Lư Luận và Sự Thật của Nhân Quả
Ḥa Thượng Tịnh Không giảng tại Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội,
Hương Cảng (7-17-2004) Hồ sơ số 19-18
Chư vị đồng tu đại đức,
Đề tài của buổi giảng hôm nay là nhằm giới thiệu bức tranh ‘Địa Ngục Biến Tướng Đồ’, c̣n có tên là ‘Thập Vương Đồ’, do lăo sư Giang Dật Tử vẽ tại Đài Trung, hiện nay đang được triển lăm tại Kinh Đô, Nhật Bản. Bức tranh này chẳng dám nói là tuyệt hậu, nhưng đích thật là từ trước đến nay chưa từng có. Bức tranh gốc được triển lăm tại đây cao sáu tấc sáu (66cm) và dài sáu chục thước, thiệt là một sáng tác vĩ đại. Giang lăo sư mời tôi giải thích với mọi người trong buổi triển lăm này, bài thuyết minh đă được in ra, tôi nghĩ dùng bài viết này phối hợp với bức tranh để thuyết minh, vậy th́ cũng đầy đủ. Thế th́ tôi cần giới thiệu cho quư vị ư nghĩa giáo dục của bức tranh này ở tại chỗ nào? Điểm này vô cùng quan trọng.
Những năm đầu Dân Quốc, Tổ thứ mười ba của Tịnh Độ Tông là Ấn Quang đại pháp sư, hầu như Ngài đă dùng toàn bộ tinh thần và sức lực trong suốt đời để hoằng dương giáo dục Nhân Quả. Năm 1977 lần đầu tiên tôi đáp lời mời của pháp sư Thánh Hoài và cư sĩ Tạ Đạo Liên đến Hương Cảng giảng kinh Lăng Nghiêm. Năm đó chúng tôi giảng hết hai tháng tại Trung Hoa Phật Giáo Đồ Thư Quán, Cửu Long, hai tháng này có phiên dịch sang tiếng Quảng Đông. Sau đó là giảng tại Quang Minh Giảng Đường của Thọ Dă lăo ḥa thượng ở đường Lam Đường, Hương Cảng, cũng giảng hết hai tháng, mọi người đều nghe quen rồi nên chẳng cần phiên dịch, nhờ vậy nên chúng tôi đỡ tốn rất nhiều thời giờ. Tại Trung Hoa Phật Giáo Đồ Thư Quán tôi xem kinh luận và những sách tốt do Hoằng Hóa Xă của Ấn Tổ phát hành, tôi khá quen thuộc với Hoằng Hóa Xă, tôi đă thỉnh không ít tài liệu tham khảo nhưng cũng không đầy đủ bằng những cuốn tàng trữ tại Đồ Thư Quán, tôi hầu như đă xem hết v́ những sách do Hoằng Hóa Xă in có thể nói là những sách tốt trong những năm gần đây. Tiêu chuẩn của sách tốt là chữ sai ít, sách in rất đẹp, có thể làm cho người đọc ưa thích, mỹ quan, những sách tốt này rất quư.
Khi đọc sách tôi có thói quen coi trang ghi bản quyền trước hết, khi coi xong tôi cảm thấy vô cùng ngạc nhiên, Ấn Tổ in những cuốn An Sĩ Toàn Thư, Cảm Ứng Thiên Vựng Biên, Liễu Phàm Tứ Huấn nhiều nhất; tôi thử tính nhẩm số lượng của ba cuốn này cũng phải hơn ba triệu bộ, vào thời đại đó [số lượng] này làm cho người ta vô cùng ngạc nhiên. Lúc đầu tôi cũng chẳng hiểu, một vị Tổ Sư của Tịnh Độ Tông chúng ta [tại sao lại làm như vậy]. Liễu Phàm Tứ Huấn chẳng thuộc sách nhà Phật, chẳng phải là kinh Phật, kể như là sách của Nho giáo; Cảm Ứng Thiên và Âm Chất Văn thuộc Đạo Giáo; ngoài An Sĩ Toàn Thư c̣n hai thiên Vạn Thiện Tiên Tư, Dục Hải Hồi Cuồng; hai thiên này chuyên giảng về Kiêng Sát, Kiêng Dâm; Thiên cuối cùng là Tây Quy Trực Chỉ nhằm khuyên người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ; [Tại sao ngài] in [những sách này] nhiều như vậy? Tôi nghĩ suốt mấy ngày mới hiểu được dụng ư khổ nhọc của Tổ sư.
Muốn cứu văn xă hội hiện nay, năm nay cách năm bảy mươi bảy đă hai mươi năm, trải qua khoảng thời gian dài như vậy trong xă hội ngày nay chúng ta thể hội vô cùng rơ ràng, chân chánh biết nếu dùng Phật pháp để cứu văn thế gian, dùng Nho giáo để cứu thế gian th́ không kịp nữa. Cũng vào thập niên bảy mươi, Bác sĩ Thang Ân Tỷ nói với Tŕ Điền Đại Tác ở Nhật Bản rằng trong thế kỷ 21 chỉ có Học thuyết Khổng Mạnh và Phật pháp Đại Thừa mới có thể giải quyết vấn đề xă hội. Lúc ông nói câu này mọi người cảm thấy rất ngạc nhiên, nhưng hai mươi năm sau nh́n thử xă hội hiện nay th́ thiệt đúng như vậy. Chúng ta thử suy nghĩ kỹ xem, Ấn Quang đại sư c̣n cao minh hơn. Phật pháp Đại Thừa và Nho Giáo đích thực có thể giải quyết vấn đề, nhưng hai thứ này quá cao siêu, nếu muốn tu học tối thiểu cũng phải mất mười năm, sau mười năm cái thế giới này biến đổi thành như thế nào ai cũng chẳng dám nói, thế nên Ấn Tổ đặc biệt đề xướng Nhân Quả, chúng ta càng nghĩ th́ càng có đạo lư.
Nếu con người không biết Phật cũng chẳng sao, không biết Nho giáo cũng chẳng sao, thậm chí không tín ngưỡng tôn giáo cũng chẳng sao, chỉ cần họ biết đạo lư và sự thật của Nhân Quả Báo Ứng th́ được rồi. Tại sao vậy? Khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác th́ họ tự nhiên sẽ cân nhắc cẩn thận, được vậy th́ họ có thể cứu ḿnh, cứu nhà ḿnh, cứu xă hội, cứu quốc gia, cứu thế giới, từ đó chúng ta mới chân chánh thể hội được dụng ư khổ nhọc của Tổ Sư. Hết thảy đạo lư thế gian và xuất thế gian không vượt ngoài tâm tánh, hết thảy các sự tướng chẳng ra ngoài nhân quả, cho nên tâm tánh và nhân quả có thể bao gồm hết thảy pháp thế và xuất thế gian. Những năm gần đây, bắt đầu từ năm 1977 tôi rời khỏi Đài Loan, hoằng pháp tại nước ngoài, trạm đầu tiên là ở Hương Cảng, bao nhiêu năm nay đi đến rất nhiều quốc gia, địa phương, tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người trong mọi tầng lớp, mọi ngành nghề, người Trung Quốc, người ngoại quốc cũng rất nhiều. Tôi hỏi họ muốn phát tài không? Muốn chứ, không ai chẳng muốn phát tài cả! Muốn có thông minh trí huệ không? Muốn. Muốn khoẻ mạnh sống lâu không? Muốn chứ. Bất kể quốc tịch chúng ta bất đồng, chủng tộc khác nhau, tín ngưỡng khác nhau, ba thứ kể trên đều là sự ham muốn chung, chẳng có người nào chẳng mong cầu, chẳng nghĩ tưởng đến. Vậy th́ làm sao mới có thể đạt được? Cho nên người ta t́m đủ mọi phương pháp, thủ đoạn, nói tóm lại đều là lợi ḿnh hại người, dùng bất cứ thủ đoạn ǵ cũng v́ muốn đạt được mục đích này. Như vậy là sai lầm, lư và tâm tánh trái ngược nhau, sự và nhân quả trái ngược nhau, có thể mong cầu được chăng? Chẳng được.
Lúc tôi mới học Phật, thầy tôi dạy ‘Trong cửa nhà Phật có cầu ắt ứng’, tôi nghe xong rất vui thích và liền xin thầy dạy phương pháp và đạo lư ấy cho tôi. Bất kể người nào giảng đạo lư và phương pháp ấy, giảng sâu hay cạn, giảng dài hay ngắn, cũng như thiền sư Vân Cốc, thiền sư Trung Phong, đều giống nội dung trong Liễu Phàm Tứ Huấn. Cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn chuyên giảng về lư luận và chân tướng sự thật của Nhân Quả. Chúng tôi đích thân nghe thầy giảng dạy nên có ấn tượng vô cùng sâu sắc; ‘Trong cửa nhà Phật có cầu ắt ứng’, bạn phải hiểu ư nghĩa của chữ ‘Trong cửa nhà Phật’, nếu bạn hiểu sai và nghĩ rằng ‘trong cửa nhà Phật’ có nghĩa là ‘trong chùa miếu’, đi vào chùa miếu để t́m cầu th́ chưa chắc ‘có cầu ắt ứng’. Chùa miếu có phải là ‘trong cửa nhà Phật’ chăng? Có thể nói là phải, cũng có thể nói là không phải, [muốn hiểu] ư nghĩa chân chánh của ‘trong cửa nhà Phật’, bạn phải hiểu Phật nghĩa là ǵ, chữ Phật là dịch âm từ tiếng Phạn ở Ấn Độ, ư nghĩa của ‘Phật’ là trí, là giác. Phật pháp giảng hết thảy pháp đều giảng đến ‘thể, tướng, và dụng’; thể là trí huệ, trí huệ chân thực, dụng là giác mà không mê, nếu bạn hiểu được ư nghĩa này th́ bạn mới hiểu ‘trong cửa nhà Phật’ nghĩa là ǵ? Nghĩa là ‘trong trí huệ, giác ngộ th́ có cầu ắt ứng’, vậy th́ bạn mới hiểu hoàn toàn, trong đó chẳng có mê tín, trí huệ tương ứng với tâm tánh, giác ngộ tương ứng với nhân quả, bạn xem thử bạn muốn hay không? Như vậy là chúng ta đă t́m được chỗ y cứ của lư luận này.
Cho nên ‘trong cửa nhà Phật’ nghĩa là ‘trong trí giác’, phải hiểu điểm này, đây mới thực sự là ‘trong cửa nhà Phật’, tự viện và am đường đều là h́nh tướng, khi xưa Chương Gia đại sư nói với tôi: ‘Phật pháp trọng thực chất, chẳng trọng h́nh thức’, tôi học được từ Ngài, cho nên thực chất th́ cũng từ trong nhà Phật mà đi t́m trí giác, cũng là ư nghĩa chân chánh hàm chứa trong danh từ ‘Phật đà da’. Kinh Đại Thừa dạy chúng ta: ‘Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và đức tướng của Như Lai’, câu này rất hay, câu này là do đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy trong ‘phẩm Xuất Hiện’ của Kinh Hoa Nghiêm. Hết thảy chúng sanh, phạm vi này quá lớn, chúng ta chẳng nói đến phạm vi lớn như vậy, chúng ta chỉ nói đến cơi người th́ dễ hiểu hơn, chúng ta ở trong cơi người, sanh sống trên trái đất này, hiện nay thống kê nhân số trên thế giới đă gần bảy mươi ức (bảy tỷ) người. Chỉ luận về cơi người, chúng ta thâu nhỏ phạm vi của ‘chúng sanh’, trong Phật pháp ‘chúng sanh’ là nói đến chín pháp giới, nếu kể luôn pháp giới Phật th́ là mười pháp giới, trong mười pháp giới chúng ta chỉ nói đến pháp giới người mà thôi, bạn hăy xem ‘đều có trí huệ của Như Lai’. Như Lai nghĩa là ǵ? Kinh Kim Cang nói rất hay: ‘Như Lai giả chư pháp như nghĩa’, ư nghĩa của câu này rất sâu, một giờ đồng hồ cũng giảng không hết, tôi chỉ có thể đề cập thoáng qua. Chúng ta có ‘Giảng Kư kinh Kim Cang’, nếu chư vị có hứng thú th́ hăy nghe thử. Bộ kinh Kim Cang này được giảng hết hai trăm bốn mươi tám giờ đồng hồ, chỉ câu này thôi cũng đă giảng mất mấy giờ, đó chẳng phải là mê tín đâu.
‘Như’ là chân như, là lư, ‘Lai’ là giảng về hiện tướng, nói đến tác dụng. Nếu chúng ta từ ‘thể, tướng, dụng’ mà xét th́ ‘Như’ là nói về lư thể, ‘Lai’ là nói về tướng và tác dụng. Nói theo cách thông thường, minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật trong Thiền Tông th́ những người đă kiến tánh đều có thể xưng họ là Như Lai. Như Lai là một trong mười hiệu của Phật. Mười hiệu này là đức hiệu, vốn đă có sẵn, chỉ cần bạn kiến tánh, danh hiệu này có thể trao cho bạn, đây là đức hiệu đầu tiên trong mười đức hiệu. Nói một cách khác Như Lai tức là chân tánh của bạn, chân tâm của bạn, vốn đă có sẵn vô lượng trí huệ, chẳng khác ǵ với đức Phật Thích Ca, đức Phật A Di Đà, và hết thảy mười phương chư Phật, Phật có trí huệ bao lớn th́ bạn cũng có giống vậy. Bạn xem năm xưa đức Phật Thích Ca Mâu Ni mỗi ngày đều giảng kinh thuyết pháp, giảng hết bốn mươi chín năm, các bạn đều biết chuyện này. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh hơn ba trăm hội, thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, người đời sau ghi chép lại thành kinh điển, hiện nay bộ Đại Tạng Kinh đang lưu thông tại Trung Quốc là do đức Phật Thích Ca giảng đấy, rốt cuộc Ngài đă giảng bao nhiêu bộ kinh? Chúng ta không có cách ǵ để biết v́ kinh điển được truyền đến Trung Quốc chỉ là một phần, chẳng phải toàn bộ.
Thời xưa giao thông bất tiện, hơn nữa lúc đó kinh điển đều được viết bằng tay, lại chẳng có giấy, kinh được viết trên lá của cây ‘Bối đa la’ nên được gọi là ‘kinh lá Bối’, rất cồng kềnh và nặng nề, vô cùng bất tiện. V́ t́nh trạng giao thông như vậy nên khi pháp sư Ấn Độ đến Trung Quốc hay pháp sư Trung Quốc đến Ấn Độ thỉnh kinh đều phải chọn lựa tỉ mỉ, chỉ chọn và chở về những kinh hay nhất, thích hợp với nhu cầu sanh hoạt của người Đông Phương chúng ta. Những kinh khác th́ chẳng có biện pháp nào chở hết nên phải để lại. Thế nên chúng ta biết những kinh điển cả đời đức Thế Tôn giảng quá nhiều, quá nhiều, tôi tin tưởng rằng ít nhất cũng nhiều gấp mười lần bộ Đại Tạng Kinh của chúng ta hiện nay. Cách suy đoán này của tôi chắc cũng không quá đáng lắm đâu. Những ǵ chúng ta được thừa hưởng ngày nay trên số lượng bất quá chỉ là một phần mười của toàn bộ mà thôi. Nhưng Tạng Kinh ngày nay của chúng ta cũng rất khả quan, bạn xem trí huệ ấy bao lớn, chúng ta ai cũng có sẵn trí huệ này, nhưng chúng ta chẳng hiểu những ǵ Phật giảng, tại sao lại như vậy? Trí huệ của chúng ta bị một cái ǵ che phủ, chứ chẳng phải bị mất, chỉ bị che đậy thôi nên trí huệ chẳng thể hiện tiền, cái che đậy là ǵ? Phật dạy đó là phiền năo, Phật nói đến ba thứ: Vô Minh phiền năo, Trần Sa phiền năo, Kiến Tư phiền năo, ba thứ này che kín nên tuy có sẵn trí huệ rốt ráo viên măn nhưng không thể hiển lộ.
Không những trí huệ của bạn vốn sẵn có, mà năng lực, tài năng, tài nghệ, vạn đức vạn năng đều là sẵn có, tuyệt đối chẳng phải do học mà có. Hơn nữa c̣n phước báo, phước báo tức là tướng hảo nói trong kinh, tướng hảo là phước báo, phước báo cũng viên măn. Bạn xem những ǵ bạn mong cầu, thọ mạng trong phước báo, chúng ta muốn được thông minh trí huệ, muốn đa tài đa nghệ, chẳng ǵ là chẳng được, muốn vô lượng vô biên phước báo, Phật nói trong chân tâm bản tánh của bạn hoàn toàn đầy đủ. Thế nên Phật, chư Phật, Bồ Tát chẳng dám khinh lờn một chúng sanh nào cả, tại sao? Các Ngài biết chúng sanh giống hệt như ḿnh, ḿnh có trí huệ bao lớn th́ họ chẳng thua ḿnh, ḿnh có tài cán bao lớn th́ cũng chẳng nhiều hơn người khác. Phước báo của chúng ta đều b́nh đẳng, chỉ là hiện nay tôi có thể dùng được c̣n người kia tuy có nhưng chẳng dùng được, chẳng dùng được là v́ chướng ngại này. Kinh Hoa Nghiêm chẳng dùng những danh từ này, chẳng nói phiền năo, chẳng dùng danh từ Vô Minh, Trần Sa, Kiến Tư phiền năo, những danh từ này được dùng trong rất nhiều kinh điển Đại thừa và Tiểu thừa, kinh Hoa Nghiêm dùng danh từ ‘vọng tưởng và chấp trước’ th́ dễ hiểu hơn. ‘Chỉ v́ vọng tưởng chấp trước mà chẳng thể chứng được’, vọng tưởng chính là Vô Minh phiền năo, chấp trước chính là Kiến Tư phiền năo, trong đó c̣n một thứ đă được giản lược bớt, chỉ nói cái đầu, cái chót, cái chính giữa đương nhiên cũng bao gồm trong ấy, cái chính giữa này là ‘phân biệt’, phân biệt là Trần Sa phiền năo. Phật dạy v́ chúng ta có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên trí huệ vốn sẵn có của chúng ta không thể hiển lộ, đức năng, phước báo của chúng ta chẳng thể hiện tiền.
Nói một cách khác chỉ cần bạn buông bỏ vọng tưởng, phân biệt và chấp trước, buông xả hết th́ trí huệ và đức năng của Như Lai sẽ hiện tiền, là bạn vốn sẵn có. Chúng ta phải biết rơ lư luận và đạo lư này. Nhưng bạn biết vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước chưa đoạn dứt, phước báo hiện nay bạn đang hưởng là do tu tập mà có, chẳng xứng tánh. Đây là của tự tánh, tự tánh chúng ta là b́nh đẳng, những ǵ tu được th́ chẳng b́nh đẳng. Phước báo của chúng sanh trong lục đạo đều là do tu mà được, chẳng phải là trong tự tánh. Phước báo của Tứ Thánh pháp giới có một phần là do tự tánh phát ra, c̣n một phần là do tu mà được, phần tự tánh phát ra cũng chẳng viên măn. Tam Giới đều h́nh thành như vậy, nói chung th́ phải biết phạm vi của Tam Giới này lớn, chẳng phải Tam Giới trong lục đạo. Nếu bạn có cả ba thứ vọng tưởng, phân biệt và chấp trước th́ bạn sanh sống nơi nào? Trong lục đạo, đây là chúng sanh trong lục đạo. Phật dạy nếu chúng ta chẳng chấp trước các pháp thế gian và xuất thế gian, buông xuống chấp trước rồi nhưng c̣n phân biệt, chấp trước buông xuống th́ đă giỏi lắm rồi, lục đạo chẳng c̣n nữa, cũng giống như lời của Vĩnh Gia đại sư trong Chứng Đạo Ca:
Mộng lư minh minh hữu lục thú,
Giác hậu không không vô đại thiên.
(Trong mộng rành rành phân sáu nẻo,
Giác rồi ba cơi rỗng toang hoang).
Trong quá tŕnh chuyển ngữ chắc không tránh khỏi thiếu sót, xin các bậc thức giả hoan hỷ phủ chính cho.
Xin thành thật cám ơn.
Một nhóm Diệu Âm cư sĩ, 9-4-2005