Phát Khởi Bồ Tát
Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Lược Giảng, phần 1
(Nguyên văn:
Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh Giảng
Kư)
Cư sĩ
Truyền Tịnh chỉnh lư
Nguyên nhân rốt cuộc là do
đâu?
Đức Di
Lặc Bồ Tát từ bi phi thường, thay mặt chúng
ta khải thỉnh, mong Thế Tôn v́ chúng ta chỉ dạy
tường tận. Nếu như chúng ta thật sự
có thể y chiếu theo lời răn dạy trong kinh này,
chú tâm thể hội, phản tỉnh, sửa lỗi
đổi mới, quay đầu về bờ,
được như thế th́ pháp ḿnh tu, hạnh ḿnh hành
trong một đời quyết định được
thành tựu. Đấy chính là nhân duyên
giảng kinh lần này của chúng tôi. Do thời gian
hữu hạn, nên trong lần này, chúng tôi chỉ chọn
lấy những điểm trọng yếu trong kinh văn
để giới thiệu, xem nhiều lần sẽ hiểu
được, c̣n như những danh từ, thuật
ngữ thường được giảng tại
giảng đường, chúng tôi đều tỉnh
lược cả.
Trước khi
giảng kinh, trước hết sẽ giới thiệu
đơn giản về bộ kinh này. Bản
kinh này là một hội trong kinh Đại Bảo Tích; v́
thế, trước hết, tôi sẽ giới thiệu
sơ lược kinh Đại Bảo Tích.
Ngẫu Ích đại sư nói: “Bắt đầu từ Hoa Nghiêm, kết thúc tại Đại Niết Bàn”. Câu nói này bao quát toàn bộ bốn mươi chín năm giảng kinh thuyết pháp của đức Thích Ca Mâu Ni Phật. “Hết thảy pháp tạng Bồ Tát đều gọi là Phương Đẳng”. Thế nên phạm vi của Phương Đẳng rộng phi thường.
“Phương” là phương tiện. Trong nhà Phật thường nói: “Từ bi là gốc, phương tiện là cửa”. Hết thảy kinh pháp đức Phật nói đều là pháp phương tiện, chứ chân thật thuyết pháp chẳng thể nói ra. Luận về chân thật, thường nói: “Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”. Bởi thế pháp ǵ nói ra được đều là pháp phương tiện cả.
“Đẳng” là b́nh đẳng, ư nghĩa giống với chữ “B́nh Đẳng Giác” trong đề mục kinh Vô Lượng Thọ. Sở dĩ Phương Đẳng đại biểu toàn bộ Phật pháp là v́ xưa kia, Tổ Sư đại đức đem giáo pháp cả một đời của đức Thế Tôn chia thành năm thời kỳ. Phương Đẳng thuộc thời kỳ thứ ba, điều này có ư nghĩa đặc biệt.
“Nay trong pháp Đại Thừa, chọn riêng những pháp thích hợp với đại cơ gọi là Hoa Nghiêm bộ”. V́ thế, đối tượng của kinh Hoa Nghiêm là người căn tánh thượng thượng thừa, bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân Đại Sĩ nói trong kinh đó chính là đương cơ của Hoa Nghiêm. C̣n th́ “dung thông Không - Hữu”, Không - Hữu bất nhị, tánh tướng như một, những pháp nói như thế thuộc về Bát Nhă bộ. Ấy là do trí tuệ chân thật mới có thể thấu rơ chân tướng sự thật. “Khai Quyền hiển Tích” là Pháp Hoa. “Hiện diệt bàn Thường, gọi là Niết Bàn bộ”. Duyên giáo hóa của Phật Thích Ca Mâu Ni đă hết, thị hiện nhập Niết Bàn, di giáo tối hậu cảnh tỉnh chúng ta tu học phải hạ thủ chỗ nào. Những lời răn dạy ấy xếp vào bộ Niết Bàn. Đó là bốn giai đoạn của pháp Đại Thừa.
“Kỳ dư, dù Hiển hay Mật, hoặc đối Tiểu hiển Đại” (trái với Tiểu Thừa gọi là Đại Thừa) “hoặc dạy khắp nhân quả, sự lư, hạnh vị, trí đoạn của chư Phật, Bồ Tát” (Hạnh là tu hành, Vị là quả vị chứng đắc. Ví như năm mươi mốt địa vị Bồ Tát: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng... đều thuộc vào Vị. “Trí đoạn”: Trí là trí huệ, Đoạn là đoạn phiền năo, đoạn vô minh. Nói đến đoạn phiền năo th́ nhất định phải khai trí huệ; Định chỉ có công năng khuất phục phiền năo, chẳng thể đoạn nổi phiền năo) “đấy đều là bộ Phương Đẳng” (do đó, có thể biết là nội dung của Phương Đẳng rộng lớn phi thường), “chẳng giống như lời ngoa truyền trong đời, nói [thời Phương Đẳng] chỉ gồm tám năm”. Đấy là lời giảng thông thường về năm thời thuyết giáo, ư nghĩa hạn hẹp phi thường.
Chữ Phương Đẳng được giảng ở đây so ra chẳng giống với ư nghĩa được giảng trong tông Thiên Thai, [tôi giảng] chữ “Phương Đẳng” này bao quát hết thảy kinh giáo đức Thế Tôn đă nói trong bốn mươi chín năm. Nhân v́ kinh Đại Bảo Tích thuộc bộ Phương Đẳng nên trước hết, tôi giới thiệu sơ lược qua ư nghĩa của Phương Đẳng.
Kinh Đại
Bảo Tích có bốn mươi chín hội, gồm bảy
mươi bảy phẩm. Mỗi
một hội là một bộ kinh. Do đó có thể
biết là bộ kinh Đại Bảo Tích này giống
hệt như tụ tập các kinh tạo thành một
bản hợp tuyển vậy. Nội dung kinh rất phong
phú, người phiên dịch bộ kinh này cũng chẳng
phải là một người, mà do nhiều người
phiên dịch. V́ thế, các sư có vị phiên
dịch một hội, cũng có vị phiên dịch hai
hội, ba hội. Trước
đời Đường, chưa có ai tập hợp các
kinh này lại, nên chúng được lưu hành từng
bộ riêng rẽ. Kinh Vô Lượng
Thọ của Tịnh tông chúng ta cũng nằm trong kinh
Đại Bảo Tích, bản được phiên dịch
vào thời Đường là hội thứ năm của
kinh Đại Bảo Tích [mang tên] “Vô Lượng Thọ Hội”.
Ngài Bồ Đề Lưu Chí
đến Trung Quốc vào thời Vơ Tắc Thiên nhà
Đường. Ngài thấy đại bộ phận kinh
Đại Bảo Tích gần như đă được
phiên dịch ra nhưng chưa hoàn chỉnh. V́ thế,
một lần nữa Ngài lại đem những chỗ
người khác chú thích nhưng chưa phiên dịch,
dịch toàn bộ ra, cho nên Ngài dịch được ba
mươi sáu hội, gồm ba mươi chín quyển. Sau đó, đem các bản dịch của
những vị pháp sư khác (gồm hai mươi ba
hội, tám mươi mốt quyển) gộp vào gạn
lọc, tạo thành một bộ kinh Đại Bảo
Tích hoàn chỉnh. Tổng cộng bốn mươi chín
hội, một trăm hai mươi quyển, hiện
tại chúng ta có thể xem trong Đại Tạng Kinh, h́nh
như ở Đài Loan kinh này cũng có bản lưu hành
riêng. Đấy là toàn bộ kinh Đại
Bảo Tích.
* V́ sao gọi là Bảo Tích?
Có cách giải thích như sau:
“Pháp bảo tích
tập. Là pháp Đại Thừa thâm diệu
nên gọi là Bảo”. Bốn mươi
hội trong kinh này là bốn mươi chín bộ kinh,
mỗi một bộ đều thâm diệu chẳng
thể nghĩ bàn, v́ thế sánh ví với “Bảo”. “Vô lượng pháp môn gồm thâu trong đây”
cho nên gọi là “Tích”, Tích nghĩa là tụ tập. “Bảo
Tích Kinh Luận quyển một chép:”. Bảo Tích Kinh Luận là
sách chú giải kinh này, nhưng không c̣n toàn vẹn, chỉ có
bốn quyển, ai chú giải cũng không biết, đă
thất truyền, nhưng lời luận được
lưu trong Đại Tạng Kinh, sách này giải thích
đơn giản đề mục kinh. Sách ấy
viết: “Hết thảy các pháp sai biệt trong pháp
bảo Đại Thừa, kinh này gom sạch, nên gọi là
Bảo Tích”. Từ một câu này, chúng ta có
thể hiểu được đại khái ư nghĩa
của đề mục kinh này. Giới
thiệu giản lược về Phương
Đẳng và kinh Đại Bảo Tích thuộc
Phương Đẳng Bộ như thế.
Vừa rồi
giới thiệu người phiên dịch kinh rất
nhiều, chúng tôi bất tất giới thiệu từng
vị một, chúng tôi chỉ giới thiệu riêng ḿnh
vị tập đại thành là ngài Bồ Đề Lưu
Chí. “Bồ Đề Lưu Chí” là dịch âm
tiếng Phạn, “ở đây nói là Giác Ái”: phiên
dịch thành tiếng Trung Quốc là Giác Ái. Bồ-Đề
là Giác, Lưu Chí là Ái. “Người
“Sách Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 9
ghi:” Thích
Giáo Lục là mục lục kinh điển Phật giáo,
trong mục lục có lời giới thiệu đơn
giản cho mỗi kinh. “Sa-môn Bồ Đề Lưu Chí,
vốn tên là Đạt Ma Lưu Chi”: Tên Ngài vốn là
Đạt Ma Lưu Chi, Đạt-Ma là pháp, Lưu Chi
nghĩa là “hy hữu”. V́ thế, Ngài vốn có
tên là Pháp Hy Hữu. “Thiên Hậu đổi tên Ngài
thành Bồ Đề Lưu Chí”: Thiên Hậu là Vơ Tắc
Thiên. Đại khái, bà Vơ Tắc Thiên cho rằng ư nghĩa
cái tên của Ngài không hay, nên dốc tâm huyết ra
đổi tên cho Ngài, đổi thành Giác Ái. “Tiếng
Đường là Giác Ái, người
IV.
GIỚI THIỆU ĐẠI LƯỢC BẢN KINH NÀY
Tiếp đây, tôi
sẽ giảng về nội dung bản kinh, cũng
chỉ giới thiệu đại lược.
Kinh này thuộc
quyển chín mươi mốt và chín mươi hai của
kinh Đại Bảo Tích. V́ thế, kinh
văn có hai quyển Thượng và Hạ, quyển
Thượng là quyển chín mươi mốt, quyển
Hạ là quyển chín mươi hai. [Trong kinh
Đại Bảo Tích ghi là] “Phát Thắng Chí Nhạo
Hội đệ nhị thập ngũ,
Tam Tạng Pháp Sư Bồ Đề Lưu Chí phụng
chiếu dịch”. Trong đó, chữ “chiếu”
chỉ thánh chỉ của Vơ Tắc Thiên, Sư tuân mạng
lệnh của Hoàng Đế mà phiên dịch. “Sách
Duyệt Tạng Tri Tân đem nội dung toàn kinh chia ra làm
mười lăm đoạn”: Duyệt Tạng Tri Tân
là tác phẩm của đại sư Ngẫu Ích. Ngẫu Ích đại sư đem toàn bộ kinh
này chia thành 15 đoạn, nội dung mỗi đoạn
được giới thiệu như dưới đây.
Đoạn
thứ nhất, “Phật ở tại Lộc Uyển,
cùng một ngàn tỳ kheo, năm trăm Bồ Tát cùng nhóm”.
Đoạn trên đây thuộc về Tự Phần đi
trước Chánh Tông Phần. Phần này trong Duyệt
Tạng Tri Tân không nhắc đến, ở đây nhân v́
giảng bộ kinh này, để tiện theo dơi, chúng tôi
thêm vào, lại chia kinh thành ba phần lớn. Đoạn
thứ nhất và đoạn thứ hai thuộc Tự
Phần.
Đoạn thứ nhất là Thông
Tự, đoạn thứ hai là Phát Khởi Tự. Trong
đoạn thứ hai: “Có các Bồ Tát nghiệp
chướng sâu nặng, nghi hoặc thoái chuyển. Di
Lặc Bồ Tát an ủi khiến
họ vui mừng”. V́ thế, đây là
đầu mối để hiểu được bộ
kinh này sẽ nói những ǵ, đoạn này đối
với người học Phật hiện thời của
chúng ta trọng yếu phi thường. Chúng ta đích
thực là các Bồ Tát ngu si nghiệp
chướng sâu nặng đấy! Tất cả mọi
người đă thọ Bồ Tát giới đều là
Bồ Tát, dẫu đă thọ Bồ Tát giới nhưng vẫn
rất ngu si! Đó chính là
điều kinh này nhắc đến.
Đoạn thứ ba thuộc
về Chánh Tông Phần. “Có mười sáu người
theo lời khuyên đến chỗ Phật”: thuận
theo lời khuyên bảo của Bồ Tát Di Lặc,
mười sáu người theo chân Di Lặc Bồ Tát
đến gặp đức Phật Thích Ca Mâu Ni, sau khi
thấy được Phật họ rất hổ
thẹn, thiện căn phát khởi, “gieo ḿnh xuống
đất buồn khóc”. Phật an ủi họ, bảo
họ đứng dậy, thuật lại ác nghiệp
phỉ báng pháp sư xưa kia của họ nên họ
nhiều đời nhiều kiếp chịu khổ,
tương lai khi nghiệp báo đó tận, nhất
định sẽ sanh về Tây Phương Cực Lạc
thế giới. Do đấy có thể biết là bọn
họ trong nhiều đời nhiều kiếp
trước đă từng học qua pháp môn Tịnh
Độ, đều niệm đức Phật A Di Đà, chỉ v́ nghiệp chướng
quá nặng nên chẳng thể văng sanh, ở trong lục
đạo chịu hết nỗi khổ.
Đoạn thứ tư: “Khi
ấy, các Bồ Tát liền phát mười ba hoằng
thệ, Phật khen ngợi ấn khả”: Mười
sáu vị Bồ Tát ấy thật là hy hữu, ít
người được vậy, bọn họ nghe
Phật chỉ dạy bèn chân chánh sám hối, hồi
đầu sửa lỗi đổi mới, phát
mười ba hoằng thệ. Đức
Phật nghe xong rất khen ngợi họ.
Đoạn thứ năm: “Nhân
đấy, Di Lặc Bồ Tát bèn hỏi trong đời
mạt, Bồ Tát thành tựu mấy pháp th́ được
an ổn độ thoát”. Vấn đề này rất trọng yếu.
Thời kỳ Mạt Pháp chính là thời
đại của chúng ta. Hiện tại chúng ta nên
thành tựu bao nhiêu pháp th́ mới có thể an
ổn thoát ly lục đạo luân hồi, thoát ly biển
khổ sanh tử.
Đoạn
thứ sáu, “Phật đáp dùng hai loại bốn pháp”.
Hai loại “bốn pháp” này từ đoạn
thứ sáu đến đoạn thứ bảy. Trong loại thứ nhất, “chẳng t́m
lỗi người khác” là điều thứ nhất; “cũng
chẳng cử tội người” là điều
thứ hai; “ĺa lời thô, keo kiệt, người ấy
sẽ giải thoát”. Trong thời
kỳ Mạt Pháp, bốn điều này tối trọng
yếu, nhất định phải tuân thủ, phải làm
cho được. Phật nói bốn
pháp ấy xong, lại nói ra bốn pháp khác, đó là
đoạn thứ bảy. “Hăy bỏ
sự biếng nhác” là điều thứ nhất; “xa
ĺa các ồn náo” là điều thứ hai; ưa thích
chỗ náo nhiệt là điều chướng ngại
rất lớn. “Tịch tĩnh,
thường tri túc”, vâng giữ bốn pháp này “người
ấy sẽ giải thoát”. Đoạn này dạy
chúng ta tu hành trong thời kỳ Mạt Pháp phải có
đủ hai loại “bốn pháp” này, tức là đủ
tám pháp mới có thể yên ổn tu học đạt
hiệu quả, đạt được mục tiêu tu
học.
Đoạn
thứ tám, “tiếp đó, kinh dạy lúc hành pháp thí, tâm
không mong cầu sẽ thành hai mươi điều
lợi, lại thành hai mươi điều lợi
nữa”. Hai thứ “hai mươi điều
lợi” này cộng thành bốn mươi thứ lợi
ích, phải dùng tâm không mong cầu để tu hành pháp
bố thí mới có thể đạt được!
Đoạn
thứ chín thuyết minh các lỗi lầm, ác nghiệp trong
thời kỳ Mạt Pháp, hoàn toàn là nói về những
hiện trạng xă hội cũng như t́nh trạng
của bọn người tu hành chúng ta. Đọc
xong đúng là rét buốt tận xương! Đức
Thế Tôn cách xa chúng ta ba ngàn năm, ba ngàn năm
trước Ngài đă thấy rơ ràng t́nh trạng tu hành
hiện tại của chúng ta, thật có thể nói là nhân
duyên quả báo chẳng sai sót mảy may!
Đoạn
thứ mười nói về “tướng trạng
bất đồng giữa huệ hạnh Bồ Tát và
sơ nghiệp Bồ Tát”. Chữ “huệ hạnh Bồ
Tát” này chúng ta phải hiểu rơ, nếu không hiểu
được nhất định sẽ không học ǵ
khác được! Thế nào là “huệ
hạnh?”
Khai mở trí
huệ, trong nhà Thiền gọi là “đại triệt
đại ngộ, minh tâm kiến tánh”, trong pháp
Đại Thừa ta thường gọi là Pháp Thân
Đại Sĩ. Pháp Thân Đại Sĩ mới là huệ
hạnh Bồ Tát. Cũng như
những bậc thường được xưng
tụng là “phá một phần vô minh, chứng một
phần Pháp Thân”, người như vậy mới là
huệ hạnh Bồ Tát, chưa đạt đến
địa vị ấy th́ chẳng phải là huệ
hạnh Bồ Tát. Nhân v́ những hành vi,
biểu hiện của huệ hạnh Bồ Tát rất
đặc thù, chúng ta chẳng học đ̣i nổi.
Nếu học theo, họ sanh lên
trời, ta bị đọa địa ngục. Đối với điểm này, đức
Phật giảng rất rơ ràng, rất minh bạch.
Đoạn thứ mười
hai thuyết minh “sơ nghiệp Bồ Tát phải nên quán
sát cái họa lợi dưỡng”. Sơ Nghiệp là
sơ học Bồ Tát, chúng ta hiện đang thuộc giai
đoạn này, nhất định phải hiểu rơ
họa hại của lợi dưỡng, chỉ cần
vướng chút lợi dưỡng th́ chẳng những
đạo nghiệp chẳng thể thành tựu mà nhất
định c̣n bị nó lôi vào A Tỳ địa ngục!
Học Phật chẳng thành Phật, ngược lại
bị đọa vào A Tỳ địa ngục,
đấy chẳng phải là điều Phật, Bồ
Tát mong trông thấy. Nhưng trong thời
kỳ Mạt Pháp, người như vậy nhiều
lắm lắm. Bởi vậy,
đoạn kinh văn thuyết minh họa hại của
lợi dưỡng này rất dài.
Đoạn thứ hai là “cũng
nên quán sát ồn náo có hai mươi lỗi, lời lẽ
thế gian có hai mươi lỗi”. Đến
phần sau tôi sẽ nói chi tiết cho quư vị. “Ngủ
nghê có hai mươi lỗi, các việc có hai mươi
lỗi”. Chữ “các việc” ở đây chỉ các
thứ sự việc chẳng liên quan đến việc
tu hành, hiện tại rất phổ biến vậy!
Mọi người quên hết cả
rồi! Bách Trượng đại sư đă từng
nói: “Phật môn do vô sự mà hưng vượng”.
Đạo tràng thế nào là hưng vượng? Vô sự
gọi là hưng vượng. Sự việc quá nhiều,
hương hỏa tưng bừng, tín
đồ quá đông, đấy là tướng suy sụp
của Phật môn chứ chẳng phải là tướng
hưng thạnh. V́ sao vậy? Chẳng có ai thành tựu hết. Người tuy đông nhưng không có một
người nào khai ngộ, không ai chứng quả, thậm
chí không một ai có thể văng sanh th́ thạnh vượng
ở đâu? Chúng ta phải nhận thức rơ ràng
điều này!
Trong đoạn
thứ mười ba, Phật dạy “chẳng tu các
hạnh, chẳng đoạn phiền năo, chẳng tập
thiền tụng, chẳng cầu đa văn th́ chẳng
phải là người xuất gia!” Đấy là
xuất gia chỉ có h́nh thức, chứ thật sự ra chư Phật Như Lai chẳng thừa
nhận kẻ ấy là đệ tử xuất gia.
Đoạn thứ
mười bốn thuyết minh hư luận có hai mươi
lỗi họa.
Cuối phần Chánh Tông,
thuyết minh phát mười thứ tâm có thể sanh về
thế giới Cực Lạc. V́ thế, tối hậu
bộ kinh này cũng dẫn dắt về Cực Lạc.
Chúng ta mong quyết định được sanh về
Tịnh Độ của đức Di Đà trong một
đời này nên đối với chúng ta, bộ kinh này
cũng trọng yếu phi thường!
Cuối cùng, đoạn thứ
mười sáu là Lưu Thông Phần. Trong sách Duyệt
Tạng Tri Tân của Ngẫu Ích đại sư chỉ
giảng đến đoạn thứ mười lăm,
sau đấy lại có một đoạn là phần
Lưu Thông của kinh này. Trên đây tôi đă
nói cho quư vị biết sơ lược đại ư kinh
này.
IV.
LƯỢC GIẢI KINH VĂN
A.
TỰ PHẦN
1.
Phật tại Lộc Uyển, năm trăm tỳ-kheo,
năm trăm Bồ Tát cùng nhóm
Chánh kinh:
Như thị ngă văn: Nhất thời Phật
tại Ba Ly Nại thành, tiên nhân trụ xứ, thi Lộc
Uyển trung.
(Tôi nghe như thế này, một
thời Phật ở tại thành Ba Ly Nại, ngự trong
Lộc Uyển là chỗ trụ của tiên nhân).
Đây là năm
thứ thành tựu đầu trong Lục Chủng Thành
Tựu; tôi nghĩ chúng ta có thể tỉnh lược.
Ở đây, xứ sở là Lộc Dă
Uyển, một nơi thường được
nhắc đến. Tôi nghĩ trong
số các vị đồng tu chúng ta cũng có một vài
vị đă đến thăm Ấn Độ,
đến Ấn Độ triều thánh. Nếu vậy, đă đến thăm các danh
thắng cổ tích Phật giáo. Vườn
Lộc Dă là một địa điểm trọng yếu,
ban sơ đức Thích Ca Mâu Ni Phật độ năm
vị tỳ-kheo ngay tại ấy. Sau
này, chỗ ấy kiến lập thành tinh xá, Phật
cũng giảng khá nhiều kinh điển tại nơi
ấy.
Chánh kinh:
Dữ đại tỳ kheo
chúng, măn túc thiên nhân. Phục hữu ngũ
bách chư Bồ Tát chúng.
(Cùng chúng đại tỳ kheo
đủ cả một ngàn vị, lại có năm trăm
vị Bồ Tát).
Đây là Chúng Thành
Tựu.
Lúc ấy, tham gia pháp hội có một ngàn
năm trăm người.
2.
Có các Bồ Tát nghiệp chướng sâu nặng,
đầy đẫy hạnh bất thiện, nghi hoặc
thoái chuyển, Di Lặc Bồ Tát an
ủi khiến họ vui mừng
Đây là
đoạn thứ hai, chính là Phát Khởi Tự của kinh
này.
Chánh kinh:
Thị thời chúng trung,
đa hữu Bồ Tát.
(Lúc ấy trong chúng có
nhiều vị Bồ Tát).
Câu này nói về đa số
trong năm trăm vị Bồ Tát. Do vậy biết
rằng, những vị Bồ Tát ấy chẳng phải
là tầm thường, họ đa phần là cổ
Phật tái lai, cố ư thị hiện như thế
nhằm tạo cơ hội cho Di Lặc Bồ Tát
đến thỉnh pháp để Thích Ca Mâu Ni Phật
răn dạy chúng ta. Những lỗi các ngài phạm chính là
những lỗi bọn người hiện tại chúng ta
đang phạm, các vị chỉ đến biểu
diễn, ḷng từ bi đến mức cùng cực vậy! Bọn họ mắc những lầm lỗi ǵ?
Chánh kinh:
Nghiệp chướng thâm
trọng, chư căn ám độn.
(Nghiệp chướng sâu nặng, các
căn ám độn).
Câu này là lời
thuật tổng quát. Nói gọn một câu là nghiệp
chướng nặng nề! Nghiệp là ǵ?
Nói theo ngôn ngữ hiện đại,
Nghiệp là hoạt động, tạo tác. Hoạt
động ấy chướng ngại trí huệ
đức năng sẵn có của tự tánh nên gọi là
“nghiệp chướng”. Nghiệp
chướng ấy rất sâu, rất nặng, cho nên trí
huệ đức năng của chúng ta chẳng hiện ra
được.
[Trong câu] “các
căn ám độn”, chữ “các căn” chỉ sáu
căn. Sáu căn chẳng thông minh, mắt tuy vẫn có
thể thấy nhưng lắm việc nh́n lầm, tai tuy vẫn có thể nghe nhưng ư nghĩa
đúng đắn chẳng nghe ra. Nhóm chữ này chỉ
căn tánh chẳng lanh lợi. Tiếp theo
đây kinh nói mười hai câu, mười hai câu này là
nội dung của bản kinh này. Ở
phần sau, với mỗi một điều Phật
sẽ giảng tường tận cho chúng ta.
Điều thứ nhất là:
Chánh kinh:
Thiện pháp vi
thiểu
(Thiện pháp ít
ỏi).
Thế nào là “thiện căn”?
Thiện căn pháp thế gian, không tham, không sân, không si.
Chúng ta hăy nghĩ xem là ḿnh có hay không có [thiện căn].
Nếu như chúng ta tham sân si đều đầy
đủ cả th́ căn bản là chúng ta không có thiện
căn. Bọn họ vẫn có thiện căn, nhưng thiện
căn ít ỏi; chúng ta không có thiện căn; làm sao
biết vậy? Thiện căn của Bồ Tát là tinh
tấn, c̣n chúng ta mỗi ngày càng giải đăi, biếng
nhác, tán loạn.
Chánh kinh:
Háo ư hội náo
(Ưa nơi náo nhiệt)
Ở đây,
“hội” là “hôn hội” chúng ta thường nói là hồ
đồ. “Hội náo” nghĩa là ồn náo
lộn xộn. Các vị có biết
nơi nào là ồn náo lộn xộn chăng? Chính là
những chốn ăn chơi có khá
nhiều trong xă hội hiện tại: ca xướng, khiêu
vũ, đấy là những chỗ ồn náo lộn
xộn. Bọn họ ưa thích những
chỗ ấy.
Chánh kinh:
Đàm thuyết
thế sự.
(Bàn nói thế
sự).
Đây là câu thứ
ba.
Phạm vi bao quát của “thế sự”
rất rộng. Trong thế sự có cả tà
lẫn chánh. Thế nào là chánh?
Những điều Khổng Tử, Mạnh Tử nói là
chánh, đều là thế sự cả! Thế
sự bất hảo ư? Thế
sự chẳng thể thoát tam giới. Quư vị
phải hiểu rằng: Mục tiêu của Phật pháp là
dạy chúng ta liễu sanh tử, xuất tam giới. V́ thế, sự giáo dục của Nho giáo dẫu
tốt, có thể giúp chúng ta đạt được thân
người, thậm chí giúp chúng ta sanh thiên, nhưng
chẳng thể giúp chúng ta liễu sanh tử, thoát tam
giới.
“Thế sự” là ǵ? Là
mọi việc trong lục đạo. Vui
vẻ bàn nói những chuyện ấy. Ngày
nay người ngoại quốc bàn đến khoa học,
kỹ thuật cũng là thế sự. Họ
luận đến chuyện vượt ngoài hư không,
nhưng ngoài hư không vẫn là trong luân hồi lục
đạo, vẫn chưa vượt thoát luân hồi
lục đạo. Thế sự có chánh,
có tà. Tà là đọa ba ác đạo,
Chánh là ba thiện đạo.
Điều thứ tư là ưa thích
ngủ nghỉ, ham ngủ. Điều thứ năm là:
Chánh kinh:
Đa chư hư
luận
(Lắm điều hư luận)
Phạm vi của “hư
luận” cũng rộng răi phi thường; như thông
thường chúng ta nói giỡn chơi, đều gọi
là hư luận.
Chánh kinh:
Quảng doanh chúng
vụ.
(Rộng lo liệu
các việc).
Trong xă hội
hiện tại, hiện tượng này rất nhiều. “Doanh”
là kinh doanh, “vụ” là sự vụ. “Quảng”
là nhiều. Tôi vừa mới nhắc qua, Bách
Trượng thiền sư từng nói: “Phật môn
lấy vô sự làm hưng vượng”; há nên đa
sự? Thế nào là đa sự? Nêu
một thí dụ phổ biến để nói, pháp hội
là đa sự, huống ǵ những chuyện khác! Điều này trong phần sau đức Phật
sẽ giảng rộng, quư vị nhất định
phải hiểu sâu xa ư Phật.
Tu học Phật pháp
là ǵ?
Đề mục kinh Vô Lượng Thọ đă cho chúng ta
biết: “Thanh tịnh, b́nh đẳng, giác”. Làm nhiều việc quá th́ tâm sao thanh tịnh
được? Thù tạc quá nhiều, chẳng
thể thanh tịnh được! Sự
vụ quá nhiều chẳng thể b́nh đẳng
được. Mỗi ngày từ sáng đến
tối mê hoặc điên đảo, làm sao có thể giác
ngộ cho được? Đấy chính là
lỗi hại của việc “quảng doanh chúng vụ”.
Đấy là câu thứ bảy.
Chánh kinh:
Chủng chủng tham
trước.
(Tham chấp các thứ)
Câu này phạm vi
rất lớn. Tiếng tăm, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, buông xuống
chẳng được! Đây là câu thứ
tám.
Chánh kinh:
Vi sở bất
ưng.
(Làm điều chẳng nên làm)
Những điều họ làm
đều là điều chẳng nên làm, đều là
điều Phật chẳng cho phép, họ cứ nhiều
phen tạo tác. Đây là câu thứ chín.
Chánh kinh:
Vọng thất chánh
niệm.
(Hư vọng mất chánh niệm)
Vọng là hư
vọng.
Suốt ngày hư vọng nên chánh niệm
bị mất. Đây là câu thứ
mười.
Chánh kinh:
“Tà huệ” như trong nhà
Phật thường bảo là thế trí biện thông,
chẳng phải là chân trí huệ. Đây
là câu thứ mười một.
Chánh kinh:
Hạ liệt tinh
cần.
(Siêng gắng hèn kém).
Bọn họ cũng rất nỗ lực, một
ngày từ sáng đến tối chẳng nghỉ ngơi,
dù bận vẫn vui. Bận bịu những
ǵ? Bận bịu với sự
nghiệp tam đồ. Chữ “hạ” chỉ ba ác
đạo, chẳng phải ba thiện đạo! “Hạ liệt” nghĩa là ǵ? Vướng tham sân si, tranh danh đoạt lợi,
bọn họ dũng mănh tinh tấn làm những việc
như thế. Câu cuối cùng là:
Chánh kinh:
Hành mê hoặc
hạnh.
(Làm hạnh mê hoặc)
Đây là hiện
tượng bao gồm cả tại gia lẫn xuất gia
trong cửa Phật vào thời Mạt Pháp này. Nếu như chúng ta
thật sự chăm chú phản tỉnh, [sẽ thấy
là] nếu mắc căn bệnh này th́ bất luận
đang tu học pháp môn nào cũng đều chẳng thể
thành tựu, niệm Phật cũng chẳng thể văng
sanh. Điều kiện để văng sanh là
tâm phải thanh tịnh - “tâm tịnh th́ cơi nước
tịnh”. Tây Phương thế giới là Tịnh
Độ, chẳng phải là uế độ! V́ thế tâm chẳng thanh tịnh, làm sao văng sanh
được? Mê hoặc là chẳng thanh tịnh,
chẳng ứng hợp Tịnh Độ. Tụng kinh cho
nhiều, niệm Phật cho lắm th́ cũng như
lời cổ nhân nói: “Long hầu rách họng vẫn
uổng công!”, chỉ có thể kết duyên lành với
Tịnh Độ chứ chẳng thể văng sanh ngay trong
một đời!
Sự việc như
vậy có ǵ là lạ, chẳng biết là trong đời quá
khứ chúng ta đă làm như thế bao nhiêu lần. Chúng ta
có nhân duyên rất sâu xa với Tây Phương Tịnh
Độ, v́ sao chẳng thành tựu? Nói chung là v́ phạm
phải những lầm lỗi ấy. Đời
đời kiếp kiếp quá khứ phạm phải
những lầm lỗi ấy nên niệm Phật mà
chẳng thể văng sanh. Đời này
gặp được bản kinh này, đấy là nhân duyên
hy hữu. Thử nghĩ nếu lại
phạm những lỗi ấy th́ một đời này
ắt phải luống uổng. Nếu
quả thật có thể thường tích cực phản
tỉnh, sửa lỗi đổi mới, quay đầu
là bờ th́ trong một đời này chúng ta quyết
định sẽ thành tựu.
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát Ma Ha
Tát tại ư hội trung, kiến chư
Bồ Tát cụ túc như thị bất thiện chư
hạnh.
(Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát
Ma Ha Tát ở trong hội thấy các Bồ Tát đầy
đủ các hạnh bất thiện như thế).
“Cụ túc”: mười hai điều vừa nhắc
đến ở phần trên đều phạm đủ
cả, phạm toàn bộ. Ngài Di Lặc thấy
các Bồ Tát ấy có nhiều lầm lỗi như
thế.
Chánh kinh:
Tác thị niệm ngôn.
(Nghĩ như thế này)
Trong tâm Ngài suy
nghĩ.
Chánh kinh:
Thử chư Bồ
Tát ư vô thượng Bồ Đề, viên măn đạo
phần, giai dĩ thoái chuyển.
(Các vị Bồ Tát này đối
với vô thượng Bồ Đề, viên măn đạo
phần, đều đă lui sụt).
Cổ
nhân thường nói: “Người sơ phát tâm thành
Phật có dư”. Sơ Phát Tâm đều là phát thiện
tâm, hảo tâm, do nghiệp chướng sâu nặng, các
căn ám độn nên rất dễ bị thoái chuyển,
rất dễ bị mê hoặc, đặc biệt là [mê
hoặc] bởi danh tiếng, lợi dưỡng! Người sơ phát
tâm xuất gia không có ai cúng dường họ, cuộc
sống rất thanh bần, khổ sở, đạo tâm
rất kiên định. Tu hành
được mấy năm, có chút ít thành tựu, danh
tiếng, lợi dưỡng đưa tới, kẻ
ấy lại bị đọa lạc. Trong
có phiền năo, ngoài có dụ hoặc, làm sao không đọa
lạc cho được? V́ thế
đối với Vô Thượng Bồ Đề bèn thoái
chuyển. Di Lặc Bồ Tát thấy
xong bèn khởi tâm từ bi.
Chánh kinh:
Ngă kim
đương linh thị chư Bồ Tát giác ngộ
khai hiểu, sanh hoan hỷ tâm.
(Nay ta nên làm cho các Bồ
Tát này giác ngộ, hiểu biết, sanh ḷng hoan hỷ).
Di Lặc Bồ Tát đến
giúp đỡ các Bồ Tát ngu si ấy.
Ở đây, chúng ta phải chú ư: Thế nào là đại
từ đại bi? Thế nào gọi là
cứu tế bần khổ? Người
tu hành không có đạo, ấy là “bần”.
Người tu hành vẫn phạm những lầm lỗi y
như cũ, thật là “khổ”! Ở đây
Di Lặc Bồ Tát hành từ bi cứu tế. Ngài cứu tế các Bồ Tát điên đảo
mê hoặc đó, bảo họ “giác ngộ khai hiểu”,
nghĩa là phá mê khai ngộ. Giúp
đỡ hết thảy chúng sanh phá mê khai ngộ là
đại từ đại bi, là chân chánh cứu tế.
Chánh kinh:
Tác thị
niệm dĩ.
(Nghĩ như
vậy xong).
Di Lặc Bồ
Tát khởi lên ư niệm ấy xong.
Chánh kinh:
Tức ư bô thời, tùng
thiền định khởi.
(Liền sau giờ Ngọ,
từ thiền-định dậy).
“Bô thời”
là sau Ngọ, sau khi dùng Ngọ trai xong, Ngài từ thiền
định xuất.
Chánh kinh:
Văng đáo kỳ sở,
cộng tương úy vấn, phục dĩ chủng
chủng nhu nhuyễn ngôn từ, vị thuyết pháp
yếu, linh kỳ hoan hỷ.
(Đến
chỗ bọn họ cùng nhau an ủi, thăm hỏi,
lại dùng các lời lẽ mềm mỏng nói pháp yếu
khiến họ hoan hỷ).
Đích thực là Di Lặc
Bồ Tát rất có trí huệ, nói theo cách
chúng ta ngày nay là trí huệ cao độ! Ngài chẳng trách
móc bọn họ, mà đến an ủi họ, lời
lẽ nhu ḥa, dịu dàng an ủi họ khiến họ sanh
ḷng vui mừng, sanh hảo cảm đối với Bồ
Tát. Phải dùng cách khéo như vậy
để họ tiếp thọ lời dẫn dụ
của Ngài.
Chánh kinh:
Nhân cáo chi viết: “
(Nhân đó bảo rằng:“Này các nhân giả!”)
“
Chánh kinh:
Vân hà nhữ đẳng ư
vô thượng Bồ Đề viên măn đạo phần nhi đắc tăng trưởng, bất
thoái chuyển da?
(Các vị làm thế nào
để đối với vô thượng Bồ
Đề viên măn đạo phần được tăng
trưởng, chẳng thoái chuyển vậy?)
Lời hỏi rất khéo!
Chẳng trách móc họ phạm lỗi lầm, chẳng
trách họ thoái chuyển, trái lại Ngài hỏi:
Đối với vô thượng Bồ Đề viên măn
đạo phần, các vị có phương pháp nào làm cho nó
tăng trưởng, chẳng thoái chuyển hay chăng?
Chúng ta phải học tập điểm này: b́nh
thường đối người, đối sự,
đối vật phải nói năng thế nào để
thật sự giúp người giác ngộ, giúp người
sửa lỗi đổi mới, chẳng dùng lời
lẽ trách móc, mà phải dùng những lời quan hoài,
thương yêu, che chở, dùng phương pháp dẫn
dụ khơi gợi. Ở đây ta mới
thấy chỗ cao minh của Di Lặc Bồ Tát. V́ thế, lúc bọn họ nghe Ngài nói đều
rất hoan hỷ, vui vẻ tṛ chuyện với Ngài.
Các vị xem nhé!
Chánh kinh:
Thị chư
Bồ Tát đồng thanh bạch ngôn:
- Tôn giả! Ngă đẳng kim ư vô thượng Bồ Đề viên
măn đạo phần vô phục tăng trưởng, duy
hữu thoái chuyển.
(Các vị Bồ Tát ấy
đồng thanh thưa rằng:
- Thưa tôn giả! Chúng tôi nay
với vô thượng Bồ Đề viên măn đạo
phần chẳng c̣n tăng trưởng, chỉ có thoái
chuyển).
Những người ấy
đều thưa thật: Đối với vô
thượng Bồ Đề chúng tôi không tăng
trưởng, ngày càng lui sụt!
Chánh kinh:
Hà dĩ cố?
(V́ sao vậy?)
V́ sao chúng tôi ngày
càng lui sụt?
Chánh kinh:
Ngă tâm
thường vị nghi hoặc sở phú.
(Tâm tôi thường bị nghi
hoặc che phủ)
Tham, sân, si,
mạn, nghi. Nghi là phiền năo trọng
đại đối với Bồ Tát, là chướng
ngại nghiêm trọng đối với tu học. Bọn họ có nghi, có Hoặc. Hoặc là mê hoặc.
Chánh kinh:
Ư vô
thượng Bồ Đề bất năng giải
liễu.
(Đối
với vô thượng Bồ Đề chẳng thể
hiểu rơ).
Câu này ư nói bọn họ
nghiệp chướng sâu nặng, tuy thường nghe
Thế Tôn giảng kinh thuyết pháp, nghe xong chẳng
hiểu rơ chi mấy, chẳng những không thể liễu
giải, c̣n lắm phen nghe lầm lời Phật dạy,
hiểu lầm ư nghĩa. Lúc chúng ta khai kinh
kệ, niệm “nguyện giải Như Lai chân thực
nghĩa”. Bọn họ hiểu
lầm ư nghĩa chân thật của Như Lai, hiểu cong
quẹo ư nghĩa lư chân thật của đức Như
Lai. Ấy là tướng nghiệp chướng sâu
nặng, tiếp theo đây các vị nói
rất rơ.
Chánh kinh:
Vân hà ngă đẳng
đương tác Phật da? Bất
tác Phật da?
(Vậy th́ chúng tôi
sẽ thành Phật ư? Chẳng thành
Phật ư?)
Đây là nêu lên một thí dụ cụ
thể để minh họa. Bọn họ thường hoài
nghi: Học Phật là tốt hay chẳng học Phật là
tốt? Thành Phật là tốt hay chẳng thành Phật là
tốt? Thường có vấn đề
như thế, đó là hoài nghi thiện pháp.
Chánh kinh:
Ư đọa lạc pháp diệc
bất năng liễu!
(Với pháp
đọa lạc cũng chẳng rơ được).
Tam đồ lục đạo, gieo
thiện nhân được thiện quả, tạo ác
nghiệp nhất định phải thọ ác báo. Phật cũng
đă giảng rất rơ ràng, nhưng họ đối
với điều ấy vẫn nghi hoặc!
Chánh kinh:
Vân hà ngă đẳng
đương đọa lạc da? Bất
đọa lạc da?
(Vậy th́ chúng tôi
sẽ đọa lạc ư? Chẳng
đọa lạc ư?)
Chúng tôi có bị đọa lạc hay
chăng?
Đọa lạc thật sự hay là chỉ đọa
lạc giả? Những nghi vấn ấy
thường xuyên hiện hữu.
Chánh kinh:
Dĩ thị nhân
duyên, thiện pháp dục sanh thường vị nghi
hoặc chi sở triền phú.
(Bởi nhân duyên ấy, thiện pháp
sắp sanh thường bị nghi hoặc ràng buộc, che
phủ)
Lẽ
đương nhiên là trong bất cứ thời
đại nào, bất cứ cá nhân nào chẳng thể không
có lấy một thiện niệm. Hết
thảy chúng sanh đều là thiện ác hỗn tạp, có
lúc thiện nhiều, ác ít, lại có lúc ác nhiều,
thiện ít nên mới h́nh thành lục đạo và
mười pháp giới. Bọn họ
sanh thiện niệm, nhưng chỉ v́ nghi hoặc nên lúc
hoài nghi th́ thiện chẳng thể h́nh thành, lúc đó
rất dễ thoái chuyển. Những
vị Bồ Tát này đều rất thành thật, rất
khó có. Nói theo ngôn ngữ hiện nay
là bọn họ c̣n tự biết rơ ḿnh, vẫn kể là
chưa lầm lạc! Dù có phạm lầm
lỗi, vẫn c̣n có thể cứu, v́ thế Di Lặc
Bồ Tát đến cứu bọn họ.
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát nhi cáo chi viết:
-
(Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát
bảo họ rằng:
- Các nhân giả! Nên cùng đến
chỗ Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri.
Đức Như Lai là bậc biết hết thảy,
bậc thấy hết thảy, thành tựu đầy
đủ trí vô chướng ngại, giải thoát tri
kiến, dùng sức phương tiện khéo biết sở
hạnh của hết thảy chúng sanh, Ngài sẽ v́ các ông
thuyết pháp các thứ tùy theo căn tánh).
Đây cũng là
điểm cao minh của Di Lặc Bồ Tát. Di
Lặc Bồ Tát chẳng thể thuyết kinh giảng pháp
cho họ ư? Đương nhiên là có
thể.
V́ sao Di Lặc Bồ
Tát chẳng thuyết pháp? Bởi v́ họ thuộc
vào địa vị Bồ Tát, chưa chắc bọn
họ đă tin tưởng vào lời giảng kinh
thuyết pháp của Ngài. V́ thế, Di Lặc Bồ
Tát giới thiệu: “Chúng ta đi gặp Phật”. Mọi người nghe đến Phật
đương nhiên chẳng dị nghị, chúng ta cùng nhau
đi đến chỗ Phật.
“Như Lai, Ứng
Cúng, Chánh Biến Tri” là ba thứ trong mười danh hiệu của
đức Như Lai, chúng tôi cũng không giải thích chi
tiết.
Câu “nhi bỉ Như Lai, nhất thiết tri giả,
nhất thiết kiến giả” là lời tán thán trí
huệ đức năng của Phật: không chi chẳng
biết, không ǵ chẳng thể! Ư nói: quả vị
Phật là thành tựu đầy đủ, chẳng có
một mảy ǵ thiếu khuyết. Trí huệ Phật
đầy đủ viên măn, Phật tự tại viên măn,
hơn nữa phương pháp của Phật hay khéo phi
thường. “Dùng sức phương
tiện” dạy dỗ chúng sanh khế cơ, khế lư.
Trước hết
nói “thành tựu đầy đủ trí vô chướng ngại,
giải thoát tri kiến”, đó là Lư. Phật thuyết
pháp khế lư! Lại nói “khéo biết sở hạnh
của hết thảy chúng sanh”: hết thảy chúng sanh
đời đời kiếp kiếp đă tạo nhân ǵ,
thọ quả báo ǵ, Phật đều biết cả, v́
thế thuyết pháp bèn khế cơ. Bọn họ
đến gặp Phật, nhất định đức
Phật sẽ tùy theo căn tánh của
mỗi người mà thuyết pháp các thứ. Ấy là khế cơ, khế lư.
Kinh văn chia làm ba phần: Phần Phát Khởi
đến đây là hết. Đó là một
đoạn lớn. Dưới đây là
phần mở đầu phần Chánh Tông của kinh,
phải nên đơn khởi một hạnh. Bản
kinh hiện thời tôi bảo thầy Ngộ Quảng sao
từ bản Tần Già Tạng ra, rồi lại dựa theo Đại Chánh Tạng phân thành
đoạn. Tiêu chuẩn phân đoạn trong Đại
Chánh Tạng có rất nhiều vấn đề, quư vị
cứ xem kinh văn th́ thấy ngay, quư vị xem kỹ th́
thấy bốn chữ (1) là một câu, cho nên đọc
tụng chẳng khó.
B.
CHÁNH TÔNG PHẦN
1.
Có mười sáu vị Bồ Tát nghe theo lời khuyên
đến chỗ Phật, gieo ḿnh xuống đất
buồn khóc, Phật an ủi bảo họ đứng
dậy, lại nói lỗi xưa: ác nghiệp phỉ báng pháp
sư, thọ nhiều nỗi khổ, về sau cũng sẽ
được văng sanh thế giới Cực Lạc
Chánh kinh:
Thị thời, ngũ bách chúng trung,
hữu thập lục Bồ Tát dữ Di Lặc Bồ Tát
văng nghệ Phật sở, ngũ thể đầu
địa, đảnh lễ Phật túc, bi cảm lưu
lệ, bất năng tự khởi. Di Lặc Bồ Tát tu
kính dĩ tất, thoái tọa nhất diện.
(Lúc ấy, trong số năm trăm
người có mười sáu Bồ Tát cùng Di Lặc Bồ
Tát đi đến chỗ Phật, năm vóc gieo xuống
đất, đảnh lễ dưới chân Phật, bi
cảm ứa lệ, chẳng thể tự đứng
lên. Di Lặc Bồ Tát kính lễ xong xuôi, lui ra ngồi
một phía).
Đương thời, trong hội có năm trăm
vị Bồ Tát, trong năm trăm người chỉ có
mười sáu vị nghe Di Lặc Bồ Tát bảo xong,
theo Di Lặc Bồ Tát đi gặp Thích Ca Mâu Ni Phật. Những
vị Bồ Tát vừa thuật lỗi ḿnh ấy
đều là đại quyền thị hiện. Khi Di Lặc Bồ Tát đem những vị
ấy đến trước đức Thế Tôn, sau khi
hành lễ hoàn tất, bèn lui ra ngồi.
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Phật cáo chư Bồ Tát ngôn:
-
(Lúc bấy giờ, đức Phật
bảo các Bồ Tát rằng:
- Các thiện nam tử! Các ông hăy đứng
lên, đừng có buồn khóc, sanh nhiệt năo lớn)
Sau khi chí tâm lễ kính, Di Lặc Bồ
Tát ngồi lui qua một bên, mười sáu vị Bồ Tát
ấy quỳ mọp dưới đất chẳng
đứng lên, sám hối như vậy rất khó ai
hơn! V́ thế, đức Phật thấy t́nh trạng
họ như thế bèn an ủi họ, bảo
bọn họ chớ nên bi thương, cũng đừng
có buồn khổ.
Ở đây có
một điểm thường thức, nhân tiện
bảo cho các vị luôn. Nếu như trong phần Chánh Tông
bắt đầu bằng câu “Nhĩ thời, Phật cáo
chư Bồ Tát...” th́ trong tựa kinh có thể thêm
chữ “Phật thuyết” thành ra “Phật thuyết Phát
Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo Kinh”; cũng
như nếu câu thứ nhất của phần Chánh Tông là
‘Phật nói’ th́ thông thường trên tựa đề kinh
để thêm chữ “Phật thuyết”. Nếu
câu thứ nhất chẳng phải là “Phật thuyết”
th́ tựa đề chẳng thêm chữ “Phật thuyết”.
Bởi thế, quả thật ở đây
phần Chánh Tông bắt đầu bằng “Nhĩ
thời, ngũ bách chúng trung hữu thập lục Bồ
Tát” nên không thêm chữ “Phật thuyết”. Đây là một điểm thường thức,
từ rày các vị xem kinh điển, thấy kinh th́
đề Phật thuyết, có kinh chẳng đề.
Tựa kinh không thêm chữ “Phật Thuyết” bèn gạn là
không phải là do Phật nói sao? Vẫn là do Phật nói, thêm
chữ “Phật thuyết” hay không là do câu thứ nhất
của phần Chánh Tông có hay không có chữ “Phật
thuyết”.
Phần khai thị
của Phật ở đoạn sau trọng yếu phi
thường, chúng ta phải nên cảnh tỉnh, kinh
sợ.
Chánh kinh:
Nhữ ư văng tích, tạo tác ác
nghiệp.
(Ông trong xưa kia,
gây tạo nghiệp ác).
Câu này là lời nói chung: Trong
đời quá khứ, các vị tạo ác nghiệp rất
nặng. Ác nghiệp ǵ vậy?
Chánh kinh:
Ư chư chúng sanh,
dĩ sướng duyệt tâm.
(Đối với các chúng sanh, dùng ḷng
vui sướng).
“Sướng duyệt tâm” là rất thống
khoái, rất sung sướng. Làm chuyện ǵ
vậy?
Chánh kinh:
Sân mạ hủy nhục,
chướng năo tổn hại.
(Nóng chửi hủy nhục, gây
chướng ngại, phiền năo, tổn hại).
Làm đến tám
việc. Đối với chúng sanh, bọn họ
chửi người, chửi người thật khoái trá,
gây tạo ác nghiệp như thế đó!
Chánh kinh:
Tùy tự phân
biệt.
(Theo ư ḿnh phân
biệt).
Chấp theo
tri kiến phân biệt của chính ḿnh, nói theo tiếng bây
giờ là “làm việc theo cảm t́nh, làm chuyện càn
bướng, chẳng đếm xỉa đạo lư!”
Chánh kinh:
Bất năng
liễu tri nghiệp báo sai biệt.
(Chẳng thể biết rơ
nghiệp báo sai khác)
Lúc tạo
những ác nghiệp ấy, bọn họ chẳng biết
những nghiệp ấy ắt có quả báo.
Chánh kinh: