Lược Giảng kinh Phát Khởi Bồ Tát Thù Thắng Chí Nhạo, phần 3

 

7. Tướng trạng bất đồng giữa huệ hạnh Bồ Tát và sơ nghiệp Bồ Tát

     

      Đoạn dưới đây thuyết minh Pháp Thân đại sĩ và sơ học Bồ Tát chẳng giống nhau.

     

      Chánh kinh:

      Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:

      - Thế Tôn! Như ngă giải Phật sở thuyết nghĩa, nhược chư Bồ Tát ư hậu mạt thế, ngũ bách tuế trung.

      (Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:

      - Bạch đức Thế Tôn! Như con hiểu nghĩa đức Phật đă nói, nếu các Bồ Tát vào đời mạt sau, trong năm trăm năm)

 

Đây là nói về những người học Phật chúng ta trong hiện tại, chẳng luận là xuất gia hay tại gia.

 

Chánh kinh:

Nhạo dục ly chư nghiệp chướng triền phược.

(Thích được ĺa các nghiệp chướng trói buộc)

 

Tiếp theo đây nói đến năm sự việc, điều thứ nhất là “hy vọng”. Chữ “nhạo” là yêu thích, là hy vọng. Chúng ta hy vọng thoát khỏi nghiệp chướng ràng buộc.

 

Chánh kinh:

Tự vô tổn hại, nhi đắc giải thoát.

(tự chẳng tổn hại mà được giải thoát)

 

Có thể trong quá tŕnh tu học của một đời này, chẳng bị tổn hại mà giải trừ được phiền năo, thoát ly sanh tử luân hồi.

 

Chánh kinh:

Thị nhân đương ư Bồ Tát hạnh trung thâm sanh tín giải.

(người ấy nên sanh tâm tin hiểu sâu xa đối với hạnh Bồ Tát)

 

Nếu như trong một đời này, quư vị mong đạt được hai mục tiêu; hai mục tiêu ấy thuần chánh phi thường. Nói theo cách bây giờ, mục tiêu thứ nhất là tiêu nghiệp chướng. Tôi nói “tiêu nghiệp chướng”, ai nấy đều hiểu, c̣n kinh nói là “thích được ĺa các nghiệp chướng trói buộc”. Mục tiêu thứ hai là liễu thoát sanh tử luân hồi. Nếu như quư vị học Phật, lấy điều này làm mục tiêu th́ trong phần sau, Bồ Tát sẽ giảng phải dùng tâm tư, thái độ như thế nào để tu hành. “Người ấy nên sanh tâm tin hiểu sâu xa đối với hạnh Bồ Tát”: kinh này giảng về hạnh Bồ Tát. Đối với những điều được giảng trong kinh này, quư vị phải sanh tâm tin hiểu sâu xa, phải tin tưởng, phải hiểu rơ nhé! Điều thứ nhất Phật dạy chúng ta trong kinh này là “chẳng t́m lỗi người khác, chẳng nêu lỗi người khác”; ở đây, Di Lặc Bồ Tát cũng nhắc lại:

 

Chánh kinh:

Ư tha quá thất, bất sanh phân biệt.

(Đối với lầm lỗi của người khác, chẳng sanh phân biệt)

 

Quư vị nói học Phật phải bắt đầu từ đâu?

Phải bắt đầu từ chỗ này. Chẳng vạch t́m lỗi người khác, chẳng muốn thấy lỗi người khác, chẳng muốn kể lỗi người khác, cứ bắt đầu từ đây! Ư nghĩa câu nói này nghĩ ra rất sâu xa. Là v́ căn bệnh lớn nhất của con người hiện thời là nói đến lầm lỗi của người khác: nhà họ Trương giỏi, nhà họ Lư dở. Chẳng chạm mặt nhau th́ thôi, hễ chạm mặt nhau toàn là kể xấu người khác, chớ hề kể tội chính ḿnh. Quư vị thấy đó: Phật đem việc này đặt làm điều đầu tiên nhằm để trị căn bệnh nặng của quư vị đấy. Nếu chẳng áp dụng cho khéo cách trị bệnh này, bệnh ấy hết cách cứu!

V́ thế bây giờ quư vị phải hiểu cho rơ: học Phật phải bắt đầu từ đâu? Chẳng nói đến lỗi người khác, phải bắt đầu từ đó. Căn bệnh tập khí này rất nặng, ngày ngày chú ư ḍ lỗi người khác, đó là tâm ǵ vậy? Tâm quư vị làm sao thanh tịnh cho được? Tâm chẳng thanh tịnh, niệm Phật chẳng thể văng sanh. Bởi vậy, điều đó chính là căn bệnh lớn đấy! Chúng ta đều coi thường, đều chẳng chú ư đến sự việc này. Hôm nay đọc đến bộ kinh này, suy nghĩ kỹ mới thấy có lư lắm chứ! Lại nhớ Lục Tổ từng nói: “Nếu ai chân thật tu đạo, chẳng thấy lỗi thế gian” mới thấy câu ấy hoàn toàn tương ứng với điều Phật giảng ở đây.

 

Chánh kinh:

Chí cầu Như Lai chân thật công đức.

(Chí cầu công đức chân thật của Như Lai)

 

Mục tiêu của bản thân chúng ta là ǵ? Là cầu công đức chân thật của Như Lai. Như Lai là ai? Là Chân Như bản tánh. Kinh Kim Cang giảng rất rơ ràng: Phàm nói đến “Như Lai” là từ tự tánh mà nói, c̣n nói “chư Phật” là từ h́nh tướng mà nói. Bởi vậy, chẳng nói là chí cầu công đức chân thật của chư Phật! Nếu nói “chư Phật” là nói đến bề ngoài, nói từ mặt Tướng; nói “Như Lai” là nói từ mặt Tánh; từ công đức chân thật của tâm tánh, tự tánh. Điều khai thị này rất trọng yếu vậy!

 

Chánh kinh:

Phật ngôn: “Như thị, như thị”.

(Phật nói: “Đúng như vậy, đúng như vậy”)

 

Di Lặc Bồ Tát thuyết pháp như thế, đức Thế Tôn ấn chứng cho Ngài, ấn chứng [điều Bồ Tát nói giống như] là Phật nói. Phật bảo những điều Bồ Tát Di Lặc nói hoàn toàn chính xác.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thị cố đương ư chư Bồ Tát đẳng phương tiện hạnh trung, thâm sanh tín giải.

(Này Di Lặc! V́ thế phải nên sanh ḷng tin hiểu sâu xa đối với các hạnh phương tiện của hàng Bồ Tát).

 

Phật ấn chứng cho Bồ Tát rồi, lại đặc biệt nhấn mạnh một điều: phải sanh ḷng tin hiểu sâu xa đối với hạnh Bồ Tát. Phần trên, Di Lặc Bồ Tát đă nói [điều này rồi], ở đây, đức Thế Tôn lại nhắc lại để chúng ta đoạn nghi sanh tín.

 

Chánh kinh:

Hà dĩ cố? Huệ hạnh Bồ Tát phương tiện chi hạnh, nan tín giải cố.

(V́ sao vậy? V́ khó tin hiểu nổi hạnh phương tiện của huệ hạnh Bồ Tát)

 

“Huệ hạnh” là Pháp Thân đại sĩ. Đối với họ, đức Phật nói “phiền năo tức Bồ Đề, sanh tử tức Niết Bàn”, chứ chẳng nói với ai khác. Hạnh phương tiện của họ rất sâu, ư nghĩa rất sâu, Thanh Văn, Duyên Giác, phàm phu đều chẳng thể lư giải được nổi. Chúng ta thấy đó: kinh này thường giảng những điều chẳng thể nghĩ bàn, hạnh của bọn họ thật chẳng thể nghĩ bàn.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thí như Tu Đà Hoàn nhân thị phàm phu hạnh.

(Này Di Lặc! Ví như bậc Tu Đà Hoàn thị hiện hạnh phàm phu)

 

Phật nêu một thí dụ: lấy địa vị tu hành chứng quả thấp nhất (Tu Đà Hoàn) để minh thị họ chẳng giống với chúng ta. Tu Đà Hoàn thị hiện làm phàm phu, giả vờ làm phàm phu, chứ họ chẳng phải thật sự là phàm phu đâu!

 

Chánh kinh:

Như thị phàm phu dữ Tu Đà Hoàn vị các sai biệt.

(Phàm phu như thế so với Tu Đà Hoàn địa vị sai biệt).

 

Nếu thật sự đem phàm phu đọ với Tu Đà Hoàn th́ sai biệt rất lớn.

 

Chánh kinh:

Phàm phu ngu nhân dĩ tham, sân, si chi sở triền cố, đọa chư ác đạo.

(Kẻ phàm phu ngu muội bị tham, sân, si trói buộc nên đọa vào các ác đạo)

 

Kẻ phàm phu ấy cả ngày từ sáng đến tối khởi tâm động niệm: tham, sân, si, mạn; học Phật cũng là tham, sân, si, mạn; thậm chí xuất gia vẫn cứ tham, sân, si, mạn; giảng kinh thuyết pháp cũng là tham, sân, si, mạn. Phần trước chẳng đă nói qua rồi đó sao? Cúng dường, cung kính nhiều th́ tiếng giảng sang sảng; cúng dường ít th́ chẳng muốn giảng nữa, chỉ gấp rút muốn đi. Toàn là gây tạo tham, sân, si, mạn thôi! Tương lai sẽ đi về đâu? Đọa trong các ác đạo! Đó là phàm phu đấy!

 

Chánh kinh:

Nhi Tu Đà Hoàn ư tham, sân, si, thiện năng liễu đạt; chung bất đọa lạc tam ác đạo nhĩ!

(Nhưng Tu Đà Hoàn đối với tham, sân, si khéo có thể liễu đạt, rốt cuộc chẳng bị đọa lạc trong ba ác đạo)

 

Ḿnh làm sao sánh với các bậc thượng nhân ấy được! Tiểu Thừa Sơ Quả chưa đoạn tham, sân, si. Phật đă giảng rất rơ ràng: Tiểu Thừa Tu Đà Hoàn đă đoạn tám mươi tám phẩm Kiến Hoặc trong tam giới, nhưng tám mươi mốt phẩm Tư Hoặc hoàn toàn chưa đoạn, họ vẫn có đủ tham, sân, si. Nhưng dù có đủ tham, sân, si, họ đă liễu đạt, đă hiểu rơ; cho nên dù có ư niệm tham, sân, si, họ cũng chẳng bị đọa trong tam ác đạo. Bản lănh của họ là đây! Chúng ta đối với tham, sân, si, mạn mê hoặc chẳng giác, họ đối với tham, sân, si là giác chẳng mê. Do giác chẳng mê nên bèn có năng lực chẳng đọa tam ác đạo. Nêu một thí dụ rơ ràng như thế. Phàm phu c̣n không hơn nổi Tu Đà Hoàn, huống hồ là huệ hạnh Bồ Tát! Huệ hạnh là Pháp Thân đại sĩ đấy!

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Huệ hạnh Bồ Tát diệc phục như thị, ư tham, sân, si tập khí vị đoạn.

(Này Di Lặc! Huệ hạnh Bồ Tát cũng giống như thế: Chưa đoạn tập khí tham, sân, si)

 

Huệ hạnh Bồ Tát phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, đă đoạn tham, sân, si; xác thực là chẳng c̣n [tham, sân, si], đă đoạn phiền năo Kiến - Tư, đă đoạn Trần Sa - Vô Minh. Dù đă đoạn, họ vẫn c̣n có chút tập khí chưa đoạn. Điều này chẳng trở ngại chi. Chữ “tập khí” chẳng dễ hiểu chi lắm, cổ nhân có nêu thí dụ sau đây cho chúng ta dễ hiểu: Ví như cái b́nh đựng rượu, rượu đă cạn sạch sành sanh, một giọt cũng chẳng c̣n, mặt trong b́nh đă được chùi sạch bóng, đích thực chẳng có ǵ hết, vẫn nghe thoảng chút mùi rượu. Đó gọi là “tập khí”. Trong thực tế, huệ hạnh Bồ Tát thật sự đă đoạn sạch rồi, xác thực là chẳng c̣n có [tham, sân, si], nhưng vẫn c̣n có chút tập khí.

 

Chánh kinh:

Bỉ diệc biệt dư sơ nghiệp Bồ Tát.

(họ cũng khác với các sơ nghiệp Bồ Tát khác)

 

Họ cũng chẳng giống với các sơ nghiệp Bồ Tát.

 

Chánh kinh:
      Hà dĩ cố? Kỳ tâm bất vị phiền năo sở phú, bất đồng sơ nghiệp chư Bồ Tát đẳng, độn hạnh Bồ Tát vô hữu thiện xảo, đồng chư phàm phu bất năng xuất ly.

(V́ sao vậy? Tâm họ chẳng bị phiền năo che lấp, chẳng giống như những hàng sơ nghiệp Bồ Tát, độn hạnh Bồ Tát chẳng có thiện xảo, giống như phàm phu chẳng thể xuất ly).

 

Huệ hạnh Bồ Tát tập khí chưa đoạn, nhưng đă thật sự đoạn sạch phiền năo rồi, xác thực chẳng có phiền năo. Các ngài chẳng giống sơ nghiệp Bồ Tát. Chữ “biệt” ở đây nghĩa là sai biệt, chẳng tương đồng. V́ sao? “Tâm họ chẳng bị phiền năo che lấp”. “Phú” là chướng ngại. Phiền năo chẳng c̣n gây trở ngại cho họ được nữa, bởi thế họ khác với sơ nghiệp Bồ Tát.

“Độn hạnh Bồ Tát” là Bồ Tát độn căn, tức là hàng Bồ Tát không có trí huệ như kinh đă nói. Sơ học Bồ Tát và Bồ Tát không có trí huệ giống hệt như phàm phu. “Không có thiện xảo, giống như phàm phu chẳng thể xuất ly”: Chẳng thể ĺa khỏi lục đạo, chẳng thể giải thoát tam giới.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Huệ hạnh Bồ Tát nhất thiết trọng tội.

(Này Di Lặc! Hết thảy trọng tội của huệ hạnh Bồ Tát)

 

Những “trọng tội” ấy do tập khí biến hiện. Giống như trong phần năm mươi ba lần tham học trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy có những vị huệ hạnh Bồ Tát: Bà-la-môn Thắng Nhiệt ngu si, Cam Lộ Hỏa Vương nóng giận, cô gái Mật Tô Phiệt Đa tham ái. Ba vị ấy đại biểu ba độc tham - sân - si. Đấy là hết thảy trọng tội.

 

Chánh kinh:

Dĩ trí huệ lực tất năng tồi diệt, diệc bất nhân bỉ, đọa ư ác đạo.

(Do sức trí huệ đều có thể dẹp tan, cũng chẳng v́ đó mà đọa ác đạo)

 

Sức trí huệ ấy là do quán hạnh tương ứng nên hiện ra vẻ tạo tác ác nghiệp như thế, chứ cơi ḷng thanh tịnh, mảy trần chẳng nhiễm. Đối với hết thảy chúng sanh thật sự đại từ đại bi, chỉ là dùng thủ đoạn ấy để giáo hóa chúng sanh mà thôi. V́ thế, họ chẳng bị đọa ác đạo! Họ thường trụ trong Nhất Chân pháp giới, chẳng những không thuộc trong sáu đường, mà cũng chẳng thuộc trong mười pháp giới. Điều này chúng ta phải hiểu rơ, phải nhận thức rơ, nếu hiểu lầm điều này là sai mất rồi. Hiểu được thân phận, năng lực của chính ḿnh th́ đối với những vị ấy, chúng ta chỉ biết kính ngưỡng, chứ tuyệt đối chẳng học theo, học theo là hỏng đấy!

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Thí như hữu nhân ư đại hỏa tụ, đầu dĩ tân mộc, sổ sổ thiêm chi. Như thị thiêm dĩ, kỳ diệm chuyển xí, di cánh tăng minh, vô hữu tận diệt.

(Này Di Lặc! Ví như có người đối với đống lửa lớn, bỏ thêm củi mới, thêm củi nhiều lượt. Thêm củi như thế, ngọn lửa càng cháy mạnh hơn, càng sáng thêm hơn, chẳng bị tắt mất).

 

Ở đây, đức Phật nêu một tỷ dụ: Ví như có người đốt một chậu lửa, chẳng ngừng thêm củi vào. Bởi đó, lửa càng cháy càng mạnh thêm lên, ánh lửa càng lúc càng sáng rực hơn. Đây chính là phiền năo tức Bồ Đề. Phiền năo là củi, là củi khô nỏ, bỏ vào trong lửa càng làm cho ánh sáng tỏa bừng. Ư nghĩa đoạn này như thế đấy.

 

Chánh kinh:

Di Lặc! Huệ hạnh Bồ Tát diệc phục như thị, dĩ trí huệ hỏa thiêu phiền năo tân.

(Này Di Lặc! Huệ hạnh Bồ Tát cũng giống như thế: Dùng lửa trí huệ đốt củi phiền năo)

 

Ánh lửa tượng trưng trí huệ. Càng thêm củi vào, củi tức là phiền năo, càng gieo phiền năo vào th́ trí huệ của họ càng lớn. Bởi thế, phiền năo chính là Bồ Đề.

 

Chánh kinh:
      Như thị thiêm dĩ, trí huệ chi hỏa chuyển cánh tăng minh, vô hữu diệt tận. Di Lặc! Như thị, như thị. Huệ hạnh Bồ Tát trí huệ chi lực, thiện xảo phương tiện nan khả liễu tri.

(Thêm vào như vậy, lửa trí huệ hóa ra càng sáng thêm, chẳng bị tắt mất. Này Di Lặc! Đúng như vậy đấy, đúng như vậy đấy. Chẳng thể hiểu trọn sức trí huệ, phương tiện thiện xảo của huệ hạnh Bồ Tát)

 

Người b́nh thường chẳng thể biết nổi điều này đâu nhé! Cảnh giới của các Ngài rất cao, các Ngài sở chứng rất sâu. Bởi thế, đối với các Ngài, phiền năo càng giúp tăng trưởng trí huệ, c̣n đối với chúng ta, phiền năo giúp ta đọa tam đồ, phải cảm lấy khổ báo, hoàn toàn chẳng tương đồng!

 

8. Sơ nghiệp Bồ Tát phải nên quan sát những điều tai hại của lợi dưỡng, ồn náo, ngôn luận thế gian, sự vụ

 

      Xem tiếp kinh văn, chúng ta sẽ thấy trong đoạn kinh tiếp theo đây, đức Phật đặc biệt giáo huấn chúng ta: hàng sơ học Bồ Tát phải hiểu rơ những tai hại của danh văn, lợi dưỡng. Bởi lẽ, trong thời đại hiện tại, chẳng luận là xuất gia hay tại gia, phát tâm hành Bồ Tát đạo, cứ hễ làm công tác hoằng pháp lợi sanh th́ danh văn, lợi dưỡng sẽ hiện hữu rất nhanh. Nếu quư vị chẳng biết lợi hại, cứ để nó lôi ḿnh theo măi th́ thật đáng tiếc quá! Bởi thế, trong đoạn kinh này, đức Phật đặc biệt nêu lời cảnh tỉnh. Xin hăy xem kinh văn:

 

      Chánh kinh:

      Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật ngôn:

      - Thế Tôn! Sơ nghiệp Bồ Tát kư xuất gia dĩ, vị đắc huệ lực nhi dục đắc giả, đương xả hà pháp? Đương tu hà pháp? Vị sanh huệ lực năng linh xuất sanh, dĩ sanh huệ lực năng linh tăng trưởng.

      (Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát Ma Ha Tát bạch Phật rằng:

      - Bạch đức Thế Tôn! Sơ nghiệp Bồ Tát đă xuất gia rồi, chưa đắc huệ lực mà muốn đắc th́ nên bỏ những pháp nào? Nên tu những pháp nào để huệ lực chưa sanh sẽ sanh ra, huệ lực đă sanh sẽ được tăng trưởng?)

 

Lời Bồ Tát hỏi chính là những điều tâm ta mong cầu. “Sơ nghiệp Bồ Tát” chính là sơ học Bồ Tát đă xuất gia rồi. Ư nghĩa chữ “xuất gia” này rất rộng, nào phải là cạo đầu, mặc áo rộng tay thụng mới là người xuất gia. Người như thế chưa chắc đă là xuất gia! Ở đây, xuất gia là thật sự đă đem những phiền năo, tham ái trong tâm bỏ đi rồi th́ mới gọi là “xuất gia”: ra khỏi nhà phiền năo, ra khỏi nhà sanh tử. Sáu nẻo luân hồi là nhà, vượt thoát khỏi sáu nẻo luân hồi là “xuất gia”. Chẳng thể thoát khỏi sáu nẻo luân hồi th́ quư vị vẫn cứ là tại gia vậy!

Lục đạo luân hồi được tạo thành như thế nào? Do phiền năo tạo thành. Bởi thế, nếu trong tâm có thị - phi, ta - người, có tham, sân, si, mạn th́ quư vị chưa xuất gia. Nếu trong tâm đă bỏ được thị - phi, ta - người, chẳng c̣n có tham, sân, si, mạn th́ quư vị là xuất gia. Người mới xuất gia đó trí huệ chưa mở, hy vọng mở mang trí huệ. Cho nên “đương xả hà pháp, đương tu hà pháp”: Chúng ta nên bỏ những điều ǵ, nên tu những điều ǵ ngơ hầu “huệ lực chưa sanh sẽ được xuất sanh”, trí huệ đă sanh sẽ tăng trưởng thêm, chẳng bị lui sụt. Di Lặc Bồ Tát hỏi điều này chính là điều tâm chúng ta mong mỏi. Tiếp theo đây, đức Phật khai thị, chúng ta hăy nên chú ư.

 

Chánh kinh:

Phật cáo Di Lặc Bồ Tát ngôn:

- Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát kư xuất gia dĩ, dục linh huệ lực nhi đắc tăng trưởng, đương ư lợi dưỡng tri kỳ quá thất, ưng tu xả ly.

(Phật bảo Di Lặc Bồ Tát rằng:

- Này Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát đă xuất gia rồi, muốn khiến cho huệ lực được tăng trưởng th́ hăy nên biết lỗi lầm của lợi dưỡng, phải nên ĺa bỏ nó).

 

Đây là câu đáp lời hỏi Bồ Tát nên xả những pháp nào. Ở đây, đức Phật dạy rơ rằng: Phải bỏ danh văn, lợi dưỡng. Muốn bỏ được danh văn, lợi dưỡng th́ trước hết phải hiểu được những lỗi lầm của danh văn, lợi dưỡng. Nếu quư vị đă biết những tai hại của chúng, tự nhiên quư vị sẽ bỏ được.

 

Chánh kinh:

Nhược háo hội náo, thế tục ngôn thoại, đam trước thùy miên, quảng doanh chúng vụ, nhạo chư hư luận, như thị quá thất giai ưng viễn ly.

(Nếu ưa thích náo nhiệt, ngôn luận thế tục, ham mê ngủ nghê, làm đủ mọi việc, thích các lời giỡn cợt; những lầm lỗi như thế đều phải nên xa ĺa).

 

Tiếp theo, lại đặc biệt thêm một câu.

 

Chánh kinh:

Thị cố, ưng xả lợi dưỡng.

(V́ thế, phải bỏ lợi dưỡng).

 

Quư vị xem đó: Trong đoạn này, đức Phật hai lần nhắc đến lợi dưỡng, đủ thấy cội rễ lầm lỗi nằm tại lợi dưỡng. Nếu chẳng tham lợi dưỡng sẽ dễ dàng bỏ được những sai trái khác. Tham chấp lợi dưỡng th́ những lỗi lầm khác cũng chẳng dễ bỏ được. Những lỗi lầm được nói trong phần này chính là những vấn đề chuyên luận trong quyển này (quyển hạ). “Hội náo” tức là náo nhiệt, nơi chốn náo nhiệt không có mảy may lợi ích ǵ. “Thế tục ngôn thoại”: Chữ “ngôn thoại” bây giờ gọi là “ngôn luận”, những ngôn luận đó chẳng giúp ích ǵ cho việc liễu sanh thoát tử, xuất tam giới. Bởi phạm vi của “ngôn luận thế tục” rộng lớn phi thường, có thể nói là ngoại trừ Phật pháp ra, tất cả đều là “ngôn luận thế tục” v́ quư vị chưa ĺa khỏi tam giới, chưa ĺa khỏi lục đạo mà!

“Đam trước thùy miên” là tham ngủ đấy! “Quảng doanh chúng vụ”: Doanh là kinh doanh, “vụ” là sự vụ. “Quảng” là nhiều, một ngày từ sáng đến tối luôn lo liệu. “Chúng” cũng là nhiều. Lo toan bao nhiêu là sự việc chẳng dính dáng ǵ đến đạo nghiệp. “Nhạo chư hư luận”: ưa thích nói giỡn. Những điều ấy đều là lỗi lầm, lỗi lầm rất lớn đấy! Ở đây, Phật dạy chúng ta “đều phải nên xa ĺa”, chẳng được tham chấp. Phải xa ĺa, tránh xa. Trong đó, trọng yếu nhất là lợi dưỡng: “V́ thế, phải bỏ lợi dưỡng”. Đấy là nói đến những pháp quư vị nên bỏ, những ǵ quư vị phải rời xa. Tiếp theo đây là những ǵ nên tu, nên tu những pháp nào? Xin thưa cùng quư vị, những điều được tu sẽ tương phản với những điều trên, đấy là những ǵ quư vị cần phải tu.

 

Chánh kinh:

Tu ư thiểu dục.

(Tu nơi thiểu dục).

 

Đối với người chân chánh tu hành, chân chánh mong trong một đời này văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ điều kiện thứ nhất là Thiểu Dục.

Dục là dục vọng, [thiểu dục] là phải giảm thiểu dục vọng! Giảm thiểu đến mức độ nào? Mỗi ngày chúng ta ăn ba bữa đủ no, có được một bộ quần mặc đủ ấm, có một gian nhà nhỏ để đụt nắng che mưa là đủ, là yên tâm rồi. Tâm có yên mới hành được đạo, nói cách khác là quư vị mới đạt được tâm thanh tịnh. Chẳng cần phải so sánh với người khác, thiên hạ ở căn nhà to, ra khỏi cửa đi những hiệu xe sang trọng, chẳng cần thấy những điều đó, chẳng cần phải chạy đua theo người khác. Những thứ đó là ǵ thế? Quư vị chẳng cần biết xe người ta rất đẹp đẽ làm chi, những thứ đó dẫn về đâu? Dẫn đến đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đấy! Lúc quư vị thấy rơ rồi sẽ chẳng ưa thích nữa, đừng có thấy ḿnh không có xe phải đi bộ đó nghe!

Chúng ta tiến về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng giống như họ đâu! Phương hướng, mục tiêu bất đồng, nhất định phải thấy rơ ràng. Bọn họ ngày ngày khiến tham, sân, si, phiền năo tăng trưởng, c̣n chúng ta phải khiến trí huệ tăng trưởng, tâm mỗi ngày một thanh tịnh hơn. Phải biết thiểu dục, phải biết tri túc; thiểu dục tri túc là căn bản để chúng ta tu hành.

 

Chánh kinh:

Xả chư hội náo

(Bỏ các chỗ náo nhiệt).

 

Phải rời ĺa những chỗ náo nhiệt.

 

Chánh kinh:

Nhạo ư tịch tĩnh

(Thích chốn tịch tĩnh)

 

Tâm ai định, kẻ ấy sẽ ở trong hoàn cảnh an tịnh rất tự tại. Nói theo cách bây giờ là “cam chịu tịch mịch”, đó là công phu đấy nhé! Có một số người chẳng chịu nổi cảnh tịch mịch, cứ thích nhiệt náo, không chịu nổi một ngày không nhiệt náo, cứ ưa phiền năo thôi!

 

Chánh kinh:

Xả chư thế thoại, quán ư thật nghĩa.

(Bỏ các lời thế tục, quán sát thật nghĩa)

 

“Thật nghĩa” là ǵ? Là chân tướng của nhân sanh vũ trụ. Quư vị phải dùng trí huệ để quan sát chân tướng của nhân sanh vũ trụ đấy! Chân tướng là ǵ? Kinh Kim Cang nói: “Ba tâm chẳng thể được. Các pháp duyên sanh, thể của chúng là không”, đó là thật nghĩa đấy! Đó là chân tướng của các pháp đấy!

 

Chánh kinh:

Sơ dạ, hậu dạ, viễn ly thùy miên.

(Đầu đêm, cuối đêm, xa ĺa ngủ nghỉ)

 

Ở đây, đức Phật khuyên chúng ta mỗi ngày tốt nhất là ngủ bốn tiếng đồng hồ. Từ mười giờ tối đến hai giờ sáng là “trung dạ”. Đừng để phí uổng tấc bóng, phải dùng thời gian quư báu đó để niệm Phật.

 

Chánh kinh:

Quán sát tư duy, tùy hạnh tu tập.

(Quán sát tư duy, tùy hạnh tu tập).

 

      “Quán sát, tư duy” là chánh trí huệ, chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo. “Tùy hạnh tu tập”: Hạnh là những cách xử thế, đăi người, tiếp vật trong sanh hoạt thường ngày; phải nên tu, phải nên học nơi những hạnh ấy.

 

      Chánh kinh:

      Xả ư chúng vụ, cập chư hư luận.

      (Bỏ các sự việc và các hư luận)

 

      Càng ít sự việc càng tốt, “đa sự bất như thiểu sự, thiểu sự bất như vô sự” (nhiều sự chẳng bằng ít sự, ít sự chẳng bằng vô sự). Đây chẳng phải là tiêu cực, ai nấy vô sự thiên hạ thái b́nh rồi! Mỗi cá nhân đều an cư lạc nghiệp. V́ sao thế giới loạn lạc dường ấy? Người ham hố quá nhiều. Ai là kẻ ham hố? Kẻ ham hố là kẻ ham việc. Người ham hố tham việc rất nhiều. Người vô sự được tự tại, đấy chính là hưởng thọ thật sự.

 

      Chánh kinh:

      Tu xuất thế đạo, từ niệm chúng sanh.

      (Tu đạo xuất thế, nghĩ thương chúng sanh)

 

      Nhất tâm nhất ư cầu sanh Tịnh Độ, nhưng vẫn từ bi đối với hết thảy chúng sanh, tận tâm tận lực khuyên bảo hết thảy chúng sanh tu tŕ pháp môn Niệm Phật, đó chính là “từ niệm chúng sanh”. Chỉ có mỗi pháp môn này là có thể giúp cho những cá nhân ngay trong một đời liễu sanh tử, xuất tam giới.

 

8.1. Mười một pháp chướng đạo nghiêm trọng

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát kư xuất gia dĩ, vị đắc huệ lực nhi dục đắc giả, thị pháp ưng xả, thị pháp ưng tu. Hà dĩ cố? Di Lặc! Bỉ chư Bồ Tát kư xuất gia dĩ, vị đắc huệ lực nhi dục đắc giả, bất xả lợi dưỡng, bất tu thiểu dục, vị sanh huệ lực đương linh xuất sanh, dĩ sanh huệ lực năng linh tăng trưởng, vô hữu thị xứ!

      (Này Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát đă xuất gia rồi, chưa đắc huệ lực mà muốn được đắc phải bỏ những pháp ấy, phải tu những pháp ấy. V́ sao thế? Này Di Lặc! Các Bồ Tát đó đă xuất gia rồi, chưa đắc huệ lực mà muốn được đắc, nhưng nếu chẳng bỏ lợi dưỡng, chẳng tu thiểu dục, lại toan khiến cho huệ lực chưa sanh sẽ được xuất sanh, huệ lực đă sanh sẽ được tăng trưởng th́ quyết chẳng có lẽ ấy!) 

 

      Trong phần này, đức Phật giảng cho chúng ta về mười một pháp chướng đạo nghiêm trọng. Phần trên đă nói là trong thời đại Mạt Pháp, chẳng luận là tu học bất cứ pháp môn nào, nếu có một hai pháp trong mười một pháp ấy sẽ chẳng thể tu học thành tựu; huống chi là đầy đủ cả mười một pháp, đương nhiên sẽ chẳng thể thành tựu được. Bởi thế, chúng ta phải đặc biệt lưu ư, nhất định phải sửa trừ những căn bệnh này th́ những điều chúng ta mong cầu mới ḥng măn nguyện. Những thí dụ được nêu ở đây là để cầu khai trí huệ.

Câu “sơ nghiệp Bồ Tát đă xuất gia rồi, chưa đắc huệ lực mà muốn được đắc” ư nói cầu khai trí huệ. Chúng ta trí huệ chưa khai, hy vọng tự ḿnh mở mang trí huệ, bởi lẽ chỉ có trí huệ mới giải quyết được mọi vấn đề. Nhất định phải nhận rơ, phải minh bạch điều này. Định có công năng khuất phục phiền năo, nhưng chẳng thể giải quyết vấn đề. Sau khi trí huệ mở rồi sẽ chuyển phiền năo thành Bồ Đề. V́ thế chuyển được phiền năo thành Bồ Đề là nhờ sức của trí huệ. Di Lặc Bồ Tát thay chúng ta khải thỉnh: muốn mở trí huệ th́ phải bỏ những pháp như thế, phải tu những pháp như thế.

“Xả” là buông xuống. Xem ra những pháp đức Phật dạy chúng ta buông xuống, ta chưa hề buông xuống; những pháp đức Phật dạy ta tu học, ta chưa từng tu học. Trong mười một điều ấy, điều thứ nhất là lợi dưỡng: “Chẳng xả lợi dưỡng”. Điều thứ hai là “chẳng tu thiểu dục”. Ở đây, Phật lại nhắc đến danh văn, lợi dưỡng, do đấy ta biết chúng là bệnh căn (cội rễ của bệnh), quyết định chẳng để chúng tiêm nhiễm ḿnh. Nhưng trong xă hội hiện tại, đặc biệt là tại Đài Loan và cả một giải Đông Nam Á, có thể nói là lợi dưỡng phong phú đứng đầu thế giới. Chúng ta thường hay nghe nói: vùng đất của quốc gia này nọ trở thành Đài Loan. Mục đích trở thành Đài Loan là ǵ? Là lợi dưỡng phong phú, nhưng chẳng biết đến cái hại của lợi dưỡng. Hại ǵ? Tăng trưởng tâm tham, tăng trưởng keo bẩn.

Về phiền năo, Phật dạy có sáu thứ căn bản phiền năo: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Sáu căn bản phiền năo lại quy nạp thành ba độc tham, sân, si. Ba độc lại quy nạp về một loại là Tham. V́ thế Tham chính là cội rễ nguyên thủy của tất cả hết thảy phiền năo. Lợi dưỡng tăng trưởng tâm tham; v́ thế, Phật coi Tham quan trọng như thế đấy. Chưa đoạn được điều này, dù tu bất cứ pháp môn nào cũng chẳng thể thành tựu. Chẳng những không thành tựu mà Phật pháp đă học rốt cuộc biến thành yêu ma quỷ quái hết. Sao biến thành như thế? Là v́ tham lam, keo kiệt, nên học Phật rốt cuộc biến thành ma hết. V́ thế, ngay câu đầu tiên trong kinh này, đức Phật đă dạy chúng ta phải bỏ lợi dưỡng. Bỏ lợi dưỡng th́ nhất định phải tu khổ hạnh, phải tu thiểu dục vậy!

      Cụ Hoàng Niệm Tổ ở Đại Lục có lần nói, tôi chưa đích thân nghe, chỉ nghe học tṛ cụ thuật lại, cụ chưa đến Đài Loan. Cụ bảo: “Ở Đài Loan không có người xuất gia, Đài Loan không có Phật pháp, Phật pháp ở Đài Loan là giả”. V́ sao cụ nói như thế? Thật ra, chúng tôi đọc được kinh này, ít nhiều hiểu được lời cụ: Người xuất gia ở Đài Loan ai đă bỏ được lợi dưỡng? Ai chịu tu khổ hạnh? V́ thế, cụ bảo Phật pháp ngày nay ở tại Đại Lục Trung Quốc. Tôi chưa hề có dịp phỏng vấn người tu hành ở Đại Lục, chỉ nghe nói thôi.

Khi tôi ở Tân Gia Ba, cư sĩ Lư Mộc Nguyên suất lănh một phái đoàn đông đảo, bảy tám chục người qua Đại Lục tham phỏng, chuyên môn phỏng vấn Phật giáo, thời gian đại khái độ chừng mấy tháng. Họ thấy người chân chánh tu hành ở Hoa Lục đối với Phật pháp rất cung kính, khiến người khác than thở, dơi nh́n, cảm động sâu xa. Kinh sách luôn đội trên đảnh đầu, cung kính như thế đấy! Họ rất khó có được kinh sách, chẳng giống như chúng ta ở đây có quá nhiều, có được quá dễ. Bọn họ sống thanh bần, áo mặc vá chằng vá đụp, ăn những thứ do chính ḿnh trồng, khổ cực phi thường. Lúc phái đoàn ông Lư ra đi, muốn tặng tiền họ, chẳng ai chịu nhận. Tính tặng họ y phục, họ cũng chẳng chịu lấy. Họ nói cuộc sống chúng tôi quá tốt đẹp, nhưng người ngoài thấy họ khổ sở chẳng kham được nổi. Hỏi họ cần ǵ? Họ đáp cần kinh sách, cần băng thâu âm. Họ không cần băng video v́ họ đâu có tivi, chẳng xem được. Tặng họ những thứ ấy, họ xem như của báu.

Bởi vậy, phái đoàn Tân Gia Ba sau khi trở về, hổ thẹn phi thường, họ vốn tưởng ḿnh tu rất hay, nhưng sánh với những người kia, khác ǵ một trời một vực, tâm cung kính mới thật sự sanh khởi. Điều bọn họ làm được chính là bỏ được lợi dưỡng, tu khổ hạnh, tuyệt đối chẳng có ư niệm tham cầu vật chất. Họ cũng chẳng mong người ngoài đến tham quan đạo tràng của ḿnh, chẳng mở rộng cửa cho người ngoài, chân chánh thanh tu.

      Nếu như chẳng bỏ lợi dưỡng, chẳng tu thiểu dục, th́ ở đây đức Phật nói: “Lại toan khiến cho huệ lực chưa sanh sẽ được xuất sanh, huệ lực đă sanh sẽ được tăng trưởng th́ quyết chẳng có lẽ ấy”. “Vô hữu thị xứ” là chẳng có đạo lư! Quư vị muốn khai trí huệ th́ đừng có ḥng! Đă có một điểm trí huệ, muốn được chẳng lui sụt th́ cũng đừng có ḥng!

     

      Chánh kinh:

      Bất xả hội náo, bất trụ tịch tĩnh, vị sanh huệ lực đương linh xuất sanh, dĩ sanh huệ lực năng linh tăng trưởng, điệc vô thị xứ!

      (Chẳng bỏ náo nhiệt, chẳng trụ tịch tĩnh, lại toan khiến cho huệ lực chưa sanh sẽ được xuất sanh, huệ lực đă sanh sẽ được tăng trưởng th́ quyết cũng chẳng có lẽ ấy!)

     

      Cũng chẳng có đạo lư này! Bởi lẽ, hoàn cảnh cư trụ tu học của quư vị phải an tịnh. Chúng ta là phàm phu, phàm phu chắc chắn bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh bên ngoài; bởi thế, chẳng thể không chọn lựa chỗ đặt đạo tràng, chỗ ḿnh sanh sống; nhưng trong xă hội hiện tại, chúng tôi nghĩ chọn lựa rất khó, nhân khẩu quá đông, đâu đâu cũng đều là chỗ ồn ào, chọn đâu ra một chỗ an tịnh? Chọn chẳng được! Đảo Đài Loan này nhỏ xíu như thế, nhân khẩu đông như thế, cho nên chọn lấy một chỗ an tịnh, thực sự chẳng dễ dàng. Tuy thế, một điều trọng yếu vẫn là trong ồn náo giữ lấy yên tịnh, rời khỏi chỗ náo nhiệt. Hễ chỗ nhiệt náo nào gây trở ngại cho cái tâm thanh tịnh của chính ḿnh th́ phải biết rời bỏ nơi ấy. Điều thứ năm là:

 

      Chánh kinh:

      Bất xả thế thoại, bất quán thật nghĩa

      (Chẳng bỏ lời lẽ thế tục, chẳng quán thật nghĩa)

 

      Quư vị muốn mở mang trí huệ, cũng chẳng có lẽ ấy. “Thế thoại” tức là ngôn luận thế gian, chúng ta chưa thể bỏ được, bởi lẽ từ sáng đến tối phải ở chung với đại chúng, phải tiếp xúc với đại chúng, trọn chẳng thể không nói năng được! Với loại ngôn luận này, phải biết là càng ít càng hay, điều ǵ không bắt buộc phải nói đừng có nói. V́ sao vậy? V́ phương hại tâm thanh tịnh. Điều này cần phải bỏ đi, phải tận khả năng bỏ đi. Phần trên đă nói qua về “thế thoại”, chữ này hàm nghĩa rất rộng.

Đă trừ bỏ chuyện này rồi, lại c̣n phải tu điều ǵ nữa? Phải “quán sát thật nghĩa”. Thật nghĩa ta thường gọi là “thật tướng của các pháp”, tức là chân tướng của nhân sanh, vũ trụ. Chưa quán được chân tướng, hăy nên đọc kinh Kim Cang. Chưa hiểu kinh Kim Cang th́ quư vị nên nghe giảng, chúng tôi có băng giảng kinh Kim Cang rất tường tận. Quư vị chú ư nghe kỹ, nghe hiểu rồi quư vị sẽ quán. Hiểu rơ chân tướng vũ trụ nhân sanh, tự nhiên quư vị sẽ buông xuống được, giúp ích rất nhiều cho sự tu học của quư vị.

 

      Chánh kinh:

      Sơ dạ, hậu dạ, đam trước thùy miên, tằng bất giác ngộ.

      (Đầu đêm, cuối đêm đắm chấp ngủ nghỉ, chưa từng giác ngộ)

 

      Chúng ta đều phải sửa đổi loại tập khí phiền năo này. Phải khắc phục sự khổ sở của chính ḿnh th́ mới ít ngủ nghỉ. Ở đây, đức Phật dạy chúng ta một tiêu chuẩn là ngủ bốn giờ thôi, ngủ vào lúc “trung dạ”. Chẳng được ngủ vào lúc sơ dạ. “Sơ dạ” là từ sáu giờ chiều đến mười giờ đêm; nói chung chẳng được ngủ. “Hậu dạ” th́ sao? Hậu dạ là từ hai giờ sáng đến sáu giờ sáng; chính là lúc ngủ ngon nhất. Phật dạy chẳng được ngủ, cho nên chỉ ngủ vào lúc trung dạ. Làm sao làm được? Ngủ vào lúc trung dạ là mười giờ đi ngủ, hai giờ sáng thức dậy. Nếu thật sự chẳng thực hành th́ phiền năo rất nặng đó nghe! Ngủ chẳng đủ th́ chẳng có tinh thần. Tận khả năng để rút ngắn thời gian ngủ nghê lại, người thế gian cũng thường đề xướng ngủ sớm dậy sớm thân thể khỏe mạnh đó mà! Bởi vậy, mười giờ tối đi ngủ, hai giờ sáng thức dậy. Nếu hai giờ dạy chưa nổi, th́ bốn giờ thức dậy, cũng kể như là được. Đấy là đă tính trừ hao; v́ thế phải hiểu đúng mà học tập: khắc phục phiền năo tập khí của chính ḿnh. Ngủ nghê là hôn trầm, chẳng phải là giác ngộ. Điều thứ sáu là:

     

      Chánh kinh:

      Hệ niệm tư duy, bất xả chúng vụ.

      (Vấn vương suy nghĩ, chẳng bỏ các việc).

 

      “Hệ niệm tư duy” nghĩa là trong tâm có điều vướng mắc, lo lắng quá nhiều chuyện. Quư vị vướng mắc những ǵ? Lo lắng những ǵ? Mọi việc! Sự t́nh thế gian quá nhiều, những sự t́nh đó chẳng giúp quư vị liễu sanh tử, xuất tam giới được! Nói cách khác, những ǵ chẳng thể giúp quư vị đoạn phiền năo, chẳng thể giúp quư vị khai trí huệ đều gọi là “chúng vụ” (các việc). “Chúng” là sự nghiệp rất nhiều, chẳng bỏ được đấy mà! Nhiều thêm một sự chẳng bằng bớt đi một sự, ít đi một sự chẳng bằng vô sự, chẳng cần bới thêm việc! Phật dạy chúng ta tùy duyên nhưng chẳng phan duyên (vin nắm theo). Tạo ra chuyện, gây thêm chuyện là “phan duyên”. Chuyện này nhất định gây trở ngại chúng ta tu học. Điều thứ chín là:

 

      Chánh kinh:

      Háo chư hư luận.

      (Thích các hư luận)

 

      Phạm vi của “hư luận’ cũng rộng phi thường. Điều thứ mười là:

 

      Chánh kinh:

      Ư xuất thế đạo, bất năng tu hành.

      (Đối với đạo xuất thế, chẳng thể tu hành)

 

      “Xuất thế” là vượt khỏi lục đạo luân hồi. Quư vị chưa thể tu học [điều này]. Điều thứ mười một là:

     

      Chánh kinh:

      Ư chư chúng sanh, bất sanh từ niệm.

      (Đối với chúng sanh, chẳng nghĩ thương yêu)

 

      Đối đăi chúng sanh chẳng có tâm từ bi. Chắc cũng có mấy vị nghe chẳng hiểu lắm: đối với chúng sanh tôi có tâm từ bi chớ, tôi vừa ăn chay, vừa phóng sanh, gặp ai bị khổ sở, tôi đều cứu giúp, sao lại chẳng từ bi? Trong mắt Phật, quư vị chẳng từ bi; quư vị chẳng có tâm từ bi! Thế nào là từ bi? Giúp chúng sanh thoát ly tam giới, thoát ly lục đạo luân hồi mới gọi là “từ bi”. Xoay đi, xoay lại, họ vẫn c̣n trong lục đạo luân hồi th́ quư vị từ bi ở chỗ nào đây? Nhất định phải hiểu rơ ư nghĩa này: Chẳng thể liễu thoát sanh tử, chẳng thể xuất ly luân hồi là chẳng từ bi. Mục tiêu tu học Phật pháp là đây. Quư vị phạm những lỗi lầm như thế th́ sẽ có nhiều lầm lỗi, tức là:

 

      Chánh kinh:

      Vị sanh huệ lực đương linh xuất sanh, dĩ sanh huệ lực năng linh tăng trưởng, diệc vô thị xứ.

      ([Muốn cho] huệ lực chưa sanh sẽ được xuất sanh, huệ lực đă sanh sẽ được tăng trưởng th́ cũng chẳng có lẽ ấy!) 

 

      Mười một điều trên, quư vị phạm một điều sẽ chẳng đoạn được phiền năo, trí huệ chẳng mở mang, quư vị muốn xuất ly tam giới chẳng thể được. Huống hồ là mười một điều đều có đủ th́ làm sao liễu thoát cho được. Chúng ta phải tự nghiêm cẩn phản tỉnh, phải nỗ lực khắc phục nghiệp chướng, tập khí của chính ḿnh, nhất định phải sửa đổi.

 

      Chánh kinh:

      Di Lặc! Thị cố Bồ Tát vị đắc huệ lực nhi dục đắc giả.

      (Này Di Lặc! Bởi thế Bồ Tát chưa đắc huệ lực mà muốn được đắc)

     

      Trí huệ chưa mở, muốn cho được mở.

 

      Chánh kinh:

      Ưng xả chư pháp, đương tu xả ly.

      (Các pháp nên bỏ, phải nên ĺa bỏ).

 

      Ở phần trên đức Phật đă dạy quư vị phải bỏ những pháp ấy, quư vị ắt phải nên ĺa bỏ.

 

      Chánh kinh:

      Ưng tu chư pháp, đương tu tu tập.

      (Các pháp nên tu, phải nên tu tập).

 

      Phật dạy chúng ta phải tu những pháp sau: phải tu thiểu dục, phải tu tịch tĩnh, phải tu quán thật nghĩa. Những ǵ Phật dạy chúng ta phải tu, ta phải nghiêm cẩn học tập.

 

      Chánh kinh:

      Hà dĩ cố? Bồ Tát trí huệ tùng nhân duyên sanh; nhược vô nhân duyên, chung bất năng sanh. Nhân duyên ḥa hợp, nhĩ năi đắc sanh.

      (V́ sao thế? Trí huệ của Bồ Tát sanh từ nhân duyên. Nếu không nhân duyên, trọn chẳng thể sanh. Nhân duyên ḥa hợp mới bèn được sanh)

     

      Tuy trí huệ là bản tánh và vốn sẵn có, nhưng hiện đang bị phiền năo, nghiệp chướng che lấp; nếu chẳng tu học, không có nhân duyên th́ trí huệ, đức năng nơi tự tánh chẳng thể hiện tiền. Đấy chính là điều trong kinh thường nói là “Phật pháp nhân duyên sanh”, chẳng ĺa khỏi nhân duyên. Nhân th́ chẳng có vấn đề ǵ, chúng ta ai nấy đều có, hiện tại trọng yếu là Duyên. Duyên là đoạn ác tu thiện. Phật dạy chúng ta cần đoạn trừ những ǵ, chúng ta phải nghiêm cẩn đoạn trừ, dạy phải tu những ǵ, chúng ta phải nghiêm cẩn tu tập. Đấy là Duyên. Trong đoạn này, chỉ nêu tổng quát cương lănh, trong phần kinh văn sau sẽ phân tích từng lỗi hại th́ mới hiểu v́ sao đức Phật dạy chúng ta phải xả, phải ĺa. Xin hăy xem kinh văn:

 

8.2. Sơ nghiệp Bồ Tát nên quán sát lỗi hại của lợi dưỡng

 

      Chánh kinh:

Nhĩ thời, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật ngôn:

- Thế Tôn! Vân hà danh vi lợi dưỡng trung quá?

(Lúc bấy giờ, Di Lặc Bồ Tát bạch Phật rằng:

- Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là lỗi của lợi dưỡng?)

 

Di Lặc Bồ Tát thay chúng ta khải thỉnh: Phật dạy chúng con phải bỏ lợi dưỡng, rốt cuộc lợi dưỡng có những lỗi lầm ǵ? Nghiêm trọng đến mức độ nào? Chúng con chẳng biết được. Nếu chẳng biết, Phật dạy chúng con phải bỏ, ắt có lúc chúng con chẳng cam tâm, nên nhất định phải xin Phật giảng rơ những lỗi hại của lợi dưỡng, nói minh bạch cho chúng con. Sau khi chúng con biết rơ rồi, nghĩ thấy cần phải ĺa bỏ, th́ mới cam tâm t́nh nguyện bỏ được. 

 

Chánh kinh:

Nhược quán sát thời, năng linh Bồ Tát nhạo ư thiểu dục, bất sanh nhiệt năo.

(Như lúc quán sát sẽ khiến cho Bồ Tát ưa thích thiểu dục, chẳng sanh nhiệt năo).

 

“Quán sát” là hiểu minh bạch, có hiểu rơ những tai hại của lợi dưỡng th́ Bồ Tát mới bỏ được, mới vui thích thiểu dục, mới vui ḷng sống thanh bần. Người đời cho là thanh bần, Bồ Tát chẳng thấy đó là thanh bần, thật sự sống những tháng ngày tự tại, là v́ sao? Họ chẳng có phiền năo. Những ǵ là phiền năo? Tham, sân, si là phiền năo. Họ sống cuộc đời chẳng sanh tham, sân, si. Chẳng sanh tham, sân, si th́ sanh cái ǵ? Sanh trí huệ đấy! Khi nào trong cuộc sống quư vị chẳng sanh phiền năo, chắc chắn là có trí huệ, trí huệ khai hiển vậy. V́ thế, mặt trái của chẳng sanh nhiệt năo là sanh trí huệ. Đó là điều đức Di Lặc Bồ Tát thay chúng ta khải thỉnh.

 

Chánh kinh:

Phật ngôn:

- Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát đương quán lợi dưỡng sanh tham dục cố.

(Đức Phật nói:

- Này Di Lặc! Sơ nghiệp Bồ Tát nên quán: lợi dưỡng sanh ra tham dục vậy)

 

Điều thứ nhất là lợi dưỡng sanh ra tham dục, lợi dưỡng tăng trưởng tâm tham. Cứ hễ tham phiền năo tăng trưởng là si, mạn, nghi phiền năo nào cũng đều nổi lên hết. Nó chính là gốc mà! Cũng giống như một cái cây ăn trái, lợi dưỡng là ǵ? Là như tưới bón. Ngày ngày tưới tắm gốc cây, cây ấy bèn mọc sum suê. Cây ǵ thế? Cây phiền năo, cây sanh tử, phiền toái rất lớn như thế đó, lẽ đâu quư vị dùng các thứ để tưới bón nó cơ chứ? Điều thứ hai là:

 

Chánh kinh:

Đương quán lợi dưỡng hoại thất chánh niệm, sanh sân nhuế cố.

(nên quán lợi dưỡng: v́ đánh mất chánh niệm, nên sanh ra nóng giận).

 

Người tham đắm lợi dưỡng tâm “được - thua” rất nặng, thấy người khác hơn ḿnh bèn sanh ganh ghét, sân hận, thế là đại phiền năo bèn sanh khởi, đương nhiên chánh niệm chẳng c̣n. Chánh niệm là ǵ? Chúng tôi lại dùng thí dụ để thuyết minh. Mọi người chúng ta đều tu Tịnh Độ, chánh niệm của người tu Tịnh Độ là Phật hiệu. Nhớ Phật, niệm Phật là chánh niệm của chúng ta. Người tâm tham nặng nề, đă bỏ sạch sành sanh Phật hiệu nên sanh nóng giận vậy. Điều thứ ba.

 

Chánh kinh:

Đương quán lợi dưỡng, niệm kỳ đắc thất, sanh ngu si cố.

(Nên quán lợi dưỡng: do nghĩ được mất nên sanh ra ngu si).

 

      Tôi vừa mới nói do tâm được thua rất nặng, từ sáng đến tối cứ lo toan tính, so đo nơi đó, ngu si đấy nhé! Quư vị xem: Ba câu trên là nói về tham, sân, si đấy! Nếu quư vị chẳng bỏ lợi dưỡng th́ ba độc phiền năo tham sân si ngày càng tăng trưởng. Điều thứ tư là:

 

      Chánh kinh:

      Đương quán lợi dưỡng, năng sanh cao hạ, tật đố tâm cố.

      (Nên quán lợi dưỡng sanh ra cao thấp, nên tâm ghen ghét)

     

Sau tham, sân, si là mạn, ngạo mạn đấy! Điều thứ năm là:

 

      Chánh kinh:

      Đương quán lợi dưỡng: ư thân hữu gia, xan lận đam trước, sanh cuống hoặc cố.

      (Nên quán lợi dưỡng: với kẻ thân hữu, keo tiếc, tham đắm nên sanh dối trá, mê hoặc).

 

      V́ tham cầu lợi dưỡng nên đối với thân thích, bè bạn, trai chủ, những người quen biết, tâm quư vị thường dính mắc nơi họ. V́ sao vậy? Tham cầu được họ cung kính, cúng dường. Quư vị đă đánh mất tâm thanh tịnh, tâm quư vị ngập tràn tham, sân, si, đánh mất chánh niệm rồi, Phật cũng chẳng nghĩ đến nữa, chỉ nghĩ những ǵ? Nghĩ sao cho có tín đồ giàu có, có thế lực, thường nghĩ đến họ, thường nhớ tới họ, thường hy vọng họ đem tiền đến dâng cho ḿnh. Kẻ ấy nghĩ như thế rồi, sẽ nghĩ cách ǵ? Cuối cùng là chẳng nề thủ đoạn, dùng đủ mọi phương cách lừa bịp, mê hoặc, tạo thành tội nghiệp nặng nề, quả báo là tam đồ. Điều thứ sáu là:

 

      Chánh kinh:

      Đương quán lợi dưỡng thành tựu ái vị, sanh siểm khúc cố.

      (Nên quán lợi dưỡng thành tựu ái vị nên sanh dua vạy)

 

      Chữ “ái” ở đây là tham ái, tham luyến, chẳng có cách nào buông xuống được, khác nào trúng độc, đă lậm chất độc rồi! Phiền lắm! Tâm dua vạy, cong cong quẹo quẹo, tâm chẳng chánh trực. Điều thứ bảy là:

 

      Chánh kinh:

      Đương quán lợi dưỡng: xả tứ thánh chủng, vô tàm quư cố.

      (Nên quán lợi dưỡng bỏ bốn gịng thánh nên chẳng hổ thẹn).

 

      Bốn gịng Thánh là ǵ? Lúc Phật tại thế, dạy hàng đệ tử xuất gia phải biết tri túc thường lạc, phải tu thiểu dục, tức là đối với vật chất, chúng ta phải tận lực sanh sống