Tịnh Độ Cảnh Ngữ

Bồ Tát Bật Sô Hành Sách Triệt Lưu soạn

Chuyển ngữ: Bửu Quang tự đệ tử Như Ḥa

(dịch theo ấn bản của Đài Trung Liên Xă, tháng Bảy năm 1991)

 

1. Khuyên phát ḷng tin chân thật

 

      Pháp Niệm Phật Tam Muội xét về nguồn gốc là từ Viễn Tổ (tổ Huệ Viễn) đề xướng ở Lô Sơn, sáng khởi Liên Xă sáu thời tịnh hạnh, trở thành quy củ cao đẹp cho muôn đời. Tuy nói là “công cao dễ tiến”, nhưng hành nhân đời mạt hiếm ai thành tựu là do Tín - Nguyện chẳng chuyên nên chưa thể dẫn dắt thiện hạnh quy về Tịnh Độ. Bởi thế, tôi nay xin thưa cùng khắp các bạn lành đồng tu tịnh nhân: Nếu chẳng suy xét kỹ phát tâm th́ làm sao biết được đường nẻo trọng yếu để thoát khổ?

Phàm những vị đồng nhân với tôi trong pháp hội này phải nên đầy đủ ḷng tin chân thật. Nếu không có ḷng tin chân thật, dù có niệm Phật, tŕ trai, phóng sanh, tu phước, vẫn chỉ là người lành trong thế gian, được báo sanh trong chốn lành, hưởng lạc. Trong lúc thọ lạc ắt sẽ tạo nghiệp, đă tạo nghiệp ắt phải thọ khổ. Dùng chánh nhăn xem xét, so ra hạng người ấy chỉ khác với hạng Xiển-Đề, Chiên-Đà-La một chút. Tín tâm như vậy phải đâu là chân thật?

      Nói đến ḷng tin chân thật th́:

      - Thứ nhất là phải tin được rằng tâm, Phật, chúng sanh, ba thứ không sai biệt. Ta là Phật chưa thành, Di Đà là Phật đă thành; giác tánh không hai. Ta tuy hôn mê, điên đảo, giác tánh chưa từng bị mất. Ta tuy bao kiếp luân chuyển, giác tánh chưa từng lay động. V́ thế mới nói: “Đừng khinh kẻ chưa ngộ, khi một niệm hồi quang liền cùng đạt được cái sẵn có!”

      - Tiếp đó, phải tin được rằng ta là lư tánh Phật, danh tự Phật (1); Di Đà là cứu cánh Phật. Tánh tuy không hai, địa vị một trời một vực. Nếu chẳng chuyên niệm đức Phật ấy cầu sanh nước Ngài, ắt phải lưu chuyển theo nghiệp, thọ khổ vô lượng. Đấy gọi là Pháp Thân lưu chuyển ngũ đạo, chẳng gọi là Phật, mà gọi là chúng sanh.

      - Kế đến phải tin được rằng ta tuy chướng sâu nghiệp nặng, sống trong cơi khổ đă lâu, nhưng là chúng sanh trong tâm Phật Di Đà; Phật Di Đà tuy vạn đức trang nghiêm, cách xa ngoài mười vạn ức cơi, vẫn là đức Phật trong tâm ta. Tâm tánh đă là vô nhị, tự nhiên cảm ứng đạo giao; nếu ta tha thiết ắt sẽ cảm được ḷng từ bi của Phật, Phật ắt sẽ ứng như nam châm hút sắt chẳng c̣n ngờ ǵ! Ấy là: “Phật nghĩ đến chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, mẹ con đời đời chẳng xa cách nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa”.

      Đầy đủ những ḷng tin như trên th́ là “ḷng tin chân thật”. Thiện dù chỉ một mảy, phước dù nhỏ như hạt bụi đều có thể hồi hướng Tây Phương trang nghiêm Tịnh Độ. Huống hồ là tŕ trai, kiêm giữ giới, phóng sanh, bố thí, đọc tụng kinh Đại Thừa, cúng dường Tam Bảo... các thứ thiện hạnh chẳng đủ để chất đầy tư lương Tịnh Độ ư? Chỉ trừ kẻ do ḷng tin chẳng chân thật nên bị ch́m đắm trong hữu lậu.

      Nay tu hành chẳng có thuật trọng yếu chi khác, chỉ cần trong mười hai thời, luôn giữ ba thứ chân tín ấy th́ với hết thảy hành động chẳng cần phải thay đổi ǵ. Nếu toan bỏ pháp độ thoát này, t́m lấy công phu hay lạ nào khác th́ tông tượng (2) các phương như trúc trong rừng, ngưỡng vọng vị nào hăy đến đó mà học đạo; cần ǵ phải chen chân vào liên xă này.

Nếu quả thật danh - tâm đều hết sạch, chỉ mong khéo cùng thời tiết, nhân duyên, may được thường cùng nhóm họp, nương đồng hồ sen (3), dơi theo kiệu Phật, di phong như thế xưa nay chưa dứt, ḥng tạo thành đầu mối để thân cận trong đời sau, ḥng làm vốn liếng để trợ phát ngay trong đời này. Xin hăy cùng nhau gắng sức! 

 

2. Giăi bày, khuyên nhủ

 

      Xưa Chân Hiết ḥa thượng nói: “Phật Phật trao tay, tổ tổ truyền thừa, chỉ có mỗi một sự, không c̣n sự nào khác. Ông cụ Thích Ca trụ thế bảy mươi chín năm thuyết pháp hơn ba trăm hội, riêng đối với giáo pháp Tịnh Độ khen nói bao lượt vẫn chưa thôi, há chẳng phải là đường tắt để siêu phàm nhập thánh đó ư?”

Nhưng pháp môn này thật dễ mà cũng thật khó. Phàm chấp tŕ danh hiệu, tu các phước thiện, chí tâm hồi hướng liền được văng sanh. Nếu được văng sanh bèn cắt ngang năm đường, nhanh chóng siêu thoát ba cơi, đạt thẳng vào Bất Thoái không phải trải qua nhiều a-tăng-kỳ kiếp, chẳng phải là giản dị ư? Nếu như sự nghiệp Sa Bà vẫn c̣n vương vấn, một nóng mười lạnh, tâm chẳng chuyên dốc, lúc gặp ngũ dục bèn như keo như sơn, khi gặp phải nghịch cảnh liền kết oán nuôi hận, mà muốn lúc mạng chung đức Phật đến tiếp dẫn, ắt chẳng thể được cứu, há chẳng phải là chuyện khó ư?

Xét theo đó, pháp môn Tịnh Độ là thuốc, nhưng tham ái Sa Bà là chất kỵ thuốc ấy. Chúng sanh nghiệp bệnh tuân lời uống thuốc của đấng Y Vương, vừa uống thuốc ấy xong liền ăn no ứ chất kỵ thuốc, có nên hay chăng? Lúc mạng sắp hết, tâm đặt nặng vào đâu sẽ đọa về đó, tịnh nhân yếu nhỏ, khó thoát khổ luân, bèn đổ ngược Y Vương khiến người lầm lạc, Phật pháp chẳng linh! Xót thay! Bọn họ điên đảo đến cùng cực vậy! Sao chẳng nghĩ đến pháp xă nơi núi Khuông Lư, mười tám vị cao hiền, một trăm hai mươi ba người lưu hiện điềm lành chép đầy trong sách vở. Cổ kim nhật nguyệt, cổ kim sơn hà (2), họ đă là trượng phu, sao ta chẳng được như họ? Phải biết rằng ta chẳng được như họ chỉ v́ c̣n chưa buông xuống được những điều ḿnh đặt nặng đó thôi!

Phàm những bạn tăng, tục, già, trẻ đồng tu với tôi ai nấy nên đau đáu nghĩ Sa Bà hiểm ác, sớm cầu thoát khỏi sáu nẻo gập ghềnh, tiêu dao chín phẩm, lợi hại như trời với vực! Phải mạnh mẽ thức tỉnh, sanh ḷng ưa - chán, bỏ uế cầu tịnh, tin rằng chuyện “lấy - bỏ” này cùng với chuyện “chẳng lấy -bỏ” vốn chẳng khác đường, đừng chuộng hư danh, chớ chấp Không Kiến, chớ bị lầm lạc bởi những kẻ tham thiền có địa vị cao nhưng chỉ đắc tam muội nơi cửa miệng, chớ mong đạt hiệu quả nhanh chóng trong sớm tối, chớ vọng cầu ngoài tâm có Phật đến tiếp nghênh khiến cho ma sự phát khởi!

Chẳng luận là lúc ở nhà hay lúc đến tham dự liên xă, luôn lấy niệm Phật làm chánh hạnh, gắng tu các việc thiện làm trợ hạnh; lại phải quyết ư trừ khử tập khí tham - sân, khiến cho những chỗ nặng nề trở thành nhẹ nhàng, chỗ sống dần biến thành chín. Tịnh niệm tiếp nối, hạnh nguyện hỗ trợ, sẽ tự nhiên ngàn phần ổn thỏa, trăm phần thích đáng.

Trong các hạnh, phóng sanh là việc tốt lành nhất, hăy nên nghĩ kỹ: Chúng nó tuy đồng tánh với ḿnh, dẫu thuộc trong dị loại vẫn mong được cứu vớt, huống hồ những kẻ đồng loại với ḿnh v́ chướng sâu nghiệp nặng, chẳng bao lâu nữa sẽ phải đọa trong ác đạo, có kẻ hiện đang phải chịu khổ trong địa ngục. Nỗi khổ dữ dội trong địa ngục sánh với cái khổ v́ lửa đốt, dao xẻ trong thế gian c̣n hơn mười, trăm, ngàn, ức lần, nỡ nào bỏ mặc, chẳng nghĩ cách cứu vớt ư?

Nhưng cách để cứu vớt họ cũng chỉ là hiện tại nhất tâm niệm Phật để mau sanh về An Dưỡng. Sau đấy, nương vào bổn nguyện, vận đại thần lực, khởi ḷng Vô Duyên Từ, mở rộng ḷng Bi đồng thể, phân chia thân h́nh trong các cơi nước mười phương, trong các nẻo ác mà tầm thanh cứu khổ như Quán Thế Âm Bồ Tát, thề khiến địa ngục trống rỗng như Địa Tạng Vương Bồ Tát, dẹp tan hết thảy khổ nhân, khổ quả của hết thảy chúng sanh, ban sự vui thế gian và xuất thế gian cho hết thảy chúng sanh, nhiếp thủ hết thảy chúng sanh khiến cùng được thân cận từ phụ Di Đà, đạt đến chỗ rốt ráo an ổn.

Chí nguyện như thế mới là bậc đại trượng phu. Nếu chẳng có được chí nguyện như thế th́ chỉ là cứ đến kỳ bèn họp nhau lại tu hành qua quít, dù niệm Phật phóng sanh cũng chỉ là một cái hội tầm thường, há chẳng phải là vô phước ư? Đấy chẳng phải là điều lăo nạp mong mỏi, xin các thượng thiện hữu rủ ḷng xét đoán cho!

 

3. Khuyên nhủ, giăi bày lần nữa

 

      Tuy chư Phật, chư tổ cùng tán dương pháp môn Tịnh Độ, nhưng trong hiện tại, đối với giáo pháp cả một đời của đức Phật, các sĩ phu c̣n chưa buồn nh́n đến. Nếu chẳng phải là đă có linh căn từ trước, há có thể nghe đến, tin tưởng sâu sa pháp môn này ư? Nay tôi xin v́ các vị lược cử một hai điểm trọng yếu trong các kinh Đại Thừa để quư vị có thể hiểu đại khái các điều khác, ḥng biết pháp môn này thù thắng, dễ sanh ḷng tin ưa.

Chẳng hạn như kinh Hoa Nghiêm, giáo môn rộng lớn, là vua trong các kinh, tựa hồ mặt trời chói lọi giữa hư không chói lấp các ngôi sao, như núi Tu Di sừng sững giữa biển, cao vượt hơn hẳn mọi ngọn núi khác. Những thế giới được nói trong kinh cũng chẳng phải là “hằng hà sa số” mà là “bất khả thuyết bất khả thuyết Phật sát cực vi trần số”. Phổ Hiền Bồ Tát dùng trí thông lực, nh́n thấu suốt vô biên hương thủy hải, vô biên cơi nước như nh́n trái cây đặt trong ḷng bàn tay. Từ gần đến xa, với mỗi một phương ngài đều chỉ rơ danh hiệu, tướng trạng của từng cơi nước.

Thế giới Cực Lạc nằm trong sát độ của đức Tỳ Lô Giá Na. Sát độ này gồm hai mươi tầng, trên rộng dưới hẹp, h́nh dạng như cái tháp lật ngược. Sa Bà và Cực Lạc cùng thuộc tầng thứ mười ba. Trong tầng này có mười ba Phật sát vi trần số thế giới san sát. Thế giới Cực Lạc chỉ là một trong các thế giới ấy. Để h́nh dung các thế giới trong sát độ của đức Tỳ Lô Giá Na nhiều như thế nào, trong một trăm năm hăy lấy hết gạo trong Thiệm Bộ Châu dồn thành một đống, th́ mỗi một thế giới giống như một hạt gạo trong đống gạo ấy! Huống hồ là nh́n đến bao nhiêu thế giới trong vô biên sát chủng (5) ở ngoài sát độ của đức Như Lai, há có thể nói, nghĩ, tính, bàn được ư?

Kinh văn rộng lớn như thế, cuối cùng kết thúc bằng việc Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương hướng dẫn quay về Cực Lạc, chỉ dạy sanh về thế giới An Dưỡng, chỉ nguyện thấy Phật A Di Đà. Những lời khuyến phát chuyên tinh, thiết tha, đinh ninh nhắc đi nhắc lại được chép trong phẩm Hạnh Nguyện tôi chẳng cần phải chép vào đây.

      Vả nữa, Phật diệt độ sáu trăm năm, vị tổ thứ mười hai bên Tây Thiên là Mă Minh đại sĩ ứng theo lời huyền kư của Phật, trùng hưng chánh pháp, gộp ư nghĩa của một trăm lạc-xoa (6) kinh điển Đại Thừa tạo thành bộ luận đặt tên là Khởi Tín nhằm khiến chúng sanh đời mạt phát khởi chánh tín đối với Đại Thừa. Ví như mượn các sợi màu để dệt thành gấm, gầy mật từ trăm hoa; những lập thuyết, phân tích của ngài đạt tới mức tinh vi cùng cực, tŕnh bày toàn vẹn hết thảy pháp môn, các thứ tam muội khiến cho ai nấy tu tập, chánh tín. Ngài lại nghĩ hết thảy pháp môn, các thứ tam muội đều là khó tu nhưng dễ lui sụt, nên cuối luận, Ngài lại chỉ ra mặt trời phương tiện dễ dàng thù thắng của chư Phật.

      Hơn nữa, sơ học Bồ Tát trụ trong thế giới Sa Bà này gặp phải các nỗi khổ: lạnh, nóng, mưa gió trái thời, đói kém v.v... hoặc gặp phải chúng sanh bất thiện, đáng sợ, bị tam độc quấn trói, quen hành ác pháp. Trong những cảnh ngộ đó, nếu Bồ Tát ḷng sanh khiếp nhược, sợ rằng chẳng thể thành tựu tín tâm thanh tịnh, đâm ngờ, muốn lui sụt th́ hăy nên nhất tâm chuyên niệm Phật và Bồ Tát để sanh tâm quyết định. Nhờ đó, lúc mạng chung ắt được sanh vào các cơi nước của chư Phật, gặp Phật, Bồ Tát, vĩnh viễn thoát khỏi đường ác. Như trong kinh nói: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân chuyên niệm Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, dùng các thiện căn hồi hướng nguyện sanh, ắt quyết định được sanh, thường thấy đức Phật ấy, tín tâm tăng trưởng, vĩnh viễn chẳng lui sụt, được dự vào chánh vị”.

V́ thế, biết rằng: khi đức Phật c̣n tại thế th́ có các vị Văn Thù, Phổ Hiền; sau khi Phật diệt độ, có Mă Minh, Long Thọ, các vị đại sĩ như thế đều khuyên văng sanh. Các ngài lại tự nguyện được văng sanh để thân cận Di Đà. Ngoài ra, như trong các bộ kinh lớn khác như: Bảo Tích, Đại Tập v.v... đều xưng dương, khen tụng, khuyến khích, nhưng chẳng thể nêu được hết. Tịnh độ của mười phương chư Phật vô lượng, nhưng kinh luận lại đặc biệt khuyên quy hướng cơi Cực Lạc là v́ ba ư:

      - Một là v́ đức Phật ấy có nhân duyên lớn đối với người trong cơi này nên chẳng luận là sang, hèn, hiền, ngu, già, trẻ... ai nấy đều biết đến danh hiệu của Phật A Di Đà. Như ai gặp lúc oan khuất, khổ sở, mở miệng thốt ra lời không ai là chẳng niệm danh Ngài.

      - Hai là v́ Pháp Tạng tỳ kheo nguyện lực thù thắng. Ngài tom góp toàn bộ các sự trang nghiêm của hai mươi mốt ức cơi Phật thanh tịnh để trang nghiêm một thế giới Cực Lạc. Ngài phát ra bốn mươi tám nguyện rộng sâu tiếp độ chúng sanh niệm Phật trong mười phương sanh về nước Ngài. Tuy chư Phật quả đức thật sự b́nh đẳng, nhưng trong lúc tu nhân [thệ nguyện sai biệt] nên đối với nguyện lực vô sai biệt “tùy ư nhiếp thọ chúng sanh” bèn có sai biệt vậy.

- Ba là A Di Đà Phật chính là Pháp Giới Tạng Thân, thế giới Cực Lạc chính là Liên Hoa Tạng Hải, thấy một đức Phật chính là thấy vô lượng Phật, sanh về một cơi chính là sanh trong vô lượng cơi, niệm một đức Phật chính là niệm hết thảy chư Phật, tức là được hết thảy Phật hộ niệm v́ Pháp Thân bất nhị, chúng sanh và Phật bất nhị, đức Phật được niệm và người niệm Phật bất nhị.

Dù các kinh luận đă rộng tán dương cơi ấy, nhưng chúng sanh cơi này thoạt đầu chẳng hề biết đến, chỉ đến khi Viễn Công vào đời Tống quật khởi ở núi Khuông Lư, sáng lập Liên Xă, danh hiền, đại nho thời ấy tự nhiên kéo đến. Ngay cả những vị như Lưu Di Dân, Tông Lôi v.v... đều khâm phục, học theo, nên giáo đạo bèn lan truyền rộng răi. Tiếp đó, từ đời Đường, Tống đến nay, Thiền Học ngày càng thạnh hành, hàng sĩ đại phu, kẻ có trí thức đa phần ngưỡng mộ Tông môn, hướng đến những điều cao lạ, nhưng từ trên xuống đến dưới, trong cả một ngàn một trăm năm, người thật sự kiến tánh chẳng qua chỉ có mấy người như quan thị lang Dương Ức, pḥ mă Lư Tuân Úc, lang trung Hứa Thức mà thôi. Ngoài ra chỉ toàn là hạng dạo chơi ngoài sân, trước cửa, khiến cho pháp môn dễ dàng thù thắng chẳng thể nghĩ bàn này chỉ dành riêng cho hàng ngu phu, ngu phụ.

Trong thời gian ấy, tuy có năm ba vị tôn túc tiếp nối chí Tổ, nhưng chưa tiếp độ được nhiều kẻ căn cơ cao, chưa rộng độ các phẩm. Măi cho đến cuối đời Minh, bèn có đại sư Vân Thê Châu Hoằng nương bi nguyện xưa, dùng thuần Nho thoát tục để chuyên hoằng dương Tịnh nghiệp. Cố nhiên những bậc danh hiền thời ấy theo về, tin tưởng Ngài rất nhiều, nhưng những kẻ hủy báng, cật vấn Ngài cũng chẳng phải là ít. Đại sư do hoằng tài diệu biện nên bách chiến bách thắng, biến những điều đó thành niềm vui pháp hỷ nên Tăng, tục hâm mộ, ngưỡng phục gần như Viễn Công phục sanh, Vĩnh Minh tái thế. Đạo Tịnh Độ lại được trùng hưng mạnh mẽ. Như vậy Ngài đă hưng khởi pháp môn bị ch́m đắm cả hơn một ngàn năm, công ấy chẳng vĩ đại lắm sao?

Cho đến giờ đây, mạt pháp tối tăm, chúng sanh phiền cấu nặng nề trong đường hiểm ác mà bỏ mất người hướng dẫn tốt lành này th́ chẳng đáng than dài sườn sượt ư? Đời tôi đă xế, chẳng được thân cận học hỏi đại sư, di ngôn quư báu của Ngài khác nào khuê bích (8). Mỗi phen giở ra xem, liền chẳng ngăn nổi lệ ứa ṛng ṛng, phát khởi tâm ư mạnh mẽ.

Kể từ khi trụ ở chùa Phổ Nhân đến nay, thường được tụ họp cùng các vị hiền nhân, sáu thời hành đạo, rất hợp ḷng mong, nhưng mỗi phen được gặp một pháp hữu, chẳng dám dùng con mắt kẻ tục để nh́n, ḷng riêng trộm tính: “Cơi nước hoa sen lại có thêm một người bạn thù thắng. Xưa kia, đức Bổn Sư Thích Ca của chúng ta từng huyền kư: trong cơi này có sáu mươi bảy ức Bồ Tát văng sanh cơi kia, người này ắt là một người trong số đó”.

Dù biết rằng những kẻ hờ hững, lui sụt th́ nhiều, nhưng đă phát tâm niệm Phật, đă vào trong Di Đà nguyện hải th́ sẽ như ăn phải một chút kim cang, rốt cuộc chẳng tiêu được nổi. Dẫu siêng, lười, chậm, nhanh khác nhau, rốt cuộc ắt sanh về cơi kia. Đă sanh về cơi kia, rốt cuộc ắt chứng quả, chứng tám tướng thành đạo, rộng độ chúng sanh. V́ thế, lúc vừa dự vào hội, tôi liền mong mỏi [chuyện các bạn sẽ thành] chư Phật vị lai chẳng phải [là chuyện] hư vọng, chẳng biết các bạn tự mong mỏi như thế nào? Nếu các vị cũng mong mỏi giống như lăo nạp th́ những bạn lành hiện diện đây đều là nhụy sen, cành sen của tôi cả.

Nhưng tôi xem ra, hiện thời những kẻ phú quư, lanh lẹ, thành đạt th́ hoặc là tham mến thanh sắc thô tệ, chẳng biết gốc khổ, hoặc tham luyến danh tiếng nhỏ tí như cái sừng con ốc, chẳng biết là hư huyễn, hoặc lại thích trồng trọt, buôn bán kiếm lợi, toan tính kinh doanh. Phí hèn suốt cả đời này, tương lai theo nghiệp lưu chuyển; chẳng biết chẳng nghe đến y báo, chánh báo trang nghiêm thắng diệu trong cơi Phật kia, từ sống đến chết chưa từng khởi một tâm niệm hướng đến văng sanh, chẳng bằng kẻ tối ngu, cùng quẫn, phần nhiều biết niệm Phật, từ chỗ tối vào chỗ sáng, chuyển sanh vào nơi thù thắng!

V́ thế, nay tôi kính khuyên các bạn: Ai đă ghi danh vào Liên Xă, người ấy chính là hoa Ưu Đàm trong nhà lửa, hăy nên đầy đủ ư nguyện chân thật, phát tâm ưa - chán, coi tam giới như lao ngục, coi vườn nhà như gông cùm, coi thanh sắc như trầm độc (7), coi danh lợi như xiềng xích, coi cảnh ngộ cùng - thông trong mấy mươi năm hệt như giấc mộng đêm qua, coi một kỳ thọ báo trong cơi Sa Bà như nơi quán trọ, ngủ qua một đêm liền bỏ đi, chỉ lấy việc trở về nhà làm trọng. Như ư cũng được, chẳng như ư cũng xong, bỏ được [những chuyện chỉ tồn tại trong] chốc lát, nhất tâm niệm Phật. Nếu thật sự làm được như thế mà chẳng sanh Tịnh Độ th́ chư Phật đều thành nói dối. Xin hăy cùng gắng sức.

 

4. Khai thị cho đại chúng trước lúc bắt đầu niệm Phật trường kỳ suốt ba năm

 

      Phàm ai muốn công hạnh chẳng uổng trong thời gian định kỳ niệm Phật th́ hăy nên phát ba thứ tâm để làm phương tiện:

      - Thứ nhất là sanh ḷng đau tiếc quang âm dù thời gian ba năm chẳng mấy. Cổ nhân đă ví: “Như bệnh sốt rét mỗi ngày đều lên cơn, cứ ba lượt nóng lạnh là xong”. Nếu chẳng siêng gắng, đốc thúc thân tâm đua tranh với từng phút giây, sẽ chẳng khỏi thấy [thời gian ba năm] là dài. Nếu thấy là dài th́ năm tháng dằng dặc, tâm sự ngổn ngang, dễ sanh mệt chán, công phu tịnh nghiệp chẳng đạt, chẳng tiếc lắm ư? Huống hồ mạng trong hơi thở, nào bảo đảm sống được ba năm? Dù sống hơn được ba năm, nào phải là trường cửu? Như thường nói: “Như tù bị dắt ra chợ, như dê bị đưa đến ḷ mổ, cứ mỗi bước tiến đến trước là một bước đến gần cái chết”. Ngày đêm đăm đắm, nóng lạnh chẳng sờn, một câu hồng danh không lúc nào gián đoạn; lẽ nào Di Đà chẳng tiếp dẫn, chẳng quyết định sanh về Tịnh Độ sao? Những người đồng hạnh với tôi hăy dè chừng: chớ lúc đầu tinh chuyên, về sau biếng nhác. Hăy xem ba năm như một ngày, như một sát-na th́ mới nên.

      - Thứ hai là phải phát tâm chuyên cầu xuất ly. Công hạnh ba năm chẳng những không cầu những phước báo thấp thỏi của thế gian, mà cũng chẳng nên mong cầu công đức, trí huệ, biện tài, ngộ giải hoặc cầu đời đời làm tăng để hưng hiển Phật pháp v.v... Chỉ mong khi chết được sanh sang cơi kia, thoát khổ sanh tử. Nguyện ấy phải hiện hữu trong từng khắc, như xưa có người nọ bị vùi trong cái giếng khô sâu cả ngàn thước, được con cáo dạy cho khẩu quyết theo lỗ hổng mà thoát ra. Do nhất tâm muốn thoát ra, người ấy nh́n vào lỗ hổng [tụng khẩu quyết] một lúc lâu, lỗ chẳng lớn thêm, thân chẳng nhỏ đi mà tùy ư bay thoát ra.

Niệm Phật cũng thế, chuyên niệm đức Phật ấy, nhất tâm cầu sanh. Niệm đă đến mức khẩn thiết, Phật thật sự chẳng đến, ta chẳng đi qua đó mà tự nhiên được sanh. Được thỏa nguyện sẽ thấy Phật, nghe pháp, đoạn Hoặc, chứng quả, chẳng nhọc phương tiện tự được tâm khai, trăm ngàn tam muội nghĩ đến liền hiện hữu, bất khả thuyết bất khả thuyết vi trần số đại nguyện đồng thời đầy đủ. Cốt sao ḷng tin chắc chắn, tận lực hành tŕ, chuyên tinh duy nhất ắt được thành tựu.

      - Thứ ba là phát tâm ḥa thuận, tuân thủ, kiềm chế. Trong điện đường đă không có đông chúng, sáng tối ở chung với nhau, xưng là “đồng hạnh thiện tri thức”, ai nấy phải pḥng thân giữ miệng, khiêm cung, nhường nhịn, nhu thuận, giúp nhau rèn giũa, làm gương cho nhau.

      Trong ṿng ba năm hệt như bế quan cấm túc, lấy sơn môn làm giới hạn, chẳng được đi ra ngoài, dù chuyện lớn như người thân, bè bạn bệnh tật, chết đi cũng chẳng được phá lệ đi ra, tạo thành đầu mối khiến người khác tự tiện bắt chước theo. Đối với hằng khóa mỗi ngày chẳng được biếng nhác, bỏ qua hay thiếu sót, chỉ trừ khi bệnh hoạn chẳng ăn uống được. Dù ngồi hay nằm đều phải âm thầm niệm Phật; nhất là trong lúc bệnh hoạn càng phải cấp thiết niệm Phật.

Ngoài những thời hằng khóa, nếu mắc lỗi ǵ phải tự kiểm điểm, đừng buông lung thân tâm. Khi rảnh rỗi chẳng được chuyện gẫu nói năng tạp nhạp, phóng dật, cười giỡn, vừa hại ḿnh vừa khiến người bị trở ngại. Chẳng được đọc các sách ngoài đời, ngâm vịnh thi kệ. [Làm vậy th́] chẳng những uổng phí thời gian, mà c̣n là cô phụ đàn-việt (thí chủ).

Trong đường, chọn ra một người làm giám trực, cứ năm ngày lại đổi phiên thay nhau lănh trách nhiệm. Ai chẳng ước thúc, tuân thủ, chẳng đúng pháp th́ giám trực sư liền khuyên can. Vừa khuyên can liền nghe th́ tốt, nếu can đến ba lượt vẫn chẳng nghe th́ bạch chúng bàn cách trị phạt. Nếu giám trực sư vị t́nh giấu diếm, chẳng can gián, chẳng cử tội sẽ bị phạt tùy theo mức tội. Nếu các thầy tự nghiêm, tự trọng, ai nấy tinh tấn chẳng phóng dật, chẳng cần phải dùng đến quy ước này th́ tốt quá. Gắng lên, gắng lên! 

 

5. Khai thị cho đại chúng trước lúc khởi đầu tinh tấn Phật thất

 

      Bảy ngày tŕ danh quư tại nhất tâm bất loạn, không gián đoạn, không xen tạp; chứ chẳng phải niệm nhanh, niệm nhiều là hay. Cốt sao đừng rề rà, đừng gấp gáp, miên miên mật mật tŕ danh, khiến cho trong tâm Phật hiệu vằng vặc phân minh; mặc áo, ăn cơm, đi, đứng, nằm, ngồi, một câu hồng danh khắng khít chẳng dứt khác nào hít thở, chẳng tán loạn nhưng cũng chẳng được ch́m đắm. Tŕ danh như thế có thể bảo là đạt Nhất Tâm về mặt Sự.

Nếu là hạng người học đạo chân chánh, trực tiếp thấu suốt vạn pháp đều Như, chẳng có hai tướng, nghĩa là: chúng sanh và Phật chẳng hai, ta - người chẳng hai, nhân - quả chẳng hai, y báo - chánh báo chẳng hai, uế - tịnh chẳng hai, khổ - vui chẳng hai, ưa - chán chẳng hai, lấy - bỏ chẳng hai, Bồ Đề - phiền năo chẳng hai, sanh tử - Niết Bàn chẳng hai, tức là các pháp đều cùng một tướng, một đạo, thanh tịnh, chẳng phải miễn cưỡng lập bày sai khác, cứ đúng như sự thật mà suy xét lănh hội.

Suy xét, lănh hội đến cùng cực sẽ đột nhiên khế hợp bổn tâm, mới biết rằng ăn cơm, mặc áo đều là tam muội, cười giỡn, nổi nóng chửi rủa không ǵ chẳng phải là Phật sự; nhất tâm, loạn tâm rốt cuộc thành hư luận! Trong mười hai thời t́m lấy tướng trạng sai khác chừng bằng mảy tóc cũng chẳng thể được. Dù chí tâm xưng niệm cũng giống như thả sức mắng chửi; dù tinh tấn tu tŕ cũng giống như khổ hạnh trong mộng. Liễu đạt như thế mới là người chân chánh học đạo nhất tâm tinh tấn tŕ danh.

Môn nhất tâm thứ nhất tựa hồ khó khăn nhưng lại dễ, môn nhất tâm thứ hai tựa hồ dễ nhưng lại khó. Người đạt được cái nhất tâm ban đầu là có thể văng sanh. Người chứng thêm được cái nhất tâm thứ hai ắt có thể sanh vào thượng phẩm. Hai thứ nhất tâm này đều thuộc khả năng của hạng phàm phu sát đất, ai có tâm đều có thể có tu học được. Đồng đường tăng tục (9) chớ đề cao thánh cảnh, nhưng tự ḿnh cam phận kém hèn, ai nấy phải thân tâm siêng gắng, gần là trong ṿng bảy ngày, xa là trong suốt một đời này, thường tin tưởng như thế, thường tu cái hạnh như thế, dù chẳng chứng đắc ngay được để làm nhân, chắc chắn cũng sẽ gởi phẩm nơi cung hoa, chẳng rớt vào trung hạ.

Nếu như sau bảy ngày này, coi như chưa từng nghe đến [những điều này], chỗ chín rốt cuộc chẳng biến thành sống, chỗ sống vẫn c̣n nguyên khó chín, vô minh nghiệp tập chằng trói, buộc ràng, chỉ muốn thành công cho nhanh th́ hết bảy ngày này đến bảy ngày khác, vẫn chưa hề đạt được nhất tâm bất loạn! Đấy chính là như kinh dạy: “Ít thiện căn, phước đức nhân duyên”, c̣n mong chi văng sanh về cơi kia cho được? Để rồi đến nỗi đâm ra nghi lời thành thật thốt ra từ kim khẩu là gian dối; th́ đấy là lỗi của ai vậy? Nguyện đồng thất tịnh chúng ai nấy hăy tự nghĩ kỹ để ngăn dè, gắng công vậy!

 

6. Liệu giản pháp môn

 

      Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ là một phương tiện dễ dàng thù thắng do đức Thích Tôn đặc biệt chọn ra từ vô lượng pháp môn; nhưng trong pháp Niệm Phật lại có nhiều môn. Tuy vậy, xét ra chẳng ngoài bốn loại:

      - Một là niệm Phật thật tướng, tức là như Bổn Giác lư tánh được giảng trong các kinh như Đại Tập... chính là pháp này.

- Hai là niệm Phật pháp môn, tức là như các môn tam muội đă nói trong các kinh Đại Thừa.

- Ba là niệm Phật tướng hảo, tức là niệm các tướng thắng, liệt nơi thân như Thập Lục Quán Kinh đă dạy.

Ba môn niệm Phật này tuy là thù thắng, nhưng chẳng phải là phương tiện dễ dàng v́ phải thấu rơ sự lư, thâm đạt quán cảnh. Thượng trí c̣n khó đạt, độn căn tuyệt chẳng có phần.

V́ thế mới cách thứ tư là niệm danh hiệu Phật, tức là nhất tâm tŕ danh như kinh Tiểu Bổn Di Đà đă dạy. Chỉ có mỗi môn này nhờ vào nguyện lực thù thắng của đức Phật kia nên chẳng cần biết là hữu trí hay vô trí, thượng, trung hay hạ căn, cứ hễ chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn trong bảy ngày thậm chí một ngày th́ chính là “nhiều thiện căn, phước đức nhân duyên”, liền được Phật Di Đà và thánh chúng tiếp dẫn, liền được thập phương hết thảy chư Phật hộ niệm. Vả nữa, đức Phật ấy vốn có thệ nguyện: “Nếu có chúng sanh muốn sanh về cơi ta, chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm mà nếu chẳng được sanh th́ ta sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Đấy là phương tiện chẳng thể nghĩ bàn, không những lạ lùng mà c̣n thù thắng nữa.

Cơi Tịnh Độ để sanh về cũng có bốn loại:

- Một là Thường Tịch Quang Tịnh Độ là chỗ cư ngụ của thánh nhân cực quả. Đoạn sạch Vô Minh Hoặc mới được sanh vào cơi này.

- Hai là Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ, là chỗ ở của bậc Bồ Tát từ Sơ Địa trong Viên Giáo hay Sơ Trụ trong Biệt Giáo trở lên. Đoạn sạch Trần Sa Hoặc mới được sanh vào cơi này.

- Ba là Phương Tiện Hữu Dư Độ, là chỗ trụ của bậc Tứ Quả thánh nhân, Tam Hiền Bồ Tát của Biệt Giáo, Thập Tín Bồ Tát của Viên Giáo. Đoạn sạch Kiến Tư Hoặc mới được sanh vào cơi này.

Ba thứ Tịnh Độ này tuy thù thắng, nhưng vẫn chưa phải là phương tiện lạ lùng, v́ phải đoạn Hoặc mới được sanh về, vẫn là thoát ly tam giới theo chiều dọc.

- Bốn là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, là chỗ Quyền Thật thánh hiền và phàm phu thấp sát đất cùng ở chung. Chỉ có ḿnh cơi này là nương vào sức nhiếp thọ của chư Phật nên chẳng cần phải đoạn Hoặc, lại c̣n đới nghiệp văng sanh. Chỉ quư sao có tín nguyện dẫn đường, cảm ứng đạo giao, trược chướng nhẹ bớt, thoát khỏi khổ luân.

Cơi Đồng Cư An Dưỡng này theo chiều dọc thông triệt các cơi Phương Tiện, Thật Báo, Tịch Quang, nên bậc thượng trí mau chóng viên măn bốn cơi Tịnh Độ mà kẻ hạ ngu vẫn có thể vượt ngang ra khỏi tam giới, chẳng phiền phải tu theo Cửu Thứ Đệ (10), chẳng phải đợi ba a-tăng-kỳ mới chứng. Đây là phương tiện không những lạ lùng mà c̣n thù thắng chẳng thể nghĩ bàn. Pháp môn tối thắng, riêng lạ này lúc đức Thích Ca Thiện Thệ ân cần chỉ dạy, khuyên lơn nơi cơi Ngũ Thiên Trúc xa xôi, hằng hà sa Như Lai dùng tướng lưỡi rộng lớn tán dương trong mười phương cơi nước, há lừa dối ta ư?

Trong Tỳ Bà Sa Luận, ngài Long Thọ viết: “Phật pháp có vô lượng môn. Như đường đi trên thế gian có khó có dễ; đi đường bộ th́ khó, ngồi thuyền th́ dễ. Muốn dễ đi mà mau đến th́ hăy nên niệm Phật. Xưng danh hiệu A Di Đà Phật sẽ mau chóng đạt được A-nậu Bồ Đề”. Ngài Trí Giả cũng viết trong Thập Nghi Luận rằng: “Trong đời ác ngũ trược, cầu A Bệ Bạt Trí rất khó đạt được, ví như kẻ thọt một ngày đi không quá mấy dặm. Nếu tin vào Niệm Phật Tam Muội, nhờ nguyện lực của đức Phật kia nhiếp tŕ quyết định văng sanh, như ngồi thuyền gặp cơn gió thuận, trong khoảnh khắc đi cả ngàn dặm. Lại như gă yếu ớt đi theo Chuyển Luân Vương, trong một ngày một đêm đi giáp ṿng tứ thiên hạ, chẳng phải do sức của gă mà là do sức của Chuyển Luân Vương”.

Đời chỉ thích nói “trực chỉ”, đa phần cho Tây Phương là độn, bảo rằng pháp môn này chuyên nhiếp thọ độn căn liệt khí! Nếu đă có thể nhất siêu trực nhập th́ cần ǵ phải bận tâm nghĩ đến tha lực? Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ và những bậc trí, bậc giác ngộ trong cơi này cùng phát nguyện văng sanh, bọn họ đều thuộc độn căn hết sao? Trong hội Bảo Tích, đức Thế Tôn khuyên phụ vương Tịnh Phạn và sáu vạn người họ Thích đều sanh Tịnh Độ, bọn họ đều là liệt khí (căn khí hèn kém) hết sao? Chẳng nhọc phương tiện mà tâm được tự khai, há có con đường tắt nào được như thế chăng? Vừa ủ thai sen liền vào Bất Thoái, sao lại coi là pháp xa xôi, hèn hạ?

Nếu ai đă ngộ tâm tông, khi được răn nhắc, vẫn nói là đời đời chẳng thoái chuyển ắt có lúc thành Phật, th́ cứ suy sự khó - dễ, nhanh - chậm ắt sẽ thấy rơ rành rành. Những kẻ học đạo trong đời nếu nghi ngờ hoặc hủy báng, hoặc rẻ rúng chẳng thèm nói đến [pháp này], dù có bảo họ chẳng phải là hạng ngu cuồng, tôi cũng chẳng tin.

 

7. Lược giảng chín phẩm

 

      Một môn Tịnh Độ tuy rộng nhiếp các căn đều đạt Bất Thoái, nhưng gặp Phật lâu - mau, nghe pháp lớn - nhỏ, chứng quả, thọ kư nhanh - chậm đúng là khác nhau vời vợi một trời, một vực! Kinh Đại Bổn chia giản lược thành ba bậc, Quán Kinh chia kỹ thành chín phẩm. Nói chung, Thượng Phẩm lấy giải ngộ làm gốc; Trung Phẩm lấy giới - thiện làm gốc; Hạ Phẩm thuần ác không thiện, chỉ là lúc lâm chung gặp thiện hữu, một niệm tín tâm diệt tội văng sanh.

      Nếu phân tích kỹ, “đọc tụng kinh Đại Thừa” như đă nói trong phần Thượng Thượng Phẩm nghĩa là “tông thuyết câu thông” (thông suốt cả Tông lẫn Giáo), tu hành lục niệm đến mức “hạnh giải tương ứng”, cho nên trong khoảng khảy ngón tay liền văng sanh, thấy Phật, nghe pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn, trong khoảnh khắc đi qua các nơi phụng sự mười phương chư Phật, được thọ kư. Tăng như Viễn Công, Trí Giả, tục như các vị Lưu Di Dân, Dương Vô Vi... đáng thuộc phẩm này.

Người sanh trong Thượng Trung Phẩm là tuy chưa đạt đến mức đọc tụng kinh Đại Thừa, nhưng đă hiểu được Đệ Nhất Nghĩa. Như vậy, chính người ấy đă có ngộ nhập, nhưng hạnh chứng chưa bằng được với bậc Thượng Thượng Phẩm, nên phải trải qua một đêm hoa sen mới nở, thấy Phật. Do sự tu tập từ trước, nghe thấy tất cả các âm thanh đều nói Đệ Nhất Nghĩa Đế rất sâu. Trong ṿng bảy ngày đắc Bất Thoái Chuyển nơi A Nậu Bồ Đề, tu các tam muội, trải qua một tiểu kiếp đắc Vô Sanh Nhẫn.

      Người sanh trong Thượng Hạ Phẩm, tuy chưa ngộ nhập, nhưng cũng đă phát Vô Thượng Đạo Tâm, tự muốn thấy rơ bổn tánh, nhưng chưa được toại chí bèn cầu sanh. Bảy ngày thấy Phật, hai mươi mốt ngày mới được nghe diệu pháp, trải qua ba tiểu kiếp mới trụ vào Hoan Hỷ Địa.

      Người sanh trong Trung Thượng Phẩm là nam nữ tại gia ḷng tin trong sạch, tŕ giới cầu sanh, lâm chung thấy Phật văng sanh, hoa sen liền nở, nghe pháp nói Tứ Đế liền lập tức đắc đạo A La Hán. Do giới lực chuyên chú nên hoa nở chứng quả rất nhanh, nhưng do chưa phát Vô Thượng Đạo Tâm nên những điều được nghe chỉ là Tứ Đế, quả chứng được chỉ là Tiểu Quả.

      Người sanh trong Trung Trung Phẩm là hạng nam nữ xuất gia tŕ giới cầu sanh. Kinh nói: “Một ngày một đêm tŕ giới Sa Di, tŕ giới Cụ Túc” nhằm chỉ rơ: Giới pháp thù thắng, dù tŕ [trong một thời gian] ngắn ngủi c̣n được văng sanh, huống là tŕ giới đă lâu? Người xuất gia giới hạnh tinh chuyên cũng sanh trong Trung Thượng Phẩm; người tại gia tạm thời trai giới cũng có thể sanh trong Trung Trung Phẩm. Lâm chung thấy Phật, văng sanh xong bảy ngày sau hoa mới nở, nghe pháp đắc quả Tu Đà Hoàn, sau nửa kiếp thành A La Hán.

      Người sanh trong Trung Hạ Phẩm cũng là tục nhân nam nữ chưa từng quy hướng Tam Bảo, nhưng bẩm tánh nhân hiếu, có khả năng đạt đạo. Lúc lâm chung gặp thiện tri thức khai thị liền được văng sanh. Sau bảy ngày thấy hai vị đại Bồ Tát, nghe pháp đắc quả Tu Đà Hoàn, trải mười tiểu kiếp mới thành A La Hán.

      Người sanh trong Hạ Thượng Phẩm chính là ác nhân tục gia, lúc lâm chung gặp thiện tri thức dạy xưng niệm Phật danh, diệt tội văng sanh. Bảy ngày sau hoa nở, thấy hai vị đại sĩ giảng mười hai bộ kinh rất sâu, bèn phát Vô Thượng Đạo Tâm. Qua mười tiểu kiếp được nhập Sơ Địa.

      Người sanh trong Hạ Trung Phẩm chính là ác nhân xuất gia phá giới, lâm chung gặp thiện tri thức xưng danh hiệu Phật, thuyết pháp, nhất niệm văng sanh. Phải sáu kiếp hoa sen mới nở, thấy hai vị Đại Sĩ, nghe kinh điển Đại Thừa rất sâu, phát Vô Thượng Đạo Tâm.

      Người sanh trong Hạ Hạ Phẩm là hạng ngũ nghịch thập ác cực ác và cả hai loại Tăng, tục, lúc lâm chung gặp thiện tri thức dạy xưng danh hiệu Phật, mười niệm văng sanh. Sau mười hai tiểu kiếp hoa sen mới nở, nghe hai vị Đại Sĩ v́ ḿnh giảng Thật Tướng các pháp bèn phát tâm Bồ Đề.

      Với hai phẩm cuối này, kinh không nói đến thời hạn chứng nhập địa vị, cũng giống như người sanh trong Thượng Hạ Phẩm: sau khi phát Vô Thượng Đạo tâm phải qua mười tiểu kiếp [mới đắc Sơ Địa]. Ba phẩm Trung tuy dùng giới - thiện để cầu sanh, tâm tự độ kiên cố, nhưng hạnh độ tha khiếm khuyết nên dù rốt cuộc sẽ đắc Đại Thừa, nay tạm thời chỉ chứng Tiểu Quả. Ba phẩm Hạ tuy là phàm phu cực ác nhưng do được nghe hai vị Đại Sĩ thuyết pháp thậm thâm, phát được Vô Thượng Đạo Tâm nên dù phải trải qua nhiều kiếp, vẫn dự thẳng vào thánh vị. Đấy chính là chỉ trong một niệm, nhanh chóng vượt khỏi Đại - Tiểu, Quyền thừa tiểu quả, một đời tinh tấn vượt xa nhiều kiếp. Thai sen lớn - nhỏ là do phát tâm nhanh hay chậm.

Khuyên hành giả hăy xét kỹ điều đó mà khởi sự. Người đă ngộ lại cầu sanh sẽ nhờ vào cảnh duyên Cực Lạc mà kiết sử, tập khí dễ đoạn, tam muội dễ tu, mau thành Nhẫn lực để độ chúng sanh. Người chưa ngộ cầu sanh do thân cận Di Đà bèn dễ kiến tánh. Ngài Vĩnh Minh từng nói: “Chỉ được thấy Di Đà, lo ǵ chẳng khai ngộ” chính là ư này.

Với hai môn Thiền - Tịnh ai nấy đều nên chuyên chú, bênh môn này chê môn kia là hiểu lầm ư Phật quá lớn. Người tham Thiền chẳng cần biết là ngộ hay không, hễ được văng sanh liền chứng Thượng Phẩm. Người tu Tịnh Độ dù ngũ nghịch, thập ác nhưng sám hối c̣n được dự vào Hạ Phẩm. Thế nhưng kinh dạy “chẳng báng Đại Thừa” đủ biết kẻ hủy báng chẳng được văng sanh vậy! Kẻ trước đă ngộ rồi sau văng sanh giống như buồm lớn gặp được gió thuận. Kẻ niệm Phật báng Thiền như hạt giống hư gieo nơi đất tốt. Tướng tốt - xấu, mối quan hệ được - mất như thế chẳng thể chẳng biện định.

 

8. Dạy cư sĩ Hạ Tử Di

 

      Đại A Di Đà Kinh nói: “Tu hành một ngày một đêm trong thế giới Sa Bà hơn làm lành trong thế giới Cực Lạc cả trăm năm” là v́ cơi này khó thể tấn tu, cơi kia dễ ra công sức. Theo đó mà nói th́ tu hành trong đường đời gió bụi một ngày hơn tu hành trăm năm nơi cảnh chùa thanh tịnh chốn non sâu là điều không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Bởi thế, mới nói: “Dạo nơi kinh thành cũng được, dấn ḿnh vào chốn bụi hồng cũng xong, cốt sao tịnh nguyện chẳng được quên, tịnh hạnh chẳng được khuyết!”

Than ôi! Gió bụi há nhiễm được người ư, chỉ sợ người tự nhiễm gió bụi đó thôi! Cư sĩ thiện căn sâu dày, tín lực chuyên dốc, từ lâu đă biết “tuyển quan chẳng bằng tuyển Phật”. Hạnh ấy vốn chẳng thể cùng tận, nhưng để vào được trường thi tuyển Phật, bất luận là núi sâu chùa vắng hay đường đời gió bụi, đều phải lấy tâm làm kim chỉ nam, lấy nguyện làm người dẫn đường th́ điều ḿnh hướng tới mới chẳng sai trái; dù suốt ngày đi trên đường có khác ǵ đang ở trong nhà, Trường An chẳng cách đất này mảy trần!

Từ đó, đột nắng xông mưa, chơi châu dạo huyện, trải giấy vung bút (11), nắm cương vung roi, chốn chốn là đạo tràng, lúc nào cũng là Phật sự, tịnh nguyện, tịnh hạnh thường được hiện tiền, tự nhiên đến được thượng bang Thanh Thái (12), diện kiến thánh nhan Vô Lượng Thọ, đậu cao tột trong khoa thi cửu phẩm, trụ hạnh hướng địa, chầu hầu mười phương chư Phật, tiêu sạch những lỗi lầm lớn. Sau đấy, phân thân bổ xứ, ban bố hiệu lệnh thống lănh trời người cửu giới, thuần hóa bảy phương tiện đệ tử. Tuyển quan, tuyển Phật như thế há chẳng đáng là bậc đại trượng phu ư?

Thế nhưng, nói dễ, làm khó! Chùa tịnh núi sâu th́ dễ, nẻo đời gió bụi th́ khó. Tôi xin cư sĩ hăy nhận biết sự khó khăn đó để mai sau ắt có lúc sẽ đạt thành tựu lớn lao. Hăy nghĩ đến thời gian như ngựa phi, mỗi ngày một già yếu, phải qua lại trên đường dài, đừng uổng phí dịp tốt. Ngoài định khóa, có thời gian rảnh th́ niệm thêm Phật hiệu, c̣n những môn khác như chú Lăng Nghiêm, chú Đại Bi v.v... đều bất tất phải quan tâm đến.

 

9. Dạy cư sĩ Đinh Canh Dă

 

       Xưa kia, ḥa thượng Tịch Thất bảo: “Người đời muốn tu Tịnh nghiệp chẳng thể nói tôi nay bận rộn phải đợi đến lúc nhàn hạ, tôi nay nghèo túng hăy đợi đến lúc giàu có, tôi nay trẻ mạnh hăy đợi đến lúc già cả. Nếu viện cớ bận rộn, viện cớ nghèo túng, viện cớ non trẻ th́ là vô duyên tu tập Tịnh nghiệp, lỡ đột nhiên chết mất có hối cũng chẳng kịp! Sao không thừa dịp thân đang mạnh mẽ mà nỗ lực tu đi, lại cứ nói như thế?”

Người đời nay, đừng nói là người tin ưa [pháp này] đă ít, ngay cả những người tin tưởng sâu xa vào pháp môn Tịnh Độ vẫn cứ do dự, lần chần đến nỗi uổng phí một đời, đa phần là như vậy. Cư sĩ thiên tư tinh thuần, cẩn trọng, gặp gỡ lăo nạp chưa lâu liền giác ngộ vô thường, trường trai thờ Phật, ắt là phải sẵn túc duyên!

Nhưng cư sĩ nhà không sẵn của, năm nào cũng phải trông vào lương bổng, cày cấy để chi dụng. Phàm nhà không sẵn của cải th́ chi dụng chẳng đủ là điều dễ hiểu. Thân lănh quan chức đương nhiên chẳng rảnh rỗi, tuổi mới năm mươi đương nhiên cũng chưa già suy, đột nhiên từ quan bỏ chức, giă biệt đàn em dưới tay, tŕ măn phần Ưu-bà-tắc giới, đóng cửa quanh năm, tận lực chuyên tu Tịnh nghiệp, thậm chí đối với lương thực, củi nước trọn chẳng quan tâm đến nữa; nếu chẳng phải là bậc trượng phu dũng mănh dễ hồ làm được như vậy ư? Dùng một gian nhà nhỏ hẹp lép ngăn đôi thờ kinh - tượng, ẩn trong đó lánh ồn náo, náu ḿnh rèn chí chuyên tu, khác nào đang ở trong một căn nhà rộng răi, khoảng khoát. Nếu chẳng phải là bậc tri túc, sao lại có thể chịu đựng lâu dài như thế được?

Chao ôi! Phu nhân sống ngoài đời sao mà cũng an định vậy thay! Tôi thường lén nhận xét: Nhàn th́ không nhàn nhưng chẳng bỏ phí thời gian, giàu th́ không giàu nhưng thường biết đủ, mạnh th́ không mạnh nhưng siêng tinh tấn; nay cư sĩ đủ cả ba điều ấy! Trong thiên hạ, dù có kẻ nhàn hạ, kẻ giàu có, kẻ mạnh mẽ có sức, so với cư sĩ, tôi thấy họ chỉ là hữu danh vô thật! Làm được như vậy ắt phải sanh Tịnh Độ có ǵ lạ đâu!

Tôi lại có một lời xin nhắc nhở ông. Ví như con thuyền chở được cả vạn hộc, muốn đi đến nơi nào đó, dẫu cho cột buồm chẳng phải là không cao, bánh lái chẳng phải là không ngay, lương thực, vật dụng chẳng phải là không hoàn bị, ư chí ra đi chẳng phải là không nhất quyết, có cái thế nương gió căng buồm chớp mắt đi được cả ngàn dặm, nhưng nếu chưa chịu nhổ cây cọc đầu thuyền lên th́ thuyền vẫn bị một sợi dây neo buộc chặt, dù đun đẩy đủ cách há thuyền có đi được chăng?

Hiện tại, hành nhân Tịnh nghiệp suốt ngày niệm Phật, sám hối, phát nguyện, vẫn c̣n cách xa Tây Phương, khó chắc được văng sanh th́ không ǵ khác hơn là chưa nhổ được cọc Ái, chưa dứt được dây T́nh. Nếu có thể xem chuyện ân ái cơi Sa Bà giống như nhai sáp, chẳng quản rảnh - bận, động - tịnh, khổ - sướng, buồn - vui, dựa vào một câu Phật hiệu hệt như ngọn núi Tu Di, hết thảy cảnh duyên chẳng thể dao động; mỗi khi biết ḿnh mệt mỏi, biếng nhác, hoặc khi tập khí hiện tiền liền dũng mănh đề khởi nhất niệm như vung thanh trường kiếm Ỷ Thiên khiến cho phiền năo ma quân không nơi trốn núp, lại cũng giống như ḷ to lửa hừng, khiến cho vô thỉ t́nh thức cháy sạch chẳng sót th́ người ấy tuy đang sống trong cơi ngũ trược, nhưng toàn thân đă ngự trong cơi nước liên hoa, nào c̣n phải chờ Di Đà đưa tay, Quán Âm khuyên lơn, khen tặng, mới tin ḿnh sẽ được văng sanh nữa ư?

Nếu có kẻ bảo: “Vị cư sĩ nọ dũng mănh tinh tấn như thế, há c̣n bị t́nh ái buộc ràng nữa ư? Bỗng dưng không bệnh lại cho thuốc ư?” Tôi đáp: “Chẳng phải thế! Cổ nhân nói: ‘Ái chẳng nặng chẳng sanh Sa Bà’, lại nói: ‘Đạo niệm nếu giống như t́nh niệm th́ thành Phật lắm dịp’. Ngũ Thông tiên nhân tinh tấn bao kiếp c̣n chưa trừ được dục lậu, mất sạch công hạnh. V́ thế biết rằng: Chưa chứng thánh quả vẫn hiếm ai không bị t́nh ái gây hệ lụy!

Nếu quả thật cư sĩ ư niệm thế gian mỏng nhẹ, đạo niệm dũng mănh, sắc bén, thấy dục như tránh hầm lửa, nhớ Phật như quyến luyến mẹ hiền, trai giới, khóa tụng thanh tịnh, lời thề vĩnh viễn chẳng biến đổi th́ người khỏe mạnh không bệnh dù thường uống thuốc hay nào có trở ngại chi? Há chẳng phải là đi đứng nhanh nhẹn, càng thêm mạnh mẽ ư?

Nói chung, phiền năo vô tận, nhưng căn bản sanh tử chỉ là tham ái; nó có thể làm cho hành nhân bị ch́m đắm, là pháp chướng ngại văng sanh. Bởi thế, trước kia, trong các kinh chỗ nào Phật cũng quở trách. Cứ hễ đạm bạc được một phần t́nh ái th́ tịnh nghiệp lại được thành thục thêm một phần ḥng được giải thoát nơi bờ sanh tử vậy! Xin cư sĩ hăy cố gắng!

 

10. Can ngăn cư sĩ Cố Triệu Trinh

 

      Đời mạt pháp bạc bẽo, con người có xu hướng trá ngụy. T́m lấy một người chăm chú đạo, giữ ḷng thành, tuân thủ lối cổ, chất phác như lăo cư sĩ th́ có khác ǵ vẹt sao chọn lấy mặt trăng đâu! Trong số tịnh hữu có ông Công Thần nhà cụ, lại thêm ông Đinh Dă Canh, ông Ông Thuấn Nghi đều là thân thuộc của cư sĩ, có phải là tường lân thụy phượng (13) cùng loại tụ họp đó chăng? Trong số ấy, ông Ông đại hiếu tột bậc, có thể nói là những hạnh khổ, hạnh khó của ông ta tôi chưa hề làm mà cũng chẳng thể làm được nổi. Trong tâm khâm phục, lại chẳng thể dùng ngọn bút để khen thuật nổi.

Đọc bài trường ca [của cư sĩ] ca tụng ông ta đôi ba lượt, càng thấy tinh vi, điêu luyện. Xưa ông Hạ Tri Chương tám mươi tuổi vẫn ham ngâm vịnh, ông Khâu chín mươi tuổi vẫn giỏi làm phú. Nay cư sĩ tuổi xấp xỉ ông Khâu, ông Hạ mà trước tác cũng gồm thâu tài khéo của họ, mong ông hăy tiếc nuối từng phân tấc quang âm, nhạt bớt nỗi ham thích bút mực, dồn tinh lực ấy để chuyên tâm vào Tịnh nghiệp khiến mầm huệ tăng trưởng, đạo chủng thành thục, ngày sau được hóa sanh trong hoa sen trước Phật th́ mới chẳng bị chê là giống hệt như bọn ông Khâu, ông Hạ vậy!

 

11. Hồi đáp cư sĩ Cố Triệu Trinh

 

      Trước đây đă kính gởi vài hàng, tưởng ông đă hiểu rơ, chợt nhận thư tay có những câu như “trần nghiệp t́nh duyên chen lẫn, vây hăm, biết bao giờ mới thành diệu quán?” đủ biết ông cầu đạo tha thiết; nhưng theo sự thấy biết bỉ lậu của tôi th́ t́nh trạng nhàm chán trần t́nh, ham thích diệu quán ấy lại chính là do học đạo có nội chướng bèn lánh ồn t́m tịnh. Ở trong đời chưa hề có chỗ nào để dứt nổi t́nh trần đâu!

Phải biết rằng: vạn pháp vốn nhàn, chỉ riêng ḿnh gây rối! Ngẫu Ích đại sư từng bảo: “Tuy nói là sáu căn huyễn hoặc rong ruổi, sáu t́nh chao động tơi bời, nhưng suy xét kỹ, trần đă chẳng thuộc vào tội, há căn cũng biết lỗi đó ư? Căn đă chẳng biết lỗi ấy, lẽ nào riêng t́nh phải mang lấy tội? Chia chẻ ba khoa (căn - trần - thức) đă không có chủ tể thật sự, dù có gộp chúng lại vẫn nào có thật pháp?” Nhưng đối với pháp hư vọng này, bọn ta bèn chấp ngă đắm nhân, bỏ cái kia, lấy cái này, giống như dụi mắt hoa đốm lăng xăng liền phát sanh. Toan phân biệt tướng hoa cái nào tốt, cái nào xấu, chẳng phải là lầm lẫn ư? Chỉ nên đem toàn thể thân, tâm, thế giới buông xuống hết th́ trí nhăn chiếu minh, c̣n có chỗ nào để chán nhàm trần t́nh nữa đây?

Nhưng muốn niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ th́ khởi tâm chán - ưa mạnh mẽ đúng là nào có trở ngại ǵ, nhưng nếu chấp vào cái tâm chán - ưa ấy th́ lại thành bệnh Hoặc! Hiểu rơ điều đó th́ [tâm ấy sẽ] là phương tiện để con người sử dụng mà thôi!

Nói đến “diệu quán cảnh” th́ chẳng phải Quán kinh đă từng dạy: “Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ tâm tưởng sanh, lúc tâm chúng sanh tưởng Phật th́ tâm ấy chính là ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp phụ. Tâm ấy làm Phật, tâm ấy là Phật” đó ư? Mấy câu này chính là điểm bí yếu của Niệm Phật tam muội, hết thảy quán môn không môn nào chẳng lưu xuất từ đây.

Bởi lẽ, biết “làm” nhưng không biết “là” th́ đọa vào trong Quyền Tiểu; biết “là” nhưng không biết “làm” ắt lạc vào ma ngoại. “Làm” chính là Không Giả Quán. “Là” tức là Trung Đạo Quán. Toàn thể “làm” là “là”, toàn thể “là” là “làm”. Một niệm “làm - là” tam quán viên đốn; v́ thế, kinh Đại Tập có bài kệ rằng:

      Nhược nhân đản niệm Di Đà Phật,

      Thị danh vô thượng thâm diệu thiền,

      Chí tâm tưởng tượng kiến Phật thời,

      Tức thị bất sanh bất diệt pháp.

      (Nếu ai chỉ niệm Di Đà Phật,

      Đó gọi vô thượng thâm diệu thiền,

      Lúc chí tâm tưởng tượng thấy Phật,

      Ấy là pháp chẳng sanh chẳng diệt).

      Trí Giác thiền sư nói: “Một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Phật là lư Bổn Giác, niệm là trí Thỉ Giác. V́ thế biết rằng ngay trong lúc niệm Phật th́ Bổn Giác ngầm khế hợp với Thỉ Giác, Năng - Sở (người niệm và đức Phật được niệm) cùng mất, tự - tha bất nhị, không có đức Phật ở ngoài niệm để mà được niệm; không có niệm ở ngoài đức Phật để có thể niệm. Siêu t́nh ly kiến, ly tứ cú, tuyệt bách phi (14), thẳng tắt, viên đốn, không chi hơn được pháp này! Ngoài pháp Niệm Phật ra, há c̣n có diệu quán nào khác để ḥng thành tựu nữa ư?

Tôi thường trộm bàn rằng: “Thuốc chẳng quư - hèn, trị được bịnh là thuốc hay. [Pháp niệm Phật] là thuốc trị cả gốc lẫn ngọn, là thuốc thích ứng cho cả bịnh cấp thời lẫn bịnh kéo dài”. Cư sĩ tuổi già hướng về đạo, dù có được hơn trăm tuổi th́ tấc bóng há được mấy chốc? Lẽ nào chẳng nghĩ dồn công vào con đường tối ổn đáng, sao lại cứ “thử hay hỏi diệu”, cứ lẩn quẩn do dự trong đó vậy?

Trước khi thấu hiểu, chẳng những lăo nạp không bàn đến diệu quán, mà c̣n lược bớt nhiều thứ nhật khóa, chỉ đem câu “chân ngôn sáu chữ” ra khuyên nên gắng sức. Đây chính là phương thuốc lạ từ biển cả trị được bệnh gấp, lại c̣n trị được cả gốc lẫn ngọn, bệnh hoăn hay bệnh gấp đều thích hợp cả; cốt yếu là tin tưởng sâu xa, tận lực hành tŕ. Cổ nhân đă nói: “Chỉ được thấy Di Đà, lo chi không khai ngộ!” Được vậy th́ trần t́nh nào vây hăm được nữa, tam muội nào mà chẳng hiện tiền?

Hiện tại dù có trăm ngàn pháp môn, vô lượng diệu nghĩa đều bỏ chẳng dùng, chỉ có mỗi một loại linh đan nhất vị này để tặng nhau. Nếu chẳng chém đinh chặt sắt, kiệt lực chuyên tŕ, c̣n cách nào để tự cứu vớt nữa ư? Nếu cho rằng pháp tŕ danh công hiệu chẳng bằng tu quán th́ thân tướng vi diệu của đức Phật kia các kinh luận đă rộng diễn, quán pháp sâu nhiệm, hàng sơ tâm thấp sát đất e chẳng dễ thành tựu được. Rốt cuộc chẳng bằng theo Tiểu Kinh chuyên nhất tŕ danh là ổn đáng hơn! Lúc tŕ danh liễu đạt sự - lư nhất tâm bất loạn chính là quán cảnh, cần ǵ phải cầu môn sâu mầu chi khác.

Tôi nghĩ lăo cư sĩ mười phần chân thành, quên ḿnh tuổi tác đă cao, ân cần hạ cố hỏi tới, nên tôi mới dám vét hết cái ngu, giăi bày niềm riêng, không chút húy kỵ ǵ. Xin cụ hăy xét kỹ mà quyết định th́ may mắn lắm thay!

 

12. Cùng cư sĩ Kim Thủy Nhược luận về danh tự

     

      Tông Thiên Thai dùng thuyết “lục tức Phật” để phân định [sự tu chứng]. Đầu tiên là “lư tánh tức Phật”, kế đến là “danh tự tức Phật”. Kể từ mới được nghe thánh giáo cho đến khi minh tâm kiến tánh đều chẳng ra ngoài địa vị “danh tự”. V́ thế biết rằng: thời gian thuộc địa vị “Danh Tự” rất dài mà ư nghĩa cũng rất sâu vô lượng.

Cư sĩ tên Thiện, tự là Thủy Nhược, nếu hiểu tên này, thấu rơ tự ấy th́ đối với con đường kiến tánh thành Phật, tôi nghĩ đă đi được quá nửa. Cáo Tử nói: “Tánh giống như nước tuôn chảy; khơi ḍng về Đông th́ chảy về Đông, khơi ḍng sang Tây th́ chảy sang Tây. Tánh người chẳng chia ra làm thiện hay bất thiện, giống như tánh nước không phân biệt Đông, Tây”. Lạ thay! Lời Cáo Tử luận về tánh tuy chưa phải là nghĩa lư chính thống của đạo Nho, nhưng lại có phần giống với khế kinh của đức Như Lai. Tiếc là ông ta biện bác thua Mạnh Tử nên rốt cục chẳng thể tŕnh bày rơ ràng thuyết ấy, khác nào con trùng chống chọi với gỗ vậy.

Mười pháp giới vốn là nhất tâm, nên pháp dù thiện hay chẳng thiện tánh đều sáng cả, như thường nói: “Trong tánh có chủng tử nhiễm và tịnh”. V́ thế, không có một pháp thế gian và xuất thế gian ở ngoài tánh được! Noi theo chủng tử tịnh nơi tánh để hành xử th́ là đạo quân tử, th́ được gọi là “tu thiện”. Noi theo chủng tử nhiễm trong tánh để hành xử th́ thành đạo tiểu nhân, bị gọi là “tu ác”.

Sách Trung Dung nói: “Noi theo tánh gọi là Đạo”. Khổng Tử nói: “Đạo chỉ có hai thứ là nhân và bất nhân mà thôi!” Đạo không phân biệt là nhân hay bất nhân th́ tánh chẳng phân biệt là thiện hay bất thiện! Nếu tánh chỉ là thiện, chẳng có bất thiện th́ tam đồ ác đạo chẳng phải là do tâm tạo, há c̣n có thể gọi là pháp giới nữa ư? V́ thế hạng Nhất-xiển-đề dù đoạn tu thiện, nhưng chẳng đoạn tánh thiện. Nếu đoạn tánh thiện th́ vĩnh viễn chẳng thể thành Phật. Chư Phật, thánh nhân chỉ đoạn tu ác, chẳng đoạn tánh ác. Nếu đoạn tánh ác th́ chẳng thể thị hiện trong thế giới uế ác để chiết phục chúng sanh.

Hăy nên hiểu rơ mối quan hệ giữa tánh và tu. Đă chẳng thể ĺa tánh để khởi tu, cũng chẳng được bỏ tu mà bảo là tánh! Xin dùng nước để bàn luận:

Nói về Tánh th́ là tánh ướt, chảy xuống chỗ thấp, chảy sang Đông, chảy sang Tây. C̣n Tu là khơi ḍng sang phương Đông, khơi ḍng sang phương Tây. Cư sĩ muốn tu Tịnh nghiệp há chẳng quan tâm đến danh, chẳng nghĩ đến nghĩa để ḥng xét kỹ nguồn cơn, nắm vững cách tu ư?

Nếu tâm niệm niệm hướng đến tham - sân - si lâu ngày chầy tháng, kéo lại chẳng được, dẫn ra chẳng xong, th́ phần nhiều những thứ phát khởi nơi thân - miệng phần nhiều ứng với ác. Đấy là “khơi ḍng sang Đông, trọn làm người hay vật trong cơi Chấn Đán”.

Nếu tâm niệm niệm nhàm ĺa ngũ dục, khăng khăng nghĩ đến A Di Đà Phật, mong ưa thân cận như con nhớ mẹ, chẳng bị nghiệp cảnh lôi kéo, chẳng bị lầm lạc trong những nẻo ngoắt ngoéo khác th́ gọi là “khơi ḍng sang phương Tây, quyết định liên hoa hóa sanh gặp Phật thọ kư trong thế giới Cực Lạc”. Xét theo đó, kiến tánh thành Phật cũng là do ḿnh quyết chí tại đâu mà thôi!

Nếu khơi ḍng sang phương Tây để làm ḍng nước chảy về Tây ắt sẽ chẳng ḥa vào ḍng nước sôi sùng sục trong tam đồ, ắt chẳng loạn tạp với nước nhân thiên khát ái, chẳng lẫn lộn với nước đục phàm phu, chẳng nhiễm nước ác ma tà, ngoại đạo, chẳng đọa ḍng nước tù đọng Nhị Thừa, chẳng giống như ḍng nước Quyền Thừa xa lạ, thường được nước lư tánh thấm ướt ruộng tâm.

Dùng trí thủy viên dung vạn hạnh th́ chính là ở trong địa vị Danh Tự mà viên hợp tánh thủy của Như Lai. Đă viên hợp với tánh thủy bèn sẽ đổ về ao thất bảo, thành thứ nước: lắng sạch, trong mát, ngon ngọt, mềm nhẹ, nhuận trạch, an ḥa, trừ hoạn, tăng ích, để rốt ráo trở thành thánh thủy tám công đức. “Chảy về Tây” đến cùng cực là thế đấy, là có thể thật sự thấu hiểu tận cùng tánh của nước như vậy đó.

Tôi cho rằng tên thật và tên tự của cư sĩ dựa theo ư nghĩa của Mạnh Tử, chứ chẳng phải dựa theo nghĩa của Cáo Tử. Nếu quyết chọn lấy thiện pháp để tu tập cho viên măn, quyết phá bất thiện pháp, tu tập để trừ sạch bất thiện pháp th́ đạo quân tử mạnh mẽ, đạo tiểu nhân tiêu mất, nhưng rốt cuộc cái đạo “chỉ ư chí thiện” chưa từng phù hợp với ư Cáo Tử, cũng chẳng hề phù hợp với ư đức Tuyên Thánh (Khổng Tử), mà cũng chẳng hề phù hợp với ư của bậc đại thánh nhân ở phương Tây; cư sĩ có nên tận lực quyết liệt như thế chăng?

           

13. Kinh Thủ Lăng Nghiêm, chương Thế Chí Viên Thông

 

      Kinh Thủ Lăng Nghiêm được nói sau kinh Pháp Hoa, thật là một bộ kinh rộng lớn sâu thẳm trong Phật pháp. Xưa kia, lúc ngài Trí Giả phán giáo, kinh này chưa truyền đến Chi Na; v́ thế, Ngài phán định Pháp Hoa và Niết Bàn là pháp vị cuối cùng. Nếu Ngài một phen được thấy kinh này, ắt sẽ viết chú sớ giải thích, ắt phán định kinh này là vô thượng đề-hồ.

Cớ sao khi Tứ Y đại sĩ diệt độ rồi, các vị sớ chủ xưa nay ai nấy hưng khởi dị kiến, lâu ngày dồn nhau tranh căi khiến cho hàng hậu học không có con mắt trạch pháp (chọn lựa pháp) chẳng biết nên theo ai, đến nỗi toan bỏ sạch các sớ giải, chỉ xem kinh văn. Đấy cũng là ư kiến quá khích. Bởi lẽ dùng trí ḿnh để t́m đọc kinh văn, đa phần chẳng thể lănh hội được chỉ thú, nên rốt cuộc cứ mờ mờ mịt mịt mà thôi!

Thử b́nh tâm mà xét, há các sớ giải không có lấy một cuốn nào có điểm sở trường ư? Trong số những vị nếu không mắc lỗi sai lầm, mâu thuẫn th́ lại bị mắc lỗi thô vụng, sơ sài ra, vẫn có những vị trí thức cao siêu hơn người, lại dựa vào kinh này để phát huy những lư luận mới mẻ trong tâm. Trong những bản chú giải thật sự bỏ đi ư riêng, thuận theo kinh phù hợp Phật ư th́ ngoài bản sớ giải của ngài Tây Hồ Giám ra, tôi chưa thấy bản nào hay được bằng; ai bảo là người thời nay ắt hơn hẳn thời xưa ư?

Rất có thể có người trách Ngài chủ trương thái quá, hoặc chê Ngài bày vẽ quá chi li; cho dù bản sớ giải của Ngài chưa thể hoàn toàn không có điểm nào đáng chê trách, đó vẫn là bản sớ giải có công rất lớn đối với kinh này. C̣n như thuyết “bỏ thức dùng căn, chú trọng viên thông” chính là lời chân thành của chư Phật, ai dám chẳng tin? Giáo thể phương này ai dám chẳng tuân? (14) Toan luận bàn so đo điều ấy chính là trái kinh, chống Phật vậy.

Hiện tại, các thiện hữu đă chú tâm vào Tịnh Độ, lại toan nghiên cứu kinh này thật chẳng dễ dàng. Chẳng luận đến phần trước hay phần sau, chỉ ngay trong chương Viên Thông này đă có những điểm dễ gây lầm lẫn, hiểu lầm lớn. Nếu chẳng khéo đọc, khéo hiểu th́ đúng là đề-hồ biến thành độc dược cũng chẳng xa chi lắm. Há các vị chẳng từng nghe nói “trong trường thi tuyển Phật trên hội Lăng Nghiêm, ngài Quán Âm đăng khoa, ngài Thế Chí thi trượt” đó ư? Đối với thuyết ấy, nếu người tu Tịnh Độ chẳng khéo phân biệt, nhận định, sao có thể phát huy được mật ư của kinh này, sao có thể giữ cho hạnh nguyện kiên cố sau khi học xong kinh này ư?

Chỉ v́ pháp môn của ngài Thế Chí chẳng phải là yếu nghĩa của kinh này nên trong bản sớ giải của ngài Tây Hồ Giám cũng có nêu nhưng chưa phát huy. Nay tôi sẽ trước là biện định về pháp, sau là nêu rơ mật ư.

 

a. Biện định pháp môn:

Phải biết rằng pháp thánh viên thông này thuộc về Căn Đại trong Thất Đại để nhiếp trọn sáu căn. V́ thế, nương vào sáu căn ấy để tu Niệm Phật tam muội bèn có ba thứ khác nhau: Một là niệm tự Phật, hai là niệm tha Phật, ba là niệm tự tha Phật.

- Nếu niệm tự Phật th́ giống với các môn thánh viên thông khác: lấy căn tánh làm pháp môn được niệm, lấy sự quay trở về tánh lặng trong làm phương tiện năng niệm. Như kinh Ương Quật dạy: “Nhăn căn ấy ở nơi chư Như Lai thường đầy đủ chẳng giảm, hăy nên tu cho thấy được phân minh rành rẽ... Ư căn ấy ở nơi chư Như Lai thường đầy đủ chẳng giảm, hăy nên tu tập cho biết được phân minh rành rẽ” th́ cũng giống như trong kinh này, mười phương chư Phật cùng bảo A Nan: “Ông muốn mau chứng an lạc giải thoát tịnh tĩnh diệu thường th́ chỉ do nơi sáu căn của ông, chứ chẳng phải từ vật nào khác nữa”.

Lại như Tổ Sư nói: “Ở trong thai gọi là thân, ở trong đời gọi là nhân, ở mắt gọi là thấy, ở tai gọi là nghe, nơi mũi phân biệt hương, nơi miệng đàm luận, nơi tay cầm nắm, nơi chân di chuyển. Người hiểu biết bảo đó là Phật tánh, kẻ chẳng hiểu biết gọi đó là linh hồn”, chư Tổ chỉ dạy những điều như trên rất nhiều. Môn niệm tự Phật tam muội này bao gồm hết thảy giáo nghĩa, hết thảy pháp môn trực chỉ của Thiền tông, chẳng sót chút ǵ.

- Nếu niệm tha Phật bèn có khác với các thánh viên thông: dùng sáu căn làm năng niệm, lấy quả Phật làm sở niệm. Dẫu Pháp Thân được niệm ấy vốn cùng một thể với ta, nhưng ta không có hai thứ trang nghiêm. Chư Phật phước trí viên măn, thành Lưỡng Túc Tôn. Niệm quả đức của Phật chẳng sanh mỏi chán, mắt thường chiêm ngưỡng Phật, tai thường nghe lời dạy của Phật, mũi thường ngửi hương Phật, lưỡi thường xưng Phật hiệu, thân thường lễ tượng Phật, ư thường duyên theo Phật pháp. Những điều được sáu căn chuyên chú không ngoài Phật cảnh, liên tục không gián đoạn, không xen tạp như thế. Môn niệm tha Phật tam muội này bao gồm hết các kinh Di Đà, Dược Sư, Di Lặc Thượng Sanh v.v... và hết thảy nghiệp hạnh, sự tướng, pháp môn trong liên xă chẳng sót chút ǵ.

- Nếu niệm tự tha Phật th́ vừa giống như các môn thánh viên thông khác lại vừa sai khác. Trước hết phải khai viên đốn giải, biết rơ chúng sanh và Phật giống hệt như nhau, tâm và cơi nước chẳng hai, nương nhờ y báo, chánh báo của đức Phật kia để hiển lộ tâm tánh ḿnh. Đă chẳng mê lầm ngoài tánh có Phật, mà cũng chẳng chấp cơi kia chẳng phải là tâm. Đấy là chỗ “khai viên đốn giải” giống với các môn thánh viên thông khác, c̣n điểm khác biệt là phải nương nhờ vào cảnh xứ khác. Quán kinh nói đến phương tiện thù thắng lạ lùng, c̣n ở đây kinh dạy: “Chẳng nhọc phương tiện, tự được tâm khai” ngh