QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KƯ
Phần 1
Chủ giảng:
Lăo pháp sư Thích Diễn Bồi
Chuyển ngữ:
Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Dẫn Nhập
Có lẽ đối với những Phật
tử Hoa Kiều tại Việt Nam, đặc biệt là
những người sống ở vùng Sài G̣n - Chợ Lớn,
phương danh ngài Diễn Bồi là một tên tuổi
quen thuộc. Đại sư từng qua Việt
Lần
đầu tiên, mạt nhân được biết tên tuổi
của Ngài là vào năm 1986. Trong một lần đến
chùa Dược Sư (quận B́nh Thạnh) thỉnh kinh, lục
lạo trong đống kinh sách cũ, vô t́nh mạt nhân t́m
được cuốn A Di Đà Kinh Giảng Kư của pháp
sư Thích Diễn Bồi. Giở xem thấy văn phong khá
giản dị, đủ để một người vốn
liếng chữ Hán nhấp nhem như mạt nhân khi đó
hiểu được dễ dàng ư tác giả qua vài trang
sách đầu tiên. Thế là với bản giảng kinh ấy,
mạt nhân có dịp tập tành luyện đọc văn Bạch
Thoại. Càng đọc càng thấy những lời giải
thích của Ngài tuy giản dị, dễ hiểu, nhưng vẫn
thâm trầm, hàm súc, có thể nói không quá đáng là lời giảng
của Ngài rất lợi lạc cho mọi tầng lớp
người đọc, nhất là hạng hành nhân sơ
cơ. Từ nhân duyên đặc biệt ấy, mạt nhân
tâm nguyện bất cứ khi nào ḿnh có được một
bản giảng kinh nào của Ngài, sẽ cố gắng dịch
sang tiếng Việt.
Đến
năm 2003, mạt nhân lại được đọc bản
Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới Giảng Kư của Ngài qua
tài phiên dịch tuyệt vời của Ḥa Thượng Trí
Minh, mạt nhân càng khâm phục tài giảng kinh của Pháp
Sư Diễn Bồi hơn nữa. Điều đáng mừng
là bản dịch quư giá này của Ḥa Thượng Trí Minh đă
được các trang nhà Phật giáo đón nhận nồng
nhiệt và đăng tải rộng răi.
Xảo
hợp sao, mùa Thu năm nay, trong những sách vở
được Tịnh Tông Học Hội gởi cho, mạt
nhân thấy có cuốn Phổ Môn Phẩm Giảng Kư này. Thế
là chẳng nệ kiến thức chắp vá, chữ
nghĩa vụng về, mạt nhân hăm hở dịch ra
tiếng Việt, ngơ hầu giới thiệu một tác phẩm
đặc sắc khác của lăo pháp sư, với ư nguyện
đền đáp chút ân pháp nhũ của bậc ân sư
ḿnh chưa bao giờ có dịp hội ngộ. Chỉ dám hy
vọng bản chuyển ngữ này chẳng đến nỗi
diễn tả sai lạc hoàn toàn ư nghĩa những lời
giảng thâm diệu của Ngài.
Nếu
việc chuyển ngữ liều lĩnh này có chút phần lợi
lạc th́ xin trên hồi hướng công đức về
ân sư Thích Diễn Bồi, bổn sư Thích Giải Thắng
và lịch đại phụ mẫu, sư trưởng,
dưới hồi hướng cho hết thảy u hiển
hữu t́nh cùng được văng sanh Cực Lạc.
Tiểu sử lăo pháp sư
Thích Diễn Bồi
(1917-1996)
Cư sĩ Vu
Lăng Ba soạn
Chuyển ngữ:
Như Ḥa
Pháp sư Diễn Bồi là vị học giả
trứ danh của Phật giáo đương đại. Mấy
mươi năm tích cực hoằng pháp các nơi, Sư đă
để lại cho đời bộ Đế Quán Toàn Tập
vĩ đại. Toàn bộ Đế Quán Toàn Tập hơn
bốn mươi quyển, tám trăm vạn chữ, bao quát
lư luận các tông phái Tiểu Thừa, Đại Thừa, là
tác phẩm Phật học lớn lao hiếm có. Ở đây,
tôi xin giới thiệu sự nghiệp hoằng hóa của
lăo pháp sư Diễn Bồi như sau:
1. Xuất gia và tham
học:
Pháp sư Diễn Bồi họ Lư, quê ở trấn
Thiệu Bá, Dương Châu, tỉnh Giang Tô, sanh năm 1917
(ngày mồng Một Tháng Mười Hai năm Đinh Tỵ,
tức năm Dân Quốc thứ sáu). Ngài sanh trong một gia
đ́nh nông dân nghèo thuộc Quản Gia Trang tại trấn
Thiệu Bá. Cha là Lư Quốc Cư, mẹ họ Ngô, sanh được
bốn trai, ba gái, Sư là con út. Anh thứ hai lớn hơn
Sư tám tuổi, từ nhỏ đă được gởi
vào chùa Quán Âm ở trấn Lâm Trạch, huyện Cao Bưu làm
một tiểu sa-di chưa chính thức thế độ xuất
gia.
Năm Sư lên 12 tuổi, người anh hai lên
tṛn hai mươi tuổi, được sư phụ cho
chính thức xuất gia, đồng thời cử hành pháp
hội kéo dài bảy ngày. Ngài Diễn Bồi theo cha mẹ đến
dự lễ, vị thầy trong chùa rất thích cậu bé,
thường hay đem kẹo bánh trái cây cho ăn, cậu cảm
thấy trong chùa rất vui, chẳng muốn về nhà nữa,
kiên quyết muốn sống trong chùa. Cha mẹ không biết
làm sao, đành phải để cậu ở lại đó,
hy vọng cậu bé mấy ngày chơi chán sẽ về nhà,
nào ngờ cậu bé ở ĺ luôn trong chùa, không trở về
nữa. Chưa đầy một năm sau, cậu xin sư
phụ chùa Quán Âm thế độ, nhưng sư phụ sợ
cha mẹ cậu không đồng ư nên không chấp thuận.
Cậu tự qua am Phước Điền ở thôn kế
bên, lễ ḥa thượng Thường Thiện xin thế
độ, trở thành một tiểu sa-di, pháp danh là Diễn
Bồi.
Lúc c̣n tại gia, Sư đă học mấy năm
ở trường tư, sau khi xuất gia, sư phụ chẳng
cho Ngài làm tạp vụ, buộc cậu tiếp tục học
hành. Đến năm mười tám tuổi, sư phụ
đem Ngài đến viện giới luật Phước
Thọ thuộc huyện Bảo Ứng để thọ Cụ
Túc Giới. Sau khi thọ giới xong, trở về chùa, sư
phụ giao cho Ngài làm Trụ Tŕ. Ngài Diễn Bồi chẳng
muốn ở măi tại một ngôi chùa nhỏ ở vùng quê,
nhất tâm muốn xuất ngoại cầu pháp. Ngài nại
cớ về thăm cha mẹ, xin thầy cho về. Về
đến nhà rồi, Ngài bèn ngồi thuyền lên Thượng
Hải, xin nhập chúng ở chùa Ngọc Phật. Tự viện
Ngọc Phật Tự chuyên lo pháp sự kinh sám, đúng là
chỗ “ngũ thú tạp cư”; ngài Diễn Bồi ở đó
chẳng lâu lại ra đi, xin nhập chúng tại chùa Pháp
Tạng. T́nh h́nh ở Pháp Tạng tự cũng chẳng hơn
ǵ Ngọc Phật Tự, sư phải lo chuyện kinh sám
cả sáu tháng, dành dụm được chút lộ phí để
sang chùa Quán Tông ở Ninh Ba ḥng được học hành. Ngài
bèn mua vé tàu sang Ninh Ba, vào học tại Giới Đường
chùa Quán Tông, tiếp nhận giáo dục Phật giáo căn bản.
Đó là cuối Xuân năm 1935, Diễn Bồi tṛn hai mươi
tuổi.
Nửa năm sau do thành tích xuất sắc, Sư
được đưa lên học chương tŕnh cao cấp
của Hoằng Pháp Nghiên Cứu Xă. Hoằng Pháp Xă chỉ
chú trọng giảng kinh, chẳng chú trọng soạn thuật;
Sư ở chùa đă hơn năm, viết một lá thư
không suông, có bạn đồng học bảo Sư: “Thầy
muốn học văn tự, tốt nhất là đến
Phật Học Viện Mân
Chẳng lâu sau, do người Nhật Bản
nhiều lượt gây chuyện tại Hoa Bắc, chánh phủ
tích cực chuẩn bị chiến đấu, triệu tập
thanh niên toàn quốc tham gia tập huấn quân sự. Tăng
lữ cũng phải tham gia tập luyện trong đội
cứu thương. Ngài Diễn Bồi phải trở về
huyện Cao Bưu nơi ḿnh xuất gia để tập
huấn. Tháng Bảy năm ấy, sự biến Lư Câu
Kiều bộc phát, kế đó, cuộc chiến ngày Mười
Ba tháng Tám nổ ra ở Thượng Hải, Sư cùng năm
sáu vị đồng học theo pháp sư Từ Hàng đang
giảng kinh tại Vô Tích sang tỵ nạn tại Hương
Cảng, tạm thời ngụ tại tinh xá Di Đà của
pháp sư Ưu Đàm. Bọn họ nghe tin đại sư
Thái Hư đang trông coi viện Giáo Lư Hán Tạng tại Trùng
Khánh, ban giảng huấn giỏi giang, bọn họ rất
háo hức muốn t́m đến. Do vậy, đầu năm
1939, ngài Diễn Bồi cùng các bạn đồng học ở
Mân Nam là Diệu Khâm, Đạt Cư, Văn Huệ, Bạch
Huệ năm người t́m đường sang Việt
Nam, theo đường sông, ngồi xe lửa tuyến đường
Điền - Việt đến Côn Minh. Khi đó, đại
sư Thái Hư đang trụ tích tại Hội Phật Giáo
tỉnh Vân
Khi ấy, chủ nhiệm giáo vụ của viện
Hán Tạng là pháp sư Pháp Phảng yêu cầu họ dùng
danh nghĩa sinh viên bàng thính để tự do theo học các
khóa học. Đó vốn là chủ ư của Thái Hư đại
sư. Đại sư cho rằng tŕnh độ họ chẳng
kém, do được tự do chọn lựa khóa giảng
sẽ học được nhiều thứ. Bởi thế,
họ theo học Bồ Đề Đạo Thứ Đệ
Luận với pháp sư Pháp Tôn, học Câu Xá Luận với
pháp sư Pháp Phảng, học Nhiếp Đại Thừa
Luận với ngài Ấn Thuận.
2. Dạy học kiếm
sống
Mùa Thu năm 1941, Thái Hư đại sư sai
ngài Diễn Bồi sang thành lập Pháp Vương Học
Viện ở chùa Pháp Vương tại huyện Hợp
Giang; năm đó ngài Diễn Bồi hai mươi lăm
tuổi, tích cực nhận trách nhiệm Giám Học, rất
được khen ngợi. Năm Dân Quốc ba mươi
tư (1945), công cuộc kháng Nhật thắng lợi; năm
Dân Quốc ba mươi lăm (1946), sau tiết Thanh Minh, ngài
Ấn Thuận, ngài Diễn Bồi và ngài Diệu Khâm, ba vị
kết đoàn theo công lộ Tây Bắc sang miền Đông,
đến vùng Bảo Kê, tỉnh Thiểm Tây bèn theo đường
sắt Lũng Hải đến tận Khai Phong, dừng
chân tại chùa Thiết Tháp, được trụ tŕ là pháp
sư Tịnh Nghiêm tiếp đón. Do đường xa nhọc
nhằn, thân thể yếu mệt, ngài Ấn Thuận bèn lưu
lại hưu dưỡng ở chùa Thiết Tháp, ngài Diễn
Bồi và Diệu Khâm bèn rời Khai Phong sang Thượng Hải
trước.
Trong khi đó, Thái Hư đại sư trụ
tích tại chùa Ngọc Phật, hai người đến
chùa Ngọc Phật cầu kiến, đại sư bảo:
“Hiện có chuyện cần hai thầy làm, hiện thời
Hàng Châu thành lập Phật Học Viện Vũ Lâm không có người
phụ trách, các thầy nên sang đó chủ tŕ”. Bởi vậy,
hai vị Diễn Bồi, Diệu Khâm bèn sang Hàng Châu. Phật
Học Viện Vũ Lâm đặt tại chùa Linh Phong ở
Hàng Châu, học tăng hơn ba mươi người. Sau
khi khai giảng, ngài Diễn Bồi giảng Câu Xá Luận, ngài
Diệu Khâm dạy quốc văn. Ngoài ra, hai vị pháp sư
c̣n giảng về Phật học. Khai giảng chưa đầy
một học kỳ, nhận được điện tín
từ cố hương Mân Nam yêu cầu trở về, ngài
Diệu Khâm xin nghỉ phép về lại Mân Nam lễ tổ
thăm mẹ. Phật Học Viện do ḿnh ngài Diễn Bồi
duy tŕ. Sư gởi thư cho đại sư Thái Hư xin
cử người khác làm viện trưởng. Về sau, đại
sư cử pháp sư Hội Giác làm viện trưởng, để
ngài Diễn Bồi được giảm bớt gánh nặng,
chuyên đảm trách giáo vụ.
Đến mùa Đông năm 1948, Ấn Thuận
đạo sư nhận lời thỉnh cầu của lăo
ḥa thượng Tánh Nguyện đến chùa Nam Phổ Đà
ở Hạ Môn sáng lập Đại Giác Giảng Xă, gởi
thơ mời ngài Diễn Bồi và pháp sư Tục Minh sang
trước giúp sức. Khi ấy, ngài Diễn Bồi bèn rời
Hàng Châu sang Hạ Môn dạy tại Đại Giác Giảng
Xă. Sau này, ngọn lửa chiến tranh Quốc - Cộng lan
đến Mân Nam, Giảng Xă ngưng hoạt động, pháp
sư Diễn Bồi và pháp sư Năng Tuấn sang Hương
Cảng trước. Chẳng lâu sau, đạo sư Ấn
Thuận và pháp sư Tục Minh cũng theo sang. Người
mới đến Hương Cảng chỗ ở bất
định, các thầy ba lượt đổi chỗ ở,
cuối cùng theo đạo sư Ấn Thuận trú tại
Hương Cảng Phật Giáo Liên Hiệp Hội đặt
tại hội quán ở eo biển. Ngài Diễn Bồi và pháp
sư Tục Minh giảo đính bộ Thái Hư Toàn Thư
cho Thái Hư Đại Sư Toàn Thư Xuất Bản Ủy
Viên Hội. Họ ở Hương Cảng suốt ba năm,
giảo đính được bốn mươi sáu quyển
trong tổng số sáu mươi tư quyển của bộ
Thái Hư Đại Sư Toàn Thư. Đầu năm
1952, cư sĩ Lư Tử Khoan ở Đài Loan gởi thơ
thỉnh ngài Diễn Bồi sang Đài Loan chủ tŕ Đài
Loan Phật Giáo Giảng Tập Hội. Do vậy, tháng Ba năm
đó, ngài Diễn Bồi ngồi thuyền sang Đài Loan.
Đài Loan Phật Giáo Giảng Tập Hội do
trụ tŕ chùa Linh Ẩn ở hồ Thanh Thảo, huyện
Tân Trúc là pháp sư Vô Thượng phát tâm, thỉnh pháp sư
Đại Tỉnh đứng ra thành lập vào mùa Thu năm
1951 (tức năm Dân Quốc thứ bốn mươi). Giảng
Tập Hội đặt tại chùa Linh Ẩn ở Tân Trúc,
có hơn bốn mươi hội viên dự hội nghe giảng.
Năm 1949, Đại Tỉnh pháp sư đến Đài
Loan, mùa Đông năm 1950, mắc bệnh cao huyết áp phải
dưỡng bệnh tại Hương Sơn ở Tân Trúc,
trong năm đó, v́ pháp sư Vô Thượng khẩn khoản,
phải gượng mang thân bệnh đứng ra chủ
tŕ Giảng Tập Hội. Ít lâu sau, do cao huyết áp bị
trúng phong (stroke), Giảng Tập Hội không người lănh
đạo, phải bị đ́nh đốn, nên mới nghĩ
ngài Diễn Bồi là nhân tuyển thích hợp nhất để
kế nhiệm. Pháp sư Diễn Bồi nhận lời thỉnh
sang Đài Loan.
Giảng Tập Hội nam nữ học chung, nữ
sinh hai mươi mấy vị, nam sinh chỉ có mười
mấy người. Do pháp sư Diễn Bồi tuổi c̣n
quá trẻ (ba mươi sáu tuổi), lănh đạo nữ
chúng bất tiện, nên bèn lập riêng phân ban nam nữ. Về
sau, chuyển nữ sinh sang Viên Quang Phật Học Viện
ở Trung Lịch, ngài Diễn Bồi sang Linh Ẩn lănh đạo
nam chúng. Ngài ḥa nhập cùng các học tăng, ngoài việc
truyền dạy tri thức và un đúc Phật pháp ra, Ngài đặc
biệt chú trọng đức dục, khiến cho danh tiếng
của Giảng Tập Hội ngày càng lừng lẫy. Tháng
Chạp năm 1956, khóa học tăng đầu tiên tốt
nghiệp, trong số đó có các vị như Thánh Ấn,
Tu Nghiêm, Thông Diệu v.v… sau này đều thành bậc pháp tướng
của Phật môn.
Năm 1957, đạo sư Ấn Thuận lập
Phật Học Viện cho nữ chúng tại chùa Nhất Đồng
ở Tân Trúc, ngài Ấn Thuận làm viện trưởng, cử
pháp sư Diễn Bồi đảm nhiệm phó viện trưởng.
Tháng 9 năm đó, ngài Diễn Bồi kế tục đạo
sư Ấn Thuận làm trụ tŕ chùa Thiện Đạo.
Do phải trông coi sự vụ trong chùa, nên ngoài những giờ
lên lớp, Sư không đảm nhiệm trách nhiệm thật
sự tại Phật Học Viện. Tháng Tư năm
1958, nhận lời mời, ngài Diễn Bồi sang Thái Lan,
Giản Bố Trại (Cambodia), Việt Nam v.v… hoằng hóa.
Hơn ba tháng, Ngài lại về nước dạy học
như cũ. Tháng Tám năm 1960, nhiệm kỳ trụ tŕ
chùa Thiện Đạo ba năm đă măn, Sư kiên quyết
từ chối trụ tŕ tiếp. Tháng 12, Sư xuất dương
hoằng hóa, đến đây mới tạm chấm dứt
giai đoạn truyền đạo, giáo nghiệp, dạy
học sanh nhai. Dù sau này thành lập Thái Hư Phật Học
Viện tại giảng đường Huệ Nhật ở
Đài Bắc và Hoa Văn Phật Học Viện tại chùa
Linh Tuyền núi Nguyệt My tại Cơ Long, ngài Diễn Bồi
chỉ làm viện trưởng trên danh nghĩa, chứ thật
ra Ngài sống tại Tinh Châu (Singapore), hai chức viện
trưởng chỉ làm cho có, không đảm nhận trách
nhiệm thật sự.
3. Đảm nhiệm
vai tṛ trụ tŕ:
Một đời ngài Diễn Bồi đảm
nhiệm chức trụ tŕ nhiều lần. Năm 1957, Ngài
từng làm trụ tŕ chùa Thiện Đạo tại Đài
Bắc. Nguyên lai, chùa Thiện Đạo do ngài Ấn Thuận
làm trụ tŕ, nhưng do phải phân xử sự việc
trong chùa không ngớt, ngài Ấn Thuận kiên quyết thoái vị,
ban Hộ Tự kiến nghị thỉnh ngài Diễn Bồi
kế nhiệm. Ngài Diễn Bồi cả nể, thoái thác
chẳng được, tháng Chín năm 1957 bèn tấn sơn
thăng ṭa (1). Ngờ đâu giám viện của chùa chuyên
quyền, nhân sự vẫn chẳng an định, ngài Diễn
Bồi là con người học vấn, chán ngán chuyện
con người tranh chấp, nên mọi sự đều ẩn
nhẫn, hết thảy đều tùy duyên, miễn cưỡng
đảm nhiệm chức vụ ba năm, rồi bèn kiên
quyết thoái vị. Những vị cư sĩ nhiệt tâm
trong ban Hộ Tự van nài, thậm chí lăo cư sĩ Triệu
Di Ngọ (Hằng Dịch) hơn tám mươi tuổi đảnh
lễ khẩn cầu. Do t́nh thế chẳng thể ở
thêm được nữa, pháp sư Diễn Bồi nhất
quyết từ chức, ngôi Trụ Tŕ do pháp sư Mặc
Như kế nhiệm.
Cuối năm 1966, chúng thường trụ
tinh xá Phước Nghiêm ở hồ Thanh Thảo huyện Tân
Trúc cùng suy cử ngài Diễn Bồi làm trụ tŕ. Trong tháng
Tư năm đó, Ngài tấn sơn. Khi đó, ngài sống
tại Tân Gia Ba, chức vụ trụ tŕ chỉ là danh nghĩa,
sự vụ trong tinh xá do pháp sư Thường Giác thay mặt
xử lư. Đến tháng Tư năm 1970, nhiệm kỳ
trụ tŕ ba năm đă măn, pháp sư Ấn Hải, nguyên
trụ tŕ giảng đường Huệ Nhật, kế
nhiệm. Năm 1968, ngài Diễn Bồi từ Tân Gia Ba trở
về Đài Bắc, vào tổng y viện Vinh Dân khám nghiệm
sức khỏe. Hội trưởng hội quản lư chùa
Huyền Trang ở Nhật Nguyệt Đàm là lăo cư sĩ
Triệu Di Ngọ gởi thơ thỉnh giữ chức trụ
tŕ chùa Huyền Trang. Cư sĩ Lư Tử Khoan cũng ra sức
mời mọc, Ngài lại gặp cảnh t́nh nghĩa buộc
ràng chẳng thể chối từ được, phải
chấp thuận làm trụ tŕ chùa Huyền Trang. Tháng Ba năm
1968 tấn sơn. Khi đó, có hơn ba ngàn người
đến dự lễ và chúc mừng, náo nhiệt suốt
ngày. Nhưng pháp vụ tại Tân Gia Ba không thể bỏ được,
nên trong thực tế sự vụ tại chùa Huyền
Trang do Giám Viện là pháp sư Thánh Ấn đảm trách. Nhiệm
kỳ ba năm đă măn, pháp sư Diễn Bồi kiên quyết
từ chức, suy cử pháp sư Đạo An kế nhiệm.
Sau này, trên danh nghĩa, Ngài c̣n làm trụ tŕ Diệu
Pháp Tinh Xá tại Việt
4. Ba mươi năm
hoằng pháp tại trời
Lần đầu tiên, ngài Diễn Bồi xuất
ngoại hoằng hóa là năm 1958, ứng theo lời thỉnh
cầu của cư sĩ Mă Tử Lương, lư sự trưởng
của Long Hoa Phật Giáo Xă tại kinh đô Thái Lan, chủ
tŕ lễ kỷ niệm đệ tam chu niên dựng tháp thờ
xá lợi Thái Hư Đại Sư, đồng thời v́
tín chúng giảng kinh. Do đấy, Sư cùng Phật Giáo đồ
Đông Nam Á kết mối duyên không rời. Đầu tháng
Năm năm ấy, Sư vừa mới đến Mạn
Cốc (Bangkok) liền được các xă đoàn Long Hoa Phật
Giáo Xă, Trung Hoa Phật Học Nghiên Cứu Xă, Quang Hoa Phật
Giáo Hội, Liên Hoa Phật Giáo Xă v.v… nhiệt liệt hoan
nghênh. Ngài hoằng pháp tại Mạn Cốc hơn cả
tháng, giảng kinh thuyết pháp tại ba mươi nơi
như Đại Bi Giảng Đường của Long Hoa
Phật Giáo Xă, do cư sĩ Trần Mộ Thiền dịch
sang tiếng Triều Châu.
Pháp sư Diễn Bồi hoằng pháp tại Thái
Lan, pháp sư Siêu Trần ở Việt
Tháng Tám năm 1960, sau khi giao trả chức Trụ
Tŕ chùa Thiện Đạo, lại nhận lời thỉnh
của kiều bào ở Việt
Tháng 11 năm 1962, Sư sang Việt
Cư sĩ Lâm Đạt Hiền, tín thác nhân
(trustee) của Linh Phong Bồ Đề Học Viện (sau
này xuất gia, thành pháp sư Huệ Viên) biết chuyện
này, cầu thỉnh ngài Diễn Bồi cũng trở thành
tín thác nhân của Bồ Đề Học Viện, giao Học
Viện cho ngài Diễn Bồi quản lư, để biến
thành đạo tràng hoằng hóa của Ngài. Sau này, v́ thấy
t́nh h́nh chính trị Việt Nam ngày càng xấu đi, Ngài bèn
dẹp kế hoạch dựng chùa tại Việt Nam, tiếp
nhận trách nhiệm quản lư Linh Phong Bồ Đề Học
Viện, lại c̣n thỉnh pháp sư Long Căn đảm
nhiệm vai tṛ tín thác nhân. Do học viện lâu ngày không được
tu bổ, nên năm 1967 bèn trùng tu, đổi tên thành Linh
Phong Bát Nhă Giảng Đường. Năm 1968, công cuộc
trùng tu hoàn tất, ngày 12 tháng Giêng năm Dân Quốc 67 (1968)
cử hành lễ lạc thành và điển lễ an vị
thánh tượng Phật Thích Ca. Ngày hôm ấy, thỉnh đạo
sư Ấn Thuận ở Đài Loan thăng ṭa, khách quư các
giới đến mừng hơn hai ngàn người. Quốc
Vụ Khanh Việt
Trong khoảng thời gian từ năm 1962 đến
năm 1980, ngài Diễn Bồi nhiều lần qua các nước
Mỹ, Gia Nă Đại, Phi Luật Tân hoằng hóa, ở đây
chẳng cần phải thuật rơ. Năm 1969, tuy pháp sư
ở tại Tân Gia Ba đă nhiều năm, nhưng vẫn
chưa được trao quyền công dân, xuất nhập
cảnh thật bất tiện, Ngài có ư rời Tân Gia Ba sang
Mỹ hoằng hóa, bèn thỉnh pháp sư Long Căn trụ
tŕ Bát Nhă Giảng Đường. Ngày hai mươi tháng Mười
Một năm ấy làm lễ giao chuyển. Giao chuyển giảng
đường Bát Nhă xong, bên ngoài đồn đại ầm
ĩ, bên Hương Cảng đồn Ngài bị chính phủ
Tân Gia Ba trục xuất khỏi nước. Để dẹp
yên lời đồn, ngài Diễn Bồi ở lại Tân
Gia Ba không đi nữa, tạm trú tại Tân Gia Ba Nữ Tử
Phật Học Viện, tiếp tục giảng kinh hoằng
pháp.
5. Kiến lập
Phước Huệ Giảng Đường và Phật Giáo
Phước Lợi Hiệp Hội
Tháng Ba năm 1980, chùa Phổ Hiền ở thành
phố Túc Vụ (Cebu), Phi Luật Tân lạc thành, trụ tŕ
là pháp sư Duy Từ thỉnh pháp sư Diễn Bồi chủ
tŕ điển lễ an vị Phật. Sư bay sang Phi Luật
Tân, đến hạ tuần tháng Ba từ Mă Ni Lạp
(Manila) bay thẳng sang Nữu Ước (New York), giảng
kinh tại các chùa Đông Thiền, Đại Giác suốt sáu
tháng rồi mới trở lại Tân Gia Ba. Năm 1981, được
trưởng lăo Hoằng Thuyền và pháp sư Thường
Khải giúp sức vận động, chính phủ Tân Gia Ba
phê chuẩn quyền công dân cho pháp sư Diễn Bồi.
Trong thời gian ấy, pháp sư Diễn Bồi mua được
cuộc đất rộng bảy vạn ba ngàn thước
vuông ở Bảng Nga, nhờ kiến trúc sư vẽ họa
đồ, đích thân xin phép xây dựng, chính phủ phê chuẩn
cho khởi công vào mùa Xuân năm 1982, đặt tên là Phước
Huệ Giảng Đường. Phước Huệ Giảng
Đường là tên đặt nhằm kỷ niệm Phước
Nghiêm Tinh Xá và Huệ Nhật Giảng Đường do đạo
sư Ấn Thuận sáng lập tại Đài Loan.
Phước Huệ Giảng Đường có
đại giảng đường chứa được
cả ngàn người, hai ṭa lầu hai bên chia thành thư
viện, pḥng họp, pḥng làm việc. Hậu viện dựng
viện dưỡng lăo Từ Ân Lâm có thể chứa được
120 người già. Ngoài ra c̣n có trung tâm giữ trẻ Từ
Ân Lâm, công tŕnh khởi đầu từ cuối Xuân năm
1982, đến năm 1985 mới hoàn thành. Ngày 16 tháng Ba năm
1986 cử hành đại điển khai mạc, do phó thủ
tướng thứ hai của Tân Gia Ba là Vương Đỉnh
Xương chủ tọa. Những nhân vật chánh yếu
trong chánh phủ, chư sơn trưởng lăo, vô số thiện
tín trong nhà Phật tham gia thạnh hội.
Phước Huệ giảng đường là
đạo tràng hoằng pháp, cũng là trụ sở của
hiệp hội Phước Lợi Phật giáo Tân Gia Ba. Hiệp
hội Phước Lợi là cơ cấu phước lợi
xă hội do pháp sư Diễn Bồi thành lập vào năm
1981. Thoạt đầu là phát tiền cứu trợ mỗi
tháng và vật phẩm cứu tế cho những gia đ́nh
bất hạnh, cũng như đến thăm hỏi và
phát quà cho các y viện, viện nuôi người tàn tật,
cô nhi viện. Sau khi Phước Huệ Giảng Đường
lạc thành, cao đồ của pháp sư Diễn Bồi
là pháp sư Khoan Nghiêm đề xướng, trước
sau lập thành viện dưỡng lăo Từ Ân Lâm có thể
chứa được hơn trăm người, rồi
phát triển các phân bộ nhà giữ trẻ Từ Ân ở
nhiều nơi. Sau này thiết lập trung tâm lọc thận
trang bị thiết bị hiện đại hóa, trung tâm pḥng
dịch, và trung tâm văn hóa khá quy mô.
Do những cống hiến phước lợi
của pháp sư Diễn Bồi đối với xă hội,
được các nhân sĩ trong xă hội tán thán và chính phủ
công nhận, Tổng Thống nước Cộng Ḥa Tân Gia
Ba, trong hai năm 1986 và 1992 hai lần trao huân chương Phục
Vụ Công Cộng cho Sư, cử Ngài làm đại biểu
Phật giáo của Tân Gia Ba Tông Giáo Ḥa Giai Lư Sự Hội
(hội phát triển ḥa hợp tôn giáo Singapore).
Lăo pháp sư Diễn Bồi thâm nhập Kinh Tạng,
ba Tạng Kinh, Luật, Luận không ǵ Ngài chẳng thông đạt,
có xưng tụng là Tam Tạng Pháp Sư cũng chẳng quá
đáng. Mỗi khi có pháp hội truyền giới, đa phần
mời Ngài làm Đắc Giới Ḥa Thượng, rất
nhiều lần như thế, chẳng thể thuật đủ.
Trước thuật cả đời Ngài kết quả là
bộ Đế Quán Toàn Tập ba mươi bốn quyển,
Đế Quán Tục Tập mười hai quyển, rành rành
tám trăm vạn chữ.
Pháp sư Diễn Bồi tánh t́nh bộc trực,
chẳng khéo ăn nói, nên tự kư tên là Ngu Tăng, nhưng
giảng kinh thuyết pháp như sông chảy cuồn cuộn
chẳng ngừng, người nghe không ai chẳng thích nghe.
Lăo pháp sư Diễn Bồi thị tịch ngày mồng Mười
tháng 11 năm 1996, thọ tám mươi tuổi.
(1) Tấn sơn
thăng ṭa: chính thức đảm nhận vai tṛ trụ
tŕ, thường gọi tắt là "tấn sơn".
(2) Sư thành tức
là thành phố Tân Gia Ba, v́
LỜI TỰA
Phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện kinh Hoa Nghiêm là hai phẩm kinh được
lưu hành phổ biến nhất trong giới Phật Giáo
Trung Quốc, nhưng phẩm Phổ Môn được
đọc tụng, hoằng truyền phổ biến thịnh
hành nhất. Nguyên nhân là do Quán Âm đại sĩ tâm từ
bi thiết tha, có nhân duyên rất sâu đậm đối với
Sa Bà; bởi thế, tuy Ngài vào khắp mười
phương cơi nước, nhưng thường trụ
trong cơi Sa Bà này để hóa độ kẻ hữu duyên.
Trong kinh, đức Phật dạy chúng ta:
Đại Sĩ công đức rất sâu vô lượng,
chẳng riêng ǵ kẻ trí huệ nhỏ nhoi chẳng thể
liếc thấy một trong vạn phần, ngay cả Phổ
Hiền Bồ Tát là bậc hạnh nguyện rộng lớn
cũng chẳng thể suy lường chừng bằng sợi
lông, giọt nước. Chúng ta là hạng phàm phu khổ năo
trói buộc đầy dẫy, làm sao có thể tuyên
dương một trong trăm phần vạn ức phần
công đức của Bồ Tát?
Thế nhưng nghĩ đến Bồ Tát
đại từ, tâm niệm độ sanh thiết tha, tâm
bi ân cần cứu khổ cứu nạn, đối với
công ân tùy h́nh tùy loại tầm thanh cứu khổ của Bồ
Tát, há lẽ chẳng nên cực lực tán ngưỡng. Bởi
thế, mỗi khi xuất ngoại hoằng hóa, tôi thường
tuyên dương công đức Đại Sĩ, mà đa số
thính chúng cũng thích nghe thệ nguyện rộng sâu của
Đại Sĩ.
Mùa Xuân năm Dân Quốc 50 (1961), sang Việt
Năm Dân Quốc năm mươi sáu (1967), tại
pháp hội thuyết pháp mỗi tuần ở Bồ Đề
Lan Nhă thuộc Singapore, theo yêu cầu của thính chúng, tôi
đặc biệt chọn giảng phẩm Phổ Môn, do
pháp sư Tịnh Khải dịch sang tiếng Quảng
Đông, đồng thời sư cô c̣n phát tâm đem bản
ghi lời giảng mỗi tuần tŕnh cho tôi xem. Xem xong, biết
ghi chép không lầm, tôi lại sửa chữa đôi chút, cho
đến khi giảng xong, hoàn thành hơn mười vạn
chữ.
Hoàn thành bản Giảng Kư này, nếu bảo có
kiến giải đặc sắc ǵ, tôi chẳng dám nhận
lấy, chỉ dám thừa nhận là những lời thông tục
dễ hiểu. Nhận thấy Phật tử Trung Quốc
đọc tụng phẩm Phổ Môn rất nhiều, ắt
chẳng ít người muốn hiểu rơ nội dung.
Đó là hiện tượng đáng mừng ít có, bởi lẽ
chẳng những cần phải tin nhận Phật pháp mà
c̣n phải hiểu rơ nữa.
Nếu tôi không lầm, những bản chú thích
liên quan đến phẩm Phổ Môn xưa nay thật sự
rất nhiều, nhưng những bản khiến đại
chúng xem đến có thể hiểu được lại
không nhiều. Lúc tôi giảng phẩm này, v́ mong đại
chúng nghe hiểu được lời giảng, nên chỉ
tích cực chọn lấy những điểm nông cạn
nơi những nghĩa thẳm sâu, người chép lại
cứ chép đúng theo lời tôi giảng, lại vận dụng
tài viết lách sắp xếp lại, khiến cho bản Giảng
Kư này rất dễ đọc.
Với một phẩm Phổ Môn, đức Phật
muốn làm cho hết thảy chúng sanh nhất tâm xưng niệm
Quán Âm. Đức Quán Âm một thân v́ khắp mười
phương chúng sanh thị hiện các thứ sắc thân.
Bởi thế, trong mọi hang cùng ngơ tận nước
ta, kẻ ngu phu, ngu phụ không ai chẳng biết đến
đức hiệu của Đại Sĩ, không ai chẳng
tôn phụng thánh tượng Đại Sĩ, đủ thấy
Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi rộng nhiếp
quần cơ và lợi khắp trời người như
thế đó!
Trong thế giới Sa Bà này, có thể nói là Quán
Âm Bồ Tát không lúc nào chẳng qua lại quanh quẩn bên
chúng ta, vấn đề là mức độ thành kính của
chúng ta đối với Bồ Đề như thế nào?
Đối với Bồ Tát quư vị thành kính một phần,
sẽ gần được Bồ Tát một phần.
Đấy là điều tuyệt đối, chẳng c̣n
nghi ngờ chút nào nữa.
Bởi thế tôi nguyện mọi người
trên thế giới, nhằm lúc mùa Thu hoạn nạn này, hăy
cùng niệm thánh hiệu Quán Âm để cầu Bồ Tát gia
bị, hiện đời thân tâm yên vui, mạnh khỏe,
đời sau rốt ráo giải thoát!
đề tựa tại giảng
đường Linh Phong Bát Nhă.
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
PHỔ MÔN PHẨM GIẢNG KƯ
I. Những điều
khái lược sơ khởi
Thời gian trôi qua quá nhanh, mỗi năm một
độ Tân Xuân đă qua mất rồi. Từ hôm nay trở
đi, tôi lại cùng các vị giảng luận Phật
pháp. Năm ngoái, cùng quư vị giảng kinh Thắng Man, xét về
mặt lư luận khá sâu, người nghe cảm thấy hơi
tốn sức, năm nay tôi đặc biệt chọn phẩm
Phổ Môn giảng cho quư vị, là phẩm kinh mọi
người thường đọc tụng, nhất định
nghe giảng sẽ dễ hiểu hơn. Thật ra, kinh Thắng
Man và Pháp Hoa đều cùng là đại pháp Nhất Thừa,
đều là v́ căn cơ tối thượng thừa mà
nói, chẳng có trí huệ tương đương sẽ
chẳng dễ tiếp thọ, nhưng phẩm Phổ Môn
này chuyên giảng những sự trong thực tế, chẳng
quá khó hiểu chi lắm.
Năm nay cùng chư vị tuyên giảng Quán Thế
Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, trong thời đại hỗn
loạn hiện thời, tôi cho là rất có ư nghĩa. Sống
c̣n trong thời đại này, ai nấy đều có cảm
giác ở sẵn bên bờ hủy diệt, thật sự
phải gấp cầu Quán Thế Âm Bồ Tát đại bi
đến cứu giúp, mà cũng chỉ có Quán Thế Âm Bồ
Tát đại bi vô tư như thế mới có thể cứu
giúp nhân loại trong thế giới hiện tại. Phẩm
Phổ Môn chuyên nói về tinh thần cứu khổ cứu
nạn đại vô úy của Quán Âm Bồ Tát; bởi thế,
sau khi chúng ta nghe xong, một mặt phải thiết thực
cảm niệm, nhận hiểu đại nguyện của
đức Quán Âm, một mặt phải chính ḿnh nỗ lực
phát khởi bi nguyện sao cho bi nguyện của chính ḿnh và
bi nguyện của Bồ Tát kết hợp thành một, khiến
cho thế giới trùng trùng khổ nạn này chỗ nào
cũng có Quán Âm thị hiện, chỗ nào cũng có Quán Âm cứu
giúp, th́ hoạt động của nhân loại trong thế
giới nhờ đó mới được an tịnh vậy.
Nói
đến Quán Thế Âm Bồ Tát th́ tín đồ Phật
giáo chúng ta không ai chẳng biết, giống như hai câu nói
lưu truyền trong nước ta “Gia gia Di Đà Phật,
nhân nhân Quán Thế Âm” (Nhà nhà Di Đà Phật, người
người Quán Thế Âm), đủ thấy Quán Âm đă
thâm nhập trong ḷng người như thế nào! Nguyên lai,
tín ngưỡng Quán Thế Âm Bồ Tát, xưng niệm Quán
Thế Âm Bồ Tát, lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát rất
phổ biến chẳng riêng ǵ tại Trung Quốc, mà Hàn Quốc,
Nhật Bản, Việt Nam và những nơi có kiều bào
cư ngụ như Tinh châu (Singapore), Mă Lai, đều rất
phổ biến. Có thể nói là trong tất cả những
nơi có Đại Thừa Phật pháp lưu hành đều
có tín ngưỡng này. Chúng ta cứ thử đi khắp
nơi trong những nước này, sẽ thấy rất
rơ: nơi thành thị, nơi thôn làng, trên non cao, bên băi biển,
bến sông, nói chung là hễ chỗ nào có người sống,
chỗ đó đều có người thờ phụng
thánh tượng Quán Âm Bồ Tát, xưng niệm thánh hiệu
Quán Âm Bồ Tát. Chẳng riêng ǵ người tin Phật mới
như vậy, ngay cả những kẻ không tin Phật,
cũng thường bất tri bất giác xưng niệm
thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát.
Đồng
thời, chúng ta thấy kinh Đại Thừa giới thiệu
rất nhiều danh hiệu Bồ Tát, đặc biệt
là trong số tám vạn Bồ Tát được kinh Pháp Hoa
nói đến, thậm chí trong số mười tám vị
Bồ Tát thượng thủ, ta thấy rốt cuộc vị
nào được con người hiện tại thường
quen xưng niệm nhiều nhất? Ngoại trừ
Văn Thù, Di Lặc c̣n được người đời
xưng niệm, vị được người đời
xưng niệm nhiều nhất không ai hơn được
ngài Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát này.
Các
vị Bồ Tát khác không những chẳng được
người đời thờ phụng, xưng niệm, mà
c̣n ít người biết đến danh hiệu nữa. Do
vậy có thể suy luận rằng Quán Thế Âm Bồ Tát
có nhân duyên đặc biệt đối với chúng sanh
trong thế giới Sa Bà như thế nào, lại c̣n có mối
quan hệ thật thâm thiết! Bởi thế, chúng ta phải
thường nên xưng niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ
Tát, chúng ta chẳng nên cô phụ Quán Âm Bồ Tát từ bi cứu
giúp chúng ta, trong từng thời khắc, chúng ta nên cùng Quán
Thế Âm sống cùng một chỗ, thực hành hạnh
đại bi cứu giúp rộng lớn.
1.
Nguyên quán của đức Quán Thế Âm Bồ Tát
Quán Thế Âm Bồ Tát đă cùng chúng sanh thế
giới Sa Bà có mối quan hệ sâu đậm, thiết tha
như thế, vấn đề tiếp theo là: Rốt cuộc,
Quán Âm Bồ Tát là người thuộc địa
phương nào? Đạo tràng hành hóa của Ngài ở
đâu? Bởi người đời thường nêu lên
câu hỏi này, nên bây giờ tôi bắt buộc phải giải
thích sơ lược. Chỉ khi nào mối nghi này trong ḷng
mọi người được tháo gỡ sạch th́ ai
nấy mới có thể kiên định tin tưởng Quán
Âm, mới ḥng chân thành tụng niệm thánh hiệu Quán Âm.
Rốt cuộc, Quán Âm Bồ Tát là người
thuộc địa phương nào? Chẳng thể nói nhất
định Ngài là người ở trấn nào, làng nào, tỉnh
nào, nước nào trong thế giới Sa Bà được.
Căn cứ vào những lời giới thiệu trong rất
nhiều kinh điển, Quán Thế Âm Bồ Tát là một
trong hai vị đại Bồ Tát hầu cận hai bên đức
A Di Đà Phật trong thế giới Cực Lạc cách
ngoài mười vạn cơi nước, đồng thời,
Ngài cũng là vị đại Bồ Tát thân thiết hỗ
trợ A Di Đà Phật hoằng dương Phật pháp.
Hiện tại, Ngài là vị Bổ Xứ Bồ Tát, trong
quá khứ chính là Chánh Pháp Minh Như Lai, tương lai kế
thừa A Di Đà Phật thành Phật trong thế giới
Cực Lạc, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn
Vương Phật. Bởi thế, hiện thời chúng ta
chỉ có thể nói Ngài là một Bồ Tát vĩ đại
đầy đủ đại từ bi, đại trí huệ
trong Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng
cần phải nói chính xác Ngài đản sanh tại nơi
nào trong thế giới Sa Bà này!
C̣n như đạo tràng hành hóa của Quán Âm Bồ
Tát th́ về đại thể, có thể chia thành hai loại:
căn bản đạo tràng và hóa hiện đạo tràng.
Căn bản đạo tràng là thế giới Cực Lạc,
bởi lẽ Quán Âm là một vị đại Bồ Tát
trong thế giới Cực Lạc. Căn bản đạo
tràng này, phàm ai là Phật tử đều tin nhận, chẳng
nảy ḷng hoài nghi. C̣n về hóa hiện đạo tràng,
trong mười phương tất cả thế giới,
phàm những nơi nào có Bồ Tát giáo hóa, nơi đó chính
là hóa hiện đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát. Như
vậy, loại đạo tràng này rất nhiều, chỗ
nào cũng là đạo tràng của ngài Quán Âm cả.
Bất quá, chỉ nói riêng trong thế giới
Sa Bà, theo kinh Hoa Nghiêm, bên bờ biển ở Nam Ấn
Độ, có ngọn núi Phổ Đà Lạc Già, là đạo
tràng thị hiện đầu tiên của Quán Âm Bồ Tát
trong thế giới Sa Bà. Nhưng những người học
Phật Trung Quốc chưa ai từng đến đạo
tràng này, mà cũng ít ai biết đến. Đạo tràng của
Quán Âm Bồ Tát mà người Trung Quốc thường biết
đến là núi Phổ Đà ở trong Nam Hải, thuộc
tỉnh Triết Giang. Trong quá khứ, mỗi năm người
đến Phổ Đà triều bái Quán Âm rất nhiều.
Nam Phổ Đà Sơn là đạo tràng thị
hiện của Quán Âm Bồ Tát được người
Trung Quốc công nhận, nổi tiếng toàn thế giới,
đương nhiên phải có nhân duyên, lai lịch, bây giờ,
chẳng ngại ǵ không giới thiệu đơn giản
như sau:
Ở Trung Quốc, vào thời đại Nam Bắc
Triều (386-589), trong khoảng niên hiệu Trinh Nguyên đời
Lương, có một vị pháp sư Nhật Bản là Huệ
Ngạc đến Trung Quốc cầu pháp, hết sức
chân thành tin tưởng Quán Âm Bồ Tát. Lúc Ngài học xong,
quay về Nhật Bản, ngoại trừ rất nhiều
kinh sách mang theo, Ngài c̣n đặc biệt thỉnh một
tượng Quán Âm đem về nước cúng dường.
Thời cổ giao thông chẳng thuận tiện như hiện
thời, đương nhiên là phải ngồi thuyền gỗ.
Nhưng khi ngài Huệ Ngạc thỉnh tượng Quán Âm
lên thuyền gỗ, thuyền đi chưa được
bao lâu, biển đột nhiên nổi sóng to, gió lớn, khiến
cho chiếc thuyền Ngài ngồi dù làm bất cứ cách nào
cũng không tiến lên được. Trong t́nh huống bất
đắc dĩ đó, chỉ c̣n cách thỉnh tượng
Quán Âm Bồ Tát lên một ḥn đảo nhỏ, dựng một
gian nhà lá trên đảo để thờ phụng Quán Âm Bồ
Tát. Những dân chài qua lại ḥn đảo nhỏ ấy
và những cư dân vùng phụ cận thường đến
thắp hương, lễ bái, phát sanh rất nhiều chuyện
linh cảm chẳng thể nghĩ bàn. Bởi thế,
người đến thắp nhang lễ bái càng ngày càng
đông, ḥn đảo nhỏ ấy ngày càng phát đạt
đến nỗi cái tên gốc là đảo Mai Lănh trở
thành Phổ Đà Sơn, núi ấy cũng trở thành đạo
tràng của Quán Âm Bồ Tát. Sau này, nó cùng với đạo
tràng Ngũ Đài Sơn của Bồ Tát Văn Thù ở
Sơn Tây, đạo tràng Nga Mi Sơn của Bồ Tát Phổ
Hiền ở Tứ Xuyên và đạo tràng Cửu Hoa
Sơn của Bồ Tát Địa Tạng ở An Huy trở
thành bốn đại danh sơn, thành những trọng trấn
của Phật giáo Trung Quốc.
Từ khi Phổ Đà Sơn trở thành đạo
tràng của Quán Âm Bồ Tát, về sau có rất nhiều chỗ
Bồ Tát Quán Âm thị hiện linh cảm, đều gọi
là đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát. Nói ở mức
độ cao hơn, phàm những nơi nào có người
tin tưởng Quán Âm Bồ Tát, chỗ nào thờ phụng
Quán Âm Bồ Tát, chỗ đó đều có thể gọi
là đạo tràng của Quán Âm Bồ Tát. Bởi Bồ Tát
giáo hóa chúng sanh trong khắp mười phương nên thật
sự có thể nói là “không cơi nước nào, Ngài chẳng
hiện thân”. Bất luận ở địa
phương nào, bất luận loài chúng sanh nào, lúc nào cần
đến Bồ Tát hóa độ, Ngài bèn dùng thân phận
đúng theo nơi đó, đến hóa độ. Như
kinh nói “nên dùng thân nào để độ, bèn hiện thân
đó thuyết pháp” chính là thể hiện tinh thần ấy.
Trong phần sau, khi giảng đến chuyện du hóa các
nước, tôi sẽ giải thích tường tận.
Nói theo Đại Thừa Phật pháp, phàm là bậc
đại Bồ Tát tu hạnh Bồ Tát đă lâu, đặc
biệt là hàng Bồ Tát tối hậu thân Nhất Sanh Bổ
Xứ, ai nấy đều có thể “không cơi nào chẳng
hiện thân”, đều có thể giáo hóa chúng sanh trong từng
thời khắc. Bây giờ, tôi nêu một vị Bồ Tát rất
nổi tiếng, trong tương lai sẽ thành Phật
trong thế giới Sa Bà này, đó là Di Lặc Bồ Tát. Cổ
đức đă có bài tụng:
Di Lặc, chân Di Lặc,
Hóa thân thiên bách ức,
Thời thời thị thời nhân,
Thời
nhân tự bất thức.
(Tạm
dịch:
Di Lặc,
chân Di Lặc,
Hóa
thân trăm ngàn ức,
Luôn
thị hiện người đời,
Người
đời nào hay biết).
Có
người cho rằng: niệm danh hiệu chư Phật,
Bồ Tát về căn bản là vô dụng, bởi lẽ từ
trước đến nay chúng ta chưa từng thấy Bồ
Tát. Đây là một quan niệm sai lầm. Xin thưa thật
cùng quư vị: Bồ Tát bi tâm thấu xương, xuyên tủy,
thời thời khắc khắc hằng hiện diện
trước mặt chúng ta. Như ngài Di Lặc sở
dĩ có tên là Di Lặc chẳng phải đơn giản
đâu nhé, Ngài có thể hóa thân nhiều đến trăm
ngàn ức, dùng các thứ thân phận khác nhau: hoặc thị
hiện thân Phật, hoặc thị hiện thân tỳ-kheo,
hoặc thị hiện thân cư sĩ, thường hằng
chẳng gián đoạn, thời thời khắc khắc
thị hiện trước mỗi người đáng nên
hóa độ. Tiếc rằng kẻ ấy chẳng biết
Bồ Tát hiển hiện, ta chỉ có thể tự trách
móc ḿnh chẳng nhận ra Bồ Tát ở ngay trước mặt
ḿnh, chẳng được nói là Bồ Tát chẳng thị
hiện trong nhân gian đông đảo.
Di Lặc
thị hiện như thế th́ phải biết là Quán Âm
cũng giống như thế. Nếu dùng lại bài kệ
trên, ta cũng có thể nói:
Quán Âm, chân Quán Âm,
Hóa thân thiên bách ức,
Thời thời thị thời nhân,
Thời
nhân tự bất thức.
Như nay các vị đang hiện diện
đây, ai là Quán Âm Bồ Tát, ai là Di Lặc Bồ Tát, chúng ta
cũng chẳng nhận biết một ai, nhưng chẳng
thể v́ đó nói là trong đạo tràng này không có Quán Âm, Di
Lặc ẩn hiện. Là Phật tử, phải kiên định
tin tưởng điều này!
2.
Giới tính của Quán Âm Bồ Tát
Địa phương xuất thân và đạo
tràng thị hiện của Quán Âm Bồ Tát, tôi đă giảng
đại lược rồi; hiện giờ c̣n một vấn
đề tôi cần phải giải đáp, đó là đức
Quán Âm Bồ Tát trọn vẹn đại từ bi, đại
nguyện lực, đại công đức rốt cuộc
là nam hay nữ đây? Bởi lẽ, hiện thời trông
thấy tượng Quán Âm Bồ Tát, đại đa số
là nữ tướng, nên thường có người nêu lên
câu hỏi này.
Trên căn bản, chúng ta nên nói Quán Âm Bồ Tát
là nam tử. Từ đời Đường trở về
trước, tất cả tượng Quán Âm dù là tượng
đắp hay tranh vẽ đều mang tướng mạo
nam nhân. Quán Âm Bồ Tát mang tướng người nam là có
căn cứ hay không? Kinh Hoa Nghiêm chép: “Dũng mănh trượng
phu Quán Tự Tại”. Quán Tự Tại chính là Quán Thế
Âm. Kinh gọi Ngài là “bậc trượng phu dũng mănh”, chứng
minh Quán Âm vốn là nam tử.
Chẳng
qua, nói trên phương diện Quán Âm thị hiện, khó có
thể quyết định Ngài là nam hay nữ; bởi lẽ
Bồ Tát thị hiện nào phải để chơi giỡn
mà trọn v́ độ sanh. Chúng sanh muốn Bồ Tát thị
hiện thân tướng nào, Bồ Tát liền v́ chúng sanh thị
hiện thân tướng ấy. Nếu như có một loại
chúng sanh cần Bồ Tát thị hiện tướng
người nam để hóa độ, Bồ Tát liền
v́ kẻ ấy thị hiện nam tướng. Lại có một
loại chúng sanh cần Bồ Tát thị hiện tướng
nữ để hóa độ, Bồ Tát liền v́ kẻ ấy
hiện tướng nữ; rất khó nói quyết định
Ngài là thân tướng nào! Bởi lẽ đối với bản
thân Quán Âm Bồ Tát, [thân nam hay nữ] không thành vấn đề,
thuận theo yêu cầu của từng chúng sanh mà hiện thân,
tự ḿnh chẳng có chủ ư. C̣n như Bồ Tát Quán Âm
trong thế giới này thường hiện tướng nữ
cũng là đạo lư chung, đến phần sau sẽ lại
giảng tiếp. Bây giờ,
trước hết tôi sẽ kể câu chuyện xưa Quán
Âm Bồ Tát thị hiện thân nữ để hóa độ
chúng sanh cho quư vị nghe. Tại Trung Quốc, vào đời
Đường, tại bến Hữu Kim ở Thiểm
Tây, Bồ Tát thị hiện làm một cô gái bán cá. Cô gái bán
cá này lớn lên rất xinh đẹp, mỗi sáng sớm cô
xách một giỏ cá, đến thôn trang nọ bán cá. Thanh
niên trong thôn thấy cô gái tuổi nhỏ xinh đẹp, chẳng
ngừng đuổi theo cô. Mỗi chàng thanh niên đều
hy vọng sẽ được cùng cô kết duyên giai ngẫu.
Do quá nhiều người theo đuổi khiến cô gái bán
cá không biết giải quyết như thế nào, cô bèn
nghĩ ra một cách, bảo cùng những chàng thanh niên trong
thôn:
- Các
anh nhiều người quá, em chỉ có một thân gái,
đương nhiên chẳng thể thỏa măn tâm nguyện
của từng người được. Bây giờ, em
đưa ra một điều kiện chẳng khó khăn
quá, ai làm được em sẽ lấy người đó,
chẳng cần ai phải theo đuổi nữa!
Những chàng thanh niên vội hỏi ngay: “Điều
kiện ǵ?”
Cô
gái bán cá đáp:
- Trong
nhà Phật có một bản kinh tên là Phổ Môn Phẩm. Ai
trong ba ngày có thể học thuộc ḷng, em sẽ sánh duyên
cùng người đó.
Kết
quả, trong ba ngày đọc thuộc phẩm Phổ Môn có
bốn năm chục người. Cô gái bán cá lại nói:
- Em
chỉ có một thân, các anh lại nhiều người
quá. Làm sao biết quyết định lấy ai đây? Xin
thưa cùng các anh, trong nhà Phật có một bộ kinh tên là
kinh Kim Cang, kinh văn dài hơn phẩm Phổ Môn. Trong số
các anh có ai trong năm ngày đọc thuộc, em sẽ lấy
người đó.
Các
chàng do t́nh yêu sôi sục, trong năm ngày đọc thuộc
kinh Kim Cang, vẫn có hơn mười người. Kết
quả, vẫn chẳng giải quyết vấn đề
được. Khi ấy, cô gái bán cá lại bảo những
chàng đó:
- Trong
nhà Phật có bộ kinh Đại Thừa tên là Diệu
Pháp Liên Hoa, trong ṿng bảy ngày, ai trong số các anh có thể
đọc thuộc, em nhất định lấy người
đó.
Nói
ra thật là kỳ quái, linh cữu đưa đi nửa
đường, đột nhiên gặp một vị lăo
tăng bảo chàng thanh niên họ Mă:
- Nghe
nói hôm qua cậu vừa cử hành đại lễ kết
hôn, sao hôm nay đă cử hành tang lễ?
Chàng
thanh niên họ Mă ôm mặt, khóc lóc đáp:
- Là
v́ cô vợ xinh đẹp yêu dấu nhất của con, dốc
sạch tâm cơ mới cưới được cô ta làm
vợ, chẳng ngờ một cô gái xinh đẹp hoạt
bát, nháy mắt đă thành một cái xác chết vô tri, hỏi
sao con không đau ḷng cho được?
Lăo
tăng thấy chàng bi thương đến thế, nhân
đó bèn khai thị:
- Cậu
tuổi trẻ, chỉ biết nói chuyện t́nh ái, chẳng
biết t́m cầu chân lư. Cậu phải biết cô gái xinh
đẹp cậu vừa mới cưới hôm qua nào phải
là con gái tầm thường trong thế gian, mà là Quán Âm Bồ
Tát thị hiện để hóa độ các cậu đấy!
Bởi lẽ, Quán Âm Bồ Tát bi tâm sâu nặng, biết già
trẻ trong thôn trang này chẳng biết tín phụng Tam Bảo,
nên mới đặc biệt thị hiện thân nữ
để đến hóa độ các cậu. Nếu cậu
nhất định không tin, có thể mở ḥm ra xem.
Mọi
người muốn kiểm chứng bèn mở quan tài ra thật,
đều thấy xác người vợ không c̣n trong đó
nữa, đến lúc đó chẳng thể không tin là Bồ
Tát vận dụng thần thông rời đi. Thế nhưng,
quay lại nh́n lăo tăng, cũng không biết lăo tăng
đă đâu mất rồi!
Do
đây biết rằng: Không riêng ǵ cô gái bán cá là Quán Âm thị
hiện, ngay cả vị lăo tăng cũng là Quán Âm thị
hiện, mục đích nhằm làm cho những người
trong thôn đó thiết thực giác ngộ, nỗ lực
tín phụng Tam Bảo. Từ đó, không riêng ǵ chàng thanh
niên họ Mă phát tâm xuất gia tu hành, người trong thôn
cũng đều tin Phật, Bồ Tát, quy y Tam Bảo.
Trong Phật giáo có hai câu nói về điều này: “Trước
dùng dục để lôi kéo, sau khiến nhập Phật
trí”, đó là phương tiện độ sanh lớn
nhất của Bồ Tát.
Sở
dĩ, Quán Âm Bồ Tát thường thị hiện thân nữ
giáo hóa chúng sanh, xét ra, có hai nguyên nhân, giờ đây sẽ
thuật sơ lược như sau:
1) Chuyên
lấy chúng sanh nhiều đau khổ làm đối tượng
cứu giúp. Nhân loại chúng sanh đau khổ rất nhiều,
trong thời quá khứ trọng nam khinh nữ, đúng là nữ
nhân đau khổ hơn nam giới rất nhiều. Trong thời
đó, nữ nhân bị rất nhiều hạn chế,
như: Trước khi lấy chồng, ở nhà với cha
mẹ, nhất định phải nghe theo mệnh lệnh
của cha mẹ; xuất giá rồi sống ở nhà chồng,
nhất định phải nghe theo lệnh chồng. Đến
lúc tuổi già có con cái, lại phải nghe lời con cái. Làm
con người trong thế gian, phụ nữ thật sự
đau khổ rất nhiều như thế. Quán Âm Bồ
Tát lấy việc cứu khổ chúng sanh làm mục
đích, đương nhiên trước hết phải cứu
độ hàng phụ nữ nhiều đau khổ. Bởi
thế, Ngài mới đặc biệt thường hay hiện
thân nữ, có giống hệt như họ th́ sau đó mới
từ những nỗi thống khổ vốn sẵn của
thân nữ, dẫn dụ họ dần dần đi vào con
đường tu học Phật pháp lớn lao, ḥng giải
trừ tất cả thống khổ, ngơ hầu giải
thoát thân tâm.
2) So
ra, tuy thân nữ có nhiều nỗi khổ như thế,
nhưng sự nhu ḥa từ ái trong tâm họ đúng là vượt
trội người nam. Giống như cha mẹ trong thế
gian đau đáu yêu mến con cái, cố nhiên giống nhau;
nhưng nếu so sánh, người mẹ yêu mến, che chở
con cái sâu đậm, thân thiết hơn cha. Tôi thường
hay nói: Lúc nào cha mẹ ngồi cùng một chỗ, nếu
đứa con nhỏ chạy đến muốn xin cha mẹ
cho tiền mua đậu phộng hay kẹo ăn, cha
thường nói:
- Tụi
bay cứ xin tiền hoài làm chi? Hôm nay ba không có tiền cho tụi
bay đâu!
Nói
vậy là xong, thật sự không cho một đồng nào.
C̣n mẹ chẳng như vậy, một mặt quở
trách đứa nhỏ đừng có xin tiền hoài, một
mặt vẫn rút tiền lận lưng cho con, nhưng rất
dịu dàng vỗ về con:
- Hư
lắm nghe! Từ rày đừng có lại xin tiền nữa
nghe chưa!
Tuy
nói vậy, lần sau đến xin nữa, vẫn lại
giống như vậy. Bởi thế ḷng từ ái của
mẹ hơn hẳn cha. Quán Âm Bồ Tát là bậc đại
từ bi, bởi thế, Ngài thị hiện thân nữ, chẳng
qua là tịnh hóa, khuếch đại t́nh mẹ của thế
gian thành ḷng đại bi.
Ḷng
mẹ trong thế gian tuy nói là bao la, nhưng phạm vi nhỏ
hẹp phi thường, chỉ biết yêu thương, che
chở con cái của chính ḿnh, chẳng biết yêu
thương, che chở con cái người khác, nên trong t́nh
yêu thương đó vẫn bao gồm đôi chút nhiễm
ô. Thông thường, tuy nói cha mẹ thương con vô
điều kiện; kỳ thật, trong cái vô điều
kiện đó vẫn có điều kiện, như người
Trung Quốc hay nói: “Tích cốc pḥng cơ, dưỡng
nhi pḥng lăo” (Chứa gạo pḥng đói, nuôi con dưỡng
già). Đấy chẳng phải là điều kiện th́
là cái ǵ đây? Bởi thế ḷng yêu thương của cha
mẹ so với ḷng từ bi của Bồ Tát có hai điểm
bất đồng:
1)
Chẳng rộng lớn.
2)
Chẳng phải là vô điều kiện.
Ḷng
từ bi của Quán Âm Bồ Tát không những như t́nh yêu
thương của mẹ, lại c̣n tịnh hóa và rộng
lớn hơn, từ bi đối với hết thảy
chúng sanh, chẳng phải chỉ từ bi đối với
một phần chúng sanh. Bởi thế, Bồ Tát từ bi
vĩ đại, ḷng mẹ thương con của thế
gian chẳng thể sánh bằng được. Quán Âm Bồ
Tát hiểu sâu xa ḷng mẹ yêu con trong thế gian thật khó
có, bởi vậy, Ngài hiện thân nữ khắp chốn,
hy vọng dùng thân phận nữ cảm hóa hết thảy
nữ nhân trong thế gian đừng khư khư chấp
vào t́nh mẹ nhỏ hẹp, mà phải biết dùng tinh thần
mẹ thương con để thương mến hết
thảy chúng sanh, hy vọng mỗi một chúng sanh đều
có thể ĺa khổ được vui, đều có thể
liễu sanh thoát tử, đều có thể thành Đẳng
Chánh Giác.