Trung Phong Tam Thời
Hệ Niệm Pháp Sự
Toàn Tập Giảng Kư,
Phần 18
Lăo pháp sư Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
Chư vị đồng học!
Xin xem tiếp lần khai thị thứ hai trong thời thứ ba, chúng ta xem phần Trường Hàng:
Cổ nhân đạo: Thanh châu đầu ư trược thủy, trược thủy bất đắc bất thanh; niệm Phật đầu ư loạn tâm, loạn tâm bất đắc bất Phật.
(Cổ nhân nói: “Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong; niệm Phật gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể không thành tâm Phật”)
Hai câu đầu là tỷ dụ, là lời nói tô điểm; câu sau mới chính là câu chủ yếu. Trong phần trên, tôi đă nói đại lược về Thanh Thủy Châu rồi, chuyện này không quan trọng, điều quan trọng là “niệm Phật gieo vào tâm loạn, tâm loạn chẳng thể không thành tâm Phật”. Chúng ta niệm Phật công phu không đắc lực! Trong tất cả hết thảy pháp môn Đại hay Tiểu Thừa th́ pháp môn Niệm Phật là thuận tiện nhất, đơn giản nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất. Vậy mà chúng ta niệm Phật đă bao nhiêu năm rồi, v́ sao chẳng được thọ dụng ǵ hết? “Loạn tâm” vẫn y như cũ, nguyên nhân v́ đâu? Có phải là niệm Phật không linh hay chăng? Nếu phương pháp Niệm Phật này không linh th́ mọi phương pháp khác nói chung đều không có hiệu quả.
Nói thật ra, chẳng phải phương pháp Niệm Phật không linh, mà do sự lư giải của chúng ta đối với phương pháp này có vấn đề, cách niệm cũng có vấn đề. Nếu chúng ta không hiểu thấu triệt phương pháp này, ta sẽ hoài nghi; hoài nghi chướng ngại công phu thành tựu. Giảng kinh, thuyết pháp nhằm mục đích đoạn nghi sanh tín, ḷng tin thanh tịnh hiện tiền th́ không cần phải nghe kinh, không cần phải nghiên cứu giáo pháp nữa, những việc ấy biến thành dư thừa. Quan trọng nhất là tín tâm kiên định, tín tâm thanh tịnh. V́ thế, khi c̣n tại thế, đức Thế Tôn giảng kinh thuyết pháp cho mọi người bốn mươi chín năm, nhằm mục đích ǵ? Nhằm mục đích giúp cho mọi người “đoạn nghi sanh tín, phá mê khai ngộ”, giúp đỡ như vậy đó. Khai ngộ rồi tín tâm bèn sanh khởi, quan trọng nhất là tu hành, thật sự tu hành! Tŕ danh niệm Phật là hành môn, nguyên lư, nguyên tắc tŕ danh niệm Phật là “ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, chấp tŕ danh hiệu”. Đại Thế Chí Bồ Tát dạy chúng ta: “Tịnh niệm tiếp nối”. “Tịnh”: Niệm phải thanh tịnh, thanh tịnh là không hoài nghi, không xen tạp, đó là tịnh niệm, “tiếp nối” là không gián đoạn. Chúng ta niệm Phật có làm được như vậy hay chưa?
Chúng ta không đoạn ḷng ngờ; trong cuộc sống hằng ngày, đối với chính ḿnh, đối với người nhà, thân bằng bè bạn, đối với hết thảy người sự vật biến hóa trong thế gian, đặc biệt là những việc liên quan đến mai sau, chúng ta không đoạn nghi hoặc th́ làm sao niệm Phật không bị nghi ngờ cho được? Nếu như niệm Phật không nghi ngờ th́ tất cả hết thảy những mối nghi bên ngoài đều bị đoạn trừ. Thật đấy, không giả chút nào. Quư vị thấy cổ đức buông thân tâm thế giới xuống, đề khởi chánh niệm, buông thân tâm thế giới xuống nên không nghi nữa. C̣n nghi th́ có buông xuống được hay không? Các Ngài đều hiểu rơ, đều thấu hiểu. Tuy thế có những người không thấu hiểu, không hiểu rơ vẫn có thể buông xuống được, chúng tôi nói những người ấy thiện căn, phước đức sâu dày. V́ sao? Niệm Phật là chuyện quan trọng. Văng sanh Tây Phương Tịnh Độ trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ, lần này ta gặp được nhất định phải nắm lấy, những chuyện khác không cần nữa. Bỏ hết đi, không nghi nữa! Niệm Phật quyết định chẳng xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, đó là niệm Phật đúng pháp. V́ thế, Phật hiệu gieo vào loạn tâm, loạn tâm tự nhiên mất tiêu. Cách này hay lắm! Rất hữu hiệu. Nếu quư vị nghiêm cẩn niệm, đúng lư, đúng pháp, tôi thường nói là từ ba tháng đến sáu tháng, hiệu quả rất rơ rệt. Đến khi hiệu quả hiển hiện quư vị sẽ tự nhận thấy pháp hỷ sung măn phát sanh, quư vị hoan hỷ niệm. Mở đầu khó, mở đầu ra sao? Phải chế phục phiền năo tập khí của chính ḿnh, phiền năo tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay rất nghiêm trọng! Quư vị [tu tập] đúng lư đúng pháp sẽ tự nhiên chế phục được. Quan trọng nhất là như chúng tôi thường nói: “Thâm nhập một môn, trường thời huân tu”. Công phu nhất định chẳng được gián đoạn, càng niệm tâm càng thanh tịnh, cảm thấy vọng niệm bớt đi. Vọng niệm ít đi chính là phiền năo nhẹ đi, trí huệ tăng trưởng. Trước kia thấy những ǵ, nghe người ta nói không hiểu, nghe rồi cũng không thấu hiểu, nay càng niệm càng rơ ràng, càng niệm càng sáng suốt, trí huệ tăng trưởng, niệm Phật công phu đắc lực rồi đấy!
Chỉ cần niệm được công phu thành phiến là nắm chắc văng sanh. Nếu như đạt đến Sự nhất tâm, Lư nhất tâm th́ quả thật không phải ai cũng làm được. Công phu thành phiến, chỉ cần chúng ta nỗ lực một chút ai nấy đều có thể làm được; v́ thế cổ đức nói pháp môn này là “vạn người tu vạn người về”. Niệm Phật mà không thể văng sanh, chắc chắn là v́ niệm Phật có hoài nghi, có xen tạp, thường xuyên gián đoạn. Gián đoạn rất đáng sợ, vừa gián đoạn phiền năo bèn khởi hiện, chỉ có công phu không gián đoạn mới có thể khống chế được phiền năo. Phiền năo ấy không phải là diệt đoạn, mà là phục đoạn (chế ngự, đè nén xuống). Quư vị có năng lực khống chế phiền năo, trong tâm chỉ có một câu A Di Đà Phật, phiền năo sẽ không hiện tiền. Đấy chính là “tâm vô nhị dụng”, quư vị chẳng được nhất tâm nhị dụng: Vừa niệm Phật vừa khởi vọng tưởng, chẳng thể dùng tâm vào hai chuyện được. Lúc niệm Phật quyết định không có vọng tưởng. Lúc vọng tưởng khởi lên th́ niệm Phật nhất định bị phá hoại, chắc chắn là như thế! Trước hết, ngài Trung Phong nêu lên ư nghĩa trọng yếu này giống như nêu lên đề mục, rồi tiếp đó, Ngài giải thích:
Tây thiên hữu bảo, danh viết Thanh Châu.
(Tây vực có vật báu tên là Thanh Châu)
“Tây thiên” chính là Ấn Độ, Ấn Độ có một loại bảo thạch gọi là Thanh Thủy Châu. Ngài nói:
Vị thử châu đầu nhập trược thủy trung, nhập thủy nhất thốn, tắc nhất thốn chi trược thủy tức tiện thanh khiết.
(Loại châu này gieo vào trong nước đục, ch́m xuống nước một tấc th́ một tấc nước đục liền thành thanh khiết)
Dùng con mắt khoa học hiện thời để nh́n sự việc này th́ viên châu ấy bỏ vào nước sẽ phát sanh tác dụng hóa học có thể hóa giải những dơ bẩn trong nước, v́ thế nước khôi phục sự thanh tịnh. Ở Trung Quốc, lúc nhỏ tôi sống ở nông thôn, Trung Quốc thời đó rất lạc hậu, chẳng những ở nông thôn không có nguồn nước sạch, mà ngay ở những đô thị, thành phố nhỏ cũng không có nước máy; chỉ có một số rất ít những đại đô thị có nước máy. Lúc nhỏ tôi sống ở quê nhà, huyện Ngu Giang không có nước máy. Thời gian kháng chiến [chống Nhật], tôi ở tỉnh Phước Kiến, tôi sống ở Diên B́nh không có nước máy; Kiến Ngơa cũng không có nước máy. Nước phải đi mua, có người chuyên gánh nước đến bán; trong nhà có chum nước, mỗi ngày phải mua nước. Nhà giàu có th́ tự đào giếng trong nhà, có nước giếng; chúng tôi sống ở nông thôn th́ dùng nước sông, nước suối, nước khe. Loại nước này không sạch. V́ thế, chúng tôi ra sông gánh nước, gánh về nhà, nhất định phải để cho nước lắng cặn. Dùng phương pháp ǵ để lóng trong? Không có Thủy Thanh Châu, người Tàu dùng phèn chua, phèn chua có thể lóng trong nước, cặn ch́m xuống đáy chum, nước trên mặt rất sạch. Lúc nhỏ, chúng tôi thường dùng phương pháp ấy. Chúng tôi tin rằng Thủy Thanh Châu đại khái giống như một loại phèn chua, cùng một loại. V́ thế, “ch́m vào nước một tấc th́ một tấc nước đục bèn thành thanh khiết”.
Thử châu nhập thủy tự thốn chí xích, năi chí ư để, tắc trược thủy diệc tùy chi nhi trừng trạm.
(Châu ấy gieo vào nước từ tấc tới thước, cho đến tận đáy th́ nước đục cũng lặng trong theo)
Chữ “trừng trạm” diễn tả nước rất thanh tịnh, không có mảy may nhơ bẩn. Thiền sư dùng điều này làm tỷ dụ, làm tiền đề thuyết pháp. Phần sau là chánh thuyết (nói thẳng vào vấn đề chánh):
Đương tri thanh châu giả, dụ niệm Phật chi tịnh niệm dă.
(Nên biết thanh châu ví như tịnh niệm niệm Phật vậy)
Tịnh niệm tiếp nối! Dùng Thanh Châu để ví cho tịnh niệm niệm Phật. Tịnh niệm giống như Thủy Thanh Châu.
Trược thủy giả dụ tạp loạn chi vọng tâm dă.
(Nước đục ví như vọng tâm tạp loạn)
Trong tâm chúng ta vọng niệm khởi lên ch́m xuống bất định, thật vậy! Vọng niệm trước vừa diệt, vọng niệm sau bèn sanh, đêm ngày không ngớt. Tâm chúng ta không thanh tịnh, giống như nước trong biển cả, sóng vỗ dâng trào, trước nay chưa hề ngưng nghỉ. Kinh Phật nói: Tâm thanh tịnh sanh trí huệ, tâm nổi sóng sanh phiền năo; mức độ dậy sóng càng lớn th́ phiền năo càng nghiêm trọng, quả báo là tam đồ. Lục đạo luân hồi biến hiện ra như thế đó. Học vấn thế gian hay xuất thế gian không có ǵ khác, chỉ là thanh tịnh tâm mà thôi. V́ thế, tu tŕ Phật pháp mấu chốt là chữ Định, Tam Học Giới - Định - Huệ. Giới là thủ đoạn, giúp ta đắc Định, Định trọn chẳng phải là mục đích, Định có thể mở mang trí huệ. Huệ mới là mục đích. V́ thế Phật pháp là trí huệ pháp, Phật học là trí huệ học. Thiền Tông không tu Định. Nếu quư vị tưởng Thiền Tông tu Định th́ quư vị hoàn toàn sai lầm, quư vị coi Đàn Kinh thấy câu đầu tiên của Lục Tổ đại sư là ǵ? Câu nói ấy đă phơi bày toàn bộ tông chỉ của nhà Thiền, Ngài dạy đại chúng “toàn là niệm Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đa”. Thiền Tông là Bát Nhă. Bát Nhă hiện tiền bằng cách nào? Phải Định! V́ thế, Thiền Tông tu Định là thủ đoạn, mục đích nhằm mở mang trí huệ, mục tiêu là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, đấy chính là trí huệ Bát Nhă.
Thiền cầu trí huệ Bát Nhă, Giáo cũng chẳng ngoại lệ, đại khai viên giải! Quư vị xem có phải là trí huệ Bát Nhă hay không? Tịnh Độ tông chúng ta đắc nhất tâm bất loạn, nhất tâm bất loạn bèn sanh trí huệ. Pháp môn bất đồng là bất đồng về phương pháp, về cách thức dụng công, chứ phương hướng, mục tiêu hoàn toàn tương đồng. V́ vậy, đức Phật mới nói pháp môn b́nh đẳng, không có cao - thấp. Bất luận tu học pháp môn nào cũng đều có thể thành vô thượng đạo, đều có thể minh tâm kiến tánh, đều có thể kiến tánh thành Phật. Chúng ta phải biết nguyên tắc này th́ tu hành mới chẳng lầm phương hướng, chẳng lầm mục tiêu. Giới - Định - Huệ là phương hướng chung, là mục tiêu chung; nhân Giới đắc Định, nhân Định đắc Huệ. Chúng ta phải hiểu rơ tỷ dụ này, nay chúng ta dùng phương cách nào để thực hiện công phu? Ở đây, ngài Trung Phong bảo phương pháp Niệm Phật là quan trọng nhất.
Đương vọng tâm tạp loạn chi khoảnh, năng cử khởi nhất niệm.
(Ngay trong lúc vọng tâm tạp loạn, có thể khởi lên một niệm)
“Nhất niệm” chính là sáu chữ hồng danh, lúc trong tâm chúng ta rất phiền, rất loạn cũng có thể khởi lên một niệm này, thế nhưng hiệu quả của niệm này không hiển nhiên, do nguyên nhân nào? Do tâm thái của chúng ta có vấn đề.
Như đối Từ Tôn.
(Như đối trước đức Từ Tôn)
Chúng ta có tâm thái như thế ấy hay chăng? Chí thành cung kính như đang đối trước A Di Đà Như Lai, như đang đối trước Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Chúng ta niệm Phật thiếu cái tâm cung kính, nên hiệu quả bị suy giảm rất lớn, bị chiết khấu rất lớn, tợ hồ không thấy hiệu quả ǵ hết. Dụng công, tâm thái tối thiểu chiếm đến chín mươi phần trăm, phương pháp tối đa chỉ chiếm mười phần trăm. Trước kia, tôi khuyên những đồng học giảng kinh, tôi từng khuyên như thế này: “Quư vị học giảng kinh, muốn học phương pháp giảng kinh, tôi thường nói: Tánh chất quan trọng của phương pháp giảng kinh nhiều nhất là mười phần trăm, c̣n chín mươi phần trăm là thái độ của quư vị”.
Trong bài Nội Điển Nghiên Học Cương Lănh, tôi đă từng nói: Chân thành, cung kính quan trọng lắm! Ấn Quang đại sư nói rất hay: “Một phần thành kính được một phần lợi ích; hai phần thành kính được hai phần lợi ích. Mười phần thành kính được mười phần lợi ích”. Chúng ta xướng một tiếng Phật hiệu nhưng miệng có tâm không, không có tâm cung kính th́ làm sao thành tựu cho được! Tâm cung kính được nuôi dưỡng không chỉ trong lúc niệm Phật. Trong lúc niệm Phật, ta có tâm cung kính; lúc không niệm Phật, không có tâm cung kính th́ cái tâm cung kính ấy là giả, không thật! V́ sao? Một tức là hết thảy, hết thảy chính là một. Nếu quư vị cung kính Phật th́ cũng phải cung kính hết thảy chúng sanh. Thậm chí đối với hết thảy trùng, kiến, muỗi đều cung kính, thấy chúng nó ḿnh nhất định chắp tay: “Bồ Tát kiến, Bồ Tát nhặng xanh”, tâm thành kính sanh khởi. Quư vị chưa làm được như vậy th́ tâm cung kính chưa sanh khởi. Khởi tâm động niệm phiền năo làm chủ, chí thành, cung kính không phát khởi được.
Chẳng những đối với hết thảy động vật mà đối với hết thảy thực vật cũng phải như thế. Ở bất cứ nơi đâu thấy hoa cỏ, thậm chí với bất cứ vật phẩm nào, quư vị đều cung kính. Bàn phải lau chùi cho sạch sẽ, sắp đặt cho ngay ngắn tề chỉnh, cung kính nó đấy! Từ chỗ này có thể thấy quư vị có thật sự cung kính đối với Phật hay không! Chỉ cung kính Phật, đối với những ǵ khác không cung kính, có nghĩa là không cung kính Phật. Vậy là cung kính giả tạo, không thật! V́ sao? “Hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, là vị lai chư Phật”. Kinh Hoa Nghiêm c̣n nói hay hơn nữa: “T́nh và vô t́nh đều thành Phật đạo”. Vô t́nh là thực vật, là khoáng vật; quư vị đối với thực vật, đối với khoáng vật đều có tâm cung kính. V́ thế, trước hết phải học “kính”, câu thứ nhất trong mười đại nguyện Phổ Hiền là “lễ kính chư Phật”, chúng ta thiếu sót điều này. Chúng ta thiếu lễ kính, thiếu tán thán, thiếu cúng dường, thiếu sám hối. Do vậy, một câu Phật hiệu không linh. Quư vị đă hiểu rơ chưa vậy? Quư vị muốn niệm một câu Phật hiệu được linh, niệm có cảm ứng, niệm khởi tác dụng, thật sự chế ngự được vọng tưởng th́ phải từ chí thành cung kính mà niệm mới hữu hiệu! V́ thế, phải “như đối trước đức Từ Tôn”.
Án định lục tự hồng danh.
(Giữ vững sáu chữ hồng danh)
Tức là “nam mô A Di Đà Phật” từng chữ rơ ràng, dẫu một chữ cũng không hàm hồ.
Nhất nhất xuất khẩu nhập nhĩ.
(Mỗi câu, mỗi chữ từ miệng phát ra lọt vào tai)
Đây là cổ đức dạy chúng ta phương pháp nhiếp tâm niệm Phật: Phật hiệu phát sanh từ tâm chí thành, cung kính; từ miệng phát ra âm thanh, từ tai nghe lọt những âm thanh ấy. Người hiện thời gọi điều này là “sức chú ư tập trung bất tán”, như vậy mới chế ngự được vọng niệm. Cổ nhân dùng phương pháp này có hiệu quả, các Ngài đem phương pháp hữu hiệu này truyền lại cho chúng ta. Chúng ta phải học tập theo phương pháp này, hăy thử làm xem, thật sự có hiệu quả đấy!
Tắc thử tạp loạn tự nhiên tùy niệm tịch tĩnh.
(Do đây tạp loạn tự nhiên theo niệm mà ngưng lặng)
Đây chính là công phu, không miễn cưỡng chút nào, tự nhiên vọng niệm chẳng khởi. “Tạp loạn” là vọng niệm. Lúc đầu quư vị thấy vọng niệm ít đi, nếu như nói chúng ta mới học, vọng niệm có sanh khởi hay chăng? Vẫn khởi, nhưng ít hơn thôi. Trong Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, chúng tôi thấy có không ít người thường viết thư hỏi pháp sư: Niệm Phật đă lâu lắm rồi, trong [thời gian niệm hết] một cây hương vẫn có rất nhiều vọng niệm. Một cây nhang: Nhang dài th́ thường cháy được một tiếng rưỡi, “một cây hương” là như vậy. Do xưa kia khoa học kỹ thuật chưa phát triển, người giàu sang mới có đồng hồ, trong dân gian không có đồng hồ. Tính thời gian bằng cách nào? Đại khái là lúc trời quang nh́n xem mặt trời ở nơi đâu để phán đoán thời gian. Đêm th́ nh́n mặt trăng, nh́n tinh tú. Những người niệm Phật b́nh thường đều dùng nhang; v́ vậy gọi thời gian là “một cây hương, hai cây hương”. Một cây nhang dài cháy độ một giờ rưỡi. Hai cây nhang là ba tiếng đồng hồ, không thuận tiện như hiện thời: Trên tay ai nấy đều đeo đồng hồ, xưa kia không có. Trong ṿng một cây hương vẫn khởi lên rất nhiều niệm, qua Văn Sao của tổ Ấn Quang ta thấy được điều này. Tổ Ấn Quang phúc đáp: Phàm những người dụng công đắc lực cũng chính là những người thật sự thực hiện được “tịnh niệm tiếp nối”, không hoài nghi, không xen tạp, không gián đoạn. Niệm như vậy ba năm, đại khái là trong một cây hương vẫn c̣n có dăm ba ư niệm, rất ít, ngẫu nhiên khởi lên dăm ba niệm; v́ thế phải huân tu trong một thời gian dài. Vọng niệm khởi lên không cần phải bận tâm, không sợ hăi, đó là chuyện b́nh thường. Lúc quư vị không niệm Phật, tự ḿnh không nhận biết vọng niệm hết sức nhiều, quá ư là nhiều! Muốn dùng một niệm niệm Phật để chế ngự bèn nhận thấy vọng niệm hết sức nhiều. V́ thế, có người sợ hăi: “Lúc ḿnh không niệm Phật không có vọng niệm, cớ sao niệm Phật th́ vọng niệm lại nhiều đến thế?” Lúc ấy ḿnh không nhận biết, chứ không phải không niệm Phật th́ không có vọng niệm! Không niệm Phật cũng có nhiều vọng niệm như thế, nhưng ḿnh không nhận biết! Nay niệm Phật đột nhiên phát hiện; do vậy, quư vị phải biết đó là hiện tượng b́nh thường.
Quư vị Niệm Phật công phu chẳng được gián đoạn, phải nghiêm túc nỗ lực niệm, dần dần vọng niệm càng ngày càng ít, công phu có tiến bộ! Nếu niệm một thời gian dài mà vọng niệm vẫn nhiều, không cảm thấy giảm thiểu th́ tự ḿnh phải khéo kiểm điểm, phản tỉnh, công phu niệm Phật của ḿnh nhất định có vấn đề; nói chung vấn đề ở chỗ không có tâm thành kính. V́ thế, hàng sơ học lúc niệm Phật phải quán tưởng kèm thêm: Lúc ḿnh niệm Phật giống như Phật đang ở trước mặt ḿnh, như vậy ḿnh mới khởi ḷng chân thành, cung kính được, mới có lợi ích. Hoặc là lúc niệm Phật đối trước tượng Phật mà niệm, niệm tại Phật đường, giống như ở cùng một chỗ với Phật. Chúng ta đối trước Phật chẳng thể không cung kính, chẳng thể tùy tiện, có sức câu thúc ḿnh. V́ thế công phu đắc lực, có tâm chân thành cung kính, tự nhiên vọng niệm dần dần giảm thiểu, “tùy niệm tịch tĩnh”.
Tự thị nhất niệm nhi chí thập niệm, năi chí niệm niệm bất di.
(Từ một niệm như vậy cho đến mười niệm, cho đến niệm niệm chẳng đổi)
“Bất di” là không biến đổi, một câu Phật hiệu cứ một mực mà niệm, một đời không biến đổi. Nhất tâm nhất ư thành thành khẩn khẩn mong sao niệm cảm được Phật A Di Đà hiện đến, làm được như vậy! Từ cổ đến nay người làm được như vậy chẳng ít, đấy chính là “chí thành cảm thông”, chân thành đến cùng cực sẽ khởi tác dụng cảm ứng đạo giao. Phật đến an ủi quư vị, Phật đến chứng minh cho quư vị. Có lúc Phật bảo quư vị: “Quư vị c̣n thọ được bao nhiêu năm nữa, đến khi mạng chung Phật sẽ đến tiếp dẫn!” Đem tin tức ấy báo cho chúng ta, tin tức ấy hết sức đáng tin. Khi ấy, có không ít người thông minh thật sự cảm ứng được Phật hiện tiền, bảo cho biết c̣n sống bao nhiêu năm nữa, họ không cần: “Bạch A Di Đà Phật! Chẳng dễ ǵ niệm được Ngài đến, nay con theo Ngài đi!” Những người như thế rất nhiều, chứ không phải một ḿnh pháp sư Oánh Kha, rất nhiều! Chuyện pháp sư Oánh Kha mọi người đều biết, có rất nhiều người giống như vậy, nhưng họ không bảo với người khác nên người ta không biết.
Đương nhiên cũng có những người không vội vă văng sanh, nghe nói c̣n sống bao nhiêu năm nữa th́: “Được! Từ từ giao phó hậu sự rơ ràng, giao phó xong xuôi, đến lúc sẽ theo Phật ra đi”. Chuyện này chúng ta chỉ cần đọc kỹ Văng Sanh Truyện, đọc Tịnh Độ Thánh Hiền Lục sẽ thấy. Như vậy, ở đây quan trọng nhất là “niệm niệm không đổi”.
Tức giáo trung sở vị: “Tịnh niệm tương kế” giả dă!
(Tức là như trong giáo pháp đă nói: “Tịnh niệm tiếp nối”)
“Giáo” ở đây là kinh Lăng Nghiêm. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Nhiếp trọn sáu năm, tịnh niệm tiếp nối”. Đoạn này nêu rơ ràng, rành rẽ ư “tịnh niệm tiếp nối”. Trong đây, quan trọng nhất là “khởi lên một niệm như đối trước đức Từ Tôn”, đó là thành kính. Tiếp theo là “niệm niệm không đổi”. Đấy chính là tịnh niệm tiếp nối, quan trọng lắm! Đấy chính là “một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”. Tiếp theo, thiền sư hết sức khẩn thiết từ bi dạy chúng ta:
Niệm Phật chi nhân, tu yếu tín tâm khẩn thiết, chánh nhân lẫm nhiên, trùng niệm sanh tử luân chuyển chi khả bi, thâm yếm trần lao phân nhiễu vi khả thống.
(Người niệm Phật cần phải có ḷng tin khẩn thiết, chánh nhân rỡ ràng, nghĩ đi nghĩ lại sanh tử luân chuyển đáng buồn thương, chán ngán sâu xa trần lao rối bời đáng đau xót)
Đoạn này giảng niệm Phật th́ phải dụng tâm giống như lời khai thị ở đây mới ḥng tương ứng. V́ thế, chúng ta đọc đến đoạn khai thị này, hoặc là nghe đến, hăy nghĩ b́nh thường chúng ta niệm Phật có tương ứng với những lời Ngài nói ở đây hay chăng? Nếu tương ứng rất tốt, phải khéo ǵn giữ! Nếu không tương ứng phải đau đáu sửa đổi lỗi cũ! Như vậy, điều đầu tiên là “ḷng tin khẩn thiết”, chân thành khẩn thiết. “Chánh nhân rỡ ràng”: Tu pháp môn th́ “phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm” chính là chánh nhân văng sanh. Trong kinh Vô Lượng Thọ, giảng về văng sanh th́ hai phẩm Ba Bậc Văng Sanh và Văng Sanh Chánh Nhân chuyên giảng về phương pháp niệm Phật. Chánh nhân rơ ràng, minh bạch, không hàm hồ một tí nào!
“Nghĩ đi nghĩ lại sanh tử luân chuyển đáng buồn”: Nhất định phải có cái tâm này, vô lượng kiếp đến nay sanh tử luân hồi, có thể nói là thoạt ch́m thoạt nổi. Luân hồi trong lục đạo, ngoi đầu lên chính là làm được một chút thiện nhân; gặp được duyên, sanh trong ba đường lành. Quả báo trong ba đường lành hết rồi, ác nhân hiện tiền, ngay lập tức ch́m đắm vào ba đường ác. Kinh Phật dạy chúng ta: Cứ hễ quư vị ở trong sáu nẻo th́ chắc chắn thời gian trong ba đường ác dài lâu, hết sức là dài, thời gian trong ba đường lành ngắn ngủi. V́ thế, chúng sanh luân hồi trong sáu nẻo, ba đường ác là quê nhà, ba đường lành như đi du lịch, thời gian rất ngắn tạm. Quư vị thấy điều này rất đáng buồn, cái tâm [chán sợ] sanh tử mới khởi.
“Thâm yếm” (Chán ngán sâu xa): Yếm là “yếm ố, yếm phiền” (chán ghét, chán ngán). Chán ngán chuyện ǵ? “Trần lao rối bời” chính là những trạng huống sanh hoạt hiện tiền của chúng ta. Ai trẻ tuổi chẳng dễ cảm nhận; người bảy mươi, tám mươi tuổi, nói thật ra là gần như thấy trọn thế gian này, thấy lâu quá rồi, chán chường lắm! Người hiện thời bảo như vậy là “yếm thế”. Yếm thế chẳng thể giải quyết vấn đề, hết sức đáng buồn! Mỗi một ngày, nào người, nào sự, nào vật quấy nhiễu, thân tâm chẳng được thanh tịnh, nhất là đối với những người tuổi tác đă cao, cuộc sống là đau khổ, nào có sung sướng chi? Luân hồi khổ, cuộc sống hiện tại đau khổ, nhất là sống trong xă hội hiện thời, con người hiện thời chẳng biết thế nào là nhân nghĩa đạo đức, không biết đến! Mê man ngập ngụa trong ṿng dụ hoặc của ngũ dục, lục trần, chẳng biết quay đầu. Những dụ hoặc ấy toàn là tráo trở, nói khó nghe hơn th́ toàn là tội nghiệp.
Hiện thời nhất là Internet, nội dung của Internet là ǵ vậy? Tôi chưa xem qua, tôi nghe những đồng học kể lại: Trong ấy toàn là giết - trộm - dâm - dối, đều dạy người ta làm ác, quư vị nói xem có đáng sợ lắm hay không? Những người trẻ tuổi, thậm chí những đứa bé từ nhỏ đă mê đắm Internet, mỗi ngày lên mạng xem thứ này thứ nọ, khiến cho một điểm lương tri lương năng bị phá hoại hết, phá hoại sạch sành sanh! Không ǵ đáng buồn, đáng đau ḷng hơn. Thế giới này chẳng thể không có tai nạn được! Tai nạn do đâu mà có? Tai nạn do ác nghiệp chiêu cảm, chính những kẻ tạo ác nghiệp không hay biết. V́ sao? Chính họ không có năng lực phân biệt đúng - sai, thiện - ác, ch́m đắm mê man trong ấy. Nếu quư vị bảo với họ những chuyện thiện nào, họ sẽ cảm thấy rất kỳ quái, từ trước đến giờ chưa từng nghe nói đến. Nghe như quư vị đang kể chuyện thần thoại, họ không tiếp nhận được, nghe không lọt tai, tâm họ khởi gió to sóng lớn, c̣n làm ǵ được nữa! Chúng ta hăy nh́n những cái nhân, những duyên đă tạo trong xă hội hiện thời rồi hăy nghĩ đến những kết quả sau này như thế nào.
Các nhà khoa học nghiên cứu lịch sử biến thiên, tiến hóa của địa cầu có đưa ra thuyết như sau: Trong quá khứ địa cầu có một nền văn minh cao tột, nhưng văn minh phát triển đến một thời kỳ nào đó th́ bị hủy diệt. Các nhà khoa học cho rằng tối thiểu địa cầu đă từng bốn lần đạt đến đỉnh cao văn minh, rồi đột nhiên bị hủy diệt. Khoa học kỹ thuật hiện thời của chúng ta đă đạt đến đỉnh điểm hay chưa? Tôi cho rằng không xa mấy đâu! Đỉnh điểm là ǵ? Là phá hoại sanh thái thiên nhiên, phá hoại sự cân bằng sinh thái trên địa cầu. Khoa học phát triển đến mức độ này th́ nay chúng ta hiểu: Thiên nhiên phải báo thù. Hễ thiên nhiên báo thù th́ chẳng những tai nạn xảy ra mà ngày tàn của thế giới cũng xảy ra, cuối cùng sẽ thấy ai thắng, ai bại!
V́ thế cổ nhân nói một câu ngạn ngữ rất ư vị: “Nhân định thắng thiên”. Năng lực trí huệ của con người chế tạo được rất nhiều máy móc thắng được tự nhiên khiến trời giận, quỷ thần ghen ghét. Quỷ thần ganh ghét, làm cho trời giận, trời nổi nóng là phiền toái rồi! Có phải là đại hủy diệt sẽ xảy tới hay không? Trong rất nhiều ngạn ngữ của cổ nhân có ẩn giấu huyền cơ, phải chú tâm quan sát mới lănh hội được. Ư nghĩa những câu ấy rất sâu xa, khiến chúng ta phải cảnh giác cao độ. Trong lúc này chúng ta chỉ c̣n cách nghiêm túc sám hối, sửa lỗi đổi mới, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nay đă hết giờ rồi!
*
Chư vị đồng học!
Xin tiếp tục xem đoạn khai thị kể từ “niệm Phật chi nhân, tu yếu tín tâm khẩn thiết, chánh nhân lẫm nhiên, trùng niệm sanh tử luân chuyển chi khả bi, thâm yếm trần lao phân nhiễu vi khả thống” (Người niệm Phật cần phải có ḷng tin khẩn thiết, chánh nhân rỡ ràng, nghĩ đi nghĩ lại sanh tử luân chuyển đáng buồn thương, chán ngán sâu xa trần lao rối bời đáng đau xót). Bắt đầu từ chỗ này, ư nghĩa đoạn này trong phần trên chúng tôi đă nói rồi, hăy xem tiếp câu kế đó:
Cử khởi nhất thanh Phật danh.
(Khởi lên một tiếng danh hiệu Phật)
Cũng ngụ ư trong lúc tâm t́nh đau xót ấy, khởi lên một câu Phật hiệu.
Trực hạ cánh vô dị kiến, như Thái A kiếm hoành án đương hiên; như đại hỏa luân tinh đằng diệm xí. Vạn vật anh chi tắc liệu, xúc chi tắc thương.
(Từ đây không c̣n dị kiến, như gươm Thái A cầm ngang trước xe, như ṿng lửa lớn cháy rực như sao sa, vạn vật chạm phải bèn cháy, đụng vào bèn bị tổn thương)
Chúng ta xem đoạn này, quả thật Trung Phong thiền sư đang nói đến t́nh trạng xă hội hiện thời của chúng ta. T́nh trạng xă hội cũng đang dần dần diễn biến thành ngày càng đọa lạc. Đại khái là kể từ lúc nào? Phải kể từ thời Thích Ca Mâu Ni Phật, thói đời ngày càng tệ đi, sao biết? Qua lời Khổng phu tử chúng ta sẽ hiểu rơ ngay. Lúc Khổng phu tử tại thế, Ngài nồng nhiệt khen ngợi Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang. Nghiêu, Thuấn có lẽ ra đời trước Khổng Tử chừng hai ngàn năm. Khổng lăo phu tử cách chúng ta khoảng hơn hai ngàn năm trăm năm, vậy thời Nghiêu, Thuấn phải là bốn ngàn năm trăm năm trước. Khổng Tử khen ngợi thời thượng cổ ai nấy đều biết hiếu, đễ, trung, tín, đều tuân thủ luân thường đạo đức. Vào thời Khổng phu tử, Ngài đă rất cảm khái xă hội động loạn, Ngài sống nhằm thời Xuân Thu Chiến Quốc, cảm thấy đạo đức ch́m đắm rất sâu, thói đời mỗi ngày mỗi tệ. Từ thời Khổng Tử đến hiện thời là hơn hai ngàn năm trăm năm, trong ṿng một trăm năm trở lại đây, có thể nói là luân lư đạo đức đọa lạc, tốc độ băng hoại càng tăng nhanh, không c̣n là đọa lạc nữa mà là băng hoại! Đọa lạc từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 20, đến bây giờ là băng hoại, hoàn toàn không c̣n nữa. Luân lư đạo đức biến thành những danh từ lịch sử, chẳng những không thấy có trong xă hội thực tế mà thậm chí những danh từ ấy cũng không c̣n nghe nói đến nữa. Trong thời buổi này, rất nhiều tôn giáo ở ngoại quốc nói đến chuyện ngày tàn của thế giới.
Trong ṿng ba bốn chục năm qua, chúng tôi cũng được thấy những báo cáo, ghi chép; nay dường như chúng ta thấy rằng mọi ghi chép đều đoán định [ngày tận cùng thế giới xảy ra] vào năm 2000. Năm nay là năm 2003, năm sau là 2004. Nếu có tánh cảnh giác cao độ th́ quư vị tự nhiên thật sự buông xuống được vạn duyên, có thể nắm chặt thời gian hết sức quư báu, nghiêm túc nỗ lực niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Những chuyện khác đều là phụ thuộc, không phải là chuyện chánh yếu của ḿnh, chuyện chánh yếu của chúng ta là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Chúng ta vẫn phải nghe kinh, nghe kinh để làm ǵ? Để giúp chúng ta phá mê khai ngộ, giúp chúng ta tỉnh ngộ, giúp chúng ta tăng trưởng tín tâm, tăng trưởng nguyện tâm, giúp chúng ta hiểu rơ hết thảy trạng huống trên con đường về Tây Phương. Nghe kinh để phụ trợ, lên đường [về gấp Cực Lạc] quan trọng hơn, vừa đi đường vừa nghe kinh giới thiệu, không phải là phương pháp tốt đẹp hay sao? Thật sự hiểu rơ, thấu suốt th́ những giới thiệu ấy không cần nghe đến nữa, cứ đi theo con đường là được rồi. Đi đến nơi th́ chẳng phải là điều ǵ cũng đều biết hay sao? Ấy là người thật sự thông minh.
“Cử khởi nhất thanh Phật danh, trực hạ cánh vô dị kiến” (Khởi lên một tiếng Phật hiệu, từ nay không c̣n dị kiến). “Vô dị kiến” là không c̣n hoài nghi, cũng không phân biệt, không c̣n chấp trước, ǵ cũng buông xuống hết, cứ thẳng một đường mà đi. Tiếp đó, thiền sư nêu tỷ dụ “như Thái A kiếm, hoành án đương hiên” (như gươm Thái A cầm ngang trước xe). “Thái A kiếm” là một thanh gươm báu, giống như những thanh Can Tương, Mạc Tà thời Xuân Thu Chiến Quốc (hai người này đều là chuyên gia chế tạo bảo kiếm). Thanh Thái A cũng do họ đúc ra, bén nhọn khôn sánh. Ở đây giống như trong lúc đánh nhau, vị tướng quân tay cầm gươm báu ngồi trên chiến xa. “Hiên” là cái bệ nằm ngang ở trước xe. Chống tay trên xe cầm bảo kiếm, đó là tư thái trên chiến trường.
Lại như “ṿng lửa lớn, cháy rực như sao sa”. Hai tỷ dụ này không biết nên hiểu như thế nào? Nói về Thái A kiếm th́ nói được. Bởi thời cổ, xung phong hăm trận nơi chiến trường “cầm ngang trước xe”, điều này chúng ta có thể tưởng tượng được. C̣n thí dụ tiếp đó “ṿng lửa lớn, cháy rực như sao sa”, cái ṿng lửa lớn này chắc giống như bom nguyên tử hiện thời. Trung Phong thiền sư là người sống vào đầu triều Nguyên, lúc ấy khoa học kỹ thuật chưa phát triển, nay chúng ta thấy “cái ṿng lửa lớn cháy rực như sao sa” ở đây nếu dùng bom nguyên tử để tỷ dụ th́ không c̣n ǵ thích hợp hơn nữa. Hai thứ này đều là chiến tranh, nhân họa, thiên tai nhân họa. Trung Phong thiền sư là bậc minh tâm kiến tánh; chúng ta biết đối với người Kiến Tánh, không gian không c̣n nữa, thời gian cũng không c̣n. Chuyện vị lai Ngài không thể không biết, Ngài biết chứ. Do vậy câu này rất có thể là nói về chúng ta trong hiện tại.
“Vạn vật”, bất luận vật nào, chỉ cần tiếp xúc với nó; câu “chạm vào liền cháy” chỉ ṿng lửa lớn, tiếp xúc với nó bèn bị cháy. “Đụng vào bèn bị thương tổn” chỉ Thái A kiếm. Thái A kiếm sắc vô cùng, đụng vào nhất định bị thương. Thiền sư dùng h́nh ảnh này để sánh ví một câu Phật hiệu. Một câu Phật hiệu giống như Thái A kiếm, giống như ṿng lửa lớn. Vật nào “chạm vào bèn cháy, đụng vào bèn bị thương tổn”? ṿng lửa lớn ví cho điều ǵ? Ví cho Bát Nhă trí huệ, Thái A Kiếm ví với tam-muội. Ở phần trên đă nói: “Sanh tử luân chuyển, trần lao rối bời”, chỉ cần chạm phải Định - Huệ chúng sẽ không c̣n nữa, tiêu khói tan mây, dùng những h́nh ảnh này để tỷ dụ.
Trực chí nhất tâm bất loạn.
(Măi cho đến khi nhất tâm bất loạn)
“Nhất tâm bất loạn” là mục tiêu niệm Phật của chúng ta. Chúng ta niệm Phật để làm ǵ? Để cầu nhất tâm bất loạn. Lúc đạt đến nhất tâm bất loạn th́:
Năng Sở lưỡng vong
(Năng lẫn Sở cùng mất)
Đây chính là Lư Nhất Tâm, chứ không phải Sự Nhất Tâm. V́ sao? “Năng lẫn Sở cùng mất” chính là nhập pháp môn Bất Nhị. Nhập pháp môn Bất Nhị chính là cảnh giới Như Lai. Niệm đến nhất tâm bất loạn, Lư nhất tâm bất loạn là Pháp Thân Bồ Tát.
Đáo gia chi thuyết, bất dung tái cử.
(Câu nói “về đến nhà” chẳng được nêu lên nữa)
V́ sao? Những lời ấy thành thừa, “đến” và “không đến” không c̣n nữa, nhập cảnh giới Bất Nhị mà!
Tiệp kính chi từ, hà lao quải xỉ.
(Từ ngữ “đường tắt” cần ǵ phải nhắc đến)
Pháp môn này là đường tắt, trong phần trên tôi đă tŕnh bày cùng quư vị, đây là đường tắt nhất trong các đường tắt, tức là tu hành chứng quả rất mau, là con đường gần nhất. Nay quư vị đă đến nơi rồi, chẳng những lời này không c̣n nữa, mà ư niệm cũng không có. Mấy câu này hoàn toàn luận về cảnh giới công phu: Quư vị đă khế nhập Niệm Phật tam-muội, đă nhập pháp môn Bất Nhị, đă nhập cảnh giới của quả địa Như Lai.
Khả vị chứng tu hành chi thần thuật.
(Có thể nói là cách thần diệu để tu hành chứng quả)
Đây chính là “thân chứng” (tự ḿnh chứng đắc). “Thuật” là phương pháp. Quư vị dùng phương pháp tŕ danh niệm Phật, đạt đến cảnh giới của quả địa Như Lai, quư vị đă tự chứng nghiệm rồi, Tín nguyện tŕ danh là “thần thuật” (phương thức thần diệu), Thuật là “phương thuật” (cách thức)
Siêu phương tiện chi chánh đồ.
(Là đường chánh phương tiện siêu thắng)
Trong hết thảy pháp phương tiện, đây là phương tiện bậc nhất. Con đường này là con đường chánh thông thẳng vào Phật đạo, không ngoắt ngoéo, là một con đường thẳng tắp, phàm phu thành Phật nhanh chóng, ổn thỏa, thích đáng, đơn giản, dễ dàng, thành tựu thù thắng khôn sánh, nhưng hiệu quả chẳng tầm thường. Dẫu chư Phật Như Lai, Pháp Thân Bồ Tát cực lực tuyên dương trong hư không pháp giới, đúng là vi trần nói, cơi nước nói, không lúc nào, không chỗ nào không nói, nhưng rất đáng tiếc, kẻ biết giá trị không nhiều. Chứng tỏ kẻ không biết giá trị là đa số, cứ tưởng phương pháp này quá đơn giản, quá dễ dàng, lẽ đâu đạt thành tựu như thế ấy được! Chẳng khởi lên ḷng tin, chê bai là pháp để dạy những bà già tu! Rất nhiều người cho đến tận bây giờ vẫn có quan niệm sai lầm ấy, cứ tưởng những kinh to luận lớn Phật dành để nói với hàng thượng căn lợi trí, c̣n niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ dành cho bọn hạ hạ căn, chỉ để giảng cho những kẻ không hiểu biết, ngu si không có tŕnh độ! Thậm chí c̣n lầm tưởng Thích Ca Mâu Ni Phật kể chuyện cổ tích để an ủi những kẻ ngu si. Những kẻ ngu si như thế rất đáng thương, không đúng như thế đâu! Quư vị hăy xem: Những hiểu lầm ấy rất nghiêm trọng. Quư vị đă mắc sai lầm, lại c̣n làm ảnh hưởng đến người khác. Đúng là “kẻ đui dẫn người mù, kéo nhau vào hầm lửa”. Đây là chuyện đau xót nhất trong thế gian.
Như Lai đem của quư báu vô thượng dâng cho quư vị, quư vị không nhận biết, không biết giá trị, coi chưa đáng một đồng, vứt đi chẳng đoái hoài. Kẻ biết giá trị – kinh Phật nói – là người đă tu tập, tích tụ thiện căn, phước đức đời đời kiếp kiếp trong quá khứ. Họ vừa tiếp xúc bèn hiểu rơ, thiện căn, phước đức, nhân duyên thành thục, họ có thể tiếp nhận. Thế nhưng phàm phu trong phàm trần bị nhiễm ô nghiêm trọng, dẫu thiện căn đời quá khứ sâu dầy, khi được tiếp xúc bèn có thể thật sự tin sâu phát nguyện không phải là chuyện dễ. V́ thế, trong phần trên, tôi đă thưa cùng quư vị: Phải đúng thời tiết nhân duyên, phải gặp được thiện tri thức!
Thế nào là chân thiện tri thức? Người mà ḿnh suốt đời kính ngưỡng nhất, bội phục nhất, tin tưởng nhất. Ba điều kiện này t́m ở đâu? Quư vị phải hỏi trong thế gian lăng xăng này, người nào ḿnh bội phục nhất? Ḿnh tin tưởng ai nhất? Tôn kính ai nhất? Nếu quư vị gặp được người như vậy, học với người ấy nhất định thành tựu. Đây không phải là vọng ngữ, v́ sao nói khẳng định thành tựu? Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Phật đă nói rất nhiều, “hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh”. Đối với người ấy, quư vị có thể sanh tín tâm, người ấy dạy điều ǵ quư vị sẽ thực hiện 100%, sao không thành tựu cho được? Cũng cùng một phương pháp ấy, cùng một câu nói ấy, người khác giảng cho ḿnh, ḿnh không tin tưởng, chẳng thể tiếp nhận, đương nhiên chẳng thể phụng hành. Do vậy, quư vị chẳng thể thành tựu!
Từ cổ đến nay, ai được gọi là thiện tri thức? Từ ngữ lục, truyện kư của cổ đức, chúng ta thấy chép rất nhiều; lúc tôi c̣n trẻ mới học Phật thấy vậy rất lạ: Có người cầu học đến tham học (những bậc thiện tri thức trong lịch sử đều là người hữu danh, đều được người khác xưng tụng là bậc thiện tri thức đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, học tṛ đến tham phỏng các Ngài), Ngài bảo kẻ ấy: “Duyên của ông chẳng ở nơi tôi, duyên của ông là ở chỗ kia, chỗ nọ, ông phải đến nơi đó, tham phỏng vị đó”. Người đến tham học nghe xong, quả nhiên nghe theo lời vị ấy dạy, đến nơi kia t́m vị thiện tri thức ấy. Quả nhiên không lâu sau đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, thành tựu nơi ấy. Lúc ấy, chúng tôi cứ nghĩ: “Làm sao mà biết được? Nếu đă biết, sao không dạy, giới thiệu người ta qua nơi khác làm ǵ?” Nghĩ không ra! Những vị ấy quả thật phi thường, biết người khác ở chỗ nào, thân cận ai sẽ được khai ngộ, sẽ chứng quả, có bản lănh như thế đó.
Đến sau này, học Phật lâu rồi, dần dần hiểu được đạo lư ấy. Văn tự, lời lẽ của cổ nhân đều rất đơn giản, mỗi chuyện chỉ được ghi lại bằng mấy chữ hay một hai hàng thôi. Tưởng tượng trong cuộc sống hiện thời của chúng ta, nếu có ai đến bái phỏng quư vị, hướng về quư vị thỉnh giáo, nhất định phải nói rất nhiều, những lời ấy ghi xuống tổng cộng phải mấy vạn chữ. Các Ngài chỉ ghi có mười mấy chữ, tinh giản như thế đó, do vậy có rất nhiều thứ chúng ta nh́n không ra, người hiện thời chúng ta xem đến bèn nghi hoặc. Phổ biến nhất là nếu có ai đến bái phỏng quư vị, quư vị nhất định hỏi người ấy: “Tên họ là ǵ, nhà cửa ở đâu? Từ chỗ nào đến? Trong quá khứ đă thân cận những vị thiện tri thức nào? Trong nhiều pháp môn như thế, có hứng thú với pháp môn nào nhất?” Chắc chắn phải hỏi những chuyện ấy. Lúc tôi c̣n trẻ gặp thiện tri thức, thầy cũng hỏi như thế!
Hỏi xong, đến cuối cùng bảo quư vị: “Ông không có duyên với tôi!” Vậy th́ sao? Thấy người ấy có chí, thấy mến thích người ấy, thấy người ấy tôn trọng pháp môn nào, trong quan niệm của người ấy kính ngưỡng nhân vật nào nhất? Những chuyện ấy đều phải hỏi rơ ràng, cho rành rẽ, lại bảo: “Những điều trong tâm ông mong muốn tôi không có, sự tu học ở nơi đây không hợp với chí thú của ông”. Nên nhớ: Phật pháp “hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức”, quyết định chẳng được thay đổi nguyện vọng của người khác, chẳng biến đổi hứng thú của người khác, chứ không phải là “Vứt bỏ những thứ đó đi, học theo tôi mới tốt”. Trong thiên hạ không có loại thiện tri thức như thế, đấy không phải là thiện tri thức thật sự. Thiện tri thức chân chánh phải nghĩ: Trong xă hội hiện thời c̣n có những vị đại đức, ở chỗ kia chỗ nọ có một đại đức mà sở tu, sở học của vị ấy phù hợp với hứng thú của ông, ông hăy đến chỗ vị ấy nhất định sẽ được thành tựu, giới thiệu như vậy. Giống như đi học, học đại học, quư vị có hứng thú về phương diện nào th́ có thể theo học khoa ấy. Trong những đại học lớn, trường học nào dạy tốt nhất về môn đó bèn giới thiệu cho quư vị đến đó học.
Nếu ghi chép lại tỉ mỉ, chúng ta vừa đọc đến sẽ hiểu ngay, sách cổ ghi chép quá giản lược! Trọn chẳng phải là những vị ấy có thần thông, không phải vậy, nay chúng ta đă hiểu rơ rồi! Ví như nói có người tuổi trẻ đến chỗ tôi, đối với Thiền người ấy rất hứng thú, niệm niệm chẳng quên, đối với niệm Phật không thích thú ǵ, nhất định tôi phải bảo người ấy: “Ông chẳng có duyên nơi tôi”. Tôi cũng bắt chước lời cổ nhân, “duyên của ông ở tại nơi nào đó”. Như nay chính tôi biết: Vị đại đức trong Tông Môn chúng tôi kính ngưỡng nhất là pháp sư Thánh Nhất ở Đại Dự sơn, Hương Cảng. Ở Trung Quốc đại lục cũng có, nhưng tôi rất ít tiếp xúc, không biết rơ. Thánh Nhất pháp sư ở Đại Dự Sơn tôi quen thân, tôi từng đến thăm đạo tràng của Ngài: Quả thật vẫn giữ được phong thái, khuôn phép Tông Môn, mỗi ngày có thời gian tọa hương nhất định. Lúc tôi đến thăm, trong Thiền đường có hơn bốn mươi người, có cả người ngoại quốc đều đang học tọa Thiền. Tôi bèn đề cao! Nếu thích Pháp Tướng Duy Thức ư? Tôi không biết hiện nay ai sở trường môn này; trước kia pháp sư Diễn Bồi nghiên cứu môn này. Quư vị nói ra pháp ḿnh hứng thú, tôi sẽ giới thiệu cho quư vị đến thân cận pháp sư Diễn Bồi, đó gọi là khế cơ!
Chẳng thể nói pháp môn Niệm Phật của tôi tốt hơn nhiều, anh phải bỏ pháp ḿnh hứng thú đi, theo tôi học pháp môn Niệm Phật, không thể được! Nếu thuyết pháp như vậy, Thích Ca Mâu Ni Phật lúc tại thế việc ǵ phải nói nhiều pháp môn đến thế? Chỉ giảng một pháp môn Niệm Phật là được rồi! Quư vị hiểu: Chư Phật Như Lai, hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát, Thanh Văn, Duyên Giác đều biết hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, không miễn cưỡng mảy may. Nếu có chút nào miễn cưỡng, là v́ ḿnh đă tự ư thêm vào chút ư kiến của ḿnh. Làm thế nào để không thêm vào chút ư kiến nào của ḿnh? Tự nhiên thôi! Tự nhiên mà thành, đấy mới là hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức. Chúng ta phải nhận thức, phải học tập điều này.
Cái bệnh của người thế gian là thường nghĩ ḿnh đúng, thường thích sửa đổi người khác, buộc người khác phải theo ḿnh, người thế gian như vậy đó. Chẳng thể thuận theo căn tánh, ḷng ưa thích của người ta, chẳng thể tùy thuận. Trong mười đại nguyện vương có nói “tùy hỷ công đức”, phải học tùy hỷ, phải hằng thuận. Tâm ḿnh nhất định phải thanh tịnh. V́ thế nói phải vĩnh viễn giữ sao cho không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước nơi cảnh giới, hết thảy tùy duyên, quyết định không phan duyên. Đó là “phương thức thần diệu để tu hành chứng quả”, chữ “phương thức thần diệu” chuyên chỉ pháp môn Tín Nguyện Tŕ Danh, là “con đường chánh phương tiện siêu thắng”.
Phá tử sanh trập hộ chi lôi đ́nh.
(Sấm sét phá tan [giấc ngủ] sanh tử của loài sâu bọ)
“Trập hộ” là những loài trùng nhỏ, có rất nhiều loài động vật nhỏ ngủ Đông, Đông về bèn ngủ, thời gian rất dài. Đến lúc nào chúng mới tỉnh? Vào ngày Kinh Trập, trời Xuân sấm rền, tiếng sấm kinh động chúng, chúng bèn tỉnh dậy. Do vậy, tiết khí ấy được gọi là tiết Kinh Trập (kinh động sâu bọ). Ở đây nói “phá sanh tử trập hộ chi lôi đ́nh” nghĩa là giống như sấm mùa Xuân kinh động, lay tỉnh những động vật ngủ Đông thức dậy.
Chúc mê vọng u cù chi nhật nguyệt.
(Như mặt trời, mặt trăng chiếu tỏ nẻo mê vọng)
“Chúc” là chiếu tan, chiếu tỏ. “Chúc mê vọng u cù chi nhật nguyệt”: Cù là con đường, “u cù” là con đường nhỏ. Câu này có nghĩa là Phật hiệu giống như mặt trời, mặt trăng, chiếu rơ ràng đường lối khiến quư vị không bị lầm đường, chẳng bị lạc lối. Đây đều là những tỷ dụ, nhằm sánh ví công đức thành tựu thù thắng của pháp môn Niệm Phật, trỗi vượt hết thảy các pháp môn. Tu học mọi pháp môn nhất định đ̣i hỏi đầy đủ rất nhiều điều kiện, khuyết một điều kiện nào sẽ chẳng thể thành tựu. Chỉ ḿnh pháp môn này đơn giản, điều kiện ít nhất, chỉ cần Tín, chỉ cần Nguyện, cốt sao chịu niệm Phật, cốt sao quư vị có thể buông xuống vạn duyên là thành tựu. V́ thế, trong hết thảy pháp môn, pháp môn Niệm Phật ít điều kiện nhất, đơn giản nhất, ngay cả kinh điển cũng chỉ có ba kinh một luận. Nói thật ra, chỉ có ba kinh, c̣n một luận của Thiên Thân Bồ Tát (tức Văng Sanh Luận) giống như bản báo cáo tâm đắc từ việc tu tập pháp môn Niệm Phật của Ngài đưa cho mọi người tham khảo! Ngài tu hành như thế được thành tựu, đó là một phần tài liệu tham khảo. Kinh điển thật sự chỉ có ba bộ kinh, quư vị đều đọc cả rồi, phân lượng không nhiều. Kinh lớn nhất là kinh Vô Lượng Thọ, hiện tại có nhiều người mỗi ngày niệm kinh Vô Lượng Thọ vài lần. Đơn giản nhất là kinh A Di Đà, niệm một biến mất năm phút; đơn giản, dễ dàng đến như thế đó.
Khó ở chỗ nào? Khó ở chỗ địch không lại phiền năo, tập khí, khó ở chỗ này. Không biết dùng phương pháp tốt đẹp đến ngần này, tức là phương pháp “tịnh niệm tiếp nối”, bốn chữ này làm không được! Nói thật ra, bốn chữ này ai cũng phải làm được, v́ sao làm không được? V́ phiền năo tập khí quá nặng, chẳng thể khắc phục phiền năo, chẳng thể biến niệm Phật thành một thói quen. Vấn đề thật sự ở đây vẫn như Thiện Đạo đại sư đă dạy chẳng sai: “Toàn là do gặp duyên bất đồng”. Duyên là ǵ? Thầy giỏi, đồng học tốt, hoàn cảnh học tập tốt, đấy chính là “gặp duyên bất đồng”. Nghiệp chướng dẫu nặng, nhưng nếu gặp được duyên tốt, có thầy giỏi dạy ḿnh, có đồng học có thể thường cảnh tỉnh ḿnh, có hoàn cảnh tu học tốt đẹp, không ai chẳng thành công. Tổ sư đại đức nói: “Vạn người tu vạn người về” là nói thật đấy, không giả chút nào! Chúng tôi tin ai cũng có thể tu được pháp môn Niệm Phật, ai trong một đời này cũng có thể thành tựu viên măn. Chúng ta nói đến duyên th́ pháp sự Tam Thời Hệ Niệm là duyên thù thắng nhất, ḥa thượng chủ pháp là thiện tri thức, chúng xuất gia, tại gia cùng tu là thiện hữu, đạo tràng là hoàn cảnh niệm Phật tốt nhất, duyên đầy đủ! Khải thỉnh giảng giải Tam Thời Hệ Niệm Pháp Sự lần này là Hồ cư sĩ. Lúc mẹ bà ta lâm trọng bệnh, trong lúc c̣n đang nằm bệnh, bà đến thỉnh cầu tôi đem công đức này hồi hướng cho mẹ bà. Nếu tuổi thọ vẫn c̣n, hy vọng bệnh bà cụ sớm ngày b́nh phục; nếu thọ mạng đă hết, sẽ giúp cho cụ niệm Phật văng sanh. Ḷng hiếu ấy khiến cho chúng tôi cảm động, v́ thế, đem pháp sự này giảng từ đầu đến cuối một lượt. Tôi ước tính phải mất một trăm giờ, quả nhiên không sai. Bữa nay chúng tôi giảng đến tập thứ năm mươi hai, mỗi tập là hai tiếng đồng hồ, tức là một trăm lẻ bốn giờ. Chúng tôi nghĩ phần sau không nhiều, có lẽ chừng hai ba lần nữa là giảng xong, tôi nghĩ nhiều nhất không quá sáu tiếng đồng hồ, tức giảng ba lần nữa là viên măn. Mẹ bà Hồ đă văng sanh rồi, đem công đức này hồi hướng cho bà cụ, giúp cho bà cụ tăng cao phẩm vị. Phần khai thị của Trung Phong thiền sư đến đây là hết một đoạn. Chúng ta xem phần tiếp theo, tức là phần phó chúc, khuyến khích:
Kim tiêu Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự tương viên.
(Phật sự Tam Thời Hệ Niệm đêm nay sắp viên măn)
Đây là thời hệ niệm thứ ba, nhất tâm hệ niệm A Di Đà Phật, mọi người chúng ta cùng tu, Phật sự này sắp viên măn rồi.
Vong linh thừa tư thượng thiện, quyết định văng sanh.
(Vong linh nhờ vào thiện sự bậc thượng này, nhất định văng sanh)
Tám chữ này quan trọng lắm! “Tư” nghĩa là “này”, nói theo văn Bạch Thoại là “giá cá” (cái này). Quư vị nhờ vào “thượng thiện này”, thượng thiện chỉ cho Phật sự này. Phật sự Tam Thời Hệ Niệm chính là hành pháp thượng thiện, là phương pháp tu hành “quyết định văng sanh”, lời lẽ khẳng định, không mảy may nghi hoặc nào.
Thả đạo nhất niệm vị manh dĩ tiền, hoàn hữu giả cá tiêu tức dă vô.
(Lại nói: Trước khi một niệm vừa chớm, c̣n có tin tức nào hay không?)
Lời lẽ này đều là ngữ khí Thiền tông. Trung Phong là thiền sư, chúng ta thường thấy ư vị nhà Thiền trong văn bản Hệ Niệm. “Thả đạo nhất niệm vị manh” ư nói: Lúc một niệm chưa sanh, trước khi một niệm chưa sanh, “hoàn hữu giả cá tiêu tức dă vô”: Có tin tức ǵ hay không? Nhà Thiền nói đến Nghi, tiểu nghi được tiểu ngộ, đại nghi được đại ngộ. Không nghi sẽ không ngộ. V́ thế đường chủ Thiền đường thường dùng những phương cách khơi gợi nghi t́nh của mọi người. Nghi t́nh ấy không được giải đáp. Nếu giải đáp, quư vị sẽ không thể ngộ. Nếu không giải đáp th́ nghe xong, có người hoát nhiên khai ngộ, có người ngơ ngác không biết, những lời ấy gọi là “cơ phong ngữ”, không đạt đến cảnh giới ấy nghe không hiểu được. Tiếp đến đại sư lại có một bài kệ:
Thị tâm không tịch niệm hà y?
(Tâm này trống lặng, niệm theo đâu?)
“Nhất niệm vị manh” (một niệm chưa chớm), một niệm không sanh tâm ấy không tịch. Hỏi quư vị c̣n có tin tức ǵ hay không? Niệm nương vào đâu? Nói thật ra, ư nghĩa câu này rất phong phú. “Thị tâm”, ở đây chúng ta đọc thẳng xuống, “tâm này”. “Không tịch” là Bản Giác, tâm là trạm tịch linh minh, niệm là Thỉ Giác, Thỉ Giác hợp với Bản Giác, đại giác rạng ngời. Chân Như Lư địa, pháp vốn là như thế, chẳng thể nói nó hữu y hay vô y. Hữu y hay vô y, quư vị khởi lên ư niệm, ư niệm ấy chưa khởi là nhất niệm chưa chớm. V́ thế câu này nhằm giải đáp câu hỏi ở phần trên. Tiếp đó là hoàn toàn áp dụng vào sự tướng:
Cố quốc vân quy thục vị quy?
(Nước cũ bảo về ai chưa về?)
“Cố quốc” chính là nhà cũ của quư vị, nhà cũ nơi đâu? Tại Cực Lạc thế giới. Chúng ta niệm Phật chẳng phải là mong sanh về Cực Lạc thế giới ư? Hiện tại vẫn chưa về. Thế nhưng nay chúng ta coi như đă hiểu rồi, có thật sự thấu hiểu hay không vẫn là ẩn số! Thật sự hiểu thấu, phải tích cực mau trở về nhà, chúng ta du hành đến nơi đây, nơi đây sanh ra lắm chuyện phiền toái lắm, nơi đây có động loạn. Ngay cả Khổng phu tử c̣n nói: “Nguy bang bất cư, loạn bang bất nhập” (Nước nguy không ở, nước loạn không vào!) Nay nơi đây vừa nguy vừa loạn, về đi thôi! Lời này có ư nghĩa là như thế!
Hoa ngoại ngọc kê đề hiểu nhật,
(Ngoài hoa gà ngọc gáy b́nh minh)
“Hoa” là hoa sen, tức hoa sen trong ao bảy báu. Câu này hàm nghĩa phá mê khai ngộ, ĺa khổ được vui. “Ngọc kê đề hiểu nhật” (gà ngọc gáy rạng đông) là tỷ dụ: Phá mê khai ngộ ví như trời rạng, trời sáng. Lúc nào trời sáng? Nay chúng ta mê không giác, giống như trong tối tăm, một niệm hồi quang giống như trời rạng sáng. Trời rạng gà bèn gáy, ví như khai ngộ, ví cho từ mê vọng mà quay đầu lại.
Viễn nghênh tân Phật phụng từ oai,
(Xa đón tân Phật phụng từ oai)
Sanh về Cực Lạc thế giới bèn thành Phật, “tân Phật” đấy! Ngoài Di Đà, Quán Âm, Thế Chí, c̣n có mọi Bồ Tát, Thanh Văn đại chúng từ Tây Phương Cực Lạc thế giới đều đến đón quư vị. Họ là những người đă văng sanh trong quá khứ, văng sanh trước, đều là người quư vị quen biết, đều là người nhà thân quyến của ḿnh, là đồng tham đạo hữu của chính ḿnh, trong đời quá khứ cùng tu hành một chỗ, họ thành tựu, ta chưa thành tựu. Ta vẫn ch́m nổi luân hồi; tính không sai, hôm nay ta giác ngộ, ta thành tựu, họ cùng theo Phật đến tiếp dẫn.
V́ thế, phải biết hảo bằng hữu chân chánh, bằng hữu hiểu ḿnh đều ở Cực Lạc thế giới. Do vậy, đến Cực Lạc thế giới không cô đơn, người nhà quyến thuộc trong đời đời kiếp kiếp, thân bằng hảo hữu, đồng tham đạo hữu, đến Cực Lạc thế giới đều gặp mặt hết. Hỏi quư vị là thời đại này, thời đại nọ mới có ư vị. Rồi sao nữa? Ai nấy đều có thành tựu, không có phàm phu, đúng như kinh đă dạy: “Toàn là A Duy Việt Trí Bồ Tát ”, cảnh giới ấy phi thường lắm! Nếu chúng ta hiểu rơ chân tướng sự thật ấy sẽ không c̣n do dự nữa, thật đấy, ư niệm ǵ cũng đều đoạn, nhất tâm nhất ư niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. “Nương nơi thiện sự bậc thượng này, quyết định văng sanh”. Nay đă hết giờ rồi!
*
Chư vị đồng học!
Xin xem tiếp phần niệm Phật lần thứ hai trong thời thứ ba, nhiễu niệm:
Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.
Lần này cũng nhiễu niệm một ngàn tiếng, xem chung với những phần trước: Trong Hệ Niệm Pháp Sự này, gộp chung cả ba thời, mỗi người niệm khoảng chừng bốn ngàn tiếng Phật hiệu, mười người là bốn vạn tiếng, một trăm người là bốn mươi vạn tiếng. Thông thường trong Hệ Niệm Phật Sự này, lúc chúng tôi tổ chức số người tham dự khoảng chừng từ một trăm đến ba trăm người. Nếu tính là ba trăm người th́ là ba lần bốn ngàn là một trăm hai mươi vạn tiếng Phật hiệu, có phải là sức mạnh rất lớn hay không? Huống chi lại có tán Phật, tụng kinh, niệm chú, khai thị, thuyết pháp, phát nguyện, hồi hướng, sám hối, quán sát như vậy quư vị mới biết pháp sự này thù thắng.
Trong những năm qua, tại các nơi trên thế giới, chúng tôi đề xướng, mỗi Tịnh Tông Học Hội đều thực hiện kèm thêm pháp hội này. Đối với thời đại tai nạn lớn lao này, chắc chắn pháp sự này mang lại lợi ích tiêu tai miễn nạn. Lợi ích ấy chúng ta có thể nh́n thấy từ thí nghiệm của tiến sĩ Giang Bản Thắng tại hồ Tỳ Bà ở Nhật Bản. Nhân số không đông, hơn ba chục người, với sức của số người như vậy, trong ṿng một giờ, thỉnh một vị pháp sư lănh chúng niệm kinh, đem ư nguyện, thiện ư của chính ḿnh hồi hướng cho nước trong hồ. Trong tâm mọi người có ư niệm như vậy, ư niệm hết sức thành khẩn, dị khẩu đồng âm nói: “Nước hồ thanh khiết, nước hồ trong sạch, chúng tôi hết sức hoan hỷ, vô cùng cảm tạ”. Cầu đảo trong một tiếng đồng hồ, hai ba ngày sau, nước hồ quả nhiên trong vắt, không dậy sóng ṃi, không ô nhiễm nữa. Quư vị biết là nước hồ được thiện ư gia tŕ.
Thực vật, khoáng vật đều có bản năng thấy được, nghe được, hiểu được, biết được; bản năng ấy chính là bản năng của Pháp Tánh. Chúng ta thường gọi những đức tánh sẵn có nơi Pháp Tánh là nhân từ, bác ái. Mười mấy năm gần đây, chúng tôi quy kết giáo nghĩa Đại Thừa, nêu ra cương lănh tu hành “chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, chánh giác, từ bi”. Đấy chính là đức hạnh sẵn có nơi Pháp Tánh, có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết là bản năng sẵn có nơi Pháp Tánh. Kinh dạy như thế, lời khai thị của thiền sư Trung Phong ở đây cũng nhằm nói như thế. Hiện thời, khoa học đă dần dần chứng minh được.
Ngày hôm qua tôi nhận được một bản fax, h́nh như là bản chụp của một cuốn sách được xuất bản ở Đài Loan, vốn là một báo cáo mang tựa đề “Sanh mạng bí mật của thực vật”. Có người đă tốn một thời gian rất dài, dùng phương pháp khoa học để thí nghiệm, phát hiện thực vật có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm nhận, có thể biết, lại không bị cách trở bởi khoảng cách. Thực vật hoàn toàn hiểu rơ tâm ư của con người đối với chúng. Từ trước đến nay, chúng ta cứ tưởng thực vật hoàn toàn không có sanh mạng, nay các nhà khoa học nghiên cứu, phát hiện thực vật có sanh mạng, người ta dùng thiện ư chăm sóc chúng, chúng sẽ cảm ân. Người chăm sóc chúng nếu có chuyện đi xa, chúng cảm thấy rất buồn bă, rất đau xót, gục đầu ủ rũ. Nếu người chăm sóc chúng quay trở lại, chúng rất vui vẻ, thấy rất rơ điều này. Toàn thể vũ trụ là sống động!
Chúng ta có cả mấy trăm người ở cùng một chỗ, niệm Phật là tin tức thù thắng nhất, chân thật nhất, chúc phước tốt lành nhất, thiên địa quỷ thần đều cảm động! V́ thế, trong Hệ Niệm Phật Sự, chánh yếu nhất là niệm Phật. Nghe khai thị xong, buông xuống vạn duyên, nhất tâm nhất ư chấp tŕ Phật hiệu, thật sự không xen tạp, câu này tiếp nối câu kia không gián đoạn. Niệm một ngàn tiếng, thông thường chúng ta niệm một ngàn tám mươi tiếng. Mỗi một xâu chuỗi là một trăm lẻ tám tiếng, mười chuỗi là một ngàn lẻ tám mươi tiếng. Đương nhiên lúc niệm Phật thời gian càng dài càng tốt, nhân v́ trong Pháp Sự, khai thị rất nhiều, khai thị hết sức quư báu, đúng là dương gian, âm cảnh cùng được lợi.
33. Từ Vân Sám Chủ Tịnh Độ Văn
Trung Phong thiền sư trích đoạn tiếp theo từ bài Tịnh Độ Văn của Từ Vân Sám Chủ, giống như trong thời thứ hai, thiền sư trích dẫn bài văn phát nguyện của Đại Từ Bồ Tát. Ở đây, chúng ta dường như thấy được tâm lượng của cổ đức, các Ngài bao dung, không phân biệt đây - kia, không cứ nhất định cái ǵ cũng phải là của ḿnh. Trong thời thứ hai chúng ta thấy bài “thập phương tam thế Phật, A Di Đà bậc nhất, chín phẩm độ chúng sanh, oai đức không cùng cực”. Đấy chính là bài văn phát nguyện của Đại Từ Bồ Tát. Ở đây, chúng ta đọc bài Tịnh Độ Văn của Từ Vân Sám Chủ. Từ chỗ này chúng ta có thể thấy được tâm lượng của thiền sư: bao dung, tự - tha bất nhị. Lời người khác nói, dạy tương ứng với những ǵ ḿnh tu th́ không c̣n là của người khác nữa mà là chính ḿnh!
Quư vị thấy trong những phần trước, thiền sư dạy: “Tâm ta chính là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm ta”. A Di Đà Phật và ta đă là không hai th́ Đại Từ Bồ Tát cũng không hai, Đại Từ Bồ Tát chính là tâm ta, tâm ta chính là Đại Từ Bồ Tát. Ở đây cũng giống như vậy, tâm ta chính là Từ Vân Sám Chủ, Từ Vân Sám Chủ chính là tâm ta, tự - tha bất nhị, tánh - tướng như một. Con người khế nhập được cảnh giới này th́ thiên hạ thái b́nh, há c̣n có tranh chấp nữa ư? Không c̣n! Tự ḿnh không tranh chấp với chính ḿnh! Bài văn này chúng ta đọc rất nhiều, có rất nhiều đồng tu thường xuyên niệm. Hiện tại chúng tôi cũng đọc đoạn văn này.
Nhất tâm quy mạng
Vừa mở đầu đă chỉ điểm chúng ta. Quy Mạng cũng là Quy Y. Từ mặt chữ, có thể thấy là quy mạng so với quy y càng phải chân thành hơn, chân thành đến cùng cực. Quy là quay về, toàn bộ quay trở lại. “Nhất tâm quy mạng”, quy về đâu?
Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật.
Đây là người thật sự giác ngộ triệt để, nếu không phải là người thật sự giác ngộ triệt để, sẽ không thể quy y hoàn toàn “Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật”. Thật sự làm được như vậy, cổ đức nói có hai loại người:
1) Một là người thượng căn lợi trí, họ hoàn toàn hiểu rơ Thật Tướng của các pháp, không ngờ vực mảy may. V́ thế họ có thể triệt để buông xuống vạn sự vạn pháp dù là thế gian hay xuất thế gian, “nhất tâm quy mạng”. Thượng căn lợi trí mà! Những ai vậy? Nay chúng ta thấy họ chính là Pháp Thân Bồ Tát trong Đại Thừa pháp. Nhất là Thập Địa Bồ Tát, từ đầu đến cuối chẳng rời niệm Phật, đúng là nhất tâm quy mạng.
2) Ngoài ra là hạng người hạ căn, ngu độn, ngạn ngữ thường nói là “ngu không ai bằng”; hạng người ngu độn ấy chúng ta không thể sánh bằng. V́ sao? Họ nhất tâm quy mạng, hỏi đến đạo lư họ hoàn toàn không hiểu, thầy họ dạy cho, họ bèn thật thà niệm Phật. Họ ngoan ngoăn niệm Phật, rơ ràng một vọng niệm cũng không có, hoàn toàn phó thác, nhất tâm quy mạng, họ thật sự làm được. Hỏi họ đạo lư ǵ họ cũng không biết, thầy dạy tôi, thầy dạy tôi làm sao, tôi cứ làm như thế đó.
Cận đại, chúng tôi đọc cuốn Ảnh Trần Hồi Ức Lục, thấy pháp sư Tu Vô, hoặc vị “pháp sư phơi nến” (tên họ nhất thời tôi không nhớ, trước kia nhớ kỹ lắm) (1). Ngoài ra, Đàm Hư lăo pháp sư thường kể Đế Nhàn lăo ḥa thượng có một đồ đệ làm nghề thợ nề, chưa hề đọc sách, không biết chữ, chất phác. Sư phụ bảo làm sao, bèn làm đúng y như thế, làm triệt để, suốt đời không hoài nghi. Họ thật sự tu tập không xen tạp, không gián đoạn, bèn thành công. Đúng là chẳng thể nghĩ bàn! Khó nhất là những kẻ thượng chẳng phải thượng, hạ chẳng phải hạ, những kẻ được gọi là “lơ lơ lửng lửng” ở giữa phiền toái lắm! Quư vị bảo họ không có trí huệ ư? H́nh như cũng có chút thông minh. Quư vị bảo họ thật sự có trí huệ ư? Họ nghi lự trùng trùng, người như vậy khó độ lắm! Chúng ta biết lúc Phật tại thế giảng kinh thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm là v́ ai mà giảng vậy? Chính v́ những kẻ này. Thượng trí, hạ ngu đơn giản lắm, Phật độ bọn họ không tốn sức, độ rất dễ dàng. Ân đức của Phật đối với chúng ta lớn lao quá! Đọc đến đoạn văn của Từ Vân Sám Chủ ở đây, cảm xúc rất sâu! Phải thường nghĩ bản thân chưa thực hiện được chuyện nhất tâm quy mạng “Cực Lạc thế giới, A Di Đà Phật”! Bài Tịnh Độ Văn vẫn là văn cầu nguyện, cầu đảo phát nguyện:
Nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngă, từ thệ nhiếp ngă.
(Nguyện dùng quang minh thanh tịnh chiếu đến con, dùng thệ nguyện từ bi nhiếp độ con)
Lời nguyện này rất linh, cảm ứng hết sức linh mẫn. V́ sao? Nhất tâm quy mạng. Nhất tâm là tâm chí thành, chân thành đến cùng cực. Trong tâm không xen tạp mảy may vọng tưởng, đương nhiên phân biệt, chấp trước không có. Đúng là thật sự không hoài nghi, không xen tạp, đấy mới là nhất tâm. Nhất tâm cầu nguyện th́ cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. “Nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngă”: A Di Đà Phật dùng ánh sáng Bát Nhă viên măn rốt ráo nơi tự tánh, quang minh ấy không nhiễm ô, vốn sẵn thanh tịnh, vĩnh viễn chẳng bị nhiễm ô. Tâm tánh Phật phóng quang, thế giới cũng phóng quang minh, thế giới là Pháp Tánh, Phật Tánh và Pháp Tánh là một tánh. Quang minh của thế giới là ǵ? Người Tàu chúng ta gọi quang minh của thế giới là Khí. Người Tàu gọi là Khí hoặc Phong Thủy. Ở chỗ này, Phong Thủy tụ khí cực tốt, trong nhà Phật gọi là “thế giới phóng quang”, người ngoại quốc gọi là Từ Trường.
Địa cầu có từ trường của địa cầu, thái dương hệ có từ trường của thái dương hệ. Khoa học gia thường nói như vậy, chúng ta nghe đă quen tai. Thế giới phóng quang! Sát-độ phóng quang! Quang minh ấy chính là đức năng sẵn có của hết thảy các pháp, không từ bên ngoài đến, mỗi một chúng sanh đều có, không khác biệt, hoàn toàn tương đồng. Vậy tại sao lại có sự khác biệt rất lớn nơi sự tướng? Phật dạy: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai, nhưng v́ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên chẳng thể chứng đắc”. Phật dạy rơ ràng, minh bạch như thế đó, v́ sao quư vị bị mất quang minh? V́ có vọng tưởng, có phân biệt, có chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước khiến cho đức năng nơi tự tánh bị che lấp. Quư vị phải biết: Bị che lấp chứ trọn chẳng bị mất đi. Giống như ngày mưa trời u ám, mây đen dày kịt che khuất thái dương, thái dương không mất đi, vẫn tồn tại, chỉ bị chướng ngại, che khuất, tỏa ánh sáng yếu ớt, chẳng thấy được đức dụng chói lọi viên măn. Nguyên do là như vậy đó!
Nếu chúng ta trừ khử được mây đen vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́