Đại
Thừa Địa Tạng Thập Luân Kinh Giảng Kư, phần
13
大乘大集地藏十輪經講記
Mộng
Tham lăo ḥa thượng chủ giảng
夢參老和尚主講
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Đức
Phong và Huệ Trang
VI. Phẩm thứ
sáu, Thiện Nghiệp Đạo (善業道品第六)
(Kinh)
Nhĩ thời, Kim Cang Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát phục bạch
Phật ngôn: “Đại đức Thế Tôn! Bồ Tát Ma
Ha Tát vân hà ư Thanh Văn Thừa, đắc vô ngộ thất?
Vân hà ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc
vô ngộ thất? Vân hà ư Độc Giác Thừa, đắc
vô ngộ thất? Vân hà ư Độc Giác Thừa Bổ
Đặc Già La, đắc vô ngộ thất? Vân hà ư
Đại Thừa, đắc vô ngộ thất? Vân hà
ư Đại Thừa Bổ Đặc Già La, đắc
vô ngộ thất? Vân hà thường năng xí nhiên Tam Bảo
chủng tánh? Vân hà ư chư Như Lai xuất gia đệ
tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ
chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả,
đắc vô ngộ thất? Vân hà ư Đại Thừa
pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái
chuyển? Vân hà lợi huệ, thắng phước,
thường đắc tăng trưởng? Vân hà ư nhất
thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn,
chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu
thoái chuyển? Vân hà thường đắc trị ngộ
chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành? Vân hà thường
đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập
chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly
văn pháp, bất ly thân cận cúng dường chúng
Tăng? Vân hà ư chư thiện căn, thường tinh
tấn cầu, tâm vô yếm túc? Vân hà thường ư Bồ
Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm
túc?”
(經)爾時,金剛藏菩薩摩訶薩復白佛言:「大德世尊,菩薩摩訶薩,云何於聲聞乘,得無誤失?云何於聲聞乘補特伽羅,得無誤失?云何於獨覺乘,得無誤失?云何於獨覺乘補特伽羅,得無誤失?云何於大乘,得無誤失?云何於大乘補特伽羅,得無誤失?云何常能熾然三寶種姓?云何於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失?云何於大乘法,常得升進,無有退轉?云何利慧勝福,常得增長?云何於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉?云何常得值遇諸善知識,隨順而行?云何常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧?云何於諸善根常精進求,心無厭足?云何常於菩提種種行願,心無厭足?
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Kim Cang Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát lại bạch
cùng đức Phật rằng: “Bạch đại đức
Thế Tôn! Bồ Tát Ma Ha Tát làm thế nào chẳng phạm
sai lầm đối với Thanh Văn Thừa? Làm thế
nào chẳng phạm sai lầm đối với Thanh
Văn Thừa Bổ Đặc Già La? Làm thế nào chẳng
phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa?
Làm thế nào chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La? Làm thế
nào chẳng phạm sai lầm đối với Đại
Thừa? Làm thế nào chẳng phạm sai lầm đối
với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La? Làm thế nào để chủng tánh Tam Bảo
thường rạng rỡ? Làm thế nào chẳng phạm
sai lầm đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy
kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc? Làm thế
nào để thường được thăng tấn,
chẳng bị thoái chuyển nơi pháp Đại Thừa?
Làm thế nào để trí huệ nhạy bén và phước
thù thắng thường được tăng trưởng?
Làm thế nào để mau được tự tại, chẳng
thoái chuyển nơi hết thảy các Định, các
Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa? Làm thế nào để
thường được gặp gỡ các thiện tri
thức ḥng làm theo họ? Làm thế nào để thường
được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật,
và các vị Bồ Tát, cùng đệ tử Thanh Văn, chẳng
ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận cúng dường chúng
Tăng? Làm thế nào để thường tinh tấn cầu
các thiện căn, tâm không chán đủ? Làm thế nào
để đối với các thứ hạnh nguyện
nơi Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ?”)
Phẩm
này giảng về Thiện Nghiệp Đạo. Đă sám hối
xong, bèn tu hành. Sau khi đă sám trừ nghiệp chướng,
sẽ tu ǵ vậy? Tu thiện nghiệp. Kim Cang Tạng Bồ
Tát Ma Ha Tát là người phát khởi. Ngài hướng về
đức Phật thỉnh cầu: “Đại đức
Thế Tôn! Con c̣n có thắc mắc”. Bồ Tát Ma Ha Tát là bậc
đại Bồ Tát trong các vị Bồ Tát. Khi Ngài muốn
hoằng pháp lợi sanh, nếu gặp căn cơ Thanh
Văn, đối với Thanh Văn Bổ
Đặc Già La, Ngài sẽ chẳng nói pháp Độc Giác
Thừa, cũng chẳng nói pháp Đại Thừa. Pháp
nghĩa của mỗi pháp có giới hạn rạch ṛi, chẳng
phải là luông tuồng! Kế đó, đối với mỗi
loại Bổ Đặc Già La hữu t́nh chúng sanh, họ
thuộc loại pháp khí nào, là căn khí ǵ, sẽ nói với
họ pháp ấy, chẳng hề phạm sai lầm.
Nay
chúng ta thuyết pháp, chẳng cần biết là đúng
căn cơ hay không, chúng tôi giảng bộ kinh này, chẳng
phải là căn cơ, họ cũng đến nghe.
Đúng căn cơ cũng tới nghe. Đấy gọi
là “[thuyết pháp] chẳng đúng căn cơ”. Đă chẳng đúng căn
cơ, đối với pháp Thanh Văn mà chẳng sai lầm
sẽ rất khó, hoặc là chẳng sai lầm đối
với Độc Giác Thừa, chẳng sai lầm đối
với Thanh Văn Thừa, chẳng sai lầm đối với
Bồ Tát Thừa, tức là chẳng sai lầm đối
với pháp tam thừa. Nếu nói theo căn cơ, [nói pháp]
chẳng đúng căn cơ, chẳng đúng với
[căn tánh của mỗi loại] Bổ Đặc Già La
(Pudgala, hữu t́nh chúng sanh), [đáng lẽ] quư vị phải
nói pháp Thanh Văn, lại nói thành pháp Độc Giác, hoặc
nói thành pháp Đại Thừa, đó gọi
là “ngộ thất” (誤失, sai lầm). Hễ có sai lầm, người
nói sẽ chịu trách nhiệm nhân quả.
Nay
đang thời Mạt Pháp, thiếu khuyết năng lực
khéo quan sát, khi thuyết pháp, chính ḿnh phải phát nguyện, mong cầu
sám hối phát nguyện: “Con là một chúng sanh b́nh phàm, chẳng
nhập thánh quả, thuyết pháp nhất định sẽ
có sai lầm. Bất luận xét theo căn cơ, hay xét theo
pháp, đều phạm sai lầm!” Nếu đă thọ Bồ
Tát giới, phát đại tâm, [nếu sợ thuyết pháp
sai lầm rồi chẳng thuyết pháp] th́ sẽ là đoạn
diệt chủng tánh Tam Bảo. Quư vị phải cân nhắc
giữa hai đằng: Cái nào là trọng yếu, cái nào chẳng trọng yếu!
Tuy là phạm sai lầm đối với họ (người
nghe pháp), họ vẫn có thể gieo thiện căn. Nếu
hoàn toàn chẳng có ai nói, pháp chẳng c̣n nữa, có thể gặp
gỡ mà không sai lầm hay không, họ cũng chẳng thể
biết!
Cá
nhân tôi mỗi khi gặp dịp thuyết pháp, đều cầu
Phật, Bồ Tát gia tŕ, hoặc là tụng kinh, hoặc sám
hối, cầu Phật, Bồ Tát gia tŕ, khiến cho lời
tôi nói chẳng trái nghịch ư Phật. Nói cách khác, gia tŕ tôi
khi thuyết pháp bèn có tri kiến chánh xác. Tri kiến như
thế nào sẽ là chánh xác hay chẳng chánh xác? Nương
theo pháp do đức Phật đă dạy để nói, tri
kiến ấy sẽ là chánh đáng. Đức Phật có
ba pháp ấn [dành cho pháp Nhị Thừa, tức vô thường,
khổ, và vô ngă], và cũng có một pháp ấn [dành cho pháp
Đại Thừa, tức Thật Tướng]. Khi thuyết
pháp, chẳng ĺa Thật Tướng, đối với mỗi chúng sanh đều nói “chẳng ĺa Thật
Tướng”, khiến cho chúng sanh biết đạo
lư “vạn pháp duy tâm”. Khi nói pháp Thanh Văn Thừa, nhất
định phải biết pháp Tứ Đế, tức Khổ,
Tập, Diệt, Đạo; đấy là Tứ Thánh Đế.
Các pháp Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo, Ngũ Căn,
Ngũ Lực, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ
Như Ư Túc, ba mươi bảy Đạo Phẩm, tam thừa
đều cùng chung có. Quư vị nói như thế nào cũng đều
được, rốt cuộc chẳng vượt ra ngoài
pháp tam thừa. Chớ nên nói chánh kiến thành tà kiến, [nếu
nói thành tà kiến], sẽ là điên đảo, phạm sai
lầm. Thanh Văn Thừa, Độc Giác Thừa, và Đại
Thừa là pháp tam thừa nhằm đối ứng căn
cơ tam thừa, cũng như tam thừa Bổ Đặc
Già La. Đối với pháp chẳng có sai lầm, mà
cũng chẳng sai lệch, chẳng hỗn loạn thị
phi; đối với Bổ Đặc Già La, tức là
đối với người [nghe pháp], cũng chẳng sai lầm!
Đấy là hạng người nào? Chính là Bồ Tát Ma Ha
Tát, đại Bồ Tát tuyệt đối có thể làm
được!
Lại
nữa, làm thế nào để khiến cho chủng tánh Phật,
Pháp, Tăng Tam Bảo hưng thịnh, thường sung
măn, khiến cho chủng tánh Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo
vĩnh viễn chẳng đoạn, vĩnh viễn trụ
trong thế gian? Lại làm như thế nào để phân
biệt các đệ tử xuất gia của các đức
Như Lai là pháp khí hay chẳng phải pháp khí? Cho đến
đối với kẻ khoác một mảnh ca-sa, bèn chẳng phạm
sai lầm? Kẻ “vô giới” kém cỏi
hơn pháp khí và phi pháp khí, v́ kẻ đó giả mạo
người xuất gia. Kẻ đó vốn là tội phạm,
kiếm được một mảnh ca-sa bèn đeo lên người,
mong tiêu tai, thoát nạn, làm như thế đó. Đối
với hạng người như thế đó, cũng
đều chẳng phạm sai lầm!
Đối
với pháp Đại Thừa, khiến cho pháp ấy
vĩnh viễn hưng thịnh, đừng từ Đại
Thừa thoái chuyển thành Nhị Thừa. Có những
người nếu nói pháp Đại Thừa với họ,
họ sẽ dũng mănh tiến lên, chiếu theo pháp Đại
Thừa để tu tập. Có những người cảm
thấy tu pháp Đại Thừa để độ chúng
sanh quá khó khăn, v́ chúng sanh ương ngạnh, khó điều
phục. Đừng nói là phàm phu độ chúng sanh, ngay
như Thanh Văn đă chứng quả A La Hán muốn
độ chúng sanh cũng rất khó khăn. Cho nên họ sợ
hăi, thoái đọa địa vị Nhị Thừa, nhập
Thiên Không Định. Những trường hợp giống
như vậy rất nhiều, ngay cả một vị A La
Hán như ngài Xá Lợi Phất, trí huệ bậc nhất,
vẫn lui xuống Nhị Thừa như vậy! Ngài mong
phát Bồ Đề tâm, vừa mới phát tâm bèn lui sụt.
Câu chuyện này chắc là mọi người đều biết:
Ngài Xá Lợi Phất vừa phát Bồ Đề tâm, Đế Thích Thiên bèn hóa hiện
đến thử thách Ngài. Ông ta thị
hiện làm một cô bé, ngồi khóc ở ven đường.
Ngài Xá Lợi Phất đến trước cô bé, hỏi:
“Con đừng nên bi ai, có khó khăn ǵ, ta có thể giúp con
giải quyết. Hăy kể cho ta biết”. Bé gái thưa:
“Điều con mong cầu, Ngài giải quyết không nổi
đâu. Ngài đâu có tâm Bồ Đề lớn dường
ấy!” Ngài nói: “Ta vừa mới phát Bồ Đề tâm”.
Cô bé nói: “Được rồi! Con nói với Ngài. Mẹ
con nay bị một loại bệnh đặc biệt, t́m
thuốc uống, thuốc th́ có, nhưng chất dẫn thuốc
chẳng có”. “Chất dẫn thuốc chẳng khó lắm,
con cứ t́m đi, hoặc là mua”. Cô bé nói: “Mua không
được! Chất dẫn thuốc này cần đến
tṛng mắt”. Ngài Xá Lợi Phất nói: “Ta mới vừa
phát Bồ Đề tâm, nay gặp gỡ, ta đáng nên phát
đại tâm. Được! Ta bố thí một con mắt
vậy!”
Ngài
liền móc một con mắt trao cho cô bé. Cô bé nói: “Con mắt
này không đúng!” “V́ sao chẳng đúng?” “Con cần mắt
trái, mà Ngài móc ra mắt phải”. Ngài Xá Lợi Phất phiền
năo: “Sao con không nói sớm? Thôi được! Nếu ta
đă muốn phát đại tâm th́ cũng móc luôn con mắt
trái, cả hai con đều cho con”. Cô bé cầm lấy ngửi,
rồi chê: “Con mắt này tanh hôi quá! Làm sao có thể bỏ
vào thuốc cho được?” Quăng bẹt xuống
đất, lấy chân giẫm lên, vừa giẫm lên, liền
nghe tiếng vỡ đánh bụp một cái! Ngài Xá Lợi
Phất liền ngă ḷng, nói Bồ Tát đạo khó hành, gặp
phải kiểu chúng sanh như vậy, chẳng có cách nào,
thoái thất Bồ Đề tâm!
Thật
ra, A La Hán đều có thần thông. Có một vị A La Hán
dẫn theo một Sa Di đi trên đường. Chú Sa Di ấy
do thấy trên cánh đồng có con chim sẻ đang ăn
những con trùng dưới đất. Những con trùng ấy
do bị lưỡi cày lật đất lên [mà lộ ra],
chim sẻ liền mổ ăn. Chú bèn phát tâm: “Chúng sanh quá khổ!
Ta phải phát Bồ Đề tâm để lợi ích hết
thảy chúng sanh”. Khi ấy, chú đang quảy y bát của
thầy, trong túi đựng đầy ắp. Vị A La
Hán ấy kêu chú: “Con đứng lại!” Đồ đệ
đứng lại. “Tiểu Sa Di lại đây, đưa
đăy cho ta đeo”. Thầy đeo rồi, đồ đệ
cũng chẳng biết là chuyện ǵ, liền đi tiếp.
Chú Sa Di ấy lại nghĩ: “Độ chúng sanh bằng
cách nào đây? Bồ Tát đạo rất khó hành, dài dằng
dặc, xa xôi quá! Ḿnh vẫn
nên cầu được
liễu sanh tử, ḿnh liễu sanh tử trước rồi
mới lại nói!” Tâm chú vừa tác ư như
thế, thầy lại bỏ cái đăy xuống, hô: “Đứng
lại! Con vẫn đeo cái đăy này đi”. Lần đầu
tiên, lần thứ hai, chú đồ đệ vẫn không
cảm thấy ǵ, lại đi tiếp. Chú Sa Di ấy lại
nghĩ: “Không được rồi! Phải thành Phật,
phải phát đại tâm, phải rốt ráo th́ mới
được!” Chú chẳng phát tâm lui sụt xuống hàng
Nhị Thừa, không được! Vẫn phải nên phát
đại Bồ Đề tâm, chớ nên nao núng! Thầy lại
kêu: “Đứng lại! Đứng lại!” Chú đứng
lại, “giao đăy cho thầy đeo”. Chú tiểu Sa Di mới
biết là có chuyện rồi, mới hỏi: “Sư phụ!
Thầy có bị bệnh tâm thần hay không? Thầy
điên rồi! Một chốc con đeo, chốc lát lại
thầy đeo. Rốt cuộc là chuyện ǵ thế?” Thầy
bảo: “Con đă phát Bồ Đề tâm, là đại Bồ
Tát, ta chỉ là A La Hán. Cho nên thầy chẳng dám sai Bồ
Tát quảy đăy cho thầy, đưa cho thầy th́ hơn! Con vừa mới phát tâm, lại thoái tâm, lại
thoái chuyển, mong liễu sanh tử. Ta đă liễu sanh tử,
con vẫn chưa, con chỉ phát tâm mà thôi. Được rồi,
vẫn là để cho con đeo. Giao qua, giao lại là
như thế đó. V́ con vừa khởi tâm động niệm,
ta biết ngay”.
Bậc
A La Hán như thế rất khó có! V́ sao? Ngài có Tha Tâm Thông, chẳng
cần nhập Định. Có những vị A La Hán trong cuộc
sống thường nhật, Tha Tâm Thông, lục thông đều
trọn đủ như thế! Có vị A La Hán cần phải
tu Định th́ Lục Thông mới hiển hiện; có vị
chẳng cần mà vẫn có thể hiển hiện. Những
vị giống như vậy đều là bậc Đại
A La Hán, đều giống như trong một ngàn hai
trăm năm mươi vị Thường Tùy Chúng [của
đức Phật], mười vị đại đệ
tử[1]
đứng đầu
thường luôn ở trong Định.
V́
thế, khiến cho Đại Thừa thăng tấn, chẳng
bị thoái chuyển, rất khó! Mọi người hằng
ngày phát Bồ Đề tâm, nhưng hằng ngày chẳng
làm chuyện Bồ Đề, th́ cái tâm đă phát ấy giả
trất, phỏng theo người khác mà phát đó thôi! Khi
bái sám cũng phát, phát đại nguyện “độ tận
hết thảy chúng sanh”, cũng như “chịu khổ
thay cho chúng sanh”. Quư vị chẳng xâm chiếm lợi
ích của chúng sanh là được rồi, c̣n “chịu
khổ thay cho chúng sanh” th́ làm thế nào để thực
hiện? Chúng ta bất cứ lúc nào, kể cả mọi
người chúng ta đều chẳng có ngoại lệ,
đều luôn xâm chiếm lợi ích của chúng sanh! Chúng
ta có thể chịu khổ thay cho chúng sanh hay không? Chẳng
có! Quư vị làm chánh trị cũng thế, mà làm kinh tế
cũng thế, bất cứ quư vị làm ǵ, hăy ngẫm xem
tất cả lợi ích của quư vị do đâu mà có? Từ
chúng sanh! Đều là của chúng sanh, rất khó!
Tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni xuất gia, đáng lẽ phải tốt đẹp
lắm chứ! Tứ chúng đệ tử, Sa Di, Sa Di Ni, nếu
liễu đạo th́ tốt. Nếu chưa liễu đạo,
các thứ quư vị hưởng thụ đều là máu và
mồ hôi của người ta! Thậm chí, trong số
đó, cũng có những thứ do lừa gạt, cũng có thứ phi pháp! Quư vị tiêu
trừ các tai họa ấy bằng cách nào? V́ sao quy định
người xuất gia có hai đường công khóa sáng tối?
Nhằm để tiêu tai! Quư vị chẳng tu hành chi khác,
lên đại điện tụng niệm công khóa sáng tối
để trả nợ, có thể miễn trừ tai nạn!
V́ sao tứ chúng đệ tử đều có công khóa hằng
ngày? Bất luận quư vị tụng một quyển Phổ
Môn Phẩm, tụng phẩm Phổ Môn là để hồi
hướng cho người ta. Như thế th́ ăn, mặc, đi ở, quư vị sống trong căn nhà do người ta [phát tâm cúng dường, kiến tạo],
cái ăn của quư vị do người khác cúng dường.
Quư vị chẳng tự kiếm được một đồng
nào! Phải hiểu đạo lư này! Cần phải luôn
luôn phát Bồ Đề tâm! Nếu có thể thường
luôn phát Bồ Đề tâm, trí huệ của quư vị có
thể tăng trưởng. Phước đức thù thắng
như vậy sẽ thường có thể tăng trưởng.
Phước đức thù thắng và trí huệ nhạy bén
sanh từ chỗ nào? Phải cậy vào Tam Bảo. Tam Bảo
là chủng tử của hết thảy. Như thế nào
th́ mới có thể khiến cho trí huệ nhạy bén và
phước thù thắng của chính ḿnh thường
tăng trưởng, chẳng lui sụt? Đấy là một
vấn đề!
Kim
Cang Tạng Bồ Tát hỏi đức Phật: Làm thế nào
để giữ vững các điều ấy? “Vân hà
ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư
Nhẫn, chư Địa?” (làm thế nào để
đối với hết thảy các Định, các
Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa?) Đấy là nói theo Thập
Địa và Thập Nhẫn trong kinh Hoa Nghiêm, chúng tôi không
nói cặn kẽ, chỉ nêu đại lược đôi chút. Mau chóng đạt được tự
tại, chẳng bị thoái chuyển. Trong hết thảy
các Định, đều có thể tự tại: Muốn
nhập Định liền nhập Định, muốn xuất
Định bèn xuất Định. Từ địa vị
Định này tiến nhập Nhẫn vị.
Từ Nhẫn vị đến Sơ Địa, từ
Sơ Địa, Nhị Địa, cho đến Thập
Địa. “Vân hà thường đắc trị ngộ
chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành?” (Làm thế
nào để thường được gặp gỡ các
vị thiện tri thức, tùy thuận mà hành?): Như thế
nào th́ mới có thể vĩnh viễn chẳng ĺa thiện
tri thức, làm theo lời chỉ dạy của
thiện tri thức?
“Vân
hà thường đắc bất ly kiến nhất thiết
Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử?”
(Làm thế nào để thường chẳng rời thấy
hết thảy chư Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn
đệ tử?): Các vị
đệ tử Thanh Văn ấy đă thành đạo,
cho đến “bất ly văn pháp, bất ly thân cận
cúng dường chúng Tăng” (chẳng ĺa nghe pháp, chẳng
ĺa thân cận cúng dường các vị Tăng): Tăng ở
đây là phàm phu Tăng. Phàm phu Tăng cũng bao gồm các
hạng người như trong phần trước đức
Phật đă dạy, [đối với kẻ] khoác một
mảnh ca-sa, là Tăng sĩ giả mạo, chúng ta vẫn
coi họ như thánh Tăng.
“Vân
hà ư chư thiện căn thường tinh tấn?”
(làm thế nào để thường tinh tấn nơi các
thiện căn?): Cầu thiện
căn thường tinh tấn. Tinh tấn là chẳng giải
đăi, vun trồng thiện
căn của chúng ta. Làm thế nào th́ mới có thể vun trồng thiện
căn? Thiện căn càng tăng trưởng càng tốt,
càng nhiều càng tốt. Trong tâm, chẳng có chán
đủ, chẳng có chán phiền, chẳng có thỏa măn!
Cái chúng ta thiếu hụt chính là chẳng thể tinh tấn.
Bất luận bái sám, bất luận nghe kinh, bất luận
chính quư vị niệm kinh, đấy đều là các nghiệp
thù thắng; nhưng luôn t́m một cái cớ để bào
chữa! “Hôm nay tôi bận việc, tôi xin kiếu. Ngày mai sẽ
lại làm bù!” Bù bằng cách nào? Hễ đoạn liền
bị chặt đứt! Một ngày đoạn, hai ngày
đoạn, đoạn lâu ngày, kẻ đó sẽ chẳng
nghĩ thực hiện nữa!
Người
ta nói: “Học đạo như thuyền bơi ngược
nước, chẳng tiến, ắt lùi”. Cái thuyền
đó, khi chèo ngược gịng, chẳng tiếp tục tiến
lên, sẽ bị nước đẩy lùi ngược lại,
sẽ bị sóng đánh giạt lui xuống! Tại gia tu hành
đều là như vậy, “Thục sơn vô tận, cần
vi lộ” (núi Thục vô tận, phải siêng lên
đường)[2].
Biển khổ chẳng có bờ bến. Đời người
trong biển khổ to lớn, quư vị phải siêng khổ. Giống
như đi học. Đi học giống như trèo lên
núi, chẳng có đường! Quư vị chỉ cần mong
cầu tri thức, mong cầu đạo lư phong phú, đă phải
siêng ṛng; huống hồ tu pháp xuất thế ư? Trong tâm vĩnh viễn chẳng có lúc thỏa măn.
Đă đạt tới vô cầu, đă đạt tới
Bát Địa Bồ Tát, sẽ tùy tâm, cũng chẳng có
tinh tấn, mà cũng chẳng có giải đăi!
“Vân
hà thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh
nguyện, tâm vô yếm túc?” (Làm thế nào để
thường đối với các hạnh nguyện Bồ
Đề, tâm chẳng chán đủ?): Phát lên rất
nhiều hạnh nguyện Bồ Đề, nếu giống
như mười đại nguyện vương của
Phổ Hiền Bồ Tát, sẽ bao gồm
trọn vẹn. “Mười” tức là trùng trùng vô tận.
Mỗi vị Bồ Tát phát nguyện đều là trùng trùng
vô tận. Đấy là nói các vị đại Bồ Tát,
vĩnh viễn luôn phát nguyện, vĩnh viễn vô tận,
tâm chẳng chán đủ, mà cũng vĩnh viễn chẳng
có lúc phiền chán, cho là đủ rồi! Kim Cang Tạng Bồ
Tát thưa hỏi đức Phật như vậy, “làm như thế nào th́ mới có thể đạt tới
những điều con đă thưa hỏi trên đây?” Khi Bồ Tát Ma Ha Tát lợi ích chúng sanh, làm như thế
nào th́ mới có thể miễn trừ những lầm lỗi
ấy? Đức Phật bèn trả lời Ngài.
(Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Kim Cang Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát ngôn: - Thiện nam tử! Hữu Bồ Tát
Ma Ha Tát thập luân. Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành thử
thập luân, ư Thanh Văn Thừa, đắc vô ngộ
thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La,
đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa,
đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ
Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ
Đại Thừa, đắc vô ngộ thất, ư kỳ
Đại Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ
thất, thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng
tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử,
nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ
chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả,
đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp,
thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển.
Lợi huệ, thắng phước, thường đắc
tăng trưởng. Ư nhất thiết Định,
chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc
đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường
đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận
nhi hành. Thường đắc bất ly kiến nhất
thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ
tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường
chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề
chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Thường
ư nhất thiết tiên sở tạo tác ác bất thiện
nghiệp, dĩ thánh kim cang, kiên lợi pháp trí, tồi hoại,
tán diệt, linh vô dư di, bất thọ quả báo. Cánh bất
tạo tân ác bất thiện nghiệp, tâm vô yếm quyện, tốc năng chứng
đắc vô thượng pháp luân. Thường cần tu tập
Thất Giác Phần bảo, tâm vô yếm quyện, thường
năng trừ diệt nhất thiết chúng sanh chư phiền
năo bệnh, tâm vô yếm quyện, nhất thiết chúng sanh
y chỉ tồn hoạt.
(經)爾時,世尊告金剛藏菩薩摩訶薩言:善男子,有菩薩摩訶薩十輪,若菩薩摩訶薩成此十輪,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種姓;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足;常於一切先所造作惡不善業,以聖金剛堅利法智,摧壞散滅,令無遺餘,不受果報,更不造新惡不善業,心無厭倦,速能證得無上法輪;常勤修習七覺分寶,心無厭倦;常能除滅一切眾生諸煩惱病,心無厭倦;一切眾生,依止存活。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Kim Cang Tạng
Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: - Này thiện nam tử! Có thập
luân của Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu
mười luân ấy, sẽ chẳng sai lầm đối
với Thanh Văn Thừa, sẽ chẳng sai lầm đối
với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, sẽ chẳng
sai lầm đối với Độc Giác Thừa, sẽ
chẳng sai lầm đối với Độc Giác Thừa
Bổ Đặc Già La, sẽ chẳng sai lầm đối
với Đại Thừa, sẽ chẳng sai lầm đối
với Đại Thừa Bổ Đặc Già La, thường
có thể khiến cho chủng tánh Tam Bảo hưng thịnh.
Đối với các đệ tử xuất gia của
các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là
pháp khí, thậm chí đối với hết thảy những
kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều
chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại
Thừa, thường được thăng tấn, chẳng
bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén, phước thù
thắng, thường được tăng trưởng.
Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn,
các Địa, mau được tự tại, chẳng bị
thoái chuyển. Thường được gặp gỡ
các vị thiện tri thức, để tùy thuận làm
theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết
thảy Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử,
chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận cúng dường
chúng Tăng. Trong các thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối
với các hạnh nguyện Bồ Đề tâm chẳng
chán đủ. Thường đối với hết thảy
các nghiệp ác bất thiện đă tạo tác trước
kia, dùng pháp trí thánh kim cang cứng chắc, nhạy bén để
phá tan diệt mất, khiến cho chẳng c̣n thừa sót,
chẳng thọ quả báo. Lại c̣n chẳng tạo nghiệp
ác bất thiện mới, tâm chẳng chán mệt, mau có thể
chứng đắc vô thượng pháp luân, thường
siêng tu tập báu Thất Giác Phần, tâm chẳng chán mệt.
Thường có thể trừ diệt hết thảy các bệnh
phiền năo cho chúng sanh, tâm chẳng chán mệt. Hết thảy
chúng sanh nương cậy để sống sót).
Ông
đă hỏi các vấn đề ấy, nếu muốn chẳng
sai lầm, hăy học theo mười luân này. [Do học luân
này, đối với] tam thừa hữu t́nh, đều có thể
chẳng phạm sai lầm, chủng tánh Tam Bảo sẽ
vĩnh viễn hừng hực. Đồng thời, “ư
chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược
thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa,
thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất” (đối với
các đệ tử xuất gia của các đức Như
Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, thậm chí
đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh
ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng sai lầm),
để dạy bảo họ chẳng phạm sai lầm
th́ phải nương theo thập luân này. Các phần kinh
văn trước đó vẫn chưa nói tới thập
luân, đợi đến khi đă nói xong công đức của
thập luân ấy th́ mới nói thập luân. “Ư nhất
thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn,
chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu
thoái chuyển” (trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni,
các Nhẫn, các Địa, nhanh chóng được tự tại,
chẳng bị thoái chuyển), chẳng phải là ông đă
hỏi như thế hay sao? Đức Phật bèn nhắc
lại nguyên văn [lời hỏi] lần nữa, dùng thập
luân để giải quyết những vấn đề Bồ
Tát đă hỏi, có ư nghĩa như vậy đấy!
Cũng
có thể “thường đắc trị ngộ chư
thiện tri thức, tùy thuận nhi hành, thường đắc
bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ
Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất
ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện
căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc.
Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh
nguyện, tâm vô yếm túc” (thường được
gặp gỡ các vị thiện tri thức, tùy thuận
hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết
thảy chư Phật, và các vị Bồ Tát, Thanh Văn
đệ tử. Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận,
cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện
căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán
đủ. Thường đối với các hạnh nguyện
Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ): Hạnh và nguyện
chẳng chán đủ. Hạnh và nguyện hai thứ vốn
kết hợp lại, hạnh tức là nguyện, nguyện
tức là hạnh, nhưng nói theo phía chúng ta th́ chúng bị
tách rời. Có khi chúng ta phát nguyện suông, nguyện toàn là rỗng
tuếch, chẳng có hạnh phối hợp với nguyện.
Có khi chúng ta có hạnh, lại chẳng có nguyện, chẳng
biết phát nguyện, nguyện của người ấy
hết sức nhỏ bé, chẳng tương hợp với
pháp!
Mỗi
lần đến mùng Một, Rằm, người thắp
hương rất nhiều, hoặc người bái sám
cũng rất nhiều, họ liền thực hiện. Tuy
làm, nhưng chẳng biết phát nguyện, chẳng biết
vận dụng quán tưởng. Kẻ đó thắp một
nén hương là một nén hương, dâng một
đĩa hoa là một đĩa hoa, chẳng biết dùng
nguyện lực để tăng nhiều hơn, cũng
chẳng biết hoa là nhân. Khi chúng ta cúng hoa, nguyện ta
đắc quả, hoa là Bồ Đề nhân, ta nguyện
đắc Bồ Đề quả. Người ấy chẳng
tưởng như thế, chẳng có tâm lượng
như vậy, căn bản là chẳng biết!
Mọi
người học Phật pháp đă rất lâu, đă biết.
Hăy nhớ lại xem, khi quư vị cúng Phật, có phải là
mỗi niệm đều vận dụng Bồ Đề
tâm, vận dụng Phổ Hiền cúng (sự cúng dường
của Phổ Hiền Bồ Tát) hay không? Có các đạo hữu,
chúng ta cũng là cùng nhau dâng cúng, tức là cúng trọn khắp.
Cúng dường mười phương hết thảy
chư Phật, cúng dường mười phương hết
thảy tôn pháp, cúng dường hết thảy thánh hiền
Tăng. Bất luận trong nước hay ngoài nước,
Tây Tạng, Ấn Độ đều tính gộp vào
đó, cho đến hiền thánh đại chúng trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới Liên Tŕ Hải Hội
đều được bao gồm trong ấy, có từng
nghĩ tâm lượng của quư vị lớn cỡ nào
hay không? Quư vị tưởng lớn cỡ nào, công đức
sẽ to cỡ đó. Nguyện và hạnh giống như
hai cái chân của mỗi người, một chân ngắn
hơn, hay thiếu chân đều không được, sẽ
chẳng thể đạt được hiệu quả to lớn.
Đấy đều là nhắc lại những lời
thưa hỏi của Kim Cang Tạng Bồ Tát.
Đức
Phật dạy: Nếu nương theo thập luân của
Bồ Tát Ma Ha Tát th́ những ǵ ông đă hỏi sẽ đều
đạt được. Trong các điều [được
nêu ra] tiếp đó, [có những điều] chẳng thuộc
trong lời hỏi của Ngài. Như “cầu các thứ
hạnh nguyện, tâm chẳng chán đủ” th́ vẫn
là lời hỏi của Kim Cang Tạng Bồ Tát. Đức
Phật nhắc lại, có thể thỏa măn [ước
nguyện ấy], nhưng điều sau đó chẳng phải:
“Thường ư nhất thiết tiên sở tạo tác
ác bất thiện nghiệp” (thường đối với
hết thảy các nghiệp ác bất thiện đă tạo
tác trước kia): Nghiệp ác bất thiện, tức
nghiệp bất thiện đă tạo trong quá khứ. Điều ác đă tạo như thế
đó. Đối với điều ác ấy, sám hối
như thế nào? Diệt trừ như thế nào? “Dĩ
thánh kim cang kiên lợi pháp trí” (Dùng pháp trí thánh kim cang cứng
chắc, nhạy bén), tức là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật,
chúng ta thường nói là kinh Kim Cang. Trí huệ Kim Cang Bát Nhă
Ba La Mật chính là trí Bát
Nhă. Trí huệ Bát Nhă kiên cố như kim
cang, chẳng bị hết thảy phá hoại. Sắc bén
như kim cang, chẳng bị hết thảy các thứ khác bẻ găy. Trí huệ từ pháp Bát Nhă có thể
phá hủy toàn bộ các nghiệp ác bất thiện đă tạo
ấy, “linh vô di dư” (khiến cho chẳng c̣n sót thừa). Không chỉ
phá hủy, mà c̣n chẳng có tí nào sót lại! Phá hủy sạch
sành sanh, phá hủy sạch sẽ chẳng c̣n sót, chẳng
thừa sót tí nào, chẳng thọ quả báo!
Đối với nghiệp đă tạo trong vô lượng
kiếp quá khứ, quư vị nương vào thập luân này,
ngay lập tức, các nghiệp kiên cố ấy đều
bị phá hủy. Dùng ǵ vậy? Dùng trí Bát Nhă, trí huệ Bát
Nhă kiên cố, lại c̣n “chẳng thọ quả báo”.
“Cánh bất tạo tân ác bất thiện nghiệp” (lại
chẳng tạo thêm nghiệp ác bất thiện mới):
Nghiệp cũ đă sám hối xong, chẳng tạo nghiệp
mới nữa! V́ sao? Nương theo mười luân của
Bồ Tát Ma Ha Tát, nương theo mười luân ấy, sẽ
chẳng tạo, có thể mau chóng “chứng đắc vô
thượng pháp luân”. Nương theo thập luân ấy,
sẽ rất nhanh chóng chứng thành quả Phật, có thể
chuyển đại pháp luân, thường siêng năng tu tập
pháp Thất Giác Chi, tức “Thất Giác Chi Phần bảo”,
tâm chẳng chán mệt! “Thường năng trừ diệt nhất thiết
chúng sanh chư phiền năo bệnh, tâm vô yếm quyện” (thường
có thể diệt trừ các bệnh phiền năo của hết
thảy chúng sanh, tâm chẳng chán mệt). Bệnh phiền
năo của chúng ta quá nhiều, tám vạn bốn ngàn phiền
năo. Đức Phật đă nói tám vạn bốn ngàn pháp
môn để đối trị, có tổng phiền năo và
căn bản phiền năo. Tổng phiền năo là vô minh. “Nhất
thiết chúng sanh y chỉ tồn hoạt” (hết thảy
chúng sanh nương cậy vào đó để sống sót),
tức là do thập luân của Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu hết thảy chúng sanh muốn thành tựu Pháp
Thân huệ mạng, nương theo Pháp Thân huệ mạng ấy,
Pháp Thân vĩnh viễn thường tồn tại, [th́ phải
nương vào thập luân ấy], có hàm nghĩa như thế
đó. Đoạn này nhằm nói Bồ Tát Ma Ha Tát trọn
đủ thập luân, nương theo mười luân ấy
để giữ toàn vẹn Pháp Thân huệ mạng,
nhưng vẫn chưa giảng thập luân là ǵ. Nói thật
ra, ai nấy đều biết thập luân cả rồi,
nó cũng chính là Thập Thiện Nghiệp.
(Kinh)
Thiện nam tử! Như Chuyển Luân Vương cụ
túc thất bảo. Phàm sở hành động, luân bảo
đạo tiền, dư bảo tùy hậu, tuần tứ
đại châu, phổ năng trừ diệt nhất thiết
chúng sanh thân tâm trược uế, phổ năng sanh
trưởng nhất thiết chúng sanh thân tâm an lạc. Bồ
Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập
luân, ư Thanh Văn Thừa đắc vô ngộ thất,
quảng thuyết năi chí nhất thiết chúng sanh y chỉ
tồn hoạt. Thiện nam tử! Như đại xa lộ,
cụ túc tứ luân, đa nhân thừa chi, du hành đại
lộ. Ư kỳ lộ thượng, thổ khối,
ngơa, lịch, thảo mộc căn, hành, chi, diệp, hoa, quả
vị luân sở triển, giai tất tồi hoại, bất
nhậm thọ dụng. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục
như thị, thành tựu thập luân, tất năng tồi
hoại chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh
chướng, nhất thiết pháp chướng, linh bất
thọ báo.
(經)善男子,如轉輪王具足七寶,凡所行動,輪寶導前,餘寶隨後,巡四大洲,普能除滅一切眾生身心濁穢,普能生長一切眾生身心安樂;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,於聲聞乘得無誤失,廣說乃至一切眾生,依止存活。善男子,如大車輅具足四輪,多人乘之遊行大路,於其路上土塊、瓦礫、草木、根、莖、枝、葉、華、果為輪所輾,皆悉摧壞,不任受用;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,悉能摧壞諸煩惱障、諸有情障、一切法障,令不受報。
(Kinh:
Này thiện nam tử! Như Chuyển Luân Vương trọn
đủ bảy báu, phàm khi di chuyển, luân bảo dẫn
đường đằng trước, các báu khác theo sau,
tuần du khắp bốn đại châu, có thể trừ
diệt trọn khắp trược uế nơi thân tâm của
hết thảy chúng sanh. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống
như thế, thành tựu mười luân, đối với
Thanh Văn Thừa chẳng phạm sai lầm, nói rộng
là cho đến hết thảy chúng sanh dựa vào đó mà
sống sót. Này thiện nam tử! Như cỗ xe lớn trọn
đủ bốn bánh, nhiều người ngồi trên
đó, rong ruổi trên đường lớn. Các ḥn đất,
ngói, sỏi, rễ, thân, cành, lá, hoa, quả của thảo
mộc trên đường bị bánh xe nghiền qua, thảy
đều tan nát, chẳng thể c̣n có tác dụng nữa. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống
như thế, thành tựu mười luân, thảy đều
có thể phá tan các phiền năo, các hữu t́nh chướng,
hết thảy pháp chướng khiến chẳng thọ
báo).
Tượng
bảo, mă bảo, mỹ nữ bảo, châu bảo, trân châu
bảo đều được luân bảo dẫn
đường. Trong các Chuyển Luân Thánh Vương, Thiết
Luân Vương hễ xuất hành th́ thiết luân tự
nhiên hiện tiền, do phước báo cảm vời. Có
Đồng Luân Vương cai quản hai châu, đồng
luân hiện tiền. [Ngân Luân Vương] cai quản ba châu
th́ ngân luân hiện tiền. [Kim Luân Vương] cai quản
tứ đại bộ châu th́ kim luân hiện tiền. Hễ
ông ta xuất hành, bèn có kim luân hiện tiền. Ở
đây, [chánh kinh] nói về kim luân bảo. “Tuần tứ
đại châu” tức là Nam Thiệm
Bộ Châu (Jambu-dvīpa), Bắc Câu Lô
Châu (Uttara-kuru), Tây Ngưu
Hạ Châu (Apara-godānīya), và Đông
Thắng Thần Châu (Pūrva-videha), cả bốn đại
châu đều có thể tuần tra, đều có thể diệt
trừ hết thảy trược uế nơi thân tâm của
chúng sanh, và có thể sanh trưởng sự an lạc
nơi thân tâm cho trọn khắp hết thảy chúng sanh trong
bốn đại châu. Chuyển Luân Thánh Vương có công
đức ấy. Ông ta đến bốn đại châu,
thuyết pháp cho bốn đại bộ châu, dùng mạng lệnh
của quốc vương để chế định
chánh sách nơi bốn bộ châu, khiến cho chúng sanh ấy đều được an lạc.
“Bồ
Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị” (Bồ Tát Ma Ha
Tát cũng giống như thế): Đấy là nói tỷ dụ.
Trước nêu tỷ dụ, sau đó thuyết pháp,
cũng là pháp và dụ (喻, thí dụ) ḥa hợp. Ta nói Bồ Tát Ma Ha Tát, “thành tựu
thập luân” giống như Chuyển Luân Thánh
Vương. Khi Bồ Tát hành Bồ Tát đạo, thập
luân hiện tiền. Vận dụng thập luân, sẽ chẳng
phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa,
nói rộng là đúng như Kim Cang Tạng Bồ Tát đă
nói. “Quảng thuyết năi chí nhất thiết chúng sanh y
chỉ tồn hoạt” (nói rộng th́ cho đến hết
thảy chúng sanh đều dựa vào đó để sống
sót), tức là nói rộng ra th́ như trong kinh văn phần
trước đă vừa nhắc lại, chẳng lặp
lại nữa!
“Thiện
nam tử, như đại xa lộ” (ví như cỗ xe
ngựa lớn): “Đại xa lộ” (大車輅) là cỗ xe lớn. “Cụ túc tứ
luân” (trọn đủ bốn bánh), xe hiện thời
đều có bốn bánh. “Đa nhân thừa chi, du hành
đại lộ” (nhiều người ngồi trên
đó rong ruổi trên đường lớn): Lái xe trên
đường, ḥn đất, ngói, sỏi, thảo mộc,
cành, lá, hoa, quả “vị luân sở triển” (bị
bánh xe nghiền qua), sẽ đều bị nghiền nát. “Giai
tất tồi hoại” (thảy đều tan nát), tức
là Bồ Tát thành tựu mười luân này, bất luận
cái bánh xe nào cũng đều có công năng này: Phá tan tất
cả chướng ngại trên đường. Dẫu phiền
năo ngăn chướng, chẳng bị phiền năo xoay chuyển,
thọ dụng và tác dụng của phiền năo đều
chẳng c̣n nữa, đều bị tiêu mất. Bồ Tát
Ma Ha Tát là như vậy đó, có thể “thành tựu thập luân, tất năng
tồi hoại chư phiền năo chướng, chư hữu
t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, linh bất
thọ báo” (thành tựu thập luân, thảy đều
có thể phá tan các phiền năo chướng, các hữu t́nh
chướng, hết thảy pháp chướng, khiến chẳng
thọ báo): Lật ngược nhân quả, hết
thảy các pháp chướng, và các chướng ngại
đều chẳng chấp trước, chẳng có Không
nghĩa, khiến cho chẳng thọ báo, tức là
người ấy đă tự chứng đắc tánh
Không, chẳng thọ báo. Nhưng mọi người
hăy nên thường xuyên quán tưởng mười luân ấy,
nói “định nghiệp chẳng thể chuyển” là
nói về luật nhân quả. Quư vị đă tạo cái nhân
nào, nhất định phải thọ báo ấy.
Nếu
bị chuyển, sẽ chẳng có nhân quả, luật nhân
quả chẳng tồn tại. V́ vậy, định nghiệp
chẳng thể chuyển, sức tam-muội gia tŕ chính là
định lực gia tŕ. Định lực gia tŕ môn Định
nào vậy? Môn Định ấy chính là “hết thảy
các pháp đều Không”. Chẳng có định nghiệp,
nhân quả vốn cũng chẳng có. Nói như vậy th́ rất
dễ rơi vào Đoạn Diệt, rất nhiều
người tạo nghiệp. Đó gọi là “hữu ngộ
thất” (有誤失,có sai lầm).
Quư vị có thể nói như vậy với Đại Thừa
Bồ Tát, chứ đối với Thanh Văn, đối
với kẻ khoác một mảnh ca-sa, đối với
các pháp khí chẳng thuộc loại pháp khí Đại Thừa,
[nhất là đối với] kẻ chẳng phải là
pháp khí, càng chẳng thể nói như vậy được!
Nếu nói với như vậy với họ, sẽ là sai
lầm. Nếu muốn chẳng sai lầm, th́ phải nói “các
pháp do nhân duyên sanh, ta nói chính là Không, cũng là giả danh,
cũng là nghĩa lư Trung Đạo”. Đấy là một
loại cảnh giới khác được nói trong một
loại kinh điển khác. C̣n ở đây là nói gồm chung các pháp tam
thừa, nói chung về tam thừa.
V́
thế, nói hết thảy các phiền năo chướng
đă chẳng có, pháp chướng đă chẳng có, phiền
năo chướng đă chẳng có, Kiến Tư phiền
năo chướng đă chẳng có. Pháp chướng đă chẳng
có, Pháp Chấp và Ngă Chấp đă chẳng có. Pháp Chấp
là nói hàng Nhị Thừa có Pháp Chấp. A La Hán đều có
Pháp Chấp. Họ nói: “Ngă chẳng có, Ngă đă Không, phiền
năo không, nhưng pháp chẳng không”. Họ cho rằng pháp
do đức Phật đă nói chẳng không. Đó gọi
là Pháp Chướng, tức là đă bị pháp hạn cuộc,
c̣n ở đây là hết thảy các chướng ngại
đă hoàn toàn tiêu mất. V́ sao chẳng thọ báo? Do các pháp
duyên khởi tánh Không; cho nên chẳng bị chướng, mà
cũng chẳng thọ báo.
(Kinh)
Thiện nam tử! Như lợi kiếm luân, tài nhất
đầu xế, năng trảm oán địch thủ cập
chi tiết, linh vô thế dụng. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc
phục như thị, thành tựu thập luân, năng phá
nhất thiết ngũ thú lao ngục sanh tử đại
khổ, vĩnh đoạn nhất thiết phiền năo ác
nghiệp, linh bất thọ báo. Thiện nam tử! Như
hỏa tai khởi, ngũ nhật xuất thời, biến
tứ đại châu, nhất thiết hà, hải, thủy
giới, tân nhuận, vô bất khô kiệt. Bồ Tát Ma Ha
Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân,
nhất thiết tứ nhân, chư phiền năo chướng,
chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng,
khổ báo căn bản, tất giai khô kiệt. Thiện
nam tử! Như phong tai khởi, tứ phương mănh
phong, câu thời đốn phát, nhất thiết thế giới
đại, tiểu chư sơn, cập chư đại
địa, tất giai tán diệt. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc
phục như thị, thành tựu thập luân, thế gian
tứ đảo, kiêu mạn chư sơn, vô bất
băng hoại. Nhất thiết chúng sanh chư phiền năo
chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết
pháp chướng, khổ báo căn bản, tất giai tán diệt.
(經)善男子,如利劍輪才一投掣,能斬怨敵首及支節,令無勢用;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,能破一切五趣牢獄、生死大苦,永斷一切煩惱惡業,令不受報。善男子,如火災起,五日出時,遍四大洲一切河、海、水界、津潤,無不枯竭;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,一切四因諸煩惱障、諸有情障、一切法障、苦報根本,悉皆枯竭。善男子,如風災起,四方猛風俱時頓發,一切世界大小諸山及諸大地,悉皆散滅;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,世間四倒憍慢諸山,無不崩壞,一切眾生諸煩惱障、諸有情障、一切法障、苦報根本,悉皆散滅。
(Kinh: Này thiện
nam tử! Như vầng gươm sắc vừa mới
rút ra, có thể chém phăng đầu và tứ chi của
oán địch, khiến họ trở thành vô dụng. Bồ
Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu mười
luân, có thể phá hết thảy nỗi khổ sanh tử
to lớn trong lao ngục năm đường, vĩnh viễn
đoạn dứt hết thảy các ác nghiệp phiền
năo, khiến chẳng thọ báo. Này thiện nam tử!
Như lúc hỏa tai dấy lên, năm mặt trời mọc,
trọn khắp bốn đại châu, hết thảy sông,
biển, các chỗ có nước, những nơi ẩm
ướt, không đâu chẳng bị khô cạn. Bồ Tát
Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu mười
luân, hết thảy bốn nhân, các phiền năo chướng,
các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng,
căn bản khổ báo, thảy đều khô cạn. Này
thiện nam tử! Như lúc phong tai dấy lên, gió mạnh
từ bốn phương cùng lúc dấy lên, trong hết thảy
các thế giới, các núi lớn, nhỏ, và các đại
địa, thảy đều tan diệt. Bồ Tát Ma Ha
Tát cũng giống như thế, thành tựu thập luân,
các núi bốn điên đảo, kiêu căng, ngạo mạn,
không ǵ chẳng nứt sụp. Các phiền năo chướng,
các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng,
khổ báo căn bản của hết thảy chúng sanh, thảy
đều tan diệt).
Đức
Phật lại nêu thí dụ. “Như lợi kiếm luân” [nghĩa
là] luân ấy giống như gươm báu sắc bén nhất.
Gươm báu “tài nhất đầu xế” (vừa mới rút ra), hết sức mau chóng, vừa mới vung lên,
đă chặt đứt phăng đầu và tứ chi của
oán địch, khiến họ vô dụng. Đó là ư
nghĩa của câu “linh vô thế dụng”. Có các đề
tài trong tiểu thuyết đă căn cứ theo [các thí dụ]
trong kinh Phật để viết. Tôi có đọc một
quyển tiểu thuyết, người đó t́m một vị
sư phụ thường thất bại. V́ ông ta vĩnh
viễn thất bại, cho nên gọi là Thiên Bại (千敗, ngàn lần thất
bại). Ông ta tôn vị ấy làm thầy, học ǵ từ
sư phụ? Chẳng có ǵ kỳ lạ, đặc
biệt, tức là [học sao cho] hễ rút gươm báu sẽ thật nhanh, vung
gươm cái roẹt, một phát là xong! Tôi nghĩ công phu ấy
chính là như các ḥa thượng chúng tôi gọi là “tác ư”.
Tâm đến đâu, pháp tới đó. Tâm đến
đâu, kiếm tới đó, vung gươm lấy đầu
đối thủ, có ư nghĩa như thế đó. Ông ta
rút gươm nhanh đến nỗi địch nhân chẳng
có cách nào thấy ông ta ra tay, cũng chẳng thấy ông ta
rút kiếm! Nói về chiêu thức th́ ông ta chẳng có chiêu
thức, một chiêu như vậy thôi! Chiêu ǵ vậy? Vung
gươm, sọ quư vị rơi phập xuống, quư vị
c̣n chờ tôi xem quư vị ra chiêu chi nữa?
Ta khéo đỡ một chiêu, chẳng có chuyện ấy, chỉ
là một nhát kiếm, quư vị chẳng đỡ nổi!
Hiểu được đạo lư này, sẽ biết
ngay!
Cái
được sử dụng ở đây là huệ kiếm,
tức cái tâm trí huệ của quư vị, đến nơi
ấy, hắc ám bị phá nát. Chẳng có trí huệ, nếu
muốn làm chuyện phương tiện, sẽ càng bị
ràng buộc chặt hơn. Do vậy, người
có trí huệ sẽ càng thuận tiện, càng giải thoát. V́ thế, “hữu huệ,
phương tiện giải; vô huệ, phương tiện
phược” (Có huệ th́ phương tiện là giải thoát. Không có trí huệ, sẽ bị phương tiện
trói buộc). Chẳng có trí huệ, quư vị đừng tạo
phương tiện loạn xạ. Làm lung tung tức là
đầu óc có vấn đề! Người có trí huệ,
tùy tiện như thế nào, cũng đều có thể vận
dụng! Quư vị luyện Bát Quái Kiếm, hay Thái Cực Kiếm
chi chi nữa, tùy tiện quư vị luyện loại kiếm
nào, người ta rút kiếm, một phát chém phăng sọ
quư vị, chẳng chờ quư vị thi triển! Quư vị
thi triển bằng cách nào? Căn bản là chẳng có
đường nào khác để thi triển! Có ư nghĩa
như thế đó.
Bồ
Tát Ma Ha Tát “thành tựu thập luân”, sức mạnh ấy
lớn đến nỗi có thể phá tan nỗi khổ
sanh tử to lớn trong lao ngục năm đường,
sanh tử liền bị đoạn diệt. “Vĩnh
đoạn nhất thiết phiền năo ác nghiệp”
(vĩnh viễn đoạn dứt hết thảy ác nghiệp
phiền năo). Các nghiệp phiền năo ấy Bồ Tát Ma Ha
Tát đều đoạn trừ, khiến cho chẳng thể thọ báo. Nghiệp là báo, “nghiệp báo” là quả báo của
nghiệp, đoạn nghiệp th́ đều chẳng c̣n nữa,
báo cũng chẳng có! Khi hỏa tai phát sanh trong thế giới
này, khi cảm vời nghiệp báo, một vầng thái
dương xuất hiện, hai vầng thái dương xuất
hiện, ba vầng thái dương xuất hiện, bốn
vầng thái dương xuất hiện, năm vầng thái
dương xuất hiện. Một vầng thái
dương xuất hiện, chúng ta cảm thấy là mùa Hè.
Ngay lúc mặt trời chiếu giữa Ngọ, quư vị
đều chịu không nổi. Nếu là năm mặt trời,
tăng gấp năm lần! Nhiệt độ [mùa
Hè thông thường là] ba mươi chín độ, ba lần
năm là mười lăm, ba lần chín là hai mươi bảy,
tức là [năm nhân ba mươi chín] sẽ là một
trăm bảy mươi bảy độ. Một trăm
bảy mươi bảy độ chiếu xuống, quư vị
bốc hơi, có thể tồn tại nổi ư? Do vậy,
sông, biển, những nơi có nước, những chỗ
ẩm ướt đều khô cạn.
“Bồ
Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập
luân” (Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế,
thành tựu mười luân), tiêu trừ bốn cái nhân và các
phiền năo chướng của hết thảy chúng sanh. Bốn
căn bản phiền năo là bốn cái nhân. Bốn căn bản
phiền năo là ngă si, ngă kiến, ngă mạn, và ngă ái. Đó là
cơ bản. Nhưng nói sâu hơn chút nữa, sẽ là Kiến
phiền năo, Tư phiền năo, Trần Sa phiền năo, và Vô
Minh phiền năo. Các thứ phiền năo ấy làm nhân, cảm
vời quả báo, cũng rất nhiều. Hết thảy
các phiền năo, ác nghiệp đều tiêu mất, cạn
hay sâu, cho đến vi tế, cho đến chủng tử,
chủng tử phiền năo dùng vô minh làm căn bản. V́ chứng
đắc Không tánh, đă lư giải, nói pháp chướng,
nghiệp chướng, khổ chướng của hết
thảy hữu t́nh, thọ khổ là khổ báo, quả báo
và cái nhân cũng đă tiêu mất. Đó là quả!
“Tất
giai khô kiệt” (thảy đều khô cạn), giống
như năm vầng thái dương xuất hiện.
Năm vầng thái dương nhằm h́nh dung trí huệ của
quư vị đă dẹp tan, cạn khô phiền năo chướng,
đợi cho đến khi Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thập
luân, sẽ cạn khô toàn bộ biển cả phiền năo,
biển khổ sanh tử. Các núi bốn điên đảo,
kiêu căng, ngạo mạn trong thế gian đều bị
sụp vỡ. Đảo
kiến (倒見, tri kiến
điên đảo) có thể nói chính là “ngă si, ngă mạn,
ngă ái, ngă kiến”. [Bảo là] điên đảo,
v́ chẳng phải
là ngă mà chấp là ngă. Đấy là điên đảo kiến!
Si là vô minh, chuyển biến vô minh thành trí huệ, chuyển tà tri tà kiến
thành chánh kiến, chuyển thành trí huệ, chuyển ngă mạn
thành nhẫn nhục, chuyển ngă ái thành từ bi. Đại
từ đại bi chuyển thành trí huệ ái. “Nhất
thiết chúng sanh chư phiền năo chướng, chư hữu
t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, khổ
báo căn bản, tất giai tán diệt” (Các phiền năo
chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy
pháp chướng, căn bản khổ báo của hết thảy
chúng sanh thảy đều tan diệt), đều diệt
trừ sạch.
(Kinh)
Thiện nam tử! Như sư tử vương, hống
thanh nhất phát, nhất thiết cầm thú tất giai kinh
bố, phi lạc, tẩu phục, vô cảm triếp động.
Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu
thập luân, pháp âm nhất chấn, năi chí nhất thiết
ngoại đạo, dị học, ác tri thức
đẳng, tất giai kinh bố, vong thất ngôn biện,
vô cảm thù kháng.
(經)善男子,如師子王吼聲一發,一切禽獸悉皆驚怖,飛落走伏,無敢輒動;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,法音一震,乃至一切外道異學、惡知識等,悉皆驚怖,忘失言辯,無敢酬抗。
(Kinh:
Này thiện nam tử! Như sư tử chúa vừa rống
một tiếng, hết thảy cầm thú thảy đều
kinh sợ, đang bay bị rơi xuống, chạy núp, chẳng
dám tùy tiện động đậy. Bồ Tát Ma Ha Tát
cũng giống như thế, thành tựu mười luân, pháp âm vừa
vang rền, cho đến hết
thảy ngoại đạo, dị học, ác tri thức v.v… thảy đều kinh sợ, quên sạch nói
năng, biện bác, chẳng dám chống đối).
“Như
sư tử vương hống thanh nhất phát”
(như sư tử chúa rống một tiếng), “nhất
thiết cầm thú tất giai kinh bố, phi lạc tẩu
phục, vô cảm triếp động” (hết thảy cầm thú thảy đều kinh sợ,
đang bay bị rơi xuống, chạy t́m chỗ ẩn
núp, chẳng dám động đậy), “phi lạc” (飛落, đang bay bị
rơi xuống) là nói đến loài chim bay. Sư tử rống
khiến chúng nó chấn động, đều
bay trốn đi. “Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như
thị, thành tựu thập luân, pháp âm nhất chấn, năi chí
nhất thiết ngoại đạo, dị học, ác tri
thức đẳng tất giai kinh bố, vong thất ngôn biện”
(Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành
tựu thập luân, pháp âm vừa vang rền, cho đến
hết thảy ngoại đạo, dị học, ác tri thức v.v… thảy
đều kinh sợ, quên mất nói năng, biện luận):
Lúc họ tính biện luận với quư vị, [quư vị]
dùng chánh pháp âm nói ra, họ muốn mở miệng mà chẳng thể mở được. Tà tri, tà kiến đều bị
phá hủy. Đó là hàm nghĩa của câu “vô cảm thù
kháng” (chẳng dám đối kháng), “thù” (酬) là chống đối,
“kháng” (抗) nghĩa là kháng
biện (抗辯), đối
kháng, tức là tranh luận, biện hộ với quư vị.
(Kinh)
Thiện nam tử! Như Thiên Đế
Thích dữ A Tố Lạc tương dục chiến thời,
thiên quân vi nhiễu, thủ chấp kim cang, bôn thú trận
địch, chư A Tố Lạc kinh bố, thoái tán. Bồ
Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập
luân, nhất thiết đảo kiến ngoại đạo,
dị học, ác tri thức
đẳng, kinh bố thoái tán. Thiện nam tử! Như
Như Ư châu, trí cao tràng thượng, năng vũ chủng
chủng thượng diệu trân bảo, cấp thí nhất
thiết bần phạp chúng sanh. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc
phục như thị, thành tựu thập luân, xử tịnh
giới tràng, vũ đại pháp vũ, cấp thí nhất
thiết vô lượng chúng sanh. Thiện nam tử! Như
ám dạ phần, thế gian u minh, đô vô sở kiến,
mê thất chánh đạo. Măn nguyệt xuất dĩ,
chư ám giai trừ, chư thất đạo giả, giai
kiến chánh lộ. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục
như thị, thành tựu thập luân, nhược chư
chúng sanh, vô minh hôn ám, do thử mê thất bát chi thánh đạo.
Bồ Tát vị kỳ tuyên thuyết chánh pháp, trừ vô minh
ám, sanh pháp quang minh, khai thị, hiển hiện bát chi thánh
đạo, linh đoạn chư lậu, tận chư khổ
tế.
(經)善男子,如天帝釋,與阿素洛將欲戰時,天軍圍繞,手執金剛,奔趣陣敵,諸阿素洛驚怖退散;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,一切倒見外道異學、惡知識等,驚怖退散。善男子,如如意珠置高幢上,能雨種種上妙珍寶,給施一切貧乏眾生;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,處淨戒幢雨大法雨,給施一切無量眾生。善男子,如闇夜分,世間幽冥都無所見,迷失正道,滿月出已,諸闇皆除,諸失道者皆見正路;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,若諸眾生無明昏闇,由此迷失八支聖道,菩薩為其宣說正法,除無明闇,生法光明,開示顯現八支聖道,令斷諸漏,盡諸苦際。
(Kinh: Này thiện
nam tử! Như Thiên Đế Thích và A Tố Lạc lúc sắp
giao chiến, quân trời vây quanh, tay cầm kim cang, xông vào
trận của địch quân, các A Tố Lạc kinh sợ,
tan chạy. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế,
thành tựu thập luân, hết thảy ngoại đạo
tri kiến điên đảo, dị học, ác tri thức v.v… kinh sợ tan chạy. Này thiện
nam tử! Như Như Ư châu đặt trên tràng cao, có thể
tuôn ra các thứ trân bảo thượng diệu, thí cho hết
thảy chúng sanh nghèo thiếu. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống
như thế, thành tựu thập luân, đặt trên tràng
tịnh giới, tuôn mưa pháp to, thí cho hết thảy vô
lượng chúng sanh. Này thiện nam tử! Như trong
đêm tối tăm, thế gian đen tối, trọn chẳng
thấy ǵ, mê mất đường chánh. Trăng tṛn vừa
mọc, các tối tăm đều trừ, những kẻ
lạc đường đều thấy đường
chánh. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu
thập luân, nếu các chúng sanh vô minh tăm tối; do vậy, mê mất
đường tám chi thánh đạo, Bồ Tát v́ họ
tuyên nói chánh pháp, trừ tối vô minh, sanh pháp quang minh, khai
thị, hiển hiện tám chi thánh đạo, khiến
đoạn các lậu, hết sạch các khổ).
“Thiện
nam tử, như Thiên Đế Thích dữ A Tố Lạc,
tương dục chiến thời, thiên quân vi nhiễu, thủ
chấp kim cang, bôn thú trận địch” (Này thiện
nam tử! Như Thiên Đế Thích và A Tố Lạc lúc sắp
giao chiến, quân trời vây quanh, tay cầm kim cang[3],
xông vào trận của địch quân), tức là vào trong chiến
trận của A Tố Lạc (A Tu La). “Chư
A Tố Lạc, kinh bố thoái tán” (các A Tố Lạc
kinh sợ, tan chạy), Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống
như vậy. Nếu “thành tựu thập luân, nhất
thiết đảo kiến ngoại đạo, dị học
ác tri thức đẳng, kinh bố thoái tán. Thiện nam tử!
Như Như Ư Châu trí cao tràng thượng” (thành tựu
thập luân, hết thảy ngoại đạo tri kiến
điên đảo, dị học, ác tri thức
v.v… kinh sợ tan chạy. Này thiện nam tử! Như
Như Ư châu đặt trên tràng cao), lại tỷ dụ, Như
Ư bảo châu đặt trên chỗ rất cao. Nếu khô hạn,
bèn đem bảo châu đặt trên chỗ cao, bảo châu ấy
có thể tuôn ra các loại mưa. Mưa ấy là mưa
trân bảo thượng diệu, bố thí hết thảy
chúng sanh nghèo thiếu, bọn họ liền được
cứu.
“Bồ
Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập
luân, xử tịnh giới tràng” (Bồ Tát Ma Ha Tát
cũng giống như thế, thành tựu mười luân,
ở trên tràng tịnh giới): Tŕ giới thanh tịnh.
Giới thanh tịnh giống như tràng cao. Mưa đại
pháp vũ là thuyết pháp, chẳng phải là trân bảo,
c̣n tốt đẹp hơn trân bảo. Thuyết pháp là
mưa pháp vũ, mang ư nghĩa mưa ra pháp mà chúng sanh yêu
thích. Mưa có thể trừ diệt tai nạn, chuyển
đại pháp luân. “Pháp vũ” là từ ngữ h́nh dung
thuyết pháp cho họ, hướng về hết thảy
chúng sanh để nói, đáng nên dùng pháp ǵ để độ
được, liền nói cho họ pháp đó.
“Thiện
nam tử, như ám dạ phần” (Này thiện nam tử!
Như trong đêm đen), trời tối đen, như
trong lúc ấy, thế gian tối tăm, “u minh” (幽冥) có nghĩa là hắc
ám. “Đô vô sở kiến” (đều chẳng trông
thấy): Trong tối tăm, mắt chúng ta mất tác dụng.
Mắt chúng ta thấy sáng, chẳng thấy tối. Lúc
đó, quư vị chẳng thấy vật ǵ, chẳng trông thấy
để biết nên đi đường nào, liền bị
lạc mất nẻo chánh. Đợi cho đến khi
trăng Rằm, “măn nguyệt” là vầng trăng tṛn
ngày Rằm, khi trăng tṛn, nó sẽ trừ tối tăm,
các tối tăm đều tiêu mất. Quư vị sẽ thấy
đường rơ ràng. Kẻ chẳng trông thấy chính là kẻ
lạc đường, chẳng t́m ra con đường
đúng, ngay lúc ấy bèn trông thấy, quang minh vừa chiếu,
kẻ đó sẽ t́m được đúng lối.
Bồ
Tát Ma Ha Tát cũng giống như vậy, thành tựu thập
luân, nếu các chúng sanh vô minh tăm tối, bị lạc mất
tám chi thánh đạo, chẳng đi theo con đường
chánh. Như thế th́ Bồ Tát sẽ tuyên nói chánh pháp, trừ
bỏ tối vô minh, sanh khởi ánh sáng
pháp cho kẻ đó, khai thị, hiển hiện tám chi thánh đạo.
“Linh đoạn chư lậu” (khiến đoạn
các lậu), bao gồm lậu tam giới, cho đến lậu
nhị tử, lậu Biến Dịch Sanh Tử. Những
thứ ấy đều là “khổ tế” (苦際, ngằn mé khổ),
cũng là “chư lậu tận chư khổ tế”.
Điều này bao gồm hết thảy Bồ Tát. Bồ
Tát hăy c̣n ở trong nỗi khổ Biến Dịch Sanh Tử,
hăy c̣n có Trần Sa và Vô Minh Hoặc, sẽ đều đoạn
trừ cho họ!
(Kinh) Thiện nam tử! Như đại nhật
điện xuất hiện thế gian, nhất thiết
miêu giá, tất giai tăng trưởng, nhất thiết
hoa diệp tất giai phu vinh, nhất thiết xú uế tất
giai trừ hiết, chư cốc, quả, dược, tất
giai thành thục, Tuyết sơn tiêu lưu, chư hà sung dật,
tiệm thứ chuyển chú, măn ư đại hải. Bồ
Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập
luân, y chỉ tăng thượng bố thí, điều phục,
tịch tĩnh, Thi La, an nhẫn, chánh cần, Tĩnh Lự,
Bát Nhă, phương tiện, từ bi, biện tài công đức,
giai tất xí thịnh, vị chư chúng sanh, tuyên thuyết
chánh pháp, do pháp oai quang, linh chư chúng sanh, chủng chủng
tăng thượng thiện căn miêu giá tất giai
tăng trưởng, chủng chủng tăng thượng
diệu hạnh hoa diệp tất giai phu vinh, chủng chủng
phiền năo, ác nghiệp, ác hạnh, tất giai trừ
hiết, thiện thú Niết Bàn chư cốc, quả,
dược, tất giai thành thục, tà kiến mạn
sơn tất giai tiêu lưu, chủng chủng chánh tín, giới,
văn, xả, huệ, cập chư định hà, vô bất
sung dật, tiệm thứ doanh măn đại Niết Bàn hải,
linh chư hữu t́nh tùy ư sở nhạo, thú nhập vô úy Niết
Bàn chi thành.
(經)善男子,如大日殿出現世間,一切苗稼悉皆增長,一切華葉悉皆敷榮;一切臭穢悉皆除歇,諸谷果藥悉皆成熟,雪山銷流,諸河充溢,漸次轉註,滿於大海;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,依止增上佈施、調伏、寂靜、尸羅、安忍、正勤、靜慮、般若、方便慈悲、辯才功德,皆悉熾盛,為諸眾生宣說正法,由法威光,令諸眾生種種增上善根苗稼悉皆增長,種種增上妙行華葉悉皆敷榮,種種煩惱惡業惡行悉皆除歇,善趣涅槃,諸谷果藥悉皆成熟,邪見慢山悉皆銷流,種種正信戒聞舍慧及諸定河無不充溢,漸次盈滿大涅槃海,令諸有情隨意所樂,趣入無畏涅槃之城。
(Kinh: Này thiện
nam tử! Như cung điện mặt trời to lớn
xuất hiện trong thế gian, hết thảy lúa mạ
thảy đều tăng trưởng, hết thảy
hoa, lá thảy đều sum suê, hết thảy thối
dơ thảy đều trừ dứt, các loại ngũ
cốc, trái cây, dược thảo, thảy đều chín
muồi, Tuyết sơn tan chảy, các gịng sông tràn đầy,
lần lượt chảy rót vào nhau, chan chứa biển cả.
Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu
thập luân, y chỉ tăng thượng bố thí, điều
phục, tịch tĩnh, Thi La, an nhẫn, chánh cần,
Tĩnh Lự, Bát Nhă, phương tiện, từ bi, biện
tài công đức, thảy đều hừng hực, v́ các
chúng sanh tuyên nói chánh pháp. Do oai quang của
pháp, khiến cho các thứ lúa mạ thiện căn tăng
thượng của các chúng sanh thảy đều tăng
trưởng, các loại hoa lá diệu hạnh tăng
thượng thảy đều sum suê, các loại phiền
năo, ác nghiệp, ác hạnh, thảy đều trừ dứt,
các loại ngũ cốc, trái cây, dược thảo khéo hướng
đến Niết Bàn thảy đều chín muồi, núi tà
kiến, ngạo mạn thảy đều tan chảy, các
loại sông chánh tín, Giới,
Văn, Xả, Huệ và các Định không ǵ chẳng tràn
đầy, lần lượt đầy ắp biển
đại Niết Bàn, khiến cho các hữu t́nh tùy ḷng
ưa thích, tiến nhập ṭa thành Niết Bàn không sợ
hăi).
“Nhật
điện” (日殿) chính là thái
dương cung điện. “Điện” (殿) có nghĩa là “cung
điện”. “Đại nhật điện” là
cung điện xuất hiện trong vầng mặt trời.
Hết thảy vạn vật chẳng được ánh
sáng mặt trời bồi bổ, lúa mạ sẽ chẳng
thể tăng trưởng. Ánh mặt trời vun bồi,
chẳng nói là “đại nhật”, mà nói là “đại
nhật điện”, chẳng nói là “nguyệt xuất”
(月出,trăng mọc), mà nói
là “măn nguyệt” (滿月, trăng tṛn). Giống
như “ôn thất” (溫室, greenhouse), khiến
cho hết thảy chủng tử đều có thể
tăng trưởng. “Nhất thiết hoa diệp, tất
giai phu vinh” (hết thảy hoa, lá, thảy đều sum
suê), nở x̣e, trổ hoa tươi tốt, hết thảy
hôi thối thảy đều trừ dứt, trở thành
thơm tho. “Chư cốc, quả, dược, tất giai thành
thục” (các loại ngũ cốc, trái cây, dược vật,
thảy đều chín muồi), ngũ cốc, hoa màu thảy
đều kết quả, “dược” (藥) là dược thảo.
“Tuyết
sơn tiêu lưu” (Tuyết sơn tan chảy): Lúc đó,
năm vầng mặt trời [cùng xuất hiện], núi Tuyết
vạn năm cũng tan chảy. Nam Băng Dương, Bắc
Băng Dương đều chẳng c̣n. Một quả
núi Tuyết vừa tan chảy, khiến cho các gịng sông đều
tràn ngập, đều có thể tưới tắm, khiến
cho hết thảy vạn vật sanh trưởng. Sau
đó, sông đổ vào biển cả. Do vậy, các sanh vật
phối hợp tăng trưởng tốt đẹp. Bồ
Tát Ma Ha Tát cũng như thế.
“Thành
tựu thập luân, y chỉ tăng thượng bố thí,
điều phục, tịch tĩnh, Thi La, an nhẫn, chánh
cần, Tĩnh Lự, Bát Nhă, phương tiện, từ
bi, biện tài công đức, giai tất xí thịnh”
(Thành tựu mười luân, nương vào tăng thượng
bố thí, điều phục, tịch tĩnh, Thi La, an nhẫn,
chánh cần, Tĩnh Lự, Bát Nhă, phương tiện, từ
bi, biện tài công đức, thảy đều hừng hực):
Bố thí là bố thí Bát Nhă. “Điều phục” là
điều phục cái tâm của chúng ta, điều phục
cũng là quán chiếu. Như Tứ Niệm Xứ, là khi
chúng ta mới bắt đầu tu Định, dùng Sổ Tức
Quán. Sổ Tức Quán có thể điều phục cái tâm
tán loạn của quư vị. Nó điều phục cái tâm
tán loạn, khiến cho chẳng hôn trầm. Sau đó, đạt
được tịch tĩnh, sẽ nhập Định.
Tịch tĩnh là Chỉ. Thi La có các ư nghĩa “ngăn giữ,
thanh tịnh”. Thi La là Giới. “An nhẫn”: Nếu
quư vị muốn b́nh an, mong vui sướng, trước hết
phải nhẫn nhục. Hễ nhẫn th́ trăm sự
đều tiêu mất. Phải cầu nhẫn, nhẫn chẳng
dễ dàng, đặc biệt là người có quyền thế.
Nhẫn đúng là chẳng dễ dàng!
Trước
kia, có một vị Tể Tướng. Khi ông ta làm Tể
Tướng, con ông ta vẫn c̣n ở quê nhà. Vị Tể
Tướng ấy tốt lắm. Nếu chẳng tốt,
con ông ta đă sớm hoành hành ngang ngược. V́ đất
nhà ông ta bị hàng xóm chiếm mất một phần.
Người hàng xóm xây tường, chiếm rất nhiều
đất của nhà ông ta. V́ thế, đứa con liền
viết thư cho cha, xin cha gởi thư đến quan huyện
ở quê nhà, yêu cầu quan huyện phán xử trả lại
đất. Vị Tể Tướng ấy trả lời
con ḿnh như thế nào? “Thiên lư tu thư chỉ vị
tường” (ngàn dặm đưa thư chỉ v́
tường), xa xôi như vậy
mà ngươi viết một lá thư chỉ v́ bị
người khác xây một bức tường chiếm một
vài thước đất! “Nhượng tha kỷ xích hựu
hà phương?” (Nhường người vài thước
có sao đâu?): Nhường cho hắn
vài thước đất thôi, cần ǵ phải tranh giành? “Vạn
Lư Trường Thành kim do tại” (Vạn Lư Trường
Thành c̣n măi đó), ngươi có thấy chăng, Vạn Lư
Trường Thành hăy c̣n đó. “Bất kiến
đương niên Tần Thủy Hoàng” (Thủy Hoàng giờ
đă mất tăm rồi). Ai là ai? Ba mươi năm Hà
Đông, ba mươi năm Hà Tây, cái ǵ là của
ngươi, của ta? Nước nhấn ch́m, lửa
đốt rụi, ai cũng đều chẳng tồn tại!
Tài
sản trong thế gian là của chung năm
nhà, mất đi, quư vị đừng áo năo. Nếu bị
lừa gạt, quư vị hăy nên sanh tâm hoan hỷ! Đó là ta
trả nợ. Thứ chẳng đáng nên thuộc về hắn,
[mà hắn gạt ta], đó là hắn thiếu nợ ta, ta
cũng đừng nẩy sanh ư tưởng đ̣i nợ!
Nếu muốn đ̣i nợ, quư vị c̣n phải sanh vào thế
giới này, đến chỗ nào để đ̣i? Kẻ
đó là chủng tử địa ngục, hắn lừa
gạt, dối trá người khác, sẽ đến
thế giới này chịu khổ! Quư vị cũng theo hắn
vào trong thế giới này chịu tội với hắn
ư? Hăy quên đi, bố thí cho hắn. Đó là bố thí,
đó là nhẫn. Nhẫn cơn nóng giận một lúc, có thể
tránh khỏi tai họa cả trăm ngày! Ắt cần phải
thường ngày quán tưởng điều này. Nếu
không, lỡ có lúc gặp phải, làm sao có thể chịu
đựng cho nổi? Đúng không? Ngay cả một câu mà
c̣n chẳng nhẫn nổi! Kẻ đó vũ nhục ta,
hoặc là nói động tới người trong gia tộc,
hoặc nói đến chính ta, nói rất nhiều chuyện
xấu của quư vị, bất luận quư vị có hay
không. Hễ có, quư vị nghe xong, rất hoan hỷ, người
ấy là thiện tri thức của ta, dập đầu lễ
người ấy ba lượt. Ôi chao! Quư vị vạch
ra sai lầm ấy cho tôi, tôi cảm ơn quư vị, tôi tiêu
nghiệp, tôi nhất định phải sám hối. Kẻ
ấy sẽ chẳng thể nói nữa! Nếu
kẻ đó nói sai sự thật. Kinh Kim Cang dạy kẻ
khác hủy báng, vũ nhục quư vị, sau khi đă chịu
nhịn, quư vị vốn đáng phải đọa địa
ngục, do nghiệp chướng, nghiệp báo ấy, [tội
đọa địa ngục] liền tiêu mất, cũng
là trọng nạn mà chịu báo nhẹ, cũng phải nên
nhẫn. An nhẫn, chánh cần, phải siêng năng học
tinh tấn, phải học theo chuyện hữu ích, đối
với chuyện vô ích th́ chớ nên rất siêng năng, chịu
khó!
Chúng
ta v́ cầu lợi, ngày đêm chẳng ngủ nổi, vắt óc suy nghĩ, ta làm thế
nào th́ mới có thể
đạt được? Làm thế nào để thắng
cử? Ta lôi kéo ai? Chúng ta bỏ ra bao nhiêu tiền, ai
cũng không biết. Đấy chẳng phải là hối lộ để trúng cử,
th́ cũng là tránh chuyện hối lộ bằng
cách bỏ tiền ra mua phiếu bầu! Há có chuyện tiện nghi như vậy ư? Chẳng
hề có! Siêng năng, mong được yên tĩnh,
Tĩnh Lự tư duy quán sát, nh́n vào chuyện ǵ, cũng
đều phải quan sát chánh xác. Bát Nhă là Căn Bản
Trí, phương tiện là thiện xảo, từ bi là
đại từ đại bi. Đấy là cái tâm lợi
ích chúng sanh của bậc đại Bồ Tát, biện tài vô
ngại. Biện tài th́ quư vị phải học; quư vị
chẳng học th́ làm sao ra biện tài cho được?
Có trí huệ th́ mới có biện tài, chẳng có trí huệ
th́ quư vị biện luận ǵ đây?
“Công
đức”: “Công” là hạnh. “Đức” là quư vị làm các chuyện như thế, đạt
được nơi tâm, phải từ tâm phát sanh. Đó
là công đức chẳng thể nghĩ bàn, sẽ đều
hừng hực. “Xí thịnh” (熾盛) là có nghĩa là h́nh thế hưng
thịnh, to tát. “Vị chư chúng sanh, tuyên thuyết chánh
pháp, do pháp oai quang, linh chư chúng sanh chủng chủng
tăng thượng thiện căn miêu giá tất giai
tăng trưởng” (v́ các chúng sanh tuyên nói chánh pháp. Do
oai quang của chánh pháp, khiến cho đủ loại lúa mạ
thiện căn tăng thượng của các chúng sanh thảy
đều tăng trưởng). Các tỷ dụ vừa
nêu trên đây đều là dùng pháp để kết hợp thành.
“Chủng
chủng tăng thượng diệu hạnh hoa diệp, tất
giai phu vinh” (các thứ hoa lá diệu hạnh tăng
thượng thảy đều sum suê): Nở x̣e hết sức
tươi tốt. “Chủng chủng phiền năo, ác nghiệp,
ác hạnh, tất giai trừ hiết” (Các thứ phiền
năo, ác nghiệp, ác hạnh, thảy đều trừ dứt):
Đều ngưng dứt. “Thiện thú Niết Bàn”
(khéo hướng đến Niết Bàn), đấy là sự
tiến hướng rất tốt đẹp. Quả hạt
bất sanh, bất diệt, “chư cốc, quả,
dược tất giai thành thục” (các loại ngũ cốc,
trái cây, dược thảo, thảy đều chín muồi):
Đấy là đă thành tựu. Thiện nghiệp là các thứ
ngũ cốc, trái cây, dược thảo, đă thành tựu,
bèn khéo tiến nhập Niết Bàn. Tà kiến, ngă mạn giống
như núi cao, “tất giai tiêu lưu” (thảy đều
tan chảy), giống như núi băng bị tan chảy. Phiền năo của chúng ta là nghiệp
chướng, giống như núi năng bị tan ră. “Linh chư hữu
t́nh tùy ư sở nhạo, thú nhập vô úy Niết Bàn chi thành” nghĩa là khiến
cho hết thảy hữu t́nh đều có thể chứng
đắc bất sanh, bất diệt, bất
sanh, bất tử, đạt đến Niết Bàn rốt
ráo.
(Kinh)
Thiện nam tử! Vân hà danh Bồ Tát Ma Ha Tát thập luân?
Thiện nam tử! Thử thập luân giả, phi dư pháp
dă, đương tri tức thị Thập Thiện Nghiệp
Đạo. Thành tựu như thị thập chủng luân
cố, đắc danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă. Ư nhất thiết
ác, giai năng giải thoát, nhất thiết thiện pháp
tùy ư thành tựu, tốc năng doanh măn đại Niết
Bàn hải, dĩ đại thiện xảo phương tiện
trí quang, thành thục nhất thiết chúng sanh chi loại,
giai linh hoạch đắc lợi ích an lạc. Sở
dĩ giả hà? Thiện nam tử! Quá khứ nhất thiết
chư Phật Thế Tôn, giai tất viễn ly thập ác
nghiệp đạo, giai tất xưng dương, tán thán
như thị Thập Thiện Nghiệp Đạo sở
đắc quả báo. Thị cố, nhược năng
ư thử sở thuyết Thập Thiện Nghiệp
Đạo, tùy thủ hộ nhất, năi chí
mạng chung, cứu cánh vô phạm, tất hoạch nhất
thiết thù thắng quả báo, như tiền sở thuyết.
(經)善男子,云何名菩薩摩訶薩十輪?善男子,此十輪者,非餘法也,當知即是十善業道!成就如是十種輪故,得名菩薩摩訶薩也。於一切惡皆能解脫,一切善法隨意成就,速能盈滿大涅槃海,以大善巧方便智光,成熟一切眾生之類,皆令獲得利益安樂。所以者何?善男子,過去一切諸佛世尊,皆悉遠離十惡業道,皆悉稱揚讚歎如是十善業道所得果報。是故若能於此所說十善業道,隨守護一,乃至命終究竟無犯,必獲一切殊勝果報,如前所說。
(Kinh: Này thiện
nam tử! Thế nào là thập luân của Bồ Tát Ma Ha Tát?
Này thiện nam tử! Mười luân ấy chẳng phải
là pháp nào khác, hăy nên biết chính là Thập Thiện Nghiệp
Đạo. Do thành tựu mười loại luân như thế,
được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Trong hết thảy
các ác, đều có thể giải thoát, hết thảy các
thiện pháp tùy ư thành tựu, có thể mau chóng tràn đầy
biển đại Niết Bàn, dùng quang minh trí huệ đại
thiện xảo phương tiện để thành thục
hết thảy các loài chúng sanh, khiến cho họ đều
đạt được lợi ích an lạc. V́ cớ sao
vậy? Này thiện nam tử! Hết thảy chư Phật
Thế Tôn trong quá khứ thảy đều xa ĺa thập
ác nghiệp đạo, thảy đều xưng
dương, tán thán quả báo đạt được do
Thập Thiện Nghiệp Đạo như thế. Do vậy,
nếu có thể tùy ư thủ hộ một
điều trong Thập Thiện Nghiệp Đạo
đă nói như thế, cho đến lúc mạng chung, rốt
ráo chẳng phạm, ắt sẽ đạt được
hết thảy quả báo thù thắng như đă nói trong
phần trước).
“Thiện
nam tử, vân hà Bồ Tát Ma Ha Tát thập luân?” (Này thiện
nam tử! Thế nào là thập luân của Bồ Tát Ma Ha
Tát?) Nói cả buổi, bây giờ mới nói
đến thập luân. Thế nào là thập luân? “Phi dư
pháp dă” [nghĩa là] chẳng phải phương pháp nào
khác! “Đương tri tức thị Thập Thiện
Nghiệp Đạo” (Hăy nên biết chính là Thập Thiện
Nghiệp Đạo): Chúng ta có lúc chẳng ǵn giữ cẩn
thận thân, miệng, ư, cho đó là chuyện nhỏ nhặt.
Đấy chẳng phải là chuyện nhỏ nhặt, mà
là căn bản để thành Phật, là căn bản của
hết thảy các thiện nghiệp. Đức Phật
nói nửa buổi như thế, trong phần trước,
Ngài đă nêu ra nhiều tỷ dụ cũng vậy, mà thuyết
pháp cũng vậy, nay mới nêu ra Thập Luân là ǵ? Thập
Thiện Nghiệp Đạo là mười loại luân. [Do
trọn đủ] mười luân ấy, sẽ được
gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Mười luân trọn đủ,
quư vị là đại Bồ Tát trong các vị Bồ Tát,
được giải thoát hết thảy các điều
ác!
“Nhất thiết thiện pháp tùy ư thành tựu” (Hết thảy các thiện pháp tùy ư thành tựu):
Thành tựu Thập
Luân th́
đương nhiên đều thành tựu. Đối với
khẩu nghiệp, chẳng hạn như nói chúng ta chẳng
nói dối, chẳng nói lời thô ác, chẳng mắng chửi
người khác, chẳng nói thêu dệt, chẳng rỉa
rói người khác, chẳng nói lời không có nguyên do, chẳng
nói đôi chiều, cũng chẳng
khuấy đảo thị phi. Chúng ta thường nói
mười nghiệp như thế, nhưng quư vị khuyên
mỗi chúng sanh đều làm như vậy, đấy là
đại Bồ Tát. Ngay cả chúng ta cũng chẳng ǵn
giữ tốt đẹp, làm sao có thể khuyên người
khác cho được? Chính ḿnh phải làm gương! Nêu một
thí dụ, năng lực của bản thân chúng ta chẳng
đủ, vậy th́ lại nên làm như thế nào? Mắt
bớt thấy, tai bớt nghe, miệng bớt nói, tối thiểu là bớt
nói các lời
lẽ rời ĺa Tam Bảo. Khi các đệ tử chúng ta
bàn luận với nhau, bèn nói nhiều chuyện thuộc Phật
pháp. Đoạn Hoặc bằng cách nào? Chứng Chân bằng cách nào? Tôi
nghĩ như thế đó. Bác sĩ bảo chúng
ta vận động nhiều, đi lại nhiều. Khi
đi, lúc Định lực
chưa thành tựu th́ khi đi, dễ
bị tán loạn. Quư vị hăy nghĩ xem, khi tĩnh th́ chẳng tán loạn, hay là lúc đi th́ chẳng
tán loạn? Tôi cũng biết, các đạo hữu khuyên
tôi là v́ ư tốt: “Sư phụ, con đưa thầy ra
ngoài đi lại đôi chút, hoạt động
đôi chút. Thầy cứ ở trong pḥng miết, như vậy, sẽ sanh bệnh rất
nhanh!” Chẳng phải vậy, sanh bệnh thuộc về
nghiệp. Có nghiệp th́ mới bệnh, chẳng có nghiệp
th́ sẽ không! Người ta đều khuyên quư vị,
đạo hữu khuyên bảo lẫn nhau, quư vị hăy lắng
ḷng, vận dụng công phu Tĩnh Lự cho nhiều. Các vị
chẳng biết ai là người tốt, ai là kẻ xấu.
Quư vị nói tôi, nói tốt th́ “Được! Được!
Tôi nghe th́ nghe vậy, tôi vẫn chẳng thuận theo quư vị”!
Như
thế nào là bị cuốn theo quư vị? Tai tôi xoay chuyển theo lời nói của quư vị! Đi thôi! Càng đi, càng buông lung. Chẳng
phải là ra siêu thị, th́ là dạo công viên nh́n ngó. Vậy
th́ người nào sẽ đi đến chỗ đó?
Người ta nhàn rỗi, có tiền, buông lung ngũ dục.
Chúng ta thâu nhiếp thân tâm. Thân, tâm, và miệng của
chúng ta lúc nào cũng phải thâu nhiếp, lúc nào cũng chỉ
thấy cảnh. Nếu chẳng có định lực to
dường ấy, tâm sẽ chuyển theo cảnh. Chúng ta
vẫn chưa thể đạt tới “tâm có thể
chuyển cảnh”. Tâm có thể chuyển cảnh, liền
giống Như Lai. “Tâm bị cảnh chuyển” là
chúng sanh. Trong các đạo hữu, giữ ǵn thân, miệng,
ư cho nhiều, ít buông lung, trốn tránh c̣n chẳng kịp,
c̣n muốn tới đó làm chi? Nơi đó là chốn náo
nhiệt!
Nói
đến đây, tôi nhắc nhở mọi người
đôi chút, hảo ư của quư vị tôi chỉ có thể
tâm lănh. Các vị chẳng biết, thầy của quư vị
chẳng có đạo lực to ngần ấy, sẽ không
đến chỗ đó! Chỗ nào không khí tốt đẹp?
Trong tâm quư vị, không khí tốt nhất. Quư vị tĩnh
lặng, không khí sẽ tốt nhất. Chúng ta đối với
thân, miệng, ư của chính ḿnh, phải tuyệt đối
ǵn giữ được một thứ. Trong mười
nghiệp, quư vị có thể giữ được một
nghiệp, chẳng phạm tí nào, thậm chí cho đến
khi mạng chung xả mạng, ta chẳng phạm giới ấy.
Nếu chẳng sát sanh, chưa hề sát sanh, chẳng chiếm
tiện nghi của người khác, nhất định là
quư vị sẽ đạt được quả báo thù thắng.
Quả báo ǵ vậy? Quư vị cũng chẳng bị bệnh,
mà cũng chẳng đoản mạng, chẳng bị nghiệp
ấy. Nếu quư vị chẳng trộm cắp, nhiều
đời chẳng trộm cắp của người
khác, sẽ chẳng bị mất đồ. Tôi đă tự
ḿnh thí nghiệm điều này. Từ bé xuất gia, cho
đến bây giờ, chẳng có ai ăn trộm đồ
của tôi. Cửa pḥng chúng tôi chưa hề khóa, bất luận
như thế nào, pḥng của tôi chưa hề khóa. Trước
kia, tôi đă phát nguyện, ai muốn lấy ǵ, tôi sẽ bố thí cúng dường. Tôi tự ḿnh có thể làm
được, nhưng hai hoặc ba người cùng ở
chung th́ không được!
Mọi
người phải biết: “Mạn tàng hối đạo,
trị dung hối dâm” (giấu kỹ xui người trộm,
làm đẹp dụ người dâm), quư vị cũng sẽ
cảm vời. Quư vị trang điểm đẹp đẽ,
người khác tham ái. Quư vị càng cất giấu kỹ
lưỡng, càng dễ bị mất. Két an toàn cũng bị
phá mở. Thuê một cái két an toàn ở bưu điện
hay ngân hàng, khu vực Nữu Ước đă bị mất
rất nhiều két bảo hiểm. Hoàn toàn chẳng phải
là dùng ch́a khóa để mở, bọn chúng có dụng cụ
chạy bằng điện, tự nhiên cắt ra. Chẳng phải là quư vị
đặt tất cả các thứ [quư giá] trong két bảo
hiểm hay sao? Được! Đều mất sạch.
Tôi đọc báo thấy đăng tải có rất nhiều
lần [tin két an toàn bị phá], làm thế nào để khéo ǵn giữ?
Chẳng ăn trộm đồ vật của người
khác, chính là ǵn giữ tốt đẹp. Không chỉ là trong
một đời chẳng mất, mà là đời đời
đều chẳng mất. Kẻ trộm lấy mất,
lửa đốt, quốc vương tịch thâu, thổ
phỉ cướp đoạt, quư vị có thể ǵn giữ
nổi hay không? Cái sọ của quư vị c̣n chẳng giữ
nổi, huống hồ vật ngoài thân, làm sao có thể bảo
vệ được? Quư vị hành Thập Thiện Nghiệp,
sẽ ǵn giữ được. Ta chẳng trộm cắp
đồ đạc của người ta, người
khác cũng chẳng trộm cắp của ta. Tôi tin tưởng
tuyệt đối là như thế.
Tôi
chẳng hề giết người khác, người khác
cũng chẳng thương tổn tôi, cũng chẳng giết
tôi. Đó gọi là nghiệp báo, điều này cũng chẳng
dễ dàng! Nếu có thể tin khẩn thiết, mọi
người đều nỗ lực, đấy mới thật
sự là chỗ đáng để chúng ta nỗ lực. Nếu
thành tựu Thập Thiện Nghiệp Đạo, “đắc
danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă. Ư nhất thiết ác, giai
năng giải thoát” (được gọi là Bồ Tát
Ma Ha Tát, đều có thể giải thoát hết thảy
các điều ác). Hoàn toàn giải thoát tất
cả các ác nghiệp. Ác là nói về quả, chúng ta có thể
chẳng bị kẻ khác trói buộc. Làm thế nào để
chẳng bị trói buộc? Thành tựu Thập Thiện
Nghiệp. Thập Thiện Nghiệp đă đạt đến
rốt ráo. Giết, trộm,
dâm, tham, sân, si, nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều,
nói lời ác, mười ác nghiệp hoàn toàn thanh tịnh,
như thế th́ sẽ thành tựu, thành tựu Bồ Tát
Ma Ha Tát.
Cho
đến khuyên hết thảy chúng sanh đều làm
như thế, do quư vị tràn trề đại trí huệ, giải thoát hết
thảy các điều ác, hết thảy các thiện pháp
đều có thể tùy ư thành tựu, có thể mau chóng tràn
đầy biển đại Niết Bàn, chứng đắc
“bất sanh, bất
diệt” thật sự.
Dùng quang minh trí huệ phương tiện đại thiện
xảo để thành thục hết thảy chúng sanh,
đều làm cho họ đạt được lợi
ích, an lạc. V́ sao tôi nói như vậy? V́ lẽ nào vậy?
Có ư nghĩa gạn hỏi, khơi gợi: Đạo lư ở
chỗ nào? Hết thảy chư Phật thành Phật bằng
cách nào? Các Ngài xa ĺa thập ác nghiệp đạo, chẳng
dám tiếp cận. “Giai tất xưng dương, tán
thán như thị Thập Thiện Nghiệp Đạo”
(thảy đều xưng dương, tán thán Thập Thiện
Nghiệp Đạo), đạt được quả báo
nhỏ th́ là quả báo nhân thiên. Thập Thiện Nghiệp
là “miệng nói Bồ Đề đạo, trong tâm tưởng
nhớ Bồ Đề đạo, thân thể thực hiện
Bồ Đề đạo”. Tham, sân, si đă chẳng c̣n,
sẽ là Giới, Định, Huệ, sẽ chẳng có các
quả báo ấy. Có thể thường nói như thế,
phải tán thán Thập Thiện Nghiệp Đạo, phải
xa ĺa Thập Ác Nghiệp Đạo, như
thế th́ quư vị mới có thể đạt được
Thập Thiện Nghiệp Đạo.
“Sở
đắc quả báo, thị cố, năng ư thử sở
thuyết Thập Thiện Nghiệp Đạo, tùy thủ
hộ nhất”, [nghĩa là] tuy chẳng thể ǵn giữ cả
mười điều, chỉ cần ǵn giữ một
điều, “năi chí mạng chung, cứu cánh vô phạm”
(cho đến mạng chung, rốt ráo chẳng phạm), có
thể ǵn giữ tuyệt đối thanh tịnh. Ta suốt
đời chẳng ăn trộm của người khác,
hoặc suốt đời chẳng lừa dối người
khác, hoặc cả đời chẳng thốt lời dối
trá. Dối trá bao gồm cả lường gạt. Nếu
ta vô t́nh nói sai, ta nằm mộng, hoặc là do cảm vời
mà hiểu sai, bèn nói ta đă chứng quả, các trường hợp
ấy chẳng phạm giới. Đối với hết
thảy giới luật, nếu quư vị chẳng v́ danh lợi,
chính ḿnh v́ Bồ Đề đạo, những ǵ ta đă
làm, sẽ chuyển thành chuyện thuộc Bồ Đề
đạo, chẳng phải là chuyện thuộc về tam
nghiệp đạo. Vậy th́ ǵn
giữ một thiện nghiệp đạo măi cho đến
khi mạng chung, trọn chẳng trái phạm, quư vị nhất
định đạt được quả báo thù thắng.
Quư vị phải hiểu điều này, “một chính là
hết thảy, thâm nhập một môn, mười ác nghiệp
đều tiêu mất”. Do cái tâm mạnh mẽ, nhạy
bén thù thắng của quư vị, những thứ ấy (ác
nghiệp) đều tiêu mất. “Như tiền sở thuyết”: Trong phần
trước đă từng nói, trong phần sau sẽ lại
nói, sẽ giải thích như dưới đây.
(Kinh)
Thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát năng tận
h́nh thọ, viễn ly sát sanh, tức thị thí dữ nhất
thiết chúng sanh vô kinh, vô bố, linh chư chúng sanh bất
sanh ưu khổ, ly mao thụ úy. Do thử thiện căn,
tốc đắc thành thục, sở hữu tiền tế
luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân sát sanh cố,
tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp
chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu
t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư
thọ mạng chướng, tự tác, giáo tha, kiến
văn tùy hỷ. Do thử viễn ly sát sanh luân cố, giai
tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ
quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng,
giai cộng thân ái, vô hữu sai lự, thân
tâm an lạc, thọ mạng trường viễn.
Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị
ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến
thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến
khả bố Diễm Ma vương sứ, duy kiến khả
ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền, vi thiện tri thức,
thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín.
(經)善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽遠離殺生,即是施與一切眾生無驚無怖,令諸眾生不生憂苦,離毛豎畏,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因殺生故,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸壽命障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離殺生輪故,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無有猜慮,身心安樂,壽命長遠。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。
(Kinh:
Này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho
đến hết thọ mạng, xa ĺa sát sanh, tức là
thí cho hết thảy chúng sanh chẳng kinh sợ, khiến
cho các chúng sanh chẳng sanh ưu khổ, ĺa nỗi sợ rởn
lông tóc. Do vậy, thiện căn ấy mau được
chín muồi, trong tất cả các lúc luân chuyển trong
năm đường, ch́m trong sông sanh tử trước
kia, do v́ sát sanh, tạo các nghiệp chướng
ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu
t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các thọ
mạng chướng, tự làm, dạy người, thấy,
nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa sát sanh” này, [các thứ chướng
ấy] thảy đều bị nghiền nát, phá tan chẳng
sót, chẳng chịu quả báo. Trong thân hiện tại, các
hàng trời người đều cùng thân mến, chẳng
lo ngờ, thân tâm an lạc, thọ mạng dài lâu. Khi sắp
mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức
bách, vợ con yêu mến, quyến thuộc vây quanh. Khi lâm
chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của
vua Diễm Ma, chỉ thấy bậc vừa ư, điều
phục thành tựu các thiện
pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền
chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng,
sanh ḷng kính tin sâu xa).
Quư
vị chẳng sát sanh, “tận h́nh thọ” (盡形壽) là từ lúc
sanh ra cho đến khi chết, chẳng hề sát sanh. Sau
khi đă nghe pháp, ta chẳng sát sanh, xa ĺa sát sanh. “Tức
thị thí dữ nhất thiết chúng sanh vô kinh, vô bố”
(tức là thí cho hết thảy chúng sanh không kinh sợ): Thập
Thiện Nghiệp ở đây khác với [Thập Thiện
Nghiệp được nói trong kinh khác, ở chỗ không chỉ] chẳng sát sanh, mà c̣n phải quán tưởng.
Không chỉ chẳng sát sanh, mà c̣n bố thí “không sát sanh”
cho chúng sanh. V́ sao chúng sanh sợ hăi? Có ai chẳng sợ chết?
Chúng sanh cũng sợ chết. Nếu quư vị bắt một
con chim sẻ, nó sẽ bay trốn lẹ. Con lợn biết
sắp bị mổ, nó sẽ gào lên
ầm ĩ. Quư vị dùng hết sức lôi nó, nó sẽ tŕ
lại chẳng đi, v́ nó biết sắp bị chết,
kinh hoảng! “Linh chư chúng sanh bất sanh ưu khổ,
ly mao thụ úy” (khiến cho các chúng sanh chẳng sanh
ưu khổ, ĺa nỗi sợ rởn lông tóc): Khi chúng ta kinh
hoảng, sẽ rởn lông tóc, toát mồ hôi lạnh, kinh
nghiệm ấy ai cũng có. Có kẻ suốt đời chẳng
sợ hăi, chưa hề rởn lông tóc, nhưng nhận biết
chuyện ấy, tuy kẻ đó chẳng kinh sợ!
Nếu bị bắt, có những người rất cứng
cỏi, dẫu bị bắt chẳng sao hết! Nếu bị
bắn chết, chỉ là chuyện nhỏ, hai mươi
năm sau ta sẽ trở lại. Đó gọi là “thế giới
Sa Bà”, chúng sanh ương ngạnh, khó điều phục,
chẳng sợ hăi, rất hung ác, cho nên mới có nỗi sợ
hăi. Có những người thiện nghiệp đă thành tựu,
do v́ thiện nghiệp mới chẳng bị sợ hăi.
Đó là hai cực đoan. Đấy là nói về thiện
nghiệp.
“Do
thử, thiện căn
tốc năng thành thục” (do vậy, thiện
căn có thể mau chóng chín muồi): Tất cả “tiền
tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà” (những
lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh
tử trước kia), “tiền tế” (前際) là quá khứ. Trong
quá khứ, đă lưu chuyển trong sông sanh tử, “nhân
sát sanh cố” tức là v́ sát sanh mà “tạo thân, ngữ,
ư, chư ác nghiệp
chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu
t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư
thọ mạng chướng, tự tác, giáo tha, kiến
văn tùy hỷ” (tạo thân, ngữ, ư, các nghiệp chướng
ác, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng,
hết thảy pháp chướng, các thọ mạng chướng,
tự làm, dạy người khác làm, thấy nghe vui theo).
V́ sao thọ mạng có dài hay ngắn? Đấy là do nghiệp
sát sanh. Trong nghiệp sát sanh, bao gồm thân, tức là có lúc
ra tay giết, hoặc là dùng chân đá chết người
khác, đều tính [thành tội sát sanh nơi thân]. Dùng miệng
cắn chết người khác, dùng đầu húc chết
người khác. Có kẻ đă học công phu “dao chùy quán
đảnh” (vung búa đập đầu không bị tổn
thương, tức thiết đầu công), có thể dùng
đầu húc chết người khác, bất cứ bộ
vị nào trên thân thể quư vị cũng đều có thể
giết người. Thân, ngữ, ư đều có thể tạo
ác nghiệp. Khi sắp bị giết, c̣n chửi bới, sắp
chết c̣n hô khẩu hiệu, tin cái này, ủng hộ cái
kia. Đó là khẩu nghiệp. Sắp chết mà vẫn c̣n
tạo nghiệp!
Hết thảy chướng
ngại thảy đều tiêu trừ. Do các ác nghiệp
đă tạo nơi thân, ngữ, ư, tất cả các phiền
năo, hết thảy hữu t́nh chằng néo lẫn nhau không
rơ ràng. Cha, mẹ, con cái, vợ chồng, quan hệ ái t́nh,
đều là hữu t́nh. Hữu t́nh chướng ngại
khá nhiều! Hết thảy các pháp chướng, pháp
chướng là nói theo hết thảy các pháp. Quư vị hủy
báng hết thảy các pháp, dùng khẩu nghiệp hủy
báng. Đối với pháp tam thừa, đều hủy báng,
nghiệp của quư vị càng to hơn nữa. “Thọ mạng
chướng”: Nếu quư vị mong tu đạo, mà thọ
mạng đă hết, sẽ chẳng thể tu thành công được! Chúng tôi giảng kinh cũng phải
phát nguyện. Trước khi giảng, bèn phát nguyện: Bộ
kinh này đừng bị gián đoạn nửa chừng, đừng
ngă bệnh, đừng bị gián đoạn vài ngày,
cũng đừng giảng một nửa đă chết. Vậy
là xong, giảng chẳng được! Đó gọi là “gián
đoạn nửa chừng”, đó là nghiệp chướng.
Khi quư vị mong làm chuyện tốt, mong chuộc lỗi, chẳng chờ
quư vị chuộc xong, mạng đă hết rồi, chẳng
c̣n kịp nữa. Đấy là chướng ngại!
Chính
quư vị giết như thế, dạy người ta giết,
tự làm, dạy người khác. Chính ḿnh chẳng giết,
xúi người khác giết, đó gọi là “giá họa
cho kẻ khác”. Ta cùng kẻ khác có cừu hận, muốn
giết chết kẻ đó, lại sợ phạm pháp, bèn
hoặc là dùng tiền, hoặc là châm ng̣i ly gián. Châm ng̣i
đến nỗi kẻ đó nổi cơn
thịnh nộ, bèn thêm thắt chút sự thật, giữa
hai kẻ đó lại có hiềm oán, bèn giết phăng
đi. Quư vị ở bên cạnh ngó thấy hiệu quả,
đă báo cừu được rồi, nhưng quư vị hoàn toàn chẳng ra tay, tội ấy
cũng rất lớn. Tội lỗi dạy người
khác giết cũng to như tội tự tay giết.
Mướn hung thủ, mướn lũ đâm thuê chém
mướn, cho rằng chính ḿnh chẳng có tội, đến
thuở vị lai, quư vị mới biết, khi thọ báo,
quư vị mới biết! Thấy kẻ khác giết lợn,
có lúc đi coi náo nhiệt, đừng xem chuyện sát sanh, [bởi lẽ], thấy nghe tùy
hỷ, quư vị cũng có phần, quư vị cứ đi
xem đi nhé!
Do
vậy, chúng ta nói “thọ Bát Quan Trai Giới, chẳng cố
ư đi xem, nghe” là do ư nghĩa này. Nếu chẳng có chuyện
của quư vị, quư vị tới xem náo nhiệt làm chi? Kẻ
thấy sẽ có phần, quư vị phải hiểu! Đặc
biệt là nơi pháp trường xử bắn, rất nhiều
người đi xem, quư vị sẽ có một phần!
Trường hợp ấy, cũng đừng nên
đi, thấy nghe tùy hỷ mà! “Do thử viễn ly sát
sanh luân cố” (do cái luân “xa ĺa sát sanh” này): Phải rời
xa sát sanh. Đă chẳng giết, mà c̣n phải luôn nghiền
nát nó. “Triển hoại, tồi diệt
vô dư” (nghiền nát, phá tan chẳng c̣n
sót): Dùng bất sát luân, tức “chẳng giết” trong Thập Thiện
Luân để nghiền nát hết thảy giết chóc và nghiệp
báo của nó. Như thế th́ sẽ “chẳng thọ quả
báo”.
“Ư
hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân
ái, vô sở sai lự” (trong thân hiện tại,
các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng
lo ngờ): Chẳng lo ngại, ngờ vực quư vị, do
biết quư vị sẽ chẳng thương tổn
người khác, v́ quư vị sợ phạm giới. Băn
khoăn chính ḿnh trong tương lai sẽ đọa địa
ngục, chẳng phải là quư vị không muốn làm, mà là
chẳng dám làm. V́ sao chẳng dám làm? Sợ đọa địa
ngục, sợ nỗi khổ trong địa ngục, cho
nên chẳng dám sát sanh. Chúng ta thấy loài chim bay, hoặc là
tiểu động vật, muốn nuôi chơi, hoặc là
nuôi chó, nuôi mèo, nuôi chim nhỏ, nuôi vẹt, nuôi nhồng, quư vị bắt chúng nó nhốt vào lồng,
trong tương lai, quư vị cũng sẽ bị nhốt.
Quư vị nhốt chúng nó bao lâu, sẽ phải trả gấp
bội, chúng nó trọn chẳng vui
sướng. Quư vị tưởng chúng nó vui sướng
hay sao? Giống như chúng tôi bị nhốt vào tù, nói không
chừng là trong đời quá khứ, tôi nuôi động vật
đă nhốt nó rất lâu, cũng chắc là như thế
đó. Quư vị thấy cọp bị nhốt trong sở
thú, nhốt trong lồng, nó nôn nóng đi qua đi lại
trong ấy. Dă thú quen sống trong rừng núi, chúng ta mong
chính ḿnh tự do, nhưng lại hạn chế tự do của
các động vật khác. Quả báo ấy
cứ suy nghĩ khắc biết!
“Nhất
thiết pháp chướng, chư thọ mạng chướng,
tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ” (hết thảy
pháp chướng, các thọ mạng chướng, tự
làm, dạy người khác, thấy nghe vui theo): Trong hiện
thời, hàng trời, người v.v… đều cùng thân ái,
chẳng ngờ vực. “Thân tâm an lạc”, thọ mạng
cũng lâu dài. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị
“ưu khổ bức thiết” (sầu khổ bức
bách), chánh niệm hiện tiền, sanh về Cực Lạc
cũng nắm chắc. “Sở ái thê tử, quyến thuộc
vi nhiễu, lâm mạng chung thời” (vợ con yêu mến,
quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung), chẳng có hiện
tượng Diêm La Vương khủng bố!
(Kinh)
Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn,
chi thể cụ túc. Tùy sở sanh xứ, vô bệnh, trường
thọ, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc. Phục
ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới,
phú đức, chân thật phước điền, vi thiện
tri thức, y bỉ tu học, ly sát sanh pháp, năng đoạn
nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất
thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất
thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất
thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập
thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng
Bồ Đề. Sở cư Phật độ, ly chư
binh khí, vô hữu “oán hại, đấu chiến” chi danh,
tuyệt chư bố úy, an ổn, khoái lạc, nhất thiết
vô bệnh, trường thọ hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc.
Như Lai tự thọ vô lượng, vô biên, vị chư
hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu,
chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô lượng
hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát
đệ nhất viễn ly sát sanh luân dă.
(經)既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,無病長壽,端正聰明,安隱快樂;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離殺生法,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,離諸兵器,無有怨害斗戰之名,絕諸怖畏,安隱快樂,一切無病長壽有情來生其國;如來自壽無量無邊,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第一遠離殺生輪也。
(Kinh:
Đă mạng chung rồi, lại sanh làm người, các
căn viên măn, chi thể đầy đủ. Sanh ở bất
cứ nơi đâu, đều không bệnh, sống lâu,
đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng. Lại gặp
bậc đẹp ư, điều phục, thành tựu các thiện pháp, đủ
giới, giàu đức, phước điền chân thật
làm thiện tri thức. Nương theo người ấy
tu học, ĺa pháp sát sanh, có thể đoạn hết thảy
pháp ác, bất thiện, có thể thành tựu hết thảy
pháp thiện căn thù thắng, có thể
cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể
tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần
dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến
chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật
người ấy ở, ĺa các binh khí, chẳng có danh
xưng “oán hại, chiến đấu”, dứt các sợ
hăi, an ổn, vui sướng. Hết thảy hữu t́nh
không bệnh, sống lâu, sanh về cơi đó. Bản thân
Như Lai thọ mạng vô lượng, vô biên, v́ các hữu
t́nh thuyết pháp đúng theo căn cơ. Sau khi Ngài nhập
Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc
vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi
là cái luân thứ nhất “xa ĺa sát sanh” của Bồ Tát Ma Ha
Tát).
“Kư
mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi
thể cụ túc, tùy sở sanh xứ” (Đă mạng
chung rồi, vẫn sanh làm
người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ,
sanh ở bất cứ nơi đâu), lại c̣n chẳng bị
bệnh khổ, lại sống lâu, tướng mạo
đoan chánh, ai nấy đều ưa thích, lại c̣n thông
minh, lanh lợi. “An ổn, khoái lạc” (an ổn, vui sướng) c̣n có thể gặp
người vừa ư, gặp gỡ thiện tri thức, gặp
thiện pháp, gặp gỡ “cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền” (bậc đủ
giới, giàu đức, ruộng phước chân thật)
làm thiện tri thức cho quư vị, theo họ “tu học
ly sát sanh pháp” (tu học pháp “ĺa sát sanh”). Đó là
bước đầu tiên, tức “không sát sanh” trong Thập
Thiện Nghiệp, cho đến chẳng có ư niệm giết
chóc. Bất luận quư vị tắm rửa, bất luận
quư vị làm ǵ, đối với những loài trùng nơi
thân thể của chính ḿnh, đều phải bảo vệ
chúng, Điều này rất vi tế, rất khó!
“Năng
đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng
thành nhất thiết thù thắng thiện pháp” (có thể
đoạn hết thảy các pháp ác, bất thiện, có thể
thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng). Có thể
thành tựu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa.
V́ sao chúng ta có thể nghe pháp Đại Thừa mà chẳng
tin được? Có chướng ngại. Cũng có thể
tu tập “nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh”
(hết thảy hạnh nguyện của Bồ Tát), Bồ
Tát phát nguyện như thế nào? “Tiệm thứ thú nhập
thâm quảng trí hải”, tức là dần dần tiến
nhập biển trí sâu rộng. Do vậy, “chứng đắc
Vô Thượng Bồ Đề”, bèn thành Phật. “Sở
cư Phật độ, ly chư binh khí”, [nghĩa là]
nơi quư vị sống, ngay cả vũ khí cũng đều
chẳng có. Không chỉ chẳng có vũ khí, ngay cả những
danh xưng “oán hại, chiến đấu” cũng
đều chẳng có. “Tuyệt chư bố úy” (dứt
sạch các sợ hăi): C̣n có cảm giác hoảng sợ hay
chăng? Chẳng có! “An ổn, khoái lạc, nhất thiết
vô bệnh, trường thọ hữu t́nh lai sanh kỳ quốc”
(an ổn, vui sướng, hết thảy các hữu t́nh
không bệnh, sống lâu sanh vào cơi ấy): Những ai không bệnh,
sống lâu, đều sanh vào trong quốc độ của
quư vị. Thọ mạng của Như Lai là vô lượng
vô biên, chẳng như Thích Ca Mâu Ni Phật chỉ có một
trăm năm. “Vị chư hữu t́nh, như ưng
thuyết pháp” (v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với
căn cơ): Đáng nên dùng căn cơ nào để đắc
độ, bèn nói cho người ấy pháp đó. Như vậy
sẽ khiến chánh pháp tồn tại lâu dài, có thể lợi
ích an lạc vô lượng hữu t́nh, khiến cho vô lượng
hữu t́nh đều đạt được vui sướng.
Này thiện nam tử! Đó gọi là cái luân thứ nhất
“xa ĺa sát sanh” của Bồ Tát Ma Ha Tát, tức là chẳng
giết. Bồ Tát Ma Ha Tát phải thành tựu cái luân “chẳng
sát sanh” này!
(Kinh) Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử
luân cố, ư Thanh Văn Thừa đắc vô ngộ thất,
ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc
vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa đắc
vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc
Già La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại
Thừa, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại
Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất,
thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư
chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược
thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết
bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ
thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc
thăng tấn, vô hữu thoái chuyển, lợi huệ, thắng
phước, thường đắc
tăng trưởng. Ư nhất thiết Định,
chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc
đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường
đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận
nhi hành, thường đắc bất ly kiến nhất
thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ
tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường
chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc, thường ư
Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm
túc, sở đắc quả báo, quảng như
tiền thuyết.
(經)菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣如前說。
(Kinh: Bồ
Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, không phạm sai
lầm đối với Thanh Văn Thừa, không phạm
sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La, không phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa, không phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, không phạm
sai lầm đối với Đại Thừa, không phạm
sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La, thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải pháp khí, thậm chí đối với hết thảy
những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu
tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với
pháp Đại Thừa, thường được
thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy
bén và phước thù thắng thường được
tăng trưởng. Trong hết thảy các Định,
các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được
tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường
được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận
hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết
thảy Phật và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử.
Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường
chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường
tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường
đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề,
tâm chẳng chán đủ, đạt được quả
báo như trên đă rộng nói).
Đoạn kinh văn này toàn là nhắc lại,
trùng tuyên những điều đă nói trong phần trước,
ḥng mong chúng ta hăy suy xét cho nhiều: Không chỉ là ngôn ngữ,
văn tự, mà là mong chúng ta hăy thực hiện. Quư vị
mắc bệnh, t́m bác sĩ vô dụng! Chỉ cần chẳng
giết chóc, ngưng dứt sát nghiệp; cho đến
phóng sanh. Không chỉ là chẳng giết, mà c̣n cứu chúng
sanh. Chúng ta nói “ăn một tí thịt có sao đâu”, có sao nhiều lắm
đấy! Tuy quư vị chẳng giết, nhưng quư vị
thuận theo chuyện giết chóc, tán thán giết chóc. Nếu
nói “sát sanh chẳng sao hết, ăn thịt chẳng
ăn nhằm ǵ”, nói “các động
vật là để cho chúng ta ăn. Cá, ba ba, tôm, cua dành cho
con người ăn”; tôi nói: “Mỗi người quư vị
vẫn là để dành cho gấu chó, cọp, beo, sói
ăn!” Có thể nói như vậy hay không? Chỉ là gặp
nhân duyên ấy, quư vị có thể bị chúng nó ăn thịt.
Chẳng có nhân duyên, quư vị chẳng ăn nó được!
Đừng tạo nghiệp! Đó là luân thứ nhất “chẳng
sát sanh” trong Thập Luân.
Mười
thiện luân này, mọi người có thể xem một
lượt. Nói chung, từ “chẳng giết” cho đến
điều cuối cùng là “chẳng si”. Thập Thiện là nói đối
lập với Thập Ác. V́ sao
phải nói lặp đi lặp lại như vậy? Mọi
người thấy toàn bộ kinh văn giống hệt
như nhau, tức là chẳng giết, chẳng trộm, chẳng
tà dâm, chẳng nói thêu dệt, chẳng nói dối… Văn tự
thay đổi đôi chút, những điều khác đều
y hệt như nhau. Dụng ư của đức Phật là khiến
cho chúng sanh chú ư nhiều hơn, khiến cho chúng ta quán
tưởng nhiều hơn, tư duy nhiều hơn. Nói một
lần không được, nói mười lần th́ có thể.
Có hàm nghĩa như thế đó! Đây là nguyên nhân khiến
Ngài nhắc lại.
Giảng
bộ kinh này, chẳng thể nói từng điều một,
như thế sẽ quá trùng lặp. Quá trùng lặp, sẽ
sanh cảm giác chán ngán. Chúng ta nghe kinh Kim Cang, sẽ cảm
thức trực tiếp, thỏa đáng hơn, ưa muốn
nghe. Những loại kinh như thế, có các danh từ là
điểm độc đáo riêng biệt của bộ
kinh ấy, mọi người hiểu ư nghĩa là
được rồi. Chúng tôi vẫn là giảng một
lượt, trong các luân kế tiếp, sẽ chẳng giảng
cặn kẽ từng điều nữa!
(Kinh)
Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma
Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly bất dữ thủ, tức
thị thí dữ nhất thiết chúng sanh vô kinh, vô bố,
vô hữu nhiệt năo, diệc vô nhiễu động. Ư
tự sở đắc như pháp tài lợi, hỷ túc nhi
trụ, chung bất hy cầu phi pháp tài lợi. Do thử
thiện căn, tốc đắc thành thục. Sở hữu
tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà,
nhân bất dữ thủ, tạo thân, ngữ, ư, chư ác
nghiệp chướng, chư phiền năo chướng,
chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng,
chư tài bảo chướng, tự tác, giáo tha, kiến
văn tùy hỷ. Do thử viễn ly bất dữ thủ
luân, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất
thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng,
giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, tài bảo
cụ túc. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị
ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến
thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến
khả bố Diễm Ma Vương sứ. Duy kiến khả
ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền, vi thiện tri thức,
thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín.
(經)復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離不與取,即是施與一切眾生無驚無怖,無有熱惱,亦無擾動,於自所得如法財利喜足而住,終不希求非法財利,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因不與取,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸財寶障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離不與取輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,財寶具足。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。
(Kinh: Lại này thiện
nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến
hết thọ mạng, ĺa “chẳng cho mà lấy”, tức là thí cho hết
thảy chúng sanh chẳng kinh sợ, chẳng có nhiệt năo, mà cũng chẳng bị
nhiễu động. Đối với các tài lợi đạt
được đúng pháp, vui mừng cho là đủ, trọn
chẳng mong cầu tài lợi phi pháp. Do vậy, thiện
căn có thể mau thành thục. Trong tất cả các lúc
luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử
trước kia, do chẳng cho mà lấy, tạo thành các nghiệp
chướng ác nơi thân, miệng, ư, các phiền năo
chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy
pháp chướng, các chướng ngại nơi tiền của,
tự làm, dạy người khác làm, thấy nghe tùy hỷ.
Do cái luân “xa ĺa chẳng cho mà lấy” này, [các nghiệp chướng
ấy] sẽ đều
bị nghiền nát, đập tan chẳng c̣n sót, chẳng
nhận lănh quả báo. Trong đời hiện tại, các
hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng hề
lo ngờ, thân tâm an lạc, của cải trọn đủ.
Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ
bức bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh,
chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm
Ma, chỉ thấy bậc vừa ư, điều phục thành
tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, chân
thật phước điền làm thiện tri thức,
thân tâm vui sướng, sanh ḷng tin kính sâu xa).
Đây
là điều thứ hai trong Thập Thiện Nghiệp
Đạo: Chẳng trộm cắp. “Bất dữ thủ”
(不與取) tức là
người khác chẳng cho quư vị, quư vị cứ cầm
lấy. Đó là Đạo (盜, trộm cắp). Nếu sau khi
quư vị nghe pháp, có thể “tận h́nh thọ” (盡形壽, suốt cả
đời) chẳng trộm cắp, “h́nh” (形) là thân thể của
quư vị, “thọ mạng” vô h́nh, nhưng h́nh thể
là hữu h́nh, tức là cho đến khi quư vị mạng
chung, măi cho đến lúc tử vong, trọn chẳng phạm
giới “không cho mà lấy”, cũng chẳng phạm giới
trộm cắp! Khi chúng ta thọ Ngũ Giới, chỉ cần
chẳng trộm cắp là được rồi. Chẳng
phạm giới ấy, là đă thanh tịnh. Công đức
đạt được, sẽ là chẳng bị người
khác trộm cắp, cho đến đối với giới
ấy, quư vị chẳng phạm sai lầm. Nhưng c̣n có
một hàm nghĩa sâu xa hơn, v́ Bồ Tát Ma Ha Tát trọn
đủ mười luân, chẳng phải chỉ là “chẳng
trộm cắp” như đối với phàm phu. Hàm
nghĩa của mỗi pháp từ Tiểu đến Đại,
từ phàm phu măi cho đến địa vị Phật,
hàm nghĩa [trong mỗi địa vị] bất đồng,
danh từ như nhau, nhưng chúng ta [là phàm phu], chẳng giết
th́ là tuyệt đối chẳng thể giết. Hễ giết
liền phạm giới, lại c̣n là nói theo ư nghĩa “giết
người”.
[Giới
chẳng] trộm cắp là chẳng trộm cắp hết
thảy các vật chất của con người, chẳng
trộm vật có chủ. Vật phẩm ấy hễ có chủ
[mà tự tiện lấy dùng], sẽ là phạm giới trộm
cắp. Vật vô chủ rất khó nói. Như núi rừng, chúng
ta cho là vô chủ, nhưng thật ra là có chủ, tức quốc
gia. Trong biên cảnh của quốc gia ấy, [mọi vật]
đều coi là vật có chủ. Ở trên đường,
người ta làm rớt vật chi đó, ta không trộm cắp,
mà do người khác đánh rơi. Ta thấy đồ vật,
hoặc là tiền, hoặc là món ǵ đó, quư vị nhặt
lên, khi chúng ta đă thọ giới, tức Ngũ Giới, hoặc những giới
khác [mà nhặt lấy những vật đó], đều chẳng
coi là phạm giới trộm cắp. Nhưng đối với
tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni th́ không được, v́ họ chẳng được phép cầm vàng, bạc, của
báu, chẳng cầm tiền. Hễ cầm, cũng là phạm
giới. Bồ Tát càng không được, trong thế giới
này, chẳng có thứ ǵ vô chủ. Nếu nói vật ấy
do chúng sanh làm rơi, ta nhặt được, Bồ Tát
cũng phạm giới “chẳng cho mà lấy”.
Đồng
thời, Bồ Tát ắt cần phải quán tưởng,
chính ḿnh chẳng trộm cắp, cũng mong sao hết thảy
chúng sanh đừng trộm cắp. Ta không sát sanh, tŕ giới
cấm “chẳng giết” đến cùng, ta đem giới ấy
bố thí cho chúng sanh. Chúng ta tuyệt đối chẳng thể
nghĩ tới điều này. Chẳng trộm cắp, ta
không chỉ chẳng ăn trộm, mà c̣n mong bố thí cho
chúng sanh, bố thí ǵ vậy? Bố thí khiến cho họ
không sợ hăi, chớ nên sợ hăi, chớ nên nhiệt năo (nóng nảy, bứt rứt). Nếu chúng ta
lấy trộm của họ thứ chi đó, hoặc là cầm
đi, họ bị mất, nhất định sẽ bứt
rứt, nóng ruột. Hoặc là món đồ ấy có liên
quan đến sanh mạng của họ, họ sẽ sanh
khởi cảm giác sợ hăi. Chẳng hạn như ăn
trộm công văn, hoặc lấy trộm khế ước
đất đai, ăn trộm báo cáo thâu nhập của
người khác, đối với quư vị chẳng có vấn
đề ǵ, nhưng người ấy có thể bị tổn
thất to lớn. Không chỉ tâm bất an, mà thân cũng chẳng
an. Sau khi họ đánh mất, t́m kiếm khắp nơi!
Trộm có nhiều loại, cướp đoạt đồ
vật của người khác, đó gọi là Thưởng
(搶, cướp) và
cũng bao gồm Đạo (盜, trộm). Ăn trộm th́ gọi là Đạo, tức cường
đạo. Hoặc là khéo bày ra đủ loại
phương pháp lừa dối, gạt gẫm, th́ cũng
phạm giới trộm cắp. Nếu nói đến Trộm
Cắp th́ có rất nhiều loại. Hoặc là dùng ngôn từ,
phương thức rất khéo léo, [nại cớ] “chẳng
phải là tôi trộm của quư vị, mà là quư vị cho
tôi”, nhưng vẫn tính vào giới trộm cắp. V́ đó
là lường gạt, dối trá, hoặc là mượn mà
không trả, cũng tính là trộm cắp. Cái tội trộm
cắp [kiểu ấy] càng nặng hơn. Khi nói tới giới
trộm cắp, giới tướng hết sức cặn
kẽ, hết sức vi tế, nhưng ở đây, kinh
văn chẳng nói [cặn kẽ như vậy]!
Đức
Phật bảo là Bồ Tát Ma Ha Tát “tận h́nh thọ” (cho
đến hết thọ mạng), chớ nên trộm cắp.
Người ta chẳng cho, chẳng thể lấy. Trái lại,
ta chẳng trộm cắp, mà c̣n mong bố thí cho chúng sanh! Bố
thí ǵ vậy? Khiến cho họ chẳng kinh sợ, chẳng
có nhiệt năo, mà cũng chẳng bị nhiễu động.
Đối với tài lợi đạt được
đúng pháp, hợp pháp của chính quư vị, giống
như chúng ta làm việc kiếm tiền, hoặc là bất
luận như thế nào, đó là món tiền chúng ta nên có. Hễ
đạt được, phải nên vui mừng, thỏa
măn, chớ nên tham cầu. “Bất trụ” có nghĩa
là “vẫn cứ truy cầu”. Mặt khác, phàm là tài lợi
phi pháp, ta chẳng nên có, th́ đừng mưu cầu, mà
cũng đừng mong cầu. Không chỉ ta đích thân chẳng
làm, mà tâm cũng chẳng suy tưởng, miệng càng chẳng
nên nhắc tới. Có những thứ tài vật là do miệng
lừa được, có t́nh huống này. Do chẳng trộm
cắp như thế, thiện căn chín muồi rất
nhanh chóng, v́ chẳng có duyên cớ trộm cắp, chẳng
có tâm trộm cắp.
Như
vậy th́ nghiệp đă tạo trong quá khứ, tiền tế,
hậu tế (後際, vị lai), trung tế (中際) là hiện tại, quá khứ là tiền tế (前際). Do tội ác trộm cắp, quư vị đáng nên vào
trong năm đường. Năm đường chính là
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người,
A Tu La [được tính chung vào bốn đường
kia, ngoại trừ địa ngục]. Do v́ ăn trộm,
luân chuyển sanh tử trong ấy, sanh tử giống
như con sông dài, vĩnh viễn ch́m nghỉm trong ấy, chẳng
thoát ra được, “một sanh tử hà” (ch́m trong
sông sanh tử), vây phủ trong con sông sanh tử! V́ không cho
mà lấy, tạo thành thân nghiệp, ngữ nghiệp, ư nghiệp,
các ác nghiệp chướng, “chư phiền năo chướng,
chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng,
chư tài bảo chướng, tự tác, giáo tha, kiến
văn tùy hỷ” (các phiền năo chướng, các hữu
t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các
chướng ngại nơi của cải, tự làm, dạy
người khác, thấy nghe tùy hỷ): Đó là nghiệp
quư vị đă tạo trong quá khứ. Nghiệp ấy v́ trộm
cắp mà tạo thành các ác nghiệp chướng nơi
thân, ngữ, ư, tức là ta cướp đoạt, dùng thân
thể để cưỡng đoạt, hoặc dùng miệng
lừa gạt, hoặc dùng ư niệm bày cách. Các ác nghiệp
đă tạo nơi thân, ngữ, ư đều thuộc loại
trộm cắp. Phàm những ǵ thuộc loại này đều
là trộm cắp. Do như thế, gây phiền năo cho chính
ḿnh, gây phiền năo cho người khác, ngăn chướng
đạo nghiệp tu đạo của quư vị.
Nếu
chúng ta buôn bán chẳng thuận lợi, hoặc là tài nguyên
không thuận lợi, các dụng cụ cần thiết cho
cuộc sống thiếu thốn, quư vị chẳng oán trời,
hờn người, mà hăy oán chính ḿnh, quá khứ đă tạo
các nghiệp ấy, cho nên quư vị có các chướng ngại
đó. Đối với hết thảy các pháp, quư vị
đều chẳng thể tiến nhập, bị ngăn
chướng. Của cải quư vị cũng chẳng trọn
đủ. V́ thế liền sanh ra các chướng ngại
ấy. Không chỉ là chính ḿnh trộm cắp, hoặc là dạy
người khác trộm cắp, tự ḿnh làm, dạy
người khác trộm cắp, cho đến thấy kẻ
khác trộm cắp, quư vị cao hứng, mừng rỡ, thấy
nghe tùy hỷ, chẳng phải là tùy hỷ thiện nghiệp,
mà là tùy hỷ ác nghiệp.
Nếu
nay quư vị xa ĺa các tội chướng “chẳng cho mà
lấy”, chẳng trộm cắp, cách nó rất xa. “Xa
ĺa” có nghĩa là chẳng tạo tác nữa. “Giai tất
triển hoại” (thảy đều nghiền nát): Do
cái luân trong hiện tại, hiện tại là cái luân ǵ vậy?
Chính là cái luân “xa ĺa chẳng cho mà lấy”. Trong quá khứ,
do mê muội, hồ đồ, do nghiệp chướng,
đă làm những chuyện như vậy. Từ nay về
sau, phát nguyện chẳng trộm cắp, cũng xác thực
là chẳng trộm cắp, cũng tức là nay chúng ta chẳng
tạo, tiêu mất nghiệp quá khứ, dẹp tan chẳng
c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo. Do vậy, phải
nên sám hối. Đă sám hối xong; sau đấy,
sẽ chẳng làm nữa!
“Ư
hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng
thân ái, vô sở sai lự” (trong thân hiện tại, các
hàng trời, người đều cùng thân ái, chẳng có
ngờ lo): Người khác đối với quư vị chẳng
ngờ vực, lo ngại. Hễ mất đồ, họ
chẳng hoài nghi quư vị lấy, có ư nghĩa như thế
đó. Chẳng ngờ vực, lo ngại, họ bị mất
đồ tuyệt đối chẳng hề
ngờ vực quư vị, chẳng hoài nghi quư vị nhám nhúa.
Nếu không, trong nhà này có mấy
người, người nào đó mất đồ, sẽ
hoài nghi: “Nhà này chỉ có mấy người, chẳng phải
Trương Tam th́ chắc là Lư Tứ”. Nhưng do quư vị
chẳng có nghiệp này, họ sẽ chẳng hoài nghi quư vị
là hạng người như thế đó!
C̣n
có kẻ trộm vật của quỷ thần. Quỷ th́
chúng ta c̣n có thể trộm được thứ ǵ đó,
thần th́ chúng ta cũng chẳng thể
trộm được. Chẳng phải vậy! Phàm là
trong miếu thờ, bất cứ đồ vật, tiền
tài, trong miếu thờ thổ địa, quư vị đừng
có lấy, đó là xúc phạm quỷ thần. Phàm là những
thứ trong chùa, thứ ǵ sư phụ cho quư vị th́ có thể
lấy, đó là vật dụng tư nhân. Nhưng nếu
ông ta lấy thứ ǵ thuộc Tam Bảo, hoặc lấy vật
thuộc thập phương thường trụ làm quà tặng,
th́ ông ta phạm lỗi, chứ quư vị chẳng phạm.
Trong Phật đường, sư phụ trao cho quư vị
thứ chi đó, quư vị chẳng phạm lỗi, mà ông ta
cũng chẳng phạm. Ông ta nói những thứ đó là của
ông ta, chẳng phải là của thập phương
thường trụ. V́ sao ông ta phải ở trong tinh xá,
không ở trong chùa lớn? Điều này có nguyên nhân, ông ta
sợ phạm tội! Ở trong chùa, quư vị tùy tiện
nhất cử nhất động, đều phải suy
xét. Đấy là của Tam Bảo, ăn sai một miếng
cũng chẳng được! Do v́ như vậy, người
ta chẳng ngờ vực, lo ngại quư vị, thân tâm an lạc.
Quư vị chẳng trộm cắp, sẽ chẳng gặp cảnh
khốn cùng. Quư vị cảm cái quả ấy, của cải
trọn đủ. Tới khi quư vị lâm chung, thân tâm chẳng
bị ưu khổ bức bách, cảm thấy rất nhẹ
nhàng, rất tự tại.
Trong mười luân ấy, hễ
luân nào được thành tựu, các thứ khác đều
kém quan trọng hơn! Kẻ mạnh chẳng thể chèn
ép kẻ yếu được! Thập luân thành tựu, dẫu
thành tựu một luân cũng được, lúc lâm chung,
quư vị cũng chẳng thấy sứ giả của vua
Diễm Ma. Trong đoạn kinh văn trên đây, có một
câu “sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu”
(vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh): Đấy
là “thọ chung chánh tẩm”. “Chánh tẩm” (正寢) là ǵ? Chết ở
trong nhà của chính ḿnh, chết ngay trong nhà, thi thể quàn ở
trong nhà. Đó gọi là “thọ chung chánh tẩm” (壽終正寢). Chết ở
bên ngoài, chuyển xác về, chẳng thể coi là “thọ
chung chánh tẩm”. Trong quá khứ, cổ nhân nói: Quư
vị tạo rất nhiều nghiệp, làm rất nhiều
chuyện xấu, chết ở bên ngoài, sẽ chẳng
được coi là “thọ chung chánh tẩm”. [Hiện
thời] chết tại nhà rất khó, trong quá khứ rất
nhiều. Hiện thời “thọ chung chánh tẩm” rất
ít, v́ thọ chung ở bệnh viện chiếm đại
đa số. Khi lâm chung, quư vị chẳng thấy vua Diêm La,
ông ta cũng chẳng sai người đến câu hồn
quư vị, chẳng thể. Chỉ thấy những người
khiến cho quư vị đẹp ư, hoặc thấy quang
minh, ngửi mùi thơm. Nếu quư vị là người tin
Phật, sẽ thấy thánh tượng. Quư vị chẳng
tin Phật, nhưng do là người chẳng trộm cắp,
sẽ được thiện thần, hộ pháp, sẽ
trông thấy thiện thần. Phàm là [trông thấy người] hợp ư,
như vậy th́ sẽ thành tựu điều ḥa thiện
pháp của quư vị, đó là những người
thiện pháp trọn đủ, trọn giới, giàu đức.
“Thiện
pháp điều thành” (điều ḥa thành tựu thiện
pháp) tức là thuận theo thiện pháp. “Cụ giới, phú đức” (đủ giới,
giàu đức) là tŕ giới thanh tịnh, có oai đức.
Hay là chân thật phước điền, phước
điền Tăng, hoặc là phước điền
cư sĩ, hoặc là phước điền ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di làm thiện tri thức cho quư vị. Khi lâm chung, sẽ
có thể trông thấy họ. Quư vị thấy rồi, “thân tâm
hoan duyệt, thâm sanh kính tín” (thân tâm vui
sướng, sanh ḷng kính tin sâu xa): Do có loại tâm t́nh ấy,
chết đi sẽ “hoàn sanh nhân trung” (lại sanh trong
loài người), hoặc sanh lên cơi trời.
(Kinh)
Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn,
chi thể cụ túc. Tùy sở sanh xứ, cụ đại
tài bảo, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc, bất
dữ ngũ gia cộng chư tài bảo. Phục ngộ
khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật
phước điền, vi thiện tri thức, y bỉ tu
học “ly bất dữ thủ”, năng đoạn nhất
thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết
thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết
Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết
Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm
quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng
Bồ Đề. Sở cư Phật độ, chúng bảo
trang nghiêm, bảo thụ, bảo tŕ, bảo đài, điện
đẳng, vô bất sung bị. Ly ngă, ngă sở, vô sở
nhiếp thọ, nhất thiết cụ túc nghiêm sức hữu
t́nh, lai sanh kỳ quốc. Như Lai tự thân thọ mạng
vô lượng, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết
pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi
ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử!
Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ nhị viễn ly bất
dữ thủ luân.
(經)既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,具大財寶,端正聰明,安隱快樂,不與五家共諸財寶;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離不與取,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,眾寶莊嚴,寶樹、寶池、寶台殿等,無不充備,離我、我所,無所攝受,一切具足嚴飾有情來生其國;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第二遠離不與取輪。
(Kinh:
Đă mạng chung xong, lại sanh làm người, các
căn viên măn, chi thể trọn đủ. Sanh ở bất
cứ nơi đâu, trọn đủ của cải lớn
lao, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng, chẳng
có chung tài sản với năm nhà. Lại gặp bậc
đáng mến, điều phục thành tựu thiện
pháp, đủ giới, giàu đức, chân thật phước
điền làm thiện tri thức. Nương theo người
ấy tu học, ĺa “chẳng cho mà lấy”, có thể đoạn
hết thảy ác pháp bất thiện, có thể thành tựu
hết thảy các thiện pháp thù thắng, có thể cầu
hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu
hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần
dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến
chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật
người ấy ở, các thứ báu trang nghiêm, cây báu, ao
báu, đài báu, cung điện v.v… không ǵ chẳng trọn
đủ. Các hữu t́nh ĺa ngă, ngă sở, không có ǵ nhiếp thọ,
trọn đủ hết thảy trang nghiêm, sanh về cơi ấy.
Bản thân đức Như Lai thọ mạng vô lượng,
v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại
lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này
thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ hai “chẳng
cho mà lấy” của Bồ Tát Ma Ha Tát).
“Chư
căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở sanh xứ, cụ
đại tài bảo, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc”
(Các căn viên măn, chi thể trọn đủ, sanh ở
bất cứ nơi đâu cũng đều trọn đủ
của cải, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng).
Đoạn này giống như kinh văn trong phần
trước. Chỉ phần giữa nói về trộm hay
giết khác nhau, những điều khác giống nhau: Lại được sanh làm người, sáu căn trọn
đủ, tứ chi cũng trọn đủ. Sanh ở nơi đâu, cũng đều
trọn đủ các của cải.
Đương nhiên là gia tộc của quư vị cũng rất giàu có. Sanh vào gia đ́nh tốt đẹp,
đoan chánh, thông minh, tướng mạo rất tốt, ai
thấy cũng đều thích, thông thái, lanh lợi, an ổn,
vui sướng.
“Bất
dữ ngũ gia cộng chư tài bảo” (chẳng cùng
chung tài sản với năm nhà): Hết thảy của cải
trong thế gian là của chung năm nhà. Quư vị chẳng
trộm cắp th́ chính quư vị sẽ làm chủ. Chẳng
cùng chung với năm nhà, năm nhà nào vậy?
1)
Quốc gia tịch thâu, hoặc là trưng dụng.
2)
Hoặc là đạo tặc cướp đoạt. Chúng
nó cướp đoạt, quư vị chẳng đề
pḥng nổi, hoặc là bị kẻ trộm lấy cắp.
Đấy là hai nhà.
3)
Nước nhấn ch́m, lũ lụt
cuốn trôi mất đi.
4)
Lửa đốt, đó là bốn nhà.
5)
Lợi hại nhất là “cướp nhà khó pḥng”, tức
con cháu bất hiếu, quư vị chẳng có cách nào cả!
Hết
thảy tài sản trong thế gian là của chung năm nhà đó.
Quư vị có thể an ổn, vui sướng. Tài sản [của quư vị] chẳng phải
là của chung năm nhà, chỉ có phước báo của
quư vị do quư vị cảm vời. Ai cũng chẳng tịch
thâu của quư vị được! Con cháu của quư vị
đều thiện lương, chẳng sanh ra con cháu ngỗ
nghịch.
“Phục
ngộ khả ư, thành điều
thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật
phước điền, vi thiện tri
thức” (lại gặp bậc đẹp ư, điều phục
thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức,
chân thật phước điền làm thiện tri thức):
Sẽ nương theo người như vậy để
tu học, theo người
đó tu hành, học đạo, xa ĺa “không cho mà
lấy”, giữ giới này thanh tịnh, chẳng c̣n trộm
cắp nữa! Hết thảy các pháp bất thiện
như đă nói, quư vị đều
có thể đoạn. Tuy chỉ tŕ một giới này, chín điều thiện kia quư vị
cũng có thể trọn đủ. Có một điều
để đột phá, những điều khác cũng trọn
đủ. “Năng thành nhất thiết thù thắng thiện
pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp
nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh,
tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật
độ, chúng bảo trang nghiêm, bảo thụ, bảo
tŕ, bảo đài, điện đẳng, vô bất sung bị”
(có thể thành tựu hết thảy các thiện pháp thù
thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại
Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của
Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng,
cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ
Đề. Cơi Phật người ấy ở, các thứ
báu trang nghiêm, cây báu, ao báu, đài báu, cung điện v.v…
không ǵ chẳng trọn đủ): Điều này giống
như Tây Phương Cực Lạc thế giới. Mọi
người niệm kinh A Di Đà đều biết, sanh
vào thế giới nào, cũng đều
giống nhau. Sanh vào quốc độ ấy, sanh thiên
cũng là như thế. Quư vị đến cơi Phật ấy,
bản thân Phật Thế Tôn Như Lai thọ mạng vô lượng,
v́ hết thảy hữu t́nh thuyết pháp đúng với
căn cơ, quư vị đến đó có thể nghe pháp.
Sau khi đức Phật diệt độ, trong thế giới
ấy, “chánh pháp cửu trụ, lợi ích an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử!
Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ nhị viễn ly bất
dữ thủ luân” (chánh pháp tồn tại
lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này
thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ hai “chẳng
cho mà lấy” của Bồ Tát Ma Ha Tát).
(Kinh)
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh
Văn Thừa đắc vô ngộ thất, ư Thanh
Văn Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ
thất, ư Độc Giác Thừa đắc vô ngộ
thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già
La đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa
đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa
Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, thường
năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai
xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí,
nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến
ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất.
Ư Đại Thừa pháp, thường đắc
thăng tấn, vô hữu thoái chuyển, lợi huệ, thắng
phước, thường đắc tăng trưởng.
Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư
Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại,
vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ
chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành, thường
đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập
chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly
văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng
Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề
chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc, sở
đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.
(經)菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。
(Kinh: Bồ
Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân ấy, chẳng phạm sai lầm
đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai
lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc
Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc
Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm
sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La, thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy
những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu
tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với
pháp Đại Thừa, thường được
thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy
bén, phước thù thắng, thường được
tăng trưởng. Trong hết thảy các Định,
các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được
tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường
được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận
hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết
thảy Phật và các vị Bồ Tát, Thanh Văn đệ
tử. Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng
dường chúng Tăng. Đối với các thiện
căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán
đủ. Thường đối với các thứ hạnh
nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt
được quả báo như đă nói rộng trong phần
trên).
Người
thuộc tam thừa, Bổ Đặc Già La (Pudgala) là
người, là hữu t́nh. Thanh Văn Thừa, Độc
Giác Thừa, Đại Thừa. Ba loại người ấy
thọ tŕ pháp tam thừa, quư vị thuyết pháp cho họ,
dạy họ, đều chẳng phạm sai lầm, họ
cũng sẽ chẳng phạm sai lầm, sẽ nói đúng
như pháp. Đó là Bồ Tát Ma Ha Tát. Ngài (Kim Cang Tạng Bồ
Tát) hỏi Bồ Tát Ma Ha Tát làm thế nào để có thể thành tựu
đại Bồ Tát đạo? Hóa độ chúng sanh bằng
cách nào? Đức Phật liền bảo ngài Kim Cang Tạng
có thập luân. Nói xong mười luân này, trong phần sau, c̣n
có Thập Giáp Trụ Luân. Đó cũng là những việc
phải làm của Bồ Tát. Do vậy quư vị thấy thập
luân là nhắc lại, kinh Đại Tập Thập Luân
chuyên nói về thập luân.
Dần
dần thăng tấn nơi pháp Đại Thừa, măi cho
đến khi thành Phật. Từ đấy về sau, chẳng
hề thoái chuyển. “Lợi huệ, thắng phước,
thường đắc tăng trưởng”, [ư nói]: Trí
huệ sắc bén, trí huệ giống như kim cang, phước
đức thù thắng, vĩnh viễn tăng trưởng;
đồng thời, cũng có thể đạt được
Giới, Định, Huệ. Bản thân xa ĺa trộm cắp,
xa ĺa “chẳng cho mà lấy”, đó là Giới. Khi quư vị
tu Định, hết thảy các tam-muội đều có
thể đạt được. Cho đến khi thành Phật,
sẽ đạt được Thập Nhẫn, Thập
Địa, cũng có thể đạt được tự
tại, chẳng bị thoái chuyển, thường
được gặp gỡ các vị thiện tri thức
để tùy thuận làm theo, thường gặp
được danh sư chỉ điểm, hướng dẫn
quư vị. Quư vị hành theo lời vị ấy nói, người
ấy làm như thế nào, quư vị cũng làm như thế
đó, hành thuận theo, chẳng trái nghịch. Thường
được chẳng ĺa thấy hết thảy các vị
Phật, thường được chẳng ĺa thấy hết
thảy các vị Bồ Tát, thường được chẳng
ĺa thấy hết thảy Thanh Văn, thường
được chẳng ĺa thấy chư Phật, Bồ
Tát, Thanh Văn đệ tử, thường được
chẳng ĺa nghe pháp. Nơi quư vị ở, thường
luôn có các hội thuyết pháp, thường có thể nghe pháp, lại
c̣n có thể thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đấy
là Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo,
quư vị thường chẳng tách rời, thường
được thân cận.
“Ư
chư thiện căn, thường
tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc” (thường
tinh tấn cầu các thiện căn, tâm chẳng chán đủ):
Đấy là vun bồi phước đức, vun bồi
thiện căn, tinh tấn chẳng lười nhác, chẳng
thỏa măn, tức là chẳng cảm thấy
làm lành đă đủ. Đối với ác th́ một niệm
chẳng sanh. Đó là một niệm thành Phật. “Thường
ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện,
tâm vô yếm túc” (thường đối với các thứ
hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ):
Phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Đề hạnh, phát Bồ
Đề nguyện, chẳng chán đủ, đạt
được quả báo như trong phần trước
đă rộng nói.
(Kinh)
Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma
Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly dục tà hạnh, tức
thị thí dữ dục lưu sở phiêu nhất thiết
chúng sanh vô kinh, vô bố, vô tật, vô hại, vô hữu nhiệt
năo, diệc vô nhiễu động. Ư kỷ thê thất,
hỷ túc nhi trụ, chung bất hy cầu phi pháp sắc dục.
Do thử thiện căn, tốc đắc thành thục. Sở
hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử
hà, nhân dục tà hạnh, tạo thân, ngữ, ư, chư ác
nghiệp chướng, chư phiền năo chướng,
chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng,
chư thất gia chướng, tự tác, giáo tha, kiến
văn tùy hỷ. Do thử viễn ly dục tà hạnh luân,
giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất
thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng,
giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, thê
thất trinh lương. Tương mạng chung thời,
thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở
ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung
thời, bất kiến khả bố Diễm Ma
Vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều thiện
pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước
điền vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm
sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư
căn viên măn, chi thể cụ túc. Tùy sở sanh xứ, cụ
chư quyến thuộc, đoan chánh, thông minh, an ổn,
khoái lạc. Phục ngộ khả ư, thành điều thiện
pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước
điền, vi thiện tri thức, y bỉ tu học, ly dục
tà hạnh, năng đoạn nhất thiết ác bất
thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện
pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp
nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh,
tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật
độ, vô chư nữ nhân, ly chư dâm dục, cụ tục
đệ nhất phạm hạnh hữu t́nh lai sanh kỳ
quốc. Nhất thiết hữu t́nh giai thọ hóa sanh, bất
xử bào thai xú uế bất tịnh. Như Lai tự thân
thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh
như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu
trụ, lợi ích, an lạc, vô lượng hữu t́nh. Thiện
nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ tam viễn
ly dục tà hạnh luân.
(經)復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離欲邪行,即是施與欲流所漂一切眾生無驚無怖,無嫉無害,無有熱惱,亦無擾動,於己妻室喜足而住,終不希求非法色慾,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因欲邪行,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸室家障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離欲邪行輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,妻室貞良。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,具諸眷屬,端正聰明,安隱快樂;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離欲邪行,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,無諸女人,離諸淫慾,具足第一梵行有情來生其國,一切有情皆受化生,不處胞胎臭穢不淨;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第三遠離欲邪行輪。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể
cho đến hết thọ mạng ĺa dục tà hạnh,
tức là đă thí “không kinh sợ,
không ghen ghét, không năo hại, không nhiệt năo”, cũng như “không nhiễu loạn” cho hết thảy chúng sanh trôi giạt trong gịng dục.
Trụ trong sự vui đủ đối với vợ
ḿnh, trọn chẳng mong cầu sắc dục phi pháp. Do vậy,
thiện căn mau được thành thục. Trong tất
cả những lúc luân chuyển trong năm đường,
ch́m trong sông sanh tử thuở quá khứ, do dục tà hạnh,
tạo các ác nghiệp chướng nơi thân, ngữ, ư,
các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết
thảy pháp chướng, các chướng ngại về gia
đ́nh, tự làm, dạy người khác làm, thấy nghe
tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa dục tà hạnh” này, [các thứ
chướng ấy] sẽ đều bị nghiền nát,
phá tan chẳng c̣n sót thừa, chẳng nhận lănh quả
báo. Trong thân hiện tại, các hàng trời người
đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại, thân
tâm an lạc, thê thiếp trinh lương. Khi sắp mạng
chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách. Vợ
con yêu mến, quyến thuộc vây quanh. Khi sắp mạng
chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của
vua Diễm Ma, chỉ thấy người đẹp ư,
điều phục thành tựu thiện
pháp, đủ giới, giàu đức, chân thật phước
điền làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng,
sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung rồi lại sanh
làm người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ,
sanh ở bất cứ nơi đâu, quyến thuộc
đầy đủ, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui
sướng, lại gặp người vừa ư, thành tựu
điều phục các thiện pháp, đủ giới, giàu
đức, chân thật phước điền làm thiện
tri thức, nương theo người ấy tu học,
ĺa dục tà hạnh, có thể đoạn hết thảy
các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy
thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy
pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy
nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến
nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc
Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy
sống, không có các nữ nhân, ĺa các dâm dục, hữu t́nh
trọn đủ phạm hạnh bậc nhất sanh về
nước ấy. Hết thảy hữu t́nh đều
được hóa sanh, chẳng ở trong bào thai hôi thối,
bất tịnh. Bản thân Như Lai thọ mạng vô
lượng, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng theo
căn cơ. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn,
chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng
hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ
ba “xa ĺa dục tà hạnh” của Bồ Tát Ma Ha Tát).
[Giữ giới chẳng]
tà dâm, “tức thị thí dữ dục lưu sở phiêu,
nhất thiết chúng sanh vô kinh, vô bố” (tức là thí
chẳng kinh sợ cho hết thảy chúng sanh đang trôi giạt
trong gịng dục), giống như giới trộm cắp,
đấy cũng là bố thí cho chúng sanh. Tất cả những kẻ đang ch́m đắm trong
gịng dục, tham đắm dâm dục, hạng chúng sanh ấy
ch́m nổi trong ba đường ác. Bố thí cho hết thảy
chúng sanh đang trôi giạt, an ủi, khiến cho họ
không sợ hăi, không kinh hoàng, giống hệt như trong phần
trước [đă nói]. “Vô tật, vô hại, vô hữu
nhiệt năo” (chẳng ghen ghét, chẳng năo hại, chẳng
có nhiệt năo), cũng chẳng nhiễu loạn. “Ư kỷ
thê thất, hỷ túc nhi trụ” (Trụ nơi vui đủ
với vợ ḿnh): Quan hệ vợ chồng là chánh đạo
trong nhân gian, cho nên đă thọ Ngũ Giới hay thọ [tại gia] Bồ Tát Giới, sẽ chẳng gây trở
ngại cho chánh đạo trong nhân gian. Nếu đă thọ
tỳ-kheo Bồ Tát giới th́ không được [có quan hệ
dâm dục]. Hàng Bồ Tát thuộc Tín vị phải đoạn
hết thảy các dục. Chúng ta cảm thấy lập gia
đ́nh sanh nở, nuôi dưỡng con cái, nối dơi tông
đường là chuyện b́nh thường trong nhân gian,
nhưng điều ấy có đúng hay không? Chẳng
đúng!
Như
khi tôi ở chùa Chánh Giác thuộc Trung Nam Hải tại Bắc
Kinh, có một vị giáo sư đại học đến
công viên Bắc Hải chơi, trông thấy một ngôi chùa,
liền bước vào. Trong công viên lại có chùa, ông ta cảm
thấy rất lạ lùng. Có thể là lần đầu
tiên ông ta bước vào. Ngôi chùa trong công viên Bắc Hải
do đế vương nhà Măn Thanh xây dựng; trước
kia, chùa hoàn toàn chẳng mở
cửa cho công chúng. Bởi lẽ, ngôi chùa ấy chuyên dành
cho các vị lạt-ma ở, chẳng dành cho các ḥa thượng
ở. Thời đó, các hoàng đế đều quy y lạt-ma,
mượn sức người Mông Cổ, mượn sức
người Tây Tạng để giúp đỡ biên
cương [an ổn].
Vị
giáo sư ấy đến đó, thấy bọn ḥa thượng
chúng tôi, ông ta chẳng cung kính đối với tượng
Phật, cũng chẳng lễ bái, lên giọng răn dạy
chúng tôi: “Nếu ai nấy đều giống như các
ngươi, nhân gian sẽ chẳng c̣n ai hết, bị tuyệt
chủng cả rồi!” Ông ta nói với tôi rất nhiều,
tôi chỉ nêu ra vấn đề liên quan đến
chuyện đang nói hôm nay (tức là chuyện đoạn dục). Lúc đó, tôi
đáp lời ông ta: “Đều giống như chúng tôi th́
cũng được lắm, đều đoạn dục,
tuyệt chủng rồi. [Ông cho rằng] đều giống
như chúng tôi là không được, nhưng tôi có thể
nói mấy chỗ, chẳng hạn như thế giới Cực
Lạc chẳng có nữ nhân, họ chẳng tuyệt chủng,
người trong mười phương thế giới
đều đến đó”. Tôi nói: “Đại Phạm
Thiên chẳng tuyệt chủng! Ở cơi trời ấy, chẳng
có tướng nữ nhân, mà cũng chẳng có nữ nhân, chỉ sáu tầng trời trong
cơi Dục th́ có, chứ Đại Phạm Thiên tuyệt
đối chẳng có. Mười
phương thế giới đều sanh về đó, họ
chẳng bị tuyệt chủng”. Ông ta đáp: “Tôi chẳng
thấy chuyện ấy, tôi không tin. Tôi chỉ tin tưởng
chuyện thấy trước mắt. Có sự thật th́
tôi mới tin tưởng. Những điều ấy chẳng
phải là sự thật, toàn là chuyện do Phật giáo mấy
ông bịa ra!” Tôi nói: “Tôi nói một chút sự thật vậy.
Đều giống như chúng tôi th́ không được, vậy
th́ đều giống như giáo sư nhà ông th́ có
được hay không?” “Có ǵ là không được? Tôi có thể dạy
dỗ người khác”. Tôi nói: “Ông có ăn uống hay không?
Có mặc quần áo hay không? Quần áo của ông từ
đâu mà có? Là do giáo sư làm ra? Hay do học giả làm ra?
Lương thực ông ăn do các vị giáo sư như ông trồng trọt à? Đều giống
như tôi [đương nhiên] là chuyện chẳng thể.
Nhưng nếu đều giống như ông th́ cũng chẳng được! Nếu
đều giống như ông th́ thế giới
này cũng chẳng có, đều chết đói hết rồi! Ông cũng chẳng cần mặc
quần áo, mà cũng chẳng cần ăn cơm nữa, ông
c̣n muốn đến chơi chỗ
này th́ chẳng thể nào được!”
Giả sử nói thế giới này đều
giống như Phật, đó là chuyện chẳng thể
nào! Chỉ có thể nói là Phật quả. Đều giống
như Phật, thế giới này sẽ chẳng có,
toàn thể thanh tịnh. Đây là chuyện tuyệt đối
chẳng thể có. Đó là đă phạm sai lầm căn
bản [trong khi biện luận]. Bất luận quư vị
nêu lên một pháp nào, nếu đều là một pháp, thứ
ǵ cũng đều chẳng có, chỉ có một pháp là chứng
đắc tánh Không. Ai nấy đều trọn đủ
tánh Không, nhưng [kẻ b́nh phàm] ai nấy đều chẳng
chứng được! Người chứng
đắc [tánh Không] rất ít, cho nên [người chứng
đắc tánh Không] mới thành Phật. Vật ǵ hiếm
th́ quư! Trong nhân loại, hễ có một vị A La Hán đoạn
phiền năo, chứng Bồ Đề, vị ấy sẽ
tôn quư khôn cùng, có ư nghĩa như thế đó.
Vị
Bồ Tát này cho đến hết thọ mạng đều
có thể rời ĺa [dục tà hạnh], v́ Bồ Tát có tại
gia Bồ Tát và xuất gia Bồ Tát, cho nên các Ngài ĺa dục tà hạnh.
Nếu toàn thể [chúng sanh đều] là Bồ Tát, sẽ đều là chánh hạnh
ly dục, chẳng thể
nào tà hạnh. Thế nhưng nếu quư vị chẳng
có dục niệm, th́ đối với hết
thảy chúng sanh, chính là đă cúng dường,
bố thí cho họ “chẳng kinh sợ, chẳng ghen ghét, chẳng
năo hại”. Tà dục là ghen tỵ, do gian dâm sanh ra sát hại.
Hễ phá giới này, sát giới cũng phá, mà cũng có thể
giới uống rượu bị phá luôn, mà cũng có thể
là giới trộm cắp cũng phạm. Giết, trộm,
dâm, dối, chỉ cần phá một điều, sẽ có
mối liên quan, cũng có thể phá sạch cả năm giới.
Do vậy, chớ nên ghen tỵ. “Vô hữu nhiệt năo, diệc
vô nhiễu động, ư kỷ thê thất, hỷ túc nhi trụ” (Chẳng có nhiệt
năo, cũng chẳng nhiễu loạn, có thể trụ trong
vui đủ với vợ của chính ḿnh), phải nên vui
thỏa [với những ǵ ḿnh đang có]. Dục vọng là thứ
không có chừng hạn!
“Chung
bất hy cầu phi pháp sắc dục” (trọn chẳng
mong cầu sắc dục phi pháp), tức là chẳng tham cầu sắc dục trái pháp. Chẳng hợp pháp, chẳng
qua các thủ tục [kết hôn], th́ đều gọi
là “phi pháp sắc dục”. Hiện thời, chẳng có
cách nào! Hằng ngày xem báo chí, [sẽ thấy] sắc dục
phi pháp quá nhiều. Nếu Bồ Tát có thể cho đến
hết thọ mạng, luôn xa ĺa [dục
tà hạnh]; do điều này mà thiện
căn nhất định có thể chín muồi! Trong tất
cả những lúc luân chuyển trong năm đường,
ch́m trong sông sanh tử trước kia, do dục tà hạnh,
tạo ra các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư,
các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết
thảy pháp chướng, các chướng ngại về
gia đ́nh, [những thứ chướng sẽ đều
bị trừ diệt]. Có gia đ́nh là có chướng ngại.
Mọi người thấy chữ Gia (家), phía trên có một chữ giống như cái lọng
báu (tức bộ Miên, 宀), khóa chặt lại,
chẳng thể có cách nào thoát ra. Chờ ǵ vậy? Chờ bị
tàn sát, chờ đến khi chết ngắc trong nhà. Hiện
thời, thật sự chết ở trong nhà vẫn là “chánh
tẩm”, nếu chết ở bên ngoài th́ “phiêu lưu”
(trôi giạt).
“Tự
tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ, do thử viễn ly dục
tà hạnh luân” (tự làm, dạy người khác làm, thấy
nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa dục tà
hạnh” này), khi quư vị xem TV, gặp những màn ấy,
quư vị phải phát nguyện, nguyện cho hết thảy
chúng sanh đoạn tà dục, nhất định phải
phát nguyện. Quư vị nh́n những cảnh ấy, lại
nh́n vào thế giới động vật, quư vị nói xem,
con người và động vật khác nhau bao nhiêu? Đều
là lo kiếm ăn, tàn sát lẫn nhau. Mấy hôm nay, tôi xem TV
mới biết gấu chó ăn cá. Gấu chó[4]
ở Bắc Cực phải dựa vào cá để sống.
Thứ ǵ cũng đều chẳng có, trời băng
đất tuyết, nó phải bắt cá. Đó gọi là tàn
sát lẫn nhau. Trả nợ mạng thay cho nhau. Trông thấy
những việc ấy, ngàn vạn phần chớ nên tùy hỷ!
Quư vị nói xem, giữa con người với nhau, giữa
súc sanh với nhau, có ǵ khác biệt? Trung Hoa cổ đại
đă có câu tục ngữ: “Nhân chi dị ư cầm thú giả cơ hy” (con người
khác với cầm thú rất ít). Rất ít! Con người xét theo lư, trong cảnh giới ngũ dục,
chúng ta một vừa hai phải, chớ nên quá phận. Chữ Dâm
(淫) có ba chấm thủy,
Dâm là quá mức, [theo nghĩa gốc là] mưa dầm quá
lâu, một mực chẳng ngừng. Mưa lâu liền sanh ẩm
ướt. Dâm có nghĩa là “quá mức”, càng quá mức th́ khác
biệt với động vật càng nhỏ!
Quư
vị có thể quan sát, bồ câu, chim sẻ, chuột, dục
niệm của chúng đúng là chẳng có chừng hạn.
Phải nên biết điều này! Do “viễn ly dục hạnh
luân” sẽ “giai tất triển hoại, tồi diệt
vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư
nhân thiên đẳng giai cộng thân ái, vô sở sai lự” (thảy đều
nghiền nát, phá tan chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả
báo. Trong thân hiện tại, các hàng trời, người
đều cùng thân ái, chẳng có ngờ vực, lo ngại):
Trời, người đối với quư vị chẳng
ngờ vực, lo ngại. Quư vị đă rời ĺa dục
niệm, nữ nhân chẳng phải đề pḥng quư vị, v́ tuyệt đối chẳng phát sanh chuyện
cường bạo. Do chính quư vị nhận biết ḿnh
đă ĺa dục, hết thảy nữ nhân sẽ chẳng
sanh khởi cái tâm tham ái đối với quư vị, v́ “điện
quang”, từ trường phóng ra từ tinh thần của
quư vị chẳng tương ứng, chẳng khởi tác
dụng đối với họ.
Vấn
đề này rất lớn. Thập Thiện Nghiệp
Đạo, nói dễ hiểu th́ là nhân thiên thừa, nói lớn
hơn th́ Thanh Văn Thừa cũng chưa làm được,
họ chỉ có thể làm được một phần.
Cho đến hàng Bồ Tát Ma Ha Tát cũng chỉ có thể
làm được một phần. Chỉ có Phật với
Phật th́ mới có thể rốt ráo thành tựu Thập
Thiện Nghiệp Đạo Luân, mỗi pháp đều là
như thế. Quả báo đạt được sẽ
là nơi thân hiện tại, các hàng nhân thiên đều cùng
thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại quư vị, thân tâm
của chính ḿnh cũng an lạc. “Thê thất trinh
lương”, theo như kinh Phật đă nói, dường
như chủ nghĩa đại nam nhân rất nặng. [Nếu
chấp trước văn tự, sẽ hiểu] “thê thất
trinh lương” dường như [chỉ cần vợ
trinh lương], mặc kệ chồng, chồng có thể
tùy tiện [lăng nhăng] chứ ǵ? Nam nữ đều
như nhau, đều chẳng thể! Thường nói là “thê
thất trinh lương”, nhưng nam nhân cũng phải
làm như vậy!
Trong
quá khứ, vào thời Chiến Quốc, anh của ông Liễu Hạ
Huệ[5]
nước Lỗ, thân bất nhị sắc (người
chung thủy với một nữ nhân duy nhất). Xưa
nay, mọi người đề xướng, chung thủy với vợ, nam giới chớ
nên lẹo tẹo với nữ nhân nào khác. Nữ nhân chớ nên tằng
tịu với nam nhân nào khác [ngoài chồng ḿnh]. Có khi là suốt đời
thanh tịnh, suốt đời chẳng lập gia
đ́nh. Rất nhiều người thời cổ là như
vậy. Có người khi phê phán, đă cho rằng hạng
người ấy là ngu si, chẳng có trí huệ. [Họ lập
luận] “ăn uống và sắc dục là bản tánh. Thế
mà người như thế ngay cả ăn uống lẫn
sắc dục đều không hiểu; đấy là ngu si”,
[đâu có biết] chỉ có thánh nhân mới làm được
như thế! Người như Liễu Hạ Huệ, [nữ
nhân] ngồi trong ḷng mà tâm vẫn chẳng loạn, “Lỗ
nam tử”[6] là một nam
nhân ở nước Lỗ như thế! Ông ta thân bất
nhị sắc, suốt đời ǵn giữ thanh tịnh.
Đó là chuyện chẳng dễ dàng! Phải hiểu đạo
lư này!
Khi
sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức
bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm
chung, “bất kiến khả bố Diễm La
Vương sứ, duy kiến khả ư thành điều thiện
pháp, cụ giới, phú đức, chân thật
phước điền, vi thiện tri thức” (chẳng thấy
sứ giả đáng sợ của vua Diễm La, chỉ thấy
người vừa ư, điều phục thành tựu thiện
căn, đủ giới, giàu đức, chân thật
phước điền làm thiện tri thức): Đoạn
này giống như kinh văn trong phần trước.
Như vậy th́ sẽ “y bỉ tu học ly dục tà hạnh”
(nương theo người ấy tu học ĺa dục tà hạnh),
câu kinh văn này khác biệt. Trong đoạn kinh văn
trước đó th́ là “ly bất
dữ thủ” (ĺa chẳng cho mà lấy), c̣n ở
đây là ly dục, các điều khác đều giống
nhau. Trong đoạn thứ nhất nơi phần trước
là “ly bất sát” (ĺa chẳng giết). “Năng đoạn
nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất
thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất
thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất
thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập
thâm quảng trí hải” (có thể đoạn
hết thảy các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu
hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết
thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết
thảy nguyện hạnh Bồ Tát, dần dần tiến
nhập biển trí sâu rộng): Dần dần có thể
thành Phật, “năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ
Đề” (cho đến chứng đắc Vô Thượng
Bồ Đề). “Sở cư Phật độ, vô chư
nữ nhân”, [nghĩa là] quư vị sanh vào cơi Phật ấy,
tŕ giới “chẳng tà dâm” trong Ngũ Giới th́ quư vị
sẽ sanh vào cơi Phật chẳng có nữ nhân.
“Ly
chư dâm dục, cụ túc đệ nhất phạm hạnh”
(ĺa các dâm dục, trọn đủ phạm hạnh bậc
nhất): Phạm hạnh bậc nhất là thanh tịnh hạnh.
Người sanh về cơi Phật ấy đều trọn
đủ phạm hạnh thanh tịnh, đều ĺa các
dâm dục. Thế giới Cực Lạc là như vậy.
Thế giới của Đông Phương Dược
Sư Lưu Ly Quang Như Lai, và thế giới của Bất
Động Như Lai ở thượng phương
cũng như vậy. Phàm là cơi Phật thanh tịnh đều
là như thế. Vậy th́ sẽ chẳng c̣n thọ sanh
[trong thai bào], thọ sanh đều là hóa sanh. Cơi Phạm
Thiên đều là hóa sanh, thế giới Cực Lạc là
liên hoa hóa sanh. Như vậy, sẽ chẳng có t́nh
huống “ở trong thai mẹ, thai bào xú uế bất
tịnh”. Phật Như Lai trong thế giới ấy thọ
mạng vô lượng. “Vị chư hữu t́nh như
ưng thuyết pháp, bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu
trụ, lợi ích an lạc, vô lượng hữu t́nh”
(v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng như căn cơ.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại
lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh), ư
nghĩa như đă nói trong phần trước đă xong.
Đấy là “thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma
Ha Tát đệ tam viễn ly dục tà hạnh luân” (này thiện nam tử! Đó gọi là cái luân thứ
ba “xa ĺa dục tà hạnh” của Bồ Tát Ma Ha Tát). Đấy là cái luân
thứ ba.
(Kinh)
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh
Văn Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Thanh
Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ
thất, ư Độc Giác Thừa, đắc vô ngộ thất,
ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, đắc
vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa, đắc
vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ
Đặc Già La, đắc vô ngộ thất. Thường
năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai
xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí,
nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến
ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất.
Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng
tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng
phước, thường đắc tăng trưởng.
Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư
Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại,
vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ
chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường
đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập
chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly
văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng
Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề
chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc, sở
đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.
(經)菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。
(Kinh: Bồ
Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân ấy, chẳng phạm sai lầm
đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai
lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc
Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc
Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm
sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy
những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu
tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với
pháp Đại Thừa, thường được
thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy
bén, phước thù thắng, thường được tăng
trưởng. Trong hết thảy các Định, các
Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự
tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường
được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận
hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết
thảy Phật và các vị Bồ Tát, Thanh Văn đệ
tử, chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng
dường chúng Tăng. Đối với các thiện
căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán
đủ. Thường đối với các thứ hạnh
nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt
được quả báo như đă nói rộng trong phần
trên).
Nếu
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu luân này, Kim Cang Tạng Bồ
Tát hỏi đức Phật, làm như thế nào mới
chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa?
Làm như thế nào chẳng phạm sai lầm đối
với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La? “Ư
Độc Giác Thừa đắc vô ngộ thất? Ư
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô
ngộ thất? Ư kỳ Đại Thừa đắc
vô ngộ thất? Ư kỳ Đại Thừa Bổ
Đặc Già La đắc vô ngộ thất?” (Chẳng phạm sai lầm đối với Độc
Giác Thừa? Chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La? Chẳng phạm
sai lầm đối với Đại Thừa? Chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La?), cũng thường khiến cho Tam Bảo
hưng thịnh, chủng tánh Tam Bảo thường có thể
tồn tại. Nếu có thể thành tựu cái luân “xa ĺa
dục tà hạnh”, có thể thành tựu cái luân “chẳng
giết chóc”, có thể thành tựu cái luân “xa ĺa chẳng
cho mà lấy”, th́ sẽ đều như nhau. Như thế
th́ đối với pháp tam thừa, đối với
người thuộc tam thừa, sẽ có thể chẳng
sai lầm. Khi đại Bồ Tát
đang thuyết pháp, khi nương theo pháp để
khơi gợi chúng sanh, đối với người thuộc
Thanh Văn Thừa, sẽ nói cho họ pháp Thanh Văn thừa,
sẽ chẳng lầm lạc nói pháp Đại Thừa cho
họ. Đối với người Đại Thừa,
cũng chẳng nói pháp Thanh Văn. Đây là đối với
tam thừa bèn thuyết pháp tương ứng căn
cơ, đều chẳng sai lầm. Như thế th́ chánh
pháp sẽ tồn tại lâu dài.
Trên
đây đă nói, sau khi mỗi vị Phật bát Niết Bàn,
chánh pháp tồn tại lâu dài, có ư nghĩa như thế ấy.
Đối với đệ tử xuất gia, “nhược
thị pháp khí, hoặc phi pháp khí, hạ chí nhất thiết
bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, vô hữu ngộ
thất” (dù là pháp khí, hay chẳng phải pháp khí, thậm
chí đối với hết thảy những kẻ khoác một
mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, chẳng phạm sai lầm):
Không chỉ chẳng phạm sai lầm đối với người
thuộc tam thừa. Chỉ cần kẻ ấy khoác một
mảnh ca-sa [cũng chẳng phạm sai lầm đối
với kẻ ấy]. Quư vị phải biết v́ sao
người ấy có thể khoác một mảnh ca-sa này,
đó gọi là “tri căn vô ngộ” (biết tận cội
rễ th́ sẽ chẳng lầm), tuyệt đối chẳng
sai lầm! Như thế th́ pháp Đại Thừa thường
được thăng tấn; nếu không, sẽ bị
thoái chuyển. “Lợi huệ, thắng phước”
(trí huệ nhạy bén, phước thù thắng) do vậy “thường
đắc tăng trưởng, ư nhất thiết
Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại
vô hữu thoái chuyển, thường đắc trị ngộ
chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành” (thường
được tăng trưởng, đối với hết
thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa,
mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển.
Thường được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận mà hành). Những điều này giống
như trong phần trước. “Thường đắc
bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ
Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất
ly thân cận cúng dường chúng Tăng” (thường
được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật,
và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa
nghe pháp, chẳng ĺa thân cận cúng dường chúng
Tăng): Đối với Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo
thường được thân cận.
(Kinh)
Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma
Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly hư cuống ngữ,
nhất thiết chúng sanh thường cộng ái kính, sở
xuất ngôn từ giai thành đế lượng, văn tất
kính phụng, vô sở sai nghi. Do thử thiện căn, tốc
đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân
chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân hư cuống
ngữ, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp
chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu
t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư
tín ngôn chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ,
do thử viễn ly hư cuống ngữ luân, giai tất
triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả
báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng
thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, sở xuất
ngôn từ, tha giai tín phụng. Tương mạng chung thời,
thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết. Sở ái thê tử, quyến
thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến
khả bố Diễm Ma Vương sứ, duy kiến khả
ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền, vi thiện tri thức, thân tâm hoan
duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân
trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở
sanh xứ, sở ngôn thành đế, đoan chánh, thông minh,
an ổn, khoái lạc. Phục ngộ khả ư, thành điều
thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật
phước điền, vi thiện tri thức, y bỉ tu
học, ly hư cuống ngữ, năng đoạn nhất
thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết
thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết
Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết
Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm
quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng
Bồ Đề. Sở cư Phật độ, nhất
thiết chân thật, ly chư hư ngụy, diệu
hương khiết vật chi sở trang nghiêm, vô siểm,
vô cuống, tâm hạnh chánh trực, hy cầu thuần tịnh
thiện pháp hữu t́nh lai sanh kỳ quốc, hương khiết
diệu phục, bảo sức trang nghiêm. Như Lai tự
thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh
như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu
trụ, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện
nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ tứ viễn
ly hư cuống ngữ luân.
(經)復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離虛誑語,一切眾生常共愛敬,所出言詞皆誠諦量,聞悉敬奉,無所猜疑,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因虛誑語,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸信言障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離虛誑語輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,所出言詞他皆信奉。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,所言誠諦,端正聰明,安隱快樂;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離虛誑語,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,一切真實,離諸虛偽,妙香潔物之所莊嚴,無諂無誑,心行正真,希求純淨善法有情來生其國,香潔妙服,寶飾莊嚴;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第四遠離虛誑語輪。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể
cho đến hết thọ mạng ĺa lời hư dối,
hết thảy chúng sanh sẽ thường cùng yêu kính, lời lẽ nói ra đều trở thành chắc thật,
đúng lư, người nghe đều kính trọng, vâng theo,
chẳng ngờ vực. Do vậy, thiện
căn có thể mau chín muồi. Tất cả các nghiệp
chướng nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng,
các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng,
các chướng ngại khiến cho lời nói chẳng
đáng tin do lời hư dối tạo ra khi luân chuyển
trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử trong quá
khứ, tự ḿnh làm, dạy người khác làm, sẽ do
cái luân “xa ĺa lời nói hư dối” này mà đều bị
nghiền nát, phá tan chẳng c̣n thừa sót, chẳng nhận
lănh quả báo. Nơi thân hiện tại, các hàng trời,
người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực,
lo ngại ǵ. Thân tâm an lạc,
lời lẽ nói ra, người khác đều
tin tưởng, vâng theo. Khi sắp mạng chung,
thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con
yêu mến, quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy
sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy
người đáng mến, thành tựu điều phục
thiện pháp, đủ giới, giàu đức, phước
điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui vẻ,
sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung, lại sanh làm
người, các căn viên măn, chi thể đầy đủ,
sanh ở bất cứ nơi đâu, lời nói chân thành, chắc
thật, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng. Lại
gặp người vừa ư, thành tựu điều
phục thiện pháp, trọn giới, giàu
đức, phước đức chân thật làm thiện
tri thức, nương theo người đó tu học, ĺa
lời hư dối, có thể đoạn hết thảy
pháp ác, bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện
pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp
nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện
hạnh Bồ Tát, dần
dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến
chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật
người ấy ở, hết thảy chân thật, ĺa
các hư ngụy, trang nghiêm bằng các vật thơm sạch
mầu nhiệm. Các hữu t́nh không siểm nịnh, không dối
gạt, tâm hạnh chánh trực, mong cầu thiện pháp thuần
tịnh sanh về cơi ấy. Các thứ y phục mầu nhiệm
thơm sạch, các thứ trang sức báu trang hoàng. Bản
thân của Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu
t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ. Sau khi Phật
bát Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc
vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi
là luân thứ tư “xa ĺa lời hư dối” của Bồ
Tát Ma Ha Tát).
“Hư”
(虛) là lời nói rỗng
tuếch, giả dối, “cuống” (誑) là lời lẽ gạt
người, đều phải xa ĺa. “Nhất thiết
chúng sanh thường cộng ái kính, sở hữu ngôn từ
giai thành đế lượng” (hết thảy chúng sanh
thường cùng yêu kính, tất cả lời lẽ đều
trở thành chắc thật, đúng lư). “Lượng”
(量) có nghĩa là “như lư” (如理, đúng lư), Đế (諦) là lư, c̣n Lượng
là “như lư”. Hết thảy lời nói đều là
chân thật, sự chân thật ấy phù hợp pháp tánh. Những
lời chúng ta nói đều chẳng chân thật, chẳng
đúng lư, chẳng phải là sự thật, chứa đựng
những yếu tố lừa gạt, dụ hoặc. Lời
lẽ dối gạt bao gồm rất nhiều thứ.
Đối với chúng ta, chỉ cần [lời nói] chẳng
v́ danh lợi, chẳng phải v́ chính ḿnh có lợi, [th́ dẫu
không chân thật] cũng tạm chấp nhận được;
nhưng đối với Bồ Tát th́ không thể. Yêu cầu
của Bồ Tát rất nghiêm ngặt: Bồ Tát chỉ
được phép nói dối nếu v́ hành Bồ Tát đạo!
Chẳng
hạn như khi đức Phật c̣n tu nhân, có một con
đỗ quyên bị thợ bẫy chim làm bị
thương. Con đỗ quyên ấy bay đến bên
đức Phật. Đức Phật liền giấu nó
trong ngực. Gă thợ bẫy chim tới đó nh́n ngó, thấy
có một người như vậy, bèn hỏi: “Tao vừa
đánh bẫy được một con chim, mày có thấy
hay không?” “Tôi không thấy”. Đó chẳng gọi là nói dối.
Ngài giấu con đỗ quyên trong ngực áo, vẫn nói chẳng
trông thấy. Điều này chẳng phạm giới, Ngài
v́ lợi ích chúng sanh, chính là phương tiện thiện xảo
của Phật. Các pháp do đức Phật đă nói đều là phương tiện. Do vậy,
trong kinh Kim Cang, đức Phật đă bảo ngài Tu Bồ
Đề: “Tri ngă thuyết pháp, như phiệt dụ giả,
pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (hăy biết
pháp do ta đă nói ví như thuyền
bè. Pháp c̣n nên xả, huống hồ phi pháp). Đó là
phương tiện, do là phương tiện thiện xảo
độ chúng sanh, cho nên mới nói như thế. Thật
ra, chẳng có hết thảy các pháp. Hết thảy các pháp
đều chẳng thành lập, đó gọi là “hư cuống,
vọng ngữ”. V́ lợi ích chúng sanh, cho nên đối
với giới sát, giới trộm, giới dâm, đều nói như
thế. Chúng ta thờ tượng Đề Lam Quán Âm (提籃觀音, Quán Âm cầm
giỏ), Đề Lam Quán Âm[7]
chính là Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện thân nữ
nhân, kết hôn với người khác. Ngài có phạm giới
hay không? Phạm giới! Ngài v́ lợi ích các chúng sanh ấy,
nhưng hôm Ngài kết hôn bèn chết. Đă kết hôn, hoàn
thành hôn lễ, tối hôm đó Ngài chết. Ngày dạy
người đó niệm phẩm Phổ Môn, hoặc là niệm
mấy phẩm. Về sau, c̣n dạy
họ tụng thuộc ḷng kinh Pháp Hoa. Chàng họ Mă ấy
suốt ngày từ sáng đến tối học kinh Pháp Hoa,
Ngài gả cho anh ta, nhưng đến tối
đó bèn chết. Chàng họ Mă thấy vậy, [cảm ngộ]
đời người vô thường như thế đó, xinh đẹp
như vậy để làm ǵ, dù ǵ đi nữa th́ cũng phải
chết, anh ta cũng xuất gia, tức là Bồ Tát đă độ anh ta! Đại
Bồ Tát hành nghịch hạnh. Hành nghịch hạnh tức
chẳng phải là thuận hạnh, trái nghịch giới
luật nhà Phật. Tuy hành nghịch hạnh, nhưng thật
sự là thuận, chân thuận! Ngài làm đúng như lư, hiểu
đạo lư này là được rồi. Nếu không, hăy
c̣n có rất nhiều mê hoặc. Các chúng sanh như vậy,
người khác cung kính họ, họ bèn ĺa khỏi, chẳng
lừa gạt, toàn nói lời chân thật. Như thế th́
người khác đối với lời nói của người
đó, chẳng có chỗ nào làm căn cứ để có thể
ngờ vực, lo ngại, cho nên chẳng hoài nghi, có thiện
căn ấy, đă chín muồi.
“Chư
tín ngôn chướng”: Do kẻ khác chẳng tin, lời
nói của người đó sẽ bị chướng ngại.
Nếu một kẻ [ăn nói dối trá], khiến cho
người khác chỉ trích, th́ dẫu kẻ đó nói cả
trăm lượt, ta vẫn chẳng tin. Chuyện này rất
khó khăn! Tức là quư vị thốt lời dối gạt
quá nhiều, nói dối quá mức, ai c̣n tin nổi quư vị? Gạt
người khác một lần, hai lần, ba lần,
năm lần, mười lần, ba mươi lần th́
c̣n có thể. Chứ quư vị nói một trăm lần, v́ quư vị thốt lời
dối trá, nói rồi chẳng làm, xài chi phiếu lủng, vậy
là xong đời rồi! Chẳng có cách nào kinh doanh
được nữa!
Do
v́ thiện căn đă chín muồi, dẫu trong quá khứ,
khi luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông
sanh tử, đă trót thốt lời dối trá, sanh ra đủ
thứ chướng ngại, [các chướng ngại ấy
do thiện căn “ĺa lời dối trá”] sẽ đều
tiêu mất. Cái luân “xa ĺa hư dối” sẽ đều
nghiền nát, xa ĺa [các thứ chướng
ấy], chẳng c̣n nói lời hư giả nữa. “Tồi
diệt vô dư” (phá tan chẳng c̣n sót thừa),
đối với [các nghiệp] đă tạo trước
kia sẽ “bất thọ quả báo. Ư hiện thân
trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái” (chẳng
nhận lănh quả báo, nơi thân hiện tại, các hàng trời
người đều cùng thân ái): Mọi người
đều thân ái quư vị; bởi lẽ,
nếu quư vị rất thành thật, bất luận buôn bán với
ai, họ đều mong qua lại với quư vị. Kể
ra, chẳng có kẻ nào là thành thật, nhưng ai nấy đều mong kẻ
khác thành thật. Có hiểu ư nghĩa này hay chăng? Tôi
nghĩ mỗi đạo hữu đều hiểu. Quư vị
đă thấy nghe, luôn hy vọng kẻ khác đừng lừa
gạt ta, ta có thể lường gạt người khác.
Đó là tâm lư của mọi người. Nếu hy vọng
“mọi người đều lừa gạt ta, ta trọn
chẳng lừa gạt người khác. Ai lừa gạt
ta, ta đều bằng ḷng chịu bị gạt” th́ là bậc
đại Bồ Tát.
Hết
thảy chúng sanh giết ta, ta đều có thể chịu
đựng, ta bằng ḷng cúng dường chúng sanh,
nhưng ta chẳng năo hại một chúng sanh nào, kể cả
loài kiến. Tôi ở Nữu Ước, [chỗ ở] có gián và chuột,
có một đệ tử hỏi: “Làm thế nào đối
với gián và kiến?” Lại chẳng thể đập
chúng, lại chẳng thể dùng nước sôi rưới
nó, lại chẳng thể rảy thuốc. Tin tưởng
Phật, tôi nói: “Quư vị thuyết pháp cho nó”. “Nó có thể hiểu
hay không?” Tôi nói: “Tôi thuyết pháp cho quư vị, cũng có những
điều quư vị không hiểu! Tôi xem kinh, có những chỗ
kinh nói tôi không hiểu, rất nhiều thứ chẳng hiểu!
Quư vị chớ v́ nó không hiểu mà chẳng nói. Quư vị
hăy thử xem, sẽ thật sự linh”. Người đó
nói: “Linh thiệt”. Nhà người ấy chẳng có [gián, kiến] nữa!
Chuyện
kiểu này rất nhiều, hễ quư vị tin tưởng
th́ sẽ thành tựu. Chẳng tin, thứ ǵ cũng không
linh. Hễ tin tưởng bèn linh. Kinh Địa Tạng Bồ
Tát dạy: Niệm danh hiệu ta là được,
nhưng quư vị vẫn chẳng niệm! Niệm ư?
Tôi cảm thấy tôi chẳng thể ngày ngày niệm
như thế được! Mỗi ngày niệm một vạn
câu, chẳng làm được! Nhưng đạo hữu của
tôi, có rất nhiều người làm được! “V́
sao tôi chẳng làm được? Chẳng có thời gian!”
Đó toàn là viện cớ! Tín lực vẫn chưa đủ!
“Tôi giảng kinh là đủ rồi!” Luôn đổ vấy
cho nguyên nhân khác khiến cho ḿnh chẳng thể
làm! Nếu thật sự chẳng giải đăi, bất
luận là chướng ngại nào, tôi mỗi ngày niệm
danh hiệu Ngài một vạn câu, Địa Tạng
Vương Bồ Tát sẽ tiếp dẫn quư vị. Để
niệm một vạn tiếng, quư vị vẫn phải mất
ba năm. Có khi đả thất th́ niệm một trăm
vạn tiếng! Như thế th́ mỗi ngày niệm một
ngàn câu, phải niệm bao lâu mới được một
trăm vạn câu? Mỗi ngày niệm một ngàn câu, một
tháng là ba vạn câu, một năm mới hơn ba
mươi vạn câu. Quư vị muốn niệm một
trăm vạn câu, phải niệm
ba năm. Khi quư vị tinh tấn, dũng mănh, quư vị liền
niệm một trăm vạn câu. Niệm xong, lại giải
đăi ba năm, ba năm sau, lại niệm một trăm
vạn câu nữa. Làm kiểu ấy cũng được,
ta đặt kế hoạch như vậy. Hết một
năm, ta đả thất, niệm một trăm vạn
câu, hoặc nhiều hơn. Nói là “niệm một trăm vạn
câu”, thật ra là niệm một trăm mười vạn
câu, v́ sao? Có lúc dấy vọng tưởng, niệm hơn
mười vạn tiếng để bổ sung những
câu niệm xen tạp vọng tưởng. Biết
chăng? Khi chúng ta niệm kinh, phải niệm nhiều
hơn một chút, dấy vọng tưởng chẳng sao hết! Sau đấy,
quư vị bổ sung, chuyện này thật sự có thể bổ
sung. Khi niệm, ta niệm một ngàn câu, quư vị phải
niệm thêm một trăm câu nữa. V́ ở trong ấy,
đă dấy vọng tưởng, hoặc là lần chuỗi
đếm sai, cũng có khi đếm số chẳng chuẩn
xác. Niệm nhiều chẳng ít, các chướng ngại
trên đây sẽ đều đoạn trừ.
Xa
ĺa hư dối, quư vị phải nên làm như thế nào để
đối trị? Nói lời chân thật. Nói năng tuyệt
đối phải suy nghĩ một phen rồi mới
nói. Đừng mở miệng thốt lời luông tuồng,
hăy suy xét một phen rồi mới
nói. Người ta vừa hỏi liền
đáp ngay, sẽ dễ sai lầm. [Người ta chê trách]
“cứ mở miệng là phun ào ào” là v́ ư nghĩa này. Diệt
tan quả báo trong quá khứ, sẽ chẳng lănh nhận quả
báo nữa. “Ư hiện
thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở
sai lự. Thân tâm an lạc,
sở xuất ngôn từ, tha
giai kính phụng” (trong thân hiện tại,
các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng
ngờ vực, lo ngại. Thân tâm an lạc, lời lẽ
nói ra, người khác đều kính trọng, vâng theo): Người
khác đều tin lời quư vị nói, làm theo lời quư vị
nói. Hoặc là ai nấy đều tuân hành lời nói của
quư vị, đó chính là sự tín nhiệm đối với
quư vị. Người trong nước, ai nấy đều
tin nhận vị Tổng Thống này toàn nói lời thành thật,
họ sẽ tuyệt đối làm theo chánh sách do ông ta
đă nói. Chánh sách do quốc gia định ra sẽ chẳng
trở thành “ăn nói hai lời, toàn là lừa gạt!”
Giết
chóc quá nặng, nước nhà sẽ tồn tại chẳng
lâu, chẳng thể tồn tại một trăm năm.
Nhà Nguyên tồn tại ngắn nhất,
[vương triều của] Lư Tự Thành càng ngắn ngủi hơn, mười tám
ngày! Tới ngày thứ mười tám, nhà Măn Thanh vào trong
quan ải, đuổi ông ta chạy dài. Ông ta toàn nói lời
giả dối, giết người quá nhiều. [Người
ĺa lời dối trá], khi mạng chung, thân tâm chẳng bị
ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc
vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ
của vua Diễm Ma. Vợ con yêu mến và quyến thuộc
vây quanh, mọi người ở đó đều nói lời
chân thật, đều tiễn ông ta đi, khiến cho ông
ta thật sự chẳng lưu luyến. Điều này rất
quan trọng. Khi sắp chết, đối trước cửa ải t́nh ái, nếu khóc
sướt mướt, thần thức của người
đó đă bị quư vị cầm giữ, rất khó siêu
thoát!
Học
tập ĺa lời hư dối. Chắc là mọi người
nói: “Ĺa lời hư dối mà c̣n phải học à?” V́ mọi
người chẳng học giới kinh. Học giới
kinh th́ [sẽ biết] mỗi một giới đều phải
học. Như thế nào là phạm phải tội nói
hư vọng? Như thế nào là chẳng phạm tội
nói hư vọng? Cái nhân của lời hư vọng, cái
duyên của lời hư vọng, [hợp thành những
điều kiện để xét đoán có phạm] giới
hư vọng [hay không]. C̣n nữa, lừa gạt để
cầu danh lợi, lừa gạt người ta, người
ta bị tổn thất, là đă thành phạm giới. Tùy
tiện lừa gạt đứa bé [khi nó quấy khóc],
đại khái là do chuyện ấy chẳng phạm th́
không gọi là phạm giới ăn nói hư vọng. Bất
quá, quư vị lừa trẻ nhỏ như vậy, sẽ có
điều ǵ không tốt? Đứa bé học theo cha mẹ
nó, lớn lên sẽ nói láo! V́ từ thuở bé đă học
rồi, cha mẹ đều nói như vậy, dỗ suông
trẻ nhỏ: “Con đừng có khóc, ta sẽ cho con bánh hoặc
kẹo”. Chờ tới khi nó không khóc, muốn nhận lấy
th́ chẳng có. Đứa trẻ biết bị gạt, nó
cũng sẽ lừa quư vị. Hiểu đạo lư này là
được rồi! Quư vị ắt cần phải học,
chẳng học sẽ vẫn không hiểu! Học tập
xa ĺa lời hư dối như thế nào, xa ĺa lời
hư dối th́ hăy nói lời thật cho nhiều. “Năng
đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng
thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu
nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu
nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ
thú nhập thâm quảng trí hải” (có thể đoạn
hết thảy các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu
hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết
thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết
thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần
tiến nhập biển trí sâu rộng), dần dần có thể
thành Phật.
“Năi
chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, sở
cư Phật độ” (cho đến chứng đắc
Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy
ở): Trong cơi Phật ấy, “nhất thiết chân thật”
(hết thảy chân thật), chẳng có cơi Phật nào không
chân thật, nhưng cơi Phật này của Thích Ca Mâu Ni Phật
chẳng chân thật, v́ sao? V́ đây là hóa thân [trong cơi đời] chẳng phải
là tịnh, mà là đời ác
ngũ trược. Đức Phật đă nói thế giới
này chẳng chân thật, hư huyễn. Thích Ca Mâu Ni Phật
ở trong cơi Phật này để chuyên hóa độ những kẻ nói lời hư dối;
do vậy, Ngài đến nơi đây. Địa Tạng
Bồ Tát chuyên tới địa ngục, các cơi Phật
khác chẳng có địa ngục. Thế giới Cực Lạc
hoặc các thế giới khác chẳng có địa ngục,
chẳng có tam đồ. Không chỉ là chẳng có tam đồ,
mà cũng chẳng có lục đạo, chỉ có người
hóa sanh. Những người đó đều là Bồ Tát.
Dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật
người ấy ở toàn là chân thật, ĺa các dối
trá, trang nghiêm bằng các vật thanh khiết, thơm tho nhiệm
mầu. Hữu t́nh chúng sanh không siểm nịnh, không lường
gạt, toàn là đoan chánh, tâm hạnh chánh trực, mong cầu
thiện pháp thuần tịnh th́ mới có thể sanh về quốc
độ ấy.
Chúng
ta toàn nói vọng ngữ, có thuần tịnh hay không? Quư vị
làm việc thiện, có phải thật sự là làm việc
thiện hay không? Chúng ta ngỡ chúng ta đang làm việc thiện,
làm chuyện tốt, nhưng trong ấy, luôn xen tạp rất
nhiều thứ chẳng thuần, chẳng thanh tịnh! Chẳng
hạn như phóng sanh, mỗi người có cách nghĩ
khác nhau, tuy chẳng thuần tịnh, vẫn có công đức.
Phóng sanh có thuần tịnh hay không? Chẳng thuần tịnh.
V́ sao? Trong tâm tưởng ǵ, chính ḿnh biết ngay! Chúng ta làm
hết thảy mọi chuyện đều xen tạp các điều kiện
kèm theo! Chẳng hạn như cho người khác mượn
tiền, phải có chứng cứ, hoặc ra ngân hàng vay tiền,
phải dùng bất động sản để thế chấp,
đều cần phải có thứ ǵ đó! Chúng ta đều
luôn cần thứ ǵ đó bảo đảm, mong mỏi
được hồi báo. Ta phóng sanh, thấy các súc sanh đó bơi trở
lại, trong ḷng rất cao hứng, giống như nó quay lại
báo đáp, luôn có sự mong cầu ấy. Nếu nó chẳng
quay lại hồi báo mà bỏ đi luôn, [sẽ lầm
bầm]: “Thứ vô t́nh, vô nghĩa. Ta cứu nó, mà nó vẫn
vô t́nh vô nghĩa!” Chuyện kiểu này rất nhiều.
Chúng ta làm hết thảy mọi chuyện, trong tâm luôn xen tạp rất nhiều thứ. Niệm một bộ
kinh, niệm kinh, niệm Phật, trong ấy có rất nhiều
thứ xen tạp. Sau đó, phát nguyện cầu cái này, nguyện
cầu cái kia. “Bồ Tát ơi! Ngài v́ con gia tŕ cho ai đó”,
giống như khi quư vị cầu th́ Phật Bồ Tát phải
gia tŕ vậy! Đợi tới khi Phật, Bồ Tát gia
tŕ xong, hết chuyện rồi, chẳng t́m Phật, Bồ
Tát làm chi nữa! Như thế đó! Sau đấy [có chuyện],
lại ôm chân Phật. Đó là cái tâm chúng sanh, đó là chẳng
thuần tịnh. Nếu quư vị mong cầu thiện pháp
thuần tịnh, hữu t́nh sanh về cơi ấy ắt cần
phải tinh thuần. Muốn sanh về cơi Phật, phải
suy tưởng tinh thuần, đừng nói lời giả,
đừng nói dối!
(Kinh)
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh
Văn Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Thanh
Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ
thất, ư Độc Giác Thừa, đắc vô ngộ
thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già
La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa,
đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa
Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất.
Thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư
chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược
thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết
bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ
thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc
thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng
phước, thường đắc tăng trưởng.
Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư
Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại,
vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ
chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường
đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập
chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly
văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng
Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề
chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Sở
đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.
(經)菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。
(Kinh: Bồ
Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân ấy, chẳng phạm sai lầm
đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai
lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc
Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc
Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm
sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy
những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu
tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với
pháp Đại Thừa, thường đắc thăng tấn,
chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén, phước
thù thắng thường được tăng trưởng.
Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn,
các Địa, mau được tự tại, chẳng bị
thoái chuyển. Thường được gặp gỡ
các thiện tri thức, tùy thuận hành theo. Thường
được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật
và các vị Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng
ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng
Tăng. Đối với các thiện căn, thường
tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường
đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề,
tâm chẳng chán đủ, đạt được quả
báo như đă nói rộng trong phần trên).
Thiện
căn khoác một mảnh ca-sa khác với thiện căn
tŕ thanh tịnh giới, mà cũng chẳng giống với
kẻ phá giới, thiện căn của họ bất
đồng. Quư vị chỉ khoác một mảnh ca-sa, do
tâm ǵ mà khoác? Đấy đều là có nguyên nhân; hết thảy
các pháp đều có nhân. Phạm giới cũng cần phải
xét theo cái nhân, nhân ǵ?
Duyên ǵ? Hễ có một nhân, sẽ thành phạm giới. Có
một nhân khác, sẽ thành chẳng phạm.
(Kinh)
Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma
Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly ly gián ngữ, nhất
thiết chúng sanh thường cộng ái kính, sở phát ngôn
từ giai linh ḥa thuận, văn tất kính phụng, vô sở
sai nghi. Do thử, thiện
căn tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền
tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân ly
gián ngữ, tạo thân, ngữ, ư chư ác nghiệp chướng,
chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng,
nhất thiết pháp chướng, chư ḥa kính chướng,
tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ, do thử “viễn
ly ly gián ngữ” luân, giai tất triển hoại, tồi diệt
vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung,
chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự,
thân tâm an lạc, sở phát ngôn từ, giai linh ḥa thuận.
Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị
ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến
thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến
khả bố Diễm Ma Vương sứ, duy kiến khả
ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền, vi thiện tri thức,
thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn
sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc. Tùy sở
sanh xứ, sở ngôn ḥa thuận, đoan chánh, thông minh, an ổn,
khoái lạc.
(經)復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離離間語,一切眾生常共愛敬,所發言詞皆令和順,聞悉敬奉,無所猜疑,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因離間語,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸和敬障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離離間語輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,所發言詞皆令和順。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,所言和順,端正聰明,安隱快樂。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể
cho đến hết thọ mạng, ĺa lời ly gián, hết
thảy chúng sanh thường cùng yêu kính, ngôn từ nói ra
đều khiến cho mọi người ḥa thuận, nghe
rồi đều kính vâng, chẳng ngờ vực, lo ngại.
Do vậy, thiện căn có thể mau chóng được
thành thục. Trong tất cả các lúc luân chuyển trong
năm đường, ch́m trong sông sanh tử thuở
trước, do ly gián ngữ mà tạo các nghiệp chướng
ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu
t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng
ngại đối với sự ḥa kính, tự làm, dạy
người khác làm, thấy nghe tùy hỷ, do cái luân “ĺa lời
ly gián” này, [các chướng ấy] thảy đều bị
nghiền nát, phá tan chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo.
Nơi thân hiện tại, các hàng trời, người
đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại,
thân tâm an lạc, lời lẽ nói ra đều khiến
mọi người ḥa thuận. Khi sắp mạng chung,
thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con
yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Lúc lâm chung, chẳng
thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma,
chỉ thấy người đẹp ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ
giới, giàu đức, phước điền chân thật
làm thiện tri thức, thân tâm vui mừng, sanh ḷng tin kính sâu
xa. Đă mạng chung rồi, vẫn sanh trong loài người,
các căn viên măn, chi thể đầy đủ. Sanh ở
bất cứ nơi đâu, lời lẽ ḥa thuận,
đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng).
“Ly
gián ngữ” là nói đôi chiều, châm ng̣i ly gián. Mọi người
bị ly gián sẽ thay đổi, cừu hận lẫn
nhau, c̣n có thể kính yêu lẫn nhau nữa hay không? Nếu ĺa ly gián ngữ, chẳng khấy động
thị phi, khi mọi người tiếp xúc với nhau, sẽ
tôn kính lẫn nhau, những ngôn từ thốt ra đều
là ḥa thuận, chẳng phải là bạo lực. Châm ng̣i ly
gián, sẽ chẳng ḥa thuận. Đối trước
Trương Tam, chúng ta kể tội Lư Tứ, đối trước Lư Tứ, kể tội
Trương Tam, chuyện châm ng̣i ly gián quá nhiều.
Trong giới ḥa thượng, giữa người xuất
gia với nhau, th́ gọi “phá ḥa hợp Tăng”, c̣n
trong những người b́nh phàm, ly gián ngữ được
gọi là “châm ng̣i ly gián”. Nhưng có kẻ [làm như vậy]
để đạt được lợi ích cho chính ḿnh, lại có kẻ
khuấy đảo cho người khác đấu đá,
nhưng bản thân kẻ đó chẳng được lợi
ích ǵ, chỉ là kẻ đó rất vui thú, thích thấy
người khác đấu đá, thích khuấy đảo
cho người khác đấu đá. Loại quả báo này
khi hứng chịu sẽ rất thảm, giữa người
với người là như thế, giữa các nước
với nhau cũng là như thế. Ly gián ngữ, ác ngữ:
“Ác ngữ thương nhân lục nguyệt hàn”, [ư nói]
trời tháng Sáu cực nóng, quư vị nói lời quá mức
kích thích người khác, người ấy mẫn
cảm, dù trời rất nóng cũng chẳng thể toát mồ
hôi nổi, rởn cả da gà, đông cứng luôn! Nếu
nói lời êm tai, dẫu trời đang rét mướt, “lương
ngôn nhất cú tam đông noăn”. Tức là trời đang lạnh
buốt, tâm quư vị cảm thấy rất thoải mái. Hiểu đạo lư này là được rồi. Do vậy,
chúng ta đừng nên nói lời ly gián.
Lại
này, thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát cho đến
hết thọ mạng, có thể ĺa ly gián ngữ, th́ hết
thảy chúng sanh sẽ thân ái với nhau, toàn nói những lời
ḥa thuận, mọi người đều kính vâng theo. Nghe
những ǵ quư vị nói, đều là “người này tốt
đẹp, người này trước nay chưa hề lá
mặt lá trái”. Chớ nên trước người này nói thế
này, trước kẻ kia nói thế khác. Trong một hội
nghị, bất luận đảng Cộng Ḥa hay đảng
Dân Chủ của nước Mỹ, hay đảng Dân Tiến
và Quốc Dân Đảng của Đài Loan, cho đến
có thêm một đảng mới, động tác của họ
là như thế nào? Khuấy chọc cho họ bất ḥa
để chúng ta ở giữa thủ lợi! Phiếu của
ta nhiều hơn, phiếu của ngươi nhất
định giảm bớt. Ta nắm quyền, các
ngươi phải nghe theo ta, ta chẳng cần nghe theo bọn
ngươi! Mục đích là như thế đó, thấy
rất rơ ràng! Chỉ là ĺa khỏi hội nghị từ
ngoài nh́n vào [mới thấy], chứ trong hội nghị sẽ
chẳng thấy! Đó là ǵ? Ly gián lẫn nhau, quấy rối
lẫn nhau!
Hôm
nay mới vừa mở hội nghị tại Quốc Hội,
buổi họp đầu tiên đă đấu đá nhau.
Thường ngày châm ng̣i ly gián đă thành thục, khúc mắc
ấy khó tháo gỡ, cuộc họp vừa mở ra bèn
tranh chấp, vừa họp liền đấu đá nhau,
làm sao có thể tốt đẹp cho nổi? Nói “tôi v́ dân chúng,
tôi cũng là v́ nhân dân. Quư vị bầu cho tôi một phiếu,
trong tương lai, tôi sẽ cho quư vị hưởng lợi
ích như thế này, như thế nọ”. Mọi người
bầu cho bọn họ xong, bọn họ tới
Quốc Hội, quên béng phiếu bầu, quên sạch lợi
ích của nhân dân, lo tranh chấp! Chúng tôi giảng kinh Đại
Tập Thập Luân, muốn nói về Thập Thiện Luân
và Thập Ác Luân. Ai nấy đều đoạn Thập
Ác Luân, hành Thập Thiện Luân, th́ không chỉ trên thế
giới này, mà ngay cả A Tu La và chư thiên cũng chẳng
đánh nhau. Chẳng cần phải đánh, không cần thiết,
như thế sẽ tốt lắm! Hiện thời,
có thể ĺa xa các chướng ngại ấy. Nếu không,
sẽ chẳng xa ĺa được! V́ ly gián ngữ tạo
ra các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền
năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy
pháp chướng, chướng ngại sự ḥa kính, hoặc
là tự làm, hoặc dạy người khác làm, thấy
nghe tùy hỷ. Chúng ta thấy kẻ khác đánh nhau, đừng
sanh tâm hoan hỷ. Trông thấy tranh đấu, bèn sanh tâm chán
ĺa. V́ sao phải làm như vậy? Bất luận họ viện
ra lư do nào, đều chẳng phải là lư do! Quư vị đă muốn đánh
đấm, đánh rồi th́ chẳng có lư do chi hết, c̣n
có lư do chi nữa? Vẫn muốn t́m lư do, bản thân chuyện
t́m lư do ấy đă sai lầm rồi! Đạo lư cần
phải dựa vào đấu
đá th́ mới có thể giải quyết ư? Do vậy,
người ta dùng hỏa tiễn tấn công quư vị là chánh
đáng, lư do ǵ vậy? “Tao đánh mày, v́ tao có thế mạnh”.
Đó chẳng gọi là công lư, đó gọi là “cường
quyền”.
Nói
đến b́nh đẳng, ta thấy Thích Ca Mâu Ni Phật
là b́nh đẳng nhất, Ngài đối xử với mọi
người đều như nhau, [ai cũng] đều có
thể thành Phật. Đức Phật nói, quư vị và tôi giống hệt như nhau, bản tánh của
quư vị sẵn có, có cùng một Thể với tôi, mọi
người đều như nhau, nhưng tôi đă trừ
sạch nghiệp chướng, quư vị hăy c̣n có nghiệp
chướng. [Trừ khử] nghiệp chướng
là ĺa chướng
ngại nơi ngôn ngữ. Nếu quư vị ĺa ly gián ngữ,
nghiệp chướng sẽ diệt trừ. Đó là cái luân “ĺa ly gián ngữ” đă nghiền
nát, phá hủy các chướng ấy. “Tồi diệt vô
dư, bất thọ quả báo” (dẹp tan chẳng c̣n
sót, chẳng nhận lấy quả báo). Đức Phật
giảng đoạn kinh văn này là nói theo phía phàm phu, từ
phàm phu cho đến Thanh Văn, Bồ Tát, đạt đến
thành Phật, đều bắt đầu từ làm người.
Do vậy, mỗi đoạn kinh văn đều khởi
đầu bằng chuyện làm người.
(Kinh)
Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ
giới, phú đức, chân thật phước điền
vi thiện tri thức, y bỉ tu học ly ly gián ngữ,
năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp,
năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp,
năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp
nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh,
tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật
độ, nhất thiết kiên mật, nan khả phá hoại.
Chư mỹ diệu vật chi sở trang nghiêm. Vô vi, vô cạnh,
thiện ḥa tránh tụng, hy cầu thuần chất, thiện
pháp hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc, thường tu ḥa
kính, thính văn chánh pháp. Như Lai tự thân thọ mạng
vô lượng, vị chư hữu t́nh, như ưng thuyết
pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi
ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử!
Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ ngũ viễn ly ly
gián ngữ luân. Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố,
ư Thanh Văn Thừa, đắc vô ngộ thất,
ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc
vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa, đắc
vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc
Già La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại
Thừa, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại
Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất.
Thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư
Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị
pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị
phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất.
Ư Đại Thừa pháp, thường đắc
thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng
phước, thường đắc tăng
trưởng. Ư nhất thiết Định, chư
Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc
tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc
trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi
hành. Thường đắc bất ly kiến nhất thiết
Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử,
bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng
Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề
chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc, sở
đắc quả báo quảng thuyết như tiền.
(經)復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離離間語,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,一切堅密,難可破壞,諸美妙物之所莊嚴,無違無競,善和諍訟,希求淳質善法有情來生其國,常修和敬,聽聞正法;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第五遠離離間語輪。菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。
(Kinh: Lại gặp bậc
vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp,
đủ giới, giàu đức,
phước điền chân thật làm thiện tri thức.
Nương theo người đó tu học, ĺa ly gián ngữ,
có thể đoạn hết thảy ác pháp bất thiện,
có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng,
có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa,
có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần
tiến nhập biển trí rộng sâu, cho đến chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật
người ấy ở, hết thảy cứng chắc,
chặt chẽ, khó thể phá hoại, được trang
nghiêm bằng các vật đẹp đẽ mầu nhiệm.
Hữu t́nh chúng sanh không chống trái, không đua tranh, khéo
ḥa giải các tranh chấp và kiện cáo, mong cầu thiện
pháp thuần chất, sẽ sanh về cơi ấy. Họ
thường tu ḥa kính, lắng nghe chánh pháp. Bản thân
Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh
thuyết pháp đúng với căn cơ. Sau khi Phật bát
Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc
vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi
là cái luân thứ năm “xa ĺa lời ly gián” của Bồ
Tát Ma Ha Tát. Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, chẳng
phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối
với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy
kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều
chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại
Thừa, thường được thăng tấn, chẳng
bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén và phước
thù thắng thường được tăng trưởng.
Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn,
các Địa, nhanh chóng được tự tại, chẳng
bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ
các thiện tri thức để tùy thuận làm theo. Thường
được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật,
và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa nghe
pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng.
Đối với các thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối
với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng
chán đủ, đạt được quả báo như
trên đây đă rộng nói).
Được làm người, thường xuyên gặp gỡ thiện
tri thức, gặp họ để làm ǵ? Học ĺa ly gián
ngữ. Học tập sao cho đừng nói những lời
châm ng̣i ly gián. Châm ng̣i ly gián gây hại khá lớn. Nếu quư
vị đâm thọc người khác, th́ cũng là đâm
thọc chính ḿnh! Quư vị thường xuyên khuấy động
người khác, chẳng có ai nói lời tốt đẹp
với quư vị. Đấy chẳng phải là mắc quả
báo ư? Nếu ĺa khỏi ly gián ngữ, có thể đoạn
hết thảy pháp ác bất thiện, có thể thành tựu
hết thảy các thiện pháp thù thắng, có thể cầu
hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu
hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần
dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến
chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, sẽ
thành Phật. Cơi nước người ấy ở, “nhất
thiết kiên mật, nan khả phá hoại” (hết thảy cứng chắc, chặt chẽ, khó thể phá
hoại). Ly gián ngữ chẳng thể phá hoại
được!
Cơ
chế nội bộ của chúng ta chẳng kiện toàn, ly
gián ngữ sẽ dễ nẩy sanh tác dụng. Chính quư vị
đă đấu đá, cho đến khi kẻ bên ngoài châm
ng̣i ly gián, sẽ càng đấu đá hung hăng hơn!
Chính ḿnh chẳng chịu thua kém, hằng ngày cứ căi cọ
là do chính ḿnh chẳng chịu thua kém, đừng trách ai
khác! Một điều ác cũng chẳng có, sẽ có thể
thành tựu hết thảy các thiện pháp thù thắng, có
thể thành tựu pháp nghĩa Đại Thừa, những
điều ấy đều có thể thành tựu. Chúng ta
trừ khử các nghiệp bất thiện, trừ khử
nghiệp bất thiện, sẽ là thiện nghiệp, cho nên
có thể thâm nhập biển trí, cho đến chứng Vô
Thượng Bồ Đề. Cơi Phật ta đang ở sẽ
cứng chắc, chặt chẽ, “nan khả phá hoại,
chư mỹ diệu vật chi sở trang nghiêm. Vô vi, vô cạnh,
thiện ḥa tránh tụng, hy cầu thuần chất” (khó
thể phá hoại. Trang nghiêm bằng các vật đẹp
đẽ mầu nhiệm. Không chống trái, không tranh
đua, khéo ḥa giải các tranh chấp và thưa kiện,
mong cầu thuần chất): “Thuần chất” có ư
nghĩa giống như “thuần tịnh”.
Khi
Bồ Tát Ma Ha Tát giáo hóa hết thảy chúng sanh, đối
với pháp và đối với mọi người, đều
chẳng phạm sai lầm. Pháp chẳng sai lầm, mà đối
với người cũng chẳng sai lầm, chẳng nhận
sai căn cơ, coi Tiểu Thừa thành Đại Thừa.
Đối với kẻ chẳng chán ghét Ngũ Nghịch,
chẳng tin Phật pháp, mà lại nói pháp Đại Thừa, th́ người nói phạm
sai lầm, phải thọ báo.
(Kinh)
Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma
Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly thô ác ngữ, nhất thiết
chúng sanh thường cộng ái kính. Sở phát ngữ ngôn giai
linh hoan duyệt, văn tất
kính phụng, vô sở sai nghi. Do thử, thiện căn tốc
đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân
chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân thô ác ngữ, tạo
thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp
chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu
t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư
điều thiện chướng, tự tác, giáo tha, kiến
văn tùy hỷ, do thử viễn ly thô ác ngữ luân, giai tất
triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả
báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng
thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, sở xuất
ngôn từ, giai linh hoan duyệt. Tương mạng chung thời,
thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết. Sở ái
thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời,
bất kiến khả bố Diễm Ma Vương sứ,
duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới,
phú đức, chân thật phước điền, vi thiện
tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung
dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ
túc. Tùy sở sanh xứ, sở ngôn nhu nhuyễn, đoan
chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc.
(經)復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離粗惡語,一切眾生常共愛敬,所發語言皆令歡悅,聞悉敬奉,無所猜疑,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因粗惡語,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸調善障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離粗惡語輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,所出言詞皆令歡悅。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,所言柔軟,端正聰明,安隱快樂。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể
cho đến hết thọ mạng ĺa lời thô ác, hết
thảy chúng sanh thường cùng yêu kính, lời lẽ nói
ra đều khiến cho mọi người hoan hỷ,
nghe rồi đều kính trọng, vâng theo, chẳng ngờ
vực, lo ngại. Do vậy, thiện căn mau chóng chín muồi.
Trong tất cả những lúc luân chuyển năm
đường, ch́m trong sông sanh tử thuở trước,
do thô ác ngữ, tạo các nghiệp chướng ác nơi
thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh
chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng
ngại nơi điều phục thiện sự,
tự làm, dạy người, thấy nghe vui theo, do cái luân
“xa ĺa lời thô ác” này, [các nghiệp chướng
ấy] thảy đều bị nghiền nát, phá tan, chẳng
c̣n sót, chẳng thọ quả báo. Trong thân hiện đời,
các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng
có ngờ vực, lo ngại, thân tâm an lạc, lời lẽ
nói ra đều khiến cho người khác vui mừng. Khi
sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức
bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm
chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của
vua Diễm Ma, chỉ thấy người vừa ư, điều
phục thành tựu thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước
điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui mừng,
sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung, lại sanh làm
người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ.
Sanh ở bất cứ nơi đâu, lời nói mềm mỏng,
đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng).
“Thô ác ngữ” là nói lời ác,
lời nói khó nghe! Chửi người khác th́ lời lẽ
thốt ra thường bẩn thỉu. Nếu là người
Tứ Xuyên, hễ mở miệng ra bèn nói “cách lăo tử”.
“Cách lăo tử” là ǵ? “Cách lăo tử” (格老子)[8]
là câu cửa miệng của họ, gặp ai cũng gọi
người ta là “tiểu bối” (小輩, bọn nhỏ). Tôi có tranh luận
với thầy tôi về chuyện này, thầy nói đó là tập
khí của họ. Tôi nói: “Tập khí ư? Cớ sao họ
đối với Phật chẳng dám gọi là “tiểu
bối”, mà gọi là Thế Tôn. Họ thấy quốc
vương, làm sao dám gọi là “tiểu bối”! Tập
khí ǵ vậy? Tập khí có thể sửa đổi, câu cửa
miệng của họ, thậm chí thấy ai cũng đều
gọi là “quy nhi tử” (龜兒子, đồ con rùa). Tôi
nói: “Họ thấy quan địa phương, thấy cảnh
sát, đâu có dám gọi những người đó là đồ
con rùa!” Phàm là đối với hết thảy thói quen, [nếu
quan niệm] có sửa hay không cũng chẳng sao, hỏng
bét rồi! Hết thảy thói quen sanh hoạt, hoặc là lời
lẽ thô ác, cứ để mặc như vậy, cho là chẳng
có vấn đề ǵ! Khi kinh Phật dạy về giới,
chẳng nói [cặn kẽ] như thế sẽ không
được. Khi đó, những điều [giới
kinh] nói ra, [hễ vi phạm] đều tính là phạm giới.
Giới luật ắt phải nói như sự thật, nêu rơ sự thật.
Trừ giới luật ra, đều chẳng thể nói lời
thô ác.
Không
nói lời thô ác, hăy nói lời mềm mỏng. Từ ngữ
mềm mỏng, nói những lời đáng mến, khiến
cho người khác thích nghe. Mềm mỏng là âm điệu
rất nhu ḥa, đừng ăn nói thô bạo, hoặc là lớn
tiếng, gắt gỏng, mặt cũng
đỏ bừng, mắt cũng trợn trừng trừng.
Quư vị c̣n chưa nói ǵ,
người ta trông thấy đă phiền năo. Nếu quư vị
thốt ra lời, đương nhiên càng tệ hơn thế.
Chuyện kiểu này rất nhiều, đều là biểu hiện chẳng đoan chánh, chẳng thông minh. Khi
người đang nổi giận, tướng mạo hết
sức khó coi!
(Kinh)
Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ
giới, phú đức, chân thật phước điền
vi thiện tri thức, y bỉ tu học ly thô ác ngữ,
năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp,
năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp,
năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp
nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh,
tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật
độ, viễn ly nhất thiết bất khả ư
thanh, chủng chủng thượng diệu, như ư ḥa
nhă, chư ư lạc thanh, kết tập pháp thanh, sung măn kỳ
độ. Cụ túc niệm huệ, phạm âm thanh triệt,
điều thiện hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc.
Thường dĩ nhuyễn ngữ, cánh tương khuyến
tấn. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng,
vị chư hữu t́nh, như ưng thuyết pháp. Bát Niết
Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô
lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ
Tát Ma Ha Tát đệ lục viễn ly thô ác ngữ luân. Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa,
đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư Độc
Giác Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Độc
Giác Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất,
ư kỳ Đại Thừa, đắc vô ngộ thất,
ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La,
đắc vô ngộ thất. Thường năng xí nhiên
Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ
tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ
chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả,
đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp,
thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển.
Lợi huệ, thắng phước, thường đắc
tăng trưởng. Ư nhất thiết Định,
chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc
đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường
đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận
nhi hành. Thường đắc bất ly kiến nhất
thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ
tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường
chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề
chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Sở
đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.
(經)復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離粗惡語,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,遠離一切不可意聲,種種上妙、如意、和雅諸意樂聲、結集法聲,充滿其土,具足念慧,梵音清徹,調善有情來生其國,常以軟語,更相勸進;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第六遠離粗惡語輪。菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。
(Kinh:
Lại gặp bậc vừa ư, thành tựu điều phục
thiện pháp, đủ giới, giàu đức, phước
điền chân thật làm thiện tri thức, nương
theo người ấy tu học, ĺa lời thô ác, có thể
đoạn hết thảy các pháp ác, bất thiện, có thể
thành tựu hết thảy các thiện pháp thù thắng, có
thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa,
có thể tu hết thảy nguyện hạnh Bồ Tát, dần
dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến
chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật
người ấy đang ở, xa ĺa hết thảy tiếng
chẳng đẹp ư, các thứ thượng diệu,
như ư, ḥa nhă, các thứ tiếng khiến đẹp ḷng,
tiếng kết tập pháp, đầy ắp cơi ấy. Các
hữu t́nh chúng sanh trọn đủ niệm huệ, phạm
âm trong trẻo, thấu triệt, điều ḥa thuần
thiện, sanh về cơi ấy. Thường dùng lời lẽ
mềm mỏng để khuyên lơn, sách tấn lẫn
nhau. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng, v́
các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ. Sau
khi Phật bát Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi
ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử!
Đó gọi là luân thứ sáu “xa ĺa lời thô ác” của Bồ
Tát Ma Ha Tát. Do Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu luân này, sẽ chẳng
phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối
với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy
những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu
tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với
pháp Đại Thừa, thường được
thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy
bén và phước thù thắng thường được
tăng trưởng. Trong hết thảy các Định,
các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được
tự tại, chẳng bị thoái chuyển, thường
được gặp gỡ các thiện tri thức tùy thuận
hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết
thảy Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử,
chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường
chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường
tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường
đối với các hạnh nguyện Bồ Đề,
tâm chẳng chán đủ. Đạt được quả
báo như trên đây đă rộng nói).
“Phục
ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới,
phú đức, chân thật phước điền vi thiện
tri thức, y bỉ tu học” (Lại gặp người
vừa ư, thành tựu điều phục thiện pháp, trọn
giới, giàu đức, phước điền chân thật,
nương theo người đó tu học): Phải học
như thế nào th́ mới có thể ĺa
lời thô ác? Chuyện này lại bất đồng, khác với
những điều trước
đó. Âm thanh “chủng chủng thượng diệu”
(các thứ thượng diệu), sanh vào thế giới Cực
Lạc, ngay cả tiếng chim kêu đều là đang thuyết
pháp, há c̣n có lời thô ác? Đă chẳng có, cho nên hết
thảy [các chúng sanh] tâm t́nh điều phục, hiền lành,
ăn nói mềm mỏng, âm thanh vi diệu, đều sanh về
cơi Phật ấy. “Thường dĩ nhuyễn ngữ
cánh tương khuyến tấn” (thường dùng lời
lẽ mềm mỏng để khuyên lơn, khích lệ lẫn
nhau), phải tinh tấn tu hành. Điều ǵ được
coi là có trí huệ? Điều ǵ có thể khiến cho chúng
sanh đạt được lợi ích? Cho đến “sắc
bén, chẳng bị hết thảy chướng ngại tối
tăm ngăn trở”. Đó là trí huệ. Đấy là
huệ kiếm, huệ kiếm chém diệt ma! Kim Cang Bát Nhă
Ba La Mật chính là [trí huệ ấy]. Trí huệ ấy kiên
cố như kim cang, sắc bén như kim cang, có thể trừ
khử hết thảy các Hoặc. Đó gọi là “lợi
huệ”. Có thể nói lợi huệ chính là kim cang trí huệ,
cũng gọi là trí Bát Nhă. “Thắng phước” là ǵ?
Chẳng chấp trước. Bồ Tát làm hết thảy
các sự, độ hết thảy chúng sanh, chẳng có
phước đức. Ngài Tu Bồ Đề ngạc nhiên,
làm nhiều như vậy mà chẳng có phước đức
ư? Bồ Tát tạo phước đức, nhưng chẳng
chấp trước, đấy là phước đức
lớn nhất. Khi chúng ta làm hết thảy các chuyện tốt
mà chẳng chấp trước, chuyện tốt ấy biến
thành rất lớn. Lợi huệ và phước đức
có thể lư giải theo nhiều cách, thường
được tăng trưởng.
(Kinh) Phục thứ thiện nam tử!
Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát năng tận h́nh thọ ly tạp
uế ngữ, nhất thiết chúng sanh thường cộng
ái kính, sở phát ngôn từ giai hữu nghĩa lợi,
văn tất kính phụng, vô sở sai nghi. Do thử thiện
căn tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền
tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân tạp
uế ngữ, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp
chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu
t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư
nghĩa lợi chướng, tự tác, giáo tha, kiến
văn tùy hỷ, do thử viễn ly tạp uế ngữ
luân, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất
thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên
đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an
lạc, sở phát ngôn từ, giai thành nghĩa lợi.
Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị
ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến
thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến
khả bố Diễm Ma Vương sứ, duy kiến khả
ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền vi thiện tri thức,
thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ,
hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc,
tùy sở sanh xứ, ngôn tất nhiêu ích, đoan chánh, thông
minh, an ổn khoái lạc.
(經)復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離雜穢語,一切眾生常共愛敬,所發言詞皆有義利,聞悉敬奉,無所猜疑,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因雜穢語,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸義利障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離雜穢語輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,所發言詞皆成義利。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,言必饒益,端正聰明,安隱快樂。
(Kinh:
Lại này, thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể
cho đến hết thọ mạng, ĺa lời tạp uế,
hết thảy chúng sanh sẽ thường cùng yêu kính, lời
lẽ nói ra đều có nghĩa lợi, người nghe
đều tôn kính, vâng theo, chẳng nghi ngờ, lo ngại. Do vậy, thiện
căn mau được chín muồi. Trong tất cả các
lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông
sanh tử thuở trước, đă do lời lẽ tạp
uế mà tạo các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ,
ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng,
hết thảy pháp chướng, các chướng ngại
đối với nghĩa lợi. Do cái luân “xa ĺa lời tạp
uế” này, [các nghiệp chướng ấy] đều bị
nghiền nát, phá tan, chẳng c̣n sót, chẳng nhận lấy
quả báo. Nơi thân hiện tại, các hàng trời,
người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực,
lo ngại, thân tâm yên vui. Lời lẽ thốt ra đều
trở thành nghĩa lợi. Khi sắp mạng chung, thân tâm
chẳng bị ưu khổ bức bách. Vợ con yêu mến
và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ
giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy
người vừa ư, thành tựu điều phục thiện
pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền
chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng,
sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung, lại được
sanh làm người, các căn viên măn, chi thể trọn
đủ, sanh vào bất cứ nơi đâu, cũng đều
nói lời lợi ích, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui
sướng).
Tạp
uế ngữ là món cuối cùng trong ngữ nghiệp. [Chúng
ta đă thảo luận về] hư cuống ngữ, thô
ác ngữ, ly gián ngữ, loại thứ tư trong ngữ
nghiệp là tạp uế ngữ, cũng chính là ỷ ngữ.
“Ỷ ngữ” (綺語) là thốt ra lời
lẽ vô ích. “Uế” (穢) có nghĩa là “bất
tịnh”; nói đúng ra, chính là cái kiểu chuyện gẫu,
tán nhảm thông thường của chúng ta! Có mấy
người ngồi với nhau, tán gẫu sẽ là [t́nh
h́nh] như thế này: Chuyện ǵ cũng nói được,
đó chính là tạp uế! Do người nói lời tạp
uế chẳng được chúng sanh cung kính, chúng sanh chẳng
muốn cung kính, v́ họ ăn nói chẳng có “nghĩa
lợi” (義利, nghĩa lư, lợi
ích), tức là như chúng ta nói “ngôn ngữ nhạt phèo,
nh́n mặt chán ngắt!” Nếu ĺa tạp uế ngữ,
[lời nói] sẽ có ư
nghĩa. Hết thảy chúng sanh đều muốn thân cận,
cung kính, kính mến người ấy. Như thế th́ ĺa
khỏi lời tạp uế, lời người ấy
nói có đạo lư, có lợi ích cho chúng sanh, người
khác nghe thấy sẽ cung kính quư vị, sẽ chẳng ngờ
vực, lo ngại. Nếu quư vị ăn nói mà người
ta cứ phải “trừ hao” [những điều khoác
lác, nhảm nhí, vô bổ] th́ hăy ngẫm xem, lời nói của quư vị c̣n có
ư nghĩa ǵ cơ chứ? Đấy chính là “sai nghi” (猜疑, ngờ vực,
lo ngại), chẳng thể hoàn toàn tin lời quư vị, sẽ
nẩy sanh nghi hoặc đối với lời nói của
quư vị. Nếu ĺa khỏi tạp uế ngữ, sẽ
khiến cho quư vị mau chóng được thành thục,
thành thục ǵ vậy? Thành thục tịnh nghiệp. Trong
quá khứ trước kia, đă luân chuyển trong năm
đường, ch́m đắm trong sông sanh tử, quả báo ấy có liên quan đến tạp
uế ngữ, đồng thời tạo rất nhiều [nghiệp nơi] thân, ngữ, ư, “chư
ư nghiệp cố” (do các ư nghiệp), có ư nghĩa ấy!
[Nếu
quư vị] đọc phẩm Phạm Hạnh [của kinh
Hoa Nghiêm] đều biết “ngữ” là ngữ nghiệp,
cũng có hàm nghĩa như thế. “Ư” là ư nghiệp, “thân”
là thân nghiệp. Thân và thân nghiệp khác nhau, v́ lời nói chẳng
có ư nghĩa khiến cho các nghiệp đă làm và tất cả tác dụng nơi thân, khẩu, ư của
quư vị đều trở thành chướng ngại. Khi
quư vị giáo hóa, độ chúng sanh, cùng học tập với
chúng sanh, [các nghiệp đă tạo nơi thân, ngữ, ư] đều trở
thành chướng ngại, cũng tức là người
khác chẳng muốn quan tâm quư vị. V́ có chướng ngại
ấy, hoặc là do chính ḿnh thốt lời tạp uế,
cho đến dạy kẻ khác nói lời tạp uế, hoặc
là nghe kẻ khác thốt lời tạp uế, quư vị
đều tán thán, tùy hỷ. Nơi trà đ́nh, tửu quán,
tiệm ăn, pḥng khiêu vũ, ngôn ngữ thuộc loại
này quá nhiều. Đối với chuyện này, quư vị chớ
nên nẩy sanh thái độ “thấy, nghe tùy hỷ”,
phải xa ĺa! Nếu xa ĺa tạp uế ngữ, luân này sẽ
thành tựu. Xa ĺa tạp uế ngữ nghiệp luân có
mười luân. Đây là luân cuối cùng trong mười
luân. Do cái luân nghiền nát tạp uế ngữ này, hết
thảy ngữ nghiệp tạp uế trong quá khứ của
quư vị sẽ bị phá nát chẳng c̣n sót thừa, chẳng
chịu quả báo. Chẳng chịu quả báo thuộc về
“tiền tế” (前際, quá khứ), c̣n
“hiện tế” (現際, hiện tại)
là “ư hiện thân trung, chư thiên nhân đẳng giai cộng
thân cận” (nơi thân hiện tại, các hàng thiên nhân
đều cùng thân cận).
Nếu
trời, người đều cùng thân cận quư vị,
th́ đối với cá nhân của quư vị, họ chẳng phải
lo ngại, suy đoán, rà xét lời lẽ của quư vị,
mà sẽ tin ưa chân thành, khẩn
thiết, thân tâm của quư vị cũng an lạc. Tất cả
ngôn từ “giai thành nghĩa lợi” (đều thành
nghĩa lợi), chẳng phải là ngôn từ không có
nghĩa lư và vô ích. Tất cả ngôn từ khiến cho hết
thảy hữu t́nh chúng sanh đều có thể đạt
được lợi ích. Nếu lúc quư vị sắp mạng
chung, thân tâm đều chẳng bị ưu sầu, buồn
bă, khổ năo trói buộc, cũng chẳng bị khổ nạn
vùi dập, bức bách. Sự khổ sở mang tánh chất
bức bách khiến cho thân tâm của quư vị chẳng
được an lạc. Thân tâm đạt được
an lạc, sẽ chẳng có tánh chất bức bách. Mỗi cá nhân đều hy vọng
khi chết, lục thân quyến thuộc của chính ḿnh, vợ
con yêu mến đều vây quanh bên ḿnh. Những lời này
thoạt nh́n rất đơn giản, rất nhiều người
khi chết, chẳng có vợ con hiện diện, hoặc
là chết v́ tai nạn xe cộ, hoặc chết nơi
đất khách quê người. Có thể “thọ chung
chánh tẩm”, khi chết, người thân yêu nhất ở
bên cạnh, đấy cũng là rất hạnh phúc, ra
đi cũng rất thoải mái. Tuy cuối cùng vẫn biệt
ly, vẫn là biệt ly rất tốt đẹp. Quư vị
cũng chẳng trông thấy sứ giả đáng sợ của
vua Diễm Ma, Hắc Vô Thường, Bạch Vô Thường.
Họ là câu hồn sứ giả, câu hồn quư vị
đi. Quư vị cũng chẳng trông thấy.
Trong
khi mạng chung mà trông thấy những kẻ ấy, sẽ
sanh ḷng hoảng sợ. Bất quá, quư vị trông thấy
toàn là thiện tri thức vừa ư, điều thuận thiện
pháp, toàn thấy các vị phước điền chân thật, đủ giới,
giàu đức, khiến cho thân tâm của quư vị rất
hoan hỷ, rất vui sướng. Đồng thời,
đối với vị thiện tri thức ấy, sanh ḷng
kính tín sâu xa. Như thế th́ khi quư vị ra đi, sẽ
ra đi rất tốt đẹp. Nếu quư vị chẳng
tu hành, chỉ do một hạnh ĺa lời tạp uế
này, do đă thành tựu nghiệp này, quư vị c̣n có thể
sanh làm người, sẽ chẳng [phải lâm vào t́nh cảnh
khốn khổ] như đă nói trong Thập Ác Nghiệp
Luân thuộc phần trước, tức là hễ sanh làm người, các căn thiếu
sót, tứ chi không đầy đủ! Mà sẽ là sanh trong
loài người, các căn viên măn, tứ chi trọn vẹn.
“Tùy sở sanh xứ, ngôn tất nhiêu ích” (sanh ở bất
cứ nơi đâu, lời nói ắt tạo lợi ích):
Quư vị sanh ở bất cứ nơi đâu, hễ tới
chỗ nào, nói năng đều có thể tạo lợi
ích cho người khác. Ai nấy đều sanh tâm hoan hỷ,
tướng mạo của quư vị là “đoan chánh, thông
minh, an ổn, vui sướng”.
(Kinh) Phục ngộ khả
ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền, vi thiện tri thức,
y bỉ tu học ly tạp uế ngữ, năng đoạn
nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất
thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất
thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất
thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập
thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng
Bồ Đề. Sở cư Phật độ, viễn
ly nhất thiết vô nghĩa lợi thanh, chủng chủng
thượng diệu Bồ Tát tạng nhiếp, đại
pháp âm thanh châu biến quốc độ, thành tựu vô biên
đại nguyện diệu trí, năng thiện biện thuyết chủng chủng pháp
nghĩa, như thị hữu t́nh lai sanh kỳ quốc.
Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng, vị
chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn
hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích an lạc vô lượng
hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát
đệ thất viễn ly tạp uế ngữ luân. Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa
đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư Độc
Giác Thừa đắc vô ngộ thất, ư Độc
Giác Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất,
ư kỳ Đại Thừa đắc vô ngộ thất,
ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La đắc
vô ngộ thất, thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng
tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử,
nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ
chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả,
đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp,
thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển.
Lợi huệ, thắng phước thường đắc
tăng trưởng. Ư nhất thiết Định,
chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc
đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển, thường
đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận
nhi hành, thường đắc bất ly kiến nhất
thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ
tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường
chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc, thường ư Bồ Đề
chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Sở
đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.
(經)復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離雜穢語,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,遠離一切無義利聲,種種上妙菩薩藏攝大法音聲週徧國土,成就無邊大願妙智,能善辯說種種法義,如是有情來生其國;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第七遠離雜穢語輪。菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。
(Kinh:
Lại gặp người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ
giới, giàu đức, phước điền chân thật
làm thiện tri thức, nương theo người đó
tu học ĺa lời tạp uế, có thể đoạn hết
thảy pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết
thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết
thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết
thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần
dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến
chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật
người ấy ở xa ĺa hết thảy tiếng chẳng
có nghĩa lợi, âm thanh to lớn thuộc về các loại
Bồ Tát Tạng thượng diệu trọn khắp cơi
nước, thành tựu vô biên đại nguyện diệu
trí, có thể khéo biện luận, giảng giải các thứ pháp
nghĩa. Hữu t́nh
như thế sanh về nước ấy. Bản thân
Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh
thuyết pháp đúng như căn cơ. Sau khi Phật nhập
Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc
vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi
là cái luân thứ bảy “xa ĺa lời tạp uế” của
Bồ Tát Ma Ha Tát. Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, chẳng
phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối
với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La, thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải là pháp khí, cho đến đối với hết
thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ
râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với
pháp Đại Thừa, thường được
thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy
bén và phước thù thắng thường được
tăng trưởng. Trong hết thảy các Định,
các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được
tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường
được gặp gỡ các thiện tri thức để
tùy thuận hành theo. Thường được chẳng
ĺa thấy hết thảy Phật, và các Bồ Tát, Thanh
Văn đệ tử. Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa
thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với
các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng
chán đủ. Thường đối với các thứ hạnh
nguyện Bồ Tát, tâm chẳng chán đủ. Đạt
được quả báo như đă nói rộng trong phần
trước).
Đây
là nói quư vị lại sanh trong nhân gian, cũng giống
như khi lâm chung [đă nói] trong phần trước,
cũng gặp gỡ hàng thiện tri thức vừa ư. Vị
ấy đă điều phục ác pháp, chẳng có ác pháp,
đều biến thành thiện pháp, trọn đủ giới
thanh tịnh, phước đức dồi dào, có trí huệ.
“Phước điền chân thật” chính là nói đến
bậc phước điền xuất thế. Phước
điền chân thật là nói phước điền lư tánh
của chính ḿnh, chẳng phải là phước điền
hư vọng. Bậc thiện tri thức như thế
đến làm bậc y chỉ cho quư vị, quư vị sẽ
học tập điều ǵ từ họ? Học tập
ĺa tạp uế ngữ, tức là chẳng
nói những lời không có ư nghĩa. Đấy là đối
chiếu giữa Thập Ác Nghiệp và Thập Thiện
Nghiệp. Hăy khéo học tập Thập Thiện Nghiệp,
Thập Ác Nghiệp liền biến thành Thập
Thiện Nghiệp. Học tập Thập Thiện Nghiệp
tốt đẹp, Thập Ác Nghiệp sẽ chẳng c̣n nữa,
bị đoạn dứt.
Trong
quá khứ, chúng ta cứ ngỡ Thập Thiện Nghiệp
chỉ là phước báo nhân thiên. Nếu tiến thêm bước
nữa, dùng Thập Thiện Nghiệp làm cơ sở để
tiến lên, hết thảy các thiện pháp đều có thể
tăng trưởng, hết thảy các ác pháp đều có thể
tách rời. Quư vị có thể thành tựu hết thảy
thiện pháp thù thắng, bao gồm Tứ Đế, mười
hai duyên, Lục Độ. Khi ấy, nếu quư vị cầu
pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu Bồ Tát nguyện,
phát Bồ Tát nguyện, hành Bồ Tát hạnh, sẽ dần
dần tiến nhập trí huệ Bát Nhă, thâm nhập biển
trí sâu rộng, cho đến thành Phật, chứng đắc
Vô Thượng Bồ Đề. Như vậy th́ trong cơi
Phật quư vị đang ở, sẽ xa ĺa hết thảy
các âm thanh chẳng có nghĩa lợi, chẳng nghe thấy
các ngôn ngữ không có nghĩa lợi. Như thế th́ [các
âm thanh được nghe] toàn thuộc về Bồ Tát Tạng
thượng diệu, luôn được nghe các pháp
nghĩa vi diệu, đều thuộc loại Đại
Thừa Bồ Tát. “Đại pháp âm thanh châu biến quốc
độ” (âm thanh đại pháp trọn khắp cơi
nước): Pháp âm như vậy trọn khắp cả
nước, trọn khắp cơi Phật quư vị đang ở.
Quốc độ ấy chẳng phải là một tiểu
châu, mà là một thế giới Phật, [chẳng hạn
như] thế giới Sa Bà của chúng ta, toàn thể pháp âm
trọn khắp thế giới Sa Bà. “Thành tựu vô biên
đại nguyện diệu trí” là chỉ nói Đại
Thừa. Có đôi khi, đức Phật nói Đại Thừa
mà hàm nhiếp Nhị Thừa. [Chánh kinh nói] “hữu t́nh
như thế sanh vào cơi ấy” để h́nh dung quốc
độ ấy có h́nh dạng như thế nào? Cơi Phật
ấy hết sức trang nghiêm, hoàn toàn thuộc về
Đại Thừa. Thế giới Cực Lạc cũng thế,
đến nơi đó là sẽ tiến thẳng đến
thành Phật, nhưng trong ao hoa sen ấy cũng có Thanh Văn,
cũng có Duyên Giác, đều là tiến nhập Đại
Thừa, hoàn toàn chẳng phải là các Thanh Văn đoạn
chủng tử Bồ Đề trong thế giới Sa Bà,
mà là hàng Thanh Văn có chủng tử Bồ Đề.
Thọ
mạng của đức Phật th́ sao? Bản thân Như
Lai thọ mạng vô lượng, “Như Lai” chính là A
Di Đà Phật trong thế giới Cực Lạc, thọ
mạng vô lượng. Mỗi vị Phật trong vô lượng
các tịnh Phật quốc độ đều có thọ
mạng vô lượng. “Vị chư hữu t́nh như
ưng thuyết pháp” [nghĩa là] họ thuộc căn
cơ ǵ, bèn nói cho họ pháp [tương xứng] căn
cơ ấy. Sau khi đức Phật trong cơi ấy nhập
Niết Bàn, “chánh pháp cửu trụ, lợi ích an lạc
vô lượng hữu t́nh” (chánh pháp tồn tại lâu
dài, lợi ích, yên vui vô lượng hữu t́nh). Chẳng có
Tượng Pháp và Mạt Pháp, Chánh Pháp vĩnh viễn trụ
trong thế gian.
“Ư
chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm
vô yếm túc” (Đối với các thiện căn, thường
tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ): Vun bồi
thiện căn, vĩnh viễn chẳng chán đủ, măi
cho đến khi thành Phật. “Thường ư Bồ
Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm
túc” (Thường đối với các thứ hạnh
nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ):
Trăm ngàn vạn ức nguyện, trăm ngàn vạn ức
hạnh, vĩnh viễn chẳng chán đủ. V́ thế,
Địa Tạng Vương Bồ Tát vẫn đang phát
nguyện, Thập Địa Bồ Tát vẫn đang phát
nguyện, các Ngài phát nguyện lợi ích chúng sanh. “Sở
đắc quả báo quảng như tiền thuyết”
(Đạt được quả báo rộng như đă
nói trong phần trước): Những điều ấy
đă nói tới lần thứ bảy rồi, tổng cộng
sẽ nói mười lượt.
Thân
nghiệp gồm giết, trộm, dâm, khẩu nghiệp bao
gồm nói hư cuống (虛誑,giả dối,
lừa gạt), tức là vọng ngữ. Những danh từ
được phiên dịch trong kinh này có đôi chút biến
hóa, “hư cuống ngữ” là vọng ngữ, “ly
gián ngữ” là lưỡng thiệt. Ngài (pháp sư Huyền
Trang) không dùng danh xưng lưỡng thiệt mà gọi là “ly
gián ngữ”. Ngài gọi ác khẩu là “thô ác ngữ”,
gọi ỷ ngữ là “tạp uế ngữ”. Tuy danh
xưng bất đồng, nhưng ư nghĩa như nhau. Mọi
người phải nên biết: Danh từ trong các kinh tuy bất
đồng, nhưng ư nghĩa của chúng như nhau. Dưới
đây c̣n có ba luân, [những câu chữ được sử
dụng trong ba luân ấy] đều là trùng lặp.
(Kinh)
Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma
Ha Tát năng tận h́nh thọ, viễn ly tham dục,
nhất thiết chúng sanh thường sở ái trọng, kỳ
tâm thanh tịnh, ly chư nhiễm trược. Do thử,
thiện căn tốc đắc thành thục. Sở hữu
tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà,
nhân tham dục cố, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp
chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu
t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư
vô tham chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ.
Do thử viễn ly tham dục luân cố, giai tất triển
hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo.
Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng
thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc. Kỳ tâm thanh tịnh,
ly chư nhiễm trược. Tương mạng chung thời,
thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở
ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm
Ma vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều
thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước
điền vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh
kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư
căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở sanh xứ, kỳ
tâm thanh tịnh, ly chư nhiễm trược, đoan
chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc. Phục ngộ khả
ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền vi thiện tri thức,
y bỉ tu học ly tham dục pháp, năng đoạn nhất
thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết
thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết
Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết
Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm
quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng
Bồ Đề. Sở cư Phật độ, địa
b́nh như chưởng, chúng bảo sung măn, chủng chủng
bảo thụ hàng liệt trang nghiêm, chủng chủng bảo
y, bảo trang nghiêm cụ, bảo tràng, phan, cái, kim, ngân, chân
châu, la vơng đẳng
thụ, xứ xứ giai hữu, thậm khả ái nhạo,
viễn ly kiêu mạn, nhan mạo đoan nghiêm, chư
căn vô khuyết, kỳ tâm b́nh đẳng. Như thị
hữu t́nh lai sanh kỳ quốc, vô tham công đức, viên
măn trang nghiêm. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng,
vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết
Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô
lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ
Tát Ma Ha Tát đệ bát viễn ly tham dục luân dă.
(經)復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽遠離貪慾,一切眾生常所愛重,其心清淨,離諸染濁,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因貪慾故,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸無貪障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離貪慾輪故,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,其心清淨,離諸染濁。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,其心清淨,離諸染濁,端正聰明,安隱快樂;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離貪慾法,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,地平如掌,眾寶充滿,種種寶樹行列莊嚴,種種寶衣、寶莊嚴具、寶幢幡蓋、金、銀、真珠、羅網等樹,處處皆有,甚可愛樂,遠離憍慢,顏貌端嚴,諸根無缺,其心平等,如是有情來生其國,無貪功德圓滿莊嚴;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第八遠離貪慾輪也。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể
cho đến hết thọ mạng, xa ĺa tham dục, hết
thảy chúng sanh sẽ thường yêu mến, kính trọng.
Tâm vị ấy thanh tịnh, ĺa các nhiễm trược.
Do vậy, thiện căn có thể mau chóng thành thục. Trong những lúc luân
chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử
trước kia, v́ tham dục đă tạo các nghiệp chướng
ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu
t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các
chướng ngại đối với vô tham, tự làm, dạy
người khác làm, thấy nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa
tham dục” này, [các nghiệp
chướng ấy] đều bị nghiền nát, tan diệt
chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo. Trong thân hiện
tại, các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng
ngờ vực, lo ngại, thân tâm yên vui. Tâm vị ấy
thanh tịnh, ĺa các nhiễm trược. Khi sắp mạng
chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách. Vợ
con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng
thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma,
chỉ thấy người vừa ư, điều phục
thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức,
phước điền chân thật làm
thiện tri thức, thân tâm vui sướng, sanh ḷng kính tin sâu
xa. Đă mạng chung rồi, lại được làm người,
các căn viên măn, chi thể trọn đủ. Sanh ở bất
cứ chỗ nào, tâm cũng thanh tịnh, ĺa các đắm nhiễm, ô trược,
đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng. Lại gặp người vừa ư,
điều phục thành tựu thiện pháp, trọn
giới, đủ đức, phước điền chân
thật làm thiện tri thức, nương theo người
ấy tu học pháp ĺa tham dục, có thể đoạn hết
thảy các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết
thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết
thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết
thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần
dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến
chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật
người ấy ở, đất bằng phẳng
như ḷng bàn tay, các thứ báu đầy ắp, các thứ
cây báu bày hàng trang nghiêm, các thứ áo báu, vật trang hoàng báu,
tràng, phan, lọng báu, các thứ cây được phủ
lưới mành vàng, bạc, chân châu v.v… thật đáng yêu
thích, nơi nơi đều có. Xa ĺa
kiêu mạn, vẻ mặt đoan nghiêm, các căn chẳng
khuyết, tâm người ấy b́nh đẳng. Hữu
t́nh như thế sanh vào nước ấy, công đức “chẳng tham” viên măn trang
nghiêm. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng,
v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ.
Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn
tại lâu dài trong cơi đời, lợi ích, an lạc vô
lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi
là luân thứ tám “xa ĺa tham dục” của Bồ Tát Ma Ha
Tát).
Ĺa
tham dục rất khó. Ĺa tham dục đến mức ĺa
tham dục rốt ráo, chính là đoạn trừ vô minh. Tham
dục chia ra rất nhiều tầng cấp. Khi nghiệp
của chúng ta rất nặng, khi duyên niệm Tam Bảo,
[làm như thế] là đúng, nhưng rốt cuộc, duyên
niệm Tam Bảo cũng trở thành chướng ngại.
Duyên niệm Tam Bảo vẫn là hữu pháp, nếu đạt
đến cái Không rốt ráo (tất cánh Không), thiện pháp
lẫn ác pháp đều chẳng có. Thiện pháp Tam Bảo,
Tam Bảo là học Giới, Định, Huệ, v́ cung kính
Tam Bảo mà học Giới, Định, Huệ, trừ diệt
tham, sân, si, đối trị tham dục. Tham, sân, si đă
chẳng c̣n, quư vị cũng đừng chấp trước
Giới, Định, Huệ. Nếu vẫn chấp trước,
sẽ thành bệnh, thuộc loại bệnh chấp
trước. Chẳng hạn như chúng ta lập một
gian Phật đường, nếu chúng ta thỉnh một
bức tượng Phật, cung kính tột bậc, vốn
chỉ có một bức tượng vẽ trên giấy
được thờ tại đó, vẫn
[cung kính] y hệt, cho đến cúng mấy vạn đồng,
hoặc là mười vạn đồng đều biểu
thị tôn kính. Trong ấy có thiện tham niệm. Có những
lúc chúng ta cũng giống như vậy, tham niệm kiểu
này rất nặng, phải khắc phục
tham niệm ấy; [nếu không], niệm Phật, lạy Phật,
luôn mong số lượng cho nhiều, chẳng cầu nội
tâm thanh tịnh.
“Phật”
là Giác. Ư nghĩa của Giác là trừ bỏ. Luôn cho rằng
ta niệm số lượng càng nhiều, th́ sức gia tŕ
của Phật sẽ càng lớn. Niệm thánh hiệu
Địa Tạng Vương Bồ Tát một vạn câu
chẳng được, niệm mười vạn câu chẳng
được, vậy th́ niệm một trăm vạn câu, trong ấy có sự chiết khấu. Ta niệm
mười vạn câu ấy, trong đó có rất nhiều
vọng tưởng. Ta niệm một trăm vạn câu,
trong ấy cũng có vọng tưởng. Như thế th́
một trăm vạn câu niệm của ta đă chiết
khấu thành mười vạn niệm thanh tịnh, mười
vạn câu chiết khấu thành một vạn niệm thanh
tịnh, một vạn câu chiết thành một ngàn thanh tịnh
niệm, một ngàn chiết thành một trăm, đáng phải
là như vậy! Nếu một trăm niệm thanh tịnh
cũng chẳng có, mười tiếng th́ cũng
được, có được một câu niệm thanh tịnh th́ sẽ là chẳng
thể nghĩ bàn. Đó là ư nghĩa “dùng nhiều ḥng đạt được cái ít”.
Mong
cầu tham dục rất nhiều, [vận dụng] trí huệ Bát
Nhă chân chánh sẽ triệt để đoạn dứt [cái tâm mong cầu ấy], rốt ráo thanh
tịnh, nhưng hiện thời vẫn chưa được.
V́ để đối trị sự tham dục này, khi quư
vị ĺa khỏi sự đắm nhiễm, ô trược, thiện căn đă chín muồi. Do vậy,
trong quá khứ, khi luân chuyển trong năm đường,
ch́m trong sông sanh tử, đă v́ tham dục làm duyên [mà tạo các nghiệp chướng]; đấy là căn bản
của sanh tử. Thập Luân được nói trong kinh
Đại Tập Thập Luân đều là b́nh đẳng.
Tạp uế ngữ chính là ỷ ngữ,
giới luật chế định vốn rất nhẹ.
Chẳng có chuyện ǵ, ngay cả khi chỉ đứng
đó nói chuyện gẫu th́ trong mỗi câu tán gẫu đă
chứa đựng sự thị phi. Quư vị đến
Phật đường, nh́n vào các đạo hữu luôn thấy
cái này chẳng đúng, cái kia chẳng đúng, bàn luận
người khác, đó chính là lưỡng thiệt. Hoặc
là đối với ai cũng chẳng nghị luận, chỉ
lượn qua lượn lại tại đó. Lượn qua lượn lại th́ chẳng hợp
Phật pháp, chẳng hợp nghĩa lư! Hễ chuyện ǵ
chẳng liên quan đến Phật pháp th́ đều gọi
là tạp uế ngữ. Rất dễ phạm sai lầm
này!
Trên
thực tế, đối với chúng ta, cái khó đoạn nhất
là tham dục. V́ quư vị ĺa tham dục, thân tâm an lạc,
cái tâm thanh tịnh, ĺa các đắm nhiễm, ô trược. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị
ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc
vây quanh. Lúc lâm chung, quư vị cũng chẳng trông thấy
tiểu quỷ sai của vua Diễm Ma, hoặc câu hồn
sứ giả Hắc Bạch vô thường sẽ chẳng
tới. “Duy kiến khả ư” (chỉ thấy người
vừa ư), [những người] khiến cho tâm ư vui thích đều có thể
trông thấy, chẳng thấy những kẻ không ưa
thích. “Phục ngộ khả ư, thành điều thiện
pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước
điền vi thiện tri thức, y bỉ học tập,
ly tham dục pháp” (chỉ thấy người vừa ư,
điều phục thành tựu thiện pháp, trọn
giới, giàu đức, phước điền chân thật
làm thiện tri thức, nương theo người ấy
học tập pháp ĺa tham dục): Đấy là học tập
pháp ĺa tham dục từ thiện tri thức, và cũng có thể
đoạn trừ hết thảy các pháp ác bất thiện,
có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng,
có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa,
có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ
Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng.
Chỉ có kinh Đại Tập Thập Luân nói như thế, các
kinh khác chẳng có ư nghĩa như vậy!
Tham
dục là căn bản phiền năo, c̣n nghiêm trọng
hơn so với tạp uế ngữ và thô ác ngữ. Giết,
trộm, dâm chỉ là trong đời hiện tại, tham
đă bao gồm hết. Mười nghiệp đều lấy
tham dục làm gốc. Quư vị ngẫm xem, tất cả
đều nói lời tạp uế, nói đă quen miệng rồi,
nói đă quen nết, sẽ trở thành tập khí. Do tập
khí tham dục, cứ thuận miệng đứng ở
đâu, dẫu chẳng có chuyện ǵ cũng phải nói. Có
những kẻ nói quá nhiều, chẳng có ai nghe họ nói,
họ bèn ở trong nhà tự nói chuyện với ḿnh. Có
chuyện như thế đấy! Chúng ta gọi những
kẻ đó là “thuyết quỷ thoại”. “Thuyết
quỷ thoại” là như thế nào? Chẳng có ai nói
chuyện với kẻ đó, kẻ đó bèn tự nói với
ḿnh. Nhất là mấy bà cụ đă cao tuổi, đặc
biệt dông dài! Quư vị nghe họ chót
chét suốt ngày! Đó là tập khí căn bản.
Kinh
Đại Tập Thập Luân đối đăi b́nh đẳng
với Thập Ác Nghiệp, văn tự đều giống
hệt như nhau, các kinh khác chẳng vậy. Kinh này nói về
Thập Ác Luân, tức Thập Ác
Nghiệp Ác Luân. Thập Thiện
Nghiệp Thiện Luân đă được
hoàn toàn nêu bày danh tự trong phần trước, nói một
lượt là được rồi! V́ sao kinh này đă nói
lần này qua lần khác, nói từng lần một, cả
mười lần đều như thế? Đấy là v́ sợ
quư vị chẳng chú ư. Đó là ḷng đại từ của
đức Phật. Nếu giảng bài cho đệ tử
trong Phật Học Viện, chẳng thể giảng
như vậy. Trong mỗi khóa học tại Phật Học
Viện, toàn là giảng về nghĩa lư, rất ít khi giảng
kinh. Thời gian giảng nghĩa lư th́ nhiều, thời
gian giảng kinh ít. Giảng về luận, Nhiếp Đại
Thừa Luận, Hiện Quán Trang Nghiêm Luận, Đại
Thừa Khởi Tín Luận, Đại Trí Độ Luận,
Du Già Sư Địa Luận. Giảng luận,
chẳng giảng kinh, rất ít giảng kinh. Kinh nhằm dạy
quư vị thực hiện, c̣n Luận để biện luận,
nhằm khai trí huệ. Phật Học Viện là học sự
hiểu biết, Thiền Đường chẳng phải
vậy. Thiền Đường là quư vị ít nói, tham cứu là được rồi. Niệm Phật
Đường th́ quư vị cũng ít nói, chỉ niệm A
Di Đà Phật là được rồi! Học Giới
th́ suốt ngày làm Yết Ma, bày giới tướng ra, hằng
ngày học tập, quư vị làm thế nào để giữ
giới thanh tịnh? Trong một tùng lâm, hay trong một ngôi
chùa lớn, trừ Học Giới Đường, Niệm
Phật Đường, Thiền Đường, và Học
Đường ra, c̣n có Như Ư Liêu[9].
Khi quư vị sợ hăi, có thể tiến vào Như Ư Liêu.
Những
điều được giảng trong kinh Thập Luân
chuyên v́ đại chúng trong hội Đại Tập mà giảng.
Trong pháp hội ấy, từ Bồ Tát cho đến phàm
phu đều có. Rất nhiều phàm phu phạm sai lầm
này. Do vậy, đức Phật phải nhắc đi, nhắc
lại, dặn tới, dặn lui. Thông thường, đức
Phật căn dặn ba lượt là được rồi,
c̣n kinh Đại Tập Thập Luân là mười lượt,
dùng ngôn ngữ, lời lẽ giống hệt nhau, đều
b́nh đẳng diễn nói để nhắc lại, là do ư
nghĩa này! Có phải là hễ nói mười lượt
th́ sẽ ghi nhớ hay chăng? Tâm chẳng để vào
đó th́ một trăm lần vẫn là như vậy! Học
pháp th́ phải học từ trong tâm. Đấy là soi gương.
Quư vị hăy soi để biết trong Thập Luân, chính ḿnh có mấy
luân. Có người được toàn bộ, có người
chỉ có hai ba luân. Như thế th́ quư vị là thiện
tri thức. Nếu biết nghiệp chướng của
chính ḿnh chẳng nặng, chính quư vị có thể đối
chiếu đôi chút, toàn thể văn tự trong đoạn
này đều tương đồng. Trong phần trước
đă nói hai lần; từ đây trở
đi, chẳng nói nữa!
Nói
“năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp,
năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp
nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh,
tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật
độ địa b́nh như chưởng, chúng bảo
sung măn, chủng chủng bảo thụ, hàng liệt trang
nghiêm, chủng chủng bảo y, bảo trang nghiêm cụ, bảo
tràng, phan, cái, kim, ngân, chân châu đẳng thụ, xứ xứ
giai hữu” (có thể thành tựu hết thảy các thiện
pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa
Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh
của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí rộng
sâu, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ
Đề. Cơi Phật người ấy ở, đất bằng phẳng
như ḷng bàn tay, các thứ báu đầy ắp, các thứ
cây báu bày hàng trang nghiêm, các thứ y báu, vật trang nghiêm báu,
tràng, phan, lọng, báu, các thứ cây báu phủ lưới
mành bằng vàng, bạc, chân châu v.v… nơi nơi đều
có). Đấy là thế giới Cực Lạc, các cơi Phật
thanh tịnh đều là như thế. “Thậm khả
ái nhạo” (hết sức đáng ưa thích), quư vị
c̣n tham chi nữa! V́ quư vị ắt phải ĺa tham dục,
phá hủy tham dục luân, sau đó mới có thể đạt
được quả báo này!
“Viễn
ly kiêu mạn, nhan mạo đoan nghiêm, chư căn vô khuyết,
kỳ tâm b́nh đẳng. Như thị hữu t́nh, lai sanh
kỳ quốc” (Xa ĺa kiêu căng, ngạo mạn, h́nh mạo
đoan nghiêm, các căn chẳng khuyết, cái tâm b́nh đẳng.
Hữu t́nh như thế sanh vào cơi ấy): Chúng sanh trong quốc
độ ấy đều là như thế, chẳng kiêu
căng, chẳng ngạo mạn. Tướng mạo
của mỗi người chẳng sai biệt cho lắm,
cũng không có ai xấu xí chẳng ra sao, mà đều là
dung mạo đoan chánh. Xinh đẹp có mấy loại,
người xinh đẹp mà có đức hạnh th́ ai
trông thấy cũng đều sanh tâm cung kính, chẳng có
tâm khinh mạn, chẳng có tâm vũ nhục! Nói đến
phụ nữ có đức th́ trong quá khứ, chúng ta nói đến những cô tiểu
thư khuê các, hễ có phước đức th́ cũng rất
đoan trang, mà cũng rất mỹ lệ! Nhưng đem
so với một kỹ nữ xinh đẹp th́ tuyệt
đối chẳng thể nói là tương đồng
được, chẳng ai nẩy sanh tâm khinh mạn đối
với các cô!
Xưa
kia, Địa Tạng Vương Bồ Tát làm một cô
gái Bà-la-môn cũng thế, mà khi là cô Quang Mục cũng thế.
Ai trông thấy các cô ấy, cũng đều sanh ḷng cung
kính. Ngay cả quỷ trông thấy cô ta đều nẩy
sanh tâm cung kính. Đó là đức (đức hạnh). Như chúng ta
thấy Quán Thế Âm Bồ Tát và thấy một vị mỹ
nữ, tuyệt đối là hai tâm thái khác nhau! Chúng ta thấy
Quán Thế Âm Bồ Tát, bất luận quư vị tin Phật
hay không, sẽ đối với Ngài sanh tâm cung kính, chẳng
có tâm giải đăi, ngạo mạn. Đừng nói Phật, Bồ Tát, ngay như thiên nhân, Ma Tổ (Thiên Hậu
Nguyên Quân)[10]
là một cô bé, tổ miếu tại Bồ Điền, tỉnh Phước Kiến.
Các bức tượng của Ma Tổ trong huyện ấy,
vẽ rất xinh đẹp, chẳng có ai dám sanh tâm khinh mạn
đối với Ngài. C̣n có một câu chuyện tại miếu
thờ Cửu Thiên Huyền Nữ Nương
Nương, Ân Trụ Vương[11]
đến dâng hương tại miếu đó. [Trông thấy]
tượng Cửu Thiên Huyền Nữ[12]
tạc khéo quá, vua sanh khởi tâm ô nhiễm, sanh khởi tâm
tham dục. Vị thần ấy phẫn nộ, chứ Bồ
Tát chẳng hề! Cửu Thiên Huyền Nữ liền sai hồ
ly tinh chín đuôi [đến phá hoại nhà Ân], hồ ly tinh
chín đuôi liền biến thành Đát Kỷ. Do một niệm
[tham ái, Trụ Vương] đă chôn vùi giang sơn!
Người
có đức, công đức viên măn; cho nên lục
căn toàn vẹn. “Nhan mạo đoan nghiêm, chư căn
vô khuyết, kỳ tâm b́nh đẳng” (dung mạo
đoan nghiêm, các căn chẳng khuyết, cái tâm b́nh đẳng), ư
nghĩa được bao hàm ở đây chính là “người ấy chẳng có tham dục”. Đó là công đức của người ấy, quốc
độ nơi người ấy sanh vào đều
[được trang nghiêm bởi] công đức chẳng tham dục, tức
là “viên măn trang nghiêm”. Công đức chẳng tham dục,
bản thân “chẳng tham dục” đă là công đức.
Bản thân “chẳng nói lời tạp uế” đă là
công đức. Như Lai trong cơi Phật ấy thọ mạng
vô lượng. Tất cả các đức Như Lai
nơi các quốc độ được nói trong cả
mười luân đều là thọ mạng vô lượng, [nói thọ mạng vô lượng] chẳng phải
là [nói đến
thọ mạng của] Báo Thân, mà là [thọ mạng của] Hóa Thân. “Vị
chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn
hậu, chánh pháp cửu trụ” (V́ các hữu t́nh, thuyết
pháp đúng căn cơ. Sau khi Phật nhập Niết Bàn,
chánh pháp tồn tại lâu dài): Cũng chẳng có Tượng
Pháp và Mạt Pháp. “Lợi ích, an lạc vô lượng hữu
t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ
bát viễn ly tham dục luân dă” (Lợi ích, an lạc vô
lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi
là luân thứ tám “xa ĺa tham dục” của Bồ Tát Ma
Ha Tát).
(Kinh)
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh
Văn Thừa đắc vô ngộ thất, ư Thanh
Văn Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ
thất, ư Độc Giác Thừa đắc vô ngộ
thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già
La đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa
đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa
Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, thường
năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai
xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí,
nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến
ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất.
Ư Đại Thừa pháp, thường đắc
thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng
phước, thường đắc tăng trưởng.
Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư
Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại,
vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ
chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường
đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập
chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly
văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng
Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc, thường ư Bồ Đề
chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Sở
đắc quả báo quảng thuyết như tiền.
(經)菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。
(Kinh:
Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, chẳng phạm sai
lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm
sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối
với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La, thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải là pháp khí, cho đến đối với hết
thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ
râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với
pháp Đại Thừa, thường được
thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy
bén và phước thù thắng thường được
tăng trưởng. Đối với hết thảy các
Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được
tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường
được gặp gỡ các thiện tri thức để
tùy thuận làm theo. Thường được chẳng
ĺa thấy hết thảy các đức Phật, và các Bồ
Tát, Thanh Văn đệ tử. Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng
ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với
các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng
chán đủ. Thường đối với các hạnh
nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt
được quả báo như đă nói rộng trong phần
trước).
Ở
đây chỉ nói tới ly tham dục luân; sau đó, hăy c̣n hai luân
nữa!
(Kinh) Phục thứ, thiện nam tử!
Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát, năng tận h́nh thọ, viễn
ly sân khuể, nhất thiết chúng sanh thường sở
ái trọng, kỳ tâm thanh tịnh, ly chư cấu uế.
Do thử, thiện căn tốc đắc thành thục. Sở
hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử
hà, nhân sân khuể cố, tạo thân, ngữ, ư, chư ác
nghiệp chướng, chư phiền năo chướng,
chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng,
chư vô minh chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn
tùy hỷ. Do thử viễn ly sân khuể luân cố, giai tất
triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả
báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng giai cộng
thân ái, vô sở sai lự. Kỳ tâm thanh tịnh, ly chư cấu
uế. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị
ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến
thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến
khả bố Diễm Ma vương sứ. Duy kiến khả
ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền vi thiện tri thức,
thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ,
hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc,
tùy sở sanh xứ, kỳ tâm thanh tịnh, ly chư cấu
uế, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc.
(經)復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽遠離瞋恚,一切眾生常所愛重,其心清淨離諸垢穢,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因瞋恚故,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸無明障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離瞋恚輪故,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,其心清淨,離諸垢穢。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,其心清淨,離諸垢穢,端正聰明,安隱快樂。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể
cho đến hết thọ mạng, xa ĺa nóng giận, hết
thảy chúng sanh sẽ thường yêu mến, kính trọng,
tâm vị ấy thanh tịnh, ĺa các cấu uế. Do vậy,
thiện căn mau được thành thục. Trong những
lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông
sanh tử thuở trước, do sân khuể, đă tạo
các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền
năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy
pháp chướng, các vô minh chướng, tự làm, dạy
người khác, thấy nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa sân
khuể” này, [các nghiệp chướng ấy] đều bị
nghiền nát, phá tan chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả
báo. Trong thân hiện tại, các hàng nhân thiên đều cùng
thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại. Cái tâm thanh tịnh,
ĺa các cấu uế. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng
bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến, quyến
thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả
đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy người
vừa ư, điều phục thành tựu thiện
pháp, đủ giới, trọn đức, phước
điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui
sướng, sanh ḷng kính tín sâu xa. Đă mạng chung, lại
sanh làm người, các căn viên măn, chi thể trọn
đủ, hễ sanh vào nơi đâu, cái tâm thanh tịnh,
ĺa các cấu uế, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui
sướng).
Đoạn
kinh văn này có thêm một câu, tức là phá tan “chư vô
minh chướng”. Sân hận có lớn và nhỏ. Sân khuể
th́ có người nếu nổi nóng, cáu giận, sẽ có
khá nhiều người bị mắc họa! Như quốc
vương, đại thần, tướng quân, do một
niệm sai lầm, sẽ tạo rất nhiều nghiệp.
Như tướng Bạch Khởi đời Tần, khi
nước Tần giao tranh với nước Triệu,
đă ra lệnh đào hầm chôn sống bốn
mươi vạn tù binh nước Triệu do hắn bắt
được trong trận chiến Trường B́nh! Bản
thân hắn mắc quả báo hứng chịu bất tận! Có một
năm nọ, báo chí Thượng Hải đăng tin, có một
con lợn nơi chỗ da dưới bụng nó có đề
tên màu đỏ “Bạch Khởi”. Đấy là Phật,
Bồ Tát chỉ bày cảnh tỉnh chúng ta. Lại c̣n có một
người họ Tŕnh, chúng tôi không nói tên người ấy,
ông ta làm chuyên viên, đă thụt két, nuốt gọn mấy
vạn lạng bạc trắng, cũng bị biến thành
lợn. Con lợn nái có thai lần ấy, đẻ ba con lợn
con, dưới bụng đều có ghi tên, một là Bạch
Khởi, hai là tên của gă họ Tŕnh, c̣n con lợn kia cũng
đề tên của một người đă từng sống
tại vùng Thượng Hải.
Đó là nghiệp báo, ở dưới bụng, có đề
tên màu đỏ chót, đề rành rành là Bạch Khởi.
Đó là ǵ? Đấy là quả báo. Báo chí Thượng Hải
bèn đăng tải để giáo dục mọi người.
Từ
thuở đó cho đến hiện thời đă bao nhiêu
năm, thời gian ấy vẫn c̣n rất ngắn, hắn
vẫn phải thọ báo. Một cuộc chiến thành
công, cả vạn bộ hài cốt khô. Không chỉ là một
vạn bộ hài cốt, thuở ấy có đến bốn
mươi vạn người. Từ xưa đến
nay, bất luận ở nơi đâu cũng đều chẳng
giết hàng binh, hễ đầu hàng th́ thôi, buông vũ khí
là xong! Hắn dùng thủ đoạn lừa gạt, đem
họ chôn sống. Trên thực tế, nếu người
ta thật sự liều mạng, cũng rất khó
đánh! Sau khi đă lừa được họ buông
vũ khí xuống, liền đào hầm chôn sống họ,
đương nhiên là hắn có các thứ nghiệp!
Tôi c̣n nhớ có một bài thơ: “Ô nha thất kỳ mẫu”
(Quạ đen bị mất mẹ), khi con quạ
đen chết, tức quạ già chết, quạ non mất
mẹ. “Kinh niên thủ cố lâm” (Bao năm giữ rừng
cũ), trong quá khứ đă ở trong rừng cây ấy. “Dạ
dạ bất ly khứ, duy báo niệm mẫu ân” (hằng
đêm chẳng ĺa khỏi, chỉ nghĩ báo ơn mẹ):
Mỗi đêm nó đều kêu như thế, chẳng chịu bay
đi. “Tích hữu Ngô Khởi giả” (xưa có gă Ngô
Khởi), có một gă tên là Ngô Khởi[13],
chẳng phải là Bạch Khởi. “Mẫu táng, mộ bất
lâm” (mẹ mất, chẳng viếng mộ): Mẹ hắn
đă chết, ngay cả mộ địa cũng chẳng
thèm đến viếng. “Ta thán tư đồ bối, kỳ
tâm bất như cầm” (Than ôi! Hạng người
đó, tâm chẳng bằng loài chim). So sánh giữa con người
và cầm thú, có khi con người vẫn chẳng khác ǵ cầm
thú! Khi tôi c̣n ở trong tù, có một bác sĩ, đứa con
ruột của ông ta cưỡng hiếp mẹ nó, bị
phán tù mười tám năm. Vào thời quá khứ, tội ấy
bị “ngũ mă phân thi” (năm ngựa
xé xác), hoặc “ngũ ngưu phân thi” (năm con trâu xé
xác). Đó là đại tội nghịch, chẳng bằng
cầm thú! Ngựa tuyệt đối chẳng giao phối với
ngựa mẹ, c̣n dê khi sắp bú sữa, nhất định
sẽ quỳ xuống, quỳ để bú sữa. Đó là báo ân.
Hễ
nói tới ác nghiệp, đều xen tạp phiền năo.
Phiền năo là tâm tham, tâm sân hận. Phật giáo chúng ta chú trọng
tâm sân hận nhất. Tất cả công đức do quư vị
tích lũy, “một niệm sân hận khởi, cháy rụi
rừng công đức”. Hễ nổi cơn lôi đ́nh,
quư vị cứ tưởng chỉ là nóng giận một
trận rồi thôi ư? Đặc biệt phải đối
trị tâm sân hận, nó có thể đem lại cho quư vị
rất nhiều họa hoạn. Đối với tâm sân hận,
quư vị cho rằng nổi nóng chẳng nhằm nḥ ǵ! Gia đ́nh thường v́ một hai trận giận dữ
mà vợ chồng bất ḥa, hoặc là như trong hiện
thời, do căm thù mà giết hại nhau, gia đ́nh tan vỡ.
Đối với tầm quan trọng của một niệm
tâm sân hận, tôi phải nói nhấn mạnh đôi chút
như vậy để mọi người tham khảo, những
điều khác đều giống như kinh văn trong phần
trước. Đấy là nói về sân khuể luân. Quư vị
thấy người ta nổi nóng, thấy người ta
đánh nhau, rất nhiều kẻ bu lại xem náo nhiệt.
Chớ nên xem sự náo nhiệt ấy! Nếu quư vị bu lại
coi, không chừng bị ngộ thương, họ đánh
lầm quư vị, chớ nên xem náo nhiệt!
(Kinh)
Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ
giới, phú đức, chân thật phước điền
vi thiện tri thức, y bỉ tu học, ly sân khuể pháp,
năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp,
năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp,
năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp
nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh,
tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật
độ, viễn ly nhất thiết trược uế
phong vân, úc chưng trần cấu, chư thô tệ vật,
chúng bảo trang nghiêm, thậm khả ái nhạo, viễn ly
kiêu mạn, nhan mạo đoan nghiêm, chư căn vô khuyết,
tâm thường tịch định. Như thị hữu
t́nh, lai sanh kỳ quốc.
Từ bi công đức, viên măn trang nghiêm. Như Lai tự
thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh
như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu
trụ, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện
nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ cửu viễn
ly sân khuể luân dă.
(經)復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離瞋恚法,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,遠離一切濁穢風雲、郁烝塵垢、諸粗弊物,眾寶莊嚴甚可愛樂,遠離憍慢,顏貌端嚴,諸根無缺,心常寂定,如是有情來生其國,慈悲功德,圓滿莊嚴;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第九遠離瞋恚輪也。
(Kinh: Lại gặp
người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, trọn giới, giàu
đức, phước điền chân thật làm thiện
tri thức, nương theo người ấy tu học, ĺa
pháp sân khuể, có thể đoạn hết thảy các pháp
ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện
pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp
nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện
hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển
trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng
Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở xa ĺa
hết thảy dơ bẩn, gió mây, nung nấu các trần
cấu, các vật thô tệ, được trang nghiêm bằng
các món báu rất đáng ưa thích. Xa ĺa
kiêu căng, ngạo mạn, dung mạo đoan nghiêm, các
căn chẳng khuyết, tâm thường
tịch định, các hữu t́nh như thế sẽ sanh
về cơi ấy. Từ bi công đức viên măn trang nghiêm. Bản
thân Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu
t́nh nói pháp thích ứng căn cơ. Sau khi Phật nhập
Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc
vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi
là luân thứ chín “xa ĺa sân khuể” của Bồ Tát Ma Ha
Tát).
“Phục
ngộ khả ư, thành điều thiện
pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước
điền, vi thiện tri thức” (lại gặp người vừa ư, điều
phục thành tựu thiện
pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền
chân thật làm thiện tri thức): Nương theo vị
thiện tri thức ấy, “tu học ly sân khuể pháp”.
Nếu muốn ĺa pháp sân khuể, phải làm
như thế nào? Phải nhẫn nhục. Dựa trên sự
rèn luyện hằng ngày của quư vị, khi sắp nổi
nóng, quư vị hăy vào Phật đường. Hoặc nhằm
lúc không có Phật đường, chính quư vị phải
tĩnh tọa, đă tĩnh tọa rồi, niệm Phật
cũng được, mà niệm kinh cũng được.
Hễ niệm th́ cái tâm của quư vị sẽ thanh
lương, lửa giận sẽ dịu xuống! Khi
đang nóng giận, ngàn vạn lần đừng xử
trí công việc. Khi trong tâm quư vị chẳng thoải mái,
cũng đừng nên đáp ứng chuyện ǵ, quư vị
nhất định phải khắc phục. Quư vị rèn
luyện dần dần như thế, đấy cũng là
tu hành.
Đă
nhẫn lại nhẫn nữa, Trương Công bách nhẫn[14],
viết một chữ Nhẫn mà chưa nhẫn được,
bèn viết một chữ nữa, vẫn chẳng nhẫn
được, lại viết một chữ nữa. Ắt
cần phải nhẫn! Nhẫn rất khó! [Nhẫn (忍) là] trên chữ Tâm (心) cắm một thanh
đao bén (刃, đao bén),
đau đớn lắm! Nhẫn có sức mạnh lớn
như vậy! Đặc biệt là khi sanh khởi phiền
năo, quư vị sẽ tạo nghiệp. Không phải chỉ
là thân quư vị tạo nghiệp! Trong tâm khởi lên [sân khuể],
sẽ phát ra đằng miệng, chửi rủa người
khác. Chửi hết mức bèn đánh, đánh đă rồi
vung đao, hoặc nổ súng, đèo thêm cái nợ mạng,
sẽ bị nhốt vào tù. Lúc đó, quư vị hối hận
chẳng kịp, lại c̣n phải đền mạng. Nhất
định phải nhẫn, mỗi luân đều là
như vậy. Bất quá đối với sân luân này, đặc
biệt nói nhiều một chút. Quư vị mong ĺa khỏi nó rất khó. Người quen thói nổi
nóng sẽ rất khó ĺa khỏi!
C̣n
nữa, hễ nổi giận, trong ḷng bực bội, trong
gia đ́nh, đặc biệt
dễ nẩy sanh [chuyện này nhất]: Quư vị bực
ḿnh với đứa con nào, hằng ngày chửi mắng nó.
Nó làm ǵ, quư vị cũng lập tức xài xể, quở
trách nó. Cứ như thế, dẫu là cha mẹ ruột,
đâm ra đứa con cũng coi như oán cừu! Hoặc là
nó trưởng thành, sẽ ĺa khỏi quư vị, hoặc là
nó c̣n muốn báo thù. Tôi đă gặp rất nhiều trường
hợp báo thù rồi! Chẳng cần nói quá nhiều, khi
người khác sai lầm, đừng nóng giận, phải
tha thứ cho người khác. Quư vị thường xuyên
nghĩ như vậy, một hai lần không được,
cứ cố gắng nhiều lần, dần dần sẽ
được. V́ người khác chẳng phải là quư vị,
dẫu [kẻ đó] do chính ḿnh sanh ra, vẫn chẳng phải
là có cùng một cái tâm với quư vị.
Cách nghĩ của quư vị và cách nghĩ của
họ phải khác nhau, nhất định phải nhẫn
điều này. Học tập ĺa pháp sân khuể như thế,
có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí
sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng
Bồ Đề.
Cơi
Phật người ấy ở, “viễn ly nhất thiết
trược uế, phong vân, úc chưng trần cấu,
chư thô tệ vật, chúng bảo trang nghiêm, thậm khả
ái nhạo” (xa ĺa hết thảy dơ bẩn, gió, mây,
nung nấu trần cấu, các vật thô tệ, [lại
được] các báu trang nghiêm rất đáng ưa thích).
Đấy là vấn đề bảo vệ môi trường
sinh thái, [môi trường hiện thời] dơ bẩn,
đục ngầu, đặc biệt là nước bị
ô nhiễm. Gió thổi qua, [các thứ bẩn thỉu] bị
bốc lên không trung, ở trên không trung biến
thành mây đen. Phàm là những thứ có màu đen là đă
xen tạp vật bất tịnh. “Chưng” (蒸) là khi mặt trời
mọc, sẽ nung nóng, chúng liền bị bốc hơi.
Đă bốc hơi xong, lại rơi xuống đất,
hóa thành các vật thô tệ. Các vật thô tệ ấy nếu
rơi xuống nước, hoặc các thực phẩm, cũng sẽ
khiến cho chúng bị nhiễm độc. Khí oán kết dữ
dội hơn bất cứ thứ độc hại nào, tức
là như chúng tôi vừa mới nói “phẫn nộ, oán
độc”. Oán độc th́ ai gặp cũng sợ. Nếu
quốc độ này, tàn sát nhân dân trên quy mô lớn, giống
như đại chiến trường, chết một loạt
mấy vạn người, mấy chục vạn người,
loại oán khí ấy xông lên không trung, ngưng kết thành một
loại oán khí mà hễ ai đi qua nơi đó, nếu chẳng
né tránh, chạm phải, thần tiên cũng chẳng có cách
nào cứu được!
Oán
độc của chúng sanh hết sức dữ dội. Rất
nhiều bộ kinh Phật nghiên cứu thứ này, đă
nói oán độc nặng nề hơn bất cứ thứ
ǵ khác. V́ thế, người ấy [do xa ĺa sân khuể]
đă chuyển hóa các vật thô tệ do các trần cấu
nung nấu mà thành, chuyển
biến các thứ đó
thành “chúng bảo trang nghiêm, thậm khả ái nhạo”
(các báu trang nghiêm, rất đáng yêu mến). “Viễn ly
kiêu mạn, nhan mạo trang nghiêm, chư căn vô khuyết,
tâm thường tịch định” (xa ĺa kiêu căng,
ngạo mạn, diện mạo trang nghiêm, các căn chẳng
khuyết, tâm thường tịch định). Thêm vào “tịch định”, tức là trong
tâm luôn an tĩnh, luôn lặng lẽ, an định, chẳng
tán loạn, chẳng phiền năo th́ mới định
được. V́ sao trong tâm chúng ta
bứt rứt? Tuy chẳng nổi nóng, cội rễ trong ấy
là do phiền năo muốn bùng phát, mà chẳng phát ra được.
Hoặc là do khắc chế, khiến cho nó chẳng bùng ra, trong tâm
sẽ bứt rứt, chẳng thoải mái! Do vậy, cái
tâm phải thường tịch định, đừng buồn
bực, đừng bứt rứt. Quốc độ của
người ấy (người đă xa ĺa sân khuể) là
như thế! Phàm những ai tâm
thường tịch định, xa ĺa kiêu mạn, sẽ
sanh về cơi ấy, đều là “từ bi công đức, viên măn trang
nghiêm”. Trái nghịch với sân hận là từ bi. Do đó,
đối với hết thảy chúng sanh, đều phải
từ bi. Người tu Từ Bi Quán sẽ chẳng tức giận,
mà cũng chẳng nổi cáu!
C̣n
có một loại nữa là Bồ Tát thị hiện: “Tánh
t́nh ngươi quá nóng, ta c̣n nóng tánh hơn ngươi nữa!
Ngươi c̣n lộn xộn nữa, ta giết ngươi
luôn!” Quán Thế Âm Bồ Tát tại đất Hán rất từ
bi; ở Tây
Tạng Ngài chẳng phải là như vậy. Ngài thị hiện
giống như ma vương, Mă Đầu Kim Cang (Hayagriva)[15], hoặc
Đại Minh Kim Cang, hiện rất nhiều tướng
Kim Cang. Tướng Kim Cang rất dữ tợn. Đấy là từ
bi thật sự, hàng phục phiền năo của họ. Muốn
hàng phục phiền năo của họ, chúng ta làm không
được! Chỉ có thể nhẫn nại đôi
chút, chúng ta vẫn chưa có công lực ấy!
(Kinh)
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn
Thừa đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa
Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư
Độc Giác Thừa đắc vô ngộ thất, ư
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô
ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa đắc
vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ
Đặc Già La đắc vô ngộ thất, thường
năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai
xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí,
nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến
ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất.
Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng
tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng
phước, thường đắc tăng trưởng.
Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư
Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại,
vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ
chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường
đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập
chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly
văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng
Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn
cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề,
chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc, sở
đắc quả báo quảng thuyết như tiền.
(經)菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。
(Kinh:
Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, chẳng phạm sai
lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm
sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối
với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải pháp khí, cho đến đối với hết thảy
những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu
tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với
pháp Đại Thừa, thường được
tăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy
bén và phước thù thắng thường được
tăng trưởng. Trong hết thảy các Định,
các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, đều mau chóng
tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường
được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận
hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy Phật,
và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử. Chẳng ĺa
thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với
các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng
chán đủ. Thường đối với các thứ hạnh
nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt
được quả báo như đă nói rộng trong phần
trước).
Người
học pháp tam thừa, hoặc học pháp Nhị Thừa,
nếu đối với pháp và người đều chẳng
“ngộ thất”, tức là chẳng sai lầm. “Như
ưng thuyết pháp, thường năng xí nhiên Tam Bảo
chủng tánh” (tùy theo căn cơ thích đáng mà thuyết
pháp, thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam
Bảo): Đối với các đệ tử xuất gia
của các đức Như Lai, bất luận là trong cơi Phật
nào, đại đa số là nói tới quốc độ
này của chúng ta. “Nhược thị pháp khí, nhược
phi pháp khí” (Dù là pháp khí, hay chẳng phải
là pháp khí), thế giới Cực Lạc chẳng có “phi pháp
khí”, đương nhiên là nói đến cơi [Sa Bà] này.
Phàm là những quốc độ tương tự như
chúng ta, “hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa,
thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất” (thậm chí đối với hết thảy
những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu
tóc, đều chẳng phạm sai lầm): Không chỉ là
chẳng sai lầm đối với ba thừa, mà thậm
chí đối với kẻ chỉ khoác một mảnh
ca-sa, kẻ ấy nhất định có thiện căn, nhất
định là có nhân duyên, phải quan sát quá khứ của kẻ
đó.
(Kinh) Phục thứ thiện nam tử!
Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát năng tận h́nh thọ, viễn
ly tà kiến, nhất thiết chúng sanh thường sở
ái trọng, kỳ tâm thanh tịnh, ly tà phân biệt. Do thử,
thiện căn tốc đắc thành thục. Sở hữu
tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà,
nhân tà kiến cố, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp
chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu
t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư
chánh kiến chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn
tùy hỷ, do thử viễn ly tà kiến luân cố, giai tất
triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả
báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng
thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, kỳ tâm thanh tịnh,
ly tà phân biệt. Tương mạng chung thời, thân tâm bất
vị ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến
thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến
khả bố Diễm Ma vương sứ, duy kiến khả
ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức,
chân thật phước điền, vi thiện tri thức,
thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ,
hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc,
tùy sở sanh xứ, kỳ tâm thanh tịnh, ly tà phân biệt,
đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc.
(經)復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽遠離邪見,一切眾生常所愛重,其心清淨,離邪分別,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因邪見故,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸正見障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離邪見輪故,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,其心清淨,離邪分別。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,其心清淨,離邪分別,端正聰明,安隱快樂。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể
cho đến hết thọ mạng, xa ĺa tà kiến, sẽ
được hết thảy chúng sanh thường yêu kính, quư trọng. Tâm vị
ấy thanh tịnh, ĺa tà phân biệt. Do vậy, thiện
căn mau được thành thục. Trong tất cả những
lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông
sanh tử thuở trước, do tà kiến mà tạo các ác
nghiệp chướng nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo
chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy
pháp chướng, các chánh kiến chướng, tự làm, dạy
người khác, thấy nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa tà kiến”
này, [các nghiệp chướng ấy] thảy đều bị
nghiền nát, tan diệt chẳng c̣n sót, chẳng nhận
lănh quả báo. Nơi thân hiện tại, các hàng trời
người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực,
lo ngại, thân tâm an lạc, cái tâm thanh tịnh, ĺa tà phân biệt.
Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ
bức bách. Vợ con yêu mến và quyến thuộc vây
quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ
của vua Diễm Ma, chỉ thấy người vừa ư,
điều phục thành tựu thiện pháp,
đủ giới, giàu đức, là bậc phước
điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng,
sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung, lại sanh làm
người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ.
Sanh ở bất cứ nơi đâu, cái tâm thanh tịnh,
ĺa tà phân biệt, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng).
“Phục
thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát
năng tận h́nh thọ, viễn ly tà kiến” (Lại
này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho
đến hết thọ mạng, xa ĺa tà kiến): Ngu si
cũng là vô minh. Kẻ chẳng có trí huệ, sẽ nẩy
sanh tà kiến. Đức Phật nói kẻ phá kiến chẳng
thể cứu độ. “Kiến” (見) là chấp trước.
Có những kẻ chẳng xả chấp trước! Quư vị nói thiện pháp với họ, họ chẳng
có cách nào nghe lọt tai được! “Tà tri, tà kiến”:
Nếu kẻ đó v́ đắc Thiên Nhăn Thông, thấy ḅ
sanh lên trời, bèn nói: “Làm ḅ là tốt nhất! Sau khi chết,
có thể sanh lên trời!” Kẻ đó chẳng hiểu
đời trước của con ḅ ấy như thế
nào, chẳng biết nhân quả. Thần thông của kẻ
đó chỉ thấy đời này, chẳng thấy tám vạn
đại kiếp, càng chẳng thấy vô lượng
đại kiếp, chỉ thấy trước mắt, bèn
nói ḅ có công đức to lớn. Do vậy, hằng ngày kẻ
đó lạy ḅ, chẳng tin Phật. Đối trước
tượng Phật, kẻ đó chẳng lễ bái, lại
có thể lạy lục con ḅ!
Khi
tôi sang Ca Nhĩ Cách Đáp (Calcutta) của Ấn Độ,
có một con đường, chắc là tới cả ngàn
con ḅ, to dễ sợ, c̣n to gấp mấy lần chúng tôi!
Đầu ḅ gắn một viên ngọc, khoác vải bông
đủ màu. C̣n có người dùng tơ vàng kết thành quả
cầu đeo bên thân ḅ. Con ḅ đi trên phố, đi đến
nhà nào, đại khái là nhà ấy đem đồ ăn cho
nó ăn no, lấy nước lọc sạch nhất cho nó
uống. Cả con đường ấy đều thờ
phụng ḅ. Nếu quư vị chẳng biết, hoặc là
đụng phải ḅ, thôi rồi! Người trên phố ấy
sẽ liều mạng với quư vị. Khi tôi đến
đó là năm 1940, thuở ấy, Đệ Nhị Thế
Chiến c̣n chưa chấm dứt, Ấn Độ
chưa độc lập, vẫn bị Anh quốc thống
trị. Người Anh cũng chẳng dám đụng tới
lũ ḅ, v́ biết sẽ chuốc lấy phiền toái. Nếu
họ lái xe phải qua khu phố đó, sẽ lái theo
đường ṿng, chẳng lái thẳng vào con đường
đó. Nếu chẳng thể không lái qua con đường
ấy, họ sẽ lái chầm chậm, đợi con ḅ đi qua, đường thông rồi mới
lái. Nếu ḅ vẫn chưa đi qua, quư vị chẳng thể đuổi
nó đi được. Đó
là tà tri tà kiến của ngoại đạo tín phụng,
chẳng có cách nào hết! Nếu hiện thực hơn
chút nữa, trong quốc độ này của chúng ta, kẻ
tin tà tri tà kiến quá nhiều! Thế giới này có bao nhiêu
ức người đều là tin theo tà tri tà kiến, chứ
chánh tri chánh kiến khá ít. Đại Lục có mười
ba ức người, được bao nhiêu người
có chánh tri chánh kiến? Kể cả trong các tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni,
người chánh tri chánh kiến vẫn rất ít.
Nhưng
trong Thập Luân, nói theo tà kiến thông thường, đều
như nhau, tức là ngu si, chính là si trong tham, sân, si. Chúng ta mỗi
ngày thấy chuyện ǵ cũng đều chẳng chánh xác,
phán đoán sai lầm, đều là ngu si, chẳng thể
liễu giải “các pháp duyên khởi tánh Không”. Đó là
ngu si. Hết thảy các pháp sanh khởi từ “duyên khởi
tánh Không”, phải mong hồi quy về duyên khởi tánh Không;
đấy là điều căn bản nhất trong khi học Phật. Điều ấy sẽ có thể
đoạn tà kiến của quư vị. Nếu xa ĺa các tà
kiến, quả báo đạt được sẽ chín muồi,
đó chính là “viễn ly tà kiến luân”.
Đối
với tà phân biệt, nếu chẳng có Định lực,
chẳng có trí huệ, trong tâm quư vị suy nghĩ, phân biệt, toàn là tà tri tà kiến. Tà tri tà kiến ấy hoàn toàn
chẳng phải là tà tri tà kiến của ngoại đạo,
mà là trong tâm quư vị, hễ chẳng an lạc, hễ chẳng
thanh tịnh, th́ đều thuộc về tà tri tà kiến.
Sâu hơn một chút, sẽ là chẳng thấy pháp tánh, tâm
vượt ra ngoài đạo, tâm vượt ra ngoài Bồ
Đề đạo, nghĩ tưởng các thứ chẳng
phải là Bồ Đề đạo, đó gọi là “tà
kiến”. Đó là nói tới những cái chẳng chiếu
theo lời chỉ dạy của đức Phật, chẳng thể đoạn Khổ, Tập,
Diệt, Đạo, chẳng thể nương theo pháp Tứ
Đế để tu, chẳng thể nương theo pháp
mười hai nhân duyên để tu, chẳng thể nương
theo pháp Lục Độ để tu, đó đều là
tà kiến. Nếu xa ĺa tà phân biệt, trong tâm tưởng
chẳng sanh khởi tà kiến, luôn nương theo chánh kiến,
nương theo lời Phật dạy để hành,
như thế là ĺa tà phân biệt, sẽ có kết quả tốt
đẹp ǵ vậy? Khi mạng chung, thân tâm của quư vị
chẳng bị đau khổ bức bách. “Sở ái thê tử,
quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất
kiến khả bố Diễm Ma vương sứ” (vợ
con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng
thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma),
chỉ thấy người vừa ư, điều phục
thành tựu thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước
điền chân thật làm thiện tri thức cho quư vị.
“Thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín” (Thân tâm vui sướng,
sanh ḷng tin kính sâu xa): Như thế th́ sẽ an tường,
nhàn nhă chuyển thế. Sau khi mạng chung, lại sanh trong
loài người.
(Kinh)
Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ
giới, phú đức, chân thật phước điền,
vi thiện tri thức, y bỉ tu học ly tà kiến pháp,
năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp,
năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp,
năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp
nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh,
tiệm thứ thú nhập Đại Thừa đại hải,
năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề.
Sở cư Phật độ, viễn ly nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác nhị thừa nhân pháp, viễn
ly nhất thiết thiên ma đồ chúng, viễn ly nhất
thiết ngoại đạo bằng đảng, chúng bảo
trang nghiêm, thậm khả ái nhạo, viễn ly nhất thiết
vọng chấp cát hung, Thường Kiến, Đoạn
Kiến, ngă, ngă sở kiến. Như thị hữu t́nh,
lai sanh kỳ quốc, thọ mạng trường viễn,
thọ dụng nhất vị, vị Đại Thừa vị.
Như Lai tự thân, thọ mạng vô lượng, vị
chư hữu t́nh, như ưng thuyết pháp. Bát Niết
Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc, vô
lượng hữu t́nh, thánh giáo nhất vị, vô hữu
quai tránh, xí thịnh lưu thông, ly chư chướng nạn.
Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ
thập viễn ly tà kiến luân dă.
(經)復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離邪見法,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入大乘大海,乃至證得無上菩提。所居佛土,遠離一切聲聞、獨覺二乘人法,遠離一切天魔徒眾,遠離一切外道朋黨,眾寶莊嚴甚可愛樂,遠離一切妄執吉凶、常見、斷見、我我所見,如是有情來生其國,壽命長遠,受用一味,謂大乘味;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。聖教一味,無有乖諍,熾盛流通,離諸障難。善男子,是名菩薩摩訶薩,第十遠離邪見輪也。
(Kinh: Lại gặp
người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ
giới, giàu đức, phước điền chân thật
làm thiện tri thức. Nương theo người đó
tu học pháp ĺa tà kiến, có thể đoạn hết thảy
pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy
thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy
pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy
nguyện hạnh của Bồ Tát, lần lượt tiến
nhập biển cả Đại Thừa, cho đến chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật
người ấy ở xa ĺa hết thảy người
và pháp thuộc hai thừa Thanh Văn và Độc Giác, xa
ĺa hết thảy đồ chúng thiên ma, xa ĺa hết thảy
bè đảng ngoại đạo, các thứ báu trang nghiêm rất
đáng yêu thích, xa ĺa hết thảy hư vọng chấp trước
cát hung, Thường Kiến, Đoạn Kiến, ngă, và cái thấy của ta (ngă sở kiến). Hữu t́nh
như thế sanh vào nước ấy, thọ mạng dài
lâu, thọ dụng một vị, tức là Đại Thừa
vị. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng,
v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ.
Sau khi Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại
lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh, thánh
giáo một vị chẳng hề chống trái, tranh chấp, lưu thông rạng rỡ, ĺa các chướng nạn.
Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ mười
“xa ĺa tà kiến” của Bồ Tát Ma Ha Tát).
“Phục
ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới,
phú đức, chân thật phước điền, vi thiện
tri thức” (lại gặp người vừa ư, điều
phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức,
phước điền chân thật làm thiện tri thức):
Y chỉ vị thiện tri thức ấy, tu học cách ĺa
tà kiến như thế nào, tu pháp môn này bằng cách nào. “Năng
đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng
thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu
nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu
nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ
thú nhập Đại Thừa đại hải, năi chí chứng
đắc Vô Thượng Bồ Đề” (có thể
đoạn hết thảy pháp ác bất thiện, có thể
thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể
cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể
tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần
dần tiến nhập biển cả Đại Thừa,
cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ
Đề): Như thế th́ cơi Phật nơi người
ấy ở “viễn ly nhất thiết Thanh Văn,
Độc Giác nhị thừa nhân pháp, viễn ly nhất
thiết thiên ma đồ chúng, viễn ly nhất thiết
ngoại đạo bằng đảng, chúng bảo trang
nghiêm, thậm khả ái nhạo” (xa ĺa hết thảy
người và pháp thuộc hai thừa Thanh Văn và Độc
Giác, xa ĺa hết thảy đồ chúng thiên ma, xa ĺa hết
thảy bè đảng ngoại đạo, các thứ báu
trang nghiêm rất đáng yêu thích): Chỉ có ĺa tà kiến
luân th́ mới nói đến chuyện “xa ĺa hết thảy
pháp Nhị Thừa Thanh Văn và Độc Giác”, c̣n chín
luân kia đều chẳng có. Đấy mới gọi là “chánh
kiến”.
Do
ở đây nói đến tà kiến,“viễn ly nhất
thiết vọng chấp cát hung, Thường Kiến,
Đoạn Kiến, ngă, ngă sở kiến. Như thị hữu
t́nh, lai sanh kỳ quốc” (xa ĺa hết thảy hư vọng chấp trước
cát hung, Thường Kiến, Đoạn Kiến, ngă, và cái
thấy của ta. Hữu t́nh như thế sanh về
nước ta): Sanh vào cơi Phật ấy, chẳng phải là
b́nh phàm, được xa ĺa hết thảy thiên ma đồ
chúng tà kiến. Người ấy sẽ xa ĺa hết thảy
hư vọng chấp trước
cát hung. Nếu chúng ta mong sanh về thế giới Cực
Lạc, quư vị c̣n mong đoán mạng,
xủ quẻ hay không? Kinh Chiêm Sát khác hẳn. Quư vị muốn
dùng Chiêm Sát Luân để hỏi:
“Con có thể sanh về thế giới Cực Lạc hay
không?” Quư vị chiêm sát một phen, Địa Tạng Chiêm
Sát Luân sẽ nói: “Nếu ngươi muốn sanh về thế
giới Cực Lạc, vẫn phải dụng công”. Nếu
nói là “có thể được văng sanh”, vậy th́ quư vị
nắm chắc [chuyện văng sanh], càng phải thêm dụng
công, nhưng cơ hội chiêm sát được như vậy
rất ít!
Chiêm
sát luân rất ít khi sẽ nói ngay: “Quư vị có thể văng
sanh”, nhưng nếu muốn hỏi trong quá khứ quư vị
đă sanh từ đường nào đến, chết rồi
sẽ sanh vào đường nào, Chiêm Sát Luân sẽ trả
lời chánh xác. Nếu quư vị sanh ḷng sợ hăi, [sợ
chính ḿnh] sẽ sanh vào ba ác đạo, hăy gấp gáp tu tập! Chẳng phải là quư vị
gieo [chiêm sát luân] hằng ngày ư? Hằng ngày lạy, hằng
ngày gieo, lạy đến một mức độ nhất
định, tam ác sẽ luân chuyển, quư vị sẽ có thể
văng sanh. Luân tướng ấy khác với cát, hung, họa,
phước, Thường Kiến, Đoạn Kiến,
ngă, ngă sở kiến, ngă kiến, toàn bộ đều thuộc
vào tà kiến. Xa ĺa chấp trước cát, hung, họa,
phước hư vọng. Cát, hung, họa, phước chẳng
thể biện luận cố định được,
nó luôn luôn chuyển biến! Đặc biệt là đối
với đệ tử Tam Bảo, đối với
người học đạo, nó sẽ luôn chuyển biến.
Tướng mạo của con người luôn chuyển biến.
Nếu quư vị chú ư quan sát tướng mạo của một
người, sẽ thấy trong một ngày, nó biến hóa
vài lượt. Nếu cách vài hôm, nh́n lại người
đó, tướng mạo lại thay đổi. Quư vị
thấy người ấy rất phiền chán, diện mạo
đáng ghét, ăn nói tẻ ngắt. Hai ngày sau, nh́n lại kẻ
đó, quư vị sẽ sanh khởi tâm hoan hỷ, đó là v́
người ấy có sự tu tập. Hiện thời, nếu
một người đả thất, niệm Phật một
vài ngày, khi niệm đến tương ứng, tướng
mạo lập tức biến đổi. “Biến” chẳng
phải là như trong thế gian, mặt mũi hồng hào,
hoặc là trắng trẻo, hoặc là dễ coi, chẳng
phải như vậy. Loại người có đạo
đức ấy, sẽ khiến cho quư vị cảm
ứng, khiến cho tâm quư vị hoan hỷ.
Quư vị thấy một vị lăo ḥa thượng hay lăo lạt-ma
nào đó, bộ dạng rất xấu xí, rất bẩn thỉu,
nhưng quư vị gặp vị ấy, sẽ sanh khởi tâm
cung kính, đối với vị ấy đặc biệt cung kính. Đó là do đức
của vị ấy!
Phải
ĺa khỏi hết thảy, ĺa khỏi Thường Kiến
và Đoạn Kiến. Thường Kiến là nói đến
Thường, tức là luôn cho rằng bất tử, hoặc
“chết rồi vẫn sanh làm người”, chẳng tin
tưởng có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Đó là tà kiến. Sau khi đă sanh, ta nhất định
sanh lên trời, sanh lên tầng trời nào? Sanh đến chỗ
chúa trời, sanh vào Phạm Thiên. Quư vị vẫn có chỗ
cách biệt với thiên chúa và Phạm Thiên, chẳng đến
đấy để làm Đại Phạm Thiên Chúa, chỉ
có thể làm thiên dân. Đó đều là những tri kiến
chẳng chánh xác. Thường Kiến, Đoạn Kiến,
hoặc là Ngă Kiến, Ngă Chấp Ngă Kiến, Ngă Sở Kiến là các thứ vật chất hoặc người mà ta chấp
trước. Ngă Kiến và Ngă Sở Kiến là hai thứ.
Ngă là năng kiến (chủ thể trông thấy), c̣n Ngă Sở
Kiến là cái được Ngă trông thấy. Hữu t́nh
như thế sanh vào nước ấy, quốc độ
đó chẳng có kẻ tà kiến, “thọ mạng
trường viễn, thọ dụng nhất vị” (thọ
mạng dài lâu, thọ dụng một vị): Thọ dụng
một vị ǵ vậy? Đại Thừa vị. “Như
Lai tự thân, thọ mạng vô lượng, vị chư
hữu t́nh, như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu,
chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô lượng
hữu t́nh, thánh giáo nhất vị” (Bản thân Như
Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh thuyết
pháp đúng theo căn cơ. Sau khi Phật nhập Niết
Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô
lượng hữu t́nh, thánh giáo một vị). Đây là
điều bất đồng, trong phần trước là
“như ưng thuyết pháp” (thuyết pháp thích hợp
căn cơ), điều này bất
đồng: Đức Phật dạy bảo một vị, chẳng
có tranh luận Đại Thừa, hay tranh luận là Thanh
Văn Thừa, hoặc Độc
Giác Thừa, chủng tánh Tam Bảo đều là Đại
Thừa. “Xí thịnh lưu thông” (lưu truyền rạng rỡ), đều là Bồ
Tát, hết thảy các chướng ngại
đều chẳng có. “Thiện nam tử! Thị danh Bồ
Tát Ma Ha Tát đệ thập viễn ly tà kiến luân”
(này thiện nam tử! Đó là luân thứ mười “xa
ĺa tà kiến” của Bồ Tát Ma Ha Tát).
(Kinh)
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh
Văn Thừa đắc vô ngộ thất, ư Thanh
Văn Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ
thất, ư Độc Giác Thừa đắc vô ngộ
thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già
La đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa
đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa
Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, thường
năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai
xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí,
nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến
ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất.
Ư Đại Thừa pháp, thường đắc
thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng
phước, thường
đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết
Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa,
tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển,
thường đắc trị ngộ chư thiện tri
thức, tùy thuận nhi hành, thường đắc bất
ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ
Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất
ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện
căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc.
Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh
nguyện, Lục Ba La Mật Đa, tâm vô yếm túc, sở
đắc quả báo quảng thuyết như tiền.
(經)菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,六波羅蜜多,心無厭足。所得果報,廣說如前。
(Kinh:
Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, chẳng phạm sai
lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm
sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối
với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng
tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất
gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng
phải là pháp khí, cho đến đối với hết
thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ
râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với
pháp Đại Thừa, thường được
thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy
bén và phước thù thắng thường được
tăng trưởng. Trong hết thảy các Định,
các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được
tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường
được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận
hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết
thảy Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử.
Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường
chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường
tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường
đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề,
Lục Ba La Mật Đa, tâm chẳng chán đủ, đạt
được quả báo như trên đă rộng nói).
(Kinh)
Thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu
như thị Thập Luân, năng tốc chứng đắc
A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Sở
dĩ giả hà? Ư quá khứ thế, nhất thiết
Như Lai, Ứng Chánh Đẳng Giác, giai tất viễn
ly Thập Ác Nghiệp Đạo, giai tất xưng dương,
tán thán như thị Thập Thiện Nghiệp Đạo
sở đắc quả báo, vị dục trưởng
dưỡng nhất thiết chúng sanh lợi ích, an lạc
Bồ Đề đạo cố, vị dục trừ diệt
nhất thiết chúng sanh nghiệp phiền năo khổ, linh
vô dư cố, vị dục khô kiệt tam ác thú cố, vị
dục thiệu long Tam Bảo chủng cố, vị dục
đoạn trừ tam giới hữu cố, vi dục
vĩnh đoạn Uẩn, Giới, Xứ cố, vị
linh nhất thiết tốc nhập vô úy Niết Bàn thành cố,
quảng thuyết như tiền, viễn ly thập chủng
bất thiện nghiệp đạo, sở đắc quả
báo. Thị cố, thiện nam tử! Nhược bất
chân thật hy cầu như thị Thập Thiện Nghiệp
Đạo sở chứng Phật quả, cập bất chân
thật hạ chí thủ hộ nhất thiện nghiệp
đạo, năi chí mạng chung, nhi tự xưng ngôn: “Ngă thị
chân thật hành Đại Thừa giả, ngă cầu Vô
Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề”. Đương
tri như thị Bổ Đặc Già La, thị cực
hư trá, thị đại vọng ngữ, đối thập
phương giới Phật Thế Tôn tiền, cuống hoặc
thế gian, vô tàm, vô quư, thuyết Không đoạn kiến,
dụ cuống ngu si, thân hoại mạng chung, đọa
chư ác thú.
(經)善男子,若菩薩摩訶薩成就如是十輪,能速證得阿耨多羅三藐三菩提。所以者何?於過去世一切如來、應、正等覺,皆悉遠離十惡業道,皆悉稱揚讚歎如是十善業道所得果報,為欲長養一切眾生利益安樂菩提道故,為欲除滅一切眾生業煩惱苦令無餘故,為欲枯竭三惡趣故,為欲紹隆三寶種故,為欲斷除三界有故,為欲永斷蘊、界、處故,為令一切速入無畏涅槃城故。廣說如前,遠離十種不善業道,所得果報。是故,善男子,若不真實希求如是十善業道所證佛果,及不真實下至守護一善業道,乃至命終而自稱言:‘我是真實行大乘者,我求無上正等菩提。’當知如是補特伽羅,是極虛詐!是大妄語!對十方界佛世尊前,誑惑世間,無慚無愧,說空斷見,誘誑愚癡,身壞命終,墮諸惡趣。
(Kinh: Này thiện
nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu mười
luân như thế, có thể mau chứng đắc A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề. V́ cớ sao vậy?
Trong đời quá khứ, hết thảy Như Lai, Ứng
Chánh Đẳng Giác thảy đều xa ĺa Thập Ác Nghiệp
Đạo, thảy đều xưng dương, tán thán
quả báo đạt được do Thập Thiện
Nghiệp Đạo như thế, v́ muốn trưởng
dưỡng lợi ích cho hết thảy
cúng sanh, an lạc Bồ Đề đạo, v́ muốn trừ
diệt nghiệp phiền năo khổ chẳng c̣n sót thừa
cho hết thảy chúng sanh, v́ muốn khô cạn ba
đường ác, v́ muốn tiếp nối hưng thịnh
chủng tánh Tam Bảo, v́ muốn đoạn trừ tam giới
hữu, v́ muốn đoạn vĩnh viễn Uẩn, Giới,
Xứ, v́ khiến cho hết thảy mau vào ṭa thành Niết
Bàn không sợ hăi. Nói rộng th́
như quả báo đă đạt được do xa ĺa
mười thứ bất thiện nghiệp đạo
đă nói trong phần trên. Do vậy, thiện nam tử! Nếu
chẳng chân thật mong cầu Phật quả được
chứng bởi Thập Thiện Nghiệp Đạo
như thế, và chẳng chân thật tối thiểu là thủ
hộ một thiện nghiệp đạo cho đến
khi mạng chung, mà tự xưng là: “Ta là người thật
sự hành Đại Thừa. Ta cầu Vô Thượng
Chánh Đẳng Bồ Đề”. Hăy nên biết Bổ
Đặc Già La như thế là kẻ hư dối tột
bậc, là đại vọng ngữ, đối trước
mười phương thế giới Phật Thế Tôn
mà dối gạt, mê hoặc thế gian, không hổ, không thẹn,
nói Đoạn Kiến rỗng tuếch, dụ dỗ,
lường gạt kẻ ngu si. Thân hoại, mạng chung,
sẽ đọa vào các đường ác).
Đây
là nói chung. Quá khứ chư Phật có thể thành tựu Thập
Luân, Bồ Tát Ma Ha Tát chứng đắc A Nậu Đa La
Tam Miệu Tam Bồ Đề rất nhanh chóng. V́ sao phải
nói như vậy? V́ hết thảy các đức Như Lai
sở dĩ có thể thành Phật, thành tựu Chánh Giác, là
do xa ĺa Thập Ác Nghiệp. Do vậy, thảy đều
xưng dương, tán thán quả báo đạt được
do Thập Thiện Nghiệp Đạo như thế. “Vị
dục trưởng dưỡng nhất thiết chúng sanh,
lợi ích, an lạc Bồ Đề đạo cố”
[nghĩa là] khiến cho đạo Bồ Đề của
chúng sanh có thể trưởng dưỡng, dần dần
tăng trưởng, nuôi dưỡng dần dần. “Vị
dục diệt trừ nhất thiết chúng sanh nghiệp,
phiền năo, khổ, linh vô dư cố” (v́ muốn trừ
diệt nghiệp, phiền năo, khổ chẳng c̣n sót cho hết
thảy chúng sanh): [Cái nhân của] nghiệp là Hoặc (phiền
năo). “Nghiệp” [ở đây] là nói đến các nghiệp
do quư vị đă tạo. Phiền năo là Hoặc, Khổ là
cái quả [của nghiệp]. Do phiền năo mà tạo nghiệp,
v́ tạo nghiệp mà gặt lấy khổ quả. Như
vậy th́ [do tu Thập Luân], sẽ khiến cho chúng chẳng
c̣n thừa sót, thanh tịnh ba món Hoặc, Nghiệp, Khổ,
khiến cho chúng thanh tịnh. Đồng
thời, khiến cho ba đường ác khô kiệt. V́ phải
khô kiệt ba đường ác th́ mới có thể “thiệu
long” (tiếp nối hưng thịnh) chủng tánh Tam Bảo.
“Thiệu” (紹) là kế thừa,
“long” (隆) là rạng rỡ,
to lớn. Không chỉ tiếp tục kế thừa, mà c̣n
khiến cho chủng tánh Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng phát
dương quang đại. “Vị dục đoạn trừ
tam giới hữu cố” (v́ muốn đoạn trừ
tam giới hữu). Tam giới có sanh tử, có phiền năo,
có khổ năo, có nghiệp, [cho nên gọi
là Hữu], đều đoạn tuyệt các thứ
đó. Lại c̣n mong đoạn tuyệt, tức là vĩnh
viễn đoạn dứt Ngũ Uẩn, Thập Bát Giới,
Thập Nhị Xứ. “Vị linh nhất thiết tốc
nhập vô úy Niết Bàn thành cố, quảng thuyết
như tiền viễn ly thập chủng bất thiện
nghiệp đạo, sở đắc quả báo” (v́ khiến
cho hết thảy mau chóng vào ṭa thành Niết Bàn không sợ
hăi, nói rộng là như quả báo sẽ đạt
được do xa ĺa mười loại bất thiện
nghiệp đạo trong phần trước). Nói xong lại
tổng kết một lượt. Trong phần trên, đối
với mỗi luân đều đă nói rồi.
“Thị
cố, thiện nam tử! Nhược bất chân thật
hy cầu như thị Thập Thiện Nghiệp Đạo
sở chứng Phật quả, cập bất chân thật
hạ chí thủ hộ nhất thiện nghiệp đạo”
(V́ thế, thiện nam tử! Nếu chẳng chân thật
mong cầu Phật quả được chứng bởi
Thập Thiện Nghiệp Đạo như thế, và chẳng
tối thiểu là chân thật thủ hộ một thiện
nghiệp đạo): Quư vị ngay cả một thiện
nghiệp đạo vẫn chẳng thể chân thật thủ
hộ. “Năi chí mạng chung” (cho đến mạng
chung): Chẳng làm như vậy, nói dối! “Nhi tự
xưng ngôn: - Ngă thị chân thật hành Đại Thừa
giả” (mà tự xưng là: “Ta là người hành Đại
Thừa chân thật”): Đối với Thập Thiện Nghiệp
Đạo, ngay cả một đạo mà quư vị c̣n chẳng
làm được, vẫn nói chính ḿnh
chân thật hành Đại Thừa, hoặc nói chính ḿnh cầu
Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề! Bổ
Đặc Già La ăn nói kiểu đó “thị cực
hư trá” (tột bậc
hư dối, lường gạt), dối trá, lừa
gạt, “thị đại vọng ngữ”, nói dối
tột bậc. “Đối thập phương giới
Phật Thế Tôn tiền, cuống hoặc thế gian, vô
tàm, vô quư, thuyết không đoạn kiến” (đối
trước mười phương thế giới Phật
Thế Tôn, dối gạt, mê hoặc thế gian, chẳng hổ,
chẳng thẹn, nói đoạn kiến rỗng tuếch):
Cái Đoạn Kiến rỗng tuếch ấy lấy ǵ làm
tiêu chuẩn? Thập Thiện Nghiệp! Dùng [những lời
lẽ dối trá đó] để “dụ cuống ngu si”
[tức là] lừa gạt, dụ dỗ, gạt gẫm kẻ
không có trí huệ, cho đến nói “làm như vậy, nói
như vậy” ngươi là kẻ ngu si nhất. Kẻ
đó tự ḿnh nói. Nếu “thân hoại, mạng chung”,
kẻ đó sẽ trực tiếp đọa vào đường
ác nhanh như tên bắn, sanh thẳng vào đường ác.
(Kinh)
Thiện nam tử! Nhược đản ngôn thuyết, cập
đản thính văn, bất do tu hành Thập Thiện Nghiệp
Đạo, năng đắc Bồ Đề, bát Niết
Bàn giả, ư nhất kiếp trung, hoặc nhất niệm
khoảnh, khả linh thập phương nhất thiết
Phật độ địa giới vi trần toán số
chúng sanh, giai đăng Chánh Giác, nhập bát Niết Bàn,
nhiên vô thị sự. Sở dĩ giả hà? Thập Thiện
Nghiệp Đạo thị Đại Thừa bổn, thị
Bồ Đề nhân, thị chứng Niết Bàn kiên cố
thê đằng. Thiện nam tử! Nhược đản
phát tâm, phát thệ nguyện lực, bất do tu hành Thập
Thiện Nghiệp Đạo, năng đắc Bồ
Đề, bát Niết Bàn giả, ư nhất kiếp trung,
hoặc nhất niệm khoảnh, khả linh thập
phương nhất thiết Phật độ địa
giới vi trần toán số chúng sanh, giai đăng Chánh
Giác, nhập bát Niết Bàn, nhiên vô thị sự. Sở
dĩ giả hà? Thập Thiện Nghiệp Đạo, thị
thế xuất thế thù thắng quả báo công đức
căn bản. Thiện nam tử! Nhược bất tu
hành Thập Thiện Nghiệp Đạo, thiết kinh thập
phương nhất thiết Phật độ vi trần
số kiếp, tự hiệu Đại Thừa, hoặc
thuyết, hoặc thính, hoặc đản phát tâm, hoặc
phát thệ nguyện, chung bất năng chứng Bồ
Đề Niết Bàn, diệc bất linh tha thoát sanh tử
khổ! Thiện nam tử! Yếu do tu hành Thập Thiện
Nghiệp Đạo, thế gian phương hữu chư
Sát-đế-lợi, Bà-la-môn đẳng, đại phú quư
tộc, Tứ Đại Vương Thiên, năi chí Phi
Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, hoặc Thanh Văn
Thừa, hoặc Độc Giác Thừa, năi chí Vô Thượng
Chánh Đẳng Bồ Đề, giai do tu hành Thập Thiện
Nghiệp Đạo phẩm loại sai biệt.
(經)善男子,若但言說,及但聽聞,不由修行十善業道能得菩提般涅槃者,於一劫中,或一念頃,可令十方一切佛土地界微塵算數眾生,皆登正覺,入般涅槃,然無是事!所以者何?十善業道,是大乘本,是菩提因,是證涅槃堅固梯蹬。善男子,若但發心,發誓願力,不由修行十善業道能得菩提般涅槃者,於一劫中,或一念頃,可令十方一切佛土地界微塵算數眾生,皆登正覺,入般涅槃,然無是事!所以者何?十善業道,是世出世,殊勝果報功德根本。善男子,若不修行十善業道,設經十方一切佛土微塵數劫,自號大乘,或說或聽,或但發心,或發誓願,終不能證菩提涅槃,亦不令他脫生死苦。善男子,要由修行十善業道,世間方有諸剎帝利、婆羅門等大富貴族,四大王天乃至非想非非想處,或聲聞乘,或獨覺乘,乃至無上正等菩提,皆由修行十善業道,品類差別。
(Kinh:
Này thiện nam tử! Nếu chỉ nói suông, và chỉ nghe,
chẳng do tu hành Thập Thiện Nghiệp Đạo, mà
có thể đắc Bồ Đề, bát Niết Bàn, trong một
kiếp, hay trong một niệm, có thể khiến cho hết
thảy chúng sanh nhiều như vi trần hay ví như toán số
nơi cơi đất của hết thảy các cơi Phật
đều có thể chứng Chánh Giác, nhập Bát Niết Bàn,
chẳng có chuyện ấy! V́ cớ sao vậy? Thập Thiện
Nghiệp Đạo là cái gốc của Đại Thừa,
là cái nhân của Bồ Đề, là bậc thang kiên cố
để chứng Niết Bàn. Này thiện nam tử! Nếu
chỉ do sức phát tâm và phát thệ nguyện, chẳng do
tu hành Thập Thiện Nghiệp Đạo, mà có thể
đắc Bồ Đề, bát Niết Bàn, hoặc trong một
kiếp, hay trong khoảng một niệm, có thể khiến
cho chúng sanh nhiều như vi trần, toán số trong cơi
đất thuộc hết thảy các cơi Phật đều
có thể chứng Chánh Giác, nhập Bát Niết Bàn th́ chẳng
có chuyện ấy. V́ cớ sao vậy? Thập Thiện
Nghiệp Đạo là căn bản của quả báo công
đức thù thắng trong thế gian và xuất thế
gian. Này thiện nam tử! Nếu chẳng tu hành Thập
Thiện Nghiệp Đạo, dẫu trải qua vi trần
số kiếp trong hết thảy các cơi Phật khắp
mười phương, tự xưng là Đại Thừa,
hoặc nói, hoặc nghe, hoặc chỉ phát tâm, hoặc phát
thệ nguyện, trọn chẳng thể chứng Bồ
Đề Niết Bàn, mà cũng chẳng thể khiến cho
người khác thoát khỏi nỗi khổ sanh tử. Này
thiện nam tử! Phải do tu hành Thập Thiện Nghiệp
Đạo th́ thế gian mới có các Sát-đế-lợi,
Bà-la-môn, gịng dơi cao quư giàu có v.v… Tứ Đại Vương Thiên, cho đến Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ, hoặc Thanh Văn Thừa, hoặc
Độc Giác Thừa, cho đến Vô Thượng Chánh
Đẳng Bồ Đề, đều là do tu hành Thập
Thiện Nghiệp Đạo theo từng phẩm loại
sai khác).
“Thiện
nam tử! Nhược đản ngôn thuyết, cập
đản thính văn, bất do tu hành Thập Thiện Nghiệp
Đạo, năng đắc Bồ Đề, bát Niết
Bàn giả” (Này thiện nam tử! Nếu chỉ nói
suông, và chỉ nghe, chẳng do tu hành Thập Thiện Nghiệp
Đạo mà có thể đắc Bồ Đề, bát Niết
Bàn); đấy là chuyện chẳng thể được!
Giả sử nói như thế này, nếu chỉ luận
bàn, nghe nhận, chẳng do tu hành Thập Thiện Nghiệp
Đạo, mà có thể chứng đắc Bồ Đề,
chứng đắc Niết Bàn; đấy là chuyện chẳng
thể nào! Hoặc là “ư nhất kiếp trung” (trong
một kiếp), được nghe như vậy, hoặc
là trong khoảng một niệm, [nghe nói như vậy] mà “khả
linh thập phương nhất thiết Phật độ
địa giới vi trần toán số chúng sanh, giai
đăng Chánh Giác, nhập bát Niết Bàn, nhiên vô thị xứ”
(có thể khiến cho hết thảy chúng sanh nhiều
như vi trần hay ví như toán số nơi cơi đất
của hết thảy các cơi Phật đều có thể
chứng Chánh Giác, nhập Bát Niết Bàn, chẳng có chuyện
ấy): Nói kiểu ấy sẽ là chuyện không thể nào
xảy ra được! Nói cách khác, nếu không do hành Thập
Thiện Nghiệp, quư vị nói ǵ cũng đều chẳng
thể!
Nếu
xây ṭa cao ốc trên băi cát, sẽ bị sụp đổ,
Thập Thiện Nghiệp mới là căn bản của hết
thảy. V́ sao phải nói như thế? Thập Thiện
Nghiệp là cái gốc của Đại Thừa. “Thị
Bồ Đề nhân, thị chứng Niết Bàn kiên cố
thê đằng” (Là cái nhân của Bồ Đề, là bậc
thang kiên cố để chứng Niết Bàn): Giống
như bậc thang để bước lên đài cao, từng
bậc, từng bậc một, hợp thành chiếc
thang. Thập Thiện Nghiệp chính là chiếc thang. “Nhược
đản phát tâm, phát thệ nguyện lực, bất do tu
hành Thập Thiện Nghiệp Đạo, năng đắc
Bồ Đề, bát Niết Bàn giả, ư nhất kiếp
trung, hoặc nhất niệm khoảnh, khả linh thập
phương nhất thiết Phật độ địa
giới vi trần toán số chúng sanh, giai đăng Chánh
Giác, nhập bát Niết Bàn, nhiên vô thị sự” (Nếu
chỉ do sức phát tâm và phát thệ nguyện, chẳng do
tu hành Thập Thiện Nghiệp Đạo mà có thể đắc
Bồ Đề, bát Niết Bàn, hoặc trong một kiếp,
hay trong khoảng một niệm, có thể khiến cho chúng sanh nhiều như vi trần, toán số trong
cơi đất thuộc hết thảy các cơi Phật, đều
có thể chứng Chánh Giác, nhập Bát Niết Bàn, th́ chẳng
có chuyện ấy): Đấy là ăn nói lớn lối, nói suông, giả
trất, rỗng tuếch! Nói cách khác, đều là do tu hành
Thập Thiện Nghiệp Đạo th́ mới đắc
quả thù thắng.
“Nhiên vô thị sự, sở dĩ giả
hà? Thập Thiện Nghiệp Đạo, thị thế xuất
thế thù thắng quả báo công đức căn bản.
Thiện nam tử! Nhược bất tu hành Thập Thiện
Nghiệp Đạo, thiết kinh thập phương nhất
thiết Phật độ vi trần số
kiếp” (Nhưng
chẳng có chuyện ấy, v́ cớ sao vậy?
Thập Thiện Nghiệp Đạo là căn bản của
quả báo công đức thù thắng trong thế gian và xuất
thế gian. Này thiện nam tử! Nếu chẳng tu hành
Thập Thiện Nghiệp Đạo, dẫu trong vi trần số kiếp trải qua hết
thảy các cơi Phật trong mười phương): Thời gian quá dài, trải qua [thời gian] bằng số
lượng của vi trần trong mười
phương, tức là đem mười phương cơi Phật
mài nát thành vi trần, cứ một hạt vi trần coi là
một kiếp, lâu dài cỡ nào? Trải qua thời gian dài
như thế, ăn nói lớn lối như thế, tự
xưng là Đại Thừa, hoặc là nghe, hoặc tự
ḿnh nói, hoặc chỉ phát tâm, chỉ phát thệ nguyện
mong thành Phật, th́ vẫn chẳng thể chứng quả
Bồ Đề. Không chỉ chính ḿnh chẳng thể chứng
đắc, mà quư vị mong làm cho người khác thoát khỏi
nỗi khổ sanh tử, có làm được hay không? Chẳng
thể nào!
Thiện
nam tử! Do tu hành Thập Thiện Nghiệp Đạo,
cho nên thế gian c̣n có quốc vương Sát-đế-lợi,
c̣n có Bà-la-môn, học giả, c̣n có quư tộc giàu to. Người
phú quư do đâu mà có? Do tu Thập Thiện Nghiệp Đạo.
C̣n có Tứ Đại Vương Thiên, “năi chí Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ”
(cho đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ
Thiên), tất cả hết thảy thiên chúng, hoặc
là Thanh Văn Thừa, hoặc là Độc
Giác Thừa, “năi chí Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ
Đề, giai do tu hành Thập Thiện Nghiệp Đạo
phẩm loại sai biệt” (cho đến Vô Thượng
Chánh Đẳng Bồ Đề, đều
do tu hành
Thập Thiện Nghiệp Đạo, phẩm loại sai
khác): Mức độ khác nhau, quả vị bất đồng, cho đến
quả báo nhân thiên bất đồng, cho đến quả
báo thánh nhân khác nhau. Đấy là tu Thập Thiện Nghiệp,
tùy thuộc quư vị tu như thế nào! Phương pháp
tu khác nhau, sẽ chứng đắc địa vị khác
nhau. Nhưng ắt phải tu Thập
Thiện Nghiệp th́ mới có thể đạt được
phú quư trong trời người, cho đến chứng quả
Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, cho đến thành Phật.
Nếu không, sẽ tuyệt đối chẳng thể
đạt được!
(Kinh)
Thị cố, thiện nam tử! Nhược dục tốc
măn Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề nguyện
giả, đương tu như thị Thập Thiện
Nghiệp Đạo dĩ tự trang nghiêm, phi trụ thập
ác bất luật nghi giả năng măn như thị Vô
Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề đại
nguyện. Nhược cầu tốc ngộ Đại Thừa
cảnh giới, tốc chứng Vô Thượng Chánh Đẳng
Bồ Đề, tốc măn nhất thiết thiện pháp
nguyện giả, tiên ưng hộ tŕ Thập Thiện Nghiệp
Đạo. Sở dĩ giả hà? Thập Thiện Nghiệp
Đạo thị năng an lập nhất thiết thiện
pháp công đức căn bản, thị thế xuất thế
thắng quả báo nhân. Thị cố ưng tu Thập Thiện
Nghiệp Đạo.
(經)是故,善男子,若欲速滿無上正等菩提願者,當修如是十善業道以自莊嚴。非住十惡不律儀者,能滿如是無上正等菩提大願。若求速悟大乘境界,速證無上正等菩提,速滿一切善法願者,先應護持十善業道。所以者何?十善業道,是能安立一切善法功德根本,是世出世勝果報因,是故應修十善業道。
(Kinh:
V́ thế, thiện nam tử! Nếu muốn mau chóng măn nguyện
Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề, hăy nên tu
Thập Thiện Nghiệp Đạo như thế để
tự trang nghiêm, chẳng phải là kẻ trụ trong thập
ác bất luật nghi mà có thể viên măn đại nguyện
Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề như thế.
Nếu cầu mau ngộ cảnh giới Đại Thừa,
mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề,
mau thỏa măn hết thảy các nguyện thiện pháp,
trước hết hăy nên hộ tŕ Thập Thiện Nghiệp
Đạo. V́ cớ sao vậy? Thập Thiện Nghiệp Đạo
là căn bản để đặt yên hết thảy thiện
pháp công đức, là cái nhân của cái quả thù thắng
thế gian và xuất thế gian. V́ thế, hăy nên tu Thập
Thiện Nghiệp Đạo).
Đă
phát Bồ Đề nguyện, nếu quư vị muốn thỏa
măn nguyện ấy, “đương tu như thị Thập
Thiện Nghiệp Đạo dĩ tự trang nghiêm” (hăy
nên tu Thập Thiện Nghiệp Đạo như thế
để tự trang nghiêm), như thế th́ mới có thể
thực hiện được, trang nghiêm chính quư vị, “phi
trụ Thập Ác, bất luật nghi giả, năng
măn như thị Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ
Đề đại nguyện” (chẳng phải là trụ
trong Thập Ác, chẳng giữ luật nghi mà có thể thỏa
măn đại nguyện Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ
Đề), chẳng hành Thập Thiện th́ sẽ là Thập
Ác. “Nhược cầu tốc ngộ Đại Thừa
cảnh giới, tốc chứng Vô Thượng Chánh Đẳng
Bồ Đề, tốc măn nhất thiết thiện pháp
nguyện giả, tiên ưng hộ tŕ Thập Thiện Nghiệp
Đạo” (Nếu cầu mau ngộ cảnh giới
Đại Thừa, mau chứng Vô Thượng Chánh Đẳng
Bồ Đề, mau thỏa măn hết thảy các nguyện
thiện pháp, trước hết, hăy nên hộ tŕ Thập
Thiện Nghiệp Đạo), đấy là căn bản
của hết thảy các pháp. “Sở dĩ giả hà? Thập
Thiện Nghiệp Đạo thị năng an lập nhất
thiết thiện pháp công đức căn bản, thị
thế xuất thế thắng quả báo nhân” (V́ cớ
sao vậy? Thập Thiện Nghiệp Đạo là căn bản
để đặt yên hết thảy công đức thiện
pháp, là cái nhân của quả báo thù thắng thế
gian và xuất thế gian): Nếu muốn đạt
được quả báo thù thắng, Thập Thiện Nghiệp
Đạo chính là cái nhân của nó. Quư vị tu thâm nhập,
sẽ chứng quả. “Thị cố, ưng tu Thập
Thiện Nghiệp Đạo” (V́ thế, hăy nên tu Thập
Thiện Nghiệp Đạo), đức Phật đă nói
mười lượt vẫn sợ chúng sanh quên khuấy!
Do
vậy, Ngài trùng tụng nghĩa này, trong phần trước
đă nói mười lượt, đức Phật vẫn
chẳng an tâm. Do vậy, đức Phật nói pháp nào, cuối
cùng dặn ḍ vị Bồ Tát này, căn dặn vị Bồ
Tát kia, vào thời Mạt
Pháp, các đệ tử chẳng tin, các vị nhất
định phải gánh vác trách nhiệm độ họ. Bộ
kinh này giao phó cho Hư Không Tạng Bồ Tát, có kinh giao cho
Văn Thù Bồ Tát, có kinh giao cho Di Lặc Bồ Tát. Di Lặc
Bồ Tát là người kế nhiệm Phật, cho nên,
đức Phật nói với Di Lặc Bồ Tát nhiều
nhất. V́ thế, khi Di Lặc Bồ Tát thành Phật, trong
ba hội Long Hoa, Ngài sẽ độ chúng sanh thời Mạt
Pháp, độ chẳng sót một ai. Di Lặc Bồ Tát
đă phát nguyện, Ngài sẽ độ.
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi
thuyết tụng viết: - Dục trừ chư hữu khổ,
chứng đắc đại Bồ Đề, ưng tu
thập thiện luân, tinh cần vật phóng dật. Tiện
ư tam thừa pháp, cập Bổ Đặc Già La, nhất
thiết xuất gia nhân, giai đắc vô ngộ thất.
Tín thọ hành Đại Thừa, lợi lạc nhất
thiết chúng, giác thắng pháp Tịnh Độ, tốc chứng
đại Bồ Đề. Nhược ly ư sát sanh, nhất
thiết giai ái kính, hằng vô bệnh trường thọ,
thường nhạo bất hại pháp, nhất thiết sở
sanh xứ, hằng nhạo Phật sở hành, thường
ngộ Phật, Pháp, Tăng, tốc thành Vô Thượng
Giác.
(經)爾時,世尊重顯此義,而說頌曰:欲除諸有苦,證得大菩提,應修十善輪,精勤勿放逸,便於三乘法,及補特伽羅,一切出家人,皆得無誤失。信受行大乘,利樂一切眾,覺勝法淨土,速證大菩提。若離於殺生,一切皆愛敬,恆無病長壽,常樂不害法,一切所生處,恆樂佛所行,常遇佛法僧,速成無上覺。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hiển thị lại
nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng: - Muốn trừ
khổ các cơi, chứng đắc đại Bồ Đề,
hăy tu thập thiện luân, siêng ṛng, chớ buông lung, sẽ
với pháp tam thừa, và Bổ Đặc Già La, hết thảy
người xuất gia, đều chẳng phạm sai lầm.
Tin nhận, hành Đại Thừa, lợi lạc hết
thảy chúng, giác Tịnh Độ thù thắng, mau chứng
đại Bồ Đề. Nếu rời ĺa sát sanh, hết
thảy đều yêu kính, luôn không bệnh, sống lâu,
thường thích pháp bất hại. Sanh bất cứ nơi
đâu, luôn thích hành theo Phật, thường gặp Phật,
Pháp, Tăng, chóng thành Vô Thượng Giác).
Đạo
lư này tuy đức Phật đă nói mười lượt,
vẫn chẳng an tâm. Cuối cùng, Ngài lại nói kệ tụng,
nhắc lại một phen, lại căn dặn một
lượt. Đặc biệt là đối với Thập
Thiện Nghiệp, “dục trừ chư hữu khổ,
chứng đắc đại Bồ Đề, ưng tu
thập thiện luân, tinh cần, vật phóng dật”, [ư
nói]: Nếu quư vị muốn trừ hết thảy các khổ
[trong các cơi], nếu muốn chứng đắc Phật quả,
hăy nên tu Thập Thiện Nghiệp Đạo luân, phải
siêng năng, chuyên ṛng tu tập, chớ nên buông lung! “Tiện
ư tam thừa pháp, cập Bổ Đặc Già La”
[nghĩa là] đối với ba thừa, tức Thanh
Văn, Độc Giác, Đại Thừa, cho đến Bổ
Đặc Già La [thuộc ba thừa ấy], quư vị mới
có thể dạy họ chẳng sai lầm. “Nhất thiết
xuất gia nhân, giai đắc vô ngộ thất”, [ư nói]:
Bất luận người ấy phá giới cũng thế,
phạm giới cũng thế, cho đến hết thảy
những kẻ khoác một mảnh ca-sa, quư vị đều chớ nên xử lư họ, [có ư nghĩa]
như thế đó. [Tức là] chớ nên trách phạt,
chớ nên đánh mắng, chẳng thể giam cầm họ.
“Tín
thọ hành Đại Thừa, lợi lạc nhất thiết
chúng, giác thắng pháp Tịnh Độ, Niết Bàn, tốc
chứng đại Bồ Đề. Nhược ly ư sát
sanh, nhất thiết giai ái kính” (Tin nhận hành Đại
Thừa, lợi lạc hết thảy chúng, giác Tịnh
Độ thù thắng, mau chứng đại
Bồ Đề. Nếu ĺa khỏi sát sanh, hết thảy
đều yêu kính): Nếu quư vị là người thật
sự tín phụng Đại Thừa, lợi lạc hết
thảy chúng sanh, quư vị mong giác ngộ, muốn thành tựu
một cơi thanh tịnh, sẽ có thể chứng đắc
Đại Bồ Đề rất nhanh chóng. Chúng ta mong tu
đạo, trước hết phải có một gian tinh
xá, có quan pḥng để bế quan. Phật nếu muốn
thành Phật, tự ḿnh phải có một cơi Phật. Bất
luận vị Phật nào, trước hết chính vị ấy
phải phát nguyện kiến lập một quốc độ,
phải hiểu ư nghĩa này! Thế giới của Lưu
Ly Quang Như Lai là như thế, mà thế giới của
A Di Đà Phật cũng là như vậy, Bất Động
Như Lai là như vậy, thế giới của Đa Bảo
Như Lai là như vậy, quốc độ của mỗi vị Phật khác nhau.
Nếu
muốn tu đạo, phải có một gian lều tranh, ở
trong sơn động, đều phải có một cái
động. Nếu không, thứ ǵ cũng đều chẳng
có. Do vậy, hết thảy chư Phật nếu mong tu một cơi Tịnh Độ của Phật, chứng
đại Bồ Đề; điều thứ
nhất là phải ĺa sát sanh. Ĺa sát sanh th́ hết thảy
đều yêu kính; quư vị lại
chẳng có bệnh, sống lâu, thường luôn vui vẻ,
ưa thích pháp bất hại, chẳng năo hại chúng sanh.
Sát sanh bao gồm rất nhiều thứ. Con chó đang nằm
úp sấp tại đó, quư vị muốn đi qua, cho rằng
nó ngáng đường, hoặc là lấy đá phang nó một
trận, hoặc dùng chân đá; đó gọi là “năo hại
chúng sanh”. Quư vị có thể đi ṿng qua một chút,
đừng cho là chúng sanh gây trở ngại cho chuyện của
ḿnh, đừng nên phương hại hết thảy chúng
sanh. V́ sao khi quư vị đi đường, lại phải
chú ư nh́n, đừng đạp lên ổ kiến, v́ trên
đó có trùng, quư vị phải chú ư đừng đạp
chết nó. Trẻ nhỏ có lúc coi chuyện giẫm chết
chúng sanh khác là chơi đùa, bắt chim sẻ con, thậm
chí năo hại hết thảy chúng sanh: Dùng nước nóng xối
vào hang kiến, hoặc là trong bếp ḷ có gián, bèn lấy
nước nóng giội vào. Tuy chúng nó đều chết sạch,
quư vị luôn phải trả nợ. Đó gọi là “năo hại
chúng sanh”, sẽ rất khó chứng quả Đại Thừa.
“Nhất thiết sở sanh xứ, hằng nhạo Phật
sở hành” (sanh ở hết thảy các nơi, đều
thích hành theo Phật): Bất luận quư vị sanh vào
nơi đâu, đức Phật làm như thế nào, chính
ḿnh sẽ làm theo như thế ấy. Như vậy th́ sao?
Quư vị sẽ thường gặp Phật, Pháp, Tăng,
mau thành Vô Thượng Giác.
(Kinh)
Nhược ly bất dữ thủ, trí giả giai ái kính,
diệt tham sở sanh nghiệp, hoạch vô tham sở sanh.
Sanh sanh thường cự phú, năng vi đại thí chủ,
đắc chúng bảo trang nghiêm, khả ái tịnh Phật
quốc. Nhược ly dục tà hạnh, diệt xú uế
phiền năo, khô kiệt tham ái hà, tốc đắc tịnh
Phật quốc. Bạt chư chúng sanh loại, linh xuất
dục ứ nê, an trí ư Đại Thừa, sử cần
tu phạm hạnh. Nhược ly hư cuống ngữ,
đắc thánh tự tại trí, thường nhạo
đế thật ngôn, diệt hư vọng chúng khổ,
nhất ngôn vi chứng lượng,
thường ngộ Phật, Pháp, Tăng, tốc đắc
đại Bồ Đề, khuyến tu bất vọng ngữ.
Nhược ly ly gián ngữ, thành chúng thiện pháp khí,
thường ngộ Phật, Pháp, Tăng, bất quy ư
đoạn diệt. Đắc thánh vô nhiễm trước,
Đà-la-ni bảo tạng, đạt thâm pháp hải nguyên,
tốc thành Vô Thượng Giác. Nhược ly thô ác ngữ,
thường thuyết nhu nhuyễn ngôn, chúng sanh giai ái kính,
diệt tiên thế tội nghiệp. Linh chúng thường
hoan duyệt, thành Bồ Tát đạo sư. Tri chư Phật
sở hành, siêu quá Đệ Thập Địa. Nhược
ly tạp uế ngữ, trí giả giai ái kính, vị tha sở
phát ngôn, cụ hoạch ngũ công đức. Thường
thính thọ thánh ngôn, hằng hân cầu thánh đạo, viên
măn chư Phật hải, tốc đắc Nhất Thiết
Trí.
(經)若離不與取,智者皆愛敬,滅貪所生業,獲無貪所生,生生常巨富,能為大施主,得眾寶莊嚴,可愛淨佛國。若離欲邪行,滅臭穢煩惱,枯竭貪愛河,速得淨佛國,拔諸眾生類,令出欲淤泥,安置於大乘,使勤修梵行。若離虛誑語,得聖自在智,常樂諦實言,滅虛妄眾苦,一言為證量,常遇佛法僧,速得大菩提,勸修不妄語。若離離間語,成眾善法器,常遇佛法僧,不歸於斷滅,得聖無染著,陀羅尼寶藏,達深法海源,速成無上覺。若離粗惡語,常說柔軟言,眾生皆愛敬,滅先世罪業,令眾常歡悅,成菩薩導師,知諸佛所行,超過第十地。若離雜穢語,智者皆愛敬,為他所發言,具獲五功德,常聽受聖言,恆欣求聖道,圓滿諸佛海,速得一切智。
(Kinh:
Ĺa chẳng cho mà lấy, người trí đều kính yêu,
diệt cái sanh bởi tham, đạt sanh bởi vô tham.
Đời đời thường giàu lớn, làm bậc
đại thí chủ. Được các báu trang nghiêm, cơi Phật
tịnh đáng mến. Nếu ĺa hạnh tà dục, diệt
phiền năo thối bẩn, khô cạn sông tham ái, mau
được cơi Phật tịnh. Cứu các loại chúng
sanh, thoát bùn lầy ái dục, đặt yên nơi Đại
Thừa, khiến siêng tu phạm hạnh. Nếu ĺa lời
hư dối, được trí thánh tự tại, thường
thích lời chắc thật, diệt các khổ
hư vọng, một lời làm chứng
lượng, thường gặp Phật, Pháp,
Tăng, mau đắc đại Bồ Đề, khuyên tu
chẳng vọng ngữ. Nếu ĺa lời ly gián, thành các
thiện pháp khí, thường gặp Phật, Pháp, Tăng,
chẳng quy về đoạn diệt. Đắc thánh, chẳng
đắm nhiễm, tạng báu Đà-la-ni, đạt nguồn
biển pháp sâu, mau thành Vô Thượng Giác. Nếu ĺa lời
thô ác, thường nói lời mềm mỏng, chúng sanh đều
yêu kính, diệt tội nghiệp đời trước,
khiến chúng thường vui thích, thành Bồ Tát đạo
sư. Biết chư Phật sở hành, vượt hơn
Đệ Thập Địa. Nếu ĺa lời tạp uế,
người trí đều yêu kính, v́ người khác thốt
lời, trọn được năm công đức.
Thường nghe, nhận thánh ngôn, luôn vui cầu thánh đạo,
viên măn biển các Phật, mau đắc Nhất Thiết
Trí).
“Nhược
ly bất dữ thủ, trí giả giai ái kính, diệt tham sở
sanh nghiệp, hoạch vô tham sở sanh” (Nếu ĺa “chẳng
cho mà lấy”, người trí đều yêu kính, diệt cái
được sanh ra bởi tham, đạt được
cái sanh bởi vô tham): Chẳng ăn trộm của người
khác, sẽ được người có trí yêu kính. Kẻ
trộm cắp là tham, [đó là nghiệp] sanh ra bởi tham, đó là chuyện thuộc về tội nghiệp.
Chẳng tham, do chẳng tham mà sanh ra Tịnh Độ. Chẳng
tham th́ “sanh sanh thường cự phú” (đời
đời thường giàu to), đời nào, kiếp nào
cũng đều là kẻ có tiền, đều trở
thành trưởng giả đại phú. Tham và trộm đều
chẳng được, càng ngày càng nghèo túng, càng chẳng
có ǵ. Càng giàu có th́ càng có thể bố thí. Càng có thể bố
thí th́ càng tích phước! Do vậy, người đó có thể
trở thành bậc đại thí chủ. “Đắc
chúng bảo trang nghiêm” (được trang nghiêm bằng
các báu) là cơi Phật thanh tịnh, rốt cuộc sanh vào cơi
Phật thanh tịnh. “Nhược ly dục tà hạnh”
(nếu ĺa hạnh tà dục), tức là xa ĺa cả ba thứ
giết, trộm, dâm.
Luân
thứ ba, “diệt xú uế phiền năo”: Kinh Lăng
Nghiêm dạy hết sức rơ ràng. Mọi người thấy
ngài A Nan khi muốn tán thán đức Phật, đức Phật
bèn hỏi ngài A Na thấy Phật như thế nào? Ngài trả
lời: “Con thấy như thế này, con chán ĺa tham dục,
nhưng chẳng chứng quả. Chẳng chứng quả
th́ tham dục Hoặc vẫn chưa diệt trừ”. Ngài A
Nan nói như thế nào? “Nùng uế tạp loạn, vân hà
năng sanh diệu minh tử kim quang tụ?” (Mủ và
chất bẩn lẫn lộn, làm sao có thể sanh ra khối
sáng mầu nhiệm có màu vàng tía?): Nam nữ sanh ra trẻ nhỏ,
tinh cha, huyết mẹ chính là “nùng uế” (濃穢), tức máu mủ lẫn lộn. Làm sao có thể
sanh khối quang minh mầu nhiệm giống như khối
quang minh có màu vàng tía trên thân đức Phật? Thân Phật
kim sắc, ngài A Nan chẳng tin Phật
do tinh cha huyết mẹ sanh ra. Đấy là thân công đức,
chứ các thứ kia chẳng thể nào sanh ra được!
Do vậy, tham dục chẳng thể sanh [kim thân Phật],
hiểu điều này là được rồi. V́ thế,
phải ĺa dục tà hạnh, [tà hạnh]
chính là cái sanh bởi phiền năo xú uế. “Khô kiệt
tham ái hà, tốc đắc tịnh Phật quốc, bạt
chư chúng sanh loại, linh xuất dục ứ nê, an trí
ư Đại Thừa, sử cần tu phạm hạnh”
(khô cạn sông tham ái, mau được cơi Phật tịnh,
cứu vớt các chúng sanh, thoát khỏi bùn lầy dục,
đặt yên nơi Đại Thừa, khiến siêng tu phạm
hạnh): Làm cho hết thảy chúng sanh đều là phạm
hạnh thanh tịnh, đừng nên quá tham dục.
“Nhược
ly hư cuống ngữ, đắc thánh tự tại trí,
thường nhạo đế thật ngôn, diệt hư
vọng chúng khổ” (Nếu ĺa lời hư dối,
được trí thánh tự tại, thường ưa lời
chắc thật, diệt các khổ hư vọng): Nếu
quư vị ĺa hư vọng, chẳng lường gạt kẻ
khác, sẽ có thể đạt được trí huệ tự
tại, trí huệ thù thắng tự tại, lại ưa
thích lời lẽ đúng sự thật, lời lẽ
đúng với chân lư, diệt trừ nỗi khổ hư vọng!
“Nhất ngôn vi chứng lượng, thường ngộ
Phật, Pháp, Tăng, tốc đắc Đại Bồ
Đề, cần tu bất vọng ngữ. Nhược ly
ly gián ngữ, thành chúng thiện pháp khí, thường ngộ
Phật, Pháp, Tăng, bất quy ư đoạn diệt,
đắc thánh vô nhiễm trước. Đà-la-ni bảo tạng,
đạt thâm pháp hải nguyên, tốc thành Vô Thượng
Giác” (Một lời làm chứng lượng, thường
gặp Phật, Pháp, Tăng, mau đắc Đại Bồ
Đề, siêng tu không vọng ngữ. Nếu ĺa lời ly
gián, thành các pháp khí tốt lành, thường gặp Phật,
Pháp, Tăng, chẳng quy vào đoạn diệt, đạt
được thánh vô nhiễm. Tạng báu Đà-la-ni, thấu
đạt nguồn biển pháp sâu xa, mau thành Vô Thượng
Giác): Lời ly gián có thể khuấy động người
khác, châm ng̣i ly gián, khiến cho mọi người chẳng
thể ḥa hợp, làm sao quư vị có thể gặp Phật,
Pháp, Tăng cho được? Cho nên quư vị chẳng
thành đạo! Muốn thành đạo, đắc thánh vô
nhiễm, nếu mong đạt được tạng báu
đà-la-ni, quư vị phải “đạt thâm pháp hải
nguyên, tốc thành Vô Thượng Giác. Nhược
ly thô ác ngữ, thường thuyết nhu nhuyễn ngôn,
chúng sanh giai ái kính, diệt tiên thế tội nghiệp, linh
chúng thường hoan duyệt, thành Bồ Tát đạo
sư, tri chư Phật sở hành, siêu quá Đệ Thập
Địa” (Thấu đạt nguồn biển
pháp sâu xa, mau thành Vô Thượng Giác. Nếu ĺa lời thô
ác, thường nói lời mềm mỏng, chúng sanh đều yêu kính, diệt tội nghiệp
đời trước, khiến chúng thường vui
sướng, thành Bồ Tát đạo sư, biết các sở
hành của chư Phật, vượt hơn hẳn bậc
Đệ Thập Địa). Ĺa lời thô ác, có công đức
to lớn ngần ấy. “Nhược ly tạp uế ngữ,
trí giả giai ái kính, vị tha sở phát ngôn, cụ hoạch
ngũ công đức” (nếu ĺa lời tạp uế,
người trí đều yêu kính, v́ người khác thốt
lời, đạt trọn năm công đức): Năm
công đức ấy là năm loại công đức
được nói trong Tịnh Độ Luận.
(Kinh)
Nhược ly ư tham dục, bất phỉ báng thánh giáo,
cúng dường phục ca-sa, hoằng tam thừa thánh đạo,
đương sanh tịnh Phật quốc. Đạo
sư chi sở cư, thừa ư vô thượng thừa,
tốc đắc tối thắng trí. Nhược ly ư
sân khuể, nhất hướng tu từ tâm, tốc tật
chứng đẳng tŕ, nhạo chúng thánh hạnh xứ,
đương sanh tịnh Phật độ, viễn ly
chư quá ác, trụ bỉ chứng Bồ Đề, linh ly
chư sân phẫn. Nhược ly ư tà kiến, thuần
tu tịnh tín tâm, nhạo khai thị tam thừa, diệc
cúng dường chư Phật. Vĩnh thoát chư ác thú, ngộ
chúng hiền thánh giả, cụ chư Bồ Tát đức,
đăi đắc tối thượng trí. Ngă thuyết Thập
Thiện Nghiệp, năng thú thắng Bồ Đề,
sanh trưởng chư Đẳng Tŕ, Đà-la-ni, Nhẫn, Địa.
Thử luân đại oai đức, năng tồi chư
ác thú, phá hoại chư ác chướng, tốc chứng
đại Bồ Đề.
(經)若離於貪慾,不誹謗聖教,供養服袈裟,弘三乘聖道,當生淨佛國,導師之所居,乘於無上乘,速得最勝智。若離於瞋恚,一向修慈心,速疾證等持,樂眾聖行處,當生淨佛土,遠離諸過惡,住彼證菩提,令離諸瞋忿。若離於邪見,純修淨信心,樂開示三乘,亦供養諸佛,永脫諸惡趣,遇眾賢聖者,具諸菩薩德,逮得最上智。我說十善業,能趣勝菩提,生長諸等持,陀羅尼忍地。此輪大威德,能摧諸惡趣,破壞諸惡障,速證大菩提。
(Kinh:
Nếu ĺa khỏi tham dục, chẳng phỉ báng thánh giáo,
cúng người mặc ca-sa, hoằng thánh đạo ba thừa,
sẽ sanh cơi Phật tịnh, là chỗ đạo sư ở.
Nương theo vô thượng thừa, mau được
trí tối thắng. Nếu ĺa khỏi sân khuể, một mực
tu tâm từ, mau chóng chứng đẳng tŕ, ưa thích các
thánh hạnh, sẽ sanh cơi Phật tịnh, xa ĺa các lỗi
ác, trụ đó, chứng Bồ Đề, khiến ĺa các
sân phẫn. Nếu ĺa khỏi tà kiến, thuần tu tịnh
tín tâm, ưa khai thị ba thừa, cũng cúng dường
chư Phật, măi thoát các đường ác, gặp các vị
thánh hiền. Đủ các Bồ Tát đức, bèn đắc
tối thượng trí. Ta nói nghiệp Thập Thiện,
hay nhập thắng Bồ Đề, sanh trưởng các
Đẳng Tŕ, Đà-la-ni, Nhẫn,
Địa. Luân này oai đức lớn, hay dẹp các
đường ác, phá hoại các ác chướng, chóng chứng
đại Bồ Đề).
“Nhược
ly ư tham dục, bất phỉ báng thánh giáo, cúng dường
phục ca-sa” (Nếu ĺa các tham dục, chẳng phỉ
báng thánh giáo, cúng dường người mặc ca-sa): truyền
y ca-sa, hoằng dương tam thừa thánh đạo. “Đương
sanh tịnh Phật quốc, đạo sư chi sở
cư, thừa ư vô thượng thừa” (Sẽ sanh
vào cơi Phật thanh tịnh, là chỗ ở của bậc
đạo sư. Nương theo vô thượng thừa):
Đức Phật ngự trong cơi Phật thanh tịnh, là
vô thượng Đại Thừa. “Tốc đắc tối
thắng trí, nhược tuy ư sân khuể, nhất hướng
tu từ tâm, tốc tật chứng Đẳng Tŕ, nhạo chúng thánh hành xứ” (Mau được
trí tối thắng, dẫu ở trong sân khuể, một mực
tu tâm từ, mau chóng chứng Đẳng Tŕ, thích hành xứ
chúng thánh): Nếu ĺa sân khuể, ĺa tham, ĺa sân, tu Từ Bi
Quán, như thế th́ mới có thể thành tựu Phật
quả. Đẳng Tŕ (B́nh đẳng
duy tŕ) hết thảy các pháp, tŕ vô lượng nghĩa. “Đương
sanh tịnh Phật độ, viễn
ly chư quá ác, văng bỉ chứng Bồ Đề, linh ly
chư sân phẫn. Nhược ly ư tà kiến, thuần
tu tịnh tín tâm, nhạo khai thị tam thừa, diệc
cúng dường chư Phật. Vĩnh thoát chư ác thú, ngộ
chúng hiền thánh giả, cụ chư Bồ Tát đức,
đăi đắc tối thượng trí” (Sẽ sanh cơi Phật
tịnh, xa ĺa các lỗi ác, về đó chứng Bồ
Đề, khiến ĺa các sân phẫn. Nếu ĺa các tà kiến,
thuần tu tịnh tín tâm, ưa khai thị ba thừa,
cũng cúng dường chư Phật. Măi thoát các đường
ác, gặp các bậc thánh hiền, đủ các Bồ Tát
đức, bèn đắc trí tối thượng): Như
thế th́ mới có thể thành tựu Vô Thượng Bồ
Đề.
“Ngă
thuyết Thập Thiện Nghiệp, năng thú thắng Bồ
Đề, sanh trưởng chư Đẳng Tŕ, Đà-la-ni, Nhẫn, Địa. Thử luân đại
oai đức, năng tồi chư ác thú, phá hoại
chư ác chướng, tốc chứng đại Bồ
Đề” (Ta nói Thập Thiện Nghiệp,
hay nhập thắng Bồ Đề, sanh trưởng các
Đẳng Tŕ, Đà-la-ni, Nhẫn,
Địa. Luân này oai đức lớn, dẹp tan các
đường ác, phá hoại các ác chướng, mau chứng
đại Bồ Đề): Đây là nói tổng quát. Thập
Thiện Luân là thành tựu cái nhân của Bồ Đề
thù thắng, có thể sanh trưởng mười pháp vô
lượng, đó là Đà-la-ni. Vô lượng pháp là Đẳng
Tŕ, là Đà-la-ni, là tam-muội. “Đà-la-ni, Nhẫn, Địa”
là Thập Nhẫn, Thập Địa. Oai đức của
luân này có thể phá tan các đường ác, phá hoại các
ác chướng, mau chứng đại Bồ Đề.
Đại
Thừa Địa Tạng Thập Luân Kinh Giảng Kư, phần
13 hết
[1] Thông thường, theo truyền thống
Nam Truyền, dựa trên kinh Trưởng Lăo, thập đại
đệ tử là Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên,
Đại Ca Diếp, Đại Ca Chiên Diên, Đại Câu
Hy La (Mahākoṭṭhita),
Đại Kiếp Tân Na (Mahākappina), Đại Thuần
Đà (Mahācunda), A Nậu Lâu
Đà, Ly Bà Đa (Revata), và Nan Đà (Nanda). Nhưng theo Bắc Truyền Phật giáo (chẳng hạn như
kinh Duy Ma Cật), thập đại đệ tử là Xá
Lợi Phất (Śāriputra),
Mục Kiền Liên (Maudgalyāyana),
Đại Ca Diếp (Mahākāśyapa),
Tu Bồ Đề (Subhūti),
Phú Lâu Na (Pūrṇa
Maitrāyaniputra ), Ma Ha Ca Chiên Diên (Mahākātyāyana), A
Na Luật (A Nậu Lâu Đà, Aniruddha), Ưu Ba Ly (Upāli), La Hầu La (Rāhula), và A Nan Đà (Ānanda).
[2] Ở đây, người ghi lại
lời giảng đă viết sai, câu đúng ra phải là “Thư
sơn hữu lộ, cần vi kính; học hải vô nhai, khổ
tác châu” (núi sách có đường, phải siêng năng tạo
thành đường tiến vào. Biển học không bờ
bến, phải dùng cần cù làm thuyền). Đó là đôi
câu đối do Hàn Dũ viết và được chép trong
bộ Tăng Quảng Hiền Văn.
[3]
Kim cang ở đây là kim cang xử (vajra), vũ khí của
Thiên Đế Thích.
[4] Cẩu hùng (狗熊, nguyệt
hùng, hắc hạt hùng, gấu chó, Asian black bear, người
Việt lại thường gọi chúng là gấu ngựa)
tức loại gấu có mơm giống như mơm chó, thường
có lông màu đen, có tên khoa học là Ursus Thibetanus. Trong khi gấu
Bắc Cực là chủng loại khác (có tên khoa học là
Ursus Maritimus). Do
chúng có h́nh dáng giống nhau, chỉ khác màu lông, người Hoa vẫn
gọi lẫn lộn cả hai loại đều là Cẩu
Hùng.
[5] Liễu Hạ Huệ (720-621 trước
Công Nguyên) họ Cơ, tên là Hoạch, biểu tự là Cầm,
c̣n có một tên khác là Quư. Ông là hậu duệ của Công Tử
Triển (con cháu của Lỗ Hiếu Công). Liễu Hạ
là tên thực ấp (đất phong) của
ông ta, Huệ là thụy hiệu (tên đặt sau khi mất).
Do vậy, khi nhắc tới ông người ta thường
gọi là Liễu Hạ Huệ, hay Liễu Hạ
Quư. Ông làm quan đại phu nước Lỗ, là người
cương trực, đạo đức, rất
được Mạnh Tử khen ngợi. Theo truyền tụng,
ông ra ngoài thành, thấy có một cô gái bị lạnh sắp
ngất xỉu, ông ôm trong ḷng để giữ ấm cho cô ta khỏi chết rét, không nẩy sanh dục niệm,
không có hành động sàm sỡ nào.
[6] Lỗ
nam tử là Nhan Thúc Tử người nước Lỗ thời
Xuân Thu. Ông sống một ḿnh. Một hôm, do có người
nữ hàng xóm bị mưa gió làm sụp nhà, xin tá túc. Từ
chối không được, ông bèn thắp đèn ngồi
ngoài pḥng khách suốt đêm để tránh tỵ hiềm.
Người đương thời gọi ông là Lỗ nam
tử
[7] Theo Quán Âm
Linh Cảm Truyện, tại băi Kim Sa thuộc vùng Thiểm
Hữu, có một cô gái rất xinh đẹp, thường
xách giỏ đi bán cá. Các chàng trai chưa vợ trong thôn đều
muốn lấy cô làm vợ. Cô gái nói: “Nếu ai có thể thuộc
ḷng phẩm Phổ Môn, tôi sẽ gả cho người
đó”. Hôm sau, có hai mươi người thuộc ḷng phẩm
Phổ Môn. Cô gái lại gieo hẹn: “Ai có thể trong một
đêm thuộc ḷng kinh Kim Cang, tôi sẽ gả cho người
đó”. Hôm sau, vẫn có mười người thuộc. Cô
gái lại nói: “Nếu ai có thể thuộc toàn bộ kinh Pháp
Hoa trong ṿng ba ngày, tôi sẽ gả cho người đó”. Khi
đó, chỉ có chàng họ Mă thuộc. Lễ cưới liền
tiến hành. Vừa rước dâu qua cửa, cô ngă lăn
ra chết, xác chết rữa nát ngay, phải chôn liền. Mấy
hôm sau, có một tăng sĩ dẫn chàng họ Mă đào
quan tài lên để xem xét, chỉ thấy một miếng
xương đ̣n bằng vàng trong quan tài. Tăng sĩ nói:
“Đấy là Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện hóa độ
các ngươi tin Phật”. Nói xong, vị Tăng nhân cũng
bay lên hư không, biến mất. Từ đó, các vùng tại
tỉnh Thiểm Tây đều tín phụng Quán Âm. Thân
thị hiện này được gọi là Đề Lam
Quán Âm, hay Ngư Lam Quán Âm. Trong Tây Du Kư, Ngô Thừa Ân đă bịa
chuyện để xuyên tạc: “Cá chép trong ao sen của
Quán Thế Âm Bồ Tát trốn xuống trần gian làm yêu
quái, bắt cóc, toan ăn thịt Đường Tăng.
Tôn Ngộ Không sang núi Phổ Đà mách, Quán Thế Âm Bồ
Tát vội vàng chặt trúc tía, đan thành cái giỏ, xuống
trần gian bắt yêu quái! Khi Ngài bay lên, mọi người
họa h́nh thờ, gọi là Ngư Lam Quán Âm”.
[8] Theo người Tứ Xuyên chữ
Cách này không có ư nghĩa ǵ, chỉ là một chữ cảm
thán. Cái tật của họ là hay dùng chữ
Cách như ta nói “nè, e hèm”. Về sau chữ Cách này được
hiểu như từ ngữ chỉ ngôi thứ nhất, Cách Lăo Tử là “ông nội mày đây”. Do vậy, đối với người ngoài Tứ
Xuyên nghe xưng là Cách Lăo Tử sẽ rất khó chịu, v́
giống như nghe họ nói: “Ông nội mày”. Cái tật này
nặng đến nỗi mở miệng ra là “cách lăo tử”
dù chẳng cần phải nói như vậy. Có chuyện kể
rằng: Một người Sơn Đông sang Tứ Xuyên
mua hàng, hỏi: “Giá cá đông tây đa thiểu tiền?”
(món đồ này bao nhiêu tiền?) Người bán hàng trả
lời: “Cách lăo tử, ngũ thập khối tiền”
(ông nội mày, năm mươi đồng). Người
mua đùng đùng nổi giận: “Tao mua đồ của
mày, mày chẳng cám ơn th́ chớ, c̣n dám chửi ông nội
tao hả?”
[9] Như Ư Liêu là nơi dành cho các vị
tăng bị bệnh an dưỡng trong một ngôi tùng
lâm.
[10]
Ma Tổ là một vị thần bảo hộ cho những
người sống bằng nghề biển
hoặc dân cư ven biển, đặc biệt được
sùng bái tại Hoa Nam, nhất là các tỉnh Phước Kiến,
Quảng Đông, Hải Nam. Theo chân người Hoa, miếu
thờ của bà xuất hiện khắp vùng Đông Nam Á,
thậm chí tại Nhật Bản cũng có miếu thờ.
Bà húy là Lâm Mặc, người huyện Bồ Điền,
sanh năm Kiến Long nguyên niên (960) tại đảo My
Châu, thông minh, lanh lợi, nhưng ít nói. Sau khi chết, bà hiển
linh cứu giúp dân chài hoặc những người vượt
biển. Nổi tiếng nhất là khi sứ đoàn của
Lộ Doăn Địch đi sứ Cao Ly, gặp nạn sóng
thần, đoàn thuyền tám chiếc ch́m hết bảy,
riêng thuyền của ông Lộ được bà hiển
linh cứu vớt. Do vậy, khi trở về ông Lộ
đă xin triều đ́nh sắc phong cho bà. Thoạt đầu
bà chỉ được sắc phong là Sùng Phước Phu
Nhân, rồi Linh Huệ phu nhân. Đến đời Nguyên,
Hốt Tất Liệt sắc phong bà là Thiên Phi, đến
đời Thanh, vua Khang Hy sắc phong bà là Thiên Hậu. Trải
các đời, phong hiệu của bà đă trở thành Hộ Quốc Tỳ Dân Diệu
Linh Chiêu Ứng Hoằng Nhân Phổ Tế Phước Hựu
Quần Sanh Thành Cảm Hàm Phù Hiển Thần Tán Thuận
Thùy Từ Đốc Hộ An Lan Lợi Vận Trạch
Đàm Hải Vũ Điểm Ba Tuyên Huệ Đạo
Lưu Diễn Khánh Tĩnh Dương Tích Chỉ Ân Châu
Đức Phổ Vệ Tào Thái Chấn Vũ Tuy
Cương Thiên Hậu Chi Thần. Bà thường được
gọi bằng danh xưng Thiên Hậu Nguyên Quân, hay Thiên Hậu
Thánh Mẫu. Chữ Ma Tổ vốn là từ ngữ người
huyện Hưng Hóa tỉnh Phước Kiến dùng để
tôn xưng tổ tiên thuộc phái nữ.
[11] Trụ Vương chính là tên miệt
thị của nhà Châu để gọi Đế Tân (?-1046
trước Công Nguyên), là con trai của Đế Ất.
“Trụ” (紂) có nghĩa là miếng da che mông ngựa,
dẫn khởi thành ư nghĩa “hung ác, tàn nhẫn”. Ông tên thật
là Tử Thọ, là vị vua cuối cùng của
nhà Thương. Ông được mô tả là người
cao lớn, có sức mạnh, có thể chống lại cả
trăm người. Sau khi lên ngôi, ông đóng đô tại Mạt
Ấp (sau đó đổi tên thành Triều Ca). Do say mê mở
rộng lănh thổ, chinh chiến liên miên khiến quốc
khố trống rỗng, lại đam mê tửu sắc, bỏ bê triều
chánh, nên nhà Thương bị diệt vong. Do tổ tiên của Trụ Vương là Bàn Canh (Tử
Tuần, cháu chín đời của vua Thành Thang) đă dời
đô về Ân Khư (nay là huyện An Dương tỉnh
Hà Nam), nhà Thương thường được gọi
là nhà Ân.
[12] Cửu Thiên Huyền Nữ, c̣n gọi
là Cửu Thiên Huyền Mẫu, là một vị nữ thần
đă được người Hoa tôn sùng từ thời
cổ. Bà thường được h́nh dung đầu
người ḿnh chim, đă truyền binh pháp cho Hoàng Đế
đánh bại Si Vưu. Đạo giáo coi bà là môn đệ
của Tây Vương Mẫu, chế ra bùa Lục Nhâm Lục Giáp, chế ra pháp ấn
Chế Yêu Thông Linh Ngũ Minh Ấn, cũng như là thần
bảo hộ của những người làm hương.
[13] Ngô Khởi (440-381 trước Công
Nguyên) là một nhà quân sự cuối thời Xuân Thu Chiến
Quốc. Ông này thông thạo quân sự, từng làm tướng
cho ba nước Lỗ, Ngụy và Sở, giúp cho Ngụy
Văn Hầu thành tựu bá nghiệp. Khi làm quan tại
nước Sở, ông ta đă đề ra nhiều cải
cách khiến giới quư tộc bất măn. V́ thế, sau khi Sở Điệu Vương
mất đi, họ đă tạo binh biến, giết chết Ngô Khởi.
Binh pháp của ông nổi tiếng ngang với binh pháp của
Tôn Vũ. Ông nổi tiếng tàn nhẫn, chỉ mong đạt
mục đích, bất cần phương tiện. Khi c̣n
trẻ, ông ta đă hao phí gia tài để cầu cạnh được
làm quan, nhưng không thành công. Xóm làng có kẻ cười
chê, cho nên khi ông ta thành công, đă giết ba mươi mấy
người trong số ấy. Về sau, ông theo học với
Tăng Thân là con của Tăng Sâm (cao đồ của Khổng Tử) để học đạo
Nho, nghe tin mẹ chết tại nước Vệ, ông ta vẫn tiếp tục
học, chẳng thèm về viếng tang. Tăng Thân chê là kẻ bất hiếu, đuổi đi,
không dạy nữa. Khi sang nước Lỗ, để
được Lỗ Mục Công trọng dụng làm tướng,
nhưng do vợ ông ta là người nước Tề, cho nên vua cũng có ḷng ngờ. Ngô Khởi liền giết vợ để
đoạn sạch quan hệ với nước Tề.
[14] Đời Đường, tại
Vận Châu có ông Trương Công Nghệ, gia tộc chín
đời cùng chung sống, ḥa thuận, không hề có chuyện
tranh chấp ǵ. Đường Cao Tông rất lạ
lùng, triệu ông vào cung hỏi bí quyết. Ông bèn lấy một
trang giấy viết một trăm chữ Nhẫn.
[15] Mă
Đầu Kim Cang, c̣n gọi là Mă Đầu Quán Âm là thân phẫn
nộ của Quán Thế Âm Bồ Tát. là một tôn vị
trong Quán Âm Viện của Thai Tạng Giới Mạn Đà
La, thuộc Lục Quán Âm (Thánh Quán Âm, Thiên Thủ Quán Âm, Mă
Đầu Quán Âm, Thập Nhất Diện Quán Âm, Chuẩn
Đề Quán Âm, và Như Ư Luân Quán Âm) đặc biệt
được tôn sùng trong Mật Tông. Đây chính là Sư Tử
Vô Úy Quán Âm trong Lục Quán Âm của tông ThiênThai, là thân thị
hiện cứu vớt chúng sanh trong súc sanh đạo. Ngài
cũng là Minh Vương Bộ Chủ thuộc Liên Hoa Bộ
trong Kim Cang Giới Mạn Đà La, cũng như được
coi là Phẫn Nộ Thân của Vô Lượng Thọ Phật.
Tượng Ngài có hai tay, bốn tay, cho đến sáu tay,
thường có ba mặt, cổ đeo xâu chuỗi bằng
đầu lâu, lưng quấn khố da hổ, mặt chính
giữa có ba mắt. Sắc mặt giận dữ, nhe
răng. Cổ tay, cổ chân, cổ và eo đều có rắn
quấn, tay cầm các pháp khí như chén bằng sọ
người (kappala), dây thừng, rắn, gậy đầu
lâu. Trên đỉnh đầu có một hoặc ba đầu
ngựa nhô ra. Tượng theo truyền thống Tây Tạng
c̣n vẽ hoặc tạc Ngài có hai cánh xanh biếc, đầu
đội măo có gắn đầu lâu (biểu thị từ
trong phiền năo mà chứng nhập Ngũ Trí Như Lai).
Theo Mật Tông, Ngài có các công đức hàng phục quỷ mị,
tà thần, tiêu trừ vô minh, trừ diệt ôn dịch, hạn
hán, bệnh khổ, trừ diệt các tà chú ác độc…