Nhóm Hoa
Tạng Giảng Kư cung kính ghi chép
Bài ghi chép những câu trả
lời của Lăo Ḥa Thượng Tịnh Không giải
đáp vấn đề học Phật cho các bạn
đồng tu. Bài này chưa
được lăo ḥa thượng giám định, chỉ
là do Nhóm Ghi Chép Bài Giảng Hoa Tạng nghe băng ghi âm
rồi chép ra, biên soạn sơ khởi thành cuốn sách
nhỏ này để cúng dường độc giả.
1. NIỆM PHẬT
Hỏi: Nếu mỗi ngày ngủ sớm dậy sớm, cả ngày nỗ lực quy y chiêm ngưỡng, tu hành đúng như lời dạy, diễn giảng cho người khác biết, nhưng từ trước đến giờ chưa dự Phật thất hay tinh tấn niệm Phật suốt đêm, xin hỏi như vậy có thể văng sanh Tây phương không?
Đáp: Dĩ nhiên là có
thể. Tại v́ trong ‘ngũ
kinh nhất luận’ không có nói phải tham dự Phật
thất mới có thể văng sanh, và cũng không nói nhất định
phải niệm Phật suốt đêm mới có thể
văng sanh. Chúng ta phải y theo
pháp chớ không y theo người.
21-90-09
Chú
thích: Ngũ kinh gồm có
Kinh A Di Đà,
Kinh Vô Lượng
Thọ,
Kinh Quán Vô
Lượng Thọ,
Phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện (trong kinh Hoa Nghiêm), và
Chương Đại
Thế Chí Niệm Phật Viên Thông (trong kinh Lăng
Nghiêm).
Nhất luận là
Văng Sanh Luận.
Phật thất là
thời gian “khắc kỳ cầu chứng”, tức là trong
thời gian định kỳ cầu đạt
được chứng cứ chứng tỏ ḿnh sẽ
văng sanh - chứng cứ ấy chính là “Nhất Tâm Bất
Loạn” (trích từ Tuyết Hư Lăo Nhân Tịnh Độ
Tuyển Tập), cũng như học sinh thường
ngày học hành chăm chỉ, đến cuối khóa đi
thi lấy bằng tốt nghiệp vậy. Tuy nhiên đối với
người bắt đầu học Phật th́ Phật
thất là môi trường và trợ duyên rất tốt
để hành giả luyện tập nhiếp tâm niệm
Phật.
Hỏi: Má con đă niệm [câu] ‘Diệu Pháp Liên Hoa Kinh’ bằng tiếng Nhật hết hai mươi năm, xin hỏi nên khuyên má con niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ như thế nào?
Đáp: Điều này rất quan
trọng, bạn nên lấy việc lợi ích của
sự niệm Phật nói cho bà biết. Niệm [câu] ‘Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh’ bằng tiếng Nhật thuộc phái Nhật Liên
Tông. Quan trọng nhất
vẫn là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ,
nếu không niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ th́
uổng phí mất đời này. 21-90-13
Hỏi: Nghiệp chướng cứ hiện ra hoài, xin hỏi đây có phải là v́ niệm Phật có công phu không?
Đáp: Không nhất
định [như vậy], phần nhiều khi nghiệp
chướng hiện ra đều làm chướng ngại
cho sự dụng công. Khi công
phu đắc lực rồi, nghiệp chướng có
thể hiện ra để khảo nghiệm bạn. Ai đến khảo
nghiệm? Những oan gia
chủ nợ đời quá khứ; công phu của bạn
đắc lực gần đến Cực Lạc thế
giới, họ lo sợ nên đến phá rối, mong
cản trở được bạn. Phần nhiều khi công phu tu hành
đắc lực th́ thường phát sanh hiện
tượng này. Khi gặp
những chuyện này, chúng ta phải thương
lượng với oan gia chủ nợ, hy vọng họ
đừng gây chướng ngại, khi chúng ta tu hành có
kết quả văng sanh Cực Lạc thế giới sẽ
trở lại độ họ, thường thường
họ đều đồng ư tiếp nhận. Bạn văng sanh về Cực
Lạc thế giới sẽ có năng lực để
phổ độ chúng sanh.
21-90-41
2.
TU TR̀
Hỏi: Khi nghe kinh Vô Lượng Thọ [con] cảm thấy rất quen thuộc, có thể khế nhập, nhưng khi nghe kinh Hoa Nghiêm th́ cảm thấy rất xa lạ. Xin hỏi có phải tại cảnh giới chưa tới?
Đáp: Ai cũng có đời
quá khứ và hiện tại, các bạn đồng tu
học Phật chắc chắn không phải đời này
mới bắt đầu học Phật, thiện căn
của mỗi người đều rất sâu dày. Các pháp môn mà bạn tu trong
đời quá khứ, đời này gặp lại sẽ
cảm thấy rất quen thuộc, rất ưa thích;
ngược lại nếu chưa học qua, đời
này gặp được sẽ cảm thấy rất xa
lạ. Việc bạn hỏi
đại khái là đời quá khứ đă tu học [pháp
môn] Tịnh Độ, đă niệm kinh Vô Lượng Thọ
rất nhiều lần rồi, cho nên khi vừa gặp
liền sanh tâm hoan hỷ. Có
lẽ lúc trước chưa học qua kinh Hoa Nghiêm, cho nên
khi bắt đầu đọc th́ cảm thấy rất
xa lạ, nguyên nhân là ở chỗ này. 21-90-03
Hỏi: Thâm Chấn (gần Hương Cảng) là một thành phố có nền kinh tế khá phát triển, có rất nhiều ‘Phật sống, Pháp Vương Mật Tông’ đến hóa duyên. Rất nhiều bạn học Tịnh Tông đi quán đảnh, xin hỏi làm như vậy đúng không?
Đáp: Đây là nhân duyên của
mỗi người không giống nhau, không thể bàn
luận; nhưng phải hiểu rơ ư nghĩa chân chánh
của sự quán đảnh không phải ở h́nh
thức. Trên h́nh thức,
nếu tưới một chút nước lên đầu
liền được khai ngộ, như thế chúng ta
học kinh giáo làm chi cho cực nhọc quá vậy! Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đâu
cần phải thuyết kinh giảng pháp hết 49 năm,
mỗi ngày tưới một chút nước lên
đầu th́ được rồi. [V́ vậy chúng ta] phải hiểu
rơ đạo lư.
Bạn đi nhận sự quán đảnh,
họ đem một chút nước tưới lên
đầu bạn, bạn có thiệt khai ngộ không? Nếu khai ngộ được
th́ rất có công hiệu đấy! Lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ
là Thượng Sư Mật Tông đă giải thích rất
rơ trong quyển Chú Giải Kinh Vô Lượng Thọ: ‘quán’
là từ bi gia tŕ, ‘đảnh’ là pháp môn hạng nhất,
thù thắng nhất trong Phật pháp. Quán đảnh là đem tinh hoa
của Phật pháp truyền giao cho bạn, chứ không
phải là tưới nước lên đầu.
Hiểu được điều này,
mỗi ngày chúng ta đem kinh Vô Lượng Thọ hoặc
kinh A Di Đà từ đầu tới đuôi niệm một
lần tức là đức Phật A Di Đà đă ‘quán
đảnh’ một lần cho chúng ta, niệm hai lần là
ngài quán đảnh hai lần cho chúng ta. Đó không phải là ‘Mật Tông Nhân
Ba Thiết’ (Rinpoche) hay ‘Phật Sống’ quán đảnh cho
bạn mà là đức Phật A Di Đà quán đảnh cho
bạn, thập phương chư Phật Như Lai quán đảnh
cho bạn. Cho nên nhất
định phải hiểu đạo lư của Phật
pháp, phải biết cách tu học như thế nào mới
đúng.
Bạn hiểu được th́ tốt,
khi gặp bạn bè họ hàng cũng nên đem những
đạo lư này giải thích rơ ràng cho họ nghe. C̣n vấn đề họ đi
hay không th́ mỗi người có nhân duyên riêng, không nên
cản trở, như vậy th́ mới
được. 21-90-07
Chú
thích: danh từ Rinpoche không quen thuộc với những
người không học Mật Tông Tây Tạng. Rinpoche
nghĩa là quư báu, trân quư, tiếng người Tạng tôn
xưng các vị lama; cũng như từ Phật sống.
Lưu ư là chỉ tín đồ Trung Hoa mới hay gọi
những vị Pháp Vương là Phật Sống, chứ
người Tạng hay Mông Cổ không gọi như
vậy. Chữ lama cũng chỉ là dịch nghĩa
chữ Guru, chứ lama không nhất thiết phải là
Tăng.
Hỏi: Thâm Chấn thường có pháp sư đến để kết duyên và giảng pháp, phần lớn các bạn đồng tu Tịnh Tông cũng có đi nghe. Xin hỏi như vậy có phải là không chuyên nhất hay không?
Đáp: Điều quan trọng
nhất trong sự tu học Phật pháp là ‘Nhất môn
thâm nhập, trường thời huân tu’ (Đi sâu vào một
môn, huân tu suốt thời gian dài), tốt nhất là theo
học một vị thầy.
Khi nào mới có thể tách rời khỏi thầy
giáo? Tiêu chuẩn của
người xưa là phải khai ngộ, tức là minh tâm
kiến tánh, đại triệt đại ngộ, lúc
đó bạn đă tốt nghiệp rồi. Hồi xưa gọi là ‘xuất
sư’, nghĩa là có thể ĺa khỏi thầy giáo. Nếu bạn chưa minh tâm
kiến tánh th́ không thể tách rời khỏi thầy;
nếu tách rời th́ bạn nhất định sẽ
đi sai đường.
Điều kiện khi tu học trong Tịnh Độ Tông không cao như vậy, chỉ cần đạt đến mức công phu thành phiến (thành khối), tự ḿnh nắm chắc sẽ văng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, ai giảng kinh bạn cũng có thể nghe được, chỗ nào bạn cũng có thể đi được, v́ không có phương hại. Nếu tự ḿnh không thể nắm chắc việc văng sanh Cực Lạc thế giới nên chuyên tu tốt hơn, cũng có nghĩa là đừng rời khỏi thầy giáo. Ai là thầy của ḿnh? A Di Đà Phật. A Di Đà Phật ở đâu? Tức là kinh Vô Lượng Thọ, do đó mỗi ngày đều phải đọc tụng, ngày ngày phải suy nghĩ, phải hiểu đạo lư và phương pháp dạy trong kinh, y theo đó mà tu hành. Những ǵ Phật dạy, chúng ta nhất định phải nghiêm cẩn nỗ lực làm theo; những ǵ Phật dạy đừng làm, chúng ta nhất quyết không làm, chỉ cần thời gian hai ba năm th́ bạn sẽ có thể nắm chắc việc văng sanh.
Pháp môn Tịnh Độ thành công nhanh, chúng ta xem
‘Tịnh Độ Thánh Hiền Lục’ và ‘Văng sanh truyện’,
có rất nhiều người niệm Phật từ 3
đến 5 năm liền văng sanh.
Đă có bạn đồng tu hỏi tôi: ‘Có phải là
họ tu Tịnh Độ Tông thọ mạng chỉ có 3
năm hoặc 5 năm th́ vừa đúng lúc văng sanh?’ Tôi trả lời không hẳn là
vậy, đâu có chuyện t́nh cờ ngẫu nhiên như
vậy! Tại sao họ
niệm Phật mới 3 năm, 5 năm th́ đều văng
sanh? V́ họ làm đủ
những điều kiện để văng sanh, tất
cả vọng tưởng đều dứt hết, hoàn
toàn không lưu luyến tất cả những người
và sự việc ở trên thế gian này, cho nên mạng
sống không thèm nữa, văng sanh sớm hơn. V́ chỉ cần so sánh hai thế
giới, một bên vô cùng vui sướng, một bên vô cùng
khổ năo, có thể đi đến Cực lạc
thế giới vô cùng vui sướng, tại sao phải
ở lại thế giới vô cùng khổ năo để
chịu khổ? Nhưng
cũng có trường hợp ngoại lệ, có thể
đi mà không đi; đó là v́ rất nhiều người
ở thế giới này có duyên [với họ] đang
cần giúp đỡ nên họ ở lại để giúp
những người này và văng sanh trễ đi. Nếu ở thế gian này không có
duyên th́ sẽ đi sớm hơn.
Hiểu rơ đạo lư này, tu hành không thể không
chuyên nhất, không chuyên nhất rất khó thành công. 21-90-07
Hỏi: Ở chùa Triều Dương có một vị cư sĩ tu hành cấm ngữ (không nói chuyện) được hơn hai năm rồi. Sau này con thấy tâm địa của người này không thanh tịnh, trong lời nói vẫn c̣n phiền năo. Con nghĩ cách tu này cắt đứt pháp duyên với chúng sanh, cách khổ hạnh này rất đáng thương hại. Xin hỏi phương pháp tu hành này đúng không?
Đáp: Cách suy nghĩ của
bạn rất đúng. Mục
đích của sự cấm ngữ là để chuyên tâm và
xa ĺa sự khuấy nhiễu của ngoại cảnh. Tuy miệng không nói chuyện
nhưng c̣n dùng bút để trao đổi ư kiến
với người khác, như vậy quá phiền phức,
không bằng nói chuyện tiện hơn! Cách cấm ngữ của ông ta
chỉ là h́nh thức, c̣n trong tâm th́ không chấm dứt [nói
chuyện]. Tổ sư
đại đức dạy chúng ta tu hành phải tu từ
căn bản, căn bản là tâm địa, mục
đích yêu cầu là trong tâm phải được thanh
tịnh, tâm địa không ô nhiễm, tâm địa xa ĺa
duyên bên ngoài. Trên h́nh thức
khi gặp chúng sanh có duyên th́ phải giúp đỡ, cấm
ngữ cũng vẫn có thể giúp đỡ. Giúp những người nào? Những người nói chuyện
tào lao nhiều quá. Thấy
người khác không nói chuyện, nói chuyện nhiều
không bằng nói ít, nói ít không bằng không nói. Nhưng phải khế cơ. Nếu bạn làm không khế
cơ th́ sự biểu diễn này vô ích, không ai hiểu
được, không ai có thể được cảm
hoá.
Nói tóm lại, những ǵ tâm ḿnh nghĩ,
những hành động ḿnh làm nhất định phải
tạo lợi ích cho chúng sanh; nếu không có lợi ích cho
chúng sanh th́ ḿnh không làm.
Thời gian và sức lực của chúng ta có hạn,
nên làm những việc có lợi ích đối với xă
hội đại chúng, cảm hóa xă hội đại
chúng. 21-90-08
Hỏi: Sau khi làm theo phương pháp quán tâm, tạp niệm vọng tưởng ít đi, có thể duy tŕ trạng thái không niệm và vô niệm. Người xưa có nói: ‘Khởi tâm động niệm là Thiên ma, không khởi tâm động niệm là Ấm ma, đến lúc khởi không được nữa là Phiền năo ma’. Có niệm và không niệm h́nh như đối nghịch nhau, xin hỏi rốt cục th́ như thế nào mới đúng? Và Thiên ma, Ấm ma, và Phiền năo ma là ǵ?
Đáp: Trong kinh Lăng Nghiêm
giải thích ư nghĩa của danh từ ‘ma’ rất rơ
ràng. Kinh Lăng Nghiêm nói
bất luận cảnh giới ǵ hiện ra, nhất quyết
đừng nên chấp trước, như vậy mới
đúng. Hơn nữa kinh Kim
Cang có nói: ‘Phàm cái ǵ có tướng đều là hư
vọng’.
Ĺa khỏi vọng tưởng, chấp trước thật không dễ, Tịnh Độ Tông dạy chúng ta chấp tŕ danh hiệu, chuyên tŕ danh hiệu của đức Phật A Di Đà, tất cả những thứ khác ngoài việc này ra đều đừng nên chấp trước, đây là một phương pháp rất hay. Dùng một câu ‘A Di Đà Phật’ đem đổi tất cả những chấp trước khác, cách này dễ làm, nên pháp môn Niệm Phật được gọi là ‘Dị hành đạo’ (pháp môn dễ thực hành). Phật dạy chúng ta giữ vững câu Phật hiệu này măi cho đến lúc mạng sống gần chấm dứt cũng vẫn c̣n niệm câu A Di Đà Phật, đợi đức Phật lại tiếp dẫn, sau khi đến Cực Lạc thế giới rồi mới buông bỏ hết tất cả chấp trước. Chúng ta có thể dùng phương pháp này để đạt được Tây phương Tịnh độ, phương pháp này mới chắc chắn, đáng tin mà lại rất nhanh chóng; quả vị của sự thành công văng sanh đến cơi Cực Lạc không thể tưởng tượng nổi, vượt hơn sự thành tựu của tất cả pháp môn khác. Chánh nhân là như vậy nên mười phương thế giới chư Phật Như Lai đều tán thán đức Phật A Di Đà. 21-90-15
Hỏi: Giữa Tứ Niệm Xứ của Tiểu thừa, Thiền của Đại thừa, Đại Thủ Ấn của Mật giáo, và Pháp môn Quán Tâm có chỗ nào khác nhau? Có thể lấy chỗ dư bù đắp chỗ thiếu, bổ túc lẫn nhau hay không?
Đáp: Danh từ, thuật
ngữ, và phương pháp của mỗi tông phái không
giống nhau nhưng đều có chung một mục tiêu,
tinh thần, và nghĩa thú (ư nghĩa và đường hướng). Tứ niệm xứ thuộc
về Thiền. Thiền là
ǵ? Trong [Pháp Bảo] Đàn Kinh, Lục
Tổ có nói: ‘Bên ngoài không
trước tướng là thiền, bên trong không
động tâm là định’.
Kinh Kim Cang nói: ‘Bất
thủ ư tướng, như như bất động’. ‘Bất thủ ư tướng’
(không chấp tướng) là ‘thiền’, ‘như như
bất động’ là ‘định’. Không bị ngoại cảnh mê
hoặc, không kể là cảnh thuận hoặc cảnh
nghịch khi lục căn tiếp xúc cảnh giới
của lục trần đều không bị ảnh
hưởng, lay động, và quấy nhiễu là
‘thiền’; vĩnh viễn giữ được tâm thanh
tịnh, không sanh vọng tưởng, phân biệt, và
chấp trước là ‘định’.
Những pháp môn này có thể bổ túc và thành
tựu cho nhau, nhưng tu hành th́ nhất định
phải ‘Đi sâu vào một môn’ (Nhất môn thâm nhập). Thiệt ra một môn có
đầy đủ tất cả các môn khác, nhất
quyết không được tu hai ba pháp môn cùng một
lượt. Cho nên tu học
nhất định phải lựa chọn pháp môn thích
hợp với ḿnh, thích hợp với công việc và tŕnh
độ trước mắt [sẵn có] của ḿnh. Như vậy th́ dễ thành
tựu hơn. 21-90-15
Hỏi: [Con] coi rất nhiều sách Phật, xin hỏi như vậy có gây chướng ngại cho sự tu học của ḿnh hay không?
Đáp: Chuyện này hoàn toàn tùy
thuộc từng cá nhân.
Nếu bạn coi nhiều quá, bao gồm rất
nhiều phương diện nhưng tâm địa vẫn
thanh tịnh, không có phân biệt, chấp trước th́
không chướng ngại.
Nếu tâm địa không thanh tịnh th́ tốt
nhất phải nên xả bỏ [việc coi sách] 21-90-23
Hỏi: Nhà Phật nói: ‘Tướng chuyển theo tâm’, pháp sư nói chúng ta có thể dùng tướng mạo của ḿnh để xem xét và đối chiếu với công phu tu hành. Xin hỏi có phải những người tu hành có tướng mạo xấu th́ công phu tu hành cũng không tốt lắm?
Đáp: Không hẳn vậy,
tại v́ tướng mạo của mỗi người có
liên quan đến phước báo tu đời
trước. Trước 40
tuổi, tướng mạo tốt xấu là do
định sẵn từ đời trước, đây là
phước báo của đời
trước; sau 40 tuổi tướng mạo tốt
xấu là do ḿnh. Đạo lư
của câu này là ở chỗ nào?
Từ khi sanh ra trong ṿng 40 năm này, tâm hạnh
thiện ác nhất định ảnh hưởng
đến tướng mạo của bạn. Cho nên lúc trẻ tướng
mạo rất đẹp, lúc lớn tuổi tướng
mạo chưa chắc đă đẹp. Tướng mạo có thể
biến đổi, biến tốt hoặc biến xấu
cùng tâm hạnh (sự khởi tâm động niệm, hành
vi sanh hoạt) của ḿnh có liên hệ nhân quả
rất mật thiết.
Phật nói Bồ Tát tu hành thành Phật
đặc biệt dùng thời gian một trăm kiếp
để chuyên tu 32 tướng tốt và 80 vẻ
đẹp. 32 tướng
tốt và 80 vẻ đẹp là quả thiện có
được từ nhân thiện.
Tại sao Phật phải dùng thời gian lâu như
vậy để tu tướng đẹp? Đây là một sự thị
hiện, là biểu diễn cho chúng ta xem. Chúng sanh ai cũng đều hy
vọng dung mạo của ḿnh tốt đẹp, thân
thể khỏe mạnh, đức Phật bèn thị
hiện ra những thứ này để dạy cho chúng sanh
biết tu nhân ǵ th́ có thể được quả báo
tướng mạo tốt đẹp; nếu bạn tu
nhân này nhất định sẽ có được quả
báo tốt như vậy. 21-90-40
Hỏi: Những người tu hành có tướng mạo hơi xấu, xin hỏi phải làm thế nào để khắc phục tâm lư tự ti của ḿnh?
Đáp: Nếu muốn tiêu
trừ phiền năo tự ti này chỉ có cách nhất tâm
niệm Phật, đừng suy nghĩ đến
tướng mạo tốt xấu.
Chúng ta niệm Phật tu nhân chứng quả, quả
báo này là cứu cánh viên măn.
Hiện nay tướng mạo xấu xí một chút
cũng không sao, khi đến Cực Lạc th́ sẽ có
tướng mạo vô cùng xinh đẹp. Mỗi tượng của
Thập Bát (18) La Hán và Ngũ bá (500) La Hán có một h́nh
tướng khác nhau, rất nhiều vị có h́nh
tướng vô cùng kỳ dị quái gở, nhưng họ
có từ bi trí huệ nên cũng không khó coi cho lắm. Hiểu được
đạo lư này th́ đừng sanh tâm phân biệt chấp
trước trên tướng tốt và xấu, chỉ
cần nhất tâm niệm Phật, dần dần rồi
thân thể và dung mạo của ḿnh sẽ thay đổi,
ngay cả ḿnh cũng không biết nữa.
Kinh Vô Lượng Thọ nói khi sanh
đến Cực Lạc thế giới th́ dung mạo
đều giống nhau.
Tại sao dung mạo lại giống nhau? Tại v́ người ở tha
phương thế giới có dung mạo tốt
đẹp th́ thường sanh tâm ngạo mạn, dung
mạo không đẹp th́ sanh tâm tự ti xấu
hổ. Đức Phật A Di Đà
đại từ đại bi, dẹp bỏ việc này
ở Cực Lạc thế giới. Cho nên khi sanh đến Cực
Lạc thế giới, dung mạo của mỗi
người đều giống đức Phật A Di Đà,
một chút xíu cũng không khác.
Nếu dung mạo của ai cũng giống nhau có
thể nào lẫn lộn không?
Khi đến Cực Lạc thế giới mọi
người đều có đầy đủ trí huệ
và sáu thứ thần thông nên tuyệt đối sẽ không
lẫn lộn. 21-90-40
3.
TỬ SANH
Hỏi: Lúc c̣n sống có ư muốn hiến bộ phận trong thân thể cho người, xin hỏi lúc trước và sau khi lâm chung giải phẫu để lấy bộ phận này sẽ ảnh hưởng đến sự văng sanh không?
Đáp: Nếu lúc lâm chung và
giải phẫu lấy bộ phận trong cơ thể,
tâm bạn không có một tí sân giận ǵ cả th́ bạn có
thể làm chuyện này.
Nếu lúc đó bạn lại cảm thấy đau
đớn, lại hối hận, th́ bạn không thể
văng sanh đến Cực Lạc thế giới, đây là
một chuyện rất mạo hiểm. Khi bạn hiến bộ phận
trong cơ thể cho người, bất quá chỉ giúp cho
một người kéo dài sanh mạng vài năm mà thôi;
nếu bạn có thể thành Phật, những chúng sanh trong
hư không pháp giới được bạn độ
không biết nhiều đến mức nào. Bài toán này [chúng ta] phải biết
tính! 21-90-08
Hỏi: Con niệm Phật cầu văng sanh, nhưng trong nhà có cúng tiên, đây là cơ duyên nhiều đời truyền lại. Xin hỏi lúc lâm chung làm thế nào mới có thể tránh gây chướng ngại cho việc văng sanh?
Đáp: Ở Hương
Cảng tôi đă gặp qua việc này. Một Phật tử vô cùng
thuần thành, trong nhà có cúng Hồ Tiên, h́nh như là
trước khi học Phật th́ đă cúng rồi. Hồ Tiên giúp đỡ cho
họ, có ân đức đối với họ, sau khi
học Phật rồi cũng không bỏ được. Như vậy th́ nên tiếp
tục cúng không? Trên t́nh trên lư
đều có thể. Mỗi
ngày bạn tụng kinh niệm Phật cho Hồ Tiên nghe,
khuyên Hồ Tiên cũng niệm Phật cầu sanh Tịnh
Độ, đây là chuyện tốt, bạn cũng độ
cho họ. Hồ Tiên tuy là tiên,
nhưng cũng chưa thoát khỏi sáu nẻo luân hồi,
khi phước báo và thọ mạng hưởng hết
rồi cũng phải đọa lạc, không thể
giải quyết vấn đề.
Chúng ta cúng những vị tiên quỷ thần này, có
thể nhờ họ làm thần hộ pháp, đem họ
thờ ở hai bên tượng Phật, mỗi ngày mời
họ làm công khoá sáng tối với ḿnh, không cần
đuổi họ đi. V́
vậy lúc làm công khoá sáng tối bạn phải làm hết
ḷng, nếu không họ sẽ giận và trừng phạt
bạn; phải nghiêm cẩn thực hành, tự lợi
lợi tha, tự và tha hai bên đều được
lợi.
Phần đông các bạn đồng tu
ở nhà ai cũng cúng bài vị tổ tiên, chư Phật
Bồ Tát đều tán thán việc này. Bài vị tổ tiên cũng
đặt ở hai bên tượng Phật; chúng ta cúng
Phật và cúng tổ tiên, kính Phật và kính tổ tiên. Kính Phật là tôn sư, kính tổ
tiên là hiếu đạo, cả hai đều đúng
như pháp hết, đáng được đề xướng. Trong giảng đường
của chúng ta ở Tân Gia Ba có đặt hai bài vị chung,
một bài vị cho trăm họ của dân tộc Trung
Hoa, c̣n bài vị kia cho tổ tiên của nước
Cộng Ḥa Tân Gia Ba. Phật
dạy chúng ta hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng
sự sư trưởng; chúng ta nhớ hoài không quên,
như vậy là làm theo lời dạy của Phật Đà. 21-90-08
Hỏi: Xin hỏi thế nào gọi là ‘Hoàn thọ sanh trái’? (trả nợ thọ sanh) Có nhiều thầy [sư] chuyên môn nhờ vào việc này để làm Phật sự, nói ‘thiếu nợ âm’ phải tụng kinh Kim Cang, và c̣n nói có thể chuyển định nghiệp. Con đă nhiều lần khuyên vị pháp sư này nhưng vị này vẫn không chịu, con nên làm thế nào?
Đáp: Điều bạn nói
gọi là ‘nợ thọ sanh’, đại khái là thiếu
nợ của quỷ, thiếu nợ người qua
đời. Trả nợ là
chuyện tốt, nợ nần trước sau ǵ cũng
phải trả, nhưng phải biết đừng nên
thiếu nợ nữa, phải biết đạo lư này.
Các bạn đồng tu học Phật
đều hiểu được cho dù đời này chúng
ta không thiếu nợ chúng sanh, nhưng trong những
đời quá khứ cơ hội tiếp xúc với
Phật pháp rất ít, cơ hội không biết đến
Phật pháp th́ lại rất nhiều, làm sao có đạo
lư không tạo nghiệp được? Trong vô lượng kiếp qua
đă kết oán thù với tất cả chúng sanh, nợ
nần xích mích không biết là bao nhiêu mà tính. Cho nên đường bồ
đề có đầy chông gai, đâu cũng là nhân duyên gây
chướng ngại cho đạo nghiệp, nhân này là từ
những nghiệp không thiện đă tạo trong
đời trước.
Đức Phật dạy chúng ta đem tất
cả công đức của ḿnh có được khi tu
hành, tụng kinh, lạy Phật đều hồi
hướng cho họ, những việc thiện ǵ bạn
làm đều cho họ hết, đây là để trả
nợ. Nhưng bài kệ
hồi hướng phải từ nội tâm chân thành phát ra
lời sám hối th́ việc hồi hướng mới có
hiệu quả; nếu chỉ nói ngoài miệng mà trong tâm
không chân thành th́ không ích lợi ǵ hết. Từ hôm nay trở về sau khi
chúng ta khởi tâm động niệm và hành động,
tất cả đều để làm lợi ích cho tất
cả chúng sanh, cho Phật pháp, trong đó không làm sai
việc ǵ, công đức ngày hôm nay mới có thực
chất để hồi hướng. Hai câu ‘Trên báo bốn ân nặng,
dưới độ ba đường khổ’ bao
gồm hết tất cả ân nhân và oan gia chủ
nợ. Kẻ có ân th́ bạn
hồi hướng cho họ để trả ân; kẻ có
oán th́ bạn hồi hướng cho họ để
giải trừ oan nợ. Cho
nên nhất định phải phát xuất từ nội
tâm, dùng tâm ‘chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi’
mà hồi hướng.
C̣n vấn đề chuyển định nghiệp là không thể được, trong kinh điển Phật có ghi rằng cho đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng không thể chuyển định nghiệp được. Hơn nữa khi chúng ta khuyên mà người ta không chấp nhận, bổn phận của ḿnh đă làm hết sức rồi, tiếp nhận hay không là chuyện của người ta. Thí dụ khi khuyên người nhà hay thân bằng quyến thuộc, khuyên một lần hai lần nếu không nghe th́ đừng khuyên nữa, nếu cứ tiếp tục th́ có thể sanh ra xích mích, bất ḥa. Nên làm thế nào? Nên tự ḿnh hết ḷng nỗ lực tu học và làm gương tốt cho mọi người xem. Hai ba năm sau gặp trở lại, khi họ nh́n thấy bạn tốt hơn họ, họ sẽ nghĩ chắc là v́ bạn tu hành rất tốt nên mới được như vậy, [từ đó] ư niệm của họ sẽ thay đổi.
Ở Đài Loan và Trung Quốc, tôi có rất
nhiều bạn bè quen biết từ lúc mười mấy
tuổi, lúc trước họ không tin Phật, khi thấy
tôi học Phật đều nói: ‘Tại sao ông lại mê
tín vậy?’. Hiện nay họ
gặp tôi lại nói: ‘Ông đúng rồi’, nên bây giờ tôi
biếu tặng kinh điển Phật giáo họ
đều xem, như vậy là chúng ta đă làm gương
tốt cho họ bắt chước theo.
Thế nên độ quyến thuộc
họ hàng không thể độ liền được,
mới bắt đầu khuyên không nghe th́ qua vài năm sau
khuyên lại có thể họ sẽ nghe. Người lớn tuổi kinh
lịch nhiều, gặp khó khăn nhiều th́ dễ nghe
khuyên hơn. Người
nhỏ tuổi c̣n sung sức, tâm háo thắng c̣n mạnh,
không dễ tiếp nhận, chúng ta phải có nhẫn
nại chờ đợi.
21-90-08
Hỏi: Xin hỏi người mất rồi th́ nhất định phải ‘trả thọ sanh kinh’ không? Chuyện này có thật không?
Đáp: Không có chuyện này,
đây là tập tục truyền thuyết trong dân gian, trong
kinh điển không có nói như vậy. Đức Phật rất từ bi
biết được thời mạt pháp ma đến
để nhiễu loạn, chúng sanh không biết
đối phó, nên dạy cho chúng ta ‘Tứ Y Pháp’ (Bốn
nguyên tắc để noi theo).
Thứ nhất ‘Y pháp bất y nhân’ (Noi theo pháp chứ
không theo người). Pháp là
kinh điển, kinh không nói như vậy th́ chúng ta không
tin. Nhưng kinh điển quá
nhiều, chúng ta y theo bộ kinh nào?
Lúc đức Phật Thích Ca c̣n tại thế,
nếu người ta có thắc mắc th́ có thể
trực tiếp hỏi đức Phật. Ngài là thầy thuốc, chúng ta là
bịnh nhân, ngài viết toa thuốc cho chúng ta, chúng ta
dựa theo toa thuốc mà uống, uống thuốc rồi
th́ hết bịnh. Hiện nay
Phật không c̣n, tất cả kinh điển nhiều
như vậy đều là toa thuốc của ngài viết
ra cho mọi người. V́
vậy phải biết ḿnh bị bịnh ǵ, trong nhiều
toa thuốc như vậy phải nên chọn thứ nào và
bỏ thứ nào. Nhất
định không được lấy hết [tất
cả toa thuốc]; uống hết những thứ
thuốc này th́ nhất định phải chết chứ
không c̣n cách nào khác.
Phật dạy chúng ta lựa chọn theo
một phương châm:
‘Thời
Chánh pháp, Giới Luật thành tựu;
Thời
Tượng pháp, Thiền Định thành tựu;
Thời
Mạt pháp, Tịnh Độ thành tựu..’
Chúng
ta hôm nay sanh trong thời Mạt pháp th́ nên theo pháp môn
Tịnh Độ, đây là noi theo nguyên tắc mà đức
Phật Thích Ca dạy cho chúng ta.
Tịnh
Độ có năm kinh và một luận; cũng không cần
phải học hết toàn bộ, noi theo một thứ th́
được rồi. Trong
sáu quyển này (năm quyển kinh và một quyển
luận), quyển nào thích hợp với ḿnh, khi đọc
lên liền hoan hỷ, có thể hiểu được, y
theo lời dạy mà làm theo. Đi
sâu vào một môn (Nhất môn thâm nhập) th́ có thể thành
tựu. Đừng nên chọn
lấy quá nhiều, có câu nói ‘ăn nhiều không tiêu’. Chúng ta chọn một trong năm
kinh một luận của Tịnh Tông, nhất định
phải y theo lư luận và phương pháp trong kinh mà tu
học th́ mới có thể thành công. 21-90-09
Hỏi: Xin hỏi người ta mất rồi, linh hồn từ chỗ nào văng sanh?
Đáp: Trong kinh Phật nói có
rất nhiều chỗ. Lúc lâm
chung xét nghiệm kỹ càng nếu linh hồn từ
dưới bàn chân đi ra th́ người này đọa
địa ngục. Làm sao khám
nghiệm? Toàn thân đều
lạnh hết nhưng dưới bàn chân c̣n ấm, đây
là nói người này từ dưới bàn chân đi ra. Từ đầu gối đi ra
là sanh vào đường ngạ quỷ; từ rốn
đi ra là sanh vào đường súc sanh, từ ngực
đi ra là sanh vào loài người, từ đảnh
đầu đi ra là sanh vào cơi trời, văng sanh về tây
phương Cực Lạc cũng từ đảnh đầu
đi ra. Nếu thiệt là
sanh lên trời hoặc văng sanh, thần thức đi
rất nhanh. Phàm là sanh về
cơi thiện thân thể nhất định phải mềm
mại, không cứng. Có khi
để cả hai tuần thân thể hăy c̣n mềm
mại. 21-90-21
(Chú thích: tốt
nhất đừng đụng thân thể người
mất trong ṿng 8 giờ (cho đến 12 giờ)
đồng hồ sau khi người đó tắt thở, để tránh cho người
mất cảm thấy đau đớn thêm và sanh tâm sân
giận có thể hại họ)
Hỏi: Đệ tử hy vọng mau mau văng sanh về Cực Lạc thế giới, nhưng trên c̣n cha mẹ không yên tâm (không buông xả). Và sợ ḿnh không để ư lại tạo thêm nghiệp tội, thật là lo sau này không thể đến Cực Lạc thế giới tu hành thành Phật, thừa nguyện tái lai (theo nguyện của ḿnh để trở lại độ chúng sanh). Nghĩ đến vấn đề này th́ rất buồn phiền, xin hỏi đệ tử nên xử lư thế nào?
Đáp: Bạn nên dành ra
thời giờ nhất định mỗi ngày để
đọc tụng, nghe kinh, tốt nhất là phải dành
trên 2 giờ đồng hồ; mỗi ngày đều
như vậy không gián đoạn trong ṿng nửa năm
đến một năm th́ cảnh giới của bạn
sẽ xoay chuyển trở lại.
Nói tóm lại là v́ bạn không nhận thức và
hiểu rơ giáo lư, nếu có thể hiểu rơ ràng, tín tâm thanh
tịnh, tâm nguyện kiên cố th́ tâm âu lo của bạn
sẽ mất hết, bạn nhất định sẽ
đạt được nguyện vọng. 21-90-22
Hỏi: Nếu một người không có tôn giáo tín ngưỡng ǵ hết, tâm địa lương thiện, xin hỏi có thể văng sanh tây phương Cực Lạc thế giới không?
Đáp: Tâm địa vô cùng
hiền lương nhưng không tin có thế giới Tây
phương Cực Lạc, không muốn đi về
thế giới Cực Lạc th́ không thể văng sanh. Nếu lúc lâm chung chưa tắt
thở nghe đuợc danh hiệu A Di Đà Phật và nghe
đến cơi Cực Lạc, sanh tâm hoan hỷ, phát
nguyện văng sanh th́ nhất định sẽ
được sanh. Học
Phật một ngày cũng có thể văng sanh. Tâm địa hiền lương
là tiền vốn của người này. 21-90-24
Hỏi: Xin hỏi nghi thức thâu [nhặt] xá lợi nên làm như thế nào?
Đáp: Thâu xá lợi không có
nghi thức nhất định, quan trọng nhất là tâm
kính trọng. Sự phân chia xá
lợi cũng không nhất định, xá lợi có khi
kết thành từ xương, từ thịt, từ máu, và
có khi từ lông tóc. H́nh dáng và
màu sắc của xá lợi đều không giống
nhau. Chuyện này không khó
thấy được, có thể xem nhiều hơn.
Quan trọng nhất là chúng ta phải
hiểu rơ nguyên nhân h́nh thành xá lợi là như thế
nào? Tại sao lại có? Chương Gia đại sư
nói với chúng ta xá lợi liên quan đến tâm thanh
tịnh, nghĩa là liên quan đến định công. Tâm địa tán loạn nhất
quyết không có xá lợi; tâm địa thanh tịnh, có thiền
định công phu th́ có thể có xá lợi.
Xá lợi nhiều hay ít, màu sắc không
nhất định th́ phải xem công phu sâu hay cạn. Lưu xá lợi hoặc lưu
lại nhục thân th́ cũng không thể chứng minh
được sự thành tựu của sự tu hành,
chỉ có thể nói là có công phu tu hành. Xá lợi cũng có liên quan
đến nguyện lực; có rất nhiều
người chân chánh tu hành thành công, họ không muốn
lưu lại xá lợi, cũng không muốn lưu lại
nhục thân, điều này liên quan đến nguyện
lực vô cùng mật thiết.
Phần đông lưu xá lợi cũng chỉ v́
muốn lưu lại kỷ niệm cho đời sau và
cũng là có tác dụng khuyến khích người học
Phật. 21-90-38
Hỏi: Xin hỏi người kết hôn trở lại, tu hành rất có thành tựu có thể văng sanh không? Không cho họ đến đạo tràng lễ lạy và giúp đỡ hộ niệm cho người mất đúng không? Có một vị pháp sư nói không được, như vậy đúng không?
Đáp: Học Phật
nhất định phải ghi nhớ một nguyên tắc
quan trọng: ‘Y pháp bất y nhân’ (Y theo pháp chứ không y theo
người). Người
kết hôn trở lại tu hành rất có thành tựu có
thể văng sanh không? Năm
quyển kinh và một luận là kinh điển chính
của Tịnh tông, năm kinh một luận không có nói
[người này] không được văng sanh. Chúng ta cũng không thấy trong
kinh điển không cho họ vào đạo tràng lễ
Phật, nghe kinh, tu sám hối, hoặc là trợ niệm cho
người mất.
Từ điểm này có thể biết
được chư Phật Bồ Tát đều cho
phép. Vị pháp sư này không
cho, đạo tràng này không đến được. Có lẽ có pháp sư khác cho phép th́
có thể đến đạo tràng khác. 21-90-40
4.
NHÂN QUẢ
Hỏi: Một người làm về ngành buôn bán sỉ đồ đông lạnh nhưng không trực tiếp sát sanh. Vài năm trước c̣n kinh doanh nhỏ, ngày nay phát triển quy mô có đến 70, 80 người. Mọi người làm đều làm việc rất đàng hoàng, sự nghiệp này là kết quả của sự gắng sức hợp lực của mọi người. Nếu ngày nay không làm, sẽ có phần nhiều nhân công thất nghiệp cho nên không thể lập tức chấm dứt không làm. Ngày nay việc làm ăn này là do người khác quản lư chăm sóc dùm, người này bây giờ mở một tiệm hoa, bản thân sanh sống rất đơn giản, cũng làm rất nhiều việc thiện, người khác đều gọi ông ta là cư sĩ, xin hỏi ông có thể quy y Tam Bảo không?
Đáp: Có thể! Quy nghĩa
là quay trở về, quay về th́ được ngay. Nhất định phải
biết bất cứ phước báo của người
nào cũng là do đời trước tu
được. Quư vị
đọc kỹ quyển ‘Liễu Phàm Tứ Huấn’
sẽ hiểu, từ trước đến bây giờ
đông phương, tây phương đều như
vậy, không có ngoại lệ.
‘Một miếng ăn một miếng uống
đều có định trước’, ai định cho
bạn vậy? Là tự ḿnh
định cho ḿnh đó, không phải do người nào
khác.
Trong kinh nói người ta trên thế gian này
có hai thứ nghiệp báo: thứ nhất là ‘dẫn
nghiệp’, dẫn dắt bạn đầu thai trong
mười pháp giới.
Dẫn nghiệp này tức là ngũ giới, thập
thiện. Trong đời quá
khứ tu ngũ giới thập thiện, tu rất
tốt, nghiệp lực này dẫn dắt bạn
đến thọ sanh trong loài người. Sanh vào nhà ai, ai làm cha mẹ
của bạn là do duyên phận mà định. Cái duyên này rất phức tạp
nhưng không ngoài bốn loại: báo ân, báo oán, đ̣i
nợ, trả nợ. Nếu
là báo ân th́ con bạn sẽ là con hiếu cháu ngoan, bản
tánh bẩm sanh là tốt.
Nếu là báo oán th́ tương lai sẽ làm cho bạn
nhà tan cửa nát, nó đến để báo thù. Nếu là đ̣i nợ th́ bạn
vui vẻ nuôi nấng, cung phụng nó, đến lớn nó
sẽ chết. Tiền
bạn nuôi cho nó lớn lên đều là tiền thiếu
nó, nó đ̣i hết th́ ra đi.
Nếu là trả nợ th́ nó đến chăm sóc,
phụng dưỡng cha mẹ, chăm sóc những thứ
nhu yếu trong lúc tuổi già, nhưng nó không có tâm cung kính,
tâm hiếu thuận. Nếu
không phải là bốn thứ quan hệ này th́ sẽ không
sanh vào nhà bạn. Sau khi
hiểu rơ rồi, chuyển biến những thứ
nghiệp duyên này thành pháp duyên, như vậy là giác
ngộ. Không kể là bạn
sanh vào cơi này như thế nào, chúng ta đều khuyên
bạn niệm Phật, đều khuyên bạn học
Phật, khuyên bạn tiếp nhận lời dạy
của Phật Bồ Tát, như vậy là chuyển
biến nghiệp duyên từ đời trước thành
pháp duyên, oán nợ hận thù hoàn toàn tiêu mất, đây là
trí huệ chân thật.
Thứ hai là ‘măn nghiệp’. Sau khi chúng ta được thân
người, sự hưởng thụ trong đời này,
những của cải tiền bạc có được
trong đời này, công danh địa vị trong xă hội
đều là từ quả báo của đời quá khứ
tu thiện hoặc làm ác:
Bố thí tài vật
là nhân, được giàu sang là quả báo;
Bố thí pháp là nhân,
được thông minh trí huệ là quả báo;
Bố thí vô uư (giúp cho
người khác không sợ hăi) là nhân, được
khỏe mạnh sống lâu là quả báo.
Nếu
làm đủ ba thứ bố thí này, quả báo của
bạn sẽ vô cùng đầy đủ, viên măn, bạn
sẽ có giàu sang, thông minh, trí huệ, khỏe mạnh, và
sống lâu. Tuy nhiên chúng ta
thấy có nhiều người giàu sang nhưng không có thông
minh, trí huệ, thậm chí chưa học đến
tiểu học, nhưng cơ duyên của họ rất
tốt, rất nhiều học sinh đại học và bác
sĩ làm việc cho họ.
Họ làm người chủ, nhân viên thuộc hạ
đều ra sức làm việc cho họ, những nhân viên
này đến là để báo ân, trả lại nợ
đời trước thiếu họ. V́ vậy cho nên người ta tu
thiện tích đức th́ măn nghiệp sẽ tốt.
Trong đời quá khứ tu không đủ
th́ đương nhiên mọi việc trong đời này
đều khó khăn. Sau khi
bạn hiểu được Phật pháp rồi nỗ
lực hết ḷng tu học vẫn c̣n kịp. Nếu thật hết ḷng nỗ
lực đi làm, ba năm sau quả báo sẽ hiện ra,
vận mạng sẽ biến đổi. Nhất định là có vận
mạng và vận mạng này cũng có thể sửa
đổi. Nếu chúng ta có
tâm thiện, hành động thiện, quả báo sẽ càng
ngày càng tốt đẹp và càng thù thắng; nếu chúng ta
có tâm không thiện, hành vi không thiện, tuy là có phước
báo, phước báo này cũng bị tổn hao, thời gian
hưởng phước rút ngắn lại, khi
phước hưởng hết rồi th́ ác nghiệp
sẽ hiện ra. Chúng ta xem
trong xă hội hiện nay có rất nhiều nhà giàu có, buôn
bán không được mấy năm th́ sập tiệm,
đây là v́ trong đời quá khứ có phước báo
nhưng đời này không làm việc thiện nên
phước báo rất dễ dàng hưởng hết. Những đạo lư này chúng ta
phải hiểu rơ. 21-90-06
Chú thích:
mười pháp giới gồm có: Phật, Bồ Tát, Duyên
Giác, Thanh Văn, Trời, A tu la, Người, Súc sanh,
Ngạ quỷ, và Địa ngục.
Hỏi: Cháu của con nghiên
cứu về sanh vật, thường nuôi chuột con
để làm thí nghiệm, cháu không có tín ngưỡng. Mỗi tháng cháu cho con 50
đồng, con đều lấy số tiền này làm công
đức cho nó, xin hỏi như vậy được
không?
Đáp: Rất tốt! Bạn lấy 50 đồng này
để làm công đức phóng sanh tốt nhất, bây
giờ nó không biết nghiệp sát sanh rất nặng,
tốt nhất là đừng làm ngành nghề này.
Trong
sự sát sanh, đặc biệt tội phá thai là nặng
hơn bất cứ tội khác, phá thai là giết
người, oan oan tương báo phiền phức
nhiều lắm. Tại sao
đứa bé này lại biết nhà của bạn mà
đến? [V́] Nó có liên quan
nhân quả với nhà bạn; trong kinh đức Phật
nói có 4 loại quan hệ: báo
ân, báo oán, đ̣i nợ, và trả nợ; nếu không có
quan hệ này th́ nó sẽ không đến. Nếu nó đến để báo
ân mà bạn giết nó th́ đời sau sẽ kết thành
oán thù; nếu nó đến để báo thù mà bạn
giết nó th́ oán hận càng sâu đậm thêm. V́ vậy cho nên nhất định
đừng bao giờ phá thai, đây là điều mà
người học Phật không thể không biết. 21-90-10
Hỏi: Mỗi lúc gặp vấn đề khó khăn không biết giải quyết cách nào, dùng ‘mộc luân luân tướng’ nói trong kinh ‘Chiêm sát thiện ác nghiệp báo’ để đoán biết kết quả. Xin hỏi cách làm này và sự coi bói trong dân gian có ǵ khác biệt? Người học Phật có thể dùng không?
Đáp: Việc ‘chiêm sát’ là do
ḷng đại từ đại bi của Phật, v́
người đời ưa thích việc coi bói nên
đức Phật cũng hằng thuận chúng sanh tùy
hỷ công đức.
Người học Phật chân chánh và người
phát nguyện văng sanh không cần hỏi những việc
này, một ḷng một dạ niệm Phật cầu sanh
Tịnh Độ, những chuyện thế gian này cũng
không cần để ư làm ǵ.
Việc mà nhà Phật gọi là ‘chiêm sát’ cần
phải có công phu tu hành mới có cảm ứng. Vả lại ‘chiêm sát luân
tướng’ phải biết đạo lư và phương
pháp tu hành. Trong quyển ‘Quán Âm
Cảm Ứng Khóa’, tức là Xăm Quán Âm, Ấn Quang
đại sư trong phần tựa có nói: ‘Trước khi
bạn cầu xăm Quán Âm phải nhất tâm chí thành
niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát một ngàn lần, sau
đó mới xin xăm, xăm này mới linh’. Tại sao vậy? [Chí] thành th́ sẽ linh
[nghiệm]. Như thế nào
mới là ‘thành’? Là nhất tâm
chuyên chú, không có vọng niệm.
Niệm 1000 lần Phật hiệu là đem tất cả
vọng tưởng, phân biệt, và chấp trước
đều niệm cho mất hết, lúc bấy giờ là
lúc tâm vô cùng chân thành, không một chút vọng niệm, bói
quẻ sẽ linh.
Trong quyển ‘Liễu Phàm Tứ Huấn’ có
nhắc đến việc vẽ bùa, vẽ bùa và niệm
chú có cùng một đạo lư, tâm không thành th́ không linh, tâm
không thành là tâm có vọng niệm.
Khi vẽ bùa từ lúc đặt bút xuống cho
đến lúc vẽ xong, một niệm ǵ cũng không sanh,
th́ lá bùa này sẽ linh; nếu trong lúc vẽ bùa mà c̣n
khởi tâm động niệm, lá bùa này sẽ không linh.
Cho nên người xưa nói: ‘Niệm kinh
không bằng niệm chú, niệm chú không bằng niệm
Phật’. Tại sao
vậy? Phật hiệu
chỉ có 6 chữ: ‘Nam mô A Di Đà Phật’, trong câu này không xen
tạp vọng niệm, tạp niệm th́ dễ làm
hơn. Trong lúc niệm bài chú
quá dài có xen tạp một vọng niệm th́ bài chú này
sẽ không linh. Kinh c̣n dài
hơn nữa, khi niệm hết một bộ kinh mà không
xen vào một tạp niệm th́ càng không dễ! Hiểu rơ đạo lư này mới
biết sự thù thắng của pháp môn Niệm
Phật. Nhưng phải
hiểu rằng niệm Phật mà c̣n xen tạp vọng
tưởng th́ cũng không được, nhất
định phải niệm đến khi vọng
tưởng mất hết. 21-90-10
Hỏi: Trong quyển ‘Cảm Ứng Thiên’ có nói người không nh́n thấy quỷ, quỷ không nh́n thấy người, nhưng tại sao lại nói oan quỷ thường thường ở chung quanh để chờ đợi cơ hội? Dựa vào công án của Ngộ Đạt Quốc sư, oan quỷ đi theo ông 10 đời, trong thời gian dài như vậy, xin hỏi những oan hồn này không phải đi thọ báo hay sao?
Đáp: Việc này rất
phức tạp. Đương
nhiên oan quỷ này có thể đi theo Ngộ Đạt
Quốc sư 10 đời để chờ đợi cơ
hội trả thù, quỷ này cũng không phải quỷ
b́nh thường; quỷ thường làm không
được. Đừng nói ǵ
khác, nếu không có nhẫn nại th́ làm không được,
đợi không được, đi đầu thai
mất rồi th́ làm sao có thể đợi đến 10
đời? Từ đó có thể
biết oán thù kết quá sâu th́ tâm trả thù cũng rất
mạnh, như thế mới có thể theo đuổi hoài
được. Nếu tâm
trả thù không mạnh như vậy, sau khi đợi một
thời gian mà không có cơ hội báo thù nó sẽ đi
mất, chuyện này cũng xảy ra rất nhiều.
Người và quỷ có thể gặp mặt là do cơ duyên đặc biệt, nếu không có cơ duyên đặc biệt này th́ không thể gặp được. Thường người nh́n không thấy quỷ, quỷ cũng không nh́n thấy người. Nếu có thể nh́n thấy lẫn nhau th́ sẽ sanh ra nhiễu loạn, nhưng trong t́nh trạng hoặc cơ duyên đặc biệt cũng có thể nh́n thấy. Có một vài bạn đồng tu đă nh́n thấy quỷ thần, h́nh trạng của quỷ thần này đều phù hợp với h́nh trạng diễn tả trong kinh điển. Đây đều là thật, không phải giả. 21-90-14
Hỏi: Người làm ác bị đọa địa ngục A Tỳ vĩnh viễn không có ngày ra khỏi. Xin hỏi chúng sanh trong thế giới này có phải là càng ngày càng ít?
Đáp: Vấn đề có bao
nhiêu chúng sanh trên thế giới là thuộc về ảnh
hưởng của cộng nghiệp. Nếu không có chung cộng
nghiệp với chúng ta th́ nhất quyết sẽ không
đến thế gian này.
Nhiều chúng sanh như vậy từ đâu đến? Là từ thế giới khác di dân
đến. Chúng ta niệm
Phật văng sanh không phải là từ thế giới Sa Bà
của đức Phật Thích Ca Mâu Ni di dân đến
thế giới Cực Lạc của đức Phật A
Di Đà hay sao? Phạm vi của
sáu nẻo luân hồi rất lớn, “sáu nẻo” là chỉ
tam thiên đại thiên thế giới trong nhà Phật. Tinh cầu trong tam thiên đại
thiên thế giới quá nhiều, người ta giao
thiệp qua lại lẫn nhau, không gian sanh hoạt rất
lớn, không phải nhỏ bé như vầy. Vả lại đọa
địa ngục A Tỳ không phải là vĩnh viễn
không ra khỏi, chỉ là thời gian rất dài mà thôi,
phải trải qua trăm ngàn kiếp, tội báo hết
mới có thể ra khỏi, cho nên họ cũng có ngày
sẽ thoát khỏi [địa ngục]. 21-90-16
Hỏi: Sau khi má con mất đi rồi, con đốt rất nhiều sách Phật, muốn [đốt] để má con đem đi, bây giờ mới biết tội đốt kinh sách rất nặng. Xin hỏi con phải làm thế nào?
Đáp: Nếu bạn không
biết ‘đốt kinh sách có tội’ th́ bạn không có
tội, chuyện này thuộc về lỗi lầm. Phải biết phân biệt giữa
tội và lỗi, tội rất nặng, lỗi th́
nhẹ. Nếu đă biết
mà c̣n đốt thêm th́ đó là tội. Trong Phật pháp cho dù phá hoại
h́nh tướng của Phật nếu là vô ư phá hoại th́
thuộc về lỗi; nếu cố ư phá hoại, có tâm sân
hận mà phá hoại th́ đó là tội, tội này nặng
giống như tội làm thân Phật đổ máu, tội
này là tội đọa địa ngục A Tỳ. 21-90-19
Hỏi: Có một cư sĩ bán thịt heo muốn đổi nghề nhưng không có tiền vốn, nếu không đổi nghề th́ sợ tạo nghiệp. Xin hỏi phải nên khuyên ông ấy như thế nào?
Đáp: Ông ấy đă
biết bán thịt heo là tạo nghiệp, sự giác
ngộ này rất quư. Tốt
nhất đừng nên làm những ngành nghề mà phải
sát sanh; hiện nay có rất nhiều người mở
tiệm ăn đặc biệt là tiệm bán hải
sản đều tạo nghiệp rất nặng. Nếu quan sát kỹ lưỡng
th́ thật có thể thấy quả báo của những
người mở tiệm ăn này đều không
tốt. Có vài bạn
đồng tu nói với chúng tôi, những người
mở tiệm ăn ở Hương Cảng bị
quả báo vô cùng thê thảm, chuyện này đă có
đăng trên báo, cũng thật có người thấy được
rồi đổi sang kinh doanh ngành nghề khác. Nếu đổi tiệm ăn
hải sản và tiệm ăn mặn thành tiệm ăn
chay th́ rất tốt, bạn phải khuyên người này
nên suy nghĩ kỹ càng. 21-90-35
Hỏi: Có phải tất cả những vết thương trên thân thể đều do nghiệp báo chiêu cảm mà ra? Mỗi lúc con phát tâm niệm Phật hoặc niệm Phật được nhiếp tâm th́ chướng ngại xảy ra rất nhiều. Bạn đồng tu dạy con phải nên đem công đức hồi hướng cho họ trước nhưng con sợ làm không được tốt th́ [những ǵ ḿnh hồi hướng] đều thành ra chi phiếu không lănh được, sợ rắc rối sau này c̣n nhiều thêm. Xin hỏi phải nên làm thế nào?
Đáp: Không hẳn là tất cả vết thương đều chiêu cảm từ nghiệp báo mà ra, ngoại thương có lúc do chúng ta không chú ư gây ra. Thí dụ như lúc đi chơi dă ngoại bị côn trùng cắn hoặc gai đâm bị thương, đó là do đi đường không coi chừng, chưa chắc là nhân quả báo ứng. Từ xưa Trung quốc coi trọng hiếu đạo, tất cả những tập quán sanh hoạt của ḿnh phải cẩn thận để ư, không nên để thân thể bị thương rồi làm cho cha mẹ lo lắng, điều này rất đúng.
C̣n về nghiệp chướng mỗi người [chúng ta] đều có rất nhiều oan gia chủ nợ, v́ không phải gây ra trong kiếp này mà thôi, những ǵ gây ra từ kiếp trước đều quên hết; tuy chúng ta quên rồi nhưng đối phương không quên cho nên việc này rất phiền phức. Phương pháp Phật dạy rất hay, chúng ta tu hành không phải v́ ḿnh, v́ ḿnh th́ là tự tư tự lợi, oan gia chủ nợ sẽ đến gây phiền phức. Nếu bạn tu hành cho tất cả chúng sanh, trong đó bao gồm oan gia chủ nợ, oan nghiệp tức khắc có thể dẹp trừ hết.
Tất cả hành vi đều v́ chúng sanh, đoạn ác tu thiện không phải v́ ḿnh, phá mê khai ngộ đều không phải v́ ḿnh, thành Phật cũng không phải v́ ḿnh, cho đến sự sanh hoạt, ăn cơm, uống nước đều cũng không phải v́ ḿnh, ăn cơm uống nước là ḿnh phải lợi dụng thân thể này để phục vụ cho tất cả chúng sanh. Chỉ cần có tâm này tức là đă ‘hồi hướng’, được như vậy th́ hiệu quả sẽ rất rơ ràng. Nói một cách khác, chi phiếu ‘không đầu’ th́ vẫn là tự tư ích kỷ. Tất cả đều v́ chúng sanh mà không v́ cá nhân ḿnh, đó là tâm hồi hướng, đó là giải oan và tháo mở gút mắc, được như vậy sẽ không viết chi phiếu không lănh được tiền.
Cho nên chúng ta phải mở rộng tâm lượng giống chư Phật Bồ Tát vậy; ‘tâm bao thái hư, lượng châu sa giới’ (tâm bao trùm hư không, lượng biến khắp thế giới), tâm lượng lớn th́ phước lớn, tâm lượng nhỏ th́ phước báo sẽ nhỏ, phải hiểu đạo lư này. 21-90-37
Hỏi: Con cái được sanh ra trong lúc lo sợ và dằng co bên bờ sanh tử, có lẽ sau này sẽ làm cho nó thích những cảnh tượng ma quỷ, khủng bố, và chém giết. Xin hỏi con có thể chuyển nghiệp này không?
Đáp: Chuyển nghiệp hoàn
toàn tùy thuộc vào ḿnh, trước tiên phải chuyển
nghiệp của ḿnh trước rồi sau đó mới có
thể giúp đỡ người thân trong nhà. Đức Phật giúp đỡ chúng
sanh không giới hạn trong một đời mà là
đời đời kiếp kiếp. Trong đời này nghiệp
lực của nó quá mạnh, tự ḿnh không có năng
lực để chuyển trở lại, chúng ta cũng
vẫn phải giúp đỡ nó.
Nhưng biết trong đời này nó sẽ không thành
tựu th́ vẫn c̣n đời sau, cho nên phải kiên
nhẫn. Chúng ta đều
tận tâm tận lực giúp đỡ th́ ḿnh đă làm tṛn
trách nhiệm và bổn phận.
Nhưng không nên có bất cứ một kỳ vọng
nào đối với nó.
Nếu có kỳ vọng th́ bạn sẽ có rất
nhiều lo buồn, sẽ rất thất vọng. Điều này phải học chư
Phật Bồ Tát, tâm của Phật Bồ Tát vĩnh
viễn thanh tịnh, thật đúng là ‘quán sát nhập vi’ (quán
sát đến mức vi tế, tinh tường) 21-90-40
Hỏi: So với ‘pháp giới quỷ’ th́ tâm của ‘pháp giới người’ thanh tịnh hơn, xin hỏi tại sao loài quỷ có ngũ thông mà loài người không có?
Đáp: Loài quỷ có ngũ
thông là do [quả] báo mà được chứ không phải
do tu [hành] mà được.
Cơi trời có ngũ thông cũng từ [quả] báo mà được. Hai cơi người và súc sanh không có
ngũ thông th́ phải nhờ vào tu [hành] mà
được. Tu đức
và báo đức khác nhau, trong quyển Duyệt Vi Thảo
Đường Bút Kư của Kỷ Hiểu Lam và Liêu Trai Chí
Dị của Bồ Tùng Linh có rất nhiều chuyện
ngắn về vấn đề này. Thí dụ như hồ ly thuộc
về súc sanh đạo, hồ ly muốn tu thành thân
người phải trải qua 500 năm mới tu thành và
có ngũ thông. Ngũ thông
của loài súc sanh là nhờ tu mà được, có thể
biến hóa cũng là nhờ tu mà được, chứ
không phải có được từ quả báo. 21-90-42
Hỏi: Kinh Phật nói thọ mạng của loài người cách 100 năm th́ giảm một tuổi, tại sao gần đây y học tiến bộ và thọ mạng của người ta lại tăng lên? Xin hỏi có phải đức Phật thuyết pháp [như vậy] có ư nghĩa ǵ khác?
Đáp: Chúng ta không nên có hoài nghi đối với lời dạy của Phật. Nếu nhờ thuốc men mà thọ mạng của người có thể kéo dài ra th́ định luật nhân quả bị lật đổ rồi. Phật nói thọ mạng của người cách 100 năm giảm một tuổi, đây là tuổi thọ trung b́nh, không phải là của