Đại
Thừa Địa Tạng Kinh
Thập
Luân Giảng Kư, phần 14
大乘大集地藏十輪經講記
Mộng
Tham lăo ḥa thượng chủ giảng
夢參老和尚主講
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo chánh: Đức
Phong và Huệ Trang
VII. Phước điền
tướng, phẩm đệ
thất (福田相品第七, phẩm thứ
bảy: Tướng phước điền)
(Kinh)
Phục thứ thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát hữu
thập Tài Thí Đại Giáp
Trụ Luân. Nhược Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân, tùng sơ phát tâm, nhất
thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn, siêu
thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, tác đại
phước điền. Nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng giai ưng
cúng dường, thừa sự, thủ hộ. Hà đẳng
vi thập? Sở vị bố thí chủng chủng ẩm
thực, y phục, bảo sức, tượng, mă, xa, thặng,
cập dĩ tự thân thủ, túc, nhĩ, tỵ, đầu,
mục, tủy, năo, b́, cốt, huyết, nhục, quốc
thành, thê, tử, nô tỳ, điền trạch. Như thị nhất
nhất hành bố thí thời, bất cố thân mạng, bất
chuyên vị kỷ cầu ư thế gian, xuất thế gian lạc, phát tâm bố thí, đản dục
phổ vị nhất thiết hữu t́nh sanh trưởng
đại từ, đại bi nha cố, phát tâm bố thí,
vị dục dẫn phát thiện xảo phương tiện
thù thắng trí cố, phát tâm bố thí, vị dục dẫn
phát nhất thiết hữu t́nh an lạc sự cố, phát
tâm bố thí, vị dục trừ diệt nhất thiết
hữu t́nh khổ năo sự cố, phát tâm bố thí, vô thắng
tha tâm, vô thô quánh tâm, vô tật đố tâm, vô xan lận
tâm, nhi hành bố thí. Ư sở thí vật, nhược
đa, nhược thiểu, hạ chí nhất thực,
chung bất hy cầu tự thọ quả báo, phát tâm bố
thí, chung bất hy cầu Thanh Văn Thừa quả phát tâm
bố thí, chung bất hy cầu Độc Giác Thừa quả
phát tâm bố thí. Ư sở thí vật, nhược đa,
nhược thiểu, hạ chí nhất thực, đản
vị hy cầu Nhất Thiết Chủng Trí, phát tâm bố
thí.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,有十財施大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。何等為十?所謂佈施種種飲食、衣服、寶飾、象馬、車乘,及以自身手足耳鼻、頭目髓腦、皮骨血肉、國城、妻子、奴婢、田宅,如是一一行佈施時,不顧身命,不專為己求於世間、出世間樂,發心佈施;但欲普為一切有情生長大慈大悲芽故,發心佈施;為欲引發善巧方便殊勝智故,發心佈施;為欲引發一切有情安樂事故,發心佈施;為欲除滅一切有情苦惱事故,發心佈施;無勝他心,無粗獷心,無嫉妒心,無慳吝心,而行佈施;於所施物若多若少,下至一食,終不希求自受果報,發心佈施;終不希求聲聞乘果,發心佈施;終不希求獨覺乘果,發心佈施;於所施物若多若少,下至一食,但為希求一切種智,發心佈施。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát có mười
Tài Thí Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy
ngũ dục đều có thể trừ dứt, vượt
xa hết thảy Thanh Văn và Độc Giác, v́ khắp hết
thảy Thanh Văn và Độc Giác làm ruộng phước
lớn, hết thảy các vị Thanh Văn và Độc
Giác đều nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ.
Những ǵ là mười? Tức là bố thí các thứ thức
ăn, quần áo, vật trang sức báu, voi, ngựa, xe cộ,
cùng với tay, chân, tai, mũi, đầu, mắt, tủy,
năo, da, xương, máu, thịt của chính ḿnh, quốc thành,
vợ, con, nô tỳ, ruộng nương, nhà cửa. Khi
hành bố thí mỗi thứ như thế, đều chẳng
đoái hoài thân mạng, chẳng chuyên v́ cầu sự vui thế
gian hay xuất thế gian cho chính ḿnh mà phát tâm bố thí, chỉ
v́ muốn sanh trưởng mầm đại từ đại
bi cho hết thảy hữu t́nh mà phát tâm bố thí, v́ muốn
dẫn phát trí thiện xảo phương tiện thù thắng
mà phát tâm bố thí, v́ muốn dẫn phát sự an lạc
cho hết thảy hữu t́nh mà phát tâm bố thí, v́ muốn
trừ diệt chuyện khổ năo cho hết thảy hữu
t́nh mà phát tâm bố thí, chẳng có tâm vượt hơn
người khác, chẳng có tâm thô lỗ, tục tằn, chẳng
có tâm ghen ghét, chẳng có tâm keo tiếc mà hành bố thí.
Đối với các vật bố thí, dù nhiều hay ít, thậm
chí một bữa ăn, trọn chẳng mong cầu quả
Thanh Văn Thừa mà phát tâm bố thí, trọn chẳng mong
cầu quả Độc Giác Thừa mà phát tâm bố thí. Đối với các vật bố thí, dù nhiều hay
ít, thậm chí một bữa ăn, chỉ v́ mong cầu Nhất
Thiết Chủng Trí mà phát tâm bố thí).
Nói
xong phẩm Thập Thiện Nghiệp Đạo, phẩm
này là phẩm Phước Điền Tướng. Thập
Thiện Nghiệp Đạo là bảy chi nơi thân và miệng
(tức giết, trộm, dâm, nói dối, nói đôi chiều,
nói thêu dệt, và nói thô ác), cộng thêm tham, sân, si. Đấy
là hữu vi, chỉ nói về pháp Thanh Văn Thừa và Duyên
Giác Thừa. Nếu nói cao hơn bước nữa, Thập
Thiện Nghiệp Đạo từ Nhân Thiên Thừa cho
đến Bồ Tát Thừa đều trọn đủ,
là pháp chung của năm loại người tu hành. Nếu
dùng pháp Thập Thiện Nghiệp Đạo để hiển thị
và hóa độ chúng sanh, sẽ là Bồ Tát. Nếu là Thanh
Văn và Duyên Giác, họ mong tu Khổ, Tập, Diệt,
Đạo, mười hai
nhân duyên, cũng ắt cần phải lấy Thập Thiện Nghiệp
Đạo làm cơ sở. Chiếu theo kinh văn trong phần
trước, sau khi đă chết, lại sanh trong nhân gian,
đạt được phước đức to lớn;
đấy là phước đức đáng nên lănh thọ
của chính Thập Thiện Nghiệp Đạo. Nếu
trong tâm quư vị thâm nhập quán tưởng th́ sẽ là
Đại Thừa. Đó là pháp chung cho cả ba thừa,
tùy thuộc loại căn cơ nào, sẽ có thể lănh thọ
pháp thuộc loại ấy.
Tướng
phước điền khác nhau; [ở đây], tướng phước
điền thuần túy nói theo Bồ Tát Ma Ha
Tát. Phước điền để gieo phước, tức
là ruộng nương để gieo phước chẳng
thể nghĩ bàn. Mỗi đoạn [kinh văn] và mỗi
luân đều có hai loại tướng: Một là tướng
thế gian, hai là tướng xuất thế gian. Trong thế
gian, Bồ Tát thuận theo chúng sanh để nói, hành Bồ
Tát đạo như thế nào, khiến cho chúng sanh tích tụ
phước điền. Phước điền của Bồ
Tát là Không nghĩa, tức là “phước
điền mà chẳng có phước điền”. Đấy chính là ư nghĩa “tướng chính là vô
tướng”. Nếu Bồ Tát mong hành Bồ Tát đạo,
tức Lục Độ vạn hạnh trong Bồ Tát
đạo, chính là dùng bố thí đứng đầu
[trong các hạnh ấy]. Trước hết, nói về Tài
Thí; kế đó, nói về Pháp Thí. Nếu chẳng dùng
pháp để bố thí, chẳng dùng tài để bố
thí, mà mong nhập chúng sanh giới, sẽ rất khó khăn.
Để có thể chẳng bị ngũ dục xoay chuyển,
chẳng theo chúng sanh trầm luân trong thế gian, phải trang
bị đôi chút. Do vậy, chữ Trụ (冑) trong “đại giáp trụ” (大甲冑) có nghĩa là
ǵ? Chính là Khôi (盔) che đầu
(mũ sắt hay mũ da dầy). “Giáp” (甲) là đội khôi, mặc giáp. Bởi lẽ, quư vị muốn độ
chúng sanh, Đồng Sự Nhiếp chúng sanh, thị hiện
giống như chúng sanh, quư vị phải pḥng hộ
đôi chút.
Pḥng
hộ như thế nào? Tức là trang bị đôi chút nhằm
bảo vệ chính ḿnh. Dùng ǵ để bảo vệ? “Giáp
trụ” là h́nh dung như đang ở trong chiến trận,
phải đội khôi khoác giáp để
khỏi bị địch nhân gây thương tích. Nếu
quư vị vào trong chúng sanh giới độ chúng sanh, chẳng
bị chúng sanh nhuốm bẩn, chẳng bị chúng sanh xoay
chuyển, mà có thể chuyển chúng sanh. Đấy là nói
đến bậc Bồ Tát Ma Ha Tát, cũng có nghĩa là
đạo lực của Ngài rất sâu dầy. Vận dụng
cái luân này, có thể diệt trừ nỗi đau khổ do
nghèo túng, thiếu hụt của chúng sanh. Chẳng có tiền,
sẽ rất đau khổ, cho nên phải dùng tài vật
để bố thí. Nếu Bồ Tát thành tựu Tài Thí
Đại Giáp Trụ Luân, từ lúc Ngài mới phát tâm,
đă có thể đoạn trừ ngũ dục. Chuyện
này đối với chúng tôi có đôi chút chẳng phù hợp!
Tôi xuất gia hơn sáu mươi năm, hiện thời
vẫn chẳng thể hoàn toàn đoạn trừ ngũ dục,
thế mà các vị Bồ Tát ấy vừa phát tâm bèn đoạn trừ ngũ dục, chẳng tham luyến thế
gian. Nhưng các Ngài chẳng ĺa thế gian, khác hẳn Thanh
Văn và Duyên Giác. Vừa mới phát tâm, liền có thể
đoạn trừ ngũ dục. Trong phần trước,
chúng tôi đă nói về cảnh giới ngũ dục rất
nhiều. Nói nông cạn, dễ hiểu là tài, sắc, danh vọng,
ăn uống, ngủ nghê. Sở dĩ chúng ta chẳng thể
dấy lên tinh tấn nổi,
giải đăi, là v́ bị ngũ dục lôi kéo, dẫn dắt!
Khi chúng ta bố thí, luôn xen tạp rất nhiều ô nhiễm!
Trong phần trước, khi nói về Thập Thiện Nghiệp
Đạo, trong ấy đă xen tạp rất nhiều ô
nhiễm, chẳng dùng cái tâm thanh tịnh để hành tài
thí. Bất luận quư vị đang làm ǵ, cúng dường
Tam Bảo cũng thế, mà cho đến khi cứu tế
trong xă hội cũng thế, trong mỗi hành
vi, đều xen tạp rất nhiều ư niệm chẳng
thanh tịnh. Nhân địa chẳng chân thật, chuốc
lấy cái quả cong quẹo. Tâm chẳng thanh tịnh, mà
quư vị mong đạt được cái quả chân thật,
sẽ là chuyện chẳng thể được!
Đoạn
kinh văn này nói Bồ Tát Ma Ha Tát dùng Tài Thí làm công cụ
để nghiền nát ngũ dục. Khi phát tâm, hành Bồ
Tát đạo, khi tài bố thí, sẽ đoạn trừ ngũ dục. Hiện
thời, vị ấy không chỉ đoạn trừ
ngũ dục, mà Trần Sa vô minh cũng phá dần dần.
Các vị Đăng Địa Bồ Tát ấy đoạn
một phần vô minh, chứng một phần Pháp Thân. Do vậy,
các Ngài vượt xa hết thảy các vị Thanh Văn và
Độc Giác, làm phước điền to lớn cho trọn
khắp hết thảy Thanh Văn và Duyên Giác. Hết thảy
các vị thuộc hai thừa Thanh Văn và Duyên Giác đều
phải nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ vị
đại Bồ Tát này. V́ sao? Các Ngài lợi ích họ. Bồ
Tát Ma Ha Tát có thể tạo lợi ích cho hết thảy
Thanh Văn và Duyên Giác. Đấy là nói tổng quát. Tiếp
đó liền nói phân biệt những ǵ là Tài Thí Đại
Giáp Trụ Luân?
“Hà
đẳng vi thập?” (Những ǵ là mười?) Mang ư
nghĩa gạn hỏi, khơi gợi, nhằm giải
thích khái quát một phen. “Sở vị bố thí chủng chủng
ẩm thực, y phục, bảo sức, tượng, mă,
xa, thặng, cập dĩ tự thân thủ, túc, nhĩ, tỵ,
đầu, mục, tủy, năo, b́, cốt, huyết, nhục,
quốc thành, thê, tử, nô tỳ, điền trạch,
như thị nhất nhất hành bố thí thời, bất
cố thân mạng” (Tức là bố thí các thứ thức
ăn, y phục, vật trang sức báu, voi, ngựa, xe cộ,
cùng với tay, chân, tai, mũi, đầu, mắt, tủy,
năo, da, xương, máu, thịt của chính ḿnh, quốc
thành, vợ, con, nô tỳ, ruộng nương, nhà cửa.
Khi hành bố thí từng món như thế, chẳng đoái
hoài thân mạng): Tài Thí [của Bồ Tát] chẳng giống
như cách chúng ta thường bố thí. Do vậy, khi nêu tổng
quát trong phần trước, đă nói là “đại Bồ
Tát”. Ngài có thể vét cạn sức lực để bố
thí. Hành động bố thí ấy bao gồm bố thí các
thứ thức ăn, y phục, cho đến bảo bối,
voi, ngựa, xe cộ, đều là các thứ ngoài thân. C̣n
có bản thân của chính Ngài, cho đến lục căn
đều có thể bố thí. Tay, chân, tai, mũi, đầu,
mắt, tủy, năo, da thịt, huyết nhục,
quốc thành, vợ con, nô tỳ, ruộng nương, nhà cửa.
Khi hành bố thí mỗi món như thế, đều
chẳng màng đến sanh mạng của chính ḿnh. Bồ
Tát chẳng v́ cầu an lạc cho chính ḿnh, chỉ mong cho
chúng sanh ĺa khổ. Đấy là bổn ư của Bồ Tát.
Do vậy, trở thành Bồ Tát chính là chúng sanh có đại
đạo tâm, Ngài chuyên tạo lợi ích cho hết thảy hữu
t́nh, chưa hề nghĩ tới chính ḿnh. Cho thấy Ngă Chấp
cũng đă đoạn! Nếu Pháp Chấp tồn tại,
sẽ chẳng thể thí cùng tận được!
[Trong
phần sau], c̣n có Pháp Thí Thập Luân, phần này nói về
thế gian Thập Luân. C̣n có xuất thế gian Thập
Luân. Ngài chẳng v́ cầu sự vui sướng thế
gian hay xuất thế gian cho chính ḿnh mà phát tâm bố thí.
Nhân địa chân thật, cảm quả chân thật, có thể
thành tựu A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề.
Trong khi bố thí, Ngài chẳng v́ lợi ích thế gian, cho
đến lợi ích xuất thế gian, Ngài cũng chẳng
cầu. Tướng của phước điền ấy
là tướng ǵ? Chính là Không
tướng. Do vậy, trong kinh Kim Cang, đức Phật đă nói, khi Bồ Tát hành bố
thí, cúng dường, làm hết thảy các thiện pháp,
nhưng chẳng đạt được phước
đức. Ngài Tu Bồ Đề liền rất hoài nghi,
v́ sao khi Bồ Tát hành Bồ Tát đạo lại chẳng
có phước đức? Đức Phật nói Bồ Tát
chẳng chấp trước phước đức ấy.
Nếu Ngài chấp trước, sẽ chẳng phải là
Bồ Tát. Do đó, Ngài chỉ là chẳng chấp trước
đó thôi! Chẳng đoái hoài thân mạng, cho tới bố
thí như thế, chỉ nhằm mục đích lợi ích
chúng sanh. Tâm đại từ đại bi của Bồ
Tát chẳng thể nghĩ bàn, tu từ bi cũng chẳng
phải là đơn giản mà có thể thực hiện
được!
Vô
Trước Bồ Tát mong thân cận Từ Thị Bồ
Tát, tức là Di Lặc Bồ Tát. Ngài ở trong
núi tu từ tâm tam-muội suốt mười năm. Mong
thành Phật, mong dẹp trừ hết thảy đau khổ
cho chúng sanh, cho nên gọi là từ tâm tam-muội. Tu đă mười
năm, điều ǵ cũng chẳng đạt được,
cũng chẳng thấy chi hết, dường như vô
duyên, Ngài liền ngă ḷng. Ngài xuống núi, xuống núi
được nửa đường, gặp một bà cụ
đang cầm một cái chày sắt rất to đang mài thành kim. Ngài hỏi: “Bà cụ ơi! Cụ
đang làm ǵ vậy?” Bà cụ đáp: “Tôi mài kim”. “Cụ mài
kim để làm ǵ?” Bà cụ bảo: “Con gái tôi sắp
xuất giá, tôi mài kim để may quần áo cho nó làm đồ
cưới”. Vô Trước Bồ Tát cười bảo:
“Cụ mài thành kim, chỉ sợ con gái cụ chết rồi,
làm sao có thể mài thành kim cho được?” Bà cụ bảo
Ngài: “Hễ đổ công, tự nhiên sẽ
thành”. Ngài bỗng dưng khai ngộ, nói: “Ta chẳng có công
phu ấy, cho nên chẳng thể thấy Từ Thị Bồ
Tát!” Ngài không đi, trở lại núi tu mười năm nữa,
tổng cộng tu hai mươi năm, vẫn là chẳng
có ǵ hết, ngay cả h́nh ảnh cũng chẳng thấy.
Như chúng ta bái sám, niệm Phật, mong được giấc
mộng tốt đẹp, cầu rất nhiều, đều
thuộc về hữu tướng. Đấy chẳng phải
là Bồ Tát Ma Ha Tát phát tâm!
Do
vậy, Ngài xuống núi lần thứ hai. Lần này Ngài hạ
quyết tâm ra đi, cũng chẳng gặp cảnh giới
ǵ. Xuống chân núi, bên cạnh một con sông, thấy một
con chó. Con chó ấy da bụng bị một vết lở
loét, đang rên siết, rất đau khổ. Trước
khi xuất gia học đạo, ngài Vô Trước là thầy
thuốc, chuyên trị các chứng bệnh ủng thũng,
nay đối trước cảnh này. Ngài tu từ tâm hai
mươi năm, tính giúp nó chữa trị, nhưng con chó ấy
bẩn quá. Ngài nghĩ: “Nếu con chó này là người, ta
c̣n có thể chữa trị một phen”. Ngài nghĩ ngợi, bỏ đi một
đoạn, lại nghĩ: “Sai rồi! Ta tu từ tâm tam-muội
hai mươi năm. Tu từ tâm là b́nh đẳng đối
với hết thảy chúng sanh, v́ sao lại có tâm phân biệt?”
Ngài quay trở lại, đă đi rồi quay lại
như thế, lặp lại mấy lần, chẳng hạ
quyết tâm nổi. Cuối cùng, Ngài nghĩ: “Công phu hai
mươi năm ta chớ nên lăng phí, vẫn phải giúp nó
chữa trị”. Do vậy, bèn nhắm mắt hút mủ từ
vết thương ấy. Vết thương ấy ắt cần phải dùng miệng hút. Ngài hút lấy, trong tâm
nghĩ rất ghê tởm, chắc sẽ ói. Khi sắp ói, cảm
thấy hương vị không đúng! Vết lở loét
nưng mủ chẳng thể có hương vị thơm
ngon, hương vị thượng diệu thế này! Mở
bừng mắt ra nh́n, chó đă chẳng c̣n, Từ Thị Bồ
Tát xuất hiện. V́ thế, Ngài liền hỏi: “Thưa
Bồ Tát! Con tu hai mươi năm, hằng ngày lạy
Ngài, cầu Ngài, rốt cuộc Ngài vẫn thử thách con một
phen!” Từ Thị Bồ Tát đáp: “Ta cũng rất sốt ruột, mội ngày ta đều
chuẩn bị gia tŕ ông, nhưng ông chẳng thèm đoái
hoài tới ta”. Đó là v́ trong ấy có nghiệp chướng!
V́
thế, chúng ta biết là dùng đại từ đại
bi tâm để phát tâm bố thí, rất khó! Nếu chẳng
có trí huệ thù thắng, mầm mộng đại từ
đại bi tâm của chúng ta sẽ chẳng thể nẩy
sanh được! Không phải là tôi khinh rẻ quư vị,
mà đối với chính tôi cũng vậy! Cái tâm đại
từ bi của chúng ta hết sức hữu hạn! Cái tâm
trắc ẩn ai nấy đều có, nhưng trong tâm đại
bi của chúng ta có ái kiến. Nếu là thân hữu của
chính ḿnh, hoặc nếu là người mà ta tôn kính, ta
ưa thích, sẽ có tâm từ bi. Nếu gặp phải oán gia,
hoặc là một con chó như đă nói trên đây, chẳng khởi tâm từ
bi được, làm sao quư vị có thể bố thí, chẳng
màng đến thân mạng, những ǵ chính ḿnh vốn có
đều cúng dường cho người khác được ư? Chẳng chịu! Chúng ta có thể tự ḿnh trắc
nghiệm điều này, thậm chí có lúc đă bố thí rồi
mà lấy lại!
Cảnh
giới trong kinh Đại Tập Thập Luân càng lúc càng
sâu, dạy ta hành Bồ Tát đạo như thế nào? Khi
cúng dường chúng sanh, đều coi như đang cúng
dường Phật, đều đối đăi với
chúng sanh như Phật. V́ Bồ Tát muốn thành Bồ Tát đạo,
theo phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, nếu chẳng
có chúng sanh, chúng ta sẽ chẳng thể thành Bồ Tát
đạo! Ân chúng sanh khó báo, v́ chúng sanh khiến cho chúng ta
có thể thành Phật. V́ thế, đại Bồ Tát sau
khi phát tâm bố thí, mục đích và nguyện vọng của
Ngài là làm cho trọn khắp hết thảy hữu t́nh
đều có thể thành Phật, khiến cho hết thảy
hữu t́nh cũng có thể sanh khởi mầm mộng
đại từ đại bi. V́ duyên cớ như vậy,
nên mới phát tâm bố thí. Đồng thời, v́ muốn
dẫn phát trí phương tiện thiện xảo thù thắng
cho nên phát tâm bố
thí. Dẫn dắt ai? Dẫn hết thảy chúng sanh cũng phát khởi cái tâm lợi
ích chúng sanh, lần lượt dạy bảo nhau. Đồng
thời, nói theo bản thân Bồ Tát, dẫn phát
phương tiện trí lợi ích chúng sanh của chính ḿnh.
Phương pháp để lợi ích chúng sanh của các vị Bồ Tát chính là trí huệ
phương tiện của Ngài. Phải học
phương tiện trí ấy, chúng ta cũng mong giúp đỡ
người khác. Nếu phương pháp chẳng đúng,
không chỉ chẳng thể giúp đỡ được,
mà chính ḿnh c̣n chuốc lấy rất nhiều phiền năo.
Rất nhiều đạo hữu đă có kinh nghiệm này: Chẳng hạn như dựng chùa, ta mong làm chút công
đức, lập Phật Học Viện để tạo
công đức, nghe kẻ khác nói này nói nọ, cả một
đống bàn ra tán vào, [rốt cuộc] chùa nào cũng chẳng
dựng, Phật Học Viện nào cũng chẳng lập! Họ đă thoái tâm bèn
sanh hủy báng. Đối với chuyện này, tôi đă
nghe quá nhiều, v́ sao không dám nói? Chẳng kể lỗi Tam
Bảo! Cho đến đối với ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di, cũng đều chẳng dám nói. Đừng nên kể
lỗi của bốn chúng. Đấy là phạm giới
căn bản của Bồ Tát. Chẳng hợp tướng
phước điền, phước ấy gieo xuống, căn
bản là chẳng nẩy
mầm được, sẽ biến thành mầm cháy, hạt
lép. Trong phần nói về Thập Thiện Nghiệp Đạo
và Thập Ác Luân, đă nói hết sức rơ ràng. Như thế
th́ quư vị sẽ đọa địa ngục Vô Gián, cho
đến địa ngục Cận Vô Gián. Báng Tam Bảo
c̣n nặng hơn tội đọa địa ngục Vô
Gián nữa!
V́
sao tin Phật khá nhiều năm, vẫn chẳng có thành tựu chi cả, do nguyên nhân nào?
Chúng ta đă tạo ba nghiệp thân, miệng, ư quá nhiều!
Quư vị chẳng biết là đang tạo nghiệp. Nếu
đối chiếu một chút với kinh Đại Tập
Thập Luân, quư vị mới biết mười nghiệp
nơi thân, miệng, ư, Thập Thiện Nghiệp và Thập
Ác Nghiệp, Thập Ác Luân và Thập Thiện
Luân đặc biệt khó ngăn ngừa, bảo vệ. Chúng
ta ngỡ dường như rất dễ dàng, đó là cách
nghĩ kiêu mạn, chẳng phải là chân thật!
Do đó, Bồ Tát dùng trí phương tiện thiện xảo thù thắng
để hành bố thí, khiến cho hết thảy chúng
sanh đều có thể an lạc bố thí. Khi quư vị
hành bố thí, phải phát tâm, phải phát nguyện, nhất
định phải trọn đủ từ, bi, hỷ, xả,
tứ vô lượng tâm.
Đồng
thời, Bồ Tát dùng tài bố thí để trừ diệt
khổ năo của hết thảy chúng sanh, cho nên phát tâm bố
thí. Lúc chúng sanh đang trong khổ nạn, quư vị phát tâm bố
thí, ban tài thí cho họ, quư vị phải phát tâm thiện xảo
phương tiện, phát tâm dẫn họ nhập pháp,
hướng dẫn họ thành đạo, liễu thoát sanh tử.
Quư vị c̣n phải buông xuống hết thảy, đấy
bất quá là dùng tài vật để hướng dẫn họ
đó thôi. V́ thế, Phật giáo nói, khi độ chúng sanh,
trước hết dùng dục để lôi kéo, dần dần
dẫn nhập Phật đạo. Tức là trước hết
dùng các thứ họ ưa thích, hoặc thứ họ khuyết thiếu, để dẫn
dụ họ, dần dần có thể dẫn vào Phật
đạo, nhiếp thọ họ. Đồng thời,
trong khi Bồ Tát phát tâm bố thí, chớ nên so sánh với
người khác, chớ nên nói kẻ nọ bỏ ra nhiều
tiền hơn, ta cần phải vượt hơn hắn.
Hắn bỏ một vạn, ta phải bỏ ra hai vạn!
Tài lực của người ta như thế nào, tài lực
của quư vị ra sao, chẳng cần phải so sánh, chẳng
cần mong vượt hơn người khác. Quư vị
hành đạo của quư vị là được rồi,
nghĩa là đừng có cái tâm phải thắng
kẻ khác, chẳng có tâm thô lỗ, tục tằn. “Tâm
thô lỗ, tục tằn” có nghĩa là tâm chẳng nhu
ḥa, chẳng thiện thuận, chẳng điều nhu.
Trong
khi hành bố thí, của cải tuy to tát, nhưng xen tạp
các thứ tâm chẳng tinh sạch, chẳng khiết tịnh.
“Tài đại khí thô”[1]
chẳng phải là cái tâm cúng dường. Do vậy, trong
kinh Địa Tạng, khi nói tới phẩm thứ mười,
Địa Tạng Bồ Tát đă thỉnh đức Phật
so sánh công đức, dạy về công đức bố
thí của chúng sanh: V́ sao có người
hưởng thụ một đời, có người hưởng
thụ mười đời, có người hưởng
thụ trăm ngàn ức đời chẳng hết? Tài vật
như nhau, chẳng tăng nhiều hơn, nguyên nhân [khiến
cho người bố thí hưởng phước khác
nhau] là v́ đâu? Cái tâm bất đồng!
Ắt phải dùng cái tâm Bồ Đề, tối thiểu
là không có cái tâm muốn thắng người khác, không có thứ
tâm thô ác ấy! Lại c̣n có tâm ghen tỵ. Rất nhiều kẻ có cái tâm
ghen tỵ ấy, c̣n có những kẻ tâm bủn xỉn.
Tuy bố thí, sau đó lại sanh ḷng hối hận, luyến tiếc, keo kiệt,
tham lam, ghen tỵ, lại c̣n tiếc rẻ! Hành bố thí
kiểu đó, bất luận vật được thí dù nhiều
hay ít, “hạ chí nhất thực” (thậm chí một bữa
ăn), cho đến bố thí bảy báu đầy cả
một tam thiên đại thiên thế giới vào buổi
sáng, buổi trưa, buổi chiều, ba thời
đều hành bố thí như thế, vẫn chẳng đạt
được phước đức to lớn. Thậm
chí, c̣n có trường hợp ngay cả phước đức
cũng chẳng có, đặc biệt là đối với
Tam Bảo, mà đối với chúng sanh cũng là như thế.
Bất luận bố thí nhiều hay ít, chớ nên cầu
chính ḿnh hưởng quả báo, thí mà chẳng mong mỏi
được báo đáp. Nho gia Trung Hoa cũng nghĩ
như thế (“thi ân bất cầu báo”)! Khi bố thí
mà hy vọng được báo đền, tức là quư vị có ư đồ, đấy chẳng phải là bố
thí. Thậm chí tuy bố thí rất ít, vẫn hy vọng người
khác báo đáp, vậy th́ chẳng c̣n là bố thí nữa! [Cứ nghĩ] “ta làm chuyện tốt”,
vậy là mục đích của quư vị chẳng thuần!
Nếu
phát tâm bố thí, trọn chẳng mong cầu quả Thanh Văn
Thừa mà phát tâm bố thí, đừng mong chứng đắc
quả A La Hán. Phát tâm như vậy quá cục hạn, nhỏ
bé. Chúng ta mong liễu sanh tử, đoạn Tập nhân thế gian; sau đó, tiêu diệt khổ quả
thế gian, dùng cái nhân tu Đạo để chứng đắc
Thiên Không Niết Bàn, chẳng phải là Niết Bàn chân không
rốt ráo. Kiểu đó là cầu quả Thanh Văn. Mong
liễu sanh tử, mong chứng đắc Đại Bát Niết
Bàn, quư vị phát tâm cầu Phật quả, phát tâm cầu chứng đắc quả Bồ
Đề. Phát cái tâm bố thí ấy chính là Bồ Đề
tâm. Do vậy nói: Chẳng mong
cầu quả vị Độc Giác Thừa mà phát tâm bố
thí. Không chỉ chẳng mong cầu quả vị Thanh
Văn Thừa, mà quả vị Độc Giác Thừa
cũng chẳng mong cầu. Hợp
cả hai đằng lại, tức là [chẳng mong cầu]
quả vị Nhị Thừa. Đối với vật phẩm hoặc
vật chất để thí, dù nhiều hay ít, “hạ chí
nhất thực, đản vị hy cầu Nhất Thiết
Chủng Trí” (thậm chí một bữa ăn, chỉ v́
mong cầu Nhất Thiết Chủng Trí), tức là cầu
thành Phật. Sau đó, đối với thiện sự bất
luận lớn hay nhỏ, niệm nào cũng đều
mong cầu thành tựu Nhất Thiết Chủng Trí, mong cầu
thành Phật quả. Phát tâm như vậy là đúng!
(Kinh) Thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha
Tát thành tựu như thị thập chủng Tài Thí Đại Giáp
Trụ Luân, tùng sơ phát
tâm, nhất thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn,
siêu thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền. Nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác Thừa đẳng giai ưng cúng
dường, thừa sự, thủ hộ. Sở dĩ giả
hà? Thanh Văn, Độc Giác phát tâm bố thí, vô đại
từ bi, đản vị kỷ thân xả bần cùng cố,
đản vị kỷ thân thoát chúng khổ cố, đản
vị kỷ thân đắc an lạc cố, đản vị
kỷ thân chứng Niết Bàn cố, bất năng phổ
vị nhất thiết hữu t́nh nhi hành bố thí. Bồ
Tát Ma Ha Tát phát tâm bố thí hữu đại từ bi, phổ
vị hữu t́nh xả bần cùng cố, phổ vị hữu
t́nh thoát chúng khổ cố, phổ vị hữu t́nh đắc
an lạc cố, phổ vị hữu t́nh chứng Niết
Bàn cố, bất vị tự thân nhi hành bố thí. Dĩ
thị nghĩa cố, siêu thắng nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác, phổ vị nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác tác đại phước điền. Nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác Thừa
đẳng, giai ưng cúng dường, thừa sự, thủ
hộ. Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành Tài Thí Ba La Mật Đa thời,
ư diệu ngũ dục, tâm vô nhiễm trước, tự
sở nhiếp thọ nhất thiết lạc cụ, phổ
năng thí dữ nhất thiết hữu t́nh. Y phổ nhiếp
thọ chư hữu t́nh tâm, y tự nhẫn thọ nhất
thiết khổ tâm, y diệt nhất thiết hữu t́nh
khổ tâm, y dữ nhất thiết hữu t́nh lạc tâm,
y dữ hữu t́nh đại Niết Bàn tâm, nhi hành bố
thí. Dĩ thị nghĩa cố, siêu thắng nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác, phổ vị nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác, tác đại phước
điền. Nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác
đẳng, giai ưng cúng dường, thừa sự, thủ
hộ. Thiện nam tử! Nhược ư ngũ dục,
tâm vô nhiễm trước, cụ đại từ bi nhi
hành bố thí, thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă, diệc danh nhất
thiết Thanh Văn, Độc Giác chân thật phước
điền. Nhược bất trừ đoạn thế
gian ngũ dục, vô đại từ bi nhi hành bố thí,
tuy xả vô lượng vô biên thí vật, nhi do bất đắc
danh vi Bồ Tát Ma Ha Tát dă, diệc phi nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác chân thật phước điền.
Thử thí bất mông thánh ấn sở ấn. Thị cố,
ưng đoạn thế gian ngũ dục, cụ đại
từ bi nhi hành bố thí. Nhược bất đoạn
ư thế gian ngũ dục, vô đại từ bi, nhi
hành bố thí, bất danh Bồ Tát, phi chân phước điền.
Thiện nam tử! Nhiễm trước ngũ dục, hành bố
thí luân, thượng bất năng diệt tự thân sở
hữu thiểu phần khổ năo, huống năng trừ
diệt nhất thiết hữu t́nh vô lượng khổ
năo!
(經)善男子,菩薩摩訶薩,成就如是十種財施大甲冑輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。所以者何?聲聞、獨覺發心佈施,無大慈悲,但為己身舍貧窮故,但為己身脫眾苦故,但為己身得安樂故,但為己身證涅槃故,不能普為一切有情而行佈施。菩薩摩訶薩發心佈施,有大慈悲,普為有情舍貧窮故,普為有情脫眾苦故,普為有情得安樂故,普為有情證涅槃故,不為自身而行佈施。以是義故,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。菩薩摩訶薩,修行財施波羅蜜多時,於妙五欲心無染著,自所攝受一切樂具,普能施與一切有情;依普攝受諸有情心,依自忍受一切苦心,依滅一切有情苦心,依與一切有情樂心,依與有情大涅槃心而行佈施。以是義故,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。善男子,若於五欲心無染著,具大慈悲,而行佈施,是名菩薩摩訶薩也!亦名一切聲聞、獨覺真實福田。若不除斷世間五欲,無大慈悲,而行佈施,雖舍無量無邊施物,而猶不得名為菩薩摩訶薩也!亦非一切聲聞、獨覺真實福田,此施不蒙聖印所印。是故應斷世間五欲,具大慈悲,而行佈施。若不斷於世間五欲,無大慈悲,而行佈施,不名菩薩,非真福田。善男子,染著五欲行佈施輪,尚不能滅自身所有少分苦惱,況能除滅一切有情無量苦惱?
(Kinh:
Này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu mười
thứ Tài Thí Đại Giáp Trụ Luân như thế, từ
sơ phát tâm, hết thảy ngũ dục đều có thể
đoạn trừ, vượt xa hết thảy Thanh
Văn, Độc Giác, làm ruộng phước lớn cho
khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác. Hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác Thừa đều nên
cúng dường, thừa sự, thủ hộ. V́ cớ sao
vậy? Thanh Văn, Độc Giác phát tâm bố thí chẳng
có đại từ bi, chỉ v́ chính ḿnh xả bần cùng, chỉ
v́ chính ḿnh thoát các khổ, chỉ v́ chính ḿnh được
an vui, chỉ v́ chính ḿnh chứng Niết Bàn, chẳng thể
v́ khắp hết thảy hữu t́nh mà hành bố thí. Bồ
Tát Ma Ha Tát phát tâm bố thí có đại
từ bi, v́ xả trừ bần cùng cho trọn khắp các
hữu t́nh, v́ khiến cho trọn khắp hữu t́nh thoát
các khổ, v́ khiến cho trọn khắp các hữu t́nh
được an lạc, v́ khiến cho trọn
khắp các hữu t́nh chứng Niết Bàn, chẳng v́ chính
ḿnh mà hành bố thí. Do bởi nghĩa này,
vượt xa hết thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́
khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng
phước lớn. Hết thảy hàng Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đều nên cúng dường, thừa sự,
thủ hộ. Khi Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành Tài Thí Ba La Mật
Đa, đối với các ngũ dục tốt đẹp,
tâm chẳng nhiễm đắm, có thể thí trọn khắp
hết thảy các vật dụng vui thích thuộc về
chính ḿnh cho hết thảy hữu t́nh. Nương vào cái tâm
nhiếp thọ trọn khắp các hữu t́nh, nương
theo cái tâm tự chịu đựng hết thảy các khổ,
nương vào cái tâm diệt khổ cho hết thảy hữu
t́nh, nương vào cái tâm ban vui cho hết thảy hữu
t́nh, nương vào cái tâm ban Đại Niết Bàn cho hữu
t́nh mà hành bố thí. Do bởi nghĩa này, hơn hẳn hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́ khắp hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng phước rộng
lớn. Hết thảy Thanh Văn, Độc Giác đều
nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ. Này thiện
nam tử! Nếu đối với ngũ dục, tâm chẳng
nhiễm đắm, trọn đủ đại từ bi
mà hành bố thí, th́ gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, cũng gọi
là ruộng phước chân thật cho hết thảy Thanh
Văn, Độc Giác. Nếu chẳng đoạn trừ
ngũ dục thế gian, chẳng có ḷng đại từ
bi mà hành bố thí, tuy xả vô lượng vô biên vật
để thí, vẫn chẳng được gọi là Bồ
Tát Ma Ha Tát, cũng chẳng phải là ruộng phước
chân thật của Thanh Văn, Độc Giác. Sự bố
thí ấy chẳng được thánh ấn in vào. V́ thế,
hăy nên đoạn ngũ dục thế gian, trọn đủ
đại từ bi mà hành bố thí. Nếu chẳng đoạn
ngũ dục thế gian, chẳng có đại từ bi mà
hành bố thí, chẳng gọi là Bồ Tát, chẳng phải
là ruộng phước chân thật. Này thiện nam tử! Đắm nhiễm ngũ dục,
hành bố thí luân c̣n chẳng thể diệt chút phần khổ
năo vốn có của chính ḿnh, huống hồ có thể trừ
diệt vô lượng khổ năo của hết thảy hữu
t́nh ư?)
Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu mười loại Tài Thí Đại
Giáp Trụ Luân như thế, từ lúc mới phát tâm, “nhất
thiết ngũ dục giai năng đoạn trừ” (hết
thảy ngũ dục đều có thể đoạn trừ),
vừa phát tâm liền có thể đoạn trừ. Thanh
Văn, Duyên Giác Thừa chẳng làm được! Điều này cho thấy hàng
Bồ Tát vượt xa hết thảy Thanh Văn, Duyên
Giác, cho nên các Ngài có thể làm ruộng phước lớn
cho Thanh Văn, Độc Giác Thừa. Đối với bậc
thiện tri thức như vậy, hết thảy Thanh
Văn, Độc Giác Thừa đều phải nên cúng
dường, thừa sự, thủ hộ. V́ cớ sao vậy?
Thanh Văn, Độc Giác phát tâm bố thí, nhưng chẳng
có ḷng đại từ bi, chẳng có tâm từ bi, v́ họ
chẳng phát Bồ Đề tâm. Từ bi thuộc về Bồ
Đề tâm. Đại từ bi được nói ở
đây là đại từ bi như thế nào? Chúng ta giúp
đỡ, cứu tế người khác, phải giúp triệt
để! Cứu một người mà chỉ cứu
người ấy thoát khỏi tử nạn th́ vẫn
chưa tính là triệt để. Phải dùng lời Phật
dạy khiến cho người ấy thành Phật th́ mới
là triệt để.
Có
tâm đại từ bi, độ hết thảy chúng sanh, đều
mong mỏi họ thành Phật, như thế là có ḷng đại
từ bi. Chỉ v́ xả sự bần cùng của chính ḿnh,
v́ sao ta chịu khổ? Do trong quá khứ ta chẳng bố
thí. Do bố thí, bèn đạt được phước
báo. V́ chẳng gieo phước ấy, cho nên nghèo cùng. Phàm v́
chính ḿnh chứng Niết Bàn, liễu sanh tử, mong tự
ḿnh vượt thoát tam giới, trông thấy đời ác ngũ
trược rất khổ, sanh ḷng chán ĺa; đấy đều
là sự phát tâm của hàng Nhị Thừa. Bồ Tát phát Bồ
Đề tâm th́ cái tâm thứ nhất là tâm chán ĺa, tức
là tâm xuất ly. Bồ Đề Đạo Thứ Đệ
Luận có nói về tâm xuất ly, nhưng [Bồ Tát] đă
phát tâm xuất ly, chán ĺa thế gian, lại chẳng rời
ĺa thế gian, v́ sao? V́ hết
thảy chúng sanh c̣n chưa đắc độ. Bồ Tát
muốn làm cho hết thảy
chúng sanh đều hiểu rơ cái tâm xuất ly. Phát tâm
như nhau, tŕnh độ của hai người (Bồ Tát và Nhị Thừa) khác nhau! Bồ
Tát v́ hết thảy chúng sanh được yên vui, chẳng
cầu an lạc cho chính ḿnh, mong mỏi hết thảy
chúng sanh đều có thể trọn đủ tâm xuất
ly, không chỉ v́ riêng ḿnh có tâm xuất ly. Do chính ḿnh đă
hiểu rơ, biết hết thảy thế gian là khổ, thế
giới là Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă, nhưng Ngài
biết chẳng thể buông xả sự nghiệp độ
chúng sanh, phải phát đại Bồ Đề tâm. Bồ
Tát Ma Ha Tát phát tâm bố thí có ḷng đại từ bi, chẳng
giống Thanh Văn. Thanh Văn chẳng thể v́ trọn
khắp hết thảy hữu t́nh mà hành bố thí. Khi Bồ
Tát phát tâm bố thí, Ngài có tâm đại từ bi, không chỉ
cứu tế cái thân người khác,
mà c̣n muốn cứu tế cái tâm của họ, khiến
cho họ thành Phật, khiến cho họ
phát Bồ Đề tâm. Không chỉ v́ khiến
cho hết thảy hữu t́nh thoát ĺa nghèo cùng, khốn khổ
mà thôi, Ngài nguyện làm cho trọn khắp hết thảy hữu
t́nh thoát ĺa hết thảy các khổ!
“Chúng
khổ” (các nỗi khổ) bao gồm Phần Đoạn
sanh tử và Biến Dịch sanh tử. Không phải chỉ
v́ chứng Hữu Dư Niết Bàn, mà c̣n là chứng đắc
Cứu Cánh Vô Dư Niết Bàn, v́ khiến cho trọn khắp
hết thảy chúng sanh được yên vui. Sự an lạc
ấy chính là an lạc rốt ráo. Như khi chúng ta bái sám,
đă niệm bài kệ: “Phổ vị chúng sanh đắc
an lạc, đản nguyện chúng sanh viễn ly khổ
năo” (V́ khắp chúng sanh được an lạc, chỉ
nguyện chúng sanh xa ĺa khổ năo). Nhưng quư vị phải
chú ư cái nhân: Sự an lạc ấy do đâu mà có? Ắt cần phải
phát tâm, phải chú trọng cái nhân khiến cho hết thảy
được an lạc. Có thể xả
cái khổ bằng cách nào? Khổ do đâu mà có? Phải chú
trọng cái nhân tạo ra khổ. Đấy mới là đại
từ bi. V́ lợi ích hữu t́nh như thế, khiến
cho hữu t́nh có thể chứng đắc cứu cánh Niết
Bàn. Họ hành bố thí, chẳng phải v́ chính ḿnh bèn hành
bố thí, mà v́ hết thảy chúng sanh hành bố thí. Như
thế là lại
đem “công đức
do v́ hết thảy chúng sanh mà hành bố thí” để bố thí cho chúng sanh, tức
là bố thí và cúng dường công
đức [mà chính ḿnh] đă đạt
được cho chúng sanh. Do vậy, chúng ta làm đôi chút sự
nghiệp, đều phải hồi hướng pháp giới
hữu t́nh. V́ có như thế
th́ công đức ấy mới vĩnh viễn chẳng
đoạn, v́ pháp giới trọn khắp, pháp giới
vĩnh viễn chẳng đoạn diệt.
“Dĩ
thị nghĩa cố, siêu thắng nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác” (do bởi nghĩa ấy, vượt
xa hết thảy Thanh Văn, Độc Giác): Do vậy mà vượt hẳn hết
thảy hữu t́nh. Bồ Tát Ma Ha Tát là “nhất
thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại phước
điền” (làm ruộng phước lớn cho hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác), có tư cách làm đại
phước điền cho họ. V́ thế, hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đều phải nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ.
Đồng thời, khi Bồ Tát Ma Ha Tát tu hành Tài Thí Ba La Mật, sẽ có thể đạt đến bờ kia. Ba La
Mật (Pāramitā) có nghĩa là “đáo bỉ ngạn” (到彼岸,
đạt đến bờ kia). Lăo pháp
sư Năng Hải giải thích “Yết đế, yết
đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế,
Bồ Đề tát bà ha” (Gate, Gate, Pāragate,
Pārasaṃgate, Bodhi Svāhā) có nghĩa
là “thành Phật, thành Phật, chúng sanh đều thành Phật”.
Nhưng trong quá khứ, có đại đức giải thích
là “đến bờ kia, đến bờ
kia, hết thảy chúng sanh đều đến bờ kia”. Cách giải
thích tuy bất đồng, nhưng hàm nghĩa như nhau!
Khi Bồ Tát Ma Ha Tát hành Tài Thí, đối với ngũ dục
vi diệu, tâm Ngài đều chẳng nhiễm đắm,
ngũ dục vi diệu bèn đặc biệt thù thắng.
Như ngũ dục vi diệu trên cơi trời, cho đến
ngũ dục vi diệu đối với sở hành và sở
chứng của Bồ Tát đều là chẳng thể
nghĩ bàn. Nơi tâm lư, những thứ như âm nhạc
cũng là ngũ dục vi diệu. Như Tứ Ư tiếp
xúc, nghe thấy toàn là hảo sắc. Sắc, thanh,
hương, vị, xúc, năm thứ cảnh giới ấy, cho đến hết
thảy công cụ để hưởng thụ ngũ lạc
đều có thể thí cho trọn
khắp hết thảy hữu t́nh.
“Dĩ
thị nghĩa cố, siêu thắng nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác” (Do bởi nghĩa ấy, vượt
xa hết thảy Thanh Văn, Độc Giác), cho nên “phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền” (làm ruộng phước lớn
cho trọn khắp hết thảy Thanh Văn và Độc
Giác). Lại nói ở một mức cao hơn, cái
nhân để làm ruộng phước lớn cho Thanh
Văn, Duyên Giác là ǵ? Nói tới cái nhân ấy, th́ hoặc là
khi Bồ Tát thí cho hết thảy hữu t́nh, không chỉ
là đối với thô ngũ dục, Ngài chẳng chấp
trước; mà thậm chí đối với diệu
ngũ dục, Ngài cũng chẳng đắm nhiễm. Tự
Ngài có thể chịu đựng hết thảy các đau
khổ, cũng chẳng khiến cho hết thảy chúng
sanh thống khổ. Nói cách khác, Ngài trọn chẳng giá họa
cho kẻ khác, mà mong cho chúng sanh ĺa khổ, nguyện chịu
khổ thay cho chúng sanh. V́ có thể chịu đựng hết
thảy khổ, cho nên cũng có thể
có tiêu diệt nỗi khổ của hết thảy hữu
t́nh chúng sanh, khiến cho chúng sanh chẳng chịu khổ,
tiêu diệt cái nhân gây ra nỗi khổ cho chúng sanh. V́ sao họ
phải chịu khổ? V́ họ đă tích tập. “Tích tập”
chính là Tập trong Khổ, Tập, Diệt, Đạo, tức
nhân quả thế gian do họ đă tích tập. Tích tập
như thế nào? Miệng nói ra, thân tự làm, trong tâm suy nghĩ,
tích tập như thế đó. Nghiệp bất thiện
tích tập, đương nhiên là quư vị phải hứng
chịu khổ quả! Tâm vui thích đối với hữu
t́nh chính là tâm vui sướng, tâm tin ưa, cái tâm vui vẻ ấy
sanh khởi bằng cách nào? Nương theo pháp do đức
Phật đă chỉ dạy,
nương theo lời Phật chỉ dạy để
phát tâm. Phát tâm cũng là lợi ích hết thảy hữu
t́nh, khiến cho hết thảy chúng sanh đều hiểu
bất sanh, bất diệt, chẳng khổ, chẳng vui,
chẳng tự, chẳng tha. Đấy là đại Niết
Bàn tâm, là Bát Nhă trí tâm. Loại nghĩa lư ấy, “dĩ thị
nghĩa cố” (do v́ nghĩa ấy), vượt xa hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác, có thể có sức mạnh
làm ruộng phước lớn cho Thanh Văn và Độc
Giác.
“Nhất
thiết Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng,
giai ưng cúng dường, thừa sự, thủ hộ. Thiện
nam tử! Nhược ư ngũ dục tâm vô nhiễm
trước, cụ đại từ bi nhi hành bố thí, thị
danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă” (Hết thảy Thanh Văn,
Độc Giác Thừa đều nên cúng dường, thừa
sự, thủ hộ. Này thiện nam tử! Nếu tâm chẳng
đắm nhiễm đối với ngũ dục, trọn
đại từ bi, hành bố thí, th́ gọi là Bồ Tát Ma
Ha Tát). Đấy mới là Bồ Tát thật sự. Đối
với sắc, thanh, hương, vị, xúc, hoặc chúng ta
nói thô thiển là tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ
nghê, trong tâm chẳng nhiễm trước các thứ ấy,
chẳng ham thích, lại c̣n chẳng chấp trước.
Trọn đủ cái tâm đại từ bi như thế
để bố thí, đấy mới là Bồ Tát Ha Ma Ha
Tát chân chánh, nhưng loại Bồ Tát này thông thường
là đă dự lên thánh địa, [tối thiểu là]
đă chứng Hoan Hỷ Địa (Sơ Địa).
Nhưng
theo kinh Hoa Nghiêm, hễ đạt tới Sơ Trụ Bồ
Tát, vừa phát Bồ Đề tâm, là đă có thể thành
chánh quả. Phải viên măn tâm Thập Tín, mới dự vào
Sơ Trụ. Sơ Trụ được gọi là Phát Tâm
Trụ. Ngài đă phát Bồ Đề tâm, bèn trụ trong Bồ
Đề tâm, hết thảy việc làm đều là sự
nghiệp Bồ Đề. Nhưng ở đây nói là Bồ
Tát Ma Ha Tát, tức là bậc đại Bồ Tát, là
Đăng Địa Bồ Tát, th́ mới có thể làm ruộng
phước chân thật cho Thanh Văn và Độc Giác. Giả
sử chẳng thể đoạn trừ ngũ dục thế
gian, chẳng có ḷng đại từ bi mà hành bố thí, tuy
đă xả vô lượng vô biên tài vật để bố
thí, cúng dường đủ loại các thứ, vẫn chẳng
thể gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Chẳng thể gọi
là Bồ Tát Ma Ha Tát là v́ người
đó chẳng có tâm đại Bồ Tát, chẳng có tâm từ
bi, mà cũng chẳng thể làm ruộng phước chân thật
cho Thanh Văn và Duyên Giác.
Thêm
hai chữ “chân thật” vào đây là có dụng ư! Trong
quyển Hạ của
kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, đă nói về “Chỉ
Quán song vận”, đạt tới cảnh giới Nhất
Thật. Tướng phước điền trong cảnh
giới Nhất Thật là “tướng vô tướng”.
Bồ Tát dùng Bồ Đề tâm để bố thí là
tướng ǵ vậy? Tướng vô tướng! Khi bố
thí là Diệu Hữu, Diệu Hữu chẳng phải là hữu,
chẳng chấp trước. Diệu Hữu phi hữu
là Chân Không. Đó gọi là “Chỉ Quán song vận”.
Quán Huệ trọn đủ, th́ mới có thể đạt
đến phước điền chân thật. “Thử
thí bất mông thánh ấn sở ấn” (Sự bố thí
ấy chẳng được thánh ấn in vào). “Ấn”
ở đây là nói đến Thật Tướng ấn của
chư Phật. Do vậy, phải nên đoạn
ngũ dục thế gian, trọn đủ đại từ
bi để hành bố thí. Nếu chẳng đoạn
ngũ dục thế gian, chẳng có đại từ bi mà
hành bố thí, chẳng gọi là Bồ Tát. Không chỉ chẳng
phải là Ma Ha Tát, mà Bồ Tát cũng chưa đạt mức!
Hai chữ Bồ Tát chính là “giác ngộ hữu t́nh”, là
chúng sanh có cái tâm mong thành tựu đại đạo. Chính
người đó chẳng giác ngộ, làm sao có cái tâm giác ngộ
chúng sanh cho được? Bồ Tát nói trọn đủ
là Bồ Đề Tát Đỏa (Boddhisattva). Chữ Bồ
là do lược đi chữ Đề, Tát là lược bớt
chữ Đỏa, nói trọn đủ là Bồ Đề
Tát Đỏa. V́ thế, người như vậy không chỉ
chẳng gọi là Bồ Tát, mà cũng chẳng phải là
phước điền thật sự. Đấy là nói
theo thâm nghĩa, trọn chẳng phải là nói “đă bố
thí, sẽ chẳng có phước điền”. Đừng
nên lư giải sai lầm!
Như
chúng ta chẳng phải là đại Bồ Tát, chúng ta
đă bố thí, cũng chẳng có phước điền.
Đó là nói quư vị chẳng
đạt được phước điền như Bồ
Tát Ma Ha Tát. Bất quá, quư vị vẫn có phước
điền, bố thí lẽ nào chẳng có phước
điền? Bố thí có thể cứu tế bần cùng,
đời sau quư vị giàu có. Nhưng khi quư vị tham
đắm sự giàu có, quư vị luôn tạo nghiệp, tâm
quư vị chẳng thanh tịnh, quư vị đến nhân
gian, có tiền mà vẫn chẳng tạo nghiệp ư? Quá
khứ tích phước, đời này
có địa vị,
có tiền, quư vị tạo ác nghiệp càng lớn
hơn nữa. Chiên-đà-la vương,
Chiên-đà-la Bà-la-môn, Chiên-đà-la tể quan [như đă
nói] trong phần trước mang ư nghĩa này. V́ thế, chớ
nên đắm nhiễm ngũ dục. “Thượng bất
năng diệt tự thân sở hữu thiểu phần khổ
năo” (c̣n chẳng thể diệt chút phần khổ năo vốn
có nơi bản thân). Nếu chẳng diệt ngũ dục,
do tham đắm ngũ dục mà hành bố thí, đó là
có mục đích. Bản thân quư vị hưởng thụ
ngũ dục, ngay cả một tí khổ năo của chính
ḿnh c̣n chẳng tránh được, làm sao có thể diệt
trừ vô lượng khổ năo cho hết thảy hữu
t́nh? Đấy là chuyện chẳng thể nào xảy ra
được!
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn trùng hiển
thử nghĩa, nhi thuyết tụng viết: - Thành tựu
tài thí luân, trí giả tịnh ư nhạo, tận ly ư
ngũ dục, an lạc chư hữu t́nh. Vị lạc
chư hữu t́nh, bất cầu tự quả báo. Tuy hành
thiểu phần thí, nhi danh chân phước điền. Tuy
phục thí chúng đa, nhi y chỉ ngũ dục, phi thánh ấn
sở ấn, trụ Bất Định Tụ trung. Tuy hành
thiểu phần thí, nhi bất y ngũ dục, danh Thanh
Văn, Độc Giác, chân thật lương phước
điền. Cố ưng xả ngũ dục, thường
hành thanh tịnh thí, an lạc hữu t́nh chúng, thành chân thật
phước điền.
(經)爾時,世尊重顯此義,而說頌曰:成就財施輪,智者淨意樂,盡離於五欲,安樂諸有情。為樂諸有情,不求自果報,雖行少分施,而名真福田。雖復施眾多,而依止五欲,非聖印所印,住不定聚中。雖行少分施,而不依五欲,名聲聞獨覺,真實良福田。故應舍五欲,常行清淨施,安樂有情眾,成真實福田。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hiển thị lại
nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng: - Thành tựu tài
thí luân, bậc trí tịnh ư thích, ĺa hết khỏi ngũ dục,
an lạc các hữu t́nh. V́ lợi lạc hữu t́nh, chẳng
cầu hưởng quả báo. Tuy bố thí chút phần, gọi
là chân phước điền. Tuy lại thí rất nhiều,
nhưng nương theo ngũ dục, thánh ấn chẳng
in vào, trụ trong Bất Định Tụ. Tuy bố thí
chút phần, chẳng nương vào ngũ dục, là ruộng
phước chân thật, của Thanh Văn, Độc
Giác. Hăy nên xả ngũ dục, thường bố thí thanh
tịnh, an lạc các hữu t́nh, thành phước điền
chân thật).
Nếu
thành tựu môn Bồ Tát Bố Thí Giáp Trụ Luân này, người có
trí huệ sẽ có thể thanh tịnh. Sự tin ưa và ư
niệm suy nghĩ của người ấy đều có
thể ĺa khỏi ngũ dục, chẳng tham đắm
ngũ dục, có thể an lạc hết thảy hữu t́nh chúng sanh. V́ muốn an lạc hết
thảy hữu t́nh, cho nên người ấy chẳng cầu
quả báo cho chính ḿnh. Cái tâm bố thí là thanh tịnh th́ vật
dùng để bố thí cũng thanh tịnh. Do chúng ta xen tạp
rất nhiều thứ ô uế, tuy bố thí, cúng dường,
mà tâm chẳng thanh tịnh, người nhận bố thí sẽ được lợi ích rất ít, cũng chẳng
thanh tịnh. Họ nhận vật bố thí từ quư vị,
có thể là vẫn tạo nghiệp. Loại phản ứng
dây chuyền này có mối quan hệ lợi hại to lớn
dường ấy. Do vậy, khi bố thí, trong tâm nhất
định phải thanh tịnh, chẳng cầu quả
báo cho chính ḿnh. Dẫu bố thí chút phần, mà được
gọi là phước điền chân thật. Khi Bồ Tát
hành bố thí, Ngài sẽ chẳng cầu lợi ích cho chính
ḿnh chút nào, tất cả đều bố thí cho chúng sanh,
th́ mới có thể làm phước điền thật sự
cho chúng sanh.
“Tuy
phục thí chúng đa, nhi y chỉ ngũ dục, phi thánh ấn
sở ấn, trụ Bất Định Tụ trung” (tuy
bố thí rất nhiều, nhưng nương theo ngũ dục,
thánh ấn chẳng in vào, trụ trong Bất Định Tụ):
Tuy bố thí rất nhiều thứ, rất nhiều vật
chất, thậm chí pháp sư c̣n thuyết pháp cho người
khác, nhưng nếu tâm của chính ḿnh chẳng thanh tịnh,
quư vị thuyết pháp có ô nhiễm, người nghe
cũng chẳng thể thanh tịnh được!
Ngoài
ra, khi bố thí, quư vị phải quán cơ (觀機, xem xét căn
cơ). Trong phần trước, chúng ta đă nói: Chẳng
phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng
phạm sai lầm đối với người thuộc
căn cơ Thanh Văn Thừa. Chẳng sai lầm
đối với căn cơ, tức là căn
cơ và pháp phải ăn khớp. Nếu căn cơ không
đúng với pháp, pháp chẳng có tác dụng. Pháp chẳng
đúng với căn cơ, th́ pháp ấy
cũng chẳng có tác dụng. Nếu y chỉ ngũ dục
để hành bố thí, đức Phật chẳng ấn
khả chuyện ấy. Quư vị sẽ thuộc
vào đâu? Phước đức bố thí của quư vị
rốt cuộc sẽ thành thánh quả, hay vẫn thành phàm
phu? Chẳng nhất định. V́ chẳng biết ư nguyện
bố thí như thế nào? “Bất Định Tụ”
tức là chẳng biết quư vị là Đại hay Tiểu,
có hàm nghĩa như thế đó. Thí nhiều mà y chỉ
ngũ dục th́ không được! Nếu thí ít, “tuy
hành thiểu phần thí, nhi bất y ngũ dục” (tuy bố
thí chút phần, nhưng chẳng nương theo ngũ dục): Tuy người ấy xả
rất ít vật chất, nhưng chẳng thuận theo
ngũ dục, chẳng mong cầu ngũ dục. Đấy
mới là thành tựu phước điền chân thật
cho Thanh Văn và Độc Giác.
“Cố
ưng xả ngũ dục, thường hành thanh tịnh
thí, an lạc hữu t́nh chúng, thành chân thật phước
điền” (Hăy nên xả ngũ dục, thường bố
thí thanh tịnh, an lạc các hữu t́nh, thành phước
điền chân thật): Quư vị dâng tặng bố thí,
cúng dường chúng sanh, trở thành phước điền
chân thật. Chúng sanh được quư vị bố thí,
được quư vị cúng dường, họ cũng có
thể dùng các tài vật của quư vị, trong tâm cũng thanh
tịnh, cũng có thể quy y, kính tín Tam Bảo.
(Kinh) Phục thứ, thiện nam tử! Bồ
Tát Ma Ha Tát hữu thập Pháp Thí Đại Giáp Trụ Luân. Nhược Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân, tùng sơ phát tâm, nhất
thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn, tốc
năng hoạch đắc Nhật Đăng Quang Định,
siêu thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền, nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đẳng giai ưng cúng dường, thừa
sự, thủ hộ. Hà đẳng vi thập? Vị
chư Như Lai sở thuyết chánh pháp, hoặc Thanh
Văn Thừa tương ứng chánh pháp, hoặc Độc
Giác Thừa tương ứng chánh pháp, hoặc dữ
Đại Thừa tương ứng chánh pháp, hoặc thế
gian pháp, hoặc xuất thế gian pháp, hoặc hữu lậu
pháp, hoặc vô lậu pháp, hoặc hữu vi pháp, hoặc vô
vi pháp, hoặc bất nhị pháp. Bồ Tát Ma Ha Tát ư thử
thập pháp thâm tín, kính trọng, nhất thiết thính
văn, tùy lực sở năng, thẩm đế lănh thọ,
tư duy, quán sát, cứu cánh thông lợi, tùy kỳ sở
nghi, vị tha diễn thuyết. Ư thuyết pháp thời,
vô tật đố tâm, vô xan lận tâm, vô kiêu mạn tâm, vô
cầu lợi tâm, vô khinh tha tâm, vô tự cử tâm, hữu
cung kính tâm, hữu nhiêu ích tâm, hữu đại từ tâm,
hữu đại bi tâm. Vị Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La thuyết Thanh Văn pháp, bất vị bỉ
thuyết Độc Giác Thừa pháp, cập Đại Thừa
pháp. Vị Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La
thuyết Độc Giác pháp, bất vị bỉ thuyết
Thanh Văn Thừa pháp, cập Đại
Thừa pháp. Vị ư Đại Thừa Bổ Đặc
Già La thuyết Đại Thừa pháp, bất vị bỉ
thuyết Thanh Văn Thừa pháp, Độc Giác Thừa
pháp. Tùy chư hữu t́nh căn khí sở năng, vị
thuyết chánh pháp. Phi căn khí giả, chung bất vị
thuyết. Ư kỳ Đại Thừa chư hữu t́nh
sở, chung bất khuyến tu Độc Giác Thừa hạnh,
Thanh Văn Thừa hạnh. Ư Độc Giác Thừa
chư hữu t́nh sở, hoặc thời khuyến bỉ
tu Đại Thừa hạnh. Ư Thanh Văn Thừa
chư hữu t́nh sở, hoặc thời khuyến tu Độc
Giác Thừa hạnh, cập Đại
Thừa hạnh. Ư chư Như Lai sở thuyết chánh
pháp, hạ chí nhất tụng, năi chí bán cú, thâm tín, kính trọng,
chung bất hủy báng, chướng tế, ẩn một.
Ư thuyết pháp sư, khởi Thế Tôn tưởng.
Ư thính pháp chúng, khởi bệnh giả tưởng.
Ư sở thuyết pháp, khởi lương dược
tưởng, đoạn trừ ngũ dục, vô sở hy
cầu, tuyên thuyết chánh pháp. Thiện nam tử! Thị
danh Bồ Tát Ma Ha Tát thập chủng Pháp Thí Đại Giáp
Trụ Luân. Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử
luân, năng đoạn ngũ dục, tốc năng hoạch
đắc Nhật Đăng Quang Định, siêu thắng
nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ vị
nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, tác đại
phước điền. Nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng, giai ưng
cúng dường, thừa sự, thủ hộ.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,有十法施大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,速能獲得日燈光定,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。何等為十?謂諸如來所說正法,或聲聞乘相應正法,或獨覺乘相應正法,或與大乘相應正法,或世間法、或出世間法,或有漏法、或無漏法,或有為法、或無為法,或不二法。菩薩摩訶薩於此十法,深信敬重一切聽聞,隨力所能審諦領受,思惟觀察究竟通利,隨其所宜為他演說。於說法時,無嫉妒心,無慳吝心,無憍慢心,無求利心,無輕他心,無自舉心;有恭敬心,有饒益心,有大慈心,有大悲心。為聲聞乘補特伽羅,說聲聞法,不為彼說獨覺乘法及大乘法;為獨覺乘補特伽羅,說獨覺法,不為彼說聲聞乘法及大乘法;為於大乘補特伽羅,說大乘法,不為彼說聲聞乘法、獨覺乘法;隨諸有情根器所能,為說正法,非根器者,終不為說。於其大乘諸有情所,終不勸修獨覺乘行、聲聞乘行;於獨覺乘諸有情所,或時勸彼修大乘行;於聲聞乘諸有情所,或時勸修獨覺乘行及大乘行。於諸如來所說正法,下至一頌乃至半句,深信敬重,終不譭謗、障蔽、隱沒。於說法師起世尊想,於聽法眾起病者想,於所說法起良藥想,斷除五欲,無所希求,宣說正法。善男子,是名菩薩摩訶薩,十種法施大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,能斷五欲,速能獲得日燈光定,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát có mười
Pháp Thí Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy
ngũ dục đều có thể đoạn trừ, có thể
mau chóng đạt được Nhật
Đăng Quang Định, vượt hơn hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác, làm ruộng phước lớn
cho trọn khắp hết thảy Thanh Văn, Độc
Giác. Hết thảy các Thanh Văn, Độc Giác Thừa đều
nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ. Những
ǵ là mười? Chính là chánh pháp do đức Như Lai
đă nói, hoặc chánh pháp tương ứng Thanh Văn Thừa,
hoặc chánh pháp tương ứng Độc Giác Thừa,
hoặc chánh pháp tương ứng Đại Thừa, hoặc
là pháp thế gian, hoặc là pháp xuất thế gian, hoặc
là pháp hữu lậu, hoặc là pháp vô lậu, hoặc là
pháp hữu vi, hoặc là pháp vô vi, hoặc là pháp bất nhị.
Đối với mười pháp ấy, Bồ Tát Ma Ha Tát
tin sâu, kính trọng, hết thảy nghe nhận, tùy theo
năng lực mà suy xét chắc thật, lănh nhận, tư
duy, quan sát, rốt ráo thông lợi, tùy theo lẽ đáng nên
mà v́ người khác diễn thuyết. Trong khi thuyết
pháp, chẳng có tâm ghen tỵ, chẳng có tâm keo tham, chẳng
có tâm kiêu căng, ngạo mạn, chẳng có tâm cầu lợi,
chẳng có tâm khinh rẻ kẻ khác, chẳng có tâm tự
đề cao, có tâm cung kính, có tâm tạo lợi ích, có tâm
đại từ, có tâm đại bi. V́ Thanh Văn Thừa
Bổ Đặc Già La nói pháp Thanh Văn, chẳng v́ họ
nói pháp Độc Giác Thừa và pháp Đại Thừa. V́
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La nói Độc
Giác pháp, chẳng v́ họ nói pháp Thanh Văn Thừa và pháp
Đại Thừa. V́ các Đại Thừa Bổ Đặc
Già La nói pháp Đại Thừa, chẳng v́ kẻ đó nói
pháp Thanh Văn Thừa và pháp Độc Giác Thừa. Tùy theo
căn khí của các hữu t́nh có thể tu tập mà nói
chánh pháp cho họ. Đối với kẻ chẳng phải
căn khí, sẽ trọn chẳng
nói. Nơi các hữu t́nh Đại Thừa, trọn chẳng
khuyên họ tu hạnh Độc Giác Thừa hay hạnh
Thanh Văn Thừa. Nơi các hữu t́nh Độc Giác Thừa,
hoặc có lúc khuyên họ tu hạnh Đại Thừa.
Nơi các hữu t́nh Thanh Văn Thừa, hoặc
là có lúc khuyên họ tu hạnh Độc Giác Thừa và hạnh
Đại Thừa. Đối với chánh pháp do các đức
Như Lai đă nói, dẫu chỉ một bài kệ tụng,
cho đến nửa câu, đều tin sâu, kính trọng, trọn
chẳng hủy báng, chướng lấp, ẩn giấu.
Đối với vị thầy thuyết pháp, tưởng
như đức Thế Tôn; đối với người
nghe pháp, tưởng như người bệnh. Đối
với pháp nói ra, tưởng như là thuốc lành, đoạn
trừ ngũ dục, chẳng có mong cầu, tuyên nói chánh pháp.
Này thiện nam tử! Đó gọi là mười loại
Pháp Thí Đại Giáp Trụ Luân của Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu luân này, có thể đoạn
ngũ dục, có thể mau chóng đạt được
Nhật Đăng Quang Định, vượt hơn hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́ trọn khắp hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng phước
to lớn. Hết thảy Thanh Văn, Độc Giác Thừa
đều nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ).
Đây
là Pháp Thí, câu trước nói về Tài Thí. Pháp Thí Đại
Giáp Trụ Luân. “Đại giáp trụ luân” là cách nói
h́nh dung, h́nh dung cái tâm thanh tịnh của Bồ Tát. Trong khi
quư vị làm một việc ǵ đó, trước hết phải
lắng ḷng: Chuyện này phải nên phát tâm như thế
nào? Phải phát Bồ Đề tâm. Do cái tâm Bồ Đề ấy, sẽ có thể sanh khởi trí huệ
phương tiện. Khi quư vị lợi sanh, sẽ có thể
quán thời gian và căn cơ để bố thí, chẳng nẩy sanh sai lầm lệch lạc, chẳng nẩy
sanh lầm lộn. Nếu lúc đại Bồ Tát thành tựu
luân này, tức Pháp Thí Đại Giáp Luân, sẽ giống như khi Ngài mới vừa
phát tâm trong phần trước: Ngũ dục đều
có thể đoạn dứt. Đoạn dứt ngũ dục,
sẽ đạt được công đức, công đức
ǵ vậy? Đắc một môn Định, tức Nhật
Đăng Quang Định. Môn Định này là một môn
trong một trăm lẻ tám tam-muội, thuộc loại
Lăng Già Định. Nhật là “nhật quang” (ánh
sáng của mặt trời), Đăng là “đăng quang”
(ánh sáng của đèn), tức là h́nh dung vị ấy có thể
phá trừ hắc ám cho chúng sanh, mà cũng phá trừ hắc
ám của chính ḿnh. Có quang minh chiếu soi, có trí huệ,
đó là điều mà hết thảy Thanh Văn, Độc
Giác đều chẳng có. Do vậy nói Ngài vượt xa hết
thảy Thanh Văn và Độc Giác, cho nên có thể làm ruộng
phước lớn cho Thanh Văn và Độc Giác, hết
thảy Thanh Văn và Độc Giác đều phải nên
cúng dường, thừa sự, thủ hộ. “Thừa
sự” có nghĩa là đệ tử [phụng sự]
đối với bậc thượng sư, hoặc đối
với bậc đại thiện tri thức.
Đây
là nói tổng quát, tiếp đó bèn nói phân biệt. Bất
quá, trong phẩm Phước Điền Tướng, trong
phần trước, đức Phật đă nói đại
lược mười tài luân (Tài Thí Đại
Giáp Trụ Luân), nói gộp chung lại. Những ǵ
là mười? Bố thí thức ăn, xe cộ, voi, ngựa,
tay, chân của chính ḿnh, cũng là mười loại. Hễ
trọn đủ cái tâm đại
bi là được rồi. Pháp Thí trong hiện thời
cũng giống như thế, người ấy từ
khi mới phát tâm, đắc Nhật Đăng Quang Định,
hơn hẳn hết thảy Thanh Văn, Duyên Giác. Khi
người ấy thuyết pháp, tức thánh pháp do đức
Như Lai đă dạy, [hễ căn cơ của người
nghe] tương ứng Thanh Văn Thừa bèn nói pháp Thanh
Văn Thừa, tức là đối ứng với căn
cơ Thanh Văn Thừa. “Tương ứng” là Du
Già. Hiện thời, nói đến “Du Già” th́ chính là “tương
ứng” trong tiếng Hán. Khi tương ứng, chính là
pháp và căn cơ tương ứng. Vừa nghe pháp,
người ấy có thể tu hành. Tu hành có thể đắc
đạo, có thể nhập Định. Nếu chẳng
tương ứng, người ấy là [căn cơ]
Thanh Văn Thừa, quư vị lại nói pháp Độc Giác
Thừa, nói pháp nhân duyên, hoặc là nói pháp Lục Độ
của Đại Thừa, người ấy sẽ chẳng
nắm được, sẽ cho rằng Phật pháp vô ích
đối với ḿnh, cho nên quư vị chỉ có thể nói
Thập Thiện Nghiệp cho người ấy. Quư vị
giảng kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật cho người ấy,
người ấy chẳng thể hiểu. Nếu nói với
người ấy, “Phật pháp là Không”, từ đấy
về sau, người ấy sẽ sanh khởi Đoạn
Diệt Không, chuyện ǵ cũng đều chẳng làm!
Ngược lại, c̣n tạo nghiệp. Đó là “chẳng
đúng căn cơ”. Chẳng đúng căn cơ, sẽ
chẳng đạt được lợi ích, chánh pháp do Như
Lai đă nói đối với người nghe sẽ trở
thành tà pháp. Người ấy không chỉ đạt
được lợi ích, mà c̣n sanh khởi tội lỗi
báng pháp!
Tương
ứng với Thanh Văn Thừa th́ sao? Nói chung là pháp Tứ
Đế. Tương ứng với Độc Giác Thừa
th́ sao? Pháp nhân duyên, tức pháp mười hai nhân duyên. Chánh
pháp tương ứng với Đại Thừa th́ sao?
Chính là pháp Lục Độ. Điều này bao gồm rất nhiều
thứ, hoặc là pháp thế gian, hoặc là pháp xuất thế
gian, hoặc là pháp hữu lậu, hoặc là pháp vô lậu.
Pháp thế gian là hữu lậu, pháp xuất thế gian là
vô lậu. Hai thứ này, mỗi thứ đều có hàm
nghĩa; trong mỗi đoạn sau, sẽ đều có giải
thích. Hoặc là pháp hữu vi, hoặc pháp vô vi, hoặc pháp
bất nhị. Pháp bất nhị chính là pháp rốt ráo. Nếu
mọi người đă từng nghe kinh Duy Ma Cật, [hăy
biết] đó là pháp môn Bất Nhị. Nói chung là “nhiễm
và tịnh chẳng hai”. Đại Thừa hay Tiểu Thừa
đều là bất nhị, như trong kinh Duy Ma Cật,
Văn Thù Bồ Tát hỏi cư sĩ Duy Ma Cật: “Như
thế nào là pháp môn Bất Nhị?” Cư sĩ Duy Ma Cật
đáp: “Hành dâm, nộ, si là pháp môn Bất Nhị”. Dâm,
nộ, si chính là Giới, Định, Huệ.
Trong
một đoạn khác, khi Văn Thù Bồ Tát hỏi Duy Ma
Cật về pháp môn Bất Nhị, cư sĩ chẳng
nói lời nào! Mọi người nói rất nhiều pháp
môn Bất Nhị, khi hỏi tới Ngài, Ngài chẳng mở
miệng. Văn Thù Bồ Tát liền tán thán: “Đấy
mới là pháp môn Bất Nhị chân chánh!” Pháp môn Bất
Nhị là ǵ? Ngôn ngữ dứt bặt, tâm hạnh xứ diệt.
Chẳng thể tư duy, chẳng thể dùng ngôn ngữ
để biểu đạt. Đó là pháp môn Bất Nhị.
Nếu đối với mười pháp này, sanh ḷng tin
tưởng, kính trọng sâu xa, hết thảy người
nghe tùy theo khả năng của chính ḿnh. Quư vị là
căn cơ ǵ, có thể làm được bao nhiêu, sẽ
lănh hội bấy nhiêu. Chúng ta suy xét, tư duy cặn kẽ,
quán sát đúng lư, suy xét chắc thật rồi lănh thọ
trong tâm. “Thọ” là trong tâm nhận lănh. Tư duy, quan
sát như thế, th́ mới có thể thông suốt rốt
ráo, mới có thể thông đạt! Nghe mà chẳng
suy nghĩ, sẽ quên bẵng. Quên bẵng th́ có khác ǵ chẳng
học, chẳng nghe! Suy nghĩ mà không hành, sẽ
biếng nhác. Suy nghĩ mà chẳng thực hiện th́
cũng như không!
Chẳng
hạn như chúng ta tu tập kinh Thập Luân, phải tu
hành pháp Thập Luân. Nếu chúng ta tu hành pháp Tịnh Độ,
nghe kinh Vô Lượng Thọ, hoặc kinh A Di Đà xong, nghe rất nhiều,
quư vị chẳng làm, vô dụng! Đả Phật Thất
th́ được. Giống như lăo pháp sư Diệu Cảnh
đến chùa Quán Âm đả Phật Thất, tham gia Phật
Thất là được rồi, “hành” là thực hiện, “thực hiện” là tu hành. Nhưng quư vị
phải chú ư, niệm Phật phải từ tâm khởi, niệm
rồi phải trở về tâm. Niệm nào
cũng từ tâm khởi, niệm nào cũng đều quy
vào tâm. Đó chính là pháp môn Bất Nhị như chúng tôi
đă nói. A Di Đà Phật là ta, ta là A Di Đà Phật, ắt
phải quán như thế. Đấy cũng là pháp môn Bất
Nhị. Tự và tha chẳng hai, năng niệm (người
niệm Phật) là ta, sở niệm (đối tượng
được niệm) là A Di Đà Phật. Năng niệm
và sở niệm cùng một Thể, cùng một Pháp Thân. Lăo pháp
sư Từ Châu khai thị về niệm Phật, đă phối
hợp với mười đại nguyện vương
của Phổ Hiền Bồ Tát: “Niệm một câu A Di
Đà Phật bèn tương ứng với mười
đại nguyện Phổ Hiền”. Đấy là vào
năm 1940, Ngài đă khai thị như thế trong một Phật
Thất. Đó là pháp môn Bất Nhị.
“Bồ
Tát Ma Ha Tát ư thử thập pháp, thâm sanh kính trọng”
(Bồ Tát Ma Ha Tát sanh ḷng kính trọng sâu xa đối với
mười pháp này): Quư vị có trí huệ to cỡ nào, có thể
sanh khởi bao nhiêu quán chiếu, có Định lực to cỡ
nào? Có thể tiếp nhận được bao nhiêu? Tư
duy là Định, quan sát là Huệ; phải cùng vận dụng
Định và Huệ, như thế th́ mới có thể
đạt đến rốt ráo. Nếu quư vị sanh vào thế
giới Cực Lạc sẽ thông suốt, thế giới
Cực Lạc ở ngay trong cái tâm của quư vị. A Di
Đà Phật là quư vị, quư vị có thể thành tựu
như thế. Đó gọi là “tùy kỳ sở nghi”. Bồ
Tát Ma Ha Tát dùng mười pháp này để giáo hóa hết thảy
chúng sanh; đấy là pháp cúng dường, dùng pháp để
bố thí. Đấy gọi là Pháp Thí. Nhưng khi thuyết
pháp, chớ nên có tâm ghen tỵ, chớ nên mang tâm bủn xỉn,
chớ nên có tâm kiêu mạn, chẳng thể có tâm cầu lợi,
chẳng thể có tâm khinh thường người khác. C̣n
phải biết quán cơ thuyết pháp. Tôi đă phạm lỗi
lầm ấy, v́ tôi không biết xem xét căn cơ, chẳng
có đức hạnh ấy, chẳng có thần thông ấy.
Tôi có ư niệm ǵ? Chỉ cần khi tôi cùng mọi người
học tập, quư vị tới nghe th́ là hữu duyên. Nếu
quư vị muốn nghe kinh Đại Tập Thập Luân,
đó là hữu duyên. Quư vị tới nghe, tôi nói với quư
vị, vậy là chẳng sai lầm! Quư vị nghe giảng
mà chẳng thích nghe, hai người chúng ta vô duyên, quư vị
rời đi, tôi cũng chẳng phạm sai lầm, quư vị
cũng chẳng phạm sai lầm! Quư vị một mực
nghe đến hết, có thể đạt được
đôi chút lợi ích, đối với tôi mà nói, tôi cũng
chẳng có công đức ǵ, nhưng nói về phía quư vị,
quư vị thật sự đạt được lợi
ích. Đấy là có thể nhập Phật môn.
Mỗi
vị đạo hữu chúng ta khi hoằng dương Phật
pháp, hướng về người khác tuyên truyền,
đối diện với thân hữu vây quanh, khuyên họ
niệm một câu A Di Đà Phật, quư vị cũng là
đang nói chánh pháp. Khá nhiều đạo hữu hỏi
tôi: “Con có thể giúp người khác bằng cách nào? Làm thế
nào để có thể độ người khác?” Tôi
đáp: “Quư vị có thể hành Bồ Tát đạo”. “Con có
thể hành Bồ Tát đạo ư?” Tôi nói: “Quư vị cứ
làm theo thế này là được, quư vị có biết niệm
Phật hay không?” “Biết ạ!” Tôi nói: “Quư vị có thể
nói cho người khác biết lợi ích do niệm Phật
hay không?” “Có thể ạ!” Tôi bảo: “Đấy là hành Bồ
Tát đạo!” Về phần nghĩa lư rất sâu, tôi là
chuyên nghiệp, quư vị là dân không chuyên. Quư vị có thể
làm như vậy, c̣n mạnh hơn tôi, quư vị cũng chẳng
v́ danh, v́ lợi, chẳng phải vậy hay sao?
Bất
luận vị đạo hữu nào giúp đỡ người
khác, ngàn vạn lần phải chú ư, điều thứ nhất:
Chẳng v́ danh, chẳng v́ lợi. Chỉ “chẳng v́
danh, chẳng v́ lợi” th́ vẫn chưa đủ, c̣n
phải chớ nên có tâm kiêu mạn, chẳng có tâm bủn xỉn,
chẳng có tâm cầu lợi, chẳng có tâm khinh rẻ
người khác: “Ngươi không hiểu! Ta nói cho
ngươi th́ hay hơn!” Đó là tâm khinh mạn. Tuy quư vị
chẳng biểu đạt thành lời, dường
như chính ḿnh cũng chẳng khinh mạn, nhưng nói
người ta không hiểu th́ chính là khinh mạn! Bồ Tát
thuyết pháp, đối với lợi căn hay độn
căn đều b́nh đẳng, sẽ chẳng v́ chúng
sanh này rất ngu si, nói một lần không hiểu, nói hai lần
vẫn không hiểu, nói mười lần vẫn không hiểu
[bèn khinh thường, buông bỏ], mà kẻ lợi căn
th́ chỉ cần nói một lần đă hiểu [bèn yêu mến,
trân trọng]. Nh́n từ phía Bồ Tát, hai đằng đều
b́nh đẳng, sẽ chẳng v́ người này là lợi
căn mà đặc biệt tốt hơn một chút, đối
với kẻ độn căn sẽ chẳng thèm quan tâm,
v́ kẻ đó phiền quá! Có đạo hữu hay hỏi
là v́ họ chẳng biết th́ mới hỏi nhiều một
tí, quư vị đừng nghĩ là quá phiền toái, sanh tâm
phiền chán. [Nếu sanh tâm phiền chán], tức là trong ấy
đă chứa đựng cái tâm khinh mạn kẻ đó.
“Vô
tự cử tâm” (không có tâm tự đề cao): “Tự
cử” (自舉) là tuyên
dương chính ḿnh. “Tuyên dương” bằng cách nào?
Hiện thời quá nhiều. Chúng tôi chẳng cần nêu thí
dụ mà [quư vị] vẫn có thể biết. Luôn làm cho mọi
người biết ưu điểm của chính ḿnh. Vậy
th́ người khác đều chẳng ra sao, chỉ có ta rất
tốt. “Tự cử” là khinh người khác, khinh
người khác nhằm thể hiện chính ḿnh. Đó là
sai lầm, chỉ sợ chúng sanh phạm [lỗi này] rất
nhiều! Trong lúc vô t́nh hay hữu ư, rất dễ phạm.
Đó là chẳng có tâm cung kính người khác. Cung kính người
khác, sẽ chẳng nghĩ đến chính ḿnh, trong ấy
có chứa đựng ư nghĩa như vậy. Phải có
tâm nhiêu ích (饒益, tạo lợi
ích cho người khác), có tâm đại từ, có tâm đại
bi, có cái tâm ấy, như thế th́ từ cái tâm cung kính, sẽ
cung kính hết thảy chúng sanh, “họ là vị
lai Phật”, thường
quán tưởng như thế. Tất cả mọi người
biết Lục Tổ đại sư nghe người khác
niệm kinh Kim Cang, Ngài khai ngộ, nhưng người niệm
kinh Kim Cang ấy chưa từng được nhắc
đến! Đương nhiên là người ấy chẳng ngộ,
nhưng Lục Tổ nghe rồi khai ngộ, nhất định
phải hiểu đạo lư này. Chỉ v́ đấy là bậc
đại căn khí, tức là nói đến bậc Bồ
Tát Ma Ha Tát, khi các Ngài hành Pháp Thí, sẽ có đạo đức,
có Tha Tâm Thông. Đối với người thuộc Thanh
Văn Thừa, Ngài sẽ tuyệt đối chẳng nói
pháp Độc Giác Thừa, cũng chẳng nói pháp Đại
Thừa. Đối với người thuộc Độc
Giác Thừa, cũng chẳng nói pháp Thanh Văn Thừa cho họ,
cũng chẳng nói pháp Đại Thừa. Đối với
người thuộc căn khí Đại Thừa, tức
là đối với Đại Thừa Bổ Đặc
Già La, sẽ không nói với họ pháp Thanh
Văn, hoặc nói pháp Độc Giác. Tùy theo căn khí của
hữu t́nh, họ có thể tiếp nhận, có thể lănh
ngộ pháp nào, bèn thuyết chánh pháp
cho họ. Pháp tam thừa đều là chánh pháp, nhưng kẻ chẳng phải là căn khí,
chẳng có thiện căn ấy, cũng chẳng thể
lănh hội nổi!
“Ư
kỳ Đại Thừa chư hữu t́nh sở”
(đối với các hữu t́nh Đại Thừa): Những
người thuộc căn khí Đại Thừa, quư vị
đừng khuyên họ tu theo phương pháp tu hành của
Độc Giác Thừa, cũng đừng khuyên họ tu theo
phương pháp của Thanh Văn Thừa. Nhưng trong ba
thừa, trong phần trước, khi nói về Thập
Thiện Nghiệp Đạo Luân, đă có nói “chẳng phạm
sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ
Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với
Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm
sai lầm đối với Đại Thừa Bổ
Đặc Già La”, pháp tam thừa và người thuộc
tam thừa tuyệt đối chẳng thể lẫn lộn,
[phải biết rơ] đối với căn cơ nào th́ phải
nói pháp nào! Như thế th́ đối với loại chúng
sanh nào, sẽ khuyên họ tu loại pháp nào [thích hợp]; pháp tam thừa là nói chung. Như tôi nói suốt ba tháng,
cũng chẳng nói được mấy câu là chánh pháp. Pháp
là chánh, nhưng con người tôi dường như chẳng
chứng đắc chánh tri chánh kiến, vẫn chẳng hoàn
toàn là chánh, có khi c̣n lệch lạc, sai lầm. Đó là
điều đáng nên sám hối. Nhưng pháp là chánh, quư vị
hăy y pháp, đừng y người! Quư vị đối với
người thuyết pháp là cái tâm ǵ, đối với
người ấy tưởng như thế nào, nếu
quư vị có thể sanh khởi tâm niệm tưởng
người ấy như Thế Tôn, quư vị sẽ là Phật, Bồ Tát. Quư vị là tâm Phật. Nếu
quư vị thấy kẻ tham danh, yêu lợi, chắc quư vị
cũng có đôi chút vấn đề đối với
danh lợi!
Có
một câu chuyện cũ, mọi người có thể
nghe tỷ dụ này. Khi Tô Đông Pha và thiền sư Phật
Ấn hai người cùng tản bộ,
Tô Đông Pha liền hỏi thiền sư Phật Ấn:
“Thầy thấy tôi như thế nào?” Thiền
sư Phật Ấn đáp: “Ông mập mạp, lại có
phước báo, c̣n là quan lại, giống như một vị
Phật”. Tô Đông Pha trong ḷng rất khoái trá, rất thỏa
măn, rất sung sướng. Tiếp tục đi, đi một
hồi lâu, Tô Đông Pha hỏi thiền sư Phật Ấn:
“Sao thầy không hỏi tôi, thầy giống như ǵ?” Sư đáp: “Tôi chẳng cần hỏi ông, tôi chẳng
có ǵ muốn hỏi ông”. Ông ta nói: “Thầy phải
nên hỏi tôi chớ!” Sư đáp: “Được rồi!
Tôi hỏi ông, ông thấy tôi giống như ǵ?” Tô Đông
Pha nói: “Tôi thấy thầy giống như một băi cứt
chó!” Thiền sư Phật Ấn cười x̣a, cũng chẳng
nói ǵ, chuyện ấy kết thúc. Về nhà, Tô Đông Pha kể
lại với cô em gái. Tô tiểu muội là người có
trí huệ. Ông ta khoe: “Hôm nay anh chiến thắng ḥa thượng,
trước nay chưa hề thắng ông ta”. Tô tiểu muội
liền hỏi: “Anh chiến thắng như thế nào? Có
thể kể cho em nghe hay không?” Ông ta kể lại đầu
đuôi. Tô tiểu muội nói: “Anh thua chắc rồi, anh thua hoàn toàn!” “Ủa! Sao anh thua được?”
“Tâm người ta là Phật tâm, thấy anh giống như
Phật. C̣n tâm anh là cứt chó, cho nên thấy người
ta giống như cứt chó!” Những lời ấy rất
có ư nghĩa! Mỗi người thấy khác nhau. V́ sao thấy
khác nhau? V́ quư vị chỉ có trí huệ lớn chừng ấy!
Trong chúng ta c̣n có những người từ đầu
đến cuối chẳng thể liễu giải Phật
pháp. V́ sao chẳng thể liễu giải? Mới vừa học
một chút, đă mong thâm nhập Phật pháp, chẳng thể
nào! Tôi nói lời này v́ chính ḿnh đă tự thể nghiệm.
Tôi xuất gia đến nay đă sáu mươi bốn
năm, vẫn chẳng liễu giải như thế nào!
Tôi thường nghĩ đến Lư Sơn trong một
bài thơ của Tô Đông Pha: “Hoành khán thành lănh, trắc
thành phong, viễn cận cao đê các bất đồng, bất
thức Lư sơn chân diện mục, chỉ duyên thân tại
thử sơn trung” (Nh́n ngang thành rặng, dọc thành chỏm,
cao, thấp, gần, xa mỗi khác nhau. Chẳng biết
Lưu sơn chân diện mục, v́ thân vẫn ở trong
non này). Chúng ta đọa trong cái hố bùn lầy ấy, làm sao có thể nhận
thức Phật pháp? Ngay cả pháp thế gian c̣n chẳng
nhận thức! Có thể thật sự thiện xảo
nhận biết pháp thế gian, th́ quư vị sẽ thoát khỏi
nó. Nếu quư vị nhận biết, chiếu theo lời Phật
mà tin tưởng kiên cố, chẳng đổi dời. Ta
luôn kiên cố tin tưởng lời đức Phật
nói, chẳng đổi dời. Đức Phật nói
đây là ngũ trược ác thế, quư vị c̣n tham luyến
chi nữa? Quư vị c̣n muốn t́m kiếm vui sướng
trong cơi này nữa ư? Chẳng có vui sướng! Do vậy,
chớ nên tham ngũ dục! Thiện nam tử! Đấy
là mười loại Pháp Thí Đại Giáp Trụ Luân của
Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn trùng hiển
thử nghĩa, nhi thuyết tụng viết: - Trí giả tu
pháp thí, tùy khí thuyết tam thừa, bất vị thuyết
dư thừa, khủng văn nhi báng pháp. Xứng căn khí
thuyết pháp, bất vị phi căn khí, các tùy kỳ sở
nhạo, khuyến tấn linh hoan hỷ. Chung bất khuyến
Đại Thừa, linh tu Nhị Thừa hạnh, hoặc
thời khuyến bỉ nhị, tấn tu trung thượng
thừa. Thường cung kính văn pháp, thâm tín bất hủy
báng, cúng dường thuyết pháp sư, như Phật Thế
Tôn tưởng. Khuyến văn diệu pháp dược,
linh trừ phiền năo bệnh, xả lợi dưỡng,
danh dự, nhi tuyên thuyết chánh pháp.
(經)爾時世尊重顯此義而說頌曰:智者修法施,隨器說三乘,不為說餘乘,恐聞而謗法。稱根器說法,不為非根器,各隨其所樂,勸進令歡喜。終不勸大乘,令修二乘行,或時勸彼二,進修中上乘。常恭敬聽法,深信不譭謗,供養說法師,如佛世尊想。勸聞妙法藥,令除煩惱病,舍利養名譽,而宣說正法。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hiển thị lại
nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng: - Bậc trí tu Pháp
Thí, tùy cơ nói tam thừa, chẳng v́ nói thừa khác. Sợ
nghe rồi báng pháp. Thuyết pháp xứng căn khí, chẳng
v́ sai căn khí, tùy ḷng họ ưa thích, khuyến khích sanh
hoan hỷ. Trọn chẳng khuyên Đại Thừa, tu theo
hạnh Nhị Thừa. Có lúc khuyên Nhị Thừa, tấn
tu trung thượng thừa. Thường cung kính nghe pháp,
tin sâu, chẳng hủy báng. Cúng dường
thầy thuyết pháp, tưởng như Phật Thế
Tôn. Khuyên nghe thuốc diệu pháp, khiến trừ bệnh
phiền năo, bỏ lợi dưỡng, danh dự, mà tuyên
nói chánh pháp).
Trong
khi đức Phật đang nói pháp, thường xuyên có
trùng tụng. Trong kinh có ghi chép hàm nghĩa của trùng tụng:
Mỗi khi đức Phật thuyết pháp, sợ mọi
người chẳng nhớ được, hoặc có khi
nói xong, quư vị lại bỏ sót. Hoặc
là khi nghe, quư vị chưa nghe thấy, hoặc có lúc quư vị
đi xa, nghe có cơ hội đức Phật thuyết
pháp bèn t́m đến, do phần Trường Hàng đă giảng xong, đức Phật bèn nhắc lại
một lượt. Cho nên gọi là Trùng Tụng (重頌, Geya, Kỳ Dạ). Lại c̣n Cô
Khởi Tụng, khác hẳn. Cô Khởi Tụng là đức Phật
hoàn toàn dùng thể tài kệ tụng để thuyết
pháp. Do chẳng có phần kinh văn Trường Hàng, nên gọi
là Cô Khởi (孤起, Gāthā, Già Đà). Ở đây
là Trùng Tụng.
“Trí giả tu Pháp Thí, tùy khí thuyết
tam thừa” (bậc trí tu Pháp Thí, tùy cơ nói ba thừa): Nếu người có trí huệ
muốn học tập, vận dụng Pháp Bố Thí để thuyết
pháp cho hết thảy chúng sanh, khi bố thí [pháp] cho chúng sanh,
sẽ tùy theo căn khí của chúng sanh mà nói pháp Thanh Văn,
Độc Giác, hay Đại Thừa. Tùy theo căn cơ,
tùy thuộc người ấy là loại pháp khí đáng nhận
lănh pháp nào, bèn nói cho người ấy pháp thuộc thừa
đó. “Bất vị thuyết dư thừa” (chẳng
v́ người đó nói pháp thuộc thừa khác), đối
với người đáng nhận lănh Thanh Văn Thừa,
sẽ không nói cho người đó pháp Đại Thừa.
Đối với kẻ
đáng nhận lănh pháp Đại Thừa th́ cũng chẳng
nói cho họ nghe pháp Thanh Văn Thừa hay Độc Giác Thừa.
V́ sao phải làm như vậy? “Khủng văn nhi báng pháp”
(sợ nghe rồi sẽ báng pháp): V́ họ nghe thấy xong, không chỉ chẳng
tin, mà c̣n hủy báng. Do vậy, không chỉ là chẳng độ chúng sanh, mà ngược lại c̣n
tăng thêm tội nghiệp cho chúng sanh.
“Xứng
căn khí thuyết pháp, bất vị phi căn khí, các tùy kỳ
sở nhạo, khuyến tấn linh hoan hỷ” (Xứng
căn khí thuyết pháp, chẳng v́ kẻ chẳng phải
căn khí mà nói, đều thuận theo ḷng ưa thích của
mỗi người mà khuyến khích, khiến cho họ
hoan hỷ): Thuyết pháp đúng với căn khí. Đúng với
căn khi cũng chính là đúng với căn cơ. Nếu
người ấy chẳng phải là căn cơ, chẳng
phải là căn khí của pháp ấy, quư vị tùy duyên là
được rồi, tùy thuộc người ấy
thích ǵ, bèn nói cho người ấy pháp đó. Người ấy
chẳng phải là căn khí Đại Thừa, quư vị
liền nói pháp Nhị Thừa, nói Khổ, Tập, Diệt,
Đạo, nói thế giới này đều là khổ. Quư vị
phải biết Khổ, đoạn Tập. Khéo nói th́ thậm
chí nếu họ chẳng biết, quư vị bèn thuận
theo pháp thế gian, nói pháp thế gian cho khéo. Giảng giải nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín cũng được, nói về đạo lư làm
người, nói “làm người th́ phải
trọn tư cách làm người, chẳng thể giống
như súc sanh”. Dường
như là đối với người như thế nào,
bèn thuyết pháp như thế đó. Đối với kẻ
tham ngũ dục, quư vị chẳng thể thuận theo họ
nói về ngũ dục, mà ắt phải nói lỗi
hại của ngũ dục, khiến cho họ đoạn
ĺa ngũ dục, măi cho đến khi họ hoan hỷ mới
thôi!
“Chung
bất khuyến Đại Thừa, linh tu Nhị Thừa
hạnh. Hoặc thời khuyến bỉ nhị, tấn tu
trung thượng thừa” (trọn chẳng khuyên người
căn khí Đại Thừa tu theo hạnh Nhị Thừa.
Hoặc có lúc khuyên người thuộc hai thừa kia, hăy tấn
tu theo trung thừa và thượng thừa): Đối với
người chẳng phải là căn khí, chẳng phải
là căn cơ Đại Thừa, quư vị sẽ chẳng
buộc họ tu Đại Thừa. Nếu là căn khí
Đại Thừa, quư vị có nên khuyên họ tu Nhị Thừa
hay không? Đấy chẳng phải là căn khí. “Hoặc
thời khuyến bỉ nhị, tấn tu trung thượng
thừa”, [nghĩa là] trọn chẳng
khuyên căn khí Thanh Văn Thừa tu trung thừa (Độc Giác Thừa), căn khí Độc
Giác Thừa tu thượng thừa tức Đại Thừa.
Hoặc là đối với căn khí Độc Giác Thừa
cũng trọn chẳng khuyên họ tu Đại Thừa,
mà cũng chẳng khuyên họ tu Thanh Văn Thừa. “Hoặc
thời khuyến bỉ nhị”, “bỉ nhị” tức
là nói đến Thanh Văn Thừa và Độc Giác Thừa.
“Thường
cung kính thính pháp, thâm tín bất hủy báng” (Thường
cung kính nghe pháp. Tin sâu, chẳng hủy báng): Bất luận
quư vị là pháp Thanh Văn Thừa, Độc Giác Thừa,
hay Đại Thừa, đều phải nên cung kính nghe
pháp, đừng nên sanh ḷng hủy báng. Đối với
pháp, phải nên tin sâu chẳng nghi, trong ấy có rất nhiều
vấn đề. Chẳng hạn như chúng ta nói đến
Địa Tạng Tam Kinh, kinh Địa Tạng là Đại
Thừa hay Tiểu Thừa? Đa số cho rằng đấy
là kinh Tiểu Thừa, v́ toàn là nói về địa ngục
và quỷ. Nội dung kinh văn cũng nói về địa
ngục rất nhiều. Nhưng đại chúng trong pháp hội
ấy được nói trên trời Đao Lợi, khởi
đầu là do đức Phật nói với Văn Thù Sư
Lợi Bồ Tát. Phẩm thứ hai do Địa Tạng
Vương Bồ Tát thưa thỉnh Phật. Phẩm thứ
ba là phu nhân Ma Da thưa chuyện
với đức Phật, mỗi phẩm
đều là như thế.
Hơn
nữa, nghe danh tự của Địa Tạng Bồ Tát, sẽ có thể chẳng
đọa tam đồ, cho đến khi sanh vào quốc
độ ở phương khác, đều có thể đến
các quốc độ thanh tịnh. Đấy chẳng
phải là Tiểu Thừa. Nghe danh tự của Địa
Tạng Vương Bồ Tát, cho đến cuối
cùng, trong phẩm mười hai, đức Phật căn
dặn Quán Thế Âm Bồ Tát, và cuối cùng dặn ḍ
Hư Không Tạng Bồ Tát. Cuối kinh Đại Tập
Thập Luân, vị được căn dặn vẫn là
Hư Không Tạng Bồ Tát. Đấy là các vị Đại
Bồ Tát xướng họa lẫn nhau. Chúng ta nhất
định phải nhận biết, hăy từ nhiều phương
diện mà nhận biết hàm nghĩa trong một bộ kinh,
có như vậy
th́ quư vị mới sẽ chẳng nghe kẻ khác nói ǵ bèn
nghe theo lời kẻ đó nói, hoặc bảo sao nghe vậy,
dễ tạo tội nhất! Do vậy, trong hết thảy
các kinh, Địa Tạng Tam Kinh đồng thời hoằng
dương tam thừa. Quư vị là [căn khí] nhân thiên, th́
cũng có thể dùng pháp Nhân Thiên Thừa để giải
thích cho quư vị, nhưng chỉ cần quư vị chẳng
hủy báng là được! Chớ nên hủy báng, phải
cung kính nghe pháp, hăy tin sâu, đừng
sanh hủy báng.
“Cúng
dường thuyết pháp sư”: Bất luận vị
nào thuyết pháp, phải hiểu ư nghĩa của
“pháp sư”. Nếu quư vị lấy pháp làm thầy, đó là pháp sư. Trong ấy, cũng bao hàm hai chúng tại
gia nam nữ. Có đôi khi gọi là Cận Sự, có lúc gọi
là Cận Trụ. Cận Sự (近事) nghĩa là “thân cận Tam Bảo”.
Đó là người có thể nẩy sanh tâm cung kính đối
với Tam Bảo, đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới. Cận
Trụ (近住) khác hẳn. Cận
Trụ là ở ngay chỗ Tam Bảo, thọ Bát Quan Trai Giới,
ở ngay trong chùa. Chỉ cần những điều họ
nói là chánh pháp th́ đều có thể là pháp sư. Pháp sư
chẳng phải là người chuyên v́ lợi ích, mà cũng chẳng phải giảng kinh th́ mới là pháp sư. Hễ
đứng tại đó, nói với quư vị vài câu pháp,
khuyên quư vị tin Phật, niệm Phật, quư vị
cũng có thể coi người ấy là pháp sư. Nghe một
bài kệ mà xả thân mạng. [Người khác] nói với
người đó bốn câu, người ấy liền xả
thân mạng, nghe một bài kệ bèn khai ngộ. Tôn giả
Xá Lợi Phất gặp tỳ-kheo Mă Thắng, thấy tỳ-kheo
oai nghi trang nghiêm, Ngài liền hỏi: “Ngài tôn vị nào làm thầy?”
[nghĩa là] ai là sư phụ của Ngài? Ngài trước hết
nói cho tôi một bài kệ là được rồi! Tỳ-kheo
Mă Thắng nói một bài kệ, ngài Xá Lợi Phất liền
khai ngộ, dẫn các đệ tử của Ngài đến quy y
đức Phật. Do vậy, quư vị đúng căn
cơ, nói một câu, tuy quư vị chẳng khai ngộ,
nhưng người khác khai ngộ.
Khi
niệm kinh Kim Cang, Lục Tổ đúng lúc đến bán củi,
đứng dưới nhà người ta, nghe trong nhà có người
niệm kinh Kim Cang, Tổ nghe đến câu “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm” liền khai ngộ. Tôi niệm
kinh Kim Cang mấy chục năm, chẳng biết đă niệm
bao nhiêu lần, mỗi lần niệm đều nghĩ “có người vừa
nghe liền khai ngộ, tôi niệm nhiều lượt ngần
ấy vẫn chẳng thể ngộ được!” Do nguyên nhân nào? Nghiệp
chướng sâu nặng, đấy là nghiệp. Ngộ và
mê chỉ là lật ngược lại như vậy, tức
là úp hay ngửa bàn tay! Do vậy, nếu quư vị chẳng
đạt được lư giải thù thắng, chẳng
khai ngộ, cũng đừng nên tạo tội, hăy cung
kính nghe pháp, chớ nên hủy báng, lại càng chớ nên hủy
báng vị thầy thuyết pháp.
Trong
Thập Thiện Nghiệp Đạo thuộc phần
trước, đă nói lễ kính Tam
Bảo rất nhiều. Thậm chí oai lực do khoác một
mảnh ca-sa, kẻ đó vẫn chưa phải là người
xuất gia, quốc vương muốn đưa kẻ
đó vào vùng mả hoang cho quỷ ăn. Kẻ đó nghe rồi
sanh ḷng sợ hăi, cạo sạch tóc trên đầu. Sau
đó, t́m ca-sa. Chỗ nào có? Từ trong các tấm vải
rách bị vứt đi, hắn lượm được
một mảnh ca-sa màu đỏ, vẫn chưa phải là
tấm ca-sa trọn vẹn, đeo lên người, lũ quỷ ấy chẳng
dám ăn kẻ đó, bèn vây quanh, tán
thán kẻ đó. Quỷ La Sát mẹ và con đông ngần ấy
tán thán người đó, điều đó bộc lộ
oai lực của Tam Bảo. V́ thế, chúng ta chớ nên
sanh khởi ḷng hủy báng Tam Bảo. Vị pháp sư nào
cũng đều tốt! Đối với
kẻ khoác một mảnh ca-sa, đều coi kẻ ấy là
pháp sư, có thể làm phước điền cho chúng sanh.
Lũ quỷ ấy thấy kẻ đó,
vây quanh, coi kẻ đó như thánh tăng mà cung kính, coi kẻ ấy
như thánh tăng phước điền.
Nếu
chúng ta hiểu đạo lư “vạn pháp duy tâm”, trong hết
thảy mọi nơi, hết thảy thời, tâm chính là Phật. Hăy
nên thường quán như thế, có thể khuyên hết thảy
mọi người nghe diệu pháp như thế. Đấy
là phương pháp. Giống như chúng ta có bệnh th́ phải
uống thuốc, thuốc vào, bệnh hết. Nay chúng ta mắc
bệnh ǵ? Có bệnh sanh tử, có bệnh ngũ dục,
có tham, sân, si, có các chứng bệnh ấy, cho nên đức
Phật mới nói pháp ấy. Khéo phù hợp là quư vị uống
thuốc ấy, bệnh sẽ diệt trừ, khiến cho
quư vị chẳng phiền năo. Căn bệnh của chúng ta, nói chung là bệnh
phiền năo, phải buông xuống tiếng tăm, lợi
dưỡng, chớ nên v́ tiếng tăm, lợi dưỡng
mà thuyết pháp. B́nh thời, cái tâm tham dục rất nặng,
ḷng tham đối với cảnh giới ngũ dục và
tài vật thế gian rất nặng, quư vị phải nên thường quán tưởng. Đó là độc, quư vị phải
thường nên quán tưởng. Hằng ngày
nghĩ như thế, tự nhiên sẽ chẳng tham dục.
Quư vị luôn nghĩ tham dục có lợi ích; thật ra, nó
đem lại tai hại. Chiến tranh thế giới cũng thế, quư vị
mong tranh giành điều ǵ? Chẳng phải là tranh giành tiếng
tăm, lợi dưỡng hay sao? Nh́n vào những ǵ người
thế gian đang làm trong hiện tại là biết ngay! Giữa
các nước với nhau, giữa người và người
với nhau, tranh giành tiếng tăm, lợi dưỡng.
Đệ tử Tam Bảo chúng ta, điều thứ nhất
là phải buông xuống tiếng tăm, lợi dưỡng,
v́ đấy chẳng phải là chuyện tốt. Nó sẽ
lôi quư vị xuống địa ngục. Quư vị thường
xuyên suy tưởng, đấy là điều khiến cho
chúng ta chịu khổ, quư vị phải chuẩn bị tâm
lư. Sau đó, lại nói chánh pháp với
người ta, những ǵ quư vị đă nói đều là
pháp đoạn ngũ dục, trọn chẳng tuyên
dương ngũ dục.
(Kinh)
Phục thứ, thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát phục
hữu Tịnh Giới
Đại Giáp Trụ Luân. Nhược Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân, tùng sơ phát tâm, nhất
thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn, siêu
thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền, nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đẳng, giai ưng cúng
dường, thừa sự, thủ hộ. Vân hà Tịnh Giới
Đại Giáp Trụ Luân? Thiện nam tử! Bồ Tát tịnh
giới hữu nhị chủng tướng: Nhất giả
cộng, nhị giả bất cộng. Vân hà Bồ Tát Cộng Tịnh Giới Luân? Vị
chư tại gia Cận Sự, Cận Trụ sở thọ
luật nghi, hoặc phục xuất gia, cập thọ Cụ Túc Biệt Giải
Thoát Giới, như thị luật nghi biệt giải
thoát giới. Thị danh Bồ Tát cộng tịnh giới
luân, cộng chư Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng.
Bồ Tát bất do thử tịnh giới luân, năng trừ
nhất thiết hữu t́nh phiền năo, chư ác kiến
thú, cập năng giải thoát nghiệp chướng sanh tử.
Thử bất danh vi Đại Giáp Trụ Luân, diệc bất do thử danh vi Bồ
Tát Ma Ha Tát dă, cập danh nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác chân thật phước điền.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,復有淨戒大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。云何淨戒大甲冑輪?善男子,菩薩淨戒,有二種相:一者、共,二者、不共。云何菩薩共淨戒輪?謂諸在家、近事、近住所受律儀,或復出家及受具足別解脫戒,如是律儀、別解脫戒,是名菩薩共淨戒輪,共諸聲聞、獨覺乘等。菩薩不由此淨戒輪,能除一切有情煩惱、諸惡見趣及能解脫業障生死,此不名為大甲冑輪,亦不由此名為菩薩摩訶薩也,及名一切聲聞、獨覺真實福田。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có Tịnh
Giới Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy
ngũ dục đều có thể đoạn trừ,
vượt xa hết thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́
khắp hết thảy Thanh Văn và Độc Giác làm ruộng
phước lớn. Hết thảy hàng Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đều nên cúng dường, thừa sự,
thủ hộ. Thế nào là Tịnh Giới Đại Giáp
Trụ Luân? Này thiện nam tử! Tịnh giới của Bồ
Tát có hai loại tướng: Một là cùng chung, hai là chẳng
cùng chung. Thế nào là tịnh giới luân cùng chung của Bồ
Tát? Tức là các luật nghi do hàng tại gia Cận Sự, Cận Trụ đă thọ,
hoặc là Cụ Túc Biệt Giải Thoát Giới do hàng xuất
gia đă thọ. Luật nghi và biệt giải thoát giới
như thế, được gọi là tịnh giới
luân cùng chung của Bồ Tát, do cùng chung với Thanh
Văn và Độc Giác Thừa. Bồ Tát chẳng do tịnh
giới luân ấy mà có thể trừ phiền năo, các
đường ác kiến của hết thảy hữu
t́nh, hoặc có thể giải thoát nghiệp chướng
sanh tử. Điều này chẳng được gọi
là Đại Giáp Trụ Luân, và cũng chẳng
do vậy mà được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát,
cũng như gọi là phước điền chân thật
của hết thảy Thanh Văn và Độc
Giác).
Luật
nghi được thọ bởi hàng tại gia Cận Sự, Cận Trụ chính là thọ
Tam Quy, Ngũ Giới, hoặc thọ Bát Quan Trai Giới. Cận
Sự là Tam Quy, Ngũ Giới, Cận Trụ là Bát Quan Trai
Giới. “Hoặc phục xuất gia” (hoặc lại
xuất gia), xuất gia thọ Cụ Túc Giới. Xuất
gia mà chưa thọ Cụ Túc Giới, liền thọ
mười giới của Sa Di. “Cập thọ Cụ
Túc Giới” (và thọ Cụ Túc Giới): Cụ Túc Giới
là Biệt Giải Thoát Giới. Trọn đủ một giới, sẽ giải
thoát như nhau. Tŕ một giới, bèn giải thoát y hệt.
Hai trăm năm mươi giới đều tŕ thanh tịnh,
sẽ đều giải thoát, chứng đắc quả
A La Hán. “Như thị luật nghi biệt giải thoát giới,
thị danh Bồ Tát cộng tịnh giới luân” (biệt
giải thoát giới luật nghi như thế gọi là cộng
tịnh giới luân của Bồ Tát): “Cộng” (共) ở đây có
nghĩa là ǵ? Có Bồ Tát như Địa Tạng Bồ
Tát, hiện tướng tỳ-kheo, Ngài cùng [thọ tŕ giới
luật và oai nghi tỳ-kheo] chung với Thanh Văn và Độc
Giác. Ngài vừa là Bồ Tát, vừa là tỳ-kheo, nên
gọi là “Bồ Tát tỳ-kheo”. Đó gọi là “cộng tịnh giới”, Ngài vừa
thọ giới tỳ-kheo, vừa thọ giới Bồ
Tát. Giới tỳ-kheo cũng thanh tịnh, giới Bồ
Tát cũng thanh tịnh; điều này
có cùng đặc điểm với Thanh Văn và Độc
Giác Thừa. Có phải là Bồ Tát sẽ nhờ vào tịnh
giới luân này để có thể nghiền nát hết thảy
phiền năo hay không? Khiến cho hết thảy phiền năo
và đường ác của chúng sanh đều đoạn
tuyệt ư? Có thể hay không? Chẳng thể! V́ Thanh
Văn và Độc Giác chẳng phát cái tâm ấy. Bồ Tát
dùng giới này đạt được tịnh giới
luân, trừ sạch hết thảy phiền năo, hết thảy
ác kiến, tà tri tà kiến của hữu t́nh. Dùng điều
đó để giải thoát nghiệp chướng sanh tử.
Dùng các điều ấy để giải thoát sanh tử
nghiệp chướng. “Sanh tử” ở đây là nói đến rốt ráo, đó chẳng
phải là Đại Giáp Trụ Luân, chẳng phải là
Tịnh Giới Đại Giáp Trụ Luân, cũng chẳng
phải do vậy mà được gọi là Bồ Tát Ma Ha
Tát. Đây là điều cùng chung với Thanh Văn và Độc
Giác, thuộc về Thanh Văn và Độc Giác, chẳng thể gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, chẳng thể
làm phước điền chân thật cho hết thảy
Thanh Văn và Độc Giác.
(Kinh)
Vân hà Bồ Tát Bất Cộng Tịnh Giới Đại
Giáp Trụ Luân? Vị chư Bồ Tát phổ ư thập
phương nhất thiết hữu t́nh, khởi b́nh đẳng tâm, vô nhiễu
động tâm, vô oán hận tâm, hộ tŕ tịnh giới,
phổ ư nhất thiết tŕ giới, phạm giới,
bố thí, xan tham, từ bi, phẫn khuể, tinh tấn,
giải đăi, hạ, trung, thượng phẩm chư hữu
t́nh sở, vô sai biệt tâm, vô sai biệt tưởng, hộ
tŕ tịnh giới. Phổ ư tam giới nhất thiết
hữu t́nh, vô khuể, vô phẫn, cập chư ác hạnh,
hộ tŕ tịnh giới. Phổ ư tam hữu Uẩn,
Giới, Xứ trung, vô sở phân biệt, hộ tŕ tịnh
giới, bất y Dục Giới hộ tŕ tịnh giới,
bất y Sắc Giới hộ tŕ tịnh giới, bất
y Vô Sắc Giới hộ tŕ tịnh giới, bất quán
chư hữu nhất thiết quả báo, hộ tŕ tịnh
giới, bất y nhất thiết đắc dữ bất
đắc, hộ tŕ tịnh giới, bất y chư hành,
hộ tŕ tịnh giới. Thị danh Bồ Tát bất cộng
Tịnh Giới Đại Giáp Trụ Luân. Thiện nam tử!
Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành thử Tịnh Giới
Đại Giáp Trụ Luân, tùng sơ phát tâm, nhất thiết
ngũ dục giai năng trừ đoạn, đắc
danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă. Siêu thắng nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác, phổ vị nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác tác đại phước điền.
Nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng
giai ưng cúng dường, thừa sự, thủ hộ.
(經)云何菩薩不共淨戒大甲冑輪?謂諸菩薩,普於十方一切有情,起平等心、無擾動心、無怨恨心,護持淨戒;普於一切持戒犯戒、佈施慳貪、慈悲忿恚、精進懈怠、下中上品諸有情所,無差別心,無差別想,護持淨戒;普於三界一切有情,無恚無忿,及諸惡行,護持淨戒;普於三有蘊、界、處中,無所分別,護持淨戒;不依欲界,護持淨戒;不依色界,護持淨戒;不依無色界,護持淨戒;不觀諸有一切果報,護持淨戒;不依一切得與不得,護持淨戒,不依諸行,護持淨戒;是名菩薩不共淨戒大甲冑輪。善男子,若菩薩摩訶薩成此淨戒大甲冑輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,得名菩薩摩訶薩也!超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。
(Kinh:
Thế nào là Bất Cộng Tịnh Giới Đại Giáp Trụ Luân của
Bồ Tát? Tức là các Bồ Tát đă v́ trọn khắp hết
thảy hữu t́nh trong mười phương, dấy lên tâm b́nh đẳng, tâm chẳng nhiễu loạn,
tâm không oán hận mà hộ tŕ tịnh
giới, v́ khắp hết thảy các hữu t́nh tŕ giới,
phạm giới, bố thí, keo tham, từ bi, sân hận, tinh
tấn, giải đăi, hạ, trung, thượng phẩm,
chẳng có tâm sai biệt, không có ư tưởng sai biệt
mà hộ tŕ tịnh giới. V́ khắp hết thảy hữu
t́nh trong tam giới, không nóng giận, không sân hận, và chẳng có các ác hạnh mà hộ
tŕ tịnh giới. V́ chẳng phân biệt trọn khắp Uẩn, Xứ,
Giới trong tam hữu mà hộ tŕ tịnh giới, chẳng
nương theo Dục Giới để hộ tŕ tịnh
giới, chẳng nương theo Sắc Giới để
hộ tŕ tịnh giới, chẳng nương theo Vô Sắc
Giới để hộ tŕ tịnh giới, chẳng quán hết
thảy quả báo trong các hữu mà hộ tŕ tịnh giới,
chẳng nương theo hết thảy đắc và bất
đắc để hộ tŕ tịnh giới, chẳng
nương theo các hành để hộ
tŕ tịnh giới. Đó gọi là Bất Cộng Tịnh Giới Đại Giáp Trụ Luân của
Bồ Tát. Này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát
thành Tịnh Giới Đại Giáp Trụ Luân này, từ
sơ phát tâm, sẽ đều có thể đoạn trừ
hết thảy ngũ dục, được gọi là Bồ
Tát Ma Ha Tát; vượt xa hết thảy Thanh Văn và Độc
Giác, v́ khắp hết thảy Thanh Văn và Độc Giác
làm ruộng phước lớn, hết thảy hàng Thanh
Văn và Độc Giác đều nên cúng dường, thừa
sự, thủ hộ).
Đấy
là Bồ Tát Giới. Bồ Tát Giới là “tam tụ tịnh
giới”, gồm có sáu giới trọng và hai mươi
tám giới khinh [theo kinh Ưu
Bà Tắc Giới Kinh], hoặc mười bốn
giới trọng và bốn mươi tám giới khinh [theo kinh Phạm Vơng]. Đấy là
giới Bồ Tát, chẳng cùng chung với Nhị Thừa,
cho nên gọi là “bất cộng tịnh giới”. Do
luân này th́ mới có thể
độ hết thảy hữu t́nh, v́ sao? Các Ngài đối
với chúng sanh chẳng oán, b́nh đẳng. “Nếu chúng sanh
năo hại ta, ta sẽ chẳng độ kẻ đó”, chẳng phải
là như vậy! Cái tâm phải b́nh đẳng, quư vị
năo hại các Ngài một vạn lần, hại các Ngài bao nhiêu lần, các Ngài vẫn coi quư vị như
cha mẹ, tưởng như chư Phật, Bồ Tát. Các
Ngài vẫn cung kính quư vị y hệt. Đó là cái tâm Bồ
Tát chân chánh. Định lực của Ngài hết sức mạnh
mẽ, chẳng bị tướng cảnh giới xoay chuyển.
Tâm có thể chuyển cảnh, chẳng có tâm oán hận.
Như vậy th́ sẽ không có trả thù, chẳng khổ, chẳng oán, các
Ngài chẳng trả thù. Hộ tŕ tịnh giới
của Bồ Tát như thế đó. Đối với giới,
kẻ tŕ giới là pháp khí, kẻ phá giới chẳng phải
là pháp khí. Tŕ giới và phá giới là pháp tương đối.
Bố thí và keo tham, chẳng chịu bố thí, từ bi và phẫn
khuể, sân tâm hết sức mạnh mẽ, tinh tấn và giải
đăi, [đó là các pháp đối đăi]. Đối với hết thảy hữu t́nh thuộc ba
phẩm thượng, trung, hạ, chẳng có tâm sai biệt.
Không chỉ chẳng có cái tâm ấy, mà ngay cả suy tưởng
cũng chẳng có, chẳng có ư tưởng sai biệt mà hộ
tŕ tịnh giới.
Đối
với Tŕ Thanh Tịnh Giới
Đại Giáp Trụ Luân này, phần trước là Cộng.
“Cộng” tức là cả ba thừa đều cùng có.
Phần này là bất cộng với Thanh Văn và Duyên Giác (tức là Thanh Văn và Duyên Giác hoàn toàn chẳng có các pháp này). Đối
với hết thảy chúng sanh trong tam giới, chẳng phiền
năo, chẳng sân hận, chẳng phẫn nộ, thấy
chúng sanh đều là hư vọng. Quán thể tánh của
chúng sanh vốn là Không, cho nên kinh Kim Cang mới nói: “Khi
chư Phật độ chúng sanh, hoặc chư đại
Bồ Tát độ chúng sanh, chẳng thấy chúng sanh
tướng, biết chúng sanh là huyễn hóa”. Các Ngài làm sao sanh khởi sân khuể, ghét hận
cho được? V́ chúng ta chẳng thấy lư Không, nói chuyện
chẳng hợp lẽ, cho nên trong mối quan hệ giữa
người và người với nhau, lại có rất nhiều
chỗ phẫn nộ! Đồng thời, trong tâm của
chính ḿnh cũng chẳng thanh tịnh, cũng chẳng rốt
ráo thanh tịnh. Các vị đại Bồ Tát ấy hộ
tŕ tịnh giới như thế nào? Các Ngài quán hết thảy
chúng sanh như huyễn, như hóa. Đối với chúng
sanh, chẳng sanh khởi một tí tâm phiền năo nào. Tâm khuể
nộ là chút phần, chứ cái tâm phiền năo bao gồm
quá nhiều thứ!
Phẫn
thuộc trong mười ba món cấu. Bồ Tát hộ tŕ tịnh
giới là hộ tŕ như thế đó. Đối với
hết thảy hữu t́nh chúng sanh trong tam giới, họ
năo hại ta như thế nào, Bồ Tát đều chẳng
dấy ḷng sân hận. Chẳng sanh khởi tâm sân hận,
đương nhiên là chẳng có tâm tổn hại chúng
sanh, tŕ giới thanh tịnh như thế đó. Khi tŕ giới
thanh tịnh, các Ngài ĺa hai bên (Có và Không), hiển thị ư
nghĩa Trung Đạo. Thế nào mới là giới thanh tịnh?
Ngài chẳng nương vào Tam Hữu, tức Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc
Giới. Phàm là có lưu chuyển sanh tử, Ngũ Uẩn,
mười tám giới, mười hai Xứ, hết thảy
các pháp đều chẳng có phân biệt, chẳng dấy
lên phân biệt. Nói cách khác, không thấy chúng sanh nào là tốt,
chúng sanh nào làm thiện nghiệp, chúng sanh nào tạo ác nghiệp.
Tạo ác nghiệp, quư vị liền chán ghét, có khuể, có
phẫn. Đối với người thiện, tâm cảm
nhận phải hộ tŕ họ. Đó là tâm phân biệt,
đó gọi là “có phân biệt”. “Cứu cánh tŕ thanh tịnh giới” (tŕ giới
thanh tịnh rốt ráo): Giới ở đây chính là tâm giới.
Những điều được nói phân biệt kế đó chính là
[nói chi tiết về] tâm giới. Sau đấy, bèn nói hộ tŕ
tịnh giới, chẳng chấp trước hết thảy
tướng Có, tịnh giới chẳng chấp tướng.
Kế đến là chẳng nương vào tam giới, tức
Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, cho đến
chẳng quán quả báo trong hết thảy các cơi mà hộ
tŕ tịnh giới. Tŕ giới là nhân, cái quả
đạt được trong tương lai là quả báo. Tŕ tịnh giới thanh tịnh, chứng
quả A La Hán, chứng đắc Phật quả. Các Ngài
hoàn toàn chẳng xét tới [điều ấy],
chẳng v́ trong tương lai sẽ đạt được
quả báo, hoặc là trong tương lai đạt được lợi ích th́ mới hộ
tŕ tịnh giới.
Lại
c̣n, “bất y nhất thiết đắc dữ bất
đắc hộ tŕ tịnh giới” (chẳng
nương vào hết thảy đắc và bất đắc
mà hộ tŕ tịnh giới): Tŕ giới có công đức,
phá giới chôn vùi công đức, có tội ác. Như vậy,
khi Bồ Tát tŕ tịnh giới, như thế nào th́ mới
là tŕ thanh tịnh giới? Tâm tịnh, cơi Phật tịnh.
Hết thảy chúng sanh tịnh, hết thảy các pháp tịnh,
họ hộ tŕ tịnh giới như vậy. “Bất y
chư hành hộ tŕ tịnh giới” (chẳng nương
vào các hành mà hộ tŕ tịnh giới), “hành” là tu hành,
tu mười tướng, cho đến tu Duy Tâm Thức
Quán, những pháp ấy đều kể như là trụ
tâm. Chẳng phải v́ những điều ấy mà tŕ tịnh
giới, đấy mới là Bất Cộng Tịnh Giới Đại Giáp Trụ Luân của
Bồ Tát. Bất Cộng Tịnh Giới chẳng cùng
chung với Thanh Văn và Độc Giác. Những ǵ chung với
Thanh Văn Thừa và Độc Giác Thừa? Như Ngũ
Giới, như Bát Quan Trai Giới, như hai trăm năm
mươi giới của tỳ-kheo, Nhiếp Thiện Pháp
Giới, và Nhiếp Luật Nghi Giới, đó là Bồ Tát Cộng
Nhiếp Luật Nghi Giới. Có chỗ Bồ Tát giới “bất
cộng” (chẳng chung với) Nhị Thừa, tức
là Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới th́ bất cộng với
Nhị Thừa. Vị Bồ Tát ấy tŕ thanh tịnh giới
luân, trong phần trước đă nói, có hai loại tướng,
một loại là cộng tướng, hai là bất cộng
tướng. Trong phần trước nói đến cộng
tướng, c̣n phần này hoàn toàn nói về bất
cộng tướng.
Do
vậy, Ngài có thể
đoạn trừ hết thảy ngũ dục, được
gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Mà đại Bồ Tát trong các vị
Bồ Tát chính là giác hữu t́nh, giác ngộ hết thảy
chúng sanh, làm cho hết thảy chúng sanh đều giác ngộ,
có thể tŕ thanh tịnh giới. Do loại tŕ giới
thanh tịnh này, tâm tịnh, chẳng chấp trước
giới tướng. V́ vậy, Ngài vượt hơn hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác, cho nên mới có thể
làm ruộng phước lớn cho Thanh Văn và Độc
Giác. Hết thảy các vị thuộc Thanh Văn Thừa và
Độc Giác Thừa đều phải nên cúng dường
vị Bồ Tát Ma Ha Tát này, đều phải nên thừa sự,
học tập tịnh giới với Ngài. Thế nào mới
là tịnh giới?
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa nhi
thuyết tụng viết: - Trụ tại gia luật nghi,
xuất gia giải thoát giới, dữ Nhị Thừa
đẳng cộng, bất danh Ma Ha Tát. Trí giả tu Không pháp, bất y chư thế gian,
diệc bất y chư hữu, hộ tŕ thanh tịnh giới,
ly thủ tướng Thi La, vô nhiễm, vô chư lậu, hộ
tŕ như thị giới, danh chân thật phước
điền.
(經)爾時世尊重顯此義而說頌曰:住在家律儀、出家解脫戒、與二乘等共、不名摩訶薩、智者修空法、不依諸世間、亦不依諸有、護持清淨戒。離取相尸羅、無染無諸漏、護持如是戒、名真實福田。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hiển thị lại
nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng: - Trụ tại
gia luật nghi, xuất gia giải thoát giới, chung với
hàng Nhị Thừa. Chẳng gọi Ma Ha Tát. Người trí
tu pháp Không, chẳng nương các thế gian, cũng chẳng
nương các hữu, hộ tŕ giới thanh tịnh, ĺa chấp
tướng Thi La, vô nhiễm, không các lậu. Hộ tŕ giới
như thế, gọi là phước điền chân thật).
“Tại
gia luật nghi” là Ngũ Giới và Bát Quan Trai Giới.
C̣n như sáu giới trọng và hai mươi tám giới
khinh trong Bồ Tát Giới, khi mới học luật nghi, sẽ
nương theo hữu tướng để tiến nhập
vô tướng, giống như
trong đoạn trên đă nói tới pháp vô tướng.
Đấy là điều cùng chung với Nhị Thừa, tức
là nương theo giới luật hữu tướng
để thọ tŕ giới tướng,
tức là nương theo tướng để thọ tŕ. Điều
đó gọi là “dữ Nhị Thừa cộng” (chung với Nhị Thừa). Hễ chung với
Nhị Thừa th́ chẳng gọi là đại Bồ Tát,
mà là Bồ Tát b́nh phàm. Hoặc là sơ phát ư Bồ Tát,
người trí tu pháp Không, tức là tu Duy Tâm Thức Quán, tu
Không Quán. Người có trí huệ bèn tu Không Quán. Ở trong thế
gian mà ĺa rời tướng thế gian, chẳng
nương vào thế gian mà hành hết thảy các pháp,
cũng chẳng nương vào các hữu, tức là chẳng
nương vào tam giới để hộ tŕ thanh tịnh
giới. Hễ chấp tướng, sẽ chấp trước
luật, Thi La là Giới hay Luật. Đă ĺa khỏi, chẳng
chấp trước tướng. Tŕ giới mà chẳng có
giới tướng của tŕ giới; đó là tâm địa
pháp môn, vô nhiễm, chẳng có các lậu. Tất cả tŕ
luật nghi, tŕ tỳ-kheo giới trong Nhị Thừa vẫn
là pháp có nhiễm. V́ họ nói đến Tịnh th́ cái Tịnh
ấy là do nói đối lập với Nhiễm. Giới tỳ-kheo
của Nhị Thừa chỉ nhằm đối trị
Kiến Tư phiền năo, chẳng thể dính líu tới thể
tánh. Có trí huệ bèn tu Không Pháp, tức là tánh thể.
Trong
phần trước, đă nhắc đến Duy Tâm Thức
Quán. Những điều được nói trong Kinh Chiêm Sát
Thiện Ác Nghiệp Báo đối chiếu với bộ
kinh này th́ phù hợp khít khao với nửa phần sau.
Mười đại giáp trụ luân trong đoạn này
đều là pháp rốt ráo của Bồ Tát Ma Ha Tát Đại
Thừa, đều là tu Không Quán. Quán hết thảy các pháp
đều là Không, giới luật cũng là Không. Phàm là pháp
tương đối, pháp tương đối đều
chẳng có thật thể. Phải hộ tŕ giới như
thế, chẳng rơi rớt tam giới, cho đến hết
thảy vô minh lậu, trần sa lậu, đều được
coi là hữu lậu. V́ hàng Nhị Thừa c̣n có nỗi khổ
Biến Dịch Sanh Tử, vẫn coi như là hữu lậu,
chẳng phải là lậu rốt ráo của chư Phật.
Đấy chỉ là chẳng rơi rớt trong tam giới
mà thôi! Nếu có thể hộ tŕ giới như vậy, chẳng
giữ lấy tướng chấp trước. Hễ có lấy
th́ là chấp trước.
Hễ có lấy, nhất định có xả, không giữ lấy tướng cũng là vô xả.
Đấy mới là có thể làm phước điền chân thật cho Nhị Thừa.
(Kinh)
Phục thứ, thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát phục
hữu An Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân. Nhược Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân, tùng sơ phát tâm, nhất
thiết ngũ dục, giai năng trừ đoạn, siêu
thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền, nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đẳng giai ưng cúng dường, thừa
sự, thủ hộ. Vân hà An Nhẫn Đại Giáp Trụ
Luân? Thiện nam tử! Bồ Tát an nhẫn hữu nhị
chủng tướng. Nhất giả, thế gian. Nhị
giả, xuất thế gian. Vân hà Bồ Tát thế gian an nhẫn?
Vị hữu lậu nhẫn, duyên chư hữu t́nh, hữu
thủ, hữu tướng, y chư quả báo, y chư
phước nghiệp, sở phát khởi nhẫn, y tự
chư Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, sở phát khởi
nhẫn, hữu phát thú nhẫn, vô kham năng nhẫn, lực
luy liệt nhẫn, khí chúng sanh nhẫn, hữu cuống trá
nhẫn, kiểu duyệt tha nhẫn, bất vị lợi
lạc chư hữu t́nh nhẫn. Thị danh Bồ Tát thế
gian an nhẫn. Như thị an nhẫn, cộng chư Thanh
Văn, Độc Giác Thừa đẳng, thử bất
danh vi Đại Giáp Trụ Luân, diệc bất do thử
danh vi Bồ Tát Ma Ha Tát dă, cập danh nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác chân thật phước điền.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,復有安忍大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。云何安忍大甲冑輪?善男子,菩薩安忍,有二種相:一者、世間,二者、出世間。云何菩薩世間安忍?謂有漏忍,緣諸有情有取有相,依諸果報,依諸福業所發起忍,依自諸色、聲、香、味、觸所發起忍,有發趣忍、無堪能忍、力羸劣忍、棄眾生忍、有誑詐忍、矯悅他忍、不為利樂諸有情忍,是名菩薩世間安忍。如是安忍,共諸聲聞、獨覺乘等。此不名為大甲冑輪,亦不由此名為菩薩摩訶薩也,及名一切聲聞、獨覺真實福田。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có An
Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy
ngũ dục đều có thể đoạn trừ,
vượt hơn hết thảy Thanh Văn, Độc
Giác, v́ khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác
làm ruộng phước to lớn. Hết thảy hàng Thanh
Văn, Độc Giác Thừa đều nên cúng dường,
thừa sự, thủ hộ. An Nhẫn Đại Giáp Trụ
Luân là như thế nào? Này thiện nam tử! An nhẫn của
Bồ Tát có hai loại tướng: Một là thế gian,
hai là xuất thế gian. Thế nào là an nhẫn thế gian
của Bồ Tát? Tức là hữu lậu nhẫn, duyên theo
các hữu t́nh, có giữ lấy, có tướng,
nương theo các quả báo, nương theo các phước
nghiệp mà phát khởi nhẫn, nương theo Sắc,
Thanh, Hương, Vị, Xúc của chính ḿnh mà phát khởi
nhẫn, có nhẫn phát khởi tiến hướng, có nhẫn
chẳng thể kham làm, có nhẫn sức yếu kém, có nhẫn
vứt bỏ chúng sanh, có nhẫn dối gạt, có loại nhẫn mù quáng ưa chuộng kẻ khác, có nhẫn
chẳng v́ lợi lạc các hữu t́nh. Đó gọi là an
nhẫn thuộc loại thế gian của
Bồ Tát. An nhẫn như thế cùng chung với các vị
Thanh Văn và Độc Giác Thừa; đấy chẳng
gọi là Đại Giáp Trụ Luân, cũng chẳng do các
nhẫn ấy mà gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, và cũng chẳng
gọi là ruộng phước chân thật của hết
thảy Thanh Văn và Độc Giác).
An
Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân là ǵ? “Thiện nam tử!
An nhẫn hữu nhị chủng tướng” (Này thiện
nam tử! An nhẫn có hai loại tướng): Mỗi luân
đều có hai loại tướng, một là tướng
thế gian, hai là tướng xuất thế gian. Xuất
thế gian là tướng “vô tướng”. An nhẫn
thế gian là ǵ? Chữ Nhẫn (忍) ở đây chẳng thể hiểu là Nhẫn Nhục,
mà phải hiểu theo ư nghĩa “thừa nhận”. Thừa
nhận ǵ vậy? Thừa nhận tánh thể, thừa nhận
pháp hữu lậu và pháp vô lậu. “Vô lậu” (無漏) có ư nghĩa là “rốt
ráo”. Hữu lậu là chẳng rốt ráo. “Duyên chư
hữu t́nh” (duyên theo các hữu t́nh), Bồ Tát hành nhẫn
là nhân, được hết thảy các hữu t́nh bên ngoài
làm các duyên. Nhân là cái có thể sanh khởi, duyên là cái có thể
giúp cho thành tựu. Nếu lúc Bồ Tát muốn thành tựu
Nhẫn Nhục Ba La Mật, phải biết: Trên thế gian
chẳng có ǵ đạt tới rốt ráo, môn Nhẫn ấy
của quư vị vẫn là hữu lậu, là bất liễu
nghĩa nhẫn! V́ [môn Nhẫn ấy] duyên niệm hết
thảy hữu t́nh, hữu t́nh làm trợ duyên cho nó. Tu môn Nhẫn ấy, sẽ có chấp lấy, có
tướng. Nếu kẻ khác mắng ta, năo hại ta, ta
liền biết chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng,
chịu đựng bị kẻ đó sỉ nhục.
Đấy là hữu tướng nhẫn.
Vô
tướng th́ sao? Chúng sanh về căn bản là
Không, hết thảy các pháp đều là Không, thấy chúng
sanh chẳng có tự thể, đều do duyên mà thành. Có
các duyên nào mà thành vậy? Địa, Thủy, Hỏa, Phong,
Không, Kiến, Thức, do bảy đại ấy tạo
thành. Hết thảy chúng sanh đều do bảy đại
tạo thành. Kinh thường nói Tứ Đại, tức
địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong
giới. Hễ khi nào nói “tứ đại giới”, tức
là nói tới bốn đại chủng địa, thủy,
hỏa, phong. Hễ khi nào nhắc tới “tam giới”
th́ đương nhiên là Dục Giới, Sắc Giới,
Vô Sắc Giới. Như vậy là tứ đại giới
bao gồm Dục Giới và Sắc Giới. Vô Sắc Giới
là không, cho nên nói “địa, thủy,
hỏa, phong, không” là đă bao gồm
tứ đại chủng trong ấy. Vô Sắc Giới
cũng được gộp vào Không. Sự an nhẫn của
Bồ Tát chẳng phải là giữ lấy tướng,
nhưng do thuận theo pháp thế gian, Ngài có chấp giữ,
có tướng. Nương theo các quả báo th́ phải tu, nhẫn nhục là tu
phước tốt nhất. Người
nhẫn nhục tướng mạo rất trang nghiêm,
tướng mạo rất xinh đẹp, có tướng công
đức. Nếu một người nổi giận, có
tâm sân hận, tướng mạo sẽ xấu ác.
Người mỹ lệ, tướng mạo rất trang
nghiêm, nhưng hễ nổi nóng, lúc người ấy cáu
giận, tướng mạo sẽ biến đổi, biến
thành La Sát.
Do
vậy, phải nên hiểu [thế gian nhẫn] có giữ lấy, có
tướng, nhưng Bồ Tát hoàn toàn chẳng phải là
như vậy. Ngài nương theo thế gian, nên có bộ dáng như vậy. Tu phước thế
gian, v́ Nhẫn sanh khởi bởi phước thế gian sẽ
nương vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc để
sanh ra nhẫn. Hoặc là quư vị đánh tôi, đó là Xúc.
Xúc là Khổ Thọ. Quư vị cảm giác đau khổ, hoặc
bị kẻ khác chửi bới, cảm thấy nhục
nhă, đấy đều là hữu tướng. Đối
trước các hữu tướng ấy, quư vị chịu
đựng, nhưng đối với việc liễu sanh
tử, chẳng có cách giải quyết. Đấy chỉ
là nương theo thế gian. Giả sử liễu sanh tử
th́ cũng chỉ có thể chứng đắc sự sanh tử
của Nhị Thừa. Đó gọi là Phần Đoạn
Sanh Tử, chẳng phải là rốt ráo! Môn Nhẫn ấy
(thế gian nhẫn) là nói theo hết thảy Sắc, Thanh,
Hương, Vị, Xúc. Đấy là Ngũ Trần. Ngũ
Trần tiếp xúc ngũ căn của quư vị bèn sanh khởi
những điều chẳng vừa ư. Quư
vị chịu đựng được th́ gọi là “nương
theo điều đó mà sanh ra Nhẫn”. Môn Nhẫn ấy chẳng
phải là rốt ráo, do thuận theo tướng thế
gian để phát tâm tiến hướng. Nếu đang ở
trong tướng thế gian mà muốn đoạn thế
gian, đoạn tam giới cửu hữu[2],
Nhẫn ấy sẽ chẳng rốt ráo. Do vậy, nó
được gọi là “thế gian nhẫn”.
“Vô
kham năng nhẫn”: Nếu là người trong thế gian, họ
sẽ chẳng thể nhẫn thọ (chịu đựng),
nhưng nói theo người tu đạo th́ sẽ có thể
kham nhẫn, có thể chịu đựng. Hoặc là kẻ
khí lực suy yếu, chẳng bằng người khác. Nếu
so sánh với người khác, luôn kém cỏi hơn, người
ấy cho rằng như thế là chánh xác, chẳng có tâm
tranh giành phần thắng với người khác. Đấy
đều là nói theo ư nghĩa “có chấp lấy, có tướng”.
“Khí
chúng sanh nhẫn” (môn nhẫn vứt bỏ chúng sanh): Chúng
ta thấy Thanh Văn và Duyên Giác của Nhị Thừa chẳng
độ chúng sanh. Chẳng độ chúng sanh chính là “khí
chúng sanh” (棄衆生, vứt bỏ
chúng sanh). Họ tu môn Nhẫn ấy chính là “khí chúng sanh”.
Hoặc là có kẻ lừa dối, gạt gẫm quư vị,
lường gạt quư vị, dối lừa quư vị, quư
vị chẳng nhận biết đấy là dối gạt,
vẫn chấp nhận kẻ đó, mù quáng ưa chuộng kẻ đó, khiến cho hắn
hoan hỷ, khiến cho hắn sung sướng. Chúng ta thừa
nhận như thế, [tức là] “bất vị lợi
lạc chư hữu t́nh nhẫn” (chẳng phải v́ lợi
lạc các hữu t́nh mà nhẫn).
Đó gọi là an nhẫn thế gian của Bồ Tát, chẳng
lợi lạc chúng sanh! Các môn Nhẫn ấy là “thế
gian nhẫn”. Chính là môn nhẫn ǵ vậy? Là nhẫn của
Thanh Văn và Duyên Giác. Nói cách khác, đều là pháp thuộc
về Thanh Văn và Duyên Giác, tùy thuận thế gian. Đó
là nhẫn pháp cùng chung với Thanh Văn và Độc Giác
Thừa. Đấy là an nhẫn thuộc loại
thế gian của hàng Bồ Tát. Môn an nhẫn này có
chung với Thanh Văn và Độc Giác Thừa,
nương theo môn Nhẫn ấy để tu, sẽ chứng
đắc môn Nhẫn ấy.
(Kinh)
Vân hà Bồ Tát xuất thế An Nhẫn Đại Giáp Trụ
Luân? Vị vô lậu nhẫn, nhất thiết hiền thánh
đại pháp quang minh, phổ vị lợi lạc nhất
thiết hữu t́nh vô nhiễm trước nhẫn,
vĩnh đoạn nhất thiết sở tác sự nghiệp,
ngữ ngôn, nhân tướng, văn tự, âm thanh, hành y xứ
an nhẫn. Tu thử nhẫn
cố, năng đoạn nhất thiết tam kết, tam
thọ, tam tướng, tam thế, tam hữu, tam hạnh,
tam bất thiện căn, tứ chủng bộc lưu, tứ
ách, tứ thủ, tứ chủng thân hệ. Tu thử nhẫn
thời, tâm ư tịch tĩnh. Thị danh Bồ Tát xuất
thế An Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân. Thiện nam tử!
Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành thử An Nhẫn Đại
Giáp Trụ Luân, tùng sơ phát tâm, nhất thiết ngũ dục
giai năng trừ đoạn, đắc danh Bồ Tát Ma Ha
Tát dă, siêu thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác, phổ vị nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác tác đại phước điền. Nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác Thừa đẳng giai ưng cúng
dường, thừa sự, thủ hộ.
(經)云何菩薩出世安忍大甲冑輪?謂無漏忍;一切賢聖大法光明,普為利樂一切有情,無染著忍;永斷一切所作事業,語言、因相、文字、音聲、行依處安忍;修此忍故,能斷一切三結、三受、三相、三世、三有、三行、三不善根、四種瀑流、四扼、四取、四種身系;修此忍時,心意寂靜,是名菩薩出世安忍大甲冑輪。善男子,若菩薩摩訶薩成此安忍大甲冑輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,得名菩薩摩訶薩也!超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。
(Kinh: Thế nào là xuất
thế An Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân của Bồ
Tát? Chính là vô lậu nhẫn, là quang minh
nơi đại pháp của hết thảy hiền thánh,
là vô nhiễm trước nhẫn (môn nhẫn không đắm nhiễm)
lợi lạc trọn khắp hết thảy hữu
t́nh, là môn nhẫn vĩnh viễn đoạn
trừ hết thảy sự nghiệp đă làm, ngôn ngữ,
tướng trạng của cái nhân, văn tự, âm thanh, hành y xứ. Do tu môn nhẫn này, có
thể đoạn hết thảy tam kết, tam thọ,
tam tướng, tam thế, tam hữu, tam hạnh, tam bất
thiện căn, bốn loại gịng thác, tứ ách, tứ
thủ, bốn loại trói buộc nơi thân. Khi tu môn nhẫn này, tâm ư tịch
tĩnh. Đó gọi là xuất thế An Nhẫn Đại
Giáp Trụ Luân của Bồ Tát. Này thiện nam tử! Nếu
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu An Nhẫn Đại Giáp Trụ
Luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy ngũ dục
đều có thể đoạn trừ, được gọi
là Bồ Tát Ma Ha Tát, vượt hơn hẳn hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác, v́ khắp hết thảy Thanh
Văn, Độc Giác làm đại phước điền.
Hết thảy các hàng Thanh Văn, Độc Giác Thừa
đều nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ).
Thế
nào là xuất thế gian An Nhẫn Đại Giáp Trụ
Luân của Bồ Tát? Môn nhẫn này chẳng phải là
Đại Giáp Trụ Luân, cũng chẳng phải là an nhẫn
rốt ráo, được gọi là Vô Lậu Nhẫn. Không
chỉ chẳng “lậu lạc” (ṛ rỉ, thừa
sót) trong tam giới, mà cũng chẳng lậu lạc trong hết thảy
các Hữu. “Lậu” là nói đến tập khí vô minh và trần sa. Loại nhẫn này được gọi
là Pháp Nhẫn. Nếu thừa nhận
pháp tánh th́ được gọi là Vô Lậu Nhẫn. Môn nhẫn
này sanh khởi từ quang minh nơi
đại pháp của các bậc hiền thánh, tức
cũng là từ trí huệ của họ. “Hiền” (賢) là nói tới địa
vị Tam Hiền (Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng), [Thánh là nói tới
Thập Địa]. Đấy là bậc
Bồ Tát chứng đắc địa vị hiền
thánh, đạt được đại pháp quang minh trí
huệ. Nhưng Ngài hoàn toàn chẳng vứt bỏ chúng sanh,
mà lợi lạc hết thảy hữu t́nh. Tuy lợi lạc
hữu t́nh, nhưng chẳng tham đắm, chẳng chấp
lấy tướng của chúng sanh.
“Phổ
vị lợi lạc nhất thiết hữu t́nh vô nhiễm
trước nhẫn” (môn Nhẫn v́ lợi lạc trọn
khắp hết thảy hữu t́nh mà chẳng đắm
nhiễm): “Vô nhiễm trước nhẫn” là do chấp nhận hết thảy chúng sanh, chẳng [chấp
trước] có tướng chúng sanh, tức là “vô ngă
tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng, vô
thọ giả tướng” như kinh Kim Cang đă dạy, cũng chẳng có cái
ta có thể nhẫn, cũng chẳng có pháp để có thể nhẫn, chẳng có đối
tượng để nhẫn. Chẳng có cảnh, chẳng
có ư cảnh, chẳng có pháp, chẳng có ngă, vĩnh viễn
đoạn hết thảy các sự nghiệp
đă làm. “Đă vĩnh viễn đoạn sự nghiệp
đă làm” có nghĩa là chẳng chấp trước. “Vĩnh viễn
đoạn” hoàn toàn chẳng phải là không làm
ǵ, mà là làm hết thảy các sự, nhưng chẳng chấp
trước hết thảy sự nghiệp.
“Ngữ ngôn, nhân tướng,
văn tự, âm thanh”: Phàm các sự nghiệp quư vị
đă làm đều chẳng thể ĺa khỏi ngôn ngữ,
cũng chẳng thể ĺa khỏi văn tự, chẳng
thể ĺa khỏi tướng văn tự, chẳng ĺa khỏi tướng
ngôn ngữ, mà cũng chẳng thể ĺa khỏi
chúng sanh. Sự nghiệp mà quư vị có thể hành đều
cậy vào hết thảy các duyên mà thành tựu. Chẳng có
trợ duyên, duyên đă bị diệt, th́ sự nghiệp ấy
cũng chẳng có! Nếu có thể đạt được
môn Nhẫn ấy, sẽ có thể đoạn “tam kết,
tam thọ, tam tướng, tam thế, tam hữu, tam hành,
tam bất thiện căn, tứ chủng bộc lưu, tứ
ách, tứ thủ, tứ chủng thân hệ. Tu thử nhẫn
thời, tâm ư tịch tĩnh” (tam kết, tam thọ, tam
tướng, tam thế, tam hữu, tam hành, tam bất thiện
căn, bốn loại gịng thác, tứ ách, tứ thủ, bốn
loại ràng buộc nơi thân. Khi tu môn Nhẫn này, tâm ư tịch
tĩnh). Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát tu An Nhẫn Đại
Giáp Trụ Luân này, từ lúc người
ấy vừa mới phát tâm, sẽ có thể đoạn trừ
ngũ dục.
“Tam
thọ” là ǵ? “Thọ” (受) ở đây có nghĩa là “lănh nạp” (領納, tiếp nhận).
Bất luận thân thể quư vị tiếp xúc, cho đến
ư niệm tiếp xúc, sẽ có ba loại là Khổ Thọ,
Lạc Thọ, và Bất Khổ Bất
Lạc Thọ. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ư của
chúng ta gọi là Lục Căn. Sắc, Thanh, Hương, Vị,
Xúc, Pháp ở bên ngoài, được gọi là Lục Trần.
Khi Căn và Trần tiếp xúc, trong ấy bèn có Lục Thức,
tức Nhăn Thức, Nhĩ Thức, Tỵ Thức, Thân Thức,
và Ư Thức. Ba món ấy (Căn, Trần, Thức) hợp
thành Thập Bát Giới. Nếu Căn và Trần tiếp
xúc, mà không có Thức, thứ ǵ quư vị cũng chẳng biết.
Khi Căn và Trần tiếp xúc [mà chẳng có Thức], quư vị
chẳng có cảm giác ǵ. Do có Thức sanh khởi tác dụng
phân biệt, quư vị sẽ cảm nhận được.
Cái cảm nhận ấy chính là Thọ. Thọ là có khổ,
có lạc, lại c̣n một loại nữa là Bất Khổ
Bất Lạc, có ba loại Thọ như thế. Tức
là nói khi Căn đối đăi (tiếp xúc) ngoại cảnh,
cộng thêm sự phân biệt của Thức, quư vị sẽ
cảm nhận ba loại Thọ. Một loại là cảm
giác đau khổ (Khổ Thọ), một loại
nữa là cảm giác vui sướng (Lạc Thọ). [Ngoài ra, c̣n có một
t́nh huống là] quư vị chẳng có cảm giác ǵ, tức là trọn chẳng
có cảm giác khổ hay sướng. Chẳng khổ, chẳng
lạc th́ gọi là Xả Thọ (Bất Khổ
Bất Lạc Thọ).
“Tam
kết” là ǵ? “Kết” là Kết Sử (結使). Chúng ta ở
trong Hoặc nghiệp giống như sợi thừng hoặc
cái đai thắt nút chặt lại. Nay chúng ta đều
dùng thắt lưng bằng da. Trong quá khứ, ở hương thôn, toàn dùng sợi
thừng, hoặc dùng vải may thành đai lưng để
buộc. Có khi thắt rất chặt, đặc biệt
là lúc sử dụng Công Phu, sợ chẳng đủ chặt,
nó sẽ bung ra, tuột mất, cho nên thắt rất chặt.
Như vậy th́ đương nhiên cũng có phiền
toái: Lúc tháo ra, rất khó khăn! Điều này ví như chúng
ta đang ở trong phiền năo, mong tháo gỡ sự kết
buộc ấy rất khó khăn. Cái núi thắt ấy là ǵ?
Kiến Hoặc, [hay nói cụ thể hơn là] tám
mươi tám món Sử thuộc Kiến Hoặc, khiến
cho quư vị chịu tội, đó là Kiến Hoặc. Có khi
Thân Kiến và Biên Kiến [trong Kiến Hoặc] đều
lấy Ngă làm chủ, coi thân thể này của ta là chủ yếu,
mang ư nghĩa “chủ quan của chính ḿnh rất mạnh”.
Đó gọi là “hằng khởi Ngă Kiến” (luôn dấy
lên Ngă Kiến):
1)
Ngă Kiến là Thân Tướng Kết, tức là đối
với thân thể th́ Ngă Kiến [có một loại kiến
chấp] gọi là Thân Kiến Kết (身見結, sự vướng
mắc do kiến chấp đối với cái thân), mong bảo
vệ thân thể, giống hệt như Kết Sử.
2)
Cấm Thủ Kết: Cấm Thủ Kết (禁取結, kết sử về
sự chấp giữ giới cấm hay kiêng kỵ nào
đó) chính là tà kiến. Tà tri, tà kiến, tà giác quán. Đó
là nói đến ngoại đạo.
3)
Nghi Kết: Hoài nghi chánh lư, tức chánh lư chân chánh. Chẳng
hạn như đối với Duy Tâm Thức Quán, quư vị
hoài nghi. Suy nghĩ và việc làm đều chẳng phù hợp
đạo lư. Chúng ta nói “chẳng hợp lư” chẳng
phải là nói theo đạo lư như thế gian đă nói.
Trong Phật giáo, “chẳng hợp lư” là nói theo nội
tâm của quư vị, chẳng tương ứng với chân
tâm th́ mới gọi là Mê. Chẳng hạn như
chúng ta tin theo Phật giáo, người khác nói là [chúng ta] mê tín! Tôi đă
từng hỏi một số người, tôi nói: “Quư vị
hăy nói cho tôi biết, mê là ǵ? Tín là ǵ?” Họ chỉ biết
nói theo người khác, người khác nói sao bèn nhắc lại
như vậy. “Mê” là mơ hồ. Mơ hồ tin
tưởng Phật giáo tức là đă mơ hồ, mê muội.
Tôi nói: Đă mơ hồ, mơ màng mà c̣n tin ư? Giống
như người mắc bệnh tâm thần phân liệt,
mơ hồ, điều ǵ cũng chẳng tin, ngay cả
chính ḿnh cũng chẳng biết! Đă mê, sẽ tuyệt
đối chẳng tin. Người tin, tuyệt đối chẳng
mê! Ghép hai chữ Mê và Tín với nhau, chẳng thể
được! V́ sao? Kẻ hoài nghi sẽ chẳng tin. V́
chúng ta đă tin, tin hết thảy các pháp chỉ do tâm thức
biến hiện, [thường nói là] “duy tâm sở hiện”.
Kẻ ấy đă chẳng tin, đă hoài nghi. Hễ đă nghi th́ ḷng tin chẳng
thể bén rễ được. Đấy cũng là một
cái nút thắt, tức Nghi Kết.
Kinh
Lăng Nghiêm dạy phải tháo gỡ nút thắt giữa
Căn và Trần, nhưng cái nút thắt ấy rất khó
tháo gỡ. Có lẽ các vị là bậc Bồ Tát đă tháo
gỡ, chứ tôi chưa cởi bỏ được! Chẳng tháo nổi cái nút ấy là v́ hoài nghi, chẳng
thể sanh khởi tín tâm chân chánh. Tín tâm chân chánh là như thế
nào? Nói theo phía chúng tôi, kinh văn trong nửa quyển sau của
kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo đă giúp cho chúng tôi giảng
kinh Đại Thừa Đại Tập Thập Luân rất
nhiều. Chúng tôi giảng đến đoạn kinh văn
này, tin vào chân tâm, tin vào Chân Như Thật Tướng của
quư vị, tin thân của chúng ta và thân của chư Phật
đều giống hệt nhau, b́nh đẳng, chẳng
khiếm khuyết, nhưng v́ sao ta chẳng đạt
được? Chính là v́ Tam Kết đă trói buộc, khiến
cho quư vị chẳng thể tin nổi!
“Tam tướng”
tức là Giả Danh Tướng, Pháp Tướng, và Vô
Tướng Tướng. Đấy là Tam Tướng. Hết
thảy các pháp đều có ba tướng ấy.
1) Giả Danh là ǵ? Hư ngụy mà có giả danh, chẳng
có thật thể. Chỉ có danh tự, mà chẳng có thật
thể, có thể hư hoại. Hễ hư hoại, cái
danh tự ấy cũng chẳng tồn tại, chẳng
đại biểu cho điều ǵ được nữa.
Giả Danh là bất cứ lúc nào cũng đều có thể
thay đổi danh tự. Tôi ở trong tù chẳng
có tên, bị gọi là “thằng tù số
345”. Có khi
gọi là “thằng
tù số 178”. Tức
là tùy lúc [cai ngục] ban cho quư vị một con số. Hễ
điều chỉnh buồng giam, lại cấp cho quư vị
một số mới. Điều chỉnh sang chỗ khác,
lại đổi thành số mới, chẳng để
cho kẻ khác biết quư vị đang ở nơi nào! Nếu
quư vị vào trong đó, chẳng có danh tự nữa, hễ
nghe gọi con số thay thế ấy,
liền biết đó là ḿnh. Không chỉ đối với
phạm nhân, mà quân đội, cho đến các quan chức
cao cấp của chánh phủ, đều dùng số hiệu
làm đại biểu. Số nào ra số nấy, trong nội
bộ sẽ biết đó là ai, người ngoài chẳng
biết được! Các danh tự
ấy chẳng
phải là giả danh ư? Giả trất, chẳng có thật
thể để có thể chấp
trước. Có thể đặt cho tên gọi này, mà cũng có thể
đặt tên bằng danh tự kia, hết thảy các
tướng đều là giả tướng. Đối với
giả tướng th́ có thể đặt giả danh
tương ứng với giả tướng như thế,
biến hóa rất nhiều!
2)
Loại thứ hai là Pháp Tướng. Pháp Tướng là
tướng của các pháp, như chúng ta nói đến Ngũ
Uẩn, Thập Bát Giới, các tướng ấy chẳng
thật!
3)
Loại thứ ba là Tướng Vô Tướng: Tướng
vô tướng chính là đă ĺa khỏi giả danh. Pháp
Tướng ĺa khỏi giả danh bèn là tướng ǵ vậy?
Chân Như. Chân Như chẳng phải là thật, chỉ là
tên gọi của pháp mà thôi! Nó ĺa khỏi giả tướng.
Trong danh từ Chân Như, danh từ Chân vẫn là giả,
mà cũng chẳng thấy Chân Như là như thế nào!
Chân Như rốt cuộc là như thế nào? Chúng ta cách
chân tâm rất xa, một giây cũng
chẳng gặp được! Nếu gặp gỡ
trong một phút, quư vị sẽ khai ngộ trong một
phút. Gặp gỡ một giây, quư vị sẽ khai ngộ
trong một giây. Khi nghe giải thích, quư vị tin tưởng.
Khi quư vị tiến nhập, là do theo giả danh mà tin, chẳng
phải là thật sự đạt được niềm
tin. C̣n nữa, chúng tôi nói Dục Hữu, Sắc Hữu, Vô
Sắc Hữu. Các thứ ấy đều là giả danh,
đều là Tướng. Đấy là pháp tướng.
“Sanh
tướng, Trụ tướng, Dị tướng, Diệt
tướng”: Sanh, trụ, dị, diệt vốn là Tứ
Tướng. Trụ tướng và dị tướng gộp
lại, hợp thành một, hai tướng biến thành một.
Chúng ta đang thuộc Trụ Tướng. Kể từ
ngày được sanh ra đời, đă là Trụ Tướng.
Nhưng trong khi đang trụ, lại dị (異, đổi khác). Dị
là nói “đổi khác”, mỗi năm một thay đổi,
biến đổi dần dần đến tử vong.
Đấy là Sanh Tướng, Dị Tướng, và Diệt
Tướng, đến cuối cùng tiêu mất, chẳng
c̣n nữa. Điều này có thể hoại hết thảy
các pháp. “Diệt” là tướng của hết thảy
các pháp đều chẳng tồn tại. Đă diệt mà
nói là “vô sanh diệt”, chẳng diệt th́ sẽ chẳng
sanh, chẳng sanh th́ cũng chẳng diệt. Hai điều
này tương phản, không thể cùng tồn tại. Nay
chúng ta là Sanh Tướng, đến khi chúng ta tử vong, tức
là đă diệt, chẳng c̣n nữa. Diệt Tướng,
Diệt Tướng là tướng ǵ? Là chẳng c̣n nữa!
“Tam
thế” dễ giải thích, tức là quá khứ, hiện
tại, và tương lai.
“Tam
hữu”: Dục Hữu, Sắc Hữu, Vô Sắc Hữu.
Chúng sanh theo các nghiệp mà hứng chịu các quả báo,
bèn có sanh tử.
“Tam
hành”, “hành” có nghĩa là “vận động”,
thứ ǵ đang vận động? Thân, miệng, ư
đang vận động. Tam hành là nói về thân, miệng,
ư.
“Tam
bất thiện căn” tức là tham, sân, si. Ba thứ ấy
chẳng tốt đẹp, hễ có đôi chút [tham, sân, si] liền bại hoại, chẳng phải
là thiện căn. Ba thứ ấy nhiễm đắm cảnh.
Đối với cảnh bên ngoài, hễ vừa ư th́ là thuận
cảnh, quư vị liền vui thích. Chẳng vừa ư, sẽ
là sân cảnh, quư vị liền phẫn nộ, phiền năo ǵ
cũng đều đưa đến. Đó gọi là chẳng
có trí huệ. Chẳng có trí huệ, sẽ chẳng hiểu
rơ Sự, Lư. Đấy là “tam bất thiện căn”,
là căn bản của hết thảy các điều ác.
“Tứ
chủng bộc lưu” (bốn gịng thác) tức là dục
bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc
lưu, và vô minh bộc lưu. Tài, sắc, danh vọng,
ăn uống, ngủ nghê cũng là gịng thác. Tham, sân, si, mạn,
nghi cũng là gịng thác.
“Tứ
ách”: [Cái ách] chẳng thường thấy. Ách (扼) là bộ phận đặt trên xe, chẳng phải
là xe hơi hiện thời, mà là cái ách gắn trên xe trâu hay
xe ngựa. Bộ phận ở chính giữa [nối vào
thùng xe] để buộc ngựa, hai bên có chốt, đó
là ách, cũng có nghĩa là buộc chặt con ngựa vào cái
ách để nó kéo xe. Nó nhảy nhót cỡ nào cũng chạy
không thoát, đă bị buộc chặt rồi, chẳng thoát
ra được. Hết thảy bọn chúng sanh chúng ta ở
trong sanh tử cũng chẳng thoát ra được. “Dục
ách đồng dục bộc lưu” (Dục ách giống
như gịng thác Dục), có hai mươi chín loại. “Hữu
ách đồng hữu bộc lưu” (Hữu ách giống
như gịng thác Hữu), có hai mươi tám loại. “Kiến
ách đồng kiến bộc lưu” (Kiến ách giống
như gịng thác về Kiến Hoặc), có ba mươi sáu
loại. “Tứ vô minh ách” (thứ tư là Vô Minh Ách), “tứ vô minh bộc
lưu” (thứ tư là gịng thác Vô Minh) có mười
lăm loại. “Tứ ách” chính là “tứ bộc lưu”,
nhưng trong đó lại chia ra khá nhiều thứ. V́ sao
chia ra nhiều như vậy? Do tư tưởng và hành vi
của chúng ta có rất nhiều thứ, đức Phật
nói ra từng thứ một. Quư vị phù hợp loại
nào, nó sẽ khiến cho quư vị chẳng thể kiến
tánh nơi loại đó, có ư nghĩa như thế đó!
“Tứ
thủ” (bốn thứ chấp giữ) là tên khác của
phiền năo. Tam giới có tám trăm phiền năo, chia thành bốn
loại riêng: Hữu Dục Thủ, Kiến Thủ, Giới
Cấm Thủ, và Ngă Dữ Thủ.
Ngă Dữ Thủ (我與取) là tất cả
trói buộc trong thân, tức là Ngă Chấp dấy lên,
cũng có nghĩa là ta làm chuyện ǵ đều nhằm biểu
lộ cái Ngă. Biểu lộ cái Ngă có nghĩa là Ngă Kiến,
cũng là một loại trong bốn loại bộc
lưu.
“Tứ
chủng thân hệ” (bốn thứ trói
buộc nơi thân) là tham sân, giới thủ,
thật thể thủ (chấp trước bản thể
các pháp là thật). Bốn thứ chấp trước ràng
buộc.
“Tam
luật nghi”: Biệt Giải Thoát Luật Nghi, Tịnh
Sanh Luật Nghi, và Đạo Sanh Luật Nghi.
“Tam
giải thoát môn” là Không, Vô Tướng, Vô Nguyện.
“Tứ
đoạn kiến” chính là Tứ Chánh Cần.
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi
thuyết tụng viết: - An nhẫn thuyết nhị chủng,
vị hữu tướng, vô tướng. Hữu tướng
nhẫn hữu trước. Trí giả bất xưng dự.
Tu nhẫn y tam hành, y Uẩn, Giới, Xứ đẳng. Thị
danh hữu lậu nhẫn, phi Ma Ha Tát tướng. Vị
diệt Tứ Điên Đảo, tu vô nhiễm trước
nhẫn. Tịch tĩnh tam hạnh
đẳng. Thử nhẫn khả xưng dự. Năng tịch
tĩnh chư hành, ly nhất thiết phân biệt, tâm b́nh
đẳng như không. Thử nhẫn khả xưng dự.
Chư pháp đồng nhất thú, Không, Vô Tướng tịch
diệt. Tâm vô sở trụ trước. Thử nhẫn
thành đại lợi.
(經)爾時,世尊重顯此義,而說頌曰:安忍說二種,謂有相無相,有相忍有著,智者不稱譽。修忍依三行,依蘊界處等,是名有漏忍,非摩訶薩相。為滅四顛倒,修無染著忍,寂靜三行等,此忍可稱譽。能寂靜諸行,離一切分別,心平等如空,此忍可稱譽。諸法同一趣,空無相寂滅,心無所住著,此忍成大利。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hiển thị lại
nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng: - An nhẫn nói hai
loại, hữu tướng và vô tướng. Hữu
tướng nhẫn chấp hữu, người trí chẳng
khen ngợi. Tu nhẫn nương tam hành, nương vào Uẩn,
Giới, Xứ, gọi là hữu lậu nhẫn, vô Ma Ha Tát
tướng. V́ diệt Tứ Điên Đảo, tu nhẫn
không đắm nhiễm, tam hành đều tịch tĩnh.
Nhẫn ấy đáng khen ngợi. Tịch tĩnh nơi
các hành, ĺa hết thảy phân biệt, tâm b́nh đẳng
như không. Nhẫn ấy đáng khen ngợi. Các pháp cùng một
nẻo, Không, Vô Tướng tịch diệt. Tâm chẳng hề
trụ vướng. Nhẫn ấy thành đại lợi).
“Nhĩ
thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi thuyết
tụng viết” (lúc bấy giờ, đức Thế
Tôn hiển thị lại nghĩa ấy, bèn nói kệ tụng
rằng): Đức Phật nhắc lại lần nữa
các ư nghĩa bao hàm trong đoạn kinh văn trên đây. “An
Nhẫn thuyết nhị chủng, vị hữu tướng,
vô tướng” [nghĩa là] An Nhẫn có hai loại tướng, một là hữu
tướng, hai là vô tướng. “Hữu tướng nhẫn”
cùng chung cho cả ba thừa. “Vô tướng nhẫn” chỉ
riêng cho Bồ Tát. “Trí giả bất xưng dự”
(người trí chẳng khen ngợi): Người có trí huệ
chẳng tán thán Hữu Tướng Nhẫn.
“Tu
nhẫn y tam hành, y Uẩn, Giới, Xứ đẳng,
thị danh hữu lậu nhẫn, phi Ma Ha Tát tướng” (Tu nhẫn
nương theo tam hành, nương theo Uẩn, Giới, Xứ v.v… th́ gọi là hữu lậu nhẫn, chẳng
phải là tướng Ma Ha Tát): Nương theo thân, miệng,
ư (đó là tam hành), nương theo mười tám giới,
mười hai xứ. Hành nhẫn, tu nhẫn như thế
chẳng phải là tướng Ma Ha Tát, tức chẳng phải
là tướng của đại Bồ Tát. “Vị diệt
Tứ Điên Đảo” (v́ diệt Tứ Điên Đảo):
Vô ngă, chấp ngă đều là điên đảo. Vốn
chẳng có chấp trước. Hăy nhớ hễ có cái Ta, vốn
chẳng phải là vui, mà là khổ, lại coi nó là lạc;
đấy là [điên đảo] của nhân sanh. Nêu một
thí dụ, giống như chúng ta uống rượu trong tiệc
rượu. Uống rượu là do mọi người rủ
rê, khuyên dụ lẫn nhau, dường như rất vui
sướng, uống say mềm, uống say lúy túy. Phải
nên biết đấy là khổ, lại c̣n khiến cho cái
thân đau khổ. Năm xưa, khi tôi đến
nơi đó, có một vị đạo hữu đến từ Đài Loan, ông ta uống rượu say sưa,
té gục dưới chân bàn, găy phần trước
xương cổ. Hiện thời, cổ ông ta vẫn tổn
hại như thế, tốn rất nhiều tiền trị
liệu. Vốn là t́m khoái lạc, rốt cuộc hoàn toàn chẳng
khoái lạc!
Giống
như tại Đài Loan có nam bồi rượu, có nữ
bồi rượu, nữ t́m nam bồi rượu, nam t́m
nữ bồi rượu. Vốn là chuyện vui sướng,
nhưng ghen tỵ lẫn nhau, thậm chí thù hận giết
nhau! Tổn thất kinh tế chẳng cần nói, c̣n dẫn
đến rất nhiều phiền toái. Lại c̣n “tranh phong” (tranh giành chiếm
ưu thế), lại ghen tuông, rất nhiều nỗi
đau khổ trong ấy. Quư vị nói xem, đấy là khoái lạc hay là thống khổ? Vốn
chẳng có chúng sanh, ngay cả Ngă đều chẳng có, sự
khoái lạc ấy chẳng phải là khoái lạc. Thường,
Lạc, Ngă, Tịnh là Tứ Đức của chư Phật.
Ngược lại th́ gọi là Tứ Điên Đảo,
coi khổ là vui, coi vô thường chính là thường, coi
tịnh là bất tịnh. Thân thể của chúng ta vốn
bất tịnh, vẫn chê cái này bất tịnh, cái kia cũng bất tịnh, quư vị có điểm nào sạch sẽ
hay chăng? Chính ḿnh chẳng tu Quán, v́ phía trên thân thể có hoành cách mô (Thoracic diaphragm), phía dưới
lại có một cái hoành cách mô nữa, cho nên mùi hôi [từ
trong nội tạng] mới không toát ra. Trước khi chúng
ta lọt ḷng mẹ, toàn là bất tịnh, ở ngay dưới
sanh tạng và thục tạng[3]
bẩn thỉu, ở ngay trong phần phân tiểu, lại
c̣n phải hấp thụ những thứ ấy th́ mới
có thể sanh tồn. Sau khi được sanh ra, quư vị
thấy thân thể này, chín lỗ thường tuôn chảy.
Do điên đảo, kẻ ấy thường cho rằng
[chính ḿnh] rất sạch sẽ, [chê bai] thứ này chẳng
sạch sẽ, thứ kia cũng chẳng sạch sẽ.
Kẻ đó cho rằng chính ḿnh rất
tốt đẹp, rất sạch sẽ; thật ra, rất
bẩn thỉu!
Giả
sử nói: Bất cứ lúc nào chúng ta tụ hội, luôn xách
theo một túi phân, một bọc nước tiểu, gói thật
kín để đem đi, chính quư vị cảm thấy rất
nhơ bẩn. Dẫu chẳng ai biết, cũng cảm thấy
rất bẩn thỉu. Thật ra, chúng ta đem theo cái thân
xác thịt này, quư vị nói xem có phải là giống hệt
như vậy hay chăng? Đó đều là điên đảo.
Sanh mạng này vốn có sanh, ắt có diệt, chẳng phải
là thường hằng, nhưng chúng ta một mực cho là
nó thường hằng, luôn muốn sống mấy trăm
năm, sống một
trăm năm, sống mấy chục năm! Khuyên
người khác cũng như vậy, hăy trường thọ!
Tôi khuyên mọi người tu Vô Thường Quán, luôn chú ư
chính ḿnh có thể chết bất cứ lúc nào. Có các đạo
hữu không thích nghe nói như vậy, [càu nhàu] “mắc mớ
ǵ mà nói đến chết chóc?” Đây là tôi lưu ư quư vị
đôi chút, cực tốt, chẳng xấu đâu nhé! Nói chết
liền chết ư? Chưa đến lúc chết, th́ tôi có nói một
trăm lần, quư vị cũng chẳng chết được.
Tôi nói chết mỗi ngày, tôi vẫn c̣n sống nhăn!
Tôi đă nói cả mấy chục năm là tôi muốn chết.
V́ sao muốn chết? Tránh cho chính ḿnh khỏi buông lung! Quư vị
lúc nào cũng nghĩ đến cái chết, nghĩ tới
vô thường, thế gian c̣n có ǵ để tham luyến nữa?
Do vậy, quư vị quán vô thường, tu vô thường
như vậy, đó là ư nghĩa chẳng nhiễm đắm!
Quư vị ắt cần phải thừa nhận như thế,
“nhẫn” có nghĩa là “thừa nhận”. Nếu
quư vị chẳng thừa nhận th́ sẽ hưởng lạc,
chẳng đạt được cái thân tịch tĩnh. Ba hạnh tịch
tĩnh nơi thân, miệng ư, quư vị chẳng đạt
được! Quư vị ắt cần phải thường
xuyên quán tưởng điều này, phải lật ngược
các điên đảo, phải là vô ngă, vô thường, khổ,
không, thường quán tưởng như thế. V́ diệt
Tứ Điên Đảo, tu vô nhiễm trước nhẫn,
đối với hết thảy các pháp đều chẳng
chấp trước. [Hay nói cặn kẽ hơn, sẽ là]
đối với thân, miệng, ư, và hết thảy các
pháp đều chẳng chấp trước. Đối với
Thập Thiện Nghiệp th́ [các nghiệp
nơi] thân, miệng, ư đều là Thập Thiện Nghiệp,
cũng chẳng chấp trước. [Thập Thiện
Nghiệp] dường như là chuyện đáng nên làm, chẳng
có ǵ đáng tham đắm!
Do
nhẫn, có thể đạt được hết thảy
các môn Định, tám
trăm môn tam-muội đều có thể đạt
được. V́ sao? Ĺa hết thảy tướng phân biệt.
“Tâm b́nh đẳng như không” (tâm b́nh đẳng
như hư không): Chúng ta coi Có và Chẳng Có đều là b́nh đẳng, coi khổ và vui là b́nh đẳng, coi
thường và vô thường là b́nh đẳng, hết thảy
chúng sanh hiền hay ngu, trí óc chậm lụt ngu độn
và thông minh đều b́nh đẳng. Xét theo tánh thể,
đều b́nh đẳng. V́ sao? “Chư pháp đồng
nhất thú” (các pháp cùng một đường), tiến
hướng đến điều ǵ? Không, vô tướng,
tịch diệt. Tiến hướng không, vô tướng,
tịch diệt. Không, Vô Tướng, Vô Nguyện là ba môn giải thoát. Hết thảy
các pháp đều là Không, hết thảy các pháp đều
vô tướng. Tướng ấy là giả danh, giả
tướng, tâm chẳng trụ vào đâu! Cái tâm của quư
vị chẳng chấp trước chút nào như vậy,
môn nhẫn ấy chính là môn nhẫn của bậc trí huệ,
có thể thành Phật.
(Kinh)
Phục thứ, thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát phục
hữu Tinh Tấn Đại
Giáp Trụ Luân. Nhược Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân, tùng sơ phát tâm, nhất
thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn, siêu
thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền. Nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng giai ưng
cúng dường, thừa sự, thủ hộ. Vân hà Tinh Tấn
Đại Giáp Trụ Luân? Thiện nam tử! Bồ Tát tinh
tấn hữu nhị chủng tướng, nhất giả
thế gian, nhị giả xuất thế gian. Vân hà Bồ
Tát thế gian tinh tấn? Vị chư Bồ Tát tinh tấn,
dũng mănh, cần tu tam chủng thế phước nghiệp
sự. Hà đẳng vi tam? Nhất giả, thí phước
nghiệp sự; nhị giả,
giới phước nghiệp sự; tam giả, tu phước nghiệp
sự. Tu thử tức danh tam chủng tinh tấn. Như
thị tinh tấn, duyên chư chúng sanh hữu lậu, hữu
thủ, y chư quả báo, y chư phước nghiệp.
Thị danh Bồ Tát thế gian tinh tấn. Như thị
tinh tấn, cộng chư Thanh Văn, Độc Giác Thừa
đẳng, thử bất danh vi Đại Giáp Trụ
Luân, diệc bất do thử danh vi Bồ Tát Ma Ha Tát dă, cập
danh nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác chân thật
phước điền.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,復有精進大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。云何精進大甲冑輪?善男子,菩薩精進,有二種相:一者、世間,二者、出世間。云何菩薩世間精進?謂諸菩薩精進勇猛,勤修三種世福業事。何等為三?一者、施福業事,二者、戒福業事,三者、修福業事。修此即名三種精進。如是精進,緣諸眾生有漏有取,依諸果報,依諸福業,是名菩薩世間精進。如是精進,共諸聲聞、獨覺乘等。此不名為大甲冑輪,亦不由此名為菩薩摩訶薩也,及名一切聲聞、獨覺真實福田。
(Kinh:
Lại này, thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có
Tinh Tấn Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ Tát Ma Ha
Tát thành tựu luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy ngũ
dục đều có thể đoạn trừ, vượt
hơn hết thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́ khắp
hết thảy Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng
phước lớn. Hết thảy hàng Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đều nên cúng dường, thừa sự,
thủ hộ. Thế nào là Tinh Tấn Đại Giáp Trụ
Luân? Này thiện nam tử! Tinh tấn của Bồ Tát có
hai loại tướng, một là thế gian, hai là xuất
thế gian. Thế nào là tinh tấn thế gian của Bồ
Tát? Tức là các Bồ Tát tinh tấn, dũng mănh, siêng tu ba sự
phước nghiệp thế gian. Những ǵ là ba? Một là
thí phước nghiệp sự, hai là giới phước
nghiệp sự, ba là tu phước nghiệp sự. Tu các
điều ấy th́ được gọi là “ba loại
tinh tấn”. Tinh tấn như thế, duyên theo hữu lậu,
có chấp lấy của chúng sanh, nương theo quả
báo, nương theo các phước nghiệp. Đó gọi
là tinh tấn thế gian của Bồ Tát. Tinh tấn
như thế, sẽ cùng chung với các vị Thanh Văn,
Độc Giác Thừa, chẳng gọi là Đại Giáp Trụ
Luân, cũng chẳng do v́ điều này mà gọi là Bồ
Tát Ma Ha Tát, cũng như gọi là ruộng phước
chân thật cho hết thảy Thanh Văn và Độc Giác).
Sự
tinh tấn của Bồ Tát có hai loại tướng: Một
là thế gian, hai là xuất thế gian. Tướng thế
gian tinh tấn là ǵ? Chính là các Bồ Tát tinh tấn, dũng
mănh, siêng tu ba loại chuyện thuộc về phước nghiệp
thế gian. Hành Thập Thiện, tŕ Ngũ Giới, đều
là thế gian phước, bố thí cũng là phước thế gian. Như vậy
là nói đến phước thế gian th́ có ba loại
tướng sự nghiệp. Ba loại tướng nào vậy?
1)
Một là tướng sự nghiệp thuộc về thí phước, tức là
nghiệp tướng bố thí, hành hết thảy hạnh
bố thí. Nghiệp tướng [thứ nhất] như thế
đó.
2)
Thứ hai là giới, tức tŕ giới. Thọ Tam Quy,
Ngũ Giới. Quư vị tŕ tốt đẹp, sự báo
đáp tối thiểu là được sanh lên trời,
vĩnh viễn thoát khỏi tam đồ. Tŕ Bát Quan Trai Giới
th́ quư vị đă thọ Bát Quan Trai Giới, tŕ một ngày,
một đêm, chắc chắn được sanh lên trời.
Phước đức và công đức của Bát Quan Trai
Giới như thế đó. Nếu tŕ nhiều ngày, phước
đức của quư vị sẽ tăng thượng. Quư
vị vốn tŕ một ngày một đêm, đáng sanh lên trời
Đao Lợi. Quư vị tŕ một trăm ngày th́ hoặc là
quư vị làm Đế Thích Thiên, hoặc làm thiên
vương, sẽ chẳng làm thiên dân do phước đức
càng lớn hơn nữa. Nếu chẳng tham đắm
phước nghiệp, chẳng cầu sanh lên trời, mà
cũng chẳng cầu hưởng thụ, ta đều hồi
thí cho hết thảy chúng sanh, sẽ là Bồ Tát Ma Ha Tát. Làm
hết thảy mọi chuyện, tùy thuộc quư vị
tưởng như thế nào. Quư vị tưởng ǵ, sẽ
đạt được cái quả đó. Do cách nghĩ của
quư vị khác nhau, quả báo cũng bất đồng. Hiểu
đạo lư này, chúng ta làm một chút việc thiện, chẳng
cầu chính ḿnh được an lạc, chỉ mong chúng
sanh được ĺa khổ. Thường nghĩ tới
chúng sanh, công đức của quư vị liền to lớn,
phước báo vô cùng, vô tận. Bố thí là như thế,
tŕ giới là như thế, mà tu phước nghiệp
cũng như thế.
3)
Chuyện tu phước rất nhiều, [chẳng hạn
như] sửa cầu, đắp đường, tán thán, tùy hỷ. Chuyện ǵ
ta cũng đều chẳng làm, nhưng thấy người
khác làm, bèn vâng theo mười đại nguyện
vương của đức Phổ Hiền mà tán thán, tùy
hỷ, công đức chẳng thể nghĩ bàn. Tôi có một phần trong chuyện ấy của quư vị,
tôi cũng mong làm, tùy hỷ công đức, công đức
ấy chẳng thể nghĩ bàn! Mọi người đọc
phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, nguyện thứ
năm là “tùy hỷ công
đức”, phải tán thán,
tùy hỷ. Công đức tán thán tùy hỷ chẳng thể
nghĩ bàn. Mặt khác, quư vị hủy báng, hoặc cho rằng
“có công đức chi đâu, ai chẳng làm được!” Nói suông th́ ai cũng đều nói được, nhưng
kẻ đó chẳng làm, thấy người khác làm bèn hủy
báng, giảm thiểu lợi ích của người ta, kẻ
đó sẽ thọ tội. Phước ấy to lớn,
mà tội [hủy báng] cũng to lớn lắm!
Ba
loại tinh tấn ấy, bất luận quư vị tu nhiều cỡ nào, tinh tấn như thế
nào, ngày đêm chẳng ngủ nghê, phước đức
đạt được chỉ là hữu lậu! Đấy
là [phước đức] hữu lậu, v́ có ṛ rỉ, có
chấp giữ, do nương theo các quả báo, do
nương theo các phước, được gọi là
tinh tấn thế gian của Bồ Tát. Tinh tấn như
thế, sẽ chung với Thanh Văn và Độc Giác Thừa,
chẳng phải là Đại Giáp Trụ Luân. Cũng chẳng
do v́ thế mà được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, chẳng
thể; mà cũng chẳng thể làm ruộng phước
chân thật cho Thanh Văn và Độc Giác Thừa.
Như
thế nào mới là Đại Giáp Trụ Luân của Bồ
Tát? Thế nào là Tinh Tấn Đại Giáp Trụ Luân xuất
thế của Bồ Tát? Chính là các vị Bồ Tát dũng
mănh, tinh tấn, tâm tánh b́nh đẳng đối với
các chúng sanh. Chúng ta rất khó làm được, v́ tâm chúng
ta phân biệt đặc biệt nặng nề, ai cũng
chẳng tránh được! Tướng nam, tướng
nữ, tướng người già, tướng trẻ nít;
đối với trẻ nhỏ sẽ chẳng thể tôn
kính như vậy! Tôi không nói điều này, nhưng chắc
mọi người cũng có thể cảm nhận
được! Người xuất gia tu đạo chúng
ta chấp tướng rất nghiêm trọng, chẳng thể
tiếp cận nữ nhân, mà nữ cũng chẳng
thể tiếp cận nam nhân, tỳ-kheo-ni chẳng thể
tiếp cận tỳ-kheo, [chấp trước]
các thứ tướng như vậy có phải là b́nh
đẳng hay không? Như trong Hoa Nghiêm Sớ Sao, Thanh
Lương quốc sư đă tự yêu cầu
chính ḿnh: “Thân bất xúc cư sĩ chi tháp, túc bất
lư ni sư chi trần, tọa bất bối pháp giới chi
kinh” (Thân chẳng chạm vào giường của cư
sĩ, chân chẳng dẫm lên bụi của tỳ-kheo-ni,
ngồi chẳng xoay lưng vào chỗ có kinh pháp), tức là
sau chỗ Ngài ngồi mà có kinh sách th́ tuyệt đối chẳng
ngồi. Trước nay, Ngài chưa hề bước vào tự
viện của tỳ-kheo-ni. Khi đó, tôi đă nói đùa với
đạo hữu khác: “Thanh Lương quốc sư
đă phạm giới”. Ông ta hỏi: “Phạm giới ǵ? Bậc
đại đức như thế phạm giới ǵ?” Tôi
nói: “Không giao tế với tỳ-kheo-ni”. Ông ta nói: “Người
ta chẳng thỉnh Ngài”. Tôi bảo: “Có thỉnh, Ngài cũng
sẽ chẳng đến. Ngài không tiến vào tự viện
của tỳ-kheo-ni đúng chưa? Chân chẳng giẫm lên
bụi của tỳ-kheo-ni mà! Cư sĩ muốn
cúng dường Ngài, thân Ngài chẳng chạm giường
của cư sĩ. Giường của cư sĩ, Ngài
không thể nằm. Lại c̣n ‘khẩu bất vị quá
ngọ chi hào’ (miệng chẳng
nếm thức ăn quá Ngọ). Đă quá Ngọ, nước
trà cũng đều chẳng uống!”
Tŕ
Ngọ là ǵ? Thật sự tŕ Ngọ th́ nước có màu, sẽ chẳng thể
uống; đó mới gọi
là “tŕ Ngọ”. Nếu thọ Bát Quan Trai Giới, đối
với giới “quá Ngọ không ăn”, quư vị phải chú ư, chẳng thể tùy tiện
ăn được! Sở dĩ có các giới giống
như Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, nếu có thời
gian, tôi sẽ nói để mọi người hiểu rơ rốt
cuộc là chuyện như thế nào! Uống chén sữa
ḅ, cứ cho đó chẳng phải là ăn quá Ngọ. Tôi
đă nói với rất nhiều người, uống sữa
là không được; hễ nước có màu th́ là không được! Lại
c̣n đối với chuyện dùng bữa điểm tâm, bất
luận trời đă sáng hay chưa, ắt cần phải
là lúc minh tướng (明相) xuất hiện.
“Minh tướng xuất hiện” là ǵ? Trời đă sáng hẳn, trông thấy đường
chỉ trên ḷng bàn tay th́ quư vị mới được
ăn thứ này thứ nọ. Như chúng ta hiện thời
dựa vào sự biểu hiện bên ngoài, trời chưa
sáng, [mà đă ăn điểm tâm] sẽ không được!
Đức Phật chế giới có giới hạn nhất
định. Giới có nghĩa là “ngăn dứt”, chẳng
phải là bất b́nh đẳng! Như Thanh Lương quốc
sư viên dung như vậy, trong một vi trần có các cơi
nước số lượng nhiều như vi trần.
Quư vị thấy Ngài phê b́nh, chú giải kinh Hoa Nghiêm hết
sức viên dung, nhưng yêu cầu đối với chính
ḿnh hết sức nghiêm khắc!
(Kinh)
Vân hà Bồ Tát xuất thế Tinh Tấn Đại Giáp Trụ
Luân? Vị chư Bồ Tát dũng mănh, tinh tấn, ư
chư chúng sanh, kỳ tâm b́nh đẳng, trừ diệt nhất
thiết phiền năo nghiệp khổ. Như thị tinh tấn,
nhất thiết hiền thánh cộng sở xưng dự, vô lậu, vô thủ, vô sở
y chỉ, phổ ư nhất thiết tinh tấn, giải
đăi, bố thí, xan tham,
tŕ giới, phá giới, từ bi, phẫn khuể, hạ,
trung, thượng phẩm chư chúng sanh sở, vô sai
biệt tâm, vô sai biệt tưởng, dũng mănh, tinh tấn,
phổ ư tam giới nhất thiết chúng sanh, b́nh đẳng,
vô nhị, vị tác sự nghiệp, ngữ ngôn, tư duy,
chư hành y xứ, vô sở trụ trước,
dũng mănh, tinh tấn, phổ ư tam hữu Uẩn, Giới, Xứ trung, vô sở phân biệt,
dũng mănh, tinh tấn, bất y Dục Giới dũng mănh
tinh tấn, bất y Sắc Giới dũng mănh tinh tấn,
bất y Vô Sắc Giới dũng mănh tinh tấn, bất
quán chư hữu nhất thiết quả báo dũng mănh tinh
tấn, bất y nhất thiết đắc dữ bất
đắc dũng mănh tinh tấn, bất y chư hành
dũng mănh tinh tấn, bất y tam chủng thế phước
nghiệp sự dũng mănh tinh tấn, cụ túc xuất thế
tam phước nghiệp sự dũng mănh tinh tấn. Thị
danh Bồ Tát xuất thế Tinh Tấn Đại Giáp Trụ
Luân.
(經)云何菩薩出世精進大甲冑輪?謂諸菩薩勇猛精進,於諸眾生其心平等,除滅一切煩惱業苦。如是精進,一切賢聖共所稱譽,無漏無取,無所依止;普於一切精進懈怠、佈施慳貪、持戒破戒、慈悲忿恚、下中上品諸眾生所,無差別心,無差別想,勇猛精進;普於三界一切眾生,平等無二,為作事業,語言思惟諸行依處,無所住著,勇猛精進;普於三有蘊界處中,無所分別,勇猛精進;不依欲界,勇猛精進;不依色界,勇猛精進;不依無色界,勇猛精進;不觀諸有一切果報,勇猛精進;不依一切得與不得,勇猛精進;不依諸行,勇猛精進;不依三種世福業事,勇猛精進;具足出世三福業事,勇猛精進;是名菩薩出世精進大甲冑輪。
(Kinh:
Thế nào là xuất thế
Tinh Tấn Đại Giáp Trụ Luân của Bồ Tát? Tức
là các Bồ Tát dũng mănh, tinh tấn, đối
với các chúng sanh, tâm Ngài b́nh đẳng, trừ diệt hết
thảy phiền năo, nghiệp, khổ. Tinh tấn như thế,
hết thảy hiền thánh đều cùng ca ngợi. Vô lậu,
chẳng chấp giữ, chẳng y chỉ vào đâu. V́ khắp hết thảy các
chúng sanh dù tinh tấn, giải đăi, bố thí, keo tham, tŕ
giới, phá giới, từ bi, phẫn khuể, thuộc các
phẩm vị thượng, trung, hạ, tâm đều chẳng
sai biệt, không suy tưởng sai biệt mà dũng mănh
tinh tấn. V́ trọn khắp hết thảy chúng sanh trong
tam giới mà b́nh đẳng
không hai, đối với chuyện thực hiện
sự nghiệp, nói năng, tư duy, các chỗ
nương cậy của các hạnh đều chẳng trụ vào. Đối với
khắp các Uẩn, Giới, Xứ trong ba cơi, chẳng
phân biệt mà dũng mănh tinh tấn. Chẳng nương
vào Dục Giới mà dũng mănh tinh tấn. Chẳng
nương vào Sắc Giới mà dũng mănh tinh tấn. Chẳng
nương vào Vô Sắc Giới mà dũng mănh tinh tấn. Chẳng
quán hết thảy quả báo trong các hữu mà dũng mănh
tinh tấn. Chẳng nương theo hết thảy đắc
và bất đắc mà dũng mănh tinh tấn. Chẳng
nương theo các hành mà dũng mănh tinh tấn. Chẳng
nương theo ba loại phước nghiệp sự thế gian mà dũng mănh tinh tấn.
Trọn đủ ba loại phước nghiệp sự xuất thế gian mà dũng mănh tinh
tấn. Đó gọi là xuất thế Tinh Tấn Đại
Giáp Trụ Luân của Bồ Tát).
“Ư
chư chúng sanh, kỳ tâm b́nh
đẳng” (Tâm b́nh đẳng đối với
chúng sanh) th́ mới có thể trừ khử hết thảy nghiệp
khổ phiền năo; đấy là tinh tấn. B́nh đẳng
là ǵ? Từ trong cái tâm của quư vị, sự b́nh đẳng
này thuộc về Lư, chẳng phải là b́nh đẳng
nơi hết thảy các Sự. Nơi Sự,
sẽ chẳng thể b́nh đẳng được.
Vĩnh viễn chẳng thể b́nh đẳng! Có người
tranh căi với tôi, cho rằng “nơi Sự cũng phải
b́nh đẳng”. Tôi nói: Tuyệt đối chẳng thể
b́nh đẳng được! Chẳng hạn như chúng
ta ăn cơm trong pḥng khách th́ không được. Từ
hôm nay, ra lệnh phải đến trai đường
ăn, mỗi người ba chén. Người ta “xuất pha” (出坡, người trong tự
viện ra ngoài lao động, canh tác), làm việc cực
nhọc tại đó, thanh niên ba mươi tuổi th́ ba
chén chẳng đủ, cần đến năm chén. Chứ
quư vị th́ không được, chỉ có thể ăn ba
chén. Các cụ già, ăn xong, khỏi nhúc nhích luôn! Hoặc là
họ ở nhà, suốt ngày ngồi tại đó, bắt họ
đến đó ăn ba chén, có bóp chết họ cũng
không ăn nổi! Không được rồi! Đấy là
bất b́nh đẳng, mỗi người ba chén mới là
b́nh đẳng hay sao? B́nh đẳng kiểu đó chính là
chấp trước. Như thế nào th́ mới được
coi là b́nh đẳng? Bụng quư vị b́nh đẳng. Quư
vị có thể ăn nhiều, bèn ăn nhiều. Đó gọi
là b́nh đẳng. Chẳng thể nói “kẻ khác khiêng một
trăm cân, khiêng hai trăm cân”, đều bắt
[mọi người] b́nh đẳng khiêng hai trăm cân, rất
nhiều người chẳng làm được! B́nh đẳng
nói như thế nào? Ta muốn nói “b́nh đẳng th́ mọi
người phải b́nh đẳng về của cải,
chẳng thể có kẻ phú quư”, bèn san bằng mọi
người, sung công tài sản của quư vị, sau đó
chia đều ra. Tôi nói: “Phật giáo chẳng nói b́nh đẳng
theo kiểu ấy!” “Thầy nói như thế nào?” Tôi nói: “Tự
ḿnh tạo nghiệp, chính ḿnh hứng chịu. Trong quá khứ,
kẻ đó đă tạo nghiệp ấy; đời này, gặp
cảnh khốn cùng. Kẻ giàu có hưởng thụ là do
đă tạo [phước nghiệp] trong quá khứ. Đó
gọi là b́nh đẳng. B́nh đẳng nơi
phương diện tạo nghiệp”.
Chẳng
hiểu rơ nhân quả, quư vị đ̣i b́nh đẳng, vĩnh viễn
chẳng thể b́nh đẳng được! B́nh đẳng
kiểu ấy là chuyện như thế nào? Tôi nói: “Hiện
thời đều bất b́nh đẳng”. Kẻ đó
nói: “Bất b́nh đẳng như thế nào?” Tôi nói: “Tôi bị
nhốt lại. Quư vị ở bên ngoài, tự do như vậy.
Đó là b́nh đẳng nỗi ǵ? Bất b́nh đẳng,
làm sao b́nh đẳng cho được!” “Thầy phạm
pháp!” Tôi đáp: “Tôi phạm pháp, pháp ấy do ai định?”
B́nh đẳng, Phật giáo nói tới b́nh đẳng là nói
theo Lư, Pháp Thân b́nh đẳng, đều b́nh
đẳng. Chẳng sai! Đều là b́nh đẳng,
nhưng quư vị chưa tu Pháp Thân, c̣n chư Phật đă
tu! Đại Bồ Tát đă tu, nhưng chưa thể
thành Phật, ắt phải giống như ta, làm chưa được [do chưa đủ
sức]! Đấy là
nguyện vọng của quư vị. Quư vị mong san bằng
cho đều nhau: Quư vị đọa địa ngục,
vẫn sợ người khác đều chẳng xuống
địa ngục! Chẳng thể được! Có những
kẻ oán hận, họ vốn rất khổ, bèn oán
người khác, thấy người khác giàu có bèn sanh tâm
ghen tỵ. Chúng ta thường thấy chúng sanh oán điều
ǵ, đều có thể quán tưởng từ Lư. Các oán hận
ấy làm sao nói b́nh đẳng cho được? Đối
trước các chúng sanh thuộc ba phẩm hạ, trung,
thượng, “vô sai biệt tâm, vô sai biệt tưởng,
dũng mănh tinh tấn. Phổ ư tam giới nhất thiết
chúng sanh b́nh đẳng vô nhị” (tâm chẳng sai biệt,
ư tưởng chẳng sai biệt, dũng mănh tinh tấn.
V́ khắp hết thảy chúng sanh trong tam giới mà b́nh đẳng, không hai). Nói theo Lư, đấy là trừ
diệt phiền năo khổ cho chúng sanh. Khi Bồ Tát phát Bồ
Đề tâm, b́nh đẳng đối với chúng sanh, trừ
diệt phiền năo của chúng sanh. Tinh tấn như thế
là đại tinh tấn. Vô lậu, không chấp, vốn chẳng
hữu lậu. Pháp Thân chưa hề hữu lậu, địa
ngục cũng chẳng có lậu!
Khi
giảng kinh Địa Tạng, tôi thường nói với
mọi người “chẳng có địa ngục”, mọi
người không tin! Có một đạo hữu thường
nói với tôi: “Con thường xuyên suy nghĩ. Suốt cả
đời này con cũng chẳng tu chi hết. Trong tương lai, chỉ
sợ sẽ đọa địa ngục. Thầy có phương
pháp ǵ giúp con hay không?” “Tôi không có phương pháp! Quư vị
nhất định sẽ đọa địa ngục”.
Người đó than: “Thầy cũng nói như vậy!”
Tôi đáp: - Phải đấy! Chính quư vị luôn nghĩ như vậy.
Tôi chẳng hề nói như vậy. Quư vị suốt ngày
chẳng nghĩ chi khác, chỉ tưởng đọa
địa ngục, dẫu chư Phật xuất thế, cũng
chẳng có cách nào cứu quư vị! Đức Phật mong quư vị
nghĩ tới Phật pháp, quư vị chẳng nghĩ, cứ
nghĩ tới địa ngục. Kinh Phật đă nói rất
nhiều vấn đề, quư vị chẳng nghĩ tới,
v́ sao chuyên tưởng địa ngục? V́ sao quư vị
nghĩ tới ngạ quỷ? Hoặc nghĩ tới tam
đồ? Đối trước tam đồ, quư vị
hăy nói chính ḿnh chẳng có phần, th́ sẽ chẳng
có phần trong tam đồ! Trong tâm quư vị tưởng
ǵ, sẽ tiến hướng về đó. V́ sao luôn
nghĩ tới thế giới Cực Lạc? Tưởng
thế giới Cực Lạc, chẳng có hai niệm, ta
đă quyết định, chớ nên hoài nghi. Ta chết
đi, nhất định sanh về thế giới Cực
Lạc. Quư vị sẽ sanh về đó.
“Ngữ
ngôn, tư duy, chư hành y xứ, vô
sở trụ trước” (đối với
ngôn ngữ, tư duy, và chỗ nương cậy của
các hành, đều chẳng chấp trước): Bất luận
hết thảy những ǵ quư vị đă làm, hết thảy
những điều suy tưởng trong tâm, những điều
đă thực hiện qua thân, ngữ, ư, bèn chẳng trói buộc,
chẳng giải thoát, mà cũng chẳng chấp trước.
Chẳng trói
buộc là giải thoát, giải thoát
là chẳng trói buộc. Chẳng trói buộc
là không chấp trước hai bên. Chẳng chấp trước
hai bên, đạo lư này sâu lắm, mà cũng chẳng có ǵ là
tinh tấn, cũng chẳng có ǵ không tinh tấn! Tinh tấn
là ǵ? Không tinh tấn là ǵ? Thật sự nói theo Lư, hết
thảy hai bên đều chẳng thể có, nhưng hiện
thời chúng ta chẳng thể nói như vậy được!
V́ hiện thời chúng ta giải đăi. Giải đăi là
đối lập của tinh tấn. Tinh tấn cũng là
đối lập của giải đăi. Dũng mănh tinh tấn,
trọn đủ ba phước nghiệp xuất thế
là dũng mănh tinh tấn, được gọi là xuất
thế Tinh Tấn Đại Giáp Trụ Luân của Bồ
Tát. “Ba phước nghiệp” chính là Phước, Tội,
và Vô Động.
(Kinh)
Thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành thử
Tinh Tấn Đại Giáp Trụ Luân, tùng sơ phát tâm, nhất
thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn, đắc
danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă, siêu thắng nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác. Phổ vị nhất thiết Thanh Văn,
Độc Giác, tác đại phước
điền, nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác Thừa
đẳng giai ưng cúng dường, thừa sự, thủ
hộ.
(經)善男子,若菩薩摩訶薩成此精進大甲冑輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,得名菩薩摩訶薩也!超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺,作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。
(Kinh:
Này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Tinh
Tấn Đại Giáp Trụ Luân này, từ sơ phát tâm, hết
thảy ngũ dục đều có thể đoạn trừ,
được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, vượt hẳn
hết thảy Thanh Văn, Độc Giác. V́ khắp hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng phước
lớn, hết thảy các Thanh Văn, Độc Giác Thừa
đều nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ).
Thiện
nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Tinh Tấn
Đại Giáp Trụ Luân, từ sơ phát tâm, hết thảy
ngũ dục đều có thể đoạn trừ. Vừa
phát tâm, bèn đoạn trừ ngũ dục. Đấy là bậc
đại Bồ Tát. Bồ Tát Ma Ha Tát là bậc hữu t́nh
đại giác ngộ như thế đó. Cho nên giáp trụ
tinh tấn của Ngài vượt xa Thanh Văn, Độc
Giác, có thể làm ruộng phước to lớn cho hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác. Hết thảy Thanh
Văn và Độc Giác đều nên thân cận, cúng dường,
thừa sự, học theo Ngài thực hiện đại giáp
trụ tinh tấn luân này như thế nào?
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi
thuyết tụng viết: - Ư lục căn nhiễm
trước. Phiêu ngu ngũ bộc lưu. Tuy dũng mănh
tinh tấn, trí giả giai yếm hủy. Duyên chúng sanh tinh tấn,
hữu lậu, cập hữu thủ, phi chân thật
phước điền, bất danh Ma Ha Tát.
Trí giả cần tinh tấn, viễn ly nhất thiết trước,
tâm vô sở y chỉ, danh chân thật phước điền.
Bất nhiễm trước danh sắc, ly Uẩn, Giới, Xứ đẳng,
vị chúng tác quy y. Thị danh Ma Ha Tát. Hành thế như thủy
nguyệt, tu tinh tấn cứu cánh. Thử luân năng vĩnh đoạn, chúng
sanh phiền năo phược. (經)爾時,世尊重顯此義,而說頌曰:於六根染著,漂愚五瀑流,雖勇猛精進,智者皆厭毀。緣眾生精進,有漏及有取,非真實福田,不名摩訶薩。智者勤精進,遠離一切著,心無所依止,名真實福田。不染著名色,離蘊界處等,為眾作歸依,是名摩訶薩。行世如水月,修精進究竟。此輪能永斷,眾生煩惱縛。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hiển thị lại
nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng: - Nhiễm đắm
nơi sáu căn, trôi ngu năm gịng thác, tuy dũng mănh tinh tấn,
kẻ trí đều chê chán. Duyên chúng sanh tinh tấn, hữu
lậu và chấp trước, ruộng phước chẳng
chân thật, chẳng gọi Ma Ha Tát. Người trí siêng
tinh tấn, xa ĺa hết thảy chấp, tâm không chỗ y
chỉ, là ruộng phước chân thật. Chẳng đắm
nhiễm danh sắc, ĺa các Uẩn, Giới, Xứ, chúng sanh
đều quy y, gọi là Ma Ha Tát. Dạo chơi trong cơi
đời, như bóng trăng in nước. Tu tinh tấn
rốt ráo, luân này vĩnh viễn đoạn, phiền năo
trói chúng sanh).
“Ngũ
bộc lưu” (năm gịng thác) tức là mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, [cộng thêm] ư, thành lục căn
đắm nhiễm các trần cảnh Sắc, Thanh,
Hương, Vị, Xúc, Pháp. Đó chính là trôi giạt trong
ngũ dục, trôi giạt trong sanh tử, cũng có thể
nói là trôi giạt trong lục đạo. Tuy dũng mănh tinh tấn,
vẫn chẳng thể đắc quả, chẳng đạt được rốt ráo. “Trí
giả giai yếm hủy” (Kẻ trí đều chán ngán,
chê bai): Người có trí huệ sẽ chẳng làm như vậy.
“Duyên chúng sanh tinh tấn, hữu lậu cập hữu thủ,
phi chân thật phước điền, bất danh Ma Ha Tát”
(duyên theo chúng sanh để tinh tấn, hữu lậu và có
chấp giữ, th́ chẳng phải là
ruộng phước chân thật, chẳng gọi là Ma Ha
Tát): Có giữ lấy, có xả, tức là hữu lậu, chẳng
thể đạt tới vô lậu. Hạng người ấy
chẳng thể làm phước điền chân thật cho
chúng sanh, càng chẳng thể làm phước điền cho
Bồ Tát, Độc Giác [và Thanh Văn], cho nên chẳng gọi
là đại Bồ Tát. “Trí giả cần tinh tấn, viễn
ly nhất thiết trước, tâm vô sở y chỉ, danh
chân thật phước điền” (bậc trí siêng tinh
tấn, xa ĺa hết thảy chấp trước, tâm không y
chỉ vào đâu, th́ gọi là ruộng phước chân thật):
Trong tâm chẳng nương theo hết thảy các tướng,
chẳng chấp giữ chút nào, chẳng chấp trước
hết thảy các pháp. Trong tâm chẳng y chỉ, y chỉ
điều ǵ? Y chỉ mà không y chỉ là ǵ? Đó là Pháp Thân.
Pháp Thân là vô y chỉ.
“Bất
nhiễm trước danh sắc, ly Uẩn, Giới, Xứ đẳng, vị chúng tác quy y, thị danh Ma
Ha Tát” (Chẳng đắm nhiễm danh sắc, ĺa các Uẩn,
Giới, Xứ v.v… Làm chỗ quy y cho đại chúng, th́ gọi
là Ma Ha Tát): Ĺa hết thảy các pháp, chẳng chấp hết
thảy các pháp, bèn nhiếp vô lượng nghĩa, tức
là tổng tŕ vô lượng nghĩa, làm chỗ quy y cho chúng
sanh, là nơi chúng sanh hướng về để nhờ
cậy, cũng là bậc đại Bồ Tát khiến cho họ
thoát khỏi biển khổ. “Hành thế như thủy
nguyệt, tu tinh tấn cứu cánh, thử luân năng
vĩnh đoạn, chúng sanh phiền năo phược”
(Đi trong cơi đời như trăng trong nước, tu
tinh tấn rốt ráo. Luân này có thể đoạn vĩnh
viễn các phiền năo trói buộc của chúng sanh): Bồ
Tát làm hết thảy các sự trên thế gian, giống
như vầng trăng in bóng trong nước, rỗng không,
chẳng có. Hết thảy các pháp như huyễn, mộng,
bọt, bóng. Tu tinh tấn như thế đó, vị Bồ
Tát ấy rốt ráo tinh tấn thật sự, sẽ
vĩnh viễn đoạn dứt luân chuyển sanh tử,
dẹp tan các phiền năo trói buộc chúng sanh.
(Kinh) Phục thứ, thiện nam tử!
Bồ Tát Ma Ha Tát phục hữu Tĩnh Lự Đại
Giáp Trụ Luân. Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử
luân, tùng sơ phát tâm, nhất thiết ngũ dục giai
năng trừ đoạn, siêu thắng nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác, phổ vị nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác tác đại phước điền. Nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng giai ưng cúng dường,
thừa sự, thủ hộ. Vân hà Tĩnh Lự Đại
Giáp Trụ Luân? Thiện nam tử! Bồ Tát Tĩnh Lự hữu
nhị chủng tướng, nhất giả thế gian, nhị
giả xuất thế gian. Vân hà Bồ Tát thế gian
Tĩnh Lự? Vị chư Bồ Tát y trước chư
Uẩn tu tập Tĩnh Lự, y trước chư Giới
tu tập Tĩnh Lự, y trước chư Xứ tu tập
Tĩnh Lự, y trước Dục Giới tu tập
Tĩnh Lự, y trước Sắc Giới tu tập
Tĩnh Lự, y trước Vô Sắc Giới tu tập
Tĩnh Lự, y trước Tam Luật Nghi tu tập
Tĩnh Lự, y trước Tam Giải Thoát tu tập
Tĩnh Lự, y trước Tứ Niệm Trụ tu tập
Tĩnh Lự, y trước Tứ Chánh Đoạn tu tập
Tĩnh Lự, y trước Tứ Thần Túc tu tập Tĩnh Lự,
y trước Ngũ Căn tu tập Tĩnh Lự, y
trước Ngũ Lực tu tập Tĩnh Lự, y trước
Thất Đẳng Giác Chi tu tập Tĩnh Lự, y trước
Bát Thánh Đạo Chi tu tập Tĩnh Lự, y trước
Địa giới tu tập Tĩnh Lự, y trước
Thủy giới tu tập Tĩnh Lự, y trước Hỏa
giới tu tập Tĩnh Lự, y trước Phong giới
tu tập Tĩnh Lự, y trước Không giới tu tập
Tĩnh Lự, y trước Thức giới tu tập
Tĩnh Lự, y trước Lạc Thọ tu tập
Tĩnh Lự, y trước Khổ Thọ tu tập
Tĩnh Lự, y trước Bất Khổ Bất Lạc
Thọ tu tập Tĩnh Lự, y trước Hư Không Vô
Biên Xứ tu tập Tĩnh Lự, y trước Thức Vô
Biên Xứ tu tập Tĩnh Lự, y trước Vô Sở Hữu
Xứ tu tập Tĩnh Lự, y trước Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Xứ tu tập Tĩnh Lự, y trước
thử thế tu tập Tĩnh Lự, y trước tha thế
tu tập Tĩnh Lự, y trước tiểu tưởng
tu tập Tĩnh Lự, y trước đại tưởng
tu tập Tĩnh Lự, y trước vô lượng tưởng
tu tập Tĩnh Lự. Như thị Tĩnh Lự, hữu
lậu, hữu thủ, hữu sở y trước, thị
danh Bồ Tát thế gian Tĩnh Lự. Như thị
Tĩnh Lự, cộng chư Thanh Văn, Độc Giác Thừa
đẳng, thử bất danh vi Đại Giáp Trụ
Luân, diệc bất do thử danh vi Bồ Tát Ma Ha Tát dă, cập
danh nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác chân thật
phước điền.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,復有靜慮大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。云何靜慮大甲冑輪?善男子,菩薩靜慮,有二種相:一者、世間,二者、出世間。云何菩薩世間靜慮?謂諸菩薩,依著諸蘊,修習靜慮;依著諸界,修習靜慮;依著諸處,修習靜慮;依著欲界,修習靜慮;依著色界,修習靜慮;依著無色界,修習靜慮;依著三律儀,修習靜慮;依著三解脫,修習靜慮;依著四念住,修習靜慮;依著四正斷,修習靜慮;依著四神足,修習靜慮;依著五根,修習靜慮;依著五力,修習靜慮;依著七等覺支,修習靜慮;依著八聖道支,修習靜慮;依著地界,修習靜慮;依著水界,修習靜慮;依著火界,修習靜慮;依著風界,修習靜慮;依著空界,修習靜慮;依著識界,修習靜慮;依著樂受,修習靜慮;依著苦受,修習靜慮;依著不苦不樂受,修習靜慮;依著虛空無邊處,修習靜慮;依著識無邊處,修習靜慮;依著無所有處,修習靜慮;依著非想非非想處,修習靜慮;依著此世,修習靜慮;依著他世,修習靜慮;依著小想,修習靜慮;依著大想,修習靜慮;依著無量想,修習靜慮。如是靜慮,有漏、有取、有所依著,是名菩薩世間靜慮。如是靜慮,共諸聲聞、獨覺乘等。此不名為大甲冑輪,亦不由此名為菩薩摩訶薩也,及名一切聲聞、獨覺真實福田。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có
Tĩnh Lự Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ Tát
Ma Ha Tát thành tựu luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy
ngũ dục đều có thể đoạn trừ, vượt
hơn hết thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́ khắp
hết thảy Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng
phước lớn. Hết thảy hàng Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đều nên cúng dường,
thừa sự, thủ hộ. Thế nào Tĩnh Lự Đại
Giáp Trụ Luân? Này thiện nam tử! Tĩnh Lự của
Bồ Tát có hai loại tướng, một là thế gian, hai
là xuất thế gian. Thế nào là Tĩnh Lự thế
gian của Bồ Tát? Tức là các Bồ Tát nương vào
các Uẩn để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào các Giới để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào các Xứ để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào Dục Giới để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào Sắc Giới để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào Vô Sắc Giới để tu tập
Tĩnh Lự, nương vào Tam Luật Nghi để tu tập
Tĩnh Lự, nương vào Tam Giải Thoát để tu tập
Tĩnh Lự, nương vào Tứ Niệm Trụ để
tu tập Tĩnh Lự, nương vào Tứ Chánh Đoạn
để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Tứ Thần
Túc để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Ngũ
Căn để tu tập Tĩnh Lự, nương vào
Ngũ Lực để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào Thất Đẳng Giác Chi để tu tập
Tĩnh Lự, nương vào Bát Thánh Đạo Chi để
tu tập Tĩnh Lự, nương vào Địa giới
để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Thủy giới
để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Hỏa giới
để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Phong giới
để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Không giới
để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Thức
giới để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Lạc
Thọ để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Khổ
Thọ để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Bất
Khổ Bất Lạc Thọ để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào Hư Không Vô Biên Xứ để tu tập
Tĩnh Lự, nương vào Thức Vô Biên Xứ để
tu tập Tĩnh Lự, nương vào Vô Sở Hữu Xứ
để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Phi Tưởng
Phi Phi Tưởng Xứ để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào đời này để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào đời khác để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào tiểu tưởng để tu tập
Tĩnh Lự, nương vào đại tưởng để
tu tập Tĩnh Lự, nương vào vô lượng
tưởng để tu tập Tĩnh Lự. Tĩnh Lự
như thế là hữu lậu,
có chấp lấy, có cái để nương vào, th́ gọi
là Tĩnh Lự thế gian của Bồ Tát. Tĩnh Lự
như thế cùng chung với hàng Thanh Văn, Độc Giác
Thừa. Đó chẳng gọi là Đại Giáp Trụ
Luân, chẳng do v́ các thứ này mà được gọi là
Bồ Tát Ma Ha Tát, mà cũng chẳng gọi là ruộng
phước chân thật của thảy Thanh Văn, Độc
Giác).
“Phục
thứ thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát phục hữu
Tĩnh Lự Đại Giáp Trụ Luân” (Lại này thiện
nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có Tĩnh Lự Đại
Giáp Trụ Luân): Đấy là Định. Tĩnh Lự là
tu tư duy, cũng là tam-muội. “Tam-muội” (Samādhi) dịch thành
Tĩnh Lự, cũng dịch là Định, c̣n dịch là
Tư Duy Tu. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu luân này, Ngài
mới vừa phát tâm, sẽ có thể đoạn trừ
ngũ dục. “Siêu thắng nhất thiết Thanh Văn,
Độc Giác, phổ vị nhất thiết Thanh Văn,
Độc Giác tác đại phước điền”
(Vượt xa hết thảy Thanh Văn, Độc Giác,
v́ khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng
phước lớn): Hết thảy các Thanh Văn, Độc
Giác đều nên cúng dường, thừa sự và thủ
hộ Ngài. Đây là nhắc lại.
“Vân
hà Tĩnh Lự Đại Giáp Trụ Luân? Thiện nam tử!
Bồ Tát Tĩnh Lự hữu nhị chủng tướng.
Nhất giả, thế gian, nhị giả xuất thế
gian. Vân hà Bồ Tát thế gian Tĩnh Lự?” (Thế nào
là Tĩnh Lự Đại Giáp Trụ Luân? Này thiện nam tử!
Tĩnh Lự của Bồ Tát có hai loại tướng: Một
là thế gian, hai là xuất thế gian. Thế nào là Tĩnh
Lự thế gian của Bồ Tát?) Các Bồ Tát
nương vào các Uẩn để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào Sắc để tu hành Tĩnh Lự,
nương vào Thọ để tu tập Tĩnh Lự.
Tĩnh Lự (靜慮) là lắng ḷng quan sát. Chúng tôi nêu một thí dụ,
nương vào Sắc, Sắc Tức Tam-muội, Tâm Tức Tam-muội, Nhất Hạnh tam-muội.
Đối với Sắc, hết thảy các thứ hữu h́nh đều có
sắc. Như vậy Tĩnh Lự là tư duy. Trong phần
trước, chúng tôi đă có nói: Hết thảy các pháp vô
thường, quán hết các pháp vô ngă, rỗng không! Môn
Tĩnh Lự này là Tĩnh Lự của Nhị Thừa.
Quư vị đắc nhân gian Định, Cửu Thứ
Đệ Định, dựa trên thế gian này để
tu Định, quư vị phải tu trước [các môn Định
thế gian]. Giống như chúng tôi đă nói phép quán Sổ
Tức, quư vị dựa theo đó, đấy cũng là
Tĩnh Lự. Sổ Tức Quán vẫn thuộc trong
Tĩnh Lự thế gian. Đấy là bước đầu
của Tĩnh Lự thế gian, có thể khiến cho tâm
quư vị tịch tĩnh. Trước hết, hăy tịch
tĩnh rồi mới sanh khởi quán chiếu. Nương
theo Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức để
quán chiếu đôi chút, sẽ có thể tịch
tĩnh được. Quán chiếu là Huệ, có thể
tĩnh chỉ, tịch tĩnh. Đó là Định.
Như
chúng ta ở trong Dục Giới của tam giới, nương
vào Dục Giới Tĩnh Lự, nương vào Sắc Giới
Tĩnh Lự, hoặc nương vào Vô Sắc Giới
Tĩnh Tự. Nương vào Tam Luật Nghi để tu tập
Tĩnh Lự. Nương vào Tam Giải Thoát để tu tập
Tĩnh Lự, nương vào Tứ Niệm Trụ để
tu tập Tĩnh Lự, nương vào Tứ Chánh Đoạn
để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Tứ Thần
Túc để tu tập Tĩnh Lự, nương vào Ngũ
Căn để tu tập Tĩnh Lự, nương vào
Ngũ Lực để tu tập Tĩnh Lự,
nương vào Thất Giác Chi và Bát Chánh Đạo để
tu tập Tĩnh Lự.
“Y
trước Địa giới tu tập Tĩnh Lự, y
trước Thủy giới tu tập Tĩnh Lự, y
trước Hoả giới tu tập Tĩnh Lự, y
trước Phong giới tu tập Tĩnh Lự, y trước
Không giới tu tập Tĩnh Lự” (Nương vào
Địa giới tu tập Tĩnh Lự, nương vào
Thủy giới tu tập Tĩnh Lự, nương vào Hỏa
giới tập Tĩnh Lự, nương vào Phong giới tu tập Tĩnh Lự, nương vào Không giới
tu tập Tĩnh Lự): Chỗ này cần phải nói
đôi chút. “Không” vốn là chẳng có ǵ, sao có thể
là niệm Tĩnh Lự cho được! Khi mọi
người quán tưởng, nương vào Không để
tu tập môn Tĩnh Lự nào? “Không” là hiển thị
pháp, là cách nói h́nh dung. Nương vào Không th́ mới có thể
an trụ trong hết thảy các pháp. V́ Không, chúng ta mới
có thể kiến tạo nhà cửa. V́ Không, nên mới chứa
được Nam Thiệm Bộ Châu. Nam Thiệm Bộ
Châu ở trong không trung. Phía dưới Nam Thiệm Bộ
Châu là thủy luân. Chắc mọi người cho rằng
phía dưới nền đất có thủy luân, chẳng
phải vậy. Toàn thể địa cầu ở trong
không trung, thủy luân cũng ở trong không
trung. Trước kia, kinh Phật nói như thế, có một
số người ngờ vực chẳng tin. Nay vệ
tinh đă bay lên trời. Nh́n từ vệ tinh, địa cầu
luôn có màu lam. Phía ngoài địa cầu là thủy luân. Thủy
luân bao quanh địa cầu. Thoạt đầu, chúng tôi
nghe đạo lư ấy, [đă thắc mắc] địa
cầu ở trong nước, sao chẳng bị ch́m? Phía
dưới nước vẫn là gió, gió duy tŕ cái luân ấy.
Toàn thể Hoa Tạng thế giới hải, phía dưới
có một đại phong luân để duy tŕ. Phong luân có hai
mươi loại, mỗi phong luân lại duy tŕ một
phong luân [phía trên nó, mỗi phong luân] đều có danh tự
[được nói cặn kẽ trong phẩm Hoa Tạng Thế
Giới của kinh Hoa Nghiêm]. Ắt cần phải do trí huệ
của Phật th́ mới có thể biết, chứ trí huệ
của chúng ta không được! Tôi nói tổng quát về
Tĩnh Lự đôi chút.
Nếu
biết là Không, quư vị c̣n truy cầu chi nữa? Quư vị
đă tĩnh, chẳng cần nói đă tương hợp với Chân Không. Dùng cái Không ấy, quư vị có thể đạt
đến Không Vô Biên Xứ Định. Lúc quư vị tu Duy
Tâm Thức Quán, đạt được Thức Vô Biên Xứ
và Không Vô Biên Xứ Định. Nương theo các pháp ấy
để tu, nương vào Thức để tu Thức Vô
Biên Xứ, nương vào Lạc Thọ để tu tập
Tĩnh Lự, nương vào Khổ Thọ để tu tập
Tĩnh Lự. Quư vị tưởng hết thảy khổ
là vô thường, tánh thể của Khổ là ǵ? Chẳng
có! Nếu thường tưởng như thế, hiệu
quả sẽ có, nhưng quư vị trọn chẳng
thường xuyên tưởng. Khổ thật sự
đưa đến, quư vị tạm thời quán đôi
chút, đương nhiên là có thể giảm bớt vài phần
thống khổ. Quư vị tu Quán, dùng Không hoặc Vô Ngă, quư
vị nói xem, ai sẽ chấp trước cái đau? Hoặc
là trong tâm quư vị nghĩ đến một bên th́ cũng
được, do chuyển dời mục tiêu, sẽ có thể
giảm bớt thống khổ rất nhiều. Hoặc là
nếu thời gian quá dài, để tôi luyện nỗi khổ
ấy, phải cậy vào tu Quán. Các cách tu Tĩnh Lự ấy
đều là Thiền Định thế gian. Đó là tiểu
tưởng, chẳng phải là đại tưởng.
Đó gọi là “nương vào
tiểu tưởng để tu tập Tĩnh Lự”. Nương vào
đại tưởng, nương vào vô lượng
tưởng, sẽ chẳng dễ dàng! Tu tập Tĩnh Lự,
nếu xét theo pháp thế gian, đại tưởng cũng
thế, mà tiểu tưởng cũng thế, có sở y (所依, cái để
nương vào), có sở trước (所着, có cái để
chấp vào), có chấp tướng, th́ đều gọi
là Thế Gian Định. Nương vào thế gian Thiền Định
để tu, vô tướng là ǵ? Xuất thế gian là ǵ?
Tu Chân Không Tuyệt Tướng Quán, an lập hết thảy
các tướng. Tu Không Quán, tu Giả Quán, hết thảy
các pháp đều là giả, hết thảy các pháp đều
là Không, đó là chẳng rốt ráo. Tuy thuộc địa
vị Bồ Tát, nhưng chẳng rốt ráo. Phải tu
Trung Quán, Trung Quán mới là rốt ráo nhất.
Kinh
Hoa Nghiêm lại giải thích Trung Quán khác hẳn. “Chân không
tuyệt tướng quán”, “Lư Sự vô ngại quán”,
“Sự Sự vô ngại quán” như tôi vừa mới
nói, Không và Hữu hai đằng hợp lại, Không là Lư, Hữu
là Sự. Lư và Sự hai đằng hợp lại thành một
Thể. Lư tức là Sự, Sự tức là Lư. Sự và Lư
dung hợp, giáo lư ấy được gọi là Chung Giáo.
Trong Trung Đạo th́ Sự chính là Lư, Lư chính là Sự, Lư Sự
vô ngại, được gọi là Lư Sự Vô Ngại
Quán. Nhưng cuối cùng là có Châu Biến Hàm Dung Quán (周遍含融觀), tức là tùy
tiện lấy một pháp, không pháp nào chẳng phải là
pháp giới. Nó đă là pháp giới, hàm nhiếp vô lượng
vô biên hết thảy các pháp, đều thuộc trong pháp giới.
Mỗi pháp lại là một pháp giới,
đó gọi là “trùng trùng vô tận”. Kinh Hoa Nghiêm đă
lập ra Tam Quán như thế. Tứ Giáo kiến lập ba
môn Quán là Không, Giả, Trung, c̣n Tam Luận Tông[4]
chỉ lập một môn Trung Quán. Các tông phái nói khác nhau,
nhưng cái để dấy lên quán chiếu th́ giống
nhau. Khi tu Tĩnh Lự, nương theo văn tự,
nương theo thứ tự này, đó gọi là “Thiền
giác”. Đó là Hữu Tướng Thiền, chẳng thuộc
loại Vô Tướng Thiền thâm áo của Thiền Tông.
Thần Tú đại sư ở phương Bắc
nương theo hữu tướng, tinh tấn từng
bước một. Huệ Năng đại sư ở
phương Nam truyền dạy Vô Tướng Thiền,
được gọi là Chân Không Tuyệt Tướng, chẳng
chấp, chẳng vướng mắc. Hai loại ấy
đều có thể tu dần dần.
Đối
với một loại đại học vấn như thế,
khi quư vị muốn học, nếu muốn lư giải trọn
hết các danh tướng, chúng tôi giảng hằng ngày
cũng chẳng giảng rơ ràng được! Phải vừa
dụng công, vừa học tập. Nếu quư vị học
tập Tứ Thiền Bát Định rất lâu, đợi
cho đến khi chúng tôi nói xong, lại bắt đầu
giảng từ Sổ Tức Quán. Nay chúng ta khởi sự
tu tập, [các pháp Tĩnh Lự vừa nói trên đây] đều
chẳng phải là pháp chúng ta đáng nên tu! Sổ Tức
Quán đơn giản lại rơ ràng. Địa Tạng
Vương Bồ Tát dạy chúng ta môn Sổ Tức Quán,
chiếu theo đó để tu, quư vị cũng có thể
khế nhập. Đếm số mà c̣n chẳng biết
ư? Đếm số cũng chẳng phải là đếm
một, hai, ba, bốn, năm, sáu, mà là đếm hơi thở
của quư vị: Tướng thở ra, tướng hít
vào. Từ thô đếm tới tế. Đă tế, hơi
thở chẳng c̣n; đă Chỉ,
đă Định rồi! Dường như chẳng có hơi
thở, hơi thở cũng ngừng, cũng chẳng có
hơi thở ra, cũng chẳng có hơi thở hít vào.
Đó gọi là Định. Nếu quư vị dùng ngón tay
[đặt dưới mũi người đă nhập
Định] để kiểm xem, [sẽ thấy người
ấy] chẳng thở ra. Đem người ấy đi
chôn sống, làm như thế đó, người ấy
đă nhập Định cũng chẳng biết. Nghe nói:
Nếu người ấy chẳng thở ra, tuyệt
đối chẳng có hơi thở. Nếu không có ai đụng
đến, dẫu một đại kiếp, người
ấy cũng không chết. Khi người ấy đă nhập
Định, thân thể sẽ chẳng bị hư hoại.
Đây là điều chẳng thể nghĩ bàn. Nếu quư
vị dùng lửa đốt, đương nhiên là thân người ấy sẽ bị hư
hoại. Nếu quăng xuống biển, nhất định
sẽ bị ngấm nước trương
phềnh. Đó là nói chuyện tu Định. Các môn Định
ấy đều chẳng phải của Bồ Tát Ma Ha Tát. Các môn Định
được nói trên đây đều là [các môn Định]
chung với Nhị Thừa.
(經)云何菩薩出世靜慮?謂諸菩薩,遠離諸蘊,修習靜慮;遠離諸界,修習靜慮;遠離諸處,修習靜慮;遠離欲界,修習靜慮;遠離色界,修習靜慮;遠離無色界,修習靜慮;遠離三律儀,修習靜慮;遠離三解脫,修習靜慮;遠離四念住,修習靜慮;遠離四正斷,修習靜慮;遠離四神足,修習靜慮;遠離五根,修習靜慮;遠離五力,修習靜慮;遠離七等覺支,修習靜慮;遠離八聖道支,修習靜慮;遠離地界,修習靜慮;遠離水界,修習靜慮;遠離火界,修習靜慮;遠離風界,修習靜慮;遠離空界,修習靜慮;遠離識界,修習靜慮;遠離樂受,修習靜慮;遠離苦受,修習靜慮;遠離不苦不樂受,修習靜慮;遠離虛空無邊處,修習靜慮;遠離識無邊處,修習靜慮;遠離無所有處,修習靜慮;遠離非想非非想處,修習靜慮;遠離此世,修習靜慮;遠離他世,修習靜慮;遠離小想,修習靜慮;遠離大想,修習靜慮;遠離無量想,修習靜慮。如是靜慮,能發賢聖廣大光明,無漏無取,無所依著,是名菩薩出世靜慮大甲冑輪。善男子,若菩薩摩訶薩成此靜慮大甲冑輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,得名菩薩摩訶薩也!超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺,作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。
(Kinh:
Thế nào là Bồ Tát xuất thế Tĩnh Lự? Tức
là các Bồ Tát xa ĺa các Uẩn tu tập Tĩnh Lự, xa
ĺa các Giới tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa các Xứ tu tập
Tĩnh Lự, xa ĺa Dục Giới tu tập Tĩnh Lự,
xa ĺa Sắc Giới tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Vô Sắc
Giới tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Tam Luật Nghi tu tập
Tĩnh Lự, xa ĺa Tam Giải Thoát tu tập Tĩnh Lự,
xa ĺa Tứ Niệm Trụ tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Tứ
Chánh Đoạn tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Tứ Thần
Túc tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Ngũ Căn tu tập
Tĩnh Lự, xa ĺa Ngũ Lực tu tập Tĩnh Lự,
xa ĺa Thất Đẳng Giác Chi tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa
Bát Thánh Đạo Chi tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Địa
giới tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Thủy giới tu tập
Tĩnh Lự, xa ĺa Hỏa giới tu tập Tĩnh Lự,
xa ĺa Phong giới tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Không giới
tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Thức giới tu tập
Tĩnh Lự, xa ĺa Lạc Thọ tu tập Tĩnh Lự,
xa ĺa Khổ Thọ tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Bất Khổ
Bất Lạc Thọ tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Hư
Không Vô Biên Xứ tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Thức Vô
Biên Xứ tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Vô Sở Hữu Xứ
tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Xứ tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa đời này tu tập
Tĩnh Lự, xa ĺa đời khác tu tập Tĩnh Lự,
xa ĺa tiểu tưởng tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa
đại tưởng tu tập Tĩnh Lự, xa ĺa vô
lượng tưởng tu tập Tĩnh Lự. Tĩnh Lự
như thế có thể phát sanh quang minh to lớn của hiền
thánh, vô lậu, chẳng chấp giữ, chẳng
nương tựa. Đó gọi là Tĩnh Lự Đại
Giáp Trụ Luân xuất thế của Bồ Tát. Này thiện
nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu Tĩnh Lự
Đại Giáp Trụ Luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy
ngũ dục đều có thể trừ dứt,
được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, vượt
hơn hẳn hết thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́
khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng
phước lớn, hết thảy hàng Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đều nên cúng dường, thừa sự,
thủ hộ).
Chúng
ta nói tới tu tập Tĩnh Lự bằng Duy Tâm Thức
Quán, chẳng cần xem văn tự. Văn tự đều
ĺa tướng văn tự. Quư vị xem văn tự th́
cũng chẳng nắm bắt được. V́ sao? Phải
ĺa hết thảy các tướng, ĺa hết thảy các
pháp để tu tập Tư Duy. Đó là Không Quán. Thoạt
đầu, Không Quán của Đại Thừa và Nhị Thừa
có khác biệt. Nhị Thừa cũng thành tựu Không Quán,
nhập Niết Bàn tịch tĩnh. Họ cũng chứng
đắc Niết Bàn, cũng bất sanh bất diệt. Họ
cho rằng đă là Không, nhưng chẳng độ chúng
sanh. Từ trong Không, chẳng thể
xuất Hữu, từ Không nhập Giả, từ Giả
nhập Không. Họ chẳng thấu hiểu đạo lư
này; do vậy, [Thiền Định của Nhị Thừa]
gọi là Thiền Định thế gian. Thế gian Nhị
Thừa đều dựa theo thế gian để tu.
Đại Bồ Tát chẳng nương theo thế gian
để tu, mà nương theo môn “năng phát hiền
thánh quảng đại quang minh” (có thể phát ra quang
minh rộng lớn của hiền thánh). Phàm là có tưởng,
có tướng, có chấp giữ, đều chẳng phải
là cảnh giới của Bồ Tát. Đại Bồ Tát tu
hành Tĩnh Lự Đại Giáp Trụ Luân xuất thế,
vẫn chẳng phải là tu xuất thế Không Quán. Không
Quán là chân không tuyệt tướng. Kinh Chiêm Sát Thiện Ác
Nghiệp Báo cũng do Địa Tạng Vương Bồ
Tát nói. [Trong kinh ấy], Địa Tạng Vương Bồ
Tát dạy tu Quán, một là Duy Tâm Thức Quán, hai là Chân
Như Thật Tướng Quán, nhập cảnh giới Thật
Tướng. Một đằng là Quán, là Chiếu; một
đằng là Định, là Chỉ. [Hay nói cách khác là] Xa Ma
Tha (Śamatha, Chỉ) và Tỳ Bà Xá Na (Vipaśyanā, Quán). Bồ Tát tu Tỳ
Bà Xá Na Quán. Quán và Huệ hai đằng hợp lại để
tu. Chỉ có Định, chẳng có Huệ, th́ thuộc về
Thanh Văn. Nhị Thừa ắt cần phải Chỉ và
Quán cùng vận dụng. Nếu có thể thành tựu môn
Đại Giáp Trụ Luân này, từ lúc người ấy
vừa mới phát tâm, ngũ dục đều có thể
đoạn trừ. Như thế th́ gọi là Bồ Tát Ma
Ha Tát.
(Kinh)
Nhĩ thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi
thuyết tụng viết: - Vị xả kỷ trọng
đảm, tu hữu sở đắc Định, cầu
đoạn tự phiền năo, phi chân trí giả tướng.
Y khí hữu sở quán, cầu giải thoát tu Định,
thủ trước thử bỉ ngạn, phi lợi lạc
hữu t́nh. Vị lợi lạc hữu t́nh, tu Định
xả trọng đảm, diệt nhất thiết phiền
năo, thị chân trí giả tướng. Vị nhuận
chư hữu t́nh, tu vô y trước Định, vĩnh
đoạn chư hữu ái, thị danh đại huệ
giả. Vị giải chư hữu phược, linh trụ
vô úy thành, tu hành Tịch Chỉ định, thị danh Ma Ha
Tát.
(經)爾時,世尊重顯此義,而說頌曰:為舍己重擔,修有所得定,求斷自煩惱,非真智者相。依器有所觀,求解脫修定,取著此彼岸,非利樂有情。為利樂有情,修定舍重擔,滅一切煩惱,是真智者相。為潤諸有情,修無依著定,永斷諸有愛,是名大慧者。為解諸有縛,令住無畏城,修行寂止定,是名摩訶薩。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hiển thị lại
nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng: - V́ ḿnh buông gánh nặng,
tu Định có sở đắc, cầu ḿnh đoạn phiền
năo, chẳng phải tướng chân trí. Nương
thế gian để quán, cầu giải thoát tu Định,
chấp tướng hai bên bờ, chẳng lợi lạc hữu
t́nh. V́ lợi lạc hữu t́nh, tu Định buông gánh nặng,
diệt hết thảy phiền năo, là tướng bậc
chân trí. V́ nhuận ích hữu t́nh, tu Định không
nương chấp, vĩnh viễn đoạn hữu ái,
gọi là bậc đại huệ. V́ cởi các hữu phược, trụ trong
thành vô úy, tu hành Tịch Chỉ Định, gọi là Ma Ha Tát).
Gánh
nặng ấy là gánh nặng ǵ vậy? Xả chính ḿnh! Chỉ
v́ chính ḿnh liễu thoát th́ là hàng Nhị
Thừa. Các thứ Định được nói trước
đó đều là pháp tu của hàng Nhị Thừa. Bồ
Tát th́ ngược lại! Trong đoạn
kinh văn trên đây, hoàn toàn chẳng nói Bồ Tát chuyên tu
các pháp nào. Pháp chuyên tu của Ngài hoàn toàn trái
ngược với Nhị Thừa, đó là pháp tu của Bồ
Tát. Bồ Tát tu Không Quán là bất không. Bất không
được hiển thị ở chỗ nào? Phải
độ chúng sanh, khiến cho chúng sanh đều có thể
hiểu rơ “thế gian này là khổ”, cho đến “thế
gian cũng là chẳng khổ, chẳng lạc”.
Hàng Nhị Thừa tức Tiểu Thừa khác hẳn! Bởi
lẽ, họ v́ buông xả gánh nặng của chính ḿnh, tự
cảm thấy gánh nặng ấy quá nặng nề, mong ĺa
bỏ nó, bèn tu hữu sở đắc Định, đắc
ǵ vậy? Đắc Niết Bàn tịch tĩnh. Đó là Niết
Bàn tịch tĩnh của hàng Nhị Thừa. Vĩnh viễn
đoạn trừ phiền năo của chính ḿnh, đoạn
Kiến Tư Hoặc. Đấy chẳng phải là
người có trí, chẳng phải là tướng trạng
của bậc chân trí! Bậc trí chẳng tu như thế. “Y
khí hữu sở quán, cầu giải thoát tu Định, thủ
trước thử bỉ ngạn, phi lợi lạc hữu
t́nh” (nương theo khí thế gian để có đối
tượng quán, do cầu giải thoát mà tu Định, chấp
lấy bờ này và bờ kia, chẳng lợi lạc hữu
t́nh): Đấy cũng chẳng phải
là cách tu của bậc Đại Thừa Bồ Tát.
Phép
Quán ấy chẳng phải là trí huệ thật sự, do phải
nương vào ǵ? Y chỉ chánh giác thế gian. Phép Quán ấy
là chân quán, v́ cầu giải thoát mà tu Định. Đấy
là nói theo Nhị Thừa: “Ta muốn giải thoát phiền
năo, bèn tu Định như vậy”. Chẳng có trí huệ,
chẳng lợi ích chúng sanh. Trí huệ chẳng lớn, v́ chấp giữ bờ này, bờ kia. Ta từ bờ này,
muốn tới bờ kia. Lục Ba La Mật chẳng phải
là đạt đến bờ kia hay sao? Đấy là cách
nói h́nh dung, dùng [bờ kia] làm tỷ dụ. Chẳng có bờ
này, mà cũng chẳng có bờ kia! Nếu như quư vị
mong cầu giải thoát, bèn tu Định, nắm giữ,
chấp trước “ta đang ở bờ sanh tử, muốn
tới bờ Niết Bàn”. Đấy chẳng phải là lợi
lạc hữu t́nh, mà cũng chẳng phải là Bồ Tát
Ma Ha Tát.
“Vị
lợi lạc hữu t́nh, tu Định, xả trọng
đảm” (v́ lợi lạc hữu t́nh mà tu Định
ḥng bỏ gánh nặng): Ta v́ lợi ích chúng sanh, khiến cho
chúng sanh đều có thể đạt được lợi
ích. Tu hành như thế, tức là tu Định để
bỏ gánh nặng cho chúng sanh. Tu Định nhằm diệt
trừ hết thảy phiền năo của chúng sanh. Đấy
mới là tướng trạng của bậc trí huệ
chân thật. Là đại Bồ Tát Ma Ha Tát v́ nhuận ích
các hữu t́nh bèn tu Vô Y Trước Định, vĩnh viễn
đoạn sự yêu đắm trong các cơi (hữu ái), th́ gọi là bậc đại huệ.
Chẳng phải v́ chính ḿnh, tu Định cũng thế,
thậm chí tu đôi chút động tác cũng thế, tất cả các Tinh Tấn Độ cũng đều
như thế. Môn
Định này chính là chẳng nương dựa, chẳng
chấp trước. Đối với phương pháp tu
Định, hoàn toàn chẳng phải là “ngồi th́ mới
có thể tu Định, chứ đứng chẳng
thể tu Định”. “Na Già thường tại Định”
(đức Phật thường ở trong Định). Đi, đứng, ngồi, nằm, trong bốn oai nghi, quư
vị đều có thể tu Định. Khi ngồi, tu
Định có hai loại chướng ngại: Một là
tán loạn. Hễ vừa tĩnh lặng, chuyện cũ từ
tám mươi năm trước đều nghĩ tới.
Bóng dáng của chúng trồi lên, suy nghĩ miên man khiến ngồi chẳng yên, sẽ nổi nóng. Nổi
nóng với ai? Nổi nóng với chính ḿnh. Lúc đó, [cứ
lan man suy nghĩ, giá mà] ta đừng nên làm như vậy,
cho đến bây giờ chịu thua thiệt. Quư vị hối
hận. Hễ tán loạn xảy đến, [sau khi dẹp
được tán loạn], Định được rồi,
lại bị hôn trầm. Có lúc, Định rồi ngủ
thiếp đi một hai tiếng. Lúc tỉnh lại vẫn
chẳng biết, quư vị thấy đă qua một khoảng
thời gian rồi!
Chúng
ta tĩnh tọa trong Thiền Đường. Trong ṿng một
cây hương to (trong khoảng thời gian cháy hết một
cây hương), có người rất định, có
người trong tâm xáo động khôn cùng, [kẻ ấy]
càng ngó dáo dác, càng chịu không nổi! Cây
hương ấy rất thô, dài ngần
ấy, tối thiểu cháy hai tiếng rưỡi đồng
hồ. Quư vị ḍm lư hương: “Hương vẫn c̣n y
nguyên, chẳng cháy bớt chút nào!” Thấy nó quả thật
chẳng giảm. Có người
căn bản là chẳng nh́n, cứ mặc kệ, bèn nhập
Định, [thật ra], ngủ mất tiêu! Hai ba tiếng
đồng hồ trôi đi, đợi nghe gơ bản (nhắc
đại chúng xả Thiền), người đó tỉnh
dậy, [thời khóa tọa Thiền] đă qua
đi, làm ǵ cũng chẳng biết. Có lúc công phu tĩnh tọa
của chúng ta tốt đẹp, chân cũng không đau. Bất
quá, ngồi Thiền ngon lành [thật ra] là tệ nhất, v́
người ấy ngủ suốt hai ba tiếng đồng
hồ. Quư vị thấy bộ dáng người ấy
dường như đang nhập Định, thật ra, đang ngủ kḥ kḥ.
Chuyện này phải do luyện tập mà thành, nh́n từ
bên ngoài, sẽ nh́n chẳng ra. Kẻ đó đang ngủ,
tự ḿnh cảm thấy rất thoải mái. Sự khinh an
khi nhập Định và ngủ giống nhau. Đạt
được khinh an, thứ ǵ cũng chẳng suy
nghĩ, thật sự buông xuống hết thảy, trụ
trong sự khinh an ấy. Đó chẳng phải là khai trí huệ,
ắt cần phải tinh tấn dũng mănh.
Nếu
v́ tăng trưởng chúng sanh, tu môn Định này, không
nương dựa, chẳng chấp trước, vĩnh
viễn đoạn trừ các ái trong các Hữu thuộc
tam giới, chẳng phải v́ chính ḿnh, mà nhằm lợi lạc
chúng sanh, khiến cho các hữu t́nh không nương dựa,
không chấp trước mà nhập Định, có thể
vĩnh viễn đoạn tuyệt hết thảy ái
phược (愛縛, trói buộc do yêu mến). Đấy là người có
trí huệ, “vị giải chư hữu phược,
linh trụ vô úy thành, tu hành Tịch Chỉ Định, thị
danh Ma Ha Tát” (v́ tháo gỡ các trói buộc trong các Hữu nơi
tam giới, khiến cho [các hữu t́nh] trụ trong ṭa thành
không sợ hăi, mà tu môn Định tịch tĩnh dứt bặt,
th́ [người ấy] được gọi là Ma Ha Tát).
V́ khiến cho hết thảy chúng sanh giải thoát tất cả
triền phược, trói buộc, mà ở trong ṭa thành không
sợ hăi, tức ṭa thành vô sanh, vô diệt. Tu Chỉ, tu
Định như vậy, tức là Tịch Chỉ Định.
Đấy mới là bậc đại Bồ Tát. Nếu mọi
người xem sách vở về Thiền Định, sẽ
biết những điều ấy. Nay chúng ta chỉ nhận
biết danh từ. Đó chẳng phải là pháp chúng ta sẽ
tu. Đợi đến khi chúng tôi giảng xong [bộ kinh
này, đại chúng] hăy khéo tu hành pháp Sổ Tức Quán do
Địa Tạng Vương Bồ Tát đă nói, đồng
thời lại c̣n khéo niệm Phật. Người thật
sự niệm Phật, tu Sổ Tức Quán, sẽ giống
hệt như công phu tu Tĩnh.
(Kinh)
Phục thứ, thiện nam tử!
Bồ Tát Ma Ha Tát phục hữu Bát Nhă Đại Giáp Trụ
Luân. Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân,
tùng sơ phát tâm, nhất thiết ngũ dục giai năng
trừ đoạn, siêu thắng nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác, phổ vị nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác tác đại phước điền. Nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng giai ưng
cúng dường, thừa sự, thủ hộ. Vân hà Bát Nhă
Đại Giáp Trụ Luân? Thiện nam tử! Bồ Tát Bát
Nhă hữu nhị chủng tướng, nhất giả thế
gian, nhị giả xuất thế gian. Vân hà Bồ Tát thế
gian Bát Nhă? Vị chư Bồ Tát duy y độc, tụng,
thư tả, thính văn, vị tha diễn thuyết tam thừa
chánh pháp, dục cầu trừ diệt nhất thiết
chúng sanh vô minh hắc ám, dục cầu phát khởi nhất
thiết chúng sanh đại huệ quang minh, vị ư
Như Lai sở thuyết chủng chủng dữ Thanh
Văn Thừa tương ứng chánh pháp, tinh cần độc
tụng, thính văn, thư tả, vị tha diễn thuyết,
khuyến chánh tu hành. Hoặc ư Như Lai sở thuyết
chủng chủng dữ Độc Giác Thừa tương
ứng chánh pháp, tinh cần độc tụng, thính văn,
thư tả, vị tha diễn thuyết, khuyến chánh tu
hành. Hoặc ư Như Lai sở thuyết chủng chủng
dữ Vô Thượng Thừa tương ứng chánh pháp,
tinh cần độc tụng, thính văn, thư tả, vị
tha diễn thuyết, khuyến chánh tu hành, bất cầu hiền
thánh vô lậu đạo chi, bất cầu thánh đạo,
bất cầu thánh đạo sở nhiếp giải thoát,
bất hành tịch tĩnh chân thật Bát Nhă, thường hành
hữu kiến, hữu tướng Bát Nhă. Như thị
Bát Nhă, hữu thủ, hữu trước,
thị danh Bồ Tát thế gian Bát Nhă. Như thị Bát Nhă,
cộng chư Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng,
thử bất danh vi Đại Giáp Trụ Luân, diệc bất
do thử danh vi Bồ Tát Ma Ha Tát dă, cập danh nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác chân thật phước điền.
Vân hà Bồ Tát xuất thế Bát Nhă? Vị chư Bồ
Tát tinh cần tu tập Bồ Đề đạo thời,
tùy lực độc tụng, thính văn, thư tả, vị
tha diễn thuyết tam thừa chánh pháp, nhi ư kỳ
trung, y vô sở đắc phương tiện nhi trụ,
vô sở hành động, vô sở tư duy, vô hữu
căn bản, dĩ như hư không tâm, phổ tịch diệt
tâm, vô tăng giảm huệ, vô thủ trước tâm, vô
sanh diệt tâm, vô thoái chuyển tâm, pháp b́nh đẳng tâm,
Chân Như tâm, thật tế tâm, pháp giới tâm, vô ngă tâm, vô
phân biệt tâm, tịch diệt an nhẫn ly phân biệt
tâm, thiện xảo an trụ vô thành hoại địa, thiện
xảo an trụ vô trụ vô trước thắng diệu
huệ địa. Như thị Bát Nhă, vô thủ, vô trước,
thị danh Bồ Tát xuất thế Bát Nhă Đại Giáp Trụ
Luân.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,復有般若大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。云何般若大甲冑輪?善男子,菩薩般若,有二種相:一者、世間,二者、出世間。云何菩薩世間般若?謂諸菩薩,唯依讀誦、書寫、聽聞,為他演說三乘正法,欲求除滅一切眾生無明黑暗,欲求發起一切眾生大慧光明;謂於如來所說種種與聲聞乘相應正法,精勤讀誦,聽聞書寫,為他演說,勸正修行;或於如來所說種種與獨覺乘相應正法,精勤讀誦,聽聞書寫,為他演說,勸正修行;或於如來所說種種與無上乘相應正法,精勤讀誦,聽聞書寫,為他演說,勸正修行;不求賢聖無漏道支,不求聖道,不求聖道所攝解脫,不行寂靜真實般若,常行有見有相般若。如是般若,有取有著,是名菩薩世間般若。如是般若,共諸聲聞、獨覺乘等。此不名為大甲冑輪,亦不由此名為菩薩摩訶薩也,及名一切聲聞、獨覺真實福田。云何菩薩出世般若?謂諸菩薩,精勤修習菩提道時,隨力讀誦、聽聞、書寫,為他演說三乘正法,而於其中,依無所得方便,而住無所行動、無所思惟、無有根本,以如虛空心、普寂滅心、無增減慧、無取著心、無生滅心、無退轉心、法平等心、真如心、實際心、法界心、無我心、無分別心、寂滅安忍離分別心,善巧安住無成壞地,善巧安住無住無著勝妙慧地。如是般若,無取無著,是名菩薩出世般若大甲冑輪。
(Kinh:
Lại này, thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có
Bát Nhă Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy
ngũ dục đều có thể đoạn trừ,
vượt xa hết thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́
khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng
phước to lớn. Hết thảy hàng Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đều nên cúng dường, thừa sự,
thủ hộ. Thế nào là Đại Giáp Trụ Luân của
Bát Nhă? Này thiện nam tử! Bồ Tát Bát Nhă có hai loại
tướng, một là thế gian, hai là xuất thế
gian. Thế nào là Bát Nhă thế gian của Bồ Tát? Tức
là các Bồ Tát chỉ nương vào đọc, tụng,
biên chép, lắng nghe, v́ người
khác diễn thuyết chánh pháp tam thừa, muốn cầu trừ
diệt vô minh hắc ám cho hết thảy chúng sanh, muốn
cầu phát khởi quang minh đại huệ cho hết thảy
chúng sanh, tức là đối với
các thứ chánh pháp tương ứng với Thanh Văn Thừa
do đức Như Lai đă nói, bèn siêng ṛng đọc tụng,
lắng nghe, biên chép, v́ người khác diễn nói, khuyên họ
tu hành chánh đáng. Hoặc là đối với các thứ
chánh pháp tương ứng với Độc Giác Thừa
do đức Như Lai đă nói, bèn siêng ṛng đọc tụng,
lắng nghe, biên chép, v́ người khác diễn nói, khuyên họ
tu hành chánh đáng. Hoặc là đối với các thứ
chánh pháp tương ứng với Vô Thượng Thừa
do đức Như Lai đă nói, bèn siêng ṛng đọc tụng,
lắng nghe, biên chép, v́ người khác diễn nói, khuyên họ
tu hành chánh đáng. Chẳng cầu vô lậu đạo chi
của hiền thánh, chẳng cầu thánh đạo, chẳng
cầu sự giải thoát được nhiếp thọ
bởi thánh đạo, chẳng hành Bát Nhă chân thật tịch
tĩnh, thường hành Bát Nhă có kiến, có tướng. Bát
Nhă như thế nếu chấp giữ là có, th́ gọi là
Bát Nhă thế gian của Bồ Tát. Bát Nhă như thế cùng
chung với các Thanh Văn, Độc Giác Thừa. Đó chẳng
gọi là Đại Giáp Trụ Luân, cũng chẳng do
đó mà gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, cũng chẳng gọi
là ruộng phước chân thật của hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác. Thế nào là Bát Nhă xuất thế
của Bồ Tát? Chính là khi các Bồ Tát siêng ṛng tu tập Bồ
Đề đạo, tùy sức mà đọc tụng, lắng
nghe, biên chép, v́ người khác diễn thuyết tam thừa
chánh pháp, nhưng ở trong ấy, bèn trụ vào
phương tiện “không có ǵ để đạt
được”, không có hành động, chẳng có tư duy, chẳng có căn bản,
dùng cái tâm như hư không, cái tâm tịch diệt trọn
khắp, cái tâm trí huệ chẳng tăng giảm, không chấp
giữ, tâm chẳng sanh diệt, tâm chẳng thoái chuyển,
tâm pháp b́nh đẳng, tâm Chân Như, tâm thật tế, tâm
pháp giới, tâm vô ngă, tâm chẳng phân biệt, tâm tịch diệt
an nhẫn ĺa phân biệt, tâm thiện xảo an trụ
địa vị chẳng thành hoại, thiện xảo an
trụ địa vị trí huệ mầu nhiệm
thù thắng vô trụ, không chấp trước.
Bát Nhă như thế chẳng giữ lấy, chẳng chấp
trước, gọi là Bát Nhă Đại Giáp Trụ Luân xuất
thế của Bồ Tát).
Nếu
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu trí huệ Bát Nhă Đại
Giáp Trụ Luân này, từ khi Ngài mới phát tâm, đă có thể
đoạn tuyệt ngũ dục. Đấy là nói bậc
Thập Trụ Bồ Tát phát tâm, hoàn toàn chẳng phải là
nói về Sơ Tín. Như chúng ta cũng phát tâm, nhưng chẳng
thể đoạn ngũ dục. Hàng Sơ Trụ Bồ
Tát trong địa vị Thập Trụ vừa phát Bồ
Đề tâm, ngũ dục đều đoạn trừ,
họ có thể nhanh chóng đoạn dứt. Lại c̣n vừa
phát tâm, đă vượt xa Thanh Văn, Độc Giác,
vượt xa A La Hán, hơn hẳn hàng Nhị Thừa. Do vậy,
Ngài có thể làm ruộng phước to lớn cho hết
thảy Thanh Văn và Độc Giác. V́ thế, hết thảy
Thanh Văn và Độc Giác Thừa đều phải nên
cúng dường, thừa sự, thân cận, thủ hộ
Ngài. Đấy là điều tương thông, văn tự
giống như trong các đoạn trước.
Bát
Nhă Đại Giáp Trụ Luân là ǵ? Trí huệ Bát Nhă của Bồ
Tát có hai loại tướng: Một loại là thế
gian, loại kia là xuất thế gian, tức một loại
là thế gian Bát Nhă, loại kia là xuất thế gian Bát Nhă.
Thế gian Bát Nhă chung với Thanh Văn và Độc Giác,
xuất thế gian Bát Nhă chẳng chung với Thanh Văn và
Độc Giác. Sau khi Bồ Tát thành tựu luân này, khi thuyết
pháp cho hết thảy chúng sanh, sẽ dựa vào đâu? Bồ
Tát sẽ đọc, tụng, biên chép, lắng nghe.
Khi Bồ Tát tu hành trong đời quá khứ, cũng dựa
vào đọc tụng, biên chép, lắng nghe. Lắng nghe là
Văn Tư, tức là nghe xong bèn suy nghĩ, suy nghĩ rồi
có thể tu. Đọc tụng và biên chép là một cách thực
hiện tu hành, khác với tĩnh tọa và tham Thiền. Một đằng là từ tướng
mà vào, tiến nhập dần dần. Một đằng là
từ Thể mà nhập, đốn ngộ. Chúng ta biết
Huệ Năng đại sư chẳng đọc tụng,
mà cũng chẳng biên chép. Ngài cũng chẳng
biết chữ, [thế mà] Ngài đốn
ngộ. Căn cơ của chúng ta chẳng giống Ngài. Nếu
Ngài là loại căn cơ đó, mà lại nói pháp Thanh
Văn Nhị Thừa cho Ngài, bảo Ngài đọc tụng,
lắng nghe, th́ sai lầm mất rồi! Trong phần
trước, chúng tôi đă nói “chẳng phạm sai lầm
đối với tam thừa”, nếu làm như vậy
(thuyết pháp không đúng căn cơ) th́ sẽ là sai lầm.
Nếu đối với người thuộc loại
căn cơ “tiệm tiến” (漸進, tiến nhập dần dần), mà chỉ nói pháp đốn
ngộ, [dạy họ] tham cứu minh tâm kiến tánh th́ hiện
thời đối với loại căn cơ ấy, sẽ
chẳng thích hợp.
V́
sao Bồ Tát làm như vậy? Ngài v́ tu hành, tu hành v́ chúng sanh. Đọc tụng,
biên chép, lắng nghe, đều nhằm diễn thuyết
chánh pháp tam thừa. Ở đây, thêm chữ Chánh, [ngụ ư những ǵ các Ngài đă làm đều] nhằm trừ
diệt vô minh hắc ám của chúng sanh. Vô minh phiền năo của
chúng sanh phải dựa vào pháp này để giải cứu,
phải mong trừ khử sự hắc ám nơi tâm lư của
chúng sanh. Dựa vào pháp th́ mới có thể diệt trừ,
chẳng nhờ vào ánh sáng đèn, ánh sáng mặt trời, mặt
trăng [để diệt trừ hắc ám]. Các thứ
quang minh ấy (ánh đèn, hay ánh sáng nhật nguyệt) chẳng
trừ được hắc ám của họ. Chúng có thể
trừ khử sự hắc ám nơi hiện tượng.
Nếu muốn trừ khử sự hắc ám nơi tâm lư
th́ phải học pháp, phải tu pháp, khiến cho họ
sanh ra quang minh đại huệ vốn sẵn có của
chính ḿnh. V́ duyên cớ này, Bồ Tát phải
quán cơ. Quán cơ (觀機) tức là xem xét
[đối tượng được thuyết pháp] thuộc
loại căn cơ nào để nói cho người ấy
pháp thích đáng thuộc thừa đó.
Kế
đó, [chánh kinh liệt kê] các thứ pháp. Nếu là chánh pháp
tương ứng với Thanh Văn Thừa, bèn đối
trước người thuộc Thanh Văn Thừa mà nói,
khiến cho họ nghe pháp xong cũng có thể siêng ṛng tu học,
“thính văn, thư tả” (lắng nghe, biên chép), khuyên họ tu hành. Sau
khi [đối tượng] đă nghe pháp, sẽ khuyên họ tu hành. “Vị tha diễn thuyết,
khuyến chánh tu hành” (v́ người khác diễn thuyết,
khuyên tu hành chánh đáng), chớ hành theo tà đạo. Mục
đích nghe pháp của chúng ta là sợ chính ḿnh hành tŕ chẳng
phải là chánh hạnh. Nếu chẳng phải là công phu
chân chánh, vận dụng sai lầm, [chẳng hạn
như] học Khí Công cũng rất dễ đi vào ngơ rẽ.
Nếu quư vị bị hướng dẫn theo công phu chẳng
tốt, do tu chẳng tốt đẹp, sẽ dẫn khởi
rất nhiều bệnh tật. V́ thế, đối với
pháp này, cũng phải nói chánh pháp như thế; sau đó
phải tinh tấn, chớ nên giải đăi. “Cần”
(勤, siêng năng) là chẳng biếng nhác! Xét theo ư
nghĩa của đọc tụng, Đọc là chiếu
theo kinh văn để đọc, Tụng là đọc
thuộc ḷng. Đọc kinh phần lớn là chiếu theo
kinh bổn để đọc. Một bộ kinh Pháp Hoa,
xét ra trí lực của chúng ta chẳng thể nào thuộc nằm
ḷng được. Kinh Hoa Nghiêm chúng ta cũng chẳng thể
thuộc nằm ḷng nổi; kinh Đại
Bát Nhă chúng ta cũng không thể thuộc nổi! Một phần
trong đó, như Tâm Kinh, th́ chúng ta có thể thuộc. Quư vị
thuộc nằm ḷng, [có thể đọc không cần kinh bổn]
th́ là Tụng. Chiếu theo kinh bổn để đọc,
hoặc chính ḿnh sao chép, quư vị làm được điều
này, nhưng khuyên kẻ khác tu hành chánh đáng th́ chẳng
làm được!
Tu
Quán bèn quán chẳng được, như Quán Tự Tại
Bồ Tát dạy quư vị tu, khơi mở trí huệ Bát
Nhă của ta. Trí huệ ấy sanh ra đại huệ quang
minh, quư vị mới có thể chiếu kiến “Ngũ Uẩn
đều là Không”. Nếu không, lấy ǵ để chiếu
kiến Ngũ Uẩn đều là Không? Chúng ta vẫn giùi
mài nơi ngũ dục ư? Chẳng hiểu rơ năm
mươi loại Ấm Ma, căn bản là quư vị
đang ở trong loài ma, vẫn cứ tưởng chính ḿnh
rất biết tu hành, sai lầm mất rồi! V́ sao phải
thường xuyên đọc kinh? Dùng kinh để đối
chiếu. Kinh giống như mặt gương. Trên mặt
chúng ta có vết đen, chính ḿnh chẳng trông thấy, quư vị
vừa soi gương sẽ biết. Do vậy, khuyên họ
phải tu hành chánh đáng. Nếu cảm nhận tu hành
không đúng, hăy đối chiếu với kinh bổn, coi
đức Phật dạy như thế nào? Hăy đối
chiếu một phen! Chiếu theo các thứ pháp do đức
Như Lai đă nói, nếu là căn cơ Thanh Văn Thừa,
hăy nói kinh A Hàm, hoặc luận Câu Xá cho người ấy,
tức là chánh pháp tương ứng với Thanh Văn.
Nếu là Độc Giác Thừa, hăy nói cho người ấy
pháp nhân duyên, nói mười hai nhân duyên. Ba mươi bảy
đạo phẩm, tức Tứ Chánh Cần,
Tứ Như Ư Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác
Chi, Bát Chánh Đạo, những pháp ấy chung cho cả ba
thừa. Quư vị có thể [giảng giải] sâu, mà cũng có
thể cạn. Như thế th́ Thanh Văn, Độc
Giác, “thính văn, thư tả, vị tha diễn thuyết,
khuyến chánh tu hành” (lắng nghe, biên chép, v́ người
khác diễn nói, khuyên họ tu hành chánh đáng).
“Hoặc
ư Như Lai sở thuyết chủng chủng dữ Vô
Thượng Thừa tương ứng chánh pháp” (hoặc
đối với các thứ chánh pháp tương ứng Vô
Thượng Thừa do đức Như Lai đă nói): Nếu
gặp chúng sanh cầu Vô Thượng Thừa, bèn khuyên họ
tu hành chánh đáng, nói chánh pháp tương ứng với Vô
Thượng Thừa, như kinh Bát Nhă, kinh Hoa Nghiêm, kinh Pháp
Hoa, minh tâm kiến tánh. Đặc biệt là kinh Pháp Hoa, khai
thị ngộ nhập tri kiến của Phật, nói cho họ
tri kiến của Phật. Kẻ Nhị Thừa chẳng
thể tin nhận! Lấy ngay các đạo hữu trong hiện
thời để nói, tôi đă gặp mấy kẻ, họ
chẳng phản đối. Quư vị giảng kinh Pháp Hoa,
họ cũng theo nghe đôi chút. Quư vị giảng kinh Hoa
Nghiêm, họ cũng nghe. Như vậy là gieo thiện căn!
Căn cơ Nhị Thừa đều chẳng có, họ
chẳng thể chứng đắc thánh quả, chỉ là
gieo thiện căn, nhưng họ có thể nghe danh tự
của kinh, có thể lắng nghe, đều là do đă gieo
thiện căn từ vô lượng kiếp đến
nay! Nếu không, họ sẽ chẳng thể nghe nổi,
đă ngồi xuống rồi lại đứng lên bỏ
đi!
Khi
tôi giảng kinh Hoa Nghiêm tại chùa Nam Phổ Đà ở Hạ
Môn, giảng hơn nửa năm, có người
nghe đôi chút bèn bỏ đi, chẳng thể nghe từ đầu
đến đuôi. Học tṛ th́ không được, chẳng nghe cũng không được, v́ họ là học
sinh tại Phật Học Viện, ắt phải nghe giảng
bài. Họ chẳng phải là căn cơ ấy; chẳng
phải là căn cơ ấy, th́ kể như gieo
thiện căn. Trong đời tương lai, họ sẽ
dần dần thành tựu căn cơ ấy, đó là gieo
nhân. Nhưng có thể gieo cái nhân này, là do có nhân duyên túc thế.
Giống như đoạn kinh văn này đă nói, nếu
chúng ta muốn thật sự đạt đến Bát Nhă
chân thật, tức là như nay chúng tôi đang giảng nửa
quyển sau kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, đang giảng
về chân thật Bát Nhă th́ những điều chúng tôi vừa
nói chỉ là hữu tướng Bát Nhă. Hữu Tướng
Bát Nhă khác hẳn Vô Tướng Bát Nhă. Hữu Tướng
là “hữu thủ, hữu trước” (có giữ lấy,
có chấp trước), c̣n Vô Tướng chẳng có.
Họ
siêng ṛng đọc tụng Đại Thừa, lắng
nghe, biên chép như thế, tức là sự “chánh tu hành” (tu hành chánh đáng) của họ chẳng giống như sự tu hành trong các phần
trước, chẳng cầu trí huệ vô lậu của Nhị
Thừa. “Chẳng cầu thánh đạo” là nói đến
[thánh đạo] Nhị Thừa. Vô cầu, vô chứng, chẳng
cầu sự giải thoát được nói trong thánh đạo
[Nhị Thừa], chẳng hành tịch tĩnh chân hạnh Niết
Bàn. Trái lại, đối với tịch tĩnh chân thật
Bát Nhă, họ chẳng hành, như thế th́ các điều
họ đă hành toàn là Bát Nhă hữu tướng
có thể thấy được. Đối với
loại Bát Nhă ấy, có
lấy, có bỏ, đó là có chấp trước tướng.
Tu hành như thế th́ môn Bát Nhă ấy chẳng phải là
Bát Nhă chân thật, tức là chẳng hành tịch tĩnh chân
thật Bát Nhă. “Hành” là thấy, pháp được hành là hữu tướng
Bát Nhă. Môn Bát Nhă ấy có lấy, có xả; đó chẳng phải
là môn Bát Nhă thật sự rốt ráo của Bồ Tát. Đấy
là ǵ? Chính là thế gian Bát Nhă của Bồ Tát. Do vậy,
đối với sự phân biệt,
đối đăi trong pháp yếu tam thừa, chẳng phải
là đức Phật nói vô sai biệt, b́nh đẳng hay
sao? Đó là b́nh đẳng, [tương ứng với]
pháp họ đáng nên lănh thọ. Họ có thể tiếp nhận cỡ nào, quư vị sẽ nói
cho họ chừng ấy. Họ chẳng thể tiếp nhận
mà quư vị [chỉ dạy] vượt quá khả
năng của họ, [họ sẽ hoàn toàn chẳng tiếp
nhận]. Đấy là bất b́nh đẳng!
Chuyện
này có ư nghĩa giống như thí dụ ăn cơm tôi
đă nêu trong phần trước. Chúng ta ấn định
người ấy phải ăn ba chén. Người có thể
ăn năm chén, sẽ không đủ no. Người chỉ
có thể ăn một chén, ép họ ăn ba chén xong, họ
chịu không nổi! Đấy mới là bất b́nh đẳng!
Người ấy là căn cơ ǵ, có thể nghe nói pháp
ǵ, có thể biên chép pháp ǵ? Quư vị diễn nói cho người
ấy, khuyên người ấy tu chánh đáng, chớ nên
sai lầm. Kẻ chẳng phải
là căn khí rất sâu, chẳng mong thành Phật, chẳng
mong đạt tới quả vị rốt ráo, quư vị chẳng
thể nói pháp rất sâu cho kẻ đó được! Kẻ đó có thể nghe pháp,
cũng có thể lắng nghe, cũng có thể biên chép,
nhưng mục đích của kẻ đó bất đồng.
Họ tu tập giải thoát cũng khác, sự tu hành của
người ấy luôn thuộc vào hữu tướng, hữu
vi, chấp trước!
Giống
như giới Bồ Tát và giới tỳ-kheo, giới tỳ-kheo
và giới Sa Di, giới Sa Di và Bát Quan Trai Giới, Bát Quan
Trai Giới và Ngũ Giới, đều khác nhau. V́ tâm
lượng của người ấy chỉ to chừng đó.
Đó là hữu tướng Bát Nhă. Môn Bát Nhă ấy c̣n có lấy,
có bỏ, chấp trước “đây là nghiệp bất tịnh,
ta chẳng thể làm”. Đó gọi là “chấp trước”.
Bồ Tát th́ vô trước (chẳng
chấp trước), là thật sự b́nh đẳng. Nói
Thanh Văn và Duyên Giác chấp trước, chẳng phải
là họ chấp trước ngũ dục thế gian, mà
chấp trước ǵ vậy? Họ chấp trước
pháp. [Đối với họ], Ngă đă chẳng c̣n th́ là đă tu thành công. Đă đoạn Ngă Chấp,
nhưng Pháp Chấp vẫn chưa đoạn. Tuy người
ấy có trí huệ, nhưng chỉ được một
nửa, đó gọi là thế gian Bát Nhă của Bồ Tát. Bồ
Tát phải trọn đủ hai loại Bát Nhă. Loại Bát
Nhă này (thế gian Bát Nhă) cùng chung với Thanh Văn, Độc
Giác. Họ cũng nương theo loại Bát Nhă này để
học, cũng chứng đắc như thế. Bồ
Tát tuy cũng nương theo pháp ấy để học,
nhưng sau khi học xong, bèn lợi ích chúng sanh, chẳng v́
để chính ḿnh thọ dụng, mà là để cho người
khác thọ dụng. Loại Bát Nhă này chẳng thể gọi
là “Đại Giáp Trụ Luân”, do chẳng có sức mạnh
của cái luân ấy, chẳng gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, chẳng
thể coi là bậc đại Bồ Tát được, chẳng
thể gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, cũng chẳng thể
làm ruộng phước chân thật cho Thanh Văn và Bồ
Tát. Đó là thế gian Bát Nhă của Bồ Tát.
Bát
Nhă có hai loại tướng: Một là thế gian, hai là xuất
thế gian. Xuất thế gian Bát Nhă của Bồ Tát, “vị
chư Bồ Tát tinh cần tu tập Bồ Đề đạo
thời” (tức là khi các Bồ Tát siêng ṛng tu tập Bồ
Đề đạo), nêu ra tiền đề khác biệt:
Vị ấy tu hành Bồ
Đề đạo, trong khi tu nhân, đă nương vào Bồ
Đề đạo để tấn tu, nơi quả
địa chứng đắc quả Bồ Đề. “Tùy
lực độc, tụng, thính văn, thư tả”
(tùy sức mà đọc tụng, lắng nghe, biên chép), tùy
theo sức của vị ấy, tức là tùy theo sức trí huệ. Có sức
trí huệ rất lớn, sẽ có thể học tập
pháp ấy. Sau khi đă học xong, liền có thể lợi
ích chúng sanh, diễn tam thừa chánh pháp cho chúng sanh.
“Nhi
ư kỳ trung, y vô sở đắc phương tiện
nhi trụ, vô sở hành
động, vô sở tư duy, vô hữu căn bản,
dĩ như hư không tâm, phổ tịch diệt tâm, vô
tăng giảm huệ, vô thủ trước tâm, vô sanh diệt
tâm, vô thoái chuyển tâm, pháp b́nh đẳng tâm, Chân Như
tâm, Thật Tế tâm, pháp giới
tâm, vô ngă tâm, vô phân biệt tâm, tịch diệt an nhẫn ly
phân biệt tâm” (Nhưng ở trong ấy,
nương vào phương tiện chẳng có ǵ đạt
được mà trụ, chẳng có hành
động, chẳng tư duy, chẳng có căn bản,
dùng cái tâm như hư không, tâm tịch diệt trọn khắp,
trí huệ chẳng tăng giảm, tâm không chấp giữ,
tâm chẳng sanh diệt, tâm chẳng thoái chuyển, tâm pháp
b́nh đẳng, tâm Chân Như, tâm Thật Tế, tâm pháp giới,
tâm vô ngă, tâm chẳng phân biệt, tâm tịch diệt an nhẫn
ĺa phân biệt). Tổng cộng có mười hai tâm. Bồ
Tát chứng đắc Căn Bản Trí, nương theo
Căn Bản Trí mà sanh khởi Hậu Đắc Trí. Bồ
Tát phải có phương tiện thiện xảo, từ
trong Căn Bản Trí, hàng Nhị Thừa chỉ chứng
được một nửa, chẳng có phương tiện
thiện xảo, v́ họ chẳng thể độ chúng
sanh, [cho nên] chẳng sanh ra các phương tiện thiện
xảo.
Thế
nào là phương tiện thiện xảo? Bồ Tát độ
chúng sanh mà chẳng thấy tướng chúng sanh. Chúng sanh
đáng nên dùng căn cơ nào để đắc độ,
bèn hiện căn cơ ấy. Cho đến đối với
chúng sanh ấy đáng nên bố thí một chút tiền tài,
hoặc là nên bố thí đôi chút pháp, Bồ Tát hăy nên bố
thí cho kẻ ấy đôi chút tiền tài hoặc pháp. Vậy là cũng chẳng thể cho kẻ ấy tŕ giới,
cho kẻ ấy thọ giới, khiến cho kẻ ấy
hành Đại Nhẫn Nhục Bát Nhă hạnh, kẻ đó
chẳng làm được, v́ chẳng có sức lớn
như vậy. Tuy làm đủ mọi thứ, nhưng chẳng
chấp trước, “vô sở hành động” có
nghĩa là “chẳng chấp trước”. Độ chúng sanh mà chẳng thấy tướng
chúng sanh, cũng chẳng biểu thị “chính ḿnh có thể
độ chúng sanh”, cũng chẳng có chúng sanh được
ta độ, chẳng chấp trước. Đó gọi
là “tam luân thể không”.
Các
tâm sau đó đều nhằm h́nh dung cảnh giới
độ sanh: Quư vị dùng cái tâm ǵ. Ngược lại
th́ sẽ là nương theo trí huệ Chân Như Bát Nhă. Chúng
ta “vô sở hành động”, tức là chúng ta cũng
chẳng độ chúng sanh. Hết thảy chúng sanh “vô sở
tư duy” (chẳng dựa vào đâu để tư
duy), tức là nghĩa Không, chứng đắc tịch diệt,
đấy là nghĩa Không. Tất cả các tư duy của
chúng ta là chẳng có ư? Tư duy của chúng ta đều
là hư vọng, chẳng thật! Chân tư duy của Bồ
Tát là chẳng tư duy, nhưng chẳng phải là không có tư
duy. Ư nghĩa trong Đại Thừa là như thế
đó. Nói “chẳng có căn bản”, tức là nói người
ấy chẳng nương vào đâu, chẳng chấp
trước ǵ. Nói căn bản
là như thế đó. Quư vị nghĩ xem, khi chư Phật
thành đạo, các Ngài hoàn toàn chẳng nói nương vào
Pháp Thân để tu hết thảy các hạnh ḥng thành tựu
Báo Thân, nương vào Báo Thân để thành tựu Hóa Thân.
Hoàn toàn chẳng nói kiểu đó! Ngài là trí huệ hiển
hiện. V́ sao? Tâm Ngài như hư không, chẳng có tác dụng.
Hư không có tác dụng ǵ? Hư không chẳng có tác dụng.
“Phổ
tịch diệt tâm”: Làm cho chúng sanh đều có thể
đạt được tịch tĩnh, chẳng xáo
động! Đối với Huệ, tại phàm chẳng
giảm, nơi thánh chẳng tăng. Bát Nhă Huệ tại
phàm chẳng giảm, [bởi lẽ, mỗi chúng sanh] vốn trọn
đủ trí huệ Bát Nhă, vốn trọn đủ Pháp
Thân đức tướng của chư Phật. Đă
thành thánh quả, rốt ráo thành Phật, cũng chẳng thể
tăng. Các vị đạo hữu! Chúng tôi giảng Tâm
Kinh, quư vị đều biết “bất tăng, bất
giảm” là tại phàm chẳng giảm, nơi thánh không
tăng. Tâm trí huệ loại này chẳng có giữ lấy,
chẳng chấp trước, chẳng chấp hết thảy
các pháp. Người ấy không chỉ chẳng chấp Ngă,
mà đối với hết thảy các pháp, cũng đều
chẳng chấp trước. Đấy là đă đạt
tới cảnh giới mầu nhiệm chẳng thể
nghĩ bàn, là diệu huệ địa. Quán hết thảy
các pháp đều là vô sanh, vô diệt. Chúng
ta quán hết thảy các pháp có sanh, có diệt, có tăng, có
giảm, cho nên chúng ta chẳng thể tiến nhập. Khi
chúng ta giúp đỡ người khác, chẳng thể giúp
triệt để, chỉ có thể gieo thiện căn mà
thôi, chẳng thể giải quyết vấn đề, chẳng
thể khiến cho người ấy đoạn phiền
năo, mà cũng chẳng thể khiến cho người ấy
chứng Bồ Đề. V́ tâm Bồ Tát như hư không,
vĩnh viễn chẳng có thoái đọa. Đây là nói tới
bậc Đăng Địa Bồ Tát, đại Bồ
Tát đă chứng Bát Nhă trí, vĩnh viễn chẳng thoái
đọa. Bát Địa, tức Bất Động Địa,
sẽ chẳng thoái đọa.
“Pháp
b́nh đẳng tâm”: Hết thảy các pháp b́nh đẳng,
vô nhiễm, vô tịnh, bất tăng, bất giảm, bất
sanh, bất diệt. Đó là pháp b́nh đẳng tâm! Cái tâm ấy
là chân thật, là Chân Như tâm. Chúng ta nói Thật Tế lư
địa, danh từ ấy nhằm h́nh dung Pháp Thân,
nhưng “thật tế tâm”, “pháp giới tâm”, “vô
ngă tâm”, đối với vô ngă tâm, c̣n có thêm một sự
khu biệt: Hàng Nhị Thừa cũng đạt tới vô
ngă, nhưng là Tiểu Vô Ngă. Vô Ngă cũng là chẳng có các cảnh
thuộc về ta. Tâm có thể chuyển hết thảy các
cảnh, tâm có thể chuyển hết thảy các pháp. Hết thảy các pháp đều vô ngă, chẳng có tâm phân biệt,
chẳng có nhiễm, tịnh, lớn, nhỏ, chẳng có
dài, ngắn, vuông, tṛn. Tịch diệt an nhẫn, tịch
tĩnh bất động, chẳng đến, chẳng
đi, cho nên không có tâm phân biệt. “Thiện xảo an trụ
vô thành hoại địa” (thiện xảo an trụ
nơi địa vị chẳng thành hay hoại): Rất
phương tiện thiện xảo đối với
thành hay hoại b́nh đẳng. “B́nh đẳng”
như vừa mới nói chính là đối với thành tựu
và phá hoại, người ấy đều thấy hai thứ ấy b́nh đẳng.
Hễ
c̣n có phân biệt kiểu ấy, đối với một
thứ đă thành tựu, sẽ chẳng chịu phá hoại
nó. Đó là có tâm phân biệt, chẳng thể thấy b́nh
đẳng! Nếu đă thấy là b́nh đẳng, có cần
phá hoại nữa chăng? B́nh đẳng th́ càng chẳng
phá hoại. Hết thảy các pháp an lập, nói “thế
pháp chư pháp vị, thế gian tướng thường
trụ”, tức là mỗi pháp sẽ ở đúng nơi
bổn vị của chúng, tướng ấy sẽ thường
trụ. Hết thảy các pháp, đều chẳng phá hoại
bổn vị của nó, đó là tướng thế gian
thường trụ. Ư nghĩa “thường trụ”
hoàn toàn chẳng phải là hoa nở vĩnh viễn. “Thường
trụ” ở đây là nối tiếp chẳng dứt,
nối tiếp thường trụ! Do đó, kinh Kim Cang nói
“vô ngă tướng, vô nhân tướng, vô chúng sanh tướng,
vô thọ giả tướng”, “thọ giả” là
liên tục không ngừng, thọ mạng liên tục không ngừng,
hoàn toàn chẳng phải là chúng ta sẽ sống một vạn
ức năm, chẳng phải là ư nghĩa đó. Chúng ta từ đời này sang đời khác vĩnh viễn
lưu chuyển trong tam giới chẳng ngừng. Có ư
nghĩa như thế đó. “Thiện xảo an trụ
vô trụ vô trước thắng diệu huệ địa”
(an trụ trong địa vị trí huệ thù thắng, nhiệm
mầu, không trụ, không chấp), đấy là Bát Nhă
thật sự. Bát Nhă có h́nh dạng như thế nào? “Vô
thủ, vô trước, thị danh Bồ Tát xuất thế
Bát Nhă Đại Giáp Trụ Luân” (không giữ lấy,
không chấp trước. Đó gọi là Bát Nhă Đại
Giáp Trụ Luân xuất thế của Bồ Tát). Nếu Bồ
Tát thành tựu luân này, kể từ lúc mới phát tâm, luân
này đă có thể phá hủy hết thảy. Mỗi đoạn
kinh văn đều nói như vậy. Mười Giáp Trụ Luân đều là như
vậy.
(Kinh)
Thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành thử
Bát Nhă Đại Giáp Trụ Luân, tùng sơ phát tâm, nhất
thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn, đắc
danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă, siêu thắng nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác, phổ vị nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác tác đại phước điền,
nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng
giai ưng cúng dường, thừa sự, thủ hộ.
(經)善男子,若菩薩摩訶薩成此般若大甲冑輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,得名菩薩摩訶薩也!超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。
(Kinh:
Này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu
Bát Nhă Đại Giáp Trụ Luân này, từ sơ phát tâm, hết
thảy ngũ dục đều có thể đoạn trừ,
được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, vượt xa hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́ khắp hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng phước to lớn.
Hết thảy hàng Thanh Văn, Độc Giác Thừa đều
nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ).
Người
ấy vừa phát tâm, có thể đoạn trừ ngũ dục
Hoặc, “nhất thiết ngũ dục giai năng trừ
đoạn” (hết thảy ngũ dục đều có
thể đoạn trừ), đấy là đại Bồ
Tát, được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Đại Bồ
Tát khi vừa phát tâm, liền “siêu thắng nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác” (vượt xa hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác). Chuyện này ắt cần phải
nói theo giáo nghĩa th́ quư vị mới hiểu được!
V́ vị ấy đă viên măn tâm Thập Tín, tâm Thập Tín là
cảnh giới ǵ? Là nguyện tâm, tức nguyện độ hết
thảy chúng sanh thành Phật. Ngài không chỉ phát nguyện ấy,
mà c̣n chiếu theo đó để làm. Do vậy, Ngài phát Bồ
Đề tâm, độ hết thảy chúng sanh. Nói theo kinh
Hoa Nghiêm, tâm Thập Tín rất
sâu sắc. Phàm phu phát tâm, tâm niệm tối sơ là niệm
nào cũng bất thoái, niệm nào cũng chẳng rời
Tam Bảo. Nhận biết niệm trước khởi ác,
liền dứt trừ niệm kế tiếp, chẳng cho
nó khởi lên. Đó là Tín vị. Hữu tín Bồ Tát, thật
sự phát khởi tín tâm, chúng ta có thể quan sát chính ḿnh có
phải là như vậy hay chăng? Nếu là như vậy
th́ đă thuộc Tín vị. Nhất tâm, nhị tâm,
tam tâm, tứ tâm, bốn huệ tâm ấy, có nguyện tâm, có
tâm hộ pháp, đạt tới Đệ Thất Tín là hộ
pháp. Thế nào là hộ pháp? Nếu có kẻ hủy báng Tam
Bảo, ta có thể xả thân mạng của chính ḿnh để
hộ tŕ Tam Bảo. Nghe thấy hủy báng Tam Bảo, bèn
dùng thân mạng của chính ḿnh để bảo vệ
Pháp, bảo vệ Phật, chúng ta có làm được hay
không? Đó là Đệ Thất Tín tâm. Thứ tám là Hồi Hướng
Tâm, hồi hướng cho hết thảy chúng sanh. Chúng ta
làm một tí chuyện nào cũng đều hồi hướng
cho chúng sanh. Như thế cho đến
khi đạt tới Phát Tâm Trụ, tức là dự vào
địa vị Sơ Trụ; đă viên măn
mười tín tâm bèn dự vào Phát Tâm
Trụ. Vừa phát tâm bèn phát đại tâm, có thể làm ruộng
phước cho hết thảy Thanh Văn và Độc
Giác, cũng có thể làm chỗ nương tựa cho hết
thảy Thanh Văn và Độc Giác, khuyên họ phát tâm
Đại Thừa. Đấy là Bát Nhă Đại Giáp Trụ
Luân.
(Kinh)
Phục thứ, thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát phục
hữu Thiện Xảo
Phương Tiện Đại Giáp Trụ Luân. Nhược Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân, tùng sơ phát tâm, nhất
thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn, siêu
thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền, nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đẳng giai ưng cúng dường, thừa
sự, thủ hộ. Vân hà danh vi Thiện Xảo
Phương Tiện Đại Giáp Trụ Luân? Thiện nam
tử! Bồ Tát thiện xảo phương tiện, hữu
nhị chủng tướng, nhất giả thế gian, nhị
giả xuất thế gian. Vân hà danh vi Bồ Tát thế gian
thiện xảo phương tiện? Vị chư Bồ
Tát hoặc vị tự lợi, hoặc vị tha lợi,
hoặc vị câu lợi, thường hoài bỉ thử,
thị hiện chủng chủng công xảo kỹ thuật,
vị tự cập tha đắc thành thục cố, thừa
sự, cúng dường chư Phật Thế Tôn, hoặc
chư Bồ Tát, hoặc chư Độc Giác, hoặc
chư Thanh Văn, hoặc mẫu, hoặc phụ, hoặc
chư bệnh giả, hoặc chư luy liệt vô y hỗ
giả. Nhược kiến
ách nạn, lâm bị hại giả, chủng chủng cần
khổ phương tiện cứu tế, dĩ Tứ Nhiếp
Sự thành thục hữu t́nh. Thị chư Bồ Tát tự
trụ Đại Thừa, ư chư Thanh Văn, cập
Độc Giác Thừa, phi Đại Thừa khí, nhược
chư Thanh Văn, cập Độc Giác Thừa, căn vị thục giả, vị
thuyết vi diệu thậm thâm pháp giáo, linh kỳ tu học,
hoặc khuyến cần tu chư thánh Tĩnh Lự, hoặc
vị khai thị Tối Thắng Nghĩa Đế, khuyến
linh tu hành, siêu Tứ Điên Đảo, giác ngộ
tứ chủng vô đọa pháp tánh, hoặc linh thú nhập
Tứ Vô Ngại Giải, hoặc phục năi chí khuyến
linh an trụ Tứ Niệm Trụ, Tứ Chánh Đoạn,
Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất
Đẳng Giác Chi, Bát Thánh Đạo Chi, hữu dư, vô
dư đạo, cập đạo quả, thú nhập xảo
trí, linh kỳ thành thục. Nhược chư hữu t́nh
tham cầu danh xưng, lợi dưỡng, phú quư, chư
căn tháo nhiễu, thiện căn vị thục, khuyến
linh độc tụng chư A Cấp Ma, cập Tỳ Nại
Da, A Tỳ Đạt Ma. Hoặc khuyến độc tụng
trừ Phật sở thuyết thuận giải thoát luận,
linh kỳ thành thục. Nhược chư hữu t́nh bất
nhạo bố thí, khuyến linh huệ xả chủng chủng
trân tài, linh kỳ thành thục. Nhược chư hữu
t́nh bạo ác bất nhân, khuyến linh tu học tứ chủng
phạm trụ. Nhược chư hữu t́nh tâm đa phẫn
khuể, khuyến linh tu nhẫn. Nhược chư hữu
t́nh tâm đa giải đăi, khuyến tu tinh tấn. Nhược
chư hữu t́nh tâm đa tán loạn, khuyến tu Tĩnh Lự.
Nhược chư hữu t́nh cụ túc ác huệ, vị
thuyết chánh pháp, vị dĩ kư thuyết, giáo giới,
phương tiện, linh kỳ thành thục. Nhược
chư hữu t́nh bất kính Tam Bảo, cụ Vô Y Hạnh,
khuyến thọ Tam Quy, linh kính Tam Bảo, hoặc khuyến
thọ học Cận Sự luật nghi, hoặc khuyến thọ học Cận
Trụ luật nghi, linh kỳ thành thục. Hoặc khuyến
tu tập chủng chủng công xảo kỹ thuật nghiệp
xứ, linh kỳ thành thục. Như thị đẳng Bồ
Tát Ma Ha Tát chủng chủng thế gian xảo phương
tiện trí, quá Căng-già sa Bồ Tát Ma Ha Tát, dĩ thị
nhất thiết thư luận, công xảo, kỹ thuật
nghiệp xứ, gia hạnh, tinh tấn, xảo
phương tiện trí, tồi phục nhất thiết
ngoại đạo dị học. Như thị danh vi Bồ
Tát thế gian thiện xảo phương tiện. Thử
xảo phương tiện, cộng chư Thanh Văn,
Độc Giác Thừa đẳng, diệc tác nhất thiết
Phật pháp y nhân, diệc thị thiện xảo chư
hành y xứ, diệc thị thiện xảo nhậm vận
vô tư, diệt thoái đọa pháp.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,復有善巧方便大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。云何名為善巧方便大甲冑輪?善男子,菩薩善巧方便,有二種相:一者、世間,二者、出世間。云何名為菩薩世間善巧方便?謂諸菩薩,或為自利,或為他利,或為俱利,常懷彼此示現種種工巧技術,為自及他得成熟故,承事供養諸佛世尊、或諸菩薩、或諸獨覺、或諸聲聞、或母、或父、或諸病者、或諸羸劣無依怙者;若見厄難臨被害者,種種勤苦方便救濟,以四攝事成熟有情。是諸菩薩自住大乘,於諸聲聞及獨覺乘非大乘器,若諸聲聞及獨覺乘根未熟者,為說微妙甚深法教令其修學;或勸勤修諸聖靜慮,或為開示最勝義諦,勸令修行超四顛倒,覺悟四種無墮法性,或令趣入四無礙解,或復乃至勸令安住四念住、四正斷、四神足、五根、五力、七等覺支、八聖道支,有餘無餘,道及道果,趣入巧智,令其成熟。若諸有情,貪求名稱、利養、富貴,諸根躁擾,善根未熟,勸令讀誦諸阿笈摩,及毗奈耶、阿毗達摩,或勸讀誦除佛所說順解脫論,令其成熟。若諸有情,不樂佈施,勸令惠舍種種珍財,令其成熟。若諸有情,暴惡不仁,勸令修學四種梵住。若諸有情,心多忿恚,勸令修忍。若諸有情,心多懈怠,勸修精進。若諸有情,心多散亂,勸修靜慮。若諸有情,具足惡慧,為說正法,謂以記說,教誡方便,令其成熟。若諸有情,不敬三寶,具無依行,勸受三歸,令敬三寶;或勸受學近事律儀,或勸受學近住律儀,令其成熟。或勸修習種種工巧技術業處,令其成熟。如是等菩薩摩訶薩種種世間巧方便智,過殑伽沙菩薩摩訶薩以是一切書論、工巧、伎術業處,加行、精進巧方便智,摧伏一切外道異學,如是名為菩薩世間善巧方便。此巧方便,共諸聲聞、獨覺乘等,亦作一切佛法依因,亦是善巧諸行依處,亦是善巧任運無思,滅退墮法。
(Kinh: Lại này thiện
nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có Thiện Xảo
Phương Tiện Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu luân này, từ sơ phát tâm, hết
thảy ngũ dục đều có thể đoạn trừ,
vượt hơn hết thảy Thanh Văn, Độc
Giác, v́ khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác
làm ruộng phước lớn. Hết thảy các Thanh
Văn, Độc Giác Thừa đều nên cúng dường,
thừa sự, thủ hộ. Thế nào là Thiện Xảo
Phương Tiện Đại Giáp Trụ Luân? Này thiện
nam tử! Bồ Tát thiện xảo phương tiện có
hai loại tướng, một là thế gian, hai là xuất
thế gian. Thế nào là thế gian thiện xảo
phương tiện của Bồ Tát? Tức là các Bồ
Tát hoặc v́ tự lợi, hoặc v́ lợi ích cho người
khác, hoặc v́ hai bên cùng có lợi, thường nghĩ
đến đôi bên, thị hiện các thứ kỹ thuật
hay khéo, v́ để cho ḿnh lẫn người được
thành thục mà thừa sự, cúng dường chư Phật
Thế Tôn, hoặc các vị Bồ Tát, hoặc các Độc
Giác, hoặc các Thanh Văn, hoặc mẹ, hoặc cha, hoặc
những người bệnh, hoặc những kẻ yếu
đuối, không nơi nương cậy, Nếu thấy
kẻ bị hại v́ các thứ ách nạn, bèn siêng khổ
dùng các phương tiện cứu giúp, dùng Tứ Nhiếp
Sự để thành thục hữu t́nh. Các vị Bồ
Tát ấy tự trụ Đại Thừa, đối với
các Thanh Văn, và Độc Giác Thừa chẳng phải là căn khí Đại
Thừa, nếu các Thanh Văn và Độc Giác Thừa
căn cơ chưa chín muồi, sẽ v́ họ nói pháp vi diệu
rất sâu để dạy họ tu học. Hoặc khuyên
siêng tu các thánh Tĩnh Lự, hoặc v́ họ khai thị Tối
Thắng Nghĩa Đế, khuyên họ tu hành vượt
khỏi Tứ Điên Đảo, giác ngộ bốn loại
vô đọa pháp tánh, hoặc dạy họ tiến nhập
Tứ Vô Ngại Giải, hoặc lại c̣n cho đến
khuyên họ an trụ trong Tứ Niệm Trụ, Tứ
Chánh Đoạn, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực,
Thất Đẳng Giác Chi, Bát Thánh Đạo Chi, đạo
hữu dư, vô dư, và đạo quả, tiến nhập
trí khéo, khiến cho họ thành thục. Nếu các hữu
t́nh tham cầu tiếng tăm, lợi dưỡng, phú quư,
các căn xáo động, nhiễu loạn, sẽ khuyên họ
đọc tụng các kinh A Cấp Ma, Tỳ Nại Da, và A
Tỳ Đạt Ma. Hoặc khuyên đọc tụng các bộ
luận thuận theo giải thoát luận chẳng do đức
Phật nói, khiến cho họ thành thục. Nếu các hữu
t́nh chẳng thích bố thí, khuyên họ thí xả rộng răi
các thứ tài vật quư báu, khiến cho họ
thành thục. Nếu các hữu t́nh bạo ác, bất nhân,
khuyên họ tu học bốn thứ Phạm Trụ. Nếu
các hữu t́nh tâm lắm sân khuể, khuyên họ tu nhẫn.
Nếu các hữu t́nh tâm lắm giải đăi, khuyên tu tinh
tấn. Nếu các hữu t́nh tâm lắm tán loạn, khuyên tu
Tĩnh Lự. Nếu các hữu t́nh trọn đủ ác huệ,
sẽ v́ họ nói chánh pháp, tức là dùng phương tiện
như kư thuyết (thuyết pháp đúng với căn
cơ và ước nguyện của họ) và giáo giới
(răn dạy) để thành thục họ. Nếu các hữu
t́nh chẳng kính Tam Bảo, trọn đủ Vô Y Hạnh,
bèn khuyên họ thọ Tam Quy, khiến cho họ kính trọng Tam Bảo, hoặc
khuyên thọ học Cận Sự luật nghi, hoặc khuyên thọ học Cận Trụ luật
nghi, khiến cho họ thành thục. Hoặc khuyên tu tập
các thứ nghiệp xứ kỹ thuật hay khéo, khiến
cho họ thành thục. Các thứ trí xảo phương tiện
thế gian của các vị Bồ Tát Ma Ha Tát nhiều
hơn cát sông Hằng như thế, dùng hết thảy các
thứ trí phương tiện nghiệp xứ, sách vở,
luận thuyết, kỹ thuật hay khéo, gia hạnh, tinh tấn
ấy để dẹp tan dị học của hết thảy
ngoại đạo. Như thế th́ gọi là
phương tiện thiện xảo thế gian của Bồ
Tát. Phương tiện hay khéo ấy chung với các Thanh
Văn và Độc Giác Thừa, và cũng là cái nhân để
hết thảy Phật pháp nương vào, và cũng là chỗ
nương tựa của các hạnh thiện xảo, và
cũng là pháp thiện xảo tùy ư không suy nghĩ, diệt
trừ thoái đọa).
Chỉ có trí Bát Nhă th́ chưa được,
c̣n phải có thiện xảo phương tiện. Đấy
là nói đến Ngũ Minh Bồ Tát. [Một loại trong] Ngũ
Minh[5] của Bồ
Tát là Công Xảo Minh; chẩn
bệnh có phải là phạm giới hay không? Bồ Tát chẳng
phải như vậy, Ngài có Y Phương Minh, có trí huệ,
phương tiện thiện xảo, trí huệ không chấp
trước, có minh, có đại trí huệ để làm các
việc ấy. Khi thành tựu thiện xảo phương
tiện luân, vừa phát tâm, ngũ dục đều bị
đoạn trừ, sẽ vượt xa hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác, lại c̣n có thể làm ruộng
phước lớn cho Thanh Văn và Độc Giác. Hai chữ
“thị hiện” cho thấy chẳng phải là thật
sự có, mà là thị hiện. Phương tiện thiện
xảo cần đến kỹ thuật hay khéo. Sự hay khéo ấy là để
thừa sự, cúng dường chư Phật Thế Tôn,
hoặc cúng dường chư Phật, Bồ Tát, hoặc
cúng dường Độc Giác, hoặc cúng dường Thanh
Văn, hoặc cha mẹ của chính ḿnh. “Hoặc chư
bệnh giả, hoặc chư luy liệt, vô y hỗ
giả. Nhược kiến ách nạn lâm bị hại giả,
chủng chủng cần khổ, phương tiện cứu
tế” (Hoặc là đối với người bệnh, hoặc
kẻ suy yếu không nơi nương tựa, nếu thấy
người bị hại v́ ách nạn, bèn
dùng đủ mọi phương tiện để siêng khổ
cứu giúp). Đấy là phương tiện thiện xảo.
Do vậy, dùng Tứ Nhiếp Pháp để thành thục hữu
t́nh, Bồ Tát hiện đủ loại thân. Thứ nhất
là bố thí, bố thí đến mức độ nào? Phải
là nội thí, ngoại thí, trong lẫn ngoài đều thí.
Các thứ tiền tài b́nh thường đều chẳng
tính! Ngay cả vợ con đều có thể bố
thí, huống hồ nhà cửa, cho đến ruộng vườn,
đều có thể bố thí. Đấy là “ngoại
thí”. “Nội thí” là mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, và ư của chính ḿnh đều có thể bố thí, bố
thí cho chúng sanh. Đó gọi là Bố Thí.
“Đồng
sự”: Thị hiện làm các chuyện giống như họ,
hoặc là họ làm nhân viên công vụ, quư vị cũng làm
nhân viên công vụ. Họ làm việc ở đó, quư vị
cũng làm việc tại đó, th́ mới có thể tiếp
cận họ. Đó là “thị hiện Đồng Sự
Nhiếp”. Bố Thí và Đồng Sự để làm
chuyện có lợi cho hết thảy chúng sanh th́ gọi là
Lợi Hành. C̣n phải nói Ái Ngữ, tức là đối với
bất luận người nào, cũng đều chẳng
thể ăn nói rất thô bạo, nặng nề. Gặp
ai cũng đều nhiếp thọ bằng Ái Ngữ.
Đó gọi là Tứ Nhiếp Pháp. Phải là đại Bồ
Tát mới thực hiện rốt ráo Tứ Nhiếp Pháp. Văn
Thù Bồ Tát bất cứ thứ ǵ cũng đều thị
hiện, dê, trâu, ngựa… đều thị hiện. Mọi
người xem Cảm Ứng Lục của các vị
đại Bồ Tát, [sẽ thấy] các Ngài thị hiện
[đủ loại] chúng sanh bất đồng. Đấy
là bậc Bồ Tát.
“Tự
trụ Đại Thừa”: Đây chẳng phải là hễ
thấy chúng sanh nào, cũng đều nhiếp thọ kẻ
đó trụ trong Đại Thừa. Chẳng thể nào!
Chúng ta có các đạo hữu phát tâm chỉ hoằng
dương kinh Hoa Nghiêm, không nói pháp tam thừa. Họ đến
nghe, đó là căn cơ t́m đến tôi, chứ tôi không
t́m căn cơ. Chúng sanh cầu tôi th́ tôi nói cho họ nghe.
Chẳng cầu tôi, tôi sẽ không nói; c̣n đă nói mà họ
hiểu hay không là chuyện của họ, chẳng liên quan
đến tôi. Hiện thời, t́nh huống hoằng pháp của
chúng ta là t́nh huống như thế đó! Nhưng t́nh huống
hoằng pháp của Bồ Tát chẳng như vậy. Bản
thân Bồ Tát trụ trong Đại Thừa, đối với
Thanh Văn và Độc Giác [là những người] chẳng phải
là căn khí Đại Thừa, chẳng thể nào nói pháp vi
diệu rất sâu cho họ được, hoặc dạy
họ tu học được! Đối với những
kẻ chẳng phải là căn khí Đại Thừa,
căn khí c̣n chưa chín muồi, hoặc căn khí Thanh
Văn và Độc Giác Thừa của họ đă chín muồi,
chỉ có thể nói cho họ nghe pháp thuộc Thanh Văn Thừa
hay Độc Giác Thừa. Nhưng khi căn khí Đại
Thừa c̣n chưa chín muồi, khi họ c̣n chưa tiến
nhập Đại Thừa, quư vị nói cho kẻ đó
pháp vi diệu rất sâu, dạy kẻ đó tu học th́
là sai lầm.
Bồ
Tát sử dụng phương tiện thiện xảo
như thế nào? Họ chẳng phải là căn khí Đại
Thừa, quư vị mong chuyển họ vào Đại Thừa,
th́ phải dẫn dụ từ từ, chẳng phải là
có thể ngay lập tức chín muồi được!
Đối với căn cơ Độc Giác Thừa, hoặc
căn cơ Thanh Văn Thừa, [nhưng thật ra là
căn khí Đại Thừa] c̣n chưa chín muồi, họ
[thật sự] chẳng phải là Thanh Văn, mà cũng chẳng phải
là Độc Giác, quư vị bèn từ từ khuyên dụ, nói
cho họ pháp vi diệu rất sâu, dạy họ tu học,
hoặc khuyên họ siêng tu các thánh
Tĩnh Lự. Hết thảy bậc thánh nhân Sơ Quả
đều được coi là thánh nhân. Trong Tiểu Thừa,
Sơ Quả được coi là thánh nhân, Đại Thừa
th́ dẫu Tứ Quả cũng chẳng coi là thánh nhân. Làm
cho họ tu tập Định, tu tập tam-muội, cho
đến Cửu Thứ Đệ Định, v́ họ
khai thị Tối Thắng Nghĩa Đế, dần dần
khai thị Tối Thắng Nghĩa Đế. Tối Thắng
Nghĩa Đế có mấy loại? Tứ Thánh Đế
được coi như Tối Thắng Nghĩa Đế.
Đối với pháp thế gian, khuyên họ tu hành, vượt
khỏi bốn thứ điên đảo.
Tứ
Điên Đảo: Thường, Lạc, Ngă, Tịnh là Tứ
Đức của Phật; nhưng chúng sanh
điên đảo, coi vô thường là thường, chấp
vô ngă là ngă, chấp bất lạc là lạc, chấp bất
tịnh là tịnh. Khổ, không, vô
thường như thế đó! Bốn thứ ấy
(vô thường, vô lạc, vô ngă, bất tịnh) khiến
cho họ điên đảo. Phải khuyên họ vượt
khỏi bốn loại điên đảo ấy, vượt
thoát phàm phu, đạt tới cảnh giới thánh nhân.
“Tứ
chủng vô đọa pháp tánh” (bốn loại pháp tánh chẳng
đọa) có mấy loại? Có bốn thứ hạnh môn
của Bồ Tát, thứ nhất là đạt đến bờ
kia, thần thông hạnh, thành thục hữu t́nh hạnh[6],
tức là bốn thứ đạo trong Bồ Tát hạnh,
nhằm thành tựu lợi ích chúng sanh, làm cho họ tiến
nhập tứ vô đọa tánh.
Ngoài
ra là Tứ Vô Ngại Giải. Tứ Vô Ngại Giải là
pháp vô ngại, nghĩa vô ngại, từ vô ngại, và biện
tài vô ngại. Biện tài vô ngại là người ấy đối với hết
thảy các pháp đều thông suốt. “Chẳng bị chướng
ngại” nghĩa là không
ǵ chẳng biết. Phương tiện thiện xảo của
Bồ Tát đối với pháp thế gian cũng như thế.
Do vậy, thoạt đầu đức Phật nói bắn
tên, các nghề khéo, bất luận các thứ Công Xảo
Minh trong thế gian, hết thảy các thứ nghề khéo
[lúc Phật c̣n là Thái Tử, hoặc khi tu Bồ
Tát hạnh] đều có thể làm, lại c̣n vượt
xa chúng sanh, đều là bậc nhất!
Tứ
Niệm Xứ, Tứ Chánh Đoạn (Tứ Chánh Cần),
Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Chi,
Bát Chánh Đạo, các danh tướng ấy chúng tôi đă
nói rất nhiều! “Hữu dư, vô dư đạo quả”:
Hữu Dư, Vô Dư chính là
Hữu Dư Niết Bàn và Vô Dư Niết Bàn. “Đạo
quả” cũng rất nhiều. Sơ Quả cũng là
đạo quả, cho đến đạo quả của
Bồ Tát, Phật quả rốt ráo. Nhưng Bồ Đề
dùng trí phương tiện thiện xảo, khiến cho họ
đều có thể thành thục. Họ thuộc loại
căn cơ nào, bèn thành thục loại quả [thuộc
căn cơ] ấy, dần dần khuyến dụ họ,
nhưng ắt phải có phương
tiện thiện xảo để nhiếp thọ chúng
sanh.
“Nhược
chư hữu t́nh tham cầu danh xưng, lợi dưỡng,
phú quư, chư căn tháo nhiễu, thiện căn vị thục”
(nếu các hữu t́nh tham cầu tiếng tăm, lợi
dưỡng, phú quư, các căn xáo động, nhiễu loạn,
thiện căn chưa chín muồi): Trong phần trước
nói về những kẻ thiện căn đă chín muồi,
c̣n ở đây là những ai thiện căn
chưa chín muồi, cũng khuyên họ “độc tụng
chư A Cấp Ma” (đọc tụng các kinh A Cấp
Ma), tức là kinh A Hàm (Āgama), “cập Tỳ
Nại Da” là Luật Tạng, A Tỳ Đạt Ma
(Abhidharma) là Luận Tạng, khuyên họ đọc tụng
Kinh Luật Luận Tam Tạng. Hoặc khuyên họ “độc
tụng trừ Phật sở thuyết thuận giải thoát
luận, linh kỳ thành thục”, có nghĩa là khuyên
họ đọc tụng ǵ vậy? Các pháp thế gian thuận
theo giải thoát luận do đức Phật đă nói.
Ngoài những điều đức Phật đă dạy
ra, các pháp thế gian tuy chẳng phải là Phật giáo, vẫn
có thể cho họ học, khiến cho họ thành thục
các nghề khéo.
Thọ
Tam Quy là quy y Pháp, chẳng quy y sách vở của ngoại
đạo. Vậy th́ vị Bồ Tát ấy nói, đối
với những điều chẳng do đức Phật
nói, chỉ cần thuận theo lư luận giải thoát của
[Phật giáo] chúng ta, luận thuyết ấy có ư nghĩa chẳng mâu thuẫn
với sự giải thoát, cũng
có thể đạt được
giải thoát [th́ có thể học]. Giống như trong thế
gian có rất nhiều thứ, chẳng hạn như Đạo
giáo cũng là một pháp tu hành, nói theo phương diện
xă hội, chẳng gây trở ngại cho người khác.
[Nho gia có câu cách ngôn] “kỷ sở bất dục, vật
thi ư nhân” (điều ǵ chính
ḿnh chẳng muốn th́ đừng thực hiện đối
với người khác), có khác ǵ với ḷng từ bi của
Phật giáo chúng ta hay không? Chuyện quư vị chẳng mong muốn, đừng
áp đặt lên thân người
khác. Đó gọi là “thuận giải
thoát”, nhưng chẳng phải do đức Phật nói.
Chuyện kiểu này rất nhiều, khiến cho họ
thành thục, sẽ hữu ích cho họ thành thục tu
đạo. Điều này có nghĩa là khuyên bảo họ,
họ học Phật mà chẳng tin được, bèn dùng
pháp thế gian để khuyên dụ họ. Vị Bồ
Tát này chẳng phải là xuất gia Bồ Tát, xuất gia Bồ
Tát chẳng thể làm như vậy được. “Bồ
Tát” bao gồm tứ chúng đệ tử, cho đến
bao gồm hết thảy
chúng sanh. Đại Bồ Tát thị hiện trong quỷ
đạo rất nhiều. Trong phẩm thứ tám của
kinh Địa Tạng, [có nói] Chủ Mạng quỷ
vương mong thành Phật, đức Phật liền thọ
kư cho vị ấy. Vị ấy là quỷ, đi vào
đường ấy. Các trường hợp thị hiện
như vậy rất nhiều.
Đối
với kẻ chẳng thích bố thí, bèn khuyên họ bố
thí. “Khuyến linh huệ xả” (khuyên họ bố
thí rộng răi, hoặc khuyên họ xả thí tạo ân huệ):
Quư vị phải xả, phải thí ân huệ cho chúng sanh.
Điều này khác với cách nói của đức Phật.
Đệ tử Phật bố thí, chẳng mong được
báo đáp. Chứ người hiện thời khi quư vị
bảo họ xả, họ sẽ có mong cầu. Làm chuyện
tốt, khuyên họ “làm lành th́ sẽ được vui sướng nhất”. Đấy cũng là thuận giải thoát. Như vậy
th́ sẽ có thể khiến cho họ huệ xả (bố thí rộng răi) các thứ vàng bạc,
của cải, khiến cho họ dần dần thành thục.
“Nhược chư hữu t́nh bạo ác, bất nhân”
(nếu các hữu t́nh bạo ác, bất nhân): Kẻ bạo
ác, chẳng nhân từ, kẻ chẳng có chút từ tâm nào,
như quốc vương thi hành chánh sách tàn bạo, làm trọn
mọi sự bạo ác, bất nhân. Đối với những
kẻ như thế, bèn khuyên họ học “tứ chủng
Phạm Trụ” (bốn loại Phạm Trụ). Tứ Phạm
Trụ là ǵ? Tứ Phạm Trụ chính là nói đến bốn
loại hạnh thanh tịnh, bốn loại nào vậy? Từ, bi, hỷ, xả, cũng là Tứ Vô Lượng Tâm. Hễ tu
ḷng Từ, bạo ác sẽ chẳng nổi lên. Tu từ bi nhằm đối trị bạo ác.
“Nhược chư hữu t́nh, tâm đa
phẫn khuể” (nếu các hữu t́nh, tâm lắm phẫn
hận, nóng giận): Người dễ dàng nổi
nóng, bèn khuyên họ tu nhẫn nhục. “Nhược
chư hữu t́nh đa giải đăi” (nếu các hữu
t́nh nhiều giải đăi), phải khuyên họ tu tinh tấn.
Chúng ta khuyên họ như vậy, họ sẽ tinh tấn
hay không? Do vậy, bậc đại Bồ Tát phải có
phương tiện thiện xảo. Các Ngài chẳng nói thẳng
thừng như chúng ta. Trông thấy kẻ giải đăi,
liền nói thẳng vào mặt: “Ngươi phải tinh tấn,
phải tu hành, niệm Phật cho nhiều th́ mới có lợi!”
[Nếu nói thẳng như vậy], những kẻ
đó sẽ mặc kệ quư vị, sẽ trừng mắt
ngó quư vị. Quư vị
phải có phương tiện thiện xảo.V́ sao cần
phải thiện xảo? Quư vị chẳng có thiện xảo,
sẽ chẳng thể nhiếp thọ họ. Hiện thời
có những người, thấy một kẻ vừa mới
tin Phật, bèn khuyên kẻ đó xuất gia: “Tôi thâu nhận
quư vị, quư vị xuất gia th́ mới có thể tinh tấn!”
Như thế nào? Kẻ đă xuất gia chẳng
tinh tấn quá nhiều! Đă xuất gia, kẻ đó ngỡ là chính
ḿnh có thành tựu, bèn giải đăi. Trong phần trước,
chúng tôi đă nói: “Có thể đắp y ca-sa, y ca-sa
được Phật gia tŕ”. Chẳng phải là nói
theo cá nhân quư vị, chẳng phải là như trong phần
trước chúng ta đă thấy, hễ đắp ca-sa liền
đắc độ. Đắc độ ư? Vẫn
đọa địa ngục y hệt! Người ta cung
kính cái y ca-sa ấy, v́ cái y ca-sa đại biểu cho Phật,
đại biểu cho Pháp, đại biểu chúng Tăng.
Quư vị đă lư giải sai lầm mất rồi! Khuyên
người khác tu tinh tấn, ắt phải hành theo
đường lối chánh đáng. Quư vị có
phương tiện thiện xảo, hướng dẫn
người ta, người ta sẽ tự nhiên tinh tấn.
Đợi cho đến lúc căn khí chín muồi, người
ấy xuất gia, sẽ có thể ngộ đạo.
Hiện
thời, quư vị độ rất nhiều người
xuất gia. Họ không chỉ chẳng ngộ đạo,
mà trái lại c̣n bị lỡ làng, tạo các tội. V́ sau
khi họ xuất gia, đă chẳng tu hành nên thân, đó là tạo
tội! Vốn là thanh tịnh thường trụ, đâm
ra khác hẳn! Ắt phải biết căn cơ, đối
với kẻ giải đăi, khuyên họ tinh tấn là
đúng. Nếu quư vị không tinh tấn, có sai lầm ǵ vậy?
Quư vị làm một nửa! Nếu quư vị chẳng chuyên
tâm thực hiện, chuyện ǵ cũng chẳng thành. Huống
hồ tu Phật pháp ư? Thong thả khuyên lơn người
đó như thế. Chẳng phải là nói suông mà có thể
đả động kẻ đó được, chính ḿnh
c̣n phải dẫn đầu thực hiện! Bồ Tát
độ chúng sanh, chúng sanh cũng giúp đỡ Ngài. Các vị
quy y tôi, theo tôi bái sám, mọi người có thể giải
đăi một lần, không đến lạy: “Hôm nay tôi mệt
lắm, xin nghỉ một bữa vậy”.
Trước nay, tôi chưa dám xin nghỉ. Ngày nào tôi không lạy,
người khác cũng chẳng lạy. Nếu tôi chẳng
lạy một bữa, mấy hôm chẳng lạy, mọi
người đều chẳng lạy. Ở Nữu Ước
và Tam Phiên (San Francisco) là như thế, nhưng tôi rất ít
khi chẳng lạy, tự ḿnh lập cái hạnh ấy, phải
tinh tấn.
Có
khi cái tâm của chúng ta lắm nỗi tán loạn, tán loạn
th́ phải tu Định. Tu Định như thế nào? Đợi chúng tôi giảng xong, sẽ
nói về Sổ Tức Quán. Quư vị tu từ đầu,
sẽ có thể tiến nhập. Đừng nh́n tôi, [chắc
là có người thắc mắc]: “Đếm
hơi thở ra vào, có công đức ǵ?” Công đức ấy
có thể to lắm, v́ khi quư vị đắc Định,
niệm Phật trong Định, đó là chẳng thể
nghĩ bàn. Chẳng tán loạn, chẳng hôn trầm, chẳng
bị nhiễu loạn, quư vị niệm nhất tâm. Chẳng
phải là chúng ta mong niệm đến mức nhất tâm
bất loạn ư? Chẳng nói niệm đủ số
mười vạn câu là được rồi, niệm
đến một trăm vạn, một ngàn vạn câu, quư
vị cũng chẳng sanh về thế giới Cực Lạc,
phải niệm như thế nào? Nhất tâm bất loạn.
Đối với kẻ tán loạn, phải khuyên kẻ
đó tu Tĩnh Lự.
“Nhược
chư hữu t́nh cụ túc ác huệ” (nếu các hữu
t́nh trọn đủ ác huệ): “Ác huệ” là tà tri, tà kiến,
người ấy luôn có vấn đề bất đồng
với người khác, có chênh lệch. Người khác nói
Đông, kẻ đó nhất định phải nói Tây, bất
đồng với quư vị. Nếu là kẻ tà tri tà kiến
th́ đối trị bằng cách nào? “Nói chánh pháp”, quư
vị phải đem những lời răn dạy của
đức Phật, các vị đại thiện tri thức, và các vị đại
tổ sư, dùng phương tiện để dẫn dụ
kẻ ấy, khiến cho kẻ ấy thành thục. “Nhược
chư hữu t́nh bất kính Tam Bảo” (nếu các hữu
t́nh chẳng tôn kính Tam Bảo): Trong phần trước,
chúng ta đă nói đến Vô Y Hạnh. Vô Y là không
nương tựa; kẻ vô y là kẻ bất kính Tam Bảo.
Chúng ta khuyên kẻ ấy thọ Tam Quy, phải quy y Tam Bảo,
khiến cho kẻ ấy cung kính Tam Bảo, hoặc khuyên họ
học Cận Sự luật nghi, tức Ngũ Giới,
hay Tam Quy và Ngũ Giới, khuyên họ học Cận Trụ
luật nghi cũng tức là Bát Quan
Trai Giới. Bát Quan Trai Giới đáng lẽ là chín giới.
Chúng ta thường cho rằng Bát Quan Trai Giới chỉ có
tám giới. Nói theo Tây Du Kư, Trư Bát Giới theo Đường
Tăng đi thỉnh kinh, đó là tám giới. Thật ra,
ngoài tám giới, c̣n có một Trai, tức “quá Ngọ không
ăn”. “Trai” (齋) có nghĩa là “kỳ hạn”. Cho nên [nói
đúng ra] phải là chín. V́ sao đối với Bát Quan lại
gọi là Quan (關, đóng lại)?
Đóng cửa các đường ác. Quư vị thọ một
ngày như thế, Bát Quan Trai Giới đóng chặt các
đường ác.
Tôi
thấy rất nhiều người thọ Bát Quan Trai Giới,
có rất nhiều vị rất nghiêm cẩn, quá Ngọ
cũng chẳng uống. Nước có màu, đức Phật
chế định không thể uống. Không chỉ chẳng
thể uống sữa ḅ, sữa đậu nành, mà ngay cả
uống trà, uống nước trái cây đều chẳng
phải là nước ư? Không được! Chỉ có
thể uống nước. Nhưng trong ấy có khai duyên. Nếu thọ giới th́ trước
hết phải học khai duyên, chúng ta phải luôn t́m
phương tiện. Chẳng hạn như chúng ta không thể
chống đỡ được, thân thể yếu ớt,
nếu chúng ta đă thọ giới “quá Ngọ chẳng
ăn”, nhưng hễ có bệnh liền khai
duyên, quá Ngọ có thể uống các thứ nước ép.
“Hoặc
khuyến tu tập chủng chủng công xảo kỹ thuật
nghiệp xứ, linh kỳ thành thục” (Hoặc khuyên
tu tập các thứ nghiệp xứ kỹ thuật hay khéo,
khiến cho họ thành thục): Các việc đ̣i hỏi kỹ
thuật cao, hoặc xây cất, phàm là hết thảy các kỹ
thuật đều có thể [thực hiện]. Đó gọi là
thế gian Công Xảo Minh của Bồ Tát. Công Xảo Minh
là phương tiện trí của Bồ Tát. Các vị Bồ
Tát trọn đủ phương tiện thiện xảo
trí trong thế gian nhiều như cát sông Hằng. Các vị
đại Bồ Tát đối với kỹ năng viết
lách, luận thuyết, nghề hay khéo, đều có thể
thực hiện, tăng trưởng
các nghiệp ấy do tinh tấn xảo phương tiện
trí. Các thứ ngoại đạo biết, chúng ta đều
biết. Các vị đại Bồ Tát không chỉ biết, mà c̣n vượt xa họ th́ họ mới
có thể khâm phục quư vị. Họ biết làm chuyện
ǵ, quư vị biết làm chuyện đó. Chuyện ǵ quư vị
có thể làm cũng đều đạt đến bậc
nhất th́ họ sẽ học theo quư vị. Bậc đại
Bồ Tát ắt phải có trí huệ phương tiện
thiện xảo kiểu đó th́ mới có thể hàng phục
hết thảy ngoại đạo. Đó gọi là
phương tiện thiện xảo thế gian của Bồ
Tát.
Phương
tiện thiện xảo này chung với Thanh Văn, Độc
Giác Thừa. Thanh Văn, Độc Giác Thừa đều
có thể học, đều có thể làm được,
cũng có thể làm như vậy. Đó gọi là làm cái
nhân nương cậy cho hết thảy Phật pháp,
nương vào Phật, Pháp, Tăng để gieo cái nhân ấy.
Hết thảy phương tiện thiện xảo là chỗ
sở hành của Ngài, là chỗ nương cậy, cũng
là pháp tùy ư thiện xảo, không suy nghĩ để diệt
sự thoái đọa. Điều này chẳng dễ dàng!
Pháp không suy nghĩ, vĩnh viễn diệt trừ thoái
đọa, pháp chẳng thoái đọa chính là phương
tiện thiện xảo. “Nhậm vận” (任運, tùy ư) là tự
nhiên, thấy hết thảy các pháp đang sanh diệt. Ngài
có thể từ trong hết thảy các pháp, dẫn nhập
trở về Lư Thể của pháp tánh, từ trong sanh diệt,
dẫn người khác trở về không sanh diệt,
đạt đến “chẳng sanh diệt” th́ mới có thể
chẳng thoái đọa. Những điều chẳng thể
chấp thuận [đối với thiện xảo
phương tiện thế gian] sẽ được nói
dưới đây.
(Kinh) Hựu thiện nam tử! Nhược
chư Bồ Tát bất y minh sư, bất y thiện hữu,
tu hành thế gian thiện xảo phương tiện, thị
chư Bồ Tát ngu ư thế gian thiện xảo
phương tiện, hướng chư ác thú, bất
năng tùy thuận an trụ xuất thế xảo
phương tiện trí, diệc phi nhất thiết chân thật
phước điền, bất năng thiện xảo tri
chư hữu t́nh căn hành sai biệt. Dĩ ư thiện
xảo phương tiện ngu cố, vị chư Thanh
Văn, cập Độc Giác Thừa, phi Đại Thừa
khí, cập ư Đại Thừa căn vị thục giả,
tuyên thuyết Đại Thừa, linh kỳ tu học. Hựu
vị Đại Thừa pháp khí hữu t́nh, tuyên thuyết
Thanh Văn, Độc Giác Thừa pháp, linh tu Thanh Văn,
Độc Giác Thừa hạnh. Vị Độc Giác Thừa
pháp khí hữu t́nh, thuyết Thanh Văn thừa, linh kỳ
tu tập Thanh Văn Thừa hạnh. Vị Thanh Văn Thừa
pháp khí hữu t́nh, thuyết sanh tử pháp, linh kỳ ái
trước, bất vị tuyên thuyết yếm sanh tử
pháp. Hựu ư thiện xảo phương tiện ngu cố,
nhược chư hữu t́nh nhạo hành sát sanh, quảng
thuyết năi chí chấp trước tà kiến, vị bỉ
tuyên thuyết thậm thâm Đại Thừa, bất vị
tuyên thuyết sanh tử lưu chuyển, tử thử,
sanh bỉ, chúng khổ quả báo, linh kỳ yếm bố,
ly chư ác pháp. Hựu ư thiện xảo phương tiện
ngu cố, năi chí nhược chư hữu t́nh nhạo tu tịnh
giới, linh tu bố thí. Nhược chư hữu t́nh nhạo
tu an nhẫn, khuyến xả an nhẫn, linh tu tịnh giới.
Nhược chư hữu t́nh nhạo tu tinh tấn, khuyến
xả tinh tấn, linh tu an nhẫn. Nhược chư hữu
t́nh nhạo tu Tĩnh Lự, khuyến xả Tĩnh Lự,
linh tu tinh tấn. Nhược chư hữu t́nh nhạo tu
Bát Nhă, khuyến xả Bát Nhă, linh tu Tĩnh Lự. Như thị
Bồ Tát, ngu ư thế gian thiện xảo phương
tiện, bất năng chân thật lợi lạc hữu
t́nh, dữ chư hữu t́nh vi ác tri thức. Thử xảo
phương tiện y hữu sở đắc, hữu sở
chấp trước, như thị danh vi Bồ Tát thế
gian thiện xảo phương tiện. Như thị thế
gian thiện xảo phương tiện, cộng chư
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng, thử bất
danh vi Đại Giáp Trụ Luân, diệc bất do thử,
danh vi Bồ Tát Ma Ha Tát dă, cập danh nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác chân thật phước điền.
(經)又善男子,若諸菩薩,不依明師,不依善友,修行世間善巧方便,是諸菩薩愚於世間善巧方便,向諸惡趣,不能隨順安住出世巧方便智,亦非一切真實福田,不能善巧知諸有情根行差別。以於善巧方便愚故,為諸聲聞及獨覺乘非大乘器,及於大乘根未熟者,宣說大乘,令其修學;又為大乘法器有情,宣說聲聞、獨覺乘法,令修聲聞、獨覺乘行;為獨覺乘法器有情,說聲聞乘,令其修習聲聞乘行;為聲聞乘法器有情,說生死法,令其愛著,不為宣說厭生死法。又於善巧方便愚故,若諸有情,樂行殺生,廣說乃至執著邪見,為彼宣說甚深大乘,不為宣說生死流轉,死此生彼,眾苦果報,令其厭怖離諸惡法。又於善巧方便愚故,乃至若諸有情,樂修淨戒,令修佈施;若諸有情,樂修安忍,勸舍安忍,令修淨戒;若諸有情,樂修精進,勸舍精進,令修安忍;若諸有情,樂修靜慮,勸舍靜慮,令修精進;若諸有情,樂修般若,勸舍般若,令修靜慮。如是菩薩,愚於世間善巧方便,不能真實利樂有情,與諸有情為惡知識。此巧方便,依有所得,有所執著,如是名為菩薩世間善巧方便。如是世間善巧方便,共諸聲聞、獨覺乘等。此不名為大甲冑輪,亦不由此名為菩薩摩訶薩也,及名一切聲聞、獨覺真實福田。
(Kinh:
Lại nữa, thiện nam tử! Nếu các Bồ Tát chẳng
nương theo minh sư, chẳng nương theo bạn
lành để tu hành phương tiện thiện xảo thế
gian, các Bồ Tát ấy do ngu muội đối với
phương tiện thiện xảo thế gian, hướng
đến các đường ác, chẳng thể tùy thuận
an trụ trong trí phương tiện thiện xảo xuất
thế, cũng chẳng phải là hết thảy ruộng
phước chân thật, chẳng thể thiện xảo
biết căn và hạnh sai khác của các hữu t́nh. Do ngu
muội đối với phương tiện thiện xảo,
bèn v́ các Thanh Văn, và Độc Giác Thừa, đối với
kẻ chẳng phải căn khí Đại Thừa, và kẻ
căn khí Đại Thừa chưa chín muồi, mà tuyên thuyết
Đại Thừa, khiến họ tu học. Lại v́ hữu
t́nh thuộc pháp khí Đại Thừa, tuyên thuyết pháp
Thanh Văn và Độc Giác Thừa, dạy họ tu các hạnh
thuộc Thanh Văn và Độc Giác Thừa, v́ hữu t́nh
thuộc pháp khí Độc Giác Thừa nói Thanh Văn Thừa,
khiến họ tu tập hạnh Thanh Văn Thừa, v́ hữu
t́nh thuộc pháp khí Thanh Văn Thừa nói pháp sanh tử, khiến
cho họ yêu đắm, chẳng v́ họ tuyên thuyết
pháp chán sanh tử. Lại do ngu muội đối với
phương tiện thiện xảo, nếu các hữu t́nh
thích làm sát sanh, nói rộng là cho đến chấp trước
tà kiến, bèn v́ họ tuyên thuyết Đại Thừa rất
sâu, chẳng v́ họ tuyên thuyết sanh tử lưu chuyển,
chết đây, sanh kia, các quả báo khổ, khiến cho họ
chán ngán, sợ hăi, ĺa các ác pháp. Lại do ngu muội nơi
phương tiện thiện xảo, cho đến nếu
các hữu t́nh thích tu tịnh giới, bèn dạy họ tu bố
thí. Nếu các hữu t́nh thích tu an nhẫn, bèn khuyên họ bỏ
an nhẫn, dạy tu tịnh giới. Nếu các hữu t́nh
thích tu tinh tấn, lại khuyên họ bỏ tinh tấn, dạy
tu an nhẫn. Nếu các hữu t́nh thích tu Tĩnh Lự, liền
khuyên bỏ Tĩnh Lự, dạy tu tinh tấn. Nếu các
hữu t́nh thích tu Bát Nhă, bèn khuyên họ bỏ Bát Nhă, dạy
tu Tĩnh Lự. Bồ Tát như thế ngu muội đối
với phương tiện thiện xảo thế gian, chẳng
thể chân thật lợi lạc hữu t́nh, làm ác tri thức
cho các hữu t́nh. Phương tiện hay khéo ấy
nương vào cái có đạt được, có chấp
trước, như thế, th́ gọi là phương tiện thiện
xảo thế gian của Bồ Tát. Phương tiện
thiện xảo thế gian như thế cùng chung với
các vị Thanh Văn, Độc Giác Thừa; đấy chẳng
gọi là Đại Giáp Trụ Luân, cũng chẳng do vậy
mà gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, cũng chẳng gọi là ruộng
phước chân thật của Thanh Văn và Độc
Giác).
Trong
phương tiện thiện xảo, chúng ta tùy thuận
pháp thế gian mà có thể chuyển pháp thế gian. Quư vị
tùy thuận pháp thế gian, lại bị pháp thế gian
xoay chuyển. Như thế chẳng phải là đại
Bồ Tát. Đối với trí phương tiện thiện
xảo này, quư vị phải là người thật sự
thông hiểu. Được gọi là “người thông
hiểu” th́ Kinh, Luật, Luận không pháp nào chẳng biết,
không pháp nào chẳng hiểu. Thật sự thông đạt,
đối với căn cơ nào, sẽ biết phải nhiếp
thọ như thế nào, th́ họ mới có thể nhập
Phật đạo. Chuyện này giống như Bồ Tát
trước hết dùng dục để lôi kéo, khiến
cho họ dần dần nhập Phật đạo. Không chỉ
là như thế, mà c̣n có thể dùng ngũ dục để
dẫn dụ họ. Thế gian đều tham tài, mê sắc,
hai thứ ấy là căn bệnh chung của hết thảy
chúng sanh. Bồ Tát liền thị hiện thỏa măn quư vị,
lại thị hiện sanh diệt vô thường. Quư vị
đă tham được rồi, lại chẳng có nữa,
sẽ ngay lập tức tỉnh ngộ [thế gian vô
thường]. Ngài độ quư như vậy đó, đại
Bồ Tát mới có phương tiện thiện xảo
này!
Như mọi người rất
quen thuộc với thiền sư Đạo Tế (Tế Điên). Ngài điên điên cuồng
cuồng, dùng rượu độ đời, dùng sự
điên khùng để cứu đời. Ngài giả ngây giả
dại để độ kẻ khác. V́ sao mọi người
cung kính Ngài như vậy? Ngài nhận biết chỗ chân thật,
lại c̣n có thể giải quyết hết
thảy khó khăn của quư vị. Nếu quư vị chẳng
có trí phương tiện thiện xảo, sẽ chẳng
thể giải quyết sự thống khổ của chúng
sanh. Trí phương tiện thiện xảo
của quư vị liền hạ thấp thành ngu si! Đấy
chẳng phải là trí huệ, mà là phương tiện thiện xảo ngu muội,
chẳng phải là trí phương tiện thiện xảo.
Đấy là hướng vào đường ác, chẳng phải
là hướng vào đường lành, chẳng thể an trụ
trong trí phương tiện thiện xảo xuất thế
gian, chẳng thể tùy thuận trí phương tiện thiện
xảo! Trong phần trước đă nói, quư vị nói các
pháp cũng được, nhưng phải thuận theo
Như Lai, có thể giống như Như Lai đă chỉ
dạy, có thể đạt được giải thoát. Nếu
quư vị trái nghịch những điều đó, sẽ là
chẳng tùy thuận pháp tánh, sẽ chẳng thể thành tựu được! Quư vị cũng chẳng
thể làm bậc thiện tri thức thật sự, mà
cũng chẳng thể làm ruộng phước chân thật,
chẳng thể có phương tiện thiện xảo. Quư
vị chẳng có trí huệ ấy, chẳng biết chúng
sanh có căn tánh khác biệt. Hết thảy các tướng sai biệt nơi hành vi
của họ, quư vị đều chẳng biết, sẽ
độ họ bằng cách nào đây? Chẳng có cách nào
độ họ! Đó gọi là “thiện xảo phương tiện
ngu” (ngu muội
nơi phương tiện thiện xảo); tức là ngu trong ngu si!
Đấy chẳng phải là căn khí Đại Thừa,
ngay cả Thanh Văn và Độc Giác cũng chẳng thể
thành tựu được!
V́
ngu muội đối với phương tiện thiện
xảo, đối với căn cơ thuộc tam thừa, quư vị thuyết
pháp điên đảo. Người ta là chủng tánh Thanh
Văn, quư vị lại nói với họ về chuyện
ân ái thế gian, chẳng nói “biết khổ, đoạn
diệt”, chẳng nói pháp chán ĺa sanh tử cho họ.
Đối với căn cơ thuộc
Duyên Giác Thừa, chẳng nói cho họ pháp nhân duyên, lại
ngược ngạo nói cho họ pháp Đại Thừa.
Đối với căn khí Đại Thừa, lại nói
với họ pháp Thanh Văn và Duyên Giác, nói pháp sanh tử,
Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Đấy là chẳng
thể! Đó gọi là điên đảo, cũng gọi
là ngu muội đối với phương tiện thiện
xảo, chẳng phải là phương tiện thiện xảo!
“Nhược
chư hữu t́nh nhạo hành sát sanh, quảng thuyết năi
chí chấp trước tà kiến” (Nếu các hữu
t́nh thích hành sát sanh, nói rộng là cho đến chấp
trước tà kiến): Đấy là giết, trộm, dâm,
dối, uống rượu. Nếu nói Ngũ Giới, các hữu
t́nh ấy có thể lư giải; đó là ngũ dục thế
gian. Đối trước ngũ dục, quư vị hăy nên
nói cho họ pháp đoạn dục, pháp liễu sanh tử,
chẳng hạn như ngũ dục hại người
như thế nào? Chẳng tốt đối với quư vị
như thế nào? Các pháp ấy đúng với căn cơ
của họ, [thế nhưng] quư vị nói cho họ pháp
Đại Thừa quá sâu, chẳng tuyên nói pháp lưu chuyển
sanh tử cho họ! “Tử thử, sanh bỉ, chúng khổ
quả báo” (chết đây, sanh kia, các quả báo đau
khổ): Quư vị nói những điều này, họ [nghe xong]
có thể chán ĺa, sợ hăi. [Chứ nói] “các pháp quư vị
nương cậy đều là Không” đúng là phù hợp với
sự ưa thích của họ. Họ bảo “vốn là trống
không” th́ càng sốt sắng vi phạm, chấp trước
cảnh giới ngũ dục. Đó chẳng phải là trí
phương tiện thiện xảo, đó gọi là ngu muội
đối với phương tiện thiện xảo, chẳng
phải là trí huệ. Đối với các hữu t́nh ấy,
họ thích giết, trộm, dâm, dối, quư vị phải
nói với họ, [do các điều ấy] sẽ phải
đọa địa ngục, phải ĺa khỏi các ác pháp
ấy. Như thế th́ mới là đúng. Nhưng quư vị
nói pháp Đại Thừa cho họ, nói “Không nghĩa” liễu nghĩa, sai
bét mất rồi!
Cho
đến trong Lục Độ,
vạn hạnh, họ vốn thích tŕ giới, quư vị lại
nói bố thí. Họ vốn thích tu Nhẫn,
quư vị lại bảo họ tŕ tịnh giới. Đấy
là thuyết pháp chẳng đúng căn cơ. Nếu các hữu
t́nh thích tu tinh tấn, khuyên họ xả tinh tấn, để
tu an nhẫn. Người ta đang rất tinh tấn tu
hành, quư vị khuyên họ hăy buông xuống, hăy nên tu nhẫn
nhục. Đấy là “pháp mà nói là phi pháp, phi pháp mà bảo
là pháp!” Nếu các hữu t́nh thích tu Tĩnh Lự, mong tu
Định, [quư vị lại ngược ngạo]
khuyên họ xả Định, bảo họ tu tinh tấn.
Nếu các hữu t́nh ưa thích tu Bát Nhă, khuyên họ bỏ
Bát Nhă, bảo họ tu Tĩnh Lự. Họ muốn tu trí
huệ, quư vị buộc họ học Định, hai
đằng đều chẳng thành. “Như thị Bồ
Tát ngu” tức là vị Bồ Tát ấy khá ngu si, chẳng
phải là Bồ Tát, đối với phương tiện
thiện xảo thế gian, “bất năng chân thật lợi
lạc hữu t́nh” (chẳng thể chân thật lợi
lạc hữu t́nh). Phương tiện thiện xảo của
Bồ Tát nhằm lợi ích chúng sanh. Hễ quư vị
điên đảo như vậy, chúng sanh sẽ chẳng
đạt được lợi ích. Đó chẳng phải
là thiện tri thức của hữu t́nh, mà là ác tri thức
của hữu t́nh. “Thử xảo phương tiện y
hữu sở đắc, hữu sở chấp trước”
(phương tiện thiện xảo ấy nương vào
có sở đắc, có chấp trước): [Nếu suy nghĩ]
do nương vào phương tiện thiện xảo này,
v́ hành phương tiện thiện xảo này, sẽ có thể
đắc đạo, tức là chấp trước
phương tiện thiện xảo này. “Như thị
danh vi Bồ Tát thế gian thiện xảo phương tiện”
(như thế gọi là phương tiện thiện xảo
thế gian của Bồ Tát): Đấy chẳng phải
là phương tiện thiện xảo xuất thế gian!
Hễ có được, bèn có mất; có
được, th́ sẽ có cái chẳng
được. Đó là pháp tương đối. Do vậy,
đó là sai lầm, chẳng gọi là Đại Giáp Trụ
Luân, “diệc bất do thử danh vi Bồ Tát Ma Ha Tát”
(cũng chẳng do vậy mà gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát).
Đấy chẳng phải là Bồ Tát Ma Ha Tát.
(Kinh) “Vân hà danh vi Bồ Tát xuất
thế thiện xảo phương tiện? Vị chư
Bồ Tát đản vị lợi tha, bất vị tự
lợi, thị hiện chủng chủng công xảo kỹ
thuật, vị thành thục tha thừa sự, cúng dường chư
Phật Thế Tôn, hoặc chư Bồ Tát, hoặc chư
Độc Giác, hoặc chư Thanh Văn, hoặc mẫu,
hoặc phụ, hoặc chư bệnh giả, hoặc
chư luy liệt vô y hỗ giả. Nhược kiến
ách nạn, lâm bị hại giả, chủng chủng cần
khổ phương tiện cứu tế, dĩ Tứ Nhiếp
Sự thành thục hữu t́nh, tùy kỳ ư nhạo, tùy kỳ
căn khí, vị chư hữu t́nh tuyên thuyết chánh pháp. Hựu
năng tiệm thứ khuyến chư Thanh Văn tu Độc
Giác Thừa, khuyến chư Độc Giác tu tập Đại
Thừa. Nhược ư Thanh Văn cập Độc
Giác Thừa căn vị thục giả, vị thuyết yếm
ly sanh tử khổ pháp, linh kỳ tu học, yếm ly sanh
tử, hân cầu Niết Bàn. Nhược chư hữu
t́nh nhạo hành sát sanh, quảng thuyết năi chí nhạo
trước tà kiến, tùy kỳ căn tánh, hoặc vị
tuyên thuyết sanh tử lưu chuyển, tử thử,
sanh bỉ, chúng khổ quả báo, linh kỳ yếm bố,
ly chư ác pháp. Hoặc vị tuyên thuyết dữ Thanh Văn
Thừa tương ứng chánh pháp, hoặc vị tuyên thuyết
dữ Độc Giác Thừa tương ứng chánh pháp,
hoặc vị tuyên thuyết Vô Thượng Thừa trung
thiển cận chi pháp, linh tiệm tu học.
Nhược chư hữu t́nh dĩ nhạo bố thí, vị
thuyết thắng thượng thọ tŕ tịnh giới, linh kỳ tu học,
quảng thuyết năi chí nhược chư hữu t́nh
dĩ nhạo Tĩnh Lự, vị thuyết thắng
thượng vô lậu thánh đạo sở nhiếp Bát
Nhă linh kỳ tu học. Thử xảo phương tiện
y vô sở đắc, vô sở chấp trước. Như
thị danh vi Bồ Tát xuất thế Thiện Xảo Phương
Tiện Đại Giáp Trụ Luân. Thiện nam tử!
Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu như thị Thiện Xảo
Phương Tiện Đại Giáp Trụ Luân, tùng sơ
phát tâm, nhất thiết ngũ dục giai năng trừ
đoạn, đắc danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă, siêu thắng
nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ vị
nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền, nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đẳng giai ưng cúng dường, thừa
sự, thủ hộ”. Nhĩ thời,
Thế Tôn dục trùng hiển thử nghĩa, nhi thuyết
tụng viết: “Sở tu huệ hữu nhị, thế
gian, xuất thế gian. Thủ trước danh thế gian.
Vô thủ trước, xuất thế. Tu thiện xảo phương tiện,
y nhị chủng sai biệt, hữu sở đắc thế
gian, vô sở đắc xuất thế. Nhược
duy thuyết Nhất Thừa, thị danh ác thuyết pháp, bất
năng tự thành thục, diệc bất năng độ
tha. Nhất hướng ác chúng sanh, vị thuyết tam thừa
giáo. Thị tắc vi ngu si, bất danh Ma Ha Tát. Hữu kham
thú tam thừa, hân cầu văn chánh pháp, vị thuyết nhạo
sanh tử, phi vi trí giả tướng. Chuyên ư đế
tư duy, tùy căn dục giáo hóa, thử thiện xảo
phương tiện, trí giả sở xưng dự. Chúng
sanh tuy hữu ác, nhi kham nhập tam thừa, tùy căn khí
giáo đạo, linh giải thoát chúng ác”.
(經)云何名為菩薩出世善巧方便?謂諸菩薩,但為利他,不為自利,示現種種工巧技術,為成熟他,承事供養諸佛世尊、或諸菩薩、或諸獨覺、或諸聲聞、或母、或父、或諸病者、或諸羸劣無依怙者;若見厄難臨被害者,種種勤苦方便救濟,以四攝事成熟有情,隨其意樂,隨其根器,為諸有情宣說正法。又能漸次勸諸聲聞修獨覺乘,勸諸獨覺修習大乘。若於聲聞及獨覺乘根未熟者,為說厭離生死苦法,令其修學,厭離生死,欣求涅槃;若諸有情,樂行殺生,廣說乃至樂著邪見,隨其根性,或為宣說生死流轉,死此生彼,眾苦果報,令其厭怖離諸惡法;或為宣說與聲聞乘相應正法,或為宣說與獨覺乘相應正法,或為宣說無上乘中淺近之法,令漸修學。若諸有情,已樂佈施,為說勝上受持淨戒,令其修學;廣說乃至若諸有情,已樂靜慮,為說勝上無漏聖道所攝般若,令其修學。此巧方便,依無所得,無所執著,如是名為菩薩出世善巧方便大甲冑輪。善男子,若菩薩摩訶薩成就如是善巧方便大甲冑輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,得名菩薩摩訶薩也!超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。爾時,世尊欲重顯此義,而說頌曰:所修慧有二,世間出世間,取著名世間,無取著出世。修善巧方便,依二種差別,有所得世間,無所得出世。若唯說一乘,是名惡說法,不能自成熟,亦不能度他。一向惡眾生,為說三乘教,是則為愚癡,不名摩訶薩。有堪趣三乘,欣求聞正法,為說樂生死,非為智者相。專意諦思惟,隨根欲教化,此善巧方便,智者所稱譽。眾生雖有惡,而堪入三乘,隨根器教導,令解脫眾惡。
(Kinh: Thế nào gọi
là phương tiện thiện xảo xuất thế của
Bồ Tát? Tức là các Bồ Tát chỉ v́ lợi ích người khác, chẳng v́ tự lợi,
thị hiện các thứ kỹ thuật hay khéo, v́ thành thục
người khác mà thừa sự, cúng dường chư Phật
Thế Tôn, hoặc các Bồ Tát, hoặc các Độc Giác,
hoặc các Thanh Văn, hoặc mẹ, hoặc cha, hoặc
những người bệnh, hoặc những kẻ suy yếu
không nơi nương cậy, hoặc thấy người
bị hại bởi các ách nạn, sẽ dùng các
phương tiện siêng khổ để cứu giúp. Dùng
Tứ Nhiếp Sự thành thục hữu t́nh, tùy theo ḷng
yêu thích, tùy theo căn khí của họ, v́ các hữu t́nh tuyên
thuyết chánh pháp. Lại có thể lần lượt
khuyên các Thanh Văn tu Độc Giác Thừa, khuyên các Độc
Giác tu tập Đại Thừa. Nếu đối với
Thanh Văn và Độc Giác Thừa căn khí chưa chín muồi,
v́ họ nói pháp chán ĺa sanh tử, khiến họ tu học,
chán ĺa sanh tử, vui cầu Niết Bàn. Nếu các hữu
t́nh thích hành sát sanh, nói rộng là cho đến đối với kẻ thích chấp
trước tà kiến, sẽ tùy theo căn tánh, hoặc v́
họ tuyên thuyết sanh tử lưu chuyển, chết
đây, sanh kia, các thứ quả báo khổ sở, khiến
cho họ chán sợ, ĺa các ác pháp. Hoặc
v́ họ tuyên thuyết chánh pháp tương ứng với
Thanh Văn Thừa, hoặc v́ họ tuyên thuyết chánh pháp
tương ứng với Độc Giác Thừa, hoặc
v́ họ tuyên thuyết các pháp thiển cận trong Vô Thượng
Thừa để họ dần dần tu học. Nếu
các hữu t́nh đă thích bố thí, v́ họ nói thọ tŕ tịnh
giới thù thắng bậc thượng, khiến cho họ
tu học. Nói rộng là cho
đến nếu các hữu t́nh đă thích Tĩnh Lự,
bèn v́ họ nói thánh đạo vô lậu thắng thượng
bao gồm Bát Nhă, khiến cho họ tu học. Phương
tiện hay khéo ấy chẳng nương vào “có đạt
được”, chẳng chấp trước ǵ. Như thế
th́ gọi là
phương tiện thiện xảo Đại Giáp Trụ
Luân xuất thế của Bồ Tát. Này thiện nam tử!
Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu phương tiện
thiện xảo Đại Giáp Trụ Luân như thế, từ
sơ phát tâm, hết thảy ngũ dục đều có thể
đoạn trừ, được gọi là Bồ Tát Ma Ha
Tát, vượt hẳn hết thảy Thanh Văn, Độc
Giác, v́ khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác
làm ruộng phước lớn. Hết thảy các Thanh
Văn, Độc Giác Thừa đều nên cúng dường,
thừa sự, thủ hộ. Lúc bấy giờ, đức
Thế Tôn muốn hiển thị lại nghĩa này, bèn nói
kệ tụng rằng: “Tu huệ có hai thứ,
thế gian, xuất thế gian. Chấp giữ gọi thế
gian; chẳng chấp giữ: Xuất thế.
Tu phương tiện thiện xảo, nương hai thứ
sai khác. Hữu sở đắc: Thế gian. Vô sở
đắc: Xuất thế.
Nếu chỉ nói Nhất Thừa, gọi là ác thuyết pháp,
chẳng thể tự thành thục, cũng chẳng thể
độ người. Chúng sanh chuyên làm ác, bèn giảng pháp
tam thừa. Đó là kẻ ngu si, chẳng gọi Ma Ha Tát. Có
kẻ kham tam thừa, ưa cầu nghe chánh pháp, nói pháp thích
sanh tử, chẳng phải là bậc trí. Chuyên tâm, tư duy
kỹ, tùy căn, dục giáo hóa. Phương
tiện thiện xảo ấy, bậc trí đều
khen ngợi. Chúng sanh tuy có ác, nhưng kham nhập ba thừa,
theo căn khí chỉ dạy, khiến giải thoát các ác”).
Phần
trước đă nói về hai tầng quan hệ: V́ tự
lợi và lợi tha (lợi ích người khác). Ở
đây, chẳng phải vậy. Đây là phương tiện
thiện xảo xuất thế gian của Bồ Tát, chuyên
v́ lợi ích người khác, chẳng v́ tự lợi. Ngài
cũng “thị hiện chủng chủng công xảo kỹ
thuật, vị thành thục tha, thừa sự, cúng dường
chư Phật Thế Tôn” (thị hiện các thứ kỹ
thuật hay khéo, v́ thành thục người khác, mà thừa
sự, cúng dường chư Phật Thế Tôn). Như vậy
th́ các vị đại Bồ Tát ấy hoàn toàn v́ lợi
ích người khác, chẳng v́ tự lợi, thị hiện
các thứ kỹ thuật hay khéo, nhằm mục đích thừa
sự, cúng dường chư Phật. Chẳng hạn như,
chúng tôi thấy các lạt-ma ở Lạp Tát (Lhasa), bọn
họ dùng bơ và tản-ba (tsampa, bột lúa mạch
rang) có thể làm rất nhiều hoa, có thể tạo
thành đàn tràng để tu đạo. Họ cũng chẳng
có danh, chẳng có lợi chi cả. Đàn tràng được
kiến lập tại đó, ai cũng chẳng biết là
do vị lạt-ma nào làm! Chẳng có ghi tên, mà cũng chẳng
đạt được tài lợi ǵ, thứ ǵ cũng
đều chẳng có, làm việc cho tự viện. Làm việc
mà chẳng được trả công. Nghề khéo kiểu
này hoàn toàn v́ lợi ích người khác, cúng dường
chư Phật, mà cũng chẳng phải là lợi ích con
người, đều là cúng dường chư Phật.
Hễ
có ách nạn, vị đại Bồ Tát này liền thị
hiện các thứ phương tiện siêng khổ để
cứu vớt, và tiếp cận họ, khiến cho họ
có thể thay đổi. Nhưng quư vị ắt phải có
trí huệ. Quư vị chẳng có trí huệ, làm sao có thể
thực hiện cho được! Như câu chuyện ngài
Tế Công cứu gă bán thịt chó. Gă đó bán thịt chó, hằng
ngày đều giết chó. Đối với mẹ, hắn hết sức
bất hiếu, thường xuyên mắng mẹ, đánh mẹ.
Có một hôm, khi sắp giết một con chó cái, không biết
là quên thứ ǵ, hắn phải ra ngoài rồi trở lại,
t́m cách nào cũng chẳng thấy con dao
mổ chó. T́m trong lẫn ngoài đều chẳng thấy,
hắn liền chửi mắng, bắt mẹ cũng
đi t́m. Mẹ hắn cũng đi t́m, căn bản là chẳng
t́m thấy. Cuối cùng t́m được, đó là hắn
thấy một con cún nằm úp sấp ngay trước mặt,
bèn đá một cước, đá con cún chạy đi. Phía
dưới con cún có con dao. Con cún đă dùng thân ḿnh che giấu
con dao. Lúc đó, hắn vẫn mổ thịt con chó cái ấy.
Bất quá, trong ḷng hắn rất hổ thẹn, nói: “Ta muốn
giết mẹ nó. Con cún ấy giấu dao đi, dùng sanh mạng
của nó che đậy. Ta là người, đối với
mẹ bất hiếu dường ấy!” Hắn liền khấu đầu, sám hối với mẹ,
thưa: “Mẹ ơi! Hôm nay con bán thịt chó xong, sẽ chẳng
làm chuyện buôn bán này nữa, t́m nghề
khác làm. Sau này, con sẽ hiếu
kính mẹ đàng hoàng!”
Vốn
hắn đáng phải chịu quả báo “ngũ lôi oanh
đảnh”. Cái gọi là quả báo “ngũ lôi oanh
đảnh” (五雷轟頂) tức là chết trong ngũ hành kim, mộc, thủy,
hỏa, thổ. Khi hắn đẩy xe ra ngoài, muốn
đi đại tiện, bèn dừng cái xe thịt chó ở
bên đường, đại tiện th́ phải t́m chỗ
khuất. Hắn chạy đến chỗ có một bức
tường bằng đất đắp, không ai trông thấy để ngồi
xổm đi đại tiện. Hắn vừa đi ngoài,
vừa trông chừng xe thịt chó. Tế Công có thần
thông, biết hắn sắp bị [tường sập]
đè chết. V́ một niệm hiếu tâm, khiến cho tội ác của hắn tiêu mất; Tế Công đi tới, đẩy cái xe đi. Hắn
nóng ruột: “Đây là lần [buôn bán] cuối
cùng, có chút tiền vốn đó. Ổng đẩy xe của
ta đi, ta làm thế nào đây?” Hắn ngưng đại
tiện, thắt lưng quần lại, đuổi theo:
“Đại sư! Tôi cúng dường
thịt chó cho Ngài, dừng lại đi. Đấy là tiền
vốn của tôi”. Hắn một
mực la ầm lên, Tế Công dừng xe lại. Hắn nói: “Đại sư! Cảm ơn Ngài”.
Nhưng lúc hắn vừa mới chạy đuổi theo, bức tường đất
chỗ hắn vừa ngồi chổm hồm liền sụp xuống,
hắn sợ tới mức đổ mồ hôi lạnh
toàn thân, nói: “Sư phụ! Con phải cám ơn Ngài! Con cho Ngài một nửa số thịt chó này”. Ngài
nói: “Ta không cần thịt chó của ngươi, ta chỉ
giúp ngươi bán”. Tế Công liền bán giúp hắn,
người qua đường đều mua. Tế Công
nói: “Hôm nay chúng ta bán giá cao gấp ba”. “Giá gấp ba có thể
bán được hay không?” Tế Công bảo: “Ngươi
chớ lo! Ta bán được!” Tế Công vừa niệm
chú, người đi qua nơi đó đều mua, ngửi
thấy mùi thịt chó thơm quá, họ liền
mua, lập tức bán sạch xe thịt chó. Tiền thu
được rất nhiều, nhiều gấp ba tiền vốn. Hắn
nói: “Đại sư! Con tạ ơn thầy bằng cách
nào?” Sư nói: “Ngươi không cần cảm ơn ta. Một
niệm hiếu tâm dấy lên, sáng hôm nay ngươi đă
sám hối với mẹ. Đấy là do hiếu tâm cảm
vời”.
Nếu
quư vị chẳng có sự thiện xảo ấy, sẽ
chẳng thể cứu người ta, khiến hắn bị
tường sụp đè chết. Bị đè chết th́
chẳng phải là đọa địa ngục ư? C̣n
chẳng đợi cho hắn sám hối nữa, sát nghiệp
của hắn nặng như vậy
mà! Bồ Tát độ chúng sanh có bản lănh, phương
tiện thiện xảo này chẳng phải là phương
tiện thiện xảo mà chúng ta có. Sự thiện xảo
của chúng ta [nói thật ra] chẳng phải là thiện xảo,
nói đơn giản là v́ tự lợi, chẳng phải
v́ lợi ích người khác, nhất định phải
hiểu đạo lư này. Chớ nên viện cớ giúp đỡ
đạo hữu khác, quư vị ôm cái tâm ǵ? Nếu quả
thật thuần túy v́ lợi ích người khác, chẳng
có mảy may v́ chính ḿnh, th́ đấy
là Bồ Tát thật sự phát tâm.
Chúng
ta học như vậy, quư vị làm mỗi
chuyện, nhất định phải quán chiếu cái tâm của
chính ḿnh, từ nơi nào phát sanh cái tâm ấy?
Quư vị ĺa khỏi tham, sân, si, ái, đó là điều rất
then chốt! Bồ Tát làm chuyện ngu si, “chủng chủng
cần khổ phương tiện, cứu tế nhất
thiết chúng sanh” (các thứ phương tiện siêng khổ, cứu
giúp hết thảy chúng sanh), dùng Tứ Nhiếp Pháp thành thục
hữu t́nh. Tứ Nhiếp Pháp là bố thí, đồng sự,
lợi hành, ái ngữ, tùy thuận ḷng ưa thích của
chúng sanh, chẳng phải là thuận theo cái tâm của quư vị:
Trong tâm quư vị muốn như thế nào, bèn mong làm như thế ấy! Nay vị Bồ Tát lợi ích
chúng sanh Bồ Tát, nghĩ chính ḿnh nên làm như thế nào, mọi người phải
nghe theo ta; đấy là hoàn toàn sai lầm mất rồi! Tuyên thuyết chánh
pháp, phải tùy thuộc họ thích điều ǵ, bèn nói cho
họ điều ấy. Do pháp ấy, họ có thể
đắc độ, v́ có thể dần dần khuyên
lơn các vị Thanh Văn, Độc Giác Thừa, khuyên họ
hồi Tiểu hướng Đại, khuyên các vị thuộc
Độc Giác Thừa tu Đại Thừa, khuyên Thanh
Văn Thừa phải tiến cao hơn tu Độc Giác
Thừa. Nếu các Ngài là căn khí Thanh Văn Thừa, sẽ
làm cho họ tu học, chán ĺa sanh tử, mong cầu Niết
Bàn, cầu bất sanh bất tử.
“Nhược
chư hữu t́nh nhạo hành sát sanh, quảng thuyết năi
chí nhạo trước tà kiến” (nếu các hữu t́nh
thích hành sát sanh, nói rộng là cho đến ưa thích tà kiến): Giết, trộm, dâm, dối, đấy là bốn
căn bản. “Tùy kỳ căn tánh” (tùy theo căn tánh
của họ), v́ họ tuyên thuyết sanh tử lưu chuyển.
“Tử thử, sanh bỉ” (Chết đây, sanh kia): Các
quả báo khổ sở khiến cho họ sanh khởi cảm
giác sợ hăi, sanh cảm giác chán ĺa, ĺa khỏi các ác pháp ấy. Quư vị bèn tuyên thuyết
cho họ hết thảy chánh pháp tương ứng với
Thanh Văn Thừa, hoặc chánh pháp tương ứng với
Độc Giác Thừa. Căn cơ Đại Thừa th́ “hoặc
vị tuyên thuyết Vô Thượng Thừa trung thiển cận
chi pháp” (hoặc v́ họ tuyên nói các pháp thiển cận
trong Vô Thượng Thừa), chẳng phải là lập tức
có thể tiến nhập Đại Thừa! Từ sơ
khởi, phải từ pháp nông cạn, gần gũi, cho
đến những pháp tương đương với
bậc trung, cuối cùng nói pháp Tối Thượng Thừa.
Mọi
người khi đọc ba phẩm kinh Hoa Nghiêm, quư vị
có thể cảm nhận phẩm Tịnh Hạnh ai cũng
đều làm được: Thấy điều ǵ, bèn
nghĩ đến ǵ, đó gọi là “phát tâm”. Phẩm
Phạm Hạnh là nhập Chân Không thanh tịnh hạnh. Phạm
hạnh là thanh tịnh hạnh, hết thảy những ǵ
đă làm đều thanh tịnh. Hết thảy đều
chẳng có, cho đến ngay cả Thập Lực của
Phật cũng đều chẳng có. Đó là Không, thật
sự Không. Nhưng vẫn chưa đủ, phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện trùng trùng vô tận, từ Không xuất
Hữu. Hữu là Diệu Hữu, Diệu Hữu
phi hữu, tức là Không. Chân Không chẳng Không.
Chẳng Không là Diệu Hữu. Hành Phổ Hiền Hạnh lật đi lật lại như
thế đó, tức là có từng giai đoạn một. Nếu
quư vị đọc kinh Hoa Nghiêm, tốt nhất là chọn
lựa ba phẩm đó, như thế sẽ đều có.
Từ Thiện Tài đồng tử sơ phát tâm, bắt đầu
từ địa vị Thập Tín, măi cho đến
khi tham yết bậc Đẳng Giác. Đă tham yết xong, cho đến giai đoạn thành Phật, vẫn
chưa đủ, lại trở về trước mặt Văn Thù Bồ Tát. Di Lặc Bồ Tát bảo Ngài trở
lại tham yết Văn Thù Bồ Tát. Ngài lại trở về
chỗ Văn Thù Bồ Tát, dùng Tín làm căn bản, “Tín là nguồn đạo, mẹ công đức, trưởng
dưỡng hết thảy các thiện căn”. Trưởng
dưỡng đă thành, lại quay về tự tâm. Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo Thiện Tài trở về
tham yết Phổ Hiền Bồ Tát lần nữa, mới
có thể rốt ráo thành tựu Pháp Thân Phật chẳng thể
nghĩ bàn. Đó cũng là Báo Thân Phật. Phải như thế
th́ mới gọi là Bồ Tát trọn đủ
phương tiện thiện xảo. Phương
tiện thiện xảo ấy chẳng có ǵ chấp
trước. Nói pháp thiển cận; sau đấy, lại
dần dần khiến cho họ tu học. Nếu chúng sanh ưa thích bố thí,
chỉ bố thí th́ không đủ, c̣n phải tŕ giới,
c̣n phải tu nhẫn nhục. Nhẫn nhục chưa đủ,
phải tu Thiền Định. Từng bước một,
khiến cho họ tu Lục Ba La Mật, khiến cho họ
chứng đắc, chỉ là vô sở đắc (chẳng
có ǵ để đạt được), chẳng có ǵ chấp
trước. Phương tiện thiện xảo xuất
thế của Bồ Tát là như thế đó; đấy
mới là Đại Giáp Trụ Luân thật sự.
Nếu
quư vị tu hành phương tiện thiện xảo,
cũng nương theo hai loại sai biệt. Hễ có cái
để đạt được (hữu sở đắc),
th́ là thế gian; vô sở đắc là xuất thế.
Đối với thế gian mà chẳng có ǵ để
đạt được, th́ sẽ có thể xuất thế
gian. “Nhược duy thuyết Nhất Thừa, thị
danh ác thuyết pháp, bất năng tự thành thục, diệc
bất năng độ tha” (Nếu chỉ nói Nhất
Thừa, th́ gọi là ác thuyết pháp, chẳng thể tự
thành thục, cũng chẳng thể độ người
khác): Không nói pháp ba thừa, chỉ nói pháp Nhất Thừa của
Đại Thừa. Thuyết pháp kiểu ấy là ác thuyết
pháp, chẳng phải là thiện thuyết pháp, chính ḿnh
cũng chẳng thành thục được, mà cũng chẳng
thể độ người khác. “Nhất hướng
ác chúng sanh, vị thuyết tam thừa giáo” (đối với
chúng sanh một mực làm ác, v́ họ nói giáo pháp tam thừa):
Kẻ không có thiện căn, toàn là làm ác. Nếu quư vị
nói cho họ pháp tam thừa, chẳng nói cho họ pháp quy y
nông cạn, gần gũi, không dạy họ hành Thập
Thiện Pháp, họ làm sao tiến nhập được?
Đó gọi là ngu si.
“Hữu
kham thú tam thừa, hân cầu văn chánh pháp, vị thuyết
nhạo sanh tử, phi vi trí giả tướng” (Có
người kham tiến nhập tam thừa, thích cầu
nghe chánh pháp, [thế mà] v́ họ nói [các pháp] thích sanh tử th́ chẳng phải là
bậc có trí huệ): Người ấy đă có thể, “kham”
(堪) là có thể, tức
là có thể thành tựu, tiến nhập Tiểu Thừa,
Trung Thừa, Đại Thừa, hết sức vui thích, vui
cầu nghe pháp chân chánh. Quư vị nói cho họ pháp sanh tử,
v́ họ nói ưa thích sanh tử. Nói pháp sanh tử [là nói các
pháp tu tập để] sanh lên trời, làm người, gieo
thiện căn. Đấy là pháp sanh tử, là mười
thiện pháp nhập môn. Đó chẳng phải là bậc
trí, v́ [thuyết pháp]
chẳng đúng căn cơ. “Chuyên ư đế
tư duy, tùy căn dục giáo hóa” (Hăy chuyên tâm suy nghĩ
kỹ càng, thuận theo căn cơ và ham muốn của họ
để giáo hóa): Bồ Tát độ chúng sanh chẳng phải
tùy tiện như vậy, phải suy nghĩ kỹ càng, suy
nghĩ đúng lư. Nếu quư vị chẳng biết căn
cơ của họ, th́ có thể nghe họ nói. Quư vị
nói chuyện với họ, họ sẽ biểu đạt,
sẽ nói cho quư vị biết họ thuộc căn cơ
nào. Cho nên khi quư vị nói chuyện với chúng sanh, tuy mỗi
người chẳng đem điều mong cầu và suy
nghĩ viết trên mặt, nhưng xác thực là từ vẻ
mặt họ đă cho quư vị biết, họ muốn làm
ǵ, họ cũng có những điều
mong mỏi mà quư vị có thể nhận biết.
Chuyện này phải khéo quan sát, phải khéo tư duy, tùy
theo căn cơ và dục vọng của họ mà giáo hóa
như thế. Đó mới là thật sự thiện xảo,
đáng được bậc trí khen ngợi!
“Chúng
sanh tuy hữu ác, nhi kham nhập tam thừa” (chúng sanh tuy
có điều ác, nhưng có thể nhập tam thừa): Các
chúng sanh ấy làm ác, giống như trong câu chuyện tôi vừa
kẻ, gă đó giết chó, tức là làm ác, lại bất
hiếu với mẹ. Nhưng trong quá khứ, hắn có thiện
căn, nay thiện căn của hắn chín muồi, có thể
buông dao mổ xuống, có thể dấy lên một niệm
thiện tâm. Thiện căn của hắn đă sanh trưởng,
làm một thiện nhân. C̣n kẻ suốt đời làm
lành, tới khi sắp chết, ác tánh chẳng đổi,
đó là các điều ác trong đời quá khứ rất
nặng, [tạo thành] nhân duyên chướng đạo. Có
thể dùng phương tiện thiện xảo như vậy
để quan sát căn cơ của chúng sanh. Tuy trong đời
quá khứ họ là ác, nhưng hiện thời, họ có thể
chứng nhập tam thừa. Quư vị phải chỉ dạy,
nhiếp thọ người ấy, khiến cho người
ấy giải thoát các điều ác. Nói “buông dao mổ xuống,
thành Phật ngay tại đó” có hàm nghĩa như vậy.
Chớ nên v́ kẻ đó làm ác, mà chẳng nhiếp thọ họ,
chẳng nói thiện pháp cho họ. Đấy cũng là sai
lầm, chẳng phải là trí huệ thiện xảo, chẳng
quan sát thấy hiện tại [thiện căn của] họ
đă chín muồi!
(Kinh)
“Phục thứ,
thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát phục hữu Đại
Từ Đại Giáp Trụ Luân. Nhược Bồ Tát Ma
Ha Tát thành tựu thử luân, tùng sơ phát tâm, nhất thiết
ngũ dục giai năng trừ đoạn, siêu thắng
nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ vị
nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền, nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đẳng giai ưng cúng dường, thừa
sự, thủ hộ. Vân hà Đại Từ Đại
Giáp Trụ Luân? Thiện nam tử! Từ hữu nhị chủng,
vị pháp duyên từ, hữu t́nh duyên từ. Pháp duyên từ
giả, danh vi đại từ, danh đại giáp trụ.
Hữu t́nh duyên từ, bất danh đại từ, phi
đại giáp trụ. Sở dĩ giả hà? Hữu t́nh
duyên từ, cộng chư Thanh Văn, Độc Giác Thừa
đẳng. Thanh Văn, Độc Giác vị tự lợi
lạc, bất vị hữu t́nh, tinh cần tu tập hữu
t́nh duyên từ. Thanh Văn, Độc Giác vị tự tịch
tĩnh, vị tự Niết Bàn, vị diệt tự Hoặc,
vị diệt tự kết, bất vị hữu t́nh tinh
cần tu tập hữu t́nh duyên từ. Thị cố thử
từ bất danh đại từ, phi đại giáp trụ.
Kỳ pháp duyên từ, bất cộng Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đẳng, duy chư Bồ Tát Ma Ha Tát chúng sở
năng tu hành. Bồ Tát Ma Ha Tát phổ vị lợi lạc
nhất thiết hữu t́nh, tinh cần tu tập thử
pháp duyên từ. Bồ Tát Ma Ha Tát phổ vị nhất thiết
hữu t́nh tịch tĩnh, cập đắc Niết Bàn,
diệt phiền năo kết, tinh cần tu tập thử
pháp duyên từ. Thị cố thử từ danh vi đại
từ, thị đại giáp trụ. Hựu chư Bồ
Tát tu pháp duyên từ, bất y chư Uẩn, bất y
chư Xứ, bất y chư Giới, bất y Niệm Trụ,
năi chí bất y Đạo Chi, bất y Dục Giới, bất
y Sắc Giới, bất y Vô Sắc Giới, bất y thử
thế, bất y tha thế, bất y thử ngạn, bất
y bỉ ngạn, bất y đắc, bất y bất đắc.
Như thị Bồ Tát tu pháp duyên từ, siêu chư Thanh
Văn, Độc Giác Thừa địa, thị danh Bồ
Tát pháp duyên Đại Từ Đại Giáp Trụ Luân. Thiện
nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành thử Đại
Từ Đại Giáp Trụ Luân, tùng sơ phát tâm, nhất
thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn, đắc
danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă, siêu thắng nhất thiết Thanh
Văn, Độc Giác, phổ vị nhất thiết Thanh Văn,
Độc Giác tác đại phước điền. Nhất
thiết Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng, giai ưng cúng dường, thừa
sự, thủ hộ”. Nhĩ thời,
Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi thuyết tụng
viết: - Thanh Văn cập Độc Giác, tu hữu t́nh
duyên từ, tâm đới thập tam quá, duy cầu tự lợi
lạc. Bồ Tát đại danh xưng, phổ vị
chư hữu t́nh, tu bất cộng đại từ, tâm
ly thập tam quá. Tâm trừ thập tam cấu, vị thú
Đại Bồ Đề, tu pháp duyên đại từ,
thành phước điền phi viễn. An trụ thập
tam lực, xuất quá chư hữu t́nh, do như sư tử
vương, siêu thắng chư cầm thú. Hàng phục thập
tam oán, ly đoạn thường biên chấp, tâm vô hữu
nhiễm trược, tốc chứng Đại Bồ
Đề.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,復有大慈大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。云何大慈大甲冑輪?善男子,慈有二種:謂法緣慈、有情緣慈。法緣慈者,名為大慈,名大甲冑;有情緣慈,不名大慈,非大甲冑。所以者何?有情緣慈,共諸聲聞、獨覺乘等,聲聞、獨覺為自利樂,不為有情,精勤修習有情緣慈;聲聞、獨覺為自寂靜,為自涅槃,為滅自惑,為滅自結,不為有情,精勤修習有情緣慈。是故此慈,不名大慈,非大甲冑。其法緣慈,不共聲聞、獨覺乘等,唯諸菩薩摩訶薩眾所能修行,菩薩摩訶薩普為利樂一切有情,精勤修習此法緣慈;菩薩摩訶薩普為一切有情,寂靜及得涅槃,滅煩惱結,精勤修習此法緣慈。是故此慈,名為大慈,是大甲冑。又諸菩薩,修法緣慈,不依諸蘊,不依諸處,不依諸界,不依念住,乃至不依道支,不依欲界,不依色界,不依無色界,不依此世,不依他世,不依此岸,不依彼岸,不依得,不依不得。如是菩薩修法緣慈,超諸聲聞、獨覺乘地,是名菩薩法緣大慈大甲冑輪。善男子,若菩薩摩訶薩成此大慈大甲冑輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,得名菩薩摩訶薩也!超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。爾時,世尊重顯此義,而說頌曰:聲聞及獨覺,修有情緣慈,心帶十三過,唯求自利樂。菩薩大名稱,普為諸有情,修不共大慈,心離十三過。心除十三垢,為趣大菩提,修法緣大慈,成福田非遠。安住十三力,出過諸有情,猶如師子王,超勝諸禽獸。降伏十三怨,離斷常邊執,心無有染濁,速證大菩提。
(Kinh:
“Lại này thiện
nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có Đại Từ
Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu
luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy ngũ dục
đều có thể đoạn trừ, vượt xa hết
thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́ khắp hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng phước lớn.
Hết thảy các Thanh Văn, Độc Giác Thừa đều
nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ. Thế
nào là Đại Từ Đại Giáp Trụ Luân? Này thiện
nam tử! Từ có hai loại, tức là pháp duyên từ và hữu
t́nh duyên từ. Pháp duyên từ được gọi là
đại từ, là đại giáp trụ. Hữu t́nh duyên
từ chẳng gọi là đại từ, chẳng phải
là đại giáp trụ. V́ cớ sao vậy? Hữu t́nh
duyên từ cùng chung với hàng Thanh Văn, Độc Giác Thừa.
Thanh Văn, Độc Giác v́ lợi lạc cho chính ḿnh, chẳng
v́ hữu t́nh mà siêng ṛng tu tập hữu t́nh duyên từ.
Thanh Văn, Độc Giác v́ sự tịch tĩnh của
chính ḿnh, v́ Niết Bàn của chính ḿnh, v́ diệt Hoặc của
chính ḿnh, v́ diệt kết phược của chính ḿnh, chẳng
v́ hữu t́nh mà siêng ṛng tu tập hữu t́nh duyên từ. V́
thế, ḷng Từ ấy chẳng gọi là đại từ,
chẳng phải là đại giáp trụ. Pháp duyên từ chẳng
cùng chung với hàng Thanh Văn, Độc Giác Thừa, chỉ
có các vị Bồ Tát Ma Ha Tát là có thể tu hành. Bồ Tát Ma
Ha Tát v́ lợi lạc trọn khắp hết thảy hữu
t́nh mà siêng ṛng tu tập pháp duyên từ này. Bồ Tát Ma Ha Tát
v́ làm cho trọn khắp hết thảy hữu t́nh đạt
được tịch tĩnh và đắc Niết Bàn, diệt
phiền năo kết, mà siêng ṛng tu tập
môn pháp duyên từ này. V́ thế, ḷng Từ này
được gọi là đại từ, là đại
giáp trụ. Lại nữa, các Bồ Tát tu pháp duyên từ,
chẳng nương theo các Uẩn, chẳng nương
theo các Xứ, chẳng nương theo các Giới, chẳng
nương theo Niệm Trụ, cho đến chẳng
nương theo Đạo Chi, chẳng nương theo Dục
Giới, chẳng nương theo Sắc Giới, chẳng
nương theo Vô Sắc Giới, chẳng nương theo
đời này, chẳng nương theo đời khác, chẳng
nương theo bờ này, chẳng nương theo bờ
kia, chẳng nương theo đắc, chẳng
nương theo bất đắc. Bồ Tát tu pháp duyên từ
như thế, vượt hẳn các địa vị Thanh
Văn, Độc Giác Thừa; được gọi là
pháp duyên Đại Từ Đại Giáp Trụ Luân của
Bồ Tát. Này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát
thành tựu Đại Từ Đại Giáp Trụ Luân này,
từ sơ phát tâm, hết thảy ngũ dục đều
có thể đoạn trừ, được gọi là Bồ
Tát Ma Ha Tát, vượt hẳn hết thảy Thanh Văn,
Độc Giác, v́ khắp hết thảy Thanh Văn, Độc
Giác làm ruộng phước to lớn, hết thảy Thanh
Văn, Độc Giác Thừa đều nên cúng dường,
thừa sự, thủ hộ”. Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn hiển thị lại nghĩa ấy,
bèn nói kệ tụng rằng: - Thanh Văn và Độc
Giác, tu hữu t́nh duyên từ, tâm mang mười ba lỗi,
chỉ cầu lợi lạc riêng. Bồ Tát thanh danh lớn,
v́ khắp các hữu t́nh, tu bất cộng đại từ,
tâm ĺa mười ba lỗi. Tâm trừ mười ba cấu,
tiến nhập Đại Bồ Đề, tu pháp duyên
đại từ, thành phước điền chẳng xa.
An trụ mười ba lực, vượt khỏi các hữu
t́nh, ví như sư tử chúa, vượt xa các cầm thú.
Hàng phục mười ba oán, ĺa đoạn, thường,
biên chấp. Tâm chẳng có nhiễm trược, mau chứng
Đại Bồ Đề).
Đại Từ
Đại Giáp Trụ Luân là ǵ? Giống như trong phần
trước, Từ cũng có hai loại: Pháp duyên từ, và
hữu t́nh duyên từ. Một đằng là xét theo người,
một đằng là xét theo pháp. Xét theo pháp để nói, Từ
là đại từ, là đại giáp trụ. Nếu nói
theo t́nh, th́ chẳng gọi
là đại từ, chẳng phải là đại giáp trụ.
V́ sao phải nói như vậy? “Sở dĩ giả hà?”
(v́ cớ sao vậy?): [Câu này] mang ư nghĩa gạn hỏi. Tiếp đó liền
nói: “Hữu t́nh duyên từ” là “chư Thanh Văn, Độc Giác
Thừa đẳng”, [nghĩa là ḷng Từ]
tương đương với họ. V́ sao? Do Thanh
Văn Thừa và Độc Giác Thừa
v́ lợi lạc chính ḿnh, chẳng phải v́ hữu t́nh. Họ tinh tấn tu tập,
chẳng phải là duyên theo hết thảy hữu t́nh mà tu
tâm đại từ bi. Họ v́ tịch tĩnh, v́ Niết
Bàn của chính ḿnh, v́ diệt trừ Hoặc nghiệp và
đoạn trừ Kết Sử của chính ḿnh. Kết Sử
Hoặc rất khó đoạn! Kết Sử khiến
cho quư vị phiền năo, khiến cho quư vị đọa lạc,
v́ cái nghiệp đă kết thành, sẽ chẳng thể giải
thoát được! Thanh Văn, Duyên Giác Thừa chỉ
mong diệt Kết Sử của chính ḿnh, chẳng phải
v́ hữu t́nh mà siêng ṛng tu tập. Họ là hữu t́nh duyên
từ. Chúng tôi lại nói đơn giản, Thanh Văn,
Duyên Giác Thừa chẳng dẹp khổ cho chúng sanh. Ngay
như tôn giả Mục Kiền Liên v́ cứu mẹ mới
đến địa ngục đưa cơm cho mẹ.
Ngài trọn chẳng phát đại tâm đưa cơm cho
hết thảy chúng sanh trong địa ngục. Tâm lượng
của Ngài quá nhỏ, chỉ v́ chính ḿnh, chẳng có tâm
đại từ bi. Thanh Văn Thừa chẳng thể
đại từ, đại bi,
chẳng thể v́ hết thảy hữu t́nh mà siêng ṛng tu tập.
Ḷng từ ái của họ là t́nh kiến hữu ái. Ái là vô minh, ḷng
Từ kiểu ấy “bất danh đại từ”
(chẳng gọi là đại từ).
“Pháp
duyên từ” có h́nh trạng như thế nào? “Bất cộng
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng, duy chư Bồ
Tát Ma Ha Tát sở năng tu hành” (chẳng chung với
Thanh Văn và Độc Giác Thừa, chỉ các vị Bồ
Tát Ma Ha Tát là có thể tu hành): Đấy là pháp tu hành của
bậc đại Bồ Tát. Các Ngài tu hành như thế nào?
Các Ngài v́ lợi lạc trọn khắp “nhất thiết
hữu t́nh, lợi lạc nhất thiết hữu t́nh, tinh
cần tu tập” (hết thảy hữu t́nh, do lợi
lạc hết thảy hữu t́nh mà siêng ṛng tu tập), chẳng
v́ chính ḿnh. Đó gọi là Pháp Duyên Từ. Ngài duyên theo Pháp Thân,
chữ Pháp [trong Pháp Duyên Từ] cũng có thể hiểu là
Pháp Thân, v́ có cùng một Thể với Pháp Thân. Ta và chúng sanh
như nhau, do có cùng một Thể, ta phải độ họ.
Chính ḿnh cũng được bao gồm trong ấy. Đó
là Pháp Duyên Từ. Chưa hề nghĩ tới chính ḿnh, v́ muốn
lợi ích chúng sanh, khiến cho hết thảy chúng sanh
đạt được tịch tĩnh, đắc Định
rốt ráo, đạt được Niết Bàn, diệt hết
thảy khúc mắc phiền năo cho chúng sanh, tháo gút cho
chúng sanh. Như trong kinh Lăng Nghiêm đă nói “giải lục
kết, việt tam không” (tháo gỡ sáu cái gút thắt,
vượt khỏi ba thứ không).
Lục Kết chính là Lục Căn, tức là phiền năo
do Lục Căn đối ứng Lục Trần đều
được tháo gỡ, quư vị bèn đạt tới cảnh
giới Chân Không. Cảnh giới Chân Không bao gồm Nhị
Thừa Không, Bồ Tát Không, Cứu Cánh Không, và Tất Cánh
Không. Quư vị đạt tới địa vị rốt
ráo ấy, diệt phiền năo kết cho chúng sanh, siêng ṛng
tu tập pháp Pháp Duyên Từ này. Đó gọi là đại
từ, dẹp trừ hết thảy đau khổ cho chúng
sanh.
Tam
giới thuộc về sanh tử. “Thử thế” là
đời này, “tha thế” là đời vị lai. Ḷng
đại từ bi của vị Bồ Tát ấy, bất
luận là vị lai hay hiện tại, ba đời b́nh
đẳng, tam giới b́nh đẳng, hết thảy các pháp
là b́nh đẳng, chẳng có bờ này, mà cũng chẳng
có bờ kia. Hễ có bờ này là sanh tử, th́ bờ kia là
Niết Bàn. V́ ưa thích Niết Bàn mà đoạn dứt
sanh tử, vượt thoát biển khổ sanh tử. Phát tâm kiểu ấy không
lớn. Sau khi đă diệt hết thảy các pháp, th́ mới
có thể kiến lập hết thảy các pháp. Đă không c̣n hết thảy các pháp rồi th́ mới có thể bất không. Nếu
nay chúng ta bất không, sẽ là chấp trước. Sau khi
đă không, lại quay về, lại độ chúng sanh.
Độ chúng sanh mà chẳng thấy tướng chúng sanh.
Quư vị nghĩ chuyện này rất đơn giản,
nhưng chúng ta chẳng chuyển được! Nếu
chuyển được th́ quá tốt, chúng ta đều
thành Phật cả rồi, chuyện là như thế
đó! Thoạt nh́n rất đơn giản! Phiền năo và Bồ Đề, sanh tử và Niết
Bàn, cổ nhân h́nh dung, phiền năo là ḷng bàn tay, Bồ Đề
là lưng bàn tay, chỉ là một bàn tay mà thôi, chẳng có
chi khác! Quư vị thấu hiểu, sẽ chứng đắc.
Chẳng hiểu rơ, sẽ bị lầm lạc. Đến
khi nào mới có thể hiểu rơ? Tùy thuộc sự tu tập
của mỗi người. Có đắc, có bất đắc,
có đắc th́ nhất định có bất đắc.
Chẳng dựa theo đó mà khởi tâm đại từ
bi, Pháp Duyên Từ là b́nh đẳng. Do vậy, chẳng
nương theo đó mà dấy lên tâm từ bi của ta.
Đó gọi là Pháp Duyên Từ.
“Nhĩ
thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi thuyết
tụng viết” (lúc bấy giờ, đức Thế
Tôn hiển thị lại nghĩa này, bèn nói kệ tụng
rằng), chúng ta đọc bài kệ này một lượt.
“Thanh Văn cập Độc Giác, tu hữu t́nh duyên từ,
tâm đới thập tam quá” (Thanh Văn và Độc
Giác, tu hữu t́nh duyên từ, tâm mang mười ba lỗi):
Nếu tu hữu duyên từ, sẽ có mười ba món lầm
lỗi, v́ chỉ cầu lợi lạc cho riêng ḿnh, cầu
lợi lạc cho chính ḿnh. “Bồ Tát đại danh
xưng, phổ vị chư hữu t́nh, tu bất cộng
đại từ” (Bồ Tát thanh danh lớn, v́ khắp
các hữu t́nh, tu bất cộng đại từ): [Ḷng từ ấy] chẳng cùng chung
với Thanh Văn, Duyên Giác. “Tâm ly thập tam quá” (tâm
ĺa mười ba lỗi): Chẳng có mười ba lỗi!
“Tâm trừ thập tam cấu, vị thú đại Bồ
Đề, tu pháp duyên đại từ, thành phước
điền phi viễn” (Tâm trừ mười ba cấu,
tiến nhập đại Bồ Đề, tu pháp duyên
đại từ, thành phước điền chẳng
xa): Nhất định sẽ thành phước điền
rốt ráo, thành Phật chẳng xa, nhưng “mười
ba cấu” rất khó trừ. “An trụ thập tam lực,
xuất quá chư hữu t́nh, do như sư tử
vương, siêu thắng chư cầm thú” (An trụ
mười ba lực, vượt hơn các hữu t́nh, ví
như sư tử chúa, vượt hẳn các cầm thú). Giống
như sư tử vương, sư tử là vua các loài
thú. “Hàng phục thập tam oán, ly đoạn thường
biên chấp” (Hàng phục mười ba oán, ĺa chấp
đoạn và thường): Mười ba oán do các kiến
chấp Đoạn và Thường sanh ra. Như vậy th́
“tâm vô hữu nhiễm trược, tốc chứng đại
Bồ Đề” (tâm chẳng có đắm nhiễm, ô trược, mau chứng đại Bồ Đề):
Hàng Nhị Thừa Thanh Văn và Độc Giác tu từ bi
là hữu duyên từ bi, có thể thoát ly “mười ba lỗi”.
Mười ba lỗi th́ trong quyển chín mươi chín của
Du Già Sư Địa Luận, có nói mười lăm lỗi.
Từ mười lăm lỗi ấy, chúng ta có thể
ghép lại một hai điều [để hiểu mười
ba lỗi]. Trước hết, chúng ta đọc
mười lăm lỗi một lượt.
“Nhất
giả, tứ trùng quá thất” (một là bốn tầng
lầm lỗi), “nhị giả, mănh lực Thiền quá
thất” (hai là lỗi lầm trong khi tu Thiền, dùng sức
quá mạnh), “tam giả, quỹ phạp bất túc hỷ
quá thất” (ba là lỗi lầm thiếu sót, chẳng
đủ hỷ), “tứ giả, tha sở
cơ quá thất” (bốn là lỗi lầm
do bị người khác ràng buộc), “ngũ giả, vô chánh tín bối linh bất
tín” (năm là khiến cho kẻ
chẳng có chánh tín trái nghịch chẳng tin), “lục
giả, hữu chánh tín giả linh kỳ biến dị quá
thất” (sáu là lỗi lầm khiến cho người có
chánh tín đổi khác), hai điều năm và sáu có thể
ghép thành một, tức là khiến cho người có chánh
tín chẳng thể tăng trưởng tín tâm, ngược
lại khiến cho tín tâm của họ thoái chuyển. Đấy
là một thứ lỗi lầm. Quư vị làm các sự nghiệp,
ḷng từ bi của quư vị vốn là tốt đẹp, nhưng do người khác châm chọc
quư vị, thậm chí c̣n có đồng đạo trách cứ
quư vị. Quư vị vốn phát xuất từ tâm bi, người
khác cho là quư vị c̣n có mục đích khác. Đó là một
lỗi lầm. “Đa tài bảo, đa chư sự nghiệp
quá thất” (lỗi lầm do có lắm của cải, lắm
sự nghiệp): Của cải quá nhiều, sẽ phạm
tội. Sự nghiệp quá nhiều, cũng chẳng thể
được. “Nhiễm trước quá thất” (lỗi
lầm đắm nhiễm), “năo tha quá thất” (lỗi
lầm năo loạn người khác), “phát khởi tật
bệnh quá thất” (lỗi lầm phát khởi tật bệnh),
đấy là điều chúng ta chẳng thể tránh
được. Ai cũng chẳng muốn bị bệnh,
nhưng quư vị nẩy sanh bệnh tật. V́ sao chúng ta nẩy
sanh bệnh tật? Bệnh từ miệng vào, ăn quá nhiều!
Ăn ít hơn th́ được rồi.
Loại bệnh này rất nhiều. “Chướng văng thiện
thú quá thất” (lỗi lầm
do chướng ngại tiến vào đường lành):
Đôi khi chúng ta có cảm giác dường như Phật,
Bồ Tát ở ngay trước mắt, trong tâm có lúc dụng
công tương ứng, cảm thấy dường như
Phật, Bồ Tát rất gần ḿnh, trong tâm sanh khởi đại
hoan hỷ. Có đôi khi quư vị dụng công, dụng công
mười năm hay tám năm, dường như cách xa Phật,
Bồ Tát vô biên. Niệm kinh cũng thế, tŕ chú cũng thế,
dường như Phật, Bồ Tát chẳng gia tŕ, chính
ḿnh càng niệm càng mơ hồ. Đấy là lỗi lầm
chướng ngại quư vị tiến vào đường
lành.
Có
một lỗi lầm là đối với kẻ chẳng
nên che chở, lại ngược ngạo che chở. Đạo
lư này chỉ sợ ai cũng có, phải tránh hiềm nghi. Kẻ
đáng nên che chở bèn che chở, kẻ không nên che chở
sẽ chẳng che chở. Chúng tôi nêu thí dụ, Phật
độ hết thảy chúng sanh, Bồ Tát độ hết
thảy chúng sanh. Chúng sanh ấy do ác tâm mà tới, quư vị
nói xem, chúng ta phải nên che chở hắn, hay là chẳng nên che chở? Hắn sanh khởi
ác tâm, chẳng cầu pháp, quư vị có thần thông th́ có thể
biết. Chẳng có thần thông, quư vị làm sao biết
được? Kẻ đó hai ḷng, hoặc là muốn thử
quư vị, hoặc muốn khảo đảo quư vị. Nếu
quư vị làm chuyện lợi ích chúng sanh, phải nên làm
như thế nào? Chẳng hạn như có chúng sanh hỏi:
“Lăo pháp sư, thầy tu hành bằng cách nào? Niệm kinh ǵ vậy?”
Chuyện này có liên quan ǵ đến hắn? Biết những
chuyện đó để làm ǵ? Vị pháp sư ấy chắc
là sẽ nẩy sanh nghi vấn: “Quư vị hỏi tôi chuyện
này để làm ǵ? Quư vị muốn trắc nghiệm công
phu của tôi à?” Nhưng có nên che chở kẻ đó hay
không? Tùy thuộc quư vị có trí huệ hay không? Có trí huệ
th́ sẽ chẳng che chở hắn, sẽ giải thích cho
hắn đôi chút: “Chuyện này chẳng liên quan ǵ đến
quư vị! Tôi tu, quư vị chẳng thấy tu thành công. Tôi tu,
quư vị tu chẳng thấy linh nghiệm, cũng chẳng có nghĩa là [quư vị thấy
tôi tu tập pháp môn nào] quư vị hăy nên tu theo! Có những thứ là ‘thông’, ‘thông’ hiểu
theo nghĩa ‘cùng chung, phổ cập’, [tức là những
pháp mà] tôi tu, quư vị cũng có thể tu, [đó là Thông]. Nhưng có những
pháp tôi tu mà quư vị không thể tu”. Giải thích rơ ràng cho kẻ
đó là được rồi. Có các lầm lỗi ấy,
nếu khi quư vị muốn tạo lợi ích
cho chúng sanh, sẽ phạm rất nhiều khuyết điểm.
Chớ nên y chỉ mà lại làm y chỉ cho kẻ đó,
đáng nên làm y chỉ mà quư vị lại ngược ngạo chẳng y chỉ;
đó đều là lầm lỗi. Đáng nên cung kính mà chẳng
cung kính; chẳng nên cung kính mà quư vị lại ngược ngạo cung kính. Đấy
cũng là chẳng chánh xác.
Đối
với “mười ba lỗi”, trong Du Già Sư Địa
Luận nói “mười lăm loại lỗi”, [chẳng
hạn như] đáng nên làm kho tàng mà chẳng làm kho tàng; chẳng
đáng nên làm kho tàng, mà làm kho tàng. Đáng nên tu tập, mà quư
vị chẳng tu tập. Chẳng đáng nên học tập,
mà lại học tập. Có thể không cần giải thích
hai loại này. Đấy là mười ba lỗi. Do vậy,
nếu quư vị phạm các sai lầm ấy, sẽ chẳng
thể đạt tới đại từ đại bi.
Đại từ bi th́ phải nên như thế nào? Đối
với hết thảy chúng sanh, chẳng vứt bỏ, chẳng
có các lỗi lầm ấy. Nói cách khác, hễ có mười
ba thứ ấy, th́ là tu hữu
duyên từ. Các lỗi lầm ấy sẽ sanh ra ǵ? V́ cầu lợi
lạc cho chính ḿnh, chỉ nghĩ lợi lạc cho chính
ḿnh, chẳng lợi ích người khác. Bồ Tát th́
ngược lại. Bồ Tát có thanh danh to lớn, Ngài lợi
ích trọn khắp hết thảy chúng sanh. Ngài tu bất cộng
đại từ. “Bất cộng” là chẳng cùng
chung với Thanh Văn, Duyên Giác (tức là Thanh Văn và
Duyên Giác không thể có các phẩm đức ấy),
nhưng cùng chung với hết thảy những người
phát Bồ Đề tâm. Như vậy th́ tu môn này (Đại
Từ Đại Giáp Trụ Luân), sẽ chẳng
có các lỗi lầm ấy, “tâm trừ thập tam cấu”
(tâm trừ mười ba món cấu). Đối với “mười
ba cấu”, trong Phật Học Từ Điển có “thập
tứ cấu”, tôi đem mười bốn cấu ghép
lại, sẽ là “mười ba cấu”. [Theo Phật Học
Từ Điển], mười bốn cấu là Tứ Kết,
Tứ Xứ, và Lục Tổn Tài
Pháp[7],
gộp chung lại thành mười bốn món cấu.
Tứ
Kết là ǵ? Chính là Kết Sử. Chúng ta thường đọc
thấy [kinh luận nhắc đến] Kết Sử. Mấy
loại khúc mắc ấy, nếu quư vị chẳng thể
tháo gỡ được, chúng sẽ khiến cho quư vị
tạo tội. Mấy loại nào vậy? Chính là giết,
trộm, dâm, dối trong Ngũ Giới, đó là Tứ Kết
Sử. Bốn loại ấy là căn bản. Cho đến
khi thành Phật, mới đoạn tuyệt ngu si. Ngu si là
vô minh, [thành Phật mới] đoạn hết vô minh. Lại
c̣n có dục (ham muốn), khuể (恚, nóng giận), bố (怖, sợ hăi), si.
Trong hết thảy cảnh giới, khởi tham dục.
Trong hết thảy cảnh giới, dấy lên sân phẫn,
dấy lên khuể. Khuể có nghĩa là năo hại, cũng
là “tăng phẫn” (憎忿, chán ghét, phẫn
nộ), oán hận. Lại c̣n khủng bố (恐怖, kinh hoảng, sợ
hăi), đó là ngu si. Nếu chẳng phải là kẻ ngu si,
người ấy sẽ chẳng có tham dục, biết hết
thảy các pháp như mộng, huyễn, bọt, bóng. Người
ấy chẳng dấy lên tham dục, [v́ biết rơ] đó
là cảnh giới huyễn hóa, là gạt người. Có ái
th́ mới có khuể, chẳng có ái sẽ không có khuể,
cũng là chẳng có t́nh. Nếu đối với nhân loại
mà nói là vô t́nh, th́ dường như kẻ đó là động
vật máu lạnh, là vô t́nh. Đúng chưa? Chẳng
đúng! Động vật máu lạnh cũng có t́nh, động
vật máu lạnh hoàn toàn chẳng phải là không có t́nh.
Như loài cá là động vật máu lạnh, sống trong biển,
nó có t́nh cảm, đối với con cái do nó sanh ra, nó bảo
vệ, tức là có t́nh cảm!
“Vô
t́nh” có nghĩa là “đối với
hết thảy các pháp, đều chẳng chấp trước”. Có kẻ cho rằng Phật giáo đồ chúng ta hễ
tin theo Phật giáo, sẽ vô t́nh, chẳng cần đến
t́nh cảm nữa. Vợ, chồng, cha, mẹ ǵ cũng đều chẳng cần. Đó
là lời phê b́nh sai lầm, Phật chẳng vô t́nh. Người
học Phật chẳng phải là vô t́nh, mà là đặc biệt
trọng t́nh. Không chỉ đối riêng với một người
nào, [tức là chẳng phải] đối với cha mẹ,
vợ con bèn hữu t́nh, chẳng có t́nh cảm đối với
người khác. Chẳng phải vậy! Đối với
hết thảy chúng sanh, người ấy đều hữu
t́nh. “Đa t́nh năi Phật tâm” (nhiều t́nh cảm là
tâm Phật), người ấy sẽ cứu độ hết
thảy chúng sanh. Nhưng chữ T́nh ấy được
giải thích bất đồng. Người ấy có trí huệ,
chẳng chấp trước, chẳng dấy lên tham luyến.
Như thế th́ sẽ chẳng có các khuyết điểm!
C̣n
có cấu nhiễm, tức là kẻ thích uống rượu
sẽ lầm lỡ rất nhiều chuyện! V́ sao đức
Phật xếp giới uống rượu vào Ngũ Giới?
Tại Ấn Độ, đă phát sanh loại
chuyện như thế này: V́ uống rượu, phạm
tội dâm dục. V́ có sân hận, sợ bị kẻ
đó tố giác, liền giết người, bỏ trốn.
Chạy trốn, do chẳng có tiền, bèn trộm cắp, nói dối. V́ uống rượu,
mà toàn bộ “giết, tội, dâm, dối” đều
phạm. Trong giới kinh, có rất nhiều chuyện kiểu
này. Do vậy, xếp uống rượu vào Ngũ Giới,
nguyên nhân rất trọng yếu là ở chỗ này! Đặc
biệt là đối với Bồ Tát, giới cấm về
rượu cũng là căn bản. Bồ Tát không thể
bán rượu. Tội lỗi do bán rượu c̣n nặng hơn tội lỗi uống
rượu. Quư vị mê hoặc rất nhiều người,
tương đương với bán thuốc độc,
chuyện là như thế đó. Nhưng pháp luật quốc
gia chẳng chế tài, ngược lại c̣n cổ vũ
bán rượu. V́ sao cổ vũ? Thâu thuế, thuế
rượu rất lớn! Mặt khác là những niềm
vui phóng đăng, mê luyến. Chuyện này chia thành hai loại:
Mê luyến là như kỹ viện, các chỗ vui chơi. Chỗ
vui chơi là nơi phóng đăng. Đối với mười
bốn cấu ấy, tôi ghép lại thành mười ba cấu.
C̣n nữa, kết hợp với ác ngữ, sẽ dẫn
khởi quư vị làm rất nhiều chuyện xấu, sanh
ra lầm lỗi. C̣n có giải đọa (懈墮), tức là giải
đăi th́ nhất định sẽ đọa lạc. Khi quư vị giải đăi, hăy nghĩ quư vị
nhất định bị đọa lạc. Kinh Trường
A Hàm dạy như thế đó.
“Mười
ba oán” tức là “mười một thứ sân hận”, cộng thêm hai
điều nữa, sẽ là mười ba oán. Ác nghiệp
mạnh mẽ, điều ǵ mạnh mẽ? Khi nổi
nóng, sân tâm mạnh mẽ. Khi chẳng thể khống chế
lửa giận, sân tâm dấy lên, thứ ǵ cũng đều
chẳng quan tâm; thậm chí táng gia bại
sản, nước mất nhà tan đều có thể. Nếu
tâm sân hận xảy ra hết sức mạnh mẽ, hoặc
là bị năo loạn, hoặc bị người khác khuấy
động phiền năo, hoặc là ôm ḷng oán hận, kẻ
có oán cừu đối với ta, ta mong báo thù kẻ đó,
cho đến đối với thân thể này là “mười
ba oán”. “Hiện tướng” là trong sự oán hận
bèn hiện tướng ác, đó là “hiện tướng”.
“Độc hại” là dùng thuốc độc làm hại người khác. “Bất đoạn” là sân tâm chẳng thể
cắt đứt, tiếp nối chẳng ngừng!
“Thập
tam lực” (mười ba lực): Chuyên nói về các vị
Bồ Tát trong Tây Phương Tịnh Độ trọn
đủ mười ba loại lực, lại c̣n tự lợi
và lợi lạc người khác.
1)
Thứ nhất là Nhân Lực: Trong quá khứ, quư vị
đă có thể sanh về Tịnh Độ, tức là do sức
thiện căn của đời trước.
2)
Thứ hai là Duyên Lực, tức là sức dạy bảo của
thiện tri thức.
3)
Thứ ba là Ư Lực, tức như lư tác ư.
4)
Thứ tư là Nguyện Lực, tức là sức cầu Bồ
Đề, nguyện cầu Bồ Đề, phát nguyện
thành quả.
5)
Thứ năm là Phương Tiện Lực, hết thảy
phương tiện thiện xảo để tu tự lợi,
hoặc lợi ích người khác.
6)
Thứ sáu là Thường Lực, tức thường
nương theo Phật pháp để tu hành, sanh ra sức mạnh.
7)
Thứ bảy là Thiện Lực, tức sức chánh tu thiện
căn, chính là thiện nghiệp trong Thập Thiện Nghiệp.
8)
Thứ tám là Định Lực, tức sức tam-muội,
là tu Xa Ma Tha (Chỉ). Do tu Xa Ma Tha mà sanh ra sức mạnh.
9)
Thứ chín là Huệ Lực. Huệ Lực là do tu huệ,
do Huệ Quán thành tựu sanh ra sức mạnh.
10)
Thứ mười là Đa Văn Lực. Do đa văn
chánh pháp, do thường nghe th́ quư vị mới sanh khởi
trí huệ. Chẳng nghe, làm sao quư vị có thể hiểu rơ cho được?
Chẳng nghe, quư vị sẽ không hiểu rơ. Phải đa
văn! Do nghe pháp, sẽ sanh ra
chánh pháp, sẽ có một thứ sức mạnh gia tŕ quư vị.
Do sức mạnh ấy gia tŕ quư
vị, sẽ cảm thấy Phật ở ngay trước
mắt. Hễ giải đăi, Phật chẳng c̣n nữa,
sức mạnh ấy tiêu mất, sức mạnh
ấy rất xa! Tôi nghĩ mỗi
vị đạo hữu đều có cảm giác này: Trong khi quư vị lắng ḷng, hoặc là niệm
mười vạn tiếng, niệm một trăm vạn
tiếng, cảm giác Địa Tạng Bồ
Tát quả thật ở ngay trước mắt. Hoặc là
niệm A Di Đà Phật, A Di Đà Phật ở ngay
trước mắt. Hễ quư vị giải đăi, sức
mạnh ấy chẳng c̣n nữa! Có lúc rất xa, có khi rất gần, đó là sức
mạnh của chính ḿnh.
11)
Thứ mười một là tŕ giới, nhẫn nhục,
tinh tấn, Thiền Định, ghép bốn thứ này lại
th́ mới tạo thành sức mạnh.
12)
Thứ mười hai là Chánh Niệm. Chúng ta suốt ngày khởi
tâm động niệm, nhất định phải có ư niệm
chánh xác. Hễ khởi tâm động niệm, đều
là v́ lợi ích người khác, chẳng v́ cầu an lạc
cho chính ḿnh. Niệm ấy chính là niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng; đó đều
là chánh niệm. Trong ấy bao gồm chánh quán, “chư thông
minh lực” tức là thần thông, thành tựu chánh niệm.
Chánh quán Lục Thông, tam minh lực.
13)
Thứ mười ba là sức đúng pháp điều phục
chúng sanh, tức sức đúng pháp điều phục chúng
sanh ương ngạnh.
(Kinh)
Phục thứ thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát phục
hữu Đại Bi Đại Giáp Trụ Luân. Nhược
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân, tùng sơ phát tâm,
nhất thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn,
siêu thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền. Nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng, giai ưng cúng
dường, thừa sự, thủ hộ. Sở dĩ giả
hà? Nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác Thừa
đẳng, đản vị kỷ thân đắc lợi
lạc cố, nhi tu hành bi, bất
dục phổ vị nhất thiết hữu t́nh đắc
lợi lạc cố tu hành đại bi. Bồ Tát Ma Ha Tát
bất vị kỷ thân đắc lợi lạc cố tu
hành bi, đản dục phổ vị nhất thiết hữu
t́nh đắc lợi lạc cố tu hành đại bi. Thị
cố, Bồ Tát thành tựu Đại Bi Đại Giáp Trụ
Luân, siêu thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác, phổ vị nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác tác đại phước điền. Nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng giai ưng
cúng dường, thừa sự, thủ hộ.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,復有大悲大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。所以者何?一切聲聞、獨覺乘等,但為己身得利樂故而修行悲,不欲普為一切有情得利樂故修行大悲;菩薩摩訶薩,不為己身得利樂故而修行悲,但欲普為一切有情得利樂故修行大悲。是故,菩薩成就大悲大甲冑輪,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có
Đại Bi Đại Giáp Trụ Luân. Nếu Bồ Tát Ma
Ha Tát thành tựu luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy
ngũ dục đều có thể đoạn trừ,
vượt xa hết thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́
khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác làm ruộng
phước lớn. Hết thảy hàng Thanh Văn, Độc
Giác đều nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ.
V́ cớ sao vậy? Hết thảy Thanh Văn, Độc
Giác Thừa chỉ v́ bản thân được lợi lạc
mà tu hành ḷng Bi, chẳng muốn v́ khắp hết thảy hữu
t́nh được lợi lạc mà tu hành đại bi. Bồ
Tát chẳng v́ chính ḿnh được lợi lạc mà tu
hành ḷng Bi, chỉ muốn
v́ khắp hết thảy hữu t́nh được lợi
lạc mà tu hành đại bi. Do vậy, Bồ
Tát thành tựu Đại Bi Đại Giáp Trụ Luân,
vượt hơn hết thảy Thanh Văn, Độc
Giác, v́ khắp hết thảy Thanh Văn, Độc Giác
làm ruộng phước lớn. Hết thảy hàng Thanh
Văn, Độc Giác Thừa đều nên cúng dường,
thừa sự, thủ hộ).
Hàng
Nhị Thừa tu bi tâm là v́ chính ḿnh có lợi, chỉ v́
chính ḿnh đạt được lợi ích mà tu hành ḷng Bi
như vậy. Do đó, bi tâm chẳng trọn khắp. Chúng
ta thường nói “thương xót người khác”,
hoặc đối với sự việc, hoặc đối
với người nào đó mà hành đại bi, chẳng muốn
v́ trọn khắp hết thảy hữu t́nh được
lợi ích mà tu hành đại bi. Chỉ v́ chính ḿnh cầu
yên vui, chẳng v́ chúng sanh được ĺa khổ, như
thế th́ sẽ chẳng
thể lợi ích trọn khắp hết thảy chúng sanh.
Thực hành đại bi như thế, khi người ấy
tu pháp, nơi dụng tâm sẽ có hai loại bất đồng.
V́ vậy, chúng ta làm một chuyện chi đó, phải khéo dụng tâm. Văn Thù Bồ
Tát dạy chúng ta khéo dùng cái tâm, tùy thuộc quư vị quán chiếu
như thế nào? Chuyện giống nhau, quư vị dùng một
đồng để cúng dường bố thí, [thế
mà] công đức vô lượng vô biên; kẻ khác dùng một
vạn đồng để bố thí cúng dường,
công đức bé tí tẹo! Nguyên nhân ǵ vậy? Dụng tâm bất
đồng! Phải khéo dùng cái tâm, tùy thuộc quư vị thấy
như thế nào, làm như thế nào?
Mỗi
việc đều có hai loại tướng mạo: Quư vị làm đúng,
công đức vô lượng; làm trái nghịch, lỗi
hại cũng vô biên! Ta thường cho rằng giết
người, phóng hỏa, là tội ác, nhưng Bồ Tát có
lúc v́ muốn lợi ích đa số chúng sanh, đối với
kẻ năo hại chúng sanh ấy, Ngài chẳng ngăn trở
được, sẽ có thể giết phăng kẻ ấy,
hoặc là nổi lửa thiêu chết hắn. Chỉ v́ lợi
ích nhiều chúng sanh, Bồ Tát chẳng sợ khổ. Đối
với chúng sanh ấy, Bồ Tát vẫn phải nợ mạng
của hắn; về sau c̣n phải
hóa độ hắn. Bất luận
thuận hay nghịch, Bồ Tát đều là tâm đại
bi, v́ điểm xuất phát của Ngài là đại
bi tâm, cho nên là ḷng đại
bi. Chỉ cần không v́ chính ḿnh mà cầu an lạc, khiến
cho chúng sanh ĺa khổ; Bồ Tát thành tựu Đại Bi Đại Giáp Trụ
Luân như thế, liền vượt xa hết thảy Thanh
Văn, Độc Giác, khắp v́ hết thảy Thanh Văn,
Độc Giác làm ruộng phước lớn cho họ. Họ có thể cầu
phước báo từ nơi Bồ Tát.
(Kinh) “Thị Bồ Tát Ma Ha
Tát phổ vị nhiêu ích chư hữu t́nh cố,
hành Tứ Nhiếp Sự nhi thành thục chi, vị do đại
bi phổ vị lợi lạc chư hữu t́nh cố, hành Bố Thí
Nhiếp, năng xả nhất thiết trân bảo tài vật,
cầm thú, bộc sử, quốc thành, thê tử, năi chí thân
mạng, vô sở lận tích, hành vô sở đắc vi
phương tiện cố, bất kiến nhất thiết
sở hóa hữu t́nh, bất kiến thí giả, bất kiến
thọ giả, bất kiến thí vật, bất kiến
thí hạnh, bất kiến thí hạnh sở đắc quả
báo, năi chí bất kiến vô sở đắc hạnh.
Như thị đại bi, phổ vị lợi lạc
chư hữu t́nh cố, hành Ái Ngữ Nhiếp, hành Lợi
Hành Nhiếp, hành Đồng Sự Nhiếp, tùy kỳ sở
ưng, như thượng quảng thuyết, năi chí bất
kiến vô sở đắc hành. Thị Bồ Tát Ma Ha Tát
thường dĩ tối thắng năng điều phục
tâm, năng tịch tĩnh tâm, vô số lượng tâm, bất
hành nhất thiết Uẩn, Xứ, Giới tâm, sở sanh
vô động, vô trụ, Đại Bi Đại Giáp Trụ
Luân, thành thục nhất thiết sở hóa hữu t́nh, tâm
vô yếm quyện. Như thị danh vi Bồ Tát Đại
Bi Đại Giáp Trụ Luân, bất cộng nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác. Thiện nam tử! Nhược
Bồ Tát Ma Ha Tát thành thử Đại Bi Đại Giáp Trụ
Luân, tùng sơ phát tâm, nhất thiết ngũ dục giai
năng trừ đoạn, đắc danh Bồ Tát Ma Ha Tát
dă, siêu thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác, phổ vị nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác tác đại phước điền. Nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng giai ưng
cúng dường, thừa sự, thủ hộ”. Nhĩ thời, Thế Tôn trùng
hiển thử nghĩa, nhi thuyết tụng viết: “Thậm thâm vi diệu pháp, sở thành chi đại
bi, nan trắc loại hư không, vô sắc, vô an trụ. Bồ
Tát đại tinh tấn, cụ đỗ-đa công đức,
thắng trí thành đại bi, dũng kiện siêu chư thế.
Vô y hỗ hữu t́nh, sanh tử khổ uế phược,
đại bi thủy mộc dục, linh giải thoát chúng
khổ. Bồ Tát hành đại bi, năng kiệt sanh tử
hải, phi chư Thanh Văn chúng, cập Độc Giác sở
hành. Chúng sanh tham, khuể, si, mê mậu đọa ác thú, trạc
dĩ đại bi thủy, thoát khổ đắc tiêu nhiên”.
(經)是菩薩摩訶薩普為饒益諸有情故,行四攝事而成熟之。謂由大悲,普為利樂諸有情故,行佈施攝,能舍一切珍寶財物、禽獸、僕使、國城、妻子乃至身命,無所吝惜;行無所得為方便故,不見一切所化有情,不見施者,不見受者,不見施物,不見施行,不見施行所得果報,乃至不見無所得行。如是大悲,普為利樂諸有情故,行愛語攝,行利行攝,行同事攝,隨其所應,如上廣說,乃至不見無所得行。是菩薩摩訶薩常以最勝能調伏心、能寂靜心、無數量心、不行一切蘊處界心,所生無動無住大悲大甲冑輪,成熟一切所化有情,心無厭倦。如是名為菩薩大悲大甲冑輪,不共一切聲聞、獨覺。善男子,若菩薩摩訶薩成此大悲大甲冑輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,得名菩薩摩訶薩也!超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。爾時,世尊重顯此義,而說頌曰:甚深微妙法,所成之大悲,難測類虛空,無色無安住。菩薩大精進,具杜多功德,勝智成大悲,勇健超諸世。無依怙有情,生死苦穢縛,大悲水沐浴,令解脫眾苦。菩薩行大悲,能竭生死海,非諸聲聞眾,及獨覺所行。眾生貪恚癡,迷謬墮惡趣,濯以大悲水,脫苦得蕭然。
(Kinh:
“Vị Bồ Tát
Ma Ha Tát ấy v́ lợi ích trọn
khắp các hữu t́nh mà hành Tứ Nhiếp Sự để
thành thục họ, tức là do
đại bi lợi lạc trọn khắp các hữu t́nh,
nên hành Bố Thí Nhiếp, có thể xả hết thảy
tài vật quư báu, cầm thú, tôi tớ, quốc thành, thê tử,
vợ con, cho đến thân mạng chẳng hề tiếc
nuối. Do hành “không có ǵ đạt được” để
làm phương tiện, chẳng thấy hết thảy hữu
t́nh được hóa độ, chẳng thấy người
thí, chẳng thấy người nhận, chẳng thấy
vật được thí, chẳng thấy hạnh bố
thí, chẳng thấy quả báo đạt được
do bố thí, cho đến chẳng thấy hạnh “không có
ǵ để đạt được”. Đại bi
như thế v́ lợi lạc trọn khắp các hữu
t́nh mà hành Ái Ngữ Nhiếp, hành Lợi Hành Nhiếp, hành
Đồng Sự Nhiếp, tùy theo lẽ đáng nên, như
trong phần trước đă rộng nói, cho đến chẳng
thấy hạnh “không có ǵ để đạt được”.
Vị Bồ Tát ấy thường dùng cái tâm có thể
điều phục tối thắng, tâm có
thể tịch tĩnh, tâm chẳng có số lượng,
tâm chẳng hành hết thảy Uẩn, Xứ, Giới, sanh
ra Đại Bi Đại Giáp Trụ Luân chẳng động,
chẳng trụ, thành thục hết thảy hữu t́nh
được hóa độ mà tâm chẳng chán mệt.
Như thế gọi là Đại Bi Đại Giáp Trụ
Luân của Bồ Tát, chẳng cùng chung với hết thảy
Thanh Văn, Độc Giác. Này thiện nam tử! Nếu Bồ
Tát Ma Ha Tát thành tựu Đại Bi Đại Giáp Trụ
Luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy ngũ dục
đều có thể đoạn trừ, được gọi
là Bồ Tát Ma Ha Tát, vượt hẳn hết thảy Thanh
Văn, Độc Giác, v́ khắp hết thảy Thanh Văn,
Độc Giác làm ruộng phước to lớn. Hết thảy
hàng Thanh Văn, Độc Giác Thừa đều nên cúng
dường, thừa sự, thủ hộ”. Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn hiển thị lại nghĩa này, bèn
nói kệ tụng rằng: - Pháp vi diệu rất sâu, thành tựu
ḷng đại bi, khó lường dường hư không, vô
sắc, chẳng an trụ. Bồ Tát đại tinh tấn,
trọn công đức đầu-đà, thắng trí thành
đại bi, mạnh mẽ vượt thế gian. Hữu
t́nh không nương tựa, sanh tử khổ dơ, trói.
Nước đại bi tắm gội, khiến giải
thoát các khổ. Bồ Tát hành đại bi, cạn khô biển
sanh tử. Các Thanh Văn, Độc Giác, chẳng thể
hành hạnh này. Chúng sanh tham, giận, si, mê lầm đọa
nẻo ác, nước đại bi gột rửa, thoát khổ,
được an nhiên).
Bồ
Tát v́ lợi ích các hữu t́nh, bèn hành Tứ Nhiếp Pháp,
khiến cho các chúng sanh và các hữu t́nh đă thành thục
đều được thành tựu, ĺa khổ,
được vui. “Vị do đại bi phổ vị
lợi lạc chư hữu t́nh cố, hành Bố Thí Nhiếp”
(tức là do đại bi lợi lạc
trọn khắp các hữu t́nh mà hành Bố Thí Nhiếp): Bố
thí là xả vật chất, hoặc là nội thí, ngoại
thí, hoặc xả thân thể, v́ làm cho những
người khác được lợi ích. Có thể
xả các vật chất ǵ? Hết thảy “trân bảo,
tài vật, cầm thú, bộc sử” (vật quư, tài vật,
chim thú, tôi tớ): “Cầm thú” [ở đây] là nói tới
những con vật quư vị yêu thích, như vẹt, bát ca
(nhồng), đều là những con vật được
ưa thích nhất. Đó là hàng tại gia Bồ Tát. Cầm
thú, người hầu, đầy tớ, cho đến quốc
gia, quốc thành, vợ con của chính ḿnh đều có thể
xả. Thậm chí tự thân “vô sở lận tích” (chẳng
hề keo tiếc), chẳng tiếc rẻ. “Tiếc rẻ”
nghĩa là không xả được. Đối với bất
cứ sự vật nào nơi bản
thân hay ngoài thân, cho đến tất cả hết thảy,
Ngài đều có thể xả; nhưng khi xả,
Ngài chẳng cầu quả. Do vậy, chẳng có người
nhận, chẳng có kẻ thí, cho đến chẳng thấy quả báo đạt được
do bố thí. Ta xả như vậy, trong tương lai sẽ
đạt được quả báo ǵ? Chẳng có quả
báo, chẳng chấp trước quả báo, chẳng tham cầu quả báo, xả như thế đó. Ở đây, có
một vấn đề: Thời đức Phật thuyết
pháp, vợ con thuộc quyền sở hữu của chính
ḿnh, giống như một phần tài sản. Nhưng hiện thời, chú trọng b́nh
đẳng, cô ta có tự do, có quyền lợi của chính
ḿnh, ta xả cô ta cho ai? Chẳng thể được! Hiện
thời chẳng thể được! Vợ muốn thí
xả chồng, cũng chẳng thể. Quư vị nói: “Tôi
đem chồng thí xả cho ông để dùng anh ta làm nô lệ”.
Chồng sẽ chẳng nghe lời quư vị. Đấy là
nói theo t́nh h́nh xă hội trong quá khứ.
Vị
ấy xả thân thể hay tài vật của
chính ḿnh, đó là một phần của chính ḿnh, có thể
xả bất cứ lúc nào. Hiện thời, xả quốc
thành, thê tử, có người hỏi: “Tôi làm quốc
vương, tôi tính xả”. Quư vị mong xả, các đại
thần của quư vị có đồng ư hay không? Quư vị
buông xả, chánh phủ chẳng đồng ư. Hiện thời,
Tổng Thống nói: “Tôi xả!” Quư vị buông xả ngôi vị
Tổng Thống, hai viện Tham Chúng (Thượng Viện
và Hạ Viện Quốc Hội) vẫn chưa thông qua, quư vị chẳng xả được! Vấn đề
này nh́n theo một phương diện khác, nói theo nội tâm. Khi Bồ Tát hành đạo, trong tâm Ngài nghĩ
như thế này: “Phàm những ǵ
tâm ta tham ái, đối với bất luận thứ ǵ đều chẳng tham, chẳng
ái. Hết thảy
đều có thể xả, cũng chẳng keo tiếc ǵ!” Đó gọi là phương tiện thiện xảo; nhưng lúc xả, hoàn
toàn chẳng thấy ta là người có thể xả,
cũng chẳng thấy có người nhận bố thí. Hễ c̣n có vật phẩm
do ta thí, hễ c̣n có [ư niệm] “ta hành bố thí là do hành đại
bi tâm, hành Bồ Tát đạo. Sau khi ta
đă thí, trong vị lai đạt được quả báo ǵ”; nếu suy
xét, bận tâm những điều đó, th́ cũng chẳng
thành bậc đại bi Bồ Tát.
Khiến
cho ḷng đại bi như thế, “phổ vị lợi
lạc chư hữu t́nh cố, hành Ái Ngữ Nhiếp” (v́ lợi lạc trọn khắp các hữu t́nh
mà hành Ái Ngữ Nhiếp). Mọi người đều biết
Ái Ngữ (愛語) là nói lời êm tai, đừng nói những lời khiến
cho kẻ khác phiền năo. Trung Hoa có câu cách ngôn: “Thuận
t́nh thuyết hảo thoại” (順情說好話), nghĩa là thuận theo t́nh cảm của người
ta mà nói lời tốt đẹp, sẽ khiến cho người
ta vui mừng. “Ác ngữ thảo nhân hiềm” (惡語討人嫌), nghĩa là quư vị nói lời trái khoáy với người
khác, người ta nghe rồi chán ghét quư vị, chẳng muốn tiếp xúc quư
vị, rất ít nói chuyện với quư vị. Phải chú ư
điều này, phải khiến cho người khác hoan hỷ,
nhưng quư vị cũng chớ nên trái nghịch ư Tam Bảo.
Nói lời ái ngữ, nhất định phải chứa
đựng tâm xuất ly. Chẳng hạn như nói về
mối quan hệ giữa hai giới tánh, quư vị nói lời
dễ nghe, khiến cho họ hoan hỷ: “Tôi có thể
giúp anh kiếm được bạn gái, tôi giúp chị kiếm
bạn trai”. Nói như vậy là không được, ngay khi
ấy, quư vị đă phạm giới. Do đó, trong dâm giới
có rất nhiều vấn đề [quư vị phải hết
sức chú ư]. Nếu giảng giải theo từng giới
điều, quư vị sẽ [nhận thấy chính ḿnh]
đă vô ư phạm rất nhiều. Chẳng qua [những
điều đă phạm] chẳng phải là căn bản!
V́ sao sau khi xuất gia phải học giới năm
năm? V́ nếu chẳng học, quư vị chẳng biết,
sẽ tùy ư nhất cử, nhất động đều
phạm giới.
C̣n
có chuyện làm lợi ích người khác bằng Đồng Sự và Lợi Hành, làm chuyện
hữu ích cho người khác, nhiếp thọ người
khác như vậy. Quư vị giúp người ta làm việc,
đương nhiên là người ta hoan hỷ. Quư vị lại
chẳng đ̣i trả công, giúp đỡ người khác
mà chẳng mong cầu ǵ, ai nấy đều cao hứng.
Nhưng quư vị tùy ư làm, cũng là do cái tâm đại bi của
quư vị lưu lộ, hoặc là trong khi người khác
hành động chẳng thuận tiện, quư vị nâng đỡ họ, hoặc
khi họ vác nặng, vác chẳng nổi, quư vị giúp
đỡ họ đôi chút. Những chuyện ấy đều
gọi là Lợi Hành, phải làm chuyện có lợi cho
người khác.
“Tùy
kỳ sở ưng, như thượng quảng thuyết,
năi chí bất kiến vô sở đắc hạnh. Thị Bồ Tát Ma Ha
Tát, thường dĩ tối thắng, năng điều
phục tâm, năng tịch tĩnh tâm, vô số lượng
tâm, bất hành nhất thiết Uẩn, Xứ, Giới tâm,
sở sanh vô động vô trụ Đại Bi Đại
Giáp Trụ Luân” (Tùy theo lẽ đáng
nên, như đă nói rộng trong phần trên, cho đến
chẳng thấy có hạnh để đạt được
ǵ. Vị Bồ Tát Ma Ha ấy Tát thường dùng cái
tâm tối thắng, có thể điều phục, tâm có thể
tịch tĩnh, tâm chẳng có
số lượng, tâm chẳng hành
hết thảy Uẩn, Xứ, Giới, sanh khởi vô động
vô trụ Đại Bi Đại Giáp Trụ Luân): Đấy
là Ngài quán tưởng. Bồ Tát Ma Ha Tát có thể điều
phục cái tâm của chính ḿnh, chẳng trụ vào Sắc,
Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, chẳng ở trong hết
thảy tướng cảnh giới mà sanh tâm. Sanh tâm ǵ vậy?
“Vô trước tâm” (tâm không chấp trước), “vô
động tâm”, “năng tịch tĩnh tâm” (tâm có thể tịch tĩnh). “Chẳng có
số lượng” có nghĩa là chẳng tính toán, so
đo. Chẳng hành hết thảy Ngũ Uẩn, mười
hai Xứ, mười tám Giới, thứ ǵ cũng đều
chẳng có! Hết thảy Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành, Thức, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, bao gồm cả Nhăn Thức, Nhĩ Thức,
Tỵ Thức, Thiệt Thức, Thân Thức, và Ư Thức. Đó gọi là mười tám giới. Mọi người
hăy ngẫm xem, ĺa khỏi những
thứ ấy th́ c̣n có ǵ? Thứ ǵ cũng đều không
có. Cái được sanh ra là ǵ? Đó chính là Đại Bi
Đại Giáp Trụ Luân. Đấy là “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên không trụ vào đâu mà
sanh tâm). Tâm đại bi sanh ra như thế đó. Kinh Kim Cang dạy: “Bất
trụ Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp sanh tâm,
ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (Chẳng trụ
vào Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp mà sanh tâm, hăy nên
không trụ vào đâu mà sanh tâm). Cái tâm ấy gọi là tâm
ǵ? Vô tâm! “Đạo nhân
vô tâm” chính là thành tựu rốt ráo.
“Nhĩ
thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi thuyết
tụng viết: - Thậm thâm vi diệu pháp, sở thành chi
đại bi” (Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn
hiển thị lại nghĩa này, bèn nói kệ tụng rằng:
“Pháp vi diệu rất sâu, thành tựu tâm đại bi”). “Pháp vi diệu rất sâu” là
ǵ? Chính là đại bi luân, đó là pháp vi diệu rất
sâu. Thế nào là đạt tới cảnh giới rất
sâu? Chẳng có người bố thí, mà cũng chẳng có
vật được thí, cũng chẳng người nhận
thí, cũng chẳng có pháp để thực hiện bố
thí, hết thảy đều là Không. Cái Không ấy là Chân
Không. Trong kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, Thật Tướng
là Chân Như, là cái Không như thế đó, nhưng chẳng
phải là rỗng tuếch, ta có thể chẳng làm ư? Bồ
Tát thường hành đại bi bố thí như thế
đó, nhưng thường
luôn là Không như thế đó. “Nan trắc loại hư không” (Khó ḍ lường
giống như hư không): Đạo lư này nếu chỉ dùng suy đoán, sẽ chẳng thể ḍ lường
được! Ai có thể ḍ lường bờ mé của
hư không? Đo lường hư không, [sẽ nhận biết]
chẳng có cách nào trắc lượng. “Vô sắc, vô an trụ”:
Không có h́nh sắc để có thể đạt được,
cũng chẳng an trụ tại nơi đó. Vô xứ sở,
vô sắc tướng, quư vị làm sao ḍ lường
được? Đó là đại tinh tấn của Bồ
Tát.
“Cụ
đỗ-đa công đức” (trọn đủ công
đức đầu-đà): Hết thảy trần cấu đều đă trừ
sạch rồi, công đức ấy “thắng trí thành
đại bi” (trí huệ thù thắng trở thành đại
bi): Dùng trí huệ thù thắng để thành tựu đại
bi luân. “Dũng kiện
siêu chư thế” (mạnh mẽ vượt
ngoài các thế gian): Luân ấy rất dũng mănh. V́ sao? Là
Không! Dũng mănh cũng là Không. Những điều vừa
nói trên đây đều là Không, Không mà chẳng
trở ngại Hữu. Cho nên, Bồ Tát có Diệu Hữu
sanh ra đại bi, ḷng đại bi ấy chẳng thể
nghĩ bàn. “Vô y hỗ hữu t́nh” tức là hữu
t́nh không có nơi nương tựa, chẳng có ai chiếu
cố, Bồ Tát sẽ chiếu cố họ. Ở trong “sanh
tử khổ uế phược” (sanh tử khổ sở,
nhơ uế, trói buộc này), chịu nỗi khổ sanh tử,
ô uế, bất tịnh,
bị hết thảy các nghiệp trói buộc. Bồ Tát có
thể dùng nước đại bi để tắm gội,
tẩy rửa sạch sẽ, giải thoát hết thảy
các khổ nạn.
“Bồ
Tát hành đại bi, năng kiệt sanh tử hải, phi
chư Thanh Văn chúng, cập Độc Giác sở hành”
(Bồ Tát hành đại bi, khô cạn biển sanh tử,
Thanh Văn và Độc Giác, chẳng thể hành pháp này):
Tâm đại từ bi của Bồ Tát có thể khiến
cho hết thảy chúng sanh khô cạn biển sanh tử,
hàng Thanh Văn và Độc Giác chẳng thể làm
được điều này. “Chúng sanh tham, khuể, si”
tức là tham, sân, si [của chúng sanh]. “Mê mậu đọa
ác thú” (do mê lầm mà đọa vào nẻo ác): Đọa
vào ba ác đạo.
“Trạc dĩ đại bi thủy, thoát khổ đắc
tiêu nhiên” nghĩa là dùng nước đại bi gột
rửa như thế, sẽ được thanh tịnh.
Đấy là đại bi luân.
(Kinh)
Phục thứ, thiện nam tử! Bồ
Tát Ma Ha Tát, phục hữu năng dẫn biến măn hư
không vô lượng, vô biên quảng đại chúng cụ Từ
Vô Ngại Giải nhất thiết Phật pháp chư
tam-ma-địa, chư đà-la-ni, kiên cố
Đại Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân. Nhược
Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân, tùng sơ phát tâm,
nhất thiết ngũ dục giai năng trừ đoạn,
siêu thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác, phổ
vị nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác tác đại
phước điền, nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác Thừa đẳng giai ưng cúng dường, thừa
sự, thủ hộ.
(經)復次,善男子,菩薩摩訶薩,復有能引徧滿虛空、無量無邊、廣大眾具、辭無礙解、一切佛法、諸三摩地、諸陀羅尼、堅固大忍大甲冑輪。若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Bồ Tát Ma Ha Tát lại có
Đại Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân kiên cố, có
thể dẫn khởi vô lượng vô biên các thứ Từ
Vô Ngại Giải đối với hết thảy Phật
pháp, các thứ tam-ma-địa, các đà-la-ni rộng lớn
trọn khắp hư không. Nếu Bồ Tát thành tựu
luân này, từ sơ phát tâm, hết thảy ngũ dục
đều có thể đoạn trừ, vượt hẳn
hết thảy Thanh Văn, Độc Giác, v́ khắp hết
thảy Thanh Văn và Độc Giác làm đại phước
điền, hết thảy Thanh Văn và Độc Giác
đều nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ).
Đây
là h́nh dung Đại Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân,
nhưng trước đó lại có thêm hàm nghĩa nhiều
ngần ấy, các ư nghĩa ấy
rất sâu, ở đây chỉ nêu danh từ mà thôi. Đó
đều là chuyện tu hành của
bậc Bồ Tát từ Thập Địa trở lên. Các
Ngài có thể từ loại Đại Nhẫn này mà dẫn
khởi [các pháp đó] trọn khắp hư không. Hư
không vô cùng, vô tận, vô lượng, vô biên, rộng lớn, trọn đủ các thứ. Tận hư không, khắp pháp giới
đều là công cụ để thành Phật của quư vị.
“Quảng đại chúng cụ” (trọn đủ
các thứ rộng lớn), trọn đủ ǵ vậy? Cái
nhân thành Phật. Quư vị nhất định phải thừa
nhận đạo lư này. Thừa nhận là Nhẫn, chẳng
phải là nói tới Nhẫn Nhục! Nhẫn ở đây
là “tán thành, công nhận”. Tất cả hết thảy
ngôn từ, ngôn ngữ, văn tự chỉ là lời lẽ
nói ra. Trong từ ngữ, bao hàm Từ Vô Ngại Giải, có
nghĩa là “có thể tuyên dương hết thảy Phật
pháp”. Đối với hết thảy Phật pháp, chẳng
bị chướng ngại, sanh ra vô thượng diệu
huệ. Như vậy th́ mới có thể thừa nhận.
Trụ trong tam-ma-địa là hết thảy Tĩnh Lự,
hết thảy tam-muội, “chư đà-la-ni” là Tổng
Tŕ, “tổng hết thảy các pháp, tŕ vô lượng
nghĩa”. Loại thành tựu Đại Nhẫn Đại
Giáp Trụ Luân này so với Đại Giáp Trụ Luân của
hết thảy Thanh Văn, Độc Giác th́ vượt hơn
bọn họ, bọn họ không biết, mà cũng chẳng
cầu.
Cho
nên Thanh Văn, Độc Giác vừa nghe nói Phật đạo
lâu dài như vậy, trong đầu họ sẽ sanh ra [ư niệm] khiếp sợ,
thoái chuyển. Họ thấy độ chúng sanh khổ quá!
Họ thấy chúng sanh là có thật, thấy hết thảy
các pháp đều là thật sự có, quán chiếu chính ḿnh
vô ngă, tự trở thành trống không, nhưng họ chẳng
thể biết chúng sanh và họ như nhau, hết thảy
đều là không. Do vậy, chẳng có đại bi, mà
cũng chẳng có đại nhẫn. V́ thế, Bồ Tát
vừa phát tâm, đă có thể vượt xa Thanh Văn. Duyên
Giác, có thể làm ruộng phước lớn cho hết thảy
Thanh Văn và Độc Giác.
(Kinh)
Vân hà Bồ Tát Ma Ha Tát năng dẫn biến măn hư không, vô lượng, vô
biên quảng đại chúng cụ, Từ Vô Ngại Giải, nhất thiết
Phật pháp, chư
tam-ma-địa, chư đà-la-ni kiên cố Đại Nhẫn
Đại Giáp Trụ Luân? Vị chư Bồ Tát ư nhất
thiết pháp, thẩm đế chiếu sát, như minh nguyệt
quang biến măn hư không. Kỳ tâm b́nh đẳng, vô y, vô
tướng, vô trụ, vô nhiễm, phổ ư nhất thiết
tam-ma-địa môn, đà-la-ni môn, tâm vô hành động. Ư chư nhăn sắc, nhăn thức,
nhăn xúc, ly ư nhiễm trước, tâm vô hành động.
Ư nhăn xúc duyên, sanh nội tam
thọ, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc phi khổ
lạc, tâm thường tịch định, vô sở thủ
trước. Ư chư nhĩ thanh, nhĩ thức, nhĩ
xúc, ư chư tỵ hương, tỵ thức, tỵ
xúc, ư chư thiệt vị, thiệt thức, thiệt
xúc, ư chư thân xúc, thân thức, thân xúc, ư chư ư
pháp, ư thức, ư xúc, quảng thuyết diệc nhĩ. Phổ
ư nhất thiết tâm ư thức trung,
tâm thường tịch định, vô sở thủ
trước. Ư tâm ư thức sở sanh tam thọ, hoặc
lạc, hoặc khổ, hoặc phi khổ lạc, tâm
thường tịch định, vô sở thủ trước.
Phổ ư tam thế chư Uẩn, Giới, Xứ,
nhất thiết phẩm loại, giai vô thủ trước,
tâm vô hành động. Phổ ư nhất thiết tam giới,
tam hạnh, tam xúc, tam thọ, tam căn, tam thừa, Tam Luật
Nghi, Tam Giải Thoát, nhất thiết phẩm loại, kỳ
tâm tịch tĩnh, vô trụ, vô tướng, vô sở thủ
trước, b́nh đẳng nhi trụ.
Phổ ư nhất thiết bố thí, tịnh giới, an
nhẫn, tinh tấn, Tĩnh Lự, Bát Nhă Ba La Mật
Đa, tâm vô hành động, tịch tĩnh nhi trụ.
Như thị phổ ư Tứ Niệm Trụ, Tứ
Chánh Đoạn, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực,
Thất Đẳng Giác Chi, Bát Thánh Đạo Chi, tâm vô hành
động, tịch tĩnh nhi trụ. Phổ ư nhất
thiết Cửu Thứ Đệ Định, tâm vô hành
động, tịch tĩnh nhi trụ. Hựu ư tam hạnh
vô chướng pháp trí đạo chi, đạo thể sở
dẫn tác dụng, giai vô thủ trước, tâm vô hành
động. Ư A Lại Da, phi A
Lại Da, hữu thủ, vô thủ, hữu lậu, vô lậu,
thử ngạn, bỉ ngạn, tiểu đại vô lượng,
tác dữ bất tác, thiện, ác, vô kư, chư phẩm loại
trung, tâm vô hành động, tịch tĩnh nhi trụ. Phổ
ư nhất thiết đại từ, đại bi, thiện xảo phương tiện
thành thục hữu t́nh, năi chí Thập Địa, tam bất
hộ, tứ vô sở úy, năi chí thập bát bất cộng
Phật pháp, nhất thiết phẩm loại, giai vô thủ
trước, tâm vô hành động, tịch tĩnh nhi trụ.
(經)云何菩薩摩訶薩能引徧滿虛空、無量無邊、廣大眾具、辭無礙解、一切佛法、諸三摩地、諸陀羅尼、堅固大忍大甲冑輪?謂諸菩薩,於一切法審諦照察,如明月光徧滿虛空,其心平等,無依無相,無住無染;普於一切三摩地門、陀羅尼門,心無行動;於諸眼色、眼識、眼觸,離意染著,心無行動;於眼觸緣,生內三受,或樂、或苦、或非苦樂,心常寂定,無所取著;於諸耳聲、耳識、耳觸,於諸鼻香、鼻識、鼻觸,於諸舌味、舌識、舌觸,於諸身觸、身識、身觸,於諸意法、意識、意觸,廣說亦爾,普於一切心意識中,心常寂定,無所取著;於心意識,所生三受,或樂、或苦、或非苦樂,心常寂定,無所取著;普於三世諸蘊、界、處,一切品類皆無取著,心無行動;普於一切三界、三行、三觸、三受、三根、三乘、三律儀、三解脫,一切品類,其心寂靜,無住無相,無所取著,平等而住;普於一切佈施、淨戒、安忍、精進、靜慮、般若波羅密多,心無行動,寂靜而住;如是普於四念住、四正斷、四神足、五根、五力、七等覺支、八聖道支,心無行動,寂靜而住;普於一切九次第定,心無行動,寂靜而住;又於三行無障法智道支,道體所引作用,皆無取著,心無行動;於阿賴耶、非阿賴耶,有取、無取,有漏、無漏,此岸、彼岸,小大無量,作與不作,善、惡、無記,諸品類中,心無行動,寂靜而住;普於一切大慈大悲,善巧方便,成熟有情,乃至十地、三不護、四無所畏,乃至十八不共佛法,一切品類皆無取著,心無所動,寂靜而住。
(Kinh: Thế nào là
Đại Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân kiên cố có
thể dẫn khởi vô lượng vô biên trọn đủ
các thứ Từ Vô Ngại Giải đối với hết
thảy Phật pháp, các tam-ma-địa, các đà-la-ni rộng
lớn trọn khắp hư không? Tức là các Bồ Tát
đối với hết thảy các pháp, suy xét, chiếu
soi kỹ càng, như quang minh của vầng trăng sáng trọn
khắp hư không. Tâm Ngài b́nh đẳng, chẳng
nương tựa, vô tướng, vô trụ, vô nhiễm,
trọn khắp hết thảy các tam-ma-địa môn và đà-la-ni
môn, tâm chẳng hành động. Đối với các sắc
thấy bởi mắt, nhăn thức, nhăn xúc, ĺa ư đắm
nhiễm, tâm chẳng hành động. Đối với
nhăn xúc duyên sanh ba thứ cảm thọ bên trong, hoặc lạc,
hoặc khổ, hoặc chẳng khổ lạc, tâm thường
tịch định, chẳng chấp giữ ǵ. Đối
với các tiếng nghe bởi tai, nhĩ thức, nhĩ
xúc, đối với các thứ mùi ngửi bởi mũi,
tỵ thức, tỵ xúc, đối với các vị nếm
bởi lưỡi, thiệt thức, thiệt xúc, đối
với các sự đụng chạm nơi thân, thân thức,
thân xúc, đối với các pháp tiếp nhận bởi ư,
ư thức, ư xúc, nói rộng th́ cũng đều như thế.
Trong khắp hết thảy tâm, ư, thức, tâm thường
tịch định, chẳng chấp giữ ǵ. Đối
với ba thứ cảm thọ sanh bởi tâm, ư, thức,
hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc chẳng khổ lạc,
tâm thường tịch định, chẳng chấp giữ
ǵ. Đối với khắp hết thảy các phẩm loại
thuộc các Uẩn, Giới, Xứ trong ba
đời, đều chẳng chấp giữ, tâm chẳng
hành động. Đối với trọn khắp hết
thảy tam giới, tam hạnh, tam xúc, tam thọ, tam
căn, tam thừa, Tam Luật Nghi, Tam Giải Thoát, hết thảy
phẩm loại, tâm Bồ Tát tịch tĩnh, vô trụ, vô
tướng, chẳng chấp giữ ǵ, b́nh đẳng mà
trụ. Đối với trọn khắp hết thảy
bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tấn, Tĩnh Lự,
Bát Nhă Ba La Mật Đa, tâm chẳng hành động, tịch
tĩnh mà trụ. Đối với trọn khắp Tứ
Niệm Trụ, Tứ Chánh Đoạn, Tứ Thần Túc,
Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Đẳng Giác Chi, Bát
Thánh Đạo Chi như thế, tâm chẳng hành động,
tịch tĩnh mà trụ. Đối với trọn khắp
hết thảy Cửu Thứ Đệ Định, tâm chẳng
hành động, tịch tĩnh mà trụ. Lại đối
với tác dụng dẫn khởi bởi tam hạnh, trí chẳng
chướng ngại pháp, Đạo Chi, và đạo thể,
đều chẳng chấp giữ, tâm chẳng hành động.
Đối với A Lại Da, chẳng phải A Lại Da,
có lấy, chẳng lấy, hữu lậu, vô lậu, bờ
này, bờ kia, nhỏ, lớn, vô lượng, làm và chẳng
làm, thiện, ác, chẳng thiện chẳng ác, trong các phẩm
loại, tâm chẳng hành động, tịch tĩnh mà trụ.
Đối với trọn khắp hết thảy
phương tiện đại từ, đại bi, thiện xảo
thành thục hữu t́nh, cho đến Thập Địa,
ba thứ chẳng hộ tŕ, bốn điều chẳng sợ
hăi, cho đến mười tám pháp bất cộng trong Phật
pháp, hết thảy phẩm loại đều chẳng chấp
giữ, tâm chẳng hành động, tịch tĩnh mà trụ).
“Vị
chư Bồ Tát ư nhất thiết pháp, thẩm đế
chiếu sát” (Tức là các vị Bồ Tát đối với
hết thảy các pháp bèn suy xét, chiếu soi): Suy xét, thẩm định dựa
trên đế lư chân thật, quán chiếu một phen. “Sát”
(察) là xem xét. “Chiếu”
(照) là trí huệ
chiếu soi. Trí huệ đă chiếu xong, phải tư
duy, thẩm sát (thẩm định,
suy xét) chân thật. Chiêm Sát là sau khi quư vị “bói toán”
xong, phải thẩm định, tư duy chân thật, suy
xét xem [kết quả chiêm sát] có ăn khớp hay không. Chiêm
Sát Luân nói như thế đó. “Ăn khớp” tức
là có tương ứng hay không? Thẩm định kỹ
càng, suy xét như thế th́ sẽ thành tựu Đại
Giáp Trụ Luân.
Quan
sát, suy xét chắc
thật sẽ có h́nh dạng như thế nào? Giống
như ánh sáng của vầng trăng rạng ngời, giống
như trăng Rằm tháng Tám, lúc trời không có mây, trọn
khắp hư không. Ánh sáng của vầng
trăng b́nh đẳng, chẳng nói “ta chiếu
nơi này, chẳng chiếu nơi kia”. Chẳng phân biệt
kiểu đó! Giống như ánh sáng của ngọn
đèn, nó có phân biệt hay không? Nó chỉ chiếu tôi, chiếu
quư vị, chẳng chiếu người khác ư? Nó chẳng
nghĩ kiểu đó. Người đă mở mang trí huệ,
giống như ngọn đèn. Đây là dùng tỷ dụ
để hiển thị đạo lư nơi pháp, tâm Bồ
Tát là b́nh đẳng. “Vô y” (無依, không nương tựa),
nương vào ǵ để sanh ra? Chẳng có! Sau khi đă
sanh ra, sẽ có h́nh dạng như thế nào? Chẳng có!
“Vô
y, vô tướng” th́ trụ ở nơi đâu? Có xứ
sở hay không? Chẳng có! “Vô trụ” có nghĩa là “chẳng chấp
trước”. Hết thảy đều chẳng chấp
trước. Hết thảy đều chẳng chấp
trước th́ mới là vô nhiễm. Chúng ta thấy quang
minh, chẳng hạn như ánh sáng mặt trời, mọi
người đeo kính râm. Quư vị đeo kính râm màu ǵ, sẽ
thấy bên ngoài có màu sắc đó. Ánh sáng chẳng có màu sắc, mà là do cái tâm phân biệt của chính ḿnh. V́ sao quư vị
phân biệt? Mắt đối cảnh, mắt là Căn; sau đó, đối trước
sắc bên ngoài, trong đó sẽ nẩy sanh một cái thức
phân biệt. Đó gọi là mười tám Giới, đó chẳng gọi
là đà-la-ni; hăy hiểu ư
nghĩa này. Tâm tánh b́nh đẳng, chẳng nương cậy,
chẳng có tướng, chẳng trụ, chẳng nhiễm,
trọn khắp hết thảy tam-ma-địa, đà-la-ni
môn, tâm chẳng hành động. Trụ trong địa vị
tịch tĩnh, đó là Như Như. Như Như có nghĩa
là “bất động”. Do vậy, chúng ta xưng niệm mười danh hiệu của đức
Phật, có một danh hiệu là Như Lai. Như là bất
động, Lai là lợi ích chúng sanh. Lợi ích chúng sanh mà
hoàn toàn chẳng động đến bản thể của
Ngài, cũng chẳng có tướng lợi
ích chúng sanh. Đó là Như Như, đến là Như, mà
đi cũng là Như. Đi lẫn đến đều
là Như, chẳng
có tướng đến, đi. Hàm nghĩa như
thế đó.
Tiếp
đó, lại nói cặn
kẽ, “ư chư nhăn sắc, nhăn thức, nhăn xúc”
[nghĩa là] đối với Sắc, tṛng mắt của
chúng ta nhất định phải đối trước
Sắc. Sắc chính là tướng cảnh giới bên ngoài.
Nhăn Thức là phân biệt, Xúc là tiếp xúc. Mỗi căn đều
là như thế. Khi tiếp xúc, Thức hoàn toàn chẳng
phân biệt. Nêu một thí dụ, như có lúc mắt đối
trước trần, khi thức chẳng chú ư, cũng là lúc
tâm chúng ta chuyên chú một cảnh. Niệm Phật là để
khiến cho quư vị chuyên chú một cảnh. Khi các cảnh
giới khác hiện tướng, quư vị đều chẳng
có cảm nhận, chẳng sanh khởi ư niệm, tức là
chuyên chú nơi cảnh ấy.
Nếu
cái tâm của chúng ta, nói theo ngôn ngữ thế gian, sẽ là
“tập trung cao độ”; trong khi tư tưởng
của quư vị tập trung cao độ, chuyên chú tập
trung, người ta sẽ thấy quư vị ngồi tại đó mắt mở trừng trừng, người ta
vào nhà quư vị, quư vị vẫn chẳng thấy. Vào nhà rồi
đi một ṿng, đến chỗ quư vị lấy đồ
rồi bỏ đi, quư vị vẫn chẳng trông thấy,
v́ quư vị đă chuyên chú, nh́n mà chẳng thấy, ngó mà chẳng thấy, có ư
nghĩa như thế đó. Khi chuyên chú một cảnh, khiến
cho chúng ta niệm đến mức nhất tâm bất loạn, tức là đến mức hết thảy trần cảnh
đều chẳng thể nhiễu loạn. Quư vị chuyên
chú nơi một cảnh, sẽ chú tâm vào đó, dính với
cảnh ấy. Mắt là như thế, mà tai, mũi, lưỡi,
thân cũng đều là như thế.
Phần
kinh văn tiếp đó nhắc lại: Tâm chẳng bị
động, nhưng mắt hễ tiếp xúc với
duyên bên ngoài, sẽ sanh ra Thọ (cảm nhận), bao gồm
Nội Thọ, Ngoại Thọ, và Câu Thọ (具受, trong và ngoài đều cảm nhận), ba loại cảm
nhận. Khi cảm nhận, hoặc là khổ, hoặc là lạc,
hoặc chẳng khổ chẳng lạc, đấy là ba loại
[cảm nhận]. Cảm nhận khi tiếp xúc là ba loại
ấy. V́ sao? Tâm Ngài thường tịch định, Ngài ở trong Định.
Chẳng dấy lên ư niệm ấy, chẳng có sự phân
biệt ấy, tốt cũng chẳng chấp lấy, mà xấu
cũng chẳng chấp lấy. Ngài chẳng có tốt hay xấu. Tốt
hay xấu là do cái tâm phân biệt của chúng ta. “Ư
chư nhĩ thanh, nhĩ thức, nhĩ xúc, ư chư tỵ
hương, tỵ thức, tỵ xúc” (đối với
các tiếng nghe bởi tai, nhĩ thức, nhĩ xúc, đối
với mùi ngửi bởi mũi, tỵ thức, tị
xúc), mũi ngửi thấy thơm, thối, cho đến
lưỡi, “thiệt vị, thiệt thức, thiệt
xúc” (vị nếm bởi lưỡi, thiệt thức,
thiệt xúc), cho đến “ư chư thân xúc, thân thức,
thân xúc, ư chư ư pháp, ư thức, ư xúc, quảng thuyết
diệc nhĩ” (đối với sự đụng chạm
nơi thân, thân thức, thân xúc. Đối
các pháp cảm nhận bởi ư, ư thức, ư xúc, nói rộng
ra th́ cũng giống như thế). Nói như thế, gộp
chung thành mười tám loại. Trong Đại Trí Độ
Luận, mỗi loại đều được nói,
đều là trùng lặp. V́ sao phải trùng lặp như
thế? Hy vọng quư vị chú ư! Lần
thứ nhất, quư vị
không nghe rơ ràng, lần thứ hai chẳng nghe rơ ràng, lần
thứ ba, sáu căn, sáu thức, sáu trần, mười tám
giới, nói mười tám lần, quư vị sẽ nhớ
rơ, có ư nghĩa như thế đó! Phối ứng với
lục căn, nói xong, lại lấy sáu trần đem
phối ứng [với từng căn].
Đă nói xong, lại đem sáu thức phối ứng [với
căn và trần]. Mười tám giới
được nói mười tám lần. Sau đó, lại
nói cho quư vị mười hai Xứ, mắt nhập vào Sắc,
tai nhập vào Thanh… Nhắc lại một lượt nữa!
Quư
vị hiểu rơ ư nghĩa là được
rồi! Như thế là v́ đạt đến vô phân biệt,
khiến cho quư vị nhập tam-muội, khiến cho quư vị
suy xét cẩn thận nhập tam-ma-địa. Sau khi quư vị
đă suy xét, đạt được đà-la-ni, đầu
tiên là phân biệt. Sau khi đă phân biệt xong, bèn đạt
tới vô phân biệt, chẳng chấp lấy, chẳng chấp giữ các cảnh giới ấy. “Vô
sở thủ trước, ư tâm ư thức sở sanh tam
thọ, hoặc lạc, hoặc khổ, hoặc phi khổ
lạc” (chẳng chấp trước ǵ. Đối với
ba thứ cảm nhận do tâm, ư, thức sanh ra, hoặc lạc,
hoặc khổ, hoặc chẳng khổ lạc): Tâm thường
tịch định, không bị cảnh xoay chuyển, mà tâm
có thể chuyển cảnh. Ngài nói về Định,
điều ấy vẫn chẳng thể chuyển. Kinh
Lăng Nghiêm vẫn chuyển được, tức là hết
thảy tướng cảnh giới bên ngoài đều chuyển
thành tự tâm. Chẳng có một pháp nào không phải do tâm
sanh. Cho đến mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, sắc,
thanh, hương, xúc, pháp, cho đến Nhăn Thức, Nhĩ
Thức, Tỵ Thức… [đều là] một niệm tâm
như thế mà thôi. Tức là một niệm tâm hiện tiền
của chúng ta, bất kể trần cảnh ngoại
tướng lăng xăng quấy nhiễu cỡ nào, trong
nội tâm khởi lên đủ thứ ư niệm, đều
chỉ là một thứ, tức tâm niệm.
“Tâm
thường tịch định, vô sở thủ trước,
phổ ư tam thế chư Uẩn, Giới, Xứ, nhất thiết phẩm loại, giai vô thủ
trước” (Tâm thường tịch định,
chẳng chấp giữ ǵ, đối với trọn khắp
hết thảy các phẩm loại của các Uẩn, Giới, Xứ trong ba đời, đều chẳng chấp
trước): Không chỉ là đời hiện tại, mà
quá khứ lẫn tương lai đều chẳng giữ
lấy. Chẳng giữ lấy nhiễm pháp, mà tịnh pháp
cũng chẳng giữ lấy, cho đến hết thảy
chuyện hoằng pháp của Phật, Bồ Tát tại Ấn Độ
căn bản là chẳng có, chẳng giữ lấy, đều
chẳng chấp giữ. V́ hễ có tịnh, sẽ có nhiễm,
có tốt th́ nhất định sẽ có cái đối ứng
với nó là xấu. Hễ có lớn, nhất định sẽ
có nhỏ. Có dài bèn có ngắn. Lớn, nhỏ, dài, ngắn,
vuông, tṛn, đều là như thế. Hết thảy các pháp
đều là như thế. “Phổ ư nhất thiết
tam giới, tam hạnh, tam xúc, tam thọ, tam căn, tam thừa,
Tam Luật Nghi, Tam Giải Thoát, nhất thiết phẩm loại,
kỳ tâm tịch tĩnh” (Đối với trọn khắp
hết thảy các phẩm loại trong tam giới, tam hạnh,
tam xúc, tam thọ, tam căn, tam thừa, Tam Luật Nghi, Tam
Giải Thoát, cái tâm tịch tĩnh): Hiểu rành rẽ phân
minh, chẳng dấy lên phân biệt, chẳng khởi chấp
trước, chẳng phải hồ đồ. Nếu là
đă ngủ mê, thứ ǵ cũng đều chẳng biết,
đó là chuyện khác. Hiểu rành rẽ rơ ràng, chẳng chấp
trước, cũng chẳng có ǵ là tốt, chẳng có ǵ
là xấu, ǵ là thánh đạo, ǵ là phàm phu đạo, ǵ là
lục đạo, tâm chẳng chấp trước, chẳng
trụ nơi vô tướng.
“Vô
sở thủ trước, b́nh đẳng nhi trụ”
(chẳng chấp giữ ǵ, b́nh đẳng mà trụ): B́nh
đẳng. B́nh đẳng là ǵ? Do cái tâm b́nh đẳng, vậy
th́ bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, tu
Định, Bát Nhă, tu Tĩnh Lự; đó là Thiền Ba La
Mật. Đấy là Lục Độ
vạn hạnh. Đối với các thứ đó, toàn bộ
đều chẳng động, tịch tĩnh mà trụ.
Cho đến đối với Tứ Niệm Trụ, Tứ
Chánh Đoạn, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực,
Thất Đẳng Giác Chi, Bát Thánh Đạo Chi, tâm chẳng
hành động, tịch tĩnh mà trụ. Đó là thiện
lẫn ác đều mất, tâm và hạnh đều đoạn,
cho đến Cửu Thứ Đệ Định. “Tâm
vô hành động, tịch tĩnh nhi trụ. Hựu ư
tam hạnh, vô chướng
pháp trí, đạo chi, đạo thể sở dẫn tác dụng,
giai vô thủ trước” (Tâm chẳng hành động,
tịch tĩnh mà trụ. Lại đối với tác dụng
dẫn khởi do pháp trí vô chướng đối với
tam hạnh, đạo chi, đạo thể, đều chẳng
chấp giữ): Không chỉ là đối với nhiễm
pháp, mà đối với tịnh pháp, trong tâm cũng chẳng
chấp giữ.
“Ư
A Lại Da, phi A Lại Da, hữu thủ, vô thủ”
(đối với Tạng Thức, chẳng
phải Tạng Thức, có giữ lấy, chẳng giữ
lấy), đều chẳng có. “Hữu lậu, vô lậu,
thử ngạn, bỉ ngạn, tiểu, đại, vô
lượng, tác dữ bất tác, thiện, ác, vô kư” (hữu
lậu, vô lậu, bờ này, bờ kia, nhỏ, lớn, vô
lượng, làm và chẳng làm, thiện, ác, chẳng thiện
chẳng ác): Đó là ba tánh. “Chư phẩm loại trung,
tâm vô hành động, tịch tĩnh nhi trụ, phổ
ư nhất thiết đại từ, đại bi
thiện xảo phương tiện thành thục hữu
t́nh” (trong các phẩm loại, tâm chẳng hành động,
tịch tĩnh mà trụ. Dùng trọn khắp hết thảy
các phương tiện thiện xảo đại từ
đại bi để thành thục hữu t́nh): Tịch
tĩnh mà trụ, chẳng giống như hàng Nhị Thừa,
hễ đă nhập Niết Bàn, sẽ bất động.
Ngài sẽ sanh khởi phương tiện thiện xảo
đại từ, đại bi
để thành thục hữu t́nh. Trong phần trước, đă nói tới nhiễm
pháp và tịnh pháp; [đối với
các pháp ấy], Ngài đều chẳng chấp trước.
Đă chẳng chấp trước th́ có phải là hành
đại từ, đại bi
hay không? Chẳng giống Nhị Thừa, tâm Ngài thường
ở trong Định. Khi Phật, Bồ Tát lợi ích chúng
sanh, chúng ta biết Quán Thế Âm Bồ Tát hiện rất
nhiều thân trong thế giới này, không chỗ nào Quán Thế
Âm Bồ Tát chẳng hiện đến. [Thế nhưng]
trước nay, Quán Thế Âm Bồ
Tát chưa từng tới, chưa hề tới thế gian
này. Bản thể của Ngài vẫn ở trong thế giới
Cực Lạc, bất động bổn tịch mà trọn
khắp hết thảy mọi nơi, lợi ích chúng sanh. Tuy
lợi ích hết thảy chúng sanh, nhưng bất động
bổn tịch. Thích Ca Mâu Ni Phật căn bản là
chưa từng đến [thế giới Sa Bà], vị trời
[làm thí giả dâng cúng thức ăn mỗi ngày] đă trả
lời [ngài Đạo Tuyên] như vậy!
Nhưng
chúng ta trông thấy, cho đó là sự thật! Giả sử
tâm t́nh của chúng ta như thế này: Khi chúng ta tụ tập,
hễ người chúng ta ưa thích, người
chúng ta yêu mến thường ở cùng nhau, trong tâm luôn cao
hứng. Hễ bị tách rời, hoặc chia ly trong một
thời gian ngắn, hoặc chia ly lâu dài, hoặc chết
đi, quư vị khóc thảm thiết. Trong tâm suốt ngày tưởng
nhớ, thứ ǵ cũng đều chấp trước,
quư vị sẽ chẳng thể giải thoát, chẳng biết
hết thảy các pháp đều là như thế. Do vậy,
phải tu Quán cho nhiều. Hết thảy các hành, không có ǵ
nhập tâm, thành thục hữu t́nh như thế, trở
thành Thập Địa Bồ Tát. “Tam bất hộ” là
đức Phật đối với thân, miệng, ư, chẳng cần phải thủ hộ, đều chẳng
cần, v́ Ngài không có mảy may điều ác nào! “Nhất
thiết phẩm loại, giai vô thủ trước, tâm vô
hành động, tịch tĩnh nhi trụ” (Hết thảy
phẩm loại đều chẳng chấp lấy, tâm chẳng
hành động, tịch tĩnh mà trụ). Đấy là Nhẫn
Luân của Bồ Tát.
(Kinh)
Bồ Tát Ma Ha Tát do thử luân cố, năng vĩnh tức
trừ tam thọ quá thất, năng vĩnh tịch diệt
nhất thiết phân biệt, năng vĩnh viễn ly nhất
thiết Pháp Tướng. Phục năng an trụ năng
dẫn nhất thiết hư không nhăn đảnh, chư
tam-ma-địa, chư đà-la-ni, Thiện Xảo
Phương Tiện Đại Giáp Trụ Luân. Bồ Tát an
trụ như thị luân cố, nhất thiết quá khứ
sở dẫn vị tận ác bất thiện nghiệp, vô
hạ ác thú, chư hữu, chư thú, tử sanh chư nghiệp,
giai năng diệt trừ, linh tận vô dư, bất thọ
quả báo.
(經)菩薩摩訶薩,由此輪故,能永息除三受過失,能永寂滅一切分別,能永遠離一切法相,復能安住能引一切虛空眼頂、諸三摩地、諸陀羅尼、善巧方便大甲冑輪。菩薩安住如是輪故,一切過去所引未盡惡不善業、無暇惡趣、諸有諸趣、死生諸業,皆能除滅,令盡無餘,不受果報。
(Kinh:
Bồ Tát Ma Ha Tát do v́ luân này có thể vĩnh viễn trừ
dứt các lỗi lầm nơi ba thứ cảm nhận,
có thể vĩnh viễn tịch diệt hết thảy
phân biệt, có thể vĩnh viễn xa ĺa hết thảy
pháp tướng, lại có thể an trụ trong Thiện Xảo
Phương Tiện Đại Giáp Trụ Luân, có thể dẫn
khởi hết thảy hư không nhăn đảnh, các
tam-ma-địa, các đà-la-ni. Bồ Tát an trụ trong cái
luân như thế, đối với hết thảy nghiệp
ác bất thiện chưa hết, các đường ác chẳng
nhàn hạ, các cơi, các đường, các nghiệp tử
sanh do từ quá khứ dẫn khởi, đều có thể
diệt trừ hết sạch, chẳng c̣n thừa sót, chẳng
nhận lănh quả báo).
Nhẫn Luân này “năng vĩnh tức
trừ tam thọ quá thất” (có thể vĩnh viễn
trừ diệt các thứ lầm lỗi nơi ba thứ cảm
thọ): Khổ Thọ, Lạc Thọ, Bất Khổ Bất
Lạc Thọ đều chẳng có; lỗi lầm kiểu
ấy sẽ vĩnh viễn chẳng có. Trong phần
trước, chúng tôi đă nói về “mười ba lỗi”
c̣n nhiều hơn loại lỗi lầm này. [Do tu Nhẫn
Luân này], chúng đều bị tịch tĩnh, có thể
vĩnh viễn tịch diệt, hết thảy vọng niệm
phân biệt đều chẳng dấy lên. “Năng
vĩnh viễn ly nhất thiết pháp tướng” (có
thể vĩnh viễn xa ĺa hết thảy các pháp tướng):
Những ǵ chúng ta sanh khởi đều là pháp tướng,
đều là danh từ. Danh từ th́ căn bản là không
có, danh từ là giả danh được đặt ra.
Chúng ta nói Ngũ Uẩn, Không Giải Thoát Môn, “Không” là
như thế nào? “Không Tướng”: “Không” chẳng có tướng.
Vô Tác căn bản là chẳng làm, c̣n có tướng chi nữa?
Do vậy, gọi là Tam Giải Thoát Môn. Vô Nguyện là nguyện
ǵ cũng đều chẳng có, thứ ǵ cũng chẳng
cầu. “Nguyện” là cầu. Nay
chúng ta đối với “thứ ǵ cũng đều chẳng cầu” quư vị chẳng làm được.
Chúng ta vẫn mong cầu, cầu thuận theo thánh cảnh
này, tiêu diệt ác cảnh kia, nhưng chúng ta biết: Để
đạt tới chỗ rốt ráo, th́ phải vô nguyện,
vô cầu.
“Phục
năng an trụ, năng dẫn
nhất thiết hư không nhăn đảnh, chư
tam-ma-địa, chư đà-la-ni Thiện Xảo
Phương Tiện Đại Giáp Trụ Luân” (Lại có thể
an trụ trong Phương Tiện Thiện Xảo Đại Giáp Trụ Luân có thể dẫn khởi
hết thảy hư không nhăn đảnh, các tam-ma-địa,
các đà-la-ni): Đại Giáp Trụ Luân này là chính an trụ
trong phương tiện thiện xảo, lợi ích chúng
sanh. Đối với danh từ “hư không nhăn đảnh”,
hư không c̣n có đảnh ǵ vậy? Hư không c̣n có mắt
ư? C̣n có con mắt nữa sao? Đây là cách nói h́nh dung,
dùng phương pháp h́nh dung để diễn tả. Ư nói hết
thảy các tam-ma-địa, các đà-la-ni, cho đến
phương tiện thiện xảo, sẽ khiến cho hết
thảy chúng sanh đều có thể thành tựu. Nếu “Bồ
Tát an trụ như thị luân cố” (an trụ trong cái
luân như thế), đối với hết thảy các ác
nghiệp bất thiện dẫn khởi từ quá khứ
chưa đoạn hết, chúng ta có cần phải sám hối
hay không? Phải sám hối như thế. Hết thảy
nghiệp ác bất thiện trong quá khứ c̣n chưa tịnh
trừ, nay đă hoàn toàn tịnh trừ. “Vô hạ” (無暇) là khi quư vị
tu hành, thân chẳng được thảnh thơi. “Vô hạ”
là chịu khổ không ngớt. Khi tu hành, chẳng có thời
gian để tu! Nay mọi người sau khi đă tin Phật,
cảm thấy thời gian chẳng đủ dùng. V́ sao chẳng
đủ dùng? V́ pháp thế gian chiếm nhiều thời
gian của quư vị, v́ tâm quư vị luôn bươn bả bởi
các thứ đó. Chẳng buông xuống được,
đương nhiên là [thời gian] chẳng đủ dùng.
Nổi lên hứng thú vui chơi, suốt ngày đêm đều
đi chơi. Có thể chơi mạt chược suốt
mấy ngày, mấy đêm, chẳng cảm thấy vất vả.
Khi du lịch, họ có thể đến thăm khắp
nơi. Đó là chúng ta điên đảo, đáng gọi là “chúng
sanh điên đảo”, nhưng đến khi đường
ác đưa tới, thảy đều hết sạch chẳng
c̣n! Kế đó, [kinh văn] nói tới ác pháp, nói theo tướng
thế gian, các thứ ấy đều hết sạch chẳng
c̣n. Quư vị c̣n phải hứng chịu những quả
báo nào? Quả báo đă không có, trống rỗng, không nhân,
không quả. Tới khi ấy, bèn tu môn Quán này, nhưng môn
Quán này lại từ “có nhân quả” mà ra. Do vậy, khi học
kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, nửa quyển đầu
nói về chiêm sát luân tướng, nửa quyển sau nói những điều
hoàn toàn bất đồng. Hai thứ quan niệm, hai thứ
cảm nhận, tuyệt đối bất đồng.
Kinh này cũng thế, phần đầu nói về mười
ác luân, mười thiện luân; hiện thời nói về
thập luân của Bồ Tát. Đó là Bồ Tát rốt ráo
thành Phật.
(Kinh)
Hựu thiện nam tử! Thí như thế giới hỏa
tai tương khởi, ngũ nhật xuất thời, nhất
thiết thế gian tiểu tŕ, đại tŕ, tiểu hà,
đại hà, tiểu hải, đại hải, thủy
giai khô kiệt, diệt tận vô dư. Như thị Bồ
Tát thành tựu năng dẫn biến măn hư không, vô
lượng vô biên, quảng đại
chúng cụ Từ Vô Ngại Giải, nhất thiết Phật
pháp, chư
tam-ma-địa, chư đà-la-ni, kiên cố Đại Nhẫn
Đại Giáp Trụ Luân. Phục năng an trụ năng
dẫn nhất thiết hư không nhăn đảnh, chư
tam-ma-địa, chư đà-la-ni Thiện Xảo
Phương Tiện Đại Giáp Trụ Luân, nhất thiết
quá khứ sở dẫn vị tận ác bất thiện
nghiệp, vô hạ ác thú, chư hữu, chư thú, tử
sanh chư nghiệp, giai năng trừ diệt, linh tận
vô dư, bất thọ quả báo. Hựu thiện nam tử!
Thí như thế giới thủy tai khởi thời, ư
thử tam thiên đại thiên thế giới, chư tiểu
thế giới, các tứ đại châu, bát vạn tiểu
chử, Diệu Cao sơn vương, cập chư sơn
đẳng, giai vi hôi thủy tẩm lạn tiêu tận,
linh vô hữu dư. Như thị Bồ Tát thành tựu
năng dẫn biến măn hư không, vô lượng vô biên quảng đại
chúng cụ, Từ Vô Ngại
Giải, nhất thiết
Phật pháp, chư tam-ma-địa, chư đà-la-ni, kiên cố
Đại Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân. Phục
năng an trụ năng dẫn nhất thiết hư không
nhăn đảnh, chư tam-ma-địa, chư đà-la-ni,
Thiện Xảo Phương Tiện Đại Giáp Trụ
Luân, nhất thiết quá khứ sở dẫn vị tận
ác bất thiện nghiệp, vô hạ ác thú, chư hữu,
chư thú, tử sanh chư nghiệp, giai năng trừ diệt,
linh tận vô dư, bất thọ quả báo.
(經)又善男子,譬如世界火災將起,五日出時,一切世間小池大池、小河大河、小海大海,水皆枯竭,滅盡無餘;如是菩薩成就能引徧滿虛空、無量無邊、廣大眾具、辭無礙解,一切佛法、諸三摩地、諸陀羅尼、堅固大忍大甲冑輪,復能安住能引一切虛空眼頂、諸三摩地、諸陀羅尼、善巧方便大甲冑輪,一切過去所引未盡惡不善業、無暇惡趣、諸有諸趣、死生諸業,皆能除滅,令盡無餘,不受果報。又善男子,譬如世界水災起時,於此三千大千世界,諸小世界,各四大洲,八萬小渚妙高山王,及諸山等,皆為灰水,浸爛銷盡,令無有餘;如是菩薩成就能引徧滿虛空、無量無邊、廣大眾具、辭無礙解、一切佛法、諸三摩地、諸陀羅尼、堅固大忍大甲冑輪,復能安住能引一切虛空眼頂、諸三摩地、諸陀羅尼、善巧方便大甲冑輪,一切過去所引未盡惡不善業、無暇惡趣、諸有諸趣、死生諸業,皆能除滅,令盡無餘,不受果報。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Ví như thế giới khi hỏa
tai sắp nổi lên, năm mặt trời cùng xuất hiện,
hết thảy ao nhỏ, ao lớn, sông nhỏ, sông lớn,
biển nhỏ, biển lớn trong thế gian, nước
đều khô cạn, diệt trừ hết sạch, chẳng
c̣n sót. Cũng giống như thế, Bồ Tát thành tựu
Đại Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân kiên cố, có
thể dẫn khởi vô lượng vô biên trọn đủ
các thứ Từ Vô Ngại Giải rộng lớn đối
với hết thảy Phật pháp, các tam-ma-địa, các
đà-la-ni trọn khắp hư không. Lại có thể an trụ
trong phương tiện thiện xảo Đại Giáp Trụ
Luân, có thể dẫn khởi hết thảy hư không nhăn
đảnh, các tam-ma-địa, các đà-la-ni, đối với
hết thảy các nghiệp ác bất thiện chưa hết,
các đường ác chẳng nhàn hạ, các cơi, các
đường, các nghiệp tử sanh dẫn khởi từ
quá khứ đều có thể trừ diệt hết sạch,
chẳng c̣n sót, chẳng thọ quả báo. Lại này thiện
nam tử! Ví như trong thế giới, lúc thủy tai dấy
lên, trong tam thiên đại thiên thế giới này, các tiểu
thế giới, mỗi tứ đại châu, tám vạn tiểu
châu, núi chúa Diệu Cao, và các núi đều bị nước
tro ngấm mủn nát, tiêu sạch, chẳng c̣n sót thừa.
Cũng giống như thế, Bồ Tát thành tựu Đại
Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân kiên cố, có thể dẫn
khởi vô lượng vô biên trọn đủ các món Từ
Vô Ngại Giải rộng lớn đối với Phật
pháp, các tam-ma-địa, các đà-la-ni trọn khắp
hư không. Lại có thể an trụ trong Phương Tiện Thiện Xảo Đại
Giáp Trụ Luân, có thể dẫn khởi hết thảy
hư không nhăn đảnh, các tam-ma-địa, các
đà-la-ni, đối với hết thảy các nghiệp
ác bất thiện chưa hết, các đường ác chẳng
nhàn hạ, các cơi, các đường, các nghiệp tử sanh
dẫn khởi từ quá khứ, đều có thể
trừ diệt hết sạch, chẳng c̣n sót, chẳng thọ
quả báo).
Ví
như trong thế giới này, khi c̣n chưa đến lúc
thế giới tận diệt, nếu hỏa tai nổi
lên, thế giới này bắt đầu
bị hủy hoại. Khi năm mặt trời cùng mọc,
trên không trung xuất hiện năm vầng thái
dương, tới khi đó, “tiểu hà, đại hà, tiểu
hải, đại hải” (sông nhỏ, sông lớn, biển
nhỏ, biển lớn). Đại hải là đại
dương. “Thủy giai khô kiệt” (nước
đều cạn khô), khô cạn, diệt sạch
chẳng c̣n sót, một giọt nước bé tí cũng chẳng
có. Đức Phật chỉ ra: Khi thế giới này hoại,
xuất hiện năm vầng thái dương, cho nên hết
thảy ao nhỏ, ao lớn, hết thảy chỗ có
nước trong thế giới đều bị khô cạn. Khi Bồ Tát thành tựu
Đại Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân có các thứ Từ
Vô Ngại rộng lớn như hư không. Ngài cũng có thể khiến cho hết thảy các nghiệp ác bất
thiện trong quá khứ c̣n chưa hoàn toàn tiêu mất của
chúng sanh, hoặc là các nghiệp chướng “chết
đây, sanh kia, chết kia, sanh đây” đều có thể
trừ diệt, lại c̣n chẳng thọ quả báo, giống
như lúc năm vầng thái dương xuất hiện, thế
giới đều bị hủy hoại, một chút giọt
nước cũng chẳng có! Chúng ta nói núi Tu Di, bảy rặng
Kim Sơn [bao quanh Tu Di] kiên cố khôn ngằn, nhưng gặp
thủy tai th́ ngay cả vàng cũng bị mủn nát. Quư vị
có tin hay không? Đó là nghiệp, ngâm nước lâu ngày, tự
nhiên rữa nát. Hỏa tai cũng như thế, lửa vừa
đốt, sẽ chẳng c̣n. Khi đại tam tai, gió vừa
thổi, [mọi thứ] sẽ trở về với hư
không. Hết thảy các thứ an lập đều ở
trong hư không. Trên hư không mới là thủy luân, trên thủy
luân mới duy tŕ cái gọi là địa cầu. Mọi
người xem phẩm Thế Giới Thành Tựu trong kinh
Hoa Nghiêm, [sẽ thấy] thế giới thành tựu như
thế nào? Ở trong hư không.
Hiện
thời, khoa học đă chứng minh; tinh vân trong không
trung h́nh thành một quả cầu. Sau đó, quả cầu
ấy dần dần lại có người
sống như thế đó, rồi lại hư hoại. Hoại
rồi lại thành, thành rồi lại hoại, hoại rồi
lại thành, vô cùng, vô tận, tuần hoàn liên tục chẳng
ngừng như thế. Đại tam tai th́ trước hết
là lửa đốt, lửa ấy thiêu mọi vật thành
bơ (dung nham), nước vừa ngập liền nhăo ra.
Đă nhăo ra bèn rất giống như bơ mềm, phong tai
vừa thổi lên liền bị bắn văng lên không
trung, thứ ǵ cũng đều chẳng c̣n!
Ví
như khi thế giới dấy lên thủy tai, tam thiên
đại thiên thế giới, các tiểu thế giới,
tứ đại châu [trong mỗi thế giới ấy],
tám vạn tiểu châu, núi chúa Diệu Cao, tức núi Tu Di, và các quả núi đều bị nước ngấm
vào tiêu nát, bị nước ngâm, rữa nát. Chúng ta thấy
đá cứng, nhưng đá bị nước ngấm
ướt măi, sẽ dần dần ṃn đi, chúng ta chẳng
thấy. Giọt nước nhỏ [xuống thềm] từ
mái thềm, nước rất mềm, khi trời đổ
mưa, [mái thềm] rỉ rả mấy giọt. Nước
nhỏ giọt lâu ngày, dưới sân thềm của mái
hiên, sẽ có mấy chỗ khuyết nho nhỏ. Giọt
nước rơi từ mái thềm mềm mại mà có thể
làm ṃn gạch cứng. Đó gọi là “mềm mài cứng”.
Quư vị đừng nổi nóng, mềm mỏng càng lợi
hại hơn cứng rắn nhiều. Hăy suy nghĩ đạo
lư này, có thể lư giải là được rồi!
(Kinh)
Hựu thiện nam tử! Thí như hắc ám biến măn
hư không, lăng nhật xuất thời, giai năng trừ
diệt. Như thị Bồ
Tát thành tựu năng dẫn biến măn hư không vô lượng
vô biên quảng đại chúng cụ Từ Vô Ngại Giải,
nhất thiết Phật pháp, chư tam-ma-địa,
chư đà-la-ni, kiên cố Đại Nhẫn Đại
Giáp Trụ Luân. Phục năng an trụ năng dẫn nhất
thiết hư không nhăn đảnh, chư tam-ma-địa,
chư đà-la-ni, Thiện Xảo Phương Tiện
Đại Giáp Trụ Luân, phát khởi vô biên hư không trí
nhật, năng vĩnh trừ diệt tự thân Tứ Đảo
vô minh hắc ám, nhất thiết quá khứ sở dẫn vị
tận ác bất thiện nghiệp, vô hạ ác thú, chư hữu,
chư thú, tử sanh chư nghiệp, giai năng trừ diệt,
linh tận vô dư, bất thọ quả báo. Hựu do thử
cố, ư chư Phật pháp, tăng tấn tự tại,
thường vô thoái chuyển, bất phục tùy thuận
ác hữu lực hành, thường đắc bất ly kiến
nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh
Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân
cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư công đức,
tâm thường vô yếm, năi chí Bồ Đề, hằng
vô gián đoạn. Hựu thường bất ly niệm Phật
tư duy, năi chí mộng trung, diệc vô tạm phế.
(經)又善男子,譬如黑暗徧滿虛空,朗日出時皆能除滅;如是菩薩成就能引徧滿虛空、無量無邊、廣大眾具、辭無礙解、一切佛法、諸三摩地、諸陀羅尼、堅固大忍大甲冑輪,復能安住能引一切虛空眼頂、諸三摩地、諸陀羅尼、善巧方便大甲冑輪,發起無邊虛空智日,能永除滅自身四倒無明黑暗,一切過去所引未盡惡不善業、無暇惡趣、諸有諸趣、死生諸業,皆能除滅,令盡無餘,不受果報。又由此故,於諸佛法,增進自在常無退轉,不復隨順惡友力行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸功德心常無厭,乃至菩提恆無間斷;又常不離念佛思惟,乃至夢中亦無暫廢。
(Kinh:
Lại này thiện nam tử! Ví như tối tăm trọn
khắp hư không, khi mặt trời mọc sáng ngời,
[tối tăm] đều bị trừ diệt. Cũng giống
như thế, Bồ Tát thành tựu Đại Nhẫn
Đại Giáp Trụ Luân kiên cố, có thể dẫn khởi
vô lượng vô biên trọn đủ các thứ Từ Vô
Ngại Giải rộng lớn đối với hết
thảy Phật pháp, các tam-ma-địa, các đà-la-ni trọn
khắp hư không. Lại có thể an trụ trong Phương Tiện Thiện Xảo Đại Giáp
Trụ Luân, có thể dẫn khởi hết thảy hư
không nhăn đảnh, các tam-ma-địa, các đà-la-ni, phát
khởi vô biên mặt trời trí huệ trong không trung, có thể
vĩnh viễn trừ diệt bốn món điên đảo
vô minh hắc ám nơi bản thân, đối với
hết thảy các nghiệp ác bất thiện dẫn khởi
từ quá khứ chưa trừ hết,
các đường ác không nhàn hạ, các cơi, các đường,
các nghiệp tử sanh, đều có thể trừ diệt
hết sạch, chẳng c̣n sót, chẳng thọ quả báo. Lại do luân
này, đối với Phật pháp, bèn tăng tấn tự
tại, thường chẳng thoái chuyển, chẳng c̣n
thuận theo sức của bạn ác để hành, thường
được ĺa chẳng thấy hết thảy Phật,
và các vị Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng
ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng
Tăng. Đối với các công đức, tâm thường
chẳng chán, cho đến Bồ Đề, luôn chẳng
gián đoạn, lại thường chẳng ĺa niệm Phật
tư duy, thậm chí trong mộng cũng chẳng tạm bỏ).
Mấy
câu này đều giống nhau. Hai môn Đại Giáp Trụ
Luân này, một là Thiện Xảo Phương Tiện Đại
Giáp Trụ Luân, hai là Đại Nhẫn Đại Giáp Trụ
Luân, có thể phát khởi vô biên mặt trời trí huệ, trừ
diệt Tứ Điên Đảo nơi bản thân của
quư vị, cho đến vô minh hắc ám đều trừ hết
sạch. Các vị đại Bồ Tát ấy hóa độ
chúng sanh, khiến cho các chúng sanh quan sát, suy xét cặn kẽ,
và tiến nhập như thế. Nhập hai Đại
Giáp Trụ Luân ấy, tu hành thành tựu như thế.
Đối với các Phật pháp, tự tại thường
chẳng thoái chuyển, tăng tấn sự tự tại của quư vị đối với Phật
pháp, vĩnh viễn chẳng c̣n bị thoái đọa.
Dẫu cho có bạn ác chèo kéo, quư vị
cũng chẳng tùy thuận theo bạn ác mà tận lực thực
hiện [các ác hạnh]! Như thế th́ sẽ
“thường đắc bất ly kiến nhất thiết
Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử”
(thường được chẳng ĺa thấy hết thảy
Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử): V́ tác
dụng mở rộng của loại Đại Giáp Trụ
Luân này, Bồ Tát liền thành tựu loại Đại
Giáp Trụ Luân này ḥng lợi ích chúng sanh, khiến cho chúng
sanh đối với Phật pháp tăng tấn tín tâm,
tăng tấn tu hành. Do vậy, qua sự tu hành, Ngài có thể
phá trừ Hoặc nghiệp, cho đến có thể đạt
được tự tại, và cũng đạt tới
địa vị bất thoái chuyển, sẽ chẳng c̣n
thuận theo thế lực của bạn ác lôi kéo đến
nỗi thoái đọa thánh đạo. Như thế th́ sẽ
thường được chẳng ĺa thấy hết thảy
Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, có thể
thấy Phật, Pháp, Tăng. Như vậy th́ sẽ
thường luôn có thể nghe Phật pháp, thường có
thể thân cận, cúng dường chúng Tăng.
“Ư
chư công đức, tâm thường vô yếm” (Đối
với các công đức, tâm thường chẳng chán): Có
lúc chúng ta đang làm công đức, bỗng sanh khởi phiền
chán. Chẳng hạn như khấu đầu lễ bái,
nghe pháp, có khi sanh khởi phiền chán. V́ sao? V́ người
ấy tu hành rất lâu, vẫn chưa tiến nhập.
Như thế th́ cũng rất dễ thoái đọa; v́ sao sẽ thoái đọa? V́ kẻ ấy mong có sở
đắc; tới lúc đó, do chẳng đạt
được [cho nên thất vọng,
chán nản]. Nếu kẻ ấy vốn chẳng có sở
đắc, cũng vĩnh viễn
chẳng có tâm thoái đọa, chẳng mong đạt
được điều ǵ, ta làm như thế là
đúng. Tư tưởng của kẻ ấy chẳng có
tâm thoái đọa. Nếu sanh khởi phân biệt, suy
tưởng có sở đắc mà chẳng đạt
được, kẻ đó sẽ thoái đọa.
Tôi
có lúc suy nghĩ, đă xuất gia hơn sáu mươi
năm, trong khoảng thời gian ấy vướng phải một số chướng
ngại, nhưng trong Phật pháp đă đạt
được ǵ? Chẳng đạt được chi hết!
Khi tôi xuất gia, nghĩ tới điều ǵ? Tôi cũng
chẳng mong đạt
được điều ǵ; nhưng có người
nói: “Ta đừng phải chịu khổ nữa! Hăy liễu
sanh tử, hiện thời cảm thấy chuyện ǵ
cũng đều là khổ!” Cảm giác thứ ǵ cũng
đều là khổ, tức là vẫn chưa tiến nhập
Phật pháp. Nỗi khổ ấy là vô thường, chúng
tôi vừa mới nói, Khổ có h́nh trạng như thế
nào? Chẳng có! Giống như có kẻ đánh chúng ta, cảm nhận của chúng ta là Xúc. Xúc ấy
là khổ, quư vị cảm thấy đau khổ. Nhưng
quư vị lại khởi lên cái niệm thứ hai, lại
quan sát. Có cảm giác đau và không đau, quư vị có sự
tri giác ấy th́ mới cảm nhận được sự
thống khổ. Nếu tri giác cũng chẳng có, sẽ chẳng
thể cảm nhận nỗi thống khổ ấy
được!
Ngoài
ra, quư vị tu Quán, hoặc là người niệm Phật,
v́ sao đem tinh thần hoàn toàn kư thác nơi Phật hiệu?
Niệm Phật, niệm nào cũng đều chuyên chú một
cảnh. Lúc đó, người khác đánh quư vị, hoặc
làm chi đó, quư vị đều chẳng biết, trong tâm
toàn là niệm Phật, cũng chẳng phải là Phật
gia tŕ quư vị sức mạnh chi cả, không có! V́ tâm quư vị
không đặt vào đó (ngoại cảnh), quư vị sẽ
không biết. Quư vị có thể tự ḿnh thí nghiệm
điều này. Đấy chẳng phải là một hai
ngày, mà là kinh nghiệm tôi đă tích tập hơn ba
mươi năm!
Khi
ở trong tù, tôi suốt ngày từ sáng đến
tối nghĩ như thế này: Hôm nay mong ngóng ngày mai
được thả, ngày mai trông ngóng hôm sau được
thả; đúng là hằng ngày đều mong ngóng: “Ta ngày mai có thể được thả”. Sanh tồn là gởi gắm nơi hy vọng. V́ có hy vọng,
quư vị mới có thể duy tŕ sống sót. Nếu ngay cả
niềm hy vọng ấy cũng không có, sẽ chẳng thể
sống nổi. Người tự sát là do chẳng có hy vọng,
cho rằng chính ḿnh chẳng đạt được, thứ
ǵ cũng đều không có. Đặc biệt là trẻ nhỏ
rất dễ sanh khởi Đoạn
Diệt Kiến, nó cảm nhận bị áp bức quá
đau khổ. Bài tập từ nhà trường, thầy
cũng ép, cha mẹ cũng ép, nó cùng đường, nói:
“Ḿnh chết rồi c̣n ai ép được nữa?” Nó cho rằng
chết đi là hết chuyện, chẳng biết nỗi
đau khổ do chết chóc c̣n dữ dội hơn sự
đau khổ trong khi sống. Nếu nó biết, sẽ chẳng
làm!
Cầu
giải thoát bèn dùng quán chiếu. Quán chiếu lâu ngày thành thục.
Chẳng thành thục, sẽ không thể giải thoát
được. Quán chiếu thành thục, quư vị sẽ
được giải thoát. Quán chiếu vật này rất
đáng yêu. Quư vị sẽ cảm thấy rất đau khổ
khi nó bị hư hoại, hay tổn thất. Nếu quư vị
nghĩ nó chẳng đáng yêu, sẽ buông xuống. Đối
với vật ấy, nó tốt đẹp
hay hư hoại, chẳng
liên quan đến ta! Khi nó bị
tiêu mất, quư vị cũng chẳng có cảm giác đau khổ. Nó
tăng trưởng, hoặc chẳng
tăng trưởng, chẳng liên quan ǵ đến quư vị. Nếu quư vị đặc
biệt chú ư, sẽ đau khổ. Nó biến hóa, cái tâm của
quư vị cũng biến hóa theo. Đó là cách tu hành thiển
cận. Đợi cho tới khi giảng xong kinh này, chúng
tôi lại nói từ đầu cách quan sát hơi thở ra
vào như thế nào; đấy mới
là có lợi ích thật sự cho chúng ta. Nếu quư vị
quan sát lâu ngày, trong tâm chuyên chú, thật sự quan sát hơi
thở ra vào, hơi thở đă định, quư vị mới
biết tu hành cao hơn từng bước như thế
nào!
(Kinh) Hựu thiện nam tử! Vân hà Bồ
Tát Ma Ha Tát năng dẫn biến măn hư không, vô lượng vô biên
quảng đại chúng cụ, Từ Vô Ngại Giải, nhất thiết Phật
pháp, chư tam-ma-địa, chư đà-la-ni, kiên cố
Đại Nhẫn Đại Giáp Trụ Luân? Vị chư
Bồ Tát nhập sơ Tĩnh Lự, năi chí đệ tứ
Tĩnh Lự, nhập Vô Biên Hư Không Xứ, năi chí Phi
Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, nhập Diệt Thọ
Tưởng Định. Trụ thử định trung, nhất
thiết tam thọ, tam hạnh đoạn diệt, tâm vô
hành động. Chư Thọ, Tưởng, Tư, Xúc, Tác Ư đẳng, tất
giai đoạn diệt. An trụ thử Định, hoặc
nhất nhật dạ, hoặc phục năi chí thất thất
nhật dạ, thọ Định vị thực. Tùng thử
Định khởi, kỳ tâm tịch tĩnh, vô sở thủ
trước, yến nhiên nhi trụ. Phục nhập thắng
nghĩa cứu cánh Không Định, trụ thử Định
trung, kỳ tâm b́nh đẳng, vô sở thủ trước,
do nhược hư không. Thân chư mao khổng, giai xuất
sương dịch, trạng như Măo Tinh, diệt trừ
nhất thiết úc chưng kết phược. Tùng thử
Định khởi, đắc chánh ức niệm, tối
thắng hỷ lạc, sung biến kỳ thân. Như Đại
Tự Tại Thiên Tử nhập Hiện Nhất Thiết
Lạc Định, thân chư mao khổng, giai biến thọ
lạc. Như thị Bồ Tát lạc xúc kỳ thân, tiện
tư niệm Phật. Tư niệm Phật cố, tắc
duy kiến Phật, bất kiến dư tướng. Bồ
Tát nhĩ thời, nhược niệm nhất Phật, tắc
kiến nhất Phật. Nhược niệm đa Phật,
tắc kiến đa Phật. Nhược niệm tiểu
thân Phật, tắc kiến tiểu thân Phật. Nhược
niệm đại thân Phật, tắc kiến đại
thân Phật. Nhược niệm vô lượng thân Phật,
tắc kiến vô lượng thân Phật. Nhược niệm
tự thân vi Phật thân tướng, tắc kiến tự
thân đồng ư Phật thân, chúng tướng viên măn.
Nhược niệm tha thân vi Phật thân tướng, tắc
kiến tha thân đồng ư Phật thân, chúng tướng
viên măn. Nhược niệm nhất thiết t́nh phi t́nh số, sở hữu sắc
tượng, vi Phật thân
tướng, tắc kiến nhất thiết t́nh phi t́nh số, sở hữu sắc
tượng, giai đồng Phật thân, chúng tướng
viên măn, bất kiến kỳ dư nhất thiết sắc
tượng.
(經)又善男子,云何菩薩摩訶薩能引徧滿虛空、無量無邊、廣大眾具、辭無礙解、一切佛法、諸三摩地、諸陀羅尼、堅固大忍大甲冑輪?謂諸菩薩入初靜慮乃至第四靜慮,入無邊虛空處乃至非想非非想處,入滅受想定;住此定中,一切三受、三行斷滅,心無行動,諸受想思觸作意等悉皆斷滅;安住此定,或一日夜,或復乃至七七日夜,受定味食;從此定起,其心寂靜,無所取著,宴然而住。復入勝義究竟空定,住此定中,其心平等,無所取著猶若虛空,身諸毛孔皆出霜液,狀如昴星,滅除一切郁烝結縛;從此定起,得正憶念,最勝喜樂充遍其身,如大自在天子入現一切樂定,身諸毛孔皆遍受樂。如是菩薩,樂觸其身便思念佛,思念佛故則唯見佛,不見餘相。菩薩爾時,若念一佛則見一佛,若念多佛則見多佛;若念小身佛則見小身佛,若念大身佛則見大身佛,若念無量身佛則見無量身佛;若念自身為佛身相,則見自身同於佛身,眾相圓滿;若念他身為佛身相,則見他身同於佛身,眾相圓滿;若念一切情非情數所有色像為佛身相,則見一切情非情數所有色像皆同佛身,眾相圓滿,不見其餘一切色像。
(Kinh: Lại này thiện
nam tử! Thế nào là Đại Nhẫn
Đại Giáp Trụ Luân kiên cố, có thể dẫn khởi
vô lượng vô biên trọn đủ các thứ Từ Vô
Ngại Giải rộng lớn đối với hết
thảy Phật pháp, các tam-ma-địa, các đà-la-ni trọn
khắp hư không của Bồ Tát Ma Ha Tát? Tức là các
Bồ Tát nhập môn Tĩnh Lự đầu tiên cho đến
Tĩnh Lự thứ tư, nhập Vô Biên Hư Không Xứ,
cho đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ, nhập
Diệt Thọ Tưởng Định. Trụ trong định
ấy, hết thảy tam thọ, tam hạnh đoạn diệt,
tâm chẳng hành động. Các Thọ, Tưởng, Tư,
Xúc, Tác Ư v.v… thảy đều đoạn diệt. An trụ
trong Định ấy, hoặc một ngày đêm, hoặc
lại cho đến bốn mươi chín ngày đêm, dùng
pháp vị của Định làm thức ăn. Từ môn
Định ấy khởi, cái tâm tịch tĩnh, chẳng
chấp giữ ǵ, an tường mà trụ. Lại
nhập thắng nghĩa cứu cánh Không Định, trụ
trong môn Định ấy, cái tâm b́nh đẳng, chẳng
chấp giữ ǵ, ví như hư không. Các lỗ chân lông trên
thân đều tiết ra chất sương, h́nh dạng
như sao Măo, diệt trừ hết thảy các kết
phược nung nấu. Từ môn Định ấy khởi,
đạt được chánh ức niệm, vui sướng
tối thắng trọn khắp toàn thân. Như Đại
Tự Tại Thiên Tử nhập Hiện Nhất Thiết
Lạc Định, các lỗ chân lông trên thân đều thọ
lạc trọn khắp. Bồ Tát như thế lạc xúc
khắp thân, liền nghĩ niệm Phật. Do suy niệm
Phật, liền chỉ thấy Phật, chẳng thấy
tướng khác. Bồ Tát khi đó nếu niệm một
vị Phật, sẽ thấy một vị Phật. Nếu
niệm nhiều vị Phật, sẽ thấy nhiều vị
Phật. Nếu niệm thân Phật nhỏ, sẽ thấy
thân Phật nhỏ. Nếu niệm thân Phật lớn, sẽ
thấy thân Phật lớn. Nếu niệm vô lượng
thân Phật, sẽ thấy vô lượng thân Phật. Nếu
niệm thân ḿnh là thân tướng của Phật, sẽ thấy
thân ḿnh giống như thân Phật, các tướng viên măn.
Nếu niệm thân người khác là thân tướng của
Phật, sẽ thấy thân người khác giống như
thân Phật, các tướng viên măn. Nếu niệm tất
cả h́nh sắc của hết thảy hữu t́nh và phi
t́nh là thân tướng của Phật, sẽ thấy tất
cả h́nh sắc của hết thảy t́nh và phi t́nh đều
giống như thân Phật, các tướng viên măn, chẳng
thấy hết thảy các h́nh sắc khác).
Chư
Bồ Tát “nhập sơ Tĩnh Lự” tức là vừa
mới nhập Sơ Thiền Định. Tĩnh Lự là
Định, cho đến Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ
Thiền Thiên Tĩnh Lự, hoặc là từ Đệ Tứ
Thiền Thiên, lại tiến nhập Vô Biên Hư Không Xứ.
Các Ngài nhập môn Định này, từ Vô Biên Hư Không
Định cho đến Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Xứ Định. “Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ”:
Chữ Phi Tưởng phía sau do đức Phật thêm vào,
v́ Ngài biết họ hoàn toàn chẳng phải là Phi Tưởng,
mà là Phi Phi Tưởng. Thêm vào chữ Phi, tức là c̣n có
Tưởng. Sau đó là Diệt Thọ Tưởng Định.
Diệt những điều ấy, chẳng có Thọ, chẳng
có Năng Thọ (người tiếp nhận), mà cũng
chẳng có Tưởng. Hễ chẳng tưởng, bèn nhập
môn Định này.
Trong
môn Định này, Khổ Thọ, Lạc Thọ, thân, khẩu,
ư, [tức] “tam thọ, tam hạnh”, đều đoạn
diệt, tâm chẳng có hành động, ư thức chẳng
có hành động. Như thế th́ Thọ, Tưởng,
Tư, Xúc, Tác Ư là các tâm sở pháp, Thọ,
Tưởng, Tư, Xúc, Tác Ư sẽ đều đoạn
diệt. Thọ là thô tướng, là nội hạnh trong
tâm. Xúc ở đây là sự tiếp xúc trong tâm, tức là
khi Pháp Trần và Ư Thức tiếp xúc. Tác Ư là dấy lên ư niệm.
Chúng ta nói dối là do ư niệm. Khi nhập loại Định
này, tất cả đều đoạn diệt. An trụ
trong Định này, hoặc là nhập Định một
ngày, hoặc nhập Định bốn mươi chín ngày.
Trong Định, vị ấy đạt được Thiền
vị của Định, dùng đó làm thức ăn. Người
nhập Định chẳng hề ăn uống, cảm
giác ǵ cũng đều không có, ngay cả tưởng
cũng chẳng có, chẳng có cảm nhận. Như thế
th́ sẽ có cảm giác ǵ? Trụ trong môn Định này, tâm
chẳng chấp giữ, đạt tới mức tâm b́nh
đẳng, tâm và hư không giống nhau!
Khi
đó, nơi mỗi lỗ chân lông trên thân vị ấy
đều tiết ra chất sương lỏng, mồ
hôi giống như sương. “Trạng như Măo Tinh”,
tức là h́nh dạng giống như sao Măo[8].
“Diệt trừ nhất thiết úc chưng kết
phược” (diệt trừ hết thảy kết
phược nung nấu): Hơi nung nấu đều chẳng
có. Nếu từ môn Định này xuất, vị ấy sẽ
đạt được chánh ức niệm, hỷ lạc
tối thắng, tràn ngập cái thân này. Đó gọi là Tứ
Thiền Bát Định. Định ấy chẳng phải
là thánh cảnh, chẳng phải là thánh cảnh của Phật,
Bồ Tát. Do vậy, hỷ lạc tối thắng tràn ngập
cái thân chính là như Đại Tự Tại Thiên Tử nhập
Hiện Nhất Thiết Lạc Định, cũng là môn
Định do Đại Lạc Thiên Tử đă nhập,
chẳng phải là xuất thế Định. Biết môn
Định này, chúng ta chẳng dễ ǵ đạt
được; nhưng đă đạt được th́
vẫn là sanh diệt. Khi Định tán th́ vẫn là chẳng
có ǵ. Do mỗi lỗ chân lông đều [cảm nhận]
vui sướng, cho nên gọi là Đại Tự Tại
Thiên Tử nhập Nhất Thiết Lạc Định.
“Như
thị Bồ Tát lạc xúc kỳ thân” (Bồ Tát như
thế lạc chạm vào thân): Sự vui sướng này chạm
vào thân, Ngài bèn sanh khởi ư tưởng
niệm Phật. Đạo hữu tu Tịnh Độ phải
chú ư đoạn kinh văn này. Bồ Tát niệm Phật như
thế đó. V́ nghĩ đến niệm Phật, mong niệm
Phật, nghĩ tưởng Phật. Niệm Phật chỉ
thấy thân tướng Phật. Vị ấy ở trong
Định, chỉ thấy thân tướng Phật, tướng
ǵ khác cũng đều chẳng niệm, đều chẳng
có, chẳng sanh khởi ư niệm đó. Lúc bấy giờ,
quư vị niệm một vị Phật, sẽ thấy một vị Phật. Người
ấy niệm Thích Ca Mâu Ni Phật, sẽ chỉ thấy
Thích Ca Mâu Ni Phật. Nếu niệm nhiều vị Phật
th́ sao? Nếu người ấy quán Thích Ca Mâu Ni Phật,
Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, Bất Động
Như Lai, Đa Bảo Như Lai, trong một niệm,
chư Phật đều hiện. Có thể niệm nhiều
Phật, nhiều vị Phật sẽ hiện. Có thể
niệm một vị Phật, một vị Phật liền
hiện. Tùy niệm mà hiện, sanh sang thế giới Cực
Lạc. Niệm A Di Đà Phật sanh về thế giới
Cực Lạc, quư vị có thể tu hành như thế
đó.
“Nhược
niệm tiểu thân Phật” (nếu niệm thân Phật
nhỏ), quư vị có thể thấy thân Phật nhỏ.
Đấy là Hóa Phật. Nếu niệm Thích Ca Mâu Ni Phật,
thấy kim thân một trượng sáu. Niệm Lô Xá Na Phật,
thấy thân cao ngàn trượng. Đó là Báo Thân Phật. Niệm
thân Phật nhỏ, bèn thấy thân Phật nhỏ. Niệm
thân Phật lớn, sẽ thấy thân Phật lớn. Nếu
niệm vô lượng thân Phật, sẽ thấy vô lượng
thân Phật. Niệm vô lượng thân, trong một vi trần
có các cơi nước nhiều như vi trần, trong một
cơi có chẳng thể nghĩ Phật, vô lượng chư
Phật.
“Nhược
niệm tự thân vi Phật thân tướng” (nếu
nghĩ thân ḿnh là thân tướng của Phật): Quán
tưởng ta là Phật, Phật là ta, quư vị liền hiện
thân của chính ḿnh là Phật tướng. H́nh tướng viên
măn, giống như thân tướng của Phật. Phát Tâm
Trụ Bồ Tát Bồ Tát có thể làm được. Khi
Ngài niệm một đức Phật, quán tưởng hợp
nhất với Phật thân. Chúng sanh khác thấy vị ấy
là Phật, các tướng viên măn trọn đủ, hoặc
là ba mươi hai tướng, hoặc là tám mươi loại
hảo, nhưng chưa niệm Báo Thân được! Nếu
niệm thân người khác là thân tướng của Phật,
sẽ thấy thân người khác có các tướng viên măn
giống như thân tướng của Phật.
Chẳng phải là niệm chính ḿnh, hoặc niệm một vị
đạo hữu nào đó. Quán tưởng người
khác là Phật, người ấy đă thành tựu. Quư vị thấy
người ấy là thân Phật, cũng là các tướng
viên măn.
(Kinh)
Bồ Tát nhĩ thời tiện tác thị niệm: “Nhất
thiết chư pháp, nhất thiết sắc tượng,
giai như huyễn đẳng, đế thật bất
hư. Ngă kim phục ưng giai tất đoạn diệt nhất
thiết tam thọ, tam hạnh đẳng pháp, linh vô hữu
dư”. Tác thị niệm dĩ, nhập Diệt Tận
Định. Trụ thử Định trung, như tâm sở
kỳ, giai tận đoạn diệt, thọ Định
vị thực. Hoặc nhất thất nhật dạ, hoặc
nhị thất nhật dạ, hoặc tam, tứ, ngũ, lục,
thất, bát, cửu, thập thất nhật dạ, hoặc
kinh vô lượng bách thiên câu-chi na-dữu-đa kiếp,
tùy lực sở năng, an trụ thử Định, thọ
Định vi thực. Tùng thử Định khởi, kỳ
tâm tịch tĩnh, vô sở thủ trước, yến
nhiên nhi trụ. Phục nhập thắng nghĩa cứu
cánh Không định, quảng thuyết như tiền, năi
chí tưởng niệm Phật thân tướng dĩ, tri
nhất thiết pháp, nhất thiết sắc tượng,
giai như huyễn đẳng, đế thật bất
hư.
(經)菩薩爾時便作是念:‘一切諸法、一切色像,皆如幻等,諦實不虛。我今復應皆悉斷滅一切三受、三行等法,令無有餘。’作是念已,入滅盡定;住此定中,如心所期,皆盡斷滅,受定味食,或一七日夜,或二七日夜,或三、四、五、六、七、八、九、十七日夜,或經無量百千俱胝那庾多劫,隨力所能,安住此定,受定味食;從此定起,其心寂靜,無所取著,宴然而住。復入勝義究竟空定,廣說如前。乃至思念佛身相已,知一切法、一切色像,皆如幻等,諦實不虛。
(Kinh:
Lúc bấy giờ, Bồ Tát liền nghĩ như thế
này: “Hết thảy các pháp, hết thảy h́nh sắc,
đều như huyễn v.v… chân thật chẳng dối.
Nay ta lại nên thảy đều
đoạn diệt hết thảy các pháp tam thọ, tam hạnh
v.v… khiến cho chúng chẳng c̣n sót”. Nghĩ như thế rồi,
nhập Diệt Tận Định. Trụ trong môn Định
ấy, như ḷng mong mỏi, đều đoạn diệt
hết, dùng pháp vị Thiền Định làm thức
ăn, hoặc trong bảy ngày đêm, hoặc mười bốn
ngày đêm, hoặc ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, chín,
mười lần bảy ngày đêm, hoặc trải qua vô
lượng trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa kiếp, tùy
theo sức ḿnh an trụ trong Định ấy, dùng pháp vị Thiền Định
làm thức ăn. Từ môn Định
ấy khởi, tâm Ngài tịch tĩnh, chẳng chấp
trước ǵ, an tường mà trụ. Lại nhập thắng
nghĩa cứu cánh Không định, rộng nói như trước,
cho đến niệm thân tướng của Phật rồi,
biết hết thảy các pháp, hết thảy h́nh sắc
đều như huyễn v.v… chân thật chẳng dối).
Khi
ấy, quư vị mới cảm nhận cái gọi là “nhất
thiết pháp như mộng, huyễn, bào, ảnh” (hết
thảy các pháp như mộng, huyễn, bọt, bóng), mới
biết Phật pháp như lư, như thật, chẳng giả.
Nếu là lúc hành Phổ Hiền Hạnh Nguyện, tùy tiện
lấy một pháp, không ǵ chẳng phải là pháp giới. Bởi
lẽ, trong một trần có các cơi nước nhiều
như số vi trần. Trong một vi trần, có vô cùng vô tận
cơi Phật. Trong mỗi cơi, lại có vô cùng vô tận Phật
nhiều ngần ấy. Trước mỗi đức Phật,
lại có vô cùng vô tận chư Phật, Bồ Tát vây quanh
thuyết pháp, điều này cũng là chân thật. V́ sao?
Đều là Pháp Thân, đều do pháp tánh thành tựu.
Như vậy “ngă kim phục ưng giai tất đoạn
diệt nhất thiết tam thọ, tam hạnh đẳng
pháp linh vô hữu dư” (ta nay lại nên đoạn diệt
hết thảy các pháp như tam thọ, tam hạnh v.v… khiến
cho chúng chẳng c̣n thừa sót), Khổ Thọ, Lạc Thọ,
thân, miệng, ư, hết thảy các pháp đều đoạn
diệt, khiến chẳng c̣n sót thừa, chẳng lưu lại
chút vô minh nào! “Tác thị niệm dĩ, nhập Diệt Tận
Định, trụ thử Định trung, như tâm sở
kỳ, giai tận đoạn diệt, thọ Định
vị thực, năi chí nhất thất nhật dạ, hoặc
nhị thất nhật dạ, hoặc tam, tứ, ngũ, lục,
thất, bát, cửu, thập thất nhật dạ” (Nghĩ
như thế rồi, nhập Diệt Tận Định.
Trụ trong môn Định ấy, như ḷng mong mỏi,
đều đoạn diệt hết, dùng pháp vị Thiền
Định làm thức ăn, cho đến bảy ngày
đêm, hoặc mười bốn ngày đêm, hoặc ba, bốn,
năm, sáu, bảy, tám, chín, mười lần bảy ngày
đêm): “Mười thất” là bảy
mươi ngày ở trong Định.
“Hoặc
kinh vô lượng bách thiên câu-chi na-dữu-đa kiếp” (Hoặc
trải qua vô lượng trăm ngàn câu-chi na-dữu-đa
kiếp): Thời gian ấy quá dài, chẳng có cách nào tính toán.
Nếu vẫn chưa có Định lực như thế th́
“tùy kỳ sở năng” (tùy theo khả năng), quư vị
có sức quán tưởng, sức tịch tĩnh của
Định tâm to cỡ nào, bèn an trụ trong môn Định
ấy, “thọ Định vị thực” (dùng pháp vị
của Thiền Định làm thức ăn). Nếu sau
khi từ môn Định ấy xuất, trong tâm tịch
tĩnh, không chấp trước, chuyện ǵ cũng chẳng
chấp lấy, chuyện ǵ cũng chẳng chấp trước,
căn bản là chẳng chấp giữ, c̣n có ǵ để
xả? Chẳng lấy, chẳng xả! “Yến nhiên nhi
trụ” (an tường mà trụ): Khi ấy, người
đó trụ trong an
tường, lại nhập một môn Định khác. “Phục
nhập thắng nghĩa cứu cánh không Định” (Lại
nhập Không Định thắng nghĩa rốt
ráo): Thắng Nghĩa Không Định là các môn Định
như đă nói trong phần trước và môn Định
được nói ở đây giống nhau, đều là Thắng Nghĩa Không Định. “Quảng thuyết như tiền,
năi chí tư niệm Phật
thân tướng dĩ, tri nhất thiết pháp, nhất thiết sắc tượng giai như huyễn
đẳng, đế thật bất hư” (Rộng nói
như trong phần trước, cho đến nghĩ
tưởng thân Phật rồi, biết hết thảy các
pháp, hết thảy các h́nh sắc đều như huyễn
v.v… chân thật chẳng dối): Đấy là chân thật,
trọn chẳng giả, lư chắc thật như thế.
(Kinh)
Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát năng dẫn
biến măn hư không, vô lượng
vô biên, quảng đại
chúng cụ, Từ Vô Ngại
Giải, nhất thiết
Phật pháp, chư
tam-ma-địa, chư đà-la-ni, kiên cố Đại Nhẫn
Đại Giáp Trụ Luân. Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử
luân, tắc năng an trụ năng dẫn nhất thiết
hư không nhăn đảnh, chư tam-ma-địa, chư
đà-la-ni, Thiện Xảo Phương Tiện Đại
Giáp Trụ Luân. Trụ thử luân cố, phát khởi vô biên
hư không trí nhật, năng vĩnh trừ diệt tự
thân Tứ Đảo
vô minh hắc ám, nhất thiết quá khứ sở dẫn vị
tận ác bất thiện nghiệp, vô hạ ác thú, chư hữu,
chư thú, tử sanh chư nghiệp, giai năng trừ diệt,
linh tận vô dư, bất thọ quả báo. Thiện nam tử!
Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân, tùng
sơ phát tâm, nhất thiết ngũ dục giai năng trừ
đoạn, siêu thắng nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác, phổ vị nhất thiết Thanh Văn, Độc
Giác tác đại phước điền, nhất thiết
Thanh Văn, Độc Giác Thừa đẳng, giai ưng
cúng dường, thừa sự, thủ hộ. Do thử
luân cố, ư chư Phật pháp, tăng tấn tự tại,
thường vô thoái chuyển, bất phục tùy thuận
ác hữu lực hành, thường đắc bất ly kiến
nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh
Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân
cận, cúng dường
chúng Tăng. Ư chư công đức, tâm thường vô yếm,
năi chí Bồ Đề, hằng vô gián
đoạn. Hựu thường bất ly niệm Phật
tư duy, năi chí mộng trung, diệc vô tạm phế.
Như thị Bồ Tát, phước đức, trí huệ,
tốc tật viên măn, bất cửu an trụ thanh tịnh
Phật quốc, chứng ư Vô Thượng Chánh Đẳng
Bồ Đề. Ư bỉ Phật quốc, nhất thiết
hữu t́nh giai thọ hóa sanh, sắc tướng như Phật,
phiền năo vi bạc, giai trụ Đại Thừa.
Nhĩ thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi
thuyết tụng viết: “Dục thành chư pháp khí, đoạn
nhất thiết phiền năo, thường thú nhập Chân Không, chúng sự vô
nan tác. Vị đoạn chư hữu phược, đương
cần tu Đẳng Tŕ, công đức định
tương ứng, tất hoạch nan tư huệ. Tu
Tĩnh Lự Vô Sắc, diệt định Chân Không Quán, khởi
niệm Phật thắng trí, năng tận nhất thiết
ác. Hữu vô nhất thiết pháp, phá dĩ Chân Không Quán,
vĩnh ly chư ác thú, thường đắc kiến
chư Phật. Thiện tu chân Không Quán, cần học
chư thiện pháp, cúng dường nhất thiết Phật,
tốc đương thành Phật quả, vị hữu
t́nh thân hữu, diệt trừ phiền năo bệnh, tốc
trụ tịnh Phật quốc, chứng đắc đại
Bồ Đề. Chúng sanh như Phật tướng, biến
măn ư Phật độ, giai thú cầu Phật thừa,
ly Thanh Văn, Độc Giác”.
(經)善男子,是名菩薩摩訶薩能引徧滿虛空、無量無邊、廣大眾具、辭無礙解、一切佛法、諸三摩地、諸陀羅尼、堅固大忍大甲冑輪。菩薩摩訶薩成就此輪,則能安住能引一切虛空眼頂、諸三摩地、諸陀羅尼、善巧方便大甲冑輪。住此輪故,發起無邊虛空智日,能永除滅自身四倒無明黑暗,一切過去所引未盡惡不善業、無暇惡趣、諸有諸趣、死生諸業,皆能除滅,令盡無餘,不受果報。善男子,若菩薩摩訶薩成就此輪,從初發心,一切五欲皆能除斷,超勝一切聲聞、獨覺,普為一切聲聞、獨覺作大福田,一切聲聞、獨覺乘等皆應供養、承事、守護。由此輪故,於諸佛法,增進自在常無退轉,不復隨順惡友力行,常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸功德,心常無厭,乃至菩提恆無間斷;又常不離念佛思惟,乃至夢中,亦無暫廢。如是菩薩,福德智慧速疾圓滿,不久安住清淨佛國,證得無上正等菩提;於彼佛國,一切有情皆受化生,色相如佛,煩惱微薄,皆住大乘。爾時,世尊重顯此義,而說頌曰:欲成諸法器,斷一切煩惱,常趣入真空,眾事無難作。為斷諸有縛,當勤修等持,功德定相應,必獲難思慧。修靜慮無色,滅定真空觀,起念佛勝智,能盡一切惡。有無一切法,破以真空觀,永離諸惡趣,常得見諸佛。善修真空觀,勤學諸善法,供養一切佛,速當成佛果。為有情親友,滅除煩惱病,速住淨佛國,證得大菩提。眾生如佛相,徧滿於佛土,皆趣求佛乘,離聲聞獨覺。
(Kinh:
“Này thiện nam tử! Đó gọi là Đại Nhẫn
Đại Giáp Trụ Luân kiên cố, có thể dẫn khởi
vô lượng vô biên trọn đủ các thứ Từ Vô
Ngại Giải rộng lớn đối với hết
thảy Phật pháp, các tam-ma-địa, các đà-la-ni trọn
khắp hư không của Bồ Tát Ma Ha Tát. Bồ Tát Ma Ha
Tát thành tựu luân này, có thể an trụ trong Phương Tiện Thiện Xảo Đại
Giáp Trụ Luân, có thể dẫn khởi hết thảy hư
không nhăn đảnh, các tam-ma-địa, các đà-la-ni. Do trụ
trong luân ấy, phát khởi vô biên mặt trời trí huệ
trong không trung, có thể vĩnh viễn trừ diệt bốn
món điên đảo vô minh hắc ám ngay nơi thân ḿnh,
đối với hết thảy các nghiệp ác bất thiện
dẫn khởi từ quá khứ chưa đoạn hết, các đường
ác không nhàn hạ, các cơi, các đường, các nghiệp
sanh tử đều có thể trừ diệt hết sạch,
chẳng c̣n thừa sót, chẳng thọ quả báo. Này thiện
nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu luân này, từ
sơ phát tâm, hết thảy ngũ dục đều có thể
đoạn trừ, vượt xa hết thảy Thanh
Văn, Độc Giác, v́ khắp hết thảy Thanh
Văn, Độc Giác làm ruộng phước lớn. Hết
thảy các Thanh Văn, Độc Giác Thừa đều
nên cúng dường, thừa sự, thủ hộ. Do v́ luân
này, đối với các Phật pháp, tăng tấn tự
tại, thường chẳng thoái chuyển, chẳng c̣n
thuận theo sức bạn ác để làm, thường
được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật,
và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa
nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường
chúng Tăng. Đối với các công đức, tâm thường
chẳng chán, cho đến Bồ Đề, thường
chẳng gián đoạn. Lại thường chẳng ĺa
niệm Phật tư duy, cho đến trong mộng,
cũng chẳng tạm bỏ. Phước đức và trí huệ của vị Bồ
Tát như thế sẽ mau chóng viên măn. Chẳng
lâu sau, sẽ an trụ trong cơi Phật thanh tịnh, chứng
đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Bồ Đề.
Trong cơi Phật ấy, hết thảy hữu t́nh đều
được hóa sanh, sắc tướng như Phật,
phiền năo mỏng nhẹ, đều trụ trong Đại
Thừa”. Lúc bấy giờ,
Thế Tôn hiển thị lại nghĩa này, bèn nói kệ tụng
rằng: “Muốn thành các pháp khí, đoạn hết thảy
phiền năo, thường tiến nhập Chân Không, các sự
chẳng khó làm. V́ đoạn các hữu phược, hăy siêng
tu Đẳng Tŕ, công đức tương ứng Định, ắt đạt
huệ khó nghĩ. Tu Tĩnh Lự Vô Sắc, diệt định
Chân Không Quán. Khởi thắng trí niệm Phật, diệt sạch
hết thảy ác. Các pháp hữu, vô thảy, phá bởi Chân
Không Quán, măi ĺa các đường ác, thường được
thấy chư Phật. Khéo tu Chân Không Quán, siêng học các
pháp lành, cúng dường hết thảy Phật, sẽ mau
thành Phật quả. V́ hữu t́nh thân hữu, diệt trừ
bệnh phiền năo, mau trụ cơi Phật tịnh, chứng
đắc đại Bồ Đề. Chúng sanh như Phật
tướng, trọn khắp trong cơi Phật, đều
hướng cầu Phật thừa, ĺa Thanh Văn, Độc
Giác”).
Từ
các môn Định được dẫn khởi, nhiếp
thọ trong Định luân, mới có thể phát khởi vô
biên vầng mặt trời trí huệ trong hư không. Vầng
mặt trời ấy giống như trí huệ. Phát khởi
bao nhiêu vầng mặt trời? Vô biên. Trí huệ vô tận,
từ lúc ấy mà phát khởi, bèn rốt ráo trừ diệt
bốn thứ điên đảo nơi bản thân, cho
đến vô minh rốt ráo, cho đến Hoặc nghiệp
vô minh đều rốt ráo trừ diệt. Các nghiệp ác
bất thiện dẫn khởi từ quá khứ, cho đến
“vô hạ ác thú, chư hữu, chư thú, tử sanh
chư nghiệp, giai năng trừ diệt” (các
đường ác chẳng nhàn hạ, các cơi, các đường,
các nghiệp tử sanh, đều có thể trừ diệt):
Sau đấy mới có thể hoàn toàn đoạn trừ, khiến cho chẳng thừa sót, chẳng thọ quả
báo.
“Thiện
nam tử”, nếu các Bồ Tát thành tựu luân này, từ
lúc sơ phát tâm, có thể đoạn trừ hết thảy
ngũ dục, chẳng c̣n bị thoái đọa,
há c̣n có thể nào thuận theo sức mạnh dẫn dắt
của bạn ác nữa chăng? Chẳng thuận theo bạn
ác, sẽ rời ĺa cái ác, th́ cũng có thể chuyển hóa.
Tới khi đó, vị ấy c̣n có thể chuyển bạn
ác thành thiện hữu. Do vậy thường “bất ly
nhất thiết chư Phật, chư Bồ Tát, Thanh
Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân
cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư công đức, tâm thường vô yếm, năi chí Bồ Đề hằng
vô gián” (chẳng ĺa hết thảy chư Phật, chư Bồ
Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa nghe pháp, chẳng
ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với
các công đức, tâm thường chẳng chán, cho đến
Bồ Đề luôn chẳng gián đoạn): Trên
đường Bồ Đề, chẳng c̣n có lúc gián
đoạn nữa. Chúng ta đọc phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện cũng thế, mà niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng cũng thế, chưa hề gián đoạn, luôn chẳng gián đoạn,
cũng là “thường bất ly niệm Phật tư duy”
(thường chẳng ĺa niệm Phật, tư duy). Miệng
niệm Phật, tâm nghĩ đến Phật, thân thể
lạy Phật. “Năi chí mộng trung, diệc vô tạm phế” (Cho đến
trong mộng, cũng chẳng tạm bỏ): Ngày đêm hai mươi bốn giờ đều niệm
Phật, chẳng có một niệm nào rời khỏi Phật,
Pháp, Tăng Tam Bảo. Đă đạt tới mức
độ ấy, “như thị Bồ Tát phước
đức, trí huệ tốc tật viên măn” (phước
đức và trí huệ của vị Bồ Tát như thế sẽ mau chóng
viên măn), sẽ thành Phật rất nhanh chóng. Chẳng bao
lâu, liền an trụ trong cơi Phật thanh tịnh. Chính vị
ấy an trụ trong quốc độ của Phật.
“Ư
bỉ Phật quốc, nhất thiết hữu t́nh giai thọ
hóa sanh, sắc tướng như Phật” (Trong cơi Phật
ấy, hết thảy hữu t́nh đều được
hóa sanh, sắc tướng như Phật): Hữu t́nh ấy
[do thành tựu luân này], trong hết thảy các cơi Phật, đều là hóa sanh, đương nhiên chẳng phải
là sanh nở bằng bào thai. Không có một cơi Phật nào mà
sanh nở bằng bào thai! Thế giới Sa Bà của chúng
ta khác hẳn. Đây là ngũ trược ác thế, chứ
trong cơi Phật thanh tịnh th́ đều là hóa sanh, chẳng
có nữ tướng, chẳng có tướng sanh nở,
nuôi lớn, hoàn toàn chẳng cần
đoạn phiền năo. Tới khi ấy, phiền năo mỏng
ít, rất ít, đều trụ trong pháp Đại Thừa.
“Nhĩ
thời, Thế Tôn trùng hiển thử nghĩa, nhi thuyết tụng viết: - Dục thành chư pháp
khí, đoạn nhất thiết phiền năo, thường
thú nhập Chân Không, chúng sự vô nan tác” (Lúc bấy giờ,
đức Thế Tôn hiển thị lại nghĩa ấy,
bèn nói kệ tụng rằng: - Muốn thành các pháp khí,
đoạn hết thảy phiền năo, thường tiến
nhập Chân Không, mọi việc
chẳng khó làm): Hiển thị hết thảy các tướng. Tuy hiển thị hết thảy các tướng, mà diệt
hết thảy các tướng, đều hiển thị Chân
Không. Đấy là ǵ? Chính là Chân Không Tuyệt Tướng Quán
trong kinh Hoa Nghiêm, là Chân Quán của Thiên
Thai Tứ Giáo; Không, Giả,
Trung là tu Chân Không Quán. “Vị đoạn chư hữu
phược” (v́ đoạn các trói buộc trong các hữu),
tam giới đều có trói buộc. Như vậy th́ thường “cần
tu Đẳng Tŕ” (siêng tu Đẳng
Tŕ), thường siêng tu môn tam-muội ấy, hết thảy các
pháp đều b́nh đẳng. Tŕ hết thảy nghĩa,
tŕ một niệm tâm của chính quư vị, tâm luôn b́nh đẳng.
“Công đức, Định tương ứng” (công đức
và Định
tương ứng): Nếu quư vị đắc loại
Định này, loại công đức này so với môn Định
quư vị đạt được, hai đằng
tương ứng, chẳng thể sai! Công đức là
Định, Định là công đức, mà cũng chẳng
có công đức, cũng chẳng có ǵ là Định. “Tất
hoạch nan tư huệ” (ắt được trí huệ
khó nghĩ tưởng), đấy là nói đạt
được công đức. Đă đắc định,
c̣n có thể đắc huệ, đạt được
huệ chẳng thể nghĩ bàn. “Nan tư” (khó nghĩ) là bất khả
tư nghị. Nếu muốn tu Tĩnh Lự, tu Định,
ngàn vạn lần hăy ĺa Sắc. Tĩnh Lự Vô Sắc,
không có hết thảy các sắc tướng,
tu Tĩnh Lự ĺa hết thảy sắc tướng.
Đấy
gọi là “diệt định Chân Không Quán”, tu Diệt
Tận Định, chân không tuyệt tướng, hết
thảy tướng đă chẳng có. Khi ấy, ở trong
Định, sanh khởi trí huệ niệm Phật thù thắng,
diệt sạch hết thảy các ác, dùng Chân Không Quán để phá
hết thảy các pháp hữu vi. Hữu cũng thế, mà
Vô cũng thế. Hữu là nói đối ứng với vô,
hoàn toàn chẳng phải là Chân Không. Dùng Chân Không Quán để
phá cái Hữu Vô ấy. Cái Hữu Vô ấy một đằng
là thường pháp, một đằng là đoạn diệt
pháp. Hữu là thường pháp, Vô là đoạn diệt.
Chân Không chẳng phải như vậy, Chân Không có thể
sanh ra Diệu Hữu. Diệu Hữu chẳng phải là
Phi Hữu, Phi Hữu chính là Chân Không. Chân Không bất không, tức
là Diệu Hữu, cũng là đạt được hết
thảy các tướng công đức. Các công đức của
Phật có h́nh dạng như thế nào? Diệu Hữu phi
hữu!
“Thiện
tu Chân Không Quán, cần tu chư thiện pháp, cúng dường
nhất thiết Phật, tốc đương thành Phật
quả” (Khéo tu Chân Không Quán, siêng tu các thiện pháp, cúng
dường hết thảy Phật, sẽ mau thành Phật
quả): Khéo tu Chân Không Tuyệt Tướng Quán, có thể
siêng tu các thiện pháp, hoàn toàn chẳng trụ trong Không. Cái
Không ấy chẳng phải là không có. [Nếu hiểu Không là chẳng
có ǵ], đó là chẳng đúng. Có thể khéo tu Chân Không Quán, th́ mới có thể siêng tu các thiện pháp; đó gọi là tu Tứ Quán Chân Thật Tuyệt
Tướng, nương vào lư Chân Không mà sanh khởi hết
thảy các sự, Đó là Lư Sự vô ngại. Các pháp
được hành gọi là “thiện pháp”. Dùng điều này
để cúng dường Phật, dùng pháp để cúng
dường hết thảy chư Phật, thành tựu Phật
quả rất nhanh chóng. V́ hữu t́nh thân hữu, diệt
trừ bệnh phiền năo. Khi đó, quư vị mới có sức
mạnh to lớn, có thể quán chiếu những thân hữu
hữu t́nh liên quan với quư vị, khiến cho bệnh phiền
năo cũng đoạn trừ, đều độ họ.
“Tốc
trụ tịnh Phật quốc” (mau chóng trụ trong cơi
Phật thanh tịnh): Sanh về cơi Phật thanh tịnh, ở
đó có thể “chứng đắc đại Bồ
Đề”, hết thảy chúng sanh đều như Phật
tướng, thấy hết thảy chúng sanh đều là
Phật. “Biến măn ư Phật độ” (trọn
khắp trong cơi Phật): Chúng sanh trong quốc độ Phật
thanh tịnh ấy đều là thành Phật. Như vậy
“giai thú cầu Phật thừa, ly Thanh Văn, Độc
Giác” (đều tiến hướng cầu Phật Thừa,
ĺa Thanh Văn, Độc Giác), ĺa khỏi địa vị
Nhị Thừa, cầu thành Phật. Đợi đến
khi nói xong phẩm Chúc Lụy, tôi sẽ quay lại nói một
chút về tu Sổ Tức Quán, kể như chúng ta viên măn.
Đại
Thừa Địa Tạng Kinh Thập Luân Giảng Kư, phần
14 hết
[1] “Tài đại khí thô” (財大氣粗) có hai ư
nghĩa. Một là tài sản to lớn, nghĩa thứ hai
là cậy vào tiền tài sẵn có, dư dả để ỷ
thế khinh hiếp người khác. Từ ngữ này
thường được dùng theo ư nghĩa xấu: Kẻ
sẵn tiền, lắm của, sẵn sàng vung tay chi tiền
cốt sao thỏa măn thể diện.
[2] Cửu
Hữu là chín chỗ cư ngụ của
hữu t́nh chúng sanh trong tam giới, tức là Dục Giới
(bao gồm nhân gian và sáu tầng trời cơi Dục), Sơ
Thiền Thiên, Nhị Thiền Thiên, Tam Thiền Thiên, Vô
Tưởng Thiên, Không Xứ Thiên, Thức Xứ Thiên,
Vô Sở Hữu Xứ Thiên, và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
Xứ Thiên. Nếu nói chi tiết hơn, tách ra từng tầng
trời, cũng như kể thêm tam ác đạo sẽ
thành hai mươi lăm Hữu. Do các cơi này đều có
phiền năo và tâm thức ràng buộc, nên gọi là Hữu.
[3] Sanh tạng và thục tạng là từ
ngữ chỉ chung bộ phận tiêu hóa, sanh tạng như
thực quản, bao tử, thục tạng là phần ruột
non, ruột già….
[4]
Tam Luận Tông là một tông phái Đại Thừa trong Phật
giáo, lập cước trên ba bộ luận, tức Trung Luận
(Mūlamadhyamakakārikā
do ngài Long Thọ biên soạn, ngài Cưu Ma La Thập dịch
sang tiếng Hán), Thập Nhị Môn Luận (Dvādaśanikāya
Śāstra, do ngài Long Thọ biên soạn, ngài Cưu Ma La
Thập dịch sang tiếng Hán), và Bách Luận (Śataśāstra,
do ngài Thánh Thiên soạn, cũng do ngài Cưu Ma La Thập dịch).
Học thuật của tông này thuộc giáo nghĩa Trung Quán.
Sau này, một đệ tử người Cao Ly của ngài
Gia Tường Cát Tạng là Huệ Quán đă truyền Tam
Luận Tông sang Nhật Bản, trở thành Sơ Tổ Tam
Luận Tông của Nhật Bản. Theo Bát Tông Cương Yếu,
tông này đă tôn Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm cao tổ,
Mă Minh là Nhị Tổ, Long Thọ là tam tổ, kế đó,
lần lượt là các vị Long Trí, Thanh Biện, Trí Quang,
Sư Tử Quang (đó là chi lưu thứ nhất). Chi lưu
thứ hai tức là từ một đệ tử khác của
ngài Long Thọ là Đề Bà, lần lượt truyền
cho La Hầu La Đa, Sa Xa Vương Tử cho đến
ngài La Thập. Do vậy, Tam Luận Tông Trung Hoa tôn ngài La Thập
làm sơ tổ, truyền cho các vị Đạo Sanh, Tăng
Triệu, Pháp Dung, Tăng Duệ, Đàm Ảnh, Đàm Tế.
Đàm Tế truyền cho Đạo Lăng, Tăng Thuyên, Pháp
Lăng, Cát Tạng… Riêng ngài Gia Tường Cát Tạng được
coi là vị có công hoàn thiện và hệ thống giáo nghĩa
Tam Luận Tông. Cuối đời Đường, Tam Luận
Tông suy vi và bị dung nhập vào tông Thiên Thai.
[5] Ngũ
Minh (Pañca-vidyā) là
năm loại học vấn cần phải thấu đạt
của hàng Bồ Tát:
1.Thanh Minh (Śabda-vidyā): Thông thạo
ngôn ngữ, văn học, văn tự học, huấn hỗ
học, vừa thấu hiểu, vừa có thể viết lách,
diễn giảng.
2. Nhân Minh (Hetu-vidyā): Thông thạo luận lư
học, có khả năng biện luận dẹp sạch,
chiết phục các luận thuyết của ngoại đạo,
cũng như tŕnh bày giáo nghĩa một cách hệ thống,
khúc chiết, lập luận rơ ràng, khiến cho người
nghe phát khởi tín tâm thâm nhập Phật pháp.
3. Nội Minh (Adhyātma-vidyā): Thông
thạo triết học và giáo lư Phật pháp, thâm nhập Tam
Tạng, đă tự ḿnh tu hành, lại c̣n có thể giúp cho người
khác khai ngộ.
4. Công Xảo Minh (Śilpa-karma-sthāna-vidyā): Thông thạo các nghề khéo và kỹ
thuật thế gian như nghệ thuật, khoa học, toán
học, công nghê, nông nghiệp…
5. Y Phương Minh (Cikitsā-vidyā): Thông thạo y học và dược học, cho đến
các loại chú thuật cần thiết để chữa bệnh
ḥng cứu giúp chúng sanh.
[6]
Không biết là ḥa thượng nói thiếu, hay người
ghi lại lời giảng chép thiếu, ở đây chỉ
nêu ra ba loại hạnh môn.
[7] Tứ
Kết là sát sanh, trộm cắp, dâm dật, nói dối. Tứ
Xứ là Dục Xứ, Khuể Xứ, Bố Xứ (sợ
hăi), và Si Xứ. Lục Tổn Tài Pháp là mê đắm rượu
chè, cờ bạc, phóng đăng, mê kỹ nhạc, chơi với
bạn ác, và giải đọa (lười nhác mà đọa
lạc).
[8] Sao Măo là một tinh ṭa trong Nhị
Thập Bát Tú, tên gọi đầy đủ là Măo Nhật
Kê, bao gồm bảy tinh tú, tương ứng với tinh
ṭa Kim Ngưu (Taurus) trong thiên văn học phương Tây.
Trong thiên văn học
Trung Hoa, đây là tinh ṭa thứ tư thuộc Tây phương
Bạch Hổ Cung. Nói chi tiết, tinh ṭa này lại gồm
bảy cḥm sao hợp thành, tức Măo Tú, Thiên Hà, Nguyệt,
Thiên Âm, Sô Cảo, Thiên Uyển, Quyển Thiệt, Thiên Sàm,
và Lệ Thạch.