Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm
Giảng Kư,
Phần 4
1.2.2.2. Chánh đáp du
ư Sa Bà (đáp thẳng vào việc du hóa cơi Sa Bà)
1.2.2.2.1. Hiển thị
diệu đức (hiển thị đức mầu
nhiệm)
1.2.2.2.1.1. Năng thí
vô úy (ban cho sự không sợ hăi)
Chánh kinh:
Thị Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát ư bố
úy cấp nạn chi trung, năng thí vô úy. Thị cố, thử
Sa Bà thế giới giai hiệu chi vi Thí Vô Úy giả.
(Trong các nạn gấp sợ hăi, vị Quán Thế
Âm Bồ Tát Ma Ha Tát này có thể ban cho sự không sợ hăi.
V́ thế, thế giới Sa Bà này đều gọi là đấng
Thí Vô Úy)
Đoạn này nói đức Quán Thế Âm Bồ
Tát có thể ban cho chúng sanh sự không sợ hăi. V́ thế,
Ngài có biệt hiệu là Thí Vô Úy. Sau khi đức Phật
khuyên Vô Tận Ư phát tâm cúng dường Quán Âm xong, Ngài lại
bảo Vô Tận Ư: “Trong các nạn gấp sợ hăi, vị
Quán Thế Âm Bồ Tát này có thể ban cho chúng sanh sự
không sợ hăi”. Bồ Tát Ma Ha Tát nghĩa là vị đại
Bồ Tát trong số các vị Bồ Tát, đều cùng là Bồ
Tát, chỉ khác nhau là mới phát tâm hay tu đại hạnh
Bồ Tát đă lâu. Quán Âm là đại Bồ Tát, sẽ kế
thừa A Di Đà Phật thành Phật trong thế giới
Cực Lạc, đương nhiên chẳng phải là một
vị sơ phát tâm Bồ Tát thông thường, bởi thế
gọi Ngài là Bồ Tát Ma Ha Tát.
Bố là khủng bố (hoảng hốt, sợ
hăi), Úy là úy cụ (sợ sệt, kinh sợ), nói thông tục
là hoảng sợ. “Cấp nạn” (nạn gấp) tức
là tai nạn bất th́nh ĺnh xảy tới, trở tay không
kịp, không cách chi đề pḥng được, không cách
ǵ ứng phó được. Người có phước huệ
gặp phải cảnh nạn gấp, đương nhiên
có thể tùy cơ ứng biến, liệu cách khắc phục;
kẻ kém trí huệ chẳng thể đối phó nạn gấp,
trong lúc nội tâm hoảng hốt, kinh sợ, rất có thể
Quán Âm Bồ Tát đại từ đại bi lập tức
cảm ứng hiển hiện trước kẻ đó,
ban cho sự không sợ hăi, giải cứu nạn gấp, “v́
thế, thế giới Sa Bà này đều gọi là đấng
Thí Vô Úy”. Kinh Lăng Nghiêm chép: “Thân ấy, thần chú ấy
có thể ban cho các chúng sanh sự không sợ hăi; v́ thế
mười phương vi trần quốc độ đều
gọi ta là đấng Thí Vô Úy” cũng là nói về ư này.
Nay tôi chẳng ngại nêu lên một câu chuyện
thật để thuyết minh trong cơn kinh hoảng, Bồ
Tát có thể bố thí sự không sợ hăi:
Vào đời nhà Tấn ở Trung Quốc, có một
vị đại đức tên là Thích Đạt Khai. Có lần
Sư lên núi hái Cam Thảo, chẳng ngờ bị rợ
Khương bắt giữ, giam trong ṿng rào gỗ. Trước
thầy Đạt Khai, đă có mười mấy người
bị bắt giam trong ṿng rào. Rợ Khương rất
hung bạo, dă man; mỗi ngày lôi một người bị
giam ra nấu hay nướng ăn. Cuối cùng chỉ c̣n
sót lại ḿnh sư Đạt Khai. Đạt Khai biết
ngày mai sẽ đến phiên ḿnh, đương nhiên chẳng
khỏi kinh sợ, nhưng kinh sợ há có ích ǵ? Chỉ
đành thành khẩn thầm tụng Quán Âm Phổ Môn Phẩm,
đem sanh mạng ḿnh phó cho Quán Âm Bồ Tát. Trời vừa
rạng sáng, chợt có một con hổ to chạy tới,
bọn rợ Khương đang canh tù trông thấy con hổ
chạy đến, ai nấy chạy trối chết. Con hổ
chẳng những không đuổi theo, c̣n ngoạm hàng rào gỗ
thủng một lỗ. Lúc ấy, sư Đạt Khai thầm
nghĩ: “Tuy thoát nạn rợ Khương sát hại,
nhưng chẳng tránh khỏi miệng cọp”; bởi vậy,
sư vừa run lẩy bẩy vừa thành khẩn niệm
Quán Âm, đợi lúc con hổ cắn thủng rào chui vào.
Con hổ chẳng những không ăn Đạt Khai lại
c̣n lập tức bỏ đi. Đến lúc đó, Đạt
Khai biết là Quán Âm sai hổ đến cứu ḿnh thoát tay
rợ Khương. Phải biết rằng đó là Bồ
Tát ban sự không sợ hăi.
Lại có kẻ lên núi hái thuốc một ḿnh, chợt
gặp mănh hổ đón ngay trước mặt. Dĩ nhiên
người ấy trong ḷng hoảng sợ đến mực
nào, nhưng trong lúc ấy chợt có một bà già đến
quát một tiếng lớn, con hổ hung tợn đáng sợ
bèn quay đầu lủi mất. Người hái thuốc
qua cơn kinh hồn, trấn tĩnh lại, nh́n quanh chẳng
thấy tông tích bà già đâu nữa. Phải biết bà cụ
ấy chính là Quán Âm Bồ Tát thị hiện cứu tế,
đến ban sự không sợ hăi cho chúng sanh trong cơn nạn
gấp!
Trong
thế gian, sự sợ hăi, nạn gấp rất nhiều,
nhưng nạn gấp đáng sợ hăi nhất và lớn
nhất không ǵ bằng sanh tử; bởi lẽ, hết thảy
sự sợ hăi đều do sanh tử mà ra. Nếu không có
sanh mạng thể ngơ hầu lưu chuyển sanh tử,
nào c̣n có các nạn gấp sợ hăi hiện hữu? Bởi
thế sanh tử là nỗi sợ hăi lớn nhất! Nếu
quả thật chúng sanh cảm thấy sanh tử đáng sợ,
muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi, Quán Âm Bồ Tát
liền đáp ứng mong cầu của chúng ta, tùy chúng ta
muốn thấy thân h́nh nào, Ngài lập tức dùng thân h́nh ấy
hiện trước mặt quư vị, v́ quư vị nói pháp
ĺa sanh tử, khiến cho quư vị chẳng c̣n cảm thấy
sanh tử đáng sợ nữa, ban cho quư vị pháp liễu
sanh thoát tử, đấy mới là chân chánh “thí vô úy”. Phật
pháp thường nói có ba thứ Tài Thí, Pháp Thí và Vô Úy Thí.
Người ta thường nghĩ Tài Thí là trọng yếu,
chớ hề biết Pháp Thí và Vô Úy Thí lại càng trọng
yếu hơn! Quán Âm thí cho chúng sanh sự không sợ hăi nên được
gọi là đấng Thí Vô Úy.
1.2.2.2.1.2.
Năng cảm cúng dường (cảm thọ cúng
dường)
Chánh
kinh:
Vô
Tận Ư Bồ Tát bạch Phật ngôn:
-
Thế Tôn! Ngă kim đương cúng dường Quán Thế
Âm Bồ Tát.
Tức
giải cảnh chúng bảo châu anh lạc, giá trị bách
thiên lượng kim nhi dĩ dữ chi, tác thị ngôn:
-
Nhân giả! Thọ thử pháp thí trân bảo anh lạc!
Thời
Quán Thế Âm Bồ Tát bất khẳng thọ chi, Vô Tận
Ư phục bạch Quán Thế Âm Bồ Tát ngôn:
-
Nhân giả! Mẫn ngă đẳng cố thọ thử anh
lạc!
(Vô
Tận Ư Bồ Tát bạch Phật rằng:
-
Bạch Thế Tôn! Nay con sẽ cúng dường Quán Thế
Âm Bồ Tát.
Liền
cởi chuỗi anh lạc bằng các hạt châu quư báu
nơi cổ, giá trị trăm ngàn lượng vàng để
tặng, nói như thế này:
-
Thưa nhân giả! Hăy nhận lấy chuỗi anh lạc
pháp thí quư báu này.
Khi
đó, Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu nhận. Vô Tận
Ư lại bạch cùng Quán Thế Âm Bồ Tát rằng:
-
Thưa nhân giả! Hăy thương xót chúng tôi, nhận lấy
chuỗi anh lạc này)
Đây
là đoạn kinh thuật chuyện Bồ Tát cảm
được sự cúng dường. Đức Thích Ca
khuyên đại chúng nhất tâm cúng dường Quán Âm; Vô Tận
Ư là một vị đại Bồ Tát, hiểu sâu xa tầm
quan trọng của việc cúng dường, nên sau khi nghe
đức Phật khuyên nên dâng cúng xong, Vô Tận Ư Bồ
Tát lập tức bạch Phật rằng:
- Bạch
Thế Tôn! Lăo nhân gia muốn chúng con nhất tâm cúng dường
Quán Âm, nay con tuân theo mạng lệnh từ bi, đến
cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nói
xong, lập tức cởi chuỗi anh lạc bằng các bảo
châu đang đeo nơi cổ, giá trị của chuỗi
bảo châu anh lạc đó khoảng chừng trăm ngàn
lượng vàng, tức đáng giá mười vạn lạng
vàng ṛng, cho thấy chuỗi ấy đáng quư trọng dị
thường, nay Ngài đem chuỗi anh lạc quư trọng ấy
cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, nói như thế
này:
-
Thưa nhân giả! Hăy nhận lấy chuỗi anh lạc
pháp thí quư báu này.
“Nhân
giả” là tiếng xưng
hô giữa các Bồ Tát với nhau. Nhân Giả nghĩa là
người có ḷng nhân từ, hoặc có ḷng nhân đức.
Tuy Vô Tận Ư thành tâm cúng dường như thế, nhưng
khi đó, Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu tiếp
nhận đồ cúng dường ấy. Nếu nh́n từ
mặt văn tự, ư nghĩa đoạn này rất dễ
hiểu, nhưng những nghĩa lư bao hàm trong đoạn
kinh văn này rất sâu, chẳng thể coi thường
được!
“Anh
lạc” là một thứ vật
trang sức của Ấn Độ, đồ trang sức
đeo trên cổ gọi là Anh, thứ quấn quanh thân gọi
là Lạc. Phải xem thân phận, địa vị và hoàn cảnh
kinh tế của mỗi người mà phân biệt anh lạc
quư báu hay tầm thường. Như người hiện tại,
thích dùng hoa tươi kết thành ṿng hoa, đeo trên cổ
làm trang sức, hoặc dùng hạt châu xâu thành chuỗi
đeo trên cổ làm đồ trang sức, đều có thể
gọi là Anh Lạc. Chuỗi anh lạc Bồ Tát Vô Tận
Ư dùng cúng dường ở đây là do các thứ bảo
châu kết thành. Nếu chỉ nói bảo châu không thôi th́ có
nghĩa là Ma Ni bảo châu; ở đây nói là “các bảo
châu”, tức là hết thảy những vật quư báu,
cũng tức là thất bảo như trong phần kinh
văn ở trên đă nói. Chính v́ chuỗi anh lạc do các thứ
bảo châu xâu thành nên quư báu đặc biệt, trị giá trăm
ngàn lạng vàng.
Trong
đoạn kinh này có một câu phải đặc biệt
chú ư, tức là câu “nhận lấy chuỗi anh lạc pháp
thí quư báu này”; bởi lẽ chuỗi anh lạc bảo
châu do ngài Vô Tận Ư cúng dường rơ ràng là tài vật, phải
nói là Tài Thí mới đúng, sao lại nói “nhận lấy
pháp thí này”? Tài Thí là vật chất hữu h́nh; Pháp Thí là
chân lư vô h́nh. Hai thứ này tuyệt đối chẳng
tương đồng. Giờ đây chúng ta phải hỏi:
Chuỗi anh lạc bảo châu Vô Tận Ư tháo từ trên cổ
xuống đó rốt cuộc là tài vật hay là thứ ǵ
khác? Kinh Phật thường dùng anh lạc tượng
trưng cho công đức, như vậy chuỗi anh lạc
bảo châu tượng trưng cho các thứ công đức.
Trong
quá tŕnh hành Bồ Tát đạo, Vô Tận Ư đă từng
tích tập vô biên pháp bảo công đức để trang
nghiêm Pháp Thân thanh tịnh mà chính ḿnh đă chứng đắc.
Bởi vậy, nói đến “cổ” là hàm ư: Chân
Như Pháp Thân Ngài đă chứng, Chân Như Pháp Thân này được
trang nghiêm bằng các thứ công đức thanh tịnh. Ở
đây tháo chuỗi anh lạc bảo châu từ trên cổ
xuống có nghĩa là Bồ Tát tuy chứng Pháp Thân, nhưng
chẳng an trụ Pháp Thân, từ Pháp Thân thị hiện hóa
thân vào thế gian hóa độ chúng sanh; nay đem vô tận
công đức ấy nhất tâm cúng dường cho Quán Âm Bồ
Tát. V́ thế gọi là Pháp Thí chứ không gọi là Tài Thí.
Vô Tận
Ư nghe đức Phật giới thiệu Quán Âm Bồ Tát
thành tựu các công đức, nhưng chính bản thân ḿnh
cũng thành tựu vô lượng vô biên công đức; có
thể nói là hai vị Bồ Tát tâm tâm tương đồng.
Vô Tận Ư vâng lời Phật nhất tâm cúng dường, bèn
nghĩ Quán Âm đă thành tựu các công đức, căn bản
là chẳng cần đến tài vật cúng dường nữa;
bởi thế đem các công đức ḿnh đă tích tập
được, dùng ư niệm cung kính thành tâm thành ư cúng
dường. Đấy mới là cúng dường tối
thượng, mới là cúng dường chân chánh.
Hoặc
có thể giải thích như thế này cũng được:
Vật cúng dường tuy là tài vật, nhưng trong lúc cúng
dường, nhất quyết chẳng chấp vào tướng,
liễu đạt cái gọi là “tam luân không tịch”:
trên căn bản thật sự chẳng có người bố
thí, chẳng thật sự có người tiếp nhận
vật thí, cũng chẳng có tài vật được bố
thí. Bởi thế, tuy suốt ngày hành bố thí, nhưng chẳng
mảy may dính mắc công đức bố thí, hiểu ḿnh
làm như vậy chỉ là bổn phận của chính ḿnh,
nhân đó chuyển Tài Bố Thí thành Pháp Bố Thí. Chúng ta
phát tâm bố thí th́ Tài Thí vẫn là Tài Thí v́ sau khi phát tâm bố
thí, cứ nhớ thật kỹ sự việc ấy, chẳng
thể đạt đến mức tam luân không tịch. Bởi
thế chẳng thể chuyển Tài Thí thành Pháp Thí.
Đồng
thời, c̣n có thể giải thích như thế này nữa:
Vô Tận Ư cúng dường chuỗi anh lạc bảo châu
chẳng phải để cầu công đức cho chính
ḿnh, mà là cầu phước đức cho chúng sanh. Nếu
cầu công đức cho chính ḿnh th́ công đức ấy thuộc
về công đức hữu lậu, chẳng thể thành
công đức vô lậu thanh tịnh. Do v́ cầu phước
cho chúng sanh, đem công đức cúng dường ấy hồi
hướng cho pháp giới hết thảy chúng sanh, khiến
cho các chúng sanh cùng đạt được công đức
lợi ích giống nhau; bởi thế, có thể chuyển
Tài Thí thành Pháp Thí. Bọn chúng sanh ta chẳng vậy, làm bất
cứ công đức nào, đều coi đó là công đức
của riêng chính ḿnh, chẳng chịu cho chúng sanh nào khác
được hưởng lợi ích, cứ làm như đem
cho chúng sanh th́ ḿnh sẽ hao hụt [công đức] vậy!
Bởi thế chẳng thể chuyển Tài Thí thành Pháp Thí
được.
Sở dĩ chúng sanh chẳng thể vô tướng
bố thí và hồi thí chúng sanh v́ nghĩ nó là thật có, chẳng
biết rằng: Nếu có thể làm được như
vậy, công đức lại càng lớn, càng nhiều. Bồ
Tát hiểu sâu sắc điều này nên hành bố thí chẳng
chấp tướng, lại c̣n hồi thí cho chúng sanh. Vô Tận
Ư là đại Bồ Tát, thông đạt Tài Thí và Pháp Thí b́nh
đẳng không sai biệt, nên biến Tài Thí thành Pháp Thí.
Có
người nói chuỗi anh lạc ngài Vô Tận Ư dùng để
cúng dường đó biểu trưng trí huệ; nhưng
các công đức ngài Quán Thế Âm thành tựu lại
tượng trưng cho từ bi. Bi Trí là những điều
mỗi vị hành giả Bồ Tát phải có, nhưng trong
kinh thường lấy một công đức nào đó làm
đặc điểm của một vị Bồ Tát,
như Quán Âm Bồ Tát lấy từ bi làm tánh đức
đặc biệt của ḿnh, Vô Tận Ư lấy trí huệ
làm đặc tánh. Bây giờ Vô Tận Ư đem hết thảy
trí huệ ḿnh vốn có phụng hiến đức đại
từ bi Quán Âm, ngơ hầu Quán Âm bi trí viên dung, thượng
cầu hạ hóa, vận dụng tự tại, bởi thế
gọi là Pháp Thí.
Vô Tận
Ư thành tâm cúng dường Quán Thế Âm, nhưng Quán Thế
Âm chẳng chịu tiếp nhận, là v́ đạo lư nào? Nói
theo thế tục, bảo châu là thứ ai cũng thích, lúc
không có bèn dùng trăm phương ngàn kế cầu cho
được; nếu có ai cho ḿnh, lẽ nào chẳng chịu
tiếp nhận? Sở dĩ chúng sanh truy cầu tài vật
chẳng ngừng là do tham dục sai khiến, Quán Âm Bồ
Tát đă sớm viễn ly tham dục, há c̣n tùy tiện tiếp
nhận trân bảo người khác cúng dường? Bởi
thế chẳng tiếp nhận! Nói theo Phật pháp, Quán Thế
Âm cố nhiên đă có trí huệ như Vô Tận Ư, Vô Tận
Ư cũng có đầy đủ ḷng từ bi như Quán Thế
Âm. Mỗi một vị đại Bồ Tát đều
đầy đủ cả Bi lẫn Trí, há c̣n có thể nói
là cho hay nhận được nữa ư? Quán Thế Âm
Bồ Tát đă hiểu sâu xa điều này, nên dù Vô Tận
Ư thành tâm thành ư cúng dường, Quán Thế Âm Bồ Tát vẫn
rất khách khí từ chối tiếp nhận.
Vô Tận
Ư Bồ Tát thấy Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng chịu
tiếp nhận chuỗi anh lạc ḿnh cúng dường, nên
lại rất khẩn thiết bạch cùng Quán Thế Âm Bồ
Tát rằng:
-
Thưa nhân giả! Chúng tôi cúng dường rất thành ư
như vậy, xin Ngài mẫn niệm chúng tôi chẳng có công
đức ǵ để tự trang nghiêm mà từ bi tiếp
nhận phần anh lạc cúng dường nhỏ nhoi này, khiến
cho chúng tôi tạm tăng thêm một chút công đức!
Từ
việc Vô Tận Ư cầu thỉnh lần nữa, ta có thể
thấy Vô Tận Ư phát tâm cúng dường chẳng phải
v́ chính ḿnh, mà v́ hết thảy chúng sanh. Bởi Vô Tận Ư
thấy chúng sanh thọ khổ, thọ nạn trong sanh tử
v́ trong quá khứ chưa hề vun bồi phước đức.
Nếu bây giờ Quán Âm chẳng từ bi tiếp nhận sự
cúng dường của ḿnh, há chẳng phải là chúng sanh
đời vị lai khổ nạn càng nhiều hơn nữa
ư? Bởi đó, Ngài thỉnh cầu Quán Âm tiếp nhận
cúng dường. Chỉ có v́ chúng sanh phát tâm cúng dường
như thế mới là chân tâm cúng dường.
1.2.2.2.1.3. Năng tu
cúng dường (tu cúng dường)
Chánh
kinh:
Nhĩ
thời, Phật cáo Quán Thế Âm Bồ Tát:
-
Đương mẫn thử Vô Tận Ư Bồ Tát cập
tứ chúng, Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn
Na La, Ma Hầu La Già, nhân phi nhân đẳng cố, thọ
thị anh lạc.
Tức
thời Quán Thế Âm Bồ Tát mẫn chư tứ chúng, cập
dữ Thiên, Long, Nhân Phi Nhân đẳng, thọ kỳ anh lạc,
phân tác nhị phần: nhất phần phụng Thích Ca Mâu
Ni Phật, nhất phần phụng Đa Bảo Phật
tháp.
(Lúc
bấy giờ, Phật bảo Quán Thế Âm Bồ Tát:
-
Hăy v́ thương Vô Tận Ư Bồ Tát này và tứ chúng,
Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La,
Ma Hầu La Già, nhân phi nhân v.v… mà nhận lấy anh lạc
đó.
Ngay
khi đó, Quán Thế Âm Bồ Tát thương các tứ
chúng, Trời, Rồng, Nhân Phi Nhân v.v…nhận chuỗi anh lạc
đó, chia làm hai phần: Một phần cúng Thích Ca Mâu Ni Phật,
một phần cúng tháp Phật Đa Bảo).
Vô Tận
Ư thành tâm cúng dường, Quán Thế Âm từ chối chẳng
nhận. Trong t́nh huống đó, muốn cúng dường
nhưng cúng dường chẳng được, sẽ cảm
thấy thất vọng vô cùng! Thế nhưng ở đây
cần phải biết rằng: Quán Thế Âm Bồ Tát
đến thế giới Sa Bà này giáo hóa chúng sanh, đơn
thuần lấy giáo hóa chúng sanh làm mục đích, quyết
định chẳng mảy may có dụng ư nào khác, nên càng chẳng
mong người khác cúng dường ḿnh. Hiện tại, Vô
Tận Ư được đức Thích Tôn khuyên phát tâm cúng
dường; trước khi được đức Phật
khuyên nên tiếp nhận, Quán Âm Bồ Tát chẳng thể
tùy tiện tiếp nhận. Đức Thế Tôn biết
rơ dụng tâm của Quán Âm, nên ngay lúc đó, Đại Thánh
Phật Đà bảo Quán Thế Âm Bồ Tát:
- Ông
hăy nên nghĩ thương xót ông Vô Tận Ư Bồ Tát đây
và tứ chúng, Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, A Tu La, Khẩn
Na La, Ma Hầu La Già, Nhân Phi Nhân v.v… nhận chuỗi anh lạc
ấy.
Những
chúng sanh ấy trong thế giới Sa Bà này đều rất
khổ năo, v́ từ trước đến nay họ rất
ít gieo thiện căn, vun bồi các phước đức,
nay Vô Tận Ư thay cho chúng sanh phát tâm cúng dường, hệt
như chính ḿnh thiếu khuyết phước đức
thiện căn! Nếu Quán Âm Bồ Tát chẳng chịu tiếp
nhận, há chẳng phải là chúng sanh bần cùng khốn
khổ trong đêm dài vĩnh viễn chẳng có cơ hội
vun bồi thiện căn, phước đức ư? V́
để cho chúng sanh vun bồi, gieo trồng thiện
căn, phước đức, nên đức Phật mới
bảo Quán Âm tiếp nhận vật cúng dường.
Ngay
lúc đức Phật từ bi khuyến cáo, Quán Thế Âm Bồ
Tát lập tức nghĩ thương tứ chúng và Thiên,
Long, Nhân Phi Nhân v.v… bèn tiếp nhận chuỗi anh lạc do
Vô Tận Ư thay mặt chúng sanh cúng dường. Ở
đây phải đặc biệt chú ư: Ở phần trên,
muốn cho Quán Thế Âm tiếp nhận an lạc, Phật
dạy Ngài chẳng những nghĩ thương tứ
chúng và thiên long bát bộ, mà c̣n phải nghĩ thương
Vô Tận Ư Bồ Tát; thế nhưng khi Quán Thế Âm tiếp
nhận chuỗi anh lạc, kinh chỉ nói Ngài nghĩ
thương tứ chúng và thiên long bát bộ, chẳng hề
nói Ngài nghĩ thương Vô Tận Ư Bồ Tát, nghĩa là
sao? So với Bồ Tát, Phật cao hơn một bậc.
Nên đứng trên lập trường của Phật, cố
nhiên Ngài nói nghĩ thương Vô Tận Ư Bồ Tát. Quán Thế
Âm và Vô Tận Ư đều là Nhất Sanh Bổ Xứ đại
Bồ Tát, địa vị hai bên ngang nhau, đứng trên
lập trường Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát nói
năng phải giữ ư, chẳng thể nói là “nghĩ
thương Vô Tận Ư Bồ Tát” được. Bởi
duyên cớ đó, chỉ nói là “nghĩ thương tứ
chúng và thiên long bát bộ”.
Quán
Thế Âm Bồ Tát nghe lời Phật khuyến cáo, nghĩ
thương tứ chúng và thiên, long v.v… bèn tiếp nhận
chuỗi anh lạc của Vô Tận Ư cúng dường,
nhưng Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng giữ cho ḿnh; Ngài
lập tức chia thành hai phần: một phần cúng Thích
Ca Mâu Ni Phật, một phần cúng cho tháp Phật Đa Bảo.
Kinh
văn đến đây có thể nói là đă giảng xong,
nhưng v́ vẫn c̣n có nghĩa lư sâu xa, nên phải thuyết
minh đại lược: Thoạt đầu, Quán Âm Bồ
Tát chẳng chịu tiếp nhận cúng dường, sau
được đức Phật khuyên nhủ bèn nhận
chuỗi anh lạc ấy. Như vậy chẳng nhận
mà nhận, nói theo lư luận Phật pháp, “chẳng nhận”
hiển thị tánh Không; “nhận” hiển thị Duyên Khởi.
Bởi thế chẳng nhận mà nhận có nghĩa là Tánh Không
tức Duyên Khởi. Sau khi đức Quán Âm tiếp nhận,
bèn lập tức đem cúng dường, như thế là
“nhận nhưng chẳng nhận”. Nói theo lư luận Phật
pháp: Nhận là Duyên Khởi, chẳng nhận là Tánh Không, bởi
thế nhận mà chẳng nhận hàm nghĩa Duyên Khởi
tức là Tánh Không. Như vậy, đoạn kinh văn này
bao hàm ư nghĩa Tánh Không và Duyên Khởi; nghĩa lư Tánh Không Duyên
Khởi rất sâu. Duyên Khởi chính là Tánh Không, thường
được gọi là Diệu Hữu Chân Không; cũng
như Tâm kinh nói “Sắc tức là Không”; Tánh Không chính
là Duyên Khởi, thường được gọi là Chân
Không Diệu Hữu, cũng như Tâm kinh nói “Không tức
là Sắc”. Quán Âm Bồ Tát khế nhập tánh Không Tịch
rốt ráo, chẳng c̣n chấp trước hết thảy
các pháp thật có tự tánh, bởi thế Ngài đem chuỗi
anh lạc chia làm hai phần, cúng dường hiện tiền
Thích Ca Mâu Ni Phật và tháp của quá khứ Đa Bảo Phật,
tự ḿnh chẳng thọ dụng.
Thích
Ca Mâu Ni Phật là giáo chủ cơi Sa Bà, cũng là vị Phật
hiện tại, đúng là phải cúng dường, chẳng
cần phải nói ǵ nữa. Thế nhưng Thích Ca Mâu Ni Phật
nghĩa là ǵ cũng nên nói sơ qua một phen. Thích Ca là tên
một ḍng họ, dịch nghĩa là Năng Nhân; Mâu Ni là
đức hạnh của bậc thánh, dịch nghĩa là Tịch
Mặc. Nói “Năng Nhân” nhằm mô tả ḷng từ bi lợi
tha của đức Phật, nghĩa là đầy đủ
ḷng nhân từ dẹp khổ ban vui, lại c̣n có khả
năng lợi tha tích cực. Đó là ư nghĩa chữ
Năng Nhân. Tịch Mặc tượng trưng trí huệ
tự lợi của đức Phật rất sâu, đầy
đủ vô biên trí huệ rộng lớn, phá trừ phiền
năo khiến chính ḿnh được lợi. Đó là ư
nghĩa chữ Tịch Mặc. Thực hành nhân từ, hiển
thị đức Phật nhập thế độ sanh, tịch
tĩnh mặc chiếu hiển thị đức Phật xuất
thế không tịch. Từ ư nghĩa của bốn chữ
Thích Ca Mâu Ni, ta có thể thấy đức Phật coi trọng
cả tự lợi lẫn lợi tha như thế nào, thống
nhất cả hai phương diện thế gian và xuất
thế gian như thế nào.
Đa
Bảo Phật là vị Phật quá khứ, v́ sao lại xuất
hiện trong pháp hội Pháp Hoa này? Cũng nên lược thuật
nhân duyên ấy như sau: Theo kinh Pháp Hoa, trong lúc đức
Thích Ca giảng kinh Pháp Hoa tại núi Linh Thứu, nói xong phần
Chánh Tông, lúc sắp giảng qua phần Lưu Thông, chợt
có một tháp báu, từ dưới đất vọt lên xuất
hiện trong không trung, trong tháp đặt xá-lợi của
Đa Bảo Phật. Trong tháp lại phát ra âm thanh rất lớn,
khen ngợi kinh Pháp Hoa đức Thích Ca vừa giảng quả
là chân thật chẳng dối. Như trong phẩm Hiện
Bảo Tháp kinh này ghi:
“Lúc
bấy giờ, tháp bằng bảy báu ở trước
đức Phật, cao năm trăm do tuần, rộng lớn
hai mươi lăm do tuần, từ dưới đất
vọt lên, trụ trên hư không, các thứ bảo vật
trang hoàng…. Lúc bấy giờ, tháp báu vang ra âm thanh lớn khen
rằng:
-
Lành thay! Lành thay! Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn có thể đem pháp
b́nh đẳng đại huệ dạy các Bồ Tát là
kinh Diệu Pháp Liên Hoa - [là kinh] được chư Phật
hộ niệm - nói cho đại chúng. Đúng như vậy!
Đúng như thế! Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, những lời
Ngài đă nói đều là chân thật!”
Tiếp
đó, đức Phật lại nói:
“Lúc
bấy giờ, Phật bảo Đại Nhạo Thuyết
Bồ Tát:
-
Trong tháp báu này có toàn thân Như Lai, trong quá khứ, cách vô
lượng ngàn ức A-tăng-kỳ thế giới về
phương Đông, nước tên là Bảo Tịnh, trong
cơi ấy có Phật, hiệu là Đa Bảo. Đức Phật
ấy lúc hành đạo Bồ Tát, phát đại thệ nguyện:
“Nếu sau khi ta thành Phật diệt độ rồi,
trong mười phương cơi nước, có chỗ nào
nói kinh Pháp Hoa, tháp miếu của ta v́ để nghe kinh ấy,
bèn vọt lên hiện trước [pháp hội] để chứng
minh, khen rằng lành thay!”
Do bởi
nhân duyên ấy, trong lúc Phật giảng kinh Pháp Hoa, để
thực hiện hoằng nguyện đó, tháp Đa Bảo
Phật bèn hiện từ dưới đất vọt lên,
chứng minh cho Phật Thích Ca Mâu Ni. Trong pháp hội khi ấy,
có quá khứ Đa Bảo Phật, có hiện tại Thích Ca
Mâu Ni Phật, Phật Phật đạo đồng, Quán
Âm Bồ Tát chuyển cúng vật ḿnh đă nhận, chẳng
thể chỉ cúng dường một đức Phật, nên
chia làm hai phần: Một phần dâng lên Thích Ca Mâu Ni Phật,
một phần cúng tháp Phật Đa Bảo.
1.2.2.2.2. Ứng vấn
kết đáp (tổng kết lời đáp câu hỏi)
Chánh
kinh:
Vô
Tận Ư! Quán Thế Âm Bồ Tát hữu như thị tự
tại thần lực, du ư Sa Bà thế giới.
(Này
Vô Tận Ư! Quán Thế Âm Bồ Tát có thần lực tự
tại như thế, dạo trong thế giới Sa Bà)
Đến
đây là phần tổng kết lời đáp câu hỏi.
Phật lại gọi Vô Tận Ư bảo: Quán Thế Âm Bồ
Tát có sức thần thông oai đức tự tại
như ta vừa nói trên đây, dạo trong thế giới
Sa Bà để giáo hóa chúng sanh.
Nói
đến tự tại th́ có Tứ Tự Tại, Lục
Tự Tại, Thập Tự Tại, nhưng trọng yếu
nhất chẳng ngoài thân lẫn tâm cùng đại tự tại.
Nếu thân có thể tới lui vô ngại th́ gọi là Thân Tự
Tại. Nếu tâm xa ĺa được trói buộc, đối
với hết thảy thông đạt vô ngại, th́ gọi
là Tâm Tự Tại. Phẩm Tự kinh Pháp Hoa có câu: “Tận
các hữu kiết, tâm được tự tại” có
nghĩa là Tâm Tự Tại. Sách Duy Thức Diễn Bí nói: “Việc
làm không úng trệ, gọi là Tự Tại”, nghĩa là Thân
Tự Tại. Thần lực nói ở đây chính là thần
thông lực, có người giải thích ba chữ “thần
thông lực” như sau: “Thần nghĩa là diệu dụng
chẳng thể suy lường, Thông nghĩa là thông suốt,
dung ḥa, tự tại, Lực có nghĩa là lực dụng”.
Tổng hợp lại, bốn chữ “tự tại thần
lực” có nghĩa là chẳng cần phải mất công khởi
lên ư niệm, tùy ḷng hiện tiền, thần diệu chẳng
suy lường được. Câu “thần lực tự
tại như thế” chỉ ba mươi ba ứng thân
để thực hiện mười chín cách thuyết pháp
nhằm giáo hóa cứu độ các loại chúng sanh bất
đồng như phần trên đă nói.
“Dạo
trong Sa Bà thế giới” và “dạo
các cơi nước” là cách nói tương hỗ, tức
là: Trong phần trên, khi nói Bồ Tát dạo trong các cơi nước,
không có nghĩa là Bồ Tát chẳng du hóa trong thế giới
Sa Bà này; giờ đây nói Bồ Tát du hóa trong thế giới
Sa Bà, không có nghĩa là Bồ Tát chẳng đến cảm
ứng trong các quốc độ mười phương. Do
v́ Quán Âm Bồ Tát có duyên đặc biệt cùng chúng sanh cơi
Sa Bà, lại v́ cơi Sa Bà trược ác, Bồ Tát đại
từ đại bi luôn đặc biệt du hóa. V́ thế
chúng ta càng phải đặc biệt tôn trọng cung kính,
cúng dường Quán Âm Bồ Tát.
2. Kệ tụng hợp
hiển (Hợp giải
kệ tụng)
2.1. Trùng vấn
đắc danh sở dĩ (Hỏi
lại duyên do được danh hiệu)
Chánh kinh:
Nhĩ
thời, Vô Tận Ư Bồ Tát dĩ kệ vấn viết:
Thế
Tôn diệu tướng cụ,
Ngă
kim trùng vấn bỉ,
Phật
tử hà nhân duyên
Danh
vi Quán Thế Âm?
(Lúc
bấy giờ, Vô Tận Ư Bồ Tát dùng kệ hỏi:
-
Thế Tôn, đủ diệu tướng,
Con
nay xin lại hỏi:
Nhân
duyên ǵ Phật tử
Tên
là Quán Thế Âm?)
Phần
Trường Hàng phẩm này đến đây đă giảng
xong, nay giảng tiếp phần Kệ Tụng. Trường
Hàng dùng thể tài văn xuôi để tuyên thuyết; Kệ
Tụng dùng thể tài văn vần. Đức Phật giảng
kinh, đa phần có đủ hai loại thể tài này. Như
trong hai mươi tám phẩm kinh Pháp Hoa, chỉ có phẩm
sau cùng là phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát
không có kệ tụng, các phẩm khác đều có kệ tụng.
Thế nhưng khi ngài La Thập dịch phẩm Phổ Môn
này, chưa dịch phần Kệ Tụng; sau này ngài Xà Na Cấp
Đa (Jhanagupta) dịch ra, các sư cho rằng Phạn bản
vốn có phần Kệ Tụng này nên đem bài kệ đây
ghép vào sau phần Trường Hàng của phẩm Phổ
Môn do ngài La Thập dịch, hợp thành một phẩm hoàn
chỉnh. Bởi thế phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa khi được
lưu truyền trong hiện tại đều có phần Kệ
Tụng này. Do vậy, tôi lại dựa theo phần Kệ
Tụng giải thích đại lược.
Kệ
Tụng là so với Trường Hàng mà nói, có các dạng ba
chữ, bốn chữ, năm chữ, bảy chữ, tám chữ
khác biệt, nhưng phải có đủ bốn câu mới
gọi là Kệ; tiếng Phạn gọi là Kệ Đà, Tàu
dịch là Ứng Tụng; nếu gộp cả tiếng Ấn
lẫn tiếng Tàu th́ thành ra Kệ Tụng. Nếu phân loại
th́ lại có hai loại khác nhau:
1) Nếu
là một kết cấu đơn độc để diễn
giải pháp nghĩa th́ trong mười hai bộ loại
kinh, nó được gọi là Già Đà; dịch là Cô Khởi
Tụng, chẳng gọi là Trùng Tụng.
2) Nếu
là bài kệ dùng để kết lại ư nghĩa đă giảng
trong phần kinh văn bằng văn xuôi đă giảng
trước đó th́ trong mười hai bộ loại kinh
gọi là Kỳ Dạ, dịch là Ứng Tụng, hoặc
Trùng Tụng.
Kệ
Tụng trong phẩm này thuộc loại Trùng Tụng. Sở
dĩ gọi là Trùng Tụng, cũng có hai ư nghĩa:
1)
Để cho những thính chúng đến sau trong pháp hội
cũng được nghe giản lược những
điều đă giảng trong phần văn xuôi trước
đó.
2)
Để cho những thính chúng chưa thể hiểu rơ những
điều đă nói, nhờ vào phần Kệ Tụng này sẽ
được hiểu rơ và dễ ghi nhớ trong tâm.
Chữ
“nhĩ thời” chỉ lúc đức Phật nói xong
phần Trường Hàng. Vào đúng lúc đó, Vô Tận Ư Bồ
Tát lại dùng kệ tụng hỏi đức Phật.
“Thế
Tôn” là một trong mười
hiệu chung của đức Phật, do được hết
thảy phàm thánh thế gian xuất thế gian cùng tôn trọng
nên có danh hiệu này. Đức Thế Tôn đă chứng Vô
Thượng Chánh Giác chẳng giống với mọi phàm
phu, Phật có đủ ba mươi hai tướng, tám
mươi vẻ đẹp, bởi thế gọi là “diệu
tướng cụ” (đầy đủ các tướng
mầu nhiệm). Đầy đủ các diệu tướng,
trong phẩm Đề Bà Đạt Đa nói:
Pháp
thân tịnh vi diệu,
Đủ
ba mươi hai tướng,
Dùng
tám mươi vẻ đẹp,
Để trang nghiêm Pháp Thân.
Trong phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn
Sự gọi là “dung nhan thậm kỳ đặc”
(dung mạo rất lạ lùng, đặc biệt). [Khi nói]
Phật có đủ các diệu tướng, ta thường
hiểu là nói về Ứng Thân, nhưng trong phẩm Đề
Bà Đạt Đa lại nói Pháp Thân đủ các tướng,
đó là điều rất đáng chú ư! Pháp Thân có tướng
trạng hay không, các học giả thường tranh luận,
ở đây tôi chẳng thể giảng kỹ v́ nói ra dài
ḍng quá. C̣n như ba mươi hai tướng, tám
mươi vẻ đẹp, danh tướng rắc rối
quá nên bất tất phải giảng từng thứ một,
chủ yếu là: dưới ḷng bàn chân có tướng bánh
xe ngàn căm, trước ngực có chữ Vạn, giữa
hai mày có tướng bạch hào, trên đảnh có nhục
kế v.v… Tướng hảo chẳng phải ngẫu
nhiên mà có được, phải do tu các phước đức
mà có. Bởi thế mới có hai câu nói như sau: “Tam kỳ
tu phước huệ; bách kiếp chủng tướng hảo”
(Ba A-tăng-kỳ tu phước huệ; trăm kiếp trồng
tướng hảo). Mỗi một tướng hảo do
một trăm phước tạo thành, chẳng phải là
chuyện đơn giản! Chúng ta nếu muốn
được tướng hảo th́ phải đúng pháp
tu tập đức hạnh mới được như nguyện,
bởi những tướng hảo ấy là do tu tập mà
thành chứ chẳng phải tự nhiên mà có vậy!
Vô Tận Ư tôi nay lại hỏi đức Phật
lần nữa: Vị Phật tử kia do nhân duyên nào mà
được danh hiệu là Quán Thế Âm? Chữ “bỉ”
và “Phật tử” trong phần Kệ Tụng đều
chỉ Quán Thế Âm Bồ Tát. “Phật tử” vốn
là tiếng để gọi chung người tin Phật, học
Phật, như tứ chúng, thất chúng đều có thể
xưng là Phật tử, nhưng ở đây chữ “Phật
tử” này chuyên chỉ Quán Thế Âm Bồ Tát. Nếu nói dễ
dăi, đức Phật coi chúng sanh đều như con một,
nên hết thảy chúng sanh trong pháp giới đều
xưng là “Phật tử” cũng chẳng hề ǵ;
nhưng nếu nói phân biệt th́ có đích tử và thứ
tử. Theo Đại Thừa Phật pháp: Nhị Thừa
là thứ tử của Phật, v́ chẳng thể kế
thừa gia nghiệp Như Lai. Bồ Tát Thừa là đích
tử v́ có thể thiệu long Phật chủng, gánh vác gia
nghiệp Như Lai, nên người thật sự có thể
xưng là con ḍng, cháu đích của Phật chỉ có hàng Bồ
Tát độ sanh tự lợi lợi tha. Quán Âm là đại
Bồ Tát, đương nhiên có đủ tư cách xưng
là Phật tử.
Cần
biết: Đức Phật xuất thế hoàn toàn lấy
việc hoằng pháp độ sanh làm gia vụ sự nghiệp,
ngoại trừ việc hoằng pháp độ sanh, bất
cứ việc ǵ khác Phật cũng chẳng làm! Hiện thời
chúng ta đă là Phật tử, phải hoằng pháp độ
sanh giống như đức Phật, phải gánh vác lấy
sự nghiệp đức Như Lai đă từng gánh vác,
giống như con cái kế thừa giữ ǵn sự nghiệp
của cha mẹ. Làm người con Phật, nếu chẳng
thể thực hiện sự nghiệp Phật hóa, mà suốt
đời chỉ có thể thực hiện Phật sự
quấy quá cho xong th́ chẳng những là bất hiếu
đối với Phật, mà c̣n là cô phụ thân phận Phật
tử của chính ḿnh nữa. Đặc biệt là trong thời
đại hiện tại, nhân loại đúng là đang cần
được Phật pháp cứu vớt; là người
con Phật càng phải nên tích cực thực hiện công
tác hoằng dương Phật pháp, ngơ hầu nhân loại
thế giới khỏi bị hủy diệt bởi oai lực
của bom khinh khí (H bomb). Do vậy, tôi mong những Phật
tử chân chánh có ḷng thiệu long Phật chủng chẳng
để Phật chủng đoạn tuyệt hăy nên biết
trách nhiệm trọng đại của chính ḿnh, nhất
trí v́ Phật pháp, v́ nhân loại, v́ chúng sanh mà nỗ lực
thực hiện sự nghiệp Phật hóa.
2.2. Hợp hiển
đắc danh du hóa (giải
thích rơ duyên do đắc danh và sự du hóa)
2.2.1. Hiển đắc
danh sở dĩ (nêu
nguyên do được danh hiệu)
2.2.1.1. Tổng tiêu (nêu chung)
Chánh kinh:
Cụ túc diệu tướng tôn,
Kệ đáp Vô Tận Ư:
Nhữ
thính Quán Âm hạnh,
Thiện
ứng chư phương sở,
Hoằng
thệ thâm như hải,
Lịch
kiếp bất tư nghị,
Thị
đa thiên ức Phật,
Phát
đại thanh tịnh nguyện,
Ngă
vị nhữ lược thuyết,
Văn
danh cập kiến thân,
Tâm
niệm bất không quá,
Năng
diệt chư hữu khổ.
(Đấng
đầy đủ diệu tướng,
Kệ
đáp Vô Tận Ư:
Ông
nghe hạnh Quán Âm,
Khéo
ứng các nơi chốn,
Nguyện
lớn sâu như biển,
Trải
kiếp chẳng nghĩ bàn,
Hầu
nhiều ngàn ức Phật,
Phát
đại thanh tịnh nguyện,
Ta
v́ ông nói lược:
Nghe
tên và thấy thân,
Tâm
niệm chẳng luống qua,
Diệt
khổ trong các cơi)
Vô Tận
Ư dùng kệ thỉnh vấn đức Phật, đức
Phật là đấng “đầy đủ tướng
tốt” bèn dùng kệ phúc đáp Vô Tận Ư:
Ông
nay nghe ta nói sơ lược các hạnh môn ngài Quán Âm đă
tu, chẳng phải đơn giản như mọi người
tưởng tượng đâu nhé, mà thật là vi diệu
chẳng thể nghĩ bàn được. Đối với
các pháp môn ngài Quán Âm đă hành và các công đức Ngài đạt
được, v́ sao chẳng nói là Quán hay là Thấy mà lại
nói là “nghe” (“Ông nghe hạnh Quán Âm”); trong phần giải
thích v́ sao Quán Thế Âm Bồ Tát có tên là Quán Thế Âm, tôi
đă có nói rồi: Bồ Tát dùng lẫn lộn sáu căn, ở
đây chẳng nhắc lại nữa.
Do
Quán Âm Bồ Tát tu chẳng thể nghĩ bàn các hạnh môn,
đă từng đạt được sức oai đức
thần thông chẳng thể nghĩ bàn, bởi thế Ngài
có thể “thiện ứng chư phương sở”
(khéo hiện [trong khắp] các nơi chốn). Chữ “phương
sở” ở đây chỉ mười phương quốc
độ, ư nói: Quán Thế Âm Bồ Tát dùng ba mươi ba ứng
thân ứng hiện trong bất cứ cơi nước nào,
cũng có nghĩa là trong mọi ngóc ngách của mỗi một
thế giới đều có Quán Âm Bồ Tát thị hiện,
như trong phần trên nói là “không cơi nào chẳng hiện
thân” cũng chỉ là cách nói khác của “thiện ứng
chư phương sở” vậy. Chẳng những là
không một cơi nào trong không gian Bồ Tát chẳng hiện
thân, mà trong thời gian, không lúc nào Bồ Tát chẳng hiện.
Quán
Âm Bồ Tát đă đạt đến mức “không cơi
nào chẳng hiện thân” là v́ khi mới phát tâm, Ngài đă
từng phát hoằng thệ sâu như biển cả nên nói
là “hoằng thệ thâm như hải” (nguyện lớn
sâu như biển). Hoằng nghĩa là rộng lớn, Thệ
nghĩa là ước định, tức là hành theo đúng
đại nguyện ḿnh đă lập, chẳng cần biết
là gian nan khốn khổ như thế nào, đều chẳng
v́ gặp bất cứ trở ngại nào vây hăm mà buông bỏ
hết thảy những điều ḿnh đă lập nguyện
phải làm. Sách Pháp Giới Thứ Đệ, quyển Hạ
viết: “Duyên rộng khắp gọi là Hoằng, tự
chế tâm ḿnh gọi là Thệ, chí mong trọn đủ gọi
là Nguyện”. Một con người lập chí phát nguyện
nếu chẳng chế ngự được cái tâm ḿnh, nếu
chẳng muốn làm [nhất định] như thế nào
đó th́ sẽ khó tránh khỏi lui sụt, thất bại. Chỉ
có nhờ vào tinh thần trăm thứ trở ngại chẳng
nao núng, sau khi phát nguyện lập thệ, nhất tâm chuyên
chí phấn đấu tiến lên, khi chưa trọn vẹn
ư nguyện quyết chẳng ngưng nghỉ [th́ mới
thành tựu ư nguyện].
Thế
nào mới là Hoằng Thệ? Trong Phật pháp, chỉ có
đại thệ nguyện độ sanh mới là hoằng
thệ. Nhưng độ sanh cũng chẳng phải là
độ một hai chúng sanh hoặc một số ít chúng
sanh mà phải độ khắp hết thảy chúng sanh;
như kinh Kim Cang dạy: “Tất cả hết thảy
loài chúng sanh… tôi đều khiến cho nhập Vô Dư Niết
Bàn để diệt độ”; ấy mới là hoằng
thệ đại nguyện chân chánh. Trong lúc c̣n là phàm phu, mới
phát tâm, Quán Âm Bồ Tát từng có mười hai đại
nguyện, như nói: “Quán Âm Đại Sĩ, hiệu là
Viên Thông, mười hai đại thệ nguyện rộng
sâu” chính là lời thuyết minh rất khéo về hoằng
thệ sâu như biển cả của Ngài. Bởi thế,
mỗi một hành giả Bồ Tát chân chánh chẳng những
có những nguyện chung phải nên lập, mà c̣n phải lập
những lời nguyện riêng biệt; như mười
hai đại nguyện của đức Quán Âm cố nhiên
là biệt nguyện. Như nói đến năm trăm
đại nguyện của Phật Thích Ca, bốn
mươi tám nguyện của Phật A Di Đà, mười
hai đại nguyện của Phật Dược Sư, đều
là nói về biệt nguyện vậy.
Quán Âm đại sĩ phát Bồ Đề tâm,
lập hoằng thệ nguyện, chẳng phải chỉ
trong một hai ngày bèn hoàn thành đại thệ nguyện
đó, mà là trong chẳng thể nghĩ bàn trần kiếp,
tinh tấn dũng mănh thực hiện Bồ Tát hạnh,
nên nay mới đạt đến địa vị Nhất
Sanh Bổ Xứ, bởi thế nói là “trải kiếp chẳng
nghĩ bàn”. Kiếp trong tiếng Ấn là Kiếp Ba,
tương phản với sát-na. Sát-na tượng trưng
cho thời gian cực ngắn, Kiếp-ba tượng
trưng cho thời gian cực dài. Thời gian lâu dài ấy
chẳng thể dùng năm tháng ngày giờ thông thường
để tính toán được nổi. Kiếp-ba c̣n dịch
là Đại Thời, như quyển mười tám Trí
Độ Luận chép: “Đại Thời gọi là Kiếp”.
Xét ra, có ba loại: Đại Kiếp, Tiểu Kiếp,
Trung Kiếp. Thời gian đức Quán Âm dành để tự
hành hóa tha chẳng phải là một hai kiếp, dăm ba kiếp
để con người chúng ta có thể tâm nghĩ, miệng
bàn ḥng suy lường được, mà là trải qua trần
điểm kiếp, đấy là điều chúng ta chẳng
thể nghĩ bàn được nổi.
Trải qua chẳng thể nghĩ bàn trần
sa kiếp, Quán Âm Bồ Tát rộng tu đại hạnh Bồ
Tát, thời gian Ngài trải qua đương nhiên rất
dài. Chính v́ thời gian hành đạo Bồ Tát cực dài,
nên Ngài cũng phụng sự chư Phật nhiều đến
trăm ngàn vạn ức vị, như kinh Kim Cang nói: “Phải
biết người ấy chẳng phải gieo thiện
căn nơi một Phật, hai Phật, ba bốn năm
đức Phật, mà là gieo thiện căn nơi vô lượng
ngàn vạn đức Phật”. Bởi thế, kệ tụng
nói: “Hầu nhiều ngàn ức Phật”. Sở dĩ
một đức Phật xuất thế, Bồ Tát phải
phụng thị là v́:
1) Bồ Tát phải thường theo học với
Phật, dù nói “Phật Phật đạo đồng”,
nhưng phương tiện độ sanh của mỗi một
đức Phật rốt ráo vẫn có điểm bất
đồng. Bởi thế, Bồ Tát chẳng thể không
phụng sự Phật, học tập theo.
2) Bồ Tát phải giúp đức Phật tuyên
dương, giáo hóa, dù ngàn vạn ức Phật xuất thế,
Bồ Tát chẳng thể không phụng sự trước
ṭa mỗi đức Phật, nghe chư Phật sai khiến,
giúp Phật tuyên dương pháp hóa.
Hầu Phật đă rất nhiều,
đương nhiên tích tập hạnh cũng rất thù thắng,
cho nên nguyện đă phát cũng chỉ là thượng cầu
Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, tuyệt đối
chẳng có các tạp niệm bất thuần chánh nào khác xen
tạp vào, nên nói là “phát đại thanh tịnh nguyện”.
Chúng ta lập nguyện nếu thuần v́ lợi lạc cá
nhân, chẳng những nội tâm đă sớm chẳng thanh
tịnh mà c̣n do nguyện lực thúc đẩy, tự biểu
hiện ra hành vi cũng chẳng thuần khiết. Động
cơ lập nguyện của Bồ Tát, nh́n lên chỉ là
thượng cầu Phật đạo, nh́n xuống chỉ
là hạ hóa chúng sanh. Do hết thảy hoạt động
của ba nghiệp thân - ngữ - ư tạm thời xa ĺa hết
thảy phiền năo ác hạnh cấu nhiễm, hoặc
vĩnh viễn xa ĺa hết thảy cấu nhiễm phiền
năo ác hạnh, có thể nói là ba nghiệp không lầm lỗi,
nên gọi là thanh tịnh; đấy mới thật sự
là đại nguyện thanh tịnh. Chỉ có đại
nguyện thanh tịnh như thế mới có thể ứng
hiện trong hết thảy cơi nước, cứu tế
khắp hết thảy chúng sanh.
Pháp
sư Thông Lư nói: “Hai câu ‘lịch kiếp’ (tức “lịch
kiếp bất tư nghị, thị đa thiên ức Phật”)
cho thấy hạnh tự tu thù thắng, nghĩa là: Bồ
Tát lúc tu nhân, trải qua kiếp số đă đến mức
chẳng thể nghĩ bàn, những đức Phật Ngài
đă hầu nhiều đến số ngàn ức. Hạnh
ấy có thể nói là thù thắng vậy”. Như vậy,
“phát đại thanh tịnh nguyện” đương
nhiên có nghĩa là phát nguyện thù thắng. “Nguyện lớn,
hạnh lớn, cúng nhiều Phật, nguyện rộng xa,
gốc sâu rễ chắc, nên mới có đủ các thân ứng
hóa Phổ Môn như thế, thí đại vô úy, diệu lực
chẳng thể nghĩ bàn, ví như thuyền cao nước
lớn, đất nhiều Phật to. Đấy là lời
đức Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán Quán Thế Âm Bồ
Tát diệu lực chẳng thể nghĩ bàn vậy”. Do
vậy, Quán Âm Bồ Tát dù hạnh hay nguyện đều
chẳng thể nghĩ bàn, đều đáng khen ngợi cả,
bởi lẽ Ngài chẳng v́ tự thân mà phải làm thế,
mà thật sự là v́ chúng sanh mà làm như thế, một
ḷng giáo hóa chúng sanh cho được giải thoát, do hy sinh
bản thân nên chứng giác Phật Quả tối cao vô
thượng.
Thêm
nữa, đức Phật lại bảo cùng Vô Tận Ư: Tuy
ở trên, ta đă v́ ông nói các hạnh nguyện tự tha của
Quán Âm Bồ Tát, nay ở đây ta vẫn phải v́ ông
lược nói những hạnh hóa tha của Quán Âm Bồ
Tát. Quán Âm là vị Bồ Tát đại từ đại
bi, không thời khắc nào chẳng quan hoài bọn chúng sanh
ta, do đó, bất luận chúng ta “nghe tên” và “thấy
thân”, cho đến “tâm niệm” Bồ Tát th́ đều
sẽ cảm ứng Bồ Tát, chẳng đến nỗi
luống uổng. Pháp sư Thông Lư nói: “Nghe tên ắt
xưng là dùng khẩu nghiệp để cảm; thấy
thân ắt lễ là dùng thân nghiệp để cảm; tâm
niệm ắt quán là dùng ư nghiệp để cảm. Ba
điều ấy đều có thể ứng, nên chẳng
luống uổng”. Có người cho rằng miệng
xưng danh, thân thể lễ bái, tâm niệm tư duy là lăng
phí thời gian vô ư nghĩa, chẳng có một chút lợi
ích thật sự ǵ, đây là điều lầm lạc lớn
nhất, mà cũng là lỗi lầm chẳng có tín niệm
tôn giáo vậy!
Câu “năng
diệt chư hữu khổ” (diệt khổ trong các
cơi) hiển thị lợi ích thù thắng đạt
được do nghe tên, thấy thân và tâm niệm Bồ
Tát. “Chư Hữu” nói đơn giản là Dục Hữu,
Sắc Hữu, Vô Sắc Hữu; nói ở mức độ
trung b́nh là chín cơi: Ngũ Thú Tạp Cư Địa, Ly Sanh
Hỷ Lạc Địa, Định Sanh Hỷ Lạc
Địa; Ly Hỷ Diệu Lạc Địa, Xả Niệm
Thanh Tịnh Địa, Không Vô Biên Xứ Địa, Thức
Vô Biên Xứ Địa, Vô Sở Hữu Xứ Địa,
Phi Phi Tưởng Xứ Địa. Nếu phân tích chi tiết,
“chư Hữu” chỉ hai mươi lăm Hữu trong tam
giới, tức là đường ác trong bốn đại
châu, Lục Dục và Phạm Thiên, Tứ Thiền, Tứ
Không Xứ, Vô Tưởng và Bất Hoàn. Gọi chung là Hữu
v́ có nhân có quả, nhân quả chẳng lầm vậy. B́nh
thường khi chúng ta nói đến Hữu th́ có nghĩa
là “tồn tại”, tức là mỗi một hữu t́nh có
sanh mạng thể trong tam giới. Dù không thật sự có
được một Tự Ngă, nhưng có giả tướng
do duyên khởi ḥa hợp, đích xác tồn tại trong thế
gian nên gọi là Hữu.
Hai mươi lăm Hữu sanh mạng
thể bất đồng, nh́n từ quan điểm thế
gian, đương nhiên là có sướng vui vô cùng khác biệt,
như trên trời là sướng nhất, địa ngục
là khổ nhất, nhân gian là khổ vui lẫn lộn.
Nhưng nếu nh́n từ quan điểm Phật pháp, chúng
sanh trong hai mươi lăm Hữu của tam giới đều
cùng trong biển khổ sanh tử, không ai chẳng bị đau
khổ bức bách. Nếu dựa trên ư nghĩa bức bách,
thông thường nói có tám khổ, nhưng nay dựa theo quyển
mười hai Trí Độ Luận lược nói có hai thứ
khổ:
1) Nội
khổ: chỉ bốn trăm bốn thứ bệnh khổ
nơi thân thể, các nỗi khổ ưu sầu, ghen ghét
v.v… trong tâm.
2) Ngoại
khổ: chỉ các nỗi khổ gia hại như ác tặc,
cọp, sói v.v… nỗi khổ tai nạn mưa, gió, lạnh,
nóng v.v…
Bất
luận nội khổ hay ngoại khổ bức bách, chỉ
cần thâu nhiếp tam nghiệp, nhất tâm xưng danh,
thân lễ, tâm niệm, liền cảm ứng Bồ Tát, diệt
trừ các nỗi khổ trong hai mươi lăm Hữu
và các thứ ách nạn, thân tâm rốt ráo được giải
thoát!
2.2.1.2. Biệt hiển
(hiển thị riêng biệt từng điều)
2.2.1.2.1. Năng miễn
tam nạn (thoát được ba nạn)
Chánh
kinh:
Giả
sử hưng hại ư,
Thôi
lạc đại hỏa khanh,
Niệm
bỉ Quán Âm lực,
Hỏa
khanh biến thành tŕ.
Hoặc
phiêu lưu cự hải,
Long,
ngư, chư quỷ nạn,
Niệm
bỉ Quán Âm lực,
Ba
lăng bất năng một.
(Nếu
kẻ nổi ư hại,
Xô
rớt hầm lửa lớn,
Nhờ
sức niệm Quán Âm,
Hầm
lửa biến thành ao.
Hoặc
lênh đênh biển cả,
Mắc nạn quỷ, cá, rồng,
Nhờ sức niệm Quán Âm,
Sóng ṃi chẳng ch́m được)
Từ đây trở đi, trùng tụng những
sự Quán Âm cứu nạn, cứu tai. Hai bài kệ tụng
này ư nói có thể tránh được tam tai: hỏa tai, thủy
tai, phong tai. Giả sử trong thế gian này, có kẻ nào
đối với quư vị khởi tâm ư hăm hại, thật
sự đẩy quư vị rớt vào trong “hầm lửa
lớn” mong kết thúc sanh mạng của quư vị;
nhưng trong lúc đó, quư vị chẳng cần phải sanh
ác niệm đối với kẻ đó, chỉ cần
quư vị có thể niệm thánh hiệu đức Quán Âm Bồ
Tát kia, liền có thể cảm ứng thần lực oai
đức của Bồ Tát khiến cho cái hầm lửa lớn
quư vị té vào đó ngay lập tức biến thành ao
nước trong mát, khiến quư vị chẳng bị tổn
thương mảy may nào. Kinh Hoa Nghiêm phẩm Nhập Pháp
Giới chép: “Núi Ma La Da sanh hương Chiên Đàn, nếu
bôi lên thân, dù có vào trong lửa lớn, lửa chẳng đốt
nổi”. Gỗ Chiên Đàn Hương thế gian c̣n có lực
dụng như thế, huống hồ là hạnh nguyện
lực của Bồ Tát?
Cao
Tăng Truyện chép thời Ngụy có pháp sư Pháp Lực,
phát tâm sửa tháp dựng chùa, đi ra ngoài mộ hóa, quyên
được một xe mè, đi đến giữa đầm,
gặp phải dịp đốt đồng, rủi thay
lúc đó pháp sư Pháp Lực mệt mỏi ngủ quên,
đến khi lửa cháy đến gần thân, bị khói
lửa xông tỉnh, bèn lập tức xưng niệm thánh
hiệu. Ngay lúc miệng vừa thốt ra chữ Quán, c̣n
chưa niệm đến hai chữ Thế Âm, theo tiếng
niệm gió liền nổi, ngọn lửa cũng theo
đó tắt ngấm, đủ thấy hiệu lực của
việc niệm thánh hiệu Quán Âm. C̣n như Hỏa là Sân Hỏa,
phần trên đă giảng rồi, bất tất phải
nhắc lại. Nhưng cũng có thể hiểu “hầm
lửa” là tỷ dụ đường ác; như nói: “Tam
ác hỏa khanh, lâm chung dục nhập” (Hầm lửa ba
đường ác, lâm chung sắp vào). Một người
sanh tiền tạo tội ác, đến lúc sắp chết,
đương nhiên phải đọa ba ác đạo, thế
nhưng ngay trong lúc đó, nếu có thể nhất tâm
xưng niệm thánh hiệu Quán Âm, ngưỡng cậy sức
oai đức từ bi của Quán Âm, lập tức chuyển
ba đường ác thành đường lành; thậm chí
văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Kinh
Quán Thế Âm Đại Bi Đà Ra Ni nói: “Nếu tôi
hướng về vạc lửa, vạc lửa tự
nhiên diệt” cũng là nói về ư này.
Bị người xô rớt vào hầm lửa,
nhưng chẳng khởi ác niệm đối với
người ấy, chỉ có người tu dưỡng
nơi tôn giáo mới có thể làm như vậy được.
Hết thảy mọi thế nhân thông thường, đừng
nói là quư vị đẩy họ vào tử địa hay làm
hại mạng, chỉ cần có chút ǵ chẳng vừa ư họ,
họ cũng nghĩ cách trả đũa hết. Bởi
thế, làm người tốt nhất là phải có tín
ngưỡng tôn giáo và có sự tu dưỡng tôn giáo.
Hoặc là có người thuyền vượt
biển, lúc thuyền vào trong biển cả, chợt gặp
phải cuồng phong sóng dữ khiến thuyền “lênh
đênh trong biển cả”, sóng gió vùi dập khiến
người ta bị lạc hướng trong biển, đó
là việc rất nguy hiểm! Bởi lẽ nước sâu
chẳng thể tự thoát, lại c̣n có các tai nạn rồng,
cá, la-sát, các quỷ. Nói thật ra, nếu chẳng bị chết
đuối, cũng vùi thân trong bụng cá, rất ít có
cơ hội sanh tồn! Trong cảnh ngàn cân treo sợi tóc ấy,
nếu có thể niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, ngửa
nhờ sức oai thần của Quán Âm Bồ Tát, sóng ṃi chẳng
thể nhấn ch́m đáy biển, bởi thế nói là “sóng
ṃi chẳng ch́m được”. Nên biết “biển cả”
được nói ở đây chỉ biển cả sanh tử
vô biên, “rồng, cá, các quỷ” chỉ phiền năo trong
nội tâm chúng ta. Phiền năo trong tâm chúng ta dậy sóng nổi
gió khiến chúng ta vĩnh viễn trôi nổi trong biển
sanh tử, chẳng đến được bờ kia Niết
Bàn.
Trên mặt sự tướng, tôi kể một
hai câu chuyện cảm ứng: Trong niên hiệu Thuận Trị
đời Thanh, có ông Lưu Mạt Lăng phát tâm triều
lễ Nam Hải Phổ Đà, trong thuyền nguyện
được thấy Bồ Tát, nào ngờ sau đó gặp
cơn sóng gió, thuyền lật, họ Lưu rơi xuống
nước. Tuy người đă ở dưới nước,
trước mắt thấy bốn phía ánh sáng đỏ rực,
có một vị tăng nhân, đưa ông ta về nhà, lúc vừa
về đến nhà, vị tăng nhân biến mất; mới
biết vị tăng nhân đến cứu họ Lưu
chính là Quán Âm Bồ Tát thị hiện.
Trong sách Tỳ Kheo Ni Truyện có nói thời Tấn
có vị ni pháp danh là Lệnh Tông, trước tiên là ở Dực
Châu, do niệm thánh hiệu được thoát nạn giặc.
Buổi chiều, ni sư đến bến Đạt
Mănh, do không có thuyền để qua sông, Ni bèn kiền thành
niệm thánh hiệu, chợt có một con nai trắng chạy
tới, lội xuống sông, ni sư theo chân nai, chẳng bị
thấm ướt, nhờ đó về được nhà.
Nên biết con nai trắng đó cũng là Quán Âm thị hiện
đến cứu ni Lệnh Tông.
2.2.1.2.2. Năng miễn
bát nạn (Thoát khỏi tám nạn)
2.2.1.2.2.1. Oán tặc
h́nh lục nạn (Nạn oán tặc, xử tử
h́nh)
Chánh kinh:
Hoặc tại Tu Di phong,
Vị nhân sở thôi đọa,
Niệm bỉ Quán Âm lực,
Như nhật hư không trụ,
Hoặc bị ác nhân trục,
Đọa lạc Kim Cang sơn,
Niệm bỉ Quán Âm lực,
Bất năng tổn nhất mao,
Hoặc trị oán tặc nhiễu,
Các chấp đao gia hại,
Niệm bỉ Quán Âm lực,
Hàm tức khởi từ tâm,
Hoặc tao vương nạn khổ,
Lâm h́nh dục thọ chung,
Niệm bỉ Quán Âm lực,
Đao tầm đoạn đoạn hoại.
(Hoặc
trên đảnh Tu Di,
Bị người đẩy rớt xuống,
Nhờ sức niệm Quán Âm,
Như mặt nhật treo không,
Hoặc bị người ác đuổi,
Rớt khỏi núi Kim Cang,
Nhờ
sức niệm Quán Âm,
Chẳng bị tổn mảy lông,
Hoặc gặp oán tặc quấy,
Cùng cầm đao gia hại,
Nhờ sức niệm Quán Âm,
Đều liền khởi từ tâm,
Hoặc gặp phải nạn vua,
Chịu chém mạng sắp dứt,
Nhờ sức niệm Quán Âm,
Đao liền găy từng khúc)
Tu Di, c̣n gọi là Tu Di Lâu (Sumeru), hay Tô Mê Lư,
Trung Quốc dịch là Diệu Cao. V́ núi này do bảy báu hợp
thành, nên gọi là Diệu. V́ núi này cao hơn bảy Kim
Sơn nên gọi là Cao. Núi ở trong đại hải, dựa
trên Kim Luân, mặt trời, mặt trăng xoay quanh, chư
thiên sống hoặc dạo chơi trong đó, bảy rặng
núi vây quanh, bảy biển giáp ṿng. Bốn mặt núi mỗi
mặt một màu: mặt Đông màu hoàng kim, mặt
Phật dạy: Giả sử có người
đang ở trên ngọn cao nhất của núi Tu Di, đột
nhiên bị người khác xô rớt xuống, chẳng cần
phải nói, người ấy chẳng khỏi tan
xương nát thịt, tuyệt đối chẳng c̣n có
hy vọng sống c̣n. V́ thế nói là “bị người
đẩy rớt xuống”, nhưng ngay trong lúc đó,
người bị đẩy ấy kiền thành xưng niệm
thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát, liền được oai lực
của Quán Âm Bồ Tát gia bị, hệt như mặt trời,
mặt trăng an trụ trong không trung, chẳng đến
nỗi rớt xuống mất mạng. Người đẩy
ta rớt xuống không phải là oan gia th́ cũng là đạo
tặc mưu đoạt tài hại mạng; người bị
đẩy chẳng rơi toàn là do oai lực Quán Âm gia tŕ.
Trong chuyện thoát khỏi oán tặc này, sở dĩ đặc
biệt lấy núi Tu Di để nói là v́ Diệu Cao sơn
vương trên thấu hư không, dưới tột cùng
biển cả, cứu được nạn khó cứu nhất.
Chót vót đảnh núi Diệu Cao, Bồ Tát c̣n cứu
được th́ những nơi khác Quán Âm đến cứu
tế chẳng thành vấn đề nữa.
Sách Quảng Tín Phủ Chí có chép một câu chuyện
như sau: Dưới triều Tống, có người vào
núi đào quặng đồng, đào mỏ đồng sâu
đến nỗi không sao ḍ được, đào đến
nỗi ngọn núi ấy muốn sụp lở. Ngay trong lúc
ấy, chợt có một người nữ xách giỏ chứa
một con cá vàng đến rao bán. Những người
đào đồng trong hầm núi nghe tiếng người
nữ rao bán cá, ai nấy tranh nhau chui ra, chỉ sợ ḿnh
chậm chân, đến lúc mọi công nhân đều chui ra
khỏi hang núi xong, ngay lập tức ngọn núi sụp xuống,
cô gái bán cá cũng chẳng biết đi đâu mất! Mọi
người kinh hồn hoảng vía, mới hay đó là Quán
Âm đến cứu độ vậy.
Ở đây, núi Tu Di ví cho núi Ngă Mạn cao ngất
của chúng ta. Người sống trong thế gian không ai
là chẳng cống cao, ngă mạn, có thể thấy rơ thái
độ cậy ḿnh khinh người đó. Người ở
trên đảnh núi ngă mạn cao chót vót, thường coi
thường mọi sự, chẳng có ai đáng để
vào mắt, tự cho ḿnh phi phàm nhất; bởi thế, từ
đầu đến cuối muốn giữ vững địa
vị của chính ḿnh. Một ngày nào đó, cảm thấy
có chuyện ǵ chẳng vừa ư, chẳng được
đại đa số mọi người tôn trọng, liền
tự giận dữ, tự vứt bỏ, cam bề đọa
lạc, khác nào bị người xô từ núi Tu Di xuống.
Bởi thế, làm người chẳng được tự
cao, tự đại, mà phải thường tự khiêm. Nếu
có thể thường niệm Quán Âm sẽ có thể an
nhiên ngồi nơi địa vị của chính ḿnh!
Hoặc lại có kẻ nào đó, bị những
kẻ hung ác tàn bạo không ngừng đuổi theo sau, bức
kẻ ấy không c̣n đường nào chạy trốn nữa;
kết quả, bị té từ núi Kim Cang xuống, chẳng
cần phải nói nữa, thật là nguy hiểm vô cùng, rất
khó giữ được sanh mạng. Nhưng nếu trong
lúc nguy hiểm vô cùng ấy, người bị truy bức
gặp hoàn cảnh gấp, trí huệ phát sanh, khẩn thiết
chí thành xưng niệm thánh hiệu Quán Âm Bồ Tát th́ liền
được oai lực Quán Âm gia tŕ, khiến cho da tóc
nơi sanh mạng thể chẳng hề bị tổn
thương mảy may ǵ, bởi thế nói là “chẳng bị
tổn mảy lông”.
Kim
Cang Sơn là tiếng Hán, tiếng Ấn gọi là Chước
Ca La. Theo kinh Khởi Thế, ngoài các đại sơn và núi
Tu Di ra, c̣n có một ḥn núi lớn tên là Chước Ca La
(cũng có chỗ dịch là Thiết Vi sơn), cao sáu
trăm tám mươi vạn do-tuần, kích thước các
bề cũng là sáu trăm tám mươi vạn do-tuần,
do kim cang dày khít kiên cố tạo thành, rất khó ḷng phá hoại,
đánh vỡ được, bởi thế gọi là núi
Kim Cang; nhưng nếu những thứ khác đụng phải
kim cang, những thứ đó sẽ bị phá hoại dễ
dàng. Chớ nghĩ núi Kim Cang kiên cố nhất hoàn toàn là ngọn
núi ở bên ngoài, nó chính là Ngă Chấp trong tâm chúng ta đấy.
Theo Phật pháp, khó phá hoại nhất không ǵ bằng tâm Ngă
Chấp của chúng sanh. Phải đạt đến bực
Sơ Địa Bồ Tát mới phá sạch hết nổi
Phân Biệt Ngă Chấp, nhưng Câu Sanh Ngă Chấp tùy ư khởi
lên, cực kỳ vi tế, dù đă chứng Sơ Địa
vẫn chưa thể giải quyết được. Phải
tu tập những địa vị cao hơn, tu tập
Sanh Không Trí Quán mới ḥng dần dần đoạn trừ
được, bởi thế nó được ví như
Kim Cang. Chính v́ chúng sanh ngă chấp kiên cường nên thường
bị vây quanh bởi những kẻ ác phiền năo, thường
bị họ đẩy vào hiểm lộ đường
cùng, rốt cuộc từ núi chúa Ngă Chấp té vào ác đạo,
chịu mọi thống khổ!
Hoặc
là trong thế gian có người nào đó đột nhiên gặp
phải rất nhiều oán địch và rất nhiều
đạo tặc vây kín lấy người đó, khiến
người đó không cách nào chạy thoát được.
Đă thế, mỗi tên c̣n cầm một thanh đao muốn
sát hại người ấy. Bất luận thế nào,
người ấy rất khó t́m con đường sống
trong cái chết được. Thế nhưng trong lúc ấy,
nếu người ấy xưng niệm thánh hiệu Quán
Âm Bồ Tát, liền được từ lực của
Quán Âm Bồ Tát gia hộ, khiến cho những kẻ ấy
chẳng c̣n có ư niệm sát hại nữa, ngay lập tức
sanh khởi tâm từ bi, phát sanh hảo cảm lớn lao, bởi
thế nói là “đều liền khởi từ tâm”.
Ở
đây, tôi kể một câu chuyện thật: Năm Dân Quốc
thứ nhất (1911), ở Lư Gia Trang, huyện Thiệu Bá,
Dương Châu, tỉnh Triết Giang, Trung Quốc, có một
vị đại thiện nhân họ Lư, tên là Quốc
Cư. Bất luận trong địa phương có chuyện
ǵ, hễ sức ông ta lo liệu được, ông ta bèn
t́m cách giúp đỡ đắc lực, tích cực giúp cho sự
t́nh được giải quyết hợp lư. Bất hạnh
thay, có lần đạo tặc ồ ạt tấn công nhà
ông ta, toan cướp sạch tài sản. Lư đại thiện
nhân thấy giặc kéo đến, rất thong dong và cực
kỳ an nhiên bảo bọn giặc:
- Các anh sống khốn khổ tôi chẳng hay biết đến nỗi chưa tạm cùng các anh kết thiện duyên, hôm nay được các anh đến tệ xá thật là rất khó c