Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm

Pháp Sự Toàn Tập Giảng Kư,

Phần 7

      Lăo pháp sư Tịnh Không giảng tại Tịnh Tông Học Viện Úc Châu

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

 

      Chư vị đồng học!

      Xin xem tiếp đoạn cuối cùng của phần “hàng cây diễn pháp”. Để tổng kết kinh văn, đức Phật bảo:

 

      “Xá Lợi Phất! Kỳ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm”.

      (Này Xá Lợi Phất! Cơi nước Phật ấy thành tựu công đức trang nghiêm như thế)

 

      Ở phần trên, đại ư của đoạn tổng kết tôi đă thưa cùng quư vị. Nói chung, đức Thế Tôn kỳ vọng chúng ta sanh ḷng tin chẳng nghi ngờ đối với hết thảy sự trang nghiêm trong thế giới Tây Phương, chúng được thành tựu bởi hạnh nguyện của Phật A Di Đà, cũng như do “tịnh nghiệp của mỗi hành nhân văng sanh Tịnh Độ cảm thành, chỉ do Thức biến”. Tâm Phật, tâm chúng sanh dung hợp thành một thể, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Cuối cùng, chúng tôi nói: “Toàn bộ Lư chính là Sự, toàn bộ Sự chính là Lư, hoàn toàn khởi tu nơi tánh, toàn bộ tánh dốc nơi tu”. Bốn câu này bàn luận đến mức cùng tuyệt, tức là “Tánh và Tu không hai”, tánh đức và tu đức dung hợp thành một thể. Đạo lư này hết sức sâu xa, nhưng nếu luận trên mặt sự tướng tu học của Tịnh Độ lại vô cùng “thiển hiển” (rơ ràng dễ hiểu). Như vậy là thâm - thiển bất nhị.

      Câu cuối cùng chính là lời cảm thán thiết tha của đại sư Ngẫu Ích: “Sao lại ĺa Tịnh Độ này để bàn riêng lẽ duy tâm Tịnh Độ, cam chịu tiếng chê ‘thử tức điểu không”. Hết sức cảm thán! Đây là lời trách những kẻ chẳng chất phác, chắc thật niệm Phật, khinh thị pháp môn Niệm Phật, thích đàm huyền thuyết diệu. Nếu bảo là Có th́ thật ra, kẻ ấy chưa hiểu được lư Diệu Hữu. Nếu nói là Không, kẻ ấy cũng chẳng biết đạo lư Chân Không; toàn là nghe lỏm nói ṃ đó thôi! Nói chung, không thoát khỏi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Cuối câu, Tổ nêu thí dụ: “Thử tức” là tiếng chuột kêu, “điểu không” là chim bay trên không chẳng lưu lại dấu tích. Dùng những h́nh ảnh này để tỷ dụ: Dùng Thử Tức (1) để tỷ dụ những kẻ nói Có nhưng không chẳng biết lư Diệu Hữu; dùng Điểu Không để tỷ dụ những kẻ ưa thích nói Không, nhưng thật sự chẳng hiểu thế nào là Chân Không. Chân Không - Diệu Hữu là một, chứ không phải hai.

      Trong kinh điển Đại Thừa, đức Phật thường giảng: “Tướng có, tánh không; từ trong Không sanh ra Có, Có trở về Không”, sanh ra rồi quay về, chúng ta không có cách ǵ hiểu được, tốc độ quá nhanh. V́ thế, Phật nói là “bất sanh bất diệt”. Trong kinh Kim Cang, đức Phật dạy: “Như sương cũng như chớp, nên thường quán như vậy”. Kinh Lăng Nghiêm giảng: “Ngay chỗ này xuất sanh, ngay nơi này diệt mất”. Sanh diệt hầu như đồng thời, bởi thế gọi là “bất sanh bất diệt”. Niệm thứ nhất vừa diệt, niệm thứ hai bèn sanh tiếp theo ngay. Niệm thứ hai vừa diệt, niệm thứ ba liền sanh tiếp theo ngay. Tốc độ nhanh chóng, chẳng những phàm phu không thể biết, kinh Đại Thừa nói ngay cả hàng Thất Địa Bồ Tát cũng không biết, từ Bát Địa Bồ Tát trở lên mới thấy được. Dùng công phu định lực rất sâu th́ Bát Địa Bồ Tát mới thấy được cái tướng Động cực kỳ vi tế ấy (tướng Động ấy là vô minh, là nghiệp tướng vô minh).

      Hiện tại các nhà khoa học đă từ phương pháp suy luận Số Học t́m ra đạo lư này; họ nói Hữu từ đâu có? Hữu từ Không sanh ra, “vô trung sanh hữu”. Hữu lại trở về Không trong từng sát-na. Chúng ta nói là từng sát-na chứ thật ra thời gian tính bằng sát-na vẫn c̣n dài lắm! Không cách ǵ diễn tả được hết! Người luận Không bàn Có chẳng tách khỏi ư thức; nói cách khác, hoàn toàn không rời được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, giống như chuột kêu, như chim bay trên không, chẳng t́m được dấu tích. Đại Sư cảm thán cho những kẻ có duyên phận gặp được pháp môn này, chẳng chịu chắc thật tu tập, thật đáng tiếc!

      Đàm huyền thuyết diệu là những ai? Những hạng người trong Tông Môn, Giáo Hạ, đặc biệt là trong thời Mạt Pháp này. Chúng ta biết niên đại của đại sư Ngẫu Ích cách chúng ta không xa, Ngài sanh vào niên hiệu Vạn Lịch 26 đời Minh (tức năm 1598), tính ra Ngài là người thuộc thế kỷ 16. Lăo nhân gia viên tịch nhằm năm Thuận Trị 11 đời Thanh (tức năm 1654). Đại Sư trụ thế năm mươi bảy năm, không lâu! Ngài văng sanh năm năm mươi bảy (57) tuổi. Thành tựu của Ngài chẳng thể nghĩ bàn, là một vị nhất đại tông sư của Tịnh Tông. Ấn Quang đại sư tán thán bộ Yếu Giải như sau: “Dẫu cho cổ Phật tái lai chú giải kinh Di Đà một lần nữa, cũng chẳng thể hay hơn bản này được”. Lời khen này chẳng sai một điểm nào. Chúng ta biết Ấn Quang đại sư là Đại Thế Chí Bồ Tát tái lai. Đại Thế Chí khen ngợi đại sư như thế, th́ đại sư Ngẫu Ích là ai? Chúng tôi nghĩ nếu không phải là A Di Đà Phật th́ cũng phải là Quán Thế Âm Bồ Tát, chứ chẳng phải ai khác nên Đại Thế Chí Bồ Tát mới tán thán như thế.

      Thời gian Phật, Bồ Tát ứng hóa trụ trong thế gian dài hay ngắn đều do duyên cảm ứng của chúng sanh. Chúng sanh có Cảm, Phật, Bồ Tát liền Ứng. Không có duyên nữa, Phật, Bồ Tát bèn đi. Ẩn hiện vô thường, ẩn hiện tự tại, đúng là “thiên xứ hữu cầu thiên xứ ứng” (ngàn chỗ mong cầu, ngàn chỗ hiện). Nay chúng ta xem tiếp đoạn tiếp theo.

 

6.3.1.3. Chánh báo mầu nhiệm

 

Đoạn tiếp theo nói về chánh báo mầu nhiệm. Trước hết, chúng ta hăy đọc kinh văn một lượt:

 

      “Xá Lợi Phất! Ư nhữ ư vân hà? Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà?”

      (Này Xá Lợi Phất! Ư ông nghĩ sao? Đức Phật ấy v́ sao hiệu là A Di Đà?)

 

      Đây là lời đức Thế Tôn hỏi tôn giả Xá Lợi Phất. Tiếp đó, đức Phật giải đáp.

 

      “Xá Lợi Phất! Bỉ Phật quang minh vô lượng chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại. Thị cố hiệu vi A Di Đà”.

      (Này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy quang minh vô lượng chiếu các cơi nước mười phương không bị chướng ngại. V́ thế, Ngài hiệu là A Di Đà).

 

      Chúng ta đọc tiếp luôn đoạn dưới.

 

      “Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật thọ mạng cập kỳ nhân dân, vô lượng vô biên A Tăng Kỳ kiếp. Cố danh A Di Đà”.

      (Lại này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của đức Phật ấy và nhân dân của Ngài là vô lượng vô biên A Tăng Kỳ kiếp, nên tên là A Di Đà)

 

      Chúng ta phải đọc đến đây mới thấy ư nghĩa chung của toàn đoạn. “Kinh này chỉ bày diệu hạnh Tŕ Danh; v́ thế đặc biệt tŕnh bày, giải thích danh hiệu ngơ hầu làm cho con người tin sâu vào vạn đức hồng danh chẳng thể nghĩ bàn, nhất tâm chấp tŕ, không c̣n nghi chi nữa”. Trước hết, phải hiểu điều dạy trọng yếu nhất của đức Phật trong kinh này là ǵ? Chính là dạy ta Chấp Tŕ Danh Hiệu. Trong bốn cách niệm Phật th́ thuận tiện nhất, dễ dàng nhất, thù thắng nhất không pháp nào hơn được Tŕ Danh. Bốn pháp Niệm Phật là Thật Tướng Niệm Phật, Quán Tưởng Niệm Phật, Quán Tượng Niệm Phật, Tŕ Danh Niệm Phật. Kinh này chủ trương Tŕ Danh Niệm Phật, hoàn toàn có cùng chủ trương với kinh Vô Lượng Thọ. Bởi vậy, danh hiệu rất trọng yếu! Đặc biệt muốn nêu bật danh hiệu nên đức Phật kêu Xá Lợi Phất để hỏi: “Ư ông nghĩ sao hả? Đức Phật trong Tây Phương Cực Lạc thế giới v́ lư do ǵ hiệu là A Di Đà?”

“A Di Đà” là tiếng Phạn, “dịch thành Vô Lượng”. A là Vô, Di Đà là Lượng. Dịch theo mặt chữ là Vô Lượng. “Vốn chẳng thể nói”, vô lượng như thế nào? Không có ǵ chẳng phải là vô lượng, điều ǵ cũng vô lượng, đó là ư nghĩa của danh hiệu. Hết thảy pháp thế gian, xuất thế gian, bất cứ pháp nào cũng vô lượng, v́ sao? Xứng tánh! Trong Thiền Tông, lăo ḥa thượng phải khảo sát coi học tṛ có đại triệt đại ngộ hay không. Trong rất nhiều công án Thiền Tông, chúng ta thường thấy lăo ḥa thượng khảo học tṛ: “Ngươi thật sự hiểu à? Vậy th́ cầm lấy một pháp đưa cho ta xem”. Học tṛ đúng là tùy tiện lấy một pháp, cầm một phiến lá, cầm một nhánh cỏ, giơ một ngón tay, nghĩa là sao? Chúng ta không hiểu ǵ hết. Lăo ḥa thượng gật đầu ấn chứng. Chúng ta chỉ biết là nhiệm mầu không thể nói nổi!

Bất cứ một pháp nào cũng đều là vô lượng; trong Chân Như Bản Tánh không có dài ngắn, chẳng có sanh diệt, chẳng có đến đi, chẳng có trước sau. Nói thật ra, không có cách ǵ để giảng chữ A Di Đà cả, chẳng thể nghĩ bàn! Vậy th́ ở đây đức Phật dùng hai nghĩa quang minh và thọ mạng trong [những sự vô lượng ấy], “Bổn Sư dùng hai nghĩa quang minh, thọ mạng để thâu sạch hết thảy vô lượng”. Quang minh và thọ mạng biểu thị pháp, Quang biểu thị không gian, Thọ biểu thị thời gian. “Quang là chiếu khắp mười phương theo chiều ngang, Thọ là tột cùng ba đời (tam tế) theo chiều dọc”. Tam tế là quá khứ, hiện tại, vị lai. “Cùng khắp cả chiều ngang lẫn chiều dọc”, tức là “pháp giới thể”. A Di Đà Phật là ǵ? A Di Đà Phật là pháp giới thể. Thân A Di Đà Phật là pháp giới, tức là pháp giới thể. Cơi nước Cực Lạc cũng là pháp giới thể.

“Cũng chính là nêu lên cái Thể tạo thành danh hiệu A Di Đà”. Danh hiệu A Di Đà là ǵ? Chính là danh hiệu của tự tánh, danh hiệu của Chân Như bản tánh. Niệm một câu A Di Đà Phật là niệm Tự Tánh Phật. Nếu chúng ta thắc mắc: Tây Phương Cực Lạc thế giới có đức Phật A Di Đà hay không? Có chứ! Không những có, mà c̣n thật sự có. Có tướng ấy, tánh - tướng là một không hai. Chẳng những tánh - tướng là một không hai mà tự - tha cũng là một, không hai. Toàn thể vũ trụ và ta là một không hai. Sự kiện này ai hiểu được? Càng nói chúng ta càng mê hoặc, nhưng là sự thật. Trọn pháp giới hư không giới là một con mắt của Sa-môn, nhà Thiền gọi là “công án”, rất nhiều người nói được. Toàn là lời thật, lời của những người thật sự khế nhập cảnh giới.

Bởi thế, sách Yếu Giải viết tiếp: “Chính là bản giác lư tánh của chúng sanh, Tŕ Danh là Bản Giác hợp cùng Thỉ Giác”. Pháp này nhiệm mầu đến cùng cực! Chúng ta niệm một câu A Di Đà Phật là hợp Thỉ Giác với Bản Giác. A Di Đà là Bản Giác, là Bản Giác nơi tự tánh, nay chúng ta phát tâm niệm một câu A Di Đà Phật th́ cái tâm niệm ấy là Thỉ Giác. Thỉ Giác và Bản Giác là một, không phải hai. “Thỉ, Bản bất nhị, sanh - Phật bất nhị” (Thỉ Giác, Bản Giác bất nhị; chúng sanh và Phật bất nhị). “Sanh” là chúng sanh, là chính chúng ta, bản thân chúng ta và A Di Đà Phật bất nhị, Thỉ Giác và Bản Giác bất nhị. “V́ thế một niệm tương ứng một niệm Phật, niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật. Người niệm Phật không thể không biết nghĩa lư này”. Người niệm Phật chúng ta hiện nay rất nhiều, có mấy ai hiểu được ư nghĩa này? Chẳng hiểu ư nghĩa này đâu! Chẳng hiểu ư nghĩa này th́ niệm Phật không tương ứng, nên chỉ là “miệng có, tâm không”. Nếu quư vị hiểu được nghĩa lư này mà niệm th́ người niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn.

Nghĩa là sao? Kinh Lăng Nghiêm, Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương đă giảng rất hay: “Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền tương lai, nhất định thấy Phật”. Tâm tự được khai, “tâm khai” là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh. Dùng phương pháp Niệm Phật để minh tâm kiến tánh, minh tâm kiến tánh là Lư nhất tâm bất loạn. V́ vậy, có người niệm Phật đắc Lư nhất tâm bất loạn, có người được công phu thành phiến, có người cái ǵ cũng không đạt, tâm vẫn là một mớ lộn xộn. Vấn đề chính là quư vị niệm có tương ứng hay không tương ứng mà thôi! Do đây biết rằng: Kinh giáo này chẳng chỉ dạy điều chi khác, chỉ là kinh Văng Sanh! Trong những kinh Văng Sanh, tối thiểu phải hiểu kỹ kinh A Di Đà. V́ sao? Nếu thật sự hiểu rơ, minh bạch th́ Phật hiệu sẽ tương ứng chẳng thể nghĩ bàn.

Nếu chẳng hiểu lư, chẳng rơ cảnh giới, phương pháp cũng mơ hồ, dẫu thời gian niệm Phật dài lâu cũng khó ḷng thành tựu. Bởi lẽ, quư vị niệm Phật chẳng tương ứng, chẳng tương ứng tự tánh, tự tánh là Phật. Không tương ứng tự tánh th́ ta và A Di Đà Phật (chúng tôi thường nói là tâm - nguyện của A Di Đà Phật, “tâm - nguyện - giải - hạnh” của A Di Đà Phật, chúng tôi hay nói bốn chữ này) chẳng tương ứng. Trong mỗi niệm đều tương ứng với tâm - nguyện - giải - hạnh của A Di Đà Phật là Đệ Nhị Nghĩa. Ở đây, sách nói đến Đệ Nhất Nghĩa. Đệ Nhất Nghĩa rất khó đạt, tương ứng với Tánh - Thể là Lư nhất tâm bất loạn. Đệ Nhị Nghĩa chưa đạt đến Lư nhất tâm bất loạn, nhưng có thể đạt đến Sự nhất tâm bất loạn, tương ứng với tâm - nguyện - giải - hạnh của Phật A Di Đà. Nếu quư vị chẳng thông giáo sẽ rất khó khăn.

Nếu như có ai vặn: “Từ cổ đến nay, chúng ta thấy có rất nhiều ông già bà cả niệm Phật, chưa từng đọc sách, chẳng biết chữ, xưa nay chưa hề nghe giáo, cái ǵ cũng không biết, cứ niệm một câu A Di Đà Phật đến cùng, sao họ vẫn thành công?” Chớ coi thường hạng người ấy! Họ thiện căn, phước đức, nhân duyên thành thục, không có vọng niệm, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều không có nên tự nhiên tương ứng với một câu Phật hiệu. Chính bản thân họ cũng không biết, dẫu thiện căn của họ sâu hay cạn, công phu siêng hay lười vẫn có thể thật sự thành công văng sanh. Sanh về cơi Đồng Cư là người thiện căn, công phu nông cạn. Sanh về cơi Phương Tiện là hạng người thiện căn, công phu sâu hơn nữa. Người tối thượng thừa, tâm địa thanh tịnh chẳng nhiễm mảy trần, tâm địa chân thành, thanh tịnh, b́nh đẳng, từ bi thật hiếm có. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, hoa sen liền nở gặp Phật ngộ Vô Sanh, chớ nên xem thường!

Ngày nay chúng ta chướng ngại, tập khí phiền năo quá nặng, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước không buông xuống được. Vọng niệm quá sức nhiều, dùng bất cứ phương pháp ǵ cũng không ngưng dứt được, không thể không biết điều này. Người thật sự dụng công phải t́m ra phương pháp ngưng dứt vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, thật sự sám hối, khẩn thiết cầu Phật gia tŕ. Phật trên mặt Lư là có, mà trên mặt Sự cũng có. Thật sự có Tây Phương Cực Lạc thế giới, thật sự có A Di Đà Phật, không giả chút nào hết! Chúng ta nghiệp chướng nặng đến mức đó, làm cách nào đây? Không cầu Phật gia tŕ sẽ không thể giải quyết nổi vấn đề ấy. Phải cầu Phật, khẩn thiết cầu Phật!

Trước kia, thầy Lư dạy tôi “chí thành cảm thông”: Chân thành, chân thành đến cùng cực th́ sự cảm ứng sẽ hiện tiền. Quư vị nói ḿnh rất chân thành, nhưng trong sự chân thành ấy vẫn xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước; chỉ cần xen tạp một tí tẹo, ḷng chân thành đă bị phá hoại rồi. Chỉ là thành, chứ chưa phải chân thành v́ c̣n xen tạp vọng niệm, xen tạp nghi hoặc: “Ḿnh cầu vậy có đúng không? Phật có thật sự đến hay không? Cầu suốt hai ba ngày sao Phật vẫn không đến?” Không chân thành! Vẫn c̣n xen tạp vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, xen tạp dục vọng, chẳng tương ứng. V́ thế chẳng thể không biết ư nghĩa này. Có hiểu ư nghĩa này rồi th́ quư vị mới hiểu [v́ sao] không thể không tu pháp sám hối.

Lúc chúng tôi mới học Phật, c̣n chưa xuất gia, xin nghỉ việc, nghĩ muốn đi xuất gia; lăo cư sĩ Châu Kính Trụ giới thiệu cho tôi làm quen với Sám Vân pháp sư, đến tiểu thảo xá của Sám Vân Pháp sư sống tại đó làm công quả. Gian tiểu thảo xá đó chỉ có năm người, ba vị xuất gia là Sám Vân pháp sư, Đạt Tông pháp sư, Bồ Diệu pháp sư; hai người cư sĩ là lăo cư sĩ Châu Kính Trụ và tôi. Lúc đó cụ Châu bảy mươi tuổi, tôi nhỏ tuổi nhất, ba mươi mốt tuổi. Tôi làm công quả ở thảo xá, hoàn cảnh thanh khiết, mỗi ngày nấu hai bữa (thảo xá chỉ ăn ngọ, không ăn chiều, nấu hai bữa thôi), giặt quần áo. Đun bếp trên núi phải đi nhặt củi, không cần chẻ củi. Trên núi cây khô, cành nhánh lá cây rụng xuống rất nhiều; mỗi ngày đi nhặt, nhặt về đun bếp; trồng rau trên núi đó là việc của tôi. Ngoài ra, Sám Vân pháp sư dạy tôi phương pháp tu hành: Lễ Phật! Quy định công khóa lễ bái mỗi ngày là tám trăm lạy, hay lắm! Thật sự đắc lực, lễ Phật để sám trừ nghiệp chướng. Buổi sáng lễ ba trăm lạy, buổi chiều lễ ba trăm lạy. Buổi trưa ăn cơm xong liền nhiễu Phật kinh hành khoảng chừng nửa giờ, nhiễu xong lễ Phật hai trăm lạy nữa. Có lúc Sám Vân pháp sư chỉ định công khóa của tôi là xem chú giải kinh A Di Đà, trao cho tôi ba bản chú giải: Sớ Sao của Liên Tŕ đại sư, Viên Trung Sao của U Khê đại sư, Yếu Giải của Ngẫu Ích đại sư. Tự ḿnh tôi xem, thầy chẳng dạy, chẳng giảng, bảo tôi phân tích thành biểu giải.

Hoàn tất ba bộ công khóa ấy xong, đọc xong rồi, thầy bảo tôi đọc Ấn Quang Đại Sư Văn Sao, tôi lên núi đọc sách, đọc rất nhiều thứ. Ba bộ chú giải kinh A Di Đà, Văn Sao của Ấn Quang đại sư. Lúc đó Ấn Quang Văn Sao mới chỉ có bộ Chánh Biên và Tục Biên. Ở Đài Loan lúc đó, Văn Sao in thành một bộ bốn cuốn, mang tựa đề Văn Sao Chánh Tục Biên. Tôi lên núi học suốt năm tháng rưỡi, trong năm tháng rưỡi lạy mười mấy vạn lạy, đúng là tiêu nghiệp chướng. Trong lúc lễ Phật tâm không tạp niệm, chỉ có A Di Đà Phật, niệm A Di Đà Phật, nghĩ đến A Di Đà Phật. Nay người mới xuất gia không được phước khí như vậy. Tôi vào thảo xá chăm sóc ba vị pháp sư, một vị lăo cư sĩ, ḿnh tôi làm công quả để tu phước! Tôi một chút phước báo cũng không có, nhờ đó mới bắt đầu tu phước. Lễ Phật sám hối tiêu nghiệp, đọc chú giải kinh A Di Đà và Ấn Quang Văn Sao để mở mang trí huệ, phước huệ song tu. Quư vị phải thật sự thực hành mới được, chớ có sợ khổ.

Lúc ấy, lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam sáng lập một Đồ Thư Quán (thư viện) ở Đài Trung; phỏng chừng Đồ Thư Quán xây cất chẳng bao lâu sẽ xong, tôi bèn rời Phố Lư đến Đài Trung, phát tâm học kinh giáo với thầy Lư. Tôi đến phục vụ trong Đồ Thư Quán. Lúc đó, tại Đồ Thư Quán có ba người, nếu tính cả người chuyên môn nấu bếp th́ tổng cộng là bốn người, làm công quả có bốn người. Công việc rất nhẹ nhàng. Công việc cũng không có ǵ nhiều, tối thiểu là tôi không phải giặt quần áo cho mọi người, không phải nấu cơm; có người khác nấu rồi. Chỉ giặt quần áo của ḿnh rất tiện, có nhiều thời gian đọc sách. Lúc mới đến Đài Trung tôi vẫn lễ Phật, mỗi ngày lạy ba trăm lạy, theo mọi người tụng công khóa sáng, buổi sáng lễ một trăm lạy, giữa trưa lễ một trăm lạy, buổi chiều lễ một trăm lạy. Giữ được như vậy trong một thời gian rất lâu, phải thật sự làm nghe! Vừa mới vào cửa Phật th́ khổ hạnh là phương pháp tu học đắc lực nhất. Không chịu được khổ, chẳng chịu làm th́ không có cách chi hết.

Chúng tôi thường khuyến khích mọi người phải lễ Phật, lễ Phật tiêu nghiệp chướng. Lúc lễ Phật tâm phải định. Quư vị muốn t́m phương pháp ư? Lễ Phật là phương pháp, Niệm Phật là phương pháp, tịnh tọa là phương pháp, đọc kinh nghiên cứu giáo pháp cũng là phương pháp. Phương pháp nào có hiệu quả cho quư vị th́ mỗi người không giống nhau, mỗi người căn tánh khác biệt. Chính tôi khi nhiếp tâm thấy vọng niệm nhiều quá, làm thế nào để vọng niệm bớt đi một chút đây? Đối với tôi phương pháp hữu hiệu nhất chính là lễ Phật và nghiên cứu kinh giáo, trong những lúc làm như vậy th́ không có vọng tưởng. V́ thế, sau này tôi đi theo con đường giảng kinh, thời gian lễ Phật càng ngày càng ít hơn, nhưng tăng thêm thời gian đọc kinh nghiên cứu giáo lư. Mỗi ngày phải đọc, lúc đọc bèn khuyên hay chấm (*), những chỗ quan trọng tôi dùng bút màu khoanh lại, viết ghi chú hay tóm tắt đơn giản bên cạnh. Tập trung tinh thần, ư chí, không vọng tưởng; có vọng tưởng là trật rồi!

Lúc lễ Phật không được có vọng tưởng, có vọng tưởng th́ làm sao? Hễ có vọng tưởng sẽ quên mất ḿnh đă lễ bao nhiêu lạy. V́ thế lúc ấy chẳng thể khởi vọng tưởng, lễ được bao nhiêu ghi nhớ rất rơ ràng. Lễ ba trăm lạy rơ ràng. Hễ khởi vọng tưởng là nhầm lẫn liền. Hễ nhầm lẫn th́ sao? Nhầm lẫn th́ lạy trở lại từ đầu. V́ thế, tinh thần, ư chí nhất định phải tập trung. Tự ḿnh phải t́m ra cách đối trị phiền năo tập khí của chính ḿnh; phiền năo tập khí quan trọng nhất là vọng niệm. Phải làm thế nào để ngưng dứt vọng niệm? Lư giải thấu triệt là tốt nhất, quư vị đă ở một mức độ sâu rồi. Không lư giải cũng không sao, trước hết phải chế ngự được vọng niệm, đối với người mới học điều này quan trọng hơn hết. Sau này công phu đắc lực, bất luận tụng kinh hay là nghe giảng, trong nhà Phật gọi là “thính giáo, độc kinh”; đọc kinh nghe giảng đều có chỗ ngộ, đều nhờ vào tâm thanh tịnh. Tâm không thanh tịnh th́ một tí biện pháp ǵ cũng không có.

Tiêu chuẩn của tâm thanh tịnh là phân biệt, chấp trước ít; càng ít càng hay. Lại c̣n một việc các đồng học nên nhớ kỹ: Sự chẳng liên quan đến ḿnh đừng t́m hỏi, trong cả đời tôi [thái độ này] rất đắc lực. Tôi tuyệt đối không nghe chuyện họ Trương giỏi, họ Lư dở, tôi không chịu nổi, từ nhỏ tôi đă tập quen như vậy, không có cái thói quen ấy. Tôi tuyệt đối chẳng hỏi người khác chuyện đó, người khác có những chuyện thị phi như “họ Trương giỏi, họ Lư tệ hại” đến kể với tôi, tôi cũng không nghe; nhiều lắm là nói lấy lệ mấy câu, tuyệt đối chẳng lưu tâm. Đương nhiên càng chẳng thể truyền thuật, đó là thói quen huân dưỡng từ nhỏ, đối với việc học Phật sau này thật sự rất hữu ích, tâm dễ chuyên chú. Đấy cũng thật sự là một nhân tố khiến cho sức lư giải được sâu hơn một chút.

Lại xem tiếp đoạn dưới: “Tâm tánh tịch nhưng thường chiếu, nên là quang minh. Nay chứng thấu triệt cái thể vô lượng của tâm tánh, nên phóng ra vô lượng ánh sáng chiếu soi, có đủ công năng nhiếp thọ gia bị, có đức tánh trừ chướng khai trí huệ”. Câu này giảng về vô lượng quang. Quang từ đâu có? Tâm tánh vốn sẵn có quang minh: Bát Nhă quang minh, trí huệ quang minh, vốn sẵn có! Vốn sẵn có nhưng sao nay chúng ta không có, trí huệ quang minh không có, quang ǵ cũng không có? V́ sao không có quang? V́ chúng ta mê mất tâm tánh. V́ sao mê? Tâm ta động. Quư vị phải biết: Tâm vốn dĩ chẳng động, làm sao động được! Nếu cái tâm thật sự động th́ tâm ấy là vọng tâm, chẳng phải chân tâm. Thưa cùng quư vị: Chân tâm vĩnh viễn bất động. Xác thực v́ chúng ta mê mất chân tâm, chẳng biết chính ḿnh có chân tâm nên bèn tưởng cái ǵ là chân tâm? Tưởng niệm là chân tâm, tưởng tâm ta có thể suy nghĩ, ta có thể phân biệt là chân tâm. [Thật ra], đó là Duyên Lự Tâm, tức là ǵ? Trong Phật pháp gọi là Thức. Quư vị thấy chỉ do Thức biến, Thức tâm đầu thai trong luân hồi lục đạo. Ai đi đầu thai? Thức tâm. Trong Phật pháp thường nói: “Tiên lai hậu khứ tác chúa công” (Đến trước đi sau làm chúa tể). Thức thứ tám là A Lại Da Thức đến đầu thai, nó đến trước hết. Khi con người chết đi, A Lại Da Thức rời đi sau cùng. V́ thế nói đến trước hết, nhưng ra đi sau cùng hết, đến trước đi sau làm ông chủ, tức là nguyên tố chủ yếu của luân hồi lục đạo. Nó là vọng tâm không phải chân tâm. Coi vọng tâm là chân tâm th́ hỏng rồi! Vọng tâm không có trí huệ, chân tâm có trí huệ. Nhưng chân tâm và vọng tâm vĩnh viễn ở chung một chỗ, chẳng thể tách ĺa, chân - vọng ḥa hợp. Ở nơi đâu? Ngay trong thân thể chúng ta. Kinh Lăng Nghiêm lấy thí dụ con mắt: Con mắt nh́n lần thứ nhất, cái thấy đầu tiên là chân tâm, ư niệm thứ hai tiếp theo ngay đó là vọng tâm. Bây giờ đă hết giờ rồi, trong tiết sau chúng tôi sẽ dựa theo t́nh h́nh chung mà báo cáo đơn giản cùng quư vị.

 

*

 

Chư vị đồng học!

Phần trước nói đến chân tâm và vọng tâm. Chân tâm tịch nhưng thường chiếu là quang minh, chiếu nhưng thường tịch là vô lượng thọ. Thế nhưng chúng ta chẳng thọ dụng được v́ chúng ta toàn dùng vọng tâm. Vấn đề này rất nghiêm trọng. Trong hội Lăng Nghiêm, Thích Ca Mâu Ni Phật đă cùng A Nan luận về chân tâm và vọng tâm. Thích Ca Mâu Ni Phật lấy Tánh Thấy làm thí dụ. Điều này chúng ta phải chú tâm một chút mới ḥng thể hội được. Chúng ta mở mắt ra bèn thấy, cái thấy đầu tiên khi mở mắt ra, lúc đó không phân biệt cũng như không chấp trước, đó là “tâm tánh thấy”, đó là chân. Đó là cái thấy bởi tâm tánh. Đến niệm thứ hai bèn khởi phân biệt, bèn khởi chấp trước, lập tức biến thành “thức thấy”.

Quư vị phải hiểu Thức có phân biệt, chấp trước; Tánh không có. Tánh có thể hiện, c̣n Thức có thể biến. Chư Phật, Bồ Tát dùng tánh Thấy để nh́n, bởi vậy các Ngài thấy được Nhất Chân pháp giới. Chúng sanh trong chín pháp giới dùng năm mươi mốt Tâm Sở trong tám Thức để thấy, cho nên những ǵ họ thấy biến thành chín pháp giới. Chín pháp giới do đâu mà có? Đều là từ mức độ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước bất đồng mà có; phải hiểu điều này. Mê càng sâu th́ trong chín pháp giới càng xuống thấp hơn, đọa lạc càng thấp hơn; mê cạn th́ lên cao hơn. Nếu chuyển được tám Thức thành bốn Trí sẽ vượt khỏi mười pháp giới, chẳng c̣n thuộc trong mười pháp giới nữa, nhà Phật gọi là Pháp Thân Bồ Tát. Pháp Thân Bồ Tát đă chuyển tám Thức thành bốn Trí, chẳng dùng Thức, Ngài kiến tánh.

Bởi thế, ở con mắt th́ Chân Tánh hay Chân Như Bản Tánh hoặc Chân Tâm gọi là Tánh Thấy, tại tai gọi là Tánh Nghe, tại mũi gọi là Tánh Ngửi, tại lưỡi gọi là Tánh Nếm. Nếu nói gộp lại, nói đơn giản hơn một chút là “kiến văn giác tri” (thấy nghe hay biết). Kiến là mắt thấy, Văn là tai nghe, nơi mũi, lưỡi, thân cảm nhận là Giác, nơi ư là Tri. V́ thế, kiến văn giác tri là căn tánh của sáu Căn. Căn tánh vốn sẵn đủ năng lượng đó, nhưng trong ấy nhất định chẳng có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. V́ thế nó là chân, chẳng phải giả. Đó là chân tâm, là bản tánh, trong kinh Phật gọi là tâm tánh. Nó “tịch nhưng thường chiếu, chiếu nhưng thường tịch”, ở ngay trên thân chúng ta chứ không phải ở ngoài. V́ thế đức Phật nói: “Hết thảy chúng sanh vốn sẵn thành Phật”, câu này là thật chứ không phải giả. Xác thực là vốn sẵn thành Phật, chỉ cốt sao sáu Căn kiến văn giác tri tiếp xúc với cảnh giới sáu Trần ĺa được vọng tưởng, phân biệt, chấp trước.

Quư vị phải biết vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là vọng tâm. Vọng tưởng là thức A Lại Da thứ tám, phân biệt là Ư thức thứ sáu, chấp trước là thức thứ bảy. Trong tám thức, thật sự khởi tác dụng là ba thức này; năm thứ đầu chỉ nghe theo lệnh mà làm, chẳng làm chủ được, kẻ làm chủ chính là ba thức này. Chẳng dùng đến ba thức này th́ chẳng phải là chuyển Thức thành Trí hay sao? Chuyển A Lại Da Thức thành Đại Viên Kính Trí, chuyển Mạt Na thành B́nh Đẳng Tánh Trí, chuyển thức thứ sáu thành Diệu Quán Sát Trí. Quư vị có chuyển được hay chăng? Không được! Thật đấy! Mắt thấy sắc lập tức khởi phân biệt, vọng tưởng. Khởi phân biệt, vọng tưởng là rớt vào hai, rớt vào ba, rớt vào Thức rồi. Hai là ǵ? Là Ư Căn (Mạt Na) và Ư Thức. Ba là Ư Thức, Mạt Na Thức và A Lại Da Thức. Vừa động một niệm bèn lạc vào hai, vào ba! Rớt vào hai, ba bèn biến thành phàm phu; không rớt vào hai, ba bèn thành Phật hay Pháp Thân Bồ Tát. Phàm thánh sai biệt là do đây!

V́ thế, chư Phật, Bồ Tát thấy quư vị rất đáng tiếc, cớ sao lại khởi phân biệt, chấp trước? Nếu quư vị chẳng khởi phân biệt, chấp trước có phải là đă thành Phật rồi ư? Cớ sao lại khởi? Vừa khởi lên như vậy th́ sự tướng đă bị vặn vẹo hết, không thấy được chân tướng nữa. Nếu chẳng khởi vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, quư vị sẽ thấy được chân tướng là Nhất Chân pháp giới. Khởi lên ư niệm rồi bèn rớt vào hai, vào ba, rớt vào ư thức; trong ư thức mọi tướng bên ngoài đều bị méo mó. Bởi vậy, đối với tướng trạng cảnh giới, quư vị bèn ưa thích hoặc chán ghét, có cảnh mong lấy được, có cảnh muốn vứt bỏ, đều là phân biệt, chấp trước nghiêm trọng, là tạo nghiệp! Tạo nghiệp sẽ phải thọ báo; chẳng thấy được chân tướng sẽ chẳng có trí huệ.

V́ thế, Giao Quang đại sư chú giải kinh Lăng Nghiêm, chủ trương bỏ Thức dùng Căn. Xả Thức dùng Căn là ǵ? Dùng cái niệm thứ nhất, quyết chẳng dùng cái niệm thứ hai. Có lư lắm, hay lắm, nhưng người ta làm không nổi. Đúng là làm như vậy không nổi; người làm được như vậy phải là Pháp Thân Bồ Tát, chẳng phải là phàm nhân. [Làm được như vậy] chẳng những siêu việt luân hồi lục đạo mà c̣n siêu việt mười pháp giới; chúng ta nhất định phải hiểu điều này. Nếu không thể hiểu, không làm được th́ lại có cách khác, học làm dần dần. Học như thế nào? Đối với cảnh giới bên ngoài ḷng dạ nhạt nhẽo đi một chút, đừng mong mỏi quá phận; chúng ta vẫn c̣n phân biệt nhưng phân biệt ít hơn một chút, chấp trước nhẹ đi một chút. Mỗi năm một ít dần, năm sau nhẹ hơn năm trước là có tiến bộ đấy!

Những người tầm thường chúng ta, những hạng người căn tánh trung hạ nên làm như vậy; đặc biệt hạng người căn tánh bậc trung, nếu có thể mài giũa như thế độ hai mươi, ba mươi năm, sẽ dần dần nhập được cảnh giới, trường thời huân tu mà! Thế nhưng quư vị phải thật sự huân tập, thật sự tu tập mới được. Thế nào là thật sự tu tập? Quư vị phải thật sự xem nhẹ [ngũ dục, lục trần] một chút, chấp trước phải thật sự giảm bớt một chút, đó là công phu thật sự! Phân biệt, chấp trước nghiêm trọng, hiếu cường, hiếu thắng vĩnh viễn là chướng ngại, không có chút biện pháp chi hết. Con người hiện tại tâm tự tôn rất mạnh, tâm ngă mạn rất cao, khó lắm, hết sức khó khăn vậy. Thích Ca Thế Tôn lúc c̣n tại thế đă thị hiện cho chúng ta thấy Ngài nhẫn nhục như thế nào! Cả một đời Khổng lăo phu tử thị hiện, đâu đâu cũng khiêm hư nhún nhường, việc ǵ cũng chẳng dám vượt trước người, đều chịu lui một bước. Thánh nhân dạy người là do từ tánh đức lưu lộ.

Chúng sanh và Phật b́nh đẳng, vạn pháp b́nh đẳng, có ǵ đáng kiêu mạn đâu? Chúng ta đọc đến phần năm mươi ba lần tham học trong kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy rơ năm mươi ba vị thiện tri thức là chư Phật Như Lai ứng hóa, thị hiện cho chúng ta thấy. Họ thị hiện những thân phận thuộc bốn mươi địa vị Pháp Thân đại sĩ, ai nấy đều khiêm hư, chẳng ai nói: “Ta đúng, kẻ khác sai”. Không ai như vậy cả, t́m không ra một vị nào. Họ đều rất khiêm hư: “Vô lượng pháp môn, tôi chỉ biết một pháp này, các pháp môn khác ngươi đến thỉnh giáo nơi những vị thiện tri thức khác, họ đều cao hơn ta, đều vượt trỗi ta, ta chẳng bằng được họ”. Quư vị thấy đó: Mỗi một vị thiện tri thức đều khiêm hư như thế. Cổ nhân Trung Quốc dạy chúng ta: “Măn chiêu tổn, khiêm thọ ích” (Tự măn chuốc lấy tổn hại, khiêm nhường hưởng lợi ích). Trong sáu mươi bốn quẻ của Kinh Dịch, mỗi một quẻ đều có sáu hào xấu tốt khác nhau. Chỉ có mỗi một quẻ có cả sáu hào đều tốt, không có hào nào hung, trong sáu mươi bốn chỉ có mỗi một quẻ mà thôi, quẻ nào vậy? Quẻ Khiêm (2), khiêm hư đại cát đại lợi, không lúc nào bất lợi cả. Con người phải học khiêm hư, phải biết nhẫn nhượng, ḿnh nhẫn nhượng người khác, người khác nhẫn nhượng ḿnh, nhẫn nhượng lẫn nhau, xă hội tự nhiên an định, thế giới tự nhiên ḥa b́nh. Trong hai người có một kẻ tranh, có một người nhượng, cục diện ấy sẽ hóa giải ḥa b́nh. Hai người cùng tranh, không nhường nhau, phiền phức xảy ra liền, chiến tranh nổ ra liền. Kết cuộc của chiến tranh là ǵ? Hai bên cùng bại vong, thương tổn; chân lư đấy! V́ sao hai bên cùng bại vong, thương tổn; chiến tranh có một bên thắng, một bên bại mà? Không sai! Nh́n bề ngoài thấy có kẻ thắng. Lúc quư vị thắng, quư vị giết bao nhiêu người? Hại bao nhiêu người? Những người ấy đều biến thành oán thân trái chủ của quư vị. Oán thân trái chủ sẽ làm ǵ? Họ đầu thai vào nhà quư vị, làm con cháu, chắt chút của quư vị, họ đến làm ǵ? Đến báo cừu, há chẳng phải hai bên cùng bại, cùng thương tổn ư? V́ thế, quư vị phải thấy được nhân quả báo ứng th́ quư vị mới biết. Chẳng những giết người, người sẽ báo cừu, mà giết súc sanh, súc sanh cũng báo cừu. Thậm chí ta phá chặt cây cối, hoa cỏ, những hoa cỏ cây cối có linh tánh ấy cũng báo thù, phiền phức lớn lắm. Con người hiện tại chẳng hiểu đạo lư này, phá hoại môi trường tự nhiên, phá hoại cân bằng sanh thái, th́ thiên nhiên phải báo thù bằng thiên tai, ôn dịch!

V́ thế, lúc chúng ta cần phải sử dụng tài nguyên thiên nhiên, như chúng ta muốn cất một thảo xá, phải chặt mấy cây gỗ để làm cột, làm kèo, th́ Phật dạy chúng ta: Ba ngày trước khi chặt cây phải cúng bái, tụng kinh niệm Phật hồi hướng cho nó. Ba ngày sau mới được chặt cây. Trên cây có thần cây, thỉnh thần cây dọn nhà, dọn qua chỗ khác, chẳng kết oan cừu. Người hiện tại nào ai biết đến điều này? Như vậy, v́ đâu thiên tai lại nhiều đến như thế? V́ chẳng hiểu rơ đạo lư, chẳng đối xử ḥa b́nh. Lúc chúng ta thật sự có nhu cầu, đúng là họ có thể cúng dường, có thể phụng hiến, hai bên đều hoan hỷ, tốt hơn nhiều! Chẳng được cậy thế khinh người, cậy thế khinh người hậu quả chẳng thể tưởng tượng được đâu!

Cây cối hoa cỏ thật sự có linh tánh, sự cảm ứng ấy là thật, không giả một chút nào. Tôi nghe có vị đồng học đến kể với tôi trong nhà họ xảy ra chuyện. Thần ǵ vậy? Thần cỏ. Trong sân nhà ông ta có khoảnh cỏ không tưới nước đă lâu, cỏ khô rụi. Những hồn cỏ (thần hoa cỏ) có cách giao tiếp với quư vị, chúng tạo ra từ trường. Có một ngày nọ ông ta trở về nhà, về đến nhà cảm thấy từ trường bất ổn, cảm thấy rất lạ lùng, trong tâm nghĩ có quỷ thần ǵ chăng? Nếu thật sự có quỷ thần, ḿnh làm sao đối thoại được? Ông ta đột nhiên nghĩ: “Buổi tối nhà thắp đèn điện, [quỷ thần] hăy làm cho đèn chớp lóa một cái”. Độ năm phút sau, ánh đèn điện quả nhiên chớp lóa một cái, ông ta sững sờ! Thiệt chứ không phải giả rồi! Đúng là có quỷ thần trong nhà. Ông ta nói: “Chúng ta đối thoại bằng cách nào đây? Tốt nhất là tối nay tôi ngủ, ngài báo mộng cho tôi hay vậy”.

Tối đó nằm ngủ, thật sự mộng thấy rất nhiều trẻ nhỏ cầu cứu, chúng nói: “Chúng tôi không phải ai khác mà là hoa cỏ trong sân nhà ông, chúng tôi sắp chết khô hết rồi, xin ông tưới nước cho! Đến cầu xin đây!” Sáng sớm hôm sau ông ta ra vườn xem, quả nhiên đúng như vậy, đúng là đă lâu không tưới nước, cỏ úa vàng hết, vội vàng tưới nước. Sự việc này phát sanh gần đây, mới năm ngoái thôi, chẳng lâu la ǵ. Tôi đến nhà ông ta xem thử; bởi lẽ, người săn sóc vườn tược là bố ông ta, ông cụ chỉ tưới hoa, tưới cây, không quan tâm đến đám cỏ nhỏ. Cỏ nhỏ đến cầu xin, thật chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, thực vật c̣n có linh tánh, huống ǵ động vật, huống chi con người! Như vậy, dùng ác tâm, dùng ác niệm để đối đăi sẽ kết thành oán. Kết oán rồi, oan oan tương báo lúc nào xong, đời đời kiếp kiếp đau khổ!

Chúng ta hiểu rơ chân tướng sự thật này mới biết chiến tranh là hai bên cùng bại, cùng tổn, tuyệt đối chẳng phải chỉ một bên thua thiệt. Nếu thật sự hiểu rơ, sẽ tuyệt đối chẳng phát sanh chiến tranh, chắc chắn sẽ t́m phương pháp hóa giải, quyết chẳng dùng đến thủ đoạn ấy. Sự việc này trong kinh đức Phật giảng rất rơ, rất thấu triệt, đáng tiếc con người hiện tại tin vào khoa học, coi mọi giáo huấn của bậc hiền thánh đều là mê tín. Tiếp theo là một câu rất hay: “Nay chứng thấu triệt cái thể vô lượng của tâm tánh”. Chứng thấu triệt th́ dùng phương pháp nào để chứng? Dùng phương pháp Niệm Phật, niệm đến Lư nhất tâm bất loạn sẽ chứng thấu triệt cái thể vô lượng của tâm tánh. “Nên phóng vô lượng quang minh, có đủ sức nhiếp thọ gia tŕ, có đức năng trừ chướng khai huệ”, mở mang trí huệ.

Tiếp đó là câu: “Tâm tánh chiếu nhưng thường tịch, nên là thọ mạng. Nay chứng thấu triệt cái thể vô lượng của tâm tánh, nên thọ mạng vô lượng”. Quang minh vô lượng, thọ mạng vô lượng, quang minh là trí huệ, trí huệ vô lượng, thọ mạng vô lượng. “Là công năng diệt trừ cái nạn trước Phật hay sau Phật”. Nay chúng ta gặp gỡ, chúng ta sanh trong thế gian này, Thích Ca Mâu Ni Phật đă diệt độ, tức là “sau Phật”. Di Lặc Phật chưa xuất hiện, tức là chúng ta sanh trước thời Phật Di Lặc, sau thời Phật Thích Ca, “trước Phật, sau Phật” [là như vậy]. Nhưng cũng c̣n may, pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n chưa diệt, pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật là một vạn hai ngàn năm, chúng tôi gọi là “sức ảnh hưởng”. Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật c̣n tại thế giáo hóa, phạm vi ảnh hưởng của Ngài lớn đến đâu? Thời gian ảnh hưởng dài đến đâu? Phạm vi ảnh hưởng là trọn khắp thế giới này, thời gian ảnh hưởng là một vạn hai ngàn năm.

[Nói đến] thời gian là nói đến thọ mạng, nói không gian là nói đến quang minh. Pháp vận của Thích Ca Mâu Ni Phật vẫn c̣n đến chín ngàn năm nữa. V́ vậy, coi như chúng ta vẫn c̣n may mắn, c̣n có thể đọc những kinh điển được lưu lại, quư báu hơn bất cứ ǵ khác, chính tự ḿnh phải hiểu, phải tiếc nuối, phải thành tựu ngay trong một đời này. Thành tựu là niệm Phật văng sanh Tịnh Độ, phải thấy thấu suốt thế gian này, thế gian này chẳng đáng lưu luyến, chúng ta nhất định phải thấu hiểu, phải hiểu rơ điều này. C̣n lưu luyến thế gian này tí ti nào sẽ chướng ngại sự văng sanh. Nếu quư vị chẳng thể văng sanh th́ nói thật ra sẽ phải luân hồi trong lục đạo không biết là bao nhiêu kiếp. Cơ hội được thân người, được gặp Phật pháp nói trắng ra không nhiều đâu! Chỉ khi nào quư vị hiểu rơ, minh bạch th́ mới có thể chết ḷng trọn ư niệm Phật. Tiếp đến là đoạn kinh văn giảng tiếp về thọ mạng. Chúng ta hăy đọc một lượt.

 

“Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật thọ mạng cập kỳ nhân dân vô lượng vô biên A Tăng Kỳ kiếp, cố danh A Di Đà”.

(Lại này Xá Lợi Phất! Thọ mạng của đức Phật ấy và nhân dân là vô lượng vô biên A Tăng Kỳ kiếp, nên tên là A Di Đà).

 

Ư nghĩa của vô lượng quang, vô lượng thọ chúng tôi đă giảng ở phần trên; đoạn kinh văn này nói rơ thêm. Ở đây có một từ ngữ đáng lưu ư là “A Tăng Kỳ kiếp”, A Tăng Kỳ kiếp nghĩa là ǵ? Chúng tôi cũng nói đại lược: “A Tăng Kỳ, vô lượng, vô biên đều là những con số để tính toán”. Chúng là những đơn vị số mục của Ấn Độ thời cổ; giống như ở Trung Hoa có đơn vị, có mười, có trăm, có ngàn, có vạn, có ức, có triệu. Ở Trung Quốc, những danh từ như vậy đều là danh từ đơn vị số lượng. Ấn Độ cũng vậy, Ấn Độ gọi nào là A Tăng Kỳ, vô lượng, và vô biên.

Trong đoạn kinh văn Hoa Nghiêm Căn Mục Tại Chủ cho biết Ấn Độ thời cổ có một trăm bốn mươi bốn (144) danh từ để chỉ đơn vị số lượng, như A Tăng Kỳ chẳng hạn, nhiều hơn Trung Quốc nhiều lắm. Tên gọi số lượng trong tiếng Tàu dường như chỉ có chừng hai mươi mấy loại. Ấn Độ có nhiều hơn, tính toán nhiều hơn, họ có một trăm bốn mươi bốn loại. Nếu tính cả “cơ số” (Cơ số là một, hai, ba, bốn, năm, sáu… tức là những con số cơ bản) th́ tổng cộng có đến một trăm năm mươi sáu thứ. Chúng ta gọi đơn vị, chục, trăm, ngàn, vạn là “cơ số”. Nhiều đến một trăm năm mươi sáu thứ lận! A Tăng Kỳ, vô lượng, vô biên “là tên gọi của mười con số lớn cuối cùng”, toàn là nhân gấp bội lên. A Tăng Kỳ lần A Tăng Kỳ là một Vô Lượng, Vô Lượng lần Vô Lượng là một Vô Biên. Điều này “hiển thị Báo Thân trường cửu”, thọ mạng dài lâu! Ở đây nói là “vô lượng thọ”, một Vô Lượng là A Tăng Kỳ lần A Tăng Kỳ. Đừng nói chi nhiều, cứ tính là một Vô Lượng thôi, trong kinh Đại Thừa, chúng ta thường đọc thấy Bồ Tát tu hành thành Phật phải mất bao nhiêu thời gian? Ba A Tăng Kỳ kiếp. Chúng ta gọi là “ba đại A Tăng Kỳ kiếp”. Nếu nói thọ mạng là một Vô Lượng, th́ đă thọ A Tăng Kỳ lần A Tăng Kỳ, ba A Tăng Kỳ kiếp thấm vào đâu! Chắc chắn thành Phật, một đời thành Phật, chẳng cần đợi đến đời thứ hai. Huống chi “vô lượng thọ” ở đây chẳng phải chỉ là một Vô Lượng. Vô Lượng lần Vô Lượng là một Vô Biên, [cứ tính măi như thế] khỏi cần phải nói nữa!

Quư vị cứ nghĩ đơn giản như thế này: Chúng ta hăy nghĩ đến hai điều;

a) Thứ nhất là thọ mạng của đức Phật trường cửu, chúng ta theo Phật nhất định thành Phật, bởi lẽ thời gian cần thiết để thành Phật không quá ba A Tăng Kỳ kiếp, mà thọ mạng của Phật là A Tăng Kỳ lần A Tăng Kỳ, ba A Tăng Kỳ dễ dàng quá. Giống như con người sống được một trăm tuổi, nay học công khóa này phải mất bao nhiêu thời gian? Ba ngày thôi. Thọ mạng một trăm năm th́ ba ngày thấm vào đâu! Đây là một tin vui.

b) Thứ hai, Phật trụ thế lâu dài, thời gian giáo hóa chúng sanh dài lâu, v́ thế “có công năng lâu dài chẳng ngưng dứt”, hy hữu khó gặp! Chúng ta phải tiếc quư nhân duyên này! Đọc khắp Đại Tạng Kinh, hết thảy các cơi Phật chẳng có sự kiện này. Bởi thế, mười phương chư Phật thấy Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho đại chúng pháp môn này liền đều đến chứng minh.

Ở Trung Quốc, từ cổ đến nay, tổ sư đại đức bất luận tông phái nào, không ai chẳng khuyên người niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, quư vị mới hiểu pháp môn này chẳng thể nghĩ bàn! Chẳng riêng ǵ Giáo Hạ! Quư vị thấy tông Hoa Nghiêm thuộc Giáo Hạ đó, chẳng phải họ đă nói “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc” đó ư? Trí Giả đại sư của tông Thiên Thai văng sanh Ngũ Phẩm Vị. Lăo nhân gia làm đầu tàu nên các tổ sư tông Thiên Thai, lịch đại tổ sư lâm chung đều niệm Phật văng sanh Tịnh Độ. Cận đại, Đàm Hư pháp sư, Đế Nhàn pháp sư là những vị thuộc [tông Thiên Thai] thời cận đại đều niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Lăo ḥa thượng Hư Vân bên Thiền Tông, những lời giảng cuối cùng năm Ngài một trăm mười bảy tuổi, được ghi trong cuốn Phương Tiện Khai Thị Lục, quư vị hăy đọc cuốn sách ấy. Năm 117 tuổi, đại sư giảng khai thị ở rất nhiều nơi, 80% là khuyên người chắc thật niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, tỷ lệ [khai thị] nói đến tham thiền rất ít. Đối với Mật Tông th́ ngay trong rạp chiếu phim của chúng ta có thờ một bức ảnh A Di Đà Phật của Tây Tạng. Mật Tông cũng tu pháp môn này, cũng cầu sanh Tịnh Độ. Đúng là như Ấn Quang lăo pháp sư đă nói: “Ngàn kinh muôn luận, chốn chốn chỉ quy”. Chúng ta phải giác ngộ: Pháp môn nào khác có sự thù thắng như vậy chăng? Hết thảy chư Phật, Bồ Tát đều khuyến thỉnh, chưa từng thấy! Mấy vị Phật khuyên th́ có, chứ cả mười phương ba đời chư Phật cùng đến khuyên dạy th́ chưa từng nghe thấy. Quư vị phải thật sự hiểu rơ, phải thật sự minh bạch th́ quư vị mới quư tiếc phi thường nhân duyên hết sức khó gặp này!

Ấn Quang pháp sư dạy chúng ta một phương pháp tu hành đúng là chẳng thể nghĩ bàn! Tức là đạo tràng nhỏ, đồng tu không quá hai mươi người, công khóa mỗi ngày giống như đả Phật thất, Phật thất suốt năm. Phương pháp này của lăo nhân gia chính là phương pháp của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát. Coi trong Tây Phương Xác Chỉ, chúng ta thấy số người học với Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát c̣n ít hơn nữa, chỉ có mười hai người thôi, ai nấy đều thành tựu. Viễn công đại sư ở Lô Sơn, Trung Quốc, là vị tổ sư đời thứ nhất của Tịnh tông chúng ta, dựng Niệm Phật Đường tại Lô Sơn, Giang Tây, chí đồng đạo hợp một trăm hai mươi ba người cùng tu một chỗ, đó là đại sự nhân duyên. Nay v́ sao Ấn Quang pháp sư chẳng khuyên chúng ta cùng tu 123 người? V́ sao biến thành 20 người thôi? Thời đại không giống nhau. Trong thời cổ th́ được, không có vấn đề ǵ. Nay v́ sao lại dạy chúng ta cùng tu ít thế? Thời đại hiện tại là thời đại theo hướng công nghiệp, thời đại khoa học kỹ thuật, đại chúng trong xă hội tin vào khoa học, chẳng tin tôn giáo, cho tôn giáo là mê tín. Nói cách khác, người cúng dường ít ỏi, nếu đông người phải tiêu xài nhiều, t́nh thế bắt buộc phải lo toan. Phải bận tâm v́ hoàn cảnh sanh hoạt vật chất, tâm chúng ta không c̣n thanh tịnh nữa khiến cho sự việc văng sanh bị lỡ làng, rất đáng tiếc! Đạo tràng ít người th́ vẫn c̣n một số người tin tưởng phát tâm cúng dường, Ấn Quang đại sư chú ư đến điều này. V́ vậy, ít người tiêu xài ít, đạo tràng dễ duy tŕ, tâm định, lẽ đâu chẳng thành tựu? Ấn Tổ (tổ Ấn Quang) đặc biệt dạy không được hóa duyên, không quyên mộ, không cầu tín đồ bố thí cúng dường, họ tự động đem đến th́ ḿnh được phép tiếp nhận, chúng ta không đi xin. Người đến không cầu th́ phẩm cách tự cao hơn, sống tiết kiệm một chút, chịu khổ một chút là được! Các đồng tu cùng tu Tịnh Độ trong thời đại này ở mọi nơi hăy nghĩ xem: Nếu chúng ta chú tâm suy nghĩ lời dạy của tổ Ấn Quang, quan sát t́nh huống xă hội hiện thời, mới thấy lăo nhân gia dạy tuyệt làm sao!

Nơi đây, chúng tôi thường bảo các vị đồng tu: “Chúng ta tin vào nhân quả, nói theo nhân quả th́ chúng ta phải tu phước. Chẳng tu phước làm sao có phước báo được? Phải biết tiết kiệm, bố thí, cúng dường chính là tu phước. Dụng công tu hành trong đạo tràng nhỏ của ḿnh, thường chẳng ra khỏi cửa, không ra khỏi cửa có tu phước được không? Được chứ! Mỗi ngày chúng ta tu hành, niệm Phật, nghiên cứu kinh giáo, lễ Phật bằng cái tâm kiền thành, đem những công đức ấy hồi hướng cho hết thảy chúng sanh, hồi hướng cho xă hội đại chúng, đấy đều là tu phước. Nơi nào trong xă hội này mà chúng ta có thể phục vụ đại chúng được, chúng ta có năng lực làm được mà chẳng trở ngại đạo tâm của chính ḿnh th́ ḿnh có thể v́ xă hội đại chúng phục vụ, những chuyện như vậy đều thuộc về phước huệ song tu. Nhất là khi tiếp xúc đại chúng, đó là cơ hội giáo dục.

Hiện thời, đạo tràng chúng ta mỗi Chủ Nhật và thứ Bảy có bữa cơm tối nhẹ nhàng, thứ Sáu là giảng ṭa đa nguyên văn hóa, rất nhiều bằng hữu tại địa phương đến tham gia, đó là chúng ta bố thí. Giảng ṭa đa nguyên văn hóa là Pháp Bố Thí, trong Pháp Bố Thí có Tài và Vô Úy. Bữa cơm tối nhẹ là Tài Bố Thí, trong Tài Bố Thí có Pháp và cũng có Vô Úy Thí. Hơn nữa, ở địa phương này, phàm những sự việc ḥng thật sự đoàn kết tôn giáo, đoàn kết các sắc tộc, an định xă hội, cầu nguyện thế giới ḥa b́nh, đối với những việc như vậy chúng tôi đều dành một chút thời gian đến tham dự. Quư vị nghĩ xem: Những việc đó bao gồm cả ba thứ bố thí Tài, Pháp và Vô Úy. Chúng ta thực sự làm được nên có quả báo, mới có một chút phước báo hiện tiền, đạo tràng của chúng ta mới có thể duy tŕ được. Không hóa duyên, không làm pháp hội, không làm kinh sám Phật sự mà có thể sanh tồn th́ đạo lư là đây: Thấu triệt liễu giải nhân quả.

Chúng ta xem tiếp đoạn dưới: “Chúng sanh sanh về Cực Lạc chính là sanh về mười phương, thấy Di Đà chính là thấy mười phương chư Phật, tự độ chính là lợi khắp hết thảy chúng sanh”. Đoạn này hết sức quan trọng. Sanh về thế giới Cực Lạc là sanh về hết thảy thế giới của chư Phật. V́ sao? Chỉ cần đọc kinh Vô Lượng Thọ là thấy ngay: Hết thảy chư Phật đều tán thán A Di Đà Phật, đều cung kính A Di Đà Phật, khẳng định A Di Đà Phật là “quang minh cao quư nhất, vua trong các Phật”. Người ở thế giới Cực Lạc thời thời khắc khắc đến mười phương thế giới lễ Phật, nay chúng ta gọi là “đi phỏng vấn, đi thỉnh giáo”. Hết thảy chư Phật hoan nghênh. Đến Tây Phương Cực Lạc thế giới, thần thông tự tại, đến đi tùy ư. Những ǵ Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho chúng ta toàn là Phàm Thánh Đồng Cư độ, nếu là Thật Báo Trang Nghiêm độ th́ chính là như kinh nói: “Hoa nở thấy Phật ngộ Vô Sanh”, khi đó quư vị ở trong Thật Báo Trang Nghiêm độ. Trong Thật Báo Trang Nghiêm độ, thời gian, không gian không c̣n nữa. Quá khứ Phật cũng hiện tiền, vị lai Phật cũng hiện tiền. Thời gian, không gian không c̣n nữa. Đó là Thật Báo Trang Nghiêm độ, là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Bởi vậy, thấy Phật Di Đà là thấy mười phương chư Phật, tự độ được ḿnh là độ khắp hết thảy chúng sanh. Đoạn kinh văn tiếp theo là:

 

“Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp”

(Này Xá Lợi Phất! A Di Đà thành Phật đến nay là mười kiếp).

 

Kinh dạy: “Thành Phật đến nay đă là mười kiếp”. Hăy nhớ kỹ trong phần trên tôi đă nói, thọ mạng của Phật A Di Đà là vô lượng thọ, Vô Lượng là A Tăng Kỳ lần A Tăng Kỳ kiếp số. Thật ra là vô lượng vô biên, nay hiện tại Ngài mới thành Phật mười kiếp; nói cách khác, Tây Phương Cực Lạc thế giới mới khai trương được mấy ngày! “Hiện tại thuyết pháp, thời gian đúng là chưa hết”, mới mở đầu thôi, “phổ khuyến hết thảy chúng sanh mau cầu văng sanh, có cùng thọ mạng như Phật, một đời hoàn thành”. Như vậy, chúng ta biết chân tướng sự thật này, nay nhất tâm nhất ư cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, tương lai thành bậc nguyên lăo nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới. Thế giới ấy mới thành lập được mười kiếp, chúng ta đă đến đó; thế giới ấy tồn tại vô lượng kiếp, quư vị đến thế giới ấy lúc nó mới tồn tại mười kiếp th́ phải thuộc vào tầng lớp nguyên lăo nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới.

Ngàn vạn phần chớ coi thường, đừng nghĩ một đời này ḿnh không văng sanh cũng không quan hệ ǵ, ta đă kết duyên cùng Phật A Di Đà, đời mai sau duyên thành thục ta sẽ lại sanh về. Cái đời mai sau ấy chẳng thể nói quyết định là bao nhiêu kiếp, pháp môn này chẳng thường được gặp gỡ đâu! Thân người chẳng thể thường có, được thân người khó lắm! Bởi vậy, hiện tại chúng ta phải tự suy nghĩ cặn kẽ, mai sau ta có c̣n được thân người hay chăng? Hăy nghĩ đến điều đó trước tiên, đừng nghĩ chi khác. Nếu đời sau chẳng được thân người là xong, đến kiếp nào mới lại được làm người khó nói lắm!

Muốn được thân người th́ phải tu Ngũ Giới, tu Thập Thiện, trung phẩm Thập Thiện Nghiệp đạo. Phải tu Ngũ Giới và trung phẩm Thập Thiện Nghiệp đạo mới được thân người. Chúng ta phải suy nghĩ: Ngũ Giới và Thập Thiện có phần nào chẳng trúng cách, sẽ chẳng được thân người! Lúc không đạt được thân người là phải đọa tam đồ. Thời gian trong tam đồ dài lâu, A Tỳ địa ngục là vô lượng kiếp, chẳng được rồi, hết sức đáng sợ! Gặp được pháp môn này lần nữa, có thể nói thật là càng diệu vợi hơn nữa, đúng là thành ra vô lượng kiếp sau quư vị mới được văng sanh. Nay văng sanh mới là mười kiếp, không ǵ tốt hơn, vẫn phải khéo tranh thủ ngay trong hiện tại, buông xuống vạn duyên, nhất tâm niệm Phật! Nay đă hết giờ rồi!

 

*

      Chư vị đồng học!

      Chúng ta xem tiếp đoạn cuối cùng của phần Chánh Báo Trang Nghiêm, đoạn kinh văn ấy như sau:

 

      “Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật, thành Phật dĩ lai, ư kim thập kiếp”

      (Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành Phật đến nay là mười kiếp)

 

      Hôm qua tôi đă tŕnh bày cùng quư vị, thế giới Cực Lạc thọ mạng vô lượng kiếp. Đức Thế Tôn giải thích danh hiệu A Di Đà Phật bằng cách quy nạp giản lược: một là vô lượng quang, hai là vô lượng thọ. Quang chẳng những biểu thị trí huệ, mà c̣n biểu thị không gian. Thọ mạng c̣n biểu thị thời gian. Giảng theo cảnh giới của bọn phàm phu chúng ta là thời gian - không gian vô lượng, đó là phương tiện thuyết pháp thiện xảo của đức Thế Tôn. Chúng ta biết đức Thế Tôn thuyết pháp theo Nhị Đế, ở đây là nói theo Tục Đế, chúng ta vừa nghe là hiểu, liền sanh khởi tâm ngưỡng mộ.

Đem mười kiếp so với vô lượng kiếp th́ thời gian rất ngắn. Trong rất nhiều kinh điển Đại Thừa, đức Phật dạy chúng ta: Phàm phu tu hành chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề phải cần đến thời gian vô lượng kiếp, chẳng dễ dàng ǵ! Chứng đắc bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo thành Pháp Thân Bồ Tát; Pháp Thân Bồ Tát tu cho đến khi viên măn rốt ráo phải mất ba đại A Tăng Kỳ kiếp, đúng là chẳng dễ dàng. Thế nhưng lời Phật nói ấy chẳng thể nói là giả mà cũng chẳng thể cho là thật, tức là sao? Chúng ta phải biết nghe. Nếu không thể buông tập khí phiền năo xuống th́ đúng là vô lượng kiếp, c̣n nếu thật sự buông tập khí phiền năo xuống được th́ phàm phu thành Phật chỉ trong một niệm.

Vô lượng kiếp có thể rút thành một niệm, một niệm có thể mở rộng ra thành vô lượng kiếp. Mở bằng cách nào? Rút bằng cách nào? Ở đây tợ hồ chúng ta hiểu một chút diện mạo [của vấn đề]: Mở rộng hay rút ngắn là do chính bản thân ḿnh chứ không phải ai khác, cũng chẳng tại ngoại cảnh. Nói như chém đinh chặt sắt: “Hễ buông xuống được th́ vô lượng kiếp biến thành một niệm; nếu trong bụng vẫn c̣n chút ǵ vướng mắc không buông xuống được th́ một niệm biến thành vô lượng kiếp”. Đó là chân tướng sự thật! Đấy chính là cái trong kinh gọi là “nhất thời đốn hiện”, quư vị hăy suy nghĩ ư nghĩa này. Nhất thời đốn hiện là một niệm ngay lập tức hiện thành vô lượng kiếp, một niệm hiện ngay thành pháp giới, hư không giới, hết thảy cơi nước, chúng sanh. Một niệm mê bèn đốn hiện, một niệm giác bèn hồi đầu, vô lượng kiếp biến thành một niệm.

Vĩnh Gia đại sư nói rất khéo: “Giác hậu không không vô đại thiên” (giác rồi ba cơi rỗng toang hoang). Giác rồi đại thiên thế giới không c̣n nữa, mất tiêu hết, Hữu trở về Vô; một niệm mê Vô biến thành Hữu, mở ra Hữu. Toàn là trong một niệm giác hay mê! Nếu chúng ta hỏi: Chư Bồ Tát (ở đây là đại Bồ Tát), chư Phật ứng hóa trong chín pháp giới, họ là giác hay vẫn mê? Nếu họ giác sao chẳng thể hiện cảnh giới ấy: “Giác hậu không không vô đại thiên?” Nếu họ hiện cảnh giới ấy, họ khác ǵ phàm phu chúng ta đâu, mê mà! Như vậy, rốt cuộc các Ngài giác hay vẫn c̣n mê? Nêu câu hỏi như vậy rất hay! Trong cảnh giới của chư Phật, Bồ Tát giác - mê không hai. Nếu quư vị nói các Ngài mê th́ đó là các Ngài thị hiện trong pháp giới chúng sanh, nhưng chưa hề khởi tâm động niệm, chưa hề có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước nên các Ngài là giác. Dẫu giác, nhưng nếu chúng sanh có Cảm, các Ngài bèn hiện tướng. Các Ngài vừa biểu diễn, vừa có thể v́ hết thảy chúng sanh thuyết pháp, làm ra vẻ như các Ngài ở trong mê, chẳng khác ǵ phàm phu chúng ta!

Các Ngài là mê - giác bất nhị, c̣n phàm phu chúng ta bị thiệt tḥi chỗ nào? Giác là không mê, mê là không giác; giác - mê đối lập. Phật, Bồ Tát không đối lập, Giác và Mê thống nhất. Giác chính là Mê, Mê chính là Giác. Quư vị thấy trong kinh chẳng thường nói “phiền năo tức Bồ Đề, Bồ Đề tức phiền năo, sanh tử tức Niết Bàn, Niết Bàn tức sanh tử” đó sao? Mọi người thường niệm Tâm Kinh, nhưng nói trắng ra, ai nấy đều vô tâm lơ đăng; Tâm Kinh giảng rất rơ: “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc. Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc”. Nếu gộp Giác và Mê lại th́ Giác chính là Mê, Mê chính là Giác, Giác chẳng khác Mê, Mê không khác Giác.

Đấy là Chánh Giác thuộc Quả địa Như Lai, đấy mới là chân tướng nhân sanh vũ trụ, nó có Thể, có Dụng; chứ không phải có Thể không Dụng. Ứng hóa trong mười pháp giới là từ Thể khởi Dụng; dù khởi Dụng, Dụng cũng chẳng mê. V́ thế, có thể độ chúng sanh. Chúng ta đọc đến đoạn kinh văn này phải giác ngộ, phải phát tâm. Giác ngộ như thế nào? Giác ngộ là thật sự phát tâm cầu sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, đó là thật sự giác. Cuối cùng có mấy câu, trước hết chúng tôi đọc kinh văn một lượt. Đây là kinh văn:

 

“Hựu Xá Lợi Phất! Bỉ Phật hữu vô lượng vô biên Thanh Văn đệ tử, giai A La Hán, phi thị toán số chi sở năng tri. Chư Bồ Tát chúng diệc phục như thị”.

(Lại này Xá Lợi Phất! Đức Phật ấy có vô lượng vô biên đệ tử Thanh Văn, đều là A La Hán, chẳng thể tính toán để biết được nổi. Các vị Bồ Tát cũng giống như thế)

 

Đoạn này nói về sự thành tựu của Phật A Di Đà trong việc dạy dỗ, thầy dạy học tṛ, tṛ có thành tựu hay không? Học tṛ có thành tựu là thầy đă dạy thành công. Nếu dạy kỹ hơn, thời gian dạy lâu hơn mà học tṛ không thành tựu th́ việc dạy đă thất bại rồi. Dựa vào đó để luận thành bại. Bởi vậy, cũng dùng tiêu chuẩn đó để luận một đạo tràng là thù thắng hay kém cỏi. Đạo tràng này của anh thù thắng th́ thù thắng ở chỗ nào? Trong đạo tràng ấy thật sự có người niệm Phật văng sanh, có người khai ngộ, có người chứng quả th́ đạo tràng ấy thù thắng! Chứ chẳng quư ở chỗ đạo tràng có đông người. Đạo tràng của Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát chỉ có mười hai người mà thù thắng bậc nhất. V́ sao thù thắng bậc nhất? V́ cả mười hai người ấy đều văng sanh. Đạo tràng ấy suốt đời niệm Phật, không một ai chẳng thể văng sanh. Nếu chỉ kết pháp duyên cùng A Di Đà Phật th́ không thể coi là thành tựu được!

Những giảng sư nêu gương giảng kinh, hoằng pháp, trong số ấy mấy ai được khai ngộ? Có người khai ngộ là vị giảng sư ấy có thành tựu. Nếu không ai khai ngộ th́ không thành tựu chi hết! Chúng ta phải biết tiêu chuẩn là ǵ: Trong Niệm Phật Đường được bao nhiêu người đắc Nhất Tâm, bao nhiêu người công phu thành phiến, công phu thành phiến là thành tựu. Nếu chúng ta hỏi Tham Thiền v́ sao chẳng thể minh tâm kiến tánh? Niệm Phật v́ sao công phu chẳng thể thành phiến? Học Giáo v́ sao chẳng thể đại khai viên giải? Cái gốc bệnh là ba chữ này: “Không buông xuống!”

Bởi vậy, chúng ta phải thường tự phản tỉnh: Ḿnh đă buông xuống được những ǵ? Danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, tham - sân - si - mạn, không buông xuống được chi hết! Tôi thường khuyên các vị đồng tu: “Mười sáu chữ ấy không buông xuống được th́ làm sao thành tựu cho được!” Đó là gốc bệnh, là chướng ngại căn bản của chúng ta. Nếu chúng ta có năng lực hiểu thấu suốt, thường xuyên nhận biết th́ dù chẳng dễ buông xuống, nhưng nhất định phải buông xuống. Tôi cũng thường nói: “Việc này phải mỗi năm một nhẹ hơn, mỗi tháng một mỏng nhẹ dần”, rất quan trọng đấy nhé! Mỏng nhẹ dần chính là buông xuống dần dần, nhưng nhạt bớt một chút th́ chớ có khắt khe quá mức, chớ phân biệt quá mức, đừng chấp trước quá mức. Thường học hằng thuận chúng sanh, tùy hỷ công đức, như vậy là tốt, chớ chấp chặt thành kiến của chính ḿnh, chấp trước là điều tệ hại nhất!

Quư vị thấy tiên sinh Giang Bản Thắng làm thí nghiệm kết tinh nước, chúng ta đă xem h́nh chụp các kết tinh đó, nhận thấy điều ǵ? Tùy theo thái độ của con người: một đằng là ra lệnh, một đằng là thỉnh cầu th́ nước kết tinh khác nhau. Hăy nêu một thí nghiệm của ông ta: “Mày làm đi!” đó là câu mệnh lệnh. Câu khác là: “Đến đây! Chúng ta cùng nhau làm!” Cùng là một việc, nhưng tâm thái khác nhau, nước kết tinh hoàn toàn khác nhau. Nói “chúng ta cùng nhau làm” th́ nước kết tinh đẹp hơn rất nhiều. Nếu quư vị hạ mệnh lệnh: “Mày làm đi!” nước sẽ kết tinh không dễ coi cho lắm. Đó là phản ứng tự nhiên. Bởi thế, bậc đại nhân vật đối với thuộc hạ chẳng dùng mệnh lệnh, ngôn từ uyển chuyển, nhu ḥa, giáo huấn thuộc hạ, khiến họ cả đời cảm kích ḿnh là ḿnh thành công. Nếu quư vị dùng mệnh lệnh, đương nhiên họ chẳng thể không phục tùng, vẫn làm, nhưng tâm họ không hề cảm kích, hiệu quả khác hẳn.

Lúc chúng tôi c̣n trẻ, khoảng đâu hai mươi hai tuổi, có một ngày đang ở sở, công việc ít, làm xong việc rồi, ngồi xem sách. Lúc đó tôi ngồi hay ngả người ra sau, hai chân trước cái ghế giở bổng khỏi mặt đất, tợ hồ chúng tôi đang nằm ngửa ra, rất thong dong. Ông xếp tôi (không biết đến lúc nào), từ sau đi tới, vỗ vào tai tôi. Tôi thấy ông vội đứng lên, ông ta bảo tôi: “Không được ngồi như vậy, ngồi vậy dễ bị té chỏng gọng lắm!” Ông ta luôn luôn nghĩ giùm tôi; bởi thế tôi bỏ được cái tật đó, suốt đời không dám phạm nữa, rất cảm kích ông ta. Nếu trái lại, ông ta xạc cho tôi một trận, tôi vẫn phải phục tùng, nhưng sẽ như thế nào? Ông ta đi rồi, tôi lại chứng nào tật nấy, bất phục mà! V́ thế, người làm được sự nghiệp lớn khác với người tầm thường. Quư vị thấy những cán bộ trung cấp thích ra lệnh cho thuộc cấp, sự nghiệp bọn họ hữu hạn; từ chỗ này quư vị thấy được ngay.

Trong sách Liễu Phàm Tứ Huấn, tiên sinh Viên Liễu Phàm kể: Ông quan sát những học tṛ đi thi, những sĩ tử nào đi thi ngôn hạnh đoan trang, khiêm hư, ḥa hoăn, tôn kính hết thảy mọi người, ông đoan chắc những tṛ ấy nhất định thi đậu. Phỏng theo sách Liễu Phàm Tứ Huấn, chúng tôi quan sát mấy người, đúng là không trật một ai. Nh́n người ở chỗ nào? Khiêm kính, tức khiêm hư cung kính. Ḿnh ở địa vị cao đối đăi với nhân viên cấp nhỏ nhất toàn bằng thái độ khiêm ḥa như thế, mọi người vui vẻ thật sự phục tùng ḿnh, chịu dốc tận sức, chịu tận tụy v́ ḿnh, tôn kính ḿnh, ưa thích ḿnh. Lúc dùng lời lẽ ra lệnh, tâm họ bất phục, lúc đó họ bị quư vị cai quản, quư vị là cấp trên, họ không làm ǵ được. Tương lai, lúc quư vị mất chức, không ai đoái hoài nữa. Cái tṛ ra oai của quư vị đă sai rồi, đă thất bại rồi!

V́ thế chúng ta thấy thái độ khiêm kính của Phật, Bồ Tát, của Khổng Tử, Mạnh Tử như trong Luận Ngữ nói, chúng ta phải học theo, bởi các ngài dạy dỗ thành công. V́ sao? Học tṛ khâm phục, học tṛ thật sự kính yêu thầy. Kính yêu thầy nên chẳng dám trái nghịch giáo huấn của thầy. Trái nghịch lời thầy dạy lương tâm chẳng yên, cảm thấy ḿnh có lỗi với thầy. Quư vị thấy sức ước thúc ấy rất lớn. Thầy không c̣n ở đời nữa, vẫn cứ như cũ chẳng dám trái nghịch lời thầy dạy, v́ nguyên nhân nào? Chân thành kính trọng thầy, yêu mến thầy sâu sắc, chứ chẳng có ǵ khác ngoài ḷng kính yêu cả! Đó là điều chúng ta phải nên học theo. V́ vậy, khi đọc đoạn kinh văn này, chúng ta hiểu A Di Đà Phật dạy dỗ rất thành công, đệ tử Thanh Văn, đệ tử Bồ Tát số đến vô lượng vô biên.

 

6.3.2. Riêng khuyên chúng sanh phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ

     

Chúng ta xem tiếp ư lớn thứ hai: “Đặc khuyến chúng sanh ưng cầu văng sanh dĩ phát nguyện” (Riêng khuyên chúng sanh phải phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ). Trước hết, chúng ta đọc kinh văn:

 

“Hựu Xá Lợi Phất! Cực Lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ Bạt Trí. Kỳ trung đa hữu Nhất Sanh Bổ Xứ, kỳ số thậm đa, phi thị toán số sở năng tri chi, đản khả dĩ vô lượng vô biên A Tăng Kỳ thuyết”.

(Lại này Xá Lợi Phất! Chúng sanh sanh vào cơi nước Cực Lạc đều là A Bệ Bạt Trí, trong số ấy nhiều vị là Nhất Sanh Bổ Xứ, số ấy rất nhiều, chẳng thể tính toán ḥng biết được nổi, chỉ có thể tạm nói là vô lượng vô biên A Tăng Kỳ).

 

Chúng ta xem đoạn này trước. Đây là chỗ thù thắng khôn sánh của Tây Phương Cực Lạc thế giới, các thế giới khác không hề có. “Đốn siêu viên chứng”: Ở đây, chúng tôi phải phân ra mấy đoạn để nói. Đoạn thứ nhất là “tịnh đức khuyến nguyện”. Chúng ta có thể nói như thế này: Cực Lạc thế giới giống một trường đại học Phật giáo do mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai thiết lập, A Di Đà Phật là hiệu trưởng. Chúng sanh ở thế giới Cực Lạc là từ đâu đến? Từ mười phương thế giới niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Chẳng phải đến từ một quốc độ nào, chẳng phải đến từ một khu vực lớn nào mà đến từ vô lượng vô biên các cơi Phật trong mười phương. Đến như thế nào? Giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, chư Phật Như Lai giới thiệu cơi Cực Lạc cùng mọi người, khuyên mọi người đến cầu học nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới; bởi vậy, người đến rất đông.

Đương nhiên cũng có người dù nghe, giống như trong thế giới chúng ta vậy, nghe Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu nhưng chẳng hứng thú lắm, có một phần thân t́nh ái luyến Thích Ca Mâu Ni Phật, chẳng đành ḷng tách ĺa Bổn Sư. Dẫu Bổn Sư khuyên chúng ta đến đó cầu học, chúng ta vẫn chẳng cam ḷng đi: “Thầy ḿnh rất tốt, tôi muốn ở gần thầy, chẳng muốn đi qua nơi khác”, rất nhiều người như vậy. Chúng ta thấy trong nhà Phật rất nhiều người học theo tông phái khác, khóa tối đều niệm kinh A Di Đà, nhưng họ chẳng niệm A Di Đà Phật, cũng chẳng cầu sanh thế giới Cực Lạc. Họ niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, mỗi ngày lễ bái cũng lễ Thích Ca Mâu Ni Phật, họ chẳng lễ A Di Đà Phật, cũng chẳng niệm A Di Đà Phật, chẳng nghĩ cầu sanh về thế giới Cực Lạc, rất nhiều. Tôi gặp không ít người như thế. Đấy là một thứ t́nh chấp.

Nay chúng ta không niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, lại niệm A Di Đà Phật, chúng ta có trái nghịch Bổn Sư hay chăng? Không hề có! Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta niệm A Di Đà Phật, chúng ta bèn niệm A Di Đà Phật, vâng lời mà! Thích Ca Mâu Ni Phật dạy chúng ta qua thế giới Cực Lạc học với A Di Đà Phật, giống như bậc trưởng thượng trong nhà bảo ta: “Có một vị thầy tốt, ngươi hăy nên bái sư đi, nên qua đó học tập”. Quư vị không rời được cha mẹ, không muốn rời khỏi cha mẹ, dù cha mẹ không miễn cưỡng quư vị, nhưng lắc đầu: “Đứa con này không nghe lời!” Biết nghe lời bèn đi, đến đó một ngày kia thành Phật. Nếu quư vị không đi, thời gian tu hành Vô Thượng Bồ Đề rất ư là dài. Bởi vậy, “chúng sanh sanh về đó” trong đoạn này đều là chúng sanh biết nghe lời, nghe theo lời Bổn Sư ḿnh răn dạy. Bổn Sư của họ giới thiệu Tây Phương Cực Lạc thế giới giống như Thích Ca Mâu Ni Phật, chắc chắn các Ngài giảng kinh A Di Đà, giảng kinh Vô Lượng Thọ, giảng Quán Vô Lượng Thọ Kinh, giới thiệu Tây Phương Cực Lạc thế giới với mọi người. V́ thế, những ai biết nghe lời đều phát tâm văng sanh, người trong thế giới Cực Lạc đông đảo, không cách ǵ tính đếm được.

Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới thật là phi phàm, “đều là A Bệ Bạt Trí”. A Bệ Bạt Trí là ǵ? A dịch là Vô. Trong chữ A Di Đà Phật, A là Vô, Di Đà là Lượng. Ở đây, A là vô, Bệ Bạt Trí là thoái chuyển. Người Tàu chúng ta không quen nói “vô thoái chuyển” mà nói là “Bất Thoái chuyển”. V́ thế, A Bệ Bạt Trí là Bất Thoái chuyển. V́ thế, sự học tập trong Tây Phương Cực Lạc thế giới gọi là đốn siêu, là viên chứng. Điều thứ nhất là “sanh giai Bất Thoái”: Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới quyết định chẳng bị thoái chuyển. Thế giới này của chúng ta rất tệ hại, rất khó thể thành tựu học thuật thế gian hay xuất thế gian. V́ nguyên nhân nào? Tiến th́ ít, lui rất nhiều. Điều này mỗi cá nhân đều hiểu rất rơ, đúng là sự thật. Tây Phương thế giới quư nhất là A Bệ Bạt Trí. A Bệ Bạt Trí là một danh từ chuyên môn, chẳng phải là Bất Thoái Chuyển tầm thường đâu nhé, mà là một hạng Bồ Tát ở một mức độ rất cao sâu, kinh điển Đại Thừa thường nói là từ bậc Thất Địa trở lên.

Sanh sang Tây Phương Cực Lạc thế giới, quư vị phải chú ư đến hai chữ “đều là”, hai chữ này rất quan trọng. “Đều là” nghĩa là ǵ? Sanh sang Tây Phương Cực Lạc thế giới, từ người Hạ Hạ Phẩm văng sanh trong Phàm Thánh Đồng Cư độ cho đến Thượng Thượng Phẩm văng sanh trong Thật Báo Trang Nghiêm độ đều là A Duy Việt Trí, bởi vậy pháp này gọi là “pháp khó tin”. Nói với mọi người tu học Đại, Tiểu Thừa chuyện này, họ đều lắc đầu không tin. V́ sao? Phải là Thất Địa Bồ Tát mới ḥng được Bất Thoái Chuyển. Kiến Tư phiền năo đoạn sạch, Trần Sa phiền năo đoạn sạch, phá một phẩm vô minh mới thành Sơ Trụ Bồ Tát, chứng được ba thứ Bất Thoái: Vị Bất Thoái, Hạnh Bất Thoái, Niệm Bất Thoái. A Bệ Bạt Trí là viên chứng ba thứ Bất Thoái, chứng viên măn ba thứ Bất Thoái. Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo mới chứng được, thế nhưng c̣n kém xa bậc Thất Địa đến ba mươi bảy tầng; giống như đi học mới vào lớp Một, trong khi Thất Địa Bồ Tát đă thuộc lớp thứ ba mươi bảy rồi. Quư vị mới học lớp Một, người ta đều học lớp ba mươi bảy rồi, làm sao sánh bằng người ta được cơ chứ?

Nhưng xác thực là quư vị có thể đới nghiệp văng sanh, ḿnh là phàm phu, dẫu cho một phẩm Kiến Tư phiền năo cũng chẳng đoạn, thế nhưng trí huệ, thần thông năng lực tợ hồ chẳng kém Thất Địa Bồ Tát chi mấy. V́ nguyên nhân ǵ vậy? Được bổn nguyện oai thần của Phật A Di Đà gia tŕ! Giống như hạng phàm phu tầm thường chúng ta, sanh trong một gia đ́nh nghèo hèn, rất túng quẫn, không có ǵ hết, nhưng quư vị có một người họ hàng hay bè bạn rất sang cả, rất giàu có, họ mời quư vị đến nhà họ làm khách. Quư vị không có áo quần đẹp ư? Họ cho quư vị, họ cho quư vị