Quán Thế Âm Bồ Tát
Phổ Môn Phẩm Giảng Kư,
Phần 3
1.1.2.2.3. Năng ứng
nhị cầu (đáp ứng hai điều mong cầu)
1.1.2.2.3.1. Chánh minh ứng
cầu (nêu rơ những chuyện ứng với ḷng
mong cầu)
Chánh
kinh:
Nhược hữu nữ nhân, thiết dục
cầu nam, lễ bái cúng dường Quán Thế Âm Bồ
Tát, tiện sanh phước đức trí huệ chi nam; thiết
dục cầu nữ, tiện sanh đoan chánh hữu tướng
chi nữ, túc thực đức bổn, chúng nhân ái kính.
(Nếu có
người nữ muốn cầu con trai, lễ bái cúng
dường Quán Thế Âm Bồ Tát liền sanh con trai
phước đức trí huệ; nếu muốn cầu
con gái, liền sanh con gái đoan chánh hữu tướng,
đời trước đă gieo gốc lành, mọi người
kính yêu)
Cứu
bảy nạn, ĺa ba độc đều đă giảng
qua. Nay giảng về hai điều cầu mong, tức là ứng
với hai điều mong cầu của chúng sanh, Bồ Tát
bèn cho được thỏa nguyện. Hai thứ cầu
mong vừa nói đó chính là cầu sanh con trai, con gái. “Cầu
con trai được con trai, cầu con gái được
con gái”, ứng với hai điều cầu mong. Chúng
sanh trong thế gian không ai chẳng mong sanh con đẻ cái
v́ muốn được truyền ḍng nối dơi. Nếu
cá nhân nào tuyệt tử tuyệt tôn, luận theo lập
trường thế tục th́ thật bi thảm; nhưng
nếu luận theo Phật pháp, con cái là nợ nần,
đặc biệt đối với việc tu hành, bởi
lẽ quyến luyến con cái rất khó thể tấn tu.
Lại
nói về con cái th́ chẳng ngoài hai loại:
- Một
là trả nợ, như con cháu hiếu thuận phụ mẫu,
yêu thương, bảo vệ gia đ́nh.
- Một
là loại đến đ̣i nợ, như những hạng
con cháu bất hiếu, ngỗ nghịch, tiêu hao tài sản.
Bởi
thế, chân chánh tu hành chẳng nhất định phải
có con cái, nhưng v́ đáp ứng ḷng chúng sanh thế gian
mong cầu, Phật, Bồ Tát từ bi cũng có thể thỏa
măn nguyện cầu của chúng sanh. Bởi thế, trong những
thân thị hiện của Quán Âm có h́nh tượng Quán Âm Tống
Tử…
“Nếu
có nữ nhân muốn cầu con trai”: Trong mọi gia đ́nh thế tục, cả
cha lẫn mẹ đều mong có con như nhau, sao ở
đây lại chỉ nói là người nữ mong cầu
con trai, con gái? Phải biết là tâm cầu có con cái của
nữ nhân so ra chân thành, khẩn thiết hơn các ông chồng
rất nhiều; bởi thế kinh văn đặc biệt
nói nữ nhân cầu con cái. Tâm phụ nữ cầu con cái
khẩn thiết hơn chồng nói chung là do ba nguyên nhân:
1) Cha
mẹ chồng cưới dâu về đại đa số
là v́ rất mong được ẵm cháu. Nếu như con
dâu sau khi cưới chậm có cháu, chẳng khỏi bố
mẹ chồng thất vọng, thậm chí sanh ḷng ghét bỏ
con dâu, bởi thế phụ nữ hy vọng sớm sanh
con đẻ cái để bố mẹ chồng được
vui ḷng.
2) Người
đàn ông sở dĩ lấy vợ v́ muốn gia tộc
khói hương chẳng dứt, bởi lẽ suốt ngày
tân toan bận rộn, không điều ǵ chẳng phải
là v́ gia đ́nh, con cái. Nếu như vợ chậm sanh nở,
chẳng những đánh mất ḷng yêu thương của
chồng, thậm chí chồng c̣n toan lấy vợ khác; bởi
thế, tâm cầu con đặc biệt khẩn thiết.
3) Đàn
bà sau khi kết hôn, nếu không có con cái, chẳng những bố
mẹ chồng ghét bỏ, chồng cũng sanh chán, trong ṿng
thân thích cũng đâm ra chê cười cô vợ, bởi thế
tâm nữ nhân cầu con càng khẩn thiết, chân thành
hơn so với nam nhân.
Trong
thế gian, nếu có nữ nhân nào thật sự cầu có
được một đứa con trai, th́ có cách nào? Kinh dạy
chúng ta: Chỉ cần “lễ bái, cúng dường Quán Thế
Âm Bồ Tát, liền sanh con trai phước đức trí
huệ”. “Lễ bái” là chí thành, khẩn thiết, năm
vóc gieo xuống đất; giống như cách mọi
người thường lễ Phật hiện tại.
Cúng dường là dùng các thứ phẩm vật như
hương, hoa v.v… cúng dường. Luận về phía Bồ
Tát, Ngài vốn chẳng cầu mong ǵ nơi chúng ta, sao lại
nói đến cúng dường? Chỉ v́ để cầu
phước hay cầu con, chúng ta chẳng thể không biểu
lộ một chút tâm ư; chẳng qua, nhà Phật nói đến
cúng dường, không nhất định phải là tài vật.
Nếu như thân thể cung kính lễ bái, miệng xưng
niệm danh hiệu, trong tâm quán tưởng thánh dung; ba nghiệp
cúng dường như thế là cúng dường tối
thượng. Làm được như vậy, nhất
định Bồ Tát sẽ ban cho quư vị một đứa
con trai phước đức, trí huệ vẹn toàn.
Sanh
làm con người, phước đức và trí huệ
đều trọng yếu như nhau. Có phước đức
nhưng không trí huệ ví như sanh làm đứa con khờ
khạo trong gia đ́nh giàu có. Tuy có mọi thứ tốt lành
để hưởng thọ, nhưng cái ǵ cũng không biết;
có phước không huệ như thế chỉ gọi là
Si Phước. Có trí huệ nhưng vô phước như
chàng Tú Tài trong gia đ́nh nghèo khó, tuy bụng đầy ắp
kinh luân văn chương nhưng cuộc sống quẫn
bách. Có trí huệ mà vô phước như thế chỉ có
thể gọi là Cuồng Huệ; cũng chẳng phải
là lư tưởng. Bởi thế, cầu có được
đứa con trai phải cầu đứa phước huệ
song toàn, chẳng cầu đứa con si phước hay cuồng
huệ. Đấy chính là ư nghĩa thật sự của
việc cầu con được con. Bây giờ tôi kể một
câu chuyện thật như sau:
Trong
quá khứ, tại Trung Quốc có một vị cư sĩ
học Phật tại gia, tên là Đàm Hiến Khanh, nhà rất
giàu có, có cả vợ lẫn thiếp, nhưng đến
năm mươi tuổi vẫn chưa có con. Chỉ v́ tài
sản rất nhiều, tất nhiên mấy đứa cháu
tranh nhau thừa tự, mong hưởng tài sản của
ông ta nên không ngừng tranh chấp với nhau. Đàm Hiến
Khanh nghe những chuyện ấy, cảm thấy buồn bực
vô cùng, thấy ḿnh c̣n sống đây mà chúng nó đă tranh
đoạt tài sản. Họ Đàm là người tín phụng
đức Quán Âm, nghĩ Quán Âm đại từ đại
bi, bèn phát tâm bỏ ra năm ngàn đồng làm lễ Đại
Bi Sám Đàn, chân thành lễ Đại Bi Sám Pháp bốn
mươi chín ngày. Chẳng lâu sau, vợ ông hoài thai, đến
kỳ sanh hạ một bé trai trắng trẻo, mi thanh mục
tú, thông mẫn, linh lợi. Người thiếp thấy lễ
niệm Quán Âm quả thật có cảm ứng, cũng phát
tâm bỏ ra một ngàn đồng dựng Bạch Y Các
để thờ Quán Âm Đại Sĩ, chuyên thành lễ
bái cúng dường, về sau cũng sanh được một
đứa con trai phước đức, trí huệ. Từ
đó, nhân đinh nhà họ Đàm rất vượng, chứng
tỏ lễ bái cúng dường Quán Âm Bồ Tát có thể
khiến cho chúng ta sanh hạ những đứa con xinh
đẹp, hiền lương; kính xin quư vị hăy tin
tưởng sâu đậm đừng ngờ vực!
Chẳng
riêng ǵ cầu con trai được con trai, nếu có nữ
nhân “ví muốn cầu con gái, liền sanh con gái đoan
chánh hữu tướng”. Ư nói: Trong thế gian này, nếu
có nữ nhân nào cầu đảo Quán Thế Âm Bồ Tát, hy
vọng sanh được một mụn con gái, Bồ Tát
cũng cho được thỏa nguyện. Bốn chữ
“đoan chánh hữu tướng” ở đây vô cùng trọng
yếu. Bởi lẽ, làm thân con gái trong thế gian, so với
nam giới vấn đề thân tướng đoan chánh
trang nghiêm càng được đặt nặng hơn, tuyệt
đối chẳng thể có tướng ǵ khuyết hăm.
Thế gian thường nói “ngũ quan đoan chánh”,
nhà Phật gọi là “sáu căn đầy đủ”,
đều hàm ư thân tướng đoan nghiêm.
Người
sống trong thế gian bất luận nam hay nữ, chẳng
ai mong tướng mạo ḿnh xấu xí, khó coi cả; ai nấy
đều mong mỏi ḿnh sanh ra được tướng
mạo đoan chánh, dễ nh́n. Như vậy, “đoan
chánh hữu tướng” nghĩa là người con gái
đó phẩm hạnh đoan chánh, hành vi lại càng trang trọng.
Nếu tướng mạo đoan nghiêm nhưng hành vi cẩu
thả, chắc chắn chẳng phải là lư tưởng
rồi. Nếu như một người con gái tướng
mạo đoan trang, hành vi chẳng cẩu thả, chẳng
những ḷng cha mẹ vui thích, người khác trông thấy
cũng vui thích. Cứ theo hiện thực thế gian mà nói,
có thể thấy rơ là: Nếu một đứa bé gái chừng
hai ba tuổi, nếu càng lớn càng dễ nh́n, ai cũng
thích chơi đùa với nó; c̣n như nó vừa xấu vừa
dữ, chẳng có ai thích nó cả. Bởi thế, đoan
chánh hữu tướng là một điều kiện chẳng
thể thiếu đối với nữ nhân vậy.
Nhà
Phật nói đoan chánh hữu tướng là Quả, có Quả
ắt phải có Nhân, chẳng thể không Nhân mà có Quả
được. V́ đâu người con gái ấy
được đoan chánh hữu tướng? V́ cô ta “túc
thực đức bổn” (trồng gốc lành trong
đời trước). Chữ “túc” chỉ đời
sống quá khứ. Trong đời quá khứ làm một con
người tích cực, đức hạnh cao siêu, phẩm
cách thanh cao, lại làm những công đức thiện
căn lợi ích nhân quần xă hội, nên mới cảm
được quả báo đoan chánh hữu tướng. Có
được quả báo như thế, đương
nhiên được “mọi người ái kính”.
Hai
chữ “ái kính” cũng mang ư nghĩa rất trọng yếu.
Một phụ nữ sống trong thế gian được
mọi người kính yêu, thật là tối lư tưởng,
mà cũng là một người "hiền huệ trang thục"
(hiền lương, thông minh, đoan trang, trinh thục).
Nói thật ra, một người con gái chỉ được
người ta yêu chứ không kính tất nhiên rất hạ
tiện; trái lại, chỉ được người ta
kính chứ không yêu, tức là “kính nhi viễn chi”, sẽ
dần dần trở thành một người cô độc,
tự nhiên cũng chẳng phải là lư tưởng ǵ. Lư
tưởng nhất là một mặt được
người khác yêu mến, lại c̣n được
người ta tôn kính. Trong ḷng yêu lại có mấy phần
kính nể, sẽ chẳng bị người khác tùy tiện
coi thường, lại chẳng khiến người khác
dễ khởi vọng niệm. Nếu một cá nhân
được người khác kính yêu, tất nhiên cũng
chiếm được hảo cảm của người
khác; bởi thế ở đây đặc biệt dùng hai
chữ “ái kính” để biểu thị người
con gái tài đức song toàn.
Cầu
con trai được con trai phước đức - trí huệ,
cầu con gái được con gái đoan chánh - hữu
tướng, phải biết đó là nói tương đối.
Trên thực tế, nam nhân chẳng những cần có
phước đức, trí huệ, mà cũng cần phải
đoan chánh hữu tướng. Không riêng ǵ nữ nhân cầu
tướng mạo mỹ măn, ngay cả nam nhân cũng mong
mỏi. Chẳng có nam tử nào trong thế gian mong ḿnh xấu
xí, thô lậu cả, bởi lẽ yêu cái đẹp là thiên
tánh của con người. Cũng thế, nếu con gái
đoan chánh hữu tướng, nhưng không có phước
đức, trí huệ th́ đời người cũng chẳng
mỹ măn. Như ngạn ngữ Trung Quốc thường
nói: “Hồng nhan đa bạc mệnh” (gái đẹp
số phận thường hẩm hiu), chính là nói về hạng
người đoan chánh hữu tướng nhưng không
phước đức, trí huệ; bởi vậy, đàn
bà cũng cần phải có phước đức, trí huệ.
Bất
quá, nếu phân biệt th́ nam nhân đặt nặng phước
đức, nữ nhân coi trọng tướng mạo. Chứ
thật ra phải nói là: Cầu con trai được con
trai phước đức, trí huệ, đoan chánh hữu
tướng; cầu con gái liền sanh con gái đoan chánh hữu
tướng, phước đức trí huệ. Kinh Diệu
Huệ Đồng Nữ nói: “Thân tướng đoan
nghiêm” ngụ ư đoan chánh hữu tướng; “phú quư
tôn thân” ngụ ư phước đức trí huệ. Có thể
nói: Làm thân người, phước đức và tướng
mạo đều trọng yếu như sau.
Nhắc đến chuyện cầu
con trai, con gái, bây giờ tôi cũng kể một chuyện
thật để thuyết minh như sau:
Trong
quá khứ, ở Trung Quốc có một người tên là
Hoa Đôn, kết hôn đă gần hai mươi năm,
người vợ từ đầu đến cuối vẫn
không sanh nở ǵ, vợ chồng chẳng tránh khỏi đôi
phần lo lắng. Nhưng bọn họ đều tin Phật,
nhất là đối với Quán Âm Bồ Tát càng tin kính,
ngưỡng mộ cao độ. Bởi thế, họ khẩn
thiết cầu đảo Quán Âm Bồ Tát, lại kiền
thành cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát. Chính nhờ họ
khẩn thiết chí thành, quả nhiên được Bồ
Tát cảm ứng. Ước chừng một tuần lễ
sau, người vợ mộng thấy Quán Âm Bồ Tát bảo:
- Ta
thấy các ngươi kiền thành cầu khẩn ta, chẳng
nỡ để các ngươi thất vọng. Bởi vậy,
ta đặc biệt ban cho các ngươi một trai một
gái, hy vọng các ngươi an tâm, đừng lo đến
chuyện này nữa!
Sau
khi người vợ nằm mộng chẳng bao lâu, quả
nhiên năm sau sanh một bé trai, năm kế đó lại
sanh một đứa con gái. Do đây chứng tỏ chỉ
cần thành tâm, thành ư cầu nguyện cùng Quán Thế Âm Bồ
Tát, Bồ Tát không nguyện nào chẳng thỏa măn, khiến
chúng sanh tâm nguyện toại ư. Chúng ta phải tin tưởng
sự thật này, bởi lẽ đó là điều chính miệng
đức Phật đă nói trong pháp hội Pháp Hoa, tuyệt
đối chẳng dối người.
Cầu
con trai được con trai, cầu con gái được
con gái giảng về mặt sự thật, cố nhiên là
như thế, nay cũng nên luận theo mặt đạo
lư. Phải biết rằng nam được nói ở
đây tượng trưng cho Trí Huệ, nữ tượng
trưng cho Thiền Định hoặc Từ Bi. Tôi sẽ
phân biệt đại lược như sau:
Như
người sống trong cơi trời Dục Giới, do tâm
tán loạn đặc biệt nặng nề, chỉ có trí
huệ b́nh phàm, thiếu hẳn thiền định như
pháp, bởi thế trí huệ mà họ có được đó
chỉ là Cuồng Huệ; nếu nói là nam th́ đó là Cuồng
Nam. Đến cơi trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
thuộc Vô Sắc Giới, chỉ có định tâm vi tế,
nhưng do tâm lực bạc nhược thái quá, nên chỉ
có Định thiếu Huệ. Có Định không Huệ chỉ
có thể gọi là Khô Định; nếu gọi là nữ
th́ chỉ là Si Nữ. C̣n như cơi trời Tứ Thiền
thuộc Sắc Giới và ba tầng trời trước của
Vô Sắc Giới, tuy nói là có Định có Huệ, Định
Huệ đầy đủ, nhưng Định Nữ ấy
chẳng thể sanh ra Vô Lậu Huệ Nam, chẳng thể
giải quyết các thứ phiền năo, nên Định Huệ
hữu lậu ấy chỉ có thể gọi là Si Nam Thạch
Nữ (1), vẫn chẳng mỹ măn, chẳng phải là
pháp môn nam nữ mà hành giả Phật pháp đáng nên cầu
mong vậy.
C̣n
như trí huệ của bậc thánh giả Nhị Thừa
xuất thế, nhân v́ có thể siêu sanh thoát tử, nên gọi
là Vô Lậu Định Huệ. Nhưng Huệ Nam đó chỉ
có thể đoạn được Kiến Tư phiền
năo, chẳng thể đoạn nổi Căn Bản Vô
Minh, Định Nữ tuy sanh Vô Lậu, nhưng chẳng thể
nhập Trung Đạo. Bởi thế chúng ta phải cầu
Trung Đạo Trí Huệ
Đạt
đến địa vị Phật là Phước lẫn
Huệ cùng đủ nên gọi là Lưỡng Túc Tôn. Thân sắc
vàng và tướng hảo quang minh không ǵ sánh chính là phước
trọn đủ; tứ biện tài, tám âm thanh, xét căn cơ
ban bố giáo pháp, chính là Huệ đầy đủ. Bởi
chúng ta không có phước huệ Trung Đạo trang nghiêm
nên phải làm chúng sanh lưu nhập sanh tử. Ngạn ngữ
có câu: “Nhân yếu y trang, Phật yếu kim trang”
(người đẹp bởi áo, Phật đẹp v́ vàng);
trang nghiêm cực kỳ trọng yếu. Bởi thế cần
phải cầu Phước, cầu Huệ, lại c̣n phải
Phước Huệ Song Tu. Tự tánh là cái được
trang nghiêm (sở trang nghiêm), phước huệ là chủ
thể trang nghiêm [tự tánh] (năng trang nghiêm), Năng - Sở
bất nhị th́ gọi là “diệu nam diệu nữ cụ
túc trang nghiêm”. Điều này cho thấy chuyện cầu
con trai con gái được nói trong phẩm này chẳng nên hiểu
là chuyện cầu con trai con gái thông tục của thế
gian, mà phải hiểu là cầu con trai trí huệ, cầu
con gái Thiền Định.
Lại
c̣n có thể hiểu như thế này: nam biểu thị Trí
Huệ, nữ biểu thị Từ Bi. Nh́n trên
phương diện tánh khí nam nữ b́nh thường, nữ
giới tánh t́nh ôn ḥa, tâm cảm thông rất lớn, biểu
hiện lớn nhất là t́nh mẹ càng vượt trội
nam giới, v́ thế phụ nữ tượng trưng cho
Từ Bi. Như vậy, cầu con trai là cầu Trí Huệ,
cầu con gái là học Từ Bi. Chỉ có Bi - Trí song vận
như thế mới ḥng đạt được Bi - Trí
trọn đủ. Có đầy đủ cả Bi lẫn
Trí mới tương ứng với Bi - Trí của Quán Âm Bồ
Tát, đương nhiên mới được oai lực của
Bồ Tát gia hộ, mới khiến cho Từ Bi - Trí Huệ
của ḿnh ngày càng tăng trưởng, Bi - Trí đă tốt,
Định - Huệ càng hay, đấy đều là những
điều hành giả nhà Phật đáng nên cầu. Bởi
thế, người tu hành có cầu con trai, con gái như thế
th́ chẳng qua là cầu con trai Trí Huệ và con gái Từ Bi -
Thiền Định đó thôi.
1.1.2.2.3.2.
Tổng kết thần lực
Chánh
kinh:
Vô
Tận Ư! Quán Thế Âm Bồ Tát hữu như thị lực.
(Này
Vô Tận Ư! Quán Thế Âm Bồ Tát có sức như thế)
Nói
đến đây, đức Phật lại gọi Vô Tận
ư bảo: “Quán Thế Âm Bồ Tát có sức oai đức thần
thông vĩ đại như thế khiến cho cầu con
trai được con trai, cầu con gái được con
gái, chẳng để chúng sanh thất vọng mảy may
nào!”
1.1.2.2.4.
Năng đắc đa phước (được
nhiều phước)
1.1.2.2.4.1.
Khuyến tŕ giảo lượng (so sánh [công đức],
khuyên nên tŕ niệm)
Chánh
kinh:
Nhược
hữu chúng sanh cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát,
phước bất đường quyên. Thị cố
chúng sanh giai ưng thọ tŕ Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu.
(Nếu
có chúng sanh cung kính, lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, phước
chẳng luống uổng. V́ thế chúng sanh đều nên
thọ tŕ danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát)
Tiếp
theo là phần kinh văn nói [tŕ danh hiệu Quán Âm] sẽ
được nhiều phước. Trước hết
là khuyên tŕ danh hiệu Bồ Tát và so sánh công đức nhiều
ít. Phật nói “nếu có chúng sanh” phát tâm “cung kính lễ
bái Quán Thế Âm Bồ Tát”, kẻ ấy sẽ
được phước đức, quyết định
chẳng bị luống uổng. Đường là uổng
phí, Quyên là vứt bỏ. “Bất đường quyên”
nghĩa là chẳng nhọc nhằn uổng công vô ích. V́ thế,
chúng ta cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, đừng
nghĩ là chẳng ích ǵ cho ḿnh cả, thật ra, cung kính có
phước đức của cung kính, lễ bái có phước
đức của lễ bái, tuyệt đối chẳng uổng
phí, lăng phí thời gian.
Có
người v́ hằng ngày lễ bái Quán Thế Âm, xưng
niệm Quán Thế Âm, nhưng trọn chẳng được
Bồ Tát cảm ứng ǵ, bèn nghĩ lễ niệm Quán Âm
vô ích, đă chẳng phát sanh trí huệ, lại c̣n chẳng
tăng trưởng từ bi, càng chẳng đắc Thiền
Định, nào biết nghĩ như vậy là lầm. Bởi
thế, ở đây đức Phật đặc biệt
nhắc nhở chúng ta: Nếu quả thật chân chánh
xưng niệm, cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát th́
tuyệt đối chẳng luống uổng. Đă như
thế th́ “v́ vậy, chúng sanh đều nên thọ tŕ
danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát”. Thọ là lănh thọ,
chủ yếu là do Tín lực duy tŕ; Tŕ là Ức Tŕ (nhớ,
giữ), chủ yếu là nhờ Niệm lực ghi nhớ.
Lănh thọ nơi tâm, chấp tŕ chẳng quên, th́ gọi là
Thọ Tŕ. Bởi thế thọ tŕ danh hiệu Bồ Tát là
điều mỗi một cá nhân phải tuân thủ, nhớ
kỹ.
Bây
giờ tôi nêu chuyện của một vị đại
đức được cảm ứng trong Cao Tăng
Truyện để chứng minh:
Vào
đời Tấn ở Trung Quốc, tại Trung Sơn, có
vị tăng tên Bạch Pháp Kiều. Lúc niên thiếu,
Sư rất thích tụng kinh, nhưng không rơ do nguyên nhân ǵ,
thanh âm cứ bị vướng tắc không thông suốt.
Pháp Kiều biết ḿnh nghiệp chướng nặng nề,
bèn kiên định thực hành tuyệt thực, lại c̣n
khẩn thiết chí thành sám hối, trong bảy ngày bảy
đêm kiền thành hướng về Quán Âm Bồ Tát lễ
bái cầu nguyện, mong Bồ Tát gia bị khiến cho tiếng
tụng kinh của ḿnh thông suốt không trở ngại. Những
pháp sư khác thấy Ngài chẳng ăn, chẳng ngủ,
khổ nhọc tu hành, có hại cho thân thể nên khuyên Ngài bất
tất phải hành xác như thế, nhưng Ngài vẫn cứ
hành như vậy, chẳng đổi thay ư niệm ban
đầu chút nào.
Đúng
là người có tâm thành, Phật, Bồ Tát liền có cảm
ứng. Bởi thế, đến ngày thứ bảy, cảm
thấy trong họng tự nhiên nhẹ nhàng, biết là Bồ
Tát cảm ứng, liền dùng nước súc miệng, đến
khi tụng kinh lần nữa, tiếng vang hơn ba dặm.
Người xa gần nghe thấy đều cảm thấy
rất lạ lùng, người lẫn vật đều
đến nghe Ngài tụng kinh. Cho đến năm chín mươi
tuổi, thanh âm chẳng biến cải; cho thấy cung
kính, lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát có cảm ứng, chẳng
uổng phí công lao vậy.
Chánh
kinh:
Vô
Tận Ư! Nhược hữu nhân thọ tŕ lục thập
nhị ức hằng hà sa Bồ Tát danh tự, phục tận
h́nh cúng dường ẩm thực, y phục, ngọa cụ,
y dược. Ư nhữ ư vân hà? Thị thiện nam tử,
thiện nữ nhân công đức đa phủ?
Vô
Tận Ư ngôn:
-
Thậm đa! Thế Tôn!
Phật
ngôn:
-
Nhược phục hữu nhân thọ tŕ Quán Thế Âm Bồ
Tát danh hiệu, năi chí nhất thời lễ bái cúng dường,
thị nhị nhân phước chánh đẳng vô dị.
Ư bách thiên vạn ức kiếp bất khả cùng tận.
(Này
Vô Tận Ư! Nếu có người thọ tŕ danh hiệu của
sáu mươi hai ức Bồ Tát, lại c̣n suốt đời
cúng dường thức ăn, y phục, đồ nằm,
thuốc men, ư ông nghĩ thế nào?
Vô
Tận Ư đáp:
-
Bạch Thế Tôn! Rất nhiều!
Phật
dạy:
-
Nếu lại có người thọ tŕ danh hiệu Quán Thế
Âm Bồ Tát, tối thiểu là lễ bái cúng dường một
chốc, th́ phước của hai người này giống
hệt như nhau, trong trăm ngàn vạn ức kiếp chẳng
thể cùng tận)
Phần
trên là khuyên nên tŕ niệm, c̣n phần này là so lường
công đức. Chúng ta thường ngày tŕ niệm Quán Thế
Âm Bồ Tát, rốt cuộc có công đức như thế
nào? Đạt được công đức lớn hay nhỏ,
chẳng có biện pháp ǵ biết được, chỉ từ
sự so sánh ở đây mới ḥng biết được.
Tức là nếu so sánh công đức do thọ tŕ danh hiệu
các Bồ Tát khác và công đức thọ tŕ danh hiệu Quán
Thế Âm Bồ Tát, ngay lập tức sẽ biết to nhỏ
như thế nào.
Phật
bảo Vô Tận Ư Bồ Tát: “Nếu quả thật có
người nào đó phát tâm thọ tŕ danh hiệu của
sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát”: Hằng
hà là một con sông lớn ở Ấn Độ, dài đến
mấy ngàn dặm, rộng đến bốn mươi dặm,
nhưng nước rất cạn. Cát trong sông Hằng rất
mịn nhuyễn, kinh Phật mỗi khi nói đến số
nhiều thường lấy cát sông Hằng làm ví dụ. Nếu
dùng tay bốc lấy một nắm cát, số hạt cát ấy
đă nhiều đến nỗi chẳng thể đếm
nổi số. Một con sông có bao nhiêu cát càng khó h́nh dung
hơn nữa. Mỗi một hạt cát ví như danh hiệu
một vị Bồ Tát, danh hiệu Bồ Tát tượng
trưng bởi số cát trong một con sông Hằng
đương nhiên đă rất nhiều; nhưng ở
đây nào phải nói số cát của hai ba con sông Hằng
thôi đâu mà là cát của sáu mươi hai ức con sông Hằng!
Số Bồ Tát h́nh dung bởi những hạt cát các con
sông Hằng như thế có thể nói là nhiều vô lượng
vô biên. Chúng sanh thọ tŕ danh hiệu Bồ Tát nhiều
như cát của sáu mươi hai ức sông Hằng, chẳng
cần phải nói nữa, tŕ danh rất nhiều, phước
điền cũng rất nhiều.
Không
chỉ thọ tŕ xưng niệm danh hiệu đâu nhé, “lại
c̣n suốt đời cúng dường thức ăn, y phục,
ngọa cụ, thuốc men”, những thứ này gọi
là “tứ sự cúng dường”. Lúc Phật tại thế,
tín đồ cúng dường chẳng ngoài Tứ Sự. Có
bệnh bèn cúng dường thuốc, b́nh thường th́
cúng dường thức ăn, y phục, ngọa cụ. Bởi
lẽ bốn thứ này đều là những thứ cần
thiết để nhân loại sanh tồn; Phật, Bồ
Tát và thánh giả La Hán cũng chẳng ngoại lệ. Nhưng
cúng dường như vậy phải đâu chỉ một
hai ngày, nào phải một hai năm, mà là suốt đời
cứ cúng dường như thế. Như năm hai
mươi tuổi phát tâm cúng dường, sống đến
tám mươi tuổi mới chết th́ cúng dường suốt
sáu mươi năm. Nói chung, trọn khoảng thời gian
ḿnh sống được đều cúng dường tứ
sự như thế.
- Thọ
tŕ danh hiệu nhiều như thế là thọ tŕ rất
nhiều, là đại công đức thứ nhất.
- Sáu
mươi hai ức Hằng hà sa Bồ Tát là phước
điền nhiều, là đại công đức thứ
hai.
- Tứ
sự cúng dường là cúng dường nhiều, là đại
công đức thứ ba.
- Trọn
tuổi thọ phát tâm cúng dường là thời gian nhiều,
là đại công đức thứ tư.
Do
đó, Phật lại hỏi Vô Tận Ư Bồ Tát: “Ư ông
nghĩ như thế nào? Thiện nam tử, thiện nữ
nhân ấy công đức có nhiều chăng?” Nói
đơn giản, nghĩa là người ấy có
được nhiều công đức hay chăng? Vô Tận
Ư Bồ Tát thành thật đáp: “Thưa Thế Tôn rất
nhiều!” Người ấy đạt được
rất nhiều công đức, chẳng riêng ǵ Bồ Tát Vô
Tận Ư đáp như thế, nếu hỏi bất cứ
ai cũng sẽ đều dị khẩu đồng thanh
đáp: “Bạch Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ
nhân như thế đạt được công đức
thật là rất nhiều, chúng con chẳng thể nói
được nổi”.
Sau
khi đức Phật nghe Vô Tận Ư Bồ Tát đáp xong, Ngài
lại bảo tiếp cùng Vô Tận Ư Bồ Tát rằng: Kẻ
đó công đức cố nhiên rất là nhiều, “nhưng
nếu lại có người thọ tŕ danh hiệu Quán Thế
Âm Bồ Tát, thậm chí lễ bái, cúng dường một
lúc” th́ so ra người ấy đạt được
công đức như thế nào? Nếu đối chiếu
với người ở trên th́:
- Chỉ
tŕ một ḿnh danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng
tŕ danh hiệu các Bồ Tát nhiều như cát trong sáu
mươi hai ức sông Hằng, rơ ràng là tŕ danh ít.
- Niệm
một thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng niệm
Hằng hà sa số danh hiệu Bồ Tát, tức là phước
điền ít.
- Xét
về thời gian th́ chỉ là lễ bái, cúng dường một
lát, chẳng hề dài lâu đến hết tuổi thọ,
so ra thời gian cũng ít.
So sánh
một nhiều một ít như thế, nếu dùng con mắt
thế tục để luận, ắt sẽ cho công đức
của người trước lớn, công đức của
người sau ít, thậm chí chẳng thể đem so sánh
với nhau được. Nhưng Phật chẳng hề
có cái nh́n như thế, Ngài dạy chúng ta: “Phước
đức hai người đạt được chính
là b́nh đẳng chẳng có sai khác ǵ, phước đức
của người này kẻ kia đều là trong trăm
ngàn vạn ức kiếp chẳng thể cùng tận”.
Ở
đây ắt sẽ có người vặn hỏi: V́ sao lại
có hiện tượng như vậy?
Dùng
thí dụ để nói: Như một viên Ma-ni bảo châu
giá trị vượt hẳn ngàn vạn vạn lần các
thứ báu khác trong biển cả. Niệm Quán Thế Âm Bồ
Tát như Ma Ni bảo châu, niệm sáu mươi hai ức Hằng
hà sa Bồ Tát như các chất báu khác trong biển, bởi
thế phước đức có lớn - nhỏ sai khác.
Lại
như một lượng vàng ṛng giá trị hơn ngàn cân
lúa; niệm Quán Thế Âm Bồ Tát giống như vàng ṛng,
niệm sáu mươi hai ức Hằng hà sa Bồ Tát giống
như lúa, bởi thế phước đức có lớn
nhỏ sai khác.
Lại
như kinh nói: “Bố thí ngàn vạn người ác, chẳng
bằng bố thí một người thiện. Cúng dường
ngàn vị phàm phu Tăng, không bằng cúng dường một
La Hán. Cúng dường ngàn vị La Hán không bằng cúng
dường một vị Bồ Tát”. V́ sao vậy? Ác
nhân chẳng bằng thiện nhân, phàm phu Tăng vẫn
chưa liễu thoát sanh tử, La Hán lại chỉ cầu
tự độ chứ chẳng độ sanh; bởi thế
phước đức có lớn nhỏ sai khác.
Người
đời đa phần đều có quan niệm như thế
này: cứ nghĩ càng niệm nhiều càng tốt, nào biết
ư niệm quá nhiều th́ vọng tưởng cũng nhiều;
luận trên phương diện công phu vẫn chưa phải
là lư tưởng. Bất luận làm như thế nào, đều
phải chuyên nhất, nhất quyết chẳng được
tham nhiều. Nhưng chúng ta thường nghe thấy hoặc
trông thấy rất nhiều người học Phật có
lúc nghĩ muốn niệm bộ kinh này, có lúc toan niệm bộ
kinh khác, có lúc vui thích bái sám, có lúc lại nẩy sanh hứng
thú niệm chú, thật là lung tung chẳng biết đường
đâu mà lần. Làm như vậy chẳng phải là không
có công đức, nhưng có lúc đến nỗi loạn
tâm bất định, lại hóa thành chướng ngại
cho việc tu hành.
Bởi
thế, chẳng bằng chí thành khẩn thiết chuyên nhất
bất nhị, hoặc tụng niệm phẩm Phổ Môn,
hoặc tŕ thánh hiệu Quán Âm, so ra được ích lợi
nhiều hơn. Huống nữa nhất tâm vô nhị dụng,
ngay khi đó khắp cả pháp giới danh hiệu của
sáu mươi hai ức Hằng hà sa Bồ Tát không danh hiệu
nào chẳng bao gồm trong đó. Bởi thế, chuyên niệm
là thỏa đáng tốt lành nhất.
Phải
biết rằng: Nói nhiều hay ít đó vốn là nói một
cách tương đối, cũng chỉ là so sánh, chứ
trong Thật Tướng các pháp, hết thảy đều
là tuyệt đối, hoàn toàn b́nh đẳng, về căn
bản chẳng có sai biệt nhiều ít ǵ. Bởi thế,
trong kinh Hoa Nghiêm thường hay nói đến lư viên dung “một
tức là nhiều, nhiều tức là một”. Do vậy,
chúng ta cũng có thể nói niệm một vị Quán Thế
Âm Bồ Tát cũng chính là niệm sáu mươi hai ức hằng
hà sa Bồ Tát, mà sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ
Tát đó cũng có thể nói chỉ là hóa thân của một
vị Quán Thế Âm Bồ Tát. Đă là như vậy th́ lễ
bái, cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát và lễ bái cúng
dường sáu mươi hai ức hằng hà sa Bồ Tát
công đức hoàn toàn bằng nhau, đương nhiên chẳng
có điểm nào đáng làm chúng ta kinh dị cả, cũng
như chẳng có điểm nào đáng làm chúng ta hoài nghi cả!
Bởi
thế, tôi mong mỗi một Phật tử nếu có thể
phát tâm thọ tŕ danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát th́ phải
chuyên tâm nhất ư mà tŕ, tuyệt đối chớ có tam tâm
lưỡng ư. Nếu tam tâm lưỡng ư, vị này
cũng niệm, vị kia cũng niệm, kết quả,
chẳng những không được Quán Âm Bồ Tát cứu
tế, mà cũng chẳng được Bồ Tát nào cứu
tế cả, thật có thể nói là mất trắng
đôi đàng!
1.1.2.2.4.2.
Kết hiển đa phước (kết lại
phần kinh văn nói về nhiều phước)
Chánh
kinh:
Vô
Tận Ư! Thọ tŕ Quán Thế Âm Bồ Tát danh hiệu,
đắc như thị vô lượng vô biên phước
đức chi lợi.
(Này
Vô Tận Ư! Thọ tŕ danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát
được lợi vô lượng vô biên phước
đức như thế đó)
Đây
là câu tổng kết phần ư nghĩa thọ tŕ danh hiệu
Quán Âm Bồ Tát được phước đức. Phật
bảo cùng Vô Tận Ư Bồ Tát: Bất cứ chúng sanh nào
trong thế gian, nếu có thể thọ tŕ danh hiệu Quán
Thế Âm Bồ Tát, người ấy tất nhiên đạt
được vô lượng vô biên lợi ích về mặt
phước đức như trên vừa nói, tuyệt đối
chẳng phải là luống uổng.
Từ
phần mở đầu phẩm này đến đây là phần
Vấn Đáp Nguyên Nhân Có Được Danh Hiệu, đă
giảng xong. Từ cuộc vấn đáp này, chúng ta chẳng
những hiểu nguyên do Quán Thế Âm có danh hiệu là Quán
Thế Âm, mà c̣n biết những sự việc cứu khổ
cứu nạn và thỏa măn nguyện cầu của Quán Âm
Bồ Tát đối với chúng sanh, bởi thế càng phải
nên tín phụng Bồ Tát.
1.2.
Vấn đáp du hóa phương tiện (hỏi
đáp về phương tiện du hóa)
1.2.1.
Đương cơ tấn vấn du hóa (Đương
cơ thỉnh hỏi về sự du hóa)
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời Vô Tận Ư Bồ Tát bạch Phật ngôn:
-
Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát vân hà du thử Sa Bà thế
giới? Vân hà nhi vị chúng sanh thuyết pháp? Phương
tiện chi lực kỳ sự vân hà?
(Lúc
bấy giờ, Vô Tận Ư Bồ Tát bạch Phật rằng:
-
Bạch Thế Tôn! Quán Thế Tôn du hóa trong thế giới
Sa Bà này như thế nào? V́ chúng sanh thuyết pháp như thế
nào? Những sự thuộc sức phương tiện
như thế nào?)
Đây là đoạn lớn thứ hai của
phần Trường Hàng, gọi là phần Vấn Đáp
Phương Tiện Du Hóa. Trước hết, vị
đương cơ nêu lời thỉnh vấn, tiếp
đến Như Lai sẽ dạy rơ các sự cảm ứng.
Lời thỉnh vấn của vị
đương cơ gồm ba vấn đề, như Vô
Tận Ư Bồ Tát bẩm bạch cùng đức Thế
Tôn:
“Bạch
Thế Tôn! Quán Thế Âm Bồ Tát:
1)
Du hóa trong thế giới Sa Bà này như thế nào?
2)
V́ chúng sanh diễn thuyết diệu pháp như thế nào?
3)
Những sự thuộc sức phương tiện như
thế nào?”
V́ sao Quán Thế Âm Bồ Tát gọi là Quán Thế
Âm đă được đức Phật từ bi v́ con giải
thích rơ ràng rồi, từ lời Phật giới thiệu,
chúng con biết Quán Âm Bồ Tát là một vị đại
Bồ Tát thuộc thế giới Cực Lạc, nhưng
giữa thế giới Sa Bà và thế giới Cực Lạc
cách nhau mười vạn ức cơi Phật, vậy th́ Quán
Âm Bồ Tát đến thế giới Sa Bà này bằng cách
nào, tiến hành công tác du hóa ra sao? Đối với vấn
đề này, lại xin Phật từ bi khai thị cho!
Sa Bà là tiếng Ấn Độ, tức là thế
giới chúng ta đang sống đây, dịch nghĩa chữ
Hán là Kham Nhẫn.
Nói
theo lập trường của chúng sanh th́ chúng ta sanh tồn
trong thế giới này, có thể nói là không lúc nào chẳng
hăm trong vực sâu đau khổ, bị tầng tầng
đau khổ bao vây, công kích, nhưng bất luận gặp
phải nỗi đau khổ nào bức bách, chúng ta đều
có thể chịu đựng được. Bởi vậy,
Kham Nhẫn có nghĩa là có thể chịu đựng
được mọi thứ đau khổ của hiện
thực thế giới áp đặt trên nhục thân và tâm
linh của chúng ta. Chẳng những có thể kham chịu
thống khổ, lại c̣n coi thống khổ là khoái lạc,
bởi thế chẳng nghĩ ly khai thế giới này.
Đứng
trên lập trường Bồ Tát mà nói: Bồ Tát vốn có
thể an trụ trong cơi nước thanh tịnh, hưởng
thọ các an lạc tự tại, nhưng v́ cứu độ
thế giới chúng sanh nên đến giáo hóa trong thế giới
này. Trong quá tŕnh giáo hóa, dẫu gặp phải rất nhiều
oán ghét, các nỗi khổ bức bách, dẫu phải chịu
mọi thứ mọi dạng đả kích, dẫu công tác
độ sanh gian nan cay đắng, Bồ Tát vẫn có thể
kham chịu nhọc nhằn và những nỗi khổ năo, bởi
thế gọi là Kham Nhẫn.
“Từ
thế giới Cực Lạc đến thế giới Sa
Bà” hiển thị thân luân của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Quán Âm từ thế giới Cực Lạc đến du hóa
trong thế giới Sa Bà này, nếu nh́n bằng con mắt
thế tục, đương nhiên là Bồ Tát có đến
thế giới này. Nhưng nếu nói theo quan điểm
nhà Phật, Bồ Tát vẫn y nhiên an trụ trong thế giới
Cực Lạc, về căn bản là chưa từng di
động chút nào, tức là như thường nói “vô
lai vô khứ” (không đến không đi). Đạo lư
này rất sâu xa, cần phải dùng thí dụ để thuyết
minh:
Quán
Âm an trụ trong Cực Lạc giống như vầng
trăng rạng ngời trên không trung, Quán Âm ứng hóa trong
thế giới Sa Bà và mười phương thế giới
giống như bóng trăng in nước. Trên trời chỉ
có một vầng trăng, dẫu trăng chưa từng
xuống đến mặt đất, nhưng khắp những
chỗ có nước trên địa cầu, liền có vầng
trăng sáng hiện bóng, câu nói: “Thiên giang hữu thủy,
thiên giang nguyệt” (Ngàn ḍng sông có nước, ngàn bóng
trăng in trên mặt sông) chính là diễn tả ư này.
Bồ
Tát tuy chẳng ĺa khỏi thế giới Cực Lạc,
nhưng bất cứ địa phương nào hễ có
chúng sanh căn cơ chín muồi, Bồ Tát liền hiện
thân đến địa phương đó để hóa
độ. Dù mười phương thế giới đều
có Quán Âm Bồ Tát, nhưng Bồ Tát vẫn chầu hầu
bên A Di Đà Phật, hỗ trợ A Di Đà Phật hóa
độ chúng sanh, ấy là bất động Bổn Tế
du hóa Sa Bà và mười phương thế giới; đấy
là thân luân của Bồ Tát ứng hóa chẳng thể
nghĩ bàn.
“Đến
thế giới Sa Bà này, v́ chúng sanh thuyết pháp” hiển thị
khẩu luân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Bồ Tát đă
đến thế giới này du hóa, đương nhiên phải
v́ chúng sanh nói các thứ pháp môn. Mọi người đều
cho rằng Bồ Tát thật sự thuyết pháp, nhưng
thật ra Ngài không nói mà nói. Nên biết chân lư Thật Tướng
của các pháp là “ly ngôn thuyết tướng”, chẳng thể
dùng ngôn ngữ để diễn đạt được
nổi, như trong kinh Pháp Hoa này có câu: “Chư pháp tướng
tịch diệt, chẳng thể dùng lời nói”, cũng
nhằm diễn đạt cùng một ư nghĩa. Chỉ v́
giáo hóa chúng sanh, nếu chẳng nói một câu nào, chúng sanh
làm sao thể hội chân lư được? V́ đáp ứng
nhu cầu của chúng sanh, từ nơi vô ngôn thuyết bèn
nói Tiểu, Đại, Quyền, Thật, Thiên, Viên, Đốn
Tiệm, các thứ pháp môn bất đồng khiến cho
chúng sanh do ngôn thuyết bèn khế nhập chân lư Thật
Tướng. Tuy nói các thứ pháp môn bất đồng,
nhưng thật ra chẳng nói ǵ, vô thuyết mà thuyết
chính là khẩu luân ứng hóa chẳng thể nghĩ bàn của
Bồ Tát.
“Thuyết
pháp dùng các phương tiện bất đồng” hiển
thị ư luân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Thuyết pháp
độ sanh nào phải là chuyện dễ, nhất định
phải có phương tiện, nếu chẳng có
phương tiện thiện xảo thích đáng, thật rất
khó tiến hành công tác hóa độ. Phương tiện nói
theo ngôn ngữ bây giờ th́ có nghĩa là thích ứng. Độ
sanh chẳng thể chấp chặt khăng khăng mọi
thứ phải giữ nguyên như thế, mà nhất định
phải thích ứng thời đại, thích ứng hoàn cảnh,
thích ứng căn tánh của chúng sanh, sau đấy mới
tiến hành giáo hóa, mới ḥng sự ít công nhiều.
Do
hoàn cảnh thời đại bất đồng, căn
tánh chúng sanh bất đồng, nếu chẳng vận dụng
phương tiện tùy cơ ứng biến, tùy duyên thị
hiện, tùy cơ lập giáo th́ chúng sanh chẳng dễ bị
cảm hóa. Trong lúc quư vị độ sanh, cần phải
xem xét t́nh h́nh thực tế, biết dùng phương pháp
nào thuận tiện nhất bèn dùng phương pháp đó v́
chúng sanh thuyết pháp giáo hóa. Đấy là ư luân ứng hóa
chẳng thể nghĩ bàn của Bồ Tát vậy.
Ba
thứ thân - khẩu - ư trên cương vị chúng sanh chỉ
gọi là Tam Nghiệp, bởi lẽ từ hoạt động
của ba thứ này tạo tác các thứ nghiệp Hữu Lậu
thiện hay ác; nhưng nếu đứng trên quả vị
Phật, Bồ Tát th́ gọi là Tam Luân (ba bánh xe), v́ các ngài
dùng ba thứ này độ sanh, nghiền nát những phiền
năo trong tâm chúng sanh, khiến chúng sanh ĺa khổ được
vui, siêu phàm nhập thánh. Nhưng trong lúc Phật, Bồ Tát
vận dụng ba luân này biểu hiện những công dụng
vĩ đại, bọn phàm phu chúng ta tâm chẳng nghĩ
thấu, miệng chẳng bàn xiết được; bởi
thế nói là “tam luân bất tư nghị hóa”.
Quán
Âm Bồ Tát dùng các thân phận sai khác du hóa vô lượng vô
biên thế giới, phần trên tuy đă nói qua chẳng ít,
giờ đây vẫn chẳng ngại ǵ chẳng nêu lên những
chuyện thực để chứng minh Bồ Tát thật
sự rộng hóa độ chúng sanh trong thế gian này.
Trong
quá khứ, tại huyện Tu Văn thuộc tỉnh Quư
Châu, Trung Quốc, có động Bạch Sơn, thủy ngân
từ trong động chảy ra chẳng ngừng. Bởi
thế, trong vùng thường có người tụ tập
bên sơn động hứng lấy thủy ngân đem bán.
V́ việc thâu thập thủy ngân kéo dài nhiều ngày, để
dễ theo đuổi công việc, người ta dựng
nhà cửa gần sơn động, thành lập gia
đ́nh, sinh sống ở đó, vô h́nh trung tạo thành một
tiểu thôn trang cả mấy trăm nhà. Khoảng đâu mấy
năm, do thủy ngân chảy ra quá nhiều khiến cho
đất đá trên núi lỏng lẻo, có thể sụp
đổ bất cứ lúc nào, nhưng những người
trong thôn thâu nhặt thủy ngân chẳng hề biết ǵ.
Nếu như núi vỡ, toàn bộ thôn trang nhất định
bị đè bẹp, cả mấy trăm nhà bị thảm
tử.
Quán
Thế Âm Bồ Tát từ bi v́ muốn cứu độ bọn
họ, bèn thị hiện thành một cô gái đẹp, tắm
khỏa thân ngay nơi ḍng suối trước động.
Cổ thời phong tục khắt khe, một cô gái đẹp
tắm trần truồng tự nhiên khiến khắp cả
thôn trang náo động, cả mấy trăm gia đ́nh, bất
luận trẻ già lớn bé đều rất hiếu kỳ
lập tức đi xem. Chính ngay lúc mọi người
trong thôn đến xem sự ấy, đột nhiên một
trận trời long đất lở vang rền, mọi
người ngoái đầu nh́n lại, toàn bộ thôn trang
đă bị chôn vùi trong loạn thạch. Mọi người
mừng rỡ vừa kịp thoát mạng, nh́n lại cô gái
đẹp tắm truồng dưới suối chẳng
c̣n thấy tung tích ǵ nữa! Nên biết đó là một
phương pháp thị hiện độ sanh của Quán Âm
Bồ Tát.
Lúc
núi lở, trong thôn có một gă trai đang ngủ trong nhà,
chưa kịp chạy ra, bị ép trong kẽ đá lở,
dẫu không cử động được, chẳng có
cách nào chui ra, nhưng cũng chẳng bị ép chết, hồi
lâu sau cảm thấy đói quá, liền thành kính niệm
thánh hiệu Quán Âm, chợt thấy một con chuột trắng,
mắt như chớp ḷe chiếu trên đầu một mô
đá. Trên đá hiện những chữ trong phẩm Phổ
Môn, con chuột trắng liếm chữ trên đá, gă trai bị
đá chèn cũng bắt chước liếm chữ, cảm
thấy hết đói, bị đá chèn chẳng thấy mặt
trời như vậy gần cả ba năm.
Một
ngày nọ, có người lên núi hái thuốc, nghe có tiếng
người thở than, bèn ḍ t́m theo tiếng, thấy một
người bị ép trong kẽ đá, ḍ hỏi mới hay
ba năm trước lúc núi lở gă trai bị ép tại
đây, lại hỏi v́ sao chẳng chết đói, gă
đáp mỗi ngày liếm chữ khỏi đói, hiện giờ
trên mô đá chỉ c̣n chừng ba hàng chữ chưa liếm
hết, coi kỹ rơ ràng là những câu chữ trong phẩm
Phổ Môn. Mới biết con chuột trắng cũng
như phẩm Phổ Môn hiện trên đá đều là
Quán Âm Bồ Tát thị hiện cứu hộ vậy. Bởi
thế, Quán Âm Bồ Tát từ bi, thật có thể nói là “không
cơi nào chẳng hiện thân”.
1.2.2. Như Lai bị thị cảm ứng (Như
Lai dạy rơ về sự cảm ứng)
1.2.2.1. Quảng hiển ứng hóa chư quốc
(rộng nói việc ứng hóa trong các nước)
1.2.2.1.1. Minh ứng hiển hóa (những
thân ứng hóa rơ ràng)
1.2.2.1.1.1. Năng ứng tam thánh (ứng
hiện thân tam thánh)
Chánh kinh:
Phật cáo Vô Tận Ư Bồ Tát:
- Thiện nam tử! Nhược hữu quốc
độ chúng sanh, ưng dĩ Phật thân đắc
độ giả, Quán Thế Âm Bồ Tát tức hiện Phật
thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ Bích Chi Phật thân
đắc độ giả, tức hiện Bích Chi Phật
thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ Thanh Văn thân
đắc độ giả, tức hiện Thanh Văn
thân nhi vị thuyết pháp.
(Phật bảo Vô Tận Ư Bồ Tát:
- Này thiện nam tử! Nếu có cơi nước,
chúng sanh nên dùng Phật thân để được độ
Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện thân Phật để
mà thuyết pháp. Nên dùng thân Bích Chi Phật để
được độ, liền hiện thân Bích Chi Phật
để mà thuyết pháp. Nên dùng thân Thanh Văn để
được độ, liền hiện thân Thanh Văn
để mà thuyết pháp).
Đương cơ đă thỉnh vấn,
đức Phật tự giải đáp. Bởi thế, Phật
lại gọi Vô Tận Ư Bồ Tát bảo rằng: Này thiện
nam tử! Ông muốn biết phương tiện du hóa của
Quán Âm Bồ Tát như thế nào ư? Tốt, bây giờ ta
sẽ nói rơ từng điều cho ông.
“Nếu có chúng sanh trong một quốc độ
nào đó”: Phật pháp gọi quốc độ là Y Báo, gọi
chúng sanh là Chánh Báo. Y Báo là chỗ nương dựa của
Chánh Báo. Như sanh mạng của nhân loại là Chánh Báo,
địa cầu cư trú của nhân loại là Y Báo. Chánh
Báo chỉ sanh mạng thể chánh thức cảm nhận
quả báo khổ hay vui. Nói thật ra, giữa Chánh Báo và Y
Báo có mối quan hệ rất mật thiết: Chánh Báo nếu
chẳng nương nhờ vào Y Báo như quốc độ
v.v… th́ không có chỗ để ở, Y Báo nếu chẳng
nhờ sanh mạng thể là Chánh Báo th́ không cách nào hiển
hiện được. Nếu Chánh Báo sanh mạng thể
có phước th́ tự nhiên những vật được
sanh từ Y Báo rất phong phú; c̣n nếu Chánh Báo không phước
đức sẽ cảm lấy Y Báo xấu kém vô cùng, những
thứ cảm thọ cũng cảm thấy thiếu hụt.
Phật
pháp nói Chánh Báo có mười pháp giới sai biệt, tức
là Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ, A Tu La, Người,
Trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Chúng sanh
trong mười pháp giới mỗi loài đều có Y Báo, bởi
vậy Y Báo quốc độ cũng có các thứ khác biệt.
Nói trên đại thể, chẳng ngoài bốn cơi:
1)
Ngũ Thừa cộng độ:
Tức
là trong cùng một thế giới vừa có phàm phu vừa có
thánh nhân, ngài Thiên Thai gọi cơi này là Phàm Thánh Đồng
Cư Độ. Như thế giới Sa Bà này, về mặt
hiện thực thế gian là chỗ sống của chúng
sanh hữu lậu, nhưng cũng có Đại Bi Quán Âm,
Đại Trí Văn Thù, Đại Hạnh Phổ Hiền,
Đại Nguyện Địa Tạng Vương v.v… các
đại Bồ Tát du hóa trong ấy, nên gọi là Phàm Thánh
Đồng Cư Độ.
2)
Tam Thừa cộng độ:
Tức
là cơi nước mà Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa
Phật pháp cùng nói đến, ngài Thiên Thai gọi cơi này là
Phương Tiện Hữu Dư Độ. Như thế
giới của bậc thánh nhân Nhị Thừa sống, tuy
nói là thanh tịnh trang nghiêm, nhưng đoạn phiền
năo và liễu sanh tử chỉ mới thực hiện
được nửa phần, chưa đạt đến
rốt ráo, vẫn c̣n có tàn dư Hoặc Khổ tồn tại,
bất quả chỉ thuộc đạo phương tiện
mà thôi. Bởi thế, gọi là Phương Tiện Hữu
Dư Độ.
3)
Đại Thừa bất cộng độ:
Là
cơi nước chỉ có trong Đại Thừa. Chẳng
những không chung đụng với phàm phu, mà cũng chẳng
chia sẻ cùng Nhị Thừa. Ngài Thiên Thai gọi là Thật
Báo Trang Nghiêm Độ:
“V́
là chỗ ở của Bồ Tát phá vô minh, dùng cái Nhân chân thật
cảm cái Quả chân thật, dùng cái Duyên chân thật để
cảm cái Báo chân thật. Sắc, tâm, y báo, chánh báo trang
nghiêm diệu hảo phi thường. V́ Bồ Tát là đại
đạo tâm chúng sanh, phát tâm quảng đại độ
thoát chúng sanh, tích công lũy đức, gieo đại
phước nghiệp, nên được tự tại vô
ngại. Tiểu có thể hóa thành Đại, một có thể
hóa thành nhiều, Chánh có thể làm Y, Y có thể làm Chánh, có
thể nói là một đầu lông có thể biển cơi
nước Bảo Vương, trong một vi trần chuyển
đại pháp luân, cọng lông nuốt trọn biển lớn,
hạt cải chứa khít núi Tu Di. Sắc tâm viên dung, Y,
Chánh vô ngại. Đấy đều do trang nghiêm bởi
các thứ công đức do lúc Bồ Tát tu nhân, tu hành lục
độ vạn hạnh nên gọi là Thật Báo Trang Nghiêm
Độ”.
4)
Phật quả bất cộng độ:
Chỉ
Phật cùng Phật mới có thể trụ trong thế giới
này. Cơi này không những không chung với phàm phu, Nhị Thừa;
ngay cả Bồ Tát phát tâm cũng chẳng được
cùng hưởng. Ngài Thiên Thai gọi là Thường Tịch
Quang Tịnh Độ:
“Phật
là chúng sanh vô thượng, v́ Phật rốt ráo sanh tử,
không ai hơn được, v́ thế gọi là Vô Thượng.
Tịch là biển Đại Tịch Diệt vô sanh, vô diệt,
lặng trong thường hằng, [đó là] Giải Thoát
đức. Quang là đại quang minh tạng linh minh đỗng
chiếu, là Bát Nhă đức. Thường tức là Tịch
Quang bất nhị, xưa nay thường hằng, là Pháp
Thân đức. Gọi là Tịch Quang Độ, tức là
tam đức bí tạng (kho tàng ba đức bí mật).
Đến đó mới là cơi rốt ráo. Thân chính là cơi, cơi
chính là thân, Y Chánh dung thông, thân và cơi chẳng hai, chỉ là Nhất
Đạo Thanh Tịnh Pháp Giới Tạng Tâm”.
Bởi
thế gọi là Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
Nói đơn giản, Y Báo bao gồm bốn cơi
này, Chánh Báo gồm chúng sanh trong mười pháp giới.
Ngoại trừ đức Phật tối cao
vô thượng ra chẳng cần phải thị hiện cứu
độ, các chúng sanh khác cao thấp chẳng đồng đều
cần phải cứu độ; nhưng v́ căn tánh chúng
sanh có các dạng sai biệt bất đồng, Bồ Tát
bèn thị hiện các thân phận thích ứng. Như có cơi
nước, Ngài thị hiện thân Bồ Tát hoặc thân
Thanh Văn v.v… đều chẳng thể giáo hóa, chỉ có
cách “nên dùng thân Phật để được độ”,
mới có thể tiếp nhận sự cảm hóa, trong t́nh
huống ấy, Quán Thế Âm Bồ Tát “liền hiện
thân Phật để mà thuyết pháp” ḥng hóa độ,
khiến cho họ nghe đến pháp môn thành Phật, bèn chịu
nỗ lực dụng công tu hành, đoạn trừ phiền
năo đáng đoạn, đạt được sự giải
thoát thực sự nơi thân tâm.
Ở
đây, có lẽ có người đâm ra nghi ngờ: Đă gọi
Quán Âm là Bồ Tát, Bồ Tát làm sao thị hiện thân Phật
được? Có thể giải thích điều này trên
hai phương diện:
- Phần
trên tôi đă từng có nói, Quán Âm Bồ Tát hiện tại
chỉ là thị hiện, chứ thật sự trong đời
quá khứ, Ngài đă sớm thành Phật, hiệu là Chánh
Pháp Minh Như Lai. Đă như vậy th́ thị hiện
thân Phật chẳng qua là hiện lại diện mục sẵn
có mà thôi, sao lại chẳng thể thị hiện thân Phật?
-
C̣n có thể nói cách khác: Bồ Tát kể từ Sơ Địa
trở lên có thể phân thân làm Phật, như Sơ Địa
Bồ Tát có thể phân thân làm Phật trong một trăm
cơi, Nhị Địa Bồ Tát có thể phân thân làm Phật
trong ngàn cơi. Quán Âm là bậc Bổ Xứ Bồ Tát trong thế
giới Cực Lạc, Ngài có thể thị hiện các thân
Phật bất đồng v́ chúng sanh thuyết pháp,
đương nhiên là tuyệt đối chẳng thành vấn
đề.
Chúng sanh cầu thấy thân Phật mới chịu
nhận sự giáo hóa, chứng tỏ chúng sanh ấy muốn
được thành Phật. Muốn cầu thành Phật mà
chẳng thị hiện thân Phật để thuyết
pháp, há có nên chăng? Đại Bi Quán Âm biết chúng sanh có
mong muốn như thế bèn hiện thân Phật ba
mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp
viên măn đầy đủ trang nghiêm, v́ chúng sanh tuyên nói thế
nào là pháp môn thành Phật, chỉ dạy chúng sanh tu hành Lục
Độ vạn hạnh để thành Vô Thượng Chánh
Giác.
Bốn
thánh pháp giới trong mười pháp giới là Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Ở trên nói thị hiện
thân Phật v́ chúng sanh thuyết pháp. Nếu theo thứ tự
của tứ thánh th́ tiếp đó phải nói “hiện thân
Bồ Tát để v́ chúng sanh thuyết pháp”, nhưng trong
kinh văn đây, sau khi nói thân Phật, bèn nói hiện thân
Bích Chi Phật và thân Thanh Văn, chẳng hề nói đến
thân Bồ Tát, là v́ đạo lư nào? Phải biết thân Quán
Âm thị hiện trong hiện tại là thân Bồ Tát, thân
phận Bồ Tát đă hiển thị rơ ràng rồi, cho nên
bất tất phải nói câu: “Nên dùng thân Bồ Tát để
được độ, liền hiện thân Bồ Tát để
mà thuyết pháp”.
Nếu
trong quốc độ có một hạng chúng sanh “nên dùng
thân Bích Chi Phật để được độ”, Quán
Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi “liền
hiện thân Bích Chi Phật để mà thuyết pháp”.
Bích Chi Phật là tiếng Ấn Độ, phiên dịch
sang tiếng Tàu là Duyên Giác hoặc Độc Giác, hai danh
xưng này cũng có chút phân biệt:
1)
Duyên Giác thánh giả:
Luận
theo duyên do, vị này sanh trong thời đại có Phật,
do bẩm thọ ngôn giáo nhân duyên của Phật bèn
được khai ngộ giải thoát. Như Phật tuyên
nói giáo pháp Thập Nhị Nhân Duyên, hạng chúng sanh này nghe
được, nghịch thuận quán sát nhân duyên, từ
trong nhân duyên sanh diệt, ngộ được lư Chân Không
bất sanh bất diệt, bởi thế gọi là Duyên
Giác.
Thập
Nhị Nhân Duyên nói thông thường là: Vô minh duyên Hành, Hành
duyên Thức, Thức duyên Danh Sắc, Danh Sắc duyên Lục
Nhập, Lục Nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ
duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh,
Sanh duyên lăo tử ưu bi khổ năo. Tùy thuận mười
hai nhân duyên này, đúng là: “Cái này có nên cái kia có, cái này sanh
nên cái kia sanh”, bèn lưu chuyển trong biển khổ
sanh tử. Đi ngược lại mười hai nhân duyên,
tức là “cái này không nên cái kia không, cái này diệt nên cái
kia diệt”, bèn cắt đứt sanh tử, hoàn diệt
Niết Bàn.
Duyên
khởi tuy có mười hai chi, nhưng thực tế chỉ
có ba thứ Hoặc, Nghiệp, Khổ, trước lúc giải
quyết xong sanh tử, chúng như cái ṿng không có đầu
mối, khiến cho chúng ta khởi nghi hoặc, tạo nghiệp,
chịu khổ không ngừng đến nỗi luân chuyển
không lúc nào xong. Chỉ có bậc Duyên Giác mới có thể
đột phá sự trói buộc của Duyên Khởi để
được giải thoát.
2)
Độc Giác:
Xuất
hiện trong thời đại không Phật, như trong hiện
tại, Phật Thích Ca đă nhập diệt, Di Lặc Phật
vẫn chưa hạ sanh trong nhân gian, cho đến khi chánh
pháp của đức Phật Thích Ca cũng đă diệt
tận, có chúng sanh căn tánh Độc Giác xuất hiện
trong nhân gian, do thấy tiết Xuân trăm hoa đua nở,
trời Thu lá vàng gió cuốn bay tơi bời, nhân đấy
bèn giác ngộ. C̣n hạng phàm phu, nh́n Xuân hoa nở, thấy
Thu lá rụng, chẳng thể có cảm giác giống như
vậy. Dù có cảm giác đi nữa, chẳng qua cũng chỉ
biết là thời gian thay đổi mà thôi. Nhưng thánh giả
Độc Giác từ chuyện thấy hoa nở mùa Xuân, lá
rụng mùa Thu, giác ngộ vạn sự vạn vật thế
gian đều là vô thường diễn biến, chẳng
có một pháp nào có thể giữ cho vĩnh viễn bất
biến. Tục ngữ nói: “Hoa đẹp chẳng
thường nở”, dù có nở cũng chẳng thể
giữ măi sắc thắm. Quán sát kỹ điều này sẽ
liễu ngộ chân lư Vô Thường, bởi thế chứng
được quả Bích Chi Phật.
Trong
hiện thực thế gian đă có hạng chúng sanh như
thế, Bồ Tát Quán Âm đương nhiên phải ẩn
giấu thân phận Bồ Tát, thị hiện thân Bích Chi Phật,
tuyên nói pháp Thập Nhị Nhân Duyên, khiến cho họ dựa
vào pháp Duyên Khởi tu hành, từ sự sanh diệt của
duyên khởi ngộ được tánh bất sanh diệt
của duyên khởi, chứng được quả Bích Chi
Phật.
Nếu
trong cơi nước lại có một hạng chúng sanh “nên
dùng thân Thanh Văn để được độ, liền
hiện thân Thanh Văn để mà thuyết pháp”. Thanh
Văn đại đa số đều xuất hiện
trong thời Phật tại thế, tức là nghe âm thanh
ngôn giáo Phật nói pháp Tứ Đế bèn khai ngộ,
được giải thoát, nên gọi là Thanh Văn. Đối
với hạng chúng sanh căn tánh như thế ắt phải
dùng thân phận của hàng Thanh Văn thuyết pháp th́ họ
mới có thể tiếp nhận sự giáo hóa. Quán Âm Bồ
Tát đại từ đại bi cũng tùy thuận mong cầu
của chúng sanh, thích ứng căn tánh của chúng sanh, hiện
thân Thanh Văn để thuyết pháp Tứ Thánh Đế.
Tứ
Thánh Đế là luận đề căn bản của Phật
pháp, mà cũng là cương lănh của Phật pháp. Thoạt
đầu, Phật mới chuyển pháp luân tại Lộc
Uyển, bèn nói chân lư Tứ Thánh Đế:
1)
Khổ Thánh Đế:
Là
nói về Khổ Quả, tức là các nỗi thống khổ
nhân sanh phải chịu trong hiện thực. Nhân sanh là Khổ,
là một sự thực trong thế gian không ai có thể phủ
nhận được; nhưng người hiểu rơ
đích xác, thiết thực nguyên do cái Khổ không ai bằng
Phật. Do thấy khổ Phật bèn xuất gia và cũng
v́ đó mà khai thị Khổ Đế cho chúng sanh .
2)
Tập Thánh Đế:
Chỉ
khổ nhân, tức là những động lực chiêu cảm
quả khổ; nói tổng quát là phiền năo và nghiệp.
Nói thiết thực, Ái là căn bản của khổ, tức
là những t́nh huống chúng ta khát khao vô hạn, tạo
thành các thứ nghiệp nhân, đến nỗi cảm thọ
sanh mạng khổ quả.
Như
vậy, Khổ Đế và Tập Đế là nhân quả
thế gian. Tập Đế là nhân, Khổ Đế là quả
thế gian.
3)
Diệt Thánh Đế:
Tức
là Lạc Quả, cũng tức là quả viễn ly sanh tử,
đạt được Niết Bàn.
4)
Đạo Thánh Đế:
Là Lạc
Nhân, tức là những nhân tố để chứng đắc
quả Niết Bàn. Tuy nói có rất nhiều Đạo
để tu tập, nhưng chủ yếu là Bát Chánh Đạo.
Hành theo Bát Chánh Đạo nhất định có thể chứng
quả Niết Bàn.
Bởi
thế Diệt Đế và Đạo Đế chính là
nhân quả xuất thế gian. Đạo là nhân để
xuất thế gian, Diệt là quả xuất thế gian.
Tứ
Đế gộp lại chính là hai thứ nhân quả thế
gian và xuất thế gian. Nhân quả thế gian phải
đoạn trừ, nhân quả xuất thế gian phải
cầu chứng. Bồ Tát v́ hạng chúng sanh căn tánh
Thanh Văn mà nói pháp Tứ Đế ngơ hầu họ sẽ
đoạn trừ Khổ Tập, hâm mộ Diệt, tu
Đạo ḥng chứng quả Thanh Văn.
Trong
Tứ Đế, biết Khổ là tối khẩn yếu,
bởi phải biết Khổ mới có thể đoạn
Tập, có biết Khổ mới hâm mộ Diệt, tu Đạo;
v́ thế Khổ là cánh cửa ban đầu để nhập
Đạo vậy.
Trong
quá khứ có một vị lăo tăng chuyên tu hạnh Đầu
Đà, có một lần ngài ra ngoài cầu sư tham học.
Đi nửa đường, cảm thấy đói khát quá
mức, bèn đến khất thực ở nhà một nữ
cư sĩ c̣n để tóc tu hành. Vị nữ cư
sĩ đó hết sức chân thành tin Phật, thấy có vị
đại đức đến nhà ḿnh, ngoài việc hoan hỷ
cúng dường ra, c̣n đặc biệt cung kính, lễ bái
cầu thỉnh khai thị. Nào ngờ vị hành giả
Đầu Đà đó cố nhiên tu tŕ rất tinh tấn
dũng mănh, nhưng chẳng hiểu ǵ về Phật pháp cả;
bây giờ đột nhiên bị bà ta xin khai thị, Sư
có Phật pháp ǵ để nói đây? Trong t́nh thế vạn
phần khẩn bách đó, Sư bất tri bất giác thở
ra một chữ “Khổ!”.
Nguyên
nhân vị lăo tăng than khổ là v́ chính ḿnh chẳng biết
Phật pháp, nhưng bà nữ cư sĩ nghe đến chữ
Khổ ấy liền có cảm giác dị thường, thấy
trước khi ḿnh tu hành: Lúc nhỏ khổ v́ cha mẹ quản
thúc, sau khi kết hôn lại khổ v́ ông chồng chê trách,
có con cái rồi lại chịu nỗi khổ gia đ́nh
ràng buộc, có thể nói đời người không có ǵ
ngoài khổ cả. Từ đó đến nay chưa từng
hưởng chút vui sướng nào trong kiếp nhân sanh, bất
giác buồn bă, đau xót, ứa lệ. Vị lăo tăng tu
hạnh Đầu Đà thấy bà bi thương như thế
chẳng biết v́ nguyên nhân nào, bèn bỏ đi chẳng từ
biệt, cơm cũng chẳng ăn. Bà cư sĩ
nghĩ ngợi nỗi khổ, nghĩ suy đến cực
độ, rốt cuộc bao t́nh tưởng mất sạch,
nhập vào Khổ Đế tam-muội, vị lăo tăng bỏ
đi cũng chẳng biết. Đến mấy tiếng
đồng hồ sau, bà cư sĩ chợt nói: “Ngài khai thị
cho con một chữ Khổ, đúng là con dùng măi không hết”.
Bởi
vậy nói đến “biết khổ” là phải biết khổ
giống như vậy mới có thể gọi là Khổ
Đế. Hết thảy người đời suốt
ngày ngụp lặn trong khổ, chớ hề thật sự
biết khổ! V́ chẳng thật sự biết khổ, nên
chẳng có biện pháp ǵ thoát khổ. Nếu thật sự
biết khổ, không ai chẳng ĺa được khổ. Đức
Phật khai thị: “Nhân sanh là khổ, thế gian là khổ”,
thật là những lời thấy biết xác thực. Muốn
giải trừ nỗi thống khổ của kiếp
người, đối với nhân sanh hiện thực phải
hiểu rơ một cách hợp lư th́ mới được. Hành
theo Tứ Đế sẽ đạt đến mục
đích giải thoát.
Trong
Phật pháp, Thanh Văn và Bích Chi Phật gọi chung là Nhị
Thừa, hoặc c̣n gọi là Tiểu Thừa; nhưng có
lúc c̣n nói như thế này: Thanh Văn là Tiểu Thừa,
Bích Chi Phật là Trung Thừa, Bồ Tát là Đại Thừa.
Nói như vậy, có thể thấy là giữa Thanh Văn và
Bích Chi Phật vẫn có đôi chút sai khác. Nói cách khác, Bích
Chi Phật cao hơn Thanh Văn bởi Thanh Văn chỉ
đoạn được Kiến Tư phiền năo chánh sử,
chưa hề phá trừ được mảy may tập
khí nào; Bích Chi Phật chẳng những đoạn
được hai phiền năo Kiến Tư Hoặc, lại
c̣n phá trừ được chút phần tập khí của
Kiến Hoặc và Tư Hoặc. Dù chẳng bằng
được Phật là bậc đă đoạn trừ
hết thảy tập khí, nhưng vẫn hơn hẳn A
La Hán. Bởi thế, gọi Thanh Văn là Tiểu Thừa,
Bích Chi Phật là Trung Thừa.
Tuy
có phân biệt như thế, nhưng hai thừa này đều
nhằm mục đích tự lợi, đối với
trách vụ lợi tha chẳng có hứng thú tích cực tiến
hành, nên gọi chung là Nhị Thừa.
1.2.2.1.1.2.
Năng ứng lục thiên (ứng hiện sáu thân
trời)
Chánh
kinh:
Ưng
dĩ Phạm Vương thân đắc độ giả,
tức hiện Phạm Vương thân nhi vị thuyết
pháp. Ưng dĩ Đế Thích thân đắc độ giả,
tức hiện Đế Thích thân nhi vị thuyết pháp.
Ưng dĩ Tự Tại Thiên thân đắc độ giả,
tức hiện Tự Tại Thiên thân nhi vị thuyết
pháp. Ưng dĩ Đại Tự Tại Thiên thân đắc
độ giả, tức hiện Đại Tự Tại
Thiên thân nhi vị thuyết pháp. Ưng dĩ Thiên Đại
Tướng Quân thân đắc độ giả, tức hiện
Thiên Đại Tướng Quân thân nhi vị thuyết pháp.
Ưng dĩ Tỳ Sa Môn thân đắc độ giả, tức
hiện Tỳ Sa Môn thân nhi vị thuyết pháp.
(Nên
dùng thân Phạm Vương để được độ,
liền hiện thân Phạm Vương để mà thuyết
pháp. Nên dùng thân Đế Thích để được
độ, liền hiện thân Đế Thích để mà
thuyết pháp. Nên dùng thân Tự Tại Thiên để
được độ, liền hiện thân Tự Tại
Thiên để mà thuyết pháp. Nên dùng thân Đại Tự
Tại Thiên để được độ, liền hiện
thân Đại Tự Tại Thiên để mà thuyết
pháp. Nên dùng thân Thiên Đại Tướng Quân để
được độ, liền hiện thân Thiên Đại
Tướng Quân để mà thuyết pháp. Nên dùng thân Tỳ
Sa Môn để được độ, liền hiện
thân Tỳ Sa Môn để mà thuyết pháp).
Đoạn
này nói Bồ Tát có thể ứng hiện thân lục thiên; nhưng
lục thiên được nói ở đây chẳng phải
là sáu cơi trời Dục Giới thông thường. Sáu thứ
thân trời ứng hóa này phiếm chỉ tất cả những
thân trong Dục Giới và Vô Sắc Giới. C̣n như những
cơi trời thuộc Vô Sắc Giới không có sắc pháp, nên
cũng không có thân tướng thị hiện; bởi thế
kinh văn chẳng nói đến trời Vô Sắc Giới.
Phàm những thân tướng được thị hiện,
ắt đều phải là sanh mạng thể do vật chất
và tinh thần hợp lại. Hữu t́nh cơi Vô Sắc thuần
thuộc về hoạt động tinh thần, bởi thế
chẳng nói thân tướng thị hiện trong Vô Sắc
Giới.
Trong
các quốc độ, có một loại chúng sanh, “nên dùng
thân Phạm Vương để được độ”,
Quán Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi “liền
hiện thân Phạm Vương để mà thuyết pháp”.
Chữ “Phạm Vương” chỉ Đại Phạm
Thiên Vương thuộc Sơ Thiền Thiên của Sắc
Giới. Sơ Thiền Thiên gồm ba tầng trời Phạm
Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Đại Phạm Thiên. Phạm
Chúng Thiên gồm những Phạm dân b́nh phàm của trời
Đại Phạm, Phạm Phụ Thiên là các bầy tôi phụ
chánh của Đại Phạm Thiên Vương. Bởi lẽ,
vị thống lănh chư thiên đương nhiên phải
có những bầy tôi giúp Đại Phạm Vương cai
quản thiên quốc. Đại Phạm Thiên Vương là
chúa trời cơi Đại Phạm, tức là vị Phạm
Thiên được hàng Bà La Môn Ấn Độ sùng bái,
cũng chính là Thượng Đế được tin thờ
bởi Thiên Chúa Giáo.
Theo
tư tưởng Bà La Môn Giáo (Hinduism), nhân loại trong thế
giới này thậm chí hết thảy hữu t́nh, núi sông,
đại địa, hoa, quả, cây cối đều do Đại
Phạm Thiên Vương sáng tạo. Bởi thế, Bà La Môn
giáo coi Đại Phạm Thiên là đấng sáng tạo nhân
loại vũ trụ. Thân Đại Phạm Thiên vô thủy,
vô chung, vĩnh hằng, bất biến, có thể chi phối
và là chúa tể của hết thảy nhân loại, bởi
thế Đại Phạm Thiên chiếm một địa
vị rất cao trong Bà La Môn giáo Ấn Độ.
Nhưng
từ lập trường Phật giáo: Xét về mặt
tôn giáo, Phạm Thiên là đối tượng tín phụng của
Nhất Thần Giáo. Ông ta tâm tham dục rất mỏng nhẹ,
đă đoạn trừ tất cả vật dục và dâm
dục của Dục Giới, chẳng c̣n sanh khởi tâm
Sân nữa, bởi thế giáo đồ Nhất Thần
Giáo đều nghĩ ông ta là một Đấng Sáng Tạo
rất nhân ái. Nhưng từ Phật pháp mà nói, quả thật
ông ta chẳng sanh khởi tâm sân khuể, tâm tham dục
đúng là rất nhạt, nhưng tâm kiêu ngạo và siểm
mị rất nặng!
Đối
với vấn đề này, kinh Phật cho biết: Lúc Phật
c̣n tại thế, trong số đệ tử Phật có
ngài tỳ-kheo Mă Thắng từng lên cung Đại Phạm
Vương, gặp đúng lúc Phạm Thiên giáo huấn thần
dân vô cùng kiêu ngạo như thế này:
- Ta
là chúa tể của thế gian, là đấng sáng tạo
nhân loại, là tuyệt đối rốt ráo, là an lạc tối
cực. Các người là con dân của ta, chẳng thể
đạt đến địa vị như ta.
Đang cao hứng tuyên bố nẩy lửa như thế, chợt thấy tỳ-kheo Mă Thắng đứng trướ