Ư Nghĩa chân thật của ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’

Ḥa Thượng Tịnh Không thuyết giảng

Liễu Nhân sưu tập và ghi chép, Cư sĩ Truyền Tịnh giảo chánh

Dịch theo bản in của Tịnh Tông Học Hội Los Angeles, tháng 3, 2001

 

Mục Lục

 

1.     Ư nghĩa chân thật của ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’

a.     Bổn nguyện là ǵ?

b.     Chẳng phát nguyện th́ niệm Phật không thể văng sanh.

c.      Đời mạt pháp, tà sư nhiều như cát sông Hằng.

2.  Làm thế nào để khế nhập cảnh giới của Phật

a.     Phàm và thánh cùng một thể -- duy tâm sở hiện, duy thức sở biến

b.     Chuyển phàm thành thánh -- Hạ thủ công phu từ tâm niệm.

c.      Cảnh giới của thánh nhân (Phật) -- Đối xử ḥa mục, đối đăi b́nh đẳng

d.     Giáo dục tôn giáo, cứu văn thế giới

3.  Uống nước nhớ nguồn, bàn về ân đức

a.     Niệm Phật, Pháp môn hạng nhất của nền giáo dục Phật Đà.  Văn Thù, Phổ Hiền, Thiện Tài đều tu pháp này.

b.     Chúng sanh vốn là Phật – v́ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà đọa lạc trong sáu nẻo, thập pháp giới

c.      Chắc thật niệm Phật, khỏi đoạn phiền năo, một đời thành Phật.

d.     Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối.  Năng chấp, sở chấp đều không thể đạt được.

e.      Ban châu Tam muội.

f.       Tướng lành lúc Hàn Quán Trưởng văng sanh

i.  Thấy Phật lần đầu

ii. Thấy Phật lần thứ hai.

g.     Uống nước nhớ nguồn, bàn về ân đức.  Ân của thầy, ân của hộ pháp.

h.     Bậc tái lai – Lăo cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập kinh Vô Lượng Thọ

i.       Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Vô Lượng Thọ đều là pháp luân viên măn.

j.       Chuyên tu Tịnh Độ.  Giải và hành cùng coi trọng.

4.  Tu hành như thế nào?

          a.  Thâm giải kinh giáo – Tin sâu, nguyện thiết, phụng hành.

b.     Nghiên [cứu kinh] giáo tức là nhớ Phật – Văn tự và nghĩa lư được thực hiện trong sinh hoạt.

c.      Tu hành – Thanh tịnh, B́nh đẳng, Giác

d.     Phản tỉnh, sửa lỗi lầm, tiêu nghiệp chướng

e.      Học Phật phải bắt đầu từ khởi tâm động niệm

f.       Kinh cứu mạng trong thời Mạt pháp – Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh.

g.     Khuyến tín, Khuyến nguyện.  Tán thán lẫn nhau.

h.     Niệm niệm v́ Phật pháp, v́ chúng sanh

5.  Tịnh nghiệp Tam phước

a.     Tịnh nghiệp chánh nhân của ba đời chư Phật.

b.     Phật pháp là hiếu đạo và sư đạo

c.      Tam quy trong Tịnh Tông: A Di Đà Phật, kinh Vô Lượng Thọ, Bồ Tát Quán Âm và Thế Chí.

d.     Giữ phép tắc, làm gương mẫu cho chúng sanh.  Học chịu thiệt tḥi, không v́ cá nhân ḿnh.

e.      Giác là Phật pháp, mê không là Phật pháp.

f.       Tin sâu nhân quả -- Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả.

g.     Năm khoa mục của Tịnh Tông – Tam Phước, Lục Ḥa, Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện.

6.  Phật học vấn đáp

a.     Chịu bị gạt có phải là bố thí không?

b.     Vừa vẽ hoa sen vừa niệm Phật, có thể không bịnh mà mất hay chăng?

c.      Đến đạo tràng, làm công quả có phải là quảng doanh chúng vụ hay không?

d.     Nên nghĩ như thế nào về [vấn đề] tại gia, xuất gia trong thời Mạt pháp?

e.      Trong chùa dùng trống làm bằng da có đúng với lời dạy về từ bi hay không?

f.       Từ nay về sau xu thế chiều hướng xă hội biến hóa ra sao?  Phật giáo đồ tại gia nên tu hành như thế nào?

g.     Lúc trước làm ác, lụy đến vợ, bây giờ vợ gây trở ngại cho việc niệm Phật, làm thế nào để tiêu [nghiệp] tội?

Làm thế nào để niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ?

h.     Việc chăn gối giữa vợ chồng, có phải người học Phật, niệm Phật chẳng cần việc này?  Phải chăng không thể có quan hệ t́nh dục giữa nam nữ ngoài phạm vi vợ chồng?

i.       Nếu ḿnh niệm Phật nhưng vợ (hay chồng ḿnh) chẳng niệm, vả lại c̣n phá hoại sự niệm Phật, thậm chí xé rách kinh sách, trong trường hợp như vậy phải làm thế nào?

7.  Phụ lục

a.     Ba yếu quyết của sự thọ tŕ kinh Vô Lượng Thọ.

b.     Thái độ và sự nhận thức cần có trong sự tu học Phật pháp.

c.      Lợi ích thù thắng của sự nhiếp thọ chúng sanh của kinh Vô Lượng Thọ

d.     Ư nghĩa của Phật thất và niệm Phật.

e.      Giới thiệu sơ lược về Tam Thời Hệ Niệm.

f.       Khó gặp thầy tốt.

g.     Nhàn đàm về chuyện học Phật.


1. Ư nghĩa chân thật của ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’

 

          Các bạn đồng học:

          Chào các bạn, thầy Ngộ Đạo gởi đến câu hỏi của một vị đồng tu ở trường Đại học Lư Công, Nam Kinh như vầy: “Gần đây có người rao truyền ‘Bổn Nguyện Niệm Phật’ chẳng y chiếu những lời dạy trong Tịnh Độ Tam Kinh, chẳng cần tin, chẳng cần phát nguyện, và cũng chẳng cần niệm Phật đều có thể văng sanh”.  Nhiều bạn đồng học chưa hiểu sâu vào [giáo nghĩa] Tịnh Tông nghe xong rất hoang mang’, xin pháp sư từ bi giảng giải.

          Đây đích thật là một vấn đề rất nghiêm túc và quan trọng, nếu giải thích lệch lạc vấn đề này th́ có thể dẫn dắt rất nhiều đồng tu lầm đường, lạc lối, đánh mất cơ hội niệm Phật văng sanh ngay trong đời này của họ, những người rao truyền lời nói này phải gánh chịu trách nhiệm nhân quả.  Trong kinh nói nhất định sẽ đọa địa ngục A Tỳ!  Bốn chữ ‘Bổn nguyện niệm Phật’ chẳng sai, nhưng họ giải thích ư nghĩa của nó sai hoàn toàn.  Trước khi nhập diệt đức Phật biết rất rơ t́nh huống trong xă hội hiện tại của chúng ta, rơ ràng vô cùng.  Trong chương Thanh Tịnh Minh Hối của kinh Lăng Nghiêm, đức Phật nói: ‘Tà sư thuyết pháp như cát sông Hằng’.  Những lời trong kinh này là nói về đời hiện tại của chúng ta -- đời pháp nhược ma cường, chúng sanh nhận giả mà chẳng nhận thiệt, chịu nghe lời gạt mà chẳng chịu nghe lời khuyên!

          Các vị đồng học Tịnh Tông chúng ta phải học theo đức Phật, đức Phật có tâm nhẫn nại chờ đợi những người này.  Tôi cảm thấy nhiều người trong nhóm đồng học chúng ta có nhiệt tâm hơn đức Phật, họ nôn nóng muốn độ hết thảy chúng sanh đến Tây phương Cực Lạc thế giới.  Nhưng quay đầu lại và thiệt ḷng phản tỉnh coi tự ḿnh có thể văng sanh được hay chăng?  Tự ḿnh chẳng có khả năng được độ mà muốn độ người khác!  Trong kinh thường nói câu: ‘không có chuyện này!’ (vô hữu thị xứ!), mọi người thường nghe câu này, nghe đến thuộc ḷng luôn.  ‘Phật không độ người vô duyên’, chúng ta phải hiểu những người này chẳng có duyên với Phật, chẳng có duyên nghĩa là không tin.  Không tin vào những lời dạy trong Tịnh Độ Tam Kinh, không thể y giáo phụng hành, mà lại nghe những lời rao truyền này, đây tức là chẳng có duyên với Phật, trong đời này họ nhất định chẳng thể thành tựu.

 

          a. Bổn nguyện là ǵ?

          Bổn nguyện rốt cuộc là ǵ?

          Bổn nguyện tức là bốn mươi tám lời nguyện.  Sau khi Tịnh Tông được thành lập th́ chúng ta niệm Phật y theo ‘bổn nguyện’.  Bạn hăy xem khóa tụng hằng ngày của Tịnh Tông chúng ta, khóa sáng th́ niệm bốn mươi tám lời nguyện, khóa tối sám trừ nghiệp chướng.  Nếu chẳng sám trừ nghiệp chướng th́ nhất định không thể văng sanh.  Tuy pháp môn này nói ‘đới nghiệp văng sanh’, các vị Tổ sư đại đức xưa nay đă nói đến rất nhiều ‘chỉ mang theo nghiệp cũ, chứ không mang theo nghiệp mới’.  Những nghiệp mà bạn đang tạo hiện nay th́ không thể mang theo, chữ ‘đới’ nghĩa là ‘đem theo, mang qua bên đó’; việc sai lầm trong quá khứ không sao, hôm nay sửa cho đúng lại.  Câu ‘không kể quá khứ, chỉ luận hành vi hiện nay’ là nguyên lư và nguyên tắc của đới nghiệp văng sanh.  Bây giờ vẫn tiếp tục tạo nghiệp th́ chẳng thể văng sanh, nhất định phải hiểu đạo lư này.

          Bổn nguyện, có người nói bổn nguyện là nguyện thứ mười tám, nhưng phần đông nhiều người không hiểu rơ nghĩa thú!  Nguyện thứ mười tám hàm nhiếp hết thảy bốn mươi bảy nguyện kia một cách rốt ráo viên măn, thiếu một nguyện trong bốn mươi bảy nguyện kia th́ nguyện thứ mười tám sẽ không viên măn.  Vị ‘đại đức’ rao truyền ‘bổn nguyện niệm Phật’ có hiểu đạo lư này hay không?

Bất cứ một nguyện nào trong bốn mươi tám nguyện đều hàm nhiếp bốn mươi bảy nguyện kia một cách rốt ráo viên măn, nguyện nào cũng như vậy cả.   Tuy chúng tôi chưa giảng xong kinh Hoa Nghiêm nhưng mọi người cũng đă nghe kinh chẳng ít.  Trong câu ‘một tức là nhiều, nhiều tức là một’ (nhất tức thị đa, đa tức thị nhất) của kinh Hoa Nghiêm th́ ‘một và nhiều là không hai’ (nhất đa bất nhị) mà!  ‘Một tức là hết thảy, hết thảy tức là một’ (nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất), người đó có hiểu không?  Bổn nguyện niệm Phật là ‘một tức là hết thảy’, cho nên công đức của bổn nguyện rất thù thắng; tuyệt đối chẳng phải nói ‘chỉ dựa vào nguyện thứ mười tám mà thôi, bốn mươi bảy nguyện kia không cần nữa’; nếu bốn mươi bảy nguyện kia đều không thực hiện được th́ nguyện thứ mười tám cũng không làm được luôn.  Nguyện thứ mười tám là ǵ?  Nguyện thứ mười tám là tổng cương lănh của bốn mươi bảy nguyện kia.  V́ vậy lời rao truyền này là của ma thuyết pháp chứ chẳng phải của Phật.

Trước khi nhập diệt đức Phật dạy chúng ta ‘Tứ y pháp’, thứ nhất là ‘Y pháp bất y nhân’.  Pháp là ǵ?  [Pháp là kinh điển]  Kinh Vô Lượng Thọ là kinh đầu tiên của Tịnh Tông.  Đời Đông Tấn, Huệ Viễn đại sư xây dựng đạo tràng niệm Phật đầu tiên ở Lô Sơn – Đông Lâm Niệm Phật Đường, những đồng tu có cùng chung chí hướng và đạo tâm gồm có một trăm hai mươi ba người.  Lúc đó kinh điển Tịnh Tông chỉ có kinh Vô Lượng Thọ, các kinh kia chưa được phiên dịch.  Những người trong đạo tràng Lô Sơn đều y theo kinh này, một trăm hai mươi ba người này đều văng sanh một cách vững vàng, thích đáng.  Đạo tràng này vô cùng thù thắng, trang nghiêm, chúng ta phải đi theo đường của người xưa, kế thừa [sự nghiệp của] người xưa.

Gần đây Ấn Quang lăo pháp sư là người cuối đời nhà Thanh đầu thời Dân Quốc, rất nhiều đồng tu đều biết.  Ngài là hóa thân của Tây Phương Cực Lạc thế giới Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai.  Chúng ta chẳng có dịp được gặp lăo pháp sư, nhưng Văn Sao của Ngài vẫn c̣n lưu truyền trong thế gian, [chúng ta] nên đọc tụng kỹ càng, y giáo phụng hành.  Ngày nay con đường chúng ta đi là kế thừa Ấn Quang đại sư.  Thầy tôi là lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam, thầy là học tṛ của Ấn Quang đại sư, cả đời thầy làm theo lời dạy của đại sư.  Tôi thân cận học hỏi thầy Lư được mười năm, thầy không dám đảm đương vai tṛ của thầy giáo, thầy giới thiệu cho tôi một người thầy.  Người thầy này là ai?  Tức là thầy của thầy Lư, Ấn Quang đại sư.  Do đây có thể biết thầy Lư có đức hạnh, học vấn, và vô cùng khiêm tốn!  Thầy dạy tôi phải hết ḷng phát tâm đọc tụng Văn Sao và y giáo phụng hành, được vậy [mới xứng đáng] làm đệ tử của Ấn Quang đại sư.

Tôi khuyên hết thảy các vị đồng tu ở khắp nơi noi theo kinh Vô Lượng Thọ và làm đệ tử của A Di Đà Phật một cách gọn tắt, ổn đáng.  Lăo cư sĩ Hạ Liên Cư hội tập kinh Vô Lượng Thọ, nếu cụ Hạ không phải là A Di Đà Phật tái lai th́ phải là Quán Thế Âm Bồ Tát tái lai, nếu không th́ chẳng thể hội tập bộ kinh này được hoàn hảo như vậy.  Chúng ta biết ông Vương Long Thư hội tập lần đầu tiên vào triều nhà Tống, ông Ngụy Mặc Thâm hội tập lần thứ hai vào triều nhà Thanh, cả hai đều không hoàn hảo!  Thời mạt pháp đích thực có nhu cầu phải hội tập kinh này nên cảm được Phật, Bồ Tát đến thị hiện.  Quư vị không tin, nhưng tôi tin; ai tin th́ được lợi ích.  Chúng ta biết được những người y chiếu lời dạy trong bản kinh này để tu hành và khi văng sanh có tướng lành trong những năm gần đây rất nhiều, những người chúng ta được nghe nói đến càng nhiều hơn.  Nếu các bạn chẳng tin mà cứ nghe theo lời [rao truyền] của người ta th́ không c̣n cách nào để nói nữa?

Ngày nay trong thời đại dân chủ tự do, rộng mở, ai cũng không có quyền can thiệp người khác, thế th́ phải coi duyên phần của chúng ta với đức Phật A Di Đà sâu hay cạn.  Chúng ta đọc bản hội tập của lăo cư sĩ Hạ Liên Cư, không cần hỏi lăo cư sĩ là người như thế nào, không cần như vậy.  Hăy coi bản hội tập của ngài đúng như pháp hay không?  Chúng ta phải xây dựng ḷng tin từ điểm này, chẳng phải mê tín, chẳng phải mù quáng.  Tôi đă in năm bản dịch của kinh Vô Lượng Thọ và bốn bản hội tập chung thành một cuốn và đề tên sách là ‘Tịnh Độ Ngũ Kinh Độc Bổn’; trước sau đă in hết hai, ba vạn quyển.  Chư vị đồng tu hăy tự xem và so sánh, để quư vị xây dựng ḷng tin vững chắc bằng cách này.  Sau đó quư vị hăy quán sát kỹ số người noi theo [lời rao truyền] ‘Bổn nguyện niệm Phật’ mà văng sanh được bao nhiêu người?  Họ có tướng lành ǵ chăng?

 

b. Chẳng phát nguyện th́ niệm Phật không thể văng sanh.

Kinh Vô Lượng Thọ dạy rất rơ ràng, điều kiện căn bản của ba bậc văng sanh là: ‘Phát Bồ Đề tâm, một hướng chuyên niệm’, làm sao có chuyện chẳng phát nguyện mà có thể văng sanh được?  Không có đạo lư này!  ‘Chẳng phát nguyện, niệm Phật’ người xưa có nói: ‘Cho dù mỗi ngày niệm mười vạn tiếng Phật hiệu, chẳng phát nguyện th́ hét bể cuống họng cũng uổng công mà thôi!’ 

Tại sao vậy?  Bạn chẳng chịu văng sanh mà! 

Tâm nguyện văng sanh, buông xuống vạn duyên tức là tâm Bồ Đề.

Trong Yếu Giải, đại sư Ngẫu Ích đă dạy chúng ta: ‘Nếu muốn văng sanh tăng cao phẩm vị, nhất định phải có tâm giống như tâm Phật, nguyện giống nguyện của Phật, hạnh giống hạnh của Phật’.  Tâm chẳng giống tâm của A Di Đà Phật, nguyện cũng chẳng giống nguyện của A Di Đà Phật, hành vi cũng chẳng giống A Di Đà Phật, cho dù bạn văng sanh th́ phẩm vị cũng rất thấp; huống chi là bạn không thể nào văng sanh được!  Chúng ta phải nhớ kỹ nghe!

Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, phu nhân Vy Đề Hy cầu sanh Tịnh Độ, thỉnh giáo đức Phật Thích Ca:

‘Con phải tu học như thế nào mới có thể văng sanh Cực Lạc thế giới?’

Trước khi đức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng giải phương pháp tu học cho bà, Ngài đă giảng rơ ‘Tịnh Nghiệp Tam Phước’, giảng rơ cho chúng ta đây là ‘Chánh nhân Tịnh nghiệp của ba đời chư Phật’.   Nói một cách khác bất luận Phật quá khứ, Phật hiện tại, hay Phật tương lai, hết thảy những người tu hành thành Phật đều xây dựng trên cơ sở, nền tảng này, nếu không có cơ sở này th́ chẳng kể họ ráng sức tu hành ra sao đều không thể thành tựu.  Cũng như việc xây nhà, đây là nền móng.  Hai câu đầu trong cơ sở này là: ‘Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng’, người Trung Quốc thường dùng danh từ: ‘hiếu thân tôn sư’.  Mọi người ở Tây phương Cực Lạc thế giới đều là người con có hiếu nhất, đều là học sinh giỏi nhất.  Trong kinh Vô Lượng Thọ xưng họ là ‘đệ tử hạng nhất của Như Lai’!  Làm sao có chuyện ‘chẳng phát nguyện’ này?  Việc này hoàn toàn sai lầm!  Những người có đầu óc sáng suốt một chút đều có thể phân biệt và nhận ra.  Nếu ngay cả việc này cũng không thể nhận ra sự khác biệt, sự học Phật của chúng ta đều là vô ích, nghe giảng kinh bao nhiêu năm nay cũng luống uổng, vô ích!  ‘Tịnh Nghiệp Tam Phước’ tức là hạnh của Phật – Hành vi của chư Phật Như Lai được thể hiện trong sanh hoạt thường ngày.  Tam Phước, Lục Ḥa, Tam Học, Lục Độ, Thập Nguyện đều là sự hành tŕ của chư Phật.  Chúng ta đă làm được chưa?  Tôi thường khuyên các vị đồng tu khi khởi tâm động niệm, ngôn ngữ tạo tác phải đối chiếu với năm khoa mục này, nếu tương ứng, phù hợp th́ hạnh của quư vị là chánh hạnh; nếu không tương ứng th́ hạnh của quư vị là tà hạnh, tà hạnh chẳng thể văng sanh được đâu!

Cho nên chúng tôi biên soạn năm đề mục của Tịnh Tông thành cuốn sách nhỏ gọi là ‘Nguyên tắc tu hành’, đây là nguyên tắc chúng ta nhất định phải tuân theo trong đời sống, công việc, xử sự, đăi người, tiếp vật hằng ngày, nhất định chẳng thể làm trái ngược.  Nếu làm trái ngược th́ niệm Phật, phát nguyện cũng không thể văng sanh.  Tại sao vậy?  Nguyện này của bạn là nguyện giả, nguyện suông, không thực tế.  Khi chúng ta phát nguyện hồi hướng, bạn lấy ǵ để hồi hướng?  Nói suông, hồi hướng suông th́ không được, bạn phải dùng những ǵ thực tế để hồi hướng.  Thực tế là ǵ?  Thực tế là tu hành chứng quả, đoạn ác tu thiện, chuyển mê thành ngộ.  Đây là công đức tu hành chân thật của ḿnh, ḿnh phải dùng cái này để hồi hướng.  Hôm nay bạn không phát nguyện và cũng không niệm Phật, làm sao bạn có thể văng sanh cho được?

 

c. Đời mạt pháp, tà sư nhiều như cát sông Hằng.

          ‘Đồng tu Tịnh Tông nghe xong khởi lên rất nhiều nghi vấn’, những người này vô tri, ngu muội, là những người đáng thương!  Giống như mấy năm trước đây ông Trần Kiến Dân ở Mỹ đă tuyên bố khắp thế giới rằng: ‘đới nghiệp không thể văng sanh’, làm những người niệm Phật khắp thế giới vô cùng phân vân, thắc mắc.  Đó là ma, không phải là Phật đâu!  Ngay cả những vị như lăo cư sĩ Châu Tuyên Đức cũng lung lay ḷng tin.  Khi tôi đến Los Angeles ông ra phi trường đón tôi, vừa gặp mặt liền hỏi:

‘Pháp sư, hiện nay có người nói: ‘đới nghiệp không thể văng sanh’, phải ‘tiêu nghiệp mới có thể văng sanh’, vậy th́ phải làm sao?’.

          Tôi bèn nói với ông: ‘Không văng sanh th́ thôi!’.

          Ông nghe xong lời này vô cùng hoang mang; tôi nh́n ông đờ cả người, đứng đó nói chẳng nên lời.  Tôi nói:

          ‘Nếu không đới nghiệp, th́ Tây phương Cực Lạc thế giới chỉ có đức Phật A Di Đà cô độc một ḿnh trên đó, ông c̣n lên đó làm ǵ?’

Ông vẫn c̣n chưa hiểu, tôi mới nói thêm:

          ‘Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát đều là Đẳng Giác Bồ Tát, vẫn c̣n một phẩm Sanh Tướng vô minh chưa phá trừ, như vậy có phải là đới nghiệp hay không?’.

          Nghe xong ông mới tỉnh ngộ -- Quán Âm, Thế Chí đều đới nghiệp, chỉ có một ḿnh A Di Đà Phật là chẳng đới nghiệp mà thôi.

          ‘Nhưng trong kinh chẳng có nói ‘đới nghiệp văng sanh’?’

          Tôi trả lời: ‘Trong kinh có nói đến bốn cơi, ba bậc, chín phẩm hay không?’

          ‘Có!’

          ‘Nếu không đới nghiệp th́ mọi người đều b́nh đẳng, vậy th́ đâu có ba bậc, chín phẩm phải không?’

          Đây là lời đức Phật dạy chúng ta: ‘Noi theo nghĩa chứ không noi theo lời nói’, tuy đức Phật chẳng có nói ‘đới nghiệp văng sanh’, [nhưng] có nói đến ba bậc, bốn cơi, chín phẩm, vậy th́ ư tứ của chữ đới nghiệp đều nằm trọn trong đó rồi.  Bạn đem theo nghiệp nhiều th́ phẩm vị của bạn thấp; bạn đem theo nghiệp ít th́ phẩm vị của bạn sẽ cao.  Đâu có đạo lư chẳng đới nghiệp!

          Người học Phật phải khai mở trí huệ, tại sao có thể vừa nghe người ta nói hai ba câu th́ lung lay ḷng tin liền, mê hoặc điên đảo như vậy?  Bạn nói người như vậy có đáng thương hay không?  Niệm Phật suốt cả đời, bảy tám chục tuổi rồi, vừa nghe lời đồn đăi của người ta th́ lung lay niềm tin, thiệt là đáng thương quá!  V́ vậy nên đức Phật dạy chúng ta: ‘Y pháp chứ đừng y theo người’, ‘Y nghĩa chứ không y theo lời nói’, pháp là kinh điển;  kinh điển của Tịnh Tông là năm kinh, một luận, phải hiểu lời dạy của Ngài.

‘Bổn nguyện niệm Phật’ có sai không?     

Không sai!

Vậy th́ ‘bổn nguyện’ là ǵ?

Năm kinh, một luận là bổn nguyện, bốn mươi tám nguyện là bổn nguyện của đức Phật A Di Đà, rút một câu trong đó ra th́ không được!  Rút ra bất cứ một câu nào trong đó, nếu bạn hiểu được ‘một tức là nhiều’, một câu tức là toàn bộ năm kinh và một luận, nếu bạn có công phu đến mức này th́ có thể hiểu như vậy, có thể như vậy.  Nếu không có công phu đến mức này th́ hăy ngoan ngoăn, thực thà theo thứ tự mà bước đi từ từ, học tập theo thứ lớp đàng hoàng, được vậy bạn sẽ thành công.  Hễ không đúng như pháp, giải sai, lệch lạc ư nghĩa của bổn nguyện niệm Phật th́ đều là ma hết; ma sợ bạn thành tựu ngay trong một đời này nên mau mau kéo bạn trở lại, đẩy bạn vô địa ngục A Tỳ xong th́ ma mới vui!  Được rồi, tôi giải thích vấn đề này cho các bạn đến đây thôi.

Ngày 5 tháng 1, 2000 tại Báo Ân Đường Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba.

 

2.  Làm thế nào để khế nhập cảnh giới của Phật

 

          Các bạn đồng học:

          Chào các bạn, c̣n hai mươi ngày nữa là bước sang năm 2000, năm ‘thiên hi’ đă đến, mọi nơi trên thế giới đều tổ chức lễ lộc đón mừng, chúng ta cũng sẽ tổ chức một buổi dạ tiệc ấm cúng và mời hết thảy chín tôn giáo ở Tân Gia Ba tham dự; không những mời họ tham gia, chúng ta c̣n mời họ làm chủ nhân của buổi tiệc, chúng ta chỉ đứng kế bên phụ giúp.  Mọi người đều biết những năm gần đây tai nạn không ngừng xảy ra trên toàn thế giới, vả lại ngày càng nghiêm trọng, ai cũng lo lắng, không yên tâm.  Người ta cho rằng tai nạn này không thể nào tránh khỏi, nhưng cũng có người cho rằng tai nạn này có thể hóa giải, thế nên có người hỏi: ‘Chúng ta phải làm thế nào để chào đón thế kỷ thứ 21?’

 

a.     Phàm và Thánh cùng một thể -- duy tâm sở hiện, duy thức sở biến

Chúng ta tổng hợp hết thảy cách giải thích nguồn gốc đời sống trong vũ trụ của các tôn giáo và các vị thánh hiền xưa nay, trong nước và ngoài nước.  Trong Phật pháp nói đến ‘tâm tánh’, y báo và chánh báo trang nghiêm trong mười pháp giới, đây là nói hết thảy chúng sanh trong hư không pháp giới ‘duy tâm sở hiện, duy thức sở biến’.  Lịch sử của Ấn Độ giáo cổ kính so với Phật giáo c̣n lâu đời hơn nhiều, Bà La Môn giáo ở Ấn Độ ít nhất cũng có hơn tám ngàn năm lịch sử.  Họ nói nguồn gốc của vũ trụ là ‘Phạm’ là ‘Ngă’;  chữ Ngă này không phải là Tiểu Ngă mà là chữ Ngă trong ‘Thường, Lạc, Ngă, Tịnh’ của Phật giáo, đây là Chân Ngă.  Phần đông các tôn giáo đều nói thế giới này là do Thượng đế sáng tạo ra, sanh mạng cũng là do Thượng Đế tạo nên, là do Chúa tạo nên.  Cũng có tôn giáo coi Thượng Đế là Trí Huệ, Phật pháp Đại thừa gọi là ‘Pháp Thân’, đều là nói từ bản thể, sự nhận thức này là đại thánh đại hiền.  Làm sao họ biết được?

Thông qua sự tu học ‘Giới, Định, Huệ’ trong Phật pháp, [người ta có thể] khai mở trí huệ từ trong các mức thiền định thâm sâu, đây là Tam huệ của Bồ Tát.  Từ đó nhận biết, khẳng định, hiểu rơ triệt để chân tướng của vũ trụ nhân sinh.  Phạm vi của nó bao lớn?  Nhà Phật nói ‘mười pháp giới’, ‘trăm giới ngàn như’ (1), đúng là ‘dù lớn cũng không lọt ra ngoài, dẫu nhỏ nhặt đến mấy cũng không có ǵ chẳng thuộc vào đây’.   Thánh nhân thế gian, xuất thế gian chẳng ai không hạ thủ công phu từ chỗ này.  Sau đó đích thân chứng được cảnh giới ấy, khẳng định việc mà ngày nay người ta gọi là ‘tinh thần vượt quá kinh nghiệm’ đích thực tồn tại.  Đây là những ǵ phía trên nói đến: ‘Tâm Tánh, Phạm Ngă, Thượng Đế, Pháp Thân, Thần’, đích thật là tồn tại vĩnh hằng; cái này là cái năng hiện, năng sanh, năng biến (chủ thể tạo nên sự hiện, sự sanh, sự biến).  Thế giới của chúng ta có thể chia thành hai bộ phận, một là hiện tượng tinh thần, hai là hiện tượng vật chất, hai thứ này là sở hiện, sở sanh, sở biến (những thứ được hiện, được sanh, được biến).  Sở hiện, sở sanh, sở biến th́ vô lượng vô biên, nhưng năng sanh, năng biến chỉ có một thứ.  Từ điểm này chúng ta có thể biết tận hư không khắp pháp giới hết thảy chúng sanh là một thể, có cùng chung một sanh mạng.

Chúng ta thường nghe những người lănh đạo quốc gia nói chuyện với toàn thể dân chúng [bắt đầu bằng]: ‘Đồng bào toàn quốc …’.  Từ sự nhận thức của đại thánh nhân chúng ta có thể nói: ‘Đồng bào khắp hư không pháp giới’.  Phạm vi này lớn hơn nhiều và đều cùng một nguồn gốc, là một thể có cùng chung một sanh mạng.  Chúng ta phải nhận biết điểm này, sau đó quay lại nh́n hết thảy chúng sanh th́ sẽ thấy một số đă nhận biết rơ ràng, một số c̣n mê hoặc điên đảo, hoàn toàn không hiểu chi hết.  Trong Phật giáo người đă nhận thức rơ ràng th́ gọi là ‘Phật, Bồ Tát’; người mê hoặc và không nhận thức rơ th́ gọi là ‘phàm phu’.  Trong các tôn giáo khác th́ gọi người đă nhận thức rơ ràng bằng ‘Thần’, ‘Tiên Tri’, ‘Thiên sứ’; gọi kẻ không nhận thức rơ ràng là ‘phàm phu’.

 

b.  Chuyển phàm thành thánh -- Hạ thủ công phu từ tâm niệm.

Các vị đại thánh hiền dạy chúng ta nhận thức chân tướng sự thật bằng phương pháp chuyển biến: ‘chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành thánh’, đây là tổng cương lănh của những phương pháp này.  Chúng ta cũng đă học nhưng làm cách nào cũng chuyển không nổi!  Đă từng nghe câu ‘Trồng nhân thiện th́ được quả thiện’ nên cũng học theo và làm chuyện thiện; cũng đă làm chẳng ít chuyện thiện nhưng vẫn chưa chuyển ‘nghiệp báo’ được;  như vậy là tại sao?  Thiệt ra đây cũng giống như câu chuyện ‘Ông Du Tịnh Ư gặp Thần Táo (Ông Táo, Thần Bếp)’ ghi ở phần cuối của quyển Liễu Phàm Tứ Huấn, mọi người hăy xem th́ sẽ biết.

Ông Du Tịnh Ư nghèo khổ, thường chẳng may mắn, gặp đại nạn, vô cùng bất hạnh; ông cũng làm việc thiện hằng ngày, cũng là người có học và hiểu lư.  Tại sao ‘chuyển nghiệp’ không được?  V́ vậy nên ông cứ oán trời trách người – [tôi] đă làm nhiều chuyện tốt lành như vầy nhưng không có quả báo lành!  Thần Táo dạy: ‘Những chuyện thiện mà ông đă làm hoàn toàn ở bề ngoài không hà, chỉ có miệng thiện, thân thiện, nhưng ư chẳng thiện, tâm chẳng thiện, cho nên ông chuyển không nổi!’.  Những lời thần Táo giảng giải cho ông như vậy rất đáng cho chúng ta nghiên cứu, đọc tụng, kiểm điểm bản thân chúng ta.

Các đại đức thời xưa dạy người tu hành phải tu từ căn bản.  Căn bản là ǵ?  Căn bản là tâm niệm.  Chỉ cần tâm của bạn thiện, ư niệm thiện, th́ không có nghiệp báo ǵ chẳng thể chuyển biến được, và không có tai nạn ǵ chẳng thể hoá giải được.  Cũng như một cây cổ thụ, tâm là rễ, ư niệm là gốc; thân là cành, miệng là lá, nếu bạn tu sửa trên cành lá nhưng gốc rễ của bạn đă hư hoại th́ không thể nào cứu chữa được.  Nếu cứu được gốc rễ [trước] th́ cứu cành lá sẽ rất dễ dàng!  Chúng ta thấy rất nhiều người bề ngoài có vẻ làm lành tích đức nhưng nghiệp lực vẫn chuyển không nổi nên thường oán trời trách người, và nói Phật, Bồ Tát không linh, thần không linh, hết thảy đều có lỗi với họ, họ hoàn toàn chẳng khác ông Du Tịnh Ư!.  Thế nên ‘chuyển’ phải chuyển từ trong tâm, phải chuyển từ ư niệm, chuyển thành ‘thuần thiện’.

Thiền Tông Lục Tổ Huệ Năng đại sư dạy rất hay: ‘Nếu là người tu đạo th́ chẳng nh́n lỗi của thế gian’.  Đây mới đúng là chuyển biến từ tâm, từ ư niệm.  ‘Chỉ nh́n thấy lỗi của ḿnh, không nh́n thấy lỗi của người’ nên họ có thể ‘chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành thánh’, đạo lư là ở chỗ này.  Ngày nay miệng chúng ta thiện, thân cũng thiện nhưng thường nh́n thấy người khác chẳng thiện mà họ lại có quả báo tốt nên trong tâm ḿnh không phục, bất măn!  Bạn phải biết thân của bạn thiện, khẩu thiện nhưng gốc rễ của bạn đă hư hết rồi, phải làm một cuộc thay đổi hoàn toàn từ gốc rễ -- trong tâm luôn luôn nghĩ đến chuyện tốt của mọi người, đừng nghĩ về chuyện xấu của người khác;  Người ta không có ǵ xấu hết, xấu là nơi gốc rễ của chúng ta xấu.  Chúng ta thấy chuyện xấu của người khác th́ liền biết gốc rễ của chúng ta đă hư hoại rồi; tại sao vậy?  Phật thấy hết thảy chúng sanh đều là Phật, Bồ Tát thấy hết thảy chúng sanh đều là Bồ Tát.  Gốc rễ của họ tốt, chẳng có bịnh tật.

 

c.  Cảnh giới của thánh nhân (Phật) -- Đối xử ḥa mục, đối đăi b́nh đẳng

Chúng ta tổng kết mục đích của sự tu học [th́ thấy mục đích này] vô cùng hiện thực, chỉ có hai chữ ‘hoà b́nh’.  Hết thảy chúng sanh trong hư không pháp giới chẳng phân biệt chủng tộc quốc gia, chẳng phân biệt tôn giáo tín ngưỡng, mười phương vô lượng vô biên cơi nước chư Phật, thế giới của chư thiên đều có thể ‘đối xử ḥa mục, đối đăi b́nh đẳng’.  Chúng ta thấy trong kinh Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm đích thực là văn hóa đa nguyên mà người ngày nay thường đề cập, chúng ta không thể tưởng tượng nổi số lượng to lớn này – trong cảnh giới không thể nghĩ bàn ấy mọi người đều đối xử ḥa mục, đối đăi b́nh đẳng, tôn trọng, kính mến, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau, chỉ có kiến thiết mà không có phá hoại.

Chúng ta thấy Hoa Tạng thế giới, Cực Lạc thế giới, thế giới của chư thiên, đời sống của họ hạnh phúc mỹ măn, thiệt là đời sống đầy đủ ‘chân thiện mỹ huệ’!  Chúng ta ngưỡng mộ, mong mỏi hết mấy ngàn năm, mấy vạn năm nhưng vẫn không thể thực hiện nổi trên trái đất này; nguyên nhân là ǵ?  V́ chúng ta chẳng ‘ḥa’ -- chẳng thể đối xử ḥa đồng, không thể đối đăi một cách b́nh đẳng với tất cả chúng sanh.  Ngày nay chúng ta đề xướng giáo dục Phật Đà, đề xướng giáo dục tôn giáo, mục đích của chúng ta là mong mỏi và hy vọng hết thảy chúng sanh, hết thảy thế gian đều có thể ‘đối xử ḥa mục, đối đăi b́nh đẳng’.  Muốn đạt đến mục đích này th́ phải đánh thức chánh giác của chúng sanh.  Muốn đánh thức chánh giác của chúng sanh th́ ngoài giáo dục ra chẳng có phương pháp nào khác.

 

d.  Giáo dục tôn giáo, cứu văn thế giới:

Cổ thánh tiên hiền ngày xưa ở Trung Quốc coi trọng giáo dục, coi giáo dục là việc quan trọng nhất của đời người.  Sách ‘Lễ Kư’ nói: ‘Xây dựng đất nước, cai trị dân chúng, việc giáo dục đứng hàng đầu’.  Sau khi truyền đến Trung Quốc, Phật pháp liền trở thành động cơ chính hướng dẫn nền văn hóa Trung Quốc, cả hai trở nên gắn bó,  không thể tách rời lẫn nhau.  Nền giáo dục Phật Đà được nhà vua đích thân chủ tŕ, giáo học của Nho gia th́ giao cho quan tể tướng chấp hành; giáo dục thánh hiền trong thế gian, xuất thế gian cùng lúc phát triển trên mảnh đất này, đây là điều may mắn của dân tộc Trung Quốc, có thể sáng tạo nên nền văn minh Trung Quốc, làm cho văn hóa Trung Quốc càng thêm phong phú.

Nhưng trong thời gian cận đại, kể từ khoảng giữa đời nhà Thanh trở về sau, thiệt là bất hạnh, chúng ta đă mất đi ḷng tự tin dân tộc nên phải chịu đựng đại nạn trong ṿng hai trăm năm nay!  Chúng ta có nhiều kinh nghiệm đau khổ, từ những bài học kinh nghiệm này đă thức tỉnh và nh́n thấy văn minh khoa học kỹ thuật [có thể] đem lại ảnh hưởng xấu cho người đời, suy đi nghĩ lại vẫn phải nương nhờ vào giáo dục tôn giáo mới có thể cứu văn thế giới.  Chỉ có đẩy mạnh giáo dục tôn giáo rộng răi mới có thể dạy cho mọi người hiểu rơ: ‘Chúng ta có cùng chung một sanh mạng, là một thể có cùng chung một sanh mạng’, hơn nữa sanh mạng này vĩnh hằng, (hễ là tín đồ tôn giáo đều khẳng định) có đời quá khứ, và đời tương lai.  Thời gian trong đời này rất ngắn, đời tương lai sẽ dài hơn, nhất định phải dứt làm việc ác, chuyên làm việc thiện, chuyển mê thành ngộ!  Chúng ta phải theo đuổi hạnh phúc vĩnh hằng, phải hối lỗi, phải sám hối, bồi dưỡng tâm niệm thiện, ư niệm thiện, hành vi thiện của ḿnh.  Nếu chúng ta làm hết ḷng th́ dù không thể hoàn toàn tránh khỏi thiên tai nhân họa trước mắt, chúng ta khẳng định tai nạn có thể giảm bớt và tŕ hoăn, phạm vi của tai nạn có thể giảm nhẹ, có thể đem lại hạnh phúc chân thật cho chúng sanh cư trú trên địa cầu của ḿnh, hy vọng là mọi người sẽ hết ḷng nỗ lực đi làm.

          Ngày 21-12-1999 tại Báo Ân Đường, Tịnh Tông Học Hội Tân Gia Ba

 

 

3.  Uống nước nhớ nguồn, bàn về ân đức

         

          Chư vị pháp sư, chư vị đồng tu:

          Hôm nay chúng ta có được nhân duyên thù thắng như vầy, mọi người tụ họp tại đạo tràng Tịnh Tông Học Hội Úc châu, tuy đạo tràng chẳng lớn lắm, nhưng rất trang nghiêm, đây là nơi đầu tiên Tịnh Tông được truyền đến Úc châu.  Chúng ta uống nước phải nhớ nguồn, trước tiên phải hiểu rơ sự hoằng truyền Tịnh Tông trong những năm gần đây đă trải qua một giai đoạn rất gian khổ.

 

a.  Niệm Phật, Pháp môn hạng nhất của nền giáo dục Phật Đà.  Văn Thù, Phổ Hiền, Thiện Tài đều tu pháp này

Lúc tôi mới bắt đầu học Phật, người giới thiệu Phật pháp cho tôi là Phương Đông Mỹ tiên sinh, đây là chuyện vào năm Dân Quốc bốn mươi hai (1953).  Sau đó chẳng bao lâu tôi quen Chương Gia đại sư, ngài rất từ bi, giảng dạy hết ḷng, cơ sở Phật học của tôi là do ngài xây dựng cho.  Ba năm sau Chương Gia đại sư viên tịch.  Một năm sau tôi gặp lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam, tôi theo học với thầy Lư được mười năm.  Đến năm Dân Quốc năm mươi sáu (1967) mới rời khỏi Đài Trung, cho nên trên thực tế thời gian tôi tu học Đại thừa Phật pháp là mười ba năm.

Sau khi đến Đài Trung, thầy Lư giới thiệu pháp môn Tịnh Độ cho tôi, lúc đó tôi c̣n trẻ, cũng như phần đông những người trẻ tuổi thường ham thích những ǵ xa vời viễn vông, cứ nghĩ pháp môn niệm Phật là pháp môn dành cho ông già bà cả, trong Phật pháp c̣n rất nhiều kinh sách, có nhiều pháp môn rất hấp dẫn, những người trẻ tuổi như tôi rất hâm mộ, ưa thích, đặc biệt là Hoa Nghiêm, Pháp Hoa.  Nhưng thầy Lư dùng trí huệ, phương tiện thiện xảo hướng dẫn chúng tôi.  Tuy chẳng tiếp nhận hoàn toàn nhưng thời gian được thầy hun đúc, rèn luyện lâu dài nên từ từ chúng tôi cũng nhận thức được pháp môn này, nảy sanh ḷng tin, mới biết pháp môn này rất thù thắng.  Thực sự lúc tôi chân chánh hiểu rơ sự thù thắng của pháp môn này là sau khi tôi giảng kinh Hoa Nghiêm được mười bảy năm.  Từ năm Dân Quốc sáu mươi (1971) tôi bắt đầu giảng kinh Hoa Nghiêm, trong mười bảy năm này giảng được phân nửa Bát Thập Hoa Nghiêm, Tứ Thập Hoa Nghiêm cũng giảng được phân nửa, đều chưa giảng hết.  Sau này thường thường ra nước ngoài hoằng pháp, thời gian có lúc gián đoạn, có lúc liên tục nhưng vẫn chưa giảng hết bộ kinh này.  Từ trong kinh Hoa Nghiêm chúng ta khẳng định pháp môn Niệm Phật là pháp môn hạng nhất.

Năm đó tôi đột nhiên nghĩ đến hai vị Bồ Tát trong hội kinh Hoa Nghiêm, Văn Thù và Phổ Hiền.  Bồ Tát Văn Thù đă từng là thầy của bảy vị Phật, nghĩa là trong số học tṛ của Ngài có bảy người đă thành Phật.  Bản thân của Ngài có thể nói là cổ Phật tái lai ứng hóa, Ngài đă thành Phật từ một kiếp xa xôi về trước, bây giờ thị hiện ở thế giới Sa Bà, làm người trợ giúp cho Phật Tỳ Lô Giá Na, thị hiện là Đẳng Giác Bồ Tát.  Tôi đặc biệt để ư hai vị Bồ Tát này, họ tu pháp môn ǵ?  Kết quả là từ kinh Hoa Nghiêm thấy được cả hai vị đều niệm Phật A Di Đà cầu sanh Tịnh Độ, việc này làm cho tôi rất kinh ngạc!

Sau đó quan sát kỹ Thiện Tài đồng tử, người thị hiện làm học tṛ đắc ư, đệ tử của Bồ Tát Văn Thù, Ngài học pháp môn ǵ?  Th́ ra Ngài cũng niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ nữa.  Cho nên năm mươi ba lần tham học [của Thiện Tài đồng tử] dạy cho chúng ta biết: đối với hết thảy pháp thế gian và xuất thế gian một người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ phải nên tu học như thế nào.  Điều này dạy cho chúng ta một chuyện rất quan trọng, nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là một người đệ tử chân chánh của Di Đà niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ phải sanh hoạt như thế nào? Nên làm việc như thế nào? Nên tiếp xúc với mọi người như thế nào?  Đây đều là vấn đề vô cùng thiết thực đối với chúng ta, hơn nữa đều là những vấn đề chẳng thể không biết, câu trả lời nằm trọn trong kinh Hoa Nghiêm.  Điều này cũng nói rơ kinh Hoa Nghiêm là một bộ kinh mà người học Phật chẳng thể không đọc.

Nhưng kinh Hoa Nghiêm quá dài, nếu dùng kinh nghiệm giảng kinh của tôi mà xét, giảng từ đầu đến cuối cũng mất khoảng ba ngàn giờ đồng hồ.  Trong xă hội hiện nay có ai nhẫn nại như vậy, ai chịu dùng ba ngàn giờ đồng hồ để học một bộ kinh?  Và cũng có thể nói người đời nay nghiệp chướng nặng hơn người thời xưa, người xưa có khả năng, có cơ duyên học bộ kinh này; hiện nay bước vào xă hội công nghiệp, thế kỷ sau này (thế kỷ hai mươi mốt) nhất định sẽ c̣n khẩn trương hơn bây giờ; bất kể là áp lực đời sống, áp lực công việc nhất định sẽ nhiều hơn bây giờ, nói một cách khác thời gian ngày càng ít.  Cho nên không thể không t́m cầu bộ kinh khác.  Rất may mắn chúng ta t́m được một bộ kinh cũng thù thắng, viên măn giống kinh Hoa Nghiêm nhưng lại ngắn hơn nhiều, hết sức thích hợp cho người đời nay tu học, đó tức là kinh Vô Lượng Thọ.

Các đại đức thời xưa nói: ‘Kinh Vô Lượng Thọ là trung bổn Hoa Nghiêm, kinh A Di Đà là tiểu bổn Hoa Nghiêm’.  Kinh văn có dài, ngắn khác nhau, Bát Thập Hoa Nghiêm rất dài, Kinh A Di Đà rất ngắn, nhưng nghĩa lư và cảnh giới trong đó chẳng có sai khác; đây là lời của cư sĩ Bành Tế Thanh nói vào những năm đầu triều vua Càn Long.  Bành Tế Thanh có một tác phẩm rất xuất sắc là ‘Hoa Nghiêm Niệm Phật Tam Muội Luận’, quyển này tuy không dài nhưng nội dung vô cùng phong phú.  Gần đây lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đă giảng quyển sách này một lần ở Bắc Kinh, có lưu lại băng thâu âm, từ băng ghi âm chép ra thành giảng kư, hiện nay đă được xuất bản, rất dễ kiếm, quyển này nói rơ kinh Hoa Nghiêm rất quan trọng trong pháp môn niệm Phật

Chúng  ta hăy xem lời răn dạy, lời nhắc nhở của Văn Thù Bồ Tát cho Thiện Tài, hết thảy đều là dạy về tâm lư và thái độ để thân cận thiện tri thức.  Những lời dạy này vô cùng quư báu và hết sức quan trọng.  Vị thứ nhất mà Thiện Tài tham phỏng là tỳ kheo Kiết Tường Vân, vị thiện tri thức này tiêu biểu cho Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, bốn mươi mốt vị Pháp thân đại sĩ trong hội kinh Hoa Nghiêm.  Tại sao lại xưng Pháp thân đại sĩ bằng danh từ tỳ kheo?  Ư nghĩa của tỳ kheo này chẳng giống với ư nghĩa trong các kinh khác; tỳ kheo là người xuất gia, ngài xuất cái nhà nào?  Không phải xuất cái nhà ruộng vườn, cái nhà vợ con thê thiếp, ngài xuất cái nhà thập pháp giới; vượt thoát thập pháp giới mới là thực sự xuất gia.  Vượt thoát ra khỏi thập pháp giới rồi đi đến đâu?  Đến Nhất Chân pháp giới.  Hoa Tạng thế giới là Nhất Chân pháp giới, Cực Lạc thế giới cũng là Nhất Chân thế giới, tỳ kheo ở đây tượng trưng cho ư nghĩa này.

Thập pháp giới là nhà, lục đạo là nhà, cái nhà này rất phiền phức!  Pháp môn trong Phật pháp rất nhiều, kinh luận rất nhiều, tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp môn.  Trên lư luận th́ bất cứ pháp môn nào cũng có thể giúp bạn vượt thoát khỏi sáu nẻo luân hồi, vượt thoát thập pháp giới, chứng được Nhất Chân pháp giới, tức là thành Phật.  Lư luận chẳng sai nhưng thực sự căn tánh chúng sanh chúng ta chẳng giống nhau, trong kinh thường chia ra ba loại căn tánh: thượng, trung, hạ.  Thượng căn lợi trí th́ không có ǵ để nói, chẳng có vấn đề ǵ hết.  Nhưng chúng sanh có căn tánh trung, hạ th́ chẳng dễ, rất  nhiều pháp môn chúng ta chẳng có cách ǵ học được, tuy chúng ta y theo lư luận, phương pháp để tu nhưng cũng không thể thành tựu.  Tại sao không thể thành tựu?  V́ không thể đoạn dứt phiền năo, không thể đoạn dứt tập khí.  Tu học Phật pháp có thể thành tựu hay không là ở tại chỗ này, chứ chẳng phải mỗi ngày đọc bao nhiêu quyển kinh, tĩnh tọa bao nhiêu giờ đồng hồ, niệm bao nhiêu vạn câu Phật hiệu.  Những thứ này không quan trọng, quan trọng là đoạn phiền năo, giảm bớt vọng niệm, đó gọi là công phu!

 

b.     Chúng sanh vốn là Phật – v́ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước mà đọa lạc trong sáu nẻo, thập pháp giới

Trong kinh Hoa Nghiêm đức Phật dạy rất rơ: ‘Hết thảy chúng sanh vốn thành Phật’.  Chúng ta vốn là Phật, tại sao ngày nay biến thành ra như vầy?  Vấn đề này chúng ta chẳng thể không nghiên cứu, suy nghĩ, rốt cuộc là v́ nguyên nhân ǵ?  Trong kinh Hoa Nghiêm đức Phật v́ chúng ta nói ra: ‘Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai’.  Trí huệ của Như Lai rốt ráo, viên măn, không có ǵ chẳng biết, không ǵ chẳng thể làm, không những biết thế giới hiện nay, thế giới ở phương khác cũng biết; quá khứ vô thỉ, vị lai vô chung, không có ǵ chẳng biết, Phật dạy đây là bản năng của chúng ta.

Tại sao bản năng của chúng ta bị mất hết?  Phật dạy: ‘Nhưng v́ vọng tưởng, chấp trước mà không thể chứng được’.  Đức Phật nói rơ bịnh căn của chúng ta – có chấp trước, có phân biệt, có vọng tưởng.  V́ vậy toàn bộ Phật pháp đều tập trung trên ba vấn đề này, ngàn kinh vạn luận đều có mục đích giúp chúng ta giải quyết vấn đề này, phá trừ những phiền năo này.  V́ chấp trước nên bạn biến Nhất Chân pháp giới thành sáu nẻo luân hồi.  Sáu nẻo luân hồi là do chấp trước mà ra.  Chấp trước là ǵ?  Phần đông chúng ta gọi là ‘thành kiến’ – cách suy nghĩ, cách làm của ḿnh --  Như vậy rắc rối lắm, vĩnh viễn chẳng thoát ra khỏi sáu nẻo luân hồi.  [Nếu c̣n chấp trước th́ dù] một ngày bạn niệm Phật đến mười vạn câu cũng vẫn kẹt trong sáu nẻo luân hồi; điều này hết sức phiền phức!

Chuyện ǵ đều có ‘Ngă’ (Ta) th́ phiền lắm, cho nên Phật dạy chúng ta ‘Vô Ngă’.  Bạn xem câu đầu tiên trong kinh Kim Cang dạy: ‘Không có tướng ta, không có tướng người, không có tướng chúng sanh, không có tướng thọ giả’.  Chuyện ǵ cũng chấp trước là Ta th́ hỏng ngay!  Tu hành được giỏi cách mấy, giới luật có nghiêm chỉnh đến đâu, một khi ngồi xếp bằng nhập định có thể nhập định một trăm năm, nhưng chỉ cần bạn có ‘Ta’ th́ hỏng liền.  Công phu như vậy là công phu thiền định thế gian, vẫn không thể vượt ra khỏi lục đạo.  Cho nên việc đầu tiên trong Phật pháp là phải ‘phá ngă chấp’.  Mọi người đều biết sau khi phá ngă chấp th́ chứng được quả vị A La Hán, ra khỏi tam giới, lục đạo đều không c̣n nữa.  Ngoài lục đạo c̣n có Tứ Thánh pháp giới: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật.  Tứ Thánh pháp giới do đâu mà có?  Do ‘Phân biệt’ mà có.  Tuy không c̣n chấp trước nữa nhưng vẫn c̣n phân biệt.  Trong Tứ Thánh pháp giới càng lên cao th́ tâm phân biệt càng giảm bớt; tuy ít nhưng vẫn c̣n phân biệt nên ở phía ngoài c̣n thêm một giới hạn nữa gọi là thập pháp giới, bạn vượt thoát không nổi!  Khi nào đoạn dứt hết phân biệt, vượt ra khỏi mười pháp giới th́ đến Nhất Chân pháp giới.

Trong kinh Đại thừa thường nói thành Phật cần phải trải qua ba A Tăng Kỳ kiếp; ba A Tăng Kỳ kiếp bắt đầu tính từ ngày nào?  Chẳng phải tính từ hiện nay, hiện nay chúng ta không đủ tư cách; là tính từ ngày hết thảy phân biệt chấp trước đều đoạn dứt, là tính từ ngày vượt thoát ra khỏi thập pháp giới.  Lúc bạn c̣n chưa vượt khỏi thập pháp giới th́ tất cả những ǵ bạn tu đều không kể, như vậy lục đạo chẳng cần bàn tới.  Cho nên chứng được Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật quả trong thập pháp giới, ngay cả Phật cũng chẳng kể;  Phật ở đây là Tạng Giáo Phật, Viên Giáo Phật trong Tông Thiên Thai, vẫn c̣n ở trong thập pháp giới, cũng chưa kể.  Phân biệt, chấp trước thiệt đă đoạn dứt sạch sành sanh mới đến Nhất Chân pháp giới, chứng Viên Giáo Sơ Trụ Bồ Tát, Biệt Giáo Sơ Địa Bồ Tát, tính là tính từ lúc này, phải trải qua ba A Tăng Kỳ kiếp nữa!

Ba A Tăng Kỳ kiếp để phá cái ǵ?  Phá vọng tưởng.  Lúc bấy giờ mới phá vọng tưởng, một phiền năo trong ba thứ ‘vọng tưởng, phân biệt, chấp trước’.  A Tăng Kỳ kiếp thứ nhất là để phá ba mươi phẩm -- Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng;  A Tăng Kỳ kiếp thứ nh́ phá bảy phẩm – Sơ Địa đến Thất Địa;  A Tăng Kỳ kiếp thứ ba phá ba phẩm, càng trở về sau càng khó, đến Pháp Vân Địa Bồ Tát th́ mới gọi là viên măn thành Phật.  Chúng ta chẳng thể không biết những thường thức căn bản này, chẳng thể không biết chúng ta tu cái ǵ, công phu của chúng ta ở tại đâu?  Chúng ta phải hiểu rơ những chuyện này, sau đó quan sát tám vạn bốn ngàn pháp môn, đối với bất cứ pháp môn nào chúng ta đều không thể giải quyết vấn đề; đừng nói đến những vọng tưởng, phân biệt nhỏ bé, ngay cả tập khí nặng nhất là chấp trước, chúng ta đều đoạn không nổi, như vậy th́ c̣n nói chi đến thành tựu!

 

c.      Chắc thật niệm Phật, khỏi đoạn phiền năo, một đời thành Phật.

Ngàn kinh vạn luận, vô lượng pháp môn, chúng ta nh́n nó mà than vắn thở dài, thiệt là không [có cách chi để] đạt được lợi ích! 

[Bây giờ biết được vấn đề này] th́ chẳng thể không cám ơn đức Phật A Di Đà đă mở ra pháp môn ‘Đới Nghiệp Văng Sanh’ cho chúng ta, người xưa gọi là ‘môn dư đại đạo’ (con đường tắt để thành Phật  ngoài tám vạn bốn ngàn pháp môn).  Sự ích lợi của pháp môn này là không cần đoạn phiền năo; cũng là nói bạn khỏi phải vượt thoát lục đạo, thập pháp giới, nhưng ngay trong đời này bạn có thể văng sanh về Nhất Chân pháp giới (Cực Lạc thế giới tức là Nhất Chân pháp giới).  Điều tiện nghi này quá to lớn v́ vậy pháp môn này được gọi là ‘pháp khó tin’.  Chẳng phải là chúng ta khó tin, chúng ta ai cũng đă tin; [Vậy th́] ai khó tin?  Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật trong thập pháp giới đều chẳng tin; họ cho rằng làm sao có chuyện dễ dàng, tiện lợi như vậy!  Một phẩm vọng tưởng, phân biệt, chấp trước cũng chưa đoạn mà có thể vượt thoát lục đạo, vượt thoát thập pháp giới, làm sao có chuyện này!

Đích thực trên lư luận không thể nào nói cho hợp lư được, nhưng đây là sự thật.  Sự thật này đương nhiên cũng có nhân duyên.  Tại sao có chuyện này?  Chúng ta t́m được câu trả lời trong kinh Hoa Nghiêm, kinh Vô Lượng Thọ; nhân duyên có hai thứ, thứ nhất là bổn nguyện oai thần của đức Phật A Di Đà gia tŕ, thứ hai là thiện căn, phước đức, nhân duyên của ḿnh đă chín muồi.  Kinh A Di Đà nói: ‘Chẳng thể dùng ít thiện căn, phước đức, nhân duyên’.  Tự ḿnh đầy đủ thiện căn, phước đức, nhân duyên, và được bổn nguyện cùng oai thần của đức Phật A Di Đà gia tŕ nên ngay trong đời này chẳng cần đoạn phiền năo mà có thể đới nghiệp văng sanh.  Pháp môn này hết sức thù thắng, kỳ diệu đặc biệt, không thể nào kiếm ra pháp môn thứ hai nữa.   Thế nên chúng ta sanh vào thời kỳ mạt pháp mà muốn ngay trong một đời này liễu sanh tử, xuất tam giới th́ chỉ có con đường duy nhất này mà thôi.  Đây là điều chúng ta cần phải nhận thức rơ ràng rồi sau đó chúng ta mới quyết tâm, tha thiết, chắc thật niệm Phật.  Được vậy th́ xin chúc mừng bạn, ngay trong một đời này sẽ làm Phật, không có ǵ thù thắng hơn việc này.

 

d.     Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối.  Năng chấp, sở chấp đều không thể đạt được.

Như thế nào mới gọi là chắc thật?  Trong kinh Lăng Nghiêm, Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta phương pháp niệm Phật: ‘Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối’ (Đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế), hết thảy chỉ có tám chữ.  Nếu làm được tám chữ này th́ đó tức là tiêu chuẩn của người chắc thật.

Nhiếp trọn sáu căn là ǵ?  Nói thực ra Bồ Tát Quán Thế Âm đă dùng phương pháp này tu hành thành tựu.  Bồ Tát Quán Thế Âm trong kinh Lăng Nghiêm, Chương Viên Thông có dạy: ‘Xoay trở lại nghe nơi tự tánh, tánh thành đạo vô thượng’ (Phản văn văn tự tánh, tánh thành vô thượng đạo).  Đây là tổng cương lănh tu hành của Bồ Tát Quán Thế Âm.  Phản văn tức là thâu nhiếp sáu căn.  Phàm phu chúng ta khi mắt thấy sắc, tai nghe âm thanh, tâm cứ chạy nhảy bên ngoài, đều là phân biệt, chấp trước cảnh giới bên ngoài, như vậy là sai lầm.  Sai ở chỗ nào?  Kinh Kim Cang dạy chúng ta ‘Ba tâm không thể được’; tâm là ǵ, tâm tức là ư niệm, là tư tưởng.

Phật dạy: ‘Tâm quá khứ không thể đạt được’ tức là lúc trước không thể được, ‘tâm hiện nay không đạt được’, nói hiện nay th́ hiện nay đă biến thành quá khứ; ‘tâm tương lai không đạt được’ tức là sau này không thể được.  Điều này nói rơ ‘cái tâm mà bạn đạt được đó là hư vọng, chẳng phải thiệt’;  tức là cái ư niệm mà bạn có thể chấp trước, phân biệt đó đều là hư vọng, chẳng phải chân thật.  Bạn xem vật này thành chính ḿnh, đó không phải là oan uổng sao!  Đức Phật gọi cảnh giới bên ngoài mà bạn tư duy là ‘pháp do nhân duyên sanh’.  Không những pháp thế gian do nhân duyên sanh, Phật pháp xuất thế gian cũng do nhân duyên sanh.  Phàm những ǵ do nhân duyên sanh th́ bản thể vốn là không, trọn chẳng thể đạt được (đương thể tức không, liễu bất khả đắc).  Nói cách khác, những ǵ bạn chấp đều không thể được, năng chấp (chủ thể chấp), sở chấp (cái được chấp) đều chẳng thể được, đây là chân tướng sự thật!

Hết thảy chúng sanh mê hoặc điên đảo, cứ tưởng ḿnh có ‘chủ thể có thể chấp trước’, cảnh giới bên ngoài là ‘cái được ḿnh chấp trước’, đó gọi là khởi vọng tưởng.  Lúc khởi vọng tưởng th́ biến thành lục đạo luân hồi, biến thành tam ác đạo, sẽ tạo nên rất nhiều thứ nghiệp.  Cho nên trong kinh đức Phật gọi những người này là ‘những người đáng thương’, thiệt là tội nghiệp!  Đúng thiệt chỉ là một con số không, là mộng, huyễn, bọt, bóng – trong mộng, huyễn, bọt, bóng làm việc sinh nhai, trong mộng, huyễn, bọt, bóng tạo nghiệp, thọ tội; bạn nói như vậy chẳng phải oan uổng lắm sao?

Phật dạy chúng ta: ‘Pháp c̣n phải xả, huống chi là phi pháp’.  Xả tức là không nên chấp trước.  Phật pháp cũng không được chấp trước, huống chi là pháp thế gian?  Việc này được giảng vô cùng thấu triệt; nếu bạn chẳng chấp trước ǵ hết th́ tâm bạn sẽ thanh tịnh, tự tại.  Đó tức là câu ‘Tín tâm thanh tịnh, ắt sanh thật tướng’ trong kinh.  Tự tánh Bát Nhă hiện tiền, lúc đó sẽ nhập Như Lai Địa.  Tại sao chúng ta khởi vọng tưởng?  Tại sao tự ḿnh lại gây chuyện rắc rối cho ḿnh?  Hy vọng các bạn đồng tu đặc biệt chú ư điểm này, phải thường xuyên nhắc nhở chính ḿnh: ‘lúc khởi tâm động niệm, hết thảy tạo tác, đừng gây rắc rối cho ḿnh’.

Bạn có gây trở ngại cho người khác chăng?  Nói cho quư vị biết tuyệt đối chẳng có.  Nếu bạn có năng lực gây trở ngại cho người khác, chư Phật cũng tôn bạn làm thầy.  Nguyên nhân là ǵ vậy?  Hết thảy chư Phật chẳng có năng lực này!  Bạn làm sao có năng lực này?  Bạn nói có thể gây trở ngại cho người khác, đó đều là hảo hợp, nhân duyên [trùng hợp], đâu phải bạn có năng lực này?  Đây là khởi vọng tưởng.  ‘Một miếng ăn, một hớp nước đều đă định sẵn từ trước’, đây là định luật nhân quả.  Bạn làm sao có năng lực thay đổi nhân quả?  Chẳng có đạo lư này.  Ngay cả Phật, Bồ Tát cũng chẳng thể thay đổi nhân quả, trong kinh đă nói quá nhiều rồi, nêu thí dụ cũng rất nhiều.  Nếu Phật có năng lực thay đổi nhân quả th́ chúng ta đâu cần phải tu hành chi nữa?  Nếu Phật chẳng độ chúng ta thành Phật th́ Ngài đâu có từ bi?  Nói thiệt ra Phật không có năng lực thay đổi nhân quả, nhất định là ‘tự ḿnh làm, tự ḿnh chịu’; tự bạn khởi lên vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, th́ bạn phải đích thân đoạn trừ chấp trước, phân biệt, vọng tưởng.  ‘Mở thắt gút vẫn phải do người buộc mở’, chuyện này bất cứ người nào khác cũng chẳng giúp được, đây là chân lư.

 

e.      Ban châu Tam muội.

Đức Phật từ bi đối với chúng ta bằng cách giải thích rơ chân tướng sự thật cho chúng ta biết, Ngài giúp chúng ta chỉ có thể giúp đến mức này, những việc sau đó phải do ḿnh tự giải quyết.  V́ vậy niệm Phật phải ‘chắc thật niệm’!  Phương pháp của Kiết Tường Vân tỳ kheo dùng trong kinh Hoa Nghiêm là phương pháp chúng ta thường gọi : ‘Ban Châu Tam Muội’.  Đây là một phương thức tu hành rất hay, chúng ta nên tham khảo.  Trong Niệm Phật Đường hiện nay chúng ta chia thành ba khu vực: chỉ tịnh, lạy Phật, và nhiễu Phật.  Nhiễu Phật tức là Ban Châu Tam Muội.  Hành Sách đại sư có viết cuốn ‘Tịnh Độ Tập’, phía sau có một đoạn dạy phương pháp niệm Phật trong Niệm Phật Đường, lúc chưa coi quyển sách này, tôi cũng đă nghĩ đến một phương pháp rất giống phương pháp của Ngài.  Đạo tràng ngày xưa lớn, chúng (người trụ) ở đó nhiều, cho nên chia thành ba nhóm, mỗi nhóm có bốn vị pháp sư dẫn đầu, một nhóm nhiễu Phật, hai nhóm kia chỉ tịnh.  Nhiễu Phật phải niệm ra tiếng, chỉ tịnh th́ im lặng, trong tâm niệm theo.  Một nhóm nhiễu Phật vài ṿng xong rồi trở về chỗ cũ của ḿnh.  Nhóm thứ hai tiếp tục nhiễu Phật.  Phương pháp này là dành cho chúng sanh đời mạt pháp, nghiệp chướng quá nặng, không có năng lực kinh hành trong thời gian dài, để cho bạn ngồi xuống nghỉ mệt, cho nghỉ mệt là ḷng đại từ đại bi của Tổ sư.

Ban Châu Tam Muội thực sự th́ trong chín mươi ngày đều nhiễu Phật, chẳng được ngồi, chẳng được nằm, ngày đêm chẳng gián đoạn.  Quư vị nghĩ coi ngày nay ai có năng lực như vậy?  Ai có thể làm được đến chín mươi ngày?  Cổ đức trong chú giải cũng lo người đời sau chẳng có thể lực, chẳng đủ tinh thần nên giảm thành bảy ngày.  Họ nói bảy ngày, tôi thâu ngắn lại thành một ngày.  Bạn có thể trong một ngày không ngủ, không ngồi, không nằm suốt hai mươi bốn giờ, chỉ nhiễu Phật, đây là phương pháp tu hành Ban Châu Tam Muội.

Dụng công cả ngày trong Niệm Phật đường thực sự rất mệt, khi nào mệt th́ có thể ngồi xuống nghỉ mệt, chỉ nghỉ một lát, cảm thấy có thể đi trở lại th́ liền đứng dậy nhiễu; ngồi xuống là v́ thân thể mỏi mệt chịu không nổi, xin Phật cho phép nghỉ mệt, là phương pháp như vậy.  Thế nên trong Niệm Phật đường dùng nhiễu Phật làm [phương pháp] chính; lúc nhiễu Phật phải niệm ra tiếng; chúng ta ngày nay có máy niệm Phật rất tiện lợi, [chúng ta có thể] niệm theo tốc độ và âm điệu của máy niệm Phật.  Pháp khí chỉ cần một người dẫn khánh, và gơ khánh vào lúc niệm chữ ‘Đà’ trong câu ‘A Di Đà Phật’.  Hiện nay phần đông người ta gơ hai tiếng vào hai chữ ‘A’ và ‘Đà’, trên thực tế chỉ cần gơ vào chữ ‘Đà’, đích thật rất tiện lợi, như vậy mới dễ nhiếp tâm, mới thực sự làm được ‘Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối’.  ‘Tịnh niệm’ tức là chẳng có hoài nghi, chẳng xen tạp th́ niệm của bạn sẽ ‘tịnh’.  Tiếp nối tức là không đứt đoạn, niệm Phật chẳng đứt đoạn, miệng tạm ngừng không niệm ra tiếng, nhưng trong tâm niệm Phật chẳng ngừng.  Nếu có thể huấn luyện trong một thời gian dài, lại được Tam Bảo gia tŕ, tôi tin tưởng thân thể bạn sẽ ngày càng khỏe, càng cường tráng, tinh thần càng sung túc, mặt mày càng trang nghiêm, đây là đạo lư nhất định.  Hiệu quả học Phật phải từ đây mà nh́n, mới nắm chắc sự văng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới.

 

f.