Vô Lượng
Thọ Kinh
Ưu Bà
Đề Xá Chú Giải
Giảng
Nghĩa
phần
7
無量壽經優婆提舍註解講義
Ấn Độ
Thế Thân Bồ Tát tạo luận
印度世親菩薩造論
Nguyên Ngụy
Thiên Trúc Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi dịch luận
元魏天竺三藏菩提流支譯論
Nguyên Ngụy
Huyền Trung Tự sa-môn Đàm Loan chú giải
元魏玄中寺
Dân Quốc
Tịnh Luật Tự sa-môn Tánh Phạm giảng nghĩa
民國淨律寺門性梵講義
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh: Đức Phong và Huệ Trang
2.2.2.2.3.1.1.2.2.15. Công đức
không có các nạn
(Luận) Trang nghiêm vô chư
nạn công đức thành tựu giả, kệ ngôn: “Vĩnh
ly thân tâm năo, thọ lạc thường vô gián” cố.
(Chú) Thử vân hà bất tư nghị? Kinh
ngôn: “Thân vi khổ khí, tâm vi năo đoan”, nhi bỉ hữu thân,
hữu tâm, nhi thọ lạc vô gián, an khả tư nghị?
(論)莊嚴無諸難功德成就者。偈言。永離身心惱。受樂常無間故。
()此云何不思議。經言。身為苦器。心為惱端。而彼有身有心而受樂無間。安可思議。
(Luận: “Thành
tựu công đức trang nghiêm không có các nạn” là như
kệ nói: “Măi ĺa thân tâm năo, hưởng vui chẳng gián đoạn”.
Chú: V́ sao điều
này là chẳng thể nghĩ bàn? Kinh dạy: “Thân là đồ
chứa đựng sự khổ, tâm là đầu mối
của sầu năo”, nhưng [chúng sanh] trong cơi ấy tuy có thân
và có tâm, nhưng hưởng vui thường chẳng gián
đoạn, làm sao có thể nghĩ bàn cho được?)
Chúng
sanh trong cơi ấy do thân là liên hoa hóa sanh, thọ mạng đều
vô lượng, lại c̣n cơm áo tự nhiên, chẳng cần
phải lo toan, tạo tác. Do vậy, chẳng có nhục thân
để cảm nhận những nỗi khổ năo sanh, lăo,
bệnh, tử, cơm áo, ăn ở v.v… đều thường
được cùng A Di Đà Phật và Nhất Sanh Bổ Xứ
Bồ Tát tụ hội một chỗ, có thầy lành, bạn tốt,
tâm chẳng có phiền năo, chẳng có những nỗi ưu
sầu khổ năo v́ Ái Biệt Ly (yêu thương mà phải
chia ĺa), Oán Tắng Hội (oán ghét mà phải gặp gỡ)
v.v… rốt ráo cùng đắc Bồ Đề giác pháp
lạc, Niết Bàn tịch tĩnh lạc. Điều này làm
sao có thể nghĩ bàn cho nổi?
2.2.2.2.3.1.1.2.2.16. Công đức
đại nghĩa môn
(Luận) Trang nghiêm đại nghĩa môn công
đức thành tựu giả, kệ ngôn: “Đại Thừa
thiện căn giới, đẳng vô cơ hiềm danh, nữ
nhân cập căn khuyết, Nhị Thừa chủng bất
sanh” cố. Tịnh Độ quả báo, ly nhị chủng
cơ hiềm quá, ưng tri. Nhất giả Thể, nhị
giả Danh. Thể hữu tam chủng: Nhất giả, Nhị
Thừa nhân; nhị giả, nữ nhân; tam giả, chư căn
bất cụ nhân. Vô thử tam quá, cố danh “ly Thể cơ
hiềm”. Danh diệc hữu tam chủng,
phi đản vô tam thể, năi chí bất văn “Nhị Thừa,
nữ nhân, chư căn bất cụ” tam chủng danh, cố
danh “ly danh cơ hiềm”. “Đẳng”
giả, b́nh đẳng nhất tướng cố.
(Chú) Thử vân hà bất tư nghị? Phù chư
thiên cộng khí, phạn hữu tùy phước chi sắc.
Túc chỉ án địa, năi tường kim lịch chi chỉ.
Nhi nguyện văng sanh giả, bổn tắc tam tam chi phẩm,
kim vô nhất nhị chi thù, diệc như Truy, Thằng nhất vị, yên khả tư nghị?
(論)莊嚴大義門功德成就者。偈言。大乘善根界。等無譏嫌名。女人及根缺。二乘種不生故。淨土果報離二種譏嫌過。應知。一者體。二者名。體有三種。一者二乘人。二者女人。三者諸根不具人。無此三過。故名離體譏嫌。名亦有三種。非但無三體。乃至不聞二乘女人諸根不具三種名。故名離名譏嫌。等者平等一相故。
()此云何不思議。夫諸天共器。飯有隨福之色。足指按地。乃詳金礫之旨。而願往生者。本則三三之品。今無一二之殊。亦如淄澠一味。焉可思議。
(Luận:
Trang nghiêm đại nghĩa môn công đức thành tựu là
như kệ nói: “Đại Thừa thiện căn giới,
b́nh đẳng không có danh xưng gây gièm chê như nữ nhân
và căn khuyết, chủng tánh Nhị Thừa chẳng sanh
[Cực Lạc]”. Quả báo trong Tịnh Độ ĺa khỏi
lỗi lầm của hai thứ chê gièm, hăy nên biết! Một
là Thể, hai là Danh. Thể có ba loại: Một là kẻ Nhị
Thừa, hai là nữ nhân, ba là kẻ các căn chẳng trọn
đủ. Do không có ba lỗi lầm ấy, nên gọi
là “ĺa sự chê gièm về Thể”. Danh cũng có ba thứ,
không chỉ là chẳng có ba Thể, mà cho đến ba loại
danh xưng “Thanh Văn, nữ nhân, các căn không đầy
đủ” đều chẳng nghe thấy, cho nên gọi là
“ĺa sự chê gièm về danh”. “Đẳng” là b́nh đẳng
nhất tướng.
Chú: V́ sao điều
này là chẳng thể nghĩ bàn? Chư thiên dùng chung đồ
đựng, nhưng cơm lại
tùy theo phước của từng vị mà màu sắc
sai khác. Ngón chân nhấn xuống đất, bèn lộ rơ ư chỉ “sỏi
vàng”. Người
nguyện văng sanh th́ vốn có chín phẩm, nay chẳng có một
hay hai sai khác, cũng như nước sông Truy và sông Thằng
[khi đổ vào biển cả sẽ]
có cùng một vị. “Đẳng” là nhất tướng
b́nh đẳng, há có thể nghĩ bàn ư?)
“Đại nghĩa
môn công đức thành tựu” là nói tới
chúng sanh thuộc ba bậc đă sanh về Cực Lạc,
v́ đều đă phát Bồ Đề tâm, tức là trọn
đủ thiện căn giới b́nh đẳng của Đại
Thừa (đó là cái nhân), thành tựu chủng tánh và quả báo thể thuộc Đại Thừa. Tịnh độ
của mười phương chư Phật có thể có
chủng tánh và quả báo thể thuộc Nhị Thừa sanh về; chỉ
riêng An Lạc Tịnh Độ do được thành tựu
bởi công đức từ bổn nguyện của A Di
Đà Phật, cho nên quyết
định chẳng có chúng sanh thuộc chủng tánh và quả
báo thể Nhị Thừa. Do vậy, xa ĺa khuyết điểm
“Nhị Thừa, nữ nhân, và sáu căn thiếu khuyết”
đáng bị chê gièm. Lời Luận đă nói rất rơ ràng:
“Không có kẻ Nhị Thừa, nữ nhân và căn khuyết”
th́ không chỉ là nói rơ trong An Lạc Tịnh Độ không
có những quả báo thể ấy, mà c̣n chỉ ra Tịnh Độ
chẳng có những danh từ thuộc ba loại ấy; chẳng
phải là nói “trước khi văng sanh, không có ba hạng người
ấy” (tức là không phải là ba hạng người ấy
chẳng thể văng sanh). Tất cả Thanh Văn trong thế
giới Cực Lạc đều là dùng thân Thanh Văn hồi
tâm hướng về Đại Thừa mà văng sanh, hoặc
là do đức Phật thị hiện để trang nghiêm
Tịnh Độ, chứ không phải là [cơi Cực Lạc]
c̣n có Nhị Thừa.
Có một số người
giải thích câu “Nhị Thừa chủng bất sanh” là
“dẫu quốc độ An Lạc có quả báo thể của
hàng Nhị Thừa th́ cũng chẳng trở ngại ǵ! Chờ
đến sau khi đă thấy Phật, họ bèn phát Bồ
Đề tâm, chẳng c̣n sanh khởi chủng tử Nhị
Thừa (tâm Nhị Thừa) nữa”. Cách nói ấy chính là
cho rằng [trong cơi Cực Lạc] có chủng tánh và quả
báo thể Nhị Thừa; [nói như vậy th́ đă] trái nghịch
ư Phật và nghĩa lư trong kinh, mà cũng chẳng phù hợp
hàm ư của câu “Nhị Thừa chủng bất sanh”
trong bộ luận này.
Có lẽ sẽ có người
hỏi: “Chẳng phải là trong kinh đă nói thế giới
Cực Lạc có vô lượng đệ tử Thanh
Văn, cớ sao nói chẳng có danh xưng đáng bị chê gièm là Nhị Thừa”? Đáp:
Như kinh Vô Lượng Thọ đă nói: “Kỳ chư Thanh
Văn, Bồ Tát, thiên nhân… hàm đồng nhất loại,
h́nh vô dị trạng, đản nhân thuận dư phương,
cố hữu nhân thiên (Nhị Thừa)
chi danh… phi thiên, phi nhân (diệc
phi Nhị Thừa)” (Các vị Thanh
Văn, Bồ Tát, trời người ấy đều cùng
một loại, không có h́nh dạng sai khác, chỉ v́ thuận
theo phương khác mà có danh xưng trời, người (Nhị Thừa)… [những
chúng sanh ấy] chẳng phải là trời, chẳng phải
là người, mà cũng chẳng phải là Nhị
Thừa). Giả sử thật sự có hàng Nhị Thừa,
th́ sẽ chẳng thành “cùng một
loại” được!
Lại nữa, nguyện
thứ mười một trong bốn mươi tám nguyện
là: “Quốc trung thiên nhân, bất trụ Định Tụ
(tức Bất Thoái Chuyển Bồ Tát), bất thủ Chánh
Giác” (Trời người trong nước chẳng trụ
trong Định Tụ (tức Bất Thoái Chuyển Bồ
Tát), tôi sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác). Nguyện
thứ mười sáu: “Quốc trung năi chí văn hữu
bất thiện danh giả, bất thủ Chánh Giác” (Cho đến
trong nước mà nghe thấy có danh xưng bất thiện
th́ tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác). Lại c̣n có rất
nhiều lời nguyện đều nói rất rơ ràng “quốc
trung Bồ Tát” (Bồ Tát trong nước) chẳng nói đến
Nhị Thừa.
Kinh nói “cơi ấy
Thanh Văn vô số” là nói đến các chúng sanh phát nguyện
văng sanh cơi ấy số đến vô lượng, trong ấy
lại có rất nhiều vị Thanh Văn hồi Tiểu
hướng Đại. Đă sanh trong Tịnh Độ,
trước hết là đoạn Kiến Tư phiền
năo, tương tự như sở chứng của Thanh Văn,
bèn được gọi bằng danh xưng Thanh Văn. Thật
ra, quyết định chẳng có quả báo thể của
Thanh Văn. Trong Tịnh Độ của mười phương
chư Phật, đều là “chẳng
thể đới nghiệp văng sanh”, chỉ
riêng An Lạc Tịnh Độ là có thể mang theo nghiệp
chủng văng sanh. Đă sanh [Cực Lạc] rồi bèn đoạn
[nghiệp chủng ấy]. Trong phần trước, tôi đă
có nói, quốc độ An Lạc được thành tựu
bởi công đức nơi bổn nguyện của A Di
Đà Phật. Hết thảy danh tướng và sự vật
[trong Cực Lạc] đều là khó nghĩ, khó bàn, chẳng
thể coi giống như trong thế gian này được!
Đấy chính là chỗ đặc thù của pháp môn Tịnh
Độ!
Lời Luận nói:
“Đẳng giả, b́nh đẳng nhất tướng
cố” (“Đẳng” là b́nh đẳng nhất tướng).
Đấy chính là Luận Chủ giải thích: Chúng sanh trong
ba bậc chín phẩm sau khi đă văng sanh Tịnh Độ,
cùng đạt được quả báo thể b́nh đẳng
nhất tướng của Đại Thừa, tất nhiên
chẳng có những thể tướng sai biệt như Nhị
Thừa, nữ nhân, căn khuyết. Như kinh Vô Lượng
Thọ có nói: “Quốc trung thiên nhân, h́nh sắc bất đồng,
hữu hảo xú giả… bất tất thành măn tam thập
nhị đại nhân tướng giả… bất tất
chân kim sắc giả, bất thủ Chánh Giác” (Trời, người
trong nước h́nh sắc khác nhau, có kẻ xấu người
đẹp… chẳng đều thành tựu viên măn ba mươi
hai tướng đại nhân… [sắc thân] không đều
là màu vàng ṛng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác). Những
lời nguyện ấy đều có thể chứng minh: Bất
luận là phàm phu, Nhị Thừa, hay Bồ Tát, chỉ cần
văng sanh Cực Lạc, sẽ đều b́nh đẳng cùng
là ba mươi hai tướng đại nhân (“đại
nhân” là Phật, Bồ Tát) y hệt như nhau, tuyệt
đối chẳng có thể tướng và danh xưng “Nhị
Thừa, nữ nhân, căn khuyết” đáng bị chê gièm.
Ngài Đàm Loan nói: Trong
thế giới Sa Bà này, do chúng sanh tạo nghiệp bất đồng,
chắc chắn sẽ có đủ thứ thể tướng
quả báo sai khác. Chẳng hạn như chư thiên trong cơi
trời Lục Dục, đối với thức ăn
trong cùng một bát đựng, tùy theo nghiệp đă tạo
của mỗi vị mà đạt được phước
trời khác nhau, sẽ trông thấy các món ăn có thể tướng
sai khác. Lại như phẩm Phật Quốc của kinh
Duy Ma Cật có nói: “Phật dĩ túc chỉ án địa,
tức thời tam thiên đại thiên thế giới, nhược
can bách thiên trân bảo nghiêm sức. Hữu như Bảo
Trang Nghiêm Phật Vô Lượng Công Đức Bảo Trang
Nghiêm độ” (Đức Phật
dùng ngón chân nhấn xuống đất, ngay lập tức
tam thiên đại thiên thế giới có trăm ngàn trân bảo
trang hoàng dường ấy, giống như cơi Vô Lượng
Công Đức Bảo Trang Nghiêm của Bảo Trang Nghiêm Phật).
Đấy là h́nh dung Thích Ca Thế Tôn đă trải qua vô
lượng kiếp tu tập nghiệp lực công đức
vô lậu khác nhau, cho nên có thể khiến cho chỗ bị
ngón chân nhấn xuống (kinh văn gọi là “án địa”)
toàn là vàng ṛng, trân bảo cùng lúc nhanh chóng hiện ra.
Hai điều thí dụ
ấy đều nhằm thuyết minh: Chúng sanh trong cơi này (thế
giới Sa Bà) chẳng thể b́nh đẳng có cùng một
tướng, chỉ riêng những chúng sanh có thể phát tâm
Vô Thượng Bồ Đề, tu pháp môn ngũ niệm,
phát nguyện mong văng sanh An Lạc Tịnh Độ, tuy vốn
có thể tướng sai khác bất đồng trong ba bậc,
nay đă thành tựu Tịnh nghiệp, được sanh
vào Tịnh Độ, th́ đều là liên hoa hóa sanh, một
tướng b́nh đẳng, đều là tướng Bồ
Tát, quyết định chẳng có mảy may thể tướng
quả báo bất đồng. Giống như tại tỉnh
Sơn Đông của Trung Hoa có hai con sông Truy và Thằng[1], đổ vào biển
th́ là cùng một vị. Như thiên Cửu Lưu trong Tân Luận
có nói: “Sông Truy và sông Thằng khác nguồn, cùng chảy vào
biển. Âm Cung và âm Thương khác tiếng, đều ḥa
hợp trong nhạc”. Do vậy, ngài Đàm Loan dùng sự
thật “hai con sông Truy và Thằng cùng đổ vào biển, sẽ là thuần nhất tướng
nhất vị” để h́nh
dung thế giới An Lạc thuần là Đại Thừa
thiện căn giới, như biển một tướng,
một vị, chẳng
hề sai biệt! Chúng
sanh thuộc ba bậc chín phẩm sai khác, hễ được
sanh về cơi ấy, liền như vào trong biển cả,
chẳng c̣n có thể tướng bất đồng. Chỉ
có An Lạc Tịnh Độ được thành tựu bởi
bổn nguyện của A Di Đà Phật th́ mới có quả
báo chẳng thể nghĩ bàn như thế!
2.2.2.2.3.1.1.2.2.17. Công đức
hết thảy mong cầu đều được thỏa
măn
(Luận) Trang nghiêm nhất thiết sở cầu
măn túc công đức thành tựu giả, kệ ngôn: “Chúng
sanh sở nguyện nhạo, nhất thiết năng măn túc”
cố.
(Chú) Thử vân hà bất tư nghị? Bỉ
quốc nhân thiên, nhược dục nguyện văng tha phương
thế giới vô lượng Phật sát, cúng dường chư
Phật, Bồ Tát, cập sở tu cúng dường chi cụ,
vô bất xứng nguyện. Hựu dục xả bỉ thọ
mạng, hướng dư quốc sanh, tu đoản tự
tại, tùy nguyện giai đắc, vị giai tự tại
chi vị, nhi đồng tự tại chi dụng, yên khả
tư nghị?
(論)莊嚴一切所求滿足功德成就者。偈言。眾生所願樂。一切能滿足故。
()此云何不思議。彼國人天。若欲願往他方世界無量佛剎。供養諸佛菩薩。及所須供養之具。無不稱願。又欲捨彼壽命。向餘國生。修短自在。隨願皆得。未階自在之位。而同自在之用。焉可思議。
(Luận:
“Thành tựu công đức trang nghiêm hết thảy mong
cầu đều được thỏa măn” là như kệ
nói: “Điều chúng sanh mong thích, hết thảy đều
thỏa măn”.
Chú: V́ sao điều
này là chẳng thể nghĩ bàn? Người, trời trong
cơi ấy nếu muốn đến vô lượng cơi Phật
trong các thế giới ở phương khác để cúng
dường chư Phật, Bồ Tát, và những vật cần
dùng để cúng dường, không ǵ chẳng tương
xứng ước nguyện. Lại muốn xả thọ
mạng trong cơi ấy để sanh vào cơi khác, thọ mạng
dài hay ngắn đều thuận theo ước nguyện
mà đạt được, chưa đạt đến
địa vị tự tại mà có cùng tác dụng tự tại
y hệt, há có thể nghĩ bàn nổi ư?)
Hết thảy y báo
và chánh báo trang nghiêm trong thế giới Cực Lạc đều
có thể thỏa măn nguyện cầu của chúng sanh thuộc
chín pháp giới khắp mười phương. Chẳng hạn
như hết thảy nữ nhân đều nguyện chuyển
nữ thành nam, cho nên trong cơi ấy chẳng có thân nữ để
thỏa măn nguyện ấy. Chúng sanh trong tam đồ đều
nguyện mau chóng ĺa khỏi khổ quả trong tam đồ,
cho nên cơi ấy không chỉ là chẳng có ba ác đạo, mà
cũng chẳng có danh xưng tam đồ khổ nạn để
thỏa măn cái nguyện ấy. Mọi người đều
mong cầu ĺa khổ được vui, trường sanh bất
tử, cho nên trong cơi ấy chẳng có các nỗi khổ, chỉ
hưởng những sự vui. Đă thế, ai nấy đều
thọ vô lượng, thuần nhất là Chánh Định
Tụ, chẳng có chúng sanh thuộc Tà Định và Bất
Định để thỏa măn mong cầu của hết
thảy mọi người. Chư thiên tuy vui sướng,
nhưng vẫn ở trong nhà lửa tam giới, khó thoát khỏi
luân hồi. Do vậy, cơi ấy vĩnh viễn thoát khỏi
luân hồi, vượt trỗi tam giới, để
thỏa măn điều mong cầu của trời người.
Những cơi Phật khác hoặc là có các loại Nhị Thừa,
nữ nhân, kẻ căn
khuyết, chẳng đẹp đẽ viên măn. V́ thế,
cơi ấy (Cực Lạc) là Đại
Thừa thiện căn giới, chẳng có những quả
báo thể đáng bị chê gièm như Nhị Thừa v.v…
ngay cả danh xưng cũng chẳng có! Các vị Bồ
Tát tu nan hành
Bồ Tát đạo, ắt phải trải qua ba đại
A-tăng-kỳ kiếp th́ mới được thành Phật,
lại c̣n thường bị thoái chuyển. Thường
nói là “học đạo giống như chèo thuyền ngược
nước, vừa mới ngừng chèo liền bị trôi tuột
xuống”. Do vậy, Bồ Tát phát tâm đông đảo,
nhưng người thành tựu Phật quả có thể nói
là quá ít. Do vậy, cơi ấy phải ban cho các vị Bồ
Tát b́nh phàm một phương tiện Dị Hành Đạo,
tức là “đới nghiệp văng sanh”. Đă văng sanh,
sẽ vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, trong một đời
liền có thể rốt ráo đạt đến địa
vị [Nhất Sanh] Bổ Xứ
Bồ Tát để măn nguyện “thượng cầu, hạ
hóa” của hàng Bồ Tát. Do những điều vừa
nói trên đây, thế giới An Lạc xác thực là có thể
thỏa măn hết thảy nguyện cầu của chúng sanh
trong chín pháp giới, chẳng trách mười phương chư
Phật đều ca ngợi cơi ấy là chẳng thể
nghĩ bàn!
Lời chú giải
của ngài Đàm Loan chỉ dùng sự thật mọi người
đă sanh về cơi ấy đều tùy ư tự tại như
bậc Địa Thượng
Bồ Tát để giải thích [ư nghĩa] “điều
mong cầu đều thỏa”. Như kinh Vô Lượng
Thọ có nói: “Quốc trung thiên nhân, thọ mạng vô năng
hạn lượng, trừ kỳ bổn nguyện, tu đoản
tự tại” (Trời, người trong nước thọ
mạng chẳng thể hạn lượng, trừ khi do bổn
nguyện mà dài hay ngắn tự tại). Lại nói: “Phụng
sự ức Như Lai, phi hóa biến chư sát, cung kính hoan
hỷ khứ, hoàn đáo An Dưỡng quốc” (Phụng sự
ức Như Lai, biến hóa bay đến trọn khắp
các cơi, [cúng dường xong] hoan hỷ, cung kính ra đi, trở
về cơi An Dưỡng). “Năi chí thành Phật, bất thọ
ác thú, thần thông tự tại, thường thức túc mạng,
trừ sanh tha phương ngũ trược ác thế, thị
hiện đồng bỉ” (Cho đến khi thành Phật,
chẳng sanh trong đường ác, thần thông tự tại,
thường biết túc mạng, trừ khi sanh trong đời
ác ngũ trược ở phương khác bèn thị hiện
giống như họ). Những điều ấy đều
được thành tựu bởi công đức từ các
nguyện thứ mười lăm, hai mươi ba, và hai
mươi bốn trong bổn nguyện của A Di Đà Phật.
V́ thế, [chúng sanh trong cơi Cực Lạc] có thể chưa
phá vô minh, chứng Pháp Thân, c̣n chưa đăng địa,
mà đă có thần thông và trí huệ tương tự bậc Địa
Thượng
Bồ Tát; thật sự là chẳng thể nghĩ bàn!
2.2.2.2.3.1.2. Thị hiện
tự lợi, lợi tha
(Chú) Thị hiện tự lợi lợi tha
giả.
(Luận) Lược thuyết bỉ A Di
Đà Phật quốc độ thập thất chủng trang
nghiêm công đức thành tựu, thị hiện Như Lai tự
thân lợi ích đại công đức lực thành tựu,
lợi ích tha công đức thành tựu cố.
(Chú) Ngôn lược giả, chương bỉ tịnh độ
công đức vô lượng, phi duy thập thất chủng
dă. Phù Tu Di chi nhập giới tử, mao khổng chi nạp
đại hải, khởi sơn hải chi thần hồ?
Mao giới chi lực hồ? Năng thần giả, thần
chi nhĩ. Thị cố, thập thất chủng tuy viết
lợi tha, tự lợi chi nghĩa bỉnh nhiên, khả
tri!
()示現自利利他者。
(論)略說彼阿彌陀佛國土十七種莊嚴功德。成就示現如來自身利益大功德力成就利益他功德成就故。
()言略者。彰彼淨土功德無量非唯十七種也。夫須彌之入芥子。毛孔之納大海。豈山海之神乎。毛芥之力乎。能神者神之耳。是故十七種雖曰利他。自利之義炳然。可知。
(Chú: Thị
hiện tự lợi, lợi tha.
Luận: Nói đại
lược mười bảy thứ công đức trang
nghiêm thành tựu trong cơi nước của A Di Đà Phật
nhằm thị hiện sức đại công đức thành
tựu lợi ích nơi tự thân và sức công đức
thành tựu lợi ích người khác của Như Lai.
Chú: Nói là “đại
lược” nhằm nêu bày cơi ấy có vô lượng công
đức, chẳng phải chỉ là mười bảy
thứ. Như núi Tu Di vào trong hạt cải, lỗ chân lông
dung nạp biển cả, há có phải là sự thần diệu
của núi và biển? Há có phải là sự thần diệu
của sợi lông và hạt cải ư? Cái có thể tạo
ra sự thần diệu th́ mới là thần diệu. V́ thế,
mười bảy thứ ấy tuy nói là lợi lạc kẻ
khác, nhưng có thể biết
là ư nghĩa tự lợi đă rạng ngời).
Lời
luận nói là “lược thuyết” (nói đại lược)
nhằm tỏ rơ tất cả sự vật được
trang nghiêm bởi công đức trong quốc độ An Lạc
đều là vô lượng vô biên, tán thán chẳng thể cùng
tận, chẳng phải là chỉ có mười bảy thứ
như đă nói trên đây mà thôi! Như kinh Vô Lượng
Thọ đă chép: “Phật ngôn: - Ngă thuyết Vô Lượng
Thọ Phật quang minh, oai thần, nguy nguy thù diệu, trú
dạ nhất kiếp, thượng vị năng tận…
Ư nhất thiết pháp, nhi đắc tự tại”
(Phật nói: “Ta nói quang
minh và oai thần ṿi vọi mầu nhiệm đặc biệt
của Vô Lượng Thọ Phật dẫu suốt ngày đêm
trọn cả một kiếp vẫn chưa thể nói hết
được… Ngài được tự tại trong hết
thảy các pháp”). Do vậy, ngài Đàm Loan nêu lên chuyện núi
Tu Di to lớn mà có thể
vào trong một hạt cải bé tí, dùng một lỗ chân lông
bé tẹo mà có thể
chứa đựng biển cả vẫn c̣n thừa! Dùng cảnh
giới “lớn nhỏ dung nạp lẫn nhau, tự tại
vô ngại” chẳng thể nghĩ bàn trong Hoa Tạng để
h́nh dung hết thảy sự trang nghiêm chẳng thể
nghĩ bàn của An Lạc Tịnh Độ, hoàn toàn chẳng
phải là do những sự vật ấy vốn sẵn có
sự chẳng thể nghĩ bàn ấy, mà là do diệu dụng
thần thông tự tại (lời chú giải gọi điều
này là “thần chi nhĩ”) của A Di Đà Phật (lời
chú giải dùng chữ “năng thần giả” để
h́nh dung) thành tựu vậy! Do vậy, lời luận nêu đại
lược mười bảy thứ công đức trang
nghiêm tuy đều là do A Di
Đà Phật chẳng nỡ thấy chúng sanh chịu khổ
bèn duyên khởi đại bi tâm, trang nghiêm Tịnh Độ
để khiến cho hết thảy chúng sanh văng sanh cơi ấy
sẽ đắc Bất Thoái Chuyển, đồng thành Phật
đạo, cho nên có công đức trang nghiêm lợi tha như
thế đó; nhưng hết thảy việc làm của Phật,
Bồ Tát không ǵ chẳng chính là từ ngay lợi tha mà có tự
lợi, công đức vẫn quy về chính ḿnh. Những cái
gọi là “tam thân, tứ trí, ngũ nhăn, lục thông” của
Phật há chẳng phải là được thành tựu bởi
những công đức chẳng thể nghĩ bàn ấy ư?
V́ thế nói: Thị hiện sự thành tựu bởi sức
đại công đức lợi ích nơi tự thân và sự
thành tựu bởi công đức lợi ích người khác
của Như Lai.
2.2.2.2.3.1.3. Nhập Đệ
Nhất Nghĩa Đế
(Chú) Nhập Đệ Nhất Nghĩa Đế
giả.
(Luận) Bỉ Vô Lượng Thọ Phật
quốc độ trang nghiêm, Đệ Nhất Nghĩa Đế
diệu cảnh giới tướng, thập lục cú cập
nhất cú, thứ đệ thuyết, ưng tri.
(Chú) Đệ Nhất Nghĩa Đế giả,
Phật nhân duyên pháp dă. Thử Đế thị cảnh nghĩa.
Thị cố trang nghiêm đẳng thập lục cú, xưng
vi diệu cảnh giới tướng. Thử nghĩa chí
nhập “nhất pháp cú” văn, đương cánh giải
thích.
()入第一義諦者。
(論)彼無量壽佛國土莊嚴。第一義諦妙境界相。十六句及一句次第說。應知。
()第一義諦者。佛因緣法也。此諦是境義。是故莊嚴等十六句稱為妙境界相。此義至入一法句文。當更解釋。
(Chú: Nhập
Đệ Nhất Nghĩa Đế.
Luận: Sự
trang nghiêm nơi cơi nước Vô Lượng Thọ Phật
là tướng cảnh giới mầu nhiệm thuộc Đệ
Nhất Nghĩa Đế, hăy nên biết có mười sáu
câu và một câu được nói theo thứ tự.
Chú: Đệ
Nhất Nghĩa Đế là pháp nhân duyên của Phật. Đế
ấy có nghĩa là “cảnh”, cho nên mười
sáu câu nói về các sự trang nghiêm được gọi là
“tướng
cảnh giới vi diệu”. Cho đến
phần kinh văn “vào trong một pháp cú” sẽ giải thích
ư nghĩa này).
“Đế” (諦) có nghĩa
là “sự chân thật được mọi người cùng
nhận biết”. [Nói là] Đệ Nhất Nghĩa Đế
nhằm vạch rơ “chẳng phải là Thế Tục Đế”.
Thế Tục Đế là những điều được
công nhận thông thường, tức
là hết thảy các sự vật và danh tướng được
sanh bởi nhân duyên trong thế gian, tuy có mối
quan hệ nhân quả và ư nghĩa bao hàm phụ thuộc, được
mọi người công nhận, nhưng chúng chẳng phải
là tướng
chân thật của các pháp. Nếu là Đệ Nhất Nghĩa Đế,
c̣n gọi là Thắng Nghĩa Đế, th́ dù có Phật hay
không, Thật Tướng của các pháp vốn sẵn tồn tại
như thế, là cảnh giới đặc thù mà tất cả
những vọng thức b́nh phàm chẳng
thể liễu tri được! Như trong Pháp Hoa Huyền
Nghĩa, Trí Giả đại
sư đă viết: “Thật Tướng là pháp do chư
Phật đạt được, v́ thế gọi là Diệu
Hữu. Thật Tướng chẳng phải là Hữu
trong Nhị Biên (tức là Hữu trong Vô và Hữu), cho nên gọi
là Tất Cánh Không. Lư Không vằng vặc, chẳng một,
chẳng khác, nên gọi là Như Như. Thật Tướng
tịch diệt, nên gọi là Niết Bàn. Đă giác sẽ
chẳng thay đổi, nên gọi là Hư Không Phật Tánh.
Do chứa đựng, tiếp nhận nhiều nên gọi
là Như Lai Tạng. Chẳng nương theo Hữu, chẳng
phụ thuộc Vô, nên gọi là Trung Đạo. Tối thượng
không chi hơn nên gọi là Đệ Nhất Nghĩa Đế”.
Đấy chính là nhất tâm nhị môn do chư Phật
đă chứng, được gọi là “pháp nhân duyên của
Phật”.
Phật chứng Tâm
Chân Như Môn, nên các pháp được Ngài thấy chẳng
phải là Hữu trong Nhị Biên, có cùng một tướng,
được gọi là Tất Cánh Không, không hai, không khác. Phật
chứng Tâm Sanh Diệt Môn, v́ thế tùy duyên mà có thể dấy
lên sâm la vạn tượng. Y báo và chánh báo của thế
giới Cực Lạc chính là pháp sanh bởi nhân duyên của
Phật, do đó gọi là tướng cảnh giới vi
diệu thuộc Đệ Nhất Nghĩa Đế, cũng
chính là Thật Tướng của các pháp “nhất tâm nhị
môn, Không Hữu bất nhị, Lư Sự vô ngại”. Đấy
chẳng phải là cảnh giới mà vọng thức của
kẻ thế tục có thể liễu tri được! Trong
phần sau, khi đến phần giải thích câu “nhập
nhất pháp cú” (vào trong một pháp cú), ngài Đàm Loan sẽ
nói rơ tường tận!
(Chú) Cập nhất
cú thứ đệ giả, vị quán khí tịnh đẳng
tổng biệt thập thất cú quán hạnh thứ đệ
dă. Vân hà khởi thứ đệ? Kiến chương ngôn:
“Quy mạng Vô Ngại Quang Như Lai, nguyện sanh An Lạc
quốc”.
()及一句次第者。謂觀器淨等。總別十七句。觀行次第也。云何起次第。建章言歸命無礙光如來。願生安樂國。
(Chú: “Và một
câu theo thứ tự” là nói đến quán hạnh theo thứ
tự gồm mười bảy quán hạnh tổng tướng
và biệt tướng nơi khí thế gian thanh tịnh
v.v... V́ sao [các tướng ấy] dấy lên thứ tự?
Trong phần mở đầu [của bộ luận này], đă
có nói: “Quy mạng Vô Ngại Quang Như Lai, nguyện sanh An
Lạc quốc”).
Quán quốc độ
An Lạc như đă nói trên đây tổng cộng có mười
bảy thứ trang nghiêm công đức thành tựu, tất
nhiên là có cảnh giới quán hạnh sanh khởi theo thứ
tự tổng và biệt. Nói theo sự quán tướng
thanh tịnh nơi khí thế gian của cơi ấy th́ lấy
ngay câu “quán bỉ thế giới tướng, thắng
quá tam giới đạo” (quán tướng thế gian ấy,
vượt trỗi đạo tam giới) làm tổng tướng,
mười sáu thứ tướng trang nghiêm phân biệt sau
đó là biệt tướng. Nếu dựa theo quán sát khí
thế gian và chúng sanh thế gian có tất cả hai mươi
chín thứ trang nghiêm công đức để nói th́ phần
mở đầu của kệ tụng (lời chú giải
gọi phần này là “kiến chương”) có nói: “Quy
mạng… nguyện sanh An Lạc quốc”, đấy
chính là tổng tướng. Hai mươi chín thứ trang
nghiêm sau đó đều là các biệt tướng do nương
theo tổng tướng mà sanh khởi. Chúng ta phải nên biết
thứ tự sanh khởi của tổng tướng và biệt
tướng.
(Chú) Thử trung
hữu nghi, nghi ngôn: “Sanh vi Hữu
bổn, chúng lụy chi nguyên, khí sanh, nguyện sanh, sanh hà khả
tận?” Vị thích thử nghi, thị cố quán bỉ Tịnh
Độ trang nghiêm công đức thành tựu, minh bỉ Tịnh
Độ thị A Di Đà Như Lai thanh tịnh bổn
nguyện vô sanh chi sanh, phi như tam hữu hư vọng sanh
dă.
()此中有疑。疑言。生為有本眾累之元。棄生願生。生何可盡。為釋此疑。是故觀彼淨土莊嚴功德成就。明彼淨土是阿彌陀如來清淨本願無生之生。非如三有虛妄生也。
(Chú: Trong ấy
có điều nghi như sau: “Sanh là cội gốc của Hữu,
là nguồn cội của các phiền lụy, [nếu cứ]
ĺa bỏ sanh hay nguyện sanh th́ làm sao sanh có thể cùng tận
cho được?” Nhằm cởi gỡ mối nghi này,
cho nên quán sự trang nghiêm của Tịnh Độ được
thành tựu bởi công đức, chỉ rơ cơi Tịnh
Độ ấy là do bổn nguyện thanh tịnh của A
Di Đà Như Lai vô sanh mà sanh, không giống sự sanh khởi hư vọng trong tam
hữu).
Ngài Đàm Loan sợ
người nghe nẩy sanh ḷng nghi chẳng tin, nên đặc
biệt mổ xẻ, phân tích. Các pháp do nhân duyên mà sanh, các pháp
do nhân duyên mà diệt, do cái này sanh nên cái kia sanh, do cái này diệt
nên cái kia diệt. Đấy chính là chân lư trong vũ trụ.
Biết những ǵ được sanh bởi duyên th́ chẳng
thật, chẳng có mà có, sanh chính là vô sanh, sẽ chẳng bị
Sanh trói buộc, chẳng có ương hoạn, phiền lụy bởi sanh tử.
Đấy được
gọi là “giải thoát đạo nhân”. Những kẻ
b́nh phàm so đo, chấp trước “sanh là thật sanh” th́
Sanh là cội gốc của Hữu. Đă có cái thật sự
sanh, ắt có cái thật sự diệt. Đấy chính là cội
nguồn của nỗi khổ hoạn sanh tử. Đấy
gọi là “chúng sanh khổ năo”. Do v́ các tôn giáo b́nh phàm trong
thế gian này, có tôn giáo cầu trường sanh, có tôn giáo cầu
được sống đời đời, [những tôn giáo dạy như vậy đều] nhằm
thỏa măn mong cầu “tham sống chẳng chết” của
mọi người, nhưng Phật pháp đă chỉ ra: “Ắt cần
phải là vô sanh th́ mới có thể vô diệt”. Niết
Bàn của tam thừa (Nhị Thừa, Bồ Tát, Phật) đều
là tâm tánh và pháp tánh
để đều cùng chứng vô sanh vô diệt. Do vậy,
vượt thoát sanh tử luân hồi. Pháp môn Tịnh Độ
tuy diệt trừ, thoát ĺa sự sanh tử trong tam giới,
nhưng nguyện sanh về quốc độ An Lạc, liên
hoa hóa sanh, nương theo bổn nguyện thanh tịnh của
A Di Đà Phật và tâm tánh thanh tịnh của người
văng sanh, nhân duyên ḥa hợp, tuy vô sanh mà hiện ra có sanh. Tuy có
thị hiện văng sanh, nhưng ắt cần phải chứng
vô sanh vô diệt. Đấy
chính là chỗ khác biệt so với pháp sanh diệt của
chúng sanh thuộc tam giới trong cơi này. Không chỉ là chẳng
có các ương hoạn, phiền lụy sanh tử luân hồi,
mà c̣n có công đức Thường Lạc Ngă Tịnh chân
thật. Không chỉ là người văng sanh được
như thế, mà hết thảy sự trang nghiêm được thành tựu
bởi công đức trong cơi ấy không ǵ chẳng
phải là như vậy. Vô sanh mà sanh, sanh chính là vô sanh, Chân Không
Diệu Hữu, Diệu Hữu Chân Không.
(Chú) Hà dĩ ngôn
chi? Phù pháp tánh thanh tịnh, tất cánh vô sanh. Ngôn “sanh” giả,
thị đắc sanh giả chi t́nh nhĩ. Sanh cẩu vô
sanh, sanh hà sở tận? Tận phù sanh giả, thượng
thất vô vi năng vi chi thân, hạ duyện tam không bất
không chi cố. Căn bại vĩnh vong, hào chấn tam thiên,
vô phản, vô phục, ư tư chiêu sỉ.
()何以言之。夫法性清淨畢竟無生。言生者。是得生者之情耳。生苟無生。生何所盡。盡夫生者。上失無為能為之身。下䤄三空不空之痼 。根敗永亡。號振三千。無反無復。於斯招恥。
(Chú: V́ sao nói
như vậy? Pháp tánh thanh tịnh, rốt ráo vô sanh. Nói “sanh”
th́ chính là t́nh kiến của người được
sanh [vào cơi Cực Lạc]. Nếu sanh mà vô sanh th́ sanh làm sao cùng
tận cho được? Nếu sanh mà có tận th́ trên là đă
mất cái thân “không làm mà có thể làm” [của Phật, Bồ
Tát], dưới là mê đắm trong cố tật “tam không
bất không”, [trở thành] căn tánh hư bại vĩnh
viễn hư mất [của hàng Nhị Thừa], [đối
với các chúng sanh đau khổ đang] gào khóc chấn động
tam thiên đại thiên bèn chẳng trở lại, chẳng
quay về [cứu độ họ]. Do vậy, chuốc lấy
nỗi nhục).
V́ sao nói hết thảy
[y báo và chánh báo] trong Tịnh Độ đều là vô sanh mà
sanh? Đấy chính là v́ pháp tánh vốn sẵn thanh tịnh,
rốt ráo vô sanh, vô diệt,
giống như gương sáng hiện các h́nh bóng. Xét theo bản
thể, gương trọn chẳng có “sanh, diệt, đến,
đi” để có thể được! Nói “sanh”
tức là liễu đạt tâm tánh tự thanh tịnh, các pháp
chỉ là nhất tâm nương theo nhân duyên mà sanh khởi,
đấy chính là chân t́nh thật tướng của “sanh
mà vô sanh” vậy. Như Trung Luận đă nói: “[Đối
với] các pháp sanh bởi nhân duyên, ta nói chính là Không (vô sanh)”.
Hết thảy các pháp sanh bởi nhân duyên đă là vô sanh, vậy
th́ c̣n có pháp ǵ sanh để có thể diệt hết sạch
ư? Giả sử tồn tại cách nghĩ “diệt tận”
(lời chú giải nói là “tận phù sanh giả”) để chứng
lấy, hướng lên trên th́ đă mất công dụng “an
trụ trong Lư Thể vô vi mà làm Phật sự hữu vi” của
Phật, Bồ Tát. Hướng xuống dưới th́ say
sưa, ch́m đắm (lời chú giải diễn tả điều
này bằng chữ “duyện”, 䤄) trong ba món tam-muội Không, Vô
Tướng, Vô Tác (tam không), có khi chẳng thể tránh khỏi
căn bệnh (cố tật) từ Không xuất Giả. Như
phẩm Tín Giải trong kinh Pháp Hoa đă chép: “Đản
niệm Không, Vô Tướng, Vô Tác, ư Bồ Tát pháp, du hư
thần thông, tịnh Phật quốc độ, thành tựu
chúng sanh, tâm bất hỷ nhạo. Sở dĩ giả hà? Ngă
đẳng xuất ư tam giới, đắc Niết Bàn
chứng” (Chỉ
nghĩ tới Không, Vô Tướng, Vô Tác, đối với
các pháp của Bồ Tát, du hư thần thông, nghiêm tịnh cơi Phật,
thành tựu chúng sanh, tâm chẳng ưa thích. V́ cớ sao vậy?
Chúng con do đă thoát khỏi tam giới bèn nghĩ là đă
chứng Niết Bàn). Như vậy th́ sẽ trở thành “mầm
lép, hạt giống hư” của hàng Nhị Thừa nát
thân diệt trí, dẫu chứng đắc A La Hán hay Bích Chi
Phật, thanh danh vang rền tam thiên đại thiên thế
giới, nhưng đối với chúng sanh trong tam giới
có ích lợi chi đâu (lời chú giải dùng chữ “vô
phản, vô phục” (chẳng trở lại, chẳng
quay về) để diễn tả ư “hàng Nhị Thừa chẳng
muốn trở vào tam giới cứu độ chúng sanh”). Nếu
nh́n theo [quan điểm] của một vị Đại Thừa
Bồ Tát th́ sẽ là đáng hổ thẹn vậy!
(Chú) Thể phù
sanh lư, vị chi Tịnh Độ. Tịnh Độ chi trạch,
sở vị thập thất cú thị dă. Thập thất
cú trung, tổng biệt vi nhị. Sơ cú thị tổng tướng,
sở vị thị thanh tịnh Phật độ quá tam
giới đạo. Bỉ quá tam giới hữu hà tướng?
Hạ thập lục chủng trang nghiêm công đức thành
tựu tướng thị dă.
()體夫生理。謂之淨土。淨土之宅。所謂十七句是也。十七句中總別為二。初句是總相。所謂是清淨佛土過三界道。彼過三界有何相。下十六種莊嚴功德成就相是也。
(Chú: Thấu hiểu
lư Sanh th́ gọi là Tịnh Độ. Ngôi nhà Tịnh Độ (ư nói “h́nh trạng” của
Tịnh Độ) được diễn tả bằng mười bảy
câu. Trong mười bảy câu, có hai loại tướng là
Tổng và Biệt. Câu đầu tiên là tổng tướng,
tức là nói cơi Phật thanh tịnh vượt trỗi các đường trong tam giới.
Cơi ấy có những tướng nào vượt trỗi tam
giới? Mười sáu thứ trang nghiêm công đức thành
tựu sau đó chính là những tướng ấy).
Nếu có thể thấu
hiểu “pháp tánh vô sanh” mà có các
pháp duyên sanh; vô sanh là
Tâm Chân Như Môn, thuộc về Chân Đế. Duyên sanh là Tâm
Sanh Diệt Môn, thuộc về Tục Đế. Nhị Đế
(Chân Đế và Tục Đế) và nhị môn (Tâm Chân Như
Môn và Tâm Sanh Diệt Môn) chẳng một, chẳng khác, tức
là tâm tánh của bọn chúng ta. Pháp tánh của các pháp là “Lư Sự vô ngại,
Nhị Đế viên dung”. Sở
chứng của chư Phật chính là điều này, những
điều các Ngài nói ra cũng là điều này, thành tựu
thân Phật và Tịnh Độ cũng là do điều này.
Nếu chỉ nói
theo An Lạc Tịnh Độ do A Di Đà Phật thành tựu,
cơi ấy chẳng phải là tướng “tam giới chẳng
an, ví như nhà lửa, các khổ đầy dẫy, rất
đáng kinh sợ” như cơi Sa Bà do đức Thích Ca thị
hiện, mà là tướng được trang nghiêm bởi mười
bảy thứ (lời luận gọi mười bảy
thứ ấy là “thập thất cú”, tức mười
bảy câu) công đức thành tựu như Luận Chủ
đă nói trong Nguyện Sanh Kệ. Đấy là trong mười
bảy thứ công đức, có Tổng và Biệt. Tổng
th́ như nửa bài kệ đầu tiên chính là tổng tướng,
tức [hai câu] “quán bỉ thế giới tướng, thắng
quá tam giới đạo” (quán tướng thế giới
ấy, vượt trỗi tam giới đạo), được
gọi là “quán sát trang nghiêm thanh tịnh công đức thành
tựu”. Sự thanh tịnh ấy chính là tổng tướng.
Bắt đầu từ “trang nghiêm lượng công đức
thành tựu” cho đến “công đức thành tựu
hết thảy điều mong cầu được thỏa
măn” bao gồm
tất cả mười sáu thứ tướng công đức
trang nghiêm thành tựu; đấy chính là biệt tướng
khiến cho An Lạc Tịnh Độ vượt trỗi
tam giới đạo.
(Chú) Nhất giả
lượng, cứu cánh như hư không, quảng đại
vô biên tế cố. Kư tri lượng, thử lượng
dĩ hà vi bổn? Thị cố quán tánh, tánh thị bổn
nghĩa. Bỉ Tịnh Độ tùng chánh đạo đại
từ bi, xuất thế thiện căn sanh. Kư ngôn xuất
thế thiện căn, thử thiện căn sanh hà đẳng
tướng? Thị cố, thứ quán trang nghiêm h́nh tướng. Kư tri h́nh tướng, nghi tri h́nh tướng
hà đẳng thể? Thị cố, thứ
quán chủng chủng sự. Kư tri chủng chủng sự,
nghi tri chủng chủng sự diệu sắc. Thị cố, thứ
quán diệu sắc. Kư tri diệu sắc, thử sắc hữu
hà xúc? Thị cố, thứ
quán xúc. Kư tri thân xúc, ưng tri nhăn xúc. Thị cố, thứ quán thủy địa hư không trang nghiêm tam
sự. Kư tri nhăn xúc, ưng tri tỵ xúc. Thị cố, thứ
quán y, hoa, hương
huân. Kư tri nhăn tỵ đẳng xúc, tu tri ly nhiễm. Thị
cố, thứ
quán Phật huệ minh chiếu. Kư tri huệ quang tịnh lực,
nghi tri thanh danh viễn cận. Thị cố, thứ
quán phạm thanh viễn văn. Kư tri thanh danh, nghi tri thùy vi
tăng thượng. Thị cố, thứ
quán chủ. Kư tri hữu chủ, thùy vi chủ quyến thuộc.
Thị cố, thứ
quán quyến thuộc. Kư tri quyến thuộc, nghi tri thử
quyến thuộc nhược vi thọ dụng. Thị cố, thứ quán thọ dụng. Kư tri thọ dụng, nghi tri
thử thọ dụng hữu nạn, vô nạn. Thị cố, thứ quán vô chư nạn. Kư tri vô chư nạn, dĩ
hà nghĩa cố vô chư nạn? Thị cố, thứ
quán đại nghĩa môn. Kư tri đại nghĩa môn, nghi
tri đại nghĩa môn măn bất măn. Thị cố, thứ
quán sở cầu măn túc. Phục thứ, thử thập thất
cú, phi đản thích nghi. Quán thử thập thất chủng
trang nghiêm thành tựu, năng sanh chân thật tịnh tín, tất
định đắc sanh bỉ An Lạc Phật độ.
()一者量。究竟如虛空。廣大無邊際故。既知量。此量以何為本。是故觀性。性是本義。彼淨土從正道大慈悲。出世善根生。既言出世善根。此善根生何等相。是故次觀莊嚴形相。既知形相。宜知形相何等體。是故次觀種種事。既知種種事。宜知種種事妙色。是故次觀妙色。既知妙色。此色有何觸。是故次觀觸。既知身觸。應知眼觸。是故次觀水地虛空莊嚴三事。既知眼觸。應知鼻觸。是故次觀衣華香薰。既知眼鼻等觸。須知離染。是故次觀佛慧明照。既知慧光淨力。宜知聲名遠近。是故次觀梵聲遠聞。既知聲名。宜知誰為增上。是故次觀主。既知有主。誰為主眷屬。是故次觀眷屬。既知眷屬。宜知此眷屬若為受用。是故次觀受用。既知受用。宜知此受用有難無難。是故次觀無諸難。既知無諸難。以何義故無諸難。是故次觀大義門。既知大義門。宜知大義門滿不滿。是故次觀所求滿足。復次此十七句。非但釋疑。觀此十七種莊嚴成就。能生真實淨信。必定得生彼安樂佛土。
(Chú: Một
là lượng, do rốt ráo như hư không, rộng lớn
không ngằn mé. Đă biết lượng, lượng ấy
lấy ǵ làm gốc? V́ thế quán tánh, tánh có nghĩa là “gốc”. Cơi Tịnh
Độ ấy sanh từ chánh đạo đại từ
bi, thiện căn xuất thế. Đă nói là thiện căn
xuất thế, thiện căn ấy sanh ra những tướng
nào? V́ thế, kế đó quán h́nh tướng trang nghiêm. Đă
biết h́nh tướng, hăy nên biết h́nh tướng có bản
thể như thế nào? V́ thế, kế đó quán các thứ
sự. Đă biết các thứ sự, hăy nên biết diệu
sắc của các thứ sự. V́ thế, kế đó quán
diệu sắc. Đă biết diệu sắc, sắc ấy
có xúc như thế nào? V́ thế, kế đó quán xúc. Đă
biết thân xúc, hăy nên biết nhăn xúc. V́ thế, kế đó
quán ba sự trang nghiêm là đất, nước, hư không.
Đă biết nhăn xúc, hăy nên biết tỵ xúc. V́ thế, kế
đó quán áo, hoa, hương xông. Đă biết nhăn xúc, tỵ
xúc v.v… hăy nên biết ĺa nhiễm. V́ thế, kế đó quán
Phật huệ chiếu sáng. Đă biết sức thanh tịnh
của huệ quang, hăy nên biết thanh danh xa hay gần. V́
thế, kế đó là quán Phạm âm vang xa. Đă biết
thanh danh, hăy nên biết ai là tăng thượng? V́ thế,
kế đó là quán vị giáo hóa chủ. Đă biết là có đấng
giáo hóa chủ, ai sẽ là quyến thuộc của đấng
giáo hóa chủ? V́ thế, kế đó là quán quyến thuộc.
Đă biết quyến thuộc, hăy nên biết thọ dụng
của quyến thuộc ấy như thế nào? V́ thế,
kế đó quán thọ dụng. Đă biết thọ dụng,
hăy nên biết thọ dụng có nạn hay không? V́ thế,
quán không có các nạn. Đă biết không có các nạn, do nghĩa
nào mà không có các nạn? V́ thế, kế đó là quán đại
nghĩa môn. Đă biết đại nghĩa môn, hăy nên biết
đại nghĩa môn viên măn hay không? V́ thế, kế đó
là quán những điều mong cầu được thỏa
măn. Lại nữa, mười bảy câu ấy không chỉ
là nhằm cởi gỡ mối nghi, mà c̣n do quán mười
bảy thứ trang nghiêm thành tựu ấy, sẽ có thể
sanh ḷng tin thanh tịnh chân thật, nhất định được
sanh về cơi Phật An Lạc ấy).
Đoạn chú giải
này của ngài Đàm Loan đă nói rơ thứ tự sanh khởi
tất nhiên trước sau của tổng tướng và
biệt tướng trong An Lạc Tịnh Độ gồm
mười sáu câu [biệt tướng] và một câu [tổng
tướng] được nói trong bộ luận này, từng
điều phân minh, hoàn toàn phù hợp định luật
duyên khởi “do có điều này mà có điều kia” khiến
cho người thấy nghe không chỉ là có thể giải
trừ nỗi nghi hoặc đối với chuyện văng
sanh Tịnh Độ, mà c̣n có thể dựa theo thứ tự
ấy để quan sát tướng mạo của An Lạc
Tịnh Độ. Tuy chưa đắc tam-muội Chánh Thọ,
chỉ quan sát bằng thô tâm, vẫn quyết định có
thể sanh khởi niềm tin thanh tịnh chân thật, nhất
định được sanh vào thế giới An Lạc
là cơi Phật thanh tịnh của A Di Đà Phật.
So sánh với chuyện
“tu thành tựu mười sáu phép Quán trong Quán Kinh th́ mới
được văng sanh Tịnh Độ”, [phép
tu pháp môn ngũ niệm này] thực hiện dễ dàng, thành
công cao. V́ cớ sao? Tu Quán theo Quán Kinh, ắt cần phải đắc tam-muội Chánh Thọ,
những cảnh giới mà [người đắc tam-muội
do các phép Quán ấy] trông thấy chính là Định Quả Sắc
(sắc tướng do kết quả của đắc Định)
thuộc về Định Thiện. Quán Sát Môn trong luận
này chỉ là tán tâm, có sự quan sát các thứ trang nghiêm trong
An Lạc Tịnh Độ bằng Tầm và Tứ[2], những ǵ [hành giả]
duyên theo chính là ảnh tượng cảnh (影像境)[3], thuộc
về Tán Thiện (散善)[4]. Định
Thiện khó thành, Tán Thiện dễ tu. “Khó” là khó đạt
được Định Quả Sắc. “Dễ” là do có Phật
lực nhiếp thọ, Tán Thiện th́ mang theo nghiệp chủng
vẫn văng sanh. Cổ đức nói “vạn người
tu, vạn người đến” là nói đến chuyện
này. Đối với loại công đức lợi ích này,
chúng ta phải cảm tạ sự ban thưởng từ bổn
nguyện nơi nhân địa và thần lực nơi quả
địa của A Di Đà Phật. Trong phần trước,
đă phân biệt nói về chuyện quan sát mười thứ
sáu trang nghiêm, lời
chú giải về thứ tự sanh khởi của chúng dễ
hiểu, chẳng cần phải giảng giải cặn kẽ
chi nữa!
(Chú) Vấn viết:
Thượng ngôn tri sanh vô sanh, đương thị thượng
phẩm sanh giả. Nhược hạ hạ phẩm nhân, thừa
thập niệm văng sanh, khởi phi thủ thật sanh da? Đản
thủ thật sanh, tức đọa nhị chấp. Nhất
khủng bất đắc văng sanh, nhị khủng cánh sanh
sanh Hoặc. Đáp viết: Thí như tịnh ma-ni châu, trí
chi trược thủy, thủy tức thanh tịnh. Nhược
nhân tuy hữu vô lượng sanh tử chi tội trược,
văn bỉ A Di Đà Như Lai chí cực vô sanh thanh tịnh
bảo châu danh hiệu, đầu chi trược tâm, niệm
niệm chi trung, tội diệt tâm tịnh, tức đắc
văng sanh.
()問曰。上言知生無生。當是上品生者。若下下品人。乘十念往生。豈非取實生耶。但取實生。即墮二執。一恐不得往生。二恐更生生惑。答曰。譬如淨摩尼珠。置之濁水。水即清淨。若人雖有無量生死之罪濁。聞彼阿彌陀如來。至極無生。清淨寶珠名號。投之濁心。念念之中。罪滅心淨。即得往生。
(Chú: Hỏi:
“Biết sanh mà vô sanh” như đă nói trong phần trên th́ phải
là người sanh trong thượng phẩm. Nếu là người
thuộc hạ hạ phẩm, nương theo mười niệm
văng sanh, há chẳng phải là chấp giữ thật sự
có sanh ư? Nhưng chấp giữ “thật sự có sanh”, sẽ đọa
vào hai thứ chấp: Một là sợ chẳng được
văng sanh, hai là sợ [thật sự văng sanh th́ chính là] sanh
thêm lần nữa, sẽ
sanh ra Hoặc (phiền năo). Đáp: Ví như ma-ni châu thanh tịnh
bỏ vào nước đục, nước liền thanh tịnh.
Nếu kẻ nào tuy có vô lượng tội sanh tử nhơ
bẩn, nghe danh hiệu ví như bảo châu thanh tịnh vô sanh
tột bậc của A Di Đà Như Lai gieo vào cái tâm nhơ
đục, trong mỗi niệm, tội bèn diệt, tâm thanh tịnh, liền được văng sanh).
Ngài Đàm Loan tâm từ
bi tha thiết, bèn lập ra lời vấn đáp, khéo nêu thí
dụ, chỉ rơ: Nương theo ngũ niệm môn để
xưng niệm danh hiệu A Di Đà Phật, xác thực là
có đại lực, đại dụng chẳng thể
nghĩ bàn, phàm t́nh chẳng thể suy lường được!
Lời hỏi đă xét theo kẻ hạ hạ căn mà nói “sợ là chẳng thể
do mười niệm văng sanh được”. Lời
đáp liền dùng sự thật “thủy thanh châu gieo vào nước
đục, nước đục chẳng thể nào không
trong” để chỉ rơ vạn đức hồng danh của
A Di Đà Phật chính là bảo châu thanh tịnh chí cực
vô thượng. Chúng sanh tội trọng tâm nhơ nếu có
thể nghe danh xưng niệm, nhất định là sẽ
tội diệt, tâm tịnh, liền được văng sanh.
Như tảng đá to đặt lên thuyền, chắc chắn
chẳng bị ch́m lỉm, có thể vượt qua sông dài sanh
tử, đạt đến bờ kia bất sanh bất
diệt. Chúng sanh phàm phu được sanh về An Lạc
Tịnh Độ, hoàn toàn cậy vào danh hiệu được
thành tựu bởi bổn nguyện của A Di Đà Phật
có sức nhiếp thọ chẳng thể nghĩ bàn. Nếu
chẳng có bổn nguyện, sẽ chẳng có danh hiệu
A Di Đà Phật, chúng sanh sẽ chẳng thể có lợi
ích “mười niệm
văng sanh”.
Lời hỏi như
sau: Trong phần trước đă nói, “biết các pháp
sanh bởi nhân duyên tức là vô sanh”, đấy phải
là bậc thượng căn lợi khí. Nếu là người
thuộc hạ hạ phẩm th́ như Quán Kinh đă dạy:
Đến khi lâm chung, chỉ có xưng danh hiệu A Di
Đà Phật mười lượt liền được
văng sanh. Người như vậy trước khi lâm chung, đă
chưa nghe nhiều Phật pháp, đương nhiên là chẳng
biết lư “duyên sanh chính là vô sanh”, lẽ nào chẳng chấp
trước “thật sự có sanh” cho được?
Nhưng hễ có chấp giữ, liền đọa vào hai
thứ kế chấp nơi Nhị Biên, cho nên sẽ
có hai thứ sai lầm:
- Một là chẳng
khế hợp Trung Đạo pháp tánh, chẳng được
sanh vào Tịnh Độ pháp tánh thanh tịnh, v́ nhân và quả
chẳng phù hợp.
- Hai là tâm đă chấp
có sanh; đă có
sanh, ắt
phải có diệt. Sanh diệt luân chuyển, bèn có họa
hoạn sanh diệt vô cùng, chẳng phù hợp giáo nghĩa văng
sanh Tịnh Độ.
Đă có hai lỗi
lầm, làm sao có thể mười niệm văng sanh cho được?
Ngài Đàm Loan giải đáp, chẳng phải là giải đáp
trực tiếp câu hỏi, mà dùng thủ pháp “vẽ rồng
điểm nhăn”: Riêng nêu lên danh hiệu A Di Đà Phật
chính là mắt rồng chẳng thể nghĩ bàn. Danh hiệu
ấy là bảo châu vô giá chí cực, là ma-ni châu hết thảy
như ư, là thanh tịnh thủy thanh châu độc nhất
vô nhị, là thần châu “sanh mà vô sanh, vô sanh mà không ǵ chẳng
sanh”. Văng sanh trong ba bậc chín phẩm đều do
sức của thần châu chẳng thể nghĩ bàn ấy, khiến cho
những ai được nghe danh hiệu của A Di Đà
Phật, xác thực là người chí tâm tin ưa xưng niệm,
chắc chắn sẽ có thể trong mỗi niệm diệt
hết thảy tội cấu, tịnh hóa hết thảy vọng
tâm, nương theo nguyện lực của Phật, được
Phật nhiếp thọ, như nam châm hút sắt, liền được
văng sanh, ắt chẳng luống uổng! Pháp môn Tịnh
Độ chính là do hữu sanh mà nhập vô sanh, từ hữu
niệm mà đạt được vô niệm, quán diệu
tướng mà thấy vô tướng. Hữu sanh, hữu
niệm, hữu tướng th́ là Tâm Sanh Diệt Môn, thuộc
vào Thế Tục Đế. Vô sanh, vô niệm, vô tướng,
tức là Tâm Chân Như Môn, thuộc về Đệ Nhất
Nghĩa Đế. Chứng Thật Tướng của các
pháp, ắt sẽ do duyên khởi pháp tướng mà ngộ
nhập tánh Không. Như Trung Luận nói: “Chẳng nương
theo Thế Tục Đế, sẽ chẳng đắc Đệ
Nhất Nghĩa Đế”. Do vậy, mười niệm
văng sanh là do “hữu
sanh, hữu tướng” mà nhập “vô sanh,
vô tướng”, hoàn toàn
chẳng màng hữu chấp hay vô chấp! Đấy chính là
Dị Hành Đạo mà tám vạn bốn ngàn pháp môn chẳng
thể gồm thâu, ngũ thời
bát giáo chẳng thể nhiếp, thật sự chẳng thể
nghĩ bàn! Đó là thần đan diệu dược được
hết thảy chư Phật hộ niệm, là chiếc
phi thuyền để thoát khổ! Phàm là Tịnh nghiệp
hành nhân, hăy nên tin sâu chẳng ngờ như thế th́ mới
được gọi là “chí tâm tin ưa”. Có ḷng chí tâm
tin ưa th́ mới có thể cảm ứng đạo giao cùng
A Di Đà Phật, và cũng mới có phần quyết
định được văng sanh.
(Chú) Hựu thị
ma-ni châu, dĩ huyền hoàng tệ khỏa, đầu chi ư
thủy. Thủy tức huyền hoàng nhất như vật
sắc. Bỉ thanh tịnh Phật độ, hữu A Di
Đà Như Lai vô thượng bảo châu, dĩ vô lượng
trang nghiêm công đức thành tựu bạch khỏa, đầu
chi ư sở văng sanh giả tâm thủy, khởi bất năng
chuyển sanh kiến vi vô sanh trí hồ?
()又是摩尼珠。以玄黃幣裹。投之於水。水即玄黃一如物色。彼清淨佛土。有阿彌陀如來無上寶珠。以無量莊嚴功德成就帛裹。投之於所往生者心水。豈不能轉生見為無生智乎。
(Chú: Lại nữa,
ma-ni châu ấy dùng lụa màu đen hoặc màu vàng bọc lại,
bỏ vào trong nước; nước
liền có cùng một màu vàng hay đen giống hệt
như màu của vật kia. Cơi Phật thanh tịnh ấy
có vô thượng bảo châu là A Di Đà Như Lai, dùng lụa
vô lượng công đức trang nghiêm thành tựu bọc
lại, gieo vào trong tâm thủy của người văng sanh, há
chẳng thể chuyển kiến chấp về Sanh thành trí
Vô Sanh hay sao?)
Lại nói, như châu
ma-ni (như ư châu), dùng vải lụa màu đỏ hay màu vàng
bọc lấy viên châu ấy,
gieo vào trong nước. Nước ấy vốn chẳng
có màu, liền hiển hiện h́nh sắc màu đỏ hay màu
vàng, có cùng một màu như vải đỏ hay vàng. Cơi Phật
thanh tịnh An Lạc có một viên Như Ư bảo châu là A
Di Đà Phật, lại c̣n dùng vải lụa do vô lượng
công đức trang nghiêm thành tựu (tức danh hiệu Phật)
để bọc lại. Đem viên thần châu đă bọc
lụa ấy gieo vào trong tâm thủy của tất cả chúng
sanh văng sanh An Lạc quốc, sẽ giống như nước
trong trẻo do châu mà chuyển hiện thành màu đen hay vàng,
ngay lập tức chuyển kiến chấp về Sanh của
chúng sanh thành Vô Sanh. Đấy là đạo lư tất nhiên. Nếu
có thể chí tâm xưng niệm danh hiệu chẳng thể
nghĩ bàn của A Di Đà Phật, sẽ được Phật
tiếp dẫn văng sanh Tịnh Độ, há chẳng thể
ngay lập tức chuyển t́nh kiến vọng chấp sanh
diệt của chúng sanh thành trí Vô Sanh ư? Do vậy,
cổ đức nói: “Đản đắc kiến Di Đà,
hà sầu bất khai ngộ (ngộ nhập Vô Sanh
Pháp Nhẫn)” (Chỉ được
thấy Di Đà, lo ǵ chẳng khai ngộ, tức ngộ nhập Vô Sanh Pháp Nhẫn),
đúng là chân ngữ, thật ngữ vậy, là lời chẳng
dối trá, là lời chẳng hư vọng vậy!
(Chú) Hựu như
băng thượng nhiên hỏa, hỏa mănh tắc băng
giải. Băng giải tắc hỏa diệt. Bỉ hạ
phẩm nhân tuy bất tri pháp tánh vô sanh, đản dĩ xưng
(A Di Đà) Phật danh lực, tác văng sanh ư, nguyện sanh bỉ
độ. Bỉ độ thị vô sanh giới, kiến
sanh chi hỏa, tự nhiên nhi diệt.
()又如氷上燃火。火猛則氷解。氷解則火滅。彼下品人。雖不知法性無生。但以稱(阿弥陀)佛名力。作往生意。願生彼土。彼土是無生界。見生之火。自然而滅。
(Chú: Lại
như đốt lửa trên băng, lửa mạnh th́ băng
tan. Băng tan th́ lửa tắt. Kẻ thuộc hạ phẩm
tuy chẳng biết pháp tánh vô sanh, chỉ do sức xưng
danh (A Di Đà) Phật, khởi ư văng sanh, nguyện sanh về
cơi ấy. Cơi ấy là vô sanh giới, lửa kiến chấp
“có sanh” tự nhiên bị diệt mất).
Ngài Đàm Loan lại
nêu thí dụ đốt lửa trên băng. Băng do lửa
mà tan, nhưng lửa lại do băng mà tắt. Chúng sanh hư
vọng chấp trước “có sanh, có diệt”, giống như
nước đông thành băng, nay do lửa trí huệ xưng
niệm danh hiệu A Di Đà Phật hun trong tâm người
niệm Phật, phát tâm văng sanh, phát nguyện văng sanh thế
giới An Lạc đại Niết Bàn. Hễ được
văng sanh, tất cả t́nh kiến chấp trước sanh
diệt hư vọng tự nhiên diệt tắt, như băng
tan lửa tắt. Trong vô sanh giới, há dung kiến chấp
về Sanh tồn tại ư? Giống như trong đại
quang minh, quyết chẳng có hắc ám! Từ hai thí dụ trên
đây, có thể biết danh hiệu Di Đà và cơi nước
An Lạc đích xác là như ư bảo châu chẳng thể
nghĩ bàn. Đời này có duyên, may mắn gặp châu này, há
có nên ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ ư? V́ thế,
hăy nên chết sạch cái ḷng “đứng núi này ngóng núi nọ”,
đoạn nghi, sanh tín, dốc trọn thân tâm vâng lănh, chí tâm
tin ưa, xưng niệm Di Đà, cầu sanh Cực Lạc,
trên là có thể chẳng phụ bạc ân Phật, dưới
là có thể chẳng phụ tánh linh của chính ḿnh. Xin hăy cùng
cố gắng!
2.2.2.2.3.2. Chúng sanh thể
(Chú) Chúng sanh thể giả, thử phần
trung hữu nhị trùng: Nhất giả, quán Phật;
nhị giả, quán Bồ Tát.
(Chú: Chúng
sanh thể: Trong phần này có hai tầng: Một là quán Phật,
hai là quán Bồ Tát).
2.2.2.2.3.2.1. Quán Phật
(Chú) Quán Phật giả.
()觀佛者。
(Chú: Quán Phật…)
2.2.2.2.3.2.1.1. Nêu chung tám
thứ tướng
(Luận) Vân hà quán Phật trang nghiêm công
đức thành tựu? Quán Phật trang nghiêm công đức
thành tựu giả, hữu bát chủng tướng, ưng
tri.
(Chú) Thử quán nghĩa dĩ chương tiền
kệ.
(論)云何觀佛莊嚴功德成就。觀佛莊嚴功德成就者。有八種相。應知。
()此觀義已彰前偈。
(Luận:
Quán sự trang nghiêm do công đức thành tựu của
Phật như thế nào? Quán sự trang nghiêm được
thành tựu bởi công đức của Phật th́ có tám
loại tướng, hăy nên biết.
Chú: Ư nghĩa
của phép quán này đă được nêu bày trong phần Kệ
Tụng trước đó).
Chúng ta
hăy nên như trong phần Kệ Tụng đă nói trên đây,
từ “vô lượng đại bảo vương”
cho đến “công đức đại bảo hải”,
tổng cộng mười tám câu, để quan sát tường
tận tám thứ. Hăy nên quan sát như thế nào? Những hàm
ư ấy đă được giải thích trong phần Kệ
Tụng, đă nói rất rơ ràng, chẳng cần phải nhắc
lại. Nói tóm tắt th́ như Quán Kinh nói: “Chư Phật
Như Lai thị pháp giới thân, nhập nhất thiết chúng
sanh tâm tưởng trung. Thị cố nhữ quán Phật thời,
thị tâm tức thị tam thập nhị tướng, bát
thập chủng hảo. Thị tâm tác Phật, thị tâm
thị Phật. Chư Phật Chánh Biến Tri hải tùng tâm
tưởng sanh. Ưng đương nhất tâm hệ niệm,
đế quán bỉ Phật” (Chư Phật Như Lai là
thân pháp giới, vào trong tâm tưởng của hết thảy
chúng sanh. V́ thế, khi các ông quán Phật, tâm ấy chính là ba
mươi hai tướng, tám mươi thứ hảo. Tâm
này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh Biến Tri của
chư Phật sanh từ tâm tưởng. Hăy nên nhất tâm hệ
niệm, hăy quán đức Phật ấy chắc chắn).
[Phép tu trong] Quán Kinh
là do quán Phật mà đạt được Niệm Phật
tam-muội, c̣n luận này th́ do Quán Sát
Môn mà thành tựu Tịnh nghiệp, cùng được văng sanh
An Lạc quốc. Chúng ta hăy nên tự lượng sức để
làm. Nếu công phu định lực nông cạn, tốt nhất
là nên nương theo ngũ niệm môn để tu; tuy là tán
tâm quán tưởng, chưa đắc tam-muội, nhưng
do chí tâm tin ưa, Phật lực gia tŕ, nhiếp thọ, sẽ
văng sanh cực dễ. Mong hăy khéo chọn lựa!
2.2.2.2.3.2.1.2. Giải thích
cặn kẽ tám thứ tướng
2.2.2.2.3.2.1.2.1. Nêu bày tám
thứ tướng
(Luận) Hà đẳng bát chủng? Nhất
giả, trang nghiêm ṭa công đức thành tựu. Nhị giả,
trang nghiêm thân nghiệp công đức thành tựu. Tam giả,
trang nghiêm khẩu
nghiệp công đức thành tựu. Tứ giả, trang
nghiêm tâm nghiệp công đức thành tựu. Ngũ giả,
trang nghiêm đại chúng công đức thành tựu. Lục
giả, trang nghiêm thượng thủ công đức thành tựu.
Thất giả, trang nghiêm chủ công đức thành tựu.
Bát giả, trang nghiêm bất hư tác trụ tŕ công đức
thành tựu.
(論)何等八種。一者莊嚴座功德成就。二者莊嚴身業功德成就。三者莊嚴口業功德成就。四者莊嚴心業功德成就。五者莊嚴大眾功德成就。六者莊嚴上首功德成就。七者莊嚴主功德成就。八者莊嚴不虛作住持功德成就。
(Luận:
Những ǵ là tám thứ? Một là trang nghiêm ṭa công đức
thành tựu. Hai là trang nghiêm thân nghiệp công đức thành
tựu. Ba là trang nghiêm khẩu nghiệp công đức thành
tựu. Bốn là trang nghiêm tâm nghiệp công đức thành
tựu. Năm là trang nghiêm đại chúng công đức
thành tựu. Sáu là trang nghiêm thượng thủ công đức
thành tựu. Bảy là trang nghiêm chủ công đức thành
tựu. Tám là trang nghiêm trụ tŕ chẳng uổng công thực
hiện công đức thành tựu).
2.2.2.2.3.2.1.2.2. Nêu rơ mỗi
tướng trong tám tướng
2.2.2.2.3.2.1.2.2.1. Ṭa công
đức
(Luận) Hà giả trang nghiêm ṭa công đức
thành tựu? Kệ ngôn: “Vô lượng đại bảo vương,
vi diệu tịnh hoa đài” cố.
(Chú) Nhược dục quán ṭa, đương
y Quán Vô Lượng Thọ kinh.
(論)若欲觀座。當依觀無量壽經。
(Luận:
Trang nghiêm ṭa công đức thành tựu là như thế
nào? Kệ nói:
“Vô lượng đại bảo vương, đài hoa tịnh
vi diệu”.
Chú: Nếu muốn
quán ṭa [hoa sen của Phật Di Đà], hăy nên dựa theo kinh
Quán Vô Lượng Thọ).
Ngài Đàm Loan đă
chỉ cho chúng ta biết: Khi quư vị muốn quan sát ṭa hoa
sen của A Di Đà Phật, hăy nên chiếu theo phép Quán thứ
bảy được nói trong kinh Quán Vô Lượng Thọ
Phật để quán sát đúng như thế ấy. Quán Kinh
nói: “Ư thất bảo địa thượng, tác liên
hoa tưởng. Nhất nhất diệp thượng, tác bách bảo
sắc, hữu bát vạn tứ thiên mạch, do như thiên
họa. Mạch hữu bát vạn tứ thiên quang, liễu
liễu phân minh, giai linh đắc kiến. Hoa diệp tiểu
giả, tung quảng nhị bách ngũ thập do-tuần.
Như thị liên hoa, cụ hữu bát vạn tứ thiên diệp.
Nhất nhất diệp gian, hữu bách ức ma-ni châu vương
dĩ vi ánh sức. Nhất nhất ma-ni châu, phóng thiên quang minh.
Kỳ quang như cái, thất bảo hợp thành, biến phú
địa thượng. Thích Ca Tỳ Lăng Già bảo dĩ
vi kỳ đài. Thử liên hoa đài, bát vạn kim cang Chân
Thúc Ca bảo, Phạm ma-ni bảo, diệu chân châu vơng, dĩ
vi hiệu sức. Ư kỳ đài thượng, tự
nhiên nhi hữu tứ trụ bảo tràng. Nhất nhất bảo
tràng, như bách thiên vạn ức Tu Di sơn. Tràng thượng
bảo mạn, như Dạ Ma thiên cung. Phục hữu ngũ
bách ức vi diệu bảo châu, dĩ vi ánh sức. Nhất
nhất bảo châu, hữu bát vạn tứ thiên quang. Nhất
nhất quang tác bát vạn tứ thiên dị chủng kim sắc.
Nhất nhất kim sắc, biến kỳ bảo độ,
xứ xứ biến hóa, các tác dị tướng, hoặc
vi kim cang đài, hoặc tác chân châu vơng, hoặc tác tạp
hoa vân, ư thập phương diện, tùy ư biến hiện,
thi tác Phật sự, thị vi Hoa Ṭa Tưởng… Như thử
diệu hoa, thị bổn Pháp Tạng tỳ-kheo nguyện
lực sở thành” (Trên đất
bảy báu, tưởng hoa sen. Tưởng
mỗi cánh sen có màu của trăm thứ báu, có tám vạn
bốn ngàn đường gân ví như nét vẽ cơi trời.
Mỗi đường gân có tám vạn bốn ngàn quang minh,
rành rẽ phân minh, thảy đều [quán tưởng sao
cho] trông thấy [rơ ràng]. Cánh hoa nhỏ th́ kích thước là
hai trăm năm mươi do-tuần. Hoa sen như thế
trọn đủ tám vạn bốn ngàn cánh. Giữa mỗi
cánh hoa, có trăm ức Ma-ni châu
vương để trang hoàng chói ngời. Mỗi viên Ma-ni châu tỏa
ra một ngàn quang minh. Quang minh ấy như cái lọng, do bảy
báu hợp thành, che khắp mặt đất. Báu Thích Ca Tỳ
Lăng Già dùng làm đài hoa. Đài hoa sen ấy có tám vạn
báu kim cang Chân Thúc Ca, báu Phạm ma-ni, lưới chân châu đẹp
đẽ để trang hoàng tô điểm. Trên cái đài ấy,
tự nhiên có bốn trụ tràng báu. Mỗi tràng báu như
trăm ngàn vạn ức núi Tu Di. Màn báu phủ trên tràng như
cung trời Dạ Ma. Lại có năm trăm ức bảo
châu vi diệu để trang hoàng chói ngời. Mỗi viên bảo
châu, có tám vạn bốn ngàn quang minh. Mỗi quang minh tỏa
ra tám vạn bốn ngàn loại kim sắc khác nhau. Mỗi
kim sắc trọn khắp cơi báu, biến hóa khắp chốn.
Mỗi kim sắc đều biến hiện các tướng
khác nhau, hoặc là đài kim cang, hoặc là lưới chân
châu, hoặc là mây các thứ hoa khác nhau, trong mười
phương tùy ư biến hiện để thực hiện
Phật sự. Đấy là Hoa Ṭa Tưởng… Hoa mầu
nhiệm như thế, vốn do nguyện lực của tỳ-kheo
Pháp Tạng tạo thành).
2.2.2.2.3.2.1.2.2.2. Thân nghiệp
công đức
(Luận) Hà giả
trang nghiêm thân nghiệp công đức thành tựu? Kệ ngôn:
“Tướng hảo quang nhất tầm, sắc tượng
siêu quần sanh” cố.
(Chú) Nhược dục quán Phật thân, đương
y Quán Vô Lượng Thọ kinh.
(論)何者莊嚴身業功德成就。偈言。相好光一尋。色像超群生故。
(Luận: Trang
nghiêm thân nghiệp công đức thành tựu là như thế
nào? Kệ rằng: “Tướng hảo sáng một tầm,
h́nh sắc trỗi quần sanh”.
Chú: Nếu muốn
quán thân Phật, hăy nên dựa theo kinh Quán Vô Lượng Thọ).
Phép Quán thứ chín
trong Quán Kinh như sau: “Vô Lượng Thọ Phật, thân
như bách thiên vạn ức Dạ Ma Thiên Diêm Phù Đàn
kim sắc. Phật thân cao lục thập vạn ức na-do-tha
hằng hà sa do-tuần. Mi gian bạch hào, hữu toàn uyển
chuyển, như ngũ Tu Di sơn. Phật nhăn như tứ
đại hải thủy, thanh bạch phân minh. Thân chư
mao khổng diễn xuất quang minh, như Tu Di sơn. Bỉ
Phật viên quang như bách ức tam thiên đại thiên thế
giới. Ư viên quang trung, hữu bách thiên vạn ức
na-do-tha Hằng hà sa hóa Phật. Nhất nhất hóa Phật,
diệc hữu chúng đa vô số hóa Bồ Tát, dĩ vi thị
giả. Vô Lượng Thọ Phật, hữu bát vạn tứ
thiên tướng. Nhất nhất tướng trung, các hữu
bát vạn tứ thiên tùy h́nh hảo. Nhất nhất hảo
trung, phục hữu bát vạn tứ thiên quang minh. Nhất
nhất quang minh, biến chiếu thập phương thế
giới niệm Phật chúng sanh, nhiếp thủ bất xả.
Kỳ quang minh, tướng hảo, cập dữ hóa Phật,
bất khả cụ thuyết… Quán Vô Lượng Thọ
Phật giả, tùng nhất tướng hảo nhập, đản
quán mi gian bạch hào, cực linh minh liễu. Kiến mi gian
bạch hào tướng giả, bát vạn tứ thiên tướng
hảo tự nhiên đương kiến. Kiến Vô Lượng
Thọ Phật giả, tức kiến thập
phương vô lượng chư Phật” (Vô Lượng
Thọ Phật thân như màu vàng của trăm ngàn vạn ức
vàng Diêm Phù Đàn trên cơi trời Dạ Ma. Thân Phật cao sáu
mươi vạn ức na-do-tha hằng hà sa do-tuần. Bạch
hào giữa hai mày uyển chuyển xoay theo chiều phải,
như năm quả núi Tu Di. Mắt Phật như nước
bốn biển cả, xanh trắng phân minh. Các lỗ chân lông
trên thân tỏa ra quang minh như núi Tu Di. Viên quang của đức
Phật ấy như trăm ức tam thiên đại thiên thế
giới. Trong viên quang, có trăm ngàn vạn ức na-do-tha Hằng
hà sa hóa Phật. Mỗi vị hóa Phật cũng có rất nhiều
vô số hóa Bồ Tát để làm thị
giả. Vô Lượng Thọ Phật có tám vạn bốn
ngàn tướng. Trong mỗi tướng đều có tám vạn
bốn ngàn tùy h́nh hảo. Trong mỗi hảo lại có tám vạn
bốn ngàn quang minh. Mỗi quang minh chiếu khắp chúng
sanh niệm Phật trong mười phương thế giới,
nhiếp thủ chẳng bỏ. Quang minh và tướng hảo
của Ngài cùng với hóa Phật chẳng thể nói trọn…
Quán Vô Lượng Thọ Phật th́ từ một tướng
hảo mà nhập. Chỉ quán tướng bạch hào giữa
hai mày sao cho tột bậc rơ rệt. Thấy
tướng bạch hào, tám vạn bốn
ngàn tướng tự
nhiên sẽ hiện. Thấy Vô
Lượng Thọ Phật tức là thấy mười
phương vô lượng chư Phật).
2.2.2.2.3.2.1.2.2.3. Thân nghiệp
công đức
(Luận) Hà giả
trang nghiêm khẩu nghiệp công đức thành tựu? Kệ
ngôn: “Như Lai vi diệu thanh, phạm hưởng văn thập
phương” cố.
(論)何者莊嚴口業功德成就。偈言。如來微妙聲。梵響聞十方故。
(Luận: Trang
nghiêm khẩu nghiệp công đức thành tựu là như
thế nào? Kệ nói: “Tiếng Như Lai vi diệu, âm Phạm
vọng mười phương”).
2.2.2.2.3.2.1.2.2.4. Tâm nghiệp
công đức
(Luận) Hà giả trang nghiêm tâm nghiệp
công đức thành tựu? Kệ ngôn: “Đồng địa,
thủy, hỏa, phong, hư không vô phân biệt” cố. “Vô
phân biệt” giả, vô phân biệt tâm cố.
(Chú) Phàm phu chúng sanh dĩ thân, khẩu,
ư tam nghiệp tạo tội, luân chuyển tam giới, vô hữu
cùng dĩ. Thị cố, chư Phật, Bồ Tát trang nghiêm
thân, khẩu, ư tam nghiệp, dụng trị chúng sanh hư
cuống tam nghiệp dă.
(論)何者莊嚴心業功德成就。偈言。同地水火風。虛空無分別故。無分別者。無分別心故。
()凡夫眾生以身口意三業造罪。輪轉三界。無有窮已。是故諸佛菩薩莊嚴身口意三業。用治眾生虛誑三業也。
(Luận:
Trang nghiêm tâm nghiệp công đức thành tựu là như
thế nào? Kệ nói: “Giống địa, thủy, hỏa,
phong, hư không chẳng phân biệt”. “Vô phân biệt” là tâm
chẳng phân biệt.
Chú: Do ba nghiệp
thân, miệng, ư của phàm phu chúng sanh tạo tội mà luân
chuyển trong tam giới chẳng có cùng tận. V́ thế, chư
Phật, Bồ Tát trang nghiêm ba nghiệp thân, miệng, ư để
đối trị ba nghiệp hư dối của chúng sanh
vậy).
Ngài Đàm
Loan nêu ra nguyên do chư Phật, Bồ Tát trang nghiêm ba nghiệp
thân, miệng, ư. Nói chung, chính là nhằm đối trị ba
nghiệp nhiễm uế của chúng sanh phàm phu,
[do ba nghiệp nhiễm uế ấy mà] chiêu cảm sanh tử
luân hồi. Như phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện
có chép: “Nhân ư chúng sanh nhi khởi đại bi, nhân đại
bi sanh Bồ Đề tâm, nhân Bồ Đề tâm thành Chánh
Giác. Nhược vô chúng sanh, nhất thiết Bồ Tát chung
bất năng thành Vô Thượng Chánh Giác” (Do v́ chúng sanh mà
dấy ḷng đại bi, do đại bi mà sanh Bồ Đề
tâm. Do Bồ Đề tâm mà thành Chánh Giác. Nếu không có chúng
sanh, hết thảy các Bồ Tát trọn chẳng thể thành
Vô Thượng Chánh Giác). Nói riêng biệt th́ như trong phần
sau sẽ nói cặn kẽ.
(Chú) Vân hà dụng
trị? Chúng sanh dĩ Thân Kiến cố, thọ tam đồ
thân, ty tiện thân, xú lậu thân, bát nạn thân, lưu chuyển
thân. Như thị đẳng chúng sanh kiến A Di Đà Như
Lai tướng hảo, quang minh thân giả, như thượng
chủng chủng thân nghiệp hệ phược, giai đắc
giải thoát, nhập Như Lai gia, tất cánh đắc b́nh
đẳng thân nghiệp.
()云何用治。眾生以身見故。受三塗身。卑賤身。醜陋身。八難身。流轉身。如是等眾生見阿彌陀如來相好光明身者。如上種種身業繫縛。皆得解脫。入如來家。畢竟得平等身業。
(Chú: Đối
trị như thế nào? Chúng sanh do Thân Kiến nên thọ
thân trong tam đồ,
thân hèn kém, thân xấu xí, thân tám nạn, thân lưu chuyển.
Những chúng sanh như vậy thấy thân tướng hảo
và quang minh của A Di Đà Như Lai th́ đều được
giải thoát các thứ thân nghiệp trói buộc như trên đây,
vào nhà Như Lai, rốt ráo đạt được thân
nghiệp b́nh đẳng).
Tam nghiệp thân, khẩu,
ư của Phật, Bồ Tát có thể đối trị tam
nghiệp nhiễm uế của phàm phu chúng sanh như thế
nào? Nói theo thân nghiệp: Mọi chúng sanh b́nh phàm đều
có Thân Kiến, tiếng Phạn là Tát Ca Da Kiến (sat-kaya-dṛṣṭi), c̣n gọi
là Ngă Kiến và Ngă Sở Kiến. Chẳng biết thân này là
do Tứ Đại và Ngũ Uẩn
giả hợp mà có, vẫn chấp trước so đo là
nó có thật; đó gọi là Ngă Kiến. Lại chẳng biết
các vật quanh thân ta không có sở hữu chủ nhất định,
vẫn cứ so đo, chấp trước chúng là những vật
do ta thật sự sở hữu. Đó gọi là Ngă Sở
Kiến. Gộp chung Ngă Kiến và Ngă Sở Kiến th́ là Thân
Kiến. “Kiến” (見) là lập
ra cách nh́n quyết định th́ gọi là Kiến. Do có Thân
Kiến ấy nên chấp
vào Biên Kiến “thân này là đoạn hay thường”. Do chấp
vào Biên Kiến, dấy khởi tà kiến “bài bác không có nhân
quả”, tức là cho rằng trong thế gian chẳng có
nguyên nhân nào có thể chiêu cảm kết quả, mà cũng
chẳng có kết quả do một nguyên nhân nhất định
nào sanh ra. V́ thế, làm ác chẳng sợ, chẳng làm thiện
sự, làm càn, làm xằng,
ác nghiệp thành tựu, ắt thọ thân khổ báo trong
tam đồ bát nạn. Dẫu sanh trong loài người, ắt
thọ thân ty tiện, thân xấu xí, thô kệch, lưu chuyển
trong lục đạo, luân hồi sanh tử, chẳng có thuở nào xong. Cái kiểu chẳng hiểu
rơ thân này là do nhân duyên giả hợp, chấp là có cái thân thật
sự tồn tại, có cái Ngă thực tại,
thuận ư ta th́ dấy ḷng tham, nghịch ư ta th́ nổi sân,
chẳng có trí huệ, tức là ngu si. Do ba căn bản phiền
năo ấy, dẫn sanh hết thảy vô minh phiền năo trói
buộc chúng sanh, chẳng được giải thoát. Nay gặp
thiện tri thức trong Phật môn, được nghe pháp
môn Tịnh Độ, liền có thể nương theo pháp
môn ngũ niệm đă nói trong bộ luận này để
tu Tịnh nghiệp, trong đời này được thấy
thân thể tướng hảo và quang minh của A Di Đà
Phật, ắt phục đoạn[5] phiền
năo. Hết một báo thân này, cùng sanh về cơi Cực Lạc,
đều được giải thoát hai thứ sanh tử (Phần Đoạn
Sanh Tử và Biến Dịch Sanh Tử), rốt
ráo là Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát, vào nhà Như Lai, rốt
ráo thành tựu “tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt”,
cùng viên măn thân b́nh đẳng nhất tướng của chư
Phật, chính là vô vi Pháp Thân, trang nghiêm Báo Thân!
(Chú) Chúng sanh dĩ
kiêu mạn cố, phỉ báng chánh pháp, hủy tư hiền
thánh, quyên tỷ tôn trưởng. Như thị chi nhân ưng
thọ Bạt Thiệt khổ, ấm á khổ, ngôn giáo bất
hành khổ, vô danh văn khổ. Như thị đẳng
chủng chủng chư khổ chúng sanh, văn A Di Đà
Như Lai chí đức danh hiệu, thuyết pháp âm thanh, như
thượng chủng chủng khẩu nghiệp hệ phược
giai đắc giải thoát, nhập Như Lai gia, tất cánh
đắc b́nh đẳng khẩu nghiệp.
()眾生以憍慢故。誹謗正法。毀訾賢聖。捐庳尊長。如是之人應受拔舌苦。瘖瘂苦。言教不行苦。無名聞苦。如是等種種諸苦眾生。聞阿彌陀如來至德名號。說法音聲。如上種種口業繫縛。皆得解脫。入如來家。畢竟得平等口業。
(Chú: Chúng sanh do
kiêu mạn mà phỉ báng chánh pháp, hủy gièm hiền thánh, xem
thường bậc tôn trưởng. Kẻ như thế đáng
chịu khổ trong [địa ngục] Kéo Lưỡi, khổ
v́ câm ngọng, khổ v́ giảng nói không xuôi, khổ v́ không
có tiếng tăm. Các loại chúng sanh khổ sở như
thế nghe danh hiệu chí đức của A Di Đà Như
Lai và pháp âm thuyết pháp của Ngài th́ đều được
giải thoát các khẩu nghiệp trói buộc như vừa
nói trên đây, vào nhà Như Lai, rốt ráo đắc khẩu
nghiệp b́nh đẳng).
Nói theo khẩu nghiệp,
có những chúng sanh tự cho [chính ḿnh] là tôn quư, đó là Kiêu
(憍), lấn hiếp kẻ
khác, đó là Mạn (慢). Do v́
kiêu mạn, đă tạo rất nhiều ác nghiệp nơi
miệng lưỡi, như trong phẩm Thí Dụ của kinh
Pháp Hoa có nói: “Tam giới hỏa trạch chi trung, đa hữu
si, kiêu, điêu, thứu, ô, thước, cưu, cáp” (Trong nhà lửa
tam giới có nhiều loài chim cú, kiêu, điêu, thứu, quạ,
hỷ thước,
cưu, cáp), dùng tám loại chim ấy để sánh ví tám thứ
kiêu mạn:
1) Kiêu mạn lừng
lẫy như chim Si, “Si” (鴟, cú mèo) giống
như chim ưng, nhưng màu trắng.
2) Tánh kiêu như chim
Kiêu. Chim Kiêu (梟) bất hiếu,
ăn thịt mẹ.
3) Kiêu căng v́ giàu
có như chim Điêu. Chim Điêu (鵰, chim ưng) đầu
vàng, mắt đỏ, có thể bắt hoẵng, chồn
làm thức ăn.
4) Kiêu căng v́ tự
tại như chim Thứu (鷲, một
loại chim ưng), vọt lên
không tự tại, bắt gà, vịt làm thức
ăn.
5) Kiêu căng v́ thọ
mạng như ô nha (烏鴉, quạ).
Chim quạ có phẩm đức mớm mồi ngược lại [cho cha mẹ đă già yếu,
không thể kiếm mồi], thọ mạng dài lâu.
6) Kiêu căng v́ thông
minh như chim Thước (鵲,
magpie). Chim Thước tánh thông minh, có thể báo điềm
cát, hung.
7) Kiêu căng v́ làm
lành như chim Cưu (鳩,
dove, bồ
câu có vằn quanh cổ). Chim Cưu
chính là ban cưu (斑鳩, một
loại bồ câu), tánh thuần
thiện, chẳng biết khiêm nhượng.
8) Kiêu căng v́ sắc
đẹp như chim Cáp (鴿, pigeon). Cáp (một
loại bồ câu khác) là loài chim có tánh dâm.
Các kinh luận nói có
bảy loại Mạn:
1) Mạn (慢): Cậy
ḿnh lấn hiếp người khác.
2) Quá mạn (過慢): Bằng
với người khác, lại cho là ḿnh vượt trỗi
người khác.
3) Mạn quá mạn (慢過慢): Người
khác hơn ḿnh, nhưng vẫn cho là ḿnh vượt trỗi
họ.
4) Ngă mạn (我慢): Tức
là Ngă Kiến nặng nề, chấp ngă là mạn.
5) Tăng thượng
mạn (增上慢): Chưa
chứng nói là chứng, chưa đắc nói là đă đắc.
6) Ty mạn (卑慢): So với
người có nhiều chỗ hơn ḿnh, lại cho rằng
ḿnh chỉ thua kém kẻ đó đôi chút.
7) Tà mạn (邪慢): Thành tựu
tà kiến, ác hạnh, nhưng cậy ác mà lớn lối.
Kiêu mạn chính là cái
nhân tạo ác. Có nhân
ắt có quả; v́ thế có “phỉ báng chánh pháp”, tức
là phỉ báng Phật pháp. Như nói “Phật giáo là mê tín, Đại
Thừa chẳng phải do đức Phật nói” v.v… Hoặc
là “hủy tư hiền thánh” (hủy báng, chê gièm bậc hiền thánh), tức
là làm hư tṛng mắt của trời, người, khiến
cho chúng sanh thiện ác chẳng phân, điên đảo thị
phi, chẳng biết ǵ là thiện, ǵ là ác. Hoặc là “quyên
tỷ tôn trưởng”: “Quyên tỷ” (捐庳) nghĩa
là ruồng rẫy hoặc khinh rẻ, tức là trái nghịch,
chẳng đoái hoài cha mẹ, sư trưởng. Như kinh
Vô Lượng Thọ đă nói: “Thế gian nhân dân, bất
niệm tu thiện, chuyển tương giáo lệnh, cộng
vi chúng ác, lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ
ngữ, sàm tặc đấu loạn, tắng tật thiện
nhân, bại hoại hiền minh, ư bàng khoái hỷ, bất
hiếu nhị thân, khinh mạn sư trưởng, bằng
hữu vô tín, nan đắc thành thật. Tôn quư tự đại,
vị kỷ hữu đạo, hoành hành oai thế, xâm dịch
ư nhân… vô sở ưu cụ, thường hoài kiêu mạn…
phụ mẫu giáo hối, sân mục nộ ứng, ngôn lệnh
bất ḥa, vi lệ phản nghịch… bất duy phụ mẫu
chi ân, bất tồn sư hữu chi nghĩa. Tâm thường
niệm ác, khẩu thường ngôn ác, thân thường hành
ác, tằng vô nhất thiện, bất tín tiên thánh chư Phật
kinh pháp, bất tín hành đạo khả đắc độ
thế, bất tín tử hậu thần thức cánh sanh… Từ
tâm giáo hối, linh kỳ niệm thiện, khai thị sanh tử
thiện ác chi thú, tự nhiên hữu thị, nhi bất khẳng
tín chi. Khổ tâm dữ ngữ, vô ích kỳ nhân” (Nhân
dân trong thế gian chẳng nghĩ tu thiện, lại dạy
bảo lẫn nhau cùng làm các chuyện ác: Nói đôi chiều,
nói thô ác, nói dối, nói thêu dệt, gièm siểm, hăm hại,
xúi giục đấu đá rối ren, ganh ghét thiện
nhân, bại hoại bậc hiền minh. Kẻ ấy ở
bên cạnh [trông thấy kẻ khác do bị xúi giục mà hiềm
khích] bèn vui sướng. Chẳng hiếu thảo với
cha mẹ, khinh mạn sư trưởng, chẳng giữ
chữ tín với bạn bè, khó thể thành thật. Tự
cao tự đại, cho ḿnh là bậc tôn quư, tự cho là
ḿnh có đạo đức. Cậy vào oai thế mà ngang
ngược, xâm phạm, làm hại người khác… Chẳng
hề lo lắng, sợ hăi, thường ôm ḷng kiêu căng,
ngạo mạn… Cha mẹ răn bảo bèn trừng mắt,
giận dữ đáp trả. Ăn nói chẳng ḥa nhă, trái
nghịch, hung hăng chống đối… Chẳng nhớ
tới ân cha mẹ, chẳng màng đạo nghĩa thầy
bạn. Tâm thường nghĩ chuyện ác, miệng
thường thốt lời ác, thân thường làm ác,
chưa hề có một điều thiện nào. Chẳng
tin kinh pháp của những bậc thánh hiền thuở
trước và chư Phật. Chẳng tin hành đạo sẽ
có thể độ đời, chẳng tin sau khi chết
thần hồn sẽ tái sanh… [Bậc tri thức] từ tâm
khuyên dạy, mong cho kẻ ấy nghĩ tới điều thiện, khai thị đường sanh tử thiện
ác, tự nhiên có đạo lư ấy, nhưng [kẻ ấy]
chẳng chịu tin. Khổ tâm bảo ban, chẳng có ích ǵ
cho kẻ đó). Đoạn kinh văn này đă nói về
ác nghiệp sanh khởi bởi ḷng kiêu mạn của chúng
sanh hết sức chân thật, không chi hơn được!
Những kẻ như vậy, đáng hứng chịu khổ
báo trong địa ngục Bạt Thiệt (Kéo Lưỡi).
Nếu sanh trong loài người, ắt mắc quả báo
câm ngọng. Lại v́ họ ngu si, bế tắc, đă chẳng
tiếp nhận sự răn bảo của người
khác, lại chẳng thực hành nhân nghĩa đạo
đức trong thế gian, chính là “y quan cầm thú” (loài
cầm thú đội mũ, mặc áo), chẳng có tiếng
tốt, tiếng ác lan truyền.
Chúng
sanh khổ báo có các điều ác thuộc về khẩu
nghiệp như thế, giả sử có thể nghe pháp môn
Tịnh Độ, chiếu theo Quán Kinh,
tu hành ba thứ phước nghiệp, hiếu thuận cha
mẹ, phụng sự sư trưởng, tu Thập Thiện
Nghiệp, tin nhận kinh Vô Lượng Thọ, nghe vạn
đức hồng danh của A Di Đà Phật, dùng miệng
lưỡi trót tạo ác nghiệp để chí tâm tin ưa, xưng
niệm Di Đà ḥng diệt trừ Thập Ác, hoằng dương Phật
pháp, tự độ, độ người khác. Vậy th́
sẽ có thể giải thoát các thứ trói buộc do ác nghiệp
nơi miệng lưỡi, vượt thoát tam giới, vĩnh
viễn chẳng có sanh tử luân hồi, an trụ trong Liên
Hoa Phật quốc, cùng với các vị thượng thiện
nhân như Quán Âm, Thế Chí v.v… cùng nhóm họp một chỗ,
đấy là “vào nhà Như
Lai”, măi cho đến khi thành Phật, quyết
chẳng thoái chuyển, rốt ráo có thể đạt được
khẩu nghiệp b́nh đẳng giống như A Di Đà
Phật, tức là thật sự có tám thứ phạm âm vi
diệu, thuyết pháp giáo hóa chúng sanh, vang xa trọn khắp
mười phương vô lượng thế giới, khiến
cho phàm là những ai nghe pháp, không một ai chẳng thành Phật.
(Chú) Chúng sanh dĩ
tà kiến cố, tâm sanh phân biệt. Nhược hữu,
nhược vô, nhược phi, nhược thị, nhược
hảo, nhược xú, nhược thiện, nhược ác,
nhược bỉ, nhược thử, hữu như thị
đẳng chủng chủng phân biệt. Dĩ phân biệt
cố, trường luân tam hữu, thọ chủng chủng
phân biệt khổ, thủ xả khổ, trường tẩm
đại dạ, vô hữu xuất kỳ. Thị chư chúng sanh, nhược
ngộ A Di Đà Như Lai b́nh đẳng quang chiếu, nhược
văn A Di Đà Như Lai b́nh đẳng ư nghiệp, thị
đẳng chúng sanh như thượng chủng chủng ư
nghiệp hệ phược, giai đắc giải thoát,
nhập Như Lai gia, tất cánh đắc b́nh đẳng
ư nghiệp.
()眾生以邪見故。心生分別。若有若無。若非若是。若好若醜。若善若惡。若彼若此。有如是等種種分別。以分別故。長淪三有。受種種分別苦。取捨苦。長寢大夜。無有出期。是諸眾生。若遇阿彌陀如來。平等光照。若聞阿彌陀如來平等意業。是等眾生。如上種種意業繫縛。皆得解脫。入如來家。畢竟得平等意業。 (Chú: Chúng
sanh do tà kiến mà tâm sanh phân biệt. Hoặc là có,
hoặc là không, hoặc là sai, hoặc là đúng, hoặc là đẹp,
hoặc là xấu, hoặc là thiện, hoặc là ác, hoặc
là kia, hoặc là đây. Có đủ thứ phân biệt như
thế. Do v́ phân biệt, ch́m đắm lâu dài trong ba cơi, chịu
đủ mọi nỗi khổ v́ phân biệt, khổ v́ lấy
bỏ, ngủ say trong đêm dài, chẳng có thuở thoát ra.
Các chúng sanh ấy nếu gặp quang minh b́nh đẳng của
A Di Đà Như Lai chiếu đến, nếu nghe ư nghiệp
b́nh đẳng của A Di Đà Như Lai, các chúng sanh ấy
đều được giải thoát sự trói buộc của
các thứ ư nghiệp như trên, vào nhà Như Lai, rốt ráo
đạt được ư nghiệp b́nh đẳng).
Nói
theo ư nghiệp th́ chúng sanh trong lục đạo đều
có tâm. Có tâm th́ ắt có niệm, có niệm ắt có ba tánh “thiện,
ác, vô kư” sai khác. Chúng sanh ở trong vô lượng sanh tử
luân hồi, đă tập quen thành tánh, không niệm nào là chẳng
phân biệt hư vọng, hoặc là có, hoặc là không, hoặc
là đúng, hoặc là sai, hoặc là kia, hoặc là đây. Điều
này gọi là “vọng tưởng”. Do vậy, bèn sanh khởi so đo, chấp
trước trọn khắp, chấp là thật sự có, thật
sự không v.v… Đó gọi là “chấp trước”. Đă có vọng tưởng, chấp
trước, sẽ có Vô Minh duyên Hành, cho đến ưu bi
khổ năo. Đó gọi là Thập Nhị Nhân Duyên, luân chuyển vô cùng! Chúng sanh từ lâu xưa đến nay trầm
luân trong biển khổ tam giới (tam hữu), thọ đủ
thứ khổ vọng tưởng phân biệt sanh tử luân
hồi, thoạt ch́m, thoạt nổi, xả thân, thọ thân
như ở trong giấc mộng lớn trong đêm dài, chẳng
có thuở thoát ra, thật là đáng thương, đáng xót!
Những chúng sanh ấy nếu có thể gặp pháp môn Tịnh
Độ, tin nhận kinh Vô Lượng Thọ, tu ngũ
niệm môn, cầu sanh Cực Lạc, vậy th́ bất luận
quư vị là nam hay nữ, thượng căn hay hạ căn,
đều có thể được quang minh trí huệ b́nh
đẳng của A Di Đà Phật chiếu chạm vào thân,
nhiếp thọ chẳng bỏ, khiến cho vọng tưởng
phiền năo của quư vị tiêu diệt, thân tâm mềm mại,
thiện tâm sanh khởi. Nếu ở trong chỗ khổ sở
tột bậc nơi tam đồ, thấy quang minh ấy,
đều được ngưng nghỉ, chẳng c̣n khổ
năo. Sau khi mạng chung, đều được Phật Di
Đà tiếp dẫn, văng sanh Cực Lạc quốc, vĩnh
viễn được giải thoát nỗi khổ Thập
Nhị Nhân Duyên và nỗi khổ sanh tử luân hồi trong lục đạo. Như
kinh Vô Lượng Thọ đă nói: “Nhược hữu chúng sanh, văn A Di Đà Phật
quang minh oai thần công đức, nhật dạ xưng
thuyết, chí tâm bất đoạn, tùy ư sở nguyện, đắc
sanh kỳ quốc” (Nếu có chúng sanh nghe quang minh, oai thần, và công
đức của A Di Đà Phật, ngày đêm xưng nói,
chí tâm chẳng gián đoạn, tùy theo ư nguyện mà được
sanh về cơi ấy).
Đă
sanh về Tịnh Độ, tức là vào nhà Như Lai, nhất
định đều có thể đạt được
ư nghiệp “trí huệ, thần thông, công đức” b́nh đẳng giống như
A Di Đà Phật. Như kinh Hoa Nghiêm nói: “Thiện tai! Thiện
tai! Nhất thiết chúng sanh giai hữu Như Lai trí huệ,
đức tướng, đản dĩ hư vọng chấp
trước, bất năng chứng đắc. Nhược
vô vọng tưởng, chấp trước, Vô Sư Trí, Tự
Nhiên Trí (chư Phật b́nh đẳng ư nghiệp), tức đắc
hiện tiền” (Lành thay! Lành thay! Hết thảy chúng sanh đều
có trí huệ và đức tướng của Như Lai, chỉ
v́ chấp trước hư vọng mà chẳng thể chứng
đắc. Nếu không có vọng tưởng, chấp
trước, Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí (ư nghiệp b́nh
đẳng của chư Phật) liền được hiện
tiền). Cái gọi là Vô Sư Trí, Tự Nhiên Trí chính là ư nghiệp
b́nh đẳng của chư Phật, tức là như lời kệ trong bộ luận này đă nói:
“Như địa,
thủy, hỏa, phong, hư không vô phân biệt” (Như địa, thủy, hỏa,
phong, hư không chẳng phân biệt), mà cũng là công đức
của năm phần Pháp Thân trong Đại Thừa. Như
kinh Vô Lượng Thọ đă nói: “Do như Tuyết sơn, chiếu chư công đức,
đẳng nhất tịnh cố” (Ví như núi Tuyết chiếu các công đức b́nh đẳng thanh tịnh
giống hệt như nhau). Đấy chính là
thí dụ chung về Thể của Ngũ Phần Pháp Thân, b́nh
đẳng không sai khác, đồng nhất thanh tịnh chẳng
thể phân biệt. “Do như
đại địa, tịnh uế hảo ác, vô dị tâm
cố” (Ví như đại địa, v́
chẳng có tâm phân biệt tịnh, uế, tốt, xấu
sai khác). Điều này ví như công
đức của Định b́nh đẳng Pháp Thân. “Do như tịnh
thủy, tẩy trừ trần lao, chư cấu nhiễm
cố” (Ví như nước sạch v́ gột rửa trần lao và các cấu nhiễm). Điều này
ví như công đức của Giới b́nh đẳng Pháp
Thân. “Do như
hỏa vương, thiêu diệt nhất thiết phiền
năo tân cố” (Ví như hỏa vương v́ đốt sạch hết thảy củi
phiền năo). Điều này ví như
công đức của Huệ b́nh đẳng Pháp Thân, ĺa tứ
cú, tuyệt bách phi, có thể diệt trừ hết thảy
vọng tưởng và chấp trước của chúng
sanh. “Do như
đại phong, hành chư thế giới, vô chướng
ngại cố” (Ví như gió to v́ thổi qua các thế giới chẳng
chướng ngại). Điều này ví như công đức
của Giải Thoát b́nh đẳng Pháp Thân. “Do như hư
không, ư nhất thiết hữu, vô sở trước cố” (Ví như hư không v́ trong hết thảy các cơi chẳng
bị vướng mắc). Điều này ví như công
đức của Giải Thoát Tri Kiến b́nh đẳng
Pháp Thân. Nếu thành tựu công đức của năm phần
Đại Thừa Pháp Thân như trên đây, tâm (tức ư nghiệp)
sẽ có thể b́nh đẳng như chư Phật đến
phổ độ chúng sanh, chẳng phân biệt nam, nữ, già, trẻ, nghèo, giàu, sang, hèn, có thiện
căn hay không, đều khiến cho họ được
sanh về Tịnh Độ, cho đến chứng đắc
Vô Thượng Bồ Đề.
Phàm
phu muốn chuyển cái tâm có phân biệt thành vô phân biệt,
tốt nhất là dựa theo phẩm Thỉnh Vấn trong
kinh Ban Châu Tam Muội, [phẩm ấy] nói rơ cách nhập đạo
tràng tu pháp Niệm Phật tam-muội trong bảy ngày bảy đêm. Kinh ấy dạy: “Thường
lập đại tín, như pháp hành chi, vật hữu nghi
tưởng, như mao phát hứa. Lập nhất niệm,
tín thị pháp, nghi nhất niệm, đoạn chư tưởng,
tinh tấn hành, vật giải đăi, vật khởi tưởng,
hữu dữ vô, vật niệm tấn, vật niệm thoái,
vật niệm tiền, vật niệm hậu… vật niệm
phụ, vật niệm mẫu, vật niệm thê, vật
niệm tử, vật niệm thân, vật niệm sơ, vật
niệm tắng, vật niệm ái, vật niệm đắc,
vật niệm thất, vật niệm thành, vật niệm
bại, vật niệm thanh, vật niệm trược. Đoạn
chư niệm, nhất kỳ niệm, trừ
thùy miên, tinh kỳ ư, thường độc xử, vật
tụ hội, tỵ ác nhân, cận thiện hữu, thân
minh sư, thị như Phật. Quán b́nh đẳng, ư
nhất thiết. Tỵ hương lư, viễn thân tộc,
khí ái dục, lư thanh tịnh. Hành vô vi, đoạn chư dục,
xả loạn ư, tập Định hành, vật tham tài, đa
súc tích. Thực tri túc, vật tham vị. Chúng sanh mạng, thận
vật thực. Vật điều hư, vật kiêu mạn,
liễu thân bổn, do như huyễn, nhân duyên hội, nhân
duyên tán. Tất liễu thị, tri bổn vô. Gia từ ai ư
nhất thiết, chí yếu huệ, siêu chúng hạnh… Phật
ngôn: Tứ chúng ư thử gian quốc độ, niệm
A Di Đà Phật, chuyên niệm cố đắc kiến
chi. Kư kiến, tức vấn tŕ hà pháp đắc sanh An Lạc
quốc? A Di Đà Phật báo ngôn: Dục lai sanh giả, đương
niệm ngă danh, mạc hữu hưu tức, tức đắc
lai sanh, chuyên niệm cố, đắc văng sanh. Thường
niệm Phật thân quang minh triệt chiếu, đoan chánh
vô tỷ. Do niệm Phật sắc thân cố, đắc
thị tam-muội” (Thường lập niềm tin to tát, đúng pháp để
hành, đừng có ư tưởng nghi ngờ chừng bằng
mảy tóc. Lập nhất niệm, tin pháp này; hăy nên nhất
niệm, đoạn các tưởng, tinh tấn hành tŕ, đừng
biếng nhác, đừng dấy lên suy tưởng là có hay
không, đừng nghĩ tới tiến, đừng
nghĩ tới lui, đừng nghĩ tới trước, đừng
nghĩ tới sau… đừng nghĩ tới cha, đừng
nghĩ tới mẹ, đừng nghĩ tới vợ, đừng
nghĩ tới con, đừng nghĩ tới thân, đừng
nghĩ tới sơ, đừng nghĩ tới ghét, đừng
nghĩ tới yêu, đừng nghĩ tới được,
đừng nghĩ tới mất, đừng nghĩ tới
thành, đừng nghĩ tới bại, đừng nghĩ
tới trong sạch, đừng nghĩ tới nhơ đục.
Đoạn các niệm, ấn định thời hạn
niệm, trừ ngủ nghê, ư chuyên ṛng, thường ở một
ḿnh, đừng tụ hội, tránh kẻ ác, thân cận bạn
lành, thân cận bậc minh sư, coi vị ấy như Phật.
Quán b́nh đẳng đối với hết thảy. Tránh xóm
làng, xa ĺa thân tộc, bỏ ái dục, thường hành thanh
tịnh. Làm chuyện vô vi, đoạn các dục, xả loạn
ư, tu tập Định hạnh, đừng tham tài, tích cóp
cho nhiều. Ăn th́ biết đủ, đừng tham mùi
vị. Cẩn thận đừng hại mạng chúng sanh
để ăn. Đừng đùa bỡn, đừng kiêu
mạn, hiểu rơ cội gốc của cái thân ví như huyễn,
do nhân duyên mà tụ hội, do nhân duyên mà ly tán. Đều hiểu
rơ điều này, biết nó vốn là không. Càng thêm từ
bi, thương xót hết thảy, đạt cái huệ trọng
yếu nhất, vượt trỗi các hạnh… Đức
Phật dạy: “Tứ chúng trong quốc độ thuộc
thế gian này niệm A Di Đà Phật, do chuyên niệm, nên
được thấy Ngài. Đă thấy, bèn hỏi: ‘Do tŕ
pháp nào mà được sanh về cơi An Lạc?’ A Di Đà
Phật đáp: ‘Kẻ muốn sanh về [An Lạc], hăy nên
niệm danh hiệu của ta, đừng ngưng nghỉ,
sẽ đạt được sanh đến đó. Do chuyên
niệm bèn lập tức được văng sanh’. Thường
niệm quang minh nơi thân Phật chiếu thấu suốt,
đoan chánh khôn sánh. Do niệm sắc thân của Phật, mà
đắc tam-muội này”).
Cũng
như kinh Vô Lượng Thọ có nói: “Tam bối văng sanh, giai đương nhất hướng
chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật” (Kẻ văng sanh trong ba bậc đều
nên một bề chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật).
“Chuyên niệm” sẽ có thể chuyển các thứ tâm
phân biệt thành cái tâm vô phân biệt, trừ khử hết
thảy vọng tưởng, chấp trước, được
thấy Phật Di Đà, thành tựu Niệm Phật tam-muội, văng sanh Tịnh
Độ, chuyển phàm tâm thành Phật tâm. Đấy là phương
pháp thần diệu để thực hiện dễ nhất,
thành công cao nhất!
(Chú) Vấn viết:
Tâm thị giác tri tướng, vân hà khả đắc đồng
địa, thủy, hỏa, phong vô phân biệt da? Đáp viết:
“Tâm tuy tri tướng, nhập Thật Tướng, tắc
vô tri dă. Thí như xà tánh tuy khúc, nhập trúc đồng tắc
trực. Hựu như nhân thân nhược châm thích, nhược
phong thích, tắc hữu giác tri, nhược thạch điệt
đạm, nhược cam đao cát, tắc vô giác tri. Như
thị đẳng hữu tri, vô tri, tại
vu nhân duyên. Nhược
tại nhân duyên, tắc phi tri phi vô tri dă.
()問曰。心是覺知相。云何可得同地水火風無分別耶。答曰。心雖知相。入實相則無知也。譬如蛇性雖曲。入竹筒則直。又如人身若鍼刺。若蜂螫。則有覺知。若石蛭噉。若甘刀割。則無覺知。如是等有知無知。在于因緣。若在因緣。則非知非無知也。
(Chú: Hỏi: Tâm là tướng
giác tri (hay biết), cớ sao có thể giống như đất,
nước, lửa, gió chẳng phân biệt ư? Đáp: “Tâm tuy biết
tướng, hễ nhập Thật Tướng th́ sẽ vô tri. Ví
như tánh của rắn là cong quẹo, nhưng vào trong ống
tre sẽ thẳng. Lại như thân nếu dùng kim đâm,
hoặc bị ong chích, sẽ
có sự hay biết. Nếu bị đỉa cắn, hoặc
cam tâm bị đao chém, sẽ
không hay biết. Hữu tri, vô tri như thế là do nhân duyên.
Nếu là do nhân duyên th́ chẳng phải là tri, chẳng phải
là vô tri).
Ngài
Đàm Loan lại lập ra lời vấn đáp để
chỉ rơ hữu tri (phân biệt) và vô tri là do nhân duyên, chẳng
liên quan đến Thật Tướng của tâm. Nếu
ngộ nhập Thật Tướng của nhất tâm, sẽ
không có cái gọi là tri hay vô tri, xa ĺa hết thảy các pháp
chia thành hai (nhị biên) của thế gian. Như kinh đă
dạy: “Chư
pháp nhân duyên sanh, chư pháp nhân duyên diệt” (Các pháp do nhân duyên mà sanh, các pháp do nhân
duyên mà diệt). Như thiền sư Huệ Tư soạn
bộ Đại Thừa Chỉ Quán đă viết: “Tâm tánh tự
thanh tịnh (nhất vị không tịch, chẳng có đối
đăi dù là danh hay tướng), các pháp chỉ là nhất tâm…
Nhất tâm mà tách thành hai (tạo thành các thứ pháp sai biệt
là do nhân duyên), tuy hai mà vẫn chẳng có hai tướng (cái
tâm thanh tịnh chẳng thuộc vào nhân duyên, chẳng phải
là tri, chẳng phải là vô tri)”.
Ngài
Đàm Loan lại nêu ra hai thí dụ để thuyết minh
các pháp “đối
đăi chia thành hai” trong thế gian đều do nhân duyên sanh ra. Đă thuộc
vào nhân duyên th́ chẳng có tự tánh, cho nên đều là tánh Không b́nh đẳng, chẳng phải
là tri, chẳng phải là vô tri. Chư Phật ngộ chứng
tánh Không b́nh đẳng ấy, cho nên [các Ngài] có ư nghiệp b́nh
đẳng. Tâm là như thế, hết thảy các pháp cũng
không ǵ chẳng phải là “b́nh đẳng, không sai biệt”.
Cần phải có nhân duyên ǵ vậy? Các vị Duy Thức nói:
Ắt phải nương theo sáu nhân và bốn duyên; nhân duyên ḥa hợp, sẽ sanh khởi vạn
pháp. Sáu nhân là:
1)
Năng Tác Nhân (能作因, cái nhân có thể tạo ra cái quả): Như đại
địa sanh ra cỏ cây, đấy là “hữu lực
năng tác nhân” (cái
nhân có năng lực tạo ra cái quả). Như vạn vật
sanh khởi trong hư không chẳng có chướng ngại;
đấy chính là “bất
chướng năng tác nhân” (cái nhân chẳng chướng ngại việc tạo
ra cái quả). Cái quả đạt được [do cái nhân
ấy] được gọi là Tăng Thượng Quả
(增上果).
2)
Câu Hữu Nhân (俱有因): Tứ đại chủng như Địa Đại
có bốn tướng “sanh, trụ, dị, diệt”, ắt
nương vào nhau mà sanh, thiếu một thứ sẽ chẳng
thể được. Cái quả đạt được
th́ gọi là Sĩ Dụng Quả (士用果).
3)
Đồng Loại Nhân (同類因): Như thiện pháp kia làm cái nhân để
sanh khởi thiện pháp này, tức là nói đến [các pháp]
có tánh chất cùng loại thiện, ác, hoặc
vô kư [làm nhân cho nhau] mà sanh khởi, chẳng thuộc về
tâm, sắc, sự tướng. Cái quả đạt được
th́ gọi là Đẳng Lưu Quả (等流果).
4)
Tương Ứng Nhân (相應因): Tức là tâm và tâm sở pháp ắt tương
ứng mà sanh ra cái quả. Cái quả đạt được
th́ cũng gọi là Sĩ Dụng Quả.
5)
Biến Hành Nhân (遍行因): Tức là từ trong Đồng Loại
Nhân, xét theo phiền năo mà chuyên lập ra [một loại nhân
nữa]. Như tham, sân, si, nghi, ác kiến có thể sanh ra trọn
khắp hết thảy các Hoặc (phiền năo). Cái quả
đạt được th́ cũng gọi là Đẳng
Lưu Quả.
6)
Dị Thục Nhân (異熟因): Tức là thiện nhân hay ác nhân chiêu
cảm cái quả vô kư (không thiện, không ác) th́ [cái nhân ấy
được] gọi là Dị Thục Nhân, v́ cái quả kết
thành khi chín muồi sẽ khác loại với cái nhân. Cái quả
đạt được th́ gọi là Dị Thục Quả.
Bốn
duyên là:
1)
Nhân Duyên (因缘): Như sáu căn làm nhân, sáu trần làm duyên mà sanh ra
sáu thức.
2)
Thứ Đệ Duyên (次第缘): Ư nói tâm và tâm sở pháp theo thứ tự
mà liên tục sanh khởi chẳng gián đoạn. V́ thế
c̣n gọi là Vô Gián Duyên (無間缘).
3)
Duyên Duyên (缘缘): C̣n gọi là Sở Duyên Duyên. Tức là tâm và tâm sở
pháp nương vào duyên mà sanh, vẫn là sự duyên lự của
tự tâm, cho nên gọi là Duyên Duyên.
4)
Tăng Thượng Duyên (增上缘) chính là căn và trần kết hợp mà phát sanh ra thức, có lực dụng tăng
thượng. Khi các pháp sanh, nó chẳng sanh ra chướng
ngại. V́ thế gọi là Tăng Thượng Duyên.
“Thạch điệt” (石蛭) là động vật thân mềm thuộc
loại đỉa, đỉnh đầu nó có bốn cặp
mắt, thường nương vào kẽ hở giữa các
tảng đá hoặc những miếng ngói bên sông. Khi có người
ở trong nước, nó bám vào thân thể họ để
hút máu người mà người ta chẳng hay biết. “Cam đao cát” (甘刀割) tức là cam tâm t́nh nguyện bị đao
cắt sẽ chẳng cảm thấy đau. Như trong bài
Chánh Khí Ca của Văn Thiên Tường có đoạn: “Đảnh
hoạch cam như di, cầu chi bất khả đắc”[6], há c̣n hay biết đau khổ nữa
chăng?
Do
điều này có thể biết: Sở dĩ chư Phật
có thể thành tựu ư nghiệp b́nh đẳng rốt ráo, chẳng phải là do có khẩu quyết
thần bí chi cả! Tức là do [các Ngài] có thể quán hết
thảy các pháp đều sanh bởi nhân duyên, bản thể của chúng là vô sanh, ngộ nhập pháp
nào cũng đều là tánh Không rốt ráo b́nh đẳng,
chuyển sáu thức hư vọng phân biệt thành Diệu
Quán Sát Trí chẳng có phân biệt. Do có trí ấy, bèn có thể
xa ĺa khái niệm phân chia thành hai cực đối đăi là “ngă” và “ngă sở” trong vọng thức,
khế nhập Chân Như thuần nhất, chuyển cái thức
thứ bảy tức Chấp Ngă Thức (Mạt Na Thức)
thành B́nh Đẳng Tánh Trí. Đó gọi là “ư nghiệp b́nh
đẳng”. Đă có ư nghiệp b́nh
đẳng ấy, Đại Viên [Kính Trí], Vô Cấu Thức vốn sẵn có đồng thời phát khởi, chiếu
trọn khắp các quốc độ nhiều như vi trần.
Cũng giống như vậy, pháp môn Tịnh Độ cũng
là chánh quán trọn khắp hết thảy các sự trang nghiêm
trong cơi ấy đều sanh bởi nhân duyên. Sanh mà vô sanh,
ngộ nhập Đệ Nhất Nghĩa Đế, chẳng
thuộc vào diệu cảnh giới đối đăi Nhị
Biên, tức là Nhất Chân pháp giới b́nh đẳng “chẳng phải không, chẳng phải
bất không”, sẽ thành tựu vô lượng thanh tịnh b́nh
đẳng giác (tức ư nghiệp của Như Lai) rốt
ráo. V́ thế học Phật, ắt trước hết là phải từ chánh quán pháp nhân duyên mà thông đạt “duyên khởi
tánh Không, tánh Không duyên khởi”, kiến lập viên dung Nhị Đế
(Chân Đế và Tục Đế) và chánh kiến nhất
tâm nhị môn. Thường nói là: “Tuy biết các cơi Phật, và chúng sanh là Không, nhưng
thường tu Tịnh Độ, lợi ích các chúng sanh”. Nương vào chánh kiến Nhị Đế
vô ngại, từ tùy thuận nhân duyên mà đối với các
pháp sanh ra lẫn nhau, bèn sáng tạo và hoàn thành hết thảy
Bồ Tát đạo “thượng
cầu, hạ hóa”, bèn có thể thành Phật. Như kinh Tạp A Hàm đă dạy: “Kiến duyên
khởi tức kiến pháp, kiến pháp (tánh Không) tức kiến
Phật” (Thấy duyên khởi chính là thấy
Pháp. Thấy pháp
(tánh Không) chính là thấy Phật).
Do có chánh quán phân biệt (duyên khởi) mà nhập chánh tánh vô
phân biệt (tánh Không). Đấy là đường lối
chung trong học Phật.
(Chú) Vấn viết:
Tâm nhập Thật Tướng, khả linh vô tri, vân hà đắc
hữu Nhất Thiết Chủng Trí da? Đáp viết: Phàm
tâm hữu tri, tắc hữu sở bất tri. Thánh tâm vô tri,
cố vô sở bất tri. Vô tri nhi tri, tri tức vô tri dă. Vấn
viết: Kư ngôn vô tri, cố vô sở bất tri. Nhược vô sở
bất tri giả, khởi bất thị tri chủng chủng
pháp da? Kư tri chủng chủng chi pháp, phục vân hà ngôn “vô sở
phân biệt” da? Đáp viết: Chư pháp chủng chủng
tướng, giai như huyễn hóa, nhiên huyễn hóa tượng
mă, phi vô trường cảnh tỵ thủ túc dị, nhi trí
giả quán chi, khởi ngôn định hữu tượng mă
phân biệt chi da?
()問曰。心入實相。可令無知。云何得有一切種智耶。答曰。凡心有知。則有所不知。聖心無知。故無所不知。無知而知。知即無知也。問曰。既言無知。故無所不知。若無所不知者。豈不是知種種法耶。既知種種之法。復云何言。無所分別耶。答曰。諸法種種相皆如幻化。然幻化象馬。非無長頸鼻首足異。而智者觀之。豈言定有象馬分別之耶。
(Chú: Hỏi: Tâm nhập Thật Tướng th́
có thể khiến cho nó vô tri, cớ sao lại có Nhất Thiết
Chủng Trí vậy? Đáp: Hễ tâm có biết th́ sẽ có cái chẳng
biết. Thánh tâm vô tri, cho nên không ǵ chẳng biết. Không biết
mà biết, biết tức là không biết. Hỏi: Đă nói là vô tri, cho nên không ǵ
chẳng biết. Nếu là “không ǵ chẳng biết”, há chẳng
phải là biết đủ mọi pháp ư? Đă biết
đủ mọi pháp, sao lại c̣n nói “chẳng có ǵ
phân biệt”? Đáp:
Những thứ tướng của các pháp đều như
huyễn hóa, nhưng voi, ngựa hư
huyễn biến hóa ra, không con nào chẳng có cổ dài, mũi,
đầu, chân sai khác, nhưng bậc trí quan sát, há có nói nhất định là có voi
hay ngựa phân biệt ư?)
Lời
vấn đáp trong phần trước nhằm nói rơ “chẳng
dựa theo Thế Tục Đế (chánh quán các pháp sanh bởi nhân duyên), sẽ chẳng
đắc Đệ Nhất Nghĩa Đế (chẳng
phải là tri, chẳng phải là vô tri)”. C̣n hai tầng vấn
đáp ở đây nhằm chỉ rơ “thánh tâm vô tri” (nương theo nghĩa Không, chẳng phân biệt),
cho nên không ǵ chẳng biết (hết thảy các pháp đều
trở thành có phân biệt). Đấy chính là yếu chỉ
(ư chỉ trọng yếu) trong bộ Trung Quán Luận do Long
Thọ Bồ Tát trước tác, chỉ có người
đă ngộ nhập Thật Tướng của nhất tâm
nhị môn th́ mới có thể thẳng thừng gánh vác chuyện này, thành tựu ư nghiệp b́nh đẳng của Như
Lai, cũng gọi là Nhất Thiết Chủng Trí. Tâm của
bọn phàm phu đều là xử sự bằng thức tâm
hư vọng phân biệt, toàn là nương theo nhân, cậy
vào duyên mà sanh. Nhân duyên ḥa hợp, sẽ sanh khởi ngay tại
đó; nhân duyên chia
ĺa, sẽ ngay lập tức diệt
tận ngay tại đó. Do vậy, nói theo thời gian, sẽ
có lúc là biết, sẽ có lúc không biết. Nói theo không gian, ở
chỗ này sẽ biết vật này, tại chỗ kia sẽ chẳng biết vật kia. Phật,
Bồ Tát đă ngộ chứng Thật Tướng của
nhất tâm, sẽ chẳng giống như phàm phu. Tâm các Ngài
tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch.
Tịch là Chân Như Môn, Chiếu là Sanh Diệt Môn. Nhất tâm nhị môn, Tịch và Chiếu
đồng thời, chẳng phải là nương vào nhân dựa
vào duyên mà sanh. Cổ nhân h́nh dung là “linh quang độc chiếu, huưnh thoát căn trần” (linh quang riêng chiếu, vượt thoát
căn trần), hoặc “vạn
lư t́nh không, nhất luân minh nguyệt” (trời quang vạn dặm, một vầng
trăng sáng). Giống như tấm gương sáng sạch,
hễ đối diện sẽ hiện h́nh bóng. Khi vật
đến [soi bóng vào gương] th́ hiện ra rành rẽ
phân minh; khi nó rời đi, chẳng để lại dấu
vết. Chẳng lúc nào, không có vật nào mà chẳng chiếu, chẳng giống
như gỗ, đá vô tri. Lại như vàng đă tinh luyện
mềm mại, thuận theo ư người mà chế thành các
món vật. Gương và vàng có thể ví như vô tri, h́nh ảnh
khuôn mặt và các món vật ví như “không ǵ chẳng biết”.
Cái trước là Chân Như Môn, cái sau là Sanh Diệt Môn, nhất
tâm nhị môn, pháp vốn đồng thời. “Biết” và “không biết” cũng giống như thế. Không biết mà biết,
chẳng phải là tự nhiên. Biết chính là không biết,
chẳng phải là nhân duyên. Thật Tướng của nhất
tâm vốn là như thế đó.
Phật
chứng đắc nhất tâm nhị môn, chẳng rời đạo
tràng (Chân Như Môn) ứng hiện trọn khắp mười
phương (Sanh Diệt Môn), như trống trời tự
vang ra tiếng, chẳng phân biệt mà không ǵ chẳng biết.
Như Trung Luận đă nói: “Pháp được sanh bởi nhân duyên, ta nói chính là Không”. Do vậy, trong cái nh́n của Phật,
Bồ Tát, các thứ tướng, các thứ danh của các
pháp đều như huyễn, như hóa, chẳng thể phân
biệt hoặc chấp là thật sự có. Đó gọi là
Không Quán. Các pháp huyễn hóa xác thực là có tướng và dụng
sai biệt được sanh bởi nhân duyên, như voi, ngựa,
trâu, dê v.v… mỗi loài đều có h́nh mạo khác nhau, bất
quá chớ nên chấp trước pháp tướng sanh diệt,
cho là thật sự có tự tánh độc lập bất
biến. Biết chúng chỉ là tướng trạng giả
ḥa hợp nhất thời, là những danh tướng giả lập mà gọi là “voi, ngựa, trâu, dê”. Liễu đạt tướng Không của
các pháp chẳng sanh, chẳng diệt,
chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng tăng, chẳng
giảm, chẳng thể phân biệt!
2.2.2.2.3.2.1.2.2.5. Đại
chúng công đức
(Luận) Hà giả trang nghiêm đại chúng
công đức thành tựu? Kệ ngôn: “Thiên nhân bất động
chúng, thanh tịnh trí hải sanh” cố.
(論)何者莊嚴大眾功德成就。偈言。天人不動眾。清淨智海生故。
(Luận:
Thế nào là trang nghiêm đại chúng công đức
thành tựu? Kệ rằng: “Chúng trời người bất
động, biển trí thanh tịnh sanh”).
Nói thông thường,
do phước nghiệp mà sanh làm trời hoặc người,
do ác nghiệp bèn sanh trong tam đồ, bất động
nghiệp th́ sanh trong Sắc Giới Thiên hoặc Vô Sắc
Giới Thiên. Nhưng trời người trong cơi Cực Lạc
chẳng phải do bất động nghiệp mà sanh, mà là
do nương vào bổn nguyện và trí hải của A Di
Đà Phật mà sanh. Như trẻ mồ côi vào cô nhi viện,
căn bản là phải nương cậy nhà từ thiện
sáng lập cô nhi viện th́ trẻ mồ côi mới được
vào viện. Chúng sanh văng sanh Tịnh Độ, giống như
trẻ mồ côi vào viện. Nếu không có bổn nguyện
và trí huệ của A Di Đà Phật thành lập Tịnh
Độ, chúng sanh muốn sanh về Tịnh Độ cũng
chẳng thể được! V́ thế nói là “thanh tịnh
trí hải sanh” (sanh từ biển trí thanh tịnh).
2.2.2.2.3.2.1.2.2.6. Thượng
thủ công đức
(Luận) Hà giả trang nghiêm thượng thủ
công đức thành tựu? Kệ ngôn: “Như Tu Di sơn vương,
thắng diệu vô quá giả” cố.
(論)何者莊嚴上首功德成就。偈言。如須彌山王。勝妙無過者故。
(Luận:
Trang nghiêm thượng thủ công đức thành tựu
là như thế nào? Kệ nói: “Như núi chúa Tu Di, thắng
diệu không ǵ hơn”).
Bậc
thượng thủ ở đây chính là nói đến bậc
Đại Thừa Đẳng Giác Bồ Tát như Quán Âm,
Thế Chí, xác thực là thù thắng nhiệm mầu không có
ai vượt trỗi được!
2.2.2.2.3.2.1.2.2.7. Chủ
công đức
(Luận) Hà giả trang nghiêm chủ công
đức thành tựu? Kệ ngôn: “Thiên nhân trượng phu
chúng, cung kính nhiễu chiêm ngưỡng” cố.
(Luận:
Trang nghiêm chủ công đức thành tựu là ǵ? Kệ
nói: “Chúng trượng phu trời người, cung kính nhiễu
chiêm ngưỡng”).
Phần
trước là từ Chủ (đấng giáo hóa chủ) mà
hiển lộ đại chúng, nay th́ từ đại chúng
mà hiển lộ Chủ, tức là Chủ Bạn Viên Dung Cụ
Đức Môn. Thế giới Cực Lạc chẳng có nữ
nhân, v́ thế nói là “thiên nhân trượng phu chúng”. “Cung
kính nhiễu chiêm ngưỡng” tức là như hạc đứng
giữa bầy gà, sự đặc biệt thù thắng hiển lộ trọn vẹn.
2.2.2.2.3.2.1.2.2.8. Bất
hư tác trụ tŕ công đức
(Luận) Hà giả trang nghiêm bất hư tác
trụ tŕ công đức thành tựu? Kệ ngôn: “Quán Phật
bổn nguyện lực, ngộ vô không quá giả, năng
linh tốc măn túc, công đức đại bảo hải”
cố.
(Chú) Bất hư tác trụ tŕ công đức
thành tựu giả, cái thị A Di Đà Như Lai bổn nguyện
lực dă. Kim đương lược thị hư tác chi
tướng bất năng trụ tŕ, dụng hiển bỉ
bất hư tác trụ tŕ chi nghĩa. Nhân hữu chuyết
xan dưỡng sĩ, hoặc hấn khởi châu trung, tích
kim doanh khố, nhi bất miễn ngạ tử, như tư
chi sự, xúc mục giai thị. Đắc phi tác đắc,
tại phi thủ tại, giai do hư vọng nghiệp tác,
bất năng trụ tŕ dă.
(論)何者莊嚴不虛作住持功德成就。偈言。觀佛本願力。遇無空過者。能令速滿足。功德大寶海故。
()不虛作住持功德成就者。蓋是阿彌陀如來本願力也。今當略示。虛作之相。不能住持。用顯彼不虛作住持之義。人有輟餐養士。或釁起舟中。積金盈庫。而不免餓死。如斯之事。觸目皆是。得非作得。在非守在。皆由虛妄業作。不能住持也。
(Luận:
Trang nghiêm công đức trụ tŕ chẳng uổng công
thực hiện là như thế nào? Kệ nói: “Quán sức
bổn nguyện Phật, gặp gỡ chẳng luống uổng,
hay mau chóng thỏa măn, biển báu công đức lớn”.
Chú: “Thành tựu
công đức trụ tŕ chẳng uổng công thực hiện”
là do sức bổn nguyện của A Di Đà Như Lai. Nay
phô bày đại lược tướng uổng công thực
hiện mà chẳng thể trụ tŕ nhằm hiển thị
ư nghĩa “chẳng uổng công thực hiện trụ tŕ”.
Như có người bớt ăn để nuôi kẻ sĩ
[đói rách], hoặc trong thuyền sanh chuyện, chất chứa
vàng đầy kho mà chẳng thể tránh khỏi bị chết
đói. Những chuyện như vậy đâu đâu cũng
thấy. Đạt được do hành vi không chánh đáng,
tồn tại cái chẳng đáng nên tồn tại, đều
là do nghiệp hư vọng mà làm ra, chẳng thể trụ
tŕ vậy).
Đoạn
này chính là quan sát A Di Đà Phật thành tựu công đức
chẳng uổng công thực hiện trụ tŕ, chính là v́ khi
tu nhân, Pháp Tạng Bồ Tát đă phát ra bốn mươi
tám đại nguyện, nguyện nào cũng đều thành
tựu viên măn, tức là công đức của Di Đà bổn
nguyện lực đă thành tựu. Có thể nói: Sức bổn
nguyện công đức ấy chính là cái nhân cơ bản để
thành tựu công đức của hết thảy y báo và chánh
báo trang nghiêm trong quốc độ An Lạc. Nếu không có
sức bổn nguyện công đức, sẽ chẳng có
thân Phật A Di Đà, Tịnh
Độ, Bồ Tát quyến thuộc, và chẳng
đạt được lợi ích ba bậc văng sanh. Do vậy,
lời kệ nói: “Quán Phật bổn nguyện lực, ngộ
vô không quá giả, năng linh tốc măn túc, công đức
đại bảo hải” (Quán sức bổn nguyện Phật,
gặp gỡ chẳng luống uổng, hay mau chóng thỏa
măn, biển báu công đức lớn). Những ǵ là tướng
trạng của “hư tác” (uổng công thực hiện)
và “trụ tŕ”? Ngài Đàm Loan nêu đại lược
hai chuyện để thuyết minh:
1) Một là có kẻ
do thiện tâm hữu lậu bớt ăn bớt mặc để
cứu giúp những hàn sĩ bần cùng, nhưng thiện tâm
mà chẳng được báo đáp tốt đẹp, gặp
phải những tai họa ngoài ư muốn khiến cho khuynh
gia bại sản. “Chuyết” (輟) có nghĩa là “ngưng
nghỉ”. “Chuyết xan” (輟餐) là bớt
ăn, khắc khổ, “dưỡng sĩ” (養士) là thí xả ḥng
làm lợi người khác. Thiện nhân như vậy cũng
có thể gặp phải ác báo chẳng đáng nên có. Như
thuyền ở trong nước chẳng nên có hỏa tai, nhưng
bỗng dưng thuyền bị bốc cháy dữ dội,
cháy rụi. V́ thế nói là “hấn khởi châu trung”
(trong thuyền sanh chuyện). Đấy là tạo nhân lành mà
chẳng có quả lành, gọi là “hư tác”.
2) Một chuyện
khác là ví như có kẻ tích cóp
vàng bạc, của báu đầy ắp kho đụn, rồi
gặp phải năm đói kém, ngũ cốc chẳng thâu
hoạch được, khó tránh khỏi đói khát mà chết!
Những chuyện
giống như vậy có thể nói là xưa nay, trong ngoài nước
đều có. Cái đạt được chẳng phải
là do theo đường lối chánh đáng để thực
hiện mà có được, chỉ là cơ duyên ngẫu
nhiên, do đă tạo nghiệp nhân hư vọng chẳng chân
thật mà đạt được, nên gọi là “đắc
phi tác đắc” (cái đạt được là do chẳng
thực hiện chánh đáng mà có), tức là “hư tác”
(thực hiện hư vọng). Đă là “hư tác”, sẽ
chẳng thể “trụ tŕ” (duy tŕ) cái nhân lành ḥng quyết
định đạt được quả lành. Nhân quả
phù hợp với nhau sẽ chẳng bị mê mất, v́ thế
gọi là “tại phi thủ tại” (tồn tại cái
quả chẳng đáng nên có), tức là chẳng thể trụ
tŕ. Dùng những sự thật nhân quả hư vọng
trong thế gian để hiển hiện ngược lại
sức bổn nguyện công đức của A Di Đà Phật
trải qua vô lượng kiếp, tu vô lượng Bồ
Tát hạnh, thành tựu công đức chân thật chẳng
hư huyễn, quyết định có thể trụ tŕ cái
nhân như thế và cái quả như thế, chẳng phải
là “đắc phi tác đắc, tại phi thủ tại”
(đạt được cái chẳng do thực hiện
chánh đáng, tồn tại cái chẳng đáng nên tồn tại),
chẳng có khuyết điểm “hư tác trụ tŕ”.
(Chú) Sở ngôn
“bất
hư tác trụ tŕ” giả,
y bổn Pháp Tạng Bồ Tát tứ thập bát nguyện,
kim nhật A Di Đà Như Lai tự tại thần lực,
nguyện dĩ thành lực, lực dĩ tựu nguyện,
nguyện bất đồ nhiên, lực bất hư thiết,
lực nguyện tương phù, tất cánh bất sai. Cố
viết “thành tựu”.
()所言不虛作住持者。依本法藏菩薩四十八願。今日阿彌陀如來自在神力。願以成力。力以就願。願不徒然。力不虛設。力願相符。畢竟不差。故曰成就。
(Chú: Nói “bất
hư tác trụ tŕ”: Vốn dựa vào bốn mươi tám
nguyện của Pháp Tạng Bồ Tát và thần lực tự
tại của A Di Đà Như Lai trong hiện thời, nguyện
nhằm thành tựu lực, lực để đáp ứng
nguyện. Nguyện chẳng phí uổng, lực chẳng lập
bày hư giả, nguyện và lực phù hợp nhau, rốt
ráo chẳng sai sót. V́ thế nói là “thành tựu”).
Chúng ta phải thiết
thực liễu tri: “Chánh giác A Di Đà, pháp vương
thiện trụ tŕ” là “bất hư tác trụ tŕ”.
Sở dĩ có thể khéo trụ tŕ, có thể chẳng uổng
công thực hiện, chính là do bổn nguyện trong khi tu nhân
và thần lực nơi quả địa của Vô Lượng
Thọ Phật. Nhân quả như thế, không ǵ
chẳng phải là “nhân bao trùm biển quả, quả thấu
triệt nguồn nhân”. Nương vào bổn nguyện để
thành tựu thần lực, dùng thần lực để đáp
đền bổn nguyện. Bổn nguyện là nhân; có nhân ắt
có quả. V́ thế, có thần lực tự tại, cho nên
nói “bất đồ nhiên” (chẳng phí uổng). Thần
lực là quả, quả do nhân thành, thần lực do bổn
nguyện mà có, v́ thế nói “bất hư thiết” (chẳng
lập bày hư giả). Bổn nguyện và thần lực
rốt ráo là nhân và quả phù hợp lẫn nhau chẳng sai
chạy. Do cái nhân như thế mà đạt được
cái quả như thế, v́ thế nói là “thành tựu”.
Do điều này có
thể biết: Sở dĩ A Di Đà Phật có thể “bất
hư tác trụ tŕ” hoàn toàn là do khi tu nhân, Ngài đă
phát ra bốn mươi tám đại nguyện, cho nên có thể
có thần lực tự tại như vậy, khéo léo trụ
tŕ tam thế gian, khiến cho chánh pháp chẳng mất đi,
chẳng biến đổi, chúng sanh ĺa khổ được
vui, cùng được thành Phật. Nói theo khí thế gian th́
do nguyện thứ hai mươi bảy và hai mươi tám
trong bổn nguyện mà thành tựu sự nhiệm mầu
thù thắng, do nguyện thứ ba mươi hai mà thành tựu
trang nghiêm, do nguyện thứ ba mươi mốt mà thành tựu
sự sáng sạch. Nương theo sự “trang nghiêm, sáng sạch,
thù thắng nhiệm mầu” ấy mà có mười bảy
thứ trang nghiêm công đức thành tựu trong quốc
độ An Lạc. Nói theo chánh giác thế
gian th́ do nguyện thứ mười hai “thành tựu vô lượng
quang”, nguyện thứ mười ba “thành tựu vô lượng
thọ”, nguyện thứ mười bảy “thành tựu
chư Phật ca ngợi, tán thán” trong bổn nguyện,
nương theo công đức thù thắng “vô lượng
thọ, vô lượng quang” mà triển khai thành tám thứ
trang nghiêm công đức thành tựu.
Nói theo hữu t́nh
thế gian th́ do công đức của bốn mươi mốt nguyện kia[7]
trong bổn nguyện mà thành tựu: “Hóa xứ” (Chỗ giáo hóa của đức Phật) bao gồm trọn
khắp chúng sanh trong bổn độ (tức An Lạc quốc),
mười phương và thế giới Sa Bà. “Hóa chúng”
(Đại chúng được giáo hóa) sẽ bao gồm trời,
người, phàm phu, Nhị Thừa, Bồ Tát, nam, nữ,
già, trẻ. “Hóa pháp” th́ tam luân (tam nghiệp) thí hóa, nhất
là dùng Phật danh và Phật quang để rộng làm Phật
sự lợi ích chúng sanh. “Hóa quả” là ḷng đại từ có thể ban hết thảy các sự vui, đại bi
có thể dẹp hết thảy các khổ, đều khiến
cho họ thành Phật. Luận này lấy quan sát bốn thứ
chánh tu hành trang nghiêm công đức thành tựu của các vị
Bồ Tát trong cơi ấy làm tánh chất đại biểu.
Chánh giác thế gian và hữu t́nh thế gian đều là
chúng sanh thế gian. V́ thế, trong phần sau của bộ
luận này có viết: “Thử thanh tịnh hữu nhị
chủng, nhất giả khí thế gian thanh tịnh, nhị
giả chúng sanh thế gian thanh tịnh. Khí thế gian thanh
tịnh giả, như hướng thuyết thập thất
chủng trang nghiêm Phật độ công đức thành tựu.
Chúng sanh thế gian thanh tịnh giả, như hướng
thuyết bát chủng trang nghiêm Phật công đức thành
tựu, tứ chủng trang nghiêm Bồ Tát công đức
thành tựu” (Sự thanh tịnh ấy có hai loại: Một
là khí thế gian thanh tịnh, hai là chúng sanh thế gian thanh
tịnh. Khí thế gian thanh tịnh là mười bảy thứ
trang nghiêm cơi Phật công đức thành tựu như
đă nói trên đây. Chúng sanh thế gian thanh tịnh là tám thứ
trang nghiêm Phật công đức thành tựu và bốn thứ
trang nghiêm Bồ Tát công đức thành tựu như đă
nói trên đây).
Bốn mươi
tám đại nguyện ấy là do Pháp Tạng Bồ Tát xứng
tánh phát ra, không nguyện nào chẳng phải là công đức
vốn sẵn có trong tâm tánh. Tâm tánh b́nh đẳng, cho nên
công đức b́nh đẳng, tổng cộng có ba trọng
điểm:
1) Hễ là chúng sanh
sanh trong Cực Lạc Tịnh Độ của A Di Đà
Phật, ai nấy đều sẽ đúng là như thế,
tức là “Đại Thừa thiện căn giới,
b́nh đẳng, không có danh xưng đáng bị chê gièm”,
hoàn toàn b́nh đẳng.
2) Kẻ muốn
sanh về cơi Phật ấy, chỉ cần chí tâm tin ưa,
trọn đủ tín, nguyện, niệm, hạnh, xưng
niệm A Di Đà Phật liền có thể được
Phật tiếp dẫn văng sanh cơi ấy. Dẫu chỉ một
niệm hay mười niệm, cũng có thể được
văng sanh. Hễ văng sanh bèn bất thoái, rốt ráo thành Phật,
cũng là hoàn toàn b́nh đẳng.
3) Dùng danh hiệu
chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật để
nhiếp hóa chúng sanh trong chín pháp giới, khiến cho họ
được gặp gỡ (nghe danh), sẽ đều
chẳng luống uổng, có thể mau chóng thỏa măn hết
thảy nguyện cầu công đức thế gian và xuất
thế gian, như ĺa khổ được vui, liễu
sanh thoát tử, cho đến tam thân, tứ trí, ngũ nhăn,
lục thông v.v… rốt ráo cùng chứng b́nh đẳng Pháp Thân,
không một ai chẳng thành Phật. Do vậy, bài kệ tán
Phật thông dụng có đoạn: “Quang trung hóa Phật
vô số ức, hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên. Tứ thập
bát nguyện độ chúng sanh, cửu phẩm hàm linh
đăng bỉ ngạn”. Tất cả công đức
tự lợi và lợi tha hoàn toàn nương vào danh hiệu
chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật và bổn
nguyện nơi nhân địa, cũng như thần lực
nơi quả địa của Phật, th́ mới có thể
tự độ, độ người khác như thế,
phổ độ hữu t́nh đều cùng thành Phật. Kẻ
được gặp gỡ, chắc chắn chẳng luống
uổng, v́ thế nói là “bất hư tác trụ tŕ”.
Do vậy, cổ đức đă tán thán như sau: “Di
Đà nghĩa vô cùng, mặc hải bất năng tả”
(Di Đà nghĩa chẳng cùng, biển mực
không viết xuể), “thập phương tam thế Phật,
A Di Đà đệ nhất” (mười phương ba đời Phật,
A Di Đà bậc nhất). Danh hiệu và bổn nguyện của
A Di Đà Phật đích xác là quá vi diệu chẳng
thể nghĩ bàn!
Vô Lượng
Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Chú Giải Giảng Nghĩa
phần
7 hết
[1] Sông Truy c̣n gọi là Truy Thủy,
thượng nguồn gồm có bốn nhánh sông Thạch Mă,
Nam Bác Sơn, Hạ Trang, và Tŕ Thượng. Sông Thạch Mă là
nguồn chính của sông Truy. Sông bắt nguồn từ huyện
Lai Vu của thành phố Tế Nam (tỉnh Sơn Đông).
Sông chảy từ Tây sang Đông, dài đến 155 km,
lưu vực rộng hơn 1.500 km2. Kinh đô Lâm Truy của
nước Tề thời cổ đă được
đặt tên theo con sông này.
Sông Thằng c̣n gọi
là Thằng Thủy hoặc Thằng Tŕ, chảy từ Nam
lên Bắc, phát nguyên từ huyện Lâm Truy tỉnh Sơn
Đông, nhỏ hơn sông Truy rất nhiều.
Sông chảy
đến phía Nam huyện Thanh Trang chia làm hai nhánh, nhánh Bắc
đổ vào huyện Bác Học vẫn gọi là Thằng
Thủy, nhánh phía Nam chảy qua huyện Ngô Đài, nhập
lưu với Họa Thủy, đổi tên thành Hệ Thủy.
[2]
Tầm (尋)
là một trong năm mươi mốt Tâm Sở Pháp, như
Đại Thừa Quảng Ngũ Uẩn Luận đă giải
thích: “Tầm là như thế nào? Tức là đối với
Tư và Huệ sai khác, ư ngôn t́m cầu, có tánh chất khiến
cho cái tâm phân biệt thô tướng”. Tứ (伺) cũng là một
Tâm Sở Pháp, Đại Thừa Quảng Ngũ Uẩn Luận
giảng: “Tứ là như thế nào? Chính là Ư Thức
xét nét sự khác biệt giữa Tư và Huệ, khiến
cho cái tâm có tánh chất phân biệt tướng vi tế”. Nói đơn giản,
Tầm và Tứ là công năng suy xét, truy t́m bản chất
sự vật từ nơi h́nh tướng của chúng,
nhưng một đằng th́ chú trọng nơi thô tướng,
một đằng th́ chuyên chú nơi tế tướng
(tướng vi tế).
[3] “Ảnh
tượng cảnh” là h́nh ảnh của sự vật
hoặc sắc pháp được Nhăn Thức nhận biết,
lưu giữ trong thức thứ tám (A Lại Da thức).
[4]
Tán Thiện và Định Thiện là hai thứ thiện do
ngài Thiện Đạo chủ trương khi chú giải
Quán Kinh. Định Thiện là những điều thiện
do tu tập bằng Định Tâm, c̣n Tán Thiện là bỏ
ác tu thiện, dùng tán tâm để tu thiện.
[5] “Phục
đoạn” là có thể chế ngự, giằn ép phiền
năo chẳng cho chúng dấy lên hiện hành, chưa thật sự
đoạn trừ được chúng, tức là “công phu
thành phiến”.
[6] “Đảnh hoạch” (鼎鑊) tức là cái vạc đồng to
để đun nấu. Cách tra tấn tù nhân ngày xưa th́ hoặc là nấu dầu sôi
rưới lên tội nhân, hoặc bỏ vào vạc luộc
cho đến chết. V́ thế, từ ngữ “đảnh
hoạch” dùng để chỉ các cực h́nh tàn khốc
hoặc xử tử. Theo các nhà chú giải, hai câu “đảnh hoạch
cam như di, cầu chi bất khả đắc” có nghĩa là: “Xem mọi thứ cực h́nh tra tấn
đều ngọt ngào như đường, ḷng ta mong
tưởng mà dễ ǵ đạt được!”
[7] Tức
là trừ bảy nguyện gồm bốn nguyện thành tựu
khí thế gian (nguyện thứ
hai mươi bảy, hai mươi tám, ba mươi mốt,
ba mươi hai) và ba nguyện thành tựu chánh giác thế
gian (nguyện thứ mười hai, mười ba và mười
bảy), bốn mươi mốt nguyện c̣n lại đều là thành tựu hữu t́nh thế gian.