Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh Giảng Kư

佛說無量壽經講記

Phần 2

Chủ giảng: Trưởng lăo Đạo Nguyên (道源長老)

Địa điểm: Chí Liên Tinh Xá Đài Bắc

Thời gian: Tháng Tám năm Dân Quốc 67 (1978)

Cư sĩ Thí Vượng Khôn bút kư

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản in của Đài Trung Liên Xă)

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

2.1.2. Phát Khởi Tự

2.1.2.1. Như Lai hiện tướng phát khởi

 

          (Kinh) Nhĩ thời Thế Tôn, chư căn duyệt dự, tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy.

          ()爾時世尊,諸根悅豫,姿色清淨,光顏巍巍。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn các căn vui sướng, dáng vẻ thanh tịnh, dung nhan sáng ngời lồng lộng).

 

          “Nhĩ thời” (爾時) là khi đó, khi nào vậy? Khi căn cơ của đại chúng tương ứng. Trong phần trước, kinh đă có nói, chư đại Bồ Tát cùng lúc nhóm đến, chờ đợi đức Phật thuyết pháp, chính là khi đó. “Thế Tôn” là đức Phật.

          “Chư căn duyệt dự” (các căn vui sướng): “Chư căn” (諸根) là nói đến thân thể và tâm của Ngài. Đây là một danh từ chuyên môn rất phổ biến trong Phật giáo. Nếu quư vị là kẻ sơ phát tâm mà nghe [từ ngữ này] sẽ chẳng hiểu. Kinh Phật nói thân thể và cái tâm này, nói chung chia thành sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ư, gọi là Lục Căn. Mắt gọi là Nhăn Căn, tai gọi là Nhĩ Căn, mũi gọi là Tỵ Căn, lưỡi gọi là Thiệt Căn, thân thể gọi là Thân Căn. Năm căn ấy c̣n gọi là Tiền Ngũ Căn (năm căn trước), chúng ở trên thân thể. Đấy là thân. Bên trong [thân thể] c̣n có Ư Căn. Ư là tâm, [thường nói là] “tâm ư”. Trong là một cái tâm, ngoài là một thân thể, đấy là có sáu căn. V́ sao gọi là Căn? Căn () có nghĩa là “có thể sanh ra”, [chẳng hạn như] Nhăn Căn sanh ra Nhăn Thức, Nhĩ Căn sanh ra Nhĩ Thức, Tỵ Căn sanh ra Tỵ Thức, Thiệt Căn sanh ra Thiệt Thức, Thân Căn sanh ra Thân Thức, Ư Căn sanh ra Ư Thức. Đấy là Lục Căn. “Chư căn” được nói ở đây chính là lục căn.

          “Duyệt dự”: “Duyệt” () là hoan hỷ, “dự” () là vui sướng, biểu hiện dáng vẻ rất hoan hỷ, vui sướng. “Chư căn duyệt dự”, “chư căn” là lục căn, trong ấy Ư Căn là tâm. Tâm vô h́nh vô tướng chẳng thấy được, cái [có thể] trông thấy là sự hoan hỷ nơi thân. Niềm hoan hỷ nơi thân thể là sự hoan hỷ từ trong tâm biểu hiện ra. Trong tâm chẳng hoan hỷ, làm sao biểu lộ niềm hoan hỷ ra ngoài cho nổi? V́ thế, nói là “chư căn” th́ vẫn phải nói là lục căn. Khi đó, sáu căn của đức Thế Tôn đều tỏ lộ rất vui sướng, hoan hỷ. Lại c̣n thêm hai câu để h́nh dung, [câu thứ nhất là] “tư sắc thanh tịnh”. “Tư sắc” (姿色) là thân thể của Ngài, thân thể là sắc pháp. Đừng nên hiểu sắc này là bóng sắc (dáng điệu xinh đẹp) của nam nữ, mà nên hiểu là thân thể. [“Tư sắc thanh tịnh” nghĩa là] thân thể này rất thanh tịnh.

          “Quang nhan nguy nguy”: Chữ “quang nhan” (光顏) chỉ diện mạo của Ngài. Dung nhan có rất nhiều quang minh, nên gọi là “quang nhan”. “Nguy nguy” (巍巍) có nghĩa là cao trỗi. Trông thấy dáng vẻ đức Thế Tôn rất hoan hỷ, thân thể rất thanh tịnh, diện mạo sáng ngời.

          V́ sao đức Thế Tôn hoan hỷ dường ấy? V́ Ngài sắp nói pháp môn Tịnh Độ. Tám vạn bốn ngàn pháp môn trong Phật pháp đều do đức Thế Tôn nói. Nói pháp môn nào, Ngài cũng đều hoan hỷ, v́ sao chỉ nói là giảng pháp môn Tịnh Độ bèn hoan hỷ? V́ chẳng nói pháp môn Tịnh Độ, ư nguyện phổ độ chúng sanh của đức Phật chẳng thể thỏa thích! Những pháp môn khác đều là ứng cơ thuyết pháp, [tức là] tương ứng với căn cơ của một số người, chẳng thể phổ biến nhiếp hóa trọn khắp tam căn. Tam căn là chia [các căn cơ] thành thượng căn, trung căn, và hạ căn. Pháp môn Tịnh Độ là “tam căn phổ bị, lợi độn toàn thâu” (thích hợp khắp ba căn, gồm thâu trọn vẹn lợi căn và độn căn). Bậc thượng căn có thể tu, hàng trung căn có thể tu, kẻ hạ căn cũng có thể được phổ biến gia bị, nên gọi là “tam căn phổ bị”. “Lợi độn toàn thâu”: Hàng lợi căn có thể gồm thâu vào cửa Tịnh Độ, mà quư vị là kẻ độn căn, tức là căn cơ ngu si, cũng có thể gom vào cửa Tịnh Độ. Làm thế nào để có thể thỏa măn nguyện phổ độ chúng sanh? Chỉ có pháp môn Tịnh Độ. Nay sắp nói pháp môn phổ độ chúng sanh này, có thể khiến cho hết thảy chúng sanh đều đắc độ; do đó, đức Thế Tôn sanh tâm hoan hỷ to lớn. Hiện thời đang nói về phần Phát Khởi Tự, đức Thế Tôn tỏ lộ dáng vẻ rất hoan hỷ. Ngài A Nan thấy vậy, bèn đứng ra thưa hỏi.

 

          (Kinh) Tôn giả A Nan, thừa Phật thánh chỉ, tức tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, trường quỵ, hiệp chưởng, nhi bạch Phật ngôn.

          ()尊者阿難,承佛聖旨,即從座起,偏袒右肩,長跪合掌,而白佛言。

          (Kinh: Tôn giả A Nan vâng nhận thánh chỉ của đức Phật, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, để hở vai phải, quỳ thẳng, chắp tay, bạch đức Phật rằng).

 

          “Tôn giả A Nan” là bậc đương cơ. “Thừa Phật thánh chỉ”: “Thừa” () là lănh nhận, vâng nhận thánh chỉ của đức Phật. Đức Phật là đấng đại thánh, tâm ư của đức Phật được gọi là Chỉ (). Đáng lẽ đức Thế Tôn nói: “Này A Nan! Ông hăy bước ra thưa hỏi, ta sẽ giảng kinh”, nhưng đức Thế Tôn hoàn toàn chẳng mở miệng, ngài A Nan vâng lănh tâm ư của đức Phật. Tâm ư của đức Phật là muốn nói pháp môn Tịnh Độ, bậc đương cơ là tôn giả A Nan lănh hội tâm ư của đức Phật. Đấy gọi là “thừa Phật thánh chỉ” đứng ra thưa hỏi. V́ Ngài đứng ra thưa hỏi, đức Phật sẽ thuyết pháp, hết thảy chúng sanh đều đạt được lợi ích; do vậy, Ngài “thừa Phật thánh chỉ”, tức là vâng nhận tâm ư của đức Phật, đứng ra thỉnh pháp.

          “Tức tùng ṭa khởi” (liền từ chỗ ngồi đứng dậy): Trước khi đứng ra thỉnh pháp, ai nấy đều có chỗ ngồi. Ngài từ chỗ ngồi của ḿnh đứng lên. Đấy là nghi thức và lễ mạo để thỉnh pháp.

          “Thiên đản hữu kiên” (hở áo vai phải), người xuất gia đều đắp ca-sa. Khi ngồi, y phủ cả hai vai, gọi là “thông kiên tháp y” (通肩搭衣, đắp y che cả hai vai), [gọi tắt là] “thông kiên”, tức trùm cả hai vai. Sắp ra thỉnh pháp, bèn “thiên đản” (偏袒, để hở một bên vai), “đản” () có nghĩa là trần trụi. Để lộ vai phải ra, riêng lộ một bên vai ra [th́ gọi là “thiên đản hữu kiên”].

          “Trường quỵ hiệp chưởng”, “trường quỵ” (長跪) là hai đầu gối đều quỳ xuống, các kinh khác nói là “trước địa” (著地, áp đầu gối sát đất)[1], c̣n kinh này là cả hai đầu gối đều quỳ xuống đất. “Hiệp chưởng” (合掌) là hai bàn tay chắp vào nhau. “Tức tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, trường quỵ” (liền từ chỗ ngồi đứng dậy, hở áo vai phải, quỳ thẳng) biểu lộ thân nghiệp cung kính, “hiệp chưởng” (chắp tay) biểu lộ ư nghiệp cung kính. Ư là tâm, tâm không có h́nh tướng, biểu hiện bằng cách nào? Chắp tay để biểu hiện ư nghiệp. Chắp tay biểu thị nhất tâm chẳng tán loạn, biểu hiện ư nghiệp cung kính. “Nhi bạch Phật ngôn” (mà bạch đức Phật rằng) thể hiện khẩu nghiệp cung kính. Đấy là quy củ thỉnh pháp, thể hiện thân, khẩu, ư ba nghiệp cung kính, ba nghiệp kiền thành.

 

2.1.2.2. Ngài A Nan thưa hỏi

2.1.2.2.1. Nêu bày những điều chính ḿnh đă thấy

 

          (Kinh) Kim nhật Thế Tôn, chư căn duyệt dự, tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy, như minh kính tịnh, ảnh sướng biểu lư, oai dung hiển diệu, siêu tuyệt vô lượng. Vị tằng chiêm đổ thù diệu như kim!

          ()今日世尊,諸根悅豫,姿色清淨,光顏巍巍。如明鏡淨,影暢表裏。威容顯耀,超絕無量。未曾瞻覩殊妙如今!

          (Kinh: Ngày nay đức Thế Tôn các căn vui sướng, hoan hỷ, dáng vẻ thanh tịnh, vẻ mặt sáng rực ṿi vọi, như gương sáng sạch, trong ngoài thấu suốt, dung nhan oai đức hiển lộ rạng ngời, vượt trỗi vô lượng, con chưa từng ngắm nh́n vẻ đẹp thù thắng như hiện thời).

          “Kim nhật Thế Tôn, chư căn duyệt dự, tư sắc thanh tịnh, quang nhan nguy nguy” (ngày nay đức Thế Tôn các căn vui sướng, hoan hỷ, dáng vẻ thanh tịnh, vẻ mặt sáng rực ṿi vọi): Bốn câu này là do ngài A Nan tường thuật tướng mạo của đức Thế Tôn do chính mắt Ngài trông thấy. Sau đó, lại có thêm mấy câu là lời lẽ để h́nh dung: “Như minh kính tịnh, ảnh sướng biểu lư(như gương sáng sạch, trong ngoài thấu suốt); [ư nói] thân tướng của đức Thế Tôn hết sức thanh tịnh, hết sức quang minh, giống như tấm gương sáng ngời. Tấm gương hết sức thanh tịnh, gương có thể soi chiếu h́nh bóng. “Biểu lư” (表裏, trong ngoài) đều có thể chiếu soi rất rơ ràng. Đây là thí dụ nhằm sánh ví tướng mạo thanh tịnh quang minh của đức Thế Tôn. Tiếp đó lại tán thán thêm: “Oai dung hiển diệu, siêu tuyệt vô lượng”, [ư nói] tướng mạo của Phật không chỉ là rạng rỡ, thanh tịnh, mà c̣n có một dáng vẻ oai nghiêm. Quư vị trông thấy đức Thế Tôn, chẳng thể không cung kính. Ngài có một loại oai đức, từ nơi dung mạo hiển lộ một loại oai đức, nên gọi là “oai dung” (威容). Trong oai dung lại hiện ra quang minh, nên gọi là “hiển diệu” (顯耀, hiển lộ chói ngời).

          “Siêu tuyệt vô lượng”: Hết thảy phàm phu, hết thảy thánh nhân dung mạo đều chẳng trang nghiêm bằng đức Thế Tôn. Tiếp đó, [ngài A Nan] lại nói: “Vị tằng chiêm đổ thù diệu như kim” (con chưa từng ngắm nh́n vẻ đẹp thù thắng như trong hiện thời). Không chỉ là vượt trỗi hết thảy phàm phu, hết thảy thánh nhân, mà ngay cả đức Phật, Phật Thích Ca như con đă thấy trong quá khứ cũng chẳng có tướng mạo như trong ngày hôm nay, có sự hoan hỷ và trang nghiêm như thế! Con chưa từng trông thấy tướng mạo của đức Thế Tôn đặc biệt thù thắng, vi diệu như ngày hôm nay!

 

2.1.2.2.2. Nêu ra điều ḿnh suy niệm

 

          (Kinh) Dụy nhiên đại thánh, ngă tâm niệm ngôn, kim nhật Thế Tôn trụ kỳ đặc chi pháp, kim nhật Thế Hùng trụ chư Phật sở trụ, kim nhật Thế Nhăn trụ đạo sư chi hạnh, kim nhật Thế Anh trụ tối thắng chi đạo, kim nhật Thiên Tôn hành Như Lai chi đức, khứ lai hiện tại Phật Phật tương niệm, đắc vô kim Phật niệm chư Phật da?

          ()唯然大聖,我心念言:今日世尊住奇特之法;今日世雄住諸佛所住;今日世眼住導師之行;今日世英住最勝之道;今日天尊行如來之德;去來現在,佛佛相念,得無今佛念諸佛耶?

          (Kinh: Vâng, thưa đức Đại Thánh! Tâm con nghĩ rằng, hôm nay đức Thế Tôn trụ trong pháp lạ lùng đặc biệt, hôm nay đức Thế Hùng trụ nơi chư Phật trụ, hôm nay đức Thế Nhăn trụ nơi hạnh đạo sư, hôm nay đức Thế Anh trụ trong đạo tối thắng, hôm nay đức Thiên Tôn hành Như Lai đức. Quá khứ, vị lai, hiện tại chư Phật nghĩ tới nhau, có phải là hiện thời đức Phật nghĩ tới chư Phật hay không?)

 

          “Dụy nhiên đại thánh”: “Dụy nhiên” là từ ngữ người Ấn Động dùng trong lời ăn tiếng nói để biểu thị sự cung kính, thuận tùng, tức là như người Hoa nói: “Thị đích” (是的, đúng như thế đấy). Trong phần trước đă tán thán xong, Ngài lại thưa với đức Phật: “Đúng như vậy đấy, thưa đấng đại thánh”. Chúng ta nghiên cứu kinh Phật, nhất định phải xem chú giải của cổ nhân. Xem chú giải của cổ nhân th́ chính ḿnh phải biết chọn lựa, có những bản chú giải chiếu theo văn tự Trung Hoa để giải thích, tốn khá nhiều lời lẽ để giải thích, đâm ra chẳng dùng được! Đối với hai chữ “dụy nhiên”, có người giải thích “dụy” () là duy nhất, “nhiên” () là từ ngữ chuyển tiếp, nhưng trong ấy chẳng có ǵ để chuyển. Nếu dựa theo văn tự để giải thích, đâm ra càng giải thích càng xa. Chúng ta xem bản chú giải nào giải thích theo kiểu đó, chớ nên dựa theo. “Đại thánh”: Phật là vị thánh nhân vượt trỗi tam thừa thánh nhân, là bậc thánh trong các thánh. V́ thế gọi là “đại thánh”.

          “Ngă tâm niệm ngôn” [nghĩa là] trong tâm con suy đoán như thế này: Diện mạo đức Thế Tôn hoan hỷ, rạng rỡ dường ấy, nhất định là có chuyện chi đó? “Kim nhật Thế Tôn trụ kỳ đặc chi pháp” (hôm nay đức Thế Tôn trụ trong pháp lạ lùng, đặc biệt), “kỳ đặc” (奇特) là rất hiếm có. “Thế Tôn” (Bhagavān) là từ ngữ tôn kính để xưng tụng đức Phật. Thế gian và xuất thế gian tôn xưng Phật là Thế Tôn. Đây là điều con suy tưởng, hôm nay dung mạo của đức Thế Tôn khác với trước kia, nhất định là hôm nay đức Thế Tôn an trụ trong pháp rất hy hữu.

          “Kim nhật Thế Hùng trụ chư Phật sở trụ” (hôm nay đức Thế Hùng trụ trong chỗ trụ của chư Phật), “hùng” () có nghĩa là oai mănh. “Thế Hùng”: Đức Thế Tôn thuyết pháp như sư tử rống, có đức oai mănh. “Chư Phật sở trụ” (chỗ trụ của chư Phật) chính là Đại Thừa Niết Bàn. Nay đức Thế Tôn nhất định trụ trong cảnh giới Đại Thừa Niết Bàn.

          “Kim nhật Thế Nhăn trụ đạo sư chi hạnh” (hôm nay đức Thế Nhăn trụ trong hạnh đạo sư): “Thế Nhăn” [nghĩa là] tôn xưng đức Phật là con mắt của thế gian. Chúng sanh chưa mở mang trí huệ, giống như chẳng có mắt, Phật là con mắt của thế gian, là bậc đạo sư của thế gian, dẫn dắt chúng sanh đi theo con đường chánh. Ngày nay đức Thế Tôn trụ nơi hạnh đạo sư.

          “Kim nhật Thế Anh trụ tối thắng chi đạo” (hôm nay đức Thế Anh trụ nơi đạo tối thắng), “Anh” () là bậc tối cao, tối thắng. “Thế Anh” là tán thán đức Phật là bậc tối cao, tối thắng trong thế gian. Nay đức Phật trụ trong đạo tối cao, tối thắng.

          “Kim nhật Thiên Tôn hành Như Lai chi đức” (hôm nay bậc Thiên Tôn hành đức hạnh của Như Lai), “Thiên Tôn”: Đức Thế Tôn là bậc trời trong các vị trời, được xưng tụng là đấng Thiên Trung Tôn. Kinh Vô Lượng Thọ có nêu ra những đức hiệu ấy. Những chỗ khác chẳng tôn xưng [đức Phật] bằng những đức hiệu ấy, v́ sợ sẽ hiểu lầm là Thiên Tôn của ngoại đạo. “Hành Như Lai chi đức”: Quá khứ Như Lai có đức tánh như thế đó, đức Thiên Tôn trong hiện tại cũng hành theo đức hạnh của quá khứ Như Lai.

          Trên đây đều là những đạo lư suy đoán trong tâm tôn giả A Nan rồi miệng bèn thưa tŕnh với đức Thế Tôn. Kế đó c̣n có những điều chính Ngài tự suy tưởng. “Khứ lai hiện tại Phật Phật tương niệm, đắc vô kim Phật niệm chư Phật da?” (quá khứ, vị lai chư Phật nghĩ đến nhau, có phải là hiện đức Phật nghĩ đến chư Phật hay chăng?) Điều này chẳng suy tưởng được, v́ tôn giả A Nan nghe Thích Ca Thế Tôn trong quá khứ đă từng nói “chư Phật hoài niệm lẫn nhau”. Quá khứ Phật, hiện tại Phật, vị lai Phật, ba đời chư Phật đều hoài niệm lẫn nhau, có phải là đức Thế Tôn là vị Phật hiện tại đang hoài niệm chư Phật đó chăng? Điều này cũng là do chính Ngài (A Nan) suy đoán!

 

2.1.2.2.3. Tổng kết lời thưa hỏi

 

          (Kinh) Hà cố oai thần quang quang năi nhĩ?

          ()何故威神光光乃爾?

          (Kinh: Cớ sao oai thần chói ngời như thế?)

 

          “Hà cố oai thần quang quang năi nhĩ?” (cớ sao oai thần sáng ngời như thế?), v́ sao ngày nay tướng mạo và oai thần của đức Thế Tôn sáng ngời như thế? Quang quang năi nhĩ” (chói ngời như thế), đă sáng ngời càng thêm rạng rỡ, chỗ nào cũng sáng ngời. V́ sao sáng ngời như thế? Đấy là ngài A Nan suy lường rồi nêu ra câu hỏi như thế.

          Ở đây, có một nghi vấn ǵ vậy? Chính là bậc A La Hán có đủ sáu món thần thông; hơn nữa như trong phần Chúng Thành Tựu trên đây, [kinh văn đă nói bậc A La Hán có] sức thần thông to lớn. Khi đức Phật tại thế, tôn giả A Nan c̣n chưa chứng đắc Tứ Quả A La Hán, chỉ chứng đến Tam Quả. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, [các đại đệ tử] kết tập kinh tạng, Ngài mới chứng Tứ Quả. Tuy Ngài chưa chứng đắc Tứ Quả, chỉ chứng đắc Tam Quả, Ngài cũng có thần thông, chẳng thể nói tôn giả A Nan không có thần thông. Trong sáu món thần thông, có một món là Tha Tâm Thông, Ngài biết trong tâm người khác đang suy nghĩ ǵ. Quư vị chẳng cần nói năng, trong tâm quư vị vừa động niệm, Ngài đă biết ngay. Tôn giả A Nan tuy chẳng chứng đắc Tứ Quả, Ngài là thánh nhân Tam Quả, vẫn có Tha Tâm Thông. Trong tâm Phật có ǵ? Sẽ nói pháp ǵ? Ngài suy đoán như vậy, đoán đi đoán lại, Ngài chẳng biết ư? Có nghi vấn này! Hăy nên biết, đối với Tha Tâm Thông, do trong tâm quư vị là tâm phàm phu, có ư niệm dấy lên th́ Ngài mới có thể biết. Tâm Phật do đă chứng đắc vô phân biệt Căn Bản Trí, rồi sau đó khởi Hậu Khởi Trí có phân biệt. Đức Phật có ư niệm phân biệt, nhưng sự phân biệt ấy lại là vô phân biệt, v́ nó là diệu dụng do vô phân biệt Căn Bản Trí dấy lên. Phật có niệm mà giống như vô niệm. Đừng nói là Tam Quả thánh nhân chẳng đoán được, mà Tứ Quả thánh nhân, [ngay cả] Đẳng Giác Bồ Tát cũng chẳng biết. V́ thế, chẳng thể nào không hỏi Phật, cho nên mới thỉnh pháp. Có đoán cũng chẳng đoán được, [dẫu] có thần thông cũng vô dụng!

 

2.1.2.3. Như Lai gạn hỏi

 

          (Kinh) Ư thị Thế Tôn cáo A Nan viết: “Vân hà A Nan! Chư thiên giáo nhữ lai vấn Phật da? Tự dĩ huệ kiến vấn oai nhan hồ?”

          ()於是世尊告阿難曰:云何,阿難!諸天教汝來問佛耶?自以慧見問威顏乎?

          (Kinh: Ngay khi đó, đức Thế Tôn bảo ngài A Nan rằng: “Như thế nào hả A Nan? Chư thiên dạy ông đến hỏi Phật đó chăng? Hay là do kiến giải trí huệ của chính ông mà hỏi về dung nhan oai đức vậy?”)

         

          Ngài A Nan suy đoán nửa ngày, chẳng dám quyết định, cho nên đành hỏi đức Phật. “Ư thị Thế Tôn cáo A Nan viết” (ngay khi đó, đức Thế Tôn bảo ngài A Nan). Văn tự trong kinh Phật có nói “ngưỡng bạch, hạ cáo” (仰白下告), [nghĩa là] đệ tử thưa tŕnh đức Thế Tôn th́ gọi là Bạch (), đức Thế Tôn nói chuyện với đệ tử, th́ gọi là “hạ cáo” (下告). Ngài bảo A Nan: “Vân hà, A Nan! [nghĩa là] ông nghĩ như thế nào hả A Nan? “Chư thiên giáo nhữ lai vấn Phật da? Tự dĩ huệ kiến vấn oai nhan hồ?” [nghĩa là]: A Nan! Hôm nay ông hỏi ta là do chư thiên bảo ông đến thưa hỏi đó chăng? Hay là chính ông có kiến giải trí huệ mà hỏi về “oai nhan”? “Oai nhan” là Phật tự xưng, “vấn Phật da” là hỏi đức Thế Tôn.

 

2.1.2.4. A Nan đáp sự thật, con tự thưa hỏi

 

          (Kinh) A Nan bạch Phật: “Vô hữu chư thiên lai giáo ngă giả, tự dĩ sở kiến vấn tư nghĩa nhĩ!”

          ()阿難白佛:無有諸天來教我者,自以所見問斯義耳。

          (Kinh: A Nan bạch Phật: “Chẳng có chư thiên nào đến dạy con. Do kiến giải của chính con mà hỏi nghĩa ấy”).

 

          Chẳng có chư thiên. “Chư thiên” là người trên cơi trời nhờ cậy con thưa hỏi. Do chính con thấy đức Thế Tôn hôm nay dung mạo đặc biệt thù thắng, nhiệm mầu, con mới hỏi nghĩa lư này. Ở đây có một nghi vấn: Tôn giả A Nan chẳng biết tâm ư của đức Phật v́ trí huệ của chính Ngài chưa đủ. Trí huệ của Phật cao nhất, rốt cuộc là chính A Nan muốn hỏi? Hay là chư thiên nhờ cậy Ngài hỏi? Đương nhiên là đức Phật đă biết, v́ sao c̣n phải hỏi? Đấy là “đă biết rơ mà cố ư hỏi”. Tôn giả A Nan thưa hỏi, xác thực là do không biết mà thưa hỏi. Đức Thế Tôn biết rơ rành rành ngài A Nan tự hỏi, vẫn hỏi Ngài: “Là do chư thiên bảo ông hỏi? Hay là do chính ông tự hỏi?” Đức Phật hoàn toàn chẳng phải là không biết, đấy là đă biết rơ mà cố ư hỏi! V́ sao đức Thế Tôn đă biết rơ mà cố ư hỏi? Hăy nên biết, đức Thế Tôn thuyết pháp là thuyết cho đại chúng nghe. Đại chúng trong pháp hội này phàm thánh xen tạp, chẳng hoàn toàn là thánh nhân, mà cũng có phàm phu, Ngài chú trọng nói cho phàm phu nghe. Nếu chư thiên nhờ cậy tôn giả A Nan hỏi, đức Phật sẽ thuyết pháp cho chư thiên. Đại chúng đang nghe pháp, nhất là thiên chúng, đều biết đức Phật thuyết pháp là thuyết pháp cho đại chúng. Đức Phật hỏi ngài A Nan là đă biết rơ mà cố ư hỏi, khiến cho phàm phu đang thính pháp liễu giải người nào đứng ra thưa hỏi.

 

2.1.2.5. Như Lai tán thán, truyền hăy lắng nghe, chấp nhận nói pháp

2.1.2.5.1. Trước hết là tán thán lời hỏi

 

          (Kinh) Phật ngôn: - Thiện tai! A Nan! Sở vấn thậm khoái, phát thâm trí huệ, chân diệu biện tài, mẫn niệm chúng sanh, vấn tư huệ nghĩa. Như Lai dĩ vô tận đại bi, căng ai tam giới, sở dĩ xuất hưng ư thế, quang xiển đạo giáo, dục chửng tế quần manh, huệ dĩ chân thật chi lợi. Vô lượng ức kiếp, nan trị nan kiến, do Linh Thụy hoa, thời thời năi xuất, kim sở vấn giả, đa sở nhiêu ích, khai hóa nhất thiết chư thiên nhân dân.

          ()佛言:善哉!阿難!所問甚快。發深智慧,真妙辯才,愍念眾生,問斯慧義。如來以無盡大悲,矜哀三界,所以出興於世,光闡道教。欲拯濟群萌,惠以真實之利。無量億劫,難值難見。猶靈瑞華,時時乃出。今所問者,多所饒 益,開化一切諸天人民。

          (Kinh: Đức Phật nói: - Lành thay A Nan! Lời hỏi rất hay, phát ra trí huệ sâu xa, biện tài chân thật, mầu nhiệm, nghĩ thương chúng sanh, mà hỏi về ư nghĩa trí huệ ấy. Như Lai do ḷng đại bi vô tận, thương xót tam giới, cho nên xuất hiện trong cơi đời, xiển dương rạng rỡ đạo giáo, muốn cứu vớt các loài chúng sanh, ban cho lợi ích chân thật, vô lượng ức kiếp khó thể gặp gỡ, ví như hoa Linh Thụy đúng thời mới xuất hiện. Nay lời hỏi này đă tạo lợi ích rất nhiều, khai hóa hết thảy chư thiên và nhân dân).

 

          Khi ấy, đức Phật bèn tán thán Ngài. “Phật ngôn: Thiện tai! A Nan”. “Thiện tai” (善哉) là rất tốt, ối chà! Ông tốt lắm! A Nan, ông tốt quá! “Sở vấn thậm khoái”, “khoái” () là vui sướng, rất hoan hỷ, là niềm vui sướng xứng tâm vừa ư ta. Lời ông hỏi khiến ta rất hoan hỷ, phù hợp khít khao tâm ư của ta. Đúng là ta đang mong có kẻ thưa hỏi, ông thưa hỏi vừa khéo, ta rất hoan hỷ, rất sung sướng, phù hợp với niềm vui sướng trong tâm ư đức Phật, nên gọi là “thậm khoái”.

          “Phát thâm trí huệ, chân diệu biện tài, mẫn niệm chúng sanh, vấn tư huệ nghĩa” (phát ra trí huệ sâu xa, biện tài chân thật, mầu nhiệm, nghĩ thương chúng sanh mà hỏi về nghĩa lư trí huệ ấy): Vẫn là A Nan, ông tốt quá! Tốt như thế nào? Ông có thể xứng hợp tâm ư của Phật, chính ông lại có thể thỉnh vấn diệu pháp này, tức là chính ông đă khải phát trí huệ rất sâu, đă đạt được biện tài chân thật, nhiệm mầu. Đồng thời, ông lại có tâm đại bi, nghĩ nhớ thương xót hết thảy chúng sanh, thay mặt chúng sanh mà hỏi nghĩa lư trí huệ này. Đấy là tán thán ngài: “A Nan! Ông trọn chẳng phải là không biết pháp môn Tịnh Độ này, nhưng v́ nghĩ thương hết thảy chúng sanh mà thay họ thưa hỏi, thỉnh Phật thuyết pháp, khéo tạo lợi ích cho hết thảy chúng sanh”. Do vậy, đức Phật tán thán ngài A Nan.

          “Như Lai dĩ vô tận đại bi, căng ai tam giới” (Như Lai do ḷng đại bi vô tận, thương xót tam giới): Người mới phát tâm nghe giảng hăy nhớ, “tam giới” là phạm vi cư trụ rộng lớn của phàm phu, gồm Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới, cho nên gọi là “tam giới”. Vượt thoát tam giới th́ gọi là “thánh nhân”. Thuộc trong tam giới th́ đều gọi là phàm phu, lưu chuyển sanh tử trong tam giới. Do vậy, đức Phật phát đại bi tâm. “Căng ai” (矜哀) là thương xót. [“Căng ai tam giới”] là thương xót chúng sanh trong tam giới. “Sở dĩ xuất hưng ư thế” (cho nên xuất hiện trong cơi đời), v́ sao đức Phật phải xuất hiện trong cơi đời? Để cứu độ chúng sanh, cho nên Phật mới xuất hiện trong cơi đời. Cứu độ chúng sanh, đó là “quang xiển đạo giáo” (xiển dương rạng ngời đạo giáo). Trong phần trước đă có danh từ “đạo giáo”. “Đạo” () là Bồ Đề đạo, “giáo” () là ngôn giáo hay pháp do đức Như Lai đă nói. Xiển dương rạng rỡ đại đạo Bồ Đề chính là [xiển dương] “ngôn giáo” (言教).

          “Dục chửng tế quần manh” (muốn cứu vớt quần manh), “quần manh” (群萌) là hết thảy chúng sanh. “Chửng tế” (拯濟) là cứu tế, cứu độ. “Huệ dĩ chân thật chi lợi” (ban cho lợi ích chân thật): Đức Phật ban lợi ích cho chúng sanh th́ gọi là Huệ (). Đức Phật ban cho chúng sanh lợi ích chân thật, chẳng phải là lợi ích thế gian. Lợi ích thế gian hư huyễn, chẳng thật; đức Phật tạo lợi ích chân thật, có thể khiến cho quư vị liễu sanh thoát tử, có thể khiến cho quư vị chuyển phàm thành thánh, đấy là lợi ích chân chánh. Lẽ nào chẳng chân thật ư?

          “Vô lượng ức kiếp, nan trị, nan kiến” (vô lượng ức kiếp, khó gặp, khó thấy): Trong phần trước, đức Phật đă nói tâm đại bi là cứu độ chúng sanh. Các vị nghe tôi thuyết pháp th́ phải chú ư nghe! Hiện thời, [đức Phật] lại bảo chúng sanh, Phật là bậc khó gặp gỡ, quư vị phải khéo nghe, nghe rồi phải y giáo phụng hành. Đừng nghe qua quít, nghe xong, quư vị chẳng chiếu theo lời tôi nói để tu hành! Quư vị phải biết gặp Phật chẳng dễ dàng, bởi trong thời gian rất dài, dài đến vô lượng ức kiếp, Phật là “nan trị, nan kiến” (khó gặp, khó thấy). “Trị” () là gặp gỡ. “Nan kiến”: Chẳng gặp th́ làm sao thấy cho được? V́ thế nói là “nan trị, nan kiến”.

          Lại nói một thí dụ là “do Linh Thụy hoa, thời thời năi xuất” (như hoa Linh Thụy đúng thời mới xuất hiện). “Linh Thụy hoa” (靈瑞華) chính là hoa Ưu Đàm (優曇, Uḍumbara), là một loại hoa cát tường nhất, ba ngàn năm mới nở hoa một lần. [Vừa mới nói] ba ngàn năm mới nở hoa một lần, cớ sao cho đến hiện thời nó chẳng nở hoa? Nếu là lúc loại hoa này nở, Kim Luân Vương sẽ xuất thế. Phật xuất thế giống như hoa Ưu Đàm, tức hoa Linh Thụy trổ bông. “Thời thời” (時時): Chữ Thời thứ nhất là lúc Kim Luân Vương xuất thế, chữ Thời sau đó là lúc nó khai hoa. [Hoặc c̣n có thể hiểu], chữ Thời trước đó là lúc đức Phật xuất hiện, chữ Thời sau đó là khi thiện căn của chúng sanh chín muồi, đức Phật mới xuất hiện. Do vậy, chẳng dễ dàng thấy Phật, khó khăn như chúng ta chẳng thấy hoa Ưu Đàm!

          “Kim sở vấn giả, đa sở nhiêu ích, khai hóa nhất thiết chư thiên nhân dân” (nay lời hỏi này đă tạo lợi ích rất nhiều, khai hóa hết thảy chư thiên và nhân dân): Đây vẫn là lời tán thán ngài A Nan đă hỏi rất hay. Lời hỏi của ông trong hiện thời “đa sở nhiêu ích” (tạo lợi ích rất nhiều), “nhiêu” () vẫn là nhiều. [“Đa sở nhiêu ích”] là làm nhiều chuyện lợi ích chúng sanh. V́ ông thỉnh ta, ta sẽ nói pháp môn Tịnh Độ, có thể khai hóa hết thảy chư thiên nhân dân. Lục đạo chúng sanh th́ chỉ có chúng sanh trong thiên đạo và nhân đạo là có thể nghe pháp. Chúng sanh trong ba ác đạo khổ sở, chẳng được nhàn hạ. Trong phần trước đă nói “tế chư kịch nạn, chư nhàn bất nhàn” (cứu giúp [chúng sanh] trong các nơi khổ sở dữ dội nhất và các nơi thanh nhàn hay chẳng thanh nhàn). Họ chẳng nhàn hạ, suốt ngày từ sáng đến tối chịu khổ, họ chẳng thể thỉnh pháp. A-tu-la cũng là suốt ngày từ sáng đến tối nổi nóng, suốt ngày từ sáng đến tối bận tâm v́ đủ chuyện, họ cũng chẳng thể thỉnh pháp. V́ thế, có lúc xếp A-tu-la vào ba thiện đạo, có lúc xếp họ vào bốn ác đạo. Chỉ có chúng sanh trong thiên đạo và nhân đạo là có phước báo này, [tức phước báo] thỉnh Phật thuyết pháp. Do đó, [đức Phật] khai hóa hết thảy chư thiên, nhân dân.

 

2.1.2.5.2. Truyền dạy hăy nghe giảng, chấp thuận thuyết pháp

2.1.2.5.2.1. Nêu rộng về Phật đức, nói rơ chính ḿnh là người có thể thuyết pháp

2.1.2.5.2.1.1. Dùng cái quả để nói rơ sự thù thắng

 

          (Kinh) A Nan đương tri, Như Lai Chánh Giác, kỳ trí nan lượng, đa sở đạo ngự, huệ kiến vô ngại, vô năng át tuyệt. Dĩ nhất xan chi lực, năng trụ thọ mạng ức bách thiên kiếp, vô số, vô lượng, phục quá ư thử, chư căn duyệt dự, bất dĩ hủy tổn, tư sắc bất biến, quang nhan vô dị.

          ()阿難當知,如來正覺,其智難量,多所導御。慧見無礙,無能遏絕。以一餐之力,能住壽命億百千劫,無數無量,復過於此,諸根悅豫,不以毀損,姿色不變,光顏無異。

          (Kinh: A Nan! Hăy nên biết Chánh Giác của Như Lai, trí ấy khó lường, nhiều cách hướng dẫn, điều ngự, tri kiến trí huệ vô ngại, chẳng ai có thể ngăn trở, đoạn tuyệt [trí huệ] ấy. Do sức của một bữa ăn mà có thể duy tŕ thọ mạng ức trăm ngàn kiếp, [cho đến] vô số, vô lượng, c̣n nhiều hơn số đó, [thế] các căn vui sướng, hoan hỷ, chẳng bị hủy hoại, hao tổn, thân thể chẳng biến đổi, diện mạo rạng ngời chẳng khác).

 

          “A Nan đương tri” (A Nan hăy nên biết): Đức Phật lại gọi ngài A Nan, ông hăy nên biết. Ngài A Nan là bậc đương cơ, bảo ngài A Nan hăy nên biết, cũng là bảo đại chúng trong pháp hội khi đó cũng nên biết, cũng là bảo chúng ta là những kẻ đang nghe kinh Vô Lượng Thọ trong hiện tại hăy nên biết. Trong phần trên, đức Thế Tôn biểu lộ tâm đại bi của chính ngài, ở đây, lại biểu lộ đại trí huệ của chính Ngài. “Như Lai Chánh Giác, kỳ trí nan lượng” (Chánh Giác của Như Lai, trí ấy khó lường), ta là đức Thế Tôn, đă đắc Vô Thượng Chánh Tri Chánh Giác, trí huệ của ta khó thể suy lường được!

          “Đa sở đạo ngự” (nhiều cách hướng dẫn, điều ngự): Đức Thế Tôn là bậc đại đạo sư, mà cũng là điều ngự sư, cho nên Ngài dẫn dắt chúng sanh, điều ngự chúng sanh. “Huệ kiến vô ngại” (tri kiến trí huệ vô ngại): Tri kiến của Như Lai là tri kiến đại huệ, chẳng có chướng ngại. “Vô năng át tuyệt”: Chẳng người nào có thể ngăn chặn trí huệ của Như Lai. “Tuyệt” () là đoạn dứt. [“Vô năng át tuyệt”] là chẳng có ngoại đạo nào có thể ở trước đức Phật mà ngăn trở, đoạn dứt trí huệ của Phật.

          Mấy câu tiếp đó biểu lộ sức thần thông chẳng thể nghĩ bàn của Phật. “Dĩ nhất xan chi lực, năng trụ thọ mạng ức bách thiên kiếp”, [nghĩa là] do sức của một bữa ăn mà có thể trụ thế lâu đến ức trăm ngàn kiếp. Không chỉ lâu đến ức trăm ngàn kiếp, c̣n có “vô lượng, vô số, phục quá ư thử” (vô lượng, vô số, c̣n hơn số ấy nữa), tức là vượt khỏi số lượng ức trăm ngàn kiếp. “Chư căn duyệt dự, bất dĩ hủy tổn”, ư nói: Do sức của một bữa ăn, vĩnh viễn chẳng ăn uống nữa, mà thân thể không bị hư hoại, các căn luôn luôn rất hoan hỷ, rất vui sướng, chẳng bị tổn hoại. “Tư sắc bất biến”: Tướng mạo thân thể chẳng biến đổi. “Quang nhan vô dị”: Vẻ mặt rạng rỡ vĩnh viễn là như vậy!

 

2.1.2.5.2.1.2. Biện định cái nhân để nêu rơ cái quả

 

          (Kinh) Sở dĩ giả hà? Như Lai Định Huệ, cứu sướng vô cực, ư nhất thiết pháp, nhi đắc tự tại.

          ()所以者何?如來定慧,究暢無極,於一切法,而得自在。

          (Kinh: V́ lẽ ǵ vậy? Định và Huệ của Như Lai đă thông suốt chẳng có cùng cực, được tự tại trong hết thảy các pháp).

 

          “Sở dĩ giả hà?” (v́ lẽ ǵ vậy?): V́ sao ăn một bữa mà có thể sống trăm ngàn vạn ức kiếp, thân thể chẳng hư hoại? “Như Lai Định Huệ”, Phật đă nhập đại định, đại huệ. “Cứu sướng vô cực”: Thông suốt rốt ráo, chẳng có cùng tận, nên nói là “vô cực”. “Ư nhất thiết pháp, nhi đắc tự tại” (được tự tại trong hết thảy các pháp): Phật trở thành đấng pháp vương, nên giải thích chữ Vương như thế nào? Có ư nghĩa tự tại”. Tự tại trong hết thảy các pháp th́ mới gọi là Pháp Vương.

 

2.1.2.5.2.2. Căn dặn [A Nan] hăy lắng nghe điều mà chính ḿnh đang nghĩ tới

 

          (Kinh) A Nan đế thính! Kim vị nhữ thuyết!

          ()阿難諦聽!今為汝說!

          (Kinh: A Nan hăy lắng nghe, nay ta sẽ v́ ông mà nói).

 

          “A Nan đế thính! Kim vị nhữ thuyết” (này A Nan! Hăy lắng nghe, nay ta sẽ v́ ông mà nói): Này A Nan! Ông phải nghe cho kỹ. Chữ Đế () giải thích như thế nào? “Đế” có nghĩa là “tường thẩm” (suy xét tường tận), “tường” () là cặn kẽ, “thẩm” () là suy xét. Ông phải nghe tường tận, chân thật. “Chân thật” là thực tại. Ông phải nghe cặn kẽ, phải thật sự nghe, ta có pháp để nói cho ông nghe.

          Ở đây c̣n có một nghi vấn, v́ sao đức Phật có đại thần thông, vẫn cần phải ăn một bữa, do sức của một bữa ăn mới có thể sống đến trăm ngàn ức kiếp? Phải biết điều này: Thuở đức Phật thuyết pháp, Ngài ứng theo căn cơ. V́ ngoại đạo ở Ấn Độ có thế lực rất mạnh, quá nửa ngoại đạo tại Ấn Độ đều học theo khổ hạnh. Có một loại ngoại đạo tỏ ra có công phu to lớn, họ ăn một bữa cơm có thể bảy ngày chẳng đói. Có ngoại đạo ăn một bữa cơm, có thể bốn mươi chín ngày không đói. C̣n có ngoại đạo ăn một bữa cơm có thể một trăm hai mươi ngày không đói, khoe khoang với đức Phật về thần thông ấy: Ăn một bữa cơm có thể một trăm hai mươi ngày không đói. Đức Phật bảo kẻ ấy: “Ta ăn một bữa cơm có thể sống trăm ngàn vạn ức kiếp”. Đấy là pháp phương tiện để hàng phục ngoại đạo. Trên thực tế, đức Phật là “thiền duyệt vi thực, Pháp Tánh sung măn” (dùng niềm vui sướng do Thiền Định làm thức ăn, Pháp Tánh sung măn), Ngài chẳng cần một bữa ăn ấy, cũng sẽ chẳng bị đói.

 

2.1.2.6. A Nan vâng lời dạy, lắng nghe

 

          (Kinh) Đối viết: Dụy nhiên! Nguyện nhạo dục văn.

          ()對曰:唯然!願樂欲聞。

          (Kinh: [Ngài A Nan] thưa: Vâng ạ! Con ưa thích muốn được nghe).

 

          Đức Thế Tôn đồng ư thuyết pháp cho A Nan, ngài A Nan bèn thưa với đức Phật: “Dụy nhiên! Nguyện nhạo dục văn”. “Duy nhiên” là vâng ạ, được ạ! Bạch Thế Tôn! Con “nguyện nhạo dục văn(nguyện ưa thích muốn nghe). Chữ Nhạo () phải đọc là Yào (ㄧㄠˋ). “Nhạo”“hảo nhạo” (好樂, ưa thích). “Văn” () là nghe pháp. “Dục” () là mong cầu. Con thật sự mong cầu thỉnh pháp. “Nhạo”: Con ưa thích nghe. “Dục văn” là mong muốn, con hy vọng được nghe, nói quả quyết hơn. Đức Thế Tôn đă chấp thuận thuyết pháp cho con, con rất hoan hỷ, con đang mong muốn nghe.

          Giảng đến đây là đă nói xong phần Phát Khởi Tự cùng với Chứng Tín Tự trong phần trước, tức là đối với ba phần lớn trong cả một bản kinh, đă giảng xong phần thứ nhất là Tự Phần. Tiếp theo đây, sẽ bắt đầu nói vào Chánh Tông Phần. Chánh Tông Phần chia thành ba khoa lớn, “khoa” () là đoạn, tức là chia thành ba đoạn lớn. Khoa thứ nhất nói A Di Đà Phật tu nhân hạnh như thế nào? Khoa thứ hai nói A Di Đà Phật thành tựu quốc độ của Ngài như thế nào? Khoa thứ ba nói A Di Đà Phật nhiếp hóa (nhiếp thủ giáo hóa) hết thảy chúng sanh như thế nào? Hăy ghi nhớ các điểm cương yếu trong ba khoa lớn này. Nay trước hết là nói về khoa thứ nhất, tức là nói A Di Đà Phật phát tâm ban đầu, tức là Nhân, chữ Nhân () trong nhân quả. Ngài đă phát cái tâm ǵ? Tức là A Di Đà Phật phát tâm như thế nào? Phát nguyện như thế nào? Tu hành như thế nào? Đều là nói về công phu của Ngài trong khi c̣n tu nhân.

 

2.2. Chánh Tông Phần

2.2.1. Nói về sở hạnh của A Di Đà (nêu rơ đức Như Lai đă tu vô lượng hạnh nguyện nơi Bổn và Tích)

2.2.1.1. Liệt kê nhiều vị Phật để nêu rơ hạnh duyên

 

          (Kinh) Phật cáo A Nan: - Năi văng quá khứ cửu viễn vô lượng bất khả tư nghị vô ương số kiếp, Đĩnh Quang Như Lai, hưng xuất ư thế, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh, giai linh đắc đạo, năi thủ diệt độ. Thứ hữu Như Lai, danh viết Quang Viễn, thứ danh Nguyệt Quang, thứ danh Chiên Đàn Hương, thứ danh Thiện Sơn Vương, thứ danh Tu Di Thiên Quan, thứ danh Tu Di Đẳng Diệu, thứ danh Nguyệt Sắc, thứ danh Chánh Niệm, thứ danh Ly Cấu, thứ danh Vô Trước, thứ danh Long Thiên, thứ danh Dạ Quang, thứ danh An Minh Đảnh, thứ danh Bất Động Địa, thứ danh Lưu Ly Diệu Hoa, thứ danh Lưu Ly Kim Sắc, thứ danh Kim Tạng, thứ danh Viêm Quang, thứ danh Viêm Căn, thứ danh Địa Chủng, thứ danh Nguyệt Tượng, thứ danh Nhật Âm, thứ danh Giải Thoát Hoa, thứ danh Trang Nghiêm Quang Minh, thứ danh Hải Giác Thần Thông, thứ danh Thủy Quang, thứ danh Đại Hương, thứ danh Ly Trần Cấu, thứ danh Xả Yếm Ư, thứ danh Bảo Viêm, thứ danh Diệu Đảnh, thứ danh Dũng Lập, thứ danh Công Đức Tŕ Huệ, thứ danh Tế Nhật Nguyệt Quang, thứ danh Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang, thứ danh Vô Thượng Lưu Ly Quang, thứ danh Tối Thượng Thủ, thứ danh Bồ Đề Hoa, thứ danh Nguyệt Minh, thứ danh Nhật Quang, thứ danh Hoa Sắc Vương, thứ danh Thủy Nguyệt Quang, thứ danh Trừ Si Minh, thứ danh Độ Cái Hạnh, thứ danh Tịnh Tín, thứ danh Thiện Túc, thứ danh Oai Thần, thứ danh Pháp Huệ, thứ danh Loan Âm, thứ danh Sư Tử Âm, thứ danh Long Âm, thứ danh Xử Thế, như thử chư Phật, giai tất dĩ quá. Nhĩ thời, thứ hữu Phật, danh Thế Tự Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

          ()佛告阿難:乃往過去久遠無量不可思議無央數劫,錠光如來,興出於世,教化度脫無量眾生,皆令得道,乃取滅度。次有如來,名曰光遠,次名月光,次名栴檀香,次名善山王,次名須彌天冠,次名須彌等曜,次名月色,次名正念,次名離垢,次名無著,次名龍天,次名夜光,次名安明頂,次名不動地,次名瑠璃妙華,次名瑠璃金色,次名金藏,次名炎光,次名炎根,次名地種,次名月像,次名日音,次名解脫華,次名莊嚴光明,次名海覺神通,次名水光,次名大香,次名離塵垢,次名捨厭意,次名寶炎,次名妙頂,次名勇立,次名功德持慧,次名蔽日月光,次名日月瑠璃光,次名無上瑠璃光,次名最上首,次名菩提華,次名月明,次名日光,次名華色王,次名水月光,次名除癡冥,次名度蓋行,次名淨信,次名善宿,次名威神,次名法慧,次名鸞音,次名師子音,次名龍音,次名處世,如此諸佛,皆悉已過。爾時,次有佛,名世自在王,如來、應供、等正覺、明行足、善逝、世間解、無上士、調御丈夫、天人師、佛、世尊。

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài A Nan:

          - Trong quá khứ lâu xa vô lượng chẳng thể nghĩ bàn vô ương số kiếp, Đĩnh Quang Như Lai xuất hiện trong cơi đời, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh đều khiến cho họ đắc đạo rồi Ngài diệt độ. Kế đó có Như Lai, tên là Quang Viễn, vị kế tiếp tên là Nguyệt Quang, vị kế tiếp tên là Chiên Đàn Hương, vị kế tiếp tên là Thiện Sơn Vương, vị kế tiếp tên là Tu Di Thiên Quan, vị kế tiếp tên là Tu Di Đẳng Diệu, vị kế tiếp tên là Nguyệt Sắc, vị kế tiếp tên là Chánh Niệm, vị kế tiếp tên là Ly Cấu, vị kế tiếp tên là Vô Trước, vị kế tiếp tên là Long Thiên, vị kế tiếp tên là Dạ Quang, vị kế tiếp tên là An Minh Đảnh, vị kế tiếp tên là Bất Động Địa, vị kế tiếp tên là Lưu Ly Diệu Hoa, vị kế tiếp tên là Lưu Ly Kim Sắc, vị kế tiếp tên là Kim Tạng, vị kế tiếp tên là Viêm Quang, vị kế tiếp tên là Viêm Căn, vị kế tiếp tên là Địa Chủng, vị kế tiếp tên là Nguyệt Tượng, vị kế tiếp tên là Nhật Âm, vị kế tiếp tên là Giải Thoát Hoa, vị kế tiếp tên là Trang Nghiêm Quang Minh, vị kế tiếp tên là Hải Giác Thần Thông, vị kế tiếp tên là Thủy Quang, vị kế tiếp tên là Đại Hương, vị kế tiếp tên là Ly Trần Cấu, vị kế tiếp tên là Xả Yếm Ư, vị kế tiếp tên là Bảo Viêm, vị kế tiếp tên là Diệu Đảnh, vị kế tiếp tên là Dũng Lập, vị kế tiếp tên là Công Đức Tŕ Huệ, vị kế tiếp tên là Tế Nhật Nguyệt Quang, vị kế tiếp tên là Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang, vị kế tiếp tên là Vô Thượng Lưu Ly Quang, vị kế tiếp tên là Tối Thượng Thủ, vị kế tiếp tên là Bồ Đề Hoa, vị kế tiếp tên là Nguyệt Minh, vị kế tiếp tên là Nhật Quang, vị kế tiếp tên là Hoa Sắc Vương, vị kế tiếp tên là Thủy Nguyệt Quang, vị kế tiếp tên là Trừ Si Minh, vị kế tiếp tên là Độ Cái Hạnh, vị kế tiếp tên là Tịnh Tín, vị kế tiếp tên là Thiện Túc, vị kế tiếp tên là Oai Thần, vị kế tiếp tên là Pháp Huệ, vị kế tiếp tên là Loan Âm, vị kế tiếp tên là Sư Tử Âm, vị kế tiếp tên là Long Âm, vị kế tiếp tên là Xử Thế. Chư Phật như thế đều đă diệt độ. Lúc bấy giờ, kế đó có một vị Phật tên là Thế Tự Tại Vương, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn).

 

          “Phật cáo A Nan” (đức Phật bảo ngài A Nan): Đây là bắt đầu nói vào Chánh Tông Phần của kinh Vô Lượng Thọ. “Năi văng quá khứ cửu viễn vô lượng bất khả tư nghị vô ương số kiếp” (trong quá khứ lâu xa vô lượng chẳng thể nghĩ bàn vô ương số kiếp); đây là tính ngược về thời gian rất lâu xa trong quá khứ. “Kiếp”, tiếng Phạn là Kiếp Ba (Kalpa), dịch sang tiếng Hán sẽ là “trường thời gian”, là một danh xưng thời gian. Danh xưng của một đoạn thời gian dài th́ gọi là Kiếp Ba, phiên dịch đơn giản là Kiếp.

          “Vô ương số” dịch từ chữ A-tăng-kỳ (Asaṃkhyeya) trong tiếng Phạn, [vô ương số kiếp tức là] A-tăng-kỳ kiếp, dịch sang tiếng Hán sẽ là Vô Ương Số. Vô Ương Số chẳng phải là con số mà bọn phàm phu chúng ta có thể tính toán rơ ràng được. Một A-tăng-kỳ kiếp, hoặc một Vô Ương Số, là con số mà chúng ta đă chẳng hiểu rơ, nhưng trước đó lại c̣n thêm “bất khả tư nghị” (chẳng thể nghĩ bàn). Bất Khả Tư Nghị cũng là một con số lớn, trước đó lại thêm Vô Lượng, lại thêm Cửu Viễn, đều là tên gọi của những con số to lớn. Nói chung, [đức Phật] nói đến thời gian trong quá khứ, rất xa xôi, rất dài lâu. Dài lâu như thế nào?

          Có một vị Phật xuất thế, tên là Đĩnh Quang Như Lai. “Đĩnh Quang Như Lai, hưng xuất ư thế, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh, giai linh đắc đạo, năi thủ diệt độ” (Đĩnh Quang Như Lai xuất hiện trong thế gian, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh, khiến cho họ đều đắc đạo rồi hiện diệt độ): Mỗi vị Phật xuất thế đều v́ độ chúng sanh nên mới xuất thế. Đĩnh Quang Như Lai cũng v́ như vậy cho nên mới xuất hiện trong cơi đời, muốn giáo hóa, độ thoát vô lượng chúng sanh, độ hết những chúng sanh hữu duyên, khiến cho họ đều đắc đạo, khiến cho họ đều chuyển phàm thành thánh. Vị Phật ấy đă độ hết chúng sanh, chúng sanh nhiều ngần ấy, Ngài đă độ hết những chúng sanh có thiện căn chín muồi, độ hết những chúng sanh hữu duyên, vị Phật ấy liền nhập Niết Bàn. Niết Bàn là diệt độ. Vị Phật này là như vậy, mỗi vị Phật kế tiếp cũng đều là như vậy. Đức Phật sau khi xuất thế, sẽ giảng kinh, thuyết pháp độ chúng sanh, khiến cho chúng sanh chuyển phàm thành thánh, đắc đạo, Ngài bèn nhập Niết Bàn. Tiếp đó là giản lược, chẳng nói nhiều như thế, chỉ nói danh hiệu của từng vị Phật một. Tổng cộng nói ra năm mươi ba vị Phật, nói đến vị thứ năm mươi bốn th́ mới nói đến Bổn Sư của A Di Đà Phật.

          Phật Thích Ca nói tất cả năm mươi bốn vị Phật, nói nhiều ngần ấy nhằm biểu thị Phật vô lượng số, mới nói năm mươi bốn vị th́ hoàn toàn chẳng nhiều. Trong phần Chứng Tín Tự trên đây, nói về Bồ Tát th́ có vô lượng số Bồ Tát, quyết định thành vô lượng số Phật, chúng ta phải biết điều này: “Hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh, hết thảy chúng sanh đều có thể thành Phật”. Chẳng giống như ngoại đạo, Thượng Đế của ngoại đạo chỉ có một, không thể có hai vị! Đấy là bất b́nh đẳng! Chỉ cho phép quư vị được lên thiên quốc, chẳng cho quư vị làm Thượng Đế. Phật giáo chẳng vậy, chỉ cần quư vị phát Bồ Đề tâm, tu Bồ Tát đạo, quư vị sẽ có thể thành Phật. Nói giản lược năm mươi bốn vị này, nhằm dạy chúng ta sanh khởi tín tâm, phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Đề đạo, quư vị cũng có cơ hội thành Phật.

          “Thứ hữu Như Lai” (kế đó có Như Lai), tức là kế tiếp Đĩnh Quang Phật, có một vị Như Lai xuất thế. “Danh viết Quang Viễn” (tên là Quang Viễn): Quang Viễn Như Lai, quang minh to lớn, xa thẳm. “Thứ danh Nguyệt Quang”: Lại có một đức Nguyệt Quang Như Lai, ánh trăng có thể phá trừ tối tăm trong đêm đen. “Thứ danh Chiên Đàn Hương”: Loại hương nổi tiếng và quư nhất trong thế gian là Chiên Đàn Hương. “Thứ danh Thiện Sơn Vương”: Đức Phật tu thiện pháp giống như núi chúa Diệu Cao, thiện pháp tối cao. “Thứ danh Tu Di Thiên Quan”, núi Tu Di là Diệu Cao. Thiên quan của Diệu Cao, “thiên quan” là chỗ trang nghiêm cao nhất. “Thứ danh Tu Di Đẳng Diệu”, tức là quang minh của núi Diệu Cao, chói ngời, rực rỡ. “Thứ danh Nguyệt Sắc”, nguyệt sắc (màu của mặt trăng) là thanh tịnh tự tại. Phật thanh tịnh tự tại giống như màu sắc của vầng trăng. “Thứ danh Chánh Niệm”: Phật là chánh niệm hiện tiền, nên gọi là Chánh Niệm Như Lai. “Thứ danh Ly Cấu”: Xa ĺa hết thảy các cấu, tức là xa ĺa hết thảy các phiền năo th́ mới thành Phật. “Thứ danh Vô Trước”: Hết thảy các pháp đều chẳng chấp trước th́ mới thành Phật. “Thứ danh Long Thiên”: Phật là thầy của trời rồng. “Thứ danh Dạ Quang”: Có cùng ư nghĩa với Nguyệt Quang, có thể phá trừ sự tối tăm của đêm đen. “Thứ danh An Minh Đảnh”: Phật có thể đạt được quang minh an nhiên, ở trên tột đỉnh quang minh th́ gọi là An Minh Đảnh.

“Thứ danh Bất Động Địa”: Phật thường ở trong Định, nên gọi là Bất Động Địa. “Thứ danh Lưu Ly Diệu Hoa”: Lưu Ly c̣n gọi là Thanh Sắc Bảo, là thứ báu trong ngoài trong suốt, nên gọi là Lưu Ly Diệu Hoa. “Thứ danh Lưu Ly Kim Sắc”: Trong ngoài sáng rực, c̣n kèm thêm màu hoàng kim. “Thứ danh Kim Tạng”: Phật giống như một kho báu lớn, giống như kho vàng, kho hoàng kim. “Thứ danh Viêm Quang”: Phật có đại trí huệ, h́nh dung là Viêm Quang (炎光, ánh lửa sáng ngời). “Thứ danh Viêm Căn”: Phật đạt được căn bản trí huệ, có thể sanh khởi rất nhiều trí huệ, giống như đạt được cái gốc của quang minh chói rực. “Thứ danh Địa Chủng”: Đức Phật đă thành Phật, hết thảy các công đức thiện pháp đều có thể sanh thành, giống như đạt được chủng tử (hạt giống) nơi đại địa. “Thứ danh Nguyệt Tượng”: Tướng mạo và quang minh của Phật thanh lương giống như vầng trăng. “Thứ danh Nhật Âm”: Mặt trời có quang minh lớn nhất. Âm thanh thuyết pháp của đức Phật giống như ánh nắng mặt trời tỏa ra. “Thứ danh Giải Thoát Hoa”: Nở hoa giải thoát, có thể đạt được cái quả giải thoát. “Thứ danh Trang Nghiêm Quang Minh”: Phật có đại trang nghiêm, có đại quang minh. “Thứ danh Hải Giác Thần Thông”: Hải (biển) rộng lớn, sâu thẳm. Sự giác ngộ của Phật rộng lớn, sâu thẳm, nên nói là Hải Giác. Thần thông của Phật rộng lớn, sâu thẳm, nên gọi là Hải Giác Thần Thông. “Thứ danh Thủy Quang”: Từ nước phát ra ánh sáng có thể soi bóng muôn vật. Phật có thể đạt được Hải Ấn tam-muội, giống như Phật phát quang, chiếu rơ hết thảy vạn vật. “Thứ danh Đại Hương”: Phật chứng đắc Vô Phần Pháp Thân hương, nên gọi là Đại Hương.

“Thứ danh Ly Trần Cấu”: Xa ĺa hết thảy trần cấu, có cùng ư nghĩa với tôn giả Ly Cấu trong phần trước. “Thứ danh Xả Yếm Ư”: Có thể buông xả, có thể chán nhàm phiền năo trong thế giới Sa Bà, nên gọi là Xả Yếm Ư. “Thứ danh Bảo Viêm”: [Bảo Viêm] tức là bảo quang. “Thứ danh Diệu Đảnh”: Hoa Nghiêm tam-muội của Phật cao nhất, nên gọi là Diệu Đảnh. “Thứ danh Dũng Lập”: Phật dũng mănh, tinh tấn, kiến lập hết thảy các pháp môn, nên gọi là Dũng Lập. “Thứ danh Công Đức Tŕ Huệ”: Đức Phật có danh hiệu là Công Đức Tŕ Huệ, v́ đại công đức của Ngài có thể nhiếp tŕ đại trí huệ. “Thứ danh Tế Nhật Nguyệt Quang”: Quang minh của Phật lớn nhất, có thể che lấp quang minh của mặt trời và mặt trăng. “Thứ danh Nhật Nguyệt Lưu Ly Quang”: Giống như quang minh của mặt trời, mặt trăng và lưu ly. “Thứ danh Vô Thượng Lưu Ly Quang”, tán thán quang minh của Phật giống như ánh sáng của lưu ly. “Thứ danh Tối Thượng Thủ”: Phật vượt trỗi thánh nhân tam thừa, là bậc thượng thủ cao nhất. “Thứ danh Bồ Đề Hoa”: Nở hoa Bồ Đề, kết thành quả. “Thứ danh Nguyệt Minh, thứ danh Nhật Quang”: Quang minh của Phật phá trừ hắc ám, giống như ánh trăng, giống như ánh sáng mặt trời. “Thứ danh Hoa Sắc Vương”: Hoa Bồ Đề đứng đầu các sắc. “Thứ danh Thủy Nguyệt Quang”: Ánh sáng của vầng trăng in bóng trong nước, biểu thị thanh tịnh. “Thứ danh Trừ Si Minh”: Có thể trừ si minh (癡冥, sự tối tăm do ngu si), tức là vô minh phiền năo đều đoạn, diệt trừ.

          “Thứ danh Độ Cái Hạnh”: Hạnh độ thoát Ngũ Cái. Ngũ Cái chẳng được nói đến nhiều, danh từ này rất sâu, tôi giải thích giản lược một chút. “Cái” () có nghĩa là che phủ, [hàm nghĩa] che lấp tâm tánh thanh tịnh của chúng ta. Chúng sanh ai nấy đều có một cái tâm thanh tịnh, v́ sao tâm chúng ta chẳng thanh tịnh? Do bị năm pháp che lấp. Năm pháp ǵ vậy?

          1) Thứ nhất là Tham Dục Cái (貪欲蓋): Phiền năo của chúng sanh mỗi người có sự thiên trọng riêng. Có chúng sanh thiên trọng tham dục, bất luận quư vị tham điều ǵ, tài, sắc, danh tiếng, ăn uống, ngủ nghê, hễ quư vị tham một thứ nào, tâm thanh tịnh đều chẳng thể hiển lộ được, chẳng thể tu hành, chẳng thể dụng công. Đó là Tham Dục Cái.

          2) Thứ hai là Sân Khuể Cái (瞋恚蓋): Có chúng sanh ưa cáu giận, tâm sân hận rất nặng. Vậy th́ cũng chẳng thể tu hành, mà cũng chẳng thể dụng công.

          3) Thứ ba là Thùy Miên Cái (睡眠蓋): Có chúng sanh ham ngủ. Quư vị bảo kẻ đó đến nghe kinh. Kẻ đó chẳng nghe kinh sẽ không ngủ gật. Hễ ngồi đó nghe kinh, sẽ ngủ gà ngủ gật. Quư vị bảo kẻ đó tĩnh tọa, kẻ đó cũng ngủ gật. Quư vị bảo kẻ đó niệm Phật, kẻ đó cũng ngủ gục. Do Thùy Miên Cái, chẳng thể dụng công tu hành.

          4) Thứ tư là Điệu Hối Cái (掉悔蓋): Có chúng sanh trong tâm luôn dấy vọng tưởng, thân thể không ngồi yên được, làm sao dụng công cho nổi? Đấy là kẻ thích hoạt động.

          5) Thứ năm là Nghi Pháp Cái (疑法蓋): Kẻ đó nghe pháp ǵ cũng đều bán tín, bán nghi. Pháp này tốt đẹp, [nhưng kẻ ấy luôn sanh nghi], chẳng thể quyết định! Làm sao dụng công tu hành cho được?

           Phải trừ bỏ năm món Cái ấy th́ mới có thể thành Phật.

          “Thứ danh Tịnh Tín”: Tín tâm thanh tịnh th́ mới thành Phật. “Thứ danh Thiện Tú”, Tú (宿) là tinh tú, [Thiện Tú] là ngôi sao tốt đẹp nhất trên bầu trời. “Thứ danh Oai Thần”: Như Lai có đại oai đức, đại thần thông. “Thứ danh Pháp Huệ”: Đầy đủ trí huệ nơi hết thảy các pháp. “Thứ danh Loan Âm”: Tiếng của chim Loan[2] là một loại âm thanh êm tai nhất. “Thứ danh Sư Tử Âm”: Âm thanh thuyết pháp của đức Phật có oai đức, có thể hàng phục thiên ma, ngoại đạo. “Thứ danh Long Âm”: Âm thanh rất vi tế th́ gọi là Long Âm. “Thứ danh Xử Thế”: Tuy Phật xuất thế gian, nhưng thường ở trong thế gian để giáo hóa chúng sanh. “Như thử chư Phật, giai tất dĩ quá”, [nghĩa là] năm mươi ba vị Phật vừa kể trên đây đều đă qua rồi (diệt độ rồi).

          “Nhĩ thời, thứ hữu Phật, danh Thế Tự Tại Vương” (lúc bấy giờ, kế đó có một vị Phật tên là Thế Tự Tại Vương). Thế Tự Tại Vương Như Lai (Lokeśvararāja) là Bổn Sư của A Di Đà Phật. Nói tới đây, ngay lập tức có thể nói A Di Đà Phật phát tâm vào lúc nào. A Di Đà Phật phát nguyện trước mặt Thế Tự Tại Vương Như Lai, phát ra bốn mươi tám đại nguyện. Phải ghi nhớ danh hiệu vị Phật này. A Di Đà Phật phát nguyện ở nơi đâu? Phát nguyện trước mặt Thế Tự Tại Vương Như Lai.

          Tiếp đó lại nói mười đức hiệu, đều là đức hiệu của mỗi vị Phật. Mỗi vị Phật đều có một biệt hiệu và có mười thông hiệu. Chỉ cần thành Phật, sẽ đều có mười danh hiệu. Đấy là thông hiệu (các danh hiệu chung), ngoài ra là một biệt hiệu. Chẳng hạn như nói có một vị Phật tên là Thế Tự Tại Vương, Bổn Sư của chúng ta là Thích Ca Mâu Ni. Gọi Ngài là Như Lai, gọi là Phật, hay gọi là Thế Tôn, đều là thông hiệu (通號), [thông hiệu của mỗi vị Phật] đều giống như nhau. “Thông hiệu” là như chúng tôi có thể giảng kinh th́ đều gọi là “pháp sư”, “pháp sư” là thông hiệu. Tôi gọi là pháp sư ǵ vậy? Tôi được gọi là pháp sư Đạo Nguyên, người khác được gọi là pháp sư ǵ vậy? Vị ấy có tên riêng của ḿnh, cái tên ấy là biệt hiệu. Hiểu ư nghĩa này; sau đó, nói ra mười danh tự mà mỗi vị Phật đều có. Nhất là chúng ta tụng niệm khóa tối, đều niệm bài văn sám hối [bao gồm danh hiệu của] tám mươi tám vị Phật[3]. Trong phần trước [của bài văn sám hối ấy] có nói mười đức hiệu này. Nghe tôi giảng xong, quư vị lại niệm [danh hiệu] tám mươi tám vị Phật, hăy khéo quán tưởng.

          Trong mười thông hiệu, thứ nhất là Như Lai (如來, Tathāgata), [hàm nghĩa] “thừa như thật đạo, lai thành Chánh Giác” (nương vào đạo như thật, đến thành Chánh Giác). Chữ thứ nhất là Như, chính là lư thể của Chân Như Thật Tướng. Ngài đă thành Phật, thành Phật bằng cách nào? Chứng đắc Chân Như Thật Tướng th́ thành Phật. Chứng đắc Chân Như Thật Tướng, tức là cái Thể của chân lư, [cái Thể ấy] được gọi là Chân Như Thật Tướng Lư Thể. Hễ chứng đắc bèn thành Phật, chẳng phải là thành A La Hán. Ngài sẽ trở lại độ chúng sanh, đă thành Phật bèn trở lại độ chúng sanh. Đấy gọi là Như Lai, tức là nương vào đạo như thật, đến thành Chánh Giác, nên gọi là Như Lai.

          Đức hiệu thứ hai là Ứng Cúng (應供, Arhat), đă thành A La Hán, cũng có ư nghĩa Ứng Cúng. Tức là đă thành A La Hán th́ đáng nên được trời, người cúng dường. Bậc đă thành Phật, càng đáng được hết thảy trời, người cúng dường. Do vậy, gọi là Ứng Cúng. Trong Phật giáo, có rất nhiều từ ngữ thông dụng, đều phải nên biết cội nguồn của chúng. Chẳng hạn như chúng ta mời một vị đại đức nào đó dùng cơm, [bèn nói là] “thỉnh vị ấy ứng cúng”. [Ứng Cúng] là một đức hiệu của Phật, là đức hiệu của A La Hán. Tôn kính người được thỉnh, [bèn nói]: “Thưa pháp sư X… hôm nay con thỉnh Ngài đến ứng cúng”, có ư nghĩa này. Bản thân chúng tôi chẳng dám xưng là Ứng Cúng, tôi đến chỗ quư vị để dùng cơm th́ gọi là “cản trai” (趕齋). Phải hiểu những từ ngữ thông dụng, phải biết chừng mực.

          Đẳng Chánh Giác (等正覺, Samyak-saṃbuddha): Trong các kinh khác dịch là Chánh Biến Tri (正徧知). Chúng ta niệm bài văn sám hối tám mươi tám vị Phật, phần đầu cũng ghi là Chánh Biến Tri. [Danh xưng khác nhau] v́ dịch thuật bất đồng, chứ ư nghĩa như nhau. Đẳng () là Đẳng Biến (等徧), [Biến ở đây] chính là chữ Biến (, trọn khắp) trong Chánh Biến Tri. Chữ Chánh giống nhau [giữa hai từ ngữ], c̣n Giác tương ứng với chữ Tri trong Chánh Biến Tri. Chánh Biến Tri có nghĩa là độc tôn vượt trỗi chín pháp giới. Đây là đức hiệu của Phật, giải thích cặn kẽ th́ trong lục phàm pháp giới, đối với phàm phu, ngoại đạo, phàm phu là vô tri, ngoại đạo là tà tri. Hàng Nhị Thừa cũng gọi là Chánh Tri, tức là những ǵ hàng Nhị Thừa liễu giải chẳng phải là tà, nhưng chẳng trọn khắp, v́ c̣n có những điều cố chấp. Đức Phật không chỉ là chánh tri, mà c̣n là Biến Tri (徧知, biết trọn khắp), nên gọi là Chánh Biến Tri. Ở đây (kinh Vô Lượng Thọ) dịch là Đẳng Chánh Giác, tức là sự giác tri b́nh đẳng, chánh đáng, to lớn. Đức hiệu của Phật như thế đó.

          Minh Hạnh Túc (明行足, Vidyā-caraṇa-saṃpanna): Hạnh Tam Minh đầy đủ. Tam Minh là Túc Mạng Minh, Thiên Nhăn Minh, và Lậu Tận Minh.

          1) Túc Mạng Minh (Pūrva-nivāsānusmrti-jñāna-sāksāt-kriya-vidyā): Biết quá khứ. Bao nhiêu kiếp trong quá khứ đều biết.

          2) Thiên Nhăn Minh (Cyuty-upapāda-jñāna-sāksāt-kriya-vidyā): Có thể quan sát vị lai. Bao nhiêu kiếp trong vị lai đức Phật đều có thể trông thấy.

          3) Lậu Tận Minh (Āsrava-ksaya-jñāna-sāksāt-kriya-vidyā): Trong hiện tại, vô lượng thế giới, vô lượng chúng sanh, vô lượng tâm niệm, đức Phật đều biết.

          Bậc A La Hán đă chứng sáu món thần thông, [trong ấy] cũng có ba loại thông này. Ba thứ ấy đều gọi là Thông, chẳng gọi là Minh, v́ A La Hán chỉ biết nó là như vậy, chẳng biết nguồn cội, chỉ biết đại ư, c̣n những chuyện cặn kẽ, vẫn chưa quan sát thấu triệt. Do vậy, chẳng gọi là Minh. Đức Phật th́ chuyện trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, Ngài không ǵ chẳng biết, không chuyện ǵ chẳng thấu hiểu, hạnh Tam Minh trọn đủ, nên gọi là Minh Hạnh Túc.

          Thiện Thệ (善逝, Sugata): “Thiện” () là tốt lành, “Thệ” () là đi, dịch sang tiếng Hán sẽ thành Hảo Khứ (好去). Do dịch thành Hảo Khứ chẳng văn nhă cho lắm, nên dịch là Thiện Thệ, tức là đi tốt lắm, đi khéo lắm. Đây là một đức hiệu của Như Lai. Tôi mới vừa giải thích Như Lai là “thừa như thật đạo, lai thành Chánh Giác” (nuơng vào đạo như thật mà đến thành Chánh Giác). Ngài đến mà không đến, nên gọi là Như Lai. V́ thiện căn của chúng sanh đă chín muồi, đáng nên thấy Phật để đắc độ, Phật bèn hiển hiện. Trên thực tế, Phật đă sớm thành Phật, Ngài chứng đắc lư thể Chân Như Thật Tướng, đă thành Phật, cớ sao chúng ta chẳng trông thấy? Chẳng trông thấy tức là chẳng đến. Phật đến không có tướng đến, đi không có tướng đi. Do thiện căn của chúng ta chưa chín muồi, cho nên chẳng trông thấy Phật đến. Chờ cho đến khi quư vị thấy Phật, sẽ đắc độ, do thiện căn đă chín muồi, Phật bèn đến, nên gọi là Như Lai. Đến mà chẳng đến th́ gọi là Như Lai. Vậy th́ hóa duyên đă hết, [tức là] duyên giáo hóa chúng sanh đă hết, chúng sanh đáng độ đều đă độ hết, dẫu Ngài trụ thế chẳng có ư nghĩa ǵ cả, bèn nhập Niết Bàn. Nhập Niết Bàn là ra đi, đi mà chẳng đi, nên gọi là Hảo Khứ (khéo đi). Đức Phật đă nhập Niết Bàn, chúng ta thấy Ngài chết giống như phàm phu. Chúng sanh thấy Ngài nhập Niết Bàn, là v́ cái duyên “thấy Phật bèn đắc độ” đă hết, Phật trụ thế chẳng có lợi ích ǵ, Ngài liền thị hiện tướng nhập Niết Bàn, phải ra đi. Đi đến nơi đâu? Đến trụ trong Đại Niết Bàn, trụ trong Thường Tịch Quang. V́ thế, Ngài [thị hiện] tướng chết giống như phàm phu, sự khéo ra đi ấy là Thiện Thệ.

          Thế Gian Giải (世間解, Lokavida): Pháp thế gian thảy đều liễu giải. Đức Phật là xuất thế gian, Ngài chẳng ĺa thế gian giác. Ngài thành Phật, sẽ độ chúng sanh. Độ chúng sanh là độ trong thế gian, c̣n A La Hán đă vượt thoát tam giới, họ không quay lại. Họ thấy tam giới như lao ngục, coi sanh tử như oan gia, liễu thoát sanh tử rất khó khăn, vượt thoát tù ngục tam giới, bảo họ quay về, họ sẽ chẳng trở về. V́ thế, gọi họ là hàng Tiểu Thừa. Đức Phật chẳng phải vậy! Đức Phật thành Phật nhằm độ chúng sanh, v́ để độ chúng sanh mà đến thế gian. Nhưng quư vị đă thành Phật, tức là đă chứng đắc Chân Như Thật Tướng. Đă thành Phật, đó là pháp xuất thế gian, nhưng pháp thế gian quư vị cũng đều liễu giải. Nếu quư vị chẳng liễu giải, sẽ chẳng thể độ chúng sanh. Trong phần trước đă tán thán tám tướng thành đạo, đối với văn nghệ và vũ thuật trong thế gian, thứ ǵ Ngài cũng đều liễu giải. Chẳng liễu giải, quư vị sẽ chẳng thể độ chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm nói, hàng Bồ Tát chứng đắc Ngũ Địa mà nếu chẳng liễu giải pháp thế gian, căn bản là chẳng thể độ chúng sanh trong thế gian. V́ thế mới nói: Đối với pháp thế gian, không ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng hiểu, nên gọi là Thế Gian Giải.

          Vô Thượng Sĩ (無上士, Anuttara): “Sĩ” () là tiếng để tôn xưng những người có học vấn, nói tới những ai có đại học vấn trong thế gian. Học vấn của Phật chẳng ai hơn được, nên gọi là Vô Thượng Sĩ.

          Điều Ngự Trượng Phu (調御丈夫, Puruṣa-damya-sārathi): Ngài có thể điều ngự hết thảy chúng sanh, nên được gọi là Điều Ngự Trượng Phu.

          Đối với mười đức hiệu, có hai cách giải thích:

          1) Cách giải thích thứ nhất, hai danh tự Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự Trượng Phu được gộp thành một, coi Thế Tôn là danh hiệu thứ mười.

          2) Cách giải thích thứ hai tách Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự Trượng Phu thành hai danh hiệu, coi Phật là danh hiệu thứ mười, Thế Tôn là danh hiệu thứ mười một. Nay chúng ta chọn cách sau, tức cách hiểu theo hai đức hiệu, Vô Thượng Sĩ là một đức hiệu, Điều Ngự Trượng Phu là một đức hiệu khác.

          Thiên Nhân Sư (天人師, Śāsta deva-manuṣyāṇaṃ): Đức Phật thị hiện trong nhân gian, có khi cũng lên cơi trời giảng kinh, thuyết pháp. Ngài không chỉ là sư trưởng của nhân gian, mà c̣n là sư trưởng của chư thiên, nên gọi là Thiên Nhân Sư. Hiện thời đối với Phật pháp, ít người nói đến [ư nghĩa của] Phật, v́ chữ Phật là tiếng Phạn, ít người giải thích. Nhân duyên nghe Phật pháp của tín đồ ít ỏi, nên chỉ biết lễ bái, Phật cũng lạy, Bồ Tát cũng lạy, ông trời cũng lạy, Ma Tổ[4] cũng lạy, v́ sao họ lạy tuốt? Chẳng có ai nói cho họ nghe đó mà! Trong tâm họ dấy lên nỗi ngờ vực, có người đến hỏi tôi: “Phật lớn hay là ông trời lớn hơn?” Tôi bật cười, họ chẳng thấy buồn cười v́ không có ai nói cho họ nghe, họ chẳng biết mà! Tôi liền bảo họ: “Phật được gọi là Thiên Nhân Sư, vừa nh́n đă biết ai lớn hơn rồi”. Bất luận là Thượng Đế hay là chư thiên, đều là đệ tử của Phật, Phật đều là sư trưởng của họ.

          Phật, tiếng Phạn là Phật Đà Da (Buddhaya), chữ Da là âm cuối đă bị lược bớt khi nói năng, nên thành Phật Đà. Chữ Phật Đà trong tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Giác Giả (覺者). Giác Giả là một cá nhân, là một người giác ngộ, chẳng phải là Thần như trong ngoại đạo. Họ cho thần là ghê gớm lắm, [tín đồ có muốn] làm thần cũng chẳng được! Nói theo Phật giáo, Phật là do con người tu thành. Ai nấy đều có thể thành Phật, Phật là một bậc giác ngộ. “Giả” () là từ ngữ để chỉ người, [Phật] là người đại giác đại ngộ, v́ sao chẳng dịch thành Giác Giả? V́ đối với Giác Giả trong tiếng Phạn, có đủ cả ba ư nghĩa, tức Tam Giác, tức tự giác, giác tha, và giác hạnh viên măn. Tam giác viên măn th́ mới gọi là Phật.

          Thế Tôn (Bhagavat): Bao gồm thế gian lẫn xuất thế gian. “Thế gian” là lục phàm pháp giới, xuất thế gian là tam thừa thánh nhân pháp giới. Đấy là chín pháp giới. Do được thế gian và xuất thế gian tôn trọng, nên gọi là Thế Tôn. Tôi vừa mới nói, đối với mười đức hiệu của Phật, có hai cách giải thích: Một là tính đến Thế Tôn có tất cả mười danh hiệu. Nay tôi chọn cách giải thích thứ hai, tính đến Phật là mười đức hiệu, Thế Tôn là đức hiệu thứ mười một. Có trọn đủ mười đại hiệu trước đó th́ mới thành Thế Tôn. Thế Tôn là tổng đức hiệu. Phải có trọn đủ mười đức hiệu trên đây th́ mới gọi là Thế Tôn. Do vậy, trong kinh Phật, đệ tử tôn xưng Phật đều gọi Ngài là đức Thế Tôn. Đó là cách xưng hô tổng quát.

          Phật được gọi là vạn đức hồng danh. Năm mươi ba vị Phật trên đây, [kể cả Thế Tự Tại Vương Phật] là năm mươi bốn vị Phật, mỗi vị có một đức hiệu (ư nói danh hiệu riêng, như Thế Tự Tại Vương Phật chẳng hạn), tức là dựa theo một loại công đức để đặt tên, chẳng thể là một vị Phật lại được gọi bằng một vạn tên. V́ sao Phật lại có mười đức hiệu (thông hiệu)? Dựa theo Phật lư để giải thích, [điều này] biểu thị sự sự vô tận. Một vị Phật có mười đức hiệu, mười vị Phật gom lại sẽ là một trăm [đức hiệu], hội tụ một trăm vị Phật sẽ một ngàn đức hiệu. Một ngàn vị Phật hội tụ sẽ là một vạn đức hiệu. Vạn đức hồng danh biểu thị sự sự vô tận. Đấy là đạo lư được nói trong kinh Hoa Nghiêm. Theo thói quen trong thế gian, [thời cổ] người Ấn Độ thường có mười tên, đức Phật ở tại Ấn Độ, chiếu theo thói quen của Ấn Độ, Ngài cũng có mười tên. Thói quen của người Ấn Độ tương phản với người Hoa, nói thuận tiện th́ “người Ấn Độ chẳng sợ rườm rà, người Hoa chuộng đơn giản, sợ rườm rà”. Người Hoa đặt tên, hiện thời tên mỗi người có hai chữ, xưa kia chỉ có một chữ, lại đặt tên tự, lại đặt hiệu[5], tổng cộng ba tên gọi là hết rồi, chẳng đặt mười tên. Ấn Độ th́ ắt phải dùng đến mười tên gọi, chẳng sợ rườm rà. Đấy là thói quen khác nhau. Mười đức hiệu ấy là của một vị Thế Tự Tại Vương Phật, Thích Ca Như Lai cũng có mười đức hiệu ấy.

 

2.2.1.2. Nêu ra tấm gương của ngài Pháp Tạng, nương theo đó để khởi hạnh

2.2.1.2.1. Nói về hạnh thế gian

2.2.1.2.1.1. Nghe pháp phát tâm

         

          (Kinh) Thời hữu quốc vương, văn Phật thuyết pháp, tâm hoài duyệt dự, tầm phát vô thượng chánh chân đạo ư.

          ()時有國王,聞佛說法,心懷悅豫,尋發無上正真道意。

          (Kinh: Khi ấy, có quốc vương nghe đức Phật thuyết pháp, ôm ḷng vui sướng, liền phát đạo ư chánh chân vô thượng).

 

          “Thời hữu quốc vương” [nghĩa là] thuở ấy có một vị quốc vương, thuở nào vậy? Chính là vào lúc Thế Tự Tại Vương Phật trụ thế thuyết pháp. Có một vị quốc vương thỉnh Phật thuyết pháp. “Văn Phật thuyết pháp, tâm hoài duyệt dự” (nghe đức Phật thuyết pháp, ôm ḷng vui sướng): Vừa nghe đức Phật thuyết pháp, trong tâm sanh niềm hoan hỷ lớn lao, sanh ḷng vui sướng to lớn. Khi hoan hỷ, vui sướng, đă thấy thấu suốt toàn thể pháp thế gian. “Tầm phát vô thượng chánh chân đạo ư” (liền phát vô thượng chánh chân đạo ư): “Tầm” () là ngay trong khi đó, “ư” () là tâm, ngay lập tức phát khởi đạo tâm, tức là như kinh Kim Cang nói, “phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm”, c̣n kinh này dịch là Vô Thượng Chánh Chân Đạo Ư. Đạo tâm là Bồ Đề tâm, là Vô Thượng Chánh Chân Bồ Đề tâm. Ngay trong khi ấy liền phát Bồ Đề tâm, nhớ nhé! Nếu muốn thành Phật th́ trước hết hăy phát cái tâm thành Phật. Tâm thành Phật là tâm ǵ vậy? Chính là Vô Thượng Chánh Chân Đạo Ư, cũng là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm.

 

2.2.1.2.1.2. Xuất gia tu đạo

 

          (Kinh) Khí quốc quyên vương, hành tác sa-môn, hiệu viết Pháp Tạng, tài cao dũng triết, dữ thế siêu dị.

          ()棄國捐王,行作沙門,號曰法藏。高才勇哲,與世超異。

          (Kinh: Bỏ nước, ĺa ngôi, trở thành sa-môn, hiệu là Pháp Tạng, tài cao, dũng khí, thông suốt, trỗi lạ hơn đời).

 

          “Khí quốc quyên vương, hành tác sa-môn, hiệu viết Pháp Tạng”: Tỳ-kheo Pháp Tạng (Dharmākara) được nhắc đến ở đây chính là đức hiệu xuất gia của A Di Đà Phật khi Ngài c̣n đang tu nhân. Sau khi Ngài đă phát Vô Thượng Chánh Chân Đạo Ư bèn như thế nào? Thấy thấu suốt thế gian, ngay lập tức ĺa bỏ quốc gia trong thế gian, địa vị quốc vương cũng chẳng cần nữa!

          “Khí quốc quyên vương”: Khí () là Quyên (), mà Quyên cũng là Khí, [Quyên và Khí đều có nghĩa là “vứt bỏ”], thảy đều bỏ hết, chẳng cần nữa! “Hành tác sa-môn”: Lúc đó, Ngài bèn xuất gia làm sa-môn. Sa-môn (Śramaṇa) là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Cần Tức (勤息), [có nghĩa là] “cần tu Giới, Định, Huệ; tức diệt tham, sân, si” (siêng tu Giới, Định, Huệ; dứt diệt tham, sân, si), nên gọi là Sa-môn. Sa-môn là danh xưng để gọi chung người xuất gia. Người xuất gia đều gọi là sa-môn. Vị sa-môn này có biệt hiệu, “hiệu viết Pháp Tạng” (hiệu là Pháp Tạng), c̣n gọi là sa-môn Pháp Tạng. Ngài là một vị tỳ-kheo, nên gọi là tỳ-kheo Pháp Tạng. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là thái tử xuất gia. Nếu không xuất gia, Ngài có thể làm quốc vương. A Di Đà Phật là tỳ-kheo Pháp Tạng, là quốc vương xuất gia. V́ sao Phật thị hiện làm Thái Tử hoặc làm quốc vương? Nêu gương cho chúng ta: Nếu quư vị muốn thành Phật, th́ phải xuất gia trước. Để xuất gia th́ trước hết phải thấy thấu suốt hết thảy mọi thứ trong thế gian. Có thứ ǵ trong thế gian mà chẳng thấy thấu suốt? Đối với đại phú, đại quư, chẳng thấy thấu suốt. Đại phú đại quư khó thấy thấu suốt cỡ nào? Quư như quốc vương, thiên tử, giàu ngập bốn biển, kẻ đại quư trong thế gian chẳng có ai sang quư bằng quốc vương, ở trên vạn người. Đại phú th́ quư vị có tài sản to lớn cỡ nào? Dẫu chẳng có tài sản to như tài sản của quốc vương, hễ một mai thấy thấu suốt đại phú đại quư, sẽ buông bỏ, chẳng cần nữa; đấy mới gọi là “đại trượng phu”.

          Phật pháp chẳng khó học, chỉ có sáu chữ quư vị hăy ghi nhớ, sẽ học Phật đúng lối, lại c̣n đạt được lợi ích chân thật. Sáu chữ nào vậy? “Nh́n thấu, buông xuống, tự tại”. Học Phật pháp th́ trước hết phải thấy thấu suốt pháp thế gian, đấy là bước công phu đầu tiên. Đă thấy thấu suốt th́ phải buông xuống. Buông xuống chẳng được th́ sao? Không buông xuống được, quư vị có thể xuất gia nổi sao? Đă xuất gia mà vẫn chẳng buông xuống, sẽ vĩnh viễn chẳng thể đạt được tự tại! Bước đầu tiên là thấy thấu suốt, bước thứ hai là phải buông xuống. Buông xuống th́ mới có thể đạt được tự tại, đạt được lợi ích chân thật trong Phật pháp, tự tại chẳng ngăn ngại. Cái này quư vị cũng chẳng thấy thấu suốt, cái kia cũng chẳng thấy thấu suốt, bị vướng mắc rồi! Cái này cũng chẳng buông xuống được, cái kia cũng chẳng buông xuống được, vướng mắc mất rồi, vĩnh viễn chẳng đạt được tự tại. Do đó, phải thấy thấu suốt, buông xuống, tự tại. Tỳ-kheo Pháp Tạng đă làm gương cho chúng ta, sang quư đến mức làm quốc vương, giàu có tràn ngập bốn biển, hễ nói tới thấy thấu suốt bèn thấy thấu suốt, nói đến buông xuống bèn buông xuống!

          “Cao tài dũng triết, dữ thế siêu dị”[6]: Ngài không chỉ là đại phú, đại quư, mà c̣n là một người tài cao, c̣n có dũng khí, hiểu triết lư, là một bậc triết gia. Tức là Ngài là một người có tài cán, có dũng khí, có triết học cao như thế đấy. Tài cán, dũng khí, triết học của Ngài vượt trỗi hết thảy mọi người trong thế gian, [nên mới nói là] “dữ thế siêu dị” (khác lạ hơn đời). Đây là nhân tài bậc nhất. Ngài nói thấy thấu suốt bèn thấy thấu suốt, nói buông xuống bèn buông xuống, sử dụng nhân tài bậc nhất này trong Phật môn th́ mới có tác dụng to lớn. Nếu chẳng có tài cán, chẳng có dũng khí, chẳng hiểu triết lư, xuất gia cũng chẳng thể ngay lập tức thành Phật, ngay lập tức độ chúng sanh. Tiếp đó, [kinh] nói tỳ-kheo Pháp Tạng phát ra bốn mươi tám đại nguyện đều là do Ngài sử dụng tài cán, dũng khí ấy, do thông hiểu lư triết học th́ Ngài mới có thể phát nguyện độ chúng sanh.

 

2.2.1.2.1.3. Đến chỗ Phật lễ bái, tán thán, phát nguyện

 

          (Kinh) Nghệ Thế Tự Tại Vương Như Lai sở, khể thủ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, trường quỵ hiệp chưởng, dĩ tụng tán viết.

          ()詣世自在王如來所,稽首佛足,右繞三帀,長跪合掌,以頌讚曰。

          (Kinh: Đến chỗ Thế Tự Tại Vương Như Lai, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu theo chiều phải ba ṿng, quỳ thẳng, chắp tay, dĩ kệ tụng tán thán rằng).

 

          “Hữu nhiễu tam táp”: “Tam táp” (三帀) là ba ṿng. Một ṿng gọi là “nhất táp”. “Hữu nhiễu” (右繞, nhiễu theo chiều phải, đi ṿng theo chiều kim đồng hồ) thuận Pháp Tánh. Ấn Độ coi trọng chiều phải, phải đi nhiễu theo chiều bên phải. Trong quá khứ, các vị đại tổ sư ở Trung Hoa đối với những lễ tiết này đều có nghiên cứu. Tại Ấn Độ, trước hết là đảnh lễ dưới chân đức Phật, đảnh lễ xong, nhiễu quanh đức Phật theo chiều phải ba ṿng. Những vị đại tổ sư ấy tới Trung Hoa, nghiên cứu lễ tiết nhà Phật [kết hợp với lễ tiết của Trung Hoa, đă quy định]: Tiến vào Phật điện th́ trước hết vẫn đảnh lễ dưới chân Phật, quán tưởng, lạy ba lạy, chẳng nhiễu ba ṿng, phải đợi đến khi công khóa tụng niệm xong, khi niệm Phật mới nhiễu niệm, vẫn nhiễu theo chiều phải. V́ thế, tượng Phật trong đại điện ắt phải thờ ở chính giữa, phía sau tượng Phật phải để trống để mọi người có thể đi nhiễu được. Các tùng lâm ở Đại Lục đều là như vậy. Sang tới Đài Loan, v́ không có ai nhắc nhở, tượng Phật đều đặt sát vách tường, lễ tiết nhiễu theo chiều phải ba ṿng chẳng thực hiện được.

          “Trường quỵ hiệp chưởng” (quỳ thẳng, chắp tay): “Trường quỵ” th́ trong phần trước đă nói, quỳ hai đầu gối xuống, quỳ thẳng lên, chắp tay. “Dĩ tụng tán viết” (dùng kệ tụng tán rằng): Tán thán đức Phật. Hiện thời, chúng ta tụng niệm công khóa trong đại điện, sau khi đảnh lễ xong, trước hết xướng bài Hương Tán. Quy củ ấy gọi là “tán Phật”. “Dĩ tụng”: Tụng () là Kệ. Kệ giống như thơ của Trung Hoa, nhưng thơ th́ chú trọng gieo vần và bằng trắc. Làm kệ tụng cũng chẳng cần phải quan tâm bằng trắc, cũng chẳng cần phải gieo vần, chỉ cần các câu có độ dài bằng nhau. Trong kinh văn đều là mỗi câu bốn chữ, có khi là mỗi câu năm chữ, cũng có lúc mỗi câu bảy chữ, đều gọi là kệ tụng, giống như câu thơ của người Hoa. Tức là người Hoa th́ làm một bài thơ để tán thán công đức của Phật, tại Ấn Độ th́ dùng kệ để tán thán.

          Ở đây, kinh nói tới Thế Tự Tại Vương Như Lai, nói tới tỳ-kheo Pháp Tạng, đều phải nên ghi nhớ: Tỳ-kheo Pháp Tạng là danh tự xuất gia của A Di Đà Phật. Tỳ-kheo Pháp Tạng đối trước Thế Tự Tại Vương Như Lai phát tâm, phát nguyện. Nay kinh nói tỳ-kheo Pháp Tạng dùng kệ tụng để tán thán Thế Tự Tại Vương Phật, có tất cả hai mươi bài kệ tụng, chia thành ba đoạn lớn. Bảy bài kệ tụng đầu tiên nhằm tán thán công đức của Phật, nói rơ chính Ngài có điều mong cầu, có ước nguyện.

 

2.2.1.2.1.3.1. Tán thán đức năng của Phật (gồm bảy bài tụng)

 

          (Kinh) Quang nhan nguy nguy, oai thần vô cực, như thị viêm minh, vô dữ đẳng giả, nhật, nguyệt, ma-ni, châu quang diễm diệu, giai tất ẩn tế, do như tụ mặc. Như Lai nhan dung, siêu thế vô luân, Chánh Giác đại âm, hưởng lưu thập phương. Giới văn tinh tấn, tam-muội trí huệ, oai đức vô lữ, thù thắng hy hữu, thâm đế thiện niệm, chư Phật pháp hải, cùng thâm tận áo, cứu kỳ nhai để. Vô minh, dục, nộ, Thế Tôn vĩnh vô. Nhân hùng Sư Tử, thần đức vô lượng, công huân quảng đại, trí huệ thâm diệu, quang minh oai tướng, chấn động đại thiên.     ()光顏巍巍,威神無極。如是炎明,無與等者。日月摩尼,珠光燄耀,皆悉隱蔽,猶如聚墨。如來顏容,超世無倫。正覺大音,響流十方。戒聞精進,三昧智慧,威德無侶,殊勝希有。深諦善念,諸佛法海,窮深盡奧,究其涯底。 無明欲怒,世尊永無。人雄師子,神德無量。功勳廣大,智慧深妙,光明威相,震動大千。

          (Kinh: Quang nhan ṿi vọi, oai thần vô cực, chói ngời như thế, không ai sánh bằng. Nhật, nguyệt, ma-ni, bảo châu chói rực, thảy đều ẩn khuất, giống như đống mực. Dung mạo Như Lai, hơn đời khôn sánh. Đại âm Chánh Giác, vang dội mười phương. Giới, văn, tinh tấn, tam-muội, trí huệ, oai đức khôn tầy, thù thắng hiếm có. Thiện niệm sâu chắc, biển pháp chư Phật, cùng tột sâu mầu, thấu suốt bờ, đáy. Thế Tôn vĩnh viễn, chẳng có vô minh, sân hận, tham dục, nhân hùng Sư Tử, thần đức vô lượng, công huân rộng lớn, trí huệ sâu mầu, oai tướng quang minh, chấn động đại thiên).

 

          “Quang nhan nguy nguy, oai thần vô cực, như thị viêm minh, vô dữ đẳng giả” (quang nhan ṿi vọi, oai thần vô cực, chói ngời như thế, không ai sánh bằng): Tán thán tướng hảo và công đức của Phật. “Quang nhan nguy nguy”: Dung mạo sáng ngời của đức Phật ṿi vọi. Cao nhất, lớn nhất th́ gọi là “nguy nguy” (巍巍). “Oai thần vô cực”: Ư nói oai đức và thần thông của Phật vô cùng, vô cực. “Như thị viêm minh”: “Viêm” () là ánh sáng, [“như thị viêm minh” là] sáng rực như thế. “Vô dữ đẳng giả” (không ai sánh bằng): Càng lúc càng sáng ngời, quang minh của Bồ Tát đều chẳng thể vượt trỗi Phật được, chẳng có một ai sánh bằng Phật được!

          “Nhật nguyệt ma-ni, châu quang diễm diệu, giai tất ẩn tế, do như tụ mặc” (nhật, nguyệt, ma-ni, bảo châu chói rực, thảy đều ẩn khuất, giống như đống mực): Bài kệ này h́nh dung quang minh của đức Phật không có ai sánh bằng. Trên thế giới, sáng ngời nhất là mặt trời, mặt trăng, [ngoài ra] c̣n có ma-ni Phật châu. “Ma-ni Phật châu” dịch sang tiếng Hán là Ma Ni Châu, đều tỏa ánh sáng chói ngời, rất sáng, nhưng vừa trông thấy Phật quang th́ sao? Chúng đều chẳng c̣n ánh sáng nữa, “tất giai ẩn tế” (thảy đều ẩn khuất). Mặt trời, mặt chẳng có ánh sáng, ma-ni Phật châu cũng chẳng có ánh sáng, đều biến thành đen kịt, nên gọi là “tụ mặc” (聚墨, đống mực), một tí quang minh cũng chẳng có, toàn là đen thủi đen thui!

          “Như Lai nhan dung, siêu thế vô luân. Chánh Giác đại âm, hưởng lưu thập phương” (dung mạo Như Lai, hơn đời khôn sánh, đại âm Chánh Giác, vang rền mười phương): Dung nhan của đức Như Lai vượt trỗi thế gian, chẳng có ǵ sánh bằng, có cùng ư nghĩa với câu “vô dữ đẳng giả” trong phần trước. “Chánh Giác đại âm, hưởng lưu thập phương”: Tán thán âm thanh nói năng của Như Lai, trong thế gian chẳng có ǵ sánh bằng được. “Hưởng” () là âm sắc của Phật, tức là âm thanh Chánh Giác to lớn, có thể vang dội truyền khắp mười phương.

          “Giới văn tinh tấn, tam-muội trí huệ, oai đức vô lữ, thù thắng hy hữu” (giới, văn, tinh tấn, tam-muội, trí huệ, oai đức khôn tầy, thù thắng, hiếm có): Quang minh và âm thanh của chư Phật Như Lai đều là chẳng có ǵ sánh bằng nổi! V́ sao Thế Tự Tại Vương Như Lai có quả báo tốt đẹp dường ấy? Do Ngài có hạnh nhân, tức là nói đến cái nhân trong đời quá khứ của Ngài, do tu pháp môn Lục Độ mà thành tựu tŕ giới, đa văn, tinh tấn. “Tam-muội” là Thiền Định, “trí huệ” là Bát Nhă. “Oai đức vô lữ” (oai đức không có ai ngang bằng): Oai đức cao thượng như thế đó. “Vô lữ” chính là “vô luân” trong phần trước, [đều hàm nghĩa] không ai có thể sánh bằng Ngài. “Thù thắng hy hữu”: Thù thắng nhất, hiếm có nhất!

          “Thâm đế thiện niệm, chư Phật pháp hải” (thiện niệm sâu chắc, biển pháp chư Phật): Đây là tán thán ư nghiệp của đức Phật. Thiện niệm của Phật rất sâu; không chỉ là rất sâu, mà c̣n tường tận, chắc thật. Đấy là tâm niệm của Phật. “Chư Phật pháp hải”: Thiện niệm của Ngài sâu xa, niệm ǵ vậy? Nghĩ tới Phật pháp của chư Phật. Phật pháp của chư Phật rộng lớn, rất sâu, giống như biển nên gọi là “pháp hải” (biển pháp). “Cùng thâm tận áo, cứu kỳ nhai để” (cùng tột sâu mầu, thấu suốt bờ, đáy): Mỗi vị Phật thành Phật, đều là dụng công tu hành. Ngài nghĩ tới biển pháp của chư Phật, đều muốn thấu hiểu tột cùng chỗ sâu thẳm, trọn hết những chỗ áo diệu. “Cứu kỳ nhai để” (thấu suốt tận bờ mé và đáy biển): Biển cả mênh mông, muốn hiểu biết thấu suốt ranh giới của biển. Biển cả rất sâu, cũng mong hiểu thấu suốt tận đáy biển. Như vậy th́ mới có thể hoàn toàn hiểu rơ biển pháp của chư Phật.

          “Vô minh dục nộ, Thế Tôn vĩnh vô” (Thế Tôn vĩnh viễn, chẳng có vô minh, sân hận, tham dục): “Vô minh” là căn bản vô minh, “dục” là tham dục, “nộ” là sân giận, bao gồm cả Si, tức là ngu si. Những món tham, sân, si này chính là Chi Mạt Vô Minh (vô minh cành nhánh). Đức Thế Tôn thảy đều chẳng có [những món phiền năo] Căn Bản Vô Minh và Chi Mạt Vô Minh ấy. Nói đến đây đều nhằm tán thán công đức của Phật. Kế tiếp là một bài kệ rưỡi nhằm tổng kết những điều đă tán thán.

          “Nhân hùng Sư Tử, thần đức vô lượng”: Bậc đại hùng trong nhân gian, giống như sư tử giữa các loài thú. Thần thông và oai đức của Ngài vô lượng vô biên. “Công huân quảng đại, trí huệ thâm diệu, quang minh oai tướng, chấn động đại thiên” (công huân rộng lớn, trí huệ sâu mầu, quang minh, oai tướng, chấn động tam thiên đại thiên thế giới): Dùng một bài kệ rưỡi này để tập trung tổng kết các công đức trong năm bài kệ rưỡi trước đó. Tổng cộng là bảy bài kệ tụng, đều nhằm tán thán công đức của Phật.

          Đoạn thứ hai gồm mười bài kệ tụng. Năm bài kệ tụng đầu nêu ra nguyện tâm của Ngài, mong cầu Pháp Thân của Phật, mong cầu chánh báo của Phật. Năm bài kệ tụng sau cho thấy nguyện tâm của Ngài là mong cầu một cơi Phật thanh tịnh.

 

2.2.1.2.1.3.2. Phát nguyện cầu Phật

2.2.1.2.1.3.2.1. Khởi lên nguyện tâm

2.2.1.2.1.3.2.1.1. Cầu Pháp Thân của Phật (gồm năm bài kệ tụng)

         

          (Kinh) Nguyện ngă tác Phật, tề thánh Pháp Vương, quá độ sanh tử, mị bất giải thoát. Bố thí điều ư, giới, nhẫn, tinh tấn. Như thị tam-muội, trí huệ vô thượng, ngô thệ đắc Phật, phổ hành thử nguyện, nhất thiết khủng cụ, vị tác đại an, giả linh hữu Phật, bách thiên ức vạn, vô lượng đại thánh, số như hằng sa, cúng dường nhất thiết, tư đẳng chư Phật, bất như cầu đạo, kiên chánh bất khước.

          ()願我作佛,齊聖法王。過度生死,靡不解脫。布施調意,戒忍精進,如是三昧,智慧無上。吾誓得佛,普行此願。一切恐懼,為作大安。假令有佛,百千億萬,無量大聖,數如恆沙。供養一切,斯等諸佛,不如求道,堅正不卻。

          (Kinh: Nguyện con thành Phật, bằng thánh pháp vương, vượt khỏi sanh tử, đều được giải thoát, bố thí, điều tâm, giới, nhẫn, tinh tấn. Tam-muội như thế, trí huệ vô thượng, con thề thành Phật, hành khắp nguyện này, tạo đại an ổn, cho kẻ sợ hăi. Giả sử có Phật, trăm ngàn ức vạn, vô lượng đại thánh, số như hằng sa, cúng dường hết thảy, các vị Phật ấy, chẳng bằng cầu đạo, kiên định cái tâm, đoan chánh cái tâm, chẳng hề lùi bước).

 

          Trước tiên, nói về năm bài kệ tụng đầu [trong đoạn này]: “Nguyện ngă tác Phật, tề thánh pháp vương” (nguyện cho con thành Phật sẽ bằng với đấng thánh pháp vương): Tỳ-kheo Pháp Tạng thấy Thế Tự Tại Vương Phật công đức ṿi vọi, chẳng thể nghĩ bàn, [bèn tâm niệm] “tôi cũng mong thành tựu thân Phật”. Đấy gọi là “kiến hiền tư tề” (見賢思齊, thấy người hiền bèn mong được bằng). Ta có ư nguyện muốn làm Phật, nguyện ta sẽ thành Phật. “Tề thánh pháp vương” [nghĩa là] giống như bậc đại thánh, Thế Tự Tại Vương Phật là đấng pháp vương. Đấy là mong cầu thân Phật.

          “Quá độ sanh tử, mị bất giải thoát” (vượt thoát sanh tử, không điều ǵ chẳng giải thoát): Phàm phu có sanh tử, trong tam giới th́ gọi là Phần Đoạn Sanh Tử. Tam thừa thánh nhân vượt khỏi tam giới, nhưng hăy c̣n Biến Dịch Sanh Tử. Nếu thành Phật th́ sẽ vượt thoát hai loại sanh tử ấy. Đấy là triệt để giải thoát sanh tử.

          “Bố thí điều ư, giới nhẫn tinh tấn, như thị tam-muội, trí huệ vô thượng” (bố thí, điều ḥa tâm ư, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn. Tam-muội như thế, trí huệ vô thượng): Trong phần trước, tỳ-kheo Pháp Tạng tán thán công đức của Thế Tự Tại Vương Phật, tán thán nhân hạnh của Phật là do tu tập Lục Độ mà ra. Tôi là tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện muốn thành Phật, muốn vượt thoát sanh tử, chẳng thể chỉ phát nguyện suông, phải học tập tu hành thực tiễn, tu bằng cách nào? Nương vào pháp môn Lục Độ để tu. V́ thế, Phật giáo được gọi là Triết Học Thế Gian. [Gọi là] Thế Gian v́ thật sự thực hiện, chẳng phải là nói suông! Thành Phật bằng cách nào? Hành pháp môn Lục Độ, trước hết là hành Bố Thí Độ. “Điều ư”: Chữ Ư chỉ cái tâm nào? Tâm keo tham; keo kiệt, tham lam chẳng thể xả. Ta phải hành bố thí, phải chế ngự cái tâm keo tiếc (keo kiệt, tiếc nuối) và tâm tham dục của chính ḿnh. [Hai cái tâm ấy] được gọi gộp chung là tâm keo tham (xan tham). [“Điều ư”] là điều phục cái tâm ư ấy. Đối với Giới th́ phải tŕ giới; đối với Nhẫn th́ phải tu nhẫn nhục, phải tu Tinh Tấn. “Như thị tam-muội” (tam-muội như thế) là Thiền Định. “Trí huệ vô thượng” là Bát Nhă. Tu pháp môn Lục Độ này, Thế Tự Tại Vương Phật đă làm như vậy; ta, tức tỳ-kheo Pháp Tạng, cũng bằng ḷng làm như vậy!

          “Ngô thệ đắc Phật” (tôi thề thành Phật): Tôi đă phát đại nguyện, lại phát đại thệ, nên gọi là “hoằng thệ đại nguyện”, nhất định sẽ đạt được Phật quả. “Phổ hành thử nguyện” (hành trọn khắp nguyện này): Tôi phát ra đại nguyện, tôi muốn thành Phật, tôi lại hành nguyện này, dùng hạnh để thực hiện nguyện. Nếu không, [lời nguyện ấy] sẽ trở thành nguyện suông. Thực hành cái nguyện ấy như thế nào? Chính là phải hành Lục Độ.

          “Nhất thiết khủng cụ, vị tác đại an” (v́ hết thảy kẻ sợ hăi, tạo sự an ổn to lớn): Sẽ độ chúng sanh. Hành pháp môn Lục Độ ở nơi đâu? Hành trên thân của chúng sanh. Đại Thừa Phật pháp dùng độ chúng sanh để tu hành. Chúng sanh kinh sợ, gặp tai mắc nạn sẽ kinh hoảng, lưu chuyển sanh tử sẽ kinh hoảng, tôi giúp cho họ tiêu tai thoát nạn, giúp họ liễu thoát sanh tử, khiến cho họ được đại an lạc. Đấy là hành nguyện này!

          “Giả linh hữu Phật, bách thiên ức vạn” (giả sử có trăm ngàn ức vạn vị Phật): “Giả linh” (假令) có nghĩa là giả thiết. Giả thiết rằng hiện tại có nhiều vị Phật ngần ấy trên thế gian, nhiều cỡ nào? Nhiều đến “bách thiên vạn ức” (trăm ngàn vạn ức)[7], c̣n có “vô lượng đại thánh, số như Hằng sa” (vô lượng đại thánh, số nhiều như cát sông Hằng). “Đại thánh” là đại Bồ Tát, nhiều cỡ nào? Nhiều đến hằng hà sa số. “Cúng dường nhất thiết, tư đẳng chư Phật” (cúng dường hết thảy các vị Phật như thế): Tôi sẽ cúng dường, cúng dường trăm ngàn vạn ức chư Phật, cúng dường hằng hà sa số đại Bồ Tát. “Bất như cầu đạo, kiên chánh bất khước”, [ư nói] quư vị cúng dường trăm ngàn vạn ức chư Phật Thế Tôn, cúng dường các vị đại Bồ Tát số đến vô lượng, chẳng bằng quư vị cầu Phật đạo, kiên định cái tâm, đoan chánh cái tâm, cầu bất thoái chuyển. Đấy là thật sự cúng dường Phật, Bồ Tát, chẳng bằng quư vị dụng công tu hành! Đó gọi là “trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường lớn nhất”. Lấy chuyện “độ chúng sanh, hoằng dương Phật pháp” làm sự cúng dường của quư vị.

          Quư vị đừng hiểu ngược ngạo ư nghĩa này, cứ ngỡ là chúng ta chẳng cần cúng Phật, chẳng cần trai tăng để tu hành. Quư vị đến đâu để tu hành? Ở trong núi, ở trong hang, ở trong lều tranh, quư vị ĺa khỏi chúng sanh để tu hành. Chẳng phải là ư nghĩa ấy. Tu hành, [đặc biệt là] tu pháp môn Lục Độ, chẳng ĺa khỏi chúng sanh. Chẳng hạn như quư vị tu Độ thứ nhất là hành Bố Thí, chẳng có chúng sanh th́ quư vị đến nơi đâu để hành Bố Thí? Phải hiểu: Trong Đại Thừa, tu hành chẳng ĺa khỏi chúng sanh.

          Đến chỗ này, cả năm bài kệ tụng đều nói lên ư mong cầu Phật thân, mong chính ḿnh sẽ thành Phật. Tỳ-kheo Pháp Tạng đă thành A Di Đà Phật, là do phát tâm như vậy, tu hành như vậy. Phát tâm mong thành Phật, mong độ chúng sanh th́ phải hành Lục Độ. Năm bài kệ tụng dưới đây thể hiện sự mong cầu thành tựu một quốc độ thanh tịnh.

 

2.2.1.2.1.3.2.1.2. Cầu Tịnh Độ của Phật (gồm năm bài kệ tụng)

 

          (Kinh) Thí như hằng sa, chư Phật thế giới, phục bất khả kế, vô số sát độ, quang minh tất chiếu, biến thử chư quốc, như thị tinh tấn, oai thần nan lượng, linh ngă tác Phật, quốc độ đệ nhất. Kỳ chúng kỳ diệu, đạo tràng siêu tuyệt, quốc như Nê Hoàn, nhi vô đẳng song, ngă đương mẫn ai, độ thoát nhất thiết, thập phương lai sanh, tâm duyệt thanh tịnh, dĩ chí ngă quốc, khoái lạc an ổn.

          ()譬如恆沙,諸佛世界,復不可計,無數剎土。光明悉照,徧此諸國。如是精進,威神難量。令我作佛,國土第一。其眾奇妙,道場超絕。國如泥洹,而無等雙。我當愍哀,度脫一切。十方來生,心悅清淨,已至我國,快樂安隱。

          (Kinh: Ví như hằng sa các thế giới Phật, lại chẳng thể tính vô số cơi nước, quang minh đều chiếu, khắp các nước ấy. Tinh tấn như thế, oai thần khó lường. Khiến con thành Phật, cơi nước bậc nhất. Đại chúng kỳ diệu, đạo tràng tuyệt vời, cơi như Niết Bàn, độc nhất khôn sánh, con sẽ thương xót, độ thoát hết thảy, mười phương sanh về, tâm vui thanh tịnh, sanh vào cơi con, vui sướng, an ổn).

 

          “Thí như hằng sa, chư Phật thế giới” (ví như các thế giới Phật số nhiều như cát sông Hằng): Phật nhiều đến trăm ngàn vạn ức vị, thế giới của chư Phật cũng là vô lượng. Điều này gọi là “hư không bất biến”, số lượng quốc độ của chư Phật cũng nhiều như cát sông Hằng, ví như hằng hà sa số thế giới của chư Phật. “Phục bất khả kế, vô số sát độ” (lại chẳng thể tính đếm vô số cơi nước): “Sát độ” (剎土) cũng là thế giới. Hằng hà sa số c̣n có thể ghi chép, c̣n có số lượng. “Phục bất khả kế” (lại chẳng thể tính đếm) nghĩa là vô số sát độ, chẳng thể tính toán được!

          “Quang minh tất chiếu, biến thử chư quốc” (quang minh đều chiếu trọn khắp các cơi nước ấy): Dùng quang minh để chiếu trọn khắp các thế giới của chư Phật. “Như thị tinh tấn, oai thần nan lượng” (tinh tấn như thế, oai thần khó lường): Phải tinh tấn thành tựu một quốc độ, phải có vô lượng tinh tấn và vô lượng oai đức thần lực. “Nan lượng” là tinh tấn.

          “Linh ngă tác Phật, quốc độ đệ nhất” [ư nói] khiến cho tôi là Pháp Tạng, trong tương lai thành Phật, cơi nước của tôi thanh tịnh; trong vô lượng hằng hà sa số các cơi Phật, sẽ trở thành quốc độ thanh tịnh bậc nhất. “Kỳ chúng kỳ diệu, đạo tràng siêu tuyệt”, ư nói: Những người sống trong cơi nước của tôi đều kỳ diệu, cơi nước của tôi là một đại đạo tràng. “Siêu tuyệt” là vượt trỗi hết thảy các đạo tràng.

          “Quốc như Nê Hoàn, nhi vô đẳng song”: Quốc độ thanh tịnh của tôi là đại Niết Bàn tràng (đại đạo tràng Niết Bàn) của Như Lai. “Nê Hoàn” c̣n dịch là Niết Bàn. Đại Thừa Niết Bàn là thường, lạc, ngă, tịnh. Chân thường, chân lạc, chân ngă, chân tịnh. “Nhi vô đẳng song” nghĩa là chẳng có cơi nước Phật nào vượt trỗi cơi nước của tôi. Tôi muốn phát ra nguyện này. “Ngă đương mẫn ai, độ thoát nhất thiết” (tôi sẽ thương xót, độ thoát hết thảy): Tôi cầu đạt được quốc độ thanh tịnh bậc nhất ấy để làm ǵ? Tôi muốn độ thoát chúng sanh. Tôi v́ thương xót, nghĩ thương hết thảy chúng sanh; tôi muốn độ thoát hết thảy chúng sanh.

          “Thập phương lai sanh, tâm duyệt thanh tịnh, dĩ chí ngă quốc, khoái lạc an ổn” ([chúng sanh từ] mười phương sanh về [cơi của tôi], tâm vui sướng, thanh tịnh. Đă đến cơi nước của tôi, đều vui sướng, an ổn): Mười phương chúng sanh nghe danh tự của tôi, niệm danh hiệu tôi, trong tâm có nhiều niềm vui sướng, nhiều thanh tịnh. Đă sanh vào cơi nước của tôi, đều cảm thấy sung sướng, cảm thấy an ổn. Chữ Ồn () trong “an ổn”[8] hiện thời được viết với bộ Ḥa (), [tức ], nhưng kinh điển thời cổ đều dùng bộ Nhĩ (tức chữ ). Ôi chao! Nơi ấy quá tốt đẹp, thật sự là một đạo tràng để tu đạo.

          Đến đây, năm bài kệ tụng này [nhằm diễn tả ư] mong cầu quốc độ thanh tịnh bậc nhất. Đoạn thứ ba gồm ba bài kệ tụng, [thể hiện ư] mong cầu Phật chứng minh những nguyện do tỳ-kheo Pháp Tạng đă phát trên đây.

 

2.2.1.2.1.3.2.2. Thỉnh Phật chứng tri (gồm ba bài kệ tụng)

 

          (Kinh) Hạnh Phật minh tín, thị ngă chân chứng, phát nguyện ư bỉ, lực tinh sở dục, thập phương Thế Tôn, trí huệ vô ngại, thường linh thử tôn, tri ngă tâm hạnh. Giả sử thân chỉ, chư khổ độc trung, ngă hành tinh tấn, nhẫn chung bất hối.

          ()幸佛明信,是我真證。發願於彼,力精所欲。十方世尊,智慧無礙,常令此尊,知我心行。假使身止,諸苦毒中,我行精進,忍終不悔。

          (Kinh: Mong Phật tin, hiểu, chứng thực cho con. Phát nguyện như vậy, dốc sức tinh tấn, ḥng thỏa ḷng mong. Mười phương Thế Tôn, trí huệ vô ngại, thường khiến đức Phật biết tâm hạnh con. Giả sư thân ở trong các khổ độc, con hành tinh tấn, nhẫn nại chẳng hối).

 

          “Hạnh Phật minh tín”: Hăy nên hiểu chữ Hạnh () là Nguyện, [tức là] nguyện Thế Tự Tại Vương Phật hăy hiểu cho con, tin tưởng con. “Thị ngă chân chứng” [nghĩa là] Phật là người thật sự chứng minh cho con. “Phát nguyện ư bỉ, lực tinh sở dục”, ư nói: Con đối trước Thế Tự Tại Vương Như Lai phát nguyện, con sẽ gắng sức siêng năng tinh tấn ḥng đạt được những điều con mong muốn, ước nguyện.

          “Thập phương Thế Tôn, trí huệ vô ngại, thường linh thử tôn, tri ngă tâm hạnh” (mười phương Thế Tôn trí huệ vô ngại, thường khiến cho đức Phật này biết tâm hạnh của con): Mười phương Thế Tôn trí huệ vô chướng vô ngại. “Thường linh thử tôn”: Sẽ thường làm cho đức Thế Tôn Thế Tự Tại Vương Như Lai mà con đang đối trước Ngài phát nguyện đây thấu biết tâm hạnh của con. Con bằng ḷng phát nguyện, bằng ḷng tu hành như thế đấy. Thế Tự Tại Vương Như Lai hăy biết cho con, mười phương Thế Tôn đều có thể chứng minh.

          “Giả sử thân chỉ, chư khổ độc trung, ngă hành tinh tấn, nhẫn chung bất hối” (giả sử thân con ở trong các nỗi khổ sở, tàn độc, con vẫn hành tinh tấn, chịu đựng, trọn chẳng hối tiếc): Do đă phát nguyện như trên, kế đó lại tu tập, nếu thân con ở trong các sự khổ năo lớn nhất, sự độc hại lớn nhất giáng xuống thân con, đạo tâm của con trọn chẳng lui sụt. “Ngă hành tinh tấn”, [nghĩa là] con sẽ tu hành tinh tấn, chẳng lùi, sẽ hành công phu nhẫn nhục, trọn chẳng lui sụt, hối hận. Đấy là như Đại Trí Độ Luận đă nói: “Giả sử nhiệt thiết luân, tại ngă đảnh thượng toàn, chung bất vị thử khổ, thoái thất Bồ Đề tâm” (giả sử ṿng sắt nóng, xoay trên đỉnh đầu tôi, trọn chẳng v́ khổ ấy, thoái thất tâm Bồ Đề). Khổ sở cỡ nào, con trọn chẳng thoái chuyển, hối hận. Đấy là đại nguyện do tôi đă phát.

          Tôi thường nói “chúng ta giảng đến đâu bèn học đến đó”. Chúng ta phải học theo tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện, học theo tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện muốn tạo ra thế giới Cực Lạc để độ chúng sanh. Hiện thời, quư vị phát nguyện, trước hết là mong mở một tự viện thanh tịnh, mở một đạo tràng để độ chúng sanh. Mở một đạo tràng, mở một tự viện chẳng phải là chuyện đơn giản, nhất định sẽ có đủ loại ma nạn. Nếu quư vị gặp phải đôi chút ma nạn, chịu đựng chút khổ, đạo tâm của quư vị lui sụt, [vậy th́] đến khi nào tự viện của quư vị mới có thể thành công?

 

2.2.1.2.2. Nêu ra hạnh xuất thế

2.2.1.2.2.1. Nêu đại lược những điều đă tu

2.2.1.2.2.1.1. Pháp Tạnh thỉnh cầu lần đầu, Như Lai từ chối, nói tỳ-kheo đă biết rồi, chẳng v́ tỳ-kheo tuyên nói

         

          (Kinh) Phật cáo A Nan: - Pháp Tạng tỳ-kheo thuyết thử tụng dĩ, nhi bạch Phật ngôn: “Dụy nhiên, Thế Tôn! Ngă phát Vô Thượng Chánh Giác chi tâm, nguyện Phật vị ngă quảng tuyên kinh pháp, ngă đương tu hành, nhiếp thủ Phật quốc thanh tịnh trang nghiêm vô lượng diệu độ, linh ngă ư thế, tốc thành Chánh Giác, bạt chư sanh tử cần khổ chi bổn”.

          Phật cáo A Nan: - Thời Thế Tự Tại Vương Phật, ngữ Pháp Tạng tỳ-kheo: “Như sở tu hành, trang nghiêm Phật độ, nhữ tự đương tri”.

          ()佛告阿難:法藏比丘說此頌已,而白佛言:「唯然,世尊!我發無上正覺之心。願佛為我廣宣經法,我當修行,攝取佛國清淨莊嚴無量妙土。令我於世,速成正覺,拔諸生死勤苦之本。」佛告阿難:時世自在王佛,語法藏比丘:「如所修行,莊嚴佛土,汝自當知。

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài A Nan: - Tỳ-kheo Pháp Tạng nói bài kệ tụng ấy xong, bèn bạch đức Phật rằng: “Kính vâng, đức Thế Tôn! Con đă phát tâm Vô Thượng Chánh Giác. Nguyện Phật hăy v́ con tuyên nói rộng răi các kinh pháp, con sẽ tu hành, nhiếp thủ cơi nước mầu nhiệm thanh tịnh trang nghiêm vô lượng, khiến cho con ở trong cơi đời mau thành Chánh Giác, dẹp trừ cội gốc của các thứ sanh tử siêng khổ”.

          Đức Phật bảo ngài A Nan: - Lúc bấy giờ, Thế Tự Tại Vương Phật bảo tỳ-kheo Pháp Tạng: “Như chuyện tu hành, trang nghiêm cơi Phật của ông, ông hăy tự nên biết”).

 

          Trong đoạn kinh văn này, Thích Ca Mâu Ni Phật đă kể cho tôn giả A Nan chuyện phát tâm của tỳ-kheo Pháp Tạng; do đó, xét theo cách hành văn, mỗi đoạn đều cần phải có lời mào đầu. “Phật cáo A Nan” (đức Phật bảo ngài A Nan) là lời giới thiệu. Tỳ-kheo Pháp Tạng trong vô lượng kiếp xưa kia, “thuyết thử tụng dĩ”, [ư nói] tỳ-kheo Pháp Tạng nói xong bài kệ trên đây, “nhi bạch Phật ngôn” (bèn bạch đức Phật rằng), tỳ-kheo Pháp Tạng lại thưa cùng Thế Tự Tại Vương Như Lai. “Dụy nhiên Thế Tôn”: “Dụy nhiên” là cách nói thông dụng trong tiếng Ấn Độ, [có nghĩa là] “đúng vậy! Thưa đức Thế Tôn!”. “Ngă phát Vô Thượng Chánh Giác chi tâm”, con đă phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, cũng chính là tâm Vô Thượng Bồ Đề. “Nguyện Phật vị ngă quảng tuyên kinh pháp” (xin đức Phật hăy v́ con rộng tuyên kinh pháp): Con bằng ḷng, con hy vọng Thế Tự Tại Vương Phật sẽ v́ con giảng nói các kinh pháp. “Ngă đương tu hành”, [nghĩa là] con sẽ nương theo kinh pháp do đức Phật đă dạy để tu hành. “Nhiếp thủ Phật quốc thanh tịnh trang nghiêm vô lượng diệu độ”: Con tu hành là v́ muốn nhiếp thủ (giữ lấy, thâu tóm) cơi Phật thanh tịnh trang nghiêm. Trong phần trước, Ngài đă nói: Con phát ra đại nguyện, con mong tạo ra một đạo tràng thanh tịnh trang nghiêm, tức là tạo ra một thế giới Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc ấy chẳng phải là bỗng dưng mà có, phải tu hành! Tu hành là tu như thế nào? Xin Thế Tự Tại Vương Phật khai thị, khiến cho con khéo nương theo lời khai thị của Phật mà tu hành, ḥng “nhiếp thủ Phật quốc thanh tịnh trang nghiêm vô lượng diệu độ, linh ngă ư thế, tốc thành Chánh Giác” (nhiếp thủ cơi Phật là cơi thanh tịnh trang nghiêm vô lượng mầu nhiệm, khiến cho con trong cơi đời, sẽ mau thành Chánh Giác). Con tu hành là v́ muốn thành tựu một cơi nước vô lượng mầu nhiệm. Trong quốc độ thanh tịnh chẳng thể nghĩ bàn ấy, sẽ khiến cho con mau chóng thành Chánh Giác, ngay lập tức thành Phật. “Bạt chư sanh tử cần khổ chi bổn” (dẹp trừ cội gốc của các nỗi sanh tử siêng khổ): “Bạt chư” là [dẹp trừ các nỗi khổ của] các chúng sanh đang lưu chuyển sanh tử, sanh tử là sự khổ to lớn, sanh tử chẳng ngưng dứt, nên gọi “cần khổ”. Thêm chữ Cần () vào trước chữ Khổ () [nhằm diễn tả] sự khổ chẳng ngưng dứt. Con muốn dẹp trừ cội gốc sanh tử chẳng ngưng dứt cho chúng sanh, đấy gọi là Bi năng bạt khổ” (ḷng Bi có thể dẹp khổ). Con hy vọng tốc thành Chánh Giác” (chóng thành Chánh Giác). “Thành Chánh Giác” là thành Phật, thành Phật chứ không phải thành A La Hán! Thành Phật là để dẹp trừ căn bản sanh tử cho chúng sanh, v́ độ chúng sanh mà thành Phật.

          “Phật cáo A Nan” (đức Phật bảo ngài A Nan): “Phật” ở đây là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Do đang kể về tỳ-kheo Pháp Tạng, nên [kinh văn] lại mào đầu bằng một câu “Phật cáo A Nan” (đức Phật bảo ngài A Nan). “Thời Thế Tự Tại Vương Phật”: Khi ấy, Thế Tự Tại Vương Phật, “ngữ Pháp Tạng tỳ-kheo”, [nghĩa là] nói với tỳ-kheo Pháp Tạng: “Như sở tu hành, trang nghiêm Phật độ, nhữ tự đương tri”, [nghĩa là] như đối với chuyện tu hành, ông mong cầu pháp môn trang nghiêm cơi Phật, ông hăy tự biết, ta không nói cho ông, chính ông phải nên hiểu biết. V́ trong phần trước, khi tỳ-kheo Pháp Tạng tán thán Thế Tự Tại Vương, trông thấy cái quả bèn suy ra cái nhân: Thế Tự Tại Vương Phật [thành Phật là] do dùng pháp môn Lục Độ làm cái nhân để tu hành thành tựu. Bản thân tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện sẽ thành Phật, Ngài cũng phát nguyện sẽ tu pháp môn Lục Độ. Đấy là pháp môn của bậc Đại Thừa Bồ Tát, tức là Lục Ba La Mật (ṣaḍ-pāramitā), [hay c̣n gọi là] Lục Độ: Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ. Pháp môn Lục Độ này ông thảy đều biết cả rồi, tu như vậy là đúng rồi, c̣n hỏi chi nữa?

 

2.2.1.2.2.1.2. Pháp Tạng thỉnh lần nữa, Như Lai tuyên thuyết

 

          (Kinh) Tỳ-kheo bạch Phật: “Tư nghĩa hoằng thâm, phi ngă cảnh giới. Duy nguyện Thế Tôn, quảng vị phu diễn chư Phật Như Lai tịnh độ chi hạnh. Ngă văn thử dĩ, đương như thuyết tu hành, thành măn sở nguyện”. Nhĩ thời, Thế Tự Tại Vương Phật, tri kỳ cao minh, chí nguyện thâm quảng, tức vị Pháp Tạng tỳ-kheo nhi thuyết kinh ngôn: “Thí như đại hải, nhất nhân đấu lượng, kinh lịch kiếp số, thượng khả cùng để, đắc kỳ diệu bảo. Nhân hữu chí tâm tinh tấn, cầu đạo bất chỉ, hội đương khắc quả, hà nguyện bất đắc?” Ư thị, Thế Tự Tại Vương Phật, tức vị quảng thuyết nhị bách nhất thập ức chư Phật sát độ, thiên nhân chi thiện ác, quốc độ chi thô diệu, ứng kỳ tâm nguyện, tất hiện dữ chi.

          ()比丘白佛:「斯義弘深,非我境界。唯願世尊,廣為敷演諸佛如來淨土之行。我聞此已,當如說修行,成滿所願。」爾時世自在王佛,知其高明,志願深廣,即為法藏比丘而說經言:「譬如大海,一人斗量,經歷劫數,尚可窮底,得其妙寶。人有至心精進,求道不止,會當剋果,何願不得?」於是世自在王佛,即為廣說二百一十億諸佛剎土,天人之善惡,國土之麤妙,應其心願,悉現與之。

          (Kinh: Tỳ-kheo bạch Phật: “Nghĩa ấy rộng sâu, chẳng phải là cảnh giới của con. Kính mong đức Thế Tôn, hăy v́ con phô diễn rộng răi hạnh Tịnh Độ của chư Phật Như Lai. Con nghe hạnh ấy rồi, sẽ tu hành đúng như lời dạy, thành tựu viên măn lời nguyện”. Lúc bấy giờ, Thế Tự Tại Vương Phật biết tỳ-kheo cao minh, chí nguyện sâu rộng, liền v́ tỳ-kheo Pháp Tạng nói kinh như sau: “Ví như biển cả, có một người dùng đấu để đong, trải qua nhiều kiếp, c̣n có thể thấu đến tận đáy, đạt được của báu mầu nhiệm. Người có ḷng chí tâm tinh tấn, cầu đạo chẳng ngừng, ắt sẽ đạt được cái quả, có nguyện nào mà chẳng đạt được?” Ngay lúc đó, Thế Tự Tại Vương Phật liền v́ tỳ-kheo nói rộng hai trăm mười ức các cơi Phật, sự thiện ác của trời, người, cơi nước thô thiển hay tinh diệu, ứng với tâm nguyện của tỳ-kheo thảy đều hiện ra cho thấy).

 

          “Tỳ-kheo bạch Phật”: Tỳ-kheo Pháp Tạng bạch với Thế Tự Tại Vương Phật. “Tư nghĩa hoằng thâm, phi ngă cảnh giới” (nghĩa ấy rộng sâu, chẳng phải là cảnh giới của con): “Con phát ra nguyện to lớn, rất sâu này, chẳng phải là cảnh giới hiện thời của con, nhất định phải cầu Phật dạy con nhiều hơn”. V́ sao? V́ trước đó, tỳ-kheo Pháp Tạng đă nói, Ngài muốn tạo ra một quốc độ, quốc độ bậc nhất. Ngài muốn tạo nên một đạo tràng, đạo tràng siêu tuyệt, tức là trong cả hư không, hết thảy các quốc độ của chư Phật đều chẳng sánh bằng. Quốc độ mới toanh, chuyện này lớn lắm, sâu lắm. Do vậy, tư nghĩa hoằng thâm” (nghĩa ấy rộng sâu), chẳng phải là cảnh giới của con! “Duy nguyện Thế Tôn, quảng vị phu diễn” (kính mong đức Thế Tôn hăy rộng phô diễn cho con): Xin hăy nói nhiều hơn. “Phu” () là khai diễn, “chư Phật Như Lai tịnh độ chi hạnh” (hạnh Tịnh Độ của chư Phật Như Lai), trong hư không, tịnh độ của chư Phật rất nhiều, vị Phật nào tu hạnh tịnh độ nào? Vị Phật nào tu pháp môn nào? Xin Ngài hăy giảng nhiều hơn cho con. “Ngă văn thử dĩ, đương như thuyết tu hành”, [nghĩa là] sau khi con nghe Thế Tự Tại Vương Phật bảo ban, con nhất định sẽ tu hành đúng như lời Phật dạy. “Thành măn sở nguyện”, ư nói: Có thể thành tựu viên măn những đại nguyện mà con đă phát.

          “Nhĩ thời, Thế Tự Tại Vương Phật, tri kỳ cao minh, chí nguyện thâm quảng”, ư nói: Lúc bấy giờ, Thế Tự Tại Vương Phật biết tỳ-kheo phát tâm, ông ta rất cao minh, đă lập chí nguyện quá sâu, quá rộng. “Tức vị Pháp Tạng tỳ-kheo nhi thuyết kinh ngôn” [nghĩa là] liền giảng kinh cho tỳ-kheo Pháp Tạng. Lời đức Phật nói ra th́ gọi là Kinh. Kế đó, Thế Tự Tại Vương Phật v́ tỳ-kheo Pháp Tạng nói kinh như sau: “Thí như đại hải, nhất nhân đấu lượng, kinh lịch kiếp số, thượng khả cùng để, đắc kỳ diệu bảo. Nhân hữu chí tâm tinh tấn, cầu đạo bất chỉ, hội đương khắc quả, hà nguyện bất đắc?” (ví như biển cả, có một người dùng đấu để đong, trải qua nhiều kiếp, c̣n có thể thấu đến tận đáy, đạt được của báu mầu nhiệm. Người có ḷng chí tâm tinh tấn, cầu đạo chẳng ngừng, ắt sẽ đạt được cái quả, có nguyện nào mà chẳng đạt được?) Thế Tự Tại Vương Phật bèn khai thị: - Ngươi phát nguyện rất sâu, rất rộng, ngươi phải phát khởi cái tâm lâu xa, c̣n phải phát tâm tinh tấn. Lâu xa là v́ chẳng thể thành công trong một thời gian ngắn. Nếu ngươi giải đăi, buông lung, dẫu thời gian rất lâu, vẫn chẳng hữu dụng. Dẫu thời gian dài cách mấy, vẫn phải tinh tấn.

          Trước tiên, [đức Phật] nói một thí dụ. Ví như có một người muốn thu nhặt của báu nơi đáy biển, dưới đáy biển có bảo châu ma-ni. Có được bảo châu ma-ni, sẽ có thể cứu độ hết thảy mọi người trong thế gian. Viên bảo châu ma-ni ấy được gọi là Như Ư Bảo Châu. Treo viên Như Ư Châu ấy lên, treo trên sào cao, người cầu nguyện bèn tận lực t́m kiếm ở dưới. Quư vị cầu ǵ, ở phía dưới châu Ma Ni sẽ ban cho quư vị thứ đó, đều đúng như ư của quư vị, nên gọi là Như Ư Châu. Người ấy muốn cứu độ những kẻ bần cùng, khổ năo trong thế gian, kẻ chẳng có quần áo sẽ có quần áo, chẳng có đồ ăn sẽ có đồ ăn. Hễ có được bảo châu ma-ni, sẽ đều có thể măn nguyện. Bảo châu Ma-ni ở nơi đâu? Ở dưới đáy biển. Người ấy bèn phát tâm, muốn múc cạn nước biển. Dùng thứ ǵ để múc? Hiện thời c̣n có máy bơm nước, thời cổ chẳng có máy bơm nước. [Người ấy] dùng đấu để đong, tức là dùng đấu múc nước biển, trải qua nhiều đại kiếp, kết quả sẽ như thế nào? Tát cạn nước biển, thấu tận đáy, bèn đạt được diệu bảo. Điều này có nghĩa là: Chỉ cần quư vị có nguyện tâm kiên cố, chiếu theo nguyện tâm của quư vị mà tu hành, chẳng có ǵ không đạt được mục đích.

          Phần kinh văn tiếp theo thí dụ ấy đă chép: “Nhân hữu chí tâm tinh tấn”, [ư nói] quư vị có cái tâm chí thành, tinh tấn, chẳng giải đăi. “Cầu đạo bất chỉ, hội đương khắc quả” (cầu đạo chẳng ngừng, sẽ có thể đạt được cái quả). Hăy nên hiểu chữ Khắc () là “có thể chứng”. Trong tương lai, quư vị sẽ nhất định chứng đắc quả vị. “Hà nguyện bất đắc?”, ư nói: Quư vị phát ra nguyện ǵ, chẳng có nguyện nào không được măn nguyện, nhất định sẽ măn nguyện.

          “Ư thị, Thế Tự Tại Vương Phật, tức vị quảng thuyết nhị bách nhất thập ức chư Phật sát độ, thiên nhân chi thiện ác, quốc độ chi thô diệu, ứng kỳ tâm nguyện, tất hiện dữ chi” (ngay khi ấy, Thế Tự Tại Vương Phật liền v́ tỳ-kheo nói rộng răi hai trăm mười ức các cơi Phật, sự thiện ác của trời người, sự thô thiển hay tinh diệu trong cơi nước, ứng với tâm nguyện của tỳ-kheo mà đều hiện cho thấy). Đoạn này được mở đầu bằng lời khích lệ. Ông đă phát nguyện ấy rất cao sâu, nhưng ông phải tinh tấn. Tiếp đó, [Thế Tự Tại Vương Phật] bèn dạy tỳ-kheo Pháp Tạng pháp môn Tịnh Độ. Đối với một vị Phật nào đó, một quốc độ nào đó, đức Phật ấy đă tu tịnh độ ấy như thế nào? Tu nhân hạnh ǵ? Kết thành quả ǵ? Một Phật độ [tối thiểu] là một tam thiên đại thiên thế giới. [Thế Tự Tại Vương Phật] đă nói bao nhiêu [cơi Phật] như thế? Nói rộng đến hai trăm mười ức sát độ của chư Phật. “Sát độ” (剎土) là thế giới, nhưng đều là tịnh độ, c̣n có điểm bất đồng là trời người có khi là thuần thiện hay thuần ác, c̣n có những cơi thiện ác xen tạp. Quốc độ có khi là thuần diệu chẳng thô, có khi là thô lẫn diệu đều có. Quốc độ thanh tịnh của mười phương chư Phật đều là cơi nước thanh tịnh, trong ấy cũng có cơi không trang nghiêm cho lắm. Do vậy, đức Phật vừa bảo tỳ-kheo Pháp Tạng, mỗi vị Phật trong mỗi cơi Phật đều có thần thông diệu dụng, vừa nói cảnh giới bảo tỳ-kheo hăy xem: “Ứng kỳ tâm nguyện, tất hiện dữ chi” (ứng theo tâm nguyện của tỳ-kheo đều hiện cho thấy). Nói đến cơi Phật nào, “ông cứ xem đi!” Liền hiện quốc độ ấy cho tỳ-kheo thấy. Chẳng hạn như nói đến thế giới của Phật Dược Sư là cơi lưu ly trang nghiêm, ngay lúc đó liền bảo tỳ-kheo hăy xem thử.

 

2.2.1.2.2.1.3. Pháp Tạng nghe dạy, y pháp tu hành

 

          (Kinh) Thời bỉ tỳ-kheo, văn Phật sở thuyết nghiêm tịnh quốc độ, giai tất đổ kiến, khởi phát vô thượng thù thắng chi nguyện. Kỳ tâm tịch tĩnh, chí vô sở trước, nhất thiết thế gian, vô năng cập giả, cụ túc ngũ kiếp, tư duy nhiếp thủ trang nghiêm Phật quốc thanh tịnh chi hạnh.

          A Nan bạch Phật: - Bỉ Phật quốc độ, thọ lượng kỷ hà?

          Phật ngôn: - Kỳ Phật thọ mạng, tứ thập nhị kiếp. Thời Pháp Tạng tỳ-kheo, nhiếp thủ nhị bách nhất thập ức chư Phật diệu độ thanh tịnh chi hạnh.

          ()時彼比丘,聞佛所說嚴淨國土,皆悉覩見,起發無上殊勝之願。其心寂靜,志無所著。一切世間,無能及者。具足五劫,思惟攝取莊嚴佛國清淨之行。阿難白佛:彼佛國土,壽量幾何?佛言:其佛壽命,四十二劫。時法藏比丘,攝取二百一十億諸佛妙土清淨之行。

          (Kinh: Khi ấy, vị tỳ-kheo đó nghe đức Phật nói các cơi nước trang nghiêm, thanh tịnh, thảy đều trông thấy, bèn phát khởi nguyện thù thắng vô thượng. Tâm Ngài tịch tĩnh, chí chẳng đắm trước, hết thảy thế gian chẳng ai có thể sánh bằng, trọn đủ năm kiếp tư duy nhiếp thủ các hạnh thanh tịnh trang nghiêm cơi Phật.

          Ngài A Nan bạch Phật: - Trong cơi Phật ấy, thọ lượng bao nhiêu?

          Đức Phật nói: - Thọ mạng của vị Phật ấy là bốn mươi hai kiếp. Khi đó, tỳ-kheo Pháp Tạng nhiếp thủ hạnh thanh tịnh từ hai trăm mười ức các cơi nước mầu nhiệm của chư Phật).

 

          “Thời bỉ tỳ-kheo” (Khi ấy, tỳ-kheo), [tỳ-kheo”] tức là tỳ-kheo Pháp Tạng, “văn Phật sở thuyết” [nghĩa là] nghe Thế Tự Tại Vương Phật nói, “nghiêm tịnh quốc độ”, các loại cơi nước trang nghiêm, thanh tịnh đó, “giai tất đổ kiến”, thảy đều tận mắt trông thấy. Đó là thần thông diệu dụng của Thế Tự Tại Vương Phật, vừa nói cho tỳ-kheo nghe, vừa khiến cho tỳ-kheo trông thấy. Nay chúng tôi rút nhỏ con số một tí để chúng ta có thể kiên cố tín tâm của chính ḿnh. Hiện thời, chúng ta có thể quán tưởng: Có một vị đại đức tỳ-kheo phát tâm muốn tạo lập một thập phương đạo tràng để có thể cho người xuất gia trong mười phương đều đến đó tu hành. Vị này là tỳ-kheo mới phát tâm, t́m được một vị lăo sư phụ, bèn thỉnh giáo vị ấy khai thị: “Con phát nguyện rất lớn, rất cao như thế đó, nhưng con chẳng biết tu như ra sao? Tạo như thế nào? Thầy là bậc tham phỏng nhiều, học rộng, đă từng thấy quá nhiều đạo tràng, hy vọng thầy sẽ dạy nhiều điều cho con tham khảo”. Vị lăo tu hành ấy chỗ nào cũng đă từng đi qua, lại c̣n rất lưu tâm, hễ đến một đạo tràng, [vị ấy bèn chú tâm quan sát] đạo tràng ấy tốt đẹp như thế nào? Tốt đẹp ở chỗ nào? C̣n có những chỗ nào chưa tốt, vị ấy đều ghi nhớ rất rơ ràng, lại c̣n chụp vào phim, đều giữ được. Nay gặp vị tỳ-kheo mới phát tâm xin vị [lăo tu hành] ấy chỉ dạy, vị ấy liền lấy ra toàn bộ những thước phim ấy, tối thiểu là có hai mươi mốt ṭa đại tùng lâm. Hai trăm mười ức cơi nước của chư Phật như trong kinh [đă nói] chẳng phải là cảnh giới của chúng ta, tính không ra, nhưng hai mươi mốt ngôi đại tự viện th́ tính toán được! Chẳng hạn như nói chùa Thiên Ninh, chùa Thiên Đồng, chùa Kim Sơn, chùa Cao Minh… ở Đại Lục, hai mươi mốt ngôi đại tự viện nổi tiếng, bỏ phim vào máy chiếu, chiếu cho vị tỳ-kheo mới phát tâm xem: “Thầy thấy đây là chùa Thiên Ninh, đại điện tốt đẹp như thế này, như thế nọ”. Lại đổi sang tấm phim khác, chùa Thiên Đồng, chùa Kim Sơn, chùa Cao Minh[9], mỗi mỗi đều bảo tỳ-kheo xem, vừa giảng giải đạo tràng nào đó tốt đẹp như thế ấy, nhưng trong đó c̣n có chút khuyết điểm, cũng bảo cho tỳ-kheo biết. Vị tỳ-kheo mới phát tâm ấy có tài liệu để tham khảo, hai mươi mốt ṭa đại tùng lâm, tất cả những ưu điểm, những chỗ tốt đẹp đều chọn lọc, tùng lâm nào có những khuyết điểm bất hảo, thảy đều loại bỏ. Kiến lập một thập phương tùng lâm, kiến lập một đại đạo tràng như thế đó. Đại đạo tràng ấy trang nghiêm vượt trỗi hai mươi mốt ṭa tùng lâm, nay đă làm được. Con số nhỏ hơn một tí, chúng ta có thể phát sanh ḷng tin. Quư vị phát tâm muốn xây dựng một đại đạo tràng, phát cái tâm ấy là đúng, [thế nhưng] nhất định phải có tài liệu, tham khảo tài liệu cho nhiều, quư vị mới tạo được một ngôi đại đạo tràng, mới có thể trang nghiêm.

          Quư vị chẳng tham khảo tài liệu, cứ tùy tiện tạo, chuyện này chẳng phải là cứ có tiền là có thể tạo. Có tiền mà quư vị chẳng biết dùng, sẽ tạo ra [một ngôi tùng lâm] chẳng trang nghiêm. Chúng tôi chẳng cần phải nói đến tên tuổi của ngôi chùa ấy. Có một tự viện tạo một bài lâu[10], tốn công chẳng ít, nhưng quá thấp, hoàn toàn chẳng tương xứng với đại điện (chánh điện), trông rất chướng mắt! Sao mà xây cất chẳng phối hợp, trước đại điện lại tạo một ṭa bài lâu thấp lủn chủn như vậy? Chẳng phải là tôi thấy không thuận mắt, có thể là người thấy gai mắt quá nhiều. Hiện thời, ngôi chùa ấy đă phá bỏ ṭa bài lâu ấy, nay họ đă xây một ṭa bài lâu cao [tương xứng], chẳng phải là đă tốn tiền oan uổng xây ṭa bài lâu thấp chủn trước kia ư? Đó là người phát tâm lần đầu, phát tâm tốt đẹp, nhưng chẳng tham học, chẳng tham khảo tài liệu, làm ra sẽ không đủ trang nghiêm. Do vậy, quư vị phát tâm kiến trúc đạo tràng, phát ra cái tâm ấy là đúng, nhưng nhất định phải có tài liệu để tham khảo, trong Phật môn gọi là “băo tham băo học” (tham khảo nhiều, học rộng). Quư vị đi khắp nơi xem xét, học hỏi, tham khảo cho nhiều, quư vị xây cất đạo tràng, nhất định sẽ xây dựng vĩ đại, trang nghiêm. Chúng tôi nói đến một cảnh giới bé tí, muốn dựng một đạo tràng, phải chọn lựa tài liệu từ hai mươi mốt ṭa tùng lâm!

          Tỳ-kheo Pháp Tạng, tức là A Di Đà Phật trong khi c̣n tu nhân, cảnh giới to hơn chúng ta nhiều. Thế Tự Tại Vương Phật lại càng chẳng phải là một vị thiện tri thức tầm thường. V́ thế, khi Ngài giảng giải cho tỳ-kheo Pháp Tạng hai trăm mười ức Tịnh Độ, chúng ta có thể biết thế giới Cực Lạc trang nghiêm cỡ nào, trang nghiêm vượt trỗi hai trăm mười ức Tịnh Độ của chư Phật! Trong hư không, chẳng có cơi Phật tịnh độ thứ hai nào vượt trỗi thế giới Cực Lạc, v́ sao? V́ tỳ-kheo Pháp Tạng chọn lấy sự trang nghiêm từ hai trăm mười ức cơi tịnh, tập hợp chúng lại, tạo thành một đạo tràng. Quư vị hăy ngẫm xem, c̣n ǵ có thể vượt trỗi được chăng?

          “Khởi phát vô thượng thù thắng chi nguyện” (dấy khởi nguyện thù thắng vô thượng): Sau khi tỳ-kheo Pháp Tạng trông thấy hai trăm mười ức quốc độ thanh tịnh trang nghiêm, liền phát đại nguyện, phát đại nguyện thù thắng nhất, vô thượng nhất. “Kỳ tâm tịch tĩnh, chí vô sở trước. Nhất thiết thế gian, vô năng cập giả” (tâm Ngài tịch tĩnh, chí chẳng đắm trước, hết thảy thế gian không ai có thể sánh bằng): Ngài phát nguyện, phát ra nguyện thù thắng vô thượng, tức là ta sẽ chắt lọc tinh hoa từ hai trăm mười ức quốc độ của chư Phật, ta sẽ tạo thành thế giới Cực Lạc, nhưng Ngài đă chiếu theo bổn tánh thanh tịnh của chính ḿnh để phát nguyện. “Kỳ tâm tịch tĩnh, chí vô sở trước” (tâm Ngài tịch tĩnh, chí chẳng đắm trước): Chẳng có một tâm niệm chấp trước nào! “Nhất thiết thế gian, vô năng cập giả” (hết thảy thế gian, chẳng ai có thể sánh bằng), hết thảy thế gian, ai phát nguyện mà chẳng chấp tướng, chẳng có ai vượt trỗi tỳ-kheo Pháp Tạng được! V́ thế, trong phần trước, có nói đến pháp b́nh đẳng bất sanh bất diệt, tôi đă giảng rồi, nhưng nhắc lại, v́ muốn chư vị liễu giải đạo lư này, tức là Phật Tánh của chúng ta cũng là bản thể của chúng ta, c̣n gọi là diệu lư Thật Tướng. Do nương vào bản thể Phật Tánh, nương vào diệu lư Thật Tướng, nên Ngài phát nguyện mà chẳng dấy lên chấp trước. Khi chẳng dấy lên chấp trước, nguyện ấy mới là nguyện thanh tịnh. Quư vị kiến lập hạnh môn ấy mới gọi là nguyện thanh tịnh, hạnh môn do quư vị kiến lập mới gọi là hạnh môn thanh tịnh, quốc độ, đạo tràng do quư vị tạo ra mới gọi là quốc độ thanh tịnh, hoặc đạo tràng thanh tịnh.

          Nói tới chuyện chúng ta có thể làm được, [chẳng hạn như] hiện thời chúng ta muốn phát tâm dựng một đại đạo tràng. Phát tâm xây dựng một đại đạo tràng chẳng phải là chuyện dễ dàng. Phát tâm bất quá chỉ là phát tâm, c̣n xây dựng th́ sao? Xây dựng đạo tràng liên quan đến phước báo đă vun bồi trong đời trước, kiếp trước. Có phước báo hay không, đó là một mối quan hệ to lớn. Đời trước quư vị vun bồi phước báo nhiều, như vậy th́ quư vị xây cất một đại đạo tràng rất thuận lợi. Nếu đời trước, quư vị vun bồi phước báo nhỏ nhoi, vun bồi phước báo chẳng đủ, vậy th́ xây dựng một đại đạo tràng sẽ rất khó khăn. Ở đây, quư vị phải chú ư, chú ư điều ǵ? Hăy chú ư đừng nên chấp tướng. Ta phát tâm xây dựng đạo tràng, chẳng xây dựng thành công, sẽ trọn chẳng ngưng nghỉ, đấy là dũng mănh tinh tấn. Nếu quư vị chấp tướng, xây cất đạo tràng ấy xong, hết thảy tín đồ đều giúp đỡ quư vị, nguyện ấy được thành tựu rất mau, do quư vị chấp tướng, sẽ dễ dàng dấy lên phiền năo ngă mạn, ngỡ ḿnh ghê gớm lắm! “Các ngươi xem đó, ta dựng đại đạo tràng này, xây dựng rất nhanh chóng”. Đấy là cái tâm ngă mạn. Ngă mạn là căn bản phiền năo, “tham, sân, si, mạn, nghi”! Nó là một trong năm món căn bản phiền năo, chính ḿnh bất tri bất giác dấy ḷng ngă mạn. Nếu phước báo của quư vị chẳng đủ, nhưng quư vị chẳng biết, dựng môt đạo tràng, phát nguyện tạo dựng [sẽ gặp] hết sức khó khăn, hóa duyên chẳng được, toàn gặp phải chuyện gai góc, đụng chuyện này, vấp chuyện kia, như thế nào? Đạo tâm của chính ḿnh bị đập tan hết. “Ôi chao! Chẳng tạo đạo tràng được, ta lên núi ở trong lều tranh cho rồi!” Quư vị thoái thất đạo tâm, v́ sao? Quư vị chấp tướng, ta muốn xây dựng đạo tràng nhất định phải đạt tới mục đích, giống như dùng đấu đong nước biển. Quư vị múc sạch nước biển đổ ra ngoài, va vấp cỡ nào, ta vẫn chẳng ngă ḷng, thuận lợi cỡ nào, ta vẫn chẳng dám dấy tâm ngă mạn. Chuyện này đ̣i hỏi quư vị đừng chấp tướng, đấy chính là công phu!

          “Cụ túc ngũ kiếp, tư duy nhiếp thủ trang nghiêm Phật quốc thanh tịnh chi hạnh” (trọn đủ năm kiếp, tư duy nhiếp thủ hạnh thanh tịnh trang nghiêm cơi Phật): Ngài phát nguyện bèn tu hành, thời gian tu tập tṛn đủ năm đại kiếp, nên nói là “cụ túc ngũ kiếp”. Tu hành trong năm đại kiếp, vừa tư duy, tức là đang suy xét, lại đồng thời phải nhiếp thủ, tức là chọn lọc từ sự trang nghiêm nơi các tịnh độ của chư Phật do Thế Tự Tại Vương Phật đă dạy, Tịnh Độ nào tốt nhất, trang nghiêm nhất? Ta thâu gom lại. Ngài tu hạnh thanh tịnh trang nghiêm tịnh độ như vậy, tu suốt năm đại kiếp.

          “A Nan bạch Phật: Bỉ Phật quốc độ, thọ lượng kỷ hà?” (ngài A Nan bạch: - Cơi nước Phật ấy, thọ lượng là bao nhiêu?) Khi đó, sợ bọn người nghe kinh chúng ta sẽ dấy ḷng nghi hoặc, tôn giả A Nan liền hỏi thay cho chúng ta. V́ trong thế giới Sa Bà này, đức Phật trụ thế tổng cộng tám mươi năm, ngay cả tiểu kiếp c̣n chưa thể nói được, huống hồ bàn đến đại kiếp? Ở đây, [đức Thế Tôn] nói tỳ-kheo Pháp Tạng tu hành suốt năm đại kiếp, tôn giả A Nan sợ chúng ta hoài nghi, liền thưa hỏi thay cho chúng ta: “Trong cơi nước của vị Phật ấy, Chánh Báo Phật, y báo, thế giới, quốc độ, thọ lượng là bao nhiêu? Lâu dài cỡ nào?” Đức Phật đáp: “Kỳ Phật thọ mạng, tứ thập nhị kiếp”, nghĩa là Thế Tự Tại Vương Phật trụ trong thế gian bốn mươi hai đại kiếp. “Thời Pháp Tạng tỳ-kheo nhiếp thủ nhị bách nhất thập ức chư Phật diệu độ thanh tịnh chi hạnh” (khi ấy, tỳ-kheo Pháp Tạng nhiếp thủ hạnh thanh tịnh hai trăm mười ức cơi Phật mầu nhiệm): Do Thế Tự Tại Vương Phật trụ thế lâu tới bốn mươi hai đại kiếp, tỳ-kheo Pháp Tạng mới tu năm đại kiếp. Thế Tự Tại Vương Phật tại thế rất lâu xa, cho nên tỳ-kheo Pháp Tạng nhiếp thủ các hạnh thanh tịnh của hai trăm mười ức cơi Phật mầu nhiệm.

 

2.2.1.2.2.2. Nói rộng về những điều đă tu

2.2.1.2.2.2.1. Nói rộng những đại nguyện trên đây

2.2.1.2.2.2.1.1. Pháp Tạng đến chỗ Phật, thưa rơ hạnh của chính ḿnh

 

          (Kinh) Như thị tu dĩ, nghệ bỉ Phật sở, khể thủ lễ túc, nhiễu Phật tam táp, hiệp chưởng nhi trụ, bạch Phật ngôn: “Thế Tôn! Ngă dĩ nhiếp thủ trang nghiêm Phật độ thanh tịnh chi hạnh”.

          ()如是修已,詣彼佛所,稽首禮足,遶佛三帀,合掌而住,白佛言:世尊!我已攝取莊嚴佛土清淨之行。       

          (Kinh: Tu như thế rồi, đến chỗ đức Phật ấy, dập đầu lễ dưới chân Phật, nhiễu quanh Phật ba ṿng, đứng chắp tay, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con đă nhiếp thủ hạnh thanh tịnh trang nghiêm cơi Phật”).

 

          “Như thị tu dĩ, nghệ bỉ Phật sở, khể thủ lễ túc, nhiễu Phật tam táp, hiệp chưởng nhi trụ” (tu như thế rồi, đến chỗ đức Phật, dập đầu lễ dưới chân đức Phật, nhiễu Phật theo chiều phải ba ṿng, đứng chắp tay): Tỳ-kheo Pháp Tạng lại đến gặp Thế Tự Tại Vương Phật để thưa tŕnh. “Bạch Phật ngôn: - Thế Tôn! Ngă dĩ nhiếp thủ trang nghiêm Phật độ thanh tịnh chi hạnh” (bạch đức Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Con đă nhiếp thủ hạnh thanh tịnh trang nghiêm cơi Phật”). Sau khi con nghe đức Thế Tôn khai thị, con đă nhiếp thủ hạnh thanh tịnh trang nghiêm các cơi nước Phật, con đă tu năm đại kiếp. Từ con số “năm đại kiếp”, chúng ta biết Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng phải là bỗng dưng mà có, mà là do tỳ-kheo Pháp Tạng phát ra đại nguyện, chiếu theo đại nguyện để tu đại hạnh, tu trong năm đại kiếp bèn thành tựu. Quư vị thấy đại tùng lâm, đại đạo tràng, đă tu tạo mấy chục năm mới trang nghiêm như vậy, chẳng phải là một đại đạo tràng từ trên trời rơi xuống, cũng chẳng phải là trong hư không bỗng hiện ra thế giới Cực Lạc! Phật giáo nói “có nhân bèn có quả, nhân như thế nào th́ mới có thể có quả như thế ấy”, chúng ta phải kiên định tín tâm, nhất định tin tưởng thế giới Cực Lạc!

 

2.2.1.2.2.2.1.2. Như Lai dạy [Pháp Tạng] hăy nói ra

 

          (Kinh) Phật cáo tỳ-kheo: “Nhữ kim khả thuyết, nghi tri thị thời, phát khởi duyệt khả nhất thiết đại chúng. Bồ Tát văn dĩ, tu hành thử pháp, duyên trí măn túc vô lượng đại nguyện”.

          ()佛告比丘:汝今可說,宜知是時,發起悅可一切大眾。菩薩聞已,修行此法,緣致滿足無量大願。

          (Kinh: Đức Phật bảo tỳ-kheo: “Ông nay hăy nên nói, hăy nên biết là đúng lúc để phát khởi sự vui sướng, tán thành nơi hết thảy đại chúng. Hàng Bồ Tát nghe xong, tu hành pháp này, nhờ vào đó mà đầy đủ vô lượng đại nguyện”).

 

          “Phật cáo tỳ-kheo”: Thế Tự Tại Vương Phật bảo tỳ-kheo Pháp Tạng: “Nhữ kim khả thuyết, nghi tri thị thời” (ông nay hăy nên nói, hăy nên biết là đúng lúc), hiện thời, ông hăy nên nói về hạnh môn nhiếp thủ tịnh độ, quốc độ, nhiếp thủ như thế nào? Dùng hạnh môn ǵ? Ông hăy nên biết, đây chính là thời gian [thích hợp] để ông nói ra. Thời gian như thế nào vậy? V́ có ta là Thế Tự Tại Vương Phật có thể chứng minh cho ông. “Phát khởi duyệt khả nhất thiết đại chúng” (phát khởi sự vui sướng, tán thành của hết thảy đại chúng): Ông hăy nói ra, ông đă phát nguyện ǵ? Tu hạnh ǵ? Thành tựu thế giới Cực Lạc tức là ông đă “phát khởi duyệt khả nhất thiết đại chúng”, [nghĩa là] khiến cho hết thảy đại chúng đều sanh tâm hoan hỷ, đều tán thành ông đă làm đúng; điều này gọi là “duyệt khả” (悅可). Đại chúng nơi này đều là đại chúng Đại Thừa.

          “Bồ Tát văn dĩ, tu hành thử pháp” (Bồ Tát nghe xong, tu hành pháp này): Mọi người đều dựa theo đó mà tu hành, đều hành pháp môn Tịnh Độ này. “Duyên trí măn túc” (do vậy mà đạt được trọn đủ), “trí” () là đạt được, kết quả là nhân duyên được trọn đủ. “Vô lượng đại nguyện”: Nay chúng ta niệm Phật, niệm kinh, hoặc là giảng kinh. “Nguyện dĩ thử công đức, trang nghiêm Phật tịnh độ” (nguyện do công đức này, trang nghiêm Phật Tịnh Độ): Chúng ta là sơ phát tâm Bồ Tát, nghe tỳ-kheo Pháp Tạng tu Tịnh Độ, chúng ta muốn tham gia góp một phần công đức, những vị Đại Thừa Bồ Tát ấy nghe xong, sẽ đều tu pháp môn này, sẽ đều có thể trọn đủ đại nguyện tu Tịnh Độ này!

 

2.2.1.2.2.2.1.3. Pháp Tạng tự nói lời nguyện của chính ḿnh

 

          (Kinh) Tỳ-kheo bạch Phật: “Duy thùy thính sát! Như ngă sở nguyện, đương cụ thuyết chi”.

          ()比丘白佛:唯垂聽察!如我所願,當具說之。

          (Kinh: Tỳ-kheo bạch Phật: “Kính xin [đức Phật] rủ ḷng nghe xét, như đối với lời nguyện của con, sẽ nói đầy đủ [như sau]”).

 

          “Tỳ-kheo bạch Phật”: Tỳ-kheo Pháp Tạng bẩm báo với Thế Tự Tại Vương Phật. “Duy thùy thính sát” (xin rủ ḷng nghe xét): Điều này mang ư nghĩa tôn kính Phật. Phật cao vời ở trên, nghe con nói ắt phải nghiêng người xuống nghe. Đấy gọi là “duy thùy thính sát”. “Như ngă sở nguyện, đương cụ thuyết chi” (như lời nguyện của con, sẽ nói đầy đủ): Thế Tự Tại Vương Phật bảo tỳ-kheo Pháp Tạng hăy nói ra hạnh thanh tịnh do chính tỳ-kheo đă tu; do vậy, tỳ-kheo Pháp Tạng bèn nêu bày đại nguyện do chính ḿnh đă phát. Hăy nên biết, pháp môn của tỳ-kheo Pháp Tạng là do đại nguyện của chính Ngài dẫn xuất, thường nói là “y nguyện dẫn hạnh(nương theo nguyện mà dẫn khởi hạnh), nêu bày đại nguyện của Ngài cũng tức là nêu bày pháp môn của chính Ngài. Do vậy, tiếp đó, [kinh văn] nêu rơ bốn mươi tám đại nguyện do tỳ-kheo Pháp Tạng đă phát. Hằng ngày, chúng ta tụng kinh khóa tối, trước khi niệm danh hiệu A Di Đà Phật, trước đó bèn niệm tám câu kệ tán Phật: “A Di Đà Phật thân kim sắc, tướng hảo quang minh vô đẳng luân, bạch hào uyển chuyển ngũ Tu Di, cám mục trừng thanh tứ đại hải, quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên, tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn”. Bài kệ tán Phật gồm tám câu ấy, bảy câu đều phát xuất từ Thập Lục Quán Kinh, chỉ có một câu “tứ thập bát nguyện độ chúng sanh” trích từ kinh Vô Lượng Thọ; vậy th́ bốn mươi tám đại nguyện là bốn mươi tám đại nguyện nào? Nay tôi sẽ nói từng điều cho quư vị nghe, quư vị sẽ biết A Di Đà Phật tạo lập thành công Tây Phương Cực Lạc thế giới như thế nào? Chính là do đă dựa trên bốn mươi tám đại nguyện này mà tạo lập thành công.

          Trong bốn mươi tám đại nguyện ấy, ư nghĩa được phân thành ba loại:

          1) Nhiếp thủ Phật thân nguyện: Tôi, tỳ-kheo Pháp Tạng, có thể thành tựu thân Phật bằng cách nào?

          2) Nhiếp thủ Tịnh Độ nguyện: Tôi, tỳ-kheo Pháp Tạng, thành tựu một quốc độ thanh tịnh như thế nào?

          3) Nhiếp thủ chúng sanh nguyện: Tôi, tỳ-kheo Pháp Tạng, nhiếp thủ chúng sanh trong mười phương sanh về thế giới trang nghiêm thanh tịnh của tôi như thế nào?

          Trong bốn mươi tám đại nguyện ấy, nguyện thứ mười hai, nguyện thứ mười ba, và nguyện thứ mười bảy là nhiếp thủ Phật thân nguyện, mong thành tựu Phật thân. Nguyện thứ ba mươi mốt và nguyện thứ ba mươi hai, hai nguyện này là nhiếp thủ Tịnh Độ nguyện. Bốn mươi ba nguyện kia đều là nhiếp thủ chúng sanh nguyện.

 

1) Nguyện thứ nhất, cơi nước không có ác đạo

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc hữu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國有地獄、餓鬼、畜生者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, cơi nước có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Trước hết, nói về đại nguyện thứ nhất, nguyện trong cơi nước của Ngài chẳng có ba ác đạo. “Thiết ngă đắc Phật, quốc hữu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, cơi nước có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Những nguyện do A Di Đà Phật đă phát đều là từ trong thế giới Sa Bà này. Ngài trông thấy chúng sanh khổ sở như vậy, muốn cứu độ chúng sanh ĺa khổ được vui. Chúng sanh đau khổ, khổ nhất là đọa lạc trong ba ác đạo. Đă đọa lạc rồi, khổ sở dữ dội, thời gian [chịu khổ] lại dài! Hễ đọa lạc trong tam ác đạo, muốn trở ḿnh thoát ra, chẳng biết phải trải qua bao nhiêu đại kiếp? Do vậy, Ngài phát nguyện, tôi muốn tạo ra một quốc gia, căn bản là chẳng có ba ác đạo. Nếu tôi tạo ra một quốc gia, tạo thành một quốc độ, nếu trong quốc độ của tôi mà có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tức ba ác đạo, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác, [tức là] tôi tuyệt đối chẳng thành Phật.

          Đại nguyện thứ nhất là Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có ba ác đạo; trên thực tế, ngay cả A-tu-la đạo cũng chẳng có! Trong kinh Phật, có khi chia thành lục đạo, có khi chia thành ngũ đạo, tức thiên đạo, nhân đạo, địa ngục đạo, ngạ quỷ đạo, súc sanh đạo. Không chỉ là chẳng có ba ác đạo, ngay cả A-tu-la đạo cũng chẳng có. Hăy nhớ, Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ có thiên đạo và nhân đạo là hai đường chúng sanh, mà hai đạo chúng sanh ấy có thể giao tiếp, qua lại với nhau. Đấy là đại nguyện thứ nhất. “Bất thủ Chánh Giác” là lời thề nguyền do Ngài lập ra.

          Chúng sanh chẳng nghe biết Phật pháp, chẳng biết thành Phật, làm Phật là ǵ! Họ cũng chưa hề nghe qua. Kẻ đă nghe Phật pháp th́ sao? Chẳng phát nổi đại tâm, chẳng dám thành Phật! Đă được nghe Phật pháp, họ cũng tin tưởng có Phật, vậy th́ [bảo họ] “quư vị phải phát tâm thành Phật”. [Họ than văn]: “Ối giời! Tôi là một chúng sanh phàm phu khổ năo, tôi làm sao dám thành Phật cho nổi!” Họ chẳng dám thành Phật. Lại c̣n có một hạng chúng sanh, đă phát tâm mong thành Phật, nhưng công phu của chính họ chẳng đủ, muốn thành Phật mà chẳng thể thành, tâm tâm niệm niệm mong thành Phật, nhưng chính họ chẳng thể thành Phật. Nhưng đối với các vị đại Bồ Tát, thành Phật th́ tuyệt đối là có thể thành, v́ các Ngài phát đại nguyện, lập đại hạnh, chẳng măn nguyện sẽ chẳng thành Phật. Đối với việc thành Phật, các Ngài đă lập một lời thề: Nếu ta chẳng đạt được mục đích của ta, chẳng thỏa măn nguyện của ta, ta chẳng đến cơi Phật ấy. “Bất thủ Chánh Giác” có ư nghĩa này.

 

2) Nguyện thứ hai, chẳng c̣n đọa vào ba ác đạo

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, thọ chung chi hậu, phục cánh tam ác đạo giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人壽終之後,復更三惡道者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước sau khi mạng chung, lại đọa trong ba ác đạo, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ hai, chẳng c̣n đọa trong ác đạo. Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có ba ác đạo, quư vị từ thế giới Cực Lạc lui xuống, tức là sanh vào trong thế giới khác có ba ác đạo, quư vị có c̣n phải đọa trong ba đường ác hay chăng? Sẽ chẳng thoái chuyển! Chỉ cần quư vị sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ vĩnh viễn chẳng đọa lạc trong ba ác đạo. Kinh văn chép: “Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân” (nếu tôi thành Phật, trời người trong nước): Trong cơi của Ngài chỉ có thiên đạo và nhân đạo. “Thọ chung chi hậu, phục cánh tam ác đạo giả, bất thủ Chánh Giác” (sau khi mạng chung mà c̣n vào trong ba ác đạo, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác), tuyệt đối sẽ chẳng đọa lạc vào ba ác đạo nữa!

 

3) Nguyện thứ ba, thân chân kim sắc

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất tất chân kim sắc giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,不悉真金色者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi không đều là thân màu vàng ṛng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba, thân thể của trời người trong cơi nước của Ngài đều là kim sắc. “Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất tất chân kim sắc giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi không đều là thân màu vàng ṛng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác). V́ trong thế giới Sa Bà, chỉ có thân thể đức Phật là màu vàng ṛng, tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện: Nhân dân trong cơi nước của Ngài thảy đều là màu vàng ṛng.

 

4) Nguyện thứ tư, h́nh sắc tương đồng

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, h́nh sắc bất đồng, hữu hảo xú giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,形色不同,有好醜者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi h́nh sắc khác nhau, có kẻ xấu, người đẹp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ tư, h́nh sắc giống nhau. “Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, h́nh sắc bất đồng, hữu hảo xú giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi h́nh sắc khác nhau, có kẻ xấu, người đẹp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Nhân dân trong cơi nước, tức là thiên chúng và nhân chúng, thân thể của hai đường chúng sanh ấy đều là màu vàng ṛng, tướng mạo giống nhau, chẳng chia ra ai là đẹp, ai là xấu. V́ phân chia xấu đẹp, sẽ dấy lên phiền năo kiêu căng, ngă mạn, dấy lên phiền năo ghen tỵ, chướng ngại. Do đó, Ngài phát nguyện, h́nh sắc, tức là thân h́nh và thân tướng của chúng sanh trong cơi nước của Ngài chẳng có kẻ xấu, người đẹp.

          Hai đại nguyện trên đây, đại nguyện thứ ba là nguyện “thân đều là màu vàng ṛng”, đại nguyện thứ tư là “h́nh sắc tương đồng”, chẳng có người đẹp, chẳng có kẻ xấu. Người học Phật pháp có thể lấy làm lạ đôi chút. Người học Phật pháp chúng ta phải suy đến cái nhân trong đời trước và cái quả trong đời này. Đời này v́ sao làm người, là một người trưởng thành tướng mạo trang nghiêm, dễ coi, v́ sao người ấy được như vậy? V́ đời trước đă vun bồi cái nhân khác nhau, vậy th́ sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật phát nguyện khiến cho chúng ta đều có tướng mạo như nhau, làm sao có thể giống nhau? Đó là v́ cái nhân sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới đều như nhau, nhân ǵ vậy? Đều do niệm A Di Đà Phật mà sanh về. Do vậy, sanh về bên đó, do đều nương theo đại nguyện của A Di Đà Phật mà tướng mạo tương đồng.

 

5) Nguyện thứ năm, Túc Mạng Trí Thông

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất thức Túc Mạng, hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha chư kiếp sự giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,不識宿命,下至知百千億那由他諸劫事者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng biết Túc Mạng, tối thiểu là biết những chuyện trong trăm ngàn ức na-do-tha[11] kiếp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ năm, tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện: Nhân dân sanh về nước tôi, thảy đều sanh ra bèn có Túc Mạng Thông. Túc Mạng Thông là biết chuyện trong đời trước, kiếp trước. Biết chuyện trong đời trước là loại Túc Mạng Thông thấp nhất. [Người trong thế giới Cực Lạc] dẫu Túc Mạng Thông thuộc loại thấp nhất cũng sẽ biết “những chuyện trong trăm ngàn ức na-do-tha kiếp”, tức là biết chuyện trong trăm ngàn ức các kiếp. Nếu chẳng phải là như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

6) Nguyện thứ sáu, Thiên Nhăn thấy trọn khắp

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất đắc Thiên Nhăn, hạ chí kiến bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,不得天眼,下至見百千億那由他諸佛國者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng đắc Thiên Nhăn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na-do-tha các cơi Phật, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ sáu là nguyện đắc Thiên Nhăn thấy trọn khắp. Sanh vào nước ấy, mỗi người b́nh thường đều có Thiên Nhăn Thông, có thể trông thấy thế giới của mười phương chư Phật, thấy rất rơ ràng. Thiên Nhăn Thông ở mức độ thấp nhất th́ cũng có thể thấy trăm ngàn ức na-do-tha các cơi nước của chư Phật. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

7) Nguyện thứ bảy, Thiên Nhĩ nghe trọn khắp

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất đắc Thiên Nhĩ, hạ chí văn bách thiên ức na-do-tha chư Phật sở thuyết, bất tất thọ tŕ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,不得天耳,下至聞百千億那由他諸佛所說,不悉受持者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng đắc Thiên Nhĩ, tối thiểu chẳng nghe lời dạy của trăm ngàn ức na-do-tha chư Phật, chẳng đều thọ tŕ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ bảy là nguyện đắc Thiên Nhĩ Thông. Người sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, không chỉ nghe A Di Đà Phật thuyết pháp, mà chư Phật thuyết pháp trong trăm ngàn ức quốc độ ở phương khác, người ấy đều có thể nghe được. V́ sao? V́ quư vị có Thiên Nhĩ, có thể nghe chư Phật thuyết pháp trong các thế giới chư Phật.

 

8) Nguyện thứ tám, đều biết tâm của kẻ khác

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất đắc kiến Tha Tâm Trí, hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc trung chúng sanh tâm niệm giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,不得見他心智,下至知百千億那由他諸佛國中眾生心念者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng đạt được Tha Tâm Trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ tám là nguyện đắc Tha Tâm Trí. Chư Phật quán sát căn cơ của chúng sanh bằng cách sử dụng Tha Tâm Thông, c̣n gọi là Tha Tâm Trí. Trời người sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, thảy đều đắc Tha Tâm Trí, tối thiểu là thảy đều có thể biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức quốc độ ở phương khác. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

9) Nguyện thứ chín, Thần Túc vô ngại

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất đắc Thần Túc, ư nhất niệm khoảnh, hạ chí bất năng siêu quá bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,不得神足,於一念頃,下至不能超過百千億那由他諸佛國者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng đắc Thần Túc, trong khoảng một niệm, tối thiểu là chẳng thể vượt qua trăm ngàn ức na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ chín là nguyện đắc Thần Túc Thông, gọi là “Thần Túc vô ngại”. “Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất đắc Thần Túc” (nếu tôi thành Phật, trời người trong nước chẳng đắc Thần Túc), gọi là Thần Túc Thông. “Ư nhất niệm khoảnh”, trong khoảng một niệm. “Hạ chí bất năng siêu quá bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác” [nghĩa là]: Trong một niệm, có thể vượt qua các cơi nước Phật. Kinh Di Đà nói: Trong khoảng một bữa ăn, có thể dùng hương hoa cúng dường mười vạn ức Phật. Đấy vẫn là tối thiểu, [v́ trong thực tế], trong một niệm ấy, [người trong cơi Cực Lạc] có thể vượt qua trăm ngàn ức na-do-tha cơi nước của chư Phật.       

          Trên đây [là những nguyện cho thấy] sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ trọn đủ năm món thần thông này. Trong thế giới Sa Bà, sanh lên trời, cũng có thể đạt được năm thứ thần thông ấy, chúng được gọi là Báo Thông (報通, thần thông đạt được do quả báo). Sanh lên trời là quả báo của chư thiên, tự nhiên có năm loại thần thông; sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, năm loại thần thông càng cao, càng sâu hơn! Tiếp theo đây, c̣n có loại thần thông thứ sáu, gọi là Lậu Tận Thông. Lậu () là phiền năo. [Lậu Tận Thông] là món thần thông đạt được do đă đoạn hết phiền năo. Trong thế giới Sa Bà, chư thiên chẳng có món thần thông này, chỉ A La Hán mới có. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ có Lậu Tận Thông. Lậu Tận Thông bao gồm hai đại nguyện, tức nguyện thứ mười và nguyện thứ mười một.

 

10) Nguyện thứ mười, chẳng tham đắm, so đo thân thể

         

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nhược khởi tưởng niệm, tham kế thân giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,若起想念貪計身者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi mà nếu như dấy lên tưởng niệm, tham đắm, so đo cái thân, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

11) Nguyện thứ mười một, trụ Định, chứng Diệt

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất trụ Định Tụ, tất chí diệt độ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,不住定聚,必至滅度者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng trụ trong Định Tụ, ắt đạt đến diệt độ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Lậu Tận Thông được chia thành hai nguyện. Nguyện thứ mười là chẳng tham đắm, so đo thân thể của chính ḿnh. “Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nhược khởi tưởng niệm tham kế thân giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi mà nếu như dấy lên tưởng niệm, tham đắm, so đo cái thân, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Chúng sanh trong Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng dấy lên tâm tham. “Kế” () là chấp trước. Chẳng chấp trước thân thể của chính ḿnh, tức là chẳng dấy lên Thân Kiến. Nguyện thứ mười một là “trụ Định, chứng Diệt”: “Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất trụ Định Tụ, tất chí diệt độ giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi chẳng trụ trong Định Tụ, ắt đạt đến diệt độ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác). Hết thảy chúng sanh được chia thành ba loại lớn, gọi là Tam Tụ (三聚):

          1) Loại thứ nhất là Tà Định Tụ, tức chúng sanh tà kiến.

          2) Loại thứ hai là Bất Định Tụ, tiến tiến lùi lùi chẳng nhất định.

          3) Loại thứ ba là Chánh Định Tụ, chỉ tiến, chẳng lùi bước, nên gọi là Chánh Định Tụ.

          Ngài (tỳ-kheo Pháp Tạng) phát nguyện: “Chúng sanh chỉ cần sanh về cơi nước của ta mà chẳng trụ trong Chánh Định Tụ, măi cho đến khi chứng Niết Bàn, sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Nguyện thứ mười và nguyện thứ mười một hợp thành Lậu Tận Thông.

 

12) Nguyện thứ mười hai, quang minh vô lượng

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quang minh hữu hạn lượng, hạ chí bất chiếu bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,光明有限量,下至不照百千億那由他諸佛國者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu thấu trăm ngàn ức na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

13) Nguyện thứ mười ba, thọ mạng vô lượng

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thọ mạng hữu hạn lượng, hạ chí bách thiên ức na-do-tha kiếp giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,壽命有限量,下至百千億那由他劫者,不取正覺。 

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là [sống đến] trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ mười hai và thứ mười ba là “nhiếp Phật thân nguyện”. Đại nguyện thứ mười hai, tôi là tỳ-kheo Pháp Tạng thành Phật, tôi sẽ như thế nào? “Thiết ngă đắc Phật, quang minh hữu hạn lượng, hạ chí bất chiếu bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu là chẳng chiếu thấu trăm ngàn ức na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác). Tôi là tỳ-kheo Pháp Tạng phát nguyện: Nếu tôi thành Phật, quang minh vô lượng của tôi sẽ chiếu trọn khắp mười phương thế giới. Đại nguyện thứ mười ba là thọ mạng vô lượng. “Thiết ngă đắc Phật, thọ mạng hữu hạn lượng, hạ chí bách thiên ức na-do-tha kiếp giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là đến trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, chẳng giữ lấy Chánh Giác). Chúng ta niệm kinh A Di Đà, [sẽ thấy] Thích Ca Mâu Ni Phật đă giải thích ư nghĩa của [danh hiệu] A Di Đà, một là Vô Lượng Quang, hai là Vô Lượng Thọ. Đấy chính là đại nguyện thứ mười hai và đại nguyện thứ mười ba của A Di Đà Phật.

 

14) Nguyện thứ mười bốn, Thanh Văn vô số

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Thanh Văn, hữu năng kế lượng, năi chí tam thiên đại thiên thế giới chúng sanh, tất thành Duyên Giác, ư bách thiên kiếp, tất cộng kế giảo, tri kỳ số giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中聲聞,有能計量,乃至三千大千世界眾生,悉成緣覺,於百千劫,悉共計校,知其數者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, Thanh Văn trong nước có thể tính đếm, cho đến chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới đều thành Duyên Giác, trong trăm ngàn kiếp luôn cùng nhau tính toán, mà biết được con số ấy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

         

          Đại nguyện thứ mười bốn là chẳng thể tính nổi số lượng Thanh Văn”. Duyên Giác là Thanh Văn, là chúng sanh Tiểu Thừa lợi căn. Tức là nói chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới đều thành Duyên Giác, đă thành Duyên Giác rồi đều có thể tính toán, chẳng tính ra số lượng như thế nào. Đă thế, thời gian tính toán lại c̣n là trải qua trăm ngàn kiếp, muốn tính toán trong cơi nước của ta có bao nhiêu Thanh Văn ư? Tính chẳng ra! Nếu có thể tính toán được, ta chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác. Bởi lẽ, trong cơi nước của Ngài có vô lượng vô số Thanh Văn.

          Ở đây, [ư kinh Vô Lượng Thọ] phù hợp với kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà chép: “Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, giai A La Hán, phi thị toán số chi sở năng tri, chư Bồ Tát chúng diệc phục như thị” (đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là bậc A La Hán, chẳng thể tính toán mà có thể biết được con số, các vị Bồ Tát cũng giống như thế). Trong thế giới Cực Lạc, Thanh Văn số đến vô lượng, chỉ có thể nói là chẳng thể dùng toán số, thí dụ để có thể biết được, cũng là đến mức vô lượng; nhưng trong Tịnh Độ có ba kinh một luận, ba bộ kinh ấy chẳng hề mâu thuẫn. Một bộ luận là Văng Sanh Luận, trong ấy, có một câu: “Nhị Thừa chủng bất sanh” (chủng tánh Nhị Thừa chẳng sanh [về Cực Lạc]), tức là nói Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có hàng Nhị Thừa. Câu này đă mâu thuẫn với điều được nói trong kinh A Di Đà: Chúng Thanh Văn trong Tây Phương Cực Lạc thế giới số đến vô lượng! Kinh Vô Lượng Thọ cũng nói, trong cơi nước ấy, số Thanh Văn nhiều vô lượng! V́ sao Văng Sanh Luận nói “chẳng có Thanh Văn”? Hăy biết hàng Thanh Văn ấy (hàng Thanh Văn nói trong ba kinh Tịnh Độ) chẳng phải là “định tánh Thanh Văn”, mà là Thanh Văn hồi Tiểu hướng Đại. Định tánh Thanh Văn chứng đắc quả A La Hán, nhưng chẳng thấy Phật. Hồi Tiểu hướng Đại th́ mới niệm Phật sanh về Tây Phương. Đă sanh về Tây Phương bèn thuận theo căn tánh của chính người ấy, căn tánh của người ấy vốn là Thanh Văn. Do vẫn thuận theo căn tánh của người ấy, trước hết chứng quả Thanh Văn, tức là chứng quả A La Hán, trên thực tế, vẫn phải hành Bồ Tát đạo, phải chứng quả vị Bồ Tát.

 

15) Nguyện thứ mười lăm, tùy theo nguyện [mà thọ mạng] dài hay ngắn

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, thọ mạng vô năng hạn lượng, trừ kỳ bổn nguyện, tu đoản tự tại. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,壽命無能限量,除其本願,修短自在。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi, thọ mạng chẳng thể hạn lượng, trừ phi v́ nguyện của chính họ mà [thọ mạng] dài hay ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Nói đến đại nguyện thứ mười lăm này, thọ mạng của tất cả thiên chúng và nhân chúng trong thế giới Cực Lạc đều là vô lượng thọ. Kinh A Di Đà nói, thọ mạng của A Di Đà Phật là vô lượng, thọ mạng của nhân dân trong cơi ấy cũng là vô lượng. Đấy là nguyện thứ mười lăm, thành tựu “thọ mạng chẳng thể hạn lượng, trừ phi v́ nguyện của chính người ấy mà [thọ mạng] dài hay ngắn tự tại”. “Tu đoản”: “Tu” () là dài, [tu đoản tự tại] là dài hay ngắn tự tại. Trừ khi người ấy có nguyện riêng; nếu không, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, người ấy chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, trở về thế giới Sa Bà độ chúng sanh. Chẳng hạn như chúng ta là người trong thế giới Sa Bà, có nguyện sanh về thế giới Cực Lạc, chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn rồi sẽ trở về. Như vậy là trong thế giới Cực Lạc, thọ mạng của người như thế rất ngắn. Đấy là bổn nguyện của người ấy tự tại. “Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác”: Chẳng phải là như vậy, Ngài sẽ chẳng thành Phật.

 

16) Nguyện thứ mười sáu, chẳng nghe danh tự ác

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, năi chí văn hữu bất thiện danh giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,乃至聞有不善名者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước tôi thậm chí nghe có cái tên bất thiện, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ mười sáu, Tây Phương Cực Lạc thế giới không chỉ là chẳng có ba ác đạo, mà ngay cả âm thanh của những tên gọi xấu ác cũng chẳng nghe thấy. “Bất thiện danh” tức là danh tự ác. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, bất luận là thiên chúng hay nhân chúng, nếu nghe thấy danh tự bất thiện, A Di Đà Phật sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác, cũng tức là [nhân dân trong thế giới ấy] chẳng thể nghe danh tự bất thiện. Trong Tây Phương Cực Lạc thế giới toàn là người tốt, chẳng có người xấu, chẳng nghe danh tự ác cũng chẳng phải là chuyện hiếm hoi, lạ lùng ǵ! Quư vị phải hiểu v́ sao A Di Đà Phật phát ra đại nguyện này? V́ tai nghe danh tự ác, vừa lọt vào Nhĩ Căn, nó liền in vào thức điền. Lọt qua Nhĩ Căn của chúng ta, bèn gieo chủng tử trong ruộng tám thức. Quư vị nghe danh tự tốt lành, sẽ gieo thiện chủng tử trong ruộng tám thức. Thiện chủng tử dấy lên hiện hành, thân thể sẽ tạo tác thiện pháp, thiện pháp lại sanh ra chủng tử, vẫn là chủng tử thiện. Trong thế giới Sa Bà của chúng ta, chuyện ác quá nhiều, chuyện thiện quá ít, cũng chính là nghe danh tự thiện th́ ít, nghe danh tự ác th́ nhiều. Nếu Nhĩ Căn của chúng ta nghe những lời bất hảo, nghe những chuyện bất hảo, do từ Nhĩ Căn huân tập vào, nghe lọt tận ruộng tám thức, thảy đều sanh khởi những chủng tử ác. Chủng tử ác dấy lên hiện hành điều ác, lại sanh ra chủng tử ác. Chủng tử ác ấy lại dấy lên hiện hành, hiện hành lại sanh ra chủng tử, thế giới của chúng ta toàn là những chủng tử ác, giống như ruộng nương tám thức của chúng ta, [nói] “ruộng nương” là sánh ví. Trong ruộng nương của chúng ta, những hạt giống thiện, hạt giống tốt kết thành quả tốt, lại gieo xuống th́ vẫn là hạt giống tốt. Quư vị trồng những hạt giống ác, chúng sẽ sanh ra những quả ác, quả ác lại sanh ra chủng tử ác. Ruộng nương ấy đều hỏng bét, biến thành ruộng xấu! Do đó, thế giới Sa Bà rất khó tu hành, rất khó đạt được tiến bộ, là Nhĩ Căn chẳng thanh tịnh. Do v́ A Di Đà Phật đă thấy chuyện rất khổ năo này, Ngài phát nguyện trong thế giới Cực Lạc, căn bản là chẳng nghe tiếng ác!

 

17) Nguyện thứ mười bảy, chư Phật ca ngợi

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thập phương thế giới vô lượng chư Phật, bất tất tư ta, xưng ngă danh giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,十方世界無量諸佛,不悉咨嗟稱我名者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, mười phương thế giới vô lượng chư Phật nếu chẳng đều nắc nỏm khen ngợi danh hiệu của tôi, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Trong bốn mươi tám đại nguyện, đại nguyện thứ ba là “nhiếp Phật thân nguyện”, đại nguyện thứ mười hai và mười ba trên đây đều là phát nguyện chính ḿnh thành Phật, quang minh vô lượng, thọ mạng vô lượng. Đại nguyện thứ mười bảy này cũng là “nhiếp Phật thân nguyện”. Tôi mong rằng khi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật “tư ta” (咨嗟) tức là tán thán, sẽ đều tán thán, xưng dương danh hiệu Phật của tôi. Chúng ta niệm kinh A Di Đà đều biết, trong kinh A Di Đà có sáu phương Phật, [tức là chư Phật trong] bốn phương và phương trên, phương dưới cùng tán thán A Di Đà Phật. Pháp sư Cưu Ma La Thập phiên dịch kinh A Di Đà có sáu phương Phật là dịch giản lược, Huyền Trang đại sư dịch kinh A Di Đà gồm mười phương Phật. Mười phương chư Phật thảy đều tán thán A Di Đà Phật. Đấy là do đại nguyện thứ mười bảy của Ngài đă thành tựu.

 

18) Nguyện thứ mười tám, mười niệm ắt sanh

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thập phương chúng sanh, chí tâm tín nhạo, dục sanh ngă quốc, năi chí thập niệm, nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác, duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp.

          ()設我得佛,十方眾生,至心信樂,欲生我國,乃至十念,若不生者,不取正覺。唯除五逆,誹謗正法。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh chí tâm tin ưa, muốn sanh về nước tôi, dẫu chỉ mười niệm, mà nếu chẳng được sanh về, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác, chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp).

 

          Đại nguyện thứ mười tám nhiếp thọ chúng sanh, tức là chúng sanh thượng, trung, hạ ba căn thảy đều nhiếp thọ, nhất là nhiếp thọ chúng sanh hạ căn. Quư vị chỉ cần niệm Phật mười niệm, tuyệt đối có thể sanh về Tây Phương. “Thiết ngă đắc Phật, thập phương chúng sanh” (nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh) không chỉ là trăm ngàn ức chúng sanh, mà là mười phương thế giới chúng sanh. “Chí tâm tín nhạo”: Hễ phát tâm chí thành, tin tưởng Tây Phương Cực Lạc thế giới, ưa thích văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Dục sanh ngă quốc” (muốn sanh về nước tôi): “Dục sanh” là tâm phát nguyện muốn được văng sanh, tức là nguyện sanh về cơi nước của A Di Đà Phật. Người ấy “tín nhạo”, tức là phát tâm tin tưởng, ngưỡng mộ, lại c̣n phải tu hành. Tu hành th́ chỉ cần niệm Phật mười niệm. “Năi chí thập niệm, nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác” (dẫu chỉ mười niệm mà nếu chẳng sanh, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Niệm Phật mười niệm là có thể văng sanh Tây Phương.

          “Duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp” (chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp): Ở đây, phải biện định đôi chút, có những chúng sanh tội ác chẳng thể văng sanh, chúng sanh phạm tội ác như thế nào vậy? “Ngũ Nghịch trọng tội”! Ngũ Nghịch trọng tội là:

          1) Thứ nhất, xuất Phật thân huyết, tức là làm cho thân thể Phật chảy máu. Quư vị chẳng thể hại chết Phật được, làm thân Phật chảy máu là một trong Ngũ Nghịch trọng tội, giống như Đề Bà Đạt Đa muốn hại chết Phật Thích Ca. Ông ta lên núi, chuẩn bị sẵn một tảng đá to, chờ đức Phật từ dưới chân núi đi qua, liền quăng tảng đá to ấy xuống, bị thần hộ pháp là Vi Đà Bồ Tát dùng giáng ma xử cản lại. Giáng ma xử là chất báu Kim Cang, đập tan nát tảng đá lớn ấy, có một mảnh đá văng trúng đầu ngón chân Phật, khứa chảy máu ra. Đấy gọi là Xuất Phật Thân Huyết, Đề Bà Đạt Đa kết thành trọng tội sát hại Phật.

          2) Thí cha.

          3) Thí mẹ.

          4) Thí A La Hán.

          “Thí” () là giết. Kẻ dưới sát hại người trên th́ gọi là Thí. Quư vị giết hại cha, mẹ của chính ḿnh, sát hại A La Hán, đều là Ngũ Nghịch trọng tội.

          5) Phá Ḥa Hợp Tăng. Cái tội phá Tăng cũng là một trong Ngũ Nghịch đại tội.

          Kẻ tạo Ngũ Nghịch đại tội, chẳng thể văng sanh Tây Phương. “Phỉ báng chánh pháp”: Kẻ ấy đă không tin tưởng, lại c̣n toan phỉ báng chánh pháp. Tội lỗi ấy rất nặng, cũng chẳng thể sanh về Tây Phương.

          Ở đây, tôi biện định hai câu này. Thập Lục Quán Kinh chấp thuận kẻ phạm Ngũ Nghịch trọng tội văng sanh Tây Phương, dung hội xuyên suốt với kinh Vô Lượng Thọ như thế nào? Phía sau Thập Lục Quán Kinh có một đoạn kinh văn như sau: “Phật cáo A Nan, cập Vy Đề Hy: - Hạ phẩm hạ sanh giả, hoặc hữu chúng sanh, tác bất thiện nghiệp, Ngũ Nghịch, Thập Ác… Như thị ngu nhân, lâm mạng chung, ngộ thiện tri thức, giáo linh niệm Phật... Như thị chí tâm, linh thanh bất tuyệt, cụ túc thập niệm, xưng Nam-mô A Di Đà Phật... Như nhất niệm khoảnh, tức đắc văng sanh Cực Lạc thế giới” (đức Phật bảo ngài A Nan và bà Vy Đề Hy: - Hạ phẩm hạ sanh là nếu có chúng sanh tạo nghiệp bất thiện, Ngũ Nghịch, Thập Ác… Kẻ ngu như thế, lúc sắp mạng chung, gặp thiện tri thức dạy niệm Phật… Chí tâm như thế, khiến cho tiếng niệm chẳng dứt, đầy đủ mười niệm, xưng Nam-mô A Di Đà Phật… Như trong khoảng một niệm, liền được sanh về thế giới Cực Lạc), [tức là Quán Kinh] chấp thuận kẻ Ngũ Nghịch trọng tội có thể văng sanh Tây Phương. Cớ sao kinh Vô Lượng Thọ chẳng chấp thuận kẻ Ngũ Nghịch trọng tội văng sanh Tây Phương? Phải dung hội quán thông điều này. Kinh Vô Lượng Thọ chú trọng nơi “phỉ báng chánh pháp”, [kẻ ấy] đă tự ḿnh tạo Ngũ Nghịch trọng tội, lại c̣n phỉ báng chánh pháp, quư vị bảo kẻ ấy niệm A Di Đà Phật, kẻ ấy có chịu niệm hay không? Kẻ ấy chẳng chịu niệm, sanh về Tây Phương bằng cách nào? Nếu là kẻ trót tạo Ngũ Nghịch trọng tội, nhưng chẳng phỉ báng chánh pháp, tự ḿnh biết hổ thẹn, biết sám hối, mong cầu A Di Đà Phật cứu kẻ ấy, kẻ ấy niệm danh hiệu A Di Đà Phật, vẫn có thể văng sanh Tây Phương. Quư vị phỉ báng chánh pháp tức là chẳng tin pháp môn Tịnh Độ, ba món tư lương của Tịnh Độ là Tín, Nguyện, Hạnh. Điều thứ nhất là Tín, kẻ ấy do không tin mới phỉ báng. Không tin th́ làm sao có thể phát nguyện sanh sang Tây Phương cho được? Kẻ ấy chẳng chịu phát nguyện, làm sao có thể niệm danh hiệu A Di Đà Phật cho nổi? Ba tư lương Tín, Nguyện, Hạnh, một thứ cũng chẳng có, làm sao có thể sanh về Tây Phương cho được? Do đó, dẫu tạo Ngũ Nghịch trọng tội, chỉ cần chẳng phỉ báng chánh pháp, chỉ cần tin tưởng pháp môn Tịnh Độ, nguyện sanh về Tây Phương, tŕ niệm danh hiệu A Di Đà Phật, mười niệm vẫn có thể văng sanh.

          Đại nguyện thứ mười tám là bi tâm triệt để của A Di Đà Phật. Chỉ cần quư vị tin tưởng, phát nguyện, chắc chắn sanh về Tây Phương. Niệm Phật là hạnh môn, phải có công phu. Quư vị chẳng có công phu, không sao hết, niệm mười niệm bèn sanh về Tây Phương. Tại Trung Hoa, thường nhắc đến câu chuyện ông Trương Thiện Ḥa. Đời Đường có một giết trâu, sống bằng nghề giết trâu, giết trâu suốt đời, [tên là Trương Thiện Ḥa]. Khi hắn ta sắp mạng chung, tướng địa ngục hiện tiền. Vô lượng những con trâu bị hắn ta đă giết đều t́m đến đ̣i mạng. Khi hắn ta đang sợ hăi, b́nh thường, hắn chẳng bao giờ đến chùa, mà cũng chẳng thắp hương lễ Phật. Nhưng nơi hắn ở cách chùa chẳng xa, khi ấy, tướng địa ngục hiện tiền, những con trâu đă bị giết đều t́m đến đ̣i mạng, hắn ta sợ hăi, bảo người nhà ngay lập tức đến ngôi chùa trước nhà thỉnh sư phụ đến cứu hắn. Đến lúc mấu chốt khẩn yếu, hắn nghĩ đến chuyện gọi sư phụ tới cứu hắn. Khéo sao cách chùa chẳng xa, người nhà ngay lập tức đến chùa thỉnh sư phụ tới. Sư phụ thấy hắn bị dọa đến nỗi khóc ồ ồ, bèn khai thị: “Đấy là do ông đă tạo sát nghiệp rất nặng, hiện thời tướng địa ngục hiện tiền. Ngoại trừ ông niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng có cách nào khác! Chúng tôi niệm kinh cho ông chẳng kịp. Chính ông hăy niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật nhất định đón ông về Tây Phương”. B́nh thường, hắn ta chẳng đốt nhang, khi ấy, nhớ ra: “Ngay lập tức thắp hương cho ta, ta muốn dâng hương”. Thế là người nhà ngay lập tức vội đốt hương cho hắn. Tay hắn cầm hương, một mực niệm nam-mô A Di Đà Phật, nam-mô A Di Đà Phật… Niệm mười tiếng. Ôi chao! Hắn ta nói: “Những con trâu đ̣i mạng đều bỏ đi hết rồi, tướng địa ngục cũng chẳng thấy nữa! Một lúc sau, [hắn ta nói]: “A Di Đà Phật đến đón tôi”. Mặt lộ vẻ tươi cười, mỉm cười qua đời. Đấy là câu chuyện Trương Thiện Ḥa thường được nhắc tới. Câu chuyện này chứng minh, một gă tội ác suốt đời giết trâu, khi lâm chung, tướng địa ngục hiện tiền, chỉ niệm A Di Đà Phật mười niệm liền sanh về Tây Phương. Chỉ cần chúng ta kịp thời sanh tín tâm, chẳng thể hoàn toàn nói chúng ta là thiện nhân, nhưng chúng ta không giết trâu, một con trâu cũng chưa từng giết, huống hồ ông ta là người cả đời giết trâu, niệm mười tiếng A Di Đà Phật mà có thể văng sanh Tây Phương! Chúng ta chẳng ác như ông ta, chúng ta mỗi ngày niệm Phật tối thiểu mười câu, b́nh thường niệm Phật, tính ra, chẳng niệm đến mức nhất tâm bất loạn, nhưng niệm Phật cũng chẳng ít, lẽ nào chẳng thể sanh về Tây Phương? Chúng ta phải triệt để tin tưởng điều này, tuyệt đối chớ nên hoài nghi!

          Ngẫu Ích đại sư có hai câu kệ: “Đắc sanh dữ phủ, toàn do tín nguyện chi hữu vô. Phẩm vị cao hạ, toàn do tŕ danh chi thâm thiển” (được văng sanh hay không, toàn là do có tín nguyện hay không. Phẩm vị cao hay thấp, toàn là do tŕ danh sâu hay cạn). Quư vị có thể sanh về Tây Phương hay không, hoàn toàn tùy thuộc tín tâm của quư vị, tùy thuộc nguyện lực của quư vị. Có tín tâm, có nguyện lực, chắc chắn sẽ sanh về Tây Phương. C̣n như phẩm vị văng sanh là do công phu niệm Phật sâu hay cạn, do vậy mà phẩm vị cao hay thấp. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới nhờ vào niệm Phật. Quư vị niệm A Di Đà Phật nhiều, thượng phẩm thượng sanh. Niệm ít, trung phẩm trung sanh. Niệm ít hơn nữa, hạ phẩm hạ sanh! Đó gọi “thập niệm văng sanh”. Hạ phẩm hạ sanh vẫn là sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Ngẫu Ích đại sư dạy chúng ta điều này, quư vị tuyệt đối chớ nên hoài nghi: “Ta niệm Phật quá ít, chẳng thể sanh về Tây Phương!” Chỉ cần quư vị có tín tâm và có nguyện lực, niệm Phật mười niệm, tuyệt đối có thể văng sanh!

          Tổ sư Trung Hoa đă soạn văn Quy Mạng, trong khóa tối mỗi ngày, sau khi niệm Phật xong, chúng ta bèn quỳ xuống, niệm bài văn Quy Mạng, c̣n gọi là văn Hồi Hướng. Trong bài ấy, đă thêm vào kinh văn từ nguyện thứ mười tám này: “Nhược hữu chúng sanh, dục sanh ngă quốc, chí tâm tín nhạo, năi chí thập niệm. Nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác” (nếu có chúng sanh muốn sanh về nước ta, chí tâm, tin ưa, cho đến mười niệm, nếu chẳng văng sanh, chẳng giữ lấy Chánh Giác). Do điều này mà biết nguyện thứ mười tám nhiếp thủ chúng sanh hết sức quan trọng. Nhật Bản có Đông Bổn Nguyện Tự và Tây Bổn Nguyện Tự[12]; những ngôi chùa ấy thuộc Tịnh Độ Chân Tông. V́ sao gọi là Bổn Nguyện Tự? V́ coi nguyện thứ mười tám của A Di Đà Phật là bổn nguyện[13]. V́ sao gọi là Bổn Nguyện Tự? Do chú trọng nguyện thứ mười tám này; bốn mươi bảy nguyện kia đều là trợ nguyện. Bổn nguyện của A Di Đà Phật là mong độ chúng sanh sanh về Tây Phương. Do vậy, điều nguyện này là bổn nguyện, những nguyện khác đều là kèm theo. V́ sao vậy? Chẳng hạn như nói “A Di Đà Phật quang minh vô lượng, thọ mạng vô lượng”, nhưng nếu chúng sanh chẳng thể sanh về Tây Phương, vậy th́ quang minh vô lượng và thọ mạng vô lượng của Phật có ích chi đâu? Những phần kinh văn tiếp theo c̣n nói thế giới Cực Lạc được trang nghiêm bằng bảy báu như thế nào, [nhưng] chúng sanh chẳng sanh về Tây Phương, dẫu thế giới Cực Lạc trang nghiêm cách mấy đi nữa, có ích chi chăng? Do đó, căn bản của bốn mươi tám nguyện ở ngay nguyện thứ mười tám, độ chúng sanh sanh về Tây Phương. Sanh như thế nào? Có tín tâm, có nguyện lực, niệm Phật mười tiếng bèn có thể ra đi. Do vậy, nguyện thứ mười tám là bổn nguyện. Ở đây, tôi nói thêm mấy câu v́ muốn gia tăng tín tâm cho quư các vị. A Di Đà Phật sẽ nhiếp thọ chúng ta, đúng là bi tâm triệt để. Quư vị niệm mười câu A Di Đà Phật có thể sanh về Tây Phương. Sanh về Tây Phương th́ sanh tử từ vô thỉ kiếp cho đến nay sẽ có ngày liễu thoát. V́ sao quư vị chẳng tin tưởng? V́ sao chẳng phát nguyện? Nếu quư vị nghe đại nguyện thứ mười tám, [sẽ biết] A Di Đà Phật từ bi nhiếp thọ chúng ta như vậy, [thế mà] đối với pháp môn Tịnh Độ, quư vị vẫn chẳng thể sanh tín tâm, chẳng phát nguyện cầu sanh Tây Phương; không chỉ là quư vị có lỗi với A Di Đà Phật, mà c̣n có lỗi đối với chính ḿnh!

          Giả sử c̣n có kẻ nói: “Phật pháp tám vạn bốn ngàn pháp môn, môn nào cũng đều có thể nhập đạo, v́ sao phải tin tưởng pháp môn Tịnh Độ?” Quư vị phải biết: Đó là thời đại Chánh Pháp, thiện căn của chúng sanh sâu dầy, nghiệp chướng cạn mỏng, tu bất luận pháp môn nào cũng đều có thể thành tựu. [Do vậy], tám vạn bốn ngàn pháp môn, môn nào cũng đều có thể thành tựu. Hiện nay đă chẳng phải là thời đại Chánh Pháp, mà cũng chẳng phải là thời đại Tượng Pháp, mà là thời đại Mạt Pháp. Thời đại Mạt Pháp th́ trừ pháp môn Tịnh Độ ra, pháp môn nào cũng đều chẳng dùng được! Kinh Đại Bảo Tích dạy: “Mạt Pháp ức ức nhân tu hành, hăn nhất đắc đạo, duy y niệm Phật, đắc độ sanh tử” (thời Mạt Pháp, ức ức người tu hành, hiếm có một người đắc đạo. Chỉ có nương vào niệm Phật để vượt khỏi sanh tử). Có những pháp môn quư vị tu chẳng nổi; pháp môn mầu nhiệm, nhưng chúng ta tu không nổi! Chỉ có pháp môn Tịnh Độ niệm A Di Đà Phật, tu pháp môn đơn giản này, quư vị sẽ có thể nhập đạo. Quư vị chẳng niệm, chẳng tu, có pháp môn này để có thể nhập đạo mà quư vị chẳng tu, cứ muốn tu các pháp môn chẳng thể nhập đạo, chẳng phải là quư vị đă tự đâm quàng ngơ rẽ đấy ư? Chẳng cần nói tám vạn bốn ngàn pháp môn nhiều ngần ấy! Tám đại tông phái Đại Thừa tại Trung Hoa, Tịnh Độ Tông chỉ là một tông phái, ngoài ra c̣n có bảy tông phái khác. Đă là mỗi tông phái đều dạy chúng ta pháp môn liễu sanh tử, quư vị hăy nghiên cứu các pháp môn liễu sanh tử khác, thử coi chúng ta có tu nổi hay không? Thiên Thai Tông phải tu Nhất Tâm Tam Quán, quán nổi hay không? Hiền Thủ Tông, c̣n gọi là Hoa Nghiêm Tông, phải tu Pháp Giới Quán, quán được hay chăng? Tam Luận Tông th́ phải tu Pháp Tánh Trung Đạo, tu được không? Duy Thức Tông phải tu Ngũ Trùng Duy Thức Quán, quán nổi không? Luật Tông th́ nếu tŕ giới luật thanh tịnh, sẽ có thể thành Phật, có thể tŕ giới hoàn toàn thanh tịnh hay chăng? Mật Tông th́ tam mật tương ứng, tức thân thành Phật (即身成佛, thành Phật ngay trong thân hiện tại). Tam Mật là thân khẩu ư tam mật, phải tương ứng với thân khẩu ư tam mật của Đại Nhật Như Lai th́ mới có thể thành Phật, có thể làm nổi hay không? Pháp môn trong bảy tông phái khác, chúng ta đều chẳng tu nổi, làm sao quư vị liễu sanh tử cho nổi? Hăy thật thà, đừng đi ḷng ṿng phát cuồng! Liễu sanh tử là chuyện lớn, chúng ta vẫn nên phát nguyện sanh về Tây Phương, vẫn nên sớm thật thà niệm danh hiệu A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương.

 

19) Nguyện thứ mười chín, lâm chung tiếp dẫn

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thập phương chúng sanh, phát Bồ Đề tâm, tu chư công đức, chí tâm phát nguyện, dục sanh ngă quốc, lâm thọ chung thời, giả linh bất dữ đại chúng vi nhiễu hiện kỳ nhân tiền giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,十方眾生,發菩提心,修諸功德,至心發願,欲生我國,臨壽終時,假令不與大眾圍遶現其人前者,不 取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu các công đức, chí tâm phát nguyện, muốn sanh về nước tôi, khi sắp mạng chung, giả sử tôi chẳng cùng đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt người ấy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

         

          Lại nói đến đại nguyện thứ mười chín, trong kinh A Di Đà cũng có nói rơ ràng: Mười phương chúng sanh, bất luận quư vị ở phương nào hay thế giới nào, do Niệm Phật là pháp môn Đại Thừa, quư vị đă phát Bồ Đề tâm, liền “tu các công đức, chí tâm phát nguyện, muốn sanh về nước ta”, [tức là] muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, khi người ấy sắp hết thọ mạng, nếu A Di Đà Phật chẳng cùng đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt người đó, Ngài sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác. Đấy là chúng ta sống đến ngày quả báo đă tận, quư vị đáng nên sống tới tám mươi tuổi, ngày nào thọ mạng tám mươi tuổi đă tận, hoặc quư vị đáng nên sống tới một trăm hai mươi tuổi, đến ngày nào thọ mạng một trăm hai mươi tuổi đă tận, quư vị niệm A Di Đà Phật đă bao nhiêu năm, khi đó, A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát sẽ đều tới đón quư vị, đưa quư vị về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Chính giữa Tây Phương Tam Thánh là A Di Đà Phật tay cầm đài hoa sen; chúng ta ngồi lên đài hoa sen ấy, sanh về Tây Phương. Một cánh tay của A Di Đà Phật buông thơng xuống là để tiếp dẫn chúng ta.

 

20) Nguyện thứ hai mươi, muốn văng sanh bèn toại ư

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thập phương chúng sanh, văn ngă danh hiệu, hệ niệm ngă quốc, thực chúng đức bổn, chí tâm hồi hướng, dục sanh ngă quốc, bất quả toại giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,十方眾生,聞我名號,繫念我國,植眾德本,至心迴向,欲生我國,不果遂者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu của tôi, hệ niệm nước tôi, trồng các cội đức, chí tâm hồi hướng, muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ hai mươi, “thiết ngă đắc Phật, thập phương chúng sanh, văn ngă danh hiệu” (nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu của tôi): Nghe danh hiệu A Di Đà Phật của tôi, “hệ niệm ngă quốc” (hệ niệm nước tôi), nhất tâm tưởng niệm muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Thực chúng đức bổn” (gieo trồng cội đức): “Thực” () là gieo trồng, “chúng đức bổn” là các thiện căn. Phải gieo bồi nhiều thiện căn. “Chí tâm hồi hướng”: Gieo các thiện căn, tức là làm hết thảy phước đức, làm hết thảy thiện pháp, tất cả các công đức đều hồi hướng, nguyện do công đức ấy, trang nghiêm Tịnh Độ của Phật, hồi hướng Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Dục sanh ngă quốc”: Bằng ḷng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Bất quả toại giả, bất thủ Chánh Giác”: Nếu kết quả là chúng sanh ấy chẳng sanh về [Cực Lạc], A Di Đà Phật quyết chẳng thành Phật!

 

21) Nguyện thứ hai mươi mốt, ba mươi hai tướng

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, bất tất thành măn tam thập nhị đại nhân tướng giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,不悉成滿三十二大人相者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước chẳng thảy thành tựu viên măn ba mươi hai tướng đại nhân, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đối với đại nguyện thứ hai mươi mốt, trong phần trước có nói về đại nguyện thứ ba, tức là niệm Phật được sanh về Tây Phương thế giới, “thân tất chân kim sắc” (thân đều là màu vàng ṛng), là màu của vàng ṛng. Đại nguyện thứ tư là trời và người đều có tướng mạo giống nhau, chẳng phân biệt đẹp xấu, tướng mạo giống hệt như nhau. Đó là tướng mạo ǵ vậy? Chính là tướng được nói trong đại nguyện thứ hai mươi mốt, tức là tướng của Ứng Thân Phật, giống như tướng mạo Thích Ca Mâu Ni Phật, có trọn đủ ba mươi hai tướng đại nhân. Quư vị hăy tra từ ngữ “ba mươi hai đại nhân tướng” trong Phật Học Đại Từ Điển, v́ chúng ta chẳng có thời gian để nói cặn kẽ từng tướng được. Đấy là nói, hễ ai đới nghiệp văng sanh, trong một đời bèn đến Tây Phương để làm Phật. Quá mau chóng! Nói “mau” th́ cũng chẳng phải rất mau, nói “chậm” th́ cũng chẳng phải là rất chậm! Ba mươi hai tướng ấy chẳng phải là tướng của Phật, mà là các tướng nơi Ứng Thân Phật của Thích Ca Mâu Ni Phật. V́ Ngài thành Phật trong nhân gian, nên phải thị hiện nhân tướng (tướng trạng con người), bất quá “nhân” ở đây là “đại nhân”, “đại nhân” là ai? Kim Chuyển Luân Thánh Vương. Kim Chuyển Luân Thánh Vương là người bậc nhất trong thế gian, nhà vua có ba mươi hai loại tướng mạo. Đức Phật thị hiện trong nhân gian, cũng phải thị hiện đại nhân tướng.

 

22) Nguyện thứ hai mươi hai, nhất sanh bổ xứ

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, tha phương Phật độ chư Bồ Tát chúng, lai sanh ngă quốc, cứu cánh tất chí Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ kỳ bổn nguyện tự tại sở hóa. Vị chúng sanh cố, bị hoằng thệ khải, tích lũy đức bổn, độ thoát nhất thiết, du chư Phật quốc, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường thập phương chư Phật Như Lai, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, sử lập vô thượng chánh chân chi đạo, siêu xuất thường luân chư địa chi hạnh, hiện tiền tu tập Phổ Hiền chi đức. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,他方佛土諸菩薩眾,來生我國,究竟必至一生補處。除其本願自在所化。為眾生故,被弘誓鎧,積累德本,度脫一切,遊諸佛國,修菩薩行,供養十方諸佛如來。開化恆沙無量眾生,使立無上正真之道,超出常倫諸地之行,現前修習普賢之德。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát từ các cơi Phật ở phương khác sanh đến nước tôi, rốt ráo ắt đạt đến Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ những trường hợp do bổn nguyện mà tự tại hóa độ. Do v́ chúng sanh nên mặc áo giáp hoằng thệ, tích lũy cội đức, độ thoát hết thảy, dạo chơi các cơi Phật, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường mười phương chư Phật Như Lai, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, khiến cho họ đứng vững nơi đạo vô thượng chánh chân, vượt trỗi hạnh của những địa vị thông thường, hiện tiền tu tập phẩm đức của Phổ Hiền. Nếu chẳng như thế, chẳng giữ lấy Chánh Giác).

 

           Đại nguyện thứ hai mươi hai, “thiết ngă đắc Phật, tha phương Phật độ chư Bồ Tát chúng, lai sanh ngă quốc, cứu cánh tất chí Nhất Sanh Bổ Xứ” (nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát từ các cơi Phật ở phương khác sanh đến nước tôi, rốt ráo ắt đạt đến Nhất Sanh Bổ Xứ): Trong phần trên là độ mười phương chúng sanh, ở đây là độ các vị đại Bồ Tát trong các cơi Phật khác. Đại Bồ Tát hễ sanh về Tây Phương sẽ đều có thể thành Nhất Sanh Bổ Xứ. Nhất Sanh Bổ Xứ là địa vị ǵ? Địa vị của Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật. Chỉ c̣n một đời nữa sẽ thành Phật. Địa vị Nhất Sanh Bổ Xứ vượt trỗi địa vị Đẳng Giác. Trong các thế giới khác, muốn thành một vị Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát, như trong thế giới Sa Bà, chỉ có một ḿnh Di Lặc Bồ Tát, rất ư là khó! Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát chẳng thể hạn lượng, quá ư là nhiều. Do vậy, các vị đại Bồ Tát trong những thế giới phương khác cũng muốn sanh về Tây Phương. Sanh về Tây Phương ngay trong một đời sẽ đều có thể đạt được địa vị Bổ Xứ Bồ Tát.

          “Trừ kỳ bổn nguyện”: Ngoại trừ bổn nguyện của chư đại Bồ Tát, tức là đại nguyện căn bản của Ngài, chẳng chấp trước mong cầu Nhất Sanh Bổ Xứ. Bổn nguyện của các Ngài là muốn tùy nguyện hóa độ chúng sanh, tùy nguyện đến cúng dường các cơi Phật, vậy th́ cứ tùy ư họ! “Vị chúng sanh cố, bị hoằng thệ khải” (do v́ chúng sanh, mặc áo giáp hoằng thệ): Hoằng thệ đại nguyện được ví như áo giáp, phải dũng mănh tinh tấn. “Tích lũy đức bổn” (tích lũy cội đức): Để độ chúng sanh th́ phải tích lũy công đức căn bản. “Độ thoát nhất thiết, du chư Phật quốc, tu Bồ Tát hạnh” (độ thoát hết thảy, dạo trong các cơi Phật, tu hạnh Bồ Tát): Mỗi cơi Phật Ngài đều đến, muốn tu Bồ Tát hạnh tức là muốn độ chúng sanh. Cúng dường mười phương chư Phật Như Lai tức là trên phụng sự chư Phật, dưới hóa độ chúng sanh. “Khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, sử lập vô thượng chánh chân chi đạo” (khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, khiến cho họ đứng vững nơi đạo vô thượng chánh chân): Khai hóa chúng sanh, giáo hóa đến mức độ nào? Giáo hóa chúng sanh có thể kiến lập đạo thành Phật, tức là đạo vô thượng chánh chân. “Siêu xuất thường luân chư địa chi hạnh” [nghĩa là] đă vượt trỗi hạnh thuộc các địa vị thông thường. “Hiện tiền tu tập Phổ Hiền chi đức”: Tu tập phẩm đức của Phổ Hiền cũng là tu tập phẩm đức thành Phật. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác!

 

23) Nguyện thứ hai mươi ba, cúng dường chư Phật

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, thừa Phật thần lực, cúng dường chư Phật, nhất thực chi khoảnh, bất năng biến chí vô lượng vô số ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中菩薩,承佛神力,供養諸佛,一食之頃,不能徧至無量無數億那由他諸佛國者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nương vào thần lực của Phật để cúng dường chư Phật, trong khoảng một bữa ăn, chẳng thể đến khắp vô lượng vô số ức na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ hai mươi ba, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, thừa Phật thần lực, cúng dường chư Phật” (nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nương vào thần lực của Phật để cúng dường chư Phật): Đại nguyện thứ hai mươi hai trong đoạn trước đă nói có những vị Bồ Tát [trong những quốc độ khác] phát nguyện muốn cúng dường chư Phật, cứu độ chúng sanh [sẽ đều được A Di Đà Phật gia bị khiến cho họ an lập nơi đạo vô thượng chánh chân], c̣n ở đây là nói những vị đại Bồ Tát đă sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Quốc trung Bồ Tát” (Bồ Tát trong nước tôi) nương vào sức thần thông của A Di Đà Phật gia bị, họ muốn đến mười phương thế giới cúng dường chư Phật, trong khoảng thời gian rất ngắn sẽ cúng dường được. “Nhất thực chi khoảnh, bất năng biến chí vô lượng vô số ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác” (trong khoảng một bữa ăn, chẳng thể đến khắp vô lượng vô số ức na-do-tha các cơi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Trong một thời gian rất ngắn có thể cúng dường chư Phật số đến vô lượng!

 

24) Nguyện thứ hai mươi bốn, đồ vật để cúng dường tùy ư

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tại chư Phật tiền, hiện kỳ đức bổn, chư sở cầu dục cúng dường chi cụ, nhược bất như ư giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中菩薩,在諸佛前,現其德本,諸所求欲供養之具,若不如意者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, ở trước các đức Phật, hiển hiện cội đức của họ, mong cầu các vật để cúng dường mà nếu chẳng như ư, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đây là đại nguyện thứ hai mươi bốn. Trong phần trước là đến mười phương thế giới cúng dường chư Phật số nhiều vô lượng. Để cúng dường vô lượng chư Phật th́ phải có đồ cúng dường. Kinh A Di Đà chép: “Thịnh chúng diệu hoa, cúng dường tha phương thập vạn ức Phật” (đựng các loại hoa mầu nhiệm, cúng dường mười vạn ức Phật ở phương khác). Mỗi người ai nấy có tâm nguyện riêng, quư vị mong cúng dường thứ ǵ, sẽ có thứ ấy. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng có ǵ không xứng ư quư vị. Chẳng hạn như tôi mong cúng dường hương, bèn có hương; quư vị mong cúng dường đèn, bèn có đèn, đều thỏa măn ư nguyện của quư vị.

 

25) Nguyện thứ hai mươi lăm, diễn nói diệu trí

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, bất năng diễn thuyết Nhất Thiết Trí giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中菩薩,不能演說一切智者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói Nhất Thiết Trí, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ hai mươi lăm, Bồ Tát đều có thể thuyết pháp, lại c̣n nói khác nhau, đều có thể diễn nói Nhất Thiết Trí, tức là nói sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới thành Phật rất nhanh chóng. Rất nhanh như thế nào? Phật được gọi là Lưỡng Túc Tôn (兩足尊, đấng trọn đủ hai món phước và huệ): Một là phước trọn đủ, hai là huệ trọn đủ. [Muốn đạt] phước trọn đủ th́ phải tu phước, [để có] huệ trọn đủ th́ phải tu huệ. Sanh về Tây Phương, sẽ tu rất nhanh chóng! Quư vị tu phước th́ không ǵ hơn cúng dường Phật. Quư vị cúng dường một vị Phật c̣n chẳng được, tu Bồ Tát đạo th́ tu ở chỗ nào? Quư vị sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, cúng dường vô lượng chư Phật, cúng dường trong thời gian một bữa ăn, đó chẳng phải là tu phước rất mau chóng ư? Lại c̣n hằng ngày nghe kinh thính pháp, quư vị sẽ khai trí huệ rất nhanh chóng. Do đó, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, phước báo cũng đầy đủ, mà trí huệ cũng đầy đủ.

 

26) Nguyện thứ hai mươi sáu, thân Na La Diên

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, bất đắc Kim Cang Na La Diên thân giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中菩薩,不得金剛那羅延身者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng đạt được thân Kim Cang Na La Diên, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Na La Diên (Nārāyaa)[14] là kiên cố, tức là thân kiên cố bất hoại. Hàng Bồ Tát trong nước [Cực Lạc] đều đạt được thân kiên cố bất hoại. Nếu chẳng được như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

27) Nguyện thứ hai mươi bảy, hết thảy trang nghiêm, thanh tịnh

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nhất thiết vạn vật, nghiêm tịnh quang lệ, h́nh sắc thù đặc, cùng vi cực diệu, vô năng xưng lượng. Kỳ chư chúng sanh, năi chí đăi đắc Thiên Nhăn, hữu năng minh liễu, biện kỳ danh số giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,一切萬物,嚴淨光麗,形色殊特,窮微極妙,無能稱量。其諸眾生,乃至逮得天眼,有能明了,辯其名數者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước, hết thảy vạn vật trang nghiêm, thanh tịnh, sáng ngời, mỹ lệ, h́nh sắc thù thắng đặc biệt, vi diệu cùng cực, chẳng thể đếm, kể. Các chúng sanh ấy dẫu đă đắc Thiên Nhăn, nếu như có thể hiểu rơ, biện định tên gọi và số lượng của chúng (muôn vật trong thế giới Cực Lạc), tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ hai mươi bảy, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, nhất thiết vạn vật, nghiêm tịnh quang lệ” (nếu tôi thành Phật, trời người trong nước, hết thảy vạn vật trang nghiêm, thanh tịnh, sáng ngời, mỹ lệ): “Hết thảy vạn vật”, chúng ta đọc kinh A Di Đà, [thấy nói] ao bảy báu, nước tám công đức, lầu gác bảy báu. Hết thảy muôn vật đều trang nghiêm, thanh tịnh, sáng ngời, mỹ lệ, h́nh dạng đều là rất thù thắng đặc biệt.

          “Cùng vi cực diệu”: “Vi” () là rất tinh vi, “diệu” () là chẳng thể nghĩ bàn. “Vô năng xưng lượng” (chẳng thể tính kể): Chỉ tán thán những thứ ấy tốt đẹp, tốt đẹp như thế nào, đă chẳng thể nói trọn, mà cũng chẳng thể tính kể! “Kỳ chư chúng sanh, năi chí đăi đắc Thiên Nhăn” (các chúng sanh ấy cho đến đạt được Thiên Nhăn): Chúng sanh sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới đều đắc Thiên Nhăn Thông. Trong phần trước đă nói Lục Thông đều đạt được, đương nhiên là có Thiên Nhăn Thông. Chữ Đăi () trong câu “đăi đắc Thiên Nhăn” chính là chữ Đắc () trong “đắc đáo” (得到, đạt được). Đă đạt được Thiên Nhăn Thông, nếu quư vị đă biết sự trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, vậy th́ trang nghiêm như thế nào? “Hữu năng minh liễu, biện kỳ danh số giả, bất thủ Chánh Giác” (có kẻ nào có thể hiểu rơ, biện định tên gọi và số lượng của chúng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): [Muốn] biết trọn hết tên gọi, thấu suốt số lượng, đều chẳng thể liễu đạt! Tức là sự trang nghiêm trong Tây Phương Cực Lạc thế giới quá nhiều, quá hay khéo! Dẫu quư vị đắc Thiên Nhăn Thông, cũng chẳng thể hiểu rơ nó trang nghiêm cỡ nào!

 

28) Nguyện thứ hai mươi tám, cây đạo tràng cao ngất, rạng rỡ        

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, năi chí thiểu công đức giả, bất năng tri kiến kỳ đạo tràng thụ vô lượng quang sắc, cao tứ bách vạn lư giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中菩薩,乃至少功德者,不能知見其道場樹無量光色,高四百萬里者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi, dẫu là kẻ ít công đức mà chẳng thể thấy, biết cây đạo tràng có vô lượng quang minh và màu sắc, cao bốn trăm vạn dặm th́ tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ hai mươi tám, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, năi chí thiểu công đức giả” (nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi, dẫu là kẻ ít công đức), những vị Bồ Tát “thiểu công đức” là sơ phát tâm Bồ Tát, vừa mới sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, công đức chẳng nhiều lắm. “Bất năng tri kiến kỳ đạo tràng thụ vô lượng quang sắc, cao tứ bách vạn lư giả, bất thủ Chánh Giác” (chẳng thể thấy, biết cây đạo tràng có vô lượng quang minh, màu sắc, cao bốn trăm vạn dặm th́ tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Vị Bồ Tát sơ phát tâm, vừa mới sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, công đức chẳng nhiều mà vẫn có thể trông thấy cây Bồ Đề cao bốn trăm dặm.

          Chỗ này có hoài nghi hay không? Tức là chúng ta trông thấy cây cao hai, ba trượng đă coi là cao rồi, há có cây cao bốn trăm vạn dặm như thế? Quư vị phải hiểu: Tây Phương Cực Lạc thế giới là một thế giới chẳng thể nghĩ bàn, thân lượng của Phật, Bồ Tát bên ấy đều rất cao lớn. Cây cao bốn trăm vạn dặm là cây đạo tràng. Bồ Tát sẽ tĩnh tọa dưới cội cây đạo tràng để thành Phật. Thân lượng của Phật, Bồ Tát rất cao to, lẽ đâu cây đạo tràng chẳng cao như thế? Cao bốn trăm vạn dặm mà hàng Bồ Tát ít công đức vẫn trông thấy. Quư vị xem Thập Lục Quán Kinh, [sẽ biết] thân lượng của A Di Đà Phật cao chừng nào, cây đạo tràng c̣n có thể dùng số dặm để tính toán nữa ư?

 

29) Nguyện thứ hai mươi chín, tụng kinh đắc Huệ

         

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, nhược thọ độc kinh pháp, phúng tụng tŕ thuyết, nhi bất đắc biện tài trí huệ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中菩薩,若受讀經法,諷誦持說,而不得辯才智慧者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi nếu nhận lănh, đọc tụng kinh pháp, phúng tụng, tŕ, nói, mà chẳng đắc biện tài trí huệ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ hai mươi chín, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, sơ phát tâm Bồ Tát c̣n phải tu hành, tu hành như thế nào? Niệm kinh, tŕ chú. Vừa niệm kinh, vừa tụng tŕ, ngay lập tức đắc biện tài, đắc trí huệ. Nếu chẳng đắc trí huệ và biện tài, Phật sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

23) Nguyện thứ ba mươi, huệ biện vô hạn

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, trí huệ biện tài, nhược khả hạn lượng giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中菩薩,智慧辯才,若可限量者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, hàng Bồ Tát trong nước tôi, trí huệ và biện tài nếu có hạn lượng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba mươi, Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới hễ niệm kinh sẽ ngay lập tức đạt được biện tài. Đạt được bao nhiêu biện tài? Chẳng thể hạn lượng! Biện tài và trí huệ của Bồ Tát chẳng có hạn lượng. Nếu có số lượng, Ngài sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

31) Nguyện thứ ba mươi mốt, soi tỏ mười phương

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc độ thanh tịnh, giai tất chiếu kiến thập phương nhất thiết vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới, do như minh kính, đổ kỳ diện tượng. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國土清淨,皆悉照見十方一切無量無數不可思議諸佛世界,猶如明鏡,覩其面像。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, cơi nước thanh tịnh, thảy đều soi thấu mười phương hết thảy vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn các thế giới chư Phật, giống như gương sáng thấy rơ vẻ mặt. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba mươi mốt, thiết ngă đắc Phật, quốc độ thanh tịnh, giai tất chiếu kiến thập phương nhất thiết vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới” (nếu tôi thành Phật, cơi nước thanh tịnh, thảy đều soi thấu mười phương hết thảy vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn các thế giới chư Phật): Quốc độ Tây Phương Cực Lạc thế giới giống như một tấm gương to sáng, có thể soi bóng mười phương thế giới. “Do như minh kính, đổ kỳ diện tượng”, [nghĩa là] giống như chúng ta lấy gương soi mặt của chính ḿnh, thấy rơ ràng như vậy đó. “Nếu chẳng như thế, chẳng giữ lấy Chánh Giác”.

 

32) Nguyện thứ ba mươi hai, hương báu trang nghiêm mầu nhiệm

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, tự địa dĩ thượng, chí ư hư không, cung điện, lâu quán, tŕ lưu, hoa thụ, quốc độ sở hữu nhất thiết vạn vật, giai dĩ vô lượng tạp bảo bách thiên chủng hương nhi cộng hợp thành, nghiêm sức kỳ diệu, siêu chư thiên nhân. Kỳ hương phổ huân thập phương thế giới, Bồ Tát văn giả, giai tu Phật hạnh. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,自地以上,至於虛空,宮殿樓觀,池流華樹,國土所有一切萬物,皆以無量雜寶百千種香而共合成。嚴飾奇妙,超諸天人。其香普薰十方世界。菩薩聞者,皆修佛行。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, từ đất trở lên cho đến tận hư không, cung điện, lầu, quán, ao, suối, cây hoa, tất cả hết thảy vạn vật trong cơi nước đều do vô lượng trăm ngàn loại hương báu khác nhau cùng hợp thành, trang nghiêm kỳ diệu, vượt trỗi trời người. Hương ấy xông khắp mười phương thế giới, Bồ Tát ngửi thấy đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng được vậy, chẳng giữ lấy Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba mươi hai, “thiết ngă đắc Phật, tự địa dĩ thượng” (nếu tôi thành Phật, từ mặt đất trở lên): Tây Phương Cực Lạc thế giới vàng ṛng làm đất, từ trên mặt đất cho đến hư không, tất cả “cung điện, lâu, quán”, chữ Quán () này nên đọc theo giọng khứ thanh, tức là đọc thành ㄍㄨㄢˋ (Guàn, âm Hán Việt là Quán), Quán là lầu gác. C̣n có “tŕ lưu hoa thụ”, [nghĩa là] ao và suối bảy báu, c̣n có cây hoa. “Quốc độ sở hữu nhất thiết vạn vật, giai dĩ vô lượng tạp bảo bách thiên chủng hương nhi cộng hợp thành” (tất cả hết thảy vạn vật trong cơi nước đều do vô lượng trăm ngàn loại hương báu khác nhau cùng hợp thành). Chẳng giống như cây cối ở nơi đây (thế giới Sa Bà) năm màu, lầu gác đều bằng những vật liệu như gạch, ngói… Tây Phương Cực Lạc thế giới thảy đều dùng bảy báu để kiến tạo lầu gác, lại c̣n là do các thứ hương liệu hợp thành, “nghiêm sức kỳ diệu, siêu chư thiên nhân” (trang nghiêm kỳ diệu, vượt trỗi trời người): Vượt trỗi trời người tức là vượt trỗi cung trời trong thế giới Sa Bà. “Kỳ hương phổ huân thập phương thế giới. Bồ Tát văn giả, giai tu Phật hạnh. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác” (hương ấy xông khắp mười phương thế giới. Bồ Tát ngửi hương đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Hương trong Tây Phương Cực Lạc thế giới xông khắp mười phương thế giới. Ngửi mùi hương trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, kẻ chẳng tu hành sẽ đều tu hành, lại c̣n đều tu hạnh môn của thế giới Cực Lạc. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy Chánh Giác.

 

33) Nguyện thứ ba mươi ba, được quang minh chiếu đến, [thân tâm] mềm mại

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại, mông ngă quang minh xúc kỳ thân giả, thân tâm nhu nhuyễn, siêu quá thiên nhân. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界眾生之類,蒙我光明觸其身者,身心柔軟,超過天人。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các loài chúng sanh trong các thế giới của chư Phật được quang minh của tôi chạm vào thân họ, thân tâm họ sẽ mềm dịu, vượt trỗi trời người. Nếu chẳng được vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba mươi ba, “thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại” (nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các loài chúng sanh trong các thế giới của chư Phật), chúng sanh trong mười phương thế giới “mông ngă quang minh xúc kỳ thân giả”, [nghĩa là] nếu gặp quang minh của A Di Đà Phật chiếu vào thân, “thân tâm nhu nhuyễn, siêu quá thiên nhân”, [nghĩa là thân lẫn tâm đều] mềm dịu vượt trỗi trời người. Người trên cơi trời thân lẫn tâm luôn mềm dịu, [người được quang minh của A Di Đà Phật chiếu đến, thân tâm sẽ] vượt trỗi sự mềm dịu của trời người. Nếu chẳng như vậy, [A Di Đà Phật] chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác. Người đang sống, niệm Phật, trông thấy quang minh của A Di Đà Phật, thân lẫn tâm đều mềm dịu. Thông thường, người đă chết thân thể cứng đơ, nhưng người niệm Phật văng sanh, khi thọ mạng chấm dứt, thân thể họ mềm mại; đấy là một dấu hiệu chứng tỏ [người ấy] đă sanh về Tây Phương.

 

34) Nguyện thứ ba mươi bốn, nghe danh đắc Nhẫn

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại, văn ngă danh tự, bất đắc Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn chư thâm tổng tŕ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界眾生之類,聞我名字,不得菩薩無生法忍諸深總持者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các loài chúng sanh trong thế giới của chư Phật nghe danh tự của tôi mà chẳng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn các môn tổng tŕ sâu của hàng Bồ Tát, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

         

          Đại nguyện thứ ba mươi tư, “thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại, văn ngă danh tự” (nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các loài chúng sanh trong thế giới của chư Phật nghe danh tự của tôi), [tức là] nghe danh hiệu của A Di Đà Phật, “bất đắc Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn chư thâm tổng tŕ giả, bất thủ Chánh Giác” (chẳng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn các môn tổng tŕ sâu của hàng Bồ Tát, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Nghe danh hiệu A Di Đà Phật của ta, người ấy nghe danh hiệu bèn biết niệm danh hiệu Phật, nhất định có thể đạt được Vô Sanh Pháp Nhẫn của hàng Bồ Tát. Đạt được pháp vô sanh th́ gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn. “Chư thâm tổng tŕ” là Ba La Mật rất sâu, pháp môn tổng tŕ sâu xa thảy đều đạt được. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

35) Nguyện thứ ba mươi lăm, thoát ĺa thân nữ

         

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới, kỳ hữu nữ nhân, văn ngă danh tự, hoan hỷ tín nhạo, phát Bồ Đề tâm, yếm ố nữ thân, thọ chung chi hậu, phục vi nữ tượng giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界,其有女人,聞我名字,歡喜信樂,發菩提心,厭惡女身,壽終之後,復為女像者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trong chẳng thể nghĩ bàn thế giới của mười phương chư Phật, nếu có người nữ, nghe danh tự của tôi, hoan hỷ, tin tưởng, ưa thích, phát Bồ Đề tâm, chán ghét thân nữ, sau khi thọ chung, lại làm thân nữ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba mươi lăm là chuyên v́ nữ nhân mà phát nguyện này. Là nữ nhân, nhưng quư vị chán ghét thân nữ nhân, hăy nên phát Bồ Đề tâm, niệm A Di Đà Phật, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Tây Phương Cực Lạc thế giới chẳng có h́nh tướng kẻ nữ, chẳng có nữ nhân. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, sẽ biến thành thân Bồ Tát, đời sau hoặc những đời sau nữa đều chẳng bị chuyển thành thân nữ.

 

36) Nguyện thứ ba mươi sáu, thường tu Phạm hạnh

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, thọ chung chi hậu, thường tu phạm hạnh, chí thành Phật đạo. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界諸菩薩眾,聞我名字,壽終之後,常修梵行,至成佛道。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật, nghe danh tự của tôi, sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật đạo. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba mươi sáu, “thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư Bồ Tát chúng” (nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn thế giới của chư Phật): Những vị vốn tu Bồ Tát hạnh trong các thế giới khác, nay được nghe danh tự của A Di Đà Phật. “Thọ chung chi hậu, thường tu phạm hạnh, chí thành Phật đạo. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác” (sau khi thọ chung, thường tu phạm hạnh cho đến khi thành Phật đạo. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Vị Bồ Tát ấy mạng chung, sanh sang đời sau, sẽ thường tu phạm hạnh, tức là hạnh tŕ giới thanh tịnh, măi cho đến khi vị ấy thành Phật. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

37) Nguyện thứ ba mươi bảy, trời người dốc trọn ḷng cung kính

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư thiên nhân dân, văn ngă danh tự, ngũ thể đầu địa, khể thủ tác lễ, hoan hỷ tín nhạo, tu Bồ Tát hạnh, chư thiên thế nhân, mạc bất trí kính. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界諸天人民,聞我名字,五體投地,稽首作禮,歡喜信樂,修菩薩行,諸天世人,莫不致敬。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, chư thiên và nhân dân trong vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các thế giới của mười phương chư Phật, nghe danh tự của tôi, năm vóc gieo xuống đất, dập đầu làm lễ, hoan hỷ, tin tưởng, ưa thích, tu Bồ Tát hạnh, chư thiên, người đời, không ai chẳng dốc ḷng cung kính. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba mươi bảy, “thiết ngă đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư thiên nhân dân” (nếu tôi thành Phật, chư thiên và nhân dân trong vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các thế giới của mười phương chư Phật), những người này đều là phàm phu, “văn ngă danh tự, ngũ thể đầu địa, khể thủ tác lễ”, [tức là] nghe danh tự A Di Đà Phật, năm vóc gieo xuống đất đảnh lễ A Di Đà Phật, “hoan hỷ tín nhạo, tu Bồ Tát hạnh” (hoan hỷ, tin tưởng, ưa thích), ngay khi đó, người ấy sẽ đạt được phước báo tốt đẹp. Tiếp đó là nói về những ǵ sẽ đạt được ngay trong khi ấy: “Chư thiên thế nhân, mạc bất trí kính. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác” (chư thiên, người đời, không ai chẳng dốc ḷng cung kính. Nếu chẳng được vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác): Quư vị niệm A Di Đà Phật, đảnh lễ, cung kính, cúng dường A Di Đà Phật, ngay khi ấy sẽ đạt được quả báo tốt đẹp, chư thiên và người đời đều cung kính quư vị. Nếu họ chẳng lễ kính quư vị, A Di Đà Phật làm sao có thể thành Chánh Giác cho được?

 

38) Nguyện thứ ba mươi tám, y phục thuận theo ư nghĩ

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, dục đắc y phục, tùy niệm tức chí, như Phật sở tán ứng pháp diệu phục, tự nhiên tại thân, hữu cầu tài phùng đảo nhiễm hoán trạc giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,欲得衣服,隨念即至,如佛所讚應法妙服,自然在身。有求裁縫擣染浣濯者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời, người trong nước muốn có y phục, vừa nghĩ liền có, y phục đẹp đẽ đúng pháp được Phật ca ngợi sẽ tự nhiên [xuất hiện] trên thân. Nếu c̣n phải cắt may, nhuộm màu, giặt giũ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba mươi tám, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, dục đắc y phục, tùy niệm tức chí” (nếu tôi thành Phật, trời, người trong nước muốn có y phục, vừa nghĩ liền có): Quư vị muốn mặc quần áo theo kiểu nào, bộ quần áo ấy nhất định sẽ khoác trên thể của quư vị. “Như Phật sở tán ứng pháp diệu phục, tự nhiên tại thân” (y phục đẹp đẽ đúng pháp được Phật ca ngợi sẽ tự nhiên [xuất hiện] trên thân): Y phục đẹp đẽ như chư Phật đă tán thán, tương ứng với Phật pháp, tự nhiên khoác trên thân thể của quư vị. “Hữu cầu tài phùng”, [nghĩa là] nếu bộ quần áo ấy cần phải may cắt, hoặc là “đảo nhiễm”, [tức là] cần phải nhuộm màu, “hoán trạc”: Hoặc là quần áo mặc dơ bẩn phải giặt giũ. Nếu có nhiều chuyện như thế, tôi sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

39) Nguyện thứ ba mươi chín, vui như Lậu Tận

         

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung thiên nhân, sở thọ khoái lạc, bất như Lậu Tận tỳ-kheo giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中天人,所受快樂,不如漏盡比丘者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước hưởng thụ vui sướng chẳng giống như vị tỳ-kheo đă chứng Lậu Tận, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ ba mươi chín. “Lậu” () là tên gọi khác của phiền năo. Lậu Tận là đă đoạn hết phiền năo. Phiền năo đoạn hết sạch th́ là Tứ Quả A La Hán. Ngài hưởng thụ pháp lạc. Nếu như trời, người trong thế giới Cực Lạc của tôi, hưởng thụ sự vui sướng chẳng giống như vị Lậu Tận tỳ-kheo, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

40) Nguyện thứ bốn mươi, trong cây hiện cơi nước

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tùy ư dục kiến thập phương vô lượng nghiêm tịnh Phật độ, ứng thời như nguyện, ư bảo thụ trung, giai tất chiếu kiến, do như minh kính, đổ kỳ diện tượng. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中菩薩,隨意欲見十方無量嚴淨佛土,應時如願,於寶樹中,皆悉照見,猶如明鏡,覩其面像。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tùy ư muốn thấy mười phương vô lượng cơi Phật trang nghiêm, thanh tịnh, sẽ ngay lập tức như nguyện, từ trong cây báu, thảy đều trông thấy rơ rệt, giống như gương sáng trông thấy khuôn mặt. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ bốn mươi, Tây Phương Cực Lạc thế giới toàn là do bảy báu hợp thành. Quư vị muốn trông thấy thế giới của một vị Phật nào, từ trong cây báu sẽ có thể trông thấy, giống như soi bóng vào gương, hoặc soi mặt vào gương, sẽ trông thấy rơ ràng.

 

41) Nguyện thứ bốn mươi mốt, các căn chẳng khuyết

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, chí ư đắc Phật, chư căn khuyết lậu, bất cụ túc giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,至於得佛,諸根缺陋,不具足者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương khác nghe danh tự của tôi cho đến khi thành Phật mà các căn thiếu hụt, chẳng đầy đủ, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác).

         

          Đại nguyện thứ bốn mươi mốt, “thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng” (nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương khác), chẳng phải là các vị Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới Bồ Tát, mà là hàng Bồ Tát trong thế giới khác, nghe danh tự của A Di Đà Phật, măi cho đến ngày vị ấy thành Phật mới thôi, nếu “chư căn khuyết lậu, bất cụ túc giả, bất thủ Chánh Giác” (các căn thiếu hụt, chẳng đầy đủ, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác), phát Bồ Đề tâm, tu Bồ Tát đạo, người ấy do đời trước, kiếp trước đă tạo ác nghiệp, vẫn chẳng thanh tịnh, hiện thời nghe danh hiệu A Di Đà Phật, ác nghiệp đều tiêu, trọn chẳng mắc phải quả báo sáu căn chẳng đầy đủ, sẽ chẳng bị mắt mù, tai điếc, thiếu một tay, hay thiếu một chân…. [tức là chẳng mắc] quả báo chư căn khuyết lậu vậy!

 

43) Nguyện thứ bốn mươi hai, giải thoát thanh tịnh

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, giai tất đăi đắc thanh tịnh giải thoát tam-muội. Trụ thị tam-muội, nhất phát ư khoảnh, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, nhi bất thất định ư. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.     

          ()設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,皆悉逮得清淨解脫三昧。住是三昧,一發意頃,供養無量不可思議諸佛世尊,而不失定意。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương khác, nghe danh tự của tôi, thảy đều đạt được tam-muội giải thoát thanh tịnh. Trụ trong tam-muội ấy, trong khoảng phát ư, cúng dường vô lượng chẳng thể nghĩ bàn chư Phật Thế Tôn, mà chẳng đánh mất định ư. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ bốn mươi hai, “thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, giai tất đăi đắc thanh tịnh giải thoát tam-muội” (nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương khác, nghe danh tự của tôi, thảy đều đạt được tam-muội giải thoát thanh tịnh): Chẳng sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, mà ở ngay trong các quốc độ của họ, chỉ cần nghe danh hiệu A Di Đà Phật, ta sẽ gia bị cho họ, khiến cho hàng Bồ Tát ấy đạt được “thanh tịnh giải thoát tam-muội”. “Trụ thị tam-muội” (trụ trong tam-muội ấy): An trụ trong tam-muội thanh tịnh. “Nhất phát ư khoảnh” (trong khoảng phát ư) là một khoảng thời gian rất ngắn, có thể “cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, nhi bất thất định ư” (cúng dường vô lượng chẳng thể nghĩ bàn chư Phật Thế Tôn, mà chẳng đánh mất định ư), thường ở trong Định cúng dường vô lượng chư Phật, mà chẳng đánh mất ư Thiền Định. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

43) Nguyện thứ bốn mươi ba, nghe tên được phước

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, thọ chung chi hậu, sanh tôn quư gia. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,壽終之後,生尊貴家。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong những cơi nước nơi phương khác, nghe danh tự của tôi, sau khi thọ chung, sanh trong nhà tôn quư. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ bốn mươi ba, những vị Bồ Tát chẳng sanh trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, chỉ cần nghe thấy danh hiệu A Di Đà Phật của ta, ta liền gia bị cho họ, sau khi hết tuổi thọ, sanh sang đời sau, quyết định sanh trong nhà tôn quư. Nếu chẳng như vậy, ta chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

44) Nguyện thứ bốn mươi bốn, tu hành trọn đủ các đức

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, hoan hỷ dũng dược, tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,歡喜踊躍,修菩薩行,具足德本。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, các vị trong các cơi nước ở nơi phương khác nghe danh tự của tôi, hoan hỷ, hớn hở, tu hạnh Bồ Tát, đầy đủ các cội đức. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ bốn mươi bốn, “thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, hoan hỷ dũng dược” (nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở nơi phương khác nghe danh tự của tôi, hoan hỷ, hớn hở): Nghe danh hiệu của ta, sẽ phát tâm hoan hỷ, muốn tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ các cội đức. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

45) Nguyện thứ bốn mươi lăm, Phổ Đẳng tam-muội

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, giai tất đăi đắc Phổ Đẳng tam-muội. Trụ thị tam-muội, chí ư thành Phật, thường kiến vô lượng bất khả tư nghị nhất thiết chư Phật. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,皆悉逮得普等三昧。住是三昧,至於成佛,常見無量不可思議一切諸佛。 若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương khác, nghe danh hiệu của tôi, thảy đều đạt được Phổ Đẳng tam-muội. Trụ trong tam-muội ấy, cho đến khi thành Phật, thường thấy vô lượng chẳng thể nghĩ bàn hết thảy chư Phật. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ bốn mươi lăm, nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước phương khác, nghe danh hiệu A Di Đà Phật, đều có thể đạt được Phổ Đẳng tam-muội[15]. Lại c̣n an trụ trong Phổ Đẳng tam-muội măi cho đến khi thành Phật, thường xuyên bái kiến vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn hết thảy chư Phật. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

46) Nguyện thứ bốn mươi sáu, tùy nguyện nghe pháp

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát, tùy kỳ chí nguyện sở dục văn pháp, tự nhiên đắc văn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,國中菩薩,隨其志願所欲聞法,自然得聞。若不爾者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước thuận theo chí nguyện của họ muốn nghe pháp nào, sẽ tự nhiên được nghe. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ bốn mươi sáu, “thiết ngă đắc Phật, quốc trung Bồ Tát” (nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước); đây là hàng Bồ Tát trong Tây Phương Cực Lạc thế giới. “Tùy kỳ chí nguyện, sở dục văn pháp, tự nhiên đắc văn” (thuận theo chí nguyện của họ muốn nghe pháp nào, sẽ tự nhiên được nghe), họ muốn nghe pháp nào, sẽ có thể nghe pháp đó. Nếu chẳng như vậy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác.

 

47) Nguyện thứ bốn mươi bảy, nghe danh hiệu đắc Bất Thoái

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, bất tức đắc chí Bất Thoái Chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,不即得至不退轉者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương khác, nghe danh hiệu của tôi mà chẳng liền đắc Bất Thoái Chuyển, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ bốn mươi bảy, nghe danh hiệu của A Di Đà Phật, quư vị dụng công tu hành, chắc chắn chẳng c̣n thoái chuyển nữa. Kinh A Di Đà gọi địa vị này là A Bệ Bạt Trí.

 

48) Nguyện thứ bốn mươi tám, đắc ba món Pháp Nhẫn

 

          (Kinh) Thiết ngă đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngă danh tự, bất tức đắc chí đệ nhất nhẫn, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn, ư chư Phật pháp, bất năng tức đắc bất thoái chuyển giả, bất thủ Chánh Giác.

          ()設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字,不即得至第一忍,第二第三法忍,於諸佛法不能即得不退轉者,不取正覺。

          (Kinh: Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cơi nước nơi phương khác, nghe danh tự của tôi, nếu chẳng đắc ngay đệ nhất nhẫn, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn, đối với Phật pháp của chư Phật mà chẳng liền đạt được bất thoái chuyển, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Đại nguyện thứ bốn mươi tám, các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương khác, chỉ cần nghe danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ có thể được A Di Đà Phật gia bị, đạt được đệ nhất pháp nhẫn, đệ nhị pháp nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, hết thảy Phật pháp đều có thể đầy đủ.

          Trước hết nói về pháp tướng của đệ nhất, đệ nhị, đệ tam nhẫn:

          1. Thứ nhất là Âm Hưởng Nhẫn (音響忍). Đây là từ tiếng vang mà đắc pháp nhẫn, nên gọi là Âm Hưởng Nhẫn. Do tiếng vang mà ngộ được chân lư, khai ngộ. Ngộ được lư thể Chân Như, nghe tiếng vang bèn khai ngộ th́ gọi là Âm Hưởng Nhẫn. Ví như có một vị thiền sư, ở một ḿnh trong lều tranh trên núi để tham Thiền, Sư khai hoang vỡ đất trên núi để trồng một ít rau dưa, khoai lang. Khi vỡ đất, đốn rừng, dùng cuốc vạc đá trên núi quăng xuống dưới núi. Sườn núi mọc đầy những cây trúc, h́nh thành rừng trúc, đá trên sườn núi rơi xuống, va vào thân trúc, vang ra tiếng “lạch cạch” rất lớn. Vị đại thiền sư ấy lập tức khai ngộ. Đấy là từ tiếng vang mà đắc pháp nhẫn, chính là môn thứ nhất, tức Âm Hưởng Nhẫn.

          2. Thứ hai là Nhu Thuận Nhẫn (柔順忍). Mềm mỏng, vâng thuận gọi là Nhu Thuận Nhẫn. Tức là do tâm trí huệ của chính ḿnh sanh ra. Do tâm trí huệ sanh ra, cho nên hết sức mềm mỏng, rất dễ dàng khai ngộ. Khai ngộ thuận theo chân lư, thuận theo diệu lư Chân Như th́ gọi là Nhu Thuận Nhẫn. Đấy là môn thứ hai, tức Nhu Thuận Nhẫn.

          3. Thứ ba là Vô Sanh Nhẫn (無生忍), c̣n gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn. Pháp vô sanh là pháp Thật Tướng. Thật Tướng chẳng có tướng, v́ phàm những ǵ có tướng đều là hư vọng! Pháp này là tướng chân thật, chẳng phải là tướng của hữu tướng. Hữu tướng th́ là tướng hư vọng, c̣n pháp này là chân thật, chẳng hư vọng. Đấy là diệu lư Chân Như, cũng là diệu lư Thật Tướng, mà cũng là Phật Tánh mỗi người chúng ta ai nấy sẵn có. Đấy là Vô Sanh Pháp. Hễ đại triệt đại ngộ pháp vô sanh, sẽ ngộ diệu lư Thật Tướng, chứng đắc pháp vô sanh, th́ gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn.

          Lại xem kinh văn, đại nguyện thứ bốn mươi bảy nhằm gia bị các vị Bồ Tát ở phương khác, chẳng phải là dành cho hàng Bồ Tát đă sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Các vị Bồ Tát trong các cơi nước ở phương khác, họ nghe danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ đắc địa vị bất thoái chuyển. Đại nguyện thứ bốn mươi tám vẫn gia bị các vị Bồ Tát ở phương khác. Nếu Bồ Tát ở cơi nước phương khác, nghe danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ đắc đệ nhất, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn, đắc bất thoái chuyển nơi các pháp của chư Phật. Nếu chẳng được như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác. Đại nguyện bốn mươi bảy và bốn mươi tám đều v́ hàng Bồ Tát ở phương khác mà vận dụng công phu, họ đều do được nghe danh hiệu của A Di Đà Phật mà kết quả là đều đắc bất thoái chuyển. Vậy th́ bất thoái chuyển trong đại nguyện bốn mươi bảy và đại nguyện bốn mươi tám giống nhau hay khác nhau? Nếu giống nhau, cần ǵ đă lập đại nguyện thứ bốn mươi bảy, lại lập ra nguyện thứ bốn mươi tám để làm ǵ nữa? Đương nhiên là chẳng giống nhau. V́ lời nguyện bốn mươi tám gồm rất nhiều câu như là “đạt được đệ nhất, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn”, lại c̣n “đắc bất thoái chuyển nơi pháp của chư Phật” trong khi đại nguyện thứ bốn mươi bảy chỉ nói “chẳng thoái chuyển”, khác nhau! Phải giải thích cặn kẽ hơn đôi chút!

          Hàng Bồ Tát ở quốc độ phương khác có địa vị sâu hay cạn khác nhau. Bất thoái chuyển trong đại nguyện thứ bốn mươi bảy là Bồ Tát ở các quốc độ khác, thuộc địa vị Thập Tín. Nếu Thập Tín vị Bồ Tát nghe danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ đạt đến bất thoái chuyển, gọi là Vị Bất Thoái. Đă đạt Bất Thoái Chuyển, bèn dự vào địa vị Thập Trụ. Đă dự vào địa vị Thập Trụ, lại chẳng thoái chuyển, sẽ dự vào địa vị Tam Hiền, chẳng bị lui sụt, đọa xuống phàm phu. V́ thế, gọi là Vị Bất Thoái Bồ Tát. Đại nguyện thứ bốn mươi tám gia bị những vị Bồ Tát đều là Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền. Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền là các địa vị Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng Bồ Tát. Các Ngài nghe danh hiệu của A Di Đà Phật liền tiến bộ, hễ tiến bộ, sẽ nhập vào địa vị Thập Thánh (Thập Địa). Sau khi đă lên Sơ Địa th́ gọi Hạnh Bất Thoái. Đối với hạnh môn Đại Thừa, chẳng c̣n thoái chuyển nữa. Từ Bát Địa Bồ Tát [trở lên] gọi là Niệm Bất Thoái, chánh niệm hiện tiền. Niệm nào cũng lưu nhập Tát Bà Nhă Hải (biển Nhất Thiết Trí), niệm nào cũng đều là chánh niệm, vĩnh viễn chẳng c̣n lui sụt, sẽ chứng đắc ba môn Pháp Nhẫn. Hai môn Pháp Nhẫn trước đều là [pháp được chứng bởi] Sơ Địa Bồ Tát, môn Pháp Nhẫn thứ ba là [pháp sở chứng của] hàng Bồ Tát từ Bát Địa trở lên. Đấy là hàng Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền, quư vị nghe danh hiệu A Di Đà Phật bèn có thể đăng địa (chứng đắc Sơ Địa). Hàng Bồ Tát sau khi đă đăng địa, nghe danh hiệu A Di Đà Phật, sẽ có thể tăng tấn đến Bát Địa, đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Do vậy, Ngài mới chẳng thoái chuyển nơi pháp của chư Phật.

          Bồ Tát thuộc những quốc độ ở phương khác tu hành chẳng thoái chuyển. Có ba loại bất thoái chuyển: Vị Bất Thoái, Niệm Bất Thoái, và Hạnh Bất Thoái. Nếu tu viên măn địa vị Thập Tín, dựa theo Đại Thừa Khởi Tín Luận để nói th́ phải mất một vạn đại kiếp mới dự vào địa vị Thập Trụ, mới là Vị Bất Thoái. Đă dự vào địa vị Thập Trụ, tức là [lần lượt trải qua] Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, địa vị Tam Hiền có ba mươi địa vị, phải tu một đại A-tăng-kỳ kiếp, dự lên Sơ Địa, tu cho đến Bát Địa Bồ Tát. Tu viên măn A-tăng-kỳ kiếp thứ hai, mới gặp Phật, được thọ kư thành Phật. Lấy Thích Ca Mâu Ni Phật để dẫn chứng, Ngài gặp Nhiên Đăng Phật thọ kư thành Phật, chính là đă tu viên măn hai đại A-tăng-kỳ kiếp, đạt đến địa vị Bát Địa Bồ Tát. Từ địa vị Bát Địa, lại tu một đại A-tăng-kỳ kiếp nữa mới thành Phật. Đấy là xét theo thời gian và địa vị trong quốc độ nơi phương khác mà phân biệt như thế đó!

          Tịnh Độ Tông có bốn món Bất Thoái. Ngoại trừ Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, và Niệm Bất Thoái ra, c̣n có Xứ Bất Thoái. Xứ () lả xứ sở, xứ sở là nơi chốn. Xứ sở nào vậy? Nơi chốn nào vậy? Tây Phương Cực Lạc thế giới! Chỉ cần quư vị sanh về xứ sở ấy, sẽ Bất Thoái Chuyển. Đại nguyện thứ nhất, đại nguyện thứ hai nhằm nêu rơ, sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị sẽ chẳng c̣n đọa vào trong ba ác đạo nữa. Tức là quư vị sanh về nơi chốn Tây Phương Cực Lạc thế giới, đấy là nơi chốn chẳng thoái chuyển, nên gọi là Xứ Bất Thoái. Xứ Bất Thoái bao gồm cả ba món Bất Thoái, tức là Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, Niệm Bất Thoái. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới là phàm phu đới nghiệp sanh về đó. Sanh sang đó bèn nhập Chánh Định Tụ, tức là Bất Thoái nơi địa vị Thập Trụ. Tăng tấn hơn nữa là Hạnh Bất Thoái, Nhất Sanh Bổ Xứ, vượt trỗi Đẳng Giác Bồ Tát. Huống hồ Bát Địa chính là Niệm Bất Thoái. Chỉ cần sanh về Tây Phương, sẽ đắc Xứ Bất Thoái, tức là đạt được ba món Bất Thoái. Đó là lợi ích to lớn của pháp môn Tịnh Độ.

 

          (Kinh) Phật cáo A Nan: - Nhĩ thời, Pháp Tạng tỳ-kheo, thuyết thử nguyện dĩ, dĩ kệ tụng viết:

          ()佛告阿難:爾時法藏比丘,說此願已,以偈頌曰:

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài A Nan: - Lúc bấy giờ, tỳ-kheo Pháp Tạng nói nguyện ấy xong, dùng kệ tụng rằng).

 

          “Phật cáo A Nan” (đức Phật bảo ngài A Nan): Đây vẫn là do Phật Thích Ca hướng về ngài A Nan kể chuyện A Di Đà Phật. Nói xong một đoạn, đức Phật lại gọi ngài A Nan một tiếng: “Nhĩ thời Pháp Tạng tỳ-kheo, thuyết thử nguyện dĩ” (lúc bấy giờ, tỳ-kheo Pháp Tạng nói các nguyện ấy xong). Bốn mươi tám đại nguyện đều là đại nguyện do tỳ-kheo Pháp Tạng đối trước Thế Tự Tại Vương Như Lai phát thệ. Ngài nói xong bốn mươi tám đại nguyện, lại nói kệ tụng để tán tụng những đại nguyện của Ngài, gồm mười một bài kệ tụng. Mười bài kệ tụng đầu là thệ nguyện, tức hoằng thệ đại nguyện. Bài kệ tụng cuối cùng [thể hiện ư nguyện] mong cầu có một thụy tướng (瑞相, tướng tốt lành) để chứng minh.

 

2.2.1.2.2.2.1.4. Dựa theo những điều đă nguyện trên đây, nhắc lại những điều chính ḿnh đă thệ nguyện (gồm mười một bài kệ)

2.2.1.2.2.2.1.4.1. Tự mong cầu (gồm ba bài kệ)

2.2.1.2.2.2.1.4.1.1. Ước theo tự đức của Phật để mong cầu

         

          (Kinh) Ngă kiến siêu thế nguyện, tất chí vô thượng đạo, tư nguyện bất măn túc, thệ bất thành Đẳng Giác.

          ()我建超世願,必至無上道,斯願不滿足,誓不成等覺。

          (Kinh: Con lập nguyện hơn đời, ắt đạt vô thượng đạo, nguyện ấy chẳng trọn thỏa, thề chẳng thành Đẳng Giác).

 

          “Ngă kiến siêu thế nguyện” (con lập nguyện siêu việt cơi đời), “ngă” là tỳ-kheo Pháp Tạng tự xưng. Tôi là tỳ-kheo Pháp Tạng đă kiến lập đại nguyện vượt trỗi thế gian. “Tất chí vô thượng đạo” (ắt đạt đến đạo vô thượng): “Vô thượng đạo” là Phật đạo, [“tất chí vô thượng đạo” là] nhất định có thể thành Phật. “Tư nguyện bất măn túc, thệ bất thành Đẳng Giác” (nguyện ấy chẳng trọn thỏa, thề chẳng thành Đẳng Giác): “Tư nguyện” (斯願) là nguyện này. [V́ sợ] bốn mươi tám nguyện chẳng được viên măn trọn vẹn, tôi lại lập lời thề. Đấy là hoằng thệ đại nguyện. Hoằng và Thệ hợp lại thành một danh từ [tức Hoằng Thệ], nguyện là thệ, thệ là nguyện. Nói tách ra, Nguyện là lập một chí hướng, Nguyện là nguyện cầu, nguyện đạt được, lập một chí nguyện. Nguyện đi trước dẫn đường, lại lập ra lời thề (thệ, ) giống như thúc giục đằng sau. Ví như một thớt ngựa, phía trước có sợi dây lôi nó đi, đấy là Nguyện. Đằng sau lại dùng roi ngựa để đánh cho nó chạy. Đấy gọi là “ra roi thúc giục. Bản thân chúng ta trước hết phải kiến lập một đại nguyện để dẫn đường, khéo tu đại hạnh. Nương vào nguyện để dẫn dắt hạnh, chỉ sợ nguyện ấy chẳng kiến lập được. Lại sợ hạnh này lui sụt, lại lập ra một lời thề ở đằng sau để thúc giục. Chẳng đạt tới mục đích th́ sẽ chẳng ngừng nghỉ. Đấy là [tác dụng của] Thệ.

 

2.2.1.2.2.2.1.4.1.2. Ước theo hóa đức (phẩm đức giáo hóa) để mong cầu (gồm hai bài kệ)

 

          (Kinh) Ngă ư vô lượng kiếp, bất vi đại thí chủ, phổ tế chư bần khổ, thệ bất thành Đẳng Giác. Ngă chí thành Phật đạo, danh thanh siêu thập phương, cứu cánh hữu bất văn, thệ bất thành Đẳng Giác.

          ()我於無量劫,不為大施主,普濟諸貧苦,誓不成等覺。我至成佛道,名聲超十方,究竟有不聞,誓不成等覺。

          (Kinh: Con trong vô lượng kiếp, chẳng làm đại thí chủ, cứu khắp kẻ nghèo khổ, thề chẳng thành Đẳng Giác. Đến khi con thành Phật, tiếng tăm trỗi mười phương, nếu có kẻ chẳng nghe, thề chẳng thành Đẳng Giác).

 

          Nhắc lại lời nguyện của Ngài. “Ngă” vẫn là tỳ-kheo Pháp Tạng tự xưng. Tôi đă phát đại nguyện, tôi tu đại hạnh môn, tu đại công phu, tu công phu Đại Thừa, lấy chuyện lợi ích chúng sanh để tu hành. Đại Thừa Bồ Tát coi lợi tha là tự lợi. Đại Thừa Bồ Tát tu Lục Độ th́ tu ở chỗ nào? Tu nơi chúng sanh. Ĺa khỏi chúng sanh, quư vị chẳng có cách nào tu hành. Pháp môn Lục Độ th́ độ thứ nhất là Bố Thí Độ. Bố Thí Độ chia thành ba loại là Tài Thí, Pháp Thí, và Vô Úy Thí, đều lấy chúng sanh làm đối tượng. Chẳng có chúng sanh, quư vị muốn Tài Thí cũng chẳng chỗ nào để tu, mà Pháp Thí và Vô Úy Thí cũng đều chẳng có chỗ nào để tu. Đại Thừa Bồ Tát tu như thế nào? Dụng công nơi thân của chúng sanh, phải nhớ rơ đạo lư này! Nay tỳ-kheo Pháp Tạng phát đại nguyện, muốn lập đại hạnh, muốn tu Lục Độ vạn hạnh. Điều thứ nhất trong Lục Độ là Bố Thí Độ, hành Tài Bố Thí trước. “Ngă ư vô lượng kiếp” (tôi trong vô lượng kiếp): Tôi muốn dùng công đức này để kiến lập Tây Phương Cực Lạc thế giới, vượt trỗi hai trăm mười ức cơi Phật; vậy th́ thế giới Cực Lạc của tôi, [chỉ tu tập, tích lũy] công đức trong một khoảng thời gian ngắn làm sao đầy đủ cho được? V́ thế, phải phát tâm dài lâu, phải tu hành trong vô lượng kiếp, tu hành ǵ vậy? Trước hết, tôi sẽ làm đại thí chủ, “bất vi đại thí chủ, phổ tế chư bần khổ, thệ bất thành Đẳng Giác” (chẳng làm đại thí chủ, cứu khắp kẻ nghèo khổ, thề chẳng thành Đẳng Giác): Tôi nhất định sẽ làm một vị đại thí chủ, làm đại thí chủ để làm ǵ? Rộng tu Bồ Tát đạo, hành Lục Độ vạn hạnh. Trong Lục Độ, Bố Thí là bậc nhất. Đối tượng để bố thí là “phổ tế chư bần khổ” (cứu tế trọn khắp những kẻ nghèo khổ). Chúng sanh nghèo túng, khổ năo, tôi sẽ cứu giúp họ. Chúng sanh chẳng có cơm ăn, tôi sẽ bố thí thức ăn. Chẳng có quần áo mặc, sẽ bố thí quần áo để mặc. Chẳng có nhà để ở, sẽ bố thí nhà cửa để ở. Chúng sanh nghèo khổ, tôi sẽ cứu giúp họ. Lại c̣n là “phổ tế”, [tức là] chẳng phân biệt oán thân, oán hay thân đều b́nh đẳng cứu độ. Đấy là hành Tài Bố Thí.

          “Ngă chí thành Phật đạo, danh thanh siêu thập phương, cứu cánh hữu bất văn, thệ bất thành Đẳng Giác” (tôi đạt thành Phật đạo, tiếng tăm vượt trỗi mười phương, rốt cuộc nếu có kẻ nào chẳng nghe biết, tôi thề chẳng thành Đẳng Giác): “Thành Đẳng Giác” cũng là “thành Chánh Giác”. Nói gộp chung lại, sẽ là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Văn tự có phần giản lược, trong phần trước đă nói là “thệ bất thành Chánh Giác”; ở đây nói là “thệ bất thành Đẳng Giác”! Đẳng Giác hay Chánh Giác [đều phải hiểu] là Phật. “Ngă chí thành Phật đạo”, [nghĩa là] trong tương lai, tỳ-kheo Pháp Tạng tôi đây sẽ thành Phật. Danh thanh siêu thập phương, cứu cánh hữu bất văn, thệ bất thành Đẳng Giác”, ư nói: Tiếng tăm vượt trỗi mười phương thế giới. Chúng sanh trong mười phương thế giới sẽ đều nghe danh hiệu thành Phật của tôi. Nếu c̣n có chúng sanh nào chẳng nghe danh hiệu ấy, tôi quyết định chẳng thành Phật!

          Nay chúng tôi dùng sự thật để chứng minh đôi chút. A Di Đà Phật đă thành Phật, c̣n có chúng sanh nào chẳng nghe danh hiệu A Di Đà Phật? Dùng sự thật để chứng minh, mỗi chúng sanh đều đă nghe thấy. Chứng minh như thế nào? Chúng ta đều là đệ tử Phật, tu Tịnh Độ Tông, hằng ngày niệm Phật, niệm mấy ngàn tiếng, cho đến mấy vạn tiếng; há có ai chẳng nghe danh hiệu Phật? Đối với đức giáo chủ thế giới Sa Bà, tức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, tỳ-kheo Pháp Tạng và A Di Đà Phật đều do Phật Thích Ca nói ra, đáng lẽ chúng ta phải biết danh hiệu Thích Ca Mâu Ni Phật trước hết th́ mới đúng, thế nhưng có rất nhiều chúng sanh chẳng biết danh hiệu của Phật Thích Ca, nhưng đâm ra lại biết danh hiệu A Di Đà Phật. Họ chẳng phải là đệ tử Phật, cũng chưa hề thọ Tam Quy Y, mà cũng chẳng phát nguyện sanh về Tây Phương, lại càng chẳng niệm A Di Đà Phật, nhưng họ biết danh hiệu A Di Đà Phật, biết như thế nào? Nếu họ gặp chuyện hoan hỷ, sẽ chẳng tự giác niệm một tiếng A Di Đà Phật. Trong khi họ thương tâm hoặc phiền năo, sẽ chẳng tự giác niệm một tiếng A Di Đà Phật. Niệm Phật hiệu là buột miệng thốt ra, thật giống như trẻ nhỏ tự nhiên gọi mẹ vậy. Nếu trong quá khứ, người ấy chưa hề nghe danh hiệu A Di Đà Phật, trong ruộng tám thức chẳng có chủng tử ấy, nó làm sao có thể dấy lên hiện hành cho được? Làm sao người ấy có thể buột miệng niệm một tiếng A Di Đà Phật cho được? Chứng tỏ hết thảy chúng sanh trong đời trước, kiếp trước, cho đến nhiều đời nhiều kiếp trước đă từng nghe danh hiệu A Di Đà Phật.

 

2.2.1.2.2.2.1.4.2. Thuận cầu (gồm bảy bài kệ)

 

          (Kinh) Ly dục thâm chánh niệm, tịnh huệ tu phạm hạnh, chí cầu vô thượng tôn, vi chư thiên nhân sư. Thần lực diễn đại quang, phổ chiếu vô tế độ, tiêu trừ tam cấu minh, minh tế chúng ách nạn. Khai bỉ trí huệ nhăn, diệt thử hôn manh ám, bế tắc chư ác đạo, thông đạt thiện thú môn. Công tộ thành măn túc, oai diệu lăng thập phương, nhật nguyệt tập trùng huy, thiên quang ẩn bất hiện. Vị chúng khai pháp tạng, quảng thí công đức bảo, thường ư đại chúng trung, thuyết pháp sư tử hống.   Cúng dường nhất thiết Phật, cụ túc chúng đức bổn, nguyện huệ tất thành măn, đắc vi tam giới hùng. Như Phật vô ngại trí, thông đạt mị bất chiếu, nguyện ngă công đức lực, đẳng thử tối thắng tôn.

          ()離欲深正念,淨慧修梵行,志求無上尊,為諸天人師。神力演大光,普照無際土,消除三垢冥,明濟眾厄難。開彼智慧眼,滅此昏盲闇,閉塞諸惡道,通達善趣門。功祚成滿足,威曜朗十方,日月戢重暉,天光隱不現。為眾開法藏,廣施功德寶,常於大眾中,說法師子吼。供養一切佛,具足眾德本,願慧悉成滿,得為三界雄。如佛無礙智,通達靡不照,願我功德力,等此最勝尊。

          (Kinh: Ĺa dục, chánh niệm sâu. Tịnh huệ tu phạm hạnh, chí cầu đấng vô thượng, làm thầy của trời người. Thần lực tỏa đại quang, chiếu khắp khôn ngằn cơi, tiêu trừ tối ba cấu, cứu ách nạn sáng ngời, mở huệ nhăn cho họ, diệt trừ mù tối tăm. Đóng chặt các đường ác, thông thoáng cửa đường lành, công phước đều trọn vẹn, oai sáng ngời mười phương, nhật nguyệt mất ánh sáng, quang minh của bầu trời, thảy ẩn mất chẳng hiện. V́ chúng mở kho pháp, rộng thí báu công đức, thường ở trong đại chúng, thuyết pháp, sư tử rống. Cúng dường hết thảy Phật, đầy đủ các cội đức, nguyện huệ đều vẹn thành, thành đấng tam giới hùng, như Phật vô ngại trí, thông đạt chiếu khắp cả, nguyện sức công đức tôi, bằng với đấng tối thắng).

 

          “Ly dục thâm chánh niệm, tịnh huệ tu phạm hạnh, chí cầu vô thượng tôn, vi chư thiên nhân sư” (ĺa dục, chánh niệm sâu. Tịnh huệ tu phạm hạnh, chí cầu [sẽ trở thành] đấng vô thượng, làm thầy của trời người): Trong bài kệ tụng này, bao gồm Tŕ Giới Độ, Thiền Định Độ, và Bát Nhă Độ, nhưng chú trọng Tŕ Giới Độ. “Ly dục”: Thứ nhất là ĺa dâm dục, thứ hai là ĺa ngũ dục. Điều này là cần phải tŕ giới. “Thâm chánh niệm” (chánh niệm sâu): Đây là tu Thiền Định. “Tịnh huệ”: Từ Thiền Định chánh niệm sâu, sanh khởi trí huệ thanh tịnh; đấy là Bát Nhă Độ. “Tu phạm hạnh” chú trọng tŕ giới. “Ly dục” là tŕ giới. “Tu phạm hạnh” cũng là tŕ giới. “Phạm hạnh” là thanh tịnh, tŕ giới thanh tịnh, tu hạnh môn ǵ cũng đều thanh tịnh, nên gọi là “tu phạm hạnh”. “Chí cầu vô thượng tôn”: Tu Tŕ Giới Độ, Thiền Định Độ và Bát Nhă Độ nhằm mong cầu thành Phật. “Vi chư thiên nhân sư” (làm thầy của chư thiên và loài người): Phải nêu gương cho loài người trong nhân gian và nêu gương cho chư thiên trong cơi trời, làm thầy của trời người như thế nào? Thứ nhất là có Thiền Định, thứ hai là có trí huệ, nhưng [nếu như] giới luật chẳng thanh tịnh, loài người chẳng tôn trọng quư vị, mà trời cũng chẳng tôn trọng quư vị. Do vậy, bài kệ tụng này bao gồm ba Độ, chú trọng nơi TGiới Độ!

          “Thần lực diễn đại quang, phổ chiếu vô tế độ, tiêu trừ tam cấu minh, minh tế chúng ách nạn” (thần lực tỏa ra quang minh lớn, chiếu trọn khắp các cơi không có ngằn mé, tiêu trừ sự tối tăm do ba cấu, cứu giúp rạng ngời các ách nạn): Đây là Vô Úy Thí. Bố Thí chia thành ba loại, tức Tài Thí, Pháp Thí, và Vô Úy Thí. Cứu kẻ nghèo khổ trong phần trước là Tài Bố Thí, phần này là hành Vô Úy Bố Thí. “Thần lực diễn đại quang” (do thần lực tỏa ra quang minh to lớn): Đă có thần thông, dùng sức thần thông tỏa ra quang minh to lớn, có thể “phổ chiếu vô tế độ” (chiếu khắp các cơi chẳng có ngằn mé), “tế” () là biên tế (邊際, bờ mé, giới hạn). [“Vô tế độ” là] vô lượng quốc độ, vô lượng thế giới, thế giới chẳng có ngằn mé. “Tiêu trừ tam cấu minh” (tiêu trừ sự tối tăm của Tam Cấu): Tham, sân, si là pháp ô nhiễm, nên gọi là Tam Cấu (三垢). Pháp tối tăm gọi là Minh (). Nếu có thể dùng sức thần thông tỏa ra đại quang minh để chiếu trọn khắp vô lượng thế giới, vô lượng chúng sanh, khiến cho hết thảy chúng sanh đều tiêu trừ tối tăm tam cấu tham, sân, si của chính họ. “Minh tế chúng ách nạn”, ư nói: Cứu độ tai nạn cho hết thảy chúng sanh. Chữ Ách () này là chính là chữ Ách trong câu Tâm Kinh “chiếu kiến Ngũ Uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. “Ách” là tai ương. Chúng sanh gặp tai nạn, ta phóng quang minh cứu giúp tai nạn cho chúng sanh. Chúng sanh mang tai mắc nạn liền sanh ḷng sợ hăi, ta cứu độ họ xa ĺa tai nạn, bố thí sự không sợ hăi, nên gọi là Vô Úy Bố Thí.

          “Khai bỉ trí huệ nhăn, diệt thử hôn manh ám, bế tắc chư ác đạo, thông đạt thiện thú môn” (mở con mắt trí huệ cho họ, diệt trừ sự tối tăm mù ḷa ấy, đóng bít các đường ác, khai thông cửa dẫn đến đường lành), “khai bỉ trí huệ nhăn, diệt thử hôn manh ám”: Sẽ nói Phật pháp cho chúng sanh nghe, khiến cho chúng sanh mở mang con mắt trí huệ. Mắt của chúng sanh là nhục nhăn, nhục nhăn chưa khai trí huệ, giống như một kẻ mù nên gọi là “hôn manh” (昏盲, mù tối). “Hôn manh” là kẻ mù nhắm tịt mắt, thế giới của người ấy là một thế giới tối tăm. Ta mở con mắt trí huệ cho người ấy, khiến cho chúng sanh có được con mắt trí huệ, diệt trừ sự mù tối mờ mịt. Đă diệt trừ th́ chính là “bế tắc chư ác đạo, thông đạt thiện thú môn” (đóng bít các đường ác, khai thông cửa đường lành). V́ sao gọi chúng sanh là kẻ mù nhắm tịt mắt? Kẻ mù chẳng thấy quang minh đại đạo, đi theo con đường hắc ám, phía trước có hố, có rănh, họ chẳng thấy, sẽ bị lọt hố sụp rănh, rơi vào trong hố sâu. “Rănh” là ng̣i nước, họ sẽ rơi xuống ng̣i nước. V́ bọn phàm phu chúng ta là kẻ mù nhắm tịt mắt, chẳng thấy ba ác đạo, sẽ đi vào trong ba ác đạo, giống như kẻ mù bị rơi hầm sụp rănh. V́ thế, mở con mắt trí huệ cho chúng sanh là chuyện khẩn yếu nhất. Huệ nhăn vừa mở, họ sẽ biết cửa dẫn vào ba ác đạo ở nơi đâu, nếu họ đừng đi vào cửa đó, sẽ chẳng vào ba ác đạo. Ta đóng lấp cửa dẫn vào ba ác đạo cho chúng sanh, dạy họ đi vào thiện đạo, đi vào thiên đạo. Đó là “thông đạt thiện thú môn” (khai thông cửa dẫn đến đường lành), khiến cho họ thường qua lại đường nhân thiên. “Thiện thú môn” là nói đối ứng với “chư ác đạo” trong phần trên. Khóa chặt cửa của ba đường ác, tức là khai thông con đường dẫn đến trời, người. Trên thực tế, nhân thiên thiện đạo là tiền phương tiện, mục đích chân chánh là muốn t́m ra chiếc cửa thông đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, tức là pháp môn Niệm Phật. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ mới chẳng thoái chuyển, vĩnh viễn chẳng bị đọa lạc trong ba ác đạo.

          “Công tộ thành măn túc, oai diệu lăng thập phương, nhật nguyệt tập trùng huy, thiên quang ẩn bất hiện” (công đức và phước đức đều thành tựu trọn vẹn, oai quang rạng ngời mười phương, mặt trời và mặt trăng lu mờ, ánh sáng cơi trời ẩn mất, chẳng hiện): Đây là Ngài phát nguyện có vô lượng quang minh, phát nguyện kiến lập đại hạnh. Đă kiến lập đại hạnh bèn tu công, tu tộ. “Công” () là công đức, “tộ” () là phước đức. Tu nhiều công đức, tu nhiều phước đức. Công đức lẫn phước đức đều tu viên măn, liền có quang minh. “Oai diệu lăng thập phương, nhật nguyệt tập trùng huy”, nghĩa là có oai đức quang minh, chiếu sáng chói ngời mười phương thế giới, đem so với ánh sáng của mặt trời, mặt trăng th́ mặt trời lẫn mặt trăng đều chẳng có ánh sáng! “Tập” () là giảm bớt, giảm bớt quang minh của chúng! “Thiên quang ẩn bất hiện”: Ánh sáng mặt trời mặt trăng là ánh sáng của trời (thiên quang). Ánh sáng trong bầu trời đều ẩn mất, chẳng hiện.

          “Vị chúng khai pháp tạng, quảng thí công đức bảo, thường ư đại chúng trung, thuyết pháp sư tử hống” (v́ đại chúng mở kho pháp, rộng thí của báu công đức, thường ở trong đại chúng, thuyết pháp như sư tử rống). Đấy là Pháp Bố Thí trong Bố Thí. Bố Thí chia thành ba loại, trong phần trước, cứu giúp kẻ nghèo khổ là Tài Bố Thí, cứu tai nạn là Vô Úy Bố Thí. Ở đây là nói đến Pháp Bố Thí. “Vị chúng khai pháp tạng” (v́ đại chúng mở kho pháp): Giống như mở toang kho báu cho chúng sanh. “Pháp tạng” chẳng phải là của báu vàng, bạc, mà là của báu Phật pháp, nên gọi là Pháp Tạng. “Quảng thí công đức bảo” (rộng bố thí báu công đức): Ta mở kho báu vàng bạc ra, đem vàng, bạc bố thí; đó là Tài Bố Thí. Ở đây là Pháp Bố Thí, mở kho tàng Pháp Bảo, rộng hành bố thí của báu công đức, thuyết pháp cho chúng sanh nghe, đấy là “quảng thí công đức bảo”. “Thường ư đại chúng trung” (thường ở trong đại chúng): Thuyết pháp th́ phải phát tâm rộng lớn; muốn thuyết pháp cho đại chúng th́ lại c̣n phải phát tâm dài lâu. Quư vị chẳng phát tâm dài lâu, hôm nay thuyết pháp, ngày mai chẳng nói, vậy th́ chúng sanh có thể đạt được bao nhiêu lợi ích? “Thường ư đại chúng trung” (thường ở trong đại chúng): “Thường” () là cái tâm dài lâu. Đối với đại chúng thuyết pháp là cái tâm rộng lớn. “Thuyết pháp sư tử hống”, nghĩa là: Thuyết pháp giống như sư tử gầm, tà ma ngoại đạo đều bị chấn động, kinh hăi, đều bị hàng phục, giống như sư tử rống lên, [muôn thú đều kinh sợ, náu ḿnh]!

          Tỳ-kheo Pháp Tạng trong khi tu nhân đă phát đại nguyện, lập đại thệ, Phật Thích Ca đă kể lại, nhắc lại, nhằm bảo chúng ta hăy nghe, hăy học theo. Chúng ta phải phát tâm nói Phật pháp cho chúng sanh nghe, phải phát tâm rộng lớn, đi đến đâu bèn nói tới đó. Chẳng hạn như tôi ở Đại Lục bèn giảng cho người Đại Lục. Tôi đến Đài Loan bèn giảng cho người Đài Loan, đến Hương Cảng bèn giảng cho người Hương Cảng; đấy là phát tâm rộng lớn. Lại c̣n phải phát tâm dài lâu. Hôm nay giảng, ngày mai giảng, năm nay giảng, năm sau giảng. Giảng đến khi quả báo đă hết, sanh về thế giới Cực Lạc, chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhăn, lại trở về tiếp tục giảng. Đấy là phát tâm dài lâu. Tôi nói những lời này nhằm khuyên các vị. Hiện thời, người thuyết pháp trong Phật giáo quá ít! Quư vị phát tâm giảng kinh, thuyết pháp, bất luận là chúng xuất gia hay chúng tại gia đều học giảng kinh, thuyết pháp, Phật giáo sẽ hưng khởi, nhưng điều đầu tiên là quư vị phải phát tâm rộng lớn, điều thứ hai là phải phát tâm dài lâu.

          “Cúng dường nhất thiết Phật, cụ túc chúng đức bổn, nguyện huệ tất thành măn, đắc vi tam giới hùng” (cúng dường hết thảy các vị Phật, đầy đủ các cội đức, nguyện trí huệ đều thành tựu viên măn, trở thành đấng Đại Hùng trong ba cơi): Bài kệ tụng này ư nói phải tu phước và tu huệ, phước huệ phải trọn đủ. Tỳ-kheo Pháp Tạng học Phật, Phật tu như thế nào, Ngài cũng tu như vậy! Tu phước như thế nào? “Cúng dường nhất thiết Phật” (cúng dường hết thảy Phật), phước báo sẽ đưa tới nhanh chóng. “Cụ túc chúng đức bổn” (trọn đủ các cội đức): Công đức căn bản thảy đều đầy đủ, tức là hết thảy các thiện căn đều đầy đủ. “Nguyện huệ tất thành măn” (nguyện trí huệ thành tựu viên măn): Tu phước đến mức viên măn, lại phát đại nguyện cầu trí huệ, cầu trí huệ viên măn. Viên măn th́ sẽ trọn đủ, tức là phước đầy đủ, huệ đầy đủ. “Đắc vi tam giới hùng”: Trở thành bậc đại hùng trong tam giới. Ví như điện Tam Bảo trong chùa Phật được gọi là Đại Hùng Bảo Điện. Đại Hùng là phước báo lớn nhất, trí huệ lớn nhất, lớn đến mức viên măn rốt ráo, phước trọn đủ, huệ đầy đủ, th́ gọi là Đại Hùng.

          “Như Phật vô ngại trí, thông đạt mị bất chiếu, nguyện ngă công đức lực, đẳng vi Tối Thắng Tôn” (như trí vô ngại của đức Phật, thông đạt không đâu chẳng chiếu thấu. Nguyện sức công đức của con bằng với đấng Tối Thắng). “Như Phật vô ngại trí, thông đạt mị bất chiếu”, ư nói: Tôi, tức tỳ-kheo Pháp Tạng mong đạt trí huệ giống như Phật, chứng đắc Vô Ngại Trí của Phật, thông đạt hết thảy các pháp. Đối với hết thảy các pháp, chẳng sanh chướng ngại th́ gọi là Vô Ngại Trí. Thông đạt hết thảy các pháp, ta muốn độ hết thảy chúng sanh. “Mị bất chiếu” (không đâu chẳng chiếu thấu), tức là dùng quang minh của ta chiếu khắp hết thảy chúng sanh. “Nguyện ngă công đức lực” (nguyện sức công đức của tôi), tức là do độ chúng sanh nên mới thành tựu sức công đức giống như Phật. “Đẳng thử tối thắng tôn” tức là bằng với Phật.

 

2.2.1.2.2.2.1.4.3. Thỉnh cầu chứng minh, mong hiện điềm lành (gồm một bài kệ)

         

          (Kinh) Tư nguyện nhược khắc quả, đại thiên ưng cảm động, hư không chư thiên thần, đương vũ trân diệu hoa.

          ()斯願若剋果,大千應感動,虛空諸天神,當雨珍妙華。

          (Kinh: Nguyện này nếu đắc quả, đại thiên nên cảm động, chư thiên thần trên không, sẽ mưa hoa quư đẹp).

 

          Đây là bài kệ tụng cuối cùng, cầu cảm ứng. “Tư nguyện nhược khắc quả”, [nghĩa là] tôi, tức tỳ-kheo Pháp Tạng đă phát hoằng thệ đại nguyện, giả sử trong tương lai có thể chứng đắc quả vị. “Khắc” () là có thể chứng, [“khắc quả”] là có thể chứng đắc quả vị. “Đại thiên ưng cảm động”: Đại thiên thế giới phải nên cảm động; không chỉ là cảm động đất, mà c̣n cảm động trời. “Hư không chư thiên thần”: Các vị thiên thần trong hư không, xin các vị hăy nghe tôi phát nguyện, hy vọng nguyện của tôi thật sự nhất định có thể chứng đắc quả tối thắng. Các vị thiên thần “đương vũ trân diệu hoa” (hăy nên mưa hoa quư đẹp), “vũ” () là từ không trung rơi xuống, [“đương vũ trân diệu hoa” là] rơi xuống hoa trời trân quư, đẹp đẽ nhằm chứng minh một phen.

 

2.2.1.2.2.2.1.5. Hiện tướng đúng như mong cầu

 

          (Kinh) Phật ngữ A Nan: - Pháp Tạng tỳ-kheo, thuyết thử tụng dĩ, ứng thời phổ địa lục chủng chấn động, thiên vũ diệu hoa, dĩ tán kỳ thượng. Tự nhiên âm nhạc, không trung tán ngôn: “Quyết định tất thành Vô Thượng Chánh Giác”.

          ()佛語阿難:法藏比丘,說此頌已,應時普地六種震動,天雨妙華,以散其上。自然音樂,空中讚言:決定必成無上正覺。

          (Kinh: Đức Phật bảo ngài A Nan: - Tỳ-kheo Pháp Tạng nói bài kệ ấy xong, ngay lập tức, khắp cơi đất sáu thứ chấn động, trời tuôn diệu hoa để rải lên trên. Tự nhiên âm nhạc, trong hư không có tiếng khen rằng: “Quyết định ắt thành Vô Thượng Chánh Giác”).

 

          “Phật ngữ A Nan”, [nghĩa là] Phật Thích Ca nói đến đây, lại hướng về A Nan bảo: “Pháp Tạng tỳ-kheo, thuyết thử tụng dĩ” (tỳ-kheo Pháp Tạng nói bài tụng ấy xong). Nói xong mười một bài kệ tụng trên đây, khi ấy bèn có cảm ứng. “Ứng thời, phổ địa lục chủng chấn động” tức là [ngay khi đó], đại thiên thế giới có sáu thứ chấn động. “Thiên vũ diệu hoa, dĩ tán kỳ thượng”: Trong hư không liền mưa xuống hoa trời trân quư, đẹp đẽ. “Dĩ tán kỳ thượng” (để rải trên ấy): Rải trên đại địa. “Tự nhiên âm nhạc, không trung tán ngôn”: Trong không trung, tự nhiên có tiếng âm nhạc, trong không trung c̣n thấy có người nói năng, thốt lời tán thán như sau: “Quyết định ắt thành Vô Thượng Chánh Giác”, ấn chứng quư vị phát nguyện to lớn ấy, chắc chắn sẽ có thể thành Vô Thượng Chánh Giác, tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, quyết định có thể thành Phật!

 

2.2.1.2.2.2.1.6. Tổng kết, tán thán

 

          (Kinh) Ư thị Pháp Tạng tỳ-kheo cụ túc tu măn như thị đại nguyện, thành đế bất hư, siêu xuất thế gian, thâm nhạo tịch diệt.

          ()於是法藏比丘,具足修滿如是大願,誠諦不虛。超出世間,深樂寂滅。

          (Kinh: Do vậy, tỳ-kheo Pháp Tạng tu viên măn đầy đủ đại nguyện như thế, chân thành, chẳng hư dối, vượt trỗi thế gian, yêu thích tịch diệt sâu xa).

 

          “Ư thị Pháp Tạng tỳ-kheo cụ túc tu măn như thị đại nguyện” (do vậy, tỳ-kheo Pháp Tạng tu viên măn trọn đủ đại nguyện như thế): Đối với hoằng thệ đại nguyện đă phát trên đây, tiếp đó, Ngài bèn tu hành, tu viên măn đại nguyện, đúng là “nương vào nguyện để dẫn dắt hạnh, dùng hạnh để thực hiện nguyện”. Nương vào đại nguyện để dẫn khởi đại hạnh, nương vào đại hạnh để bồi đắp viên măn đại nguyện. “Thành đế bất hư, siêu xuất thế gian, thâm nhạo tịch diệt” (chân thành, chẳng hư dối, vượt trỗi thế gian, yêu thích tịch diệt sâu xa): “Thành đế bất hư” là Ngài phát đại nguyện, lập đại nguyện, “thành đế”, Đế () là suy nghĩ cẩn thận, chân thành chẳng hư dối. “Siêu xuất thế gian”: Vượt trỗi hết thảy những điều phát nguyện của người thế gian. “Thâm nhạo tịch diệt” (yêu thích tịch diệt sâu xa): Xa ĺa hết thảy tướng.

Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh

Giảng Kư, phần 2 hết

 

 

 



[1] “Trước địa” có nghĩa là đầu gối chạm đất, chứ không phải toàn thể bắp chân. Trường quỵ là quỳ thẳng lưng, đầu gối và cả bắp chân đều áp sát mặt đất.

[2] Theo cổ thư như bộ Thuyết Văn Giải Tự, Sơn Hải Kinh v.v… Loan là một loài chim thuộc loài Phụng Hoàng. Nó thường được gọi là Thanh Loan hay Kim Kê, thuộc loài Bách Nhăn Ban Trĩ (chim trĩ có nhiều hoa văn h́nh tṛn như con mắt trên bộ lông). Theo đó, Loan là chim trống, Kim Kê là chim mái. Do đó, chim Loan c̣n được gọi chung là Kê Loan. Hiện thời, loài chim Hồng Phúc Cẩm Kê (tên khoa học Chrysolophus Pictus, Golden Pheasant) thường được coi là chim Loan.

[3] Tức là bài Hồng Danh Bảo Sám. Thiền môn Trung Hoa vào khóa tối sau khi tụng kinh Di Đà và niệm Phật xong, thường tụng Hồng Danh Bảo Sám và Mông Sơn Thí Thực Văn. Sau đó, tụng chú Đại Bi và tán Già Lam Bồ Tát. Hồng Danh Bảo Sám bao gồm năm mươi ba danh hiệu vị Phật trích từ kinh Quán Dược Vương Dược Thượng Nhị Bồ Tát và ba mươi lăm danh hiệu Phật trích từ kinh Đại Bảo Tích, những phần kệ tụng sau đó đều trích từ phần kệ tụng của phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Phần đầu là đảnh lễ Tam Bảo, cộng với mười tôn hiệu của Phật, cùng với các lạy ở mỗi đoạn kệ gộp chung thành một trăm lẻ tám lạy mang ư nghĩa sám trừ một trăm lẻ tám món phiền năo.

[4] Ma Tổ (媽祖) là một vị thần bảo hộ ngư dân ở vùng Hoa Nam. Bà thường được biết dưới danh xưng Thiên Hậu, Thiên Hậu Nương Nương, Thiên Phi, Mị Châu Nương Ma v.v… Bà tên thật là Lâm Mặc, quê ở thôn Đông Loa, đảo Mỵ Châu, huyện Phủ Điền, tỉnh Phước Kiến, sống vào đời Tống. Bà được thờ phụng và tin tưởng rất rộng, hầu như suốt vùng Đông Nam Á, hễ ở đâu có người từ Hoa Nam như Phước Kiến, Quảng Đông, Hải Nam… trú ngụ đều có đền thờ Ma Tổ. Ngay cả đảo Lưu Cầu (Ryukyu) của Nhật Bản cũng có miếu thờ Ma Tổ. Người Việt thường gọi miếu thờ Ma Tổ là chùa Bà.

[5] Trung Hoa vào thời cổ, trẻ trai mới sanh ra thường không được đặt tên mà thường gọi bằng một tên thân mật như Bảo Bảo chẳng hạn, đến khi tṛn một năm hoặc vào một ngày tốt nào đó, mới đặt tên (thường gọi là nhũ danh hoặc húy). Đến tuổi hai mươi th́ được đặt tên tự với ư nghĩa cầu chúc, mong mỏi con sẽ thành đạt những phẩm đức ấy. Chỉ có cha mẹ và thầy dạy là gọi thẳng tên húy, người ngoài luôn gọi người ấy bằng tên tự. Người ấy sẽ chọn cho ḿnh một hiệu nhằm bày tỏ chí hướng. Chẳng hạn Âu Dương Tu có tên tự là Vĩnh Thúc, hiệu là Túy Ông. Danh y Hải Thượng Lăn Ông Lê Hữu Trác có tên thật là Hữu Trác, tự là Cẩn Như, hiệu là Hải Thượng Lăn Ông (ông lười trên biển) và Thảo Am. Thật ra, c̣n một tên nữa là thụy hiệu, tức là tên đặt sau khi chết nhằm tôn vinh đức hạnh của người đă mất. Thụy hiệu dùng để đề bài vị và khấn bái khi cúng giỗ.

[6] Đối với câu này, ngài Gia Tường giảng rơ hơn: “Khen ngợi tài năng siêu quần nên bảo là Cao Tài. Tự thắng được ḿnh, thắng được người, nên khen là Dũng. Sáng suốt phá tan tà kiến nên bảo là Triết”. Tịnh Ảnh Sớ lại giảng: “Tài là tài khéo, tài đức hơn người nên bảo là Cao Tài. Ư chí mạnh mẽ là Dũng. Tâm sáng suốt là Triết”.

[7] Tuy chánh kinh ghi là “bách thiên ức vạn”, nhưng khi giảng câu này, trưởng lăo Đạo Nguyên lại nói là “bách thiên vạn ức”. Do tôn trọng chúng tôi giữ nguyên như thế.

[8] Chữ hiện thời đọc thành Ẩn. Do đó, ở đây ḥa thượng Đạo Nguyên phải giải thích rơ ràng: Thời cổ, Ổn () và Ẩn () dùng lẫn cho nhau. Khi kinh viết là “an ẩn” (安隱) th́ phải đọc thành “an ổn”.

[9] Tại Đại Lục có quá nhiều chùa tên Thiên Ninh, và đều nổi tiếng, không rơ ḥa thượng Đạo Nguyên nói về chùa nào, nhưng do phần lớn các chùa trong đoạn này đều ở Hoa Nam, chúng tôi đoán đây là chùa Thiên Ninh ở Thường Châu tỉnh Giang Tô. Chùa Thiên Ninh được sáng lập từ đời Đường bởi cao tăng Pháp Dung thiền sư với tên Quang Phước Tự. Đến đời Tống, đổi thành Thiên Ninh. Vua Càn Long sáu lần tuần du Giang Nam, đă ba lần viếng chùa này, ngự đề tấm hoành phi Long Thành Tượng Giáo.

Chùa Thiên Đồng ở tại thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, được sáng lập vào thời Tây Tấn, tiền thân là ngôi thảo am của du tăng Nghĩa Hưng. Theo truyền thuyết, chùa được kiến lập đúng ngay cửa vào động núi Thái Bạch. Thái Bạch Kim Tinh bèn sai đồng tử cơi trời mang thức ăn cúng dường tăng chúng trong suốt thời gian kiến tạo, nên mới gọi là chùa Thiên Đồng (đồng tử cơi trời).

Chùa Kim Sơn ở Trấn Giang, tỉnh Giang Tô, là đạo tràng bậc nhất về Thiền Tông thuộc phái Quy Ngưỡng tại Hoa Nam. Chùa xây dựng từ đời Đông Tấn, có tên là Trạch Tâm Tự. Từ đời Đường trở đi, khi thiền sư Pháp Hải trùng tu, Đường Tuyên Tông đă đổi tên chùa thành Kim Sơn. Thời nhà Thanh, Khang Hy xuống Giang Nam tuần du, đă sắc phong chùa tên là Giang Thiên Thiền Tự, nhưng mọi người vẫn gọi chùa này là Kim Sơn Tự. Trong chùa c̣n giữ chiếc đai ngọc của Tô Đông Pha, cũng như nhiều cổ vật quư giá. Đặc biệt là trong chùa có ṭa Văn Tông Các, khi bộ Tứ Khố Toàn Thư được biên soạn hoàn thành, vua Càn Long sai người sao chép lại, cất giữ một bộ tại đây. Chùa nổi tiếng nghiêm ngặt về tọa thiền. Mỗi khóa tọa thiền tối thiểu mấy tiếng đồng hồ.

Chùa Cao Minh c̣n gọi là U Khê Đạo Tràng hoặc Tịnh Danh Tự ở tại Đông Bắc huyện Thiên Thai tỉnh Chiết Giang, là tổ đ́nh của tông Thiên Thai. Chùa này do chính Trí Giả đại sư khai sơn.

[10] Bài lâu (牌樓), c̣n gọi là Bài Phường (), hay c̣n gọi là Khuyết () vào đời Hán, hay Phiệt Duyệt (阀阅) dưới đời Tống. Đây là một thứ kiến trúc tương tự như cửa Tam Quan, nhưng khác với cửa Tam Quan là số lượng ô cửa có thể nhiều hơn, nhưng luôn phải là con số lẻ. Cửa tam quan luôn luôn có cánh cổng, c̣n Bài Lâu không có cánh cửa. Đây là một kiến trúc được đặt trước lối dẫn vào các điện đường, đại viện, đ́nh tạ v.v… như một thứ nghi môn, gồm hai tầng có mái che, đôi khi là nhiều tầng mái. Dưới mỗi tầng mái có hoành phi ghi rơ danh xưng của bài lâu. Phía dưới để trống, chia tối thiểu thành ba ô cửa. Cửa chính giữa lớn hơn hai bên, hoặc có khi các ô cửa đều lớn bằng nhau, nhưng mái của các ô phụ phải ít tầng hơn, thấp hơn, nhỏ hơn ô chính giữa. Một điểm đặc trưng khác nữa là cửa Tam Quan luôn có câu đối trên cột, trong khi Bài Lâu không bắt buộc phải có câu đối.

[11] Na-do-tha (Nayuta), c̣n phiên âm là Na Dữu Đa, Na Do Đa, có nghĩa là “số lượng nhiều chẳng thể tính đếm được”. Theo Câu Xá Luận, một lạc-xoa là một trăm ngàn, mười lạc-xoa là một độ-lạc-xoa, mười độ-lạc-xoa là một câu-chi, mười câu-chi là một mạt-đà, mười mạt-đà là một na-dữu-đa.

[12] Đông Bổn Nguyện Tự (Higashi Hongan-ji) là tổng bổn sơn (tổ đ́nh) của phái Đại Cốc trong Tịnh Độ Chân Tông Nhật Bản. Khác với Phật giáo Trung Hoa, vấn đề quyền lực trong Phật giáo Nhật Bản rất nặng. Năm 1529, sau khi Pháp Chủ đời thứ mười một của Tịnh Độ Chân Tông là Hiển Như (Kennyo), trụ tŕ chùa Thạch Sơn Bổn Nguyện Tự (Ishiyama Hongan-ji) qua đời, con trai ông ta là Giáo Như (Kyōnyo) và em trai là Chuẩn Như (Jyunyo) tranh giành ngôi Pháp Chủ không nhân nhượng. Về sau, Chuẩn Như được đại quư tộc Phong Thần Tú Cát (Toyotomi Hideyoshi) hậu thuẫn, trở thành Pháp Chủ. Năm 1602, Giáo Như tranh thủ được sự ủng hộ của mạc phủ Đức Xuyên Gia Khang (Tokugawa Ieyasu) sáng lập một phái mới, ly khai Tịnh Độ Chân Tông, bổn sơn gọi là Đông Bổn Nguyện Tự, c̣n gọi là Đại Cốc phái (Otani-ha), phái của Chuẩn Như gọi là Tây Bổn Nguyện Tự (Nishi Hongan-ji).

[13] Đây là chủ trương của Pháp Nhiên thượng nhân (Honen), sáng tổ của Tịnh Độ Tông Nhật Bản. Một đệ tử của Ngài là Thân Loan (Shinran) đă đề xướng nhiều giáo nghĩa mới, sáng lập ra Tịnh Độ Chân Tông. Cũng chính Thân Loan đă đi tiên phong trong việc chủ trương Tăng sĩ lấy vợ, biến tăng đoàn của Tịnh Độ Chân Tông thành một đoàn thể thực chất là cư sĩ tại gia nhưng mang h́nh tướng tăng sĩ. Về sau, đa số tu sĩ Tịnh Độ Chân Tông không cạo tóc nữa, tuy vẫn có danh xưng là ḥa thượng này, trưởng lăo kia, họ mặc thường phục, chỉ mặc áo tràng và đắp y khi làm lễ.

[14] Na La Diên là một hóa thân của Tỳ Thấp Nỗ (c̣n phiên âm là Tỳ Nữu, tức thần Vishnu), đôi khi danh hiệu này c̣n được dịch nghĩa là Biến Nhập Thiên. Trong giáo phái Vaishanvism (phái đặc biệt tôn thờ thần Vishnu) của Ấn giáo, vị trời này được coi là đấng tối cao sáng tạo vũ trụ. Vị trời này được coi là kiên cố, chẳng thể phá hoại, có thể sáng tạo và đồng thời duy tŕ sự cân bằng trong vũ trụ, nên thường được mô tả thân thể tráng kiện, đẹp đẽ, mạnh mẽ nhất trong chư thiên.

[15] Do ḥa thượng Đạo Nguyên không giải thích ư nghĩa của Phổ Đẳng tam-muội, chúng tôi xin trích lời giảng từ sách Hội Sớ như sau: “Nếu theo ư kiến của các Sư th́ Phổ Đẳng tam-muội chỉ là một thứ tam-muội được Bồ Tát chứng đắc. Ngài Cảnh Hưng bảo: ‘Phổ nghĩa là phổ biến; Đẳng nghĩa là b́nh đẳng. Cái thấy rộng lớn, Phật Phật đều thấy, cho nên gọi cái Định của các Ngài đă trụ là Phổ Đẳng’. Ngài Huyền Nhất bảo: ‘Do sức của tam-muội này, sẽ thấy khắp tất cả chư Phật Thế Tôn, nên bảo là Phổ. Do hiện b́nh đẳng, không ǵ chẳng đạt đến, nên gọi là Đẳng’. Nếu xét theo chánh ư của tuyển trạch bổn nguyện th́ Phổ Đẳng tam-muội chính là Niệm Phật tam-muội. Phổ có nghĩa là phổ biến, phàm thánh cùng chứng nhập được. Đẳng là b́nh đẳng, công đức niệm một vị Phật cũng bằng với công đức niệm hết thảy Phật. Kinh Bồ Tát Niệm Phật tam-muội bảo: ‘Thí như chúng sanh nhược y Tu Di kim sắc chi biên, kỳ thân tức dữ bỉ sơn đồng sắc. Sở dĩ nhiên giả? Sơn thế lực cố. Hựu như chư thủy, tất nhập đại hải, đồng kỳ nhất vị, sở dĩ nhiên giả? Dĩ hải lực cố. Nhược nhân đắc Niệm Phật tam-muội, diệc phục như thị’ (ví như chúng sanh nếu ở bên núi Tu Di kim sắc th́ thân họ cũng cùng màu với núi ấy. V́ cớ sao vậy? Là do thế lực của núi vậy. Lại như các ḍng nước đă vào trong biển cả th́ có cùng một vị, v́ sao thế? Do sức của biển vậy. Người đắc niệm Phật tam-muội cũng giống như thế). Đấy là ư nghĩa Phổ Biến của chữ Phổ trong Phổ Đẳng. Kinh Văn Thù Bát Nhă dạy: ‘Niệm nhất Phật công đức, vô lượng vô biên, diệc dữ vô lượng vô biên chư Phật vô nhị’ (công đức niệm một đức Phật vô lượng vô biên, chẳng khác ǵ công đức niệm vô lượng chư Phật). Tán A Di Đà Phật Kệ có câu: ‘Ngă dĩ nhất tâm quy nhất Phật, nguyện biến thập phương vô ngại nhập’ (tôi dùng nhất tâm quy y một vị Phật, nguyện nhập khắp mười phương vô ngại). Đấy là ư nghĩa B́nh Đẳng”.