khi chúng ta đang đắm đuối chấp trước, giống như trong khi đang ngủ mà có người đánh trống hoặc thổi tù và (sừng trâu) báo thức.

[79] Tám thí dụ nhằm nói lên bản chất hư huyễn của Y Tha Khởi Tánh theo Nhiếp Luận: Ví như huyễn sự, ví như dương diệm (ánh nắng gợn, tức huyễn ảnh nhìn đằng xa như có nước, nhưng đến gần thì không có nước khi trời nắng gắt), ví như mộng, ví như hình bóng, ví như bóng nắng, ví như tiếng vọng từ hang trống, ví như bóng trăng trong nước, và ví như sự biến hóa [của người làm ảo thuật].

[80] Kiêm Sơn Cấn là quẻ kép do hai quẻ Cấn chồng lên nhau (do Cấn biểu thị núi), nên quẻ này gọi là Kiêm Sơn. Kinh Dịch giải thích quẻ này có ý nghĩa núi non trùng điệp, quân tử hành xử xứng với địa vị, giữ yên bổn phận, có thể bình tĩnh ứng phó trong mọi hoàn cảnh. Tịch Dịch Càn là Triêu Càn Tịch Dịch, phát xuất từ kinh Dịch trong phần giải thích của vạch thứ ba trong quẻ Thuần Càn, biểu thị: Người quân tử ban ngày sốt sắng thực hiện chuyện thuộc nghĩa vụ của chính mình, đến tối phản tỉnh, răn nhắc chính mình để phòng ngừa, chẳng phạm chút sai sót nào!

[81] Ngọc chương là cách gọi trân trọng thi văn hoặc thư từ của người khác.

[82] Ý nói nhờ vào người bạn đứng hàng thứ nhất và thứ hai trong bốn người bạn.

[83] Ngũ phí (sôi năm lượt) là thuật ngữ được Lục Vũ dùng trong Trà Kinh để chỉ năm giai đoạn đun sôi nước pha trà từ nhiệt độ vừa đến nhiệt độ cao.

[84] Bất thấp canh là một loại canh dùng trong mùa viêm nhiệt, trừ hàn khí do khí hậu ẩm thấp tại miền Hoa Nam.

[85] Kinh Kha là người nước Vệ, tổ tiên vốn thuộc dòng Khánh Thị, tức là hậu duệ của công tử Khương Vô Khuy nước Tề. Sau này, chuyển sang đất Vệ, mới đổi sang họ Kinh. Do không được Vệ Nguyên Quân trọng dụng, Kinh Kha sang nước Yên, kết bạn với Cao Tiệm Ly và trở thành tri kỷ. Kinh Kha được du hiệp Điền Quang giới thiệu cho thái tử Đan nước Yên. Khi đó, quân Tần tấn công ráo riết, nước Yên quá yếu để chống lại. Thái Tử Đan mưu tính nhờ Kinh Kha ám sát vua Tần (Doanh Chánh, tức Tần Thủy Hoàng). Kinh Kha mang đầu Phàn Ư Kỳ (một kẻ thù của Doanh Chánh) và bản đồ nước Yên sang Tần cống nạp. Khi vào chầu Tần Thủy Hoàng, Kinh Kha mang theo chủy thủ bôi thuốc độc đâm Tần Thủy Hoàng, nhưng đâm trượt và bị vũ sĩ của vua Tần giết chết.

[86] Cuối đời nhà Tần, khi Trần Thắng và Ngô Quảng khởi nghĩa chống Tần, thiên hạ đại loạn. Người thuộc tông thất cũ của nước Tề là Điền Đam và anh em Điền Vinh, Điền Hoàng cũng nổi lên kháng Tần. Điền Đam xưng là Tề Vương. Năm 208 trước Công Nguyên, Điền Đam bị tướng Tần là Chương Hàm giết chết. Quân Tề bị phân liệt thành hai phe: Một phe ủng hộ em trai của vua nước Tề trước khi bị diệt quốc là Điền Giả làm Tề Vương, anh em Điền Vinh thì tôn con Điền Đam là Điền Thị làm vua Tề. Năm 206, sau khi diệt Tần, Hạng Vũ phong tước cho mười tám chư hầu, phong cho phó tướng Điền Đô làm Tề Vương, đổi Điền Thị thành Giao Đông Vương. Anh em Điền Vinh, Điền Hoành không phục, đuổi Điền Đô đi, giết chết Điền Thị. Điền Vinh tự lập làm Tề Vương. Khi Hạng Vũ tấn công, Điền Vinh bị giết chết. Khi đó, do Lưu Bang đánh Sở, Hạng Vũ phải quay về cứu viện. Do vậy, Điền Hoành khôi phục đất đai bị Sở chiếm, đưa Điền Quảng là con Điền Vinh lên ngôi vua Tề. Sau đó, Lưu Bang thắng Sở, sai Hàn Tín công phá đất Tề. Quân Tề thua trận thảm hại, Điền Hoành liền dẫn năm trăm thuộc hạ chạy ra ngoài hải đảo, nay là Điền Hoành Đảo. Khi Lưu Bang thống nhất Trung Nguyên, lập ra nhà Hán, đã cho người ép Điền Hoành đầu hàng. Thế cùng lực kiệt, Điền Hoành phải đầu hàng và bị đưa về Lạc Đương. Điền Hoành bèn tự vẫn.

[87] “Hồ lao” (vì sao nhọc nhằn) vốn xuất phát từ bài thơ “Xuân nhật túy khởi ngôn chí” (Ngày Xuân, sau cơn say, tỏ bày chí hướng) của Lý Bạch, mở đầu bằng “xử thế nhược đại mộng, hồ vi lao kỳ sanh? Sở dĩ chung nhật túy, đồi nhiên ngọa tiền doanh”, Phụng Hà dịch thơ như sau: “Cuộc đời nào khác mộng dài, sao ta lao khổ miệt mài lâu nay? Rượu nồng suốt buổi cứ say, li bì ta ngủ lăn quay hiên nhà”.

[88] “Oai Âm na bạn”: Oai Âm Vương Phật là vị Phật đầu tiên trong kiếp Trang Nghiêm thời quá khứ. Đấy là cảnh giới vô hạn trước khi đức Thích Ca Mâu Ni Phật xuất thế. Vì thế, Thiền gia dùng từ ngữ “Oai Âm na bạn” nhằm cảnh tỉnh người học hãy hướng đến bản lai diện mục.

[89] Đuổi hươu” (trục lộc) là một thành ngữ hàm nghĩa quần hùng đua nhau nổi dậy, tranh đoạt giành quyền làm chủ giang sơn. Thành ngữ này phát xuất từ một câu trong thiên Hoài Âm Hầu Liệt Truyện của Sử Ký Tư Mã Thiên: “Tần thất kỳ lộc, thiên hạ cộng trục chi” (Nhà Tần đánh mất hươu, thiên hạ cùng đuổi bắt). Có lẽ cách nói này phát xuất từ chuyện quyền thần Triệu Cao lộng quyền thời Tần Nhị Thế (Doanh Hồ Hợi). Hắn đem một con hươu dâng cho Nhị Thế và bảo đó là con ngựa. Hồ Hợi không tin, hỏi ý toàn bộ triều thần. Họ sợ oai thế và quyền lực của Triệu Cao nên đa số đều bảo đó là con ngựa, không phải con hươu. Nhị Thế tưởng là thật, ngỡ mình đã loạn óc.

[90] Đem ngọc quý là dạ quang châu (loại châu có thể tỏa sáng trong bóng tối) để ném chim sẻ.

[91] Trong phần trước, tổ Ngẫu Ích đã nhắc chuyện đức Phật dẫn Kỳ Bà ra đồng, nơi có hài cốt vương vãi. Kỳ Bà nhặt lấy bất cứ khúc xương nào, nghe tiếng gõ xong, bèn nói vanh vách chủng tánh, giới tính, hạnh nghiệp của người đó. Nhưng khi đức Phật đưa một khúc xương cho ông gõ thử. Ông gõ mãi, không nhận biết được. Đức Phật bèn bảo đó là xương của bậc Ứng Chân (La Hán), cho nên Kỳ Bà không thể biết được hạnh nghiệp của vị đó.

[92] Lỗ Trọng Liên (305-245 trước công nguyên) là một vị danh sĩ thời Chiến Quốc. Ông là người nước Tề, nhưng chẳng muốn ra làm quan. Sau thất bại ở cuộc chiến Trường Bình, quân Tần vây hãm kinh đô Hàm Đan của nước Triệu. Ngụy An Ly Vương bèn sai Tân Hoàn Diễn sang thuyết phục Bình Nguyên Quân (Triệu Thắng) đang làm tể tướng nước Triệu, khuyên Triệu Hiếu Thành Vương tôn Tần Chiêu Vương làm hoàng đế. Lỗ Trọng Liên liền xin vua Triệu cho phép đối chất với Tân Trọng Diễn, chửi thẳng vua Tần, vạch rõ mưu đồ nham hiểm của Tần: Tìm cách xé lẻ chư hầu để thôn tính. Sau đó, Tín Lăng Quân (Ngụy Vô Kỵ) dẫn quân Ngụy giải vây cho Triệu. Bình Nguyên Quân do vậy muốn phong chức cho Lỗ Trọng Liên, nhưng ông từ chối với lời nói để đời: “Điều đáng quý cho kẻ sĩ trong thiên hạ là vì người khác trừ lo, giải nạn, giải trừ rối ren, nhưng không mong đạt được điều gì cho riêng mình. Nếu lấy được gì, tức là phường lái buôn. Trọng Liên chẳng nỡ làm!”

[93] Đây là nói theo ý của Trang Tử trong thiên Tiêu Dao: “Thích mãng thương giả, tam xan nhi phản, phúc do quả nhiên. Thích bách lý giả, túc thung lương. Thích thiên lý giả, tam nguyệt tụ lương” (Đi ra chỗ đồng hoang, ăn no ba bữa rồi mới quay về, bụng vẫn còn lưng lửng (chưa no trọn hết). Đi xa ngoài trăm dặm, phải chuẩn bị lương thực đủ cho một ngày. Đi ngàn dặm, phải chuẩn bị lương thực đủ cho ba tháng). Tổ mượn ý này để nói: Tu hành phải chuẩn bị tư lương thích hợp, nhưng đừng chấp trước.

[94] Tức Bắc Câu Lô Châu, Thiệm Bộ là Nam Thiệm Bộ Châu (Nam Diêm Phù Đề).

[95] Triều cận (槿) còn gọi là Mộc Cận (木槿, Common Hibicus, Rose of Sharon) là một loại dâm bụt, nhưng có thân gỗ, rụng lá vào mùa Đông. Cây trổ hoa rất nhiều, nhưng sáng nở tối tàn, nên thường được dùng để sánh ví sự hư huyễn,

[96] Ý nói: Khi người ta tặng quà, nếu mình không nhận thì quà vẫn thuộc về người tặng. Cũng như khi bị khinh rẻ, hủy báng, nếu ta không chấp vào đó, không màng đến, thì sự khinh rẻ, hủy báng ấy thuộc về người có hành vi ấy, không liên can gì đến ta!

[97] Vua Ca Lợi tức là tiền thân của ngài Kiều Trần Như. Kinh Niết Bàn chép khi bị vua Ca Lợi chặt đứt chân tay, Nhẫn Nhục tiên nhân đã thề khi thành Phật sẽ độ vua Ca Lợi trước tiên. Do đó, khi Ngài thành Phật, Kiều Trần Như nghe đức Phật chuyển pháp luân, chứng đạo trước hết trong năm vị tỳ-kheo đầu tiên, nên gọi là A Nhã Kiều Trần Như (kinh Vô Lượng Thọ gọi Ngài là tôn giả Liễu Bổn Tế).

[98] Liệt Ngự Khấu (450-375 trước Công Nguyên), còn gọi là Liệt Ngữ Khấu, hay Liệt Tử, là một triết gia thời Xuân Thu, được coi là người mở đường cho Đạo Gia. Ông chủ trương “quý hư” tức là đừng để tâm trí rong ruổi theo cảnh vật bên ngoài, mà nên lắng lòng dưỡng thần, hòng tùy thuận tự nhiên, đạt đến cảnh giới chẳng khởi tác dụng mà tùy ý tự tại. Sách Liệt Tử ghi lại những lời dạy của ông được Đạo gia tôn là Xung Hư Kinh, vì ông được họ tôn phong là Xung Hư chân nhân.

[99] Đại chúng đông đường và tây đường vì tranh nhau con mèo mà cãi cọ, tổ Nam Tuyền Phổ Nguyện xách cổ con mèo nói: “Ai nói được thì tha cho nó! Nếu không, ta sẽ giết nó”. Không ai trả lời được, Tổ bèn chém chết con mèo.

[100] Cổ nhân đào giếng sâu đến chín nhận mà không thấy nước, bèn bỏ cái giếng đó. Một nhận () là tám thước Tàu, khoảng 2m4.

[101] Để tinh luyện đề hồ, phải luyện sữa thành lạc, lạc thành sanh tô, sanh tô thành thục tô, rồi lục tô được luyện thành đề hồ. Như vậy muốn có đề hồ, phải có lạc trước đã; “toản lạc” (鑽酪) tức là bỏ sữa vào thùng xoay chuyển, đánh, lắc cho lạc rời khỏi sữa.

[102] Trong câu này có hai thành ngữ: “Tùng tỉnh nhân” (從井仁) là lòng nhân cứu người té giếng. Dựa theo ý trong thiên Ung Dã, Khổng Tử phê phán kẻ vì lòng nhân mù quáng, nhảy xuống giếng mạo hiểm cứu người mà không có phương tiện hay khéo để thoát thân đến nỗi cả hai cùng chết đuối. “Thủ viện tẩu” (手援嫂, đưa tay cứu chị dâu) xuất phát từ thiên Ly Lâu trong sách Mạnh Tử: “Thuần Vu Khôn viết: Nam nữ thọ thọ bất thân, lễ dư? Mạnh Tử viết: Lễ dã. Viết: Tẩu nịch, tắc thọ chi dĩ thủ hồ? Viết: Tẩu nịch bất viện, thị sài lang dã. Nam nữ thọ thọ bất thân, lễ dã. Tẩu nịch, viện chi dĩ thủ giả, quyền dã” (Thuần Vu Khôn hỏi: “Nam nữ chẳng tiếp xúc thân mật với nhau, lễ đó ư?” Mạnh Tử nói: “Lễ đấy”. Hỏi: “Chị dâu chết đuối, [em trai của chồng] có đưa tay cứu hay không?” Đáp: “Chị dâu chết đuối mà không cứu thì là lang sói. Nam nữ chẳng tiếp xúc thân mật là lễ. Chị dâu chết đuối, em trai của chồng đưa tay cứu là quyền biến”).

[103] Hàm Lâm là tên gọi hào thứ hai trong quẻ Địa Trạch Lâm của kinh Dịch, gồm quẻ Khôn ở trên, quẻ Đoài ở dưới. Hàm Lâm được giải thích là cát lợi.

[104] Ỷ phục (dựa dẫm) tức là nói gọn của “họa phước ỷ phục” (họa và phước dựa dẫm lẫn nhau, tức là trong họa ngầm chứa phước và ngược lại).

[105] Quái tức là quẻ Trạch Thiên Quái (gồm quẻ Càn ở dưới, quẻ Đoài ở trên) được kinh Dịch giảng là “trạch thượng ư thiên, quái, quân tử dĩ thí lộc cập hạ, cư đức tắc kỵ”. Câu này được các nhà Dịch học giảng như sau: Chằm (quẻ Đoài, tượng trưng cho nước) ở trên trời (Càn), tức hơi nước bốc lên thành mây, nhanh chóng tuôn xuống thành mưa, ban sự nhuần thấm cho thiên hạ, giống như quân tử dùng điều lợi ban cho người khác. Tuy tạo lợi ích cho người khác, tăng trưởng phẩm đức, nhưng chẳng cậy mình có ân đức. Hễ cậy vào ân đức thì đó là điều đại kỵ.

[106] Mông là quẻ Sơn Thủy Mông gồm quẻ Cấn ở trên và quẻ Khảm ở dưới), tượng trưng cho sự mông muội. Quân tử tu dưỡng đức hạnh bằng cách khai sáng cho kẻ mông muội (hoặc trẻ nhỏ) thì không gì chẳng hanh thông.

[107] Hoắc Quang (130-68 trước Công Nguyên) là một vị đại thần phụ chánh nổi tiếng thời Hán, được xếp vào danh sách mười một vị công thần trong Kỳ Lân Các. Ông là em cùng cha khác mẹ của đại tướng Hoắc Khứ Bệnh. Ông từng giữ nhiều chức vụ như Lang Quan, Thị Trung, Tào Quan, Phụng Xa Đô Úy, Quang Lộc Đại Phu, Đại Tư Mã, Đại Tướng Quan. Ông làm quan dưới bốn triều vua Vũ Đế, Chiêu Đế, Hán Phế Đế và Hán Tuyên Đế. Khi Hán Vũ Đế sắp mất, đã di mạng cho ông làm Phụ Chánh phò tá Hán Chiêu Đế (Lưu Phất Lăng) mới tám tuổi. Ông đã khôn khéo đề xuất nhiều chánh sách quan trọng, khiến cho triều chánh hưng thạnh. Sau khi Chiêu Đế qua đời, không có con nối dõi, Hoắc Quang lập Xương Ấp Vương Lưu Hạ (cháu nội của Hán Vũ Đế) lên làm vua, nhưng do nhận thấy Lưu Hạ hoang dâm vô đạo, thông dâm với các cung nữ của Chiêu Đế, đảo lộn pháp tắc trong triều đình. Chỉ trong hai mươi bảy ngày đã làm 1.127 việc xấu, Hoắc Quang bèn tâu lên Thượng Quan Hoàng Thái Hậu, phế Lưu Hạ (do vậy, Sử gọi Lưu Hạ là Hán Phế Đế), cuối cùng đưa chắt của Vũ Đế là Lưu Bệnh Dĩ lên làm vua, tức Hán Tuyên Đế.

[108] Từ ngữ Dưỡng Chánh xuất phát từ một câu trong kinh Dịch “mông dĩ dưỡng chánh, thánh công dã” (công lao giáo hóa, trưởng dưỡng đức hạnh chánh đáng cho trẻ thơ là công lao của bậc thánh).

[109] Ý nói học Lão Trang tuy cao siêu huyền diệu hơn Nho, nhưng vẫn là chấp trước, vọng tưởng, không thấy chân tâm như cũ, khác nào một thùng sơn đen kịt.

[110] Câu này nói theo ý nghĩa của câu nói “dị hồ tam tử giả chi soạn” trong sách Luận Ngữ. Để hiểu rõ câu nói này, cần phải đọc nguyên đoạn văn như sau: “Tử Lộ, Tăng Tích, Nhiễm Hữu, Công Tây Hoa thị tọa, tử viết: Dĩ ngô nhất nhật trưởng hồ nhĩ, vô ngô dĩ dã. Cư tắc viết: Bất ngô tri dã. Như hoặc tri nhĩ, tắc hà dĩ tai? Tử Lộ suất nhĩ nhi đối viết: Thiên thừa chi quốc, nhiếp hồ đại quốc chi gian, gia chi dĩ sư lữ, nhân chi dĩ cơ cẩn. Do dã vi chi tỷ cập tam niên, khả sử hữu dũng thả tri phương dã. Phu tử sẩn chi: ‘Cầu, nhĩ hà như? Đối viết: Phương lục thất thập, như ngũ lục thập, Cầu dã vi chi, tỷ cập tam niên, khả sử túc dân, như kỳ lễ nhạc, dĩ sĩ quân tử. Xích, nhĩ hà như? Đối viết: Phi viết năng chi, nguyện học yên, tông miếu chi sự, như hội đồng, đoan chương phủ, nguyện vi tiểu tương yên. Điểm, nhĩ hà như? Cổ sắt hy, khanh nhĩ, xả cầm nhi tác, đối viết: - Dị hồ tam tử giả chi soạn” (Tử Lộ, Tăng Tích, Nhiễm Hữu, Công Tây Hoa đứng hầu Khổng Tử đang ngồi. Khổng Tử nói: “Do ta tuổi lớn hơn các ngươi, không ai dùng ta. Các ngươi thường nói ‘không có ai biết tới tôi’. Nếu như có người biết đến, các ngươi sẽ làm gì?” Tử Lộ vội vàng thưa ngay: “Một nước nhỏ chỉ có được một ngàn cỗ xe, bị kẹp giữa các nước lớn, lại bị quân ngoại quốc xâm phạm, lại còn bị đói kém, nếu họ dùng Do (tên thật của Tử Lộ) thì cho đến ba năm, sẽ giữ vững được dũng khí, lại còn biết cách làm người”. Phu tử mỉm cười, hỏi: “Cầu (tên thật của Nhiễm Hữu), ngươi thì sao?” Nhiễm Hữu thưa: “Một nước rộng bảy chục hoặc sáu chục dặm, mà sử dụng Cầu thì sau ba năm, có thể khiến cho dân no đủ, chấn hưng lễ nhạc, giáo hóa, chờ đợi bậc quân tử tiến hành”. “Xích (tên thật của Công Tây Hoa), ngươi thì sao?” Thưa: “Con chẳng dám nói mình làm được gì, chỉ mong học tập. Chỉ đối với chuyện tông miếu, hoặc chư hầu kết minh, triều kiến thiên tử, con sẽ mặc lễ phục, đội mão, là kẻ hầu nho nhỏ”. “Điểm (tên thật của Tăng Tích), ngươi thì sao?” Tăng Tích khảy đàn cầm, dần dần buông lơi, vang một tiếng ‘tưng’, đặt đàn cầm xuống, đứng lên thưa: ‘Con nghĩ khác với ba người trên đây”).

[111] Ngài Ương Quật Ma La (Aṅgulimāla) do nghe lời tà sư, đuổi giết một ngàn người, lấy ngón tay của họ xỏ thành xâu chuỗi đeo trên cổ để mong đắc đạo. Sau khi được Phật hóa độ, tôn giả đắc quả La Hán. Có lần, một phụ nữ có thai trông thấy Ngài, do không biết Ngài đã cải tà tu chánh, sợ quá, chui qua hàng rào trốn, bị mắc kẹt ở đó, tánh mạng nguy cấp. Ngài dùng lời chân thành, thuyết pháp, khiến cho người ấy hoan hỷ, bèn an tường sanh nở.

[112] Hễ có sương thì tiết Đông rét buốt đang kéo tới. Do đó, “lý sương” (giẫm bước trong sương) mang nghĩa rộng là điềm báo trước nguy hiểm. Kinh Dịch giảng quẻ Khôn như sau: “Lý sương kiên băng chí” (giẫm sương thì băng cứng sắp đến).

[113] Thắng Nhiệt bà-la-môn là vị tri thức thứ chín trong năm mươi ba vị thiện tri thức mà Thiện Tài đến tham học. Vị này thị hiện thân ngoại đạo tu khổ hạnh, thường phơi mình dưới ánh nắng, dùng lửa mạnh để hơ thân, khiến cho Thiện Tài e ngại. Sau khi được Phạm Thiên khuyên bảo, Thiện Tài leo lên đống lửa, gieo mình vào, liền cảm thấy thân tâm thanh lương, và được Thắng Nhiệt dạy pháp môn tu Bồ Tát đạo.

[114] Thiên Tiêu Dao Du trong sách Trang Tử viết: “Biển Bắc có loài cá, tên gọi là Côn, to lớn chẳng biết mấy ngàn dặm. Khi nó nhảy lên khỏi mặt biển, liền biến thành chim Bằng. Cánh che rợp trời, có thể bay đến Nam Minh. Nam Minh tức là ao trời”.

[115] “Tây lai ý” là một câu thoại đầu nổi tiếng trong nhà Thiền, có ý hỏi: Do ý nghĩa nào mà tổ Đạt Ma từ Tây Trúc sang phương Đông.

[116] Ý nói sai lầm trong biên chép. Do các chữ Ô (), Yên (), và Mã () khá giống nhau, nếu không cẩn thận, sẽ rất có thể viết chữ nọ sang chữ kia.

[117] Đức Thế Tôn có nói một bài kệ như thế này: “Yo ca vassasataṃ jīve, apassaṃ udayabbayaṃ. Ekāhaṃ jīvitaṃ seyyo, passato udayabbayaṃ” (dịch sang tiếng Hán là: “Nhược nhân thọ bách tuế, bất tri sanh diệt pháp, bất như nhất nhật trung, hiểu liễu sanh diệt sự”, nghĩa là: Nếu có người sống đến trăm tuổi mà chẳng hiểu pháp sanh diệt, chẳng bằng chỉ sống được một ngày mà hiểu rơ pháp sanh diệt). Sau khi đức Thế Tôn nhập diệt, theo Tỳ Nại Da Tạp Sự, quyển bốn mươi, ngài A Nan nghe một vị Tăng tụng bài kệ ấy như sau: “Nhược nhân thọ bách tuế, bất kiến thủy bạch hạc, bất như nhất nhật trung, đắc kiến thủy bạch hạc”. Ngài A Nan giật ḿnh, v́ do âm tiếng Phạn gần giống nhau, vị Tăng ấy không suy xét, nên đă đọc sai chữ udayabbayaṃ thành một từ ngữ gần giống với chữ “thủy bạch hạc” (trong tiếng Pali, tức udaka-baka), bèn dạy vị ấy đọc cho đúng, nhưng vị ấy không nghe, bảo đệ tử ngài A Nan đă già, trí nhớ lạng quạng: “A Nan đă già nua, chẳng có sức ghi nhớ, thường nói lời sai lầm, chẳng cần phải tin ổng” rồi vẫn cứ đọc như vậy, kiên quyết không sửa đổi. Khi câu chuyện này được truyền sang Trung Hoa, lại bị diễn giải từ “thủy bạch hạc” (水白鶴) thành “thủy lăo hạc” (水老鶴) hoặc “thủy lạo hạc” (水潦鶴). Tổ Ngẫu Ích dùng câu chuyện này để minh họa sự cố chấp của một số hành nhân, nhất quyết không sửa đổi dù được thiện tri thức chỉ điểm chỗ sai trong từ ngữ hoặc văn bản.

[118] Pháp thần (法臣): Bầy tôi trong pháp. Do đức Phật được gọi là pháp vương, nên các đệ tử Phật được gọi là “pháp thần”.

[119] Diệu tam từ: Ba loại lòng từ của Bồ Tát, tức chúng sanh duyên từ, pháp duyên từ, và vô duyên từ.

[120] Người Ba là một dân tộc cổ sống chủ yếu ở phía Đông tỉnh Tứ Xuyên và Ngạc Tây. Họ từng thành lập một vương quốc cổ là Ba Quốc, về sau bị Tần và Sở diệt quốc. Họ chia làm hai nhánh chính là Lẫm Quân và Bản Thuẫn. Nhóm Lẫm Quân tôn bạch hổ làm vật tổ, còn nhóm Bản Thuẫn coi bắn được hổ trắng là điềm lành. Thoạt đầu, Ba Quốc khá lớn, Bắc giáp Hán Trung, Nam đến Kiềm Bồi, Đông đến Hiệp Giang, Tây đến Bặc Đạo. Dưới sự lấn ép của Tần và Sở, họ dần dần chỉ còn gói gọn trong vùng Xuyên Đông. Họ bị Tần diệt quốc vào năm 316 trước Công Nguyên. Trừ một bộ phận bị Hán hóa, hậu duệ hiện thời là dân thiểu số Thổ Gia.

[121] Theo truyền thuyết cổ, trên sừng tê giác có một đường vằn màu trắng, do vậy, sừng tê có đặc tánh cảm ứng sự linh d. Vì thế, gọi là “linh tê”. Hiểu theo nghĩa mở rộng thì linh tê là tâm linh tương thông, tình ý phù hợp.

[122] Biến Kế Sở Chấp Tánh.

[123] Chân Vũ còn có hiệu là Huyền Thiên Thượng Đế, Huyền Vũ Đại Đế, Bắc Cực Huyền Thiên Thượng Đế, Chân Vũ Đại Đế, Hựu Thánh Chân Quân, Khai Thiên Đại Đế, Đãng Ma Thiên Tôn v.v… Ông là vị thần thống lãnh phương Bắc, tương ứng với phương Huyền Vũ trong Nhị Thập Bát Tú. Ông được coi là vị thần cai quản tất cả các sanh vật trong nước, trong biển, diệt trừ tai nạn lửa và nước, bảo hộ chiến tranh. Ông cũng được coi là vị thần bảo hộ của nhà Minh vì khi Châu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ) giao tranh với Trần Hữu Lượng, bị thua trận, phải trốn vào miếu Chân Vũ để tránh né truy binh. Mạng nhện chỗ ông ẩn thân sau khi ông chui vào bèn liền lại như cũ, vì vậy, truy binh không tìm thấy ông. Do đó, khi Châu Nguyên Chương lên ngôi thành Minh Thái Tổ, đã hạ chỉ trùng tu miếu thờ, đắp kim thân tượng, và tặng biển đề Bắc Cực Điện, tôn phong Chân Vũ thành Huyền Thiên Thượng Đế. Từ đó, các đời vua Minh đều hết sức tôn sùng Chân Vũ.

[124] Thể của pháp tánh lìa các tướng, tịch diệt, nên gọi là Ly. Tác dụng của pháp tánh vi diệu chẳng thể nghĩ bàn nên gọi là Vi. Ly là Niết Bàn. Vi là Bát Nhã. Bảo Tạng Luận viết: “Không có tai, không có mắt là Ly, có thấy nghe thì là Vi. Chẳng có ngã, chẳng tạo là Ly, có trí, có dụng là Vi. Vô tâm, vô ý là Ly, có thông, có đạt là Vi. Ly lại là Niết Bàn, Vi là Bát Nhã. Do Bát Nhã nên hưng khởi đại dụng, do Niết Bàn nên tịch diệt chẳng còn sót. Do vô dư nên phiền não vĩnh viễn hết. Do đại dụng nên sự giáo hóa của bậc thánh vô cùng”.

[125] Huyền du (玄猷): Mưu kế cao vời huyền diệu, tức con đường tiến tu thành Phật.

[126] Y Doãn lúc chưa ra phù tá vua Thành Thang, từng cày ruộng ở Sân dã. Khương Thượng (Khương Tử Nha) trước khi được tiến cử làm tướng cho Châu Văn Vương, ngồi câu cá trên sông Vị.

[127] “Học bộ Hàm Đan” là thành ngữ hàm ý mô phỏng theo người khác chẳng thành công, ngược lại đánh mất kỹ năng vốn có của chính mình. Ý này dựa theo một câu chuyện trong thiên Thu Thủy sách Trang Tử: Có người tới kinh đô Hàm Đan của nước Triệu, thấy tư thế đi lại của họ rất đẹp bèn bắt chước học theo, nhưng không thành, ngược lại còn quên tuốt dáng đi vốn có của chính mình!

[128] Thất Tịch là ngày mồng Bảy tháng Bảy âm lịch, tương truyền đó là ngày Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Trong ngày ấy, phụ nữ thường đến đền chùa cầu nguyện Chức Nữ gia hộ khiến họ có tài may vá, bếp núc khéo léo, nên còn gọi là là lễ Khất Xảo (xin sự khéo léo). Trong ngày ấy, cũng có tổ chức thi khéo tay bằng thêu thùa dưới ánh đèn lờ mờ. Có những địa phương coi ngày này như ngày tình nhân ước hẹn, dùng hạt hồng đậu kết thành vòng đeo tay để tặng nhau, nhằm ước nguyện tình yêu bền vững.

[129] Ngài Tụng Trửu sanh trước lễ Tự Tứ (rằm tháng Bảy) một vài hôm.

[130] Vệ Vũ Công viết bài thơ tên là Ức để tự cảnh tỉnh chính mình; trong ấy có câu: “Ức ức oai nghi, duy đức chi ngung” (Cẩn thận oai nghi, chỉ cốt sao đức chánh đáng).

[131] Nguyên văn “dương cáo Sóc”. Theo Châu Lễ, mỗi năm vào dịp Thu Đông, thiên tử nhà Châu ban lịch cho các chư hầu, để họ cất trong tổ miếu. Chiếu theo đó, vào ngày mồng Một mỗi năm, các vua chư hầu đến tổ miếu giết dê cúng tế, biểu thị chánh thức mở đầu một năm. Đến thời Xuân Thu, vua nước Lỗ chẳng còn quan tâm đích thân cúng tế, mồng Một mỗi tháng chỉ sai quan đến giết dê cúng cho xong chuyện, chứ vua Lỗ không thèm đặt chân đến thái miếu nữa. Do vậy, thành ngữ “cáo Sóc hý Dương” có ý nghĩa chê trách chỉ làm qua quýt cho xong chuyện, mang nặng tính hình thức. Ở đây, tổ dùng từ ngữ “dương cáo Sóc” với ngụ ý than thở: Thầy Tụng Trửu mất đi, không ai quan tâm thực hiện Luật, người trì Luật hoàn toàn hữu danh vô thật.

[132] Bỉ ngạn thai: Thai bên bờ kia, ý nói gởi thân thác chất nơi cõi Cực Lạc.

[133] Quan trung thảo: Các bản thảo viết lách trong khi bế quan.

[134] Dịch Nha là người xứ Ung, tên là Vu, do vậy còn gọi là Địch Nha, hoặc Ung Vu, là một đầu bếp nổi tiếng của nước Tề thời Xuân Thu, nên rất được Tề Hoàn Công yêu quý. Nghe Tề Hoàn Công nói chưa từng nếm thịt người, Dịch Nha liền giết con mình để nấu cho Tề Hoàn Công ăn. Do vậy, hắn được Tề Hoàn Công đặc biệt sủng ái.

[135] Đồng hồ mặt trời (nhật quỹ, 日晷) thường làm bằng đá, ở giữa cắm một trụ nhỏ bằng đá hoặc gỗ, chung quanh mặt đá khắc giờ. Người ta dựa theo bóng nắng chiếu vào đâu mà biết là giờ gì.

[136] Bóng châu trên trán: Đây là một thí dụ sánh ví Phật tánh sẵn có nơi mỗi người. Kinh Đại Bát Niết Bàn quyển bảy nói: Ví như nhà vua có đại lực sĩ, giữa hai mày có một viên kim cang châu. Khi đấu vật với lực sĩ khác, do trán cụng vào nhau, châu liền bị lún dưới da, ngỡ đã đánh mất viên châu. Nơi đó tạo thành vết thương, bèn gọi lương y chữa trị. Khi đó, lương y biết vết thương ấy do châu lún vào. Lực sĩ không tin, lương y đưa gương cho soi, thấy bóng châu hiện. Lực sĩ kinh ngạc, sanh ý tưởng kỳ đặc. Hết thảy chúng sanh cũng giống như thế, do chẳng thân cận thiện tri thức, dẫu có Phật tánh, nhưng đều chẳng thể thấy do bị tham, dâm, sân khuể, ngu si che lấp, mà đọa vào trong địa ngục, ngạ quỷ, quên bẵng Phật tánh của chính mình!

[137] Khổng Tử ca ngợi Lão Tử như thần long chẳng thể thấy đầu đuôi.

[138] Tử Cống là tên tự, tên thật của ông là Đoan Mộc Tứ.

[139] Quy () là một họ xuất phát từ vua Thuấn. Vua Thuấn thuộc bộ tộc Hữu Ngu Thị, là cháu sáu đời của Chuyên Húc (chắt của Hiên Viên Hoàng Đế). Thuấn (tên là Trùng Hoa) sanh ở Diêu Khư, do vậy lấy họ là Diêu (vì thế, Sử thường gọi là Ngu Thuấn). Do vua Thuấn có đức nên được vua Nghiêu nhường ngôi, gả con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh cho, lại phong cho đất bên sông Quy Thủy làm thái ấp. Con cháu của ông bèn lấy họ là Quy. Quy Thủy bắt nguồn từ Lịch Sơn thuộc thành phố Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây, chảy sang phía Tây đổ vào sông Hoàng Hà. Vua Thuấn và vua Nghiêu đều nói mình còn có khuyết điểm (theo cách nói thời cổ là “hữu bệnh”), nên ở đây Tổ gọi họ là “Quy Diêu lưỡng bệnh ông” (hai người bệnh ở Quy Diêu).