SA DI LUẬT NGHI YẾU LƯỢC
Chủ
giảng: Lăo pháp sư Thích Tịnh
Không
Giảng
tại Hoa Tạng Đồ Thư Quán,
Đài
Loan, năm 1994
Chuyển
ngữ: Bửu Quang tự đệ tử Như Ḥa
Giảo
chánh, nhuận sắc: Minh Tiến & Huệ Trang
Lời Trần T́nh
Đối với
hàng Phật tử tại gia, một nguyên tắc gần
như bất di bất dịch là không được xem,
đọc giới luật của hàng xuất gia, huống
chi là chuyển ngữ cho mọi người cùng xem. Sa Di Luật
Nghi là giới luật của hàng xuất gia; do vậy, lẽ
đương nhiên người Phật tử tại gia
không nên lạm xem, lạm dịch. Tuy thế, trong các buổi
thuyết giảng hoặc khai thị, Ḥa Thượng Tịnh
Không thường đặc biệt nhấn mạnh:
Người tu Tịnh Tông sở dĩ niệm Phật
không đạt được nhất tâm, hay tối thiểu
không thể “niệm Phật thành phiến” là v́ thiếu một
cơ sở vững chắc là Tịnh nghiệp Tam Phước.
Để thực hiện viên măn Tịnh nghiệp Tam Phước,
các đồng tu Tịnh Tông phải học và hành
được những ǵ Thập Thiện Nghiệp Đạo
Kinh, Sa Di Luật Nghi và Đệ Tử Quy đă dạy.
Ḥa Thượng nhấn mạnh, không những người
xuất gia phải học kỹ Sa Di Luật Nghi mà tại
gia đệ tử cũng phải học Sa Di Luật Nghi
v́ Sa Di Luật Nghi chính là chi tiết của việc thực
hiện Thập Thiện Nghiệp Đạo. Khi pháp sư
Ngộ Sanh yêu cầu chúng tôi chuyển ngữ bài giảng
này của Ḥa Thượng Tịnh Không về Sa Di Luật
Nghi sang tiếng Việt, chúng tôi cũng rất đắn
đo, không biết có nên làm hay không. T́nh cờ đọc lại
lời Tổ Ấn Quang khuyên dạy ông Từ Úy Như
trong Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên:
“Người
chưa thọ giới chẳng được xem Luật
Tạng:
1)
Một là v́ sợ kẻ chưa hiểu lư sâu, trông thấy
hành vi của những người phạm giới cấm,
chẳng biết là bậc Đại Quyền Bồ Tát thị
hiện, v́ mong Phật chế giới ḥng lợi lạc
cho đời sau, bèn hiện tướng chẳng như
pháp để Phật có dịp chế lập giới, nêu
khuôn phép. Do chẳng hiểu lư này, chỉ căn cứ vào
những hành vi trước mắt, cho là khi Như Lai tại
thế, các đệ tử Phật phần nhiều chẳng
như pháp. Từ đấy, khởi lên tà kiến miệt
thị Tăng chúng, tội đó chẳng nhỏ.
2)
Hai là những chuyện trong Luật Tạng chỉ Tăng
được biết, nếu để kẻ chưa phải
là Tăng đọc được, rất có thể có kẻ
ngoại đạo giả vờ dự vào hàng Tỳ-kheo,
làm chuyện sai pháp, vu báng Phật pháp th́ hại chẳng nhỏ.
Do
vậy, nghiêm cấm như thế là để dự pḥng.
C̣n như kẻ hảo tâm hộ pháp, giảo chánh, lưu
thông, há có nên cứ tuân theo thường lệ chăng? Nếu
chấp chặt vào lời ấy th́ Luật phải do
Tăng chép, Tăng khắc, Tăng in, Tăng truyền mới
khỏi trái nghịch cấm chế của Phật. Vạn
sự trong thiên hạ đều có lư nhất định,
làm điều ǵ phải thuận theo cái lư nhất định,
nhưng cách thực hiện th́ phải tuân theo cái đạo
thích nghi thời tiết, nhân duyên. Lư khế hợp với
Quyền, pháp phù hợp cùng đạo mới nên”. Dựa
theo lời dạy này, chúng tôi cảm thấy yên tâm chuyển ngữ mà không
sợ làm chuyện trái phận vượt lẽ.
Hơn nữa, những
ǵ được giảng dạy trong phần Sa Di Luật
Nghi này, theo ngu ư, rất thiết thực trong vấn đề
tŕ giới cho tất cả mọi người con Phật,
có thể vận dụng làm
cương lănh cho việc tu tŕ của Tịnh nghiệp
hành nhân nói riêng và thọ tŕ giới luật nói chung, nên chúng
tôi mạo muội dịch ra với tâm nguyện góp phần
tạo chút tư lương thô thiển cho các đồng
tu. Tiếc là do một lư do nào đó, có lẽ v́ thời
gian hạn chế, Ḥa Thượng Tịnh Không chỉ giảng
có năm buổi, rồi không tiếp tục giảng nữa.
Nếu việc làm đường đột, vượt
pháp này có chút công đức nào th́ xin hồi hướng cho
pháp giới chúng sanh cùng được dự vào hải hội
của đức từ phụ A Di Đà. Trân trọng cảm
tạ công sức giảo chánh và nhuận sắc của hai
đạo hữu Minh Tiến và Huệ Trang khiến cho dịch
phẩm này được găy gọn và lưu loát hơn. Nguyện
lịch đại oán thân và các đồng tu Tịnh nghiệp
nhờ công đức này đều cùng văng sanh Cực Lạc.
Bửu Quang Tự đệ tử Như
Ḥa kính bạch
Phần 1:
Phương
pháp nghiên cứu của chúng ta là chỉ giảng kinh
văn, c̣n phần chú giải [quư vị] tự xem, thấy
chỗ nào thắc mắc th́ nêu lên [câu hỏi]. Nếu không
có câu hỏi nào, chúng tôi sẽ giảng tiếp đoạn
kinh văn kế đó. Phần kinh văn được in
theo lối đảnh cách[1],
c̣n phần chú giải thấp hơn một chữ, rất
rơ ràng, rất dễ thấy. Để cho tiện xem, mọi
người đều nên đánh số từng đoạn
kinh văn, để sau này chúng tôi nói đến đoạn
mấy, mọi người mở ra đều đúng chỗ
ngay. Chúng ta xem từ đoạn thứ nhất. Đoạn
thứ nhất nằm trong trang thứ hai. Bản chúng ta dùng đây không in số
trang, số trang ghi bên cạnh, tức là từ nửa phần
sau trang thứ nhất đếm ngược lên ba hàng.
Nhất, Phạn
ngữ Sa Di, thử vân Tức Từ, vị: Tức ác hành
từ; tức thế nhiễm nhi từ tế chúng sanh dă.
Diệc vân Cần Sách, diệc vân Cầu Tịch.
(Một: Tiếng Phạn “Sa Di”,
ở đây dịch là Tức Từ, ư nói: Dứt ác, hành
điều từ, dứt nhiễm ô thế gian mà từ bi
cứu giúp chúng sanh. C̣n dịch là Cần Sách, hoặc dịch
là Cầu Tịch)
Đây là đoạn thứ nhất,
ở đầu câu ghi chữ Nhất, tức là đoạn
thứ nhất. “Sa-di” là dịch âm tiếng Phạn. “Phạn ngữ
Sa-di”: Tiếng Ấn Độ thời cổ gọi là
Sa-di, dịch sang tiếng Trung Quốc có ba nghĩa. Đây
cũng là v́ thời xưa dịch kinh có cái lệ như thế
này: Một chữ bao gồm nhiều nghĩa th́ không dịch.
Danh từ này có rất nhiều ư nghĩa, chẳng phải
chỉ có một ư nghĩa; trong từ vựng tiếng Trung
Quốc không t́m được chữ thích đáng để
phiên dịch bèn dịch âm, sau đó kèm thêm chú giải, cách phiên
dịch là như vậy đó. Ư nghĩa phổ biến nhất
[của chữ Sa Di] là “Tức Từ”, nên giảng chữ
Tức Từ như thế nào? Tiếp theo đó, [chánh
văn] chú giải rất rơ ràng, “vị: Tức ác hành từ” (ư nói: Dứt ác, hành điều từ). “Ác”
chỉ cho nhiễm ô thế gian, thế gian nhiễm ô tâm
địa của chúng ta, nhiễm ô tư tưởng, kiến
giải của chúng ta. Chữ “Ác” chỉ cho những điều
đó, chúng ta phải đoạn trừ những ô nhiễm
ấy. Ư nghĩa này hoàn toàn giống như trong kinh Vô Lượng
Thọ, đức Phật đă dạy chúng ta “tẩy
tâm dịch hạnh” (rửa ḷng đổi hạnh): Phải
rửa cho những ô nhiễm trong tâm sạch làu làu, phải
sửa đổi cho đúng hết thảy những hành vi
lầm lạc của chúng ta, đó gọi là “đổi
hạnh”. Câu này luận về nguyên tắc, nguyên lư, chứa
đựng ư nghĩa rất sâu, cảnh giới rất rộng.
Hăy đặc biệt ghi nhớ: Pháp thế gian nhiễm ô
tâm tánh chúng ta, pháp xuất thế gian cũng nhiễm ô tâm
tánh của ta! V́ thế, Đại Thừa Phật pháp dạy
chúng phải vượt khỏi pháp thế gian lẫn xuất
thế gian. Không những chúng ta phải xa ĺa pháp thế
gian, mà pháp xuất thế gian cũng phải xa ĺa, có
như vậy mới ḥng thật sự thành tựu.
Trong Phật giáo, chúng ta thường
thấy nhất là hoa sen, dùng hoa sen để biểu thị
pháp. Chúng ta thấy h́nh tượng Phật, Bồ Tát được
đắp nặn [trong tư thế] đứng th́ đứng
trên hoa sen, ngồi th́ ngồi trên hoa sen. Hoa sen tượng trưng
cho điều ǵ? Tượng trưng cho sanh ra từ bùn lầy
mà chẳng nhuốm nhơ, biểu thị ư nghĩa của
chữ “Tức Ác” (dứt ác). Bùn cát dưới mặt
nước tượng trưng cho lục phàm[2],
nước trong ở phía trên bùn cát tượng trưng cho
tứ thánh: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Lục
phàm, tứ thánh hợp thành mười
pháp giới. Hoa sen nở trên mặt nước, ngụ ư cả
lục phàm lẫn tứ thánh thảy đều không nhiễm;
do vậy, học Phật chớ nên bị ô nhiễm bởi
Phật pháp.
Ô nhiễm là ǵ? Phân biệt, chấp
trước, vọng tưởng chính là ô nhiễm. Do vậy,
người học Phật hiện thời (chẳng phải
chỉ hiện tại, thời cổ cũng chẳng ngoại
lệ) chẳng nhiễm pháp thế gian, buông xuống
được [pháp thế gian], nhưng không buông Phật
pháp xuống được. Ở nơi Phật pháp bèn khởi
phân biệt, chấp trước th́ lại bị ô nhiễm
bởi Phật pháp. Chẳng tham pháp thế gian, tâm tham buông
xuống được, nhưng tham lam Phật pháp! Quư vị
hăy suy nghĩ đi: Đức Thế Tôn dạy chúng ta
đoạn trừ tâm Tham, chứ không dạy chúng ta thay
đổi đối tượng của tâm Tham! Ḷng tham của
quư vị vẫn c̣n, không tham pháp thế gian mà tham Phật
pháp, quư vị nói xem có sai quấy hay là không? Do vậy, chúng
ta trông thấy h́nh tượng Phật, Bồ Tát, trông thấy
hoa sen, phải nghĩ pháp thế gian hay pháp xuất thế
gian đều chẳng được nhiễm, đấy
mới là đạt được Nhất Chân pháp giới,
mới là chân chánh thanh tịnh.
Mấy
bữa nay chúng tôi đang giảng A Di Đà Kinh Sớ Sao, nay
giảng đến đoạn này, Liên Tŕ đại sư
cũng giảng ư nghĩa này rất rơ ràng, minh bạch. Tức
là giảng đến phần Ngũ Giáo của ngài Hiền
Thủ[3],
Tứ Giáo[4]
của Thiên
Ở đây nói đến “thế nhiễm” (nhiễm ô thế
gian), sợ mọi người nẩy sanh hiểu lầm
nên nói là “pháp thế gian”. Pháp thế gian là ǵ? Pháp xuất thế
gian là ǵ? Nếu chúng ta không phân biệt rơ ràng, sẽ làm hỏng
đại sự! Tôi cũng thường nói: Văn tự
Trung Quốc [là một loại văn tự mà] bất cứ
một dân tộc nào thuộc một quốc gia nào trên cả
thế giới cũng đều không có được. Văn
tự Trung Quốc là một loại phù hiệu đầy
ắp trí huệ. Quư vị xem kỹ chữ “thế gian”:
“Thế” chỉ thời gian. “Thế” là ba mươi, ba
mươi năm là một “thế”. Ba mươi năm
tượng trưng cho quá khứ, hiện tại, vị
lai. “Gian” là giới hạn. “Thế gian” và “thế giới”
có cùng một ư nghĩa là giới hạn. Ư nghĩa của
hai chữ này là: Thế là chấp trước, Gian là phân biệt.
Nói cách khác, chúng ta c̣n có phân biệt, chấp trước th́
là thế gian. Quư vị học Phật pháp, học Đại
Thừa Phật pháp hay học Nhất Thừa Phật pháp
đều trở thành pháp thế gian. V́ quư vị vẫn
có phân biệt, chấp trước, nên Nhất Thừa Phật
pháp cũng bị biến thành pháp thế gian; do vậy quư
vị mới bị ô nhiễm. Nếu như đối với
hết thảy pháp chúng ta không phân biệt, không chấp
trước th́ pháp thế gian cũng là Phật pháp,
cũng là pháp xuất thế gian, xuất thế hết! Mặc
áo, ăn cơm, trẻ nhỏ trong vườn
trẻ (ấu trĩ viên - kindergarten) đọc “mèo con kêu, chú cún nhảy” đều là
giảng pháp xuất thế gian cho quư vị. Xuất thế
gian như thế nào? Vượt thoát phân biệt, chấp
trước, phải hiểu ư nghĩa “tức thế
nhiễm” (dứt nhiễm
ô thế gian) này. Nếu không, dù quư vị chẳng bị
pháp thế gian ô nhiễm, cũng sẽ bị Phật pháp
ô nhiễm, Phật pháp cũng thành pháp thế gian! Do vậy,
nếu quư vị không hiểu Phật pháp, Phật pháp
cũng trở thành thuốc độc, Phật pháp cũng
hại người, nhất định phải hiểu ư
nghĩa này.
Do vậy, trong hội Bát Nhă
đức Phật giảng rất rơ ràng: Chẳng những
đức Phật không có pháp nhất định nào để
nói, mà đức Phật cũng chẳng thuyết pháp. Ư
nghĩa [của lời dạy] này nhằm dạy quư vị
đối với hết thảy các pháp đức Phật
đă nói chẳng nên chấp trước, quư vị chỉ
nên hiểu được ư nghĩa này, hiểu rơ ư
nghĩa là tốt rồi, nhưng cũng chớ nên chấp
vào ư nghĩa. Trong Đại Thừa Khởi Tín Luận, Mă
Minh Bồ Tát dạy chúng ta những thái độ cơ bản
để học Phật:
1) Thứ nhất là “ly ngôn
thuyết tướng” (ĺa tướng nói năng): Thích
Ca Mâu Ni Phật giảng kinh, thuyết pháp, chớ chấp
trước những ngôn thuyết ấy. Sau khi đức
Phật diệt độ, hàng đệ tử chép lại
những lời Phật giáo huấn, trở thành kinh điển
như hiện tại. Những lời nói ấy biến
thành văn tự, chớ nên chấp trước lời
nói; cũng giống như thế, đừng chấp
trước văn tự!
2) Thứ hai là “ly danh tự
tướng” (ĺa tướng danh tự). Chữ “danh tự
tướng” chỉ rất nhiều danh từ, thuật ngữ
trong kinh Phật. “Sa-di” là một danh từ, “thế gian”
cũng là một danh từ. Quư vị hiểu ư nghĩa bên
trong những danh tự ấy, đừng chấp trước
chúng.
3) Thứ ba là “ly tâm duyên
tướng”: Càng nói sâu hơn nữa! Nói cách khác, hết
thảy Phật pháp chúng ta có thể suy nghĩ, nghiên cứu
được hay chăng? Không thể nào được!
Nghiên cứu là rớt vào thức thứ sáu, tức Ư Thức,
bị ô nhiễm rồi, quư vị bị ô nhiễm bởi
Phật pháp rồi!
Chúng ta thường nghe câu nói
sau đây: Nhà Phật thường nói “y văn giải tự,
tam thế Phật oan” (y theo câu văn hiểu nghĩa
theo mặt chữ, ba đời Phật bị oan): Cứ
chiếu theo văn tự để nghiên cứu, giải
thích th́ tam thế chư Phật (quá khứ Phật, hiện
tại Phật, vị lai phật) đều kêu oan uổng,
quư vị hiểu lầm ư Phật mất rồi! Tôi
cũng đă từng nói: Trong bài kệ Khai Kinh có câu “nguyện
giải Như Lai chân thật nghĩa”, tôi nói con người
hiện tại hiểu sai lệch, nên trở thành “khúc giải
Như Lai chân thật nghĩa” (hiểu cong vạy ư
nghĩa chân thật của Như Lai), hoặc “ngộ giải
Như Lai chân thật nghĩa” (hiểu lầm lạc ư nghĩa
chân thật của Như Lai). Quư vị xem: Có phải là
Như Lai kêu “oan uổng” hay không? Đấy chính là điều
không may, bị ô nhiễm bởi Phật pháp! Khó lắm! Phật
pháp khó là khó ở chỗ này. Chúng ta phải dùng được
nó, chớ đừng bị nó ô nhiễm, vậy th́ quư vị
phải học cho ổn thỏa, học đúng vào đường
lối.
Học Phật pháp chẳng bị
ô nhiễm bởi Phật pháp, hết thảy Phật pháp
đều phải quy về tự tánh, điều này khẩn
yếu lắm. Nói cách khác, giúp cho chúng ta đạt
được tâm thanh tịnh, giúp chúng ta mở mang trí huệ,
đấy chính là Phật pháp. Chúng ta tu học không đạt
được tâm thanh tịnh, chẳng thể mở mang
trí huệ, [nghĩa là] chúng ta đă học Phật pháp lệch
lạc, có sai lầm. Do vậy, ư nghĩa của từ ngữ
“tức thế nhiễm”
(dứt nhiễm ô thế gian) rất sâu, phạm vi rất
rộng, nhất định phải hiểu cho rơ. Nếu
không, quư vị thọ Sa Di Giới, học thuộc nhuyễn
nhừ Sa Di Luật Nghi cũng vô ích. Quư vị bị Sa Di
Luật Nghi ô nhiễm rồi, vậy th́ đáng tiếc
quá! Phải biết điều này!
“Hành từ”: Từ là từ
mẫn (thương yêu, xót thương) chúng sanh. Chúng sanh
luân hồi trong lục đạo, thật hết sức
đáng thương. Thoạt ch́m thoạt nổi trong sáu
đường, người không biết chân tướng
sự thật nhiều lắm, rất ư là nhiều! Chỉ
có Phật, Bồ Tát, A La Hán trở lên mới thấy
được chân tướng ấy, các Ngài trông thấy,
thấy được rồi biết là khổ, mới hiểu
sự t́nh ấy đáng sợ. Người thế gian mờ
mờ mịt mịt, hồ đồ, không hiểu chân
tướng sự thật ấy. Chư Phật, Bồ
Tát biết chân tướng sự thật ấy,
thương xót hết thảy chúng sanh, toan nghĩ
phương pháp giúp cho những chúng sanh ấy giác ngộ,
giúp cho những chúng sanh ấy nhận thức chân tướng,
giúp cho họ thoát được biển khổ. Đấy
chính là sự nghiệp của Phật, Bồ Tát, chúng ta
thường gọi là “Như Lai gia nghiệp”. Như
Lai gia nghiệp tức là sự nghiệp của Như Lai,
sự nghiệp ấy chính là giúp cho chúng sanh ĺa khổ
được vui. “Ĺa khổ”
chính là thoát ly lục đạo luân hồi, đấy
đúng là đại sự. Quư vị nói xem: Có sự việc
nào trong thế gian lớn hơn được hay
chăng?
V́ thế, xuất gia không
đơn giản! Cổ nhân thường nói: “Xuất
gia phi tướng tướng chi sở năng vi” (tạm
dịch: Xuất gia không phải là chuyện hạng thống
soái, tể tướng có thể làm được). Tướng (將) là ǵ? Thống soái của ba quân. Tướng
(相) là ǵ? Tể tướng!
Do trong quá khứ là thời đại đế chế nên
chẳng thể nói là hoàng đế [không thể xuất
gia được], con người thông thường khi phú
quư đến cực điểm th́ quan văn là tể
tướng, quan vơ là thống soái, sự nghiệp xuất
gia này bọn họ không làm được. Sự nghiệp
của người xuất gia là phải nối gót đức
Phật, phải cứu độ hết thảy chúng sanh
khổ nạn, không thể nào so sánh được. Do vậy,
người xuất gia là Thiên Nhân Sư (thầy của trời
lẫn người).
Nay chúng ta xuất gia đă làm
được hay chưa? Giống hay không giống? Làm
không được, thậm chí đối với sự
hành tŕ, chúng ta c̣n làm càn làm quấy, thua cả người tại
gia; về phương diện này, người xuất gia
c̣n thua cả người tại gia. Quư vị phải lắng
ḷng quán sát, v́ sao tướng trạng lúc mất của người
xuất gia thường đều không tốt đẹp,
thường không bằng người tại gia? Tại Đài
Loan trong mấy năm qua, người tại gia đứng
văng sanh, ngồi văng sanh, biết trước lúc mất,
riêng tôi biết được mười mấy người,
những người tôi không biết, không nghe nói đến
c̣n nhiều hơn nữa! V́ sao? Người tại gia học
Phật chỉ cầu văng sanh, họ không gánh vác Như Lai
gia nghiệp, nhưng người xuất gia phải gánh
vác Như Lai gia nghiệp, phải tận tâm tận lực
lay tỉnh người tại gia, lay tỉnh những kẻ
mê hoặc, điên đảo. Chúng ta có sứ mạng ấy,
có trách nhiệm ấy. Trong số những vị tại
gia, có vị thân không xuất gia nhưng tâm xuất gia,
cũng gánh vác Như Lai gia nghiệp như lăo cư sĩ Lư
Tế Hoa ở Đài Loan, văng sanh hiện tướng lành
hết sức tốt. Cụ là người sáng lập Liên
Hữu Niệm Phật Đoàn, làm vị đoàn trưởng
đầu tiên, như lăo cư sĩ Lư Bỉnh
Quán Trưởng hiện nay của
chúng ta cũng mang thân phận ấy, cũng gánh vác Như
Lai gia nghiệp, không xuống tóc, nhưng chúng ta coi bà
như Ḥa Thượng. Thân thể bà thường hay bị
bệnh, tôi bảo bà: “Cái thân bệnh tật của bà đây
tôi có thể trị được, chỉ cần bà chịu
nghe lời, bảo đảm trị lành mọi bệnh tật
nơi thân. Phương pháp ǵ vậy? Cạo đầu láng
o đi, bệnh ǵ cũng không c̣n nữa!” Đầu bà ta cũng
không đau nữa. Đau đầu là v́ đầu tóc chưa
cạo! Do vậy, tiểu đạo tràng này của chúng ta
quả thật gánh vác sứ mạng của Như Lai.
Đặc biệt là trong thời
kỳ Mạt Pháp, chư Phật Như Lai đều khuyên
chúng ta niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Chúng
ta tu học pháp môn này, hoằng dương truyền bá
cũng là pháp môn này, chúng ta phải tận tâm tận lực
hoằng dương pháp môn này cho được lớn
lao, rạng rỡ trong thời đại này. Chúng ta nghiêm
túc thực hiện, nỗ lực thực hiện, chúng ta
biết trong thời đại này có tai nạn rất lớn.
Tuy số người của chúng ta hoằng dương
pháp môn này không nhiều, nhưng nếu mỗi người
thật sự có thể tận tâm tận lực tự
hành, hóa độ người, dẫu chẳng thể hóa
giải tiêu trừ tai nạn ấy th́ cũng có thể làm
giảm nhẹ tai nạn đó. V́ thế, phải nghiêm túc
tu học, nghiêm túc hoằng dương, đừng làm cho
có h́nh thức, đừng làm cho dễ coi, làm vậy vô ích,
hết thảy mọi sự phải cầu lấy thực
tế mới được, đấy là đúng. Đấy
chính là “từ tế chúng sanh”.
Ngoài ra, c̣n có hai ư nghĩa nữa,
một là Cần Sách, hai là Cầu Tịch. Hai ư nghĩa này
đều thuộc về tự lợi. “Tức Từ”
là tự lợi và lợi tha, Tức Ác (dứt ác) là tự
lợi, Từ Tế (từ bi cứu giúp người khác)
là lợi tha. Do vậy, ư nghĩa này rất viên măn, giải
thích theo cách này rộng hơn. “Cần” (siêng năng)
là tinh tấn, “Sách” nghĩa là “cảnh sách” (nhắc nhở,
đốc thúc) chính ḿnh, cổ vũ chính ḿnh. “Cầu Tịch”:
Tịch là tâm thanh tịnh. Do vậy, người học Phật
chẳng cầu ǵ khác, chỉ cầu tâm địa thanh tịnh,
chẳng bị ô nhiễm; không ô nhiễm là thanh tịnh, ô
nhiễm là không thanh tịnh. Do vậy, chúng ta học Phật
phải đặc biệt chú ư sao cho không bị ô nhiễm
bởi Phật pháp. Pháp thế gian phải buông xuống,
đối với Phật pháp chúng ta cũng phải học
tập để buông xuống được, cũng
đừng chấp trước! Kinh Kim Cang nói rất hay: “Pháp
thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (Pháp c̣n nên bỏ, huống ǵ phi
pháp). “Phi pháp” chỉ
cho pháp thế gian, “pháp” là Phật
pháp; Phật pháp lẫn thế gian pháp đều phải
buông xuống hết.
Nay chúng ta không phải là thánh
nhân, cũng chẳng phải là hạng căn tánh rất
bén nhạy, nghiệp chướng, tập khí, phiền năo
hết sức sâu nặng. Trong Phật pháp, chúng ta chỉ
chọn lấy Tịnh tông, chỉ chấp lấy Tịnh
tông, bởi lẽ hoàn toàn không chấp trước th́ hiện
nay chúng ta chưa thể làm được, không có cách nào cả!
Chỉ chấp trước Tịnh tông, c̣n hết thảy
kinh điển Đại Thừa khác chúng ta đều
buông xuống hết, như vậy là tốt! Với tŕnh
độ, hoàn cảnh hiện thời của chúng ta, chỉ
có thể làm được như vậy. Kiên quyết chỉ
tŕ ba kinh một luận, hoặc là năm kinh một luận
của Tịnh Tông, hạ công phu nơi đó. Phải hạ
“độn công phu” (công phu kém cỏi, cùn nhụt), chúng tôi
thường nói là phải hạ “tử công phu”, [tức là] chết ḷng trọn ư tu
học. Trong phần chú giải có câu hỏi ǵ hay không? Không
có câu hỏi th́ chúng ta xem tiếp đoạn thứ hai.
Hỏi: Nói là “phát tâm từ bi”,
có phải là chúng ta đợi đến khi nào tâm địa
đối với tất cả mọi người đều
điều chỉnh thành b́nh đẳng rồi th́ mới
phát tâm từ bi hay không?
Đáp: Phát tâm từ bi,
thương xót hết thảy chúng sanh phải làm ngay trong
hiện tại! Nếu đợi đến khi tâm ḿnh b́nh
đẳng rồi mới làm th́ sẽ biến thành Tiểu
Thừa. Phải làm ngay trong hiện tại, phải giúp
đỡ người khác, tận tâm tận lực giúp
người, làm được bao nhiêu th́ làm bấy nhiêu.
Lúc làm cũng chẳng chấp tướng, đừng mong
người khác báo đáp. Chúng ta bố thí ân huệ cho
người ta không cầu báo đáp th́ tâm chúng ta bèn thanh tịnh,
cũng chớ nên nhớ canh cánh bên ḷng “tôi làm bao nhiêu là việc
tốt, tôi giúp đỡ bao nhiêu là chúng sanh”, tâm quư vị bị
ô nhiễm, mất thanh tịnh rồi! Do vậy, đức
Phật dạy chúng ta “tam luân thể không”[5],
phải làm, tận sức làm, làm xong quên đi, chớ nên
chấp trước. Như vậy th́ tâm mới thanh tịnh.
Đoạn thứ hai nơi
trang thứ ba, chúng ta xem ḍng được in cao hơn:
Nhị, luật nghi giả,
thập giới luật, chư oai nghi dă.
(Hai: Luật nghi là mười
giới luật và các oai nghi)
Đoạn này giảng về
giới luật của Sa Di. Giới Sa Di tổng cộng gồm
mười điều. Trong Phật pháp, đặc biệt
là với người xuất gia, mười giới
điều này được gọi là Căn Bản Đại
Giới, bắt buộc phải tuân thủ. Mọi người
nhất định phải hiểu: Những người
mới học phải thọ Căn Bản Giới,
người đă tu lâu cũng phải thọ. A La Hán, Bích
Chi Phật cũng phải tuân thủ, Bồ Tát cho đến
tận địa vị Đẳng Giác Bồ Tát vẫn
phải tuân thủ. Chẳng được nói kẻ nọ
đă là Tỳ-kheo, đă là Bồ Tát, luật nghi Sa Di này có
thể không cần phải thọ nữa. [Nói] vậy là lầm
lẫn quá đỗi! Giống như cất nhà, dựng
nhà trước hết phải đắp nền, rồi mới
xây tầng thứ nhất, tầng thứ hai, tầng thứ
ba. Xây đến tầng thứ ba rồi không cần hai tầng
dưới nữa, có được hay không? Không có đạo
lư ấy! Do vậy, Căn Bản Giới từ lúc sơ
phát tâm cho đến khi thành Phật đều phải thọ
tŕ kiên cố, phải biết điều này. Nói cách khác, Bồ
Tát Giới có thể không cần thọ. Ta xây nhà có thể
không cần xây tầng thứ ba, c̣n có hai tầng dưới
th́ vẫn có thể ở được. Giới Tỳ
Kheo có thể không cần thọ; ta vẫn có tầng trệt
để ở được. Quư vị phải hiểu
đạo lư này! Làm Tỳ-kheo không cần luật Sa Di nữa
giống như ta ở tầng hai, không cần đến
tầng trệt nữa, xong ngay, quư vị ngă lăn chiêng!
Hiểu rơ sự thật này th́ quư vị mới hiểu được
tánh chất quan trọng của luật nghi Sa Di.
Nói thật ra, chúng ta thực hiện
tốt đẹp mười điều này, giới Tỳ
Kheo, giới Bồ Tát có thể gác qua một bên, có thể
không cần đến. Nếu không, sẽ là giả Tỳ-kheo,
giả Bồ Tát, hữu danh vô thực, ấy là dối
ḿnh lừa người. Chúng ta trọng thực chất,
không làm cho có h́nh dáng. Tŕ giới niệm Phật có thể
đạt đến Thượng Thượng Phẩm
văng sanh, quư vị thật sự làm được. Thọ
Bồ Tát giới chưa chắc được văng sanh, v́
sao? Là Bồ Tát giả, chưa phải là Bồ Tát thật!
Phải biết, phải hiểu rơ điều này. Do vậy,
chúng ta phải thật sự làm, nghiêm túc, chất phác tu
hành.
Sa Di có mười giới
điều và hai mươi bốn oai nghi. Nay ta gọi “oai nghi” là những “khuôn mẫu
sanh hoạt”. Trong cuộc sống thường ngày, xử
sự, đăi người tiếp vật, chúng ta phải
tuân thủ những quy củ nào? Những nguyên tắc nào? Hai
mươi bốn môn ấy chính là quy củ, là nguyên tắc.
Nhưng những điều ấy do Thích Ca Mâu Ni Phật
định ra lúc Ngài c̣n tại thế, đă cách thời
gian hiện tại ba ngàn năm. Nay chúng ta đang sống ở
Đài Loan, c̣n thời ấy là Cổ Ấn Độ; do vậy,
phương thức sống của chúng ta khác hẳn, hết
thảy cách nghĩ, cách nh́n đều khác với tiền
nhân. Chúng ta phải làm thế nào để hiểu rơ tinh thần
Luật Nghi, thấu suốt đạo lư, rồi ứng dụng
vào cuộc sống thường nhật của con người
hiện tại, như vậy th́ mới đúng. Giống
như pháp luật, ngay cả hiến pháp cũng không là ngoại
lệ, cứ cách bao nhiêu năm đó lại phải tu chỉnh
một lần, v́ sao? Thời đại khác rồi. Có những
điều khoản được quy định chỉ
thích hợp cho thời ấy, không phù hợp với hiện
tại, cần phải tu chỉnh.
Căn Bản Giới siêu việt
thời gian lẫn không gian, chẳng thể biến đổi.
Căn Bản Giới chỉ gồm bốn điều:
Không sát sanh, không dâm dục (đây là đối với
người xuất gia mà nói), không trộm cắp, không nói
dối. Bốn điều ấy gọi là Căn Bản
Giới, siêu việt thời gian lẫn không gian, bất luận
ở khu vực nào, bất luận trong thời đại
nào cũng đều chẳng thể biến đổi.
Những điều khác có thể do thời gian, địa
phương, tập quán sanh hoạt bất đồng, chỉ
tuân thủ nguyên tắc tinh thần, có thể tu chỉnh những
điều khoản ấy. Ở Trung Quốc gọi những
điều ấy là Thanh Quy. Như trong đời
Đường, Mă Tổ Đạo Nhất ḥa thượng
đề xướng lập tùng lâm, tức là đề
xướng “mọi người cùng tu chung”. Bách Trượng
đại sư lập Thanh Quy, Thanh Quy ấy chính là Giới
Luật được “bổn thổ hóa” (tức địa
phương hóa Giới Luật, diễn dịch Giới Luật
cho phù hợp với văn hóa, quy củ của một
đất nước). Hiện đại hóa Giới Luật,
đem tinh thần, nguyên tắc bất biến của Giới
Luật ứng dụng vào cuộc sống của con
người hiện đại. Đấy là [đại
sư] đă v́ người Trung Quốc mà chế định
một bộ Tân Giới Luật đại quy mô, mọi
người chúng ta đều phải tuân thủ. Từ thời
Bách Trượng đến nay cũng đă gần một
ngàn bốn trăm năm, t́nh h́nh của chúng ta hiện thời
không c̣n giống với một ngàn bốn trăm năm
trước. Do vậy, mỗi một đạo tràng, mỗi
một chùa miếu của chúng ta đều có “Thường
Trụ Công Ước”, đều có quy củ. Đó đều
là những chuyện thuộc về việc hiện đại
hóa, bổn thổ hóa Giới Luật thích hợp cho đại
chúng cùng tu trong một đạo tràng, lập ra một quy
củ.
Nói riêng về thành phố
Đài Bắc, quy củ của mỗi một chùa miếu
không giống nhau, Thường Trụ Công Ước của
mỗi một chùa miếu cũng khác nhau, [miễn sao] thích
hợp với hoàn cảnh tu học của chính chúng ta. Những
quy củ, công ước ấy đều thuộc vào Luật
Nghi, do vậy, nhất định phải hiểu. Không hiểu
sự thật này, chúng ta không thể thực hiện thông
suốt những Luật Nghi ấy được. Do vậy,
chúng ta đọc chúng, nghiên cứu chúng phải hiểu rơ
tinh thần ở chỗ nào, phải thấu hiểu nguyên
lư, nguyên tắc của chúng.
Thượng thiên Giới
Luật môn
(Thiên đầu là phần Giới
Luật)
Sa Di Luật Nghi chia thành hai bộ
phận: Thiên đầu giảng về Giới Luật,
thiên sau giảng về Oai Nghi. Tiếp theo đây, trước
hết giảng về phần Giới Luật. Giới Luật
là căn bản, do Giới đắc Định, Oai Nghi
nhằm phụ trợ Giới Luật, chúng là những
khuôn phép trong cuộc sống hằng ngày.
Chúng ta phải nhận thức
rơ ràng hai chữ Giới và Luật. Trong trang này, đếm
ngược lên là hàng thứ tư, [có ghi]: “Giới vi cấm
giới, Luật tức pháp luật” (Giới là ngăn cấm, Luật tức pháp luật).
Chữ Giới chỉ cho “cấm giới”, tức là
ngăn cấm. Phật dạy chúng ta không được
làm những chuyện nào, nên làm những chuyện nào. Do vậy,
trong Giới Luật lại chia thành hai loại lớn: Một
loại là Chỉ Tŕ (những điều không nên làm), loại
kia là Tác Tŕ (những điều nên làm). Phật dạy
chúng ta làm ǵ, chúng ta phải làm điều đó, không làm là Phạm
Giới. Phật chẳng chấp nhận cho làm, chúng ta chớ
nên làm, đó là Tŕ Giới. Không cho quư vị làm, quư vị cứ
làm th́ phạm giới rồi. Dạy quư vị làm mà quư vị
không làm, cũng là phạm giới! Do vậy, Giới Luật
có hai loại: Một là cấm chỉ, hai là dạy những
điều quư vị phải làm. Luật là sau khi quư vị
phạm giới rồi, giống như phán xét quư vị tội
nặng hay nhẹ, đấy chính là pháp luật: Dùng luật
pháp để đoán định quư vị tội nặng
hay nhẹ. Đó gọi là Luật.
Tiếp đó là câu giải
thích: “Pḥng phi chỉ ác viết
Giới, xử đoán khinh trọng, khai - giá - tŕ - phạm
viết Luật” (Ngăn
điều sai, dứt điều ác là Giới. Xử
đoán nặng nhẹ, mở, ngăn, giữ, phạm, gọi
là Luật). Giới là ǵ? “Pḥng
phi chỉ ác”. Luật là ǵ? Phán xử nặng - nhẹ, Khai,
Giá, Tŕ, Phạm, chính là Luật. Quư vị chỉ cần nhớ
kỹ hai câu này là được rồi.
Ở
đây phải thuyết minh về “Khai - Giá - Tŕ - Phạm”.
Mỗi một điều Giới Luật đều sống
động, phương thức tŕ giới khác nhau, không giống
nhau, phải biết điều này. Đấy là đức
Phật đối với căn tánh bất đồng của
hết thảy chúng sanh mà phạm vi của Khai - Giá - Tŕ - Phạm
sẽ cạn, sâu, rộng, hẹp đều khác nhau. Giống
như chúng ta dạy học tṛ, đối với học
tṛ Tiểu Học chúng ta phải quản thúc rất nghiêm,
v́ sao? Do chúng nó chưa hiểu chuyện; không dạy dỗ,
quản thúc nghiêm nhặt, chúng sẽ gây ra chuyện, bị
tổn hại. Đối với học sinh Trung Học,
chúng nó đă dần dần hiểu biết, cho nên hơi nới
lỏng quy củ quản lư một chút. Đến bậc
sinh viên Đại Học, chúng nó có năng lực phân biệt
đúng - sai, hiểu rơ lợi - hại rồi, phạm vi dạy
dỗ, quản thúc chúng càng được nới rộng
hơn nữa.
Giới luật nhà Phật
cũng cùng một đạo lư này. Đối với những
phàm phu mới học, phải quản thúc thật nghiêm, thật
gắt. Trong Phật pháp, như Tiểu Thừa giáo quản
thúc rất nghiêm ngặt, hết sức bảo thủ.
Đối với người Đại Thừa mà nói th́ tương
đối dễ dăi hơn. V́ sao? Người Đại
Thừa có trí huệ, có năng lực phân biệt chân - vọng,
có năng lực phân biệt tà - chánh, đúng - sai, thiện
- ác, chính quư vị có năng lực phân biệt rồi, nên
nới rộng rất nhiều. Đợi đến khi
quư vị minh tâm kiến tánh, Kiến Tư, Trần Sa đều
đoạn sạch, vô minh cũng phá được mấy
phẩm, bèn nhập vào cảnh giới Hoa Nghiêm, “lư sự
vô ngại, sự sự vô ngại”, đến lúc đó
Giới Luật này mới được thật sự
tŕ đến thanh tịnh viên măn.
Thanh
tịnh viên măn th́ có c̣n tŕ giới nữa hay không? Vẫn
tŕ giới! Như chúng tôi thường hay nói: “Tŕ
nhưng không tŕ, không tŕ mà tŕ”. Người ấy nhập
cảnh giới này, tự nhiên chẳng phạm lầm lỗi,
không có lầm lỗi. Về mặt sự tướng, Bồ
Tát vẫn nghiêm túc chấp tŕ như thế để nêu
gương cho những người mới học, tức
là “hành tŕ” như trong phần trên đă nói. Chính bản thân
vị đó đạt đến Sự Sự Vô Ngại,
v́ sao vẫn c̣n phải tŕ giới như thế? Làm cho
người sơ học trông thấy, khiến cho kẻ
sơ học thấy Bồ Tát luôn tŕ giới, vậy th́
chúng ta không tŕ giới đâu có được! Nếu
không, Bồ Tát đều không tŕ giới, chúng ta tŕ giới
làm ǵ? Gây ra tác dụng ngược, hiệu quả ngược
cho hàng sơ học th́ chẳng phải là từ bi! Do vậy,
Phật, Bồ Tát cũng tŕ giới, tŕ giới rất
nghiêm, làm cho hàng sơ học trông thấy, phải hiểu
các Ngài quả thật “lư sự vô ngại, sự sự vô
ngại”, họ làm như vậy là hành tŕ. Các ngài đă
đoạn sạch hết ác rồi, ác đă không c̣n nữa,
những ǵ các ngài làm đều thuộc về Hành Tŕ.
“Khai” là khai duyên, chữ Duyên có
nghĩa là điều kiện. Dưới một điều
kiện nào đó th́ có thể khai giới, khai giới chứ
không phá giới! Nếu không nhằm đúng những điều
kiện ấy, Phật cấm ngặt quư vị làm, quư vị
cứ khai là phá giới đó nghe! Nếu dưới một
điều kiện hợp t́nh hợp lư nào đó, quư vị
phá giới ấy th́ chẳng gọi là “phá giới” mà là
“khai giới”. Khai giới không có tội, chẳng những
không có tội mà c̣n có công đức. Trong kinh Phật Thuyết
Vị Tằng Hữu Nhân Duyên[6]
có nêu một thí dụ, sách Pháp Uyển Châu Lâm, Chư Kinh Yếu
Tập[7]
cũng có dẫn thuật. Đương thời có một
ông vua rất nóng nảy, hầu như đầu bếp nấu
thức ăn không ngon, vua ăn vào không vừa ư, toan giết
gă đầu bếp. Ngày hôm ấy, nhằm lúc Phu Nhân
đang tŕ Bát Quan Trai Giới, thấy t́nh h́nh đó, v́ muốn
cứu gă đầu bếp, bà liền đặc biệt
trang điểm thật lộng lẫy, khuyên quốc
vương ca hát nhảy múa, hy vọng quốc vương
thay đổi ư niệm, quên đi chuyện đó. Do vậy,
Bát Quan Trai Giới của bà trong ngày ấy hoàn toàn bị
phá sạch. Đấy có phải là phá giới hay không? Bà v́
muốn cứu mạng một gă đầu bếp, v́ để
cứu một người, nên hành động ấy thuộc
về khai giới, chẳng những phá sạch giới
không bị tội, lại c̣n có công đức lớn.
Đoạn văn này ghi chép rất tỷ mỉ, chúng tôi nhớ
không rơ lắm, chắc là trong những bản chú giải
đều có kể về chuyện Bát Quan Trai Giới này.
Do vậy, phải hiểu “khai duyên” (duyên để khai giới)
là ǵ? Nếu không có khai duyên mà tự ḿnh muốn t́m cơ hội
[để phạm giới] th́ là sai mất rồi! Ấy
là phá giới, chẳng phải là khai giới! Do vậy,
chuyện Khai hay Giá này chính ḿnh phải có trí huệ để
phán đoán.
Chiều hôm qua, một người
bạn cũ mời tôi ăn cơm tối, tôi không biết
là sinh nhật ông ta, cứ đường đột
đi đến. Cũng không đến nỗi nào là hôm qua
tôi mang mấy bộ Vô Lượng Thọ Kinh đến tặng
ông ta, chúc ông ta vô lượng thọ, cũng rất hay! Trong
thời kỳ kháng chiến, ông ta gặp phải chuyện
sau đây: Ba người bọn họ cùng thực hiện
công tác bí mật tại Nam Kinh, bị hiến binh (cảnh
sát) Nhật Bản phát giác. Hiến binh Nhật Bản liền
truy đuổi họ. Họ chạy đến ngôi chùa ở
ngoài cửa Trung Hoa thành Nam Kinh, nhằm lúc chùa đang làm
pháp hội, ba người bọn họ chạy vào cầu
cứu lăo ḥa thượng. Vị lăo ḥa thượng ấy
rất có trí huệ, ngay lập tức bảo họ cạo
đầu, mặc áo hải thanh, cùng mọi người
niệm Phật. Do vậy, khi đội hiến binh Nhật
đuổi tới nơi, cũng không sao t́m được
ba người ấy, ba người bọn họ giữ
được tánh mạng vẹn toàn.
Sau
khi [kháng Nhật] thắng lợi, nghĩ đến ân cứu
mạng của lăo ḥa thượng, bọn họ đặt
một tiệc rượu hết sức linh đ́nh mời
lăo ḥa thượng nhằm tỏ chút ḷng cảm tạ. Lăo
ḥa thượng cũng đến; tới rồi, bọn
họ mới nghĩ ḥa thượng th́ ăn chay, mà ở
đây toàn là gà, vịt, cá, thịt chất đống,
đều là đồ mặn, đúng là rượu nồng
thịt béo. Không ngờ vị lăo ḥa thượng ấy thật
bất phàm, lăo ḥa thượng nghiễm nhiên ngồi xuống,
chuyện ǵ cũng không hỏi đến, nâng chén vui vẻ
cùng uống với họ, khiến cho bọn họ trong
tâm bội phục, rất cảm động. Đó gọi
là khai duyên, là khai giới, không phải là phá giới! Lăo ḥa
thượng không có tâm ư ǵ, nhưng Ngài biết bọn họ
thành tâm cảm kích, trọn chẳng phải là bỡn cợt
người xuất gia; do vậy, Ngài thỏa ư họ, khiến
cho ḷng họ vui vẻ. Đấy là khai duyên, nhất định
phải hiểu điều này.
Có rất nhiều đồng
tu tại gia tự ḿnh học Phật, phát tâm ăn chay,
nhưng người trong nhà không học Phật. Thọ Bồ
Tát giới rồi, người ấy có nên nấu những
món thịt thà cho cha mẹ ăn
hay không? Đă nói là cắt thịt cũng phạm giới
mà, điều này không sai! Quư vị cúng dường cha mẹ,
lúc cha mẹ vẫn chưa tin Phật th́ đó là “khai duyên”,
chứ không phải phá giới. Quư vị phải từ chỗ
này mà cảm hóa người trong nhà quư vị. Muốn cảm
hóa người ta, trước hết quư vị phải làm
cho họ có cảm nghĩ tốt đẹp đối với
Phật giáo, sanh tâm hoan hỷ đối với Phật
pháp th́ quư vị mới có thể cảm động họ
được. Nếu quư vị “làm như thế này không
đúng, làm thế kia cũng không đúng”, bảo họ: “Ngươi
ăn thịt chúng sanh, tương lai ngươi phải
đền mạng”. Quư vị càng nói người nhà càng
phiền năo, càng nói càng nổi nóng hơn, chẳng những
không giáo hóa, cảm hóa được họ mà trái lại
c̣n tạo khá nhiều khẩu nghiệp, vậy là sai lầm
lớn rồi! Như vậy là thiếu trí huệ. Quư vị
thuận theo hết thảy, người ta cảm thấy
Phật giáo tốt đẹp, Phật giáo thật sự tốt
đẹp! Cách một thời gian sau sẽ dần dần
cảm hóa được họ, phải vận dụng
trí huệ. Thời gian dài hay ngắn tùy thuộc vào
phương tiện thiện xảo của quư vị, mà cũng
tùy thuộc thiện căn, phước đức của
người nhà quư vị. Do vậy, phải có tâm nhẫn nại,
phải có phương tiện, làm như vậy mới
đúng. Tự nhiên người ta sẽ hồi đầu,
sẽ hướng thiện, muôn vàn chẳng được
cậy ḿnh học Phật mà đối địch với
người nhà, làm vậy là sai, hoàn toàn sai lầm.
Phật pháp được kiến
lập trên cơ sở hiếu đạo. Câu thứ nhất
trong Tam Phước là “hiếu dưỡng phụ mẫu,
phụng sự sư trưởng”. Câu đầu tiên là
“hiếu dưỡng phụ mẫu”. V́ thế, phải có
trí huệ, phải có phương tiện thiện xảo,
phải có tâm nhẫn nại để cảm hóa người
nhà, quyết định chẳng được đối
lập. Trước khi người ta chưa hiểu rơ, chưa
thấu suốt, người ta muốn ǵ đều nên tùy
thuận. Trong lúc tùy thuận, chúng ta có tâm nhẫn nại,
có trí huệ, có phương pháp để dần dần
chuyển biến họ, vậy mới là đúng! Đây gọi
là hiếu dưỡng chân chánh!
“Giá” là cấm ngăn, quyết
định chẳng được vi phạm. V́ thế,
phải hiểu Khai - Giá mới có thể tŕ giới. Lúc nào
nên Khai mà không Khai, cũng gọi là phạm giới! Lúc nào
nên Giá mà không Giá th́ cũng gọi là phạm giới! Đủ
thấy hai chữ “tŕ giới” nói dễ dàng ư? Chấp
chết cứng vào giới điều th́ không phải là
tŕ giới, giới luật điều nào cũng sống
động. Nếu như quư vị không hiểu Giới Luật,
không hiểu v́ sao Phật đặt ra giới điều
ấy, dụng ư ở chỗ nào, đạo lư là đâu, làm
sao ứng dụng được trong cuộc sống
thường ngày? Trong cuộc sống hằng ngày của
chúng ta có thuận cảnh, có nghịch cảnh, những cảnh
giới ấy sai biệt rất lớn, trong những hoàn
cảnh hết sức rắc rối, phức tạp, áp dụng
giới điều này như thế nào? Đấy chính là
Khai - Giá. Quư vị hiểu rơ Khai - Giá sẽ ứng dụng
linh hoạt, sống động, ứng dụng hết sức
viên măn, tự lợi, lợi tha, đấy mới là tŕ giới.
Do vậy, [tŕ giới] không phải là chuyện đơn
giản. Không phải chấp chết cứng vào giới
điều là tŕ giới, quư vị đă làm hoàn toàn trái ngược,
sai lầm mất rồi!
Tôi vừa mới nêu thí dụ:
Lăo ḥa thượng thuận theo mọi người cũng
ăn thịt, cũng uống rượu, bọn họ cảm
động rất mạnh, đối với Phật pháp
thật sự khởi sanh tâm cung kính, biết vị xuất
gia ấy vĩ đại, người xuất gia bất
phàm, mười mấy người bọn họ đều
được độ. Nếu vị lăo ḥa thượng
ấy theo quan niệm tŕ giới như mọi người
đă nói th́ rượu làm sao uống được? Phải
bỏ ngay đi! Đúng vậy, không sai, tợ hồ chính
ḿnh rất tŕ giới, nhưng khiến cho mọi người
đối với Phật giáo có ấn tượng kém ác,
mang ấn tượng cự tuyệt bài xích, vậy là sai
mất rồi! Do vậy, Khai - Giá - Tŕ - Phạm hết sức
quan trọng, không hiểu th́ đừng bàn đến tŕ
giới. Nhất định phải hiểu điều
này. Hôm nay chúng tôi giảng đến đây thôi!
Hỏi: Xin hỏi có phải là
mỗi giới điều đều có Khai - Giá - Tŕ - Phạm?
Đáp: Đúng vậy! Nay quư vị
hiểu rơ Khai - Giá - Tŕ - Phạm, coi trọng; sau này trong mỗi
một giới điều đều có giảng đến.
Trước hết là phải xây dựng quan niệm, hiểu
tŕ giới hoàn toàn không phải là như kiểu tŕ giới
mà mọi người thường nói, tŕ giới kiểu
đó th́ kết quả là Phật giáo sẽ bị tiêu diệt
mất trong thế gian này.
Hỏi: Không thọ giới th́
không có vấn đề, hễ thọ giới sẽ có cả
đống vấn đề, xin hỏi nên làm như thế
nào?
Đáp: Đúng vậy! V́ thế,
phải nghiêm túc nghiên cứu Sa Di Luật Nghi Yếu Lược,
nhất định phải hiểu rơ. Quư vị hiểu rơ
được bộ sách này rồi, người ta hỏi
quư vị câu ǵ, quư vị đều có thể giải
đáp được, lại c̣n hiểu trường hợp
nào là thích đáng, tự ḿnh phải nên làm theo cách nào.
Phần 2:
Đoạn thứ tư, trang
thứ sáu:
Tứ, thị cố Sa Di thế
lạc, tiên thọ Thập Giới. Thứ tắc
đăng đàn Cụ Túc. Kim danh vi Sa Di, nhi bổn sở
thọ giới. Ngu giả mang hồ bất tri, cuồng giả
hốt nhi bất học, tiện nghĩ liệp đẳng,
vọng ư cao viễn, diệc khả khái hỹ!
(Bốn, v́ thế, Sa Di xuống
tóc, trước hết thọ mười giới. Kế
đó đăng đàn thọ giới Cụ Túc. Nay gọi
là Sa Di, có bổn phận phải thọ giới. Kẻ ngu
mờ mịt không biết, kẻ cuồng coi thường
không học, lại toan học lung tung, mơ tưởng
cao xa, cũng đáng cảm khái lắm thay!)
Chúng ta tu học, bất luận là kinh, luật, luận hoặc ngữ lục của tổ sư, người biết học sẽ gạn lấy những khai thị trọng yếu, giống như Hoằng Nhất đại sư trích lục [kinh điển tạo thành] bộ Văn T́nh Tập, Ngài sao chép lại những giáo huấn trong kinh, luận, ngữ lục đối trị căn bệnh, tập khí của chính ḿnh. Mỗi một người sao lục cũng hầu nh