TUYẾT LƯ LĂO NHÂN TỊNH ĐỘ TUYỂN TẬP

(tuyển tập những bài viết về Tịnh Độ của lăo cư sĩ Lư Bỉnh Nam)

Trích dịch: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

 

PHẦN THỨ NHẤT:

NHỮNG ĐOẢN VĂN TRÍCH TỪ BỘ HOẰNG HỘ TIỂU PHẨM 

 

* PHÁP TU THÀNH TỰU NGAY TRONG ĐỜI NÀY

 

      I. Phải nhận thức rơ hoàn cảnh hiện tại và đường lối tương lai

 

1. Đời người nhiều nghịch cảnh

 

Có ai là không bị bệnh hoạn, già suy, thân thuộc sanh ly tử biệt, của cải mất mát, oán thù gia hại? Lại c̣n kẻ nghèo mong cầu tiền của, người không con cầu con, kẻ vô nghề nghiệp, chức vụ mong có nghề nghiệp, chức vụ; nhưng rốt cuộc rồi mấy ai được như ư? Những điều bất như ư ấy làm cách nào để giải quyết đây?

 

2. Cơi đời này lắm tai nạn

 

Gió băo nổi dậy, địa chấn phát sanh, tường đổ nhà sập khiến lắm người bị tử thương. Lại c̣n không mưa thành đại hạn, mưa quá thành lụt, mất mùa khiến lắm người bị chết đói. Nước lớn tràn dâng, ch́m ngập thôn trang. Lửa to bốc cháy, thiêu tan thành thị khiến lắm người bị tử thương. Những chuyện như vậy gần như năm nào cũng có. Lại c̣n có năm chẳng thái b́nh, có những quốc gia trên thế giới chẳng nghĩ ǵ đến lẽ nhân đạo luôn gây vạ chiến tranh. Lại c̣n phát minh những vũ khí giết người tối tân, nào là bom nguyên tử, nào là bom khinh khí, chỉ sợ là chẳng giết được thật nhiều người mà thôi. C̣n bảo như vậy mới là thế giới tiến hóa, chứ nói trắng ra chỉ là một ḷ sát sanh lớn! Thử hỏi ai có biện pháp nào tránh khỏi những tai nạn như thế hay không?

 

3. Nỗi khổ luân hồi của thân sau

 

Rất đáng thương thay! Người chết chẳng phải là hết v́ thân tuy chết đi, thần thức chẳng diệt. Có sáu cảnh giới là thiên, nhân, a tu la, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ. Thần thức hoàn toàn chẳng thể vượt ra khỏi phạm vi của sáu cơi này. So trong lục đạo, cơi trời, cơi người c̣n khá, nhưng vẫn có sanh tử, xoay vần qua qua, lại lại; hốt nhiên mang thân trời, người, hốt nhiên sanh trong địa ngục, súc sanh. Ngàn lần sống, vạn lần chết, luân chuyển như thế; xương vùi cao như núi, lệ trào nhiều như biển, thật quá cực khổ! Thử hỏi ai có phương pháp nào trốn tránh sự luân hồi ấy ngơ hầu được trường sanh an tịnh chăng?

 

II. Phương pháp giải cứu nghịch cảnh, tai nạn, luân hồi

 

1. Chuyển biến nghịch cảnh, tiêu trừ tai nạn

 

Sự khổ vui của mỗi người vốn là một thứ quả báo, phải vận dụng cả ba đời để quán sát. Nếu chẳng hiểu rơ đạo lư này, làm sao thông hiểu được? Hiện tại chúng ta gặp phải nghịch cảnh, mắc phải tai nạn, đương nhiên là có dính líu đến nhân quả. Cách để chuyển biến, tiêu trừ chúng nhanh nhất chính là Niệm Phật. Trong kinh từng nói chí tâm niệm Phật một câu, tiêu trừ được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Nếu đă tiêu trừ được tội th́ nào c̣n có nghịch cảnh, tai nạn ǵ nữa! Kinh c̣n dạy người niệm Phật A Di Đà được vô lượng vô biên chư Phật ở bốn phương, thượng, hạ hộ niệm. Phật là bậc pháp lực vô biên vạn đức, vạn năng, đă được Phật gia bị th́ c̣n sợ ǵ tai nạn cơ chứ?

 

2. Thoát khỏi luân hồi, trường sanh vĩnh viễn

 

Ngoài lục đạo lại c̣n có cảnh giới nào khác th́ thật là chuyện lạ. A! Lục đạo là cảnh phàm, nào biết c̣n có cảnh thánh. Cảnh thánh chính là cơi Phật. Trong các thế giới ở phương Tây, có thế giới Cực Lạc, là quốc độ của Phật A Di Đà, hoàn toàn do bảy báu tạo thành, trang nghiêm thanh tịnh.

So với bất cứ cơi thiên cung nào, thế giới Cực Lạc cũng tốt đẹp hơn ngàn vạn vạn lần. Điểm tuyệt diệu nhất là thọ mạng vô lượng, chẳng giống như cơi trời, cơi người sanh tử chẳng ngừng trong lục đạo. Trong kinh có dạy: Nếu ai sanh về đó thân đều sắc vàng, quang minh chói lọi, thần thông đầy đủ, nghĩ đến áo liền có áo, nghĩ ăn liền có ăn, thọ mạng vô lượng, sống măi đến khi thành Phật.

Phương pháp rốt ráo để sanh về đó là như kinh đă dạy: Niệm A Di Đà đến Nhất Tâm Bất Loạn. Lúc lâm chung, nhất định A Di Đà Phật đến rước đi.

 

3. Nêu lời cổ huấn để chứng minh

 

Những điểm tốt lành vừa được đề cập trong hai đoạn trên đều được chép trong kinh, vốn ngàn lần, vạn lần chân thật, chẳng cần phải nhọc công nêu chứng minh. Nhưng càng chứng minh nhiều th́ tín tâm càng thêm kiên cố nên chẳng ngại dài ḍng, nêu thêm mấy câu về “mười đại lợi ích của việc niệm Phật”. Nghĩa là người niệm Phật quyết định sẽ được mười điều lợi ích:

1) Ngày đêm thường được hết thảy chư thiên, đại lực thần tướng ẩn thân thủ hộ người ấy.

2) Thường được hai mươi lăm vị đại Bồ Tát như Quán Âm bảo vệ, gia hộ.

3) Ngày đêm thường được chư Phật hộ niệm, A Di Đà Phật thường phóng quang minh nhiếp thọ người ấy.

4) Hết thảy ác quỷ, dạ-xoa, la-sát đều chẳng hại được, chẳng bị trúng phải rắn độc, thuốc độc.

5) Nước, lửa, oán tặc, đao binh, súng ống, gông, cùm, lao ngục... đều chẳng mắc phải.

6) Những tội nghiệp đă tạo khi trước thảy đều tiêu diệt.

7) Đêm ngủ mộng thấy điềm lành, hoặc thấy thân sắc vàng thắng diệu của Phật A Di Đà.

8) Tâm thường hoan hỷ, vẻ mặt tươi tắn, khí lực sung măn, việc làm tốt đẹp.

9) Thường được hết thảy mọi người trong thế gian cung kính lễ bái giống hệt như kính Phật.

10) Lúc lâm chung tâm không hăi sợ, chánh niệm hiện tiền. Tây Phương Tam Thánh dùng đài vàng tiếp dẫn văng sanh Tịnh Độ, liên hoa hóa sanh, hưởng sự vui thắng diệu.

Xin quư vị chú ư: Trong mười điều lợi ích này, chín điều trước đều là những lợi ích chuyển hóa nghịch cảnh, tiêu trừ tai nạn. Điều lợi ích cuối cùng là thân sau thoát khỏi luân hồi.

 

III. Phương pháp niệm Phật

 

1. Khóa lễ sáng chiều đơn giản nhất

 

- Nam mô đại từ đại bi Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (niệm một lần, lễ một lạy, hoặc chỉ chắp tay).

- Nam mô đại từ đại bi A Di Đà Phật (niệm lễ giống như trên).

- Nam mô A Di Đà Phật (không cần lễ bái, chỉ cung kính niệm. Quỳ niệm, ngồi niệm, đứng niệm đều được. Tối thiểu là trăm câu đến ngàn câu, vạn câu tùy theo công việc rảnh hay bận của mỗi người. Chỉ nên từ ít tăng lên nhiều, đừng từ nhiều giảm xuống ít).

- Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát (một niệm, một lạy).

- Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát (niệm một niệm, một lạy. Quán Âm, Thế Chí là hai vị hiếp sĩ (Bồ Tát thị giả thân cận) của đức A Di Đà, thường gọi chung là Tây Phương Tam Thánh. Niệm Phật xong, lẽ đương nhiên nên lạy hai Ngài)

- Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (một niệm, một lạy. Cực Lạc thế giới có rất nhiều vị Bồ Tát, tương lai đều là thầy bạn của ḿnh nên cũng nên lễ bái)

- Nguyện đem công đức này,

Trang nghiêm Phật tịnh độ

Trên đền bốn ân trọng

Dưới cứu khổ ba đường

Nếu có ai thấy nghe,

Đều phát tâm Bồ Đề,

Hết một báo thân này.

Cùng sanh cơi Cực Lạc.

(Đây là bài hồi hướng, cũng nói về nguyện lực niệm Phật của ḿnh).

Lễ bái lui ra.

 

Phụ chú:

 

Mỗi ngày sáng chiều hai lượt thực hành công khóa trên đây. Rửa tay, súc miệng, đối trước tượng Phật thắp hương, đảnh lễ, theo đúng pháp tụng niệm. Nếu không có tượng Phật hoặc chỗ ḿnh ở không thuận tiện th́ không đốt hương, không đảnh lễ cũng được, chỉ hướng mặt về Tây, trong ḷng cung kính th́ cũng có công đức tương tự. Đừng niệm những chữ ghi trong dấu ngoặc.

 

2. Phương pháp niệm Phật mười hơi

 

Cho đến hết một hơi, niệm dăm ba câu hoặc sáu bảy câu “nam mô A Di Đà Phật”. Niệm hết mười hơi như vậy bèn niệm bài hồi hướng một lượt, lễ bái lui ra.

 

Phụ chú:

 

Cách này dành cho người cực kỳ bận rộn, chỉ tốn thời gian không quá năm phút. Điều trọng yếu nhất là mỗi ngày sáng chiều phải thực hành một lần. Vạn phần chẳng được gián đoạn. Có tượng Phật th́ đối trước tượng Phật niệm tụng, không có tượng Phật th́ hướng về phía Tây mà làm.

Hai cách niệm Phật vừa đề cập trên là dành cho người quá bận rộn. Nếu có lúc rảnh rỗi th́ sau khi niệm “nam mô đại từ đại bi A Di Đà Phật”, tụng một quyển kinh A Di Đà, tụng ba biến chú Văng Sanh, tán Phật một lượt th́ càng hay. Cách hành tŕ này tối đơn giản, hợp thực tế, quyết định thành công.

 

IV. Trợ duyên để niệm Phật thành công

1. Tiêu chuẩn đơn giản để phân biệt thiện ác

 

Niệm Phật là chánh nhân, làm lành là trợ duyên, giống như chim có hai cánh mới có thể bay cao. Nhưng người đời thường chẳng nhận rơ giới tuyến giữa thiện ác. Chuyện lành vằng vặc chẳng hay là lành, điều ác rành rành nào hay là ác. Ở đây, tôi căn cứ theo kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo để nêu ra một tiêu chuẩn: nếu ngăn dè th́ là thiện, nhược bằng trái phạm th́ là ác. Để dễ hiểu, tôi dùng biểu đồ sau:

 

 

3 nghiệp nơi thân

Sát sanh

Trộm cắp

Tà dâm

 

4 nghiệp nơi miệng

Nói dối (vọng ngữ)

Nói thêu dệt (ỷ ngữ)

Ác khẩu

Nói đôi chiều (lưỡng thiệt)

 

3 nghiệp nơi ư

Tham

Sân

Si

 

Phàm là động vật có sanh mạng, bất luận lớn hay nhỏ, cứ làm thương tổn chúng đều là “sát sanh”. Phàm là tài vật hay danh dự, dù nhiều, ít, lớn nhỏ, nếu chẳng phải là vật của ḿnh, chưa được đối phương chấp thuận mà công khai đoạt lấy, hay trộm lén, cưỡng chiếm, lừa lấy th́ đều là “trộm cắp”. Ngoài vợ chồng chánh thức, hễ hành dâm với hết thảy chúng sanh, chẳng luận v́ lư do nào đều là “tà dâm”.

Ôm ḷng khinh lừa, nói lời giả dối th́ gọi là “vọng ngữ”. Chẳng luận là ngôn ngữ hay văn tự, đă viết ra, đă nói ra, tự ḿnh đề xướng, hoặc hùa theo, tạo ảnh hưởng thương phong bại tục th́ gọi là “ỷ ngữ”. Lời lẽ thô bạo, chửi mắng người th́ gọi là “ác khẩu”. Khuấy động thị phi giữa hai bên, ly gián cảm t́nh người khác th́ gọi là “lưỡng thiệt”.

Mê đắm các thứ vật dục chẳng bỏ, đă có lại mong có thêm là Tham. Có việc bất như ư, tâm nổi nóng, phát nộ khí th́ là Sân. Không có lư trí, gặp việc mê hoặc; đối với đạo lư Phật nói, kinh sách thánh hiền đều chẳng nghe theo, lại chẳng tin nhân quả th́ là Si.

 

2. Ba đại yếu quyết để văng sanh Cực Lạc: Tín, Hạnh, Nguyện

 

Niệm Phật văng sanh Cực Lạc là một phương pháp đặc biệt ngoài tám vạn bốn ngàn pháp môn của Phật, được gọi là “môn dư đại đạo” (đạo lớn nằm ngoài các pháp môn). Sự tuy đơn giản, lư thực thâm áo, chẳng thể dùng dăm ba câu tŕnh bày tường tận được.

Cần phải biết là đức Phật đạo đức tối cao không ai bằng được, lời Ngài nói ra tuyệt không dối người. Chỉ nên tin thật có cơi Cực Lạc, niệm Phật được sanh về đấy. Đó chính là yếu quyết thành công thứ nhất.

Lại phải chịu nhận rơ đời ác ngũ trược đây, phát khởi tấm ḷng chân thật, nguyện sanh về thế giới Cực Lạc. Đấy chính là yếu quyết thành công thứ hai.

Đă tín, nguyện rồi lại nên theo đúng phương pháp, mỗi ngày định giờ giấc thực hành công khóa. Đấy chính là yếu quyết thành công thứ ba.

 

V. Những bậc tiền bối mô phạm và kinh điển nên tham khảo 

1. Một vài vị sư trưởng cổ, kim

 

Pháp môn Niệm Phật vốn phát xuất từ bi tâm độ sanh triệt để của đức Thích Ca. Pháp môn này giản tiện nhất, ổn thỏa, thích đáng nhất, cao siêu nhất. Nếu chẳng tu nổi pháp môn này th́ đừng bàn đến phương pháp nào khác nữa. Điểm hay của pháp môn này là người học vấn càng rộng th́ càng nghiên cứu, càng thấu hiểu cao sâu, mà người chẳng biết một chữ vẫn tu tập được. Chỉ tiếc cho những kẻ không hiểu rơ lư này, cứ cho là cách tu của mấy bà già lụm cụm, không khỏi là lầm lạc lớn lắm ư?

Xin hăy xem trên hội Hoa Nghiêm, hai vị đại thánh Văn Thù, Phổ Hiền đều khuyên tu. Hai vị đại Bồ Tát Mă Minh, Long Thọ của Ấn Độ đều soạn luận hoằng dương. Các bậc cổ đức Trung Hoa từ Huệ Viễn đại sư cho đến Ấn Quang đại sư, lịch đại tổ sư đa phần là tu các tông khác từ trước, sau đều quy hướng Tịnh Độ. Đàm Loan đại sư được xưng tụng là hàng nhục thân Bồ Tát, Trí Giả đại sư là bậc truyền đăng trong nhà Phật đều hoằng truyền Tịnh Độ. Cận đại, Đế Nhàn đại sư của tông Thiên Thai, Thái Hư đại sư của tông Duy Thức, Hoằng Nhất đại sư bên Luật tông, hai vị đại sư Hư Vân, Viên Anh bên nhà Thiền đều có trước tác hoằng dương Tịnh Độ.

Về phía cư sĩ, có các vị hiền giả như ông Lưu Lôi ở Lô Sơn đời Tấn, Bạch Lạc Thiên đời Đường; Tô Đông Pha, Văn Ngạn Bác đời Tống; Viên Hoằng Đạo đời Minh, Bành Xích Mộc (Bành Tế Thanh), Dương Nhân Sơn... đời Thanh. Họ đều là bậc đại học vấn, ai nấy đều đặt tâm nơi Tịnh Độ. Những vị này ai cũng biết đến. C̣n nhiều vị như thế, nhất thời chẳng thể nêu rơ hết, nên cũng không nói thêm nữa.

Chúng ta hăy tự vấn: trí huệ, đức năng của ḿnh so với những bậc thánh hiền ấy, ai cao, ai thấp? Họ đều là bậc tu Tịnh, hoằng Tịnh. Trái lại, bọn ta lại xem thường. Tri kiến như vậy có thể nói là tri kiến chánh xác được chăng?

 

2. Kinh điển nên tham khảo

 

Tam Tạng kinh điển đâu đâu cũng chỉ dạy, quy hướng pháp môn Tịnh Độ, nhưng ai có thời gian nghiên cứu trọn hết, nên trước hết chỉ kể những kinh điển chuyên biệt.

Về kinh có A Di Đà kinh, Vô Lượng Thọ kinh, Quán Vô Lượng Thọ kinh. Trong ba bộ này, tối thiểu là phải đọc kinh A Di Đà mấy lượt. Nếu đủ sức, nên đọc kỹ bộ Tịnh Độ Thập Yếu đôi ba lượt ngơ hầu hiểu đại khái pháp môn Tịnh Độ. Nếu chẳng hiểu nổi th́ những cuốn như Kỹ Lộ Chỉ Quy, Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam, Phật Pháp Đạo Luận... là những cuốn sách nhỏ viết bằng thể văn bạch thoại để tiếp dẫn người sơ cơ.

Tịnh Độ Tam Yếu Thuật Nghĩa, Long Thư Tịnh Độ Văn là những tập sách nhỏ viết theo thể loại văn ngôn, tùy sức đọc vài lượt cũng hiểu được đại lược những điểm quan trọng. Ấn Quang Đại Sư Văn Sao giống như một quyển ngữ lục của Tịnh Độ, An Sĩ Toàn Thư có những mẫu chuyện cũ khá hứng thú. Hai quyển này là có thể giúp người học khai phát trí huệ, chánh tri kiến.

Nếu có thể đọc hết các sách trên xong, xem thêm các kinh khác sẽ thấy dễ dàng hơn.

 

VI. Hai loại tâm lư sai lầm thường gặp

 

1. Chấn chỉnh kiến chấp phổ biến “tâm tốt th́ cũng giống như niệm Phật”

 

Tâm ai nấy đều đầy dẫy tham, sân, si, thân thường luôn gây tạo sát, đạo, dâm, vẫn cường điệu cố nói là tâm ḿnh tốt, chẳng phải là lầm lạc đến mức cùng cực ư? Giả sử như có tâm tốt thật sự th́ cũng chẳng ngoài mười thứ thiện nghiệp đă nói ở phần trên mà thôi. Đấy chỉ đáng gọi là “tu phước”, kiếp sau sẽ hưởng tiểu quả nhân, thiên, chứ vẫn không thoát khỏi luân hồi. Chẳng đến được cơi Cực Lạc là do đi không đúng đường. Muốn văng sanh Cực Lạc th́ phải tu Huệ, mà tu Huệ chính là niệm Phật. Nhân thế nào, quả thế ấy. Phước là phước, huệ là huệ, phải phân biệt rơ ràng, chẳng thể coi là cá mè một lứa đến nỗi lầm lạc đại sự được.

 

     2. Chấn chỉnh lời viện cớ “bận rộn quá không có thời gian niệm Phật”

         

Niệm Phật chuyển biến nghịch cảnh, tiêu trừ tai nạn, sanh về Cực Lạc, c̣n sự nào lớn lao hơn pháp này nữa, nhưng lại xem rất thường. Phần nhiều người đời hay viện mấy lư do như quá bận rộn, không có thời gian để cự tuyệt pháp đại tiện nghi vạn kiếp khó được gặp gỡ này, thật đáng tiếc quá!

Có thật sự bận rộn hay chăng? Tôi chẳng thấy vậy. Niệm Phật th́ đi, đứng, nằm, ngồi đều làm được; dù là sĩ, nông, công thương đều chẳng trở ngại ǵ. Nếu chẳng tin th́ dưới đây tôi sẽ dẫn một bài ca ngắn để người đời đối với những sinh hoạt thường nhật có thể phân tích rơ ràng. Tôi tin rằng sau khi xem bài ca này xong, nhất định quư vị sẽ chẳng c̣n cười được nữa.

         

Bài ca chẳng nhàn

 

          Biết ngài vốn chẳng bận,

          Cứ cố nói chẳng nhàn,

          Trong hai mươi bốn giờ,

          Nằm ngủ mất tám giờ,

          Ba bữa ăn ba tiếng

          Lại uống trà, hút thuốc

          Chải gỡ, đại tiểu tiện,

          Phí mất khoảng một giờ,

          Đi ra ngoài uống rượu

          Về chuyện gẫu cùng vợ

          Ít nhất vài ba giờ,

          Lại e ḷng bận bịu,

          Thân mệt tính ngủ trưa,

          Ngủ hai giờ chẳng đă,

          Mất đi mười sáu giờ,

          Uổng phí hơn quá nửa,

          Trong tám giờ c̣n lại,

          Chưa chắc đă bận thật.

          Niệm Phật được nửa tiếng

          Đă kêu lâu lắm rồi

          Hăy xem người xưa nay,

          Mấy ai bảy mươi tuổi,

          Đừng đem khổ sanh tử,

          Vất ra đằng sau ót,

          Việc chân chánh của ḿnh,

          Vạn vạn lần khẩn cấp,

          Xin hăy gấp tỉnh ngộ,

          Mau trồng chín phẩm sen.

         

          Phụ Lục

          Yếu quyết niệm Phật

         

Trong lúc niệm Phật, hết thảy mọi sự trong tâm đều buông xuống hết, đừng nghĩ tưởng loạn xạ, chỉ c̣n quan tâm đến sáu chữ hồng danh từ tâm ḿnh phát khởi, từ miệng ḿnh vang ra, lọt vào chính tai ḿnh, in sâu vào tâm. Phải tưởng cho rơ, niệm cho rơ, nghe cho rơ. Có như vậy th́ mới cảm ứng được.

 

          GIẢI ĐÁP NGHI VẤN

         

    1) Có người nói: Chúng tôi là công chức, giáo chức, ở cư xá công cộng th́ cúng Phật, lễ Phật, đương nhiên là bất tiện, niệm Phật cũng làm phiền người khác bất an, tôi chẳng biết làm sao?

          Đáp: Chốn công cộng đúng thật là có nhiều nỗi bất tiện, nhưng việc ǵ cũng có cách để dung thông cả. Nếu như đă biết niệm Phật là đại sự th́ cứ thành tâm thầm niệm, ắt có hiệu quả lớn. Bởi lẽ tâm niệm c̣n càng khẩn mật hơn miệng niệm, bất tất phải cúng Phật, lễ Phật ra tiếng.

          2) Có người nói: Niệm Phật tuy tốt, nhưng phải đến chùa, miếu, liên xă hay trai đường, tôi không có thời gian.

          Đáp: Không nhất định phải đến những nơi đó, không có thời gian đi ra ngoài, nhưng chẳng lẽ ở nhà không có thời gian nào rảnh sao? Cứ ở nhà niệm Phật nào có trở ngại chi.

          3) Có người nói: Niệm Phật là việc của kẻ có tiền, tôi không có tiền bạc dư dả!

          Đáp: Thế là lại càng lầm hơn nữa! Niệm Phật chẳng tốn tiền mấy. Ba cây nhang đáng giá là bao? Dù chẳng đốt lấy một cây nhang cũng chẳng quan hệ ǵ. Chỉ cốt sao trong tâm cung kính là đủ.

          4) Có người nói: Niệm Phật là phải ăn chay, tôi không làm được, cho nên tôi không thể niệm Phật?

          Đáp: Tạm thời bất tất phải ăn chay, chỉ nên kiêng sát sanh th́ cũng có công đức lớn. Có thể tập ăn ba thứ tịnh nhục, tức là: không v́ ḿnh mà giết, chẳng thấy con vật bị giết, chẳng nghe nó bị giết. Cá, thịt ngoài chợ làm sẵn rất nhiều, đủ để cho quư vị ăn rồi.

         

* NIỆM PHẬT TAM ĐẠI LỢI ÍCH

(BA ĐIỀU LỢI ÍCH LỚN CỦA NIỆM PHẬT)

         

          1) Một câu Phật hiệu tiêu diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử (thuộc về quá khứ)

          2) Một câu Phật hiệu tiêu diệt phiền năo của nhân sanh, tiêu tai, diên thọ, hưởng phước huệ (thuộc về hiện tại)

          3) Một câu Phật hiệu khiến ta thoát khỏi lục đạo luân hồi, văng sanh thế giới Cực Lạc, vĩnh viễn trường sanh bất diệt (thuộc về tương lai)

 

* PHƯƠNG PHÁP NIỆM PHẬT

         

          Hỏi: Niệm Phật không chỉ là dùng miệng niệm mà phải chú tâm đúng không?

          Đáp: Có nhiều người miệng tuy niệm Phật nhưng chẳng để tâm vào đó, trong ḷng toàn là suy xằng nghĩ loạn. Niệm như vậy cũng vô dụng. Miệng niệm Phật th́ tâm phải tưởng Phật, tâm khẩu nhất như. Ngoại trừ một câu niệm Phật ra không c̣n nghĩ đến ǵ khác nữa, không c̣n có ư niệm nào khác khởi lên. Có vậy mới gọi là “Nhất Tâm Bất Loạn’, từ đó mới dễ thành công.

          Hỏi: Như vậy chẳng phải là khó lắm ư?

          Đáp: Xem ḱa! Một mặt quư vị chê niệm Phật quá dễ dàng, một mặt lại sợ nó quá khó. Thật sự ra, một pháp Niệm Phật đây, bảo là dễ th́ nó cực dễ, bảo là khó th́ nó cũng cực khó. Chẳng qua là chẳng cần biết là khó hay dễ, chỉ đáng kể ḿnh có thể bền ḷng niệm được nhiều hay không. Lâu ngày chầy tháng, tự nhiên tâm chẳng loạn nữa. Lời tục thường nói: “Trên đời không có việc ǵ khó, chỉ sợ tâm chẳng chuyên”, chính là ư này.

Lại có một cách niệm Phật như sau: mỗi lúc niệm Phật, mỗi chữ phải phát xuất từ trong tâm. Trong tâm tưởng thật rơ ràng, miệng niệm cho thật rơ ràng, tai nghe thật rơ ràng. Mỗi một chữ phát xuất từ trong tâm, thấu qua tai lọt vào tâm, một chữ cũng chẳng để lọt mất. Tu tập lâu dài như vậy, tâm tự nhiên chẳng c̣n tán loạn. Đấy chính là một phương pháp khẩn yếu bậc nhất, ngàn vạn phần chớ quên.

          Hỏi: Nên niệm Phật vào lúc nào?

          Đáp: Nên niệm Phật vào hai thời sáng tối, lập một công khóa nhất định, hạn định số câu niệm Phật nhiều ít: hoặc là mấy trăm câu, mấy ngàn câu, tùy theo hoàn cảnh mỗi người mà định số. Chẳng cần biết là rảnh hay bận, không niệm đủ số đó không được. C̣n ngoài ra th́ chẳng cần biết là lúc nào, đang ở chỗ nào đều niệm được cả. Càng niệm nhiều càng tốt. Thời gian niệm càng lâu càng hay.

          Hỏi: Vừa làm việc vừa niệm Phật được không?

          Đáp: Lúc đang vác củi, gánh nước cũng niệm Phật được. Lúc đang cọ nồi, rửa chén cũng niệm Phật được. Lúc cày bừa, cuốc xới, cắt cứa cũng niệm Phật được. Chẳng luận là đi, ngồi, ngủ nghê, thậm chí lúc đang đại tiểu tiện cũng đều có thể niệm Phật. Nói chung, trừ lúc phải dùng trí óc làm việc, ngoài ra th́ dù đang làm ǵ cũng chẳng trở ngại việc niệm Phật cả.

          Hỏi: Nên niệm Phật lớn tiếng hay là niệm nhỏ tiếng?

          Đáp: Niệm lớn tiếng cũng tốt, niệm nhỏ tiếng cũng hay. Miệng không niệm nhưng tâm thầm niệm cũng tốt. Chỉ trừ lúc đang nằm trên giường hay đang ở chỗ không sạch sẽ th́ nên thầm niệm trong tâm, chẳng được niệm ra tiếng. Niệm ra tiếng là không cung kính. Nhưng lúc gặp chuyện nguy cấp, chẳng cần biết là đang ở chỗ nào, cứ việc niệm ra tiếng.

          Hỏi: Học Phật th́ nên thờ h́nh Phật nào?

          Đáp: Thờ một ḿnh đức A Di Đà Phật hoặc tượng Tây Phương Tam Thánh đều được (A Di Đà Phật và hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí gọi là Tây Phương Tam Thánh).

          Hỏi: Nên thờ tượng Phật ở chỗ nào?

          Đáp: Nếu có pḥng trống, dành riêng một pḥng thờ Phật là tốt nhất. Nếu không có, thờ Phật ngay trong pḥng ḿnh ở cũng được. Nói chung là phải chọn nơi sạch sẽ. Trước tượng treo màn vải vàng, lúc không niệm Phật, buông màn xuống. Làm vậy để khỏi đến nỗi khinh nhờn. Tốt nhất là để tượng Phật hướng mặt về Đông, người niệm Phật đối trước tượng Phật, hướng mặt về Tây. Nếu chẳng thể làm vậy được th́ thờ tượng ở phương nào thuận tiện cũng được.

          Hỏi: Nếu không có chỗ nào thuận tiện, không thờ Phật có được không?

          Đáp: Nếu thực sự không có chỗ nào thuận tiện, miễn sao tâm thành th́ không thờ tượng Phật cũng được. Lúc niệm Phật hướng về Tây là ổn.

          Hỏi: Nên dùng những thứ ǵ để cúng dường Phật?

          Đáp: Thông thường dùng hương, hoa, đèn, nước trong, trái cây v.v... Nếu không lo liệu được, thiếu một vài thứ hoặc không có thứ ǵ hết cũng xong. Nhưng tuyệt đối chẳng được cúng rượu hoặc đồ mặn cũng như đốt giấy tiền, vàng mă trước Phật.

          Hỏi: Nên hành lễ trước Phật như thế nào?

          Đáp: Tùy ư. Hoặc là dập đầu lạy, hoặc là vái, hoặc khom ḿnh, hoặc chắp tay; nhưng dập đầu lễ bái là cung kính nhất, có thể tiêu tội, tăng phước.

          Hỏi: Lúc niệm Phật có nên quỳ trước mặt Phật không?

          Đáp: Chẳng nhất định. Quỳ niệm, đứng niệm, vừa đi vừa niệm đều được. Cốt yếu là phải thành tâm. Quỳ niệm rất tốt mà ngồi niệm cũng hay.

          Hỏi: Cụ nói hai thời niệm Phật sáng tối, phải lập một khóa tŕnh, phiền cụ lập cho tôi một khóa tŕnh có phải là hay hơn không?

          Đáp: Khóa tŕnh vốn là dựa theo thời gian, sức lực của chính mỗi người mà quy định. Ngài đă cầu tôi th́ tốt nhất là tôi soạn ra một nghi thức thật đơn giản cho ngài vậy.

          Nếu như ngài có sức th́ có thể hành tŕ thêm nhiều hơn, có thể thêm vào kinh Di Đà, chú Văng Sanh, kệ Tán Phật, văn Đại Phát Nguyện. Những bài kinh ấy trong sách Thiền Môn Nhật Tụng có chép đủ cả, những chỗ lưu thông kinh Phật đều có. Khóa sáng th́ lúc vừa ngủ dậy, khóa tối th́ trước khi đi ngủ, rửa tay, súc miệng, đến trước tượng Phật, thắp nhang, dâng nước, chắp tay cung kính, rồi quỳ hoặc đứng, hoặc ngồi xếp bằng, dùng tâm chí thành niệm theo thứ tự sau:

          - Nam mô thập phương Thường Trụ Tam Bảo (niệm một lần, lễ một lạy).

          - Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (niệm một lần, lễ một lạy).

          - Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật (niệm một lần, lễ một lạy).

- Nam mô A Di Đà Phật (trăm câu, ngàn câu, hai, ba ngàn câu, càng nhiều càng hay. Tùy mỗi người rảnh hay bận mà định số, nhưng phải từ ít tăng lên nhiều, chẳng được từ nhiều giảm ít đi. Vô luận niệm nhiều hay ít, chẳng cần phải lạy).

- Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát (niệm một tiếng, lễ một lạy, hoặc niệm ba lần, lễ ba lạy).

- Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát (như trên).

- Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (như trên).

- Nguyện đem công đức này

Trang nghiêm Phật Tịnh Độ.

Trên đền bốn ân nặng.

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe.

Đều phát ḷng Bồ Đề,

Hết một báo thân này,

Cùng sanh cơi Cực Lạc.

(lễ ba lạy)

          Hỏi: Khóa tŕnh này rất hay, xin giảng thêm về chữ “thập phương Tam Bảo”.

          Đáp: Tám phương, phương trên và phương dưới gọi là mười phương. Phật, Pháp, Tăng là Tam Bảo. Phật là Giáo Chủ. Pháp là kinh điển để tu nhân chứng quả do Đức Phật giảng. Tăng là những pháp tử chiếu theo lời Phật dạy tu hành, đă chứng thánh quả Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, và các cao tăng đạo cao, đức trọng, hoằng pháp lợi sanh.

Phật, Pháp, Tăng đều gọi là Bảo (quư báu) v́ có thể phát sanh, tăng trưởng pháp thân, huệ mạng của hết thảy chúng sanh, giống như của báu trong thế gian có khả năng nuôi sống thân mạng của con người. Phải hiểu rằng khi niệm Tam Bảo chính là biểu thị ḿnh hoàn toàn lấy Phật, kinh điển Phật nói và các vị Bồ Tát, cao tăng tu hành đúng theo lời Phật làm thầy của ḿnh. Ḿnh từ những vị đó quy hướng trở thành tín đồ Phật giáo.

          Hỏi: Xin hỏi v́ sao phải niệm Phật Thích Ca?

          Đáp: Là v́ pháp môn Niệm Phật do chính Ngài dạy cho chúng ta. Niệm Phật lạy Ngài chính là chẳng dám quên bỏ nguồn gốc vậy.

          Hỏi: Tại sao lại c̣n phải niệm Quán Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát?

          Đáp: V́ người niệm Phật lúc lâm chung, hai vị Bồ Tát này cùng với đức A Di Đà Phật đồng thời đến tiếp dẫn về Tây Phương. V́ thế niệm Phật xong phải niệm danh hiệu và lễ bái hai vị Bồ Tát này.

          Hỏi: Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát là những vị Bồ Tát nào?

          Đáp: Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát là tất cả những vị Bồ Tát trong thế giới Cực Lạc đều rất thanh tịnh. Ba chữ Đại Hải Chúng ngụ ư các vị Bồ Tát ấy nhiều như nước biển. Sớm muộn ǵ ta cũng sẽ làm bầu bạn với các vị Bồ Tát ấy, v́ thế cần phải niệm niệm lễ bái họ.

          Hỏi: Kệ Hồi Hướng có tác dụng ǵ?

          Đáp: Công dụng của bài kệ Hồi Hướng rất lớn. Người tu hành bất luận là niệm Phật, hay niệm kinh, niệm xong, nhất định phải niệm kệ Hồi Hướng một lượt. Hồi Hướng có nghĩa là gom về, tức là một phương pháp đem công đức niệm Phật, niệm kinh gom về một nơi. Gom về nơi nào? Gom về việc cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới!

    Chẳng riêng ǵ niệm Phật, niệm kinh mới hồi hướng về Cực Lạc thế giới, mà bất luận làm việc lành nào cũng đều phải hồi hướng về Cực Lạc thế giới. Càng tích thêm được một phần công đức th́ hy vọng được văng sanh càng tăng thêm một phần. Nếu làm công đức nhưng chẳng hồi hướng cầu sanh về Cực Lạc thế giới th́ chỉ sợ đời sau chỉ được hưởng báo ứng trong cơi trời, cơi người, vẫn cứ luân hồi trong lục đạo, chẳng được giải thoát. Phước báo càng lớn, càng dễ tạo tội, nên kiếp kế tiếp đó càng đáng sợ hơn.

    V́ thế, người học Phật phải nên đem hết thảy công đức hồi hướng văng sanh Tây Phương th́ lúc lâm chung mới có hy vọng được sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. Nhưng niệm bài kệ Hồi Hướng cũng giống như niệm Phật, phải từng chữ, từng câu phát xuất từ nội tâm, chẳng thể niệm xuông nơi cửa miệng được.

          Hỏi: Xin cụ giảng qua ư nghĩa từng câu trong bài kệ Hồi Hướng.

          Đáp: Câu thứ nhất và câu thứ hai nghĩa là ta đem công đức niệm Phật hỗ trợ cơi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà khiến cho nó càng thêm tốt đẹp phi thường. Câu thứ ba nghĩa là lại đem công đức ấy trên là báo đáp bốn tầng ân đức: cha, mẹ, sư trưởng và đức Phật. Câu thứ bốn nghĩa là dưới th́ dùng công đức cứu vớt những chúng sanh khổ năo trong ba đường ác: súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ. Câu thứ năm và thứ sáu nghĩa là nếu có ai thấy, nghe người đang niệm Phật, niệm kinh sẽ đều phát khởi tấm ḷng trên cầu Phật Quả, dưới độ chúng sanh. Câu thứ bảy và thứ tám nghĩa là sau khi cái thân báo ứng này đă hoàn toàn chấm dứt th́ mọi người sẽ cùng văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Giải thích theo từng câu văn th́ ư nghĩa của bài kệ Hồi Hướng là như vậy.

    Nói chung, tám câu kệ này lại có hai tầng ư nghĩa lớn.

    Tầng thứ nhất là: Chúng ta niệm Phật là để cầu sanh về Tây Phương, chứ chẳng phải v́ cầu công danh, phú quư hay hết thảy những điều tốt đẹp của thế gian.

    Tầng thứ hai là: Chúng ta niệm Phật là để cứu độ hết thảy chúng sanh thoát ly khổ hải, chứ chẳng phải v́ riêng bản thân ḿnh. Đă hiểu rơ tầng ư nghĩa thứ hai này rồi th́ bất luận là niệm Phật, niệm kinh hay làm bất cứ điều lành ǵ đều luôn giữ tấm ḷng như thế, hồi hướng như thế. Có như vậy mới là người học Phật phát Bồ Đề tâm chân chánh.

          Hỏi: Khóa tŕnh cụ vừa lập ở trên cố nhiên rất đơn giản, nhưng có người quá đỗi bận rộn, không lúc nào rảnh th́ làm sao thực hiện được?

          Đáp: Vẫn có biện pháp. Chẳng luận là đang ở đâu hay bất cứ lúc nào (niệm vào lúc sáng sớm tốt nhất), hướng mặt về Tây, lễ ba lạy, liền niệm sáu chữ “nam mô A Di Đà Phật” cho đến hết một hơi. Hơi dài th́ niệm một hơi mươi câu càng hay. Hơi ngắn th́ một hơi niệm vài câu cũng được. Tổng cộng niệm đủ mười hơi. Rồi niệm kệ Hồi Hướng. Niệm xong, hướng về Tây lạy ba lạy là xong. Đây gọi là pháp Thập Niệm. Người rất bận mỗi ngày thành tâm chiếu theo phương pháp này mà niệm th́ tương lai cũng có thể được sanh về Tây phương Cực Lạc thế giới, là v́ Đức Phật A Di Đà đă từng phát nguyện nên tự nhiên được văng sanh không sai!

         

* CHƯA CHỨNG CHÂN NHƯ TH̀ ĐỐI VỚI LƯ NHÂN DUYÊN PHẢI RẤT CẨN TRỌNG

         

          Học Phật chú trọng “hạnh giải tương ứng”. Hiểu (giải) nhưng không hành giống như kể tên thức ăn, đếm của cải. Hành mà không hiểu dễ lạc ngơ rẽ. Cả hai đều mắc lỗi. Nay người tu Tịnh Độ chỉ nói là niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, chỉ biết bám víu theo quả, đến nỗi chẳng biết những điều ḿnh niệm đó là đúng pháp hay không, cứ coi nhẹ, chẳng gia công xem xét. Bởi vậy thành ra mất cả nhân lực lẫn duyên lực, há chẳng phải là chẳng biết chăm lo cái gốc đó ư? Kinh dạy: “Nhân địa chẳng chân sẽ cảm quả cong vạy”. Kinh c̣n dạy: “Duyên là hết thảy công đức thiện căn, hỗ trợ liễu nhân, khai phát chánh nhân”. Ôi! Há có nên chẳng suy nghĩ kỹ càng chăng?

          Nói đến Tịnh Độ là nói đến quả thanh tịnh, không phiền năo nghịch ác. Niệm Phật là lấy cái tâm không nghịch ác, phiền năo, thanh tịnh làm nhân. Thêm nữa, hành các điều thiện, vạn đức chính là trợ duyên cho nhân ấy. Nhân và duyên ví như hai cánh chim. Phải cùng nâng cả hai cánh mới có thể bay cao, bay xa, đạt tới chỗ ḿnh hướng đến. Phải cùng tu cả nhân lẫn duyên th́ mới thành tựu được quả.

          Cổ đức biết rơ như thế nên khi dạy người không vị nào chẳng đề cao nhân, nào là “thanh tịnh ư ḿnh”, nào là “tâm tịnh cơi nước tịnh” để hiển thị rằng: Muốn chứng tịnh quả, phải gieo tịnh nhân. Tuy bảo là “đới nghiệp văng sanh”, nhưng nghiệp nói đó chỉ là nghiệp quá khứ vẫn c̣n ẩn tàng, chứ chẳng phải cứ tạo tội nghiệt mà vẫn được văng sanh. Đủ thấy, [chư cổ đức] chẳng chấp nhận [hành nhân gây tạo] lỗi mới. Hiểu rơ lẽ này th́ vạn người tu, vạn người về. Hễ lầm lạc th́ nhân lẫn lực chẳng đủ, mong chứng quả sao được?

          Ba kinh Tịnh Độ đều trọng trợ duyên, cực lực khen ngợi phước đức. Kinh Tiểu Bổn (kinh A Di Đà) dạy: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức nhân duyên mà được sanh về cơi ấy”. Kinh Đại Bổn (kinh Vô Lượng Thọ) dạy: “Khiến cho bỏ ngũ ác, trừ năm sự đau đớn, ĺa khỏi năm sự thiêu đốt”. Quán Kinh dạy: “Muốn sanh về cơi ấy nên tu ba thứ phước”. Kinh dạy rành rành, dù có nhân nhưng thiếu duyên, dễ đâu thành tựu!

          Có kẻ bảo: “Niệm Phật một câu có thể tiêu trừ trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Nghiệp đă tiêu rồi th́ cần ǵ phải nhọc công giảng giải, suy xét nhân duyên nữa cơ chứ?

          Tôi bảo: “Một niệm sân tâm nổi, mở ra tám vạn chướng môn (ư nói phiền năo chướng). Chướng môn đă mở th́ nghiệp lại chẳng sanh khởi hay sao? Phần lớn những học nhân hiện thời, một mặt niệm Phật, một mặt tạo nghiệt, khác nào tay phải quét dọn, tay trái vẩy bụi. Hăy thử tự vấn ḿnh siêng năng, lười nhác thế nào; nếu chẳng tự dối ḿnh th́ ắt sẽ câm lặng, hết c̣n cười được nữa! Bởi thế, người chắc thật, già dặn niệm Phật th́ không một ai là chẳng kinh sợ nhân duyên. Nhân duyên bất tịnh, lại chẳng già dặn, chắc thật th́ đối với Hạnh và Giải, có được thứ ǵ không? Cầu được văng sanh kiểu đó chỉ là chuyện mơ tưởng, cầu may mà thôi”.

         

* CHẲNG HIỂU GIÁO TƯỚNG TH̀ KHÓ THỂ BÀN CHUYỆN CÓ - KHÔNG

         

          Nhà Phật nói Không, nói Có, giống như bàn tay và nắm tay, vốn chỉ là một sự. Kinh dạy: “Sắc tức là Không, Không tức là Sắc”. Truy đến cội nguồn, giáo thuyết này phát xuất từ Bát Nhă. Pháp môn này từ lúc Phật đản sanh măi cho đến thời thuyết giáo thứ tư, Phật mới phu diễn; bởi lẽ giáo thuyết này chẳng dành cho kẻ sơ cơ, phải hiểu rơ như thế. Người không khéo học cứ khăng khăng chấp chặt một bề đến nỗi đường rộng thênh thang, nhưng vẫn đi lạc. Rườm lời loạn xị, càng tăng tranh căi, lợi sanh ở chỗ nào?

          Hữu là Diệu Hữu, tức là luận về Tướng. Không là Chân Không, tức là bàn về Thể. Do Thể là Không nên Hữu bất biến. Do Tướng là Có nên Hữu tùy duyên. Nhưng thực ra Tướng lại nương vào Thể mà khởi, Thể cũng nhờ vào Tướng để hiển lộ. Chẳng phải Quyền, chẳng phải Thật, là hai, là một. Nếu hiểu trọn vẹn, lănh hội được ư chỉ viên tu ấy th́ chắc chắn sẽ chẳng tự ḿnh mâu thuẫn, bảo là có hai con đường nữa!

          Nay người tin vào Tịnh Độ là tin vào những thứ trang nghiêm được nói trong ba kinh Tịnh Độ. Đấy là nói về Tướng, hoàn toàn chẳng phải là chuyện ngụ ngôn của Trang Tử. Kẻ ngờ Tịnh Độ, chỉ nói là “duy tâm tự tánh”, đấy là nói về Thể, nào phải là xem thường tam thân của Như Lai. Nếu phỉ báng lẫn nhau th́ khác ǵ gần lửa toan không chịu nóng, gần nước toan không chịu bị ướt, sao c̣n có nghĩa “Sắc tức Không”, sao c̣n có nghĩa Bất Biến Tùy Duyên được nữa?

          Phàm những ai nghiên cứu Tịnh Độ đôi chút đều biết Tịnh Độ có bốn phần: cơi Thật Báo là nói về Tướng, cơi Tịch Quang chẳng phải là luận về Thể hay sao? Lấy Thể bỏ Tướng th́ cố nhiên Lư chẳng viên dung mà Sự cũng chẳng chân thật vậy. Nếu như đối với Tây phương đă chỉ chấp nhận duy tâm tự tánh làm Thể, chẳng chấp nhận các tướng Cực Lạc, Di Đà, ba chỗ trang nghiêm th́ lẽ ra đối với Đông Độ cũng chỉ nên chấp nhận “duy tâm tự tánh” là thể, chẳng chấp nhận có tướng Sa Bà, Thích Ca, tám khổ, tam đồ chứ!

    Nếu như đă chấp nhận các tướng cơi Sa Bà là có th́ cũng phải chấp nhận các tướng của cơi Cực Lạc chẳng phải là không. Có vậy th́ Sự và Lư mới chẳng mâu thuẫn. Nếu không th́ có khác ǵ nói người bên Tây Phương tay chỉ có nắm tay, người Đông Độ tay chỉ có bàn tay cơ chứ? Hoặc cũng giống như nói: Tôi chỉ chấp nhận những ǵ trong tâm, chẳng chấp nhận những ǵ ở ngoài tâm. Thử nghĩ xem: Có pháp nào ở ngoài tâm, ngoài tâm là chỗ nào vậy?

         

* TÔNG PHÁI

 

          Phật giáo chia thành các tông phái là v́ các học giả Trung Quốc thấy Phật pháp nhiều như biển cả, muốn cho dễ tu tập nên mỗi vị chọn lấy một đường ḥng cầu chuyên tinh, chứ nào phải là tạo dựng môn hộ để cho điều này là đúng, chê điều kia là sai! Các tông lập danh dựa theo nơi chốn, tên người, hoặc pháp môn sai khác. Dưới đây tuy liệt kê danh mục mười tông, nhưng trên thực tế, có vài tông được rất ít người nghiên cứu.

         

    1. Thành Thật Tông (c̣n gọi là Không Tông)

 

Pháp Sư Ha Lê Bạt Ma soạn luận Thành Thật rất giống với giáo nghĩa Đại Thừa. Đại khái là “thành lập ư nghĩa chân thực của kinh điển”. Vào thời đại Diêu Tần, khi bộ luận này được đại sư Cưu Ma La Thập dịch ra th́ tông này mới được sáng lập.

 

         2. Câu Xá Tông (c̣n gọi là Hữu Tông)

         

Chữ Câu-xá (Kosa) được dịch là Tàng (chứa đựng) hoặc Kiển (kén tằm), ngụ ư “bao hàm”. Ở Ấn Độ, các bộ luận Tiểu Thừa rất nhiều, sau được kết tập thành Đại Tỳ Bà Sa Luận. Bồ Tát Thế Thân dựa theo luận này chiết trung, soạn thành luận Câu Xá, dịch nghĩa là “giải thích phát trí” (cởi mở, đả thông vướng mắc khiến cho trí huệ phát sanh). Tông này được thành lập từ khi hai vị Pháp Sư Chân Đế đời Trần và Huyền Trang đời Đường dịch luận này ra tiếng Hán.

 

          3. Thiền Tông (c̣n gọi là Tâm Tông)

         

Thiền là gọi tắt của chữ Thiền-na, dịch nghĩa là Tịnh Lự. Tông này do tổ sư Đạt Ma vào đời Lương từ Tây Trúc qua Tàu lập ra, chủ trương “chẳng lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Đại khái là đă ngộ rồi mới khởi tu. Tuy nói là “chẳng lập văn tự” nhưng lại là tông có nhiều sách vở nghiên cứu về Bát Nhă nhất.

 

          4. Luật Tông (c̣n gọi là Nam Sơn Tông)

         

Tông phái này dùng phương pháp y theo những cấm chế của Phật để tịnh trừ những ác nghiệp nơi thân, khẩu, ư. Sáng tổ là ngài luật sư Nam Sơn Đạo Tuyên đời Đường, lấy luật Tứ Phần làm kinh điển chủ yếu.

 

          5. Thiên Thai Tông (c̣n gọi là Pháp Hoa Tông)

         

Đời Tùy, đại sư Trí Giả ở núi Thiên Thai lấy kinh Pháp Hoa làm kinh điển căn bản, sáng lập ra tông này. Ngài phát minh diệu lư “nhất tâm tam quán”. Đối với học thuyết phán giáo giải nghĩa, Ngài đă hệ thống hóa rất tinh xác. Các tông mỗi khi diễn giảng giáo nghĩa, đa phần dựa theo phương thức phán giáo của Ngài.

         

    6. Hiền Thủ Tông (c̣n gọi là Hoa Nghiêm Tông)

         

Ḥa Thượng Đỗ Thuận đời Đường lấy kinh Hoa Nghiêm làm kinh điển căn bản, sáng lập ra tông này. Đến đời tổ thứ ba là đại sư Hiền Thủ lại gia công chỉnh lư khiến cho giáo nghĩa minh xác, tinh vi phi thường. Ngài phát minh giáo thuyết “nhất chân pháp giới”; đây chính là giáo nghĩa uyên áo nhất của tông này.

         

    7. Từ Ân Tông (c̣n gọi là Pháp Tướng Tông, cận đại gọi là Duy Thức Tông)

         

Kinh điển chủ yếu để y cứ của tông này là các kinh Lăng Già, Giải Thâm Mật v.v... và Thành Duy Thức Luận, chủ trương “chuyển Thức thành Trí”. Đời Đường, do Pháp Sư Huyền Trang ở chùa Từ Ân phiên dịch, hoằng dương [luận Thành Duy Thức] nên tông này mới được thành lập.

         

    8. Tam Luận Tông (c̣n gọi Tánh Tông)

         

Bồ Tát Long Thọ soạn ra Trung Luận và Thập Nhị Môn Luận, Bồ Tát Đề Bà soạn Bách Luận. Ba bộ luận này đại khái thuyết minh “nghĩa lư chân thực trong Đại Thừa và phá chấp, phá chướng”. Từ khi ngài Cưu Ma La Thập dịch các bộ luận này vào đời Diêu Tần, tông này mới được thành lập.

 

    9. Mật Tông (c̣n gọi là Chân Ngôn Tông)

 

Mật có nghĩa là “bí áo” (kín đáo, sâu thẳm). Ư nói cảnh giới rất sâu của Phật, nếu chẳng phải là hàng Đẳng Giác Bồ Tát th́ chẳng thể hiểu rơ, đề ra phương pháp “tam mật tương ứng, tức thân thành Phật” (thân, khẩu, ư đều mật, thành Phật ngay trong thân này). Kinh điển căn bản là kinh Kim Cang Đảnh, kinh Đại Nhật v.v... Tông này do hai vị đại sư Kim Cang Trí và Bất Không lập ra vào đời Đường. Nhưng hiện tại được lưu hành ở Trung Quốc chính là Mật giáo Tây Tạng và Mông Cổ, họ lại chia ra các phái Hồng, Hoàng, Bạch v.v...

 

    10. Tịnh Độ Tông (c̣n gọi là Liên Tông)

 

Do đại sư Huệ Viễn đời Tấn sáng lập, lấy ba kinh Di Đà, Vô Lượng Thọ và Quán Kinh làm kinh điển chủ yếu. Chủ trương “bốn pháp niệm Phật, đới nghiệp văng sanh Cực Lạc”. Phương pháp của tông này là độ khắp ba căn, thâu trọn lợi độn. V́ thế, người tại gia tu tập càng thật tiện lợi.

 

Thứ tự của mười tông này là căn cứ theo cuốn Thích Giáo Tam Tự Kinh của Lư Xuy Vạn lăo nhân đời Minh. Cuốn này từng được đại sư Ấn Quang trùng đính vào đời Thanh, sau lại được cư sĩ Dương Nhân Sơn san định, nhuận sắc. Thứ tự này có lẽ là có dụng ư. Dùng ư kiến thô thiển của ḿnh để suy xét, tôi xin thử tŕnh bày như sau:

1) Nếu căn cứ vào Thừa th́ chia ra hai tông thuộc Tiểu Thừa, bảy tông Đại Thừa. Luật Tông gồm cả Tiểu lẫn Đại. Lẽ tự nhiên là nêu Tiểu trước rồi mới nêu Đại, nên Thành Thật và Câu Xá được nêu trước, Luật Tông nêu trung gian, kế tiếp nêu tên các tông khác. </