Niệm Phật Pháp Yếu
念佛法要
Tịnh Nghiệp Đệ Tử Dịch Viên
Mao Lăng Vân kính cẩn biên tập Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
kính dịch sang Việt ngữ
Con người có cùng một tâm, nhưng ai nấy ưa thích khác nhau. Do ưa thích khác nhau nên tạo nghiệp sai khác, nhưng đều bận rộn tạo nghiệp như nhau. Kẻ thích giết chóc, tà dâm, trộm cướp, dối trá thuần là ác nghiệp. Kẻ ham công danh, học thuật th́ hoặc là tạo ác hay làm lành. Chỉ có kẻ ưa làm điều lành ham bố thí là thuần thiện nghiệp. Tùy ḷng ưa thích, ai nấy niệm niệm bận rộn tạo tác chẳng ngơi cho đến chết mới thôi, nhưng tâm với nghiệp vẫn chưa dứt.
Cổ đức nói: “Muôn thứ đều bỏ hết, chỉ mỗi nghiệp theo thân”. Theo nghiệp thọ báo, kẻ thiện sanh trong các đường lành trời, người, hết phước lại đọa xuống, khó được mà dễ mất; kẻ ác đọa trong các đường ác: ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục… trong thời gian lâu dài, chịu khổ nặng nề, dễ vào, khó ra. Luân hồi sáu nẻo chẳng lúc nào ngơi!
Đấy đều là v́ nhất niệm bất giác, mê chân đuổi theo vọng, phát khởi mê hoặc, tạo nghiệp chịu khổ vô cùng. Nếu một niệm giác ngộ th́ sẽ niệm Phật, tâm ấy tương hợp tâm Phật, chuyển nghiệp đoạn Hoặc, phản vọng quy chân, viên thành Phật đạo, chứ chẳng phải chỉ nhanh chóng sanh về Cực Lạc, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi mà thôi đâu! Nếu có ai đă hiểu được lư này mà chẳng chịu niệm Phật th́ đúng là không bao giờ có!
Có ba cách niệm Phật:
1. Một là chuyên niệm Tự Phật, tức là Thật Tướng Niệm Phật như trong các kinh dạy: Dùng trí Bát Nhă chiếu soi Uẩn, Nhập, Xứ, Giới, các pháp đều là không, chứng đắc tánh Chân Như mầu nhiệm chính ḿnh sẵn có; cũng giống như phép Chỉ Quán của tông Thiên Thai, cách tham cứu hướng thượng của Thiền Tông v.v… Đó là niệm đức Phật chính ḿnh ḿnh sẵn có trong tự tánh vậy. Chân lư ấy quá sâu, thật sự chẳng dễ tu hành, v́ chỉ cậy vào Tự Lực, hoàn toàn không có Tha Lực giúp đỡ. Nếu chẳng phải là hạng túc căn thành thục th́ chỉ giải ngộ không thôi đă cực khó, huống hồ là có thể thực chứng!
2. Hai là chuyên niệm Tha Phật. Cần phải có ḷng tin sâu dày, tâm nguyện thiết tha th́ mới cảm ứng đạo giao với Phật, mới được Phật tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc, một đời thành Phật.
Cách tu này lại gồm có ba phương pháp:
a. Một là Quán Tưởng Niệm Phật, tức là quán tưởng theo như Quán Kinh đă dạy: hoặc là chuyên quán tướng bạch hào, hoặc chỉ quán thân Phật cao một trượng sáu, hoặc quán Pháp Thân to lớn. Nhưng [xét ra] chúng sanh huệ cạn, quán cảnh vi tế mà tâm lại thô tháp, nên quán pháp khó thành tựu.
b. Hai là Quán Tượng Niệm Phật, tức là quán h́nh tượng Phật, tâm thường hệ niệm; nhưng chúng sanh chướng nặng, nên hễ rời tượng ra th́ sự hệ niệm liền bị gián đoạn.
c. Chỉ có mỗi cách thứ ba là Tŕ Danh Niệm Phật, tức là nhất tâm chuyên niệm thánh hiệu của đức Phật A Di Đà, thực hiện dễ dàng, thành công mau chóng. Chỉ cần thâu tóm sáu căn, tịnh niệm liên tục, niệm đến khi toàn bộ tâm là Phật, toàn thể Phật là tâm, ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật chẳng có tâm, tâm lẫn Phật cùng hiển lộ mà cũng lại cùng mất cả th́ diệu lư Thật Tướng sẽ hiển lộ toàn thể, y báo và chánh báo trong cơi Tây Phương sẽ phô bày trọn vẹn.
Đấy chính là Tŕ Danh mà có thể thâm đạt Thật Tướng, chẳng cần phải tu Quán mà thấy thấu tột cơi Tây Phương; hiện tại đă chứng được Niệm Phật tam-muội, lúc lâm chung quyết định văng sanh Thượng Phẩm.
Nếu căn cơ yếu kém, chưa thể làm được như vậy th́ cứ dùng tín nguyện tŕ danh như con nhớ mẹ, niệm luôn luôn không gián đoạn cho đến lúc lâm chung, chắc chắn sẽ nhờ vào sức từ bi của Phật, được mang nghiệp đi văng sanh (đới nghiệp văng sanh). Pháp Tŕ Danh này phổ độ khắp các căn cơ, lợi ích sâu rộng, thật ích lợi cho kẻ độn căn thời Mạt Pháp, phơi bày trọn vẹn bổn hoài xuất thế của đức Như Lai. V́ thế, vạn người tu, vạn người văng sanh.
3. Ba là kiêm niệm tự tha Phật, tức là Thiền Tịnh Song Tu. Nếu ai có đủ tín nguyện cầu sanh th́ tham Thiền chính là hạnh Tịnh Độ, hễ có nghi th́ tham Thiền, không nghi thời niệm Phật, tự châm chước cách hạ thủ công phu.
Nếu chuyên tham cứu câu “người niệm Phật là ai?” để mong minh tâm kiến tánh, chẳng màng đến tín nguyện cầu sanh th́ đúng là có Thiền nhưng không có Tịnh. Nếu như có chút tơ tóc Hoặc nghiệp nào chưa đoạn sạch, sẽ bị đi theo nghiệp, không có cách nào thoát khỏi nổi! V́ thế, cách này chẳng thể bằng cách chuyên tŕ danh hiệu, thâm nhập một môn!
Tôi do thiện nghiệp xa xưa nào mà nay được làm thân người, tuy ham thích chuyện vô ích, tạo nghiệp vô lượng; nhưng trong mạng sống thừa cuối kiếp này lại được Phật quang chiếu đến, bạn lành đề huề. Đọc cuốn Long Thư Tịnh Độ Văn, tôi sanh ngay ḷng tín nguyện, buông bỏ sạch hết những điều ḿnh vốn ưa thích, chỉ c̣n thích niệm Phật.
Sau khi đến Đài Loan, tôi được đọc Đại Tạng, lại được xem nhiều kinh sách Tịnh Độ. Cứ hễ đọc đến đoạn nào liên quan đến phương pháp tu tŕ Niệm Phật th́ liền ghi lấy, cóp nhặt của báu, ghi thêm lời nhận định. Dẫu là lời lẽ chưa đạt, nhưng lư chẳng ngoài những lời Phật dạy, Tổ răn, tuyệt không một chữ nào phát xuất tự ư riêng ḿnh để khỏi mắc lỗi hoại pháp, lầm lạc ḿnh. Tôi tập hợp những lời dạy ấy ghép thành bốn quyển, đặt tên là Niệm Phật Pháp Yếu.
Sách này vốn là để giúp ḿnh tự tu, lấy lời dạy của cổ đức làm thầy ḥng khích lệ ḿnh tinh tấn để khỏi tu mù, luyện đui, hưởng quả quanh quẩn. Nhân có lời yêu cầu đăng tải của báo Sư Tử Hống, tôi trộm nghĩ đây chính là lúc thuận tiện, nhưng vừa mới đăng tải được một nửa th́ đă được các vị đại đức trong ngoài nước quá ưu ái quyên tiền hối thúc ấn hành để sách được lưu truyền rộng khắp.
Phổ nguyện pháp giới chúng sanh những ai không có thời gian rảnh rỗi để tham học khắp các bậc minh sư hay thâm nhập kinh tạng sẽ nhờ cuốn sách này mà có được pháp yếu để làm chứng cứ, tuân theo lời dạy mà niệm Phật để cùng thoát khỏi khổ luân, đồng sanh Cực Lạc, đồng đoạn hoặc nghiệp, đồng chứng Bồ Đề.
Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 55 (1966), cuối xuân Bính Ngọ, Bồ Tát giới Ưu-bà-tắc Dịch Viên Mao Lăng Vân, nguyên quán tỉnh Hồ Bắc, kính ghi tại tịnh xá Tư Quy ở phụ cận thành phố Đài Bắc.
Tịnh nghiệp đệ tử Dịch Viên Mao Lăng Vân cung kính kết tập
Kinh Đại Tập dạy: “Đời Mạt Pháp ức ức người tu hành, hiếm một ai đắc đạo, chỉ có ai nương theo pháp Niệm Phật mới được thoát khỏi sanh tử”.
Ngài Linh Phong bảo: “Trong hết thảy các pháp môn Niệm Phật, t́m lấy pháp giản dị nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất, th́ không có pháp nào bằng được pháp Tín Nguyện Chuyên Tŕ Danh Hiệu; chẳng nhọc công quán tưởng, chẳng cần phải tham cứu”.
Thế mà gần đây người niệm Phật th́ nhiều, ít kẻ được văng sanh; đều là do tín nguyện chẳng thiết, tạp tu chẳng chuyên, hoặc cầu phước báo trời, người, nên vẫn cứ luân hồi như cũ!
Ở đây, tôi trích tuyển pháp ngữ của chư Tổ, chẳng chọn lấy những lời bàn luận cao xa về cách tham cứu, quán tưởng, chỉ chọn lấy những lời pháp yếu về cách Tŕ Danh để hành nhân thường dễ đọc lược qua, ḥng khích lệ chính ḿnh tinh tấn; so với việc tham học thiện tri thức th́ lại càng thiết thực hơn nữa.
1. Trích yếu lời phán định hai cách tạp tu và chuyên tu Tịnh nghiệp của đại sư Thiện Đạo đời Đường
Hỏi: V́ sao chẳng dạy tu Quán mà chỉ dạy thẳng chuyên xưng niệm danh hiệu?
Đáp: Chúng sanh chướng nặng, cảnh vi tế mà tâm th́ thô phù, thần thức lao chao, nên khó thành tựu pháp Quán. V́ thế, đức Đại Thánh bi mẫn khuyên ngay nên chuyên xưng danh hiệu, chính là v́ danh hiệu dễ xưng, hễ niệm liên tục liền văng sanh. Nếu có thể niệm niệm liên tục, lấy lúc hết mạng làm hạn th́ mười người tu, mười người được văng sanh, trăm người tu, trăm người được sanh. V́ sao vậy? Do v́ không có tạp duyên bên ngoài nên được chánh niệm, v́ tương ứng với bổn nguyện của Phật, v́ chẳng trái giáo pháp, v́ thuận theo lời Phật.
Nếu bỏ chuyên niệm để tu tạp nghiệp th́ trong trăm kẻ, hiếm có một hai [người được văng sanh], trong cả ngàn người, hiếm được ba bốn. V́ sao vậy? V́ tạp duyên loạn động, đánh mất chánh niệm; v́ chẳng tương ứng với bổn nguyện của Phật; v́ trái nghịch giáo pháp, v́ chẳng thuận lời Phật; v́ hệ niệm chẳng tương tục; v́ tâm chẳng liên tục nghĩ báo ân Phật; v́ tuy tu hành mà thường tương ứng với danh lợi; v́ ưa gần tạp duyên gây chướng ngại chánh hạnh văng sanh của ḿnh lẫn người.
Xin hết thảy mọi người hăy khéo tự suy nghĩ. Đi, đứng, nằm, ngồi đều phải chú tâm khắc kỷ, ngày đêm đừng quên. Trong niệm trước vừa mạng chung th́ trong niệm sau liền sanh [vào Cực Lạc], vĩnh viễn hưởng pháp lạc vô vi cho đến khi thành Phật, há chẳng phải là vui sướng lắm ư?
Nhận định:
Ấn Quang đại sư nói: “Ḥa Thượng Thiện Đạo là hóa thân của A Di Đà Phật, Ngài dạy về chuyên tu, nghĩa là: Thân nghiệp chuyên lễ (phàm nhiễu Phật và trong hết thảy mọi nơi, thân chẳng phóng dật đều là thân nghiệp chuyên lễ cả); khẩu nghiệp chuyên xưng (hễ khi nào tụng kinh tŕ chú mà có thể chí tâm hồi hướng th́ đều có thể gọi là chuyên xưng cả); ư nghiệp chuyên niệm th́ văng sanh Tây Phương, trong cả vạn trường hợp chẳng sót trường hợp nào!
Tạp tu nghĩa là kiêm tu nhiều pháp môn và hồi hướng cầu văng sanh. Do tâm chẳng thuần nhất, nên khó có lợi ích. Đấy là lời thành thật phát xuất từ miệng vàng, là khuôn phép ngàn xưa chẳng thể thay đổi được!”
Xin các hành nhân hăy một dạ chuyên tu, lấy trọn đời làm hạn để cầu quyết được văng sanh.
2. Trích yếu sách Vạn Thiện Đồng Quy của đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ đời Tống
* Theo đoạn kinh giảng về chín phẩm văng sanh trong Quán Kinh th́ sở dĩ có sự thăng giáng, phẩm vị thượng, hạ, là v́ chẳng ngoài hai tâm sau đây:
a. Một là Định Tâm như tu Định, tập Quán.
b. Hai là Chuyên Tâm: Chỉ niệm danh hiệu, dùng các điều lành hỗ trợ, vun bồi; hồi hướng, phát nguyện, nhưng phải trọn đời quy mạng, suốt đời chuyên tu.
Trong lúc nằm, ngồi, thường hướng về phương Tây. Trong lúc đi kinh hành, lễ kính và khi niệm Phật, phát nguyện phải khẩn thiết, siêng gắng, dốc trọn ḷng thành, không có niệm ǵ khác, giống như lúc sắp bị xử chém, hoặc đang trong ṿng tù tội, hoặc đang bị oán tặc truy đuổi, hoặc đang bị nước, lửa bức bách, nhất tâm cầu được cứu độ, nguyện thoát nỗi khổ, mau chứng Vô Sanh, rộng độ hàm thức, thiệu long Tam Bảo, thề báo tứ ân. Chí thành như thế, ắt sẽ chẳng luống công!
Nếu như lời nói chẳng tương xứng việc làm, tín lực hời hợt, chẳng có tâm luôn giữ cho niệm niệm tiếp nối, ư nhiều phen gián đoạn; lại toan cậy vào sự tu tập lười biếng như thế mà mong lúc lâm chung được văng sanh th́ chỉ e rằng sẽ bị nghiệp chướng ngăn trở, khó được gặp thiện hữu, bị gió, lửa bức bách, chẳng giữ nổi chánh niệm! V́ sao thế? Lúc hiện tại là nhân, lúc lâm chung là quả. Nhân có chắc thật th́ quả mới chẳng hư dối. Nếu muốn được lâm chung mười niệm thành tựu, phải dự bị sẵn phương tiện, tom góp công đức để hồi hướng về lúc đó; niệm niệm chẳng thiếu sót th́ lúc ấy mới không luống uổng vậy!
* Hoặc có kẻ hỏi: Công đức của việc đi kinh hành niệm Phật và ngồi niệm Phật như thế nào?
Đáp: Ví như căng buồm đi ngược nước tuy cũng có thể đến nơi được, nhưng so với chuyện thuận nước căng buồm th́ biết ngay khó - dễ. Ngồi niệm Phật một câu đă tiêu trừ được tội lỗi trong cả tám mươi ức kiếp th́ công đức đi kinh hành niệm Phật c̣n biết đến đâu? V́ thế có bài kệ rằng:
Kinh hành năm trăm ṿng
Niệm Phật một ngàn tiếng
Thường tu hành như thế
Tự thành Phật Tây Phương
Nếu lễ bái th́ khuất phục được vô minh, thâm nhập bến Giác, mạng chung văng sanh, mau chứng Niết Bàn.
Thiền Tịnh Tứ Liệu Giản
Có Thiền, không Tịnh Độ
Mười người, chín chần chừ
Nếu ấm cảnh hiện tiền.
Chớp mắt đi theo nó.
Không Thiền, có Tịnh Độ
Vạn người tu, vạn đỗ
Chỉ được thấy Di Đà
Lo chi chẳng khai ngộ.
Có Thiền, có Tịnh Độ
Khác nào hổ thêm sừng
Đời này làm thầy người
Đời sau thành Phật, Tổ.
Không Thiền, không Tịnh Độ
Giường sắt và cột đồng
Muôn kiếp với ngàn đời
Trọn không ai nương dựa
Nhận định:
Ấn Quang đại sư nói: “Có Thiền là tận lực tham cứu, niệm bặt t́nh mất, thấy tột cùng vẻ mặt sẵn có trước khi được cha mẹ sanh ra, minh tâm kiến tánh.
Có Tịnh Độ là chân thật phát Bồ Đề tâm, sanh ḷng tin, phát nguyện, tŕ danh hiệu Phật, cầu sanh Tây phương.
Nếu như tham Thiền chưa ngộ hoặc ngộ chẳng triệt để,đều chẳng được gọi là ‘có Thiền’.
Nếu niệm Phật mà thiên chấp duy tâm, chẳng có tín nguyện, hoặc có tín nguyện nhưng chẳng chân thành, thiết tha, chỉ hờ hững, lững lờ, hành qua loa cho có; hoặc hành tuy tinh tấn, nhưng tâm mê đắm trần cảnh, hoặc cầu đời sau sẽ sanh trong nhà phú quư, hưởng vui ngũ dục; hoặc cầu sanh lên trời để hưởng vui phước trời; hoặc cầu đời sau xuất gia làm Tăng nghe một ngộ cả ngàn, đắc đại Tổng Tŕ, hoằng dương pháp đạo, phổ lợi chúng sanh, đều chẳng đáng gọi là ‘có Tịnh Độ’ vậy!
C̣n bảo kẻ ‘không Thiền, không Tịnh’ là nói đến kẻ vùi đầu tạo nghiệp, chẳng tu thiện pháp th́ đúng là lầm lẫn lớn!
Pháp môn vô lượng, nhưng chỉ có Thiền và Tịnh là thích ứng với các căn cơ nhất. Kẻ nào chưa triệt ngộ mà lại chẳng cầu văng sanh, cứ loay hoay tu đủ các pháp môn khác, chẳng những đă không thể giữ cho Định và Huệ được cân bằng ḥng đoạn Hoặc, chứng Chân; mà lại c̣n chẳng nương theo Phật lực để đới nghiệp văng sanh! Đem công đức tu tŕ trọn đời mong cảm lấy phước báo trời - người, cậy phước làm ác, sẽ đọa địa ngục; muốn có lại thân người th́ đúng là khó nhất trong những sự khó vậy!
Câu “trọn không ai nương dựa” vẫn chỉ là lời nói c̣n nhẹ lắm do bị hạn cuộc trong âm vận bài kệ đó thôi! Đại sư (Tổ Vĩnh Minh) sợ cơi đời chẳng hiểu, nên đặc biệt viết bài Liệu Giản này để chỉ dạy đời tương lai’.
Xin các hành nhân chuyên tâm tŕ danh, cầu sanh Tây Phương th́ mới chẳng uổng phí.
3. Trích yếu sách Văng Sanh Tịnh Độ Quyết Nghi Hạnh Nguyện Nhị Môn của Từ Vân Sám Chủ Tuân Thức đại sư đời Tống
* Phàm là kẻ bận việc công hay làm chuyện tư, bận rộn công việc, tuy làm việc mà trong tâm vẫn thường chẳng quên Phật, luôn nhớ Tịnh Độ. Giống như người đời có chuyện quan trọng phải bận tâm, tuy tính toán, nói năng, nằm, ngồi, làm đủ các sự, nhưng chẳng trở ngại việc thầm nhớ, chuyện bận tâm trên đây vẫn c̣n y nguyên! Phải nên có tâm niệm Phật như thế! Nếu lỡ quên mất th́ phải nhiều lần gom tâm lại, lâu ngày sẽ thành tánh, luôn nghĩ nhớ tùy ư.
Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật th́ hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa; chẳng nhọc phương tiện, tâm tự khai ngộ”.
Ràng buộc tâm như thế sẽ luôn ngăn ngừa các ác một cách tùy ư. Giả sử muốn làm ác th́ do nhớ đến Phật nên ác chẳng thể thành. Dù cho có lúc ngả theo điều ác mà làm ác th́ tâm cũng luôn rụt rè, giống như thân có mùi thơm sẽ tự nhiên xa ĺa chỗ hôi thối.
Hơn nữa, nếu biết tâm vừa mới hơi khởi ác niệm th́ liền nhớ đến Phật. Do Phật lực nên ác niệm tự dứt, như kẻ gặp nạn cầu đến cường viện (kẻ cứu viện mạnh mẽ) sẽ được thoát khỏi. Lại như lúc thấy người khác chịu khổ th́ do tâm niệm Phật sẽ xót thương kẻ ấy, mong kẻ ấy thoát khổ.
Nếu phải xét xử án tù th́ do niệm Phật nên sanh ḷng thương xót, tuy vẫn tuân phép vua, nhưng nên thầm nguyện rằng: “Ta tuân hành vương pháp chứ chẳng phải bổn tâm muốn thế. Nguyện khi ta sanh về Tịnh Độ, thề sẽ cứu vớt ngươi!”
Khi trải qua hết thảy hoàn cảnh dù thiện hay ác th́ do tâm nhớ Phật nên luôn tâm niệm, phát nguyện. V́ thế, đại nguyện vương của đức Phổ Hiền: “Làm hết thảy ác, đều chẳng thành tựu; nếu làm thiện nghiệp thảy đều ḥa hợp” phát xuất chính từ ư nghĩa này. Trong tâm luôn niệm Phật liên tục như thế sẽ có thể thành tựu hết thảy công đức nhân duyên Tịnh Độ.
Nhận định:
Môn Hệ Duyên này có lợi ích rất lớn, giữ sao cho trong tâm luôn hệ niệm chẳng quên đức Phật; trong hết thảy hoàn cảnh thiện ác đều nguyện và khi làm các việc đều mật tŕ danh hiệu Phật chẳng sót th́ có thể nói là chẳng hề ĺa Đạo trong khoảnh khắc nào.
4. Trích yếu sách Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự của đại sư Phổ Chiếu Trung Phong Minh Bổn đời Tống
* Giáo nghĩa của Tịnh Độ là ngưỡng thừa bốn mươi tám nguyện lực đại từ đại bi sâu nặng của đức A Di Đà Phật nhiếp thủ mười phương chúng sanh. Hễ ai có đủ tín tâm sẽ đều được văng sanh.
a. Tín là tin có Tây Phương Tịnh Độ, tin có đức A Di Đà Phật nhiếp thủ chúng sanh, tin bọn chúng sanh chúng ta có phần văng sanh. Tuy nói là A Di Đà Phật nhiếp thủ chúng sanh, nhưng cần phải tin rằng đấy chỉ là tùy tâm tự hiện, cảm ứng đạo giao, xét đến rốt ráo chẳng phải là có từ bên ngoài. Tin được như thế th́ gọi Chân Tín. Tín mà thiếu Hạnh th́ chẳng thành Tín.
b. Hạnh là như kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”. Kinh A Di Đà dạy: “Nghe nói đức A Di Đà Phật liền chấp tŕ danh hiệu trong một ngày, hoặc hai ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn”. Hành như thế gọi là Chánh Hạnh. Hạnh mà thiếu Nguyện th́ Hạnh chẳng thành.
c. Nguyện phải tương ứng mỗi nguyện trong bốn mươi tám nguyện của đức A Di Đà. Đấy là Đại Nguyện.
Ba thứ Tín, Hạnh, Nguyện như ba chân của cái đỉnh, thiếu một thứ chẳng được. Nên biết rằng: Một niệm hiện tiền vốn tự viên thường. Tín - Hạnh - Nguyện vốn là tánh đức tự sẵn có như thế, nay chỉ là bổn tánh hiển hiện quang minh mà thôi.
* Ngay trong lúc vọng tâm tạp loạn, nếu có thể khởi lên một niệm như đối trước đấng Từ Tôn, nắm vững sáu chữ hồng danh, mỗi câu niệm ra thấu vào tai th́ sự tạp loạn ấy sẽ tự nhiên tịch tĩnh theo câu niệm.
Từ một niệm ấy cho đến mười niệm, thậm chí niệm niệm chẳng dời đổi; đấy chính là điều mà kinh gọi là “tịnh niệm tiếp nối”.
Người niệm Phật tín tâm cần phải khẩn thiết, chánh nhân lẫm lẫm, đặt nặng nỗi buồn sanh tử luân chuyển, nhàm chán sâu xa nỗi đau trần lao vấn vít để khởi lên một tiếng niệm Phật. Ngay khi đó không c̣n nghĩ ǵ khác, măi đến khi nhất tâm bất loạn, Năng lẫn Sở cùng mất th́ chẳng cần phải nhắc lại lời nói về “con đường về nhà” nữa, chẳng cần phải mất công nhai nhải chuyện “đi trên con đường tắt”.
Pháp môn này đáng gọi là cách thức tu hành thần diệu, là đường chánh siêu việt phương tiện vậy.
Nhận định:
Câu: “Ngay trong lúc vọng tâm tạp loạn nếu có thể khởi lên một niệm niệm Phật; mỗi câu niệm thốt ra thấu vào tai th́ sự tạp loạn ấy sẽ tự nhiên tịch tĩnh theo câu niệm” chính là yếu quyết để trừ vọng niệm, nguyện các hành nhân hăy thiết thực hành tŕ. Dùng Tín để nhập đạo, lấy Nguyện để dẫn đường, chẳng thể khuyết một thứ nào.
5. Trích yếu sách Liên Tông Bảo Giám của Hổ Khê Tôn Giả Ưu Đàm Phổ Độ đại sư đời Nguyên
* [Đối với các pháp để] nhiếp tâm niệm Phật, muốn được mau thành tam-muội, đối trị hôn trầm, tán loạn, th́ pháp Sổ Tức (đếm hơi thở) là quan trọng nhất. Hễ lúc nào muốn tịnh tọa, trước hết phải tưởng thân ḿnh ở trong Viên Quang [của Phật], lặng nh́n chót mũi, theo dơi hơi thở ra vào. Mỗi hơi thở thầm niệm một tiếng A Di Đà Phật. Phương tiện điều ḥa hơi thở chẳng nhanh, chẳng chậm; tâm và hơi thở nương theo nhau.
Đi, đứng, nằm, ngồi, đều có thể thực hành theo cách nương theo hơi thở ra vào chẳng để gián đoạn. Luôn tự miên mật hành tŕ cho đến lúc thâm nhập Thiền Định, cả hơi thở lẫn câu niệm cùng mất th́ thân tâm này giống như hư không. Lâu ngày thuần thục tâm nhăn khai thông, tam-muội đột nhiên hiện tiền. Đấy chính là “duy tâm Tịnh Độ”.
* Luận Bảo Vương chép: “Tu tŕ Nhất Tướng Niệm Phật tam-muội là ngay trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, luôn hệ niệm chẳng quên. Dù có ngủ nghỉ, khi thức dậy liền hệ niệm tiếp”, chẳng để các nghiệp khác gây gián đoạn, chẳng để tham, sân, si cách ngăn. Hễ phạm liền sám hối ngay chẳng để quá một niệm, chẳng nghĩ ǵ khác, chẳng để cách ngày, cách quăng thời gian. Niệm niệm thường chẳng rời Phật; niệm niệm thanh tịnh viên minh, chính là đắc Nhất Tướng tam-muội.
* Bồ Tát tại gia thờ Phật, giữ giới, suốt ngày lo liệu gia duyên, chưa thể nhất tâm tu hành, sáng dậy nên đốt hương, lễ bái Tam Bảo, tùy ư niệm Phật. Mỗi lúc hoàng hôn cũng lễ niệm như thế; lấy đó làm thường khóa. Nếu như ngày nào bỏ sót th́ ngày hôm sau nên đối trước Phật bày tỏ sám hối. Pháp môn này cốt sao chẳng gây trở ngại đến công việc ḿnh: chẳng trở ngại kẻ sĩ đọc sách, luyện văn, chẳng trở ngại nhà nông cấy cày, chẳng ngại kẻ làm thợ làm lụng, chẳng trở ngại thương gia bán buôn. Ngoài việc sáng lễ, chiều lạy, trong mười hai thời, hăy nên dành chút công phu niệm trăm câu, ngàn câu danh hiệu Phật, lấy chí thành làm công lao để cầu sanh Tịnh Độ.
* Phàm là người tu Tịnh Độ th́ rơ ràng là phải chống chọi sanh tử, chứ chẳng phải nói suông rồi thôi. Hăy nghĩ tới vô thường nhanh chóng, thời gian chẳng đợi ai, phải hoàn thành sự nghiệp cho xong. Nếu đă tin tưởng, th́ từ ngày nay trở đi, phải phát đại dũng mănh, tinh tấn, chẳng cần biết là hiểu hay chẳng hiểu, kiến tánh hay chưa kiến tánh, chỉ chấp tŕ một câu Nam Mô A Di Đà Phật giống hệt như dựa vào một ṭa núi Tu Di, dẫu lay lắc cũng chẳng động.
Chuyên tâm, nhất ư để hoặc là tham niệm, hoặc quán niệm, hoặc ức niệm, hoặc thập niệm, hoặc thầm niệm, chuyên niệm, hệ niệm, lễ niệm. Niệm ở đâu chú tâm vào đó, thường nhớ, thường niệm. Sáng cũng niệm, tối cũng niệm. Đi cũng niệm, ngồi cũng niệm.
Tâm niệm chẳng để luống qua, niệm Phật chẳng ĺa tâm. Ngày ngày giờ giờ chẳng muốn buông bỏ, miên miên mật mật như gà ấp trứng luôn giữ cho hơi ấm được liên tục. Đấy chính là “tịnh niệm tiếp nối” .
Lại c̣n vận dụng trí để quán chiếu biết Tịnh Độ chính là tự tâm. Đấy chính là công phu tấn tu của bậc thượng trí. Giữ được Định, làm chủ được hành động, đạt được chỗ nương dựa ổn thỏa, thích đáng như thế, dẫu gặp cảnh giới khổ, vui, thuận, nghịch xảy ra, cũng chỉ niệm A Di Đà Phật, không hề có một niệm sanh tâm biến đổi, tâm thoái đọa, tâm tạp tưởng. Cho đến hết đời, trọn không có niệm nào khác, sẽ quyết định sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Nếu có thể dụng công như thế th́ vô minh, nghiệp chướng sanh tử trong bao kiếp sẽ tự nhiên tiêu sạch, trần lao tập lậu tự nhiên hết sạch, được gặp Phật Di Đà, chẳng ĺa bổn niệm; công thành, hạnh măn. Nguyện lực hỗ trợ nhau, khi lâm chung quyết sẽ sanh trong Thượng Phẩm.
* Nếu người niệm Phật c̣n chưa sạch trần cấu, khi ác niệm nổi lên hăy nên tự kiểm điểm. Nếu như chính ḿnh có tâm keo tham, tâm sân hận, tâm si ái, tâm ganh ghét, tâm khinh dối, tâm hợm ḿnh, tâm kiêu căng, tâm dua vạy, tâm tà kiến, tâm khinh mạn, tâm Năng Sở, và khi gặp phải hết thảy hoàn cảnh thuận nghịch liền thuận theo nhiễm cấu, phát sanh hết thảy các tâm bất thiện; nếu khi các tâm như vậy phát khởi, hăy nên mau lớn tiếng niệm Phật, gom ư niệm về chỗ đúng đắn, đừng để cho tâm ác tiếp nối. Niệm miết cho đến khi ác niệm hết sạch, vĩnh viễn không c̣n sanh lại nữa.
Thường phải nên thủ hộ tất cả tâm thâm tín, tâm chí thành, tâm phát nguyện hồi hướng, tâm từ bi, tâm khiêm hạ, tâm b́nh đẳng, tâm phương tiện, tâm nhẫn nhục, tâm tŕ giới, tâm hỷ xả, tâm thiền định, tâm tinh tấn, tâm Bồ Đề và hết thảy thiện tâm.
Lại nên xa ĺa những điều trái với phạm hạnh, thực hành những luật nghi dứt ác, đừng nuôi dưỡng gà, chó, lợn, dê; những việc như săn bắn, đánh cá đều chẳng nên làm. Nên học theo Phật, nên lấy việc bỏ ác làm lành để răn xét ḿnh!
* Kẻ có tín tâm, chân thật tu hành, chỉ cốt sao nhớ được một câu A Di Đà Phật trong mỗi ư niệm, đừng để cho quên mất, niệm niệm thường hiện tiền, niệm niệm chẳng ĺa tâm. Vô sự cũng niệm như thế, hữu sự cũng niệm như thế. An vui cũng niệm như thế, bệnh khổ cũng niệm như thế. Sống cũng niệm như thế, chết cũng niệm như thế. Một niệm phân minh bất muội như thế, cần ǵ phải hỏi người khác đường lối tu hành để được văng sanh nữa ư?
Nhận định:
Đối với thường khóa sớm tối, người tại gia niệm Phật nhất định chẳng thể bỏ sót. Nếu có lúc bỏ sót, sao chẳng ngủ trễ, dậy sớm? Đừng vin vào đó để gián đoạn thường khóa. Chỉ khi nào bận rộn suốt tối hôm trước th́ sáng hôm sau mới đối trước Phật bày tỏ, sám hối, niệm bù.
Thường nhật nên dùng thời gian rảnh rang để niệm Phật, niệm càng nhiều càng hay, cũng chẳng hạn định trong trăm câu, ngàn câu. Lâu ngày thuần thục, tam-muội sẽ dễ hiện tiền.
6. Trích yếu sách Tịnh Độ Hoặc Vấn của đại sư Duy Tắc Thiên Như đời Nguyên
* Người sanh trong đời có được mấy chốc? [Đời người như] lửa xẹt từ đá, như ánh chớp nháng lên, chớp mắt đă hết. Hăy giành ngay lúc chưa bệnh, chưa già đây, dốc trọn tinh thần, vứt bỏ sự đời; cứ mỗi một ngày trôi qua là một ngày niệm danh hiệu Phật, được một thời công phu, tu một thời Tịnh nghiệp. Do đấy, lúc mạng lâm chung, dù là chết nhẹ nhàng hay chết đau khổ th́ những cái ta vương vấn đă được giải quyết xong, tiền tŕnh của ta đă ổn thỏa, thích đáng rồi!
* Người bị ràng buộc trong lưới đời nếu đau đáu nghĩ đến vô thường, dụng tâm chân thành, thiết tha, bất luận khổ, vui, thuận, nghịch, tịnh, ồn, rảnh, bận, mặc ḷng công chuyện hoàn tất hay chưa, dù tiếp tân, đăi khách, vạn duyên rối bời, dẫu phải ứng phó mọi mặt mà việc đời và niệm Phật vẫn chẳng trở ngại ǵ nhau cả!
Nếu ai bận khá nhiều việc đời, sức dù có hơi kém, vẫn nên t́m lấy thời gian rảnh rang giữa lúc bận rộn, t́m lúc yên tịnh giữa chốn huyên náo để mỗi ngày niệm ba vạn câu, hoặc một vạn câu, hoặc ba ngàn câu, một ngàn câu. Lấy đó làm nhật khóa nhất định, chẳng bỏ suông ngày nào!
Lại ngay cả khi bận rộn hết sức không có lúc nào rảnh rang th́ mỗi ngày vào lúc sáng sớm nên hành pháp Thập Niệm. Lâu ngày tích tụ thành công lao, cũng chẳng luống uổng.
Ngoài lúc niệm Phật ra th́ hoặc là niệm kinh, lễ Phật, hoặc sám hối phát nguyện, làm đủ các thứ kết duyên, tạo phước, tùy sức bố thí, tu các việc lành để hỗ trợ thêm. Với bất cứ điều lành mảy may nào đều phải hồi hướng Tây Phương.
Dụng công như thế, chẳng những sẽ quyết định văng sanh, mà c̣n khiến cho phẩm vị được cao thêm nữa!
* Chuyên tŕ danh hiệu, nếu c̣n lễ bái, sám hối thêm sẽ rất hợp với thuyết Chuyên Tu Vô Gián của ngài Thiện Đạo. Chuyên Tu Vô Gián là thân phải chuyên lễ A Di Đà Phật, chẳng lễ xen lẫn các vị khác; miệng chuyên niệm A Di Đà Phật, chẳng niệm các thánh hiệu khác, chẳng tụng các kinh khác; ư phải chuyên tưởng A Di Đà Phật, chẳng tưởng vị nào khác. Nếu tham, sân, si xen tạp th́ cứ hễ phạm liền sám, chẳng để cách ngày, cách đêm, hay cách giờ; thường giữ cho thanh tịnh th́ cũng gọi là Vô Gián.
* Pháp Hệ Niệm là chẳng cần biết là đang đi, đứng, hay nằm, ngồi, chẳng cần phải niệm ra tiếng tốn hơi; chỉ cốt sao chí thành, thầm tưởng thầm niệm, niệm niệm liên tục, tâm không gián đoạn. Tôi dám hứa là nhục nhăn của hành nhân trong hiện đời sẽ thấy Phật, hoặc thấy quang minh, hoặc được Phật xoa đảnh v.v… chứ chẳng cần phải đến lúc lâm chung! Đây là một pháp môn đường tắt, giản dị nhất, thiết yếu nhất, cực kỳ linh nghiệm.
Nhận định:
Mẹ của Đại Sư tuổi gần bảy mươi; Ngài sợ niệm Phật ra tiếng tốn hơi, nên ngầm sai em trai là Hành Viễn khuyên mẹ tu pháp môn Hệ Niệm. Nếu có thể niệm Phật ra tiếng sẽ dễ xưng danh hơn, dễ giữ được niệm niệm liên tục. V́ thế, sách Tịnh Độ Hoặc Vấn quy kết về chuyên tŕ danh hiệu.
7. Trích yếu sách Tịnh Độ Pháp Ngữ của đại sư U Khê Truyền Đăng Vô Tận đời Minh
* Dương Thứ Công nói: “Ái chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà; niệm chẳng nhất, chẳng sanh Tịnh Độ”. Nếu đối với Sa Bà mà có một Ái chẳng nhẹ th́ lúc lâm chung sẽ bị cái Ái đó lôi kéo, nên chẳng được văng sanh; thế th́ có nên lắm ái hay không? Nếu đối với Cực Lạc có một niệm chẳng chuyên nhất, lúc lâm chung sẽ bị cái niệm ấy xoay chuyển, chẳng được văng sanh; vậy th́ có nên có lắm niệm hay không?
Do v́ Ái có nặng, nhẹ, dày, mỏng: chánh báo, y báo bày đầy trước mắt, nên chẳng thể lăng quên cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè, công danh, phú quư, văn chương, thi phú, đạo thuật, kỹ nghệ, y phục, thức ăn, nhà cửa, ruộng vườn, rừng, suối, đồng hoa, trân bảo, ngoạn vật…
Hễ c̣n một vật chẳng quên nổi th́ là Ái; c̣n có một niệm chẳng thể bỏ đi th́ là Ái. Hễ c̣n giữ một niệm Ái trong ḷng th́ niệm chẳng thể chuyên nhất; c̣n một niệm chẳng quy nhất th́ chẳng được văng sanh.
Nếu hỏi: Có cách nào làm nhẹ ái chăng? Xin thưa: Làm nhẹ ái không ǵ hơn là nhất niệm.
[Hỏi]: Có cách nào để nhất niệm không? Xin thưa: Để đạt nhất niệm, không có ǵ bằng làm nhẹ ái.
V́ niệm bất nhất là do tâm tán loạn, duyên khác [xen vào] khiến cho tâm tán loạn như thế. Duyên khác làm tán tâm là do rong ruổi theo cảnh nên trở thành như thế. Sa Bà có một cảnh th́ chúng sanh có một tâm. Chúng sanh có một tâm th́ Sa Bà có một cảnh. Duyên chất chứa chao động bên trong, hướng ra ngoài loạn động, tâm cảnh theo đuổi nhau, ái nhiều như trần sa. V́ thế muốn nhẹ ái th́ không ǵ bằng phải ngăn lấp cảnh! Các cảnh đều không, vạn duyên đều tịch, nhất niệm tự thành. Nếu nhất niệm tự thành th́ ái duyên đều tận!
Có cách nào ngăn lấp các cảnh không?
Xin thưa: Ngăn lấp các cảnh chẳng phải là trừ sạch vạn hữu, cũng chẳng phải là nhắm mắt chẳng nh́n, mà chính là hiểu rơ cảnh là hư giả; thấu hiểu cái gốc để thấy cái ngọn là Không. Vạn pháp vốn tự chẳng có. “Có” là do t́nh thức phát khởi, nên hễ t́nh thức c̣n th́ vật c̣n, t́nh không, vạn vật không. Vạn pháp không, nhưng bổn tánh hiện; bổn tánh hiện, nhưng t́nh niệm dứt; tự nhiên như thế chẳng cần phải miễn cưỡng!
Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Kiến và kiến duyên đều là tướng được tưởng, giống như hoa đốm trên hư không vốn chẳng có ǵ. Kiến và duyên ấy vốn là diệu tịnh minh thể của Bồ Đề th́ làm sao lại có đúng hay sai trong đó được?” V́ vậy, muốn ngăn lấp cảnh th́ không ǵ bằng hiểu rơ vật là hư huyễn. Hiểu mọi vật là hư huyễn th́ t́nh thức tự nhiên tuyệt. Hễ t́nh tuyệt th́ ái chẳng sanh, duy tâm hiện nên ư niệm chuyên nhất sẽ thành. Do vậy, kinh Viên Giác dạy: “Biết huyễn liền ĺa, chẳng dùng phương tiện. Ĺa huyễn chính là giác, cũng chẳng theo thứ tự nào cả!” Một bỏ, một giữ, chẳng thể thay đổi, công hiệu mau chóng, phù hợp khít khao như dùi đánh xuống, trống liền vang tiếng; kẻ học đạo phải nên tận tâm thực hành cách tu tập này!
* Đạo lư Nhất Niệm gồm ba điều là Tín, Nguyện, Hạnh.
a. Chẳng nghi là Tín, nếu có nghi th́ tâm chẳng chuyên nhất. V́ thế, cầu sanh Cực Lạc phải lấy Tín làm đầu. Cần phải đọc khắp các kinh điển Đại Thừa, rộng học các lời dạy của chư Tổ. Hễ sách nào chỉ dạy pháp Tịnh Độ th́ đều phải t́m đọc hết cả để giải ngộ rằng Cực Lạc vốn là Tịnh Độ duy tâm của ta mà thôi, chứ chẳng phải cơi nào khác; hiểu rơ Di Đà vốn là vị chân Phật nơi bổn tánh của ta, chứ chẳng phải là đức Phật nào khác. Có hai điều quan trọng nhất:
- Giải ngộ Diệu Hữu trọn khắp cả, đầy đủ tất cả; lấy đó làm gốc cho việc ưa Tịnh.
- Giải ngộ Chân Không rời ĺa một cách viên măn, giải thoát một cách viên măn hầu lấy đó làm cơ sở để ĺa Uế.
Tín giải đă đầy đủ, hăy nên niệm Phật tu hành.
b. Về Hạnh, có hai điều: Một là Chánh Hạnh, hai là Trợ Hạnh.
b. 1. Chánh Hạnh lại gồm hai thứ: một là Xưng Danh, hai là Quán Tưởng.
Xưng Danh là như kinh Tiểu Bổn Di Đà dạy bảy ngày tŕ danh, nhất tâm bất loạn. Có Sự Nhất Tâm và Lư Nhất Tâm. Miệng xưng danh hiệu Phật, chú tâm nơi duyên, tiếng niệm tiếp nối, tâm tâm chẳng loạn. Nếu như tâm duyên theo ngoại cảnh, hăy nhiếp tâm trở lại.
Cách này đ̣i hỏi phải sanh tâm quyết định, đoạn trừ ư niệm nghĩ đến những chuyện sẽ xảy ra sau này, vứt bỏ thế sự, buông bỏ tâm duyên theo cảnh khiến cho niệm tâm dần dần tăng trưởng từ chốc lát đến lâu ngày, từ nhiều đến ít, một ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày, cốt sao thành tựu nhất tâm bất loạn mới thôi. Đó là Sự Nhất Tâm.
Nếu đạt được như vậy th́ thành tựu Tịnh nhân sanh về Cực Lạc; lúc lâm chung tất nhiên giữ được chánh niệm, thân không bệnh khổ, chẳng bị sự ác trói buộc, biết trước giờ chết, thân tâm hoan hỷ, qua đời một cách tốt lành, ngồi tịch hay đứng mất, diện kiến đức Di Đà phóng quang tiếp dẫn, chắc chắn sanh về Tịnh Độ!
Lư Nhất Tâm cũng chẳng khác ǵ, chỉ là ngay trong Sự Nhất Tâm, trong mỗi mỗi niệm hiểu thấu suốt tâm niệm Phật và đức Phật được niệm suốt ba đời đều b́nh đẳng, mười phương chứa đựng lẫn nhau, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải Tự, chẳng phải Tha, không đến, không đi, chẳng sanh, chẳng diệt. Cái tâm nhất niệm hiện tiền chính là cảnh Tịnh Độ trong vị lai. Niệm mà không niệm, không niệm nhưng niệm, vô sanh mà sanh, sanh nhưng vô sanh. Ở ngay trong cái chẳng thể niệm ấy lại sốt sắng niệm, ngay trong cái vô sanh ấy lại sốt sắng cầu sanh. Đấy là ngay trong Sự Nhất Tâm hiểu rơ Lư Nhất Tâm. Nếu như trong bốn oai nghi chẳng hề gián đoạn việc tu Tịnh Độ th́ văng sanh Tịnh Độ là chuyện tất nhiên!
b.2. Trợ Hạnh cũng gồm hai thứ:
- Một là hạnh thế gian như hiếu dưỡng cha mẹ, làm điều nhân từ thế gian, từ tâm chẳng giết, trọn đủ các giới luật, làm hết thảy việc lợi ích. Nếu có thể hồi hướng những việc ấy về Tây Phương th́ không việc ǵ lại chẳng phải là hạnh trợ đạo.
- Hai là hạnh xuất thế như Lục Độ, vạn hạnh, các thứ công đức, đọc tụng kinh Đại Thừa, tu các sám pháp; cũng cần phải dùng tâm hồi hướng để trợ tu th́ không ǵ chẳng phải là hạnh Tịnh Độ.
Lại c̣n một thứ trợ hạnh vi diệu nữa: Đối với mỗi thứ cảnh duyên phải trải qua, lúc nào cũng dụng tâm. Chẳng hạn như khi thấy quyến thuộc, hăy nên tưởng họ là pháp quyến ở Tây phương, dùng pháp môn Tịnh Độ để khai ngộ, chỉ bảo, khiến cho họ mỏng nhẹ ái kiến để được nhất tâm, nhằm làm cho họ vĩnh viễn trở thành vô sanh quyến thuộc trong tương lai.
Nếu lúc sanh ư tưởng ân ái, hăy nghĩ quyến thuộc Tịnh Độ chẳng có t́nh ái; để được sanh về Tịnh Độ, hăy nên xa ĺa t́nh ái đó.
Nếu như khi sanh tâm sân hận, hăy nghĩ đến quyến thuộc Tịnh Độ chẳng hề có xúc năo. Để được sanh về Tịnh Độ, hăy nên xa ĺa sự sân hận đó.
Nếu lúc chịu khổ, hăy nên nghĩ đến cơi Tịnh Độ chẳng có các nỗi khổ, chỉ hưởng những điều vui.
Nếu khi hưởng các điều vui, hăy nghĩ đến niềm vui trong Tịnh Độ không thể tính biết nổi.
Hễ gặp cảnh duyên, đều dùng ư ấy để suy xét kỹ càng th́ trong mọi nơi, mọi lúc, không có ǵ chẳng phải là trợ hạnh Tịnh Độ!
c. Nguyện có thông, biệt, rộng, hẹp, trọn khắp, hay hạn cuộc.
Thông là như những bài phát nguyện hồi hướng của các vị cổ đức đă soạn ra.
Biệt là ai nấy tùy theo ư ḿnh [mà phát nguyện].
Rộng là tứ hoằng nguyện thượng cầu, hạ hóa.
Hẹp là nói đến khả năng [của chính ḿnh], quyết chí văng sanh.
Hạn cuộc là khóa tụng có giờ giấc nhất định, phát nguyện cùng đại chúng.
Trọn khắp là lúc nào cũng phát nguyện, chỗ nào cũng bày tỏ tâm nguyện.
Nguyện chỉ cốt phù hợp Tứ Hoằng Nguyện, đừng móng tâm vọng lập. Xét chung các thứ nguyện đă phát th́ biệt nguyện thù thắng hơn thông nguyện v́ sợ khi đọc thông nguyện chỉ thuận miệng đọc theo lời văn của người khác; c̣n biệt nguyện th́ tự ḿnh nêu bày tấm ḷng. Nếu như tuy đọc những bài phát nguyện chung nhưng quyết chí th́ Thông lại trở thành Biệt. C̣n nếu đọc lời văn phát nguyện của riêng ḿnh mà tâm lan man th́ Biệt lại trở thành Thông. Nguyện rộng tốt hơn nguyện hẹp v́ nguyện rộng th́ phát đại tâm nên đạt quả thù thắng, phát nguyện hẹp th́ bi nguyện nông cạn nên đạt quả kém hơn. Phát nguyện trọn khắp lại tốt hơn phát nguyện hạn cuộc v́ phát nguyện hạn cuộc hay bị gián đoạn, phát nguyện trọn khắp th́ niệm niệm viên thành.
Có thể dùng ba pháp như vậy để cầu sanh Tịnh Độ, mau được thân cận Phật Di Đà, hết thảy các pháp môn Tịnh Độ không có pháp nào ra ngoài ba điều này.
Nhận định:
Đạo lư “mỏng nhẹ ái và nhất niệm” vừa dạy hoàn toàn nằm trong ba pháp Tín, Hạnh, Nguyện, thật là tinh diệu, thỏa đáng; nhưng Chánh Hạnh chỉ là chuyên tŕ danh, chứ chẳng cần phải quán tưởng. Trong hết thảy thiện hạnh thế gian và xuất thế gian, hễ khi nào ta hồi hướng về Tây Phương th́ khi đó nó là Trợ Hạnh. Đấy chính là vạn thiện đồng quy, phước huệ song tu vậy.
8. Trích yếu sách Tử Bách Lăo Nhân Tập của đại sư Tử Bách Đạt Quán đời Minh
* Sư hỏi vị tăng Hải Châu: “Niệm Phật có thường gián đoạn chăng?”
Tăng đáp: “Hễ nhắm mắt ngủ liền quên mất”.
Sư nghiêm mặt, quở:
- Nếu nhắm mắt liền quên th́ niệm Phật như vậy dù có niệm một vạn năm cũng vô ích! Từ nay trở đi, ông cần phải trong lúc ngủ cũng niệm Phật chẳng gián đoạn th́ mới có phần thoát khổ được! Nếu trong giấc ngủ chẳng niệm Phật được, quên mất đi th́ khi mở mắt ra liền buồn khóc, nhỏm dậy ngay, đến ngay trước đức Phật dập đầu đến chảy cả máu, hoặc niệm ngàn tiếng, vạn tiếng, dốc cạn hết sức chính ḿnh mới thôi. Làm như thế chừng hai ba chục lần th́ tự nhiên trong khi ngủ mê mệt, niệm Phật cũng chẳng bị gián đoạn. Người đời niệm Phật hoặc là hai, ba chục năm, hoặc suốt đời niệm Phật mà đến lúc lâm chung lại thành vô dụng là do lúc ngủ nghỉ chẳng hề có ư niệm nhớ đến Phật. Người sống như đang tỉnh, người chết như mộng; bởi vậy, người nào trong mộng vẫn niệm Phật th́ lúc lâm chung sẽ tự nhiên chẳng loạn vậy!
* Muốn khám nghiệm một cách chính xác xem ta niệm Phật có chân thật hay không th́ chỉ cần quan sát lúc ta hoan hỷ và phiền năo sẽ biết rơ ràng là tâm ta chân thật hay giả dối. Đại để, người chân tâm niệm Phật dù lúc hoan hỷ hay phiền năo, tất nhiên vẫn niệm niệm chẳng gián đoạn v́ phiền năo chẳng thể lay động người đó, hoan hỷ cũng chẳng lay động người đó được. Phiền năo lẫn hoan hỷ đều đă chẳng thể lay động người đó th́ trong cảnh sanh tử sẽ tự nhiên chẳng hoảng sợ.
Nay người niệm Phật vừa mới gặp phải chút vui mừng, giận hờn, đă vứt A Di Đà Phật ra sau ót th́ làm sao mà niệm Phật được linh nghiệm cơ chứ? Nếu làm theo cách niệm Phật của tôi, thật sự có thể chẳng quên mất câu A Di Đà Phật trong lúc yêu ghét, thế mà chẳng đạt được lợi ích ǵ trong cuộc sống hằng ngày cũng như khi lâm chung chẳng được văng sanh th́ cái lưỡi của tôi ắt sẽ bị phá nát vậy!
Nhận định:
Pháp này rất mầu nhiệm, muốn khám nghiệm tâm niệm Phật là chân thật hay giả dối, chỉ cần xét trong lúc hoan hỷ hay phiền năo. Nếu như trong giấc ngủ, việc niệm Phật bị gián đoạn, hăy nên dũng mănh tinh tấn làm theo cách này th́ hiện tại sẽ được lợi lạc, lâm chung tự được văng sanh.
9. Trích yếu sách Vân Thê Pháp Vựng của đại sư Liên Tŕ Chu Hoằng đời Minh
* Tâm vốn vô niệm, hễ có niệm khởi lên là sai; nhưng chúng sanh từ vô thỉ đến nay quen thói vọng tưởng khó thể thay đổi ngay được. Nay dạy họ niệm Phật chính là dùng độc trị độc, dùng quân dẹp quân. Một pháp Niệm Phật lại có nhiều môn. Nay pháp Tŕ Danh đây là đường tắt nhất trong các đường tắt; do đức Phật có vô lượng đức, mà bốn chữ danh hiệu đă bao gồm trọn cả.
A Di Đà chính là toàn thể nhất tâm, tâm bao gồm mọi đức: Thường, Lạc, Ngă, Tịnh, Bổn Giác, Thỉ Giác, Chân Như, Phật Tánh, Bồ Đề, Niết Bàn. Trăm ngàn vạn danh hiệu đều được chứa đựng chẳng sót điều ǵ trong một danh hiệu này.
Chúng sanh học Phật cũng có vô lượng hành pháp, nhưng một pháp Tŕ Danh đây đă bao gồm trọn tất cả v́ Tŕ Danh chính là tŕ nhất tâm ấy. Tâm đă gồm trăm hạnh, Tứ Đế, Lục Độ, cho đến tám vạn bốn ngàn hằng hà sa vi trần hết thảy pháp môn, bao gồm hết cả không c̣n sót ǵ!
* Có nhiều cách tŕ danh:
1) Một là Minh Tŕ nghĩa là xưng niệm ra tiếng.
2) Hai là Mặc Tŕ nghĩa là niệm thầm không ra tiếng.
3) Ba là Bán Minh Bán Mặc Tŕ nghĩa là chỉ khẽ động môi lưỡi để niệm. Cách này được những người tụng chú gọi là Kim Cang Tŕ.
Lại c̣n có cách niệm ghi số hoặc niệm chẳng ghi số, tùy ư dùng cách nào cũng được!
Cách tŕ niệm nào cũng chia ra làm Sự và Lư: Ức niệm chẳng gián đoạn th́ gọi là Sự Tŕ; thể cứu đến cùng tột chẳng hề gián đoạn th́ gọi là Lư Tŕ.
“Ức niệm” là nghe nói đến danh hiệu Phật bèn luôn nhớ tới, luôn nghĩ tới, tâm duyên theo từng chữ rơ ràng; câu trước, câu sau liên tiếp chẳng gián đoạn. Đi, đứng, nằm, ngồi, chỉ có mỗi một niệm này, không có niệm thứ hai; chẳng bị tạp loạn bởi các niệm tham, sân, si phiền năo, đúng như kinh Thành Cụ Quang Minh Định Ư dạy: “Nhất tâm nơi vắng vẻ, tịch mịch; nhất tâm giữa các phiền năo; cho đến giữa những cảnh khen, chê, lợi, tổn, thiện, ác v.v… đều nhất tâm”. Do mặt Sự đă đạt, nhưng chưa thấu triệt mặt Lư, chỉ đạt được Tín lực, chưa thấy Đạo, nên gọi là Sự Nhất Tâm.
“Thể cứu” là nghe danh hiệu Phật th́ không những chỉ ức niệm, mà c̣n trở lại quán sát ngay cái niệm ấy, suy lường, thẩm định t́m ṭi đến tận cùng cội rễ. Thể cứu đến cùng tột, sẽ đột nhiên khế hợp bổn tâm. Trong đây lại gồm có hai loại:
a. Một là Như Trí Bất Nhị:
- Ngoài cái tâm năng niệm chẳng hề có đức Phật để ḿnh niệm. Đấy là ngoài Trí chẳng có Như.
- Ngoài đức Phật được niệm, chẳng hề có cái tâm năng niệm để niệm Phật. Đó là ngoài Như không có Trí, nên chỉ có nhất tâm.
b. Hai là Tịch Chiếu Nan Tư:
Nếu bảo là Có th́ bản thể của cái tâm năng niệm tự nó là Không, trọn chẳng thể có được đức Phật được niệm. Nếu bảo là Không th́ cái tâm năng niệm vằng vặc chẳng mờ mịt, đức Phật được niệm rành rành phân minh. Nếu bảo là “chẳng có chẳng không” th́ cả hữu niệm lẫn vô niệm đều mất. Nếu bảo là “chẳng phải có chẳng phải không” th́ hữu niệm lẫn vô niệm cùng tồn tại.
“Chẳng phải có” là thường tịch; chẳng phải không là thường chiếu. “Chẳng có chẳng không” và “chẳng phải có chẳng phải không” là chẳng tịch, chẳng chiếu, nhưng vừa chiếu, vừa tịch. Không cách ǵ để diễn tả, suy lường được, chẳng thể gọi tên được, nên chỉ có Nhất Tâm. Đó chính là Năng lẫn Sở đều tiêu, kiến giải Hữu lẫn Vô cùng mất. Thể vốn sẵn thanh tịnh th́ c̣n có pháp ǵ tạp loạn được nó. Do v́ thấy đúng đắn như thế, nên gọi là Lư Nhất Tâm. Ấy là v́ Sự nương theo Lư mà khởi, Lư được tỏ bày bởi Sự; Sự và Lư hỗ trợ nhau, chẳng thể phế bỏ một bên nào. Dẫu chấp Sự nhưng niệm đến mức liên tục th́ vẫn chẳng mất phần dự vào các phẩm vị; c̣n nếu chấp Lư nhưng tâm chưa minh thật sự, sẽ biến thành nỗi họa lạc vào Không kiến.
* Niệm Phật to tiếng dễ mất sức, niệm thầm dễ bị hôn trầm. Chỉ cốt niệm miên miên mật mật, tiếng niệm đọng nơi răng, môi, tức là Kim Cang tŕ. Nhưng lại chẳng nên chấp chặt. Nếu biết ḿnh đă mệt th́ niệm thầm cũng chẳng trở ngại ǵ. Nếu biết ḿnh hôn trầm th́ chẳng ngại ǵ niệm lớn tiếng.
Hiện tại, người niệm Phật chỉ là liên tay khua mơ, miệng ong óng gào theo, cho nên chẳng được lợi ích ǵ. Cần phải niệm sao cho từng câu thoát ra khỏi miệng vọng vào tai, từng tiếng đánh thức tự tâm, ví như người đang ngủ mê mệt, có ai lớn tiếng gọi tên th́ kẻ đó sẽ thức giấc. Bởi vậy, điều quan trọng nhất trong việc niệm Phật là nhiếp tâm.
* Tạp niệm là bệnh, Niệm Phật là thuốc. Niệm Phật chính là để trị tạp niệm; nếu chẳng trị nổi tạp niệm là do niệm Phật chẳng tha thiết. Lúc tạp niệm khởi lên liền dốc sức ra công; mỗi chữ, mỗi câu tinh nhất chẳng xen tạp th́ tạp niệm tự dứt.
* Trong mỗi niệm luôn niệm Phật, chẳng có tạp niệm, th́ gọi là Nhất Tâm. Nhất tâm niệm Phật mà c̣n nhất tâm tu các pháp môn khác th́ là Nhị Tâm! Không tạp niệm mới chỉ là Sự Nhất Tâm mà nay ḿnh c̣n làm chưa được, huống hồ Lư Nhất Tâm? V́ vậy, niệm Phật phải bền chí, đừng để nhị tâm, đừng v́ lẽ tam-muội khó thành bèn vội đổi sang tu các hạnh khác!
* Kẻ hậu sinh sơ học vừa mới lấy câu niệm Phật đặt trong tâm th́ vọng tưởng và suy nghĩ đă nổi lên tơi bời, đè lấp cái Giác bèn cho rằng công phu niệm Phật chẳng thể nhiếp tâm, chẳng hề biết ta làm sao có thể đoạn ngay nguyên do sanh tử từ vô lượng kiếp đến nay cho được? Ngay trong lúc vạn niệm vần vũ, chính là lúc để ra sức công phu, [mặc cho] định tâm, tán tâm nhoang nhoáng. Lâu ngày công phu thuần thục, tự nhiên vọng niệm chẳng khởi. Các ông coi những vọng niệm chính ḿnh có thể nhận biết là nặng, cho nên lơ là câu niệm Phật này; c̣n như lúc chẳng niệm Phật, vọng niệm bồng bột tơi bời chẳng ngưng nghỉ trong một sát-na nào hết th́ các ông làm sao biết được?
* Cổ nhân dạy thân cận minh sư, cầu thiện tri thức, nhưng thật ra thiện tri thức chẳng thể dùng miệng truyền tâm, trao truyền pháp môn bí mật được, họ chỉ giúp người khác gỡ niêm, cởi trói. Đấy chính là “bí mật”! Nay chỉ tám chữ “chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn” chính là pháp môn bí mật để gỡ niêm, cởi trói, là đường lớn thênh thang để thoát sanh tử. Sáng niệm, tối niệm, đi niệm, ngồi niệm, niệm niệm liên tục tự thành tam-muội, chứ đừng có cầu điều ǵ khác nữa!
* Tâm vốn chẳng sanh, do duyên hợp mà sanh. Tâm vốn chẳng chết, do duyên tan ĺa nên chết. Tựa hồ có sanh tử, nhưng vốn chẳng đến đi. Lănh hội được điều này th́ sanh thuận, tử an, thường tịch, thường chiếu. Nếu như chưa làm được như thế, hăy nên buông bỏ toàn thân, khăng khăng tŕ một câu A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ. Giả sử các duyên chưa hết, thọ mạng chưa dứt th́ càng phải nên niệm Phật, sẽ có lợi ích lớn. Cổ đức bảo: “Pháp môn Niệm Phật là thuật trường sanh của đấng Kim Tiên” [1].
* Sanh tử chẳng ĺa nhất niệm, thậm chí vạn hạnh dù thế gian hay xuất thế gian đều chẳng ĺa khỏi một niệm. Nay dùng cái niệm ấy để niệm Phật th́ sẽ thiết tha, gần gũi, tinh chuyên, chân thật xiết bao? Nếu truy xét chỗ bắt nguồn của cái niệm ấy th́ nó chính là tự tánh Di Đà, chính là ư từ phương Tây sang Trung Hoa của Tổ Sư.
Dù cho chẳng ngộ được, cứ nương theo nguyện lực văng sanh Cực Lạc, cắt ngang sanh tử, chẳng thọ luân hồi th́ rốt cuộc sẽ đại ngộ! Xin hăy buông bỏ vạn duyên, trong mười hai thời, niệm niệm khăng khăng th́ đấy chính là điều tôi rất mong mỏi.
* Bảy mươi tuổi từ xưa đă hiếm, sống trăm năm có được mấy người! Nay trong lúc tuổi xế chiều đây chính là lúc buông bỏ hoài băo, thấy rơ thế gian hệt như một trường hư kịch, chẳng hề chân thật. Chỉ c̣n một câu A Di Đà Phật để đắp đổi tháng ngày, chỉ lấy Tây Phương Cực Lạc thế giới làm quê nhà ḿnh: nay ta niệm Phật, mai sau sanh về Tây phương. C̣n ǵ may mắn hơn, hăy nên vui mừng lớn lao, đừng sanh phiền năo!
Giả sử gặp phải chuyện chẳng như ư, hăy liền xoay chuyển ư niệm, gấp rút đề cao câu niệm Phật này, hồi quang phản chiếu: ta là người sống trong thế giới của A Di Đà Phật, lẽ nào c̣n thấy biết như người trong thế gian mà nóng giận, vui vẻ; chỉ nhất tâm niệm Phật. Đấy chính là pháp môn đại an lạc, đại giải thoát của những người trí huệ.
* Nguyên do của bệnh tật phần nhiều là do sát sanh; bởi thế, ta nên thiên trọng phóng sanh. Bên ngoài càng thêm sám, trong tâm tự hối, công đức rất nhiều. Xin hăy để tâm trống trải, quét sạch hết thảy các duyên. Trong cái tâm rỗng rang đó, chỉ niệm một câu A Di Đà Phật.
Nói “niệm Phật” th́ chẳng cần phải nhếch mép, động lưỡi; chỉ lặng lẽ dùng tâm nhăn phản chiếu từng chữ phân minh, từng câu tiếp nối từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, tâm tâm chẳng hề gián đoạn. Nếu có đau khổ th́ cứ nhẫn nại, nhất tâm nghĩ đến câu niệm. Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một tiếng, diệt được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”; bởi thế, công đức niệm Phật rất lớn lao vậy.
* Kẻ học Phật chẳng cần phải trang nghiêm h́nh dáng, chỉ quư tu hành chân thật: Hàng tại gia cư sĩ chẳng cần phải áo sồng, khăn đạo. Người c̣n để tóc có thể mặc thường phục niệm Phật, chẳng nhất thiết phải gơ mơ, đánh trống. Người thích yên tịnh có thể tự lặng lẽ niệm Phật, chẳng nhất thiết phải quây quần lập hội. Người ngại việc cứ tự đóng cửa niệm Phật, chẳng cần phải vào chùa nghe kinh. Người biết chữ có thể tự tuân theo giáo pháp niệm Phật. Ngàn dặm thiêu hương, chẳng bằng ngồi yên trong nhà niệm Phật. Cung phụng thầy tà, chẳng bằng hiếu thuận mẹ cha niệm Phật. Giao du rộng răi với bè bạn ma, chẳng bằng một thân thanh tịnh niệm Phật. Gởi tiền kho kiếp sau, chẳng bằng hiện đời làm phước niệm Phật. Van vái, cầu đảo, chẳng bằng hối lỗi sửa ḿnh niệm Phật. Tu học theo kinh sách ngoại đạo, chẳng bằng một chữ không biết nhưng niệm Phật. Vô tri bàn xằng lẽ Thiền, chẳng bằng thật thà tŕ giới, niệm Phật. Mong cầu yêu mỵ linh ứng, chẳng bằng chánh tín nhân quả niệm Phật.
Nói tóm lại, đoan chánh tấm ḷng, diệt ác th́ người niệm Phật như thế gọi là thiện nhân. Nhiếp tâm trừ bỏ tán loạn th́ người niệm Phật như thế gọi là hiền nhân. Ngộ tâm đoạn Hoặc th́ người niệm Phật như thế gọi là thánh nhân.
* Khuyên người cực nhàn hạ hăy niệm Phật; cưới gả đă xong, con cháu đă yên bề gia thất, an nhàn vô sự; đây đúng là lúc nên tận tâm, tận lực mỗi ngày niệm mấy ngàn câu cho đến cả vạn câu.
Khuyên người lúc bận lúc rảnh hăy niệm Phật, xong việc một nửa hay chưa xong, dù bận hay rảnh, tuy chưa cực nhàn, vẫn có thể lúc bận th́ lo lắng công việc, lúc rảnh bèn niệm Phật. Mỗi ngày niệm mấy trăm câu, cho đến mấy ngàn câu.
Khuyên người bận rộn cùng cực hăy niệm Phật, siêng lo việc nước, bôn ba gia nghiệp, dẫu chẳng có lúc thảnh thơi, nhưng cần phải giành lấy rảnh rang trong khi bận rộn để niệm Phật. Mỗi ngày vào lúc sáng sớm hành Thập Niệm cho đến niệm mấy trăm câu trong cả ngày.
* Pháp môn Niệm Phật bất luận nam, nữ, Tăng, tục, quư, hèn, hiền, ngu, không có một ai là chẳng niệm Phật được! Nếu là người phú quư, của cải dư dả th́ đúng là phải niệm Phật. Nếu là kẻ bần cùng, nhà hẹp, của ít th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu là người có con cháu, việc cúng bái tổ tiên đă có chỗ nhờ cậy th́ rất nên niệm Phật. Nếu là người không con, trơ trọi một thân tự do th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu ai có con hiếu thuận, yên hưởng con cái phụng dưỡng th́ rất nên niệm Phật. Nếu ai có con ngỗ nghịch, chẳng sanh ḷng yêu thương th́ thật đúng là phải niệm Phật. Nếu ai vô bệnh, thân thể khỏe mạnh th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu ai có bệnh, rất gần cơn vô thường th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu ai già cả, tháng ngày chẳng c̣n mấy th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu ai tuổi trẻ tinh thần sáng suốt th́ thật là rất tốt để niệm Phật. Nếu ai an nhàn, tâm không bị sự ǵ khuấy động th́ thật đúng là nên niệm Phật. Nếu là người bận rộn, được đôi lúc nhàn rỗi giữa khi bận rộn th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu là người xuất gia, tiêu dao ngoài cơi đời th́ càng phải nên niệm Phật. Nếu là kẻ tại gia, biết cơi đời đúng là nhà lửa th́ càng phải nên niệm Phật.Nếu ai thông minh, thông hiểu Tịnh Độ th́ rất nên niệm Phật. Nếu là kẻ ngu si, thô lỗ, không thể làm ǵ khác, th́ thật đúng là nên niệm Phật. Nếu ai tŕ luật mà Luật lại do Phật chế ra; v́ thế, rất nên niệm Phật. Nếu ai đọc kinh th́ kinh là do Phật dạy, càng phải nên niệm Phật. Nếu ai tham Thiền, do Thiền là tâm Phật nên càng phải nên niệm Phật. Nếu ai ngộ đạo th́ ngộ cần phải được Phật chứng cho, nên càng phải niệm Phật.
Khuyên khắp mọi người hăy cấp bách niệm Phật. Chín phẩm văng sanh, hoa nở thấy Phật, gặp Phật nghe Pháp, rốt ráo thành Phật, mới biết rằng tâm vốn dĩ là Phật.
* Chỉ cần niệm Phật, tôn xưng, đă thành quy kính. Sáu chữ hay bốn chữ quả thật chẳng sai khác ǵ. Có điều là do pháp truyền lâu ngày hóa tệ, biến thành lê thê, khua chiêng, thúc trống, như xướng, như ca, thổn thức, rên siết như gào, như quát; thiên nhĩ nghe thấy chẳng buồn bă hay sao? Nhưng dù là xưng danh một cách hoan hỷ hay nóng nảy cũng vẫn gieo trồng nhân lành, quả báo trong tương lai chẳng thể nghĩ bàn. Kẻ phàm t́nh mê muội, chứ người trí th́ biết rơ!
Nhận định:
Người biết chữ có thể tự tuân theo giáo pháp niệm Phật, chẳng luận là Sự tŕ hay Lư tŕ, chỉ cốt chuyên chí bất nhị, niệm niệm tiếp nối, sẽ tự thành tam-muội, chẳng cần phải cầu được khẩu truyền, tâm truyền; nhưng chẳng được chấp Lư phế Sự, chiêu cảm cái họa đọa lạc!
10. Trích yếu Mộng Du Tập của đại sư Hám Sơn Đức Thanh đời Minh
* Phật dạy pháp tu hành thoát sanh tử có nhiều môn phương tiện, chỉ có pháp Niệm Phật Cầu Sanh Tịnh Độ là thiết yếu, nhanh tắt nhất. Kinh dạy: “Muốn tịnh cơi Phật, hăy nên tịnh tự tâm”, cho nên nay tu hành Tịnh nghiệp phải lấy tâm trong sạch làm gốc. Muốn tịnh cái tâm ḿnh, điều trước tiên là giới căn phải thanh tịnh, v́ ba điều ác nơi thân, bốn điều ác nơi miệng, ba điều ác nơi ư chính là mười nghiệp ác tạo thành khổ nhân của tam đồ.
Điểm cốt yếu của tŕ giới là trước hết phải tam nghiệp thanh tịnh th́ tự tâm thanh tịnh. Thân chẳng giết, trộm, dâm th́ thân nghiệp sẽ thanh tịnh. Miệng chẳng nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, ác khẩu th́ khẩu nghiệp sẽ thanh tịnh. Ư chẳng tham, sân, si th́ ư nghiệp sẽ thanh tịnh. Dứt vĩnh viễn mười điều ác như thế th́ tam nghiệp trong suốt như băng. Đấy là yếu quyết để tịnh tâm. Do cái tâm thanh tịnh ấy, nhàm chán nỗi khổ Sa Bà, phát nguyện văng sanh An Dưỡng, lập chánh hạnh Niệm Phật.
Điều cốt yếu của Niệm Phật là tâm thiết tha; trước hết phải đoạn ngoại duyên, chỉ vâng giữ nhất niệm, lấy một câu A Di Đà Phật làm mạng sống, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm chẳng đoạn. Trong mười hai thời, đi, đứng, nằm, ngồi, cầm muỗng, co tay, gập, xoay, cúi, ngửa, động, tịnh, rảnh, bận, trong hết thảy lúc chẳng ngu, chẳng muội, không có các duyên khác.
Dụng tâm như vậy lâu ngày thuần thục; thậm chí trong mộng cũng chẳng quên mất. Ngủ hay thức giống hệt nhau th́ công phu miên mật đúc thành một khối. Đấy là lúc đă đắc lực vậy. Nếu niệm đến mức nhất tâm bất loạn th́ khi mạng chung, cảnh giới Tịnh Độ hiện tiền, tự nhiên chẳng bị sanh tử giam cầm nên cảm được Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn. Đấy chính là cách hiệu nghiệm để nhất định được văng sanh.
* Tu Huệ bằng quán tâm; tu phước nơi vạn hạnh. Quán tâm lấy niệm Phật làm quan trọng nhất, vạn hạnh lấy hạnh cúng dường làm đầu. Hai điều ấy bao gồm hết thảy. Trong hết thảy những việc làm hằng ngày của chúng ta, khởi tâm động niệm đều là vọng tưởng, là gốc sanh tử; cho nên chuốc lấy quả khổ. Nay đem cái tâm vọng tưởng chuyển thành tâm niệm Phật th́ mỗi niệm trở thành cái nhân Tịnh Độ, tạo thành quả vui. Nếu niệm Phật tâm tâm chẳng dứt th́ vọng tưởng tiêu diệt, tâm quang phát lộ, trí huệ hiện tiền, trở thành Pháp Thân của Phật. Sở dĩ chúng sanh bần cùng thiếu phước huệ là do đời đời, kiếp kiếp chưa từng có một niệm cúng dường Tam Bảo để cầu phước huệ, chỉ lăm lăm v́ cái thân sanh tử khổ sở, niệm niệm mong cầu sự vui ngũ dục để vun bồi cội khổ.
Nay chuyển cái tâm tham cầu cho riêng ta thành tâm cúng dường Tam Bảo, đem cái thân mạng hữu hạn nương theo sức mạnh của tâm cúng dường mười phương th́ tuy chỉ cúng một nén hương, một cành hoa, một hạt gạo, một cọng rau, phước ấy cũng vô tận! V́ vậy, cảm được Phật quả, Hoa Tạng trang nghiêm tạo thành cảnh thọ dụng của chính thân ḿnh trong tương lai. Bỏ qua những điều này th́ không có hạnh mầu nhiệm nào khác để thành Phật!
* Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là muốn rốt ráo đại sự sanh tử. Nếu chẳng biết cội gốc sanh tử th́ biết hướng về đâu để giải quyết trọn vẹn cho được? Cổ nhân nói:
Nghiệp chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà;
Ái chẳng đoạn chẳng sanh Tịnh Độ.
Cho nên biết là Ái chính là cội rễ của sanh tử. Từ khi có sanh tử đến nay, đời đời kiếp kiếp xả thân, thọ thân đều là trôi lăn theo ái dục. Nay niệm Phật th́ trong từng niệm phải đoạn ái căn ấy; tức là trong những cảnh duyên tiếp xúc hiện hữu hằng ngày, người tại gia niệm Phật mắt nh́n thấy con cái, cháu chắt, gia duyên, tài sản, không ǵ là chẳng yêu mến; không một niệm nào, không một sự ǵ chẳng phải là kế sách để tăng trưởng sanh tử. Ngay trong lúc niệm Phật nếu trong tâm chưa từng có một niệm buông bỏ được ái căn, như vậy th́ chỉ càng niệm Phật, ái càng thêm lớn.
Nếu như có lúc khởi tâm quyến luyến con cái, hăy hồi quang xem xét một câu niệm Phật có thật sự chống nổi ái niệm ấy hay không? Có thật sự đoạn nổi ái đó hay không? Nếu chẳng thể thật sự đoạn nổi ái ấy th́ làm sao rốt ráo thoát khỏi sanh tử cho được?
Do ái duyên quen thói đă từ nhiều đời, c̣n niệm Phật th́ chỉ mới phát tâm nên c̣n sơ sài. Lại do niệm Phật chẳng chân thật, thiết tha, nên chẳng đủ sức. Nếu chẳng thể khống chế ái cảnh hiện tiền, lúc lâm chung sẽ chỉ thấy sanh tử ái căn hiện tiền, trọn chẳng thể làm chủ cảnh duyên được! V́ thế, khuyên mọi người hăy niệm Phật:
Điều quan trọng nhất là tâm sanh tử tha thiết. Muốn đoạn cái tâm sanh tử tha thiết, trong mỗi niệm phải đoạn dứt cái gốc sanh tử th́ mỗi niệm đều là lúc liễu sanh tử. Nghĩa là: Những việc trước mắt đều là chuyện sanh tử, trước mắt thấu rơ sanh tử là Không. Niệm niệm chân thành, thiết tha như thế; [giống như] từng nhát dao cắt xuống đều tuôn máu. Nếu [tu tập như thế mà] chẳng được thoát khỏi sanh tử th́ chư Phật đều mắc tội vọng ngữ hết!
* Học đạo chẳng có tài khéo chi khác, chỉ cốt biến cái sống thành cái chín, biến cái chín thành cái sống; lâu ngày thuần thục, đúc thành một khối: Niệm niệm Di Đà, khắc khắc Cực Lạc. Kẻ học đạo hiểu biết thiển cận, chỉ biết tham cầu lẽ huyền diệu, chẳng biết hướng ngay đến chỗ căn bản để dốc cả tánh mạng ra hạ thủ công phu. Gặp phải cảnh vinh, nhục, họa hoạn, sanh tử, liền thấy chân tay cuống quít. Đấy chẳng những là đă dối người, mà c̣n là tự lừa ḿnh nữa!
Cội gốc của sanh tử chính là các thứ vọng tưởng hằng ngày của chúng ta: Ta - người, ghét - yêu, tham, sân, si v.v… Các nghiệp phiền năo nếu c̣n mảy may chưa dứt, sẽ trở thành cội gốc sanh tử. Nếu ai muốn tham Thiền đốn ngộ giải thoát sanh tử, xin hăy tự xét sức ḿnh thật sự có thể trong một niệm đoạn ngay được phiền năo trong bao kiếp như cắt đứt mớ tơ rối hay không? Nếu chẳng thể đoạn phiền năo, dù có đốn ngộ cũng trở thành ma nghiệp, há có nên xem thường ư!
Xét ra, chư Tổ đốn ngộ đều là do đă tích lũy công hạnh, tu hành dần dần trong nhiều đời, nên mới đốn ngộ một chốc. Nói dễ, chứ thật ra rất khó, nếu chẳng phải một dạ công phu trong ṿng hai, ba mươi năm, làm sao có thể ở ngay trong phiền năo mà nhất niệm đốn ngộ được! Cần phải biết rơ căn khí của ḿnh như thế nào!
C̣n như một môn Niệm Phật th́ người đời chẳng biết chỗ nhiệm mầu của nó, coi nó là thiển cận, thật ra, môn Niệm Phật bước nào cũng đạp lên Thật Địa! V́ sao vậy? Do v́ bọn ta từ lúc có cuộc sống đến nay, niệm niệm vin níu vọng tưởng, tạo nghiệp sanh tử, chưa hề có một niệm hồi quang phản chiếu tự tâm, chưa hề có một niệm chịu đoạn phiền năo. Nay nếu thật sự có thể chuyển cái tâm vọng tưởng thành tâm niệm Phật th́ niệm niệm đoạn trừ phiền năo. Nếu niệm niệm đoạn được phiền năo th́ niệm niệm thoát sanh tử. Nếu thật sự có thể nhất niệm niệm Phật chẳng thay đổi, nhất tâm bất loạn, so ra c̣n hơn là tham Thiền, v́ tham Thiền c̣n có thể bị đọa lạc. Nói chung, chỉ cốt sao nhất niệm chân thành, thiết tha mà thôi!
Nhưng tham Thiền th́ nhất định phải diệt sạch cái tâm thế gian, chẳng dung một niệm vọng tưởng. C̣n niệm Phật là dùng tịnh tưởng để hoán chuyển nhiễm tưởng, dùng tưởng trừ tưởng. Căn khí của bọn chúng ta có thể thực hành pháp thay đổi này dễ dàng!
* Tu Tịnh Độ chẳng cần cầu minh tâm ngộ tánh, chỉ chuyên lấy niệm Phật làm Chánh Hạnh. Lại lấy bố thí, trai Tăng, công đức tu các phước để giúp trang nghiêm cơi Phật. Trong tâm niệm Phật, tuy phát nguyện văng sanh, nhưng nếu biết đoạn cái gốc sanh tử trước th́ mới có công năng mau chóng.
Gốc sanh tử chính là ḷng tham đắm các thứ thọ dụng trong thế gian, sắc đẹp, tiếng dâm, vị ngon sướng miệng, hết thảy [những thứ ấy] đều là gốc khổ; cũng như hết thảy các tâm sân nộ, phẫn hận, chấp trước, si ái.
`Đối với hết thảy pháp tà giáo do bọn thầy tà ma ngoại đạo rao truyền đều phải tận t́nh mửa ra hết, chỉ dốc ḷng tin một môn Niệm Phật. Mỗi ngày tụng kinh A Di Đà hai lượt, niệm Phật mấy ngàn câu; hoặc chẳng kể đến số, chỉ tâm tâm chẳng quên Phật hiệu.
Phật là Giác. Nếu niệm niệm chẳng quên Phật th́ niệm niệm minh giác. Nếu tâm quên Phật th́ là bất giác. Nếu niệm đến mức trong mộng vẫn niệm Phật th́ chính là thường giác bất muội. Nếu hiện tại tâm này bất muội th́ lúc lâm chung tâm này bất muội, tức là những cảnh lầm lạc của tâm này sẽ bị rơi rớt mất. Nay việc nước đa đoan vạn mối, quyết định chẳng thể tham Thiền, chỉ có niệm Phật là tốt nhất, chẳng nệ rảnh, bận, động, tịnh, ở hết thảy chỗ nào cũng có thể niệm được. Chỉ là nhất tâm chẳng quên, chứ không có cách hay khéo nào khác cả!
* Tham Thiền cần phải ĺa tưởng; niệm Phật lại chuyên tưởng. V́ chúng sanh trầm luân trong vọng tưởng đă lâu, nên ĺa vọng tưởng thật khó. Nếu có thể biến đổi nhiễm tưởng thành tịnh tưởng, đó là dùng độc trị độc, là một cách thay đổi mà thôi. V́ thế, tham cứu khó ngộ, niệm Phật dễ thành. Nếu tâm thật sự khẩn thiết v́ lẽ sanh tử, dùng cái tâm tham cứu niệm Phật th́ c̣n lo chi trong một đời chẳng thể giải thoát sanh tử nữa ư?
* Niệm Phật chính là tham Thiền, há phải là hai pháp? Nghĩa là: Trong lúc niệm Phật, trước hết, tưởng hết thảy phiền năo, vọng tưởng, tham, sân, si, ái, các thứ ư niệm tạp loạn trong ḷng ḿnh đều buông bỏ hết, buông bỏ đến mức không c̣n ǵ để buông bỏ nữa. Chỉ đề khởi một câu A Di Đà Phật vằng vặc phân minh chẳng đoạn trong tâm, giống như sợi chỉ xuyên suốt qua từng hạt châu. Lại giống như mũi tên khi cắm ngập [vào đích], chẳng hở trống mảy may nào!
Dốc sức vào Định như thế, trong hết thảy nơi, chẳng bị cảnh duyên lôi kéo, đánh mất. Đối với mọi sự động tịnh hằng ngày chẳng bị tạp loạn, ngủ và thức đều giống hệt như nhau. Niệm cho đến lúc lâm chung, nhất tâm bất loạn th́ chính là lúc siêu sanh Tịnh Độ vậy.
* Trong pháp môn này:
- Thứ nhất là chí phải quyết định.
- Thứ hai là phải buông xuống.
- Thứ ba là thuận theo duyên, tùy duyên mới an thân lập mạng được.
- Thứ tư là phải nhận thức đúng th́ mới chẳng bị lầm lạc.
- Thứ năm là phải khẩn thiết chán khổ. Tâm khẩn thiết chán khổ th́ dục niệm mới tự trừ, chẳng bị lui sụt.
Đấy chính là năm bí quyết để giữ được nhất niệm.
* Cách thức tu hành cũng có thứ tự, nhưng đối với thời khóa công phu của chư Tăng, chẳng cần phải rập theo khuôn sáo ấy: [Hành nhân tại gia] lấy niệm Phật làm chính; mỗi ngày sáng dậy lễ Phật liền tụng một cuốn kinh Di Đà, lần chuỗi niệm danh hiệu Phật ba hoặc năm ngàn tiếng, hoặc một vạn tiếng. Niệm xong đối trước Phật hồi hướng, phát nguyện văng sanh cơi kia. Đó là khóa tụng buổi sáng; buổi chiều cũng giống như vậy. Hằng ngày lấy đó làm định khóa, nhất định chẳng để sót. Dùng pháp này dạy người trong nhà để cùng tu hành đúng pháp rất hay. Đó là thường hạnh.
Nếu để lo cho đại sự sau cùng th́ càng phải ra sức công phu khẩn thiết: Mỗi ngày trừ hai thời công khóa ra, trong mười hai thời, chỉ giữ một câu A Di Đà Phật trong tâm, niệm niệm chẳng quên, tâm tâm bất muội. Chẳng nghĩ ngợi ǵ đến hết thảy việc đời, chỉ lấy một câu Phật hiệu làm mạng sống của chính ḿnh, cắn chặt nơi hàm răng, quyết chẳng buông bỏ.
Thậm chí, trong lúc ăn uống, đứng lên, ngồi xuống, đi, đứng, nằm, ngồi, một câu Phật hiệu này luôn luôn hiện tiền. Dù gặp phải hoàn cảnh thuận, nghịch, vui, giận, phiền năo, hay lúc tâm bất an, vẫn đem câu Phật hiệu ra ứng phó th́ ngay khi ấy phiền năo sẽ tự tiêu diệt.
Do phiền năo trong mỗi niệm chính là gốc khổ sanh tử, nên nay dùng niệm Phật để tiêu diệt phiền năo th́ đó chính là Phật độ chúng sanh thoát khỏi chốn khổ! Nếu niệm Phật tiêu được phiền năo th́ sẽ giải thoát sanh tử, chứ c̣n có pháp nào khác nữa đâu!
Nếu niệm Phật đến mức làm chủ được phiền năo th́ sẽ làm chủ được mộng mị. Nếu đă làm chủ được mộng mị th́ sẽ tự chủ được trong khi bệnh khổ. Nếu đă tự chủ được trong khi bệnh khổ th́ lúc lâm chung sẽ phân minh, rành rẽ, biết ḿnh được sanh về đâu.
Làm được việc này chẳng khó, chỉ cốt sao một dạ khẩn thiết v́ sanh tử, nương tựa một cách quyết định duy nhất vào câu Phật hiệu, không c̣n mong mỏi, nghĩ đến ǵ khác! Lâu ngày thuần thục, tự nhiên được đại an lạc tự tại, được đại hoan hỷ thọ dụng, sự vui ngũ dục thế gian không thể nào sánh được. Ngoài cách này th́ không c̣n cách nào ngắn gọn, thẳng tắt hơn được nữa!
Nhận định:
Muốn rốt ráo sanh tử, tâm cần phải khẩn thiết lo lắng v́ sanh tử, mà trước hết là cần phải đoạn trừ cội ái của sanh tử. Nhưng ái là thói quen của nhiều đời nên chẳng dễ đoạn; người nhập môn hạ thủ công phu cần phải biến chỗ sống thành chỗ chín, biến chỗ chín thành chỗ sống[2]. Lâu ngày thuần thục th́ niệm cực, t́nh không, ái căn tự đoạn. Các cội gốc sanh tử khác như các thứ vọng tưởng hằng ngày, các phiền năo nghiệp như ta, người, đúng, sai, tham, sân, si, mạn v.v… chẳng mong đoạn trừ mà tự nhiên đoạn trừ!
11. Trích yếu sách Linh Phong Tông Luận của đại sư Ngẫu Ích Trí Húc đời Thanh
* Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là một môn bao hàm trọn vẹn trăm ngàn pháp môn, chứ chẳng phải là đề cao một môn, phế bỏ trăm môn khác. Nhưng cần phải thâm nhập một môn, lấy Niệm Phật làm Chánh Hạnh, c̣n hết thảy các môn Giới, Định, Huệ khác là Trợ Hạnh. Thực hành cả Chánh lẫn Trợ giống như thuyền đă đi thuận gió, c̣n kéo căng giây lèo, chóng đến được bờ.
Pháp Niệm Phật tuy nhiều, nhưng Tŕ Danh là giản tiện nhất. Pháp Tŕ Danh cũng nhiều, nhưng pháp Tŕ Danh Nhớ Số là ổn thỏa, thích đáng. Người thực hành chân thật, thuần thục, há có mong làm khác với kẻ ngu phu, ngu phụ đâu nhỉ?
* Để thoát khỏi nhà lửa tam giới, có hai đường dọc và ngang:
a. Dùng tự lực để đoạn Hoặc, vượt khỏi sanh tử th́ gọi là vượt tam giới theo chiều dọc (thụ xuất tam giới), khó tu, kết quả chậm chạp.
b. Nương Phật lực tiếp dẫn sanh về Tây phương th́ gọi là vượt khỏi tam giới theo chiều ngang (hoành xuất tam giới); dễ hành, kết quả nhanh chóng.
Tổ Huệ Viễn nói: “Có công năng cao, dễ tấn tu th́ niệm Phật làm đầu”. Kinh dạy: “Đời mạt ức ức người người tu hành, hiếm có một ai thành đạo. Chỉ có ai tu theo pháp Niệm Phật mới có thể được độ thoát” như giong thuyền vượt biển, chẳng mất công sức. Ai có thể dốc ḷng tin tưởng vào đường tắt Tây Phương, chí thành phát nguyện, nhất tâm niệm Phật cầu văng sanh th́ thật đúng là bậc đại trượng phu. C̣n nếu như ḷng tin chẳng chân thật, nguyện chẳng khẩn thiết, hành chẳng tận sức, dẫu Phật đă sắp sẵn thuyền đại từ nhưng chúng sanh chẳng chịu xuống thuyền th́ Phật c̣n biết làm thế nào được nữa?
* Muốn mau thoát nỗi khổ luân hồi th́ không ǵ bằng pháp Tŕ Danh Niệm Phật cầu sanh thế giới Cực Lạc. Muốn quyết định sanh về thế giới Cực Lạc th́ lại không ǵ bằng lấy Tín để dẫn đường, dùng Nguyện để thúc đẩy. Tin quả quyết, nguyện khẩn thiết, dẫu tán tâm niệm Phật cũng chắc chắn được văng sanh. Tin chẳng chân thật, nguyện chẳng mạnh mẽ, dẫu nhất tâm bất loạn cũng chẳng được văng sanh!
a. Thế nào là Tín?
- Một là tin vào nguyện lực của Phật A Di Đà.
- Hai là tin lời dạy của Phật Thích Ca Văn.
- Ba là tin lời khen ngợi của sáu phương chư Phật.
Nếu chẳng thể tin những điều ấy th́ thật chẳng c̣n cách nào cứu nổi. V́ thế, trước hết phải sanh ḷng tin sâu xa, chớ khởi nghi hoặc.
b. Thế nào là Nguyện? Trong mọi lúc đều nhàm chán nỗi khổ sanh tử cơi Sa Bà, hoan hỷ ngưỡng mộ niềm vui Bồ Đề chốn Cực Lạc. Hễ làm việc ǵ dù thiện hay ác; nếu thiện th́ hồi hướng cầu văng sanh, c̣n ác th́ sám nguyện cầu văng sanh, không c̣n chí nào khác. Đấy gọi là Nguyện.
c. Tín và Nguyện đă đủ th́ lấy niệm Phật làm Chánh Hạnh, lấy cải ác tu thiện làm Trợ Hạnh. Tùy theo công sức cạn hay sâu, sẽ chia thành chín phẩm, bốn cơi Tịnh Độ, chẳng sai sót mảy may! Chỉ nên tự ḿnh suy xét lấy, chẳng cần phải hỏi người khác nữa! Nghĩa là:
Tin sâu, nguyện thiết niệm Phật mà lúc niệm Phật tâm hay tán loạn th́ sẽ đạt hạ phẩm hạ sanh.
Tán loạn giảm thiểu th́ là hạ phẩm trung sanh.
Không c̣n tán loạn sẽ là hạ phẩm thượng sanh.
Niệm đến mức Sự Nhất Tâm Bất Loạn, chẳng khởi tham, sân, si th́ thuộc về ba phẩm trung sanh.
Niệm đến mức Sự Nhất Tâm Bất Loạn, trong ba thứ Kiến Hoặc, Tư Hoặc và Trần Sa Hoặc, tùy ư đoạn trước một thứ và cũng đoạn trừ vô minh th́ sẽ sanh trong ba phẩm thượng sanh.
V́ vậy, tín nguyện tŕ danh niệm Phật sẽ thuộc trong chín phẩm là điều đích xác chẳng sai!
Thêm nữa, tín nguyện tŕ danh tiêu trừ nghiệp chướng, mang theo Hoặc chướng đi văng sanh chính là Phàm Thánh Đồng Cư Tịnh Độ. Đoạn sạch Kiến Hoặc và Tư Hoặc mà văng sanh th́ chính là Phương Tiện Hữu Dư Tịnh Độ. Phá nát một phần vô minh mà văng sanh th́ chính là Thật Báo Trang Nghiêm Tịnh Độ. Tŕ đến mức rốt ráo, đoạn sạch vô minh rồi văng sanh th́ chính là Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
V́ thế, Tŕ Danh có thể đạt đến bốn cơi Tịnh Độ cũng là chuyện đích xác chẳng sai lầm!
Hỏi: Tŕ danh như thế nào để có thể đoạn được vô minh?
Đáp: Đối với danh hiệu của đức Phật được tŕ, chẳng cần biết là ngộ hay chưa, không ǵ chẳng phải là nhất cảnh tam đế. Cái tâm tŕ niệm chẳng cần biết là đă đạt hay chưa, không ǵ chẳng phải là nhất tâm tam quán[3].
Chỉ v́ chúng sanh vọng tưởng chấp trước, t́nh kiến phân biệt nên mới chẳng thể khế hợp Viên Thường; họ đâu có biết Năng Tŕ (tâm tŕ niệm danh hiệu Phật) chính là Thỉ Giác, Sở Tŕ (đức Phật được ta tŕ niệm) chính là Bổn Giác. Nay cứ thẳng một bề tŕ niệm, ngoài việc tŕ niệm nào có đức Phật, ngoài đức Phật nào có tŕ niệm, Năng lẫn Sở bất nhị th́ Thỉ Giác khế hợp Bổn Giác, gọi là Cứu Cánh Giác.
* Pháp môn Niệm Phật chẳng có ǵ là kỳ lạ, đặc biệt, chỉ quư ở chỗ tin tới nơi, giữ cho ổn, thẳng thừng mà niệm, hoặc là ngày đêm niệm mười vạn tiếng, hoặc năm vạn, ba vạn, lấy con số nhất định chẳng khuyết làm chuẩn. Trong suốt một ngày, niệm ra tiếng đến tàn một cây hương, rồi niệm thầm đến tàn một cây hương. Cứ xoay vần không gián đoạn [như thế], lấy Nhất Tâm Bất Loạn làm hạn. Suốt cả đời này thề không biến cải. Nếu chẳng được văng sanh th́ tam thế chư Phật đều nói dối. Một khi đă được văng sanh, sẽ vĩnh viễn không bị thoái chuyển, các thứ pháp môn đều được hiện tiền.
Kỵ nhất là hôm nay Trương Tam, ngày mai Lư Tứ, gặp người tu theo Giáo môn liền toan tầm chương trích cú. Gặp kẻ tu Thiền bèn nghĩ chuyện tư duy, tham cứu, vấn đáp. Gặp người tŕ Luật lại nghĩ chuyện đắp y, tŕ bát.
Đấy chính là kẻ chẳng rơ đầu mối, chẳng tỏ lớp lang, chẳng hề biết rằng niệm A Di Đà Phật đến mức thuần thục th́ giáo lư tối cực thuộc mười hai bộ của Tam Tạng đều nằm gọn trong ấy, một ngàn bảy trăm công án là cơ quan để hướng thượng cũng nằm gọn trong ấy, ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh, tam tụ luật nghi cũng nằm gọn trong ấy.
Có thể thật sự niệm Phật, chẳng khởi tham, sân, si nữa th́ đó chính là Đại Tŕ Giới. Chẳng phân biệt ta-người, đúng-sai chính là Đại Nhẫn Nhục. Chẳng chút gián đoạn, lai tạp chính là Đại Tinh Tấn. Chẳng c̣n rong ruổi theo vọng tưởng chính là Đại Thiền Định. Chẳng bị các thứ ngoắt ngoéo mê hoặc chính là Đại Trí Huệ. Hăy thử tự kiểm điểm: Nếu thân, tâm, thế giới c̣n chưa buông xuống được, tham, sân, si c̣n tự phát khởi, thị-phi nhân-ngă c̣n ôm giữ; gián đoạn, xen tạp c̣n chưa trừ sạch, vọng tưởng rong ruổi c̣n chưa vĩnh viễn diệt hết, các thứ ngoắt ngoéo khác vẫn c̣n mê hoặc ư chí, đấy chẳng phải là chân thật niệm Phật.
Muốn đạt đến cảnh giới Nhất Tâm Bất Loạn th́ biện pháp ban đầu là dùng xâu chuỗi để ghi nhớ phân minh, khắc định thời khóa quyết định chẳng thiếu. Lâu ngày thuần thục, chẳng niệm mà tự niệm, th́ sau đấy nhớ số cũng được, chẳng nhớ số cũng xong. Nếu là kẻ sơ tâm mà lại thích bàn chuyện khán thoại đầu, muốn chẳng chấp tướng, muốn học viên dung tự tại th́ toàn là kẻ tin chẳng sâu, hành chẳng tận sức, dẫu có giảng được mười hai phần kinh giáo, hiểu nổi một ngàn bảy trăm chuyển ngữ (công án Thiền) th́ cũng đều là chuyện thuộc về sanh tử, lúc lâm chung cũng nhất định vô dụng mà thôi!
Nhận định:
Tổ đă minh thị: Tín Nguyện Tŕ Danh sẽ đạt đến cửu phẩm và bốn cơi Tịnh Độ. Nếu như Tín chẳng chân thật, Nguyện chẳng mạnh mẽ th́ dù Nhất Tâm Bất Loạn cũng chẳng được văng sanh. Lời dạy này thật là thiết yếu; hăy nên tín sâu, nguyện thiết để thẳng đường mà niệm. Niệm đến mức rốt ráo th́ vô minh đoạn sạch sẽ văng sanh về cơi Thường Tịch Quang.
12. Trích yếu sách Tịnh Độ Cảnh Ngữ của đại sư Triệt Lưu Hành Sách đời Thanh
* Niệm Phật cần phải có ḷng tin chân thật:
a. Một là tin rằng tâm, Phật, chúng sanh, cả ba thứ không sai biệt. Ta là Phật chưa thành, Phật Di Đà là vị Phật đă thành, giác tánh vô nhị. Ta tuy hôn mê, điên đảo, sai lầm, nhưng giác tánh chẳng hề mất. Ta tuy luân chuyển bao kiếp, nhưng giác tánh chưa hề động. V́ thế mới nói: “Đừng khinh kẻ chưa ngộ, nhất niệm hồi quang sẽ cùng chứng đắc cái ta sẵn có”.
b. Kế đến, cần phải tin rằng ta là Lư Tánh Phật, Danh Tự Phật; Di Đà là Cứu Cánh Phật, tánh tuy không hai, nhưng địa vị sai khác một trời, một vực!
Nếu chẳng chuyên niệm đức Phật kia để cầu sanh về cơi Ngài, ắt sẽ bị lưu chuyển theo nghiệp, chịu khổ vô lượng. Nói cách khác, Pháp Thân lưu chuyển trong năm đường chẳng được gọi là Phật, mà gọi là chúng sanh!
c. Ba là cần phải tin ta tuy chướng sâu nghiệp nặng, ở trong “khổ thành” (ṭa thành khổ sở) đă lâu, nhưng là chúng sanh ở trong tâm của đức Di Đà; Di Đà tuy là vạn đức trang nghiêm ở xa ngoài mười vạn ức cơi, nhưng vẫn là đức Phật trong tâm ta.
Tâm, tánh đă là vô nhị th́ tự nhiên cảm ứng đạo giao, tâm khổ thiết của ta ắt cảm, tâm từ bi của Phật ắt ứng, như nam châm hút sắt, chẳng c̣n ngờ chi. Đầy đủ những ḷng tin chân thật như vậy, dù một mảy thiện, một phước nhỏ như hạt bụi đều có thể đem hồi hướng về Tây Phương, trang nghiêm Tịnh Độ. Huống hồ là tŕ trai, giữ giới, phóng sanh, bố thí, đọc tụng Đại Thừa, cúng dường Tam Bảo, các thứ hạnh lành lại chẳng đủ để làm tư lương Tịnh Độ hay sao?
Chỉ v́ ḷng tin chẳng chân thật, nên bị ch́m trong hữu lậu. V́ thế, ngày nay tu hành chẳng có thuật trọng yếu nào khác cả; chỉ cốt sao trong mười hai thời, thêm vào ba thứ ḷng tin chân thật ấy, chẳng cần phải thay đổi hết thảy điều ǵ ta đang tu tập cả.
* Nếu luôn luôn lo nghĩ sự nghiệp Sa Bà, một ngày nóng, mười ngày lạnh, tâm chẳng chuyên dốc, lúc gặp ngũ dục th́ như keo, như sơn, gặp phải nghịch cảnh bèn kết oán, ôm hận. Đến lúc mạng chung sẽ ngả theo chỗ ḿnh coi trọng, v́ Tịnh nhân nhỏ yếu nên khó thoát khỏi chốn khổ. Đấy chỉ là do chẳng thể bỏ xuống những cái ḿnh coi trọng. Ai nấy nên đau đáu nghĩ đến Sa Bà hiểm ác, sớm cầu xuất ly. Ḅ lê trong lục đạo, tiêu dao nơi chín phẩm, [hai đường] lợi hại [khác xa nhau] một trời một vực. Hăy nên tu tập nỗ lực, mạnh mẽ tỉnh ngộ!
Ắt nên sanh ḷng chán, ưa lớn lao, bỏ uế, lấy tịnh; tin rằng sự lấy bỏ này và sự chẳng lấy bỏ vốn chẳng khác ǵ nhau. Đừng chuộng hư danh, đừng chấp Không Kiến, chớ để kẻ học Thiền có danh phận nhưng chỉ chứng đắc tam-muội nơi cửa miệng khiến ta lầm loạn. Chớ cầu sự linh nghiệm ngay trong sớm tối, vọng cầu ngoài tâm có Phật đến đón, khiến cho ma sự dấy động. Luôn lấy Niệm Phật làm Chánh Hạnh, siêng tu các điều thiện làm Trợ Hạnh.
Lại c̣n quyết ư mài giũa tham, sân, si, khiến cho chỗ nặng biến thành chỗ nhẹ, chỗ sống chín dần, tịnh niệm nối tiếp, nguyện - hạnh hỗ trợ nhau th́ tự nhiên trăm ngàn phần ổn thỏa, thích đáng vậy!
* Kính khuyên các bạn: Cần phải có đủ nguyện chân thật, phát tâm ưa - chán, coi tam giới như lao ngục, coi nhà, vườn như gông cùm, coi thanh sắc như chất độc của loài chim Trầm, coi danh lợi như dây cương, ống khóa, coi mấy mươi năm thời vận cùng quẫn hay hanh thông như giấc mộng đêm qua, coi một kỳ thọ báo trong cơi Sa Bà như ngụ trong quán trọ, vừa hết đêm đă rời đi. Chỉ lấy việc trở về nhà làm trách nhiệm. Như ư cũng được, bất đắc ư cũng xong, chẳng bỏ lỡ tấc bóng, nhất tâm niệm Phật. Nếu thật sự có thể làm được như thế mà chẳng sanh về Tịnh Độ th́ chư Phật đều thành nói dối. Xin hăy cùng gắng lên!
* Bảy ngày tŕ danh quư ở chỗ Nhất Tâm Bất Loạn, không gián đoạn, không xen tạp, chứ chẳng phải là niệm nhanh, niệm nhiều là hay! Chỉ nên chẳng rề rà, chẳng gấp gáp, tŕ danh nghiêm mật khiến cho câu Phật hiệu phân minh vằng vặc trong tâm. Mặc áo, ăn cơm, đi, đứng, nằm, ngồi; một câu hồng danh miên mật chẳng đoạn, giống như thở ra, hít vào. Chẳng được tán loạn, nhưng cũng chẳng để ch́m mất. Tŕ danh như thế, đáng gọi là đạt nhất tâm tinh tấn về mặt Sự!
* Hiện thời, Tịnh nghiệp học nhân suốt ngày niệm Phật, sám hối tội lỗi, phát nguyện, mà Tây phương vẫn cách xa là do chưa thể giữ sao cho ngoài chuyện văng sanh, không c̣n nghĩ tới chuyện ǵ khác, chưa nhổ được gốc ái, để dây t́nh c̣n lôi kéo vậy! Nếu có thể coi chuyện ân ái cơi Sa Bà như nhai sáp; chẳng quản bận, rảnh, động, tịnh, khổ, sướng, buồn, vui, cứ dựa vào một câu Phật hiệu giống hệt như dựa vào núi Tu Di th́ hết thảy cảnh duyên chẳng thể lay động nổi.
Nếu lúc nào biết chính ḿnh đang mệt mỏi, lười biếng, hoặc là tập khí hiện tiền, hăy nên mạnh mẽ phát khởi một niệm như tuốt thanh trường kiếm Ỷ Thiên khiến cho ma quân không chỗ ẩn trốn, cũng như hỏa ḷ rực lửa khiến cho vô thỉ t́nh thức tiêu tan chẳng sót! Người ấy tuy đang ở trong chốn Ngũ Trược mà thân đă nghiễm nhiên ngồi trong cơi Liên Hoa, nào c̣n phải đợi đức Di Đà x̣e tay, đức Quán Âm khuyên mời, mới tin là ḿnh đă văng sanh!
Nhận định:
Tŕ danh chẳng cốt niệm nhanh, niệm nhiều là hay, nhưng chẳng nên [nại cớ đó để] tà tà, lơi là. Cổ đức tŕ danh ngày đêm tới một vạn biến, há chẳng phải là niệm nhanh, niệm nhiều đó sao? Câu “chớ cầu chóng có linh nghiệm, đừng vọng cầu ngoài tâm có Phật đến đón, khiến cho ma sự dấy động” nhằm dạy riêng người tu quán tưởng. Nếu gặp phải ma sự, hăy nên đề khởi chánh niệm, thầm tŕ Phật hiệu, v́ tà chẳng thắng nổi chánh, nên ma sự ắt tiêu diệt, chẳng cần phải lo sợ.
13. Trích yếu Pháp Ngữ của đại sư Phạm Thiên Tỉnh Am Tư Tề đời Thanh
* [Trích từ] thư viết cho cư sĩ Mâu Tịnh Viễn:
- Cư sĩ dựng cầu xong có thể nói là không công nào lớn hơn, nhưng tâm cư sĩ ham làm lành không chán; vừa xong một việc lành này đă làm ngay việc lành khác, hay th́ hay đấy, nhưng việc lớn sanh tử th́ như thế nào?
Nếu chẳng coi việc lớn sanh tử là gấp, cứ cắm cúi làm lành, th́ sự lành dù to như núi Tu Di cũng đều là nghiệp duyên sanh tử, biết đến ngày nào xong? Thiện sự càng lắm, sanh tử càng rộng! Một niệm ái tâm, muôn kiếp trói buộc, có đáng sợ hay chăng?
Cư sĩ tham cứu thấu đạt công án thế gian từ lâu, đă tu tập Tịnh nghiệp Tây Phương từ lâu, nhưng cái tâm sanh tử chẳng thiết, gia duyên chưa buông xuống được, tạ tuyệt nhân t́nh chưa nổi, tâm niệm Phật chẳng chuyên là v́ sao vậy? V́ gốc lợi danh chưa đoạn đó chăng? V́ ái niệm lôi kéo, ràng buộc đó chăng? Đối với hai điều ấy, ông hăy nên để tâm suy xét kỹ. Nếu như chẳng thể chặt đứt hết thảy gia duyên, thế sự, tận lực vâng giữ sáu chữ hồng danh mà mong thoát khỏi Sa Bà, mong sanh về An Dưỡng th́ khó lắm đấy!
Chẳng sanh về An Dưỡng mà muốn thoát khỏi sanh tử; đă chẳng thoát khỏi sanh tử mà muốn khỏi bị đọa lạc; xét ra, càng khó hơn nữa! Ví dù một đời, hai đời chẳng đánh mất thân người, liệu có kham nổi măi không?
Than ôi! Cư sĩ huệ tâm lanh lợi, sáng suốt như thế, gia duyên sung túc như thế, con cháu hiền năng như thế, việc ǵ cũng vừa ư, mà c̣n chẳng thể buông nổi vạn duyên, nhất tâm niệm Phật th́ là trời phụ người, hay người đă phụ trời vậy? Chẳng lấy việc niệm Phật làm gấp, chỉ lấy chút điều lành nhỏ trong đời làm gấp, chẳng lấy việc lớn sanh tử làm đầu, chỉ coi phước báo nhân thiên là trọng th́ là hạng chẳng hiểu trước, sau vậy!
Tuy cư sĩ chẳng cầu phước, nhưng thường làm phước, tuy muốn thoát sanh tử, nhưng lại bị trở vào trong sanh tử, đều là do ông chẳng biết rằng ḿnh đă lơ là cơi kia, coi trọng cơi này, đến nỗi bánh xe đă xoay ngược mà vẫn cứ mong tiến lên!
Bây giờ, việc chính của cư sĩ là nên tạ tuyệt việc đời, nhất tâm niệm Phật, kèm thêm hai chữ “tŕ trai” th́ mới thật là tận mỹ! Nói chung, chẳng thể dùng tán thiện khơi khơi để đạt đến cơi Phật Tây Phương, chẳng thể cậy vào lười biếng để thoát khỏi vạn kiếp sanh tử được! Vô thường nhanh chóng, ngày đêm xảy tới ngay, há chẳng sớm lo liệu hay sao?
Nhận định:
Tạ tuyệt việc đời nhất tâm niệm Phật kiêm thêm hai chữ “tŕ trai” chính là nhiệm vụ quan trọng nhất của hạng người già niệm Phật chúng ta vậy!
14. Trích yếu Ngữ Lục của đại sư Mộng Đông Triệt Ngộ đời Thanh
* Hết thảy các pháp môn lấy minh tâm làm chính, hết thảy hạnh môn lấy tịnh tâm làm trọng. Cách trọng yếu để minh tâm không ǵ bằng Niệm Phật. Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại, tương lai nhất định thấy Phật. Chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai. [Như vậy], niệm Phật chẳng phải là cách trọng yếu để minh tâm hay sao? Cách trọng yếu để tịnh tâm cũng không ǵ bằng Niệm Phật. Một niệm tương ứng một niệm Phật; niệm niệm ứng với niệm niệm Phật.
Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong. Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể không thành tâm Phật. Như vậy, Niệm Phật chẳng phải là cách trọng yếu để tịnh tâm hay sao? Một câu Phật hiệu gồm đủ những điểm cốt yếu của cả hai môn Ngộ và Tu. Đối với Ngộ th́ tin ở trong ấy; đối với Tu th́ chứng cũng ở trong ấy. Gồm đủ cả Tín, Giải, Tu, Chứng; những điểm cốt lơi của hết thảy các kinh Đại Thừa, Tiểu Thừa không ǵ là chẳng vét sạch. Một câu Di Đà chẳng phải là đạo chí yếu hay sao?
* Cái tâm trong một niệm hiện tiền của chúng ta là toàn chân thành vọng, toàn vọng chính là chân, trọn ngày bất biến, trọn ngày tùy duyên, chẳng nương theo duyên của Phật giới để nghĩ đến Phật giới th́ lại nghĩ đến cửu giới. Chẳng nghĩ đến Tam Thừa, sẽ nghĩ đến lục phàm. Chẳng nghĩ đến trời, người, sẽ nghĩ đến tam đồ. Chẳng nghĩ đến quỷ, súc, sẽ nghĩ đến địa ngục. Đă có tâm, sẽ chẳng thể vô niệm. Tâm thể vô niệm chỉ có ḿnh đức Phật chứng được; từ bậc Đẳng Giác trở xuống thảy đều hữu niệm. Hễ khởi lên một niệm, ắt sẽ lạc vào mười giới, mà chẳng có niệm nào ra ngoài mười giới, v́ không có ǵ ngoài mười pháp giới cả. Mỗi một niệm khởi lên là một duyên để thọ sanh. Nếu thực sự biết lư ấy mà chẳng niệm Phật th́ chẳng đời nào có!
Nếu tâm này có thể tương ứng với đại từ, đại bi, b́nh đẳng, và công đức của y báo, chánh báo tương ứng với vạn đức hồng danh th́ đó chính là niệm Phật pháp giới. Nếu có thể tương ứng với Bồ Đề tâm, lục độ, vạn hạnh th́ chính là niệm Bồ Tát pháp giới. Nếu có thể tương ứng với tâm Vô Ngă và Thập Nhị Nhân Duyên th́ là niệm Duyên Giác pháp giới. Nếu có thể tương ứng với tâm Vô Ngă, quán sát Tứ Đế th́ là niệm Thanh Văn pháp giới. Nếu có thể tương ứng với Tứ Thiền, Bát Định và thượng phẩm Thập Thiện th́ là niệm Thiên pháp giới. Nếu tương ứng với Ngũ Giới th́ là niệm Nhân pháp giới. Nếu có thể tu các pháp: Giới, Thiện v.v… nhưng c̣n ôm ḷng sân hận, kiêu mạn, thắng bại sẽ lạc vào Tu La pháp giới. Nếu tâm nghĩ đến mười điều ác thuộc phẩm hạ một cách thong thả, nhẹ nhàng th́ lạc vào Súc Sanh pháp giới. Nếu tâm nghĩ đến mười điều ác bậc trung nửa do dự, nửa hăng hái th́ đọa vào Ngạ Quỷ pháp giới. Nếu tâm tương ứng với Thập Ác bậc thượng một cách mạnh mẽ, hùng hổ th́ đọa vào Địa Ngục pháp giới.
Thập Ác là giết, trộm, dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, ác khẩu, tham, sân, tà kiến. Trái nghịch với mười điều này là Thập Thiện. Hăy nên tự ngầm kiểm điểm những ư niệm phát khởi hằng ngày, xem chúng tương ứng với pháp giới nào nhiều nhất, tương ứng với pháp giới nào mạnh mẽ nhất, cần ǵ phải nhọc công hỏi người khác chỗ nào để an thân lập mạng trong mai sau nữa!
* Một niệm hiện tiền của chúng ta duyên sanh vô tánh, vô tánh duyên sanh, nếu chẳng sanh Phật giới, sẽ sanh trong cửu giới. Nếu xét về duyên sanh vô tánh th́ chúng sanh và Phật b́nh đẳng, là một, là không. Nếu xét về vô tánh duyên sanh, mười giới sẽ hơn kém thật khác xa nhau!
Vua A Kỳ Đạt lúc lâm chung bị người hầu [chuyên giữ việc] đuổi ruồi dùng phất trần phất qua mặt, v́ khởi lên một niệm sân hận nên bị đọa làm rắn độc. Một người đàn bà vượt sông, xẩy tay, đứa con rơi xuống nước; do cứu con nên cùng bị ch́m. V́ bà ta từ tâm nên được sanh lên trời. Chỉ do một niệm Từ hay Sân mà phân ra trời và súc sanh. Như vậy, há chẳng dè dặt một niệm duyên sanh lúc lâm chung hay sao? Nếu như đem tâm này duyên niệm đức Phật Di Đà, cầu sanh Tịnh Độ, lẽ đâu chẳng được thấy Phật văng sanh? Nhưng nhất niệm ấy chẳng thể cầu may mà có được, cần phải dốc tấm ḷng thành, giữ cho tinh thuần.
V́ vậy, chúng ta phải ngàn niệm, vạn niệm một câu A Di Đà này, niệm suốt ngày, suốt năm, không ǵ là chẳng v́ để một niệm này được thuần thục mới thôi. Nếu quả thật đă đạt một niệm thuần thục th́ lúc lâm chung sẽ chỉ có một niệm này, không c̣n niệm nào khác. Trí Giả đại sư nói: “Hễ lâm chung tâm tại định th́ tâm ấy là tâm thọ sanh Tịnh Độ”. Chỉ một niệm này, không niệm nào khác, há chẳng phải là tâm định hay sao? Nếu quả thật niệm được như thế mà chẳng thấy A Di Đà Phật th́ sẽ thấy ai đây? Chẳng sanh Tịnh Độ sẽ sanh cơi nào đây? Chỉ sợ chúng ta chẳng thể tự tin đấy thôi!
* Thật v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu để tŕ danh hiệu Phật. Mười sáu chữ ấy chính là một đại cương tông của pháp môn Niệm Phật. Nếu chẳng thể phát khởi tâm “thật sự v́ sanh tử” th́ hết thảy khai thị đều thành hư luận. Hết thảy sự khổ nặng nề trong thế gian không ǵ hơn được sanh tử. Không kết thúc được sanh tử th́ sanh tử, tử sanh, sanh sanh, tử tử, ra khỏi bào thai này, vào trong bào thai khác, bỏ cái đăy da này để lấy cái đăy da khác, khổ chẳng thể kham nổi! Huống hồ, chưa ra khỏi luân hồi th́ khó tránh khỏi đọa lạc; hễ một niệm sai lầm, ắt lại vào trong nẻo ác. Tam đồ dễ vào, khó ra. Thời gian trong địa ngục dài lâu, khổ sở nặng nề.
Mỗi phen nghĩ đến, ngũ tạng như nung. V́ thế, ta nay hăy nên xót đau nghĩ đến sanh tử như làm đám tang cho cha mẹ, như cứu đầu cháy. Nhưng, ta có sanh tử, ta cầu xuất ly; hết thảy chúng sanh đều ở trong sanh tử, đều phải nên xuất ly. Bọn họ và ta vốn cùng một thể, đều là cha mẹ nhiều đời của ta, là chư Phật trong vị lai. Nếu chẳng nghĩ cách phổ độ họ, chỉ cầu tự lợi th́ về lư đă khiếm khuyết, mà tâm cũng chưa an.
Huống hồ, đại tâm chẳng phát th́ ngoài chẳng thể cảm thông chư Phật, trong chẳng thể khế hợp bổn tánh, trên chẳng thể viên thành Phật đạo, dưới chẳng thể lợi khắp quần sanh, th́ ân ái từ vô thỉ làm sao giải thoát nổi, oan khiên từ vô thỉ làm sao cởi mở nổi? Tội nghiệp bao kiếp khó nỗi sám trừ, thiện căn bao kiếp khó bề thành thục. Tu hành điều ǵ cũng gặp nhiều chướng duyên, dù có thành được cái ǵ th́ cũng biến thành lệch lạc, nhỏ nhặt. V́ thế, cần phải phát đại Bồ Đề tâm tương xứng với tánh.
Đại tâm đă phát, hăy nên tu đại hạnh; nhưng trong hết thảy các hạnh môn, t́m lấy một cách thực hành dễ nhất, dễ thành tựu nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất, tối cực viên đốn, không ǵ bằng tín nguyện sâu xa tŕ danh hiệu Phật vậy.
Tín vừa nói đó nghĩa là: Lời nói phạm âm của đức Thích Ca Như Lai quyết không dối trá, tâm đại từ bi của đức Di Đà Thế Tôn quyết chẳng nguyện suông. Hễ lấy niệm Phật cầu sanh làm nhân, ắt sẽ cảm quả gặp Phật văng sanh giống như trồng dưa được dưa, gieo đậu được đậu; tiếng vang phải ứng theo tiếng, bóng phải nương theo h́nh. Nhân chẳng bỏ luống, quả chẳng lỡ làng. Như vậy th́ chẳng cần phải đợi hỏi Phật mới có thể tự tin. Huống hồ một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta suốt ngày tùy duyên, suốt ngày bất biến, ngang th́ trọn khắp, dọc th́ tột cùng, không có ǵ ở ngoài Thể, Tịnh Độ Di Đà đều ở trong ấy.
Dùng cái tâm sẵn có Phật của ḿnh để niệm đức Phật sẵn có trong tâm ta, th́ đức Phật sẵn có trong tâm ta lại chẳng tương ứng với cái tâm sẵn có Phật của ta hay sao? Văng Sanh Truyện đă ghi đầy dẫy những tướng lành lúc lâm chung, há nào lừa dối ta ư? Tin như thế rồi, tự mong muốn, ưa thích thiết tha. Từ sự vui trong cơi ấy, ngoái nh́n nỗi khổ trong Sa Bà th́ ḷng chán nhàm càng sâu, như ĺa hầm xí, như ra khỏi lao ngục. Từ nỗi khổ Sa Bà, ngóng trông niềm vui trong cơi kia, vui mừng, ưa thích càng thêm thiết tha như quay về cố hương, như rảo chân đến chỗ có của báu.
Nói tóm lại là như khát nghĩ đến uống, như đói mong ăn, như bệnh khổ ước ao thuốc hay, như trẻ thơ mong nhớ mẹ, như tránh kẻ oan gia vác dao bức bách, như ngă vào nơi nước lửa mong gấp được kéo lên. Nếu quả thật có thể khẩn thiết như thế th́ hết thảy cảnh duyên chẳng thể dẫn dắt, xoay chuyển được!
Sau đấy, dùng cái tâm tín nguyện ấy chấp tŕ danh hiệu. Tŕ một tiếng là thành một hạt giống cho chín phẩm sen. Niệm một câu là chánh nhân để văng sanh.Phải sao cho tâm tâm tiếp nối, niệm niệm chẳng sai, chỉ một mực chuyên cần, chẳng tạp, chẳng gián đoạn, càng lâu càng vững, càng tŕ càng thiết tha, lâu ngày tự thành một khối, nhập vào nhất tâm bất loạn. Nếu thật sự như thế mà chẳng được văng sanh th́ hóa ra Thích Ca Như Lai nói dối, Di Đà Thế Tôn chỉ nguyện suông; có lẽ nào như thế ư?
* Nơi ải đầu sanh tử của chúng ta chỉ có hai thứ lực:
1. Một là tâm t́nh lắm mối, thiên đọa chỗ nặng. Đó là tâm lực.
2. Hai là như người mắc nợ, kẻ nào mạnh hơn sẽ kéo đi trước. Đấy là nghiệp lực.
Nghiệp lực rất lớn, nhưng tâm lực càng lớn hơn, v́ nghiệp không có tự tánh, hoàn toàn nương vào tâm. Tâm có thể tạo nghiệp, tâm có khả năng chuyển nghiệp. V́ thế, cái ǵ tâm coi trọng, nghiệp lực nào mạnh nhất sẽ quyết định sự thác sanh. Nếu tâm chú trọng tu Tịnh nghiệp th́ Tịnh nghiệp sẽ mạnh. Tâm nặng, nghiệp mạnh th́ chỉ có hướng thẳng về Tây Phương, ngày sau báo hết mạng tận, quyết định sẽ văng sanh Tây Phương, chẳng sanh vào chỗ nào khác nữa. Giống như cây to, tường to, lúc b́nh thường đă ngả về phía Tây th́ đến ngày nào nó đổ xuống, quyết sẽ chẳng ngă sang chỗ nào khác!
Thế nào là tâm chú trọng? Chúng ta tu tập Tịnh nghiệp th́ cốt sao tin cho sâu, nguyện cho thiết. Do tín nguyện sâu đậm, thiết tha, nên hết thảy tà thuyết chẳng thể lay động, lầm loạn đuợc; hết thảy cảnh duyên chẳng thể dẫn dắt, xoay chuyển được.
Nếu ngay đang lúc tu Tịnh nghiệp, Đạt Ma đại sư chợt hiện ra trước mặt bảo:
- Ngươi nên bỏ niệm Phật để thọ tŕ pháp Thiền Trực Chỉ Nhân Tâm Kiến Tánh Thành Phật.
Th́ cũng nên hướng về Tổ làm lễ, thưa:
- Con đă thọ pháp môn Niệm Phật của đức Như Lai, phát nguyện thọ tŕ, trọn đời chẳng đổi, chẳng dám tự trái bổn thệ.
Dẫu cho Thích Ca Như Lai chợt hiện thân dạy:
- Trước đây ta nói pháp môn Niệm Phật chỉ là phương tiện nhất thời, ngươi hăy để pháp môn Niệm Phật lại, ta sẽ v́ ngươi giảng pháp môn thù thắng.
Th́ cũng hướng về Phật, dập đầu lễ, bày tỏ:
- Con trước đă bẩm thọ pháp môn Niệm Phật của đức Thế Tôn, phát nguyện hễ c̣n một hơi thở quyết chẳng đổi thay, chẳng dám tự trái nghịch bổn nguyện.
Dù Phật, Tổ hiện thân c̣n chẳng thay đổi niềm tin của ḿnh, huống là những tà thuyết hư vọng của ma vương, ngoại đạo lại có thể lung lạc, lầm loạn ḿnh được ư? Tin như thế mới đáng gọi là sâu. Dẫu cho bánh xe sắt nung đỏ xoay vần vũ trên đỉnh đầu, cũng chẳng v́ nỗi khổ ấy mà thoái thất ư nguyện văng sanh. Dù cho ngũ dục thắng diệu của Luân Vương hiện tiền, cũng chẳng v́ sự vui đó mà thoái thất ư nguyện văng sanh. Thuận nghịch tột bậc như thế vẫn chẳng đổi ư nguyện, huống là những hoàn cảnh thuận nghịch nhỏ nhặt của thế gian mà lại có thể lay chuyển hay sao? Nguyện như thế mới đáng gọi là thiết tha.
Tin sâu, nguyện thiết mới gọi là tâm đặt nặng để tu Tịnh nghiệp, Tịnh nghiệp ắt sẽ mạnh mẽ. Do tâm đặt nặng nên dễ thuần; do nghiệp mạnh nên dễ chín. Khi Tịnh nghiệp Cực Lạc đă chín, nhiễm duyên Sa Bà liền hết, nên khi lâm chung dù có muốn cảnh giới luân hồi tái hiện trước mắt, Tịnh Độ Di Đà chẳng hiện diện th́ cũng chẳng thể được! Nhưng cần phải ǵn giữ tín nguyện như thế cho thuần th́ lúc lâm chung mới chẳng lạc vào ngơ rẽ!
* Biển cả Phật pháp, do Tín th́ được vào. Trong pháp môn Tịnh Độ, Tín càng trọng yếu. Xưa kia, Vương Trọng Hồi hỏi Dương Vô Vi: “Niệm Phật như thế nào để khỏi bị gián đoạn?” Ông Dương đáp: “Hễ một phen tin rồi th́ chẳng c̣n nghi nữa!”. Ông Vương vui vẻ ra đi. Lâu sau, ông Dương mộng thấy ông Trọng Hồi đến cảm tạ: “Nhân được Ngài chỉ dạy, tôi được đại lợi ích, nay đă văng sanh Tịnh Độ”.
* Một là lấy “thật v́ sanh tử phát Bồ Đề tâm” làm đường lối chung cho việc học đạo.
Hai là “do tín nguyện sâu tŕ danh hiệu Phật” làm Tịnh Độ chánh tông.
Ba là lấy nhiếp tâm chuyên chú mà niệm làm phương tiện để thực hành.
Bốn là lấy việc chiết phục phiền năo hiện hành làm trách vụ trọng yếu để tu tâm.
Năm là lấy việc giữ vững tứ trọng giới pháp làm căn bản để nhập đạo.
Sáu là lấy các thứ khổ hạnh để làm trợ duyên tu đạo.
Bảy là lấy nhất tâm bất loạn làm chỗ quy túc của Tịnh hạnh.
Tám là lấy các thứ tướng lành để chứng nghiệm việc văng sanh.
Tám điều này ai nấy đều nên hiểu biết tường tận. Người tu Tịnh nghiệp chớ nên không biết.
* Chấp tŕ danh hiệu là phải khư khư ôm giữ, giữ chắc trong tâm chẳng hề tạm quên, hễ hơi có một niệm gián đoạn hoặc xen tạp th́ chẳng phải là chấp tŕ. Niệm niệm liên tục chẳng hở, chẳng tạp, đó là chân tinh tấn. Tinh tấn chẳng ngớt mới dần dần chứng nhập Nhất Tâm Bất Loạn, viên thành tịnh nghiệp. Nếu đạt đến Nhất Tâm Bất Loạn mà vẫn tinh tấn chẳng ngơi, sẽ thấy chính ḿnh khai trí huệ, phát biện tài, đắc thần thông, thành tựu Niệm Phật tam-muội; cho đến các thứ tướng lành linh dị đều hiện tiền cả! Nhưng hành nhân chớ nên mang ḷng cầu được chứng nghiệm, chỉ nên tận sức ḥng đạt tới Nhất Tâm Bất Loạn mà thôi!
* Lúc niệm Phật hăy nên buông xuống vạn duyên, chỉ đề khởi, ǵn giữ một niệm như cứu đầu đang bị cháy, như làm ma chay cho bố mẹ, như gà ấp trứng, như rồng dưỡng châu, chẳng cầu điều chứng nghiệm nhỏ nhặt, chẳng cầu mau thành tựu, chỉ nhất tâm thường nương theo niệm. Đấy gọi là Vô Thượng Thâm Diệu Thiền. Như vậy th́ căn, thân, thế giới đều ngầm biến chuyển theo tâm ḿnh trong mỗi niệm, phàm tâm, nhục nhăn làm sao thấy biết được nổi! Đến lúc báo hết, mạng tận, Di Đà và thánh chúng chợt hiện trước mặt, hoặc thấy mùi hương lạ, nhạc trời, các tướng thiêng lành; người đời mới cho là Tịnh nghiệp thành thục, nhưng nào có phải là Tịnh nghiệp đến lúc đó mới thành ư?
* Niệm Phật nên sanh bốn tâm:
- Một là từ vô thỉ đến nay tạo nghiệp dường ấy, nên sanh hổ thẹn.
- Hai là được nghe pháp môn này, nên sanh tâm vui mừng.
- Ba là vô thỉ nghiệp chướng, pháp này khó bề gặp gỡ, nên sanh tâm đau xót.
- Bốn là Phật từ bi như thế, nên sanh tâm cảm kích.
Có được một trong bốn tâm này th́ Tịnh nghiệp mới có thể thành tựu.
Niệm Phật phải lâu bền, không được gián đoạn. Gián đoạn th́ Tịnh nghiệp chẳng thể thành tựu! Hăy nên dũng mănh, chẳng nên lười mỏi; lười mỏi th́ Tịnh nghiệp cũng chẳng dễ thành. Nếu lâu dài mà chẳng dũng mănh th́ sẽ thoái thất. Dũng mănh mà chẳng lâu bền th́ chẳng thể tiến triển!
* Trong lúc niệm Phật chẳng tưởng đến ǵ khác. Chẳng tưởng đến điều ǵ khác chính là Chỉ. Trong lúc niệm Phật nên rành rẽ phân minh; có thể rành rẽ phân minh th́ chính là Quán. Trong một niệm có đủ cả Chỉ lẫn Quán, không cần có Chỉ Quán nào khác. Chỉ là nhân của Định; Định là quả của Chỉ. Quán là nhân của Huệ; Huệ là quả của Quán.
Một niệm chẳng sanh, rành rẽ phân minh chính là Tịch mà Chiếu. Rành rẽ phân minh, một niệm chẳng sanh chính là Chiếu mà Tịch. Có thể làm được như vậy th́ Tịnh nghiệp ắt thành. Thành được như vậy th́ là thượng phẩm. Từ một người cho đến trăm, ngàn, vạn, ức người tu như thế th́ đều thành tựu như thế. Người niệm Phật chẳng nên lưu tâm hay sao?
Nhận định:
Đại Sư ngàn lời muôn lẽ chỉ nhằm dạy ta thật v́ sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín nguyện sâu tŕ danh hiệu Phật. Trong lúc niệm Phật nên buông xuống vạn duyên, chỉ giữ mỗi một niệm, chẳng cầu sự chứng nghiệm nhỏ nhặt, chẳng cầu chóng thành tựu, chỉ nhất tâm dựa vào niệm, niệm đến mức không c̣n tưởng ǵ khác th́ đó là Chỉ. Niệm đến mức rành rẽ phân minh th́ đó là Quán. Trong một niệm đủ cả Chỉ lẫn Quán, Tịch, Chiếu không hai. Nếu làm được như vậy th́ ắt sanh trong Thượng Phẩm. Xin từ đây mà vào, nhiếp tâm chuyên chú mà niệm, chẳng hở, chẳng tạp, tinh tấn chẳng ngơi.
15. Trích yếu các sách Tịnh Nghiệp Tri Tân và Niệm Phật Bách Vấn của đại sư Ngộ Khai Khoát Nhiên đời Thanh
* Mở mắt niệm Phật, tâm dễ tán động, nên có thể nhắm mắt niệm. Trong lúc niệm Phật, để tâm rỗng rang, đề khởi Phật hiệu, vừa niệm liền nghe, nghe rồi liền niệm, liên miên chẳng tuyệt. Thực hành lâu ngày, ắt sẽ có lúc tương ứng. Chỉ cốt sao từng chữ chắc thật phát xuất từ ư niệm; từng câu phát sanh từ nơi cầu sanh Tây Phương.
Lại có một pháp hệ niệm: Lúc không niệm Phật th́ thường gởi ư niệm nơi thân Phật A Di Đà, tâm thường thanh tịnh, chẳng động, chẳng lay, sẽ có công hiệu.
* Hỏi: Tạp niệm từ đâu đến?
Đáp: Thân người chỉ có một niệm, ư niệm niệm Phật là nó mà ư niệm [xen lẫn] tạp niệm cũng là nói, v́ một niệm ấy chẳng thể hoàn toàn quy về niệm Phật, nên có chưa hoàn toàn thuộc về Phật.
Hỏi: Làm thế nào để trừ được tạp niệm?
Đáp: Chẳng tiêu trừ được! Chỉ nên tự phấn chấn tinh thần, đem một niệm ấy hoàn toàn hướng đến Phật th́ tạp niệm tự mất.
Hỏi: Nhưng nếu tinh lực yếu mệt chẳng thể khiến cho tạp niệm mất được th́ lại nên làm như thế nào?
Đáp: Do đạo lực chưa đầy đủ nên thường có lắm tán loạn, hăy thâu nhiếp lục căn để dần dần quy về thanh tịnh. Lúc tạp niệm khởi, chẳng cần quan tâm đến chúng, ta chỉ biết đến niệm này (niệm Phật), lại càng chăm chú nh́n vào tượng Phật, hoặc chú tâm nghĩ nhớ tượng Phật th́ tạp niệm tự mất. Nhưng lâu dần tạp niệm lại khởi, thậm chí vấn vương, quấy nhiễu chẳng thể cởi bỏ được, chẳng cần phải nóng nảy, cứ lắng trong tâm tư khiến cho sáu chữ hồng danh, mỗi chữ theo ư niệm khởi lên, thốt ra từ miệng, tai lắng nghe tiếng niệm rơ ràng, rồi lại từ trong tâm niệm lưu xuất. Tuần hoàn đan kín như thế chẳng để gián đoạn th́ tạp niệm tự mất.
Nếu có kẻ độn căn chẳng làm được như thế th́ sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, cứ hễ niệm một tiếng liền nhớ chữ Nam, niệm hai chữ nhớ chữ Mô, rồi đến chữ A, chữ Di, chữ Đà, chữ Phật, rồi lại chữ Nam. Liên hoàn ghi nhận chẳng dứt th́ hết thảy tạp niệm không c̣n chỗ nào để phát khởi được nữa!
Nhận định:
Nhắm mắt, trống ḷng, niệm ra liền nghe, thâu nhiếp sáu căn, dần dần quy về thanh tịnh th́ tạp niệm liền mất. Nương theo thứ tự để ghi nhớ từng chữ cũng như phép “mười niệm nhớ số” của Tổ Ấn Quang đều là những phép nhiếp tâm rất tuyệt, càng làm thử, càng thấy hiệu nghiệm!
16. Trích yếu sách Bốn Mươi Tám Pháp Niệm Phật của đại sư Diệu Không đời Thanh
* Quán đă chẳng dễ thành, Giới cũng chẳng dễ giữ hoàn toàn; các phước chẳng thể mong đạt được trong một sớm một chiều. Diệu ngộ chẳng phải là điều kẻ độn căn có thể đạt được. Đại nguyện kiên cố càng ít có! Nếu lại chẳng biết nương theo thật thà tŕ danh để ngoi đầu lên, sẽ phải ch́m đắm dài lâu trong biển khổ, măi măi chịu luân hồi, ngàn đức Phật từ bi cũng khó thể cứu độ. Thật thà tŕ danh là chẳng cầu danh lợi, cũng chẳng phô trương tài năng, ngoài bốn chữ A Di Đà Phật ra, chẳng có thêm một mảy vọng tưởng nào nữa!
* Đă dùng tâm ấy niệm Phật th́ đối với hết thảy những sự tạp thiện, tạp ác, chẳng cần phải bận tâm đến nữa; tức là: Đối với những việc bất đắc dĩ để ứng phó vạn duyên trong hằng ngày, hễ làm xong liền buông bỏ, chẳng để chúng vương vấn chướng ngại tâm niệm của ta.
Đă dùng cái miệng này để niệm Phật th́ chẳng để hết thảy những chuyện giết, trộm, dâm, dối bén mảng nơi cửa miệng. Nếu trót bàn đến, liền nghĩ: Người niệm Phật chẳng nên như thế, mạnh mẽ niệm Phật mấy câu, dùng sự cảnh tỉnh ấy để tẩy rửa sạch sẽ.
Đă dùng cái thân này để niệm Phật th́ đi, đứng, nằm, ngồi phải thường giữ cho đoan chánh. Thân nếu đoan chánh th́ tâm thanh tịnh.
Niệm Phật một tiếng, tay lần qua một hạt. Chỉ niệm bốn chữ, chớ xen lẫn sáu chữ, v́ niệm bốn chữ dễ thành một khối. Hoặc là niệm đến chữ A th́ lần qua một hạt, hoặc niệm đến chữ Đà th́ lần qua hạt khác. Hoạch định khuôn phép, chớ để lầm loạn. Đấy là cách mượn xâu chuỗi để thúc liễm cái tâm.
Nếu khi thần trí hôn trầm hoặc vọng tưởng bừng bừng nổi lên th́ phải phấn chấn tinh thần, lớn tiếng niệm Phật vài trăm câu để tự thay đổi hoàn cảnh. Vả lại, nhĩ căn là lanh lợi nhất, ngoại duyên dễ xâm nhập, tiếng cảm tâm động, tạp niệm tơi bời. Chỉ có cách lớn tiếng niệm Phật mới có thể khiến cho nhĩ căn lay động tâm linh, tâm nghe tiếng của chính ḿnh, từng tiếng rơ ràng, hết thảy sự đúng, việc sai tự nhiên mất đi.
Nếu tinh thần tán loạn, hoặc lúc quá mệt nhọc th́ chẳng cần niệm lớn tiếng, chỉ cần thâu liễm tâm trí, niệm khe khẽ, đợi khi hơi thở sung măn trở lại, tinh thần hưng phấn mới lớn tiếng niệm Phật. Nếu tâm và hơi thở chẳng phù hợp nhau, hoặc gặp chỗ không thuận tiện th́ chỉ động môi lưỡi, dùng phép Kim Cang Tŕ, chẳng nệ nhiều, ít, cốt sao mỗi chữ từ trong tâm phát ra. Tâm nhớ đến rồi mới động lưỡi, lưỡi động rồi lại trở về tâm. Lưỡi đă phát ra tiếng, tai lại tự nghe. Đấy là tâm niệm, tâm nghe vậy.
Tâm niệm tâm nghe là mắt chẳng nh́n bậy, mũi chẳng ngửi xằng, thân chẳng vọng động, một vị chủ nhân ông được bốn chữ A Di Đà Phật mời xuất hiện ra. Nếu hiềm pháp Kim Cang Tŕ c̣n thấy có dấu vết th́ từ xưa có một phương tiện cực khéo: Chẳng cần động miệng thốt ra tiếng, chỉ cần buộc tâm vào một duyên, khẽ động lưỡi cho chạm vào răng cửa, tâm và niệm ứng theo nhau, âm thanh rành rẽ, tiếng niệm chẳng thoát qua kẽ răng.
Tánh Nghe dung thông bên trong: Tâm in theo cuống lưỡi; cuống lưỡi lôi kéo niệm căn, từ sự nghe mà nhập lưu[4], xoay trở lại nghe nơi tự tánh. Ba thứ ấy dung hội lẫn nhau, niệm niệm viên thông, lâu dần sẽ thành Duy Tâm Thức Quán.
* Nếu lắm hôn trầm, hăy nên vừa đi kinh hành vừa tŕ. Nếu lắm tán loạn th́ ngồi ngay ngắn mà tŕ, hoặc là quỳ, hoặc đứng, thậm chí là tạm nằm, cũng đều làm rộng răi mọi phương tiện, tùy theo khả năng mà tŕ danh để tự cứu. Cốt sao bốn chữ hồng danh chẳng bị tạm quên trong một niệm. Đó chính là thuật trọng yếu để hàng phục tâm ma.
Chẳng luận là chỗ sạch hay chỗ dơ, rảnh rang hay bận rộn, cao hứng hay thất ư, chẳng cần biết là niệm được, hay chẳng niệm được, chỉ thề rằng cái tâm niệm Phật này cho đến chết cũng chẳng dứt niệm ấy. V́ sao vậy? Nếu hễ một niệm niệm Phật vừa đứt th́ hết thảy các tạp niệm thiện, ác, vô kư lại phát sanh. Dẫu cho lúc đang đại tiểu tiện, lúc đàn bà đang sanh nở, vẫn chỉ biết đến cái niệm; càng khổ càng niệm, càng đau càng niệm. Sáng cũng niệm, chiều cũng niệm, vô sự cũng niệm, hữu sự cũng niệm, chỗ tịnh cũng niệm, chỗ uế cũng niệm.
Chẳng có một niệm nào chẳng phải là Phật, dẫu niệm Phật có lúc gián đoạn khi phải đối phó sự việc hằng ngày th́ cũng chỉ là gián đoạn việc niệm ra lời, chứ chẳng gián đoạn mạng mạch thật sự. Công phu đến mức như thế th́ tâm dễ thành một phiến.
* Hai thời sáng tối, hoạch định thường khóa, từ nay đến chết chẳng tăng, chẳng giảm. Ngoài ra, trong mười hai thời, hễ có thể niệm được một câu liền niệm ngay một câu; có thể niệm được mười câu th́ niệm ngay mười câu. Chỉ cốt sao giữa trăm điều bận rộn, hễ rảnh được một khắc liền buông thân tâm xuống, tŕ tụng rành rẽ, cốt sao miên mật, liên tục, phấn chấn, thâu liễm th́ mới chẳng lỡ uổng tấc bóng. Nếu cứ niệm qua quít, chẳng thể tu tập chu toàn, luống uổng ngày tháng dần trôi, cô phụ tứ ân, một mai vô thường chợt tới, biết ứng phó ra sao?
* Lúc đối trước tượng, hăy coi tượng ấy là đức Phật thật, hăy nên mặt đối mặt, tâm tưởng niệm, thành kính. Thành kính tột bậc, ắt sẽ linh cảm. Nếu lúc không có tượng Phật, hăy nên ngồi ngay ngắn, mặt hướng về phương Tây. Lúc khởi tâm động niệm, hăy nên nghĩ quang minh của đức A Di Đà Phật ngưng tụ trên đầu ḿnh; từng chữ, từng câu chẳng để luống uổng th́ cũng có thể tiêu diệt hắc nghiệp.
* Phàm gặp hết thảy cảnh vui mừng, sung sướng xảy tới, hăy nên biết những điều vui ấy là hư huyễn, chẳng thường hằng. Nhân lúc tốt đẹp ấy, hăy hồi quang niệm Phật, nương theo quang minh của Phật, ḥng thuận theo cảnh đó trừ khử ít nhiều ác niệm [để được] cát tường liên miên, tu hành như ư; thẳng đến khi lâm chung văng sanh Cực Lạc, há chẳng phải là vui sướng lắm sao?
Phàm khi gặp hết thảy nghịch cảnh xảy tới, đều coi chúng là những duyên mạnh mẽ mà chính ḿnh phải đối diện, chẳng nên khởi ác niệm nữa, chỉ thuận theo để chịu đựng. Cái ǵ tránh được th́ tránh, tiêu được cái ǵ th́ tiêu, nhưng thuận theo nhân duyên, chớ quên niệm Phật. Được Phật quang gia hộ, cảnh duyên sẽ xoay chuyển. Mỗi khi ác quả trong đời này hay đời trước thành tựu, khổ báo ắt phải xảy đến. V́ vậy, khổ một phần chính là ác một phần; đừng phó mặc vận mạng rồi chẳng tu tập, chỉ nên thẹn ḿnh chẳng sớm tu hành. Mỗi khi nghĩ đến điều ấy, lông trên thân dựng cả lên, ngũ tạng tựa hồ rách toạc, bi thương, phẫn uất, đau đớn chẳng muốn sống nữa. Được như vậy th́ mỗi chữ đều từ gan, từ tủy tuôn ra; như vậy mới là niệm Phật chân chánh.
* Hễ thấy kẻ khổ năo, trước hết phải an thân họ, rồi mới chỉ dạy, khai phát tâm họ, khuyên họ niệm Phật. Nói cách khác: cứu khổ một lúc th́ bố thí là cần kíp nhất, nhưng để cứu nỗi khổ bao kiếp th́ niệm Phật là trọng yếu nhất. Hoặc nếu thấy người hay vật mắc nạn, sức ḿnh chẳng thể cứu, hăy nên gấp rút v́ họ niệm Phật để an ủi hồn thức của họ. Hoặc trong đêm thanh, tụng chú lớn tiếng để thí cho quỷ thần. Phàm năm nào có cuộc chiến lớn, hay dịch bệnh to, suốt năm canh tŕ tụng danh hiệu Phật để tiêu tan oán thù, dịch lệ.
Hăy nghĩ rằng một tiếng niệm A Di Đà Phật của ḿnh trên th́ thấu tới trời Hữu Đảnh, dưới suốt tột phong luân; chúng sanh trong các cơi nước nhiều như số bụi trần đều được lợi ích. Sự bố thí ấy chẳng thể nghĩ bàn!
* Tiếng niệm Phật đă thuần thục, trong Lục Trần chỉ có Thanh Trần [mạnh mẽ nhất], công dụng của sáu căn toàn nhờ vào tai. Thân cũng chẳng tự nhận biết nó xoay chuyển như thế nào, lưỡi cũng chẳng tự nhận biết nó chạm, đụng ra sao, ư cũng chẳng tự nhận biết nó phân biệt thế nào, mũi chẳng tự biết nó hô hấp ra sao, mắt cũng chẳng tự biết nó nhắm mở ra sao. Hai thứ Viên Thông của Quán Âm và Thế Chí chỉ là một. Căn tức là Trần, Trần tức là Căn. Căn hợp với Trần là Thức. Mười tám giới ḥa tan thành một giới. Lúc mới th́ chưa thể điều ḥa, lâu ngày sẽ tự nhập.
Phàm khi niệm Phật, hăy chọn chỗ đất sạch rộng chừng bốn năm thước, đi kinh hành xoay theo chiều phải một ṿng, sau đó mới từ từ cất tiếng niệm, dần dần niệm lớn hơn. Niệm như thế hết ba ṿng xong, tự biết tiếng phát xuất từ tâm ta thấu suốt tâm linh, xoay chuyển khắp hư không, bao trùm trọn vẹn mười phương, trọn khắp pháp giới. Đấy là an trụ thân, tâm và thế giới trong câu niệm Phật. Đây là an trụ thân, tâm và thế giới trong câu niệm Phật để niệm Phật vậy. Đây là một cảnh thù thắng để diệt trừ những cấu nhơ trong tâm, hăy nên siêng tu tập.
Tiếng là tiếng của tâm (tâm thanh), ánh sáng cũng là ánh sáng của tâm (tâm quang). Chỗ tâm thanh vang vọng cũng chính là chỗ tâm quang chiếu thấu. An trụ trong tâm thanh niệm Phật chính là an trụ trong quang minh niệm Phật. Đây cũng là cảnh giới thù thắng có thể diệt được cấu nhơ trong tâm, hăy nên siêng tu tập. Tâm thanh xoay chuyển, tâm quang chiếu rực, tâm thể tự nhiên hiển lộ. Một phiến chân tâm này như tấm gương tṛn lớn, suốt tỏ không ǵ che lấp. Mười phương, ba đời, ta, Phật, chúng sanh, đời trược, chốn khổ, cơi tịnh, đài sen đều là h́nh ảnh in bóng trong gương. Thanh ở trong quang, quang lại phát xuất từ gương. Đây là cảnh giới thù thắng nhất có thể vĩnh viễn diệt trừ được cấu nhơ trong tâm, càng phải nên lưu tâm tu tập.
* Chẳng tạp là Chỉ, Chỉ là cơ sở của Định, v́ tạp niệm dứt th́ chánh niệm hiển hiện. Tạp niệm có ba loại: Một là thiện niệm, hai là ác niệm, ba là vô kư niệm (không thiện, không ác). Trừ sạch ba thứ ấy th́ mới là chẳng tạp.
Tâm phải vắng lặng, có vắng lặng th́ thiện niệm, ác niệm mới chẳng sanh. Tâm cần phải tỉnh thức, tỉnh thức th́ vô kư niệm mới chẳng sanh. Ngoài Phật không có niệm, nên thường vắng lặng; trong niệm có Phật, nên thường tỉnh thức.
Chẳng trụ là Quán. Quán là cốt lơi của Huệ. Một câu trước đă qua, một câu sau chưa tới, một câu hiện tại cũng chẳng trụ, phân minh rành rành, nhưng bất khả đắc; tuy bất khả đắc, nhưng phân minh rành rành.
Nếu khi niệm Phật chẳng hôn trầm, chẳng tán loạn th́ Chỉ, Quán, Định, Huệ viên thành trong mỗi niệm.
Tŕ giới cấm của Phật để trị thân, tŕ danh hiệu Phật để trị tâm. Tŕ lâu ngày th́ tâm thuần, tŕ lâu ngày th́ tâm rỗng không; tánh của niệm và tánh của giới chẳng có hai vậy. Khư khư tŕ giới chẳng để sơ xảy, khắng khít niệm Phật th́ lúc lâm chung sẽ đánh nát Quỷ Môn Quan, trốn khỏi tam giới. Nếu tŕ giới đến mức sâu dày, đem [công đức ấy] hồi hướng Tây Phương, ắt sanh Trung Phẩm. Nếu chưa làm được như vậy, hăy siêng niệm Phật như cứu đầu cháy.
Phải biết người niệm Phật th́ tâm kẻ ấy chính là tâm từ của Phật, hành bi hạnh của Phật, phát nguyện rộng lớn tế độ chúng sanh, v́ khắp hết thảy các cấu nhiễm oán triền mà sám hối, hết thảy công đức dù nhỏ nhặt hay to lớn đều hồi hướng Tây Phương. Như vậy mới là chánh nhân của Niệm Phật vậy.
* Một việc vừa xong, một lời vừa dứt, c̣n chưa niệm Phật ngay mà bốn chữ danh hiệu Phật đă cuồn cuộn hiện ra th́ đó là dấu hiệu tam-muội dễ thành. Tŕ danh chẳng lười nhác, khoan khoái lại càng khoan khoái hơn. Lúc niệm Phật tŕ rành rẽ bốn chữ này, ư niệm chẳng chuyển. Bốn chữ bỗng nhiên tạm dừng, nhưng cũng chẳng có niệm nào nghĩ đến bốn chữ này, mà cũng chẳng có niệm nào rời khỏi bốn chữ này, cũng chẳng có niệm nào ra ngoài bốn chữ này. Như vậy, có thể nói là “tạm đắc cảnh giới thù thắng”, chứ chưa phải là chân tâm rỗng không.
Nhưng cứ chăm chỉ niệm Phật, cảnh ấy sẽ nhiều lượt hiện, tâm dần dần trống không. Nếu như một niệm tâm trống không rồi dần dần hôn trầm th́ là vô huệ. Phải biết: Tâm càng trống không th́ niệm càng nhạy, tâm càng không th́ niệm càng tịnh; v́ ta ở trong tâm Phật niệm đức Phật trong tâm của ta, không với chẳng không c̣n ở chỗ nào nữa đây? Giống như mặt trời và mặt trăng xoay vần chiếu trọn thế gian; diệu giác viên minh giống hệt như thế ấy.
* Trong khi hoạn nạn mà phát tâm niệm Phật, ắt sẽ có linh ứng lạ lùng. Tuy khắp nơi giặc giă, cả làng tật dịch mà cầu Phật gia hộ cho th́ một người niệm, một người an, trăm người niệm, trăm người an. Không phải là Phật có ḷng riêng tư, lúc nào Ngài cũng ở trong ánh sáng b́nh đẳng, vô tâm ứng hiện. V́ cớ sao? V́ động niệm ra tiếng sẽ cảm được quang minh của Phật chiếu trên đỉnh đầu ḿnh, tự nhiên niệm niệm đầy đủ, niệm niệm bền chắc, niệm niệm dài lâu, được quang minh của Phật gia bị, thiện thần ủng hộ, tự có thể ĺa nạn. Chớ nên thay đổi niệm.
* Lúc lâm chung, nếu có thể niệm lớn tiếng th́ niệm lớn tiếng, chỉ có thể niệm nhỏ tiếng th́ niệm nhỏ tiếng. Hoặc nếu như niệm lớn hay niệm nhỏ cũng đều chẳng nổi th́ hăy đem bốn chữ [Phật hiệu] thầm nhớ trong ḷng, chớ để quên mất. Người hầu hạ chung quanh nên luôn luôn dùng bốn chữ ấy để nhắc nhở, cảnh tỉnh. Phải biết là trăm kiếp, ngàn đời ta bị lạc lối toàn là do lúc ấy chẳng giữ được một niệm phân minh. V́ sao vậy? Luân hồi sáu nẻo đều là do một niệm làm chủ. Nếu một niệm chuyên chú nơi Phật, dù thân xác tan hoại, thần thức vẫn chẳng tán loạn, liền nương theo một niệm mà văng sanh Tịnh Độ vậy! Than ôi! Chỉ cốt phải nhớ bốn chữ A Di Đà Phật đừng quên!
Nhận định:
Miệng niệm tai nghe, tâm niệm tâm nghe, thần thức niệm thần thức nghe chính là bí quyết niệm Phật gồm mười hai chữ của Đại Sư. Xin hăy thực hành tai nghe từ miệng niệm sao cho rành rẽ phân minh, chẳng tán loạn, chẳng hôn trầm th́ đó là cảnh giới bất loạn. Tạm đạt được mức chí tâm niệm và nghe, tức là đă thâu nhiếp sáu căn. C̣n nếu đạt đến mức “thần thức niệm, thần thức nghe” th́ chẳng phải là Tịch đến cùng tột, Chiếu đến cùng tột hay sao? Chỉ niệm bốn chữ v́ dễ thành một phiến; nhưng ở chỗ bẩn thỉu và lúc đại tiểu tiện chỉ nên niệm thầm hoặc tâm niệm. Niệm ra tiếng là chẳng cung kính. Lúc đàn bà sanh nở nên niệm ra tiếng rơ ràng v́ niệm thầm th́ do tâm lực ít nên cảm ứng cũng nhỏ, hoặc đến nỗi do nín hơi nên mắc bệnh vậy!
17. Trích yếu Ngữ Lục của đại sư Trác Tam Đế Nhàn thời Dân Quốc [5]
* Tŕ danh niệm Phật th́ cần phải tin chân thành, nguyện thiết tha, hạnh thuần thục. Trước hết phải buông bỏ những tư tưởng hồ đồ, lộn xộn, hết thảy tạp niệm, chỉ giữ chánh niệm, đem bốn chữ Phật hiệu hệ niệm trong tâm.
Chẳng cần phải niệm lớn tiếng một lúc lâu, chỉ e tổn thương nguyên khí đến nỗi bị đau họng. Nếu lúc bị hôn trầm, buồn ngủ th́ nên niệm lớn tiếng để trừ hôn ám. Cũng chẳng nên niệm Phật nhỏ tiếng một thời gian dài, e dễ bị tán loạn, hôn trầm, kẻo lo nghĩ lại nổi lên.
Nếu lúc các ư nghĩ khởi lên bèn tự biết tâm chẳng quy nhất, hăy nên gom tâm về chánh niệm, niệm thầm. Câu niệm từ miệng thoát ra, tai đón nghe lấy, th́ gọi là “tai miệng truyền nhau, tự - tha chẳng cách trở”. Cách này dễ thực hành nhất, lại dễ thuần thục, lâu ngày thành Niệm Phật Tam-muội.
Nhận định:
Kinh Văn Thù Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhă chép: “Như người học bắn, tập lâu ngày thành khéo. Sau này tuy vô tâm mà bắn ra phát nào cũng trúng”. Xin hăy chỉ giữ chánh niệm, âm thầm mà niệm, lâu ngày thuần thục, tự thành tam-muội như tập bắn lâu ngày thành quen, dẫu vô tâm vẫn bắn trúng.
18. Trích yếu sách Văn Sao Chánh Tục Tam Biên của đại sư Ấn Quang Thánh Lượng thời Dân Quốc
* Hữu t́nh phàm phu nghe nói pháp môn Tịnh Độ này, hăy nên tin Sa Bà rất khổ, Tây Phương cực vui, phải tin rằng từ nhiều kiếp đến nay, ta nghiệp chướng sâu nặng, nếu chẳng nhờ vào Phật lực khó ḷng xuất ly; phải tin hễ cầu văng sanh th́ đời này sẽ quyết định được văng sanh, phải tin niệm Phật quyết định là được Phật từ bi nhiếp thọ. Do tin như vậy, kiên định nhất tâm, nguyện ĺa Sa Bà như tù nhân muốn thoát khỏi lao ngục, không hề có tâm luyến tiếc. Nguyện sanh Tây Phương như lữ khách mong trở về cố hương, há có ư niệm chần chừ? Từ đấy, tùy phận, tùy sức, chí tâm tŕ niệm thánh hiệu A Di Đà Phật, bất luận nói năng, im lặng, động, tịnh, đi, đứng, nằm, ngồi, đón khách, tiễn khách, mặc áo, ăn cơm, chăm chắm sao cho Phật chẳng rời tâm, tâm chẳng rời Phật.
* Nếu niệm Phật mà tâm khó quy nhất, hăy nên nhiếp tâm niệm khẩn thiết, sẽ tự có thể quy nhất. Cách để nhiếp tâm không có ǵ hơn được chí thành, khẩn thiết; tâm chẳng chí thành th́ không cách chi nhiếp nổi! Nếu đă chí thành mà chưa thuần nhất, hăy nên thường lắng tai nghe, bất luận niệm ra tiếng hay niệm thầm đều phải là niệm phát xuất từ tâm, tiếng phát xuất từ miệng, âm nhập vào tai; tâm và miệng niệm sao cho rành rẽ rơ ràng, tai nghe sao cho rành rẽ, rơ ràng. Nhiếp tâm như thế th́ vọng niệm tự dứt.
Nếu như sóng vọng niệm vẫn c̣n trào dâng, hăy dùng cách mười niệm nhớ số, dốc toàn bộ tâm lực vào từng câu Phật hiệu, tuy vọng niệm có muốn khởi cũng chẳng có sức. Đây chính là diệu pháp rốt ráo để nhiếp tâm, càng làm thử, càng thấy hiệu nghiệm.
Lúc niệm Phật th́ từ một câu đến mười câu sao cho niệm được phân minh, ghi nhớ phân minh. Niệm mười câu xong, lại từ một câu niệm đến mười câu, chẳng được niệm đến câu thứ mười hai hay mười ba. Niệm đến đâu, nhớ đến đấy; chẳng được dùng chuỗi để nhớ, mà phải dụng tâm nhớ.
Nếu thấy niệm suốt mười câu là khó th́ chia thành hai hơi: Từ câu một đến câu năm và từ câu thứ sáu đến câu thứ mười. Nếu vẫn chẳng đủ sức th́ từ câu một niệm đến câu thứ ba, từ câu thứ tư niệm đến câu thứ sáu, từ câu thứ bảy niệm đến câu thứ mười, tức là ba hơi.
Niệm đến mức rơ ràng, ghi nhớ phân minh, nghe cho rơ ràng, vọng niệm không c̣n chỗ để bén chân th́ lâu ngày sẽ tự đạt được nhất tâm bất loạn.
Nhưng lúc làm lụng nếu khó nhớ số th́ cứ khẩn thiết mà niệm suông. Làm xong việc, lại nhiếp tâm nhớ số th́ cái tâm lông bông, lăng xăng sẽ tụ về chuyên chú nơi nhất cảnh Phật hiệu.
* Nhiếp tâm niệm Phật chắc chắn chẳng phải là chuyện dễ dàng, nhưng trong các pháp nhiếp tâm th́ chỉ có mỗi cách xoay trở lại để nghe tiếng niệm quả thật là bậc nhất.
* Pháp môn Bảo Vương nương theo hơi thở bao gồm cả Ngũ Đ́nh Tâm Quán. Nếu có thể niệm Phật theo hơi thở th́ là đă tu kèm cả hai pháp quán Sổ Tức và Niệm Phật.
Nhiếp tâm niệm Phật th́ nhiễm tâm dần dần đoạn tuyệt, ḷng nóng giận ắt chẳng c̣n bừng bừng nữa. Một khi hôn trầm, tán loạn đă hết th́ trí huệ hiển hiện, cũng phá được ngu si. Đấy lại là pháp môn “nhiếp trọn sáu căn” của đức Đại Thế Chí. Nay người niệm Phật lơi là th́ có lẽ chẳng nên áp dụng cách này, sợ v́ chẳng đếm số nên sẽ trở thành lười nhác. C̣n người đă cam tâm niệm Phật, nếu chẳng tuân theo pháp này th́ tam-muội khó thành. Nếu là bậc lợi căn th́ trong một thất hay hai thất, quyết sẽ đắc Nhất Tâm; c̣n như kẻ tối tăm, chậm lụt, tâm tưởng yếu kém, nông cạn th́ phải tám năm, mười năm mới có thể chẳng loạn!
* Niệm Phật bằng cách truy đảnh dễ mắc bệnh. Niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, kim cang tŕ hay niệm thầm tùy theo tinh thần của ḿnh mà vận dụng cho phù hợp; chớ nên chấp chết vào một cách để đến nỗi bị bệnh ư? Niệm theo hơi thở, chẳng bằng lặng lẽ lắng nghe, v́ nếu chẳng khéo niệm theo hơi thở sẽ bị bệnh, lặng lẽ lắng nghe chẳng bị mắc bệnh.
* Cảnh tướng của tam-muội chỉ có chứng rồi mới có thể hiểu rơ. Nếu bàn đến pháp ấy th́ ngay trong lúc niệm Phật, ngay mỗi niệm xoay trở lại quán sát chuyên chú vào một cảnh, chẳng rong ruổi ra ngoài cảnh, niệm niệm soi thấu nguồn tâm; tâm tâm khế hợp Phật thể. Niệm trở lại cái niệm của chính ḿnh, quán ngược lại cái Quán của chính ḿnh. Vừa niệm liền quán, vừa quán liền niệm; cốt sao toàn niệm là quán, ngoài niệm không quán, ngoài quán không niệm.
Tuy quán và niệm đă ḥa hợp như nước với sữa, nhưng chưa thấu đáo nguồn cội, cần phải hướng đến một niệm Nam Mô A Di Đà Phật nhiều lượt suy xét đến tột cùng, khắng khít gạn lọc, càng suy xét càng thiết tha, càng gạn lọc càng thân thiết, cho đến lúc tận lực công thuần, đột ngột ư niệm rơi mất, chứng nhập cảnh giới “vô niệm, vô bất niệm”.
Câu nói: “Linh quang độc diệu, thoát khỏi căn trần, thể lộ chân thường, chẳng nệ văn tự, tâm tánh vô nhiễm, vốn tự viên thành, chỉ ĺa vọng niệm tức Như như Phật” đă diễn tả cảnh giới ấy. Công phu đến bực ấy th́ chứng đắc pháp Niệm Phật, cảm ứng đạo giao, thật khéo ra sức. [Người ấy] hiện tại c̣n chưa ra khỏi Sa Bà, nhưng đă thường ở sẵn trong Hải Hội. Lâm chung vượt ngay lên Thượng Phẩm, đốn chứng Phật thừa.
* Niệm Phật th́ đừng nên dùng pháp quán tâm, mà hăy dùng pháp nhiếp tâm. Trong kinh Lăng Nghiêm, Bồ Tát Đại Thế Chí dạy: “Nhiếp cả sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc Tam-ma-địa; ấy là bậc nhất”. Lúc niệm Phật, cái niệm trong tâm (ư căn) cần phải rơ ràng, phân minh, câu niệm nơi miệng (thiệt căn) phải phân minh, rơ ràng; tai (nhĩ căn) phải nghe sao cho rơ ràng, phân minh. Ba căn tai, miệng, lưỡi, căn nào cũng dốc hết vào câu Phật hiệu th́ mắt chẳng thể lườm Đông, nguưt Tây, mũi chẳng thể ngửi các mùi hương khác, thân chẳng thể lười biếng, giải đăi. Đấy là “nhiếp cả sáu căn”.
Nhiếp cả sáu căn, dẫu chưa thể hoàn toàn hết vọng niệm, nhưng so với kẻ chẳng nhiếp sáu căn th́ tâm thanh tịnh hơn rất nhiều. V́ thế gọi là “tịnh niệm”. Nếu có thể giữ cho tịnh niệm thường liên tục, chẳng có lúc gián đoạn, tâm sẽ tự có thể quy về một chỗ, cạn th́ đắc Nhất Tâm, sâu th́ đắc tam-muội.
Nếu thật sự có thể nhiếp cả sáu căn mà niệm, nghiệp chướng quyết định tiêu trừ, căn lành tăng trưởng, chẳng cần phải quán tâm mà tâm tự thanh tịnh, minh bạch, đâu lại đến nỗi mắc phải căn bệnh tâm hỏa nóng nảy?
Quán tâm là cách tu quán căn bản của bên Giáo, chẳng thích hợp với căn cơ người niệm Phật. “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” mới là pháp thâm diệu thích hợp với hết thảy các căn cơ: thượng, trung, hạ, hoặc thánh hoặc phàm. Cần phải biết là việc “nhiếp trọn” đó chuyên chú nơi cái nghe, tức là niệm thầm trong tâm cũng phải nghe v́ trong tâm khởi niệm là đă có thanh tướng. Tự tai ḿnh nghe tiếng của chính tâm ḿnh, nhưng phải sao cho rành rẽ, rơ ràng, sao cho thật sự nghe được từng chữ, từng câu rơ ràng th́ lục căn mới quy về một chỗ. So với tu những các pháp quán khác th́ cách tu này ổn thỏa, thích đáng nhất, ít tốn sức nhất, nhưng lại khế lư, khế cơ nhất.
* Tuy niệm Phật quư ở chỗ tâm niệm, nhưng chẳng thể bỏ miệng tụng v́ ba thứ thân, khẩu, ư hỗ trợ nhau. Nếu tâm có thể ức niệm, nhưng thân chẳng lễ kính, miệng chẳng tŕ tụng, cũng khó đạt được lợi ích. V́ thế, kinh Đại Tập có dạy: “Đại niệm thấy đại Phật, tiểu niệm thấy tiểu Phật”. Cổ đức bảo niệm Phật lớn tiếng thấy thân Phật lớn, niệm nhỏ tiếng thấy thân Phật nhỏ! Phàm phu đầy dẫy triền phược tâm lắm hôn trầm, tán loạn, nếu chẳng nhờ vào sức lễ, tụng của thân, miệng, mà muốn đắc Nhất Tâm th́ không có cách nào đạt được!
* Pháp môn Niệm Phật chú trọng Tín, Nguyện. Có Tín, Nguyện, dẫu chưa đắc Nhất Tâm vẫn được văng sanh. Dù đắc Nhất Tâm, nhưng thiếu Tín, Nguyện th́ cũng chẳng được văng sanh! Người đời hay chú trọng vào Nhất Tâm, chẳng đặt nặng Tín, Nguyện. Đă bỏ mất điều trọng yếu, lúc sống lại chẳng đạt Nhất Tâm, sợ rằng bị trở ngại, chẳng được văng sanh toàn là v́ trái nghịch với điều kiện “tin chân thành, nguyện thiết tha” vậy. Do vậy, càng phải tăng thêm tín nguyện để đạt Nhất Tâm th́ mới là suy nghĩ đúng lối. Nếu v́ chẳng đạt được Nhất Tâm, nên thường cứ nghĩ chính ḿnh chẳng thể văng sanh th́ sẽ thành ra ư nghĩ bại hoại. Chẳng thể không biết điều này!
* Niệm Phật cốt yếu là để thoát sanh tử, mà đă v́ sanh tử th́ hăy nên tự sanh tâm nhàm chán nỗi khổ sanh tử, tự sanh tâm ưa thích sự vui nơi Tây Phương. Có như thế th́ hai pháp Tín và Nguyện thường được trọn vẹn. Lại thêm chí thành, khẩn thiết như con nhớ mẹ th́ ba pháp “Phật lực, Pháp lực, tự tâm tín nguyện công đức lực” hiển hiện trọn vẹn như mặt trời rực rỡ trên không, dù có sương dày, băng đóng tầng tầng th́ cũng chẳng bao lâu sẽ biến mất ngay!
* Muốn tâm chẳng tham sự việc bên ngoài chỉ chuyên niệm Phật, người chẳng chuyên muốn cho được chuyên, người chẳng thể niệm muốn cho niệm được, người chưa được nhất tâm muốn họ đắc nhất tâm v.v… cũng chẳng có cách nào áo diệu, lạ lùng, đặc biệt chi cả! Cứ lấy một chữ Chết dán chặt lên trán, phủ xuống tận lông mày, tâm thường niệm rằng:
“Tôi tên là… từ vô thỉ cho đến đời hiện tại này đă tạo ác nghiệp vô lượng, vô biên. Giả sử ác nghiệp mà có thể tướng th́ mười phương hư không chẳng thể chứa đựng hết được. Đời trước có may mắn chi mà nay được thân người, lại được nghe Phật pháp. Nếu chẳng nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phương, khi một hơi thở ra không hít vào được nữa, quyết định sẽ phải thọ khổ nơi vạc sôi, ḷ than, rừng gươm, núi đao trong địa ngục. Dù thoát được địa ngục, lại đọa trong ngă quỷ, súc sanh. Dù được làm người th́ do ngu si tạo nghiệp nên lại đọa lạc, trải qua kiếp số nhiều như vi trần luân hồi sáu nẻo, dù muốn xuất ly vẫn chẳng thể được”.
Niệm được như thế, cầu được như trên th́ ngay khi đó sẽ tu tập thành tựu. V́ thế trong kinh nhắc đi, nhắc lại: “Nghĩ khổ địa ngục, phát Bồ Đề tâm”. Đấy chính là điều khai thị tối thiết yếu của đấng Đại Giác Thế Tôn.
Lúc niệm Phật phải thường nghĩ đến lúc chết phải đọa địa ngục th́ chẳng khẩn thiết cũng sẽ tự khẩn thiết, chẳng tương ứng cũng tự tương ứng. Dùng cái tâm sợ khổ để niệm Phật chính là pháp mầu bậc nhất để thoát khổ, đó cũng là pháp mầu tùy duyên tiêu nghiệp bậc nhất.
* Người niệm Phật chẳng được lạm tu cách tham cứu của nhà Thiền, v́ tham cứu hoàn toàn chẳng chú trọng đến “tín, nguyện cầu sanh”. Dù có niệm Phật cũng chỉ chú trọng khán câu “người niệm Phật là ai?” để cầu khai ngộ mà thôi!
Nếu khai ngộ mà Hoặc nghiệp đă hết sạch sẽ có thể liễu sanh thoát tử; c̣n nếu Hoặc nghiệp chưa tận, sẽ chẳng thể cậy vào tự lực để liễu sanh tử. Lại v́ không có tín nguyện, nên chẳng thể nương vào Phật lực để liễu sanh tử. Cả tự lực lẫn Phật lực đều chẳng nhờ cậy được th́ muốn thoát luân hồi có được hay chăng?
* Người niệm Phật chẳng được bắt chước kẻ ngu làm các “Phật sự” như: đốt h́nh nhân thế mạng, gởi tiền kho [Âm Phủ] v.v… v́ h́nh nhân thế mạng chẳng phát xuất từ kinh Phật mà do người đời sau ngụy tạo; gởi tiền kho là nguyện sau khi chết làm quỷ, trữ sẵn làm của tiêu dùng trong Quỷ đạo. Đă có ư nguyện làm quỷ sẽ khó văng sanh. Nếu trót đă làm thế, hăy nên bẩm rơ với Phật: “Đệ tử tên là… cầu văng sanh, trước đây đă gởi tiền kho để tiêu xài trong cơi Âm. Nay xin chẩn tế hết cho cô hồn” th́ mới chẳng chướng ngại việc văng sanh.
* Người niệm Phật nên ăn chay trường. Nếu như chẳng thể ăn, hăy nên giữ sáu ngày chay, hoặc mười ngày chay. Mồng tám, mười bốn, mười lăm, hăm ba, hăm chín, ba mươi là sáu ngày chay. Thêm vào đó ngày mùng một, mười tám, hăm bốn, hăm tám là thành mười ngày chay. Gặp tháng thiếu th́ ăn lên ngày hôm trước. Lại trong ba tháng chay là tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, hăy nên ăn chay trường, tạo các công đức, giảm dần dần cho đến hoàn toàn vĩnh viễn đoạn ác th́ mới hợp lư. Dẫu c̣n ăn mặn, nhưng nên mua thịt làm sẵn, kiêng hẳn sát sanh trong nhà.
* Niệm Phật cần nhất phải tận hết sức ḿnh giữ đạo đức, ngăn tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, giữ tấm ḷng lành, nói lời lành, làm việc tốt, việc ǵ ḿnh làm được hăy sốt sắng làm; việc ǵ làm không nổi th́ cũng nên phát thiện tâm hoặc khuyên người có khả năng hăy làm. Hoặc là thấy ai làm được th́ sanh ḷng hoan hỷ, thốt lời khen ngợi th́ cũng thuộc về công đức nơi tâm và miệng. Nếu tự ḿnh chẳng làm nổi, thấy người khác làm được lại sanh ḷng đố kỵ th́ thành ra tâm hạnh của kẻ tiểu nhân gian ác, quyết bị giảm phước, tổn thọ, chẳng có kết quả tốt. Hăy nên thống thiết dè chừng!
* Người niệm Phật cần phải hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu thập thiện nghiệp. Lại cần phải cha từ, con hiếu, anh nhường, em kính, chồng ḥa, vợ thuận, chủ nhân từ, tôi tớ trung thành, dốc trọn phận ḿnh. Chẳng cần biết là người khác đối xử với ta có hết ḷng hay không, ta cứ luôn tận hết sức ḿnh, tận sức tận tâm đối với gia đ́nh và xă hội. Như vậy gọi là thiện nhân. Thiện nhân niệm Phật cầu sanh Tây Phương, nhất định khi lâm chung liền được văng sanh v́ tâm người ấy tương hợp tâm Phật nên cảm Phật từ tiếp dẫn.
Lại phải nên khuyên cha mẹ, anh em trai, chị em gái, thê thiếp, con cái, xóm giềng, bạn bè đều thường niệm Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát (mỗi ngày niệm một vạn câu Phật, rồi niệm năm ngàn câu Quán Âm. Niệm nhiều ít cứ chiếu theo đó mà gia giảm). Đó là v́ việc này có lợi ích rất lớn, nỡ nào để người sanh ra ta cùng quyến thuộc, thân hữu của ta chẳng được hưởng lợi ích này hay sao?
Vả lại, khuyên người khác niệm Phật cầu sanh Tây Phương chính là thành tựu phàm phu thành Phật, công đức rất lớn. Đem công đức ấy hồi hướng văng sanh ắt sẽ măn nguyện. Hễ tụng kinh, tŕ chú, lễ bái, sám hối và cứu nạn, giúp nghèo, làm các thứ công đức th́ đều nên hồi hướng văng sanh Tây Phương, tuyệt đối chẳng được cầu hưởng phước báo đời sau trong đường trời, người. Hễ có tâm ấy th́ chẳng có phần văng sanh.
Nếu sanh tử chưa hết th́ phước càng lớn, nghiệp càng to, thêm một đời nữa khó tránh khỏi đọa trong ba ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Muốn lại được thân người, lại gặp pháp môn Tịnh Độ ḥng thoát sanh tử, thật khó như lên trời vậy!
* Quán Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện sâu rộng, theo tiếng kêu mà cứu khổ. Nếu gặp phải các tai nạn: đao binh, nước lửa, đói kém, nạn châu chấu - sâu rầy, ôn dịch, hạn hán, lụt lội, giặc cướp, oan gia, ác thú, độc xà, ác quỷ, yêu quái, bệnh tật do oán nghiệp, tiểu nhân hăm hại v.v… mà nếu có thể sửa lỗi làm lành, sanh tâm lợi ḿnh, lợi người, chí thành khẩn thiết niệm Quán Thế Âm, niệm niệm chẳng gián đoạn, quyết sẽ được Ngài từ bi che chở, chẳng có nguy hiểm, tai ách ǵ nữa! Nhưng nếu vẫn giữ tâm bất thiện, dù có xưng niệm th́ chẳng qua chỉ tạm gieo căn lành trong đời sau, chẳng được cảm ứng ngay trong hiện thời, v́ Phật, Bồ Tát đều thành tựu cho thiện niệm của con người, chứ tuyệt đối chẳng thành tựu cho người ác niệm. Nếu mơ tưởng niệm danh hiệu Phật, Bồ Tát để thành tựu ác sự cho ḿnh th́ nhất định chẳng được cảm ứng, chớ có sanh tâm điên đảo như thế!
* Chỉ nên chân thật, thiết tha niệm Phật để tự nương vào từ lực của Phật ḥng thoát khỏi binh đao, nước, lửa là những thứ do túc nghiệp tạo thành, cũng như chuyển báo nặng địa ngục trở thành báo nhẹ trong đời này. Gặp phải những tai nạn ấy th́ thường ngày đă có ḷng tin chân thật, nguyện thiết tha, quyết định sẽ được Phật tiếp dẫn trong lúc ấy.
* Trong lúc có kinh nguyệt, nữ nhân có thể giảm bớt lễ bái, c̣n th́ cứ niệm Phật, tụng kinh đúng như thường lệ. Phải nên thường thay, giặt vải dơ. Nếu tay chạm phải vải dơ, hăy nên rửa tay sạch, chớ dùng tay dơ lật kinh, thắp hương.
Lúc sanh nở tuy trần truồng, bất tịnh, nhưng là v́ không c̣n cách nào khác, chứ chẳng phải tự ư buông tuồng đến nỗi ấy; nếu có thể chí thành, khẩn thiết niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát ra tiếng rơ ràng th́ chẳng bị đau đớn, sanh khó, cũng như bị băng huyết sau khi sanh, đứa con bị các chứng kinh phong v.v… Dẫu cho khó sanh cùng cực, người đă sắp chết, bèn dạy sản phụ ấy cùng những người săn sóc chung quanh cùng cất tiếng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Người nhà tuy ở pḥng khác vẫn có thể niệm giúp, quyết định chưa đầy một khắc công phu liền được sanh nở b́nh an. Không những chẳng có tội lỗi ǵ, mà c̣n khiến cho cả mẹ lẫn con gieo đại thiện căn.
Nhưng không được niệm thầm trong tâm, v́ niệm thầm tâm lực nhỏ nhoi cho nên cảm ứng cũng nhỏ. Hơn nữa, lúc ấy cần phải dùng sức để rặn đứa bé ra, nếu niệm thầm th́ rất có thể do v́ nín hơi mà sẽ mắc bệnh.
* Một câu Phật hiệu miên miên mật mật thường luôn ức niệm. Hễ khi nào giận dữ, dâm dục, hiếu thắng, gắt gỏng v.v… vừa mới nhen nhóm, hăy liền nghĩ rằng: “Ta là người niệm Phật, lẽ nào lại có phát khởi ư niệm này?” th́ niệm vừa khởi lên liền dứt. Tập lâu ngày th́ hết thảy những ư niệm khiến nhọc ḷng tổn xác đều không có cách chi phát khởi được; trọn ngày được công đức bất khả tư nghị của Phật gia tŕ thân tâm, tôi dám bảo đảm là chẳng cần đến mười ngày đă thấy hiệu nghiệm lớn.
Nếu chỉ t́nh cờ niệm một hai câu mà muốn thấy ngay kết quả th́ là dối ḿnh, lừa người, tuy có công đức nhưng muốn do đó mà lành bệnh th́ quyết chẳng thể được!
* Niệm Phật ắt phải chí thành, nếu như có lúc trong tâm chợt sanh đau xót th́ đó là dấu hiệu thiện căn phát hiện, nhưng chớ có nên thường như thế, nếu không ắt sẽ bị loài ma đau thương dựa. Hễ có chuyện ǵ thích ư chẳng được hoan hỷ quá mức, nếu không sẽ bị loài ma hoan hỷ dựa.
Lúc niệm Phật mắt nên nh́n xuống, tinh thần chẳng nên căng thẳng quá mức khiến cho tâm hỏa bốc lên, rất có thể sẽ bị các bệnh vặt như đỉnh đầu nổi mụn nhọt, đau nhức v.v… Nên giữ sao cho ở mức vừa phải, lúc niệm lớn tiếng chớ nên quá sức kẻo mắc bệnh. Lần chuỗi niệm ngừa được tật lười biếng, nhưng lúc tịnh tọa chẳng được lần chuỗi, v́ lần chuỗi th́ ngón tay động nên tâm chẳng định, lâu ngày ắt sẽ bị bệnh.
Lúc nằm chỉ nên niệm thầm bốn chữ để tránh nhiều chữ khó niệm. Nếu niệm ra tiếng th́ một là chẳng cung kính, hai là dễ bị tổn khí.
* Niệm Phật nhắm mắt dễ bị hôn trầm. Nếu chẳng khéo dụng tâm, hoặc có lúc gặp cảnh ma. Niệm Phật mà trên đầu thấy có vật xoa vỗ hoặc lôi kéo v.v… Đấy là do lúc niệm Phật, sóng tâm tưởng hướng lên trên quá đến nỗi tâm hỏa bốc lên. Nếu sụp mí mắt xuống, hướng tâm nghĩ xuống dưới th́ tâm liền ch́m xuống chẳng c̣n bồng bềnh nữa, tâm hỏa chẳng bốc lên, căn bệnh ấy liền bị tiêu diệt.
Chớ lầm tưởng đấy là công phu chứng đắc, cũng đừng sợ là ma cảnh. Chỉ chí thành nhiếp tâm mà niệm và tưởng thân ḿnh đang ngồi hoặc đứng trên hoa sen, nhất tâm tưởng nơi hoa sen ḿnh đang ngồi th́ tướng đó sẽ tự mau hết. Nếu chẳng dám tưởng ḿnh đang đứng hay ngồi trên hoa sen v́ sợ gặp phải ma sự th́ chỉ tưởng [ngọn lửa tâm hỏa] nằm ở dưới bàn chân, tâm hỏa sẽ chẳng thể sanh được nữa.
* Thấy Phật chẳng phải dễ dàng, trước khi đạt được Nhất Tâm, tuyệt đối chẳng được manh nha ư niệm thấy Phật. Đă đạt được Nhất Tâm th́ tâm hợp với Đạo, tâm hợp với Phật, muốn thấy liền được thấy ngay, chẳng thấy cũng trọn chẳng trở ngại ǵ.
Nếu muốn gấp thấy Phật, tâm niệm rối bời, ư niệm muốn thấy Phật đóng cứng trong bụng dạ, biến thành một căn bệnh lớn trong việc tu hành. Lâu ngày, oan gia nhiều kiếp thừa cơ nương theo t́nh ư vọng động ấy hiện thành thân Phật để báo oán xưa. Tâm ḿnh không có chánh kiến, toàn thể đều thuộc về ma; một phen trông thấy liền sanh mừng rỡ. Bởi đó, ma nhập trong tim ruột, bị ma dựa phát cuồng, dẫu có đức Phật sống cũng chẳng biết làm cách nào được!
Chỉ nên nhất tâm, cần ǵ phải so đo là thấy Phật hay không thấy Phật cơ chứ? Sau khi đạt Nhất Tâm, chẳng tự biết ḷng ḿnh hay sao? Chẳng thấy Phật th́ càng nên tăng tấn công phu; được thấy Phật th́ càng nên lắng tâm chuyên tu, sẽ trọn chẳng bị mắc lỗi lầm lạc, lại chỉ đạt được lợi ích tăng tấn thù thắng.
* Đóng cửa Phương Tiện, cự tuyệt các sự duyên không cấp bách sẽ rất có ích. Khi bế quan dụng công nên lấy việc chuyên chú, tinh thuần chẳng hai làm chính.
Nếu tâm thật sự được chuyên nhất, sẽ tự có cảm thông chẳng thể nghĩ bàn. Có cảm thông th́ tâm càng lại càng tinh thuần, chuyên nhất. Nói cách khác, gương sáng đặt trên đài, gặp h́nh liền hiện bóng, tự các h́nh bóng ấy lăng xăng, ăn nhằm ǵ đến ta?
Lúc tâm chưa chuyên nhất, trọn chẳng nên dùng tâm tháo động, vọng tưởng để cầu cảm thông, v́ cái tâm cầu được cảm thông ấy lại là đại chướng cho việc tu đạo.
Hơn nữa, v́ tâm ấy tháo động, vọng tưởng mong ngóng hướng ra ngoài, rất có thể khiến cho ma sự khởi lên phá hoại tịnh tâm.
* Gần đây, người tu hành hay bị ma dựa đều là do tâm tháo động, vọng tưởng cầu đạt cảnh giới thù thắng. Đừng nói là cảnh ma, dù thật sự là cảnh thù thắng đi nữa, nhưng nếu cả một đời tâm cứ tham chấp, hoan hỷ th́ sẽ bị tổn hại, chẳng đạt được lợi ích, huống hồ cảnh ấy chưa chắc đă là cảnh thù thắng ư?
Nếu như người ấy có công năng hàm dưỡng, không có tâm tháo động, vọng niệm, thấy các cảnh giới cũng giống hệt như chẳng thấy, chẳng sanh hoan hỷ, tham đắm, hoảng sợ, kinh nghi th́ đừng nói là cảnh thù thắng hiện ra bèn có ích, dù là cảnh ma hiện ra cũng có ích. V́ sao vậy? Chẳng bị ma chuyển th́ liền có thể tăng tấn hướng thượng vậy.
* Bóng đen chẳng phải là h́nh bóng của Phật, Bồ Tát, mà cũng chẳng phải h́nh bóng của oan gia đối đầu hiển hiện. V́ nếu Phật, Bồ Tát hiện ra, sẽ thấy được mặt, mắt… rơ ràng; oán gia sẽ hiện tướng đáng sợ. Tướng bóng đen ấy chính là cô hồn có duyên với ḿnh trong đời trước mong nhờ sức niệm Phật, tụng kinh để được sanh vào đường lành. Khi hồi hướng sau khóa tụng, hăy nên chuyên v́ họ hồi hướng để họ được tiêu trừ ác nghiệp, tăng trưởng thiện căn, văng sanh Tây Phương khiến cho họ được lợi ích, chẳng uổng công họ đă một phen khổ sở hiện h́nh.
* Con người trong những đời trước có nghiệp nào là chẳng tạo. May là được nghe Phật pháp, hăy nên nghiêm túc tu tŕ, mới mong tiêu trừ túc nghiệp, siêu độ oan gia. Nếu [oan gia] khó bề tháo gỡ, hăy nên phát Bồ Đề tâm và thành tâm siêu độ th́ không chi là chẳng giải oán kết được!
Niệm Phật mà nghẹn hơi chẳng phải là do thể chất yếu đuối, mà chính là v́ nghiệp chướng khiến ra như vậy, hăy nên khẩn thiết, chí thành niệm. Nếu như niệm chẳng ra, trong tâm hăy nên thường tưởng nhớ; khi nào niệm được, bèn dùng miệng niệm; khi nào niệm không được th́ tâm nghĩ đến, tâm nhớ đến. Lâu ngày nghiệp ấy sẽ tiêu.
Từ đây về sau, hễ làm ǵ hăy nên lưu tâm, phải ăn ở cho có hậu. Ăn ở có hậu sẽ được phước, bạc bẽo sẽ chẳng được phước. Nếu lại c̣n khắc nghiệt, hiểm độc, gian xảo, sẽ khác nào như đảnh núi cao vót trơ trọi, mưa dầm cách nào cũng chẳng thấm, cây cỏ làm sao sanh trưởng cho được!
Nhận định:
Đại Sư là vị Tổ đời thứ mười ba của Liên Tông, Ngài minh thị: Đừng dùng cách niệm Phật bằng quán tâm, mà hăy dùng pháp niệm nhiếp tâm. Chỉ có xoay trở lại nghe là pháp nhiếp tâm tốt nhất. Một chữ, một câu chẳng để luống qua, lâu dần chẳng thoái thất, tự được Nhất Tâm. Tin sâu, nguyện thiết, tận lực mà hành.
19. Trích yếu Pháp Vựng của đại sư Từ Châu Phổ Hải thời Dân Quốc
* Đức Phật có đại trí, biết cơ, biết căn. Chết ḷng niệm Phật th́ trong bảy ngày là không có ai chẳng đạt Nhất Tâm Bất Loạn. Chẳng chịu chết ḷng niệm Phật, sẽ chẳng thể thành tựu được. Tâm vốn hoạt bát, linh thông sao lại bảo là “chết?” Là v́ đem cái tâm nghĩ tưởng t́nh cảm con người, ân ái, thị phi, danh lợi đổi lấy tâm niệm Phật. Cổ nhân từng bảo:
“Đánh cho chết vọng tưởng,
Cứu được Pháp Thân sống”.
Ví như kẻ làm giặc, cái tâm làm giặc đă chết rồi, một dạ làm người đàng hoàng. Nếu tâm thật sự chết rồi th́ c̣n ai niệm Phật? Mong muốn niệm đến mức Nhất Tâm Bất Loạn th́ lại phải nhất tâm bất loạn mà niệm.
* Niệm Phật cần phải dụng công thiết thực, niệm đến mức không có năng niệm lẫn sở niệm, cũng không có thân, tâm, thế giới, niệm chính là vô niệm. Tạp niệm một phen khởi lên liền thành chướng ngại. Há có phải là sáng niệm dăm câu, tối niệm vài câu, là có thể niệm thành tựu hay sao? Sự niệm Phật đó phải giống như chổi sắt quét sạch hết thảy tạp niệm.
Tạp niệm dẫu nhiều, chẳng ngoài tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, sắc, thanh, hương, vị, xúc v.v… Dùng chổi sắt quét thô niệm xong, bèn quét tế niệm. Dù chẳng thể quét sạch hết trong một lúc, nhưng cũng giảm ít, lo quét sao cho hết th́ mới thấy thái b́nh. Cần phải tự ḿnh xét nghiệm minh bạch coi chính ḿnh niệm Phật mà đă có thể hay chưa thể quét sạch ân ái trói chằng, lôi kéo. Nếu quét chưa hết, hăy nên sanh ḷng hổ thẹn to lớn. Đấy là nói: Tin phải chân thật, nguyện phải thiết tha, hạnh phải là thật hạnh th́ mới đúng là dụng công chân thật.
Nhận định:
Chữ “chết” trong câu “chết ḷng niệm Phật” (tử tâm niệm Phật) tuyệt diệu nhất. Vọng tâm tài, sắc, danh, ăn uống v.v… chưa chết th́ làm sao đạt được nhất tâm bất loạn đây?
20. Trích yếu Pháp Vựng của đại sư Thao Quang Viên Anh thời Dân Quốc
* Một câu Phật danh trọn đủ các thần lực chẳng thể nghĩ bàn, trị được hết thảy tâm bệnh phiền năo. Mỗi khi nghịch cảnh xảy tới, tâm sanh phiền năo, hăy liền kinh hành niệm Phật, cứ bốn bước là một câu Phật hiệu, giáp ṿng như thế. Niệm được mấy ṿng, sẽ dần dần thấy cơi ḷng thanh lương, nhiệt năo tự biến mất. Có lúc lắm việc tâm bị khuấy động, đêm đă khuya vẫn chẳng ngủ được th́ cũng nên chuyên xưng Phật hiệu, chừng khoảng chốc lát thân tâm an định sẽ ngủ được, không có các mộng tưởng.
Lúc đang chép kinh th́ mỗi một nét bút là một câu Phật hiệu, tinh thần chẳng tán loạn, vọng niệm chẳng khởi, viết lâu cũng chẳng thấy khổ sở. Nếu thật sự tin được một pháp Niệm Phật này, chuyên tâm xưng niệm chẳng hề gián đoạn, niệm đến mức tâm không, cảnh lặng, phiền năo sẽ không có cách nào phát sanh được!
* Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp tâm là Giới”, Niệm Phật chính là pháp để nhiếp tâm v́ lấy chánh niệm của việc niệm Phật để ngưng dứt các vọng niệm vin nắm. Nếu như dùng cái tâm thường vin nắm các duyên sắc trần để chuyên niệm A Di Đà Phật, tịnh niệm tiếp nối, sẽ tự chẳng bị sắc trần xoay chuyển, nhiếp quy chánh niệm niệm Phật. Các duyên vin nắm theo thanh trần, hương trần v.v… đối với mỗi duyên đều giống như thế sẽ chẳng đến nỗi tự ḿnh phá giới, làm ác!
Niệm Phật đến mức niệm nào cũng tương ứng với Phật, lẽ đương nhiên các niệm chẳng khởi, liền có thể thanh tịnh ư nghiệp, tự nhiên đầy đủ các giới. Hai nghiệp thân, khẩu cũng đều do ư nghiệp phát khởi. Ư nghiệp chẳng nghĩ đến giết, trộm, dâm, chẳng tưởng đến nói dối, nói thêu dệt, nói ác, nói đôi chiều th́ thân nghiệp và khẩu nghiệp chẳng phạm giới. V́ thế, Niệm Phật là pháp môn thanh tịnh các nghiệp; một câu danh hiệu Phật thanh tịnh cả ba nghiệp. Điều này chứng tỏ một cách rơ ràng rằng Niệm Phật có đủ cả Giới Học.
Nhận định:
Niệm Phật thanh tịnh được cả ba nghiệp, trị hết thảy tâm bệnh phiền năo. Xin hăy nhiếp tâm chuyên niệm, niệm đến mức tâm không cảnh lặng; phiền năo, nghiệp chướng sẽ tự nhiên tiêu trừ.
21. Trích yếu các sách Pháp Vựng và Niên Phổ về đại sư Hư Vân Đức Thanh Cổ Nham thời Dân Quốc
* Hết thảy các pháp môn Tham Thiền, Niệm Phật, Tŕ Chú v.v… đều nhằm dạy chúng sanh phá trừ vọng niệm, hiển lộ bổn tâm của chính ḿnh. Phật pháp không có cao, thấp; nhưng căn cơ có lợi, độn. Trong các pháp môn ấy, pháp Niệm Phật thật là phương tiện ổn thỏa, thích đáng nhất.
Tịnh tọa là phương pháp phương tiện dạy người xoay trở lại quán sát tự tánh, cốt yếu là hệ niệm một câu Phật hiệu (hoặc A Di Đà Phật, hoặc Quán Thế Âm Bồ Tát đều được). Tâm tâm khế hợp, niệm niệm tiếp nối, phát xuất từ nơi tâm, lọt vào tai chẳng để gián đoạn. Nếu thật sự có thể làm được như thế, sẽ không c̣n có các tạp duyên khác xâm nhập được nữa.
Nếu có thể thực hành như vậy lâu ngày chẳng lui sụt, càng siêng, càng chuyên, càng tŕ, càng thiết tha, chẳng phân biệt là đi, đứng, nằm, ngồi, thức, ngủ, động, tịnh, rảnh, bận, sẽ thẳng bước về nhà, vĩnh viễn sanh trong An Dưỡng. Vừa biết có chút cảnh để chứng minh chắc chắn là ḿnh đă quán triệt liền sanh tâm động niệm, chấp trước vào đó, sẽ chẳng thể tiến bộ nổi!
Nếu tịnh tọa đúng pháp, sẽ có thể điều ḥa Tứ Đại. Muốn được khỏe mạnh, phải giữ cho tự nhiên: Thân thể có bệnh hăy nên điều dưỡng thích đáng, chẳng miễn cưỡng chống chọi; dụng công tu hành chẳng câu nệ vào đi, đứng, nằm, ngồi. Mục đích của tịnh tọa tu hành phải nhằm giải thoát sanh tử.
Ăn mặn, giết chóc, tổn hại sanh vật rất trái nghịch với tông chỉ từ bi khiến cho người ta tâm trí tối tăm, tinh thần hôn ám, tăng trưởng tham, sân, dâm dục, tăng thêm vô biên sanh tử, thân sau nghiệp chất như núi, oan oán đ̣i nợ có ngày nào xong. B́nh thủng chứa dầu, nhọc nhằn uổng phí tinh thần. Kẻ trí hăy nên tự suy xét!
* Người mới phát tâm thấy Tham Thiền và Niệm Phật là hai chuyện, nhưng người tu tập lâu chỉ thấy chúng là một. Tham Thiền đề khởi một câu thoại đầu, cắt ngang ḍng sanh tử, phát xuất từ tín tâm kiên định. Nếu chẳng nắm chắc câu thoại đầu, dẫu có tham Thiền cũng chẳng thành.
Nếu tín tâm kiên định, ôm khư khư một câu thoại đầu mà tham cho đến lúc chẳng c̣n biết trà là trà, chẳng biết cơm là cơm nữa, công phu đă thuần thục, căn, trần rơi rụng, đại dụng hiện tiền, giống hệt như tịnh cảnh hiện tiền của người niệm Phật đă đạt đến mức thuần thục.
Đạt đến cảnh giới ấy, Lư Sự viên dung, tâm - Phật bất nhị, Phật như, chúng sanh như, nhất như, vô nhị như th́ c̣n sai biệt ở đâu nữa?
Nhận định:
Đại Sư là bậc Thái Sơn, Bắc Đẩu đương đại của nhà Thiền, đă tự chứng công phu tham Thiền đến chỗ thuần thục, đại dụng hiện tiền, chẳng khác ǵ tịnh cảnh hiện tiền của người niệm Phật thuần thục. Xin hăy liền ôm chết một câu Phật hiệu mà niệm, chẳng cần phải Thiền Tịnh Song Tu!
22. Trích yếu Di Trứ của đại sư Trí Quang Văn Giác thời Dân Quốc
* Lúc sống có ba điều quan trọng nhất:
a. Một là nói ít, niệm Phật nhiều. Muốn làm việc ǵ th́ nhanh chóng làm xong, việc ǵ cần giao phó th́ gấp gáp giao phó. Đừng lưu luyến phú quư cơi nhân gian, đừng hâm mộ sự khoái lạc trên trời. Đặt nặng việc làm lành, khuyến hóa người khác khởi tín tâm, tùy phận tùy sức mà làm, chủ yếu là niệm Phật cầu sanh Tây Phương, thấy Phật, nghe Pháp.
b. Hai là lập chí quyết định, chẳng nghe kẻ khác lung lạc, chẳng để theo đuôi kẻ khác. Những việc tiếp đăi, thù tạc thói đời nên giảm bớt, chẳng cần phải phô diễn dằng dai. Tuổi già thời gian có hạn, chớ để luống qua nữa. Trong tâm có điều ǵ nghi ngờ, hăy nên thưa hỏi minh bạch, chẳng nên hàm hồ, tự ḿnh lầm lạc.
c. Ba là luôn luôn tự hỏi chính ḿnh: A Di Đà Phật có ở trong tâm hay chăng? Tượng Phật có ở trước mắt hay chăng? Đi, đứng, nằm, ngồi, có đều niệm Phật hay chăng? Dù nhàn hay bận đều chẳng quên hay không?
Phàm hết thảy những việc lành đă làm, đối với các công đức như niệm kinh, niệm Phật, tŕ chú, lễ bái, tịnh tọa v.v… đều phát nguyện hồi hướng: Hiện tại gia thuộc b́nh an, tương lai trang nghiêm Tịnh Độ; lại cầu lúc lâm chung biết trước thời khắc, tâm chẳng điên đảo, được Phật tiếp dẫn.
Nhận định:
Cả một đời đại sư hành theo kinh Hoa Nghiêm, Ngài dạy ba việc trọng yếu lúc sanh tiền thật là tinh yếu, xác đáng. Xin hăy lập chí quyết định, đừng để người khác lung lạc, nói ít, niệm nhiều, rảnh bận chẳng quên, luôn luôn phản tỉnh, việc ǵ cũng hồi hướng quyết sẽ được Phật tiếp dẫn.
23. Trích yếu sách Long Thư Tịnh Độ Văn của cư sĩ Hư Trung Vương Nhật Hưu đời Tống
* Mạnh Tử nói: “Ai cũng có thể là Nghiêu, Thuấn”. Tuân Tử nói: “Người tàn ác cũng có thể trở thành ông Vũ”. Thường Bất Khinh Bồ Tát nói: “Tôi chẳng dám khinh các Ngài, các Ngài đều sẽ thành Phật” là v́ ai cũng có thể là thánh hiền, cũng có thể thành Phật. Tây Phương Tịnh Độ chính là đường lối tắt trọng yếu, không ai chẳng tu được. V́ thế, khuyên khắp mọi người hăy nên tu tŕ.
Kệ khuyên tu Tây Phương của Đại Từ Bồ Tát có câu:
Khuyên được hai người tu,
Như chính ḿnh tinh tấn
Khuyên được mười người khác
Phước đức đă vô lượng
Nếu khuyên trăm, ngàn người
Đáng gọi chân Bồ Tát
Lại khuyên hơn vạn người
Chính là Phật Di Đà.
Xem đó th́ biết thuyết Tây Phương chẳng phải là cái tâm quảng đại muốn cho người người cùng biết đến đạo này để tích tụ vô lượng phước báo hay sao? Phàm đối với thầy, bạn, những bậc có ân, tính xuống cả tôi tớ, đều nên lấy việc bảo cho họ biết về pháp Tịnh Độ để báo đáp. Phàm đối với hết thảy những ai dù biết hoặc không, hiểu hay chẳng hiểu, ta đều muốn dùng pháp này để giáo hóa khiến cho họ cùng sanh Tịnh Độ.
Hết thảy chim bay, thú chạy, thậm chí loài trùng bay, ḅ, cựa quậy, bất cứ loài nào có h́nh tướng thấy được, hễ ta trông thấy th́ đều v́ chúng niệm Phật vài tiếng, phát thiện nguyện rằng: “Nguyện các ngươi hết kiếp sống này sẽ sanh vào thế giới Cực Lạc. Sau khi ta đắc đạo, sẽ độ hết các ngươi”. Đối với những loài ta chẳng thấy được h́nh tướng của chúng th́ cũng nên phát nguyện như vậy.
Như thế th́ thiện niệm mới chín muồi, đều có duyên đối với hết thảy chúng sanh, ắt sanh trong Thượng Phẩm Thượng Sanh, mai sau hóa độ không ai chẳng thuận vui theo.
* Trai tăng cúng Phật, thắp hương, dâng hoa, treo phan, dựng tháp, niệm Phật, lễ sám là những cách để sùng phụng Tam Bảo, đem công đức ấy hồi hướng nguyện sanh Tây Phương cũng được. Hoặc là làm các thứ việc lành phương tiện lợi ích thế gian: Hoặc là hiếu dưỡng phụ mẫu, yêu mến bạn bè, anh em, trong khuê môn hết sức làm lành, họ hàng ḥa thuận, xóm giềng, làng nước thân thiết, lấy lễ đăi nhau, làm ơn cho nhau. Thờ vua th́ dốc ḷng son báo quốc, làm quan th́ nhân từ lợi dân, khéo an quần chúng, chăm lo phụng sự. Hoặc dạy dỗ kẻ ngu mê, hoặc giúp người cô đơn, yếu đuối. Hoặc giúp kẻ mắc việc cấp bách, chu cấp người nghèo. Hoặc sửa cầu, đào giếng, hoặc thí thuốc, chia cơm, hoặc giảm việc phụng dưỡng chính ḿnh để làm lợi người khác, hoặc bỏ tiền của giúp người. Hoặc là tự tiết kiệm, giản ước, hoặc dạy người khác làm lành, hoặc khen thiện, ngăn ác. Tùy sức làm hết thảy việc lành. Dùng đó để hồi hướng nguyện sanh Tây Phương cũng được.
Hoặc làm hết thảy những việc lợi ích thế gian chẳng nệ là lớn, nhỏ, nhiều, ít. Dù chỉ là thí một đồng hoặc một chén nước cho người, thậm chí mảy may điều lành đều khởi niệm rằng: “Dùng thiện duyên này hồi hướng nguyện sanh Tây Phương”, thường khiến cho nhất niệm chẳng đoạn, niệm niệm hướng về đó, ắt sẽ sanh trong Thượng Phẩm.
* Tu Tịnh Độ hăy nên thuận theo địa vị của ḿnh mà làm lành để giúp sức tấn tu:
a. Tăng sĩ phải nên sớm tu Tịnh Độ để thoát ngay ra khỏi luân hồi, gặp gỡ A Di Đà Phật th́ mới là hoàn tất phận sự của người xuất gia. Hễ nhận lấy một đồng cúng thí của người khác, được cúng một bữa ăn, đều phải nên dạy người đó pháp Tịnh Độ để báo đức. Dù kẻ ấy chẳng tin, cũng khiến cho người ấy biết đến pháp này. Nghe quen tai dần, lâu ngày [kẻ ấy] sẽ tự tin. Hăy nên thường giáo hóa người khác như thế th́ hiện đời được người khác cung kính, thân sau ắt đạt Thượng Phẩm Thượng Sanh.
b. Kẻ sĩ phải nên chăm chỉ học hành, dốc ḷng hiếu thuận, nghĩ xa đến đời ông tổ, ông sơ của ḿnh nếu ai c̣n sống bèn làm cho họ lưu tâm nơi đạo này.
c. Hàng quan lại phải tu phước, làm các phương tiện nhằm yêu người lợi vật. Dùng những điều ấy hồi hướng Tây Phương, thoát ngay ra khỏi luân hồi, thọ - lạc vô cùng.
d. Kẻ giàu nên tùy phận mà sống, giảm tiêu xài để giúp người, chẳng tiếc của làm lành, chẳng tham của làm ác, thường nghĩ phước thế gian có lúc hết. Nếu hồi hướng về Tây Phương th́ [phước báo] sẽ vô tận.
e. Kẻ gặp lắm nỗi truân chiên đừng oán trời trách người, hăy nên siêng sám hối, thường niệm Phật nhằm tiêu túc chướng, tăng trưởng thiện duyên.
Nếu có thể lần lượt giáo hóa người khác như thế khiến cho họ lại khuyến hóa người khác th́ hiện đời có thể tiêu tai, được phước, thân sau ắt sanh trong Trung Phẩm, Thượng Phẩm.
* Nông, thương đều nên tự nghĩ: Cày cấy sát hại sanh mạng loài vật, mua bán sao khỏi có lúc dối trá, hăy nên tránh chuyện ngoắt ngoéo, sám hối, làm lành. Kẻ làm thợ đừng mong mỏi quá đáng, hăy nên làm việc tận tâm. Ai nấy đều nên thường niệm Phật, nguyện thấy Phật đắc đạo rồi th́ trước hết sẽ độ những kẻ chính ḿnh đă trót sát hại từ khi sinh ra đến nay cũng như những chúng sanh ta từng giao thiệp. Kế đó, độ hết thảy kẻ oán, người thân và chúng sanh hữu duyên, vô duyên. Niệm niệm bất tuyệt như thế, niệm tự thuần thục, nhất định sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu ai nấy làm như thế để giáo hóa người khác, khiến cho họ lại khuyến hóa người khác th́ hiện đời được phước, thân sau ắt sanh trong Trung Phẩm, Thượng Phẩm.
Kẻ chài lưới, săn bắn, đồ tể, đầu bếp và người mở tiệm ăn đều phải nên tự nghĩ: Cá, tôm, cầm thú đều là tánh mạng mà ḿnh sát hại, tội ấy vô lượng. Nếu có thể đổi nghề th́ là tốt nhất. C̣n nếu không đổi ngay được, hăy nên giảm bớt dần, chớ giết nhiều mạng những loài vật nhỏ và ốc, hến, lươn, ba ba v.v… là những con vật khó chết. Thường niệm Phật sám hối, phát đại nguyện rằng: “Nguyện sau khi tôi thấy Phật đắc đạo, sẽ độ hết những kẻ bị tôi giết và bị tôi ăn thịt từ khi sanh ra đến nay, khiến cho họ đều sanh Tịnh Độ”.
Niệm niệm bất tuyệt như thế, niệm tự thuần thục cũng sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu giáo hóa người khác như vậy, khiến họ lại khuyến hóa người khác, đời này sẽ tiêu tai diệt tội, thân sau cũng chẳng ở trong Hạ Phẩm Hạ Sanh.
* Kẻ trong chốn phong trần cũng nên tự tỉnh ngộ, đoạn trừ dâm nghiệp. Nếu chưa thể đoạn, hăy thường niệm Phật, phát đại nguyện rằng: “Nguyện ác nghiệp của con ngày một tiêu trừ, thiện nghiệp ngày một tăng trưởng, cơm áo tạm đủ, chóng thoát khỏi chốn này. Sau khi gặp Phật, đắc đạo rồi, sẽ độ cho hết thảy những người v́ tôi mà làm chuyện dâm dục đều sanh về Tịnh Độ”.
Kẻ tội ác bệnh khổ nên gấp sám hối, hồi tâm niệm Phật, thệ nguyện chẳng làm ác, sát sanh nữa, chẳng c̣n lại năo hại hết thảy chúng sanh. Nguyện đời này sớm hết bệnh khổ; sau khi gặp Phật, đắc đạo, sẽ độ cho hết chúng sanh bị ḿnh sát hại trong đời trước, đời này và hết thảy kẻ oán, người thân đều sanh Tịnh Độ.
Niệm niệm bất tuyệt, niệm tự thuần thục, quyết định sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu giáo hóa người khác như vậy, khiến họ lại khuyến hóa người khác, trong đời này sẽ tiêu tai diệt tội, bệnh khổ ắt lành. Phước báo vô cùng, thân sau ắt sanh về thế giới Cực Lạc.
Nhận định:
Tịnh nghiệp học nhân xin hăy sùng phụng Tam Bảo, hành đủ các điều thiện, phát đại nguyện trọn khắp “độ hết chúng sanh” khiến cho thiện niệm thuần thục sẽ được Thượng Phẩm Thượng Sanh.
Nếu sanh sống bằng ác nghiệp chẳng thể đổi nghề ngay th́ cũng nên tùy phận làm lành, sám hối, phát nguyện, và lần lượt giáo hóa người khác khiến họ lại khuyến hóa người khác cùng sanh Tịnh Độ th́ mới là chẳng phụ lời khuyên thống thiết, tấm ḷng đăm đắm khuyên khắp mọi người tu tŕ của cụ cư sĩ này.
24. Trích yếu sách Tịnh Độ Thặng Ngôn của cư sĩ Tức Lư Thứ Dân Trương Quang Vỹ đời Thanh
* Miệng tụng Phật danh, mắt nh́n tượng Phật, tai lại nghe tiếng của chính ḿnh, âm thanh từ lưỡi phát ra, Thiền vị vui sướng tấm ḷng, mũi ngửi mùi hương. Niệm Phật như thế là xoay sáu căn trở về một, làm sao loạn được? Nay ta niệm Phật, thực hành một phương tiện: Tự xem tâm này như một cái b́nh báu sạch, danh hiệu Phật như hạt gạo. Từng chữ, từng câu như gạo bỏ vào b́nh, rơi xuống như ngọc xâu thành chuỗi. Gạo đă vô tận mà b́nh cũng chẳng đầy, chẳng quăng một hạt nào ra ngoài b́nh.
Đoái nghĩ cái b́nh này chẳng to đầy một tấc, bên trong chứa trọn tam thiên đại thiên thế giới, trăm ức vi trần số Phật, ba mươi sáu vạn ức, mười một vạn ức chín ngàn năm trăm vị Phật A Di Đà đồng danh đồng hiệu an trụ trong ấy. Ta cũng ở chung với các Ngài tại một chỗ, vui chơi an ổn. Đấy mới là chỗ để ta an tâm lập mạng vậy.
* Từ trước đến nay, ta chỉ niệm Phật hời hợt thoáng qua. Bây giờ th́ cần phải biết là mỗi chữ đều phát xuất từ trong tâm, lại c̣n phải biết là mỗi chữ đều nhập vào trong tâm.
Trong lúc niệm Phật, trước hết nên nhắm mắt, ngồi ngay ngắn, ngưng thần định lự, chẳng được có một mảy tâm tạp loạn, tâm tranh cạnh, tâm hôn trầm, lười biếng, mở miệng thốt ra tiếng sao cho tiếng từ tâm phát ra, tâm dựa vào miệng truyền. Thở điều ḥa, tiếng nhịp nhàng, chẳng rề rà, chẳng gấp gáp, từng chữ phân minh, từng câu nối tiếp nhau.
Nếu tách ra th́ từng chữ hệt như một câu, nếu gộp lại th́ trăm ngàn câu hệt như một câu. Miên miên, mật mật, từ một tiếng cho đến ngàn vạn tiếng, từ một khắc cho đến mười hai thời, chẳng gián đoạn, chẳng tiếp nối, chẳng khuyết, chẳng rỉ. Lâu dần thuần thục, hoa nở thấy Phật, đến lúc ấy sẽ tự chứng nghiệm.
Nhận định:
Những lời của cụ này đều là lời của bậc niệm Phật đă đạt mà có, thật là pháp niệm Phật rất hiệu nghiệm.
25. Trích yếu sách Khuyến Tu Tịnh Độ Thiết Yếu của cư sĩ Phục Trai Trần Hy Nguyện đời Thanh
* Niệm Phật chánh yếu là phải rèn luyện ở chỗ ồn ào: Chẳng nệ là đi, đứng, nằm, ngồi, trong chốn hỗn tạp nếu giữ được nhất tâm bất loạn th́ tiếng nhỏ sẽ thắng tiếng lớn, như thường nói: Tâm tịnh th́ cơi nước tịnh vậy. Tuy suốt ngày bận rộn nhưng lẽ nào chẳng có một khắc nhàn hạ? Sao chẳng nhân giây phút uống trà, tâm đừng rong ruổi theo bên ngoài để niệm Phật. Kẻ lao tâm có thể dùng cơ hội này để dưỡng tâm, kẻ lao lực cũng có thể nhờ đó để lại sức. Làm vậy chỉ có lợi chẳng tổn hại, có ǵ hơn được cách này nữa?
Hăy nên gấp khởi tâm chân thật, thiết tha, ra sức dũng mănh, việc đời bỏ được việc ǵ liền bỏ ngay; nhân mạng chẳng thường c̣n, chớ có lưu luyến để rồi tự bị lầm lạc. Dù có việc ḿnh chẳng thể buông bỏ được, nhưng đâu trở ngại ḿnh niệm Phật; giống như ḷng c̣n mang nặng chuyện khẩn thiết, tuy phải lo liệu việc khác, tâm quên nổi chăng? Nếu có thể niệm Phật như thế, sẽ tự chẳng có tạp niệm, cũng chẳng đến nỗi một ngày nóng mười ngày lạnh!
* Dù đă có ḷng chân thật, thiết tha, nhưng do xưa kia tội nghiệp sâu nặng nên bị ma nhiễu loạn. Nội ma là tâm có lúc tỉnh, lúc mê, và hết thảy tham, sân, si, ái. Tâm này vừa mới ĺa xong, tâm kia lại khởi lên. Ngoại ma là cảnh ngộ truân chiên, các thứ chướng duyên bức bách thân tâm chẳng thể an ổn. Hăy nên đối trước Phật phát nguyện, siêng cầu sám hối, phải buộc chặt ư niệm nơi tâm niệm Phật, chẳng để ma làm ḿnh thoái thất. Mặc kệ các thứ chướng duyên, một câu Phật hiệu trọn chẳng rời tâm. Sức ma tuy mạnh, nhưng cậy vào vạn đức hồng danh này để đối phó. Chẳng kể lợi - hại, sống - chết, chỉ biết niệm mà thôi, thề chẳng thoái chuyển. Lâu dần ắt sẽ được Phật ngầm gia hộ, chướng duyên tự tiêu, tịnh duyên thành thục. Phật chẳng phụ người, ắt sẽ măn nguyện.
* Pháp niệm Phật quư ở chỗ đóng cửa tiềm tu, chẳng luận là ngồi xếp bằng hay kinh hành mà niệm, niệm thầm hay niệm ra tiếng, cốt sao một dạ dựa chắc vào câu Phật hiệu, từng chữ phân minh. Vừa biết ḿnh hồ đồ, liền gấp đề khởi giác chiếu; hoặc là thấy ḿnh vừa lạc vào vô kư hoặc rơi vào vọng tưởng, hễ vừa biết liền đề cao câu niệm, đem một câu Phật hiệu này xông ép ư căn, lấp mất hai nẻo vọng niệm và hôn trầm. Đấy là đường lối chánh yếu để niệm Phật. Chẳng nên niệm quá gấp v́ gấp gáp sẽ khó thể niệm lâu được. Chẳng nên niệm quá thong thả, thong thả dễ tán loạn. Lại chẳng nên mong cầu nhập định, trọn chẳng tác ư. Nếu buông xuôi mà niệm theo miệng sẽ dễ bị rớt vào cảnh giới hôn trầm nhẹ.
Niệm Phật chú trọng ở chỗ Nhất Tâm Bất Loạn, lúc sắp dứt mạng sẽ nhờ vào cái niệm ấy để chóng nhập vào thai sen. Đạt đến mức cùng cực của Nhất Tâm th́ chẳng mong Thiền Định hiện tiền, nó vẫn tự hiện. Như vậy, lúc công phu đă thuần thục và buông xuôi theo miệng mà niệm dễ bị hôn trầm nhẹ, rơ ràng chẳng giống nhau.
Suy xét đến cùng tột th́ niệm chính là vô niệm, chẳng phương ngại ǵ đến vô niệm mà niệm. Nhất niệm này chính là Tam Đế: Không, Giả, Trung; chính là bốn Lư Sự Pháp Giới, chính là hai phép Quán Duy Thức và Duy Tâm, chính là Thật Tướng, Vô Tướng, Niết Bàn, Diệu Tâm.
Đấy chính là pháp niệm Lư Nhất Tâm của bậc thượng căn, nhưng pháp này cũng chẳng ra ngoài cách dựa chắc vào câu Phật hiệu, từng chữ phân minh mà niệm. Đó chính là khuôn phép của chánh hạnh Tŕ Danh vậy.
* Lại cần phải rộng tu các Trợ Hạnh:
a. Một là lễ kính Tam Bảo: Xem các h́nh tượng vẽ trên giấy, bằng gỗ khắc giống như đức Phật thật, sáng lễ, chiều bái, chí thành chí kính, ra vào vái, xá. Dù cách trăm dặm, hay ngàn dặm, vẫn coi như ở trước mắt. Một miếng ăn, một thức uống đều cúng dường lên Phật trước.
b. Hai là sám hối nghiệp chướng: Do vô lượng kiếp đến nay, ba nghiệp thân, khẩu, ư tạo tội đă sâu, thành ra các thứ chướng ngại cho nên gọi là nghiệp chướng. Sám hối th́ chướng sẽ tiêu trừ, thân tâm thanh tịnh.
c. Ba là tránh ác, làm lành: Hễ có tâm chẳng tốt khởi lên, liền ra sức niệm Phật, nhất quyết dùng câu niệm để đẩy lui cái tâm bất hảo ấy.
d. Bốn là cắt bỏ t́nh ái: Người ta thường hay yêu mến kẻ ruột thịt, tham tài như tánh mạng. Trong đời trược, t́nh ư đặt nặng nơi những thứ này, sẽ tự nhiên xem nhẹ Tịnh Độ. Lúc mạng chung, thần hồn ắt sẽ hướng về nơi t́nh ư ta xem trọng giống như cây đổ, tự nhiên nó sẽ ngă rạp về nơi nó đă nghiêng qua. Đến lúc ấy, vợ con, người ruột thịt do duyên hết sẽ tan tác. Chia ĺa rồi chẳng hề biết đến nhau nữa. Như vợ con, cốt nhục trong nhiều đời đến nay, hiện thời họ ở đâu, sao c̣n yêu mến? Nếu như ác duyên tụ hội th́ quyến thuộc liền thành oan gia, bất giác ngầm mắc hại. Nghĩ đến đó, ḷng chẳng thể không lạnh nhạt. Tài sản, các vật chớp mắt thành không; đúng là phải nên xét suy tường tận!
e. Năm là cởi gỡ các oán kết: Như các việc sát sanh, trộm cắp, tà dâm v.v… và các t́nh chấp tham, sân, si… đều là những cái nhân kết thành oán cừu. Dè chừng th́ oán cừu chẳng kết, lỡ đă kết hăy nên cởi gỡ. Nếu quyến thuộc là oán cừu, cầm giáo chống chọi nhau, bị chó cắn, rắn mổ đều là có túc oán, hăy nên hoan hỷ chịu đựng, cởi gỡ oan kết với họ, quyết chẳng nên ăn miếng trả miếng, khiến cho oan cừu càng buộc càng sâu. Hăy nên đối trước Phật phát nguyện, dùng công đức niệm Phật này để lợi khắp hết thảy oan gia, cừu đối. Nếu như ta thành Phật sẽ độ các loài chúng sanh này trước hết. Do nguyện lực từ tâm này, tự nhiên túc oán ấy tiêu trừ, hóa thù thành bạn.
f. Sáu là phát phẫn khởi hùng chí, miên mật tinh tấn, ắt phải chứng được cực quả mới thôi.
Đây là một pháp rất thiết yếu để văng sanh Tịnh Độ vậy.
Nhận định:
Tu luyện trong chỗ ồn ào chẳng bằng đóng cửa tiềm tu. Tuy có thể ngồi xếp bằng thầm niệm, nhưng chẳng được mong cầu nhập định, cứ buông xuôi theo miệng mà niệm rất dễ nhập cảnh giới hôn trầm nhẹ. Cần phải nên đề khởi giác chiếu: Dùng một câu Phật hiệu để xông ép ư căn, lấp mất hai nẻo hôn trầm và tạp niệm. Đến lúc công phu thuần thục th́ chẳng cầu Định mà Định tự hiện.
26. Trích yếu sách Tịnh Độ Di Tập của cư sĩ Nhân Sơn Dương Văn Hội đời Thanh
* Đáp lời hỏi về cách niệm Phật, pháp sư Đàm Loan có nói đến tâm vô hậu và tâm vô gián.
Tin rằng quang ảnh trong tâm dễ thay đổi, phải sớm lo liệu tiền tŕnh (tương lai) chính là tâm hữu hậu. Mạng người trong hơi thở, lẽ nào c̣n giữ tâm hữu hậu này? Vô luận ngàn niệm hay vạn niệm; chỉ dùng ngay một câu trong đương niệm (cái niệm trong hiện tại) để làm chánh nhân văng sanh. Câu trước vừa qua, câu sau vừa xuất hiện cũng là trong “đương niệm”. Như vậy là tâm chẳng duyên vào quá khứ, chẳng duyên vào vị lai, chỉ chuyên chú một câu trong ngay đương niệm. Đó là Sự Nhất Tâm.
Chẳng cần biết lúc nào sẽ văng sanh, lâu ngày thuần thục th́ ngay cả đương niệm cũng mất, liền nhập Lư Nhất Tâm, ắt sanh trong cao phẩm. Tâm Vô Gián chính là cảnh giới thuần nhất của Vô Hậu Tâm.
* Nếu có kẻ vặn: Cầu sanh Tịnh Độ th́ phải phát Bồ Đề tâm, tu hạnh Lục Độ, chẳng phải là khó khăn lắm ư?
Xin đáp: Chẳng khó. Hễ tin vào pháp môn Tịnh Độ, phát nguyện tự độ, độ người cùng chứng Phật quả, đấy chính là Phát Bồ Đề Tâm vậy! Chuyên tu niệm Phật, thấy hết thảy thế gian tài vật chẳng có ǵ đáng ưa, chẳng khởi lên ư tưởng tham lam, keo kiệt, là đă tương ứng với Thí Độ. Chuyên tu niệm Phật, dù nghịch cảnh xảy tới chẳng sanh tâm nóng giận là tương ứng với Nhẫn Độ. Chuyên tu niệm Phật, tâm chẳng tán loạn là tương ứng với Thiền Độ. Chuyên tu niệm Phật, chẳng bị thế tục làm cho ngu mê là tương ứng với Trí Độ.
Lúc mới hành th́ chỉ là chuyện tầm thường hằng ngày, nhưng lâu dần tăng tấn, sẽ thành diệu hạnh của Bồ Tát.
Nhận định:
Chỉ cần tin sâu nguyện thiết, giữ chắc một câu trong đương niệm, chẳng duyên theo quá khứ, vị lai, cắt đứt tâm thức trước sau th́ chính là Sự Nhất Tâm. Tâm chẳng tán loạn, chẳng khởi tham, sân, si, nguyện tự độ, độ người cùng sanh Cực Lạc chính là tương ứng với phát Bồ Đề tâm và tu hạnh Lục Độ.
27. Trích yếu tác phẩm Kim Cang Kinh Giảng Nghĩa của cư sĩ Thắng Quán Diệu Hú Giang Vị Nông thời Dân Quốc
* Một pháp Niệm Phật là phương tiện bậc nhất trong các phương tiện để dứt niệm. Chẳng niệm ǵ khác ngoài niệm Phật cũng là một cách để hoán chuyển mỗi ư niệm. Niệm Phật xem ra rất gần với quán tưởng.
Niệm Phật chính là tịnh niệm, đem một niệm thanh tịnh để đối trị các niệm nhiễm trược. Và nhất tâm mà niệm lại chính là dùng cái niệm thuần nhất để đối trị những niệm tạp loạn.
Vả lại, Phật là Giác, niệm niệm đều là Phật th́ niệm niệm đều là Giác. Giác là biết tự tánh vốn vô niệm; v́ thế bảo là càng thân thiết, nhưng nếu có thể siêng năng, khẩn thiết Nhất Tâm th́ sẽ có thể đạt tới mức niệm mà vô niệm. Phải biết rằng niệm Phật nhằm mục đích “ắt quy về vô niệm”, tức là quay về với Chân Như, th́ chẳng nói đoạn mà tự đoạn, chẳng cầu chứng mà tự chứng vậy. Phương tiện ấy hay đến mức như thế đó!
* Tuy công phu niệm Phật chưa thể đạt tới niệm mà vô niệm, nhưng nếu hạnh nguyện chân thật, thiết tha, nương vào bi nguyện lực của Phật Di Đà, cũng sẽ được tiếp dẫn văng sanh, liền giống như bậc A Tỳ Bạt Trí, Hán dịch là Bất Thoái, tức là địa vị Sơ Trụ.
Nếu tu các pháp khác th́ cần phải trải qua nhiều kiếp số lâu xa, nay pháp này được thành tựu ngay trong một đời, nên bảo là pháp phương tiện nhất trong các pháp phương tiện.
Nhưng để đúng là hạnh nguyện chân thật, thiết tha, ắt phải cả đời niệm Phật cầu sanh th́ mới đúng là chân thật, thiết tha. Nếu một mặt niệm Phật, một mặt lại khởi lên những ư tưởng trần trược th́ hạnh nguyện chẳng chân thật, thiết tha vậy.
V́ thế, người niệm Phật phải đoạn một tầng ư niệm. Nếu như chưa thể dễ dàng làm được, phải nên cố thực hiện cho được hai câu: “Chẳng trụ vào sắc mà sanh tâm, chẳng trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm”. Nếu chẳng được như vậy th́ nguyện chẳng thiết, hạnh chẳng chân, làm sao được Phật tiếp dẫn? Trần trược khí nặng hết sức chẳng tương ứng với hai chữ Thanh Tịnh, nên Phật cũng chẳng biết làm sao được nữa!
* Cần phải biết rằng khởi niệm chính là vọng, ư niệm niệm Phật cũng là vọng, chẳng phải là chân, v́ sao vậy? V́ tánh của Chân Như vốn là vô niệm; nhưng v́ phàm phu nhiễm niệm chẳng hề ngơi, nên bất đắc dĩ phải mượn tịnh niệm của việc niệm Phật để trị cái nhiễm niệm trụ trần. Ấy là v́ ư niệm niệm Phật tuy chẳng phải là bản thể của Chân Như, nhưng nó quy hướng diệu dụng của Chân Như. V́ sao vậy? Chân Như là tâm thanh tịnh, Phật niệm là thanh tịnh niệm, do cùng là thanh tịnh cho nên được tương ứng. Bởi vậy, dùng ư niệm để niệm Phật niệm niệm chẳng ngơi sẽ có thể đạt đến vô niệm, cho nên bảo là phương tiện thù thắng.
Thế giới Cực Lạc cũng là huyễn tướng, nhưng chẳng thể không cầu nguyện văng sanh, v́ tịnh huyễn chẳng giống như nhiễm huyễn. V́ sao thế? Cơi thanh tịnh vốn do tâm thanh tịnh hiển hiện, v́ thế mới bảo là “tâm tịnh th́ cơi tịnh” vậy.
* Cần phải biết rằng Di Đà đến đón vốn chưa từng đến đón, văng sanh Tây Phương cũng là chưa từng sanh qua. Tuy chưa từng sanhm nhưng nào có trở ngại chuyện thị hiện đến đón, sanh về!
V́ sao vậy? Chẳng đến đón, chẳng sanh về là xét về Lư Thể; có đến đón, có sanh về là Sự Tướng. Lư - Sự vốn dĩ chẳng hai, phải hiểu Tánh - Tướng viên dung dẫu chẳng đến đón, chẳng văng sanh, cũng chẳng ngại có đến đón, có văng sanh. Dù có đến đón, có văng sanh, nhưng thật sự là chẳng có đến đón, chẳng có văng sanh.
Điều tối khẩn yếu là phải nhận thức “không có đến đón, không có văng sanh” nơi chuyện “có đến đón, có văng sanh”; và chuyện “có đến đón, có văng sanh” chính là từ “không đến đón, không văng sanh” mà thành. Đấy chính là yếu quyết để niệm Phật cầu văng sanh.
Hiểu được yếu quyết này, sẽ nhất định văng sanh gặp Phật. Chớ bảo là tu Tịnh Độ th́ khỏi cần phải học Bát Nhă nữa; lại nghi Bát Nhă gây trở ngại cho Tịnh Độ hay sao?
Nhận định:
Vạn duyên buông xuống chính là chẳng trụ vào Có; nhất tâm niệm Phật chính là chẳng trụ Không, tức là Bát Nhă và Tịnh Độ cùng tu. Tuy Bát Nhă là theo cửa Không mà vào, ly tướng, ly niệm để đạt đến vô niệm; nhưng Tịnh Độ theo cửa Có mà vào, dùng niệm để dứt niệm, niệm mà vô niệm, khác đường, nhưng cùng về một chỗ. Chẳng phải là Bát Nhă chẳng hiển lộ được chỗ nhiệm mầu của Tịnh Độ, Tịnh Độ khó thành hạnh Bát Nhă đâu nhé! V́ thế, Quán Kinh dạy bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh phải đọc tụng kinh điển Đại Thừa. Cụ cư sĩ này cả một đời học đủ Giáo, Tông, Bát Nhă, nhưng hạnh đặt nơi Di Đà, thật đáng để học theo.
28. Trích yếu sách Phật Pháp Yếu Lĩnh của cư sĩ Thù Nguyên Lưu Phục Lễ thời Dân Quốc
* Niệm Phật có hai gia hạnh:
a. Một là đừng vọng tưởng. Phàm đối trước hết thảy cảnh giới đều coi là Không, chẳng được chấp trước kẻo khởi tưởng niệm. Thọ sanh trong thế gian đều do vọng tưởng tạo thành. Đây chính là cội rễ của sanh tử, chẳng thể không biết.
b. Hai là gắng lănh đạm. Người đời tạo nghiệp đều do chẳng thể cam tâm lănh đạm. Đă muốn thành bậc hiền thánh xuất thế mà c̣n tham đuổi theo ngũ dục chẳng khác ǵ thế tục, chẳng những không thành Phật, mà lăo già Diêm La cũng chẳng phải là gă mù! Sao lại duyên theo vọng tưởng chẳng thể cam tâm lănh đạm? Đấy là gốc bệnh lớn lắm.
Trước hết, nếu trừ được hai căn bệnh trên đây th́ trong tâm tự tịch tĩnh, trí huệ tự quang minh, mới có phần tiến hướng đến Phật pháp được!
* Khi đang tu nhân, học Phật pháp quư ở chỗ chân thật cầu liễu sanh tử th́ mới là chánh nhân. Cầu quả báo thế tục là tà nhân. Cầu tŕ chú linh nghiệm, cầu thần thông cũng là tà nhân. Hăy dè chừng, hăy tránh!
Hỏi nhật khóa hạn định như thế nào ư? Nỗ lực niệm Phật đến tận cùng. Niệm bốn chữ hay sáu chữ đều được. Ngồi xếp bằng là tốt nhất. Rảnh rang th́ niệm thêm phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Sanh kế chẳng khá, phải làm thêm việc khác cũng chẳng sao. Cho nên mới nói: “Làm lụng sanh sống chẳng ngại Viên Tông[6]”; nhưng chẳng được phạm vào mười ác nghiệp. Những tri kiến từ trước phải mong tảo trừ cho hết sạch. Đối với những sách vở ngoại đạo ăn theo Phật pháp phải đem cất đi thật xa, hoặc giao cho thần hỏa. Nhất tâm niệm Phật, đừng cầu nghĩa giải.
Nhận định:
Tu nhân chẳng chân, quả sẽ tà vạy. V́ thế, tu nhân niệm Phật cốt sao chân thật. Lấy không vọng tưởng và nhẫn nại lănh đạm làm gia hạnh th́ mới có thể nhất tâm niệm Phật. Xin hăy toàn lực chuyên chú.
Niệm Phật Pháp Yếu
Quyển 1 hết
Phụ Lục
A. Lời phổ khuyến đồng bào toàn cầu niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát của đại sư Ấn Quang
Quán Thế Âm Bồ Tát trong vô lượng kiếp trước đă thành Phật từ lâu, hiệu là Chánh Pháp Minh; nhưng v́ tâm từ bi vô tận, từ thệ vô cùng, nên Ngài lại ở trong mười phương thế giới, hiện ra những thân Bồ Tát, trời, người, thánh, phàm v.v… ban cho sự không hăi sợ (Thí Vô Úy) ngơ hầu tế độ. Phẩm Phổ Môn có nói: Nên dùng thân nào để độ được th́ Ngài liền hiện thân ấy để thuyết pháp. Không chỉ hiện thân hữu t́nh, Ngài cũng tùy cơ ứng hiện ra thân núi, sông, thuyền, bè, cầu, đường sá, dược thảo, cây cối, lầu, đài, điện, gác. Nói chung là những việc ĺa khổ được vui, chuyển nguy thành yên.
Hễ gặp đao binh, nước lửa, ác bệnh, ác thú, oán gia đối đầu, ác quỷ, độc xà, các thứ nguy hiểm, nếu thật sự có thể chí thành xưng niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát th́ liền được Bồ Tát gia bị chuyển nguy thành yên.
Hiện tại, sát kiếp tràn lan, khắp toàn cầu chẳng có chỗ nào an lạc, cũng chẳng có ai an lạc. Nguyện đồng bào trong nước, ngoài nước hăy cùng niệm thánh hiệu Quán Âm, cùng lấy tâm cứu khổ cứu nạn của đức Quán Âm làm tâm ḿnh, cùng lấy sự nghiệp lợi người lợi vật của đức Quán Âm làm sự nghiệp của ḿnh th́ ư niệm ta - người rỗng không, việc đấu tranh sẽ dứt, tự có thể cùng hưởng thái b́nh, cùng vui tháng ngày.
Giả sử định nghiệp khó chuyển, táng thân mất mạng, th́ cũng nhờ sức Bồ Tát văng sanh Tây Phương, ấy là do túc nghiệp nên mất thân mạng, nhưng do Phật lực bèn thoát khỏi khổ hải.
Kính mong đồng bào trong ngoài nước cùng soi xét tấm ḷng thành ngu xuẩn của tôi.
Thích Ấn Quang kính bạch
B. Trích tuyển lời khai thị của đại sư Hành Sách
(lược dịch theo ấn bản Hành Sách Đại Sư Cảnh Ngữ Tinh Hoa của Tịnh Tông Học Hội Dallas)
* Nếu không có ḷng tin chân thậtm, dẫu có niệm Phật, tŕ trai, phóng sanh, tu phước, vẫn chỉ là người lành trong thế gian, được quả báo sanh trong thiện xứ hưởng lạc. Lúc hưởng lạc sẽ tạo nghiệp, mà đă tạo nghiệp sẽ ắt phải thọ khổ.
* Ḥa Thượng Chân Hiết nói: “[Điều mà] Phật Phật chuyền tay nhau, Tổ Tổ truyền nhau chỉ là một sự này, chứ chẳng c̣n sự nào khác. Đức Thế Tôn thuyết pháp hơn ba trăm hội trong bốn mươi chín năm cũng chỉ v́ để nồng nhiệt tán dương, diễn giảng giáo pháp Tịnh Độ đúng là con đường tắt siêu phàm nhập thánh vậy!”
* Nhất tâm niệm Phật để cầu mau được sanh về An Dưỡng, sau đấy mới nương vào bổn nguyện, vận ḷng đại từ bi để phân thân biến h́nh khắp mười phương cơi nước tầm thanh cứu khổ như Quán Thế Âm Bồ Tát, thề làm trống rỗng địa ngục như đức Địa Tạng Vương. Dẹp khổ cho hết thảy chúng sanh, ban vui cho hết thảy chúng sanh, nhiếp thủ hết thảy chúng sanh cùng thân cận Phật Di Đà, rốt ráo an ổn. Đấy mới là trượng phu. Kính mong các thượng thiện hữu hăy suy xét kỹ cho!
* Cuối kinh Hoa Nghiêm dùng mười đại nguyện vương hướng dẫn về Cực Lạc, mong sanh về thế giới An Dưỡng, mong nguyện thấy A Di Đà Phật. Bao lượt Bồ Tát đinh ninh khẩn thiết khuyên lơn, phát khởi [được ghi] đầy đủ trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện!
* Thiện nam tử, thiện nữ nhân chuyên niệm Tây Phương A Di Đà Phật, đem các thiện căn hồi hướng phát nguyện, sẽ chắc chắn được văng sanh, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, thân cận Di Đà.
* A Di Đà Phật chính là Pháp Giới Tạng Thân. Thế giới Cực Lạc chính là Liên Hoa Tạng Hải. Thấy một đức Phật chính là thấy vô lượng Phật. Sanh trong một cơi chính là sanh trong vô lượng cơi. Niệm một đức Phật chính là niệm hết thảy Phật, chính là được hết thảy chư Phật hộ niệm v́ Pháp Thân bất nhị, v́ chúng sanh và Phật bất nhị, v́ năng niệm và sở niệm bất nhị!
* Tôi thấy những người nay đang phú quư hiển đạt đều là tham đắm thanh sắc thô tệ chẳng biết cội khổ; hoặc mê chút hư danh nhỏ như sừng ốc, chẳng biết đó là hư huyễn; hoặc lại mê man của cải, toan tính kinh doanh. Hiện tại phí uổng một đời, tương lai sẽ lưu chuyển theo nghiệp, chẳng hay chẳng biết y báo và chánh báo trang nghiêm, vô lượng điều thắng diệu trong cơi nước đức Phật kia. Từ lúc sống cho đến khi chết, chưa hề có một niệm nghĩ đến chuyện văng sanh, thật chẳng bằng kẻ nghèo cùng, khốn khổ siêng năng niệm Phật từ chỗ tối vào chỗ sáng, chuyển sanh vào chỗ thù thắng!
* Muốn niệm Phật sao cho công hạnh chẳng luống uổng th́ thân tâm phải siêng gắng, tiếc từng tấc bóng. Huống hồ, mạng trong hơi thở, nào có dài lâu? Như kẻ tù bị dắt ra chợ, mỗi bước càng gần đến cái chết, ngày đêm chăm chắm, lạnh nóng khăng khăng một câu hồng danh không lúc nào ngơi, sẽ quyết định sanh về Tịnh Độ. Chớ nên lúc đầu hăng hái, về sau biếng trễ.
* Chuyên cầu xuất ly, chẳng cầu phước báo thế gian, cũng chẳng cầu công đức, trí huệ, biện tài, ngộ giải; cũng chẳng nguyện đời đời làm Tăng để hưng hiển Phật Pháp v.v… Chỉ nguyện mạng chung được sanh về cơi kia, thoát khổ sanh tử. Nguyện này cần phải hiện diện trong từng khắc, chuyên niệm Di Đà sẽ tự nhiên được sanh. Quư ở chỗ tin chắc chắn, tận lực tu hành cho chuyên nhất th́ mới được cứu.
* Những vị đồng hạnh văng sanh hăy nên pḥng thân, giữ miệng, khiêm cung tùy thuận, răn bảo lẫn nhau, làm gương cho nhau. Hằng khóa[7] mỗi ngày chẳng được lười biếng, bỏ sót. Đi, đứng, nằm, ngồi chẳng quên niệm Phật. Ngoài lúc công phu, đừng buông lung thân tâm nơi chuyện vô ích, chớ nên chuyện gẫu, nói chơi, cười giỡn buông lung, vừa hại ḿnh vừa tổn người. Chớ nên phí công xem sách ngoài đời, ngâm thơ, vịnh kệ, không chỉ uổng phí ngày giờ mà c̣n cô phụ kẻ đàn việt[8]! Phải nên tự nghiêm, tự trọng, nỗ lực tinh tấn!
* Tŕ danh quư ở chỗ nhất tâm bất loạn, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, chẳng phải cốt sao niệm nhanh, niệm nhiều là hay, nhưng cũng đừng niệm rề rà, đừng gấp gáp, hăy tŕ danh miên mật, khiến cho Phật hiệu trong tâm vằng vặc phân minh. Mặc áo, ăn cơm, đi, đứng, ngồi, nằm, một câu hồng danh miên mật chẳng dứt. Tŕ danh như thế có thể nói là nhất tâm tinh tấn nơi mặt Sự.
* Hiểu đến rốt ráo th́ vạn pháp đều Như, chẳng có hai tướng, tức là: Chúng sanh và Phật bất nhị, tự - tha bất nhị, nhân - quả bất nhị, y báo - chánh báo bất nhị, uế - tịnh bất nhị, khổ - vui bất nhị, ưa - chán bất nhị, lấy - bỏ bất nhị, Bồ Đề - phiền năo bất nhị, sanh tử - Niết Bàn bất nhị. Những cặp pháp ấy đều đồng một tướng, một đạo thanh tịnh. Suy xét đến cùng cực sẽ đột nhiên khế hợp bổn tâm, mới biết rằng mặc áo, ăn cơm đều là tam-muội; vui cười, giận chửi không ǵ chẳng phải là Phật sự! Nhất tâm bất loạn rốt cục thành hư luận! Trong suốt mười hai thời, chẳng thể t́m được mảy lông tướng trạng nào khác. Hiểu rơ như thế th́ mới là chân chánh học đạo, mới là nhất tâm tinh tấn tŕ danh! Cả hai thứ Nhất Tâm này đều thuộc về phận sự của phàm phu, hễ ai có tâm th́ đều có thể tu học được!
* Một môn niệm Phật là nhờ vào nguyện lực của đức Phật kia, chẳng luận là kẻ hữu trí hay vô trí, là căn cơ thượng, trung, hay hạ, cứ chấp tŕ danh hiệu nhất tâm bất loạn trong bảy ngày hoặc dẫu chỉ một ngày th́ đấy là nhiều thiện căn, phước đức nhân duyên, chính là được Phật Di Đà và thánh chúng tiếp dẫn, chính là được mười phương hết thảy chư Phật hộ niệm. Đấy chính là phương tiện lạ chẳng thể nghĩ bàn, chỉ v́ do phương tiện ấy hay lạ nên mới thù thắng!
* Cơi Phàm Thánh Đồng Cư [là nơi] thánh hiền Quyền, Thật và kẻ phàm phu thấp sát đất cùng ở; nhưng cơi Tịnh Độ ấy nhờ vào sức nhiếp thọ của chư Phật nên chẳng cần phải đoạn Hoặc mà có thể mang nghiệp đi văng sanh. Bậc thượng trí sẽ nhanh chóng viên chứng bốn cơi Tịnh Độ, kẻ hạ ngu cũng vượt ngang ra khỏi tam giới, chẳng cần phải tu theo thứ tự chín lớp[9] , chẳng cần phải tu trọn ba A-tăng-kỳ kiếp. Đấy là phương tiện lạ lùng chẳng thể nghĩ bàn cho nên thù thắng vậy!
* Pháp môn tối thắng lạ lùng duy nhất như vậy do đức Thích Ca ân cần khuyên lơn, chỉ dạy, hằng sa Như Lai dùng tướng lưỡi rộng dài tán dương, há có phải là lừa dối bọn ta!
* Phật pháp có vô lượng môn, có pháp dễ, pháp khó. Muốn dễ hành mà chóng chứng th́ phải nên niệm Phật. Xưng danh hiệu Phật A Di Đà sẽ chóng đắc Vô Thượng Bồ Đề.
* Đời ác Ngũ Trược cầu A Bệ Bạt Trí rất khó. Nếu tin vào Niệm Phật Tam-muội, nương vào sức bổn nguyện nhiếp tŕ, tiếp dẫn của đức Phật kia sẽ quyết định văng sanh, chẳng nhọc phương tiện mà tâm tự được khai ngộ, đời đời chẳng thoái chuyển, có ngày thành Phật.
* Tịnh Độ rộng nhiếp các căn đều chứng Bất thoái. Theo kinh Đại Bổn, thượng phẩm lấy việc giải ngộ làm chính, trung phẩm lấy giới thiện làm gốc; hạ phẩm thuần ác vô thiện th́ chỉ lúc lâm chung gặp gỡ bạn lành, do nhất niệm tín tâm bèn diệt tội văng sanh!
* Người đă giải ngộ mà cầu văng sanh th́ nhờ vào cảnh duyên Cực Lạc sẽ dễ đoạn kết tập, dễ tu tam-muội, mau thành nhẫn lực, độ các chúng sanh. Kẻ chưa giải ngộ mà cầu văng sanh th́ do thân cận Di Đà sẽ dễ kiến tánh. Ngài Vĩnh Minh từng bảo: “Chỉ cần gặp Di Đà, lo ǵ chẳng khai ngộ!”
* Hai môn Thiền, Tịnh, môn nào cũng nên chuyên tu, chẳng cần phải kiêm tu. Nếu chê bai môn này, môn kia tức là hiểu lầm sâu đậm ư chỉ của Phật. Như kinh dạy: “Chẳng báng Đại Thừa” th́ thấy rơ là kẻ hủy báng sẽ chẳng được văng sanh vậy.
* Kinh dạy: “Tu hành một ngày một đêm trong thế giới Sa Bà hơn hẳn tu Thập Thiện trăm năm trong cơi Cực Lạc”. Đó là v́ khó ḷng tấn tu trong cơi này, c̣n trong cơi kia th́ dễ dàng ra sức tu hành vậy. Cứ dựa theo đó mà nói th́ tu hành một ngày trên nẻo đường phong trần thế gian sẽ hơn hẳn tu hành trăm ngàn ngày nơi cảnh chùa thanh tịnh trong núi sâu, chẳng c̣n nghi ngờ ǵ nữa! V́ thế, có thể lẩn quẩn nơi kinh đô, có thể dấn thân vào chốn hồng trần, nhưng tịnh nguyện chẳng được quên, tịnh hạnh chẳng được khuyết! Than ôi! Phong trần làm sao có thể nhiễm trước con người cho được? Chỉ e con người tự nhiễm phong trần đấy thôi!
* Tâm làm xe chỉ nam (la bàn), nguyện làm người dẫn đường, chốn chốn đạo tràng, thời thời Phật sự. Tịnh nguyện, tịnh hạnh thường được hiện tiền, tự nhiên đạt được thượng bang Thanh Thái (Cực Lạc), gặp mặt đức thánh Vô Lượng Thọ.
* Hăy nên nghĩ thời gian vùn vụt, mỗi ngày một già suy để đừng uổng phí thời gian. Ngoài thời khóa nhất định, hễ lúc nào rảnh rỗi liền niệm thêm Phật hiệu. Dù là chú Lăng Nghiêm, hay chú Đại Bi v.v… cũng đều là chuyện phụ, chẳng cần phải tŕ!
* Dù rảnh hay bận chẳng để lỡ thời gian, dù nghèo hay giàu vẫn thường tri túc, dù mạnh hay yếu vẫn siêng tinh tấn!
* Cổ đức nói: “Ái chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà”. Lại bảo: “Nếu nghĩ đến đạo giống như nghĩ đến t́nh ái th́ thành Phật rất nhiều!” Từ bậc chứng Thánh Quả trở xuống, mấy ai chẳng bị nó làm hệ lụy? Phiền năo vô tận, mà xét về cội rễ sanh tử th́ chỉ là do tham ái vùi lấp hành nhân, chướng ngại pháp văng sanh! Hễ nhạt nhẽo một phần t́nh ái th́ thành thục được một phần Tịnh nghiệp! Hăy gắng lên!
* Đời Mạt Pháp bạc bẽo, con người ưa trá ngụy. Chỉ nên gởi tâm nơi Tịnh nghiệp th́ mầm Huệ mới nảy nở, giống Đạo mới thành thục. Ngày sau được ở trước Phật, liên hoa hóa sanh, trở thành người căn cơ thượng thượng vậy!
* Kinh dạy: “Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh. Lúc tâm chúng sanh tưởng Phật th́ tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh hảo. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”. Mấy câu ấy chính là cốt lơi bí mật của Niệm Phật tam-muội. Hết thảy pháp quán không pháp nào là chẳng phát xuất từ đấy.
* Kinh Đại Tập dạy: “Nếu ai chỉ niệm A Di Đà Phật th́ gọi là vô thượng thâm diệu Thiền”. Chí tâm tưởng tượng lúc gặp Phật chính là pháp bất sanh bất diệt.
* Thiền sư Trí Giác bảo: “Nhất niệm tương ứng nhất niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”.
* Phật là lư Bổn Giác, niệm là trí Thỉ Giác. V́ vậy, ngay trong lúc niệm Phật th́ Thỉ hợp với Bổn, Lư - Trí ngầm khế hợp, năng lẫn sở cùng mất; tự - tha chẳng hai! Không có đức Phật nào ở ngoài niệm để được niệm bởi niệm đó. Không có niệm nào ở ngoài Phật để niệm đức Phật ấy. Siêu t́nh ly kiến, ly cú tuyệt phi[10], thẳng tắt, viên đốn, không chi hơn được! Trừ niệm Phật ra, có diệu quán nào khác để thành tựu?
* Tháng ngày tàn c̣n mấy? Con đường ổn thỏa, thích đáng nhất, dễ dàng nhất chỉ là lấy câu chân ngôn sáu chữ để khuyên lơn, cố gắng. Đấy chính là vị thuốc hay lấy từ biển để trị bệnh ngặt, trị bệnh từ ngọn đến gốc, bệnh cấp bách hay bệnh mạn tính đều thích hợp. Quư ở chỗ tin tưởng sâu xa, tận lực tu hành, chuyên tŕ mà thôi!
* Nếu tự tâm niệm niệm chán ĺa ngũ dục, khắng khít tưởng nhớ Phật A Di Đà, ưa thích nguyện được thân cận như con nhớ mẹ, chẳng bị nghiệp cảnh lôi kéo, chẳng bị kẻ khác làm mê lầm, quyết hướng đến Tây Phương, nhất định sẽ liên hoa hóa sanh trong thế giới Cực Lạc, thấy Phật, [được Phật] thọ kư.
* Mắt thường ngắm h́nh tướng Phật, tai thường nghe lời Phật dạy, mũi thường ngửi mùi hương của Phật, lưỡi thường xưng niệm Phật hiệu, thân thường lễ tượng Phật, ư thường nghĩ đến Phật pháp. Cả sáu căn không căn nào chẳng chuyên chú vào Phật cảnh. Giữ liên tục như thế không gián đoạn, không xen tạp.
* Biết rơ chúng sanh và Phật như một, tâm và cơi nước chẳng hai, mượn y báo, chánh báo cơi kia để hiển lộ tâm tánh của ta. Đă chẳng lầm tưởng ngoài tánh có Phật, mà cũng chẳng chấp cơi kia chẳng phải là tâm. Chẳng nhọc phương tiện mà tâm tự được khai ngộ. [Đấy là] phương tiện tối thắng cực dễ để nhiếp khắp hành nhân quy về Tịnh Độ.
* Đối với việc đối trị chướng nặng đời mạt th́ phiền năo tuy nhiều, nhưng chỉ riêng dâm dục chính là căn bản của sanh tử. Đối với pháp văng sanh, nó gây chướng ngại nặng nề nhất. V́ thế, khuyên hành nhân nên quán dâm hỏa nơi thân chính là chân hỏa Tánh Không của Như Lai Tạng.
Hễ cứ khi nào nghiệp phát hiện bèn quán sát sâu xa cho đến khi giải ngộ, biến nó thành trí huệ quang. [Làm như vậy] th́ chẳng những sự văng sanh không bị chướng ngại mà hành nhân c̣n được sanh lên thượng thượng phẩm.
V́ lẽ đó, kinh Tịnh Danh khen ngợi Dâm, Nộ, Si, v́ thể tánh của chúng chính là Tạng Tánh, c̣n công dụng nhiễm hay tịnh của chúng th́ cũng giống như úp hay ngửa bàn tay mà thôi.
* Các kinh rộng khen Tịnh Độ nào là công đức chẳng thể nghĩ bàn, nào là pháp thế gian khó tin, hoặc là hết thảy chư Phật hộ niệm, hoặc là vô thượng thâm diệu Thiền, hoặc là phương tiện hay lạ, hoặc là vua của các tam-muội v.v… Cớ sao riêng đối với pháp môn Niệm Phật, chúng sanh lại hay khởi tâm nghi hoặc, thậm chí phá hoại niềm tin trong sạch của người khác, chướng ngại thiện hạnh của kẻ khác? Kẻ bạc phước trí kém thường quen thói như thế đó!
* Lặng lẽ như sống gửi, trường trai thờ Phật, đạm bạc vô dục, siêng tu học đạo.
* Sau khi văng sanh, được chứng ngộ xong, hăy nên đoái tưởng Sa Bà, trở lại sống nhờ trong cơi này để giúp bạn lữ, khuyên dỗ quần mê; lại c̣n phân thân trong cơi nước khác trong những phương khác, ứng tích qua lại ba cơi, trọn chẳng hề nhọc mỏi.
* Minh là chẳng tối tăm, tịnh là chẳng tán loạn. Minh tịnh chính là kết quả của Chỉ - Quán, là thể của Định - Huệ mà cũng là bản thể của cái tâm. Chỉ - Quán là công phu, Định - Huệ là nhân hạnh, minh tịnh là công năng. Minh tịnh đến cùng cực sẽ liền khế hợp bản thể. Nếu đạt được như vậy, sẽ thành Phước Trí Nhị Nghiêm.
* Thân tâm tịch định là Chỉ. Quán tướng lông trắng giữa hai mày của Phật là Quán. Tướng bạch hào rạng rỡ là Minh. Giữ chắc chẳng động là Tịnh. Nghĩa là: Nhờ vào thân tướng của Phật để huân tập tâm tánh của ta. Nếu quán trí thành tựu th́ sẽ tự nhiên hiển hiện.
* Hễ tu Quán th́ phải hiểu rơ vạn pháp duy tâm. Kinh dạy: “Tâm như thợ vẽ khéo, vẽ ra năm thứ ấm. Hết thảy trong thế gian, không ǵ tâm chẳng tạo!” không điều ǵ chẳng do tâm tạo. V́ thế, ta biết: Tướng hảo của Phật Di Đà tự nhiên tâm ta vốn sẵn đủ, [tướng hảo ấy] hiện ra trong khi ta nhập Định cũng chỉ là từ tâm ta phát sanh ra. Tâm này tạo thành tướng hảo, tâm này là tướng hảo, chẳng từ cái khác mà có, chẳng từ bên ngoài vào. Hiểu rơ được như thế th́ mới đáng gọi là tu Quán đúng pháp.
* Cổ đức có bài kệ:
Cảnh là Diệu Giả, Quán là Không.
Quán, Cảnh cùng mất chính là Trung.
Nhất tâm dung, tuyệt không tung tích,
Lặng chiếu chưa từng có trước, sau.
Diệu lư Cảnh - Quán viên dung được gói trọn không c̣n sót trong bốn câu kệ trên. Thấu hiểu được bài kệ trên sẽ hơn hẳn đọc mấy trăm quyển sách của tông Thiên Thai!
* Tịnh nghiệp hành nhân nhất tâm tŕ danh sẽ chắc chắn được văng sanh. Nếu kiêm tu diệu quán th́ phẩm vị c̣n cao hơn nữa. Một câu A Di Đà Phật chẳng dứt nơi tâm lẫn miệng, tai thường nghe khiến cho tạp niệm không cách nào xen vào được, lũ ma không có đường nào lấn vào. Tinh thần vui vẻ, mảy trần chẳng nhiễm, Tín -Nguyện kiên cố th́ sẽ mừng gặp thắng duyên.
C. Đại sư Tuân Thức so sánh công đức Niệm Phật
(trích từ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục)
Kinh Đại Bát Niết Bàn chép: “Giả sử có người trong ṿng một tháng thường dùng y phục cúng dường hết thảy chúng sanh, vẫn chẳng bằng được một phần mười sáu công đức của người niệm Phật trong một niệm.
Giả sử lấy vàng đúc thành h́nh người, dùng xe ngựa chuyên chở; cho đến các thứ bảo vật, thứ nào cũng đủ cả trăm món, đem ra bố thí, vẫn chẳng bằng người phát tâm, giở một bước chân hướng đến chỗ Phật.
Giả sử có người dùng xe voi lớn chở hết các thứ trân bảo trong đại quốc và các thứ anh lạc, thứ nào cũng đủ cả trăm món dùng để bố thí, vẫn chẳng bằng người phát tâm bước một bước hướng đến Phật.
Nếu dùng tứ sự cúng dường tất cả chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới, vẫn chẳng bằng người phát tâm bước một bước hướng đến Phật. [Người ấy] đạt được công đức vô lượng vô biên”.
Khuyên khắp những thiện nam tử, thiện nữ nhân tại gia nếu chí tâm tin ưa thế giới Cực Lạc th́ vào mỗi sáng sớm nên mặc áo, lắng ḷng, chiêm lễ tượng Phật giống hệt như thấy đức Phật thật sự, chẳng đành để lỡ ngày nào. Nếu như việc công, chuyện tư bề bộn, gấp rút th́ phải nên kiên định tâm ư; hễ rảnh lúc nào liền bước vào Phật đường thắp hương, đảnh lễ; chủ yếu là “bước một bước hướng đến Phật”! Nếu có lúc nhàn rỗi th́ sáng tối đều chẳng bỏ uổng, chẳng quản là sáng hay tối luôn luôn tinh tấn tu hành.
Xin hăy suy xét: công đức “niệm Phật trong một niệm” và “bước một bước hướng đến Phật” c̣n thù thắng đến như thế đó, huống là trong mỗi niệm, trong mỗi bước đều kinh hành niệm Phật th́ sẽ diệt trừ tội chướng và đạt được công đức thật chẳng thể nghĩ bàn!
D. Thuật niệm Phật tu tâm theo pháp sư Sơn Đường
(trích từ Tịnh Độ Thánh Hiền Lục)
Theo các kinh điển Đại Thừa khuyên người văng sanh Tịnh Độ, về mặt tu nhân th́ có hai thứ: Một là Định, hai là Tán.
1. Thứ nhất là Định Thiện, tức là dùng tâm quán tưởng A Di Đà Phật, ức niệm y báo, chánh báo, giáo chủ và bạn lữ trong thế giới Tây Phương Cực Lạc đều chỉ do tâm tạo, đều vốn tự sẵn có đủ. Do tánh của chính ngay cái tâm ấy là Không, cho nên A Di Đà Như Lai vốn là Không. Do tâm ta chính là Giả, nên A Di Đà Phật hiển hiện rơ ràng. Tâm ta chính là Trung Đạo, nên A Di Đà Phật dứt bặt đối đăi chẳng thể nghĩ bàn.
Hoặc là quán tưởng hoa sen nở ra hay c̣n búp, và ta ở ngay trong hoa sen ấy. Hoa sen c̣n búp biểu thị Không, hoa sen nở biểu thị Giả. Thanh, sắc, hương, vị h́nh thể tương đồng, biểu thị Trung Đạo.
V́ thế, kinh điển ghi: “Chư Phật Như Lai là Pháp Giới Thân nhập trong tâm tưởng của hết thảy chúng sanh. V́ thế, lúc tâm các ông tưởng Phật th́ tâm này là ba mươi hai tướng, tám mươi tùy h́nh hảo; tâm này làm Phật, tâm này là Phật’’.
Đấy chính là đức Thích Ca Như Lai đích thân khai thị Duy Tâm tam-muội, quán thể viên diệu thường trụ. Hiểu rơ chúng sanh, Phật Đà, y báo, chánh báo, sắc pháp, tâm pháp cơi Tịnh Độ Cực Lạc đều là các công đức mà bổn tánh tự tâm vốn sẵn có đủ, hết thảy cảnh giới do bổn tâm của ta quán tưởng. Ngoài tâm không có Phật, ngoài tự tánh không có cơi nước. Cứ quán chiếu như thế chẳng ngớt, sẽ có thể chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn.
2. Thứ hai là Tán Thiện: Tấm ḷng chân thật thanh tịnh tin tưởng vào thế giới Tây Phương Cực Lạc, nhất tâm bất loạn, hệ niệm Phật A Di Đà từ một ngày cho đến bảy ngày, tiếng niệm không ngớt, niệm niệm chẳng gián đoạn.
Kinh dạy: “Chấp tŕ danh hiệu hoặc trong một ngày… hoặc trong bảy ngày, nhất tâm bất loạn th́ người ấy lúc sắp lâm chung, A Di Đà Phật cùng các thánh chúng hiện ra trước mặt”.
Đây chỉ là nương vào sự tướng để ức tưởng cơi ấy, chẳng dùng đến ba phép quán Không, Giả, Trung, cho nên gọi là Tán Thiện. V́ thế, chỉ cần tuân hành ba thứ Tịnh Nghiệp, hồi hướng phát nguyện được văng sanh Tịnh Độ, sẽ đều sanh về thế giới Cực Lạc.
Tổ sư Trí Giả đại sư dạy: “Do v́ căn cơ có lợi, độn, cho nên tu hành có Định và Tán sai khác”. Quán Phật tam-muội gọi là Định, c̣n tu các thiện nghiệp khác th́ gọi là Tán. So ra, sức lực của Tán Thiện yếu hơn nên chẳng thể diệt trừ tội Ngũ Nghịch, mà kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật lại dạy về Quán Phật tam-muội nên có thể nhờ đó diệt trừ các tội Ngũ Nghịch, Thập Ác để văng sanh. Do vậy, chẳng cần luận là Định Thiện hay Tán Thiện, chẳng luận là độn căn hay lợi căn, tất cả đều là nhân để văng sanh Tịnh Độ, đều có thể hướng đến Vô Sanh, vĩnh viễn không thoái chuyển!
E. Liên Tŕ đại sư Tây Phương Phát Nguyện Văn Giản Chú
(Chú giải sơ lược bài văn phát nguyện văng sanh Tây Phương của đại sư Liên Tŕ)
(trích từ sách Phật Thuyết A Di Đà Kinh Bạch Thoại Giảng Giải)
Tác giả: Lư Viên Tịnh. Ấn Quang đại sư giám định
Chánh văn:
Khể thủ Tây Phương An Lạc quốc
Tiếp dẫn chúng sanh đại đạo sư
Ngă kim phát nguyện nguyện văng sanh
Duy nguyện từ bi ai nhiếp thọ
(Cúi lạy bậc đại đạo sư tiếp dẫn chúng sanh trong cơi nước An Lạc ở phương Tây; con nay phát nguyện, nguyện được văng sanh. Kính xin đức Phật từ bi xót thương nhiếp thọ)
Chú giải:
Hai câu đầu bài kệ diễn đạt ư quy mạng nơi Phật; hai câu tiếp đó diễn tả ư cầu Phật gia hộ.
“Khể thủ” nghĩa là dập đầu sát đất. Dập đầu áp sát đất một lát rồi mới ngẩng đầu lên nhằm biểu thị sự cung kính đến cùng cực. Chân thành và tôn kính đúng là bí quyết tối diệu để siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử.
“Phát” nghĩa là phát động mănh liệt giống như mũi tên ĺa khỏi dây cung, thế chẳng ngừng nghỉ giữa chừng. “Nguyện” nghĩa là mong cầu.
Ba điều Tín, Nguyện, Hạnh là cốt lơi của pháp môn Tịnh Độ. Hễ đă có nguyện, ắt phải có Tín và Hạnh, chẳng được khuyết bất cứ một thứ nào! Đầy đủ không thiếu sót ba điều này, nhất định sẽ văng sanh. Ngẫu Ích đại sư nói: “Được văng sanh hay không hoàn toàn là do có Tín, Nguyện hay không. Phẩm vị cao hay thấp hoàn toàn là do tŕ danh sâu hay cạn”. Lời dạy ấy chính là khuôn phép ngàn năm chẳng thể thay đổi!
1. Phát Bồ Đề tâm
Người tu Tịnh nghiệp trước hết phải phát Bồ Đề tâm th́ mới có thể tương xứng bổn nguyện của Phật. V́ thế, phải lấy phát Bồ Đề tâm làm chánh nhân, dùng niệm Phật làm trợ duyên; sau đấy mới cầu sanh về Tịnh Độ th́ chỉ trong một đời ắt sẽ thành tựu. Nếu không phát Bồ Đề tâm, chỉ được hưởng quả báo nhỏ bé trong đường trời người!
Ghi chú: Trong phần chánh văn dưới đây, trong nguyên bản, tác giả Lư Viên Tịnh đă dùng những chữ số nhỏ để đánh dấu cách phân chia chánh văn thành từng câu nhỏ để tiện chú giải từng ư.
Chánh văn:
1Đệ tử mỗ giáp phổ vị tứ ân tam hữu pháp giới chúng sanh 2cầu ư chư Phật Nhất Thừa Vô Thượng Bồ Đề Đạo cố; 3chuyên tâm tŕ niệm A Di Đà Phật vạn đức hồng danh, 4kỳ sanh Tịnh Độ.
(Đệ tử tên là… khắp v́ tứ ân, tam hữu, pháp giới chúng sanh cầu đạo Bồ Đề Vô Thượng Nhất Thừa của chư Phật, chuyên tâm tŕ niệm hồng danh vạn đức của Phật A Di Đà, nguyện sanh Tịnh Độ).
Chú giải:
1. “Tứ ân” là ân cha mẹ, ân chúng sanh, ân Tam Bảo và ân đất nước. “Tam hữu” là Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới. “Pháp giới chúng sanh” là hết thảy chúng sanh trong mười phương thế giới. Hai câu này đều nói về cảnh sở duyên; đây là v́ tâm này phải có chỗ nương tựa vào th́ mới có thể phát khởi, nhưng cảnh lại có rộng, hẹp, xa, gần sai khác. Tứ Ân là gần nhất, hẹp nhất; pháp giới chúng sanh là xa nhất, rộng nhất; tam hữu ở vào khoảng giữa. Bởi thế, phát tâm từ thân đến sơ, từ gần đến xa.
2. Chúng ta phát tâm niệm Phật chẳng phải chuyên v́ tự lợi, mà c̣n phải mong tứ ân, tam hữu, pháp giới chúng sanh đều được độ thoát, cùng chứng đắc Nhất Thừa Vô Thượng Bồ Đề đạo. Câu này nói đến cái tâm phát nguyện.
3. “Chuyên tâm” là trong tâm không hề có tạp niệm. “Tŕ niệm” là niệm niệm chẳng hề quên mất. “Vạn đức hồng danh” nghĩa là một danh hiệu có đủ cả vạn đức. Câu này nói đến đức Phật được niệm.
4. Câu cuối nói đến nơi chốn ḿnh mong cầu.
2. Sám hối ba chướng:
Đoạn này tiếp nối ư đoạn trước: Tuy đă niệm Phật phát tâm cầu sanh Tịnh Độ, nhưng v́ chúng sanh đời mạt căn cơ hèn kém, chậm lụt như vậy, nên cần phải gấp rút sám hối những tội chướng ấy. Trừ được chướng ngại, ắt được văng sanh. Nếu như chẳng trừ được nghiệp chướng của một trong ba độc, sẽ phải chịu ác báo trong tam đồ.
Chánh văn:
1Hựu dĩ, nghiệp trọng phước khinh, chướng thâm huệ thiển, nhiễm tâm dị xí, tịnh đức nan thành. 2Kim ư Phật tiền, kiều cần ngũ thể, phi lịch nhất tâm, đầu thành sám hối. 3Ngă cập chúng sanh khoáng kiếp chí kim, mê bản tịnh tâm, túng tham, sân, si nhiễm uế tam nghiệp vô lượng vô biên; sở tác tội cấu vô lượng vô biên; sở kết oan nghiệp nguyện tất tiêu diệt.
(Lại v́ nghiệp nặng, phước nhẹ, chướng sâu, huệ cạn, tâm nhơ dễ nẩy nở, đức sạch khó thành. Nay đối trước Phật, năm vóc siêng lạy, dốc sạch một ḷng, chí thành sám hối. Con cùng chúng sanh bao kiếp đến nay mê lầm tịnh tâm sẵn có, để tham, sân, si ô uế ba nghiệp, vô lượng vô biên tội cấu đă tạo, vô lượng vô biên oan nghiệp đă kết nguyện đều tiêu diệt)
Chú giải:
1. “Nghiệp” chính là Thập Ác. Thân có ba điều, tức là giết, trộm, dâm. Miệng có bốn điều là nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều và ác khẩu. Ư có ba điều là tham, sân, si.
“Nghiệp nặng” nghĩa là phạm đủ Thập Ác, hoặc là một ḷng một dạ nghĩ tưởng chuyện làm ác.
“Phước” là Thập Thiện, tương phản của Thập Ác. “Phước nhẹ” nghĩa là chỉ tu có mỗi một điều thiện, hoặc chỉ làm lành qua loa. Hoặc là như vừa mới niệm Phật đă than khô họng; vừa mới lễ Phật đă kêu đau lưng! Đấy đều là những duyên của “phước nhẹ”.
“Chướng” có hai thứ:
a. Trần duyên bức bách và ma tà, ngoại đạo trói buộc; đó là chướng từ bên ngoài.
b. Bệnh tật, chết yểu, ngu si, và điên đảo là chướng phát khởi từ bên trong.
“Chướng sâu” là nội chướng lẫn ngoại chướng cùng công phá ḿnh, chẳng hạn như vừa nghĩ đến chuyện tu hành liền bị bệnh ngặt, vừa hướng đến đạo đă gặp phải tà sư v.v…
“Huệ” gồm có Phương Tiện Huệ (Văn, Tư, Tu) và Chân Thật Huệ (Kiến Đạo…). “Huệ cạn” là nghe nhiều chỉ hiểu được đôi chút, hoặc chưa chứng Nội Phàm đă bảo ḿnh đạt tới Phật địa; vừa hiểu biết đôi chút sự việc thế gian đă khoe ḿnh chứng ngộ.
“Nhiễm tâm” chính là tham, sân, si. “Dị xí” nghĩa là tâm tham luyến khác nào những sợi tơ trong ngó sen cứ kéo dài măi chẳng đứt; tâm sân nộ như ngọn lửa dễ cháy bùng lên; tâm ngu si như lưới đan dày mắt, càng quấn càng dày. Lại có hạng người vừa gặp phải chuyện nhỏ nhặt đă ghim trong ḷng bao năm tháng, nghe lời không vừa ư liền kết oán suốt đời; há chẳng phải là “nhiễm tâm dị xí” hay sao?
“Tịnh đức” chính là Giới, Định, Huệ. “Khó thành” nghĩa là về Giới th́ đối với các luật nghi, giữ được th́ ít, vi phạm th́ nhiều; về Định th́ đối với Thiền Na dù lớn hay nhỏ, chẳng hề tu tập, hiểu biết; về Huệ th́ đối với những Diệu Trí dù Quyền hay Thật thường chẳng có cách nào chứng ngộ được. Hoặc là vừa mới lănh thọ giới phẩm, đă phá ngay giới tướng; vừa vào Thiền đường đă hôn trầm, lao chao. Đấy chẳng phải là “tịnh đức nan thành” hay sao?
Nếu như đă hiểu rơ những điều ấy, hăy nên sanh tâm hổ thẹn sâu xa, thống thiết tự trách, khẩn khoản sám hối th́ mới hợp đạo lư vậy!
Cả bốn câu này nói lên nguyên do sám hối, tức là lư do v́ sao chúng ta cần phải sám hối.
2. “Ngũ thể” (năm vóc) chính là hai khủy tay, hai gối và trán. Do v́ từ thân này tạo ra các nghiệp, nên phải dùng ngũ thể rạp lạy để sám hối; làm như vậy nhằm để biểu thị sự cung kính bên ngoài.
“Phi lịch” chính là mở toang ra, tẩy rửa sạch sẽ. Đấy là do từ ư khởi lên tham sân, cho nên ngày nay cần phải nhất tâm, dốc trọn tấm ḷng sám hối. Làm như vậy để biểu thị sự cung kính trong nội tâm.
“Đầu thành” (gieo tấm ḷng thành) nghĩa là đem trọn tấm ḷng thành của ḿnh hướng đến Phật. Sám hối là để đoạn cái tâm tiếp nối (tương tục tâm).
Cả bốn câu này nói lên phương pháp sám hối, tức là chúng ta phải nên sám hối như thế nào.
3. “Con cùng chúng sanh” ư nói chẳng phải chỉ có mỗi một người, “từ bao kiếp đến nay” ư nói chẳng phải chỉ mỗi một đời này. Cần nên biết rằng: Chúng sanh tạo ra tội nghiệp từ vô thỉ đến nay; đời đời kiếp kiếp lần lượt làm quyến thuộc, chủ bạn, lần lượt giúp đỡ, dắt dẫn nhau gây tạo. Đă cùng nhau tạo nghiệp, tất nhiên phải cùng nhau sám hối.
“Vô lượng vô biên” hàm ư chẳng phải chỉ có một chỗ. Vô lượng vô biên lại bao gồm năm ư nghĩa:
- Một là ước về tâm: Một niệm trần lao đă có đủ tám vạn [phiền năo], huống hồ là niệm niệm tiếp nối.
- Hai là ước về cảnh: Gây tạo nghiệp trong một chỗ đă là vô lượng, huống hồ tạo nghiệp khắp cả mười phương.
- Ba là ước về sự: Một nghiệp nếu thành, tội đă là không ngằn mé, huống hồ là có các nghiệp.
- Bốn là ước về thời: Chỉ một đời đă tạo nghiệp vô lượng, huống hồ trong cả bao kiếp.
- Năm là ước về người: Một người tạo nghiệp đă là vô lượng, huống hồ là chúng sanh!
V́ thế, nếu như nghiệp chướng có h́nh trạng th́ khắp cả hư không cũng chẳng thể chứa đựng được!
Câu “mê bổn tịnh tâm” (mê lầm tịnh tâm sẵn có) thể hiện ư sám hối Phiền Năo Chướng; câu “nhiễm uế tam nghiệp” diễn tả ư sám hối Nghiệp Chướng; câu “sở kết oán nghiệp” là sám hối Báo Chướng. “Nguyện tất tiêu diệt” là nguyện ba thứ chướng trên đây đều tiêu diệt.
3. Lập tứ hoằng thệ:
Nếu tu hành mà chẳng có thệ nguyện, chỉ e sẽ bị thoái thất nên phải dùng bốn pháp này để chế ngự cái tâm. Nếu thiếu sót bốn pháp này, sẽ dễ bị biếng nhác.
Chánh văn:
1Tùng ư kim nhật, lập thâm thệ nguyện: viễn ly ác pháp, thệ bất cánh tạo; 2cần tu thánh đạo, thệ bất thoái đọa; 3thệ thành Chánh Giác, 4thệ độ chúng sanh.
(Từ nay trở đi, lập thệ nguyện sâu: xa ĺa ác pháp, thề chẳng tạo nữa; siêng tu thánh đạo, thề chẳng lui đọa; thề thành Chánh Giác, thề độ chúng sanh)
Chú giải:
Câu đầu tiên chính là “phiền năo vô biên thệ nguyện đoạn”. Ấy là do xem thấy chúng sanh bị tham, sân, si, tà kiến năo hại mà ta chẳng thể cứu độ, nên lập ra thệ nguyện này; đấy là nương theo Tập Đế để phát tâm.
Câu thứ hai chính là “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Do xem thấy lục độ, vạn hạnh… hằng hà sa pháp môn có đủ vô lượng điều xứng tánh khoái lạc mà chúng sanh chẳng tu tập, trái lại c̣n tạo đủ các điều tội nghiệp, cho nên lập ra thệ nguyện này. Đây là nương theo Đạo Đế mà phát tâm.
Câu thứ ba “thệ thành Chánh Giác” chính là “Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”. Do v́ quán sát Phật đă diệt sạch phiền năo, chứng đắc niềm vui giải thoát, nhưng chúng sanh bất giác bất tri, phải lầm chịu đủ điều khổ sở, cho nên phát ra lời nguyện này. Đây chính là nương theo Diệt Đế mà phát tâm.
Câu thứ tư: “Thề độ chúng sanh” chính là “chúng sanh vô biên thệ nguyện độ”. Do xem thấy chúng sanh bị sanh, lăo, bệnh, tử bức bách chịu đại khổ năo, nên phát ra lời nguyện này. Đây chính là nương theo Khổ Đế mà phát tâm.
4. Cầu sanh Tịnh Độ
Do phát khởi các tâm nguyện như trên, cả Hoặc lẫn nghiệp cùng tiêu tan, cho nên tam-muội mới thành, mới dễ sanh trong chín phẩm hoa sen. Bởi vậy, cần phải cầu sanh Tịnh Độ. Nếu không phát nguyện cầu sanh, khó ḷng thoát khỏi luân hồi.
4.1. Cầu Phật gia hộ
Chánh văn:
1A Di Đà Phật dĩ từ bi nguyện lực đương chứng tri ngă, đương ai mẫn ngă, đương gia bị ngă. 2Nguyện Thiền Quán chi trung, mộng mị chi tế, đắc kiến A Di Đà Phật kim sắc chi thân, đắc lịch A Di Đà Phật bảo nghiêm chi độ, đắc mông A Di Đà Phật cam lộ quán đảnh, quang minh chiếu thân, thủ ma ngă đầu, y phú ngă thể.
(Xin A Di Đà Phật do từ bi nguyện lực nên chứng biết cho con, nên thương xót con, nên gia hộ con. Nguyện trong khi Thiền Quán, hay trong lúc mộng mị được thấy thân sắc vàng của A Di Đà Phật, được dạo qua cơi báu trang nghiêm của A Di Đà Phật, được A Di Đà Phật dùng cam lộ rưới đảnh, quang minh chiếu đến thân, tay Phật xoa đầu con, y Ngài trùm thân con)
Chú giải:
Do tâm Phật từ bi vô lượng nên Phật có nguyện lực. Do có nguyện lực, nên sẽ chứng biết. Do chứng biết, nên sẽ xót thương. Do xót thương, nên sẽ gia hộ. Cả bốn câu này diễn tả tấm ḷng mong Phật hộ niệm. Những câu kế tiếp đó diễn tả các cách đức Phật hộ niệm chúng ta.
4.2. Chánh phát nguyện
4.2.1. Phát nguyện trong đời hiện tại
Chánh văn:
Sử ngă túc chướng tự trừ, thiện căn tăng trưởng, tật không phiền năo, đốn phá vô minh, viên giác diệu tâm, khuếch nhiên khai ngộ, Tịch Quang chân cảnh thường đắc hiện tiền.
(Khiến cho con túc chướng tự trừ, căn lành tăng trưởng, chóng sạch phiền năo, mau phá vô minh, đột nhiên khai ngộ viên giác diệu tâm, Tịch Quang chân cảnh thường được hiện tiền)
Chú giải:
Do được Phật dùng cam lộ quán đảnh, nên ba thứ túc chướng: Hoặc, Nghiệp, Khổ tự diệt trừ. Do được quang minh của Phật chiếu đến thân, nên ba thứ căn lành Giới, Định, Huệ tự được tăng trưởng.
Chữ “phiền năo” chỉ Kiến Hoặc và Tư Hoặc. Phiền năo làm loạn tâm thần. Chữ “vô minh” chỉ căn bản hoặc, chẳng ngộ được Đệ Nhất Nghĩa Đế. Do được đức Phật dùng tay xoa đảnh đầu, nên mau chóng phá sạch các phiền năo, vô minh.
“Viên giác diệu tâm” là Năng Chứng Trí. “Tịch Quang chân cảnh” là lư sở chứng. Do được đức Phật dùng y trùm lên thân ta, đột nhiên ta khai ngộ được Viên Giác diệu tâm cho nên chân cảnh Tịch Quang thường hiện tiền.
4.2.2. Lâm chung nguyện
Chánh văn:
Chí ư lâm dục mạng chung, dự tri thời chí, thân vô nhất thiết bệnh khổ ách nạn, tâm vô nhất thiết tham luyến, mê hoặc. Chư căn duyệt dự, chánh niệm phân minh, xả báo an tường như nhập Thiền Định. A Di Đà Phật dữ Quán Âm, Thế Chí, chư thánh hiền chúng phóng quang tiếp dẫn, thùy thủ đề huề. Lâu, các, tràng phan, dị hương, thiên nhạc, Tây phương thánh cảnh chiêu thị mục tiền, linh chư chúng sanh kiến giả, văn giả hoan hỷ cảm thán, phát Bồ Đề tâm.
(Cho đến lúc mạng sắp chấm dứt, biết trước sắp đến lúc. Thân không có hết thảy bệnh khổ, nạn ách; tâm không có hết thảy tham luyến, mê hoặc. Các căn vui sướng, chánh niệm phân minh. Bỏ xác thân một cách an lành như đang nhập Thiền Định. A Di Đà Phật và Quán Âm, Thế Chí, các bậc thánh hiền phóng quang tiếp dẫn, đưa tay dắt d́u. Lầu, gác, tràng phan, hương lạ, nhạc trời. Thánh cảnh Tây phương hiện rơ trước mắt khiến cho các chúng sanh kẻ thấy, người nghe mừng rỡ, khen ngợi, phát Bồ Đề tâm)
Chú giải:
Biết trước ngày mất ba ngày hoặc bảy ngày th́ gọi là “dự tri thời chí” (biết trước sắp đến lúc văng sanh).
“Bệnh khổ” là Tứ Đại nơi thân chẳng điều ḥa. “Nạn ách” là các nạn nước, lửa, đao binh, độc dược…
“Tham luyến” là chẳng hạn như ăn chay lâu năm, lúc lâm chung lại ngă mặn; hoặc đang một dạ niệm Phật, khi lâm chung chợt sợ chết; hoặc v́ ân ái vấn vương, thậm chí khó ḷng chia tay, buông bỏ nổi; hoặc là hứa nguyện, van vái, cam tâm cầu thần, chạy thuốc v.v…
“Mê hoặc” là tự nghi ḿnh nghiệp chướng sâu nặng, hoặc nghi công hạnh cạn mỏng, hoặc nghi Phật chẳng đến rước v.v…
“Các căn vui sướng” là năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân không bệnh, không nạn. “Chánh niệm phân minh” chỉ căn thứ sáu tức là ư căn không tham, không lầm lạc.
“Bỏ xác thân một cách an lành” là buông bỏ cái thân ta đă thọ đây chẳng hề lo lắng, chẳng hề mê loạn. “Như nhập Thiền Định” là ngồi mà tịch, hoặc đứng mà thác.
Từ câu “A Di Đà Phật” trở đi nói rơ về sự cảm ứng đạo giao. C̣n từ câu “khiến cho các chúng sanh” trở đi là nói đến sự lợi ích do thấy và nghe.
4.2.3. Văng sanh nguyện
Chánh văn:
Ngă ư nhĩ thời, thừa kim cang đài tùy tùng Phật hậu; như đàn chỉ khoảnh sanh Cực Lạc quốc, thất bảo tŕ nội, thắng liên hoa trung. Hoa khai kiến Phật, kiến chư Bồ Tát, văn diệu pháp âm, hoạch Vô Sanh Nhẫn.
Ư tu du gian, thừa sự chư Phật, thân mông thọ kư. Đắc thọ kư dĩ, tam thân, tứ trí, ngũ nhăn, lục thông, vô lượng bách thiên đà la ni môn, nhất thiết công đức giai tất thành tựu.
(Con trong khi ấy nương đài kim cang theo sau đức Phật. Như trong khoảng khắc vừa khảy ngón tay sanh cơi Cực Lạc trong ao bảy báu, trong hoa sen nhiệm mầu. Hoa nở thấy Phật, thấy các Bồ Tát, nghe tiếng pháp mầu, đắc Vô Sanh Nhẫn. Chỉ trong khoảnh khắc, thờ kính chư Phật, liền được thọ kư. Được thọ kư xong, ba thân, bốn trí, ngũ nhăn, sáu thông, vô lượng trăm ngàn đà-la-ni môn, hết thảy công đức thảy đều thành tựu)
Chú giải:
Câu “như đàn chỉ khoảnh” (như trong khoảng khảy ngón tay) ngụ ư văng sanh cực kỳ mau chóng. “Đắc Vô Sanh Nhẫn” là hiểu rơ các pháp vốn bất sanh bất diệt. “Tam thân” là Pháp Thân, Báo Thân và Hóa Thân. “Tứ trí” là Đại Viên Kính Trí, B́nh Đẳng Tánh Trí, Diệu Quán Sát Trí, Thành Sở Tác Trí. “Ngũ nhăn” là nhục nhăn, thiên nhăn, huệ nhăn, pháp nhăn và Phật nhăn. “Lục thông” là thiên nhăn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, túc mạng thông, thần túc thông và lậu tận thông. “Đà la ni” dịch nghĩa là Tổng Tŕ, tức là bao gồm hết thảy các pháp, nắm giữ vô lượng nghĩa. Từ câu “thờ kính chư Phật” trở đi diễn tả rơ h́nh tướng của các công đức ấy.
5. Trở vào Sa Bà
Chánh văn:
Nhiên hậu, bất vi An Dưỡng, hồi nhập Sa Bà, phân thân vô số biến thập phương sát, dĩ bất khả tư nghị tự tại thần lực, chủng chủng phương tiện độ chúng chúng sanh hàm linh ly nhiễm, hoàn đắc tịnh tâm, đồng sanh Tây Phương, nhập Bất Thoái địa.
(Sau đó, chẳng ĺa An Dưỡng, trở vào Sa Bà, phân thân vô số khắp mười phương cơi, dùng sức thần lực chẳng thể nghĩ bàn, các thứ phương tiện độ các chúng sanh khiến đều ly nhiễm, khôi phục tịnh tâm, cùng sanh Tây Phương, chứng đắc Bất thoái)
Chú giải:
“Chẳng ĺa An Dưỡng” là Pháp Thân bất động. “Phân thân vô số” là Hóa Thân ứng hiện. “Khắp mười phương cơi” là chẳng phải chỉ thấy hiện hữu trong một cơi nước. “Phương tiện độ sanh” là dùng tài thí để nhiếp phục kẻ tham lam, dùng ái ngữ nhiếp phục kẻ ương ngạnh; dùng lợi ích nhiếp phục kẻ làm lành; dùng đồng sự nhiếp phục kẻ làm ác. “Ly nhiễm” là ba thứ Hoặc chướng chẳng khởi; “tịnh tâm” là chứng trọn vẹn ba đức. Bất Thoái gồm có ba loại:
a.Vị Bất Thoái: Trọn chẳng lui sụt xuống phàm phu, Nhị Thừa.
b. Hạnh Bất Thoái: Trọn chẳng lui sụt hạnh nghiệp đă tu.
c. Niệm Bất Thoái: Quyết không có một niệm nào lầm lạc, quên mất.
"Nhập Bất Thoái địa” c̣n có nghĩa là một khi đă sanh về Tây Phương, dẫu sanh trong Biên Địa, Nghi Thành đi nữa, quyết cũng chẳng đọa trong tam đồ. Hai câu “khiến đều ly nhiễm…” đều nói về lợi ích trong hiện đời. C̣n câu “cùng sanh Tây phương” nói đến lợi ích trong đời sau.
Chánh văn:
Như thị đại nguyện, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận, nghiệp cập phiền năo nhất thiết vô tận, ngă nguyện vô tận.
(Đại nguyện như thế, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận; nghiệp và phiền năo hết thảy vô tận, con nguyện vô tận).
Chú giải:
Đoạn văn này để tổng kết các đoạn trên.
6. Hồi hướng khắp cả
Chánh văn:
1Nguyện kim lễ Phật, phát nguyện, tu tŕ công đức, hồi thí hữu t́nh, tứ ân tổng báo, tam hữu tề tư. 2Pháp giới chúng sanh đồng viên Chủng Trí.
(Nguyện công đức lễ Phật, phát nguyện, tu tŕ hiện tại hồi hướng hữu t́nh, báo trọn bốn ân, giúp khắp ba cơi. Pháp giới chúng sanh cùng được viên măn Nhất Thiết Chủng Trí)
Chú giải:
Hồi hướng có ba loại:
a. Một là hồi kỷ hướng tha: Do v́ từ vô thỉ đến nay, chúng sanh làm các nghiệp lành ǵ cũng chỉ nghĩ đến bản thân và quyến thuộc mà thôi, nay hăy nên xoay cái tâm ấy hướng đến khắp các chúng sanh, đem những việc ḿnh đă tu thí hết cho họ, chỉ nguyện người khác được lợi, chẳng mong bản thân ḿnh hưởng an lạc.
Đấy cũng là “báo trọn bốn ân, giúp khắp ba cơi”.
b. Hai là hồi nhân hướng quả: Từ vô thỉ đến nay, chúng sanh chỉ biết mong cầu phước báo trong đường trời, người; chẳng biết mong cầu thánh quả xuất thế, nay hăy nên xoay cái tâm ấy hướng đến Vô Thượng Bồ Đề, đem hết thảy các thiện nghiệp do ta đă tu để trang nghiêm trọn vẹn Phật quả.
Đây chính là hồi hướng “pháp giới chúng sanh cùng được viên măn Nhất Thiết Chủng Trí”. “ChủngTrí” chính là trí huệ của Phật.
c. Ba là hồi Sự hướng Lư: Cả hai loại hồi hướng trên đây đều là sự tướng; nhưng Lư vốn nằm trong Sự, nên cả ba thứ hồi hướng đều được trọn vẹn; do đó, chẳng cần phải nói rơ.
Hồi Sự hướng Lư là năng tu (người tu), sở tu (công đức, thiện nghiệp do người ấy tu tạo), tâm năng hướng (tâm hồi hướng), sở hướng (công đức do ta đem hồi hướng) xét trong Thật Tế (Lư Nhất Thể) th́ những cặp khái niệm nhị nguyên ấy đều tiêu diệt hết, không c̣n có các tướng sai biệt.
Thêm nữa, người tu Tịnh nghiệp làm được điều lành ǵ đều trước hết hồi hướng về Tây Phương. Do tâm ấy, sẽ chuyển hóa phước ấy hướng theo chánh lộ văng sanh Tây Phương. Nếu chẳng hồi hướng, chỉ e tâm bị phước ràng buộc, lại sanh trong tam giới, phải hiểu rơ điều này!
[1] Kim Tiên: một danh từ người Trung Hoa dùng để gọi Phật. V́ Phật thân sắc vàng ṛng (tử kim thân) nên họ Phật là Kim Tiên. Một danh xưng khác cũng thường dùng để chỉ Phật là Hoàng Diện Công (ông mặt vàng).
[2] Theo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, ‘biến chỗ sống thành chỗ chín, biến chỗ chín thành chỗ sống’ nghĩa là biến cái tâm niệm Phật thô phù, hời hợt thành tâm niệm Phật chắc thật, thuần thục; biến cái tâm tham đắm cảnh duyên, tham, sân, si, tập khí sâu nặng thành mỏng nhẹ.
[3] Nhất tâm tam quán: Tam Quán là Trung Quán, Giả Quán, và Không Quán.
[4] Nhập lưu: Từ sự nghe, truy ngược trở lại Nhĩ Thức để thấy rơ Nhĩ Thức là tác dụng của tâm thức, thấy được tánh Nghe.
[5] Dân Quốc là thời gian kể từ năm 1911 trở đi. Sau cách mạng Tân Hợi (1911), nhà Thanh bị lật đổ, chính quyền dân chủ được thành lập và đổi tên nước Đại Thanh thành Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1911 (đúng ra tháng Giêng năm 1912) được gọi là năm Dân Quốc thứ nhất. Hiện ở Đài Loan vẫn c̣n thông dụng cách tính niên đại theo năm Dân Quốc, chẳng hạn năm 2002 là năm Dân Quốc 91.
[6] Do pháp môn Tịnh Độ viên măn nên gọi là Viên Tông (không phải là Viên Thông).
[7] Thời khóa công phu mỗi ngày gọi là hằng khóa.
[8] Đàn việt (danapati): thí chủ, tín thí.
[9] Tu theo thứ tự chín lớp (cửu thứ đệ tu): C̣n gọi là Cửu Thứ Đệ Định, tức là chín pháp hành Thiền theo thứ tự không gián đoạn, tức là: Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền, Tứ Thiền, Không Xứ, Thức Xứ, Vô Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ và Diệt Thọ Tưởng Định.
[10] Siêu t́nh ly kiến: Không thể nào dùng tư duy, kiến giải để phân biệt, hiểu biết được. Ly cú tuyệt phi hay c̣n nói là “ĺa tứ cú, tuyệt bách phi”, tức là không c̣n thuộc trong phạm trù đối đăi nào. Tứ cú là có, không, cũng có cũng không; chẳng phải có chẳng phải không. Bách chỉ cho số nhiều, phi là các câu phủ định như phi hữu, phi vô v.v… Bách phi nghĩa là tất cả văn tự, ngôn ngữ đều chẳng phải thật có. Kinh điển hay dùng chữ “ly tứ cú, tuyệt bách phi” để diễn tả lư vô tưởng, bất khả đắc, không c̣n vướng chấp vào bất cứ khái niệm nào.