Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư
Hán văn: Pháp sư
Thích Diễn Bồi
Việt dịch: Sa
môn Thích Trí Minh
Khái
thuật tiểu sử Ḥa Thượng Thích Trí Minh
1. Thân thế, ḍng dơi
Ḥa Thượng Thích Trí Minh, pháp
hiệu là Huệ Định, tự Giải Không, pháp danh Tâm Hy
do Bổn Sư của ngài đặt. Riêng pháp hiệu Trí
Minh là Pháp Sư thượng Trí hạ Tịnh, vốn là
ḥa thượng của chùa Vạn Đức ban cho. Thế
danh của Ḥa Thượng là Đặng Lợi, tự
Ngọc Chấn, sinh năm 1921 tại xă Phước B́nh,
huyện Hoài Ân, tỉnh B́nh Định.
Phụ thân của Ḥa Thượng là cụ
Đặng Hiển, tự Quang Minh, lúc trẻ là xă
trưởng, một chức vụ cao cấp trong làng.
Đến lúc về già, được các hương chức
và nhân dân trong vùng suy tôn lên chức Thủ Sắc. Theo
tục lệ miền Trung, người được suy
tôn lên chức vị Thủ Sắc phải là người
có đức hạnh, cao niên, và gia tộc phải thuộc
thành phần nghiêm chính và liêm khiết, để đại
diện dân chúng phụng thờ các vị Thần, Thánh trong
lành, danh từ địa phương gọi là các “sắc
thần”, cho nên chức vụ này gọi là Thủ Sắc.
Mẫu thân Ḥa Thượng nhũ danh
là Nguyễn thị Hà, tự Trinh Thuận, cũng là
một bậc nữ lưu đoan chính. Ḥa Thượng là
con thứ bảy trong gia đ́nh (Ngài là con trai út, sau Ngài là
người em gái út).
2. Cuộc đời
Cuộc đời tu hành của Ḥa
Thượng có thể tóm lược thành các giai
đoạn sau đây:
a. Xuất gia
Năm 18 tuổi, Ḥa Thượng
xuất gia tại chùa Sắc Tứ Long Khánh, thị xă Quy
Nhơn, tỉnh B́nh Định. Bổn Sư của Ḥa
Thượng là Đại Lăo Ḥa Thượng thượng
Chánh hạ Nhơn, bạn thân của Tổ Phước
Huệ chùa Thập Tháp, thành B́nh Định, thầy của
Hoàng Thái Hậu - mẹ hoàng đế Bảo Đại. Khi
ở ngôi già-lam này, Ḥa Thượng làm thị giả cho
Bổn Sư của ngài suốt ba năm và học giáo lư
Phật pháp. Trong thời gian này, ngoài phần học giáo lư
Phật pháp và hai thời khóa tụng hằng ngày, Ngài
chỉ học thuộc ḷng bốn quyển Luật
Trường Hàng, chờ đợi có lúc tổ chức
Giới Đàn khóa luật để thọ giới Sa Di.
Năm 1942, tại chùa Hưng Khánh,
phủ Tuy Phước, tỉnh B́nh Định, có mở
Giới Đàn, Ḥa Thượng đă thọ giới Sa Di
tại đây.
b. Thời
kỳ tu học Phật pháp
Thời kỳ này bắt đầu
từ năm 1942 đến 1950. Ṛng ră suốt 9 năm, Ḥa
Thượng đă trải qua 5 ngôi Phật Học
Viện, suốt từ giải đất miền Trung
“đất cày lên sỏi đá”, vào đến tận
miền Nam “ruộng đồng thẳng cánh c̣ bay”. Với
tinh thần tinh tấn dơng mănh, Ḥa Thượng đă
quyết ḷng tiến bước trên con đường
học đạo.
Năm 1946, Ḥa Thượng về tu
học tại Phật Học Viện Phật Quang,
quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, cũng tại nơi
này, Ḥa Thượng cùng cố viện trưởng
viện Hóa Đạo là Thích Thiện Hoa và một số
chư Tăng khác đến chùa Kim Huê, tỉnh Sa Đéc,
đảnh lễ cung thỉnh Đại Lăo Ḥa Thượng
Viện Chủ Kim Huê khai đàn thí giới. Cố Ḥa
Thượng Thích Thiện Hoa và Ngài thọ giới Tỳ
Kheo và Bồ Tát tại đây. Những ngôi Phật học
viện ngài đă trải qua trong thời kỳ này là:
- Lưỡng Xuyên Phật Học
Viện thuộc tỉnh Trà Vinh.
- Phật Quang học viện thuộc
quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ.
- Liên Hải Phật Học Viện,
thuộc xă B́nh Trị Đông, huyện B́nh Chánh, tỉnh Gia
Định (nay là chùa Vạn Phước).
- Báo Quốc Phật Học Viện,
tỉnh Thừa Thiên.
- Từ Đàm Phật Học Viện,
tỉnh Thừa Thiên.
c. Hành
Phật sự
Năm 1950, cả 3 Phật học
viện Liên Hải, Mai Sơn và Ứng Quang (tức chùa
Ấn Quang ngày nay) hợp nhất tại chùa Sùng Đức.
Ḥa Thượng về đây để cùng làm công tác
Phật sự với chư Tăng, gồm có cố Ḥa
Thượng Thích Thiện Hoa, giám đốc Phật
Học Viện Ấn Quang, Thượng Tọa Huyền
Dung, Thượng Tọa Quảng Minh.
d. Thời
gian chuyên tu
Bắt đầu từ năm 1952 cho
đến nay, Ḥa Thượng đă hoàn toàn dứt bặt
mọi ngoại duyên, cam nhận cuộc đời ẩn
tích mai danh, chuyên tu tịnh nghiệp. Suốt gần 42
năm, tấm áo cà sa đă trải qua không biết bao nhiêu
nỗi thăng trầm gian khổ của con
đường tu hành.
Ḥa Thượng đă rày đây mai
đó, khi th́ vào thâm sơn cùng cốc, lúc lại về
chốn làng mạc hoang vắng tiêu sơ. Cuộc
đời tu hành phiêu bạt, nối tiếp suốt gịng
thời gian âm thầm lặng lẽ. Ngài khước
từ mọi danh vọng, chức vị mà lẽ ra,
với cương vị một cao tăng đạo pháp,
đức hạnh kiêm toàn như Ngài thừa sức
nắm giữ.
Ḥa Thượng chỉ tha thiết
với hoài băo duy nhất là đem tất cả tâm lực
hướng về đấng Từ Phụ A Di Đà, cầu
mong khi xả báo thân, Ngài sẽ được văng sanh
về nước An Dưỡng. Ḥa Thượng muốn
chứng minh cho mọi người thấy sự mầu
nhiệm nơi lời hạnh nguyện bất diệt
của đức Từ Phụ A Di Đà, đồng
thời, cũng muốn nêu tấm gương trong
sạch, thanh cao của một vị Bồ Tát. Với ḷng
từ bi vô lượng, Ngài muốn tất cả
đệ tử của Ngài, cũng như Phật tử
gần xa, noi theo tấm gương tu hành, bất chấp
mọi gian lao, không nài bao thử thách của kẻ đă
quyết chí đi theo con đường giải thoát
của chư Phật.
Đức hạnh cao quư của Ḥa
Thượng, bất cứ đồ đệ hay
Phật tử nào được phước duyên kề
cận đều không thể nào phủ nhận Ngài là
vị chân tu, đă sống một cuộc đời
hết sức thanh bần, giản dị: Một tịnh
thất đơn sơ, chỉ với đôi mái lá chan ḥa
mưa nắng, bốn bức vách ghép bằng những thân
cây c̣n nguyên dạng, thật thô sơ. Manh áo hoại sắc
bạc màu in dấu ấn thời gian qua những mảnh
vá trên đôi vai mỗi ngày một c̣ng xuống, theo tuổi
hạc tháng năm chồng chất. Ḷng khát khao giải
thoát với niềm tin sâu dày đối với Phật
pháp, thể hiện một cách sâu sắc qua lời cầu
xin Tam Bảo chứng minh gia hộ, khi Ngài tự thuật
cuộc đời ḿnh:
“Nam mô Thập Phương
Thường Trụ Tam Bảo.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Từ
Phụ A Di Đà Phật.
Cúi xin mười phương Tam
Bảo, Bổn Sư Thích Ca, Từ Phụ A Di Đà Phật
bất xả từ bi, chứng minh gia hộ con: Bồ Tát
giới tỳ kheo Thích Trí Minh, thừa từ lực
của Tam Bảo và Bổn Sư Thích Ca, Từ Phụ A Di
Đà Phật, tự thuật sơ lược cuộc
đời con. Những lời tự thuật này chỉ
xin tóm lược một phần trong trăm phần
khoảng đời từ thuở c̣n ở thế tục
cho đến nay đă quá thất tuần”.
Ư nguyện tha thiết được
văng sanh của Ngài đă thể hiện rơ ràng khi giải
thích về Pháp danh của ḿnh:
“Pháp hiệu của tôi chính là Huệ
Định, tự Giải Không, pháp danh Tâm Hy là do Bổn Sư
của tôi ban cho, c̣n pháp hiệu Trí Minh là do Pháp Sư
thượng Trí hạ Tịnh ban cho. V́ khi tùng học
với Pháp Sư tại Phật học viện Phật
Quang (Cần Thơ), tôi nhận thấy Pháp Sư là một
bậc tài đức kiêm toàn, nên tôi cầu Ngài làm Y Chỉ
Sư cho tôi, nhưng Ngài từ khước và chỉ
nguyện kết làm huynh đệ, trong lúc sống
đồng tu hành, đồng làm Phật sự, khi xả
báo thân này, đồng văng sanh Cực Lạc thế
giới, nên Ngài tặng tôi pháp hiệu Trí Minh”.
Ngoài tấm ḷng tha thiết, ư nguyện
quyết tâm trực chỉ Tây Phương, Ḥa
Thượng c̣n là một vị tu hành ǵn giữ giới
hạnh thật nghiêm túc, luôn thể hiện một phong
thái từ ái, khiêm nhường. Có thể nói, suốt
thời gian ngày cũng như đêm, Ngài không sót một
thời khóa tu hành nào, nếu không muốn nói, Ngài tận
dụng hết cả thời gian của ḿnh để
chuyên tu Tịnh nghiệp.
Trong lúc hoàn cảnh Ngài thật
đơn độc, sức khỏe ở vào giai
đoạn suy thoái trầm trọng. Tu cho ḿnh, Ngài không bao
giờ quên tất cả chúng sanh đang ch́m đắm
trong biển trầm luân sanh tử, nhất là vào thời
điểm Phật pháp đang ở vào giai đoạn
mạt pháp, Ḥa Thượng càng quan tâm sâu sắc, lo
lắng tận cùng cho cơ nghiệp Phật giáo, dù Ḥa
Thượng không trực tiếp tham gia các hoạt
động của giáo hội.
Mục tiêu chính yếu của Ngài là xây
dựng những nhân tố hoàn thiện, hoàn lương
trong giới đệ tử của Ngài, cũng như
tất cả Phật tử hai chúng xuất gia và tại
gia. Ḥa Thượng nhận thấy t́nh trạng suy thoát
của Phật giáo đồ đang ngày càng nguy ngập,
chánh pháp của Như Lai ngày càng không được
xiển dương đúng mức, nhất là Giới Luật
của Phật, một nền tảng duy nhất và căn
bản cho những người muốn thực hiện
sự giải thoát chân chính, đă không được
giới Phật tử ngày nay xem trọng.
Nỗi lo
âu trước hiểm họa diệt vong của nhân
loại cùng sự suy tàn của Phật giáo đă khiến
Ḥa Thượng quên đi tuổi già mắt mờ, tai
yếu, thân thể đau ốm triền miên; Ngài đă
dồn hết tâm lực để phiên dịch bộ sách
“Phạm Vơng Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư” do Pháp
Sư Thích Diễn Bồi, một cao tăng của Trung
Quốc thuyết giảng. Suốt thời gian phiên
dịch, với bao công tŕnh gian khổ, bao thử thách cam
go, Ngài đă chiến thắng tuổi già, chiến
thắng ma bệnh, vượt mọi thử thách,
để hoàn thành bộ sách trong hoàn cảnh hết
sức khó khăn nghiệt ngă: chỗ ở không ổn
định, không người hầu cận chăm sóc chu
đáo.
Chúng ta hăy nghe lời tâm sự chân thành,
đầy xúc cảm của Thầy khi nói về thời
gian chuyên tu của ḿnh, với một tinh thần hết
sức khiêm nhường khả kính:
“Nói đến chuyên tu, nơi đây
ḷng tôi hổ thẹn muôn phần. Tại sao thế? V́ ư
nghĩa chuyên tu là bặt dứt muôn duyên, và có người
hỗ trợ để có thể nhất tâm tu niệm cho
được thành tựu một pháp môn nào. Chẳng
hạn như pháp môn Thiền hay Niệm Phật. Nhưng
ngược lại, tôi luôn bị muôn duyên ràng buộc, làm
cho thân tâm không an. V́ trong thời gian cộng tác với
chư Ḥa Thượng, Thượng Tọa, để làm
các Phật sự nói trên, báo thân của tôi mang nhiều
tật bệnh, nên đối với các Phật sự tôi
hoàn toàn bất lực. Ḷng quá buồn đau, tôi t́m chỗ
ẩn tu, cầu sớm được xả bỏ báo
thân để về quê hương Cực Lạc. Ư
muốn dù như thế, nhưng sự thực hành là
cả một vấn đề trăm ngàn phần khó
khăn. V́ hoàn cảnh tôi cô thân đơn độc, linh
đinh rày đây mai đó, lại không người giúp
đỡ.
Thế nên, trong suốt thời gian
từ năm 1952 đến năm 1994 là 42 năm, trong
thời gian ấy, dù mang danh Viện Chủ ngôi già-lam Mai
Sơn, xă B́nh Trị Đông, huyện B́nh Chánh, nhưng sự
thật là việc chùa tôi hoàn toàn không biết đến, v́
mải rày đây mai đó… Thân tôi chẳng khác nào chiếc
lục b́nh lênh đênh trên sông lớn… nhất là trong lúc
dịch bộ kinh “Phạm Vơng Bồ Tát Giới Giảng
Kư” này. Về nội chướng th́ thân bệnh khổ
triền miên, đôi mắt lại bị cườm, nên
không thấy rơ. C̣n về ngoại chướng th́ thôi không
thể nói… Tuy nhiên, tôi rất cảm động hồng ân
Tam Bảo đă minh gia, nên bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát
Giới Bổn Giảng Kư đă được thành
tựu. Và dù chịu nhiều gian truân khổ sở,
nhưng bản thân tôi vẫn cố vững bước
trên con đường giải thoát và tiếp tục
cuộc hành tŕnh…”
Với những ḍng sơ lược
về tiểu sử của Ḥa Thượng, người
viết bài này chỉ là một đệ tử tại gia
của Thầy. Nhưng với tấm ḷng ngưỡng
mộ tấm gương tu hành cao quư, cũng như ḷng
tận tụy hy sinh v́ đạo pháp của Thầy, chúng
tôi ước mong những lời dịch thuật vàng
ngọc của Ḥa Thượng qua bộ kinh “Phạm Vơng
Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư” sẽ được
sự tiếp nhận trong tinh thần tôn kính, tha thiết
và ân cần của những Phật tử hữu duyên
với Phật pháp, hữu duyên với Thầy, một ḷng
chuyên nhất, đem tất cả tâm tư, chí nguyện
hướng về con đường giải thoát chân
chính.
Chúng tôi xin thành tâm cầu nguyện
hồng ân Tam Bảo gia hộ cho tất cả Phật
tử, những vị nhiệt tâm v́ đạo pháp, có
đầy đủ thiện duyên lănh hội và tuân hành
triệt để những lời pháp vô giá, để
không phụ ḷng từ bi của chư Phật, của Pháp
Sư Diễn Bồi, người trực tiếp
giảng các giới của bộ kinh này, và nhất là
đối với Ḥa Thượng Thích Trí Minh, vị
thầy tôn kính, đă dầy công phiên dịch từ Hán
văn sang Việt văn, bằng những lời lẽ
đầy cố gắng, để phù hợp với tŕnh
độ của mọi giới Phật tử.
Lẽ tất nhiên, chúng tôi nghĩ
rằng bản dịch này không thể nào đáp ứng yêu
cầu của mọi tầng lớp Phật tử
với nhiều tŕnh độ khác nhau: những
người b́nh dân sở học c̣n hạn chế, cũng
như đối với quư học giả kiến thức
uyên thâm, văn từ điêu luyện. Dịch giả đă
cố gắng hết sức ḿnh trong công việc phiên
dịch này, một công tŕnh đ̣i hỏi nhiều thời
gian và công sức, mà với điều kiện sức
khỏe yếu kém, dịch giả khó ḷng khắc phục.
Ngoài ra, công việc phiên dịch nếu
muốn hoàn hảo, đ̣i hỏi dịch giả phải
là người có tŕnh độ chuyên môn thật cao,
kiến thức về ngôn ngữ thật rộng. Đôi lúc
cần phải có điều kiện t́m hiểu sâu về
đặc điểm của nền văn hóa các dân
tộc, nơi nguyên tác được h́nh thành, cũng
như nơi sử dụng ngôn ngữ mà dịch giả
đang phiên dịch. Như thế mới có thể
chuyển dịch toàn bộ tư tưởng của nguyên
tác, đồng thời vẫn tạo cho người
đọc cảm giác gần gũi, mà qua bản dịch,
độc giả không c̣n cảm thấy ranh giới
giữa các ngôn ngữ. Nói như vậy để mong
tất cả quư độc giả, cùng chư Phật
tử cảm thông cho tấm ḷng Ḥa Thượng. Ngài
chỉ có một hoài băo duy nhất là muốn chấn
hưng lại cơ đồ Phật giáo đang bị
lung lay tận gốc, trước t́nh trạng giới
luật không được các tín đồ Phật giáo tôn
trọng và tuân hành nghiêm túc như hiện nay.
Ngài muốn cho bánh xe pháp lưu
chuyển đến mọi nơi; ḍng pháp nhũ của
Phật rót vào tận tâm hồn những chúng sanh c̣n mải
ch́m đắm trong đêm dài tăm tối, dẫy
đầy giết chóc, tràn ngập đau thương.
Chung quy cũng là v́ ánh đạo vàng của Phật không
c̣n được rạng ngời trong ḷng chúng sanh hiện
đại, những con người chỉ biết mải
miết đeo đuổi mộng mưu bá đồ vương,
lao ḿnh vào biển lửa chiến tranh, để mong t́m
cầu hạnh phúc trong vật chất xa hoa hoặc bóng
h́nh lợi danh hư ảo.
Bằng tất cả sức lực
tồn tại trong tấm thân già nua mà phút vô thường
không bao giờ hẹn trước, Ḥa Thượng đă
dồn hết vào công tŕnh dịch thuật này.Thầy
đă hy sinh quá nhiều cho đạo pháp, tận lực v́
chúng sinh, nỗ lực kết lại chiếc bè pháp
để đưa rước khách hữu duyên. Trong
những tháng năm c̣n lại của cuộc đời,
Ngài vẫn không nguôi ḷng từ mẫn đối với
chúng ta, luôn giúp toàn thể chúng sinh cơ hội trở
về quê hương vĩnh cửu. Đó chính là nước
Cực Lạc thanh lương, giải thoát của
đức Từ Phụ A Di Đà.
Thành tâm cảm thán:
THƯỢNG
đức ngàn thu rực ánh vàng,
TỌA Thiền,
niệm Phật hướng Tây Bang,
TRÍ lành tận lực
phiên kinh báu,
MINH tuệ dốc
ḷng độ chúng sanh,
THANH tịnh tâm thành
dương Phật pháp.
TU hành chí quyết
đáo Tây Phương.
TỊNH am vùi lấp
mùi chung đỉnh
NGHIỆP đạo
hoằng khai rạng Thích Tràng.
Mùa Thu Giáp Tuất, 1994
Đệ tử cẩn bút
Liên Hoa
Phàm lệ của dịch giả:
1. “Phạm Vơng Bồ Tát Giới
Bổn Giảng Kư”: Đề mục bộ kinh này có chín
chữ. Bảy chữ trước ở đây xin gác qua,
v́ trong phần giải thích đề mục kinh, và
đề mục phẩm có nói rơ, nên ở đây chỉ
nói qua hai chữ “giảng kư”. Giảng là do Pháp Sư
Diễn Bồi y trong Bồ Tát Giới Bổn, tức là
năm mươi tám giới (58) gồm có 10 giới
trọng (10) và bốn mươi tám giới khinh (48) (Ở
đây chỉ nói qua 58 giới, là thuộc về phần
giới tướng, c̣n phần trước và sau, không nói,
v́ không cần).
Năm mươi tám giới (58) này
chính là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đă nghe
đức Lô Xá Na giảng ở thế giới Liên Hoa Đài
Tạng, Khi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật hạ sanh
nơi cơi Diêm Phù Đề này đă tụng lại. 10 giới
trọng, 48 giới khinh này dù đă từ Phạn văn
phiên dịch thành Hán Văn, nhưng không dễ ǵ hiểu
cho tường tận được. Nên Pháp Sư y trong
Tam Tạng thánh giáo và chỗ chánh tri chánh kiến của
ḿnh tu học mà giảng giải kinh văn một cách rành
rẽ, rơ ràng, để cho hai chúng Phật tử xuất
gia cũng như tại gia, những vị đă thọ
giới Bồ Tát, hiểu rơ mà hành tŕ. Sau khi giảng, có
đệ tử của Pháp Sư ghi lại, nên mệnh
danh là Giảng Kư.
2. Bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát
Giới Bổn Giảng Kư này gồm có hai phần:
- Kinh văn
- Lời giảng
Trong khi tôi phiên dịch từ Hán văn
ra Việt văn th́ chỉ phiên dịch phần của Pháp
Sư giảng. C̣n phần kinh văn th́ hoàn toàn y theo
bản giới bổn Việt văn của Ḥa
Thượng Vạn Đức (Pháp Sư Thích Trí Tịnh)
đă phiên dịch. Tôi không phiên dịch lại. Tuy nhiên
cũng có những chỗ cần thay đổi v́ muốn
cho phù hợp với phần giảng giải của Pháp
Sư. Những chỗ ấy có mở và đóng ngoặc
đơn (...); xin chư thượng đức cũng
như quư Phật tử tại gia thọ Bồ Tát
giới, khi đọc th́ rơ.
Về lư do tôi không dịch lại
phần kinh văn, có hai nguyên nhân:
- Bản dịch của Ḥa
Thượng Vạn Đức đă lưu hành từ lâu. Trong
giới Phật tử thọ Bồ Tát Giới, xuất
gia cũng như tại gia, thọ tŕ, tụng kinh khi làm
lễ Bố Tát trong mỗi nửa tháng đă thuần thục.
V́ thế, tôi phiên dịch lại cũng thành thừa.
- Bản dịch của Ḥa
Thượng chẳng những lưu hành từ lâu, lại
được Giáo Hội Tăng Già Nam Việt công
nhận là bản dịch xứng đáng và có giá trị.
Điều ấy như trong quyển kinh Phạm Vơng
lược giảng nghi thức tụng giới Bồ Tát
thuyết minh như sau:
“Trong đây nói ngài Cưu Ma La Thập
dịch từ văn Phạn ra văn Hán, hồi
đời nhà Dao Tần. Trong mục lục của
Tạng th́ để rơ là có những vị nhuận bút,
vị nào chép văn, vị nào dịch nghĩa. Như
vậy có nghĩa là kinh này chắc chắn là có bổn chánh
bằng văn Phạn, đă kết tập từ xưa,
truyền qua Tàu, rồi ngài Cưu Ma La Thập mới
dịch ra văn Hán. Và từ nơi quyển chánh văn
chữ Hán, tôi dịch ra quyển chữ Việt đây.
Trước khi tôi dịch ra bổn
này, ở Việt Nam, cũng có vài vị Thượng
Tọa đă dịch. Nhưng các vị trong Giáo Hội
Tăng Già Nam Việt thấy rằng cần phải có
bản dịch chỉnh đốn hơn để cho
chư Tăng cũng như các vị cư sĩ thọ
giới Bồ Tát có bổn để tụng, để
bố-tát, cho nên yêu cầu tôi dịch; thành ra mới có
bổn này. Lúc đó, Ḥa Thượng Huệ Quang đang làm
Pháp Chủ trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.
Sau khi phiên dịch xong, tôi đệ
tŕnh lên giáo hội, và giáo hội đă triệu tập
một ban để kiểm duyệt. Sau đó, giáo hội
đă nhận định bản dịch của tôi có
phần giá trị xứng đáng, có thể lưu hành, giúp
cho hàng tăng giới cũng như tại gia thọ
Bồ Tát Giới, có thể thọ tŕ và tụng niệm”.
V́ lẽ đó, tôi nói rằng bản
dịch này do Ḥa Thượng Huệ Quang, Pháp Chủ Giáo
Hội Tăng Già Nam Việt, chứng minh.
3. Khi đọc những bộ kinh,
luật, luận; nếu co phần chú giải, phải luôn
nắm vững phần chánh văn mới dễ lănh
hội. Dù phần giải thích ngắn hay dài đến
đâu, cũng chỉ nhằm vào chánh văn mà giải
thích, không bao giờ ra ngoài ư chánh văn. Đọc bộ
Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư này
cũng vậy, quư đại sĩ phải luôn ghi nhớ
chánh văn của giới bổn.
Sự giải thích kinh văn bộ
Giảng Kư này có hai cách:
- Trước nêu kinh văn rồi sau
mới giải thích. Phần này rất dễ phân biệt
lời giải thích với kinh văn.
- Đem kinh văn xen trong phần giải
thích, để làm sáng tỏ phần Phật dạy.
Lối này hơi khó hiểu, và quư đại sĩ nào không
đọc bổn Hán văn, đối với lời
giải thích khó mà phân biệt. V́ thế, khi dịch
phần giải thích lối này, với những chữ hay
những câu thuộc phần kinh văn đều có mở
và đóng ngoặc kép “...” để quư đại sĩ
phân biệt được kinh văn, không phải lời
chú giải.
4. Về sự xếp đặt kinh
văn của bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới
Bổn Giảng Kư này, trước tiên nêu đề mục
của mỗi giới và kinh văn, rồi sau mới
giải thích.
Khi giải thích cũng thế, nghĩa
là trước giải thích đề mục, sau mới
giải thích kinh văn. Về phần giải thích
đề mục của mỗi giới không nhứt
định. Có giới giảng rất rộng từ 2
đến 3 trang, có giới giảng ít hơn. Nên biết
dù nhiều hay ít, các phần giảng này cũng chỉ
ở trong phạm vi đề mục, không quan hệ ǵ
đến kinh văn.
Xong phần đề mục của
mỗi giới, đến phần giảng kinh văn, các
phần này luôn được mở đầu bằng câu
“Đức Phật đối với đại chúng dạy
rằng: “...” Khi đọc cứ lưu ư như vậy,
th́ khỏi có sự lộn xộn giữa đề
mục và kinh văn.
5. Bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát
Giới Bổn Giảng Kư này chỉ bắt đầu
giải thích từ câu: “Nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni Phật
tùng sơ hiện Liên Hoa Đài Tạng Thế Giới...”
(Bấy giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ lúc
sơ khởi, hiện thân nơi thế giới Liên Hoa Đài
Tạng), chứ không y theo trong bộ Giới Bổn
tụng giới mỗi nửa tháng, trước tiên
bắt đầu từ câu: “Nhĩ thời Lô Xá Na Phật
vị thử đại chúng, lược khai bá thiên
hằng hà sa bất khả thuyết pháp môn trung tâm
địa như mao đầu hử”. Sự việc
ấy trong phần giải thích có nói rơ nguyên nhân.
Kính thưa quư vị Pháp sư!
Quư ni sư!
Quư cư sĩ và thiện tín!
Hôm nay, nhằm tháng Giêng, Phật
lịch 2512, tôi ở đây v́ quư vị giảng kinh Kim
Cương. Đáng lẽ quyển kinh đă được
giảng xong sớm, nhưng v́ Bồ Đề Lan Nhă là
đạo tràng hoằng hóa, quư vị cao tăng
thường đến rất đông để thỉnh
cầu khai thị. V́ muốn các vị không phải nhọc
công tham phỏng, hành cước các nơi, mà vẫn có
thể thâu hoạch được những lời chỉ
giáo hữu ích của quư thiện tri thức, cho nên tôi
phải đ́nh giảng kinh Kim Cương một cách
bất ngờ, măi đến kỳ A Di Đà Phật thất
năm rồi, mới kết thúc được toàn
bộ. Thế là trước sau, khóa giảng kéo dài gần
trọn hai năm.
Giảng kinh Kim Cương Bát Nhă Ba La
Mật xong, bổn ư của tôi là định tiếp
tục giảng phẩm pHổ Hiền Hạnh Nguyện
trong kinh Hoa Nghiêm. Nhưng v́ có nhiều vị muốn nghe
kinh Phạm Vơng, để đối với Bồ Tát
giới có chỗ liễu giải rơ ràng. V́ thế, Phổ
Hiền Hạnh Nguyện phẩm phải bị đ́nh
lại, và chỉ khai giảng vào chiều thứ Bảy
mỗi tuần tại Bát Nhă giảng đường.
C̣n nơi Bồ Đề Lan Nhă này, tôi
tuyên thuyết Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Tâm Địa Phẩm
để thỏa măn ư nguyện của quư vị. Và do
sự giảng kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa này,
sẽ kích thích quư vị phát tâm Bồ Đề, thực hành
Bồ Tát đạo, đồng hướng về
quả tối cao vô thượng Bồ Đề.
Đồng thời, lần giảng kinh
Phạm Vơng Bồ Tát Giới Bổn này, lại c̣n có
một điểm thâm ư đặc biệt bên trong. Đó là
đối với kinh Kim Cang đă giảng trước
đây, tư tưởng lư luận của kinh ấy
thuộc về lư Không. Nếu không hiểu được
Không lư th́ quả là nguy hiểm vô cùng.
Tổ Long Thọ có dạy: “Tín
giới vô cơ, vọng tưởng ức thủ
nhất không, thị vị tà không” - (người tu hành ḷng
tin đối với giới pháp không có nền tảng, vọng
tưởng ức đoán, chấp thủ một khía
cạnh Không, là thiên không, như vậy chính là tà không).
Nên biết lư chân không Bát Nhă là tức
không, tức giả, tức trung. Nếu thiên chấp
một bên không, ấy thuộc về ngoan không, th́ nguy
hiểm vô cùng.
Hiện nay tôi giảng Phạm Vơng Kinh
Bồ Tát Giới Bổn để cho quư vị biết dù
rằng muôn pháp đều không, nhưng lư nhân quả rơ
ràng, không sai một mảy, cũng không bao giờ hư hoại.
Do đó, giới hạnh của Phật tử phải
nghiêm tŕ, không nên xem thường và cũng chính là để
giúp trừ khử cái tệ hại “vọng tưởng
ức đoán, chấp thủ một bên không” như Tổ
đă dạy.
Cho nên quư vị nào nghe qua kinh Kim
Cương, lại nghe tiếp kinh Phạm Vơng Bồ Tát
Giới Bổn này, tôi tin chắc rằng quư vị ấy
sẽ được sự thọ dụng vĩ
đại!
Chương I:
Tiền đề khái thuyết (những điều khái
quát đầu tiên)
A. Giới
học vi Phật pháp đích căn bổn (Giới học là
căn bản trọng yếu của Phật pháp).
Giới luật
học của Phật giáo trong hai phái Nam, Bắc truyền
có những điểm bất đồng rơ rệt:
- Về Phật giáo Nam
Truyền chỉ có giới học của Thanh Văn, hoàn
toàn không có giới học của Bồ Tát, đối
với giới này, thất chúng Phật tử mỗi chúng
đều thọ riêng.
- Trái lại, về Phật giáo
Bắc Truyền chẳng những có giới học
của Thanh Văn, lại có giới học của Bồ
Tát, trong đó Tam Tụ Tịnh Giới của giới
Bồ Tát th́ thất chúng Phật tử đều chung
thọ.
Phật giáo Bắc tông hay Nam
tông đối với giới luật học, dù có
điểm bất đồng như vậy, nhưng
đều nhận chân giới học là căn bổn
của Phật pháp. Cho nên bất luận Phật giáo
đồ Nam Tông hay Bắc Tông, đối với giới
pháp ḿnh đă bẩm thọ, hoàn toàn không được xem
thường. V́ sao vậy? V́ học Phật, cần
lấy Giới Luật làm cơ sở đầu tiên.
Một hành giả có chí hướng cầu Phật pháp,
nếu không nghiêm tŕ tánh giới pháp Phật đă chế
lập một cách hoàn chỉnh, th́ người ấy
vẫn y nhiên đứng ở ngoài cửa mà chưa
được vào trong nhà, cũng không được lên
chốn lầu cao của Phật Pháp.
Thế nên căn cứ vào
Tiểu Thừa mà thuyết minh: “Giới thị chánh
thuận giải thoát chi bổn”, nghĩa là: Giới pháp là
căn bản chính, thuận theo con đường giải
thoát. Căn cứ vào Đại Thừa mà thuyết minh:
“Giới vi vô thượng Bồ Đề chi bổn”, có
nghĩa: giới là cội gốc của quả Vô
Thượng Bồ Đề. V́ lư do ấy, lẽ đương
nhiên, muốn được chân chính giải thoát và
chứng đắc quả vị Vô Thượng Bồ
Đề, vẫn c̣n phải nương nơi trí tuệ vô
lậu, mà cơ sở tối sơ, phải nói là Giới
Học.
Tại sao vậy? Bởi
nhờ sự hạn chế của Giới Học,
khiến cho tâm niệm của hành giả tuyệt
đối không được dong ruổi theo ngoại cảnh,
nhờ đó mà nội tâm dần dần được an
tịnh. Bấy giờ, từ trong tâm cảnh an
định, trí huệ vô lậu sẽ được khai
phát. Sau đó, lại phải vận dụng huệ
kiếm Bát Nhă chặt đứt dây vô minh từ vô thỉ,
mới được lên ngồi giường giải
thoát, mới được an tọa trên ṭa Bồ Đề.
Nên kinh dạy: “Nhơn Giới
sanh Định, tùng Định phát Huệ”, nghĩa là: nhờ
giữ Giới mà được Định tâm, từ
định tâm khai phát trí huệ. Đích thực là một
tuần tự bất di, bất dịch, không ai có thể
vượt bực được.
Do đó, có thể thấy rơ Trí Huệ
ở tầng tối cao, cố nhiên là trọng yếu, và
Giới Luật tuy ở tầng nền tảng thấp
nhất, nhưng lại càng trọng yếu hơn. Nếu
như Giới Luật ở tầng nền tảng không
được củng cố th́ Thiền Định ở
tầng giữa, Trí Huệ ở tầng cao đều
không thể xuất hiện trong tâm của hành giả.
Giờ đây, tôi (Pháp Sư giảng
giới) xin thỉnh vấn một điều: Mục
đích chính của quư vị (chỉ chung giới Phật
tử xuất gia và tại gia) học Phật, có phải
muốn được giải thoát không?
Nếu như thừa nhận là
phải, th́ quư vị đối với Giới Học
cần phải giữ ǵn nghiêm cẩn, nhiên hậu mới
có thể được giải thoát theo đúng chỗ quư
vị mong cầu.
Có phải mục đích chính của
quư vị học Phật là muốn chứng quả vị
Bồ Đề vô thượng không?
Quả như quư vị thừa
nhận là phải, th́ đối với Giới Học,
quư vị cần phải thủ tŕ nghiêm cẩn, nhiên
hậu, mới có thể được chứng quả Vô
Thượng Bồ Đề, theo chỗ mong muốn của
ḿnh.
Giả như không phải như
thế, nghĩa là đối với Giới Học, quư
vị có chỗ khuyết phạm, th́ chẳng những
đối với thắng lợi xuất thế, không
thể mong được kết quả, mà chính với
công đức cơi Nhơn Thiên, quư vị cũng vẫn vô
phần. Thế nên, chư Phật mười phương
ba đời xuất hiện ở thế gian, không vị
Phật nào không cực lực suy tôn giới pháp một cách
cẩn trọng. Lịch đại Tổ Sư Tây Thiên
cũng như Đông Độ, không Ngài nào chẳng đem
giới pháp ân cần giáo hóa hậu sanh.
Nên kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp
thuyết minh: “Nhứt thiết chúng sanh, sơ nhập Tam
Bảo hải, dĩ Tín vi bổn. Trụ tại Phật
gia, dĩ Giới vi bổn”. Nghĩa là tất cả chúng
sanh khi mới vào trong bể Tam Bảo, phải dùng ḷng tin
sâu dày làm gốc. Khi đă an trú trong nhà Phật, th́ dùng
Giới làm cội gốc.
Tại sao vậy? V́ Giới là khởi
điểm để hướng thượng,
hướng thiện, hướng quang minh, hướng lên
đường giải thoát. Thế nên không cho phép hành
giả bất luận xuất gia hay tại gia có một
chút xem thường.
V́ thế, khi đức Bổn Sư
sắp tịch diệt, do tâm Đại Bi, Ngài đinh ninh
dạy các đệ tử: “Sau khi ta diệt độ, các
ông phải nhất tâm tôn kính Giới Luật, phải xem
Giới Luật như thầy của các ông”.
Ở đây, không khỏi có
người hỏi rằng: Tại sao giới pháp lại
có tính trọng yếu như thế?
Giải đáp điều này, xin
dẫn lời thuyết minh trong kinh Đại Niết Bàn
như sau:
- Giới là thềm thang của tất
cả pháp lành, cũng là cội gốc của tất
cả thiện pháp; như quả đại địa là
cội gốc của tất cả thảo mộc phát
sanh.
- Giới là một đấng
đạo sư tối cao của các thiện căn; là
vị thương chủ dẫn dắt đàn
thương nhân.
- Giới là thắng tràng của
tất cả các thiện pháp; như thắng tràng của
Thiên Đế Thích.
- Giới có công năng
đoạn trừ vĩnh viễn tất cả ác
nghiệp và tam ác đạo; như các dược thảo
có công năng trị liệu tất cả các thứ ác bịnh.
- Giới là tư lương
trên đường hiểm sanh tử, giới là chiếc
áo giáp đồng, là cây gậy thần trừ diệt ác
tặc kiết sử.
- Giới là một thần chú tối
linh, diệt trừ rắn độc phiền năo. Giới
là cây cầu để qua khỏi hạnh nghiệp tội
ác.
Kinh văn quá minh bạch,
không cần phải nói thêm nhiều. Căn cứ theo
đó, có thể khẳng định rằng: Bất
luận tu tập thiện nghiệp hay đoạn trừ
ác pháp; bất luận mong thoát ly khổ năo hay cầu
được giải thoát an lạc; bất luận
đoạn phiền năo nghi hoặc hay chứng chơn
thường, đối với giới pháp, đều
phải có tánh cách quyết định. Nếu không có
Giới th́ tất cả việc nói trên đều không
thành tựu.
Như
thế tại sao có thể nói là Giới không trọng
yếu? Lại v́ sao có thể đối với giới
pháp dám sanh tâm khinh thường?
Kinh Đại Bát Niết Bàn nói:
“Muốn thấy đuợc Phật tánh, chứng Đại
Niết Bàn, quyết định phải có tâm thâm tín, kính
trọng, tu tŕ tịnh giới. Nếu người nào
thọ tŕ kinh này mà hủy phạm tịnh giới,
người ấy là quyến thuộc của ma, không
phải là đệ tử của ta. Ta cũng không cho
người ấy thọ tŕ, đọc tụng kinh này”.
Đối với việc thọ tŕ,
đọc tụng kinh điển Đại Thừa, hành
giả thu hoạch được công đức vĩ
đại. Hơn nữa, công đức thọ tŕ kinh
điển Đại Thừa mà hành giả thu hoạch
được, nếu so với người đem
thất bảo bố thí, th́ gấp bội hơn không
biết mấy lần. Điều ấy cứ xem trong kinh Kim
Cang Bát Nhă Ba La Mật th́ rơ.
Lại nữa, việc thọ tŕ,
đọc tụng kinh điển Đại Thừa, ở
các kinh Đại Thừa đồng nhất trí tán thán, nên
thông thường hàng Phật tử đa số
đều thọ tŕ, đọc tụng kinh điển
Đại Thừa. Nhưng y chiếu theo lời Phật
dạy trong kinh Niết Bàn dẫn trên, th́ thọ tŕ kinh
điển, cố nhiên là điều tốt, nhưng
phải dùng thân tâm thanh tịnh mà thọ tŕ.
Nói rơ hơn, là phải lấy việc
tu tŕ tịnh giới mà đọc tụng. Nếu chỉ
thọ tŕ kinh điển mà không xem trọng tịnh
giới của Như Lai, thậm chí hủy phạm
tịnh giới th́ đức Phật không nhận
người này là Phật tử chơn chánh, mà là quyến
thuộc của ma vương. Đức Phật chẳng
những không do v́ việc người ấy thọ tŕ kinh
Niết Bàn mà hoan hỷ, lại c̣n không cho người
ấy thọ tŕ kinh này.
Chúng ta hăy suy tưởng thái độ
của Phật, th́ biết rằng thọ tŕ tịnh
giới là trọng yếu biết dường nào! Sao
lại có thể không vâng giữ một cách nghiêm cẩn?
Trong kinh Nguyệt Đăng Tam Muội,
lại dạy rơ về điểm trọng yếu của
Giới Pháp như vầy:
Tuy hữu sắc
tộc cập đa văn
Nhược vô
giới trí do cầm thú,
Tuy xử ty hạ
thiểu văn kiến,
Năng tŕ tịnh
giới danh thắng sĩ.
Dịch:
Dù có sắc tộc và
đa văn,
Nếu không giới
trí như cầm thú,
Tuy hạng tầm
thường, ít kiến văn,
Nghiêm tŕ tịnh
giới là thắng sĩ.
Xin giải thích rơ bài kệ trên như
sau:
Một cá nhân ở đời, sự
cao thấp về địa vị không phải căn
cứ vào chủng tộc tôn quư, cũng không phải v́
họ có sắc tướng đoan nghiêm, hay nhằm vào
sự bác học đa văn của họ, mà hoàn toàn
căn cứ nơi đức hạnh của người
ấy cao thượng hay không. Thông thường, nói theo
thế tục là đức hạnh, trong Phật pháp
gọi là tịnh giới. Dù là một người thông
thường hay một hành giả tu học Phật pháp,
giới hạnh đích xác là vô cùng trọng yếu.
V́ thế, nếu không có giới
hạnh và trí huệ, dù chủng tộc người ấy
cao quư đến mức nào, sắc tướng đoan
nghiêm đến mức nào, học vấn quảng bác
đến đâu, căn cứ vào quan niệm Phật pháp
mà xét, th́ kẻ ấy so với cầm thú nào khác ǵ mấy.
Ngược lại, nếu tu tŕ tịnh giới làm
một con người có đạo đức cao
thượng, dù ở vào địa vị thật thấp
kém, dù kiến văn cạn hẹp, hiếm hoi, nhưng
vẫn có thể được suy tôn là bậc thắng
sĩ trên thế gian. Giá trị của con người
đó, mọi người đều cung kính tôn trọng.
Cho nên, giới hạnh là căn bản làm người.
Hành giả tu học Phật pháp,
đặc biệt là người xuất gia tu Đại
Thừa, cần phải làm cho ngôi Tam Bảo không
đoạn tuyệt, Chánh Pháp được cửu
trụ ở thế gian.
Khi đức Phật c̣n tại
thế, đầu tiên Ngài chế định Giới
Luật, đem pháp giới nhiếp phục chúng Tăng.
Bản hoài của Đức Phật chính là mong muốn làm sao
cho Tăng đoàn ḥa vui thanh tịnh. Tăng đoàn cần
phải gánh vác trách nhiệm trọng đại ấy.
Nhưng trách nhiệm trọng đại ấy có gánh vác
được hay không, điều trọng yếu không ǵ
khác hơn là hành giả có tu tŕ tịnh giới hay không?
Nếu như mọi Phật tử
xuất gia đều nghiêm tŕ pháp giới thanh tịnh,
thực hành pháp Lục Ḥa Kính, th́ mới có thể làm cho ngôi
Tam Bảo không đoạn tuyệt, Chánh Pháp
được cửu trụ măi nơi thế gian. Nên trong
kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “Thọ tŕ oai nghi giới pháp
được đầy đủ, thực hành pháp
Lục Ḥa Kính, khéo léo ngự trị đại chúng, tâm
không lo buồn, hối hận, thuận theo chánh pháp của
Phật, không trái lời Phật dạy. Thế nên có
thể làm cho ngôi Tam Bảo không đoạn tuyệt và chánh
pháp do đó được cửu trụ trong thế gian”.
Hành giả Đại Thừa lấy việc cầu
Phật Quả làm mục đích tối cao, mà thành Phật
nhất định sẽ được tướng
phước báo của bậc đại nhân, tức là ba
mươi hai hảo tướng của đức
Phật. Nhưng nguyên nhân được ba mươi hai
tướng, không phải do nhân duyên sai biệt nào khác, chính
là do ở nơi tu tŕ tịnh giới mà được.
Nếu không theo đúng phép tu tŕ tịnh giới, chẳng
những không được ba mươi hai tướng
phước báo của bậc đại nhân, mà đến
cả cái thân người hạ tiện cũng không
thể có được.
Trong
Đại Trí Độ Luận cũng từng thuyết minh:
“Nếu người nào muốn cầu sự lợi ích
vĩ đại, quyết phải nghiêm tŕ tịnh giới
như yêu quư của báu, như ái hộ thân mạng. Tại
sao thế? V́ giới pháp là nơi cư trú của tất
cả pháp lành”.
Trong kinh luận nói lên sự lợi ích
vĩ đại, đương nhiên là chỉ cho quả
vị Vô Thượng Bồ Đề. Cho nên chẳng
những chư hành giả Thanh Văn thừa cần
phải nghiêm cẩn vâng giữ giới pháp, mà chính bậc
Bồ Tát Đại Thừa càng cần phải vâng giữ
nghiêm mật hơn.
Giới là cội gốc xuất sanh
tất cả pháp lành công đức và cũng là cội
gốc đắc Niết Bàn, chứng Bồ Đề. Nên
Giới là chỗ chung cùng đồng vâng giữ của
hành giả trong ngũ thừa.
Chúng ta nếu không muốn đi trên con
đường Phật Pháp th́ thôi, nếu như muốn
đi trên con đường Phật pháp, th́ cần
phải theo đúng như pháp, giữ ǵn tịnh giới
cho nghiêm cẩn.
Kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp dạy:
“Tiến nhập Phật gia, dĩ Giới vi bổn”.
Nghĩa là khi mới bước vào nhà Phật, phải lấy
Giới Pháp làm cội gốc. Do đó, không cho phép bất
cứ một hành giả nào tu học Phật pháp mà c̣n có
chỗ vi phạm giới luật.
Bộ Giới Học Yếu Thuật
dạy rơ: “Từ chỗ thiển cận mà nói th́ Giới
Học của Phật pháp là quy luật, luân lư, đạo
đức của nhân sinh, là chuẩn tắc của con
người, sở dĩ gọi là con người. Nếu
đi vào chỗ thâm sâu mà giảng, giới pháp của
Như Lai là đào tạo nhân cách cho đến chỗ viên
măn, cứu cánh Phật Quả”.
Người tu hành học Phật pháp
từ khi phát tâm đối với Tam Bảo, bước
vào cửa Phật, măi đến lúc hoàn thành Phật
quả, đều có thể nói là có giới tướng
trong suốt giai đoạn xa xôi ấy (thông thường
trong kinh Phật dạy một người từ khi mới
phát Bồ Đề tâm, cho đến lúc viên thành Phật
quả, phải qua hằng hà sa số kiếp, chính là
chỉ cho giai đoạn xa xôi ấy). Thế nên, nghiêm tŕ
tịnh giới đầy đủ thật là hạng
mục (1) hành đạo. Ngừời tu trong Phật giáo
Đại Thừa cần phải có đủ, không th́ không
thể đạt đến mục đích dự kỳ
của hành giả ngũ thừa. Do đó, có thể
thấy rằng dù giới học có những sai biệt,
nhưng thật sự rất là nhất quán.
Đại Thừa Phật giáo phải
lấy sự phát tâm Bồ Đề làm căn bản. Tức
là lấy tâm Bồ Đề làm giới thể của Đại
Thừa Bồ Tát Giới. Nếu như không phát tâm Bồ
Đề th́ dù có nghiêm tŕ tịnh giới, cũng chỉ là
giới của thế tục.
Cho nên Hoằng Nhứt Luật Sư
dạy: “Ngũ giới, bát giới tuy thuộc Tiểu
thừa, nhưng hàng Phật tử muốn bẩm thọ
giới phẩm ấy, cần phát tâm đại Bồ
Đề, không nên độc thiện nhứt thân, nghĩa là
chuyên tu thiện pháp để cầu giải thoát cho riêng
bản thân ḿnh, riêng thụ hưởng cảnh tịch
diệt. Dù rằng, Khai, Giá, Tŕ, Phạm không khác với
Thanh Văn, nhưng sự phát tâm khởi hạnh
đồng với đại sĩ, mong tất cả thanh
tín nên cố gắng”.
(thanh tín: thiện nam tín nữ)
Đây là lời khích lệ của Hoằng Nhứt Luật Sư, hy vọng rằng mỗi Phật tử đều nên thực hành Bồ Tát Đại Thừa. Thực là lời dạy có giá trị, mỗi Phật tử học Phật phải nên xem trọng!
Chí hướng Đại Thừa cốt
ở lợi tha, nếu không phát tâm Bồ Đề th́ không
thể nào mang sự lợi ích phổ biến rộng răi
cho khắp chúng sanh. Cho nên, Bồ Tát v́ muốn lợi ích
chúng sanh, nếu có thể không rời Bồ Đề
nguyện, th́ mới gọi là tịnh giới đầy
đủ vậy!
B. Thinh
Văn Giới dữ Bồ Tát Giới dị đồng (Điểm dị
đồng của giới Thanh Văn và Bồ Tát)
Hành giả tu học Phật pháp, căn cứ theo kinh từ trước đến nay, phân làm 2 loại: Hàng Thanh Văn th́ phát tâm chán ĺa và hàng Bồ Tát th́ phát tâm Bồ Đề. Bất luận chỗ phát tâm của hành giả thuộc Đại Thừa hay Tiểu Thừa (Thanh Văn thuộc Tiểu Thừa, Bồ Tát thuộc Đại Thừa) khác nhau như thế nào, nhưng cả hai vẫn đồng có giới hạnh riêng để tự tu tŕ.
Sự sai biệt của hai hạng
hành giả nói trên như thế nào?
Đây là một vấn đề chúng ta
cần phải thấu triệt. Quan niệm thông
thường cho Biệt Giải Thoát Giới của
thất chúng Phật tử thuộc về giới hạnh
tu tŕ của hàng Thanh Văn; Tam Tụ Tịnh Giới là
giới hạnh tu tŕ của hàng Bồ Tát. Đứng về
mặt đại thể, đây là biểu thị sự
sai biệt giữa hai giới Thanh Văn và Bồ Tát.
Nhưng nói một cách quả quyết, nghiêm cẩn và
tường tận hơn, th́ điểm dị
đồng giữa hai giới Thanh Văn và Bồ Tát
lại phải căn cứ vào nhiều phương
tiện để luận đàm. Các phương diện
đó bao gồm tám chủng loại sau đây:
1. Thông
Giới dữ Biệt Giới (thông giới và biệt giới)
* Thanh
Văn giới thuộc về Biệt Giới: những
giới mà thất chúng Phật tử từng hạng
bẩm thọ riêng, như:
- Ngũ Giới là Giới của các
Phật tử tại gia bẩm thọ.
- Thập Giới là Giới của
Phật tử xuất gia sa-di, sa-di-ni.
- Sáu học pháp là Giới của
Thức-xoa-ma-na.
- Cụ Túc Giới là Giới của
tỳ kheo, tỳ-kheo-ni.
Đệ tử Phật sở dĩ
được phân làm thất chúng là do nơi sự
bẩm thọ giới pháp bất đồng phát sinh ra.
Chiếu theo chỗ thọ giới pháp khác nhau của
thất chúng Phật tử mà phân biệt, th́ chẳng
những có từng lớp cạn sâu trong từng giới,
mà c̣n phân ra những giới dành cho nam, nữ Phật
tử riêng thọ. Điều này do bởi chính Đức
Phật chế ra khi c̣n tại thế, chế lập
đầu tiên. Ngài v́ muốn thích ứng với hoàn
cảnh xă hội cũng như tâm cơ sanh chúng
đương thời, nên chế giới ngăn cấm
Phật tử không được hành động như
thế này hay thế khác.
* Bồ Tát
Giới thuộc về Thông Giới: Bất cứ
Phật tử nào có tín tâm đối với Phật
đều có thể thọ. Chỉ đặc biệt là
phải có một điều kiện duy nhất: phải
phát tâm Bồ Đề, bất luận tại gia hay xuất
gia; già, trẻ, lớn, nhỏ, nam, nữ v.v... Đó là
điểm cốt yếu cho những ai muốn bẩm
thọ Bồ Tát Giới.
- Như người nào trước kia
thọ Ngũ Giới, về sau phát tâm Bồ Đề
thọ Bồ Tát Giới, th́ gọi là Bồ Tát Ưu Bà
Tắc hoặc Bồ Tát Ưu Bà Di.
- Như người trước kia
thọ Thập Giới, về sau phát tâm Bồ Đề
thọ Bồ Tát Giới, th́ gọi là Bồ Tát Sa Di
hoặc Bồ Tát Sa Di Ni.
- Như người trước kia
thọ Cụ Túc Giới, về sau phát tâm Bồ Đề
thọ Bồ Tát Giới, th́ gọi là Bồ Tát Tỳ Kheo
hoặc Bồ Tát Tỳ Kheo Ni.
Căn cứ vào việc mọi hành
giả theo Phật pháp, khi đă phát tâm Bồ Đề,
đều có thể thọ Bồ Tát Giới, nên gọi là
Thông Giới.
2. Nhiếp
Luật Nghi Giới dữ Tam Tụ Tịnh Giới (Nhiếp Luật
Nghi Giới và Tam Tụ Tịnh Giới)
* Thanh Văn Giới mà thất chúng
Phật tử riêng thọ, thông thường gọi là
Nhiếp Luật Nghi Giới.
- Công dụng duy nhất của
giới này cốt ở sự “pḥng phi chỉ ác” (pḥng
ngừa tất cả những việc sai quấy mà
ngăn dứt tất cả tội ác), cho nên đều dạy
chúng ta những sự việc nào không nên làm. Hành giả
nếu đúng như pháp tuân giữ, sẽ riêng
được giải thoát. Cho nên Nhiếp Luật Nghi
Giới c̣n được gọi là Biệt Giải Thoát
Giới.
* Ngoài Nhiếp Luật Nghi Giới, hành
giả Thanh Văn c̣n có Định Cộng Giới và Đạo
Cộng Giới (c̣n gọi là Tịnh Lự Luật Nghi và
Vô Lậu Luật Nghi).
- Biệt Giải Thoát Giới chứng
đắc từ nơi sự bẩm thọ, trong khi
Định Cộng Giới và Đạo Cộng Giới không
phải do nơi bẩm thọ mà chứng đắc. Đây
là sự khác biệt của ba loại giới nói trên.
- Biệt Giải Thoát Giới thuộc
về thi-la của cơi Dục Giới.
- Định Cộng Giới thuộc
về thi-la của cơi Sắc và Vô Sắc Giới.
Dù có sự sai biệt như vậy,
nhưng đồng thuộc về nghiệp hữu
lậu trong tam giới. Đạo Cộng Giới thuộc
về thi-la vô lậu, không thuộc về nghiệp trong tam
giới. Định Cộng Giới và Đạo Cộng Giới
dù có những đặc điểm riêng, nhưng cùng
đồng tôn chỉ khuyên răn xa ĺa tội ác. Cả hai
giới này đều gọi là “tùy tâm chuyển giới”
(giới tùy theo tâm mà chuyển biến).
Khi tâm của hành giả ở trong
trạng thái Định, tương ứng với cảnh
Định, hoặc lúc tâm tương ứng với Vô Lậu
Thánh Đạo; khi ấy, hai nghiệp thân, ngữ của hành
giả tùy thuận theo sự tương ứng đó mà
phát sanh tác dụng “pḥng phi chỉ ác” một cách tự
nhiên.
Tác dụng này là do khi hành giả ở
trong Định và Vô Lậu Đạo mà phát sanh. Dù có công hiệu
như vậy, nhưng phỏng sử một khi xuất
định, hoặc giả khi tâm duyên theo cảnh khác th́
tác dụng “pḥng phi chỉ ác” cũng tùy theo đó mà mất
đi lập tức.
Cho nên Định Cộng Giới, Đạo
Cộng Giới và cả Biệt Giải Thoát Giới
(luật nghi do bẩm thọ mà chứng đắc) bị
chuyển biến suốt đời. Đây lại có thêm
một điểm tương đồng giữa ba
giới.
Ngoài Nhiếp Luật Nghi Giới,
Đại Thừa Bồ Tát Giới lại c̣n có Nhiếp
Thiện Pháp Giới và Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới.
- Nhiếp
Thiện Pháp Giới: hành giả thọ giới Bồ
Tát không phải chỉ không được làm tất
cả những điều ác là đủ; v́ như vậy
mới chỉ thể hiện ở mặt tiêu cực. Hành
giả c̣n phải cố gắng tu tập các thiện pháp.
Đây mới chính là thể hiện mặt tích cực.
Ấn Thuận Đại Sư có dạy:
“Người học Bồ Tát đạo để mong
cầu thành Phật quả, không phải có một việc
là xa ĺa và không làm các pháp nhiễm ô, rồi cho là xong
chuyện. Nói thí dụ như một khu vườn
chẳng những cần phải dọn dẹp, nhổ và
phát cỏ cho sạch sẽ; lại c̣n cần trồng
những thực vật hữu dụng. Cho nên Bồ Tát
cần phải học rộng tất cả những
Phật pháp, viên thành tất cả công đức, th́
mới có thể thực hiện được sự tích
cực phi thường”.
Dù hành giả Thanh Văn bẩm thọ
Luật Nghi Giới, không phải là hoàn toàn không cần tu
tập tất cả thiện pháp, nhưng vẫn không
giống với sự rộng học tất cả
Phật pháp của hành giả Bồ Tát.
- Nhiêu Ích
Hữu T́nh Giới: biểu thị sự việc hành giả Bồ Tát
lấy việc hóa độ chúng sanh làm chủ đích. V́
Bồ Tát phát tâm hóa độ chúng sanh, nếu không thực
hành việc độ sanh th́ đâu thể gọi là Bồ
Tát?
Bồ Tát đă lấy việc
nhiếp hóa chúng sanh làm căn bản, lẽ
đương nhiên chính bản thân ḿnh phải làm mô
phạm cho chúng sanh. Nếu như bản thân Bồ Tát không
tu giới hạnh, thử hỏi th́ làm sao được
sự tín nhiệm của chúng sanh?
Cho nên nếu lấy sự hóa
độ chúng sanh làm hạnh nguyện th́ cần nghiêm
giữ giới pháp không được vi phạm.
Có người cho giới Thanh Văn là
quá nghiêm cẩn, mỗi chút mỗi vi phạm. V́ thế
rất khó giữ ǵn cho trọn vẹn, nhưng giới
Bồ Tát trái lại rất khoan dung; vả lại,
đại sĩ không câu chấp tiểu tiết. Bấy
giờ mọi người đua nhau nguyện tu học
Đại Thừa Bồ Tát, đều tự cho ḿnh là hành
giả đă an trụ trong Bồ Tát hạnh. Khi làm
những điều bất hợp pháp, bị người
khác chỉ trích là luật nghi không hoàn chỉnh, lại
lấy cớ ta đây là Bồ Tát để đáp lại
kẻ chỉ trích ḿnh, không biết đó chính là
điều tuyệt đối sai lầm.
Chân chánh và thẳng thắn mà nói, Bồ Tát nếu muốn làm sư phạm cho nhơn thiên, điều kiện trước nhất cần thọ tŕ là Nhiếp Luật Nghi Giới. V́ Nhiếp Luật Nghi Giới chẳng những là cội gốc của Nhiếp Thiện Pháp Giới mà c̣n là cơ thạch cho Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới (cơ là nền tảng, thạch là đá; nghĩa là nền tảng xây bằng đá, mượn để thí dụ cho Nhiếp Luật Nghi Giới là một nền tảng rất cứng chắc cho Nhiêu Ích Hữu T́nh và Nhiếp Thiện Pháp Giới).
Bồ Tát nếu không khéo hộ
Nhiếp Luật Nghi Giới, th́ chẳng những với
Nhiếp Thiện Pháp Giới không thể sanh khởi, mà
luôn cả Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới cũng hoàn toàn không
thực hiện được. V́ thế, hành giả
Bồ Tát đối với Tam Tụ Tịnh Giới,
cần phải xem trọng ngang nhau. Có như thế,
mới thể hiện rơ điểm đặc sắc
của Đại Thừa Bồ Tát Giới.
3. Tùng
sư thọ giới dữ bất tùng sư thọ
giới
(thọ giới nơi thầy và không thọ giới
nơi thầy)
Thọ giới mà đắc giới có
một pháp thức nhất định, nhưng giới
Thanh Văn và Bồ Tát đều có chỗ bất
đồng. Thất chúng Phật tử Thanh Văn thừa
muốn thọ giới, đại thể mà nói,
đều phải có thầy truyền trao giới pháp.
Như chúng tại gia thọ tŕ Ngũ
Giới, phải thọ từ nơi một đại
đức xuất gia. Điều này trong nhiều kinh
điển và luận Câu Xá đều nói như vậy.
Trường hợp nhất định không t́m không có
sư tôn truyền thọ giới pháp, có thể đặc
biệt cho phép tự phát nguyện bẩm thọ. Việc
này trong Luật Tứ Phần và Đại Trí Độ Luận
quy định như vậy. Đây chẳng qua là phương
tiện ngoại ngạch, bất đắc dĩ.
Như thế, nếu gặp
trường hợp có sư tôn truyền trao giới pháp,
th́ tuyệt đối không được áp dụng
ngoại lệ tự phát nguyện bẩm thọ. Đến
như chúng tại gia thọ Bát Quan Trai Giới, cũng
phải ở trước ngũ chúng xuất gia mà bẩm
thọ, lại c̣n phải t́m một vị giới sư
suốt đời không ăn phi thời làm thầy
truyền giới.
Trường hợp không thể t́m
được vị sư tôn như thế, Phật
tử có thể ở trước h́nh tượng
Phật, Bồ Tát tự phát thệ thọ giới.
Đối với chúng xuất gia thọ
giới Sa Di và Sa Di Ni, phải có hai thứ giới sư
truyền giới. Trường hợp đặc biệt
thọ giới Cụ Túc, phải có đủ tam sư
thất chứng. Đây là nghi thức tối quan trọng.
Vấn đề từ Thập Sư
thọ giới Cụ Túc dành cho những nơi Phật pháp
thịnh hành, Tăng chúng đông đảo. Trái lại,
đối với những vùng biên địa hẻo lánh,
Tăng chúng không đông, không có phương tiện quy
tụ đầy đủ Thập Sư truyền
giới, có thể giảm bớt phân nửa, chỉ
cần 5 vị: bốn vị làm chúng Tăng, một
vị làm Yết Ma sư tác pháp để truyền trao
giới phẩm. Đây là chánh thuyết của Tỳ Bà Sa
Luận, Chánh Lư Luật v.v... Đức Đạo Tuyên Luật
Sư cũng căn cứ theo thuyết này.
Tóm lại:
Giới Thanh Văn quyết
định phải thọ giới pháp từ nơi
thầy với các nghi thức quy định bắt
buộc.
Về giới Bồ Tát, phần nghi
thức được quy định như thế nào?
Điều này trong kinh Bồ Tát Bổn
Nghiệp Anh Lạc dạy rơ có 3 phẩm thọ giới:
thượng, trung, và hạ phẩm.
- Thượng phẩm: Từ nơi
Đức Phật mà thọ giới. Điều kiện này
rất khó thực hiện. Trong kinh Phật dạy:
“Một là giới tử lúc thọ giới, ở trước
chư Phật, Bồ Tát mà bẩm thọ. Đây thực
sự là Thượng Phẩm Giới”.
- Trung phẩm: Từ nơi những
đệ tử của Phật mà bẩm thọ. Trong kinh
Phật dạy: “Hai là sau khi Phật, Bồ Tát nhập
diệt. Trong ṿng một ngàn dặm, nếu có vị Bồ
Tát nào đă thọ giới trước th́ phải
thỉnh làm Pháp Sư, dạy bảo, truyền trao giới
pháp cho ḿnh. Trước tiên, phải thành kính đảnh
lễ dưới chân Pháp Sư, thứ đến tác
bạch như vầy: ‘Kính thỉnh tôn giả làm thầy
truyền trao giới pháp cho con’. Giới tử đắc
giới ấy gọi là Trung Phẩm giới”.
- Hạ phẩm: Sự thọ giới
trong trường hợp không gặp Phật xuất
thế, hoặc đă nhập diệt, trong ṿng ngàn dặm
cũng không có đệ tử của Phật để làm
thầy truyền giới, Phật tử có thể ở
trước h́nh tượng Phật bẩm thọ. Trong
kinh Phật dạy: “Ba là sau khi Phật, Bồ Tát nhập
diệt, trong ṿng ngh́n dặm, không có Pháp Sư làm thầy
truyền trao giới pháp th́ nên ở trước h́nh
tượng Phật, Bồ Tát, hồ quỳ chắp tay tự
thệ nguyện thọ giới. Nên tác bạch như
vầy: Đệ tử... kính bạch thập phương
chư Phật và đại địa Bồ Tát, con
nguyện thệ học tất cả giới của
tất cả Bồ Tát. Đây là hạ phẩm giới”.
Ấn Thuận Luật Sư thuyết
minh: “Trường hợp thậm chí không có h́nh
tượng Phật để tự thọ giới th́ y
cứ theo trong kinh Phổ Hiền Quán dạy: Giới
tử có thể quán tưởng đức Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật làm ḥa thượng, Đại Trí Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát làm Yết Ma A Xà Lê, Di Lặc
Bồ Tát làm Giáo Thọ A Xà Lê, vẫn có thể thọ
giới được”.
Theo kinh Phạm Vơng này chỉ có hai cách
thọ giới:
- Tự thệ thọ giới:
Đây là trường hợp trong ṿng mấy ngàn dặm, không
có Pháp Sư truyền trao giới pháp. Giới điều
thứ 23 trong 48 giới khinh, tuyên thuyết minh bạch
như vầy: “Dục dĩ hảo tâm thọ Bồ Tát
Giới thời, ư Phật, Bồ Tát h́nh tượng
tiền, tự thệ thọ giới, đương
dĩ thất nhật, Phật tiền sám hối,
đắc kiến hảo tướng tiện đắc
giới. Nhược bất đắc hảo
tướng, ưng nhị thất, tam thất, năi chí
nhất niên, yếu đắc hảo tướng. Đắc
hảo tướng dĩ, tiện đắc Phật,
Bồ Tát h́nh tượng tiền thọ giới.
Nhược bất đắc hảo tướng, tuy
Phật tượng tiền thọ giới, bất danh
đắc giới”.
(Nếu Phật tử sau khi Phật
nhập diệt, lúc có tâm tốt muốn thọ giới
Bồ Tát, th́ đối trước tượng Phật
cùng tượng Bồ Tát mà tự nguyện thọ
giới. Nên ở trước tượng Phật và
tượng Bồ Tát, sám hối trong bảy ngày. Nếu
thấy được hảo tướng là đắc
giới. Nếu chưa thấy được hảo
tướng th́ sám hối 14 ngày, 21 ngày hay đến cả
năm, cầu cho được thấy hảo
tướng. Khi được thấy hảo
tướng rồi, thời được đối
trước tượng Phật, Bồ Tát mà thọ
giới. Như chưa thấy hảo tướng,
thời dầu có đối trước tượng
Phật thọ giới, vẫn không gọi là đắc
giới).
- Từ thầy thọ giới:
Đây là trường hợp có thể thỉnh
được vị Pháp Sư truyền trao giới pháp.
Cũng theo giới điều hai mươi ba dạy
tiếp rằng: “Nhược tiên thọ Bồ Tát giới
Pháp Sư tiền thọ giới thời, bất tu yếu
kiến hảo tướng. Hà dĩ cố? Thị Pháp
Sư chư sư tương thọ cố, bất tu
hảo tướng. Thị dĩ Pháp Sư tiền thọ
giới thời tức đắc giới, dĩ sanh chí
trọng tâm cố tiện đắc giới”.
(Nếu khi đối trước
vị Pháp Sư đă thọ giới Bồ Tát th́ không
cần thấy hảo tướng. V́ sao vậy? V́ vị Pháp
Sư là chư sư truyền giới cho nhau, nên không
cần hảo tướng. Hễ đối trước
vị Pháp Sư ấy mà thọ giới liền
đắc giới, do v́ hết ḷng kính trọng nên
đắc giới).
Với hai trường hợp thọ giới đă nói rơ ở trên, Ấn Thuận Luật Sư trịnh trọng dạy như vầy: “Nếu không có Phật xuất thế, cũng không có đệ tử Phật, th́ có thể ở trước tượng Phật hoặc quán tưởng Phật mà thọ giới, nhưng nếu có đệ tử Phật th́ vẫn cần phải từ nơi đệ tử của Phật mà bẩm thọ giới mới là thích hợp”.
4. Thanh
Văn Giới thị tân đắc dữ Bồ Tát
giới thị huân phát (Giới Thanh Văn thuộc về tân
đắc và giới Bồ Tát thuộc về huân phát)
Giới pháp Thanh Văn xuất gia hay
tại gia đều phải trải qua nghi thức
thọ giới mới đắc giới thể. Giới
thể này trước vốn không có mà khi thọ giới
mới được, nên gọi là “tân đắc”.
Cũng chính v́ tính chất mới được này nên có
thể có hai t́nh trạng xảy ra nơi Phật tử
thọ giới là “đắc giới”, rồi lại có
thể “thất giới”. Hai t́nh trạng có thể dẫn
đến sự thất giới là:
- Phạm
căn bản trọng giới (vi phạm những
giới cấm quan trọng): Bất luận h́nh
tướng bên ngoài thể hiện giống hệt một
Phật tử chân chính đến mức độ nào (Phật
tử ở đây bao gồm hai chúng), nếu giới
thể đă bị mất th́ người Phật tử
đó đă mất hẳn đặc chất của
người Phật tử.
- Nhất
kỳ sanh mạng kết thúc (thời gian mạng
sống đă đến lúc chấm dứt): Nguyên v́
giới thể Thanh Văn thuộc về “tận h́nh
thọ”, nghĩa là khi thời gian thọ mạng của
người thọ giới tồn tại, giới thể
tất nhiên theo sanh mạng mà chuyển sanh. Một khi sanh
mạng băng hoại, giới thể tự nhiên cũng
theo đó mà tiêu mất. Như vậy, có đắc
giới tất nhiên sẽ có thất giới.
Với quan điểm này, Ấn
Thuận Đại Sư thuyết minh: “Các học giả Thanh
Văn có người cho giới thể là Vô Biểu
Sắc, hoặc có người cho là Bất Tương
Ưng Hành Pháp”.
Gần đây, quư sư trong giới