Quán Thế Âm Phổ Môn Giảng Kư, phần
2
II. Chánh thích kinh
văn (Phần giải thích chính vào kinh văn)
1. Trường hàng
biệt thị (Giảng riêng về phần kinh
văn trường hàng)
1.1. Vấn đáp
đắc danh sở dĩ (Thưa hỏi duyên do
[v́ sao Bồ Tát] được danh hiệu [là Quán Thế
Âm])
1.1.1.
Đương cơ cử danh thỉnh vấn (Vị
đương cơ của pháp hội thưa hỏi)
Chánh kinh:
Nhĩ thời, Vô Tận Ư Bồ Tát tức
tùng ṭa khởi, thiên đản hữu kiên, hiệp chưởng
hướng Phật, nhi tác thị ngôn:
- Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát dĩ hà nhân
duyên danh Quán Thế Âm?
(Lúc bấy giờ, Vô Tận Ư Bồ Tát liền
từ ṭa ngồi đứng dậy, trật vai áo phải,
chắp tay, hướng về đức Phật, bạch
như thế này:
- Bạch Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát do
nhân duyên ǵ tên là Quán Thế Âm?)
Kinh văn toàn phẩm chia thành hai phần lớn:
một là Trường Hàng, tức là thể văn xuôi ghi lại
những ư nghĩa được tuyên nói trong kinh; hai là Kệ
Tụng, tức là thể văn vần ghi chép những
nghĩa lư được tuyên nói trong kinh. Trường Hàng
và Kệ Tụng nội dung không khác biệt nhau nhiều lắm,
chẳng qua là sử dụng thể tài văn tự bất
đồng mà thôi. Trong hai phân đoạn lớn này, trước
hết giảng phần Trường Hàng, sau đó mới
giảng Kệ Tụng.
Hai chữ “nhĩ thời” có nhiều cách
giải thích khác nhau. Phần trước, tôi đă từng
nói, phẩm này là phẩm thứ hai mươi lăm trong kinh
Pháp Hoa, trước phẩm này là phẩm hai mươi bốn,
tên là Diệu Âm Bồ Tát Phẩm. Nói “nhĩ thời”
nghĩa là lúc vừa mới nói xong phẩm Diệu Âm Bồ
Tát, bèn nói ngay phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn này.
Trong phẩm Diệu Âm Bồ Tát, cuối cùng là
mấy câu: “Lúc nói xong phẩm Diệu Âm Bồ Tát lai văng
này, bốn vạn hai ngàn thiên tử đắc Vô Sanh Nhẫn,
Hoa Đức Bồ Tát đắc Pháp Hoa tam-muội”. Do
đây biết là khi đức Phật nói phẩm Diệu
Âm Bồ Tát, có rất nhiều người được
hưởng pháp ích. Do đại chúng nghe pháp được
lợi ích, bởi thế lại mong cầu Phật tiếp
tục giảng thêm diệu pháp; như vậy có thể hiểu
“nhĩ thời” là lúc rất nhiều chúng sanh mong mỏi
Như Lai thuyết pháp.
Theo như kinh Pháp Hoa giới thiệu, Diệu
Âm Bồ Tát là một đại Bồ Tát trong cơi nước
Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm ở phương
Đông. Quán Âm Bồ Tát như mọi người đều
biết rơ là một đại Bồ Tát thuộc Tây
Phương Cực Lạc thế giới. Đông
phương Diệu Âm Bồ Tát đă đắc Hiện
Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội, bởi thế có thể
tự tại hiện thân theo từng loại để giáo
hóa chúng sanh trong đời, tức là cần phải biến
hiện thân tướng nào để giáo hóa chúng sanh, Ngài liền
có thể biến hiện thân tướng ấy. Tây
phương Quán Âm Bồ Tát như trong phần sau phẩm
này sẽ giới thiệu: “Nên dùng thân nào để đắc
độ, liền hiện thân ấy để thuyết
pháp”; có thể nói là Quán Âm Bồ Tát cũng đắc Hiện
Nhất Thiết Sắc Thân Tam Muội giống hệt
như thế. Bởi thế, cổ đức gọi hai
phẩm kinh này là “những phẩm chị em”, hàm ư chúng có ư
nghĩa và giá trị gần giống nhau.
Hoặc có thể nói là đại chúng nghe những
công đức thù thắng của Diệu Âm Bồ Tát ở
phương Đông xong, nghĩ đến Bồ Tát Quán Âm ở
phương Tây cũng là một vị đại Bồ
Tát rất phi thường, nhưng công đức tự chứng,
hóa độ người khác của Ngài rốt cuộc ra
sao, đại chúng trong pháp hội vẫn chưa biết;
bởi vậy, họ ngưỡng vọng đức Thế
Tôn giảng cho hành trạng của đức Quán Âm. Chính
ngay lúc đại chúng ngưỡng vọng đức Thế
Tôn tuyên thuyết như thế, bèn gọi là “nhĩ thời”.
“Vô Tận Ư Bồ Tát” là vị đại
biểu vấn pháp trong phẩm này. Ngay khi đức Phật
giảng xong phẩm Diệu Âm Bồ Tát, có vị Vô Tận
Ư Bồ Tát bèn đứng ra thỉnh pháp. Vô Tận Ư là vị
đại Bồ Tát ở thế giới Bất Thuấn
nơi phương Đông, giáo chủ của thế giới
Bất Thuất là Phổ Hiền Như Lai. Trong
tương lai, Quán Âm Bồ Tát kế thừa A Di Đà Phật
thành Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới.
Nên biết rằng ngài Vô Tận Ư trong tương lai sẽ
kế thừa Phổ Hiền Như Lai làm Phật trong thế
giới Bất Thuấn ở phương Đông.
Vô Tận Ư là vị đại Bồ Tát ở
phương Đông, v́ sao lại đến thế giới
Sa Bà nghe Phật Thích Ca thuyết pháp? Là do tuân lệnh đức
Phổ Hiền Như Lai mà đến. Lúc đức Phật
thuyết kinh Pháp Hoa, chính là diễn bày trực tiếp bản
hoài, bởi thế mười phương chư Phật
đều phái những bậc thượng thủ Bồ
Tát của ḿnh đến nghe đức Phật nói diệu
pháp. Kể từ lúc Phật bắt đầu nói kinh Pháp
Hoa cho đến lúc này, Vô Tận Ư Bồ Tát ngồi tại
chỗ lặng lẽ nghe giảng; đến lúc Phật
nói xong phẩm Diệu Âm Bồ Tát, v́ muốn thỉnh pháp,
Ngài bèn “từ ṭa ngồi đứng dậy”.
Thánh hiệu của Phật và Bồ Tát đều
được an lập từ tất cả công đức.
Sở dĩ Vô Tận Ư mang tên Vô Tận Ư là do dựa theo
công đức nào mà an lập? Ở đây, có thể dựa
theo ba phương diện thế giới, chúng sanh, bi nguyện
mà thuyết minh: Trên phương diện thế giới,
trước hết phải hiểu rơ: Có nhiều vô cùng vô
tận, vô lượng, vô biên những thế giới to
như thế giới Sa Bà, kinh Phật gọi là “vô
lượng vô biên thế giới”. Trong những thế
giới nhiều như thế ấy, chỉ nói riêng
người trong Nam Thiệm Bộ Châu của thế giới
Sa Bà này đă nhiều vô kể; nếu nói gộp tất cả
số người trong bốn đại châu lẽ
đương nhiên càng nhiều hơn. Ngoài nhân loại c̣n
có những chúng sanh khác, chúng sanh thật là nhiều chẳng
thể tính đếm nổi. Chẳng riêng ǵ chúng sanh trong
một thế giới này là như thế, chúng sanh trong mỗi
một thế giới đều như thế; bởi thế
nói “chúng sanh vô tận”. Lúc vị Bồ Tát này vận dụng
trí huệ quán sát thế giới, nhận thấy có vô tận
thế giới. Trong vô tận thế giới, có vô tận
chúng sanh hoạt động. Đúng là mỗi chỗ có một
thế giới, mỗi thế giới có một thế giới
chúng sanh, nhưng các chúng sanh đều bị phiền năo
sai khiến, trôi nổi, đọa lạc trong biển nghiệp,
ch́m đắm luân hồi, bị các thứ khổ bức
bách, trọn không có lúc nào giải thoát! Vô Tận Ư Bồ Tát
chẳng nỡ thấy vô cùng vô tận chúng sanh trường
kỳ thọ các khổ năo, bèn từ tận đáy ḷng sâu
thẳm, phát khởi bi nguyện vô tận, nguyện độ
vô tận chúng sanh trong vô tận thế giới, khiến
cho vô tận chúng sanh thành Phật, sau đó chính ḿnh mới
thành Phật; bởi thế hiệu là Vô Tận Ư.
Giải thích danh hiệu Vô Tận Ư, cổ
đức dùng bốn câu kệ để h́nh dung:
Thế giới vô biên trần nhiễu nhiễu,
Chúng sanh vô tận nghiệp mang mang,
Ái hà vô để lăng thao thao,
Thị cố hiệu vi Vô Tận Ư.
(Thế giới vô biên mờ mịt bụi,
Chúng sanh vô tận nghiệp bời bời,
Sông ái không đáy sóng cuồn cuộn,
Bởi thế hiệu là Vô Tận Ư)
Ư nói: Thế giới là vô tận, chẳng sai!
Nhưng trong vô tận thế giới lại có thế giới
thanh tịnh, có thế giới uế ác. Thế giới uế
ác nhiều hơn thế giới thanh tịnh. Bởi thế,
vô cùng vô tận thế giới nói chung là dơ bẩn bị
trần cảnh khuất lấp khó kham, uế ác bất tịnh!
Những chúng sanh trong các thế giới ấy bất luận
nhiều đến đâu, đại đa số ở
trong biển nghiệp mênh mông, bị nghiệp lực lôi
kéo! Nghiệp lực lôi quư vị lên thiên đường,
quư vị sẽ lên thiên đường; nghiệp lực
lôi quư vị xuống địa ngục, quư vị sẽ
đọa địa ngục, tự ḿnh chẳng tự chủ
được mảy may ǵ! Sở dĩ chúng sanh ở
trong biển nghiệp mênh mông không chỗ nương về,
căn bản là do v́ ch́m đắm trong sông ái dục không
đáy, sóng vỗ cuồn cuộn bất tuyệt. Bởi
thế, biển khổ vô biên; chúng sanh tuần hoàn chẳng
ngơi trong Hoặc nghiệp như thế. V́ thế, tâm Bồ
Tát suy tưởng: Chúng sanh chịu khổ như thế, nếu
ta chẳng phát tâm cứu độ, giáo hóa, c̣n đợi
ai làm chuyện này nữa đây? Bởi thế, liền
phát vô tận bi nguyện, muốn độ vô tận chúng
sanh. Do vậy hiệu là Vô Tận Ư.
Vô Tận Ư và các đại chúng v́ muốn hiểu
rơ công đức của Quán Âm Bồ Tát, thấy không có ai
khác thỉnh vấn, nên Ngài bèn từ chỗ ngồi đứng
dậy, thay mặt đại chúng thỉnh vấn Phật
Đà. Câu “tức tùng ṭa khởi” (từ ṭa ngồi
đứng dậy) nếu giải thích theo mặt chữ
sẽ rất đơn giản, nhưng nếu dùng quán tâm
để giải thích như ngài Thiên Thai th́ lại mang những
ư nghĩa sâu sắc. Chữ “ṭa” ở đây chẳng
phải là chỗ ngồi thông thường, mà có nghĩa là
Pháp Không Ṭa, cũng như kinh Pháp Hoa đă chép: “
Ngài
Vô Tận Ư từ ṭa đứng dậy, biểu thị Ngài
chẳng nhiễm trước nơi Không, bởi thế mới
nói “lấy các pháp không làm ṭa”. Tuy chẳng nhiễm
Không, nhưng chẳng phải là chẳng có cái ǵ; Bồ Tát
từ ṭa “pháp không” đứng dậy vấn pháp là một
minh chứng. Nếu như thật sự chẳng có cái ǵ
hết cả, cần ǵ phải hỏi nữa? Cần ǵ
phải giảng kinh thuyết pháp? Do bởi Không nhưng Bất
Không, cho nên mới từ ṭa Pháp Không đứng dậy, thỉnh
Phật khai thị. Như vậy, câu “tức tùng ṭa khởi”
hàm nghĩa: chẳng chấp vào Không hay Hữu, vượt
khỏi cả Không lẫn Hữu, chánh thức chứng
đắc thâm nghĩa diệu pháp Thật Tướng.
“Thiên đản hữu kiên” (trật áo vai
phải) là nghi thức nhất định phải dùng của
hàng Phật tử xuất gia đứng dậy vấn
pháp. Lúc Phật tại thế, tỳ-kheo mặc ca-sa giống
như cách tăng đoàn Phật giáo Nam Truyền mặc.
Theo quy củ nhà Phật, lúc b́nh thường, tỳ-kheo
không lễ Phật, không thuyết pháp, cả hai vai áo đều
phủ kín, chẳng lộ ra ngoài. Lúc thấy Phật, lễ
Phật, nhằm biểu thị ḷng cung kính, bèn đặc
biệt lộ vai phải ra. Vô Tận Ư Bồ Tát muốn vấn
pháp, nhằm tỏ ḷng tôn trọng đức Phật, nên
buông vạt ca-sa mặc trên thân xuống, để lộ
vai phải của ḿnh ra.
Nếu giải thích theo quán tâm th́ lộ vai phải,
che giấu vai trái cũng có ư nghĩa sâu xa. Người tu học
Phật pháp đạt đến tŕnh độ
tương đương, sẽ có hai thứ trí huệ:
- Một
là Chân Thật Trí chứng ngộ chân lư “tánh các pháp là Không”,
chẳng thể dùng ngôn ngữ để diễn tả
được nổi, bởi thế che vai trái chẳng
để lộ ra ngoài.
-
Hai là Phương Tiện Trí phát xuất từ Chân Thật
Trí, có thể quán sát hết thảy thế tục, có thể
v́ các chúng sanh thuyết pháp, có thể chỉ ra một con
đường tu hành. Trí này c̣n gọi là Quyền Xảo
Trí. Bởi thế để lộ vai hữu ra cho mọi
người được thấy rơ ràng.
Phương
Tiện Trí như vai phải, Chân Thật Trí như vai trái.
Một bên che giấu, một bên hiển lộ, rất
thích hợp để biểu thị hai trí Quyền và Thật.
Vô Tận Ư là một vị đại Bồ Tát, che kín vai trái
biểu thị Ngài có Chân Thật Trí chứng ngộ Thật
Tướng các pháp, để lộ vai phải biểu thị
Ngài có thể vận dụng Phương Tiện Trí quyền
xảo. Phương Tiện Trí hóa tục, Chân Thật Trí
khế chân. Vận dụng cả hai trí hiển thị Chân
chính là Tục, Tục chính là Chân, đạt đến cảnh
giới “Chân Tục viên dung” tối cao.
“Hợp
chưởng hướng Phật” (chắp tay hướng về Phật):
chắp hai bàn tay lại, mặt hướng về đức
Phật, đây là một lễ nghi thông thường để
chào hỏi người trên và chào hỏi nhau của người
Ấn Độ. Nếu giải thích theo quán tâm th́: Hai bàn
tay có mười ngón, nếu tách riêng từng ngón sẽ
tượng trưng cho mười pháp giới đă nói ở
phần trên. Nay đem mười ngón áp lại, đặt
trước ngực, biểu thị mười pháp giới
trong một niệm tâm của chúng ta, chẳng thể ĺa một
niệm tâm mà có.
“Nhi
tác thị ngôn” (bèn nói như
sau): Sau khi ngài Vô Tận Ư thể hiện các lễ nghi cần
phải có xong, Ngài bèn nói những lời như dưới
đây, thỉnh Phật khai thị về hành trạng của
đức Quán Âm Bồ Tát.
Những
câu trên đây thật ra biểu thị các hoạt động
thân, ngữ, ư. “Từ chỗ ngồi đứng dậy”
là thân nghiệp; “bèn nói như sau” là khẩu nghiệp;
“chắp tay hướng Phật” là ư nghiệp. Trong
lúc ấy, chuyên tâm nhất ư, bề ngoài tưởng chừng
là thân nghiệp, nhưng thật ra thuộc về ư nghiệp.
Mỗi cá nhân đều có hoạt động ba nghiệp,
vấn đề là hướng theo phương diện hoạt
động nào mới là hoạt động hợp lư chánh
đáng. Về đại thể, ba nghiệp của chúng
sanh là hướng theo phương diện hoạt động
ác, dẫu có lúc hướng thiện cũng vẫn thuộc
hữu lậu. Ba nghiệp hoạt động của ngài
Vô Tận Ư, bất luận là đến mười
phương thế giới gặp Phật nghe pháp, bất
luận là v́ tùy từng loài chúng sanh hóa hiện thuyết
pháp, đều là thanh tịnh vô nhiễm, thuần thiện
vô lậu.
“Bạch
Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát do nhân duyên ǵ tên là Quán Thế
Âm?”: Vô Tận Ư chánh thức nêu vấn đề. Vấn
đề này ngay cả người b́nh thường mới
học Phật cũng có thể hỏi được. Chẳng
hạn như những kẻ mới tin Phật, khuyên họ
phát tâm niệm nhiều thánh hiệu Quán Âm, họ thường
hay hỏi: “Bảo tôi niệm nhiều thánh hiệu
đương nhiên là rất hay, nhưng sao lại kêu tôi
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát?” Vô Tận Ư là bậc Bổ
Xứ Bồ Tát, chẳng lâu sau sẽ thành Phật, lẽ
đâu chẳng hiểu thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát? Sở
dĩ Ngài nêu lên câu hỏi này là thay mặt những người
chưa hiểu rơ công đức của Quán Âm Bồ Tát,
đặc biệt là hỏi thay cho chúng sanh trong thời
đại Mạt Pháp. Như chúng ta hiện tại hiểu
rơ sự vĩ đại và bi nguyện sâu rộng của
Quán Âm Bồ Tát là do Vô Tận Ư ngay khi đó đă thỉnh
vấn.
“Thế
Tôn” là một trong các đức
hiệu của Phật Đà, có nghĩa là đức đại
thánh Phật Đà được thế gian lẫn xuất
thế gian cùng tôn trọng, bởi thế gọi là Thế
Tôn. V́ thỉnh đại pháp, trước hết xưng một
tiếng “Thế Tôn”. Đại danh Quán Âm Bồ Tát chúng con
thường nghe qua, nhưng vị Quán Thế Âm Bồ Tát
rốt ráo là do nhân duyên ǵ mà gọi là Quán Thế Âm Bồ
Tát? Hiện tại đại chúng trong pháp hội đối
với điều này vẫn c̣n chưa biết, kính thỉnh
Phật Đà v́ đại chúng khai thị sơ lược!
1.1.2.
Như Lai bị thị cảm ứng (Như Lai chỉ dạy đầy
đủ về sự cảm ứng)
1.1.2.1.
Chánh đáp đắc danh sở dĩ (Giải đáp nguyên do được
danh hiệu ấy)
1.1.2.1.1.
Tổng tiêu tầm thanh cứu khổ (nói tổng quát về công hạnh
tầm thanh cứu khổ)
Chánh
kinh:
Phật
cáo Vô Tận Ư Bồ Tát:
-
Thiện nam tử! Nhược hữu vô lượng bách
thiên vạn ức chúng sanh thọ chư khổ năo, văn
thị Quán Thế Âm Bồ Tát, nhất tâm xưng danh, Quán
Thế Âm Bồ Tát tức thời quán kỳ âm thanh, giai
đắc giải thoát.
(Phật
bảo Vô Tận Ư Bồ Tát:
-
Này thiện nam tử! Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn
ức chúng sanh bị các khổ năo, nghe đến Quán Thế
Âm Bồ Tát này, một ḷng
xưng danh th́ ngay khi đó, Bồ Tát Quán Thế Âm bèn xem xét
âm thanh ấy, [khiến cho] đều được giải
thoát)
Phần
trước là Vô Tận Ư thỉnh vấn, phần này là Phật
Thích Ca giải đáp. Lời đáp tổng quát trong phần
này chính là phần trọng yếu nhất trong toàn phẩm,
có thể nói là cương yếu của toàn phẩm, hoặc
có thể nói là trung tâm của toàn phẩm; bởi lẽ nó
liên quan đến hoằng nguyện sâu xa của đức
Quán Âm, hoàn toàn phô bày hoằng nguyện ấy trong đoạn
kinh văn này.
Quán
Âm Bồ Tát sở dĩ có tên là Quán Âm Bồ Tát, nguyên do của
danh hiệu ấy cũng đă được biểu lộ
trong đoạn kinh văn này. Phương pháp xưng niệm
danh hiệu và những lợi ích đạt được
cũng đều nhờ mấy câu này mà tỏ rơ. Bởi
thế đây chính là cương yếu hoặc trung tâm của
toàn phẩm. Trong đoạn này lại có ba câu tối trọng
yếu, là: “nghe đến Quán Thế Âm Bồ Tát này”, “nhất
tâm xưng danh” và “đều được giải thoát”,
có thể nói là cương yếu của toàn bộ đoạn
kinh này.
“Phật
bảo Vô Tận Ư Bồ Tát”: “Thiện nam tử!” Đây là cách xưng hô của Phật
đối với Vô Tận Ư. Nam tử là đối ứng
với nữ nhân mà nói, có đủ nam tánh th́ gọi là nam
tử; có đủ nữ tánh th́ gọi là nữ tử. “Thiện
nam tử” ở đây chẳng phải là nam tử hiểu
theo nghĩa thông thường, mà là kẻ có thiện căn
sâu dày. Kẻ nam tử có đủ thiện căn sâu dày mới
gọi là “thiện nam tử”. Nữ nhân có đủ thiện
căn sâu dày gọi là “thiện nữ nhân”. Thiện căn
do vun bồi mà có, nào phải do trời sanh. Như nghe kinh,
nghe pháp, bố thí, tŕ giới đều là những
phương tiện lớn nhất để vun bồi
thiện căn. Có thể học Phật là đă có thiện
căn, nhưng càng phải vun bồi hơn nữa.
“Nếu
có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh bị
các khổ năo”: đây là
đối tượng cần được Quán Âm cứu
giúp. Câu “vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh”
h́nh dung chúng sanh rất nhiều. Chúng sanh nhiều như thế
sống trong thế giới này, trọn chẳng phải là
hưởng thọ khoái lạc mà luôn phải chịu các nỗi
khổ năo bức bách, như các chúng sanh trong địa ngục,
ngạ quỷ, súc sanh, không loài nào chẳng có các thứ khổ
năo. Những nỗi khổ năo đó nếu nói chi tiết
chẳng thể kể hết nổi. Nói riêng nhân loại
không thôi đă có đủ loại, đủ dạng khổ
năo; như thông thường nói là tám khổ, nghĩa là những
thứ nhân loại không sao tránh khỏi.
Tám
khổ có thể chia thành ba loại: như sanh, lăo, bệnh,
tử là thống khổ thuộc về phương diện
thân tâm; c̣n ái biệt ly khổ (yêu thương xa ĺa), oán tắng
khổ (oán ghét phải gặp gỡ) là thống khổ về
mặt xă hội; cầu bất đắc khổ (cầu
chẳng được) là thống khổ thuộc về
mặt [hoàn cảnh] tự nhiên. Nếu xét từ căn bản
mà luận, th́ đức Thích Tôn tổng kết bảy nỗi
khổ bằng cách nói đại lược là “nỗi khổ
v́ năm ấm lừng lẫy”. Có nghĩa là: Các nỗi khổ
phát sanh nơi hữu t́nh do chính bản thân hữu t́nh (Ngũ
Uẩn là các nguyên tố cấu tạo nên hữu t́nh). Có
năm Uẩn đó nhưng năm Uẩn hừng hực
như lửa cháy, bởi thế biển khổ vô biên. Thống
khổ công kích, thân tâm khổ năo, ai chẳng mong được
giải trừ ngay lập tức? Bất luận là ai, khi
bị thống khổ miệng phải kêu rên không ngừng
th́ trong tâm mới cảm thấy đỡ khổ đôi
chút.
Giờ
đây, đức Phật bảo chúng ta: Lúc chúng sanh bị
thống khổ bức bách, chớ có kêu rên vô ích, tốt nhất
là chuyên tâm nhất ư xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ
Tát. V́ thế, Ngài mới nói: “Nghe đến Quán Thế
Âm Bồ Tát này, một ḷng xưng danh th́ ngay khi đó,
Bồ Tát Quán Thế Âm bèn xem xét âm thanh ấy, [khiến cho]
đều được giải thoát”: Câu này chỉ rơ
lư do Quán Âm có được danh hiệu ấy. Quán Thế
Âm sở dĩ có hiệu là Quán Thế Âm do Ngài nghe âm thanh
xưng danh của chúng sanh bèn tầm thanh cứu khổ. Quán
Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi cứu
khổ cứu nạn, đúng là “không khổ nào chẳng
cứu, không chúng sanh nào chẳng độ”. Là v́ chúng
sanh khi thọ khổ, nghe đến thánh hiệu Quán Thế
Âm, nếu có thể chuyên tâm nhất ư xưng danh Ngài th́ Quán
Thế Âm Bồ Tát xem xét âm thanh xưng danh của chúng sanh ấy,
tức thời giải trừ nỗi đau khổ cho
người đó, khiến cho người đó giải
thoát chẳng c̣n bị đau khổ buộc ràng!
Ở
đây, chữ “Văn” (nghe) rất trọng yếu. Bởi
lẽ, chúng sanh nghe âm thanh thánh hiệu Quán Âm; Quán Âm cũng
nghe âm thanh của chúng sanh mà tầm thanh cứu khổ. Nghe
lẫn nhau như thế th́ mới có thể tương ứng,
tương cảm; tức là chúng sanh nghe thánh hiệu bèn
xưng dương, Bồ Tát nghe tiếng xưng danh bèn cứu
tế. Đấy gọi là “chúng sanh nghe Quán Âm, Quán Âm nghe
chúng sanh”. Chúng sanh nghe Quán Âm là “hữu sở cầu”,
Quán Âm nghe chúng sanh là “hữu sở ứng”. Cảm ứng
đạo giao như thế chúng sanh liền được
giải thoát. V́ Quán Âm là tận hư không khắp pháp giới,
bất luận thời gian nào, bất luận địa
phương nào, chỉ cần nghe thấy âm thanh cầu
được thoát khổ của chúng sanh, Bồ Tát lập
tức đại từ đại bi thị hiện
trước mặt người đó giải cứu nỗi
thống khổ, khiến người đó đắc
đại giải thoát. Bởi thế, chữ Văn ở
đây có tánh chất đặc biệt trọng yếu.
Chúng
sanh nghe Quán Âm, Quán Âm nghe chúng sanh, đều là dùng tai nghe, v́
sao chẳng đặt tên là Văn Thế Âm mà lại là
Quán Thế Âm? Chúng sanh chẳng thể dùng lẫn lộn
sáu căn, nên chỉ có thể dùng mắt thấy, tai nghe, Bồ
Tát có thể dùng lẫn lộn sáu căn nên mắt chẳng
những có thể thấy mà c̣n có thể nghe nữa, tai chẳng
những có thể nghe mà cũng có thể thấy. Sở
dĩ Quán Âm được gọi là Quán Thế Âm là v́ Ngài
có thể quán sát âm thanh để tầm thanh cứu khổ.
Hoặc có thể hiểu là: Chữ Quán ở trên là trí huệ
quán sát, chữ Thế Âm ở dưới là cảnh giới
được đức Quán Âm quan sát. Bồ Tát dùng trí huệ
năng quán để quán sát hết thảy âm thanh khổ
năo cầu cứu của hữu t́nh trong thế gian, rồi
sau đó lập tức dùng bi nguyện hoằng thệ giải
trừ thống khổ năo cho quư vị, ban sự an vui cho
quư vị; tiêu trừ, cứu thoát tai nạn cho quư vị,
ban cho quư vị sự tốt lành, không nỗi khổ nào chẳng
dẹp, không nạn nào chẳng cứu; bởi thế
xưng là Quán Thế Âm. Chẳng những thế, ngay trong
lúc dùng trí năng quán để quán cảnh là những âm
thanh cầu cứu giải trừ khổ nạn của
chúng sanh trong thế giới, th́ cảnh và trí đều chỉ
là nhất tâm, bởi vậy gọi là Quán Thế Âm.
Nếu
dựa theo lời kinh Bi Hoa giới thiệu về nhân
địa của Quán Âm th́ quá tŕnh phát tâm của Ngài như
sau: Trong vô lượng kiếp trước, Bồ Tát là
phàm phu, từng làm thái tử thứ nhất của Chuyển
Luân Thánh Vương. Đương thời, có Bảo Tạng
Phật xuất hiện trong đời, đệ nhất
thái tử vô cùng tin kính Tam Bảo, đặc biệt phát
tâm cúng dường Phật, Tăng ba tháng; lại c̣n đối
trước Phật Bảo Tạng phát Đại Bồ
Đề tâm, lập đại thệ nguyện: “Giả
sử có chúng sanh khổ năo trong thế giới, v́ cầu
giải cứu nỗi thống khổ bèn xưng niệm
danh hiệu con, con dùng thiên nhăn thấy được, thiên
nhĩ nghe được, nếu con chẳng thể cứu
thoát nỗi khổ ấy, con thề quyết định
chẳng thành Phật”. Bảo Tạng Phật thấy
Ngài phát đại nguyện như thế, biết là thật
khó có, bởi thế, đối với hoằng nguyện
dẹp khổ ban vui ấy, bèn hết sức tán thán, lại
c̣n đặt hiệu là Quán Thế Âm. Từ lời giới
thiệu của kinh Bi Hoa, ta biết Quán Thế Âm Bồ Tát
được danh hiệu ấy là do sự phát tâm khi c̣n
tu nhân, danh hiệu ấy là do Bảo Tạng Phật đặt.
Kinh
này giải thích danh hiệu Quán Thế Âm ước theo mặt
lợi tha. Kinh Lăng Nghiêm giải thích danh hiệu Quán Thế
Âm ước trên mặt tự lợi. Tự lợi là Trí,
lợi tha là Bi. Bởi vậy danh hiệu Quán Thế Âm thật
sự bao gồm những ư nghĩa tự lợi, lợi
tha, Bi Trí song vận. C̣n như kinh Lăng Nghiêm giải thích
danh hiệu Quán Âm như thế nào, xin đọc kinh
Lăng Nghiêm sẽ biết.
Nghe
danh, xưng niệm, được giải thoát, nay xin nêu
một câu chuyện cảm ứng để chứng minh:
Trong
quá khứ, tại đất Thượng Ngu thuộc tỉnh
Triết Giang, Trung Quốc, có một người buôn gạo
chân thành phụng tŕ thánh hiệu Quán Âm, trong nhà chỉ có hai
vợ chồng. Chàng buôn gạo là người lương
thiện, không việc ǵ cũng thường niệm thánh
hiệu Quán Âm, thậm chí trong mộng cũng c̣n nhớ niệm
Quán Âm Bồ Tát. Có bữa tối kia, vừa mới đi
ngủ, Bồ Tát đặc biệt báo mộng, bảo anh
ta sắp gặp đại nạn:
- Để
giải cứu đại nạn, ta có bốn câu dành cho
anh, anh phải nhớ kỹ nhé!
Gặp
cầu đừng dừng thuyền,
Gặp
dầu liền bôi đầu,
Đấu
thóc ba thưng gạo,
Nhặng
xanh nâng đầu bút.
Bốn
câu nghe trong mộng ấy, đến hôm sau anh ta nhớ kỹ
bởi lẽ giấc mộng ấy khác với những giấc
mộng b́nh thường. Chàng buôn gạo cảm thấy rất
kỳ quái, chẳng biết là điềm báo ǵ, nhưng bởi
tin tưởng đức Quán Thế Âm nên chân thành ghi nhớ
kỹ càng.
Đến
một ngày nọ, chèo thuyền qua xứ khác mua gạo kiếm
lời, thuyền đi chưa mấy chốc chợt cuồng
phong, mưa dữ nổi lên. Thuyền phu trông thấy
đằng xa có một cây cầu lớn liền muốn
neo thuyền dưới chân cầu để tạm tránh
mưa gió. Lúc thuyền đến gần dưới cầu,
chàng buôn gạo chợt nhớ đến câu “gặp cầu
đừng dừng thuyền”, lập tức bắt thuyền
phu bơi thuyền tách ra. Khéo sao, thuyền vừa tách khỏi
cầu, cầu liền gẫy sụp xuống. Nếu thuyền
chẳng tách khỏi cầu, ai nấy quyết định
phải chết. Chàng buôn gạo thấy t́nh h́nh đó, biết
là Bồ Tát cứu độ, bởi thế ư niệm
xưng niệm thánh hiệu Quán Âm càng thêm kiền thành, tinh
tấn.
Về
sau, có một chiều nọ, chàng lễ bái Quán Âm ở nhà,
trong lúc vừa lễ xuống, chưa kịp đứng
lên, đột nhiên chiếc đèn lưu ly treo trong Phật
đường rớt xuống, cả mặt đất
ngập ngụa dầu. Chàng buôn gạo nghĩ câu thứ
nhất đă linh nghiệm, chắc chắn câu thứ hai
cũng phải có lư do, bởi thế thấy dầu đầy
đất bèn cứ chất phác bôi dầu lên đầu
ḿnh. Một lúc sau đi ngủ, vô t́nh nửa đêm thức
dậy, nghe thấy trong pḥng có mùi máu tanh tưởi, bèn
đứng dậy thắp đèn t́m xem, thấy vợ ḿnh
đă bị kẻ khác giết. Tuy cảm thấy lạ
lùng quá, nhưng không biết làm sao, chỉ c̣n cách báo tin cho bố
vợ biết. Bố vợ hỏi đến nguyên nhân,
chàng nói không được một câu nào, bèn tra vặn người
trong nhà, phát hiện chàng rể tin Phật, con gái ḿnh không
tin Phật. Do đó, ông bố hoài nghi t́nh cảm vợ chồng
không tốt, quyết đoán con gái ḿnh bị chàng rể giết
chết, bèn đi báo quan.
Viên
quan nhận thấy sanh mạng rất nặng, bèn truyền
gọi chàng buôn gạo đến thẩm vấn, chỉ
thấy chàng rất thành thực, chẳng giống phạm
nhân giết người, liền hỏi: “Trong buổi tối
vợ người bị giết đó, tài vật trong nhà
có mất mát ǵ không?” Chàng buôn gạo thưa không, chứng
minh chẳng phải là bị giặc cướp giết.
Lại hỏi xóm giềng có ai thù hằn không? Chàng lái buôn
cũng đáp là không. Nhân viên thẩm án hỏi đến
đây thấy vụ án sát nhân này rất kỳ quái, đă
chẳng phải bị kẻ thù giết, lại cũng chẳng
phải do trộm giết, việc lại xảy vào lúc
đêm khuya, chẳng phải chính chàng lái buôn giết vợ
c̣n ai vào đây nữa? Bởi thế, phán quan (nhân viên phán
án) muốn cất bút ghép anh chàng buôn gạo vào tội tử
h́nh!
Chính trong lúc quan yếu đó, chợt có một
đoàn nhặng xanh lớn bay đến bám đầy ngọn
bút. Trong lúc viên phán quan cảm thấy rất kỳ quái,
chàng buôn gạo đột nhiên vui sướng như phát cuồng,
hét ầm lên: “Hay quá xá! Hay quá xá! Nhặng xanh nâng đầu
bút lại thật sự ứng nghiệm rồi!” Viên phán
quan nghe kêu như thế, biết bên trong ắt có sự
t́nh, bèn hỏi chàng buôn gạo v́ sao vui sướng quá vậy?
Chàng buôn gạo nghĩ trong bốn câu đă có ba câu ứng
nghiệm, Bồ Tát nhất định gia bị ḿnh; nhân
đó, đem hết những sự t́nh đă thấy trong
mộng kể cho viên phán quan nghe. Viên phán quan là người
có học vấn, suy nghĩ trong bốn câu này, mấu chốt
nằm trong câu thứ ba, bèn cùng mọi người nghiên cứu,
hiểu ra câu “đấu thóc, ba thưng gạo” có
nghĩa như thế này: một đấu thóc chỉ có
ba thưng gạo, tự nhiên những đấu kia phải
là cám (khang), như vậy hung phạm nếu chẳng phải
là Khang Thất th́ phải là Thất Khang (1). Ngầm đi
điều tra, quả nhiên trong địa phương có
người tên là Khang Thất, bắt về hỏi mấy
câu, Khang Thất chẳng thể không thừa nhận ḿnh là
phạm nhân giết người.
V́ sao Khang Thất phải giết người?
Khang Thất vốn gian díu với vợ chàng buôn gạo,
toan giết chàng buôn gạo, do trong bóng tối ṃ phải cái
đầu dính dầu của chàng, tưởng là người
vợ, nên bèn giết kẻ đầu không có dầu, nào
hay khéo thay đă giết lầm người! Hung án tự
nhiên sáng tỏ. Phán quan liền phán Khang Thất tội tử
h́nh, chàng buôn gạo vô tội được thả về
nhà. Chàng buôn gạo trải qua biến cố này, nhận biết
Bồ Tát từ bi quảng đại, lại thấy nhân
sanh hư huyễn chẳng thật, bèn phát tâm xuất gia cầu
đắc đạo quả! Phán quan cũng nhận thấy
Bồ Tát linh cảm rộng lớn, từ đấy tin
sâu Phật pháp. Bởi vậy, xưng niệm Quán Thế
Âm Bồ Tát có thể được giải thoát và cứu
tế!
Ở đây, có lẽ có người hỏi:
“Quán Âm là đại từ đại bi, người niệm
Quán Âm cũng rất nhiều, cớ sao được giải
thoát rất ít?” Quan trọng là cách niệm như thế
nào! Kinh văn dạy “nhất tâm xưng niệm” là một
điều tối trọng yếu! Nếu chẳng thể
nhất tâm nhất ư xưng niệm, chẳng cần biết
là niệm nhiều hay ít, hiệu quả đều rất
nhỏ. Cổ đức nói:
Khẩu niệm Di Đà tâm tán loạn,
Hăm phá hầu lung dă đồ nhiên!
(Miệng niệm Di Đà tâm tán loạn,
Toạc hầu rách họng uổng công thôi!)
Niệm Di Đà như thế th́ niệm Quán Âm
cũng giống như vậy. Chúng ta chẳng cần phải
từ sáng đến tối niệm Quán Âm, cũng chẳng
cần phải cùng nhiều người niệm Quán Âm; nếu
như miệng niệm mà tâm tán loạn, tâm miệng chẳng
ứng với nhau, dù niệm cũng khó được giải
thoát! Nói “nhất tâm xưng danh” nghĩa là chuyên nhất
ư niệm, tập trung toàn bộ tinh thần vào thánh hiệu
Quán Âm, chẳng để cho ư niệm nào khác xen tạp vào,
câu này gối lên câu kia, tiếp nối nhau, quên sạch hết
thảy những ǵ bên ngoài, khiến cho ta là người niệm
cùng đức Quán Âm được ta niệm hợp thành
một th́ mới có thể nói là “nhất tâm xưng danh”.
Nhất tâm xưng danh như vậy, niệm một thời
gian lâu sau sẽ tự nhiên đạt được lợi
ích, tự nhiên đạt được giải thoát!
Chúng
sanh trầm luân trong sanh tử, bị các sự khổ bức
bách, nói chung là chẳng được tự do, tự tại.
Nếu muốn thoát luân hồi, chẳng bị các nỗi
khổ bức bách, thân tâm ḿnh được tự do, th́
trong thời đại Mạt Pháp này, phương tiện
tối thù thắng nhất không chi hơn là nhất tâm
xưng niệm thánh hiệu Quán Âm, tin tưởng Bồ
Tát đại từ đại bi, sẽ tầm thanh cứu
khổ khiến ta được giải thoát!
1.1.2.1.2.
Biệt thị tŕ danh cảm ứng (Dạy riêng từng
điều về sự cảm ứng của việc tŕ
danh)
1.1.2.1.2.1.
Cứu hỏa nạn (cứu nạn lửa)
Chánh
kinh:
Nhược
hữu tŕ thị Quán Thế Âm Bồ Tát danh giả, thiết
nhập đại hỏa, hỏa bất năng thiêu, do thị
Bồ Tát oai thần lực cố.
(Nếu
có kẻ tŕ danh vị Quán Thế Âm Bồ Tát này, giả sử
vào trong lửa lớn, lửa chẳng thể đốt
cháy được, là do sức oai thần của vị Bồ
Tát này vậy)
Phần
kinh văn trước là đức Thế Tôn v́ Vô Tận
Ư đáp tổng quát, tiếp theo đây, Phật nói đến
các thứ lợi ích. Như phẩm kinh này nói, Quán Âm lợi
ích chúng sanh, về đại thể có hai phương diện:
- Một
là “minh ích” (ích lợi ngầm), tức là âm thầm ban cho
chúng sanh lợi ích.
-
Hai là “hiển ích” tức là ban lợi ích cho chúng sanh một
cách rơ rệt.
Trong
hai thứ lợi ích này, bây giờ trước hết nói về
minh ích. Trong đây lại chia thành ba đoạn:
1) Cứu
bảy nạn.
2) Giải
tam độc.
3) Đáp
ứng hai thứ cầu mong.
Bảy
nạn là: nạn lửa, nạn nước, nạn hắc
phong, nạn đao trượng, nạn La-sát, nạn gông
cùm, nạn oán tặc. Thế gian vốn rất nhiều
tai nạn, nhưng tối trọng yếu là bảy nạn
vừa nêu trên. Nạn thứ nhất trong bảy nạn là
nạn lửa, tức là những tai nạn do lửa lớn
gây ra. Gặp phải tai nạn này, nếu niệm thánh hiệu
Quán Âm sẽ được giải thoát.
Trong
thế gian này, bất luận đi đến địa
phương nào, bất luận trong thời điểm
nào, chúng ta đều có thể gặp phải một trận
hỏa tai lớn. Nhỏ th́ khiến chúng ta khuynh gia bại
sản, lớn th́ khiến chúng ta táng thân mất mạng. Bởi
thế, bất cứ ai cũng đều sợ hỏa
tai. Sợ lửa là một chuyện, lửa bốc lên lại
là chuyện khác; nhưng lửa đâu có muốn thế,
thường là do sơ ư, một đốm lửa nhỏ
nhoi có thể là nguồn tai họa. Nếu gặp lúc đại
hỏa tai, nên làm cách nào? Nói theo thế tục là phải dốc
tận sức người t́m cách dập tắt. Ngoài ra nên
trấn tĩnh cái tâm ḿnh, đừng sợ hăi quá mức;
bởi lẽ chỉ có tâm trấn tĩnh mới chẳng
đến nỗi bị tổn thất lớn lao! Nếu
tâm chẳng thể trấn tĩnh, kinh hoảng, thất thố,
th́ càng phải chịu tổn thất nặng nề
hơn. Bởi vậy, lúc gặp đại hỏa tai, cần
nhất là phải trấn tĩnh, đừng kinh hoảng.
Nếu tâm hoảng ư loạn, chẳng những không cứu
văn được t́nh thế, trái lại c̣n bị hại,
phải nhớ kỹ để tránh khỏi!
Nói
theo Phật giáo, lại c̣n có một biện pháp tối hảo,
tức là nhất tâm xưng niệm thánh hiệu Quán Âm, bởi
vậy mới nói: “Nếu có kẻ tŕ danh ngài Quán Thế
Âm Bồ Tát này, giả sử vào trong lửa lớn, lửa
chẳng thể đốt cháy được”. Chữ “tŕ”
ở đây thật là trọng yếu, giống như chữ
“nhất tâm” trong đoạn văn ở phần trên
vậy. Thông thường, ta hiểu Tŕ là nắm vật ǵ
trong tay, nắm chắc chẳng buông th́ gọi là “chấp
tŕ”. Bây giờ vận dụng ư tưởng ấy vào việc
niệm tụng danh hiệu Quán Âm, th́ gọi là “chấp
tŕ danh hiệu”.
Những
ǵ ḿnh chấp tŕ chẳng buông đa số đều là những
thứ quư báu, nhưng thứ quư báu trong thế gian không ǵ
hơn nổi Phật, Bồ Tát. Bởi thế, xưng niệm
danh hiệu Phật, Bồ Tát cần phải chấp tŕ
cho thật chắc. Thế nào mới là chấp tŕ? Tức
là niệm trước, niệm sau nối tiếp nhau chẳng
đoạn, dốc ḷng mà niệm th́ gọi là “chấp
tŕ”. Chấp tŕ như thế nội tâm nhất định
rất kiền thành. Nội tâm kiền thành bèn được
Bồ Tát cảm ứng, dẫu vô ư lọt vào đại hỏa,
đại hỏa cũng chẳng thể đốt
được quư vị. V́ sao lửa chẳng đốt
được? Là do sức thần thông oai đức của
Quán Âm Bồ Tát ngầm gia bị cho quư vị đấy. Bởi
thế nói: “Do sức oai thần của vị Bồ Tát
này vậy”.
Điều
này có thể luận trên hai phương diện sự thực
và đạo lư. Luận trên phương diện sự thực,
nếu là Phật giáo đồ đương nhiên là tin, nếu
chẳng phải Phật giáo đồ sẽ chẳng thể
tin nổi. Chẳng cần biết là tin hay không tin, sự
linh cảm của Quán Âm Bồ Tát đích xác là có.
Dưới
thời Măn Thanh ở Trung Quốc, có một người giữ
chức quan Vận Lương, tên là Thái Ân Tương. Chỗ
ông ta ở tiếp giáp nhà dân, bốn bề khít khao chẳng
hở chút nào. Một lần, nhà hàng xóm đột nhiên bốc
cháy, mọi người lo chạy cứu đồ đạc
này nọ, riêng ḿnh quan Vận Lương ngồi yên trong
nhà, có người khuyên ông ta cũng không ra, tựa hồ
muốn cùng chết với căn nhà. Kể ra cũng lạ,
lửa từ nhà này bén sang nhà kia, nhà hàng xóm bốn bề
đều bị cháy rụi, riêng ḿnh nhà ông ta chẳng bị
cháy! Sau này có người hỏi ông ta v́ sao lại như thế?
Ông bèn đáp:
- Trong
lúc lửa đang cháy đùng đùng, tôi nhất tâm nhất
ư niệm chú Đại Bi, không c̣n có ư tưởng nào khác.
Trong nhà tôi, không riêng ǵ tôi niệm chú Đại Bi, mấy
đời đều niệm chú Đại Bi, mỗi
đời đều có linh nghiệm chẳng thể
nghĩ bàn, thoát được các thứ tai nạn khác
nhau! Riêng bản thân tôi niệm chú Đại Bi đă mấy
mươi năm, mỗi lần gặp nạn gấp nào
đều thấy hóa hiểm thành an! T́nh h́nh bữa nay
trong quá khứ tôi đă từng trải qua, cũng do niệm
chú Đại Bi mà thoát hỏa tai. Do tôi có tín niệm như
vậy, tin tưởng Bồ Tát nhất định thầm
gia bị cho; bởi thế, mọi người phải
tin tưởng Bồ Tát, niệm thánh hiệu Quán Âm nhiều
hơn!
Lại
nữa, vào thời Diêu Tần ở Trung Quốc, có vị
pháp sư Pháp Trí một dạ chuyên xưng niệm thánh hiệu
Quán Âm. Có một lần, có việc phải đi qua nơi
khác, con đường Sư đi cắt ngang đồng
cỏ lau; ngay lúc đó, có người đến đốt
cỏ dại, lửa từ bốn mặt cháy tới, vây
kín pháp sư Pháp Trí vào giữa, chẳng có cách nào thoát khỏi
biển lửa. Ngay khi đó, pháp sư lắng tâm suy
nghĩ: “Ḿnh là người tín phụng Quán Âm, giờ
đây đem sanh mạng này giao cho Quán Âm”. Sư bèn ngồi
ngay ngắn giữa đám cỏ lau, nhất tâm nhất ư
niệm thánh hiệu Quán Âm, niệm một lúc lâu sau, lửa
to dần dần cháy lan gần đến thân, Sư bị
khói ngộp mê đi, cho rằng sanh mạng đến
đây là kết thúc! Thế nhưng lúc lửa to tắt rồi,
một trận gió mát thổi tới, Sư dần dần
tỉnh lại, nh́n chung quanh, tất cả cỏ hoang
đều bị cháy sạch, chỉ có những nhánh cỏ
mọc quanh ḿnh trong ṿng một thước là chẳng bị
lửa bén đến, do đó chưa bị thiêu chết!
Căn
cứ vào những sự thực này, chứng tỏ thánh hiệu
Quán Âm có thể miễn trừ tai nạn. Quư vị đừng
vội kêu ḿnh niệm chẳng có linh nghiệm, vấn
đề là có nhất tâm xưng danh hay không?
Luận
trên phương diện đạo lư: Đối với
câu “giả sử vào trong lửa lớn”, chớ
nghĩ lửa ở đây nhất định phải là lửa
có h́nh, có tướng, mà phải nghĩ là loại lửa
vô h́nh vô tướng, hoặc nói theo cách thông thường
là lửa nóng giận, chẳng phải là lửa bên ngoài mà
là lửa trong tâm. Lửa Sân trong tâm cũng có tác dụng
thiêu đốt, như nói: “Lửa nóng giận đốt
cháy rừng công đức”, điều này đáng sợ
nhất! Kinh Diệu Huệ Đồng Nữ nói: “Sân hoại
thiện căn vật tăng trưởng!” (Sân phá hoại
thiện căn, chẳng cho tăng trưởng). Người
b́nh thường chỉ biết lửa dữ ác hại bên
ngoài đốt tiêu nhà cửa, rừng cây, chẳng nghĩ
đến lửa Sân trong tâm c̣n độc dữ hơn lửa
bên ngoài. Lửa bên ngoài chỉ có thể đốt tiêu vật
ngoài thân, cùng lắm là đốt mất thân thể, c̣n công
đức thiện căn đă tu học, tích tập, bất
luận cách nào cũng chẳng thể thiêu được.
Chỉ có mỗi lửa Sân trong tâm ḿnh mới có thể
thiêu cháy thiện căn công đức. Bởi vậy, cố
nhiên là phải đề pḥng ngoại hỏa, nhưng nội
hỏa lại càng phải gia tâm đề pḥng.
Pḥng
ngăn nội hỏa bằng cách nào? Tức là ngay trong lúc
nội tâm nổi nóng, chợt nhớ đến Quán Âm
đại sĩ, kiền thành niệm thánh hiệu Quán Âm,
khác nào hắt một chậu nước lạnh thấu tận
tâm, dập tắt lửa Sân, tự nhiên rừng công đức
thiện căn chẳng bị đốt mất. Nếu
đổi “giả sử vào trong lửa lớn, lửa
chẳng thể thiêu” thành “giả sử vào trong lửa
Sân, lửa Sân chẳng thể thiêu” có phải là rất
hợp đạo lư hay không? Người không tin Phật
pháp há chẳng thể cũng tin tưởng điều
này hay sao? Bởi thế, Phật pháp là cực hợp t́nh,
hợp lư, chẳng phải là kể chuyện cổ tích,
nói huênh hoang đâu!
Lửa
Sân có thể đốt cháy hết thảy, nóng giận chẳng
ích lợi ǵ cho người khác, rất nhiều kinh đă
nhắc đến. Nay tôi dẫn kinh Di Giáo để nói: “Cái
hại của nóng giận chính là phá các thiện pháp, hoại
tiếng tăm tốt, người đời này đời
sau chẳng thích trông thấy. Phải biết tâm Sân c̣n
hơn lửa mạnh, thường phải đề
pḥng, ngăn ngừa chẳng để cho nó vào được”.
Nói thông thường, Sân là nổi nóng, dù các mặt khác rất
tốt, ai cũng chẳng thích gặp người đó.
Như ta thường nghe nói: “Gă đó làm việc rất giỏi
giắn, cũng chịu giúp đỡ người khác, có
thể nói những lời tốt lành, có thể biên chép
được, nhưng tánh nóng quá!” Nếu có ai muốn gặp
kẻ kia, những người khác đều nói: “Tôi chẳng
muốn gặp anh ta, v́ tánh anh ta nóng quá!” Bởi thế, lửa
Sân độc hại nhất! Thật ra, có những lúc chẳng
nên nổi nóng, nhưng do không tự khống chế
được ḿnh, bất ngờ nổi giận đùng
đùng! Trong lúc đó, nếu có thể nghĩ đến
Quán Thế Âm Bồ Tát, nóng giận lập tức mất
tiêu!
Trong
quá khứ, có kẻ tục nhân hỏi người xuất
gia câu này:
- Pháp
sư! Tôi vốn có một bệnh không ai trị lành
được, chẳng hay pháp sư có trị được
bệnh cho tôi hay không?
Pháp
sư hỏi:
-
Ông mắc bệnh ǵ?
-
Nói thật ra, về mặt thể chất tôi chẳng có bệnh
ǵ, chỉ là thường hay nổi nóng. Lúc nổi nóng giống
như sấm sét vậy đó, ai thấy cũng sợ, tôi
vốn chẳng muốn nổi nóng, nhưng lúc gặp chuyện
bèn đổ quạu giống như trời sanh vậy
đó, muốn nóng là nóng, thật không có cách ǵ!
Gă tục
nhân thưa cùng pháp sư như thế. Pháp sư lại bảo:
- Quái
lạ! Rất nhiều bệnh tôi từng nghe qua, nhưng
chưa bao giờ nghe căn bệnh như thế.
-
Nhà thầy đúng là chẳng hiểu ǵ cả, nóng giận
ai mà chẳng hiểu cơ chứ?
Pháp
sư nói:
-
Không phải là không hiểu, ông nói nóng giận do trời sanh
mà thành, xin ông đem nó ra cho tôi coi, chắc chẳng ngại
ǵ!
Gă tục
nhân nghe vậy, không khỏi ngẩn ngơ, suy nghĩ:
“Đem bệnh cho ổng coi, tuy nội tâm có bệnh,
nhưng làm sao đem cho ổng coi được?” Suy
đi nghĩ lại, không cách chi đem ra cho coi được,
bởi vậy, gă bảo pháp sư:
- Thầy
muốn tôi đem cái bệnh cho thầy coi, nhưng làm sao
đem được?
Nhân
đó, pháp sư nói:
- Đă
không có cách ǵ đem bệnh cho người khác coi, ông nói là
tự nhiên trời sanh, sao tự nhiên chẳng c̣n?
-
Đúng vậy! Nếu là trời sanh ra, ắt phải
đem cho người khác coi được. V́ chẳng phải
là trời sanh nên chính ḿnh phải rất chú ư!
Gă hiểu ra không có tánh nóng nào do trời sanh, chỉ
có cách do tu dưỡng sẽ tự khống chế
được t́nh cảm của ḿnh, chẳng để
tánh nóng lạm phát, sự nóng giận tự nhiên chẳng bốc
lên nữa. Do vậy, bệnh nóng tánh của gă tục nhân
đó không cần uống thuốc mà tự lành. Đúng là
làm người trong thế gian bất luận gặp phải
chuyện ǵ, chỉ cần chịu lùi một bước, suy
nghĩ một chút, tánh nóng giàn trời cũng chẳng thể
phát tác được. Cội nguồn của tánh nóng chẳng
phải do nguyên nhân nào khác, đại đa số là do chẳng
khống chế được t́nh cảm. Nếu có thể
khéo khống chế t́nh cảm, nhất định sẽ
chẳng nóng giận bừa băi!
Khống
chế lửa Sân chẳng để nó thiêu đốt th́
niệm thánh hiệu Quán Âm là biện pháp tốt nhất.
Ngoài ra c̣n có cách khống chế tánh nóng như sau: Nóng giận
đa phần là do người khác phát khởi, nếu có ai
chọc giận, phê b́nh, chê bai, bỡn cợt, khinh mạn,
nhục mạ v.v… sẽ dễ làm người ta nổi
nóng nhất.
Nếu
lúc đó, quư vị có thể dùng cách sau đây ắt tánh
nóng chẳng đến nỗi phát sanh: Trước hết,
xét coi kẻ nói những lời đó là hạng người
như thế nào, là quân tử hay kẻ tiểu nhân? Nếu
là bậc quân tử rất mực quy củ th́ chính ḿnh phải
phản tỉnh! Quân tử chẳng tùy tiện phê b́nh
người khác, bây giờ phê b́nh ḿnh, nhất định
ḿnh có nhiều khuyết điểm. Nếu không, quân tử
tuyệt đối chẳng phê b́nh ḿnh. Ḿnh phải nên tiếp
nhận lời người đó phê b́nh, sửa đổi
khuyết điểm của ḿnh, sao c̣n nổi nóng đối
với người đó cơ chứ? Nổi nóng trước
mặt bậc chánh nhân quân tử đúng là chuyện khó coi
lắm! Nếu kẻ tiểu nhân phê b́nh, lời kẻ tiểu
nhân bận tâm làm ǵ? Nếu cùng kẻ tiểu nhân so đo,
hóa ra ḿnh cũng là tiểu nhân ư? Thậm chí c̣n kém
hơn tiểu nhân nữa kia! Nghĩ như thế dù có muốn
nổi nóng cũng nổi nóng chẳng được.
Nói
chung, quán sát đối phương chẳng cần biết
là quân tử hay tiểu nhân đều chẳng nên nổi
nóng!
1.1.2.1.2.2.
Cứu thủy nạn (cứu nạn nước)
Chánh
kinh:
Nhược
vị đại thủy sở phiêu, xưng kỳ danh hiệu,
tức đắc thiển xứ.
(Nếu
bị nước lớn cuốn trôi, xưng danh hiệu
Ngài liền được chỗ cạn)
Đây
là thủy nạn, nạn thứ hai trong bảy nạn.
Đại thủy cũng đúng là một tai nạn hết
sức lớn. Như trong năm Dân Quốc bốn
mươi tám (1959), Đài Loan gặp nạn đại thủy
tai mồng Bảy tháng Tám, năm Dân Quốc bốn
mươi chín gặp trận lụt lớn mồng Một
tháng Tám, đều là những trận thủy tai bi thảm,
nặng nề chưa từng có. Quư vị xem báo chí tường
thuật, chỉ biết là tai nạn rất nặng, c̣n rốt
cuộc nghiêm trọng đến mức độ nào, chỉ
sợ quư vị chẳng tưởng tượng nổi
đâu!
Lúc
trận lụt mồng Bảy tháng Tám năm Dân Quốc bốn
mươi tám xảy ra, chính tôi đang ở Đài Trung,
lúc nước dâng lên, từng dăy từng dăy nhà bị nhận
ch́m, từng gốc từng gốc cây bị nước
xoáy tróc gốc, cả cánh đồng màu mỡ rộng lớn
lập tức bị nước trào biến thành hoang
sơn loạn thạch, đường sắt bị xoáy
đứt, cầu sắt bị nước ngập kín,
gia súc bị cuốn phăng theo ḍng nước, người
bị chết đuối. Bởi vậy, cơn đại
thủy tai có thể làm cho người ta khuynh gia bại sản,
táng thân mất mạng, không ai chẳng sợ thủy tai.
Thế
nhưng thủy tai thiên nhiên không cách ǵ đề pḥng
được, ngoại trừ tận nhân lực, không
cách ǵ trốn tránh được. Phật pháp cho rằng
niệm Quán Âm là tốt nhất, bởi vậy kinh dạy:
“Nếu bị nước lớn cuốn trôi, xưng
danh hiệu Ngài, liền được chỗ cạn”.
Lúc một cá nhân bị nước lớn cuốn trôi, sanh mạng
rất nguy hiểm, trong lúc khẩn yếu đó, nếu có
thể nhất tâm xưng niệm thánh hiệu Bồ Tát,
ngay lập tức sẽ từ chỗ rất sâu đến
được chỗ rất cạn, sanh mạng
được thoát hiểm! Bởi thế, lúc bị
nước lớn cuốn trôi, tối khẩn yếu là
đừng quên Đại Từ Đại Bi Quán Âm Bồ
Tát!
Trước
hết, tôi nêu lên sự cảm thông về mặt sự
tướng để thuyết minh chuyện thoát khỏi
thủy nạn. Theo sách Pháp Hoa Cảm Thông, vào đời
Đường ở Trung Quốc, có chàng Sầm Cảnh
Nhân, từ nhỏ đă niệm phẩm Phổ Môn. Có lần,
do có việc phải ngồi thuyền qua Tô Châu, thuyền
đi chưa được bao lâu, chợt chao nghiêng, mọi
người rớt hết xuống nước. Sầm Cảnh
Nhân đang ở dưới nước, nghe có người
nói: “B́nh thời niệm phẩm Phổ Môn, bây giờ nhất
định được thoát thủy nạn!” Nghe âm thanh
như vậy ba lần tất cả, sau đó, tự nổi
trên mặt nước, trôi tấp vào bờ, thật sự
thoát khỏi thủy nạn.
Những
chuyện giống như vậy ở Trung Quốc thấy
rất nhiều, chúng ta chẳng thể không tin! Thủy tai
có thể phát sanh bất cứ nơi đâu, bất cứ
lúc nào, trong tâm lư chúng ta phải nên chuẩn bị như thế,
lại nên có tín niệm như thế, lỡ ra gặp phải
thủy tai, ngàn vạn phần nhớ kỹ thánh hiệu
Quán Thế Âm Bồ Tát.
Kế
tiếp, giảng về mặt đạo lư: Đại thủy
cũng chẳng phải là đại thủy sóng vỗ ngất
trời bên ngoài, mà là nước ái dục trong tâm chúng ta.
Nhân loại chúng sanh rất nhiều kẻ ch́m đắm
trong nước ái dục, táng thân mất mạng. Nhà Phật
nói:
Ái
hà thiên xích lăng,
Khổ
hải vạn trùng ba,
(Sông
ái ngàn thước sóng,
Biển
khổ sóng muôn trùng)
Đủ
biết là sức nước ái dục lớn lao. Thử
xem hiện tại bao nhiêu thanh niên nam nữ trái nghịch
cha mẹ và những người thân thuộc ngụp lặn
trong vũng xoáy sông Ái, chẳng đạt mục đích chẳng
thôi, thậm chí tự sát cả đôi! Bởi vậy, phải
biết đại thủy chính là nước tham ái. Nếu
chúng sanh đắm ch́m trong nước ái dục, th́ Phật
dạy chúng ta chỉ có biện pháp cứu văn là đề
khởi chánh niệm, nhất tâm xưng niệm thánh hiệu
Quán Âm, để cầu khải phát trí huệ, sau đấy
mới dùng lửa trí huệ đốt tiêu nước ái dục,
mới ḥng cứu văn, bất tất phải hy sinh! Bởi
vậy, người tu học Phật pháp phải thường
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ tuyệt đối hữu
ích cho chúng ta.
Phật
pháp coi ái dục là căn bản của sanh tử. Sở
dĩ chúng sanh chẳng thể thoát khỏi ṿng sanh tử, gốc
bệnh là do ái dục. Kinh Tứ Thập Nhị
Chương nói: “Người ôm ḷng ái dục chẳng thấy
đạo th́ ví như lấy tay khuấy nước lặng,
mọi người cùng đến không ai thấy được
h́nh ảnh. Con người do ái dục xen tạp, những
thứ nhơ bẩn trong tâm nổi lên, nên chẳng thấy
đạo. Hàng sa-môn các ông nên bỏ ái dục, cấu nhơ
ái dục hết rồi mới thấy được
đạo vậy!” Người đời bị ái dục
mê hoặc, bởi vậy cả một đời chẳng
thấy chân lư, chẳng có cách nào giải thoát sanh tử! Như
một chậu nước thanh tịnh, vốn có thể
soi được mặt, do bị người dùng tay khuấy
động, tạo thành nhiều gợn lăn tăn, bởi
vậy bất cứ ai đến soi bóng đều chẳng
thể thấy được dung mạo của chính ḿnh.
Một
niệm tâm của con người bị ái dục làm mê, suốt
ngày vọng tưởng tơi bời, làm sao thấy
được chân lư? Do bởi như vậy, chẳng những
hàng sa-môn xuất gia mà ngay đến mỗi một người
học Phật đều phải nên cắt bỏ ái dục,
cắt ngang ḍng ái dục, th́ bổn tâm sẽ khôi phục
thanh tịnh, sẽ thấy chân lư được giải
thoát!
1.1.2.1.2.3.
Cứu la-sát nạn
Chánh
kinh:
Nhược
hữu bách thiên vạn ức chúng sanh, vị cầu kim,
ngân, lưu ly, xa cừ, mă năo, san hô, hổ phách, chân châu
đẳng bảo, nhập ư đại hải, giả
sử hắc phong xuy kỳ thuyền phưởng, phiêu
đọa La Sát quỷ quốc, kỳ trung nhược hữu
năi chí nhất nhân, xưng Quán Thế Âm Bồ Tát danh giả,
thị chư nhân đẳng giai đắc giải thoát La
Sát chi nạn.
(Nếu
có trăm ngàn vạn ức chúng sanh v́ cầu các báu: vàng, bạc,
lưu ly, xà cừ, mă năo, san hô, hổ phách, chân châu v.v… vào
trong biển cả, giả sử hắc phong thổi thuyền
của họ trôi giạt vào nước quỷ La Sát, trong ấy
nếu có dù chỉ một người, xưng danh hiệu
Quán Thế Âm Bồ Tát th́ những người đó đều
được thoát khỏi nạn La Sát)
Đây
là nạn quỷ La Sát thứ ba trong bảy nạn. Nạn
gió trong kinh gọi là “hắc phong”. Rốt cuộc hắc
phong là loại gió nào chẳng biết rơ lắm, chỉ cần
biết là một thứ phong tai nghiêm trọng. Những
người sống ở Đài Loan Bảo Đảo đều
có kinh nghiệm tương đương. Tại Đài
Loan mỗi năm đến mùa Đài Phong (2), oai lực do
Đài Phong phát sanh đúng là khiến người nghe kinh
hăi. Mỗi năm, tổn thất do Đài Phong gây ra
cũng rất nghiêm trọng. Đó là thiên tai, ngày nay khoa học
phát triển, cũng chưa t́m ra cách nào tiêu diệt
được Đài Phong, chỉ đành đề cao cảnh
giác, lập cách dự pḥng ngơ hầu giảm thiểu tổn
hại mà thôi. Bởi vậy, nó là một đại tai nạn!
Câu “nếu
có trăm ngàn vạn ức chúng sanh” h́nh dung thật nhiều
chúng sanh. Chúng sanh nhiều như thế ấy “v́ cầu
các báu: vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mă năo, san hô, hổ
phách, chân châu v.v… vào trong biển cả”: Trong bảy thứ
báu được nói đến ở đây, kim là vàng ṛng,
ngân là bạc trắng, lưu ly là chất báu có màu xanh, xa cừ
là một thứ báu có màu trắng, mă năo là chất báu có màu
hồng, báu san hô có h́nh dạng như cành cây, hổ phách là
do nhựa thông ngàn năm biến thành, chân châu là từng hạt
bảo châu. Bảy báu đại đa số sanh từ biển
cả, bởi vậy người đi t́m của báu
thường kết thành đội vào biển thâu nhặt
báu. Vào biển t́m báu, nhất định phải ngồi
thuyền. Trăm ngàn vạn ức chúng sanh đi t́m báu
như thế ngồi thuyền vào biển cả, thuyền
đi chẳng bao lâu “giả sử” gặp phải “hắc
phong thổi thuyền của họ trôi giạt vào nước
quỷ La Sát”. Tương truyền quỷ La Sát ăn thịt
người, sống trong những ḥn đảo trong biển,
chuyên đợi người đến nạp mạng.
H́nh dạng của chúng như sau: “Miệng như chậu
máu, mắt như lục lạc đồng, tay như
chĩa sắt, mặt xanh, nanh chĩa”, trông rất
đáng sợ. Do chúng cử động nhanh nhẹn nên c̣n
gọi là Tiệp Tật Quỷ.
Người
cầu báu chẳng may gặp phải hắc phong, thổi
giạt vào nước quỷ La Sát, chẳng cần phải
nói, sanh mạng rất nguy hiểm, ngay trong lúc ấy, “trong
ấy nếu có dù chỉ một người” trong số
nhiều người, “xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ
Tát th́ những người đó đều được
thoát khỏi nạn La Sát”.
Có
người nói: Một người niệm Quán Âm th́ một
người được thoát nạn, c̣n đáng tin, chứ
một người niệm Quán Âm, trăm ngàn vạn ức
chúng sanh thoát nạn chẳng thể không khiến người
ta nghi ngờ! Thật ra, có ǵ đáng nghi đâu! Một cá
nhân trong lúc tại nạn gấp gáp đáng sợ, chỉ
cần nghe người khác niệm, dù miệng chẳng niệm,
trong tâm cũng đă có ấn tượng của Bồ
Tát, thậm chí trong tâm thầm niệm theo. Bởi vậy,
vô h́nh trung, đồng được lợi ích giải
thoát. Hiện thời chúng ta ra khỏi cửa, chẳng cần
biết là dùng phương tiện giao thông nào, nếu có thể
nhất tâm niệm Quán Âm cho bạn đồng hành nghe thấy,
lưu lại ấn tượng về Bồ Tát, sẽ dần
dần kích phát người khác phát tâm học Phật,
đây cũng là đại công đức vậy!
Bây
giờ, tôi sẽ kể lại chuyện xưa xưng niệm
Quán Âm thoát khỏi nạn quỷ La Sát: Trong quá khứ, có một
thương chủ t́m của báu, dẫn năm trăm
thương nhân vào biển cả thâu nhặt của báu, thật
sự bị hắc phong thổi giạt thuyền vào
nước quỷ La Sát, trong số đó, bốn trăm
chín mươi chín người đều tín ngưỡng
Quán Âm, bây giờ đại nạn đối đầu,
nghĩ không c̣n cách nào khác, chỉ c̣n cách nhất tâm xưng
niệm Quán Âm Bồ Tát. Nào ngờ bọn họ vừa niệm
như thế, bọn quỷ La Sát muốn đến bắt
người ăn, thủy chung chẳng thấy bóng một
ai.
C̣n
người chẳng tin Quán Âm, chẳng những miệng
không niệm, c̣n cho là lúc gặp đại nạn niệm
Quán Âm có ích ǵ? Ngay lúc hắn ta nghĩ như thế, liền
bị quỷ La Sát trông thấy, sắp bị nó chụp bắt,
mới nghĩ niệm Quán Âm rất trọng yếu, bèn gấp
rút lớn tiếng niệm Quán Âm. Quỷ La Sát nghe hắn
niệm Quán Âm, vừa giơ tay chụp, lại chẳng thấy
hắn ta đâu nữa, mọi người bèn cùng thoát nạn
La Sát. Bởi vậy, trên mặt sự tướng, gặp
phải nguy nan nào, xưng niệm thánh hiệu Quán Âm, nhất
định có diệu dụng chẳng thể nghĩ bàn!
“Đại
hải” chỉ biển cả
Phật pháp; “thất bảo” chỉ Thất Thánh Tài
trong Phật pháp, “hắc phong” chỉ vô minh; quỷ La
Sát chỉ tâm giết hại; “thuyền phưởng”
chỉ sanh mạng của hữu t́nh. Ư nói: Người
thâm nhập biển cả Phật pháp, muốn cầu tu tập,
tích tụ Thất Thánh Tài, chợt bị cuồng phong vô
minh động khởi ư niệm giết hại, khiến
cho sanh mạng bị mất.
Trước
kia Trung Quốc có câu chuyện cổ như sau: Trong quá khứ
có một viên tể tướng, đến thăm một
ngôi chùa, trong chùa có vị Tăng rất siêng năng tu tập,
mỗi ngày đều niệm phẩm Phổ Môn. Tể
tướng đi thăm chùa xong, ở sau vị Tăng
nghe ngài tụng kinh, lúc nghe tụng đến câu “giả
sử hắc phong thổi thuyền của họ trôi
giạt vào nước quỷ La Sát”, viên tể tướng
chợt hỏi vị Tăng:
- Nhà
thầy vừa niệm hai câu kinh đó có nghĩa ǵ vậy?
Xin hăy giải thích cho ta nghe.
Vị
tăng biết rơ ông ta là tể tướng, vẫn cố
ư đáp:
- Ông
là người chẳng hiểu đạo lư ǵ cả,
người xuất gia đang niệm kinh, lúc niệm
đến gần như nhập định, sao ông lại
nêu câu hỏi quấy rầy tôi? Muốn hỏi hăy đợi
tôi niệm kinh xong rồi hăy hỏi!
Viên
tể tướng thấy vị Tăng đối đáp
chẳng chút khách khí, trong tâm bực bội vô cùng, lập tức
sai tùy tùng lôi vị Tăng về nha môn, muốn xử vị
Tăng tội chết. Lúc đó, vị Tăng cười
khanh khách nói:
- Đúng
là tôi đang bị hắc phong thổi giạt thuyền
bè, đọa vào nước quỷ La Sát rồi!
Viên
tể tướng nghe nhà sư nói vậy, rất lấy
làm lạ, bèn hỏi v́ sao ông lại cười nói như
thế? Vị Tăng đáp:
- Ngài
buông xuống không được, bị gió vô minh lay động,
tức là hắc phong đấy. Ngài động sát tâm tức
là quỷ La Sát; bởi vậy tôi nói là bị hắc phong thổi
giạt vào nước quỷ La Sát.
Tể
tướng nghe lời giải thích ấy, chẳng những
hiểu rơ ư kinh mà c̣n hiểu rơ ư vị Tăng, chẳng những
không giết vị Tăng, trái lại c̣n tôn kính, đích
thân đưa vị Tăng về chùa. Vị tăng nhân ấy
có thể nói là người khéo thuyết pháp nhất. Nếu
ngay lúc đó, ngài giải thích cách nào, gă tể tướng
cũng chẳng hiểu rơ vấn đề, tin hay không tin
cũng là vấn đề. Hiện thân thuyết pháp
như thế chẳng những thật sự hiểu rơ,
mà c̣n là tin tưởng thiết tha nữa.
1.1.2.1.3.
Kết đáp đắc danh nhân duyên (kết lại
lời đáp về nhân duyên được danh hiệu
Quán Thế Âm)
Chánh
kinh:
Dĩ
thị nhân duyên, danh Quán Thế Âm.
(Do
nhân duyên ấy, tên là Quán Thế Âm)
Vô Tận
Ư hỏi nhân duyên Quán Thế Âm được danh hiệu ấy.
Kinh này đă giải thích những nguyên nhân, “do những
nhân duyên ấy” nên Bồ Tát được danh hiệu
là Quán Thế Âm. Đă hiểu rơ nhân duyên Bồ Tát
được danh hiệu ấy, ắt sẽ chẳng
c̣n nghi ngờ đối với Bồ Tát nữa. Hết
nghi sanh ḷng tin, tự nhiên đối với thánh hiệu của
Bồ Tát bèn xưng niệm khẩn thiết và chân thành.
1.1.2.2.
Quảng hiển xưng danh cảm ứng (rộng
thuyết minh về những sự cảm ứng do
xưng danh)
1.1.2.2.1.
Năng thoát tứ nạn (Thoát bốn nạn)
1.1.2.2.1.1.
Biệt minh thoát nạn (Riêng nói về bốn nạn)
1.1.2.2.1.1.1.
Năng thoát lục nạn (Thoát nạn giết
chóc)
Chánh
kinh:
Nhược
phục hữu nhân, lâm đương bị hại,
xưng Quán Thế Âm Bồ Tát danh giả, bỉ sở chấp
đao trượng, tầm đoạn đoạn hoại,
nhi đắc giải thoát.
(Nếu
lại có người khi sắp bị hại mà xưng
danh Quán Thế Âm Bồ Tát, th́ những đao trượng
đang cầm đó liền găy từng khúc, bèn được
giải thoát)
Trong
bảy nạn, đây là nạn thứ tư: đao trượng
nạn. Đao là dao bén, có thể cắt chặt sanh mạng,
Trượng là những thứ như côn, bổng, nhẹ
th́ làm tổn thương thân thể, nặng th́ tổn hại
sanh mạng. Bởi thế, bất luận con người
đi đến chỗ nào mà thấy có kẻ vung đao,
giáng gậy nói chung là tránh xa, chỉ sợ lỡ bị
đao trượng làm hại đến sanh mạng. Nếu
phạm phải phép nước, phải bị quốc pháp
xử phạt, có khi phải chịu cực h́nh, nói theo thời
cổ, tội chặt đầu cần phải động
đao; nếu phạm pháp nhẹ hơn th́ bị đánh bằng
bản tử (3) hoặc bằng côn, đều gọi là bị
tội Trượng. Chịu h́nh phạt đao trượng
có khác ǵ mắc tai nạn, bởi vậy phải tính cách né
tránh, không ai là chẳng sợ đao trượng. Nếu gặp
phải t́nh huống đó, nên làm cách nào đây? Kinh dạy:
“Nếu
lại có người” hoặc
là vô cớ bị hại, hoặc do phạm pháp phải thọ
h́nh, hoặc do gặp phải cường đạo mà bị
đánh, nói chung là “khi sắp bị hại” mà nếu
có thể nhất tâm nhất ư “xưng niệm danh hiệu
Bồ Tát Quán Thế Âm” th́ những đao trượng
đang cầm trên tay của những kẻ toan sát hại
quư vị “liền găy từng khúc” (tầm đoạn
đoạn hoại) khiến cho quư vị được
giải thoát. Chữ “tầm” có nghĩa là rất nhanh
hay ngay lập tức. Đao trượng đều là hung
khí, nếu thật sự chạm vào thân, sanh mạng nhất
định bị tổn thương. Nay do niệm thánh hiệu
Quán Âm, đao trượng lập tức bị găy nát thành
từng khúc, mất đi tác dụng gây tổn
thương, cũng chẳng thể tổn hại tánh mạng
được nữa, bởi thế, ngay khi đó liền
được giải thoát.
Con
người gặp phải nạn đao trượng
đều là do ác nghiệp nhân duyên đă tạo trong đời
này, hoặc là tạo trong quá khứ. Nói thông thường,
đă có ác nghiệp như thế, vốn là khó trốn
tránh, né tránh nghiệp lực chẳng được; nay do
sức nhân duyên thiện nghiệp xưng niệm thánh hiệu
Quán Âm thắng được sức của nhân duyên ác nghiệp
đă tạo, nên có thể tiêu trừ được tất
cả ác nghiệp. Ác nghiệp đă tiêu, dù đao trượng
có gia hại cũng chẳng gia hại được, nhân
đấy bèn được giải thoát.
Đao
trượng có thể nói là có đao trượng hữu
h́nh và đao trượng vô h́nh.
Về
đao trượng hữu h́nh, trong lịch sử Phật
giáo Trung Quốc, có một câu chuyện xưa như sau:
Trong
đời Đường ở bên Tàu có thiền sư Trí
Giác, lúc chưa xuất gia làm quan Thái Thú. Lúc ông đang làm
quan Thái Thú, khu vực ông cai trị gặp phải nạn
đói chưa từng có, bách tính bị đói đến nỗi
không có cái ǵ ăn, ngay cả rễ cỏ cũng không c̣n mà
ăn, đúng là khổ sở cực điểm! Nhưng
kho lúa của chánh quyền c̣n chứa rất nhiều
lương thực. Quốc gia chứa lương vốn
dùng để cứu đói, nhưng muốn sử dụng
phải xin phép nhà vua trước. Quan Thái Thú sợ thời
gian tấu tŕnh lâu lắc, đợi đến khi thánh chỉ
ban xuống, e rằng bách tính chết đói hết. Bởi
đó, ông nổi ḷng bi, phát gạo cứu đói trước
đă, rồi mới tâu lên vua sau, dụng tâm
đương nhiên là tốt, nhưng chưa được
vua phê chuẩn th́ vẫn là phạm quốc pháp. Bởi thế,
vua băi chức ông, truyền giải về kinh đô xử
tội chém.
Nhưng
viên Thái Thú này là một vị thanh quan, nổi tiếng trong
sạch, quốc vương biết tiếng. Bởi vậy,
lúc sắp hành h́nh, đặc biệt truyền quan Giám Trảm
chú ư xem thái độ, ngôn ngữ của quan Thái Thú ra sao. Vị
quan đương nhiên biết ḿnh làm chuyện phạm
pháp, nhưng v́ nóng ḷng cứu nạn đói cho bách tính, biết
rơ mà cố phạm, nên đă sớm gác chuyện sống chết
ra ngoài. Bởi vậy, lúc sắp thọ h́nh chẳng những
không tỏ vẻ thống khổ, lại c̣n rất hoan hỷ
nói: “Đem cái mạng này cúng dường chúng sanh!” Người
cầm đao nghe nói vậy cảm thấy rất kỳ
quái, nên chẳng giết ông ta, trở về báo với quốc
vương. Vua nghe tâu, lập tức truyền đem ông ta
đến trước mặt vua, hỏi ông ta v́ sao làm thế?
Ông ta đáp rất tách bạch:
- Chẳng
có nhân duyên nào khác, chỉ là chẳng nỡ nh́n thấy bách
tính đói khổ, phát xuất từ một niệm đồng
t́nh đó thôi!
Quốc
vương biết viên quan này thiện lương, truyền
tha tội. Viên Thái Thú do gặp chuyện này, biết nhân
sanh chẳng có ư nghĩa ǵ, bèn phát tâm xuất gia, pháp danh là
Trí Giác. Do đây biết rằng: một người sắp
bị hại, chỉ cần sanh khởi một niệm
thiện tâm hoặc từ bi tâm, tâm ấy tương ứng
Bồ Đề tâm, liền được Bồ Tát cứu
tế, bèn thoát nạn đao trượng.
Lại
thuật chuyện do niệm Quán Âm mà được thoát nạn:
Trong
quá khứ, ở Trung Quốc có người sống tại
địa phương nọ, t́nh cảm vợ chồng rất
tốt, người vợ ngoài những việc cần phải
vén khéo trong nhà th́ chuyên môn niệm thánh hiệu Quán Âm. Người
chồng đối với vợ cũng rất tốt, ra
ngoài làm ăn, mỗi khi cùng bè bạn nhắc đến vợ
đều khen ngợi không ngớt miệng, nào là vợ hiền
thục, nào là vợ trinh tiết, nào là vợ biết giữ
đạo làm vợ. Có một gă bạn muốn chọc ghẹo
anh ta, kiếm cớ ṃ đến nhà anh ta, người vợ
thấy bạn chồng đến thăm, tiếp đón
anh ta rất lễ độ. Thời cổ, y phục
đàn bà mặc tay áo rất lớn, mỗi lần cử
động cánh tay, giơ ống tay áo lên xuống, mặt
trong cánh tay lộ ra. Trên cánh tay người vợ có một
nốt ruồi, bị gă bạn ḍm trộm thấy. Gă bạn
đó lúc sau gặp người chồng bèn chọc ghẹo
anh ta:
- Anh
hay nói vợ anh hiền lương, giữ phận làm vợ
thế này thế nọ, nhưng tay vợ anh ở chỗ
này chỗ nọ có nốt ruồi kín, tôi biết rất
rơ, vậy th́ vợ anh giữ đạo làm vợ như
thế nào cứ đó mà suy!
Người
chồng nghe nói chẳng biết đáp sao, bụng nghĩ
ḿnh tin tưởng vợ như thế, hóa ra vợ lại
là hạng đàn bà như thế, thật chẳng c̣n ra thể
thống ǵ nữa! Bởi vậy, phát phẫn, nửa
đêm cầm dao về nhà, kêu vợ mở cửa. Lúc
đang mở cửa, chẳng hỏi đầu đuôi, vừa
thấy mặt vợ liền đâm ngay một nhát, giết
xong liền bỏ chạy để khỏi bị quan bắt.
Trong
thời gian lẩn trốn, nghĩ đến người
vợ trinh lương, chẳng hề có hành vi đó, biết
là bị người gạt gẫm, trong tâm rất hối
hận. Ít lâu sau, chẳng nghe nói có tin tức truy bắt kẻ
phạm tội sát nhân ǵ, bèn lén về nhà coi, đến nhà
thấy vợ ḿnh đang niệm thánh hiệu Quán Âm, cảm
thấy kỳ quái, liền hỏi:
- Mấy
bữa trước, có người nào đến nhà gơ cửa
không?
Người
vợ đáp:
- Gần
đây không có ai đến gơ cửa. Mỗi tối em đều
niệm thánh hiệu Quán Âm trong Phật đường, làm
sao mở cửa được?
Người
chồng nghe nói càng lấy làm lạ hơn, bèn kể rơ
đầu đuôi cùng vợ. Vợ chồng cùng cho là Quán
Âm cảm ứng, cùng đem tượng Quán Âm đang thờ
ra xem, quả nhiên thấy trên cổ tượng Quán Âm hăy
c̣n vết dao rành rành, chứng thực Quán Âm ra mở cửa
cứu nạn. Từ đó, vợ chồng càng thêm kiền
thành xưng niệm Quán Âm Bồ Tát.
Nói về đao trượng vô h́nh th́ đao trượng chính là những chướng ngại ghen ghét và tâm lư oán hận, năo loạn đang uẩn tàng trong tâm mỗi ngư