Lược Giảng Giáo Nghĩa Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, phần 1
(nguyên tác: Phổ Hiền Đại Sĩ Hạnh Nguyện Đích Khải Thị)
Chủ giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh Không
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(dịch theo bản in của Hoa Tạng Tịnh Tông Học Hội, năm 2001)
Lời Nói Đầu
Nhờ công sức dịch thuật và hoằng truyền của ḥa thượng Trí Tịnh, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện được tŕ tụng rất phổ biến trong giới Phật Tử Việt Nam, tiếc là từ trước đến nay, ít có vị tôn túc nào dành thời gian giảng giải tỉ mỉ cho hàng Phật tử sơ cơ được thấu hiểu phần nào huyền nghĩa bao la của kinh Hoa Nghiêm được cô đọng trong phẩm kinh này.
Do vị trí đặc biệt của phẩm kinh này đối với pháp môn Tịnh Độ (cư sĩ Ngụy Mặc Thâm xếp phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện vào Tịnh Độ Ngũ Kinh), chúng tôi luôn mong mỏi được đọc một bản chú giải hay giảng kư nào xiển dương thật rơ giáo nghĩa phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện. Trong Đại Tạng Kinh không thiếu các bản chú giải, sớ giải phẩm này, nhưng đa phần văn nghĩa quá rộng, chú trọng nhiều về mặt Lư nên hầu như chỉ thích hợp cho những hành giả thượng căn thuộc Hoa Nghiêm Tông hay dành riêng cho các vị đại tri thức, học giả nghiên cứu. Khi thử đọc tác phẩm chú giải lừng danh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Biệt Hành Sớ Sao (tác phẩm được coi là bản chú giải đặc sắc nhất, tinh vi nhất của phẩm kinh này), chúng tôi hoàn toàn choáng ngộp và buồn tủi nhận thấy ḿnh khó thể lănh hội được chút phần. Những lời Sao của ngài Khuê Phong Tông Mật và lời Sớ của ngài Trừng Quán quá cao siêu, tinh vi, uyên áo, câu văn quá súc tích, nếu chúng tôi không lượng sức, cứ dịch bừa ra, chắc chắn sẽ không tránh khỏi t́nh trạng diễn dịch sai lạc ư kinh, ư Tổ, tự ḿnh lầm, khiến người lầm, gây tội nghiệt nặng nề khó thể cứu văn.
Thử t́m đọc những trước tác của các tôn đức Trung Hoa cận đại, chúng tôi thấy tác phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Tập Yếu Sớ của ngài Đế Nhàn rất uyên áo, nhưng quá thiên trọng về Lư, câu văn lại quá súc tích, khó ḷng chuyển ngữ đầy đủ, găy gọn sang tiếng Việt được. Thêm nữa, để hiểu được lời Sớ của Ngài, nếu không hiểu biết đôi chút về giáo nghĩa Hoa Nghiêm và giáo nghĩa Thiên Thai, hành nhân sơ cơ không dễ ǵ lănh hội được. Những bản giảng kư của các vị như trưởng lăo Từ Châu, pháp sư Từ Hàng, pháp sư Viên Anh, pháp sư Văn Châu cũng thiên nhiều về luận giải giáo nghĩa của kinh văn theo quan điểm của tông Hoa Nghiêm, hơn là chú ư đến khía cạnh ứng dụng tu tập các hạnh nguyện ấy một cách cụ thể; cũng như chưa hiển thị rơ ràng mối quan hệ thân thiết giữa phẩm kinh này với ba kinh Tịnh Độ.
Riêng bản Phổ Hiền Đại Sĩ Hạnh Nguyện Đích Khải Thị của lăo pháp sư Tịnh Không rất đặc biệt. Ngài chỉ chú trọng đến những ư chính của kinh văn, dùng những ngôn từ mộc mạc rất dễ hiểu khiến người đọc hiểu ngay cốt tủy từng lời nguyện và làm thế nào để vận dụng tu tập những hạnh nguyện ấy trong cuộc sống thường nhật. Điểm đặc sắc là từng lời nguyện, từng lời kệ được lăo pháp sư giải thích dưới lăng kính Tịnh Độ nên rất khế cơ đối với hành giả Tịnh Độ. Những lời lăo ḥa thượng giảng giải sẽ giúp họ củng cố niềm tin, nhất tâm chuyên tu, tránh khỏi cảnh đứng núi này trông núi nọ. V́ thế, trong ba bản giảng kư về Bồ Tát Phổ Hiền của Ngài, chúng tôi chọn dịch bản này v́ tính cách giản dị, thiết yếu và hỗ trợ hoằng dương Tịnh Tông của nó.
Ngoài ra, để giúp cho những hành nhân Tịnh nghiệp sơ cơ như chúng tôi có dịp hiểu sâu hơn kinh văn và học thêm những thuật ngữ đặc thù của Hoa Nghiêm hay kinh điển Đại Thừa nói chung, chúng tôi chọn dịch những lời giải thích của lăo cư sĩ Hoàng Trí Hải trong tác phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Bạch Thoại Giải Thích để làm cước chú cho những từ ngữ trong kinh không được Ḥa Thượng Tịnh Không nhắc đến trong bài giảng này.
Ngưỡng nguyện dịch phẩm thô lậu này sẽ giúp cho các đồng tu củng cố niềm tin nơi pháp môn Tịnh Độ và ngày càng tinh tấn dũng mănh chuyên tu. Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa kính bạch
A. Dẫn nhập
Chư vị đồng tu!
Hôm nay chúng tôi có nhân duyên thù thắng phi thường được báo cáo cùng quư vị những lời khải thị trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm. Tuy vậy, do thời gian không đủ, chẳng thể giảng chi tiết, nhưng bằng phương thức nghiên cứu, học tập rồi báo cáo này, tôi tin tưởng các đồng tu nhất định sẽ thâu hoạch nhiều hơn là nghe giảng kinh b́nh thường. Hiện tại, con người bận rộn công việc, dù kinh điển nhà Phật rất hay, rốt cuộc vẫn chẳng thể hoàn toàn phù hợp nhu cầu con người hiện đại. Bởi thế, nghiên cứu, học tập để báo cáo có mối quan hệ thân thiết đối với cuộc sống, đức hạnh, tu tŕ, gia đ́nh mỹ măn, xă hội yên ổn, tốt đẹp. Nêu ra cách nghiên cứu, tu tập, gạn lấy những tinh hoa, khiến cho những ư nghĩa trọng yếu trong kinh được phô bày rơ ràng, chúng ta nghe xong chắc chắn sẽ đạt được lợi ích chân thật.
Trước khi báo cáo, trước hết hăy giới thiệu kinh Hoa Nghiêm.
Đại Tạng Kinh là hết thảy những pháp Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói trong bốn mươi chín năm; rốt cục, đức Phật giảng cho chúng ta những ǵ? Trong kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật nói đến ba thứ chân thật:
1) Chân thật tế.
2) Chân thật trí huệ.
3) Chân thật lợi ích.
Trong bốn mươi chín năm, đức Phật giảng cho chúng ta hết thảy kinh là giảng “Thật Tướng của các pháp”. Nói theo ngôn ngữ hiện đại, Thật Tướng của các pháp chính là chân tướng của nhân sanh vũ trụ. Nhân sanh chính là bản thân con người chúng ta; vũ trụ là hoàn cảnh sanh sống của chúng ta. Đức Thế Tôn xuất hiện trong thế gian, những điều Ngài giảng trong bốn mươi chín năm chính là chân tướng và hoàn cảnh chúng ta đang sống. Phật giáo về bản chất chính là những điều răn dạy của Thích Ca Mâu Ni Phật đối với hết thảy chúng sanh trong mười pháp giới; Phật giáo không phải là tôn giáo, mà là giáo dục. Giáo dục Phật giáo cứu cánh viên măn, giúp chúng ta phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui. Phá mê khai ngộ là chân thật trí huệ, ĺa khổ được vui là chân thật lợi ích. Lăo ḥa thượng Hư Vân dạy chúng ta: “Học Phật phải tin sâu nhân quả, nghiêm tŕ giới luật, tín tâm kiên cố, quyết định hành môn”.
Giáo dục Phật giáo bác đại tinh thâm, bất cứ học thuật hay tôn giáo nào cũng đều chẳng thể sánh bằng được. Chúng ta thời gian, tinh lực một đời hữu hạn, làm sao tu học được? V́ thế phải tinh tuyển (chọn lấy những tinh hoa). Phải chọn lựa, phải hiểu nghĩa. Những đạo lư Phật dạy, những phương pháp đức Phật đă trao, chúng ta phải hiểu rơ ràng để ứng dụng vào cuộc sống thường nhật. Nền giáo học nhà Phật nhằm đem lại cho chúng ta lợi ích chân thật, nói cụ thể là cả một đời hạnh phúc, sung sướng, gia đ́nh mỹ măn, sự nghiệp thuận lợi, xă hội yên ổn, tốt đẹp, quốc gia giàu mạnh, thế giới ḥa b́nh, nền giáo dục của Phật Đà đều thực hiện được hết. Đó chỉ là Hoa Báo, tức là quả báo trong đời này; quả trong đời sau gọi là Quả Báo, càng thù thắng hơn nữa. Đặc biệt là Hoa Nghiêm quả báo thù thắng, chúng ta không cách ǵ tưởng tượng nổi đâu!
Kinh Hoa Nghiêm là kinh bậc nhất trong nhà Phật, là pháp luân viên măn của đức Phật. Bộ kinh này chính là cương lănh của toàn bộ Phật pháp, là khái luận của toàn bộ Phật học. Hết thảy kinh đều là quyến thuộc của kinh Hoa Nghiêm, đều là một bộ phận nào đó của kinh Hoa Nghiêm. Bộ kinh này giảng toàn thể nhân sanh vũ trụ; kinh này viên măn như thế nào? Đến tối hậu, mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc th́ kinh này mới là viên măn rốt ráo.
Cổ nhân nói: “So trong hết thảy kinh, kinh Hoa Nghiêm là bậc nhất. Đem kinh Hoa Nghiêm so với Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ bậc nhất. Hoa Nghiêm đến tối hậu, Phổ Hiền dùng mười nguyện dẫn về Cực Lạc mới là viên măn, kinh Vô Lượng Thọ từ đầu đến cuối chữ nào câu nào cũng giảng về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Bởi thế, kinh Vô Lượng Thọ là chỗ quy túc của kinh Hoa Nghiêm”.
Đại sư Thiện Đạo đời Đường nói: “Hết thảy chư Phật Như Lai thị hiện trong nhân gian thuyết pháp chỉ nhằm giới thiệu công đức lợi ích của Tây Phương Cực Lạc thế giới cho mọi người”.
Kinh Hoa Nghiêm có ba bản dịch (1): bản dịch đời Tấn gồm sáu mươi quyển, bản dịch đời Đường gồm tám mươi quyển, bản dịch bốn mươi quyển thuộc niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường Đức Tông (thường gọi là Tứ Thập Hoa Nghiêm). Tứ Thập Hoa Nghiêm bao gồm toàn văn phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện. Đại sư Thanh Lương phán định kinh Hoa Nghiêm gồm “thất xứ cửu hội” (chín pháp hội giảng kinh ở bảy nơi) (2).
Nội dung kinh này theo đại sư Thanh Lương phán định gồm bốn khoa lớn “tín, giải, hạnh, chứng” (3), chúng ta cần phải hiểu rơ. Nội dung kinh này ngoài bốn phần trên ra, c̣n có năm tầng nhân quả (ngũ châu nhân quả): Mười một quyển đầu là Sở Tín Nhân Quả; bốn mươi mốt quyển giữa trước hết giảng về Nhân Quả Sai Biệt, phần sau giảng về Nhân Quả B́nh Đẳng; bảy quyển giảng về Thành Hạnh Nhân Quả, tức là phẩm Ly Thế Gian, hoàn toàn giảng về phương pháp tu hành; hai mươi mốt quyển sau cùng giảng về Chứng Nhập Nhân Quả (trong Tứ Thập Hoa Nghiêm, phần này thuộc quyển bốn mươi).
Ngoài ra, c̣n nói đến Lục Tướng, Thập Huyền Môn, Tứ Pháp Giới (4), đấy chính là chân tướng nhân sanh vũ trụ, tức là chân tướng của chúng ta và hoàn cảnh sanh hoạt. Nói đến đại thế giới, nói đến vũ trụ th́ trong kinh này đức Phật giảng hai mươi tầng Hoa Tạng thế giới; nói như bây giờ là Vũ Trụ Quan. Về phương diện hành môn, kinh này đặc biệt chú trọng “trải sự để luyện tâm”. Tu hành từ đâu? Tu hành ngay trong sanh hoạt thường nhật, ngay trong những lúc mặc áo, ăn cơm, xử sự, đăi người, tiếp vật mà luyện tập cái tâm thanh tịnh, tâm quảng đại, tâm b́nh đẳng, tâm đại từ đại bi của chính ḿnh th́ mới là thọ dụng chân thật.
Thiện Tài đồng tử tham phỏng năm mươi ba lần là điểm đặc sắc của kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm chẳng những có lư luận viên măn, phương pháp châu đáo tường tận mà c̣n có Thiện Tài và Văn Thù, Phổ Hiền…năm mươi ba vị đại Bồ Tát biểu diễn cho chúng ta, dạy chúng ta tu hành như thế nào. Năm mươi ba vị thiện tri thức đại diện nam, nữ, già, trẻ, các hạng, các nghiệp trong xă hội hiện tại. Đại Thừa Phật pháp ai cũng học được, ai cũng tu được, ai cũng thành tựu được. Hễ chân chánh phát tâm học Phật th́ chỉ có mỗi một ḿnh ta là học tṛ. Thiện Tài đồng tử không có đồng bạn, không có đồng học, gặp ai cũng đều là thiện tri thức; nói như bây giờ: Ai cũng là thầy ḿnh cả. Khổng Tử nói: “Ba người cùng đi, ắt có người là thầy ta”. Người tốt lẫn kẻ xấu đều là thầy ḿnh.
Người tốt làm chuyện tốt, chúng ta phải học theo; họ là thầy của ḿnh. Kẻ ác làm chuyện ǵ chúng ta phải cảnh tỉnh, chẳng được học theo; họ cũng là thầy của ta. Khi tham phỏng bậc Bồ Tát Cửu Trụ là Thắng Nhiệt Bà La Môn, ông ta ngu si, Thiện Tài chẳng học theo cái ngu si đó. Khi tham phỏng Đệ Thất Hạnh Vị Bồ Tát là Cam Lộ Hỏa Vương, tâm sân khuể nặng nề; bậc Đệ Ngũ Hồi Hướng Bồ Tát là Phạt Tô Mật Đa nữ là một cô gái điếm, đại biểu cho tham ái. Ba vị đại Bồ Tát tượng trưng cho ba độc phiền năo Tham - Sân - Si. Trong xă hội hiện thời, bậc tri thức có đủ Tham - Sân - Si chẳng ít, nếu chúng ta có được trí huệ như Thiện Tài, có bản lănh như Thiện Tài, chúng ta hành xử giống như Ngài th́ sẽ thành được Vô Thượng Đạo chẳng trở ngại ǵ.
Kinh này cho thấy hành Bố Thí chẳng trở ngại viên dung, viên dung chẳng trở ngại việc hành Bố Thí. Đại Thừa Phật pháp tu học siêu việt quốc giới, chủng tộc, tôn giáo, c̣n siêu việt cả thiện ác, siêu việt mười pháp giới; đó là những điều chúng ta phải nhận thức, thể hội từ kinh Hoa Nghiêm. Mỗi một địa vị, giai cấp có một thiện hữu đại biểu, chỉ ḿnh Đức Sanh đồng tử và Hữu Đức đồng nữ là cùng hiện diện trong một hội: Đức Sanh đồng tử đại biểu trí huệ, Hữu Đức đồng nữ đại biểu từ bi. Bi - Trí song vận mới ḥng mau chóng đạt đến cảnh giới rốt ráo viên măn. Đây là dạy chúng ta trong cuộc sống, đối người xử vật phải có trí huệ, phải có phương tiện thiện xảo.
Thiện Tài đồng tử tham phỏng Di Lặc Bồ Tát, thăm viếng lầu gác của ngài Di Lặc - [lầu gác ấy] nói như bây giờ là thư viện - chẳng những chứa sách phong phú mà băng ghi âm, băng ghi h́nh cũng rất phong phú. V́ sao vậy? V́ trong lầu gác đó có thể nh́n thấy vô lượng vô biên các cơi nước Phật giống như h́nh ảnh xuất hiện trên màn bạc. Bởi thế, thư viện đó chính là “thị thính đồ thư quán” (thư viện có đủ phương tiện, tài liệu âm thanh lẫn h́nh ảnh). Thiện Tài đến đó đại khai viên giải, hiểu viên măn. Cuối cùng, vị thiện tri thức thứ năm mươi ba là Phổ Hiền Bồ Tát, dạy đồng tử mười đại nguyện, mười đại nguyện tiêu biểu cho hạnh môn viên măn. Thư viện của ngài Di Lặc là học vấn viên măn, mười đại nguyện vương của Phổ Hiền đại sĩ là đức hạnh viên măn. Học vấn và đức hạnh đều viên măn là thành Phật, đạt đến đó là thành tựu vô thượng Phật đạo. Đấy chính là điều khải thị viên măn rốt ráo vĩ đại của kinh Hoa Nghiêm.
Trong kinh này, đức Phật dạy chúng ta: Chẳng học theo hạnh nguyện Phổ Hiền sẽ chẳng thể viên thành Phật đạo. Sau khi tham phỏng Di Lặc Bồ Tát, Thiện Tài đồng tử bèn tiếp nhận lời Phổ Hiền Bồ Tát dạy răn. Do đây ta biết rằng: hạnh nguyện Phổ Hiền là những việc phải tu tập của bậc Đẳng Giác Bồ Tát, chẳng phải là chuyện để người tầm thường tu tập. Nói rộng ra, hạnh nguyện ấy là chuyện phải tu của bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ. Trong bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ, địa vị thấp nhất là Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo; trước khi đạt đến Sơ Trụ vẫn có thể phát tâm tu học hạnh nguyện Phổ Hiền nhưng nhất định chưa thể làm được. “Phổ Hiền Bồ Tát sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ mười đại nguyện mới viên măn”. Câu này rất đáng để chúng ta suy nghĩ. Văn Thù và Phổ Hiền đều phát nguyện cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, Phổ Hiền là Pháp Vương Tử của đức Tỳ Lô Giá Na Phật trong Hoa Tạng thế giới, là bậc Đẳng Giác Bồ Tát trong Viên Giáo, Ngài sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới để làm ǵ? Do câu này ta t́m được đáp án, Ngài về đó để tu cho viên măn mười đại nguyện vương.
Mục đích duy nhất của Tịnh tông học nhân là cầu sanh Tịnh Độ. Sanh về Tịnh Độ bất thoái thành Phật là lợi ích chân thật của Tịnh tông. Giải môn (mặt lư luận, giáo nghĩa) của Tịnh tông y vào năm kinh một luận, hạnh môn (mặt tu tập, thực hành, phương pháp tu tập cụ thể) là một câu A Di Đà Phật. Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối là Chánh Hạnh. Ngoài Chánh Hạnh, c̣n cần phải có Trợ Hạnh, Chánh Trợ Song Tu. Trợ Hạnh của Tịnh Tông gồm năm khoa mục: ba phước, sáu ḥa kính, lục độ, Phổ Hiền thập đại nguyện vương.
Cơ sở của Phổ Hiền hạnh là ba phước. Phước thứ nhất trong ba phước là tu phước báo nhân thiên. Muốn được thành Phật, thành Bồ Tát th́ trước hết phải làm người cho tốt. Bắt đầu học từ đâu? Phước thứ nhất là “hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập Thiện nghiệp”, học Phật bắt đầu từ đó. Toàn bộ Phật pháp chỉ là dạy hai chữ Hiếu Kính mà thôi!
“Hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng”: Chỉ có thành Phật mới có thể hiếu với cha mẹ, tôn kính sư trưởng viên măn được. Chẳng kính cha mẹ là bất hiếu, chẳng kính sư trưởng cũng là bất hiếu. Anh em bất ḥa khiến cha mẹ đau ḷng cũng là bất hiếu. Làm việc không tṛn trách nhiệm, chẳng có ḷng thành đối với người khác, làm việc chẳng nỗ lực, thân thể không khỏe thường sanh bệnh, tự ḿnh ngày ngày phiền năo, một câu A Di Đà Phật niệm không tṛn, đều là bất hiếu. Không có chuyện ǵ ra ngoài hiếu kính cả, bởi thế Phật cặn kẽ dạy chúng ta đại căn đại bản là “hiếu thân tôn sư” (hiếu với cha mẹ, tôn kính thầy). Chúng ta tự ḿnh thành Phật chẳng những độ được cha mẹ trong đời này mà c̣n độ được cha mẹ trong đời đời kiếp kiếp quá khứ, đấy mới là tận hết đại hiếu.
“Từ bi bất sát”: Từ cơ sở hiếu kính, phát triển thành đại từ đại bi, từ tâm đối với hết thảy chúng sanh. Bất sát là Từ, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm, chẳng nói dối, chẳng uống rượu cũng là Từ. Từ tâm ấy bao gồm hết thảy Tam Học Giới - Định - Huệ. Mở rộng ra, toàn bộ pháp giới đều bao gồm trong ấy; Bất Sát chỉ là nêu lên một thí dụ. Phàm hễ làm cho chúng sanh sanh phiền năo th́ tâm địa chúng ta chẳng Từ, chính ḿnh sanh phiền năo cũng là chẳng Từ.
“Tu Thập Thiện nghiệp”: Thập Thiện chẳng phải là Giới mà là thiện nghiệp. Ba điều thiện nơi thân: chẳng sát sanh, chẳng trộm cắp, chẳng tà dâm; bốn điều thiện nơi miệng: không vọng ngữ (chẳng dối người), không lưỡng thiệt (chẳng khêu gợi thị phi), không ỷ ngữ (chẳng hoa ngôn xảo ngữ), không ác khẩu (chẳng nói năng thô lỗ); ba điều thiện nơi ư: chẳng tham, chẳng sân, chẳng si. Đức Phật dạy chúng ta tu học mười loại thiện hạnh lớn nơi thân - ngữ - ư. Ai thực hiện tốt những điều ấy mới gọi là hảo nhân.
Phước thứ nhất là cơ sở, có hiếu thân, tôn sư, từ tâm, thập thiện th́ mới có tư cách vào cửa Phật học Phật, làm học tṛ của Phật Thích Ca.
Phước thứ hai: “Thọ tŕ Tam Quy, đầy đủ các giới, chẳng phạm oai nghi”. Phước thứ hai là chuyện phải tu của người tu Nhị Thừa, chân chánh bước vào cửa Phật. Người Nhị Thừa tu Tam Học Giới - Định - Huệ.
“Thọ tŕ Tam Quy”: Quư vị bước vào cửa Phật, trước hết đem phương pháp, lư luận tu học nhà Phật truyền cho quư vị, đó gọi là “truyền thọ Tam Quy”. Tam Quy Y: Quy là quay đầu, Y là nương tựa. Quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng); Tam Bảo trong tự tánh. Lục Tổ nói: “Nào ngờ tự tánh vốn sẵn có đủ”. Tự tánh vốn sẵn đủ Tam Bảo, nay ta quy y là quy y Tự Tánh Tam Bảo. Tam Quy:
1) Quy y Phật: Phật là Tự Tánh Giác, giác chứ không mê. Từ hết thảy mê hoặc điên đảo quay trở về nương dựa vào Tự Tánh Giác, nên gọi là “quy y Phật”.
2) Quy y Pháp: Pháp là chánh tri chánh kiến nơi tự tánh. Kinh Pháp Hoa nói: “Nhập Phật tri kiến”; Phật tri Phật kiến là tư tưởng chánh xác, kiến giải chánh xác, hoàn toàn hiểu rơ chân tướng nhân sanh vũ trụ, chẳng hiểu sai lầm một điểm ǵ. Từ chỗ suy nghĩ lầm lạc, kiến giải lầm lạc trước kia, nay quay lưng với những lầm lạc ấy, về nương dựa nơi chánh tri chánh kiến của tự giác th́ gọi là “quy y Pháp”.
3) Quy y Tăng: Tăng là tự tánh thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh, chẳng nhiễm mảy trần. Lục Tổ nói: “Nào ngờ tự tánh vốn sẵn thanh tịnh”. Từ hết thảy nhiễm ô quay đầu trở lại, nương vào tâm thanh tịnh sẵn có, th́ gọi là “quy y Tăng”.
Quy y Phật giác chứ không mê, quy y Pháp chánh chứ chẳng tà, quy y Tăng tịnh chứ chẳng nhiễm. Tu học Phật là Giác - Chánh - Tịnh. Tựa đề kinh Vô Lượng Thọ là Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh. Tam Bảo cũng nằm trong tựa đề kinh. Giác là Phật Bảo, B́nh Đẳng là Pháp Bảo, Thanh Tịnh là Tăng Bảo. Năm chữ “Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác” chính là Tự Tánh Tam Bảo. Chúng ta nương vào năm chữ này tu hành mới là thọ tŕ Tam Quy chân chánh, mới thật là đệ tử Phật. Sau khi hiểu rơ cương lănh tu hành rồi, đối trước tượng Phật, Bồ Tát, phát thệ nguyện sâu nặng: “Mong trở thành học tṛ đức Phật, xin được tiếp nhận lời Phật răn dạy, từ nay trở đi, con nhất định tu hành thanh tịnh”. Thỉnh một vị pháp sư chứng minh, cử hành nghi thức Tam Quy. Thật sự trọng yếu là phải quy y Tự Tánh Tam Bảo. Tam Quy xong, đức Phật dạy chúng ta phải có đủ các giới, chẳng phạm oai nghi.
“Đầy đủ các giới”: Tŕ giới là giữ pháp. Chẳng riêng ǵ những giới điều đức Phật đă nói như Ngũ Giới, Thập Giới, Tỳ Kheo Giới, Bồ Tát Giới, mà phàm hết thảy những răn dạy trong hết thảy các kinh luận, mỗi mỗi đều là giáo giới cả. Hiến pháp, pháp luật, quy định, hiến chương đều thuộc phạm vi của giới luật, đều phải tuân thủ; phong tục, tập quán và quan niệm đạo đức mỗi nước cũng phải tuân thủ.
“Chẳng phạm oai nghi”: Oai nghi là lễ tiết, lễ mạo. Chúng ta không những giữ pháp mà c̣n phải hiểu lễ th́ mới được đại chúng hoan nghênh, mới có thể làm cho Phật pháp được lưu truyền rộng răi các nơi. Phước thứ hai là việc thiện của Nhị Thừa.
Phước thứ ba: “Phát Bồ Đề tâm, tin sâu nhân quả, đọc tụng Đại Thừa, khuyến tấn hành giả” là việc thiện của Đại Thừa Bồ Tát.
“Phát Bồ Đề tâm”: Bồ Đề là tiếng Phạn, có nghĩa là Giác, chân chánh giác ngộ. Chân chánh giác ngộ lục đạo luân hồi rất khổ, chẳng được tự tại. Chân chánh giác ngộ sự giáo dục của đức Phật giúp chúng ta giải quyết hết thảy vấn đề, vấn đề hiện tại, vấn đề tương lai, vấn đề tự thân, vấn đề gia đ́nh, vấn đề sự nghiệp, vấn đề xă hội, cho đến vấn đề sau khi chết đi sẽ sanh trong thế giới nào, thảy đều giải quyết hết. Chân chánh giác ngộ đạt đến Tây Phương Cực Lạc thế giới ngay trong lúc c̣n sống là chuyện nhất định chúng ta có thể làm được. Sau khi giác ngộ như vậy mới gọi là “phát Bồ Đề tâm”. Chân chánh giác ngộ mới có hy vọng xuất ly luân hồi.
“Tin sâu nhân quả”: Nhân quả ở đây chẳng phải là nhân quả kiểu việc lành có quả lành, việc ác có ác quả, đức Phật dạy hàng Bồ Tát tin sâu nhân quả là ngụ ư “niệm Phật là nhân, thành Phật là quả”. Loại nhân quả này rất nhiều vị Bồ Tát chẳng biết, cũng chẳng tin tưởng. Niệm A Di Đà Phật, văng sanh bất thoái thành Phật là quả báo, là phương pháp tu học thù thắng. Nếu chúng ta tin sâu chẳng nghi, quyết định thọ tŕ, trong một đời này sẽ nhất định thành Phật. Pháp môn Niệm Phật vạn người tu vạn người đạt, cốt sao quư vị tin thật nguyện thiết, lấy một câu Phật hiệu làm sự việc trọng đại của cả một đời, trong mười hai thời từ sáng đến tối trong tâm chẳng buông bỏ Phật hiệu, chân chánh thực hiện chẳng hoài nghi, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, không một ai chẳng thành công. Đó gọi là “tin sâu nhân quả”.
“Tụng đọc Đại Thừa”: Tôi khuyên các đồng tu chỉ đọc một bộ Vô Lượng Thọ là nhằm dụng ư đoạn phiền năo. Lúc chẳng niệm kinh bèn suy nghĩ bậy bạ, sanh ra phiền năo. Phật nói chúng sanh có hai thứ Chướng: Phiền Năo Chướng và Sở Tri Chướng. Hai Chướng này do đâu mà có? Phẩm Xuất Hiện trong kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, chỉ v́ vọng tưởng chấp trước nên chẳng thể chứng đắc”. Một lời đức Phật vạch trần gốc bệnh của chúng ta.
Vọng tưởng phát triển thành Sở Tri Chướng; chấp trước phát triển thành Phiền Năo Chướng. Mục đích của đọc kinh là phá hai Chướng đó, khôi phục tâm địa thanh tịnh, rồi mới dùng cái tâm thanh tịnh, tâm chân thành, tâm cung kính, tâm từ bi chấp tŕ danh hiệu th́ danh hiệu ấy mới có cảm ứng. Kẻ lợi căn trong ṿng năm mười năm đắc thanh tịnh tâm, sau đấy mới có thể thực hiện “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, mới có thể ngao du trong kinh luận Đại Thừa. Kẻ căn tánh trung hạ, nếu mười năm tâm vẫn chưa thanh tịnh, th́ phải phát nguyện suốt đời niệm một bộ kinh, pháp môn vô lượng thệ nguyện học đợi đến lúc sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới mới học cũng chẳng muộn. Tập trung tinh lực trong thời gian một đời chuyên cầu Tây Phương Tịnh Độ, hoàn toàn chẳng phân tâm. Tây Phương Cực Lạc thế giới thọ mạng vô lượng, hết thảy kinh điển viên măn đầy đủ giống hệt như của mười phương chư Phật đă nói chẳng thiếu ǵ. Lúc đó, A Di Đà Phật là thầy ḿnh, Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền là đồng học, là bầu bạn, quư vị nhất định phải thành tựu. Nếu thật sự có tâm từ bi th́ cũng phải đảm bảo ḿnh được văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi mới ngao du trong các kinh luận Đại Thừa khác.
Nếu chưa nắm chắc chuyện văng sanh, th́ phải bớt làm chuyện hoằng pháp lợi sanh, nếu không sẽ bị uổng mất chuyện văng sanh. Kinh Vô Lượng Thọ dạy: “Giả linh cúng dường hằng sa thánh, bất như kiên dũng cầu Chánh Giác” (Ví như cúng dường hằng hà sa số bậc thánh, cũng chẳng bằng kiên định, dũng mănh cầu đắc Chánh Giác), ư nói: Tự độ cầu văng sanh là chuyện trọng yếu. Tự ḿnh đă nắm chắc chuyện văng sanh mới có thể phát tâm rộng độ chúng sanh; văng sanh chưa nắm chắc th́ niệm Phật nhiều phải là chuyện khẩn yếu hơn. Độ chúng sanh phải có duyên phận và năng lực. Có ba phước, sáu ḥa kính, Tam Học (Giới - Định - Huệ), Lục Độ làm cơ sở, tu học mười nguyện Phổ Hiền mới ḥng đạt lợi ích.
Thế nào là hạnh nguyện Phổ Hiền? Nơi quả đức Như Lai viên măn, nhất định phải tu đại hạnh th́ phước đức mới ḥng viên măn. Mỗi một hạnh môn đều tương ứng với tự tánh, nhưng mỗi một hạnh môn lại trọn khắp pháp giới. Đă thế, mỗi một hạnh môn lại bao trùm hết thảy hạnh; hết thảy hạnh cũng đều bao gồm trong một hạnh. Đấy chính là bản thể của Phổ Hiền hạnh, mà cũng là hạnh Phổ Hiền Bồ Tát thực hành. Nói cách khác, do phương pháp tu hành này mà thành tựu Phổ Hiền Bồ Tát. Cổ đức quy nạp thành mười điều:
1) Sở cầu phổ: Cầu được chứng đắc b́nh đẳng với hết thảy Như Lai. Chúng ta tương lai thành Phật phải b́nh đẳng với hết thảy chư Phật trong mười phương ba đời, chẳng sai biệt mảy may. Đấy là điều chúng ta mong cầu.
2) Sở hóa phổ: Hóa là giáo hóa chúng sanh, Chư Phật Như Lai giáo hóa vô lượng vô biên chúng sanh trong pháp giới, chúng ta cũng phải phát nguyện như vậy.
3) Sở đoạn phổ: Đoạn phiền năo. Kiến Tư phiền năo, Trần Sa phiền năo, Vô Minh phiền năo đều phải đoạn, chẳng thể c̣n lại mảy may phiền năo nào.
4) Sự hành phổ: Trong sanh hoạt thường nhật, bất luận chuyện lớn việc nhỏ, mảy may tơ tóc cũng đều nên xứng với pháp giới, giống hệt như Bồ Tát.
5) Lư hành phổ: Mỗi một việc làm nào cũng đều tương ứng với tự tánh.
6) Vô ngại hành phổ: lư sự vô ngại.
7) Dung thông hành phổ: sự sự vô ngại.
8) Sở khởi đại dụng phổ: đức dụng trọn khắp pháp giới.
9) Sở hành xứ phổ: theo chiều ngang th́ cùng khắp pháp giới, hết thảy các cơi nước Phật và thân tâm của ḿnh không hai, không khác.
10) Tu hành thời phổ: Nói trên phương diện thời gian th́ một niệm và cả kiếp dung thông. Mỗi một nguyện Phổ Hiền đều “hư không giới tận, chúng sanh giới tận, nguyện tôi mới tận”. Nhưng hư không giới, chúng sanh giới, chúng sanh nghiệp chẳng có cùng tận, hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát cũng chẳng có cùng tận; chẳng mệt, chẳng chán!
Đấy là Phổ Hiền hạnh, hạnh môn đạt đến mức độ đăng phong tạo cực.
Duyên do của phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện: Xưa kia, lúc đức Thế Tôn thị hiện thành Phật; lúc ban sơ, nhập định dưới cội Bồ Đề, giảng kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm; giảng thuyết lư sự vô ngại, sự sự vô ngại, cảnh giới một niệm và cả kiếp viên dung. Nói cách khác, siêu việt cả thời gian lẫn không gian, chẳng có thời gian dài hay ngắn, chẳng có không gian xa hay gần. Đây chính là cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật, Bồ Tát chứng đắc.
Phật giảng bộ kinh này, nếu dịch theo nguyên văn tiếng Phạn th́ tựa đề kinh là “Đại Phương Quảng Giác Giả Tạp Hoa Trang Nghiêm kinh”. Người Trung Quốc thích đơn giản, đổi chữ Giác Giả thành Phật, bỏ bớt chữ Tạp, lược bớt chữ Trang, thành ra tựa đề kinh hiện thời là “Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm kinh”. Nh́n từ ư nghĩa của tựa đề kinh, bộ kinh do đức Phật nói đây thật ra chính là hết thảy kinh chúng ta thường giảng:
“Đại Phương Quảng” (5) là Pháp, cũng như kinh Đại Thừa thường nói là Thể, Tướng, đức dụng của Chân Như Tự Tánh.
“Phật” là người chứng đắc; người viên măn công đức thể, tướng, tác dụng của tự tánh th́ gọi là “thành Phật”, ta gọi người ấy là Phật Đà.
“Hoa Nghiêm” là tỷ dụ. Tạp Hoa: Tạp là nhiều màu, có các thứ phẩm lượng, giống như một đại hoa viên, hết thảy các loài hoa đều có mặt hết, cũng chẳng thiếu khuyết ǵ cả. Trang Nghiêm nghĩa là đẹp đẽ. Hết thảy các pháp đức Phật chứng giống như hoa nhiều màu trang nghiêm. Do đây biết rằng: tựa đề kinh này chẳng phải là tựa đề của riêng một bộ kinh mà là đề mục chung của hết thảy kinh.
Đức Thế Tôn sau khi thành Phật, trong mười bốn ngày (*), đem toàn bộ cảnh giới Ngài chứng đắc viên măn giảng cho Bồ Tát nghe. Hàng Bồ Tát nghe kinh trong hội Hoa Nghiêm thuộc bốn mươi địa vị Pháp Thân đại sĩ, chẳng phải kẻ tầm thường. Hạng người tầm thường há có năng lực vào trong Định của đức Thế Tôn để nghe kinh ư? Chẳng có Định công (công tu tập thiền định) th́ chẳng có duyên phận. Phật nói kinh này, Quyền Giáo Bồ Tát và Thanh Văn, Duyên Giác như đui, như điếc, thấy chẳng được, nghe cũng chẳng được.
Giảng kinh xong, Đại Long Bồ Tát đem kinh này cất giấu dưới Long Cung. Trong ṿng sáu trăm năm sau khi Phật diệt độ, thế gian chẳng có ai thấy được kinh này. Long Thọ Bồ Tát thông minh tuyệt đỉnh, xem khắp kinh luận thế gian và kinh điển của chín mươi sáu thứ ngoại đạo ở Ấn Độ, sanh tâm ngạo mạn. Lúc ấy, Đại Long Bồ Tát hóa thân độ Long Thọ, bảo Long Thọ: “Long cung c̣n có rất nhiều kinh điển khác ông chưa từng thấy qua”. Khi đến Long cung, Long Thọ thấy Đại Long Bồ Tát cất giữ Đại Bản Hoa Nghiêm, có mười tam thiên đại thiên thế giới vi trần bài kệ (mỗi một bài kệ có bốn câu) (6), một tứ thiên hạ vi trần phẩm. Long Thọ Bồ Tát sững sờ, tập khí ngạo mạn tan tành.
Tam thiên đại thiên thế giới thật ra là một đại thiên thế giới, đại thiên thế giới là khu vực hóa độ của một đức Phật. Địa cầu xoay quanh Thái Dương, lấy Thái Dương làm trung tâm, gọi là Thái Dương Hệ. Thái Dương Hệ lại xoay quanh Ngân Hà hệ. Trong quá khứ, có nhiều người cho rằng Thái Dương Hệ là một đơn vị thế giới. Một đại thiên thế giới có một trăm ức đơn vị thế giới như thế. Gần đây, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nêu lên quan điểm, cho rằng: “Mỗi một hệ Ngân Hà là một đơn vị thế giới. Đơn vị thế giới lấy núi Tu Di làm trung tâm, núi Tu Di chẳng thuộc địa cầu, cũng chẳng nằm trong Thái Dương Hệ, mà là do nhiều hằng tinh xoay tṛn [tạo thành]. Núi Tu Di chính là lỗ đen (black hole) do các nhà thiên văn phát hiện, là trung tâm của một Ngân Hà hệ”.
Nếu nói như vậy th́ một đại thiên thế giới do một trăm ức Ngân Hà hệ tạo thành. Phật nói: Trong vũ trụ có vô lượng vô biên đại thiên thế giới. Nhưng bây giờ, giả sử đem các tinh cầu trong một trăm ức Ngân Hà Hệ mài nát thành vi trần, mỗi một vi trần tượng trưng cho một bài kệ, th́ bộ kinh này có mười đại thiên thế giới vi trần kệ. Phân lượng quá lớn, địa cầu không chứa nổi. Phật chỉ cần hai tuần giảng xong kinh này, Phật trí thần thông vĩ đại, khiến chúng ta năm vóc sát đất bội phục.
Trung Bổn Hoa Nghiêm có bốn mươi chín vạn tám ngàn tám trăm bài kệ, một ngàn hai trăm phẩm. Trung Bổn là phần trích yếu của Đại Bổn, phân lượng cũng quá nhiều. Hạ Bổn Hoa Nghiêm là mục lục đại cương trích yếu, tổng cộng mười vạn bài kệ (bốn mươi vạn câu), bốn mươi tám phẩm. Long Thọ Bồ Tát đem Hạ Bổn Hoa Nghiêm ra khỏi Long cung. Từ đó, thế gian mới có kinh Hoa Nghiêm. Cho đến thời đại Đông Tấn, tức là sau khi Long Thọ Bồ Tát viên tịch ba, bốn trăm năm, bộ kinh này được truyền đến Trung Quốc.
Thời cổ, kinh điển chép trên lá Bối, dễ bị thất lạc. Kinh Hoa Nghiêm truyền đến Trung Quốc, kinh văn bị thiếu sót, chỉ c̣n ba vạn sáu ngàn bài tụng (kệ). Đời Tấn, ngài Phật Đà Bạt Đà La (7) dịch sang Hán văn, chia làm sáu mươi quyển, gọi là Lục Thập Hoa Nghiêm. Đời Đường, bà Vơ Tắc Thiên phái người sang Ấn Độ t́m bản kinh này, thỉnh ngài Thật Xoa Nan Đà (8) sang Trung Quốc dịch kinh Hoa Nghiêm, so với bản sáu mươi quyển tăng thêm chín ngàn bài tụng, tổng cộng có bốn vạn năm ngàn bài tụng, gọi là Bát Thập Hoa Nghiêm. Trong niên hiệu Trinh Nguyên đời Đường Đức Tông, Ô Đồ quốc vương tấn cống hoàng đế Trung Quốc một bộ Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm (**), là phẩm cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm. Phẩm này vô cùng hoàn chỉnh, chẳng bị khiếm khuyết, dịch sang tiếng Hán, tổng cộng bốn mươi quyển, gọi là Tứ Thập Hoa Nghiêm.
Tứ Thập Hoa Nghiêm là Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, toàn bộ kinh văn là bốn mươi quyển. Khi Tứ Thập Hoa Nghiêm được phiên dịch, Thanh Lương đại sư (9) tham gia dịch trường. Dịch xong, hoàng đế thỉnh đại sư Thanh Lương viết chú giải. Ngài Thanh Lương chuyên chú nơi kinh Hoa Nghiêm, cả một đời giảng kinh Hoa Nghiêm năm mươi lượt. Tứ Thập Hoa Nghiêm và Bát Thập Hoa Nghiêm gộp lại, trừ khử những phần trùng lập, tổng cộng gồm chín mươi sáu quyển.
Cổ nhân nói: “Chẳng đọc Hoa Nghiêm, chẳng biết nhà Phật phú quư”. Nói cách khác, chẳng đọc Hoa Nghiêm, chẳng hiểu được cái hay của việc thành Phật. Biết được cái hay của việc thành Phật th́ không thành Phật không xong. Đối với việc tu học Phật pháp, kinh này là một bộ kinh vô cùng trọng yếu. Tôi có được ḷng tín ngưỡng nơi Tịnh Độ Tông là do từ kinh Hoa Nghiêm mà có. Thoạt đầu, tôi theo thầy cư sĩ Lư Bỉnh Nam chuyên hoằng Tịnh Độ, đối với việc giảng kinh tôi vô cùng thích thú, c̣n đối với việc Niệm Phật chẳng mặn ṃi cho lắm. Thầy khuyến khích tôi:
- Từ xưa đến nay, không ít tổ sư đại đức đều tu học pháp môn Niệm Phật, chẳng ngại ǵ ông không thử thực hành xem. Nếu chẳng thể thành tựu th́ từ trước đến giờ nhiều người bị mắc lừa, chúng ta bị lừa một phen cũng không sao!
Thầy nói câu này đúng là rát miệng xót ḷng. Khi đó, tôi chẳng hiểu triệt để Tịnh Độ Tông, tín tâm chưa sanh khởi. Măi đến năm Dân Quốc sáu mươi (1971), tôi mới bắt đầu giảng kinh Hoa Nghiêm, giảng suốt mười bảy năm. Đột nhiên có một ngày, tôi nghĩ đến một vấn đề: trong hội Hoa Nghiêm, Phổ Hiền là trưởng tử, Văn Thù là con trai thứ, hai vị Đẳng Giác Bồ Tát là trợ thủ của Tỳ Lô Giá Na, các Ngài tu pháp môn ǵ? Nguyên lai các vị Bồ Tát này niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nhận ra như vậy, tôi vô cùng kinh ngạc; hơn nữa, Thiện Tài đồng tử cũng tu pháp môn Niệm Phật. Hoa Nghiêm đến cuối cùng, mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát dẫn về Cực Lạc. Hiểu rơ điều này trong hội Hoa Nghiêm rồi tôi mới phát sanh tín tâm chân chánh đối với Tịnh Độ tông. Đối với tôi, kinh Hoa Nghiêm có ân sâu rất lớn.
[Phần kinh văn được] báo cáo lần này là quyển cuối cùng của Tứ Thập Hoa Nghiêm. Trong toàn bộ kinh Hoa Nghiêm, quyển này trọng yếu vô cùng, Thanh Lương đại sư gọi nó là “Hoa Nghiêm quan kiện” (mấu chốt của kinh Hoa Nghiêm); cương lănh tu học Hoa Nghiêm hoàn toàn nằm trong quyển này. Nó cũng là tổng kết luận của toàn bộ kinh Hoa Nghiêm. Thanh Lương đại sư đem quyển này lưu hành riêng; niệm một quyển giống như niệm toàn bộ kinh Hoa Nghiêm. Bản chú giải quyển kinh này tốt nhất là cuốn Hoa Nghiêm Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm Biệt Hành Sớ Sao, Sớ là Thanh Lương đại sư chú giải lời kinh; Sao là do Tông Mật đại sư (10) chú giải lời Sớ. Thanh Lương đại sư chú giải đơn giản nhưng sâu xa, học tṛ Ngài là Tông Mật sợ hậu học nghiên cứu, xem đọc gặp khó khăn, nên lại chú thích tường tận một lần nữa. Đề tài lần giảng này là “Phổ Hiền Bồ Tát Hạnh Nguyện đích khải thị”, không giải thích theo từng câu văn mà chỉ báo cáo tường tận đại ư từng đoạn mà thôi.
B. Giải thích kinh văn
I. Phần trường hàng
1. Mười đại nguyện vương
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát xưng thán Như Lai thắng công đức dĩ, cáo chư Bồ Tát cập Thiện Tài ngôn:
- Thiện nam tử! Như Lai công đức, giả sử thập phương nhất thiết chư Phật, kinh bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số kiếp, tương tục diễn thuyết, bất khả cùng tận. Nhược dục thành tựu thử công đức môn, ưng tu thập chủng quảng đại hạnh nguyện. Hà đẳng vi thập?
Nhất giả, lễ kính chư Phật.
Nhị giả, xưng tán Như Lai.
Tam giả, quảng tu cúng dường.
Tứ giả, sám hối nghiệp chướng.
Ngũ giả, tùy hỷ công đức.
Lục giả, thỉnh chuyển pháp luân.
Thất giả, thỉnh Phật trụ thế.
Bát giả, thường tùy Phật học.
Cửu giả, hằng thuận chúng sanh.
Thập giả, phổ giai hồi hướng.
(Lúc bấy giờ, Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát khen ngợi công đức thù thắng của đức Như Lai xong, bảo các Bồ Tát và Thiện Tài (11) rằng:
- Này thiện nam tử! Công đức Như Lai giả sử mười phương hết thảy chư Phật trong các số kiếp (12) nhiều như số cực vi trần (13) trong bất khả thuyết bất khả thuyết (14) Phật sát (15), diễn nói liên tục, cũng chẳng thể nói cùng tận. Nếu muốn thành tựu môn công đức này, hăy nên tu mười thứ hạnh nguyện rộng lớn. Những ǵ là mười?
Một là lễ kính chư Phật.
Hai là xưng tán Như Lai.
Ba là rộng tu cúng dường.
Bốn là sám hối nghiệp chướng.
Năm là tùy hỷ công đức.
Sáu là thỉnh đức Phật chuyển pháp luân.
Bảy là thỉnh đức Phật ở lại nơi đời.
Tám là thường học theo đức Phật.
Chín là hằng thuận chúng sanh.
Mười là hồi hướng khắp tất cả).
“Phổ Hiền Bồ Tát khen ngợi công đức thù thắng của Như Lai xong”: đây là câu để tiếp ư quyển trước. Phẩm này thuộc quyển thứ bốn mươi. Nửa phần sau quyển thứ ba mươi chín là bài kệ tụng rất dài của Phổ Hiền Bồ Tát ca ngợi công đức thù thắng của Như Lai. Chữ “Như Lai” ở đây chỉ chân tâm tự tánh của mỗi người chúng ta, công đức của chân tâm mỗi người chúng ta là vô lượng vô biên; lời ca tụng của Phổ Hiền Bồ Tát chỉ là một giọt nước trong biển cả đó thôi. Phổ Hiền Bồ Tát nói nhiều như vậy cũng nói không hết, mới chuyển đề tài, bảo cùng các Bồ Tát trong hội và Thiện Tài rằng: “Công đức Như Lai giả sử mười phương hết thảy chư Phật trong các số kiếp như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát, diễn nói liên tục, cũng chẳng thể nói cùng tận”.
Một câu nói của Phổ Hiền Bồ Tát đă vạch trần chỗ hay của việc thành Phật. Công đức của tự tánh chúng ta, mười phương hết thảy chư Phật trải vô lượng kiếp cùng xưng nói cũng chẳng thể nói hết được. Học Phật là để minh tâm kiến tánh, kiến tánh bèn thành Phật; phải làm sao cho vô lượng vô biên công đức trong tự tánh chúng ta đều hiện tiền, đều hưởng được tác dụng của những công đức đó. Tự tánh khởi tác dụng th́ có ích lợi ǵ? Khiến cho chúng ta ngay trong một đời này đạt được hạnh phúc, khoái lạc chân chánh, vĩnh viễn chẳng có phiền năo, chẳng khởi vọng tưởng, gia đ́nh mỹ măn, sự nghiệp thuận lợi, xă hội yên ổn, tốt đẹp, thế giới ḥa b́nh; những lợi ích nhỏ nhặt như thế đều có thể đạt được. Lợi ích lớn nhất là trường sanh bất lăo, vĩnh viễn chẳng chết. Đấy đều là những lợi ích công đức sẵn có nơi tự tánh. Chẳng thể không học Phật pháp là do lư do này, v́ thế nhất định phải nỗ lực tu học. Câu nói này của Phổ Hiền Bồ Tát khiến chúng ta nhận thức rơ: Công đức của tự tánh chẳng thể nghĩ bàn.
Phổ Hiền Bồ Tát lại bảo cùng chúng ta: Muốn chứng đắc công đức của tự tánh th́ phải tu mười thứ hạnh nguyện rộng lớn, công đức của tự tánh mới hiện tiền viên măn. Trong năm khoa mục Tịnh Tông Học Hội thực hành th́ khoa mục cuối cùng là mười đại nguyện vương. Mười đại nguyện vương là tầng lầu thứ năm, là tột đỉnh viên măn. Tầng thứ năm cất dựa trên tầng thứ tư; tầng thứ tư là Bồ Tát Lục Độ. Tầng thứ ba là Tam Học Giới - Định - Huệ. Tầng thứ hai là Lục Ḥa Kính. Tầng thứ nhất là ba phước. Ba phước là cơ sở. Cứ y chiếu theo phương pháp này mà nỗ lực tu học th́ ngay trong một đời sẽ đạt đến cảnh giới viên măn.
1.1. Nguyện thứ nhất: Lễ kính chư Phật
Chánh kinh:
Thiện Tài bạch ngôn:
- Đại Thánh! Vân hà lễ kính, năi chí hồi hướng?
Phổ Hiền Bồ Tát cáo Thiện Tài ngôn:
- Thiện nam tử! Ngôn lễ kính chư Phật giả: Sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết Phật sát, cực vi trần số chư Phật Thế Tôn, ngă dĩ Phổ Hiền hạnh nguyện lực cố, thâm tâm tín giải, như đối mục tiền, tất dĩ thanh tịnh thân ngữ ư nghiệp, thường tu lễ kính. Nhất nhất Phật sở, giai hiện bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số thân; nhất nhất thân biến lễ bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số Phật.
Hư không giới tận, ngă lễ năi tận. Dĩ hư không giới bất khả tận cố, ngă thử lễ kính vô hữu cùng tận. Như thị năi chí chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền năo tận, ngă lễ năi tận, nhi chúng sanh giới năi chí phiền năo vô hữu tận cố, ngă thử lễ kính vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ư nghiệp vô hữu b́ yểm.
(Thiện Tài bạch rằng:
- Thưa đại thánh! Thế nào là lễ kính cho đến hồi hướng?
Phổ Hiền Bồ Tát bảo Thiện Tài rằng:
- Này thiện nam tử! Nói “lễ kính (16) chư Phật” là: [Đối với ] chư Phật Thế Tôn nhiều như số cực vi trần trong tất cả hết thảy cơi Phật tột cùng pháp giới, hư không giới (17), mười phương ba đời, tôi do sức hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm tín giải (18), như đối trước mắt, đều dùng thân ngữ ư nghiệp thanh tịnh, thường tu tập sự lễ kính. Nơi mỗi một đức Phật, đều hiện thân như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật, mỗi một thân lễ khắp chư Phật nhiều như số cực vi trần trong bất khả thuyết bất khả thuyết cơi Phật.
Hư không có tận, sự lễ kính của tôi mới tận. V́ hư không chẳng thể tận nên sự lễ kính này của tôi chẳng có cùng tận. Như thế cho đến chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền năo tận, sự lễ kính của tôi mới tận. Nhưng chúng sanh giới cho đến phiền năo chẳng có cùng tận, nên sự lễ kính này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng hề gián đoạn. Thân ngữ ư nghiệp chẳng hề mệt chán).
Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng là hiếu kính; hiếu kính đến mức viên măn rốt ráo là lễ kính chư Phật. Trong Đại Thừa Giới Kinh, đức Phật khai thị rơ ràng: “Hiếu thuận phụ mẫu, sư tăng, hiếu thuận với hết thảy chúng sanh. Hiếu gọi là Giới”. Giới luật Đại Thừa tạo dựng trên cơ sở hiếu đạo. Chữ Hiếu thuộc loại Hội Ư: phía trên là chữ Lăo, phía dưới là chữ Tử, ghép thành chữ Hiếu. Trong chữ Hiếu, các đời tương thông, đời chữ Lăo và đời chữ Tử cùng một thể. Một đời trên (Lăo) c̣n có một đời trên nữa, quá khứ vô thỉ; một đời dưới lại có một đời dưới nữa, vị lai vô chung. Vô thỉ vô chung là một chỉnh thể. Nh́n theo chiều dọc, tổ tiên và con cháu đời sau là một thể; nh́n theo chiều ngang là anh em, thân thích, bè bạn; anh em của anh em, thân thích của thân thích, bè bạn của bè bạn, ngang khắp mười phương. Dọc suốt ba đời, ngang cùng mười phương là toàn thể của pháp giới. Chữ Hiếu là một phù hiệu tiêu biểu toàn thể pháp giới. Chỉ có thành Phật mới có thể tột cùng viên măn đạo Hiếu.
V́ sao chúng ta phải học Phật? V́ chúng ta muốn viên măn tột cùng đạo Hiếu, v́ biết tận hư không, khắp pháp giới chỉ là chính ḿnh mà thôi! Bởi thế, chính Phổ Hiền Bồ Tát tự nói: Muốn “lễ kính chư Phật” th́ phải sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới mới có thể viên măn được nguyện ấy. Phổ Hiền Bồ Tát là một nhân vật đại biểu cho những người văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới trong mười phương thế giới. Phổ Hiền Bồ Tát c̣n như thế, huống ǵ chúng ta? Chúng ta muốn viên măn tột cùng đạo Hiếu, chỉ c̣n cách noi theo Phổ Hiền Bồ Tát; không noi theo Ngài mà toan thành Phật, chẳng có hy vọng ǵ đâu!
Trong kinh Phật dạy, từ Sơ Phát Tâm cho đến khi thành Phật là ba đại A Tăng Kỳ kiếp, trong quá khứ chúng ta đă tu cả vô lượng A Tăng Kỳ kiếp, cớ sao chẳng thành Phật? Là v́ phiền năo không đoạn, đời đời luân hồi lục đạo. Nhận thức Tịnh Độ từ kinh Hoa Nghiêm, chúng ta biết kinh Hoa Nghiêm cuối cùng là niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, v́ thế ta mới chết một ḷng khăng khắng niệm Phật cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, Phổ Hiền Bồ Tát độ chúng ta vậy.
Lễ kính chư Phật, chư Phật là ai? Phật dạy minh bạch: “Hết thảy chúng sanh vốn là Phật”; phàm các hiện tượng do các duyên ḥa hợp mà sanh khởi th́ gọi là “chúng sanh”. Chúng ta nghĩ coi: Có pháp nào chẳng phải là do các duyên ḥa hợp sanh ra hay không? Chỉ có hư không mới chẳng phải là do các duyên ḥa hợp sanh ra. Thân thể của chúng ta, khăn mặt, giảng đường đều là do các duyên ḥa hợp sanh ra, đều gọi là chúng sanh. Kinh Hoa Nghiêm có một câu rất trọng yếu như sau: “T́nh dữ vô t́nh, đồng viên chủng trí”. T́nh là hữu t́nh chúng sanh, chỉ động vật, hữu t́nh chúng sanh trong mười pháp giới. Vô T́nh là vô t́nh chúng sanh, chỉ thực vật, khoáng vật. “Đồng viên chủng trí” là thành Phật. Hữu t́nh chúng sanh có thể tu hành, có thể niệm Phật, có thể thành Phật, c̣n vô t́nh chúng sanh làm sao thành Phật được? Khăn mặt, bàn ghế, khi nào chúng mới thành Phật?
Giờ đây nhờ phẩm Hạnh Nguyện này chúng ta mới vỡ lẽ: hữu t́nh chúng sanh là chư Phật, vô t́nh chúng sanh cũng là chư Phật. Khi nào vô t́nh thành Phật vậy? Y báo chuyển theo chánh báo. Ngày nào chúng ta thành Phật, liền nhận thấy sơn hà đại địa, hết thảy cỏ cây, vi trần thảy đều thành Phật cả, đó là hiện tượng thành Phật. Nếu ngày nào tự thấy ḿnh thành Phật, thấy người khác vẫn chưa thành Phật, th́ nói thật ra, quư vị đang nằm mộng, quư vị khởi vọng tưởng, chắc chắn chẳng phải là thành Phật. Những điều kinh Hoa Nghiêm dạy hoàn toàn là cảnh giới hiện lượng của Phật, Bồ Tát, là những điều các Ngài chính mắt thấy, chính tai nghe, hoàn toàn là chân tướng sự thật, chẳng phải là cảnh giới của phàm phu.
Làm thế nào để học tập pháp môn này? Pháp môn ấy là pháp của Pháp Thân đại sĩ tu tập; chúng ta là phàm phu, một phẩm phiền năo chưa đoạn, chúng ta có thể tu được chăng? Được chứ! Sách giáo khoa thuộc phân ban tiến sĩ trong nhà Phật, chúng ta là học tṛ mẫu giáo cũng áp dụng được, rất kỳ diệu! Kinh điển Phật giáo chẳng thể nghĩ bàn, là kinh điển viên dung. Sách giáo khoa cho kẻ sơ học chính là kinh điển để thành Phật, pháp môn bắt đầu từ việc học cung kính. Dùng tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm cung kính đối đăi hết thảy mọi người, đó là lễ kính chư Phật. Chúng ta đối với Phật, Bồ Tát cung kính phi thường, nhưng đối với người khác kém hơn một tí, th́ chẳng phải là hạnh Phổ Hiền. Hạnh Phổ Hiền là hạnh b́nh đẳng.
Mỗi khóa kinh sáng chúng ta dùng tâm kiền thành cung kính nhất để lễ Phật, sau đấy, dùng cái tâm đó đối đăi người khác. Bất luận đối đăi cha mẹ, người nhà, quyến thuộc, bằng hữu, đồng sự, hết thảy người thiện kẻ ác trong xă hội, đều dùng một tấm ḷng chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, cung kính để đối đăi, đó là hạnh Phổ Hiền. Ngoài con người ra, cũng phải dùng cái tâm chân thành, tâm thanh tịnh, tâm b́nh đẳng, tâm cung kính để đối đăi hết thảy vạn vật. Khăn mặt là chư Phật, dùng khăn xong đừng vo thành một cục vứt lung tung, phải xả sạch, phơi khô, xếp ngay ngắn, đó là thể hiện ḷng cung kính đối với nó. Bàn ghế cũng là chư Phật, phải chùi sạch, xếp ngay ngắn đó là ḷng cung kính đối với nó. Đối với sự, bất cứ sự việc nào ḿnh đảm trách cũng phải tận tâm tận lực làm cho viên măn, đó là cung kính đối với sự, chẳng thể qua loa tắc trách, đừng đùn đẩy lẫn nhau.
Pháp môn này khó, chẳng dễ tu, nó vốn là pháp tu của Đẳng Giác Bồ Tát; chúng ta học lớp mẫu giáo, phải gắng hết sức ḿnh dẫu chưa thể thực hiện viên măn. Học được một phần là được một phần lợi ích; lợi ích lớn lao chẳng thể nghĩ bàn. Nêu một thí dụ: Nếu có thể dùng cái tâm chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, cung kính để đối đăi người và sự vật th́ quư vị vĩnh viễn chẳng sanh phiền năo, trong tâm khoái lạc khôn sánh, ngay lập tức đạt được hạnh phúc, khoái lạc. Hiện tại v́ sao quư vị chẳng hạnh phúc, sung sướng? Là v́ trong tâm quư vị phân biệt kẻ này tốt, người kia xấu, suốt một ngày từ sáng đến tối phân biệt, chấp trước, phiền năo vọng tưởng chẳng ngừng, làm sao quư vị hạnh phúc, sung sướng cho được? Nếu muốn tu hạnh phúc, sung sướng th́ hạnh Phổ Hiền là nhanh chóng hữu hiệu nhất. Quư vị cứ thử mở rộng tâm lượng đi. Chỉ cần quư vị chân chánh phát tâm, Phổ Hiền Bồ Tát bèn gia tŕ quư vị. Kinh dạy: “Tôi do sức hạnh nguyện Phổ Hiền, thâm tâm tín giải, như đối trước mắt”. Thần lực Phổ Hiền Bồ Tát gia tŕ, chúng ta nỗ lực đôi chút, gắng sức đôi chút, cũng có thể đạt được mấy phần.
“Đều dùng thân ngữ ư nghiệp thanh tịnh, thường tu tập sự lễ kính”: Lễ là lễ mạo, lễ tiết. Chẳng những đối với người phải có lễ, mà đối với vật cũng phải có lễ. Nếu tâm chí thành cung kính, biểu hiện bên ngoài sẽ hợp với lễ tiết. Tâm thanh tịnh là chân tâm, trong tâm thanh tịnh chẳng có thị phi nhân ngă, phân biệt, chấp trước. Bồ Tát dùng tâm thanh tịnh để tu tập lễ kính thường chẳng gián đoạn. Tu học Phật pháp thành hay bại cốt ở tâm nhẫn nại. Có nhiều người lúc mới phát tâm rất dũng mănh, được mấy ngày bèn ngă ḷng. Nếu có thể giữ được cái tâm ban đầu chẳng thoái chuyển th́ không có một ai chẳng thành Phật chỉ trong một đời. Ở đây, Phổ Hiền Bồ Tát làm gương, khuyến khích chúng ta phải ǵn giữ cái tâm ban đầu. Ngài nói: “Hư không giới tận, sự lễ kính của tôi mới tận”. Hư không giới chẳng thể tận, chúng ta phát nguyện tu đại hạnh Phổ Hiền, cũng chẳng thể thoái chuyển. Ngài lại nói: “Chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền năo tận, sự lễ kính của tôi mới tận”. Thế giới nhân khẩu ngày càng tăng trưởng, chúng sanh giới chẳng tận. Phiền năo của chúng sanh cũng mỗi ngày một nhiều hơn. Chỉ có học Phật đắc lực, phiền năo mới giảm thiểu. Phiền năo ít đi, trí huệ bèn tăng trưởng. Phiền năo của chúng sanh chẳng thể tận, chúng ta bắt chước Phổ Hiền Bồ Tát lễ kính, đương nhiên cũng chẳng có ngày cùng tận.
Phổ Hiền Bồ Tát lại khuyên lơn chúng ta: “Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn”. Đấy là bí quyết công phu. Người niệm Phật thực hiện được hai câu này trong ṿng từ ba tháng đến nửa năm, công phu niệm Phật đắc lực, quyết định đạt được công phu thành phiến. Hai câu này ư nghĩa hoàn toàn tương đồng với câu “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” của Đại Thế Chí Bồ Tát trong hội Lăng Nghiêm.
“Thân ngữ ư nghiệp chẳng hề chán mệt”: Thân phải thực hiện; chúng ta thấy ai cũng phải lễ kính; ngôn ngữ phải cân nhắc, tâm phải thật sự thanh tịnh, b́nh đẳng, cung kính. Phổ Hiền Bồ Tát dụng tâm thanh tịnh cho nên chẳng mệt mỏi, chẳng buồn phiền. Chúng ta dụng tâm phân biệt, tâm nhiễm ô, nên trong một thời gian dài sẽ mệt mỏi. Trong công việc hằng ngày dùng tâm thanh tịnh, tâm hoan hỷ, tâm lợi ích chúng sanh mà làm, dù công việc vừa nhiều vừa nặng nề, cũng chẳng thấy mệt mỏi, chán nản. Đó là được mấy phần lợi ích do công phu tu học Phổ Hiền hạnh.
Cảnh giới của Phổ Hiền Bồ Tát rộng lớn, đấy chính là điểm khác biệt so với hạnh của các Bồ Tát khác. Phổ Hiền hạnh là hạnh xứng tánh. Bản tánh Chân Như rộng lớn phi thường, Phật thường nói: “Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới” (tâm gồm khắp hư không, lượng trọn các cơi nước nhiều như cát). Mỗi một hạnh nguyện của Phổ Hiền hạnh đều tương ứng với tự tánh; bởi thế, mỗi một hạnh nguyện đều bao trùm hư không pháp giới. Chẳng những tâm địa Phổ Hiền Bồ Tát chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi, mà c̣n rộng lớn vô lượng. Dùng cái tâm như vậy để tu hành th́ hạnh môn ấy mới gọi là Phổ Hiền Hạnh!
1.2. Nguyện thứ hai: Xưng tán Như Lai
Chánh kinh:
Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn xưng tán Như Lai giả, sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế, nhất thiết sát độ, sở hữu cực vi, nhất nhất trần trung, giai hữu nhất thiết thế gian cực vi trần số Phật. Nhất nhất Phật sở, giai hữu Bồ Tát hải hội vi nhiễu. Ngă đương tất dĩ thậm thâm thắng giải, hiện tiền tri kiến, các dĩ xuất quá Biện Tài thiên nữ vi diệu thiệt căn. Nhất nhất thiệt căn xuất vô tận âm thanh hải. Nhất nhất âm thanh, xuất nhất thiết ngôn từ hải, xưng dương tán thán nhất thiết Như Lai chư công đức hải, cùng vị lai tế, tương tục bất đoạn, tận ư pháp giới vô bất châu biến.
Như thị hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền năo tận, ngă tán năi tận, nhi hư không giới năi chí phiền năo vô hữu tận cố, ngă thử tán thán vô hữu cùng tận. Niệm niệm tương tục, vô hữu gián đoạn. Thân ngữ ư nghiệp vô hữu b́ yểm.
(Lại nữa thiện nam tử! Nói “xưng tán Như Lai” là: Tất cả cực vi trần trong tất cả hết thảy cơi nước cùng tận pháp giới, hư không giới, mười phương ba đời. Trong mỗi một vi trần đều có chư Phật nhiều như số cực vi trần trong hết thảy thế gian, nơi mỗi đức Phật đều có hải hội (19) Bồ Tát vây quanh. Tôi sẽ đều dùng sự hiểu biết thù thắng (20) rất sâu, tri kiến hiện tiền (21), [trước mỗi đức Phật] đều hiện lưỡi vi diệu hơn lưỡi của Biện Tài thiên nữ (22). Mỗi một lưỡi phát xuất vô tận biển âm thanh. Mỗi một âm thanh phát xuất hết thảy biển ngôn từ, xưng dương tán thán biển công đức của hết thảy Như Lai đến cùng tận đời vị lai liên tục chẳng ngừng, tột cùng pháp giới không đâu chẳng trọn khắp.
Như thế hư không giới tận, chúng sanh giới tận, chúng sanh nghiệp tận, chúng sanh phiền năo tận, tôi khen ngợi mới tận. Nhưng v́ hư không giới cho đến phiền năo chẳng có cùng tận, sự tán thán này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn, thân ngữ ư nghiệp chẳng hề mệt chán)
Như Lai khác với chư Phật như thế nào? V́ sao không nói “xưng tán chư Phật”? Chư Phật và Như Lai có sai khác. Kinh nói Phật, nói đến chư Phật là nói từ mặt Tướng, nói trên mặt Sự. Nói đến Như Lai là nói từ Tánh (bản tánh). Trên mặt sự tướng chúng ta phải b́nh đẳng cung kính, chẳng phân biệt, chấp trước. Chúng ta tôn kính Phật, Bồ Tát; phàm phu, quỷ thần chúng ta cũng phải tôn kính. Tâm tôn kính và lễ mạo và tôn kính chư Phật chẳng sai khác, cho đến kính sự, kính vật cũng chẳng sai biệt. Đó gọi là “lễ kính chư Phật”.
Xưng tán không giống như thế. Lễ kính là vô điều kiện, xưng tán có điều kiện. Kẻ ác làm chuyện ác, chẳng thể khen ngợi việc họ làm là rất tốt. Sát sanh và trộm cắp cũng chẳng thể khen ngợi. Kẻ sát sanh và trộm cắp chúng ta phải lễ kính, nhưng việc họ làm chúng ta chẳng thể khen ngợi được. Xưng tán là có điều kiện, phải là thiện hạnh và tương ứng với tự tánh th́ mới xưng tán. Chẳng tương ứng tự tánh th́ chúng ta lễ kính nhưng không xưng tán.
Phương pháp tu hành này có thể thấy từ năm mươi ba lần tham học của Thiện Tài đồng tử. Năm mươi ba vị thiện tri thức thị hiện các hạnh, các nghiệp, có những hạnh nghiệp đáng nên tán thán, có những hạnh nghiệp chẳng thể tán thán. Thiện Tài đồng tử lễ kính năm mươi ba vị thiện tri thức, đảnh lễ ba lạy, hữu nhiễu ba ṿng, thái độ cung kính hoàn toàn tương đồng như kính Phật và tán thán bọn họ. Thế nhưng, đối với ba người, Thiện Tài chỉ b́nh đẳng đảnh lễ nhưng không tán thán: Thắng Nhiệt Bà La Môn đại diện cho ngu si, Cam Lộ Hỏa Vương nóng tánh, đại diện cho sân khuể; Phạt Tô Mật Đa nữ là kỹ nữ, đại diện tham ái. Tham - Sân - Si là ba độc phiền năo, Thiện Tài chẳng xưng tán.
Xưng tán là khen ngợi cái hay, ngôn hạnh của người đó rất đáng học theo, đáng làm gương cho chúng ta th́ mới được đại chúng tán thán. Ngôn hạnh chẳng đáng cho mọi người bắt chước theo th́ chẳng thể tán thán. Sự xưng tán của Phổ Hiền Bồ Tát là xứng tánh, chẳng giống với việc khen ngợi b́nh thường, bởi lẽ dụng tâm chẳng tương đồng, mục đích chẳng tương đồng, cảnh giới cũng chẳng tương đồng, giống như chư Phật khen ngợi nhau. Chủ - bạn chứa đựng lẫn nhau, hết thảy chư Phật cũng khen ngợi lẫn nhau. Kinh A Di Đà vốn là kinh “được hết thảy chư Phật hộ niệm”. Không vị Phật nào chẳng giảng kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ. Giảng kinh là tán thán A Di Đà Phật, tán thán y chánh trang nghiêm của Tây Phương Cực Lạc thế giới. Cùng một đạo lư đó, A Di Đà Phật cũng tán thán mười phương hết thảy chư Phật Như Lai.
Trong Phật pháp thường nói đến pháp môn Tổng Tŕ, Tổng Tŕ là nắm giữ vững tổng cương lănh. Tổng tŕ tán thán th́ ngôn ngữ rất đơn giản nhưng ư nghĩa sẽ viên măn như giảng kinh. Tổng tŕ tán thán là chấp tŕ danh hiệu. Hết thảy các kinh do Thích Ca Mâu Ni Phật giảng trong bốn mươi chín năm đều nằm trong một câu Phật hiệu “A Di Đà Phật”. Niệm câu Phật hiệu này là niệm hết tất cả hết thảy kinh đức Thế Tôn đă giảng trong bốn mươi chín năm, phương tiện đơn giản, mới biết danh hiệu có công đức to lớn như thế. Niệm A Di Đà Phật là xưng tán Như Lai.
Xưng tán Như Lai lại c̣n có một tầng ư nghĩa sâu phi thường. Như Lai là Chân Như bản tánh. Chân Như bản tánh của hết thảy chư Phật và Chân Như bản tánh của chính chúng ta là một, chẳng phải hai. Xưng tán Như Lai là xưng tán tánh đức của Chân Như bản tánh của chính ḿnh. A Di Đà Phật chính là chúng ta, Tây Phương Cực Lạc thế giới cũng là chính chúng ta, nên nói: “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”. Tự tánh là Như Lai, duy tâm cũng là Như Lai. Niệm Phật là khuôn phép xưng tán Như Lai cao nhất. Niệm kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà cho đến đọc tụng hết thảy kinh điển Đại Thừa đều là xưng tán Như Lai. Chúng ta dùng cái tâm thanh tịnh chân thành rộng lớn khôn sánh để xưng niệm, đọc tụng sẽ tương ứng với nguyện này.
Muốn xưng tán đến mức viên măn chẳng dễ dàng ǵ. Dẫu chẳng dễ dàng chúng ta vẫn phải nỗ lực, làm được một phần là tốt một phần. Chân chánh phát tâm tu học sẽ được Phổ Hiền Bồ Tát, A Di Đà Như Lai, hết thảy chư Phật gia tŕ. Học Phật chẳng những nhằm để chính ḿnh tu học đạt được lợi ích chân thật, mà c̣n là để báo ân Phật, ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân hết thảy chúng sanh, phải đem những điều hay chân thật phổ biến, đề cao, giới thiệu cho mọi người. Đề cao, giới thiệu là xưng tán Như Lai. Tổ chức pháp hội diễn giảng kinh điển là xưng tán, khuyên người niệm Phật là xưng tán, cho đến tại bất cứ thời gian, địa điểm nào, chúng ta chắp tay niệm một câu A Di Đà Phật đều là xưng tán cả. Xưng tán như thế được oai thần của Phật gia tŕ, được cảm ứng hiện tiền là biện tài. Trước kia chẳng khéo ăn nói, nay nói rất khéo, đó là Phật lực gia tŕ. C̣n có một sự thật do chính tôi thể nghiệm: Kinh điển Phật pháp (thiện pháp) tôi nói rất dễ, ác pháp một câu nói không được. Với thiện pháp có biện tài, với ác pháp không có vậy!
Cảnh giới của nguyện này cũng rộng lớn giống như nguyện trước. Phổ Hiền Bồ Tát nói: “Xưng dương tán thán biển công đức của hết thảy Như Lai đến tận cùng đời vị lai, liên tục chẳng đoạn, tột cùng pháp giới, không đâu chẳng trọn khắp”. Chúng ta có làm được như thế hay không? Điều này thật sự tùy thuộc tâm lượng của chúng ta. Giống như sóng vô tuyến điện, chỉ cần chẳng bị núi cao ngăn trở, sóng điện phát xạ truyền xa vô lượng vô biên; nếu trong khoảng đó bị chướng ngại th́ sóng điện bị gián cách. Tâm của chúng ta cũng giống như thế: Trong tâm có phân biệt, có chấp trước, có phiền năo như núi cao, âm ba xưng dương liền bị chướng ngại, bèn có phạm vi, chẳng thể trọn khắp pháp giới tột cùng hư không. Nếu tâm quư vị rất thanh tịnh, chẳng có phân biệt, chấp trước, chẳng có vọng tưởng, công đức xưng dương đúng là trọn khắp pháp giới, tột cùng hư không. Do đây biết rằng: mấu chốt thật sự là Nhất Tâm, dùng ba tâm (tức tâm vọng tưởng, chấp trước, phân biệt) th́ chướng ngại trùng trùng, chẳng thể trọn khắp.
Phật dạy chúng ta: Quyền Giáo Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác, lục đạo phàm phu đều dùng tám Thức. Tám Thức quy nạp lại là ba tâm hai ư. Ba tâm là A Lại Da Thức, Mạt Na Thức và Đệ Lục Thức. Nhị Ư chỉ Mạt Na Thức (thức căn) và Đệ Lục Thức (ư thức). Chẳng dùng tam tâm nhị ư là dùng Chân Như bản tánh, chỉ cần dùng được Chân Như bản tánh quyết định sẽ trọn khắp pháp giới. Sách Lăng Nghiêm Chánh Mạch chú giải kinh Lăng Nghiêm của Giao Quang đại sư căn cứ vào nghĩa kinh, dạy chúng ta “bỏ Thức dùng Căn”. Bỏ Thức là trong sanh hoạt thường nhật, thấy Sắc nghe Tiếng chớ dùng tám Thức mà phải dùng Chân Tánh. Phàm phu mắt thấy là dùng Nhăn Thức để thấy, tai nghe là dùng Nhĩ Thức để nghe, tức là dùng sáu Thức. Đại sư dạy chúng ta dùng tánh Thấy để nh́n, dùng tánh Nghe để nghe, xoay trở lại như vậy, lập tức thành Phật. Bỏ Thức, dùng Tánh của Căn. Tánh của Căn là thật, chẳng phải hư vọng. Đại Sư đề xướng rất hay, đích thực là bổn ư giảng kinh Lăng Nghiêm của Thế Tôn, chẳng hiểu sai lạc.
Trong phần Tự, đại sư Giao Quang có kể một câu chuyện đáng cho chúng ta thức tỉnh, học theo. Giao Quang đại sư mắc bệnh nặng, A Di Đà Phật đến tiếp dẫn Ngài văng sanh. Công phu niệm Phật chẳng lầm, Phật đến tiếp dẫn, Ngài sực nghĩ các bản chú giải kinh Lăng Nghiêm từ cổ đến nay đều chưa nói lên được bổn ư của Phật. Ngài hướng về A Di Đà Phật xin hẹn, mong ở lại thế gian để viết bản chú giải mới cho kinh Lăng Nghiêm, chú giải xong mới đi. A Di Đà Phật gật đầu cho phép, Sư được lành bệnh. Đó cũng là sanh tử tự tại, đến đi tự do. Bởi thế, âm thanh xưng tán chẳng thể trọn khắp pháp giới th́ chúng ta phải coi lại ḿnh đang dùng cái tâm ǵ. Cổ đại đức dạy chúng ta hai nguyên tắc lớn để học Phật:
1) Nghe kinh phải “tiêu quy tự tánh”: nghe xong phải tương ứng với tự tánh, trọn chẳng được vừa nghe vừa suy nghĩ lung tung.
2) Tu hành chẳng quản là niệm Phật, tŕ chú hay tham thiền, tám vạn bốn ngàn pháp môn đều phải “chuyển Thức thành Trí”. Đấy cũng như nói chẳng dùng tám Thức, chẳng dùng ba tâm hai ư, phải dùng Tự Tánh, dùng căn tánh của sáu căn vậy.
“V́ hư không giới cho đến phiền năo chẳng có cùng tận, sự tán thán này của tôi chẳng có cùng tận. Niệm niệm tiếp nối, chẳng có gián đoạn”: Bồ Tát dạy chúng ta nhất tâm xưng niệm, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp, chẳng hoài nghi mà tu học pháp môn này. “Thân ngữ ư nghiệp chẳng hề mệt chán”: chẳng có chán nản, mệt mỏi. Nếu dụng công đắc lực đúng pháp, xác thực là chẳng mệt, chẳng chán. Có đồng tu niệm Phật đắc lực, một câu Phật hiệu trong lúc ngủ vẫn niệm, mệt mỏi cũng vẫn niệm, niệm đến thân tâm tự tại, khoái lạc khôn sánh. Người chân chánh niệm Phật, càng niệm tinh thần càng phấn chấn, thân thể càng khỏe mạnh.
Thân thể chúng ta do v́ có vọng tưởng, chấp trước, phiền năo nên thân thể phát sanh biến hóa, biến thành chẳng b́nh thường, có bệnh tật. Hiện tại, địa cầu bị môi trường ô nhiễm, mất cân bằng sanh thái, địa cầu đổ bệnh cũng chẳng b́nh ổn. Xú khí tằng (tầng ozone) bị lủng, trời cũng bất b́nh thường. Thân thể có bệnh mà thể chất biến đổi sẽ tự nhiên khôi phục b́nh thường. Thế nào là tự nhiên? Trong tâm chẳng có sự là tự nhiên. Tâm vốn là vô sự. Lục Tổ đại sư nói: “Bổn lai vô nhất vật” (vốn không có một vật). Vốn không có một vật là tự nhiên. Nếu như tâm quư vị thanh tịnh, chẳng có vật ǵ, thân quư vị sẽ tự nhiên khôi phục, tế bào nơi thân thể đổi mới tổ chức, trở thành ổn định vô cùng, thân thể bèn khang kiện, cũng chẳng đổ bệnh, sống lâu.
Người trong Tây Phương Cực Lạc thế giới ai nấy vô lượng thọ, ai nấy trường sanh bất lăo, nguyên nhân là do họ vĩnh viễn giữ ǵn tự nhiên. Muốn biến đổi thể chất chỉ có tu tâm thanh tịnh. Thế gian bàn chuyện thuốc men, tẩm bổ đều chẳng đáng tin. Người tánh t́nh ôn ḥa thiện lương chẳng dễ sanh bệnh; người nóng nảy, hung hăng, tánh t́nh bất hảo thường hay đau bệnh. Biết được chân tướng sự thật, liền hiểu nên làm như thế nào. Thân ngữ ư nghiệp không mệt chán là cương lănh tu học, cũng là công phu chân chánh, phải nỗ lực học tập.
1.3. Nguyện thứ ba: Rộng tu cúng dường (23)
Chánh kinh:
Phục thứ, thiện nam tử! Ngôn quảng tu cúng dường giả: Sở hữu tận pháp giới, hư không giới, thập phương tam thế nhất thiết Phật sát, cực vi trần trung, nhất nhất các hữu nhất thiết thế g