Phật
Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Giảng Kư
佛說無量壽經講記
Phần
2
Chủ giảng: Trưởng
lăo Đạo Nguyên (道源長老)
Địa điểm:
Chí Liên Tinh Xá Đài Bắc
Thời gian: Tháng Tám
năm Dân Quốc 67 (1978)
Cư sĩ Thí Vượng
Khôn bút kư
Chuyển ngữ: Bửu
Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo bản in của
Đài Trung Liên Xă)
Giảo chánh: Đức
Phong và Huệ Trang
2.1.2. Phát Khởi Tự
2.1.2.1. Như Lai hiện tướng phát khởi
(Kinh)
Nhĩ thời Thế Tôn, chư căn duyệt dự,
tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy.
(經)爾時世尊,諸根悅豫,姿色清淨,光顏巍巍。
(Kinh: Lúc bấy giờ, đức
Thế Tôn các căn vui sướng, dáng vẻ thanh tịnh, dung nhan sáng ngời lồng lộng).
“Nhĩ thời” (爾時) là khi đó, khi nào vậy? Khi căn cơ
của đại chúng tương ứng. Trong phần
trước, kinh đă có nói, chư đại Bồ Tát
cùng lúc nhóm đến, chờ đợi đức Phật
thuyết pháp, chính là khi đó. “Thế
Tôn” là đức Phật.
“Chư căn duyệt dự”
(các căn vui sướng): “Chư căn” (諸根) là nói đến thân thể và tâm của
Ngài. Đây là một danh từ chuyên môn rất phổ biến
trong Phật giáo. Nếu quư vị là kẻ sơ phát tâm mà
nghe [từ ngữ này] sẽ chẳng hiểu. Kinh Phật
nói thân thể và cái tâm này, nói chung chia thành sáu căn: Mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, và ư, gọi là Lục Căn. Mắt
gọi là Nhăn Căn, tai gọi là Nhĩ Căn, mũi gọi
là Tỵ Căn, lưỡi gọi là Thiệt Căn, thân
thể gọi là Thân Căn. Năm căn ấy c̣n gọi
là Tiền Ngũ Căn (năm căn trước), chúng ở trên thân thể. Đấy là
thân. Bên trong [thân thể] c̣n có Ư Căn. Ư là tâm, [thường nói là] “tâm ư”. Trong là một cái tâm, ngoài là một thân thể,
đấy là có sáu căn. V́ sao gọi là Căn? Căn (根) có nghĩa là “có
thể sanh ra”, [chẳng hạn như] Nhăn Căn sanh ra
Nhăn Thức, Nhĩ Căn sanh ra Nhĩ Thức, Tỵ
Căn sanh ra Tỵ Thức, Thiệt Căn sanh ra Thiệt
Thức, Thân Căn sanh ra Thân Thức, Ư Căn sanh ra Ư Thức.
Đấy là Lục Căn. “Chư
căn” được nói ở đây chính là lục
căn.
“Duyệt dự”: “Duyệt” (悅) là hoan hỷ, “dự”
(豫) là vui sướng, biểu hiện dáng vẻ
rất hoan hỷ, vui sướng. “Chư căn duyệt dự”, “chư căn” là lục căn, trong ấy Ư
Căn là tâm. Tâm vô h́nh vô tướng chẳng thấy được,
cái [có thể]
trông thấy là sự hoan
hỷ nơi thân. Niềm hoan hỷ nơi thân thể là sự
hoan hỷ từ trong tâm biểu hiện ra. Trong tâm chẳng
hoan hỷ, làm sao biểu lộ niềm hoan hỷ ra ngoài
cho nổi? V́ thế, nói là “chư
căn” th́ vẫn phải nói là lục
căn. Khi đó, sáu căn của đức Thế Tôn đều
tỏ lộ rất vui sướng, hoan hỷ. Lại
c̣n thêm hai câu để h́nh dung, [câu thứ nhất là] “tư sắc thanh tịnh”. “Tư sắc” (姿色) là thân thể của Ngài, thân thể là sắc
pháp. Đừng nên hiểu sắc này là bóng sắc (dáng
điệu xinh đẹp) của nam nữ, mà nên hiểu
là thân thể. [“Tư sắc
thanh tịnh” nghĩa là] thân thể này rất thanh tịnh.
“Quang nhan nguy nguy”: Chữ “quang nhan” (光顏) chỉ diện mạo của Ngài. Dung
nhan có rất nhiều quang minh, nên gọi là “quang nhan”. “Nguy nguy”
(巍巍) có nghĩa là cao trỗi. Trông thấy dáng
vẻ đức Thế Tôn rất hoan hỷ, thân thể rất
thanh tịnh, diện mạo sáng ngời.
V́ sao
đức Thế Tôn hoan hỷ dường ấy? V́ Ngài sắp
nói pháp môn Tịnh Độ. Tám vạn bốn ngàn pháp môn
trong Phật pháp đều do đức Thế Tôn nói. Nói
pháp môn nào, Ngài cũng đều hoan hỷ, v́ sao chỉ nói
là giảng pháp môn Tịnh Độ bèn hoan hỷ? V́ chẳng
nói pháp môn Tịnh Độ, ư nguyện phổ độ
chúng sanh của đức Phật chẳng thể thỏa
thích! Những pháp môn khác đều là ứng cơ thuyết
pháp, [tức là] tương ứng với căn cơ của
một số người, chẳng thể phổ biến
nhiếp hóa trọn khắp tam căn. Tam căn là chia [các căn cơ] thành thượng căn, trung căn,
và hạ căn. Pháp môn Tịnh Độ là “tam căn phổ bị, lợi độn toàn thâu”
(thích hợp khắp ba căn, gồm thâu trọn vẹn lợi
căn và độn căn). Bậc thượng căn có
thể tu, hàng trung căn có thể tu, kẻ hạ căn
cũng có thể được phổ biến gia bị,
nên gọi là “tam căn phổ
bị”. “Lợi độn
toàn thâu”: Hàng lợi căn có thể gồm thâu vào cửa
Tịnh Độ, mà quư vị là kẻ độn căn,
tức là căn cơ ngu si, cũng có thể gom vào cửa Tịnh Độ. Làm thế
nào để có thể thỏa măn nguyện phổ độ
chúng sanh? Chỉ có pháp môn Tịnh Độ. Nay sắp nói
pháp môn phổ độ chúng sanh này, có thể khiến cho hết
thảy chúng sanh đều đắc độ; do đó,
đức Thế Tôn sanh tâm hoan hỷ to lớn. Hiện thời
đang nói về phần Phát Khởi Tự, đức Thế
Tôn tỏ lộ dáng vẻ rất hoan hỷ. Ngài A Nan thấy
vậy, bèn đứng ra thưa hỏi.
(Kinh)
Tôn giả A Nan, thừa Phật thánh chỉ, tức tùng ṭa khởi,
thiên đản hữu kiên, trường quỵ, hiệp
chưởng, nhi bạch Phật ngôn.
(經)尊者阿難,承佛聖旨,即從座起,偏袒右肩,長跪合掌,而白佛言。
(Kinh: Tôn giả A Nan vâng nhận
thánh chỉ của đức Phật, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, để hở vai phải, quỳ
thẳng, chắp tay, bạch đức Phật rằng).
“Tôn giả A Nan” là bậc đương cơ. “Thừa Phật thánh chỉ”:
“Thừa” (承) là lănh nhận, vâng nhận thánh chỉ của
đức Phật. Đức Phật là đấng đại
thánh, tâm ư của đức Phật được gọi
là Chỉ (旨). Đáng lẽ đức Thế Tôn nói:
“Này A Nan! Ông hăy bước ra thưa hỏi, ta sẽ giảng
kinh”, nhưng đức Thế Tôn hoàn toàn chẳng mở
miệng, ngài A Nan vâng lănh tâm ư của đức Phật.
Tâm ư của đức Phật là muốn nói pháp môn Tịnh
Độ, bậc đương cơ là tôn giả A Nan
lănh hội tâm ư của đức Phật. Đấy gọi
là “thừa Phật thánh chỉ”
đứng ra thưa hỏi. V́ Ngài đứng ra thưa hỏi,
đức Phật sẽ thuyết pháp, hết thảy
chúng sanh đều đạt được lợi ích; do
vậy, Ngài “thừa Phật
thánh chỉ”, tức là vâng nhận tâm ư của đức
Phật, đứng ra thỉnh pháp.
“Tức tùng ṭa khởi” (liền từ chỗ
ngồi đứng dậy): Trước khi đứng ra thỉnh pháp, ai nấy
đều có chỗ ngồi. Ngài từ chỗ ngồi của
ḿnh đứng lên. Đấy là nghi thức và lễ mạo
để thỉnh pháp.
“Thiên đản
hữu kiên” (hở áo vai phải), người xuất
gia đều đắp ca-sa. Khi ngồi, y phủ cả
hai vai, gọi là “thông kiên tháp y”
(通肩搭衣, đắp y che cả hai vai), [gọi tắt
là] “thông kiên”, tức là trùm cả hai vai. Sắp ra thỉnh pháp, bèn
“thiên đản” (偏袒, để hở một bên vai), “đản” (袒) có nghĩa là trần trụi. Để lộ
vai phải ra, riêng lộ một bên vai ra [th́ gọi là “thiên đản hữu kiên”].
“Trường quỵ hiệp chưởng”,
“trường quỵ” (長跪) là hai đầu gối đều quỳ
xuống, các kinh khác nói là “trước
địa” (著地, áp đầu gối sát đất)[1], c̣n kinh này là cả hai đầu gối đều
quỳ xuống đất. “Hiệp
chưởng” (合掌) là hai bàn tay chắp vào nhau. “Tức tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, trường
quỵ” (liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
hở áo vai phải, quỳ thẳng) biểu lộ thân nghiệp cung kính, “hiệp chưởng” (chắp tay) biểu lộ ư nghiệp cung kính. Ư là tâm,
tâm không có h́nh tướng, biểu hiện bằng cách nào?
Chắp tay để biểu hiện ư nghiệp. Chắp
tay biểu thị nhất tâm chẳng tán loạn, biểu
hiện ư nghiệp cung kính. “Nhi
bạch Phật ngôn” (mà bạch đức Phật rằng) thể hiện
khẩu nghiệp cung kính. Đấy là quy củ thỉnh
pháp, thể hiện thân, khẩu, ư ba nghiệp cung kính, ba
nghiệp kiền thành.
2.1.2.2. Ngài A Nan thưa hỏi
2.1.2.2.1. Nêu bày những điều chính ḿnh
đă thấy
(Kinh)
Kim nhật Thế Tôn, chư căn duyệt dự, tư sắc
thanh tịnh, quang nhan nguy nguy, như minh kính tịnh, ảnh
sướng biểu lư, oai dung hiển diệu, siêu tuyệt
vô lượng. Vị tằng chiêm đổ thù diệu như
kim!
(經)今日世尊,諸根悅豫,姿色清淨,光顏巍巍。如明鏡淨,影暢表裏。威容顯耀,超絕無量。未曾瞻覩殊妙如今!
(Kinh:
Ngày nay đức Thế Tôn các căn vui sướng, hoan hỷ,
dáng vẻ thanh tịnh, vẻ mặt sáng rực ṿi vọi,
như gương sáng sạch, trong ngoài thấu suốt,
dung nhan oai đức hiển lộ rạng ngời, vượt
trỗi vô lượng, con chưa từng ngắm nh́n vẻ
đẹp thù thắng như hiện thời).
“Kim nhật Thế Tôn, chư
căn duyệt dự, tư sắc thanh tịnh, quang nhan
nguy nguy” (ngày nay đức Thế Tôn các căn vui sướng,
hoan hỷ, dáng vẻ thanh tịnh, vẻ mặt sáng rực
ṿi vọi): Bốn câu này là do ngài A Nan tường thuật
tướng mạo của đức Thế Tôn do chính mắt
Ngài trông thấy. Sau đó, lại có thêm mấy câu là lời
lẽ để h́nh dung: “Như
minh kính tịnh, ảnh sướng biểu lư” (như gương sáng sạch, trong ngoài
thấu suốt); [ư nói]
thân tướng của đức Thế Tôn hết sức
thanh tịnh, hết sức quang minh, giống như tấm
gương sáng ngời. Tấm gương hết sức
thanh tịnh, gương có thể soi chiếu h́nh bóng. “Biểu lư” (表裏, trong ngoài) đều có thể chiếu
soi rất rơ ràng. Đây là thí dụ nhằm sánh ví tướng
mạo thanh tịnh quang minh của đức Thế Tôn. Tiếp
đó lại tán thán thêm: “Oai dung
hiển diệu, siêu tuyệt vô lượng”, [ư nói] tướng mạo của
Phật không chỉ là rạng rỡ, thanh tịnh, mà c̣n có
một dáng vẻ oai nghiêm. Quư vị trông thấy đức
Thế Tôn, chẳng thể không cung kính. Ngài có một loại
oai đức, từ nơi dung mạo hiển lộ một
loại oai đức, nên gọi là “oai dung” (威容). Trong oai dung lại hiện ra quang minh, nên
gọi là “hiển diệu” (顯耀, hiển lộ chói ngời).
“Siêu tuyệt
vô lượng”: Hết thảy phàm phu, hết thảy thánh nhân
dung mạo đều chẳng trang nghiêm bằng đức
Thế Tôn. Tiếp đó, [ngài A Nan] lại nói: “Vị tằng chiêm đổ thù
diệu như kim” (con chưa từng ngắm nh́n vẻ đẹp
thù thắng như trong hiện thời). Không chỉ là
vượt trỗi hết thảy phàm phu, hết thảy
thánh nhân, mà ngay cả đức Phật, Phật Thích Ca
như con đă thấy trong quá khứ cũng chẳng có
tướng mạo như trong ngày hôm nay, có sự hoan hỷ và trang nghiêm như thế!
Con chưa từng trông thấy tướng mạo của
đức Thế Tôn đặc biệt thù thắng, vi diệu
như ngày hôm nay!
2.1.2.2.2. Nêu ra điều ḿnh suy niệm
(Kinh)
Dụy nhiên đại thánh, ngă tâm niệm ngôn, kim nhật
Thế Tôn trụ kỳ đặc chi pháp, kim nhật Thế
Hùng trụ chư Phật sở trụ, kim nhật Thế
Nhăn trụ đạo sư chi hạnh, kim nhật Thế
Anh trụ tối thắng chi đạo, kim nhật Thiên
Tôn hành Như Lai chi đức, khứ lai hiện tại Phật
Phật tương niệm, đắc vô kim Phật niệm
chư Phật da?
(經)唯然大聖,我心念言:今日世尊住奇特之法;今日世雄住諸佛所住;今日世眼住導師之行;今日世英住最勝之道;今日天尊行如來之德;去來現在,佛佛相念,得無今佛念諸佛耶?
(Kinh:
Vâng, thưa đức Đại Thánh! Tâm con nghĩ rằng, hôm nay đức Thế
Tôn trụ trong pháp lạ lùng đặc biệt, hôm nay
đức Thế Hùng trụ nơi chư Phật trụ,
hôm nay đức Thế Nhăn trụ nơi hạnh đạo
sư, hôm nay đức Thế Anh trụ trong đạo tối
thắng, hôm nay đức Thiên Tôn hành Như Lai đức.
Quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật nghĩ
tới nhau, có phải là hiện thời đức Phật
nghĩ tới chư Phật hay không?)
“Dụy nhiên đại thánh”: “Dụy
nhiên” là từ ngữ người Ấn Động dùng
trong lời ăn tiếng nói để biểu thị sự
cung kính, thuận tùng, tức là như người Hoa nói: “Thị đích” (是的, đúng như thế đấy). Trong phần
trước đă tán thán xong, Ngài lại thưa với
đức Phật: “Đúng như vậy đấy, thưa
đấng đại thánh”. Chúng ta nghiên cứu kinh Phật,
nhất định phải xem chú giải của cổ
nhân. Xem chú giải của cổ nhân th́ chính ḿnh phải biết
chọn lựa, có những bản chú giải chiếu theo
văn tự Trung Hoa để giải thích, tốn khá nhiều
lời lẽ để giải thích, đâm ra chẳng dùng
được! Đối với hai chữ “dụy nhiên”, có người giải thích “dụy” (唯) là duy nhất, “nhiên”
(然) là từ ngữ chuyển tiếp,
nhưng trong ấy chẳng có ǵ để chuyển. Nếu
dựa theo văn tự để giải thích, đâm ra
càng giải thích càng xa. Chúng ta xem bản chú giải nào giải
thích theo kiểu đó, chớ nên dựa theo. “Đại thánh”: Phật là vị
thánh nhân vượt trỗi tam thừa thánh nhân, là bậc
thánh trong các thánh. V́ thế gọi là “đại thánh”.
“Ngă tâm niệm
ngôn” [nghĩa là] trong tâm con
suy đoán như thế này: Diện mạo đức Thế
Tôn hoan hỷ, rạng rỡ dường ấy, nhất
định là có chuyện chi đó? “Kim nhật Thế Tôn trụ kỳ đặc chi pháp”
(hôm nay đức Thế Tôn trụ trong pháp
lạ lùng, đặc biệt), “kỳ
đặc” (奇特) là rất hiếm có. “Thế Tôn” (Bhagavān) là từ ngữ tôn kính để xưng tụng
đức Phật. Thế gian và xuất thế gian tôn
xưng Phật là Thế Tôn. Đây là điều con suy
tưởng, hôm nay dung mạo của đức Thế Tôn
khác với trước kia, nhất định là hôm nay
đức Thế Tôn an trụ trong pháp rất hy hữu.
“Kim nhật Thế
Hùng trụ chư Phật sở trụ” (hôm nay đức Thế Hùng trụ trong chỗ
trụ của chư Phật), “hùng”
(雄) có nghĩa là oai mănh. “Thế Hùng”: Đức Thế Tôn thuyết pháp
như sư tử rống, có đức oai mănh. “Chư Phật sở trụ”
(chỗ
trụ của chư Phật) chính là Đại Thừa Niết Bàn. Nay đức
Thế Tôn nhất định trụ trong cảnh giới Đại
Thừa Niết Bàn.
“Kim nhật Thế Nhăn trụ
đạo sư chi hạnh” (hôm nay đức Thế Nhăn trụ trong hạnh đạo
sư): “Thế Nhăn”
[nghĩa là] tôn xưng đức Phật là con mắt của
thế gian. Chúng sanh chưa mở mang trí huệ, giống
như chẳng có mắt, Phật là con mắt của thế
gian, là bậc đạo sư của thế gian, dẫn dắt
chúng sanh đi theo con đường chánh. Ngày nay đức
Thế Tôn trụ nơi hạnh đạo sư.
“Kim nhật Thế Anh trụ tối
thắng chi đạo” (hôm nay đức Thế Anh trụ nơi đạo
tối thắng), “Anh” (英) là bậc tối cao, tối thắng. “Thế Anh” là tán thán đức
Phật là bậc tối cao, tối thắng trong thế
gian. Nay đức Phật trụ trong đạo tối
cao, tối thắng.
“Kim nhật
Thiên Tôn hành Như Lai chi đức” (hôm nay bậc Thiên Tôn hành đức hạnh của Như Lai), “Thiên Tôn”: Đức Thế Tôn là bậc trời
trong các vị trời, được xưng tụng là
đấng Thiên Trung Tôn. Kinh Vô Lượng Thọ có nêu ra
những đức hiệu ấy. Những chỗ khác chẳng
tôn xưng [đức Phật] bằng những đức
hiệu ấy, v́ sợ sẽ hiểu lầm là Thiên Tôn của
ngoại đạo. “Hành
Như Lai chi đức”: Quá khứ Như Lai có đức
tánh như thế đó, đức Thiên Tôn trong hiện tại
cũng hành theo đức hạnh của quá khứ Như Lai.
Trên đây
đều là những đạo lư suy đoán trong tâm tôn giả
A Nan rồi
miệng bèn thưa tŕnh với đức Thế Tôn. Kế
đó c̣n có những điều chính Ngài tự suy tưởng. “Khứ
lai hiện tại Phật Phật tương niệm, đắc
vô kim Phật niệm chư Phật da?” (quá khứ, vị lai chư Phật nghĩ đến
nhau, có phải là hiện đức Phật nghĩ đến
chư Phật hay chăng?) Điều này chẳng suy tưởng
được, v́ tôn giả A Nan nghe Thích Ca Thế Tôn trong quá khứ
đă từng nói “chư Phật
hoài niệm lẫn nhau”. Quá khứ Phật, hiện tại
Phật, vị lai Phật, ba đời chư Phật
đều hoài niệm lẫn nhau, có phải là đức
Thế Tôn là vị Phật hiện tại đang hoài niệm
chư Phật đó chăng? Điều này cũng là do
chính Ngài (A Nan) suy đoán!
2.1.2.2.3. Tổng kết lời thưa hỏi
(Kinh)
Hà cố oai thần quang quang năi nhĩ?
(經)何故威神光光乃爾?
(Kinh:
Cớ sao oai thần chói ngời như thế?)
“Hà cố oai thần quang quang năi
nhĩ?” (cớ sao oai thần sáng ngời như thế?),
v́ sao ngày nay tướng mạo và oai thần của đức
Thế Tôn sáng ngời như thế? Quang quang năi nhĩ” (chói ngời như thế), đă sáng ngời càng
thêm rạng rỡ, chỗ nào cũng sáng ngời. V́ sao sáng ngời như
thế? Đấy là ngài A Nan suy
lường rồi nêu ra câu hỏi như thế.
Ở đây,
có một nghi vấn ǵ vậy? Chính là bậc A La Hán có đủ
sáu món thần thông; hơn nữa như trong phần Chúng
Thành Tựu trên đây, [kinh văn đă nói bậc A La Hán có] sức thần thông to lớn. Khi đức
Phật tại thế, tôn giả A Nan c̣n chưa chứng
đắc Tứ Quả A La Hán, chỉ chứng đến
Tam Quả. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, [các đại đệ
tử] kết tập kinh tạng,
Ngài mới chứng Tứ Quả. Tuy Ngài chưa chứng
đắc Tứ Quả, chỉ chứng đắc Tam Quả,
Ngài cũng có thần thông, chẳng thể nói tôn giả A
Nan không có thần thông. Trong sáu món thần thông, có một món
là Tha Tâm Thông, Ngài biết trong tâm người khác đang suy
nghĩ ǵ. Quư vị chẳng cần nói năng, trong tâm quư vị
vừa động niệm, Ngài đă biết ngay. Tôn giả
A Nan tuy chẳng chứng đắc Tứ Quả, Ngài là
thánh nhân Tam Quả, vẫn có Tha Tâm Thông. Trong tâm Phật có ǵ? Sẽ nói pháp ǵ? Ngài
suy đoán như vậy, đoán đi đoán lại, Ngài
chẳng biết ư? Có nghi vấn này! Hăy nên biết,
đối với Tha Tâm Thông, do trong tâm quư vị là tâm phàm
phu, có ư niệm dấy lên th́ Ngài mới có thể biết.
Tâm Phật do đă chứng đắc vô phân biệt
Căn Bản Trí, rồi sau đó khởi Hậu Khởi
Trí có phân biệt. Đức Phật có ư niệm phân biệt,
nhưng sự phân biệt ấy lại là vô phân biệt,
v́ nó là diệu dụng do vô phân biệt Căn Bản Trí dấy
lên. Phật có niệm mà giống như vô niệm. Đừng
nói là Tam Quả thánh nhân chẳng đoán được, mà
Tứ Quả thánh nhân, [ngay cả] Đẳng Giác Bồ Tát
cũng chẳng biết. V́ thế, chẳng thể nào không
hỏi Phật, cho nên mới thỉnh pháp. Có đoán
cũng chẳng đoán được, [dẫu] có thần
thông cũng vô dụng!
2.1.2.3. Như Lai gạn hỏi
(Kinh)
Ư thị Thế Tôn cáo A Nan viết: “Vân hà A Nan! Chư
thiên giáo nhữ lai vấn Phật da? Tự dĩ huệ kiến
vấn oai nhan hồ?”
(經)於是世尊告阿難曰:云何,阿難!諸天教汝來問佛耶?自以慧見問威顏乎?
(Kinh: Ngay khi đó, đức
Thế Tôn bảo ngài A Nan rằng: “Như thế nào hả A Nan? Chư thiên dạy
ông đến hỏi Phật đó chăng? Hay là do kiến
giải trí huệ của chính ông mà hỏi về dung nhan oai
đức vậy?”)
Ngài A Nan
suy đoán nửa ngày, chẳng dám quyết định, cho
nên đành hỏi đức Phật. “Ư thị Thế Tôn cáo A Nan viết” (ngay khi đó, đức Thế Tôn bảo
ngài A Nan). Văn tự trong
kinh Phật có nói “ngưỡng
bạch, hạ cáo” (仰白下告), [nghĩa là] đệ tử thưa tŕnh
đức Thế Tôn th́ gọi là Bạch (白), đức Thế Tôn nói chuyện với
đệ tử, th́ gọi là “hạ
cáo” (下告). Ngài bảo A Nan: “Vân hà, A Nan!” [nghĩa là] ông nghĩ như thế nào hả
A Nan? “Chư thiên giáo nhữ lai
vấn Phật da? Tự dĩ huệ kiến vấn oai
nhan hồ?” [nghĩa là]: A Nan! Hôm nay ông hỏi ta là do
chư thiên bảo ông đến thưa hỏi đó chăng? Hay là chính ông có kiến
giải trí huệ mà hỏi về “oai nhan”? “Oai nhan” là
Phật tự xưng, “vấn
Phật da” là hỏi đức Thế Tôn.
2.1.2.4. A Nan đáp sự thật, con tự
thưa hỏi
(Kinh)
A Nan bạch Phật: “Vô hữu chư thiên lai giáo ngă giả,
tự dĩ sở kiến vấn tư nghĩa nhĩ!”
(經)阿難白佛:無有諸天來教我者,自以所見問斯義耳。
(Kinh: A Nan bạch Phật: “Chẳng
có chư thiên nào đến dạy con. Do kiến giải của
chính con mà hỏi nghĩa ấy”).
Chẳng
có chư thiên. “Chư thiên”
là người trên cơi trời nhờ cậy con thưa hỏi. Do chính con thấy đức Thế
Tôn hôm nay dung mạo đặc biệt thù thắng, nhiệm
mầu, con mới hỏi nghĩa lư này. Ở đây có một
nghi vấn: Tôn giả A Nan chẳng biết tâm ư của
đức Phật v́ trí huệ của chính Ngài chưa
đủ. Trí huệ của Phật cao nhất, rốt cuộc
là chính A Nan muốn hỏi? Hay là chư thiên nhờ cậy Ngài hỏi? Đương nhiên là đức
Phật đă biết, v́ sao c̣n phải hỏi? Đấy
là “đă biết rơ mà cố ư hỏi”. Tôn giả A Nan thưa
hỏi, xác thực là do không biết mà thưa hỏi. Đức
Thế Tôn biết rơ rành rành ngài A Nan tự hỏi, vẫn hỏi Ngài: “Là do chư
thiên bảo ông hỏi? Hay là do chính ông tự hỏi?” Đức
Phật hoàn toàn chẳng phải là không biết, đấy
là đă biết rơ mà cố ư hỏi! V́ sao đức Thế
Tôn đă biết rơ mà cố ư hỏi? Hăy nên biết, đức
Thế Tôn thuyết pháp là thuyết cho đại chúng nghe.
Đại chúng trong pháp hội này phàm thánh xen tạp, chẳng
hoàn toàn là thánh nhân, mà cũng có phàm phu, Ngài chú trọng nói cho
phàm phu nghe. Nếu chư thiên nhờ cậy tôn giả A Nan
hỏi, đức Phật sẽ thuyết pháp cho chư
thiên. Đại chúng đang nghe pháp, nhất là thiên chúng,
đều biết đức Phật thuyết pháp là thuyết
pháp cho đại chúng. Đức Phật hỏi ngài A Nan
là đă biết rơ mà cố ư hỏi, khiến cho phàm phu
đang thính pháp liễu giải người nào đứng
ra thưa hỏi.
2.1.2.5. Như Lai tán thán, truyền hăy lắng
nghe, chấp nhận nói pháp
2.1.2.5.1. Trước hết là tán thán lời
hỏi
(Kinh)
Phật ngôn: - Thiện tai! A Nan! Sở vấn thậm khoái,
phát thâm trí huệ, chân diệu biện tài, mẫn niệm
chúng sanh, vấn tư huệ nghĩa. Như Lai dĩ vô tận
đại bi, căng ai tam giới, sở dĩ xuất
hưng ư thế, quang xiển đạo giáo, dục chửng
tế quần manh, huệ dĩ chân thật chi lợi. Vô
lượng ức kiếp, nan trị nan kiến, do Linh Thụy hoa, thời thời năi xuất, kim sở
vấn giả, đa sở nhiêu ích, khai hóa nhất thiết
chư thiên nhân dân.
(經)佛言:善哉!阿難!所問甚快。發深智慧,真妙辯才,愍念眾生,問斯慧義。如來以無盡大悲,矜哀三界,所以出興於世,光闡道教。欲拯濟群萌,惠以真實之利。無量億劫,難值難見。猶靈瑞華,時時乃出。今所問者,多所饒 益,開化一切諸天人民。
(Kinh:
Đức Phật nói: - Lành thay A Nan! Lời hỏi rất
hay, phát ra trí huệ sâu xa, biện tài chân thật, mầu
nhiệm, nghĩ thương chúng sanh, mà hỏi về ư nghĩa
trí huệ ấy. Như Lai do ḷng đại bi vô tận,
thương xót tam giới, cho nên xuất hiện trong cơi
đời, xiển dương rạng rỡ đạo
giáo, muốn cứu vớt các loài chúng sanh, ban cho lợi ích
chân thật, vô lượng ức kiếp khó thể gặp
gỡ, ví như hoa Linh Thụy đúng thời mới xuất hiện.
Nay lời hỏi này đă tạo lợi ích rất nhiều,
khai hóa hết thảy chư thiên và nhân dân).
Khi ấy,
đức Phật bèn tán thán Ngài.
“Phật ngôn: Thiện tai! A Nan”. “Thiện tai” (善哉) là rất tốt, ối chà! Ông tốt lắm!
A Nan, ông tốt quá! “Sở vấn
thậm khoái”, “khoái” (快) là vui sướng,
rất hoan hỷ, là niềm vui sướng xứng tâm vừa
ư ta. Lời ông hỏi khiến ta rất hoan hỷ, phù hợp
khít khao tâm ư của ta. Đúng là ta đang mong có kẻ
thưa hỏi, ông thưa hỏi vừa khéo, ta rất hoan
hỷ, rất sung sướng, phù hợp với niềm
vui sướng trong tâm ư đức Phật, nên gọi là “thậm khoái”.
“Phát thâm trí huệ,
chân diệu biện tài, mẫn niệm chúng sanh, vấn
tư huệ nghĩa” (phát ra trí huệ sâu xa, biện tài chân thật,
mầu nhiệm, nghĩ thương chúng sanh mà hỏi về
nghĩa
lư trí huệ ấy): Vẫn
là A Nan, ông tốt quá! Tốt như thế nào? Ông có thể
xứng hợp tâm ư của Phật, chính ông lại có thể
thỉnh vấn diệu pháp này, tức là chính ông đă khải
phát trí huệ rất sâu, đă đạt được
biện tài chân thật, nhiệm mầu. Đồng thời, ông lại có tâm đại bi, nghĩ nhớ
thương xót hết thảy chúng sanh, thay mặt chúng sanh
mà hỏi nghĩa lư trí huệ này. Đấy là tán thán ngài:
“A Nan! Ông trọn chẳng phải là không biết pháp môn Tịnh
Độ này, nhưng v́ nghĩ thương hết thảy
chúng sanh mà thay họ thưa hỏi, thỉnh Phật thuyết pháp, khéo tạo lợi ích cho hết thảy chúng
sanh”. Do vậy, đức Phật tán thán ngài A Nan.
“Như Lai dĩ vô tận đại
bi, căng ai tam giới” (Như Lai do ḷng đại bi vô
tận, thương xót tam giới): Người mới
phát tâm nghe giảng hăy nhớ, “tam
giới” là phạm vi cư trụ rộng lớn của
phàm phu, gồm Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc
Giới, cho nên gọi là “tam giới”.
Vượt thoát tam giới th́ gọi là “thánh nhân”. Thuộc trong tam giới th́ đều gọi
là phàm phu, lưu chuyển sanh tử trong tam giới. Do vậy,
đức Phật phát đại bi tâm. “Căng ai” (矜哀) là thương xót. [“Căng
ai tam giới”] là thương xót chúng sanh trong tam giới.
“Sở dĩ xuất hưng
ư thế” (cho nên xuất hiện trong cơi đời),
v́ sao đức Phật phải xuất hiện trong cơi
đời? Để cứu độ chúng sanh, cho nên Phật
mới xuất hiện trong cơi đời. Cứu độ
chúng sanh, đó là “quang xiển
đạo giáo” (xiển
dương rạng ngời đạo giáo). Trong phần trước đă có danh từ
“đạo giáo”. “Đạo” (道) là Bồ Đề đạo, “giáo” (教) là ngôn giáo hay pháp do đức Như Lai đă
nói. Xiển dương rạng rỡ đại đạo
Bồ Đề chính là [xiển dương] “ngôn giáo” (言教).
“Dục chửng
tế quần manh” (muốn cứu vớt quần manh), “quần manh” (群萌) là hết thảy chúng sanh. “Chửng tế” (拯濟) là cứu tế, cứu độ. “Huệ dĩ chân thật chi lợi” (ban cho lợi ích chân thật): Đức
Phật ban lợi ích cho chúng sanh th́ gọi là Huệ (惠). Đức Phật ban cho chúng sanh lợi
ích chân thật, chẳng phải là lợi ích thế gian. Lợi
ích thế gian hư huyễn, chẳng thật; đức
Phật tạo lợi ích chân thật, có thể khiến
cho quư vị liễu sanh thoát tử, có thể khiến cho quư
vị chuyển phàm thành thánh, đấy là lợi ích chân
chánh. Lẽ nào chẳng chân thật ư?
“Vô lượng ức kiếp,
nan trị, nan kiến” (vô lượng ức kiếp, khó gặp, khó
thấy): Trong phần trước, đức Phật
đă nói tâm đại bi là cứu độ chúng sanh. Các vị
nghe tôi thuyết pháp th́ phải chú ư nghe! Hiện thời,
[đức Phật] lại bảo chúng sanh, Phật là bậc khó gặp gỡ, quư vị phải khéo nghe, nghe rồi phải y giáo phụng
hành. Đừng nghe qua quít, nghe xong, quư vị chẳng chiếu
theo lời tôi nói để tu hành! Quư vị phải biết
gặp Phật chẳng dễ dàng, bởi trong thời gian
rất dài, dài đến vô lượng ức kiếp,
Phật là “nan trị, nan kiến” (khó gặp, khó thấy). “Trị” (值) là gặp
gỡ. “Nan kiến”: Chẳng
gặp th́ làm sao thấy cho được? V́ thế nói là “nan trị, nan kiến”.
Lại
nói một thí dụ là “do Linh Thụy
hoa, thời thời năi xuất” (như hoa Linh Thụy đúng thời mới xuất hiện). “Linh Thụy hoa” (靈瑞華) chính là hoa Ưu Đàm (優曇, Uḍumbara), là một loại hoa cát tường nhất,
ba ngàn năm mới nở hoa một lần. [Vừa mới
nói] ba ngàn năm mới nở hoa một lần, cớ sao cho
đến hiện thời nó chẳng nở hoa? Nếu là
lúc loại hoa này nở, Kim Luân Vương sẽ xuất
thế. Phật xuất thế giống như hoa Ưu
Đàm, tức
hoa Linh Thụy trổ bông. “Thời
thời” (時時): Chữ Thời thứ nhất là lúc Kim Luân
Vương xuất thế, chữ Thời sau đó là lúc
nó khai hoa. [Hoặc c̣n có thể hiểu], chữ Thời
trước đó là lúc đức Phật xuất hiện,
chữ Thời sau đó là khi thiện căn của chúng
sanh chín muồi, đức Phật mới xuất hiện.
Do vậy, chẳng dễ dàng thấy Phật, khó khăn
như chúng ta chẳng thấy hoa Ưu Đàm!
“Kim sở vấn giả, đa sở
nhiêu ích, khai hóa nhất thiết chư thiên nhân dân” (nay lời hỏi này đă tạo lợi
ích rất nhiều, khai hóa hết thảy chư thiên và nhân
dân): Đây vẫn là lời tán thán ngài A Nan đă hỏi rất
hay. Lời hỏi của ông trong hiện thời “đa sở nhiêu ích” (tạo lợi ích rất
nhiều), “nhiêu” (饒) vẫn
là nhiều. [“Đa sở nhiêu
ích”] là làm nhiều chuyện lợi ích chúng sanh. V́ ông thỉnh
ta, ta sẽ nói pháp môn Tịnh Độ, có thể khai hóa hết
thảy chư thiên nhân dân. Lục đạo chúng sanh th́ chỉ
có chúng sanh trong thiên đạo và nhân đạo là có thể
nghe pháp. Chúng sanh trong ba ác đạo khổ sở, chẳng
được nhàn hạ. Trong phần trước đă
nói “tế chư kịch nạn,
chư nhàn bất nhàn” (cứu giúp [chúng sanh] trong các
nơi khổ sở dữ dội nhất và các nơi thanh
nhàn hay chẳng thanh nhàn). Họ chẳng nhàn hạ, suốt
ngày từ
sáng đến tối chịu khổ, họ chẳng thể thỉnh pháp. A-tu-la cũng là suốt ngày từ sáng
đến tối nổi nóng, suốt ngày từ sáng đến
tối bận tâm v́ đủ chuyện, họ cũng chẳng
thể thỉnh pháp. V́ thế, có lúc xếp A-tu-la vào ba thiện
đạo, có lúc xếp họ vào bốn ác đạo. Chỉ
có chúng sanh trong thiên đạo và nhân đạo là có phước
báo này, [tức
phước báo] thỉnh
Phật thuyết pháp. Do đó, [đức Phật] khai hóa
hết thảy chư thiên, nhân dân.
2.1.2.5.2. Truyền dạy hăy nghe giảng,
chấp thuận thuyết pháp
2.1.2.5.2.1. Nêu rộng về Phật đức,
nói rơ chính ḿnh là người có thể thuyết pháp
2.1.2.5.2.1.1. Dùng cái quả để nói rơ sự
thù thắng
(Kinh)
A Nan đương tri, Như Lai Chánh Giác, kỳ trí nan
lượng, đa sở đạo ngự, huệ kiến
vô ngại, vô năng át tuyệt. Dĩ nhất xan chi lực,
năng trụ thọ mạng ức bách thiên kiếp, vô số,
vô lượng, phục quá ư thử, chư căn duyệt
dự, bất dĩ hủy tổn, tư sắc bất biến,
quang nhan vô dị.
(經)阿難當知,如來正覺,其智難量,多所導御。慧見無礙,無能遏絕。以一餐之力,能住壽命億百千劫,無數無量,復過於此,諸根悅豫,不以毀損,姿色不變,光顏無異。
(Kinh:
A Nan! Hăy nên biết Chánh Giác của Như Lai, trí ấy khó
lường, nhiều cách hướng dẫn, điều
ngự, tri kiến
trí huệ vô ngại, chẳng ai có thể ngăn trở, đoạn
tuyệt [trí huệ] ấy. Do sức của một bữa
ăn mà có thể duy tŕ thọ mạng ức trăm ngàn kiếp,
[cho đến] vô số, vô lượng, c̣n nhiều hơn
số đó, [thế mà] các căn vui sướng,
hoan hỷ, chẳng bị hủy hoại, hao tổn, thân thể chẳng biến đổi, diện mạo rạng ngời chẳng khác).
“A Nan đương tri” (A Nan hăy nên biết): Đức Phật lại gọi ngài A
Nan, ông hăy nên biết. Ngài A Nan là bậc đương cơ, bảo ngài A Nan hăy nên biết, cũng là bảo đại
chúng trong pháp hội khi đó cũng nên biết, mà cũng là bảo chúng ta là những kẻ
đang nghe kinh Vô Lượng Thọ trong hiện tại hăy nên biết. Trong phần trên,
đức Thế Tôn biểu lộ tâm đại bi của
chính ngài, ở đây, lại biểu lộ đại trí huệ
của chính Ngài. “Như Lai Chánh
Giác, kỳ trí nan lượng” (Chánh Giác của Như Lai,
trí ấy khó lường), ta là đức Thế Tôn, đă
đắc Vô Thượng Chánh Tri Chánh Giác, trí huệ của
ta khó thể suy lường được!
“Đa sở
đạo ngự” (nhiều cách hướng dẫn, điều
ngự): Đức Thế Tôn là bậc đại đạo
sư, mà cũng là điều ngự sư, cho nên Ngài dẫn
dắt chúng sanh, điều ngự chúng sanh. “Huệ kiến vô ngại” (tri kiến trí huệ vô
ngại): Tri kiến của
Như Lai là tri kiến đại huệ, chẳng có
chướng ngại. “Vô năng át tuyệt”: Chẳng người nào có thể ngăn
chặn trí huệ của Như Lai. “Tuyệt” (絕) là
đoạn dứt. [“Vô năng át tuyệt”] là chẳng có ngoại đạo nào có thể
ở trước đức Phật mà ngăn trở,
đoạn dứt trí huệ của Phật.
Mấy câu
tiếp đó biểu lộ sức thần thông chẳng
thể nghĩ bàn của Phật. “Dĩ nhất xan chi lực, năng trụ thọ mạng
ức bách thiên kiếp”, [nghĩa là] do sức của một
bữa ăn mà có thể trụ thế lâu đến ức trăm ngàn kiếp. Không chỉ lâu
đến ức trăm ngàn kiếp, c̣n có “vô lượng, vô số, phục quá ư thử”
(vô lượng, vô số, c̣n hơn số ấy nữa), tức
là vượt khỏi số lượng ức trăm ngàn
kiếp. “Chư căn duyệt
dự, bất dĩ hủy tổn”, ư nói: Do sức của
một bữa ăn, vĩnh viễn chẳng ăn uống
nữa, mà thân thể không bị hư hoại, các căn
luôn luôn rất hoan hỷ, rất vui sướng, chẳng
bị tổn hoại. “Tư sắc
bất biến”: Tướng mạo thân thể chẳng
biến đổi. “Quang nhan vô
dị”: Vẻ mặt rạng rỡ vĩnh viễn là
như vậy!
2.1.2.5.2.1.2. Biện định cái nhân để
nêu rơ cái quả
(Kinh)
Sở dĩ giả hà? Như Lai Định Huệ, cứu
sướng vô cực, ư nhất thiết pháp, nhi đắc tự tại.
(經)所以者何?如來定慧,究暢無極,於一切法,而得自在。
(Kinh: V́ lẽ ǵ vậy? Định
và Huệ của Như Lai đă thông suốt chẳng có
cùng cực, được tự tại trong hết thảy
các pháp).
“Sở dĩ giả hà?” (v́ lẽ ǵ vậy?): V́ sao ăn một bữa
mà có thể sống trăm ngàn vạn ức kiếp, thân
thể chẳng hư hoại? “Như
Lai Định Huệ”, Phật đă nhập đại
định, đại huệ. “Cứu
sướng vô cực”: Thông suốt rốt ráo, chẳng
có cùng tận, nên nói là “vô cực”. “Ư nhất thiết pháp, nhi
đắc tự tại” (được tự tại
trong hết thảy các pháp): Phật trở thành đấng
pháp vương, nên giải thích chữ Vương như
thế nào? Có ư nghĩa “tự tại”. Tự tại trong hết thảy các pháp th́ mới
gọi là Pháp Vương.
2.1.2.5.2.2. Căn dặn [A Nan] hăy lắng
nghe điều mà chính ḿnh đang nghĩ tới
(Kinh)
A Nan đế thính! Kim vị nhữ thuyết!
(經)阿難諦聽!今為汝說!
(Kinh: A Nan hăy lắng nghe, nay ta
sẽ v́ ông mà nói).
“A Nan đế thính! Kim vị nhữ
thuyết” (này A
Nan! Hăy lắng nghe, nay ta sẽ v́ ông mà nói): Này A Nan! Ông phải nghe cho kỹ. Chữ
Đế (諦) giải
thích như thế nào? “Đế”
có nghĩa là “tường thẩm”
(suy xét tường tận), “tường”
(詳) là cặn kẽ, “thẩm” (審) là suy
xét. Ông phải nghe tường tận, chân thật. “Chân thật” là thực tại.
Ông phải nghe cặn kẽ, phải thật sự nghe, ta
có pháp để nói cho ông nghe.
Ở
đây c̣n có một nghi vấn, v́ sao đức Phật có
đại thần thông, vẫn cần phải ăn một
bữa, do sức của một bữa ăn mới có thể
sống đến trăm ngàn ức kiếp? Phải biết
điều này: Thuở đức Phật thuyết pháp,
Ngài ứng theo căn cơ. V́ ngoại đạo ở Ấn
Độ có thế lực rất mạnh, quá nửa ngoại đạo tại Ấn Độ đều
học theo khổ hạnh. Có một loại ngoại đạo
tỏ ra có công phu to lớn, họ ăn một bữa
cơm có thể bảy ngày chẳng đói. Có ngoại
đạo ăn một bữa cơm, có thể bốn
mươi chín ngày không đói. C̣n có ngoại đạo
ăn một bữa cơm có thể một trăm hai
mươi ngày không đói, khoe khoang với đức Phật
về thần thông ấy: Ăn một bữa cơm mà có thể một trăm hai mươi ngày
không đói. Đức Phật bảo kẻ ấy: “Ta ăn một bữa cơm có
thể sống trăm ngàn vạn ức kiếp”. Đấy
là pháp phương tiện để hàng phục ngoại
đạo. Trên thực tế, đức Phật là “thiền duyệt vi thực, Pháp
Tánh sung măn” (dùng niềm vui sướng do Thiền Định
làm thức ăn, Pháp Tánh sung măn), Ngài chẳng cần một
bữa ăn ấy, cũng sẽ chẳng bị đói.
2.1.2.6. A Nan vâng lời dạy, lắng nghe
(Kinh)
Đối viết: Dụy nhiên! Nguyện nhạo dục văn.
(經)對曰:唯然!願樂欲聞。
(Kinh: [Ngài A Nan] thưa: Vâng ạ!
Con ưa thích muốn được nghe).
Đức
Thế Tôn đồng ư thuyết pháp cho A Nan, ngài A Nan bèn thưa với đức Phật: “Dụy nhiên! Nguyện nhạo dục văn”. “Duy nhiên” là vâng ạ, được ạ! Bạch Thế
Tôn! Con “nguyện nhạo dục
văn” (nguyện ưa thích muốn
nghe). Chữ Nhạo (樂) phải đọc là Yào (ㄧㄠˋ). “Nhạo”
là “hảo nhạo” (好樂, ưa thích). “Văn”
(聞) là nghe pháp. “Dục”
(欲) là mong cầu. Con thật sự mong cầu thỉnh
pháp. “Nhạo”: Con ưa thích nghe. “Dục văn” là mong muốn,
con hy vọng được nghe, nói quả quyết
hơn. Đức Thế Tôn đă chấp thuận thuyết pháp cho con, con rất hoan hỷ,
con đang mong muốn nghe.
Giảng
đến đây là đă nói xong phần Phát Khởi Tự
cùng với Chứng Tín Tự trong phần trước, tức
là đối với ba phần lớn trong cả một bản
kinh, đă giảng xong phần thứ nhất là Tự Phần.
Tiếp theo đây, sẽ bắt đầu nói vào Chánh Tông Phần.
Chánh Tông Phần chia thành ba khoa lớn, “khoa” (科) là đoạn, tức là chia thành ba đoạn
lớn. Khoa thứ nhất nói A Di Đà Phật tu nhân hạnh
như thế nào? Khoa thứ hai nói A Di Đà Phật thành tựu
quốc độ của Ngài như thế nào? Khoa thứ ba nói A Di Đà Phật nhiếp hóa (nhiếp thủ giáo hóa) hết thảy chúng sanh như thế nào?
Hăy ghi nhớ các điểm cương yếu trong ba khoa lớn này. Nay trước hết là nói về khoa
thứ nhất, tức là nói A Di Đà Phật phát tâm ban
đầu, tức là Nhân, chữ Nhân (因) trong nhân quả. Ngài đă phát cái tâm ǵ? Tức là A Di Đà Phật phát tâm như thế nào? Phát
nguyện như thế nào? Tu hành như thế nào? Đều
là nói về công phu của Ngài trong khi c̣n tu nhân.
2.2. Chánh Tông Phần
2.2.1. Nói về sở hạnh của A Di
Đà (nêu rơ đức Như Lai đă tu vô lượng hạnh
nguyện nơi Bổn và Tích)
2.2.1.1. Liệt kê nhiều vị Phật
để nêu rơ hạnh duyên
(Kinh)
Phật cáo A Nan: - Năi văng quá khứ cửu viễn vô lượng
bất khả tư nghị vô ương số kiếp, Đĩnh
Quang Như Lai, hưng xuất ư thế, giáo hóa độ
thoát vô lượng chúng sanh, giai linh đắc đạo, năi
thủ diệt độ. Thứ hữu Như Lai, danh viết
Quang Viễn, thứ danh Nguyệt Quang, thứ danh Chiên
Đàn Hương, thứ danh Thiện Sơn Vương,
thứ danh Tu Di Thiên Quan, thứ danh Tu Di Đẳng Diệu,
thứ danh Nguyệt Sắc, thứ danh Chánh Niệm, thứ
danh Ly Cấu, thứ danh Vô Trước, thứ danh Long Thiên,
thứ danh Dạ Quang, thứ danh An Minh Đảnh, thứ
danh Bất Động Địa, thứ danh Lưu Ly Diệu
Hoa, thứ danh Lưu Ly Kim Sắc, thứ danh Kim Tạng,
thứ danh Viêm Quang, thứ danh Viêm Căn, thứ danh Địa
Chủng, thứ danh Nguyệt Tượng, thứ danh Nhật
Âm, thứ danh Giải Thoát Hoa, thứ danh Trang Nghiêm Quang Minh,
thứ danh Hải Giác Thần Thông, thứ danh Thủy Quang,
thứ danh Đại Hương, thứ danh Ly Trần Cấu,
thứ danh Xả Yếm Ư, thứ danh Bảo Viêm, thứ
danh Diệu Đảnh, thứ danh Dũng Lập, thứ
danh Công Đức Tŕ Huệ, thứ danh Tế Nhật Nguyệt
Quang, thứ danh Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang, thứ danh
Vô Thượng Lưu Ly Quang, thứ danh Tối Thượng
Thủ, thứ danh Bồ Đề Hoa, thứ danh Nguyệt
Minh, thứ danh Nhật Quang, thứ danh Hoa Sắc Vương,
thứ danh Thủy Nguyệt Quang, thứ danh Trừ Si Minh,
thứ danh Độ Cái Hạnh, thứ danh Tịnh Tín, thứ
danh Thiện Túc, thứ danh Oai Thần, thứ danh Pháp Huệ,
thứ danh Loan Âm, thứ danh Sư Tử Âm, thứ danh Long
Âm, thứ danh Xử Thế, như thử chư Phật,
giai tất dĩ quá. Nhĩ thời, thứ hữu Phật,
danh Thế Tự Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng,
Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế
Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
(經)佛告阿難:乃往過去久遠無量不可思議無央數劫,錠光如來,興出於世,教化度脫無量眾生,皆令得道,乃取滅度。次有如來,名曰光遠,次名月光,次名栴檀香,次名善山王,次名須彌天冠,次名須彌等曜,次名月色,次名正念,次名離垢,次名無著,次名龍天,次名夜光,次名安明頂,次名不動地,次名瑠璃妙華,次名瑠璃金色,次名金藏,次名炎光,次名炎根,次名地種,次名月像,次名日音,次名解脫華,次名莊嚴光明,次名海覺神通,次名水光,次名大香,次名離塵垢,次名捨厭意,次名寶炎,次名妙頂,次名勇立,次名功德持慧,次名蔽日月光,次名日月瑠璃光,次名無上瑠璃光,次名最上首,次名菩提華,次名月明,次名日光,次名華色王,次名水月光,次名除癡冥,次名度蓋行,次名淨信,次名善宿,次名威神,次名法慧,次名鸞音,次名師子音,次名龍音,次名處世,如此諸佛,皆悉已過。爾時,次有佛,名世自在王,如來、應供、等正覺、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。
(Kinh:
Đức Phật bảo ngài A Nan:
- Trong quá khứ
lâu xa vô lượng chẳng thể nghĩ bàn vô
ương số kiếp, Đĩnh Quang Như Lai xuất
hiện trong cơi đời, giáo hóa độ thoát vô lượng
chúng sanh đều khiến cho họ đắc đạo
rồi Ngài diệt độ. Kế đó có Như Lai, tên
là Quang Viễn, vị kế tiếp tên là Nguyệt Quang, vị
kế tiếp tên là Chiên Đàn Hương, vị kế tiếp
tên là Thiện Sơn Vương, vị kế tiếp tên
là Tu Di Thiên Quan, vị kế tiếp tên là Tu Di Đẳng
Diệu, vị kế tiếp tên là Nguyệt Sắc, vị
kế tiếp tên là Chánh Niệm, vị kế tiếp tên
là Ly Cấu, vị kế tiếp tên là Vô Trước, vị
kế tiếp tên là Long Thiên, vị kế tiếp tên là Dạ
Quang, vị kế tiếp tên là An Minh Đảnh, vị kế
tiếp tên là Bất Động Địa, vị kế
tiếp tên là Lưu Ly Diệu Hoa, vị kế tiếp tên
là Lưu Ly Kim Sắc, vị kế tiếp tên là Kim Tạng,
vị kế tiếp tên là Viêm Quang, vị kế tiếp
tên là Viêm Căn, vị kế tiếp tên là Địa Chủng,
vị kế tiếp tên là Nguyệt Tượng, vị kế
tiếp tên là Nhật Âm, vị kế tiếp tên là Giải
Thoát Hoa, vị kế tiếp tên là Trang Nghiêm Quang Minh, vị
kế tiếp tên là Hải Giác Thần Thông, vị kế tiếp
tên là Thủy Quang, vị kế tiếp tên là Đại
Hương, vị kế tiếp tên là Ly Trần Cấu, vị
kế tiếp tên là Xả Yếm Ư, vị kế tiếp
tên là Bảo Viêm, vị kế tiếp tên là Diệu Đảnh,
vị kế tiếp tên là Dũng Lập, vị kế tiếp
tên là Công Đức Tŕ Huệ, vị kế tiếp tên là Tế
Nhật Nguyệt Quang, vị kế tiếp tên là Nhật
Nguyệt Lưu Ly Quang, vị kế tiếp tên là Vô Thượng
Lưu Ly Quang, vị kế tiếp tên là Tối Thượng
Thủ, vị kế tiếp tên là Bồ Đề Hoa, vị
kế tiếp tên là Nguyệt Minh, vị kế tiếp tên
là Nhật Quang, vị kế tiếp tên là Hoa Sắc
Vương, vị kế tiếp tên là Thủy Nguyệt
Quang, vị kế tiếp tên là Trừ Si Minh, vị kế
tiếp tên là Độ Cái Hạnh, vị kế tiếp
tên là Tịnh Tín, vị kế tiếp tên là Thiện Túc, vị
kế tiếp tên là Oai Thần, vị kế tiếp tên là
Pháp Huệ, vị kế tiếp tên là Loan Âm, vị kế
tiếp tên là Sư Tử Âm, vị kế tiếp tên là Long
Âm, vị kế tiếp tên là Xử Thế. Chư Phật
như thế đều đă diệt độ. Lúc bấy
giờ, kế đó có một vị Phật tên là Thế Tự
Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh
Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu,
Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn).
“Phật cáo A Nan” (đức Phật
bảo ngài A Nan): Đây là bắt đầu nói vào Chánh Tông
Phần của kinh Vô Lượng Thọ. “Năi văng quá khứ cửu viễn vô lượng bất
khả tư nghị vô ương số kiếp” (trong quá khứ lâu xa vô lượng chẳng
thể nghĩ bàn vô ương số kiếp); đây là
tính ngược về thời gian rất lâu xa trong quá khứ.
“Kiếp”, tiếng Phạn là
Kiếp Ba (Kalpa), dịch sang tiếng Hán sẽ là “trường thời gian”, là một
danh xưng thời gian. Danh xưng của một đoạn
thời gian dài th́ gọi là Kiếp Ba, phiên dịch
đơn giản là Kiếp.
“Vô ương số” dịch
từ chữ A-tăng-kỳ (Asaṃkhyeya) trong tiếng Phạn, [vô ương số kiếp
tức là] A-tăng-kỳ
kiếp, dịch
sang tiếng Hán sẽ là Vô
Ương Số. Vô Ương Số chẳng phải là
con số mà bọn phàm phu chúng ta có thể tính toán rơ ràng
được. Một A-tăng-kỳ kiếp, hoặc một
Vô Ương Số, là con số mà chúng ta đă chẳng hiểu
rơ, nhưng
trước đó lại
c̣n thêm “bất khả tư nghị”
(chẳng thể nghĩ bàn). Bất Khả Tư Nghị
cũng là một con số lớn, trước đó lại
thêm Vô Lượng, lại thêm Cửu Viễn, đều là
tên gọi của những con số to lớn. Nói chung,
[đức Phật] nói đến thời gian trong quá khứ,
rất xa xôi, rất dài lâu. Dài lâu như thế nào?
Có một
vị Phật xuất thế, tên là Đĩnh Quang Như
Lai. “Đĩnh Quang Như Lai,
hưng xuất ư thế, giáo hóa độ thoát vô lượng
chúng sanh, giai linh đắc đạo, năi thủ diệt
độ” (Đĩnh Quang Như Lai xuất hiện
trong thế gian, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh, khiến cho họ đều đắc đạo
rồi hiện diệt độ): Mỗi vị Phật
xuất thế đều v́ độ chúng sanh nên mới xuất
thế. Đĩnh Quang Như Lai cũng v́ như vậy
cho nên mới xuất hiện trong cơi đời, muốn
giáo hóa, độ thoát vô lượng chúng sanh, độ hết
những chúng sanh hữu duyên, khiến cho họ đều
đắc đạo, khiến cho họ đều chuyển
phàm thành thánh. Vị Phật ấy đă độ hết
chúng sanh, chúng sanh nhiều ngần ấy, Ngài đă độ
hết những chúng sanh có thiện căn chín muồi,
độ hết những chúng sanh hữu duyên, vị Phật
ấy liền nhập Niết Bàn. Niết Bàn là diệt
độ. Vị Phật này là như vậy, mỗi vị
Phật kế tiếp cũng đều là như vậy. Đức
Phật sau khi xuất thế, sẽ giảng kinh, thuyết
pháp độ chúng sanh, khiến cho chúng sanh chuyển phàm
thành thánh, đắc đạo, Ngài bèn nhập Niết Bàn.
Tiếp đó là giản lược, chẳng nói nhiều
như thế, chỉ nói danh hiệu của từng vị
Phật một. Tổng cộng nói ra năm mươi ba vị
Phật, nói đến vị thứ năm mươi bốn
th́ mới nói đến Bổn Sư của A Di Đà Phật.
Phật
Thích Ca nói tất cả năm mươi bốn vị Phật,
nói nhiều ngần ấy nhằm biểu thị Phật là vô lượng số, mới nói năm
mươi bốn vị th́ hoàn toàn chẳng nhiều. Trong
phần Chứng Tín Tự trên đây, nói về Bồ Tát
th́ có vô lượng số Bồ Tát, quyết định
thành vô lượng số Phật, chúng ta phải biết
điều này: “Hết thảy
chúng sanh đều có Phật Tánh, hết thảy chúng sanh
đều có thể thành Phật”. Chẳng giống
như ngoại đạo, Thượng Đế của ngoại
đạo chỉ có một, không thể có hai vị! Đấy
là bất b́nh đẳng! Chỉ cho phép quư vị được lên thiên quốc,
chẳng cho quư vị làm Thượng Đế. Phật
giáo chẳng vậy, chỉ cần quư vị phát Bồ
Đề tâm, tu Bồ Tát đạo, quư vị sẽ có thể
thành Phật. Nói giản lược năm mươi bốn
vị này, nhằm dạy chúng ta sanh khởi tín tâm, phát Bồ
Đề tâm, hành Bồ Đề đạo, quư vị
cũng có cơ hội thành Phật.
“Thứ hữu Như Lai” (kế đó có Như Lai), tức là kế
tiếp Đĩnh Quang Phật, có một vị Như Lai
xuất thế. “Danh viết Quang
Viễn” (tên là Quang Viễn): Quang Viễn Như Lai,
quang minh to lớn, xa thẳm. “Thứ
danh Nguyệt Quang”: Lại có một đức Nguyệt
Quang Như Lai, ánh trăng có thể phá trừ tối
tăm trong đêm đen. “Thứ
danh Chiên Đàn Hương”: Loại hương nổi
tiếng và quư nhất trong thế gian là Chiên Đàn
Hương. “Thứ danh Thiện
Sơn Vương”: Đức Phật tu thiện pháp giống
như núi chúa Diệu Cao, thiện pháp tối cao. “Thứ danh Tu Di Thiên Quan”, núi Tu
Di là Diệu Cao. Thiên quan của Diệu Cao, “thiên quan” là chỗ trang nghiêm cao nhất. “Thứ danh Tu Di Đẳng Diệu”,
tức là quang minh của núi Diệu Cao, chói ngời, rực
rỡ. “Thứ danh Nguyệt Sắc”,
nguyệt sắc (màu của mặt trăng) là thanh tịnh
tự tại. Phật thanh tịnh tự tại giống
như màu sắc của vầng trăng. “Thứ danh Chánh Niệm”: Phật là chánh niệm
hiện tiền, nên gọi là Chánh Niệm Như Lai. “Thứ danh Ly Cấu”: Xa ĺa hết
thảy các “cấu”, tức là xa ĺa hết thảy các phiền năo th́ mới
thành Phật. “Thứ danh Vô Trước”:
Hết thảy các pháp đều chẳng chấp trước
th́ mới thành Phật. “Thứ
danh Long Thiên”: Phật là thầy của trời rồng.
“Thứ danh Dạ Quang”: Có
cùng ư nghĩa với Nguyệt Quang, có thể phá trừ sự tối tăm của đêm đen. “Thứ danh An Minh Đảnh”:
Phật có thể đạt được quang minh an
nhiên, ở trên tột đỉnh quang minh th́ gọi là An
Minh Đảnh.
“Thứ danh Bất Động Địa”: Phật thường ở trong Định,
nên gọi là Bất Động Địa. “Thứ danh Lưu Ly Diệu Hoa”: Lưu Ly c̣n gọi
là Thanh Sắc Bảo, là thứ báu trong ngoài trong suốt,
nên gọi là Lưu Ly Diệu Hoa. “Thứ danh Lưu Ly Kim Sắc”: Trong ngoài sáng rực, c̣n kèm thêm màu hoàng kim. “Thứ danh Kim Tạng”: Phật giống như một
kho báu lớn, giống như kho vàng, kho hoàng kim. “Thứ danh Viêm Quang”: Phật
có đại trí huệ, h́nh dung là Viêm Quang (炎光, ánh lửa sáng ngời). “Thứ danh Viêm Căn”: Phật đạt
được căn bản trí huệ, có thể sanh khởi
rất nhiều trí huệ, giống như đạt
được cái gốc của quang minh chói rực. “Thứ danh Địa Chủng”:
Đức Phật đă thành Phật, hết thảy các
công đức thiện pháp đều có thể sanh thành, giống
như đạt được chủng tử (hạt giống)
nơi đại địa. “Thứ
danh Nguyệt Tượng”: Tướng mạo và quang
minh của Phật thanh lương giống như vầng
trăng. “Thứ danh Nhật Âm”:
Mặt trời có quang minh lớn nhất. Âm thanh thuyết
pháp của đức Phật giống như ánh nắng mặt
trời tỏa ra. “Thứ danh
Giải Thoát Hoa”: Nở hoa giải thoát, có thể đạt
được cái quả giải thoát. “Thứ danh Trang Nghiêm Quang Minh”: Phật có đại
trang nghiêm, có đại quang minh. “Thứ
danh Hải Giác Thần Thông”: Hải (biển) rộng lớn,
sâu thẳm. Sự giác
ngộ của Phật rộng lớn, sâu thẳm, nên nói là Hải Giác. Thần thông của Phật rộng lớn, sâu thẳm, nên gọi là Hải
Giác Thần Thông. “Thứ danh Thủy
Quang”: Từ nước phát ra ánh sáng có thể soi bóng
muôn vật. Phật có thể đạt được Hải Ấn tam-muội, giống như Phật
phát quang, chiếu rơ hết thảy vạn vật. “Thứ danh Đại Hương”:
Phật chứng đắc Vô Phần Pháp Thân hương, nên
gọi là Đại Hương.
“Thứ danh Ly Trần Cấu”: Xa ĺa hết thảy trần cấu, có
cùng ư nghĩa với tôn giả Ly Cấu trong phần
trước. “Thứ danh Xả
Yếm Ư”: Có thể buông xả, có thể chán nhàm phiền
năo trong thế giới Sa Bà, nên gọi là Xả Yếm Ư. “Thứ danh Bảo Viêm”: [Bảo
Viêm] tức là bảo quang. “Thứ
danh Diệu Đảnh”: Hoa Nghiêm tam-muội của Phật
cao nhất, nên gọi là Diệu Đảnh. “Thứ danh Dũng Lập”: Phật
dũng mănh, tinh tấn, kiến lập hết thảy các
pháp môn, nên gọi là Dũng Lập. “Thứ danh Công Đức Tŕ Huệ”: Đức
Phật có danh hiệu là Công Đức Tŕ Huệ, v́ đại
công đức của Ngài có thể nhiếp tŕ đại
trí huệ. “Thứ danh Tế
Nhật Nguyệt Quang”: Quang minh của Phật lớn
nhất, có thể che lấp quang minh của mặt trời
và mặt trăng. “Thứ danh Nhật
Nguyệt Lưu Ly Quang”: Giống như quang minh của
mặt trời, mặt trăng và lưu ly. “Thứ danh Vô Thượng Lưu Ly Quang”, tán thán
quang minh của Phật giống như ánh sáng của
lưu ly. “Thứ danh Tối Thượng
Thủ”: Phật vượt trỗi thánh nhân tam thừa,
là bậc thượng thủ cao nhất. “Thứ danh Bồ Đề Hoa”: Nở hoa Bồ
Đề, kết thành quả. “Thứ
danh Nguyệt Minh, thứ danh Nhật Quang”: Quang minh của
Phật phá trừ hắc ám, giống như ánh trăng, giống
như ánh sáng mặt trời. “Thứ
danh Hoa Sắc Vương”: Hoa Bồ Đề đứng
đầu các sắc. “Thứ
danh Thủy Nguyệt Quang”: Ánh sáng của vầng
trăng in bóng trong nước, biểu thị thanh tịnh.
“Thứ danh Trừ Si Minh”:
Có thể trừ si minh (癡冥, sự tối tăm do ngu si), tức là vô minh phiền năo đều
đoạn, diệt trừ.
“Thứ danh Độ Cái Hạnh”:
Hạnh độ thoát Ngũ Cái. Ngũ Cái chẳng
được nói đến nhiều, danh từ này rất
sâu, tôi giải thích giản lược một chút. “Cái” (蓋) có nghĩa là che phủ, [hàm nghĩa] che lấp
tâm tánh thanh tịnh của chúng ta. Chúng sanh ai nấy đều
có một cái tâm thanh tịnh, v́ sao tâm chúng ta chẳng thanh tịnh?
Do bị năm pháp che lấp. Năm pháp ǵ vậy?
1) Thứ
nhất là Tham Dục Cái (貪欲蓋): Phiền năo của chúng sanh mỗi
người có sự thiên trọng riêng. Có chúng sanh thiên trọng tham dục, bất luận quư vị tham
điều ǵ, tài, sắc, danh tiếng, ăn uống, ngủ
nghê, hễ quư vị tham một thứ nào, tâm thanh tịnh
đều chẳng thể hiển lộ được,
chẳng thể tu hành, chẳng thể dụng công. Đó
là Tham Dục Cái.
2) Thứ
hai là Sân Khuể Cái (瞋恚蓋): Có chúng sanh ưa cáu giận, tâm sân hận
rất nặng. Vậy th́ cũng chẳng thể tu hành, mà
cũng chẳng thể dụng công.
3) Thứ
ba là Thùy Miên Cái (睡眠蓋): Có chúng sanh ham ngủ. Quư vị bảo kẻ
đó đến nghe kinh. Kẻ đó chẳng nghe kinh sẽ
không ngủ gật. Hễ ngồi đó nghe kinh, sẽ ngủ
gà ngủ gật. Quư vị
bảo kẻ đó tĩnh tọa, kẻ đó cũng ngủ
gật. Quư vị bảo kẻ
đó niệm Phật, kẻ đó cũng ngủ gục. Do Thùy Miên Cái, chẳng thể dụng công tu hành.
4) Thứ
tư là Điệu Hối Cái (掉悔蓋): Có chúng sanh trong tâm luôn dấy vọng
tưởng, thân thể không ngồi yên được, làm
sao dụng công cho nổi? Đấy là kẻ thích hoạt
động.
5) Thứ
năm là Nghi Pháp Cái (疑法蓋): Kẻ đó nghe pháp ǵ cũng đều
bán tín, bán nghi. Pháp này tốt đẹp, [nhưng kẻ ấy
luôn sanh nghi], chẳng thể quyết định! Làm sao dụng
công tu hành cho được?
Phải trừ bỏ năm món Cái
ấy th́ mới có thể thành Phật.
“Thứ danh Tịnh Tín”: Tín tâm
thanh tịnh th́ mới thành Phật. “Thứ danh Thiện Tú”, Tú (宿) là tinh tú, [Thiện Tú] là ngôi sao tốt đẹp
nhất trên bầu trời. “Thứ
danh Oai Thần”: Như Lai có đại oai đức,
đại thần thông. “Thứ
danh Pháp Huệ”: Đầy đủ trí huệ nơi hết
thảy các pháp. “Thứ danh Loan
Âm”: Tiếng của chim Loan[2] là một
loại âm thanh êm tai nhất. “Thứ
danh Sư Tử Âm”: Âm thanh thuyết pháp của đức
Phật có oai đức, có thể hàng phục thiên ma, ngoại
đạo. “Thứ danh Long Âm”:
Âm thanh rất vi tế th́ gọi là Long Âm. “Thứ danh Xử Thế”: Tuy Phật xuất thế
gian, nhưng thường ở trong thế gian để giáo
hóa chúng sanh. “Như thử
chư Phật, giai tất dĩ quá”, [nghĩa là] năm
mươi ba vị Phật vừa kể trên đây đều
đă qua rồi (diệt độ rồi).
“Nhĩ thời, thứ hữu Phật,
danh Thế Tự Tại Vương” (lúc bấy giờ, kế đó có một vị
Phật tên là Thế Tự Tại Vương). Thế Tự Tại Vương Như Lai
(Lokeśvararāja) là Bổn Sư của A Di Đà Phật.
Nói tới đây, ngay lập tức có thể nói A Di Đà Phật
phát tâm vào lúc nào. A Di Đà Phật phát nguyện trước
mặt Thế Tự Tại Vương Như Lai, phát ra bốn
mươi tám đại nguyện. Phải ghi nhớ danh hiệu vị Phật này. A Di Đà Phật
phát nguyện ở nơi đâu? Phát nguyện trước
mặt Thế Tự Tại Vương Như Lai.
Tiếp
đó lại nói mười đức hiệu, đều
là đức hiệu của mỗi vị Phật. Mỗi
vị Phật đều có một biệt hiệu và có
mười thông hiệu. Chỉ cần thành Phật, sẽ
đều có mười danh hiệu. Đấy là thông hiệu (các danh hiệu chung), ngoài ra là một biệt hiệu. Chẳng
hạn như nói có một vị Phật tên là Thế Tự
Tại Vương, Bổn Sư của chúng ta là Thích Ca Mâu
Ni. Gọi Ngài là Như Lai, gọi là Phật, hay gọi là
Thế Tôn, đều là thông hiệu (通號), [thông hiệu của mỗi vị Phật]
đều giống như nhau. “Thông
hiệu” là như chúng tôi có thể giảng kinh th́ đều
gọi là “pháp sư”, “pháp sư” là thông hiệu. Tôi gọi
là pháp sư ǵ vậy? Tôi được gọi là pháp sư Đạo
Nguyên, người khác được gọi là pháp sư ǵ
vậy? Vị ấy có tên riêng của ḿnh, cái tên ấy là
biệt hiệu. Hiểu ư nghĩa này; sau đó, nói ra mười danh tự mà mỗi
vị Phật đều có. Nhất là chúng ta tụng niệm khóa tối, đều
niệm bài văn sám hối [bao gồm danh hiệu của] tám mươi tám vị
Phật[3]. Trong phần
trước [của bài văn sám hối ấy] có nói mười
đức hiệu này. Nghe tôi giảng xong, quư vị lại
niệm [danh hiệu] tám mươi tám vị Phật, hăy
khéo quán tưởng.
Trong
mười thông hiệu, thứ nhất là Như Lai (如來, Tathāgata), [hàm nghĩa] “thừa
như thật đạo, lai thành Chánh Giác” (nương vào
đạo như thật, đến thành Chánh Giác). Chữ
thứ nhất là Như, chính là lư thể của Chân Như
Thật Tướng. Ngài đă thành Phật, thành Phật bằng
cách nào? Chứng đắc Chân Như Thật Tướng
th́ thành Phật. Chứng đắc Chân Như Thật
Tướng, tức là cái Thể của chân lư, [cái Thể ấy]
được gọi là Chân Như Thật Tướng Lư
Thể. Hễ chứng đắc bèn thành Phật, chẳng
phải là thành A La Hán. Ngài sẽ trở lại độ chúng
sanh, đă thành Phật bèn trở lại độ
chúng sanh. Đấy gọi là Như Lai, tức là
nương vào đạo như thật, đến thành Chánh
Giác, nên gọi là Như Lai.
Đức
hiệu thứ hai là Ứng Cúng (應供, Arhat), đă thành A La Hán, cũng có ư
nghĩa Ứng Cúng. Tức là đă thành A La Hán th́ đáng
nên được trời, người cúng dường. Bậc
đă thành Phật, càng đáng được hết thảy
trời, người cúng dường. Do vậy, gọi là Ứng
Cúng. Trong Phật giáo, có rất nhiều từ ngữ thông
dụng, đều phải nên biết cội nguồn của chúng. Chẳng hạn như chúng ta
mời một vị đại đức nào đó dùng
cơm, [bèn nói là] “thỉnh vị ấy ứng cúng”. [Ứng
Cúng] là một đức hiệu của Phật, là đức
hiệu của A La Hán. Tôn kính người được
thỉnh, [bèn nói]: “Thưa pháp sư X… hôm nay con thỉnh Ngài đến ứng cúng”, có ư nghĩa
này. Bản thân chúng tôi chẳng dám xưng là Ứng Cúng, tôi
đến chỗ quư vị để dùng cơm th́ gọi
là “cản trai” (趕齋). Phải hiểu những từ ngữ
thông dụng, phải biết chừng mực.
Đẳng
Chánh Giác (等正覺, Samyak-saṃbuddha): Trong các kinh khác dịch là Chánh Biến Tri
(正徧知). Chúng ta niệm bài văn sám hối tám
mươi tám vị Phật, phần đầu cũng ghi
là Chánh Biến Tri. [Danh xưng khác nhau] v́ dịch thuật bất
đồng, chứ ư nghĩa như nhau. Đẳng (等) là Đẳng Biến (等徧), [Biến ở đây] chính là chữ Biến
(徧, trọn khắp) trong Chánh Biến Tri. Chữ
Chánh giống nhau [giữa hai từ ngữ], c̣n Giác
tương ứng với chữ Tri trong Chánh Biến Tri.
Chánh Biến Tri có nghĩa là độc tôn vượt trỗi
chín pháp giới. Đây là đức hiệu của Phật,
giải thích cặn kẽ th́ trong lục phàm pháp giới, đối
với phàm phu, ngoại đạo, phàm phu là vô tri, ngoại đạo là tà tri.
Hàng Nhị Thừa cũng gọi là Chánh Tri, tức là những
ǵ hàng Nhị Thừa liễu giải chẳng phải là
tà, nhưng chẳng trọn khắp, v́ c̣n có những điều cố chấp. Đức Phật không chỉ là chánh tri, mà c̣n là
Biến Tri (徧知, biết trọn khắp), nên gọi là Chánh Biến
Tri. Ở đây (kinh Vô Lượng Thọ) dịch là Đẳng
Chánh Giác, tức là sự giác tri b́nh đẳng, chánh
đáng, to lớn. Đức hiệu của Phật như
thế đó.
Minh Hạnh
Túc (明行足, Vidyā-caraṇa-saṃpanna): Hạnh Tam Minh đầy đủ. Tam
Minh là Túc Mạng Minh, Thiên Nhăn Minh, và Lậu Tận Minh.
1) Túc Mạng
Minh (Pūrva-nivāsānusmrti-jñāna-sāksāt-kriya-vidyā): Biết quá khứ. Bao nhiêu kiếp trong
quá khứ đều biết.
2) Thiên
Nhăn Minh (Cyuty-upapāda-jñāna-sāksāt-kriya-vidyā): Có thể quan sát vị lai. Bao nhiêu kiếp trong vị
lai đức Phật đều có thể trông thấy.
3) Lậu
Tận Minh (Āsrava-ksaya-jñāna-sāksāt-kriya-vidyā): Trong hiện tại, vô lượng thế
giới, vô lượng chúng sanh, vô lượng tâm niệm,
đức Phật đều biết.
Bậc
A La Hán đă chứng sáu món thần thông, [trong ấy]
cũng có ba loại thông này. Ba thứ ấy đều gọi
là Thông, chẳng gọi là Minh, v́ A La Hán chỉ biết nó là
như vậy, chẳng biết nguồn cội, chỉ biết
đại ư, c̣n những chuyện cặn kẽ, vẫn
chưa quan sát thấu triệt. Do vậy, chẳng gọi
là Minh. Đức Phật th́ chuyện trong ba đời quá
khứ, hiện tại, vị lai, Ngài không ǵ chẳng biết,
không chuyện ǵ chẳng thấu hiểu, hạnh Tam Minh trọn
đủ, nên gọi là Minh Hạnh Túc.
Thiện
Thệ (善逝, Sugata): “Thiện”
(善) là tốt lành, “Thệ”
(逝) là đi, dịch sang tiếng Hán sẽ
thành Hảo Khứ (好去). Do dịch thành Hảo Khứ chẳng văn
nhă cho lắm, nên dịch là Thiện Thệ, tức là đi
tốt lắm, đi khéo lắm. Đây là một đức
hiệu của Như Lai. Tôi mới vừa giải thích Như
Lai là “thừa như thật
đạo, lai thành Chánh Giác” (nuơng vào đạo như
thật mà đến thành Chánh Giác). Ngài đến mà không đến, nên gọi
là Như Lai. V́ thiện căn của chúng sanh đă chín muồi,
đáng nên thấy Phật để đắc độ,
Phật bèn hiển hiện. Trên thực tế, Phật
đă sớm thành Phật, Ngài chứng đắc lư thể
Chân Như Thật Tướng, đă thành Phật, cớ sao
chúng ta chẳng trông thấy? Chẳng trông thấy tức
là chẳng đến. Phật đến không có tướng
đến, đi không có tướng đi. Do thiện
căn của chúng ta chưa chín muồi, cho nên chẳng
trông thấy Phật đến. Chờ cho đến khi quư
vị thấy Phật, sẽ đắc độ, do thiện căn đă
chín muồi, Phật bèn đến, nên gọi là Như Lai. Đến mà
chẳng đến th́ gọi là Như Lai. Vậy th́ hóa duyên đă hết, [tức là] duyên giáo hóa chúng sanh đă hết, chúng sanh
đáng độ đều đă độ hết, dẫu
Ngài trụ thế chẳng có ư nghĩa ǵ cả, bèn nhập
Niết Bàn. Nhập Niết Bàn là ra đi, đi mà chẳng
đi, nên gọi là Hảo Khứ (khéo đi). Đức Phật
đă nhập Niết Bàn, chúng ta thấy Ngài chết giống
như phàm phu. Chúng sanh thấy Ngài nhập Niết Bàn, là v́
cái duyên “thấy Phật bèn
đắc độ” đă hết, Phật trụ thế
chẳng có lợi ích ǵ, Ngài liền thị hiện tướng
nhập Niết Bàn, phải ra đi. Đi đến
nơi đâu? Đến trụ trong Đại Niết
Bàn, trụ trong Thường Tịch Quang. V́ thế, Ngài [thị
hiện] tướng chết giống như phàm phu, sự
khéo ra đi ấy là Thiện Thệ.
Thế
Gian Giải (世間解, Lokavida): Pháp thế gian thảy đều liễu
giải. Đức Phật là xuất thế gian, Ngài chẳng
ĺa thế gian giác. Ngài thành Phật, sẽ độ chúng sanh. Độ chúng sanh là độ trong thế gian,
c̣n A La Hán đă vượt thoát tam giới, họ không quay
lại. Họ thấy tam giới như lao ngục, coi sanh
tử như oan gia, liễu thoát sanh tử rất khó khăn, vượt thoát tù ngục tam giới, bảo
họ quay về, họ sẽ chẳng trở về. V́ thế, gọi họ là hàng Tiểu
Thừa. Đức Phật chẳng phải vậy! Đức
Phật thành Phật nhằm độ chúng sanh, v́ để
độ chúng sanh mà đến thế gian. Nhưng quư vị
đă thành Phật, tức là đă chứng đắc Chân
Như Thật Tướng. Đă thành Phật, đó là pháp
xuất thế gian, nhưng pháp thế gian quư vị
cũng đều liễu giải. Nếu quư vị chẳng
liễu giải, sẽ chẳng thể độ chúng sanh.
Trong phần trước đă tán thán tám tướng thành
đạo, đối với văn nghệ và vũ thuật
trong thế gian, thứ ǵ Ngài cũng đều liễu giải.
Chẳng liễu giải, quư vị sẽ chẳng thể
độ chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm nói, hàng Bồ Tát chứng đắc Ngũ Địa mà nếu
chẳng liễu giải pháp thế gian, căn bản là chẳng
thể
độ chúng sanh trong thế
gian. V́ thế mới nói: Đối với pháp thế gian, không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng hiểu,
nên gọi là Thế Gian Giải.
Vô
Thượng Sĩ (無上士, Anuttara): “Sĩ” (士) là tiếng để tôn xưng những
người có học vấn, nói tới những ai có đại
học vấn trong thế gian. Học vấn của Phật
chẳng có ai hơn được, nên gọi là Vô
Thượng Sĩ.
Điều
Ngự Trượng Phu (調御丈夫, Puruṣa-damya-sārathi): Ngài có thể điều ngự hết
thảy chúng sanh, nên được gọi là Điều Ngự
Trượng Phu.
Đối
với mười đức hiệu, có hai cách giải thích:
1) Cách giải
thích thứ nhất, hai danh tự Vô Thượng Sĩ và
Điều Ngự Trượng Phu được gộp
thành một, coi Thế Tôn là danh hiệu thứ mười.
2) Cách giải
thích thứ hai tách Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự
Trượng Phu thành hai danh hiệu, coi Phật là danh hiệu thứ mười,
Thế Tôn là danh hiệu thứ mười một. Nay chúng
ta chọn cách sau, tức cách hiểu theo hai đức hiệu,
Vô Thượng Sĩ là một đức hiệu, Điều Ngự Trượng Phu là một
đức hiệu khác.
Thiên Nhân
Sư (天人師, Śāsta
deva-manuṣyāṇaṃ): Đức Phật thị hiện trong nhân gian,
có khi cũng
lên cơi trời giảng kinh,
thuyết pháp. Ngài không chỉ là sư trưởng của
nhân gian, mà c̣n là sư trưởng của chư thiên, nên gọi
là Thiên Nhân Sư. Hiện thời đối với Phật
pháp, ít người nói đến [ư nghĩa của] Phật,
v́ chữ Phật là tiếng Phạn, ít người giải
thích. Nhân duyên nghe Phật pháp của tín đồ ít ỏi,
nên chỉ biết lễ bái, Phật cũng lạy, Bồ
Tát cũng lạy, ông trời cũng lạy, Ma Tổ[4] cũng
lạy, v́ sao họ lạy tuốt? Chẳng có ai nói cho họ
nghe đó mà! Trong tâm họ dấy lên nỗi ngờ vực,
có người đến hỏi tôi: “Phật lớn hay là ông trời lớn hơn?” Tôi bật cười, họ
chẳng thấy buồn cười v́ không có ai nói cho họ
nghe, họ chẳng biết mà! Tôi liền bảo họ:
“Phật được gọi là Thiên Nhân Sư, vừa nh́n
đă biết ai lớn hơn rồi”. Bất luận là
Thượng Đế hay là chư thiên, đều là đệ tử của
Phật, Phật đều là sư
trưởng của họ.
Phật,
tiếng Phạn là Phật Đà Da (Buddhaya), chữ Da là âm
cuối đă bị lược bớt khi nói năng, nên
thành Phật Đà. Chữ Phật Đà trong tiếng Phạn,
dịch sang tiếng Hán là Giác Giả (覺者). Giác Giả là một cá nhân, là một người giác ngộ, chẳng phải
là Thần như trong ngoại đạo. Họ cho thần
là ghê gớm lắm, [tín đồ có muốn] làm thần cũng chẳng được! Nói theo Phật giáo, Phật là do con người tu thành. Ai nấy
đều có thể thành Phật, Phật là một bậc
giác ngộ. “Giả” (者) là từ ngữ để chỉ người,
[Phật] là người đại giác đại ngộ,
v́ sao chẳng dịch thành Giác Giả? V́ đối với
Giác Giả trong tiếng Phạn, có đủ cả ba ư
nghĩa, tức Tam Giác, tức là tự giác, giác tha, và giác hạnh viên măn. Tam giác
viên măn th́ mới gọi là Phật.
Thế Tôn
(Bhagavat): Bao gồm thế gian lẫn xuất thế gian. “Thế gian” là lục phàm pháp
giới, xuất thế gian là tam thừa thánh nhân pháp giới.
Đấy là chín pháp giới. Do được thế gian
và xuất thế gian tôn trọng, nên gọi là Thế Tôn.
Tôi vừa mới nói, đối với mười đức
hiệu của Phật, có hai cách giải thích: Một là tính
đến Thế Tôn có tất cả mười danh hiệu.
Nay tôi chọn cách giải thích thứ hai, tính đến Phật
là mười đức hiệu, Thế Tôn là đức
hiệu thứ mười một. Có trọn đủ
mười đại hiệu trước đó th́ mới
thành Thế Tôn. Thế Tôn là tổng đức hiệu. Phải
có trọn đủ mười đức hiệu trên
đây th́ mới gọi là Thế Tôn. Do vậy, trong kinh Phật,
đệ tử tôn xưng Phật đều gọi Ngài
là đức Thế Tôn. Đó là cách xưng hô tổng quát.
Phật
được gọi là vạn đức hồng danh.
Năm mươi ba vị Phật trên đây, [kể cả
Thế Tự Tại Vương Phật] là năm
mươi bốn vị Phật, mỗi vị có một
đức hiệu (ư nói danh
hiệu riêng, như Thế Tự Tại Vương Phật
chẳng hạn), tức
là dựa theo một loại công đức để đặt
tên, chẳng thể là một vị Phật lại
được gọi bằng một vạn tên. V́ sao Phật
lại có mười đức hiệu (thông hiệu)? Dựa theo Phật lư để giải
thích, [điều này] biểu thị “sự sự vô tận”. Một
vị Phật có mười đức hiệu, mười
vị Phật gom lại sẽ là một trăm [đức
hiệu], hội tụ một trăm vị Phật sẽ
là một ngàn đức hiệu. Một ngàn
vị Phật hội tụ sẽ là một vạn đức
hiệu. Vạn đức hồng danh biểu thị “sự sự vô tận”. Đấy là đạo lư được nói
trong kinh Hoa Nghiêm. Theo thói quen trong thế gian, [thời cổ] người Ấn Độ thường
có mười tên, đức Phật ở tại Ấn
Độ, chiếu theo thói quen của Ấn Độ, Ngài cũng có mười tên. Thói quen của
người Ấn Độ tương phản với
người Hoa, nói thuận tiện th́ “người Ấn Độ chẳng
sợ rườm rà, người Hoa chuộng đơn giản,
sợ rườm rà”. Người Hoa đặt tên, hiện
thời tên mỗi người có hai chữ, xưa kia chỉ
có một chữ, lại đặt tên tự, lại đặt
hiệu[5], tổng
cộng ba tên gọi là hết rồi, chẳng đặt mười tên. Ấn
Độ th́ ắt phải dùng đến mười tên gọi,
chẳng sợ rườm rà. Đấy là thói quen khác nhau.
Mười đức hiệu ấy là của một vị
Thế Tự Tại Vương Phật, Thích Ca Như Lai
cũng có mười đức hiệu ấy.
2.2.1.2. Nêu ra tấm gương của ngài
Pháp Tạng, nương theo đó để khởi hạnh
2.2.1.2.1. Nói về hạnh thế gian
2.2.1.2.1.1. Nghe pháp phát tâm
(Kinh) Thời hữu quốc
vương, văn Phật thuyết pháp, tâm hoài duyệt dự,
tầm phát vô thượng chánh chân đạo ư.
(經)時有國王,聞佛說法,心懷悅豫,尋發無上正真道意。
(Kinh: Khi ấy, có quốc vương nghe đức Phật
thuyết pháp, ôm ḷng vui sướng, liền phát đạo
ư chánh chân vô thượng).
“Thời hữu quốc
vương” [nghĩa là] thuở ấy có một vị
quốc vương, thuở nào vậy? Chính là vào lúc Thế Tự Tại Vương Phật trụ
thế thuyết pháp. Có một vị quốc vương thỉnh
Phật thuyết pháp. “Văn Phật
thuyết pháp, tâm hoài duyệt dự” (nghe đức Phật thuyết pháp, ôm ḷng
vui sướng): Vừa nghe đức Phật thuyết pháp,
trong tâm sanh niềm hoan hỷ lớn lao, sanh ḷng vui sướng
to lớn. Khi hoan hỷ, vui sướng, đă thấy thấu
suốt toàn thể pháp thế gian. “Tầm phát vô thượng chánh chân đạo ư” (liền phát vô thượng chánh chân đạo
ư): “Tầm” (尋) là ngay trong khi đó, “ư” (意) là tâm,
ngay lập tức phát khởi đạo tâm, tức là
như kinh Kim Cang nói, “phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm”, c̣n kinh này dịch
là Vô Thượng Chánh Chân Đạo Ư. “Đạo tâm” là Bồ Đề tâm, là Vô Thượng Chánh
Chân Bồ Đề tâm. Ngay trong khi ấy liền phát Bồ
Đề tâm, nhớ nhé! Nếu muốn thành Phật th́
trước hết hăy phát cái tâm thành Phật. Tâm thành Phật
là tâm ǵ vậy? Chính là Vô Thượng Chánh Chân Đạo Ư,
cũng là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
tâm.
2.2.1.2.1.2. Xuất gia tu đạo
(Kinh)
Khí quốc quyên vương, hành tác sa-môn, hiệu viết Pháp
Tạng, tài cao dũng triết, dữ thế siêu dị.
(經)棄國捐王,行作沙門,號曰法藏。高才勇哲,與世超異。
(Kinh: Bỏ nước, ĺa
ngôi, trở thành sa-môn, hiệu là Pháp Tạng, tài cao, dũng
khí, thông suốt, trỗi lạ hơn đời).
“Khí quốc quyên vương, hành
tác sa-môn, hiệu viết Pháp Tạng”: Tỳ-kheo Pháp Tạng
(Dharmākara) được nhắc đến ở
đây chính là đức hiệu xuất gia của A Di
Đà Phật khi Ngài c̣n đang tu nhân. Sau khi Ngài đă phát Vô
Thượng Chánh Chân Đạo Ư bèn như thế nào? Thấy
thấu suốt thế gian, ngay lập tức ĺa bỏ quốc
gia trong thế gian, địa vị quốc vương
cũng chẳng cần nữa!
“Khí quốc
quyên vương”: Khí (棄) là Quyên
(捐), mà Quyên cũng là Khí, [Quyên và Khí đều
có nghĩa là “vứt bỏ”], thảy đều bỏ hết,
chẳng cần nữa! “Hành
tác sa-môn”: Lúc đó, Ngài bèn xuất gia làm sa-môn. Sa-môn (Śramaṇa) là tiếng Phạn, dịch sang tiếng
Hán là Cần Tức (勤息), [có nghĩa là] “cần
tu Giới, Định, Huệ; tức diệt tham, sân, si” (siêng tu Giới, Định, Huệ; dứt
diệt tham, sân, si), nên gọi là Sa-môn. Sa-môn là danh xưng để gọi chung
người xuất gia. Người xuất gia đều
gọi là sa-môn. Vị sa-môn này có biệt hiệu, “hiệu viết Pháp Tạng” (hiệu
là Pháp Tạng), c̣n gọi là sa-môn Pháp Tạng. Ngài là một
vị tỳ-kheo, nên gọi là tỳ-kheo Pháp Tạng. Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là thái tử xuất gia. Nếu
không xuất gia, Ngài có thể làm quốc vương. A Di
Đà Phật là tỳ-kheo Pháp Tạng, là quốc
vương xuất gia. V́ sao Phật thị hiện làm Thái
Tử hoặc làm quốc vương? Nêu gương cho
chúng ta: Nếu quư vị muốn thành Phật, th́ phải xuất
gia trước. Để xuất gia th́ trước hết
phải thấy thấu suốt hết thảy mọi thứ
trong thế gian. Có thứ ǵ trong thế gian mà chẳng thấy
thấu suốt? Đối với đại phú, đại
quư, chẳng thấy thấu suốt. Đại phú đại
quư khó thấy thấu suốt cỡ nào? Quư như quốc
vương, thiên tử, giàu ngập bốn biển, kẻ đại quư trong thế gian chẳng có ai
sang quư bằng quốc vương, ở trên vạn người.
Đại phú th́ quư vị có tài sản to lớn cỡ nào?
Dẫu chẳng có tài sản to như tài sản của quốc
vương, hễ một mai thấy thấu suốt đại
phú đại quư, sẽ buông bỏ, chẳng cần nữa;
đấy mới gọi là “đại
trượng phu”.
Phật
pháp chẳng khó học, chỉ có sáu chữ quư vị hăy ghi
nhớ, sẽ học Phật đúng lối, lại c̣n
đạt được lợi ích chân thật. Sáu chữ
nào vậy? “Nh́n thấu, buông xuống,
tự tại”. Học Phật pháp th́ trước hết
phải thấy thấu suốt pháp thế gian, đấy
là bước công phu đầu tiên. Đă thấy thấu
suốt th́ phải buông xuống. Buông xuống chẳng
được th́ sao? Không buông xuống được, quư
vị có thể xuất gia nổi sao? Đă xuất gia mà vẫn
chẳng buông xuống, sẽ vĩnh viễn chẳng thể
đạt được tự tại! Bước đầu
tiên là thấy thấu suốt, bước thứ hai là phải
buông xuống. Buông xuống th́ mới có thể đạt
được tự tại, đạt được lợi
ích chân thật trong Phật pháp, tự tại chẳng
ngăn ngại. Cái này quư vị cũng chẳng thấy thấu
suốt, cái kia cũng chẳng thấy thấu suốt, bị
vướng mắc rồi! Cái này cũng chẳng buông xuống
được, cái kia cũng chẳng buông xuống
được, vướng mắc mất rồi, vĩnh
viễn chẳng đạt được tự tại.
Do đó, phải thấy thấu suốt, buông xuống, tự
tại. Tỳ-kheo Pháp Tạng đă làm gương cho chúng
ta, sang quư đến mức làm quốc vương, giàu có tràn
ngập bốn biển, hễ nói tới thấy thấu
suốt bèn thấy thấu suốt, nói đến buông xuống
bèn buông xuống!
“Cao tài dũng triết, dữ thế
siêu dị”[6]:
Ngài không chỉ là đại phú, đại quư, mà c̣n là một
người tài cao, c̣n có dũng khí, hiểu triết lư, là một
bậc triết gia. Tức là Ngài là một người có
tài cán, có dũng khí, có triết học cao như thế đấy.
Tài cán, dũng khí, triết học của Ngài vượt trỗi
hết thảy mọi người trong thế gian, [nên mới
nói là] “dữ thế siêu dị”
(khác lạ hơn đời).
Đây là nhân tài bậc nhất. Ngài nói thấy thấu suốt
bèn thấy thấu suốt, nói buông xuống bèn buông xuống,
sử dụng nhân tài bậc nhất này trong Phật môn th́
mới có tác dụng to lớn. Nếu chẳng có tài cán, chẳng
có dũng khí, chẳng hiểu triết lư, xuất gia
cũng chẳng thể ngay lập tức thành Phật, ngay
lập tức độ chúng sanh. Tiếp đó, [kinh] nói tỳ-kheo
Pháp Tạng phát ra bốn mươi tám đại nguyện
đều là do Ngài sử dụng tài cán, dũng khí ấy, do thông hiểu lư triết học th́ Ngài mới
có thể phát nguyện độ chúng sanh.
2.2.1.2.1.3. Đến chỗ Phật lễ
bái, tán thán, phát nguyện
(Kinh)
Nghệ Thế Tự Tại Vương Như Lai sở,
khể thủ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, trường
quỵ hiệp chưởng, dĩ tụng tán viết.
(經)詣世自在王如來所,稽首佛足,右繞三帀,長跪合掌,以頌讚曰。
(Kinh: Đến chỗ Thế
Tự Tại Vương Như Lai, đảnh lễ
dưới chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba
ṿng, quỳ thẳng, chắp tay, dĩ kệ tụng tán
thán rằng).
“Hữu nhiễu tam táp”: “Tam táp” (三帀) là ba ṿng. Một ṿng gọi là “nhất táp”. “Hữu nhiễu” (右繞, nhiễu theo chiều phải, đi ṿng
theo chiều kim đồng hồ) thuận Pháp Tánh. Ấn
Độ coi trọng chiều phải, phải đi nhiễu
theo chiều bên phải. Trong quá khứ, các vị đại
tổ sư ở Trung Hoa đối với những lễ
tiết này đều có nghiên cứu. Tại Ấn Độ,
trước hết là đảnh lễ dưới chân
đức Phật, đảnh lễ xong, nhiễu quanh đức Phật theo chiều
phải ba ṿng. Những vị đại tổ sư ấy
tới Trung Hoa, nghiên cứu lễ tiết nhà Phật [kết hợp với lễ
tiết của Trung Hoa, đă quy định]: Tiến vào Phật điện th́ trước
hết vẫn đảnh lễ dưới chân Phật,
quán tưởng, lạy ba lạy, chẳng nhiễu ba ṿng,
phải đợi đến khi công khóa tụng niệm
xong, khi niệm Phật mới nhiễu niệm, vẫn nhiễu
theo chiều phải. V́ thế, tượng Phật trong
đại điện ắt phải thờ ở chính giữa, phía sau tượng
Phật phải để trống để mọi người
có thể đi nhiễu được. Các tùng lâm ở
Đại Lục đều là như vậy. Sang tới
Đài Loan, v́ không có ai nhắc nhở, tượng Phật
đều đặt sát vách tường, lễ tiết
nhiễu theo chiều phải ba ṿng chẳng thực hiện
được.
“Trường quỵ hiệp
chưởng” (quỳ thẳng, chắp
tay): “Trường quỵ” th́ trong phần trước
đă nói, quỳ hai đầu gối xuống, quỳ thẳng
lên, chắp tay. “Dĩ tụng
tán viết” (dùng kệ tụng tán rằng): Tán thán đức
Phật. Hiện thời, chúng ta tụng niệm công khóa
trong đại điện, sau khi đảnh lễ xong,
trước hết xướng bài Hương Tán. Quy củ
ấy gọi là “tán Phật”.
“Dĩ tụng”: Tụng (頌) là Kệ. Kệ giống như thơ của
Trung Hoa, nhưng thơ th́ chú trọng gieo vần và bằng
trắc. Làm kệ tụng cũng chẳng cần phải quan tâm bằng trắc,
cũng
chẳng cần phải gieo vần, chỉ cần các câu có độ dài bằng
nhau. Trong kinh văn đều là mỗi câu bốn chữ,
có khi là mỗi câu năm chữ, cũng có lúc mỗi câu bảy
chữ, đều gọi là kệ tụng, giống
như câu thơ của người Hoa. Tức là người
Hoa th́ làm một bài thơ để tán thán công đức của
Phật, tại Ấn Độ th́ dùng kệ để tán
thán.
Ở
đây, kinh nói tới Thế Tự Tại Vương Như
Lai, nói tới tỳ-kheo Pháp Tạng, đều phải nên
ghi nhớ: Tỳ-kheo Pháp Tạng là danh tự xuất gia của
A Di Đà Phật. Tỳ-kheo Pháp Tạng đối trước
Thế Tự Tại Vương Như Lai phát tâm, phát nguyện.
Nay kinh nói tỳ-kheo Pháp Tạng dùng kệ tụng để
tán thán Thế Tự Tại Vương Phật, có tất cả
hai mươi bài kệ tụng, chia thành ba đoạn lớn.
Bảy bài kệ tụng đầu tiên nhằm tán thán công
đức của Phật, nói rơ chính Ngài có điều mong
cầu, có ước nguyện.
2.2.1.2.1.3.1. Tán thán đức năng của
Phật (gồm bảy bài tụng)
(Kinh)
Quang nhan nguy nguy, oai thần vô cực, như thị viêm
minh, vô dữ đẳng giả, nhật, nguyệt, ma-ni, châu quang diễm diệu,
giai tất ẩn tế,
do như tụ mặc. Như Lai nhan dung, siêu thế vô luân,
Chánh Giác đại âm, hưởng lưu thập
phương. Giới văn tinh tấn, tam-muội trí huệ,
oai đức vô lữ, thù thắng hy hữu, thâm đế
thiện niệm, chư Phật pháp hải, cùng thâm tận
áo, cứu kỳ nhai để. Vô minh, dục, nộ, Thế
Tôn vĩnh vô. Nhân hùng Sư Tử, thần đức vô
lượng, công huân quảng đại, trí huệ thâm diệu,
quang minh oai tướng, chấn động đại thiên.
(經)光顏巍巍,威神無極。如是炎明,無與等者。日月摩尼,珠光燄耀,皆悉隱蔽,猶如聚墨。如來顏容,超世無倫。正覺大音,響流十方。戒聞精進,三昧智慧,威德無侶,殊勝希有。深諦善念,諸佛法海,窮深盡奧,究其涯底。 無明欲怒,世尊永無。人雄師子,神德無量。功勳廣大,智慧深妙,光明威相,震動大千。
(Kinh:
Quang nhan ṿi vọi, oai thần vô cực, chói ngời như
thế, không ai sánh bằng. Nhật, nguyệt, ma-ni, bảo
châu chói rực, thảy đều ẩn khuất, giống
như đống mực. Dung mạo Như Lai, hơn
đời khôn sánh. Đại âm Chánh Giác, vang dội mười
phương. Giới, văn, tinh tấn, tam-muội, trí huệ,
oai đức khôn tầy, thù thắng hiếm có. Thiện niệm
sâu chắc, biển pháp chư Phật, cùng tột sâu mầu,
thấu suốt bờ, đáy. Thế Tôn vĩnh viễn,
chẳng có vô minh, sân hận, tham dục, nhân hùng Sư Tử,
thần đức vô lượng, công huân rộng lớn,
trí huệ sâu mầu, oai tướng quang minh, chấn động đại
thiên).
“Quang nhan nguy nguy, oai thần vô cực,
như thị viêm minh, vô dữ đẳng giả” (quang nhan ṿi vọi, oai thần vô cực,
chói ngời như thế, không ai sánh bằng): Tán thán tướng
hảo và công đức của Phật. “Quang nhan nguy nguy”: Dung mạo sáng ngời của
đức Phật ṿi vọi. Cao nhất, lớn nhất
th́ gọi là “nguy nguy” (巍巍). “Oai thần vô
cực”: Ư nói oai đức và thần thông của Phật
vô cùng, vô cực. “Như thị
viêm minh”: “Viêm” (炎) là ánh sáng, [“như
thị viêm minh” là] sáng rực như thế. “Vô dữ đẳng giả” (không ai sánh bằng):
Càng lúc càng sáng ngời, quang minh của Bồ Tát đều
chẳng thể vượt trỗi Phật được,
chẳng có một ai sánh bằng Phật được!
“Nhật nguyệt ma-ni, châu quang
diễm diệu, giai tất ẩn tế, do như tụ mặc”
(nhật, nguyệt, ma-ni, bảo châu chói rực,
thảy đều ẩn khuất, giống như đống
mực): Bài kệ này h́nh dung quang minh của đức Phật
không có ai sánh bằng. Trên thế giới, sáng ngời nhất
là mặt trời, mặt trăng, [ngoài ra] c̣n có ma-ni Phật
châu. “Ma-ni Phật châu” dịch
sang tiếng Hán là Ma Ni Châu, đều tỏa ánh sáng chói ngời,
rất sáng, nhưng vừa trông thấy Phật quang th́ sao?
Chúng đều chẳng c̣n ánh sáng nữa, “tất giai ẩn tế” (thảy đều ẩn
khuất). Mặt trời, mặt chẳng có ánh sáng, ma-ni Phật
châu cũng chẳng có ánh sáng, đều biến thành đen
kịt, nên gọi là “tụ mặc”
(聚墨, đống mực), một tí quang minh
cũng chẳng có, toàn là đen thủi đen thui!
“Như Lai nhan dung, siêu thế vô
luân. Chánh Giác đại âm, hưởng lưu thập
phương” (dung mạo Như Lai, hơn đời khôn
sánh, đại âm Chánh Giác, vang rền mười
phương): Dung nhan của đức Như Lai vượt
trỗi thế gian, chẳng có ǵ sánh bằng, có cùng ư
nghĩa với câu “vô dữ
đẳng giả” trong phần trước. “Chánh Giác đại âm, hưởng
lưu thập phương”: Tán thán âm thanh nói năng của
Như Lai, trong thế gian chẳng có ǵ sánh bằng
được. “Hưởng”
(響) là âm sắc của Phật, tức là âm
thanh Chánh Giác to lớn, có thể vang dội truyền khắp
mười phương.
“Giới văn tinh tấn, tam-muội
trí huệ, oai đức vô lữ, thù thắng hy hữu”
(giới, văn, tinh tấn, tam-muội, trí
huệ, oai đức khôn tầy, thù thắng, hiếm có):
Quang minh và âm thanh của chư Phật Như Lai đều
là chẳng có ǵ sánh bằng nổi! V́ sao Thế Tự Tại Vương
Như Lai có quả báo tốt đẹp dường ấy?
Do Ngài có hạnh nhân, tức là nói đến cái nhân trong
đời quá khứ của Ngài, do tu pháp môn Lục Độ
mà thành tựu tŕ giới, đa văn, tinh tấn. “Tam-muội” là Thiền Định,
“trí huệ” là Bát Nhă. “Oai đức vô lữ” (oai đức không có ai ngang bằng): Oai
đức cao thượng như thế đó. “Vô lữ” chính là “vô luân” trong phần trước,
[đều hàm nghĩa] không ai có thể sánh bằng Ngài. “Thù thắng hy hữu”: Thù thắng
nhất, hiếm
có nhất!
“Thâm đế thiện niệm,
chư Phật pháp hải” (thiện niệm sâu chắc, biển pháp chư Phật):
Đây là tán thán ư nghiệp của đức Phật. Thiện
niệm của Phật rất sâu; không chỉ là rất sâu, mà c̣n tường tận, chắc thật. Đấy là tâm niệm
của Phật. “Chư Phật
pháp hải”: Thiện niệm của Ngài sâu xa, niệm
ǵ vậy? Nghĩ tới Phật pháp của chư Phật.
Phật pháp của chư Phật rộng lớn, rất
sâu, giống như biển nên gọi là “pháp hải” (biển pháp). “Cùng thâm tận
áo, cứu kỳ nhai để” (cùng tột sâu mầu, thấu suốt bờ,
đáy): Mỗi vị Phật thành Phật, đều là dụng
công tu hành. Ngài nghĩ tới biển pháp của chư Phật,
đều muốn thấu hiểu tột cùng chỗ sâu thẳm,
trọn hết những chỗ áo diệu. “Cứu kỳ nhai để” (thấu suốt tận
bờ mé và đáy biển): Biển cả mênh mông, muốn hiểu biết
thấu suốt ranh giới của biển. Biển cả
rất sâu, cũng mong hiểu thấu suốt tận
đáy biển. Như vậy th́ mới có thể hoàn toàn hiểu
rơ biển pháp của chư Phật.
“Vô minh dục nộ, Thế Tôn
vĩnh vô” (Thế Tôn vĩnh viễn, chẳng có vô minh,
sân hận, tham dục): “Vô minh”
là căn bản vô minh, “dục”
là tham dục, “nộ” là sân
giận, bao gồm cả Si, tức là ngu si. Những món tham,
sân, si này chính là Chi Mạt Vô Minh (vô minh cành nhánh). Đức Thế Tôn thảy đều chẳng có [những món phiền năo] Căn Bản Vô Minh và
Chi Mạt Vô Minh ấy. Nói
đến đây đều nhằm
tán thán công đức của
Phật. Kế tiếp là một bài kệ rưỡi nhằm
tổng kết những điều đă tán thán.
“Nhân hùng Sư Tử, thần
đức vô lượng”: Bậc đại hùng trong
nhân gian, giống như sư tử giữa các loài thú. Thần
thông và oai đức của Ngài vô lượng vô biên. “Công huân quảng đại, trí huệ
thâm diệu, quang minh oai tướng, chấn động đại
thiên” (công huân rộng lớn, trí huệ sâu mầu, quang minh, oai tướng,
chấn
động tam thiên đại thiên thế giới): Dùng một bài kệ rưỡi này để
tập trung tổng kết các công đức trong năm bài
kệ rưỡi trước đó. Tổng cộng là bảy
bài kệ tụng, đều nhằm tán thán công đức
của Phật.
Đoạn
thứ hai gồm mười bài kệ tụng. Năm bài kệ tụng đầu nêu ra nguyện tâm của Ngài,
mong cầu Pháp Thân của Phật, mong cầu chánh báo của Phật. Năm bài kệ tụng sau cho thấy nguyện tâm của Ngài là
mong cầu một cơi Phật thanh tịnh.
2.2.1.2.1.3.2. Phát nguyện cầu Phật
2.2.1.2.1.3.2.1. Khởi lên nguyện tâm
2.2.1.2.1.3.2.1.1. Cầu Pháp Thân của Phật (gồm năm bài kệ
tụng)
(Kinh)
Nguyện ngă tác Phật, tề thánh Pháp Vương, quá
độ sanh tử, mị bất giải thoát. Bố thí
điều ư, giới, nhẫn, tinh tấn. Như thị
tam-muội, trí huệ vô thượng, ngô thệ đắc
Phật, phổ hành thử nguyện, nhất thiết khủng
cụ, vị tác đại an, giả linh hữu Phật, bách
thiên ức vạn, vô lượng đại thánh, số như
hằng sa, cúng dường nhất thiết, tư đẳng
chư Phật, bất như cầu đạo, kiên chánh bất
khước.
(經)願我作佛,齊聖法王。過度生死,靡不解脫。布施調意,戒忍精進,如是三昧,智慧無上。吾誓得佛,普行此願。一切恐懼,為作大安。假令有佛,百千億萬,無量大聖,數如恆沙。供養一切,斯等諸佛,不如求道,堅正不卻。
(Kinh:
Nguyện con thành Phật, bằng thánh pháp vương, vượt
khỏi sanh tử, đều được giải thoát,
bố thí, điều tâm, giới, nhẫn, tinh tấn.
Tam-muội như thế, trí huệ vô thượng, con thề
thành Phật, hành khắp nguyện này, tạo đại an
ổn, cho kẻ sợ hăi. Giả sử có Phật, trăm
ngàn ức vạn, vô lượng đại thánh, số như
hằng sa, cúng dường hết thảy, các vị Phật
ấy, chẳng bằng cầu đạo, kiên định
cái tâm, đoan chánh cái tâm, chẳng hề lùi bước).
Trước
tiên, nói về năm bài kệ tụng đầu [trong
đoạn này]: “Nguyện ngă
tác Phật, tề thánh pháp vương” (nguyện cho con thành Phật sẽ bằng với đấng thánh pháp vương):
Tỳ-kheo Pháp Tạng thấy Thế Tự Tại
Vương Phật công đức ṿi vọi, chẳng thể
nghĩ bàn, [bèn tâm niệm] “tôi cũng mong thành tựu thân Phật”.
Đấy gọi là “kiến
hiền tư tề” (見賢思齊, thấy người hiền bèn mong
được bằng). Ta có ư nguyện muốn làm Phật,
nguyện ta sẽ thành Phật. “Tề
thánh pháp vương” [nghĩa là] giống như bậc
đại thánh, Thế Tự Tại Vương Phật
là đấng pháp vương. Đấy là mong cầu thân
Phật.
“Quá độ sanh
tử, mị bất giải thoát” (vượt thoát sanh tử, không điều
ǵ chẳng giải thoát): Phàm phu có sanh tử, trong tam giới
th́ gọi là Phần Đoạn Sanh Tử. Tam thừa thánh
nhân vượt khỏi tam giới, nhưng hăy c̣n có Biến Dịch Sanh Tử. Nếu thành Phật th́ sẽ vượt thoát hai loại sanh tử ấy.
Đấy là triệt để giải thoát sanh tử.
“Bố thí điều ư, giới
nhẫn tinh tấn, như thị tam-muội, trí huệ vô
thượng” (bố thí, điều ḥa tâm ư, tŕ giới,
nhẫn nhục, tinh tấn. Tam-muội như thế, trí
huệ vô thượng): Trong phần trước, tỳ-kheo
Pháp Tạng tán thán công đức của Thế Tự Tại
Vương Phật, tán thán nhân hạnh của Phật là do
tu tập Lục Độ mà ra. Tôi là tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện muốn
thành Phật, muốn vượt thoát sanh tử, chẳng
thể chỉ phát nguyện suông, mà phải học tập tu hành thực tiễn, tu bằng
cách nào? Nương vào pháp môn Lục Độ để
tu. V́ thế, Phật giáo được gọi là Triết
Học Thế Gian. [Gọi là] Thế Gian v́ thật sự
thực hiện, chẳng phải là nói suông! Thành Phật bằng
cách nào? Hành pháp môn Lục Độ, trước hết là
hành Bố Thí Độ. “Điều
ư”: Chữ Ư chỉ cái tâm nào? Tâm keo tham; keo kiệt, tham lam chẳng thể xả. Ta phải hành bố
thí, phải chế ngự cái tâm keo tiếc (keo kiệt, tiếc
nuối) và tâm tham dục của chính ḿnh. [Hai cái tâm ấy]
được gọi gộp chung là tâm keo tham (xan tham). [“Điều ư”] là điều phục
cái tâm ư ấy. Đối với Giới th́ phải tŕ giới;
đối với Nhẫn th́ phải tu nhẫn nhục, phải tu Tinh Tấn. “Như
thị tam-muội” (tam-muội như thế) là Thiền Định. “Trí huệ vô thượng” là Bát Nhă. Tu pháp môn Lục
Độ này, Thế Tự Tại Vương Phật đă
làm như vậy; ta, tức tỳ-kheo Pháp Tạng, cũng bằng
ḷng làm như vậy!
“Ngô thệ đắc Phật”
(tôi thề thành Phật): Tôi đă phát đại nguyện, lại phát đại
thệ, nên gọi là “hoằng
thệ đại nguyện”, nhất định sẽ
đạt được Phật quả. “Phổ hành thử nguyện” (hành trọn khắp nguyện này): Tôi phát ra đại
nguyện, tôi muốn thành Phật, tôi lại hành nguyện
này, dùng hạnh để thực hiện nguyện. Nếu
không, [lời nguyện ấy] sẽ trở thành nguyện
suông. Thực hành cái nguyện ấy như thế nào? Chính
là phải hành Lục Độ.
“Nhất thiết khủng cụ,
vị tác đại an” (v́ hết thảy kẻ sợ hăi, tạo sự
an ổn to lớn): Sẽ độ chúng sanh. Hành pháp môn Lục
Độ ở nơi đâu? Hành trên thân của chúng sanh.
Đại Thừa Phật pháp dùng độ chúng sanh để
tu hành. Chúng sanh kinh sợ, gặp tai mắc nạn sẽ
kinh hoảng, lưu chuyển sanh tử sẽ kinh hoảng,
tôi giúp cho họ tiêu tai thoát nạn, giúp họ liễu thoát
sanh tử, khiến cho họ được đại an
lạc. Đấy là hành nguyện này!
“Giả linh hữu Phật, bách
thiên ức vạn” (giả sử có trăm ngàn ức vạn vị Phật):
“Giả linh” (假令) có nghĩa là giả thiết. Giả thiết
rằng hiện tại có nhiều vị Phật ngần ấy
trên thế gian, nhiều cỡ nào? Nhiều đến “bách thiên vạn ức”
(trăm ngàn vạn ức)[7], c̣n có “vô lượng đại thánh, số
như Hằng sa” (vô lượng đại thánh, số
nhiều như cát sông Hằng). “Đại
thánh” là đại Bồ Tát, nhiều cỡ nào? Nhiều
đến hằng hà sa số. “Cúng
dường nhất thiết, tư đẳng chư Phật”
(cúng dường hết thảy các vị Phật như thế):
Tôi sẽ cúng dường, cúng dường trăm ngàn vạn
ức chư Phật, cúng dường hằng hà sa số đại
Bồ Tát. “Bất như cầu
đạo, kiên chánh bất khước”, [ư nói] quư vị
cúng dường trăm ngàn vạn ức chư Phật Thế
Tôn, cúng dường các vị đại Bồ Tát số
đến vô lượng, chẳng bằng quư vị cầu
Phật đạo, kiên định cái tâm, đoan chánh cái tâm,
cầu bất thoái chuyển. Đấy là thật sự
cúng dường Phật, Bồ Tát, chẳng bằng quư vị
dụng công tu hành! Đó gọi là “trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường
lớn nhất”. Lấy chuyện “độ chúng sanh, hoằng dương Phật pháp”
làm sự cúng dường của quư vị.
Quư vị
đừng hiểu ngược ngạo ư nghĩa này, cứ
ngỡ là chúng ta chẳng cần cúng Phật, chẳng cần
trai tăng để tu hành. Quư vị đến đâu
để tu hành? Ở trong núi, ở trong hang, ở trong lều
tranh, quư vị ĺa khỏi chúng sanh để tu hành. Chẳng
phải là ư nghĩa ấy. Tu hành, [đặc biệt là] tu
pháp môn Lục Độ, chẳng ĺa khỏi chúng sanh. Chẳng
hạn như quư vị tu Độ thứ nhất là hành Bố
Thí, chẳng có chúng sanh th́ quư vị đến nơi đâu
để hành Bố Thí? Phải hiểu: Trong Đại Thừa,
tu hành chẳng ĺa khỏi chúng sanh.
Đến
chỗ này, cả năm bài kệ tụng đều nói lên
ư mong cầu Phật thân, mong chính ḿnh sẽ thành Phật. Tỳ-kheo
Pháp Tạng đă thành A Di Đà Phật, là do phát tâm như
vậy, tu hành như vậy. Phát tâm mong thành Phật, mong
độ chúng sanh th́ phải hành Lục Độ. Năm
bài kệ tụng
dưới đây thể
hiện sự mong cầu thành tựu một quốc độ
thanh tịnh.
2.2.1.2.1.3.2.1.2. Cầu Tịnh Độ của
Phật (gồm năm bài kệ tụng)
(Kinh)
Thí như hằng sa, chư Phật thế giới, phục
bất khả kế, vô số sát độ, quang minh tất
chiếu, biến thử chư quốc, như thị tinh
tấn, oai thần nan lượng, linh ngă tác Phật, quốc
độ đệ nhất. Kỳ chúng kỳ diệu,
đạo tràng siêu tuyệt, quốc như Nê Hoàn, nhi vô
đẳng song, ngă đương mẫn ai, độ
thoát nhất thiết, thập phương lai sanh, tâm duyệt
thanh tịnh, dĩ chí ngă quốc, khoái lạc an ổn.
(經)譬如恆沙,諸佛世界,復不可計,無數剎土。光明悉照,徧此諸國。如是精進,威神難量。令我作佛,國土第一。其眾奇妙,道場超絕。國如泥洹,而無等雙。我當愍哀,度脫一切。十方來生,心悅清淨,已至我國,快樂安隱。
(Kinh: Ví như hằng sa các thế
giới Phật, lại chẳng thể tính vô số cơi nước,
quang minh đều chiếu, khắp các nước ấy.
Tinh tấn như thế, oai thần khó lường. Khiến
con thành Phật, cơi nước
bậc nhất. Đại chúng kỳ diệu, đạo
tràng tuyệt vời, cơi như Niết Bàn, độc nhất
khôn sánh, con sẽ thương xót, độ thoát hết thảy,
mười phương sanh về, tâm vui thanh tịnh, sanh
vào cơi con, vui sướng, an ổn).
“Thí như hằng sa, chư Phật
thế giới” (ví như các thế giới Phật số nhiều
như cát sông Hằng): Phật nhiều đến trăm
ngàn vạn ức vị, thế giới của chư Phật
cũng là vô lượng. Điều này gọi là “hư không bất biến”, số
lượng quốc độ của chư Phật
cũng nhiều như cát sông Hằng, ví như hằng hà sa số
thế giới của chư Phật. “Phục
bất khả kế, vô số sát độ” (lại chẳng thể tính đếm vô số cơi nước): “Sát độ” (剎土) cũng là thế giới. Hằng hà sa số
c̣n có thể ghi chép, c̣n có số lượng. “Phục bất khả kế”
(lại chẳng thể tính đếm) nghĩa là vô số sát độ, chẳng thể
tính toán được!
“Quang minh tất chiếu, biến
thử chư quốc” (quang minh đều chiếu trọn khắp các cơi
nước ấy): Dùng quang minh để chiếu trọn khắp các thế giới
của chư Phật. “Như
thị tinh tấn, oai thần nan lượng” (tinh tấn như thế, oai thần khó lường):
Phải tinh tấn thành tựu một quốc độ,
phải có vô lượng tinh tấn và vô lượng oai
đức thần lực. “Nan
lượng” là tinh tấn.
“Linh ngă tác Phật, quốc độ
đệ nhất” [ư nói] khiến cho tôi là Pháp Tạng,
trong tương lai thành Phật, cơi nước của tôi
thanh tịnh; trong vô lượng hằng hà sa số các
cơi Phật, sẽ trở
thành quốc độ thanh tịnh
bậc nhất. “Kỳ chúng kỳ
diệu, đạo tràng siêu tuyệt”, ư nói: Những
người sống trong cơi nước của tôi đều
kỳ diệu, cơi nước của tôi là một đại
đạo tràng. “Siêu tuyệt”
là vượt trỗi hết thảy các đạo tràng.
“Quốc như Nê Hoàn, nhi vô đẳng
song”: Quốc độ thanh tịnh của tôi là đại
Niết Bàn tràng (đại
đạo tràng Niết Bàn) của Như Lai. “Nê
Hoàn” c̣n dịch là Niết Bàn. Đại Thừa Niết
Bàn là thường, lạc, ngă, tịnh. Chân thường,
chân lạc, chân ngă, chân tịnh. “Nhi
vô đẳng song” nghĩa là chẳng có cơi nước
Phật nào vượt trỗi cơi nước của tôi. Tôi
muốn phát ra nguyện này. “Ngă
đương mẫn ai, độ thoát nhất thiết”
(tôi sẽ thương xót, độ thoát hết
thảy): Tôi cầu đạt được quốc
độ thanh tịnh bậc nhất ấy để làm
ǵ? Tôi muốn độ thoát chúng sanh. Tôi v́ thương xót,
nghĩ thương hết thảy chúng sanh; tôi muốn độ
thoát hết thảy chúng sanh.
“Thập phương lai sanh, tâm
duyệt thanh tịnh, dĩ chí ngă quốc, khoái lạc an ổn”
([chúng sanh từ] mười phương sanh
về [cơi của tôi], tâm vui sướng, thanh tịnh. Đă
đến cơi nước của tôi, đều vui sướng,
an ổn): Mười phương chúng sanh nghe danh tự của
tôi, niệm danh hiệu tôi, trong tâm có nhiều niềm vui sướng,
nhiều thanh tịnh. Đă sanh vào cơi nước của tôi,
đều cảm thấy sung sướng, cảm thấy
an ổn. Chữ Ồn (隱) trong “an ổn”[8] hiện
thời được viết với bộ Ḥa (禾), [tức 穩], nhưng kinh điển thời cổ đều
dùng bộ Nhĩ (tức chữ 隱). Ôi chao! Nơi ấy quá tốt đẹp, thật
sự là một đạo tràng để tu đạo.
Đến
đây, năm bài kệ tụng này [nhằm diễn tả
ư] mong cầu quốc độ thanh tịnh bậc nhất.
Đoạn thứ ba gồm ba bài kệ tụng, [thể
hiện ư] mong cầu Phật chứng minh những nguyện
do tỳ-kheo Pháp Tạng đă phát trên đây.
2.2.1.2.1.3.2.2. Thỉnh Phật chứng tri (gồm ba bài kệ tụng)
(Kinh)
Hạnh Phật minh tín, thị ngă chân chứng, phát nguyện
ư bỉ, lực tinh sở dục, thập phương
Thế Tôn, trí huệ vô ngại, thường linh thử
tôn, tri ngă tâm hạnh. Giả sử thân chỉ, chư khổ độc
trung, ngă hành tinh tấn, nhẫn chung bất hối.
(經)幸佛明信,是我真證。發願於彼,力精所欲。十方世尊,智慧無礙,常令此尊,知我心行。假使身止,諸苦毒中,我行精進,忍終不悔。
(Kinh: Mong Phật tin, hiểu, chứng
thực cho con. Phát nguyện như vậy, dốc sức
tinh tấn, ḥng thỏa ḷng mong. Mười phương Thế
Tôn, trí huệ vô ngại, thường khiến đức Phật
biết tâm hạnh con. Giả sư thân ở trong các khổ
độc, con hành tinh tấn, nhẫn nại chẳng hối).
“Hạnh Phật minh tín”: Hăy nên
hiểu chữ Hạnh (幸) là Nguyện, [tức là] nguyện Thế Tự
Tại Vương Phật hăy hiểu cho con, tin tưởng
con. “Thị ngă chân chứng”
[nghĩa là] Phật là người thật sự chứng minh
cho con. “Phát nguyện ư bỉ,
lực tinh sở dục”, ư nói: Con đối trước
Thế Tự Tại Vương Như Lai phát nguyện, con
sẽ gắng sức siêng năng tinh tấn ḥng đạt
được những điều con mong muốn, ước
nguyện.
“Thập phương Thế Tôn,
trí huệ vô ngại, thường linh thử tôn, tri ngă tâm
hạnh” (mười phương Thế Tôn trí huệ
vô ngại, thường khiến cho đức Phật này
biết tâm hạnh của con): Mười phương Thế
Tôn trí huệ vô chướng vô ngại. “Thường linh thử tôn”: Sẽ thường
làm cho đức Thế Tôn Thế Tự Tại
Vương Như Lai mà con đang đối trước
Ngài phát nguyện đây thấu biết tâm hạnh của con. Con bằng
ḷng phát nguyện, bằng ḷng tu hành như thế đấy.
Thế Tự Tại Vương Như Lai hăy biết cho
con, mười phương Thế Tôn đều có thể
chứng minh.
“Giả sử thân chỉ, chư
khổ độc trung, ngă hành tinh tấn, nhẫn chung bất
hối” (giả sử thân con ở trong các nỗi khổ sở, tàn
độc, con vẫn hành tinh tấn, chịu đựng,
trọn chẳng hối tiếc): Do đă phát nguyện
như trên, kế đó lại tu tập, nếu thân con ở trong các sự khổ năo lớn nhất,
sự độc hại lớn nhất giáng xuống
thân con, đạo tâm của con trọn chẳng lui sụt. “Ngă hành tinh tấn”, [nghĩa là] con sẽ tu hành tinh tấn, chẳng
lùi, sẽ hành công phu nhẫn nhục, trọn chẳng lui sụt,
hối hận. Đấy là như Đại Trí Độ
Luận đă nói: “Giả sử
nhiệt thiết luân, tại ngă đảnh thượng
toàn, chung bất vị thử khổ, thoái thất Bồ Đề tâm” (giả sử ṿng sắt nóng, xoay trên đỉnh
đầu tôi, trọn chẳng v́ khổ ấy, thoái thất
tâm Bồ Đề). Khổ sở cỡ nào, con trọn chẳng thoái chuyển, hối hận.
Đấy là đại nguyện do tôi đă phát.
Tôi
thường nói “chúng ta giảng
đến đâu bèn học đến đó”. Chúng ta phải
học theo tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện, học theo tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện muốn
tạo ra thế giới Cực Lạc để độ
chúng sanh. Hiện thời, quư vị phát nguyện, trước
hết là mong mở một tự viện thanh tịnh, mở
một đạo tràng để độ chúng sanh. Mở
một đạo tràng, mở một tự viện chẳng
phải là chuyện đơn giản, nhất định
sẽ có đủ loại ma nạn. Nếu quư vị gặp
phải đôi chút ma nạn, chịu đựng chút khổ,
đạo tâm của quư vị lui sụt, [vậy th́] đến
khi nào tự viện của quư vị mới có thể thành
công?
2.2.1.2.2. Nêu ra hạnh xuất thế
2.2.1.2.2.1. Nêu đại lược những
điều đă tu
2.2.1.2.2.1.1. Pháp Tạnh thỉnh cầu lần
đầu, Như Lai từ chối, nói tỳ-kheo đă biết
rồi, chẳng v́ tỳ-kheo tuyên nói
(Kinh)
Phật cáo A Nan: - Pháp Tạng tỳ-kheo thuyết thử tụng
dĩ, nhi bạch Phật ngôn: “Dụy nhiên, Thế Tôn! Ngă phát
Vô Thượng Chánh Giác chi tâm, nguyện Phật vị ngă quảng
tuyên kinh pháp, ngă đương tu hành, nhiếp thủ Phật
quốc thanh tịnh trang nghiêm vô lượng diệu độ,
linh ngă ư thế, tốc thành Chánh Giác, bạt chư sanh
tử cần khổ chi bổn”.
Phật
cáo A Nan: - Thời Thế Tự Tại Vương Phật,
ngữ Pháp Tạng tỳ-kheo: “Như sở tu hành, trang
nghiêm Phật độ, nhữ tự đương tri”.
(經)佛告阿難:法藏比丘說此頌已,而白佛言:「唯然,世尊!我發無上正覺之心。願佛為我廣宣經法,我當修行,攝取佛國清淨莊嚴無量妙土。令我於世,速成正覺,拔諸生死勤苦之本。」佛告阿難:時世自在王佛,語法藏比丘:「如所修行,莊嚴佛土,汝自當知。
(Kinh: Đức Phật bảo
ngài A Nan: - Tỳ-kheo Pháp Tạng nói
bài kệ tụng ấy xong, bèn bạch đức Phật rằng: “Kính vâng, đức Thế Tôn!
Con đă phát tâm Vô Thượng Chánh Giác. Nguyện Phật
hăy v́ con tuyên nói rộng răi các kinh pháp, con sẽ tu hành, nhiếp
thủ cơi nước mầu nhiệm thanh tịnh trang
nghiêm vô lượng, khiến cho con ở trong cơi đời
mau thành Chánh Giác, dẹp trừ cội gốc của các thứ
sanh tử siêng khổ”.
Đức Phật bảo ngài A
Nan: - Lúc bấy giờ, Thế Tự Tại Vương Phật
bảo tỳ-kheo Pháp Tạng: “Như chuyện tu hành, trang
nghiêm cơi Phật của ông, ông hăy tự nên biết”).
Trong đoạn kinh văn
này, Thích Ca Mâu Ni Phật đă kể cho tôn giả A Nan chuyện
phát tâm của tỳ-kheo Pháp Tạng; do đó, xét theo cách hành
văn, mỗi
đoạn đều cần phải có lời mào đầu. “Phật cáo A
Nan” (đức
Phật bảo ngài A Nan) là lời giới thiệu. Tỳ-kheo Pháp Tạng
trong vô lượng kiếp xưa kia, “thuyết thử tụng dĩ”, [ư nói] tỳ-kheo Pháp Tạng nói xong bài kệ trên
đây, “nhi bạch Phật ngôn”
(bèn bạch đức Phật rằng), tỳ-kheo Pháp Tạng lại thưa
cùng Thế Tự Tại Vương Như Lai. “Dụy nhiên Thế Tôn”: “Dụy nhiên” là cách nói thông dụng
trong tiếng Ấn Độ, [có nghĩa là] “đúng vậy!
Thưa đức Thế Tôn!”. “Ngă
phát Vô Thượng Chánh Giác chi tâm”, con đă phát tâm Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng là A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, cũng chính là tâm
Vô Thượng Bồ Đề. “Nguyện Phật vị ngă quảng tuyên kinh pháp”
(xin đức Phật hăy v́ con rộng tuyên
kinh pháp): Con bằng ḷng, con hy vọng Thế Tự Tại
Vương Phật sẽ v́ con mà giảng nói các kinh pháp. “Ngă
đương tu hành”, [nghĩa là] con sẽ nương
theo kinh pháp do đức Phật đă dạy để tu
hành. “Nhiếp thủ Phật
quốc thanh tịnh trang nghiêm vô lượng diệu độ”:
Con tu hành là v́ muốn nhiếp thủ (giữ lấy, thâu tóm) cơi Phật thanh tịnh trang nghiêm. Trong phần
trước, Ngài đă nói: Con phát ra đại nguyện, con
mong tạo ra một đạo tràng thanh tịnh trang nghiêm,
tức là tạo ra một thế giới Cực Lạc.
Thế giới Cực Lạc ấy chẳng phải là bỗng
dưng mà có, phải tu hành! Tu hành là tu như thế nào? Xin Thế
Tự Tại Vương Phật khai thị, khiến cho
con khéo nương theo lời khai thị của Phật mà
tu hành, ḥng “nhiếp thủ Phật
quốc thanh tịnh trang nghiêm vô lượng diệu độ,
linh ngă ư thế, tốc thành Chánh Giác” (nhiếp thủ
cơi Phật là cơi thanh tịnh trang nghiêm vô lượng mầu
nhiệm, khiến cho con trong cơi đời, sẽ mau thành Chánh Giác). Con tu hành là v́ muốn
thành tựu một cơi nước vô lượng mầu nhiệm.
Trong quốc độ thanh tịnh chẳng thể nghĩ
bàn ấy, sẽ khiến cho con mau chóng thành Chánh Giác, ngay lập
tức thành Phật. “Bạt
chư sanh tử cần khổ chi bổn” (dẹp trừ cội gốc của các nỗi
sanh tử siêng khổ): “Bạt
chư” là [dẹp trừ các nỗi khổ của] các
chúng sanh đang lưu chuyển sanh tử, sanh tử là sự
khổ to lớn, sanh tử chẳng ngưng dứt, nên gọi
“cần khổ”. Thêm chữ
Cần (勤) vào
trước chữ Khổ (苦) [nhằm diễn tả] sự khổ chẳng
ngưng dứt. Con muốn dẹp trừ cội gốc
sanh tử chẳng ngưng dứt cho chúng sanh, đấy gọi
là “Bi năng bạt khổ” (ḷng Bi có thể dẹp khổ). Con hy vọng “tốc thành Chánh Giác” (chóng thành Chánh Giác). “Thành Chánh Giác” là
thành Phật, thành Phật chứ không phải thành A La Hán!
Thành Phật là để dẹp trừ căn bản sanh tử cho chúng sanh, v́ độ chúng sanh
mà thành Phật.
“Phật cáo A Nan” (đức Phật bảo
ngài A Nan): “Phật” ở đây là
Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Do đang kể về tỳ-kheo
Pháp Tạng, nên [kinh văn] lại mào đầu bằng một câu “Phật cáo A Nan” (đức Phật bảo
ngài A Nan). “Thời Thế Tự Tại Vương
Phật”: Khi ấy, Thế Tự
Tại Vương Phật, “ngữ
Pháp Tạng tỳ-kheo”, [nghĩa là] nói với tỳ-kheo Pháp Tạng: “Như sở tu hành, trang nghiêm Phật
độ, nhữ tự đương tri”, [nghĩa là]
như đối với chuyện tu hành, ông mong cầu pháp môn trang nghiêm cơi Phật, ông hăy tự biết, ta không nói cho ông, chính ông phải nên hiểu biết. V́ trong phần trước,
khi tỳ-kheo Pháp Tạng tán thán Thế Tự Tại
Vương, trông thấy cái quả bèn suy ra cái nhân: Thế
Tự Tại Vương Phật [thành Phật là] do dùng
pháp môn Lục Độ làm cái nhân để tu hành thành tựu. Bản thân tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện sẽ
thành Phật, Ngài cũng phát nguyện sẽ tu pháp môn Lục
Độ. Đấy là pháp môn của bậc Đại Thừa
Bồ Tát, tức là Lục Ba La Mật (ṣaḍ-pāramitā), [hay c̣n gọi là] Lục Độ: Bố
Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định,
và Trí Huệ. Pháp môn Lục Độ này ông thảy đều biết cả rồi, tu như vậy là
đúng rồi, c̣n hỏi chi nữa?
2.2.1.2.2.1.2. Pháp Tạng thỉnh lần nữa,
Như Lai tuyên thuyết
(Kinh)
Tỳ-kheo bạch Phật: “Tư nghĩa hoằng thâm, phi ngă
cảnh giới. Duy nguyện Thế Tôn, quảng vị phu
diễn chư Phật Như Lai tịnh độ chi hạnh.
Ngă văn thử dĩ, đương như thuyết tu hành,
thành măn sở nguyện”. Nhĩ thời, Thế Tự Tại
Vương Phật, tri kỳ cao minh, chí nguyện thâm quảng,
tức vị Pháp Tạng tỳ-kheo nhi thuyết kinh ngôn: “Thí
như đại hải, nhất nhân đấu lượng,
kinh lịch kiếp số, thượng khả cùng để,
đắc kỳ diệu bảo. Nhân hữu chí tâm tinh tấn,
cầu đạo bất chỉ, hội đương khắc
quả, hà nguyện bất đắc?” Ư thị, Thế
Tự Tại Vương Phật, tức vị quảng
thuyết nhị bách nhất thập ức chư Phật sát
độ, thiên nhân chi thiện ác, quốc độ chi thô
diệu, ứng kỳ tâm nguyện, tất hiện dữ
chi.
(經)比丘白佛:「斯義弘深,非我境界。唯願世尊,廣為敷演諸佛如來淨土之行。我聞此已,當如說修行,成滿所願。」爾時世自在王佛,知其高明,志願深廣,即為法藏比丘而說經言:「譬如大海,一人斗量,經歷劫數,尚可窮底,得其妙寶。人有至心精進,求道不止,會當剋果,何願不得?」於是世自在王佛,即為廣說二百一十億諸佛剎土,天人之善惡,國土之麤妙,應其心願,悉現與之。
(Kinh:
Tỳ-kheo bạch Phật: “Nghĩa ấy rộng sâu, chẳng
phải là cảnh giới của con. Kính mong đức Thế
Tôn, hăy v́ con phô diễn rộng răi hạnh Tịnh Độ
của chư Phật Như Lai. Con nghe hạnh ấy rồi,
sẽ tu hành đúng như lời dạy, thành tựu viên
măn lời nguyện”. Lúc bấy giờ, Thế Tự Tại
Vương Phật biết tỳ-kheo cao minh, chí nguyện
sâu rộng, liền v́ tỳ-kheo Pháp Tạng nói kinh như sau:
“Ví như biển cả, có một người dùng đấu
để đong, trải qua nhiều kiếp, c̣n có thể
thấu đến tận đáy, đạt được
của báu mầu nhiệm. Người có ḷng chí tâm tinh tấn,
cầu đạo chẳng ngừng, ắt sẽ đạt
được cái quả, có nguyện nào mà chẳng đạt
được?” Ngay lúc đó, Thế Tự Tại
Vương Phật liền v́ tỳ-kheo nói rộng hai
trăm mười ức các cơi Phật, sự thiện ác
của trời, người, cơi nước
thô thiển hay tinh diệu, ứng với tâm nguyện của
tỳ-kheo thảy đều hiện ra cho thấy).
“Tỳ-kheo bạch Phật”: Tỳ-kheo
Pháp Tạng bạch với Thế Tự Tại
Vương Phật. “Tư
nghĩa hoằng thâm, phi ngă cảnh giới” (nghĩa ấy rộng sâu, chẳng phải
là cảnh giới của con): “Con phát ra nguyện to lớn,
rất sâu này, chẳng phải là cảnh giới hiện thời
của con, nhất định phải cầu Phật dạy
con nhiều hơn”. V́ sao? V́ trước đó, tỳ-kheo Pháp
Tạng đă nói, Ngài muốn tạo ra một quốc
độ, quốc độ bậc nhất. Ngài muốn tạo
nên một đạo tràng, đạo tràng siêu tuyệt, tức
là trong cả hư không, hết thảy các quốc độ
của chư Phật đều chẳng sánh bằng. Quốc
độ mới toanh, chuyện này lớn lắm, sâu lắm.
Do vậy, “tư nghĩa hoằng thâm” (nghĩa ấy rộng sâu), chẳng phải là cảnh giới của
con! “Duy nguyện Thế Tôn, quảng
vị phu diễn” (kính mong đức Thế Tôn hăy rộng phô diễn cho con): Xin hăy nói
nhiều hơn. “Phu” (敷) là khai diễn, “chư
Phật Như Lai tịnh độ chi hạnh” (hạnh
Tịnh Độ của chư Phật Như Lai), trong
hư không, tịnh độ của chư Phật rất
nhiều, vị Phật nào tu hạnh tịnh độ
nào? Vị Phật nào tu pháp môn nào? Xin Ngài hăy giảng nhiều
hơn cho con. “Ngă văn thử
dĩ, đương như thuyết tu hành”, [nghĩa là]
sau khi con nghe Thế Tự Tại Vương Phật bảo
ban, con nhất định sẽ tu hành đúng như lời
Phật dạy. “Thành măn sở
nguyện”, ư nói: Có thể thành tựu viên măn những
đại nguyện mà con đă phát.
“Nhĩ thời, Thế Tự Tại
Vương Phật, tri kỳ cao minh, chí nguyện thâm quảng”,
ư nói: Lúc bấy giờ, Thế Tự Tại Vương Phật
biết tỳ-kheo phát tâm, ông ta rất cao minh, đă lập chí nguyện
quá sâu, quá rộng. “Tức vị
Pháp Tạng tỳ-kheo nhi thuyết kinh ngôn” [nghĩa là]
liền giảng kinh cho tỳ-kheo Pháp Tạng. Lời đức Phật nói ra th́ gọi
là Kinh. Kế đó, Thế Tự Tại Vương Phật
v́ tỳ-kheo Pháp Tạng nói kinh như sau: “Thí như đại hải, nhất nhân đấu
lượng, kinh lịch kiếp số, thượng khả
cùng để, đắc kỳ diệu bảo. Nhân hữu
chí tâm tinh tấn, cầu đạo bất chỉ, hội
đương khắc quả, hà nguyện bất đắc?”
(ví như biển cả, có một người
dùng đấu để đong, trải qua nhiều kiếp,
c̣n có thể thấu đến tận đáy, đạt
được của báu mầu nhiệm. Người có
ḷng chí tâm tinh tấn, cầu đạo chẳng ngừng, ắt
sẽ đạt được cái quả, có nguyện nào
mà chẳng đạt được?) Thế Tự Tại
Vương Phật bèn khai thị: - Ngươi phát nguyện rất sâu, rất rộng, ngươi phải phát khởi cái tâm lâu
xa, c̣n phải phát tâm tinh tấn. Lâu xa là v́ chẳng thể
thành công trong một thời gian ngắn. Nếu ngươi
giải đăi, buông lung, dẫu thời gian rất lâu, vẫn
chẳng hữu dụng. Dẫu thời gian dài cách mấy, vẫn phải tinh tấn.
Trước
tiên, [đức Phật] nói một thí dụ. Ví như có một người
muốn thu nhặt của báu nơi đáy biển, dưới
đáy biển có bảo châu ma-ni. Có được bảo
châu ma-ni, sẽ có thể cứu độ hết thảy
mọi người trong thế gian. Viên bảo châu ma-ni ấy
được gọi là Như Ư Bảo Châu. Treo viên Như
Ư Châu ấy lên, treo trên sào cao, người cầu nguyện
bèn tận lực t́m kiếm ở dưới. Quư vị cầu
ǵ, ở phía dưới châu Ma Ni sẽ ban cho quư vị thứ
đó, đều đúng như ư của quư vị, nên gọi
là Như Ư Châu. Người ấy muốn cứu độ
những kẻ bần cùng, khổ năo trong thế gian, kẻ
chẳng có quần áo sẽ có quần áo, chẳng có đồ
ăn sẽ có đồ ăn. Hễ có được bảo
châu ma-ni, sẽ đều có thể măn nguyện. Bảo
châu Ma-ni ở nơi đâu? Ở dưới đáy biển.
Người ấy bèn phát tâm, muốn múc cạn nước
biển. Dùng thứ ǵ để múc? Hiện thời c̣n có
máy bơm nước, thời cổ chẳng có máy bơm
nước. [Người ấy] dùng đấu để
đong, tức là dùng đấu múc nước biển, trải
qua nhiều đại kiếp, kết quả sẽ
như thế nào? Tát cạn nước biển, thấu tận
đáy, bèn đạt được diệu bảo. Điều
này có nghĩa là: Chỉ cần quư vị có nguyện tâm kiên
cố, chiếu theo nguyện tâm của quư vị mà tu hành,
chẳng có ǵ không đạt được mục đích.
Phần
kinh văn tiếp theo thí dụ ấy đă chép: “Nhân hữu chí tâm tinh tấn”, [ư nói] quư vị có
cái tâm chí thành, tinh tấn, chẳng giải đăi. “Cầu đạo bất chỉ,
hội đương khắc quả” (cầu đạo chẳng ngừng, sẽ
có thể đạt được cái quả). Hăy nên hiểu
chữ Khắc (剋) là “có
thể chứng”. Trong tương lai, quư vị sẽ nhất
định chứng đắc quả vị. “Hà nguyện bất đắc?”,
ư nói: Quư vị phát ra nguyện ǵ, chẳng có nguyện nào
không được măn nguyện, nhất định sẽ
măn nguyện.
“Ư thị, Thế Tự Tại
Vương Phật, tức vị quảng thuyết nhị
bách nhất thập ức chư Phật sát độ,
thiên nhân chi thiện ác, quốc độ chi thô diệu, ứng
kỳ tâm nguyện, tất hiện dữ chi” (ngay khi ấy, Thế Tự Tại
Vương Phật liền v́ tỳ-kheo nói rộng răi hai
trăm mười ức các cơi Phật, sự thiện ác
của trời người, sự thô thiển hay tinh diệu
trong cơi nước, ứng với tâm nguyện của tỳ-kheo
mà đều hiện cho thấy). Đoạn này được
mở đầu bằng lời khích lệ. Ông đă phát
nguyện ấy rất cao sâu, nhưng ông phải tinh tấn.
Tiếp đó, [Thế Tự Tại Vương Phật] bèn
dạy tỳ-kheo Pháp Tạng pháp môn Tịnh Độ.
Đối với một vị Phật nào đó, một
quốc độ nào đó, đức Phật ấy
đă tu tịnh độ ấy như thế nào? Tu nhân hạnh
ǵ? Kết thành quả
ǵ? Một Phật độ
[tối thiểu] là một tam thiên đại thiên thế
giới. [Thế Tự Tại Vương Phật] đă
nói bao nhiêu [cơi Phật] như thế? Nói rộng đến
hai trăm mười ức sát độ của chư Phật.
“Sát độ” (剎土) là thế giới, nhưng đều là tịnh
độ, c̣n có điểm bất đồng là trời
người có khi là thuần thiện hay thuần ác, c̣n có những
cơi thiện ác xen tạp. Quốc độ có khi là thuần
diệu chẳng thô, có khi là thô lẫn diệu đều
có. Quốc độ thanh tịnh của mười
phương chư Phật đều là cơi nước thanh
tịnh, trong ấy cũng có cơi không trang nghiêm cho lắm.
Do vậy, đức Phật vừa bảo tỳ-kheo Pháp
Tạng, mỗi vị Phật trong mỗi cơi Phật đều
có thần thông diệu dụng, vừa nói cảnh giới bảo tỳ-kheo hăy xem: “Ứng kỳ
tâm nguyện, tất hiện dữ chi” (ứng theo tâm nguyện
của tỳ-kheo đều hiện cho thấy). Nói đến
cơi Phật nào, “ông cứ xem đi!” Liền hiện quốc
độ ấy cho tỳ-kheo thấy. Chẳng hạn như
nói đến thế giới của Phật Dược Sư
là cơi lưu ly trang nghiêm, ngay lúc đó liền bảo tỳ-kheo
hăy xem thử.
2.2.1.2.2.1.3. Pháp Tạng nghe dạy, y pháp tu hành
(Kinh)
Thời bỉ tỳ-kheo, văn Phật sở thuyết
nghiêm tịnh quốc độ, giai tất đổ kiến,
khởi phát vô thượng thù thắng chi nguyện. Kỳ
tâm tịch tĩnh, chí vô sở trước, nhất thiết
thế gian, vô năng cập giả, cụ túc ngũ kiếp,
tư duy nhiếp thủ trang nghiêm Phật quốc thanh tịnh
chi hạnh.
A Nan bạch
Phật: - Bỉ Phật quốc độ, thọ lượng
kỷ hà?
Phật
ngôn: - Kỳ Phật thọ mạng, tứ thập nhị
kiếp. Thời Pháp Tạng tỳ-kheo, nhiếp thủ nhị
bách nhất thập ức chư Phật diệu độ
thanh tịnh chi hạnh.
(經)時彼比丘,聞佛所說嚴淨國土,皆悉覩見,起發無上殊勝之願。其心寂靜,志無所著。一切世間,無能及者。具足五劫,思惟攝取莊嚴佛國清淨之行。阿難白佛:彼佛國土,壽量幾何?佛言:其佛壽命,四十二劫。時法藏比丘,攝取二百一十億諸佛妙土清淨之行。
(Kinh:
Khi ấy, vị tỳ-kheo đó nghe đức Phật nói
các cơi nước trang nghiêm, thanh tịnh, thảy đều
trông thấy, bèn phát khởi nguyện thù thắng vô thượng.
Tâm Ngài tịch tĩnh, chí chẳng đắm trước,
hết thảy thế gian chẳng ai có thể sánh bằng, trọn đủ năm kiếp
tư duy nhiếp thủ các hạnh thanh tịnh trang nghiêm cơi
Phật.
Ngài A Nan bạch Phật: - Trong cơi Phật ấy,
thọ lượng bao nhiêu?
Đức Phật
nói: - Thọ mạng của vị Phật ấy là bốn
mươi hai kiếp. Khi đó, tỳ-kheo Pháp Tạng nhiếp
thủ hạnh thanh tịnh từ hai trăm mười ức
các cơi nước mầu nhiệm của chư Phật).
“Thời bỉ tỳ-kheo” (Khi ấy, tỳ-kheo), [“tỳ-kheo”]
tức là tỳ-kheo Pháp Tạng, “văn
Phật sở thuyết” [nghĩa là] nghe Thế Tự Tại
Vương Phật nói, “nghiêm tịnh
quốc độ”, các loại cơi nước trang nghiêm,
thanh tịnh đó, “giai tất
đổ kiến”, thảy đều tận mắt trông
thấy. Đó là thần thông diệu dụng của Thế
Tự Tại Vương Phật, vừa nói cho tỳ-kheo
nghe, vừa khiến cho tỳ-kheo trông thấy. Nay chúng tôi
rút nhỏ con số một tí để chúng ta có thể
kiên cố tín tâm của chính ḿnh. Hiện thời, chúng ta có
thể quán tưởng: Có một vị đại đức tỳ-kheo
phát tâm muốn tạo lập một thập phương đạo
tràng để có thể cho người xuất gia trong mười phương
đều đến
đó tu hành. Vị này là tỳ-kheo mới phát tâm, t́m
được một vị lăo sư phụ, bèn thỉnh
giáo vị ấy khai thị: “Con phát nguyện rất lớn,
rất cao như thế đó, nhưng con chẳng biết
tu như ra sao? Tạo như thế nào? Thầy là bậc
tham phỏng nhiều, học rộng, đă từng thấy
quá nhiều đạo tràng, hy vọng thầy
sẽ dạy
nhiều điều cho con tham khảo”. Vị lăo tu hành ấy chỗ nào
cũng đă từng đi qua, lại c̣n rất lưu tâm,
hễ đến một đạo tràng, [vị ấy bèn chú tâm quan sát] đạo tràng ấy tốt
đẹp như thế nào? Tốt đẹp ở chỗ
nào? C̣n có những chỗ nào chưa tốt, vị ấy
đều ghi nhớ rất rơ ràng, lại c̣n chụp vào
phim, đều giữ được. Nay gặp vị tỳ-kheo
mới phát tâm xin vị [lăo tu hành] ấy chỉ dạy, vị
ấy liền lấy ra toàn bộ những thước phim
ấy, tối thiểu là có hai mươi mốt ṭa đại
tùng lâm. Hai trăm mười ức cơi nước của
chư Phật như trong kinh [đă nói] chẳng phải là
cảnh giới của chúng ta, tính không ra, nhưng hai
mươi mốt ngôi đại tự viện th́ tính toán
được! Chẳng hạn như nói chùa Thiên Ninh, chùa
Thiên Đồng, chùa Kim
Sơn, chùa Cao Minh… ở Đại
Lục, hai mươi mốt ngôi đại tự viện
nổi tiếng, bỏ phim vào máy chiếu, chiếu cho vị
tỳ-kheo mới phát tâm xem: “Thầy thấy đây là chùa
Thiên Ninh, đại điện tốt đẹp như thế
này, như thế nọ”. Lại đổi sang tấm phim khác, chùa Thiên Đồng, chùa Kim
Sơn, chùa Cao Minh[9], mỗi
mỗi đều bảo tỳ-kheo xem, vừa giảng giải
đạo tràng nào đó tốt đẹp như thế ấy, nhưng trong đó c̣n có chút khuyết
điểm, cũng bảo cho tỳ-kheo biết. Vị tỳ-kheo
mới phát tâm ấy có tài liệu để tham khảo, hai
mươi mốt ṭa đại tùng lâm, tất cả những
ưu điểm, những chỗ tốt đẹp đều
chọn lọc, tùng lâm nào có những khuyết điểm
bất hảo, thảy đều loại bỏ. Kiến
lập một thập phương tùng lâm, kiến lập
một đại đạo tràng như thế đó. Đại đạo tràng ấy trang
nghiêm vượt trỗi hai mươi mốt ṭa tùng lâm,
nay đă làm được. Con số nhỏ hơn một
tí, chúng ta có thể phát sanh ḷng tin. Quư vị phát tâm muốn
xây dựng một đại đạo tràng, phát cái tâm ấy
là đúng, [thế
nhưng] nhất định phải
có tài liệu, tham khảo tài liệu cho nhiều, quư vị
mới tạo được một ngôi đại đạo
tràng, mới có thể trang nghiêm.
Quư vị
chẳng tham khảo tài liệu, cứ tùy tiện tạo, chuyện
này chẳng phải là cứ có tiền là có thể tạo.
Có tiền mà quư vị chẳng biết dùng, sẽ tạo ra
[một ngôi tùng lâm] chẳng trang nghiêm. Chúng tôi chẳng cần
phải nói đến tên tuổi của ngôi chùa ấy. Có một tự viện tạo một bài
lâu[10], tốn
công chẳng ít, nhưng quá thấp, hoàn toàn chẳng
tương xứng với đại điện (chánh điện),
trông rất chướng mắt! Sao mà xây cất chẳng
phối hợp, trước đại điện lại
tạo một ṭa bài lâu thấp lủn chủn như vậy?
Chẳng phải là tôi thấy không thuận mắt, có thể
là người thấy gai mắt quá nhiều. Hiện thời,
ngôi chùa ấy đă phá bỏ ṭa bài lâu ấy, nay họ
đă xây một ṭa bài lâu cao [tương xứng], chẳng
phải là đă tốn tiền oan uổng xây ṭa bài lâu thấp
chủn trước kia ư? Đó là người phát tâm lần
đầu, phát tâm tốt đẹp, nhưng chẳng tham học,
chẳng tham khảo tài liệu, làm ra sẽ không đủ
trang nghiêm. Do vậy, quư vị phát tâm kiến trúc đạo
tràng, phát ra cái tâm ấy là đúng, nhưng nhất định
phải có tài liệu để tham khảo, trong Phật
môn gọi là “băo tham băo học”
(tham khảo nhiều, học rộng). Quư vị đi khắp
nơi xem xét, học hỏi, tham khảo cho nhiều, quư vị
xây cất đạo tràng, nhất định sẽ xây dựng
vĩ đại, trang nghiêm. Chúng tôi nói đến một cảnh
giới bé tí, muốn dựng một đạo tràng, phải
chọn lựa tài liệu từ hai mươi mốt ṭa tùng
lâm!
Tỳ-kheo
Pháp Tạng, tức là A Di Đà Phật trong khi c̣n tu nhân, cảnh
giới to hơn chúng ta nhiều. Thế Tự Tại
Vương Phật lại càng chẳng phải là một vị
thiện tri thức tầm thường. V́ thế, khi Ngài
giảng giải cho tỳ-kheo Pháp Tạng hai trăm mười
ức Tịnh Độ, chúng ta có thể biết thế
giới Cực Lạc trang nghiêm cỡ nào, trang nghiêm vượt
trỗi hai trăm mười ức Tịnh Độ của
chư Phật! Trong hư không, chẳng có cơi Phật tịnh độ thứ hai nào vượt trỗi thế
giới Cực Lạc, v́ sao? V́ tỳ-kheo Pháp Tạng chọn
lấy sự trang nghiêm từ hai trăm mười ức
cơi tịnh, tập hợp chúng lại, tạo thành một
đạo tràng. Quư vị hăy ngẫm xem, c̣n ǵ có thể
vượt trỗi được chăng?
“Khởi phát vô thượng thù thắng
chi nguyện” (dấy
khởi nguyện thù thắng vô thượng): Sau khi tỳ-kheo Pháp Tạng trông thấy hai
trăm mười ức quốc độ thanh tịnh
trang nghiêm, liền phát đại nguyện, phát đại
nguyện thù thắng nhất, vô thượng nhất. “Kỳ tâm tịch tĩnh, chí vô sở
trước. Nhất thiết thế gian, vô năng cập
giả” (tâm Ngài tịch tĩnh, chí chẳng đắm
trước, hết thảy thế gian không ai có thể sánh
bằng): Ngài phát nguyện, phát ra nguyện thù thắng vô
thượng, tức là ta sẽ chắt lọc tinh hoa từ hai trăm mười
ức quốc độ của chư Phật, ta sẽ tạo
thành thế giới Cực Lạc, nhưng Ngài đă chiếu theo bổn tánh thanh tịnh
của
chính ḿnh để phát nguyện. “Kỳ tâm tịch tĩnh, chí vô sở
trước” (tâm Ngài tịch tĩnh, chí chẳng đắm
trước): Chẳng có một tâm niệm chấp trước
nào! “Nhất thiết thế
gian, vô năng cập giả” (hết thảy thế gian, chẳng ai có thể sánh
bằng), hết thảy thế gian, ai phát nguyện mà chẳng
chấp tướng, chẳng có ai vượt trỗi tỳ-kheo
Pháp Tạng được! V́ thế, trong phần trước, có nói đến pháp b́nh đẳng bất sanh bất diệt,
tôi đă giảng rồi, nhưng nhắc lại, v́ muốn
chư vị liễu giải đạo lư này, tức là Phật
Tánh của chúng ta cũng là bản thể của chúng ta, c̣n
gọi là diệu lư Thật Tướng. Do nương vào
bản thể Phật Tánh, nương vào diệu lư Thật
Tướng, nên Ngài phát nguyện mà chẳng dấy lên chấp
trước. Khi chẳng dấy lên chấp trước,
nguyện ấy mới là nguyện thanh tịnh. Quư vị
kiến lập hạnh môn ấy mới gọi là nguyện thanh tịnh, hạnh môn do quư vị kiến lập mới gọi là hạnh môn thanh tịnh, quốc độ, đạo tràng do quư vị tạo ra mới gọi là quốc độ thanh tịnh, hoặc đạo tràng thanh tịnh.
Nói tới
chuyện chúng ta có thể làm được, [chẳng hạn
như] hiện thời chúng ta muốn phát tâm dựng một
đại đạo tràng. Phát tâm xây dựng một đại
đạo tràng chẳng phải là chuyện dễ dàng. Phát
tâm bất quá chỉ là phát tâm, c̣n xây dựng th́ sao? Xây dựng đạo tràng liên quan
đến phước báo đă vun bồi trong đời
trước, kiếp
trước. Có phước báo hay
không, đó là một mối quan hệ to lớn. Đời
trước quư vị vun bồi phước báo nhiều,
như vậy th́ quư vị xây cất một đại
đạo tràng rất thuận lợi. Nếu đời
trước, quư vị vun bồi phước báo nhỏ
nhoi, vun bồi phước báo chẳng đủ, vậy
th́ xây dựng một đại đạo tràng sẽ rất
khó khăn. Ở đây, quư vị phải chú ư, chú ư điều
ǵ? Hăy chú ư đừng nên chấp tướng. Ta phát tâm xây
dựng đạo tràng, chẳng xây dựng thành công, sẽ trọn chẳng ngưng nghỉ, đấy
là dũng mănh tinh tấn. Nếu quư vị chấp tướng,
xây cất đạo tràng ấy xong, hết thảy tín
đồ đều giúp đỡ quư vị, nguyện ấy được thành tựu rất mau, do quư vị chấp tướng,
sẽ dễ dàng dấy
lên phiền năo ngă mạn, ngỡ ḿnh ghê gớm lắm! “Các
ngươi xem đó, ta dựng đại đạo tràng
này, xây dựng rất nhanh chóng”. Đấy là cái tâm ngă mạn. Ngă mạn là căn bản phiền năo, “tham, sân, si, mạn, nghi”! Nó là
một trong năm món căn bản phiền năo, chính ḿnh bất
tri bất giác dấy ḷng ngă mạn. Nếu phước báo
của quư vị chẳng đủ, nhưng quư vị chẳng
biết, dựng môt đạo tràng, phát nguyện tạo dựng
[sẽ
gặp] hết sức khó
khăn, hóa duyên chẳng được, toàn gặp phải
chuyện gai góc, đụng chuyện này, vấp chuyện kia,
như thế nào? Đạo tâm của chính ḿnh bị đập
tan hết. “Ôi chao! Chẳng tạo đạo tràng
được, ta lên núi ở trong lều tranh cho rồi!” Quư vị thoái thất đạo tâm, v́
sao? Quư vị chấp tướng, ta muốn xây dựng
đạo tràng nhất định phải đạt tới
mục đích, giống như dùng đấu đong nước
biển. Quư vị múc sạch nước biển đổ
ra ngoài, va vấp cỡ nào, ta vẫn chẳng ngă ḷng, thuận lợi cỡ nào,
ta vẫn chẳng dám dấy tâm ngă mạn. Chuyện này
đ̣i hỏi quư vị đừng chấp tướng,
đấy chính là công phu!
“Cụ túc ngũ kiếp, tư
duy nhiếp thủ trang nghiêm Phật quốc thanh tịnh chi
hạnh” (trọn đủ năm kiếp, tư duy
nhiếp thủ
hạnh thanh tịnh trang
nghiêm cơi Phật): Ngài phát nguyện bèn tu hành, thời gian tu
tập tṛn đủ năm đại kiếp, nên nói là “cụ túc ngũ kiếp”. Tu
hành trong năm đại kiếp, vừa tư duy, tức
là đang suy xét, lại đồng thời phải nhiếp
thủ, tức là chọn lọc từ sự trang nghiêm
nơi các tịnh độ của chư Phật do Thế
Tự Tại Vương Phật đă dạy, Tịnh
Độ nào tốt nhất, trang nghiêm nhất? Ta thâu gom lại. Ngài tu hạnh thanh tịnh trang nghiêm tịnh
độ như vậy, tu suốt năm đại kiếp.
“A Nan bạch Phật: Bỉ Phật
quốc độ, thọ lượng kỷ hà?” (ngài A Nan bạch: - Cơi nước Phật ấy,
thọ lượng là bao nhiêu?) Khi đó, sợ bọn người
nghe kinh chúng ta sẽ dấy ḷng nghi hoặc, tôn giả A Nan liền hỏi thay cho chúng ta. V́ trong thế
giới Sa Bà này, đức Phật trụ thế tổng cộng tám mươi năm, ngay cả tiểu kiếp
c̣n chưa thể nói được, huống hồ bàn
đến đại kiếp? Ở đây, [đức Thế
Tôn] nói tỳ-kheo Pháp Tạng tu hành suốt năm đại
kiếp, tôn giả A Nan sợ chúng ta hoài nghi, liền thưa
hỏi thay cho chúng ta: “Trong cơi nước của vị Phật
ấy, Chánh Báo Phật, y báo, thế giới, quốc độ,
thọ lượng là bao nhiêu? Lâu dài cỡ nào?” Đức
Phật đáp: “Kỳ Phật
thọ mạng, tứ thập nhị kiếp”, nghĩa
là Thế Tự Tại Vương Phật trụ trong thế
gian bốn mươi hai đại kiếp. “Thời Pháp Tạng tỳ-kheo nhiếp
thủ nhị bách nhất thập ức chư Phật diệu
độ thanh tịnh chi hạnh” (khi ấy, tỳ-kheo Pháp Tạng nhiếp thủ
hạnh thanh tịnh hai trăm mười ức cơi Phật
mầu nhiệm): Do Thế Tự Tại Vương Phật
trụ thế lâu tới bốn mươi hai đại kiếp, tỳ-kheo Pháp Tạng mới tu năm
đại kiếp. Thế Tự Tại Vương Phật
tại thế rất lâu xa, cho nên tỳ-kheo Pháp Tạng nhiếp
thủ các hạnh thanh tịnh của hai trăm mười ức cơi Phật mầu nhiệm.
2.2.1.2.2.2. Nói rộng về những điều
đă tu
2.2.1.2.2.2.1. Nói rộng những đại
nguyện trên đây
2.2.1.2.2.2.1.1. Pháp Tạng đến chỗ
Phật, thưa rơ hạnh của chính ḿnh
(Kinh)
Như thị tu dĩ, nghệ bỉ Phật sở, khể
thủ lễ túc, nhiễu Phật tam táp, hiệp chưởng
nhi trụ, bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă dĩ nhiếp
thủ trang nghiêm Phật độ thanh tịnh chi hạnh”.
(經)如是修已,詣彼佛所,稽首禮足,遶佛三帀,合掌而住,白佛言:世尊!我已攝取莊嚴佛土清淨之行。
(Kinh:
Tu như thế rồi, đến chỗ đức Phật
ấy, dập đầu lễ dưới chân Phật,
nhiễu quanh Phật ba ṿng, đứng chắp tay, bạch
Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con đă nhiếp thủ
hạnh thanh tịnh trang nghiêm cơi Phật”).
“Như thị tu dĩ, nghệ bỉ
Phật sở, khể thủ lễ túc, nhiễu Phật tam
táp, hiệp chưởng nhi trụ” (tu như thế rồi, đến chỗ đức
Phật, dập đầu lễ dưới chân đức
Phật, nhiễu Phật theo chiều phải ba ṿng, đứng
chắp tay): Tỳ-kheo Pháp Tạng lại đến gặp
Thế Tự Tại Vương Phật để thưa
tŕnh. “Bạch Phật ngôn: - Thế
Tôn! Ngă dĩ nhiếp thủ trang nghiêm Phật độ
thanh tịnh chi hạnh” (bạch đức Phật rằng: “Thưa Thế
Tôn! Con đă nhiếp thủ hạnh thanh tịnh trang nghiêm
cơi Phật”). Sau khi con nghe
đức Thế Tôn khai thị, con đă nhiếp thủ
hạnh thanh tịnh trang nghiêm các cơi nước Phật,
con đă tu năm đại kiếp. Từ con số “năm đại kiếp”, chúng
ta biết Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng
phải là bỗng dưng mà có, mà là do tỳ-kheo Pháp Tạng
phát ra đại nguyện, chiếu theo đại nguyện
để tu đại hạnh, tu trong năm đại kiếp
bèn thành tựu. Quư vị thấy đại tùng lâm, đại
đạo tràng, đă tu tạo mấy chục năm mới
trang nghiêm như vậy, chẳng phải là một đại
đạo tràng từ trên trời rơi xuống, cũng
chẳng phải là trong hư không bỗng hiện ra thế
giới Cực Lạc! Phật giáo nói “có nhân bèn có quả, nhân như thế nào th́ mới có thể có quả như thế ấy”, chúng ta phải kiên định tín tâm, nhất
định tin tưởng thế giới Cực Lạc!
2.2.1.2.2.2.1.2. Như Lai dạy [Pháp Tạng]
hăy nói ra
(Kinh)
Phật cáo tỳ-kheo: “Nhữ kim khả thuyết, nghi tri
thị thời, phát khởi duyệt khả nhất thiết
đại chúng. Bồ Tát văn dĩ, tu hành thử pháp,
duyên trí măn túc vô lượng đại nguyện”.
(經)佛告比丘:汝今可說,宜知是時,發起悅可一切大眾。菩薩聞已,修行此法,緣致滿足無量大願。
(Kinh:
Đức Phật bảo tỳ-kheo: “Ông nay hăy nên nói, hăy
nên biết là đúng lúc để phát khởi sự vui
sướng, tán thành nơi hết thảy đại chúng.
Hàng Bồ Tát nghe xong, tu hành pháp này, nhờ vào đó mà đầy
đủ vô lượng đại nguyện”).
“Phật cáo tỳ-kheo”: Thế
Tự Tại Vương Phật bảo tỳ-kheo Pháp Tạng:
“Nhữ kim khả thuyết,
nghi tri thị thời” (ông nay hăy nên nói, hăy nên biết là đúng
lúc), hiện thời, ông hăy nên nói về hạnh môn nhiếp
thủ tịnh độ, quốc độ, nhiếp thủ như thế nào? Dùng hạnh
môn ǵ? Ông hăy nên biết, đây chính là thời gian [thích hợp]
để ông nói ra. Thời gian như thế nào vậy? V́
có ta là Thế Tự Tại Vương Phật có thể chứng
minh cho ông. “Phát khởi duyệt
khả nhất thiết đại chúng” (phát khởi sự vui sướng, tán thành của
hết thảy đại chúng): Ông hăy nói ra, ông đă phát nguyện ǵ? Tu hạnh ǵ? Thành
tựu thế giới Cực Lạc tức là ông đă “phát khởi duyệt khả nhất
thiết đại chúng”, [nghĩa là] khiến cho hết
thảy đại chúng đều sanh tâm hoan hỷ, đều
tán thành ông đă làm đúng; điều này gọi là “duyệt khả” (悅可). Đại chúng nơi này đều là đại
chúng Đại Thừa.
“Bồ Tát
văn dĩ, tu hành thử pháp” (Bồ Tát nghe xong, tu hành pháp này): Mọi
người đều dựa theo đó mà tu hành, đều hành pháp môn Tịnh Độ này. “Duyên trí măn túc” (do vậy mà đạt được
trọn đủ), “trí” (致) là
đạt được, kết quả là nhân duyên
được trọn đủ. “Vô lượng đại nguyện”: Nay chúng ta niệm
Phật, niệm kinh, hoặc là giảng kinh. “Nguyện dĩ thử công đức,
trang nghiêm Phật tịnh độ” (nguyện do công đức này, trang nghiêm Phật
Tịnh Độ): Chúng ta là sơ phát tâm Bồ Tát, nghe tỳ-kheo
Pháp Tạng tu Tịnh Độ, chúng ta muốn tham gia góp một phần công đức, những vị
Đại Thừa Bồ Tát ấy nghe xong, sẽ đều
tu pháp môn này, sẽ đều có thể trọn đủ
đại nguyện tu Tịnh Độ này!
2.2.1.2.2.2.1.3. Pháp Tạng tự nói lời nguyện
của chính ḿnh
(Kinh)
Tỳ-kheo bạch Phật: “Duy thùy thính sát! Như ngă sở
nguyện, đương cụ thuyết chi”.
(經)比丘白佛:唯垂聽察!如我所願,當具說之。
(Kinh: Tỳ-kheo bạch Phật:
“Kính xin [đức Phật] rủ ḷng nghe xét, như đối
với lời nguyện của con, sẽ nói đầy đủ
[như sau]”).
“Tỳ-kheo bạch Phật”: Tỳ-kheo
Pháp Tạng bẩm báo với Thế Tự Tại
Vương Phật. “Duy thùy thính
sát” (xin rủ ḷng nghe xét): Điều này mang ư
nghĩa tôn kính Phật. Phật cao vời ở trên, nghe con
nói ắt phải nghiêng người xuống nghe. Đấy
gọi là “duy thùy thính sát”. “Như ngă sở nguyện,
đương cụ thuyết chi” (như lời nguyện của con, sẽ nói
đầy đủ): Thế Tự Tại Vương Phật
bảo tỳ-kheo Pháp Tạng hăy nói ra hạnh thanh tịnh
do chính tỳ-kheo đă tu; do vậy, tỳ-kheo Pháp Tạng bèn
nêu bày đại nguyện do chính ḿnh đă phát. Hăy nên biết,
pháp môn của
tỳ-kheo Pháp Tạng là
do đại nguyện của chính Ngài dẫn xuất,
thường nói là “y nguyện
dẫn hạnh” (nương theo nguyện
mà dẫn khởi hạnh), nêu bày đại nguyện của Ngài cũng tức
là nêu bày pháp môn của chính Ngài. Do vậy, tiếp đó, [kinh văn] nêu rơ bốn mươi tám đại nguyện
do tỳ-kheo Pháp Tạng đă phát. Hằng ngày, chúng ta tụng
kinh khóa tối, trước
khi niệm danh hiệu A Di
Đà Phật, trước đó bèn niệm tám câu kệ
tán Phật: “A Di Đà Phật thân
kim sắc, tướng hảo quang minh vô đẳng luân, bạch
hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ
đại hải, quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ
Tát chúng diệc vô biên, tứ thập bát nguyện độ
chúng sanh, cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn”.
Bài kệ tán Phật gồm tám câu ấy, bảy câu đều phát xuất từ
Thập Lục Quán Kinh, chỉ có một câu “tứ thập bát nguyện độ chúng sanh”
trích từ kinh Vô Lượng Thọ; vậy th́ bốn
mươi tám đại nguyện là bốn mươi tám
đại nguyện nào? Nay tôi sẽ nói từng điều
cho quư vị nghe, quư vị sẽ biết A Di Đà Phật
tạo lập thành công Tây Phương Cực Lạc thế
giới như thế nào? Chính là do đă dựa trên bốn
mươi tám đại nguyện này mà tạo lập thành
công.
Trong bốn
mươi tám đại nguyện ấy, ư nghĩa được phân thành ba loại:
1) Nhiếp
thủ Phật thân nguyện: Tôi, tỳ-kheo Pháp Tạng, có
thể thành tựu thân Phật bằng cách nào?
2) Nhiếp
thủ Tịnh Độ nguyện: Tôi, tỳ-kheo Pháp Tạng,
thành tựu một quốc độ thanh tịnh như thế
nào?
3) Nhiếp
thủ chúng sanh nguyện: Tôi, tỳ-kheo Pháp Tạng, nhiếp
thủ chúng sanh trong mười phương sanh về thế giới trang nghiêm thanh tịnh
của tôi như thế nào?
Trong bốn
mươi tám đại nguyện ấy, nguyện thứ
mười hai, nguyện thứ mười ba, và nguyện thứ mười bảy là nhiếp thủ Phật
thân nguyện, mong thành tựu Phật thân. Nguyện thứ
ba mươi mốt và nguyện thứ ba mươi hai,
hai nguyện này là nhiếp thủ Tịnh Độ nguyện.
Bốn mươi ba nguyện kia đều là nhiếp thủ
chúng sanh nguyện.
1) Nguyện thứ nhất, cơi nước
không có ác đạo
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc hữu địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh giả, bất thủ Chánh
Giác.
(經)設我得佛,國有地獄、餓鬼、畜生者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
cơi nước có địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Trước
hết, nói về đại nguyện thứ nhất, nguyện
trong cơi nước của Ngài chẳng có ba ác đạo. “Thiết ngă đắc Phật,
quốc hữu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh
giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, cơi nước có địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tôi chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác): Những nguyện do A Di Đà Phật đă
phát đều là từ trong thế giới Sa Bà này. Ngài
trông thấy chúng sanh khổ sở như vậy, muốn cứu
độ chúng sanh ĺa khổ được vui. Chúng sanh
đau khổ, khổ nhất là đọa lạc trong ba ác
đạo. Đă đọa lạc rồi, khổ sở
dữ dội, thời gian [chịu khổ] lại dài! Hễ đọa lạc trong tam ác đạo, muốn
trở ḿnh thoát ra, chẳng biết phải trải qua bao
nhiêu đại kiếp? Do vậy, Ngài phát nguyện, tôi muốn
tạo ra một quốc gia, căn bản là chẳng có ba ác
đạo. Nếu tôi tạo ra một quốc gia, tạo
thành một quốc độ, nếu trong quốc độ
của tôi mà có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tức
ba ác đạo, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác, [tức là] tôi tuyệt đối chẳng thành Phật.
Đại
nguyện thứ nhất là “Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng
có ba ác đạo”; trên thực tế, ngay cả A-tu-la đạo
cũng chẳng có! Trong kinh Phật, có khi chia thành lục
đạo, có khi chia thành ngũ đạo, tức thiên
đạo, nhân đạo, địa ngục đạo, ngạ
quỷ đạo, và súc sanh đạo. Không chỉ là chẳng có ba ác
đạo, ngay cả A-tu-la đạo cũng chẳng có. Hăy
nhớ, Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ
có thiên đạo và nhân đạo là hai đường
chúng sanh, mà hai đạo chúng sanh ấy có thể giao tiếp,
qua lại với nhau. Đấy là đại nguyện thứ
nhất. “Bất thủ Chánh
Giác” là lời thề nguyền do Ngài lập ra.
Chúng sanh
chẳng nghe biết Phật pháp, chẳng biết thành Phật,
làm Phật là ǵ! Họ cũng chưa hề nghe qua. Kẻ đă
nghe Phật pháp th́ sao? Chẳng phát nổi đại tâm, chẳng
dám thành Phật! Đă được nghe Phật pháp, họ
cũng tin tưởng có Phật, vậy th́ [bảo họ]
“quư vị phải phát tâm thành Phật”. [Họ than văn]: “Ối
giời! Tôi là một chúng sanh phàm phu khổ năo, tôi làm sao dám thành Phật cho nổi!” Họ chẳng
dám thành Phật. Lại c̣n có một hạng chúng sanh, đă
phát tâm mong thành Phật, nhưng công phu của chính họ chẳng
đủ, muốn thành Phật mà chẳng thể thành, tâm
tâm niệm niệm mong thành Phật, nhưng chính họ chẳng
thể thành Phật. Nhưng đối với các vị
đại Bồ Tát, thành Phật th́ tuyệt đối là
có thể thành, v́ các Ngài phát đại nguyện, lập
đại hạnh, chẳng măn nguyện sẽ chẳng
thành Phật. Đối với việc thành Phật, các
Ngài đă lập một lời thề: Nếu ta chẳng
đạt được mục đích của ta, chẳng
thỏa măn nguyện của ta, ta chẳng đến cơi Phật
ấy. “Bất thủ Chánh Giác”
có ư nghĩa này.
2) Nguyện thứ hai, chẳng c̣n đọa
vào ba ác đạo
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, thọ chung chi hậu, phục cánh tam ác
đạo giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人壽終之後,復更三惡道者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước sau khi mạng chung, lại
đọa trong ba ác đạo, tôi chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ hai, chẳng c̣n đọa trong ác đạo.
Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có ba
ác đạo, quư vị từ thế giới Cực Lạc
lui xuống, tức là sanh vào trong thế giới khác có ba ác
đạo, quư vị có c̣n phải đọa trong ba
đường ác hay chăng? Sẽ chẳng thoái chuyển!
Chỉ cần quư vị sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới, sẽ vĩnh viễn chẳng đọa lạc trong ba ác đạo. Kinh văn chép: “Thiết ngă đắc Phật,
quốc trung thiên nhân” (nếu tôi thành Phật, trời người trong
nước): Trong cơi của Ngài chỉ có thiên đạo và
nhân đạo. “Thọ chung chi
hậu, phục cánh tam ác đạo giả, bất thủ
Chánh Giác” (sau khi mạng chung mà c̣n vào trong ba ác đạo,
tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác), tuyệt đối
sẽ chẳng đọa lạc vào ba ác đạo nữa!
3) Nguyện thứ ba, thân chân kim sắc
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất
tất chân kim sắc giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,不悉真金色者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời
người trong nước tôi không đều là thân màu
vàng ṛng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ ba, thân thể của trời người
trong cơi nước của Ngài đều là kim sắc. “Thiết ngă đắc Phật,
quốc trung thiên nhân, bất tất chân kim sắc giả,
bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, trời người trong
nước tôi không đều là thân màu vàng ṛng, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác). V́ trong thế giới Sa Bà, chỉ
có thân thể đức Phật là màu vàng ṛng, tỳ-kheo Pháp
Tạng phát nguyện: Nhân dân trong cơi nước của Ngài
thảy đều là màu vàng ṛng.
4) Nguyện thứ tư, h́nh sắc tương
đồng
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, h́nh sắc
bất đồng, hữu hảo xú giả, bất thủ
Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,形色不同,有好醜者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước tôi h́nh sắc khác nhau,
có kẻ xấu, người đẹp, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ tư, h́nh sắc giống nhau. “Thiết ngă đắc Phật, quốc
trung thiên nhân, h́nh sắc bất đồng, hữu hảo
xú giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, trời người
trong nước tôi h́nh sắc khác nhau, có kẻ xấu,
người đẹp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác): Nhân dân trong cơi nước, tức là thiên chúng và nhân chúng,
thân thể của hai đường chúng sanh ấy đều
là màu vàng ṛng, tướng mạo giống nhau, chẳng chia
ra ai là đẹp, ai là xấu. V́ phân chia xấu đẹp,
sẽ dấy lên phiền năo kiêu căng, ngă mạn, dấy
lên phiền năo ghen tỵ, chướng ngại. Do đó,
Ngài phát nguyện, h́nh sắc, tức là thân h́nh và thân tướng
của chúng sanh trong cơi nước của Ngài chẳng có kẻ xấu, người đẹp.
Hai đại
nguyện trên đây, đại nguyện thứ ba là nguyện “thân đều là màu vàng ṛng”, đại nguyện thứ tư là “h́nh sắc tương đồng”, chẳng có
người đẹp, chẳng có kẻ xấu. Người
học Phật pháp có thể lấy làm lạ đôi chút.
Người học Phật pháp chúng ta phải suy đến
cái nhân trong đời trước và cái quả trong đời
này. Đời này v́ sao làm người, là một người
trưởng thành tướng mạo trang nghiêm, dễ coi,
v́ sao người ấy được như vậy? V́
đời trước đă vun bồi cái nhân khác nhau, vậy
th́ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
A Di Đà Phật phát nguyện khiến cho chúng ta đều
có tướng mạo như nhau, làm sao có thể giống nhau? Đó là v́ cái nhân sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới đều như nhau, nhân ǵ vậy? Đều do
niệm A Di Đà Phật mà sanh về. Do vậy, sanh về
bên đó, do đều nương theo đại nguyện
của A Di Đà Phật mà tướng mạo tương
đồng.
5) Nguyện thứ năm, Túc Mạng Trí
Thông
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất
thức Túc Mạng, hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha
chư kiếp sự giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,不識宿命,下至知百千億那由他諸劫事者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước
tôi chẳng biết Túc Mạng, tối thiểu là biết
những chuyện trong trăm ngàn ức na-do-tha[11]
kiếp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ năm, tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện:
Nhân dân sanh về nước tôi, thảy đều sanh ra
bèn có Túc Mạng Thông. Túc Mạng Thông là biết chuyện
trong đời trước, kiếp trước. Biết chuyện trong đời trước
là loại Túc Mạng Thông thấp nhất. [Người
trong thế giới Cực Lạc] dẫu Túc Mạng Thông
thuộc loại thấp nhất cũng sẽ biết “những chuyện trong trăm
ngàn ức na-do-tha kiếp”, tức là biết chuyện
trong trăm ngàn ức các kiếp. Nếu chẳng phải là như vậy,
tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.
6) Nguyện thứ sáu, Thiên Nhăn thấy trọn
khắp
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất
đắc Thiên Nhăn, hạ chí kiến bách thiên ức
na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh
Giác.
(經)設我得佛,國中天人,不得天眼,下至見百千億那由他諸佛國者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước tôi chẳng đắc
Thiên Nhăn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na-do-tha
các cơi Phật, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ sáu là nguyện đắc Thiên Nhăn thấy
trọn khắp. Sanh vào nước ấy, mỗi người
b́nh thường đều có Thiên Nhăn Thông, có thể trông
thấy thế giới của mười phương
chư Phật, thấy rất rơ ràng. Thiên Nhăn Thông ở mức
độ thấp nhất th́ cũng có thể thấy trăm
ngàn ức na-do-tha các cơi nước của chư Phật.
Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác.
7) Nguyện thứ bảy, Thiên Nhĩ nghe
trọn khắp
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất
đắc Thiên Nhĩ, hạ chí văn bách thiên ức
na-do-tha chư Phật sở thuyết, bất tất thọ
tŕ giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,不得天耳,下至聞百千億那由他諸佛所說,不悉受持者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước tôi chẳng đắc
Thiên Nhĩ, tối thiểu chẳng nghe lời dạy của
trăm ngàn ức na-do-tha chư Phật, chẳng đều
thọ tŕ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ bảy là nguyện đắc Thiên Nhĩ Thông.
Người sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, không chỉ nghe A Di Đà Phật thuyết pháp, mà chư
Phật thuyết pháp trong trăm ngàn ức quốc độ ở phương khác,
người ấy đều có thể nghe được.
V́ sao? V́ quư vị có Thiên Nhĩ, có thể nghe chư Phật
thuyết pháp trong các thế giới chư Phật.
8) Nguyện thứ tám, đều biết
tâm của kẻ khác
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất
đắc kiến Tha Tâm Trí, hạ chí tri bách thiên ức
na-do-tha chư Phật quốc trung chúng sanh tâm niệm giả,
bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,不得見他心智,下至知百千億那由他諸佛國中眾生心念者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước tôi chẳng đạt
được Tha Tâm Trí, tối thiểu là biết tâm niệm
của chúng sanh trong trăm ngàn ức na-do-tha các cơi Phật,
tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ tám là nguyện đắc Tha Tâm Trí. Chư
Phật quán sát căn cơ của chúng sanh bằng cách sử
dụng Tha Tâm Thông, c̣n gọi là Tha Tâm Trí. Trời người
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thảy
đều đắc Tha Tâm Trí, tối thiểu là thảy đều
có thể biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm
ngàn ức quốc độ ở phương khác. Nếu
chẳng
như vậy, chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác.
9) Nguyện thứ chín, Thần Túc vô ngại
(Kinh) Thiết ngă đắc Phật,
quốc trung thiên nhân, bất đắc Thần Túc, ư nhất
niệm khoảnh, hạ chí bất năng siêu quá bách thiên ức
na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh
Giác.
(經)設我得佛,國中天人,不得神足,於一念頃,下至不能超過百千億那由他諸佛國者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước tôi chẳng đắc
Thần Túc, trong khoảng một niệm, tối thiểu
là chẳng thể vượt qua trăm ngàn ức na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ chín là nguyện đắc Thần Túc Thông,
gọi là “Thần Túc vô ngại”. “Thiết ngă đắc Phật,
quốc trung thiên nhân, bất đắc Thần Túc” (nếu tôi thành Phật, trời người
trong nước chẳng đắc Thần Túc), gọi là
Thần Túc Thông. “Ư nhất
niệm khoảnh”, trong khoảng một niệm. “Hạ chí bất năng siêu quá
bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất
thủ Chánh Giác” [nghĩa là]: Trong một niệm, có thể
vượt qua các cơi nước Phật. Kinh Di Đà nói:
Trong khoảng một bữa ăn, có thể dùng
hương hoa cúng dường mười vạn ức Phật.
Đấy vẫn là tối thiểu, [v́ trong thực tế],
trong một niệm ấy, [người trong cơi Cực Lạc]
có thể vượt qua trăm ngàn ức na-do-tha cơi nước
của chư Phật.
Trên
đây [là những nguyện cho thấy] sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới sẽ trọn đủ năm món thần thông này. Trong
thế giới Sa Bà, sanh lên trời, cũng có thể đạt
được năm thứ thần thông ấy, chúng
được gọi là Báo Thông (報通, thần thông đạt được do
quả báo). Sanh lên trời là quả báo của chư thiên, tự
nhiên có năm loại thần thông; sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, năm loại
thần thông càng cao, càng sâu hơn! Tiếp theo đây, c̣n có
loại thần thông thứ sáu, gọi là Lậu Tận
Thông. Lậu (漏) là phiền
năo. [Lậu Tận Thông] là món thần thông đạt
được do đă đoạn hết phiền năo.
Trong thế giới Sa Bà, chư thiên chẳng có món thần thông này, chỉ A La Hán mới có. Sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, sẽ có Lậu
Tận Thông. Lậu Tận Thông bao gồm hai đại
nguyện, tức nguyện thứ mười và nguyện
thứ mười một.
10) Nguyện thứ mười, chẳng
tham đắm, so đo thân thể
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nhược
khởi tưởng niệm, tham kế thân giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,若起想念貪計身者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước tôi mà nếu như dấy
lên tưởng niệm, tham đắm, so đo cái thân, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
11) Nguyện thứ mười một, trụ
Định, chứng Diệt
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất
trụ Định Tụ, tất chí diệt độ giả,
bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,不住定聚,必至滅度者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời
người trong nước tôi chẳng trụ trong Định
Tụ, ắt đạt đến diệt độ, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Lậu
Tận Thông được chia thành hai nguyện. Nguyện
thứ mười là chẳng tham đắm, so đo thân
thể của chính ḿnh. “Thiết
ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nhược khởi
tưởng niệm tham kế thân giả, bất thủ Chánh
Giác” (nếu tôi thành Phật, trời người
trong nước tôi mà nếu như dấy lên tưởng
niệm, tham đắm, so đo cái thân, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác): Chúng sanh trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới chẳng dấy lên tâm tham. “Kế” (計) là chấp
trước. Chẳng chấp trước thân thể của
chính ḿnh, tức là chẳng dấy lên Thân Kiến. Nguyện
thứ mười một là “trụ
Định, chứng Diệt”: “Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên
nhân, bất trụ Định Tụ, tất chí diệt
độ giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, trời người
trong nước tôi chẳng trụ trong Định Tụ,
ắt đạt đến diệt độ, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác). Hết thảy chúng sanh
được chia thành ba loại lớn, gọi là Tam Tụ
(三聚):
1) Loại
thứ nhất là Tà Định Tụ, tức chúng sanh tà kiến.
2) Loại
thứ hai là Bất Định Tụ, tiến tiến lùi lùi chẳng nhất định.
3) Loại
thứ ba là Chánh Định Tụ, chỉ tiến, chẳng
lùi bước, nên gọi là Chánh Định Tụ.
Ngài (tỳ-kheo
Pháp Tạng) phát nguyện: “Chúng sanh chỉ cần sanh về
cơi nước của ta mà chẳng trụ trong Chánh Định
Tụ, măi cho đến khi chứng Niết Bàn, sẽ chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Nguyện thứ mười và
nguyện thứ mười một hợp thành Lậu Tận
Thông.
12) Nguyện thứ mười hai, quang
minh vô lượng
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quang minh hữu hạn lượng,
hạ chí bất chiếu bách thiên ức na-do-tha chư Phật
quốc giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,光明有限量,下至不照百千億那由他諸佛國者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu
thấu trăm ngàn ức na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
13) Nguyện thứ mười ba, thọ mạng
vô lượng
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thọ mạng hữu hạn
lượng, hạ chí bách thiên ức na-do-tha kiếp giả,
bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,壽命有限量,下至百千億那由他劫者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là [sống
đến] trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ mười hai và thứ mười ba là “nhiếp Phật thân nguyện”.
Đại nguyện thứ mười hai, tôi là tỳ-kheo
Pháp Tạng thành Phật, tôi sẽ như thế nào? “Thiết ngă đắc Phật,
quang minh hữu hạn lượng, hạ chí bất chiếu
bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất
thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng,
tối thiểu là chẳng chiếu thấu trăm ngàn ức
na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác). Tôi là tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện: Nếu tôi
thành Phật, quang minh vô lượng của tôi sẽ chiếu
trọn khắp mười phương thế giới. Đại
nguyện thứ mười ba là thọ mạng vô lượng.
“Thiết ngă đắc Phật,
thọ mạng hữu hạn lượng, hạ chí bách
thiên ức na-do-tha kiếp giả, bất thủ Chánh Giác”
(nếu tôi thành Phật, thọ mạng có hạn
lượng, tối thiểu là đến trăm ngàn ức
na-do-tha kiếp, chẳng giữ lấy Chánh Giác). Chúng ta niệm
kinh A Di Đà, [sẽ thấy] Thích Ca Mâu Ni Phật đă giải
thích ư nghĩa của [danh hiệu] A Di Đà, một là Vô
Lượng Quang, hai là Vô Lượng Thọ. Đấy
chính là đại nguyện thứ mười hai và đại
nguyện thứ mười ba của A Di Đà Phật.
14) Nguyện thứ mười bốn,
Thanh Văn vô số
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Thanh Văn, hữu
năng kế lượng, năi chí tam thiên đại thiên thế
giới chúng sanh, tất thành Duyên Giác, ư bách thiên kiếp,
tất cộng kế giảo, tri kỳ số giả, bất
thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中聲聞,有能計量,乃至三千大千世界眾生,悉成緣覺,於百千劫,悉共計校,知其數者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
Thanh Văn trong nước có thể tính đếm, cho
đến chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới
đều thành Duyên Giác, trong trăm ngàn kiếp luôn cùng nhau
tính toán, mà biết được con số ấy, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ mười bốn là “chẳng thể tính nổi số lượng Thanh
Văn”. Duyên Giác là Thanh Văn, là chúng sanh Tiểu Thừa
lợi căn. Tức là nói chúng sanh trong tam thiên đại
thiên thế giới đều thành Duyên Giác, đă thành Duyên Giác rồi đều có thể tính toán, chẳng tính
ra số lượng như thế nào. Đă thế, thời
gian tính toán lại c̣n là trải qua trăm ngàn kiếp, muốn
tính toán trong cơi nước của ta có bao nhiêu Thanh Văn ư?
Tính chẳng ra! Nếu có thể tính toán được, ta
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác. Bởi lẽ, trong cơi
nước của Ngài có vô lượng vô số Thanh
Văn.
Ở
đây, [ư kinh Vô Lượng Thọ] phù hợp với kinh A
Di Đà. Kinh A Di Đà chép: “Bỉ
Phật hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử,
giai A La Hán, phi thị toán số chi sở năng tri, chư
Bồ Tát chúng diệc phục như thị” (đức
Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh
Văn, đều là bậc A La Hán, chẳng thể tính toán
mà có thể biết được con số, các vị Bồ
Tát cũng giống như thế). Trong thế giới Cực
Lạc, Thanh Văn số đến vô lượng, chỉ
có thể nói là chẳng thể dùng toán số, thí dụ
để có thể biết được, cũng là đến
mức vô lượng; nhưng trong Tịnh Độ có ba kinh một luận,
ba bộ kinh ấy chẳng hề mâu thuẫn. Một bộ luận là Văng Sanh Luận, trong
ấy, có một câu: “Nhị Thừa
chủng bất sanh” (chủng tánh Nhị Thừa chẳng sanh [về Cực
Lạc]), tức là nói Tây Phương Cực Lạc thế
giới chẳng có hàng Nhị Thừa. Câu này đă mâu thuẫn
với điều được nói trong kinh A Di Đà: Chúng Thanh Văn trong Tây Phương Cực
Lạc thế giới số đến vô lượng!
Kinh Vô Lượng Thọ cũng nói, trong cơi nước ấy,
số Thanh Văn nhiều vô lượng! V́ sao Văng Sanh Luận
nói “chẳng có Thanh Văn”? Hăy
biết hàng Thanh Văn ấy (hàng Thanh Văn nói trong ba kinh Tịnh
Độ) chẳng phải là “định tánh Thanh Văn”,
mà là Thanh Văn hồi Tiểu hướng Đại. Định
tánh Thanh Văn chứng đắc quả A La Hán, nhưng chẳng thấy Phật. Hồi
Tiểu hướng Đại th́ mới niệm Phật
sanh về Tây Phương. Đă sanh về Tây Phương bèn thuận theo căn tánh của chính người
ấy, căn tánh của người ấy vốn là Thanh
Văn. Do vẫn
thuận theo căn tánh của
người ấy, trước hết chứng quả Thanh
Văn, tức
là chứng quả A La Hán, trên thực tế, vẫn phải hành Bồ
Tát đạo, phải chứng quả vị Bồ Tát.
15) Nguyện thứ mười lăm, tùy
theo nguyện [mà thọ mạng] dài hay ngắn
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, thọ
mạng vô năng hạn lượng, trừ kỳ bổn
nguyện, tu đoản tự tại. Nhược bất
nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,壽命無能限量,除其本願,修短自在。若不爾者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi, thọ
mạng chẳng thể hạn lượng, trừ phi v́
nguyện của chính họ mà [thọ
mạng] dài hay ngắn tự tại. Nếu chẳng
như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Nói đến
đại nguyện thứ mười lăm này, thọ mạng
của tất cả thiên chúng và nhân chúng trong thế giới
Cực Lạc đều là vô lượng thọ. Kinh A Di Đà nói, thọ mạng của A Di Đà Phật là
vô lượng, thọ mạng của nhân dân trong cơi ấy cũng là vô lượng. Đấy là nguyện
thứ mười lăm, thành tựu “thọ mạng chẳng thể hạn lượng,
trừ phi v́ nguyện của chính người ấy mà [thọ mạng] dài hay ngắn tự tại”. “Tu đoản”:
“Tu” (修) là dài, [“tu đoản tự tại”] là dài hay ngắn tự tại. Trừ khi
người ấy có nguyện riêng; nếu không, sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới, người
ấy chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, trở về thế giới
Sa Bà độ chúng sanh. Chẳng hạn như chúng ta là
người trong thế giới Sa Bà, có nguyện sanh về
thế giới Cực Lạc, chứng đắc Vô Sanh
Pháp Nhẫn rồi sẽ trở về. Như vậy là trong
thế giới Cực Lạc, thọ mạng của
người như thế rất ngắn. Đấy là bổn
nguyện của người ấy tự tại. “Nhược bất nhĩ giả,
bất thủ Chánh Giác”: Chẳng phải là như vậy,
Ngài sẽ chẳng thành Phật.
16) Nguyện thứ mười sáu, chẳng
nghe danh tự ác
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, năi chí
văn hữu bất thiện danh giả, bất thủ Chánh
Giác.
(經)設我得佛,國中天人,乃至聞有不善名者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước
tôi thậm chí nghe có cái tên bất thiện, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ mười sáu, Tây Phương Cực Lạc
thế giới không chỉ là chẳng có ba ác đạo, mà
ngay cả âm thanh của những tên gọi xấu ác
cũng chẳng nghe thấy. “Bất
thiện danh” tức là danh tự ác. Trong Tây Phương
Cực Lạc thế giới, bất luận là thiên chúng
hay nhân chúng, nếu nghe thấy danh tự bất thiện, A
Di Đà Phật sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác,
cũng tức là [nhân dân trong thế giới ấy] chẳng
thể nghe danh tự bất thiện. Trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới toàn là người tốt, chẳng có người xấu, chẳng nghe danh tự ác cũng chẳng phải
là chuyện hiếm hoi, lạ lùng ǵ! Quư vị phải hiểu
v́ sao A Di Đà Phật phát ra đại nguyện này? V́ tai
nghe danh tự ác, vừa lọt vào Nhĩ Căn, nó liền in vào thức điền. Lọt qua
Nhĩ Căn của chúng ta, bèn gieo chủng tử trong ruộng tám thức. Quư vị nghe danh
tự tốt lành, sẽ gieo thiện chủng tử trong
ruộng tám thức. Thiện chủng tử dấy lên hiện
hành, thân thể sẽ tạo tác thiện pháp, thiện pháp
lại sanh ra chủng tử, vẫn là chủng tử thiện.
Trong thế giới Sa Bà của chúng ta, chuyện ác quá nhiều,
chuyện thiện quá ít, cũng chính là nghe danh tự thiện
th́ ít, nghe danh tự ác th́ nhiều. Nếu Nhĩ Căn của
chúng ta nghe những lời bất hảo, nghe những chuyện
bất hảo, do từ Nhĩ Căn huân tập vào, nghe lọt
tận ruộng tám thức, thảy đều sanh khởi
những chủng tử ác. Chủng tử ác dấy lên hiện
hành điều ác, lại sanh ra chủng tử ác. Chủng
tử ác ấy lại dấy lên hiện hành, hiện hành lại
sanh ra chủng tử, thế giới của chúng ta toàn là những chủng tử ác, giống
như ruộng nương tám thức của chúng ta, [nói] “ruộng nương” là sánh
ví. Trong ruộng nương của chúng ta, những hạt
giống thiện, hạt giống tốt kết thành quả tốt, lại gieo xuống th́ vẫn là hạt
giống tốt. Quư vị trồng những hạt giống
ác, chúng sẽ sanh ra những quả ác, quả ác lại sanh
ra chủng tử ác. Ruộng nương ấy đều
hỏng bét, biến thành ruộng xấu! Do đó, thế
giới Sa Bà rất khó tu hành, rất khó đạt được tiến bộ, là v́ Nhĩ Căn chẳng thanh tịnh. Do v́ A Di Đà Phật đă thấy
chuyện rất khổ năo này, Ngài phát nguyện trong thế
giới Cực Lạc, căn bản là chẳng nghe tiếng
ác!
17) Nguyện thứ mười bảy,
chư Phật ca ngợi
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thập phương thế
giới vô lượng chư Phật, bất tất tư
ta, xưng ngă danh giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,十方世界無量諸佛,不悉咨嗟稱我名者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
mười phương thế giới vô lượng
chư Phật nếu chẳng đều nắc nỏm
khen ngợi danh hiệu của tôi, tôi chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác).
Trong bốn
mươi tám đại nguyện, đại nguyện thứ
ba là “nhiếp Phật thân nguyện”,
đại nguyện thứ mười hai và mười ba
trên đây đều là phát nguyện chính ḿnh thành Phật, quang
minh vô lượng, thọ mạng vô lượng. Đại nguyện thứ mười bảy này
cũng là “nhiếp Phật thân
nguyện”. Tôi mong rằng khi thành Phật, mười
phương vô lượng chư Phật “tư ta” (咨嗟) tức là tán thán, sẽ đều tán thán,
xưng dương danh hiệu Phật của tôi. Chúng ta niệm
kinh A Di Đà đều biết, trong kinh A Di Đà có sáu phương Phật,
[tức là chư Phật trong] bốn phương và phương trên,
phương dưới cùng tán thán A Di Đà Phật. Pháp sư
Cưu Ma La Thập phiên dịch kinh A Di Đà có sáu
phương Phật là dịch giản lược, Huyền
Trang đại sư dịch kinh A Di Đà gồm mười
phương Phật. Mười phương chư Phật
thảy đều tán thán A Di Đà Phật. Đấy là
do đại nguyện thứ mười bảy của
Ngài đă thành tựu.
18) Nguyện thứ mười tám, mười
niệm ắt sanh
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thập phương chúng
sanh, chí tâm tín nhạo, dục sanh ngă quốc, năi chí thập
niệm, nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh
Giác, duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp.
(經)設我得佛,十方眾生,至心信樂,欲生我國,乃至十念,若不生者,不取正覺。唯除五逆,誹謗正法。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
mười phương chúng sanh chí tâm tin ưa, muốn
sanh về nước tôi, dẫu chỉ mười niệm,
mà nếu chẳng được sanh về, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác, chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch,
phỉ báng chánh pháp).
Đại
nguyện thứ mười tám nhiếp thọ chúng sanh, tức
là chúng sanh thượng, trung, hạ ba căn thảy đều
nhiếp thọ, nhất là nhiếp thọ chúng sanh hạ
căn. Quư vị chỉ cần niệm Phật mười
niệm, tuyệt đối có thể sanh về Tây Phương.
“Thiết ngă đắc Phật,
thập phương chúng sanh” (nếu tôi thành Phật, mười phương
chúng sanh) không chỉ là trăm ngàn ức chúng sanh, mà là
mười phương thế giới chúng sanh. “Chí tâm tín nhạo”: Hễ phát
tâm chí thành, tin tưởng Tây Phương Cực Lạc thế
giới, ưa thích văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới. “Dục sanh ngă quốc”
(muốn sanh về nước tôi): “Dục sanh” là tâm phát nguyện
muốn được văng sanh, tức là nguyện sanh về
cơi nước của A Di Đà Phật. Người ấy
“tín nhạo”, tức là phát
tâm tin tưởng, ngưỡng mộ, lại c̣n phải tu
hành. Tu hành th́ chỉ cần niệm Phật mười niệm.
“Năi chí thập niệm, nhược
bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác” (dẫu chỉ mười niệm mà nếu
chẳng sanh, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Niệm Phật
mười niệm là có thể văng sanh Tây Phương.
“Duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ
báng chánh pháp” (chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp): Ở đây,
phải biện định đôi chút, có những chúng sanh
tội ác chẳng thể văng sanh, chúng sanh phạm tội
ác như thế nào vậy? “Ngũ
Nghịch trọng tội”! Ngũ Nghịch trọng tội
là:
1) Thứ
nhất, xuất Phật thân huyết, tức là làm cho thân thể
Phật chảy máu. Quư vị chẳng thể hại chết
Phật được, làm thân Phật chảy máu là một
trong Ngũ Nghịch trọng tội, giống như
Đề Bà Đạt Đa muốn hại chết Phật Thích Ca. Ông ta lên núi, chuẩn bị sẵn một
tảng đá to, chờ đức Phật từ dưới chân núi đi qua, liền
quăng tảng đá to ấy xuống, bị thần hộ
pháp là Vi Đà Bồ Tát dùng giáng ma xử cản lại.
Giáng ma xử là chất báu Kim Cang, đập tan nát tảng
đá lớn ấy, có một mảnh đá văng trúng
đầu ngón chân Phật, khứa chảy máu ra. Đấy
gọi là Xuất Phật Thân Huyết, Đề Bà Đạt
Đa kết thành trọng tội sát hại Phật.
2) Thí
cha.
3) Thí mẹ.
4) Thí A
La Hán.
“Thí” (弒) là giết. Kẻ dưới sát hại người
trên th́ gọi là Thí. Quư vị giết hại cha, mẹ của chính ḿnh, sát hại A La Hán, đều là Ngũ Nghịch
trọng tội.
5) Phá Ḥa
Hợp Tăng. Cái tội phá Tăng cũng là một trong
Ngũ Nghịch đại tội.
Kẻ tạo
Ngũ Nghịch đại tội, chẳng thể văng sanh Tây Phương. “Phỉ báng chánh pháp”: Kẻ ấy
đă không tin tưởng, lại c̣n toan phỉ báng chánh pháp. Tội lỗi ấy rất
nặng, cũng chẳng thể sanh về Tây Phương.
Ở
đây, tôi biện định hai câu này. Thập Lục Quán
Kinh chấp thuận kẻ phạm Ngũ Nghịch trọng
tội văng sanh Tây Phương, dung hội xuyên suốt với
kinh Vô Lượng Thọ như thế nào? Phía sau Thập
Lục Quán Kinh có một đoạn kinh văn như sau: “Phật cáo A Nan, cập Vy Đề
Hy: - Hạ phẩm hạ sanh giả, hoặc hữu chúng
sanh, tác bất thiện nghiệp, Ngũ Nghịch, Thập
Ác… Như thị ngu nhân, lâm mạng chung, ngộ thiện tri
thức, giáo linh niệm Phật... Như thị
chí tâm, linh thanh bất tuyệt, cụ túc thập niệm,
xưng Nam-mô A Di Đà Phật... Như nhất niệm khoảnh,
tức đắc văng sanh Cực Lạc thế giới” (đức Phật bảo
ngài A Nan và bà Vy Đề Hy: - Hạ phẩm hạ sanh là nếu
có chúng sanh tạo nghiệp bất thiện, Ngũ Nghịch,
Thập Ác… Kẻ ngu như thế, lúc sắp mạng chung,
gặp thiện tri thức dạy niệm Phật… Chí tâm
như thế, khiến cho tiếng niệm chẳng dứt,
đầy đủ mười niệm, xưng Nam-mô A Di
Đà Phật… Như trong khoảng một niệm, liền
được sanh về thế giới Cực Lạc),
[tức là Quán Kinh] chấp thuận kẻ Ngũ Nghịch
trọng tội có thể văng sanh Tây Phương. Cớ sao
kinh Vô Lượng Thọ chẳng chấp thuận kẻ Ngũ
Nghịch trọng tội văng sanh Tây Phương? Phải
dung hội quán thông điều này. Kinh Vô Lượng Thọ
chú trọng nơi “phỉ báng
chánh pháp”, [kẻ ấy] đă tự ḿnh tạo Ngũ
Nghịch trọng tội, lại c̣n phỉ báng chánh pháp,
quư vị bảo kẻ ấy niệm A Di Đà Phật, kẻ
ấy có chịu niệm hay không? Kẻ ấy chẳng chịu
niệm, sanh về Tây Phương bằng cách
nào? Nếu là kẻ trót tạo Ngũ Nghịch trọng
tội, nhưng chẳng phỉ báng chánh pháp, tự ḿnh biết
hổ thẹn, biết sám hối, mong cầu A Di Đà Phật
cứu kẻ ấy, kẻ ấy niệm danh hiệu A Di
Đà Phật, vẫn có thể văng sanh Tây Phương. Quư
vị phỉ báng chánh pháp tức là chẳng tin pháp môn Tịnh
Độ, ba món tư lương của Tịnh Độ
là Tín, Nguyện, Hạnh. Điều thứ nhất là Tín,
kẻ ấy do không tin mới phỉ báng. Không tin th́ làm sao có thể phát nguyện
sanh sang Tây Phương cho được? Kẻ ấy chẳng
chịu phát nguyện, làm sao có thể niệm danh hiệu A
Di Đà Phật cho nổi? Ba tư lương Tín, Nguyện,
Hạnh, một thứ cũng chẳng có, làm sao có thể
sanh về Tây Phương cho được? Do đó, dẫu
tạo Ngũ Nghịch trọng tội, chỉ cần chẳng
phỉ báng chánh pháp, chỉ cần tin tưởng pháp môn Tịnh
Độ, nguyện sanh về Tây Phương, tŕ niệm
danh hiệu A Di Đà Phật, mười niệm vẫn
có thể văng sanh.
Đại
nguyện thứ mười tám là bi tâm triệt để
của A Di Đà Phật. Chỉ cần quư vị tin tưởng,
phát nguyện, chắc chắn sanh về Tây Phương. Niệm
Phật là hạnh môn, phải có công phu. Quư vị chẳng
có công phu, không sao hết, niệm mười niệm bèn sanh
về Tây Phương. Tại Trung Hoa, thường nhắc
đến câu chuyện ông Trương Thiện Ḥa. Đời
Đường có một gă giết trâu, sống bằng nghề giết trâu,
giết
trâu suốt đời, [tên là Trương Thiện Ḥa]. Khi hắn ta sắp
mạng chung, tướng địa ngục hiện tiền.
Vô lượng những con trâu bị hắn ta đă giết đều t́m
đến đ̣i mạng. Khi hắn ta đang sợ hăi,
b́nh thường, hắn chẳng bao giờ đến
chùa, mà cũng chẳng thắp hương lễ Phật. Nhưng nơi hắn ở cách chùa chẳng xa, khi ấy, tướng địa ngục hiện tiền,
những con trâu đă bị giết đều t́m đến
đ̣i mạng, hắn ta sợ hăi, bảo người nhà
ngay lập tức đến ngôi chùa trước nhà thỉnh
sư phụ đến cứu hắn. Đến lúc mấu
chốt khẩn yếu, hắn nghĩ đến chuyện gọi sư phụ tới cứu hắn.
Khéo sao cách chùa chẳng xa, người nhà ngay lập tức
đến chùa thỉnh sư phụ tới. Sư phụ thấy hắn bị dọa
đến nỗi khóc ồ ồ, bèn khai thị: “Đấy
là do ông đă tạo sát nghiệp rất nặng, hiện
thời tướng địa ngục hiện tiền. Ngoại trừ ông niệm A Di Đà Phật cầu sanh
Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng có cách nào khác! Chúng tôi niệm kinh
cho ông chẳng kịp. Chính ông hăy niệm A Di Đà Phật
cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, A
Di Đà Phật nhất định đón ông về Tây Phương”. B́nh thường,
hắn ta chẳng đốt nhang, khi ấy, nhớ ra:
“Ngay lập tức thắp hương cho ta, ta muốn dâng
hương”. Thế là người nhà ngay lập tức vội
đốt hương cho hắn. Tay hắn cầm hương,
một mực niệm nam-mô A Di Đà Phật, nam-mô A Di
Đà Phật… Niệm mười tiếng. Ôi chao! Hắn
ta nói: “Những con trâu đ̣i mạng đều bỏ
đi hết rồi, tướng địa ngục
cũng chẳng thấy nữa!” Một
lúc sau, [hắn ta nói]: “A Di
Đà Phật đến đón tôi”. Mặt lộ vẻ
tươi cười, mỉm cười qua đời.
Đấy là câu chuyện Trương Thiện Ḥa thường
được nhắc tới. Câu chuyện này chứng
minh, một gă tội ác suốt đời giết trâu, khi
lâm chung, tướng địa ngục hiện tiền, chỉ
niệm A Di Đà Phật mười niệm liền sanh về
Tây Phương. Chỉ cần chúng ta kịp thời sanh
tín tâm, chẳng thể hoàn toàn nói chúng ta là thiện nhân,
nhưng chúng ta không giết trâu, một con trâu cũng chưa
từng giết, huống hồ ông ta là người cả
đời giết trâu, niệm mười tiếng A Di
Đà Phật mà có thể văng sanh Tây Phương! Chúng ta chẳng
ác như ông ta, chúng ta mỗi ngày niệm Phật tối thiểu
mười câu, b́nh thường niệm Phật, tính ra, chẳng niệm đến mức nhất
tâm bất loạn, nhưng niệm Phật cũng chẳng
ít, lẽ nào chẳng thể sanh về Tây Phương? Chúng
ta phải triệt để tin tưởng điều
này, tuyệt đối chớ nên hoài nghi!
Ngẫu
Ích đại sư có hai câu kệ: “Đắc sanh dữ phủ, toàn do tín nguyện chi hữu
vô. Phẩm vị cao hạ, toàn do tŕ danh chi thâm thiển” (được văng sanh hay không, toàn là do có
tín nguyện hay không. Phẩm vị cao hay thấp, toàn là do
tŕ danh sâu hay cạn). Quư vị có thể sanh về Tây
Phương hay không, hoàn toàn tùy thuộc tín tâm của quư vị,
tùy thuộc nguyện lực của quư vị. Có tín tâm, có
nguyện lực, chắc chắn sẽ sanh về Tây
Phương. C̣n như phẩm vị văng sanh là do công phu niệm
Phật sâu hay cạn, do vậy mà phẩm vị cao hay thấp.
Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới nhờ
vào niệm Phật. Quư vị niệm A Di Đà Phật nhiều,
thượng phẩm thượng sanh. Niệm ít, trung phẩm
trung sanh. Niệm ít hơn nữa, hạ phẩm hạ sanh!
Đó gọi là “thập
niệm văng sanh”. Hạ phẩm hạ
sanh vẫn là sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới. Ngẫu Ích đại sư dạy chúng ta điều
này, quư vị tuyệt đối chớ nên hoài nghi: “Ta niệm
Phật quá ít, chẳng thể sanh về Tây Phương!”
Chỉ cần quư vị có tín tâm và có nguyện lực, niệm
Phật mười niệm, tuyệt đối có thể
văng sanh!
Tổ
sư Trung Hoa
đă soạn văn Quy Mạng,
trong khóa tối mỗi ngày, sau khi niệm Phật xong, chúng
ta bèn quỳ xuống, niệm bài văn Quy Mạng, c̣n gọi
là văn Hồi Hướng. Trong bài ấy, đă thêm vào
kinh văn từ nguyện thứ mười tám này: “Nhược hữu chúng sanh, dục
sanh ngă quốc, chí tâm tín nhạo, năi chí thập niệm.
Nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác”
(nếu có chúng sanh muốn sanh về nước
ta, chí tâm, tin ưa, cho đến mười niệm, nếu
chẳng văng sanh, chẳng giữ lấy Chánh Giác). Do điều
này mà biết nguyện thứ mười tám nhiếp thủ
chúng sanh hết sức quan trọng. Nhật Bản có
Đông Bổn Nguyện Tự và Tây Bổn Nguyện Tự[12]; những ngôi chùa ấy thuộc Tịnh Độ Chân Tông. V́ sao gọi là Bổn Nguyện Tự? V́
coi nguyện thứ mười tám của A Di Đà Phật
là bổn nguyện[13]. V́ sao
gọi là Bổn Nguyện Tự? Do chú trọng nguyện thứ
mười tám này; bốn mươi bảy nguyện kia
đều là trợ nguyện. Bổn nguyện của A Di
Đà Phật là mong độ chúng sanh sanh về Tây
Phương. Do vậy, điều nguyện này là bổn
nguyện, những nguyện khác đều là kèm theo. V́ sao
vậy? Chẳng hạn như nói “A Di Đà Phật quang minh vô lượng, thọ mạng
vô lượng”, nhưng nếu chúng sanh chẳng thể
sanh về Tây Phương, vậy th́ quang minh vô lượng
và thọ mạng vô lượng của Phật có ích chi
đâu? Những phần kinh văn tiếp theo c̣n nói thế
giới Cực Lạc được trang nghiêm bằng bảy
báu như thế nào, [nhưng] chúng sanh chẳng sanh về Tây
Phương, dẫu thế giới Cực Lạc trang
nghiêm cách mấy đi nữa, có ích chi chăng? Do đó,
căn bản của bốn mươi tám nguyện ở
ngay nguyện thứ mười tám, độ chúng sanh sanh
về Tây Phương. Sanh như thế nào? Có tín tâm, có nguyện
lực, niệm Phật mười tiếng bèn có thể
ra đi. Do vậy, nguyện thứ mười tám là bổn
nguyện. Ở đây, tôi nói thêm mấy câu v́ muốn gia
tăng tín tâm cho quư các vị. A Di Đà Phật sẽ nhiếp thọ
chúng ta, đúng là bi tâm triệt để. Quư vị niệm
mười câu A Di Đà Phật có thể sanh về Tây
Phương. Sanh về Tây Phương th́ sanh tử từ
vô thỉ kiếp cho đến nay sẽ có ngày liễu
thoát. V́ sao quư vị chẳng tin tưởng? V́ sao chẳng
phát nguyện? Nếu quư vị nghe đại nguyện thứ
mười tám, [sẽ biết] A Di Đà Phật từ bi nhiếp
thọ chúng ta như vậy, [thế mà] đối với pháp
môn Tịnh Độ, quư vị vẫn chẳng thể sanh
tín tâm, chẳng phát nguyện cầu sanh Tây Phương;
không chỉ là quư vị có lỗi với A Di Đà Phật,
mà c̣n có lỗi đối với chính ḿnh!
Giả
sử c̣n có kẻ nói: “Phật pháp tám vạn bốn ngàn
pháp môn, môn nào cũng đều có thể nhập đạo,
v́ sao phải tin tưởng pháp môn Tịnh Độ?” Quư
vị phải biết: Đó là thời đại Chánh
Pháp, thiện căn của chúng sanh sâu dầy, nghiệp
chướng cạn mỏng, tu bất luận pháp môn nào
cũng đều có thể thành tựu. [Do vậy], tám vạn
bốn ngàn pháp môn, môn nào cũng đều có thể thành tựu.
Hiện
nay đă chẳng phải
là thời đại Chánh Pháp, mà cũng chẳng phải là
thời đại Tượng Pháp, mà là thời đại
Mạt Pháp. Thời đại Mạt Pháp th́ trừ pháp môn
Tịnh Độ ra, pháp môn nào cũng đều chẳng
dùng được! Kinh Đại Bảo Tích dạy: “Mạt Pháp ức ức nhân tu hành, hăn nhất đắc
đạo, duy y niệm Phật, đắc độ sanh
tử” (thời Mạt Pháp, ức ức người tu
hành, hiếm có một người đắc đạo.
Chỉ có nương vào niệm Phật để vượt
khỏi sanh tử). Có những pháp môn quư vị tu chẳng
nổi; pháp môn mầu nhiệm, nhưng chúng ta tu không nổi!
Chỉ có pháp môn Tịnh Độ niệm A Di Đà Phật,
tu pháp môn đơn giản này, quư vị sẽ có thể nhập
đạo. Quư vị chẳng niệm, chẳng tu, có pháp môn này để có thể nhập đạo mà quư vị chẳng
tu, cứ muốn tu các pháp môn chẳng thể nhập đạo,
chẳng phải là quư vị đă tự đâm quàng ngơ rẽ
đấy ư? Chẳng cần nói tám vạn bốn ngàn
pháp môn nhiều ngần ấy! Tám đại tông phái Đại Thừa tại
Trung Hoa, Tịnh Độ Tông chỉ là một tông phái, ngoài ra c̣n có bảy tông
phái khác. Đă
là mỗi tông phái đều dạy chúng ta pháp môn liễu sanh tử, quư vị hăy nghiên cứu các pháp môn liễu sanh tử khác, thử coi chúng ta có tu nổi hay không?
Thiên Thai Tông phải tu Nhất Tâm Tam Quán, quán nổi hay
không? Hiền Thủ Tông, c̣n gọi là Hoa Nghiêm Tông, phải
tu Pháp Giới Quán, quán được hay chăng? Tam Luận
Tông th́ phải tu Pháp Tánh Trung Đạo, tu được
không? Duy Thức Tông phải tu Ngũ Trùng Duy Thức Quán,
quán nổi không? Luật Tông th́ nếu tŕ giới luật
thanh tịnh, sẽ có thể thành Phật, có thể tŕ giới
hoàn toàn thanh tịnh hay chăng? Mật Tông th́ tam mật
tương ứng, tức thân thành Phật (即身成佛, thành Phật ngay trong thân hiện tại).
Tam Mật là thân khẩu ư tam mật, phải tương ứng
với thân khẩu ư tam mật của Đại Nhật
Như Lai th́ mới có thể thành Phật, có thể làm nổi
hay không? Pháp môn trong bảy tông phái khác, chúng ta đều chẳng
tu nổi, làm sao quư vị liễu sanh tử cho nổi? Hăy thật thà, đừng đi ḷng ṿng phát
cuồng! Liễu
sanh tử là chuyện lớn,
chúng ta vẫn nên phát nguyện sanh về Tây Phương, vẫn
nên sớm thật thà niệm danh hiệu A Di Đà Phật
cầu sanh Tây Phương.
19) Nguyện thứ mười chín, lâm
chung tiếp dẫn
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thập phương chúng sanh,
phát Bồ Đề tâm, tu chư công đức, chí tâm phát
nguyện, dục sanh ngă quốc, lâm thọ chung thời, giả
linh bất dữ đại chúng vi nhiễu hiện kỳ
nhân tiền giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,十方眾生,發菩提心,修諸功德,至心發願,欲生我國,臨壽終時,假令不與大眾圍遶現其人前者,不 取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
mười phương chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu
các công đức, chí tâm phát nguyện, muốn sanh về
nước tôi, khi sắp mạng chung, giả sử tôi chẳng
cùng đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt
người ấy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Lại
nói đến đại nguyện thứ mười chín,
trong kinh A Di Đà cũng có nói rơ ràng: Mười phương chúng sanh, bất luận
quư vị ở phương nào hay thế giới nào, do Niệm
Phật là pháp môn Đại Thừa, quư vị đă phát Bồ
Đề tâm, liền “tu các
công đức, chí tâm phát nguyện, muốn sanh về
nước ta”, [tức là] muốn sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, khi người
ấy sắp hết thọ mạng, nếu A Di Đà Phật
chẳng cùng đại chúng vây quanh hiện ra trước
mặt người đó, Ngài sẽ chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác. Đấy là chúng ta sống đến ngày quả
báo đă tận, quư vị đáng nên sống tới tám
mươi tuổi, ngày nào thọ mạng tám mươi tuổi
đă tận, hoặc quư vị đáng nên sống tới một
trăm hai mươi tuổi, đến ngày nào thọ mạng
một trăm hai mươi tuổi đă tận, quư vị
niệm A Di Đà Phật đă bao nhiêu năm, khi đó, A
Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế
Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát
sẽ đều tới
đón quư vị, đưa
quư vị về Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Chính giữa Tây Phương Tam Thánh là A Di Đà Phật tay
cầm đài hoa sen; chúng ta ngồi lên đài hoa sen ấy,
sanh về Tây Phương. Một cánh tay của A Di Đà
Phật buông thơng xuống là để tiếp dẫn chúng
ta.
20) Nguyện thứ hai mươi, muốn
văng sanh bèn toại ư
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thập phương chúng
sanh, văn ngă danh hiệu, hệ niệm ngă quốc, thực
chúng đức bổn, chí tâm hồi hướng, dục
sanh ngă quốc, bất quả toại giả, bất thủ
Chánh Giác.
(經)設我得佛,十方眾生,聞我名號,繫念我國,植眾德本,至心迴向,欲生我國,不果遂者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
mười phương chúng sanh nghe danh hiệu của tôi,
hệ niệm nước tôi, trồng các cội đức,
chí tâm hồi hướng, muốn sanh về nước
tôi mà chẳng được toại nguyện, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ hai mươi, “thiết
ngă đắc Phật, thập phương chúng sanh, văn
ngă danh hiệu” (nếu tôi thành Phật, mười phương
chúng sanh nghe danh hiệu của tôi): Nghe danh hiệu A Di Đà
Phật của tôi, “hệ niệm
ngă quốc” (hệ niệm nước tôi), nhất tâm tưởng
niệm muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới. “Thực chúng đức
bổn” (gieo trồng cội đức): “Thực” (植) là gieo trồng, “chúng đức bổn” là các thiện căn. Phải
gieo bồi nhiều thiện căn. “Chí tâm hồi hướng”: Gieo các thiện
căn, tức là làm hết thảy phước đức,
làm hết thảy thiện pháp, tất cả các công đức
đều hồi hướng, nguyện do công đức ấy,
trang nghiêm Tịnh Độ của Phật, hồi hướng
Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Dục sanh ngă quốc”: Bằng
ḷng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.
“Bất quả toại giả,
bất thủ Chánh Giác”: Nếu kết quả là chúng
sanh ấy chẳng sanh về [Cực Lạc], A Di Đà Phật
quyết chẳng thành Phật!
21) Nguyện thứ hai mươi mốt,
ba mươi hai tướng
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất
tất thành măn tam thập nhị đại nhân tướng
giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,不悉成滿三十二大人相者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước chẳng thảy thành tựu viên măn ba mươi hai tướng đại nhân, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đối
với đại nguyện thứ hai mươi mốt,
trong phần trước có nói về đại nguyện thứ
ba, tức là niệm Phật được sanh về Tây
Phương thế giới, “thân
tất chân kim sắc” (thân đều là màu vàng ṛng), là
màu của vàng ṛng. Đại nguyện thứ tư
là trời và người đều có tướng mạo
giống nhau, chẳng
phân biệt đẹp xấu, tướng mạo giống
hệt như nhau. Đó là tướng mạo ǵ vậy? Chính là tướng
được nói trong đại nguyện thứ hai
mươi mốt, tức là tướng của Ứng
Thân Phật, giống như tướng mạo Thích Ca Mâu
Ni Phật, có trọn đủ ba mươi hai tướng
đại nhân. Quư vị hăy tra từ ngữ “ba mươi hai đại nhân
tướng” trong Phật Học Đại Từ
Điển, v́ chúng ta chẳng có thời gian để nói cặn
kẽ từng tướng được. Đấy là
nói, hễ ai đới nghiệp văng sanh, trong một đời
bèn đến Tây Phương để làm Phật. Quá mau chóng! Nói “mau” th́ cũng chẳng phải rất
mau, nói “chậm” th́ cũng chẳng phải là rất chậm!
Ba mươi hai tướng ấy chẳng phải là
tướng của Phật, mà là các tướng nơi Ứng
Thân Phật của Thích Ca Mâu Ni Phật. V́ Ngài thành Phật
trong nhân gian, nên phải thị hiện nhân tướng
(tướng trạng con người), bất quá “nhân” ở đây là “đại nhân”, “đại nhân” là ai? Kim Chuyển
Luân Thánh Vương. Kim Chuyển Luân Thánh Vương là
người bậc nhất trong thế gian, nhà vua có ba
mươi hai loại tướng mạo. Đức Phật
thị hiện trong nhân gian, cũng phải thị hiện
đại nhân tướng.
22) Nguyện thứ hai mươi hai, nhất
sanh bổ xứ
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, tha phương Phật độ
chư Bồ Tát chúng, lai sanh ngă quốc, cứu cánh tất
chí Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ kỳ bổn nguyện
tự tại sở hóa. Vị chúng sanh cố, bị hoằng
thệ khải, tích lũy đức bổn, độ
thoát nhất thiết, du chư Phật quốc, tu Bồ
Tát hạnh, cúng dường thập phương chư Phật
Như Lai, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, sử lập
vô thượng chánh chân chi đạo, siêu xuất thường
luân chư địa chi hạnh, hiện tiền tu tập
Phổ Hiền chi đức. Nhược bất nhĩ giả,
bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,他方佛土諸菩薩眾,來生我國,究竟必至一生補處。除其本願自在所化。為眾生故,被弘誓鎧,積累德本,度脫一切,遊諸佛國,修菩薩行,供養十方諸佛如來。開化恆沙無量眾生,使立無上正真之道,超出常倫諸地之行,現前修習普賢之德。若不爾者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
các vị Bồ Tát từ các cơi Phật ở phương
khác sanh đến nước tôi, rốt ráo ắt đạt
đến Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ những
trường hợp do bổn nguyện mà tự tại hóa
độ. Do v́ chúng sanh nên mặc áo giáp hoằng thệ,
tích lũy cội đức, độ thoát hết thảy,
dạo chơi các cơi Phật, tu Bồ Tát hạnh, cúng
dường mười phương chư Phật Như
Lai, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, khiến cho họ
đứng vững nơi đạo vô thượng chánh
chân, vượt trỗi hạnh của những địa
vị thông thường, hiện tiền tu tập phẩm
đức của Phổ Hiền. Nếu chẳng như
thế, chẳng giữ lấy Chánh Giác).
Đại nguyện thứ hai
mươi hai, “thiết ngă
đắc Phật, tha phương Phật độ
chư Bồ Tát chúng, lai sanh ngă quốc, cứu cánh tất
chí Nhất Sanh Bổ Xứ” (nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát từ
các cơi Phật ở phương khác sanh đến nước
tôi, rốt ráo ắt đạt đến Nhất Sanh Bổ
Xứ): Trong phần trên là độ mười
phương chúng sanh, ở đây là độ các vị
đại Bồ Tát trong các cơi Phật khác. Đại Bồ
Tát hễ sanh về Tây Phương sẽ đều có thể
thành Nhất Sanh Bổ Xứ. Nhất Sanh Bổ Xứ là địa
vị ǵ? Địa vị của Đương Lai Hạ
Sanh Di Lặc Tôn Phật. Chỉ c̣n một đời nữa
sẽ thành Phật. Địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ
vượt trỗi địa vị Đẳng Giác. Trong
các thế giới khác, muốn thành một vị Nhất
Sanh Bổ Xứ Bồ Tát, như trong thế giới Sa Bà, chỉ có một
ḿnh Di Lặc Bồ Tát, rất ư là khó! Sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát chẳng
thể hạn
lượng, quá ư là nhiều. Do vậy,
các vị đại Bồ Tát trong những thế giới
phương khác cũng muốn sanh về Tây Phương.
Sanh về Tây Phương ngay trong một đời sẽ
đều có thể đạt được địa
vị Bổ Xứ Bồ Tát.
“Trừ kỳ
bổn nguyện”: Ngoại trừ bổn nguyện của chư
đại Bồ Tát, tức là đại nguyện căn
bản của Ngài, chẳng chấp trước mong cầu
Nhất Sanh Bổ Xứ. Bổn nguyện của các Ngài là
muốn tùy nguyện hóa độ chúng sanh, tùy nguyện đến
cúng dường các cơi Phật, vậy th́ cứ tùy ư họ!
“Vị chúng sanh cố, bị
hoằng thệ khải” (do v́ chúng sanh, mặc áo giáp hoằng thệ): Hoằng
thệ đại nguyện được ví như áo giáp,
phải dũng mănh tinh tấn. “Tích
lũy đức bổn” (tích lũy cội đức): Để độ
chúng sanh th́ phải tích lũy công đức căn bản.
“Độ thoát nhất thiết,
du chư Phật quốc, tu Bồ Tát hạnh” (độ
thoát hết thảy, dạo trong các cơi Phật, tu hạnh Bồ
Tát): Mỗi cơi Phật Ngài đều đến, muốn
tu Bồ Tát hạnh tức là muốn độ chúng sanh.
Cúng dường mười phương chư Phật
Như Lai tức là trên phụng sự chư Phật,
dưới hóa độ chúng sanh. “Khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, sử lập
vô thượng chánh chân chi đạo” (khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, khiến
cho họ đứng vững nơi đạo vô thượng
chánh chân): Khai hóa chúng sanh, giáo hóa đến mức độ
nào? Giáo hóa chúng sanh có thể kiến lập đạo thành
Phật, tức là đạo vô thượng chánh chân. “Siêu xuất thường luân
chư địa chi hạnh” [nghĩa là] đă vượt
trỗi hạnh thuộc các địa vị thông thường.
“Hiện tiền tu tập Phổ
Hiền chi đức”: Tu tập phẩm đức của
Phổ Hiền cũng là tu tập phẩm đức thành
Phật. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác!
23) Nguyện thứ hai mươi ba, cúng
dường chư Phật
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, thừa
Phật thần lực, cúng dường chư Phật, nhất
thực chi khoảnh, bất năng biến chí vô lượng
vô số ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất
thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中菩薩,承佛神力,供養諸佛,一食之頃,不能徧至無量無數億那由他諸佛國者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật, Bồ
Tát trong nước tôi, nương vào thần lực của
Phật để cúng dường chư Phật, trong khoảng
một bữa ăn, chẳng thể đến khắp vô
lượng vô số ức na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ hai mươi ba, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ
Tát, thừa Phật thần lực, cúng dường chư
Phật” (nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước
tôi, nương vào thần lực của Phật để
cúng dường chư Phật): Đại nguyện thứ hai mươi hai trong đoạn trước
đă nói có những vị
Bồ Tát [trong những
quốc độ khác] phát nguyện muốn cúng dường chư Phật,
cứu độ chúng sanh [sẽ đều được
A Di Đà Phật gia bị khiến cho họ an lập nơi
đạo vô thượng chánh chân], c̣n ở đây là nói những vị đại Bồ
Tát đă sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.
“Quốc trung Bồ Tát” (Bồ
Tát trong nước tôi) nương vào sức thần thông của
A Di Đà Phật gia bị, họ muốn đến
mười phương thế giới cúng dường
chư Phật, trong khoảng thời gian rất ngắn sẽ
cúng dường được. “Nhất
thực chi khoảnh, bất năng biến chí vô lượng
vô số ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất
thủ Chánh Giác” (trong khoảng một bữa ăn, chẳng thể
đến khắp vô lượng vô số ức na-do-tha
các cơi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Trong
một thời gian rất ngắn có thể cúng dường
chư Phật số đến vô lượng!
24) Nguyện thứ hai mươi bốn,
đồ vật để cúng dường tùy ư
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tại
chư Phật tiền, hiện kỳ đức bổn, chư
sở cầu dục cúng dường chi cụ, nhược
bất như ư giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中菩薩,在諸佛前,現其德本,諸所求欲供養之具,若不如意者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật, Bồ
Tát trong nước tôi, ở trước các đức Phật,
hiển hiện cội đức của họ, mong cầu
các vật để cúng dường mà nếu chẳng
như ư, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đây là
đại nguyện thứ hai mươi bốn. Trong phần
trước là đến mười phương thế
giới cúng dường chư Phật số nhiều vô
lượng. Để cúng dường vô lượng
chư Phật th́ phải có đồ cúng dường. Kinh
A Di Đà chép: “Thịnh chúng diệu
hoa, cúng dường tha phương thập vạn ức
Phật” (đựng các loại hoa mầu nhiệm, cúng
dường mười vạn ức Phật ở phương
khác). Mỗi người ai nấy có tâm nguyện riêng, quư vị mong cúng dường
thứ ǵ, sẽ có thứ ấy. Sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, chẳng có ǵ
không xứng ư quư vị. Chẳng hạn như tôi mong cúng dường
hương, bèn có hương; quư vị mong cúng dường đèn, bèn có đèn, đều thỏa măn ư nguyện
của quư vị.
25) Nguyện thứ hai mươi lăm,
diễn nói diệu trí
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, bất
năng diễn thuyết Nhất Thiết Trí giả, bất
thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中菩薩,不能演說一切智者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
hàng Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói
Nhất Thiết Trí, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Đại
nguyện thứ hai mươi lăm, Bồ Tát đều
có thể thuyết pháp, lại c̣n nói khác nhau, đều có thể
diễn nói Nhất
Thiết Trí, tức là nói
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới thành
Phật rất nhanh chóng. Rất nhanh như thế nào? Phật được
gọi là Lưỡng Túc Tôn (兩足尊,
đấng trọn
đủ hai món phước và huệ): Một là phước trọn đủ,
hai là huệ trọn đủ. [Muốn đạt] phước trọn đủ th́ phải
tu phước, [để
có] huệ trọn đủ
th́ phải tu huệ. Sanh về Tây Phương, sẽ tu rất
nhanh chóng! Quư vị tu phước th́ không ǵ hơn cúng
dường Phật. Quư vị cúng dường một vị
Phật c̣n chẳng được, tu Bồ Tát đạo th́ tu ở chỗ nào? Quư vị sanh về
Tây Phương Cực Lạc thế giới, cúng dường
vô lượng chư Phật, cúng dường trong thời
gian một bữa ăn, đó chẳng phải là tu phước
rất mau chóng ư? Lại c̣n hằng ngày nghe kinh thính pháp,
quư vị sẽ khai trí huệ rất nhanh chóng. Do đó,
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, phước
báo cũng đầy đủ, mà trí huệ cũng đầy
đủ.
26) Nguyện thứ hai mươi sáu, thân
Na La Diên
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, bất
đắc Kim Cang Na La Diên thân giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中菩薩,不得金剛那羅延身者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật, Bồ
Tát trong nước tôi chẳng đạt được
thân Kim Cang Na La Diên, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Na La Diên
(Nārāyaṇa)[14] là kiên cố,
tức là thân kiên cố bất hoại. Hàng Bồ Tát trong
nước [Cực
Lạc] đều đạt
được thân kiên cố bất hoại. Nếu chẳng
được như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác.
27) Nguyện thứ hai mươi bảy,
hết thảy trang nghiêm, thanh tịnh
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nhất
thiết vạn vật, nghiêm tịnh quang lệ, h́nh sắc
thù đặc, cùng vi cực diệu, vô năng xưng
lượng. Kỳ chư chúng sanh, năi chí đăi đắc
Thiên Nhăn, hữu năng minh liễu, biện kỳ danh số
giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,一切萬物,嚴淨光麗,形色殊特,窮微極妙,無能稱量。其諸眾生,乃至逮得天眼,有能明了,辯其名數者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước, hết thảy vạn
vật trang nghiêm, thanh tịnh, sáng ngời, mỹ lệ,
h́nh sắc thù thắng đặc biệt, vi diệu cùng cực,
chẳng thể đếm, kể. Các chúng sanh ấy dẫu
đă đắc Thiên Nhăn, nếu như có thể hiểu
rơ, biện định tên gọi và số lượng của
chúng (muôn vật trong thế giới
Cực Lạc), tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ hai mươi bảy, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên
nhân, nhất thiết vạn vật, nghiêm tịnh quang lệ”
(nếu tôi thành Phật, trời người
trong nước, hết thảy vạn vật trang nghiêm,
thanh tịnh, sáng ngời, mỹ lệ): “Hết thảy vạn vật”, chúng ta đọc
kinh A Di Đà, [thấy nói] ao bảy báu, nước tám công
đức, lầu gác bảy báu. Hết thảy muôn vật
đều trang nghiêm, thanh tịnh, sáng ngời, mỹ lệ,
h́nh dạng đều là rất thù thắng đặc biệt.
“Cùng vi cực diệu”: “Vi” (微) là rất tinh vi, “diệu”
(妙) là chẳng thể nghĩ bàn. “Vô năng xưng lượng” (chẳng thể tính kể): Chỉ tán thán những thứ ấy tốt
đẹp, tốt đẹp như thế nào, đă chẳng
thể nói trọn, mà cũng chẳng thể tính kể! “Kỳ chư chúng sanh, năi chí
đăi đắc Thiên Nhăn” (các chúng sanh ấy cho đến
đạt được Thiên Nhăn): Chúng sanh sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới đều đắc Thiên Nhăn Thông.
Trong phần trước đă nói Lục Thông đều
đạt được, đương nhiên là có Thiên
Nhăn Thông. Chữ Đăi (逮) trong câu “đăi
đắc Thiên Nhăn” chính là chữ Đắc
(得) trong “đắc
đáo” (得到, đạt được). Đă đạt
được Thiên Nhăn Thông, nếu quư vị đă biết
sự trang
nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới, vậy th́ trang nghiêm như thế nào? “Hữu năng minh liễu, biện
kỳ danh số giả, bất thủ Chánh Giác” (có kẻ nào có thể hiểu rơ, biện định
tên gọi và số lượng của chúng, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác): [Muốn] biết trọn hết tên gọi, thấu suốt số lượng,
đều chẳng thể liễu đạt! Tức là sự
trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới
quá nhiều, quá hay khéo! Dẫu quư vị đắc Thiên Nhăn
Thông, cũng chẳng thể hiểu rơ nó trang nghiêm cỡ
nào!
28) Nguyện thứ hai mươi tám, cây
đạo tràng cao ngất, rạng rỡ
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, năi
chí thiểu công đức giả, bất năng tri kiến
kỳ đạo tràng thụ vô lượng quang sắc,
cao tứ bách vạn lư giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中菩薩,乃至少功德者,不能知見其道場樹無量光色,高四百萬里者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
hàng Bồ Tát trong nước tôi, dẫu là kẻ ít công
đức mà chẳng thể thấy, biết cây đạo
tràng có vô lượng quang minh và màu sắc, cao bốn
trăm vạn dặm th́ tôi chẳng giữ lấy ngôi
Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ hai mươi tám, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ
Tát, năi chí thiểu công đức giả” (nếu tôi
thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi, dẫu là kẻ
ít công đức), những vị Bồ Tát “thiểu công đức” là sơ phát tâm Bồ Tát,
vừa mới sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới, công đức chẳng nhiều lắm. “Bất năng tri kiến kỳ
đạo tràng thụ vô lượng quang sắc, cao tứ
bách vạn lư giả, bất thủ Chánh Giác” (chẳng thể thấy, biết cây đạo
tràng có vô lượng quang minh, màu sắc, cao bốn trăm
vạn dặm th́ tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Vị
Bồ Tát sơ phát tâm, vừa
mới sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
công đức chẳng nhiều mà vẫn có thể trông thấy
cây Bồ Đề cao bốn trăm dặm.
Chỗ
này có hoài nghi hay không? Tức là chúng ta trông thấy cây cao hai, ba trượng đă
coi là cao rồi, há có cây cao bốn trăm vạn dặm
như thế? Quư vị phải hiểu: Tây Phương Cực
Lạc thế giới là một thế giới chẳng thể
nghĩ bàn, thân lượng của Phật, Bồ Tát bên ấy đều
rất cao lớn. Cây cao bốn trăm vạn dặm là cây
đạo tràng. Bồ Tát sẽ tĩnh tọa dưới cội cây đạo tràng
để thành Phật. Thân lượng của Phật, Bồ Tát rất cao to, lẽ
đâu cây đạo tràng chẳng cao như thế? Cao bốn
trăm vạn dặm mà hàng Bồ Tát ít công đức vẫn
trông thấy. Quư vị xem Thập Lục Quán Kinh, [sẽ biết] thân lượng của
A Di Đà Phật cao chừng nào, cây đạo tràng c̣n có thể
dùng số dặm để tính toán nữa ư?
29) Nguyện thứ hai mươi chín, tụng
kinh đắc Huệ
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, nhược
thọ độc kinh pháp, phúng tụng tŕ thuyết, nhi bất
đắc biện tài trí huệ giả, bất thủ Chánh
Giác.
(經)設我得佛,國中菩薩,若受讀經法,諷誦持說,而不得辯才智慧者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi nếu
nhận lănh, đọc tụng kinh pháp, phúng tụng, tŕ, nói, mà chẳng đắc biện
tài trí huệ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ hai mươi chín, sanh về Tây Phương
Cực Lạc thế giới, sơ phát tâm Bồ Tát c̣n phải
tu hành, tu hành như thế nào? Niệm kinh, tŕ chú. Vừa niệm
kinh, vừa tụng tŕ, ngay lập tức đắc biện
tài, đắc trí huệ. Nếu chẳng đắc trí huệ
và biện tài, Phật sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác.
23) Nguyện thứ ba mươi, huệ
biện vô hạn
(Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ
Tát, trí huệ biện tài, nhược khả hạn lượng
giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中菩薩,智慧辯才,若可限量者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
hàng Bồ Tát trong nước tôi, trí huệ và biện tài nếu
có hạn lượng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi, Bồ Tát trong Tây Phương
Cực Lạc thế giới hễ niệm kinh sẽ ngay
lập tức đạt được biện tài. Đạt
được bao nhiêu biện tài? Chẳng thể hạn
lượng! Biện tài và trí huệ của Bồ Tát chẳng
có hạn lượng. Nếu có số lượng, Ngài sẽ
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.
31) Nguyện thứ ba mươi mốt,
soi tỏ mười phương
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc độ thanh tịnh,
giai tất chiếu kiến thập phương nhất
thiết vô lượng vô số bất khả tư nghị
chư Phật thế giới, do như minh kính, đổ kỳ
diện tượng. Nhược bất nhĩ giả, bất
thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國土清淨,皆悉照見十方一切無量無數不可思議諸佛世界,猶如明鏡,覩其面像。若不爾者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, cơi nước thanh tịnh, thảy
đều soi thấu mười phương hết thảy
vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn các thế
giới chư Phật, giống như gương sáng thấy
rơ vẻ mặt. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng
giữ lấy Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi mốt, “thiết ngă đắc Phật,
quốc độ thanh tịnh, giai tất chiếu kiến
thập phương nhất thiết vô lượng vô số
bất khả tư nghị chư Phật thế giới” (nếu tôi thành Phật, cơi nước thanh
tịnh, thảy đều soi thấu mười phương
hết thảy vô lượng vô số chẳng thể
nghĩ bàn các thế giới chư Phật): Quốc độ
Tây Phương Cực Lạc thế giới giống
như một tấm gương to sáng, có thể soi bóng
mười phương thế giới. “Do như minh kính, đổ kỳ diện tượng”,
[nghĩa là] giống như chúng ta lấy gương soi mặt
của chính ḿnh, thấy rơ ràng như vậy đó. “Nếu chẳng như thế,
chẳng giữ lấy Chánh Giác”.
32) Nguyện thứ ba mươi hai,
hương báu trang nghiêm mầu nhiệm
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, tự địa dĩ
thượng, chí ư hư không, cung điện, lâu quán, tŕ lưu, hoa thụ, quốc
độ sở hữu nhất thiết vạn vật,
giai dĩ vô lượng tạp bảo bách thiên chủng
hương nhi cộng hợp thành, nghiêm sức kỳ diệu,
siêu chư thiên nhân. Kỳ hương phổ huân thập
phương thế giới, Bồ Tát văn giả, giai tu
Phật hạnh. Nhược bất nhĩ giả, bất
thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,自地以上,至於虛空,宮殿樓觀,池流華樹,國土所有一切萬物,皆以無量雜寶百千種香而共合成。嚴飾奇妙,超諸天人。其香普薰十方世界。菩薩聞者,皆修佛行。若不爾者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, từ đất trở lên cho đến tận hư không, cung
điện, lầu, quán, ao, suối, cây hoa, tất cả hết
thảy vạn vật trong cơi nước đều do vô
lượng trăm ngàn loại hương báu khác nhau cùng hợp
thành, trang nghiêm kỳ diệu, vượt trỗi trời
người. Hương ấy xông khắp mười
phương thế giới, Bồ Tát ngửi thấy
đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng được
vậy, chẳng giữ lấy Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi hai, “thiết ngă đắc Phật, tự địa
dĩ thượng” (nếu tôi thành Phật, từ mặt đất
trở lên): Tây Phương
Cực Lạc thế giới vàng ṛng làm đất, từ
trên mặt đất cho đến hư không, tất cả
“cung điện, lâu, quán”, chữ
Quán (觀) này nên
đọc theo giọng khứ thanh, tức là đọc thành ㄍㄨㄢˋ (Guàn, âm Hán Việt là Quán), Quán là lầu gác.
C̣n có “tŕ lưu hoa thụ”, [nghĩa
là] ao và suối
bảy báu, c̣n có cây hoa. “Quốc độ sở hữu
nhất thiết vạn vật, giai dĩ vô lượng tạp
bảo bách thiên chủng hương nhi cộng hợp thành”
(tất cả hết thảy vạn vật
trong cơi nước đều do vô lượng trăm ngàn
loại hương báu khác nhau cùng hợp thành). Chẳng giống
như cây cối ở nơi đây (thế giới Sa Bà) năm
màu, lầu gác đều bằng
những vật liệu như gạch, ngói… Tây
Phương Cực Lạc thế giới thảy đều
dùng bảy báu để kiến tạo lầu gác, lại
c̣n là do các thứ hương liệu hợp thành, “nghiêm sức kỳ diệu, siêu
chư thiên nhân” (trang nghiêm kỳ diệu, vượt trỗi
trời người): Vượt trỗi trời người
tức là vượt trỗi cung trời trong thế giới
Sa Bà. “Kỳ hương phổ
huân thập phương thế giới. Bồ Tát văn giả,
giai tu Phật hạnh. Nhược bất nhĩ giả, bất
thủ Chánh Giác” (hương ấy xông khắp mười
phương thế giới. Bồ Tát ngửi hương
đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng như vậy,
tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Hương trong Tây
Phương Cực Lạc thế giới xông khắp
mười phương thế giới. Ngửi mùi hương trong Tây Phương Cực Lạc
thế giới, kẻ chẳng tu hành sẽ đều tu hành, lại c̣n đều tu hạnh môn của
thế giới Cực Lạc. Nếu chẳng như vậy,
chẳng giữ lấy Chánh Giác.
33) Nguyện thứ ba mươi ba,
được quang minh chiếu đến, [thân tâm] mềm
mại
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng
bất khả tư nghị chư Phật thế giới
chúng sanh chi loại, mông ngă quang minh xúc kỳ thân giả,
thân tâm nhu nhuyễn, siêu quá thiên nhân. Nhược bất
nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界眾生之類,蒙我光明觸其身者,身心柔軟,超過天人。若不爾者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng
chẳng thể nghĩ bàn các loài chúng sanh trong các thế giới
của chư Phật được quang minh của tôi chạm
vào thân họ, thân tâm họ sẽ mềm dịu, vượt
trỗi trời người. Nếu chẳng được
vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi ba, “thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả
tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại”
(nếu tôi thành Phật, mười phương vô
lượng chẳng thể nghĩ bàn các loài chúng sanh trong
các thế giới của chư Phật), chúng sanh trong
mười phương thế giới “mông ngă quang minh xúc kỳ thân giả”, [nghĩa là] nếu
gặp quang minh của A Di Đà Phật chiếu vào thân, “thân tâm nhu nhuyễn, siêu quá thiên
nhân”, [nghĩa là thân lẫn tâm đều] mềm dịu
vượt trỗi trời người. Người trên
cơi trời thân lẫn tâm luôn mềm dịu, [người
được quang minh của A Di Đà Phật chiếu đến,
thân tâm sẽ] vượt trỗi sự mềm dịu của
trời người. Nếu chẳng như vậy, [A Di
Đà Phật] chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác. Người
đang sống, niệm Phật, trông thấy quang minh của
A Di Đà Phật, thân lẫn tâm đều mềm dịu.
Thông thường,
người đă chết
thân thể cứng đơ, nhưng người niệm
Phật văng sanh, khi thọ mạng chấm dứt, thân thể
họ mềm mại; đấy là một dấu hiệu
chứng tỏ [người ấy] đă sanh về Tây
Phương.
34) Nguyện thứ ba mươi bốn,
nghe danh đắc Nhẫn
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô
lượng bất khả tư nghị chư Phật thế
giới chúng sanh chi loại, văn ngă danh tự, bất đắc
Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn chư thâm tổng tŕ giả, bất
thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界眾生之類,聞我名字,不得菩薩無生法忍諸深總持者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng
chẳng thể nghĩ bàn các loài chúng sanh trong thế giới
của chư Phật nghe danh tự của tôi mà chẳng
đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn và các môn tổng tŕ sâu của hàng Bồ Tát, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi tư, “thiết ngă đắc Phật, thập phương
vô lượng bất khả tư nghị chư Phật
thế giới chúng sanh chi loại, văn ngă danh tự”
(nếu tôi thành Phật, mười
phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các
loài chúng sanh trong thế giới của chư Phật nghe
danh tự của tôi), [tức là] nghe danh hiệu của A
Di Đà Phật, “bất đắc
Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn chư thâm tổng tŕ giả, bất
thủ Chánh Giác” (chẳng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn và các môn tổng tŕ sâu của hàng Bồ Tát,
tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Nghe danh hiệu A Di
Đà Phật của ta, người ấy nghe danh hiệu bèn biết niệm danh hiệu
Phật, nhất định có thể đạt được
Vô Sanh Pháp Nhẫn của hàng Bồ Tát. Đạt
được pháp vô sanh th́ gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn. “Chư thâm tổng tŕ” là Ba La Mật
rất sâu, pháp môn tổng tŕ sâu xa thảy đều đạt
được. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác.
35) Nguyện thứ ba mươi lăm,
thoát ĺa thân nữ
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô
lượng bất khả tư nghị chư Phật thế
giới, kỳ hữu nữ nhân, văn ngă danh tự, hoan
hỷ tín nhạo, phát Bồ Đề tâm, yếm ố nữ
thân, thọ chung chi hậu, phục vi nữ tượng giả,
bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界,其有女人,聞我名字,歡喜信樂,發菩提心,厭惡女身,壽終之後,復為女像者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
trong chẳng thể nghĩ bàn thế giới của
mười phương chư Phật, nếu có người
nữ, nghe danh tự của tôi, hoan hỷ, tin tưởng,
ưa thích, phát Bồ Đề tâm, chán ghét thân nữ, sau
khi thọ chung, lại làm thân nữ, tôi chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi lăm là chuyên v́ nữ nhân mà
phát nguyện này. Là nữ nhân, nhưng quư vị chán ghét thân
nữ nhân, hăy nên phát Bồ Đề tâm, niệm A
Di Đà Phật, sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Tây Phương Cực Lạc thế giới
chẳng có h́nh tướng kẻ nữ, chẳng có nữ
nhân. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
sẽ biến thành thân Bồ Tát, đời sau hoặc những
đời sau nữa đều chẳng bị chuyển
thành thân nữ.
36) Nguyện thứ ba mươi sáu,
thường tu Phạm hạnh
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô
lượng bất khả tư nghị chư Phật thế
giới chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, thọ
chung chi hậu, thường tu phạm hạnh, chí thành Phật
đạo. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh
Giác.
(經)設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界諸菩薩眾,聞我名字,壽終之後,常修梵行,至成佛道。若不爾者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật, các
vị Bồ Tát trong mười phương vô lượng
chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật,
nghe danh tự của tôi, sau khi thọ chung, thường tu
phạm hạnh cho đến khi thành Phật đạo. Nếu
chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi sáu, “thiết ngă đắc Phật, thập phương
vô lượng bất khả tư nghị chư Phật
thế giới chư Bồ Tát chúng” (nếu tôi thành Phật,
các vị Bồ Tát trong mười phương vô lượng
chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật):
Những vị vốn tu Bồ Tát hạnh trong các thế giới
khác, nay được nghe danh tự của A Di Đà Phật.
“Thọ chung chi hậu, thường
tu phạm hạnh, chí thành Phật đạo. Nhược
bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác” (sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh
cho đến khi thành Phật đạo. Nếu chẳng
như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Vị
Bồ Tát ấy mạng chung, sanh sang đời sau, sẽ
thường tu phạm hạnh, tức là hạnh tŕ giới
thanh tịnh, măi cho đến khi vị ấy thành Phật.
Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi
Chánh Giác.
37) Nguyện thứ ba mươi bảy,
trời người dốc trọn ḷng cung kính
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng
bất khả tư nghị chư Phật thế giới
chư thiên nhân dân, văn ngă danh tự, ngũ thể đầu
địa, khể thủ tác lễ, hoan hỷ tín nhạo,
tu Bồ Tát hạnh, chư thiên thế nhân, mạc bất
trí kính. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ
Chánh Giác.
(經)設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界諸天人民,聞我名字,五體投地,稽首作禮,歡喜信樂,修菩薩行,諸天世人,莫不致敬。若不爾者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
chư thiên và nhân dân trong vô lượng chẳng thể nghĩ
bàn các thế giới của mười phương chư
Phật, nghe danh tự của tôi, năm vóc gieo xuống
đất, dập đầu làm lễ, hoan hỷ, tin
tưởng, ưa thích, tu Bồ Tát hạnh, chư thiên,
người đời, không ai chẳng dốc ḷng cung kính.
Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi
Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi bảy, “thiết ngă đắc Phật, thập phương
vô lượng bất khả tư nghị chư Phật
thế giới chư thiên nhân dân” (nếu tôi thành Phật,
chư thiên và nhân dân trong vô lượng chẳng thể
nghĩ bàn các thế giới của mười
phương chư Phật), những người này đều
là phàm phu, “văn ngă danh tự,
ngũ thể đầu địa, khể thủ tác lễ”, [tức là] nghe danh tự A Di
Đà Phật, năm vóc gieo xuống đất đảnh
lễ A Di Đà Phật, “hoan hỷ
tín nhạo, tu Bồ Tát hạnh” (hoan hỷ, tin tưởng,
ưa thích), ngay khi đó, người ấy sẽ đạt
được phước báo tốt đẹp. Tiếp
đó là nói về những ǵ sẽ đạt được
ngay trong khi ấy: “Chư thiên thế
nhân, mạc bất trí kính. Nhược bất nhĩ giả,
bất thủ Chánh Giác” (chư thiên, người đời, không ai chẳng
dốc ḷng cung kính. Nếu chẳng được vậy,
tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Quư vị niệm A
Di Đà Phật, đảnh lễ, cung kính, cúng dường
A Di Đà Phật, ngay khi ấy sẽ đạt được quả báo tốt
đẹp, chư thiên và người đời đều
cung kính quư vị. Nếu họ chẳng lễ kính quư vị,
A Di Đà Phật làm sao có thể thành Chánh Giác cho được?
38) Nguyện thứ ba mươi tám, y phục thuận theo ư nghĩ
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, dục
đắc y phục, tùy niệm tức chí, như Phật
sở tán ứng pháp diệu phục, tự nhiên tại
thân, hữu cầu tài phùng đảo nhiễm hoán trạc
giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,欲得衣服,隨念即至,如佛所讚應法妙服,自然在身。有求裁縫擣染浣濯者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, trời, người trong nước
muốn có y phục, vừa nghĩ liền có, y phục
đẹp đẽ đúng pháp được Phật ca
ngợi sẽ tự nhiên [xuất hiện] trên thân. Nếu
c̣n phải cắt may, nhuộm màu, giặt giũ, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi tám, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên
nhân, dục đắc y phục, tùy niệm tức chí” (nếu
tôi thành Phật, trời, người trong nước muốn
có y phục, vừa nghĩ liền có): Quư vị muốn mặc
quần áo theo kiểu nào, bộ quần áo ấy nhất định sẽ
khoác trên thể của quư vị. “Như Phật sở tán ứng pháp diệu phục,
tự nhiên tại thân” (y phục đẹp đẽ đúng pháp
được Phật ca ngợi sẽ tự nhiên [xuất
hiện] trên thân): Y phục đẹp đẽ như chư
Phật đă tán thán, tương ứng với Phật
pháp, tự nhiên khoác trên thân thể của quư vị. “Hữu cầu tài phùng”, [nghĩa
là] nếu bộ quần áo ấy cần phải may cắt,
hoặc là “đảo nhiễm”,
[tức là] cần phải nhuộm màu, “hoán trạc”: Hoặc là quần áo mặc dơ bẩn
phải giặt giũ. Nếu có nhiều chuyện như
thế, tôi sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.
39) Nguyện thứ ba mươi chín, vui
như Lậu Tận
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, sở
thọ khoái lạc, bất như Lậu Tận tỳ-kheo
giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中天人,所受快樂,不如漏盡比丘者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước
hưởng thụ vui sướng chẳng giống
như vị tỳ-kheo đă chứng Lậu Tận, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ ba mươi chín. “Lậu” (漏) là tên
gọi khác của phiền năo. Lậu Tận là đă
đoạn hết phiền năo. Phiền năo đoạn hết
sạch th́ là Tứ Quả A La Hán. Ngài hưởng thụ
pháp lạc. Nếu như trời, người trong thế
giới Cực Lạc của tôi, hưởng thụ sự
vui sướng chẳng giống như vị Lậu Tận
tỳ-kheo, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.
40) Nguyện thứ bốn mươi,
trong cây hiện cơi nước
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tùy ư
dục kiến thập phương vô lượng nghiêm tịnh
Phật độ, ứng thời như nguyện, ư bảo
thụ trung, giai tất chiếu kiến, do như minh kính,
đổ kỳ diện tượng. Nhược bất
nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中菩薩,隨意欲見十方無量嚴淨佛土,應時如願,於寶樹中,皆悉照見,猶如明鏡,覩其面像。若不爾者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tùy ư muốn
thấy mười phương vô lượng cơi Phật
trang nghiêm, thanh tịnh, sẽ ngay lập tức như nguyện,
từ trong cây báu, thảy đều trông thấy rơ rệt,
giống như gương sáng trông thấy khuôn mặt. Nếu
chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Đại
nguyện thứ bốn mươi, Tây Phương Cực
Lạc thế giới toàn là do bảy báu hợp thành. Quư vị
muốn trông thấy thế giới của một vị
Phật nào, từ trong cây báu sẽ có thể trông thấy, giống như soi
bóng vào gương, hoặc soi mặt vào gương, sẽ
trông thấy rơ ràng.
41) Nguyện thứ bốn mươi mốt,
các căn chẳng khuyết
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, chí
ư đắc Phật, chư căn khuyết lậu, bất
cụ túc giả, bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,至於得佛,諸根缺陋,不具足者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước
ở phương khác nghe danh tự của tôi cho đến
khi thành Phật mà các căn thiếu hụt, chẳng đầy
đủ, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ bốn mươi mốt, “thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng” (nếu tôi thành Phật,
các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở
phương khác), chẳng phải là các vị Bồ Tát
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới Bồ
Tát, mà là hàng Bồ Tát trong thế giới khác, nghe danh tự
của A Di Đà Phật, măi cho đến ngày vị ấy thành Phật mới thôi, nếu “chư căn khuyết lậu, bất cụ túc giả, bất thủ Chánh
Giác” (các căn thiếu hụt,
chẳng đầy đủ, tôi chẳng giữ lấy
Chánh Giác), phát Bồ Đề tâm, tu Bồ Tát đạo,
người ấy do đời trước, kiếp trước đă tạo ác nghiệp, vẫn
chẳng thanh tịnh, hiện thời nghe danh hiệu A Di Đà
Phật, ác nghiệp đều tiêu, trọn chẳng mắc phải quả báo sáu căn chẳng đầy
đủ, sẽ chẳng bị mắt mù, tai điếc,
thiếu một tay, hay thiếu một chân…. [tức
là chẳng mắc] quả báo chư căn khuyết lậu
vậy!
43) Nguyện thứ bốn mươi hai,
giải thoát thanh tịnh
(Kinh) Thiết
ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư
Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, giai tất đăi đắc
thanh tịnh giải thoát tam-muội. Trụ thị tam-muội,
nhất phát ư khoảnh, cúng dường vô lượng bất
khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, nhi bất
thất định ư. Nhược bất nhĩ giả, bất
thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,皆悉逮得清淨解脫三昧。住是三昧,一發意頃,供養無量不可思議諸佛世尊,而不失定意。若不爾者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước
ở phương khác, nghe danh tự của tôi, thảy
đều đạt được tam-muội giải
thoát thanh tịnh. Trụ trong tam-muội ấy, trong khoảng
phát ư, cúng dường vô lượng chẳng thể
nghĩ bàn chư Phật Thế Tôn, mà chẳng đánh mất
định ư. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ
lấy Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ bốn mươi hai, “thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, giai tất
đăi đắc thanh tịnh giải thoát tam-muội” (nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát
trong các cơi nước ở phương khác, nghe danh tự
của tôi, thảy đều đạt được
tam-muội giải thoát thanh tịnh): Chẳng sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới, mà ở ngay
trong các quốc độ của họ, chỉ cần
nghe danh hiệu A Di Đà Phật, ta sẽ gia bị cho họ,
khiến cho hàng Bồ Tát ấy đạt được “thanh tịnh giải thoát tam-muội”.
“Trụ thị tam-muội”
(trụ trong tam-muội ấy): An trụ trong
tam-muội thanh tịnh. “Nhất
phát ư khoảnh” (trong khoảng phát ư) là một khoảng thời gian
rất ngắn, có thể “cúng
dường vô lượng bất khả tư nghị chư
Phật Thế Tôn, nhi bất thất định ư” (cúng
dường vô lượng chẳng thể nghĩ bàn chư
Phật Thế Tôn, mà chẳng đánh mất định ư),
thường ở trong Định cúng dường vô lượng
chư Phật, mà chẳng đánh mất ư Thiền Định.
Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác.
43) Nguyện thứ bốn mươi ba,
nghe tên được phước
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, thọ
chung chi hậu, sanh tôn quư gia. Nhược bất nhĩ giả,
bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,壽終之後,生尊貴家。若不爾者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
các vị Bồ Tát trong những cơi nước nơi
phương khác, nghe danh tự của tôi, sau khi thọ
chung, sanh trong nhà tôn quư. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ bốn mươi ba, những vị Bồ
Tát chẳng sanh trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới, chỉ cần nghe thấy danh hiệu A Di Đà Phật của ta, ta liền gia bị cho họ, sau khi hết
tuổi thọ, sanh sang đời sau, quyết định
sanh trong nhà tôn quư. Nếu chẳng như vậy, ta chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác.
44) Nguyện thứ bốn mươi bốn,
tu hành trọn đủ các đức
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, hoan hỷ
dũng dược, tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức
bổn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh
Giác.
(經)設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,歡喜踊躍,修菩薩行,具足德本。若不爾者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, các vị trong các cơi nước ở
nơi phương khác nghe danh tự của tôi, hoan hỷ,
hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, đầy đủ
các cội đức. Nếu chẳng như vậy, chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ bốn mươi bốn, “thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, hoan hỷ
dũng dược” (nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các
cơi nước ở nơi phương khác nghe danh tự của
tôi, hoan hỷ, hớn hở): Nghe danh hiệu của ta, sẽ phát tâm hoan hỷ, muốn tu Bồ Tát hạnh,
đầy đủ các cội đức. Nếu chẳng
như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.
45) Nguyện thứ bốn mươi
lăm, Phổ Đẳng tam-muội
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, giai tất
đăi đắc Phổ Đẳng tam-muội. Trụ thị
tam-muội, chí ư thành Phật, thường kiến vô
lượng bất khả tư nghị nhất thiết
chư Phật. Nhược bất nhĩ giả, bất
thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,皆悉逮得普等三昧。住是三昧,至於成佛,常見無量不可思議一切諸佛。 若不爾者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước
ở phương khác, nghe danh hiệu của tôi, thảy
đều đạt được Phổ Đẳng
tam-muội. Trụ trong tam-muội ấy, cho đến khi
thành Phật, thường thấy vô lượng chẳng
thể nghĩ bàn hết thảy chư Phật. Nếu chẳng
như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ bốn mươi lăm, nếu tôi thành
Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước phương
khác, nghe danh hiệu A Di Đà Phật, đều có thể
đạt được Phổ Đẳng tam-muội[15]. Lại
c̣n an trụ trong Phổ Đẳng tam-muội măi cho đến
khi thành Phật, thường xuyên bái kiến vô lượng vô số chẳng
thể nghĩ bàn hết thảy chư Phật. Nếu chẳng
như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.
46) Nguyện thứ bốn mươi sáu,
tùy nguyện nghe pháp
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tùy kỳ
chí nguyện sở dục văn pháp, tự nhiên đắc
văn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ
Chánh Giác.
(經)設我得佛,國中菩薩,隨其志願所欲聞法,自然得聞。若不爾者,不取正覺。
(Kinh:
Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước thuận
theo chí nguyện của họ muốn nghe pháp nào, sẽ tự
nhiên được nghe. Nếu chẳng như vậy, chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Đại
nguyện thứ bốn mươi sáu, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ
Tát” (nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước);
đây là hàng Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế
giới. “Tùy kỳ chí nguyện,
sở dục văn pháp, tự nhiên đắc
văn” (thuận theo chí nguyện của họ muốn
nghe pháp nào, sẽ tự nhiên được nghe), họ muốn
nghe pháp nào, sẽ có thể nghe pháp đó. Nếu chẳng
như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.
47) Nguyện thứ bốn mươi bảy,
nghe danh hiệu đắc Bất Thoái
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, bất
tức đắc chí Bất Thoái Chuyển giả, bất
thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,不即得至不退轉者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương
khác, nghe danh hiệu của tôi mà chẳng liền đắc
Bất Thoái Chuyển, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Đại
nguyện thứ bốn mươi bảy, nghe danh hiệu
của A Di Đà Phật, quư vị dụng công tu hành, chắc
chắn chẳng c̣n thoái chuyển nữa. Kinh A Di Đà gọi
địa vị này là A Bệ Bạt Trí.
48) Nguyện thứ bốn mươi tám,
đắc ba món Pháp Nhẫn
(Kinh)
Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, bất
tức đắc chí đệ nhất nhẫn, đệ
nhị, đệ tam pháp nhẫn, ư chư Phật pháp,
bất năng tức đắc bất thoái chuyển giả,
bất thủ Chánh Giác.
(經)設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,不即得至第一忍,第二第三法忍,於諸佛法不能即得不退轉者,不取正覺。
(Kinh: Nếu tôi thành Phật,
các vị Bồ Tát trong các cơi nước nơi phương
khác, nghe danh tự của tôi, nếu chẳng đắc
ngay đệ nhất nhẫn, đệ nhị, đệ
tam pháp nhẫn, đối với Phật pháp của
chư Phật mà chẳng liền đạt được
bất thoái chuyển, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Đại
nguyện thứ bốn mươi tám, các vị Bồ Tát
trong các cơi nước ở phương khác, chỉ cần
nghe danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ có thể
được A Di Đà Phật gia bị, đạt được
đệ nhất pháp nhẫn, đệ nhị pháp nhẫn
và đệ tam pháp nhẫn, hết thảy Phật pháp
đều có thể đầy đủ.
Trước
hết nói về pháp tướng của đệ nhất,
đệ nhị, đệ tam nhẫn:
1. Thứ
nhất là Âm Hưởng Nhẫn (音響忍). Đây là từ tiếng vang mà đắc
pháp nhẫn, nên gọi là Âm Hưởng Nhẫn. Do tiếng
vang mà ngộ được chân lư, khai ngộ.
Ngộ được lư thể Chân Như, nghe tiếng
vang bèn khai ngộ
th́ gọi là Âm Hưởng
Nhẫn. Ví như có một vị thiền sư, ở một ḿnh trong lều tranh
trên núi để tham Thiền, Sư khai hoang vỡ đất
trên núi để trồng một ít rau dưa, khoai lang. Khi vỡ
đất, đốn rừng, dùng cuốc vạc đá trên núi
quăng xuống dưới núi. Sườn núi mọc
đầy những cây trúc, h́nh thành rừng trúc, đá trên
sườn núi rơi xuống, va vào thân trúc, vang ra tiếng
“lạch
cạch” rất lớn.
Vị đại thiền sư ấy lập tức khai
ngộ. Đấy là từ tiếng vang mà đắc pháp
nhẫn, chính là môn thứ nhất, tức
Âm Hưởng Nhẫn.
2. Thứ
hai là Nhu Thuận Nhẫn (柔順忍). Mềm mỏng, vâng thuận gọi là
Nhu Thuận Nhẫn. Tức là do tâm trí huệ của chính
ḿnh sanh ra. Do tâm trí huệ sanh ra, cho nên hết sức mềm
mỏng, rất dễ dàng khai ngộ. Khai ngộ thuận theo chân lư, thuận theo diệu lư Chân Như
th́ gọi là Nhu Thuận Nhẫn. Đấy là môn thứ hai,
tức Nhu Thuận Nhẫn.
3. Thứ
ba là Vô Sanh Nhẫn (無生忍), c̣n gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Pháp vô sanh
là pháp Thật Tướng. Thật Tướng chẳng có
tướng, v́ phàm những ǵ có tướng đều là hư
vọng! Pháp này là tướng chân thật, chẳng phải
là tướng của hữu tướng. Hữu tướng
th́ là tướng hư vọng, c̣n pháp này là chân thật, chẳng
hư vọng. Đấy là diệu lư Chân Như, cũng là
diệu lư Thật Tướng, mà cũng là Phật Tánh mỗi
người chúng ta ai nấy sẵn có. Đấy là Vô Sanh
Pháp. Hễ đại triệt đại ngộ pháp vô
sanh, sẽ ngộ diệu lư Thật Tướng, chứng
đắc pháp vô sanh, th́ gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn.
Lại
xem kinh văn, đại nguyện thứ bốn
mươi bảy nhằm gia bị các vị Bồ Tát ở
phương khác, chẳng phải là dành cho hàng Bồ Tát đă
sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương
khác, họ nghe danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ đắc
địa vị bất thoái chuyển. Đại nguyện
thứ bốn mươi tám vẫn gia bị các vị Bồ
Tát ở phương khác. Nếu Bồ Tát ở cơi nước
phương khác, nghe danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ
đắc đệ nhất, đệ nhị, đệ
tam pháp nhẫn, đắc bất thoái chuyển nơi các
pháp của chư Phật. Nếu chẳng được
như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác. Đại
nguyện bốn mươi bảy và bốn mươi tám
đều v́ hàng Bồ Tát ở phương khác mà vận
dụng công phu, họ đều do được nghe danh
hiệu của A Di Đà Phật mà kết quả là đều
đắc bất thoái chuyển. Vậy th́ bất thoái chuyển
trong đại nguyện bốn mươi bảy và đại
nguyện bốn mươi tám giống nhau hay khác nhau? Nếu giống nhau, cần ǵ
đă lập đại nguyện thứ bốn mươi
bảy, lại lập ra nguyện thứ bốn
mươi tám để làm ǵ nữa? Đương nhiên
là chẳng giống nhau. V́ lời nguyện bốn
mươi tám gồm rất nhiều câu như là “đạt được đệ
nhất, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn”, lại
c̣n “đắc bất thoái chuyển
nơi pháp của chư Phật” trong khi đại nguyện
thứ bốn mươi bảy chỉ nói “chẳng thoái chuyển”, khác nhau! Phải giải
thích cặn kẽ hơn đôi chút!
Hàng Bồ
Tát ở quốc độ phương khác có địa vị
sâu hay cạn khác nhau. Bất thoái chuyển trong đại
nguyện thứ bốn mươi bảy là Bồ Tát ở các quốc độ khác, thuộc địa vị Thập Tín. Nếu
Thập Tín vị Bồ Tát nghe danh hiệu A Di Đà Phật,
sẽ đạt đến bất thoái chuyển, gọi là
Vị Bất Thoái. Đă đạt Bất Thoái Chuyển,
bèn dự vào địa vị Thập Trụ. Đă dự
vào địa vị Thập Trụ, lại chẳng thoái
chuyển, sẽ dự vào địa vị Tam Hiền, chẳng
bị lui sụt, đọa xuống phàm phu. V́ thế, gọi
là Vị Bất Thoái Bồ Tát. Đại nguyện thứ
bốn mươi tám gia bị những vị Bồ Tát
đều là Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền.
Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền là các địa
vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng
Bồ Tát. Các Ngài nghe danh hiệu của A Di Đà Phật
liền tiến
bộ, hễ tiến bộ, sẽ nhập vào địa vị Thập Thánh
(Thập Địa). Sau khi đă lên Sơ Địa th́ gọi
Hạnh Bất Thoái. Đối với hạnh môn Đại
Thừa, chẳng c̣n thoái chuyển nữa. Từ Bát Địa
Bồ Tát [trở lên] gọi là Niệm Bất Thoái, chánh niệm
hiện tiền. Niệm nào cũng lưu nhập Tát Bà Nhă Hải (biển Nhất Thiết
Trí), niệm nào cũng đều
là chánh niệm, vĩnh viễn chẳng c̣n lui sụt, sẽ
chứng đắc ba môn Pháp Nhẫn. Hai môn Pháp Nhẫn trước
đều là [pháp được
chứng bởi] Sơ
Địa Bồ Tát, môn Pháp Nhẫn thứ ba là [pháp sở chứng của]
hàng Bồ Tát từ Bát
Địa trở lên. Đấy là hàng Bồ Tát thuộc
địa vị Tam Hiền, quư vị nghe danh hiệu A Di
Đà Phật bèn có thể đăng địa (chứng
đắc Sơ Địa). Hàng Bồ Tát sau khi đă
đăng địa, nghe danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ
có thể tăng tấn đến Bát Địa, đắc
Vô Sanh Pháp Nhẫn. Do vậy, Ngài mới chẳng thoái chuyển
nơi pháp của chư Phật.
Bồ
Tát thuộc những
quốc độ ở phương khác tu hành chẳng thoái chuyển.
Có ba loại bất thoái chuyển: Vị Bất Thoái, Niệm
Bất Thoái, và Hạnh Bất Thoái. Nếu tu viên măn địa
vị Thập Tín, dựa theo Đại Thừa Khởi
Tín Luận để nói th́ phải mất một vạn
đại kiếp mới dự vào địa vị Thập
Trụ, mới là Vị Bất Thoái. Đă dự vào địa
vị Thập Trụ, tức là [lần lượt trải
qua] Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
địa vị Tam Hiền có ba mươi địa vị,
phải tu một đại A-tăng-kỳ kiếp, dự
lên Sơ Địa, tu cho đến Bát Địa Bồ Tát. Tu viên măn A-tăng-kỳ kiếp thứ hai,
mới gặp Phật, được thọ kư thành Phật.
Lấy Thích Ca Mâu Ni Phật để dẫn chứng, Ngài gặp
Nhiên Đăng Phật thọ kư thành Phật, chính là đă
tu viên măn hai đại A-tăng-kỳ kiếp, đạt
đến địa vị Bát Địa Bồ Tát. Từ
địa vị Bát Địa, lại tu một đại A-tăng-kỳ kiếp
nữa mới thành Phật. Đấy là xét theo thời gian
và địa vị trong quốc độ nơi phương
khác mà phân biệt như thế đó!
Tịnh
Độ Tông có bốn món Bất Thoái. Ngoại trừ Vị
Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, và Niệm Bất Thoái ra,
c̣n có Xứ Bất Thoái. Xứ (處) lả xứ sở, xứ sở là nơi chốn.
Xứ sở nào vậy? Nơi chốn nào vậy? Tây Phương
Cực Lạc thế giới! Chỉ cần quư vị sanh
về xứ sở ấy, sẽ Bất Thoái Chuyển. Đại
nguyện thứ nhất, đại nguyện thứ hai nhằm
nêu rơ, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới,
quư vị sẽ chẳng c̣n đọa vào trong ba ác đạo nữa. Tức là quư vị sanh về nơi chốn
Tây Phương Cực Lạc thế giới, đấy là
nơi chốn chẳng thoái chuyển, nên gọi là Xứ Bất
Thoái. Xứ Bất Thoái bao gồm cả ba món Bất Thoái,
tức là Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, Niệm Bất
Thoái. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới
là phàm phu đới nghiệp sanh về đó. Sanh sang
đó bèn nhập Chánh Định Tụ, tức là Bất Thoái
nơi địa vị Thập Trụ. Tăng tấn
hơn nữa là Hạnh Bất Thoái, Nhất Sanh Bổ Xứ,
vượt trỗi Đẳng Giác Bồ Tát. Huống hồ
Bát Địa chính là Niệm Bất Thoái. Chỉ cần sanh
về Tây Phương, sẽ đắc Xứ Bất
Thoái, tức
là đạt được
ba món Bất Thoái. Đó là lợi ích to lớn của pháp
môn Tịnh Độ.
(Kinh)
Phật cáo A Nan: - Nhĩ thời, Pháp Tạng tỳ-kheo, thuyết thử nguyện
dĩ, dĩ kệ tụng viết:
(經)佛告阿難:爾時法藏比丘,說此願已,以偈頌曰:
(Kinh: Đức Phật bảo
ngài A Nan: - Lúc bấy giờ, tỳ-kheo Pháp Tạng nói nguyện
ấy xong, dùng kệ tụng rằng).
“Phật cáo A Nan” (đức Phật bảo
ngài A Nan): Đây vẫn là do Phật
Thích Ca hướng về ngài A Nan kể chuyện A Di Đà Phật. Nói xong một đoạn, đức
Phật lại gọi ngài A Nan một tiếng: “Nhĩ thời Pháp Tạng tỳ-kheo,
thuyết thử nguyện dĩ” (lúc bấy giờ, tỳ-kheo Pháp Tạng nói
các nguyện ấy xong). Bốn mươi tám đại
nguyện đều là đại nguyện do tỳ-kheo Pháp Tạng đối trước
Thế Tự Tại Vương Như Lai phát thệ. Ngài
nói xong bốn mươi tám đại nguyện, lại nói kệ tụng
để tán tụng những đại nguyện của
Ngài, gồm mười một bài kệ tụng. Mười
bài kệ tụng
đầu là thệ nguyện,
tức hoằng thệ đại nguyện. Bài kệ tụng
cuối cùng [thể hiện ư nguyện] mong cầu có một
thụy tướng (瑞相, tướng tốt lành) để chứng minh.
2.2.1.2.2.2.1.4. Dựa theo những điều
đă nguyện trên đây, nhắc lại những điều
chính ḿnh đă thệ nguyện (gồm mười một bài kệ)
2.2.1.2.2.2.1.4.1. Tự mong cầu (gồm ba bài kệ)
2.2.1.2.2.2.1.4.1.1. Ước theo tự đức
của Phật để mong cầu
(Kinh)
Ngă kiến siêu thế nguyện, tất chí vô thượng
đạo, tư nguyện bất măn túc, thệ bất
thành Đẳng Giác.
(經)我建超世願,必至無上道,斯願不滿足,誓不成等覺。
(Kinh: Con lập nguyện
hơn đời, ắt đạt vô thượng đạo,
nguyện ấy chẳng trọn thỏa, thề chẳng
thành Đẳng Giác).
“Ngă kiến siêu thế nguyện”
(con lập nguyện siêu việt cơi đời), “ngă”
là tỳ-kheo Pháp Tạng tự xưng. Tôi là tỳ-kheo Pháp
Tạng đă kiến lập đại nguyện vượt
trỗi thế gian. “Tất chí
vô thượng đạo” (ắt đạt đến đạo vô thượng):
“Vô thượng đạo”
là Phật đạo, [“tất
chí vô thượng đạo” là] nhất định có thể thành Phật.
“Tư nguyện bất măn túc,
thệ bất thành Đẳng Giác” (nguyện ấy chẳng trọn thỏa, thề chẳng thành Đẳng Giác): “Tư nguyện” (斯願) là nguyện này. [V́ sợ] bốn mươi tám
nguyện chẳng được viên măn trọn vẹn, tôi
lại lập lời thề. Đấy là hoằng thệ
đại nguyện. Hoằng và Thệ hợp lại thành
một danh từ [tức Hoằng Thệ], nguyện là thệ,
thệ là nguyện. Nói tách ra, Nguyện là lập một chí
hướng, Nguyện là nguyện cầu, nguyện đạt
được, lập
một chí nguyện. Nguyện đi trước dẫn đường,
lại lập ra lời thề (thệ, 誓) giống như thúc giục đằng
sau. Ví như một thớt ngựa, phía trước có sợi dây lôi nó đi, đấy là Nguyện.
Đằng sau lại dùng roi ngựa để đánh cho nó chạy. Đấy gọi là “ra roi thúc giục”. Bản thân chúng ta trước hết phải kiến
lập một đại nguyện để dẫn
đường, khéo tu đại hạnh. Nương vào
nguyện để dẫn dắt hạnh, chỉ sợ
nguyện ấy chẳng kiến lập được. Lại
sợ hạnh này lui sụt, lại lập ra một lời
thề ở đằng sau để thúc giục. Chẳng
đạt tới mục đích th́ sẽ chẳng ngừng
nghỉ. Đấy là [tác dụng của] Thệ.
2.2.1.2.2.2.1.4.1.2. Ước theo hóa đức
(phẩm đức giáo hóa) để mong cầu (gồm hai bài kệ)
(Kinh)
Ngă ư vô lượng kiếp, bất vi đại thí chủ,
phổ tế chư bần khổ, thệ bất thành
Đẳng Giác. Ngă chí thành Phật đạo, danh thanh siêu thập phương, cứu cánh hữu
bất văn, thệ bất thành Đẳng Giác.
(經)我於無量劫,不為大施主,普濟諸貧苦,誓不成等覺。我至成佛道,名聲超十方,究竟有不聞,誓不成等覺。
(Kinh: Con trong vô lượng kiếp,
chẳng làm đại thí chủ, cứu khắp kẻ
nghèo khổ, thề chẳng thành Đẳng Giác. Đến
khi con thành Phật, tiếng tăm trỗi mười
phương, nếu có kẻ chẳng nghe, thề chẳng
thành Đẳng Giác).
Nhắc
lại lời nguyện của Ngài. “Ngă” vẫn là tỳ-kheo Pháp Tạng tự xưng.
Tôi đă phát đại nguyện, tôi tu đại hạnh
môn, tu đại công phu, tu công phu Đại Thừa, lấy
chuyện lợi ích chúng sanh để tu hành. Đại Thừa
Bồ Tát coi lợi tha là tự lợi. Đại Thừa
Bồ Tát tu Lục Độ th́ tu ở chỗ nào? Tu nơi
chúng sanh. Ĺa khỏi chúng sanh, quư vị chẳng có cách nào tu
hành. Pháp môn Lục Độ th́ độ thứ nhất
là Bố Thí Độ. Bố Thí Độ chia thành ba loại
là Tài Thí, Pháp Thí, và Vô Úy Thí, đều lấy chúng sanh làm
đối tượng. Chẳng có chúng sanh, quư vị muốn
Tài Thí cũng chẳng chỗ nào để tu, mà Pháp Thí và Vô
Úy Thí cũng đều chẳng có chỗ nào để tu. Đại Thừa
Bồ Tát tu như thế nào? Dụng công nơi thân của chúng sanh, phải nhớ rơ đạo lư
này! Nay tỳ-kheo Pháp Tạng phát đại nguyện, muốn
lập đại hạnh, muốn tu Lục Độ vạn
hạnh. Điều thứ nhất trong Lục Độ
là Bố Thí Độ, hành Tài Bố Thí trước. “Ngă ư vô lượng kiếp”
(tôi trong vô lượng kiếp): Tôi muốn
dùng công đức này để kiến lập Tây
Phương Cực Lạc thế giới, vượt trỗi
hai trăm mười ức cơi Phật; vậy th́ thế
giới Cực Lạc của tôi, [chỉ tu tập, tích lũy]
công đức trong một khoảng thời gian ngắn làm
sao đầy đủ cho được? V́ thế, phải
phát tâm dài lâu, phải tu hành trong vô lượng kiếp, tu
hành ǵ vậy? Trước hết, tôi sẽ làm đại
thí chủ, “bất vi đại
thí chủ, phổ tế chư bần khổ, thệ bất
thành Đẳng Giác” (chẳng làm đại thí chủ,
cứu khắp kẻ nghèo khổ, thề chẳng thành Đẳng
Giác): Tôi nhất định sẽ làm một vị đại thí chủ,
làm đại thí chủ để làm ǵ? Rộng tu Bồ
Tát đạo, hành Lục Độ vạn hạnh. Trong Lục
Độ, Bố Thí là bậc nhất. Đối tượng
để bố thí là “phổ
tế chư bần khổ” (cứu tế trọn khắp những kẻ
nghèo khổ). Chúng sanh nghèo túng, khổ năo, tôi sẽ cứu
giúp họ. Chúng sanh chẳng có cơm ăn, tôi sẽ bố
thí thức ăn. Chẳng có quần áo mặc, sẽ bố
thí quần áo để mặc. Chẳng có nhà để ở,
sẽ bố thí nhà cửa để ở. Chúng sanh nghèo khổ,
tôi sẽ cứu giúp họ. Lại c̣n là “phổ tế”, [tức là] chẳng phân biệt oán
thân, oán hay thân đều b́nh đẳng cứu
độ. Đấy là hành Tài Bố Thí.
“Ngă chí thành Phật đạo, danh
thanh siêu thập phương,
cứu cánh hữu bất văn, thệ bất thành Đẳng
Giác” (tôi đạt thành Phật
đạo, tiếng tăm vượt trỗi mười
phương, rốt cuộc nếu có kẻ nào chẳng
nghe biết, tôi thề chẳng thành Đẳng Giác): “Thành Đẳng Giác” cũng
là “thành Chánh Giác”. Nói gộp
chung lại, sẽ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác. Văn tự có phần giản lược, trong phần
trước đă nói là “thệ
bất thành Chánh Giác”; ở đây nói là “thệ bất thành Đẳng Giác”! Đẳng
Giác hay Chánh Giác [đều phải hiểu] là Phật. “Ngă chí thành Phật đạo”,
[nghĩa là] trong tương lai, tỳ-kheo Pháp Tạng tôi
đây sẽ thành Phật. “Danh thanh siêu thập phương,
cứu cánh hữu bất văn, thệ bất thành Đẳng
Giác”, ư nói: Tiếng tăm vượt trỗi mười
phương thế giới. Chúng sanh trong mười
phương thế giới sẽ đều nghe danh hiệu
thành Phật của tôi. Nếu c̣n có chúng sanh nào chẳng
nghe danh hiệu ấy, tôi quyết định chẳng thành Phật!
Nay chúng
tôi dùng sự thật để chứng minh đôi chút. A Di
Đà Phật đă thành Phật, c̣n có chúng sanh nào chẳng
nghe danh hiệu A Di Đà Phật? Dùng sự thật để
chứng minh, mỗi chúng sanh đều đă nghe thấy. Chứng
minh như thế nào? Chúng ta đều là đệ tử
Phật, tu Tịnh Độ Tông, hằng ngày niệm Phật,
niệm mấy ngàn tiếng, cho đến mấy vạn tiếng;
há có ai chẳng nghe danh hiệu Phật? Đối với
đức giáo chủ thế giới Sa Bà, tức Bổn
Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, tỳ-kheo Pháp Tạng và A Di
Đà Phật đều do Phật Thích Ca nói ra, đáng lẽ chúng ta phải biết danh hiệu Thích Ca Mâu
Ni Phật trước hết th́ mới đúng, thế nhưng có rất nhiều chúng
sanh chẳng biết danh hiệu của Phật Thích Ca, nhưng đâm ra lại biết
danh hiệu A Di Đà Phật. Họ chẳng phải là
đệ tử Phật, cũng chưa hề thọ Tam
Quy Y, mà cũng chẳng phát nguyện sanh về Tây Phương,
lại càng chẳng niệm A Di Đà Phật, nhưng họ
biết danh hiệu A Di Đà Phật, biết như thế
nào? Nếu họ gặp chuyện hoan hỷ, sẽ chẳng tự giác niệm một tiếng
A Di Đà Phật. Trong khi họ thương tâm hoặc phiền năo, sẽ
chẳng tự giác niệm một tiếng A Di Đà Phật.
Niệm Phật hiệu là buột miệng thốt ra, thật
giống như trẻ nhỏ tự nhiên gọi mẹ vậy. Nếu trong quá
khứ, người ấy chưa hề nghe danh hiệu A
Di Đà Phật, trong ruộng tám thức chẳng có chủng
tử ấy, nó làm sao có thể dấy lên hiện hành cho được?
Làm sao người ấy có thể buột miệng niệm một tiếng A Di Đà Phật
cho được? Chứng tỏ hết thảy chúng sanh
trong đời trước, kiếp trước, cho đến
nhiều đời nhiều kiếp trước đă từng
nghe danh hiệu A Di Đà Phật.
2.2.1.2.2.2.1.4.2. Thuận cầu (gồm bảy bài kệ)
(Kinh)
Ly dục thâm chánh niệm, tịnh huệ tu phạm hạnh,
chí cầu vô thượng tôn, vi chư thiên nhân sư. Thần
lực diễn đại quang, phổ chiếu vô tế độ,
tiêu trừ tam cấu minh, minh tế chúng ách nạn. Khai bỉ
trí huệ nhăn, diệt thử hôn manh ám, bế tắc chư ác
đạo, thông đạt thiện thú môn. Công tộ thành măn
túc, oai diệu lăng thập phương, nhật nguyệt tập
trùng huy, thiên quang ẩn bất hiện. Vị chúng khai pháp tạng, quảng thí công đức bảo, thường
ư đại chúng trung, thuyết pháp sư tử hống. Cúng dường nhất thiết
Phật, cụ túc chúng đức bổn, nguyện huệ
tất thành măn, đắc vi tam giới hùng. Như Phật
vô ngại trí, thông đạt mị bất chiếu, nguyện
ngă công đức lực, đẳng thử tối thắng
tôn.
(經)離欲深正念,淨慧修梵行,志求無上尊,為諸天人師。神力演大光,普照無際土,消除三垢冥,明濟眾厄難。開彼智慧眼,滅此昏盲闇,閉塞諸惡道,通達善趣門。功祚成滿足,威曜朗十方,日月戢重暉,天光隱不現。為眾開法藏,廣施功德寶,常於大眾中,說法師子吼。供養一切佛,具足眾德本,願慧悉成滿,得為三界雄。如佛無礙智,通達靡不照,願我功德力,等此最勝尊。
(Kinh:
Ĺa dục, chánh niệm sâu. Tịnh huệ tu phạm hạnh,
chí cầu đấng vô thượng, làm thầy của trời
người. Thần lực tỏa đại quang, chiếu
khắp khôn ngằn cơi, tiêu trừ tối ba cấu, cứu
ách nạn sáng ngời, mở huệ nhăn cho họ, diệt
trừ mù tối tăm. Đóng chặt các đường
ác, thông thoáng cửa đường lành, công phước
đều trọn vẹn, oai sáng ngời mười
phương, nhật nguyệt mất ánh sáng, quang minh của
bầu trời, thảy ẩn mất chẳng hiện. V́
chúng mở kho pháp, rộng thí báu công đức, thường
ở trong đại chúng, thuyết pháp, sư tử rống.
Cúng dường hết thảy Phật, đầy đủ
các cội đức, nguyện huệ đều vẹn
thành, thành đấng tam giới hùng, như Phật vô ngại
trí, thông đạt chiếu khắp cả, nguyện sức
công đức tôi, bằng với đấng tối thắng).
“Ly dục thâm chánh niệm, tịnh
huệ tu phạm hạnh, chí cầu vô thượng tôn, vi
chư thiên nhân sư” (ĺa dục, chánh niệm sâu. Tịnh huệ tu phạm
hạnh, chí cầu [sẽ trở thành] đấng vô thượng, làm thầy của
trời người): Trong bài kệ tụng này, bao gồm
Tŕ Giới Độ, Thiền Định Độ, và Bát Nhă Độ, nhưng chú trọng Tŕ
Giới Độ. “Ly dục”:
Thứ nhất là ĺa dâm dục, thứ hai là ĺa ngũ dục.
Điều này là cần phải tŕ giới. “Thâm chánh niệm” (chánh niệm sâu): Đây là tu Thiền Định. “Tịnh huệ”: Từ Thiền
Định chánh niệm sâu, sanh khởi trí huệ thanh tịnh;
đấy là Bát Nhă Độ. “Tu
phạm hạnh” chú trọng tŕ giới. “Ly dục” là tŕ giới. “Tu phạm hạnh” cũng là tŕ giới. “Phạm hạnh” là thanh tịnh,
tŕ giới thanh tịnh, tu hạnh môn ǵ cũng đều
thanh tịnh, nên gọi là “tu phạm
hạnh”. “Chí cầu vô thượng
tôn”: Tu Tŕ Giới Độ, Thiền Định Độ
và Bát Nhă Độ nhằm mong cầu thành Phật. “Vi chư thiên nhân sư” (làm thầy của chư thiên và loài người):
Phải nêu gương cho loài người trong nhân gian và nêu gương cho chư thiên trong cơi trời, làm thầy của trời
người như thế nào? Thứ nhất là có Thiền
Định, thứ hai là có trí huệ, nhưng [nếu như]
giới luật chẳng thanh tịnh, loài người chẳng tôn trọng quư vị, mà trời cũng chẳng
tôn trọng quư vị. Do vậy, bài kệ tụng này bao gồm ba
Độ, chú trọng nơi Tŕ Giới Độ!
“Thần lực diễn đại
quang, phổ chiếu vô tế độ, tiêu trừ tam cấu
minh, minh tế chúng ách nạn” (thần lực tỏa ra quang minh lớn, chiếu
trọn khắp các cơi không có ngằn mé, tiêu trừ sự tối
tăm do ba cấu, cứu giúp rạng ngời các ách nạn):
Đây là Vô Úy Thí. Bố Thí chia thành ba loại, tức là Tài Thí, Pháp Thí, và Vô Úy Thí. Cứu kẻ nghèo khổ trong phần
trước là Tài Bố Thí, phần này là hành Vô Úy Bố Thí. “Thần
lực diễn đại quang” (do thần lực tỏa ra quang
minh to lớn): Đă có thần thông, dùng sức thần thông tỏa ra quang minh to lớn,
có thể “phổ chiếu vô tế
độ” (chiếu khắp các cơi chẳng có ngằn mé),
“tế” (際) là biên tế (邊際, bờ mé, giới hạn). [“Vô tế độ” là] vô
lượng quốc độ, vô lượng thế giới,
thế giới chẳng có ngằn mé. “Tiêu trừ tam cấu minh” (tiêu trừ sự tối tăm
của Tam Cấu): Tham, sân, si là pháp ô nhiễm, nên gọi là Tam Cấu
(三垢). Pháp tối tăm gọi là Minh (冥). Nếu có thể dùng sức thần thông
tỏa ra đại quang minh để chiếu trọn khắp vô lượng thế giới, vô
lượng chúng sanh, khiến cho hết thảy chúng sanh
đều tiêu trừ tối tăm tam cấu tham, sân, si của chính họ. “Minh tế chúng
ách nạn”, ư nói: Cứu độ tai nạn cho hết
thảy chúng sanh. Chữ Ách (厄) này là chính là chữ Ách trong câu Tâm Kinh “chiếu kiến Ngũ Uẩn
giai không, độ nhất thiết khổ ách”. “Ách” là tai ương. Chúng sanh
gặp tai nạn, ta phóng quang minh cứu giúp tai nạn cho chúng sanh. Chúng sanh mang tai mắc nạn liền
sanh ḷng sợ hăi, ta cứu độ họ xa ĺa tai nạn,
bố thí sự không sợ hăi, nên gọi là Vô Úy Bố Thí.
“Khai bỉ trí huệ nhăn, diệt
thử hôn manh ám, bế tắc chư ác đạo, thông
đạt thiện thú môn” (mở con mắt trí huệ cho họ, diệt trừ sự tối tăm mù ḷa ấy, đóng
bít các đường ác, khai thông cửa dẫn đến
đường lành), “khai bỉ
trí huệ nhăn, diệt thử hôn manh ám”: Sẽ nói Phật pháp cho chúng sanh nghe, khiến cho
chúng sanh mở mang con mắt trí huệ. Mắt của chúng
sanh là nhục nhăn, nhục nhăn chưa khai trí huệ, giống
như một kẻ mù nên gọi là “hôn manh” (昏盲, mù tối). “Hôn manh”
là kẻ mù nhắm tịt mắt, thế giới của
người ấy là một thế giới tối tăm.
Ta mở con mắt trí huệ cho người ấy, khiến
cho chúng sanh có được con mắt trí huệ, diệt
trừ sự mù tối mờ mịt. Đă diệt trừ
th́ chính là “bế tắc chư
ác đạo, thông đạt thiện thú môn” (đóng bít các đường ác,
khai thông cửa đường lành). V́ sao gọi chúng sanh là kẻ mù nhắm tịt
mắt? Kẻ mù chẳng thấy quang minh đại đạo,
đi theo con đường hắc ám, phía trước có hố,
có rănh, họ chẳng thấy, sẽ bị lọt hố sụp rănh, rơi vào trong hố
sâu. “Rănh” là ng̣i nước,
họ sẽ rơi xuống ng̣i nước. V́ bọn
phàm phu chúng ta là kẻ mù nhắm tịt mắt, chẳng thấy
ba ác đạo, sẽ đi vào trong ba ác đạo, giống
như kẻ mù bị rơi hầm sụp rănh. V́ thế,
mở con mắt trí huệ cho chúng sanh là chuyện khẩn
yếu nhất. Huệ nhăn vừa mở, họ sẽ biết
cửa dẫn vào ba ác đạo ở nơi đâu, nếu họ đừng đi vào cửa đó, sẽ chẳng vào ba ác
đạo. Ta đóng lấp cửa dẫn vào ba ác đạo
cho chúng sanh, dạy họ đi vào thiện đạo, đi
vào thiên đạo. Đó là “thông
đạt thiện thú môn” (khai thông cửa dẫn đến
đường lành), khiến cho họ thường qua lại đường
nhân thiên. “Thiện thú môn” là nói
đối ứng với “chư
ác đạo” trong phần trên. Khóa chặt cửa của
ba đường ác, tức là khai thông con đường
dẫn đến trời, người. Trên thực tế,
nhân thiên thiện đạo là tiền phương tiện,
mục đích chân chánh là muốn t́m ra chiếc cửa thông
đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, tức
là pháp môn Niệm Phật. Sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới th́ mới chẳng thoái chuyển,
vĩnh viễn chẳng bị đọa lạc trong ba ác đạo.
“Công tộ thành măn túc, oai diệu
lăng thập phương, nhật nguyệt tập trùng huy, thiên
quang ẩn bất hiện” (công đức và phước đức đều
thành tựu trọn vẹn, oai quang rạng ngời mười phương, mặt trời và
mặt trăng lu mờ, ánh sáng cơi trời ẩn mất, chẳng hiện): Đây là Ngài phát nguyện
có vô lượng quang minh, phát nguyện kiến lập
đại hạnh. Đă kiến lập đại hạnh
bèn tu công, tu tộ. “Công” (功) là công đức, “tộ” (祚) là
phước đức. Tu nhiều công đức, tu nhiều
phước đức. Công đức lẫn phước
đức đều tu viên măn, liền có quang minh. “Oai diệu lăng thập
phương, nhật nguyệt tập trùng huy”, nghĩa
là có oai đức quang minh, chiếu sáng chói ngời mười phương thế
giới, đem so với ánh sáng của mặt trời, mặt
trăng th́ mặt trời lẫn mặt trăng đều
chẳng có ánh sáng! “Tập”
(戢) là giảm bớt, giảm bớt quang
minh của chúng! “Thiên quang ẩn
bất hiện”: Ánh sáng mặt trời mặt trăng
là ánh sáng của trời (thiên quang). Ánh sáng trong bầu trời
đều ẩn mất, chẳng hiện.
“Vị chúng khai pháp tạng, quảng
thí công đức bảo, thường ư đại
chúng trung, thuyết pháp sư tử hống” (v́ đại chúng mở kho pháp, rộng thí
của báu công đức, thường ở trong đại
chúng, thuyết pháp như sư tử rống). Đấy
là Pháp Bố Thí trong Bố Thí. Bố Thí chia thành ba loại,
trong phần trước, cứu giúp kẻ nghèo khổ là
Tài Bố Thí, cứu tai nạn là Vô Úy Bố Thí. Ở
đây là nói đến Pháp Bố Thí. “Vị chúng khai pháp tạng” (v́ đại chúng mở kho pháp): Giống như mở toang kho báu cho chúng
sanh. “Pháp tạng” chẳng
phải là của báu vàng, bạc, mà là của báu Phật pháp, nên gọi là Pháp Tạng.
“Quảng thí công đức bảo” (rộng bố thí báu công
đức): Ta mở kho báu vàng bạc
ra, đem vàng, bạc bố thí; đó là Tài Bố Thí. Ở
đây là Pháp Bố Thí, mở kho tàng Pháp Bảo, rộng hành
bố thí của báu công đức, thuyết pháp cho chúng
sanh nghe, đấy là “quảng
thí công đức bảo”.
“Thường ư đại chúng trung” (thường ở trong đại chúng): Thuyết pháp th́ phải phát tâm rộng lớn; muốn thuyết pháp cho đại
chúng th́ lại c̣n phải phát tâm dài lâu. Quư vị chẳng
phát tâm dài lâu, hôm nay thuyết pháp, ngày mai chẳng nói, vậy
th́ chúng sanh có thể đạt được bao nhiêu lợi
ích? “Thường ư đại
chúng trung” (thường ở trong đại chúng): “Thường” (常) là cái tâm dài lâu. Đối với đại chúng
thuyết pháp là cái tâm rộng lớn. “Thuyết pháp sư tử hống”, nghĩa là:
Thuyết pháp giống như sư tử gầm, tà ma ngoại
đạo đều bị chấn động, kinh hăi, đều
bị hàng phục, giống như sư tử rống lên, [muôn thú đều kinh sợ, náu ḿnh]!
Tỳ-kheo
Pháp Tạng trong khi tu nhân đă phát đại nguyện, lập
đại thệ, Phật Thích Ca đă kể lại, nhắc
lại, nhằm bảo chúng ta hăy nghe, hăy học theo. Chúng ta
phải phát tâm nói Phật pháp cho chúng sanh nghe, phải phát tâm
rộng lớn, đi đến đâu bèn nói tới
đó. Chẳng hạn như tôi ở Đại Lục
bèn giảng cho người Đại Lục. Tôi đến
Đài Loan bèn giảng cho người Đài Loan, đến
Hương Cảng bèn giảng cho người Hương
Cảng; đấy là phát tâm rộng lớn. Lại c̣n phải
phát tâm dài lâu. Hôm nay giảng, ngày mai giảng, năm nay giảng,
năm sau giảng. Giảng đến khi quả báo đă
hết, sanh về thế giới Cực Lạc, chứng
đắc Vô Sanh Pháp Nhăn, lại trở về tiếp tục
giảng. Đấy là phát tâm dài lâu. Tôi nói những lời
này nhằm khuyên các vị. Hiện thời, người
thuyết pháp trong Phật giáo quá ít! Quư vị phát tâm giảng
kinh, thuyết pháp, bất luận là chúng xuất gia hay chúng
tại gia đều học giảng kinh, thuyết pháp, Phật
giáo sẽ hưng khởi, nhưng điều đầu
tiên là quư vị phải phát tâm rộng lớn, điều
thứ hai là phải phát tâm dài lâu.
“Cúng dường nhất thiết
Phật, cụ túc chúng đức bổn, nguyện huệ
tất thành măn, đắc vi tam giới hùng” (cúng dường hết thảy các vị Phật,
đầy đủ các cội đức, nguyện trí huệ đều thành tựu viên măn,
trở thành đấng Đại Hùng trong ba cơi): Bài kệ
tụng này ư nói phải tu phước và tu huệ, phước
và huệ phải trọn đủ. Tỳ-kheo
Pháp Tạng học Phật, Phật tu như thế nào, Ngài cũng tu như vậy! Tu phước
như thế nào? “Cúng dường
nhất thiết Phật” (cúng dường hết thảy Phật), phước
báo sẽ đưa tới nhanh chóng. “Cụ túc chúng đức bổn” (trọn đủ các cội
đức): Công đức căn bản
thảy đều đầy đủ, tức là hết
thảy các thiện căn đều đầy đủ.
“Nguyện huệ tất thành
măn” (nguyện
trí huệ thành tựu viên măn): Tu phước đến mức viên măn, lại
phát đại nguyện cầu trí huệ, cầu trí huệ
viên măn. Viên măn th́ sẽ trọn đủ, tức là phước
đầy đủ, huệ đầy đủ. “Đắc vi tam giới hùng”:
Trở thành bậc đại hùng trong tam giới. Ví như
điện Tam Bảo trong chùa Phật được gọi
là Đại Hùng Bảo Điện. Đại Hùng là
phước báo lớn nhất, trí huệ lớn nhất,
lớn đến mức viên măn rốt ráo, phước trọn
đủ, huệ đầy đủ, th́ gọi là Đại
Hùng.
“Như Phật vô ngại trí, thông
đạt mị bất chiếu, nguyện ngă công đức
lực, đẳng vi Tối Thắng Tôn” (như trí vô ngại của đức Phật,
thông đạt không đâu chẳng chiếu thấu. Nguyện
sức công đức của con bằng với đấng
Tối Thắng). “Như Phật
vô ngại trí, thông đạt mị bất chiếu”, ư nói: Tôi, tức tỳ-kheo Pháp Tạng mong đạt
trí huệ giống như Phật, chứng đắc Vô Ngại
Trí của Phật, thông đạt hết thảy các pháp. Đối
với hết thảy các pháp, chẳng sanh chướng ngại
th́ gọi là Vô Ngại Trí. Thông đạt hết thảy
các pháp, ta muốn độ hết thảy chúng sanh. “Mị bất chiếu” (không đâu chẳng chiếu thấu), tức
là dùng quang minh của ta chiếu khắp hết thảy
chúng sanh. “Nguyện ngă công đức
lực” (nguyện
sức công đức của tôi), tức là do độ chúng sanh nên mới thành tựu sức công đức
giống như Phật. “Đẳng
thử tối thắng tôn” tức là bằng với Phật.
2.2.1.2.2.2.1.4.3. Thỉnh cầu chứng
minh, mong hiện điềm lành (gồm một bài kệ)
(Kinh)
Tư nguyện nhược khắc quả, đại
thiên ưng cảm động, hư không chư thiên thần,
đương vũ trân diệu hoa.
(經)斯願若剋果,大千應感動,虛空諸天神,當雨珍妙華。
(Kinh: Nguyện này nếu đắc
quả, đại thiên nên cảm động, chư thiên
thần trên không, sẽ mưa hoa quư đẹp).
Đây
là bài kệ tụng
cuối cùng, cầu cảm
ứng. “Tư nguyện nhược
khắc quả”, [nghĩa là] tôi, tức tỳ-kheo Pháp Tạng
đă phát hoằng thệ đại nguyện, giả sử
trong tương lai có thể chứng đắc quả vị.
“Khắc” (剋) là có thể chứng, [“khắc quả”] là có thể chứng đắc
quả vị. “Đại thiên
ưng cảm động”: Đại thiên thế giới
phải nên cảm động; không chỉ là cảm động đất, mà c̣n cảm động trời. “Hư không chư thiên thần”:
Các vị thiên thần trong hư không, xin các vị hăy nghe tôi phát nguyện, hy vọng nguyện
của tôi thật sự là nhất định có thể chứng đắc
quả tối thắng. Các vị thiên thần “đương vũ trân diệu
hoa” (hăy nên
mưa hoa quư đẹp), “vũ” (雨) là từ
không trung rơi xuống, [“đương
vũ trân diệu hoa” là] rơi xuống hoa trời trân
quư, đẹp đẽ nhằm chứng minh một phen.
2.2.1.2.2.2.1.5. Hiện tướng đúng như
mong cầu
(Kinh)
Phật ngữ A Nan: - Pháp Tạng tỳ-kheo, thuyết thử tụng dĩ, ứng thời
phổ địa lục chủng chấn động,
thiên vũ diệu hoa, dĩ tán kỳ thượng. Tự
nhiên âm nhạc, không trung tán ngôn: “Quyết định tất
thành Vô Thượng Chánh Giác”.
(經)佛語阿難:法藏比丘,說此頌已,應時普地六種震動,天雨妙華,以散其上。自然音樂,空中讚言:決定必成無上正覺。
(Kinh: Đức Phật bảo
ngài A Nan: - Tỳ-kheo Pháp Tạng nói bài kệ ấy xong,
ngay lập tức, khắp cơi đất sáu thứ chấn
động, trời tuôn diệu hoa để rải lên
trên. Tự nhiên âm nhạc, trong hư không có tiếng khen rằng:
“Quyết định ắt thành Vô Thượng Chánh Giác”).
“Phật ngữ A Nan”, [nghĩa
là] Phật Thích Ca nói đến đây, lại hướng
về A Nan bảo: “Pháp Tạng
tỳ-kheo, thuyết thử tụng dĩ” (tỳ-kheo Pháp Tạng nói bài tụng ấy
xong). Nói xong mười một bài kệ tụng trên đây,
khi ấy bèn có cảm ứng. “Ứng
thời, phổ địa lục chủng chấn động”
tức là [ngay khi đó], đại thiên thế giới có
sáu thứ chấn động. “Thiên
vũ diệu hoa, dĩ tán kỳ thượng”: Trong
hư không liền mưa xuống hoa trời trân quư, đẹp
đẽ. “Dĩ tán kỳ thượng” (để rải trên ấy): Rải trên đại địa. “Tự nhiên âm nhạc, không trung
tán ngôn”: Trong không trung, tự nhiên có tiếng âm nhạc,
trong không trung c̣n thấy có người nói năng, thốt
lời tán thán như sau: “Quyết
định ắt thành Vô Thượng Chánh Giác”, ấn chứng
quư vị phát nguyện to lớn ấy, chắc chắn sẽ
có thể thành Vô Thượng Chánh Giác, tức là Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác, quyết định có thể
thành Phật!
2.2.1.2.2.2.1.6. Tổng kết, tán thán
(Kinh)
Ư thị Pháp Tạng tỳ-kheo cụ túc tu măn như thị
đại nguyện, thành đế bất hư, siêu xuất
thế gian, thâm nhạo tịch diệt.
(經)於是法藏比丘,具足修滿如是大願,誠諦不虛。超出世間,深樂寂滅。
(Kinh: Do vậy, tỳ-kheo Pháp
Tạng tu viên măn đầy đủ đại nguyện
như thế, chân thành, chẳng hư dối, vượt
trỗi thế gian, yêu thích tịch diệt sâu xa).
“Ư thị Pháp Tạng tỳ-kheo
cụ túc tu măn như thị đại nguyện” (do vậy, tỳ-kheo Pháp Tạng tu viên măn trọn
đủ đại nguyện như thế): Đối với
hoằng thệ đại nguyện đă phát trên đây, tiếp đó, Ngài bèn tu hành, tu viên măn đại nguyện,
đúng là “nương vào nguyện
để dẫn dắt hạnh, dùng hạnh để thực
hiện nguyện”. Nương vào đại nguyện
để dẫn khởi đại hạnh, nương vào
đại hạnh để bồi đắp viên măn đại nguyện. “Thành
đế bất hư, siêu xuất thế gian, thâm nhạo
tịch diệt” (chân thành, chẳng hư dối, vượt trỗi
thế gian, yêu thích tịch diệt sâu xa): “Thành đế bất hư” là Ngài phát đại
nguyện, lập đại nguyện, “thành đế”, Đế (諦) là suy nghĩ cẩn thận, chân thành chẳng
hư dối. “Siêu xuất thế
gian”: Vượt trỗi hết thảy những điều
phát nguyện của người thế gian. “Thâm nhạo tịch diệt” (yêu thích tịch diệt sâu xa): Xa ĺa hết thảy tướng.
Phật
Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh
Giảng
Kư, phần 2 hết
[1]
“Trước địa” có
nghĩa là đầu gối chạm đất, chứ
không phải toàn thể bắp chân. Trường quỵ là
quỳ thẳng lưng, đầu gối và cả bắp
chân đều áp sát mặt đất.
[2]
Theo cổ thư như bộ Thuyết
Văn Giải Tự, Sơn Hải Kinh v.v… Loan là một loài
chim thuộc loài Phụng Hoàng. Nó thường được
gọi là Thanh Loan hay Kim Kê, thuộc loài Bách Nhăn Ban Trĩ (chim
trĩ có nhiều hoa văn h́nh tṛn như con mắt trên bộ
lông). Theo đó, Loan là chim trống, Kim Kê là chim mái. Do đó,
chim Loan c̣n được gọi chung là Kê Loan. Hiện thời,
loài chim Hồng Phúc Cẩm Kê (tên khoa học Chrysolophus Pictus,
Golden Pheasant) thường được coi là chim Loan.
[3]
Tức là bài Hồng Danh Bảo Sám. Thiền môn Trung Hoa vào
khóa tối sau khi tụng kinh Di Đà và niệm Phật
xong, thường tụng Hồng Danh Bảo Sám và Mông
Sơn Thí Thực Văn. Sau đó, tụng chú Đại Bi
và tán Già Lam Bồ Tát. Hồng
Danh Bảo Sám bao gồm năm mươi ba danh hiệu vị
Phật trích từ kinh Quán Dược Vương Dược
Thượng Nhị Bồ Tát và ba mươi lăm danh hiệu
Phật trích từ kinh Đại Bảo Tích, những phần
kệ tụng sau đó đều trích từ phần kệ
tụng của phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện.
Phần đầu là đảnh lễ Tam Bảo, cộng
với mười tôn hiệu của Phật, cùng với các
lạy ở mỗi đoạn kệ gộp chung thành một
trăm lẻ tám lạy mang ư nghĩa sám trừ một trăm
lẻ tám món phiền năo.
[4]
Ma Tổ (媽祖)
là một vị thần bảo hộ ngư dân ở vùng
Hoa Nam. Bà thường được biết dưới
danh xưng Thiên Hậu, Thiên Hậu Nương
Nương, Thiên Phi, Mị Châu Nương Ma v.v… Bà tên thật
là Lâm Mặc, quê ở thôn Đông Loa, đảo Mỵ Châu,
huyện Phủ Điền, tỉnh Phước Kiến,
sống vào đời Tống. Bà được thờ phụng
và tin tưởng rất rộng, hầu như suốt
vùng Đông Nam Á, hễ ở đâu có người từ
Hoa Nam như Phước Kiến, Quảng Đông, Hải
Nam… trú ngụ đều có đền thờ Ma Tổ. Ngay
cả đảo Lưu Cầu (Ryukyu) của Nhật Bản
cũng có miếu thờ Ma Tổ. Người Việt
thường gọi miếu thờ Ma Tổ là chùa Bà.
[5]
Ở Trung Hoa vào thời cổ, trẻ trai mới
sanh ra thường không được đặt tên mà thường
gọi bằng một tên thân mật như Bảo Bảo
chẳng hạn, đến khi tṛn một năm hoặc vào
một ngày tốt nào đó, mới đặt tên (thường
gọi là nhũ danh hoặc húy). Đến tuổi hai mươi
th́ được đặt tên tự với ư nghĩa cầu
chúc, mong mỏi con sẽ thành đạt những phẩm đức
ấy. Chỉ có cha mẹ và thầy dạy là gọi thẳng
tên húy, người ngoài luôn gọi người ấy bằng
tên tự. Người ấy sẽ chọn cho ḿnh một
hiệu nhằm bày tỏ chí hướng. Chẳng hạn Âu
Dương Tu có tên tự là Vĩnh Thúc, hiệu là Túy Ông.
Danh y Hải Thượng Lăn Ông Lê Hữu Trác có tên thật
là Hữu Trác, tự là Cẩn Như, hiệu là Hải Thượng
Lăn Ông (ông lười trên biển) và Thảo Am. Thật ra,
c̣n một tên nữa là thụy hiệu, tức là tên đặt
sau khi chết nhằm tôn vinh đức hạnh của người
đă mất. Thụy hiệu dùng để đề bài vị
và khấn bái khi cúng giỗ.
[6]
Đối với câu này, ngài Gia Tường giảng rơ
hơn: “Khen ngợi tài năng
siêu quần nên bảo là Cao Tài. Tự thắng được
ḿnh, thắng được người, nên khen là Dũng.
Sáng suốt phá tan tà kiến nên bảo là Triết”.
Tịnh Ảnh Sớ lại giảng: “Tài là tài khéo, tài đức hơn người nên bảo
là Cao Tài. Ư chí mạnh mẽ là Dũng. Tâm sáng suốt là Triết”.
[7]
Tuy chánh kinh ghi là “bách thiên ức vạn”, nhưng khi giảng câu này,
trưởng lăo Đạo Nguyên lại nói là “bách thiên vạn ức”. Do tôn
trọng chúng tôi giữ nguyên như thế.
[8]
Chữ 隱hiện
thời đọc thành Ẩn.
Do đó, ở đây ḥa thượng
Đạo Nguyên phải giải thích rơ ràng: Thời cổ,
Ổn (穩)
và Ẩn (隱)
dùng lẫn cho nhau. Khi kinh viết là “an ẩn” (安隱) th́ phải đọc
thành “an ổn”.
[9]
Tại Đại Lục có quá nhiều chùa tên Thiên Ninh, và
đều nổi tiếng, không rơ ḥa thượng Đạo Nguyên nói
về chùa nào, nhưng do phần
lớn các chùa trong đoạn này đều ở
Hoa Nam, chúng tôi đoán đây là chùa Thiên Ninh ở Thường
Châu tỉnh Giang Tô. Chùa Thiên Ninh được
sáng lập từ đời Đường bởi cao tăng
Pháp Dung thiền sư với tên Quang Phước Tự.
Đến đời Tống, đổi thành Thiên Ninh. Vua
Càn Long sáu lần tuần du Giang Nam, đă ba lần viếng
chùa này, ngự đề tấm hoành phi Long Thành Tượng
Giáo.
Chùa
Thiên Đồng ở tại thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết
Giang, được sáng lập vào thời Tây Tấn, tiền
thân là ngôi thảo am của du tăng Nghĩa Hưng. Theo
truyền thuyết, chùa được kiến lập
đúng ngay cửa vào động núi Thái Bạch. Thái Bạch
Kim Tinh bèn sai đồng tử cơi trời mang thức ăn
cúng dường tăng chúng trong
suốt
thời gian kiến tạo, nên mới gọi là chùa Thiên
Đồng (đồng tử cơi trời).
Chùa
Kim Sơn ở Trấn Giang, tỉnh Giang Tô, là đạo
tràng bậc nhất về Thiền Tông thuộc phái Quy
Ngưỡng tại Hoa Nam. Chùa xây dựng từ đời
Đông Tấn, có tên là Trạch Tâm Tự. Từ đời
Đường trở đi, khi thiền sư Pháp Hải
trùng tu, Đường Tuyên Tông đă đổi tên chùa thành
Kim Sơn. Thời nhà Thanh, Khang Hy xuống Giang Nam tuần
du, đă sắc phong
chùa tên là Giang Thiên Thiền Tự, nhưng mọi người
vẫn gọi chùa này là Kim Sơn Tự. Trong chùa c̣n giữ
chiếc đai ngọc của Tô Đông Pha, cũng như nhiều
cổ vật quư giá. Đặc biệt là trong chùa có ṭa
Văn Tông Các, khi bộ Tứ Khố Toàn Thư được
biên soạn hoàn thành, vua Càn Long sai người sao chép lại,
cất giữ một bộ tại đây. Chùa nổi tiếng
nghiêm ngặt về tọa thiền. Mỗi khóa tọa thiền
tối thiểu mấy tiếng đồng hồ.
Chùa
Cao Minh c̣n gọi là U Khê Đạo Tràng hoặc Tịnh Danh
Tự ở tại Đông Bắc huyện Thiên Thai tỉnh
Chiết Giang, là tổ đ́nh của tông Thiên Thai. Chùa này do
chính Trí Giả đại sư khai sơn.
[10]
Bài lâu (牌樓), c̣n gọi là Bài Phường (牌坊), hay c̣n gọi là Khuyết (阙) vào đời Hán, hay Phiệt Duyệt (阀阅) dưới đời Tống.
Đây là một thứ kiến trúc tương
tự như cửa Tam Quan, nhưng khác với cửa Tam
Quan là số lượng ô cửa có thể nhiều
hơn, nhưng luôn phải là con số lẻ. Cửa tam
quan luôn luôn có cánh cổng, c̣n Bài Lâu không có cánh cửa. Đây
là một kiến trúc được đặt trước
lối dẫn vào các điện đường, đại
viện, đ́nh tạ v.v… như một thứ nghi môn, gồm
hai tầng có mái che, đôi khi là nhiều tầng mái. Dưới
mỗi tầng mái có hoành phi ghi rơ danh xưng của bài lâu.
Phía dưới để trống, chia tối thiểu thành
ba ô cửa. Cửa
chính giữa lớn hơn hai bên, hoặc có khi các ô cửa
đều lớn bằng nhau, nhưng mái của các ô phụ
phải ít tầng hơn, thấp hơn, nhỏ hơn ô
chính giữa. Một điểm đặc trưng khác nữa
là cửa Tam Quan luôn có câu đối trên cột, trong khi Bài
Lâu không bắt buộc phải có câu đối.
[11]
Na-do-tha (Nayuta), c̣n phiên âm là Na Dữu Đa,
Na Do Đa, có nghĩa là “số
lượng nhiều chẳng thể tính đếm được”.
Theo Câu Xá Luận, một lạc-xoa là một trăm ngàn, mười
lạc-xoa là một độ-lạc-xoa, mười độ-lạc-xoa
là một câu-chi, mười câu-chi là một mạt-đà, mười
mạt-đà là một na-dữu-đa.
[12]
Đông Bổn Nguyện Tự (Higashi Hongan-ji) là tổng bổn
sơn (tổ đ́nh) của phái Đại Cốc trong Tịnh Độ
Chân Tông Nhật Bản. Khác với Phật giáo Trung Hoa, vấn
đề quyền lực trong Phật giáo Nhật Bản
rất nặng. Năm 1529, sau khi Pháp Chủ
đời thứ mười một của Tịnh Độ
Chân Tông là Hiển Như (Kennyo), trụ tŕ chùa Thạch
Sơn Bổn Nguyện Tự (Ishiyama Hongan-ji) qua đời,
con trai ông ta là Giáo Như (Kyōnyo) và em trai là Chuẩn
Như (Jyunyo) tranh giành ngôi Pháp
Chủ không nhân
nhượng. Về sau, Chuẩn Như được
đại quư tộc Phong Thần Tú Cát (Toyotomi Hideyoshi) hậu
thuẫn, trở thành Pháp
Chủ. Năm 1602,
Giáo Như tranh thủ được sự ủng hộ
của mạc phủ Đức Xuyên Gia Khang (Tokugawa Ieyasu)
sáng lập một phái
mới, ly khai Tịnh Độ Chân Tông, bổn sơn gọi
là Đông Bổn Nguyện Tự, c̣n gọi là Đại Cốc
phái (Otani-ha), phái của Chuẩn Như gọi là Tây Bổn
Nguyện Tự (Nishi Hongan-ji).
[13]
Đây là chủ trương của Pháp Nhiên thượng
nhân (Honen), sáng tổ của Tịnh Độ Tông Nhật
Bản. Một đệ tử của Ngài là Thân Loan
(Shinran) đă đề xướng nhiều giáo nghĩa mới,
sáng lập ra Tịnh Độ Chân Tông. Cũng chính Thân Loan đă đi tiên phong
trong việc chủ trương Tăng sĩ lấy vợ,
biến tăng đoàn của Tịnh Độ Chân Tông thành
một đoàn thể thực chất là cư sĩ tại
gia nhưng mang h́nh tướng tăng sĩ. Về sau, đa
số tu sĩ Tịnh Độ Chân Tông không cạo tóc nữa,
tuy vẫn có danh xưng là ḥa thượng này, trưởng
lăo kia, họ mặc thường phục, chỉ mặc áo
tràng và đắp y khi làm lễ.
[14]
Na La Diên là một hóa thân của Tỳ Thấp Nỗ (c̣n
phiên âm là Tỳ Nữu, tức thần Vishnu), đôi khi danh hiệu này c̣n được dịch
nghĩa là Biến Nhập Thiên. Trong giáo phái Vaishanvism (phái đặc biệt tôn thờ thần
Vishnu) của Ấn giáo, vị trời
này được coi là đấng tối cao sáng tạo vũ trụ.
Vị trời này được
coi là kiên cố, chẳng thể phá hoại, có thể sáng tạo
và đồng thời duy tŕ sự cân bằng trong vũ trụ,
nên thường được mô tả là thân thể tráng kiện,
đẹp đẽ, mạnh mẽ nhất trong chư thiên.
[15]
Do ḥa thượng Đạo Nguyên không
giải thích ư nghĩa của Phổ Đẳng tam-muội,
chúng tôi xin trích lời giảng từ sách Hội Sớ như
sau: “Nếu theo ư kiến của các Sư th́ Phổ Đẳng
tam-muội chỉ là một thứ tam-muội được
Bồ Tát chứng đắc. Ngài Cảnh Hưng bảo:
‘Phổ nghĩa là phổ biến; Đẳng nghĩa là b́nh
đẳng. Cái thấy rộng lớn, Phật Phật
đều thấy, cho nên gọi cái Định của các
Ngài đă
trụ là Phổ Đẳng’. Ngài Huyền Nhất bảo: ‘Do
sức của tam-muội này, sẽ thấy khắp tất cả chư Phật
Thế Tôn,
nên bảo là Phổ. Do hiện
b́nh đẳng,
không ǵ chẳng đạt đến, nên gọi là Đẳng’.
Nếu xét theo chánh ư của tuyển trạch bổn nguyện
th́ Phổ Đẳng tam-muội chính là Niệm Phật tam-muội.
Phổ có nghĩa là phổ biến, phàm thánh cùng chứng nhập
được. Đẳng là b́nh đẳng, công đức
niệm một vị Phật cũng bằng với công
đức niệm hết thảy Phật. Kinh Bồ Tát Niệm
Phật tam-muội bảo: ‘Thí như chúng sanh nhược
y Tu Di kim sắc chi biên, kỳ thân tức dữ bỉ
sơn đồng sắc. Sở dĩ nhiên giả? Sơn
thế lực cố. Hựu như chư thủy, tất
nhập đại hải, đồng kỳ nhất vị,
sở dĩ nhiên giả? Dĩ hải lực cố.
Nhược nhân đắc Niệm Phật tam-muội, diệc
phục như thị’ (ví
như chúng sanh nếu ở bên núi Tu Di kim sắc th́ thân họ
cũng cùng màu với núi ấy. V́ cớ sao vậy? Là do thế
lực của núi vậy. Lại như các ḍng nước
đă vào trong biển cả th́ có cùng một vị, v́ sao thế?
Do sức của biển vậy. Người đắc niệm
Phật tam-muội cũng giống như thế). Đấy
là ư nghĩa Phổ Biến của chữ Phổ trong Phổ
Đẳng. Kinh Văn Thù Bát Nhă dạy: ‘Niệm nhất Phật
công đức, vô lượng vô biên, diệc dữ vô
lượng vô biên chư Phật vô nhị’ (công đức niệm
một đức Phật vô lượng vô biên, chẳng
khác ǵ công đức niệm vô lượng chư Phật).
Tán A Di Đà Phật Kệ có câu: ‘Ngă dĩ nhất tâm quy nhất
Phật, nguyện biến thập phương vô ngại
nhập’ (tôi
dùng nhất tâm quy y một vị Phật, nguyện
nhập khắp mười phương vô ngại). Đấy
là ư nghĩa B́nh Đẳng”.