Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục
Phần 6
1.
Dạy về luân thường đại giáo
* Phải tận tánh học Phật mới có thể tận hết luân thường học Khổng. Phải tận hết luân thường học Khổng mới có thể tận tánh học Phật. Thử coi những bậc đại trung, đại hiếu và những vị phát huy tâm pháp của thánh hiền trong Nho Giáo xưa nay không vị nào là chẳng nghiên cứu kinh Phật sâu xa, ngầm tu thầm chứng. Hợp hai đạo Phật và Nho lại th́ cả hai cùng tốt đẹp, tách ra th́ cả hai cùng bị tổn thương; bởi lẽ, người trong cơi đời không ai chẳng thuộc trong ṿng luân thường, mà cũng không ai ra khỏi tâm tánh được. Để trọn vẹn luân thường tâm tánh ấy th́ dùng “chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện” của nhà Phật để khắc kỷ, giữ lễ, ngăn ḷng tà, giữ ḷng thành, dùng “cha hiền, con hiếu, anh nhường, em kính” để hỗ trợ. Do vậy, cha con, anh em v.v... dắt d́u nhau cùng trọn vẹn luân thường, tâm tánh, trừ khử phiền hoặc huyễn vọng để khôi phục Phật tánh sẵn có. Chẳng những về thể là một, mà về dụng cũng chẳng có hai!
* Phải biết rằng
Phật pháp là pháp chung của cả chín pháp giới, không
một ai là chẳng nên tu mà cũng không ai là chẳng
thể tu nổi. Những kẻ nói Phật giáo vứt
bỏ nhân luân, làm hại thánh đạo đều là
những kẻ mù chẳng thấy h́nh sắc cứ
luận càn. V́ sao nói như thế? Đức Phật
đối với cha dạy ḷng từ, với con dạy
ḷng hiếu, với vua dạy ḷng nhân, với bầy tôi
dạy ḷng trung, chồng xướng vợ theo, anh
nhường, em kính.
Với những lời lẽ hay
đẹp, những hành vi tốt đẹp, không
điều nào kinh Phật lại chẳng thuật rơ túc
nhân hậu quả, tiền nhân hậu quả. Những
điều Phật dạy về ḷng từ, ḷng hiếu...
giống với Nho Giáo, nhưng những điều đạo
Phật dạy về nhân quả ba đời th́ Nho giáo c̣n
chưa bao giờ được nghe đến, huống
hồ là “đoạn Hoặc chứng chân” và “viên măn Bồ
Đề, quy về pháp vô sở đắc”! Tiếc là
những kẻ ấy chưa được biết
đến, chứ nếu đọc kỹ, nghĩ chín,
ắt sẽ khóc lóc, đau đớn, tiếng rền
cả đại thiên thế giới, buồn thương
v́ tội lỗi báng Phật vậy!
* Muốn học Phật,
Tổ, trước hết phải giữ pháp Thánh
Hiền. Nếu như thiếu sót bổn phận, trái
nghịch luân thường th́ đă là kẻ tội nhân danh
giáo, c̣n làm đệ tử Phật sao được?
Phật giáo tuy vượt ngoài thế pháp, nhưng gặp
vua nói Nhân, gặp bầy tôi nói Trung, gặp cha nói Từ,
gặp con nói Hiếu, từ cạn mà lần đến
sâu, hạ học thượng đạt (học
từ những điều căn bản, thấp kém,
nhưng đạt được những điều cao
quư). Hăy
đọc kỹ An Sĩ Toàn Thư, ắt sẽ biết
được đại khái vậy!
* Muốn làm Phật tử chân
thật, phải bắt đầu làm chân Nho trước
đă. Nếu đối với những sự như chí
tâm thành ư, khắc kỷ, giữ lễ, giữ ḷng kính,
trọng ḷng thành, hiếu đễ, vui vẻ, cung kính... mà
chẳng thể tu tập, đôn đốc th́ nền
tảng chẳng kiên cố, học Phật sao
được? Chọn lấy tôi trung trong đám con
hiếu; kẻ tánh hạnh trái nghịch Nho phong lẽ nào
gánh vác được gia nghiệp của Như Lai, trên
nối tiếp huệ mạng, dưới hóa độ
chúng sanh cơ chứ?
Phật pháp không sự ǵ to lớn
chẳng bao hàm, không điều ǵ nhỏ nhặt chẳng
nêu lên. Dù là pháp thế gian hay xuất thế gian, không
một pháp nào lại chẳng thuộc phạm vi của
Phật pháp. Những kẻ câu nệ, hủ bại trong
thế gian thường cứ bảo “xuất gia là trái
nghịch luân lư”, họ đều là hạng chưa suy xét
thấu đáo đă vội hủy báng, sợ mắc
nghẹn nên bỏ ăn, tự chôn vùi tánh mạng, thật
là đáng thương!
Nếu có mở rộng
được tầm mắt th́ mới biết Phật
pháp lưu truyền rộng răi khắp trong ngoài Trung Hoa,
đạo pháp thạnh hành cả hai ngàn năm qua,
được rất nhiều vua thánh, tôi hiền, hào
kiệt, vĩ nhân hộ tŕ, truyền bá. Lẽ
đương nhiên đạo ấy phải là chân
đạo mà phàm t́nh chẳng thể suy lường
được nổi! Dù có bị một hai gă nho sĩ câu
nệ, hủ bại bài xích, hay những tên vua bạo ác
hủy phá, rốt cuộc hai tay vẫn không che nổi
mặt trời, ngửa mặt nhổ lên trời, chỉ càng
tự phô bày cái thấy biết kém cỏi, ít ỏi của
ḿnh mà thôi, tự lầm lạc gây tạo tội lỗi,
chứ rốt cuộc Phật pháp có bị tổn hại
ǵ đâu?
Lại có kẻ bề ngoài làm ra vẻ
chê bai Phật pháp, chứ bề trong lại thực sự
tu chứng. Từ đời Tống đến nay,
những bậc danh nho không có ai là chẳng như vậy
cả! Cho nên Quang tôi nói “thành ư chánh tâm do vậy hăy c̣n
khiếm khuyết” thật đúng là lời bàn quyết
định vậy!
* Đối với việc học Phật, vốn phải trọn vẹn nhân đạo mới ḥng hướng đến được. Nếu chẳng thật sự thực hành hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, dù có suốt ngày thờ Phật, Phật cũng chẳng gia hộ! Ấy là v́ Phật giáo bao gồm hết thảy các pháp thế gian, xuất thế gian. V́ thế với cha nói Từ, với con nói Hiếu, khiến ai nấy đều tận hết bổn phận làm người, sau đấy mới tu pháp xuất thế. Ví như muốn dựng lầu cao vạn trượng, ắt trước hết phải đắp nền móng kiên cố, khai thông đường nước th́ lầu cao vạn trượng mới có thể xây lên được, mới vĩnh cửu chẳng hư hoại. Nếu như nền móng chẳng vững, ắt chưa xây xong đă sụp.
Sách Luận Ngữ nói: “Tuyển trung
thần ư hiếu tử chi môn” (chọn tôi trung
từ nơi con hiếu); học Phật cũng giống như vậy.
Xưa kia, ông Bạch Cư Dị hỏi Ô Sào Thiền
Sư: “Thế nào là đại ư Phật pháp?” Sư
dạy: “Đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều lành”. Muốn học Phật pháp, phải
khắc kỷ, dè dặt, việc ǵ cũng đều
phải phát xuất từ cái tâm chân thật mà làm.
Người như vậy mới đáng gọi là chân
Phật tử. Nếu tấm ḷng gian ác, lại toan
mượn Phật pháp để tránh tội nghiệp, có
khác ǵ trước đă uống thuốc độc, sau
lại uống thuốc bổ, muốn cho thân thể
khỏe mạnh, nhẹ nhàng, kéo dài tuổi thọ,
phỏng có được chăng?
* Đại trượng phu
muốn văn chương thiên hạ, công nghiệp vang
dội vũ trụ, nhưng chẳng thể đoạn
Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử th́ chỉ là
chấp vào cái bên ngoài, bỏ sót cái bên trong, chấp cái Có tuy
nó chỉ là đằng ngọn, bỏ đi cái Không dù nó
chính là đằng gốc. Người đời ai có thể
vẹn toàn được mọi việc, chúng ta chỉ
nên gắng sức giữ vẹn luân thường, tận
lực tu Tịnh nghiệp là được, cần ǵ
phải bận tâm đến điều ǵ khác nữa!
* Trộm nghĩ Nho lễ coi
trọng cúng tế Xuân Thu, Thích giáo đặt nặng
việc quanh năm truy tiến. Nghĩ đến cái ân
nguồn nước, cội cây mà thực hành cẩn
thận, chu đáo việc truy tiến th́ thế gian,
xuất thế gian nào có gián đoạn chi?
2.
Luận về giáo dục gia đ́nh
* Gia đ́nh muốn hưng
thạnh, phải bắt đầu từ gia quy nghiêm
chỉnh. Gia đ́nh gần như tan nát là do từ đầu
đă bỏ phế gia quy. Muốn con em thành người,
phải bắt đầu từ hành vi, việc làm của
ḿnh sao cho đúng phép tắc ḥng làm gương cho con em. Lư
nhất định phải như thế! Như nay
muốn bắt đầu [giáo dục con em] ít tốn công
sức nhất, trước hết hăy nói về nhân
quả báo ứng khiến chúng tập thành tánh, mới ḥng
mai sau chúng chẳng đến nỗi làm càn quá đáng.
Đây thật đúng là diệu pháp bậc nhất
để tề gia, dạy con, khiến đời yên, dân
hiền vậy.
* Con em có nên người hay
chăng chỉ là do giáo dục trong gia đ́nh. Phàm
đối với con cái, ngay từ nhỏ phải dạy
chúng hiếu, đễ, trung, tín, cần kiệm, ôn ḥa, cung
kính, để khi chúng lớn lên đi học đọc
sách mới có nền tảng để hưởng
được lợi ích. Nếu như từ nhỏ
đă dung túng thành thói, hăy khoan kể đến những
đứa không thiên tư, không được học hành
đàng hoàng; ngay cả những đứa có thiên tư, có
học hành đàng hoàng cũng chỉ thành thợ gọt
giũa chữ nghĩa, thành kẻ bại hoại trong
cửa Nho mà thôi!
Đời có kẻ tài ngang Bắc
Đẩu, học rộng năm xe, nhưng hành vi,
việc làm toàn là ỷ ḿnh thông minh, độc hại sanh
linh, hủy diệt đạo nghĩa. Những hạng
ấy vốn là do từ thuở đầu đă thiếu
sự giáo dục trong gia đ́nh mà nên nỗi. Văn
Vương nghiêm khắc kể từ vợ góa cho
đến anh em để giữ ǵn gia đ́nh, đất
nước; cũng như sách Đại Học nói
muốn trị thiên hạ, quốc gia phải bắt
đầu từ “cách vật trí tri, thành ư chánh tâm” đều
v́ cùng một mục đích. Đấy chính là bí quyết
vô thượng để dạy con người trở
thành thánh, thành Hiền của đạo Nho. Bỏ
điều này, cầu lấy điều khác th́
đều toàn là t́m ṭi nơi cái ngọn vậy!
* Với t́nh h́nh hiện
tại, ngay khi con cái biết nói, nhận biết sự
vật, trong nhà hăy dạy con nhận biết mặt
chữ trước. Mỗi tờ giấy chỉ viết
một chữ, đừng viết cả hai mặt.
Hạn định mỗi ngày mấy chữ, mỗi ngày
học thuộc mặt những chữ đó xong lại
bắt con nhận mặt toàn bộ các chữ đă
học một hai lượt nữa. Chưa hơn một
năm, con sẽ biết được nhiều chữ.
Sau này lúc con đọc sách, phàm đọc qua chữ nào
đều nhận biết được cả, chẳng
đến nỗi có cái tệ miệng chỉ đọc
làu làu [nhưng vẫn không biết chữ].
Tùy theo năng lực của con, sai con
làm những việc lặt vặt để tập tánh
siêng năng. Đừng cho con ăn uống, mặc
quần áo quá sang trọng. Phàm những khi con phí phạm
ngũ cốc và làm hư hỏng vật ǵ, chẳng
cần biết vật ấy quư giá hay tầm thường
thế nào, phải bảo cho con biết những vật
ấy chế tạo chẳng dễ, cũng như nói
đến những nghĩa lư bị tổn phước,
giảm thọ v.v... Nếu con vẫn vậy, nhất
định phải trách phạt, quyết chẳng bỏ
qua. Có như thế, con sẽ tự kiệm ước,
trọn chẳng đến nỗi xa xỉ, phung phí.
Khi con đọc được sách,
bảo con hăy đọc kỹ các sách Âm Chất Văn,
Cảm Ứng v.v... thuận theo từng mặt chữ mà
giảng giải. Hễ hành vi hằng ngày của con là
tốt lành, bèn chỉ cho con thấy điều thiện
trong hai sách ấy để khen ngợi. Nếu hành vi nào
không tốt, bèn lấy những điều bất
thiện trong hai sách ấy để quở trách. Như
vàng đổ khuôn, như nước có đê ngăn,
lẽ nào chẳng thành vật dụng, vẫn cứ
chảy lung tung như cũ ư? Con người có đúng
là người hay không là do từ nền tảng ấy.
Chẳng giảng đến điều ấy, lại
muốn trở thành con người vẹn toàn th́ họa
chăng thiên tư phải hơn cả Mạnh Tử!
Đến tuổi đi học,
đừng cho con vào học ngay những trường
hiện thời đang mở, hăy nên cho con học ở nhà
vài năm trước đă. Mời một vị thầy
học vấn, đức hạnh đều tốt
đẹp, tin sâu nhân quả để dạy con học
Tứ Thư, Ngũ Kinh. Đợi đến khi con học
được mấy phần, văn tự lẫn
đạo lư chẳng bị lầm lạc bởi
những tà thuyết, tục luận, mới cho con vào
học những trường hiện thời để
mở rộng tầm mắt, biết suy xét việc,
chẳng đến nỗi hành động trái thời,
không cách ǵ tiến lên được!
Làm được như thế,
đứa con nào có thiên tư sẽ tự thành đạt,
đứa không thiên tư cũng thành người
lương thiện. Thật sự ra, những
điều lăo tăng hay nói chẳng ngoài những
chuyện “riêng ḿnh thiện, khiến người khác
cũng thiện, tự lợi, lợi người”!
* Dạy con cái phải bắt
đầu từ căn bản. Cái căn bản vừa
nói đó chính là hiếu với cha mẹ, giúp đỡ
mọi người, nhẫn nhục, chuyên gắng, dùng
chính thân ḿnh dạy dỗ người khác, nêu gương
đạo đức. Như vàng hay đồng đă nung
chảy, nghiêng rót vào khuôn, khuôn ngay sẽ ra h́nh ngay, khuôn méo
thành h́nh méo. Chưa đổ vào khuôn đă biết
trước là sẽ lớn, nhỏ, dày, mỏng, huống
hồ là khi đúc xong.
Gần đây, nhân t́nh phần nhiều
chẳng biết đến điều ấy, thế nên
những con em có thiên tư đa phần ngông cuồng,
bồng bột, kẻ không thiên tư lại ương
bướng, hèn kém. Đó là v́ lúc nhỏ chẳng uốn
vào khuôn phép, như nước đồng sôi đổ vào
khuôn hỏng ắt phải thành đồ hư. Kim
loại vốn chỉ một, nhưng đồ đúc ra
sai khác nhau một trời một vực, tiếc thay!
Phật lấy Vô Ngă làm giáo. Hiện
tại, những kẻ có chút tri kiến thường nh́n
lên tận trời, cứ tưởng chỉ có nghĩa lư
văn tự mới là Phật pháp, chẳng biết tu thân,
tịnh tâm, diệt trừ ngă tướng, tận lực
tu Định - Huệ ngơ hầu đoạn Hoặc
chứng Chân là Phật pháp!
* Trộm nghĩ: cha mẹ yêu
con không ǵ chẳng quan tâm đến, chỉ trừ khi
bị bệnh tật, hoạn nạn mới bớt quan
tâm. Con trẻ vừa biết nói liền dạy nó niệm
danh hiệu nam mô A Di Đà Phật và nam mô Quán Thế Âm
Bồ Tát, khiến cho những điều kém xấu đă
vun bồi trong đời trước của nó nay nhờ
thiện lực này ắt tai họa sẽ tiêu ngay khi
chưa nảy mầm, được phước nhưng
chẳng biết, không c̣n phải lo ǵ đến các
hiểm nạn tai ương, bệnh tật, khổ
sở v.v...
Khi con vừa hiểu biết đôi
chút, liền dạy con trung thứ, nhân từ, kiêng
giết, phóng sanh và những sự tích nhân quả ba
đời rành rành ngơ hầu tập thành tánh, ngay từ lúc
c̣n thơ đă chẳng dám giết hại tàn nhẫn các
loài trùng kiến nhỏ nhoi, lớn lên quyết chẳng
đến nỗi làm điều gian ác, khiến cha mẹ,
tổ tiên mang nhục lây!
* Con em có tài năng, nếu
được khéo giáo hóa sẽ dễ trở thành
người chánh trực; không khéo giáo hóa đa phần
sẽ thành hạng bại hoại. Ngày nay dân không lẽ
sống, nước nhà lắm nỗi gian nan, mấy phen
chao đảo đều là do những kẻ có tài năng
nhưng không được khéo dạy khiến mầm
họa được ươm từ từ.
Người không có tài, đương nhiên phải dạy
họ thành thực; với người có tài càng phải
nên dạy họ thành thực.
Thế nhưng thành thực vẫn có
thể là giả vờ. Thoạt đầu, hăy
thường nên dạy dỗ về nhân quả báo ứng
và lẽ “con người khởi tâm động niệm ǵ,
mỗi mỗi điều thiên địa quỷ thần
đều biết đều hay cả”, khuyên con phải
đọc kỹ các sách Âm Chất Văn, Thái Thượng
Cảm Ứng, đừng cho rằng chúng không phải là
sách Phật rồi xem thường. Ấy là v́ phàm phu tâm
lượng thiển cận, nếu dùng những lư xa xôi
lớn lao để giảng nói sẽ khó thể lănh
hội được. Những sách ấy dù già hay trẻ
nghe đến đều được lợi ích cả,
huống hồ là những người lấy việc chú
trọng điều thiện làm thầy ư?
Với tử thi, phân nhơ, rắn
độc mà đức Phật c̣n dạy người quán
để chứng A La Hán, số đó nhiều hơn
hằng hà sa; huống hồ là những lời lẽ
thiết thực, tồn dưỡng, cảnh tỉnh này
[há nên xem thường] ư?
* C̣n thuộc địa vị
phàm phu chẳng thể không bệnh được,
nhưng cũng chẳng nên bỏ mặc chẳng trị.
Cách trị bệnh tốn ít sức nhất lại
được lợi ích nhiều nhất là lấy
bệnh làm thuốc. Lấy bệnh làm thuốc nghĩa là
chẳng để bệnh lụy ḿnh. Chẳng hạn
như cái bệnh yêu mến con cái quyết chẳng thể
đoạn được th́ chẳng ngại ǵ dùng ngay
sự yêu mến đó làm cái gốc khiến cho con cái khi
sống làm người chân chánh, chết đi sanh về
Tịnh Độ. Yêu con như vậy là biến phàm t́nh
thế gian thành thánh quả xuất thế gian. Nếu
chẳng khéo sử dụng ḷng Ái, mặc ḷng nuông chiều
con th́ c̣n hơn giết chết con cả trăm ngàn
vạn ức vô lượng vô biên lần! Nước nhà
diệt vong, nhân dân đồ thán đều là do những
kẻ cha mẹ chẳng hiểu rơ sự t́nh un đúc nên,
chẳng đáng buồn ư?
* Muốn cho con cháu chẳng
hướng theo nẻo bại hoại, cùng nhau noi theo chánh
đạo th́ nên lấy các sách Cảm Ứng Thiên Vựng
Biên, Âm Chất Văn Quảng Nghĩa làm kim chỉ nam. Dù
những làn sóng thế tục xấu ác có bủa ngập
trời, mây đen phủ kín mặt nhật, cũng
chẳng đến nỗi chẳng biết hướng
về đâu, ch́m đắm mất cả.
Nếu không, dù gió lặng, sóng yên,
mặt trời soi tỏ cũng khó bảo đảm không
có nước xoáy ngầm, vào đó liền bị
đắm ch́m, huống hồ trọn chẳng có
chuyện gió yên, sóng lặng, mặt trời soi thấy
tỏ thế đạo nhân tâm! Phải biết nội
dung hai chữ Âm Đức rất rộng. Thành tựu con
em người ta, khiến chúng thành thánh thành hiền,
cố nhiên thuộc về Âm Đức. Thành tựu con em
ḿnh khiến chúng thành thánh, thành hiền cũng là âm
đức. Ngược lại, khiến con em người
ta bị lầm lạc đương nhiên là tổn âm
đức; khiến con em ḿnh lầm lạc cũng tổn
âm đức. Nếu vừa đủ khả năng
lẫn đủ sức th́ may mắn nào hơn!
Nếu không, đối với
những hành vi, ngôn ngữ hằng ngày trong gia đ́nh,
phải lấy việc thành thánh, thành hiền làm
đầu, đấy chính là dùng Tục để tu Chân.
Nay cư sĩ dùng thân ḿnh thuyết pháp, xin hăy đem ư này
thiết tha bảo cùng bè bạn và hết thảy
người quen biết th́ cũng là một cách để
tự lập, lập người, tự lợi, lợi
tha vậy!
* Nhà Châu mở nước là do
ba bà Thái tạo lập nền tảng, Văn Vương
thành thánh là nhờ thai giáo. Do vậy biết rằng:
thế gian không có bậc thánh, bậc hiền là do
đời thiếu những người mẹ thánh
hiền mà nên nỗi! Nếu như bà mẹ nào cũng
giống như ba bà Thái, dù con họ chẳng thành
Vương Quư, Văn Vương, Châu Công, cũng hiếm
đứa làm bậy, gian ngoa. Thế nhưng người
đời chỉ biết yêu thương con cái, mặc
t́nh nuông chiều thành thói, chẳng biết làm gương
cho con. Đây chính là một điều đại bất
hạnh của nước ta.
Con người lúc c̣n nhỏ
thường gần bên mẹ, nên chịu ảnh
hưởng của mẹ rất sâu. Con gái ngày hôm nay
sẽ là mẹ người khác trong mai sau. Muốn vun
đắp quốc gia, phải lấy việc dạy
dỗ con gái làm nhiệm vụ cấp bách. Đừng
bảo: “Con gái là con người ta, cần ǵ phải
mất công lo lắng?” Phải biết rằng: V́ trời
đất mà tài bồi một kẻ lương dân biết
giữ phận, không công đức nào lớn hơn.
Huống hồ nếu một cô gái đức hạnh
vẹn toàn, con cái cô ta ắt sẽ noi theo nề nếp
tốt đẹp đó, c̣n ǵ vẻ vang hơn?
Vả nữa, con dâu, cháu dâu ḿnh
chẳng phải là con gái nhà người đó sao? Muốn
cho đất nước quật cường, không có
hiền mẫu th́ không có cách nào hỗ trợ
được cả. Đời không mẹ hiền th́
chẳng những nước không dân lành, nhà không con ngoan, mà
ngay cả những gă thầy chùa bại hoại sống
bám vào Phật trong Phật pháp thảy đều do
những bà mẹ bất hảo sanh ra. Nếu mẹ
thật sự hiền, con sẽ trọn chẳng
đến nỗi đớn hèn như thế. Tiếc
thay!
* Gia quyến của ông rất
đông, khi các cô em dâu, em gái, con gái v.v... của ông đi
học về, hăy đem những sự những nhân
quả báo ứng và lợi ích của việc niệm
Phật bàn luận cùng họ, ngơ hầu ai nấy
đều biết “trong tâm ḿnh đă tự biết th́ tâm
sẽ tương thông thiên địa quỷ thần
cũng như sẽ tương thông với từ phụ
Di Đà”. Do vậy, họ sẽ đoạn trừ ác
niệm, tăng trưởng chánh tín, ngơ hầu hiện
tại đáng làm vợ hiền, tương lai xứng làm
hiền mẫu khiến cho [nết tốt] đó truyền
lan trong làng xóm, đấy cũng là pháp luân căn bản
để b́nh trị thiên hạ quốc gia.
Bồ Tát thuận theo thế tục
lợi sanh, chẳng bày vẽ phong cách riêng, đối
bệnh cấp thuốc khiến cho ai nấy đều
đúng đường về nhà mới thôi. Hiện
tại, các phụ nữ trong chốn học
đường đa phần lầm lạc sanh dị tâm,
toan nắm lấy chánh quyền, chẳng biết tự
giữ bổn phận giúp chồng dạy con chính là căn
bản khiến thiên hạ thái b́nh. Bởi lẽ
vương nghiệp nhà Chu bắt nguồn từ ba bà Thái.
Ba bà Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự là những
bậc thánh trong hàng nữ nhân, họ chỉ chú trọng
vào việc dạy con ngay từ lúc c̣n trong thai để
ngầm giúp chồng. Người đời nay chẳng
học theo gương đấy, những điều
họ toan tính đều là những mưu mô tai ác khiến
thiên hạ loạn lạc biết là chừng nào!
* Người sanh trong thế
gian phải có thiện ác phụ trợ mới ḥng thành
tựu được. Dù là bậc thánh trời sanh,
vẫn cần phải có hiền mẫu, hiền thê
phụ trợ đạo đức, huống hồ là
những kẻ kém cỏi hơn ư? Do bà Thái Nhậm
dạy con từ thuở trong thai nên Văn Vương sanh
ra đă có thánh đức. V́ thế kinh Thi khen ngợi
chuyện ngài nghiêm khắc từ vợ góa cho đến
anh em để giữ yên gia đ́nh, đất
nước. Đấy chỉ là nói riêng về Văn
Vương, chứ nếu luận về bà Thái Tự,
cố nhiên đức hạnh của bà cũng bổ
trợ cho đường lối đạo đức
của Văn Vương, như hai ngọn đèn cùng
chiếu càng thấy sáng rỡ, hai tay cùng rửa mới
được sạch sẽ. Cứ xem những lời
ông Tư Trai khen ngợi tiếng thơm của các bà Thái
Nhậm, Thái Tự ắt sẽ thấy rơ.
V́ thế mới nói: đời ít
người hiền là do đời thiếu mẹ
hiền và vợ hiền vậy! Đó là v́ vợ hiền
sẽ ngầm giúp chồng, mẹ hiền dạy con cái
ngay từ lúc c̣n trong thai. Huống hồ mấy năm
đầu tiên, luôn ở bên mẹ, được uốn
nắn theo khuôn mẫu tốt đẹp, thường
được răn dạy, tánh t́nh sẽ ngầm
chuyển biến, chẳng mong đợi mà
được vậy.
Tôi thường bảo: “Dạy con gái
là cái gốc để tề gia trị quốc”, lại
cũng thường nói: “Quyền trị quốc b́nh thiên
hạ, nữ nhân đă nắm giữ quá nửa!” chính là ư
này. Bởi lẽ, kẻ có thiên tư cao được
mẹ hiền un đúc, được vợ hiền giúp
đỡ, ắt sẽ trở nên ư thành, tâm chánh, rạng
đức sáng, chuyên chí nơi việc lành, lúc cùng th́ riêng
ḿnh thiện, lúc đạt th́ khiến thiên hạ cùng
thiện. Dù là kẻ thiên tư b́nh thường cũng
vẫn có thể tuân thủ quy củ, một bề
giữ phận lương dân, trọn chẳng đến
nỗi vượt lư trái phận, làm điều sai
quấy, gian dối, khiến cha mẹ nhục nhă, gây
hại cho đời.
Tiếc cho người đời
mơ màng chẳng dạy con gái tận hết luân
thường, giữ bổn phận, hằng ngày chỉ lo
trau chuốt, chẳng màng đến chuyện ǵ khác. Mai kia
làm vợ người ta, làm mẹ người ta, chẳng
những chẳng thể giúp chồng dạy con trở
thành thiện sĩ, trái lại c̣n dạy con hóa thành kẻ
ác. Bởi vậy mới nói: Đối với con gái,
phải dạy họ chú tâm đến việc dạy
dỗ con cái [mai sau]. Những câu tôi đă nói như “dạy
con gái là cái gốc để tề gia trị quốc” và
“quyền trị quốc b́nh thiên hạ, nữ nhân
chiếm quá nửa” chính là lời chân thật.
Gần đây, học vấn phát
triển mạnh mẽ, phụ nữ đi học đa
phần bị những giáo viên chẳng biết dạy
từ cội gốc làm cho lầm lạc. Do đó, họ
chẳng coi trọng việc tận hết luân
thường, giữ bổn phận, yên cửa yên nhà, giúp
chồng dạy con. Ai nấy đều muốn nắm
lấy chánh quyền, làm trưởng quan, toan tính quá
phận, tập thói cuồng vọng, thật đáng than
vậy! Nếu như có kẻ làm đầu cực
lực đề xướng việc vun bồi trong gia
đ́nh khiến cho việc tu thân, tề gia, trị
quốc, b́nh thiên hạ tự nhiên được hữu
hiệu th́ may mắn thay!
* Phận làm con cố nhiên
phải tỏ bày đức hạnh của cha mẹ.
Để tỏ bày đức ấy phải chú trọng
đến việc thân ḿnh tự hành, bản thân phải
khắc kỷ giữ lễ, ngăn tà, giữ ḷng thành,
biết sai liền sửa, thấy điều nghĩa bèn
làm, hiểu nhân rơ quả, kiêng giết, phóng sanh,
đừng làm các điều ác, vâng làm các điều
thiện, sanh Tín, phát nguyện tŕ danh hiệu Phật,
tự hành, dạy người cùng sanh Tịnh Độ.
Làm được như vậy, dù
người ta chẳng biết đến đức
hạnh của cha mẹ, nhưng do ngưỡng mộ
đức hạnh của người ấy cũng
sẽ ngưỡng mộ lây cả đức hạnh
của cha mẹ, tổ tiên kẻ đó; cho rằng ông bà
cha mẹ phải ngầm tu đức hạnh đă lâu nên
mới có được con cháu nối tiếp như
thế. Nếu không, dù cha mẹ, tổ tông có đức
tốt ai nấy đều biết, nhưng con cái không ra
ǵ, người ta ắt sẽ đâm ngờ cha mẹ,
tổ tông tuy có đức tốt, biết đâu lại có
những điều ác ẩn giấu. Nếu không, sao
từ cửa đức hạnh tốt đẹp lại
nẩy sanh hạng con cháu tệ hại đến thế?
V́ thế, phải biết rằng:
lập thân hành đạo chính là biểu dương
đức hạnh của cha mẹ, tổ tông. Làm con
phải chú trọng ḷng kính, cẩn thận, dè dặt,
tận lực thực hành như thế mới mong
khỏi làm nhục lây bậc sanh ra ḿnh!
* Đời có hiền mẫu
mới có hiền nhân. Các thánh mẫu đời xưa chú
trọng thai giáo để un đúc bẩm chất con cái
ngay từ thuở đầu, những mong tập quen thành
tánh. Thế gian gọi nữ nhân là Thái Thái là v́ ba vị
thánh nữ Thái Khương, Thái Nhậm, Thái Tự bà nào
cũng giúp chồng dạy con, mở mang vương
nghiệp tám trăm năm. Cho nên mới dùng chữ Thái Thái
để gọi nữ nhân. Quang tôi thường nói:
“Quyền b́nh trị thiên hạ, nữ nhân nắm hơn
quá nửa”. Tôi c̣n thường nói: “Dạy con gái là cái
gốc để tề gia trị quốc” hàm ư: tận
hết đạo làm vợ, giúp chồng dạy con.
Chẳng như nữ lưu ngày nay,
đa phần chẳng giữ bổn phận, vọng
động muốn nắm lấy chánh quyền, làm
đại sự, chẳng biết vun bồi ngay từ
trong gia đ́nh. Đấy đúng là: gom sắt cả chín
châu vạn quốc cũng chẳng thể đúc nổi
lỗi lầm lớn ấy. Bởi vậy, thế
đạo nhân tâm ngày càng suy đồi, tai trời vạ
người thấy xảy ra liên miên. Tuy những tai
vạ ấy do ác nghiệp đồng phận của chúng
sanh cảm thành, nhưng thật ra cũng là do đánh
mất sự giáo dục trong gia đ́nh mà nên nỗi.
V́ thế, kẻ có thiên tư quen thói
cuồng vọng, người không thiên tư thành ra
bướng bỉnh, sàm sỡ. Nếu như ai nấy
đều được mẹ hiền uốn nắn th́
người người đều thành thiện sĩ,
cùng th́ riêng ḿnh thiện, đạt th́ khiến
người khác cùng thiện; sao đến nỗi trên không
đạo để noi, dưới không pháp để
giữ, thói tệ nảy sanh trăm mối, dân không lẽ
sống vậy!
* Chỉ cầu sao chẳng
đói, chẳng rét, mơ chi phát tài cự vạn.
Để vàng ṛng đầy ắp lại cho con, chẳng
bằng dạy con một quyển kinh. Tổ đức
bị sứt mẻ mới đáng chết thẹn,
chứ tổ nghiệp bị sứt mẻ nào có
thương tổn chi!
* Con em nhà phú quư đa phần
chẳng thành người, nguyên do là thương con
nhưng chẳng hiểu đạo: hoặc chỉ chú
trọng đến tiền tài, hoặc chỉ lo cho con
ăn mặc sang trọng. Tiền xài mặc sức ắt
sẽ đến nỗi ăn bậy thành bệnh. Nếu
cho đứa này giữ tiền để sanh lợi th́
những đứa kia chẳng được giữ
sẽ oán hờn cha mẹ, sanh ḷng đố kỵ với
anh, em, chị em nào được giữ tiền.
Đấy đều chẳng phải là cách để
dạy con hiếu đễ. Nếu con gái có tiền, khi
xuất giá ắt sẽ cậy tiền tự kiêu, hoặc
khinh thường chồng, hoặc chẳng hiểu rơ
sự việc, đem tiền giúp chồng làm việc
quấy.
Muốn cho con cái thành hiền nhân th́ hăy
nên bồi phước, chớ nên tích cóp tiền tài.
Của cải là gốc họa. Các vị từng thấy
không ít người tay trắng làm nên đều là do không
tiền tự ḿnh siêng gắng mà được, nhưng
nhà đại phú gia chẳng mấy chốc gia sản
trống rỗng. V́ thế cổ nhân nói: “Để cho
con một rương đầy vàng, chẳng bằng
để cho con một quyển sách”. Đọc sách
được th́ đọc, không đọc
được th́ làm nghề nông, hoặc buôn bán, ai có
nghề nấy để làm cái vốn lập thân nuôi gia
đ́nh. Con gái nếu có tiền lại hiểu đạo
lư, lẽ cố nhiên tiền sẽ thành cái vốn
để trợ đạo. Nếu chẳng hiểu
đạo lư, tiền sẽ hại cô đó, hại luôn
chàng rể, hại lây cả đến cháu trai, cháu gái!
* Con người một
đời thành bại đều là do sự tài bồi,
tập tành dần dần lúc nhỏ mà ra. Ngươi đă
thành thiếu niên phải biết tốt xấu, vạn
phần chẳng được học theo thói đời,
hăy nên học hiếu, học đễ, học trung
hậu, thành thực. Đang lúc tuổi trẻ mạnh
mẽ, cường tráng, hăy nỗ lực đọc sách.
Phàm đọc qua sách nào, phải nghĩ xem những
điều nào sách dạy là trọng yếu đối
với con người th́ thực hành theo đó; chứ
nếu không chỉ là cố ngốn sách cho nhiều.
Nếu những điều dạy
trong các sách nói trên chẳng dễ lănh hội th́ những
điều nói trong các sách như Âm Chất Văn, Cảm
Ứng Thiên v.v... đều là nói trực tiếp, dễ
lănh hội; hăy nên thường đọc, thường
nghiền ngẫm, sửa lỗi hướng thiện. Lúc
nhàn hạ, rất nên niệm A Di Đà Phật và Quán
Thế Âm Bồ Tát để mong tiêu trừ nghiệp
chướng, tăng trưởng phước huệ,
đừng nghĩ là khổ sở. Cổ nhân nói: “Thiếu
tráng bất nỗ lực, lăo nhân đồ thương bi”
(Trẻ mạnh chẳng
nỗ lực, già cả luống sầu thương!) Lúc này bỏ phí quang
âm, về sau dù có nỗ lực cũng khó thành tựu!
Bởi lẽ, tuổi trẻ đă qua, trí nhớ cùn quá
nửa, học cái ǵ cũng phải dùng sức nhiều nhưng
hiệu quả lại ít.
Thứ nhất là phải làm
người tốt, thấy người hiền mong
được bằng, thấy kẻ chẳng hiền
trong ḷng tự cảnh tỉnh,
Thứ hai là phải biết
nhân quả báo ứng, nhất cử nhất động
đừng mặc t́nh khoái ư, mà phải nghĩ việc này
có lợi ích đối với ta, với người thân,
người ngoài hay chăng. Chẳng những làm việc
ǵ cũng như thế mà khi khởi tâm động
niệm cũng phải thường như thế.
Khởi tâm lành ắt có công đức, khởi tâm xấu
ắt mắc tội lỗi. Muốn được báo
tốt th́ phải giữ tâm tốt. Nói lời lành, làm
việc lành, lợi người lẫn vật, chẳng
làm hại ḿnh lẫn người th́ mới nên. Nếu
chẳng vậy, sao hưởng được báo tốt?
Ví như đem h́nh xấu đặt
trước gương sáng, quyết định chẳng
thể hiện bóng đẹp đẽ được.
Ảnh được hiện so với h́nh xấu,
trọn chẳng khác ǵ. Nếu ngươi quả thật
hiểu sâu nghĩa này, tương lai nhất định
thành một bậc chánh nhân quân tử, khiến hết
thảy mọi người đều tôn trọng, yêu kính.
Mong hăy suy nghĩ cẩn thận, nghĩ ngợi chín
chắn th́ thật là may mắn lắm!
3.
Khuyên nên tại gia hoằng pháp
* Như Lai thuyết pháp
hằng thuận chúng sanh. Gặp cha nói Từ, gặp con
nói Hiếu, ngoài tận hết luân thường, trong tiêu
trừ t́nh lự. Nếu như khôi phục
được chân tâm vốn có th́ gọi là Phật
đệ tử, chứ nào có phải v́ đầu tóc mà
luận đâu!
Huống nữa, quư hương (làng)
tuốt trong núi sâu, người biết pháp ít ỏi.
Kẻ cao minh v́ chẳng thông ngôn ngữ nên đều
chẳng đến đấy. Hăy cậy vào ḷng thành
ấy, kiệt lực học đạo, tu hiếu
đễ, ngơ hầu cảm hóa xóm giềng. Trai giới
thành lập, giết trộm dâm liền tiêu.
Nghiên cứu kinh luận Tịnh
Độ ắt hiểu yếu đạo xuất
thế. Thọ tŕ An Sĩ Toàn Thư sẽ hiểu khuôn
mẫu tốt lành khiến cuộc đời thuần
dịu. Dùng pháp môn Tịnh Độ khuyên dụ cha mẹ,
dùng pháp môn Tịnh Độ dạy con và người thân
bè bạn, chính là v́ sanh tử đại sự đau
đáu lo cho thân sau.
Chẳng cần phải chọn riêng
một nơi mà gia đ́nh liền thành đạo tràng, cha
mẹ, anh em, vợ con, bằng hữu, thân thích,
người quen biết đều thành pháp quyến.
Tự hành, dạy người, miệng khuyên, thân siêng
gắng khiến cho mọi người cùng quy hướng
Tịnh Độ, đều thoát khổ luân, đáng
gọi là bậc cao tăng c̣n để tóc, là đệ
tử Phật tại gia vậy!
* Hai vị lệnh thân hiện
c̣n sống th́ hăy nên dùng những cảm ứng, sự tích
của pháp môn Tịnh Độ để thường
giảng nói khiến họ phát tâm hoan hỷ, tin nhận
phụng hành. Nếu chẳng coi đấy là hiếu, dù có
tận sức làm hết những điều thế gian
coi là hiếu, rốt cuộc có ích lợi ǵ cho cha mẹ
đâu?
Vua Đại Vũ là đại thánh
nhân, vẫn chẳng cứu được hồn [cha là]
Cổn hóa thành Hoàng Nai (chữ Năng đọc thành Nai, có nghĩa là con ba
ba có ba chân)
sống trong Vũ Uyên. Thấy vậy chẳng nên kinh
sợ, tỉnh ngộ mong dẫn dắt thần thức
cha mẹ cao dự hải hội, thân cận Di Đà ḥng
chứng được vô lượng quang thọ vốn
có sẵn trong tâm ư?
Cư sĩ Chí Liên dù giỏi khổ
hạnh, nhưng chỉ e với tông chỉ Tịnh
Độ vẫn c̣n có điều chẳng biết,
hoặc có tâm cầu chuyển nữ thân hoặc mong sanh vào
chốn an vui trong đường trời người nên
chẳng thể buông xuống triệt để
được, đến nỗi vô biên lợi ích bị
mất cả vào điều vui thế gian nhỏ nhặt.
Phải nên thường giảng nói khiến cho bà ấy
chí hướng quyết định. Khuyên một chúng sanh
văng sanh Tịnh Độ chính là thành tựu cho một chúng
sanh thành Phật. Thành Phật rồi ắt độ vô
lượng chúng sanh, công ấy bắt đầu từ
ta, công đức lợi ích ấy há nghĩ bàn nổi
chăng?
Tự ḿnh đă tu Tịnh Độ,
lại c̣n phải đem pháp môn này bảo khắp với
mọi người: anh em, thê thiếp, con cái, bảo
họ [các người] lẽ nào chẳng chịu phát tâm,
đành bỏ mất lợi ích lớn lao này ư? Nếu
thiên tánh của họ gần với pháp môn này th́ c̣n ǵ
tốt hơn! Nếu tánh họ hơi xa, giồi mài măi (1)
cũng sẽ nhiễm từ từ, dù xa cũng thành
gần. Đấy đáng gọi là ḷng yêu mến sâu xa,
đáng gọi là ḷng từ rộng lớn. Bỏ tấm
ḷng từ ái này chỉ đáng gọi là hữu danh vô
thật!
* Thái phu nhân niên kỷ đă tám
mươi ba, phải thường khuyến dụ bà tín
nguyện niệm Phật. Nếu bảo bà suốt ngày
niệm Phật chỉ e bà làm không nổi. Trước
đây đă toan lập cách trợ niệm ngay khi c̣n
sống, nhưng nghĩ chưa ra. [Đến khi] Trấn
Thủ Sứ Vương Duyệt Sơn đưa mẹ
lên thăm núi, [tôi thấy] quyến thuộc của ông ta
rất đông bèn t́m ra một cách trợ niệm rất
tuyệt diệu, đă tŕnh bày sơ lược với ông
ta, nay sẽ thưa cùng các hạ. Dù các hạ chẳng
thực hành được cũng chẳng đến nỗi
coi thường bỏ qua, đó cũng là đạo
tự lợi lợi tha vậy.
Trong quyến thuộc của các
hạ, các ông con trai ai nấy đều có chức
nghiệp, cố nhiên khó thể luôn luôn làm được.
Nhưng các bà con dâu th́ vô sự thanh nhàn, những kẻ
hầu gái như các bà vú v.v... ắt chẳng có việc ǵ
quan trọng, ông nên bảo họ căn theo đồng
hồ suốt ngày ở quanh thái phu nhân lớn tiếng
niệm Phật chừng nửa giờ. Hết lượt
bèn đổi phiên, cả ngày chẳng dứt tiếng
niệm Phật.
Thái phu nhân nếu niệm theo
được th́ càng tốt; bằng không th́ chỉ
nhiếp tâm lắng nghe suốt ngày, thường chẳng
ĺa Phật. Các người khác cũng chẳng mất
sức, bởi lẽ cả ngày bất quá chỉ phải
niệm một lượt hay hai lượt, nhưng
thời gian cách khoảng giữa hai lượt cũng khá
dài. Bọn họ không có chuyện ǵ quan trọng, bèn
nhờ đấy mà dốc tận ḷng hiếu, gieo
thiện căn; ngay đến bọn hầu gái cũng
nhờ vào nhân này, gieo duyên xuất ly sanh tử.
Từ nay trở đi, lấy cách này
làm lệ thường; dù thái phu nhân tuổi thọ quá cao
cũng chẳng được nửa chừng bỏ
dở. Pháp này lợi ích chẳng thể nghĩ bàn. Phàm ai
có tín tâm muốn thành tựu đạo nghiệp văng sanh cho
cha mẹ th́ hăy nên khuyên họ làm theo cách này.
* Mẹ ông tuổi cao nhưng
với pháp môn Tịnh Độ chưa thể hiểu
đúng, tu tŕ, hăy thường nói với mẹ về
nỗi khổ luân hồi trong sáu đường, sự
vui trong thế giới Cực Lạc. Người sanh trong
thế gian siêu thăng cực khó, đọa lạc
cực dễ. Nếu chẳng văng sanh Tây Phương,
đừng nói là nhân đạo chẳng đáng
nương cậy, dù sanh lên trời phước thọ
thật lâu, một khi phước lực đă tận
vẫn phải đọa lạc trong nhân gian như cũ
và phải thọ khổ trong tam đồ ác đạo.
Nếu chẳng biết Phật pháp th́
chẳng biết làm sao được; c̣n như nay đă
hiểu đại lược Phật pháp, há đành
nhường mối đại lợi ích này cho
người khác, tự ḿnh cam tâm luân hồi trong lục
đạo, thoạt ra thoạt vào, vĩnh viễn không có
ngày giải thoát ư? Cứ nói như vậy, may ra mẹ
sẽ phát khởi được túc thế thiện
căn, tin nhận phụng hành.
Bồ Tát độ sanh tùy thuận
cơ nghi, trước hết dùng dục để
nhử, sau mới khiến cho nhập vào Phật trí. Ông
cực lực tu hạnh hiếu đễ, lại đem
pháp môn Tịnh Độ khuyên lơn, hướng dẫn
quyến thuộc của ḿnh và hết thảy những ai
hữu duyên cùng làm người trong hội Liên Tŕ th́ công
đức rất lớn.
* Con hiếu thờ cha mẹ
th́ phải đặt cái gốc lên trước,
đặt cái ngọn ra sau, nuôi thân cha mẹ, khai
đạo tinh thần. Nếu chỉ biết báo bổ
công lao, phụng dưỡng cho cha mẹ an nhàn, lập thân
hành đạo để cha mẹ được vẻ
vang, chẳng biết đem đạo thường trụ
vô sanh, pháp niệm Phật văng sanh để khuyên dụ cha
mẹ tu tŕ, khiến cho cha mẹ lúc sống niệm
Phật hiệu, chết đi sanh về cơi Phật, giă
biệt nỗi khổ sanh tử hư huyễn,
hưởng thường trụ chân lạc, phụng
sự Di Đà, chen vai cùng hải chúng nghe viên âm, tam Hoặc
trừ sạch, thấy diệu cảnh, viên minh tứ trí,
chẳng ĺa An Dưỡng, vào khắp mười
phương thượng cầu hạ hóa, rộng làm
Phật sự, triệt chứng Phật tánh vốn
sẵn có trong tâm, làm thuyền từ độ khắp
mọi người trong biển khổ.
Nếu vậy th́ đúng là thấy
nhỏ quên lớn, được gần bỏ xa, chính là
kiến giải hạn hẹp của kẻ hèn, chẳng
phải là tầm nh́n rộng lớn của bậc thông
đạt. Nếu như ông có thể làm cho mẹ hiền
cũng giống như ḿnh, cũng như quyến thuộc
cùng thoát Sa Bà, đồng sanh An Dưỡng, đồng
chứng vô lượng quang thọ, đồng hưởng
pháp lạc tịch quang, đồng làm pháp vương
tử của Phật A Di Đà, đồng làm đại
đạo sư của trời người th́ mới là
trọn hết tấm ḷng hiếu tử, mới xứng
với công cha mẹ nuôi dạy. Đấy mới đúng
là hiếu từ nuôi dạy, chứ chẳng phải
như thế gian nói hiếu từ nuôi dạy đâu!
* Hành đạo hiếu th́ không
c̣n ǵ lớn hơn được nữa, hết thảy
các điều lành không ǵ chẳng thâu tóm, nhưng
đạo hiếu có thế gian, xuất thế gian,
lớn, nhỏ, bổn, tích sai khác.
Đạo hiếu thế gian
là chăm nom, phụng dưỡng cho cha mẹ
được yên ổn, đón trước ư khiến cha
mẹ vui vẻ, cho đến lập thân hành đạo
để dương danh hậu thế. Dù lớn nhỏ
khác nhau nhưng đều là chuyện thuộc về
mặt sắc thân; dẫu cho đại hiếu ngút
trời, rốt cuộc chẳng ích lợi ǵ cho tâm tánh,
sanh tử của cha mẹ cả! Đúng là chỉ
uổng công đuổi theo cái ngọn, chẳng xét
đến cái gốc. Huống hồ là sát sanh để
dâng lên cha mẹ hay để cúng tế khiến cho cha
mẹ càng bị oán thù kết chặt, măi măi phải
đền trả chẳng ngơi ư?
Đạo hiếu xuất
thế gian, xét về mặt Tích cũng giống như
thế gian chăm nom, phụng dưỡng... cho
đến lập thân dương danh, nhưng cái gốc là
khiến cho cha mẹ huân tu đại pháp của Như
Lai. Cha mẹ c̣n sống th́ khéo léo khuyên dụ sao cho cha
mẹ ăn chay niệm Phật cầu sanh Tây
Phương. Ăn chay ắt chẳng tạo sát nghiệp,
vừa diệt được túc ương. Niệm
Phật th́ ngầm thông Phật trí, thầm hợp diệu
đạo. Nếu quả thật tin sâu, nguyện
thiết cầu sanh Tây Phương, ắt đến lúc
lâm chung được Phật tiếp dẫn, gởi thân
nơi chín phẩm sen. Từ đấy siêu phàm nhập
thánh, liễu sanh thoát tử, măi măi xa ĺa các khổ trong
chốn Sa Bà, thường hưởng các sự vui trong
chốn Cực Lạc.
Cha mẹ đă khuất bèn thay cha
mẹ dốc sức tu Tịnh nghiệp, chí thành hồi
hướng cho cha mẹ. Nếu tâm thật sự chân
thiết, cha mẹ sẽ được lợi ích;
nếu chưa văng sanh liền được văng sanh.
Nếu đă văng sanh, phẩm sen sẽ cao thêm. Đă phát tâm
được như thế th́ sẽ tương ứng
với bốn hoằng thệ nguyện, khế hợp
Bồ Đề giác đạo; há đâu chỉ riêng cha mẹ
được lợi ích mà công đức thiện căn,
phẩm vị đài sen của chính ḿnh cũng sẽ cao
siêu thù thắng!
Huống lại dùng chính thân ḿnh
thuyết pháp khiến cho khắp mọi đồng luân
cùng phát ḷng hiếu thuận. Đạo hiếu ấy
mới là thật nghĩa rốt ráo, chẳng phải
như thế gian chỉ mong lợi lạc cho sắc thân
và đời này, bỏ qua tâm tánh và đời sau chẳng
buồn bàn tới! V́ thế biết rằng đạo
Phật lấy hiếu làm gốc. Do đó, kinh Phạm Vơng
dạy: “Hiếu thuận với cha mẹ, sư
tăng, Tam Bảo. Hiếu thuận là pháp chí đạo.
Hiếu gọi là Giới”’.
Lại như trong các giới Giết -
Trộm - Dâm - Dối, kinh đều nói phải sanh tâm
từ bi, tâm hiếu thuận. Trong giới “Chẳng
thực hành phóng sanh, cứu mạng”, kinh Phạm Vơng
dạy: “Hết thảy người nam là cha ta, hết
thảy người nữ là mẹ ta, đời
đời chẳng lúc nào ta chẳng sanh ra từ họ. V́
thế lục đạo chúng sanh đều là cha mẹ
ta, giết chúng sanh để ăn thịt chính là giết
cha mẹ ḿnh”. Bởi thế mới nói đạo
Hiếu của Phật giáo gồm khắp tứ sanh
lục đạo từ vô thỉ trước đến
tận vị lai sau, chẳng thể đem chuyện
chỉ biết một đời một thân ra so sánh
được. Biết vậy rồi mà chẳng kiêng
giết phóng sanh, ăn chay niệm Phật th́ làm sao
trọn hết được đạo hiếu chí
cực không chi hơn được nữa đây?
* Tự ḿnh đă tu tŕ Tịnh
nghiệp th́ cũng phải nên dạy hết mọi
người quen biết cùng tu Tịnh nghiệp. Nên dựa
theo phần Phổ Khuyến Môn trong sách Long Thư Tịnh
Độ khiến cho ai nấy tùy phần tùy sức gieo
thiện căn chẳng thể nghĩ bàn này. Đă muốn
đem pháp này dạy người th́ nên dạy từ thân
đến sơ, nỡ nào để thê thiếp, con cái
chẳng được hưởng lợi ích này ư?
Văn Vương nghiêm nhặt với vợ góa cho
đến huynh đệ để giữ yên nhà cửa
đất nước. Đạo tự hành, dạy
người thế gian, xuất thế gian không pháp nào
chẳng vậy!
* Tự
ḿnh cải ác tu thiện, nhất tâm niệm Phật; phàm
hết thảy người thân đều là kẻ hữu
duyên, cũng nên dạy họ pháp này. Với những
người phản đối, hăy khởi tâm thương
xót, đừng bắt buộc họ phải làm. Cứ
đè đầu ḅ bắt gặm cỏ th́ vạn vạn
phần chẳng làm được! Nếu bảo: “Tôi
nhất tâm niệm Phật, các sự chẳng bận tâm
đến nữa” th́ chẳng những là bị trở
ngại nơi pháp thế gian, mà cũng chẳng hợp
với Phật pháp. Làm đúng với địa vị th́
mới nên.
Khuyên người niệm Phật tu
hành dĩ nhiên là công đức bậc nhất, nhưng
dưới đến vợ con, trên lên cha mẹ, ông bà
đều phải nên khuyên nhủ. Nếu chẳng thể
khéo léo dùng phương tiện khuyên nhủ gia đ́nh,
khiến cho quyến thuộc ḿnh cùng được
hưởng lợi ích chẳng thể nghĩ bàn liễu
thoát sanh tử ngay trong đời này th́ chính là bỏ gốc
theo ngọn, chỉ biết lợi người ngoài mà
chẳng biết làm lợi cho người thân, có nên
chăng?
* Với những người
trong nhà, vào những khi nhàn hạ vô sự, hăy dùng lời
lẽ khúc chiết, uyển chuyển tỏ bày tận lư
khiến tâm người nghe biết được lẽ
phải trái, nên, không nên; vô h́nh trung ắt sẽ khiến
cho tâm thức người nghe được mài giũa
giần, nhiễm dần mà chuyển biến.
C̣n như khi cái tánh ngu bướng,
ngạo nghễ của người ấy trỗi dậy,
nếu thấy đối trị được th́ hăy dùng
những danh ngôn chí lư để ôn ḥa b́nh tĩnh đối
trị. Nếu không được th́ cứ mặc
kệ, đừng động đến kẻ ấy
nữa, đợi khi kẻ ấy hết nóng, lại ôn ḥa,
b́nh tĩnh cùng kẻ ấy bàn luận khúc nhôi, lâu dần
kẻ ấy cũng bị cảm hóa. Trọn chẳng nên
dùng đến những phương cách bắt buộc,
mạnh mẽ, dữ dội...
* Nay là lúc pháp nhược ma
cường, muốn hộ tŕ Phật pháp th́ ở ngoài
đời dễ hơn, làm Tăng sẽ khó. Nếu các
hạ nghiêm tŕ năm giới, chuyên niệm Di Đà,
khắc kỷ, giữ lễ, lời nói tương
xứng hành vi, sau đấy lại rộng khuyến hóa,
chỉ dạy nhằm lợi khắp quần sanh, đừng
cậy ḿnh làm thầy mà tự cao, chẳng được
nhận tiền tài để hưởng thọ. Ở nhà
th́ dạy cho cả nhà, ra đại chúng bèn v́ đại chúng
tŕnh bày rơ khiến ai nấy đều ngưỡng mộ
đức mà tin theo lời ḿnh. Đấy gọi là thân
đă chánh th́ chẳng ra lệnh mà người hành theo,
lấy thân ḿnh làm gương, hễ gió thổi qua là
cỏ phải rạp xuống.
* Tôi hay viết câu liễn
như sau:
Xả Tây Phương
tiệp kính, cửu giới chúng sanh thượng hà dĩ
viên thành Phật đạo?
Ly Tịnh Độ pháp môn,
thập phương chư Phật bất năng phổ
lợi quần manh.
(Bỏ
đường tắt Tây Phương, cửu giới
chúng sanh dùng chi viên thành Phật đạo?
Rời pháp môn Tịnh Độ, mười
phương chẳng thể lợi khắp quần manh)
Các hạ hăy khởi phát
đại dũng mănh, phát đại tinh tấn gánh vác pháp
này. Dùng những ngôn luận hoằng dương Tịnh
Độ xứng với căn cơ của cổ nhân
để bảo ban làng xóm, sống trong trần lao
chẳng nhiễm, tu Chân ngay trong cơi Tục th́ mới
hợp với ư nghĩa “viên dung, vượt thoát khỏi
danh và mạng” vậy.
4.
Khuyên nên sống trong cơi trần học đạo
* Niệm Phật dĩ nhiên quư
tại chuyên nhất; nhưng cư sĩ trên có cha mẹ,
dưới có vợ con, ngoài lo toan tính mong cầu giàu
sướng, thật chẳng thích hợp [để
xuất gia]. Đối với những việc bên trong
cần nên làm th́ hăy gắng sức làm, bất tất
phải bỏ sạch hết thảy mới là tu hành.
Nếu bỏ sạch hết thảy nhưng vẫn nuôi
dưỡng cha mẹ, vợ con chẳng thiếu sót th́
cũng được. Nếu không là trái với
đạo hiếu, tuy bảo là tu hành nhưng lại trái
nghịch với Phật pháp. Điều này chẳng
thể chẳng biết.
Lại phải nên dùng những lợi
ích của pháp môn Tịnh Độ để khuyên lơn
cha mẹ, khiến họ niệm Phật cầu sanh Tây
Phương. Nếu họ tin nhận phụng hành, lúc lâm
chung nhất định được văng sanh. Một phen
được văng sanh bèn siêu phàm nhập thánh, liễu sanh
thoát tử, cao dự hải hội, thân cận Di Đà
thẳng cho đến khi thành Phật mới thôi.
Đạo hiếu thế gian sao sánh bằng
được!
Nếu lại c̣n có thể đem
điều ấy bảo ban cho khắp mọi
người biết khiến cho cha mẹ người nào
cũng đều được văng sanh th́ công đức
giáo hóa quy về ḿnh, khiến cho phẩm vị liên đài
của cha mẹ và của ḿnh đều được
tăng cao. Kinh Thi chép: “Hiếu tử bất quỹ,
vĩnh tứ nhĩ loại” (con
hiếu chẳng thiếu thốn, [trời] luôn ban
thưởng cho các ngươi). Muốn hiếu với cha mẹ, hăy
nên suy nghĩ sâu xa rồi tận lực thực hành.
* Hoàn cảnh của mỗi
người vạn phần chẳng giống nhau; xét
đến hoàn cảnh của ông, thật sự là ở
tại gia có lợi ích lớn hơn, nếu xuất gia
chỉ được lợi ích nhỏ. Ông nhờ tổ
nghiệp tạm sanh sống được, trên c̣n mẹ
già để thờ, giữa có anh em để nhờ
cậy, trong nhà có vợ hiền, dưới gối
chưa có con cái ǵ. Bác cả nhà ông hơi tin Phật pháp, chú
ba, chú tư cũng chẳng chống đối đạo
pháp chi lắm, ông ở nhà dốc sức tu tịnh
nghiệp cũng có thể hướng dẫn bà cụ phát
ḷng tin niệm Phật, cầu được liễu
thoát, lại cũng có thể giúp anh em ở ngoài lo liệu
việc nhà, cũng như xướng xuất vợ con, em
dâu v.v... cùng tu Tịnh nghiệp để làm kế sách cùng
thoát luân hồi.
Ngoài ra c̣n tùy duyên khai thị,
hướng dẫn xóm giềng, thân thích. Vậy th́ nhà ḿnh
biến thành đạo tràng, mọi người: thân
mẫu, anh, em, vợ, con, cháu, xóm giềng, bằng hữu
đều thành pháp quyến; tùy sức tùy phần, thân làm,
miệng khuyên, khiến cho cả miền Vĩnh Gia,
những kẻ lạc đường, những
người thuộc tà kiến chủng tánh đều
được nạp vào ḷ luyện pháp môn Tịnh
Độ viên đốn chí cực lớn lao, luyện
thành pháp khí, cùng tu tịnh nghiệp, tương lai cùng ngự
Liên Bang, cùng chứng Bồ Đề. [Lợi ích như
thế] vẫn thua việc ông xuất gia làm tăng, bỏ
mẹ đi xa, khiến người nhà hờn oán thiếu
người nương dựa, mẹ ôm ḷng phiền con
hay sao?
Vả nữa, tất cả những
kẻ chẳng hiểu đạo lư đến nơi
đến chốn ắt sẽ trở mặt chê Phật
pháp trái nghịch thế đạo, lầm lạc hủy
báng, khiến cho bọn họ tạo khẩu nghiệp
phải đọa ác đạo, chưa thấy ích ǵ mà trước
đă tạo nên sự tổn hại lớn lao vậy.
Huống chi mẹ ông đă chẳng bằng ḷng, há
chẳng nên tuân theo ư mẹ, vẫn cứ ôm ấp tấm
ḷng đó ư? Nếu mẹ ông chẳng chấp thuận
cho ông tu hành th́ xuất gia c̣n chấp nhận
được, nay mẹ ông hoan hỷ cho ông tu hành, sao
lại muốn bỏ mẹ để tu hành?
Trong Phật pháp, lục độ
vạn hạnh, các thứ công nghiệp đều v́
lợi ích chúng sanh. Ông không xuất gia ắt sẽ lợi
ích rất lớn cho mẹ. Chỉ riêng một lẽ
đó đă rất nên thuận theo ḷng mẹ, cứ ở
nhà học đạo khiến mẹ quen thấy, chẳng
mong mẹ tin tưởng mà tự nhiên mẹ tin
tưởng, không công đức nào lớn hơn; huống
hồ nào phải chỉ lợi ích riêng cho một ḿnh
mẹ ông thôi đâu!
Thêm nữa, mẹ không bằng
ḷng cho xuất gia th́ đừng nghĩ tới chuyện
ấy nữa. Bởi lẽ trong giới luật nhà
Phật, cha mẹ chẳng cho phép xuất gia, cứ tự
ư ḿnh đi xuất gia, nhà chùa sẽ chẳng cho phép
xuống tóc và thọ giới v.v... Không vậy, cả
thầy lẫn tṛ đều mắc tội!
* Hiện tại mọi ngăn
cấm đều rỡ bỏ cả, người tại
gia nghiên cứu, tu tập nhiều như rừng,
người được lợi ích sanh Tây Phương
cũng thường thấy, cần ǵ phải xuất gia
bỏ cha mẹ? Chuyện ấy Quang tôi tuyệt
đối chẳng tán thành. Căn cứ trên thực
tế mà nói, trong hiện tại tu tại gia tốt
hơn. V́ sao vậy? V́ đối với hết thảy
đều vô ngại. So với người tại gia,
người xuất gia bị chướng ngại
nhiều hơn; bởi thế, nếu không phải là
người phát tâm chân thật, ắt sẽ thành
phường hạ lưu, vô ích đối với Phật
pháp, nhục lây đến Phật.
* Nếu muốn xuất
thế th́ chẳng cần ǵ phải tách ra ở riêng,
chỉ y theo ngôn giáo của Phật, đối trị
phiền năo tập khí sao cho hết sạch mới thôi. Tuy
thân trong cảnh tục, chẳng ngại ǵ đoạn
Hoặc chứng Chân, liễu sanh thoát tử tiến
đến Phật Quả. Như cư sĩ Duy Ma bên Tây
Thiên và các vị Phó Đại Sĩ, Lư Trưởng
Giả, Bàng Cư Sĩ v.v... trong cơi này. Nếu tự
lực chẳng đủ, đă có pháp cậy nhờ
Phật từ lực văng sanh Tây Phương để
nương tựa. Há phải đâu ai nấy đều
phải bỏ tục xuất gia mới đúng là đệ
tử Phật ư?
* Cư trần học
đạo, tu chân ngay trong cơi tục th́ bậc đạt
nhân danh sĩ hay kẻ ngu phu, ngu phụ đều làm
được cả. Gắng sức tu tŕ, với
những thứ hệ lụy của đời tại gia
hăy tưởng như bóng gậy, tiếng hét (2) phải
đương đầu, hằng sanh tâm nhàm ĺa, luôn sanh
chí vui thích (3), lấy bệnh làm thuốc, biến tắc
thành thông, trên chẳng khiến cao đường (4)
buồn bă, dưới là vợ con chẳng mất nơi
nhờ cậy, lại c̣n khiến cho hết thảy
những ai thấy biết nhờ đó sẽ tăng
trưởng ḷng tin trong sạch, c̣n ǵ vui hơn!
* Người sống trong
thế gian chẳng thể không làm ǵ cả, chỉ nên
trọn hết bổn phận, chẳng ḍm dơi chi
đến chuyện ngoài bổn phận. Sĩ, nông, công,
thương, ai nấy chăm lo nghề ḿnh làm cái gốc
để nuôi thân, nuôi gia đ́nh, tùy phận, tùy lực,
quyết chí cầu sanh Tây Phương. Nếu có sức th́
với việc lành sẽ bỏ của, hoặc giúp
lời nói để tán trợ. Nếu không, phát tâm tùy
hỷ cũng thành công đức, dùng đấy để
vun bồi ruộng phước làm trợ hạnh văng sanh.
Như thuận nước căng buồm, lại thêm chèo
lái đến được bến bờ, chẳng
sướng lắm ư?
* Nếu là bậc đại
thông gia th́ Thiền - Tịnh song tu, nhưng phải lấy
Tịnh Độ làm chủ. Nếu là người căn
cơ trung b́nh th́ cũng chẳng cần phải xem
khắp kinh sâu luận rộng, chỉ cốt sao chẳng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện,
nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương là
được. Người ấy chẳng buông bỏ gia
nghiệp mà vẫn kiêm tu pháp xuất thế.
Tuy tựa hồ là cách tu tầm
thường không ǵ lạ lùng cả, nhưng lợi ích
chẳng thể nghĩ bàn. Bởi lẽ, ngu phu, ngu phụ
cắm cúi niệm Phật là đă ngầm thông Phật trí,
thầm hợp diệu đạo. So ra, lợi ích
nhiều hơn hẳn bậc đại thông gia suy
lường, phỏng đoán, cứ suốt ngày vắt óc
phân biệt. Bởi thế, ngu phu, ngu phụ niệm
Phật dễ được lợi ích, bậc
đại thông gia nếu toàn thân buông xuống
được hết sẽ dễ được lợi
ích, chứ nếu cứ suy ḍ nghĩa lư sẽ chẳng
được lợi ích; trái lại c̣n thành bệnh,
chưa đắc bảo là đắc, có kẻ trở
thành cuồng dại nữa.
Một pháp tham thiền, con
người hiện tại chẳng nên học; dù có
học cũng chỉ thành văn tự tri kiến (5),
quyết chẳng thể đốn minh tự tâm, tự
thấy tự tánh. V́ sao vậy? Một là thiếu
thiện tri thức chỉ dạy, quyết trạch; hai là
người học chẳng hiểu căn cội của
Thiền. Mang tiếng tham thiền nhưng thật ra là
hiểu lầm.
* Đối với việc
thọ giới, nếu thiện nam tử xuất gia làm
tăng th́ phải vào chùa tập tành oai nghi mới biết
quy củ chốn tùng lâm. Giữ đúng oai nghi của
Tăng th́ du phương hành cước (6) trọn
chẳng trở ngại ǵ. Nếu không, mười
phương tùng lâm không trụ nơi nào được
cả.
Nếu người nữ tại gia,
cửa nhà khá giả, thân có thể tự làm chủ,
đến chùa thọ giới cũng chẳng phải là
không được. C̣n nếu như gia cảnh cùng
quẫn, cần ǵ phải làm vậy. Chỉ cần
đối trước Phật, khẩn thiết chí thành
sám hối tội nghiệp trong ṿng bảy ngày, tự
thệ thọ giới. Đến ngày thứ bảy,
đối trước Phật xướng rằng:
“Đệ tử con tên là... thề thọ năm giới,
làm măn phần ưu-bà-di (ưu-bà-di
Hán dịch là Cận Sự Nữ, hàm nghĩa đă thọ
năm giới, kham phụng sự Phật. Măn Phần
nghĩa là thọ tŕ trọn vẹn năm giới). Đến hết
cuộc đời chẳng sát sanh, đến hết
cuộc đời chẳng trộm cắp, đến
hết cuộc đời chẳng dâm dục (nếu là gái có chồng th́ nói “chẳng
tà dâm”),
đến hết cuộc đời chẳng nói dối,
đến hết cuộc đời chẳng uống
rượu”. Nói như vậy ba lần liền
được đắc giới.
Nếu chí tâm thọ tŕ th́ công
đức chẳng hơn kém, đừng bảo tự
thệ thọ tŕ là chẳng đúng pháp. Đấy là thánh
huấn của đức Như Lai đă dạy trong kinh
Phạm Vơng.
* Tam Quy - Ngũ Giới là
cửa ngơ ban đầu để vào Phật pháp; tu các pháp
môn khác đều nương theo đây mà vào, huống
hồ là pháp môn Tịnh Độ liễu sanh thoát tử
giản dị nhất, chí viên, chí đốn chẳng
thể nghĩ bàn ư? Chẳng cảnh tỉnh tam
nghiệp, chẳng tŕ năm giới, c̣n chẳng có
phần lại được thân người, huống
chi là muốn được liên hoa hóa sanh, thân đầy
đủ quang minh tướng hảo ư?
* V́ hàng tại gia đệ
tử lược giảng ư nghĩa của Tam Quy, Ngũ
Giới, Thập Thiện:
Thương thay, từ vô
thỉ đến nay chúng sanh luân hồi sáu nẻo, không
được cứu, không chỗ về nương, không
nơi gởi gắm, như con côi mất cha, dường
kẻ cùng quẫn nhà tan cửa nát, toàn là do phiền năo ác
nghiệp cảm thành quả khổ sanh tử ấy, mù ḷa
không huệ nhật, chẳng thể tự thoát khỏi.
Đại Giác Thế Tôn thương xót, thị hiện
sanh trong thế gian, v́ chúng sanh thuyết pháp, dạy họ
thọ Tam Quy để làm cái gốc bỏ tà về chánh,
dạy họ tŕ Ngũ Giới ḥng làm cái gốc
đoạn ác tu thiện, dạy họ hành Thập
Thiện để làm gốc rễ thanh tịnh ba
nghiệp thân - khẩu - ư.
Từ đấy, chẳng làm các
điều ác, vâng làm các điều thiện. Tam nghiệp
đă được tịnh rồi mới ḥng tuân tu
đạo phẩm, ngơ hầu trái giác hợp trần,
chuyển phàm thành thánh, đoạn gốc tham - sân - si, thành
đại đạo Bồ Đề giới - định
- huệ. Bởi thế, đức Phật giảng
Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục
Độ, ba mươi bảy phẩm trợ đạo
v.v... vô lượng pháp môn. Lại muốn cho chúng sanh mau
thoát sanh tử, chóng thành Phật đạo, đức
Phật bèn dạy pháp môn Niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ, khiến họ chẳng phí nhiều
sức, hoàn tất được ngay trong đời này.
Ôi! Ơn đức Thế Tôn thật là cùng cực, dù là
cha mẹ hay trời đất cũng chẳng thể sánh
ví được.
Bất Huệ (Tổ Ấn Quang tự xưng) thọ ân thật
sâu, nhưng không cách nào báo được ân sâu. Nay các
vị lầm nghe lời người, chẳng ngại xa
xôi ngàn dặm đến đây, toan bái tôi làm thầy, nhưng
tôi tự xét ḿnh vô đức, ba bốn lượt
khước từ, quư vị vẫn chẳng chịu nghe.
Nay bất đắc dĩ, đem ư xuất thế
thuyết pháp độ sanh của đức Như Lai bàn
đại khái cùng quư vị, cũng như giải thích
sơ lược về ư nghĩa của Tam Quy, Ngũ
Giới, Thập Thiện và pháp môn Tịnh Độ ngơ
hầu tất cả quư vị lănh hội được,
tất cả quư vị tuân thủ được, c̣n
như từ Tứ Đế cho đến Ba Mươi
Bảy Phẩm Trợ Đạo v.v... chẳng phải là
những điều quư vị có thể hiểu thấu nên
tôi lược đi không nhắc đến. Nếu quư
vị y giáo phụng hành, chính là thờ Phật làm thầy,
sá ǵ Bất Huệ! Nếu chẳng y giáo phụng hành là
đă phụ ân Bất Huệ, huống chi là Phật
ân!
Tam Quy là:
- Một là quy y Phật.
- Hai là quy y Pháp.
- Ba là quy y Tăng.
Quy là quay theo, Y là nương tựa.
Như người rớt xuống biển, chợt có
thuyền đi đến, liền hướng về
đó. Đấy là ư nghĩa “quay theo”; ngồi yên ổn
trên thuyền là ư nghĩa “nương tựa”. Sanh tử là
biển, Tam Bảo là thuyền; chúng sanh quy y liền lên
bờ kia.
Đă quy y Phật bèn thờ Phật
làm thầy, từ nay trở đi cho đến khi
mạng chung, chẳng được quy y thiên ma, ngoại
đạo, tà quỷ, tà thần. Đă quy Pháp bèn thờ
Pháp làm thầy, từ nay trở đi cho đến khi
mạng chung, chẳng được quy y kinh sách ngoại
đạo. Đă quy y Tăng bèn thờ Tăng làm thầy,
từ nay trở đi cho đến khi mạng chung,
chẳng được quy y đồ chúng ngoại
đạo.
Ngũ Giới:
- Một là chẳng sát sanh.
- Hai là chẳng trộm cắp.
- Ba là chẳng tà dâm.
- Bốn là chẳng nói dối.
- Năm là chẳng uống
rượu.
1) Sát sanh:
Loài vật cũng giống như ta,
ham sống sợ chết. Ta đă ưa sống, há vật
lại muốn chết! Do đó hăy nghĩ: Có nên giết
hại loài vật chăng? Hết thảy chúng sanh luân
hồi sáu nẻo, tùy nghiệp thiện - ác, thăng - giáng,
siêu - trầm, ta cùng bọn chúng trong nhiều kiếp
lần lượt làm cha mẹ nhau, lần lượt làm
con cái nhau, phải nghĩ cách cứu vớt, nỡ nào
giết hại? Hết thảy chúng sanh đều có
Phật tánh, trong đời tương lai sẽ
đều thành Phật. Nếu ta đọa lạc c̣n mong
được cứu vớt.
Thêm nữa, ta đă tạo sát
nghiệp, ắt phải đọa ác đạo
đền bồi nợ cũ, xoay vần giết hại
lẫn nhau chẳng khi nào xong. Suy nghĩ như thế nào
c̣n dám giết? Nhưng nguyên nhân sát sanh là do ăn thịt.
Nếu biết được những nhân duyên như trên
vừa nói sẽ tự chẳng dám ăn thịt nữa.
Kẻ ngu lại cho thịt là ngon, chẳng biết
thịt vốn do tinh huyết tạo thành; trong chứa phân
tiểu, ngoài lẫn bẩn thỉu, tanh tưởi, hôi
thối, ngon lành chỗ nào? Thường quán bất
tịnh, ắt ăn vào sẽ ói ra.
Thêm nữa, sanh vật là người,
cầm thú, gịi, bọ, cá, tép, muỗi, ṃng, rận, rệp,
tất cả những loài có sanh mạng; đừng
bảo con vật lớn chẳng được giết,
con vật nhỏ th́ giết được! Trong kinh
Phật có rộng nói công đức kiêng giết, phóng sanh.
Tục nhân chẳng thể đọc đến th́ hăy xem
sách Vạn Thiện Tiên Tư của An Sĩ tiên sinh ắt
sẽ biết được đại khái!
2) Chẳng trộm cắp:
Thấy nghĩ được cái ǵ,
chẳng cho bèn chẳng lấy. Người biết liêm
sỉ chẳng phạm lỗi này, nhưng nếu luận
tỉ mỉ th́ chẳng phải là bậc đại thánh
đại hiền sẽ rất khó chẳng phạm. V́
sao? Lấy công giúp tư, tổn người lợi ḿnh,
cậy thế lấy của, dùng mưu kế đoạt
vật, ghen ghét v́ người khác phú quư, mong họ bần
tiện; làm lành để phô trương; đối
với các việc lành tâm chẳng hiểu đúng, chẳng
hạn như lập trường miễn phí, chẳng
chọn thầy nghiêm, khiến con em người khác bị
lầm lạc; thí thuốc chữa bệnh chẳng phân
biệt thật giả khiến người dùng bị nguy
tánh mạng; thấy người bị tai nạn gấp
vẫn xem thường chẳng cứu, lề mề
hờ hững đến nỗi lỡ việc; làm tắc
trách cho xong việc, mặc kệ tiền tài người
khác bị lăng phí, trong ḷng không coi đó là chuyện khẩn
yếu. Những điều như thế đều
gọi là trộm cắp. V́ các vị đều ở
chốn tốt lành nên tôi chỉ chọn ra những
điều tệ hại nhất để nói đại
lược mà thôi!
3) Chẳng tà dâm:
Tục nhân nam nữ lập gia đ́nh
sanh con đẻ cái, trên là liên quan đến phong hóa,
dưới là liên quan đến việc cúng giỗ. Dù
vợ chồng ăn nằm với nhau chẳng bị
cấm, nhưng phải kính nhau như khách, cốt
để [có con cháu] giỗ quải tổ tiên, chẳng
được lấy đó làm điều khoái lạc, ham
dục đến nỗi mất mạng. Dù là vợ ḿnh,
tham vui quá cũng là phạm tội, nhưng tội ấy
c̣n nhỏ nhặt. Nếu chẳng phải là vợ ḿnh mà
ăn nằm bừa băi th́ gọi là “tà dâm”, tội ấy
cực nặng!
Hành tà dâm là đem thân người làm
chuyện súc sanh, khi báo hết mạng tận trước
là đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, sau là
đọa trong đường súc sanh ngàn vạn ức
kiếp chẳng thể thoát khỏi. Hết thảy chúng
sanh từ dâm dục sanh nên giới này khó giữ, dễ
phạm. Dẫu là bậc hiền đạt, cũng có lúc
c̣n vi phạm, huống chi kẻ ngu?
Nếu lập chí tu tŕ th́ trước
hết phải biết rơ lợi - hại (lợi là chẳng phạm giới này
sẽ được lợi lạc ǵ; hại là những
họa hại do phạm giới này) cũng như phương pháp
đối trị thời sẽ như thấy rắn
độc, như gặp oán tặc, kinh sợ, hoảng
hốt, dục tâm sẽ tự dứt. Cách đối
trị chép rộng trong kinh Phật. Tục nhân không duyên xem
đến hăy đọc sách Dục Hải Hồi
Cuồng của An Sĩ tiên sinh sẽ biết được
đại khái.
4) Chẳng vọng ngữ:
Lời nói đáng tin, chẳng thốt
lời hư dối. Nếu thấy nói chẳng thấy,
chẳng thấy nói thấy, lấy hư làm thật,
biến có thành không, phàm điều ǵ tâm chẳng xứng
với miệng, toan khinh dối người khác
đều là vọng ngữ cả. Lại nếu như
chưa đoạn Hoặc bảo là đă đoạn
Hoặc, chưa đắc đạo bảo là đắc
đạo th́ gọi là đại vọng ngữ. Tội ấy
rất nặng, sau khi mạng chung nhất định
đọa thẳng vào A Tỳ địa ngục, vĩnh
viễn không có lúc thoát ra. Nay người tu hành chẳng
biết giáo lư Phật pháp, đa phần như thế
cả, cho nên phải đau đáu răn đe.
Điều này thật thiết yếu.
Bốn điều trên chẳng
luận là xuất gia hay tại gia, thọ giới hay không
thọ giới hễ phạm liền vướng tội
lỗi, bởi thể tánh của chúng là ác. Nhưng
người chưa thọ giới th́ mắc tội một
tầng; người đă thọ giới mắc tội
gấp đôi bởi ngoài chuyện làm điều ác ra, c̣n
thêm cái tội phạm giới. Nếu giữ
được chẳng phạm th́ công đức vô biên;
hết thảy phải nên gắng sức.
5) Chẳng uống
rượu:
Rượu làm cho tâm người mê
loạn, hoại giống trí huệ. Uống vào sẽ
bị điên đảo, hôn cuồng, làm chuyện càn
quấy, nên Phật chế định người tu hành
trọn chẳng được uống rượu.
Lại như hành, hẹ, kiệu, tỏi, nén, năm
thứ thực vật nồng gắt, mùi vị hôi hám,
bản chất chẳng thanh khiết, ăn chín sanh dâm,
ăn sống tăng ḷng nóng giận, người tu hành
đều chẳng được ăn. Với giới
này, người chưa thọ giới ăn uống chúng
chẳng bị tội ǵ; người thọ giới mà
dùng hay ăn chúng liền phạm một tầng giới
của Phật. Phật đă cấm chế, các vị
vẫn phạm nên mắc tội vậy.
Thập Thiện là:
- Một là chẳng sát sanh,
- Hai là chẳng trộm cắp.
- Ba là chẳng tà dâm.
- Bốn là chẳng nói dối.
- Năm là chẳng nói thêu
dệt.
- Sáu là chẳng nói đôi
chiều.
- Bảy là chẳng ác khẩu.
- Tám là chẳng tham.
- Chín là chẳng sân.
- Mười là chẳng si.
Ba điều đầu
gọi là thân nghiệp, bốn điều giữa là
khẩu nghiệp, ba điều cuối là ư nghiệp.
Nghiệp nghĩa là “sự”. Nếu tŕ chẳng phạm th́
gọi là Thập Thiện, nếu phạm chẳng tŕ th́
gọi là Thập Ác. Thập Ác chia làm thượng, trung,
hạ, cảm ba đường ác địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh. Thập Thiện chia thành
thượng, trung, hạ cảm ba thiện đạo
trời, người, a-tu-la. Nhân lành cảm quả lành, nhân
ác cảm quả ác, quyết định chẳng nghi,
chẳng sai mảy may. Trong phần nói về Ngũ
Giới đă giảng giết - trộm - dâm - dối
rồi.
Ỷ ngữ (nói thêu dệt) là
những lời lẽ phù phiếm, vô ích, chải chuốt,
bóng bảy bàn nói chuyện dâm dục khiến người
khác nghĩ bậy.
Lưỡng thiệt (nói đôi
chiều) là đến người này nói người kia,
đến người kia nói người này, đâm
thọc thị phi, đ̣n xóc hai đầu v.v...
Ác khẩu là ngôn ngữ thô ác như dao,
như kiếm, vạch trần lỗi kín của
người, chẳng kiêng dè. Nếu lại c̣n khiến cho
cha mẹ người bị xấu lây, th́ gọi là
“đại ác khẩu”, tương lai mắc phải
quả báo súc sanh. Đă thọ giới nhà Phật, chớ
nên phạm giới này.
Tham keo là tiền tài của ḿnh
chẳng chịu thí cho người th́ gọi là “keo”,
chỉ mong vơ của cải của người về
ḿnh th́ gọi là “tham”.
Sân khuể là giận dữ, thấy
người được ǵ bèn sầu lo, phẫn nộ,
thấy người bị mất ǵ bèn mừng rỡ, sung
sướng, lại c̣n cậy thế, cậy oai khinh
người rẻ vật.
Tà kiến là chẳng tin làm lành
được phước, làm ác mắc tội, nói không
nhân quả, chẳng có đời sau, khinh chê thánh ngôn,
hủy báng kinh giáo của Phật...
Mười điều thiện này bao
hàm hết thảy. Nếu có thể tuân hành th́ không
điều ác nào chẳng đoạn, không điều
thiện nào chẳng tu. Chỉ sợ quư vị chẳng
thể lănh hội nên tôi nay chỉ nêu đại
lược một hai việc: hiếu thuận cha mẹ,
chẳng trái, chẳng nghịch, khúc nhôi uyển chuyển
khuyên cha mẹ nhập đạo, dứt mặn ăn
chay, tŕ giới niệm Phật, cầu sanh Tây
Phương, liễu sanh thoát tử. Nếu cha mẹ tin
theo th́ chẳng c̣n ǵ tốt hơn.
Với anh em liền tận sức
nhường nhịn, với vợ chồng thời
hết sức kính trọng, với con cái thời tận
sức giáo huấn khiến chúng trở thành người
tốt, người hiền, chớ để chúng mặc
t́nh quen thói kiêu căng, đến nỗi thành hạng
người chẳng ra ǵ. Với xóm giềng làng
nước, phải ḥa mục, nhường nhịn,
giảng cho họ nghe nhân quả thiện ác, khiến
họ sửa lỗi hướng thiện. Với bằng
hữu tận lực giữ chữ tín. Với tôi tớ
phải từ ái. Với việc công bèn tận tâm kiệt
lực như khi làm chuyện tư.
Hễ gặp người quen biết,
họ hàng, gặp cha nói Từ, gặp con nói Hiếu. C̣n
như kinh doanh cố nhiên là để kiếm lời, nhưng
chẳng được bán hàng giả, lừa dối
người khác. Nếu như đem phong tục này giáo hóa
cho cả một ấp, một làng th́ sẽ khiến cho
họa loạn chưa nảy mầm đă tiêu, các h́nh
phạt trở thành vô dụng; có thể nói là ra ngoài
tận trung, trong nhà tận chính vậy!
10.
Các sách vở nên đọc
* Thuật rộng nguyện luân,
giảng sâu xa duyên khởi th́ chỉ có ḿnh kinh Vô
Lượng Thọ. Chuyên giảng về pháp quán cũng
như dạy rơ các nhân văng sanh th́ chỉ có ḿnh Thập
Lục Quán Kinh (kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật). Hai
kinh trên đây pháp môn rộng lớn, đế lư tinh vi,
kẻ độn căn đời mạt thật khó
thể được lợi ích.
T́m lấy một bản kinh câu văn
giản dị nhưng nghĩa lại giàu, dùng ít chữ
nhưng nghĩa lư phong phú, độ khắp ba căn,
hạ thủ dễ nhưng thành công cao, dùng sức ít mà
đạt hiệu quả nhanh chóng, chuyên ṛng tu một
hạnh lại viên thành vạn đức, khiến cho nhân
tâm mau chóng khế hợp quả giác th́ chỉ có ḿnh kinh
Phật Thuyết A Di Đà mà thôi!
Ấy là v́ một phen nghe đến y
báo, chánh báo trang nghiêm, thượng thiện nhân cùng nhóm
họp, ắt sẽ sanh ḷng tin chân thành, phát nguyện
khẩn thiết, quyết có cái thế [mạnh mẽ]
như sông ng̣i tuôn chảy không sao ngăn được.
Từ đấy giữ chặt khư khư, chấp tŕ
vạn đức hồng danh, niệm đâu chú tâm vào
đó măi cho đến khi nhất tâm bất loạn. Làm
được như vậy th́ ngay trong đời này
đă dự vào ḍng thánh, lâm chung theo Phật văng sanh, khai
Phật tri kiến, cùng thọ dụng như Phật.
Bởi thế biết rằng một
pháp Tŕ Danh bao gồm vạn hạnh, toàn sự tức lư,
toàn vọng tức chân, nhân tột biển quả, quả
thấu nguồn nhân. Thật đúng là đường
tắt để quay về gốc, là cửa ngơ trọng
yếu để nhập đạo.
* Kinh A Di Đà có bản Yếu
Giải do đại sư Ngẫu Ích trước tác, lư -
sự đều đạt tới mức cùng cực, là
bản chú giải bậc nhất kể từ khi
đức Phật nói ra kinh này, diệu cực xác thực,
dù cổ Phật tái hiện trong thế gian chú giải
lại kinh này cũng chẳng thể hay hơn
được! Chớ nên xem thường, hăy tin nhận
chắc chắn.
Kinh Vô Lượng Thọ có
bản sớ giải của pháp sư Huệ Viễn
đời Tùy, giải văn thích nghĩa thật là trong
sáng, găy gọn. Kinh Quán Vô Lượng Thọ có bản [chú
giải] Tứ Thiếp Sớ của ḥa thượng
Thiện Đạo. Ngài chỉ muốn khiến cho ba
căn cùng được lợi ích nên đa phần phát
huy về mặt sự tướng. Sau phần nói về
Thượng Phẩm Thượng Sanh, Ngài phát huy sự
hơn kém của hai cách Chuyên Tu và Tạp Tu, khiến
người đọc sanh ḷng tin chân thành kiên cố. Dù
đức Thích Ca Mâu Ni Phật và chư Phật hiện
thân bảo bỏ pháp môn Tịnh Độ này để tu
các pháp môn khác cũng chẳng thay đổi ư nguyện chút
nào; có thể nói sách ấy là kim chỉ nam cho hành giả
Tịnh nghiệp.
C̣n như cuốn Quán Kinh Diệu Tông
Sao của tông Thiên Thai th́ do đế lư cực viên dung nên
trung hạ căn chẳng được lợi ích,
chẳng bằng sách Tứ Thiếp Sớ lợi khắp
ba căn, lợi căn hay độn căn đều
được lợi ích cả!
* Cổ nhân muốn cả thế gian
cùng tu nên lấy kinh A Di Đà làm nhật khóa, bởi lẽ
kinh này ngôn từ ngắn gọn, nghĩa lư phong phú,
hạnh giản dị, hiệu quả nhanh chóng. Bậc
đại sĩ hoằng pháp chú sớ, ngợi khen kinh này
từ cổ đến nay chẳng đếm
được hết. Trong số đó, t́m lấy bản
rộng lớn, tinh vi th́ không bản nào bằng
được tác phẩm Sớ Sao của ngài Liên Tŕ; c̣n
thẳng chóng, yếu diệu th́ không chi bằng tác phẩm
Yếu Giải của ngài Ngẫu Ích. U Khê đại
sư dùng pháp ấn Đế - Quán bất nhị của
tông Thiên Thai để soạn Lược Giải Viên Dung
Trung Đạo Sao lư cao thâm nhưng sơ cơ vẫn lănh
hội được, văn giảng minh bạch nhưng
người tu lâu [đọc đến] vẫn khâm
phục.
* Về Tịnh Độ th́
chọn lấy sách như Di Đà Sớ Sao, ngôn từ
giản dị nhưng tinh vi, lư sâu xa nhưng dễ
nhận, thật là cuốn sách trọng yếu trong Tịnh
Độ, là người hướng dẫn tốt cho
kẻ sơ cơ.
* Phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm dùng mười
đại nguyện vương để dẫn dắt
quy hướng Tịnh Độ. Đọc phẩm này
sẽ biết rằng pháp Niệm Phật cầu sanh Tây
Phương chính là chỗ quy kết sau cùng để thành
Phật trong một đời của kinh Hoa Nghiêm, thật
là phương tiện tối thắng để tự
lợi khi tu nhân, là phương tiện tối thắng
để lợi tha khi đắc quả của
mười phương chư Phật.
* Phẩm Hạnh Nguyện
nghĩa lư bao la, văn tự vi diệu. Tụng
đến khiến cho chấp trước ta -
người - chúng sanh của con người biến
mất nào c̣n có nữa, thiện căn văng sanh Tịnh
Độ ngày càng thấy tăng trưởng, ắt
sẽ tự hành dạy người; nhưng chẳng
được nghĩ rằng “chưa tŕ kinh này, dù có tu
Tịnh Độ cũng là bạc phước, thiên
lệch!”
Các vị Liên Tŕ, Ngẫu Ích v.v...
cũng đều cực lực tán dương [kinh Di
Đà]. Trong Di Đà Yếu Giải có câu: “Trong giáo pháp
cả một đời của đức Như Lai,
chỉ ḿnh kinh Hoa Nghiêm nói về một đời viên măn,
nhưng cái nhân để viên măn chỉ trong một
đời là ở phần cuối kinh: ngài Phổ Hiền
dùng mười đại nguyện vương dẫn
dắt hướng về Cực Lạc để
khuyến tấn Thiện Tài và Hoa Nghiêm hải chúng.
Ôi! Điều kinh Hoa Nghiêm đă
dạy lại nằm trọn trong kinh này, nhưng thiên
hạ xưa nay tin th́ ít, nghi lại nhiều, nói càng
nhiều nghĩa càng hao, tôi chỉ c̣n có cách mổ tim
vẩy máu mà thôi!”
V́ thế, ngài Vô Ẩn nói: “Hoa Nghiêm
là quảng bản Di Đà (bản
kinh Di Đà nói rộng), kinh Di Đà là lược bản Hoa
Nghiêm (bản kinh Hoa Nghiêm nói
giản lược)”. Xem lời của hai vị đại sư ắt
biết rằng xem kinh mà thiếu con mắt viên đốn
chính là cô phụ ân Phật nhiều lắm!
* Cuối quyển 5 kinh Lăng
Nghiêm là chương Đại Thế Chí Niệm Phật
Viên Thông, đấy chính là lời khai thị tối
thượng của Tịnh tông. Chỉ riêng ḿnh chương
này đă có thể sánh cùng bốn kinh tạo thành Tịnh
Độ ngũ kinh!
* Sách Tịnh Độ Thập
Yếu do đại sư Ngẫu Ích dùng mắt kim cang xem
khắp các sách xiển dương Tịnh Độ mà
soạn thành một tác phẩm khế lư, khế cơ, chí
cực không thể thêm ǵ được nữa. [Trong sách ấy,
cuốn] thứ nhất là Di Đà Yếu Giải do
đại sư tự soạn, văn uyên thâm nhưng
dễ lănh hội, lư viên đốn nhưng duy tâm, không ǵ
tuyệt hơn. Hăy nên thường xem, đọc,
nghiền ngẫm. Chín cuốn c̣n lại không cuốn nào lư
viên măn, từ ngữ hay khéo, khế hợp thời cơ
sâu xa bằng cuốn Yếu Giải. Dù chưa thể
hiểu trọn vẹn mỗi một cuốn, nhưng
một phen giở xem khác nào uống thuốc tiên, dần dà
lâu ngày, phàm chất ắt thành xác tiên vậy.
* Sách Tịnh Độ Thánh
Hiền Lục chép tỉ mỉ các hạnh nguyện khi tu
nhân và công đức khi đă đắc quả của
Phật Di Đà, và các việc tự hành dạy
người của các vị Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí,
Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ... Kế
đến là các sự tích văng sanh của từ Viễn
Công (tổ Huệ Viễn), Trí Giả cho đến các
đại tổ sư, thiện tri thức đầu đời
Thanh; rồi đến sự tích niệm Phật văng sanh
của tỳ kheo ni, vua quan, sĩ thứ, phụ nữ, ác
nhân, súc sanh. Lại c̣n chọn chép cả những ngôn
luận thiết yếu ngơ hầu người đọc
có căn cứ để chọn lấy pháp, không cách nào
nghi ngờ được nữa, bèn noi gương cổ
nhân tận lực tu Tịnh nghiệp. So với việc
tham phỏng thiện tri thức, đọc sách này lại
càng thật sự quan yếu hơn.
* Sách Long Thư Tịnh
Độ Văn đoạn nghi khởi tín, bao lượt
phân tích, tŕnh bày rành rẽ, chia môn định loại pháp
môn tu tŕ, là cuốn sách hướng dẫn quư bậc
nhất của người sơ cơ. Nếu muốn
lợi lạc khắp hết thảy, chẳng thể
không bắt đầu từ cuốn sách này.
* Sách Pháp Uyển Châu Lâm (gồm
một trăm quyển) luận rơ nhân quả, lư - sự
cùng nêu, sự tích báo ứng rành rẽ phân minh. Đọc
đến không lạnh mà run, dù ở trong nhà kín pḥng
tối vẫn thường như đang đối
diện Phật, trời, chẳng dám nảy sanh chút ác
niệm nào. Thượng - trung - hạ căn đều
được lợi ích, chẳng đến nỗi
vướng mối tệ nhận lầm đường
nẻo, chấp lư phế sự, ngả theo thiên tà,
cuồng vọng. Như ngài Mộng Đông nói: “Người
khéo bàn tâm tánh ắt chẳng bỏ ĺa nhân quả,
người tin sâu nhân quả rốt cuộc sẽ
hiểu thật rơ tâm tánh”. Lẽ ấy thế đương
nhiên như thế.
Câu nói này của ngài Mộng Đông
quả là lời bàn luận cùng tột thiên cổ chẳng
sửa đổi được, mà cũng là mũi kim
đâm thẳng xuống đỉnh đầu những
kẻ cuồng huệ buông tuồng vậy.
* Bộ An Sĩ Toàn Thư giác
thế, dạy người tận thiện tận mỹ,
bàn đạo luận đức, vượt cổ siêu
kim, lời lẽ giản dị nhưng súc tích, lư sâu
nhưng dễ hiểu, dẫn những sự tích có
chứng cứ đích xác, phát huy tột cùng uyên nguyên
những nghĩa luận, đúng là của báu để
lưu truyền cho con cháu, mà cũng là bộ kỳ thư
để tuyên giảng.
Mỗi lời đều là tâm pháp
của Phật, của Tổ, là đạo mạch thánh
hiền, là đạo trọng yếu khiến đời
yên, dân hiền, là bí phương rạng rỡ, tốt
lành. Nếu có thể hành đúng theo sách ấy sẽ
nối chí thánh hiền, liễu sanh thoát tử giống
như đưa ra giấy cầm đồ để
lấy lại vật cũ, sánh với những thiện
thư khác được lưu thông trong đời th́ có
khác nào đem quả núi sánh với đụn đất,
biển cả sánh với vũng nước vậy!
An Sĩ tiên sinh họ Châu, tên Mộng
Nhân, c̣n có tên là Tư Nhân, người Côn Sơn, tỉnh
Giang Tô, thông hiểu rộng khắp kinh sách của tam giáo (Phật - Nho - Lăo), tin tưởng sâu xa vào pháp môn
Niệm Phật, đến tuổi nhược quan (chừng 20 tuổi) đi học bèn chán
con đường khoa cử, phát Bồ Đề tâm,
soạn sách giác ngộ người đời, ngơ hầu
trước là để ai nấy chẳng lầm lỗi,
sau là thoát khỏi biển khổ sanh tử.
V́ thế, ông viết cuốn sách khuyên
kiêng giết hại đặt tên là Vạn Thiện Tiên
Tư, sách giới dâm tên Dục Hải Hồi Cuồng.
Ấy là v́ chúng sanh tạo nghiệp chỉ hai sự này là
nhiều nhất, mà sửa lỗi th́ cũng chỉ hai
sự này là khẩn yếu nhất. Ông c̣n soạn Âm
Chất Văn Quảng Nghĩa
(giảng rộng nghĩa lư bài Âm Chất Văn của
Văn Xương Đế Quân) ngơ hầu với mỗi một pháp,
ai cũng biết phân biệt đầu mối,
đều biết kiêng dè. Sách phê b́nh, biện luận cùng
tột, tinh vi, đáng gọi là bậc công thần của
Đế Quân, triệt để bóc trần, phơi bày
tất cả cái tâm rủ ḷng giáo huấn khiến cho ngàn
đời trước, ngàn đời sau cả
người giáo huấn lẫn người được
giáo huấn không buồn bă, tiếc nuối ǵ. Ấy là v́
tiên sinh kỳ tài diệu ngộ, đă dùng những sự
tích thế gian để phát huy những nghĩa lư áo
diệu, u vi của Phật, Tổ, khiến cho
người nhă, kẻ tục cùng xem, người trí,
kẻ ngu cùng hiểu.
Lại v́ trong các pháp môn tu hành,
chỉ có pháp Tịnh Độ là thiết yếu nhất
nên tiên sinh lại soạn cuốn Tây Quy Trực Chỉ
để giảng rơ đại sự niệm Phật
cầu sanh Tây Phương, liễu sanh thoát tử. Bởi
lẽ, tích đức tu thiện chỉ được
phước nhân - thiên, phước hết lại phải
đọa lạc. Niệm Phật văng sanh là dự vào
địa vị Bồ Tát, quyết định
đạt thành Phật đạo.
Ba cuốn sách đầu tuy dạy
người tu thiện nghiệp thế gian, nhưng
vẫn gồm đủ pháp liễu sanh thoát tử.
Cuốn sách thứ tư tuy dạy người pháp
liễu sanh tử, nhưng phải tận lực hành
điều thiện thế gian. Thật có thể nói là tiên
sinh hiện thân cư sĩ để thuyết pháp
độ sanh. Ai bảo tiên sinh chẳng phải là Bồ
Tát tái lai, tôi chẳng dám tin.
* Văn bút lẫn nghĩa
luận của sách Cảm Ứng Thiên Vựng Biên thảy
đều siêu tuyệt, nhưng chẳng được
quán thông Phật pháp như An Sĩ Toàn Thư. Ngoại
trừ sách An Sĩ Toàn Thư ra, tôi cho rằng cuốn này
là hay nhất.
* Sách Cảm Ứng Thiên
giảng thẳng [vào vấn đề], là sách do bậc
đại thông gia soạn, lời chú giải thuần dùng
văn bạch thoại, chỉ đọc qua một
lượt, sẽ tự hiểu rơ ư nghĩa. Lúc con cái c̣n
nhỏ, rất nên bảo chúng đọc sách này để
nhờ sách này răn dạy con cái ḿnh, tương lai chúng
ắt sẽ được thọ dụng chân thật
ḥng gỡ bỏ mối lo cho ḿnh.
* Sách Cư Sĩ Truyện do
tiến sĩ Bành Thiệu Thăng ở Tô Châu soạn vào
thời Càn Long. Ông xem khắp các sách vở, chọn lấy
những gương đại trung, đại hiếu,
thanh cao, chánh trực, liêm khiết, hữu công danh giáo,
hiểu sâu Phật pháp từ đời Hán đến nay,
ghi chép những sự nhập đạo, tu chứng
của họ, và chép cả những câu văn phát huy
Phật pháp. Số người được chép lên
đến mấy trăm người, chép thành sáu
quyển.
* Tam Giáo B́nh Tâm Luận do
học sĩ Lưu Mật đời Nguyên soạn. Trước
hết, sách chỉ rơ tam giáo đều khuyên người
dứt ác tu lành, chẳng nên phế một giáo nào. Tiếp
đó, sách luận rơ công dụng cùng cực của từng
giáo sâu cạn bất đồng. Cuối cùng sách
đả phá sạch những thuyết của Hàn Dũ, Âu
Dương, Tŕnh, Chu.
* Thích Thị Kê Cổ
Lược chép theo năm tháng các đời, ghi sự tích
của Thích Nho thành từng mục. Từ Phục Hy cho
đến cuối đời Minh, quốc gia thái b́nh hay
loạn lạc, Phật pháp hưng thịnh hay suy vong,
tội do hủy báng, phước do tin tưởng,
lợi ích do tu tŕ, pháp ngữ của tổ sư, hạnh
chân thật của chư Tăng, và những kẻ trung
thứ lỗi lạc, kẻ gian ác cùng cực đều
chép tỉ mỉ cả khiến cho ai nấy giở xem
liền biết pháp giới, ngồi ngay ngắn xem
khắp cổ kim, há phải đâu chỉ có ích cho riêng
người tu đạo, mà c̣n là của báu kỳ lạ
trong tay áo của những ai đọc sách để
luận cổ suy kim nữa!
* Nếu đă có tín tâm, hăy nên
đọc các sách Tịnh Độ. Nếu chẳng
thể đọc nhiều th́ chọn lấy cuốn sách
dễ hiểu, nghĩa lư rộng răi nhất như
cuốn Kính Trung Kính Hựu Kính (trong các con đường tắt
nhất, lại là con đường tắt hơn
nữa).
Cuốn sách này thâu thập yếu nghĩa của các nhà,
phân môn chia loại, khiến người xem đến
chẳng phí sức nghiên cứu, t́m đọc mà ngộ
thẳng vào chỗ yếu diệu, cốt tủy của
Tịnh Độ. Đối với kẻ sơ cơ,
sách này có lợi ích rất lớn.
* Cao Tăng Truyện quyển 1, 2, 3, 4;
Cư Sĩ Truyện, Tỳ Kheo Ni Truyện, Thiện
Nữ Nhân Truyện, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục
đều ghi chép lời lẽ tốt lành, hành vi cao
đẹp của chư cổ đức. Xem đến
ắt sẽ nảy ḷng vui mừng ngưỡng mộ,
trọn chẳng đến nỗi mắc lỗi
được chút ít đă cho là đủ, cam phận kém
hèn.
Hoằng Minh Tập, Quảng Hoằng
Minh Tập, Đàm Tân Văn Tập, Chiết Nghi Luận,
Hộ Pháp Luận, Tam Giáo B́nh Tâm Luận, Tục Nguyên Giáo
Luận, Nhất Thừa Quyết Nghi Luận đều là
những sách hộ tŕ giáo pháp. Đọc đến
chẳng những không bị tà ma, ngoại đạo mê
hoặc, lại c̣n phá tan được thành lũy tà
kiến của chúng nữa. Các sách này đọc
đến sẽ khiến cho chánh kiến kiên cố, chúng
có thể dùng để chứng tỏ, soi sáng kinh giáo.
Chớ bảo là “cứ nhất tâm đọc kinh,
chẳng thèm ḍm dơi ǵ đến những sách ấy”. Cái tri
kiến sai biệt ấy nếu không đả thông
được, khi gặp địch rất có thể
bị chuốc lấy nhục vậy!
* Sách Mộng Đông Ngữ Lục do
cư sĩ Tiền Y Am trích tuyển những câu nói chuyên
dạy về Tịnh Độ trong Mộng Đông Di
Tập soạn thành, lưu truyền ở phương Nam
ngơ hầu đáp ứng nỗi hận đă lâu của
những người vô duyên hội ngộ. Toàn tập th́
có ở Bắc kinh, nhưng ở phương Nam chỉ có
lược bản này. Sách này văn từ, nghĩa lư tinh
diệu, là trước tác đáng xếp hạng nhất
sau sách của các vị Ngẫu Ích, Tỉnh Am.
* Ngài Mộng Đông nói: “Thật v́
sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu tŕ
danh hiệu Phật”. Mười sáu chữ này là
đại cương tông của pháp môn Niệm Phật.
Một đoạn khai thị này tinh vi, thiết thực
đến cùng cực, hăy nên đọc kỹ.
Toàn bộ sách Mộng Đông Ngữ
Lục văn từ, nghĩa lư chu đáo, đích thật
là kim chỉ nam trong Tịnh tông. Nếu c̣n muốn
đọc thêm nữa th́ cuốn Di Đà Yếu Giải
của Ngẫu Ích lăo nhân, đúng là một tác phẩm hướng
dẫn tốt ngàn đời chỉ có một.
Nếu có thể một ḷng hành theo hai
cuốn sách này sẽ chẳng cần phải nghiên cứu
hết thảy kinh luận nào nữa. Nếu thường
xem ba kinh Tịnh Độ và các sách như Tịnh
Độ Thập Yếu v.v... ngửa tin lời chân thành
của Phật, của Tổ, phát ḷng tin chân thành, phát
nguyện thiết tha, dùng ḷng chí thành cung kính tŕ danh hiệu
Phật, dù ở trong nhà tối pḥng kín vẫn như
đang đối trước Phật, trời, khắc
kỷ giữ lễ, thành thật, cẩn thận, e dè,
chẳng giống như những kẻ trong đời
hiện tại trọn chẳng câu thúc, phóng túng không
biết e sợ ǵ. Quang tôi dù c̣n là phàm phu sanh tử, vẫn
dám bảo đảm ngay trong đời này các hạ
sẽ giă biệt Sa Bà, cao dự hải hội, tự làm
đệ tử Phật Di Đà, làm bạn hiền
của các vị đại sĩ.
* Có các sách Tịnh Độ, các giáo
nghĩa Tịnh Độ như thế, phải nên
hiểu biết trọn vẹn; dù chẳng đọc
khắp các kinh cũng chẳng bị khiếm khuyết
chi! C̣n như chẳng biết đến pháp môn Tịnh
Độ, dẫu thâm nhập nghĩa lư mọi kinh,
triệt ngộ tự tâm lại toan liễu sanh thoát
tử th́ chẳng biết phải mất mấy
đại kiếp mới măn được nguyện
ấy! Chẳng biết đến món thuốc A Già Đà (Hán dịch là Đối Trị, trị
được hết thảy các bệnh) trị chung vạn
bệnh này thật đáng đau buồn thay! Biết
nhưng không tu, hoặc tu nhưng chẳng chuyên chí lại
càng đáng đau tiếc hơn nữa!
Phần Tăng
Bổ
1.
Thư gởi Sài Dă Ngu
(Lá thư này vốn
không có trong Văn Sao, nhân v́ người đời
thường đối với những nghĩa như mê -
ngộ, chúng sanh - Phật, cuồng - thánh v.v... khởi nghi
nên kèm thêm thư này để giải trừ những
mối nghi ấy)
Ai cũng có thể trở thành
Nghiêu, Thuấn, ai cũng có thể thành Phật. Nhưng
thánh thất niệm cuồng, cuồng chế ngự
được niệm ắt sẽ thành thánh. Mê th́
Phật thành chúng sanh, ngộ th́ chúng sanh tức là Phật.
Xét lẽ ấy, mấu chốt ở tại nơi ta. V́
thế, trên phải ngưỡng mộ chư thánh,
dưới phải trọng tánh linh của ḿnh, dè dặt
kinh sợ, phẫn chí tu tŕ, đôn đốc luân
thường, tận hết bổn phận, các
điều ác đừng làm, vâng làm các điều
thiện, sáng dậy tối ngủ chẳng nẩy sanh
điều ǵ đáng thẹn. Làm được như
thế chính là làm thánh, làm hiền, chẳng điếm
nhục, ô uế trời đất.
Lại c̣n sanh ḷng tín nguyện tŕ danh
hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương để mong
tự chứng được Phật tánh sẵn có, viên
thành vô thượng Bồ Đề mới thôi.
Đại trượng phu sanh trong thế gian nếu
chẳng biết đại thể, chỉ biết đắm
đuối ăn uống, nam nữ, tham cầu sắc
thanh, của cải, lợi lộc th́ có khác ǵ dị
loại đâu? Nỡ nào để cái tánh có khả năng
làm được Nghiêu, Thuấn, có thể thành Phật
bị luân hồi trong lục đạo bao kiếp dài lâu,
chịu đủ mọi nỗi khổ cùng cực,
chẳng đáng buồn ư?
Ngươi đă phát tâm quy y Tam Bảo
th́ phải lấy việc niệm niệm đối
trị phiền năo làm gốc, ngăn tà, giữ ḷng thành,
khắc kỷ, giữ lễ, cải ác tu thiện,
trọn hết bổn phận, luân thường, chuyên tu
Tịnh nghiệp, tự hành, dạy người, ngơ
hầu trong là cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc,
ngoài là thân thích, bạn bè, láng giềng cḥm xóm cùng
được gội ân giáo hóa của Phật, cùng thành
thiện nhân mới chẳng uổng phí cái đời này,
chẳng uổng duyên gặp gỡ này.
Sách Trung Dung nói: “Ai cũng bảo ḿnh
là người trí, nhưng cứ bị xua vào, vướng
vào lưới rập, hầm bẫy, chẳng ai biết
tránh cả”. Là v́ chỉ biết hướng ngoại
rong ruổi t́m cầu, chẳng biết hồi quang
phản chiếu, nên mới mắc hại như thế.
Nếu có thể phản chiếu tự tâm, ngầm
vận dụng trí ngơ hầu tự chiếu ắt sẽ
có thể học thánh, học hiền, học Phật,
học Tổ, ắt lúc sống đă dự vào cảnh
giới thánh nhân, mất đi liền sanh về cơi
nước Cực Lạc. Đấy là những
điều Quang tôi v́ ông mệnh danh là “đại ư”.
Thêm nữa, chỉ v́ thánh
mất niệm thành cuồng, cuồng chế ngự
được niệm sẽ thành thánh, mê th́ Phật thành
chúng sanh, ngộ th́ chúng sanh chính là Phật. Nếu chẳng
khéo hiểu bốn câu này rất có thể đến
nỗi sanh nghi, luận bàn lầm lạc. Nay tôi sẽ
giải thích sơ lược.
Thứ nhất, nói Thánh hay Phật
đều là ước theo bản thể của tự
tâm mà nói, chứ chẳng phải đă thành Phật hay thành
thánh. Tiếp đó, “mất niệm”, “chế ngự
được niệm”, “mê - ngộ” đều là nói
người ấy nghịch hay thuận, có tu luyện, ǵn
giữ hay không. Cuối cùng, “thành cuồng”, “thành thánh”,
“thành chúng sanh”, “chính là Phật” là nói đến hiệu
quả của việc nghịch thuận, tu tŕ, ǵn giữ.
Nếu chẳng hiểu “thành Phật,
thành thánh” là nói về bản thể, ắt sẽ lầm
tưởng ḿnh đă thành Phật, thành thánh, cũng như
hiểu lầm “thành cuồng”, “thành chúng sanh” sẽ có
hại rất lớn. Bởi thế, tôi chẳng thể
không giảng sơ lược cho ông hiểu về
điểm này. Những điều khác xin đọc
kỹ Văn Sao ắt sẽ tự biết.
2.
Thư phúc đáp Du Huệ Úc, Trần Huệ Sưởng
Nghiệp chướng sâu
nặng, bẩm chất ngu tối, may được nghe
pháp môn Tịnh Độ nên được quy y
dưới ṭa, chỉ c̣n biết tận lực tuân thủ
lời giáo huấn già giặn chắc thật của
thầy tôi để mong chóng liễu sanh tử, chẳng
phụ tấm ḷng đau đáu của thầy. Đă là
Phật tử, ắt phải phát tâm tự độ
độ người. Nay các đệ tử chưa
tự độ được ḿnh, c̣n nói ǵ độ
người, nhưng khi gặp thân hữu phải
phương tiện khuyên họ tin tưởng,
đấy cũng là phận sự của chính ḿnh vậy.
Thường thấy có hai hạng
người kiến giải hoặc lời lẽ
đều khiến ḿnh lầm, khiến người khác
lầm chẳng phải ít;
a) Một hạng cho rằng: Phật
vô dục, kinh A Di Đà lại nói đến các thứ
vàng, chất báu, dường như vẫn là dục
vọng, chẳng bằng kinh Kim Cang “hết thảy
đều không” thật cao siêu huyền diệu. Bởi
thế, miệt thị pháp môn Tịnh Độ, chẳng
sanh ḷng tin. Hạng người này chẳng hiểu ư
nghĩa hai kinh Kim Cang và Di Đà nên cứ chấp theo ư ḿnh
mà loạn đạo.
b) Hạng thứ hai cho rằng
Phật dạy con người thấy rơ bản tánh
của hết thảy các pháp, cớ sao chính ḿnh lại
khởi ḷng tham dục? Sao chúng ta lại phải khổ
sở bỏ đi cái thật sự có trước mắt
để mong cầu chuyện vu vơ sau khi chết?
Đây là hạng người chấp trước tà
kiến, mặc t́nh báng Phật, báng Pháp.
Hai hạng người này tuy phẩm
vị có cao thấp [khác nhau] nhưng đều tà kiến
hệt như nhau, đều tự lầm, lầm
người giống hệt nhau. Các đệ tử
phải tận lực bảo họ các thứ cảnh
giới Tây Phương đều là thật tướng
trang nghiêm do công đức của Phật A Di Đà hóa
hiện, là quả báo để hưởng thọ
phước đức tự tại, chẳng giống
với đời ngũ trược do nghiệp lực
cảm thành.
Huống nữa, tất cả mọi
thứ trong cơi Sa Bà đều là khổ, không, vô
thường, nên phải buông bỏ chúng để cầu
lấy những cái thật. Lời lẽ của kẻ ngu
này (tổ Ấn Quang tự
xưng) dù
chẳng trái nghịch chánh lư, vẫn chẳng thể phát
khởi chánh tín nổi. Nghĩ lại thầy tôi, tất
cả ngôn luận của ngài đều như mặt
trời rực rỡ, không tối tăm nào chẳng
chiếu tỏ được; đành xin mượn
mấy lời trong sách để phá mối tà kiến này.
Thư các vị gởi tới
có nhắc đến hai loại tà kiến này, ấy là dùng
tri kiến phàm phu để suy lường cảnh
giới Như Lai, giống như Khổng Tử nói “thích
thực hành trí huệ nhỏ nhoi” hay như Mạnh Tử
bảo là “tự ḿnh bỏ phí”. Hạng người ấy
vốn chẳng có tư cách giá trị ǵ để đàm
luận, nhưng Phật từ rộng lớn chưa
từng bỏ bất cứ loại người nào, nên
chẳng ngại ǵ lập bày phương tiện
để đánh thức cơn mơ ngủ của chúng.
Do Phật trọn chẳng có tâm tham nên
mới cảm được các báu trang nghiêm. Phàm những
sự hóa hiện đều là những cảnh giới
trang nghiêm thù thắng chẳng cần phải tốn
sức người trù tính, lo liệu, cảnh giới phàm
phu của thế giới Sa Bà há sánh được ư?
Ví như người từ thiện
hữu đức, tâm địa hành vi thảy đều
chánh đại quang minh nên tướng mạo cũng
hiện vẻ tươi sáng, hiền từ, rạng
rỡ. Cố nhiên họ chẳng có tâm mong cầu dung nhan
tướng mạo đẹp đẽ nhưng tự
nhiên được đẹp đẽ. Người
tạo nghiệp tâm địa cáu bẳn, ô uế, hung ác,
nên diện mạo cũng tăm tối, dữ dằn theo.
Cố nhiên họ chỉ muốn vẻ mặt ḿnh
đẹp đẽ, khiến người khác
tưởng ḿnh là thiện nhân chánh đại quang minh,
nhưng v́ tâm địa chẳng lành dù có muốn thế
cũng chẳng được.
Đấy là ước theo con mắt
của phàm phu, chứ trong mắt quỷ thần, họ
sẽ thấy thiện nhân thân có quang minh. Quang minh lớn
hay nhỏ tùy thuộc người ấy đức
lớn hay nhỏ. Quỉ thần thấy người ác
thân có các tướng hắc ám, ác bạo... tướng
ấy lớn hay nhỏ cũng do kẻ đó ác nhiều
hay ít mà hiện.
Kẻ [tà kiến] kia bảo kinh Kim Cang
là không, chính là chẳng hiểu kinh Kim Cang chỉ phát minh lư
tánh chứ chưa luận đến quả báo do chứng
được lư tánh. Sự trang nghiêm nơi cơi
nước Thật Báo không chướng ngại chính là
quả báo rốt ráo đạt được của kinh
Kim Cang. Phàm phu nghe đến ắt sẽ ngờ vực
làm sao có chuyện ấy được.
Kinh Kim Cang nhằm dạy kẻ trai gái
lành phát Bồ Đề tâm nhưng chẳng trụ
tướng, mà lại muốn độ hết chúng sanh.
Dù độ vẫn chẳng thấy ḿnh là người
độ, chúng sanh là kẻ được độ,
cũng chẳng thấy có pháp Niết Bàn rốt ráo
để đạt được. Đó gọi là “vô
sở trụ nhi sanh tâm”, đă đạt vô sở
đắc mà thành Phật; há nên bảo đức Phật
được thành và cơi nước ngài trụ trong kinh Kim
Cang cũng chỉ giống như cảnh giới ngũ
trược ác thế này ư? Cũng chỉ là rỗng
tuếch chẳng có được một vật ǵ ư?
Cơi Phật thanh tịnh, người ta
một phen được nghe đến thân tâm liền
thanh tịnh, thế nhưng kẻ kia lại bảo là tham
dục, th́ gă đó chỉ là gịi tửa sống trong
hầm xí, tự khoe ḿnh thơm tho, sạch sẽ, chê chiên
đàn là hôi thối, chẳng mong ĺa khỏi hầm phân
đó để ngửi được mùi thơm này!
Lũ Đạo Chích (7) tụ tập
cả mấy ngàn đứa, hoành hoành trộm cắp trong
thiên hạ, lại tự khoe ḿnh là hạng có đạo
đức, thống trách vua Nghiêu bất nhân, vua Thuấn
bất hiếu, vua Vũ dâm dật, vua Thang, Châu Vơ
Vương bạo loạn, chê Khổng Tử là ngụy,
là vô đạo; tri kiến của chúng có khác ǵ hai hạng
người tà kiến ấy đâu?
Lại như gần đây, có
kẻ phế kinh, phế hiếu, phế cả luân
thường, trần truồng đi lại, cho đó là
bẩm thọ đức tự nhiên của trời
đất, chẳng nhọc ḷng tạo tác. Nhưng nếu
Hạ đă đua nhau lơa lồ, sao Đông về lại
chẳng trần truồng nữa? Bảo là bẩm thọ
tự nhiên, chẳng cần phải tạo tác, sao lại
phải đào giếng, cày ruộng, dệt vải mới
ḥng có cái ăn cái mặc, chẳng phải là tạo tác
đó ư?
Kẻ ác phá hoại, ngăn trở
người khác làm lành thường như thế. Họ
cứ bảo “làm lành phải vô tâm, nếu hữu tâm th́
chẳng phải là làm lành thật sự”! Nhưng thánh
hiền tự cổ không ai chẳng sáng lo chiều
lắng, dè dặt, cẩn thận như vào nơi vực
sâu, như đi trên băng mỏng, chẳng phải là
hữu tâm ư? Nói chung, hạng người ấy ư
chỉ muốn coi không tu tŕ là cao thượng, nên mới
đề ra luận thuyết mù ḷa cực hạ tiện
như thế, tự huyễn ḿnh là bậc hiểu lư, mong
người coi ḿnh là bậc cao minh, là đại thông gia,
là chân danh sĩ, chẳng hề biết toàn thân đang
ở trong hầm phẩn. Trừ những kẻ có cùng tri
kiến, nào ai chấp nhận những lư lẽ ấy
đâu!
3.
Thư phúc đáp cư sĩ Ngu Tăng
Một việc phóng sanh vốn
là để cảm phát cái tâm kiêng giết, cứu vật
cho đồng nhân, thực hành tâm trắc ẩn bất
nhẫn đó thôi. Thế nhân phần nhiều tâm hạnh
khác nhau, dù chẳng thể khiến cho mọi người
đều cảm động, nhưng nếu cảm
động được một người th́ cả
đời người ấy đă bớt giết cả
mấy ngàn sanh mạng, huống hồ nào phải chỉ
có mỗi một người thôi đâu!
C̣n như ông bảo cá lớn nuốt
cá bé, dù có thả nó xuống sông sâu cũng khó cứu nó thoát
nạn lưới chài. Điều suy nghĩ ấy
tựa hồ hữu lư, nhưng thật ra là trở
ngại thiện niệm, hỗ trợ sát nghiệp
của người khác! Người ấy may mắn làm
thân người, may ra chẳng đến nỗi thân
bị giết hại nên mới lư luận vô lư như
thế, toan dùng cái trí của ḿnh ngăn trở việc
phóng sanh.
Nếu như họ bị
vướng chài và là các sanh mạng sắp bị giết,
nhất định họ sẽ chẳng khởi lên các
tưởng niệm như thế, chỉ mong có ai cứu
lấy mạng sống của ḿnh, quyết chẳng có ư niệm
“không mong được người khác cứu, chỉ
sợ sau này lại bị con vật khác ăn mất,
bị người khác bắt được, chỉ mong
cam tâm bị giết để sau này khỏi bị mắc
các nạn ấy nữa”. Dù lúc ấy có ư niệm như
thế đi nữa, vẫn chẳng đáng để bàn
căi; huống hồ trong lúc ấy vạn vạn phần
chẳng thể nghĩ tưởng như thế
được!
Kẻ nào nhằm lúc ḿnh chẳng
bị dính dấp đau đớn ǵ bèn ngăn trở
thiện niệm của người khác, nói những
lời khơi động sát cơ cho người khác
như thế, mà nếu đời sau chẳng thọ báo
th́ nhật nguyệt sẽ mọc ngược, trời đất
sẽ bị đảo lộn! Có nên thốt lời
xằng bậy chăng?
Dĩ nhiên có chuyện cá lớn
nuốt cá nhỏ, thả ra rồi lại bị bắt
cũng chẳng phải là không thể có, nhưng nói cá
lớn ăn sạch cá nhỏ không c̣n sót ǵ, quyết
chẳng có lẽ ấy! Được thả rồi
lại bị người khác bắt sạch hết
cũng quyết chẳng có lẽ ấy! Cần chi
phải lo quá như thế? Ví như cứu giúp
người bị nạn, nếu cho một manh áo,
hoặc cho một bữa ăn cũng có thể giúp cho
người ấy chẳng đến nỗi phải
bị chết ngay, nhưng lại cứ đối
trước người ấy bảo: “Một manh áo,
một bữa cơm này sao có thể khiến người
ấy no ấm suốt đời được? Có cho
cũng chẳng lợi ích ǵ, chẳng thà mặc cho kẻ
đó đói lạnh đến chết ắt kẻ
ấy chẳng phải chịu đói lạnh dài lâu!”
Lại như cường đạo
cướp giật người khác, kẻ có sức
mạnh ra tay chống cự, ngăn trở, kẻ kia bèn
bảo: “Nếu ông có thể chống cự, ngăn
trở kẻ cướp cả đời mới thật
là tốt, c̣n như chỉ chống cự, ngăn trở
một lúc th́ rốt cuộc có ích lợi ǵ đâu?
Chẳng thà mặc cho nó cướp hết sạch đi,
sau này mới khỏi bị cướp nữa th́ tốt
hơn!” Đối với con cái, cha mẹ thường
chăm sóc, nuôi nấng, nhưng mẹ hiền chẳng
thể chăm sóc thân đời sau của con; kẻ kia bèn
bảo: “Đă chẳng thể chăm sóc, nuôi nấng th́ chẳng
bằng giết phứt nó đi, chẳng tốt hơn
sao?”
Quân tử tu đức chẳng v́
điều thiện nhỏ bèn không làm, chẳng v́
điều ác nhỏ mà làm. Kẻ kia cứ muốn muôn
sự chẳng sai suyển điều ǵ mới chịu
hành phóng sanh, tức là muốn cho thế nhân suốt cả
đời chẳng làm những việc phóng sanh, kiêng
giết. Tương lai khi kẻ ấy sắp bị
chết, cả vạn người không có lấy một ai
cứu cho. Đau thay, buồn thay; chẳng đặng
đừng phải dài ḍng phân giải!
4.
Thư phúc đáp cư sĩ Thiệu Huệ Viên
Hôm qua nhận được
thư ông gởi đến, trong xóm ông có ông Phan Trọng
Thanh ở Trương Gia Khẩu gởi thơ muốn
được quy y. Người này tánh t́nh chân thành,
chất phác, cũng có học vấn. Ông ta đă phát tâm th́
Quang tôi cũng chỉ tùy duyên.
Nay tôi đặt pháp danh quy y cho ông ta là
Huệ Thuần, bởi hết thảy chúng sanh đều
có Phật tánh, tức là đều có Phật huệ;
nhưng v́ bị tham, sân, si v.v... xen tạp nên Phật
huệ bị trở thành tri kiến chúng sanh. Nay đă
biết vốn sẵn đủ Phật huệ th́
đối với tất cả những điều
nghĩ ngợi, móng niệm, xử sự thảy đều
kiểm điểm, chẳng cho những tri kiến tham,
sân, si... phát sanh.
Lại c̣n phải dùng ḷng tín nguyện
sâu tŕ danh hiệu Phật, kiêng giết, phóng sanh, yêu
tiếc tánh mạng loài vật, đừng làm các
điều ác, vâng làm các điều thiện, tự hành,
dạy người cùng tu Tịnh nghiệp th́ trí huệ
ấy sẽ dần dần thuần. Nếu giữ
được như vậy chẳng để mất,
văng sanh Tây Phương th́ huệ ấy càng dễ
thuần, đến khi phiền năo hết sạch,
phước huệ viên măn là huệ đă thuần
đến cực điểm bèn viên thành Phật
đạo.
Thế nhân hay lầm tưởng ḿnh
có trí huệ, chẳng biết rằng trí huệ đó là
vàng c̣n trong quặng, trọn chẳng sử dụng
được, cần phải nung luyện cho tiêu sạch
hết mọi tạp chất th́ mới có ích. Đại ư
như thế, mong hăy dốc chí!
Người học Phật tận
lực thực hành nhiệm vụ. Nay thế nhân đa
phần miệng lưỡi nhanh nhạy, ăn nói hay ho,
bóng bảy, trong bụng thối nát, vô ích, thật đáng
buồn!
5.
Thư gởi cư sĩ Vương Tâm Thiền
Mẹ ông đă có thể
niệm Phật th́ hăy bảo các nàng dâu giúp mẹ niệm
Phật. Lại nên khuyên bà ăn chay trường
để trợ thành đạo nghiệp cho mẹ
mới là hiếu. Nếu cứ nghĩ niệm Phật
chỉ sợ tổn hao tâm lực, ăn chay sợ
chẳng đúng phép vệ sinh mới là hiếu th́ ḷng
hiếu ấy khác ǵ con La Sát cái yêu người đâu.
Hiếu như vậy phá hoại
đạo nghiệp của mẹ, chẳng làm cho mẹ
được liễu sanh thoát tử, trái lại c̣n
khiến mẹ ở măi trong sanh tử. Hiếu như
vậy là đă xô người xuống giếng, c̣n
quăng thêm đá nữa, khiến cho mẹ chẳng
được siêu sanh, luân lạc bao kiếp. Dù là hiếu
nhưng chẳng biết hiếu đúng cách lại hóa thành
ngỗ nghịch.
Ông lo việc công, về h́nh dáng bất
tất phải làm ra vẻ tu tŕ, nhưng trong ḷng chẳng
thể thường nghĩ nhớ hay sao? Nếu ông
nhớ mẹ, ai cấm trong tâm ông thường nhớ
đến mẹ? Ông tự thốt lên những lời
trở ngại ấy nhưng toàn là luận về mặt
h́nh tích, nào phải là luận trên phương diện tâm
địa? Hiện tại thời cuộc nguy ngập
như thế, nếu trong tâm vẫn chẳng chịu
thầm niệm Phật th́ chuyện tương lai
chẳng biết phải giải quyết như thế nào!
Ông đọc Văn Sao, Gia Ngôn Lục,
nhưng những điều nói trong các sách ấy vẫn
chưa đủ để xóa tan được ḷng nghi
nên tôi lại phải dùng một tờ giấy với vài
trăm chữ để an ủi, vỗ về,
đều là do ông thường ngày chẳng chịu suy xét,
nghiền ngẫm mà ra cả. Ông hăy nên đem ḷng hiếu
đúng đắn để dạy các cô con dâu,
thường mật niệm tự hành th́ lợi ích
rất lớn. Mong ông hăy hạ cố xét kỹ th́ thật
là may lắm vậy!
Liên Tŕ đại sư nói: “Cha
mẹ ĺa được trần cấu, đạo làm con
mới được thành tựu”. V́ thế, sau khi cha
mẹ đă mất, phận làm con đều phải nên
chí thành niệm Phật ngơ hầu cha mẹ chưa
được văng sanh sẽ được văng sanh, văng
sanh rồi sẽ liền cao thêm phẩm vị.
Điều ấy phù hợp với ba thứ phước
Tịnh nghiệp dạy trong Quán Kinh, thành tựu
đạo hiếu thế gian và xuất thế gian vậy
[]
Ấn Quang Gia Ngôn
Lục hết
(dịch xong ngày 27
tháng 03 năm 2004)
(1)
Ư nói khuyên nhủ, khuyến dụ dần dần.
(2)
Tông Lâm Tế dùng gậy (bổng) và tiếng hét (hát)
để khai ngộ thiền cơ.
(3)
Nhàm ĺa (yểm ly) cơi Sa Bà, vui thích (hân nhạo) cơi Cực
Lạc.
(4)
Cao đường: tiếng dùng để tỏ vẻ tôn
kính mẹ người khác.
(5)
Văn tự tri kiến: sự thấy hiểu dựa theo
phân biệt, nhận định ư nghĩa của kinh
văn, chứ không lănh hội trực nhập
được huyền nghĩa, yếu chỉ.
(6)
Tăng sĩ đi tham học các nơi gọi là du
phương hành cước.
(7)
Đạo Chích: tên một kẻ trộm lừng danh
thời cổ, thường dùng để chỉ kẻ
trộm.