|
| |
Sự Phân Phái Của Đạo Phật
Tiết mục:
I. Nguồn gốc phân phái
II. Hai mươi bộ phái
III. Nhân duyên phát xuất của các bộ
IV. So sánh các bộ phái theo Nam Bắc-truyền
Kinh sách tham khảo: Dị-Bộ-Tông-Luân-Luận,
Tăng-Kỳ-Luật-Tư-Ký, Đại-Tỳ-Bà-Sa-Luận, Ấn-Độ-Phật-Giáo-Sử-Lược,
Tứ-Phần-Như-Thích.
Đề yếu: Nguồn gốc phân phái theo Nam, Bắc-truyền
có nhiều thuyết khác nhau. Vì thế, nội dung của tiết thứ nhất đã nêu ra các
thuyết sai biệt để làm một cuộc so sánh, và chọn lấy điểm hợp lý, cho học giả
khi tham khảo khỏi phải phân vân. Các bộ phái theo Nam, Bắc-truyền lại cũng sai
khác, cần phải giản trạch thuyết nào được lưu thông hơn, để làm tiêu điểm nghiên
cứu. Tiết thứ hai đã trình bày về việc nầy. Phần đại khái của hai tiết sau, là
lược thuật nhân duyên xuất phát của các bộ; cùng giảo định lại một lần nữa, sự
sai biệt giữa Nam và Bắc-truyền. Trong đây điểm chánh yếu là tuy Phật-giáo có
chia ra nhiều chi phái, song không phương hại gì đến tiêu chuẩn tự lợi lợi tha.
Đối với hàng thức giả, việc đó cũng không đáng lưu tâm, vì sự sai biệt vẫn là lẽ
tất nhiên của cuộc đời tương đối.
Tiết I: Nguồn Gốc Phân Phái
Mối phân chia của giáo-đoàn đạo Phật là do sự đối lập của Thượng-Tọa-bộ và
Đại-Chúng-bộ. Từ hai bộ căn bản, lại chia thành nhiều chi phái. Những chi phái
nầy, theo Bắc-truyền và Nam-truyền, có chỗ khác nhau, tiết sau sẽ đề cập đến.
Những thuyết về Thượng-Tọa-bộ, Đại-Chúng-bộ căn bản của các chi phái về sau, cứ
theo Nam và Bắc-truyền, lại có nhiều sự việc không đồng. Nay nêu ra đây để so
lại:
Theo Nam-truyền thì sau khi Ðức Thế-Tôn diệt độ 100 năm, vua Ca-La-A-Dục ủng hộ
tân phái của Tỷ-khưu Bạt-Kỳ, do đó gây thành sự phân chia hai bộ. Và sau khi
Phật niết-bàn 200 năm, ở chùa Ma-Yết-Đà tại Kê-Viên (chùa nầy cũng gọi
Kê-Viên-tự), chư Tăng có sự tranh chấp về đạo lý, A-Dục-Vương không biết phương
pháp điều giải, mới hỏi ý kiến của Đại-Thiên.
Theo Bắc-truyền, sau khi Phật diệt độ 100 năm, có con của người thuyền chủ tên
là Đại-Thiên xuất-gia trong Phật-pháp, song vẫn giữ chủ thuyết của ngoại-đạo.
Lúc hai bộ phân tranh, vị quốc-vương thời bấy giờ là A-Dục-Vương, ủng hộ phe
phái của Đại-Thiên, và có hỏi ý kiến vị Tỷ-khưu nầy về sự tranh chấp ở Kê-Viên.
Lại, sau khi Ðức Thế-Tôn nhập diệt 200 năm, có người ngoại-đạo tên là Đại-Thiên
xuất-gia theo Phật-pháp, thọ giới Cụ-túc trong Đại-Chúng-bộ, học nhiều, tinh
tấn, cư trú ở Chế-Đa-Sơn.
So sánh hai thuyết trên, ta thấy thuyết của Nam-truyền có phần rành rẽ hơn. Còn
thuyết của Bắc-truyền thì có sự lầm lẫn về người và niên đại, đem vị quốc-vương
sau Phật 100 năm làm A-Dục-Vương, đem Bạt-Kỳ làm Đại-Thiên. Suy nghĩ kỹ, trước
sau chỉ là một Đại-Thiên; Đại-Thiên tặc-trụ-tỷ-khưu là nhơn vật lịch sử, còn
Đại-Thiên sau Phật 100 năm chỉ là nhân vật ảnh tả. Cho nên, sau khi thẩm định ta
thấy thuyết của Bắc-truyền lấy sự việc sau khi Phật diệt độ 100 năm và 200 năm,
hỗn hợp làm một. Lại, Phật-giáo-đồ Bắc-phương phần nhiều lấy sự kiết-tập kỳ hai
do Đại-Chúng-bộ và Thượng-Tọa-bộ mà kéo lại sớm 100 năm, hợp đồng thời với sự
kiết-tập lần đầu do ngài Ca-Diếp đề xướng. Bởi duyên cớ đó, thuyết A-Dục và
Đại-Thiên của Bắc-truyền mới sớm hơn thuyết Nam-truyền 100 năm. Nhưng thuyết của
Nam-truyền cũng có chỗ sai lầm về vua A-Dục. Thuyết nầy cho rằng sau Phật 100
năm có vua Ca-La-A-Dục (Candàsoka) tức là Hắc-A-Dục sau Phật 200 năm có
Pháp-A-Dục. Xét lại, trước sau cũng chỉ là một A-Dục-Vương thôi; vì vua A-Dục
trước tiên làm ác, nên dân chúng gọi là Hắc-A-Dục, sau khi nương về đạo Phật,
trở lại làm lành, nên được xưng là Pháp-A-Dục.
Lại, theo thuyết của Nam-truyền thì sự phân phái là do mười điều phi pháp. Theo
thuyết của Bắc-truyền, có chỗ nói đồng như sự kiện trên, chỗ lại nói sự phân
chia bộ phái là do năm điều tân thuyết của Đại-Thiên. Nay cũng xin nêu việc ấy
ra đây để bàn định.
Về lịch sử của Đại-Thiên, trong Tông-Luân-Luận của ngài Thế-Hữu và
Đại-Tỳ-Bà-Sa-Luận của ngài Long-Thọ có những điểm khác nhau. Dung hòa ý chính
của hai bộ luận, bỏ các chi tiết đáng nghi ngờ, chẳng hạn như việc Đại-Thiên
giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán, thì lịch sử của Đại-Thiên đại khái như sau:
Khi Ðức Thế-Tôn niết-bàn cách 200 năm về sau, ở nước Ma-Thâu-La (Mathurà) thuộc
miền Trung-Ấn, có con của một thuyền chủ, tên là Đại-Thiên (Mahadeva
Ma-Ha-Đề-Bà). Trước tiên Đại-Thiên xuất-gia theo ngoại-đạo, sau lại quy đầu
Phật-pháp. Vốn là người thông mẫn, sau khi thọ giới tu hành không bao lâu,
Đại-Thiên đã học suốt, ghi nhớ văn nghĩa trong ba tạng, và tự xưng mình đã chứng
quả A-la-hán. Một hôm, nhân bị mộng tiết, ông sai đệ-tử đem giặt y. Người đệ-tử
nghe thầy tự xưng là A-la-hán, sao nay lại có việc như thế, mới đem chuyện ấy ra
hỏi. Đại-Thiên đáp: “Sự di lậu có hai nguyên nhân: một là do phiền não, hai là
do sinh lý. Bậc A-la-hán đã đoạn hết phiền não, nhưng vì còn có nhục thân, nên
khi thể chất sung cường, lúc ngủ nghỉ bị ma dụ hoặc, cũng có di lậu”. (Điều 1).
Muốn cho đệ-tử hoan hỷ, Đại-Thiên chọn người nào thông huệ, thọ ký cho một trong
bốn đạo quả Sa-môn. Đệ-tử hỏi: “Tôi nghe bậc A-la-hán tự có chứng trí, tại sao
chúng tôi chứng quả mà không tự biết?” Đại-Thiên giải thích: “Sự không biết có
hai thứ: một là nhiễm-ô-vô-tri, hai là bất-nhiễm-vô-tri. Bậc A-la-hán tuy đã dứt
hết phiền não nhiễm ô, nhưng không phải biết hết chân tướng của mọi sự vật. Vì
thế nên các ông không tự biết”. (Điều 2).
Đệ-tử lại hỏi: “Tôi nghe bậc A-la-hán đã lìa nghi hoặc, tại sao chúng tôi đã
chứng quả mà còn có sự do dự hồ nghi?” Đại-Thiên đáp: “Nghi có hai thứ: một là
tùy-miên-nghi, hai là xứ-phi-xứ-nghi. Bậc A-la-hán không còn cái thứ nhất, nhưng
đối với công việc có khi sanh nghi ngờ thế nào là hợp lý, thế nào là không hợp
lý”. (Điều 3).
Lại một hôm, các đệ-tử đọc kinh đến câu: “Bậc A-la-hán có huệ nhãn, tự biết mình
được giải thoát”, liền đến hỏi thầy rằng: “Chúng tôi đã là A-la-hán, nên tự
chứng biết, tại sao do người khác bảo, mới biết mình chứng nhập?” Đại-Thiên nói:
“Bậc A-la-hán phải do người khác bảo mới biết mình đã chứng ngộ. Như ngài
Xá-Lợi-Phất trí huệ đệ nhất, ngài Mục-Kiền-Liên thần thông đệ nhất, khi Phật
chưa ấn chứng còn không tự biết, huống nữa là các ông”. (Điều 4).
Đại-Thiên đã có nhiều lầm lỗi như thế, song căn lành chưa đoạn. Nên một hôm, vào
lúc nửa đêm, ông suy nghĩ đến việc quấy của mình, bất giác xướng lên: “Khổ thay!
Khổ thay!” Các đệ-tử nghe được kinh hãi, sáng ra hỏi thăm. Đại-Thiên bảo: “Phàm
thấy cuộc đời là khổ, là vô thường, mà không chí thành xưng khổ, thì thánh-đạo
không hiện khởi”. (Điều 5).
Sau khi đã bịa ra năm điều ấy, nhân một ngày bố-tát ở tại chùa Kê-Viên
(Kukkutarama), Đại-Thiên đối trước chư Tăng, tự đọc ra bài kệ:
“Dư sở dụ, vô tri.
Do dự, tha linh nhập.
Đạo nhân thanh cố khởi.
Thị danh chân Phật-giáo”.
Bài kệ nầy không ngoài ý
thuật lại năm điều trên, và gán cho đó là đúng theo kinh Phật; tạm dịch:
“Ma dụ hoặc, không biết.
Nghi ngờ, người bảo chứng.
Đạo nhân tiếng mà sanh.
Đây chính là Phật-giáo”.
Khi bố-tát xong, ông còn
đọc lại bài kệ ấy lần nữa, và nói với đại chúng: “Khi Ðức Như-Lai còn ở đời, chư
thiên và tứ-chúng nói ra, đều phải được Phật ấn chứng, mới gọi là Kinh. Nay
Thế-Tôn đã diệt độ, nếu trong đại chúng người nào thông minh, đủ biện tài thuyết
pháp, cũng có thể trứ tác Kinh-điển”.
Bấy giờ, những vị Trưởng-lão học rộng giữ giới, nghe bài tụng ấy đều kinh ngạc,
rồi sửa lại câu sau: “Đây chính là ngoại giáo”. Do đó, nguồn tranh biện nổi lên,
các hàng sĩ thứ cho đến đại-thần trong thành ngăn dứt không được. Lúc đó
A-Dục-Vương nghe biết, đến Kê-Viên-tự khuyên giải, nhưng hai bên đều tranh chấp
không nhường nhau. Vua cũng nghi ngờ, hỏi ý kiến Đại-Thiên, ông nầy bảo: “Theo
pháp diệt tránh trong giới kinh, nên lấy theo sự chấp thuận của phần đông”. Lúc
ấy, phái Trưởng-lão ít hơn phe của Đại-Thiên, nên ông chiếm phần ưu thắng. Tuy
nhiên sự phân tranh cũng không dứt, nhân đó mới chia ra các bộ phái về sau.
Trên đây là một thuyết của Bắc-truyền, còn thuyết thứ hai, như trong bộ
Chấp-Dị-Luận bản dịch của đời nhà Lương, đồng cứ bản với Tông-Luân-Luận, thì
không nói rõ việc Đại-Thiên sáng chế năm điều, chỉ bảo: “Ngoại-đạo lập ra năm
thứ nhân duyên”. Và, trong Thập-Bát-Bộ-Luận của ngài La-Thập dịch, cũng không
nói rõ việc ấy, chỉ thuật: “Bấy giờ có Tỷ-khưu tên Năng, cũng gọi Nhân-Duyên,
Đa-Văn, nói có năm pháp để dạy chúng-sanh”.
Y cứ theo các kinh sách của Nam, Bắc-tông, dung hội lại những ý chính, ta có thể
kết luận nguồn gốc phân phái như sau:
Khi Ðức Thế-Tôn niết-bàn, cách 100 năm sau, do chư Tăng thuộc khuynh hướng canh
tân theo quan niệm khoáng đại trì giới, chư Tăng thuộc khuynh hướng bảo thủ theo
quan niệm tồn cổ trì giới, tranh chấp với nhau về mười điều, nên mới chia thành
Thượng-Tọa-bộ và Đại-Chúng-bộ. Quan niệm của những phần tử thuộc hai bộ trên
đây, vì không dung nạp lẫn nhau, nên mới phát sanh ra nhiều tư tưởng và từ đó
lần lần phân tán thành nhiều bộ phái. Đây là nguyên nhân chính. Còn về việc của
Đại-Thiên thì sau khi Ðức Thế-Tôn diệt độ 200 năm, nhằm thời A-Dục-Vương,
Phật-pháp được đại thạnh. Lúc bấy giờ, phần đông dân chúng đều hướng về chư Tăng
để cúng dường. Do đó, các ngoại-đạo mất nhiều lợi dưỡng, nên có một nhóm tự cạo
râu tóc lẫn vào trong đoàn thể Tăng-già. Nhưng vì hấp thụ theo ngoại giáo đã
lâu, sau khi vào Phật-pháp, họ vẫn giữ chủ thuyết cũ. Vì thế mới sanh ra sự
tranh chấp ý kiến trong Tăng-đoàn. A-Dục-Vương nghe biết được, mới tập hợp tất
cả tăng chúng rồi gạn lọc lại, đưa những kẻ tặc-trụ-tỷ-khưu trở về đạo của họ.
Nhưng trong nhóm ấy có độ ba trăm người bác đạt, thông thuộc Tam-tạng, thành thử
họ không chịu khuất phục. Lúc đó thế lực ngoại-đạo cũng khá mạnh, vua nghĩ họ
thông minh và nhiều bè đảng, nếu đuổi đi hết e gây ra sự không hay cho
Phật-pháp, mới đem an trí riêng một nơi, tại chùa Kê-Viên ở Chế-Đa-Sơn. Nhưng
khi tới đây do kiến giải sai biệt, họ lại tranh chấp với chư Tăng cựu trụ. Người
cầm đầu số đông trong cuộc tranh chấp nầy là Đại-Thiên. Về sau, A-Dục-Vương hay
tin, giải quyết không được, đến núi A-Hô-Hằng-Già thỉnh Tôn-giả Mục-Liên-Đế-Tu
thanh lọc lần thứ hai, trục xuất những kẻ phá hoại, việc ấy mới yên. Về năm điều
trên, có thể là những cựu thuyết mà Đại-Thiên đã hấp thụ từ trước rồi nhân cơ
hội gây nên thành quả, chưa chắc do ông ta sáng chế ra. Năm thuyết của
Đại-Thiên, xét ra, thật không đúng với chánh-pháp. Nhưng dù sao, ông cũng đã dự
phần gây ảnh hưởng chia rẽ trong đoàn thể Tăng-già, một thời gian khá lâu.
Tiết II: Hai Mươi Bộ
Phái
Sau lần kiết-tập thứ hai, trong giáo đoàn đạo Phật, vì khuynh hướng tự do một
ngày một nảy nở, các tư tưởng mới bộc hưng, nên sự phân môn rẽ phái mỗi ngày một
nhiều. Việc phân chia nầy bắt nguồn từ hai phái căn bản là Thượng-Tọa-bộ
(Sthavira Theravada) và Đại-Chúng-bộ (Mahàsànghikà). Về niên đại phân liệt của
các bộ phái, theo Nam-truyền, vào khoảng sau Phật diệt độ từ 100 năm đến 300
năm. Theo Bắc-truyền thì sau khi Ðức Thế-Tôn niết-bàn, trong khoảng 100 đến hơn
200 năm là thời kỳ phân phái của Đại-Chúng-bộ, trong khoảng 300 đến 400 năm là
thời kỳ phân phái của Thượng-Tọa-bộ.
Về số mục của các bộ phái, theo Nam-truyền, trước tiên có 18 bộ, hai trăm năm về
sau từ Đại-Chúng-bộ xuất sanh thêm sáu bộ nữa, tổng cộng là 24 bộ; theo
Bắc-truyền thì có 18 bộ, gồm hai bộ căn bản là 20 bộ. Danh mục của các bộ phái
Nam-truyền so với Bắc-truyền, có đôi chút khác nhau. Nay xin căn cứ theo
Dị-Bộ-Tông-Luân-Luận của ngài Thế-Hữu (Huyền-Trang dịch), một bộ sách rất được
thông hành, để ghi lại sự phân chia của các bộ phái:
Trước tiên, bởi sớm phong phú về tư tưởng tự do, từ Đại-Chúng-bộ xuất sanh ra ba
bộ: Nhất-Thuyết, Thuyết-Xuất-Thế, Kê-Dẫn. Lần thứ hai phát sanh ra Đa-Văn-bộ.
Lần thứ ba phát sanh ra Thuyết-Giả-bộ. Lần thứ tư lại có ba bộ: Chế-Đa-Sơn,
Tây-Sơn-Trụ, Bắc-Sơn-Trụ xuất hiện. Như thế, trong vòng sau Phật diệt độ 100 đến
200 năm, từ Đại-Chúng-bộ đã phân liệt ra chín phái, kể cả bản mạt.
Trong khoảng thời gian ấy, Thượng-Tọa-bộ lui ẩn về xứ Ca-Thấp-Di-La, giữ khuynh
hướng bảo thủ, tôn trọng sự truyền thừa, hai bên cũng vẫn dung hòa nhau, không
có sự tranh chấp. Nhưng sau vì chịu ảnh hưởng của Đại-Chúng-bộ, tư tưởng bảo
thủ, truyền thừa của Thượng-Tọa-bộ cũng bị lay chuyển. Vì thế, trong khoảng thời
gian từ 300 đến 400 năm sau Phật diệt độ, từ Thượng-Tọa-bộ phân chia ra mười bộ,
kể cả bộ phái căn bản là mười một bộ. Sự xuất sanh của các phái nầy đã diễn ra
như sau: Lần đầu tiên, từ Thượng-Tọa-bộ phân ra Thuyết-Nhất-Thiết-Hữu-bộ (cũng
gọi Tát-Bà-Đa). Lần thứ hai, từ-Hữu-bộ phát sanh Độc-Tử-bộ. Lần thứ ba, từ
Độc-Tử-bộ xuất hiện bốn bộ: Pháp-Thượng, Hiền-Trụ, Chánh-Lượng, Mật-Lâm-Sơn. Lần
thứ tư, từ Hữu-bộ phát xuất Hóa-Địa-bộ. Lần thứ năm, từ Hóa-Địa-bộ phân liệt ra
Pháp-Tạng-bộ. Lần thứ sáu, lại từ Hữu-bộ phát sanh Ẩm-Quang-bộ (cũng gọi
Thiện-Tuế). Lần thứ bảy, cũng từ Hữu-bộ phát sanh Kinh-Lượng-bộ (cũng gọi
Thuyết-Độ).
Về Thượng-Tọa-bộ, sau khi phân ra Thuyết-Nhất-Thiết-Hữu-bộ rồi, thế lực bị suy
kém, phải lui về ẩn dật ở Tuyết-Sơn, nên lại có tên là Tuyết-Sơn-bộ. Để tiện cho
người học Phật, xin nêu ra biểu đồ phân phái như sau:
Tiết III: Nhân Duyên Phát Xuất Của Các Bộ
Các phái trên đây, bởi tư tưởng không đồng nên thành đối lập, vì thế phải phân
chia ra. Những nhân duyên ấy, theo bản truyền của ngài Chân-Đế, đại lược như
sau:
1. Đại-Chúng-bộ: Bộ nầy phát xuất sau khi có sự tranh chấp mười điều giới luật.
Về sau, bộ chúng lần lần thêm nhiều, cư trụ ở xứ Ương-Quật-Đa-La (Angottara)
thuộc phương Bắc thành Vương-Xá.
2. Nhất-Thuyết-bộ: Giáo-đoàn của Đại-Chúng-bộ nhân nghiên cứu các kinh Đại-thừa
như: Hoa-Nghiêm, Niết-Bàn, Thắng-Man, Duy-Ma, Kim-Quang-Minh... có kẻ tin, kẻ
không tin. Những người tin theo Đại-thừa lại có ba xu hướng, và tự tách ra thành
ba bộ phái. Phái thứ nhất trong ba bộ nầy, cho rằng tất cả các pháp thế và xuất
thế gian đều là giả danh không có thật thể. Đây là Nhất-Thế-bộ, và điểm trên là
tư tưởng chính của họ.
3. Thuyết-Xuất-Thế-bộ: Phái thứ hai tin theo Đại-thừa, là Thuyết-Xuất-Thế-bộ.
Theo phái nầy, tất cả pháp thế gian đều bởi điên đảo sanh ra; nghĩa là do điên
đảo nên khởi phiền não, từ phiền não mà gây nghiệp và từ nghiệp cảm chịu quả
báo. Vì vậy các pháp thế gian đều là hư vọng, giả danh. Trái lại, pháp xuất thế
gian là chân thật, vì từ thật cảnh khởi thật trí, và do thật trí đạt đến thật
cảnh.
4. Kê-Dẫn-bộ: Phái thứ ba tin theo Đại-thừa là Kê-Dẫn-bộ. Theo phái nầy, hai
tạng Kinh và Luật là phương tiện giả thuyết của Ðức Thế-Tôn. Như một bài kệ
trong kinh nói: “Tùy nghi ăn, mặc, ở. Miễn mau dứt phiền não”. Thế thì những
hình thức bên ngoài đều thuộc phương tiện, mà sự diệt phiền não mới là chủ điểm.
Cho nên chỉ có Luận tạng là giáo điển thiết thật, vì tạng nầy giải thích nghĩa
lý tinh vi rõ ràng. Do đó, họ thành lập một bộ phái riêng.
5. Đa-Văn-bộ: Khi Đức Phật còn tại thế, có một vị A-la-hán tên là Tự-Bì-Y
(Yajnavalkya). Nguyên Tự-Bì-Y là một tiên-nhơn, mặc áo vỏ cây, thờ trời, sau
xuất-gia trong Phật-pháp chứng được đạo quả. La hán Tự-Bì-Y thường theo Phật,
ghi nhớ thọ trì tất cả giáo nghĩa. Trước khi Ðức Thế-Tôn diệt độ, Ngài vào nhập
định ở Tuyết-Sơn. Sau Phật niết-bàn 200 năm, Ngài xuất định, đến nước
Ương-Quật-Đa-La, thấy Đại-Chúng-bộ chỉ hoằng dương nghĩa nông cạn của ba tạng,
rất lấy làm kinh ngạc. Do đó, La-hán Tự-Bì-Y đọc lại tất cả nghĩa thâm thúy về
Đại-thừa của pháp tạng. Một số tăng sĩ thọ trì pháp-giới của Ngài, và biệt lập
thành Đa-Văn-bộ, để nghiên cứu những nghĩa lý rộng sâu trong Kinh, Luật, Luận.
6. Thuyết-Giả-bộ: Ở nước Ma-Ha-Lạt-Đà (Mahàrattha) có vị Tỷ-khưu danh đức tên
Đại-Ca-Chiên-Diên (Mahàkàtyàyana). Ngài đem giáo nghĩa trong ba tạng phân tích
thế nào là nhân, quả, thật thuyết, giả thuyết, chân đế, tục đế. Do nhân duyên
đó, có một nhóm tăng sĩ chủ trương giải thích Tam-tạng theo lối nầy, để tùy nghi
lựa chọn thủ xả, và biệt lập thành Thuyết-Giả-bộ.
7. Chế-Đa-Sơn-bộ,
8. Tây-Sơn-Trụ-bộ,
9. Bắc-Sơn-Trụ-bộ: Như trên đã kể, do Đại-Thiên cầm đầu nhóm bác đạt, gây ra
cuộc tranh chấp trong nội bộ Tăng-chúng. Khi A-Dục-Vương và Tôn-giả
Mục-Liên-Đế-Tu đến giải quyết, công việc mới yên. Nhưng từ đó, chư Tăng ở đây
cũng bị ảnh hưởng ấy, chia nhau cư trụ ba nơi và lập thành ba bộ phái. Phái ở
chỗ cũ gọi là Chế-Đa-Sơn-bộ; phái ở phía tây Chế-Đa-Sơn gọi là Tây-Sơn-Trụ-bộ;
phái ở phía bắc Chế-Đa-Sơn gọi là Bắc-Sơn-Trụ-bộ.
10. Thượng-Tọa-bộ: Bộ nầy cũng phát xuất sau khi có sự tranh chấp về mười điều
giới luật. Đại khái Thượng-Tọa-bộ chủ trương bảo thủ cựu phong mà tu hành, lấy
Kinh tạng làm bản vị. Chư Tăng trong bộ nầy cho rằng, Luật vì y theo người nên
có sự bất định về các điều khai, giá (mở rộng, nghiêm cấm); còn Luận tuy giải
thích Kinh, nhưng lại hay đi xa với nghĩa căn bản của Kinh. Vì thế, họ lấy Kinh
làm tiêu chuẩn, mà không mấy trọng Luật, Luận.
11. Thuyết-Nhất-Thiết-Hữu-Bộ (cũng gọi Thuyết Nhân): Thời đại thay đổi, tư tưởng
con người cũng biến thiên; về sau các nhà học Phật lần lần theo khuynh hướng
trọng Luận nhẹ Kinh. Sau khi Ðức Thế-Tôn diệt độ 300 năm, có ngài
Ca-Chiên-Diên-Ni-Tử (Kàtyàyaniputtra) ra đời. Ngài là bậc thạc học trong
Phật-giáo, tinh thông Tam-tạng, nhưng không thích chủ trương lấy Kinh làm bản vị
của Thượng-Tọa-bộ. Trong khi tu trì ở chùa Ám-Lâm (tàmasavanasamghàràma) nước
Chi-Na-Bộc-Để (Cinabhukti) thuộc Bắc-Ấn, Ca-Chiên-Diên-Ni-Tử đã chế tác ra bộ
Phát-Trí-luận. Tuy cũng hoằng truyền cả Kinh và Luật nhưng ngài lại thiên trọng
về Luận, lập ra Thuyết-Nhất-Thiết-Hữu-bộ, lấy Luận tạng làm bản vị.
12. Độc-Tử-bộ (cũng gọi Trụ-Tử-bộ): Bộ nầy cũng lấy Luận tạng làm bản vị, nhưng
sở y về Luận-tạng khác hơn Hữu-bộ. Chư Tăng phái nầy lấy bộ A-Tỳ-Đàm của ngài
Xá-Lợi-Phất làm tiêu chuẩn. Đệ-tử ngài Xá-Lợi-Phất là La-Hầu-La, đệ-tử của ngài
La-Hầu-La là Độc-Tử (Vàtsìputra). Về sau hậu duệ của ngài Độc-Tử lập ra phái
nầy, nên nếu gọi cho đủ là: Độc-Tử-Đệ-Tử-bộ.
13. Pháp-Thượng-bộ,
14. Hiền-Trụ-bộ,
15. Chánh-Lượng-bộ,
16. Mật-Lâm-Sơn-bộ: Bốn bộ nầy cũng lấy Luận-tạng làm bản vị, và được phân xuất
từ Độc-Tử-bộ. Nguyên khi chư Tăng phái Độc-Tử giải thích bộ A-Tỳ-Đàm của ngài
Xá-Lợi-Phất, đến đoạn nào quá đơn giản thì đem nghĩa của Kinh thêm vào. Vì trong
sự tăng bổ có nhiều ý kiến bất đồng, nên từ nơi bản bộ, lại phát xuất ra bốn bộ
trên đây.
17. Hóa-Địa-bộ: Bộ nầy cũng từ nơi Hữu-bộ mà biệt xuất. Nguyên sau khi Phật diệt
độ 300 năm, có người Bà-La-Môn tên là Hóa-Địa, tinh thông mọi giáo nghĩa của
Tứ-Phệ-Ðà thánh-điển. Sau ông xuất-gia trong Phật-pháp tu hành, chứng quả
A-la-hán. Nhân khi giảng đọc Kinh-điển, đến chỗ nào thiếu sót, ông đem lời văn
của kinh Phệ-Ðà và văn điển Phạm-ngữ để tu sức, ý nghĩa đồng như Phật nói. Các
đệ-tử tin tưởng lời thuyết pháp của thầy, nên sau khi ông viên tịch, họ lập
thành một phái riêng, lấy tên là Hóa-Địa-bộ.
18. Pháp-Tạng-bộ: Nhân duyên phát xuất của bộ nầy, do một vị tôn đức tên là
Pháp-Tạng (Dharmagupta). Nguyên trước kia A-la-hán Pháp-Tạng là đệ-tử của
Tôn-giả Mục-Kiền-Liên. Nhân thường đi theo thầy du hóa, ngài ghi nhớ tất cả
những điều gì Tôn-giả đã nói. Sau khi Tôn-giả Mục-Kiền-Liên viên tịch, ngài đem
Kinh-điển chia thành năm tạng. Kinh, Luật, Luận, Mật-Chú và Bồ-Tát tạng. Chư
Tăng trong Hóa-Địa-bộ có một số người tin tưởng theo thuyết nầy, nên biệt lập
thành ra Pháp-Tạng-bộ.
19. Ẩm-Quang-bộ (cũng gọi Thiện-Tuế): Khi Ðức Như-Lai còn ở đời, Tôn-giả
Ẩm-Quang (Kasyapa - Ca-Diếp) thọ trì rất nhiều pháp giáo của Phật. Về sau, ngài
tập hợp những pháp giáo ấy, chia thành hai loại: bộ phận phá tà thuyết của
ngoại-đạo, và bộ phận đối trị phiền não của chúng-sanh. Do nhân duyên đó, người
sau tin theo pháp giáo nầy, biệt lập thành một phái, lấy tên là Ẩm-Quang-bộ.
20. Kinh-Lượng-bộ: Bộ nầy lấy Kinh-tạng làm lượng, không y theo Luật, Luận, nên
gọi là Kinh-Lượng. Kinh-Lượng-bộ lại có tên là Thuyết-Độ hoặc Thuyết-Chuyển. Hai
danh từ nầy có nghĩa: cá thể của hữu-tình nếu nương theo kinh lượng, thì từ đời
hiện tại chuyển đến vị lai, dù chưa đắc đạo nhưng hạt giống kinh pháp vẫn không
tiêu diệt. Tóm lại, mục đích của phái nầy là phục cổ, chủ trương tái thiết lập
trường của Thượng-Tọa-bộ.
Tiết IV: So Sánh Các Bộ Phái Theo Nam, Bắc Truyền
Trên đây là nhân duyên phát xuất các bộ phái theo Bắc-truyền. Vì muốn cho người
học Phật có chỗ quy nhất, nên nội dung của bản chương chỉ chọn lựa thuyết nào
đơn giản và được thông hành trong Nam hoặc Bắc-tông. Tuy nhiên, về thuyết của
Nam-truyền, cũng nên nêu ra đại lược cho tiện việc tham khảo.
Theo Nam-truyền, trước tiên, về căn bản và chi mạt của Đại-Chúng-bộ, gồm có sáu
phái: 1. Đại-Chúng-bộ. 2. Kê-Dẫn-bộ. 3. Nhất-Thuyết-bộ. 4. Thuyết-Giả-bộ. 5.
Đa-Văn-bộ. 6. Thuyết-Chế-Đa-bộ.
Về văn bản và chi mạt của Thượng-Tọa-bộ, gồm 12 phái: 1. Thượng-Tọa-bộ. 2.
Hóa-Địa-bộ. 3. Độc-Tử-bộ. 4. Pháp-Thượng-bộ. 5. Hiền-Trụ-bộ. 6. Lục-Thành-bộ. 7.
Chánh-Lượng-bộ. 8. Thuyết-Nhất-Thiết-Hữu-bộ. 9. Pháp-Tạng-bộ. 10. Ẩm-Quang-bộ.
11. Thuyết-Chuyển-bộ. 12. Thuyết-Kinh-bộ.
Trước sau, cả Thượng-Tọa-bộ và Đại-Chúng-bộ, gồm có 18 bộ phái. Các bản cựu dịch
gọi 18 bộ phái Tiểu-thừa chính là thuyết nầy. Khi Phật diệt độ 200 năm về sau,
từ Đại-Chúng-bộ phát xuất thêm sáu bộ nữa là: Tuyết-Sơn, Vương-Sơn, Nghĩa-Thành,
Tây-Vương-Sơn, Đông-Sơn, Tây-Sơn. Như thế, tổng cộng tất cả được 24 phái. Về
nhân duyên xuất phái, bên Nam-tông không thấy có lưu truyền.
So sánh lại, bên Nam-truyền không có các bộ: Thuyết-Xuất-Thế, Bắc-Sơn-Trụ. Bên
Bắc-truyền không có các bộ: Đông-Sơn, Tây-Sơn, Thuyết-Kinh, Thuyết-Chế-Đa. Ngoài
ra, các bộ kia danh mục tuy khác, song ý nghĩa vẫn đồng, bất quá do sự chuyển
đổi của ngôn ngữ mà thôi, như Thuyết-Chuyển gọi là Kinh-Lượng chẳng hạn. Lại,
thứ lớp phát xuất của các phái theo Nam-truyền và Bắc-truyền cũng khác nhau. Vì
không muốn có sự rối ren, nên trong đây không đề cập đến.
Tham khảo về chỗ đồng dị của các bộ phái theo Nam, Bắc-truyền thì, như bên
Nam-truyền chia ra hai bộ: Thuyết-Chuyển, Thuyết-Kinh, bên Bắc-truyền xem đồng
một phái, nên chỉ gọi là Kinh-Lượng-bộ. Bên Bắc-truyền cho Thượng-Tọa và
Tuyết-Sơn đồng một bộ, bên Nam-truyền cho Tuyết-Sơn là chi phái riêng thuộc
Đại-Chúng-bộ. Phái Thuyết Chế-Đa bên Nam-truyền có lẽ là Thuyết-Xuất-Thế bộ theo
Bắc-truyền, vì về vấn đề cá nhân linh hồn, hai phái nầy lập luận giống nhau, và
niên đại phát xuất cũng tương đồng. Theo Nam-truyền thì sau khi Phật diệt độ 200
năm, từ Đại-Chúng-bộ phát xuất sáu chi phái, hai bộ Đông-Sơn, Tây-Sơn trong đó,
bên Bắc-truyền cũng có. Như Tây-Vức-Ký nói: “Ở xứ Đại-An-Đạt-La thuộc miền
Nam-Ấn, có hai ngôi già lam kỳ cổ, tên là Đông-Sơn, Tây-Sơn. Hai ngôi chùa nầy
do đục hang đá mà tạo thành. Tương truyền khi xưa hai chỗ nầy là cơ sở thuộc về
Đại-Chúng-bộ”. Xem thế thì biết hai bộ ấy lập căn cứ nơi đây. Lục-Thành-bộ tức
là Mật-Lâm-Sơn-bộ; vì bên Nam-truyền nói bốn bộ Pháp-Thượng, Hiền-Trụ,
Lục-Thành, Chánh-Lượng phát xuất từ Độc-Tử-bộ, bên Bắc-truyền cũng gọi bốn bộ
Pháp-Thượng, Hiền-Trụ, Mật-Lâm-Sơn, Chánh-Lượng phát xuất từ Độc-Tử-bộ. Các bộ
phái: Vương-Sơn, Tây-Vương-Sơn, Nghĩa-Thành không có danh mục bên Bắc-truyền,
nhưng căn cứ theo Bồ-Đề-Sử (Bodhivamsa), ta có thể đoán định Vương-Sơn chính là
Chế-Đa-Sơn, Tây-Vương-Sơn chính là Tây-Sơn-Trụ, và Nghĩa-Thành chính là
Bắc-Sơn-Trụ. Vì trong tập sử nầy có nói: “Vào thời A-Dục-Vương, có các ngoại-đạo
cầu danh lợi mặc pháp phục xen trong đoàn thể chư Tăng, làm cho chánh tà lẫn
lộn. Do đó trong Đại-Chúng-bộ mới nảy sanh sáu chi phái, như Tuyết-Sơn...”
Theo bộ Tăng-Kỳ-Luật-Tư-Ký của ngài Pháp-Hiển, vào thời Tôn-giả Ưu-Ba-Cấp-Đa,
chư Tăng bất đồng ý kiến về giới luật (đây nói về phương diện giới luật), nên
lần lần chia thành năm bộ. Trong đây, Đàm-Vô-Đức chính là Pháp-Tạng-bộ,
Di-Sa-Tắc chính là Hóa-Địa-bộ. Ca-Diếp-Di chính là Ẩm-Quang-bộ, Tát-Bà-Đa chính
là Thuyết-Nhất-Thiết-Hữu-bộ, Bà-Sa-Phú-La chính là Độc-Tử-bộ. Tôn-giả
Ưu-Ba-Cấp-Đa là nhân vật sau Ðức Thế-Tôn 100 năm, năm phái trên đều thuộc về
Thượng-Tọa-bộ. Cứ theo đây thì thuyết của Nam-truyền nói sau khi Phật diệt độ
trong khoảng 100 năm đến 300 năm, từ hai bộ căn bản lần lượt sanh ra các chi
phái, dường như hợp với hình thế tự nhiên. Còn thuyết của Bắc-truyền nói từ 100
đến 200 năm sau Phật diệt độ là thời kỳ phân phái của Đại-Chúng-bộ, trong khoảng
300 đến 400 năm là thời kỳ phân phái của Thượng-Tọa-bộ dường như có chỗ dụng ý.
Hoặc giả người trong phái Nhất-Thế-Hữu muốn tỏ ra bộ môn căn bản của mình
(Thượng-Tọa-bộ) phân tán sau hơn cả, nên mới có thuyết nầy chăng?
Tóm lại, giáo-đoàn đạo Phật tuy chia nhiều bộ phái, song không phương hại gì đến
sự giải thoát. Thuở xưa, Ðức Thế-Tôn đã có dự ký rằng: “Sau khi ta diệt độ,
Kinh, Luật của ta chia thành năm bộ, cho đến 18 bộ, danh từ tuy khác nhưng đường
lối quy hướng vẫn hợp với cảnh đại Niết-bàn. Nếu có ai y theo đó mà tu hành, đều
sẽ được giải thoát”. Đức Phật cũng bảo ngài Văn-Thù: “Trong đời vị lai, đạo pháp
của ta hòa hợp với mọi căn cơ chia thành 20 bộ, làm cho ngôi nhà chánh giáo được
vững bền. Trong 20 bộ nầy, nếu ai y theo tu hành, đều được chứng quả. Ví như
nước biển tuy nhiều, song chỉ có một vị; và như người có hai mươi con trẻ, không
đứa nào chẳng phải là con mình. Cũng như thế, Tam-tạng đều bình đẳng không có
tạng nào hơn kém. Đây là lời chân thật của Như-Lai”.
|