Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới
Bổn Giảng Kư
Chương
III: CHÁNH THUYẾT GIỚI TƯỚNG (chánh thức
thuyết giảng giới tướng)
A. TỔNG THUYẾT GIỚI TƯỚNG (Thuyết giảng
tổng quán tướng trạng của các giới)
Kinh văn:
1. Phiên âm:
Từ câu “Phật cáo chư Phật
tử ngôn: “Hữu thập trọng Ba La Đề Mộc
Xoa...” cho đến câu: “..ưng đương học,
kính tâm phụng tŕ”.
2. Dịch nghĩa:
Đức Phật bảo các Phật
tử rằng: “Có mười giới trọng; nếu
người thọ giới Bồ Tát mà không tụng
những giới điều này th́ người ấy không
phải là Bồ Tát, không phải là Phật tử. Chính Ta
cũng tụng như vậy. Tất cả Bồ Tát
đă học, đương học và sẽ học, sau
khi nghe lược giảng xong tướng trạng
của giới Bồ Tát, đều cần nên học và
hết ḷng kính trọng, phụng tŕ”.
Lời giảng:
Tiếp
theo, v́ cần phải chánh thức tuyên thuyết
tướng trạng của các giới trọng và giới
khinh, cho nên đức Phật lại bảo các Phật
tử rằng:
- Các ông phải biết có
mười giới trọng Ba La Đề Mộc Xoa, là
người thọ giới Bồ Tát, quyết phải
đọc tụng. Nếu như không tụng giới
Bồ Tát này th́ chẳng phải là Bồ Tát, chẳng
phải gịng giống Phật tử.
V́
thọ giới quyết định phải tụng
giới. Tụng giới mới biết rơ thế nào là Tŕ,
thế nào là Phạm, thế nào là giới trọng, thế
nào là giới khinh. Có biết rơ Tŕ, Phạm, Trọng, Khinh
mới có thể hộ tŕ giới pháp một cách hoàn
bị.
Nếu
thọ giới mà không tụng giới th́ trải qua
một thời gian lâu xa, sẽ dần dần quên lăng. Do
đó, đối với những giới tướng
đă bẩm thọ, sẽ không biết rơ được
giới tướng khinh, trọng, cho nên cũng không
thể nào minh bạch được Khai, Giá.
Khai, Giá
phân biệt không rành th́ khi phạm giới lại không hay
biết, như thế chẳng phải là tạo tội
lỗi rất lớn ư? Chẳng những vậy,
hiện tiền lại mất hẳn danh vị Đại
Thừa và luôn cả tư cách của một vị Bồ
Tát cũng không được bảo tồn.
Nên biết:
Mười giới trọng Ba La Đề Mộc Xoa là
bổn nghiệp của Bồ Tát nên thực hành. Nếu
hiện tại không tuân theo lời Phật dạy, đúng
như pháp mỗi nửa tháng phải tụng giới một
lần, th́ sẽ bị mất hẳn bổn nghiệp.
Đối với
bổn nghiệp đă không thể bảo tồn, thử
hỏi làm sao nói đến việc lợi ích cho chúng sanh?
Không làm lợi ích cho chúng sanh th́ c̣n tư cách ǵ là Bồ Tát?
Nên kinh Phật dạy: “Chẳng phải là Bồ Tát”.
Một khi tư cách Bồ Tát đă bị tán thất th́
cũng mất hẳn quả Phật ở tương lai.
Phật quả do
đâu mà thành?
Do Phật chủng
tử kết thành. Chủng tử chân thật thành Phật
chính là giới này. Nếu chỉ có danh suông mà không thực
hành theo lời Phật dạy th́ Phật quả
đương nhiên cũng mất theo. Cho nên thà rằng
không thọ giới, nếu đă thọ giới th́
nhất định phải đọc tụng, bất
luận tại gia hay xuất gia.
V́ có tụng giới
mới biết rơ Tŕ, Phạm, Khinh, Trọng. Tụng
giới chính là từng giờ, từng phút dùng nước
pháp tưới rưới chủng tử chân thật thành
Phật cho luôn được tươi nhuận, không
bị héo khô.
Tiến lên một
bậc nữa, Đức Phật lại dạy rằng:
“Chẳng những Bồ Tát các ông cần phải tụng,
chính Ta, cũng mỗi nửa tháng tự tụng như
thế. Lại tất cả Bồ Tát thời quá khứ
mong cầu quả vị đại Bồ Đề đă
học giới này. Tất cả các Bồ Tát đời
vị lai mong cầu quả vị Đại Bồ Đề,
đối với giới này, cũng sẽ học.
Tất cả các Bồ Tát hiện tại cầu quả
vị Bồ Đề cũng đang học giới này.
Tức là chư Bồ Tát ba đời, cứ mỗi
nửa tháng, đều tụng pháp Ba La Đề Mộc Xoa
này. Hiện tại ta đă lược giảng
tướng trạng Ba La Đề Mộc Xoa của Bồ
Tát. Hàng Bồ Tát các ông cần phải hết ḷng kính
trọng, phụng tŕ”.
Giới thể,
đặc biệt là Tâm Địa diệu giới này, vốn
không có tướng trạng nào có thể chỉ ra
được, chỉ căn cứ vào thâm tâm của hành
giả tŕ giới hay phạm giới biểu hiện
như thế nào, th́ giới tướng thể hiện ra
như thế ấy. Nghĩa là: Người tŕ giới có
tướng mạo của người tŕ giới,
người phạm giới có tướng mạo của
người phạm giới. Cho nên kinh Lăng Nghiêm
dạy: “Tâm tŕ cấm giới, cử thân khinh thanh” (tâm giữ
ǵn giới cấm, thân thể sẽ được
nhẹ nhàng, trong sạch) là biểu thị ư nghĩa trên
đây vậy.
Tŕ giới hay phạm giới biểu
hiện tướng mạo như thế, cho nên Bồ Tát
được nghe giới này và đă bẩm thọ
giới pháp, cần phải sanh tâm hiếu thuận,
hết ḷng kính trọng, phụng tŕ. Nếu không hết
ḷng phụng tŕ th́ chẳng những không được
gọi là hiếu thuận, lại c̣n mất hẳn chân
nhân thành Phật, không mong ǵ được thành Phật
ở tương lai.
B. BIỆT THUYẾT GIỚI TƯỚNG (thuyết giảng
riêng biệt giới tướng)
B.1. THUYẾT TRỌNG GIỚI TƯỚNG (thuyết giảng
về các giới trọng)
B.1.1. BIỆT THUYẾT THẬP TRỌNG (giảng riêng
mười giới trọng)
B.1.1. SÁT GIỚI (giới sát sanh)
Kinh
văn:
1. Phiên âm:
Từ câu “Phật ngôn: Nhược
Phật tử...” cho đến câu: “...thị Bồ Tát Ba
La Di tội”.
2. Dịch nghĩa:
Đức Phật dạy: “Nếu
Phật tử hoặc tự ḿnh giết, hoặc bảo
người giết, phương tiện giết, khen
tặng sự giết, thấy giết mà tùy hỷ,
nhẫn đến dùng bùa chú để giết, nhân
giết, duyên giết, cách thức giết, nghiệp
giết. Phàm tất cả loài hữu t́nh có mạng
sống, đều không được cố ư giết. Là
Phật tử lẽ ra phải luôn luôn có ḷng từ bi, ḷng
hiếu thuận, lập thế cứu giúp tất cả
chúng sanh, nhưng nếu trái lại, tự phóng tâm nỡ
ḷng sát hại, Phật tử này phạm Bồ Tát Ba La Di
tội”.
Lời giảng:
Từ đây trở
xuống, chánh thức tuyên thuyết giới tướng.
Trong phần này, trước tiên giảng nói tướng
trạng của 10 giới trọng. Bây giờ xin bắt
đầu giảng nói giới sát sanh thứ nhất.
Thế
nào gọi là sát sanh?
Mỗi
sanh mạng h́nh thể của chúng sanh có đủ tâm
thức và hoạt động, lấy hơi thở ra vào
để duy tŕ sự sanh tồn của sanh mạng; nên
nói: Một hơi thở c̣n là sanh mạng chưa
đoạn tuyệt. Nếu người nào đoạn tuyệt
hơi thở vào ra của chúng sanh làm cho không c̣n tiếp
tục phát sanh, sanh mạng không tương tục
được nữa, gọi là Sát Sanh.
Ư
nghĩa sát sanh của Phật pháp không phải ở nơi
niệm niệm tương tục mà là nhất kỳ
tương tục (1). Cưỡng đoạt sự
tương tục của sanh mạng là trái ngược
với ư chí mong cầu sanh tồn của chúng sanh; nên sát
sanh là một tội ác rất lớn.
Nói theo Phật pháp,
hơi thở của chúng sanh có sai khác trong ba thời:
hơi thở trong quá khứ đă diệt, không thể
tương tục, không gián đoạn. Hơi thở hiện
tại tuy sát na không dừng, nhưng cũng không thể
tương tục không gián đoạn. Hơi thở
vị lai v́ chưa sanh nên không thể từ đâu
để tương tục, không gián đoạn.
Thế th́ nói
“đoạn tuyệt hơi thở ra vào gọi là sát sanh”,
rốt ráo căn cứ vào đâu mà nói? Nên biết quá khứ,
hiện tại không thể sát hại, nói một cách chính
xác; mà Sát ở đây mang ư nghĩa làm việc ngăn
chặn sự hoạt động tương tục trong
vị lai của sanh mạng hữu t́nh. Nghĩa là hiện
tại, dùng những sát cụ: gươm, đao, súng,
giáo... làm thương hại cho sanh mạng vị lai
của chúng sanh, hiện tiền không c̣n được
nữa, nên gọi là Sát Sanh.
Có người căn
cứ vào lập trường Duyên Khởi Tánh Không nói: “Sát
sanh là từ nơi nhân, từ nơi duyên. Như trong kinh
này nói nhân sát, duyên sát. Đă do nhân duyên ḥa hợp sát hại,
tất nhiên là không có, v́ tự tánh vốn là không. Rơ biết
tánh Sát vốn không nên đúng theo lư th́ không phạm tội
sát sanh” (sát sanh không phạm tội). Lời trên là tà
thuyết, hiểu lầm ư nghĩa chữ Không. Tuyệt
đối không nên thủ tín theo thuyết ấy.
Nên biết rằng lư
Duyên Khởi Tánh Không của Phật pháp dùng để
đối trị bệnh chấp Có của phàm phu. Không nên
nói: Do hiểu rơ “tánh Sát vốn không” là không có tội sát
sanh! Người học Phật chân chánh thông đạt lư
Không, chẳng bao giờ sát sanh.
Nếu tạo
tội sát sanh, tất nhiên không hiểu rơ lư Không. Nếu cho
là không có tội mà hành động sát sanh tức là tà
kiến; Phật pháp cực lực bài bác và quở trách.
Chẳng những không nói là vô tội, mà tội ấy c̣n
nặng hơn những tội khác. Điều này người
học Phật, xuất gia lẫn tại gia, cần
phải đặc biệt chú ư!
Giới Bồ Tát
lấy việc sát sanh làm giới cấm trước
nhất, giới Thanh Văn lấy việc dâm dục làm
giới cấm hàng đầu; đó là ư ǵ?
Như trước
đă nói, giới Thanh Văn đợi có cơ duyên
Phật mới chế lập, nghĩa là: Ví như một
tăng nhân nào đó khi phạm sai lầm, sau đó, Đức
Phật mới nhân đó mà chế định ra cấm
giới.
Chẳng hạn
như giới Dâm của Thanh Văn, do v́ có một Tôn
Giả sau khi xuất gia, về thăm gia đ́nh. V́ Tôn
Giả này là con trai duy nhất, nên cha mẹ t́m mọi cách
khiến Tôn Giả cùng vợ chăn gối để có
con nối gịng. Sau khi Tôn Giả làm việc như vậy,
Ngài vô cùng buồn thẹn. Bạn đồng tu hỏi
duyên cớ, Tôn Giả đem sự việc trên nói thật.
Nhân đó, Đức Phật quở trách, rồi bắt
đầu kiết giới Dâm. Thế nên gọi là:
“Đợi có duyên mới chế giới”.
Theo luật Tiểu
Thừa th́: “Tỳ kheo phạm tội tối sơ là dâm
dục, cho nên Phật chế giới Dâm trước”, cho
nên sát sanh không có liệt ở trước. Lại nữa,
mục đích duy nhất của hành giả Thanh Văn
thừa là thoát ly sanh tử trong tam giới, không lập chí
thành Phật, chỉ mong đời vị lai đừng
tái phục sanh mạng này nữa. Cho nên giới Dâm
đặt ở trước.
Bồ Tát lấy
từ bi lợi tế chúng sanh làm cơ bản, thấy
mỗi chúng sanh sinh tồn ở thế gian đều tham
sanh úy tử; Bồ Tát cảm thông sâu xa, nên chỉ lo cứu
tế chúng sanh không kịp, làm sao có thể đi giết
hại chúng sanh? Nếu sát hại sanh mạng chúng sanh là
mất tâm Từ Bi sẵn có của Bồ Tát và đâu c̣n
tư cách ǵ là Bồ Tát?
Nên luận Du Già nói:
- Nếu có
người hỏi Bồ Tát lấy ǵ làm thể? Nên chánh
thức đáp rằng: “Lấy đại bi làm thể”.
Cho nên vị Bồ Tát chân chánh c̣n v́ vật mà xả thân, làm
sao có thể sát hại chúng sanh. V́ vậy, giới Sát
đặc biệt đứng hàng đầu.
Sát sanh trong giới
Đại Thừa cũng như Tiểu Thừa, xuất gia
cùng tại gia đều chế lập thành giới
trọng. Nếu sát sanh, tội ấy rất nặng.
Thế nên bất
luận một Phật tử nào, xuất gia cũng như
tại gia, nếu như làm những hành động sát sanh
th́ đều bị liệt vào tội rất nặng,
không c̣n tư cách nhập đạo.
Đối với Bồ
Tát th́ sát sanh là việc càng trọng đại hơn. V́
đại hạnh của Bồ Tát nương nơi chúng
sanh mà thành tựu. Trong phẩm Phổ Hiền Hạnh
Nguyện nói: “Tất cả chúng sanh là gốc rễ,
chư Phật, Bồ Tát là hoa trái. Dùng nước Đại
Bi làm lợi ích chúng sanh, th́ thành tựu hoa quả trí
huệ của chư Phật, Bồ Tát”.
Có chúng sanh để
độ mới có Bồ Tát đi cứu độ. V́
thế, chúng sanh là ân nhân thành tựu đại hạnh cho
Bồ Tát, nên từng giờ, từng phút phải nghĩ
đến việc báo ân, đâu thể nào trở lại
giết hại chúng sanh?
Đối với Bồ
Tát, chúng sanh trong lục đạo đều là cha mẹ
nhiều đời, nhiều kiếp. Trong đời
đời kiếp kiếp, ta từ nơi đó sanh ra,
bổn phận làm con phải báo đáp thâm ân cha mẹ,
đâu nên giết hại?
Lại nữa,
tất cả chúng sanh đều có Phật tánh,
tương lai đều sẽ thành Phật. Ai là
người thành Phật trước? Điều ấy không
khẳng định được. Hành giả Bồ Tát
cần phải kết duyên, phải cung kỉnh tôn
trọng đối với tất cả chúng sanh, nên
tự nghĩ: “Chúng sanh kia có kẻ sẽ thành Phật
trước ḿnh, tương lai sẽ tế độ
ḿnh”.
Đại Trí Độ
Luận nói: “Với những đàn kiến kia, có thể
sẽ thành Phật trước ḿnh, ḿnh sẽ nhờ nó
tế độ, việc ấy nào đâu biết được!”
Hiện tại, nếu
sát hại sanh mạng chúng sanh, ấy là giết hại
chư Phật vị lai, cũng làm tổn hại tiền
đồ của chính ḿnh. Nếu nghiêm tŕ giới không sát
sanh, chẳng những kết thiện duyên với chúng sanh
một cách thâm hậu, mà lại c̣n rộng bố thí vô úy
cho chúng sanh. Nên biết, chúng sanh sợ nhất là việc
tử vong sanh mạng. Nếu Bồ Tát không sát hại,
tự nhiên chúng sanh không hăi sợ, nên kinh Niết Bàn nói:
Nhứt thiết úy đao trượng,
Mạc bất ái thọ mạng,
Thứ kỷ khả vi dụ,
Vật sát, vật hành trượng.
Dịch:
Tất cả chúng sanh sợ đao gậy,
Không thể không yêu sanh mạng,
Cứ xét nơi bản thân th́ rơ,
Nên không giết hại, không đánh đập.
Câu “thứ kỷ
khả vi dụ” ở Nho gia gọi là Thứ Đạo, trong
Phật pháp gọi là Pháp Tự Thông. Nói một cách dễ
hiểu: “Tức thị dĩ kỷ chi t́nh đạt tha
chi t́nh” (Phàm những việc ḿnh không muốn người
khác mang đến cho ḿnh, ḿnh không nên cưỡng chế
đưa cho người). Lấy bụng ta suy ra bụng
người.
Giả như có
người muốn đến sát hại sanh mạng
của chúng ta, ta không bao giờ chấp nhận, v́ ta
vẫn mong cho sanh mạng này tiếp tục sanh tồn măi
măi, không đoạn tuyệt. Riêng ḿnh đă thế, th́
phải tưởng đến người khác cũng
đồng một tâm trạng như vậy.
Như thế, chúng ta
không thể nào giết hại sanh mạng của chúng sanh,
cũng không nên vô cớ làm cho chúng sanh bị đau khổ,
sợ hăi.
Kinh Tăng Nhứt A
Hàm quyển ba mươi bảy nói: “Ta bao giờ cũng
muốn sống, muốn đừng chết, bao giờ
cũng muốn được hạnh phúc, bao giờ cũng
mong tránh khỏi khổ đau. V́ thế, nếu có
người muốn đến phá hoại sanh mạng
muốn sống, không muốn chết, muốn
được hạnh phúc, muốn tránh xa khổ đau
của ta đây, đấy là việc ta có ưa thích hay
không? Nếu ta không ưa thích, mà lại đi phá hoại
sanh mạng của người khác th́ người khác
cũng đồng như ta: không bao giờ ưa thích. Phàm
việc ǵ riêng ḿnh không ưa thích, không vui sướng, th́
người khác cũng không ưa thích, không vui
sướng. Thế th́ tại sao ta lại đem những
việc chính ḿnh không ưa thích, không vui sướng mà trói
cột cho người? Cứ suy nơi ḿnh mà xét
đến người như vậy, thông thường
gọi là có tâm niệm đồng t́nh với nhau”.
Bồ Tát lấy
sự nhiếp hóa chúng sanh làm khóa đề duy nhất, mà
yếu vụ tối đại để nhiếp hóa là
phải làm thế nào tiếp cận với chúng sanh,
rồi sau dẫn dắt chúng sanh vào trong Phật pháp.
Nếu Bồ Tát luôn
ôm ấp tâm niệm sát hại th́ chúng sanh mỗi khi trông
thấy liền sanh tâm sợ hăi, tức khắc sẽ ly
khai vị Bồ Tát ấy; th́ thử hỏi vị ấy
làm sao nhiếp hóa chúng sanh? Và như thế th́ sao
được gọi là Bồ Tát? V́ thế, Bồ Tát
cần phải giữ giới bất sát sanh cho nghiêm
cẩn.
Đến đây Đức Phật
dạy rằng: “Nếu Phật tử đă phát tâm Bồ
Đề, thọ giới Bồ Tát, cần phải y theo
giới pháp ấy tu hành, không nên có tâm khinh thường vi
phạm lời Phật dạy”.
Trước tiên nói về giới sát sanh. Bất
luận là tự sát, giáo nhân sát, phương tiện sát,
hoặc tán thán sát, hoặc kiến sát tùy hỷ, cho
đến chú sát. Đây đều là hành vi sai lầm, là
tội ác cực trọng!
Sau đây xin giải
thích riêng từng thể loại:
- Tự sát:
tự ḿnh làm việc sát hại, hành quyết sanh mạng
chúng sanh. Hoặc dùng tay chân và các bộ phận khác trên thân
ḿnh làm việc giết hại; hoặc dùng những vật
như dao, kiếm, gậy gộc, ngói, đá, súng, ống
v.v... bên ngoài làm việc sát hại. Bất luận sát
hại cách nào, chủ yếu là chính tay ḿnh kết thúc sanh
mạng của đối phương th́ kết thành
tội sát sanh. Lối tự sát này là sát nghiệp do hai
thứ thân, tâm tạo thành.
- Giáo nhân sát:
chính miệng ḿnh dạy bảo người khác làm việc
giết hại. Hoặc trước mặt người
dạy bảo họ làm như thế nào; hoặc sai
khiến người khác, nói rơ phải làm như thế
nào; hoặc viết thư bảo người khác làm
như thế nào. Dù không phải chính tay ḿnh sát hại chúng
sanh, nhưng dạy bảo người làm, chủ yếu
là lúc sanh mạng đối phương bị kết
liễu th́ thành tội sát sanh. Lối sát sanh này là sát nghiệp
do thân, khẩu hai thứ tạo thành. Cổ đức có
nói:
Thiệt thượng hữu Long Tuyền,
Sát nhân bất kiến huyết.
Nghĩa là: Trên
lưỡi con người có bảo kiếm Long Tuyền,
giết chết người mà không thấy máu chảy. Do
đó, chúng ta thấy rơ tội xúi bảo người khác giết
hại trọng đại biết dường nào.
- Phương
tiện sát: Cách sát hại thứ ba này chẳng phải
ḿnh trực tiếp hành động, cũng không dạy
bảo người khác làm việc sát hại. Lối sát
hại này là khéo léo lập ra những phương tiện
đặc biệt, khiến sanh mạng của đối
phương phải bị đoạn tuyệt như: trói
cột, giam nhốt, hoặc chỉ đường
lối bảo người t́m kiếm, bắt cho
được, rồi sau đó kết thúc sanh mạng
của chúng sanh. Những việc này gọi là phương
tiện sát. Lối sát sanh này là sát nghiệp do tâm ư tạo
thành.
- Tán thán sát (khen
tặng giết): Như có người vốn không có tâm ư
sát sanh, nhưng có người bên cạnh dùng các thứ hoa
ngôn, xảo ngữ, khen tặng là người ấy có
sức mạnh vĩ đại, có khả năng giải
quyết sanh mạng của chúng sanh, khiến cho
người ấy, lúc bấy giờ, sanh khởi tâm sát
hại, thực hiện việc sát hại, thành tựu
việc sát hại.
Hoặc trường
hợp trước mắt có một người chán
đời, muốn tự tận cuộc sống của
họ. Có người thừa cơ hội ấy khen
tặng những mỹ đức của người chán
đời kia, nói rằng: “Anh đă có nhiều công đức
như thế, nếu chết đi sẽ được
sanh thiên giới, hưởng thọ bao nhiêu khoái lạc
ở thiên đường, thật là một việc
vừa ḷng, khoái ư biết chừng nào? Tại sao sanh
tồn ở thế gian này để chịu nhiều
khổ năo? Tại sao không mau mau chết đi?” Nếu
đối phương v́ sự khen tặng này tự tận
th́ kết thành tội sát sanh. Loại sát sanh này là sát
nghiệp do tâm, khẩu tạo thành.
- Kiến sát tùy
hỷ (thấy sự sát hại mà vui mừng): Lối
sát hại này dù không dạy người giết, khen
tặng sự giết, nhưng thấy người làm
việc giết hại cho rằng việc giết hại
là rất đúng, không có ǵ tội lỗi, tâm tùy hỷ theo
việc ấy. Hoặc có người trước đă có
tâm sát hại, nhưng c̣n ở trong ṿng lưng chừng,
chưa quyết định, nhân bấy giờ có
người tùy hỷ, khác ǵ khích lệ làm việc sát
hại, mới quyết định giết chúng sanh. Lúc
sanh mạng chúng sanh kết thúc là thành tội sát sanh. Sát
nghiệp này do tâm ư tạo thành.
- Chú sát (dùng bùa
chú để giết): Lối này là dùng chú thuật cực
ác, chú nguyền cho chúng sanh bị chết. Tương
truyền ở Ấn Độ có thứ Tỳ Đà La chú.
Niệm tụng chú ấy có thể làm cho tử thi chưa
bị hoại hư đứng dậy, đoạn dùng
nước tắm rửa sạch sẽ, mặc y
phục, rồi đưa đao trượng cho tử
thi, đặt trên một chiếc xe, rồi bảo
với tử thi rằng: “Người ấy... có việc
oán thù với ta. Giờ ngươi hăy đi giết
người ấy”. Đây là sát tội dùng bùa chú giết. Sát
nghiệp này do tâm, khẩu tạo thành.
Hai chữ “năi chí” (cho
đến) là nói chưa hết, nghĩa là những
phương pháp sát hại rất nhiều, không phải
chỉ có mấy thứ kể trên, mà c̣n những các
giết khác như đào hầm, đốt lửa
để cho hết khói. Đoạn dùng cát đất phủ
lên trên, rồi bảo người đi trên ấy cho
họ sụp hầm lửa mà chết. Hoặc đào
hầm sâu khiến người ấy rơi xuống mà
chết. Hoặc gài bẫy khiến người
vương bẫy mà chết. Hoặc đưa thuốc
độc bảo người uống, hoặc làm
đọa thai, chết người v.v... Tóm lại, phàm
dùng những phương pháp chi kết liễu sanh mạng
chúng sanh đều là tội sát sanh.
Tướng trạng
sát sanh như thế, nếu chỉ có nhân sát mà không có duyên
sát, cố nhiên không cấu thành sát nghiệp, mà phải do
nhân duyên ḥa hợp mới thành. Như khởi tâm mà không
tương tục, vẫn không thể thành sát nghiệp,
nên phải hội đủ ba điều. Kết thành sát
nghiệp, tất cả gồm bốn thứ như sau:
- Nhân sát (nguyên nhân giết): Do phiền năo từ vô
thỉ xung động trong nội tâm, sanh khởi niệm
sát hại, gọi là nhân sát.
- Duyên sát: là sát tâm tương tục không gián
đoạn, nên dùng nhiều phương tiện để
thực hiện việc sát sanh là duyên sát.
- Sát pháp (cách thức giết): Bày chỉ các thứ
làm việc sát hại, phương pháp dùng những hung
cụ như: đao, kiếm, cung, tên, súng đạn v.v...
gọi là sát pháp.
- Sát nghiệp (nghiệp giết): Do ba duyên nói trên
thành tựu, làm cho những sanh mạng hữu t́nh mà ḿnh
muốn đoạn diệt không c̣n tương tục
nữa, gọi là sát nghiệp.
Nhân sát có thể xuyên
suốt đời quá khứ. Duyên sát, pháp sát chỉ
thuộc về hiện tại, trong khi sát nghiệp
chẳng những ở đời hiện tại mà c̣n kéo
luôn đến đời vị lai. Như vậy, bốn
thứ này triển chuyển giúp đỡ cho nhau
đến đời vị lai, khiến chúng sanh giết
hại lẫn nhau và sự sanh tử luân hồi không bao
giờ chấm dứt.
Nói về ba
chướng th́ một niệm sát tâm sanh khởi
đầu tiên là Phiền Năo Chướng, hoàn thành việc
sát hại chúng sanh là Nghiệp Chướng, và nghiệp này
chiêu cảm nỗi khổ trong tam ác đạo đời
vị lai là Báo Chướng. Do đó, có thể thấy ba
chướng làm cho chúng sanh luân chuyển đều là do
một niệm sát tâm tối sơ. Nếu không có sát
niệm tối sơ bất thiện này th́ không bao giờ
tạo thành sát nghiệp, gây nên trọng tội như núi Tu
Di và chiêu cảm quả khổ cùng cực trong sanh tử.
Cho nên giới sát sanh thật vô cùng trọng yếu.
Câu “năi chí nhất
thiết hữu mạng dă bất đắc cố sát”
nghĩa là: Phàm tất cả loài hữu t́nh có mạng
sống đều không được cố ư giết. Nói
rơ hơn, chẳng những đối với con
người cùng những chúng sanh có h́nh vóc to lớn, chúng ta
không được giết hại; mà ngay cả
đến những giống loại có thân h́nh rất
nhỏ như côn trùng, sâu kiến, bọ mạt, các côn trùng
ḅ, bay, máy, cựa đều không được cố ư
sát hại.
Kinh văn nói “cố
sát” là cố tâm sát hại, không phải vô ư lầm lỡ mà
giết. Về việc ngộ sát, Kết Quả Luận
của Kỳ Na Giáo ở Ấn Độ cho là vẫn bị
tội sát sanh như thường. Các luận giả này nêu
ví dụ như sau: Nếu như lầm đụng
phải lửa th́ vẫn bị lửa cháy phỏng ḿnh;
đối với lư sát sanh cũng như thế. Nhưng
Phật giáo căn cứ theo Động Cơ Luận mà
thuyết minh, nên không thừa nhận việc ngộ sát là
có tội.
Tại sao không
thừa nhận việc ngộ sát là có tội? Nên biết
rằng Phật giáo vẫn cho rằng sát sanh là có tội,
nhưng phân ra nhiều điều kiện khác nhau và chủ
yếu là phải xem xét động cơ thúc đẩy
của người tạo sát nghiệp như thế nào
mới luận tội trạng. Chẳng hạn,
người nào đó không có động cơ thúc
đẩy, không có ư muốn sát hại, dẫu lầm
giết chết người th́ tối đa chỉ
phải gánh lấy trách nhiệm do sự không chú ư, nhưng
không thể nói người ấy phải mang tội sát
sanh.
Kinh văn nói:
“Nhất thiết hữu mạng” là nói chung tất cả
hữu t́nh, bất luận cao cấp hay hạ cấp, thân
h́nh to lớn hay nhỏ bé, chủ yếu nếu đoạn
tuyệt sanh mạng của chúng sanh đều thành
trọng tội, không thể khoan dung. Thế nên đức
Như Lai đại từ đại bi với tất
cả chúng sanh, Ngài cấm chế tất cả cảnh
duyên có thể gây nên sự sát hại. Thậm chí nghiêm
cẩn đến mức độ đối với loài
thảo mộc có đủ tính sanh trưởng,
đều không được vô cớ chặt nhổ hay
làm tổn thương, huống ǵ là các loài hữu t́nh có
đủ tâm thức hoạt động?
Làm người
nơi thế gian, nếu có chút từ tân, đối
với việc sát sanh c̣n không bao giờ cố ư hành
động, huống chi bậc Bồ Tát lấy
đại bi tâm làm gốc, dĩ nhiên không nên làm
thương hại sanh mạng chúng sanh.
Do vậy, kinh văn
dạy tiếp rằng: “Thị Bồ Tát ưng khởi
thường trụ từ bi tâm, hiếu thuận tâm,
phương tiện cứu hộ nhất thiết chúng
sanh” (là Phật tử lẽ ra phải luôn có ḷng từ bi,
ḷng hiếu thuận, lập thế cứu giúp tất
cả chúng sanh).
Từ Bi tâm là cơ
bản của Bồ Tát. Sở dĩ được
gọi là Bồ Tát v́ từng giờ, từng phút
thường an trụ nơi tâm niệm này không gián
đoạn, lại cũng không tạm quên trong một niệm.
Từ bi thương
xót nghĩ nhớ đến chúng sanh như thủ hộ
con đỏ, chỉ nghĩ làm cách nào đem sự an
lạc ban cho chúng sanh, làm thế nào để bạt
trừ sự thống khổ cho chúng sanh. Mà thể
hiện sự cứu khổ ban vui lớn nhất không chi
hơn việc bảo hộ sanh mạng của chúng sanh,
tâm không bao giờ móng khởi một niệm sát hại.
Cho nên tâm từ bi
của các vị Bồ Tát không thể xa ĺa trong chốc lát.
Nếu ĺa tâm từ bi mà sát hại chúng sanh, đương
nhiên mất hẳn tư cách của Bồ Tát.
Bồ Tát quán sát
tất cả chúng sanh đều là cha mẹ của ḿnh.
Bổn phận làm con phải hiếu thuận với cha
mẹ. Việc này có thể nói là thiên kinh, địa nghĩa.
Cho nên hiếu đạo trong Phật pháp lấy tất
cả chúng sanh làm đối tượng. Nhưng
đối tượng của Bồ Tát nhiếp hóa
cũng lấy chúng sanh làm mục tiêu. V́ lư do ấy nên Bồ
Tát phải từng giờ, từng khắc an trụ
nơi một niệm hiếu tâm này, luôn luôn đừng cho
gián đoạn. Chẳng những không cho gián đoạn
trong một giờ, một phút, cũng không có một
niệm xao lăng, quên đi. Bồ Tát cung kính, hiếu
thuận với tất cả chúng sanh, chỉ biết
lấy ư chỉ cha mẹ làm ư chỉ của ḿnh, dùng
sự ưa chán của cha mẹ làm sự ưa chán
của ḿnh, cung kính tùy thuận không trái nghịch. Trái
nghịch c̣n không được, huống chi là có tâm sát
hại?
Nên biết sát hại
là việc bội nghịch thiên địa và trái với
chánh lư, là tội bất hiếu, bất thuận tối
đại. Nên kinh này đă nói: “Hiếu danh vi giới”
(hiếu thuận gọi là giới), hàm chứa đạo
lư vô cùng sâu sắc. Cho nên:
Phật tử
muốn đừng sát sanh, phải thường an trụ
tâm từ bi, hiếu thuận. Căn cứ vào chúng sanh
sở duyên th́ tâm từ bi và tâm hiếu thuận khác nhau:
- Từ tâm là duyên
nơi thù oán của chúng sanh mà phát khởi.
- Bi tâm là duyên nơi
khổ năo của chúng sanh mà phát khởi.
- Hiếu tâm duyên
nơi thượng phẩm chúng sanh mà phát khởi
(“thượng phẩm” chỉ cho chư Phật, thánh nhân,
sư tăng, cha mẹ).
Nếu xem tất
cả chúng sanh là cha mẹ th́ duyên nơi mỗi chúng sanh
đều phải đủ cả ba tâm. Bồ Tát
thường an trụ tâm từ bi, hiếu thuận,
chẳng những không được sát hại chúng sanh,
lại phải vận dụng nhiều phương
tiện cứu hộ chúng sanh. Như khi thấy
người sát sanh, phải khéo léo dùng phương
tiện, đối với người ấy, nói rơ
tội lỗi sát sanh, khiến cho họ bỏ hẳn sát
niệm. Như thế người ấy không hoàn thành sát
nghiệp và chúng sanh bị sát hại kia khỏi phải
chịu cực kỳ thống khổ. Thật là
phương tiện từ bi vĩ đại, niệm cung
kính hiếu thuận chân thật biết dường nào!
Cho nên dùng
phương tiện cứu hộ chúng sanh là chỗ tu
học thiện xảo tối yếu trong tâm từ bi
hiếu thuận. V́ làm cho chúng sanh sắp bị sát hại
được thoát ly những cực h́nh thống khổ
như cắt cổ, nhổ lông, lột da, cạo vảy,
nằm dăy dụa trên đao thớt v.v... và được
hưởng thọ sự an lạc.
Bồ Tát phải thực hành công
hạnh như vậy, nếu không th́ không xứng đáng
với tư cách Bồ Tát. V́ thế, kinh dạy tiếp:
“Nhi phản tự tâm khoái ư sát sanh giả, thọ Bồ Tát
Ba La Di tội” (mà trái lại, tự phóng tâm nỡ ḷng sát
sanh, Phật tử này phạm Bồ Tát Ba La Di tội).
Chữ “phản” ở đây là
không nên làm như thế, ư nói: vị Bồ Tát chơn chánh
phải lấy sự lợi ích của chúng sanh làm tiên
đề. Bất luận lúc nào, nơi nào, nếu thấy
chúng sanh lâm ṿng khổ nạn, Bồ Tát cần phải suy
nghĩ, t́m mọi phương cách cứu hộ, khiến
các chúng sanh được thoát ly khổ nạn, mới là
hành vi cần phải có của Bồ Tát. Nếu không
cứu hộ chúng sanh đang khổ nạn th́ trái với
bản nguyện độ sanh và mất ḷng từ bi
hộ sanh. Huống ǵ hiện tại lại tiến thêm
một bước nữa, buông lung theo tâm ḿnh, thuận theo
khoái lạc của ư ḿnh, giết hại chúng sanh, không tâm
lân mẫn mảy may, không có tâm đồng t́nh, nhẫn tâm
làm việc giết hại chúng sanh.
Bồ Tát nếu quả thật
nhẫn tâm đến độ ấy, chứng tỏ là
người tàn nhẫn đến cực điểm,
điều mà đức Bổn Sư Thích Ca dạy là
“đoạn đại từ bi”, tức là đă
đoạn tuyệt tâm đại từ bi, không c̣n có
tư cách ǵ gọi là Bồ Tát. Người Phật tử
tàn bạo kia, nếu do ḷng tham, tâm buông lung giết hại
chúng sanh, th́ đồng như hàng đồ tể
(người chuyên nghề giết súc vật, trâu, ḅ, dê, heo
v.v...)
Nếu do tâm sân, có ư khoái lạc
sát sanh th́ khác ǵ kẻ làm công bộc trong xă hội, chuyên
dùng h́nh phạt tàn ác, ngược đăi nhân dân (công
bộc: người phục vụ cho nhân dân).
Dù do động cơ nào (tham
hoặc sân) mà sát sanh đều là việc bội thiên
nghịch địa, trái với chân lư, trái với tâm
hạnh của Bồ Tát, cần phải phán vào trọng
tội, nên nói: “Thị Bồ Tát Ba La Di tội”. Ba La Di là
tên trọng tội cực ác như hiện nay tuyên phán
tội tử h́nh.
Danh từ Ba La Di, Trung Hoa dịch
ra nhiều tên như:
- Quyên Khí: Hành giả tu
học Bồ Tát đạo vốn có nhiều công
đức, nhưng v́ phạm tội Ba La Di nên tất
cả công đức quảng đại kia kể như
vứt bỏ, không thể chứng đắc đạo
quả, nên gọi là Quyên Khí.
- Khí Tội: hành giả
phạm tội này th́ gạt bỏ hẳn ra ngoài biển
cả Phật pháp, không được nhập trong chúng
thanh tịnh để cùng nhau cử hành các Phật sự:
thuyết giới, yết ma v.v... Hai chúng thanh tịnh
cũng không dung nạp người ấy sống chung, nên
trong Luật dụ như: “Như đại hải
thủy bất nạp tử thi” (như nước bể
cả không bao giờ dung chứa thây người chết).
- Đọa Lạc:
người phạm tội này, sau khi xả thân, nhất
định bị đọa vào tam ác đạo, chịu
những cực h́nh thống khổ.
- Đoạn Đầu Pháp: Trong
luật Ngũ Phần với nghĩa thứ tư này
giải thích rất tường tận: “Ba La Di gọi là
pháp cực ác, gọi là pháp đoạn đầu, gọi
là không phải pháp Sa Môn. Như cây kim bị sứt đít,
không thể dùng được. Như người đă
chết không thể sống lại. Như tảng đá to
bị bể nát không thể hoàn nguyên lại. Như cây
đa-la đă bị chặt rồi, không thể sống
lại”.
- Tha Thắng Xứ Pháp:
Bồ Tát lấy trí huệ làm Tự, lấy phiền năo
làm Tha. Thọ Bồ Tát giới là phải dùng gươm
trí huệ chém phiền năo, nhưng hiện tại, do
sự phá giới này, chẳng những không thể phá
trừ phiền năo, mà trái lại c̣n bị phiền năo
thắng phục. Tất cả sự hủy phạm khác
đều từ nơi đây phát sanh nên gọi là Tha
Thắng Xứ Pháp.
Tóm lại:
- Không được cố ư sát
hại tất cả chúng sanh có sanh mạng là Nhiếp
Luật Nghi Giới của Bồ Tát.
- Thường an trụ tâm từ
bi, tâm hiếu thuận là Nhiếp Thiện Pháp Giới
của Bồ Tát.
- Phương tiện cứu
hộ tất cả chúng sanh là Nhiếp Chúng Sanh Giới
của Bồ Tát.
Nếu giữ ǵn giới bất
sát sanh nghiêm cẩn th́ Tam Tụ Tịnh Giới của
Bồ Tát đều ở trong ấy. Thế nên, hành
giả Bồ Tát phải hộ tŕ giới này cẩn
thận.
Nên biết sát sanh đích xác là trái
với Bồ Tát hạnh, nên Bồ Tát phải y kinh
Thập Thiện Giới dạy:
Nhược
kiến sát sanh giả,
Như
đao thích kỳ tâm.
Dịch:
Nếu
thấy người sát sanh,
Như
đao đâm tim ḿnh.
Thấy người sát hại c̣n
như thế, huống chi chính ḿnh sát hại? Tại sao
Bồ Tát phải như vậy? Kinh Thập Thiện
Giới lại dạy:
Nhứt
thiết ái nhăn mục,
Ái tử
diệc phục nhĩ,
Ái thọ
mạng vô cực,
Thị
cố bất sát sanh,
Danh vi
phạm hạnh tối.
Dịch:
Tất cả thế nhân yêu
đôi mắt,
Ḷng thương yêu con cũng như
vậy.
Yêu tiếc thọ mạng không cùng
tột,
Thế nên hành giả đừng sát
sanh,
Gọi là phạm hạnh cao tột
nhất.
Sát sanh chẳng những đem
lại thương hại cho người khác mà với
chính ḿnh cũng hoàn toàn bất lợi, như kinh Thập
Thiện Giới lại dạy:
Đạm
nhục giả đa bệnh,
Đoản
mạng tự trang nghiêm,
Đương
hành đại bi tâm,
Phụng
tŕ bất sát giới.
Dịch:
Những
người ăn thịt sanh nhiều bệnh hoạn,
Tự
lấy đoản mạng để trang nghiêm.
Thế nên
phải tu tâm đại bi,
Cung kính
giữ ǵn giới bất sát.
Vị Bồ Tát chân chánh chẳng
phải như vậy, nếu vi phạm th́ chẳng
phải là chơn Bồ Tát. Giới sát sanh này nếu
người đă thọ giới rồi mà vi phạm th́ mắc
2 thứ tội là Tánh tội và Giá tội, c̣n người
chưa thọ giới th́ chỉ bị tánh tội mà thôi.
Tánh tội là chính pháp ấy – pháp nhĩ – có tội như
vậy (“pháp nhĩ”, trong kinh thường dùng từ này
để chỉ lẽ tự nhiên phải như vậy,
như lửa th́ bốc lên, nước th́ chảy xuống).
Bất luận thọ giới hay không, hễ phạm th́
mắc tội. Giống như luật pháp của quốc
gia ấn định, sát nhân tất nhiên phải
đền mạng, chính là ư ấy.
Giá tội, chữ “giá” là ngăn
chận, chỉ cho những điều Đức Phật
cấm ngăn, chế định trong giới luật.
Phật tử đă thọ giới rồi mà hủy
phạm, chẳng những phạm tánh tội lại thêm
giá tội. V́ Phật tử ấy phạm giới luật
của Phật.
Cần nên lưu ư:
Có người lầm
tưởng rằng Sát, Đạo, Dâm v.v... đối với
những người chưa thọ giới của
Phật chỉ mắc một tánh tội, c̣n người
đă thọ giới lại bị mắc cả hai tánh và
giá tội. Như vậy, thọ giới là nhân duyên
để chiêu lấy tội lỗi. Về phía bản thân
ḿnh, tự bị tổn hại chứ không ích lợi ǵ,
cần chi phải thọ giới của Phật? Thọ
giới nếu không phải là t́m lấy sự phiền
phức cho ḿnh, tăng thêm tội lỗi cho ḿnh ư?
Lầm rồi! Quan niệm này tuyệt đối thực
sai lầm.
Ở trước Phật có
dạy: “Người đă thọ giới tức là dự
vào hàng của chư Phật, thành ra một người
thanh tịnh đệ nhứt, đầy đủ các
công đức. V́ lực dụng của tŕ giới vĩ
đại, nên tội nghiệp của phá giới cũng
đặc biệt sâu nặng. V́ tội phá giới sâu
nặng nên Phật tử thọ giới rồi, dù gặp
duyên phải hy sinh tánh mạng cũng không nên hủy
phạm giới. Do công đức tŕ giới thù thắng
nên những người chưa thọ giới, đáng lư
phải bẩm thọ, không nên v́ phạm giới có
đủ hai thứ tội, vội cho thọ giới là
tổn hại chứ không ích lợi, rồi không chịu
thọ giới.
Nên biết: Thọ giới là
cốt cho Phật tử tŕ giới, chớ không phải
để cho thọ giới rồi phạm giới. V́
nếu tŕ giới được thanh tịnh, há chẳng
phải là tự ḿnh được sự lợi ích thù
thắng vĩ đại sao? Không nên sợ tội mà không
chịu thọ giới. Nếu sợ tội th́ phải
sợ phạm giới, chớ không nên sợ thọ
giới!
Điều văn giới sát sanh trên
đă giảng rơ, nhưng c̣n những điểm trọng
yếu cần phải nói rơ thêm:
Căn cứ theo các kinh luật
thuyết minh, kết thành tội sát sanh phải hội
đủ bốn điều kiện. Giờ đây, quư
vị hăy dụng tâm nghe kỹ. Chỉ có hiểu minh
bạch được lư này mới có thể biện
biệt thật sự vi phạm căn bản trọng
tội hay không. Bốn điều kiện vừa nói
tức là bốn duyên sau đây:
1. Chúng sanh: Đối tượng
bị sát hại đích xác là chúng sanh. Nhưng chúng sanh
lại rất nhiều loại, đại khái có thể
phân làm 3 phẩm:
* Thượng phẩm chúng sanh:
Chư Phật, thánh nhân, sư trưởng, cha mẹ.
- Phật là bậc thánh nhân
tối cao, không phải ai cũng có thể giết hại
được, nên trong kinh xưa nay không nói chuyện sát
hại Phật. Dù có chúng sanh ác tâm muốn giết hại
Phật, nhưng không bao giờ giết được. Tuy
không giết được Phật, nhưng do khởi ác
tâm, chỉ làm cho thân Phật xuất huyết cũng đă
phạm trọng tội, và là một thứ tội nghịch
trong ngũ nghịch.
- Giết A La Hán cũng là một
trong ngũ nghịch tội. Giết thánh nhân đệ tam
quả trở xuống chỉ phạm trọng tội Ba
La Di, không thuộc về tội ngũ nghịch. Đến
như giết Bồ Tát ở địa vị ngoại
phàm th́ chỉ phạm trọng tội, c̣n giết Bồ
Tát Thập Phát Thú trở lên th́ phạm nghịch tội.
- Lại giết hại sanh thân
phụ mẫu, ḥa thượng thế độ, vị a
xà lê truyền giới cho ḿnh, đều phạm ngũ
nghịch tội. Tội trọng là tội Ba La Di. Ngũ
nghịch là tội đại nghịch, phi đạo lư,
v́ kẻ dưới mà giết hại bực bề trên. Như
con đối với cha mẹ, cha mẹ là bực bề
trên, sản sanh căn bản sanh mạng của chúng ta. Làm
con phải hết ḷng cung kính, hiếu thuận; trái
lại, đi xâm phạm giết hại cha mẹ là
bực bề trên, đương nhiên phải gia tội
một bực.
- Đối với hành giả tu
học Phật pháp, Ḥa Thượng thế độ, A Xà
Lê truyền giới là cha mẹ Pháp Thân huệ mạng, sánh
với công ơn sanh thành dưỡng dục nhục thân
của cha mẹ hơn gấp bội lần. Đáng lẽ
phải hết ḷng cung kính cúng dường, mà trở
lại giết hại các Ngài, là tội đại
nghịch, phi đạo lư v́ kẻ dưới lại
giết hại bực bề trên.
* Trung phẩm chúng sanh: nhân
loại và trên thiên giới. Nếu sát hại những chúng
sanh cơi trời, cơi người, chẳng những phạm
căn bản trọng tội, đồng thời mất
hẳn giới thể đă bẩm thọ.
* Hạ phẩm chúng sanh: a tu
la, quỷ thần, súc sanh v.v... những chúng sanh này nếu
hiểu rơ lời của Pháp Sư truyền giới, và
thọ giới Bồ Tát rồi, nếu sanh ác tâm giết
hại chúng sanh ấy là phạm căn bản trọng
giới, nhưng giới thể không bị mất.
Nhưng có một điểm đặc biệt chú ư là:
Trong khi sát hại chúng sanh hạ phẩm mà không một chút
ǵ sanh tâm hổ thẹn sợ tội, lại càng sát
hại càng cao hứng, càng cố ư làm thương hại
chúng sanh không ngớt, th́ chẳng những phạm tội
Ba La Di mà giới thể cũng bị mất!
Những hạng a tu la, quỷ
thần v.v... nếu không hiểu rơ lời nói của Pháp
Sư truyền giới pháp, không đủ tư cách
thọ giới, chưa thọ Bồ Tát giới, như có
ác tâm sát hại th́ không phạm tội Ba La Di, giới
thể không bị mất, chỉ phạm tội khinh
cấu mà thôi.
Tuy nhiên, theo sự giải thích
của Linh Phong Đại Sư về Bồ Tát giới, th́
sát hại chúng sanh hạ phẩm có hai thứ:
- Đồng phạm trọng
tội: Bồ Tát phải nghiêm hộ sanh mạng chúng
sanh, nếu có tâm sát sanh, cố nhiên phạm trọng
tội. V́ đứng về giới Bồ Tát, đối
với chúng sanh trong lục đạo đều thâu
nhiếp. V́ thế nên phạm trọng tội.
- Phạm tội khinh cấu:
Chúng sanh trong tứ ác thú, a tu la v.v... chẳng phải là pháp
khí của đạo pháp. Đây là nhắm vào giới tỳ
kheo, chỉ giới hạn trong phạm vi nhơn
đạo, nên chỉ phạm tội khinh.
Như trên đă giảng về
những chúng sanh bị giết hại có sự sai khác
giữa các bậc thánh, phàm, cao thấp bất đồng.
Do đó, sự phán định tội sát sanh cũng có
sự khác biệt về trọng, khinh và ngũ nghịch.
Đồng là tội sát sanh, nhưng
đừng cho rằng tất cả các trường
hợp sát sanh mang tội giống nhau. Chúng ta cần
phải phân biệt hết sức tinh tế, tuyệt
đối không nên mù mờ, cho rằng tội sát sanh là
đồng một thứ.
2. Chúng sanh
tưởng (trong tâm tưởng là chúng sanh): Trong lúc người
tạo sát nghiệp, trong ư tưởng cho đối
tượng đích xác là chúng sanh. Cổ đức
đối với duyên thứ hai này chia làm ba trường
hợp chính, và mỗi trường hợp chính này lại
bao gồm hai trường hợp phụ:
*
Đương (đúng như vậy), chia làm hai trường
hợp:
- Thực tại là chúng sanh:
người tạo sát nghiệp trong ư tưởng cho chúng
sanh đang lúc bị sát hại là chúng sanh. Như thế,
sau khi giết chúng sanh ấy chết, tất nhiên
người đó phạm căn bản trọng tội.
- Thực tại không phải là
chúng sanh: người tạo sát nghiệp kia, trong ư
tưởng cũng cho là không phải chúng sanh. Như
thế, dù cho giết chúng sanh ấy chết, cũng có
thể nói là hoàn toàn vô tội.
* Nghi
(nghi ngờ) có hai trường hợp:
- Thực tại là chúng sanh: trong
lúc tạo sát nghiệp, người ấy sanh tâm nghi
ngờ: đây có phải là chúng sanh hay không phải chúng
sanh? Nghi thế, nhưng cuối cùng cũng giết
chết chúng sanh ấy, tức phạm căn bản
trọng tội.
- Thực tại không phải là
chúng sanh: trong lúc tạo sát nghiệp, người kia trong
tâm sanh nghi ngờ như vầy: đây có phải là chúng
sanh hay không phải chúng sanh? Chẳng hạn, như ban
đêm, người ấy thấy sợi dây lầm cho là
con rắn, thấy đất cho là con trùng, rồi dùng dao
chém hoặc dùng tay bóp vật ấy. Tuy không thương
hại sanh mạng của chúng sanh, nhưng v́ người
ấy trong tâm có đủ một niệm sát, nên dù không
phạm căn bản trọng tội, vẫn phạm
tội khinh cấu.
* Tịch (sai lầm) chia làm hai
loại:
- Thực tại là chúng sanh: trong
lúc tạo sát nghiệp, trong tâm ư người tạo
tuyệt đối không cho chúng sanh ấy thực là chúng
sanh. Như ban đêm đi đường thấy con
rắn. Con rắn ấy thực chất là chúng sanh,
nhưng người đi đêm kia cho con rắn là sợi
dây, sanh tâm đùa cợt, liền cầm dao chặt
đứt, giết chết sanh mạng con rắn. V́ tâm ư
người ấy hoàn toàn không có niệm sát sanh, nên dù
giết chết rắn, nhưng vẫn không phạm
tội sát sanh.
- Thực tại không phải là
chúng sanh: trong lúc tạo sát nghiệp, trong thâm tâm
người tạo hoàn toàn tưởng thực là chúng sanh.
Chẳng hạn như người ấy đi đêm,
thấy gốc cây khô. Gốc cây khô không phải là chúng sanh,
nhưng người ấy tưởng là người,
liền chặt đứt gốc cây khô ấy. Như
thế, dù thật sự không gây thương tổn
đến sanh mạng chúng sanh, nhưng v́ trong tâm ư
người ấy, lúc đó có đủ niệm sát
hại, nên cũng phạm tội khinh cấu, mặc dù
không phạm căn bản trọng tội.
Cho nên tội sát sanh trong Phật
pháp là một sự kiện được phân tích, kết
luận hợp t́nh, hợp lư, không phải hư vọng
đem tội gán ghép cho người, mà hoàn toàn phải xem
xét trạng thái tâm lư của người ấy ngay lúc
tạo nghiệp thế nào. Nếu có đủ tâm niệm
sát sanh, dù không sát hại chúng sanh, cũng phạm tội
khinh cấu. Nếu không có tâm sát sanh, dù có sát hại chúng
sanh, cũng không nhất định là có tội.
Cho nên Phật pháp đối
với việc sát sanh phán đoán theo khuynh hướng
“động cơ luận giải” chứ không theo “kết
quả luận giải”; cần phải biện biệt
người tạo nghiệp đương thời có tâm
sát sanh hay không? Đây là sự tối khẩn yếu! Vấn
đề này cùng với pháp luật hiện tại của
xă hội có thể nói là hoàn toàn thích hợp, nghĩa là
phải xem xét động cơ của người ấy
có thực là sát tâm hay không!
3. Sát tâm: động cơ
sát hại chúng sanh. Đă có động cơ này th́ lúc nào và
ở đâu cũng muốn bức năo, muốn sát hại
chúng sanh. Đây là chủ nghiệp của sát nghiệp. Chủ
yếu là ôm ấp ác niệm, th́ dù tự thân hay bảo
người khác, hoặc dùng phương pháp ǵ để
thực hiện việc sát hại, đều bị
kết tội sát sanh. Tâm sát sanh có hai loại khác nhau:
- Thông tâm: buông lung tâm ư, làm
những việc như đào hầm hố, làm cung tên, hay
chặt phá, thiêu đốt v.v... và trong lúc làm có mang tâm
giết hại chúng sanh. Nếu chúng sanh v́ việc này mà
chết, th́ người hành động bị phạm
căn bổn trọng tội. Nếu chúng sanh không v́ duyên
cớ đó mà chết th́ chỉ phạm tội phương
tiện, tức là khinh cấu.
- Cách tâm: là bổn ư làm
phương tiện để giết người này,
nhưng lại giết lầm người kia. Tức là vô
tâm mà lầm giết. V́ đối với cá nhân kia, không có
tâm sát hại, nên dù có lầm lẫn làm thương hại
người ấy, nhưng không kết thành tội.
Nhưng do hữu ư với cá nhân này, mà làm phương
tiện để sát hại, tuy không giết hại
được, nhưng với người này vẫn
kết thành tội phương tiện.
4. Tiền
nhân đoạn mạng (sinh mạng người bị
giết đoạn tuyệt)
Là sanh mạng những chúng sanh
bị giết hại, đích xác do người tạo ác
nghiệp kia mà bị kết thúc, không thể tiếp
tục sanh tồn nữa, bấy giờ mới kết
thành sát nghiệp. Nhưng người tạo sát nghiệp
mang tội khinh hay trọng, tùy thuộc vào hai thời gian
không đồng mà kết luận:
* Ở trong đời hiện
tại: Cần phải xem xét bản thân người
tạo sát nghiệp có đủ giới phẩm hay không
để phán đoán sát tội là khinh hay trọng. Nếu
người ấy có đủ giới phẩm, khi
thấy sanh mạng của chúng sanh bị giết hại
kia kết thúc th́ kết thành căn bổn trọng
tội. Nếu như sau một thời gian xả
giới, người tạo sát nghiệp mới thấy
sanh mạng chúng sanh kia bị kết thúc th́ chỉ
trước lúc xả giới mới kết thành tội
phương tiện. Sau khi xả giới th́ không phạm
căn bản trọng tội. Nhưng với tánh tội
thế gian vẫn không tránh khỏi.
* Ở trong đời
tương lai: trường hợp người tạo sát
nghiệp làm phương tiện để giết một
chúng sanh. Sau khi làm phương tiện, sinh mạng của
người tạo sát nghiệp kết thúc trước
sanh mạng của người bị giết kia. Thế
th́ sát tội mắc phải nên phán xét như thế nào?
Điều này phải căn cứ vào hai phương diện
mà thuyết minh:
-
Người tạo sát nghiệp sau khi chết rồi, trong
đời vị lai tự nhớ túc mạng. Người
bị sát hại kia, mặc dù do nguyên nhân thế lực nào
khác, hoặc bị thêm phương tiện ǵ khác, sanh
mạng phải đoạn tuyệt, nhưng đều
kết thành trọng tội.
-
Người tạo sát nghiệp sau khi chết rồi, trong
đời vị lai không nhớ túc mạng. Người
bị sát hại kia, mặc dù do thế lực khác mà sanh
mạng đoạn tuyệt. Trường hợp này
cũng giống như trên, nghĩa là kết thành trọng
tội. Tại sao vậy? V́ Bồ Tát sau khi chết
rồi, giới thể vẫn c̣n chứ không mất.
Nếu người bị
giết kia do nơi thế lực khác, phương
tiện khác mà chết, chứ không phải do phương
tiện trước mà chết, th́ chỉ kết thành
tội khinh cấu, không kết thành căn bổn trọng
tội.
Nếu như về sau, những
phương tiện thêm vào ấy, là bởi túc nghiệp
sai sử, tự bản thân ḿnh không thể nhớ biết
một điểm ǵ. Thí như tỳ kheo bị bệnh si
cuồng, loạn tâm... chẳng những không kết thành
căn bổn trọng tội mà cả tội khinh cấu
cũng không phạm.
Như trên đă nói rất
tường tận và đầy đủ những
điều kiện sát sanh để kết thành tội
nghiệp sát sanh.
Việc sát sanh ở thế gian
này dường như khó tránh khỏi, nhất là
đối với những người có bổn phận
thống lănh quốc gia, gánh lấy quyền sát sanh, có
những trường hợp không thể tránh
được.
Như trường hợp
tội nhân trong nước tạo tội gian phạm,
người ngoại quốc xâm lăng, hoặc phe
đảng dùng bạo lực tàn sát nhân dân vô tội,
người có bổn phận thống lănh quốc gia, v́
muốn duy tŕ sự an ninh trong nước, v́ muốn
bảo vệ tổ quốc, v́ bổn phận cứu
độ nhân dân lương thiện, nếu như không
giết kẻ địch và tội nhân th́ không thể nào
được.
Cho nên Phật pháp đối
với giới sát sanh có thể khai giới cho. Điều này
trong bộ Phật Pháp Khái Luận, Ấn Thuận Luật
Sư thuyết minh:
“Nếu nói về Đại Trí
khế hợp với Chân Lư, Đại Bi phải tùy thuận
thế gian, th́ giới luật quyết không thể nào không
tiêu cực. Có khi gặp trường hợp không tiêu
cực th́ không xong việc, như vậy cần phải
linh động nhằm vào phương tiện Từ Bi mà
có thể Sát, có thể Đạo, có thể Dâm, có thể
vọng ngữ, mới thực hiện được hoàn
măn.
Thí dụ như có người tàn
hại nhân loại nói riêng, hữu t́nh nói chung, sinh linh
bị thống khổ, bức bách, không thể kham nhẫn
được. Nếu không giết kẻ ác này, hữu
t́nh sẽ bị sa vào thảm vận càng lớn, kẻ ác
này sẽ tạo tội ác càng to, và vị lai kẻ ấy
sẽ bị thống khổ cực h́nh. Như thế, thà
giết kẻ ác ấy, thà ḿnh đọa địa
ngục, không nên để kẻ ấy tạo ác, tự
hại ḿnh, hại người. Thế nên phải dụng
tâm Từ Bi mà giết kẻ ác này. Đây là giết thiểu
số mà cứu khắp tất cả.
Đặc biệt là phải có tâm
thương xót đối với người làm ác. V́
thương xót họ, nên phải giết họ,
để họ đừng tạo thêm ác nghiệp mà
phải bị đọa địa ngục. Dù cho chính ḿnh
v́ việc sát sanh này mà đọa địa ngục,
cũng không mảy may do dự. Việc sát hại cá nhân này
thuộc về hành vi đạo đức, thuộc
về đức hạnh cao thượng và tâm từ bi vô
hạn, tự nguyện hy sinh!”
Sát sanh để cứu sanh
mạng như thế, Phật giáo đồ ở Ấn
Độ trước kia, đệ tử Phật ở Trung
Hoa và các Phật tử các quốc gia khác hiện nay hành theo
đó, có thể nói là rất nhiều:
* Như vào triều Tống, niên hiệu
Nguyên Gia, Cầu Na Bạt Đà La pháp sư (Trung Hoa dịch là
Công Đức Khải) đến Trung Quốc hoằng
truyền chánh pháp. Ngài ở tại nước Quang Bà.
Quốc vương nước ấy hết sức sùng
kính Pháp Sư. Lúc ấy, đại quân lân bang đem quân xâm
lấn. Quốc vương đến trước Pháp
Sư bạch rằng:
- Bạch tôn sư! Nay kẻ
ngoại xâm sắp đến xâm phạm quốc gia
của con. Nếu đấu tranh với họ th́ sát
hại thương tổn rất nhiều. Là một
Phật tử, tâm con thật là bất nhẫn! Nếu
không chiến đấu th́ quốc gia sẽ bị
diệt vong. Tâm của người làm chủ quốc gia có
chỗ không yên. Kính bạch tôn sư! Con đang tấn
thối lưỡng nan, không biết làm thế nào cho
đúng, chỉ đến trước tôn sư nhất tâm
quy mạng, xin quyết định cho con!
Cầu Na Bạt Đà La pháp sư
thản nhiên đáp: “Kẻ địch đă xâm phạm
quốc gia, biện pháp duy nhất là phải kháng cự.
Nhưng lúc đại vương khởi binh giao chiến,
quyết đừng khởi ác niệm, mà cần phải
giữ ǵn tâm từ bi lân mẫn, thương hại
kẻ địch”.
Quốc vương lănh lời
chỉ giáo của Pháp Sư, thống lănh hùng binh giao
chiến với địch. Hai bên giao phong, kẻ
địch quy hàng.
Đây thật là dụng binh nhân
nghĩa. Theo đúng tinh thần này th́ đi chinh phạt
không phải là không được. Chủ yếu không
phải là hiếu chiến, hiếu sát, th́ trong Phật pháp
vẫn không phản đối.
* Kinh Tăng Nhứt A Hàm có chép
như vầy:
Vua Ba Tư Nặc một hôm
đơn thân đến Kỳ Hoàn tịnh xá, bạch
với đức Bổn Sư rằng: “Kính bạch
Thế Tôn! Vừa rồi trong nước có đại
đạo tặc nổi dậy, v́ thế đêm hôm qua con
thống lănh đại quân thảo trừ kẻ giặc.
Kết cuộc con đă bắt được nó, nên
hiện tại con cảm thấy vô cùng hoan hỷ, nên
đến đây bái yết Thế Tôn. Nếu đêm
rồi con không cử binh th́ không bắt được
giặc. Giặc không bắt được, quốc gia
sẽ không an, nhân dân bị thống khổ...”