Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm
Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,
phần 2
Lăo pháp sư Thích Tịnh Không giảng tại Úc Châu Tịnh Tông Học Viện
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
ĐỆ NHẤT THỜI
6. A Di Đà Kinh
6.1. Giải thích tựa đề kinh
Chư vị đồng học!
Xin xem Đệ Nhất Thời Pháp Sự. Trước phần Đệ Nhất Thời Pháp Sự, đọc ba lượt Nam Mô Liên Tŕ Hải Hội Phật Bồ Tát, tôi đă giới thiệu cùng quư vị rồi. Đoạn văn lớn kế tiếp đó là tụng kinh, tụng Phật Thuyết A Di Đà Kinh. Cũng cần phải đem toàn văn bản kinh này giới thiệu giản lược cùng quư vị, bởi lẽ trong phần pháp sự Hệ Niệm này, chúng tôi đă tỉnh lược huyền nghĩa kinh A Di Đà. Nhưng phần đầu là đề mục kinh, phải giảng qua đề mục kinh cái đă.
Tên bộ kinh này trong kinh đă nêu rất rơ là “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Kinh”. Đó là tên gốc của bản kinh này, danh xưng ấy do chính đức Thế Tôn nói ra. Từ tựa đề kinh, chúng ta có thể thấy được nghĩa thú của kinh điển. “Xưng Tán” có năng xưng tán và sở xưng tán. Năng xưng tán (người xưng tán) là “nhất thiết chư Phật” (hết thảy chư Phật), chứ chẳng phải ai khác, thật sự chẳng thể nghĩ bàn, sở xưng tán (cái được xưng tán) là “bất khả tư nghị công đức”, công đức chẳng thể nghĩ bàn. Công là “chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn”; Đức là “đới nghiệp văng sanh, đốn siêu viên chứng”. Ở đây, chúng tôi lại phải giải thích sơ lược như sau: “Nhất thiết chư Phật” là nói mười phương ba đời, chẳng sót một đức Phật nào. Chẳng phải một đức Phật xưng tán hay một vài đức Phật xưng tán, chẳng phải vậy! Mười phương ba đời hết thảy chư Phật đều xưng tán. Ngoài ra c̣n có nghĩa là bốn mươi địa vị Phần Chứng Phật cũng đều xưng tán. Đây là hiểu theo nghĩa rộng, ư nghĩa này là thật, chẳng phải giả vậy!
Pháp Thân Bồ Tát có năng lực quán sát căn cơ, trí huệ, đức năng, thần thông rất gần với Như Lai, các Ngài tiếp dẫn hết thảy chúng sanh, đều có năng lực quán sát những kẻ đó từ xưa đến nay, thấy được đời đời kiếp kiếp quá khứ của kẻ đó. V́ sao thấy được? V́ đối với người đă minh tâm kiến tánh, thời gian và không gian không c̣n nữa. Không có không gian nên chẳng có xa - gần; không có thời gian nên chẳng có quá khứ, hiện tại, vị lai. Dẫu là đời quá khứ bao kiếp lâu xa cũng hệt như trước mắt, rơ ràng rành rẽ, hết sức minh bạch. Biết kẻ ấy trong đời đời kiếp kiếp quá khứ từng học những ǵ, hiện tại gặp gỡ, dạy kẻ ấy tu học pháp môn tương ứng với những điều kẻ đó đă học trong quá khứ, kẻ ấy học rất hào hứng, chẳng cảm thấy khó khăn chi, lại tiến bộ rất nhanh. V́ sao? Trong A Lại Da Thức đă có chủng tử rồi!
Lúc thiện tri thức dạy kẻ đó pháp môn ấy, chủng tử tập khí trong A Lại Da Thức bèn dẫn khởi. Người tu hành chứng quả có năng lực ấy, những đại đức chưa chứng quả không có năng lực đó. Nhưng nếu như đă từng dạy dỗ trong một thời gian dài, tiếp xúc nhiều người, vị đó sẽ có kinh nghiệm phong phú, giống như những kẻ xem tướng đoán mạng, một đời gặp bao nhiêu người, gặp người nhiều quá, cũng có phần nào năng lực phân tích, nhưng phương pháp quán sát căn cơ của họ chẳng thể mười phần chuẩn xác. Những ai thật sự có học vấn, thật sự có công phu, đại khái phỏng đoán đúng sáu bảy phần đương nhiên là phải có khả năng. Vị đó chỉ dạy, đề nghị quư vị tu học pháp môn nào; nếu quư vị nghiêm túc nỗ lực tu học cũng sẽ có thành tựu. Đó là từ kinh nghiệm của vị ấy, nếu chẳng có kinh nghiệm, khó ḷng làm được.
Chúng ta gặp được một vị thiện tri thức chẳng phải là chuyện dễ. Cổ nhân thường nói đó là “duyên thầy tṛ”, thầy tṛ có duyên phận cũng là gặp gỡ chứ chẳng thể cầu được. Thật vậy, thế tục thường nói quư vị vận hên bèn gặp. Có người suốt đời mong gặp thiện tri thức, cầu gặp được vị thầy tốt, mà suốt đời chẳng gặp, v́ chẳng có duyên phận. Nói đúng ra, cốt lơi của cái duyên phận ấy là quư vị có chân thành ham học hay không. Đấy chính là nhân tố tối trọng yếu. Tâm chân thành ham học, biết đạo, biết tôn sư trọng đạo, đầy đủ Tín - Giải - Hạnh; chưa cần nói đến Chứng, tối thiểu là có thể tin, có thể hiểu, có thể y giáo phụng hành. Có đủ những điều kiện đó, đương nhiên có khả năng gặp được chân thiện tri thức. Nhà Phật thường nói: “Trong cửa Phật, chẳng bỏ một ai”, đó là Cảm. Chính ḿnh phải có đủ những điều kiện ấy là Cảm; hễ có Cảm th́ Phật, Bồ Tát liền Ứng. Nói tóm lại, pháp thế gian hay xuất thế gian chẳng ngoài đạo lư cảm ứng.
Trong kinh này, người xưng tán là hết thảy chư Phật, cái được xưng tán là “bất khả tư nghị công đức”. Công là ǵ? “Chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn”, công chẳng thể nghĩ bàn; thấy đơn giản sao! Càng đơn giản đạo lư càng sâu! Nếu chẳng thấu triệt đạo lư, chẳng thể khen ngợi sự việc ấy. Mọi người cứ nghĩ chấp tŕ danh hiệu là chuyện của mấy bà già, dễ dàng quá, há thành tựu được sao? Tôi học Phật từng gặp rất nhiều người như thế, phê b́nh Tịnh Độ, miệt thị Tịnh Độ, chẳng coi Tịnh Độ ra ǵ, coi đó là pháp thấp hèn nhất của Phật pháp: Người tŕnh độ tệ nhất không c̣n cách nào dạy được th́ dạy họ niệm A Di Đà Phật vậy! Lúc tôi mới học Phật cũng nghĩ như thế. Tôi sanh khởi tín tâm đối với pháp môn này là nhờ đọc kinh Hoa Nghiêm. Mọi người đều ca tụng Hoa Nghiêm là pháp luân căn bản, là vô thượng bảo điển của Phật pháp, ai nấy đều công nhận như vậy, không ai chẳng tôn trọng nó. Kinh A Di Đà đem so với Hoa Nghiêm khác biệt nhiều lắm, như trời với đất vậy.
Trước kia, ba mươi năm trước, tôi giảng kinh Hoa Nghiêm ở Đài Bắc. Lúc đó là năm Dân Quốc sáu mươi (1971), năm nay là Dân Quốc 92 (2003), đúng ba mươi hai năm trước. Mỗi Chủ Nhật tôi giảng ba lần, h́nh như lúc ấy mỗi lần giảng một tiếng rưỡi. Hai lần giảng Bát Thập Hoa Nghiêm (kinh Hoa Nghiêm bản 80 cuốn), một lần giảng Tứ Thập Hoa Nghiêm (kinh Hoa Nghiêm bản bốn mươi cuốn). Tứ Thập và Bát Thập giảng đồng thời. Giảng một thời gian khá dài, có bữa tâm huyết sôi nổi, nghĩ Văn Thù, Phổ Hiền học pháp môn ǵ? Đệ tử đắc ư nhất của Văn Thù là Thiện Tài, Bồ Tát dạy Thiện Tài học pháp môn nào? Tôi khởi lên nghi vấn ấy, tra kinh, đương nhiên đọc đến cuối kinh vẫn không thấy nói.
Tra kỹ lần nữa, tôi bèn nghi hoặc: Văn Thù, Phổ Hiền đều phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ, lại xem kỹ phần nói về Thiện Tài, Thiện Tài đắc Căn Bản Trí trong hội Văn Thù, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân trong hội của ngài Văn Thù. Thiền Tông gọi đó là đại triệt đại ngộ, bên Giáo gọi là đại khai viên giải. Lúc ấy, Văn Thù Bồ Tát dạy đồng tử đi tham học. Tham học là thành tựu Hậu Đắc Trí. Trong kinh Đại Bát Nhă nói: “Bát Nhă vô tri, nhưng không ǵ không biết”. Vô tri là Căn Bản Trí, không ǵ chẳng biết là Hậu Đắc Trí. Thiện Tài đă thành tựu Căn Bản Trí, thầy ngài dạy Ngài đi tham học, tức là năm mươi ba lần tham học trứ danh.
Phương pháp tu học Căn Bản Trí và Hậu Đắc Trí hoàn toàn chẳng giống nhau. Căn Bản Trí là “thâm nhập một môn, huân tu dài lâu”, chẳng thể tiếp xúc tùy tiện với bất cứ ai, chẳng thể tiếp xúc tùy tiện với bất cứ pháp nào, tâm phải định. Dùng Thiền Định rất sâu để buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, khôi phục chân tâm bản tánh. Đó là kiến tánh. Kiến tánh rồi, phương pháp dạy của thầy thay đổi một trăm tám mươi độ, dạy như thế nào? Bất cứ ai cũng tiếp xúc được, bất cứ việc ǵ cũng tham dự được, chẳng c̣n thâm nhập một môn nữa mà là học rộng nghe nhiều! Bởi vậy, lúc đó tôi mới thật sự hiểu rơ Tứ Hoằng Thệ Nguyện nói ǵ. “Phiền năo vô tận thệ nguyện đoạn” là Căn Bản Trí, “pháp môn vô lượng thệ nguyện học” là Hậu Đắc Trí. Chúng tôi mới hiểu rơ thế nào là “không ǵ chẳng biết”: Không nhất định một vị thầy nào, ai cũng đều là thầy cả, mọi sự mọi vật đều là tài liệu để học tập, bởi thế mới thành tựu “không ǵ chẳng biết”.
Chúng ta thấy một vị thiện tri thức ban đầu hết sức quan trọng! Cổ nhân Trung Quốc thường nói: “Tiên nhập vi chủ” (Điều ǵ học đầu tiên là chánh), vị thiện tri thức đầu tiên quan trọng hơn mọi thứ khác. Hăy xem kỹ phần tỳ-kheo Cát Tường Vân; v́ tôi giảng Tứ Thập Hoa Nghiêm, Tứ Thập Hoa Nghiêm là bản hoàn chỉnh của Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm, gồm bốn mươi quyển. Tỳ-kheo Cát Tường Vân tu pháp môn ǵ? Pháp môn Niệm Phật. Ngài dạy Thiện Tài hai mươi mốt pháp môn Niệm Phật, hai mươi mốt pháp ấy bao gồm hết thảy Phật pháp, không pháp nào chẳng phải là pháp môn Niệm Phật, diệu kỳ chẳng thể nói nổi.
Nếu chúng ta vẫn chưa nắm được yếu lănh, hăy quan sát kỹ Ngài tu pháp môn Niệm Phật nào? Nh́n kỹ hơn sẽ thấy: Ngài tu pháp môn niệm A Di Đà Phật, đă thế lại tu Tŕ Danh Niệm Phật; trong Tịnh tông gọi là Phật Lập Tam Muội, chuyên niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ, c̣n gọi là Ban Châu Tam Muội. Dũng mănh tinh tấn đêm ngày chẳng nghỉ ngơi, suốt ngày suốt đêm. Thông thường hạn kỳ tu hành Ban Châu Tam Muội là ba tháng, lấy ba tháng làm một giai đoạn, một kỳ. Trong ba tháng chẳng được ngủ nghỉ nên gọi là Phật Lập. Đứng hoặc đi, nhưng quan trọng nhất là chẳng được ngồi xuống, chẳng được nằm, rất khổ sở! Đại khái tu pháp môn này, tuần lễ đầu rất khổ, qua được một tuần rồi bèn thấy b́nh thường. Phá được cửa ải bèn thấy b́nh thường. Khế nhập cảnh giới nên pháp hỷ sung măn!
Xưa kia có người tu pháp môn này, người hiện tại chẳng hành. Căn tánh người hiện tại chẳng bằng tiền nhân, quyết tâm, nghị lực chẳng bằng tiền nhân, thân thể chẳng bằng tiền nhân; trước kia, người ta khỏe mạnh hơn. Nói thật ra, về tu hành, cổ nhân thường nói tu hành phải bắt đầu từ lúc tuổi trẻ, có tinh thần, có thể lực, tuổi cao hành chẳng nổi. Nói chung, bốn mươi tuổi trở lên là khó khăn rồi, thể lực đă suy, tinh thần chẳng đủ. Bốn mươi mấy tuổi mới tu là “mất dê mới lo làm chuồng”, nhưng có tu vẫn hơn không tu. Chúng tôi thấy cổ nhân thành tựu đều là người trẻ tuổi. Lục Tổ Huệ Năng đại sư của nhà Thiền khai ngộ năm hai mươi bốn tuổi, Ngũ Tổ đem y bát truyền cho. Hôm qua tôi giới thiệu Trung Phong quốc sư cùng quư vị, năm hai mươi lăm tuổi xuất gia, năm hai mươi bảy tuổi khai ngộ, tuổi đều rất trẻ. Thật là đại triệt đại ngộ, thấu triệt nguồn đáy. Đương nhiên, từ truyện kư ta thấy các Ngài chẳng phải là hạng tầm thường, mà là bậc tái lai. Thích Ca Mâu Ni Phật v́ chúng ta thị hiện: năm ba mươi tuổi khai ngộ, thành Đẳng Chánh Giác, chứng đắc Phật quả. Thành Phật rồi bèn khởi đầu công việc hoằng pháp lợi sanh, nói theo cách chúng ta bây giờ là giáo dục, dạy học trong xă hội đa nguyên văn hóa suốt bốn mươi chín năm, măi cho đến khi viên tịch năm tám mươi tuổi.
Trong bốn mươi chín năm ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật chưa từng nghỉ phép, chưa từng nghỉ ngơi. V́ sao vậy? Đó là chuyện sanh tử đại sự, chẳng phải chuyện tầm thường. Liễu sanh tử, xuất tam giới, làm sao nghỉ ngơi được? Nghỉ một chút, công phu gián đoạn giữa chừng, bèn thoái chuyển. Ngạn ngữ Trung Quốc có câu: “Cầu học như nghịch thủy hành châu, bất tấn tắc thoái” (Cầu học như chèo thuyền ngược nước, chẳng tiến ắt lùi). Tu đạo cũng chẳng ngoại lệ, chỉ cần quư vị chẳng tiến ngay lập tức bị lùi, vĩnh viễn phải tiến lên mới ḥng đảm bảo ḿnh chẳng bị thoái chuyển. Phải khắc phục hết thảy phiền năo tập khí của chính ḿnh, dùng năng lượng nào để khắc phục? Điều này trong những lần giảng pháp chúng tôi đă nói rất nhiều: Hiếu học! Nói cách khác là làm thế nào để vun bồi ư nguyện ham học của chúng ta! Ư nguyện ham học mạnh mẽ sẽ dễ khế nhập cảnh giới, quả nhiên khế nhập, pháp hỷ sung măn!
Trong sách Luận Ngữ có một câu ư vị vô cùng! “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ” (tạm dịch: Học rồi thực hành theo, cũng chẳng sướng sao?): Sự sung sướng ấy khiến quên hết tất cả, gian nan khổ sở thế nào đều quên hết, cũng chẳng sướng sao? Vui với điều ǵ? Vui với học. Các đồng học xuất gia chúng ta, các đồng học học Phật vui nơi Đạo, mùi vị của Đạo so với Học càng nồng hơn. Quư vị học Phật, nghiên cứu giáo pháp mà vẫn không khởi tâm hoan hỷ là quư vị chưa vào được cửa. Đối với kinh giáo, quư vị là người học tập kinh giáo, phải sanh ḷng hoan hỷ th́ quư vị mới vào được cửa. Niềm lạc thú đó, nỗi hoan hỷ đó, tất cả hết thảy pháp trong thế gian không ǵ có thể sánh bằng, có vậy mới tương ứng cảnh giới được.
Tôi thấy đầu tiên là tỳ-kheo Cát Tường Vân hành Ban Châu Tam Muội, niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ, tinh tấn như thế đó; Thiện Tài tham phỏng Ngài đầu tiên, chẳng phải là nhập pháp nào trước hết th́ pháp đó là chủ hay sao? Sau đó, lại tham phỏng các thiện tri thức khác, mỗi một vị thiện tri thức tu học pháp môn bất đồng, Thiện Tài đều tham học hết. Chúng tôi lại thấy cuối cùng, vị thiện tri thức thứ năm mươi ba là Phổ Hiền Bồ Tát. Phổ Hiền Bồ Tát “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc”, tôi mới hoảng nhiên đại ngộ. Quư vị thấy đó: Pháp môn đầu tiên là Niệm Phật, pháp cuối cùng là niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, tôi liền hiểu rơ Thiện Tài đồng tử tu pháp môn nào? Suốt từ đầu đến cuối là niệm A Di Đà Phật cầu sanh Tịnh Độ, công đức chẳng thể nghĩ bàn!
Do đây tôi hiểu rơ, không ai giảng cho tôi cả, nhờ kinh Hoa Nghiêm tôi dứt sạch mối ngờ vực ấy, chết ḷng trọn ư niệm Phật. Thật chẳng dễ dàng, kinh A Di Đà nói là pháp khó tin, quả thật là khó! Tôi học Phật mười mấy năm mới phát sanh tín tâm đối với Tịnh Độ, mới hiểu được ư nghĩa của tên kinh - “Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức”, mới lănh hội được đôi chút. Thật cảm tạ Thiện Tài, Văn Thù, Phổ Hiền.
“Chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn, đới nghiệp văng sanh, đốn siêu viên chứng”, câu này thật trọng yếu. Đới nghiệp văng sanh, phẩm vị văng sanh cũng chẳng phải là thấp lắm. Dẫu cho văng sanh Hạ Hạ Phẩm trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ cũng là đốn siêu viên chứng. Trước đây tôi đă thưa cùng quư vị, chúng tôi đọc trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh, chính đức Phật nói: Hạ Hạ Phẩm Văng Sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ tối đa là mười hai kiếp, hoa nở thấy Phật, ngộ Vô Sanh. Đó là sanh về đâu? Sanh vào Thật Báo Trang Nghiêm Độ. Trụ trong cơi Thật Báo Trang Nghiêm Độ là Địa Thượng Bồ Tát.
Trong giáo pháp Đại Thừa, đức Phật nói rất nhiều pháp môn khác, phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, đó là bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo, tính từ ngày đó trở đi cho đến khi thành tựu phải mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Quư vị phải nghe cho thật rơ: Ba đại A-tăng-kỳ kiếp! A-tăng-kỳ kiếp thứ nhất tu ba mươi địa vị: Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, ba mươi địa vị trong A-tăng-kỳ kiếp thứ nhất. A-tăng-kỳ kiếp thứ hai tu bảy địa vị: từ Sơ Địa cho đến Thất Địa. A-tăng-kỳ kiếp thứ ba tu ba địa vị Bát Địa, Cửu Địa, Thập Địa. Bởi thế tu xong ba đại A-tăng-kỳ kiếp sẽ thật sự chứng đắc quả vị ǵ? Pháp Vân Địa Bồ Tát, rất gần với quả vị rốt ráo, sở chứng của địa vị này là Tịch Diệt Nhẫn, Pháp Vân Địa là hạ phẩm Tịch Diệt Nhẫn, Đẳng Giác là trung phẩm Tịch Diệt Nhẫn, Diệu Giác là thượng phẩm Tịch Diệt Nhẫn.
Nói ba đại A-tăng-kỳ kiếp là từ Sơ Trụ cho đến Pháp Vân Địa Bồ Tát, bốn mươi địa vị phải tu mất ba đại A-tăng-kỳ kiếp. Người văng sanh Hạ Hạ Phẩm về Tây Phương Cực Lạc thế giới, đới nghiệp, đến khi hoa nở thấy Phật, hăy nhớ kỹ tiếp đó là “ngộ Vô Sanh”, câu này rất trọng yếu! Ngộ Vô Sanh là ǵ? Vô Sanh Pháp Nhẫn là sở chứng của Thất Địa Bồ Tát. Quư vị hăy nghĩ xem, trong thời gian mười hai kiếp ở Tây Phương Cực Lạc thế giới, Bồ Tát ở các nơi khác phải tu hành hai đại A-tăng-kỳ kiếp, trong khi ở Tây Phương Cực Lạc thế giới chỉ mất mười hai đại kiếp, không ǵ sánh bằng được! Tu hành trong thế giới Tây Phương rất nhanh chóng!
Chúng ta nghĩ xem v́ sao họ thành tựu nhanh chóng như thế? Nói theo thuật ngữ trong kinh Phật, họ được “oai thần bổn nguyện của Phật A Di Đà gia tŕ” nâng cao tốc độ. Nếu nói theo người thế gian thông tục chúng ta, họ được quang minh của A Di Đà Phật tưới gội, v́ sao vậy? Là học tṛ của Phật A Di Đà, đương nhiên được như vậy! Quư vị thấy đó, trong kinh Vô Lượng Thọ, Thích Ca Mâu Ni Phật tán thán Phật A Di Đà, đó là thay mặt cho mười phương ba đời hết thảy chư Phật mà tán thán, đức Thế Tôn tán thán A Di Đà Phật là “ánh sáng tôn quư nhất, là vua các Phật”. Bởi thế, hết thảy chư Phật, dù các đức Phật đều b́nh đẳng, địa vị thật sự b́nh đẳng, trí huệ b́nh đẳng, đức tướng b́nh đẳng, nhưng trong b́nh đẳng có riêng một đức Phật được hết thảy chư Phật tôn kính. Không đức Phật nào chẳng tôn kính Phật A Di Đà, không Phật nào chẳng kính ngưỡng Phật A Di Đà. Học tṛ của Phật A Di Đà được quang minh thấm đến, bất luận thân cận đức Phật nào, v́ là học tṛ của Phật A Di Đà nên được đặc biệt chiếu cố, thật là hy hữu!
Di Đà thật sự gia tŕ kẻ đó, dù phiền năo tập khí chưa đoạn, kẻ ấy vẫn có năng lực tham phỏng mười phương hết thảy Như Lai. Trong kinh không nói nhiều, chỉ nói là tham phỏng mười phương mười vạn ức Phật; nói như vậy là có dụng ư, dụng ư ǵ? Tây Phương Cực Lạc thế giới cách thế giới Sa Bà mười vạn ức cơi Phật. Ư nói: Quư vị đến thế giới Cực Lạc rồi, quư vị trở về thế giới này rất dễ dàng, mỗi ngày đều có thể trở về, muốn về là về, dụng ư là đây: Có năng lực như thế đó! Tham phỏng chư Phật, đương nhiên quư vị nghe chư Phật thuyết pháp, mở mang trí huệ, chẳng phải pháp sư tầm thường mà chính là chư Phật giảng kinh thuyết pháp cho ta. Quư vị ra đi, đương nhiên cúng Phật, cúng Phật là tu phước báo. Bởi thế, quư vị đến tham phỏng Phật là phước huệ song tu, ngày ngày tham phỏng c̣n ǵ hơn! Bởi thế, kẻ ấy tu hành chứng quả chỉ cần mười hai kiếp là thành công. Quư vị tu hành trong mọi cơi Phật khác phải mất hai A-tăng-kỳ kiếp, tu trong Tây Phương Cực Lạc thế giới mười hai kiếp là thành.
Văn Thù, Phổ Hiền là Đẳng Giác Bồ Tát trong Hoa Tạng thế giới, v́ sao cũng muốn về Tây Phương Cực Lạc thế giới? Ở đây có hai ư nghĩa:
1) Nghĩa thứ nhất là đến Tây Phương Cực Lạc thế giới thành tựu nhanh hơn so với trong Hoa Tạng thế giới. Trong Hoa Tạng thế giới phải mất một A-tăng-kỳ kiếp, đến thế giới Cực Lạc chỉ cần một hai ngày là thành công, đương nhiên phải về đó.
2) Nghĩa thứ hai là làm gương cho chúng ta thấy. Trong các vị Bồ Tát, chúng ta ngưỡng mộ, sùng bái Văn Thù Bồ Tát. Nghe nói Văn Thù, Phổ Hiền cũng đều phải cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, chúng ta c̣n nói ǵ nữa, đương nhiên theo gót các Ngài.
Từ đây ta mới chân chánh thể hội “chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn, đới nghiệp văng sanh, đốn siêu viên chứng”; đấy là tán thán “công đức chẳng thể nghĩ bàn”.
Kinh này là “nhất thiết chư Phật sở hộ niệm kinh”, được hết thảy chư Phật hộ tŕ, được hết thảy chư Phật nghĩ tới. Hộ là hộ pháp! Pháp môn Niệm Phật là đại pháp bậc nhất để hết thảy chư Phật độ chúng sanh, đại pháp bậc nhất chẳng thể nghĩ bàn! Hết thảy chư Phật tán thán, hết thảy chư Phật tuyên dương, hết thảy chư Phật giới thiệu cho chúng sanh. Như Thích Ca Mâu Ni Phật v́ hết thảy chúng sanh giảng bất luận kinh nào, chẳng cần biết là căn tánh đồng hay bất đồng, thời gian bất đồng, có rất nhiều kinh chẳng giảng, nhưng ba kinh Tịnh Độ nhất định phải giảng. V́ sao? V́ chúng thích hợp mọi căn tánh, là kinh điển chư Phật ắt phải giảng, cũng là pháp môn chư Phật nhất định phải giới thiệu cho chúng sanh. Nếu chúng sanh căn lành chín muồi, tin được, nguyện được, hành được, một đời này thành tựu, thỏa măn đại nguyện độ sanh của Phật.
Đó là Hộ! Quư vị xem điều thứ hai là “nhất thiết chư Phật sở hộ”, đấy là hóa tha, “hoằng hộ Như Lai huệ mạng” (hoằng dương, ǵn giữ huệ mạng của Như Lai).
“Sở niệm” là tự hành, “viên chứng Vô Thượng Bồ Đề”. Văn Thù, Phổ Hiền không vị nào chẳng nêu gương cho chúng ta xem. Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Thế Chí, bốn vị đại Bồ Tát đều đă thành Phật từ bao kiếp lâu xa, nay trong pháp hội của Thích Ca Mâu Ni Phật thả bè từ, họ là cổ Phật tái lai, xuất hiện dưới thân phận Bồ Tát để làm khuôn mẫu, làm tấm gương, các Ngài đều niệm Phật, đều niệm A Di Đà Phật, trong hội Hoa Nghiêm đều phát nguyện văng sanh. Bởi thế, hết thảy chư Phật sở hộ, sở niệm chẳng hai: hộ là niệm, niệm là hộ. Nếu hộ nhưng không niệm hoặc niệm nhưng không hộ th́ đều chẳng đúng. Đấy chẳng phải là hộ pháp mà cũng chẳng phải là niệm Phật! Hộ pháp nhất định phải niệm Phật, niệm Phật nhất định phải hộ pháp. Đấy là tên gốc của kinh.
Khi đại sư La Thập dịch kinh này, Ngài đă thay đổi tên kinh, đổi thành “Phật Thuyết A Di Đà Kinh”. Dưới tựa đề này, tôi đă chú giải đơn giản là “thâm khế bổn kinh tông chỉ” (khế nhập sâu xa tông chỉ kinh này). V́ sao vậy? Kinh này khuyên chúng ta niệm A Di Đà Phật, đại sư La Thập sảng khoái dùng ngay A Di Đà Phật làm tên kinh, hay lắm, tên kinh cực diệu! Từ việc ngài La Thập đặt tên kinh như vậy, ta biết tâm Ngài từ bi sâu nặng, tâm độ sanh tha thiết.
“Phật thuyết”: Thuyết là “sướng duyệt sở hoài” (vui thỏa điều ḿnh mong mỏi). Chữ Thuyết (nói) thời cổ c̣n đọc là Duyệt. Quư vị đọc Luận Ngữ có câu: “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”. Chữ Duyệt trong câu này là chữ Thuyết, sau này mới thêm bộ Tâm đứng bên cạnh thành chữ Duyệt (vui sướng). Thời cổ chữ ít, Thuyết và Duyệt chỉ cùng một chữ, nhưng lúc đọc trở thành hai âm, hai ư nghĩa riêng biệt. Duyệt là hoan hỷ từ nội tâm, chẳng phải vui vẻ bề ngoài. Bề ngoài, như lúc gặp rất nhiều bè bạn rất vui sướng th́ gọi là Lạc. C̣n Duyệt có thể là không có ai khác cả, tự ḿnh cảm thấy rất vui sướng, trong ḷng cảm thấy rất sung sướng, vui vẻ th́ gọi là Duyệt.
“Sướng duyệt sở hoài”: Hoài là nguyện vọng. Nguyện vọng của Ngài là ǵ? Nguyện vọng độ cho hết thảy chúng sanh mau chóng thành Phật, đấy là điều chư Phật Như Lai ưa thích nhất. Nay cơ duyên chúng sanh thành Phật đă chín muồi, chín muồi rồi th́ Phật bèn nói cho chúng sanh pháp môn này, họ sẽ tin được, hiểu được, hành được. Đấy là chúng sanh thành thục, cơ duyên thành thục, thiện căn thành thục, “bèn nói pháp này, khiến cho hết thảy chúng sanh một đời thành tựu rốt ráo”. Chẳng cần đợi đến đời sau, đời này văng sanh, văng sanh kể như thành Phật, thành Phật rất nhanh. Chúng ta chẳng văng sanh th́ thôi, hễ văng sanh th́ tuyệt đối chẳng thuộc ba phẩm dưới. V́ sao vậy? Ba phẩm dưới tội nghiệp rất nặng! Chúng ta chẳng tạo những tội nghiệp nặng dường ấy, lúc mọi người chúng ta văng sanh đại khái thuộc ba phẩm Trung, chẳng thuộc ba phẩm Hạ. Ba phẩm Trung văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, “hoa khai kiến Phật”, đại khái là ba bốn kiếp, chẳng cần đến mười hai kiếp, ắt hẳn ba bốn kiếp, năm kiếp là thành Phật, có phải càng nhanh hơn nữa không?
Xin xem tiếp tựa đề kinh “A Di Đà Phật”. Danh hiệu này toàn là dịch âm tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán th́ A là Vô, Di Đà là Lượng. Bởi thế, nếu hiểu nghĩa theo tiếng Tàu là Vô Lượng. A Di Đà là đức hiệu của bậc đạo sư thế giới Cực Lạc, “đức hiệu của đạo sư cơi ấy, biểu thị pháp bảo vô lượng giác”. Phật dịch là Giác; bởi thế, A Di Đà Phật dịch nghĩa sang tiếng Hán là Vô Lượng Giác. Nghĩa lư, cảnh giới của danh hiệu này nói chẳng cùng, chẳng có ngằn mé. Vô Lượng là nói đến tự tánh, tự tánh vốn sẵn đủ trí huệ vô lượng, vốn sẵn có đức năng vô lượng, vốn sẵn có tướng hảo vô lượng. Hết thảy những sự vô lượng của mọi thứ vô lượng trong vũ trụ chẳng ra ngoài ba loại lớn kể trên, ba loại trên bao gồm hết tất cả. Đấy là tự tánh, đức hiệu của tự tánh. Bởi thế, trong phần khai thị Trung Phong quốc sư nói: “Tâm ta là A Di Đà Phật, A Di Đà Phật chính là tâm ta”. Quư vị xem lời nói đó có đúng hay không? Hoàn toàn chính xác!
Nói thật ra, người thế gian ngày ngày khởi vọng tưởng, mê mất tự tánh, đầu óc chật cứng mong cầu ǵ? Cầu tiền tài! Họ chẳng biết trong A Di Đà Phật có vô lượng của cải, của cải ấy được bao gồm trong tướng hảo, tướng hảo thuộc về phước báo. Trong thế gian có hạng người, cả đời nỗ lực liều mạng học nghề, học lấy một kỹ năng, học lấy một kỹ thuật, nào biết tự tánh vốn sẵn đủ vô lượng vô biên tài nghệ, ǵ cũng biết cả, bất cứ kỹ thuật, tài khéo nào cũng đều viên măn cả, đều rốt ráo cả! Bữa nay chúng tôi chỉ nói đôi chút. Người thế gian chẳng thể sánh bằng, chín pháp giới cũng chẳng thể sánh bằng. Kẻ ấy chẳng cầu nơi tự tánh, lại cầu bên ngoài tâm, cầu pháp ngoài tâm th́ một đời học được bao nhiêu? Rất hữu hạn! Bởi thế, nếu quư vị hiểu được những ư nghĩa bao hàm trong danh hiệu A Di Đà Phật, quư vị sẽ bất tri bất giác bị nhiếp thọ, nói theo cách bây giờ là chúng ta bị Ngài hấp dẫn, nhà Phật gọi là “nhiếp thọ hết thảy chúng sanh”.
Chữ cuối cùng trong tựa đề là “Kinh”. Kinh là tiếng Hán, cổ Ấn Độ gọi là Tu Đa La, dịch nghĩa sang tiếng Tàu là Khế Kinh. Khế là trên phù hợp với lư chư Phật đă chứng, dưới phù hợp với căn cơ chúng sanh được độ. Đấy là ư nghĩa được bao hàm trong kinh điển Phật giáo, bởi thế gọi là Khế Kinh.
Điều thứ hai “lại c̣n đủ các nghĩa: Quán, Nhiếp, Thường, Pháp”. Đây là cách các pháp sư thường dùng nhất, dùng bốn chữ trên để giải thích chữ Kinh.
“Quán” là “quán xuyên” (xuyên suốt). Một bản kinh văn bất luận dài ngắn, chương pháp kết cấu, ư tưởng được hệ thống hết sức nghiêm chỉnh. Nh́n từ đâu? Quư vị thấy trong Phật pháp có thể loại Khoa Phán. Khoa Phán là nghiên cứu kết cấu chương pháp của kinh, kinh có thứ tự từng điều chẳng lộn xộn. Văn chương đạt đến mức tuyệt diệu, chẳng thể thêm một chữ, thêm một chữ th́ sao? Dư quá, không cần thiết. Chẳng thể bớt một chữ, bớt một chữ là đứt đoạn, chẳng liền lạc. Văn chương đạt đến mức ấy, quả là văn chương bậc nhất, kinh Phật như vậy đó.
Trong văn chương cổ nhân Trung Quốc, văn chương nào hay th́ cũng đúng là như thế. Phổ biến nhất, được mọi người thích đọc nhất là sách Cổ Văn Quán Chỉ, là bản hợp tuyển tinh tế của những bản văn chương trứ danh trong hơn hai ngàn năm của Trung Quốc, gồm hơn ba trăm thiên. Đây là những tác phẩm tiêu biểu của văn học Trung Quốc, thiên nào cũng đều là những áng văn chương hay, đều có thể dùng phương pháp Khoa Phán của kinh Phật để phân tích thật mạch lạc. [Những thiên văn chương ấy] thứ tự phân minh, dùng phương pháp Khoa Phán liền phán định được. Lại xem văn chương, sách vở của người hiện tại viết, văn chương trong tạp chí, báo chí, dùng Khoa Phán phán định chẳng ra. Từ đây quư vị mới hiểu rơ văn chương rốt cục là hay hoặc dở th́ tiêu chuẩn là ǵ? Tiêu chuẩn nằm ở chữ Quán, có phải là từ đầu đến cuối hoàn toàn xuyên suốt hay không, khoa phán xuyên suốt hay không!
Quư vị xem kinh Hoa Nghiêm. Kinh Hoa Nghiêm, khoa phán, biểu giải cả một cuốn sách to! Quư vị thấy kinh Hoa Nghiêm to lớn dường ấy, nhưng nó có mạch lạc, có thứ lớp, chẳng loạn một điểm nào. Kinh lớn nhất trong những kinh Phật là kinh Đại Bát Nhă, gồm sáu trăm cuốn, có khoa phán hay chăng? Có! Khoa phán gồm mười mấy cuốn, tôi đă từng thấy rồi, cũng là dùng biểu đồ vẽ ra, công sức của cổ nhân thật phi thường. Bởi thế, quư vị đồng học muốn học giảng kinh th́ quan trọng nhất là phải biết lập khoa phán. Quư vị nắm chắc được một bộ kinh, có thể nắm từ đầu đến cuối là nhờ biểu giải; chương pháp, kết cấu, hệ thống của kinh đều bày ra được hết th́ là quư vị đă thông đạt bộ kinh ấy. Thông đạt kết cấu, chương pháp trên mặt văn tự, th́ ắt hẳn cũng thông đạt được nghĩa lư, chẳng bị giảng lầm.
Trước kia tôi học kinh giáo ở Đài Trung, thầy Lư Bỉnh Nam thường bảo chúng tôi: “Khoa Phán là một môn học vấn không thể không hiểu”. Bắt đầu học bằng cách nào? Bắt đầu bằng việc học nơi người khác. Tôi học Khoa Phán tại thảo am của Sám Vân pháp sư. Sám Vân pháp sư (tôi ở thảo am của Ngài năm tháng rưỡi) giao cho tôi ba cuốn sách, A Di Đà Kinh Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư, A Di Đà Kinh Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư, và A Di Đà Kinh Viên Trung Sao của U Khê đại sư, đều là kinh A Di Đà, là ba tác phẩm chú giải đầy thẩm quyền trong lịch sử.
Trong bản chú giải Sớ Sao có khoa phán, đại sư phân chia rất kỹ, nhưng dùng Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân (1) để phân chia. Đương nhiên, nếu đọc cổ thư đă quen th́ chẳng có vấn đề ǵ, đầu óc rất sáng suốt rồi, nhưng đối với người hiện tại th́ rất khó khăn! Bởi thế, Sám Vân pháp sư dạy tôi vẽ thành biểu giải (biểu đồ). Cách vẽ biểu giải ra sao? Theo cách của Hoằng Nhất đại sư. Hoằng Nhất đại sư soạn rất nhiều chú sớ, đều có vẽ biểu đồ. Pháp sư Sám Vân dạy tôi dùng phương thức đó, dựa theo phương thức đó vẽ biểu giải của ba bản chú giải. Vẽ xong biểu giải rồi, tôi vui sướng khôn cùng, v́ sao? Ư nghĩa kinh vừa nh́n là thấy rơ rệt ngay, hết thảy rơ ràng cả. Sau này, đến Đài Trung học với thầy Lư, cách này rất hữu ích. Học kinh giáo với thầy Lư mấy năm, tự tôi soạn được mấy bộ khoa phán, rất đáng tiếc là nhiều năm dọn nhà, lúc dọn nhà đi các nơi, những bản ấy bị mất hết.
Bản khoa phán của bộ kinh dài nhất tôi viết bằng bút lông, h́nh như viết hơn bốn mươi trang giấy, mỗi trang mười hàng, đó là khoa phán của kinh Phật Thuyết Vị Tằng Hữu Nhân Duyên, kinh này gồm hai quyển. Bản khoa phán ấy rất tỉ mỉ, gần như câu nào cũng chia nhỏ ra, chia thành từng tầng lớp gần như hơn hai mươi tầng. Phối hợp cả Thiên Can lẫn Địa Chi (2) thành hai mươi hai chữ vẫn không đủ; tôi phải dùng số Ả Rập (3), dùng mẫu tự Anh văn. Tôi nhớ h́nh như đến hơn hai mươi tầng. Khoa Phán là giải thích kinh, v́ thế, nếu quư vị biết sử dụng Khoa Phán, biết viết Khoa Phán, tự ḿnh soạn được Khoa Phán th́ quư vị thông đạt được kinh ấy, hiểu rơ ư nghĩa chính. Sớ và Sớ Sao là giải thích ư nghĩa, nhằm giải thích ư nghĩa một đoạn, một câu kinh nào đó, c̣n giải thích toàn kinh là khoa phán.
Khi nền học vấn Phật pháp truyền đến Trung Quốc, Nho Gia có lối học chương cú; thật ra, có người nói cách học chương cú là học theo cách lập Khoa Phán của Phật pháp. Chúng tôi biết rơ cách phanh âm (pinyin) của Trung Quốc đúng là học từ Hoa Nghiêm tự mẫu mà ra (4), bởi lẽ Phạm văn là phanh âm (có nghĩa là mỗi chữ Phạn được ghép bằng các mẫu tự). Đấy là nói về sự ảnh hưởng của kinh Phật đối với văn học Trung Quốc, truyền rất nhiều chỉ dạy hữu ích cho các văn học gia Trung Quốc khiến họ có những phát minh. Chữ Quán là xuyên suốt, tức là văn chương đến mức hay khéo, ba chữ sau không có nghĩa như vậy.
“Nhiếp”: Nhiếp là ǵ? Là nhiếp thọ, chữ này không dễ hiểu cho lắm. Chúng tôi nói theo cách thông tục là “có sức hấp dẫn”. Kinh có sức hấp dẫn hết sức mạnh mẽ, thu hút quư vị khiến quư vị chẳng bỏ được. Tôi cũng hiểu điều đó. Khi tôi học tiểu học, tôi nhớ lúc học lớp Bốn tiểu học, bắt đầu đọc tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc. Những tác phẩm trứ danh trong loại tiểu thuyết chương hồi như Tam Quốc Diễn Nghĩa, Tây Du Kư, Thủy Hử Truyện, tôi bắt đầu đọc năm lớp Bốn. Chúng rất hấp dẫn! Xem đến đêm chẳng muốn ngủ; coi hồi thứ nhất lại muốn xem tiếp hồi thứ hai. Đến năm đầu cấp Sơ Trung, trong bốn năm ấy, những truyện tiểu thuyết chương hồi cổ của Trung Quốc tôi đă đọc hết, tôi có căn bản về quốc văn là nhờ các tiểu thuyết đó.
Trong đó, những tác phẩm hay, thật sự hay, đúng là cổ nhân định giá không sai, bốn bộ lớn là Tam Quốc Diễn Nghĩa, Hồng Lâu Mộng, Tây Du Kư, Thủy Hử Truyện. Bốn bộ này tối thiểu đọc bốn lần, đọc từ đầu đến cuối bốn lần, tối đa là xem mười mấy lần, đọc từ đầu đến cuối mười mấy lần. Đọc như cháo rồi, từ đấy về sau tốc độ đọc rất nhanh, chúng có sức hấp dẫn rất mănh liệt như thế đó, nhưng chỉ như thế nào? Nhiều nhất là đọc mười lăm lần, đọc hết mười lăm rồi sau đó không muốn đọc lại nữa, sức hấp dẫn của chúng đến đó thôi, không c̣n muốn xem lại nữa!
Kinh điển của cổ nhân có sức nhiếp thọ. Như Tứ Thư đó, quư vị thấy ḿnh từ nhỏ đă đọc Tứ Thư, đại khái là ở trường tư, trẻ nhỏ độ chừng mười tuổi phải học Tứ Thư, đọc đến già vẫn càng đọc càng thấy ư vị, sức nhiếp thọ của Tứ Thư bốn tác phẩm văn học chẳng thể sánh bằng. Sức nhiếp thọ của bốn tác phẩm lớn tính hết mức không quá hai mươi lần. Nếu quư vị đọc một bộ sách từ đầu đến cuối hai mươi lần, đọc hai mươi lần xong, tôi tin rằng quư vị chẳng thể xem lại được nữa, đủ quá rồi! Nhưng một bộ Tứ Thư này đọc trăm lần chẳng chán! Sức nhiếp thọ của Phật pháp thật sự lớn lao, trong kinh từng nói từ Sơ Phát Tâm cho đến địa vị Như Lai, đời đời kiếp kiếp, thời gian ấy phải tính bằng A Tăng Kỳ kiếp, vĩnh viễn chẳng chán. Nhiếp là có sức thu hút như thế đó.
“Thường” nghĩa là những đạo lư được nói trong kinh đều là chân lư vĩnh hằng, quyết định chẳng bị hạn chế bởi thời gian hay không gian. Sách vở thế gian chẳng thể đạt được như vậy. Sách vở thế gian, dẫu là trước tác của thánh nhân, vẫn bị hạn cuộc trong một khu vực, trong một giai đoạn, chỉ hữu hiệu trong lúc đó thôi. Có rất nhiều tác phẩm của cổ nhân Trung Quốc thật sự chẳng c̣n hiệu quả trong thời hiện đại nữa, hiệu quả thời gian đă mất rồi! Những trước tác thật sự của thánh nhân, cổ thánh tiên hiền Trung Quốc, về mặt tinh thần đúng là siêu thời gian, siêu việt không gian, nhưng những nguyên tắc được nhắc đến trong những tác phẩm đó có những điều trong thời đại hiện tại cần phải tu chỉnh v́ chẳng thích hợp với thời hiện tại nữa!
Phật pháp không như vậy, Phật pháp vĩnh hằng bất biến, thật chẳng thể nghĩ bàn, siêu việt thời gian, siêu việt không gian. Khi xưa, lúc tôi mới học Phật, đối với Phật pháp hết sức ngưỡng mộ, yêu thích, nhưng vẫn c̣n nghi hoặc. Vấn đề nghi hoặc lớn nhất là Giới Luật. Chương Gia đại sư thấy rơ điều này. V́ sao tôi nghi hoặc? Tôi nói những đạo lư giảng trong kinh Phật hay lắm, thật sự đáng nên tán thán, yêu thích vô cùng; nhưng Giới Luật là khuôn mẫu để sống. Chúng ta biết nếp sống Trung Quốc khác với ngoại quốc; người đời nay chẳng giống người thời xưa. Tôi thấy, tôi hiểu có nhiều phương thức sanh hoạt, điển chương, chế độ thời cổ đối với thời đó th́ được, nhưng chẳng thể áp dụng cho hiện thời. Quan niệm như vậy biến thành thứ ǵ? Biến thành chấp trước rất cứng chắc.
Tôi học Phật, chẳng thể học làm cổ nhân! Há có đạo lư người đời nay học làm người thời cổ, mà lại người ngoại quốc thời cổ? Phật là người Ấn Độ, nay chúng ta làm người Ấn Độ thời cổ c̣n ra thể thống ǵ? Nói cách nào cũng chẳng thông. Bởi thế, đối với Giới Luật tôi rất lănh đạm, đối với kinh luận th́ tỏ hứng thú rất nồng hậu. Khi đó, mỗi Chủ Nhật tôi được gặp Chương Gia đại sư một lần, gần như luôn nghe Ngài hữu ư hoặc vô ư dùng một câu cảnh tỉnh tôi: “Giới Luật rất trọng yếu”. Bởi thế, sau khi lăo nhân gia văng sanh, tôi ở bên ḷ thiêu Ngài; ḷ thiêu ấy chỉ dành riêng cho ḿnh Ngài sử dụng, tôi dựng lều tranh ở đó suốt ba ngày. Trong ba ngày, ba đêm tôi suy nghĩ, tôi theo thầy học ba năm, Ngài dạy tôi những ǵ? Không nghĩ đến th́ thôi, chứ nghĩ đến th́ ấn tượng sâu đậm nhất là câu “Giới Luật rất trọng yếu”. Tôi nghĩ không ra; thật ra, tôi rất coi nhẹ chuyện đó, rất xem thường, bị Ngài nh́n thấy được, Ngài dùng câu đó đánh thức tôi. Nếu Ngài không viên tịch, tôi chẳng phản tỉnh, chẳng nhận biết được điều ấy. Ngài ra đi rồi, tôi mới phản tỉnh nhận biết điều ấy, tôi cho rằng nhất định phải có đạo lư. Bởi thế mới giở xem giới luật, nhờ đó đột nhiên hiểu ra. Trung Quốc nói đến Lễ, Nho Gia nói đến Lễ, chính là pháp thế gian. Pháp thế gian lễ nhạc ba đời khác nhau. Hạ, Thương, Châu không giống nhau. Qua khắp các đời, lễ nhạc đều phải đặt mới, phải cải cách, phải tu chỉnh, đều đổi mới quy chế. Như luật pháp cận đại, hiến pháp của quốc gia, cứ bao nhiêu năm đó lại phải tu chỉnh một lần; nếu không tu chỉnh th́ sao? Không tu chỉnh sẽ không thích hợp với nhu cầu hiện thời; bởi thế pháp luật phải luôn tu chỉnh.
Chúng ta thành lập một tổ chức nhỏ, tôi lập Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội ở Đài Bắc, chúng tôi có chương tŕnh, có nguyên tắc làm việc chi tiết. Chương tŕnh, nguyên tắc làm việc chi tiết, nhất là nguyên tắc làm việc chi tiết, cứ mỗi nửa năm chúng tôi lại phải kiểm thảo, tu chỉnh một lần. Mỗi năm phải kiểm thảo một lần, tu chỉnh thường xuyên. Bởi thế, chương tŕnh, nguyên tắc làm việc chi tiết của Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội rất kiện toàn, v́ sao? Tu chỉnh hơn mười mấy lần, rút kinh nghiệm khiến chúng rất hoàn chỉnh. Những thứ này là pháp thế gian, bởi thế phải tu chỉnh theo thời gian, theo địa phương. Do nghĩ Phật pháp là pháp xuất thế gian, chẳng phải pháp thế gian, từ đây tôi bèn nghĩ thông suốt. Giới Luật là ranh giới phân chia giữa pháp thế gian và xuất thế gian, nó chẳng phải là pháp thế gian. Nếu quư vị muốn siêu việt thế gian, muốn siêu việt luân hồi lục đạo, siêu việt mười pháp giới th́ Giới Luật rất hữu dụng.
Giới Luật là khuôn phép tu hành bao nhiêu kiếp của chư Phật, Bồ Tát, là khuôn phép để thoát khỏi luân hồi lục đạo, là khuôn phép vượt khỏi mười pháp giới, chẳng phải là khuôn phép để sống b́nh thường; bởi thế, chẳng thể sửa đổi Giới Luật được! Đặc biệt là Ngũ Giới, quư vị nói Ngũ Giới có đổi được hay không? Chẳng sát sanh, quư vị có thể nói là sai hay không? Chẳng trộm cắp, tại gia chẳng tà dâm, chẳng nói dối, chẳng uống rượu, không thay đổi được! Có đổi cũng không được. Mấy đại giới mang tánh nguyên tắc ấy đúng thật là siêu việt không gian, siêu việt thời gian, làm sao thay đổi được? Pháp ấy là Thường, đó là Thường.
“Pháp” là pháp tắc, nay ta gọi là nguyên lư, nguyên tắc. Bởi thế, trong pháp thế gian t́m chẳng ra Thường và Pháp, chỉ riêng Phật pháp có. Phật pháp vĩnh hằng, dù pháp thế gian biến đổi thế nào, Phật pháp vẫn bất biến.
Đó là bốn chữ mọi vị giảng kinh thường dùng để giảng ư nghĩa chữ Kinh. Tiếp đó là câu: “Các diệu nghĩa khác như Hoa Nghiêm Sớ nói”. Trong Hoa Nghiêm Sớ Sao, Thanh Lương đại sư dùng mười phương thức để giải thích chữ Kinh này. Quán - Nhiếp - Thường - Pháp là bốn cách; Ngài dùng mười cách giải thích, giải thích chữ Kinh rất tỉ mỉ, rất thấu triệt không chi hơn được Hoa Nghiêm Sớ Sao. Khi trước, tôi giảng kinh Hoa Nghiêm đă từng nói qua, đó là việc đă lâu lắm rồi. Trong tương lai có thể tôi giảng lần nữa, giảng ǵ? Giảng Tứ Thập Hoa Nghiêm. Khi tôi khai giảng Tứ Thập Hoa Nghiêm vẫn phải giảng đề mục kinh và huyền nghĩa; bởi thế sẽ lại có cơ hội giới thiệu tường tận.
Đă giới thiệu tựa đề Phật Thuyết A Di Đà Kinh cùng quư vị xong. Dưới đây là kinh văn, nay chúng ta xem kinh văn, đoạn thứ nhất của kinh văn là từ đoạn:
6.2. Tự Phần
“Như thị ngă văn:
Nhất thời Phật tại Xá Vệ Quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên, dữ đại tỳ-kheo tăng, thiên nhị bách ngũ thập nhân câu, giai thị đại A La Hán, chúng sở tri thức: Trưởng lăo Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lỵ Bàn Đà Già, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lâu Đà.
Như thị đẳng chư đại đệ tử, tinh chư Bồ Tát Ma Ha Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, dữ như thị chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát, cập Thích Đề Hoàn Nhân đẳng vô lượng chư thiên đại chúng câu”
Cho đến đoạn sau:
“Nhĩ thời, Phật cáo Trưởng Lăo Xá Lợi Phất:
- Tùng thị Tây phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc. Kỳ độ hữu Phật, hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp”.
Đối với đoạn kinh này, Ngẫu Ích đại sư phán định từ đầu cho đến đây là Tự Phần. Liên Tŕ, Ngẫu Ích, U Khê mỗi vị phân đoạn khác nhau, mỗi vị có cách hiểu riêng. Hôm nay tôi giới thiệu cùng quư vị là dùng những điều tôi đă giảng trong Di Đà Yếu Giải Nghiên Tập Báo Cáo (Báo cáo những điều nghiên cứu, học tập từ tác phẩm Di Đà Yếu Giải) là tác phẩm giảng nghĩa tôi đă soạn, thừa dịp này ôn tập cùng các đồng học một lượt.
Trong đoạn này, tôi đặt một tiêu đề nhỏ “Kinh tự đích khải thị” (khải thị về tựa đề kinh). Trong phần này, trước hết giải thích danh nghĩa, tức là giải thích ư nghĩa của danh từ, thuật ngữ. Chữ “như thị” biểu ư tín thuận, “ngă văn” biểu thị sư thừa (sự truyền thừa từ thầy sang tṛ); “nhất thời” biểu thị cơ cảm (căn cơ cảm ứng), “Phật” là giáo chủ, “Xá Vệ quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên” là xứ sở, cả một đoạn từ “Xá Lợi Phất” cho đến “chư thiên đại chúng câu” nói đến thính chúng (những người đến nghe pháp). Đó là “lục chủng thành tựu” (sáu món thành tựu) mở đầu kinh Phật, giống như biên bản buổi khai mạc hội nghị hiện tại, ghi lại thời gian, địa điểm, những người tham dự, ai là chủ tịch, phần đầu biên bản hội nghị luôn có những khoản đó. Kinh Phật cũng vậy, để thủ tín cùng đời sau kinh này chẳng phải là ngụy tạo, mà thật sự là do Thích Ca Mâu Ni Phật đă nói.
6.1.1. Thông Tự
6.1.1.1. Giới thiệu khái lược lục chủng thành tựu
Câu đầu tiên của kinh là “như thị ngă văn”; bởi lẽ khi Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại thế, lăo nhân gia dạy dỗ toàn là khẩu thuyết, chẳng dùng văn từ, giống Khổng Tử của Trung Quốc. Sách của Khổng Tử đúng là sau khi Khổng lăo phu tử đă qua đời, học tṛ đem những lời thầy thường răn dạy ghi lại, mọi người cùng biên tập thành. Một đời Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh thuyết pháp, giảng rất nhiều, sau khi Phật diệt độ, đồ đệ đa văn bậc nhất, người học tṛ có kư ức tốt nhất là tôn giả A Nan. Trong tất cả đồng học, A Nan có trí nhớ tuyệt hảo, nghe một lần ghi nhớ vĩnh viễn, cũng là một thiên tài, không phải ai cũng có khả năng như thế.
Lúc tôi c̣n đi học, năng lực ra sao? Tôi cũng là một kẻ nghe nhiều nhớ dai, tôi nghe một lần có thể nhớ được chín mươi lăm phần trăm, tôi có năng lực đó; bởi thế kêu tôi nhắc lại là chuyện dễ dàng, chẳng khó khăn ǵ. Nhưng tôi kém ngài A Nan rất xa, A Nan một đời chẳng quên, tôi nhớ nhiều lắm là được một tuần, chừng một tuần sau quên mất quá nửa, một tháng sau khỏi tính nữa. Hiệu quả nhất là trong ṿng một tuần, đă gọi là “nhớ dai”. Là học tṛ cũng có điều hay, hay ở chỗ nào? Đối phó với chuyện thi cử khá dễ dàng; nhưng cũng có chỗ tệ, tệ là chẳng đọc sách. Đối phó với thi cử quá đơn giản, trước giờ thi cho tôi mười phút, tôi ôn lại bài vở một lượt, chắc chắn sẽ đạt, chắc chắn như thế. V́ thế, tôi dùng tất cả thời gian làm ǵ? Xem tiểu thuyết. Bởi thế, trong bốn năm, tiểu thuyết Trung Quốc khoảng chừng đâu một hai trăm bộ tôi đọc sạch, tốc độ xem cũng nhanh, cũng có thể nhớ lâu.
Tôn giả A Nan đảm trách nhiệm vụ trùng tuyên. Tôi đă thưa cùng quư vị rồi đó, nếu không lâu hơn một tuần, tôi có thể nhắc lại những ǵ thầy đă giảng không sai mấy. Tôi chẳng thêm thắt ư ḿnh, thầy giảng thế nào, tôi nói như thế đó, trong ṿng một tuần chẳng có vấn đề ǵ, tối thiểu nhắc lại được chín mươi lăm phần trăm, tôi có năng lực ấy. Ngoài ra, tôi cũng có khả năng hiểu rất tốt, có ngộ tánh, đó là điều kiện chẳng thể thiếu để học kinh giáo. A Nan rất lợi hại, quư vị thấy đức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, những ǵ giảng trong bốn mươi chín năm trước Ngài nhớ kỹ, thật phi thường, chẳng thể không khiến người ta năm vóc sát đất. Ngài lên đài nhắc lại, đem những lời Phật đă giảng khi trước thành thật nói ra, chẳng thêm vào một câu, tôi nghĩ rất có khả năng thiếu đôi câu, sức kư ức của Ngài rất mạnh!
[Những lời A Nan nói] được các đồng học thẩm tra, chấp nhận, thính chúng là ai? Năm trăm vị đại A La Hán, đều là đệ tử của Thích Ca Mâu Ni Phật. Bọn họ đến nghe, nghe xem A Nan có nói sai hay không. Nói không sai, chỉ cần một cá nhân nêu nghi vấn là đoạn đó bèn bị gạt bỏ. Năm trăm vị, vị nào cũng đồng ư, chép xuống, tạo thành kinh điển. Bởi thế, đầu kinh ghi “như thị ngă văn”.
“Như thị” là lúc Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế đă nói như thế. “Ngă” là tôn giả A Nan tự xưng, đích thân tôi nghe đức Phật nói, chẳng phải nghe qua người khác. Ở đây chúng ta phải hiểu, Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật hai mươi năm rồi A Nan mới xuất gia, A Nan sanh đúng ngày Thích Ca Mâu Ni Phật thành đạo. A Nan hai mươi tuổi xuất gia, trong hai mươi năm ấy, Phật giảng không ít kinh. Quư vị coi những kinh Thích Ca Mâu Ni Phật đă giảng được ghi lại, sau khi thị hiện thành Phật, tại vườn Lộc Dă độ năm tỳ-kheo, bắt đầu giảng kinh. Giảng Tiểu Thừa, giảng A Hàm, giảng đến mười hai năm. Giảng A Hàm mười hai năm xong bèn giảng Phương Đẳng, Phương Đẳng tám năm, cộng thành hai mươi năm. Nói cách khác, A Nan chưa từng nghe A Hàm, Phương Đẳng. A Nan đích thân bắt đầu nghe Thích Ca Mâu Ni Phật giảng kinh là nghe những ǵ? Nghe Bát Nhă. Bát Nhă giảng hai mươi hai năm, Pháp Hoa - Niết Bàn tám năm, cộng thành ba mươi năm. A Nan nghe được ba mươi năm sau, hai mươi năm trước không được nghe, làm sao kết tập?
Trong kinh có câu chuyện, quư vị phải hiểu rơ. Thích Ca Mâu Ni Phật độ A Nan xuất gia, A Nan nêu điều kiện: Tôi thích kinh giáo, những kinh nào Phật đă thuyết trước kia, xin Ngài v́ tôi nhắc lại một lượt. Thích Ca Mâu Ni Phật đáp ứng. Bởi thế, kinh A Hàm, Phương Đẳng trong hai mươi năm A Nan chưa từng nghe qua, Thích Ca Mâu Ni Phật giảng lại một lượt. Nói cách khác, bốn mươi chín năm dạy dỗ của đức Thế Tôn, A Nan được nghe rất hoàn chỉnh, khác nào chẳng thiếu một buổi học nào. Bởi thế, Ngài là người truyền Phật pháp, chúng ta phải tin tưởng.
Ngoài ra c̣n có thuyết nói A Nan là bậc đại quyền thị hiện đến giúp Thích Ca Mâu Ni Phật giáo hóa chúng sanh, há lẽ chẳng thông đạt đạo lư! Điều này cũng hợp lư, đây là giảng từ mặt Lư, nói như trên là giảng về mặt Sự, lư - sự đều thông suốt. Bởi thế, đức Phật dạy A Nan mai sau kết tập kinh điển, câu đầu tiên là “như thị ngă văn, nhất thời Phật tại thậm ma địa phương” (Chính tôi nghe như thế này: Một thời đức Phật tại chỗ nào đó), đoạn kinh này là do đức Phật dạy A Nan nói như vậy.
Thăng ṭa giảng kinh được Phật lực gia tŕ, A Nan lên ṭa trùng tuyên, người nghe ở dưới thấy A Nan được Phật gia tŕ, giống như đức Phật, bởi vậy có kẻ hoài nghi: “Chẳng phải là Thích Ca Mâu Ni trở lại hay sao?” Có người nói: “Không phải đâu, A Nan thành Phật rồi!” A Nan vừa nói “như thị ngă văn”, mối nghi hoặc ấy của đại chúng không c̣n nữa, tôn giả A Nan chỉ nhắc lại thôi!
“Nhất thời”: V́ sao chẳng chép là năm, tháng, ngày, lại nói “nhất thời” (một thời). Nhất thời là nói thật, nếu ghi năm, tháng, ngày th́ năm, tháng, ngày là giả, v́ sao? Ấn Độ thời ấy chưa thống nhất, năm tháng mỗi quốc gia khác nhau. Việc ấy ở Trung Quốc cũng có. Đến hiện tại, mọi người trên thế giới đều dùng dương lịch, chúng ta gọi là Công Nguyên. Hiện thời chánh phủ Trung Quốc cũng dùng Công Nguyên, nhưng tại Đài Loan dùng Dân Quốc, năm nay là năm Dân Quốc 92, Công Nguyên là năm 2003, không giống nhau. Tại Nhật Bổn dùng niên hiệu B́nh Thành (Heisei), lại khác nữa! Lịch pháp Hồi giáo của thế gian cũng khác. Như vậy, trên địa cầu này cho đến hiện tại, lịch pháp vẫn chưa thống nhất, quư vị muốn ghi lại năm, tháng, ngày, giờ rất phiền phức, chẳng dễ tra cứu!
Huống chi thời gian là khái niệm trừu tượng, “nhất thời” là đúng, thầy tṛ đạo hợp, cơ duyên chín muồi th́ gọi là “nhất thời”. Ư nghĩa chữ “nhất thời” giống với ư nghĩa chữ Kinh trong Khế Kinh, cơ cảm tương ứng, thời tiết nhân duyên chín muồi, giảng đúng lúc đó mới phát sanh hiệu quả.
A! Bây giờ đă đến giờ rồi, chúng tôi giảng đến đây thôi!
*
Chư vị đồng học!
Chúng ta xem tiếp đoạn thứ nhất kinh A Di Đà, từ “như thị ngă văn” đến “kim hiện tại thuyết pháp”. Trong phần tiểu chú, đoạn thứ nhất là giải thích danh nghĩa, tức là giải thích danh từ, thuật ngữ.
“Như thị ngă văn”, “như thị” là Tín Thành Tựu. “Ngă văn” là Văn Thành Tựu, cũng là sư thừa. “Nhất thời” là Thời Thành Tựu. Phật là Chủ Thành Tựu, đây là người chủ giảng. “Xá Vệ Quốc, Kỳ Thọ Cấp Cô Độc viên” là Xứ Sở Thành Tựu, giảng tại địa phương nào. “Xá Lợi Phất”, toàn bộ đại chúng là Thính Chúng Thành Tựu. Giống như cách thức ghi biên bản hội nghị, dưới đây tôi sẽ tŕnh bày giản lược từng điều cùng quư vị.
6.1.1.2. Giảng về Tín Thành Tựu
Trước hết giải thích hai chữ Như Thị. “Thật tướng diệu lư, cổ kim bất biến” (Lư mầu Thật Tướng, xưa nay chẳng đổi) đó là Như. Trước hết, chúng tôi nói hai câu này. Chúng ta thường gọi Thật Tướng là Chân Tướng, Thật là chân thật, Tướng là hiện tượng; hiện tượng vũ trụ h́nh dáng chân thật là ǵ? Phàm phu chúng ta không thấy được chân tướng vũ trụ, chúng ta chỉ thấy được huyễn tướng, giả tướng, tướng thiên biến vạn hóa; chẳng thấy được chân tướng. Giống như chúng ta trông thấy biển cả, trông thấy biển cả ba đào trào dâng, bên bờ biển thấy sóng trào bọt trắng xóa, chúng ta trông thấy những tướng trạng đó, trông thấy ba đào, trông thấy bọt sóng, chân tướng là ǵ? Chân tướng là nước, chỉ biết thưởng thức sóng vỗ tung bọt, chỉ thấy được tướng ấy, quên mất nước đi, tướng thật sự là nước.
Chúng ta trông thấy thiên biến vạn hóa trong vũ trụ, không một giây, một phút ngừng nghỉ, kinh Phật gọi là “sanh diệt trong từng sát-na”. Như ba đào trong biển, sóng khởi lên là sanh, sóng ch́m xuống là diệt. Sóng vỗ tung bọt lên là sanh, sau khi sóng tan, bọt sóng tiêu mất là diệt. Trong vũ trụ sanh diệt biến hóa vĩnh hằng không ngừng, chúng ta b́nh thường chỉ biết được tướng biến hóa ấy, bản thể của sự biến hóa là ǵ? Ba đào, bọt sóng do nước biến ra, bản thể là nước. Vũ trụ to lớn như thế, thiên biến vạn hóa trong đó, bản thể của nó là ǵ? Trong kinh Phật gọi bản thể ấy là Thật Tướng.
“Thật Tướng diệu lư, cổ kim bất biến”: Tất cả hết thảy hiện tượng sanh diệt trong từng sát-na, thiên biến vạn hóa, bản thể của sự biến hiện vĩnh viễn không biến đổi, bất sanh bất diệt, chẳng đến chẳng đi, chẳng thường chẳng đoạn, chẳng một chẳng khác (bất sanh, bất diệt, bất khứ, bất lai, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị); Trung Quán Luận gọi là tám cái “Bất” (bát bất) để h́nh dung. Đó là bản thể của vũ trụ, là bản lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra. Phật cho nó một danh xưng là Như, Như Như, Chân Như, Tự Tánh, Chân Tâm, Lư Thể. Trong kinh điển Phật nêu cả mười mấy danh từ, không quan trọng ǵ cả. V́ sao Phật nói nhiều danh từ như thế? Nhằm dụng ư dạy chúng ta đừng chấp trước danh từ, danh từ là pháp phương tiện chẳng phải thật, nhưng trong giáo học dùng những danh từ này khiến quư vị ngộ nhập chân thật. Chẳng được chấp trước danh từ; nếu chấp vào một danh từ, quư vị chẳng thể ngộ nhập chân thật. Sở dĩ chẳng thể chấp trước vào tướng danh tự, Phật nói nhiều danh tự như thế, dụng ư là cho quư vị biết nói sao cũng đều đúng, chỉ cần chẳng nói sai điều này, ngàn vạn phần chẳng được chấp trước danh từ.
Bộ kinh này là kinh A Di Đà, mục đích tu học của kinh A Di Đà là cầu sanh Tịnh Độ, thân cận A Di Đà Phật, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới tu hành, chúng tôi phải nói theo cách thông thường là “đến học tập”. Học tập trong thế gian này có chi không tốt? Hoàn cảnh học tập trong thế gian này không tốt, hoàn cảnh nhân sự càng chẳng tốt, trong thế gian này không có thầy tốt, không có đồng học tốt, thọ mạng lại ngắn, thời gian quá ngắn chẳng đủ dùng. A Di Đà Phật sáng tạo cho chúng ta một hoàn cảnh hoàn bị nhất, chỉ cần chúng ta nghĩ đến, chúng ta thật sự có thể đến đó được. Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta đến học tập trong hoàn cảnh ấy, chư Phật Như Lai là thầy, chư thượng thiện nhân là đồng học, đồng học đều là thượng thiện. Chữ “thượng thiện” chỉ cho ai? Chỉ Đẳng Giác Bồ Tát. Như Quán Thế Âm, Đại Thế Chí trong Tây Phương Cực Lạc thế giới là đồng học, là trưởng tràng, là trưởng ban của ban học chúng ta. Nơi đó là hoàn cảnh tu học hoàn bị nhất, trong hoàn cảnh ấy quư vị chẳng khởi tham -sân - si. V́ sao? Tất cả hết thảy, bất luật vật chất hay tinh thần, thọ dụng đều được biến hóa ra. Nghĩ đến ǵ thứ ấy hiện ra, chẳng có tâm tham. Trong xă hội ấy đều là thiện nhân, chẳng có người ác, không ai có ác niệm, không ai có ác ư, không ai nói năng thô lỗ, dù có tâm sân khuể quư vị cũng chẳng thể phát khởi vào đâu được. Nói cách khác, quư vị chẳng có điều kiện nổi nóng, thật chẳng thể nghĩ bàn! Không phát khởi tâm sân khuể được, sáu căn hoàn toàn tiếp xúc Phật pháp, toàn là giáo hối của thánh hiền, nhất định quư vị chẳng ngu si. Nói cách khác, bất tất phải đoạn sân si, cũng chẳng cần phải quan tâm đến, đến ở lâu trong thế giới ấy sẽ tự nhiên đoạn được sân si sạch sành sanh, mục đích là đây.
“Y Thật Tướng lư, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, quyết định vô phi” (Nương theo lư Thật Tướng, niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ quyết định chẳng sai), “vô phi” là chẳng lầm, quyết định chẳng lầm, tức là Thị (đúng). Lời giải thích ấy căn cứ vào tông thú của kinh này, nêu thành điều thứ nhất. Thuyết pháp như vậy, bất luận trong thời điểm nào, bất luận chỗ nào, nơi này phương khác thảy đều chính xác, đều chẳng sai lầm; nói trong thế giới Hoa Tạng cũng vẫn chính xác. V́ sao? Chúng ta thấy Văn Thù, Phổ Hiền trong hội Hoa Nghiêm nơi thế giới Hoa Tạng, dùng mười Ba La Mật, mười đại nguyện vương khuyên lơn, hướng dẫn bốn mươi mốt địa vị Pháp Thân đại sĩ cầu sanh Tịnh Độ, thân cận A Di Đà Phật. Quư vị hăy nghĩ xem: Đó cũng là lư do tại sao hội Hoa Nghiêm nơi thế giới Hoa Tạng cũng là “quyết định chẳng sai”. Từ chỗ này quư vị tự nhiên nhận hiểu pháp môn này thù thắng chẳng thể nghĩ bàn.
Hiện tại chúng ta cùng học tập kinh Hoa Nghiêm, mục đích học tập kinh Hoa Nghiêm là ǵ? Nhằm triệt để hiểu rơ pháp môn Tịnh Độ. Kinh Hoa Nghiêm giảng thật tường tận, giảng cho thật nhiều, giảng thật rơ ràng, th́ không có ǵ khác ngoài nhằm làm cho chúng ta tin sâu chẳng ngờ, hạ quyết tâm niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Nếu quư vị học kinh A Di Đà, học kinh Vô Lượng Thọ mà bán tín bán nghi, chẳng thể giải quyết vấn đề, hăy học kinh Hoa Nghiêm. Huân tu kinh Hoa Nghiêm một thời gian dài, sẽ trừ được gốc nghi, đều thấu rơ, đều minh bạch hết. Kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ là cương yếu của Tịnh tông, nắm được cương lănh th́ công phu tu học đắc lực, nguyện vọng văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới có thể trở thành sự thật.
Tiếp đó, có một cách giải thích khác, xin mọi người hăy đọc: “Hựu vạn pháp câu tịch, nhất tâm bất loạn vi Như, thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật vi Thị” (Lại nữa, muôn pháp đều tịch, nhất tâm bất loạn là Như; tâm này là Phật, tâm này làm Phật là Thị). Đây cũng là căn cứ vào chỉ thú của Tịnh tông mà nói, nhưng trên phạm vi lớn hơn. “Vạn pháp câu tịch” đạo lư rất sâu. Chúng ta thấy vạn pháp đều động, sanh diệt trong từng sát-na, đều là động. Vạn pháp đều động chẳng Như; Như là nói về Thể. Chúng ta thấy tướng như vậy là vướng mắc vào tướng. Tướng là động, tác dụng là động, Thể bất động. Giống như trong biển cả chúng ta thấy có sóng ṃi, bọt sóng lên xuống là động, tùy thuộc hướng gió, tùy thuộc ḍng chảy di động không ngừng, đó là tác dụng của nó. Nổi lên, ch́m xuống là tướng, lưu động là tác dụng của nó; nhưng quư vị phải hiểu Thể của nó không động, Thể là Như.
Nhất tâm bất loạn, nhất tâm, tâm bất động; nhị tâm, nhị tâm là động. Nhị tâm là trong tâm quư vị có vọng tưởng. Sở dĩ gọi tưởng là vọng tưởng là ngụ ư bảo cho quư vị biết nó chẳng phải thật. Chân tâm là ǵ? Trong chân tâm chẳng có ư niệm, chân tâm ĺa niệm, chân tâm vô niệm, đấy là điều kinh Đại Thừa thường giảng. Hữu niệm chẳng phải là chân tâm, vô niệm là chân tâm. Ở đây lại phải hiểu rơ, vô niệm không phải là không nghĩ ǵ, chẳng phải là cái ǵ ta cũng chẳng thèm nghĩ đến, nếu tưởng đó là vô niệm th́ sai mất rồi! Đây đúng là “sai chỉ hào ly, lầm ngàn dặm”. V́ sao? Quư vị tưởng “không nghĩ” ǵ là vô niệm th́ quư vị thật sự tu thành Vô Tưởng Định, quả báo tương lai là trời Vô Tưởng thuộc Tứ Thiền Thiên, chẳng thể giải quyết vấn đề, lầm lạc rồi!
Không nghĩ ǵ cũng chẳng dễ, cũng phải có Thiền Định tương đương. Quư vị thấy đó, phải là Tứ Thiền! Sanh trong trời Vô Tưởng của Tứ Thiền Thiên, v́ sao chẳng thể giải quyết vấn đề? Kẻ ấy đọa trong vô minh, vô minh vẫn là Tưởng. Chẳng tưởng động th́ tưởng tịnh, tưởng những ǵ bất động, kẻ ấy tưởng đó là vô tưởng. Chẳng nghĩ đến hữu tưởng sẽ nghĩ đến vô tưởng, biến thành Vô Tưởng Định. Vô niệm khác hẳn, phải hiểu cho rơ! Vô niệm không phải là vô tưởng (không nghĩ tưởng ǵ), vô niệm là không có vọng niệm; trong pháp Đại Thừa gọi là “có chánh niệm”. Nếu trong tâm vẫn phân biệt là “có chánh niệm”, vẫn chấp trước vào “có chánh niệm” th́ chánh niệm ấy lại biến thành vọng niệm, điều này rất khó hiểu!
Rốt cuộc, thế nào mới là chánh niệm, thế nào mới là vô niệm? Trong kinh Phật có một nguyên tắc chung: “Ĺa hết thảy vọng tưởng, phân biệt, chấp trước th́ gọi là Vô Niệm”. Đối với hết thảy sự lư, nhân quả, tánh tướng trong vũ trụ thấu hiểu rơ ràng, hiểu minh bạch th́ gọi là Chánh Niệm. Bởi vậy, trong chánh niệm có trí huệ, có đức năng, có tướng hảo sanh động hoạt bát, trong ấy nhất định chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, khác hẳn với Vô Tưởng Định, chẳng giống với Thiên Chân Niết Bàn (5) của Tiểu Thừa. Vô Tưởng Định, Thiên Chân Niết Bàn vô ích, có Thể nhưng không có Dụng; nói thật ra, chính ḿnh chẳng được lợi ích viên măn, cũng chẳng thể làm lợi cho chúng sanh được.
Trong hội Lăng Nghiêm chúng ta thấy Thích Ca Mâu Ni Phật quở trách người Tiểu Thừa, khen ngợi Bồ Tát. Bồ Tát có Thể có Dụng, Tiểu Thừa có Thể nhưng không khởi tác dụng. V́ thế phải hiểu “vạn pháp đều tịch”, tướng ấy là ở đâu? Tướng ấy ở ngay trước mắt, nhưng nó chẳng sanh chẳng diệt, trọn khắp hư không pháp giới, sao chúng ta không thấy? Trong hội Hoa Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật đă rất cảm thán nói: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ đức tướng của Như Lai”, ngay cả hiện tại, chưa bao giờ mất; điều hết sức đáng tiếc là “nhưng v́ vọng tưởng, chấp trước, chẳng thể chứng đắc”. “Như thị” nguyên vốn có sẵn nơi thân chúng ta, mỗi ngày từ sáng đến tối chúng ta dùng nó mà không biết. Là thứ ǵ trên thân ta vậy? Chính là căn tánh của sáu căn; phải thưa rơ cùng quư vị, căn tánh của sáu căn! Căn tánh nơi sáu căn là “diệu lư Thật Tướng”, là tướng tịch diệt, tịch diệt thanh tịnh, là chân tâm, là bản tánh không hai không khác với chư Phật Như Lai.
Nếu cùng quư vị luận sâu hơn th́ ngay nơi nhục thể chúng ta, các khoa học gia hiện tại thấy rất rơ, hiểu rất rơ, thân thể chúng ta đây do ǵ tạo thành? Do tế bào tạo thành, tế bào do ǵ tạo thành? Do nguyên tử tạo thành; nguyên tử do ǵ tạo thành? Do lạp tử (leptons) tạo thành. Kinh Hoa Nghiêm nói mỗi một lạp tử ấy đều đầy đủ rất trọn vẹn pháp tánh, pháp tánh là Chân Như. Chân Như ở tại đâu? Chân Như không chỗ nào chẳng tồn tại. Trong mỗi một lạp tử đều có, mỗi một nguyên tử đều có, trong mỗi tế bào trên thân thể chúng ta đều có, rất đáng tiếc là quư vị mê, quư vị chẳng giác ngộ.
Nếu quư vị thật sự giác ngộ th́ mới hiểu “vạn pháp đều tịch”! Chúng ta chẳng thấy thanh tịnh tịch diệt, mà thấy những ǵ? Thấy vô lượng vô biên tướng sanh diệt, tướng biến hóa. V́ sao vậy? Chỉ thấy tướng chứ không thấy tánh! Các vị Phật, Bồ Tát, những người chân chánh tu hành thấy được tánh, liễu tướng, hiểu rất rơ hiện tượng, thấy được tánh, thấy trong tướng sanh diệt có tánh không sanh diệt. Đấy mới là hiểu rơ, minh bạch chân tướng sự thật. Như thị, nguyên lai như thị (như thế đó, vốn là như thế đó). Nhất tâm bất loạn cũng tức là nói “không có vọng tưởng”. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều đoạn hết th́ gọi là Như.
Tịnh tông chẳng phải là tu hành mê tín, chẳng khác ǵ lắm với Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Pháp Tướng, Tam Luận, Tông Môn, Giáo Hạ. Trong kinh Kim Cang, đức Phật nói: “Pháp môn b́nh đẳng, chẳng có cao thấp”. Tịnh tông chẳng nằm ngoài pháp môn, so với hết thảy pháp môn khác nó thật sự b́nh đẳng, chẳng có cao thấp. V́ sao? Chỗ y cứ đều là Chân Như, đều là Thật Tướng. “Tâm này là Phật, tâm này làm Phật”, ấy là Thị! Một mảy chẳng sai! Tâm này là đức Phật vốn sẵn có, vốn sẵn là như vậy, tâm chính là Phật, Phật chính là tâm; tâm là Chân Như, Chân Như là tâm. Nay quư vị lại phát tâm muốn làm Phật, quư vị nghĩ coi ḿnh có thể làm Phật được chăng? Trong kinh Đại Thừa, Thích Ca Mâu Ni Phật thường nói: “Hết thảy pháp đều từ tâm tưởng sanh”, ngày ngày nghĩ làm Phật, đương nhiên sẽ làm Phật. Hiện tại v́ sao bệnh truyền nhiễm SARS dữ dội đến thế? V́ sao nó lây lan rộng? Chẳng có ǵ khác ngoài chuyện quư vị hằng ngày nghĩ đến SARS, SARS bèn xảy đến, đó là duyên cớ! Quư vị không nghĩ đến nó, dần dần nó không c̣n nữa, hết thảy pháp từ tâm tưởng sanh, sao quư vị không nghĩ đến điều tốt, chẳng nghĩ đến điều lành?
Sáng sớm nay, bên Mỹ gọi điện thoại cho tôi, không ít người thấy tôi trước đây trên TV có mấy lần giảng về bệnh SARS, nay họ thu lại, phát lên đài truyền h́nh vệ tinh. Tôi đặc biệt bảo mọi người: Chúng ta phải tin tưởng lời Phật, “hết thảy pháp từ tâm tưởng mà sanh”, chẳng cần phải quan tâm đến nó, chẳng cần phải nghĩ đến nó? Mà nghĩ đến điều ǵ? Chân thành thanh tịnh. Chân thành thanh tịnh nhất định sẽ chẳng bị nhiễm hết thảy bệnh độc, chẳng bị lây nhiễm. Trong tâm, trong tư tưởng quư vị chẳng có độc, làm sao bị nhiễm độc cho được? Không tin tưởng! B́nh đẳng từ bi hóa giải được bệnh độc, hóa giải được chất độc của vi khuẩn SARS, hóa giải hết. Hai câu này hết sức trọng yếu; chỉ cần chúng ta thật sự tu hành “chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi”, ôn dịch bị hóa giải rất nhanh, không c̣n nữa. Thiên tai nhân họa từ đâu mà có? Từ vọng tưởng khởi, từ tham - sân - si khởi, đó mới là cội gốc. Bởi thế, chúng ta ngày ngày tưởng Phật, ngày ngày niệm Phật, ngày ngày thấy Phật, thấy tượng Phật, ngày ngày đọc kinh Phật, lẽ đâu chẳng thành Phật? Đó gọi là Thị. Đến đây là giảng xong chữ Như Thị, dưới đây lại xem tiếp chữ Nhất Thời.
6.1.1.3. Giảng về Thời Thành Tựu:
“Tế ngộ lương thời, sư tư đạo hợp” (gặp đúng dịp tốt, thầy tṛ đạo hợp), đó là “nhất thời”. Bởi thế chẳng ghi chép năm, tháng, ngày đức Phật giảng kinh, dụng ư rất hay! Chẳng ghi chép năm tháng ngày giờ lại có ư nghĩa rất sâu, khiến cho chúng ta ĺa khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, bởi lẽ thời gian và không gian phát sanh từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, chẳng phải là sự thật. Trong Pháp Tướng Duy Thức Học, không gian và thời gian bị xếp vào “bất tương ưng hành pháp”. V́ sao gọi là bất tương ưng hành pháp? Nói theo cách bây giờ, chúng thuộc về khái niệm trừu tượng, chẳng phải là sự thật. Bởi thế, nhà Phật dùng danh từ “bất tương ưng hành pháp”, người hiện thời gọi là khái niệm trừu tượng, chẳng có sự thật. “Nhất thời” hay lắm!
“Tế ngộ lương thời” (gặp nhằm dịp tốt), nay ta gọi “tế ngộ” là cơ hội, điều kiện đầy đủ, nhằm vào lúc ấy “sư tư đạo hợp” (thầy tṛ đạo hợp), thầy gặp được tṛ tốt, tṛ tốt gặp được thầy giỏi, tṛ vui thích học, thầy vui vẻ dạy, gặp nhằm lúc đó là “nhất thời”. Thầy dù có hay nhưng chẳng gặp được tṛ tốt cũng uổng công, dù tṛ có tốt chẳng gặp được thầy giỏi, t́nh h́nh ấy rất nhiều. Bởi thế, Thiện Đạo đại sư nói mấy câu khiến chúng tôi càng nghĩ càng bội phục, lăo nhân gia nói “nói chung là gặp duyên chẳng đồng”. Duyên tối trọng yếu là nhân sự; chúng ta có thể thành tựu hay không? Cá nhân tu hành có thể thành tựu hay không? Đối với xă hội, đối với đại chúng có thể cống hiến hay không? Đều là do gặp duyên chẳng đồng, quan trọng nhất là chí đồng đạo hợp.
Trong Phật pháp nói đến Lục Ḥa Kính, thứ nhất là Kiến Ḥa Đồng Giải, cách nghĩ, cách nh́n của mọi người nhất trí. Kiến lập nhất trí bằng cách nào? Nhất trí là buông bỏ cách nghĩ, cách nh́n của riêng ḿnh. Ta là phàm phu, đầu tiên phải thừa nhận, phải khẳng định điều đó. Ta là phàm phu, ta không giác ngộ, ta vẫn đang mê. Đă không có giác ngộ th́ cách nghĩ, cách nh́n của ta không chánh xác. Mọi người chúng ta đều là phàm phu, buông bỏ thành kiến của chính ḿnh, tạm thời bỏ cách nghĩ, cách nh́n của ḿnh sang một bên, chúng ta nghe lời Phật, chúng ta tiếp nhận lời Phật dạy răn, học theo cách nghĩ, cách nh́n của Phật, làm theo cách Phật làm, đó gọi là “học Phật”. Có giữ được cách nghĩ, cách nh́n, cách làm của Phật hay không, điều này cần phải có tín tâm. Tín tâm do đâu có? Chấp nhận Phật là bậc giác ngộ, Phật là bậc minh tâm kiến tánh, tư tưởng, hành vi của Phật lưu lộ từ tánh đức của tự tánh. Đến khi chúng ta chứng đắc Phật quả rồi (chứng đắc Phật quả là minh tâm kiến tánh, là thật sự đạt được Như Thị), th́ cách nghĩ, cách nh́n, cách làm của chúng ta hoàn toàn giống với chư Phật Như Lai, Phật Phật đạo đồng.
V́ sao? V́ thấy tánh rồi, tư tưởng, kiến giải, ngôn hạnh của quư vị toàn bộ đều từ tự tánh lưu lộ ra. Không kiến tánh th́ chúng lưu lộ từ phiền năo tập khí; bởi thế chúng dính mắc tự tư, tự lợi, dính mắc tham - sân - si - mạn. Chư Phật, Bồ Tát, Pháp Thân Bồ Tát chắc chắn không tự tư tự lợi, nhất định chẳng có tham - sân - si - mạn, như vậy là rất hợp lư. Bởi thế chúng ta phải tự phản tỉnh, chúng ta c̣n có tự tư tự lợi hay chăng? Chúng ta c̣n có tham - sân - si - mạn hay chăng? Vẫn c̣n một chút. C̣n một chút là trật rồi, c̣n một mảy m