VIII. KHAI THỊ TRONG
PHẬT THẤT NĂM TÂN DẬU
(đệ
tử Liên Thục Mỹ kính ghi)
Tính đến nay đă là ba mươi
năm mở Phật thất ở đây, mỗi lần
đều phải có người giảng nói. Theo quy
củ, phải thỉnh thiện tri thức trong Tịnh
Độ Tông đến khai thị. Khai thị chẳng
phải là giảng kinh, thuyết pháp, mà là nói về
những điểm thật trọng yếu, phải
thuyết minh điều quan trọng là làm thế nào
để đạt Nhất Tâm. Chẳng đạt
được Nhất Tâm th́ dù có niệm Phật vạn
năm cũng chẳng thành công.
Nay tôi chỉ là một gă bạch y, công
phu cũng chẳng giỏi, tuy từng gặp
được các bậc đại đức trong
Tịnh Tông, gặp minh sư chỉ điểm, nhưng
v́ ngu độn, chỉ có thể dựa theo lời tổ
sư giảng, dựa dẫm các ngài để giảng
giải, chẳng dám xưng là giảng khai thị.
Ba mươi năm qua, ai giảng trong
mỗi kỳ Phật thất? Toàn là tôi giảng. Mỗi
năm, đồng tu tham gia cũ mới đều có,
lời giảng cũng khác. Trong số đó, có
người đă từng nghe giảng suốt ba
mươi năm qua, nay lại giảng cái ǵ đây?
Giảng nữa cũng vẫn là những lời đó.
Nghe qua rồi, bạn đồng tu chẳng muốn nghe
lại v́ đều đă hiểu cả rồi. Thử
hỏi có ai làm được chưa? Nếu chưa làm
được th́ có giảng vẫn là vô dụng.
Nay tôi dựa theo khai thị của
tổ sư để giảng. Tổ sư dựa theo
kinh điển mà kinh là từ miệng Phật nói, pháp môn
đều do Phật truyền, điều ǵ kinh không nói
th́ tổ sư cũng chẳng dám tùy tiện đặt
ra. Nhưng Tam Tạng kinh điển quá nhiều, phàm phu
chẳng tiếp nhận hết nổi, chỉ có thể
chuyên tu theo một pháp môn. Chúng ta đều tu Tịnh
Độ nên tôi dựa theo pháp môn Tịnh Độ mà nói.
Có lẽ quư vị nghi hoặc sao tôi
không nói thẳng vào phương pháp chứng đắc
Nhất Tâm? Đó là v́ hiện tại mọi việc
đều chẳng b́nh thường, chẳng đúng
lẽ, đều suy thoái cả. Có người bảo bây
giờ náo nhiệt hơn trước, sao lại bảo là
suy thoái? Nói đến Nhiệt th́ toàn thân mướt
mồ hôi, ḷng đầy phiền muộn, Náo là lộn
xộn bảy tám tầng. Nói đến tu Tịnh Độ
th́ phải đắc Nhất Tâm Bất Loạn mới có
thể văng sanh, nếu náo nhiệt th́ làm sao đạt
Nhất Tâm được? V́ vậy mới bảo là suy
thoái.
Mọi người là bạn già
của tôi, đă niệm Phật ba mươi năm
rồi, sau này nếu như mọi người chẳng
đạt được kết quả tốt là tôi có
lỗi đối với mọi người. Cổ nhân
nói: “Thiên nhân ngật phạn,
nhất nhân hoàn tiền” (ngàn người ăn cơm,
một người trả tiền). Kết thất
niệm Phật, đông người tham gia, phí tổn
cũng nhiều. Nếu như chẳng có kết quả ǵ
lại là tạo tội nghiệp, hết thảy tội
lỗi người giảng khai thị phải gánh.
Nếu như trong đây có một ai phát chân tâm, đạt
được Nhất Tâm, sau này văng sanh th́ coi như là
người ấy đă bồi hoàn phí tổn cho đạo
tràng này rồi. Ngày hôm nay khác với năm ngoái, xin quư
vị phải chú ư tột bực, nghĩ đến văng
sanh th́ ắt sẽ niệm đến mức Nhất Tâm,
đừng có ồn náo vô ích.
Chư vị tu hành hơn ba mươi
năm. Cổ nhân nói: “Thuyết
đắc nhất trượng, bất như hành nhất
xích” (nói một trượng không bằng làm
được một thước). Nói nhiều vô
dụng, cần phải thật tu mới nên. Kinh
điển rất nhiều, nhưng hiểu
được vạn pháp chẳng bằng hiểu kỹ
một pháp, bởi lẽ bất luận như thế nào
cũng đều phải y theo một môn tu hành mới ḥng
thành công được. Dùng bất cứ câu nào trong kinh
cũng đều chứng quả được, nhưng
vạn câu kinh chẳng bằng một câu Phật!
Có lẽ mọi người không tin
điều này, v́ thường có bạn đồng tu
đến hỏi tôi cần phải niệm thêm bộ kinh
nào? Bộ kinh nào cũng tốt v́ đều là lời Phật
dạy cả. Nếu như khóa sáng mỗi ngày tụng
hết cả Tam Tạng mười hai bộ kinh th́ công
đức rất lớn, nhưng xưa nay, ngay cả các
vị tổ sư cũng chưa ai có thể niệm
hết trong một buổi sáng được. Sáu chữ
trong một câu Phật hiệu, tôi chỉ hiểu nổi
ba chữ, hiểu biết mới được một
nửa như vậy mà đă có thể giảng suốt ba
mươi năm. Quư vị lợi căn nếu hiểu
được bốn chữ th́ ắt sẽ thành tựu.
V́ sao một câu Phật hiệu lại
có hiệu quả lớn đến thế? V́ kinh do
Phật nói ra, Tăng do dựa vào kinh mà có. Đă văng sanh
rồi vẫn phải niệm Tam Bảo. Phật
đứng đầu Tam Bảo. V́ vậy, hiểu
được một câu Phật hiệu là thành công. Kinh Di
Đà dạy: “Chẳng thể dùng
chút thiện căn, phước đức nhân duyên
để được sanh về cơi kia”. Niệm
Phật là trồng thiện căn. Cây có gốc mới có
thể sanh trưởng; có thiện căn th́ mới có
thể khai hoa, kết quả. Những điều này
trước đây tôi đă giảng qua, nhưng chỉ là
diễn giảng cách khác.
Ai cũng niệm kinh Di Đà, nhưng
vẫn không hiểu. V́ lẽ ǵ không hiểu? Là v́ chưa có
duyên khai ngộ. Trong Tịnh Tông cũng cần phải khai
ngộ. Không khai ngộ th́ là mê hoặc, điên đảo,
nhưng muốn khai ngộ phải là người có
phước khí. V́ thế kinh Di Đà nói: “Chẳng thể dùng chút thiện căn, phước
đức nhân duyên”. Muốn khai ngộ th́ phải tu
phước.
Phước đức là ǵ? Kinh Di Đà
nêu ra ba mươi bảy Trợ Đạo Phẩm,
điều này khá rắc rối, không phải ai cũng làm
được. Sau này, các tổ sư nói gọn lại là
mười thiện nghiệp, nhưng mọi người
vẫn không hiểu, nên lại phải nói pháp phương
tiện là “tin sâu nhân quả”;
cốt yếu là “đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”.
Thiện ác chủng loại rất nhiều. Nếu như
giữ được năm giới cấm căn
bản, khởi tâm làm điều ǵ th́ hết thảy
đều là v́ công (chẳng tư tâm), đó là Thiện.
Tâm riêng tư cuồn cuộn th́ là Ác. Trừ khử ba
sự ác căn bản là Tham, Sân, Si, làm ǵ cũng v́ mọi
người th́ là có phước đức.
Có phước sẽ khai ngộ.
Cổ nhân nói: “Phước chí
tâm linh”, nghĩa là: Phước đến, tự nhiên
tâm nhanh nhạy, vừa nói hiểu liền, giảng
một câu hiểu đến tám, mười câu. Vô
phước th́ tâm chẳng linh lợi, giảng cả
trăm câu c̣n chưa nghe hiểu được nổi
một câu. Học Phật cầu cảm ứng
đạo giao, cảm ứng được Phật th́
gọi là “linh cảm”. Tâm hôn mê, trầm trệ làm sao
cảm ứng được Phật? Dù Phật có
đến tiếp dẫn vẫn chẳng chịu đi.
Công phu phải tu tập hằng ngày. Tu hành chẳng trở
ngại đến nghề nghiệp dù là nông, công, thương,
công chức, y sĩ. Chỉ cốt sao dùng tâm Bồ Đề
làm việc th́ là Thiện, phước chí tâm linh tự nhiên
khai ngộ.
Ngày hôm nay kết thất là đi
dự thi, lúc b́nh thường khéo công phu th́ lúc kết
thất khả dĩ đắc Nhất Tâm, chứ
chẳng phải là cứ rêu rao rằng bảy ngày liền
được Nhất Tâm, liễu sanh tử. Trong ṿng
trời đất làm ǵ có chuyện thuận tiện
đến thế? Uống cạn một hơi chén trà c̣n
chẳng dễ, huống là đại sự liễu sanh
tử! Hoàn toàn là do thường ngày luyện tập. Tâm,
Phật và chúng sanh là cùng một sự. Trọn tấm ḷng
đều nghĩ đến mọi người, khởi
ư niệm nào cũng đều là Phật th́ tâm chính là
Phật. Tâm chẳng niệm Phật, tơ tưởng
toàn là những điều xấu xa tạp nhạp,
lộn xộn trong thế gian th́ tâm là phàm phu. Thành Phật
hoặc làm phàm phu đều là do tâm tạo. Tiếp theo
đây, tôi sẽ giảng một bài kệ để
kết thúc:
“Phật tại tâm
trung mạc ngoại cầu” (Phật ở trong tâm chớ ngoại
cầu): Phật ở ngay trong tâm quư vị, thành Phật
hay thành chúng sanh đều là do chính quư vị mà thôi. T́m
cầu đức Phật bên ngoài là lầm lẫn. Câu này
nói về thiện căn, câu tiếp theo nói về
phước đức.
“Tham sân phóng hạ
thị chân tu” (tham, sân buông bỏ ấy chân tu): Tham, Sân, Si là ba
phiền năo căn bản. Chẳng buông bỏ
được chúng để tu hành đúng như lời
dạy th́ chính là nói dối người. Nếu như buông
bỏ được chúng th́ mới là chân chánh tu hành.
“Niên quang tam thập
năi như cựu” (Ba mươi năm rồi vẫn như cũ):
Phật thất tổ chức ở đây đă ba
mươi năm rồi, tôi cũng đă đến
giảng cả ba mươi năm. Mười năm
đầu, người thành tựu chẳng ít.
Mười năm kế giảm bớt. Mười
năm sau chẳng được như trước.
Năm nay tuy có ba người hiện tướng lành văng
sanh, nhưng nói chung là mỗi năm lại kém hơn
năm trước, vẫn là y như cũ chẳng
tiến bộ ǵ. Sau này ai lại đến giảng trong
ba mươi năm nữa đây?
“Thế Chí, Quán Âm
đại phát sầu” (Thế Chí, Quan Âm cũng phát rầu): Chúng ta niệm Phật
tệ hại như vậy, chẳng phải chỉ ḿnh
Phật A Di Đà không cao hứng mà cả Bồ Tát Quán Âm,
Thế Chí cũng phải buồn giùm quư vị. Mỗi cá
nhân quư vị tu tập sao đây? Nếu chẳng khéo tu
tập th́ thuyền từ phổ độ của Quán Âm
Bồ Tát cũng chẳng độ được quư
vị. Thế Chí Bồ Tát dạy quư vị nhớ
Phật, niệm Phật, tịnh niệm tiếp nối,
quư vị cũng chẳng nghe. Hai vị Bồ Tát phải
buồn thay cho quư vị. Các Ngài buồn chuyện ǵ? Các Ngài
thấy ḿnh có lỗi đối với Phật A Di Đà,
dạy học sinh thế nào mà chẳng thành công chi hết?
Hôm nay là thánh đản đức A Di Đà, các Ngài không có cách
nào bái thọ Phật A Di Đà được hoàn toàn là do
lỗi của bọn ta.
IX. LỜI TRẦN
T̀NH CỦA CỤ TUYẾT TĂNG (3) NHÂN
DỊP PHẬT THẤT NĂM NHÂM TUẤT
Kết Phật thất tại đây
đă hơn ba mươi năm. Mỗi lần kết
thất, học nhân đều đến đây giảng.
Thoạt đầu, mỗi ngày giảng một
lượt, đem những sở học về
phương pháp Niệm Phật của chính ḿnh cống
hiến cho mọi người, c̣n hai chữ “khai thị”
chẳng đảm đương nổi. Ba mươi
năm qua, tôi đă nói rất nhiều về pháp môn này
cũng như cách niệm Phật, đều là bàn về
những kinh nghiệm của cổ nhân, chỉ cần
chọn lấy một điều để thực hành
th́ sẽ có thể thành công.
Hiện tại chính là thời kỳ
Mạt Pháp. Tu các pháp môn khác đều phải cậy vào
tự lực để đoạn Hoặc, chứng chân.
Muốn đắc tiểu quả A La Hán cũng phải
cả ngàn năm, vạn năm, thật chẳng dễ
thực hiện được. Chỉ có mỗi Tịnh
Độ là pháp môn Nhị Lực, tự lực chẳng
đủ th́ Phật lực đến gia bị. Điểm
đặc biệt nhất là chẳng cần đoạn
Hoặc, vẫn có thể cảm ứng đạo giao, lúc
lâm chung Phật liền đến tiếp dẫn,
được văng sanh là thành tựu. Pháp môn này thành tựu
ngay trong đời này, nhưng điều khẩn yếu
là “cảm ứng đạo giao”.
Nếu chẳng cảm ứng
đạo th́ chẳng thể thành tựu. V́ sao chẳng
cảm ứng? A Di Đà như vầng trăng rạng
ngời trên không, tâm người niệm Phật giống
như nước. Nước phải trong lặng th́
vầng nguyệt mới soi bóng được. Đấy là
cảm ứng; có vậy th́ mới có thể tiếp
dẫn văng sanh. Nếu tâm chẳng thanh tịnh giống
như nước đục ngầu, vầng trăng
chẳng hiện bóng được. Đấy chính là chẳng
cảm ứng, dù A Di Đà Phật ở ngay trước
mắt cũng chẳng văng sanh được.
Làm thế nào để cảm ứng?
Đấy chính là điểm khác nhau giữa kết thất
niệm Phật và niệm Phật ở nhà. Đến đây
rồi th́ tâm ǵ cũng buông xuống hết, một ḷng
niệm Phật, ở nhà đâu có làm như vậy được.
Kinh Di Đà chuyên giảng về chấp tŕ danh hiệu, sáu
chữ hay bốn chữ Phật hiệu, một ngày, hai
ngày hoặc là bảy ngày, chỉ mong sao có ngày niệm
đến Nhất Tâm, tâm thủy lặng trong, cùng Phật
cảm ứng, đấy mới kể là thành tựu, lúc
lâm chung mới bảo đảm. Nếu chẳng làm
được như vậy th́ kết thất cũng
uổng công, khác ǵ niệm Phật tại nhà đâu.
Nói đến Nhất Tâm th́ trong ngàn
vạn người khó có được một ai hiểu
rơ. Chẳng hiểu th́ sao mà làm được? Dù có làm
được cũng sợ là chẳng biết [ḿnh có
thể làm được]. Vậy th́ làm sao đây? Đạo
lư này, tôi là kẻ phàm phu hoàn toàn chẳng biết ǵ. Tuy
nhiên, trong Phật thất chẳng thể giảng kinh nên
tôi chỉ dựa theo nghĩa kinh và lời giảng
giải của chư tổ sư để tŕnh bày cùng quư
vị.
Kinh Di Đà nói: “Nhất
Tâm Bất Loạn”, thế nào là Nhất Tâm? Lời
tục nói: “Tâm vô nhị
dụng”. Dụng tâm là khởi ư niệm tính làm
chuyện ǵ đó. “Vô nhị” nghĩa là khi ư niệm phát ra
ngoài th́ giống như vết kim đâm rất nhỏ,
chỉ có thể lọt qua một sự, chứ hai sự
chẳng lọt được. Khi ư niệm đi vào trong
tâm cũng giống hệt vậy. Chỉ có một ư
niệm lọt vào được nhưng rất nhanh,
rất nhỏ. Trong khoảng khảy ngón tay, có sáu
mươi sát na. Mỗi sát na có 110 ư niệm, toàn là do
nơi ḿnh giác ngộ. Hễ giác ngộ th́ sẽ khéo làm
được. Các tông khác chẳng cho phép khởi ư
niệm, mà phải đạt đến vô niệm, rất
là khó. Tịnh tông chẳng sợ khởi niệm, chỉ
sợ hay biết chậm. Càng khởi càng niệm. Niệm
ǵ? Niệm A Di Đà Phật. A Di Đà mà ngừng một chút th́ ư
niệm xấu bèn hiện lên ngay. Nếu “tâm vô nhị dụng” (tâm không khởi lên ư
niệm nào khác) th́ mỗi niệm khởi lên đều là
A Di Đà Phật, cũng không niệm điều ǵ khác. Đó
chính là Nhất Tâm.
Lâm chung Phật đến tiếp
dẫn. Tiếp dẫn cái ǵ? Chẳng phải tiếp
dẫn cái túi da thối tha này, cũng chẳng tiếp
dẫn vọng niệm, mà là tiếp dẫn cái tâm niệm
Phật. Vừa mới khởi vọng niệm liền
tạo thành chướng ngại, dù Phật ở ngay
trước mắt cũng vẫn có chướng ngại.
Tâm ḿnh cùng Phật quang chẳng chiếu rọi lẫn nhau
được nên chẳng thể cảm ứng
đạo giao, nên chẳng phát sanh hiệu lực. V́
vậy phải niệm cho đến Nhất Tâm. Lâm chung
“tâm chẳng điên đảo” th́ liền được
văng sanh thế giới Cực Lạc của Phật A Di
Đà.
Đến đây kết thất niệm
Phật mà chẳng hiểu rơ đạo lư này th́ có khác ǵ
niệm Phật ở nhà. Nếu như ở nơi
đây, tuy miệng niệm Phật, nhưng tâm vẫn
nghĩ đến chuyện khác th́ hỏng rồi. Ngay trong
lúc niệm Phật, tâm vừa nghĩ tưởng
đến phú quư liền chẳng thể ra khỏi lục
đạo, luân hồi, thân sau sẽ sanh lên trời. Hễ
nghĩ đến gia đ́nh th́ gia đ́nh chẳng phải
là Tây Phương, tương lai sẽ lại làm
người. Vừa nghĩ đến ḿnh hay hơn
người khác, ôm ḷng ngă mạn, thân sau chỉ e vào trong
đường Tu La. Nếu một mặt niệm
Phật, một mặt vẫn sanh khởi ba độc
Tham, Sân, Si th́ tương lai sẽ đọa làm hung
thần. Nếu lại tham đắm thức ăn th́ thân
sau đọa làm loài quỷ đa tài (4). Nếu lúc niệm
hôn trầm mà chẳng hay biết th́ tương lai sẽ
đọa vào súc sanh. Nói chung đều là tương
ứng với lục đạo, chẳng đến
được Tây Phương.
Nhưng người niệm Phật do
công đức niệm Phật chẳng đọa
địa ngục, chẳng biến thành ngạ quỷ,
chẳng làm thân súc sanh hạ đẳng. Dù sanh trong bất
cứ loài nào cũng đều hưởng phước,
nhưng đến đời thứ ba, do lúc chuyển
thân, thần thức bị mê, công đức niệm
Phật chẳng thể hiện hành, chỉ e lại
bị đọa lạc rồi thọ tội.
V́ thế, ở nơi này niệm
Phật, phải nên buông xuống hết thảy, khi
niệm sáu chữ hoặc bốn chữ hồng danh
phải từ trong tâm phát khởi, tai nghe cho rơ ràng, minh
bạch, lại in vào trong tâm, đi ra, trở vào, niệm
sao cho thành một mối, nhưng chỉ có loạn tâm là
chưa buông xuống được. Đến khi Phật
thất kết thúc, chẳng phải là về đến
nhà liền được văng sanh đâu. Ở nhà lâu ngày,
sáng tối niệm Phật chừng hai tiếng
đồng hồ, loạn tâm lại xuất hiện th́
cũng vô dụng. V́ thế phải ǵn giữ “tịnh
niệm tiếp nối”. Ở đây làm như thế nào
th́ về đến nhà cũng phải làm giống hệt
vậy, tiếp tục chẳng gián đoạn th́ mới
thành công được.
Tôi chỉ giảng đến đây,
phải nhớ kỹ mới bảo đảm
được. Tiếp đây, tôi nói một bài kệ
để kết thúc:
“Ưng tri tán loạn
niệm Di Đà”: Mọi người phải biết: Nếu tâm tán
loạn chẳng làm ǵ được nổi, cứ
niệm Phật như thế th́ sẽ ra sao?
“Không phí công phu nan
giải thoát”: Công phu uổng phí, chỉ được
phước báo, chẳng thể văng sanh, vẫn ở trong
lục đạo luân hồi, rất khó giải thoát.
“Nhân sanh thọ
mạng hô hấp gian”: A, cứ tà tà mà niệm th́ sao? Tà tà
không được. Kinh dạy: “Mạng
người trong hơi thở”. Một hơi thở ra
không trở lại th́ liền thành đời sau, chớ tu
hành lơ là.
“Nhất thất
cơ duyên khổ vạn kiếp”: Hiện tại,
cơ duyên rất hiếm. Hễ bỏ lỡ cơ
hội, nhân duyên ắt sẽ thọ khổ. Thọ
khổ như thế nào? Luân chuyển trong lục
đạo, khó ra được nổi. Ngàn kiếp,
vạn kiếp mới có lại được thân
người. Tám ngàn năm sau là thời kỳ pháp diệt,
chẳng c̣n có Phật pháp, khác nào Bắc Câu Lô Châu, khó
được giải thoát. Tám ngàn năm là c̣n sớm
đấy. Người thọ trăm tuổi, khi thọ
báo hết chẳng văng sanh Tây Phương, sẽ sanh
về chỗ tốt đẹp trên trời. Tầng
trời thứ nhất là Tứ Vương Thiên, thọ
mạng năm trăm năm. Một ngày đêm trên trời
đó bằng năm mươi năm dưới thế.
Ở trên trời hưởng mấy vạn năm
phước trời, khi đọa xuống nhằm
thời kỳ Pháp Diệt, chẳng có Phật pháp, sống
sống chết chết chẳng hề được nghe
Phật Pháp, chẳng ra khỏi tam ác đạo nổi,
thọ khổ vạn kiếp.
(Đệ
tử Hoàng Khiết Di kính ghi)
Người trong cơi đời, từ
xưa không ai tránh khỏi một lần chết. Dù là
bậc thế gian thánh nhân, đến lúc vẫn cứ
phải chết như thế. Chỉ có bậc thánh nhân
xuất ly thế gian mới giải quyết
được vấn đề sanh tử. Nhưng
Đức Phật cũng chẳng thể ngay trong một
đời liền thành Phật, mà phải do tu hành từng
bước mới chứng được Phật
Quả. Cho nên nói: “Ông tu ông
đắc, bà tu bà đắc, chẳng tu chẳng
đắc”. V́ thế, quư vị phải tin là ai cũng
phải chết, chỉ sợ “chết không
được thôi!” v́ sau khi chết đi, ắt sẽ
luân hồi trong lục đạo, nhưng trong sáu
đường, khó đạt được cơi trời,
người, đọa lạc trong tam đồ th́
khổ chẳng thể nói xiết.
Duy Thức Tông lập ra cái gọi là
“Tam Lượng”. Chữ Lượng có nghĩa là “phân
thốn” (phân, tấc, ư nói đo đạc), “đong”
hoặc “cân”. Vật phẩm phải dùng cái cân để
cân lường th́ mới có tiêu chuẩn làm cơ sở
để xác định. C̣n như trong việc phân
biện giữa các giáo th́ lấy ǵ để chiết trung
(chọn lọc lấy những điểm hay, đúng)?
Phải dùng Thánh Ngôn Lượng, tức là phải dùng
lời Phật dạy làm tiêu chuẩn để đo
lường. Có đáp án chánh xác như thế th́ tu hành
mới có cơ sở để dựa vào. Bây giờ so
sánh xem chuyện tu Tịnh Độ của mọi
người là đúng pháp hay chẳng đúng pháp. Nếu tu
đúng pháp th́ là Tịnh Độ Tông, tu chẳng đúng pháp
th́ là “loạn ty vô đầu”
(tơ rối tung không thấy đầu mối).
Chúng ta là đạo tràng Tịnh
Độ, phải nghĩ kỹ đến tận cùng chữ
Tịnh. Người tu hành chẳng đến đạo
tràng để cầu náo nhiệt, mà là cầu công
đức và thiện căn. Một câu A Di Đà Phật là
thiện căn lớn nhất. Chỉ cần quư vị
niệm đến tâm tịnh th́ là sống trong Tịnh
Độ. Nếu trong tâm chẳng tịnh, loạn tạp lung
tung th́ chính là “loạn ty vô đầu” như trên đă nói.
Tâm loạn như vậy th́ lúc thế này, lúc thế khác, chẳng
thể đạt được lợi ích chân thật.
V́ thế tham dự Phật thất
cầu Nhất Tâm Bất Loạn th́ phải niệm
niệm đặt nơi Phật hiệu, có vậy
mới có thể văng sanh. Nếu không, suốt ngày niệm
kinh này, niệm kinh kia, không có chút tŕnh tự tu tập nào
th́ chính là “loạn ty vô đầu”. Nếu quư vị
thật sự tin tưởng vào sáu chữ hồng danh th́
mới chứng được quả vị. Chẳng tin
th́ dù có niệm rách họng cũng uổng công!
Cầu Nhất Tâm Bất Loạn chính
là Thánh Ngôn Lượng từ kim khẩu của Phật, là
điểm trọng yếu của Tịnh Tông, có vậy
mới có thể đới nghiệp văng sanh. Nghiệp là
nghiệp lực, nghiệp do ḿnh tạo th́ thân ḿnh phải
mang lấy, đó chính là phiền năo. Chỉ cần chế
phục được phiền năo th́ sẽ
được văng sanh, đoạn sạch sanh tử th́
mới gọi là Niết Bàn. Đấy đều là những
điều Phật dạy. Nếu hoài nghi lời Phật
dạy, cho là sai lầm th́ c̣n học Phật để làm
ǵ?
Tiếp đây, tôi giảng một bài
kệ để kết thúc:
Lục tự dĩ
ngoại giai phi nhất,
Nan dữ Di Đà cảm
ứng thời
Thánh lượng
thị Phật thân khẩu thuyết,
Nguyện nhữ khoái
đao đoạn loạn ty!
(Tạm dịch theo ư:
Ḿnh danh hiệu Phật là thuần
nhất,
Niệm Phật tán loạn khó cảm
thông,
Thánh lượng chính miệng đức
Phật dạy,
Mau dùng dao bén chặt tơ rối)
“Lục tự” là “nam mô A Di Đà Phật”.
Ngoại trừ niệm sáu chữ này ra, tất cả
những thứ khác đều chẳng thuần nhất.
Nếu quư vị niệm Phật nhưng tâm mơ
tưởng chuyện khác th́ sao? Tâm chẳng trụ vào sáu
chữ hồng danh sẽ khó cảm ứng Phật.
Chữ “loạn ty vô đầu” là tiếng cổ, là Thánh
Ngôn Lượng. Một cục tơ rối, không hề có
đầu mối ǵ hết, gỡ bao giờ mới xong?
Xin quư vị cầm con dao bén chặt ngay cho nó đứt
đôi ra, tức là Nhất Tâm rồi, chẳng c̣n loạn
nữa.
Kinh Di Đà nói rơ thế giới Cực
Lạc được trang nghiêm bởi vàng, bạc, lưu
ly, xích châu, mă năo... Đấy đều là lời Phật nói.
Nếu quư vị không tin, chỉ thích nói là đất
phủ cỏ xanh th́ cứ việc tùy tiện. Đă tin vào
Tịnh Độ Tông rồi th́ phải biết điều
tối khẩn yếu hoàn toàn là sáu chữ hồng danh.
Đừng có nói sáu chữ này nông cạn. Nếu thật
sự là kẻ giải ngộ sâu xa th́ thấy sáu chữ
ấy sâu xa, giải ngộ nông cạn sẽ thấy là nông
cạn, hoàn toàn tùy thuộc vào mỗi người thôi! Các
đồng tu hăy mau cầu Nhất Tâm, dao bén chặt tơ
rối, lời Phật chẳng dối đâu!
XI. KHAI THỊ TẠI
PHẬT THẤT CHÙA LINH SƠN NĂM ẤT SỬU
(Đệ
tử Ngô Bích Hà kính ghi)
* Dốc
ḷng trừ mạn chướng, thiết tha cầu
Nhất Tâm
Thưa các vị lăo sư, các vị
đồng tu.
Hôm nay tôi đến đây giảng,
trước hết thanh minh một điều: Tôi hoàn toàn
không đến đây để giảng khai thị. Hai
chữ “khai thị” tôi đảm đương chẳng
nổi, tôi chỉ đem những kinh nghiệm của chính
ḿnh ra bàn bạc để người này, người kia
tham khảo mà thôi.
Tiếp đến, thanh minh một câu
nữa: trong lúc ngồi giảng ở đây, xin miễn
hết thảy những khách sáo thế tục, chỉ
nghiên cứu “Nhất Tâm Bất Loạn”. Người
giảng, người nghe đều lấy “Nhất Tâm
Bất Loạn” làm mục tiêu. Nếu không, bị phân tâm
một phần th́ chẳng phù hợp với Phật
thất vậy. Xin quư vị nhiếp tâm, tâm không nghĩ ǵ
khác lắng nghe!
Luận về “Nhất Tâm” th́ đây là
một đạo tràng đă lâu, hẳn quư vị hiểu
rồi. Đă hiểu rồi th́ xin hỏi một câu: “Quư
vị đạt được hay chưa?” Hơn ba
mươi năm qua, có vị nào đạt
được Nhất Tâm Bất Loạn chưa? Nếu
như năm nào cũng dự Phật thất nhưng
năm nào cũng tán loạn th́ có phải là dự Phật
thất trở thành chuyện phù phiếm hay sao? Thế
nhưng, người học Phật làm ǵ cũng phải
chân thật. Bài kệ khai kinh có câu: “Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa”.
Việc hư dối th́ có làm cũng vô ích. Đă vậy th́ quư
vị ắt sẽ tự hỏi: “Niệm đến
Nhất Tâm Bất Loạn trọn chẳng hề có ư?”
Tôi chẳng rơ là trong số quư vị,
hoàn toàn không có một ai làm được chăng?
Ngược lại, tự hỏi ḿnh trước. Với
tôi th́ Nhất Tâm Bất Loạn có thời gian nhất
định. Trong khoảng thời gian ngắn sẽ
đạt Nhất Tâm Bất Loạn. Nói như vậy ít
nhiều đă có “cống cao, ngă mạn”, tự ḿnh khoa
trương. Tiếp đây, chúng ta sẽ bàn về
“cống cao, ngă mạn”. Trong ba mươi năm qua,
tại nơi đây, dự Phật thất, tôi giảng
qua vấn đề này chẳng biết là đă bao nhiêu
lần, nhưng giảng rất nông cạn. Quư vị trong
tâm ngầm coi thường, nghĩ rằng: “Ông không
cần phải nói, những chuyện đó tôi từng nghe
qua rồi!” Quư vị ơi! Khó biết được chuyện
nào ḿnh đă thật sự nghe qua lắm đấy!
Nếu c̣n giữ tâm như vậy th́ chẳng đắc
Nhất Tâm, mà là được cống cao, ngă mạn,
vẫn c̣n là phiền năo. Nói như vậy nghĩa là sao?
Quư vị nghe kinh cũng nhiều, xem
kinh chẳng ít, đáng coi là bậc đa văn, nhưng
chỉ hiểu được về mặt văn tự,
chứ xét về mặt công phu chân thực th́ chẳng
đáng bàn tới. Luận đến chân lư “tâm, Phật, chúng sanh b́nh đẳng bất nhị”,
quư vị đă hiểu được đạo lư này hay
chưa? Nói đến Phật th́ chưa từng thấy
qua. Nói đến chúng sanh th́ mọi người
đều nghĩ là ḿnh đă từng thấy qua chỉ v́
trong tâm nghĩ như thế này: “Người khác là chúng
sanh, c̣n ḿnh chẳng phải”. Đấy là cống cao, ngă
mạn. Học như vậy th́ chỉ học
được phiền năo, làm sao chúng ta luôn thấy
“Phật, tâm, chúng sanh là b́nh đẳng” cho được?
Quư vị bề ngoài b́nh đẳng nhưng trong tâm đa
số chẳng b́nh đẳng. Đấy chính là đại
phiền năo!
Bàn đến phiền năo th́ trong
trăm pháp, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Bất Chánh Kiến
thuộc về căn bản phiền năo. Ngoài ra c̣n có
trần sa phiền năo, căn bản vô minh. Ba loại này
đều là bịnh ai nấy đều có, ai nấy
chẳng tự hay. Càng học Phật, niệm kinh
chẳng tự biết, phiền năo càng nặng đều
là do quan niệm “tôi xem sách hoặc nghiên cứu kinh
chẳng ít”. Nhưng kinh giống như thuốc. Nếu
như uống lầm thuốc chẳng đúng bệnh,
rốt cuộc có lợi ích chi? V́ thế, chúng ta chẳng
thể thành tựu chính là do cống cao, ngă mạn. Tôi
chẳng nói đến những việc khác bởi chính
cống cao, ngă mạn khiến cho mọi người sau
này thoái chuyển, làm sao c̣n bàn đến chuyện
đắc Nhất Tâm Bất Loạn được
nữa?
Nói như vậy th́ phải trừ
khử cách nào mới nên? Phải “trong tâm thật sự
trống không, một niệm chẳng khởi”. Đấy là
chân lư. Nguyên lai bổn tánh là bất động, hễ
động th́ gọi tên khác là Tâm. Chúng ta chẳng
thường hay nói là “khởi tâm động niệm”
đó sao? Khởi tâm chính là khởi lên ư niệm. Một ư
niệm vừa khởi lên bèn có mục tiêu nên sẽ
tạo nghiệp. Tạo nghiệp sẽ phải lănh
quả báo. Thiện nghiệp th́ thiện báo, ác nghiệp
th́ ác báo. Các báo thiện, ác lại chẳng thể triệt
tiêu lẫn nhau, làm ǵ phải chịu báo nấy. Giống
như nay chúng ta được báo ứng, so với ba ác
đạo th́ vẫn c̣n khá hơn. Tuy vậy, chúng sanh
gồm có cửu giới (5), nhân loại chỉ là một
trong chín giới đó, vẫn chỉ là tạm thời ngoi
đầu lên trên biển khổ mà thôi. Vẫn là nhiều
đời, nhiều kiếp đến nay, chẳng
biết mấy khi làm lành, tạm hưởng
được thiện báo.
Nói đến thiện báo th́ phải có
được thân người th́ mới có thể
giải thoát. Nếu chẳng được thân
người th́ đừng nói chi đến chuyện
hiểu Phật pháp, ngay cả chuyện hiểu thông
suốt những ngôn ngữ b́nh thường đă khó
khăn rồi: chim có tiếng chim, thú có tiếng thú. Nói
đến thiện báo được làm thân người
th́ xét đến cùng là do tạo nghiệp nào mà
được, chỉ sợ chúng ta đều chẳng
tự biết vậy.
Nói chung, từ vô thỉ kiếp cho
đến hiện tại, chúng ta tạo nghiệp, lănh báo,
một bề biến hóa không ngừng, vậy th́ hiện
tại chúng ta phải nên làm ǵ? Trước khi xét đoán
phương pháp, chúng tôi xin minh định trước:
Hễ có thân là phải có khổ. Nếu không có cái thân
tứ đại giả hợp này th́ không có chỗ nào
để thọ khổ cả. Muốn tiêu tội
nghiệp th́ phải bắt đầu từ đầu
nguồn. Đầu nguồn chính là Tâm. Tâm không có h́nh dáng
nhưng lại chính là nguyên động lực lôi kéo chúng ta
luân lạc sanh tử. Chúng ta khởi tâm động
niệm bèn tạo nghiệp, nhiều đời nhiều
kiếp chồng chất chẳng biết là bao nhiêu.
Trong kinh dạy: “Nếu như ác nghiệp có thể tướng th́
trọn cơi hư không chẳng thể chứa đựng
nổi”. Nghiệp nhiều như thế đấy.
Chẳng cần nói đến kẻ không siêng niệm
Phật; đối với người khéo niệm
Phật, có phải là sẽ tiêu sạch được ác
nghiệp từ trần sa kiếp chăng? Chỉ e
rằng chẳng đơn giản như vậy. Ví như
vầng Thái Dương chiếu xuống tuyết,
tuyết tan thành nước. Thế sao tuyết
đọng trên Tuyết Sơn suốt năm chẳng tan?
Nào có phải là mặt trời chẳng rọi xuống
Tuyết Sơn đâu! Lời tục nói: “Băng đóng ba thước, chẳng phải là
trời lạnh một ngày”. Chỉ đơn
độc cậy vào sức ḿnh, làm sao đạt
được “tâm không?” Làm sao tiêu trừ tội nghiệp
được? Nói như thế th́ nhất định
phải nhờ cậy [sức Phật]. Đấy chính là
Nhị Lực.
Điều thứ hai là chữ Nhị
Lực chẳng phải chỉ nói về hai lực ấy,
mà c̣n hàm chỉ nhiều thứ. Chẳng hạn như
trong đạo tràng này có rất nhiều người,
nhưng ta cũng có thể nói là có hai loại người.
Một là giảng, hai là nghe. V́ thế chỉ nói “hai”
nhưng đă bao gồm người giảng, người
phiên dịch, người nghe, người lo liệu công
việc... biết bao là thứ. V́ thế chữ “Nhị”
c̣n hàm ư “rất nhiều”.
Trong kinh A Di Đà, mười phương
chư Phật đều nói: “Chúng
sanh các người đều nên tin vào kinh Khen Ngợi Công
Đức Chẳng Thể Nghĩ Bàn Được Hết
Thảy Chư Phật Hộ Niệm này”. Phật nói
với Bồ Tát, Bồ Tát lại đem lời ấy
tuyên thuyết, lần lượt lan truyền rộng răi
như thế trùng trùng vô tận, rốt ráo chẳng hề
có kết thúc. Quư vị nghĩ xem, nghĩ đến cùng là
nhiều hay không nhiều vậy? V́ thế, sức của
ác nghiệp cố nhiên là to, nhưng sức của
mười phương chư Phật cũng rất to. Do
mười phương Phật đến giúp ta tiêu
nghiệp th́ sợ ǵ chẳng thành tựu cơ chứ?
Kinh A Di Đà dạy: “Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe
kinh này mà thọ tŕ và nghe danh hiệu chư Phật th́ các
thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy đều
được hết thảy chư Phật hộ
niệm”. “Niệm” có nghĩa là trong tâm Phật có ḿnh.
Tâm Ngài đă có ḿnh th́ nếu ḿnh có chuyện ǵ, các Ngài
sẽ đến giúp cho. Đấy là “Hộ”. Nói như
vậy có phải là chúng ta cứ ngồi chờ Phật
đến rước chăng?
Phật giáo Nhật Bản có một
tông phái mệnh danh là Chân Tông chuyên giảng về nguyện
thứ 18 trong 48 nguyện của Phật A Di Đà, cho rằng
chỉ cần tin vào Phật th́ Phật sẽ đến
tiếp dẫn văng sanh. Thật ra làm ǵ tiện lợi
như vậy! Cầu Phật đến tiếp dẫn
phải có đủ Tín - Nguyện - Hạnh mới cảm
ứng được!
Thế nào là Cảm Ứng? Giống
như quư vị niệm Phật ở nơi đây (không
phải là xướng Phật) th́ Niệm chính là Tâm
của quư vị, tâm quư vị khởi niệm nơi
Phật th́ Phật hộ niệm quư vị. Hai bên ḥa
hợp, đó là Cảm Ứng. Nhưng niệm Đức
Phật nào? Niệm A Di Đà Phật. Nếu một mặt
vừa niệm Phật A Di Đà, một mặt lại
niệm Phật Dược Sư, tự cho rằng
“đằng nào cũng là niệm Phật” th́ lại là
lầm mất rồi, sẽ chẳng được
cảm ứng.
Quư vị xem đây: hai bàn tay tôi vỗ
vào nhau phát ra tiếng. Đấy là một loại âm thanh. Dùng
tay vỗ lên bàn th́ lại là một loại âm thanh khác. Hai
loại khác nhau. V́ thế, đức Thích Ca Mâu Ni Phật
dạy quư vị niệm A Di Đà Phật th́ quư vị
niệm A Di Đà Phật, chỉ nên tuân theo Thánh Lượng
th́ mới được lợi ích!
Tiếp đây, tôi đem các
phương pháp dạy niệm Phật của chư
Tổ Sư tặng cho quư vị. Nếu thật có thể
hành đúng như pháp th́ sẽ có thể chế phục
Hoặc, đạt được Giả Nhất Tâm
(Nhất Tâm có hai loại: Lư Nhất Tâm là chân lư, Sự
Nhất Tâm thuộc về tướng trạng bên ngoài, là
phương tiện. V́ thế, Sự Nhất Tâm c̣n
được gọi là Giả Nhất Tâm), sau rồi
sẽ được văng sanh.
“Niệm Phật
bất tất cầu đa niệm”: Niệm Phật
chẳng cần phải niệm cho thật nhiều.
“Đản niệm bát
bách tâm bất loạn”: Niệm một xâu chuỗi 108
tiếng sao cho dù một chữ cũng chẳng loạn.
“Kỳ trung
trước hữu nhất niệm sai”: Trong 108 câu niệm
ấy, nếu như có một câu niệm lầm lẫn.
“Trạo
chuyển châu đầu đô bất toán”: Những câu
niệm từ đầu xâu chuỗi tính đến câu sai
ấy đều không tính nữa. Câu này rất khẩn
thiết. Có một điểm cần phải chú ư là:
“Tự niệm, tự nghe”. Lúc niệm phải niệm sao
cho rơ ràng, tách bạch. Lúc nghe cũng phải nghe sao cho phân
minh, rành rẽ. Hễ niệm sai một câu th́ phải
niệm lại từ đầu. Lúc quư vị thực hành
công khóa chánh, nên làm theo đúng phương pháp đă dạy
trong bài kệ này để ḥng cầu được
“Nhất Tâm Bất Loạn”. C̣n như lúc tán niệm
(niệm Phật ngoài thời công khóa chánh) th́ có thể tùy
duyên.
Hiểu rơ những điều trên
đây rồi th́ không cần phải mất công nói
nhiều nữa, cứ chiếu theo đó mà làm là
được. Tiếp đây, tôi dùng một bài kệ
để tổng kết lại:
“Vạn pháp tinh hoa
lục tự bao,
Thánh ngôn chân
lượng bạt tâm mao,
Tŕ danh dung dị nan
trừ mạn,
Vô giá bảo châu tùng
thử phao”
“Vạn pháp tinh hoa
lục tự bao”: Phật pháp vô biên, Trung Quốc gọi là Tam Tạng
(nhưng thật ra c̣n rất nhiều kinh chưa
được phiên dịch [sang tiếng Hán]), gọi chung
là “vạn pháp”. Chữ “tinh hoa” chỉ tinh thần chân chánh
[của vạn pháp], cũng có nghĩa là những lời
trọng yếu. Chỉ niệm sáu chữ là đă bao quát
cả Tam Tạng 12 bộ kinh, cũng có thể nói là đă
hiểu được Tam Tạng mười hai bộ
kinh rồi th́ mới hiểu được sáu chữ “nam
mô A Di Đà Phật”. Nếu chẳng thể niệm hết
toàn bộ kinh tạng th́ niệm sáu chữ cũng
giống như niệm hết toàn bộ kinh tạng
vậy.
“Thánh ngôn chân
lượng bạt tâm mao”: V́ sao nói là sáu chữ bao gồm
trọn vẹn Tam Tạng? Quư vị phải chân chánh
dốc ḷng niệm sáu chữ này, tâm chẳng chạy theo
bên ngoài th́ sẽ mau chóng được khai ngộ. Thế
nhưng, quư vị đă khai ngộ chưa? Chưa. V́ sao
chưa? Là v́ tâm nhăn quư vị bị cỏ tranh (mao thảo)
che lấp cho nên chẳng thể mở ra được.
Hiện tại, ta tuân theo Thánh Ngôn niệm sáu chữ này
chính là nhổ bật cỏ tranh che lấp để tâm
nhăn được rộng mở.
“Tŕ danh dung dị, nan
trừ mạn”: Chữ “danh” chỉ danh hiệu A Di Đà Phật. “Tŕ”
là nắm giữ, chẳng buông bỏ, mà cũng là niệm.
So với niệm kinh, tŕ danh dễ dàng hơn, nhưng
vẫn có chỗ khó khăn. Tức là c̣n cống cao, ngă mạn,
tự cho rằng: “Tôi làm rồi, tôi hiểu rồi”.
Hễ có cái căn bản phiền năo này th́ sẽ chẳng
thành tựu. Học Phật th́ bước thứ nhất
là Vô Ngă. Có Ngă th́ cũng văng sanh, nhưng tiếc là văng sanh
trong lục đạo, vĩnh viễn chẳng giải
thoát. V́ thế, muốn được giải thoát th́
trước hết phải trừ Ngă Mạn. Trừ
bằng cách nào? Nhà Phật có nói đến Lục Ḥa
Hợp, hết thảy đều b́nh đẳng. Nhưng
Ngă Mạn rất khó trừ.
“Vô giá bảo châu tùng
thử phao”: Nếu chẳng trừ Ngă Mạn th́ khác nào xem
thường ném bảo châu vô giá Tam Bảo đi.
Ở nơi này, chư vị hăy
thử thí nghiệm phương pháp vừa nói trên đây,
hết thảy đều buông xuống hết, chỉ cầu
Nhất Tâm thôi!
XII. KHAI THỊ
PHẬT THẤT NĂM CANH THÂN TẠI CHÙA LINH SƠN
(Đệ
tử Hoàng Vịnh kính ghi)
Thưa chư vị lăo sư, chư
vị đồng tu.
Phật thất chùa Linh Sơn đă
được duy tŕ hơn ba mươi năm, mỗi
năm tôi đều tham gia. Trước kia, lúc Chính Phủ
chưa đến Đài Loan, Phật giáo tỉnh này vẫn c̣n
chưa phát triển. Dù có chùa, miếu, nhưng đại
đa số chỉ để tự tu, chẳng chú ư
mấy đến việc hoằng pháp lợi sanh.
Những việc hoằng pháp lợi sanh như Phật
thất v.v... thực sự do chùa này khởi xướng.
Lần Phật thất này, những bạn đồng tu
mới nhiều hơn cựu đồng tu. Lời
giảng của tôi khó thể thích hợp với các
loại căn cơ. V́ thế lần giảng này dựa
trên nguyên tắc cốt sao cho các bạn tân đồng tu
hiểu được, mong các cựu đồng tu từ
bi tùy duyên nghe giảng.
Phật thất ở nơi này là
Phật thất của Tịnh Độ Tông. Nói đến
Tịnh Độ tông th́ ai ai cũng biết cả v́ nó quá
phổ biến, nhưng thực sự th́ rất ít
người hiểu rơ nội dung Tịnh Độ tông.
Chẳng phải chỉ người ngoài không biết, ngay
cả trong cửa Phật, những người hiểu rơ
Tịnh Độ tông cũng chẳng nhiều. Thậm chí
người đang tu Tịnh Độ tông cũng chẳng
hiểu rơ lắm! Ở đây, tôi phải thanh minh
trước: hôm nay, tôi không đến đây để khai
thị mà chỉ đến tṛ chuyện. V́ người
hiểu đúng Tịnh Độ tông quá ít, nên tôi chỉ
tường tŕnh lại theo đúng kinh điển, lời
giảng của chư Tổ mà thôi.
Tại gia tu hành công phu chẳng thể
rốt ráo hoàn toàn, người xuất gia khéo tu tập có
thể chứng được Tứ Quả A La Hán. Ở
đây, tôi chẳng bàn đến người tại gia.
Muốn chứng Tứ Quả A La Hán phải trải qua
một thời gian lâu chừng mấy ngàn năm. Luận
về người đời sau sẽ chứng
được Sơ Quả th́ trong mười vạn
người chẳng dễ t́m được một người.
Dù có chứng quả A La Hán đi nữa th́ cũng chỉ
hiểu được phương pháp để chứng
quả La Hán, chứ đối với pháp môn Tịnh Độ
cũng chẳng thể hiểu được dễ dàng.
Đấy chính là điều được nói trong kinh,
chứ chẳng phải chính tôi bịa ra. Nếu kinh
Phật không chép th́ dù một câu tôi cũng chẳng dám nói.
Ai hiểu được pháp môn
Tịnh Độ? Quả vị Bồ Tát có năm mươi
hai địa vị. Hàng Bồ Tát trước khi chứng
quả trong Thập Địa, c̣n thuộc vào Hiền Vị,
vẫn chưa hiểu được. Những vị nào
đă chứng quả trong Thập Địa th́ gọi là Thánh
Vị, cũng chỉ hiểu được một
nửa. Phải là thành Phật rồi mới có thể
hiểu triệt để pháp môn Tịnh Độ. Chỉ có
Phật với Phật mới hiểu thấu cùng tận.
Mọi người nghe đến đây phải
đặc biệt chú ư: Quư vị được nghe danh
hiệu Phật, tu được pháp môn Tịnh Độ th́
ắt là trong ngàn đời, vạn kiếp đă trồng
đại thiện căn, làm đại thiện sự
th́ mới đạt được như vậy.
Nhưng nếu đă biết pháp môn Tịnh Độ thù thắng
th́ phải dụng công tu tŕ, có tu mới thành công, không tu
không thành công.
Có người chưa nghe nói
đến Tịnh Độ, cũng chẳng hiểu Tịnh
Độ là cái ǵ, tự ḿnh chẳng biết, nếu miệng
chẳng khích bác th́ không tạo tội. Nhưng nếu
chẳng hiểu Tịnh Độ là pháp khó tin, lại tự
lầm tưởng ḿnh là thông minh, hủy báng pháp môn
Tịnh Độ th́ là không được. Bởi lẽ,
hủy báng Phật pháp chính là gây tội tam đồ,
thế nhưng hủy báng pháp môn Tịnh Độ lại
chính là tội Vô Gián địa ngục! Quư vị phải
nên đặc biệt chú ư cẩn thận. Tịnh Độ
Tông là pháp khó tin, rất sâu xa, chỉ ḿnh đức
Phật mới có thể hiểu triệt để. Ngoài
ra, phải là hạng đă chứng Bát Địa Bồ Tát
mới hoàn toàn tin nhận được thôi. Chúng ta
chẳng hiểu, chẳng tin th́ càng phải đặc
biệt lưu ư, ngàn muôn phần chớ tạo tội
nghiệp.
Nếu pháp môn Tịnh Độ chỉ
riêng Phật với Phật mới có thể hiểu
thấu tột cùng th́ sao Đức Phật lại đem pháp
khó tin, khó hiểu này phổ biến, dạy chúng sanh tu tŕ?
Tôi cũng chẳng đáp thông được, chỉ
dẫn lời Phật để đáp. Hết thảy các
pháp môn khác chung cục đều nhằm để
thấu triệt bất sanh, bất diệt, liễu sanh
thoát tử. Các tôn giáo trên toàn cầu tu đến mức
cao nhất th́ chỉ sanh lên trên trời, chỉ riêng ḿnh
Phật giáo có thể liễu sanh thoát tử. Nhưng nói
chung tu các pháp môn trong nhà Phật đều phải chịu
khổ lớn như thường nói: “Chẳng mắc ma nạn th́ chẳng thành Phật”.
Đa số người tu hành chẳng chịu nổi
đại khổ, đấy là một điều khó
khăn.
Hơn nữa, thời gian tu tập
rất dài, chứng quả La Hán đă phải mất
mấy ngàn năm. Phàm phu thọ mạng hữu hạn,
trong mấy mươi năm làm sao chứng quả
được? Lại phải tu tập từng
bước, thành công thật chẳng dễ dàng ǵ.
Tịnh Độ tông tuy người
người chẳng hiểu, nhưng có điều
cực thuận tiện là v́: A Di Đà Phật chính là vị
Phật tiếp dẫn, thế giới Cực Lạc tuy
cách xa mười vạn ức cơi Phật, A Di Đà Phật
phát nguyện đích thân đến tiếp dẫn. Trong
mười phương tuy đều có Tịnh Độ,
đều có Phật và Bồ Tát, nhưng chưa từng
phát nguyện đến tiếp dẫn, ḿnh có năng
lực tu đạt đến đó th́ tự ḿnh đi
về đó nên chẳng dễ thành tựu. Văng sanh Cực
Lạc thế giới th́ có thể thành tựu ngay trong
đời này. Đời người ngắn ngủi mấy
mươi năm, đầy đủ tư lương
Tín Nguyện Hạnh, lâm chung chánh niệm phân minh, Phật
liền cầm hoa sen đến tiếp dẫn. Ta liền
ngồi lên hoa sen sanh về Cực Lạc thế giới,
dứt sạch sanh tử, thật là thuận tiện quá
sức. Điều này trong Tam Tạng kinh điển đă nói
tường tận, tu pháp môn Tịnh Độ thù thắng là
ở chỗ này.
Tu các pháp môn khác th́ cần phải “Tín,
Giải, Hạnh, Chứng”, hoàn toàn cậy vào tự
lực, tu hành trong một thời gian dài. Tu pháp môn Tịnh
Độ dù đạo lư
chẳng dễ hiểu, nhưng chỉ cần Tín -
Nguyện - Hạnh là có thể thành tựu. Nếu không th́
đừng nói là tu hai, ba mươi năm chẳng
hiểu được lư Tịnh Độ, dù có tu năm
trăm năm cũng chưa chứng được
quả La Hán, cũng vẫn chẳng hiểu
được lư Tịnh Độ.
Kinh Hoa Nghiêm nói Bồ Tát phải tu hành
qua các địa vị Thập Tín, Thập Trụ,
Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng. Đạt
đến Thập Hồi Hướng mới hiểu
được Phật lư, mới hành bố thí triệt
để được. Nhưng tu đến Thập
Hồi Hướng phải mất hai đại A Tăng
Kỳ kiếp, thực chẳng dễ chi! Nay tôi
đối trước Đức Phật thuyết pháp,
nếu nói nhầm một câu th́ chính là hủy báng Phật
pháp, người thuyết pháp phải đọa
địa ngục. Tôi đă hơn chín mươi sáu
tuổi, c̣n đến đây tạo tội địa
ngục làm ǵ? Tôi khùng như thế chăng? Nói tóm lại,
Tịnh Độ Tông thật chẳng dễ giải thích,
chẳng dễ hiểu ǵ.
Chúng ta đă phát tâm tu hành, nếu
chẳng tu hành thành công th́ chẳng đáng tiếc lắm
sao? Muốn giải thích Tịnh Độ cho rơ ràng chẳng
dễ dàng ǵ, từ Tổ Sư của Tịnh Độ Tông
Trung Quốc là ngài Huệ Viễn đại sư
đời Đông Tấn cho đến ngài Ấn Quang
đại sư thời Dân Quốc, những lời khai
thị của các ngài đều xuất phát từ kinh
Phật. Kinh Hoa Nghiêm là vua các kinh, là vua của cả Tam
Tạng, thế mà trong phẩm cuối cùng, Phổ Hiền
Bồ Tát dùng mười đại nguyện vương
dẫn về Cực Lạc. V́ thế phải biết
rằng: Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát
đều tu pháp môn Tịnh Độ, cầu sanh Cực
Lạc thế giới. Kinh dạy: “Ly kinh nhất cú, tức thị ma thuyết” (nói
sai khỏi kinh một câu, chính là ma nói). Kinh Pháp Hoa cũng
dạy: “Y pháp bất y nhân”
(nương theo pháp, chẳng nương theo người).
Chúng ta tu Tịnh Độ nương theo lời Phật, có
bằng chứng chân thật. Nếu không, dù ai có danh
tiếng lớn lao đến đâu mà lời nói chẳng
phù hợp với lời Phật, chúng ta cũng chẳng
tin.
V́ sao Tịnh Độ Tông chỉ nói Tín -
Nguyện -Hạnh mà chẳng nhắc đến Giải?
Trong kinh cũng có thí dụ: Dù cho bậc trí huệ
đệ nhất là ngài Xá Lợi Phất, khắp toàn thân
đều có miệng, và lại có vô lượng vô biên Xá
Lợi Phất trong vô lượng vô biên kiếp giảng
giải đạo lư Tịnh Độ th́ cũng chẳng
thể giảng trọn hết. Tôi vốn chẳng có
năng lực ấy, chỉ có một hai quyển kinh làm
cơ sở, ngay cả kinh A Di Đà tôi cũng c̣n hiểu
chưa hết. Trong kinh ấy câu nào cũng đều là vô
lượng vô biên bí quyết trọng yếu để tu
hành. V́ vậy, muốn thoát sanh tử th́ phải là kẻ
đă liễu sanh tử mới chẳng đến nỗi
lầm lạc. Tịnh Độ Tông lấy Tín - Hạnh -
Nguyện làm cơ sở, chúng ta cứ chiếu theo đó
mà hành. Phật là bậc đă liễu sanh tử, Phật
dạy như thế nào, ta cứ tin như thế ấy,
hành như thế ấy ắt sẽ thành công. Nếu
tự lầm cậy ḿnh thông minh, nhất định
sẽ hiểu biết sai lạc vậy.
Trong Tín - Nguyện - Hạnh, Tín là ǵ?
Thứ nhất, tin rằng nếu không
học Phật sẽ vĩnh viễn luân hồi trong
lục đạo, chẳng được giải thoát.
Bất cứ tôn giáo khác nào đều chẳng thực
hiện được việc này.
Thứ hai, tin rằng học Phật
th́ phải mất ba đại a tăng kỳ kiếp
mới có thể thành Phật. Chỉ có pháp môn Tịnh
Độ trong thời gian ngắn liền có thể thành
tựu ngay trong đời này. Cổ đức nói: “Vạn người tu vạn
người đậu”. Kinh A Di Đà dạy: “Nếu có thiện nam tử,
thiện nữ nhân, nghe kinh này mà thọ tŕ và nghe danh
hiệu chư Phật th́ các thiện nam tử, thiện
nữ nhân ấy đều được hết thảy
chư Phật hộ niệm, đều được
chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác”. Đấy chính là
“vạn người tu, vạn người đậu”.
Nhưng chúng ta ở đây dù niệm Phật dăm ba
năm cũng chỉ là miệng niệm. Chỉ khi văng sanh
Tây Phương rồi th́ nghe chim, cây phát ra tiếng bèn
niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Lư thâm áo này
phàm phu chẳng thể hiểu nổi, ngay cả bậc đă
chứng Nhị Quả cũng không cách nào hiểu rơ.
Chỉ nên tin chắc vào Thánh Ngôn Lượng chẳng nghi
th́ mới có thể thành công.
Thứ ba, tin sâu xa rằng chúng ta tu pháp
môn Tịnh Độ, quyết định sẽ thành tựu
trong đời này, quyết định “vạn
người tu, vạn người đậu”.
Thứ tư, tin rằng lúc văng sanh, A
Di Đà Phật nhất định đến trước
ḿnh tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc thế giới.
Tin sâu rằng đă tu pháp môn Tịnh Độ th́ phải
chấp tŕ danh hiệu chẳng buông. Từ nay sanh ḷng tin
sâu xa chẳng nghi, đến chết cũng chấp tŕ danh
hiệu chẳng buông, dù cho bom nguyên tử có rớt
xuống cũng chấp tŕ chẳng bỏ th́ mới thành
công vậy.
Hiện giờ tôi thấy t́nh huống
của quư vị rất tốt, rất phù hợp với
những điều được dạy trong kinh A Di Đà.
Kinh dạy: “Đều
được chẳng thoái chuyển nơi Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Quư vị
phước khí chẳng nhỏ, nhưng có mấy vị
chưa nghe đến đây đă lui ra rồi, thật là
đáng tiếc! Tôi rất lưu tâm đến điều
này, bọn họ phước báo không nhiều, nhưng quư
vị th́ không giống vậy. Nếu nghe minh bạch th́
đều có thể thành công bởi v́ hạt giống Kim
Cang đă rơi vào tám thức điền của mọi
người. Do quư vị giữ tinh thần lắng nghe th́
mới biết là quư vị đă được
phước báo to như cơi trời, hạt giống ấy
vĩnh viễn chẳng bị tiêu diệt. Điều
khẩn yếu là hai chữ “bất thoái”, vĩnh viễn
chẳng thoái thất. Nếu khéo công phu th́ ngay trong
đời này thành tựu. Nếu không th́ sớm muộn ǵ
hạt giống Kim Cang sẽ nảy mầm, lúc ấy chính
là lúc quư vị thành tựu kết quả.
Tiếp đến là nói về
Nguyện. Hiện tại ḿnh học Phật rồi, đă
biết có vô lượng vô biên Tịnh Độ. Nhưng chúng
ta tu Tịnh Độ, phải phát nguyện sanh về Tây
Phương Cực Lạc thế giới là điều
vĩnh viễn chẳng biến cải, chớ có ai nói ǵ
cũng tin, chẳng thể sáng ba, chiều bốn. Dù cho có
ai nói thế giới nào tốt đẹp ngàn vạn
lần cơi Tây Phương, ta cũng chẳng trái bỏ ư
niệm Phật lúc đầu. Dù cho ai dạy pháp môn nào hay
hơn, lẹ làng hơn pháp môn Niệm Phật Văng Sanh
cũng vĩnh viễn chẳng biến cải. Có khí phách
kiên định, nguyện thiết tha như thế th́
nguyện ắt thành.
Nếu đă tu Tịnh Độ rồi
lại đổi tu pháp khác tức là tu cả ba, bốn
pháp môn th́ không có pháp nào tu thành công hết. Đă phát nguyện
văng sanh Tây Phương thiết tha rồi, đă có ḷng tin
rồi, đă có căn cứ rồi, bất luận là t́nh
h́nh nào cũng vĩnh viễn chẳng biến cải th́
ắt sẽ thành tựu.
Lại nói về Hạnh. Hạnh
rất đơn giản. Kinh Địa Tạng, kinh
Dược Sư, kinh Pháp Hoa, Tam Tạng mười hai
bộ kinh đều hay cả, nhưng nếu vậy
chẳng lẽ mỗi ngày tụng hết cả Tam
Tạng mười hai bộ kinh sao? Muôn phần chúng ta
chẳng nên dùng phàm để suy thánh, tưởng tâm Phật,
tâm Bồ Tát giống như tâm phàm phu: nếu ḿnh lễ bái
vị này, không lễ bái vị kia, chỉ sợ
đắc tội với vị kia. Đấy thật là ngu
si. Chúng ta có tâm phân biệt, chứ Phật chẳng hề
có. Nếu chúng ta ngu si, niệm kinh này, niệm kinh kia th́
không một ai trong một ngày niệm xong Tam Tạng mười
hai bộ kinh được cả!
Tu Tịnh Độ cực giản
dị, dù cho chẳng niệm kinh A Di Đà, chỉ niệm
Phật cũng được. Vạn đức hồng
danh, bất luận là Nam Mô A Di Đà Phật, hoặc bốn
chữ A Di Đà Phật, câu hồng danh này bao hàm vô
lượng vô biên danh hiệu Phật. Bởi lẽ A Di Đà
Phật chính là Pháp Giới Tạng Thân, niệm một câu
Phật cũng như niệm hết thảy Phật.
Hơn nữa, chữ A trong A Di Đà
Phật chính chữ thứ nhất trong Hoa Nghiêm Tự
Mẫu của kinh Hoa Nghiêm. Thế Tôn cuối đêm
thấy sao Mai, kiến tánh thành Phật, liền quán tưởng
chữ A. Không có chữ A này th́ cũng chẳng có Tam
Tạng mười hai bộ loại kinh điển. Câu A
Di Đà Phật này cũng chưa được phiên dịch,
v́ hàm tàng nhiều ư nghĩa. Chỉ lấy một câu danh
hiệu Phật này, già giặn, chắc thật niệm
đến khi Nhất Tâm Bất Loạn ắt sẽ
nhất định thành công, chẳng cần phải
niệm nhiều thứ khác. V́ thế, lúc niệm Phật
đừng nghĩ đến vọng niệm nào khác.
Vọng niệm khác là Ma, ta dùng câu Phật hiệu này
để trừ khử nó. Như vậy mới có thể
đạt tịnh niệm tiếp nối.
Hơn nữa, về Chánh Trợ Song Tu
th́ thật sự ra, đối với Trợ Pháp cũng
chẳng cần phải làm ǵ khác, chỉ cốt sao
đối với một câu danh hiệu Phật này,
Nhất Tâm niệm Phật th́ chánh lẫn trợ
đều bao gồm trong ấy. Nhưng chúng ta c̣n là phàm
phu, vẫn chưa đạt được công phu ấy.
Thực ra, Nhất Tâm niệm Phật th́ kinh, Phật, chú
đều gộp cả trong đó, chỉ sợ bọn
ta chẳng được thành tâm như thế. Nếu
thành tâm niệm Phật th́ Tam Tạng mười hai bộ
kinh đều nằm trọn trong ấy.
Đối với Trợ Hạnh Công Phu,
nếu chúng ta chưa biết làm lành th́ cũng chẳng
khẩn yếu lắm, chỉ cần “các điều ác
đừng làm” th́ cũng được. Niệm Phật
th́ chẳng tạo ác. Lúc chúng ta niệm Phật A Di Đà, chúng
ta chính là Phật A Di Đà. Phật chính là tâm, tâm chính là
Phật. Chẳng được một mặt niệm
Phật, một mặt tạo nghiệp. Nếu như
niệm Phật mà lại c̣n gây các tội nghiệp
giết chóc, dâm dục, trộm cắp, uống
rượu v.v... th́ chính là báng Phật, công hiệu của
việc niệm Phật bị giảm thiểu. Chỉ
cốt sao đừng tạo nghiệp, già giặn,
chắc thật niệm một câu A Di Đà, lại
đừng làm các điều ác. Tu pháp môn Tịnh Độ
như thế nhất định thành công.
Khi đến giảng trong Phật
thất, tôi vốn thường giảng nói sao cho
người tham gia đắc Nhất Tâm, nhưng thấy
mấy năm nay, có nhiều người thoái chuyển.
Thế nên hôm nay, tôi nói nhiều về giáo lư, hiểu rơ giáo
lư th́ mới biết rơ nên dụng công thế nào để
được Nhất Tâm. Tôi nói bài kệ để khích
lệ chung:
“Tịnh Tông tư
lương Tín Nguyện Hạnh” (Tư lương của
Tịnh Độ tông là Tín Nguyện Hạnh): Tịnh Độ
tông tu hành văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế
giới th́ phải chuẩn bị đủ ba thứ
tư lương “tin sâu, nguyện thiết, hạnh
mạnh mẽ”. Tín Nguyện Hạnh giảng ra có vô
lượng vô biên pháp, hôm nay tôi giảng những
điều cực giản yếu.
“Nhị lực
cảm giao công thỉ thành” (Hai lực cảm ứng đạo
giao th́ mới thành công): Phàm là muốn được thành
công, tu các tông khác phải dựa vào chính sức ḿnh, tu
dần từng bước mới có thể thành công.
Hễ dùng sức sai một phân th́ chẳng thể thành
công. Tịnh Độ tông bất tất phải như
thế, sức lực chủ yếu là sức của
Phật A Di Đà, ḿnh chỉ đổ ra ít sức. Ḿnh
chỉ cần buông xuống vạn duyên, niệm
đến Nhất Tâm Bất Loạn, những việc ǵ
khác đều không bận tâm đến. Những ǵ khác
đều coi là do sức của Phật A Di Đà, thế
giới Cực Lạc là do Phật A Di Đà trang nghiêm thành. Lúc
chúng ta lâm chung, Phật đích thân tự cầm hoa sen
đến tiếp dẫn sanh về thế giới ấy.
“Trang nghiêm cơi Phật, tiếp dẫn văng sanh” đều do
sức của Phật, chúng ta chỉ việc niệm
Phật sao cho đạt đến Nhất Tâm Bất
Loạn. Đấy là những điều được minh
thị trong kinh. Có cả Phật lực lẫn tự
lực như thế ắt sẽ thành công.
“Kinh văn tối
trọng Đồng Cư Độ” (cơi được kinh văn chú
trọng nhất là Phàm Thánh Đồng Cư Độ): thế
giới Cực Lạc chia làm bốn cơi (Phàm Thánh Đồng
Cư, Phương Tiện Hữu Dư, Thật Báo Trang
Nghiêm và Thường Tịch Quang). Trong kinh A Di Đà có
đủ cả bốn cơi, nhưng cơi được coi
là trọng yếu nhất chính là cơi Phàm Thánh Đồng Cư.
Bọn phàm phu chúng ta chưa đoạn được
một phẩm vô minh nào, không phương cách nào sanh về
Tịnh Độ. Nhưng thế giới Cực Lạc chính
là “Tha Thọ Dụng Tịnh Độ”, giống như
một căn nhà tốt, chẳng phải chỉ
để riêng ḿnh sử dụng mà c̣n phải
nhượng cho mọi người đều
được sử dụng.
Tu hành đoạn Hoặc mới thoát
khỏi luân hồi. Phàm phu không cách ǵ thoát luân hồi,
chỉ có được Phật A Di Đà trong Cực Lạc
thế giới tiếp dẫn th́ mới có thể thoát sanh
tử luân hồi, dù văng sanh Cực Lạc thế giới
nhưng vẫn là phàm phu. V́ thế, trong kinh A Di Đà, chư
Phật trong sáu phương xuất hiện để
chứng thực những điều đă được
nói trong phần kinh văn trước đó đều là
cảnh giới của phàm phu, là cơi Phàm Thánh Đồng Cư.
Dựa theo thế giới Sa Bà đây
mà nói th́ phía dưới trời Sắc Giới là trời
Lục Dục, vẫn có nam nữ, ăn uống cũng
như chuyện ăn ở. Nhưng trong kinh A Di Đà cũng
nhắc đến ăn ở th́ đấy cũng là
cảnh giới của phàm phu chưa đoạn Hoặc.
V́ thế, chúng ta Nhất Tâm niệm Phật, dù chưa
đoạn Hoặc cũng vẫn được văng sanh
Cực Lạc Tịnh Độ. Sau khi văng sanh sẽ làm
người hoặc là làm trời, nhưng vẫn là phàm
phu, chưa có quả vị, nên phải thuộc về Phàm
Thánh Đồng Cư Độ.
V́ thế, ở trong cơi Sa Bà này, chưa
đoạn Hoặc mà có thể văng sanh Cực Lạc th́
thuộc về Hoành Siêu (vượt khỏi luân hồi theo
chiều ngang), sanh sang cơi Phàm Thánh Đồng Cư của
thế giới Cực Lạc. Từ đó lại sanh lên
cơi Thường Tịch Quang cũng là Hoành Siêu. Đạo lư
này thâm áo chẳng dễ hiểu nổi được,
chúng ta cứ tin vào Thánh Ngôn Lượng là đủ.
Bởi thế, kinh văn chú trọng nơi Phàm Thánh
Đồng Cư Độ, chuyên tiếp độ phàm phu chưa
đoạn Hoặc văng sanh.
“Đản đắc
phục Hoặc tiện văng sanh” (chỉ chế phục
được Hoặc th́ liền văng sanh): Nhất Tâm
Bất Loạn cũng là điều được
nhắc đến trong kinh A Di Đà. Nhưng phải đoạn
Hoặc mới đạt nổi Nhất Tâm Bất
Loạn. Đoạn Hoặc văng sanh th́ liền sanh vào
Thượng Phẩm. Nhưng số người chưa
đoạn Hoặc chiếm đa số. Ngay như tôi
đây, chẳng biết đời trước thế nào,
chứ đời này tôi tu tập suốt sáu mươi
năm vẫn chưa đoạn nổi một phẩm vô
minh nào. Đây là lời thành thật, chẳng những tôi không
có thần thông mà quỷ thông cũng không có luôn. Phải
nhớ là dù có thần thông vẫn không tránh khỏi luân
hồi lục đạo, không cách nào liễu sanh tử.
Bây giờ nói đến chuyện làm
sao đắc Nhất Tâm? Chúng ta không có cách nào đoạn
Hoặc để đắc Nhất Tâm, chỉ có thể
chế ngự được Hoặc mà thôi. Ngay lúc
vọng niệm của chúng ta nổi lên tơi bời th́
lập tức dùng một câu Phật hiệu chèn ép nó, dù
chèn ép được Hoặc nhưng Hoặc vẫn
chưa đoạn. Đến lúc lâm chung, do thường ngày hễ
vọng niệm nổi lên bèn lập tức dùng Phật
hiệu chế ngự, đè nén, nên lúc lâm chung cũng
giống hệt như vậy. Lúc ấy Phật hiệu
khởi lên th́ bèn được Phật đến
tiếp dẫn đới nghiệp văng sanh. Chuyện
đới nghiệp văng sanh này trong kinh A Di Đà, kinh Vô
Lượng Thọ đều ngầm nói hoặc nhắc
đến rơ ràng. Do chưa đoạn Hoặc, nhưng
dùng Phật hiệu để chế ngự nó,
được văng sanh, nên gọi là “đới nghiệp
văng sanh”.
V́ thời gian đoạn Hoặc
rất lâu chẳng thể nhất thời thực hiện
được, nay tu pháp môn Tịnh Độ, hễ vọng
niệm vừa khởi bèn nghĩ “hễ cái ǵ có h́nh tướng th́ đều là hư
vọng”, tức là dùng Chân Như Phật Tánh chế
ngự vọng niệm. Chân Như Phật Tánh tức là
một câu “A Di Đà Phật”. Dùng Phật hiệu chế
ngự Hoặc th́ sẽ được Phật tiếp
dẫn, đới nghiệp văng sanh, đến Tây Phương
rồi mới đoạn Hoặc. V́ thế, nay chỉ nói
là “cầu văng sanh”.
Nói đă dài rồi, sợ
mất thời gian quư vị dụng công, mang lỗi
với mọi người. Giờ đây quư vị lại
niệm Phật, chế ngự Hoặc. Kính xin chư
vị buông xuống vạn duyên, thiện duyên, ác duyên
đều buông xuống hết, cứ một câu A Di Đà mà
niệm măi.
(1) Ư nói: Sau khi chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch thua mất Hoa Lục vào tay Mao Trạch Đông, phải chạy ra Đài Loan.
(2)
Kiền chùy (Ghanta): c̣n gọi là Kiền Tŕ, Kiền
Trĩ, Kiền Để, là các khí cụ dùng để đánh
báo hiệu trong tự viện như chuông, khánh, linh,
bảng, mơ v.v... Ở đây ư nói, chuông, trống và
địa chung dùng để tán Phật và niệm Phật
trong Phật Thất.
(3)
Tuyết Tăng: Tuyết Tăng là một trong
những biệt hiệu của cụ Lư Bỉnh
(4)
Đa tài quỷ: loài quỷ có nhiều tiền của,
thức ăn.
(5)
Cửu giới: Chín giới bao gồm: nhân, thiên, a tu
la, súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ, Thanh Văn,
Duyên Giác, Bồ Tát.