Linh Phong Tông Luận
靈峰宗論
Phần 9
Linh Phong Ngẫu
Ích đại sư soạn
Pháp sư
Thành Thời biên tập
成時法師編輯
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo bản in của Đài Trung Liên Xă
năm 1997)
Giảo duyệt: Đức Phong, Diệu Âm Trịnh Lộc và Huệ
Trang
26. Tán
* Hai bài tán tượng Thích Ca Mâu Ni Phật
1) Bách vạn nhân thiên nhãn bổn minh, niêm hoa
vô ngữ tịnh truyền chân. Ẩm Quang nhất
tiếu sanh ba lãng, trực chí như kim vị
thái bình (tướng giơ cành hoa lên).
(Trăm ngàn trời,
người mắt vốn sáng. Giơ hoa,
chẳng nói, truyền chân thật. Ẩm Quang[1]
mỉm cười, sanh sóng gió. Cho đến
hiện thời chưa thái bình).
2) Trần điểm kiếp
tiền sanh kế tuyệt, quán tùng nhân thế lộng
phong ma. Thế gian bất giải Càn thành ảnh.
Mạn thuyết tu tùng giả lý quá (tướng
khổ hạnh tại Tuyết Sơn).
(Trần điểm kiếp
trước, kế sống bặt. Khuấy
sóng cõi đời vốn đã quen.
Bóng Càn thành[2]
thế gian chẳng hiểu. Đừng nói
phải từ đó vượt qua).
* Chín bài tán tượng A Di Đà
Phật
1) Nhất chỉ quang châu
pháp giới. Thập niệm thành, giai tự tại.
Cảm ứng đạo giao, sanh Phật vô ngại. Thảo
thậm tự tánh Di Đà, chỉ thử
khởi thuộc tâm ngoại.
(Quang minh một ngón, pháp giới trọn. Mười niệm
thành tựu đều tự tại. Cảm
ứng đạo giao, sanh, Phật[3]
vô ngại. Tìm sâu tự tánh Di Đà
Phật, há phải chỉ thuộc ở ngoài
tâm).
2) Quang minh thọ lượng
vô luân thất. Từ nhãn bi tâm triệt để
tŕnh. Chích thủ trường thư trần điểm
kiếp. Nhất ban dã thị tích nhi tình.
(Quang minh, thọ
lượng đều khôn sánh. Mắt
từ, tâm bi, triệt để bày. Một tay
duỗi thẳng trần điểm kiếp. Một
mực cũng vì thương tiếc con).
3) Quán
thường tác Phật, Phật thường
tại quán. Tâm tưởng biến tri, đồng
điều cộng quán[4].
(Quán thường
làm Phật, Phật thường tại quán.
Tâm tưởng biết trọn khắp, sự
lý sẵn tương thông).
4) Như Lai pháp giới tạng
thân, biến nhập chúng sanh tưởng, thí
như nguyệt ấn thiên giang. Nhất thiết
hữu mục đồng ngưỡng.
Nhược dục ly thử mịch chân, hà
dị xả thanh sách hưởng? Tổng vân giả
cá tiện thị. Y cựu vô đoan thành
lưỡng.
(Như Lai pháp giới
tạng thân, vào khắp tâm tưởng của
chúng sanh. Ví như trăng in bóng ngàn sông.
Hết thảy người có mắt cùng ngắm.
Nếu muốn lìa đó để tìm chân, khác
nào bỏ tiếng tìm âm vọng? Luôn nói
điều này “vốn chính là”. Như cũ
bỗng dưng thành hai chuyện).
5) Cực Lạc đại
thánh, pháp giới y vương. Nhập từ bi định,
phóng trí huệ quang. Tận vị lai tế, hằng chiếu
thập phương. Chúng sanh niệm giả, nhiếp thủ
bất vong. Dĩ như huyễn lực, ứng vật hiện
sắc. Vọng tưởng trù lâm, tướng
hảo bách ức. Tức ảnh tức chân, bất
nhị bất thắc. Ta bỉ sanh manh, địch diện
phất thức. Biệt mịch huyền cơ, phiên
đọa Kiến Hoặc. Ngã kim khể thủ, măn
nguyệt vạn đức. Nguyện cộng hàm linh, quy An
Dưỡng quốc.
(Cực Lạc
đại thánh, pháp giới y vương.
Nhập từ bi định, tỏa trí huệ
quang. Tột đời vị lai, luôn chiếu mười
phương. Chúng sanh tâm niệm, nhiếp thủ
chẳng quên. Dùng sức như huyễn,
ứng cơ hiện sắc. Rừng rậm
vọng tưởng, tướng hảo trăm
ức. Ảnh chính là chân, chẳng hai,
chẳng khác. Than ôi sanh manh[5],
đối mặt chẳng biết. Tìm
huyền cơ khác, đọa vào Kiến
Hoặc. Con nay kính lễ, vạn đức
trăng tròn. Nguyện cùng hàm linh, về
nước An Dưỡng).
6) Khể thủ hoằng
nguyện tứ thập bát. Nhất nhất nguyện
quang bất khả tận. Quả triệt nhân nguyên hằng
độ sanh, liên hoa quốc độ như minh kính.
Đổ ảnh văn danh sáng phát tâm, đốn nhập
Bảo Vương tam-muội ấn. Đản cần
chiêm lễ mạc từ lao. Chỉ mặc nguyên đồng
pháp giới tánh. Duyên sanh đương thể Không, Giả,
Trung. Tứ đức, tam thân bất biệt tịnh. Huống
phục trừng không nguyệt chánh viên, tâm thủy
trừng thanh nguyệt tự ánh.
(Kính lễ hoằng
nguyện bốn mươi tám. Mỗi một
nguyện quang chẳng thể tận. Quả thấu
nguồn nhân, luôn độ sanh. Cõi nước hoa
sen như gương sáng. Thấy bóng, nghe danh,
mới phát tâm. Chóng nhập Bảo Vương
tam-muội ấn. Chỉ siêng chiêm lễ, chẳng
ngại mệt. Giấy, mực vốn đồng
tánh pháp giới. Bản thể duyên sanh Không, Giả,
Trung. Tứ đức, tam thân chẳng cùng,
khác. Huống hồ trăng tròn giữa
trời trong. Nước tâm trong lặng,
trăng tự rạng).
7) Lưỡng đóa liên
hoa túc để an, nhất song không thủ bi tâm
thiết. Địch diện tương phùng pháp
giới thân, hư không đại địa lưu tiễn
huyết (dùng máu chép nguyện tiếp dẫn).
(Hai đóa hoa sen
đặt dưới chân, hai tay trống
rỗng, tâm bi thiết. Chạm mặt gặp
gỡ thân pháp giới, hư không đại
địa tràn máu tươi).
8) Chư Phật Chánh Biến
Tri hải, bất ly chúng sanh tâm tưởng. Thị
cố, nhãn kiến, nhĩ văn, tận thị Di
Đà thanh tượng. Si nhân xả thử
biệt cầu. Hoán tác Pháp Thân
hướng thượng. Thùy tri khí
Hữu mịch Không. Nhất thể vô đoan thành
lưỡng. Nhược tri lưỡng ký
bất tồn. Tất cánh nhất hà tu
thượng? Xí nhiên lễ bái xưng danh, tức
thị siêu phương kỹ lưỡng.
(Biển Chánh Biến Tri
của chư Phật, chẳng lìa tâm
tưởng của chúng sanh. Do vậy, mắt
thấy, tai được nghe. Toàn là hình
tượng, tiếng Di Đà. Kẻ si bỏ
đây, cầu thứ khác. Gọi đó là
Pháp Thân hướng thượng. Ai biết
vứt Hữu, tìm kiếm Không, một Thể
bỗng dưng thành hai thứ! Nếu biết hai
thứ đã chẳng có, rốt cuộc
cần gì là một nữa? Hăm hở lễ
bái cùng xưng danh, chính là thuật
khéo vượt ngằn mé).
9) Khể thủ Tây
Phương Tu Ma Đề, vô lượng thanh tịnh
bình đẳng giác. Thừa ư lục
bát đại nguyện luân, thị hiện bát
vạn tứ thiên tướng. Tướng
hữu bát vạn tứ thiên hảo, hảo
hữu bát vạn tứ thiên quang. Nhất nhất
quang trung chiếu pháp giới, phổ nhiếp niệm Phật
chư hữu t́nh. Do như từ mẫu niệm nhất tử.
Thị cố, nhập thử tam-muội vương.
Danh vi Phổ Hiện Nhất Thiết Tướng. Họa
sư thừa thử tam-muội lực, chỉ bút vi duyên diệu tướng sanh.
Thử tướng tức thị nhân duyên sanh.
Sanh tức vô sanh, cụ Tam Đế. Tam Đế tam thân
kư uyển nhiên. Tứ đức ưng tri vô khuyết giảm.
Sở lễ kư tức đế dữ đức. Năng
lễ ưng tri tức Chỉ Quán. Đế, Quán
danh biệt, Thể phục đồng. Thị cố năng
sở tánh không tịch. Khể thủ như không vô sở
y. Thị tức tự tánh vô lượng giác.
(Đảnh lễ Tây
Phương cõi Cực Lạc, vô lượng
thanh tịnh bình đẳng giác. Nương
bốn mươi tám đại nguyện luân, thị
hiện tám vạn bốn ngàn tướng.
Tướng có tám vạn bốn ngàn hảo.
Hảo có tám vạn bốn ngàn quang. Trong mỗi quang minh chiếu pháp giới. Nhiếp trọn
các hữu t́nh niệm Phật, giống như
mẹ hiền nhớ con một. Vì vậy,
nhập tam-muội vương này, gọi là
Hiện Khắp Hết Thảy Tướng. Thợ
vẽ nương sức tam-muội này. Giấy, bút làm duyên, diệu tướng sanh. Tướng
ấy chính là nhân duyên sanh. Sanh tức vô sanh, trọn
Tam Đế. Tam Đế, tam thân đã rành
rành. Nên biết tứ đức chẳng
khuyết giảm. Được lễ là
Đế cùng với đức. Nên biết
người lễ là Chỉ Quán. Đế,
Quán danh khác, Thể vẫn đồng. Vì
thế, năng, sở tánh không tịch. Kính
lễ như không, chẳng nương tựa.
Đấy là tự tánh vô lượng giác).
* Hai bài tán tượng một vị
Phật hai vị Bồ Tát
1) Ma mạch mạn sung cơ, bình
địa phong ba hiểm, miết ngộ bổn lai tâm, vô
đoan thạch hỏa thiểm. Khóa sư chấp như
ư, Phật, tổ cung bao biếm. Thừa
tượng duyệt đại kinh, hà tằng
hữu nhất điểm? Hoán tác Phật, Bồ
Tát, hư không bất thọ nhiễm. Lễ bái
nhậm chúng sanh. Tận lễ nguyên phi siểm. Đốt!
Trực nhiêu nhẫm ma cử dương, dã
thị bạch khuê chi điếm (tướng Xuất
Sơn).
(Lúa mạch tạm đỡ đói.
Đất bằng, sóng gió hiểm. Bỗng
ngộ tâm sẵn có, tự dưng đá
nháng lửa. Cưỡi sư tử
cầm như ý, bèn khen, chê Phật, Tổ. Cưỡi voi xem đại kinh, há
từng có một điểm? Gọi là
Phật, Bồ Tát, hư không chẳng nhuốm nhiễm.
Lễ bái mặc chúng sanh, lễ trọn
chẳng siểm khúc! Ôi! Dẫu tuyên nói thế
nào, bạch khuê vẫn tỳ vết!)
2) Khể thủ A Di đại
đạo sư, Quán Âm, Thế Chí đồng bi
trí. Nguyện luân vô tận đẳng hư không. Lịch
kiếp trường hành bất tư nghị. Sanh giới
bất không hành bất hưu. Thử thị Tứ
Hoằng vô tác thệ. Sanh giới bổn không, hành
phi hành. Thùy tri Nhị Đế thị Nhất
Đế? Nhị do nhất hữu, nhất mạc
thủ. Phi nhất, phi nhị, phi tam tứ. Tam nhị
uyển nhiên hiển Nhất Chân. Đại thánh dĩ
thử thùy ân tế. Đản nguyện chúng sanh ngộ
tự tâm. Tự tâm na phục tồn hoành thụ? Hoành thụ
vô phi pháp giới tâm. Pháp giới diệc thị
cưỡng danh tự. Tức tri tự tâm tam thánh
nhân. Bổn dữ chúng sanh Thể bất dị. Địch
diện tam thân tứ đức tân. Chỉ, mặc, bút, oản
phi tha sự. Thân mạng quy y năng sở vong. Song vong,
song chiếu hằng như thị (tượng Tây
Phương Tam Thánh).
(Kính lạy Di Đà
đại đạo sư. Quán Âm, Thế Chí
đồng bi trí. Nguyện luân vô tận như hư không. Trải
kiếp hành lâu chẳng nghĩ bàn. Sanh
giới chẳng không, hành chẳng
đoạn. Đấy là Tứ Hoằng vô
tác thệ. Sanh giới vốn không, hành
chẳng hành. Ai biết Nhị Đế là Nhất
Đế? Hai do một có, đừng giữ
một. Chẳng một, chẳng hai, chẳng
ba, bốn. Hai, ba rành rành hiển Nhất Chân. Đại
thánh dùng đấy ban ân cứu. Chỉ mong
chúng sanh ngộ tự tâm. Tự tâm há còn ngang
với dọc? Ngang dọc đều là pháp giới
tâm. Pháp giới cũng là tên cưỡng gọi,
liền biết tự tâm tam thánh nhân[6],
Thể cùng chúng sanh vốn chẳng khác.
Đối diện tam thân, tứ đức
mới. Giấy, mực, bút, tay chẳng
chuyện khác. Thân mạng quy y, năng sở
mất. Cùng mất, cùng chiếu luôn như
thế).
* Tán tượng của ba vị Đại
Sĩ
Thành quần tác đội,
vô phong khởi đào. Kỵ sư, khóa
tượng, hà túc xưng cao? Luyện đắc
thân h́nh tự hạc, chỉ thị tự khổ tự
chiêu. Hốt nhiên ngộ trước Văn Hỷ,
tất cánh như hà giải trào? Đốt! Dương
liễu thùy thùy Xuân tận lục, thanh minh thời
tiết vũ như cao.
(Thành đoàn, lập
đội, không gió mà sóng trào. Cưỡi
sư tử, cưỡi voi trắng, há
đáng xưng là cao? Tu luyện khiến thân
hình như hạc, chỉ là tự mình
chuốc khổ! Bỗng dưng gặp gỡ
Văn Hỷ[7], rốt
cuộc pha trò thế nào? Ôi! Dương liễu
rủ, tiết Xuân xanh biếc. Thanh Minh thời
tiết mưa dầm dề).
* Năm bài tán
tượng Địa Tạng từ tôn
1) Đồng
thể đại bi, vô duyên hoằng thệ. Thiên Phật
chi tổ, quần sanh chi duệ. Định nhập sát trần,
châu huyền tam tế. Luân tướng phá nghi, biện
tài hiển Đế. Dục linh giới học trùng
minh, đảnh lễ mạc tồn phần tễ.
(Đồng
thể đại bi, vô duyên hoằng thệ. Tổ
của ngàn Phật, hậu duệ quần sanh.
Định nhập cõi nước số vi
trần, châu treo ba đời. Luân tướng phá
nghi, biện tài hiển thị Đế. Muốn cho
giới học lại sáng ngời, đảnh
lễ chẳng hề có ngằn mé).
2) Nhân
đản tri kỳ địa ngục cứu khổ, bất
tri kỳ vô xứ bất hiện. Nhân đản tri
kỳ lâm chung phù trì. Bất tri kỳ vô
thời bất niệm. Tam bộ kinh vương, nhị
chủng diệu quán, thập luân trùng khuông mạt
pháp, tam luân tận liệt nghi quyến. Thử vô lượng
môn trung, đệ nhất thần tốc pháp môn. Tùng
lai nhược phùng bất phùng. Tự kiến
phi kiến. Bất tiếu tử, nhất sanh cực lực
cử dương, độc hứa quy tín vô gián.
Thượng hữu nhất sự hoài nghi, vấn thủ
Pháp Thân mạc biện.
(Người
chỉ biết Ngài cứu khổ địa
ngục, chẳng biết Ngài không đâu
chẳng hiện. Người chỉ biết
Ngài nâng đỡ lúc lâm chung, chẳng
biết Ngài không lúc nào chẳng niệm. Ba
bộ kinh vương[8],
hai loại diệu quán[9],
thập luân lại khuông phò mạt pháp. Tam luân[10]
xé sạch lưới nghi. Trong vô lượng
môn, pháp môn này thần tốc bậc nhất.
Trước nay dẫu gặp mà như
chẳng gặp, dường như thấy
mà chẳng thấy. Kẻ hèn này, suốt
đời cực lực nêu bày, riêng
dốc lòng quy
ngưỡng, tin tưởng
chẳng gián đoạn. Nếu còn một
chuyện hoài nghi, thưa hỏi Pháp Thân chẳng
biện định!)
3) Chúng sanh
đọa lạc địa ngục, giai do phá giới trọng
chướng. Đại Sĩ nhập ngục cứu khổ,
độc hiện Thanh Văn giới tướng.
Bất giải, phẫu phán Pháp
Thân, thiên giải niêm đề hướng
thượng. Thử thị vô tác diệu sắc,
chúng sanh tánh cụ gia đương. Ác châu kiên cường giới thân, Địa Tạng
nhân nhân Địa Tạng.
(Chúng sanh
đọa lạc địa ngục, đều do
chướng nặng phá giới. Đại Sĩ
vào ngục cứu khổ, riêng hiện giới
tướng Thanh Văn. Chẳng hiểu, vội phê
phán Pháp Thân. Hiểu lệch, đề cao lẽ
hướng thượng. Đấy là
diệu sắc vô tác, chúng sanh vốn
sẵn có nơi mình. Cầm châu, giới thân
kiên cường. Địa Tạng: Ai nấy
đều là Địa Tạng).
4) Ngũ
thừa cai tận hiếu từ tâm, tối thị y
vương nguyện lực thâm. Bách thảo căn hành giai
bất khí, doanh lai đại địa túc tri âm.
(Năm
thừa gồm trọn hiếu từ tâm, y
vương nguyện lực tột sâu mầu. Rễ,
thân thảo mộc đều chẳng bỏ, đạt
khắp đại địa bạn tri âm).
5) Thế
xuất hà tu cánh trước tàm, quán
nhân tương thức hận trường hàm.
Nhất ai ngẫu ngộ hoành lưu lệ, xứ
xứ lâm tang dục thoát tham.
(Lệ
ứa há cần
chi phải thẹn, nhận biết quán nhân ôm hận
dài. Nỗi buồn chợt gặp tuôn dòng
lệ, chốn chốn tang ma sẽ tháo cương)[11].
* Hai bài tán
tượng Phổ Hiền Nguyện Vương
1) Giới
nhĩ nhất tâm, vạn hạnh cụ túc. Biểu
dĩ tượng vương, chi thất, nha lục.
Trừ nhĩ sân tâm, tiện chuyển diệu cốc.
Pháp giới tông sư, chiêu chương nhĩ mục. Viễn
chứng độc tụng, cận nghiêm u độc. Mịch
tức bất kiến, kiến tức thọ độc.
(Cái tâm
nhỏ nhoi, trọn đủ muôn hạnh. Dùng voi
chúa biểu thị, đủ bảy chi, sáu
ngà. Trừ diệt sân tâm, liền chuyển diệu
cốc[12]. Pháp giới
tông sư, rạng ngời tai, mắt. Xa:
Chứng đọc tụng. Gần: Trang nghiêm, riêng
mình thanh u. Tìm bèn chẳng thấy; hễ
thấy, bèn trúng độc!)
2) Thập
đại nguyện vương, đạo quy Cực
Lạc. Trần trần Hoa Tạng, tùng thử
chương thước. Bất muội nhân quả, pháp giới
khai thác. Vấn thủ Táo Bách, huyền châu tại
tác.
(Mười
đại nguyện vương, dẫn về Cực
Lạc. Hoa Tạng mỗi vi trần, từ đấy
chiếu rạng ngời. Chẳng mê muội nhân
quả, pháp giới rộng phô bày. Hỏi han
ngài Táo Bách, huyền châu đang kiếm
tìm).
* Hai bài tán Văn
Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử
1) Khể
thủ đại trí đức dũng kiện, biểu
ư vô úy sư tử vương. Năng chiếu bát
vạn tứ thiên luật, giai tác thậm thâm Bát
Nhã quang. Thủ chấp như ư ma-ni bảo, sở du tự
tại Diệu Cát Tường. Bố ma phá ác diệc
trừ cận, Đại Thừa tăng nghĩa
nan trắc lượng. Cự thạch,
kiều tùng hằng diễn pháp. Vô thị phi
thị thân đường đường!
(Đảnh
lễ đại trí, đức mạnh mẽ.
Biểu thị vô úy sư tử vương.
Chiếu soi tám vạn bốn ngàn luật, đều
hành rất sâu Bát Nhã quang. Tay cầm báu như
ư ma-ni, Diệu Cát Tường du hóa tự tại.
Phá ác, dọa ma, trừ đói kém. Đại
Thừa tăng nghĩa khó suy lường.
Đá lớn, tùng cao, luôn diễn pháp. Thân
chẳng đúng, sai, thật cao vời).
2) Nhất
phiến thanh sơn, vô biên ba lãng. Động, tĩnh
bất sanh, kỳ hình dị trạng. Dũng xuất
bảo liên, Văn Thù tại thượng. Đại
trí dũng mănh, thức phong cổ đăng. Nhược
dục tư lượng, mạng thất thân táng.
(Một
giải non xanh, vô biên sóng cuộn. Động, tĩnh
chẳng sanh, hình trạng lạ kỳ. Sen báu
vọt sanh, Văn Thù ngự trên. Đại
trí dũng mãnh, gió thức khua rền.
Nếu muốn suy lường, vùi thân mất
mạng!)
* Hai mươi bốn bài
tán dương Phổ Môn Đại Sĩ
1) Nhất
trích quân trì, uông dương phi thiển. Sái tận
tam thiên, bất khuy, bất diễn. Sanh giới
nhược không, tư hạnh nãi chuyển (tượng
đi).
(Một
giọt nước quân trì[13],
mênh mông chẳng hề cạn. Rưới trọn
khắp tam thiên, chẳng thiếu, chẳng
thừa thãi. Chúng sanh giới rỗng không,
hạnh ấy mới xoay chuyển).
2) Bạch
giả thị chỉ, hắc giả thị
mặc. Hà xứ thị Tử Trúc Lâm? Thậm ma
thị bàn đà thạch? Hy hữu Đại
Sĩ, vô tác diệu đức. Bất hướng
không trung hiện ảnh, thiên tá linh ư thủ bút. Thức
hải ba trừng nguyệt ảnh hàn. Bồ
đoàn diệp thúy đài ngân bích. Nam Hải Ba
Tư đáo ngạn lai, minh châu giá trị vi trần quốc.
(Màu
trắng là giấy, màu đen là
mực. Nơi nào là Tử Trúc Lâm?
Gì là hòn đá tảng? Hy hữu
Đại Sĩ, vô tác diệu đức.
Chẳng hiện thân ảnh nơi hư không, riêng
nhờ tay bút hiện tướng thiêng.
Biển thức sóng êm, bóng trăng lạnh.
Bồ đoàn lá biếc, rêu xanh ngắt. Nam
Hải, vua Ba Tư Nặc đến bờ. Minh
châu giá trị vi trần cõi).
3) Như ư tung hoành, liên kinh
xán lạn. Sư tư truy tùy, hư không bỉ ngạn.
Dục thức lưỡng nhân chân diện mục,
nhất ban thị hữu huyết tánh hán
(dùng máu vẽ hình tướng Quán Âm
và Thiện Tài).
(Như
ý tung hoành, kinh sen rạng ngời. Thầy
trò theo gót, hư không bờ kia. Muốn
biết hai người chân diện mục, thảy
đều là kẻ tánh tình kiên cường).
4) Thủ
thảo vi tòa, danh viết Cát Tường.
Định cộng, đạo cộng, tổng thử
phù nang, vô phi Phật hạnh. Tượng cố
sư hành. Phổ Môn thị hiện, tỳ-kheo trung
vương (tướng tỳ-kheo).
(Kết
cỏ làm tòa, gọi là Cát
Tường. Định cộng và đạo cộng
giới. Toàn bộ cái phao ấy, không gì
chẳng phải
Phật hạnh. Voi nhìn thầy
bước đi. Phổ Môn thị hiện, vua các
tỳ-kheo).
5) Bàn thạch
yến tọa, vô đắc, vô thuyết. Diệu pháp
lưỡng hàm, hồng lô điểm tuyết. Thủ
túc phân minh, cơ quan huýnh biệt. Nghĩ nghị tư
lượng, chứng quy tác miết.
(Ngồi
yên trên tảng đá. Chẳng đắc,
chẳng nói năng. Hai hòm diệu pháp,
mảnh tuyết trong lò rực. Tay chân đều
phân minh, cơ quan khác vời vợi. Nghĩ
bàn, suy lường, chứng rùa là ba ba[14]).
6) Bồ
đoàn tịch liêu, vân y xước ước. Đại
bi pháp môn, tá bệnh tác dược. Giáo uyển thuyên
đề, Thiền hà lược thược. Cố
vấn Thiện Tài, Nam tuân lộ mạc.
(Bồ
đoàn lặng lẽ, áo mây thướt
tha. Pháp môn Đại Bi, mượn bệnh
làm thuốc. Phương tiện nơi
vườn giáo, cầu nhỏ nơi sông Thiền.
Vì thế, hỏi Thiện Tài, nẻo về Nam mênh mang).
7) Phật
pháp vô đa, thương lượng hạo
hạo, thuyết tắc bất châu, hành
tắc bất đáo. Nộ mục dương mi,
phùng cường tu bạo. Nhất chú danh
hương, ma quân vĩnh tảo.
(Phật
pháp chẳng nhiều, bàn bạc mênh mông.
Nói ắt chẳng trọn, hành
chẳng đạt đến. Trợn mắt,
nhướng mày, gặp kẻ mạnh cần
phải hung bạo. Một lọn hương quý,
vĩnh viễn quét sạch ma quân).
8) Bảo
liên bổn hướng chân không dũng, nguyệt diện hoàn
tùng tánh hải thăng. Đạp phá ba đào toàn
thị thủy, bất lao bỉ ngạn giảo tiên
đăng.
(Sen báu
vốn từ chân không nở. Trăng mọc
từ trong biển tánh ra. Đạp nát
sóng mòi toàn nước cả, chẳng
nhọc bờ kia lên trước tiên).
9) Phong
lãng thiên tầm, thần thông nhất vị. Du hý
phiên phiên, hà câu, hà hệ? Đạp phá Tu Di vạn
đóa vân, chúng sanh kiến giả hàm như ư.
(Sóng
gió ngàn tầm, thần thông một vị! Dạo
chơi thong dong, có chi ràng buộc? Đạp
nát ngàn mây đảnh Diệu Cao, chúng sanh trông
thấy đều như ý).
10) Nhập
Định hà như xuất Định thời, đình
đình cam lộ tẩm dương chi. Đại
thiên vô địa lưu phiền não, thặng
hữu không quyền dụ tiểu nhi.
(Nhập Định sao
bằng khi xuất Định, lặng trong cam
lộ đẫm cành dương. Đại thiên không
chỗ lưu phiền năo, còn nắm tay suông dụ
trẻ thơ).
11) Nhất
khỏa ma-ni, quang biến pháp giới. Quyển chi, thư
chi. Tùy tâm tự tại. Ỷ tọa nguy nham, vong
hình tuyệt đăi. Cam lộ dương chi, diệu
hiệp kiêm đới. Hoán tác Thiền cơ, không
quyền niết quái. Độc hứa đồng tử
truy tùy, anh vũ y nhiên vân ngoại.
(Một
viên ma-ni, chiếu trọn pháp giới. Cuộn
vào, tỏa ra, tùy tâm tự tại. Ngồi
dựa vách núi chon von, quên thân hình,
bặt đối đãi. Cành dương
rưới cam lộ, khéo giúp đỡ
nhiệm mầu. Lay tỉnh Thiền cơ, nắm tay
suông làm trò. Riêng cho đồng tử theo chân,
chim két vẫn ở ngoài mây nổi).
12) Nguy
nhiên độc tọa đại hùng phong. Độ
tận chúng sanh bất kiến công. Miêu xuất hư không
thiên sắc thái, y hy vị đổ tử kim dung.
(Riêng ngồi vòi vọi
đỉnh non hùng. Độ trọn chúng sanh
chẳng kể công. Miêu tả hư không ngàn
sắc thái, lờ mờ chẳng
thấy tử kim dung).
13) Khể
thủ Đại Bi tự tại giác, viên măn vô ngại
đà la ni. Từ oai chiết nhiếp bất tư nghị,
định huệ trang nghiêm vô đẳng luân. Đốn
ngộ nhất niệm cụ thiên pháp. Thông thân thủ
nhãn bỉnh nhiên chương. Phương tiện trí huệ
giai vô tác, nhất thiết niệm trung diệc phục
nhiên. Niệm niệm hiển hiện bất tăng giảm,
trần trần pháp tánh diệc phục nhiên. Thị
cố xích chử thốn hào gian, tất
cụ đại bi viên măn tướng. Hữu nhân
hoạch đổ thử từ dung, tiện ngộ Pháp
Thân chân tướng hảo. Thử thị Phổ Môn thị
hiện lực, mạc tác chỉ mặc ảnh
tượng quán (tượng Đại Bi).
(Đảnh
lễ Đại Bi tự tại giác, đà la ni
viên măn vô ngại. Từ oai chiết nhiếp[15]
chẳng nghĩ bàn. Định huệ trang nghiêm
chẳng thể sánh! Đốn ngộ một
niệm trọn ngàn pháp. Tay, mắt toàn thân
hiện rạng ngời. Phương tiện, trí
huệ đều vô tác, Trong hết thảy niệm,
cũng đều vậy. Mỗi niệm hiển hiện
chẳng tăng giảm. Mỗi trần pháp
tánh cũng đều vậy. Do vậy, trong
khoảng giấy nhỏ bé, ắt trọn
tướng đại bi viên mãn. Có
người được thấy từ dung
ấy, liền ngộ chân tướng của Pháp
Thân. Đó là sức Phổ Môn thị hiện,
đừng coi như hình trên giấy, mực).
14) Đắc
căn bản viên thông, hiện tam thập nhị ứng. Thập
tứ vô úy lực, biến liệu chúng sanh bệnh. Trần
sát tận phân thân, chỉ mặc giai chân tánh. Địch
diện thái phân minh, phát quang đồng hải ấn.
Cánh vấn Đại Sĩ thùy, bát vu
trùng thảo bính.
(Đắc
căn bản viên thông, hiện băm hai ứng thân.
Mười bốn sức vô úy, trị
khắp bệnh chúng sanh. Phân thân tận trần
sát. Giấy, mực đều chân tánh. Đối
diện thật phân minh, tỏa rạng như hải
ấn. Còn hỏi ai là Ngài? Lại tìm
cán nơi bát!)
15) Bích nhãn, tu mi.
Trường lâu, phương giáp. Cách tỷ,
bồ đoàn. Quân trì, bí cấp. Dữ
bỉ Ứng Chân, thị đồng nhất
nghiệp. Thị đại tỳ-kheo, thanh tịnh
trác kiệt (tướng Phạm tăng).
(Mắt biếc, mày
rậm, sọ dài, má vuông. Dép da, bồ
đoàn, quân trì, tráp đựng. Thị
hiện cùng một nghiệp với bậc Ứng
Chân (La Hán). Là đại tỳ-kheo, thanh tịnh
tót vời).
16) Tùng châu
nhược long, trùng nham tự ốc. Phu tòa
liên đài, dương chi nộn lục. Thiện ứng quần
cơ, như hưởng đáp cốc. Nhãn
sắc, nhĩ thanh, phi nhất, phi lục. Mạc giao
thác nhận cổ Quán Âm, tục nhân đới
phát, tăng đầu thốc.
(Cội
tùng như rồng, đá chồng dường
nhà. Trải tòa đài sen, cành dương
xanh non. Khéo ứng các căn cơ, như hang
dội tiếng vọng. Mắt thấy sắc, tai
nghe tiếng, chẳng một, chẳng sáu!
Đừng nên lầm nhận cổ Quán Âm, tục
nhân để tóc, tăng đầu trọc).
17) Bồ
Tát từ chân, chúng sanh bệnh giả. Phiền nhiệt
tràng trung, dương chi biến sái. Triệt thể thanh
lương, bất tri vi giả. Thử tiện
thị vô nhị, vô phân. Vô biệt, vô đoạn
đích huyết mạch. Cánh hà dụng
toản quy đả ngõa. Đốt, đốt! Phật
pháp tuy diệu, chấp chi tắc thô. Long quỷ tuy tục,
hiện chi tắc nhă. Nhược vân Quán Âm tất
cụ diệu tướng, tiếu sát đông thôn đại
thư!
(Bồ
Tát lòng từ sẵn chân thật, chúng
sanh bệnh tật giả huyễn thôi! Trong chốn
phiền nhiệt, cành dương rảy khắp.
Trọn thể trong mát, nào ai biết hay!
Đấy là chẳng hai, chẳng phân biệt.
Huyết mạch chẳng khác, chẳng
đoạn vậy. Sao lại dùng bói mai rùa,
gõ ngói[16].
Ôi chao! Phật pháp tuy diệu, hễ chấp bèn
thô. Rồng, quỷ tuy tục, hiện ra bèn nhã.
Nếu nói Quán Âm ắt trọn diệu
tướng, cười chết ngất bà
chị thôn Đông).
18) Âm
văn tánh thanh tịnh, thanh tự hà tu tảo?
Chấp quyển thị quần sanh, phổ thí ma-ni bảo.
Trí sĩ ngộ căn nguyên, ngu nhân đả chi nhiễu.
Đồng tử khiết ngư lam, chỉ vị kim lân
thiểu. Nhị vĩ giá nhất tiền, vị
thẩm thùy năng hiểu?
(Nghe
tiếng, tánh liền thanh tịnh. Tiếng,
chữ cần chi quét sạch làu? Cầm
quyển dạy quần sanh. Thí trọn báu ma-ni. Bậc
trí ngộ nguồn cội. Kẻ ngu tự
quấy nhiễu. Đồng tử xách giỏ
cá[17], chỉ
vì ít vảy vàng. Hai đuôi giá một
tiền, chưa rõ ai hiểu được?)
19) Nhất
diệp liên châu, phiên phiên độc mại, lịch tận
trần hoàn, bất ly châm, giới. Phân minh nhật
dụng tầm thường, siêu việt thiên kỳ bách quái.
Thức đắc kỳ trung nhất tuyến chân. Tư
tắc danh vi Quán Tự Tại. Thử
thị tam thập nhị ứng, thập tứ vô
úy, tứ bất tư nghị, vô tác diệu
đức đích toàn thể đại dụng. Triệt
để hòa bàn cử tự nhân. Bất
hứa nghĩ nghị tư lượng. Chỉ
hứa kiều cần lễ bái.
(Một
cánh thuyền sen, thoăn thoắt riêng tiến
tới. Trải trọn hoàn vũ, chẳng
lìa mũi kim, hạt cải. Phân minh trong mọi
việc hằng ngày. Siêu việt trăm ngàn
điều quái lạ. Nhận biết một tia chân
thật trong ấy, bèn gọi là Quán
Tự Tại. Đấy là băm hai ứng
thân, mười bốn vô úy, bốn chẳng
nghĩ bàn, vô tác diệu đức toàn thể
đại dụng. Triệt để giãi bày nêu
cho người. Chẳng dung nghĩ ngợi,
suy lường. Chỉ nên kiền thành, siêng
năng lễ bái).
20) Chung
triêu kháp sổ châu. Thanh thanh Quán Tự Tại.
Thường nhiên đại dụng môn, vị lai chung bất
cải. Chúng sanh nhược khẳng tự niệm, hà
lao chư Phật phi khải? Chỉ nhân địch tín bất
chân, tọa tại phạn biên thọ nỗi.
(Suốt
ngày lần tràng hạt, từng tiếng
Quán Tự Tại. Đại dụng môn
thường hằng. Vị lai trọn
chẳng đổi. Chúng sanh nếu chịu tự
niệm, đâu phiền chư Phật mặc giáp?
Chỉ do đã
gặp mà tin chẳng thật,
ngồi cạnh mâm cơm cam chịu đói).
21) Chúng sanh
mê bổn văn, tuần thanh vọng lưu chuyển.
Chánh tại lưu chuyển thời, văn cơ
nguyên bất viễn. Đại Sĩ tài phản quán, phương
tri tánh tự thiện. Viên thông phục chân thường,
xúc mục Bồ Đề măn. Biến ứng thập giới
âm, cơ thành tiện năng cảm. Tịch nhĩ tọa
nham a, xí nhiên tế quần nhiễm. Phi thị Đại
Sĩ công, diệc phi tâm niệm lực. Lưỡng giai bất
tư nghị, sở dĩ chung vô thắc. Tự tánh
vô tự tánh, t́nh thức phi t́nh thức. Thứ phá
chân vọng quan, phương tri pháp giới đức. Dĩ
ngã hư vọng tưởng, đầu bỉ tịch
diệt quốc, như tân nhập hỏa tùng, như
băng ngộ thang phí. Vô minh bất động trí, lưỡng
danh duy nhất thật.
(Chúng sanh mê
cái Nghe, theo tiếng, hư vọng chuyển. Ngay trong
khi lưu chuyển, tánh Nghe vốn chẳng xa.
Đại Sĩ vừa phản quán, liền
biết tánh tự lành, viên thông lại chân
thường. Mắt
nhìn, Bồ Đề trọn. Ứng trọn
tiếng mười giới, cơ thành liền cảm
vời. Ngồi lặng bên vách đá,
sốt sắng cứu chúng nhiễm.
Chẳng do công Đại Sĩ, chẳng do
sức tâm niệm. Hai đằng chẳng
nghĩ bàn. Do vậy, trọn chẳng sai! Tự
tánh vô tự tánh, t́nh thức chẳng t́nh thức.
Nhìn thấu ải chân vọng, mới biết pháp
giới đức. Dùng cái tưởng hư
vọng, gieo vào cõi tịch diệt, như củi
gieo lửa hừng, như băng gặp
nước sôi. Trí vô minh bất động, hai tên chỉ
nhất thật).
22) Chấp
Phật châu, duyên cửu giới. Thượng
hạ hợp, từ bi trái. Dục ngộ viên thông, đản
cần lễ bái. Tư bỉ tư ức, bất tư
nghị tối (tướng nghĩ nhớ).
(Cầm
tràng hạt, duyên chín giới. Trên
dưới hợp, nợ từ bi. Muốn
ngộ viên thông, chỉ siêng lễ bái. Nghĩ ngài
nghĩ nhớ, chẳng nghĩ bàn nhất).
23) Tự
tánh quang minh viên măn luân. Nguy nhiên lộ xuất
tử kim thân. Phân minh sắc tướng ly t́nh
vị. Hà tất trùng niêm vật ngoại chân?
(Tự tánh quang minh
viên mãn luân. Tót vời tỏ lộ tử
kim thân. Phân minh sắc tướng ly tình
thức, lẽ chân ngoài vật há cần
bày?)
24) Diệp
tác bồ đoàn, bố tác y. Mặc nhiên phu
tọa đãi quần cơ. Chúng sanh giới
tận, bi vô tận. Bất tự Quán Âm na
đắc tri?
(Lá kết bồ
đoàn, vải làm y. Xếp bằng ngồi
lặng đợi quần cơ. Chúng sanh
giới hết, bi chẳng hết. Chẳng phải
Quán Âm, biết được ư?)
* Hai bài tán
tượng A La Hán
1) Đốt
tai! Giả tự liễu hán, mộng đọa
đại hà, bất đạn khúc quăng thư
cước thục miên, khởi vấn trung lưu, lưỡng
ngạn? Ngộ trước Hy Vận[18]
thiền sư, hựu thiêm nhất trùng công án
(tướng vượt biển ngủ).
(Ôi chao!
Kẻ riêng giải thoát, mộng rớt xuống
sông to. Chẳng sợ co tay, duỗi chân ngủ
kỹ! Há màng giữa dòng, đôi
bờ? Gặp phải thiền sư Hy Vận,
lại thêm một tầng công án!)
2) Chứng
đắc vô ngại giải thoát, khởi úy văn tự
cát đằng? Niêm lai cú cú lậu đậu,
tảo khứ diệc tự phi chân. Bất như
tùy phần tiêu khiển, thanh sơn hà ngại bạch
vân? (tướng
xem kinh).
(Chứng
đắc giải thoát vô ngại, há sợ dây
leo văn tự? Nêu ra từng câu sơ sót. Quét
sạch tợ hồ cũng trật luôn! Chẳng
bằng tùy phần tiêu khiển, non xanh nào
ngại bạch vân?)
* Ba bài tán Bố
Đại ḥa thượng
1) Bất
ly Đâu Suất, huyễn du nhân thế. Bố đại đầu
khai, phùng trường trừu thuế. Tiếu khẩu
ha ha, vô biên hoằng thệ. Lâm hành tự thuyết
tánh danh, cuống sát kỷ đa hậu duệ.
(Chẳng
lìa Đâu Suất, huyễn du cõi đời.
Túi vải mở ra, tùy dịp rút, thâu.
Miệng cười ha hả, vô biên hoằng
thệ. Sắp mất tự nói họ tên,
gạt chết bao nhiêu hậu duệ).
2) Tận
vấn đại trung hà sở hữu,
thùy tri tiếu lý tự tàng đao.
Phù trầm nhân thế vô nhân hiểu, tháp viện sơ
thành thân dĩ đào. Đốt! Bát vạn
tuế thời trùng cử tự,
thử hành đoan đích phó bồng hao.
(Dò
hỏi có gì trong đãy vải, ai hay nụ
cười tự giấu
đao? Cõi đời chìm nổi không ai
biết, tháp viện vừa thành đã
trốn rồi. Ôi! Lúc tám vạn năm nêu lần
nữa, đầu mối dịp này mặc
cỏ lau).
3) Nhất
cá bố đại, thiên như bách giới. Tánh
cụ, tánh tạo, hỗ sanh hỗ tại. Bàn
xuất, bàn nhập. Liễu từ bi trái.
Tiếu kiểm ha ha, nhi đồng đa lại. Túng
linh địch diện bất thức, đồng
đáo Long Hoa tam hội.
(Một
cái túi vải, thiên như bách giới.
Tánh trọn, tánh tạo, sanh tồn lẫn nhau.
Dọn ra, xếp vào. Sạch nợ từ bi.
Mặt cười ha hả, nhiều trẻ bám
dựa. Dẫu gặp mặt chẳng
hề hay biết, ba hội Long Hoa vẫn gặp nhau).
* Ba bài tán
tượng của Hàn Sơn và Thập
Đắc
1) Nhất
Chân thật địa, bất giải bình tức.
Thập tự nhai đầu, quán tác lãng
khách. Quốc Thanh tự lư vô nhân hiểu, cổ
chưởng dương mi, Lư Khâu thái thú[19] hốt
tương truy. Tiềm tung độn tích. Tuy nhiên mạ
phá lão Phong Can, bất miễn lưỡng
xứ giai lang tịch.
(Cõi
thật Nhất Chân, chẳng hiểu nín
thở. Nơi ngã tư đường, quen
đi thơ thẩn. Chùa Quốc Thanh không ai hiểu
rõ, vỗ tay, nhướng mày. Thái thú
Lư Khâu bỗng truy tìm. Ẩn giấu hình
tích. Dẫu chửi cụ Phong Can tan nát,
chẳng khỏi hai chỗ đều bừa
bộn).
2) Thiên
Thai thùy tích thùy năng phát, thượng lại Linh
Sơn lưỡng tác gia, chủ bạn mạc phân tiền
hậu thị, y nhiên nhất hội thuyết liên hoa.
(Thị
hiện Thiên Thai, ai thấu hiểu, hai vị bản
lãnh hội Linh Sơn. Chủ bạn chỉ bày
không sau trước, nghiễm nhiên một hội
nói Liên Hoa).
3) Nhất
xứ, nhất thời đồng phủ chưởng,
đương tri túc hữu đại nhân duyên.
Nguyện vương khởi phục vi cộng chủ, trí
hải an năng xuất Nghĩa Thiên? Nga
nhĩ tàng thân phi ngẫu nhĩ, mạn nhiên nhiêu
thiệt phỉ đồ nhiên. Sanh bình vô hạn
thương tâm cú, tận phó thương mang lạc
nhật biên.
(Một
chỗ, một thời cùng vỗ tay, biết
rằng xưa có đại nhân duyên. Nguyện
vương há trái, cùng thực hiện.
Biển trí sao ra khỏi Nghĩa Thiên? Tùy
tiện lắm mồm chẳng vô ý. Ẩn thân
khoảnh khắc ngẫu nhiên ư? Suốt
đời vô hạn đau lòng thốt, hoàng
hôn phó mặc biển xanh rì).
* Năm bài tán
tượng Đạt Ma đại sư
1) Vấn
cừ hà vãng, bổn tự vô gia. Nhất vi sơ
chiết, độc cổ dĩ oa. Phong điềm lăng
tĩnh tùng quân độ, khả tích nhi tôn tận
đới già.
(Hỏi
Ngài đi về đâu? Vốn tự chẳng
có nhà! Một cành lau vừa bẻ,
trống bôi thuốc độc đã thúc rền.
Gió ngừng, sóng lặng, theo Ngài
vượt, đáng tiếc con cháu
đều mang gông).
2) Nhất
cú an tâm ngữ, vạn kiếp hệ lư quyết.
Chuyển đắc tỵ khổng lai, hư không xuất
tiễn huyết. Quái để Đông Thi cưỡng
hiệu tần, khước linh Tây Tử mông
bất khiết. Hà như phân phó lão Vân Môn, tảo
dữ Cù Đàm đồng đả sát.
(Một câu
nói an tâm, muôn kiếp cọc buộc lừa! Xoay
chuyển cái lỗ mũi, hư không nhỏ máu
tươi! Trách Đông Thi gượng bắt
chước nhăn mày, khiến Tây Tử
phải đeo tiếng xấu. Sao bằng căn
dặn cụ Vân Môn, hãy sớm đánh
giết cùng Cù Đàm).
3) Mộ
địa Tây lai, đại tự phong tiền lăng khởi;
cánh gia chiết vi, bất miễn nhãn hạ mi
thiêm. Nhiêu quân diện bích cửu niên, lạc
đắc lộng xảo thành chuyết. Lại hữu
Lăng Già tứ quyển, thả hỷ
cứu đắc bán biên. Đốt! Phùng nhân
thiết kỵ thác cử.
(Bỗng
từ phương Tây đến, hệt như gió
thổi sóng trào, lại thêm bẻ cành lau,
chẳng khỏi dưới mắt thêm lông
mày! Dẫu Ngài nhìn vách chín năm,
đâm ra biến khéo thành vụng! Nhờ
có bốn quyển Lăng Già, mừng
cứu được một nửa! Ôi!
Gặp người kỵ nhất nói sai).
4) Chấn
Đán Đại Thừa cơ duyên thục, lao
quân viễn tự Tây Thiên Trúc. Tiêu công bất thức chân
đắc tủy, độ giang nghi sát nhân gian bộc. Thần
Quang đoạn tý thỉ tâm an, Lăng Già tứ
quyển khai my mục. Thùy tri pháp lập, tệ
toàn sanh, ngũ gia phân phái không lao lộc. Minh đạo giả
đa, hành giả thiểu. Thuyết đạo
giả đa, minh giả độc. Chỉ
kim giang thượng lô hoa hàn, kham sử Khuất Nguyên
ca thả khốc.
(Cơ duyên
Đại Thừa Trung Hoa chín, nhọc Ngài xa
tận Tây Thiên Trúc. Ông Tiêu[20]
chẳng biết nếm tận tủy, vượt
sông, ngờ giết kẻ tùy tùng. Thần Quang
chặt tay mới an tâm, Lăng Già bốn
quyển mở diện mục. Ai ngờ pháp
lập, tệ liền sanh. Năm tông chia phái uổng
nhọc nhằn. Kẻ hiểu đạo nhiều,
người hành ít. Kẻ
nói đạo nhiều, người hiểu
hiếm! Chỉ nay hoa lau trên sông lạnh, khiến cho
Khuất Nguyên ca rồi khóc).
5) Diện
bích phi do tâm bất an, Lương hoàng bất thức ư
đa đoan. Thần long tình điểm ưng phi
khứ, bả miết đồ bi hành lộ nan.
Hành lộ nan, tử tế khán! Thủ châu
đãi thố tri hà nhật, duyên mộc cầu
ngư bị nhiệt man. Lăo Hồ song bích nhãn, cô quưnh
chiếu nhân hàn.
(Nhìn vách chẳng
vì tâm bất an, vua Lương chẳng hiểu
ý đa đoan. Rồng thần điểm
nhãn, bay đi
mất. Rùa què chỉ thương bò khó
hơn! Đi đường khó, nhìn kỹ
càng. Ôm cây đợi thỏ biết ngày
nào? Leo cây tìm cá bị nóng khổ. Cụ
già người Hồ đôi mắt biếc, trơ
trọi nhìn người lạnh cả lòng).
* Tán thán
tượng Dung thiền sư, thỉ tổ khai
sơn của U Khê
Bằng
dưỡng oai, dao thiên thụy. Lao đạo sư, thiều
thiều chí. Tạt phá tọa quán tâm, hân phiên
Phật danh tự. Hà vật phục hà nhân?
Giả cá nguyên phi nhị. Chân phong Song Kính hàn, huyễn
tích Ngưu Đầu bí. Phụ mễ khởi vân lao, thùy thế
hề quan mỵ? Hoành nhất chi, kim vị trụy, kê lung
nguyệt ảnh phù dung thúy.
(Oai thế
chim
bằng, cõi trời lành. Nhọc
nhằn đạo sư từ xa đến. Chấp
trước phá sạch, ngồi quán tâm,
lật nhào Phật pháp nơi danh tự.
Chính là vật gì, người nào
vậy? Vật ấy vốn sẵn chẳng
phải hai. Song Kính chân phong thổi lạnh buốt,
huyễn tích diệt mất tại Ngưu Đầu.
Đội gạo há bảo mệt, tuôn lệ há vì mơ? Một
cành ngang, nay chưa rớt. Lồng gà, bóng
trăng, phù dung thắm).
* Tán thán
tượng Tứ Minh tôn giả Pháp Trí
đại sư
Giáo
Quán cửu thất trụy, Phật tử năi tái
lai. Pháp giới hà thứ đệ, phiến ngữ
thanh như lôi. Thủ tọa thượng từ tang, huống
phục chư dung tài! B́nh thủy kư quán khẩu, trí thủ
diệc thao hồi. Khiết khương luận Lục
Tức, Ấm vọng khởi trần ai? Lý độc
dữ tánh ác, viên đốn vô nghi sai. Duy tâm diệc duy
sắc, chí lư tùng thử khai. Đại bi truyền
bí ấn, chỉ yếu phẫu mê thai. Nhất hát
ngộ trực viện, cơ dụng phi an bài. Trung
hưng tập đại thành, vạn cổ do kham
hoài.
(Giáo
Quán suy lâu ngày, Phật tử bèn tái
lai. Pháp giới chẳng thứ tự,
đôi lời tiếng sấm rền. Thủ tọa
còn cứng họng, huống hồ lũ kém
tài! Nước bình đã rưới
miệng, đầu trí cũng phục hồi[21].
Bọ hung luận Lục Tức[22],
Ấm vọng bụi phủ ư? Lý độc
và tánh ác, viên đốn chẳng
đoán, ngờ. Duy tâm cũng duy sắc,
lý tột từ đây bày. Đại bi
truyền bí ấn, chỉ yếu[23]
vạch quần mê. Hét to ngộ trực viện[24],
cơ dụng chẳng an bài. Trung hưng kết
đại thành, muôn đời tưởng
nhớ mãi).
* Hai bài tán
tượng Tử Bách tôn giả Đạt
đại sư
1) Phá tận
lưu tục tri kiến, hoát khai tông giáo nhãn
tình. Bất thị môn đ́nh thi thiết, cực lực
tiễu tuyệt thức t́nh. Khế tâm ấn ư Giác
Phạm, cứu ám chứng chi sanh manh. Pháp đạo
thị trọng, nhất thân vi khinh. Thí nghiệm hoàn
trung minh mục địa, thỉ tri bán kệ dĩ công
thành.
(Phá
sạch tri kiến thói tục, mở toang tròng
mắt tông giáo. Chẳng phải lập bày
môn đình, cực lực trừ sạch thức
tình. Khế tâm ấn nơi ngài Giác Phạm,
cứu lũ ám chứng sanh manh. Pháp
đạo là trọng, một thân nhẹ bâng. Ngẫm
kẻ mắt mờ trong cõi thế, mới
biết nửa kệ đã thành công).
2) Thử
thị Tử Bách lăo nhân, Phật pháp bất tác nhân
t́nh. Xiển minh tánh tướng tông chỉ. Thước
phá manh Thiền nhãn tình. Hà tất sư tư
thọ thọ, tự khế Phật, tổ tâm tinh. Hà
tất thượng đường thuyết
pháp, tùy xứ quảng độ quần sanh.
Kham sử ngoan liêm nọa lập, bách thế văn
phong nhược tân.
(Đây
là Tử Bách lăo nhân, Phật pháp chẳng
màng nhân t́nh. Xiển minh tông chỉ tánh
tướng, phá tan con mắt Thiền mù.
Cần gì thầy trò trao nhận, tự
khế tinh tủy Phật, tổ. Cần chi
thượng đường thuyết pháp?
Tùy chốn rộng độ quần sanh. Kham khiến
kẻ tham thành liêm khiết, kham dạy kẻ
lười lập chí hùng. Trăm
đời nghe danh vẫn mới toanh).
* Ba bài tán
tượng Hám Sơn sư ông Thanh đại
sư
1) Hữu
vị thử tượng thái tượng,
thị kiến Lãnh Nam chi tư. Hữu vị
thử tượng bất tượng, thị
kiến Khuông nhạc chi nghi. Dư vị sư Tông bất
Tông, Giáo bất Giáo, chánh dĩ
tượng bất tượng nhi đắc
kỳ bì, thả đạo thị tán y? Thị
hủy y? Đốt! Thả khán nhãn
thượng nhất song mi.
(Có
người bảo tượng quá giống,
đó là thấy tư thái Lãnh Nam. Có
người bảo tượng chẳng
giống. Đó là thấy nghi dung Khuông nhạc. Tôi
nói Sư tông chẳng tông, giáo chẳng
giáo. Chính là do giống và chẳng
giống chỉ đạt được bề
ngoài, hãy nói xem: Tán thán ư? Hủy
báng ư? Ôi! Hãy xem đôi lông mày trên
mắt).
2) Vĩ
mạo phong thần, kiên dũng đại thế. Không
định ngưng thần, quang minh sơ tễ. Ưu tại
pháp môn, họa phước ninh kế. Xiết điện
bôn lôi, Đức Sơn Lâm Tế. Mật dụng
tiềm hành, hoàn trung hải tế. Tri chi giả
vị thị chích thủ kình thiên. Bất tri
giả vị thị anh hùng khi thế. Thùy tri kỳ
cam xử ư phi Tông phi Giáo chi gian, bất
dữ thời lưu đồng thệ.
(Diện
mạo hùng vĩ, thần thái sung mãn. Kiên
cường, dũng mãnh, oai thế lớn lao.
Ngưng thần trong không định, quang minh chiếu
rạng ngời. Lo cho pháp môn, họa
phước đâu sá? Nháng chớp, rền
sấm, Đức Sơn, Lâm Tế. Mật dụng
ngầm hành, mênh mang cõi trần. Người
biết bảo Sư một tay chống trời.
Kẻ chẳng biết nói Sư anh hùng dối
đời. Ai biết Ngài cam ở trong
khoảng chẳng Tông, chẳng Giáo,
chẳng hùa theo thói tệ đương
thời).
3) Sanh
bình bất thức sư ông diện, mộng trung
tiếp dẫn tằng tam kiến. Kim nhật hân chiêm
quyển thượng dung, phảng phất từ bi thân thị
hiện. Vong thân vị pháp cổ lai hy, kinh cức
lâm gian quán huyết chiến. Vạn lư viêm hoang tác chiến
trường, vị thẩm hà nhân truy hậu
điện?
(Cả
đời chưa biết mặt sư ông, trong
mộng ba phen từng tiếp dẫn. Nay vui chiêm
ngưỡng chân dung Ngài, mường
tượng từ bi thị hiện cho. Quên thân
vì pháp xưa nay hiếm, huyết chiến
rừng gai vốn từng quen. Rừng hoang muôn
dặm là chiến trường,
chẳng biết rằng ai nối gót Ngài?)
* Tán dương Tuyết Lăng
đại sư
Tảo
đăng chi ly, bất câu quỹ tắc. Tiêu sái phong lưu, lộ
tỳ súc đức. Phân minh thị Huyền Trang tái lai, chẩm
quái đắc nhục nhãn bất thức?
(Quét
sạch vụn vặt, chẳng câu nệ quy
củ. Tiêu sái, phong lưu, lộ tỳ vết, ẩn
giấu đức. Phân minh là Huyền Trang tái
lai, lạ lùng sao nhục nhãn chẳng
biết?)
* Ba bài tán tượng Vân Thê ḥa
thượng Liên đại sư
1) Oai nhi
bất mănh, hòa nhi bất đồng. Từ tâm tế
vật, phạm hạnh minh công. Truy tung vãng triết,
khải địch quần mông. Di Đà nhất
cú, hoành cắng thụ sung. Thiền quan bả định,
vĩnh trấn ma phong. Ngã lai lễ tháp, hoảng đổ
di dung. Di! Tư thục vị tu ngôn tự pháp, liêu
tương tự đức phụ liên tông.
(Có oai,
chẳng hung hăng, hòa quang nhưng bất
đồng. Từ tâm cứu chúng sanh, phạm
hạnh công rạng ngời. Noi dấu bậc tiên
triết, khơi gợi kẻ mê mờ. Một câu
Di Đà, ngang thường hằng, dọc
đầy ắp. Đặt vững ải
Thiền, mãi trấn ma tà. Con đến lễ
tháp, được ngắm di dung. Ôi! Học
theo di trước chưa dám nói chính mình nối
pháp, chỉ đành tiếp nối đức hòng
giúp rập Liên tông).
2) Thế
cạnh quư kỳ đặc, Sư chuyên thủ b́nh
thường. Nhân tận thượng cao tuấn, Sư
độc tồn khiêm quang. Toàn vạn pháp nhi chỉ quy Tịnh
Độ, mẫn ngũ trược nhi quảng
tác tân lương. Văn từ phong hề khoan bỉ
đôn bạc, tích thiện hóa hề nguyên viễn lưu
trường. Ngưỡng di quy dĩ tư thục,
quý tự đức chi vị hoàng.
(Đời
tranh chuộng kỳ đặc, Sư chuyên giữ
bình thường. Ai nấy chuộng cao vót,
riêng Sư giữ khiêm quang. Xoay muôn pháp chỉ quy
Tịnh Độ, thương ngũ trược,
rộng làm bến, cầu. Nghe phong thái từ
bi khoan dung, thẹn mình thiếu chuyên dốc. Tích
chứa điều thiện để giáo hóa,
nguồn xa, dòng dài. Con kính ngưỡng di
quy, noi theo tu
luyện, thẹn chính mình đức hạnh
chẳng vẹn toàn).
3) Thử
thị Vân Thê lăo hán, đỗ lý tối đa tư
toán. Đế quán mạt thế pháp môn, bách
quái thiên kỳ một cán. Nhiêu tha phạm
ngữ, hoa ngôn, bất xuất Oai Âm na bạn.
Sở dĩ toàn chuyển vạn lưu,
trực chỉ Tây Phương bỉ ngạn. Chỉ
đồ cước để trước thật,
hà tất môn đình hảo khán! Bát
thập tứ dư niên ám thất đăng,
văn phong do sử ngoan phu đạn.
(Đây
là ông cụ Vân Thê. Bụng đầy ắp
những điều toan tính. Quán kỹ
pháp môn đời mạt, trăm ngàn kỳ
quái chẳng hành. Dẫu cho tiếng Phạn,
tiếng Hoa, chẳng vượt ngoài Oai Âm
Vương được! Do vậy, xoay chuyển muôn
dòng, chỉ thẳng bờ kia Tây Phương.
Chỉ mong đặt vững gót chân, há
màng môn đình dễ ngắm! Đèn soi
phòng tối tám mươi bốn năm hơn,
nghe phong cách Ngài vẫn khiến kẻ ngu run
sợ).
* Hai bài tán
dương tượng Bác Sơn Vô Dị sư
bá
1) Mạo
vĩ thần phong, tâm từ, thể
kính. Hướng Không Quán dĩ nhập môn, tùng Thọ
Xương nhi đoạn mạng. Kiên tŕ bất
khẳng gia phong, thống tẩy kim thời
Thiền bệnh. Kư tồn triệt khổn bà tâm, hà
tất đơn đề chánh lệnh. Chỉ hiềm
nhất cú cát đằng khoa, lưu dữ nhi
tôn tác thoại bính. Một tung tích xứ mạc tàng
thân, lăo phụ y nhiên do thán kính.
(Diện
mạo khôi vĩ, thần thái sung mãn. Tâm
từ, thể cứng cỏi. Dùng Không Quán
để nhập môn. Do Thọ Xương mà
đoạn mạng. Giữ vững,
chẳng để mất gia phong. Thống thiết
gột trừ Thiền bệnh đương
thời. Ôm lòng tha thiết thấu triệt, há
cần phải chỉ nêu chánh lệnh? Chỉ hiềm
một câu “ổ dây leo”, lưu lại làm thoại
đầu cho con cháu. Đừng ẩn thân nơi
chỗ không dấu vết, bà già vẫn
đối trước gương than vãn).
2) Thử
thị Bác Sơn lăo hán, đỗ lý tuyệt vô
tư toán, trục xuất vơng lượng sơn tinh,
tống dữ quần ma tác bạn. Tuy nhiên vị
đắc nhi tôn, khước thắng chư
phương tạp loạn. Di! Bả định lao quan
bất phóng nhân. Chí kim văn giả do kinh
đạn.
(Đây
là cụ già Bác Sơn, bụng trọn
chẳng suy tính. Trục xuất võng
lượng, sơn tinh, giao cho lũ ma làm bạn.
Tuy chưa có được cháu con, đã
hơn hẳn các phương tạp loạn. Ôi!
Đặt vững ải kiên cố, chẳng thả
người. Đến nay người nghe vẫn
kinh sợ).
* Tán dương
tượng huynh Linh Ẩn
Tịnh
Minh am lư, đả thất bán biên tỵ khổng, do vị
toàn lộ bại khuyết. Thai nhạc thư trung, mô
trước nhất cá xứng trùy,
đáo để ngạnh như sanh thiết. Ha ha ha,
hội dã ma? Đồng điều sanh bất đồng
điều tử, mạc quái Nham Đầu khẩu
thái đa!
(Trong am Tịnh
Minh, đánh mất nửa bên lỗ mũi,
vẫn chưa lộ trọn bại khuyết. Nơi
sách vở non Thiên Thai, mò trúng một
quả cân, rốt cuộc cứng như sắt
nguội! Ha, ha, ha, hiểu được chăng?
Cùng cành sanh, bất cùng cành chết.
Đừng trách Nham Đầu nói quá
nhiều!)
* Tán dương
tượng Tụng Trửu luật sư
Lãnh
diện, nhiệt tràng, đồng đầu, thiết
ngạch. Bất tuần thời t́nh, chuyên đồ phá
cách. Thiệp thủy đăng sơn. Thiền quan,
giảng tịch, thắng hữu lương
bằng. Phong triêu, nguyệt tịch. Thường biến
Thần Nông bách thảo hoàn, Di Đà nhất cú thành
an trạch.
(Mặt
lạnh, ruột nóng. Đầu đồng, trán
sắt. Chẳng theo tình kiến
đương thời, chuyên theo lối
vượt ngoài khuôn khổ! Vượt sông,
trèo núi. Thiền quan, giảng tịch, bạn
bè tốt đẹp. Sáng gió, đêm trăng.
Nếm trọn thuốc bách thảo của Thần
Nông. Một câu Di Đà thành nơi an trụ).
* Hai bài tán
dương tượng Tuyết Hàng pháp
chủ
1) Nhất thế lão
bà tâm thiết, vị miễn lộng xảo thành chuyết.
Lâm hành ổn đạo liên cù, dã thị kim
thời hào kiệt. Tây Phương công cứ hiện
tồn, hà tất Phong Can nhiêu thiệt?
(Suốt đời tâm
đau đáu thiết tha, chưa khỏi biến
khéo thành vụng. Ra đi bước
vững trên đường sen, cũng là bậc
đương thời hào kiệt! Tây Phương
công cứ nay còn đó, cần chi Phong Can phải lắm
lời?)
2) Hảo
cá lanh lợi hán tử, quán yếu tha nê đới thủy.
Tuy nhiên măn địa nhi tôn, vị thẩm a thùy đắc
tủy? Lâm chung bất vong cựu giao, thiên lý
hướng dư cầu hủy! Sách tánh
tái mạ nhất đốn. Quả nhiên thị
Thích Ca Văn Phật đích nô bộc, tỳ
sử.
(Đúng
là một vị nam nhân lanh lợi, quen thói
vẫy bùn vào nước. Dẫu cho con
cháu khắp nơi, chẳng biết ai là
người tiếp nhận tinh tủy? Lâm chung
chẳng quên bạn cũ, ngàn dặm
hướng về tôi cầu hủy[25].
Thẳng thừng lại trách mắng
một trận. Quả nhiên là nô bộc, tôi tớ
của Thích Ca Văn Phật).
* Tán dương
tượng thiền sư Giám Không Ninh
Cốt lân
tuân, diện lãnh lạc. Nghiêm luật kiểm, trân nhiên
nặc. Công thành bất cư, nhân quả bất
thác. Di! Lục thập niên lai bất huyễn kỳ,
lâm hành lạc đắc tâm vô tạc.
(Gầy
trơ xương, mặt lạnh lùng. Giữ
nghiêm giới luật, quý lời hứa.
Công thành chẳng kể công, nhân quả
chẳng sai. Ôi! Sáu mươi năm qua
chẳng phô
chút lạ kỳ, lâm hành mừng
được tâm không thẹn).
* Tán dương
tượng Diễn Như thiền huynh
Hân hân
quyết dung, khiêm khiêm quyết đức. Vô sự oanh tâm,
hữu hoài nghệ cực. Ấp xuân phong hề ẩm
hòa, lịch tuế hàn hề tự đắc. Thời
nhân thị chân thời nhân, Di Lặc thị chân Di
Lặc.
(Vẻ
mặt hân hoan, đức hạnh khiêm cung. Không chuyện bận
lòng, hoài bão tột bậc. Hòa hoãn
tựa gió Xuân, an vui trải tiết lạnh.
Thời nhân: Chân thời nhân, Di Lặc: Chân Di
Lặc).
* Tán dương
tượng Giác Không lão tôn túc
Trịch
kích đầu qua lễ giác vương, hiến hoa
nham bạn lộ thần quang. Giới hương độc
thiệu ngũ vân sắc, Phật hiệu thiên tông thập
ức bang. Trấn nhật bồ đoàn tiêu khách mộng, bán
sanh nhai hác tuyệt hành tàng. Trần Như tự tích
xưng tăng thủ, bách thế do văn mi ảnh trường.
(Quăng
kích, buông mâu lễ giác vương, dâng hoa bên
đá lộ thần quang. Giới hương riêng
nối mây năm sắc, mười ức
cõi rền tiếng Phật danh. Suốt buổi bồ
đoàn tiêu khách mộng, nửa đời
hang suối tuyệt hành tàng. Trần Như xưa
gọi là tăng thủ, trăm thuở còn
nghe bóng mày dài[26]).
* Tán dương
tượng Tuyên Thánh (Khổng
Tử)
Không không
vô tri, tri ngã giả thiên. Thánh nhân khởi cảm,
bất nhị, bất thiên. Nhất dĩ quán chi, sơ
tâm phương tiện. Thiên hạ quy nhân, tối hậu
huyền thuyên. Tích tập đế vương chi hậu,
bổn khai giác lộ chi tiên. Ký vi ngôn ư Dịch
tượng, thôi đại thánh ư Tây Càn.
Túng vô Đại Quán Đảnh kinh chi ký, diệc
khả tín vi Phổ Môn thị hiện chi hiền.
(Rỗng
không chẳng biết, trời hiểu biết ta.
Thánh nhân há dám, chẳng tái phạm, chẳng
trút giận. Một đạo xuyên suốt, sơ tâm
phương tiện. Thiên hạ quy vào lòng nhân,
lời diệu huyền tối hậu. Tích là
học theo đế vương, Bổn là
người khai đường giác đầu
tiên. Gởi lời nhỏ nhiệm nơi Dịch
tượng, suy ra đại thánh chốn Tây
Càn. Dẫu chẳng có lời thọ
ký từ kinh Đại Quán Đảnh,
cũng vẫn đáng tin là hiền nhân Phổ Môn
thị hiện).
* Tán dương
tượng Triệu Thập Ngũ
Thị vật
chi sanh, do kỷ chi sanh; thị nhân chi ách, do kỷ chi ách. Chỉ
thử “dân bào, vật dữ” tâm trường, tiện
thị đại từ đại bi huyết mạch.
Dục tri bất nhị pháp môn, cánh thọ sơn
tăng nhất quặc. Khởi bất kiến bác
thí tế chúng, Nghiêu Thuấn do bệnh. Bồ
Đề sơ phát, sanh giới tư tận. Hội đắc
cá điểm huyền quan, tiện thị Duy Ma thoại
bính. Đốt! Giác lộ bổn lai thường
thản thản, mạc nhận thiên phong tác chánh lệnh.
(Coi dân sanh
như chính ta sanh. Coi người mắc tai
ách, như chính mình bị tai ách. Chỉ do
tâm can “dân là đồng bào, mọi loài
giống như ta” ấy chính là huyết
mạch đại từ đại bi. Muốn
biết pháp môn bất nhị, liền lãnh sơn
tăng một tát. Há chẳng thấy, rộng
thí chúng sanh, Nghiêu Thuấn còn khuyết
điểm. Bồ Đề vừa phát, chúng
sanh giới bèn tận. Hiểu được
cái ải u huyền ấy, bèn là câu nói
của Duy Ma. Ôi! Nẻo giác vốn thường
thẳng thớm, đừng nghĩ cơ phong
là chánh lệnh).
* Tán dương chuyện
vãng sanh của Trầm mẫu Kim thái nhụ nhân (có
lời dẫn khởi)
Một
niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta
vốn có cùng một Thể với A Di
Đà Phật, nhưng hiếm ai có thể
thẳng thừng biết quay về. Chẳng
có chi khác! Do chưa trọn đủ ba
điều Tín, Nguyện, Hạnh vậy. Tôi
từng nói: - Tín như tướng
lãnh, Nguyện như mưu lược, Hạnh như
quân lữ. Có tướng, có mưu, [dẫu
quân đội] già yếu vẫn có thể giành
phần thắng. Nếu chẳng có
tướng và mưu, dẫu [quân đội]
dũng mãnh, tráng kiện, cũng tan
vỡ. Vì thế, tín nên truyền, nguyện nên
xét, hạnh nên không gì chẳng thâu. Đã
chuyên lại còn suy xét, cho nên viên đốn,
thẳng chóng, cao tột, không gì chẳng
gồm thâu. Vì
thế, độ trọn khắp ba căn, rộng
tột bậc! Đấy là lý do
Niệm Phật tam-muội là hoành siêu, thù
thắng, lạ lùng. Xưa nay, những vị
thuộc Tông hay Giáo hoặc coi Niệm Phật
là rất dễ do tùy thuận căn cơ
trung và hạ, hoặc ngỡ niệm Phật quá
khó, vì trai giới cần phải toàn
vẹn. Hễ [nghĩ là] rất dễ thì
chẳng cao, quá khó thì chẳng rộng;
há gọi là Bảo Vương tam-muội ư?
Nay thấy thái quân[27]
ngồi qua đời, đúng là có thể
nhanh chóng giải trừ hai mối nghi. Chắp
tay tán rằng:
- Nhân tâm,
Phật tâm, bổn tự vô nhị. Nhất
niệm tương ứng, dục nhân nhân chí.
Trác tai Trầm mẫu. Tín thử thật
nghĩa, thánh hiệu nam nam. Nhật thời
bất ly, đản trì thập trai, từ
tường khải đễ, hãn độ
nộ dung. Đa thiệm huệ thời. Bát
thập lục niên, Tịnh nghiệp nãi túy.
Tập ẩm hoan ngu, đại tỉnh như túy.
Mộ trực Tây quy, tọa thoát nhược
hý. Dục hiển chân nhân, thân hương biểu
thụy. Tín hỹ cao viên, thành nhiên quảng
bị, phỉ dị phỉ nan, thiên thu
vĩnh xí.
(Tâm người, tâm
Phật, vốn tự chẳng hai. Một niệm
tương ứng, muốn lòng nhân, nhân liền tới.
Trác tuyệt thay Trầm mẫu! Tin thật nghĩa
này, thánh hiệu rầm rì, suốt ngày
chẳng lìa. Chỉ trì Thập Trai, từ
bi, hòa mục, hiếm thấy vẻ giận,
sẵn nhiều bố thí. Tám mươi
sáu năm, Tịnh nghiệp bèn thuần. Hễ
nhóm họp ăn uống, vui chơi, dẫu hết
sức tỉnh táo mà làm như say
khướt. Thẳng thừng về Tây,
tọa thoát như bỡn. Muốn hiển lộ cái nhân
chân thật, thân tỏa mùi thơm, biểu thị
điềm lành. Đúng là cao, tròn,
thật là rộng khắp. Chẳng dễ,
chẳng khó, ngàn đời mãi
ngóng trông).
* Tán thán bức
vẽ Trầm Dực Vi ngồi xếp bằng
Thất
niên thủ thổ, dũ sát dũ từ. Nhị
tải tỉnh phương, ân uy tịnh thí. Triều
trung chánh lập, gian phách tiềm mi. Lâm hạ phảng
dương, tri hùng thủ thư. Hiền mẫu
niệm Phật, đoan tọa Tây trì. Thuần
hiếu kế đức, thủ hữu thân sư,
Quân bất kiến: Quân gia thái quân thân thị hiện,
viên dung trực tiệt siêu phương tiện.
Giả nhiêu thấu tận thiên thất quan. Ngũ
bách nguyên lai chỉ bán xuyến. Trực hạ
Văn Huân
mạc cánh nghi. Trường An khởi ly
Hàm Nguyên điện?
(Bảy năm giữ
đất, càng giết, càng từ. Hai năm tuần
tra bốn phương, ân, uy cùng thí.
Đứng giữa triều đình, kẻ gian
lẩn tránh. Quanh quẩn trong rừng, ẩn
giấu bản lãnh. Mẹ hiền niệm Phật,
ngồi ngay về Tây. Thuần hiếu nối
đức, trọng bạn, thân thầy. Ông
chẳng thấy: Thái quân trong nhà ông
đích thân thị hiện, phương tiện viên
dung thẳng chóng siêu việt. Giả sử
thấu tận một ngàn bảy ải, năm
trăm vốn chỉ nửa xâu[28].
Thẳng thừng Văn Huân đừng nghi
nữa, Trường An há lìa điện
Hàm Nguyên?)
* Tán thán
tượng cư sĩ Đàm Tảo Am
Đầu
đảnh thanh thiên, cước đạp thật
địa. Vong thực, vong ưu, cùng niên cánh
tuế. Độc tận thế gian hảo thư,
thức tận cổ kim kỳ tự. Bất
khẳng phân Phật, phân Nho, hà tất vi Tăng, vi
lại! Khổng Mạnh xưng chi vi xuất thế
tử tôn, Phật, tổ hoán chi vi tại gia
pháp duệ. Đơn đắc Hám ông thọ
ký thâm, tất cánh đồng quy Đệ
Nhất Nghĩa.
(Đầu đội
trời xanh, chân giẫm đất thật. Quên ăn,
quên lo, suốt năm trọn tháng. Đọc trọn
sách hay trong thế gian, biết hết xưa nay
chữ lạ. Chẳng chịu phân cách
Phật, nho, việc gì phải là Tăng hay quan?
Khổng Mạnh gọi “cháu con xuất thế”.
Phật tổ bảo “pháp duệ tại gia”. Chỉ
riêng được ngài Hám Sơn thọ
ký sâu xa. Rốt ráo cùng về Đệ
Nhất Nghĩa).
* Tán thán
tượng cư sĩ Trần Mân Chiêu
Nguyện
quảng bi thâm, tâm linh ngữ khoát. Dĩ pháp môn chi
ưu vi ưu, dĩ quần sanh chi thoát vi thoát. Tận vị
lai tế, thệ cư học địa. Dao thừa Thọ
Xương, bất khẳng nhị tự chân
chánh y bát, kiến nhân nhất vị hiệp
chưởng đê đầu. Tiện thị kim
thời Thường Bất Khinh Bồ Tát.
(Nguyện
rộng, bi sâu. Tâm linh thông, lời thông suốt. Lấy
nỗi lo pháp môn làm nỗi lo của chính
mình, coi chúng sanh giải thoát như chính
mình giải thoát. Tột đời vị lai,
thề thuộc địa vị Hữu Học.
Học theo ngài Thọ Xương từ xa,
chẳng chịu gánh vác hai chữ “y
bát” thật sự. Thấy ai cũng một
mực chắp tay, cúi đầu. Chính
là Thường Bất Khinh Bồ Tát hiện
thời).
* Tán thán
tượng Trương Huyền Siêu
Phân tông
phán giáo lưỡng vô nhai, Ngô Việt nguyên lai thị
nhất gia. Dục thức thanh tiền cú hậu
sự. Niên niên đạp tuyết khán mai hoa.
(Chia tông, phán giáo
chẳng hai đằng. Ngô, Việt xưa nay
vẫn một nhà. Muốn biết các chuyện
nơi văn tự, hằng năm giẫm
tuyết ngắm hoa mai).
* Tán thán tháp
Phật Thuyết A Di Đà Kinh
Khể
thủ A Di Đà Như Lai, nhiếp thọ chúng sanh bất
tư nghị. Khể thủ quảng trường thiệt
tướng kinh, chư Phật hộ niệm bất
tư nghị. Khể thủ chấp tŕ danh hiệu nhân,
kính đăng bất thoái bất tư nghị.
Ngã tằng phát bất tư nghị nguyện, dục dĩ
tôn kinh tác bảo tháp, ỷ hồi tuyền phục diệu
trang nghiêm, linh kiến văn giả giai hoan duyệt. Thiện
tai Thiên Lý Trịnh cư sĩ, tiên đắc
ngã tâm sở dục vi. Xảo tư diệu
bút đoạt thiên công. Phạn văn dĩ lý vô doanh khuy.
Ngã kim hiệp chưởng đảnh lễ tháp,
nguyện tháp phổ phóng quang vô lượng, Ngã
kim hiệp chưởng đảnh lễ kinh.
Nguyện kinh trụ thế thọ vô lượng. Kinh
điển sở tại tức thị tháp.
Tháp ảnh sở tại tức thị kinh. Nhược
nhân cụ hữu quảng đại tín, thỉ
hoạch đảnh lễ vô dư tình.
Nhược nhân đắc ngộ thử kinh
tháp. Tất cánh đương đắc quảng
đại tín. Thị cố ngã kim tác tán
tụng, quảng bất tư nghị Phật huệ
mạng.
(Đảnh
lễ A Di Đà Như Lai, nhiếp thọ chúng sanh chẳng
nghĩ bàn. Đảnh lễ kinh tướng
lưỡi rộng dài, chư Phật hộ
niệm chẳng nghĩ bàn. Đảnh lễ
người chấp trì danh hiệu, chóng lên
Bất Thoái chẳng nghĩ bàn. Con
từng phát nguyện chẳng nghĩ bàn,
muốn dùng tôn kinh tạo tháp báu, xoay vòng
chuyển biến diệu trang nghiêm, khiến
người thấy nghe đều vui sướng.
Lành thay, cư sĩ Trịnh Thiên Lý, làm
trước chuyện tâm con muốn làm. Khéo
nghĩ, khéo vẽ hơn thợ trời.
Phạn văn xếp vòng chẳng thừa
thiếu. Con nay chắp tay đảnh lễ tháp, nguyện
tháp phóng quang vô lượng khắp. Con nay
chắp tay đảnh lễ kinh, nguyện kinh trụ
thế thọ vô lượng. Kinh điển nơi
đâu, đấy là tháp. Bóng tháp nơi
đâu chính là kinh. Nếu ai có lòng tin
rộng lớn, mới được
đảnh lễ chẳng sót thừa. Nếu
ai được gặp kinh tháp này,
rốt ráo sẽ đắc tín rộng
lớn. Do vậy, con nay soạn tán tụng, huệ
mạng Phật rộng chẳng nghĩ bàn).
* Hai bài tán kinh Hoa
Nghiêm được chép bằng máu
1) Pháp giới
vô ngại, thù văn dị phái, thượng trung hạ tọa,
đồng điều cộng hội. Chánh nhãn
quán lai, viên dung tự tại, tùy triêm nhất trích,
thương hải vi ải. Kỳ tai khai sĩ, phát hy
hữu tâm, thích huyết thư tả, tự tự
tinh kim. Phóng hồng hào quang, chiếu vi trần quốc, ngộ
ảnh mông trần, đốn chứng diệu đức
(Tỉnh Trung khai sĩ)
(Pháp
giới vô ngại, khác văn, khác phái.
Thượng, trung, hạ tòa, cùng nhành,
cùng hội. Chánh nhãn nhìn xem, viên dung
tự tại. Hễ thấm một giọt, biển
thẳm thành hẹp. Lạ thay khai sĩ, phát
tâm hiếm có, trích máu biên chép, mỗi
chữ vàng ròng. Phóng hào quang
đỏ, chiếu vi trần cõi. Gặp ảnh,
dính trần, mau chứng đức mầu).
2) Thích
huyết thư thành pháp giới kinh. Triển
thời vô tự bất quang minh. Đạo quy Vô
Lượng Quang vương sát. Bất đọa
cuồng Thiền thử tức minh (Đạm
Cư đại đức).
(Trích
máu chép thành kinh pháp giới. Khi
mở, mỗi chữ tỏa quang minh. Dẫn
về Vô Lượng Quang Vương quốc.
Chẳng đọa cuồng Thiền, nói lý
suông).
* Tán thán Hàm Sơ
khai sĩ trì kinh Pháp Hoa
Giới
nhĩ nhất tâm, tam thiên tánh tướng.
Quyền, Thật đồng quy, viên minh tuyệt chướng.
Văn tự ly vi, thố giác trụ trượng. Tức
thử ly thử, y nhiên lưỡng dạng.
Năng thí, năng khai, tích niên điếm trướng.
Nhận thủ a da, đương nhân bất nhượng.
Thập diệu lâm ly, kim cổ như tư.
Nhược Bổn, nhược Tích, quán
tâm tiện tri. Tam pháp dung triệt, lục trần vô biệt.
Giáo hành lý kinh, đồng luân cộng triệt.
Trác tai khai sĩ, tâm giải khẩu tŕ. Đề hồ
nhuận khát, cam lộ liệu cơ. Thất vạn dư
ngôn, ngôn ngôn Thật Tướng. Nhất nhậm tư
lượng, mi nguyên nhãn thượng. Phạm âm
thanh nhă, pháp giới đồng huân. Nhất tự nhiễm
thức, pháp vương chi côn.
(Một tâm
nhỏ bé, ba ngàn tánh tướng.
Quyền, Thật đồng quy, tròn sáng,
bặt chướng. Văn tự lìa
nhỏ nhiệm, sừng thỏ làm gậy
chống. Từ đây mà lìa đây, rành
rành là hai thứ. Hay thí, hay khai, tính
sổ bao năm. Đã nhận biết cha mình,
gặp điều nhân chẳng nhường.
Thập diệu đầm đìa, xưa nay
đều như vậy. Dù Bổn hay Tích, quán
tâm liền biết. Ba pháp dung thông thấu triệt, sáu
trần chẳng khác biệt. Kinh giáo, hành,
lý, cùng theo một đường. Trác
tuyệt thay Khai Sĩ! Tâm hiểu, miệng trì.
Đề hồ thấm nhuần khỏi khát, cam lộ
chữa đói lòng. Hơn bảy vạn
chữ, mỗi chữ đều là Thật
Tướng. Mặc cho suy lường, lông
mày vốn sẵn trên mắt. Phạm âm thanh
nhă, pháp giới cùng được huân. Một
chữ nhiễm thần thức, con cháu
đấng pháp vương).
* Tán thán Vũ
Bạch khai sĩ chép kinh Hoa Nghiêm bằng máu (có
dẫn khởi)
Khai sĩ dùng
máu chép kinh vương này, thoạt đầu
sợ đại sự khó thành, bèn
trước hết đốt một trăm lẻ
tám lọn hương để cầu gia bị.
Chỉ hai năm bèn hoàn thành, chẳng
chú trọng Thế Đế, làm đạo
tràng viên mãn, riêng bế quan quán
tưởng. Liền đốt ba ngón tay, cúng
trọn khắp pháp giới Tam Bảo. Ôi!
Tận lực hành điều thiện nhiệm
mầu thế gian và xuất thế gian, chẳng
nêu bày tên họ. Đó thật sự là
hạnh Phổ Hiền thù thắng đấy
chăng? Ngẫu Ích Trí Húc thâm tâm tùy
hỷ, chắp tay tán rằng:
- Vi thiện
diệu tại mật, hữu đức diệu tại
khiêm. Dĩ thử nghiêm tánh hải, dĩ
thử ly thế gian. Tự tự Như Lai huyết,
bút bút Hoa Tạng tuyền. Tam Thiền do khả hoại, vạn
đức chung bất quyên. Tương tương bảo
liên độ, tái thính Long Hoa thuyên.
(Làm
lành, diệu tại kín. Có đức,
diệu tại khiêm. Dùng trang nghiêm biển tánh,
dùng đấy lìa thế gian. Từng
chữ máu Như Lai, mỗi bút suối Hoa
Tạng. Trời Tam Thiền còn hoại, muôn
đức trọn chẳng uổng. Thênh thang
cõi sen báu, lại nghe pháp Long Hoa).
* Tán thán Hằng
Sanh pháp chủ chép kinh Pháp Hoa bằng
máu (kèm lời
tựa)
Trong
giáo pháp suốt một đời của Như
Lai, chỉ có Pháp Hoa là lời diễn
nói rốt ráo, do kinh nêu thẳng thừng ý
lập giáo, không chỉ biện thuyết cương
mục của pháp môn. Do vậy, hiểu Pháp Hoa
thì giáo pháp suốt một đời
đức Phật đều hiểu. Mười
phương ba đời hết thảy Quyền,
Thật, Bổn, Tích đều hiểu rõ, như
vậy thì tâm tánh trong một niệm nhỏ
bé hiện tiền sẽ đều rốt ráo
hiểu rõ. Trí Giả đại sư đích thân
thấy một hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan; đúng
là cảnh giới hiện lượng nơi
tự tâm. Người cầu Pháp Hoa trong
cõi đời đã chẳng biết
cầu nơi tự tâm. Người cầu
tự tâm lại chẳng biết cầu nơi
Pháp Hoa. Tông và Thuyết tách rời, tìm
cầu Giáo lẫn Quán đều tốt
đẹp, giải và hạnh hợp nhất
mà xả Thiên Thai sẽ quy vào đâu? Độn
căn đời Mạt chướng sâu, huệ
cạn, đối với tam đại, ngũ
tiểu (ba bộ chú giải lớn và năm
bộ chú giải nhỏ trong tông Thiên Thai), không chỉ
nhìn biển cả mà thở than, lại
còn xem như vật lạ! Diệu Phong đại
sư chẳng bị mê muội vì các
lời lẽ eo xèo, tận lực hoằng
dương Nhất Thật, đúng như “chim
phượng lẻ loi hót điều hay”, cho
đến U Khê đại sư đạo ấy
mới toàn vẹn. Chánh pháp khó
được nghe lắm thay. Hằng công
ở Tuy Lý là con của ngài Đồng
Khê, cháu của ngài U Khê, ăn uống đạm
bạc mười năm, bế quan một năm
rưỡi, trích máu đầu lưỡi,
chép bảy quyển kinh, chỉ một trăm ngày
hoàn thành. Ôi! Khó hành mà có thể
hành, đúng là
diệu hạnh chẳng thể nghĩ bàn!
Đọc duyên khởi ấy, hồi hướng, phát
nguyện, mỗi chữ tương ứng
với Bồ Đề tâm, hãy nên biết cũng
là mỗi niệm ắt tương ứng
với cảnh chẳng thể nghĩ bàn.
Chắp tay tán rằng:
- Khể
thủ diệu kinh vương, Thật Tướng bất
tư nghị. Quyền Thật dữ Bổn Tích, cứu
cánh duy nhất sự. Khể thủ Thiên Thai sư, Đại
Tô phát diệu ngộ. Ngũ huyền dữ tứ thích,
khuếch triệt Bồ Đề lộ. Ước giáo, giản
thiên Quyền, quán tâm dung khiếp bố. Cảo
nhật lệ trung thiên, vạn lưu quy bổn nguyên.
Sơn Ngoại đồ nghi úy, thùy tri Long Thọ
Thiền. Phật mạng tùng tư tục, tâm ấn tùng
tư truyền. Cố ngã Hằng khai sĩ, phát
tâm đồng Phổ Hiền. Thân mạng thệ bất
tích, đại nguyện kim cang kiên. Thất trục,
thất vạn tự, tự tự giai kim liên. Phật
thân toàn tại trung, văn kiến kết diệu
duyên. Bất ly thử đương xứ, nhân măn
quả diệc viên.
(Kính
lạy diệu kinh vương, Thật Tướng
chẳng nghĩ bàn. Quyền Thật và
Bổn Tích, rốt ráo chỉ một chuyện.
Đảnh lễ Thiên Thai sư, Đại Tô khởi
diệu ngộ. Ngũ huyền và tứ thích,
thấu suốt đường Bồ Đề. Ước
giáo, loại Thiên, Quyền. Quán tâm khá khiếp
hãi! Mặt trời chói giữa
vời, muôn dòng về nguồn cội. Sơn Ngoại
chỉ nghi sợ, ai biết Long Thọ Thiền.
Phật mạng từ đây nối, tâm ấn
từ đây truyền. Vì thế, Hằng khai
sĩ, phát tâm giống Phổ Hiền. Thân mạng thề
chẳng tiếc, đại nguyện cứng kim
cang. Bảy quyển, bảy vạn chữ. Mỗi
chữ như sen vàng. Phật thân đều trong
đó; nghe, thấy kết diệu duyên. Chẳng
lìa ngay nơi này, nhân vẹn quả cũng
tròn).
* Tán thán đồ
hình Phổ Quán của ông Trác Vô
Lượng
Hội y
báo vi liên hoa, nhiếp tam thân vi tự kỷ. Phi dĩ
thân vãng bỉ phương, Phi di liên hoa đáo
thử. Dục thức cá trung tiêu tức, vấn thủ
Vô Lượng Trác tử.
(Hợp y báo
thành hoa sen, nhiếp ba thân làm chính mình.
Chẳng đem thân đến nơi đó,
chẳng dời hoa sen đến chỗ này.
Muốn biết tin tức ấy, hỏi ông Trác Vô
Lượng).
* Tán thán Tây Trai
Tịnh Độ Thi
Khể
thủ Sở Thạch đại đạo sư, tức
thị A Di Đà chánh giác. Dĩ tư vi diệu
thắng già-đà, linh ngã độc tụng đương
tham học. Nhất độc, nhị độc, trần
niệm tiêu. Tam độc, tứ độc, nhiễm
t́nh bạc. Độc chí thập bách thiên vạn
biến, thử thân dĩ hướng liên hoa
thác. Diệc nguyện hậu lai độc tụng
giả, đồng tử tất cánh sanh Cực
Lạc. Hoàn nhiếp vô biên niệm Phật nhân, vĩnh
phá Sự Lý phân trương ác. Đồng Cư
Tịnh cố tứ câu tịnh. Viên dung trực tiệp
siêu phương lược.
(Đảnh
lễ Sở Thạch đại đạo sư,
chính là A Di Đà chánh giác. Dùng
kệ thù thắng, nhiệm mầu này,
khiến tôi đọc tụng sẽ tham học. Một
đọc, hai đọc, trần niệm tiêu. Ba
đọc, bốn đọc, nhiễm tình mỏng.
Đọc tới mười, trăm, ngàn,
vạn lượt, thân này đã gởi
tại hoa sen. Cũng nguyện người đọc
tụng mai sau, cùng Ngài rốt ráo sanh
Cực Lạc. Lại nhiếp vô biên người
niệm Phật. Mãi phá điều ác tách
Sự, Lý. Cõi Đồng Cư tịnh,
bốn cõi tịnh. Viên dung, thẳng chóng,
vượt ngằn mé).
* Tán thán
tượng mười tám vị tổ và
giới thiệu sơ lược (có
lời dẫn khởi)
Một ngọn tâm đăng
của đức Phật chia thành trăm ngàn
ngọn; nếu chiếu thấu kẻ trong đêm dài
thì đều là Phật quang. Chẳng
nhờ vào ánh sáng ấy để giác
chính mình lẫn người khác, sẽ
đối với đèn mà ngang ngược
phân biệt đây, kia, ngu muội lắm thay! Phàm
ngọn lửa được truyền, tuy
chẳng biết cùng tận, nhưng suy đến
cội nguồn ban đầu, mỗi đằng
đều được truyền thừa. Phải nên biết [dẫu
dùng lửa] để nấu ăn hay trừ
tối, công dụng chẳng khác. Đối
với các chuyện như thân siêng gắng v.v…
há chọn lựa ư? Nhưng muốn rộng tôn
sùng, sẽ nhiều khôn xiết! Do vậy, đối
với mỗi sự, chỉ đề cao một
vị, dựa theo thứ tự thọ
giới mà xếp trước sau. Không chỉ
đề cao danh, mà
còn chú trọng sự thật, không chỉ nhằm đề
cao người trước mà còn hết
sức tôn sùng, ngõ hầu huệ chiếu
hừng hực, vĩnh viễn chiếu tan tối
tăm vậy!
1) Vị được
đức Phật phó chúc tại Tây Thổ:
Tôn giả Đại Ca Diếp
Ngài ở thành
Vương Xá, thuộc chủng tánh Đại Bà La
Môn, tên là Tất Bát La (Pipala). Thân màu vàng
ròng, đủ ba mươi tướng. Lấy cô
Tử Kim Quang, trọn chẳng có ý
niệm tham dục. Xuất gia tự thệ đắc giới,
gặp đức
Phật tại Trúc Viên, nghe pháp
chứng quả. Đem y báu đổi lấy
đại y phấn tảo của đức Phật,
suốt đời hành hạnh Đầu
Đà. Đức Phật từng chia
nửa tòa cho tôn giả, bảo ngồi. Trong
hội Niết Bàn, đức Phật bảo
các vị tỳ-kheo: “Ta nay đem tất cả
chánh pháp vô thượng đều phó chúc
Ma Ha Ca Diếp, thầy ấy sẽ làm bậc
đại y chỉ cho các vị”. Đức
Phật nhập diệt bảy ngày, ngài Ca Diếp
mới đến, khi trà-tỳ đã xong, Ngài
liền cùng một ngàn vị A La Hán kết tập
Tam Tạng, hoằng trì chánh pháp. Hai
mươi năm sau liền phó chúc A Nan rồi
nhập Định trong ngọn Kê Túc (Kukutapadagiri) núi
Linh Thứu, giữ y ca-sa mười ba
sợi vàng, đợi Di Lặc Phật
[giáng thế]. Tán rằng:
- Nguyện
cư chúng nhân hậu, bất vi nhất vật tiên.
Túng sử bất trị Phật, tự
thành Độc Giác tiên. Căn thâm, chi năi mậu, chánh
pháp toàn tử kiên. Niêm hoa lãnh vi chỉ, kết
tập ấn chân truyền. Tam Tạng cấp tiên vụ,
xá-lợi bằng nhân thiên. Diêm Phù đệ
nhị sư, dụ hậu diệc quang tiền. Oai
đức trọng vô tỷ, ma ngoại văn dao
điên. An đắc tái du thử, nhất địch
dã hồ diên (chuyện giơ cành hoa trích
từ kinh Đại Phạm Vương Vấn
Pháp Quyết Nghi. Đời Tống, Vương An
Thạch thấy trong Nội Viện. Do Đại Tạng
thiếu bản kinh này nên Thiền giả chẳng
biết).
(Nguyện
ở sau mọi người, chẳng ở
trước một ai. Nếu Ngài chẳng
gặp Phật tự thành Độc Giác
tiên. Rễ sâu, cành rậm rạp. Chánh pháp
gánh vác tròn. Giơ hoa, lãnh ý chỉ. Kết
tập ấn chân truyền. Tam Tạng gấp hàng
đầu, xá-lợi cậy trời,
người. Thầy thứ hai Diêm Phù, thịnh
sau lại sáng trước[29].
Oai đức trọng khôn sánh, ma ngoại nghe
chạy xa. Sao lại được gặp
gỡ, gột sạch nước dãi chồn)[30]
2) Vị trì tạng
Tỳ Ni: Tôn giả Ưu Ba Ly
Năm trăm người
họ Thích sắp xuất gia đều
cởi sạch áo trân quý ban cho Ưu Ba Ly. Ưu Ba Ly
nghĩ: “Họ còn có thể xả, ta tham
luyến gì nữa?” Ngài bèn đến
cầu Phật độ trước. Các vị
họ Thích đến [xuất gia] sau, lễ các
vị thượng tọa, đến trước
tôn giả [Ưu Ba Ly] bèn chẳng lễ.
Đức Phật dạy: “Thà nói tam thế
Phật là kẻ hạ tiện, đừng
nói Ưu Ba Ly là kẻ hạ tiện. Vị này
trì giới bậc nhất, là kỷ
cương cho đại chúng, được
trời, người tôn trọng nhất”. Các
vị họ Thích lễ dưới chân Ngài,
đại địa chấn động sáu cách.
Sau khi đức Phật thị hiện nhập
diệt, ngài Ca Diếp bạch chùy[31],
thỉnh tôn giả lên tòa sư tử, kết tập
Luật Tạng. Tán rằng:
- Giới
thị Phật chân thân, Luật thị tăng phụ
mẫu. Chánh pháp lại thử tồn, nhân
thiên quân thị hỗ. Tiểu đại cộng tuân do,
hà kim phục hà cổ? Khể thủ chúng
kỷ cương, vạn thế Tỳ Ni tổ. Tŕ phạm
dữ khai giá, tinh tích siêu quần ngũ. Ai tai
mạt diệp trung, Sự Lý đa mãng lỗ.
Hạnh thừa bi nguyện lai, tái tác long xà
chủ. Đào chú thánh phàm trù, đồng vi Xá Na phụ.
(Giới
là chân thân Phật, Luật là cha mẹ Tăng.
Chánh pháp nhờ đấy còn, trời
người đều nương cậy. Tiểu,
Đại cùng tuân hành, há phân biệt xưa
nay? Đảnh lễ đấng tôn quý, kỷ
cương của đại chúng, tổ Luật
Học muôn đời. Trì, phạm, và khai,
giá. Phân tích thật tinh vi, hơn hẳn bao
người khác. Xót thay, trong đời
Mạt, Sự Lý thường luông tuồng.
Mong nương bi nguyện đến, lại làm
chủ rắn rồng, đúc luyện thánh
lẫn phàm, cùng giúp đức Xá Na).
3) Vị truyền trì
pháp tạng tại Tây Thổ: Tôn giả A Nan
Đà
Ngài là con của
Bạch Phạn Vương (Śuklodana), là
em họ bên nội của đức Phật. Sanh
vào ngày đức Phật thành đạo.
Mặt như trăng rằm, là thị giả
của đức Phật, đa văn bậc
nhất. Đức Phật diệt độ, ngài
Ca Diếp bạch chùy, thỉnh tôn giả lên tòa
sư tử, kết tập pháp tạng. Ngài Ca
Diếp tịch, [tôn giả A Nan kế thừa] tuyên
diễn hóa cơ trong hai mươi năm. [Sau
đó], ở giữa dòng sông Hằng,
nhập Phong Phấn Tấn tam-muội, chia thân thành
bốn phần cho Đế Thích, long vương,
Tỳ Xá Ly tử, và vua A Xà Thế
để mỗi bên dựng tháp cúng
dường. Tán rằng:
- Phật pháp đại
hải thủy, lưu nhập A Nan tâm. Hoành mạc
trắc kỳ tế, thụ mạc trắc kỳ
thâm. Thỉ tự súc văn ngộ, chung đắc
phản văn châm. Trừ bệnh, bất trừ
pháp. Điểm thiết tiện thành kim. Như
hà sanh manh loại, xả thử phục tha
tầm. Ly kinh đọa ma thuyết, chấp thạch
cưỡng tác sâm.
Lăng Già, Kim Cang ấn. Tổ ư lương khả
khâm. Thử ngôn như bất tín, cánh vấn
cổ Quán Âm.
(Nước biển
cả Phật pháp, rót vào tâm A Nan. Ngang khôn
dò ngằn hạn, dọc khôn dò thẳm
sâu. Thoạt đầu, do nghe nhiều, lầm lẫn
càng thêm lắm. Rốt cuộc được
cảnh tỉnh, xoay trở lại tánh Nghe.
Trừ bệnh, chẳng trừ pháp.
Điểm sắt liền thành vàng. Cớ
sao bọn sanh manh, bỏ đây, tìm chi khác? Lìa
kinh, đọa ma thuyết, cưỡng chấp
đá là ngọc. Lăng Già, Kim Cang ấn,
ý Tổ đáng khâm sùng. Nếu chẳng
tin lời này, lại hỏi Cổ Quán Âm).
4) Hai vị tôn giả
đến Đông Độ đầu tiên là Ca
Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan
Đời Đông Hán,
Minh Đế mộng thấy người vàng, sai
sứ sang phương Tây cầu Phật đạo.
[Sứ giả] gặp hai vị tôn giả
ở nước Đại Nhục Chi[32]
thuộc Trung Thiên Trúc, lãnh nhận tượng
Phật đứng và kinh tiếng Phạn sáu
mươi vạn chữ, dùng ngựa
trắng để chở tới Lạc Dương.
Ở ngoài Ung Môn tại phía Tây thành,
dựng chùa Bạch Mã, dịch kinh Tứ
Thập Nhị Chương. Về sau, đạo sĩ
thuộc ngũ nhạc, bát sơn dâng biểu
thỉnh thử xem [Phật và Đạo] hơn
kém. Lửa đốt Đạo kinh đều
thành tro bụi; tất cả các chú thuật
đều chẳng ứng nghiệm. Chỉ có
kinh và tượng
Phật quang minh sáng ngời, năm sắc
thấu tận trời, chẳng suy xuyển
mảy may! Ngài Ma Đằng thân vọt lên hư
không, hiện các thần biến. Ngài Pháp Lan
phát ra đại phạm âm, tuyên dương Phật
pháp, trời mưa hoa báu, đại chúng
vui thích. Sau khi ngài Ma Đằng tịch, ngài
Trúc Pháp Lan dịch Phật Bổn Hạnh Kinh v.v…
năm bộ kinh. Tán rằng:
- Đường
đường Chấn Đán cảnh, cửu
dĩ mông Phật ảnh. Do sĩ thiên dư niên, chánh
pháp năi chiêu bỉnh. Trác tai nhị Đại Sĩ, thần
lực chân dũng mănh. Cảm ứng bất thất
thời, định huệ phát thâm cảnh. Trừ bỉ
sanh manh nhân, thùy năng kiến phất tỉnh. Chiết
phục ma ngoại tâm, hân phiên ái kiến tỉnh.
Vạn cổ ngưỡng dư huy, bích đàm viên nguyệt
lănh. Hà thời phục hiện thần, gia phong
đốn trùng chỉnh.
(Cõi
Chấn Đán mông mênh, Phật ảnh phủ
đã lâu, gần hơn một ngàn năm.
Chánh pháp mới
tỏa rạng. Trác tuyệt, hai
Đại Sĩ! Thần lực thật dũng mănh.
Cảm ứng chẳng lỡ thời, định
huệ phát thâm cảnh. Trừ kẻ mù lọt
lòng, ai thấy mà chẳng tỉnh? Chiết
phục tâm ma ngoại, lật nhào bẫy ái
kiến. Muôn đời ngưỡng dư quang,
đầm biếc ánh trăng lạnh. Khi nào,
hiện thần biến, chỉnh đốn lại gia
phong?)
5) Vị
đầu tiên tới Giang Nam dựng tháp
thờ xá-lợi: Tôn giả Khang Tăng Hội
Sư
người nước Khang Cư (Sogdiana)[33].
Năm Xích Ô thứ tư (241), Ngài gặp
chúa nước Ngô, bảo: “Như Lai nhập
diệt đã hơn ngàn năm, linh cốt xá-lợi
thần ứng không ngằn mé”. Chúa
nước Ngô nói: “Nếu cầu
được xá-lợi, hãy nên
dựng tháp. Nếu chẳng có hiệu
nghiệm, quốc gia sẽ trừng trị”. Sư
bảo đồ chúng: “Đại pháp hưng
khởi hay bị phế trừ là do chuyện
này. Hãy nên trai giới trong sạch để
khẩn cầu suốt bảy ngày”. Tới
ngày thứ hai mươi mốt, mọi
người đều sợ hãi, bỗng
có tiếng leng leng, trong bình có
xá-lợi ngũ sắc. Chúa nước Ngô
tự trút [xá-lợi] ra khay đồng,
khay liền nứt. Dùng lửa đốt,
dùng chùy đập, vẫn chẳng bị
tổn hoại. Do vậy bèn dựng tháp, xây
chùa Kiến Sơ, gọi nơi ấy là Phật
Đà Lý (làng Phật), tức là
chùa Đại Báo Ân hiện thời. Tán rằng:
- Vô
lượng giới định huệ, trang nghiêm thanh tịnh
thân. Kiên cố bất khả hoại. Ứng vật
hiện kỳ trân. Thùy năng thâm đế tín,
khẩn đáo phục tinh thuần. Thâm khế
cứu cánh quả. Kiến lập Bồ
Đề nhân. Linh cốt văn thái cổ, chúng
sanh nhĩ mục tân. Huưnh siêu tư nghị biểu, hằng
thị mê lưu tân. Trường Can Phật Đà
Lý, trần kiếp khai quang luân. Mạc ngôn thử
thị huyễn, ly huyễn biệt vô chân.
(Vô lượng
giới định huệ, thân trang nghiêm thanh tịnh. Kiên
cố chẳng thể hoại. Ứng cơ
hiện báu lạ. Ai hay tin sâu chắc, thành
khẩn đến tinh thuần. Ngầm khế quả
rốt ráo, kiến lập Bồ Đề nhân.
Xương thiêng rực rỡ cổ, tai
mắt chúng sanh mới. Siêu việt mọi
nghĩ bàn, luôn dạy nơi bến mê. Làng
Phật nơi Trường Can, trần kiếp tỏa
quang minh. Đừng bảo đấy là huyễn.
Lìa huyễn chẳng có chân!)
6) Vị thọ Cụ Túc
Giới đầu tiên ở Đông Độ:
Sa-môn Châu Sĩ Hành (khi
đó, người xuất gia vẫn giữ
họ thế tục)
Từ thời Hán
- Ngụy, người xuất gia chỉ thọ Tam Quy,
đại sa-môn cũng chẳng khác. Vào
năm Chánh Nguyên nguyên niên (254) thời Cao Quý
Hương Công[34],
tại Lạc Dương, ngài
Đàm Ma Già La (Dharmakāla)[35]
và Đàm Đế dịch pháp yết
ma thọ giới thuộc Tứ Phần
Giới Bổn. Sa-môn Châu Sĩ Hành là
người đầu tiên thọ giới. Năm
Cam Lộ thứ năm (260), Sư giảng kinh
Đạo Hành Bát Nhã (khởi thủy
giảng kinh), than thở lý [trong kinh ấy] chưa
được dịch trọn vẹn, bèn
rời Trường An đến nước Vu
Điền[36] (Ngài
là vị sa-môn đầu tiên sang Tây Vực),
tìm được bản tiếng Phạn kinh
Bát Nhã. Nhưng phép nước ấy
cấm truyền sang Đông Độ. Sĩ Hành xin
dùng lửa để nghiệm chứng, kinh
chẳng bị tổn hại. Vua tin tưởng,
lấy làm lạ, cho phép truyền, Sư liền
gởi kinh về phương Đông, kinh có tên
là Phóng Quang Bát Nhã. Tán rằng:
- Thất
chủng đắc giới trung, bạch yết-ma đệ
nhất. Tăng bảo cửu trụ tŕ, tối thắng
vô luân thất. Phật pháp nhập Chi Na, chiêu
chương phỉ nhất nhật. Cam lộ hoạch tiên
thường, sa-môn xưng thủ xuất. Huống phục
đăng ṭa vương, nhẫn y từ vi thất. Phát
túc thỉ Tây du, hoạch đắc hy hữu dật. Giới
huệ cập thần thông, kham tác quần linh
suất, đại viễn vọng văn tri, liêu vi
khể thủ thuật.
(Trong
bảy loại đắc giới, bạch
yết-ma bậc nhất. Tăng bảo lâu trụ trì,
tối thắng chẳng ai sánh. Phật
pháp vào Trung Hoa, rạng rỡ chẳng
một ngày. Cam lộ được nếm
trước, sa-môn tiếng đứng đầu.
Huống còn lên tòa vương, nhẫn: y,
từ làm thất. Sang phương Tây đầu
tiên, có được kinh hy hữu.
Giới, huệ, và thần thông, kham suất
lãnh quần linh. Đời sau chưa nghe biết,
đảnh lễ xin trần thuật).
7) Thỉ tổ của liên
xã: Pháp sư Huệ Viễn
Sư
họ Giả, người xứ Lâu Phiền
thuộc Nhạn Môn. Hiếu học từ bé,
hiểu rộng lục kinh, càng giỏi Trang Lão.
Lúc hai mươi mốt tuổi, Sư tôn
ngài Đạo An làm thầy. Lúc hai mươi
bốn tuổi, đã hết sức quen giảng
giải. Năm Thái Nguyên thứ sáu (381) đời
Tấn Hiếu Vũ Đế (Tư Mã Diệu),
Sư tới Lư Sơn, mộng thấy thần
bảo “đừng sang nơi khác trụ”. Tối
hôm ấy, sấm chớp dữ dội,
rừng, khe nứt toác, cát trắng
phủ đất, [các loại gỗ quý] như
Tiện, Nam, Văn, Tử chất đầy trên
đất. Thứ sử Cửu Giang là Hoàn
Y bèn vì Sư dựng chùa Đông Lâm,
đặt tên cho ngôi chánh điện là
Thần Vận.
Sư từng nói: “Các
loại tam-muội, danh xưng rất nhiều, nhưng
công cao dễ tiến, Niệm Phật đứng
đầu”. Ngài kết xã, có
mười tám vị cao hiền, và một
trăm hai mươi ba người đều lên An
Dưỡng. Khi đó, vùng Giang Đông kinh
sách chưa đầy đủ, chưa nghe Thiền
pháp, Luật học phần nhiều thiếu sót.
Sư sai đệ tử vượt Thông Lãnh
(cao nguyên Pamir), từ xa tìm được
[các kinh luận]. Sư viết Pháp Tánh
Luận, nêu tỏ lý “Niết Bàn
thường trụ” đầu tiên. Ngài La
Thập tán thán luận ấy ngầm hợp Phật
lý. Thời Tấn An Đế, Hoàn Huyền[37]
ra lệnh buộc sa-môn lạy vua, Sư gởi thư
can gián, viết Sa Môn Bất Kính Vương
Giả Luận. Sư ở trong núi ba mươi
năm, chuyên Tu tịnh nghiệp. Ba lượt thấy
Phật nhưng không nói. Ngày Ba Mươi tháng
Bảy năm Nghĩa Hy 12 (416), Phật tới
đón, bảo: “Bảy ngày sau, Sư sẽ sanh
về nước ta”. Tới ngày mồng
Sáu tháng Tám, bậc kỳ túc thỉnh Sư
dùng cổ tửu[38]
để trị bệnh, Sư bảo: “Luật không
có điều luật cho phép”. Lại thỉnh
Sư uống nước cháo, Sư bảo: “Đã
quá ngọ rồi”. Lại thỉnh uống
nước mật, Sư bèn mở luật
tìm xem. Chưa được nửa quyển, Ngài
đã ngồi qua đời, thọ tám
mươi ba tuổi. Tán rằng:
- Niệm
Phật tam-muội bảo, viên đốn pháp trung
vương. Đĩnh sanh thần thánh sĩ, dũng mănh
độc thừa đương. Hương tượng
triệt lưu độ, đảo hoàn tập chúng
hương. Đại đức căng tế hạnh,
Thiền, Luật hàm thư quang. Pháp tánh ngộ
thường trụ, tăng nghi siêu đế hoàng. Tài
thức mại tiền triết, mật chứng bất
tự chương. Văn thành ấn năi hoại, di nhiên phản
cố hương. Cao phong thiên cổ tại, quy mạng phụ
từ hàng.
(Báu Niệm
Phật tam-muội, viên đốn pháp trung vương. Nảy
sanh bậc thần thánh, dũng mãnh riêng gánh gồng.
Hương tượng riêng vượt dòng,
nghiền thuốc gom các hương. Đại
đức gìn tế hạnh, Thiền, Luật
đều rạng ngời. Pháp tánh ngộ thường
trụ, tăng nghi vượt trội vua. Tài
trí hơn tiền triết, ngầm chứng
chẳng tự phô. Nét khắc thành,
ấn hoại. Vui mừng về cố hương. Cao
phong muôn đời rạng, quy mạng giúp
thuyền từ).
8) Vị đầu tiên sang
Thiên Trúc cầu Luật: Sa-môn Pháp Hiển
Năm Long
An thứ hai (398), tức năm Kỷ Hợi
thời Tấn An Đế, Sư từ
Trường An cất bước sang Tây. Năm
Nghĩa Hy 12 (416), tức năm Giáp Dần, Sư giong
buồm vượt biển trở về, nếm
đủ nỗi hiểm trở, được
ghi chép đầy đủ trong tiểu truyện.
Tán rằng:
- Khể
thủ dũng mănh sĩ, phát tâm cầu giới luật. Tây
hành bất tích thân, an tri lao dữ dật. Vãng
phản thập ngũ niên. Kinh lịch bát thiên
truật. Đản niệm Quán Thế Âm, vân khai
phục kiến nhật. Mẫn thử biên địa
khổ, dục trụ hoàn Đông xuất. Khứ
thời đa đồng hành, lai thời cẩn
tồn nhất. Huệ ngã Tỳ Ni đăng,
chiếu ngã thiên niên thất. Độc truyện, ức thâm ân, huyết lệ như tuyền tất.
(Đảnh
lễ bậc dũng mãnh, phát tâm cầu giới
luật. Sang Tây, chẳng tiếc thân, nào biết
mệt hay khỏe. Đi về mười lăm
năm, trải qua tám ngàn nạn. Chỉ niệm Quán
Thế Âm, mây tan, trời lại sáng. Thương
nỗi khổ biên địa, muốn trụ lại
về Đông. Lúc đi nhiều đồng bạn;
khi về, chỉ một thân. Ban con đèn Tỳ Ni,
chiếu thất tối ngàn năm! Đọc
truyện, nhớ ân sâu. Huyết lệ như suối
trào).
9) Sơ tổ Thiền Tông
Đông Độ: Bồ Đề Đạt Ma
đại sư
Ngài
là vương tử của vua Hương Chí
ở Nam Thiên Trúc, được vị tổ
thứ hai mươi bảy của Tây Thổ là
Bát Nhã Đa La (Prajnātāra) phó
chúc đại pháp, căn dặn sáu
mươi năm sau, hãy sang Chấn Đán (Trung Hoa)
hành hóa. Đại Thông nguyên niên (527)
đời Lương, Sư theo thuyền
vượt biển đến Quảng Châu. Vũ
Đế xuống chiếu cầu kiến, hỏi:
“Như thế nào là Thánh Đế Đệ
Nhất Nghĩa?” Đáp: “Rỗng tuếch
chẳng có thánh”. Hỏi: “Đối diện
trẫm là ai?” Đáp: “Không biết!” Vua chẳng
khế ngộ. Sư bèn vượt
Trường Giang, vào đất Ngụy, trụ
tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, nhìn
vách chín năm. Về sau, Sư phó
pháp cho Nhị Tổ Huệ Khả, cũng trao cho y
ca-sa để làm tin, lại nói: “Bốn
quyển kinh Lăng Già có thể ấn tâm”.
Sư sang chùa Thiên Thánh ở Vân Môn, ngồi qua
đời, được chôn toàn thân
ở núi Hùng Nhĩ. Năm sau, Tống Vân
từ Tây Vực quay về, gặp Sư tay
xách một chiếc dép, lững thững
đi một mình. Quật mồ lên xem, chỉ có
một chiếc dép trong quan tài rỗng! Tán rằng:
- Chấn
Đán đa Đại Thừa, ngang ngang thiên
cổ anh. Thí như long dĩ tựu, đãi
Sư nhất điểm tình. Khuếch nhiên vô thánh
đế, Lăng Già ấn phân minh. Bất thức,
chân bất thức. Đồng tử, bất
đồng sanh. Đắc tủy y vị lập, chích
lý nhưng Tây hành. Ai tai ngũ diệp hậu, Tông
Thuyết hoàn phân tranh. Kinh ký thành danh
tướng, tọa phục đồng lung manh. Thùy
tín an tâm quyết, tùng lai phỉ thiệp tŕnh.
(Chấn
Đán lắm Đại Thừa, vòi
vọi hùng muôn đời. Ví như rồng
kéo đến, đợi Sư điểm
nhãn cho. Rỗng tuếch vô thánh đế, Lăng
Già ấn phân minh. Không biết, thật chẳng
biết. Cùng chết, chẳng cùng sanh. Đắc
tủy, đứng yên chỗ[39].
Chiếc dép đi về Tây. Buồn năm lá
tươi tốt, Tông, Thuyết vẫn phân tranh. Kinh
đã thành danh tướng. Ngồi,
nằm như mù đui. Ai tin an tâm quyết?
Trước nay chẳng dính vào!)
9) Thiên Thai giáo chủ Trí Giả
đại sư
Sư tên Trí Nghĩ[40],
tự Đức An, họ ngoài đời
là Trần, cha là Ích Dương Hầu
đời Lương. Mẹ là Từ Thị,
mộng thấy khói hương năm màu, bèn
có thai Sư. Khi Sư sanh, thần quang tỏa
khắp nhà. Sư mày Nghiêu, mắt
Thuấn, hễ nằm bèn chắp tay,
mặt ắt ngoảnh về phương Tây.
Mười bảy tuổi, Sư thề làm sa-môn, mười
tám tuổi xuất gia. Hai mươi tuổi, thọ
Cụ Túc Giới, tinh thông Luật Tạng, thường
thích Thiền Duyệt. Hai mươi ba tuổi,
bái yết thiền sư Huệ Tư tại núi
Đại Tô thuộc Quang Châu. Ngài Huệ Tư
nói: “Xưa kia tại Linh Sơn, cùng nghe Pháp
Hoa”. Tổ liền dạy Phổ Hiền đạo
tràng, nói Tứ An Lạc Hạnh. Sư sáng
tối khổ công, đúng như lời dạy
mà nghiên cứu cái tâm, [do không có gì
cúng dường, bèn dùng lá bách
đốt thay nhang], hết lá bách thì dùng
hạt dẻ [để làm vật cúng dường],
khi trăng lặn bèn đốt gỗ tùng
[làm đuốc soi][41].
Hai mươi bảy tuổi, Sư rỗng rang
đại ngộ.
Ba mươi tuổi, Sư
sang Kim Lăng, ba mươi tám tuổi vào Thiên
Thai, chọn sống ở Phật Lũng, hàng ma
nơi Hoa đảnh. Trần Thiếu Chủ (Trần
Thúc Bảo, vua cuối cùng của nhà Trần)
lại thỉnh Sư trụ tại chùa Quang Trạch
ở Kim Lăng để giảng kinh Pháp Hoa.
Thái tử nhà Tùy (Dương Quảng) xin
thọ giới, dâng hiệu cho Sư là Trí
Giả. Kế đó, tại chùa Ngọc Tuyền
ở Kinh Châu, truyền Ngũ Giới cho thần
Quan Vân Trường (Quan Công), nói Pháp Hoa Huyền
Nghĩa và Ma Ha Chỉ Quán. Lúc năm
mươi tám tuổi, Sư trở về Thiên Thai.
Lúc sáu mươi tuổi, Ngài nói các
pháp môn, ngồi yên lặng nhập diệt, an
táng tại ngọn Tây Nam của Phật Lũng.
Vào năm Đại Nghiệp nguyên niên (605)
đời Tùy Dượng Đế,
mở khám ra xem, chỉ thấy giường
và trướng trống rỗng mà thôi! Cả
đời Sư dựng ba mươi sáu ngôi
chùa, tạo mười lăm bộ Đại
Tạng Kinh, tạc tám mươi vạn bức
tượng, xuống tóc cho một vạn bốn
ngàn người, truyền pháp
được ba mươi hai người. Hơn
một ngàn người đắc ngộ. Suốt
ba mươi năm, Sư chỉ có một tấm
áo ca-sa. Tán rằng:
- Quy mạng
đại giáo chủ, nhân xưng tiểu Thích Ca. Bổn
địa bất khả trắc, thị tích năi kham khoa.
Linh tướng kiêm Nghiêu, Thuấn; thần đức
động di, Hoa. Quyền Thật cùng áo chỉ, quy
tông tại Pháp Hoa. Tứ biện chú diệu vũ,
lưỡng túc nghiêm đại xa. Chỉ Quán truyền
tâm ấn, Huyền Văn phục thiên tà. Vĩnh kiếp
thuật nan tận, công nhược Hằng hà
sa. Doãn hỹ vô thượng sĩ, hề chỉ áp
bách gia?
(Quy mạng đại giáo chủ,
người xưng Tiểu Thích Ca. Bổn địa
chẳng thể lường, thị hiện
đáng ngợi ca. Tướng thiêng kiêm Nghiêu,
Thuấn, thần đức động di, Hoa. Tông
chỉ Quyền và Thật, tột cùng lẽ sâu
mầu. Quy tông nơi Pháp Hoa. Tứ biện tuôn
mưa diệu, phước trí trang nghiêm xe. Chỉ
Quán truyền tâm ấn, Huyền Văn[42]
dẹp lệch, tà.
Bao kiếp thuật khó trọn, công như cát sông
Hằng. Đáng là vô thượng sĩ,
đâu chỉ hơn trăm nhà?)
10)
Từ Ân giáo chủ: Pháp sư Huyền Trang
Sư
là con nhà họ Trần ở Lạc
Dương. Mười một tuổi đã tụng
thông thạo Duy Ma và Pháp Hoa. Năm Trinh Quán
thứ ba (629) đời Đường
Thái Tông, Sư sang Tây Trúc, nếm đủ mọi nỗi hiểm trở,
trải qua một trăm ba mươi
nước. Phàm những nơi có dấu
tích hóa hiện của Như Lai, không nơi
nào Sư chẳng
lễ kính. Thoạt đầu, Sư muốn học tông
Long Thọ, những người học tông ấy
bảo phải uống thuốc cầu trường
sanh thì mới có thể nghiên cứu tông
chỉ. Sư vốn muốn cầu kinh, sợ trái
túc nguyện ấy, bèn học Pháp
Tướng với pháp sư Giới
Hiền. Ngài Giới Hiền đã một
trăm lẻ ba tuổi, được đức Văn
Thù phó thác, ráng sống đợi
Sư đến. Mùa Đông năm Trinh Quán 19 (645),
Sư trở về phương Đông, soạn Tây
Vực Ký, dịch Địa Luận, Duy
Thức, kinh Đại Bát Nhã v.v… Tháng Hai
năm Lân Đức nguyên niên (664) đời
Đường Cao Tông, Sư sai đại chúng
niệm Di Lặc Phật, nằm bên hông phải qua
đời. Tối hôm ấy, bốn cái mống trắng
vắt ngang sao Tỉnh[43].
Tán rằng:
- Pháp giới vô sai biệt,
sai biệt vô lượng cụ. Ngũ vị,
bách pháp môn. Sổ cú, phi sổ cú. Dục
ngộ chân Viên Dung, na
đắc phế Hàng Bố? Sở dĩ
Cổ Văn Thù, khổ khuyến Hiền sư trụ.
Trang sư kư Tây du, thử đạo nãi hữu
phó. Khể thủ Du Già sư, nhất sanh bổ Phật
xứ. Phú Thật, thả thi Quyền, thành tai hữu
viễn lự. Sư dĩ khế từ tâm, Đâu
Suất cung tiên cứ.
(Pháp giới
chẳng sai biệt, đủ vô lượng sai
biệt. Năm vị, trăm pháp môn. Sổ cú, phi
sổ cú. Muốn ngộ Viên Dung thật, há nên phế
Hàng Bố? Do vậy, Cổ Văn Thù, khổ công
khuyên Giới Hiền, hãy cố gắng trụ
thế. Huyền Trang đã sang Tây, đạo này
được giao phó! Kính lạy Du Già
sư, nhất sanh bổ Phật xứ. Ẩn
Thật, lại hành Quyền, đúng là biết
lo xa. Sư đã khế từ tâm. Đâu Suất
cung chiếm trước).
11) Mật
giáo sơ tổ: Kim Cang Trí Quán Đảnh
quốc sư
Sư
là người Tây Thổ, đích thân truyền
pháp của Long Trí (Nāgabodhi) A-xà-lê. Năm Khai Nguyên
thứ bảy (719) đời Đường,
Sư đến Quảng Châu, được triệu
vào chầu vua, trụ tại chùa Đại Từ
Ân, vẽ tượng Thất Câu Chi[44],
khiến cho tượng tự mở
mắt. Năm sau, Sư chuyển sang chùa Tiến
Phước, tới chỗ kết đàn
làm đạo tràng quán đảnh. Tháng
Tám năm Khai Nguyên 20 (732), Sư bảo đồ
chúng rằng: “Khi bạch nguyệt tròn, ta
sẽ đi”. Tới kỳ, Sư nhiễu quanh
tượng Tỳ Lô, đầu đội bối
diệp kinh, ngồi qua đời. Tán rằng:
- Hiển
Mật nhị chủng giáo, các cụ Tứ Tất
Đàn. Hiển hoặc khả nghĩ nghị, Mật cánh
nan ngưỡng toản. Thọ thọ hữu bí ấn,
thành tựu tu tịnh đàn. Khể thủ quán đảnh
sư, hoài đạo lai chân đan. Viên đốn siêu ngôn
tượng, vân vật liêu thị đoan. Bồ
Đề năi tông yếu, Sự Lý phi thiên an. Truyền
chí Kim Cang Thủ, đề hồ Phật sở
thán. Nhiễu tượng đảnh bối
diệp. Vạn cổ nguyệt đồng khan.
(Hiển Mật
hai loại giáo. Đều trọn Tứ Tất
Đàn. Hiển có thể nghĩ bàn, Mật
càng khó nhìn, đoán. Trao, nhận có
bí ấn. Thành tựu cần tịnh đàn.
Đảnh lễ quán đảnh sư, ôm đạo đạt
chân đan. Viên đốn vượt lời, tướng.
Mây, vật tỏ mối đầu. Bồ Đề
là tông yếu, Sự Lý chẳng riêng an.
Truyền tới Kim Cang Thủ, đề hồ
Phật ngợi khen. Nhiễu tượng,
đội kinh sách, trăng muôn thuở cùng
xem).
12) Thanh
Lương giáo chủ: Trừng Quán quốc
sư
Sư
là người Cối Kê, họ Hạ Hầu.
Mười bốn tuổi, Sư tụng kinh Pháp Hoa
đắc độ. Trước là học
Luật, kế đó là học Luận, sau là
học Hiền Thủ Tông. Kế đó, Sư theo
ngài Kinh Khê học Thai Tông. Sau đấy, học
trọn hai tông Nam, Bắc. Phàm là Nho, Lão
trong cõi này, sách tiếng Phạn của Thiên
Trúc, các dị thuyết của ngoại
đạo, Tứ Vi Đà, Ngũ Minh, nghi quỹ
Hiển, Mật, không gì chẳng thông hiểu.
Sư sống tại chùa Đại Hoa Nghiêm, chuyên
hành Phương Đẳng sám pháp. Sư
giảng kinh Hoa Nghiêm, tạo tân sớ[45]
và Diễn Nghĩa Sao. Sư thọ một trăm lẻ
hai tuổi, pháp lạp tám mươi ba. Thân cao
chín thước bốn tấc, tay rủ quá
gối, ban đêm mắt tỏa sáng, ban ngày
mắt chẳng nháy. Tài năng viết
lách hơn người, mỗi ngày nhớ
vạn chữ. Sư dùng mười
lời thề để kiềm giữ thân,
suốt đời ăn một bữa. Trải qua
chín triều, làm thầy của bảy vị vua. Sư
giảng kinh Hoa Nghiêm năm mươi lần,
mười lăm lần mở Vô Giá
đại hội. Đệ tử hoằng
pháp gồm ba mươi tám vị. Tán
rằng:
- Hoa Nghiêm
pháp giới hải, vạn phái hàm triều tông. Bất
hữu đại long tượng, thùy năng lực
hoằng thông? Thập huyền khải thâm áo, lục
tướng minh viên dung. Tánh tướng ký
phi nhị, sanh Phật khởi dị đồng? Phước
huệ siêu kim cổ, nghi biểu đẳng thế
hùng. Tông, Thuyết phân phục hợp. Thừa, giới thế
hoàn long. Trùng trùng thập pháp giới, phức
phức thập thệ phong. Khể thủ điều
ngự sư, thiên tải khai manh lung.
(Biển Hoa
Nghiêm pháp giới, muôn phái đều chầu về.
Chẳng có đại long tượng, ai
tận lực hoằng thông? Thập huyền mở
cao sâu, sáu tướng giảng viên dung. Tánh,
tướng chẳng phải hai; sanh, Phật
há khác, đồng? Phước huệ vượt
nay, trước. Nghi biểu bằng Thế
Hùng. Tông, Thuyết tách lại hợp.
Thừa, giới suy lại hưng. Tầng tầng
mười pháp giới, gió thập thệ thơm
lừng. Đảnh lễ đấng Điều
Ngự, ngàn năm soi điếc, mù).
13) Hội
quy tông kính: Vĩnh Minh đại thiền sư
Ngài tên
là Diên Thọ, tự là Xung Huyền.
Thời Ngô Việt Vương, Ngài làm quan coi
thuế, dùng tiền từ công quỹ để
phóng sanh. Sắp bị hành hình ngoài chợ,
lúc đao sắp bổ xuống, Ngài
chẳng đổi sắc mặt, nên
được tha. Xuất gia, Ngài đắc
pháp nơi Thiều quốc sư. Ngài nhập
Định chín mươi ngày, chim làm tổ
nơi chéo áo. Ngài hành Pháp Hoa Sám,
thấy đức
Phổ Hiền cầm hoa sen nơi tay.
Ngài đặc biệt lên Thiên Thai Trí Giả
Nham, làm hai cái thăm Giáp và Ất, Giáp
là “suốt đời Thiền Định”. Ất
là “tụng kinh, hành vạn thiện, trang nghiêm
Tịnh Độ”. Bảy lượt rút
đều là cái thăm Ất. Do vậy, chuyên tu Tịnh
nghiệp. Ngài tụng kinh ba năm, Quán Âm dùng
cam lộ rưới vào miệng. Công khóa
hằng ngày hành một trăm lẻ tám
sự, chưa từng tạm phế. Sư do
thấy ba tông Thiên Thai, Hiền Thủ, và Từ Ân
khác nhau, bèn tập hợp ý kiến
của những người biết pháp trong
đồ chúng của các tông ấy, đọc
rộng khắp biển nghĩa, lại còn
vấn nạn lẫn nhau để cân nhắc tâm tông.
Lại tập hợp sáu mươi bộ kinh
luận Đại Thừa, ngôn thuyết của hơn
ba trăm vị thánh hiền hai cõi (Ấn
Độ và Trung Hoa) để chứng thành ý
chỉ duy tâm, tạo thành Tông Kính Lục một
trăm quyển và Vạn Thiện Đồng Quy
Tập v.v… Sau khi Sư ngồi qua đời, có
vị tỳ-kheo ở Lâm Xuyên bị bệnh, vào
cõi Âm, thấy Diêm Vương lạy tượng
Sư, nói: “Ngài đã thọ sanh
thượng phẩm nơi Tây Phương”. Tán rằng:
- Pháp pháp
bổn duy tâm, hà đồng phục hà dị? Ai
tai vơng đăi lưu, chấp ngữ mê thật nghĩa. Các
tùy biến kế t́nh, tranh lập ngã nhân xí. Ngô sư tập
đại thành, vạn thiện quy đồng
trí. Hướng thượng tối huyền cơ,
nhật khóa bách bát sự. Cao đăng
thượng phẩm liên, u minh diệc kiều xí. Tông
Kính chiếu đại thiên, sanh manh hăn tri lợi. An đắc
sư tái lai, trùng văn thiên nhạc thụy.
(Mỗi
pháp vốn duy tâm, gì là đồng hay dị?
Buồn thay phường lười nhác,
chấp lời, mê
thật nghĩa. Tùy thuận Biến Kế chấp, tranh
giương cờ “nhân, ngã”. Thầy
ta tập đại thành, vạn thiện quy nhất
trí. Lẽ hướng thượng huyền nhất,
ngày hành trăm tám sự. Cao đăng sen
thượng phẩm, u minh cũng ngóng về. Tông
Kính chiếu đại thiên, sanh manh[46]
hiếm biết lợi. Sao được Sư
tái lai, lại nghe nhạc trời lành).
14)
Đắc giới ḥa thượng: Vân Thê đại
sư
Sư húy Châu Hoằng,
tự Phật Huệ, biệt hiệu là Liên
Trì. Sư là người xứ Cổ
Hàng, họ Trầm, lúc trẻ là danh Nho, ba
mươi tuổi xuất gia. Sư tham yết các
vị đại lão như Biến Dung v.v… ngầm
có khế ngộ. Ngài an trụ tại Vân Thê,
bất giác [nơi đó] thành tùng lâm,
giảng tịch. Sư chuyên tu Tịnh Độ, tận
lực tôn sùng giới luật. Ngài
chẳng niêm cơ duyên (không giảng Thiền), không
xưng là “phương
trượng”, không chuộng
điện, gác, chẳng ăn mặc xa
xỉ. Sư dùng sự bình dị, thật
thà để tận lực vãn hồi phong
thái hời hợt [của tăng, tục
trong thuở ấy]. Hễ cảnh sách đại
chúng, Sư khai thị chuyện xuất sanh tử,
chưa hề chẳng vừa nói vừa
rơi lệ. Sư phóng sanh kết duyên, thí
thực, làm phước vô số. Ngài
thị tịch lúc tám mươi hai tuổi.
Húc thuở bé bị lầm lẫn bởi
tà sư, tận lực xúc phạm Tam Bảo,
đọc lời tựa nơi Tự Tri
Lục của đại sư mới chuyển tà
tâm. Hai mươi bốn tuổi xuất gia, vào
núi [Vân Thê] làm tạp vụ, thấy trong quy
ước có quy cách học giới,
bèn phát Bồ Đề tâm, hồ quỳ trước
tượng đại sư, đốt hương
cung kính thọ hai loại giới bổn
để góp phần vào việc học tập
theo di trước. Tán rằng:
- Tuyên Ni nhượng
thánh nhân, Nghiêu Thuấn xưng do bệnh. Đại
đạo khoáng vô nhai. Như hà nhất tựu
tận. Ta thử kiêu ly thời, nhân các tranh cao
tuấn. Ngôn hạnh mỗi tương vi, khi thế
đồng kiêu kính. Trác tai chân đạo sư, trừng
tục tùng tiên tấn. Chế tác tự
Khổng, Châu, khiêm
thoái như lâm tuấn. Bi dư phát tâm tŕ, phất hoạch
thân từ huấn. Khể thủ phụng di dung, nguyện
tác liên bang dận.
(Khổng Tử
nhường lòng nhân, Nghiêu, Thuấn còn
khuyết điểm. Đại đạo rộng không
bờ, sao có thể thấu tận? Ôi! Thời
nay bạc bẽo, ai nấy giành cao vời. Ngôn
hạnh thường mâu thuẫn, dối
đời hệt kiêu kính[47].
Tuyệt thay chân đạo sư! Gạn tục tiến
lên trước. Tạo tác hệt Khổng, Châu,
khiêm nhượng như vào vực. Con
buồn phát tâm trễ, chẳng được
nghe từ huấn. Kính lạy thờ di dung,
nguyện làm con cháu sen).
15) Vị
khắc in sách kinh tạng: Tử Bách
đại sư
Ngài húy là Chân
Khả, tự Đạt Quán, biệt hiệu
là Tử Bách, là con nhà họ Trầm
ở Ngô Giang. Khi Ngài hành cước, do nghi
bài kệ của Trương Chuyết[48]
bèn đại ngộ. Ngài tham yết Biến Dung
tôn túc, nguyện tiếp nối đức hạnh
của vị ấy. Sư nghĩ Đại Tạng
số quyển trục quá nhiều, bèn vì
những người ở nơi xa hẻo
lánh chẳng thể nghe pháp mà đề
xướng khắc in [kinh tạng] thành
phương sách để tiện lưu thông. Nếu
gặp kẻ khinh báng[49],
Ngài
nguyện chịu tội thay, khiến cho
khắp nơi được thấy, nghe kinh
pháp, gieo chủng tử kim cang, đều do
sức của đại sư. Sư tự
đảm nhiệm đại pháp, trọn
chẳng có ngã tướng. Ngài tâm
bộc trực, ăn nói bộc trực,
chẳng màng những điều cố kỵ
đương thời. Phát nguyện vào lao
ngục để đền nợ trước. Trong
ngục,
Ngài độ vô lượng người
rồi nói kệ, ngồi qua đời, thọ
sáu mươi mốt tuổi.
Mười một năm
sau, Hám Sơn đại sư trà tỳ [di thể
của Ngài], xá-lợi vô số. Sư cả
đời chuyên trì bài kệ của Tỳ
Xá Phù Phật, cũng dùng đó
để dạy người khác. Bốn
mươi mấy năm, Sư chẳng ngả lưng
xuống chiếu, chẳng thấy nữ nhân,
thường ngồi ở chỗ trống,
chẳng tránh gió, sương. Ngài trùng
hưng mười lăm ngôi chùa. Đối
với ngữ lục của cổ tôn túc,
như các bài luận của tôn giả Tịch Âm, cõi
đời chưa được nghe, Ngài
đều tận lực sưu tập, khắc in.
Tán rằng:
- Tăng phong cửu
bất chấn, đĩnh sanh đại thánh hiền. Ái
kiến nhất ác trảm, pháp đạo toàn tử
kiên. Hùng mănh siêu long tượng, bi thệ chứng vô duyên. Thâm
tri giáo ngoại chỉ, chung tạ văn tự truyền.
Sáng khắc phương sách tạng, trợ
hiển Trực Chỉ Thiền. Hoàn trung thù túc
trái, lai khứ hồ phiên phiên. Xá-lợi trấn
Song Kính, bán kệ công dĩ viên. Quư ngã sanh hồ hậu,
hà thời thọ sách tiên?
(Tăng phong suy đã lâu, bỗng
sanh đại thánh hiền. Nắm gươm
chém ái kiến, pháp đạo gánh vẹn
toàn. Hùng mãnh vượt long
tượng, bi thệ chứng vô duyên. Đã
biết sâu ý chỉ, ở ngoài giáo
pháp rồi, rốt cuộc nhờ văn
tự, để mãi được lưu
truyền. Đề xướng khắc
phương sách, giúp hiển Trực Chỉ
Thiền. Trong ngục đền nợ cũ, đến
đi thật thong dong. Xá-lợi trấn Song
Kính, nửa kệ công đã tròn. Con
thẹn dõi theo Ngài, thuở nào
được cặp rèn?)
16) Tiếp
dẫn trong mộng: Hám Sơn đại sư
Sư húy Đức
Thanh, tự Trừng Ấn, biệt hiệu Hám
Sơn, họ Thái, người xứ Hòa
Châu. Lúc sanh ra, Sư được phủ trong
bọc trắng, nước tắm có
mùi hương lạ, miệng như vầng trăng
ngửa, lông mày năm sắc, tóc có
sắc xanh biếc. Mười hai tuổi xuất
gia. Hai mươi sáu tuổi vào núi Yến Bàn,
trụ hơn một tháng, thân thể rỗng không.
Trong một biệt thất tại Hồ Thuận Am,
Sư nhập định một thất, thảy
đều không chấp trước. Sư trụ
Ngũ Đài tám năm, mộng thấy pháp giới
viên dung quán cảnh, lại mộng lên lầu gác
của Di Lặc, nghe nói nghĩa sai biệt
giữa thức và trí. Kế đó,
trụ tại
Lao Sơn ở Đông Hải, ngộ
thông suốt quán cảnh của Lăng Nghiêm. Về
sau, do lời đồn thổi của gã
phương sĩ, vua hạ chiếu tống Sư
vào ngục, chịu đủ mọi hình phạt,
nhưng thần sắc chẳng khác. Sư
mộng thấy Đại Sĩ an ủi, đem trăm
vạn sanh linh phó thác. Sư bị đày
đi làm lính thú ở Lôi Dương,
tận lực khiến cho tổ đình Tào Khê
thanh tịnh, vì thị giả Linh Thông thọ
giới, thay đốc phủ dẫn quân, chinh phục
người Dao, người Đồng[50],
quả nhiên cứu được hơn trăm
vạn mạng người.
Về sau, Sư
được xá tội, trở về Nam
Nhạc; kế đó, trụ tại ngọn Ngũ
Nhũ ở Khuông Sơn, bế quan niệm Phật, ngày
đêm sáu thời, mỗi công khóa là
một vạn tiếng. Năm Canh Thân (1620), thầy
Tuyết Lãnh Tuấn lên núi vấn an, Húc
gởi một phiến hương, được
đại sư từ bi ban thư dạy bảo,
viết kệ ngữ khai thị. Năm Tân Dậu
(1621), đại sư lại trụ Tào Khê. Năm Nhâm
Tuất (1622), Húc quyết chí xuất gia, ba
lượt mộng thấy đại sư tiếp dẫn,
hận tài lực kém cỏi chẳng
thể đi xa, bèn cầu ngài Tuyết Lãnh Tuấn
xuống tóc, đó là được
đại sư tán thán, hứa khả.
Mùa Đông năm Quý Hợi (1623), Húc
đả thất tại Thiên Thai, bỗng mộng thấy
đại sư dung nhan hơi tiều tụy,
dường như có điều căn
dặn. Về sau biết đấy chính là
lúc đại sư thị tịch. Sư thọ
bảy mươi tám tuổi, khám dời sang
Tào Khê. Sau hai mươi năm, mở khám ra
xem, toàn thân kiên cố, y phục tươi đẹp,
tóc lẫn móng tay đều dài, da dẻ
trắng vàng, tươi nhuận như còn
sống. [Đồ chúng] bèn dùng sơn pha
vàng để gìn giữ, thờ phụng
giống như nhục thân của Lục Tổ. Tán rằng:
- Trường
Can Phật Đà Lư, gián xuất danh thế hào. Khí
vũ tự vương giả, bút trận nhược
giang đào. Tông, Giáo nhậm du hý. Chân, Tục
tùy tiêu dao. Lý hiểm bất dị thản,
tựu ty năng khuất cao. Hiền trí vọng
thả bố. Ngu liệt thân khả kiều. Sanh bình
bán nghi tín. Mạt hậu thỉ giải trào.
Thị ngã quy lộ ổn. Ai tai cam tự
đào! Khể thủ từ thệ lực,
chung đương vị ngã chiêu.
(Làng
Phật Đà Trường Can, bỗng vang danh thế
hào. Khí độ tợ vương giả,
bút trận dường sóng trào. Tông,
Giáo mặc du hý, Chân, Tục mặc tiêu dao.
Vào hiểm chẳng khác yên; ngộ
hèn, biết khuất mình. Hiền trí nhìn
kinh sợ, ngu kém ngưỡng mộ Ngài.
Đời nửa tin, nửa ngờ,
cuối cùng mới hết nghi. Dạy con nẻo an
ổn, buồn thay cam tự trốn. Kính lạy
sức từ thệ, rốt cuộc chuốc
vời con).
* Ba mươi ba bài
tán chân dung của chính mình
1) Vị
nhĩ vi Thiền, môn đình phất chuyên. Vị
nhĩ vi Giáo, biện hương phất tuyên. Vị
nhĩ vi Luật, tiêu bảng phất kiền. H́nh hài khô
cảo hề, thần tình tự phong, tư
tánh độn chuyết hề, thuyên biện
tự hùng. Xúc trước cừ
hề, mãnh hổ, độc long. Thức đắc
cừ hề, hòa khí xuân phong. Cứ nhĩ nhất trạng,
tự thủ mạn vân, hiến chương Tử Bách Khả,
tổ thuật Vĩnh Minh Thọ. Tử tế kiểm
điểm tương lai, bất miễn vạn niên di
xú.
(Nói
ngươi là Thiền, môn đình chẳng
chuyên. Nói ngươi là Giáo, mảnh
hương chẳng tuyên. Nói ngươi là
Luật, gương mẫu chẳng kiền thành.
Hình hài tiều tụy, tinh thần tự sung
túc. Bẩm tánh chậm chạp, vụng về, diễn
nói, biện luận tự hùng hồn. Chạm
đến ngươi à? Hổ dữ, rồng
độc. Biết đến ngươi à? Hòa
khí gió Xuân. Xét hành trạng ngươi, tự ngạo
mạn nói noi theo khuôn phép của
ngài Tử Bách Chân Khả, kế thừa,
thực hiện đạo của Vĩnh Minh Diên
Thọ. Tỉ mỉ kiểm điểm tương lai,
chẳng khỏi để tiếng xấu vạn
năm).
2) Dị
phiên Thiền giảng khỏa cữu, hân khai Phật,
Tổ đầu lô, bút để oanh lôi, xiết
điện, thiệt tiêm bình thủy, bàn
châu, chỉ hữu nhất đoan khả tiếu. Y
nhiên cụ phược phàm phu.
(Lật
nhào khuôn sáo Thiền giảng, mở toang đầu
lâu Phật, Tổ.
Dưới bút sấm nổi, chớp giăng.
Đầu lưỡi bình nước, mâm châu[51].
Chỉ có một mối đáng cười,
vẫn là cụ phược phàm phu[52]
y hệt!)
3) Học vô
thường sư, giao vô trạch hữu, trọng
thật, khinh danh, từ tâm độc khẩu.
Hữu thời tự hài đề chi đồng.
Hữu thời tự tang gia chi cẩu. Bất
giải xu cát tỵ hung. An tri thôi bạc cư hậu?
Đạp phá khê sơn vạn đóa vân, nhân tiền xứ
xứ dương gia xú.
(Học thầy vô
thường, kết bạn không chọn lựa.
Trọng thật, khinh danh. Tâm từ, miệng
dữ. Có lúc như trẻ thơ non dại,
có lúc như chó nhà có tang. Chẳng
hiểu hướng lành, tránh dữ,
há biết tránh bạc, trụ hậu? Đạp
nát muôn đóa mây nơi núi, khe. Chốn
chốn khoe cái xấu trước mọi
người).
4) Bão anh chử chi
khổ tư, mông Lý Lăng chi cấu nhục. Nhãn
khổng thước phá thái không, hành lý
hồn vô khả lục. Phế kư trung thanh trung quyền, ẩn
cư phóng ngôn thành cục. Tán hủy nhất
nhậm chư phương, Trí Húc nguyên thị Trí
Húc.
(Mang nỗi khổ bảo
vệ con côi, chuốc nỗi ô nhục của Lý
Lăng[53]. Tròng
mắt nhìn thấu hư không, cư xử
chẳng có gì đáng chép! Đã
phế “trung thanh, trung quyền”, ẩn cư phóng ngôn”[54]
thành hạn cục. Khen, chê đành mặc
các phương. Trí Húc vốn là Trí
Húc).
5) Tham
Thiền, Thiền bất ngộ. Khán Giáo, Giáo
bất thâm. Tŕ giới bất cụ túc, niệm Phật
bất nhất tâm. Quán điệu xế không tý, xuất
nhập kinh cức lâm. Ha Phật diệc mạ tổ, hiệp
thú kiêm hữu cầm. Toàn thân đẳng vi vũ, phiến
ngữ trọng thiên kim. Chi Na quốc lư lưu cá khanh khanh
tiểu nhân chủng, thiên cổ vạn cổ vị thẩm
thùy tri âm?
(Tham
Thiền, Thiền chẳng ngộ. Xem Giáo, Giáo
chẳng sâu! Tŕ giới chẳng đầy
đủ. Niệm Phật chẳng nhất tâm. Quen
thói buông thõng tay, ra vào rừng gai góc.
Quở Phật cùng chửi tổ, bỡn
cợt cùng chim, thú. Khắp thân là lông
chim, một lời nặng ngàn vàng. Trong
nước Chi Na còn một thứ tiểu nhân
lộc cộc, ngàn đời, vạn thuở
chẳng rõ ai là tri âm?)
6) Đốt
tai Chung Đại Lang! Thắc sát vô câu thúc. Nhật
dạ tứ vô minh, tăng trưởng tham sân độc.
Tự tán phục hủy tha, trực chỉ hoàn
tác khúc. Ngoạn lộng Phật dữ ma.
Điên đảo chân dữ tục. Cử bút động
thiệt thời, mỗi sử quỷ thần khốc.
Nhân thuyết nhĩ thông minh, ngã thuyết nhĩ mộc cốc. Mạnh lãng quá nhất sanh,
cứu cánh kết hà cục? Bất thị
sanh Tây Phương, tiện thị đọa địa
ngục.
(Chao ôi Chung đại lang[55]!
Quá đỗi chẳng gò bó. Đêm
ngày ruổi vô minh, tăng trưởng độc
tham sân. Tự khen, lại chê người. Bẻ
cong lẽ trực chỉ. Đùa bỡn
Phật cùng ma, điên đảo chân với
tục. Mỗi khi viết hoặc nói,
thường khiến quỷ thần khóc. Người
nói ngươi thông minh, ta nói ngươi cùm
gỗ! Sống phí uổng một đời,
rốt cục sẽ ra sao? Nếu chẳng sanh Tây
Phương, sẽ liền đọa địa
ngục!)
7) Đơn
đề cực tắc chánh lệnh, bất
đọa kim thời khoa quật. Giả nhiêu Hoàng
Bá, Vân Môn, vị miễn tao ngô nhất
quặc. Thả đạo hướng
thượng nhất cú, tất cánh thị
cá thậm ma? Hiệp chưởng xưng vân, nam-mô
A Di Đà Phật (hình niệm Phật, tám
bài sau giống như vậy).
(Riêng nêu
chánh lệnh tột cùng, chẳng lọt vào khuôn
sáo hiện thời. Dẫu cho Hoàng Bá, Vân
Môn, chẳng khỏi bị ta bợp tai. Lại
nói một câu “hướng thượng”,
rốt cuộc là cái gì vậy? Chắp tay
xưng rằng: Nam-mô A Di Đà Phật).
8) Bất
độ đức, bất lượng
lực. Vọng dục chỉ trụ trung lưu.
Thùy đạo liên thân cốt một. Nỗ
lực bát tương khởi lai, vị
miễn cân bì cốt trắc. Lại hữu kim
cang chủng tử, tùng lai bất thọ xâm thực.
Di Đà nhất cú tác tân lương, A Tỵ
trực đạt An Lạc quốc.
(Chẳng
lường đức, chẳng
lượng sức. Hư vọng toan làm
trụ đá giữa dòng. Ai ngờ thân
cũng chìm đắm. Nỗ lực chèo
chống thoát ra, chưa khỏi gân chùng,
xương mỏi. Nhờ có chủng tử
kim cang, trước nay chẳng bị ăn
mòn. Một câu Di Đà làm cầu bến, A
Tỵ đến thẳng Lạc bang).
9) Hảo
cá bất tức lưu hán, tiền hậu tuyệt vô
tư toán. Phật pháp giảng đắc
hứa đa. Phiền năo hà tằng thiểu
đoạn. Tuy nhiên hà bất yểm du, tranh nại
dạ do vị đán. Chỉ hữu Tây
Phương lộ thục, thả hỷ cứu đắc
nhất bán. Trực đãi Di Lặc hạ
sanh, phương liễu giả trùng công án.
(Hay sao
một gã chẳng mẫn tiệp, trước
sau trọn chẳng suy tính, nói Phật pháp
cho lắm, phiền não chưa hề đoạn
chút nào. Dẫu tỳ vết chẳng vùi
lấp mỹ ngọc, hiềm rằng đêm vẫn
chưa sáng. Chỉ có nẻo Tây Phương đã
quen, lại vui được cứu một
nửa. Chờ cho Di Lặc hạ sanh,
mới hiểu rõ tầng công án này).
10) Tín
đắc thị tâm thị Phật, nãi tín
thị tâm tác Phật. Sở dĩ khô tọa nam
nam, chuyên niệm A Di Đà Phật. Thiên yếu ký
xuyến, ký thiên. Bất học man han cốt
đột. Vô luận
chuyên tâm, tán tâm. Thanh thanh diệt tội bát
thập ức kiếp. Giả sử chúng sanh giới tận,
hư không giới tận, ngã thử tŕ danh, chung vô
hưu hiết.
(Tin
tưởng tâm này là Phật, bèn tin tâm
này làm Phật. Do vậy, ngồi khô khốc
rì rầm, chuyên niệm A Di Đà Phật. Riêng
muốn nhớ chuỗi, hay nhớ ngàn
tiếng[56], chẳng học mịt mờ,
rối loạn; bất luận chuyên tâm, tán tâm,
mỗi tiếng diệt tội tám mươi
ức kiếp. Giả sử chúng sanh
giới tận, hư không giới tận,
sự trì danh của tôi trọn
chẳng ngưng nghỉ).
11) Bất
nguyện thành Phật, bất cầu tác tổ.
Bất khẳng tùng kim, bất cảm bạn
cổ. Niệm niệm tư quy Cực Lạc
hương, tâm tâm chỉ úy Sa Bà khổ. Lục tự
Di Đà thị thoại đầu, thiên ma bách
nạn thùy năng trở. Thiên hạ nguyên phi thủ
khả viện, thả học Nhan Uyên quyền bế hộ.
Trực đãi Tây Phương khứ phục
lai, phổ dữ trần sa kích pháp cổ.
(Chẳng
nguyện thành Phật, chẳng cầu làm
Tổ. Chẳng chịu theo nay, chẳng dám
trái xưa. Mỗi niệm nghĩ về quê
Cực Lạc. Mỗi tâm chỉ sợ khổ Sa
Bà! Sáu chữ Di Đà là thoại
đầu. Ngàn trăm vùi dập cùng tai
nạn, ai cũng chẳng hề ngăn
được ta! Chẳng thể ra tay
giúp thiên
hạ, đành học Nhan Uyên đóng
cửa tu. Chờ từ Tây Phương quay
trở lại, sẽ gióng trống pháp
khắp trần sa).
12) Nguyện
đại bất di trần giới, đảm tiểu
phạ đọa địa ngục. Kiến nhân hy
tiếu măn dung, lễ Phật bi ai thống khốc. Chung
nhật luân xuyến sổ châu, duy khủng vạn thanh
vị túc. Túng hữu nhất khích
độc minh, thả vô phiến trường khả
lục. Chỉ đồ hạ phẩm liên sanh. Tiện
thị chung thân định cục. Khởi cảm
đại ngôn khi thế, trí sử pháp môn thọ nhục.
(Nguyện
to, chẳng sót vi trần cõi. Gan bé, chỉ
sợ đọa địa ngục. Thấy
người, đầy mặt tươi
cười. Lễ Phật, buồn thương
khóc rống. Suốt ngày luôn tay lần chuỗi,
chỉ sợ chưa đủ vạn
câu! Dẫu có một thoáng riêng sáng suốt,
chẳng có chút sở trường
đáng kể! Chỉ mong hạ phẩm liên sanh,
chính là kết quả chắc chắn
một đời. Há dám huênh hoang dối
đời, đến nỗi pháp môn mang nhục).
13) Dă tánh
lăn thả phích, độc dữ trúc thạch nghi. Tuyền
thanh diễn Phật hiệu, trợ ngã Tây
Phương tư. Hữu thời minh mục
tọa. Dao tùy lạc nhật trì. Hữu
thời cao thanh hô, huyền tưởng mẫu ức
nhi. Phả tín cảm ứng lý, ninh phục hoặc tha
kỳ. Tu Di hoặc khuynh động, ngã chí
bất khả di. Ai tai sanh tử mộng, cố tật thùy
năng y? Thứ ky nhất khâu hác, liêu miễn dăng oa si.
(Tánh
đã lười lại kỹ, riêng hợp
với đá, tre. Tiếng suối diễn Phật
hiệu, giúp ta nhớ Tây Phương. Có khi
nhắm mắt ngồi, ruổi theo mặt
trời lặn. Có lúc lớn tiếng niệm,
tưởng nghĩ mẹ nhớ con. Khá tin
lý cảm ứng, chẳng mê rẽ lối khác.
Tu Di dẫu lay động, chí ta chẳng thể
dời! Buồn thay mộng sanh tử, bệnh
ngặt ai chữa lành? Những mong chốn
ẩn dật, hòng thỏa nỗi si mọn).
14) Sanh
bình thiểu thật đức. Thử
tượng hà lao truyền? Độc hữu
bất khi tâm, giảo thắng cận nhật
Thiền. Nguyện cư chúng nhân hậu, bất vi
nhất vật tiên. Tứ nghi tŕ Phật hiệu, phất
luận tán dữ chuyên. Tín nguyện chung vô nhị, định
dục trân tŕ liên. Dữ nhĩ chúng thượng thiện,
lịch kiếp h́nh thần liên.
(Cả
đời kém thật đức, tượng
này há nhọc truyền? Riêng tâm chẳng
lừa dối, trội hơn Thiền gần đây.
Nguyện ở sau mọi người, chẳng
ở trước một ai. Tứ nghi[57]
trì Phật hiệu, chẳng màng tán hay
chuyên! Tín nguyện trọn chẳng hai, quyết
tắm nơi ao báu, cùng các vị thượng
thiện, trải kiếp gá thân sen).
15) Bất
tham Thiền, bất học Giáo, Di Đà nhất
cú chân tâm yếu. Bất đàm huyền, bất
thuyết diệu. Sổ châu nhất xuyến chân phong
điều. Do tha cơ, nhậm tha tiếu, niệm
bất trầm hề, diệc bất điệu. Trú
dạ xưng danh thệ phất vong. Chuyên đăi từ tôn
quang lư triệu. Huyền tri liên ngạc dĩ tiêu danh, thỉnh
quân đồng thượng từ bi tạo.
(Chẳng
tham Thiền, chẳng học Giáo. Một câu Di
Đà, chân tâm trọng. Chẳng bàn huyền,
chẳng nói diệu. Một chuỗi tràng
hạt chân thật lần. Mặc ai chê, kệ ai
cười, niệm chẳng trầm trệ,
chẳng lao chao. Ngày đêm xưng danh thề
chẳng quên. Chuyên đợi từ tôn quang minh
nhiếp. Biết sẵn búp sen đã ghi tên, xin
ông cùng lên chốn từ bi).
16) Kính
Sơn lâu hạ, mê khước phụ mẫu sanh thân.
Vĩnh Khánh đường trung, y hy chỉ
lộc vi mã. Cửu Hoa tĩnh thất, tằng khiết
hủ tể bỉ khang. Linh Phong tạng
đường, hựu phục vi ư thời
hạ. Nhi kim hướng thử khô thụ lý.
Hồ tư loạn tưởng tác ma? Đốt!
Hốt ngộ thụ đảo, đằng khô, thả hỷ
tương tùy lai dã! (tượng như cây khô
nhập Thiền).
(Dưới
lầu Kính Sơn, mê mất thân cha mẹ sanh. Nơi Vĩnh
Khánh đường, phảng phất chỉ nai
nói ngựa. Cửu Hoa tĩnh thất, từng
ăn cặn hư cám bã. Linh Phong tạng
đường, lại trái thời kết
hạ. Nhưng nay hướng đến cội cây khô, suy
tưởng loạn xạ để làm gì? Ôi!
Bỗng gặp cây đổ, dây leo khô, lại
mừng theo gót vậy).
17) Nhược
dục lợi nhân, hà bất hướng vạn
chúng tùng tịch dương danh? Nhược
dục tự lợi, hà bất hướng vạn
sơn thâm xứ tàng thân? Khán nhĩ tấn
thoái thất cứ, muội khước
phát giác sơ nhân. Tuy nhiên bị tha giản
điểm, thả hỷ hữu lư khả thân. Bất
nguyện nhất nhật mại đắc thiên
đảm giả, đản nguyện thiên nhật
mại bất đắc nhất đảm chân
(tướng thuyết pháp).
(Nếu
muốn lợi người, sao chẳng
hướng đến tùng lâm giảng tịch
vạn người để phô danh? Nếu muốn tự
lợi, sao không hướng đến chỗ
thẳm trong muôn núi để ẩn thân? Thấy
ngươi tiến, thoái chẳng đúng
lẽ, mê mất cái nhân phát khởi giác
ngộ thuở đầu! Dẫu được
người khác can gián, chỉ bày, vẫn
mừng có lý để diễn bày.
Chẳng nguyện một ngày bán
được ngàn gánh giả, chỉ mong
ngàn ngày chẳng bán được
một gánh chân!)
18) Hành
niên ngũ thập, do vị tri phi. Thất điên bát
đảo, bả thiệt, cổ bì. Kiến ác
bất tỉnh, kiến thiện bất tề, hồ
tư loạn tưởng, nhạ báng chiêu nghi. Dịch
phá tánh tướng lưỡng gia giới
hạn, phiên đảo Nam Tông, Bắc Giáo phiên ly.
Hữu thời bất cung, tắc lạm đồng
Hạ Huệ. Hữu thời biển ải,
tắc phảng phất Bá Di. Độc đắc nhất
điểm hảo quyết khiếu, thất tiện nghi xứ
chiếm tiện nghi.
(Tuổi
đã năm mươi, vẫn chẳng biết
sai! Thất điên bát đảo, khoe môi múa
lưỡi, thấy ác chẳng tỉnh
ngộ, thấy hiền chẳng mong bằng. Suy
tưởng loạn xạ, chiêu báng, chuốc
ngờ! Đạp đổ giới hạn
giữa hai nhà Tánh, Tướng. Lật
nhào rào giậu Bắc Giáo, Nam Tông. Có
khi chẳng cung kính, lạm dự giống
như Hạ Huệ. Có lúc hẹp hòi,
phảng phất Bá Di. Chỉ được
mỗi điểm quyết khiếu tốt đẹp,
chiếm tiện nghi nơi chỗ chẳng tiện
nghi).
19) Tỳ
Lô đảnh thượng, bất khẳng an thân
lập mạng. Bả lư cước biên, thiên
yếu xích thoái thốn tấn. Khả lân ngũ
thập niên lai, nan đắc bán thời ninh
tĩnh. Vị tri tánh cụ viên tông, uổng hướng
bát vu thảo bính. Dĩ ngộ tánh ác pháp môn,
nguyên lai tức thị bệnh hạnh.
(Trên
đảnh Tỳ Lô, chẳng chịu an thân lập
mạng. Bên chân lừa què, riêng mong lùi một
thước, tiến một tấc. Đáng
thương năm chục năm qua, khó
được nửa giờ yên tĩnh.
Chưa biết viên tông tánh trọn, oan uổng tìm
cán nơi bát. Do ngộ pháp môn ác tánh,
vốn sẵn chính là bệnh hạnh).
20) Do ức
thập nhị tam thời, tiện yếu thụ hiền
thánh xí, nhi kim ngũ thập dư niên, hà
thường tri đắc thiên đức?
Huống tấn tư tam thập vị lập, tứ
thập đa Hoặc, ký bất kham tác Tuyên Ni tử
tôn, hựu khởi kham xưng Thích Ca nhi tức? Tử
tế giản tương lai, chỉ thị nhất
cá biên phạn khiết đích lăo tặc.
(Còn
nhớ lúc mười hai, mười ba,
liền muốn dựng cờ thánh hiền,
mà nay hơn năm mươi năm, chưa
từng biết đức trời! Huống suy
xét ba mươi chưa lập, bốn mươi
Hoặc nhiều, đã chẳng kham làm con
cháu Tuyên Ni, há đáng kham xưng là con
cháu Thích Ca? Suy tính cặn kẽ cho
tương lai, chỉ là một tên giặc già
lừa gạt cơm ăn).
21) Hung
trung một bán cá tự cước, bút hạ hữu
vạn quyển thi thư, đỗ lý vô phân hào
giới đế. Thiệt đầu hữu
đa thiểu hủy dự. Hảo tượng
nhất khoa đại thụ, chỉ thị kỳ danh
viết xư (tướng trước
thuật).
(Trong
bụng chẳng được một
nửa chữ, dưới ngòi bút
có vạn quyển thi thư. Trong bụng chẳng
có mảy may phiền trách, đầu
lưỡi có bao nhiêu lời khen, chê. Giống
như một cội cây lớn, chỉ đáng
gọi là cây xư[58])
22) Dã
thị bách vạn nhân thiên tri thức, dã thị tam
gia thôn lư học cứu. Dã thị giới
định huệ tiền mao. Dã thị tham sân si
đích lănh tụ. Chỉ nhân một hữu đích xác
sư thừa, đáo để chỉ thị cá
bát bất tựu.
(Cũng
là tri thức của trăm vạn trời
người. Cũng là kẻ có học
vấn trong thôn ba nhà, cũng là tiền
phương tiện giới định huệ, cũng
là lãnh tụ của tham sân si. Chỉ do
chẳng có sư thừa đích xác, rốt
cuộc chỉ là một gã tám điều đều
chẳng xong[59]).
23) Sanh
bình quá thất thâm trọng, do hạnh phả tri
nội tụng. Hồn thân hà điếm như mang, do
hạnh bất cảm phú tàng. Tạ thử
tàm quý chủng tử, phương kham tống
tưởng Lạc bang. Dĩ tư chân ngữ,
thật ngữ, kiêm dục ký giới chư
phương. Bất tất học tha khẩu trung, lạn
phiên ngũ tông bát giáo. Thả tiên học tha
nhất điểm, phác phác thật thật tâm
tràng.
(Suốt đời
lầm lỗi sâu nặng, còn may khá biết
tự trách. Khắp thân tỳ vết như tua
lúa mạch, còn may chẳng dám giấu che.
Nhờ chủng tử hổ thẹn ấy,
mới kham mong tưởng Lạc bang. Dùng chân
ngữ, thật ngữ này, kiêm mong răn
nhắc các phương: Đừng học
đòi miệng chỉ nói suông, đạp nát
năm tông, tám giáo. Trước hết, hãy
học
theo hắn[60]
một điều, ruột gan chất
phác, chân thật).
24) Tích
niên Dung sư hội lư, hoặc tằng thiêu hỏa, tảo
địa. Sở dĩ kim tại U Thê, vọng niêm
Đệ Nhất Nghĩa Đế. Bất thiệp nghĩ
nghị tư lương, bất ly ngữ ngôn văn tự.
Nhân thiên đại chúng, vị miễn kinh nghi. Lại
hữu Trạm công, kham tác chứng chất.
Thiết vật tương thử xú dung, thoán
nhập bách tổ đội trung, đản khả
lưu dữ nhi tôn, tác cá cổ đồng
ngoạn khí.
(Xưa kia
trong hội của ngài Biến Dung, chắc
đã từng đốt lửa, quét
đất. Cho nên nay tại U Thê, hư vọng nêu ra
Đệ Nhất Nghĩa Đế. Chẳng dính
dáng toan tính, suy lường, chẳng
lìa ngôn ngữ, văn tự. Đại
chúng trời người, chưa khỏi kinh
nghi. Nhờ có Trạm công, kham làm bậc
chứng minh, cật vấn. Chớ đem dung
mạo xấu xí này, lén xếp vào
hàng ngũ chư tổ. Chỉ nên lưu lại cho
con cháu, làm một thứ đồ cổ
để chơi thôi!)
25) Chú tận
thập nhị bộ kinh, bất tằng tăng
giảm nhất tự. Giảng tận bát vạn
luật nghi, bất tằng hành đắc
nhất sự. Thích Ca Như Lai, hoán tác bất
tiếu xú nhi. Di Lặc Thế Tôn, ha vi si ngoan ngạo
đệ. Độc hữu A Di Đà Phật, tàng
cấu nạp ô, kim thủ tiếp hướng hạ
phẩm liên hoa an trí.
(Chú
giải trọn mười hai bộ kinh, chưa
từng tăng giảm một chữ. Giảng
hết tám vạn luật nghi, chưa từng
làm được một chuyện. Bị
Thích Ca Như Lai gọi là đứa con
tồi tệ chẳng ra gì. Di Lặc Thế
Tôn quở là đứa học trò si,
bướng, kiêu ngạo. Riêng có A Di Đà
Phật dung nạp cấu dơ, tay vàng đón
tiếp đặt nơi hoa sen hạ phẩm).
26) Khể
thủ Ngẫu Ích chân, đảnh đới Như
Lai tượng. Thử tượng ký phi
chân. Thử chân ninh hữu lưỡng? Đế
quán tượng dữ chân. Duy thị tự
tâm tưởng. Tâm bất thuộc thánh phàm, thánh phàm năi
tịnh lăng. Phàm phu tọa bồ đoàn, thánh ưng cư
kỳ thượng. Phàm nhân xí thánh quả, phân minh thị chư
chưởng. Niệm niệm hằng hiện tiền, h́nh
ảnh chung vô sảng. Ngã diệc tín phất nghi,
nhĩ diệc an vô cưỡng. Địch
diện ngữ mặc vong, hà lao phục trợ
trưởng. Trấn cổ đản như tư,
bất mịch thời lưu thưởng. Dục
tùng diệc vị do, ninh tư cánh toản
ngưỡng, bạch nhật lâm thanh thiên. Biến
giới tiêu lỵ võng. Ngu muội nhậm cơ
xuy, long thần nhậm khể tảng. Cá sự tuyệt
thành khuy, thập xích nguyên nhất trượng,
đản giá từ bi hàng, đồng dao Bát Nhã
tương. Pháp giới
vi tân lương, trực tầm khởi xích
uổng. Cánh vấn cổ Quán Âm, phương tri
nhược ưng hưởng.
(Kính
lạy Ngẫu Ích chân, đầu đội
tượng Như Lai. Tượng ấy
đã chẳng thật, thật há lại
có hai? Quán kỹ tượng và thân,
chỉ là tự tâm tưởng. Tâm
chẳng thuộc thánh phàm, thánh phàm đều rỗng
rang. Phàm phu ngồi bồ đoàn, thánh ắt
ngự ở trên. Phàm do mong thánh quả, phân minh
như chỉ tay. Niệm niệm luôn hiện tiền, h́nh
ảnh trọn chẳng sai. Ta cũng tin chẳng
ngờ, ngươi cũng đừng nên
cưỡng! Đối diện, im, nói bặt,
nhọc chi giúp tăng trưởng? Giữ xưa chỉ
như thế, chưa từng theo thói nay. Muốn
theo, vẫn
chưa được; mong chi ngưỡng
mộ, nghĩ? Mặt nhật rạng trời
xanh, khắp cõi quỷ quái bặt.
Mặc ngu muội chê gièm; mặc rồng, thần
kính lễ. Chuyện này trọn thiếu sót,
mười thước vốn một
trượng. Chỉ thả thuyền từ bi,
cùng vẫy chèo Bát Nhã. Pháp giới là
cầu bến, vì tầm há uổng thước? Lại
hỏi cổ Quán Âm, mới biết nên thế
nào?)
27) Uẩn
Từ hiệp chưởng vấn trì
giới. Ngã thuyết trì giới tu uẩn
từ. Từ thị hạ hóa chúng sanh
bổn. Từ thị thượng cầu Phật
đạo cơ. Bất sát, bất đạo,
bất dâm vọng. Bạt khổ, dữ lạc công
thậm kỳ. Chuyên hộ tánh giá linh thanh
tịnh. Nhưng tu niệm Phật cầu sanh Tây. Thiết
bất cầu sanh Cực Lạc quốc, chỉ khủng
nhưng tao cách ấm mê. Thiết năng tín nguyện cầu
bỉ độ, tuy tằng hữu phạm
diệc thành cơ. Thị dĩ ngã kim đản
niệm Phật. Nhất cú Di Đà pháp giới
sư. Bất lao học thấu Triệu Châu khẩu. Bất
lao học phấn Vân Môn oai. Thanh thanh tọa đoạn
thánh phàm lộ. Tứ cú hàm ly tuyệt bách
phi. Tam thân Tứ Đức địch thể lộ,
thước phá điểu không thử tức si. Uẩn Từ,
Uẩn Từ ưng đế tín, Phật hiệu viên
thành bát vạn nghi.
(Uẩn Từ
chắp tay hỏi trì giới. Tôi nói
trì giới cần lòng từ. Từ
là gốc hạ hóa chúng sanh. Từ là nền
thượng cầu Phật đạo. Chẳng
giết, chẳng trộm, chẳng dâm, dối.
Dẹp khổ, ban vui, công lạ thay! Chuyên gìn “tánh,
giá” khiến
thanh tịnh. Vẫn cần niệm Phật cầu sanh Tây.
Nếu chẳng cầu sanh cõi Cực Lạc,
chỉ sợ vẫn mê khi cách ấm. Nếu
như tín, nguyện cầu cõi ấy, tuy
từng trót phạm vẫn còn duyên. Do vậy,
tôi nay chỉ niệm Phật. Một câu Di Đà
thầy pháp giới, chẳng học súc miệng
theo Triệu Châu.
Chẳng nhọc học Vân Môn ra oai.
Từng tiếng cắt đứt nẻo
thánh phàm. Bốn câu đều lìa, dứt
bách phi. Tam thân, tứ đức thể hiển
lộ. Phá sạch nỗi si nói lý suông. Uẩn
Từ, Uẩn Từ hãy nên tin chắc, Phật
hiệu trọn thành tám vạn oai nghi).
28) Nhân tri
kỳ biếm cổ xích kim, bất tư kỵ húy.
Bất tri kỳ đàm Giáo thuyết Thiền,
bất lập văn tự. Thượng pháp
tòa hề, khẩu nhược huyền hà. Hạ
pháp ṭa hề, mục vô sở thị. Tùng triêu
chí mộ xưng A Di, khốt khốt tư tư
tương số ký. Tam thập niên lai bất cải
huyền, tùng tư kham tận vị lai tế.
Thập chủng khả tận niệm vô tận, nhất
thiết tam-muội nhất tam-muội. Cụ
phược phàm phu thậm hy hữu, quyết
bất vọng ngôn thánh hiền vị. Thương Huy nhược
dục hằng tương tùy, sát na dũng phát Bồ
Đề chí.
(Người
ta biết hắn
chê xưa, quở nay, chẳng
nghĩ kỵ húy. Chẳng biết bàn Giáo, luận
Thiền, chẳng lập văn tự. Lên pháp
tòa, miệng như sông cuồn cuộn.
Bước xuống pháp tòa, chẳng
để một ai vào mắt. Từ sáng
tới tối xưng niệm A Di Đà, khăng
khăng ghi nhớ số. Ba mươi năm qua
chẳng đổi cách, từ nay tu miết
tột vị lai. Mười loại dẫu tận,
niệm vô tận. Hết thảy tam-muội chỉ là
một tam-muội. Phàm phu phiền não thật hy hữu,
quyết chẳng nói bừa địa vị
thánh hiền. Thương Huy nếu muốn luôn theo
bước, sát-na dũng mãnh phát chí Bồ
Đề).
29) Thương
Vân truyền ngã dung, vấn ngã hà hành cước.
Ngã hành khổ thả trường, vị quân thuyết
kỳ lược. Thập nhị tùng ngoại phó, lập
chí vị thánh học. Ngộ tạo báng pháp tội, ky
chí đại đọa lạc. Thập thất văn
Phật ngôn, phiên nhiên thỉ cải ác. Nhị thập
đinh phụ ưu. Bi cực như mộng giác. Kiến
Địa Tạng Bổn Nguyện, thả khốc,
thả hân dược. Thứ niên, thư sám
pháp, huân tửu giới bất
khước. Nhập tam thính Lăng Nghiêm, cấp
tham giả nhất trước. Nhập tứ
đào xuất gia. Xứ xứ biến tầm
mô. Vân Thê cập Song Kính, Thiên Thai lai vãng số.
Đản tự cứu căn nguyên, bất
vấn tha nhân thược. Phủ
đắc môn lộ thanh, toại ngộ cảnh duyên
ngược. Hư danh nhật dĩ chương, công hạnh
nhật dĩ nhược. Chí niên tam thập bát, đại
bệnh vi lương dược. Cao ngọa Cửu
Tử phong, khang tể kham thư tước. Phủ
chú Phạm Vơng kinh, toại hữu Ôn Lăng ước.
Bão bệnh thuật Huyền Văn, quyết khai thiên cổ
mạc. Tùng Mân chí Ngô Hưng, nãi đáo
Trường Can quách. Chú thuật tuy vân phú, tương thác
hoàn tựu thác. Kim niên ngũ thập tam, y nhiên
thị cụ phược. Tổn kỷ dĩ
lợi nhân. Cổ thánh sở ta ngạc. Thâm hối
diệc giảo trì, Linh Phong liêu tạm thác.
Nhất cú A Di Đà, kham vi lương dạ
thác. Nhữ đản ấp ngã thanh,
vật cánh đồng ngã trược!
(Thương
Vân truyền hình[61]
tôi, hỏi tôi chuyện hành cước. Tôi hành
khổ lại dài, kể với ông đại
lược. Mười hai tuổi vào học, lập
chí vì thánh học. Lầm tạo tội báng
pháp, gần như đọa lạc to.
Mười bảy nghe lời Phật, thoăn
thoắt đổi lỗi ác. Hai mươi bị
tang cha. Bi tột, như tỉnh giấc. Xem Địa
Tạng Bổn Nguyện, vừa khóc, vui,
hớn hở. Năm kế, chép sám
pháp. Rượu thịt đều kiêng
dứt. Hăm ba nghe Lăng Nghiêm, vội tham lẽ
hướng thượng. Hăm bốn trốn
đi tu. Tìm, mò trọn khắp nơi. Vân Thê
và Song Kính, Thiên Thai qua lại nhiều. Chỉ
tự tìm căn nguyên, chẳng hỏi
người khác lối! Vừa mới
hiểu đường nẻo, bèn gặp
nghịch cảnh duyên. Hư danh ngày một rạng,
công hạnh ngày thêm yếu. Tới tuổi ba
mươi tám, bệnh ngặt là thuốc
lành. Nằm cao ngọn Cửu Tử, kham
nhấm nuốt cám, cặn. Vừa chú kinh
Phạm Võng, bèn ước hẹn Ôn Lăng. Ôm
bệnh soạn Huyền Văn, quyết bóc màng
ngàn đời. Từ Mân đến Ngô Hưng,
bèn tới gần Trường Can. Chú
thuật tuy dồi dào, vẫn đem lầm
đáp lỗi! Nay tuổi đã năm ba, phiền
não trói y hệt. Tổn mình để
lợi người, cổ thánh từng than
thở. Rất hối cũng chậm rồi, Linh Phong
đành tạm gởi. Một câu A Di Đà,
kham làm mõ
cầm canh. Ông chỉ chọn điều thanh,
đừng giống tôi ô trược!)
30) Lộ xuất nương
sanh bán thân, sổ xuất kim sanh bại khuyết.
Mộ Hám ông chi đảm đương pháp môn.
Bất năng học kỳ bất tỵ phủ việt.
Mộ Tuyết Lăng lực tảo cát đằng, bất
nghi học kỳ nhất vị khinh hốt. Mộ Vân Thê chi
thịnh đức khiêm quang, bất năng học kỳ
quảng tác châu phiệt. Mộ Thọ Xương chi chân
tham thật ngộ, bất năng học kỳ
đáo để bất hiết. Mộ U Khê chi trung
hưng Thai Quán, bất nghi học kỳ đơn
thủ nhất quyết. Mộ Chuyên Ngu chi băng
sương thao lý, bất năng học kỳ
đại biện nhược nột. Nguyện học
Tử Bách chi tông giáo viên minh, viễn bất cập kỳ
thuần cương chú cốt. Y! Thử thị Ngô Môn bất
tức lưu đích Chung Chấn Chi, nhi kim
hựu hoán tác Bắc Thiên Mục đích
lăo khốt lốt. Kỷ phiên cổ dực dục
đằng không, kỷ phiên hựu hướng
hoang nguyên quyết. Chỉ hữu nhất cú A Di
Đà Phật nhận đắc chân, nguyên
tuyền tất cánh quy thương bột.
(Để
lộ nửa thân mẹ sanh, nhiều lượt
lộ khuyết điểm đời này. Ngưỡng
mộ ngài Hám Sơn gánh vác pháp môn,
chẳng thể học Ngài không tránh né
búa, rìu. Ngưỡng mộ ngài Tuyết
Lăng tận lực quét sạch dây leo, chớ nên
học Ngài một mực coi thường.
Ngưỡng mộ ngài Vân Thê đức
dày, khiêm quang, chẳng thể học Ngài
rộng làm thuyền, bè. Ngưỡng mộ ngài
Thọ Xương chân tham thật ngộ, chẳng
thể học Ngài rốt cuộc chẳng
ngưng. Ngưỡng mộ ngài U Khê trung hưng
Thiên Thai Giáo Quán, chớ nên học Ngài
chỉ giữ một đằng. Ngưỡng
mộ ngài Chuyên Ngu phẩm tiết băng sương,
chẳng thể học Ngài đại biện
tài mà như kẻ khờ khạo. Nguyện học
theo ngài Tử Bách Tông Giáo đều viên minh, nhưng
thua xa Ngài khí tiết cứng cỏi! Ôi! Đấy
là gã Chung Chấn Chi[62]
chẳng mẫn tiệp ở Ngô Môn, nay lại
gọi là lão ương bướng tại Bắc
Thiên Mục. Mấy phen vỗ cánh toan vọt lên không,
mấy phen lại rơi phịch xuống đồng
hoang! Chỉ có một câu A Di Đà Phật hiểu
chân thật; suối, nguồn rốt ráo về biển
thẳm).
31) Sanh
bình bất giải tàng chuyết, lộ
thử tàng tư ngoan liệt. Thuyết
khởi phảng phất y hy. Địch diện hà
thường thân thiết? Lại hữu nhất
xuyến sổ châu, khước thị sanh bình
bí quyết. Sở dĩ hoán tác Ngẫu
Ích, vị thị chứng quy vi miết. Ký
ngữ Lý an pháp hữu,
bất tất tư lương phân biệt. Đản
như Đinh Lan sự thân, quản thủ thích chi xuất
huyết.
(Suốt
đời chẳng biết giấu vụng về,
để lộ vẻ bướng hèn ẩn tàng. Nói
thì phảng phất, lơ mơ, gặp
mặt có bao giờ thân thiết? Nhờ
có một chuỗi tràng hạt, chính là
bí quyết cả đời. Do vậy, gọi
là Ngẫu Ích, chưa phải là kẻ hàm
hồ cưỡng lý đoạt từ.
Gởi lời tới pháp hữu an
trụ trong lý, chẳng cần phải suy
lường, phân biệt. Chỉ như Đinh Lan[63]
phụng sự cha mẹ, há bận tâm đâm ra
máu).
32) Thử
thị Ngẫu Ích đạo nhân, sanh bình bất
thiện đào danh. Xứ xứ tàng
đầu lộ vĩ. Khả sỉ Thanh Văn quá
tình, ngẫu hướng Phong Nam dương gia xú.
Thiên cổ độc cổ nhưng tề minh. Tiễu tuyệt
bách thiên kỳ khúc lộ, trực giao đồng tác
liên bang dân.
(Đây
là Ngẫu Ích đạo nhân, suốt
đời chẳng khéo ẩn danh. Nơi
nơi giấu đầu lòi đuôi. Đáng
thẹn tình kiến Thanh Văn quá mức,
ngẫu nhiên hướng đến Phong Nam bêu cái
xấu sẵn có. Trống trời, trống bôi
thuốc độc vẫn cùng gióng, trừ
sạch trăm ngàn đường vòng
vèo, thẳng thừng cùng làm dân cõi
sen).
33) Bình
sanh tự cứu bất liễu, chỉ vị môn
tiền chi nhiễu, nhi kim thỉ giải tàng thân, mộ
nhập Linh Phong thâm đảo. Phao khai thế
thượng thằng tiên, thủ túc sơn trung
thủy thảo. Thiếu Thất, Thiên Thai tận đạp
phiên, Đông Độ Tây Thiên giai xúc đảo. Giản
điểm thân tâm quá thất đa, bồi hồi kim cổ
tri âm thiểu, tất cánh thùy vi Dương
Tử Vân, vấn thủ Hòa Thành Diêu Quảng lăo.
(Suốt
đời tự cứu chẳng xong,
chỉ vì trước cửa quấy nhiễu.
Nhưng nay mới biết ẩn thân, liền vào
đảo sâu Linh Phong. Quăng bỏ ràng buộc trên
đời, đi lại trong nơi cỏ
nước. Đạp nhào sạch Thiếu
Thất, Thiên Thai; Đông Độ, Tây Thiên đều
húc đổ. Suy xét thân tâm khuyết điểm
nhiều, bồi hồi xưa nay tri âm ít. Rốt
cuộc ai là Dương Tử Vân, cứ
hỏi cụ Diêu Quảng[64]
ở Hòa Thành).
27. Thi kệ
* Lời từ
biệt chú khi sắp xuất gia
Thế
biến bất khả trắc, thử tâm thiên cổ
nhiên. Vô hạn tha sơn ư, đinh ninh bất tại ngôn.
(Đời
biến đổi khôn lường, tâm
thường hằng muôn đời. Ý non
khác vô hạn, đinh ninh chẳng do lời).
* Nhất bút cú[65]
Trạm
hải phù âu, khởi diệt vô đoan hà nhật
hưu? Mục ế, không hoa hữu. Ế tận, hoa
tồn phủ? (trà) Mạc cánh vãng mê lưu,
toan tân độc thọ. Tri vọng vô nhân, đương
thể nguyên như cựu. Nhân thử bả
thế giới thân tâm nhất bút cú.
(Biển
lặng, một bọt nước, bỗng dưng
sanh diệt thuở nào ngừng? Mắt
có màng, hoa đốm hiện. Màng mộng
hết, hoa còn chăng? (Hừm) Đừng theo
dòng mê nữa, riêng hứng chịu chua xót.
Biết vọng chẳng có nhân, bản thể
vốn như cũ. Do vậy, quy thân tâm, thế giới
này vào một lời).
* Năm Ất Dậu viết
nhất bút cú
Hải
trạm âu phù, bổn tự vô đoan khởi cánh
hưu? Nhãn ế, hoa phi hữu. Ế tận, hoa
vong phủ? (trà) Cập tảo ngộ chân lưu, an
nhiên chánh thọ. Tri huyễn tức ly, na
hữu tân hòa cựu? Bả thậm ma thế
giới thân tâm nhất bút cú.
(Biển
lặng, bọt nổi, vốn tự không duyên
cớ nổi lên rồi mất đi. Mắt
có màng, hoa đốm chẳng có. Màng
mộng hết, hoa mất chăng? (hừm) Sớm
gấp ngộ chân lưu, an tường chánh
thọ. Biết huyễn liền lìa, há có
mới và cũ? Thế giới thâm chi
nữa đều quy vào một lời).
* Kết chế[66]
Lũ nhiên
nhất bát biệt vô năng, một kỹ tầm
thường chúc phạn tăng. Kết hạ khởi cam
vi Phật chế, đàm kinh nguyên bất lạc thanh
trần. Quắc đầu thanh chướng kham mai cốt,
kính diện sương hành vị hữu bằng, dự
tứ đồng nhân tương sách lệ, bất tu
môn ngoại thiết tam thừa.
(Một
bát rỗng không, thiếu năng lực. Sư bất
tài, chỉ biết cháo cơm. Kết hạ
há đành trái Phật chế? Giảng kinh
vốn chẳng đọa thanh trần. Moi đầu
trừ chướng, kham vùi cốt.
Gương sáng sương giăng, há
đáng tin? Tự tứ mọi
người cùng khích lệ, chẳng
cần ngoài cửa đặt ba xe).
* Giải chế
Kết
chế thử phương thịnh, giải chế
lương phong tác. Điều hốt yêm cửu
tuần, quang hoa dịch tồ lạc. Điền hòa
thanh tiệm hoàng, hà thủy lưu thả hạc.
Diến tưởng nhật dụng trung. Do thị
ỷ dữ thác. Yển nguyệt đàm liễu
nghĩa, u thất bệnh vi dược. An cư cánh
hà ích, huống phục tương hành cước.
Tha sơn tuy nhập mộng, chỉ khủng nguyên như tạc.
(Kết hạ
trời vừa nóng, giải hạ gió
mát thổi. Thoáng chốc chín mươi
ngày, hoa tươi đã úa rụng. Ruộng
lúa xanh dần vàng, nước sông trôi cạn
dần. Nghĩ lại trong thường ngày,
vẫn còn là dựa dẫm. Dưới
trăng bàn liễu nghĩa, phòng kín bệnh
là thuốc. An cư có ích gì? Huống
lại sắp hành cước! Núi
khác tuy vào mộng, chỉ sợ vốn như
trước).
* Cuối Hạ năm
Bính Dần, tiên từ (mẹ) bỏ
cõi đời, vịnh Tứ Niệm
Xứ để bày tỏ lòng đau buồn
1) Ân ái mê
t́nh, tứ đại duyên sanh vọng hữu thân. Nùng
huyết giao tương nhuận, xú uế
thường vô tận. (trà) Nhiêu nhĩ hội
trang căng, họa nang thịnh phẩn. Nhất
đán thần ly, bất phục kham thân cận.
Thiết mạc bả vị lạn khô lâu nhận tác
chân (quán thân bất tịnh).
(Ân ái
mê tình, tứ đại duyên sanh hư vọng
có thân. Máu mủ hòa lẫn thấm nhuần,
hôi nhơ thường vô tận. (Hừm) Dẫu
ngươi biết điểm trang rực rỡ,
túi đẹp đẽ đựng phân! Một mai
thần thức chia lìa, chẳng còn kham thân
cận. Chớ nên nghĩ đầu lâu khô khốc
là chân thật).
2) Vọng
tưởng khu tŕ, hấp lăm tiền trần tác sở
y. Nghiệp cảm nguyên vô ý, khổ lạc tùy nhân dị.
(Trà) Khổ quả thật kham bi. Toan tân nan tỷ. Thế
lạc tuy vinh, hưởng tận sầu hoàn
chí. Thiết mạc bả ngũ dục trần lao uổng
tự mê (quán thọ là khổ)
(Vọng
tưởng rong ruổi, thu hút tiền trần làm
dựa nương. Nghiệp cảm vốn vô ý.
Khổ lạc tùy nhân mà sai khác (Hừm)
Khổ quả thật đáng buồn, chua xót khó
thể sánh! Sự vui thế gian dẫu tràn
trề;
hưởng hết, sầu lại tới!
Đừng oan uổng tự mê trong ngũ dục
trần lao!
3) Mê
khước chân thường, duyên khí phân vân tập
nhất xoang. Ly bỉ tiền trần tướng, phân
biệt thành hà trạng? (Trà) Nhiêu nhĩ hội
tư lượng, chung quy võng tượng. Quá vị
vô tung, hiện tại nguyên trường vãng. Thiết
mạc bả lưu chú tâm cơ tác chủ trương (quán
tâm vô thường)
(Mê mất
chân thường, duyên khí lăng xăng gom thành một
mối. Lìa tướng tiền trần ấy, phân
biệt thành hình trạng gì? (Hừm)
Dẫu ngươi có thể suy lường,
rốt cuộc là hư huyễn. Quá khứ, vị
lai không tung tích, hiện tại vốn qua lâu rồi.
Chớ đừng để cái tâm tuôn rót
nắm quyền chủ động).
4) Tạng
tánh châu viên, tùy nghiệp tùy tâm pháp pháp toàn. Hòa hợp
nhân duyên suyễn, hý luận tu bài khiển (trà). Ngoại
đạo uổng củ triền, manh vô huệ nhăn. Diệu
hữu chân không, mịch ngã đồng dương
diệm. Thiết mạc bả thập giới y tha
tác bổn nhiên (quán pháp vô ngă)
(Tạng
tánh tròn khắp, tùy nghiệp, tùy tâm mỗi
pháp vẹn tròn. Hòa hợp nhân duyên lầm
lạc, hý luận cần khử trừ
(Hừm). Ngoại đạo oan uổng vấn
vít, đui mù không huệ nhăn. Diệu hữu
chân không, tìm Ngã giống như nắng
gợn. Chớ đừng ngỡ pháp y
tha trong mười pháp giới vốn
sẵn như vậy).
* Giải chế, tự
phúng điếu để chỉ bảo các
bạn
Cựu
niên kết hạ Bành Thủy tân. Kim niên kết hạ
Cô Tô thành. Cựu niên giải chế mẫu
thượng tại. Kim niên giải chế đồ
thương t́nh. Xuất thế đại hiếu vị
hữu đương. Ô hô kim thả vi cùng manh. Khắc
kỳ thủ quả tích hà giảo, tứ tải
hữu dư đồ tự náo. Hốt
hốt bất niệm tử đương chí. Cô
phụ ngô y sắc dụng tạo. Thanh tiêu mỗi tự
thân, trường chuyển hướng thùy trần.
Danh văn lợi dưỡng tự tích bất thường
tại, ca-sa nhất thất, thiên
cổ, vạn cổ chung trầm luân.
(Năm
xưa kết hạ bến Bành Thủy. Năm nay
kết hạ thành Cô Tô. Năm xưa giải chế, mẹ
còn đó. Năm nay giải chế, lòng
buồn tênh. Xuất thế đại hiếu chưa
làm được. Than ôi! Nay lại là kẻ
nghèo. Hạn kỳ chứng quả xưa mạnh
mẽ, hơn bốn năm rồi chỉ uổng công!
Mơ màng chẳng nghĩ mình sắp
chết, cô phụ tấm y giặt bạc màu! Đêm
thanh thường than thở, quặn lòng
tỏ cùng ai? Tiếng tăm, lợi dưỡng xưa
nay chẳng thường còn, một tấm
ca-sa mất đi, ngàn thuở, muôn đời
trọn trầm luân).
* Bài kệ thứ hai
trong tám bài kệ từ biệt các bạn
viết bằng máu trích từ đầu
lưỡi nhân dịp Xuân Mậu Thìn (1628)
Giáo
Quán công nan khắc, hoành siêu niệm tối hiền. Nhất
thanh Phật hiệu xử. Dĩ thị Thế Tôn tiền.
Tham cứu tuy vân đốn, ta kim bội phục nan.
Tiểu an thành đại vọng, hà tự
dụng kim chuyên?
(Giáo
Quán công khó đạt, niệm hoành siêu tột
lành. Trụ một tiếng Phật hiệu,
đã hầu
trước Thế Tôn. Tham cứu tuy gọi “đốn”, nay than khó
bội phần! Tiểu an thành vọng lớn, nào khác dùng
ngói vàng[67]?)
* Tặng Thọ huynh
rút được cái thăm “tham phỏng
rộng khắp”
Giác Hoàng
thời dĩ mại, hàm thức phương di bổn.
Chấp giáo sính không đàm, y Thiền tư đa man. Chánh
pháp di phồn ưu, trù tác tự tâm muộn. Hữu
hoài Tinh Cốc Thọ, dữ ngã đồng sở
thổn. Ngã dĩ thiên cổ giao, sưu tinh dụng bổ
cổn. Quân dĩ bách thành lịch, thủ ích khai quần
đồn. Lưỡng đồ các tŕ sính, quyết chỉ
thích phi viễn. Tri quân ẩm pháp lưu, chung bất do hà yển.
Nguyện quân hữu nhật ích, ngã nguyện năng
nhật tổn.
(Thời
Giác Hoàng đã qua, hàm thức
đều quên gốc. Chấp Giáo chuộng bàn suông. Tu
Thiền nhiều mờ mịt. Chánh pháp thành
rườm rà,
toan tính tâm phiền muộn. Tinh Cốc Thọ hoài
bão, cùng suy nghĩ với tôi. Tôi kết giao
ngàn đời, tìm tinh túy bù
đắp. Ông do trải trăm thành, đạt
lợi khai quần mê. Hai đường
đều rong ruổi, ý chỉ càng chẳng
xa. Biết ông uống dòng pháp, trọn chẳng
như chuột chũi, cố uống nước trong
sông[68].
Nguyện ông ngày càng thêm, tôi nguyện ngày
càng tổn).
* Gởi huynh Quy Nhất
Trù
Phá gia
đăng sản anh hùng sự, khuê các vi ti phụ tự liên.
Túng bác vạn tràng kim nhật thỉ, nhất trần
tiện khả chú tam thiên.
(Chuyện
anh hùng: Phá tan gia sản, khuê các chút
tiền vợ tự thương. Dẫu nay muôn
chốn đem đánh đổi, một bụi
tưới trọn khắp tam thiên).
* Hai bài kệ tặng
huynh Tinh Cốc Thọ rút được cái
thăm “xuất gia”, sắp sang Bác Sơn xuống
tóc
1) Tích
niên tương thức Ngũ Vân gian, hà tự
kim triêu khế cánh chuyên? Kỳ quá tụng ưng thâm
kích lệ, tha sơn thạch bất tập nhu tiên. Xuân
hồi đốn cải tàn Đông sắc, tuyết
tích du tăng thúy trúc nghiên. Tùng thử cộng
khư hàn khí tận, du du Thuấn nhật dữ Nghiêu thiên.
(Ngũ Vân
thuở trước từng quen biết, sao
bằng hiện thời càng thân quen? Tự
trách lỗi mình, sâu khích lệ. Đá
nơi núi khác, chẳng xảo ngữ[69].
Xuân về nhanh đổi sắc Đông tàn. Tuyết
đọng càng tăng trúc đẹp xinh.
Từ đấy, cùng trừ khí lạnh
hết, dài lâu ngày Thuấn với trời
Nghiêu).
2) Khứ
niên ái ngã diệc phân phương. Độc
thiện vi hoài đoái khả thương. Phá
cách nhất triêu thành bất dị, khuông phù thiên
cổ khởi tầm thường? Mang hài phá xứ,
cước ngấn ổn. Trụ trượng hồi
thời thủ nhãn lương. Ký ngữ thủ
châu môn hạ khách, đồng tương tổ đạo
khổ mính thường.
(Năm
xưa thương mến cũng thơm hương.
Chí toan riêng thiện khéo nhủ khuyên. Phá
lệ một hôm đâu phải dễ. Ngàn
đời nâng đỡ há tầm
thường? Hài cỏ dẫu rách, gót chân
vững. Chống gậy về, tay mắt tỏ
tường. Nhắn gởi kẻ ôm cây
đợi thỏ, trà đắng tổ
đạo hãy nếm xem).
* Nghỉ tại Huệ An
Pháp lâm
điêu tạ bất năng Xuân, hoàng diệp thu phong ách
dũ trăn. Viên đảnh phương bào tuy biến giới,
vong thân vị pháp quả thùy nhân.
(Rừng
pháp điêu tàn chẳng tốt tươi,
lá vàng theo gió rụng đầy nơi.
Đầu tròn, áo vuông tuy khắp cõi,
vì pháp vong thân được mấy
người?)
* Dâng lời lên sư
bá Vô Dị (có lời
tựa)
Húc
là kẻ chẳng ra gì, lúc mới tin
Phật pháp, nghe nói có những kẻ
giả xưng ngộ đạo dối gạt
người đời, hết sức
thương tâm. Đọc Bác Sơn Cảnh
Ngữ, trộm mừng chánh pháp hãy
còn, riêng cho rằng đấy là một phương
thuốc tốt lành. Về sau thấy Thiền
khách trong núi chỉ dùng một câu thoại
đầu chết
cứng để làm chiêu bài thoái
thác, liền cho đó là cái cọc
buộc lừa! Kẻ đã nhập Lý còn
chẳng thể được, huống hồ kẻ
“hướng thượng nhất trước”
chẳng trụ trong Lý ư? Trong những
năm ấy, kẻ cuồng vọng thường
báng bổ ngài Bác Sơn, tôi bèn nghi
Ngài ắt có chỗ khác với
thói tục, cho nên cảm vời lời ác
đưa đến. Tôi hỏi thầy Tinh Cốc,
thầy Tinh Cốc nói: “Chẳng thể như đại
y vương khéo trị các bệnh, nhưng chuyên
ròng một khoa phá ung, tiêu độc. Chẳng
thể như chủ binh thần[70]
đánh đâu thắng đó, mà là
vị quan già giữ ải xét rành lũ
gian ngụy”. Do vậy, tôi kính ngưỡng tham
thỉnh, mới biết đại sư nương đại
nguyện, có đại lực, vận dụng đại
bi, mở rộng đại lượng, thật
sự chẳng giống như các nơi
khác. Tôi là một đứa trẻ nít,
dùng Thiền đối trị Hoặc, dùng
Luật để phù trợ giáo pháp
đã suy vi, tuy đơn đao trực nhập,
chẳng thể là đứa con ruột
thịt đích truyền, nhưng do Tam Học nâng
đỡ cũng có thể làm chiếc
chiếu bằng cỏ tranh[71].
Huống hồ giao du với thầy Tinh Cốc, có
tình nghĩa với sư bá, kính dâng
lời quê kệch:
- Pháp
vương thị tịch triêu nhật minh, chúng
thánh bất trụ mộ phất điện. Hồ diên
tinh xú tiễn Cửu Châu, sư nghê suyễn
tức cẩn như tuyến. Thử thời
bất hữu chí nhân điếu, thục dữ quần
sanh tồi oán địch? Ngô sư mẫn thử thừa
nguyện lai, trực ẩm Tào Khê nguyên nhất
trích. Nhất trích niêm phúc triệt cốt
khang. Xuất quật tần thân tăng oai lực. Tứ
vọng cao hống thanh vị cực, bách thú
lăng trăn kinh tỵ nặc. Kham ta dă can trá
tương thân, thập thủ dư tàn cuống tha quốc.
Tự tàm bất cụ siêu phương nhãn,
dĩ nhĩ vi mục ninh tương thức? Kim nhật
tương phùng phi ngẫu nhiên, tự pháp vô duyên liêu tự
đức. Nguyện tương nhất trích Tào
Khê nguyên, diễn tác bách thiên đại hải vực.
Nguyện tương pháp hải bách thiên lưu, hối
tác Tào Khê nguyên mạc trắc. Cửu
bệ năng linh liêm mạc cao, tam tông mạc tác
đảnh túc lặc. Miểu nhĩ dư hoài thứ
khả thư, tùng tư cộng tác Năng Nhân dực.
(Pháp
vương thị tịch trời bỗng
tối. Chư thánh chẳng trụ, đêm
chẳng chớp. Nước dãi cáo tanh
khắp Cửu Châu, sư tử thở thoi
thóp như tơ. Lúc ấy, chí nhân
chẳng ra tay, ai dẹp oán địch cho quần
sanh? Thầy tôi thương xót, nương nguyện
tới. Uống ngay một giọt nguồn Tào Khê. Một
giọt vào bụng thấu xương tủy. Vươn mình
ra hang, tăng oai lực. Dõi nhìn bốn
phía rồi rống to, âm thanh chưa đạt
tới cùng tột. Trăm thú lăn chiêng,
hãi hùng ẩn. Xót thay chó rừng
vờ thân cận, nhặt nhạnh tàn dư
gạt nước khác. Tự thẹn
chẳng đủ mắt tót vời,
dùng tai làm
mắt, há hay biết? Ngày nay
gặp gỡ chẳng ngẫu nhiên; nối
pháp, vô duyên nối đức hạnh. Nguyện
đem giọt nước nguồn Tào Khê,
mở thành trăm ngàn vực biển
rộng. Nguyện đem trăm ngàn dòng biển
pháp, gom về nguồn Tào chẳng thể
lường. Chín bệ khiến cho rèm phủ
cao. Ba tông chớ thành thế chân vạc. Lòng
con hèn mọn mong rộng mở, từ đây
phù tá bậc Năng Nhân).
* Tặng huynh Bích
Như bế quan, dùng nguyên vận của ngài
Bác Sơn
Tiêu nhiên
nhất thất thắng Tung Sơn, thứ phá Thiền
cơ chỉ đẳng nhàn. Đản mạc
tương tâm nghĩ tường bích. Khứ
lai hà xứ bất Trường An.
(Rỗng
rang một thất vượt Tung Sơn, nhìn
thấu Thiền cơ chỉ nhẹ tênh. Chỉ
đừng ngỡ tâm như tường
vách. Đến đi mọi chốn thảy
Trường An).
* Tặng Giới Châu (có lời
tựa)
Thiền
huynh Giới Châu là con cháu họ Mã ở
Thiên Trường, Phượng Dương, từng
cắt bắp đùi cứu cha, rạch gan
cứu mẹ. Cho tới khi song thân tạ thế, huynh
bèn xuất gia, nguyện dự vào Tịnh
Xã của tôi, cho nên viết lời này.
Tỳ Ni
Thiền Quán hỗ trang nghiêm, huề thủ đồng
quy Cực Lạc thiên, doanh đắc hiếu
tư vi hành bổn, giới châu lăng ác chiếu
tam thiên.
(Trang nghiêm
Thiền Quán lẫn Tỳ Ni, tay nắm cùng
về Cực Lạc thiên, lòng hiếu tuyệt
vời làm cội đạo, giới châu
cầm chắc chiếu tam thiên).
* Nhiếp Sơn
Thân thê bích
hà ngoại, mục nhiếp loạn sơn phong.
Tối thị quan tình sự. Giang phàm vạn
lý phong.
(Thân
ở ngoài ráng biếc, mắt nhìn
núi lô nhô. Ải tình kiến nặng nhất,
gió vạn dặm căng buồm).
* Tặng đại
đức Đạm Cư dùng máu chép kinh
Hoa Nghiêm
Vạn trích
thư thành pháp giới kinh, thập
vương trích trích phóng quang minh. Nam tuân
mạt hậu nhất cú tử, bất đọa
cuồng Thiền thử tức minh.
(Muôn
giọt chép thành pháp giới kinh,
mười vương từng giọt tỏa quang
minh. Đi về phương Nam: Một câu cuối. Chẳng
đọa cuồng Thiền nói Lý suông).
* Cảnh tỉnh Thúy
Trưng
Nhật
chiếu chỉ song minh, mộ nhiên khởi bi tư. Đản
hữu hảo thuận nhân, tằng vô cương liệt
chí. Do như bỉ si dăng, chỉ hướng song
tiền trệ. Bất khẳng mãnh hồi
đầu, vân hà đắc xuất thế?
(Nắng
soi sáng song giấy[72],
bỗng dưng dấy niềm sầu. Chỉ thuận theo
người khác, chí chưa từng
cứng cỏi. Giống như con ruồi si, chỉ
vướng ở trước song. Chẳng
dũng mãnh quay đầu. Lẽ nào xuất
thế được?)
* Mười bốn
bài kệ Tịnh Độ (có
lời tựa)
Thiền
sư Bác Sơn nói kệ Tịnh Độ,
thường nói “Tịnh tâm tức là
cõi Tây Phương” do Ngài dùng nhân nhiếp
quả. Người đọc chẳng thấu đạt,
đến nỗi dùng Lý đoạt Sự,
gần như trở thành phá pháp.Tôi nghe mà
cảm hoài, thường nói “Tây Phương
tức cõi duy tâm”, ngõ hầu dùng
Sự giúp Lý, mong góp phần bổ
cứu thói tệ thiên lệch vậy.
1) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, vô
thượng thâm Thiền bất dụng tham. Phật
hướng niệm trung toàn thể lộ.
Cánh sanh nghi lự thái si hám.
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, vô
thượng thâm Thiền há phải tham? Mỗi
niệm, Phật tâm toàn thể lộ, còn sanh nghi
lự, quá si khờ!)
2) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, ly độ
đàm tâm thật đảo điên. Niệm niệm tổng
giai quy Phật hải, sanh manh trùng mịch Tổ
Sư Thiền.
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, lìa cõi
bàn tâm quá đảo điên! Mỗi niệm
đều quy vào biển Phật, sanh manh lại
kiếm Tổ Sư Thiền).
3) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, đắc kiến
Di Đà thỉ ngộ tâm. Thốn thổ bất
tồn phi đoạn diệt, đường đường
tướng hảo tịch quang thân.
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm,
được thấy Di Đà mới ngộ
tâm. Tấc đất chẳng còn, không đoạn
diệt. Tịch quang thân tướng hảo mênh mông).
4) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, dục ngộ
duy tâm đản niệm Tây. Thiệt tướng quảng
trường chuyên vị thử, cánh cầu huyền
diệu ức hà si.
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, muốn ngộ
duy tâm chỉ niệm Tây. Tướng lưỡi
rộng dài chuyên vì đó. Còn cầu
huyền diệu quá si rồi).
5) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, vô tướng
phi tùng tướng ngoại cầu. Nghĩ dục
tương tâm thủ vô tướng, linh quy duệ
vĩ chuyển kham ưu.
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, vô
tướng há ngoài
tướng
tìm cầu? Toan dùng cái tâm
giữ vô tướng, đáng ngại rùa
thiêng bị rụt đuôi).
6) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, vị thức
Tây Phương khởi thức tâm? Thệ tử mậu hy
viên đốn giải, thập tương lạc diệp
tác hoàng kim.
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm. Chưa hiểu
Tây Phương, há biết tâm? Con trốn[73]
lầm mong viên đốn giải, thâu gom lá
rụng ngỡ vàng ròng).
7) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, cánh mịch
duy tâm kiến dĩ vi. Quang ảnh sủy ma thành
hoạt kế, liên bang hà nhật bạc ngôn quy?
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, lại kiếm
duy tâm, thấy
sai rồi! Huyễn hư suy tưởng làm
sanh kế, cõi sen há có thuở quay về?)
8) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, nghĩ bát Tây
Phương, lý tiện quai. Cực Lạc nhất trần
đồng sát hải, giả nhiêu thiên nhăn vị tri nhai.
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm; toan
bác Tây Phương, lý nghịch rồi,
Cực Lạc một trần đồng sát
hải, dẫu dùng thiên nhãn biết đâu
ngằn?)
9) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, sấn
đáo Đồng Cư đệ nhất quan. Đản
đắc cửu liên năng thác chất, Tịch Quang hà
lự bất thời hoàn?
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, xông đến
Đồng Cư nơi
ải đầu. Chỉ cần gá
thân sen chín phẩm, Tịch Quang nào sợ
đúng thời về).
10) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, độ
tịnh phương tri tâm thể không. Nhất thiết
cảnh phong do quải niệm, vân hà vọng thuyết
nhậm Tây Đông?
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, cõi tịnh
mới hay tâm thể không. Hết thảy cảnh quan do
vướng niệm, sao đành nói nhảm
mặc Tây Đông?)
11) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, mạc bả
duy tâm chỉ thú vu. Mê ngộ khứ lai nguyên tạng
tánh, mạn ngôn bình đẳng khước
thành vu.
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, chỉ thú
duy tâm chớ có lầm. Mê, ngộ, đến,
đi vốn tạng tánh, nói bừa bình
đẳng trở thành xằng).
12) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, bạch ngẫu
tŕ khai bất dụng tài. Nhất niệm đốn giao
quy Phật hải, hà lao Thiếu Thất dữ Thiên
Thai?
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, ao sen
trắng nở chẳng cần trồng.
Một niệm rất nhanh về biển Phật, nhọc
chi Thiếu Thất với Thiên Thai?)
13) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, tam-muội
trung vương đạo tối vi. Miết nhĩ sanh
nghi thiên cổ cách, giảo đinh tước thiết mạc
y vi.
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, bảo
vương tam-muội tột tinh thâm. Bỗng chốc sanh
nghi, muôn
thuở cách; nhai đinh, nhá sắt,
hãy thuận tùng).
14) Tây
Phương tức thị duy tâm độ, huệ nhật
cao huyền đệ nhất cơ. Sự Lý song
dung chân tịnh nghiệp, hiện tiền hà pháp
bất huyền vi?
(Tây
Phương nào khác cõi duy tâm, huệ nhật
treo cao diệu tuyệt trần. Sự Lý dung thông,
chân tịnh nghiệp. Pháp hiện tiền nào
chẳng huyền vi?)
* Họa thơ Bất Ngã
Mỗi thán tông
thừa sự dĩ phi, manh tu hạt luyện dục
hà vi? Tri quân độc cụ siêu phương nhãn,
khô mộc nham tiền lộ khởi mê?
(Thường than tông
thừa chuyện đã sai, tu luyện đui
mù muốn
làm chi? Biết ông riêng mắt nhìn siêu
việt; vách
đá, cây khô
há lạc đường?)
* Chỉ dạy Trí
Hằng tự Giám Như
Giám triệt
Chân Như thể, nguyên quang bổn tự hằng. Miết
sanh minh giác vọng, huyễn tác tịch không trần.
Liễu liễu nguyên vô vật, phương nghi phất
thức cần. Tú Năng thân thiết chỉ,
hội đắc bất tu phân.
(Soi
thấu Chân Như thể, sáng ngời vốn
thường hằng. Bỗng sanh minh giác
vọng, biến huyễn tịch không trần. Rành
rành vốn không vật, phải nên siêng lau chùi. Ý thân thiết
Năng, Tú[74],
biết chẳng cần tách
rời).
* Chỉ dạy Dụng
Hằng trong dịp xuống tóc
Minh tâm hảo
hướng Tam Quy thỉ, lập chí hoàn tùng ngũ
giới tiên. Cần khổ bất từ thành
phước tụ, tụng tŕ vô khuyết ngộ linh
nguyên.
(Minh tâm
phải hướng Tam Quy khởi, Ngũ
Giới làm đầu lập chí bền. Siêng
khổ chẳng nề, thành khối
phước. Tụng
trì chẳng khuyết, ngộ nguồn thiêng).
* Chỉ dạy nơi có
của báu
Trước
Hữu lạc nhân thiên, trước Không đọa
tam ác. Duy hữu Tây Phương độ, siêu xuất
hữu vô phược. Xí nhiên cầu vãng sanh, mạc
phục tồn nghi tưởng. Giới nhĩ tài trù
tŕ, thiên tà kiến nhật trưởng. Tư lượng
phân biệt pháp, báng ư chân trí huệ. Vĩnh kiếp trầm
thâm khanh, chư Phật vô năng tế. Chủng mạch thiểu
đạp thổ, diệc vật thừa không thủ.
Trung hành tiễn thật địa, tật đắc
chí bảo sở.
(Chấp
Hữu đọa trời, người.
Chấp Không đọa tam ác. Chỉ có cõi Tây
Phương, vượt “hữu, vô” ràng
buộc. Hăm hở cầu vãng sanh,
đừng ôm lòng nghi lo. Vừa chần
chừ mảy may, tà kiến lệch càng
tăng. Suy lường phân biệt pháp, báng bổ chân
trí huệ. Bao kiếp chìm hố sâu, chư Phật
chẳng cứu nổi. Trồng lúa đạp
chút đất, cũng đừng tay không về.
Trung đạo hành chân thật, chóng đến
chỗ của báu).
* Qua Đông Tháp ở
Tuy Lý, thấy người thượng
đường cảm hoài (ba
bài)
1) Thụ
diểu thanh thanh khấp lộ ai, ngạn châu ngư bối
mạn tương sai. Tông Thừa đốn trục
Đông lưu hạ, xúc mục nan cấm lệ mãn
tai.
(Đầu
cành rền rĩ tiếng buồn thương,
cập thuyền đếm cá đoán mò thôi.
Tông Thừa chóng ruổi về Đông chảy. Mắt
thấy, khôn
cầm mặt lệ đầy).
2) Nhất
trích hồ diên triệt thể tinh, Đương Dương
nha lập pháp vương đ́nh. Khước tàm
Phổ Nhãn năng hoằng hộ, do sử thiên
nhân yểm nhĩ thính.
(Một
giọt dãi cáo thể tanh hôi. Đương
Dương quạ đậu tòa vua pháp. Thẹn
cho Phổ Nhãn hay hoằng hộ, vẫn khiến
trời người bịt chặt tai).
3) Lung
nhân thính khúc ách nhân ca, bả tích tương tương cộng
phạt kha. Kim nhật dĩ thành minh ám
giới, bất tri hướng hậu hựu
như hà?
(Kẻ
điếc lắng nghe kẻ ngọng ca.
Tướng quan chân thọt cùng vung rìu. Nay
đã trở thành cõi tăm tối, mai sau
nào biết sẽ ra sao?)
* Hai bài kệ gởi
huynh Quy Nhất khi duyệt Luật Tạng lần
nữa trong năm Kỷ Tỵ (1629)
1) Tuế vãn hàn phương
thịnh, an cư tạ đạo huy. Ái du Đông
nguyệt nhật, châm tỷ bội huyền vi. Cố mạng
nghi tần tưởng, thời gian nguyện tảo
huy. Thử duyên lương bất dị, hạnh
vật cánh y vi.
(Năm tàn,
trời chớm lạnh, an cư bóng
đạo
nương. Thích trải tháng
mùa Đông. Ghi chép đầy lề sách.
Nhiều lượt nghĩ cố mạng, lúc
khó sớm quét phăng. Duyên này thật
chẳng dễ, mong chớ đừng trái,
thuận).
2) Tự quý phi kiên chất,
khuông phù lại hữu bằng. Cảm tư anh tuấn
sĩ, cam tác liệt dung bằng. Quy mạng do hiềm
văn, vong thân diệc sở ưng. Phục cần hàm
trượng[75] nội,
trữ vọng nhă tương căng.
(Tự
thẹn chẳng cứng cỏi, nâng đỡ
cậy bạn bè. Thương cảm bậc anh
tuấn, cam làm kẻ kém kèn. Quy mạng
còn ngại trễ, vong thân cũng đáng nên. Siêng
hầu bậc thầy dạy, mong ngóng rủ lòng
thương),
* Tặng Tham Kỷ
Tận
đại địa thị cá tự kỷ. Di
Đà diệc tại lý hứa an thân. Tận
pháp giới bất xuất Di Đà nhất mao
khổng quang minh. Tự kỷ cánh hướng
hà xứ trước cước? Niệm niệm
Di Đà niệm niệm kỷ, tự tha bất
cách thị chân tham. Nhược tùng Thiếu
Thất cầu đoan đích, độn trí kỷ
linh thâm khả liên. Cố kim tham kỷ vô biệt
sự. Lục thời trường ức
tử kim tiên.
(Trọn
đại địa chỉ là chính mình. Di
Đà cũng an thân trong ấy. Tận pháp giới
chẳng ra ngoài quang minh nơi lỗ chân lông Di
Đà. Chính mình còn tìm nơi nào
đặt chân được nữa? Niệm
niệm Di Đà, niệm niệm mình. Ta,
người chẳng cách là chân tham. Nếu
từ Thiếu Thất tìm đầu mối,
thương thay ngu độn quên chân tánh. Nay tham
chính mình, chẳng chi khác. Sáu
thời luôn nhớ tử kim tiên[76]).
* Tặng Nhược
Vân
Tận
thuyết thừa vi cấp, thùy tri giới bất
vu? Phẫu b́nh nan trữ nhũ, ngư mục khởi thành
châu? Sát hải tuân di giáo, triều tông hướng lạc
đô. Tịnh nhân kỳ cộng úc, lực văn mạt thời
xu.
(Đều
nói Thừa là gấp, ai hay giới
chẳng sai? Bình
rạn khôn đựng sữa, mắt cá
há thành châu? Biển cõi tuân di giáo, chầu
hầu hướng cõi lạc. Nhân tịnh hãy
cùng gắng, tận lực cứu
đời
mạt).
* Cảnh tỉnh Thọ huynh
Sắt đa
bất dưỡng, trái đa bất sầu. Thế nhân muội
muội, hà túc dữ trù? Nhất giới ế
thiên, nhất trần phú địa, tối yếu pḥng
nhàn, học nhân tập khí. Vị dự pháp lưu, chỉ
danh Càn Huệ. Khai nhãn niệu sàng, bội kham
tàm quý. Dục trăn nhị lợi, tu
thận tế đức, luân dực bất khuy, cao viễn
vô thất.
(Rệp
nhiều chẳng ngứa, nợ nhiều
chẳng sầu. Người đời tăm
tối, há đáng so đo? Hạt cải che
trời, một trần phủ đất. Tập
khí học nhân, đề phòng bậc nhất.
Chưa dự dòng pháp, chỉ gọi Càn
Huệ. Mở mắt đái dầm, bội
phần hổ thẹn. Muốn đạt nhị
lợi, cẩn thận đức nhiệm,
giữ gìn chẳng sót, chẳng mất
cao xa).
* Cắt thịt
đùi cứu huynh Tinh Cốc
Huyễn
duyên hòa hợp thọ tư thân, dục oản thiên
sang quý vị năng. Trảo hứa bạc bì liêu
phụng cúng. Dụng thù nghiêm đạn thiết
tha ân.
(Huyễn
duyên hòa hợp thọ thân này, muốn khoét
ngàn vết, thẹn
chưa thể. Vét chút da mỏng để dâng
cúng, hòng báo ân dày kèm cặp
răn).
* Đáp kệ phát
nguyện của Sơ Bình
Hữu
nguyện vô hạnh, như nhân vô túc. Hữu hạnh
vô nguyện, như manh vô đạo. Tín bộ tiền
hành, hiểm ác nan bảo. Đinh tư mạt quư, pháp
nhược ma cường. Túng hữu Càn
Huệ, do nan ổn túc. Huống tuy lập chí, huệ
nhăn vị khai. Kim sanh bất độ, cánh đãi
hà sanh? A Di Đà Phật, đại nguyện thâm
từ. Như mẫu ức tử, tử hà phất
tư? Nhược bất chí tâm, tảo mộ hồi
hướng. Du du hoãn túng, tức đào
thệ nhân. Phi tất ha báng, năi danh đào thệ. Nhữ
kim dĩ năng, phấn nhiên tự tân.
Đương tri trân tŕ, tư manh liên nhị. Tùng kim sổ
phát, tương tục bất đoạn. Tư khả danh
vi, dũng mănh trượng phu. Như hoặc vị nhiên,
nhưng tiền tập khí. Thỉ cần chung nọa, khẩu
hướng tâm bối. Kư phi Bồ Tát, diệc phi Nhị
Thừa. Thường tại tam giới, xuất
một luân hồi. Tự vị năng độ, vân
hà độ nhân? Như bị phiêu giả, dục chửng
ngạn hành. Như lại bệnh giả, mại sang
tiễn dược. Ngu si điên đảo, cử
thế sở xuy. Nhữ kư phát tâm, ngã thâm tùy
hỷ. Phục vị khuyến trợ, sử
đắc kiên nhẫn. Đồng cận từ tôn, cộng
hóa trần sát. Tận vị lai tế, vĩnh thỉ phất
huyên. Nguyện nhữ tinh cần, tiên thành Phật
đạo. Ngã tác Văn Thù, trợ nhữ
dương hóa.
(Có
nguyện không hạnh, như người không chân.
Có hạnh không nguyện, như mù không
người hướng dẫn. Nhắm
mắt đi tới, hiểm ác khó tránh.
Nhằm lúc thời mạt, pháp yếu, ma
mạnh. Dẫu có Càn Huệ, vẫn khó
vững chân. Huống tuy lập chí, huệ nhăn chưa
mở. Đời này chẳng độ,
còn đợi đời nào? A Di Đà
Phật, nguyện lớn, từ sâu. Như mẹ
nhớ con, sao con chẳng nhớ? Nếu
chẳng chí tâm, sáng tối hồi
hướng. Lần khân chểnh mảng, là kẻ
bỏ trốn. Chẳng cần quở báng,
mới là bỏ trốn. Ông nay có thể,
hăm hở đổi mới. Nên biết ao quý,
liền chớm búp sen. Nay nhiều lượt
phát, liên tục chẳng ngừng. Đó
được gọi là, trượng phu
dũng mãnh. Nếu chẳng phải vậy,
vẫn tập khí cũ, trước siêng, sau
lười. Miệng hướng, tâm trái.
Chẳng phải Bồ Tát, cũng chẳng
Nhị Thừa. Thường trong tam giới, chìm
nổi luân hồi. Tự chẳng thể
độ, sao độ được
người? Như kẻ chết đuối,
cứu người trên bờ! Như kẻ
bệnh cùi, mua thuốc trị ghẻ. Ngu si điên
đảo, cõi đời chê cười. Ông
đã phát tâm, tôi sâu tùy hỷ. Lại còn khuyến
trợ, khiến được kiên nhẫn. Cùng
chầu Từ Tôn, cùng dạy trần
sát. Tột đời vị lai, vĩnh viễn
chẳng phế. Mong ông siêng ròng, thành Phật
đạo trước. Tôi làm Văn Thù, giúp
ông giáo hóa).
* Dạy Sơ Bình phát tâm
Mạc vị
Bồ Đề tâm nan phát, đồ đao phóng
hạ lập thành Phật. Mạc vị Bồ Đề
tâm dị phát, bôi thủy khởi đình
đảnh nội phí. Dục minh khoáng kiếp đại
nhân duyên, tiên bả sanh bình hoài bão phất. Nhãn
tiền kế hoạt nhược quan t́nh, bổn
địa phong cảnh chung thọ khuất. Khuyến quân
tốc phát nan phát tâm, vi nhân do kỷ[77] phi do
vật.
(Chớ
bảo Bồ Đề tâm khó phát, buông dao đồ
tể liền thành Phật. Đừng nói Bồ
Đề tâm dễ phát, chén nước há
ngăn vạc sôi sục? Muốn hiểu đại nhân
duyên bao kiếp, trước
hãy thực hiện hoài bão
cả đời. Kế sống trước
mắt nếu vướng
mắc, phong cảnh bổn địa sẽ
tự khuất. Khuyên ông mau phát tâm khó phát,
tự hành lòng nhân chẳng cậy ai!)
* Nghe hủy báng
Sở
ngôn nhược hữu thật, tam căn hà
danh báng? Sở ngôn nhược vô thật, bất
can diệc khởi báng. Nhược dĩ ngữ ngôn
vi báng sự, hậu tự vị xuất, tiền
âm một. Nhược dĩ văn thư vi báng
sự, bạch giả thị chỉ, hắc
thị mặc. Báng an tại, vân hà nựu?
Tứ đại không, uẩn phi ngã. Thùy
năng báng, báng thùy thọ? Ký vô sân hám, ưng
phát bi tâm. Ngã do vô thỉ mê Bổn Giác, huyễn
nghiệp tích oán thành trù lâm. Thị cố kim nhật ác
khẩu gia, giai nhân văng tích tự nghiệp xâm. Hựu
phục tu đạo vị tinh thúy, oai đức tiển liệt trí quần nghi. Nhược
bất tàm quý tự khắc trị,
tổn bỉ tổn kỷ tội sở cơ.
Ngã nhân báng, tăng trí đoạn. Báng giả
tốc viên ân đức. Ân viên tức thị Như Lai, trí
đoạn đức măn thành Phật. Báng vi minh kính thích ngã
xú, báng vi cam lộ ẩm ngã dược. Báng thị
viêm thời thanh lương phong. Báng thị miên
thời đại cổ giác. Báng vi pháp giới thú
bất quá. Báng báng cộng đăng vô thượng giác.
(Lời nói nếu đúng thật,
ba căn sao gọi báng? Nói năng nếu
chẳng thật. Chẳng liên quan, sao báng? Nếu
coi ngôn ngữ là hủy báng;
chữ sau chưa ra, chữ trước đã
mất. Nếu coi văn từ là hủy báng,
thứ trắng là giấy, đen là
mực. Báng ở đâu, sao lại bực?
Tứ đại không, uẩn phi ngã. Ai hủy
báng, báng ai chịu? Đã chẳng giận,
tiếc, nên phát bi tâm. Ta do vô thỉ mê bổn giác,
huyễn nghiệp tích oán thành rừng rậm. Vì
thế, ngày nay bị nói ác, đều do
nghiệp trước của bản thân. Lại do tu
đạo chưa chuyên ròng, oai đức thiếu
kém, các nghi sanh. Nếu chẳng hổ thẹn
tự đối trị. Tổn người, tổn
mình, tạo gốc tội! Ta do bị báng, trí
đoạn tăng. Người báng mau chóng
vẹn ân đức. Ân vẹn thì chính là Như
Lai. Trí đoạn, đức măn liền thành Phật. Báng
là gương sáng soi ta xấu. Báng là cam
lộ chữa bệnh ta. Báng là gió mát
khi trời nóng. Báng là trống ốc
lớn khi ngủ[78].
Báng là pháp giới chẳng vượt
được. Báng báng cùng lên vô thượng
giác).
* Phúng điếu huynh Tinh
Cốc Thọ
Triệt
để bà tâm vị khẳng hưu, đương
trường nghiệp vận dĩ thiên lưu, phù
âu ảnh trục hư duyên tán, nhiệt huyết tinh đồng
Thật Tế lưu. Xạ mục quả nhiên nan hạ
thủ, vị nhân tu thị tái đê đầu. Lâm
hành tặng nhữ vô đa tử, nhất
cú Di Đà tác đại châu.
(Tâm
triệt để thiết tha chưa ngớt,
đương trường nghiệp vận
đã xoay vần. Đuổi theo bọt
nước hư duyên nát, nhiệt huyết theo
dòng Thật Tế tươi. Dõi mắt
quả nhiên khó thực hiện, vì
người cần phải cúi đầu thôi. Ra
đi nhắc bạn không nhiều cách, một
tiếng Di Đà thuyền rất to).
* Dạy Tồn Phác
Dục
tác pháp vương thần, thị ngọc thiện tự
dưỡng. Chỉ ác vô h́nh trừng, hành thiện vô cốc
tưởng. Tam nghiệp tịnh duyên từ, tứ nghi
hằng vật sảng. Giới vi thắng anh lạc, nhẫn
thị kiên khải trượng. Tập khí tiệm
tiệm tiêu, định huệ du du trưởng.
Xả khước phiến thời mưu,
phương hoạch sát trần đảng. Đàn chỉ
phi tích nhân, tốc xuất Sa Bà vơng.
(Muốn
hầu đấng pháp vương, khéo tự
dưỡng ngọc ấy. Dứt ác
từ vô hình, hành thiện chẳng mong
phước. Tam nghiệp duyên theo từ, tứ
nghi chẳng hề sai. Giới: Anh lạc thù
thắng. Nhẫn: Giáp, vũ khí chắc.
Tập khí dần dần tiêu, định huệ
tăng dồi dào. Bỏ mưu mô thoáng chốc, lời thẳng
khắp sát trần. Khảy tay, thành
người mới, mau thoát lưới Sa
Bà).
* Dạy chư tứ
hoàn
Trượng
phu chí khí tại thiên thu, tự lập thung dung quư học
ưu. Tư ngữ trực giao ngôn hạ tín, phù
vân khởi hướng thế gian cầu. Sơn hà quốc
độ không trung ảnh, sự nghiệp công danh thủy
thượng âu. Xúc trước nho đồng thanh
đỗng xứ, liên hoa bảo địa cộng
ngao du.
(Trượng
phu chí khí tại ngàn thu, thong dong tự
lập học lẽ ưu. Nói thẳng lời
này nên tin tưởng. Thế gian mây nổi, há
mong cầu? Núi sông, cõi nước đều
hư huyễn;
sự nghiệp công danh bọt nước thôi! Nghe
tiếng Nho Đồng than thống thiết, hoa sen
đất báu cùng ngao du).
* Chỉ dạy Hàm
Hoằng
Dục
cầu xuất thế huệ, tiên đoạn thế gian ngu.
Thân giới nguyên phi thật, căn trần tánh bổn
vô. Văn tư nghi tự húc, danh lợi bất kham ngu.
Niệm mạc trì t́nh cảnh, cung hằng thận sở
xu. Tam Quy tri cứu cánh, thập giới ác
cơ xu. Hòa nhẫn thành tâm đức, tinh cần
tác thắng mô. Tŕ kinh thần tại định, ức
Phật trí năng phu. Duệ chuyển tùng tiền
lý, siêu đăng tối thượng cù.
(Muốn
cầu xuất thế huệ, đoạn ngu thế gian
trước. Thân, cõi vốn chẳng thật.
Căn, trần tánh vốn vô. Văn tư nên
tự gắng, danh lợi chớ trầm
mê. Niệm đừng theo tình, cảnh. Thân luôn
thận trọng gìn. Tam Quy biết rốt ráo,
thập giới nắm trọng tâm. Hòa,
nhẫn thành tâm đức, siêng ròng làm
gương lành. Tŕ kinh tâm thần định,
nhớ Phật, trí tăng thêm. Chuyển biến
theo người trước, vượt lên
nẻo tót vời).
* Cảnh tỉnh Sơ
Bình
Mạt
kiếp tu hành, thiểu thành đa đăi. Thận vật sư
tâm, ngạnh tác chủ tể. Quán sắc
sát ngôn, như lâm như tại. Khiêm cung mục kỷ, vô
tư lộ thái. Đản tỉnh ngã phi, bất
niệm nhân tội. Bát dụ minh tâm, hằng quán
pháp hải. Hư kiểu vị trừ, chân vị
tư nỗi.
(Tu hành
trong đời mạt, thành ít, thất bại
nhiều. Cẩn thận chớ tư tâm, ngang ngạnh
làm chủ tể. Quán sắc, xét ngôn từ.
Như vào vực, trên băng. Khiêm cung, uốn
nắn mình. Chớ nghĩ làm ra vẻ.
Chỉ xét lỗi chính mình, đừng
nghĩ tội kẻ khác. Tám thí dụ[79]
tạc
dạ, luôn quán sát biển pháp. Hư
dối hễ chưa trừ, chân vị
thường khát đói).
* Ba bài kệ trong núi
1) Huyễn
cảnh minh vô định, Bồ Đề chí tự kiên. Dĩ
tri thân thế lụy, ninh bị lợi danh thiên. Yến tịch
tiên thư hậu, đàm kinh thọ thực tiền. Lăn tùng
thương tứ sự, nhất bát thị
lương điền.
(Huyễn
cảnh tối, vô định. Chí Bồ Đề
tự bền. Biết thân do đời lụy,
há bị lợi danh dời? Chú giải xong,
ngồi lặng; trước lúc
ăn,
bàn kinh. Lười biện định bốn
sự, một bát là ruộng lành).
2) Bất
vấn nhân gian thế, duy tham Đệ Nhất Thiên. Đế
tùng quán cảnh phát, hỏa tất chỉ tân
truyền. Vị thức Kiêm Sơn Cấn, đồ
lao Tịch Dịch Càn.
Trần duyên năng đốn tạ, chánh pháp khả
toàn kiên.
(Chẳng
hỏi chuyện nhân gian, chỉ tham Đệ Nhất
Thiên. Đế từ quán cảnh khởi,
lửa ắt do củi truyền. Chưa biết
Kiêm Sơn Cấn[80],
uổng nhọc Tịch Dịch Càn. Trần duyên mau
dứt sạch, chánh pháp gánh vẹn
tròn).
3) Lệ
trạch công phi tế, cao hoang diệc khả thuyên. Danh ngôn
tỉnh khát mộng, khoái luận nhập thâm Thiền.
Bộ lý tông tiên triết, quy thằng khải hậu
hiền. Ma-ni hề túc tiện, giới nguyệt chúc tam
thiên.
(Công lệ
trạch chẳng bé, bệnh nguy ngập cũng
lành. Lời hay khiến tỉnh mộng. Luận
bàn nhập thâm Thiền. Noi bước bậc tiên
triết, khuôn phép dạy hậu hiền. Ma-ni
chẳng đáng mộ, trăng giới rạng
tam thiên).
* Khóc Huệ Tế
Thị Quyền luật chủ
Vĩnh
thán Tỳ Ni uyển, ư kim cửu dĩ hoang. Khai giá
thùy thật am, khinh trọng kỷ tằng
thương. Kư thiết hoành lưu thống, hằng ca
như ngọc chương[81]. Thiên
khuynh phù luật giả, thùy dữ cộng đàm
thường?
(Than
mãi vườn Tỳ Ni, nay hoang phế đã
lâu. Khai, giá ai thật hiểu? Khinh, trọng mấy
lượt bàn! Đã xót cắt
ngang dòng, luôn ca như ngọc chương. Trời
dời người phù luật, còn ai cùng đàm
thường?)
* Khất thực cảm
hoài
Đồng
minh hữu tứ sĩ, nhị hữu dĩ tŕ Tây.
Độc lại bá dữ trọng, tương kỳ
đề thả tê. Huệ cơ hân bất viễn, huyền
đức hám do khuê. Mạt hậu vị minh cú,
hà thời cộng tỉnh mê.
(Cùng
chí có bốn vị, hai bạn đã về
Tây. Riêng nhờ cả và hai[82],
giúp nhau nhắc nhở hoài. Nền huệ
mừng gần gũi, huyền đức tiếc
xa vời. Câu cuối cùng chưa rõ, khi nào
cùng tỉnh mê?)
* Chọn chỗ ở
có mười tám sự (kèm
theo lời tựa)
Thuận
theo sự chọn lựa của thầy Quy
Nhất, vâng theo
từ mạng của Đại Sĩ, kết
lều tranh ở Tây Hồ, chẳng dám
tự ruồng rẫy, vứt bỏ, thuận theo
mỗi sự mà đặt thành một
kệ.
1) Nhất
ban tùng địa phát, ph́ tích vị thùy thù? Tín
thủ hòa căn thủ, tăng tiền thúy măn vu (hái
rau).
(Đều cùng
từ đất mọc, mập, ốm khác vì
ai? Thuận tay nhổ cả rễ, trước
Tăng bát xanh đầy).
2) Du tất
tiên thời dụng, diêm nghi thục hậu gia, hà
tu mịch hương liệu? Hỏa đáo vị
năng xa (xào rau).
(Dầu
ắt dùng
trước hết, chín rồi thêm muối sau.
Cần gì tìm hương liệu? Lửa
đủ, vị ngon lành).
3) Hoàng
lương lãnh thủy hạ, bạch sán phí thang ưng,
thiết kỵ vô đoan động, nhân uân nhậm vận
đằng (nấu cơm).
(Kê vàng
ngâm nước lạnh, gạo trắng cần
nước sôi, rất kỵ vô cớ khuấy,
sùng sục mặc nó sôi).
4) Ngũ
phí chiêm thang hậu, tam đầu nghiệm thích thời,
tùng lai thanh dật vị, bất hứa túy ông
tri (pha trà).
(Nước sôi năm
lượt[83]
rồi, ba phen kiểm thích nghi, trước nay
vị thanh dật, chẳng để gã say hay).
5) Tán,
chuyên hằng thuận thế, văn vũ diệc
tùy cơ, tích tận tân cùng tế, hôi tùng hà
xứ phi (nhóm lửa).
(Tán,
chuyên luôn thuận thế; nhẹ, mạnh cũng
tùy cơ, chẻ củi thành mảnh nhỏ, tro
bay từ chỗ nào?)
6) Kỷ
nhân tân cựu vị, oản bát sổ phân minh, chỉ khủng
đường trung khách, tham thường bất thấp
canh (hành đường).
(Mấy
người chỗ mới cũ, chén bát
đếm phân minh. Chỉ sợ khách đến
dự, tham nếm bất thấp canh[84]).
7) Địch
khí tiên trừ tể, vô linh dư nị lưu,
đê thanh quy bổn xứ, châm yên vị sanh sầu
(rửa sạch bát).
(Rửa
chén trước bỏ cặn, chẳng
để chất nhờn bám, khẽ khàng
đặt đúng chỗ, lặng tiếng
chẳng sanh sầu).
8)
Đới thủy tha nê khứ, bàn chuyên
vận ngõa lai, tiễn ngư dữ ủng
miết, mãn diện thả mông ai (trực
viện).
(Chuyển
nước, gạn
bỏ bùn, dọn gạch,
chuyển ngói đến, cá tươi, rùa
trong vò, khắp mặt phủ đầy
bụi).
9) Quả
nhân chân bất muội, thủ dữ tự vô tư, vị
vấn sanh khương lạt, ư kim vị thục tri?
(tri khố)
(Thật
chẳng lầm nhân quả, cho, lấy chẳng
riêng tư! Xin hỏi
gừng tươi, ớt, nay biết rõ vị
chưa?)
10) Vấn
tấn thường tiên ý, hàn ôn nhậm sở
nghi, hiện thành trà nhất trản, mạc thọ
Triệu Châu khi (tri khách).
(Chào
hỏi, đón ý trước; lạnh
nóng đều thích nghi. Hiện thành trà
một chén, chẳng bị Triệu Châu
lừa)
11) Tùy trí
tùy t́nh thuyết, đồng điều phục dị chi.
Thanh tiền nhất trước tử, lưu
đãi đương gia nhi (đáp vấn).
(Tùy
trí, tùy tình nói, cùng nhánh lại
khác cành. Đằng trước một câu
nói, dành đợi cho con nhà).
12) Cưỡng
tiếp cơ nguyên dị, cang nhu khắc diệc thù, khí
b́nh tâm tức hậu, giá trước khả
tằng thâu? (hòa giải sự tranh cãi)
(Hòa giải duyên do khác; mềm,
cứng cũng khác nhau, sau khi tâm bình tĩnh,
chuyện ấy há từng thua?)
13) Vô thượng
minh vương ấn, hàn đàm nguyệt nhất luân, bát
phong xuy bất phá, băng tuyết diệc dương
xuân (tŕ chú).
(Ấn minh
vương vô thượng, đầm lạnh một
vầng trăng, tám gió thổi chẳng
nát, băng tuyết vẫn xuân nồng).
14) Từ tôn vô lượng
hiệu, giới nhĩ hữu tâm hàm. Sanh Phật nguyên
phi cách, thâm Thiền hà tất tham? (niệm Phật )
(Từ
tôn vô lượng hiệu, tâm nhỏ nhoi chứa
đầy. Chúng sanh, Phật chẳng cách,
cần gì tham thâm Thiền?)
15) Hảo
sự bất như vô, mạc tác tử cú
hội, nhất nhậm năng sở phân, tùng lai
phi tánh ngoại (lễ bái)
(Vô
sự hơn hảo sự, văn tự
đừng chấp chặt, mặc sức
chia năng sở, trước nay tánh há
ngoài?)
16) Miết
nhĩ y tha khởi, lai tung hà xứ tầm? Sát-na sanh tức
diệt, vạn cổ tự trường kim (quán tâm).
(Bỗng
chốc y tha khởi, đến đâu chốn nào
tìm? Sát-na sanh liền diệt, muôn thuở là hiện
thời).
17) Khất
sĩ nguyên ngô hiệu, tuần gia khởi trạch bần,
bất cầu Ứng Cúng quả, đẳng
thí bội quan tình (khất thực).
(Khất
sĩ vốn hiệu tôi, theo từng nhà khất
thực, há chọn nhà nghèo nàn.
Chẳng cầu quả Ứng Cúng, bình
đẳng thí tăng chúng, phước
gấp bội chấp tình).
18) Cao
chẩm trường thư cước, ninh sầu minh
nhật lương, kỷ đa điên đảo
mộng, tỉnh hậu nhất tề vong (nghỉ
ngơi).
(Gối
cao, chân duỗi thẳng. Đừng lo cơm
bữa mai. Bao nhiêu mộng điên đảo, tỉnh
giấc quên sạch rồi).
* Bài ca về “pháp
thần” (bầy tôi của Phật pháp) vì thị
giả Văn Đạo (có
lời tựa)
Thiền
sư Mật Tạng Khai thị tịch, Văn Đạo
còn chưa xuống tóc, từ chỗ Tăng
Thủy Bộ trở về, chẳng tìm
thầy được, bèn đau lòng khóc
lóc mà mất. Lục Hành Chi kể với
tôi chuyện này.
Tứ
đại hải thủy mẫu nhũ doanh, Tỳ
Phú La sơn tích cốt quân. Kinh Kha nhiếp Chánh,
vị xưng anh. Điền Hoành ngũ bách siêu
đẳng luân. Hà huống đầu thành
sự tri thức, truyền lai bán kệ kham tri tân.
Tuyết Sơn Đại Sĩ tiêu bảng tại, khả
liên lưu tục đa tà nhân. Thuận chi tắc hỷ, nghịch
tắc sân. Viễn chi tắc vong, cận thỉ thân. Tạng
công ẩn khứ âm như kim. Văn Đạo cô thần
thân vi trần. Nhân vị sanh tử năi vĩnh cách, ninh tri hỏa
truyền phi do tân. Quân bất kiến, tỳ-kheo úy
khát ẩm trùng thủy, hà như khát
tử tiên phát chân.
(Sữa
mẹ tràn đầy nước bốn biển, núi
Tỳ Phú La xương chất chồng. Kinh Kha[85]
giết Tần: Chưa anh kiệt. Điền Hoành[86]
năm trăm: Siêu tót vời. Hà huống chân
thành thờ tri thức, được
truyền nửa kệ biết đường
về. Tuyết Sơn Đại Sĩ gương còn
đó, đáng thương thói tục
lắm tà nhân. Thuận thì vui, nghịch liền sân
hận. Xa sẽ quên liền, gần mới thân.
Tạng công thị tịch, tiếng như vàng. Văn
Đạo cô thần thân bụi trần. Hay nói “tử
sanh mãi cách biệt”, há biết truyền lửa
cần củi ư? Ông chẳng thấy: Sư
sợ khát, uống nước có trùng,
sao bằng chết khát chứng ngộ
trước?)
* Dạy Giới Minh
Mạn vi
công đức tặc, cần vi thiện pháp
vương. Phước thủy huệ châu tiếp, vô
thủy châu bất hành. Dục cầu chân thật huệ,
mạc tùng khẩu nhĩ thương. Khổ chí lao cân
cốt, đại nhậm nãi khắc tương.
Phước chí tâm hốt khai, diệu nghĩa năng
đốn chương. Thâm tạo kư tự đắc, thế
trí thùy khả lượng?
(Mạn
là giặc công đức, siêng là pháp
vương lành. Phước: Nước; huệ:
Mái chèo. Không nước, thuyền chẳng
bơi. Muốn cầu chân thật huệ;
đừng từ tai, miệng bàn. Khổ
chí nhọc gân cốt, trách nhiệm lớn
quyết thành. Phước đến, tâm
bỗng mở, diệu nghĩa chóng hiện
bày. Bản lãnh sâu tự đạt, thế
trí há sánh lường?)
* Lời than “cớ sao
nhọc nhằn?”
Vị vấn
trượng phu nhi, hồ lao[87] phát hạo
thán. Sa Bà bổn khổ không, lý dục nguyên băng
thán. Thỉ tác kỳ nam tử, không hành dĩ
kinh đạn. Huống phục ma vơng trù, xúc xứ giai
nguy nan. Minh minh tam giới trung, hà thời dạ
phương đán? Sở dĩ xuất thế
tân, mỗi cần như huyễn quán. Tuế hàn tùng
bách vinh, lô xí kim tụ xán. Nghịch cảnh thị
lương sư, chỉ quư trung bất loạn. Tọa
đoạn sanh tử t́nh, đương xứ tức
bỉ ngạn. Phóng hạ tổ sanh tiên, niêm khởi Tần
thời toản. Vị vấn trượng phu nhi, hồ
lao phát hạo thán.
(Hỏi han
bậc trượng phu, than dài “sao nhọc
nhằn?” Sa Bà vốn khổ, không, lý dục vốn
băng, than. Thề làm kỳ nam tử, hành
suông đã hãi hùng. Huống còn
lưới ma dày, chỗ nào cũng nguy nan.
Trong tam giới âm u, bao giờ đêm mới
tàn? Vì vậy, khách xuất thế,
thường siêng quán như huyễn. Tiết
lạnh, tùng bách tươi; lò hừng,
khối vàng rực. Nghịch cảnh là
thầy tốt, cốt sao tâm chẳng loạn.
Đoạn tình kiến sanh tử, nơi đây
chính bờ kia. Buông roi bẩm sanh xuống,
giương cao gương thời Tần. Hỏi han
bậc trượng phu, than dài “sao nhọc
nhằn?”)
* Mười bài
kệ cảm hoài trong khi bị bệnh
1) Nga
nhĩ Tây sơn, nga nhĩ Đông, y y sư
hữu niệm hà cùng? Trường không nhạn ảnh
nguyên vô trụ, vị khẳng chung vi cựu a mông.
(Bỗng
chốc Tây sơn, bỗng chốc Đông. Nương
thầy, dựa bạn nghĩ sao cùng? Trên không,
bóng nhạn vốn vô trụ, rốt cuộc ai
người vẫn mịt mùng).
2) Trung
Nguyên trục lộc khổ vô ngu, nhất quyển tàn kinh
thả tự cù. Liễu đắc mục tiền vô
thừa pháp, Oai Âm na bạn[88] khước
thành thâu.
(Trung
Thổ đuổi hươu[89],
khổ chẳng yên. Một quyển kinh tàn
tự gắng công. Hiểu rõ hiện tiền
không pháp sót. Bên phía Oai Âm vẫn thua hoài).
3) Tam sanh
ngọc thực mộng trung hôi, trừng phát lao sanh mạnh
lãng sai. Ký ngữ Linh Sơn thân phó chúc, dạ quang
đạn tước sự kham ai.
(Ba
đời cơm quý: Tro trong mộng. Trừng
mắt nhọc nhằn, đoán sóng to.
Gởi gắm Linh Sơn lời phó
chúc, dạ quang ném sẻ[90]
đáng buồn thay!)
4) Tuyên Văn
kỹ lưỡng quư Ca Văn, xuy tán thanh vân phụ
bạch vân. Kham thán truy lâm danh kiệt sĩ, lạc hoa
lưu thủy loạn phân phân.
(Khổng
Tử há tài sánh Thích Ca, thổi tan mây
xanh, nâng bạch vân. Đáng than hào kiệt trong
tăng sĩ, nước chảy, hoa trôi
tán loạn thôi).
5) Vạn
đằng đa thiểu thiến thùy san, cao
giá trường khu mạc vấn quan. Ẩm khí thất
thanh do vị miết, tượng vương dĩ quá vạn
trùng sơn.
(Dây leo muôn mối, ai
trừ khử? Quan san chẳng hỏi, mải rong
ngựa. Chén
uống thất thanh chẳng buồn liếc. Tượng
vương đã vượt vạn trùng non).
6) Xu tỵ
nhân duyên vấn lục hào, chúc nhân vô kế đại phanh
bào. Ứng Chân hữu cốt di hoang dă, trám
đắc Kỳ Bà tử tế xao.
(Sáu
hào thưa hỏi chuyện nhân duyên. Cỗ tế quan
nhân chẳng nấu thay. Đồng hoang La Hán
xương phơi đó, tìm thử Kỳ
Bà[91] gõ
kỹ xem?)
7) Thùy
tương nha xú lập Đương Dương, nhạ
đắc nhi tôn nhật dạ cuồng. Diệt khước
bổn tông vô thật pháp, kỷ đa nhiệt náo nhất
thời lương.
(Ai đem
chuyện xấu đặt Đương
Dương, đến nỗi cháu con sáng tối
cuồng! Diệt
mất bổn tông, không thật pháp, bao nhiêu ồn
náo nhất thời yên).
8) Hoàng
hoa uất uất trúc thanh thanh, Bát Nhã Chân Như ngữ
thái tinh. Kiến sắc văn thanh tùy phận quá, tu
tha kiểu cưỡng thiết môn đ́nh.
(Hoa
vàng rậm
rạp, trúc xanh xanh. Bát Nhã Chân Như
lời cực tinh. Thấy sắc, nghe âm,
tùy phần hiểu. Thẹn thay kẻ cưỡng
lập môn đình).
9) Tối
khổ Sa Bà tà kiến chưng, Thiền môn như thán, Giáo
như băng. Sanh tâm vô trụ kim cang ấn, quư sát Hoàng Mai
dữ Huệ Năng.
(Khổ
nhất Sa Bà tà kiến thịnh, Thiền môn
đen thủi, Giáo như băng. Sanh tâm vô trụ kim
cang ấn, thẹn chết Hoàng Mai với Huệ
Năng).
10) Sắc
lư giao thanh, thủy
lư diêm, y hi phảng phất tối kham hiềm. Hoàng liên thực
tận vô phi khổ, thạch mật trung biên tận
thị điềm.
(Keo xanh
trong sắc, muối trong nước; phảng
phất dường như đáng chán
nhàm. Ăn sạch hoàng liên đều
đắng nghét. Thạch mật
giữa, rìa thảy ngọt lành).
* Đề từ cho
quyển sách về trinh phụ họ Hạ
Quân bất
kiến, tàm quý vô y phó hỏa nhân. Tu du cụ
túc Phạm thiên thân. Thành ngữ thệ
xuất phụ chi trinh. Tượng vương sản nạn
tư khai tần. Do lai nhất tử vị xưng anh.
Ô hô thử ý trù năng chân? Thị cô thân, tràng
dục đoạn. Cực Lạc bang, khán lănh noăn.
Hồi tương huyết lệ nhập trân tŕ, bất
động phàm khu thánh nhân măn. Lan thuẫn tằng tằng
thụ ảnh trùng, hà phương biến liệt
Sa Bà bạn.
(Ông
chẳng thấy, người xấu hổ vì không
áo, gieo thân vào lửa. Bỗng chốc trọn
đủ thân Phạm Thiên. Lời chân thành thề nêu gương
trinh tiết. Tượng vương sanh khó bao nguy
hiểm. Đến nay dẫu chết chẳng
được khen. Than ôi! Ý này ai thật
sự hiểu? Hầu mẹ góa, ruột gần
đứt; cõi
Cực Lạc, xem nóng, lạnh. Ôm mối huyết
lệ vào ao báu; chẳng động thân
phàm, nhân thánh vẹn. Lan can tầng tầng,
bóng cây lồng. Phương nào kể khắp
bạn Sa Bà?)
* Tưởng nhớ
Lỗ Trọng Liên[92]
Chiến
Quốc hữu kỳ sĩ, cao đàm sỉ đế
Tần. Để chưởng giải phân nạn, nhi phi
nghi diễn thần. Thiên kim tiếu bất cố. Chung thân
cư hải tân. Liêm khiết khởi túc mộ,
nghĩa trọng phi cam bần. Ngã bi sĩ tập lậu,
cạnh tác danh lợi thần. Xú phiến dữ thư
trùng, trâm hốt nhi thùy thân. Độc sử phát vĩnh
thán, thao thao thiên cổ luân.
(Chiến
Quốc có kỳ sĩ, cao luận, nhục vua
Tần. Ra tay cứu loạn, nạn, chẳng
hề múa mép suông. Ngàn vàng cười
chẳng đoái, suốt đời sống ven
biển. Liêm khiết há đáng mộ, trọng
nghĩa chẳng cam nghèo. Tôi buồn cho kẻ sĩ,
đã quen thói tệ rồi, tranh nhau làm tôi
mọi, cho lệ với danh thôi. Ruồi nhặng
và giòi bọ, phô phang hốt cùng trâm.
Đọc sử than thở mãi, vằng
vặc gương ngàn đời).
* Dạy Phí Kính Trai
Ác nghiệp
tuy bổn không, nghiệp duyên mỗi uất ông. Bất tùng
tác pháp môn, chung thọ huyễn tội lung. Bất quán Thật
Tướng tâm, ma cung vô tự động. Tàm
quý kư giao công, Lý Sự tu nhất thống. Quân
bất kiến, Thiện Tinh vọng thuyết pháp
nguyên không. Trường dạ Nê Lê hà nhật lung. Niết
Bàn hội thượng Vị Sanh Oán, đả
phá tùng tiền hắc tất dũng.
(Ác nghiệp
tuy vốn không, nghiệp duyên thường rậm
rì! Chẳng hành theo pháp môn, ắt
mắc lồng tội huyễn. Chẳng quán
tâm Thật Tướng, ma cung chẳng tự
lay! Hổ thẹn cùng dốc sức, Lý Sự
cần hợp công. Ông chẳng thấy: Thiện
Tinh nói xằng pháp vốn không, đêm dài
địa ngục thuở nào thoát? A Xà
Thế trong hội Niết Bàn, phá nát thùng
sơn đen trước kia).
* Giã biệt bạn
Hồ hải
phù du thập ngũ niên. Cước ngấn mang lý
kỷ phiên xuyên. Thủ châu duyên mộc thời sư
khẩu. Thố giác quy mao giáo ngoại truyện. Vạn
khiếu bi phong hào khống địa, thiên tràng huyết
lệ tẩm khể thiên. Ân cần phó dữ đồng
nghiệp sĩ, triệt để hân phiên thả thục
miên.
(Mười
lăm năm phù du hồ biển, hài cỏ
dẫm bước đã bao phen. Ôm cây, trèo
cành, luôn nói suông. Sừng thỏ, lông rùa,
ngoài giáo truyền. Gió buồn muôn kẽ
gào rền đất, ngàn mối huyết lệ
đẫm bầu trời. Ân cần căn dặn
người đồng nghiệp, triệt để
lật nhào, ngủ
kỹ thôi!)
*
Hai bài kệ vào núi
1) Biện
tài như vũ, bút như vân, bát lượng
y nhiên thị bán cân. Giới nhĩ nhất tâm thùy
tín cụ. Bất như trực hạ tự
Văn Huân.
(Biện
tài như mưa, bút dường mây. Tám
lượng rành rành đúng nửa cân.
Cái tâm nhỏ tí ai tin
trọn, chẳng bằng trực tiếp tu Văn
Huân).
2) Chúng
sanh lương dược vô như bệnh! Bệnh
cực, h́nh khô, tâm diệc hôi. Biến giới xuân phong phóng
đào lư. Trường quăng do tự vị
văn lôi.
(Thuốc
hay cho người chi bằng bệnh? Bệnh
tột, thân còm, tâm lạnh tanh. Khắp cõi
gió Xuân,
đào, mận trổ. Duỗi tay như thể
sấm chưa rền).
* Sáu mươi hai bài
kệ ở trong núi (có
lời tựa)
Ôm bệnh
vào trong núi để liễu đại
sự, chẳng nhàn rỗi lắm ư?
Nhưng có điều chẳng thể im
lặng, chẳng thể hướng về
đó để thở than, nếu hiểu ý
quên lời, chưa chắc chẳng phải
là một chuyện giúp cho đại sự
vậy.
1) Nhất
tự mang hài phá. Tùng giao vạn lự
dung. Đoản sam kham độ hạ. Tệ áo phục
kinh đông. Tọa khởi dư trường khiếu,
đàm thời cận đoản phong. Thần hôn bạn
tịch mịch, nhai thượng kỷ thanh chung.
(Một
chiếc hài cỏ rách, khiến muôn lo tiêu dung. Áo
ngắn đỡ mùa hè, áo kép
rách qua Đông. Đứng, ngồi, bèn hú
dài. Trò chuyện mấy ngọn núi. Tối
sáng vui tịch mịch. Vách núi mấy
tiếng chuông).
2) Nhất
bệnh ngũ bách nhật, h́nh thần tịnh dĩ
khô. Truy tố ngẫu tương trị, xưng ngã vi
Thiền Cù. Thiền Cù cánh hà giải,
Phật pháp tùng lai vô. Quyện miên, tỉnh
tiện khởi. Tiếu thử không đầu lô.
(Bệnh
hết năm trăm ngày, thân, trí đều khô
cong. Tăng, tục chợt gặp gỡ,
gọi tôi là Thiền Cù. Thiền Cù hiểu
thế nào? Phật
pháp chưa hề có! Mệt ngủ, tỉnh
liền dậy. Cười cái sọ rỗng
không!)
3) Ngã
ái sơn trung hành, an bộ bất tu mã.
Hữu thời phỏng quái thạch, hữu
thời xu thụ hạ. Bổn vô thủ cảnh tâm, hà
lao cánh tu xả? Xuy bỉ thế đồ trung, toản
quy phục đả ngõa!
(Ta thích
đi trong núi. Tản bộ, ngựa cần chi!
Có lúc thăm đá lạ. Có lúc đến dưới
cây. Tâm vốn chẳng giữ cảnh, nhọc chi
cần phải xả? Cười cợt kẻ
trong đời, hết bói lại xủ quẻ).
4) Ngã
ái sơn trung trụ, quán hóa phủ thả ngưỡng.
Nhất pháp bất đương tình. Vạn duyên
đồng kính tượng. Tài ngôn độc lộ
thân, vô đoan dĩ thành lưỡng. Tiếu phá thái
hư không, nham cốc tranh thù hưởng.
(Ta thích
ở trong núi. Xem ngó, ngửa lại cúi.
Một pháp chẳng bận lòng. Muôn duyên:
Bóng trong gương. Vừa nói riêng lộ thân,
bỗng dưng thành hai đằng. Cười
vỡ thái hư không, hang hốc đua tiếng
vọng).
5) Ngã
ái sơn trung tọa, nhất nhật lưỡng nhật
vĩnh. Đảnh tuy thước vị sào, thụ diệc
chi vô ảnh. Ký bất nại huyên hoa, diệc bất
vị u tĩnh. H́nh b́ tiện khởi hành, khô xuân biến phù
ngạnh.
(Ta thích
ngồi trong núi. Một ngày như hai ngày. Tuy
chim chưa kết tổ, ở ngay trên đỉnh
đầu, bóng cành cây chẳng còn.
Chẳng chịu đựng ồn náo, vẫn
chưa phải u tĩnh. Thân mệt, đứng
dậy đi. Cây khô thành cành trôi).
6) Ngã
ái sơn trung ngọa, dị mị hoàn dị tỉnh.
Tỉnh mị duy huyễn h́nh, thùy thật tư
khẳng khể? Đế quán Ngũ Ấm thân,
phi biệt diệc phi tịnh. Bất tri hà sở
duyên, do nhiên bất tự khẳng.
(Ta
thích nằm trong núi, dễ ngủ lại
dễ tỉnh. Thức, ngủ chỉ huyễn
hình, ai chịu thật ràng buộc? Quán kỹ
thân Ngũ Ấm, chẳng khác cũng
chẳng đồng. Chẳng biết duyên nơi
đâu, vẫn cứ chẳng khẳng
định).
7) Uyên Minh
thị bôi tửu, bất dữ liên hoa minh.
Chiết yêu kư phất tiết, khúc nghiệt hồ thiên
tŕnh. Dục thâm thiên cơ thiển, cách ngôn tiện Trang sanh.
Tánh học khởi đa thuật, vô như lý thắng
t́nh.
(Uyên Minh mê
chén rượu, đành phụ hội hoa sen.
Gãy lưng há chuyện nhỏ? Men rượu
riêng say mèm. Muốn sâu, căn cơ cạn, lời hay phục
Trang sanh. Tánh học há nhiều thuật, sao
bằng lý thắng tình?)
8) Tráng
sĩ huyết khí thịnh, quốc bộ khoa Hàm Đan. Sát
nhân bất cảm nghễ, nhất ngữ minh phế can.
Nghĩa dũng tuân tuyệt thế, nhân từ thể năi
ngoan. Đồ cùng lộ chủy thủ, độc lâu
thiên cổ hàn.
(Tráng
sĩ tánh hào hùng, lìa nước
vượt Hàm Đan. Giết người
chẳng dám liếc. Một lời tạc tâm
can. Nghĩa dũng quả tuyệt thế, nhân từ
thân bị bằm. Cùng đường, lòi
chủy thủ, đầu lâu lạnh ngàn
đời).
9) Thố
ngọc phủ Tây thệ, kim ô phục Đông thăng. Thiếu
tráng nhật dĩ khứ, suy bệnh thời
thời tăng. Mị giả chung bất giác, trí giả
tư tự trừng. Đản sử băng thành thủy,
vô linh thủy kết băng.
(Thỏ
ngọc vừa về Tây, quạ vàng phương
Đông mọc. Thuở trẻ khỏe đã qua,
suy bệnh mỗi lúc tăng. Kẻ ngủ trọn
chẳng tỉnh, người trí nghĩ
lắng trong. Chỉ cốt băng thành
nước, chẳng để nước
đóng băng).
10) Hồ
thố doanh kỳ quật, ô thước tranh kỳ
sào. Thục tri hàm tại lữ, sanh tử quân
phù bào. Mang mang khổ hải khoát, dục
độ tu hệ bào. Mạc sử hoang giao cốt, hoàn linh
phạm chí xao.
(Cáo,
thỏ lo đào hang; quạ, sẻ tranh xây
tổ. Ai biết đều tạm bợ, toàn
bọt nổi sanh tử. Biển khổ rộng mênh
mang; muốn
vượt, cần
buộc phao. Xương đừng mặc
đồng vắng, đợi Phạm chí
gõ xem).
11) Tiện
nhân đăng lũng đoạn, Sào Hứa xu cao
cương. Thanh trược cố tiêu
nhưỡng. Thủ xả đồng cao hoang. Bất
tri tam giới mộng. Oản nhục cưỡng
tác sang. Nhất niệm ngộ vô tánh, thập
hư nhậm thương dương.
(Kẻ
hèn ham thấp kém. Sào, Hứa
hướng núi cao. Trong, đục tựa
trời, vực. Lấy, bỏ lậm sâu rồi.
Chẳng biết tam giới: Mộng!
Cưỡng khoét thịt thành ghẻ! Một
niệm ngộ vô tánh. Mười phương
mặc ruổi rong).
12) Thủy
khí mỗi thành hồng, địa chưng mỗi tác khuẩn.
Giới nhĩ bổn vô h́nh, sát-na dĩ hữu trẫm.
Thận độc tuy căng căng, khởi đạt Vô
Sanh Nhẫn. Nhất ế phủ tại tình, không hoa
tư loạn vẫn.
(Hơi nước
thường thành mống, hơi đất
thường sanh khuẩn. Nhỏ nhoi vốn vô
hình, sát-na bèn thành dạng. Tuy nơm nớp
thận trọng, há đạt Vô Sanh Nhẫn? Tròng
mắt vừa có màng, hoa đốm
liền tán loạn).
13) Thịnh
thử hỷ thừa phong, nghiêm hàn ái
hướng hỏa. T́nh tánh lũ tùy thời, cứu
cánh thùy vi ngã? Vị
xuất hữu vô quan. Không lao thử tĩnh
tọa. Mãng thương tam phản nhân, phủ
phúc do xứng quả.
(Nắng gắt ưa
hứng gió, rét buốt chuộng gần
lửa. Tình, tánh vốn lắm
thời, rốt cuộc ai là ta? Chưa thoát ải “hữu,
vô”, tĩnh
tọa chỉ uổng sức! Đồng hoang, ăn no
về, vỗ bụng vẫn lưng lửng[93]).
14) Phong lai vạn hác minh,
nguyệt xuất thiên sơn kiểu. Tiếu thử
ngoan hư không, thường vi minh động nhiễu. Bất
động phục thị thùy, khởi cư phong nguyệt
biểu. Li thử kư song phi, vấn quân liễu bất liễu.
Hồ phất úy thâm khanh, đồ ưu đả chi nhiễu.
Mộ trực chuyển y tà, không tranh nội ngoại
thiệu.
(Gió lùa, muôn hang
réo. Trăng mọc, ngàn núi ngời.
Cười hư không trơ trơ, thường
bị sáng động nhiễu. Bất động lại
là ai? Há ở ngoài trăng, gió,
lìa đó đều chẳng phải. Hỏi
anh hiểu hay không? Sao chẳng sợ hố sâu,
chỉ lo đánh động quanh? Bỗng chuyển
theo ngoắt
ngoéo, trong ngoài tranh giành suông)
15) Kinh
phác vị ưng phẫu, Biện Hòa đồ tự
khấp. Lôi minh nhị nguyệt Xuân, nhuyễn động
giai ly trập. Khuất thân tín hữu thời,
hà dụng lao cấp cấp. Trúc toái thái hư không,
tùng cổ nguyên vô trấp.
(Đá
Kinh chưa chẻ ngọc, Biện Hòa đành
khóc suông. Sấm
Xuân tháng Hai rền, sâu bọ đều lìa
kén. Co, duỗi vừa đúng thời,
cần chi phải vội vã? Trúc nát cõi
hư không, từ cổ vốn không nhựa).
16) Họa
bính bất sung cơ, mỹ thực bất trung băo. Dục
phược thụ đầu phong, cần thủ quy
mao giảo. Lộng giả khởi thành chân, mại
chuyết phiên vi xảo. Câu Lô nhật lạc sơn, Thiệm
Bộ kê minh Măo.
(Bánh
vẽ chẳng đỡ đói, thức
ngon chẳng no lòng. Muốn trói gió
đầu cây, siêng lấy lông rùa bện. Giỡn
giả há thành chân, bán khéo trở
thành vụng. Câu Lô[94]
mặt trời lặn. Thiệm Bộ gà
gáy sáng).
17) Thánh
huấn hằng truân truân, linh quán ngũ thịnh
uẩn. Dương diễm dữ không hoa, vô ngă thùy hân
phẫn. Sanh tử mỵ tạm đ́nh, huyễn chất
đồng triều cận. Liễu tri hô hấp quan, chí
đạo tư vân cận.
(Thánh
huấn luôn ra rả, dạy quán năm thịnh
uẩn, như gợn nắng, hoa đốm. Vô
ngã: Ai ưa,
giận? Sanh tử chẳng tạm ngừng,
huyễn chất như triều cận[95].
Biết rõ ràng hít thở, chí
đạo đã cận kề).
18) Ngự
hàn không phách tích, hồ khẩu bất canh điền.
Phật chế cố như thử, thùy tư
cộng tức kiên. Thần vương phiên bối diệp,
h́nh b́ thả ổn miên. Hà tu học khô mộc, thất
thử vô tâm Thiền.
(Chống lạnh
không bện, dệt.
Húp cháo chẳng cấy cày. Phật chế
định vốn vậy, ai nghĩ thoái thác
ư? Thần vương lật lá bối, thân mệt
nhưng ngủ yên. Há cần học khô mộc,
đánh mất vô tâm Thiền!)
19) Hữu
trào bất dụng giải, hữu sơn bất
dụng măi. Tuyền lưu nguyệt ảnh trường,
vụ áp không h́nh ải. Khởi ngọa nhậm sở
thích, ngữ mặc tùy tiêu sái. Duệ trượng
đăng nham a, dã lộc tuần vô hăi.
(Trào
phúng chẳng cần hiểu, có núi
chẳng cần mua. Suối chảy bóng trăng
dài, sương phủ hình bóng lùn.
Thức, ngủ tùy sở thích; nói,
nín thật tiêu sái. Lê gậy lên mỏm đá,
nai chạy quanh chẳng sợ).
20) Luật
pháp như loạn ti, Thiền Tông cánh mãng lỗ. Phân
phân nghĩa học gia, do nhiên thủy thiêm nhũ. Du du Tịnh
Độ môn, Sự Lý phân thủ xả. Các
phi tổ phụ giáp, phiên ngạo phụ ngu hổ. Ai
tai phục ai tai, tọa trí ma quân vũ.
(Luật
pháp như tơ rối, Thiền Tông càng lỗ
mãng. Nghĩa học thì lăng xăng,
dường như sữa thêm nước.
Tịnh Độ môn ơ hờ, Sự Lý chia
lấy, bỏ. Đều chẳng phải tổ
huấn. Hổ
ngạo nghễ xó núi. Buồn thay, đáng
buồn thay, đến nỗi ma quân khinh).
21) Chi diệp
Thu dĩ tồi, trinh thật Đông vô bại. Sở
dĩ chân ngụy quan, chung mạc đào lô bị. Dục
sử đạo lương ph́, ân cần tiên khử bại.
Chiết nhiếp tự phân đồ, đồng quy
điều phục giới.
(Cành
nhánh Thu đã gãy; hạt chắc Đông
chẳng hư. Do vậy, ải chân ngụy, trọn
chẳng khỏi lò rèn! Muốn cho thóc
lúa mập, siêng khử cỏ dại
trước. Chiết, nhiếp dường chia
nẻo, cùng gom giới điều phục).
22) Nhân
vũ phi tự vũ, tự vũ phi vũ nhân. Bất
thọ lễ quy chủ, diệu dụ chân thả thân. Tu La
mạn tràng chiết, Đế Thích thắng phan tân. Nhẫn
vi lực trung tối, thắng địch ninh dương
trần.
(Người
khinh, đừng tự khinh. Tự khinh,
chớ khinh người. Chẳng nhận,
quà về chủ[96].
Diệu dụ thật thân thiết. Bẻ tràng mạn
Tu La, mới toanh phan Đế Thích.
Nhẫn lực mạnh
mẽ nhất, thắng địch chẳng tung
bụi!)
23) Điều
tâm như đại địa, sủng nhục hà quan
ư. Mỹ ngọc lương tự trân, giác thạch phiên
thành tụy. Hà tai thụy hổ cơ, thiên cổ
xưng nan xí. Nhẫn ký Ca Lợi vương,
Lộc Uyển thành Thiện Thệ.
(Điều
tâm như cõi đất, vinh nhục há bận
lòng? Ngọc đẹp tự trân quý,
sừng, đá sẽ nát vụn. Xa xôi chốn
hổ ngủ, ngàn đời nói khó mong! Nhẫn
nhớ vua Ca Lợi, Lộc Uyển chứng
đạo trước[97]).
24) Ngôn
cư Phật tổ tiên, hạnh lạc phàm ngu hậu. Mạn
bão pháp môn ưu, tự tật cam vô cứu. Sỉ cung
quư Nho tông, quy thoán tàm Ngự Khấu. Mạc khoa nhật
chánh trường, thuấn tức văn canh
lậu.
(Nói
thì vượt Phật, tổ, hạnh thua kém
phàm phu. Quá lo cho pháp môn, bệnh mình
đành chẳng cứu. Thẹn chẳng
xứng Nho tông, khiêm hư thua Ngự Khấu[98].
Đừng khoe ngày còn dài, chớp
mắt đã tàn canh).
25) Yết
miêu[99]
đồ tự tổn, câu quái doanh hoàn hạc. Cửu
nhận bất cập tuyền, uổng hướng cao
nguyên tạc. Thận chung diệc mưu thỉ, sở hậu
na kham bạc? Đề hồ nguyện cộng xan, thiện
xảo tiên toản lạc.
(Giơ
mèo chỉ tự tổn, ngòi rãnh
đầy lại khô. Chín nhận chẳng
đến nước, uổng công đào cao nguyên[100].
Thận trọng nơi kết quả, cũng thận
trọng từ đầu. Sâu dày há kham
bạc? Nguyện cùng nếm đề hồ, hãy
khéo xoay lạc trước[101]).
26) Tam
thập vị thỉ tráng, tứ thập kim
dĩ lăo. Đồ nhĩ phí mang hài, y nhiên bất
văn đạo. Kư trừng tùng tỉnh nhân, khởi
học thủ viện tẩu[102]. Kiến
đạn cầu hiêu chá, ta tai kế thái tảo.
(Ba
mươi chưa tráng niên, nay bốn mươi
đã già. Uổng công mang hài cỏ,
chẳng nghe đạo y hệt. Đã răn
nhảy xuống giếng, để cứu vớt
người khác. Há học thói kiêng kỵ,
chẳng duỗi tay cứu chị? Thấy
đạn, mong nướng cú. Than ôi,
tính quá sớm!)
27) Bích
ảnh bổn phi si, hài đồng nghi tác quỷ.
Bạch nhật hốt thăng thiên, kiến triệt vô
đầu vĩ. Thu thâm nhiêu nguyệt hoa, xuân đáo đa
phương hủy. Căn cảnh vị ly phiên, thọ
dụng hữu năng kỷ?
(Bóng
tường đâu phải ma, trẻ thơ ngỡ
là quỷ. Mặt trời bỗng lên cao,
nhìn thấu chẳng đuôi đầu.
Giữa Thu, trăng hoa thịnh. Xuân đến, cây
ngát hương. Căn cảnh còn vướng
mắc, thọ dụng được mấy
đâu?)
28) Ngưu
độc bất úy hổ, thương điểu phố
hư cung. An úy tuy dị cục, đối cảnh giai manh
manh. Hà như kiến đế sĩ, liễu
liễu tri vô xung. Du hý nghịch thuận giới, ninh
thi thắng địch công?
(Nghé
con chẳng sợ cọp, chim bị thương
sợ cung. An ủi tuy khác lẽ,
đối cảnh đều mịt mờ. Sao
bằng người kiến đế, biết
rành chẳng lo âu. Dạo chơi cõi nghịch
thuận,
thắng địch há tốn công?)
29) Thước
táo cố vô ưu, nha minh diệc báo hỷ. Thanh tánh
bổn phi thù, văn cơ ninh dị nhĩ. Nhất nhĩ
thính lưỡng âm, lưỡng vong nhất tiện
chỉ. Vô minh tùng thử vô, Thỉ Giác
tùng thử thỉ.
(Chim
khách hót chẳng lo, quạ kêu cũng báo
hỷ. Tánh âm thanh chẳng khác, tai nghe há
khác ư? Một tai nghe hai âm; hai đằng quên, một dứt. Vô minh
từ đấy không, Thỉ Giác từ
đấy khởi).
30) Hàm
Lâm[103] cát năi lợi,
ỷ phục tuân đa nghĩa. Phủ xướng bạt
mao ca, toàn sanh bằng tác túy. Thế sự cố ưng
nhiên, điều tâm vưu bất dị. Nan đề
khởi Tứ
Thiền,
ma nữ thiên tương mỵ.
(Hàm Lâm
cát lại lợi, dựa dẫm[104]
theo nhiều nghĩa. Vừa hát bài nhổ
cỏ, khiến cho bạn giở trò. Thế
sự vốn như thế, điều tâm càng
chẳng dễ. Khó đề khởi
Tứ Thiền, ma nữ riêng quyến rũ)
31) Cư
đức kỵ thành Quái. Dục đức
quư như Mông. Đại
đạo khoáng vô tế, hà dĩ nhĩ tự
sung. Xuất quan kinh chẩm mộng, nhập tràng xuy lăo ông.
Thục độc Hoắc Quang truyện, phương tri dưỡng
chánh công.
(Quẻ
Quái[105] kỵ
cậy đức, dưỡng đức
quý như Mông[106].
Đại đạo rộng khôn ngằn, sao bịt
tai chẳng nghe! Xuất quan, sợ tỉnh
mộng. Vào học, lão bị cười.
Đọc kỹ truyện Hoắc Quang[107],
mới biết công dưỡng chánh[108]).
32) Trục
vọng hựu tầm chân. Dương hôi phục
cổ trần. Vị ngộ tân trung chủ, an tri chủ
lư tân. Mỹ thực băo sở khí, tao khang cơ sở trân.
Thao thao thiên hạ sĩ, trở nịch đồng mê
tân.
(Đuổi
vọng lại tìm chân, khuấy tro, bụi lại tung.
Chưa ngộ chủ trong khách, sao biết khách
nơi chủ? No rồi, đồ ngon lành, bị
vứt bỏ chẳng tiếc. Nhưng hễ
đang đói kém, cám bã quý muôn
phần. Cuồn cuộn người thiên hạ,
đắm chìm trong bến mê).
33) Hy Nhan
phục học Khổng, vị xuất tam giới lung. Bộ
Lão phục xu Trang, y nhiên cựu tất dũng. Thái
Cực vị sanh hình, tự tâm tảo vọng
động. Thạch hỏa điện quang cơ, hà lao
khoa nhất thống.
(Mong Nhan,
lại học Khổng, chưa thoát lồng tam
giới. Học Lão, lại theo Trang. Thùng
sơn[109] y như
cũ. Thái Cực chưa sanh thân, tự tâm
sớm vọng động. Đá xẹt
lửa, chớp sáng, nhọc chi khoe cùng
nguồn).
34) Ký
tàm đức bất tu, hựu quý học
bất giảng, đức học bổn đồng
điều, thùy năng tác lưỡng hạng?
Tử Dương dữ Tượng Sơn, các khiết
tam thập bổng. Thức thủ Tuyên Ni tông, phương
lai chứng câu cảng.
(Đã
thẹn đức chẳng tu, xấu hổ
học chẳng giảng. Đức, học
vốn cùng gốc, ai chia thành hai đằng?
Tử Dương và Tượng Sơn,
đều ăn ba mươi gậy! Nhận biết tông
Tuyên Ni, mới là chứng chí đạo).
35) Đồng
quan Nghi Thủy
du, tam tử dị kỳ soạn. Nhất thẩn,
nhất vị nhiên. Hắc đậu hoán
khước nhãn. Ương Quật phát thành ngôn,
thai nạn an nhiên sản. Độc chí Bất
Động chương, Đại Huệ
nhan đương noãn.
(Thuở
trẻ chơi Nghi Thủy, ba người ý bất
đồng[110].
Người cười, người bảo
đúng. Đậu
đen thay cho mắt. Ương Quật[111]
lời chân thành, thai nạn an tường sanh.
Đọc đến chương Bất Động,
mặt Đại Huệ đỏ bừng).
36) Tiền
tế bất khả cùng, hậu tế bất khả
cập. Hiện tiền giới nhĩ tâm, biên tế miểu
nan trắc. Minh minh pháp giới tông, diệu quán hồ
mặc mặc. Phấn khởi kim cang quyền, đả
phá vô sanh quốc.
(Tiền
tế chẳng thể cùng, hậu tế
chẳng thể đạt. Tâm nhỏ nhoi hiện
tiền, bờ mé khó thể lường.
Tông pháp giới sáng ngời, diệu
quán há mờ mịt? Vung nắm đấm
kim cang, đập nát nước vô sanh).
37) Dục
tuyết tiên tập tản, dục lôi tiên xế điện.
Như hà dục thành Phật, phước huệ hào
vô phiến? Lưu tiểu thạch năng xuyên, toản tức
hỏa nan hiện. Tu giáo thục xứ sanh, hoàn giáp
đồng ao chiến.
(Sắp
tuyết, trời gom hoa tuyết trước.
Nháng chớp xong rồi, sấm mới rền.
Nếu như mong
mỏi được thành Phật,
chẳng mảy phước huệ há thành
ư? Nước yếu rỏ mãi xuyên thủng
đá, dùi lửa mà ngưng, lửa
hiện sao? Chỗ chín phải tu cho thành sống,
khoác giáp xông pha quyết chiến thôi!)
38) Tinh
hỏa liệu hoang nguyên, nhất chỉ tế sơn nhạc.
Châu Dịch giới lý sương, Tuyên Ni quư tiên
giác. Vị cùng học địa lưu, thận vật
khoa vô học. Nê tại thủy phi thuần, sảo động
hoàn thành trược.
(Đốm
lửa đốt đồng hoang. Một ngón che
non núi. Châu Dịch răn giẫm sương[112],
Tuyên Ni trọng tiên giác. Chưa tột cùng học
địa, đừng khoe mình vô học. Nước
chứa bùn chẳng thuần,
khẽ khuấy lại đục ngòm).
39) Trược
thủy châu khả thanh, ám thất đăng năng
phá. Duy hữu điện tŕ công, sư hống
chung kinh ngọa. Khóa hạ diệc đăng đàn, đại
tướng phi tùng hóa. Duyệt thảo phi hổ bì,
đồ linh thiên cổ thóa.
(Nước
đục, châu
lắng trong; nhà
tối,
đèn soi tỏ. Chỉ có ông ao biếc, sư
tử rống vỡ mộng. Cưỡi sư
tử lên đàn. Đại tướng
chẳng bán buôn. Dê đội lốt da hổ,
chỉ khiến muôn đời chửi).
40) Giảo
hồ năng hoặc hổ, mộc diêu nan bố cầm.
Khả khi, bất khả võng. Thần toàn nãi
mạc xâm. Diện nam khán Bắc Đẩu.
Đoan đích thùy tri âm? Tằng kinh Thắng
Nhiệt
diễm, triệt cốt lương thả âm.
(Cáo
quỷ quyệt lừa cọp, diều hâu gỗ
dọa chim. Dối được, chẳng hại
được. Tâm nguyên vẹn chẳng hao.
Hướng Nam ngắm Bắc Đẩu, mông
lung ai tri âm? Từng qua lửa Thắng Nhiệt[113],
mát mẻ thấu tận xương)
41) Côn Luân
phi túc hải, túc hải phi A Nậu. Thao thao vạn lư
lưu, nhất trích nguyên thùy thấu? Mạn truyền
thiên thượng lai, thác nhận Ngân Hà
trụ. Lại thử đầu hải cơ,
tùng tiền giai miễn cứu.
(Côn Luân
khác biển thẳm, biển thẳm khác A
Nậu. Muôn dòng tuôn cuồn cuộn, ai thấu hiểu
giọt
nguồn? Đồn rằng từ
trời xuống, lầm tưởng giáp Ngân
Hà. Nhờ đó, đổ vào biển,
trước nay xét chẳng cùng).
42) Lục
trần bổn thái b́nh, lục căn diệc phi kiêu, vấn
thủ lục thức thân, tung tích vưu yểu yểu. Thùy
vi kết sử nguyên? Tế mịch chung nan liễu.
Thử khán bình nội không, khuynh xuất tri
đa thiểu?
(Sáu
trần vốn thái bình, sáu căn cũng
chẳng phiền. Hỏi han thân sáu thức,
tung tích càng mờ mịt. Đâu là
nguồn kết sử? Tìm tòi trọn
chẳng hay! Xem hư không trong bình, đổ ra
được bao nhiêu?)
43) Sắc
sắc chương khổ không, thanh thanh diễn vô ngă.
Niêm lai pháp giới thược, khai tận trần sa tỏa.
Đổ giác tiện tri ngưu, vọng yên khởi hoặc
hỏa. Nhược yếu thuyền đầu
trực, đoan khước thuyền sao
đà.
(Mỗi
sắc bày khổ, không; từng tiếng
diễn vô ngã. Cầm lấy chìa pháp
giới, mở trọn khóa trần sa. Thấy
sừng liền biết trâu, ngó khói há lầm
lửa? Nếu muốn đầu thuyền
thẳng, chắc phải bỏ bánh
đà).
44) Côn[114]
tiềm tri hải khoát. Bằng tỷ tri thiên cao.
Thập hư tín liêu khoách, hà như Biến
Cát mao? Túng bộ lịch trần kiếp, đồ
linh đồng tử lao. Mê thử nhất khích
lý, kim cổ đồng thao thao.
(Côn
lặn biết biển rộng. Bằng
lượn biết trời cao. Tin hư không mênh
mông, chẳng bằng một mảy lông, nơi thân
ngài Biến Cát! Dẫu trải qua trần
kiếp, chỉ khiến đồng tử nhọc. Mê
một mảy lý này, xưa nay cuồn cuộn
mãi).
45) Kim tiết
bất trước nhãn, độc khí bất
trữ tương. Vương soạn vị cảm thực,
hoa ốc đồ khuy tường. Cấu tận minh tự
hiện, hồ lao tiện sắc trang. Xuân phong nhất
dạ khởi, lan nhị biến khê hương.
(Mắt
chẳng dung mảy vàng, đồ đựng
đã dính độc, chẳng thể
chứa quỳnh tương. Cỗ vua chưa dám
ăn, nhà đẹp liếc qua tường. Dơ
trừ, sáng tự hiện, nhọc chi chuộng
điểm trang? Gió đêm Xuân vừa thổi, suối khe lan ngát
hương).
46) Mang
hài khí ốc hậu, bát đại quải mao am,
phi cảm lạm vô học, tọa phỏng đồng hạnh
tham. Thạch mật vị trung tối, thực năi tri
kỳ cam, kiến nguyệt lương lại chỉ, ninh
phục lao thâm đàm?
(Hài
cỏ, bỏ nhà rồi; bát, đãy treo
lều tranh. Chẳng dám lạm vô học,
để đồng hạnh tham phỏng. Thạch
mật vị ngon nhất, ăn mới biết
ngọt ngào. Thấy trăng nhờ ngón
chỉ, há nhọc
vớt đầm sâu?)
47) Ngữ
bất cạnh triều hoa, bệnh ưng tiêu túc nghiệp.
Độc quư suy hủ thân, nan xí tôn giả hiếp. Pháp vô
tâm ngoại truyền, đạo tự Oai Âm kiếp.
Minh minh Phạm Vơng đăng, vị thẩm thùy tiên tiếp?
(Lời
chẳng đua bóng bảy, bệnh tiêu túc
nghiệp mà. Chỉ thẹn thân suy bại, khó mong
hông tôn giả. Pháp chẳng truyền ngoài tâm,
đạo từ Oai Âm kiếp, rạng ngời
đèn Phạm Võng, ai nối tiếp
trước tiên?)
48) Trực
chỉ Tây lai ư[115], Lăng
Già tâm khả an. Thuyết ngôn đồng giải thoát,
nội thủ thiên bàn san. Hưu luyến thanh tiền cú,
hoàn tư bộ ngoại can. Bất thường thiên
hạ thố, na tín nhất ban toan.
(Chỉ
thẳng ý Tây lai, Lăng Già an tâm
được. Nói năng dường giải
thoát, trong tâm vướng chất chồng.
Đừng mê nơi văn tự, đầu
sào vẫn bước thêm. Chẳng nếm
dấm thiên hạ, sao biết một mực chua!)
49) Học
sĩ úy khô tịch, thiền đức bố phồn
văn. Phồn văn tín vô ích, khô tịch diệc thiêm
cần. Xà thằng kiến phương xí, thủ xả đồ
phân vân. Tróc tỵ mạn cao hoán, đăng
chiếu tri phi phần.
(Kẻ
học sợ khô tịch, thiền đức
sợ văn rườm. Văn rườm quả
vô ích, khô tịch cũng bệnh thêm. Dây, rắn
hăm hở thấy, lấy, bỏ uổng phân vân.
Sờ mũi kêu ầm lên, đèn soi biết
chẳng lợn).
50) Vị
minh tâm dữ tánh, độc tụng đồ nam nam.
Phủ dục tư thượng đạt, ám chứng
hoàn tự giam. Bất giải thuận lưu trạo, khởi
tri nghịch phong phàm. Hạp tận tứ hải thủy,
đáo đầu tư vị hàm.
(Chưa
hiểu tâm và tánh, chỉ đọc tụng
rì rầm. Vừa toan nghĩ thượng
đạt, ám chứng vẫn tự ràng.
Chẳng biết chèo thuận nước,
ngược gió khó căng buồm. Hớp
sạch nước bốn biển, rốt cuộc
đều mặn thôi!)
51) Cạnh
vi ngoại cách phong, vơng niệm tích thời điển.
Nhân hộ nãi chí phệ, kham ta phạm chí khuyển.
Tài khan thượng khả hồi, pháp chấp thùy
năng khiển? Ngũ bách
dã hồ thân, phúc triệt thiên tranh tiễn.
(Tranh nhau
làm lỗi lạc, chẳng nghĩ tới
thời cơ. Do bảo vệ bèn sủa, buồn
thay chó Phạm Chí. Tiếc của còn
xoay được, pháp chấp ai trừ nổi? Thân
chồn năm trăm năm, tranh giẫm vết xe
đổ).
52) Phật
ngữ tức Phật tâm, Phật tâm phi Phật ngữ, ly
thử tức phi quan, cứu cánh thùy vi nhữ?
Nhất cú liễu nhiên siêu, vạn kiếp hợp
đầu chử. Nhược yếu thiệt bổn
điềm, cần thủ hoàng liên nhứ.
(Phật
ngữ tức Phật tâm, Phật tâm chẳng
Phật ngữ. Lìa ải “tức, phi” ấy,
cứu cánh ông là ai? Rành rành
vượt một câu, muôn kiếp hợp
đầu chày. Nếu muốn lưỡi ngọt
ngào, siêng nếm sợi hoàng liên).
53) Tâm can
quải thụ diểu, thử lý tùng lai
thiểu. Ly giáo mịch đơn truyền, si miết
hà thời liễu? Diệu chỉ phát diệu âm,
phi nội diệc phi biểu. Trắc nhĩ bất
hội tâm, y nhiên đả chi nhiễu.
(Tim gan treo
đầu cành, lý ấy xưa nay hiếm. Lìa
giáo kiếm đơn truyền, rùa si khi nào
hiểu? Diệu chỉ phát diệu âm, chẳng
ngoài cũng chẳng trong. Nghiêng tai,
chẳng hiểu tâm, vẫn quẩn quanh như cũ).
54) Quán
tiễn độc du xí, vấn kiều lộ du tŕ. Lộ
tŕ nhật dịch mộ, độc xí na kham y. Hữu
dược bất tảo phục, hữu túc
bất tảo trì. Mang mang sanh diệt hải, thùy
dữ định quy kỳ.
(Xem tên,
độc càng mạnh; hỏi nẻo, càng
chậm
đường! Đường
chậm, ngày dễ tối; độc
hừng,
chữa sao lành? Có thuốc chẳng
sớm uống, có chân chẳng sớm
đi. Biển sanh diệt mênh mông, ai dám chắc
lúc về?)
55) Độc
xà vật tróc vĩ, cam lộ vật thiêm thủy. Thiêm thủy
ẩm thành bệnh, tróc vĩ thích nhân tử. Chấp hạng
thiện điều ngự, công quy hoạn long thị. Ngộ
thời chuyển Pháp Hoa, lương tai Huệ
Năng chỉ.
(Rắn
độc đừng nắm đuôi, cam lộ
chớ thêm nước. Thêm nước, uống
thành bệnh. Nắm đuôi, cắn người
chết. Nắm cổ, khéo điều phục.
Công thuộc người nuôi rồng.
Khi ngộ, chuyển Pháp Hoa. Huệ Năng ý lành
thay!)
56) Thính
pháp bất quán tâm, tử chí thành lang bối. Quán
tâm bất thính pháp, chấp đao hoàn tự hại. Bất
tri thuyết mặc nguyên, đồng điều khước
dị hội. Tỵ khổng hướng hạ
thùy, không tán Oai Âm ngoại.
(Nghe
pháp, chẳng quán tâm, lúc chết
sẽ chật vật. Quán tâm chẳng nghe pháp, cầm
đao vẫn tự hại. Chẳng biết nguồn nói, nín, cùng
nguồn mà hiểu khác. Lỗ mũi
hướng xuống dưới, khen suông Oai Âm
Vương).
57) Trường
ngữ ngộ phi đa, tuyết điền tỉnh tiện
vô. Yếu ngôn mê bất thiểu, tiểu độc hoàn sanh
dụ. Hà lao vọng hân yếm, cộng bả chân tông
vu. Tảo tu khai diễn trí, mạc họa cựu hồ
lô.
(Nói
lắm, ngộ chẳng nhiều. Tuyết lấp,
giếng chẳng còn. Muốn nói, mê
chẳng ít. Chút
độc đã mệt nhoài. Nhọc chi yêu,
ghét xằng, khiến chân tông hư dối.
Sớm tu trí khai diễn, đừng vẽ
hồ lô xưa).
58) Chấp
dược mỗi thành bệnh, tá bệnh phiên thành
dược. Thông tắc mỵ định tung, xúc cảnh
tu thâm độ. Tri nhân vật chiêu chiêu. Tự chiếu
vô mạc mạc. Nhất ngôn chúc căn nguyên, thiên
sơn thắng hành cước.
(Chấp
thuốc thường thành bệnh. Nhờ
bệnh, biến thành thuốc. Thông, tắc không
nhất định. Chạm cảnh, cần nghĩ sâu.
Biết người, đừng phô phang. Tự
chiếu đừng mờ mịt. Một
lời tỏ cội nguồn, hơn hành
cước
ngàn non).
59) Tụ
huỳnh bất nhiệt thảo, tụ tuyết bất
thành sơn. Toản chỉ tín vô ích, khô tọa chung si
ngoan. Bất lịch dương trường hiểm,
an tri hành lộ nan? Thiên lý thỉ sơ bộ,
hưu thương tối hậu quan.
(Gom
đóm, chẳng nóng cỏ. Tụ tuyết,
há thành non? Dùi giấy cũ vô ích, khô
tọa trọn bướng si. Đường quanh
co, hiểm ác, hễ chưa từng trải qua, sao
biết đường đi khó? Ngàn
dặm mới cất
bước, đừng bàn ải cuối cùng).
60) Hồng
chung khấu năi minh, mỹ ngọc chung tu trác. Bất
mịch ác kiềm chùy. Khởi phá vô minh
xác? Hộ
tư phiền năo t́nh, nhẫn sử linh quang bác. U u
trường dạ hàn, nhiệt thụy thùy
năng giác?
(Hồng
chung gõ mới kêu, ngọc đẹp vẫn
cần mài. Chẳng kiếm rèn
cặp nghiệt, há phá vỏ vô minh?
Giữ tình kiến phiền não, nỡ
để mất linh quang. Đêm dài lạnh tối
tăm, ngủ say ai tỉnh được?)
61) Ô yên
hốt thành mã, triển chuyển vô phi thác. Phật
diệt tằng kỷ thời, ai tai thủy lạo hạc!
Thẩn tư tối hậu niên, hà địa tầm lược
chước. Tư văn lại vị vong. Cộng
thính năng nho đạc.
(Ô, yên[116]
lầm thành mã, lần lượt bị sai
lầm. Phật diệt chưa bao lâu, buồn thay thủy
lạo hạc[117].
Nghĩ đến năm cuối cùng, chốn nào
tìm cầu tạm? Nhờ lễ nhạc chưa
quên, cùng nghe mõ chân Nho).
62) Nhật
luân vãn tác kính, hải thủy ấp tác
bồn. Chiếu ngã trung nghĩa đảm, dục
ngã pháp thần hồn. Cửu tử tâm bất
hối, trần kiếp nguyện do tồn. Vi hịch
hư không giới, hà nhân cộng thử luân.
(Kéo
mặt trời làm gương, trút
nước biển làm chậu. Chiếu tôi gan trung
nghĩa, gột hồn tôi pháp thần[118]. Chín
chết, tâm chẳng hối, trần kiếp nguyện
mãi còn. Truyền hịch cõi hư không, ai
cùng lên thuyền này?)
* Bài ca trừ bệnh
Cửu
Hoa phong đầu vân vụ nùng. Tam
nguyệt,
tứ nguyệt như long đông. Hậu ủng
tệ bào cung cao ngọa. Noăn khí viễn độn lai vô
tùng. Cửu Hoa sơn trung tuyền vị dật, bách
cổn thiên phí trung biên mật. Thập
thủ tùng cầu trấn nhật ổi, quyền tác
sâm linh liệu ngã tật. Ngã tật kham ta liệu
thiên nan. A Nan cách nhật, ngã tam nhật.
Khởi hướng đán mộ luyến không
hoa, bi ngã tri môn vị nghệ thất. Thị dĩ
trì danh nhật tư tư, nghĩ khai đồng thể
diệu tam từ. Ngã bệnh trị thời, sanh
giới trị. Sát-na phi tốc, kiếp
phi trì.
(Đầu
non Cửu Hoa, mây mù dày. Tháng Ba, tháng
Tư như giữa Đông. Áo rách quấn
chặt nằm cao ngất. Hơi ấm trốn xa
chẳng thấy đâu! Nước suối
Cửu Hoa vị khác thường, trăm
trào ngàn sôi, giữa, bờ ngọt.
Nhặt lấy quả thông vùi tro nóng, làm
sâm, phục linh tạm trị bệnh. Than ôi, bệnh tôi
riêng khó trị. A Nan cách nhật, tôi ba ngày.
Há còn sáng chiều luyến hoa đốm? Xót tôi
biết nẻo, chẳng thâm nhập. Do vậy,
suốt ngày trì danh miết, mong khai đồng
thể diệu tam từ[119].
Tôi khỏi bệnh, chúng sanh giới khỏi.
Sát-na chẳng chóng, kiếp lâu sao?)
* Bệnh đỡ,
viết bốn bài cảm hoài
1) Nhất
điều trụ trượng lưỡng mang hài, hải
khoát thiên không nhậm vãng lai. Ái kiến
từ bi chung tác tật. Bà hòa học lữ
mạn vi sài.
(Gậy
chống một chiếc, đôi hài cỏ. Biển
rộng trời cao mặc đến đi. Ái
kiến,
từ bi đều là bệnh. Lạm bảo
Thiền hòa bạn lữ thôi!)
2) Tông
đ́nh độc lực trừ hoang thảo. Giáo
luật thùy năng cộng chấp kha. Vũ lộ
trọng thời ân niệm thiểu. Kiềm chùy
lạt xứ oán tình đa.
(Sân
Thiền lủi thủi trừ cỏ dại, Giáo
Luật ai cùng vác búa rìu? Ơn mưa
móc nặng, ân ít nghĩ. Cặp kềm
nghiêm ngặt, oán hiềm nhiều!)
3) Thắng
tâm tuy phát túc phàm t́nh. Thập tải y hy
cựu lộ hành. Mạc tiếu Ba nhân[120] do
thiểu hòa. Dẫn thương khắc vũ dục
thùy canh.
(Thắng
tâm tuy phát, phàm tình ắp. Nẻo cũ
mười năm vẫn giữ nguyên.
Đừng cười người Ba ít
hòa hoãn, tinh thông nhạc luật ai họa theo?)
4) Đại,
tiểu do lai xuất lộ kỳ. Vô đoan mai một hảo
nam nhi. Tam niên thường đảm xuy phi cửu, tu học
Hoa Nghiêm trần kiếp tư.
(Đại, tiểu
là do sanh ngã rẽ. Bỗng dưng mai một
gã trai lành. Ba năm nếm mật, chẳng lâu
chi. Tu học Hoa Nghiêm nghĩ trần kiếp).
* Lễ một ngàn vị
Phật ở lầu tàng kinh của Cửu Hoa,
tặng các bạn năm bài kệ
1) Phi can
khổ hồ hoán điềm qua. Xứ xứ
từ tôn tịnh ngã gia. Niệm tánh uổng
lao tham thủy nguyệt. Đê đầu dĩ giá
bạch ngưu xa.
(Đừng
đem bầu đắng thay dưa ngọt. Chốn
chốn từ tôn đều nhà ta. Niệm tánh uổng
tham trăng trong nước. Cúi đầu
điều khiển bạch ngưu xa).
2) Đôi
sơn tích nhạc tận trần ai. Lực bả
từ phong nhất tịch thôi. Xuy tán Thiết Vi vô
ám địa. Hà tu thức mục vấn
minh lai!
(Chất
núi chồng non, sạch
bụi trần. Gió từ tận lực
thổi tan ngay. Thiết Vi thổi nát, không nơi tối. Cần gì lau
mắt hỏi quang minh).
3) Tích
niên khoa cữu sát-na hiên. Lạp tận Xuân hồi
nhật dĩ huyên. Dục tín Côn Luân tuyền mạch
động. Đản khán Hà Đông bất
thắng viên.
(Khuôn
sáo năm xưa, sát-na đổ. Năm
hết, Xuân về, ngày
ấm dần. Muốn tin Côn Luân nguồn suối
chảy, chỉ thấy Hà Đông xe khôn ngằn).
4) Linh tê
nhất điểm tánh nguyên thông. Xúc cảnh phùng cừ
đạo tự dung. Mộ địa cử
thời thanh lịch lịch. Tương khan
đồng tại bảo lâu trung.
(Linh tê[121]
một điểm tánh vốn thông. Gặp
cảnh, gặp nguồn, đạo tự dung. Ngay
trong khi ấy, tiếng rành rẽ; lầu
báu sẽ thấy cùng ở trong).
5) Nhất
thể hoành phân tưởng dữ t́nh, lãnh
nhiên tánh kế tức Vô Sanh. Công thành ngũ hối phi
lưu hoặc. Mạc thế lâu đầu tối hậu
minh.
(Một
thể cưỡng phân tưởng với
tình, rành rành tánh kế[122]
tức Vô Sanh. Ngũ hối công thành,
Hoặc hết sạch; lời ước bên
lầu chớ để suy).
* Tặng thầy
Đảnh Cù bế quan niệm Phật
A Di
Đà Phật thanh lịch lịch, tự tha cộng
ly bất khả mịch. Thị tâm tác Phật,
thị tâm thị. Xí nhiên cảm ứng chân không
tịch. Mộ trực quy lai, mạc vấn
tân. Vô minh thụy lư, oanh tích lịch. Tỉnh lai
môn chẩm tiếu ha ha. Mộng đọa đại
hà, thùy
thật nịch. Mộng thời phi đọa, tỉnh
phi siêu. Nhất
nhậm khải phong đồng tấu tích. Kế châu giải
xứ, thiệu
công thành. Nội ngoại không tranh thứ dữ đích. Vô sanh
khúc lư minh nguyệt hàn, bạch ngưu bối
thượng xuy hoành địch.
(A Di
Đà Phật tiếng rành rành. Ta,
người cùng lìa, chẳng thể
tìm. Tâm này làm Phật, tâm là Phật.
Hừng hực cảm ứng, chân không
tịch. Thẳng thừng quay về,
đừng hỏi bến. Say giấc vô minh, sấm nổ
rền. Tỉnh ra, sờ gối cười ha
hả. Mộng lọt sông to, ai thật chìm? Khi
mộng chẳng rơi, tỉnh chẳng thoát.
Mặc cho gió Nồm thổi phần phật.
Tháo châu búi tóc thưởng công thành; trong
ngoài tranh suông thứ và đích. Khúc
nhạc vô sanh, trăng sáng lạnh. Lưng
trâu trắng thổi sáo vi vu).
* Do gậy chống bị
gãy bèn ghép thành mấy câu
Tung hoành
Bắc Đẩu hướng Nam khan, hồi thủ
gia hương nguyệt ảnh hàn. Trụ
trượng chiết thời, thủ
nhãn miết. Mang hài phá xứ túc tâm
toan. Bất lao tàng tích châm phong lý, thiên giải
phao cầu cấp thủy than. Loan khiếu hốt truyền
lâm cốc hưởng. Thạch nhân phủ
chưởng bạch vân đoan.
(Tung hoành
Bắc Đẩu, xoay Nam ngắm. Ngó lại
quê nhà, lạnh
bóng trăng. Gậy chống gãy rồi, tay mắt mờ. Hài
cỏ rách nát,
bàn chân xót. Chẳng nhọc ẩn giấu
mũi kim nữa, riêng hiểu ném cầu bến
nước thôi. Chim kêu bỗng truyền rừng
núi
vọng. Người đá vỗ tay chót
trắng mây).
* Mộng cảm chánh
pháp suy bại, đau lòng khóc lóc tỉnh
giấc bèn viết hai bài kệ cảm hoài
1) Ma quân
tà xí tam châu biến, nghiệt tử cô trung nhất tuyến
vi. Mộng đoạn kim hà t́nh vị tận, tỉnh lai dư
lệ thượng triêm y.
(Cờ
tà quân ma khắp ba châu, nghiệt tử cô trung
một sợi mành. Mộng đứt sông
vàng, tình chửa tận. Tỉnh ra, lệ
vẫn ướt đầm y).
2) Hưu
ngôn tam giới tận sanh manh, châu hệ bần y tánh tự
minh. Khẳng phóng nhăn tiền nhàn hoạt kế.
Tiện kham kiếp ngoại độc xưng anh.
(Đừng
than tam giới mù bẩm sanh, châu buộc áo
nghèo tánh sáng ngời. Kế sống an
nhàn chịu buông xuống, liền xưng anh kiệt vượt
ngoài kiếp).
* Đi qua Tề Vân, tham
bái Chân Vũ[123]
Yên hà thặng
phích thử trung phân. Dao vọng danh loan
thế dục phần. Trụ trượng thạch
bình chiêm thụy khí. Ca-sa kim
đảnh ấp hương phân. Thiên tầm khúc giản
minh lưu thủy. Vạn đóa thanh sơn chuế bạch
vân. Dư diệc Phật môn vi ngoại hộ, hà
phương phá cách hữu chân quân.
(Ráng
khói mịt mờ chia rõ đây, thế núi nhìn xa uốn
ngoằn ngoèo. Nương gậy trèo non,
ngắm khí tốt. Ca sa, đỉnh vàng
thơm ngát hương. Ngàn tầm núi
cuộn, khe tuôn chảy. Vạn đóa non xanh
điểm bạch vân. Tôi cũng là người
ngoại hộ Phật, nào ngại phá lệ
bạn Chân Quân).
* Vừa tròn bốn
mươi tuổi
Vật
luận du du lý bổn tề, niên lai tiệm giác
thoát thuyên đề. Quyền khai phi thật, chưởng
nguyên tại. Ế khử duy không, nhãn
bất mê. Lưu thủy hữu tâm chung hối hải,
lạc hoa vô ngữ diệc thành khê. Sát-na sanh xứ sanh
hà tánh? Khước tiếu Oai Âm kiếp
ngoại đề.
(Luận
vật lăng xăng, lý vốn đồng. Rọ
lồng dần hiểu, tìm phương thoát.
Xòe tay,
nắm đấm còn đâu nữa, nhưng
một bàn tay vẫn đó thôi! Mắt trừ
sạch mộng,
há còn lòa! Nước chảy
hữu tâm đổ vào biển, hoa rơi thinh
lặng cũng thành khe. Sát-na xanh xứ,
sanh tánh gì? Cười cợt Oai Âm kiếp
ngoại nêu).
* Gởi gắm
hoài bão chưa thể thực hiện
Văn tự
ly vi, ảnh bất lưu, huyền cơ dục xướng
thục tương thù. Nhân liên lũ trúng thần do
cách, phiên ức như ngu ích khả thu. Cửu
Tử phong đầu tiêu nguyệt chỉ, thiên như
kính lư biện kim đậu. Linh tê thông xứ tri vô trẫm,
mạc phụ tŕ minh trợ viễn do.
(Văn
tự ly vi[124],
ảnh chẳng lưu. Huyền cơ toan
xướng, biết ai hùa? Bởi thương
bao lượt, tâm còn cách. Tưởng
nhớ như ngu, càng đáng thu.
Đỉnh núi Cửu Hoa, tay chỉ nguyệt. Nơi kính
thiên như, luận
đậu vàng. Linh tê thông suốt, không điềm
báo. Đừng phụ trì minh giúp kế sâu).
* Giã biệt Huyền Lăm
Tùng Lãnh
vũ hiết thấp vị thu, khiếp lộ hàn thiền
thanh như trừu. Đồng trụ cửu tuần
hốt vân biệt, bất ngữ cô hoài thiên du du. Trí sĩ tùng
đại bất tùng tiểu. Ngu phu cận lự
vô viễn ưu. Ái tích bì nang quyên hoang khâu, hư danh
hách dịch hề khả lưu. Hà như khoáng lăm hoàn
khu biểu, khoát bộ cao đăng tuân huyền du. Xuy
tỉnh tuần giai mộng, tiên tham Từ Thị lâu.
Quân bất kiến, thúy bách sương tàn thanh vị
dĩ, nhượng
nhượng mạn dã kim như
hủy.
(Tùng
Lãnh tạnh mưa, còn ẩm ướt. Ve
sợ sương lạnh, tiếng kêu khàn.
Cùng trụ chín mươi ngày, bỗng
chốc đã chia tay. Chẳng nói nỗi
niềm dằng dặc buồn. Bậc trí theo
Đại, chẳng theo Tiểu. Kẻ ngu nghĩ
gần, chẳng lo xa. Yêu tiếc túi da vứt
gò hoang, hư danh lừng lẫy há còn
mãi? Sao bằng nhìn rộng ngoài tam
giới? Rộng bước lên cao theo huyền du[125]. Thổi
tỉnh cơn mộng noi từng bước,
trước hãy tham kiến lầu Từ
Thị. Ông chẳng thấy: Sương tàn, bách
biếc vẫn xanh rờn, đồng hoang cây cỏ
sương phủ đẫm, nay đã héo tàn
như bị thiêu).
* Tặng Hoàng Khả Niệm
Bàn kết
Duẩn Giang Ôn Lăng Tây, khê măn triều lưu chử măn đề. Viễn giá
phù lương như hồng nghê, du nhiên bỉ
ngạn trưởng giả cư. Trưởng
giả đương niên Cấp Cô hậu. Ư kim dục
tác Long Thư trụ. Vạn thiện hối quy vô biệt
lộ. Xí nhiên thủ xả duy tâm độ. Trần bồi
Thái Nhạc điên, sô nghiêu vị quân truyền. Phiến niệm
viên tam tụ, đồng trạch tử kim liên. Quân bất
kiến Duẩn Giang nguyệt sắc bạch như luyện,
quế thổ thu đề hưng bội tiên.
(Cuộn
chặt Duẩn Giang, Tây Ôn Lăng. Khe đầy
sóng trào, bãi ngập cỏ. Cầu bắc
xa xa như cầu vồng, trưởng giả an
nhàn ở bờ ấy. Trưởng giả là Cấp
Cô Độc hiện thời. Nay muốn khoác áo giáp
Long Thư. Muôn thiện gom về, không nẻo khác. Hăm
hở lấy bỏ cõi duy tâm. Bụi vun
đỉnh non Thái. Kẻ cắt cỏ, tiều
phu được ông dạy. Cùng nghĩ trọn
tam tụ, cùng chọn sen
tử kim. Ông chẳng thấy: Duẩn Giang ánh
trăng trắng như lụa, quế ngát trên
đê gấp bội tiên).
* Dạy vị sa-di trì
kinh
Ngũ
trược mông lung dạ vị ương, nhất
thanh kê hoán lậu thiên trường. Đản
tương duyên chủng thôi tàn mộng, tự tự toàn
chương Phật đảnh quang.
(Ngũ
trược mông lung, đêm chửa tàn. Một tiếng
gà gáy, đêm dài thêm. Chỉ đem duyên
chủng xua tàn mộng, mỗi chữ trọn
bày Phật đảnh quang).
* Sang chơi Bắc Sơn
Lân tuân bệnh
cốt quư tri âm. Cưỡng thiến lam dư học
thiếu lâm. Quái thạch tàng vân nghi báo biến, đoản
tùng nhập mộ giải long ngâm. Tuyền Nam phong cảnh
toàn quy kính. Hải ngoại yên ba bán địch khâm.
Đề băi chá cô huyền cổ lạc, măn thiên tinh đẩu
xán giang sầm.
(Xương
bệnh gầy gò, thẹn tri âm.
Gượng nhờ kiệu trúc lên cao
ngắm. Đá lạ mây giăng ngỡ báo
vằn. Tùng nhuộm bóng chiều
tưởng rồng ngâm. Tuyền Nam phong cảnh thu
trọn kính, khói sóng ngoài khơi gột
bóng y. Đa đa kêu tối, hoàng hôn xuống.
Đầy trời sao rạng núi bên sông).
* Sào Vân
Mộ nhập
Sào Vân bất kiến vân, tuyền thanh lưu đoạn Hải Nam
trần. Khước nghi xuân tín tùng hà chí,
dĩ đổ nham hoa măn mục tân.
(Vào
thẳng Sào Vân chẳng thấy mây, Hải Nam suối
reo gột sạch
trần. Còn ngờ Xuân đến từ
đâu tá?
Đã thấy hoa chen sắc khắp
vùng).
* Họa đáp Trần
Hạc Sầm
Danh truyền
Phật quốc nguyên phi lăng, tiếu ngã ngang tàng Bắc
địa lai. Vô pháp khả linh trừ vọng tưởng,
hữu tâm kham cộng kết liên thai. Tông phong chỉ hứa
Bàng công thứ. Giáo nhãn liêu bằng bác
địa sai. Niêm xuất đại thiên âu ảnh dụ.
Bất tu trùng thuyết lặc minh tài.
(Danh
truyền cõi Phật vốn không ngoa, cười
tớ ngang tàng cõi Bắc qua. Không
cách để trừ bao vọng tưởng,
thai sen cùng kết hữu tâm thôi. Tông phong chỉ
để ông Bàng ngó. Giáo nhãn đành
nhờ trí rộng lường. Đại thiên
sánh ví như bọt bóng, chẳng cần
nhắc lại khắc ghi gì).
* An ủi Trần Hoằng Cổn
Quân bất
kiến, xuất thế đại trượng phu, kiếp
thành kiếp hoại đẳng hấp hô. Hựu
bất kiến: Thế gian kỳ nam tử, công danh phú quư phù
vân nhĩ. Lậu hạng thiên địa khoan, tệ ôn
đắc thân an. Đa thiểu phong trần khách, phương
tri hành lộ nan. Sân khả canh, Vị khả
điếu. Khước liên học bộ Hàm
Đan thiểu. Hậu điêu mạc đấu tảo xuân
phương. Không linh tùng bách bi đồng điều.
Tằng hoài trúc điển du, nghiệp quả giải
ưng ưu. Nhất ế lao song mục, không hoa vũ vị
hưu.
(Ông
chẳng thấy, bậc trượng phu xuất
thế, kiếp thành, kiếp hoại như hơi
thở. Lại chẳng thấy: Kỳ nam
tử trong thế gian, công danh, phú quý
tợ mây nổi. Ngõ hèn, trời
đất rộng. Áo rách nhưng thân an. Khách trải bao phong
trần, mới biết đường
đi khó. Đất Sân có thể cày, sông
Vị[126] có
thể câu. Thương kẻ học theo Hàm Đan[127]
ít. Tàn sau
chẳng tranh cùng hoa Xuân nở sớm,
chẳng khiến tùng bách buồn đồng
điệu. Đã từng học kinh Phật,
phải hiểu nghiệp quả rành. Mắt
kéo màng, mệt hai mắt. Hoa đốm quay
cuồng cứ chẳng ngừng).
* Tặng thầy Tụng
Trửu bước vào tuổi năm
mươi
Tuyền
Nam khai sĩ bát thập nhất, thương
thương tế tế xưng Tử Vân. Nhật
nguyệt quang hoa lịch nhị bách, thạch tháp thụy
khí trường nhân uân. Trung hữu tỳ-kheo hiệu
Tụng Trửu. Tâm từ mạo cổ năng siêu
quần. Trượng lê điểm tận thiên giang
nguyệt. Mang hài bất đới Ngũ Lãnh
ngân. Vấn quân thất tịch hà tŕ triệt, dung nhân khất xảo,
ngã ái chuyết. Vấn quân tự tứ hà
tảo sanh? Thế Tôn tương hỷ, ngã tiên
duyệt. Bá Ngọc tri phi, hựu nhật tân.
Vũ công tụng ức ư kim liệt. Cam lộ
đàn trung vị chánh xa, thanh tâm khiết kỷ cựu
danh gia. Đản khán tôn giả đương niên hiếp,
khởi tiện Triệu Châu trụ hậu trà.
(Tuyền
Nam khai sĩ tám mươi mốt, người
người nhất trí gọi Tử Vân.
Nhật nguyệt dần trôi hai trăm năm, tháp
đá khí lành vẫn dằng d ặc. Trong ấy có
tỳ-kheo hiệu Tụng Trửu. Tâm từ,
dáng già, tài năng siêu quần. Gậy lê
dạo khắp trăng ngàn sông. Hài
cỏ chẳng in dấu Ngũ Lãnh. Hỏi ông
Thất Tịch[128]
quen làm gì? Kẻ tầm thường khất
xảo, ta thích vụng. Hỏi ông tự tứ[129]
sao sanh sớm? Thế Tôn sắp vui, ta mừng
trước. Bá Ngọc biết sai, tự
đổi mới hằng ngày. Vũ công
“tụng ức”[130]
nay còn rạng. Trong đàn cam lộ, vị
rất tuyệt. Thanh tâm
giữ mình,
cựu danh gia. Chỉ thấy tôn giả luôn tinh
tấn, há còn hâm mộ Triệu Châu trà).
* Phúng điếu thầy
Như Thị
Tạc mộng
Đông Nam vẫn khí tinh, thương tâm thảm mục
hoàn kinh thần. Triêu lai hiệp chưởng tống
sư thệ. Phiên bi thử độ nhưng mê tân. Chánh
pháp cẩn như
tuyến, kiên chủng đa ma dân. Luật uyển
dương cáo sóc, Giáo gia thiên vong trân. Trực chỉ
hướng thượng sự, hư hưởng
thành tà nhân. Du du đại địa cạnh ba trục,
nham nham trung lưu tằng kỷ nhân? Sư kim độc
hưởng hoa phu lạc, ai tai di ngã xưng cô
thần.
(Tối
mộng Đông Nam sao rơi rụng, đau lòng,
xót mắt, tâm kinh hoàng. Sáng ra chắp
tay tiễn Sư
đi, buồn cho cõi này vẫn bến mê. Chánh
pháp chỉ còn tơ mỏng mảnh, chen
chân cùng với lũ ma dân. Vườn Luật
nay hời hợt[131],
nhà Giáo mất báu rồi. Chuyện
hướng thượng trực chỉ,
tiếng suông thành tà nhân. Ơ hờ cõi
đất tranh đuổi sóng, bất khuất
giữa dòng được mấy
người? Nay Sư riêng hưởng vui
hoa nở, buồn thay mình tôi xưng “cô thần”).
* Hòe quan (quan
phòng gần gốc cây hòe)
Khách mộng
phân phân tận ký hòe. Bán gian liêu bàng lục âm
khai. Trà thanh thôi tỉnh Nam Kha nghiệp. Bối diệp
huân thành bỉ ngạn thai. Trần cụ đại thiên ưng
cộng phẫu, thụ vô tiêm ảnh bất tu sai. Triêu lai
độc bãi quan trung thảo, thặng hữu
dư quang ánh nguyệt đài.
(Khách
mộng bời bời gởi giấc hòe,
nửa gian cạnh đó bóng xanh rì. Tiếng
trà lay tỉnh Nam Kha mộng. Kinh Phật huân thành
bỉ ngạn thai[132].
Trần đủ đại thiên, nên cùng xẻ. Cây
không bóng nhọn, chẳng cần ngờ.
Sáng ra đọc hết quan trung thảo[133],
còn sót dư quang chiếu nguyệt đài).
* Kệ bày tỏ niềm
mừng rỡ tột cùng vì sáu
người trì giới không ăn phi
thời tại Di Đà Nham
Thiệt
đoan cạnh thị Dịch Nha[134] canh, thùy
tín chân tu quư nghịch t́nh. Trai pháp dĩ thành vô lậu chủng,
giới căn ưng bàng hữu tâm sanh. Luân trung nhật
quỹ thành năng biện. Ngạch lý châu quang tự
khả tŕnh. Tiến thủ duyên nhân tu vật thoái.
Hóa thành bảo sở bất quan tŕnh.
(Canh
Dịch Nha lưỡi quen thói nếm, ai tin chân tu
phải trái tình? Trai pháp đã thành vô
lậu chủng, giới căn phải kèm
hữu tâm sanh. Đồng hồ mặt
trời[135]
tự xác định, bóng châu trên trán[136]
tự hiện bày. Duyên nhân tiến tu
đừng để mất, hóa thành chỗ báu ngại
xa chi!)
* Xem tượng
đá của Lão Đam cảm hoài
Vô dục
vô danh lý cận Thiền. Man han chung cổ lăng xưng
tiên. Do long nhất ngữ năng truyền thật.
Dụ nguyệt tam ngôn phản thất quyền. Phiến
thạch bất sầu dâm vũ đố, lưỡng
thiên chỉ khủng tục nho tiên. Tiếu khan kim nhật tu
mi bạch, thượng thị đương sơ
vũ thái niên.
(Vô dục,
vô danh, lý gần Thiền. Mịt mờ đầu
cuối, gọi
là tiên. Một lời “giống rồng”[137]
truyền được Thật; ba câu ví
nguyệt đâm mất Quyền. Phiến đá
chẳng sầu mưa dầm xối. Hai hôm
chỉ sợ Tục nho gièm. Cười ông nay
đã râu mày bạc, vẫn hệt thuở
đầu tuổi tráng niên).
* Ngày mùa Đông sang
Hổ Không thăm thủ tọa Diễn Như
Thạch
kính đài ngân cổ, vân đoan cách thị trần. Tuyền
thanh lưu nhất tuyến, hổ khẩu lộ toàn thân.
Quế phát nguyên vô ẩn, mai khai bất tá xuân. Đông phong
tiêu tức cận, hựu kiến thụ chi tân.
(Nẻo
đá rêu in thành lối cũ, chòm mây cách
biệt lối hồng trần. Suối reo chảy một
giải, hổ khẩu lộ toàn thân. Quế trổ
vốn chẳng ẩn, mai nở chẳng
nhờ Xuân. Gió Đông đưa tin nhắn, cây
lại nảy lộc mầm).
* Thế đạo suy
đồi, lòng người bạc bẽo, dã
nhân thương xót mà bày tỏ nỗi xót
xa
1) Mạc
hỹ thái không, nhậm bỉ cuồng phong. Thản hỹ
quân tử, mẫn bỉ ngoan mông. Cuồng phong xuy hề,
không phỉ khuy hề. Ngoan mông nguy hề, quân tử tuy hề.
(Hư không
thăm thẳm, mặc tình cuồng phong. Quân
tử thản nhiên, thương họ bướng
tối. Cuồng phong thổi, hư không chẳng khuyết.
Bướng tối nguy sao, quân tử vỗ
về).
2) Thảo
chi thanh thanh, lôi duật minh chi. Thủy chi anh anh, vũ duật
vinh chi. Vị vũ hà khổ, vị lôi hà nộ?
Bất thi quyết ân, bất anh quyết vũ.
(Cỏ xanh
rờn rờn, sấm bèn rền tiếng.
Nước trong văn vắt, mưa bèn
đầy thêm. Nói mưa khổ gì, bảo sấm
giận chi? Chẳng trọng ân đó, chẳng
hưởng mưa đó).
3) Đại
khối chi lập, thùy dữ thành chi? Đại khối
chi hủy, thùy dữ tranh chi? Miểu miểu nhất
túc, nhân cạnh doanh chi. Đàn chỉ tư vãng, đạt
sĩ b́nh chi.
(Khối to
được lập, ai tạo thành vậy?
Khối to bị hủy, ai tranh giành vậy? Một
hạt xa vời, đua nhau đoạt lấy.
Khoảnh khắc qua đi, người thông
đạt vẫn bình tâm).
4) Măi
sơn măi sơn, trắc bỉ duy gian. Khoáng vân vạn lư, y
nhiên tại hoàn. Quyển diệp đẩu khoáng, bồ
đào huyền lưu. Quân tử hữu ưu, quân tử
hữu hưu.
(Mua
núi, mua núi, trèo lên gian nan. Rộng đến
vạn dặm, vẫn trong trời đất.
Lá cuộn kén vàng, nho treo chuỗi ngọc, quân
tử lo âu, quân tử bèn thôi).
* Ngẫu thành (ngẫu
nhiên viết)
Chỉ
đoan phiên phúc vi vân vũ, thế nhân bão phụ
khinh như vũ. Mưu thần chiến sĩ nhật
phân phân, triêu dục chi Tần, mộ dục Sở. Bách
vạn trường thành huyết vị càn. Thủy
Hoàng hài cốt quy hoang thự. Tang gia chi cẩu
bi tuyệt lương. Y hy mã mạch liêu kham
thường. Sở dĩ nhan lậu dung phục lãn,
minh chiếu tuyên thời vu chánh hương. Đạo
nhân hữu ngữ chỉ như thử. Thủ
thí không nghi Đoan Mộc Thị. Dục thức quy
diêu lưỡng bệnh ông, vấn thủ sào cư bái trạch
song thụ tử.
(Ngón
tay lật ngửa tuôn mây mưa, người
đời ôm nợ nhẹ như lông. Mưu
thần chiến sĩ luôn lăng xăng. Sáng muốn
sang Tần, tối sang Sở. Trăm vạn
trường thành huyết chửa khô. Thủy
Hoàng hài cốt vùi gò hoang. Chó nhà
có tang buồn bỏ ăn. Dường như
lúa ngựa đành kham nếm. Do vậy,
mặt xấu, dáng lại lười.
Chiếu sáng ban xuống, khoai đang thơm.
Đạo nhân nói năng chỉ như vậy.
Nhận thí dụ, ngờ suông Tử Cống[138].
Muốn biết hai người bệnh Quy Diêu[139],
hỏi han hai đứa trẻ ngụ cư tại
đầm hoang).
Linh Phong Tông Luận, phần 9 hết
[1] Ẩm Quang
là dịch nghĩa của tên ngài Ma Ha Ca Diếp.
[2] “Càn
thành” là thành Càn Thát Bà,
tức ảo ảnh hiện ra trên mặt biển,
nhìn xa như có tòa thành trong đó
có người đi lại. Các nhà khoa
học giải thích đây là hiện
tượng quang học đặc thù, vào
một thời điểm thích hợp, không
khí trên biển giống như một tấm
gương khổng lồ soi chiếu hình ảnh
của một tòa thành thật sự trên
đất liền.
[3] “Sanh,
Phật”: Chúng sanh và Phật.
[4] Đồng
điều cộng quán (同條共貫) là một
thành ngữ diễn tả sự vật liên
kết mạch lạc, chặt chẽ với nhau,
là Sự và Lý tương thông.
[5] Sanh manh:
Kẻ bị mù từ thuở lọt lòng.
[6] Tây
Phương Tam Thánh trong tự tâm.
[7] Văn Hỷ
(820-899) là một vị tăng đời
Đường. Lúc bảy tuổi, Sư theo
Quốc Thanh thiền sư chùa Thường
Lạc xuất gia. Về sau, tham yết ngài
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, được
nối pháp của tông Quy Ngưỡng. Sau khi
trưởng thành, Ngài tham bái Ngũ
Đài Sơn, gặp Văn Thù Bồ Tát
hiện thân thành một ông lão chỉ điểm
thiền cơ. Ngài có công án nổi tiếng “Văn
Thù là Văn Thù, Văn Hỷ là Văn
Hỷ”.
[8] Tức kinh Địa
Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, Đại
Thừa Địa Tạng Thập Luân và kinh Chiêm
Sát Thiện Ác Nghiệp Báo.
[9] Hai loại
diệu quán là hai pháp Quán
được dạy trong kinh Chiêm Sát Thiện
Ác Nghiệp Báo, tức Duy Tâm Thức
Quán và Chân Như Thật Tướng Quán.
[10] Tam luân là
ba loại luân tướng được nói
trong kinh Chiêm Sát:
- Luân tướng
biểu thị các nghiệp chủng thiện ác
sai biệt đã tạo trong các đời
trước, gồm mười miếng mộc
luân.
- Luân tướng
biểu thị nghiệp chủng chứa nhóm trong
đời trước, gồm ba miếng mộc
luân.
- Luân tướng
biểu thị thọ báo sai biệt trong ba
đời, gồm sáu miếng mộc luân.
Xin xem chi tiết trong
bộ Lược Giảng kinh Chiêm Sát Thiện
Ác Nghiệp Báo của lão pháp sư
Mộng Tham.
[11] Ở
đây Tổ vận
dụng một điển tích trong Lễ Ký: “Quán
nhân” (館人) là
người chuyên lo tiếp đãi khách lui
tới trong các trạm xá tiếp đón
sứ đoàn. “Thoát tham” (脫驂) là
tháo dây cương đóng ngựa. Theo Lễ Ký, khi sang
đất Vệ, thấy đám ma của một
quán nhân đã từng quen biết, Khổng
Tử vào viếng tang, khóc lóc buồn
bã. Khi lui ra, ông bảo Tử Cống tháo bớt ngựa
khỏi xe kéo đem
bán để giúp chi phí cho tang ma. Tổ dùng điển
tích này nhằm ca ngợi Địa
Tạng Bồ Tát có bổn nguyện sâu rộng
luôn cứu giúp người lâm chung.
[12] Cốc (轂)
chính là cái lõi giữa bánh xe
để xỏ trục xe vào. “Chuyển diệu
cốc” chính là chuyển pháp luân mầu
nhiệm.
[13] Quân trì (Kundikā), còn phiên âm là
Quẫn Trí Ca, Quân Đĩnh v.v… Dịch nghĩa
là Tháo Bình (bình để múc
nước tẩy rửa), hoặc Thủy Bình,
là vật thường dùng trong số
mười tám vật của Đại
Thừa tỳ-kheo. Đây chính là bình
để đựng nước hoặc
chứa dầu, dấm, thạch mật v.v… Tùy theo
cách sử dụng mà gọi tên khác nhau,
như bình để múc nước tẩy
rửa thì gọi là Tháo Bình,
đựng nước uống thì là
Tịnh Bình, Bất Tịnh Bình (bình dùng
để múc nước rửa ráy sau khi
tiêu, tiểu),
chất liệu bằng sứ, đồng,
sắt v.v… Dùng như pháp cụ thì đa phần dùng
đồng xanh chế thành. Quán Âm Bồ Tát
thường cầm tịnh bình đựng
nước cam lộ.
[14] “Chứng
quy tác miết” (證龜作鱉) là
một thành ngữ, nghĩa đen là “bảo
con rùa đen là ba ba”, tức là nói sai
sự thật. Tổ dùng thành ngữ
này ở đây với dụng ý: Hễ suy
đoán, dò lường cảnh giới
của Bồ Tát thì đều thành suy
đoán hư vọng!
[15] Chiết
nhiếp: Chiết phục và nhiếp thọ.
[16] “Toản quy
đả ngõa” (鑽龜打瓦) là hai
hình thức bói toán thời cổ.
Dùng mai rùa xoi thủng, đem nướng trên
lửa, quan sát các vết rạn quanh lỗ thủng sau khi
nướng để bói cát hung
thì gọi là “toản quy”. Đập nhẹ
miếng ngói để xem hình dạng các
vết nứt hòng bói điềm cát hung
thì gọi là “đả ngõa”. Thiền môn
mượn chuyện này để sánh ví
thế gian do vọng tình phân biệt, đối
với sự vật hoàn chỉnh lại
lầm tưởng phân biệt, tạo thành tỳ
vết.
[17] Đây là
tán thán bức vẽ Quán Âm của Ngô Bân
đời Minh, tức bức Ngư Lam Quán
Âm (dựa theo truyền thuyết, Quán Thế Âm Bồ
Tát hiện thân thành cô gái bán cá
để hóa độ chúng sanh tại bãi Kim
Sa tỉnh Thiểm Tây trong niên hiệu Nguyên Hòa
đời Đường). Trong bức vẽ
ấy, bên cạnh Quán Thế Âm Bồ Tát có
vẽ một đứa trẻ tay xách giỏ
cá.
[18] Ngài
Hoàng Bá Hy Vận (?-850), thụy hiệu
Đoạn Tế thiền sư, người
Phước Châu, xuất gia tại núi Hoàng
Bá (tỉnh Phước Kiến) là cao tăng
Thiền Tông đời Đường. Ngài
học Thiền với tổ Tây Đường
Bách Trượng Hoài Hải,
được ấn chứng bởi Nam
Tuyền thiền sư. Những lời pháp
ngữ của Ngài được Hà
Đông Tiết Độ Sứ Bùi Hưu chép
lại thành Hoàng Bá Hy Vận Thiền Sư
Truyền Tâm Pháp Yếu. Một đệ tử
lừng danh của Ngài là Lâm Tế Nghĩa
Huyền đã lập ra Thiền phái Lâm Tế.
Tông Lâm Tế đến đời Tống lại tách
ra thành hai phái là Hoàng Long và
Dương Kỳ. Do vậy, người ta
thường nói Thiền tông Trung Hoa là Ngũ
gia thất tông (năm phái Thiền chính và hai
chi phái Thiền của Lâm Tế).
[19] Hàn Sơn
và Thập Đắc vốn là trẻ mồ
côi được hòa thượng Phong Can
chùa Quốc Thanh đem về nuôi nấng. Hai
người lớn lên, luôn biểu hiện
dở điên, dở khùng, chuyên làm các
việc nặng trong chùa. Tuy lời lẽ
thoạt nghe kỳ quái, nhưng luôn chứa
đựng Thiền cơ rất sâu. Lư Khâu Dận là
thái thú tân nhậm của Thai Châu. Trên
đường đến lỵ sở, ông
bỗng bị đau đầu dữ dội như
có ngàn cây đinh đóng xuống, tay chân tê
bại như bị trói, không thể cử
động được, ói mửa không
ngừng. Các y sĩ đều bó tay. Khi
đó, Phong Can tìm đến, chỉ bảo
người nhà lấy một chén
nước, niệm lầm rầm vài câu rồi
ngậm nước phun lên mặt, lên
người Lư Khâu Dận. Ông bình phục ngay,
hết sức cảm tạ, cầu hỏi pháp
danh. Phong Can chỉ khuyên Lư Khâu Dận thương dân
như con và cho biết trong chùa Quốc Thanh có
hai vị Đại Sĩ là Hàn Sơn và
Thập Đắc, khuyên ông Lư nên đến lễ
bái. Sư căn dặn: “Đừng
thấy họ lôi thôi, nhếch nhác, dở
dở ương ương mà không tôn kính,
họ chính là Văn Thù và Phổ Hiền
thị hiện”. Sư cao
giọng niệm: “Thấy mà chẳng biết,
biết mà chẳng thấy. Nế muốn
được gặp, chớ nên chấp
tướng”. Nói xong, thoăn thoắt đi
mất. Đến Thai Châu, Lư Khâu Dận lập
tức tìm đến chùa Quốc Thanh. Khi
hỏi đến Phong Can thì nhà chùa nói
Sư vân du tứ hải, chẳng biết bao
giờ về. Hỏi đến Hàn Sơn và
Thập Đắc, tìm được họ,
toan đảnh lễ thì hai người
cười hề hề, nắm tay nhau chạy
vào núi, xuyên qua vách đá biến mất.
Trước khi biến mất, họ cười
bảo: “Phong Can lắm miệng quá. Di Đà
mà chẳng biết, lễ ta làm chi?” Do
vậy, mọi người mới biết Phong Can
hòa thượng là A Di Đà Phật
hiện thân.
[20] Lương
Vũ Đế tên thật là Tiêu Diễn.
[21] Ý nói:
Do Ngài dùng pháp thủy tưới rót,
khiến cho người
học khôi phục trí huệ, nắm
được lý chân thật trong Thiên Thai Giáo
Quán.
[22] Tứ Minh
tôn giả trong một bài luận đã nói: “Đối với
vạn pháp, đều có
thể luận định Lục Tức Phật, ngay
cả bọ hung cũng có Lục Tức Phật”.
[23] Chỉ ra
những điểm trọng yếu.
[24] Trực Viện là danh
xưng thời Tống để gọi quan viên được vào làm
trong Hàn Lâm Viện, nhưng chưa được
chánh thức phong tước Hàn Lâm Học
Sĩ.
[25] Đây là
một cách nói tự khiêm, ước
lược của từ ngữ “cầu
toàn chi hủy” (cầu được vẹn
toàn, đâm ra chuốc lấy hủy báng). Do
Tuyết Hàng pháp chủ lúc sắp lâm chung,
đã khẩn khoản viết thư cầu tổ
Ngẫu Ích đến khai thị và trợ
niệm. Tổ tự khiêm mình chẳng giúp
được gì,
chỉ khiến cho Tuyết Hàng pháp chủ bị
chê cười.
[26] Ngài
Kiều Trần Như do nghe đức Phật
chuyển pháp luân lần đầu, giác ngộ
trước tiên, nên được tôn là “tăng
thủ” (vị đứng đầu chư
Tăng). Tương truyền Ngài có cặp
lông mày rất dài, rủ xuống hai bên
mắt.
[27] Thái quân (太君) là danh
xưng tôn kính thời cổ dùng để
gọi mẹ của người có quan
chức. Thời Đường, mẹ của
quan chức thuộc tứ phẩm sẽ
được gọi là Quận Thái Quân,
mẹ quan chức thuộc ngũ phẩm là
Huyện Thái Quân. Đến đời Tống
phát triển thành danh xưng Quận
Thái Phu Nhân. Về sau, Thái Quân trở thành
tiếng tôn xưng chung mẹ của
người có chức tước.
[28] “Một
ngàn bảy trăm ải” tức là một
ngàn bảy trăm công án Thiền Tông. Một xâu
tiền thời cổ gồm một ngàn
đồng. Nửa xâu tức là năm trăm
đồng.
[29] Câu này
có ý ca ngợi do đạo đức
và giới hạnh của Ngài, khiến cho
đạo pháp được tiếp nối
hưng thịnh đồng thời làm rạng
rỡ đạo pháp do đức Phật
đã truyền lại.
[30]
Nước dãi chồn cáo (dã hồ diên):
Theo truyền thuyết, người xưa dùng
một cái vò miệng loe cổ thắt, bỏ
thịt đã nướng chín vào
đó, chồn, cáo ngửi thấy, chõ
mõm vào đó toan ăn, nhưng không cách
nào ăn được, nước miếng nó chảy
đầy ra thấm vào đó. Người ta
đem thịt ấy phơi khô, tán thành bột,
hễ muốn mê hoặc ai, sẽ lén cho bột ấy vào
thức ăn hoặc thức uống của
người đó, người đó
sẽ bị mê hoặc, một mực nghe
lời kẻ bỏ thuốc. Do vậy, “dã
hồ diên” được dùng như một
ẩn dụ chỉ những lời lẽ hoặc phương
cách mê hoặc lòng người.
[31] Bạch
chùy (白椎) là gõ pháp khí,
nhằm dứt mọi sự huyên náo,
khiến đại chúng chú ý hòng cáo
bạch một pháp sự nào đó. Về
sau, Thiền Tông Trung Hoa đặc biệt lập quy
chế: Trước khi thượng
đường, một vị tôn túc biết
pháp sẽ gõ khánh. Sau khi vị
trưởng lão thuyết pháp an tọa rồi
liền xướng kệ rằng: “Pháp diên
long tượng chúng, đương quán
Đệ Nhất Nghĩa”.
[32] Nhục Chi
(còn gọi là Nguyệt Thị, Ngộ Thị,
Ngộ Tri, Nguyệt Chi, Uyển Chi) là danh xưng
của một bộ tộc du mục tồn tại
từ thế kỷ thứ bảy trước
Công Nguyên cho đến thế kỷ thứ nhất
thuộc Công Nguyên, ưa buôn bán dụng cụ
bằng ngọc, sống ở vùng thảo
nguyên tại phía Tây tỉnh Cam Túc và Tân
Cương. Năm 172 trước Công Nguyên, do bị
người Hung Nô tấn công và tàn sát,
họ phải thiên di chia làm hai bộ phận: Nhóm
thiên di về phía Tây đến lưu vực sông
Ile, gọi là Đại Nhục Chi. Nhóm sống
ở vùng Thanh Hải gọi là Tiểu
Nhục Chi. Về sau, Đại Nhục Chi lại bị
bộ tộc Ô Tôn (Wusun) tấn công, phải di cư
lần nữa sang vùng Bactria (thuộc địa
bàn của A Phú Hãn, Uzbekistan và Tajikistan
hiện thời, nằm giữa sông Oxus (Amu Daria)
và phía Bắc rặng HinduKush). Do vậy,
Đại Nhục Chi thường bị đồng
nhất với vương quốc cổ Tokhara. Do
nằm trên con đường tơ lụa,
Đại Nhục Chi nhanh chóng trở thành
thịnh vượng, nhất là dưới triều
đại Quý Sương (Kushano, Kuṣāṇ).
[33] Khang Cư là tên gọi
tiếng Hán của một vương quốc cổ
ở Trung Á tồn tại từ đầu
thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên
đến thế kỷ thứ năm Công nguyên. Do dân cư trong
nước này được người
Hoa gọi là Khang, nên Sogdiana được dịch
thành Khang Quốc (tuy vậy, có học giả cho
rằng Khang Cư là phiên âm của chữ Kāṅka). Họ thuộc nhóm dân Ấn Âu
(Indo-Europeans), thuộc ngữ hệ Đông Iran. Họ
sống chủ yếu ở vùng thung lũng
Ferghana và vùng bình nguyên giữa hai con sông Amur
Daria và Syr Daria. Cha ngài Khang Tăng Hội là
thương nhân Sogdian sang buôn bán tại Giao Châu
(Bắc Việt Nam) và Ngài được
sanh ra tại đó.
[34] Cao Quý
Hương Công là phong hiệu của Tào Mao
(Ngụy Thiếu Đế) trước khi trở
thành hoàng đế thứ tư của
nhà Tào Ngụy. Năm 254, quyền thần Tư
Mã Sư phế trừ hoàng đế Tào
Phương, toan đưa một người con
của Tào Tháo là Tào Cứ lên ngôi, nhưng
Quách Thái Hậu không tán thành, vì
Tào Cứ thuộc vai chú, bà ta sẽ không
thể giữ ngôi Thái Hậu được
nữa. Tư Mã Sư bèn đưa cháu
nội của Ngụy Văn Đế (Tào Phi) là
Tào Mao lên ngôi. Khi đó, Tào Mao mới
mười ba tuổi. Quyền hành hoàn
toàn do Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu
nắm giữ. Về sau, Tào Mao bị thuộc
hạ của Tư Mã Chiêu là Thành Tề
sát hại khi mới hai mươi tuổi. Như
vậy là Tào Phương và Tào Mao
đều không có thụy hiệu và miếu
hiệu trong triều
đại Tào Ngụy.
[35] Đàm Ma
Già La, còn được phiên âm là
Đàm Kha Ca La, Đàm Ma Kha La, dịch nghĩa
là Pháp Thời. Ngài là người
Trung Ấn Độ, thông minh, mẫn tiệp từ
bé, tự nói “văn lý trong thiên hạ
hoàn toàn ở trong bụng dạ của tôi”. Về
sau, đọc A Tỳ Đàm Tâm Luận mờ
mịt, chẳng hiểu, phải thỉnh một
vị tỳ-kheo giảng giải nhiều lượt
mới thấu hiểu. Do vậy, Ngài dẹp
trừ lòng kiêu ngạo, thông đạt diệu
lý nhân quả, bèn đi xuất gia, tinh tấn
học tập kinh điển Tiểu, Đại
Thừa, và các bộ Luật Tạng. Năm
Hoàng Sơ thứ ba (222) đời Tào
Ngụy, Ngài đến Hứa Xương. Năm
Gia Bình thứ hai (250) đến chùa Bạch
Mã ở Lạc Dương. Sau đó, Ngài
dịch Tăng Kỳ Luật, và thỉnh Phạm
Tăng chế định pháp Yết Ma, chuyên dạy
giới luật.
Ngài Đàm
Đế tổ tiên là gốc Khang Cư, sống
vào thời Đông Tấn, không rõ năm sanh
và năm mất. Chỉ biết tổ tiên Ngài di cư
đến Trung Nguyên vào thời Hán Linh
Đế, sau đó lại dời sang quận Ngô
Hưng. Cha Ngài làm quan Biệt Giá ở
Ký Châu, mẹ họ Hoàng. Ngài xuất gia
lúc mười tuổi. Về già, Ngài
trụ tại chùa Hổ Khâu, từng giảng
Lễ Ký, kinh Dịch, Xuân Thu, kinh Pháp Hoa, kinh
Đại Bát Nhã, Duy Ma Cật v.v… Ngài có
biên soạn các bộ Hội Thông Luận, Thần
Bổn Luận v.v… đều đã bị thất
truyền.
[36] Vu
Điền (Khotan, Godan, Hvatana, Gostana) là một
vương quốc Phật giáo cổ nằm
ở rìa sa mạc Taklamakan trong vùng trũng
Tarim (Tháp Lý Mộc, nay thuộc Tân Cương
của Trung Hoa) cho tới vùng Bắc
rặng Côn Luân. Họ nói tiếng Khotan (một
nhánh ngôn ngữ Tokhara thuộc ngữ hệ
Đông Iran). Vương quốc này nổi tiếng do
sự buôn bán tơ lụa.
[37] Hoàn
Huyền (369-404) là quyền thần nhà Đông
Tấn, giữ chức Đại Tư Mã.
Về sau, hắn khống chế Tấn An Đế
(Tư Mã Đức Tông), buộc vua phải phong
cho mình làm Sở Vương. Sau đó,
vào tháng 11 năm 403, hắn ép vua thoái
vị, nhường ngôi cho mình, lập ra nhà
Sở (Sử gọi là Hoàn Sở).
[38] Cổ Tửu
là một phương thuốc chữa bệnh tê
thấp, chân tay tê bại của người già.
Thành phần chủ yếu của cổ tửu
là đậu cổ (豆豉) tức
hạt đậu đen đã lên men (thường
gọi là “đậu xị”).
Theo sách Thời
Hậu Phương, dùng
một thăng cổ đậu (đã qua ba
lượt hấp và phơi) đem ngâm trong ba
hộc rượu tốt, sau ba ngày là có
thể uống để trị bệnh.
[39] Khi Tổ
Đạt Ma muốn trao truyền ngôi vị tổ cho
các đệ tử, bèn hỏi yếu
nghĩa của đạo. Các vị đệ tử lần
lượt nêu kiến giải, nhưng Tổ chỉ
chê là mới đạt được
ngoài da, ngoài thịt mà thôi. Đến khi
hỏi ngài Huệ Khả Thần Quang, Ngài khoanh
tay đứng yên tại chỗ. Tổ tán
thán: “Ông đã đạt được
tủy của ta” và giao phó ngôi vị Tổ cho
ngài.
[40] Chữ “顗” theo các
tự điển phải đọc là âm Nghĩ,
nghĩa là “thanh tịnh, an
lạc, dung mạo trang nghiêm kính cẩn”. Nhưng
trước nay, không hiểu vì sao các kinh
sách của Việt Nam ta vẫn phiên âm tên Ngài
thành Trí Khải. Ngu ý cho rằng có
lẽ vì sách Tập Vận ghi chú cách
đọc là “ngũ hợi thiết, âm
Khải” (五亥切,音愷), cho nên cổ nhân
mới đọc chữ này thành Khải.
[41] Ở
đây, tổ Ngẫu Ích chỉ viết vắn
tắt là “bách tận kế lật,
nguyệt một liệu tùng” tức là
dựa theo ý của Thiên Thai Đại Sĩ
Trí Nghĩ Truyện: “Ư thị, hôn hiểu
khổ đáo, như giáo nghiên tâm. Ư
thời, đản dũng ư cầu pháp, nhi
bần ư tư cúng, thiết bách vi hương,
bách tận, tắc kế chi
dĩ lật, quyển liêm tấn nguyệt, nguyệt
một tắc liệu chi dĩ tùng” (Do vậy,
sáng tối khổ công tu tập, đúng như
lời dạy nghiên cứu cái tâm. Lúc
đó, Ngài chỉ dũng mãnh cầu pháp,
nhưng thiếu thốn vật cúng dường,
bèn chặt cành bách làm hương
đốt. Hết bách thì dùng hạt dẻ
để cúng dường. Ngài cuốn rèm
khi trăng mọc [để soi sáng], khi trăng
lặn thì đốt cành tùng [làm
đuốc]).
[42] Tức hai bộ Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa và Pháp Hoa
Văn Cú.
[43] Sao Tỉnh,
gọi đầy đủ là Tỉnh Mộc Can,
là một tinh tòa trong Nhị Thập Bát
Tú, nằm ở phương Nam, tương
ứng với chùm sao Gemini (Song Nam) trong thiên
văn học Âu Tây. Tinh tòa này gồm hai
mươi ngôi sao nhỏ như Tỉnh, Việt, Nam
Hà, Bắc Hà, Thiên Tôn, Ngũ Chư Hầu,
Tích Thủy v.v…
[44] Tức tượng
Chuẩn Đề Bồ Tát, do Bồ Tát có
danh xưng là Thất Câu Chi Phật mẫu (Saptakoṭi Buddha-Bhagavatī, Saptakoṭibuddhamatṛ,
mẹ
của bảy câu-chi Phật). Câu-chi (Koṭi, còn
phiên âm là Câu Đê, Câu Trí, hoặc Câu Lê), có
ba nghĩa là mười vạn, một trăm
vạn, hay một ngàn vạn. Chuẩn Đề
Bồ Tát (Cundī, Cundā, Cundrā,
Candrā, Caṇḍā, Cuṇḍrā), còn được
phiên âm hoặc dịch nghĩa thành Chuẩn Chi,
Tôn Na, Tông Đạt, Thuần Đà, Tối
Thắng Kim Cang, Thanh Tịnh Kim Cang, Chuẩn Đề
Quán Âm, Thiên Nhân Trượng Phu Quán Âm, Thập
Bát Thủ Quán Âm. Ngài vốn là hóa thân
của Quán Thế Âm Bồ Tát và là
một trong Lục Quán Âm để cứu
độ sáu đường (Thánh Quán Âm
cứu độ ngạ quỷ đạo, Thiên
Thủ Quán Âm cứu độ địa ngục
đạo, Chuẩn Đề Quán Âm cứu
độ loài người, Mã Đầu
Quán Âm cứu độ súc sanh đạo,
Thập Nhất Diện Quán Âm cứu độ Tu
La đạo, và Như Ý Quán Âm cứu
độ thiên đạo).
[45] Do
trước đó đã có bản
sớ giải kinh Hoa Nghiêm của Phương Sơn Lý Thông
Huyền (dựa
trên bản Lục Thập Hoa Nghiêm đời Tấn), nên bản
sớ giải của ngài Thanh Lương
dựa trên Bát Thập Hoa Nghiêm được
gọi là Tân Sớ, tức là bộ
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Sớ. Diễn Nghĩa Sao chính là bộ
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao nhằm giải
thích lời Sớ cho
các đệ tử như Tăng Duệ v.v…
Ngài còn soạn sớ giải cho Tứ
Thập Hoa Nghiêm với tựa đề là
Trinh Nguyên Tân Dịch Hoa Nghiêm Kinh Sớ.
[46] Sanh manh: Kẻ mù
từ lúc lọt lòng.
[47] Kiêu kính (梟獍)
là hai loài động vật nổi tiếng
bạc ác trong truyền thuyết. Theo đó, Kiêu
là loài chim ăn thịt mẹ, còn Kính
là loài thú ăn thịt cha. Do vậy, Kiêu
Kính là từ ngữ chỉ kẻ vong ân
phụ nghĩa, ác độc, hung tàn.
[48] Không rõ thân thế của
Trương Chuyết, chỉ biết ông đã
đậu Tú Tài, sống vào thời
Ngũ Đại cuối đời Đường.
Do được thiền sư Thiền Nguyệt
chỉ điểm, ông đến bái yết ngài
Thạch Sương Khánh Chư. Sư hỏi: “Ông tên
họ gì?” Thưa: “Con tên Trương Chuyết”. Sư
bảo: “Tìm khéo còn chẳng
được, lấy đâu ra vụng?” (Chuyết (拙) có nghĩa là
vụng về). Trương Chuyết vừa nghe
liền hoát nhiên đại ngộ, đọc kệ
rằng: “Quang minh tịch chiếu biến hà sa,
phàm thánh hàm linh cộng ngã gia, nhất
niệm bất sanh toàn thể hiện, lục căn
tài động bị vân già. Đoạn
trừ phiền não trùng tăng bệnh, thú
hướng Chân Như diệc thị tà. Tùy
thuận thế duyên vô quái ngại, Niết Bàn sanh
tử đẳng không hoa” (quang minh tịch
chiếu khắp hà sa, phàm thánh hàm linh
vốn sẵn nhà. Một niệm chẳng sanh
toàn thể hiện, sáu căn vừa động,
mây liền che. Đoạn trừ phiền não
càng thêm bệnh, tiến hướng Chân Như
cũng là tà. Tùy thuận duyên đời
không vướng mắc. Niết Bàn, sanh
tử hệt không hoa). Ngài Thạch Sương
liền ấn khả Trương Chuyết là
đệ tử đắc pháp.
[49] Cho tới
thời ngài Tử Bách, kinh Phật vẫn
in trên một tấm giấy dài, rồi cuộn
thành trục để cất giữ. Ngài
Tử Bách đề xướng in kinh Phật
theo lối phương sách, tức là vẫn
in thành một tờ giấy dài, nhưng chia
thành trang để có thể xếp thành
quyển sách, dùng chỉ khâu gáy như các
quyển kinh chữ Hán hiện thời.
Cách làm này gọi là “phương
sách” (方冊), nhưng bị một
số người chống đối, cho là
đại sư không coi trọng kinh Phật, biến kinh
Phật thành sách vở thế gian.
[50] Đây là
hai sắc dân thiểu số sống ở vùng
Lĩnh Nam. Người Dao (còn gọi là
Dìu Miền, hay Miền. Trước
kia,
người Dao ở Việt Nam thường bị gọi
không chính xác là Mán) sống chủ yếu
ở Hồ Nam, Lưỡng Quảng và Vân Nam,
cũng như tại Bắc Việt, Lào,
Miến Điện và Thái Lan. Họ chia
thành nhiều nhóm khác nhau như Bạch
Khố Dao (Dao quần trắng), Bình Địa Dao v.v…
tại Trung Hoa, hoặc các nhóm Dao Thanh Y, Dao
Áo Dài, Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt,
Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Khâu v.v… tại các nơi khác.
Người
Đồng tức là dân tộc Tráng (Choang,
còn gọi là Ô Hử, Bố Y, Bố Thổ,
Bố Ương, Bố Việt, Nùng An, Nùng Cháo, Nùng Lôi) sống
tại Vân Nam, Quảng Đông, Quý Châu và Hồ Nam.
Tại Việt Nam, họ tự xưng là Tày
và Nùng.
[51] Ý nói
ăn nói lưu loát như nước
từ trong bình tuôn ra, hoặc như các viên
châu gieo xuống mâm bạc sẽ kêu rào rào. Ý
Tổ tự giễu chính mình: Viết lách
hùng hồn, ăn nói lưu loát, nhưng
chỉ là kẻ khẩu đầu Thiền,
chẳng có công hạnh thật sự!
[52] Phàm phu
bị phiền não trói buộc nên gọi là “cụ
phược phàm phu”.
[53] Lý
Lăng, tên tự là Thiếu Khanh, quê ở
Thành Kỷ (Lũng Tây). Ông là cháu nội
của danh tướng Lý Quảng. Ông làm
tướng dưới thời Hán Vũ
Đế, vâng mệnh vua lãnh quân kháng cự
quân Hung Nô. Năm 99 trước Công Nguyên, vua sai Lý
Quảng Lợi đem ba vạn kỵ binh đánh
quân Hung Nô ở Thiên Sơn, sai Lý Lăng vận
chuyển lương thảo cho Lý Quảng
Lợi. Lý
Lăng muốn tác chiến độc lập, hứa
đem năm ngàn bộ binh đánh Hung Nô. Vua sai
đô úy Lộ Bác Đức vận chuyển
lương thảo cho quân Lý Lăng. Lộ Bác
Đức do đố
kỵ, không muốn làm hậu đội của Lý
Lăng, liền tâu vua xin giữ
Lăng lại chờ đến mùa Xuân mới
tấn công. Vua ngờ Lý Lăng hối hận,
xuống chiếu bắt Lý Lăng tấn công ngay. Lý
Lăng dũng cảm giao chiến với quân Hung Nô,
nhưng binh ít, thế cô, thua trận, cuối cùng đành đầu
hàng Hung Nô.
[54] Đây là
một câu dựa theo lời khen ngợi Bá
Di và Thúc Tề của Khổng Tử
được chép trong Luận Ngữ: “Ẩn
cư phóng ngôn, thân trung thanh, phế trung quyền”.
Theo các vị chú giải, câu này phải
hiểu là “ẩn cư, không còn nói năng
bàn luận chuyện đời nữa.
Giữ thân trong sạch, không còn hành xử
dính líu đến thế sự”. Tổ dùng câu
này để tự giễu chính mình
chẳng giữ được thân lánh
ngoài cõi đời, chẳng thể không dính
líu thế sự, nên nói là “ký
phế trung thanh, trung quyền” (đã phế ‘trung
thanh, trung quyền’). Đã thế, tuy mang
tiếng ẩn cư, vẫn viết lách, giảng
giải, cho nên chuyện “ẩn cư phóng ngôn”
(ẩn cư, không còn nói năng bàn luận
chuyện đời) chỉ thực hiện
được rất ít!
[55] Tục danh của
tổ là Chung Tế Minh. Tổ lại là con
một trong gia đình nên gọi là Chung đại
lang.
[56] Ý nói
ghi nhớ số câu niệm Phật tính theo
từng chuỗi (108 hạt) hay cứ mỗi
một ngàn câu niệm Phật.
[57] Tức
bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi.
[58] Xư (樗),
tên khoa học là Ailanthus Attissima, còn gọi là
Xú Xư, hoặc Xú Xuân, Xú Đồng,
Đại Nhãn Đồng, thuộc họ Khổ
Mộc, là một loại cây rụng lá, vốn
sanh trưởng tại vùng Đông Bắc châu
Á. Cây có thể cao đến mười
lăm mét, rất to. Toàn bộ thân, cành,
lá cây này tỏa ra mùi hôi như đậu
phộng bị mục nát;
do vậy, gọi là Xú Xư (cây Xư thối). Cây
sinh trưởng rất nhanh, được coi
là một giống cây có hại cho môi
trường, đặc biệt cây này là
chỗ sanh trưởng lý tưởng cho
một loài bọ gọi là spotted lanternfly (có
hình dáng như con ve lớn, cánh có
chấm đen to) chuyên gây hại cho đậu nành, nho
v.v… vì chúng hút nhựa khiến cây bị
khô héo, phân của chúng khiến các loài
thảo mộc bị cháy xém lá.
[59] Tổ cho rằng
cổ nhân có Thiền, Nho, Giáo, Luật, nhưng chính mình
chẳng thể sánh bằng. Đối
với Thiền, Nho, Giáo, Luật của
người đương thời, Ngài lại hoàn toàn
chẳng dám học theo họ. Do vậy, tự
xưng là Bát Bất Tựu (tám điều
chẳng thành tựu
được).
[60] “Hắn” ở đây là
Tổ tự nói đến chính mình.
[61] Thương
Vân lưu truyền hình chân dung của tổ Ngẫu
Ích.
[62] Chấn Chi là tên
tự của tổ Ngẫu Ích.
[63] Đinh Lan sống
vào thời Đông Hán, ông được
xếp vào Nhị Thập Tứ Hiếu. Cha ông
mất sớm, mẹ ông nuôi lớn. Đinh Lan phải
đi cày, mẹ hằng ngày mang cơm ra
đồng cho ông ăn. Ông đối xử rất
tệ với mẹ, dù mẹ đưa cơm sớm
hay trễ đều quát mắng. Về sau, do nghe
thầy giáo giảng giải, ông quyết tâm
sửa lỗi đổi mới. Khi thấy mẹ
mang cơm đến, ông chạy vội ra đón
để cảm tạ mẹ, nhưng quên khuấy tay
đang cầm cán cày. Mẹ thấy vậy,
tưởng ông chạy đến đánh, ù
té chạy, vấp phải cành cây lê, vỡ
đầu chết tươi. Ông than khóc, chặt
cành lê, nhờ thợ khéo tạc thành hình
tượng mẹ để sớm tối
hiếu kính. Do điển tích này, các
thần vị (bài vị thờ tổ tiên) tại Trung Hoa đều khắc
bằng gỗ hoa lê. Về sau, ông cưới
vợ. Vợ thấy chồng sáng tối
quỳ lạy cung kính tượng mẹ bèn nẩy sanh ý nghĩ bất
kính. Bà ta dùng kim đâm tượng,
thấy máu chảy ra, mắt tượng
ứa nước mắt. Do vậy, Đinh Lan
bèn bỏ vợ.
[64] Dương Tử Vân chính
là Dương Duy (53-18 trước Công Nguyên), ông
có tên tự là Tử Vân, quê ở
Thành quận thuộc đất Thục (Tứ
Xuyên), là một triết gia, văn gia và ngôn
ngữ học gia sống vào thời Tây
Hán. Tổ tiên ông vốn họ Cơ thuộc tông
thất nhà Châu, nhưng đến đời
Bá Kiều, do được phong ở
Dương Ấp thuộc nước Tấn vào
thời Xuân Thu, cho nên con cháu đổi sang họ
Dương. Tới thời Chiến Quốc, do
lánh nạn trong nước Tấn, dòng họ
này chuyển sang sống tại Vu Sơn thuộc
nước Sở. Khi Lưu Bang và Hạng
Vũ tranh giành ngôi vua, họ Dương quá
khổ vì chiến tranh, bèn chạy sang Giang Châu
thuộc Ba Quận (nay là Ba Huyện ở phía
Tây Trùng Khánh). Dương Duy chủ trương
căn nguyên của vũ trụ là Huyền, nhấn
mạnh sự hiểu biết tự nhiên vốn
như thật. Ông chủ trương con người
tánh xen lẫn thiện và ác, tùy thuộc
tu thiện hay ác mà thành thiện nhân hay ác
nhân.
Diêu Quảng lão chính là Diêu
Quảng Hiếu (1355-1418), pháp danh là Đạo
Diễn, tự là Tư Đạo, lại còn
hiệu là Độc Am, Đào Hư Tử,
là một tăng nhân thuộc tông Lâm Tế, sống
vào cuối đời Nguyên đầu
đời Minh. Ông cũng là một công thần
trong việc giúp Minh Thành Tổ (Châu Lệ)
soán đoạt ngôi của Châu Doãn Văn (Kiến
Văn Đế). Vị này sanh trong một gia
đình nhiều đời hành y, xuất gia
lúc mười bốn tuổi, tinh thông giáo
quán Thiên Thai, Mật Tông, cuối cùng đổi sang
tu Thiền, lại còn bái đạo sĩ
Thứ Ứng Chân làm thầy để học
Âm Dương, bói toán. Thầy tướng Viên
Củng trông thấy Diêu Quảng Hiếu từng than
thở: “Sao lại có tăng nhân tướng
mạo lạ lùng đến thế này. Góc
mắt có hình tam giác, giống như con
hổ đang bệnh, bẩm tánh ắt thích
giết chóc, ắt là kẻ giống như
Lưu Bỉnh Trung!” (Lưu Bỉnh Trung là tể
tướng của Hốt Tất Liệt). Khi Minh
Thái Tổ tuyển tăng lữ tinh thông Nho
học để làm quan trong bộ Lễ, Diêu Quảng
Hiếu không trúng tuyển. Về sau, khi Cao Hoàng
Hậu băng, vua hạ lệnh tuyển tăng nhân theo
hầu các thân vương để tụng kinh
cầu phước, ông Diêu được bạn
là ngài Tông Lặc tiến cử, Yên
Vương Châu Lệ rất vui thích, bèn
mời lên Bắc Kinh trụ trì chùa Chiêu
Khánh. Khi Kiến Văn Đế âm mưu triệt
phiên (dẹp trừ thế lực các thân
vương), sau khi các thân vương như Châu Vương,
Tương Vương, Tề Vương, Đại
Vương v.v… kẻ bị hạch tội truất
làm thứ dân hoặc ép tự sát,
chính Diêu Quảng Hiếu đã xúi giục Yên
Vương Châu Lệ đoạt ngôi. Khi Châu Lệ lên ngôi,
phong cho Diêu Quảng Hiếu làm Thái Tử
Thiếu Sư, kiêm chức Tả Thiện Thế của
Tăng Lục Ty, và từng yêu cầu Diêu Quảng
Hiếu hoàn tục, nhưng ông không chịu, vẫn
thường mặc triều phục ra ngoài
tăng phục lên chầu vua. Ông Diêu đã thâu
Trịnh Hòa làm Bồ Tát giới
đệ tử và chủ trì biên soạn
các bộ sách Minh Thái Tổ Thực
Lục và Vĩnh Lạc Đại Điển.
[65] Đây là một
thể loại thơ hoặc viết văn, còn
được gọi là “thiên ngoại phi lai
nhất bút” (ngoài trời bay đến
một nét bút), ngụ ý trong một
đoạn thơ hoặc một đoạn văn,
đột nhiên xen vào một câu hoàn toàn
chẳng có ý nghĩa liên quan đến
đoạn trước hay sau đó.
[66] Mỗi năm chư
Tăng an cư kết hạ. Đó là theo quy
chế của đức Phật, nên khi kết hạ
còn gọi là “kết chế”. Khi khóa an
cư kết hạ kết thúc thì gọi là “giải
chế”.
[67] Ý nói: Chỉ
chân thành niệm Phật, chẳng cần phải
tham cứu câu ‘người niệm Phật là
ai?’ Trong Yếu Giải, Tổ từng nói tổ
sư hỏi câu ấy để cảnh tỉnh
người chấp trước, nay
người niệm Phật lại chấp vào câu
thoại đầu ấy, khác nào dùng hòn
ngói gõ cửa để ném cha mẹ đang
ngồi trong nhà.
[68] “Hà yển” (河偃) vốn là nói
tắt của thành ngữ “yển
thử ẩm hà” (偃鼠飲河,
chuột chũi uống nước sông). Đây là
một tỷ dụ trích từ thiên Tiêu Dao Du
của Trang Tử, hàm ý người tâm
lượng hẹp hòi, chẳng có chí
khí to lớn.
[69] Ở đây,
Tổ dùng thành ngữ “tha sơn chi
thạch, khả dĩ công ngọc” (đá nơi núi khác có thể
dùng để mài ngọc). Câu này phát
xuất từ bài thơ Hạc Minh trong phần
Tiểu Nhã của kinh Thi, ngụ ý: Có thể
dùng kinh nghiệm của người khác
để bổ sung
chỗ thiếu
khuyết của bản thân. Tổ dùng thành
ngữ này nhằm ca ngợi sự
hỗ trợ, khích lệ, dùi mài của
bạn bè với nhau. Ý thứ hai
dựa theo một câu nói trong thiên Quý Thị
sách Luận Ngữ “tổn giả tam
hữu, hữu tiện tịch, hữu
thiện nhu, hữu tiện nịnh” (có ba
loại bạn tổn hại: Bạn siểm nịnh a
dua, bạn làm ra vẻ ôn nhu, hòa thuận nhưng
sau lưng thích phỉ báng kẻ khác, bạn
ăn nói ngọt ngào nịnh nọt hư
vọng). Do vậy, câu “tha sơn thạch bất tập
nhu tiện” nhằm ca ngợi tình bạn
chân thật, dùi mài lẫn
nhau, đối xử chân thật với nhau, không xen tạp những thói xấu
ăn nói ngọt ngào giả dối, dua nịnh,
bợ đỡ, a dua nhau.
[70] Chủ binh thần
là một trong thất bảo của Chuyển Luân
Thánh Vương, tức vị tướng
có tài cầm quân đánh đâu thắng đó.
Thậm chí vị ấy chỉ cần dẫn quân
đến đâu, nơi đó tự hàng
phục, không cần giao tranh.
[71] Nguyên văn “bạch
mao chi tịch” (白茅之藉,
chiếu bằng cỏ tranh). Thời cổ,
người xưa dùng cỏ tranh bện thành
đệm hay chiếu để trải thành
đệm ngồi cho người đáng tôn
kính, hay dùng để lót dưới
các vật cúng nhằm tỏ lộ sự
tôn kính tột bậc. Ở đây, Tổ dùng
từ ngữ này để tỏ ý
mình có lòng tôn kính chân thật tột
bậc đối với ngài Vô Dị, sẵn
sàng phụng sự ngài Vô Dị.
[72] Thời đó,
cổ nhân dùng giấy dán kín cửa sổ
để tránh gió lùa, đồng thời
lấy ánh sáng.
[73] Thệ
tử (逝子):
Đứa con bỏ nhà trốn đi.
[74] Phải
khéo lãnh hội ý chỉ sâu xa trong lời
dạy của Thần Tú và Huệ Năng
để đừng phân biệt, so đo hư
vọng là tiệm tu hay đốn tu.
[75] Hàm
trượng (函丈) là kính
ngữ để tôn xưng bậc học giả
tiền bối hoặc thầy dạy của chính
mình. Theo Lễ Ký, trong lễ nghi thời cổ,
chiếu (hoặc đệm ngồi) của
người giảng và người nghe
đặt cách nhau một trượng, nên
thầy được gọi là “hàm
trượng” do nguyên nhân này.
[76] Thân Phật màu
như vàng tía, nên đức Phật còn
được gọi là “tử kim tiên” hay “kim
tiên”.
[77] “Vi nhân do kỷ”
là thành ngữ phát xuất từ
một câu nói trong thiên Nhan Uyên sách Luận
Ngữ: “Khắc kỷ phục lễ vi nhân,
nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên
hạ quy nhân yên. Vi nhân do kỷ, nhi do nhân hồ”.
Khổng Dĩnh Đạt cho rằng câu này
phải hiểu là: “Chế phục những ham
muốn xằng bậy, tuân thủ lễ nghi,
đó là lòng nhân. Chế phục tư dục,
tuân thủ lễ nghi một ngày, thiên hạ sẽ
đều quy vào lòng nhân. Thực hiện
lòng nhân là do chính mình, chứ há
phải do người khác ép buộc ư?”
[78] Ý nói hủy
báng là sự cảnh tỉnh lớn lao
trong khi chúng ta đang đắm đuối
chấp trước, giống như trong khi đang ngủ
mà có người đánh trống
hoặc thổi tù và (sừng trâu) báo
thức.
[79] Tám
thí dụ nhằm nói lên bản chất hư
huyễn của Y Tha Khởi Tánh theo Nhiếp
Luận: Ví như huyễn sự, ví như
dương diệm (ánh nắng gợn,
tức huyễn ảnh nhìn đằng xa
như có nước, nhưng đến gần
thì không có nước khi trời
nắng gắt), ví như mộng, ví
như hình bóng, ví như bóng nắng,
ví như tiếng vọng từ hang trống,
ví như bóng trăng trong nước, và
ví như sự biến hóa [của
người làm ảo thuật].
[80] Kiêm Sơn Cấn là quẻ kép do hai quẻ Cấn chồng lên nhau (do Cấn biểu
thị núi), nên quẻ này gọi là Kiêm Sơn.
Kinh Dịch giải thích quẻ này có ý
nghĩa “núi non trùng điệp, quân
tử hành xử xứng với
địa vị, giữ yên bổn phận, có
thể bình tĩnh ứng phó trong mọi
hoàn cảnh”. Tịch Dịch Càn là Triêu
Càn Tịch Dịch, phát xuất từ kinh
Dịch trong phần giải thích của vạch
thứ ba trong quẻ Thuần Càn, biểu thị:
Người quân tử ban
ngày sốt
sắng thực hiện chuyện thuộc nghĩa
vụ của chính mình, đến tối phản
tỉnh, răn nhắc chính mình để
phòng ngừa, chẳng phạm chút sai
sót nào!
[81] Ngọc
chương là cách gọi trân trọng thi văn
hoặc thư từ của người
khác.
[82] Ý nói nhờ vào
người bạn đứng hàng thứ
nhất và thứ hai trong bốn người
bạn.
[83] Ngũ phí (sôi
năm lượt) là thuật ngữ
được Lục Vũ dùng trong Trà Kinh để chỉ năm giai đoạn
đun sôi nước pha trà từ nhiệt
độ vừa đến nhiệt độ cao.
[84] Bất thấp canh
là một loại canh dùng
trong mùa viêm nhiệt, trừ hàn khí do
khí hậu ẩm thấp tại miền Hoa Nam.
[85] Kinh Kha là
người nước Vệ, tổ tiên vốn
thuộc dòng Khánh Thị, tức là hậu duệ
của công tử Khương Vô Khuy nước
Tề. Sau này, chuyển sang đất Vệ, mới đổi sang
họ Kinh. Do không được Vệ Nguyên Quân
trọng dụng, Kinh Kha sang nước Yên,
kết bạn với Cao Tiệm Ly và trở thành tri kỷ. Kinh
Kha được du hiệp Điền Quang
giới thiệu cho thái tử Đan
nước Yên. Khi đó, quân Tần tấn công
ráo riết, nước Yên quá yếu
để chống lại. Thái Tử Đan mưu
tính nhờ Kinh Kha ám sát vua Tần (Doanh
Chánh, tức Tần Thủy Hoàng). Kinh Kha mang
đầu Phàn Ư Kỳ (một kẻ thù
của Doanh Chánh) và bản đồ nước
Yên sang Tần cống nạp. Khi vào chầu Tần Thủy
Hoàng, Kinh
Kha mang theo chủy thủ bôi thuốc độc đâm
Tần Thủy Hoàng, nhưng đâm trượt và
bị vũ sĩ của
vua Tần giết chết.
[86] Cuối đời
nhà Tần, khi Trần Thắng và Ngô Quảng
khởi nghĩa chống Tần, thiên hạ
đại loạn. Người thuộc tông thất cũ
của nước Tề là Điền Đam
và anh em Điền Vinh, Điền Hoàng cũng
nổi lên kháng Tần. Điền Đam xưng
là Tề Vương. Năm 208 trước Công
Nguyên, Điền Đam bị tướng Tần
là Chương Hàm giết chết. Quân Tề
bị phân liệt thành hai phe: Một phe ủng hộ
em trai của vua nước Tề trước khi
bị diệt quốc là Điền Giả làm
Tề Vương, anh em Điền Vinh thì tôn con Điền
Đam là Điền Thị làm vua Tề. Năm
206, sau khi diệt Tần, Hạng Vũ phong
tước cho mười tám chư hầu,
phong cho phó tướng Điền Đô làm
Tề Vương, đổi Điền Thị thành
Giao Đông Vương. Anh em Điền Vinh, Điền
Hoành không phục, đuổi Điền Đô đi,
giết chết Điền Thị. Điền Vinh
tự lập làm Tề Vương. Khi Hạng
Vũ tấn công, Điền Vinh bị giết chết.
Khi đó, do Lưu Bang đánh Sở, Hạng
Vũ phải quay về cứu viện. Do vậy,
Điền Hoành khôi phục đất đai bị
Sở chiếm, đưa Điền Quảng là
con Điền Vinh lên ngôi vua Tề. Sau đó, Lưu
Bang thắng Sở, sai Hàn Tín công phá
đất Tề. Quân Tề thua trận thảm hại,
Điền Hoành liền dẫn năm trăm thuộc
hạ chạy ra ngoài hải đảo, nay là
Điền Hoành Đảo. Khi Lưu Bang thống nhất Trung Nguyên, lập ra
nhà Hán, đã cho người ép Điền Hoành đầu hàng. Thế cùng lực
kiệt, Điền Hoành phải đầu hàng và bị đưa về Lạc Đương. Điền Hoành bèn tự
vẫn.
[87] “Hồ lao” (vì sao nhọc nhằn) vốn
xuất phát từ bài thơ “Xuân nhật
túy khởi ngôn chí” (Ngày Xuân, sau cơn
say, tỏ bày chí hướng) của Lý
Bạch, mở đầu bằng “xử
thế nhược đại mộng, hồ vi lao
kỳ sanh? Sở dĩ chung nhật túy,
đồi nhiên ngọa tiền doanh”, Phụng Hà
dịch thơ như sau: “Cuộc đời nào
khác mộng dài, sao ta lao khổ miệt mài lâu
nay? Rượu nồng suốt buổi cứ say,
li bì ta ngủ lăn quay hiên nhà”.
[88] “Oai Âm na bạn”:
Oai Âm Vương Phật là vị Phật đầu
tiên trong kiếp Trang Nghiêm thời quá khứ.
Đấy là cảnh giới vô hạn
trước khi đức Thích Ca Mâu Ni Phật
xuất thế. Vì thế, Thiền gia dùng
từ ngữ “Oai Âm na bạn” nhằm
cảnh tỉnh người học hãy
hướng đến bản lai diện mục.
[89] “Đuổi hươu” (trục lộc) là một
thành ngữ hàm nghĩa quần hùng đua
nhau nổi dậy, tranh đoạt giành quyền
làm chủ giang sơn. Thành ngữ này
phát xuất từ một câu trong thiên Hoài Âm
Hầu Liệt Truyện của Sử Ký Tư
Mã Thiên: “Tần thất kỳ lộc, thiên hạ
cộng trục chi” (Nhà Tần đánh mất
hươu, thiên hạ cùng đuổi bắt).
Có lẽ cách nói này phát xuất
từ chuyện quyền thần Triệu Cao lộng
quyền thời Tần Nhị Thế (Doanh Hồ
Hợi). Hắn đem một con hươu dâng cho
Nhị Thế và bảo đó là con
ngựa. Hồ Hợi không tin, hỏi ý
toàn bộ triều thần. Họ sợ oai
thế và quyền lực của Triệu Cao nên
đa số đều bảo đó là con
ngựa, không phải con hươu. Nhị Thế
tưởng là thật, ngỡ mình
đã loạn óc.
[90] Đem ngọc quý
là dạ quang châu (loại châu có thể tỏa
sáng trong bóng tối) để ném chim sẻ.
[91] Trong phần
trước, tổ Ngẫu Ích đã
nhắc chuyện đức Phật dẫn Kỳ
Bà ra đồng, nơi có hài cốt
vương vãi. Kỳ Bà nhặt lấy
bất cứ khúc xương nào, nghe tiếng
gõ xong, bèn nói vanh
vách chủng tánh, giới
tính, hạnh nghiệp của người
đó. Nhưng khi đức Phật đưa
một khúc xương cho ông gõ thử. Ông
gõ mãi, không nhận biết được.
Đức Phật bèn bảo đó là
xương của bậc Ứng Chân (La Hán), cho nên Kỳ Bà không
thể biết được hạnh nghiệp
của vị đó.
[92] Lỗ Trọng Liên
(305-245 trước công nguyên) là một vị danh
sĩ thời Chiến Quốc. Ông là
người nước Tề, nhưng
chẳng muốn ra làm quan. Sau thất bại
ở cuộc chiến Trường Bình, quân
Tần vây hãm kinh đô Hàm Đan của
nước Triệu. Ngụy An Ly Vương bèn
sai Tân Hoàn Diễn sang thuyết phục Bình Nguyên
Quân (Triệu Thắng) đang làm tể
tướng nước Triệu, khuyên Triệu Hiếu
Thành Vương tôn Tần Chiêu Vương làm
hoàng đế. Lỗ Trọng Liên liền xin vua Triệu cho phép đối chất
với Tân Trọng Diễn, chửi thẳng vua
Tần, vạch rõ mưu đồ nham hiểm của
Tần: Tìm cách xé lẻ chư hầu
để thôn tính. Sau đó, Tín
Lăng Quân (Ngụy Vô Kỵ) dẫn quân Ngụy giải
vây cho Triệu. Bình Nguyên Quân do vậy muốn phong
chức cho Lỗ Trọng Liên, nhưng ông từ chối với
lời nói để đời: “Điều
đáng quý cho kẻ sĩ trong thiên hạ là
vì người khác trừ lo, giải
nạn, giải trừ rối ren, nhưng không mong
đạt được điều gì cho riêng
mình. Nếu lấy được gì, tức là
phường lái buôn. Trọng Liên chẳng
nỡ làm!”
[93] Đây là nói theo ý của
Trang Tử trong thiên Tiêu Dao: “Thích mãng
thương giả, tam xan nhi phản, phúc do quả
nhiên. Thích bách lý giả, túc thung
lương. Thích thiên lý giả, tam nguyệt
tụ lương” (Đi ra chỗ đồng hoang,
ăn no ba bữa rồi mới quay về, bụng
vẫn còn lưng lửng (chưa no trọn
hết). Đi xa ngoài trăm dặm, phải
chuẩn bị lương thực đủ cho
một ngày. Đi ngàn dặm, phải chuẩn
bị lương thực đủ cho ba tháng). Tổ
mượn ý này để nói: Tu hành
phải chuẩn bị tư lương thích
hợp, nhưng đừng chấp
trước.
[94] Tức Bắc
Câu Lô Châu, Thiệm Bộ là Nam Thiệm Bộ Châu (Nam
Diêm Phù Đề).
[95] Triều
cận (朝槿) còn gọi là Mộc Cận (木槿,
Common Hibicus, Rose of Sharon) là một loại dâm bụt,
nhưng có thân gỗ, rụng lá vào mùa
Đông. Cây trổ hoa rất nhiều, nhưng sáng
nở tối tàn, nên thường
được dùng để sánh ví
sự hư huyễn,
[96] Ý nói: Khi
người ta tặng quà, nếu mình không nhận thì
quà vẫn thuộc về người tặng.
Cũng như khi bị khinh rẻ, hủy báng,
nếu ta không chấp vào đó, không màng
đến, thì sự khinh
rẻ, hủy báng ấy thuộc về
người có hành vi ấy, không liên can gì
đến ta!
[97] Vua Ca Lợi
tức là tiền thân của ngài Kiều
Trần Như. Kinh Niết Bàn chép khi bị vua Ca
Lợi chặt đứt chân tay, Nhẫn
Nhục tiên nhân đã thề khi thành Phật
sẽ độ vua Ca Lợi trước tiên. Do
đó, khi Ngài thành Phật, Kiều Trần
Như nghe đức Phật chuyển pháp luân,
chứng đạo trước hết trong năm
vị tỳ-kheo đầu tiên, nên gọi là A Nhã
Kiều Trần Như (kinh Vô Lượng Thọ
gọi Ngài là tôn giả Liễu Bổn Tế).
[98] Liệt Ngự
Khấu (450-375 trước Công Nguyên), còn gọi
là Liệt Ngữ Khấu, hay Liệt Tử,
là một triết gia thời Xuân Thu, được
coi là người mở đường cho
Đạo Gia. Ông chủ trương “quý hư”
tức là đừng để tâm trí rong
ruổi theo cảnh vật bên ngoài, mà nên
lắng lòng dưỡng thần, hòng
tùy thuận tự nhiên, đạt đến
cảnh giới chẳng khởi tác
dụng mà tùy ý tự tại. Sách
Liệt Tử ghi lại những lời dạy
của ông được Đạo gia tôn là Xung
Hư Kinh, vì ông
được họ tôn phong là Xung Hư chân nhân.
[99] Đại chúng
đông đường và tây đường
vì tranh nhau con mèo mà cãi cọ, tổ Nam
Tuyền Phổ Nguyện xách cổ con mèo nói:
“Ai nói được thì tha cho nó! Nếu
không, ta sẽ giết nó”. Không ai trả lời
được, Tổ bèn chém chết con
mèo.
[100] Cổ nhân đào
giếng sâu đến chín nhận mà không thấy
nước, bèn bỏ cái
giếng đó. Một nhận (仞)
là tám thước Tàu, khoảng 2m4.
[101] Để tinh luyện đề
hồ, phải luyện sữa thành lạc,
lạc thành sanh tô, sanh tô thành thục tô, rồi
lục tô được luyện thành đề
hồ. Như vậy muốn có đề hồ,
phải có lạc trước đã; “toản
lạc” (鑽酪) tức là bỏ sữa vào
thùng xoay chuyển, đánh, lắc cho lạc
rời khỏi sữa.
[102] Trong câu này có
hai thành ngữ: “Tùng
tỉnh nhân” (從井仁) là lòng nhân
cứu người té giếng. Dựa theo
ý trong thiên Ung Dã, Khổng Tử phê phán
kẻ vì lòng nhân mù quáng, nhảy xuống
giếng mạo hiểm cứu người mà
không có phương tiện hay khéo để
thoát thân đến nỗi cả hai cùng chết
đuối. “Thủ viện tẩu” (手援嫂, đưa tay
cứu chị dâu) xuất phát từ thiên Ly Lâu trong sách
Mạnh Tử: “Thuần Vu Khôn viết: Nam nữ
thọ thọ bất thân, lễ dư? Mạnh Tử
viết: Lễ dã. Viết: Tẩu nịch, tắc
thọ chi dĩ thủ hồ? Viết:
Tẩu nịch bất viện, thị sài lang dã.
Nam nữ thọ thọ bất thân, lễ dã.
Tẩu nịch, viện chi dĩ thủ giả, quyền
dã”
(Thuần Vu Khôn hỏi: “Nam nữ chẳng tiếp
xúc thân mật với nhau, lễ đó ư?”
Mạnh Tử nói: “Lễ đấy”. Hỏi:
“Chị dâu chết đuối, [em trai của chồng]
có đưa tay cứu hay không?” Đáp:
“Chị dâu chết đuối mà không cứu
thì là lang sói. Nam nữ chẳng
tiếp xúc thân mật là lễ. Chị dâu chết
đuối, em trai của chồng đưa tay cứu
là quyền biến”).
[103] Hàm Lâm là tên
gọi hào thứ hai trong quẻ Địa
Trạch Lâm của kinh Dịch, gồm quẻ Khôn
ở trên, quẻ Đoài ở dưới.
Hàm Lâm được giải thích là
cát lợi.
[104] Ỷ phục
(dựa dẫm) tức là nói gọn
của “họa phước ỷ phục”
(họa và phước dựa dẫm lẫn
nhau, tức là trong họa ngầm chứa
phước và ngược lại).
[105] Quái tức
là quẻ Trạch Thiên Quái (gồm quẻ Càn
ở dưới, quẻ Đoài ở trên)
được kinh Dịch giảng là “trạch
thượng ư thiên, quái, quân tử dĩ
thí lộc cập hạ, cư đức
tắc kỵ”. Câu này được các
nhà Dịch học giảng như sau: Chằm (quẻ
Đoài, tượng trưng cho nước)
ở trên trời (Càn), tức hơi
nước bốc lên thành mây, nhanh chóng tuôn
xuống thành mưa, ban sự nhuần thấm cho
thiên hạ, giống như quân tử dùng
điều lợi ban cho người khác. Tuy
tạo lợi ích cho người khác,
tăng trưởng phẩm đức, nhưng
chẳng cậy mình có ân đức. Hễ
cậy vào ân đức thì đó là
điều đại kỵ.
[106] Mông là quẻ
Sơn Thủy Mông gồm quẻ Cấn ở trên
và quẻ Khảm ở dưới),
tượng trưng cho sự mông muội. Quân
tử tu dưỡng đức hạnh
bằng cách khai sáng cho kẻ mông muội
(hoặc trẻ nhỏ) thì không gì chẳng
hanh thông.
[107] Hoắc Quang (130-68
trước Công Nguyên) là một vị đại
thần phụ chánh nổi tiếng thời
Hán, được xếp vào danh sách mười
một vị công thần trong Kỳ Lân Các. Ông là
em cùng cha khác mẹ của đại
tướng Hoắc Khứ Bệnh. Ông
từng giữ nhiều chức vụ như
Lang Quan, Thị Trung, Tào Quan, Phụng Xa Đô Úy,
Quang Lộc Đại Phu, Đại Tư Mã,
Đại Tướng Quan. Ông làm quan
dưới bốn triều vua Vũ Đế, Chiêu
Đế, Hán Phế Đế và Hán Tuyên
Đế. Khi Hán Vũ Đế sắp mất,
đã di mạng cho ông làm Phụ Chánh phò
tá Hán Chiêu Đế (Lưu Phất Lăng)
mới tám tuổi. Ông đã khôn khéo
đề xuất nhiều chánh sách quan trọng,
khiến cho triều chánh hưng thạnh. Sau khi Chiêu
Đế qua đời, không có con nối dõi,
Hoắc Quang lập Xương Ấp Vương
Lưu Hạ (cháu nội của Hán Vũ
Đế) lên làm vua, nhưng do nhận thấy Lưu
Hạ hoang dâm vô đạo, thông dâm với các cung nữ
của Chiêu Đế, đảo lộn pháp
tắc trong triều đình. Chỉ trong hai
mươi bảy ngày đã làm 1.127 việc
xấu, Hoắc Quang bèn tâu lên Thượng Quan
Hoàng Thái Hậu, phế Lưu Hạ (do vậy, Sử gọi Lưu
Hạ là Hán Phế Đế), cuối cùng
đưa chắt của Vũ Đế là
Lưu Bệnh Dĩ lên làm vua, tức Hán Tuyên
Đế.
[108] Từ ngữ
Dưỡng Chánh xuất phát từ một
câu trong kinh Dịch “mông dĩ dưỡng chánh,
thánh công dã” (công lao giáo hóa,
trưởng dưỡng đức hạnh
chánh đáng cho trẻ thơ là công lao của
bậc thánh).
[109] Ý nói học
Lão Trang tuy cao siêu huyền diệu hơn Nho, nhưng
vẫn là chấp trước, vọng
tưởng, không thấy chân tâm như cũ, khác nào một
thùng sơn đen kịt.
[110] Câu này nói theo
ý nghĩa của câu nói “dị
hồ tam tử giả chi soạn” trong sách
Luận Ngữ. Để hiểu rõ câu nói này, cần
phải đọc nguyên đoạn văn như sau: “Tử
Lộ, Tăng Tích, Nhiễm Hữu, Công Tây Hoa
thị tọa, tử viết: ‘Dĩ ngô nhất nhật
trưởng hồ nhĩ, vô ngô dĩ dã. Cư tắc viết:
Bất ngô tri dã. Như hoặc tri nhĩ,
tắc hà dĩ tai?’ Tử Lộ suất
nhĩ nhi đối viết: ‘Thiên thừa chi quốc,
nhiếp hồ đại quốc chi gian, gia chi dĩ
sư lữ, nhân chi dĩ cơ cẩn. Do dã vi chi tỷ cập
tam niên, khả sử hữu dũng thả tri
phương dã’. Phu tử sẩn chi: ‘Cầu, nhĩ hà như?’ Đối viết: ‘Phương lục thất
thập, như ngũ lục thập, Cầu dã vi chi,
tỷ cập tam niên, khả sử túc dân, như
kỳ lễ nhạc, dĩ sĩ quân tử’. ‘Xích, nhĩ hà như?’ Đối viết: ‘Phi viết năng chi,
nguyện học yên, tông miếu chi sự, như
hội đồng, đoan chương phủ, nguyện
vi tiểu tương yên’. ‘Điểm, nhĩ hà
như?’ Cổ sắt hy,
khanh nhĩ, xả cầm nhi tác, đối viết: - Dị hồ tam tử giả
chi soạn” (Tử Lộ, Tăng Tích,
Nhiễm Hữu, Công Tây Hoa đứng hầu
Khổng Tử đang ngồi. Khổng Tử
nói: “Do ta tuổi lớn hơn các ngươi,
không ai dùng ta. Các ngươi thường
nói ‘không có ai biết
tới tôi’. Nếu như có người
biết đến, các ngươi sẽ làm
gì?” Tử Lộ vội vàng thưa ngay:
“Một nước nhỏ chỉ có
được một ngàn cỗ xe, bị kẹp giữa
các nước lớn, lại bị quân
ngoại quốc xâm phạm, lại còn bị
đói kém, nếu họ dùng Do (tên thật của
Tử Lộ) thì cho đến ba năm, sẽ
giữ vững được dũng khí, lại còn biết
cách làm người”. Phu tử mỉm
cười, hỏi: “Cầu (tên thật của Nhiễm Hữu),
ngươi thì sao?” Nhiễm Hữu thưa:
“Một nước rộng bảy chục hoặc
sáu chục dặm, mà sử dụng
Cầu thì sau ba năm, có thể khiến cho dân no
đủ, chấn hưng lễ nhạc, giáo hóa,
chờ đợi bậc quân tử tiến
hành”. “Xích (tên thật
của
Công Tây Hoa), ngươi thì sao?” Thưa: “Con chẳng
dám nói mình làm được gì,
chỉ mong học tập. Chỉ đối với chuyện tông
miếu, hoặc chư hầu kết minh, triều
kiến thiên tử, con sẽ mặc lễ
phục, đội mão, là kẻ hầu nho
nhỏ”. “Điểm (tên thật
của Tăng Tích), ngươi thì sao?” Tăng
Tích khảy đàn cầm, dần dần buông lơi, vang một
tiếng ‘tưng’, đặt đàn cầm
xuống, đứng lên thưa: ‘Con nghĩ khác
với ba người trên đây”).
[111] Ngài Ương
Quật Ma La (Aṅgulimāla)
do nghe lời tà sư, đuổi giết một
ngàn người, lấy ngón tay của họ xỏ
thành xâu chuỗi đeo trên cổ để mong
đắc đạo. Sau khi được
Phật hóa độ, tôn giả đắc quả La
Hán. Có lần, một phụ nữ có thai
trông thấy Ngài, do không biết Ngài đã
cải tà tu chánh, sợ quá, chui qua hàng rào
trốn, bị mắc kẹt ở đó,
tánh mạng nguy cấp. Ngài dùng lời chân
thành, thuyết pháp, khiến cho người
ấy hoan hỷ, bèn an tường sanh nở.
[112] Hễ có
sương thì tiết Đông rét buốt đang
kéo tới. Do đó, “lý sương”
(giẫm bước trong sương) mang nghĩa
rộng là điềm báo trước nguy
hiểm. Kinh Dịch giảng quẻ Khôn như sau: “Lý
sương kiên băng chí” (giẫm sương
thì băng cứng sắp đến).
[113] Thắng Nhiệt
bà-la-môn là vị tri thức thứ chín
trong năm mươi ba vị thiện tri thức
mà Thiện Tài đến tham học. Vị
này thị hiện thân ngoại đạo tu khổ
hạnh, thường phơi mình dưới
ánh nắng, dùng lửa mạnh để
hơ thân, khiến cho Thiện Tài e ngại. Sau khi
được Phạm Thiên khuyên bảo, Thiện
Tài leo lên đống lửa, gieo mình vào,
liền cảm thấy thân tâm thanh lương, và
được Thắng Nhiệt dạy pháp môn
tu Bồ Tát đạo.
[114] Thiên Tiêu Dao Du trong
sách Trang Tử viết: “Biển Bắc
có loài cá, tên gọi là Côn, to lớn
chẳng biết mấy ngàn dặm. Khi nó
nhảy lên khỏi mặt biển, liền biến
thành chim Bằng. Cánh che
rợp trời, có thể bay đến Nam Minh.
Nam Minh tức là ao trời”.
[115] “Tây lai ý”
là một câu thoại đầu nổi tiếng trong
nhà Thiền, có ý hỏi: Do ý nghĩa
nào mà tổ Đạt Ma từ Tây Trúc sang
phương Đông.
[116] Ý nói sai
lầm trong biên chép. Do các
chữ Ô (烏), Yên (焉), và
Mã (馬) khá
giống nhau, nếu không cẩn thận, sẽ rất
có thể viết chữ nọ sang chữ kia.
[117] Đức
Thế Tôn có nói một bài kệ như thế này: “Yo
ca vassasataṃ jīve, apassaṃ udayabbayaṃ. Ekāhaṃ
jīvitaṃ seyyo, passato udayabbayaṃ” (dịch sang
tiếng Hán là: “Nhược nhân thọ bách tuế, bất
tri sanh diệt pháp, bất như nhất nhật trung, hiểu
liễu sanh diệt sự”, nghĩa là: Nếu có người
sống đến trăm tuổi mà chẳng hiểu pháp
sanh diệt, chẳng bằng chỉ sống được
một ngày mà hiểu rơ pháp sanh diệt). Sau khi đức
Thế Tôn nhập diệt, theo Tỳ Nại Da Tạp Sự,
quyển bốn mươi, ngài A Nan nghe một vị
Tăng tụng bài kệ ấy như sau: “Nhược
nhân thọ bách tuế, bất kiến thủy bạch hạc,
bất như nhất nhật trung, đắc kiến thủy
bạch hạc”. Ngài A Nan giật ḿnh, v́ do âm tiếng
Phạn gần giống nhau, vị Tăng ấy không
suy xét, nên đă đọc sai chữ udayabbayaṃ thành một từ
ngữ gần giống với chữ “thủy bạch
hạc” (trong tiếng Pali, tức udaka-baka), bèn dạy
vị ấy đọc cho đúng, nhưng vị ấy
không nghe, bảo đệ tử ngài A Nan đă già, trí nhớ
lạng quạng: “A Nan đă già nua, chẳng có sức
ghi nhớ, thường nói lời sai lầm, chẳng cần
phải tin ổng” rồi vẫn cứ đọc
như vậy, kiên quyết không sửa đổi. Khi câu
chuyện này được truyền sang Trung Hoa, lại bị
diễn giải từ “thủy bạch hạc” (水白鶴) thành “thủy
lăo hạc” (水老鶴) hoặc “thủy
lạo hạc” (水潦鶴). Tổ
Ngẫu Ích dùng câu
chuyện này để minh họa sự cố chấp của
một số hành nhân, nhất quyết không sửa đổi
dù được thiện tri thức chỉ điểm chỗ
sai trong từ ngữ hoặc văn bản.
[118] Pháp thần (法臣): Bầy tôi trong
pháp. Do đức Phật được
gọi là pháp vương, nên các đệ
tử Phật được gọi là “pháp
thần”.
[119] Diệu tam từ: Ba loại
lòng từ của Bồ Tát, tức
chúng sanh duyên từ, pháp duyên từ, và
vô duyên từ.
[120] Người Ba là một dân tộc
cổ sống chủ yếu ở phía Đông
tỉnh Tứ Xuyên và Ngạc Tây. Họ
từng thành lập một vương quốc
cổ là Ba Quốc, về sau bị Tần và
Sở diệt quốc. Họ chia làm hai nhánh
chính là
Lẫm Quân và Bản Thuẫn. Nhóm Lẫm Quân tôn
bạch hổ làm vật tổ, còn nhóm
Bản Thuẫn coi bắn được hổ
trắng là điềm lành. Thoạt
đầu, Ba Quốc khá lớn, Bắc giáp Hán Trung, Nam
đến Kiềm Bồi, Đông đến Hiệp Giang,
Tây đến Bặc Đạo. Dưới
sự lấn ép của Tần và Sở,
họ dần dần chỉ còn gói gọn trong
vùng Xuyên Đông. Họ bị Tần diệt quốc
vào năm 316 trước Công Nguyên. Trừ một
bộ phận bị Hán hóa, hậu
duệ hiện thời là dân
thiểu số Thổ Gia.
[121] Theo truyền thuyết cổ, trên
sừng tê giác có một đường
vằn màu trắng, do vậy,
sừng tê có
đặc tánh cảm ứng sự linh dị. Vì thế,
gọi là “linh tê”. Hiểu theo nghĩa mở
rộng thì linh tê là tâm linh tương thông,
tình ý phù hợp.
[122] Biến Kế Sở Chấp Tánh.
[123] Chân Vũ còn có hiệu là
Huyền Thiên Thượng Đế, Huyền Vũ
Đại Đế, Bắc Cực Huyền Thiên
Thượng Đế, Chân Vũ Đại
Đế, Hựu Thánh Chân Quân, Khai Thiên Đại
Đế, Đãng Ma Thiên Tôn v.v… Ông là vị
thần thống lãnh phương Bắc,
tương ứng với phương Huyền
Vũ trong Nhị Thập Bát Tú. Ông
được coi là vị thần cai quản
tất cả các sanh vật trong nước, trong
biển, diệt trừ tai nạn lửa và
nước, bảo hộ chiến tranh. Ông cũng
được coi là
vị thần bảo hộ của nhà Minh vì khi
Châu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ) giao tranh với Trần Hữu
Lượng, bị thua
trận, phải trốn vào miếu Chân Vũ
để tránh né truy binh. Mạng nhện chỗ
ông ẩn thân sau khi ông chui vào bèn liền lại
như cũ, vì vậy, truy binh không tìm thấy ông. Do đó, khi Châu
Nguyên Chương lên ngôi thành
Minh Thái Tổ, đã hạ chỉ trùng tu miếu
thờ, đắp kim thân tượng, và
tặng biển đề Bắc Cực
Điện, tôn phong Chân Vũ thành Huyền Thiên
Thượng Đế. Từ đó, các
đời vua Minh đều hết sức tôn
sùng Chân Vũ.
[124] Thể của pháp tánh lìa
các tướng, tịch diệt, nên gọi là Ly. Tác dụng của pháp tánh vi
diệu chẳng thể nghĩ bàn nên gọi
là Vi. Ly là Niết Bàn. Vi là Bát Nhã.
Bảo Tạng Luận viết: “Không có tai, không
có mắt là Ly, có thấy nghe thì
là Vi. Chẳng có ngã, chẳng tạo
là Ly, có trí, có dụng là Vi. Vô tâm, vô ý
là Ly, có thông, có đạt là Vi. Ly lại
là Niết Bàn, Vi là Bát Nhã. Do Bát
Nhã nên hưng khởi đại dụng, do
Niết Bàn nên tịch diệt chẳng còn
sót. Do vô dư nên phiền não vĩnh viễn
hết. Do đại dụng nên sự giáo hóa
của bậc thánh vô cùng”.
[125] Huyền du (玄猷): Mưu kế cao vời
huyền diệu, tức con đường
tiến tu thành Phật.
[126] Y Doãn lúc chưa ra phù tá
vua Thành Thang, từng cày ruộng ở Sân
dã. Khương Thượng (Khương
Tử Nha) trước khi được
tiến cử làm tướng cho Châu Văn
Vương, ngồi câu cá trên sông Vị.
[127] “Học bộ Hàm Đan” là
thành ngữ hàm ý mô phỏng theo
người khác chẳng thành công,
ngược lại đánh mất kỹ năng
vốn có của chính mình. Ý này
dựa theo một câu chuyện trong thiên Thu Thủy
sách Trang Tử: Có người tới
kinh đô Hàm Đan của nước Triệu, thấy tư thế đi lại của
họ rất đẹp bèn bắt
chước học theo, nhưng không thành, ngược
lại còn quên tuốt dáng đi vốn có
của chính mình!
[128] Thất Tịch là ngày mồng
Bảy tháng Bảy âm lịch, tương truyền
đó là ngày Ngưu Lang và Chức
Nữ được gặp nhau. Trong ngày
ấy, phụ nữ thường đến
đền chùa cầu nguyện Chức
Nữ gia hộ khiến họ có tài may vá, bếp núc
khéo léo, nên còn gọi là là lễ
Khất Xảo (xin sự khéo léo). Trong ngày
ấy, cũng
có tổ chức thi khéo tay bằng thêu
thùa dưới ánh đèn lờ
mờ. Có những địa phương coi
ngày này như ngày tình nhân ước
hẹn, dùng hạt hồng đậu kết thành
vòng đeo tay để tặng nhau, nhằm
ước nguyện tình yêu bền vững.
[129] Ngài Tụng Trửu sanh
trước lễ Tự Tứ (rằm
tháng Bảy) một vài hôm.
[130] Vệ Vũ Công viết bài thơ tên
là Ức để tự cảnh tỉnh chính
mình; trong ấy có câu: “Ức
ức oai nghi, duy đức chi ngung” (Cẩn
thận oai nghi, chỉ cốt sao đức chánh
đáng).
[131] Nguyên văn “dương cáo Sóc”.
Theo Châu Lễ, mỗi năm vào dịp Thu Đông, thiên
tử nhà Châu ban lịch cho các chư hầu,
để họ cất trong tổ miếu. Chiếu theo
đó, vào ngày mồng Một mỗi năm,
các vua chư hầu đến tổ miếu giết
dê cúng tế, biểu thị chánh thức
mở đầu một năm. Đến thời
Xuân Thu, vua nước Lỗ chẳng còn quan tâm
đích thân cúng
tế, mồng Một
mỗi tháng chỉ sai quan đến giết dê cúng cho xong chuyện,
chứ vua Lỗ không thèm đặt chân
đến thái miếu nữa. Do vậy, thành ngữ “cáo
Sóc hý Dương” có ý nghĩa chê
trách chỉ làm qua quýt cho xong chuyện, mang
nặng tính hình thức. Ở đây,
tổ dùng từ ngữ “dương cáo
Sóc” với ngụ ý than thở: Thầy
Tụng Trửu mất đi, không ai quan tâm thực
hiện Luật, người trì Luật hoàn
toàn hữu danh vô thật.
[132] Bỉ ngạn thai: Thai bên bờ kia,
ý nói gởi thân thác chất nơi cõi
Cực Lạc.
[133] Quan trung thảo: Các bản thảo
viết lách trong khi bế quan.
[134] Dịch Nha là người
xứ Ung, tên là Vu, do vậy còn gọi là
Địch Nha, hoặc
Ung Vu, là một đầu bếp nổi tiếng
của nước Tề thời Xuân Thu, nên rất
được Tề Hoàn Công yêu quý. Nghe Tề
Hoàn Công nói chưa từng nếm thịt
người, Dịch Nha liền giết con mình
để nấu cho Tề Hoàn Công
ăn. Do vậy, hắn được
Tề Hoàn Công đặc biệt sủng ái.
[135] Đồng hồ mặt trời
(nhật quỹ, 日晷) thường làm bằng
đá, ở giữa cắm một trụ
nhỏ bằng đá hoặc gỗ, chung quanh
mặt đá khắc giờ.
Người ta dựa
theo bóng nắng chiếu vào đâu mà
biết là giờ gì.
[136] Bóng châu trên trán: Đây là
một thí dụ sánh ví Phật tánh
sẵn có nơi mỗi người. Kinh
Đại Bát Niết Bàn quyển bảy nói:
Ví như nhà vua có đại lực
sĩ, giữa hai mày có một viên kim cang châu.
Khi đấu vật với lực sĩ khác,
do trán cụng vào nhau, châu liền bị lún
dưới da, ngỡ đã đánh mất
viên châu. Nơi đó tạo thành vết
thương, bèn gọi lương y chữa
trị. Khi đó, lương y biết vết
thương ấy do châu lún vào. Lực sĩ
không tin, lương y đưa gương cho soi, thấy
bóng châu hiện. Lực sĩ kinh ngạc, sanh
ý tưởng kỳ đặc. Hết
thảy chúng sanh cũng giống như thế, do
chẳng thân cận thiện tri thức, dẫu
có Phật tánh, nhưng đều chẳng
thể thấy do bị tham, dâm, sân khuể, ngu si che
lấp, mà đọa vào trong địa ngục,
ngạ quỷ, quên bẵng Phật tánh của
chính mình!
[137] Khổng Tử ca ngợi Lão
Tử như thần long chẳng thể
thấy đầu đuôi.
[138] Tử Cống là tên tự, tên
thật của ông là Đoan Mộc Tứ.
[139] Quy (媯)
là một họ xuất phát từ vua
Thuấn. Vua Thuấn thuộc bộ tộc Hữu Ngu
Thị, là cháu sáu đời của Chuyên
Húc (chắt của Hiên Viên Hoàng Đế).
Thuấn (tên là Trùng Hoa) sanh ở Diêu Khư, do
vậy lấy họ là Diêu (vì thế, Sử
thường gọi là Ngu Thuấn). Do vua Thuấn
có đức nên được vua Nghiêu
nhường ngôi, gả con gái là Nga Hoàng
và Nữ Anh cho, lại phong cho đất bên sông Quy
Thủy làm thái ấp. Con cháu của ông
bèn lấy họ là Quy. Quy Thủy bắt
nguồn từ Lịch Sơn thuộc thành phố
Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây, chảy sang phía Tây
đổ vào sông Hoàng Hà. Vua Thuấn và vua
Nghiêu đều nói mình còn có khuyết
điểm (theo cách nói thời cổ là
“hữu bệnh”), nên ở đây Tổ gọi
họ là “Quy Diêu lưỡng bệnh ông” (hai
người bệnh ở Quy Diêu).