2. KHAI THỊ LẦN THỨ HAI

 

Thưa các vị lăo sư, các vị đồng tu,

Hôm nay là đă là ngày thứ sáu của Phật thất. Xin mọi người tinh tấn, rạng ngày nghe giảng giải, chiều tối càng dụng công khẩn mật.

Phật thất là để cầu Nhất Tâm. Theo đúng lệ, khi giảng khai thị th́ chẳng giảng kinh, chẳng thuyết pháp, chỉ xem trong đạo tràng có điều ǵ tu hành chẳng đúng pháp th́ đối trị căn bệnh đó, ứng cơ mà nói, chứ nếu không th́ thành ra làm rối thêm.

Lần này đặc biệt cải biến phương thức đă dùng nhiều năm, in dàn bài giảng giải, chứ lần sau chẳng làm vậy. “Vạn nhân tu vạn nhân khứ”, “đới nghiệp văng sanh”, “Nhất Tâm Bất Loạn” là ba điều mọi người dễ hiểu lầm nhất. Trong quá khứ, đối với những điều này, tôi chỉ lược giảng dăm ba câu. Người chân chánh dụng công để cầu Nhất Tâm phải nên hiểu rơ một cách xác thực. Đài Trung học Phật đă hai mươi lăm năm, bây giờ lười nhác, đúng là:

Đầu nhất niên, Phật tại tiền,

Đệ nhị niên, Phật tại Tây Thiên,

Đệ tam niên, Phật hóa vi vân yên.

(Năm đầu, Phật hiện diện trước mặt,

Năm kế, Phật ở Tây Thiên,

Năm thứ ba, Phật hóa thành mây, khói).

Kinh Phật cũng nói Bồ Tát mới phát tâm khác nào bậc Đẳng Giác, tiếc thay vài năm liền lui sụt. V́ thế, người phát tâm tu th́ nhiều, kẻ thành tựu lại ít. Phải đâu Phật pháp không linh, mà là v́ mọi người chẳng tin, chẳng thể kiên tŕ triệt để. Cứ hễ kiên tŕ mà tu th́ đối với bất cứ một câu Phật pháp nào cũng đều thành tựu được hết, chẳng cần phải đọc Tam Tạng. Do chúng sanh vô lượng, tâm tư vô lượng, nên mới có Tam Tạng kinh điển, để đối ứng căn cơ của chúng sanh mà nói.

Ngày hôm qua đă nói về câu đầu tiên là “vạn nhân tu, vạn nhân khứ”. Hôm nay nói về câu thứ hai “đới nghiệp văng sanh”. Phàm ai tu Tịnh Độ cũng biết nói câu này.

Tu các pháp môn khác, cần phải đoạn Kiến Tư Hoặc mới có thể liễu sanh tử, xuất tam giới; nhưng đa số chẳng biết Kiến Tư Hoặc là cái ǵ. Bởi thế, người thành công khá hiếm. Lại c̣n có lối nói “nghiệp tận t́nh không”. “T́nh không” chính là t́nh thức hoàn toàn biến thành trí huệ, thấu rơ bổn tánh. Mức độ “nghiệp tận t́nh không” thấp nhất là chứng quả A La Hán, hiện tại có mấy ai làm được?

 

* Đới nghiệp văng sanh

 

Câu “đới nghiệp văng sanh” là chỉ người tu Tịnh Độ mà nói; đối với các pháp môn khác nếu đới nghiệp th́ tuyệt đối chẳng thể giải thoát, chẳng thể liễu sanh tử. Nhưng đa phần người tu Tịnh Độ hiểu lầm là dù c̣n tạo tội nghiệp vẫn có thể văng sanh, vẫn có thể thành tựu. Do nói như vậy nên trong mười người tu, tám chín người chẳng thành công được.

 Trong hai mươi lăm năm tại Đài Trung, có hơn hai ngàn vị đồng tu đă qua đời, nhưng lúc mất có lưu lại tướng văng sanh để chứng nghiệm th́ chẳng nhiều hơn mười người. Sao lại đáng buồn đến thế ấy?

Ư nghĩa chân thực của việc “đới nghiệp văng sanh” là như sau:

 

a. Nghiệp là túc nghiệp thiện ác

 

Nghiệp là những tội nghiệp đă tạo. Phải biết là ai cũng do thân, khẩu, tạo mười ác nghiệp, nhưng chẳng phải là gây tạo trong đời này, mà là từ trong bao kiếp lâu xa luân hồi trong lục đạo đă tạo vô lượng, vô biên tội nghiệp. Kinh nói: “Nếu tội nghiệp có h́nh thể sẽ sớm chật cả hư không”. Tạo tội th́ phải đền trả trong lục đạo. Tội cũ chưa xong, đă gây nghiệp mới, làm sao giải thoát được? V́ thế trong ngàn vạn người, không một ai được giải thoát.

Hoặc bảo: “Niệm Phật một tiếng tiêu trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Ai ai cũng nghĩ là niệm Phật tiêu tội. Điều này không sai, nhưng “Đạo cao một thước, Ma cao một trượng”. Sức Ma lớn là v́ ma sự nhiều. Chúng sanh từ bao kiếp lâu xa đến nay toàn làm ma sự, bây giờ chỉ niệm Phật dăm ba năm th́ làm sao tiêu được? “Ma cao” là ma nghiệp nhiều. Niệm Phật tiêu nghiệp là như lửa nung chảy băng. Ví như khối băng to như cái bàn, đốt ngọn lửa nhỏ như đầu nén hương th́ lửa ít, băng nhiều, làm sao tan băng được? V́ thế người tu hành mới thấy sức ma lớn lao, Phật lực không linh; bởi thế lắm kẻ thoái chuyển. Nhưng nếu chẳng tu hành th́ một phân đạo cũng không có. Chúng ta có được một phân, một tấc đạo là đă chẳng uổng rồi!

 

b. Đoạn Hoặc giải thoát theo cách thông thường

 

Ngoại trừ Phật pháp không có biện pháp nào khác để thoát khỏi luân hồi. Các tôn giáo khác đều cho rằng Thượng Đế là chí cao vô thượng, nhưng Thượng Đế vẫn c̣n ở trong luân hồi lục đạo. Mục tiêu của nhà Phật là thoát luân hồi. Làm thế nào để thoát? Phải “nghiệp tận t́nh không”, nghiệp trong nhiều kiếp lẫn nghiệp hiện tại phải nhất loạt tiêu sạch. Đời này không tiêu hết th́ gắng tiêu trong ngàn kiếp, vạn kiếp. Thành bậc A La Hán c̣n phải sanh tử trong nhân gian hay cơi trời bảy lần mới đoạn hết Kiến Tư Hoặc, liễu sanh tử, nhưng vẫn c̣n Trần Sa Hoặc chưa đoạn. Đủ thấy đoạn Kiến Tư Hoặc khó khăn. Ví như có vạn phẩm Hoặc, dù đoạn được chín ngàn chín trăm chín mươi chín phẩm, vẫn c̣n một phẩm chưa đoạn th́ cũng chưa giải thoát. Học nhân học Phật hơn năm mươi năm, một phẩm c̣n chưa đoạn được, biết làm sao đây?

 

c. Đới nghiệp là chế phục nghiệp hoặc chẳng cho chúng khởi dậy

 

Học nhân tu hành, giảng kinh năm mươi năm, gặp được vài vị minh sư, đối với học lư cũng biết được một hai phần, nhưng một phẩm Hoặc cũng chưa đoạn được. Quư vị tu hành chưa lâu, Hoặc là thứ ǵ c̣n chưa biết rành th́ đoạn Hoặc sao được? Khác nào mài đao chẳng biết đao như thế nào th́ mài sao được?

Chúng ta chưa đoạn được Hoặc th́ chẳng thể giải thoát. V́ thế đức Thích Ca Mâu Ni đại từ, đại bi nói ra pháp môn Tịnh Độ, dạy chúng sanh niệm A Di Đà Phật, chẳng cần phải đoạn Hoặc, chỉ cần chế ngự được Hoặc liền có thể giải thoát.

Đoạn Hoặc và Phục Hoặc (chế ngự Hoặc) khác nhau như thế nào? Đoạn Hoặc giống như trong chén đă thanh tịnh, vô nhiễm, dù có nghiêng đi cũng chẳng đổ cát bụi ra. Phục Hoặc giống như trong chén có cát bụi, dùng vật khác đậy lên, có nghiêng chén cũng chẳng đổ bụi ra, nhưng cát bụi vẫn c̣n chứa bên trong. Nghiệp tận chẳng bị luân hồi, tu Tịnh phục Hoặc th́ cũng chẳng lọt trong lục đạo.

Nhưng Hoặc vẫn c̣n th́ phải làm sao? Luôn luôn dùng sáu chữ hồng danh đè nén chúng, lâu ngày thuần thục, đến lúc mạng chung, nếu khởi tâm niệm Phật th́ các tạp niệm bị chế phục chẳng khởi lên nên có thể mang theo nghiệp đi văng sanh (đới nghiệp văng sanh). Sanh qua cơi kia rồi mới đoạn Hoặc, chỉ mấy ngày là thành công. Đấy là Phục Hoặc.

 

d. Phục Hoặc th́ tâm và Phật giao cảm với nhau

 

Chỉ cần chế phục Hoặc sẽ chẳng tạo nghiệp nữa, nên sẽ cảm ứng đạo giao cùng Phật. Đấy chính là ư nghĩa chân thực của “đới nghiệp văng sanh”, tuyệt đối chẳng phải là vừa niệm Phật, vừa tạo tội vẫn được văng sanh!

 

* NHẤT TÂM BẤT LOẠN

 

Đây là điều dùng để chứng minh công phu, nay tôi sẽ giải thích sơ lược.

 

1. Đắc Nhất Tâm th́ quyết định thành tựu

 

Đắc Nhất Tâm nhất định thành tựu, v́ chính là đắc đại định.

 

2. Nhất định phải theo thứ tự tấn tu

 

Nhất định chẳng thể vừa tu liền thành ngay, phải tấn tu từng bước một, như châu gieo xuống nước, lần lượt ch́m dần.

 

3. Muốn thành công th́ phải tu tập dần dần mới thành tựu trọn vẹn được

 

Muốn thành công th́ phải tu dần dần th́ mới có thể viên dung. Hằng ngày ở nhà phải luyện Nhất Tâm th́ đến đây mới ḥng luyện được Nhất Tâm. Nếu không th́ dù có nhập thất hơn ba trăm ngày tâm vẫn loạn, dự một kỳ Phật thất ngắn ngủi này làm sao đạt được Nhất Tâm? Đấy chẳng phải là cầu may, may ra được Nhất Tâm hay sao? Hăy nên tự hỏi ḿnh, đừng hỏi ai khác.

 

4. Thành tựu Nhất Tâm chính là ác niệm chẳng khởi

 

Nếu đắc Nhất Tâm th́ giết, trộm, dâm, tham, sân, si chẳng khởi. Nên biết rằng ác khởi chính là ma. Tâm chúng ta dù khởi ác, nhưng nếu chế phục chúng chẳng cho phát tác th́ liền có thể thành công.

Kệ rằng:

“Nhất niệm độc tâm sanh”: “Độc” chính là ác niệm. Khởi ác niệm th́ làm việc hại người.

Nếu độc tâm vừa sanh th́ hăy “gấp dùng một câu Phật hiệu” đàn áp, mau mau dùng “nam mô A Di Đà Phật” để trấn áp. Đấy chính là “phục hoặc”.

“Ác ngôn bất xuất khẩu”: Lời hại người, bốn nghiệp miệng chẳng để xảy ra.

“Tổn nhân sự mạc tác” (việc hại người đừng làm): phàm là những việc tổn hại người hoàn toàn chẳng làm, cắn chặt răng, bất luận là tự ḿnh phải chịu khổ sở, thiếu hụt đến đâu, giữ ḿnh chẳng tạo ác. Chẳng tạo chính là “phục”.

“Cửu cửu tự thành nhiên” (lâu ngày ắt sẽ thành tự nhiên): Làm như vậy chẳng khó lắm ư? Lúc ban đầu tuy khó, nhưng lâu dần quen đi sẽ thành tự nhiên.

“Văng sanh khả đới nghiệp”: Do chế ngự được Hoặc, lại có thể niệm Phật nên liền có thể mang nghiệp đi văng sanh.

“Thị danh phục hoặc pháp, chân thật bí mật quyết” (Đây gọi là yếu quyết chân thật bí mật của pháp chế phục hoặc): Đây chính là yếu quyết chân thật, bí mật. Nếu có thể thực hành theo đó th́ nhất định được văng sanh.

Này quư vị!

Hăy buông xuống vạn duyên, đề khởi chánh niệm.

Một câu Di Đà, thẳng thừng mà niệm.

         

* Bài kệ của Tuyết Sư lăo nhân:

         

Nhất niệm tâm sanh độc,

Cấp áp nhất Phật thanh,

      Ác ngôn bất xuất khẩu,

Tổn nhân sự mạc tác,

Cửu cửu tự thành nhiên,

Văng sanh khả đới nghiệp,

Thị danh phục hoặc pháp,

Chân thật bí mật quyết

 

Tạm dịch:

Một niệm độc tâm khởi,

Phật hiệu đè gấp ngay,

Lời ác trọn chẳng thốt,

Việc tổn người chớ làm,

Lâu ngày trở thành thói,

Được đới nghiệp văng sanh,

Đây bí quyết chân thật,

Bí mật để phục hoặc.

 

III. KHAI THỊ TRONG DỊP KẾT THẤT NIỆM PHẬT ĐẦU XUÂN GIÁP NGỌ

(đệ tử Du Nhược Thu kính ghi)

 

Tại gia kết thất niệm Phật chính là cách tiện lợi nhất trong các phương tiện Phật thất niệm Phật. Nhưng muốn niệm Phật được lợi ích lớn th́ lại cần phải hiểu rơ đạo lư. Nếu chẳng hiểu rơ đạo ư th́ dù có được lợi ích cũng chẳng lớn lao ǵ. Bởi lẽ, đối với hai nghiệp thân khẩu th́ miệng niệm Phật, thân ngồi trong đạo tràng, ít ra cũng chẳng tạo nghiệp; nhưng v́ tâm chẳng dễ nắm bắt nên vẫn khó tránh khỏi tạo nghiệp.

Do v́ tâm là Lư. Lư chẳng rơ th́ chính là phàm phu mê hoặc điên đảo. Phải hiểu Lư ấy như thế nào? Phàm học Phật th́ bất luận là mười năm hay một trăm năm cũng chẳng ngoài hai chữ “phước, huệ”. Kinh dạy: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước đức nhân duyên để được sanh về cơi ấy”. Kẻ mới học Phật quá nửa chú trọng tu Phước, người tu lâu hay chú trọng tu Huệ. Kỳ thật, Phước Huệ là một khối, chẳng thể tách thành hai điều riêng rẽ. Nay tôi giải thích lư này, chứ chẳng dám nói là Khai Thị, lại xin quư vị nghe kỹ; nghe xong rồi nghiên cứu kỹ càng.

Chư vị đồng tu nghĩ xem niệm Phật là để làm ǵ? Chẳng ngoài hiện tại tiêu trừ tai nạn, tương lai được văng sanh Tây Phương. Tiêu tai khỏi nạn chính là tu Phước. Văng sanh Tây Phương chính là tu Huệ. Nếu hiện tại chẳng thể tiêu tai, khỏi nạn th́ là chưa có phước. Hiện tại đă chẳng thể tiêu tai khỏi nạn th́ tương lai rất khó bảo đảm được văng sanh. Chẳng thể văng sanh Tây Phương chính là không có Huệ, là v́ chưa đắc Nhất Tâm. Lẽ này quá b́nh thường, cũng rất dễ hiểu rơ.

Chư vị đồng tu nghĩ xem phải làm sao để hiện tại tiêu tai khỏi nạn? Nói chung, xét ra là chẳng thể làm được là v́ quá khứ đă tạo nghiệp, ắt phải chịu báo, muốn khỏi thọ báo th́ đừng tạo nghiệp. Nghiệp quá khứ đă tạo vô phương cứu văn, chỉ c̣n cách từ nay trở đi phải thay đổi tấm ḷng, đem tâm biến thành “A Di Đà Phật”, nghĩ tưởng thanh tịnh, chẳng tạo nghiệp nữa.

Trong số quư vị đây, ắt có người nghĩ ḿnh niệm Phật đă lâu nhưng sao chẳng đắc lực. Đấy là v́ thời gian ta niệm Phật hiện tại rất ngắn, mà nghiệp đă tạo từ vô thỉ đến nay lại rất nhiều. Trong kinh dạy: “Nếu ác nghiệp có h́nh tướng th́ trọn cơi hư không cũng chẳng thể chứa hết nổi”. Ví như một gian nhà lớn bốc cháy đùng đùng, toan cầm một chén nước tạt vào mong dập tắt lửa th́ đấy là chuyện bất khả. Chỉ có cả xe nước lớn của xe chữa lửa, lại liên tục phun thêm nước vào, khiến cho lửa chẳng lan rộng thêm th́ mới có thể dập được lửa.

Lửa đó ví như vô minh, phiền năo, nước như cam lồ Phật pháp. Nước diệt được lửa là ví cho Phật pháp có khả năng đối trị phiền năo. Nhưng muốn diệt được phiền năo nhiều đời, nhiều kiếp th́ chỉ có nhất tâm niệm Phật mới đắc lực. Kinh dạy: “Chí thành niệm Phật một tiếng diệt được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Quư vị đồng tu phải nghiến răng quyết từ nay trở đi đừng làm các điều ác, giống như chẳng đến bên đống lửa lớn bỏ thêm các chất đốt như củi, than, dầu hỏa v.v... Lại càng thêm khẩn mật dụng công niệm Phật, giống như đem từng xe, từng xe nước đến dập lửa. Nhưng dập tắt lửa chẳng cần phải dập hoàn toàn, chỉ cần dập tắt chừng bảy phần, ba phần lửa sót lại do v́ có hơi nước hiện diện cũng dần dần giảm yếu. Cuối cùng rồi cũng tắt hết. Quư vị đồng tu cứ làm theo đúng như thế th́ chẳng lâu sau, tự ḿnh cũng có thể niệm Phật đến chỗ đắc lực được.

          Bây giờ, tôi giảng v́ sao Phước và Huệ là một khối chặt chẽ? Bổn tánh vốn thanh tịnh, quang minh, nhưng do vô minh che lấp nên quang minh chẳng xuất hiện được, khác nào tấm gương bị bụi lấp nên chẳng soi tỏ được. Hiện tại tu Phước giống như dùng khăn lau chùi gương. Chỉ cần bụi rớt đi th́ ánh sáng sẽ tỏa ra. V́ thế, tu Phước chính là tu Huệ. Các tông khác minh tâm kiến tánh, chứng quả A La Hán rồi mới có thể liễu sanh thoát tử. Niệm Phật th́ niệm đến Nhất Tâm Bất Loạn bèn thoát khỏi tam đồ lục đạo.

Hôm nay, tôi toàn giảng về Niệm Phật, toàn là những chuyện b́nh thường, rất dễ thực hành, c̣n việc đàm huyền luận diệu th́ hăy tạm chẳng nói đến bởi các vị đồng tu khi nghe giảng kinh đă từng nghe qua rồi. Hiện tại, tôi chuyên giảng phương pháp dụng công tu tập. Phật pháp có mười tông phái lớn, nhưng chỉ có pháp Niệm Phật của Tịnh Độ Tông là hữu dụng. Pháp Niệm Phật của các tông khác chưa rốt ráo nên vẫn chưa hữu dụng. Như có ba cách cứu hỏa, chẳng dùng nước cũng có thể diệt được lửa. Nếu lúc cứu hỏa không có nước th́ có thể dùng một cái móc lớn kéo sập cả căn nhà. Nóc đổ, tường đổ cũng diệt được lửa. Điều này ví như các tông khác chẳng nhờ vào Phật lực cũng có thể liễu sanh tử. C̣n cách chữa lửa của Tịnh Độ tông là trước hết khiến cho thế lửa chẳng mạnh thêm, rồi mới đem từng xe nước dập lửa. Đây chính là ngoài Tự Lực c̣n có thêm Phật lực. Trong các pháp môn, pháp môn Nhị Lực này đặc biệt nhất.

Pháp môn này đă trọng yếu như thế th́ phải niệm cách nào? Có hai phương pháp niệm Phật: một là niệm Phật, hai là nhớ Phật (ức Phật).

Niệm là niệm ở đâu th́ chú tâm tại đó, tức là khi niệm Phật th́ tâm đặt nơi Phật, tâm chính là Phật. Chẳng hạn lúc chúng ta niệm Phật hai thời sáng tối th́ niệm do tâm khởi, tiếng từ miệng thoát ra lại lọt vào tai, tâm nhớ lấy. Ba nghiệp thân, khẩu, ư cùng hợp lại niệm. Kinh dạy: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối”.

Lúc niệm cốt cho tinh chứ không cầu nhiều. Tổ sư nói: “Chỉ cần niệm được 108 câu chẳng loạn. Nếu có một câu niệm sai lạc liền lần chuỗi niệm lại từ đầu”. Niệm được 108 câu Phật hiệu từng câu phân minh, nhớ rơ chẳng lầm lạc mới tốt. So với niệm cả ngàn câu, vạn câu mà tâm tán loạn th́ lợi ích [của việc niệm Phật chẳng tán loạn] phải lớn hơn. Quư vị đồng tu đừng coi thường 108 câu đó. Nếu quả thực quư vị có thể niệm được 100, 200 câu chẳng loạn th́ công phu đă chẳng uổng phí rồi. Chỉ e chẳng có mấy người niệm được đến cả ngàn câu mà chẳng loạn. Đây là lời chân thật!

Khi niệm Phật phải buông xuống vạn duyên, chẳng luận là niệm bốn chữ, sáu chữ, đều phải đặt chắc toàn tâm toàn ư vào câu Phật hiệu. Giả sử bốn bề cháy to, vẫn cứ niệm Phật như thế chẳng gián đoạn, chẳng loạn. Niệm Phật phải có sức mạnh như thế, tâm luôn thường hằng như thế th́ mới thành tựu được.

Nhưng người tại gia khác với hàng xuất gia. Từ sáng đến tối đều phải làm lụng, bởi đối với người xuất gia th́ củi, gạo, dầu, muối... đều chẳng quản đến; nhưng người tại gia có các nghề nghiệp: sĩ, nông, công thương, nghiệp để mưu cầu sự sống. V́ thế, người tụng niệm một ngày ba thời, năm thời không nhiều. Người một ngày có thể niệm Phật đến 3 tiếng đồng hồ chẳng hiếm lắm, nhưng hai mươi mốt giờ kia đều tán loạn, tạo nghiệp. Đại đa số khóa sáng niệm nhiều, khóa tối niệm ít, hoặc khóa sáng niệm ít, khóa tối niệm nhiều. Công phu niệm Phật như vậy khác ǵ nửa chén nước, làm sao cứu hỏa được. Nhưng đức Phật có pháp phương tiện, đó là “ức Phật”.

Ức là nhớ rơ chẳng quên. Đi, đứng, nằm, ngồi, mặc áo, ăn cơm đều chẳng hề quên. Dẫu cho vào chỗ nhà xí dơ bẩn nhất, trong tâm vẫn phải có Phật, nhớ cho thật rơ ràng, rành rẽ. Quư vị nghĩ xem có việc ǵ mà khiến ḿnh dính vào th́ đều quên tuốt mọi thứ không? Đó là việc ǵ vậy? Chính là “ăn”. Chim v́ tham ăn mà bị bắt nhốt vào lồng, cũi. Cá do ham mồi nên mắc câu. Có thể nói là hết thảy chúng sanh đang sống bị chết đi đều là v́ cái ăn. Chúng ta mỗi ngày làm lụng cực nhọc phi thường, chịu đựng mọi thứ nhục nhằn, oan uổng, khổ sở, gian nan cũng đều là v́ cái ăn. Có lúc bụng ḿnh chẳng đói nhưng đến bữa cứ ăn. Nếu niệm Phật cũng giống như ăn vậy th́ tự nhiên sẽ thành công.

 

IV. KHAI THỊ TẠI PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM MẬU NGỌ

(đệ tử Ngô Thông Mẫn kính ghi)

 

Hôm nay là ngày kết thất thứ nhất. Việc đầu tiên là phải hiểu ư nghĩa của việc kết thất chính là “khắc kỳ cầu chứng”. Tu pháp môn Niệm Phật của Tịnh Độ th́ phải đạt Nhất Tâm Bất Loạn mới có thành tựu. Kết thất niệm Phật bảy ngày, nếu khéo công phu th́ niệm một ngày liền đắc Nhất Tâm. Muốn được vậy phải tu nhiều năm, phải là người hiểu giáo lư mới có thể làm được. Thứ đến là hai, ba, bốn, năm, sáu ngày chẳng nhất định. Tiếp đó là phải niệm đến ngày thứ bảy mới chứng Nhất Tâm. Đấy là nói về những người thanh tịnh cả bảy ngày, ngày đêm niệm Phật không ngừng, trong bảy ngày liền đoạn được Kiến Tư Hoặc. Chỉ có người đoạn được Kiến Tư Hoặc mới là người thực sự đắc Nhất Tâm.

Nhưng đoạn được Kiến Tư Hoặc rất khó, v́ thế có một phương pháp đặc biệt: trước hết chỉ cầu chế ngự được Hoặc mà thôi. Nghĩa là lúc Hoặc khởi dậy th́ liền dùng Phật hiệu chế phục nó. Công phu luyện đến thuần thục th́ hễ Hoặc khởi liền chế ngự được. Được vậy th́ cũng gần giống như đắc Nhất Tâm, cũng có thể đới nghiệp văng sanh.

Các tông tu hành chẳng ngoài việc “chánh trợ song tu”. Chánh công phu là trừ khử vọng niệm, thấu triệt tâm tánh; trợ công phu là công phu giúp hiển lộ tâm tánh, trừ khử những ma chướng phát sanh bởi dụng công. Nay tôi theo thứ tự nói sơ lược những pháp tu Chánh và Trợ của Tịnh Độ.

Trước hết nói về Chánh Công Phu. Trong ṿng bảy ngày, lúc nào cũng phải giữ ḷng cung kính. Một phen bước vào cửa chùa th́ cũng như vào gặp Phật. Pháp thân của Như Lai ở khắp mọi nơi, chẳng phải chỉ ḿnh tượng Phật trên đại điện mới xem là Phật, mà thật ra một sắc, một hương không thứ nào chẳng phải là diệu sắc, diệu tâm của Phật. Đối với mỗi hoàn cảnh, nơi chốn như thế đều xem như là Phật th́ ngôn hạnh tự nhiên cung kính, chẳng c̣n lười nhác nữa. Cung kính chính là bí quyết để hướng đến Bồ Đề. Đây là tầng công phu thứ nhất.

Khi đă ngồi yên rồi th́ phải buông xuống vạn duyên, quét sạch mọi vọng niệm tạp sự thường ngày. Sau đấy mới gom tâm về một chỗ, buộc tâm nơi câu hồng danh. Giống như nơi ḍng nước chảy xiết phải buộc chặt thuyền bè vào cột th́ mới khỏi bị nước cuốn. Đây là tầng công phu thứ hai.

Kế đó, trong khi tŕ danh, phải giữ sao cho sáu chữ hồng danh từ tâm tưởng khởi, từ miệng phát ra, nghe lọt vào tai, ví như ba cái bánh xe xoay vần qua lại, cốt sao tâm tưởng thật trong sáng, rơ ràng, miệng niệm được rơ ràng, tách bạch, tai nghe rơ ràng, rành mạch. Tự niệm, tự nghe như thế, từng chữ dựa chặt vào nhau, trong khi niệm đừng đánh mất một câu nào. Đây là tầng công phu thứ ba.

Thêm nữa, lúc chúng ta niệm Phật, chẳng luận là miệng tụng hay ư tŕ, hăy nên giữ cho không có tạp âm, chỉ c̣n mỗi ḿnh tiếng niệm Phật. Do A Di Đà Pháp Thân ở khắp mọi nơi, Phật quang cũng chiếu thấu khắp nơi. V́ thế lúc niệm Phật, từ nơi ta phát ra tâm thanh (âm thanh phát xuất từ tâm), tâm thanh ḥa nhập vào Phật quang, Phật quang lại nhập vào tâm thanh. Tâm thanh và Phật quang dung thông như thế th́ ta chính là Di Đà, Di Đà chính là ta. Đây là tầng công phu thứ tư.

          Theo đúng những điều vừa nói ở trên, tinh tấn tu tập từng tầng, khiến cho chỗ chín biến thành chỗ sống, chỗ sống chuyển thành chỗ chín. Đến khi đạt đến tầng thứ tư th́ chính là ngày thành tựu Nhất Tâm vậy.

          Tiếp đến nói về Trợ Công Phu. Chánh Công Phu cố nhiên là thẳng chóng, ổn thỏa, thích đáng, nhưng chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay quen thói phiền năo đă sâu, vọng niệm tơi bời; nay muốn dùng một câu Phật hiệu đè nén chúng cho khỏi tạo nghiệp, không c̣n vọng tưởng, th́ tuyệt đối chẳng thể thực hiện được điều đó trong một thời gian ngắn. V́ thế, phải dùng Trợ Hạnh để giúp sức.

Nếu có thể hằng ngày tự cảnh tỉnh, quan sát lỗi ác của chính ḿnh, thành tâm sám hối, mong tiêu nghiệp chướng, thấy người khác làm lành liền tùy hỷ, tán thán để tăng phước đức; tùy hỷ, sám hối như thế đều hồi hướng văng sanh Tây Phương th́ đấy chính là Trợ Hạnh thứ nhất.

          Tiếp đến là pháp Hân Yểm (ưa thích và nhàm chán). Trong các sanh hoạt thường nhật, chẳng luận là ăn, mặc, đi, đứng, đối với mọi thứ trong cơi Sa Bà đều nhất loạt coi là ô uế mà chán ĺa. Đối với các thứ trang nghiêm được diễn tả trong ba kinh Tịnh Độ đều tưởng là thanh tịnh, sanh ḷng ưa thích. Chán ĺa th́ không tâm tham luyến. Vui mừng, hâm mộ th́ tự tăng thêm ư nguyện cầu sanh. Đến khi hân yểm cùng cực th́ thân tuy ngụ Sa Bà, nhưng chẳng c̣n là khách trọ lâu ngày trong cơi Sa Bà nữa; tuy chưa chứng Cực Lạc, nhưng đă sớm là người thường trú chốn Liên Bang. Đây chính là yếu quyết mầu nhiệm của Tịnh Tông, chẳng thể nói là giống như những lời lẽ “bất hân bất yểm” của các tông khác. Đây chính là Trợ Hạnh thứ hai.

          Thêm nữa, về pháp phương tiện để chế ngự Hoặc, nên biết rằng niệm Phật chẳng được Nhất Tâm là do vọng niệm làm loạn. Nhưng vọng niệm chính là Hoặc, mà cũng chính là Ma. Kinh Niết Bàn dạy: “Tu Đà Hoàn đoạn Kiến Hoặc như cắt đứt ḍng sông chảy mạnh rộng bốn mươi dặm”. V́ thế muốn đoạn ngay được Hoặc thật chẳng dễ dàng. Nay có cách tạm cầu chế ngự được Hoặc. Cổ đức bảo: “Bất phạ niệm khởi, đản khủng giác tŕ” (chẳng sợ niệm khởi, chỉ sợ biết chậm). Nếu cứ hễ ư niệm khởi liền có thể nhận biết, biết rồi liền dùng Phật hiệu chế ngự nó. Ma đến, Phật chế ngự như thế, ví như dùng đá đè cỏ. Đè lâu ngày, Hoặc chẳng thể tự khởi, cũng được “phương tiện Nhất Tâm”, đợi đến khi sanh về Tây Phương rồi sẽ lại đoạn Hoặc. Đây chính là pháp đặc biệt của Tịnh Độ, chẳng thể dùng lư lẽ của các tông khác để cật vấn được. Đây chính là Trợ Hạnh thứ ba.

          Hy vọng mọi người bảy ngày sau đây, vô luận là đang ở trong đạo tràng hoặc đang trên đường về nhà đều tu như thế. Tiếp theo đây tôi dùng một bài kệ để kết luận:

          Tịnh Độ nan tín khước dị hành,

          Toàn do nhị lực chánh trợ công

          Tất đắc Nhất Tâm phương hữu hiệu,

    Phương tiện phục hoặc tức cảm thông

    (Tịnh Độ khó tin nhưng dễ hành,

    Toàn do hai lực, chánh và trợ,

    Phải đắc Nhất Tâm mới hữu hiệu,

    Phương tiện chế Hoặc liền cảm thông)

 

Sau cùng xin mọi người buông xuống vạn duyên, thẳng thét mà niệm một câu A Di Đà Phật!

 

V. KHAI THỊ PHẬT THẤT TẠI CHÙA LINH SƠN NĂM MẬU NGỌ (lần thứ nhất)

(Tư Thục Điền Kế Nghiêm kính ghi, đệ tử Ngô Bích Hà giảo chánh)

 

Thưa chư vị lăo sư, chư vị đồng tu,

Hôm nay là ngày kết thất thứ nhất. Riêng tại Đài Trung, sau khi quang phục (1), bắt đầu kết thất tại chùa Linh Sơn, tính đến nay kết thất cũng gần được ba mươi năm rồi. Nói đến việc mở Phật thất suốt ba mươi năm chưa hề gián đoạn th́ thật là điều rất khó có được, hoàn toàn là do nhân duyên. Hôm nay tôi xem thấy những bạn đồng tu trong đạo tràng này, đồng tu cũ cũng có, đồng tu mới cũng có, giảng nói càng khó hơn, biết làm sao đây? Nếu giảng sâu th́ bạn đồng tu mới nghe sẽ chẳng hiểu. Nói sơ lược ư? Lại sợ bạn cựu tu đă nghe qua nhiều lần rồi. V́ thế, tôi chọn lấy những điều trọng yếu mà tŕnh bày.

Trước hết luận về kết thất. Kết thất chú trọng nơi thực hành niệm Phật, hoàn toàn chẳng phải là để giảng kinh, giảng giáo lư. Trước hết, phải hiểu rơ như thế! Đă là để nghiên cứu thực tu th́ nói càng ít càng tốt, nên tôi bèn chuyên giảng “làm thế nào để đạt được Nhất Tâm”. Ngoại trừ điều này ra, chỉ nói in ít, nói nhiều càng thêm phiền. Gây phiền thêm để làm ǵ? Mọi người đến đây để cầu Nhất Tâm, nghe tôi thuyết pháp nhiều th́ tâm càng loạn. Xin quư vị hiểu cho điều này.

Trước hết, dùng mấy lời như vậy để minh định rơ ràng. Hôm nay là ngày đầu tiên, trước hết, cần phải tu hành đúng như pháp. Tu hành pháp môn nào cũng phải có biện pháp của pháp môn đó, phải dựa vào những biện pháp do Phật, Tổ đă dạy chúng ta. Nếu như tự ḿnh suy diễn những cách tu không dựa vào Phật pháp, hoặc dùng những phương pháp tu của các pháp môn khác để tu th́ là sai lầm vậy. Mỗi một pháp môn có cách tu riêng của nó.

“Trở về nguồn không hai đường”, thế nào là không hai đường? Nói chung là để minh tâm kiến tánh, pháp nào chẳng thể minh tâm kiến tánh th́ chẳng tu. Do có nhiều môn phương tiện nên phương pháp cũng chẳng đồng nhất. Chẳng hạn như trong nhà Phật có rất nhiều tông phái, nhưng trong hai phái tối trọng yếu th́ một là Thiền. Thiền chú trọng vào Không, thường quán Không, hễ ngộ được một chữ Không th́ rất tốt. Nhưng Tịnh Độ tông chẳng giống vậy. Tịnh Độ Tông chú trọng quán Hữu. Có phải là hai tông này mâu thuẫn nhau không? Kỳ thật chẳng hề mâu thuẫn nhau dù chỉ một điểm. Điều này có giáo lư đấy, nhưng hôm nay tôi chẳng giảng giáo lư, chỉ giảng những ǵ quư vị có thể dựa theo đó mà tu cho tốt. Nếu muốn hiểu kỹ về mặt giáo lư th́ chúng tôi có giảng kinh tại thư viện hoặc liên xă, chứ chẳng phải chỉ giảng kinh ở một chỗ, quư vị có thể đến đó nghe.

 Ở đây tôi chỉ chuyên giảng sao cho quư vị đạt được Nhất Tâm, để bảy ngày kết thất này của quư vị không bị uổng phí. Trong kỳ kết thất này, nếu chẳng đắc Nhất Tâm th́ uổng công rồi. Quư vị phải biết là trước tiên phải nhớ kỹ những lời giảng trong ngày thứ nhất, mấy ngày sau đó quư vị nghe người khai thị nói ǵ cứ thực hành theo đó là ổn.

Ở đây chúng ta tu Tịnh Độ, kết thất niệm Phật bảy ngày. Niệm Phật bảy ngày để làm ǵ? Người khéo công phu niệm một ngày liền đạt Nhất Tâm. Chẳng phải là người hằng ngày luôn niệm Phật th́ hôm nay đến đây niệm Phật một ngày không cách chi đắc Nhất Tâm được! Phải là người đă tu hành ít nhiều năm, hiểu rơ giáo lư rồi, chỉ v́ một ḿnh người ấy tu tŕ chẳng thể đắc Nhất Tâm, đến đây tham dự Phật thất mới có thể đắc Nhất Tâm. Nếu công phu chưa khéo th́ từ một ngày đến bảy ngày chi đó bèn đắc Nhất Tâm. Đây là nói về hạng người nào? Là hạng người tinh tấn suốt bảy ngày, chứ chẳng giống như bọn ḿnh, mỗi ngày niệm vài cây hương là thôi. Họ niệm ngày đêm không nghỉ nên bảy ngày liền đắc Nhất Tâm.

Nói cho quư vị nghe điều thật tuyệt diệu này: Đạt Nhất Tâm chính là đă đoạn được Kiến Tư Hoặc trong ṿng bảy ngày. Điều này trong kinh không giảng rơ v́ sợ quư vị tự tổn hại ḿnh. Đoạn hết Kiến Tư Hoặc th́ đạt được Nhất Tâm, chẳng đoạn được Kiến Tư Hoặc th́ không thể đắc Nhất Tâm. Là v́ nếu Hoặc chưa đoạn th́ chúng vẫn c̣n khuấy loạn trong tâm, quư vị đạt Nhất Tâm sao được? Bởi vậy mới bảo: Nếu công phu chẳng tận sức th́ dù có niệm cả trăm năm cũng chẳng được Nhất Tâm! Nếu thế th́ biết làm cách nào đây? 

Tịnh Độ tông có một phương pháp đặc biệt là chế phục Hoặc. “Chế phục Hoặc” nghĩa là mỗi khi vọng niệm khởi lên, bèn dùng A Di Đà Phật đè nén vọng niệm, hễ vọng niệm khởi bèn dùng niệm Phật đối trị. Cách này rất đơn giản, chỉ cần niệm thuần thục là làm được. Nhưng trong cả ngàn người, khó kiếm được một người niệm thuần thục. Đại đa số, hễ một vọng niệm khởi th́ vọng niệm khác liền tiếp nối, rong ruổi theo vọng niệm, chẳng biết đè nén vọng niệm, dùng A Di Đà Phật để đè nén chúng. Đây là một công phu đơn giản nhưng lắm người chưa làm được là v́ duyên cớ nào? Là v́ nhiều đời, nhiều kiếp đến nay, họ nghĩ đến vọng niệm quá thuần thục rồi nên tuyệt đối chẳng thể dùng “A Di Đà Phật” để đàn áp vọng niệm được, có nói cũng chẳng nghe. Nếu như vậy th́ chẳng c̣n biện pháp nào cả. Quư vị phải hiểu rơ điều này.

 Trên đây, tôi thưa chuyện cùng quư vị mấy câu như vậy là nhằm tŕnh bày những việc quư vị cần phải hiểu rơ trước khi đả thất, chứ chưa khuyên quư vị phải nên thực hành cách nào; giờ đây tôi sẽ thưa. Sau này quư vị sẽ thấy những lời ấy cũng rất b́nh thường. Quư vị đừng phân biệt là b́nh thường hay không, cả sáu chữ “nam mô A Di Đà Phật” kể ra rất b́nh thường, nhưng sao nhiều đời, nhiều kiếp vẫn không niệm được?

Chúng ta tu hành thực tiễn, chẳng cần biết là tu theo tông nào, nói chung tông nào cũng đều có hai phương diện:

- Một là “chánh công phu”. Thế nào là Chánh Công Phu? Thực hành Chánh Công Phu chẳng ngoài mục đích để Tu Hành. Khai trừ, khử sạch những Kiến Tư Hoặc, những thứ loạn tạp rối bời trong tâm quư vị th́ gọi là Tu Hành. Chúng sanh ai nấy đều có Phật Tánh. Bổn tánh của quư vị chính là Phật Tánh, nhưng đáng tiếc là tánh ấy bị các thứ bại hoại che đậy. Biện pháp để trừ khử hết sạch những thứ bại hoại ấy th́ gọi là “Chánh Công Phu”.

- Ta hiểu được những ǵ bại hoại cần phải đào thải khỏi tâm này là một chuyện, nhưng trừ bịnh đâu phải là chuyện dễ, v́ thế cần phải có công phu hỗ trợ (Trợ Công Phu). Mỗi một tông có công phu hỗ trợ riêng. Hôm nay tôi sẽ v́ quư vị phân biệt rơ phải thực hiện Chánh Công Phu và Trợ Công Phu như thế nào.

Quư vị đến dự Phật thất là v́ muốn đạt Nhất Tâm. Đoạn Hoặc là Nhất Tâm, chế ngự được Hoặc cũng là Nhất Tâm. Đạt được Nhất Tâm th́ lúc lâm chung mới có thể văng sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, không được Nhất Tâm th́ không văng sanh. Đấy chính là điều kinh A Di Đà đă dạy. Lấy lời kinh dạy làm chuẩn. Lắm người cứ mơ hồ cho rằng lúc ḿnh lâm chung, A Di Đà liền đến đón ḿnh. Thật ra th́ phải Nhất Tâm mới được Phật đón tiếp. A, v́ sao vậy? Do tâm ḿnh phát lộ quang minh, quang minh của Phật A Di Đà liền dơi theo đó, tiếp dẫn ḿnh sanh về cơi kia. Nếu Kiến Tư Hoặc, các thứ bại hoại phủ lấy quư vị, che lấp quư vị th́ Phật A Di Đà cũng không có biện pháp ǵ. Quư vị phải hiểu rơ điều này.

Mỗi khi chúng ta bước chân vào cửa chùa Linh Sơn th́ liền thấy Phật. Phật có Pháp Thân, Pháp Thân chẳng phải chỉ hiện diện nơi tượng Phật đúc, mà chỗ nào cũng có Pháp Thân hết, chỉ tiếc là bọn phàm phu chúng ta chẳng thấy được. Bây giờ mỗi khi ḿnh đến chùa Linh Sơn, thấy tượng Phật phải coi như là Phật, coi như là Phật đang ở ngay trước mắt. Tôi xin hỏi quư vị một câu: Quư vị gặp Tổng Thống th́ thái độ ra sao? Tổng Thống đến đây th́ chẳng dám nói lời nào, ngồi ngay ngắn, chỉnh tề, lưu tâm cẩn thận, hết sức quy củ. Tổng Thống cũng chỉ là phàm phu giống hệt ḿnh. Gặp ông ta th́ ai nấy đều có thái độ như thế đó, nhưng gặp Phật lại chẳng được như vậy, dù thấy Phật cũng xem như Phật chẳng hiện diện, sao mà lầm loạn đến thế? Quư vị ơi, quư vị làm như vậy là khinh thường Phật quá đấy. Đừng nói chi đến Tổng Thống, cục trưởng cảnh sát đi tới, quư vị có sợ hay chăng? Coi Phật không bằng viên cảnh sát trưởng như thế th́ quư vị [có tu hành] thành công được chăng? Tổ Sư dạy như thế này: Điều đầu tiên là phải cung kính. Mỗi khi đến đây, phải coi như Phật đang ở ngay trước mắt, nói năng, động tác hết thảy đều cung kính, muôn phần cung kính. Nếu như trong tâm c̣n một phần lười nhác, một phần chẳng cung kính th́ chẳng chứng được Nhất Tâm. Đây là bước thứ nhất.

Đă cung kính rồi, mỗi khi ngồi xuống niệm Phật hay lúc chẳng niệm cũng đều như nhau, tiến lên nữa là buông vạn duyên xuống. Thế nào là vạn duyên? Chính là vọng tưởng khởi lên thời thời, khắc khắc chẳng đoạn. Mỗi một vọng tưởng là một hạt giống của một lần luân hồi, một lần sanh tử, nguy hiểm lớn lắm. Vọng tưởng là ǵ? Mỗi một vọng tưởng là một Kiến Tư Hoặc, là vật bại hoại, là bụi bậm. Khởi vọng tưởng là tâm chạy theo bên ngoài. Chạy theo những pháp nào bên ngoài? Nghĩ cái bàn, nghĩ cái ghế, nghĩ đến cái ǵ tâm liền đặt nơi đó, tâm quư vị hoàn toàn chẳng đặt yên nơi A Di Đà Phật. Đây là chứng bệnh lớn gọi là Loạn. Nếu tâm quư vị chạy lung tung th́ chẳng phải là loạn hay sao? Làm thế nào đây? Trong tâm chỉ có Phật, đem tâm đặt yên nơi Phật. Phật giống như một cái cọc thuyền trên sông, tâm là chiếc thuyền. Cột chặt thuyền vào cọc th́ c̣n trôi đâu được nữa! Miệng không niệm Phật nhưng trong tâm có Phật, giữ ḷng cung kính th́ Phật hiện diện ngay trong chúng ta. Chẳng dám loạn tưởng th́ dù miệng không niệm cũng được Nhất Tâm. Đây là tầng thứ hai.

Điều thứ ba là lúc niệm Phật, niệm sáu chữ hay bốn chữ, dù sáu chữ hay bốn chữ đều cùng một cách niệm. Trước hết trong tâm phải tưởng. Nếu trong tâm chẳng niệm, chỉ gào xuông ngoài miệng th́ đấy chỉ là xướng ca, không nên! Đồng thời trong tâm chẳng khởi hai ư niệm, hễ nghĩ đến Phật th́ không c̣n có ư niệm nào khác. Có ư niệm khác th́ ư niệm về Phật cũng không c̣n. Điều này bọn chúng ta phàm phu thiếu công phu chưa thấy rơ. Niệm Phật trong tâm tưởng, trong tâm rơ ràng, trong trẻo. Miệng lại niệm ra, công phu niệm ra cũng rơ ràng, tách bạch. Sau đó, chính ḿnh nghe, nghe chính tiếng ḿnh niệm, nghe sáu chữ ấy cũng rơ ràng, minh bạch, chẳng để sót chữ nào. Tâm tưởng, miệng niệm ra, tai lại lắng nghe vào, giáp ṿng như vậy th́ tâm không chạy đi đâu được. Đó là một cách.

Niệm đến mức nào? Quư vị khỏi cần phải hỏi ai là ḿnh niệm đến mức nào cả. Quư vị như thế nào người khác làm sao hiểu được. Quư vị đă không hiểu ḿnh như thế nào th́ người khác làm sao hiểu được? Tôi chỉ cho quư vị hiểu nhé! Quư vị niệm Phật cứ tự ḿnh nghe, nghe chính ḿnh niệm Phật, chính miệng ḿnh niệm Phật, chính ḿnh tự nghe. Bất cứ thứ nào khác đều chẳng nghe thấy th́ công phu của quư vị đă thuần, tự ḿnh niệm Phật, tự niệm, tự nghe. Điều này khó làm được. V́ sao? Ở nhà th́ không hề ǵ, ḿnh ở trong nhà ḿnh, ḿnh niệm như vậy được, nhưng đến đây dự Phật thất, mọi người đều niệm Phật, làm sao ḿnh không nghe thấy được? Không nghe thấy là tốt, nhưng nếu nghe thấy th́ làm cách nào? Nghe thấy cũng tốt. V́ sao nghe thấy cũng tốt? Trong Tịnh Tông có Trợ Niệm Đoàn để hỗ trợ lúc lâm chung. V́ sao gọi là Trợ Niệm Đoàn? Vong giả lúc lâm chung bị hôn trầm, phong đao chia cắt thân, trong tâm rối loạn. Vừa loạn vừa hôn trầm th́ Phật chẳng hiện hữu. Người trợ niệm ở bên cạnh niệm “A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, A Di Đà Phật” để lay tỉnh tâm niệm người đó v́ sợ người sắp chết quên khuấy chẳng đề khởi tâm niệm Phật. Người chết nghe th́ cũng giống như chính ḿnh niệm, chính ḿnh tự niệm, tự nghe. Quư vị nghe người khác niệm cũng như chính ḿnh đang niệm. Quư vị đến đây niệm Phật là tự ḿnh nghe, người khác niệm Phật giúp cho quư vị, sợ quư vị quên đi. Quư vị có thể nghỉ niệm một chút, nghe người khác niệm rơ ràng, tách bạch, trong tâm vẫn có Phật, không chạy đi đâu hết. Đây là bước công phu thứ ba.

Điều thứ tư, tự tu rất trọng yếu. Quư vị niệm Phật có tạo thành tiếng hay không? Mọi người có hiểu rơ điều này chăng? Có tiếng đấy. Niệm Phật dù nhỏ cách mấy vẫn có âm thanh. Dù miệng không niệm, chỉ niệm trong tâm vẫn có âm thanh. Quư vị cứ nghĩ lại lúc ḿnh học bài sẽ hiểu điều này. Gọi là “tâm huyền” (dây đàn tâm) là ngụ ư: tâm giống hệt như dây đàn, tâm cũng có âm thanh. Quư vị tưởng A Di Đà Phật th́ ngay ư niệm ấy phát ra âm thanh. Quư vị có âm thanh, âm thanh ấy chẳng tạp loạn th́ chính là A Di Đà Phật.

Pháp Thân của Phật A Di Đà không chỗ nào chẳng hiện diện. Phật hiện diện ở đâu nơi đó đều có quang minh: “Quang trung hóa Phật vô số ức, hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên” (trong quang minh hóa hiện vô số ức đức Phật, và cũng hóa ra vô biên các vị Bồ Tát). Trong quang minh của Phật, Phật A Di Đà và các vị Bồ Tát hiện diện trong đó lại đều là quang minh. Âm thanh của quư vị phát ra đó sẽ đi về đâu? Đi đến quang minh của Phật. Quang minh của Phật lại đi đến đâu? Ḥa nhập vào âm thanh của quư vị. Khi âm thanh ḥa lẫn vào quang minh, quư vị chính là A Di Đà Phật. Khi quang minh ḥa nhập vào âm thanh th́ A Di Đà Phật chính là quư vị. Khi âm thanh và quang minh ḥa hợp nhau, nếu quư vị không văng sanh th́ sẽ chạy đi đâu nữa đây? Đây là điều thứ tư. Có vậy mới kể là đă đạt công phu. Đấy chính là biện pháp tu hành Chánh Công Phu vậy.

Lại c̣n có công phu để hỗ trợ. Sức của công phu hỗ trợ rất lớn. V́ sao vậy? Thưa cùng quư vị, giờ đây quư vị thực hành theo biện pháp tôi vừa nêu đến mức (chánh công phu) rất khá rồi, một khi quư vị bước chân ra khỏi cổng chùa, liền nghĩ: “Ái chà! Bây giờ ḿnh có thể nói sướng miệng đây!” Hỏng rồi! Ngay lúc tâm khởi ư niệm buông lung khẩu nghiệp th́ tâm quư vị liền chạy theo bên ngoài. Mới gom tâm để đạt được Nhất Tâm, vừa bước ra ngoài liền để tâm chạy theo bên ngoài th́ công niệm Phật tại đây (chùa Linh Sơn) đành mất trắng. Ra ngoài thấy, nghe sự ǵ đó tâm lại loạn th́ uổng mất công niệm Phật tại đây. Ở trong này, đàn áp được Kiến Tư Hoặc, nhưng vừa ra ngoài là lại chồng chất thêm, quư vị nghĩ nên trách ai?

Công phu tu hành xét đến cùng cực th́ chính là ngày chầy tháng rộng, thời thời khắc khắc chẳng biến đổi. Chẳng những chỉ ở chùa Linh Sơn mới tu như vậy mà khi ra khỏi cổng chùa cho đến khi về đến nhà vĩnh viễn tu hành như vậy th́ mới là tu hành, chứ chẳng phải ngoài dịp Phật thất th́ chẳng tu hành. Nếu như chùa Linh Sơn không mở Phật thất, quư vị không tu th́ chính là quư vị tự hại ḿnh, chẳng cần biết là có mở Phật thất hay không vẫn thực hành như vậy. Vậy th́ xét ra biện pháp này có khó thực hiện hay chăng?

Nếu chẳng giữ vững được một câu Phật hiệu th́ phải luôn sám hối. Điều này rất khẩn yếu. Sám hối là tự xét những điều ḿnh làm chẳng đúng, tạo bao tội lỗi. Xét ra dù xuất gia hay tại gia, người tu hành chắc thật th́ thấy ḿnh làm ǵ cũng đều là tội lỗi. Hễ nhắc đến tội liền sám hối. Ḿnh đă làm sai, nhưng làm sai rồi lại làm ǵ nữa? Đă làm sai nhưng vẫn c̣n tái phạm. Mỗi ngày thời thời, khắc khắc từ sáng đến tối sám hối. Như vậy th́ ngoài việc sám hối ra c̣n có ǵ làm loạn ḿnh nữa ư? Dù có loạn ở chỗ nào đi nữa, vẫn chú tâm nơi Phật, th́ c̣n có ǵ nữa đâu?

Thấy người khác làm điều tốt bèn sanh ḷng hoan hỷ. Thật ra, phát tâm hoan hỷ cũng là loạn, chẳng thể văng sanh; cho nên hễ thấy ai làm điều lành ǵ bèn nghĩ: “Tốt quá! Người ấy có thể văng sanh”. Ai làm điều ǵ tốt ḿnh cũng mừng rằng người ấy sẽ được văng sanh. Vừa sám hối, vừa tùy hỷ như thế th́ ngày chầy tháng đọng, dù loạn nhưng thật sự chẳng loạn. Đây chính là công phu hỗ trợ thứ nhất.

Hơn nữa, mỗi tông có cách tu hành riêng. Dùng cách tu hành của tông khác để tu Tịnh Độ sẽ chẳng thành công. Dùng cách tu của Tịnh Tông để tu các tông khác cũng chẳng thể thành công. Tịnh Độ Tông có hai chữ “hân, yểm”. Hân là thấy sự t́nh ǵ ḿnh bèn hy vọng được như vậy. Nói theo ngôn ngữ hiện tại th́ Hân là “tâm hy vọng”. Yểm là nhàm ĺa, chán ghét. Hai chữ Hân - Yểm được coi là căn bệnh lớn trong nhà Thiền. Quư vị tu Tịnh Độ nghe các tông khác giảng giáo lư, họ sẽ nói hai chữ Hân - Yểm là bại hoại, chẳng nên giữ lấy; nhưng trong nhà Tịnh, hai chữ xấu xa ấy đối với chúng ta lại là điều cực hảo v́ cách sử dụng hoàn toàn khác nhau. Bí quyết huyền diệu của Tịnh Tông nằm ngay tại hai chữ đó!

Đối với hết thảy mọi sự trong thế giới này, quư vị đều nên chẳng tham luyến v́ chúng đều là giả cả, chẳng có chút ǵ chân thật. Thế giới Sa Bà là thế giới ô uế, giống như hầm phân, như cái giỏ bẩn thỉu, có ǵ tốt đâu! Chúng ta thấy cái giỏ bẩn thỉu bèn chẳng chịu chạm vào những thứ dơ dáy. Họa may là ruồi nhặng, gịi tửa thấy cái giỏ bẩn thỉu ấy mới cao hứng được thôi. Chúng nó thấy là tốt v́ cùng là một phường, ta đừng bắt chước chúng. Thế giới Sa Bà đây không có một điểm nào tốt cả nên ḿnh chán ngán chốn này, chẳng mong ở măi nơi đây, mong sớm được xa ĺa nó. Ḷng luôn nghĩ như vậy th́ tham luyến c̣n trụ vào đâu được nữa.

Đă thế, xem kinh Di Đà mấy lượt, mọi sự nói trong đó không điều ǵ là không tốt; bởi thế nên bèn ưa thích cơi kia. Đây là Hân. Quư vị nh́n ra ngoài thấy cao ốc lố nhố, đi đâu phải ngồi xe hơi, so với thế giới Cực Lạc khác nhiều lắm, ta chẳng ưa. Đây là Yểm.

Chán nhàm cơi này, lại nghĩ trong cơi kia chẳng dùng đến xe, cứ ngồi trong nhà nghĩ muốn đến đâu th́ nhà liền bay đến đó mang ḿnh theo. Nếu không thích nhà cửa che tầm mắt ḿnh th́ tường vách cũng không c̣n nữa. Mỗi một đóa sen ánh sáng thiên biến vạn hóa, chưa hề được thấy qua.

Quư vị thấy phủ Tổng Thống cơi này như thế nào? Là Kim Loan điện. Nói cho quư vị nghe, may là cơi Cực Lạc không có đại tiểu tiện. Nếu có đại tiểu tiện, hầm phân th́ có hơn ǵ Kim Loan điện cơi này. A! Quư vị luôn nghĩ như sau: nhàm chán cơi này, ưa thích cơi kia. Hân - Yểm rất khẩn yếu, là biện pháp hỗ trợ rất lớn. Ba mươi bảy Đạo Phẩm vốn là Trợ Công Phu khẩn yếu của Tịnh tông, nhưng có ai trong chúng ta nhớ hoài được. Cứ luôn nhớ kỹ hai chữ Hân - Yểm này là được. Đây là Trợ Công Phu thứ hai.

Điều thứ ba, chỉ cần tâm quư vị khởi một vọng tưởng th́ đó chính là Ma. Quư vị hay nói người nào đó bị ma dựa, nhưng có thấy con ma đó chưa? Thật ra, ai cũng có ma theo bén gót. Ma trong tâm chẳng lo, lại toan dẹp Ma bên ngoài! Vậy th́ Ma là ǵ? Vọng niệm khởi chính là Ma, đó là Nội Ma. Vọng niệm khởi lên th́ dù quư vị có đi qua Tây Phương Cực Lạc thế giới nó vẫn dùng móc lôi tuốt quư vị đi theo, quư vị không làm ǵ được. Sức lực của ma thật là lớn vậy. Làm sao bây giờ?

Dù thế nào đi nữa, sức Ma lớn đến đâu vẫn chẳng thể lớn hơn sức Phật. Một câu A Di Đà Phật chiếu đến Ma, Ma liền bỏ chạy, Phật hiệu áp chế được Ma. Vọng tưởng là Ma, niệm một câu Phật hiệu là Phật, dùng Phật hiệu để áp chế Ma. Khi vọng tưởng khởi động là nghĩ tới Ma th́ nó đến, ta trị không được, chỉ có ḿnh Phật hiệu thắng được nó, quư vị liền gấp rút niệm Phật. Niệm thuần thục rồi th́ dù ḿnh có muốn gọi Ma tới, nó cũng chẳng tới v́ khắp trong tâm toàn là Phật. Có Phật th́ không có Ma. Có Ma th́ không có Phật. V́ thế, đây là cách chế ngự Hoặc chứ không đoạn Hoặc, không trừ gốc của Hoặc. Văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới rồi th́ tự nhiên đoạn sạch Hoặc.

Chẳng cần phải nói nhiều nữa, ba điều trên là đủ. Trong bảy ngày này, kính xin quư vị thực hành đúng theo những điều ấy, về đến nhà cũng vẫn tu như vậy th́ kỳ Phật thất này chẳng uổng phí. Tiếp đây, tôi dùng một bài kệ để kết thúc:

 

a. “Tịnh Độ nan tín khước dị hành” (Tịnh Độ khó tin, nhưng dễ hành):

 

Chỉ mỗi ḿnh Đức Phật là có thể giảng minh bạch Tịnh Độ Tông, ngoại trừ Đức Phật không c̣n một ai khác có thể giảng minh bạch được. V́ thế, Tịnh Độ “nan tín”. Học Phật nhiều năm, kinh sách mười phần coi hết chín, vẫn chẳng tin nổi Tịnh Tông. V́ thế bảo là pháp Nan Tín. Nhưng đối với ai tu được pháp này th́ nó rất đơn giản. Những lời tôi nói đây đều là lời của Tổ Sư, của Phật giảng, chứ chẳng phải là lời tôi giảng. Tôi chỉ là cái máy cassette phát lại cho quư vị nghe mà thôi. Pháp tu dễ dàng nhưng phải có rèn luyện lâu dài, chứ chẳng phải là vừa tu là thành tựu được ngay, vừa tu là chứng ngay. Đó là câu kệ thứ nhất.

 

b. “Toàn do nhị lực chánh trợ công” (hoàn toàn do hai lực và Chánh Công Phu, Trợ Công Phu):

 

Nhị lực tức là công phu của chính ḿnh (tự lực). Ḿnh không dụng công không xong. Ngoài ra c̣n có Phật lực, Phật đến tiếp dẫn ḿnh. Quư vị xem, phần nhiều tượng Phật A Di Đà là tượng đứng, là dạng tiếp dẫn. Thật ra, vị Phật nào cũng đều có Tịnh Độ riêng, nhưng các Đức Phật khác chẳng đến tiếp dẫn ḿnh. Chỉ ḿnh Đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn ta. Quư vị không biết đường cũng chẳng sao, A Di Đà Phật cầm hoa sen đến đón quư vị, cứ ngự lên hoa sen, cứ ngự lên hoa sen! Ngài đưa quư vị đi! Nếu sanh về cơi khác sẽ chẳng có phương tiện này đâu, quư vị phải tự nhận biết đường.

 

c. “Tất đắc Nhất Tâm phương hữu hiệu” (phải đạt được Nhất Tâm th́ mới hữu hiệu):

 

Quư vị phải niệm đến Nhất Tâm mới hữu hiệu. Niệm không Nhất Tâm th́ vô dụng. Điều này ai nấy hăy nghe cho rơ. Thế nào là Nhất Tâm? Đoạn Hoặc là Nhất Tâm thuần túy. Chế ngự Hoặc cũng là Nhất Tâm, cũng được văng sanh.

 

d. “Phương tiện phục Hoặc tức cảm thông” (dùng phương tiện chế ngự Hoặc liền cảm thông):

 

Đoạn Hoặc chẳng dễ. Thành A La Hán là pháp Tiểu Thừa, đoạn sạch Kiến Hoặc rồi c̣n phải sanh vào nhân gian hay cơi trời bảy lần, tu tập cả vạn năm mới thành tựu, mới đoạn sạch Tư Hoặc. Quư vị niệm A Di Đà Phật bảy ngày thành công, thật là thuận tiện quá. Quư vị chẳng dùng công phu trên đây không thể đoạn Hoặc, làm thế nào đây? Th́ lại có pháp phương tiện là chế phục Hoặc. C̣n đối với các tông khác th́ sao? Trong các tông khác, chế phục Hoặc là điều hoàn toàn vô dụng. Tu các tông khác th́ dù có chế phục Hoặc vẫn c̣n trong luân hồi, hoàn toàn vô dụng. Chế phục Hoặc chỉ hữu dụng đối với Tịnh Độ Tông, trong các tông khác chẳng thể áp dụng cách này được.

Do chế phục Hoặc, quư vị được sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới th́ sẽ đoạn Hoặc ở nơi đó, tự nhiên A Di Đà Phật sẽ giúp quư vị đoạn Hoặc. Cốt sao cảm ứng th́ quang minh dung thông lẫn nhau mới có thể thành công.

Nói tóm lại, đến ngày thứ tư tôi sẽ giảng nữa. Nay giảng đôi điều về công phu, mọi người nên nhớ kỹ. Hôm nay là ngày đầu, từ đây đến suốt bảy ngày sau quư vị cứ thực hành theo đó, tận dụng thời gian này khẩn thiết niệm Phật. Xin lăo sư sắp sẵn kiền chùy (2), ai nấy buông xuống vạn duyên, cứ một câu A Di Đà mà niệm măi.

 

VII. KHAI THỊ PHẬT THẤT TẠI CHÙA LINH SƠN NĂM MẬU NGỌ (lần thứ hai)

(Tư Thục Điền Kế Nghiêm kính ghi, đệ tử Ngô Bích Hà giảo đính)

 

Tạp niệm giai thị b́nh tố tội,

Nhược bất tạo nghiệp niệm bất sanh,

Tùng kim thiết mạc tái tạo nghiệp

Nhất Tâm Bất Loạn tự nhiên thành

(Tạp niệm là tội ngày thường

Nghiệp như chẳng tạo, niệm đường nào sanh,

Từ nay chẳng tạo nghiệp trần

Nhất Tâm Bất Loạn quả thành tự nhiên)

 

Phật thất đă đến ngày thứ năm, tôi đă nói chỉ cần chiếu theo phương pháp đă giảng trong ngày thứ nhất mà tu tập, nh́n chung ít nhiều có tiến bộ dần dần. Tính từ hôm nay chỉ c̣n có hai ngày nữa thôi, chúng ta chỉ cầu Nhất Tâm, không cầu ǵ khác.

Đa số mọi người chẳng hiểu Tâm là cái ǵ, học Phật chỉ cần hiểu được chữ Tâm này th́ công phu mới chẳng uổng lầm. Có thể nói là mọi người tu hành nhiều năm nhưng vẫn chưa hiểu rơ chữ Tâm này, nên hôm nay tôi nói cho quư vị nghe ư nghĩa của chữ Tâm để quư vị dụng công nơi Tâm.

Tâm ở đây hoàn toàn chẳng phải là “nhục đoàn tâm” (quả tim thịt), chẳng phải là vật ǵ, chẳng phải là trái tim thuộc trong ngũ tạng, lục phủ. Như vậy, nói tới cùng, Tâm là ǵ? Từ xưa đến nay ai cũng chẳng thấy, ai cũng chẳng t́m được nó. Chỉ người chứng quả mới hiểu rơ mà thôi, hễ hiểu được Tâm th́ chứng quả. Người đến giảng khai thị hôm nay cũng chỉ nói những điều tạm diễn tả Tâm để mọi người tự suy nghĩ lấy. Một khi tôi đă nói ra, mọi người nên tin tưởng. Nếu chẳng tin th́ đành chẳng có cách nào. Những điều tôi sắp nói rất b́nh thường, nhưng rất khó thực hiện bởi nó là pháp khó tin dễ hành vậy.

Tâm chính là ư niệm của mỗi người tự phát khởi. Tâm nghĩ đến điều ǵ th́ liền khởi ư niệm về điều đó. Nếu bảo kẻ này tâm tốt, kẻ kia tâm xấu th́ cũng là nói về ư niệm của người đó. Ư niệm đó gọi là Tâm. Câu nói này, đối với người đă học Phật mấy năm th́ khó mà nói là chẳng hiểu được! Tâm ấy chẳng thấy được, chẳng sờ được, nhưng tự ḿnh chẳng lẽ không hay biết hay sao? Bởi thế, người ta tu hành chính là tu ngay nơi ư niệm này. Quư vị nên nhớ kỹ. Làm thế nào để tu nơi ư niệm?

Muốn hiểu rơ cách tu th́ trước hết phải hiểu rơ ư niệm đă. Trong những ư niệm của con người, không có được một ư niệm tốt mà toàn là vọng niệm, tạp niệm. Vọng niệm không có ǵ là chân thực, đều là giả dối cả. Tạp niệm là ư niệm chẳng sạch sẽ, tịnh rồi lại tạp ư? Nói khái quát, ư niệm của chúng ta toàn là tạp loạn, hư vọng, toàn là chẳng đúng. Quư vị có biết trong một ngày chúng ta khởi bao nhiêu ư niệm không? Xin nói cho quư vị hay: Quư vị xem đây (cụ Lư búng ngón tay), trong khoảng thời gian búng ngón tay thật ngắn ngủi này đây, nói không sai cho lắm là quư vị có gần cả trăm mấy mươi ư niệm, nhanh như vậy đó! Mà một ngày từ sáng đến tối chẳng ngừng, nói cho quư vị hay là quư vị chẳng có ư niệm nào cầu thành Phật cả.

Quư vị nghe vậy tin hay chẳng tin? Có vị nghe tôi nói lời này liền tin ngay, ai chẳng tin lời tôi, người đó chẳng tin Phật pháp. V́ sao vậy? Lời tôi vừa nói đó đâu phải do tôi đặt ra, mà đều là những điều được nói trong kinh. Ai không tin Phật pháp th́ học Phật cách nào? Làm sao thành tựu được? Học Phật phải thờ ai làm thầy? Phật chính là thầy. Làm theo đúng lời Phật dạy ắt sẽ thành công; chẳng tuân theo th́ chẳng cách nào thành công được.

Từ sáng đến tối ư niệm phát khởi chẳng ngừng, nhiều như thế đó, chẳng ai nắm giữ được những ư niệm này, mà những ư niệm được phát khởi đó đều là những ư niệm xấu xa cả. Dù có ư niệm xấu như vậy nhưng có thể là chúng ta chẳng nói lời xấu, cũng như không làm điều ǵ xấu. Hừm! Rơ ràng trong tâm nổi lên chủ ư xấu, chẳng nói lời xấu, chẳng làm điều ǵ, nhưng chủ ư xấu vẫn có ảnh hưởng, nhà Phật gọi là “chủng tử”. Đây là cách nói thí dụ, chứ chẳng phải thực sự là gieo hạt giống xuống.

Một khi ư niệm khởi lên, nó sẽ in bóng vào tâm. H́nh bóng của ư niệm được in vào tâm đó gọi là “chủng tử”. Quư vị nghĩ xem, có những sự việc đă lâu năm, chợt nghĩ đến th́ những điều ḿnh nghĩ đến đó liền tái hiện. Những điều ḿnh nghĩ đến đó chẳng hề giảm mất, chúng đều được chứa trọn trong tám thức điền, cả vạn vạn năm chẳng bị tiêu diệt mất. Dù cho ḿnh có bận tâm hoặc chẳng quan tâm ǵ đến chúng, h́nh ảnh của chúng vẫn tồn tại trong tâm ḿnh. Những ǵ ḿnh mơ thấy trong giấc ngủ chính là những h́nh ảnh này. Đến lúc chúng ta lâm chung, những h́nh ảnh trong tâm sẽ hiện ra ngoài, tạo thành ư niệm. Khi lâm chung vào lúc tối hậu, khi ư tưởng ḿnh chấp vào đâu, nó sẽ dẫn ḿnh theo đi đầu thai nơi đó, lại trở vào trong lục đạo luân hồi.

Nói là lục đạo luân hồi, nhưng thật ra chỉ có ba đường dưới. Chúng ta khởi tâm, tâm người không có, tâm trời cũng không th́ đương nhiên là khởi tâm tam đồ. Tâm này phát khởi ra sao? Chúng tôi chẳng đề cập đến chuyện từng làm điều xấu, mà chỉ luận về tâm. Dạy mọi người giữ giới, mọi người không giữ, hoặc giữ giới nhưng toàn phát khởi ư niệm phạm giới. Do phạm giới, tâm này phải đọa trong tam đồ: súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ. Nếu tạo thành hành động (tạo nghiệp) th́ thời gian thọ khổ dài thêm một phần, tội lớn thêm một phần. Chẳng tạo thành hành động (chỉ khởi vọng niệm, c̣n chưa tạo nghiệp) th́ tội ít hơn một phần, thời gian thọ khổ ngắn hơn một phần. Trước hết, phải phân biệt hiểu rơ điểm này.

Học Phật tu hành, tu hành những ǵ? Tu hành chính là tu ư niệm này. Có người nói tôi chẳng khởi ư niệm lớn, chẳng nói ǵ, c̣n chẳng thấy ḿnh đang giác ngộ những ư niệm của chính ḿnh khởi lên th́ c̣n cái ǵ để tu nữa đây?

Chẳng có một ai không hề khởi lên một ư niệm nào cả! Đến ngay bậc Đẳng Giác Bồ Tát vẫn c̣n khởi niệm nữa kia! “Vô niệm” chính là không vọng niệm, không tà niệm, chứ hoàn toàn chẳng phải là không có ư niệm nào! Điều này vị nào xem kinh nhiều cũng đă thấy rơ rồi. Nếu không có ư niệm th́ trở thành gỗ, đá. Quư vị tu thành gỗ, đá để làm ǵ?

Chẳng qua [tu học] là để biến đổi ư niệm. Biến đổi như thế nào? “Chẳng khiến người khác khởi vọng niệm, chẳng khiến người khác tạp loạn”. Chẳng khiến người khác khởi vọng niệm nghĩa là chỉ có ư niệm thanh tịnh, trong sạch. Điều này trong kinh có nói đến. Ai đọc chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông [trong kinh Lăng Nghiêm] ắt sẽ hiểu câu “tịnh niệm tiếp nối” nghĩa là khiến cho ư niệm thanh tịnh được liên tục chẳng gián đoạn. Người khác “loạn niệm tiếp nối”, ḿnh tu hành sao cho “tịnh niệm tiếp nối”.

Thế nào là “tịnh”? Tịnh là thuần một ư niệm, không tạp loạn, chẳng có bảy thứ t́nh cảm: mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét, sợ, chẳng có giết, dâm, trộm, chẳng có tham, sân, si. Chẳng có những điều ấy th́ ư niệm thanh tịnh. Quư vị thử nghĩ xem, nếu ư niệm chẳng tạp loạn th́ chẳng phải là thanh tịnh hay sao? Không kể bọn ḿnh ra, ngay cả hàng Địa Thượng Bồ Tát c̣n chưa đạt được ư niệm thanh tịnh, nói chi là bọn ḿnh! Chúng ta không có ư niệm thanh tịnh th́ phải làm thế nào đây? Ai có thể triệt để thực hiện được điều này? Chỉ có ḿnh Đức Phật! Ư niệm của Đức Phật hoàn toàn thanh tịnh. Chỗ nào mà mọi bất tịnh đă hoàn toàn trừ khử th́ chỗ đó chính là thế giới trang nghiêm của Phật, tức là Tịnh Độ. Kinh Nhân Vương Hộ Quốc chép: “Tam Hiền, Thập Thánh c̣n trụ trong quả báo, chỉ ḿnh đức Phật ngự trong Tịnh Độ”. Tam Hiền, Thập Thánh ư niệm c̣n chưa thuần thanh tịnh. Quư vị cứ lấy kinh Hộ Quốc Nhân Vương ḍ kỹ từng ḍng sẽ thấy chỉ ḿnh Đức Phật thanh tịnh ư niệm triệt để. Chúng ta chưa thành Phật, ngay cả La Hán c̣n chưa chứng, chưa đoạn được bất cứ thứ Hoặc nào, th́ làm thế nào để tịnh ư niệm đây?

Trước hết, hăy hỏi quư vị một câu: Lúc quư vị ở đây niệm Phật th́ chuyện niệm đó cũng là khởi ư niệm, vậy th́ niệm đó là Phật hay không phải là Phật? Là Phật. Đúng như vậy! Phật là thanh tịnh nhất, ngoại trừ Phật ra, tất cả đều chẳng thanh tịnh, đều hư giả. Niệm đó chính là A Di Đà Phật. Phật A Di Đà là bậc nhất trong các Đức Phật. Niệm nằm trong tâm quư vị, tâm chính là A Di Đà Phật. A Di Đà Phật chính là tâm niệm của quư vị. Trừ điều này ra không c̣n ǵ kh