Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư

Hán văn: Pháp sư Thích Diễn Bồi

Việt dịch: Sa môn Thích Trí Minh

 

Khái thuật tiểu sử Ḥa Thượng Thích Trí Minh

 

1.     Thân thế, ḍng dơi

Ḥa Thượng Thích Trí Minh, pháp hiệu là Huệ Định, tự Giải Không, pháp danh Tâm Hy do Bổn Sư của ngài đặt. Riêng pháp hiệu Trí Minh là Pháp Sư thượng Trí hạ Tịnh, vốn là ḥa thượng của chùa Vạn Đức ban cho. Thế danh của Ḥa Thượng là Đặng Lợi, tự Ngọc Chấn, sinh năm 1921 tại xă Phước B́nh, huyện Hoài Ân, tỉnh B́nh Định.

Phụ thân của Ḥa Thượng là cụ Đặng Hiển, tự Quang Minh, lúc trẻ là xă trưởng, một chức vụ cao cấp trong làng. Đến lúc về già, được các hương chức và nhân dân trong vùng suy tôn lên chức Thủ Sắc. Theo tục lệ miền Trung, người được suy tôn lên chức vị Thủ Sắc phải là người có đức hạnh, cao niên, và gia tộc phải thuộc thành phần nghiêm chính và liêm khiết, để đại diện dân chúng phụng thờ các vị Thần, Thánh trong lành, danh từ địa phương gọi là các “sắc thần”, cho nên chức vụ này gọi là Thủ Sắc.

Mẫu thân Ḥa Thượng nhũ danh là Nguyễn thị Hà, tự Trinh Thuận, cũng là một bậc nữ lưu đoan chính. Ḥa Thượng là con thứ bảy trong gia đ́nh (Ngài là con trai út, sau Ngài là người em gái út).

 

2. Cuộc đời

Cuộc đời tu hành của Ḥa Thượng có thể tóm lược thành các giai đoạn sau đây:

a.     Xuất gia

Năm 18 tuổi, Ḥa Thượng xuất gia tại chùa Sắc Tứ Long Khánh, thị xă Quy Nhơn, tỉnh B́nh Định. Bổn Sư của Ḥa Thượng là Đại Lăo Ḥa Thượng thượng Chánh hạ Nhơn, bạn thân của Tổ Phước Huệ chùa Thập Tháp, thành B́nh Định, thầy của Hoàng Thái Hậu - mẹ hoàng đế Bảo Đại. Khi ở ngôi già-lam này, Ḥa Thượng làm thị giả cho Bổn Sư của ngài suốt ba năm và học giáo lư Phật pháp. Trong thời gian này, ngoài phần học giáo lư Phật pháp và hai thời khóa tụng hằng ngày, Ngài chỉ học thuộc ḷng bốn quyển Luật Trường Hàng, chờ đợi có lúc tổ chức Giới Đàn khóa luật để thọ giới Sa Di.

Năm 1942, tại chùa Hưng Khánh, phủ Tuy Phước, tỉnh B́nh Định, có mở Giới Đàn, Ḥa Thượng đă thọ giới Sa Di tại đây.

b. Thời kỳ tu học Phật pháp

Thời kỳ này bắt đầu từ năm 1942 đến 1950. Ṛng ră suốt 9 năm, Ḥa Thượng đă trải qua 5 ngôi Phật Học Viện, suốt từ giải đất miền Trung “đất cày lên sỏi đá”, vào đến tận miền Nam “ruộng đồng thẳng cánh c̣ bay”. Với tinh thần tinh tấn dơng mănh, Ḥa Thượng đă quyết ḷng tiến bước trên con đường học đạo.

Năm 1946, Ḥa Thượng về tu học tại Phật Học Viện Phật Quang, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ, cũng tại nơi này, Ḥa Thượng cùng cố viện trưởng viện Hóa Đạo là Thích Thiện Hoa và một số chư Tăng khác đến chùa Kim Huê, tỉnh Sa Đéc, đảnh lễ cung thỉnh Đại Lăo Ḥa Thượng Viện Chủ Kim Huê khai đàn thí giới. Cố Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa và Ngài thọ giới Tỳ Kheo và Bồ Tát tại đây. Những ngôi Phật học viện ngài đă trải qua trong thời kỳ này là:

- Lưỡng Xuyên Phật Học Viện thuộc tỉnh Trà Vinh.

- Phật Quang học viện thuộc quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ.

- Liên Hải Phật Học Viện, thuộc xă B́nh Trị Đông, huyện B́nh Chánh, tỉnh Gia Định (nay là chùa Vạn Phước).

- Báo Quốc Phật Học Viện, tỉnh Thừa Thiên.

- Từ Đàm Phật Học Viện, tỉnh Thừa Thiên.

c. Hành Phật sự

Năm 1950, cả 3 Phật học viện Liên Hải, Mai Sơn và Ứng Quang (tức chùa Ấn Quang ngày nay) hợp nhất tại chùa Sùng Đức. Ḥa Thượng về đây để cùng làm công tác Phật sự với chư Tăng, gồm có cố Ḥa Thượng Thích Thiện Hoa, giám đốc Phật Học Viện Ấn Quang, Thượng Tọa Huyền Dung, Thượng Tọa Quảng Minh.

d. Thời gian chuyên tu

Bắt đầu từ năm 1952 cho đến nay, Ḥa Thượng đă hoàn toàn dứt bặt mọi ngoại duyên, cam nhận cuộc đời ẩn tích mai danh, chuyên tu tịnh nghiệp. Suốt gần 42 năm, tấm áo cà sa đă trải qua không biết bao nhiêu nỗi thăng trầm gian khổ của con đường tu hành.

Ḥa Thượng đă rày đây mai đó, khi th́ vào thâm sơn cùng cốc, lúc lại về chốn làng mạc hoang vắng tiêu sơ. Cuộc đời tu hành phiêu bạt, nối tiếp suốt gịng thời gian âm thầm lặng lẽ. Ngài khước từ mọi danh vọng, chức vị mà lẽ ra, với cương vị một cao tăng đạo pháp, đức hạnh kiêm toàn như Ngài thừa sức nắm giữ.

Ḥa Thượng chỉ tha thiết với hoài băo duy nhất là đem tất cả tâm lực hướng về đấng Từ Phụ A Di Đà, cầu mong khi xả báo thân, Ngài sẽ được văng sanh về nước An Dưỡng. Ḥa Thượng muốn chứng minh cho mọi người thấy sự mầu nhiệm nơi lời hạnh nguyện bất diệt của đức Từ Phụ A Di Đà, đồng thời, cũng muốn nêu tấm gương trong sạch, thanh cao của một vị Bồ Tát. Với ḷng từ bi vô lượng, Ngài muốn tất cả đệ tử của Ngài, cũng như Phật tử gần xa, noi theo tấm gương tu hành, bất chấp mọi gian lao, không nài bao thử thách của kẻ đă quyết chí đi theo con đường giải thoát của chư Phật.

Đức hạnh cao quư của Ḥa Thượng, bất cứ đồ đệ hay Phật tử nào được phước duyên kề cận đều không thể nào phủ nhận Ngài là vị chân tu, đă sống một cuộc đời hết sức thanh bần, giản dị: Một tịnh thất đơn sơ, chỉ với đôi mái lá chan ḥa mưa nắng, bốn bức vách ghép bằng những thân cây c̣n nguyên dạng, thật thô sơ. Manh áo hoại sắc bạc màu in dấu ấn thời gian qua những mảnh vá trên đôi vai mỗi ngày một c̣ng xuống, theo tuổi hạc tháng năm chồng chất. Ḷng khát khao giải thoát với niềm tin sâu dày đối với Phật pháp, thể hiện một cách sâu sắc qua lời cầu xin Tam Bảo chứng minh gia hộ, khi Ngài tự thuật cuộc đời ḿnh:

“Nam mô Thập Phương Thường Trụ Tam Bảo.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Từ Phụ A Di Đà Phật.

Cúi xin mười phương Tam Bảo, Bổn Sư Thích Ca, Từ Phụ A Di Đà Phật bất xả từ bi, chứng minh gia hộ con: Bồ Tát giới tỳ kheo Thích Trí Minh, thừa từ lực của Tam Bảo và Bổn Sư Thích Ca, Từ Phụ A Di Đà Phật, tự thuật sơ lược cuộc đời con. Những lời tự thuật này chỉ xin tóm lược một phần trong trăm phần khoảng đời từ thuở c̣n ở thế tục cho đến nay đă quá thất tuần”.

Ư nguyện tha thiết được văng sanh của Ngài đă thể hiện rơ ràng khi giải thích về Pháp danh của ḿnh:

“Pháp hiệu của tôi chính là Huệ Định, tự Giải Không, pháp danh Tâm Hy là do Bổn Sư của tôi ban cho, c̣n pháp hiệu Trí Minh là do Pháp Sư thượng Trí hạ Tịnh ban cho. V́ khi tùng học với Pháp Sư tại Phật học viện Phật Quang (Cần Thơ), tôi nhận thấy Pháp Sư là một bậc tài đức kiêm toàn, nên tôi cầu Ngài làm Y Chỉ Sư cho tôi, nhưng Ngài từ khước và chỉ nguyện kết làm huynh đệ, trong lúc sống đồng tu hành, đồng làm Phật sự, khi xả báo thân này, đồng văng sanh Cực Lạc thế giới, nên Ngài tặng tôi pháp hiệu Trí Minh”.

Ngoài tấm ḷng tha thiết, ư nguyện quyết tâm trực chỉ Tây Phương, Ḥa Thượng c̣n là một vị tu hành ǵn giữ giới hạnh thật nghiêm túc, luôn thể hiện một phong thái từ ái, khiêm nhường. Có thể nói, suốt thời gian ngày cũng như đêm, Ngài không sót một thời khóa tu hành nào, nếu không muốn nói, Ngài tận dụng hết cả thời gian của ḿnh để chuyên tu Tịnh nghiệp.

Trong lúc hoàn cảnh Ngài thật đơn độc, sức khỏe ở vào giai đoạn suy thoái trầm trọng. Tu cho ḿnh, Ngài không bao giờ quên tất cả chúng sanh đang ch́m đắm trong biển trầm luân sanh tử, nhất là vào thời điểm Phật pháp đang ở vào giai đoạn mạt pháp, Ḥa Thượng càng quan tâm sâu sắc, lo lắng tận cùng cho cơ nghiệp Phật giáo, dù Ḥa Thượng không trực tiếp tham gia các hoạt động của giáo hội.

Mục tiêu chính yếu của Ngài là xây dựng những nhân tố hoàn thiện, hoàn lương trong giới đệ tử của Ngài, cũng như tất cả Phật tử hai chúng xuất gia và tại gia. Ḥa Thượng nhận thấy t́nh trạng suy thoát của Phật giáo đồ đang ngày càng nguy ngập, chánh pháp của Như Lai ngày càng không được xiển dương đúng mức, nhất là Giới Luật của Phật, một nền tảng duy nhất và căn bản cho những người muốn thực hiện sự giải thoát chân chính, đă không được giới Phật tử ngày nay xem trọng.

 Nỗi lo âu trước hiểm họa diệt vong của nhân loại cùng sự suy tàn của Phật giáo đă khiến Ḥa Thượng quên đi tuổi già mắt mờ, tai yếu, thân thể đau ốm triền miên; Ngài đă dồn hết tâm lực để phiên dịch bộ sách “Phạm Vơng Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư” do Pháp Sư Thích Diễn Bồi, một cao tăng của Trung Quốc thuyết giảng. Suốt thời gian phiên dịch, với bao công tŕnh gian khổ, bao thử thách cam go, Ngài đă chiến thắng tuổi già, chiến thắng ma bệnh, vượt mọi thử thách, để hoàn thành bộ sách trong hoàn cảnh hết sức khó khăn nghiệt ngă: chỗ ở không ổn định, không người hầu cận chăm sóc chu đáo.

Chúng ta hăy nghe lời tâm sự chân thành, đầy xúc cảm của Thầy khi nói về thời gian chuyên tu của ḿnh, với một tinh thần hết sức khiêm nhường khả kính:

“Nói đến chuyên tu, nơi đây ḷng tôi hổ thẹn muôn phần. Tại sao thế? V́ ư nghĩa chuyên tu là bặt dứt muôn duyên, và có người hỗ trợ để có thể nhất tâm tu niệm cho được thành tựu một pháp môn nào. Chẳng hạn như pháp môn Thiền hay Niệm Phật. Nhưng ngược lại, tôi luôn bị muôn duyên ràng buộc, làm cho thân tâm không an. V́ trong thời gian cộng tác với chư Ḥa Thượng, Thượng Tọa, để làm các Phật sự nói trên, báo thân của tôi mang nhiều tật bệnh, nên đối với các Phật sự tôi hoàn toàn bất lực. Ḷng quá buồn đau, tôi t́m chỗ ẩn tu, cầu sớm được xả bỏ báo thân để về quê hương Cực Lạc. Ư muốn dù như thế, nhưng sự thực hành là cả một vấn đề trăm ngàn phần khó khăn. V́ hoàn cảnh tôi cô thân đơn độc, linh đinh rày đây mai đó, lại không người giúp đỡ.

Thế nên, trong suốt thời gian từ năm 1952 đến năm 1994 là 42 năm, trong thời gian ấy, dù mang danh Viện Chủ ngôi già-lam Mai Sơn, xă B́nh Trị Đông, huyện B́nh Chánh, nhưng sự thật là việc chùa tôi hoàn toàn không biết đến, v́ mải rày đây mai đó… Thân tôi chẳng khác nào chiếc lục b́nh lênh đênh trên sông lớn… nhất là trong lúc dịch bộ kinh “Phạm Vơng Bồ Tát Giới Giảng Kư” này. Về nội chướng th́ thân bệnh khổ triền miên, đôi mắt lại bị cườm, nên không thấy rơ. C̣n về ngoại chướng th́ thôi không thể nói… Tuy nhiên, tôi rất cảm động hồng ân Tam Bảo đă minh gia, nên bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư đă được thành tựu. Và dù chịu nhiều gian truân khổ sở, nhưng bản thân tôi vẫn cố vững bước trên con đường giải thoát và tiếp tục cuộc hành tŕnh…”

Với những ḍng sơ lược về tiểu sử của Ḥa Thượng, người viết bài này chỉ là một đệ tử tại gia của Thầy. Nhưng với tấm ḷng ngưỡng mộ tấm gương tu hành cao quư, cũng như ḷng tận tụy hy sinh v́ đạo pháp của Thầy, chúng tôi ước mong những lời dịch thuật vàng ngọc của Ḥa Thượng qua bộ kinh “Phạm Vơng Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư” sẽ được sự tiếp nhận trong tinh thần tôn kính, tha thiết và ân cần của những Phật tử hữu duyên với Phật pháp, hữu duyên với Thầy, một ḷng chuyên nhất, đem tất cả tâm tư, chí nguyện hướng về con đường giải thoát chân chính.

Chúng tôi xin thành tâm cầu nguyện hồng ân Tam Bảo gia hộ cho tất cả Phật tử, những vị nhiệt tâm v́ đạo pháp, có đầy đủ thiện duyên lănh hội và tuân hành triệt để những lời pháp vô giá, để không phụ ḷng từ bi của chư Phật, của Pháp Sư Diễn Bồi, người trực tiếp giảng các giới của bộ kinh này, và nhất là đối với Ḥa Thượng Thích Trí Minh, vị thầy tôn kính, đă dầy công phiên dịch từ Hán văn sang Việt văn, bằng những lời lẽ đầy cố gắng, để phù hợp với tŕnh độ của mọi giới Phật tử.

Lẽ tất nhiên, chúng tôi nghĩ rằng bản dịch này không thể nào đáp ứng yêu cầu của mọi tầng lớp Phật tử với nhiều tŕnh độ khác nhau: những người b́nh dân sở học c̣n hạn chế, cũng như đối với quư học giả kiến thức uyên thâm, văn từ điêu luyện. Dịch giả đă cố gắng hết sức ḿnh trong công việc phiên dịch này, một công tŕnh đ̣i hỏi nhiều thời gian và công sức, mà với điều kiện sức khỏe yếu kém, dịch giả khó ḷng khắc phục.

Ngoài ra, công việc phiên dịch nếu muốn hoàn hảo, đ̣i hỏi dịch giả phải là người có tŕnh độ chuyên môn thật cao, kiến thức về ngôn ngữ thật rộng. Đôi lúc cần phải có điều kiện t́m hiểu sâu về đặc điểm của nền văn hóa các dân tộc, nơi nguyên tác được h́nh thành, cũng như nơi sử dụng ngôn ngữ mà dịch giả đang phiên dịch. Như thế mới có thể chuyển dịch toàn bộ tư tưởng của nguyên tác, đồng thời vẫn tạo cho người đọc cảm giác gần gũi, mà qua bản dịch, độc giả không c̣n cảm thấy ranh giới giữa các ngôn ngữ. Nói như vậy để mong tất cả quư độc giả, cùng chư Phật tử cảm thông cho tấm ḷng Ḥa Thượng. Ngài chỉ có một hoài băo duy nhất là muốn chấn hưng lại cơ đồ Phật giáo đang bị lung lay tận gốc, trước t́nh trạng giới luật không được các tín đồ Phật giáo tôn trọng và tuân hành nghiêm túc như hiện nay.

Ngài muốn cho bánh xe pháp lưu chuyển đến mọi nơi; ḍng pháp nhũ của Phật rót vào tận tâm hồn những chúng sanh c̣n mải ch́m đắm trong đêm dài tăm tối, dẫy đầy giết chóc, tràn ngập đau thương. Chung quy cũng là v́ ánh đạo vàng của Phật không c̣n được rạng ngời trong ḷng chúng sanh hiện đại, những con người chỉ biết mải miết đeo đuổi mộng mưu bá đồ vương, lao ḿnh vào biển lửa chiến tranh, để mong t́m cầu hạnh phúc trong vật chất xa hoa hoặc bóng h́nh lợi danh hư ảo.

Bằng tất cả sức lực tồn tại trong tấm thân già nua mà phút vô thường không bao giờ hẹn trước, Ḥa Thượng đă dồn hết vào công tŕnh dịch thuật này.Thầy đă hy sinh quá nhiều cho đạo pháp, tận lực v́ chúng sinh, nỗ lực kết lại chiếc bè pháp để đưa rước khách hữu duyên. Trong những tháng năm c̣n lại của cuộc đời, Ngài vẫn không nguôi ḷng từ mẫn đối với chúng ta, luôn giúp toàn thể chúng sinh cơ hội trở về quê hương vĩnh cửu. Đó chính là nước Cực Lạc thanh lương, giải thoát của đức Từ Phụ A Di Đà.

Thành tâm cảm thán:

THƯỢNG đức ngàn thu rực ánh vàng,

TỌA Thiền, niệm Phật hướng Tây Bang,

TRÍ lành tận lực phiên kinh báu,

MINH tuệ dốc ḷng độ chúng sanh,

THANH tịnh tâm thành dương Phật pháp.

TU hành chí quyết đáo Tây Phương. 

TỊNH am vùi lấp mùi chung đỉnh

NGHIỆP đạo hoằng khai rạng Thích Tràng.

Mùa Thu Giáp Tuất, 1994

Đệ tử cẩn bút

Liên Hoa

 

 

Phàm lệ của dịch giả:

Lệ Ngôn

 

1. “Phạm Vơng Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư”: Đề mục bộ kinh này có chín chữ. Bảy chữ trước ở đây xin gác qua, v́ trong phần giải thích đề mục kinh, và đề mục phẩm có nói rơ, nên ở đây chỉ nói qua hai chữ “giảng kư”. Giảng là do Pháp Sư Diễn Bồi y trong Bồ Tát Giới Bổn, tức là năm mươi tám giới (58) gồm có 10 giới trọng (10) và bốn mươi tám giới khinh (48) (Ở đây chỉ nói qua 58 giới, là thuộc về phần giới tướng, c̣n phần trước và sau, không nói, v́ không cần).

Năm mươi tám giới (58) này chính là Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật đă nghe đức Lô Xá Na giảng ở thế giới Liên Hoa Đài Tạng, Khi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật hạ sanh nơi cơi Diêm Phù Đề này đă tụng lại. 10 giới trọng, 48 giới khinh này dù đă từ Phạn văn phiên dịch thành Hán Văn, nhưng không dễ ǵ hiểu cho tường tận được. Nên Pháp Sư y trong Tam Tạng thánh giáo và chỗ chánh tri chánh kiến của ḿnh tu học mà giảng giải kinh văn một cách rành rẽ, rơ ràng, để cho hai chúng Phật tử xuất gia cũng như tại gia, những vị đă thọ giới Bồ Tát, hiểu rơ mà hành tŕ. Sau khi giảng, có đệ tử của Pháp Sư ghi lại, nên mệnh danh là Giảng Kư.

2. Bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư này gồm có hai phần:

- Kinh văn

- Lời giảng

Trong khi tôi phiên dịch từ Hán văn ra Việt văn th́ chỉ phiên dịch phần của Pháp Sư giảng. C̣n phần kinh văn th́ hoàn toàn y theo bản giới bổn Việt văn của Ḥa Thượng Vạn Đức (Pháp Sư Thích Trí Tịnh) đă phiên dịch. Tôi không phiên dịch lại. Tuy nhiên cũng có những chỗ cần thay đổi v́ muốn cho phù hợp với phần giảng giải của Pháp Sư. Những chỗ ấy có mở và đóng ngoặc đơn (...); xin chư thượng đức cũng như quư Phật tử tại gia thọ Bồ Tát giới, khi đọc th́ rơ.

Về lư do tôi không dịch lại phần kinh văn, có hai nguyên nhân:

- Bản dịch của Ḥa Thượng Vạn Đức đă lưu hành từ lâu. Trong giới Phật tử thọ Bồ Tát Giới, xuất gia cũng như tại gia, thọ tŕ, tụng kinh khi làm lễ Bố Tát trong mỗi nửa tháng đă thuần thục. V́ thế, tôi phiên dịch lại cũng thành thừa.

- Bản dịch của Ḥa Thượng chẳng những lưu hành từ lâu, lại được Giáo Hội Tăng Già Nam Việt công nhận là bản dịch xứng đáng và có giá trị. Điều ấy như trong quyển kinh Phạm Vơng lược giảng nghi thức tụng giới Bồ Tát thuyết minh như sau:

“Trong đây nói ngài Cưu Ma La Thập dịch từ văn Phạn ra văn Hán, hồi đời nhà Dao Tần. Trong mục lục của Tạng th́ để rơ là có những vị nhuận bút, vị nào chép văn, vị nào dịch nghĩa. Như vậy có nghĩa là kinh này chắc chắn là có bổn chánh bằng văn Phạn, đă kết tập từ xưa, truyền qua Tàu, rồi ngài Cưu Ma La Thập mới dịch ra văn Hán. Và từ nơi quyển chánh văn chữ Hán, tôi dịch ra quyển chữ Việt đây.

Trước khi tôi dịch ra bổn này, ở Việt Nam, cũng có vài vị Thượng Tọa đă dịch. Nhưng các vị trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt thấy rằng cần phải có bản dịch chỉnh đốn hơn để cho chư Tăng cũng như các vị cư sĩ thọ giới Bồ Tát có bổn để tụng, để bố-tát, cho nên yêu cầu tôi dịch; thành ra mới có bổn này. Lúc đó, Ḥa Thượng Huệ Quang đang làm Pháp Chủ trong Giáo Hội Tăng Già Nam Việt.

Sau khi phiên dịch xong, tôi đệ tŕnh lên giáo hội, và giáo hội đă triệu tập một ban để kiểm duyệt. Sau đó, giáo hội đă nhận định bản dịch của tôi có phần giá trị xứng đáng, có thể lưu hành, giúp cho hàng tăng giới cũng như tại gia thọ Bồ Tát Giới, có thể thọ tŕ và tụng niệm”.

V́ lẽ đó, tôi nói rằng bản dịch này do Ḥa Thượng Huệ Quang, Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, chứng minh.

3. Khi đọc những bộ kinh, luật, luận; nếu co phần chú giải, phải luôn nắm vững phần chánh văn mới dễ lănh hội. Dù phần giải thích ngắn hay dài đến đâu, cũng chỉ nhằm vào chánh văn mà giải thích, không bao giờ ra ngoài ư chánh văn. Đọc bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư này cũng vậy, quư đại sĩ phải luôn ghi nhớ chánh văn của giới bổn.

Sự giải thích kinh văn bộ Giảng Kư này có hai cách:

- Trước nêu kinh văn rồi sau mới giải thích. Phần này rất dễ phân biệt lời giải thích với kinh văn.

- Đem kinh văn xen trong phần giải thích, để làm sáng tỏ phần Phật dạy. Lối này hơi khó hiểu, và quư đại sĩ nào không đọc bổn Hán văn, đối với lời giải thích khó mà phân biệt. V́ thế, khi dịch phần giải thích lối này, với những chữ hay những câu thuộc phần kinh văn đều có mở và đóng ngoặc kép “...” để quư đại sĩ phân biệt được kinh văn, không phải lời chú giải.

4. Về sự xếp đặt kinh văn của bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư này, trước tiên nêu đề mục của mỗi giới và kinh văn, rồi sau mới giải thích.

Khi giải thích cũng thế, nghĩa là trước giải thích đề mục, sau mới giải thích kinh văn. Về phần giải thích đề mục của mỗi giới không nhứt định. Có giới giảng rất rộng từ 2 đến 3 trang, có giới giảng ít hơn. Nên biết dù nhiều hay ít, các phần giảng này cũng chỉ ở trong phạm vi đề mục, không quan hệ ǵ đến kinh văn.

Xong phần đề mục của mỗi giới, đến phần giảng kinh văn, các phần này luôn được mở đầu bằng câu “Đức Phật đối với đại chúng dạy rằng: “...” Khi đọc cứ lưu ư như vậy, th́ khỏi có sự lộn xộn giữa đề mục và kinh văn.

5. Bộ Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Giảng Kư này chỉ bắt đầu giải thích từ câu: “Nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni Phật tùng sơ hiện Liên Hoa Đài Tạng Thế Giới...” (Bấy giờ, đức Phật Thích Ca Mâu Ni từ lúc sơ khởi, hiện thân nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng), chứ không y theo trong bộ Giới Bổn tụng giới mỗi nửa tháng, trước tiên bắt đầu từ câu: “Nhĩ thời Lô Xá Na Phật vị thử đại chúng, lược khai bá thiên hằng hà sa bất khả thuyết pháp môn trung tâm địa như mao đầu hử”. Sự việc ấy trong phần giải thích có nói rơ nguyên nhân.

 

Lời Pháp Sư Diễn Bồi nhân dịp khai giảng kinh Phạm Vơng

 

      Kính thưa quư vị Pháp sư!

Quư ni sư!

Quư cư sĩ và thiện tín!

Hôm nay, nhằm tháng Giêng, Phật lịch 2512, tôi ở đây v́ quư vị giảng kinh Kim Cương. Đáng lẽ quyển kinh đă được giảng xong sớm, nhưng v́ Bồ Đề Lan Nhă là đạo tràng hoằng hóa, quư vị cao tăng thường đến rất đông để thỉnh cầu khai thị. V́ muốn các vị không phải nhọc công tham phỏng, hành cước các nơi, mà vẫn có thể thâu hoạch được những lời chỉ giáo hữu ích của quư thiện tri thức, cho nên tôi phải đ́nh giảng kinh Kim Cương một cách bất ngờ, măi đến kỳ A Di Đà Phật thất năm rồi, mới kết thúc được toàn bộ. Thế là trước sau, khóa giảng kéo dài gần trọn hai năm.

Giảng kinh Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật xong, bổn ư của tôi là định tiếp tục giảng phẩm pHổ Hiền Hạnh Nguyện trong kinh Hoa Nghiêm. Nhưng v́ có nhiều vị muốn nghe kinh Phạm Vơng, để đối với Bồ Tát giới có chỗ liễu giải rơ ràng. V́ thế, Phổ Hiền Hạnh Nguyện phẩm phải bị đ́nh lại, và chỉ khai giảng vào chiều thứ Bảy mỗi tuần tại Bát Nhă giảng đường.

C̣n nơi Bồ Đề Lan Nhă này, tôi tuyên thuyết Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Tâm Địa Phẩm để thỏa măn ư nguyện của quư vị. Và do sự giảng kinh Phạm Vơng Bồ Tát Tâm Địa này, sẽ kích thích quư vị phát tâm Bồ Đề, thực hành Bồ Tát đạo, đồng hướng về quả tối cao vô thượng Bồ Đề.

Đồng thời, lần giảng kinh Phạm Vơng Bồ Tát Giới Bổn này, lại c̣n có một điểm thâm ư đặc biệt bên trong. Đó là đối với kinh Kim Cang đă giảng trước đây, tư tưởng lư luận của kinh ấy thuộc về lư Không. Nếu không hiểu được Không lư th́ quả là nguy hiểm vô cùng.

Tổ Long Thọ có dạy: “Tín giới vô cơ, vọng tưởng ức thủ nhất không, thị vị tà không” - (người tu hành ḷng tin đối với giới pháp không có nền tảng, vọng tưởng ức đoán, chấp thủ một khía cạnh Không, là thiên không, như vậy chính là tà không).

Nên biết lư chân không Bát Nhă là tức không, tức giả, tức trung. Nếu thiên chấp một bên không, ấy thuộc về ngoan không, th́ nguy hiểm vô cùng.

Hiện nay tôi giảng Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Bổn để cho quư vị biết dù rằng muôn pháp đều không, nhưng lư nhân quả rơ ràng, không sai một mảy, cũng không bao giờ hư hoại. Do đó, giới hạnh của Phật tử phải nghiêm tŕ, không nên xem thường và cũng chính là để giúp trừ khử cái tệ hại “vọng tưởng ức đoán, chấp thủ một bên không” như Tổ đă dạy.

Cho nên quư vị nào nghe qua kinh Kim Cương, lại nghe tiếp kinh Phạm Vơng Bồ Tát Giới Bổn này, tôi tin chắc rằng quư vị ấy sẽ được sự thọ dụng vĩ đại!

 

Chương I: Tiền đề khái thuyết (những điều khái quát đầu tiên)

A. Giới học vi Phật pháp đích căn bổn (Giới học là căn bản trọng yếu của Phật pháp).

          Giới luật học của Phật giáo trong hai phái Nam, Bắc truyền có những điểm bất đồng rơ rệt:

      - Về Phật giáo Nam Truyền chỉ có giới học của Thanh Văn, hoàn toàn không có giới học của Bồ Tát, đối với giới này, thất chúng Phật tử mỗi chúng đều thọ riêng.

      - Trái lại, về Phật giáo Bắc Truyền chẳng những có giới học của Thanh Văn, lại có giới học của Bồ Tát, trong đó Tam Tụ Tịnh Giới của giới Bồ Tát th́ thất chúng Phật tử đều chung thọ.

      Phật giáo Bắc tông hay Nam tông đối với giới luật học, dù có điểm bất đồng như vậy, nhưng đều nhận chân giới học là căn bổn của Phật pháp. Cho nên bất luận Phật giáo đồ Nam Tông hay Bắc Tông, đối với giới pháp ḿnh đă bẩm thọ, hoàn toàn không được xem thường. V́ sao vậy? V́ học Phật, cần lấy Giới Luật làm cơ sở đầu tiên. Một hành giả có chí hướng cầu Phật pháp, nếu không nghiêm tŕ tánh giới pháp Phật đă chế lập một cách hoàn chỉnh, th́ người ấy vẫn y nhiên đứng ở ngoài cửa mà chưa được vào trong nhà, cũng không được lên chốn lầu cao của Phật Pháp.

      Thế nên căn cứ vào Tiểu Thừa mà thuyết minh: “Giới thị chánh thuận giải thoát chi bổn”, nghĩa là: Giới pháp là căn bản chính, thuận theo con đường giải thoát. Căn cứ vào Đại Thừa mà thuyết minh: “Giới vi vô thượng Bồ Đề chi bổn”, có nghĩa: giới là cội gốc của quả Vô Thượng Bồ Đề. V́ lư do ấy, lẽ đương nhiên, muốn được chân chính giải thoát và chứng đắc quả vị Vô Thượng Bồ Đề, vẫn c̣n phải nương nơi trí tuệ vô lậu, mà cơ sở tối sơ, phải nói là Giới Học.

      Tại sao vậy? Bởi nhờ sự hạn chế của Giới Học, khiến cho tâm niệm của hành giả tuyệt đối không được dong ruổi theo ngoại cảnh, nhờ đó mà nội tâm dần dần được an tịnh. Bấy giờ, từ trong tâm cảnh an định, trí huệ vô lậu sẽ được khai phát. Sau đó, lại phải vận dụng huệ kiếm Bát Nhă chặt đứt dây vô minh từ vô thỉ, mới được lên ngồi giường giải thoát, mới được an tọa trên ṭa Bồ Đề.

      Nên kinh dạy: “Nhơn Giới sanh Định, tùng Định phát Huệ”, nghĩa là: nhờ giữ Giới mà được Định tâm, từ định tâm khai phát trí huệ. Đích thực là một tuần tự bất di, bất dịch, không ai có thể vượt bực được.

Do đó, có thể thấy rơ Trí Huệ ở tầng tối cao, cố nhiên là trọng yếu, và Giới Luật tuy ở tầng nền tảng thấp nhất, nhưng lại càng trọng yếu hơn. Nếu như Giới Luật ở tầng nền tảng không được củng cố th́ Thiền Định ở tầng giữa, Trí Huệ ở tầng cao đều không thể xuất hiện trong tâm của hành giả.

Giờ đây, tôi (Pháp Sư giảng giới) xin thỉnh vấn một điều: Mục đích chính của quư vị (chỉ chung giới Phật tử xuất gia và tại gia) học Phật, có phải muốn được giải thoát không?

Nếu như thừa nhận là phải, th́ quư vị đối với Giới Học cần phải giữ ǵn nghiêm cẩn, nhiên hậu mới có thể được giải thoát theo đúng chỗ quư vị mong cầu.

Có phải mục đích chính của quư vị học Phật là muốn chứng quả vị Bồ Đề vô thượng không?

      Quả như quư vị thừa nhận là phải, th́ đối với Giới Học, quư vị cần phải thủ tŕ nghiêm cẩn, nhiên hậu, mới có thể được chứng quả Vô Thượng Bồ Đề, theo chỗ mong muốn của ḿnh.

Giả như không phải như thế, nghĩa là đối với Giới Học, quư vị có chỗ khuyết phạm, th́ chẳng những đối với thắng lợi xuất thế, không thể mong được kết quả, mà chính với công đức cơi Nhơn Thiên, quư vị cũng vẫn vô phần. Thế nên, chư Phật mười phương ba đời xuất hiện ở thế gian, không vị Phật nào không cực lực suy tôn giới pháp một cách cẩn trọng. Lịch đại Tổ Sư Tây Thiên cũng như Đông Độ, không Ngài nào chẳng đem giới pháp ân cần giáo hóa hậu sanh.

Nên kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp thuyết minh: “Nhứt thiết chúng sanh, sơ nhập Tam Bảo hải, dĩ Tín vi bổn. Trụ tại Phật gia, dĩ Giới vi bổn”. Nghĩa là tất cả chúng sanh khi mới vào trong bể Tam Bảo, phải dùng ḷng tin sâu dày làm gốc. Khi đă an trú trong nhà Phật, th́ dùng Giới làm cội gốc.

Tại sao vậy? V́ Giới là khởi điểm để hướng thượng, hướng thiện, hướng quang minh, hướng lên đường giải thoát. Thế nên không cho phép hành giả bất luận xuất gia hay tại gia có một chút xem thường.

V́ thế, khi đức Bổn Sư sắp tịch diệt, do tâm Đại Bi, Ngài đinh ninh dạy các đệ tử: “Sau khi ta diệt độ, các ông phải nhất tâm tôn kính Giới Luật, phải xem Giới Luật như thầy của các ông”.

Ở đây, không khỏi có người hỏi rằng: Tại sao giới pháp lại có tính trọng yếu như thế?

Giải đáp điều này, xin dẫn lời thuyết minh trong kinh Đại Niết Bàn như sau:

- Giới là thềm thang của tất cả pháp lành, cũng là cội gốc của tất cả thiện pháp; như quả đại địa là cội gốc của tất cả thảo mộc phát sanh.

      - Giới là một đấng đạo sư tối cao của các thiện căn; là vị thương chủ dẫn dắt đàn thương nhân.

- Giới là thắng tràng của tất cả các thiện pháp; như thắng tràng của Thiên Đế Thích.

      - Giới có công năng đoạn trừ vĩnh viễn tất cả ác nghiệp và tam ác đạo; như các dược thảo có công năng trị liệu tất cả các thứ ác bịnh.

      - Giới là tư lương trên đường hiểm sanh tử, giới là chiếc áo giáp đồng, là cây gậy thần trừ diệt ác tặc kiết sử.

- Giới là một thần chú tối linh, diệt trừ rắn độc phiền năo. Giới là cây cầu để qua khỏi hạnh nghiệp tội ác.
      Kinh văn quá minh bạch, không cần phải nói thêm nhiều. Căn cứ theo đó, có thể khẳng định rằng: Bất luận tu tập thiện nghiệp hay đoạn trừ ác pháp; bất luận mong thoát ly khổ năo hay cầu được giải thoát an lạc; bất luận đoạn phiền năo nghi hoặc hay chứng chơn thường, đối với giới pháp, đều phải có tánh cách quyết định. Nếu không có Giới th́ tất cả việc nói trên đều không thành tựu.

      Như thế tại sao có thể nói là Giới không trọng yếu? Lại v́ sao có thể đối với giới pháp dám sanh tâm khinh thường?

      Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: “Muốn thấy đuợc Phật tánh, chứng Đại Niết Bàn, quyết định phải có tâm thâm tín, kính trọng, tu tŕ tịnh giới. Nếu người nào thọ tŕ kinh này mà hủy phạm tịnh giới, người ấy là quyến thuộc của ma, không phải là đệ tử của ta. Ta cũng không cho người ấy thọ tŕ, đọc tụng kinh này”.

Đối với việc thọ tŕ, đọc tụng kinh điển Đại Thừa, hành giả thu hoạch được công đức vĩ đại. Hơn nữa, công đức thọ tŕ kinh điển Đại Thừa mà hành giả thu hoạch được, nếu so với người đem thất bảo bố thí, th́ gấp bội hơn không biết mấy lần. Điều ấy cứ xem trong kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật th́ rơ.

Lại nữa, việc thọ tŕ, đọc tụng kinh điển Đại Thừa, ở các kinh Đại Thừa đồng nhất trí tán thán, nên thông thường hàng Phật tử đa số đều thọ tŕ, đọc tụng kinh điển Đại Thừa. Nhưng y chiếu theo lời Phật dạy trong kinh Niết Bàn dẫn trên, th́ thọ tŕ kinh điển, cố nhiên là điều tốt, nhưng phải dùng thân tâm thanh tịnh mà thọ tŕ.

Nói rơ hơn, là phải lấy việc tu tŕ tịnh giới mà đọc tụng. Nếu chỉ thọ tŕ kinh điển mà không xem trọng tịnh giới của Như Lai, thậm chí hủy phạm tịnh giới th́ đức Phật không nhận người này là Phật tử chơn chánh, mà là quyến thuộc của ma vương. Đức Phật chẳng những không do v́ việc người ấy thọ tŕ kinh Niết Bàn mà hoan hỷ, lại c̣n không cho người ấy thọ tŕ kinh này.

Chúng ta hăy suy tưởng thái độ của Phật, th́ biết rằng thọ tŕ tịnh giới là trọng yếu biết dường nào! Sao lại có thể không vâng giữ một cách nghiêm cẩn?

Trong kinh Nguyệt Đăng Tam Muội, lại dạy rơ về điểm trọng yếu của Giới Pháp như vầy:

Tuy hữu sắc tộc cập đa văn

Nhược vô giới trí do cầm thú,

Tuy xử ty hạ thiểu văn kiến,

Năng tŕ tịnh giới danh thắng sĩ.

Dịch:

Dù có sắc tộc và đa văn,

Nếu không giới trí như cầm thú,

Tuy hạng tầm thường, ít kiến văn,

Nghiêm tŕ tịnh giới là thắng sĩ.

Xin giải thích rơ bài kệ trên như sau:

Một cá nhân ở đời, sự cao thấp về địa vị không phải căn cứ vào chủng tộc tôn quư, cũng không phải v́ họ có sắc tướng đoan nghiêm, hay nhằm vào sự bác học đa văn của họ, mà hoàn toàn căn cứ nơi đức hạnh của người ấy cao thượng hay không. Thông thường, nói theo thế tục là đức hạnh, trong Phật pháp gọi là tịnh giới. Dù là một người thông thường hay một hành giả tu học Phật pháp, giới hạnh đích xác là vô cùng trọng yếu.

V́ thế, nếu không có giới hạnh và trí huệ, dù chủng tộc người ấy cao quư đến mức nào, sắc tướng đoan nghiêm đến mức nào, học vấn quảng bác đến đâu, căn cứ vào quan niệm Phật pháp mà xét, th́ kẻ ấy so với cầm thú nào khác ǵ mấy. Ngược lại, nếu tu tŕ tịnh giới làm một con người có đạo đức cao thượng, dù ở vào địa vị thật thấp kém, dù kiến văn cạn hẹp, hiếm hoi, nhưng vẫn có thể được suy tôn là bậc thắng sĩ trên thế gian. Giá trị của con người đó, mọi người đều cung kính tôn trọng. Cho nên, giới hạnh là căn bản làm người.

Hành giả tu học Phật pháp, đặc biệt là người xuất gia tu Đại Thừa, cần phải làm cho ngôi Tam Bảo không đoạn tuyệt, Chánh Pháp được cửu trụ ở thế gian.

Khi đức Phật c̣n tại thế, đầu tiên Ngài chế định Giới Luật, đem pháp giới nhiếp phục chúng Tăng. Bản hoài của Đức Phật chính là mong muốn làm sao cho Tăng đoàn ḥa vui thanh tịnh. Tăng đoàn cần phải gánh vác trách nhiệm trọng đại ấy. Nhưng trách nhiệm trọng đại ấy có gánh vác được hay không, điều trọng yếu không ǵ khác hơn là hành giả có tu tŕ tịnh giới hay không?

Nếu như mọi Phật tử xuất gia đều nghiêm tŕ pháp giới thanh tịnh, thực hành pháp Lục Ḥa Kính, th́ mới có thể làm cho ngôi Tam Bảo không đoạn tuyệt, Chánh Pháp được cửu trụ măi nơi thế gian. Nên trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “Thọ tŕ oai nghi giới pháp được đầy đủ, thực hành pháp Lục Ḥa Kính, khéo léo ngự trị đại chúng, tâm không lo buồn, hối hận, thuận theo chánh pháp của Phật, không trái lời Phật dạy. Thế nên có thể làm cho ngôi Tam Bảo không đoạn tuyệt và chánh pháp do đó được cửu trụ trong thế gian”.

Hành giả Đại Thừa lấy việc cầu Phật Quả làm mục đích tối cao, mà thành Phật nhất định sẽ được tướng phước báo của bậc đại nhân, tức là ba mươi hai hảo tướng của đức Phật. Nhưng nguyên nhân được ba mươi hai tướng, không phải do nhân duyên sai biệt nào khác, chính là do ở nơi tu tŕ tịnh giới mà được. Nếu không theo đúng phép tu tŕ tịnh giới, chẳng những không được ba mươi hai tướng phước báo của bậc đại nhân, mà đến cả cái thân người hạ tiện cũng không thể có được.

 Trong Đại Trí Độ Luận cũng từng thuyết minh: “Nếu người nào muốn cầu sự lợi ích vĩ đại, quyết phải nghiêm tŕ tịnh giới như yêu quư của báu, như ái hộ thân mạng. Tại sao thế? V́ giới pháp là nơi cư trú của tất cả pháp lành”.

Trong kinh luận nói lên sự lợi ích vĩ đại, đương nhiên là chỉ cho quả vị Vô Thượng Bồ Đề. Cho nên chẳng những chư hành giả Thanh Văn thừa cần phải nghiêm cẩn vâng giữ giới pháp, mà chính bậc Bồ Tát Đại Thừa càng cần phải vâng giữ nghiêm mật hơn.

Giới là cội gốc xuất sanh tất cả pháp lành công đức và cũng là cội gốc đắc Niết Bàn, chứng Bồ Đề. Nên Giới là chỗ chung cùng đồng vâng giữ của hành giả trong ngũ thừa.

Chúng ta nếu không muốn đi trên con đường Phật Pháp th́ thôi, nếu như muốn đi trên con đường Phật pháp, th́ cần phải theo đúng như pháp, giữ ǵn tịnh giới cho nghiêm cẩn.

Kinh Anh Lạc Bổn Nghiệp dạy: “Tiến nhập Phật gia, dĩ Giới vi bổn”. Nghĩa là khi mới bước vào nhà Phật, phải lấy Giới Pháp làm cội gốc. Do đó, không cho phép bất cứ một hành giả nào tu học Phật pháp mà c̣n có chỗ vi phạm giới luật.

Bộ Giới Học Yếu Thuật dạy rơ: “Từ chỗ thiển cận mà nói th́ Giới Học của Phật pháp là quy luật, luân lư, đạo đức của nhân sinh, là chuẩn tắc của con người, sở dĩ gọi là con người. Nếu đi vào chỗ thâm sâu mà giảng, giới pháp của Như Lai là đào tạo nhân cách cho đến chỗ viên măn, cứu cánh Phật Quả”.

Người tu hành học Phật pháp từ khi phát tâm đối với Tam Bảo, bước vào cửa Phật, măi đến lúc hoàn thành Phật quả, đều có thể nói là có giới tướng trong suốt giai đoạn xa xôi ấy (thông thường trong kinh Phật dạy một người từ khi mới phát Bồ Đề tâm, cho đến lúc viên thành Phật quả, phải qua hằng hà sa số kiếp, chính là chỉ cho giai đoạn xa xôi ấy). Thế nên, nghiêm tŕ tịnh giới đầy đủ thật là hạng mục (1) hành đạo. Ngừời tu trong Phật giáo Đại Thừa cần phải có đủ, không th́ không thể đạt đến mục đích dự kỳ của hành giả ngũ thừa. Do đó, có thể thấy rằng dù giới học có những sai biệt, nhưng thật sự rất là nhất quán.

Đại Thừa Phật giáo phải lấy sự phát tâm Bồ Đề làm căn bản. Tức là lấy tâm Bồ Đề làm giới thể của Đại Thừa Bồ Tát Giới. Nếu như không phát tâm Bồ Đề th́ dù có nghiêm tŕ tịnh giới, cũng chỉ là giới của thế tục.

Cho nên Hoằng Nhứt Luật Sư dạy: “Ngũ giới, bát giới tuy thuộc Tiểu thừa, nhưng hàng Phật tử muốn bẩm thọ giới phẩm ấy, cần phát tâm đại Bồ Đề, không nên độc thiện nhứt thân, nghĩa là chuyên tu thiện pháp để cầu giải thoát cho riêng bản thân ḿnh, riêng thụ hưởng cảnh tịch diệt. Dù rằng, Khai, Giá, Tŕ, Phạm không khác với Thanh Văn, nhưng sự phát tâm khởi hạnh đồng với đại sĩ, mong tất cả thanh tín nên cố gắng”.

(thanh tín: thiện nam tín nữ)

Đây là lời khích lệ của Hoằng Nhứt Luật Sư, hy vọng rằng mỗi Phật tử đều nên thực hành Bồ Tát Đại Thừa. Thực là lời dạy có giá trị, mỗi Phật tử học Phật phải nên xem trọng!

Chí hướng Đại Thừa cốt ở lợi tha, nếu không phát tâm Bồ Đề th́ không thể nào mang sự lợi ích phổ biến rộng răi cho khắp chúng sanh. Cho nên, Bồ Tát v́ muốn lợi ích chúng sanh, nếu có thể không rời Bồ Đề nguyện, th́ mới gọi là tịnh giới đầy đủ vậy!

 

B. Thinh Văn Giới dữ Bồ Tát Giới dị đồng (Điểm dị đồng của giới Thanh Văn và Bồ Tát)

      Hành giả tu học Phật pháp, căn cứ theo kinh từ trước đến nay, phân làm 2 loại: Hàng Thanh Văn th́ phát tâm chán ĺa và hàng Bồ Tát th́ phát tâm Bồ Đề. Bất luận chỗ phát tâm của hành giả thuộc Đại Thừa hay Tiểu Thừa (Thanh Văn thuộc Tiểu Thừa, Bồ Tát thuộc Đại Thừa) khác nhau như thế nào, nhưng cả hai vẫn đồng có giới hạnh riêng để tự tu tŕ.

Sự sai biệt của hai hạng hành giả nói trên như thế nào?

Đây là một vấn đề chúng ta cần phải thấu triệt. Quan niệm thông thường cho Biệt Giải Thoát Giới của thất chúng Phật tử thuộc về giới hạnh tu tŕ của hàng Thanh Văn; Tam Tụ Tịnh Giới là giới hạnh tu tŕ của hàng Bồ Tát. Đứng về mặt đại thể, đây là biểu thị sự sai biệt giữa hai giới Thanh Văn và Bồ Tát. Nhưng nói một cách quả quyết, nghiêm cẩn và tường tận hơn, th́ điểm dị đồng giữa hai giới Thanh Văn và Bồ Tát lại phải căn cứ vào nhiều phương tiện để luận đàm. Các phương diện đó bao gồm tám chủng loại sau đây:

1. Thông Giới dữ Biệt Giới (thông giới và biệt giới)

* Thanh Văn giới thuộc về Biệt Giới: những giới mà thất chúng Phật tử từng hạng bẩm thọ riêng, như:

- Ngũ Giới là Giới của các Phật tử tại gia bẩm thọ.

- Thập Giới là Giới của Phật tử xuất gia sa-di, sa-di-ni.

- Sáu học pháp là Giới của Thức-xoa-ma-na.

- Cụ Túc Giới là Giới của tỳ kheo, tỳ-kheo-ni.

Đệ tử Phật sở dĩ được phân làm thất chúng là do nơi sự bẩm thọ giới pháp bất đồng phát sinh ra. Chiếu theo chỗ thọ giới pháp khác nhau của thất chúng Phật tử mà phân biệt, th́ chẳng những có từng lớp cạn sâu trong từng giới, mà c̣n phân ra những giới dành cho nam, nữ Phật tử riêng thọ. Điều này do bởi chính Đức Phật chế ra khi c̣n tại thế, chế lập đầu tiên. Ngài v́ muốn thích ứng với hoàn cảnh xă hội cũng như tâm cơ sanh chúng đương thời, nên chế giới ngăn cấm Phật tử không được hành động như thế này hay thế khác.

* Bồ Tát Giới thuộc về Thông Giới: Bất cứ Phật tử nào có tín tâm đối với Phật đều có thể thọ. Chỉ đặc biệt là phải có một điều kiện duy nhất: phải phát tâm Bồ Đề, bất luận tại gia hay xuất gia; già, trẻ, lớn, nhỏ, nam, nữ v.v... Đó là điểm cốt yếu cho những ai muốn bẩm thọ Bồ Tát Giới.

- Như người nào trước kia thọ Ngũ Giới, về sau phát tâm Bồ Đề thọ Bồ Tát Giới, th́ gọi là Bồ Tát Ưu Bà Tắc hoặc Bồ Tát Ưu Bà Di.

- Như người trước kia thọ Thập Giới, về sau phát tâm Bồ Đề thọ Bồ Tát Giới, th́ gọi là Bồ Tát Sa Di hoặc Bồ Tát Sa Di Ni.

- Như người trước kia thọ Cụ Túc Giới, về sau phát tâm Bồ Đề thọ Bồ Tát Giới, th́ gọi là Bồ Tát Tỳ Kheo hoặc Bồ Tát Tỳ Kheo Ni.

Căn cứ vào việc mọi hành giả theo Phật pháp, khi đă phát tâm Bồ Đề, đều có thể thọ Bồ Tát Giới, nên gọi là Thông Giới.

2. Nhiếp Luật Nghi Giới dữ Tam Tụ Tịnh Giới (Nhiếp Luật Nghi Giới và Tam Tụ Tịnh Giới)

* Thanh Văn Giới mà thất chúng Phật tử riêng thọ, thông thường gọi là Nhiếp Luật Nghi Giới.

- Công dụng duy nhất của giới này cốt ở sự “pḥng phi chỉ ác” (pḥng ngừa tất cả những việc sai quấy mà ngăn dứt tất cả tội ác), cho nên đều dạy chúng ta những sự việc nào không nên làm. Hành giả nếu đúng như pháp tuân giữ, sẽ riêng được giải thoát. Cho nên Nhiếp Luật Nghi Giới c̣n được gọi là Biệt Giải Thoát Giới.

* Ngoài Nhiếp Luật Nghi Giới, hành giả Thanh Văn c̣n có Định Cộng Giới và Đạo Cộng Giới (c̣n gọi là Tịnh Lự Luật Nghi và Vô Lậu Luật Nghi).

- Biệt Giải Thoát Giới chứng đắc từ nơi sự bẩm thọ, trong khi Định Cộng Giới và Đạo Cộng Giới không phải do nơi bẩm thọ mà chứng đắc. Đây là sự khác biệt của ba loại giới nói trên.

- Biệt Giải Thoát Giới thuộc về thi-la của cơi Dục Giới.

- Định Cộng Giới thuộc về thi-la của cơi Sắc và Vô Sắc Giới.

Dù có sự sai biệt như vậy, nhưng đồng thuộc về nghiệp hữu lậu trong tam giới. Đạo Cộng Giới thuộc về thi-la vô lậu, không thuộc về nghiệp trong tam giới. Định Cộng Giới và Đạo Cộng Giới dù có những đặc điểm riêng, nhưng cùng đồng tôn chỉ khuyên răn xa ĺa tội ác. Cả hai giới này đều gọi là “tùy tâm chuyển giới” (giới tùy theo tâm mà chuyển biến).

Khi tâm của hành giả ở trong trạng thái Định, tương ứng với cảnh Định, hoặc lúc tâm tương ứng với Vô Lậu Thánh Đạo; khi ấy, hai nghiệp thân, ngữ của hành giả tùy thuận theo sự tương ứng đó mà phát sanh tác dụng “pḥng phi chỉ ác” một cách tự nhiên.

Tác dụng này là do khi hành giả ở trong Định và Vô Lậu Đạo mà phát sanh. Dù có công hiệu như vậy, nhưng phỏng sử một khi xuất định, hoặc giả khi tâm duyên theo cảnh khác th́ tác dụng “pḥng phi chỉ ác” cũng tùy theo đó mà mất đi lập tức.

Cho nên Định Cộng Giới, Đạo Cộng Giới và cả Biệt Giải Thoát Giới (luật nghi do bẩm thọ mà chứng đắc) bị chuyển biến suốt đời. Đây lại có thêm một điểm tương đồng giữa ba giới.

Ngoài Nhiếp Luật Nghi Giới, Đại Thừa Bồ Tát Giới lại c̣n có Nhiếp Thiện Pháp Giới và Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới.

- Nhiếp Thiện Pháp Giới: hành giả thọ giới Bồ Tát không phải chỉ không được làm tất cả những điều ác là đủ; v́ như vậy mới chỉ thể hiện ở mặt tiêu cực. Hành giả c̣n phải cố gắng tu tập các thiện pháp. Đây mới chính là thể hiện mặt tích cực.

Ấn Thuận Đại Sư có dạy: “Người học Bồ Tát đạo để mong cầu thành Phật quả, không phải có một việc là xa ĺa và không làm các pháp nhiễm ô, rồi cho là xong chuyện. Nói thí dụ như một khu vườn chẳng những cần phải dọn dẹp, nhổ và phát cỏ cho sạch sẽ; lại c̣n cần trồng những thực vật hữu dụng. Cho nên Bồ Tát cần phải học rộng tất cả những Phật pháp, viên thành tất cả công đức, th́ mới có thể thực hiện được sự tích cực phi thường”.

Dù hành giả Thanh Văn bẩm thọ Luật Nghi Giới, không phải là hoàn toàn không cần tu tập tất cả thiện pháp, nhưng vẫn không giống với sự rộng học tất cả Phật pháp của hành giả Bồ Tát.

- Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới: biểu thị sự việc hành giả Bồ Tát lấy việc hóa độ chúng sanh làm chủ đích. V́ Bồ Tát phát tâm hóa độ chúng sanh, nếu không thực hành việc độ sanh th́ đâu thể gọi là Bồ Tát?

Bồ Tát đă lấy việc nhiếp hóa chúng sanh làm căn bản, lẽ đương nhiên chính bản thân ḿnh phải làm mô phạm cho chúng sanh. Nếu như bản thân Bồ Tát không tu giới hạnh, thử hỏi th́ làm sao được sự tín nhiệm của chúng sanh?

Cho nên nếu lấy sự hóa độ chúng sanh làm hạnh nguyện th́ cần nghiêm giữ giới pháp không được vi phạm.

Có người cho giới Thanh Văn là quá nghiêm cẩn, mỗi chút mỗi vi phạm. V́ thế rất khó giữ ǵn cho trọn vẹn, nhưng giới Bồ Tát trái lại rất khoan dung; vả lại, đại sĩ không câu chấp tiểu tiết. Bấy giờ mọi người đua nhau nguyện tu học Đại Thừa Bồ Tát, đều tự cho ḿnh là hành giả đă an trụ trong Bồ Tát hạnh. Khi làm những điều bất hợp pháp, bị người khác chỉ trích là luật nghi không hoàn chỉnh, lại lấy cớ ta đây là Bồ Tát để đáp lại kẻ chỉ trích ḿnh, không biết đó chính là điều tuyệt đối sai lầm.

Chân chánh và thẳng thắn mà nói, Bồ Tát nếu muốn làm sư phạm cho nhơn thiên, điều kiện trước nhất cần thọ tŕ là Nhiếp Luật Nghi Giới. V́ Nhiếp Luật Nghi Giới chẳng những là cội gốc của Nhiếp Thiện Pháp Giới mà c̣n là cơ thạch cho Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới (cơ là nền tảng, thạch là đá; nghĩa là nền tảng xây bằng đá, mượn để thí dụ cho Nhiếp Luật Nghi Giới là một nền tảng rất cứng chắc cho Nhiêu Ích Hữu T́nh và Nhiếp Thiện Pháp Giới).

Bồ Tát nếu không khéo hộ Nhiếp Luật Nghi Giới, th́ chẳng những với Nhiếp Thiện Pháp Giới không thể sanh khởi, mà luôn cả Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới cũng hoàn toàn không thực hiện được. V́ thế, hành giả Bồ Tát đối với Tam Tụ Tịnh Giới, cần phải xem trọng ngang nhau. Có như thế, mới thể hiện rơ điểm đặc sắc của Đại Thừa Bồ Tát Giới.

 

3. Tùng sư thọ giới dữ bất tùng sư thọ giới (thọ giới nơi thầy và không thọ giới nơi thầy)

Thọ giới mà đắc giới có một pháp thức nhất định, nhưng giới Thanh Văn và Bồ Tát đều có chỗ bất đồng. Thất chúng Phật tử Thanh Văn thừa muốn thọ giới, đại thể mà nói, đều phải có thầy truyền trao giới pháp.

Như chúng tại gia thọ tŕ Ngũ Giới, phải thọ từ nơi một đại đức xuất gia. Điều này trong nhiều kinh điển và luận Câu Xá đều nói như vậy. Trường hợp nhất định không t́m không có sư tôn truyền thọ giới pháp, có thể đặc biệt cho phép tự phát nguyện bẩm thọ. Việc này trong Luật Tứ Phần và Đại Trí Độ Luận quy định như vậy. Đây chẳng qua là phương tiện ngoại ngạch, bất đắc dĩ.

Như thế, nếu gặp trường hợp có sư tôn truyền trao giới pháp, th́ tuyệt đối không được áp dụng ngoại lệ tự phát nguyện bẩm thọ. Đến như chúng tại gia thọ Bát Quan Trai Giới, cũng phải ở trước ngũ chúng xuất gia mà bẩm thọ, lại c̣n phải t́m một vị giới sư suốt đời không ăn phi thời làm thầy truyền giới.

Trường hợp không thể t́m được vị sư tôn như thế, Phật tử có thể ở trước h́nh tượng Phật, Bồ Tát tự phát thệ thọ giới.

Đối với chúng xuất gia thọ giới Sa Di và Sa Di Ni, phải có hai thứ giới sư truyền giới. Trường hợp đặc biệt thọ giới Cụ Túc, phải có đủ tam sư thất chứng. Đây là nghi thức tối quan trọng.

Vấn đề từ Thập Sư thọ giới Cụ Túc dành cho những nơi Phật pháp thịnh hành, Tăng chúng đông đảo. Trái lại, đối với những vùng biên địa hẻo lánh, Tăng chúng không đông, không có phương tiện quy tụ đầy đủ Thập Sư truyền giới, có thể giảm bớt phân nửa, chỉ cần 5 vị: bốn vị làm chúng Tăng, một vị làm Yết Ma sư tác pháp để truyền trao giới phẩm. Đây là chánh thuyết của Tỳ Bà Sa Luận, Chánh Lư Luật v.v... Đức Đạo Tuyên Luật Sư cũng căn cứ theo thuyết này.

Tóm lại:

Giới Thanh Văn quyết định phải thọ giới pháp từ nơi thầy với các nghi thức quy định bắt buộc.

Về giới Bồ Tát, phần nghi thức được quy định như thế nào?

Điều này trong kinh Bồ Tát Bổn Nghiệp Anh Lạc dạy rơ có 3 phẩm thọ giới: thượng, trung, và hạ phẩm.

- Thượng phẩm: Từ nơi Đức Phật mà thọ giới. Điều kiện này rất khó thực hiện. Trong kinh Phật dạy: “Một là giới tử lúc thọ giới, ở trước chư Phật, Bồ Tát mà bẩm thọ. Đây thực sự là Thượng Phẩm Giới”.

- Trung phẩm: Từ nơi những đệ tử của Phật mà bẩm thọ. Trong kinh Phật dạy: “Hai là sau khi Phật, Bồ Tát nhập diệt. Trong ṿng một ngàn dặm, nếu có vị Bồ Tát nào đă thọ giới trước th́ phải thỉnh làm Pháp Sư, dạy bảo, truyền trao giới pháp cho ḿnh. Trước tiên, phải thành kính đảnh lễ dưới chân Pháp Sư, thứ đến tác bạch như vầy: ‘Kính thỉnh tôn giả làm thầy truyền trao giới pháp cho con’. Giới tử đắc giới ấy gọi là Trung Phẩm giới”.

- Hạ phẩm: Sự thọ giới trong trường hợp không gặp Phật xuất thế, hoặc đă nhập diệt, trong ṿng ngàn dặm cũng không có đệ tử của Phật để làm thầy truyền giới, Phật tử có thể ở trước h́nh tượng Phật bẩm thọ. Trong kinh Phật dạy: “Ba là sau khi Phật, Bồ Tát nhập diệt, trong ṿng ngh́n dặm, không có Pháp Sư làm thầy truyền trao giới pháp th́ nên ở trước h́nh tượng Phật, Bồ Tát, hồ quỳ chắp tay tự thệ nguyện thọ giới. Nên tác bạch như vầy: Đệ tử... kính bạch thập phương chư Phật và đại địa Bồ Tát, con nguyện thệ học tất cả giới của tất cả Bồ Tát. Đây là hạ phẩm giới”.

Ấn Thuận Luật Sư thuyết minh: “Trường hợp thậm chí không có h́nh tượng Phật để tự thọ giới th́ y cứ theo trong kinh Phổ Hiền Quán dạy: Giới tử có thể quán tưởng đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật làm ḥa thượng, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát làm Yết Ma A Xà Lê, Di Lặc Bồ Tát làm Giáo Thọ A Xà Lê, vẫn có thể thọ giới được”.

Theo kinh Phạm Vơng này chỉ có hai cách thọ giới:

- Tự thệ thọ giới: Đây là trường hợp trong ṿng mấy ngàn dặm, không có Pháp Sư truyền trao giới pháp. Giới điều thứ 23 trong 48 giới khinh, tuyên thuyết minh bạch như vầy: “Dục dĩ hảo tâm thọ Bồ Tát Giới thời, ư Phật, Bồ Tát h́nh tượng tiền, tự thệ thọ giới, đương dĩ thất nhật, Phật tiền sám hối, đắc kiến hảo tướng tiện đắc giới. Nhược bất đắc hảo tướng, ưng nhị thất, tam thất, năi chí nhất niên, yếu đắc hảo tướng. Đắc hảo tướng dĩ, tiện đắc Phật, Bồ Tát h́nh tượng tiền thọ giới. Nhược bất đắc hảo tướng, tuy Phật tượng tiền thọ giới, bất danh đắc giới”.

(Nếu Phật tử sau khi Phật nhập diệt, lúc có tâm tốt muốn thọ giới Bồ Tát, th́ đối trước tượng Phật cùng tượng Bồ Tát mà tự nguyện thọ giới. Nên ở trước tượng Phật và tượng Bồ Tát, sám hối trong bảy ngày. Nếu thấy được hảo tướng là đắc giới. Nếu chưa thấy được hảo tướng th́ sám hối 14 ngày, 21 ngày hay đến cả năm, cầu cho được thấy hảo tướng. Khi được thấy hảo tướng rồi, thời được đối trước tượng Phật, Bồ Tát mà thọ giới. Như chưa thấy hảo tướng, thời dầu có đối trước tượng Phật thọ giới, vẫn không gọi là đắc giới).

- Từ thầy thọ giới: Đây là trường hợp có thể thỉnh được vị Pháp Sư truyền trao giới pháp. Cũng theo giới điều hai mươi ba dạy tiếp rằng: “Nhược tiên thọ Bồ Tát giới Pháp Sư tiền thọ giới thời, bất tu yếu kiến hảo tướng. Hà dĩ cố? Thị Pháp Sư chư sư tương thọ cố, bất tu hảo tướng. Thị dĩ Pháp Sư tiền thọ giới thời tức đắc giới, dĩ sanh chí trọng tâm cố tiện đắc giới”.

(Nếu khi đối trước vị Pháp Sư đă thọ giới Bồ Tát th́ không cần thấy hảo tướng. V́ sao vậy? V́ vị Pháp Sư là chư sư truyền giới cho nhau, nên không cần hảo tướng. Hễ đối trước vị Pháp Sư ấy mà thọ giới liền đắc giới, do v́ hết ḷng kính trọng nên đắc giới).

Với hai trường hợp thọ giới đă nói rơ ở trên, Ấn Thuận Luật Sư trịnh trọng dạy như vầy: “Nếu không có Phật xuất thế, cũng không có đệ tử Phật, th́ có thể ở trước tượng Phật hoặc quán tưởng Phật mà thọ giới, nhưng nếu có đệ tử Phật th́ vẫn cần phải từ nơi đệ tử của Phật mà bẩm thọ giới mới là thích hợp”.

 

4. Thanh Văn Giới thị tân đắc dữ Bồ Tát giới thị huân phát (Giới Thanh Văn thuộc về tân đắc và giới Bồ Tát thuộc về huân phát)

Giới pháp Thanh Văn xuất gia hay tại gia đều phải trải qua nghi thức thọ giới mới đắc giới thể. Giới thể này trước vốn không có mà khi thọ giới mới được, nên gọi là “tân đắc”. Cũng chính v́ tính chất mới được này nên có thể có hai t́nh trạng xảy ra nơi Phật tử thọ giới là “đắc giới”, rồi lại có thể “thất giới”. Hai t́nh trạng có thể dẫn đến sự thất giới là:

- Phạm căn bản trọng giới (vi phạm những giới cấm quan trọng): Bất luận h́nh tướng bên ngoài thể hiện giống hệt một Phật tử chân chính đến mức độ nào (Phật tử ở đây bao gồm hai chúng), nếu giới thể đă bị mất th́ người Phật tử đó đă mất hẳn đặc chất của người Phật tử.

- Nhất kỳ sanh mạng kết thúc (thời gian mạng sống đă đến lúc chấm dứt): Nguyên v́ giới thể Thanh Văn thuộc về “tận h́nh thọ”, nghĩa là khi thời gian thọ mạng của người thọ giới tồn tại, giới thể tất nhiên theo sanh mạng mà chuyển sanh. Một khi sanh mạng băng hoại, giới thể tự nhiên cũng theo đó mà tiêu mất. Như vậy, có đắc giới tất nhiên sẽ có thất giới.

Với quan điểm này, Ấn Thuận Đại Sư thuyết minh: “Các học giả Thanh Văn có người cho giới thể là Vô Biểu Sắc, hoặc có người cho là Bất Tương Ưng Hành Pháp”.

Gần đây, quư sư trong giới