Đại
Tạng Kinh là một công tŕnh tập thành tâm huyết
của bao nhiêu thế hệ Tổ Sư, cổ
đức Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Ly. Nói
một cách ngắn gọn và dễ hiểu, Đại
Tạng Kinh là một toàn tập bao gồm tất cả
những thánh thư Phật Giáo theo hệ thống Nam
Truyền và Bắc Truyền, chia thành ba nhóm lớn: Kinh,
Luật, Luận. Từ trước đến nay, chúng ta
chưa hề có một Đại Tạng Kinh bằng
tiếng Việt. Những ai muốn thâm nhập giáo lư
Đại Thừa cũng như muốn t́m hiểu
đến tận nguồn cội giáo nghĩa của pháp
môn ḿnh đang tu tập đều phải t́m học trong
Hán Tạng. Càng ngày, càng ít người biết tiếng Hán
hơn, và điều đáng sợ là khi thế hệ các
bậc tôn túc thông hiểu sâu xa tiếng Hán, thâm hiểu
nội điển đă viên tịch hết th́ pháp bảo
vô giá trong Đại Tạng Kinh Hán Tạng sẽ đành
để dành riêng cho người Hán, người Nhật,
người Đại Hàn lănh hội, c̣n người Việt
chúng ta tuyệt chẳng có phần!
Không ít người
đọc, hiểu, nói được tiếng Hán hiện
đại, nhưng để hiểu được
những kinh văn bằng tiếng Hán cổ, ngay cả
những người Tàu chính gốc nhưng thiếu
căn bản về Phật pháp vẫn khó ḷng lănh hội
nổi. Ngay tại Đài Loan, những bản nhật tụng
như kinh Di Đà, phẩm Phổ Môn, phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện vẫn phải có đính kèm phù hiệu
phiên âm bên cạnh, cũng như không ít các giảng sư
phải viết những tác phẩm mang tựa đề
Bạch Thoại Giải Thích (chẳng hạn như trong
tác phẩm Phật Thuyết A Di Đà Kinh Bạch Thoại
Giảng Giải của Nam Đ́nh Ḥa Thượng: mỗi
đoạn chánh kinh đều phải có một
đoạn văn bạch thoại kèm theo để
“diễn nôm” ư nghĩa về mặt văn tự ngơ
hầu những ai ít hiểu cổ văn cũng hiểu
được ư nghĩa đoạn kinh đó). Có lần
v́ không hiểu một đoạn kinh văn trong Quán Kinh
Sớ của ngài Thiện Đạo, chúng tôi đem
đoạn văn ấy hỏi một người
bạn Đài Loan làm cùng sở, sau một hồi đăm
chiêu suy nghĩ, cô cũng lắc đầu chịu thua và
khuyên nên đem vào chùa Tàu hỏi th́ tốt hơn. Cô này
đă tốt nghiệp đại học tại Đài Loan
trước khi đến Mỹ!
Những tưởng trong
kiếp sống thừa này, chúng tôi sẽ chẳng bao
giờ được thấy Đại Tạng Kinh Việt
Nam h́nh thành, được có dịp tham khảo Đại
Tạng bằng tiếng mẹ đẻ, nhưng may
mắn sao, suốt hai mươi năm qua, Ḥa
Thượng thượng Tịnh hạ Hạnh đă âm
thầm phiên dịch gần hết phần trọng
yếu nhất của Đại Tạng Kinh Bắc
Truyền. Thật chẳng biết dùng lời lẽ nào
để tán dương, tùy hỷ công cuộc hoằng
pháp vĩ đại này cũng như tấm ḷng truyền
đăng tục diệm, thiệu long Phật chủng
của Ḥa Thượng. Tiếc thay, vẫn c̣n quá ít trang
webpages cổ vũ, vận động tứ chúng hỗ
trợ sự nghiệp phiên dịch, ấn tống của
Trưởng Lăo Tịnh Hạnh. Trao đổi với
một số đạo hữu quen biết, chúng tôi
nhận thấy c̣n quá ít người biết đến
công tŕnh lớn lao này. Có lẽ một trong những lư do chính
là đa phần những Phật tử sơ cơ chưa
hề h́nh dung được thế nào là Đại Tạng
Kinh!
Bởi thế, chúng tôi đành
mượn trang nhà Di Đà Nguyện Hải để ghi
lại đôi nét phác họa về lịch sử h́nh thành,
phát triển và kết tập của Đại Tạng Kinh
Bắc Truyền (c̣n gọi là Hán Tạng) với
ước mong khiêm tốn là giúp cho những đạo
hữu sơ cơ, hiểu đạo hết sức
thiển cận như chúng tôi có được một cái
nh́n khái quát, sơ bộ về Hán Tạng, hiểu
được tầm quan trọng của Đại Tạng
kinh trong công việc tu tập, truyền thừa và hoằng
dương Phật pháp. Đây chỉ là những ghi chép
vụn vặt tích cóp từ những ǵ chúng tôi may mắn
đọc được, chứ không phải là một
bài khảo luận đúng nghĩa. Dù cố gắng
hết sức ḿnh nhưng lực bất ṭng tâm nên chắc
chắn bài viết này không tránh khỏi những sai lầm
khó thể tha thứ. Ngưỡng mong các bậc thức
giả từ bi hoan hỷ, phủ chánh.
A.
Ngôn ngữ
và văn tự được sử dụng trong các
văn bản gốc Ấn Độ
* Ngôn
ngữ:
Theo tiên sinh Ḳgen Mizumo, ngôn ngữ
được chính đức Phật sử dụng trong
khi thuyết pháp là tiếng Magadhi (ngôn ngữ của
vương quốc Magadha, thường được kinh
điển Hán Tạng phiên âm là Ma Kiệt Đà hay Ma Già Đà. Đây
là một vương quốc rộng lớn ở trung
lưu sông Hằng). Trong thời đức Phật,
mỗi giai cấp sử dụng một ngôn ngữ riêng.
Giai cấp Bà La Môn sử dụng ngôn ngữ Vedic Sankrit
(tiền thân của tiếng Sankrit) và các thánh thư Vệ
Đà đều được viết bằng thứ
tiếng này. Với mục đích để bất cứ
thính chúng dù thuộc giai tầng nào cũng lănh hội
được giáo pháp Phật Đà, đức Phật đă
sử dụng thứ tiếng b́nh dân Magadhi rất phổ
biến thời đó và nghiêm cấm các đệ tử
không được dùng tiếng Vedic Sankrit để
giảng đạo.
Khi đạo Phật được lưu
truyền rộng răi khắp xứ Ấn Độ, các vị
đại đệ tử đă khéo ứng cơ sử
dụng ngay những ngôn ngữ bản xứ để
pháp âm được lưu thông rộng khắp. Vào thời
vua Asoka (A Dục vương), phương ngữ Paishachi
rất phổ biến ở miền Tây Ấn Độ. V́
vậy, các bản kinh bằng tiếng Magadhi cũng
được dịch sang tiếng Paishachi. Dần dà,
một ngôn ngữ mới là tiếng Pali được
phát sinh trên cơ sở tiếng Paishachi và được
sử dụng rộng răi khắp miền cao nguyên
Trong khi đó, ở Bắc Ấn, cùng
với sự phân chia các bộ phái, có đến ba ngôn
ngữ khác nhau được dùng để giảng
dạy kinh điển. Đó là tiếng tiền-Sankrit, Gatha
Sankrit và Gandhari Prakrit.
1. Tiền-Sankrit là một ngôn ngữ phái sinh
từ tiếng Vedic Sankrit, chủ yếu được
sử dụng bởi bộ phái Nhất Thiết Hữu
Bộ (Sarvastivada). Phần lớn các kinh, luận Tiểu
Thừa được ghi chép trong Hán Tạng xuất phát
từ bộ phái này. Sau này, tiền-Sankrit được
hệ thống, hoàn thiện, biến thành tiếng Sankrit và
được sử dụng rộng răi trong các tác
phẩm triết học, tôn giáo, văn chương ở Bắc
Ấn. V́ lẽ đó, các kinh điển Đại Thừa
đều được ghi chép bằng tiếng
Sankrit.
2. Gatha Sankrit là một dạng thông tục
hóa của ngôn ngữ Sankrit, chủ yếu được
sử dụng bởi giai cấp b́nh dân. Các kinh điển
Đại Thừa cổ nhất sử dụng ngôn ngữ
này. Dấu vết của những từ ngữ Gatha Sankrit
c̣n t́m thấy trong các bài kệ của các bản kinh quan
trọng như Pháp Hoa, Hoa Nghiêm. V́ được t́m
thấy chủ yếu trong các bài kệ nên thứ tiếng
này được gọi là Gatha Sankrit hay Buddhist Hybrid
Sankrit.
3. Gandhari Prakrit có cùng ngữ hệ với
tiếng Pali và nay chỉ c̣n thấy trong một phiên
bản kinh Pháp Cú t́m thấy ở Khotan vào năm 1890.
* Văn tự:
Thứ chữ dùng để ghi chép kinh
điển là chữ Brahmi và Kharoshti. Cả hai loại
chữ này đều bắt nguồn từ dạng
chữ h́nh nêm (cuneiform) của dân Phoenician. Chữ Kharoshti
cổ hơn chữ Brahmi, nó được dùng phổ
biến ở miền Tây Bắc Ấn. Sau này chữ Brahmi
chiếm ưu thế khiến chữ Kharoshti biến
mất.
Theo truyền thuyết, chính Phạm Thiên
(Brahma) đă sáng tạo ra chữ Brahmi, nhưng điều
này chỉ là một huyền thoại. Các thứ chữ
trên thế giới hiện nay, ngoại trừ chữ Hán
và những loại chữ phát sinh từ tiếng Hán như
chữ Nhật, chữ Nôm của ta, đều thoát thai
từ chữ Phoenician. Qua thời gian, dạng chữ Brahmi
càng ngày càng bị biến đổi theo từng
địa phương, trở thành những thể loại
chữ khác biệt. Chữ Brahmi ở Bắc Ấn có
nhiều góc cạnh, trong khi chữ Brahmi ở Nam Ấn trở
nên ngày càng tṛn trịa hơn (bảng chữ cái của
văn tự Miến, Miên, Lào, Thái được cải
biến từ dạng chữ Brahmi Nam Ấn). Văn
tự được dùng chính thức trong các văn
bản kinh điển Đại Thừa là dạng chữ
Siddhan (Tất Đàm) của hệ thống tự dạng
Brahmi Bắc Ấn. Hầu hết các văn bản kinh
điển được truyền thừa vào Trung Hoa
được viết bằng chữ Tất Đàm nên
đối với người Trung Hoa, chữ Tất Đàm
được đồng nhất với Brahmi qua danh
từ “Phạn tự”. Về sau có một dạng chữ
hoàn chỉnh và giản tiện hơn là hệ thống
chữ Devanagari. Chữ Tây Tạng và các hệ thống
văn tự thông dụng như Hindi, Punjabi… đă thoát thai
từ chữ Devanagari. Tuy
tiếng Pali được sử dụng thống
nhất trong các văn bản Phật Giáo Nam Truyền
nhưng mỗi nước lại sử dụng hệ
thống văn tự bản địa để ghi âm
tiếng Pali. Do vậy, muốn đọc Tam Tạng Nam
Truyền của Thái, người đọc sẽ không
thể đọc nổi được nếu không
biết tiếng Thái. V́ lẽ đó, tất cả các kinh
điển Nam Tông nếu được ấn hành ở
Phương Tây đều sử dụng cách kư âm bằng mẫu
tự Latin.
B.
Quá tŕnh phiên dịch kinh
điển Hán Tạng tại Trung Hoa:
B.1. Việc dịch thuật kinh điển
qua các thời đại:
Trung Hoa là xứ sở nổi tiếng
về tơ lụa. Sản phẩm này được các
nước khác, nhất là những tiểu quốc
thuộc Ấn Độ và Trung Đông ưa thích. Việc buôn bán
tơ lụa đă khiến một số tiểu quốc
ở Trung Á và Bắc Ấn thịnh vượng một thời.
Con đường vận chuyển tơ lụa
thường được các nhà sử học
phương Tây gọi là
Theo truyền thuyết, đạo Phật
được truyền vào Trung Hoa dưới triều
đại Tần Thủy Hoàng (246-210 trước Công
Nguyên) và bản kinh Phật giáo đầu tiên cũng
được dịch vào thời này. Tuy nhiên, các nhà nghiên
cứu đă phủ nhận tính xác thực của
truyền thuyết này v́ thời đó, các rợ Hồ
đă liên tục khuấy phá vùng biên giới phía Bắc
đế quốc Đại Tần khiến cho việc giao
thông giữa Ấn Độ và Trung Hoa hoàn toàn gián đoạn.
Tần Thủy Hoàng phải phong tỏa biên giới
bằng cách xây Vạn Lư Trường Thành. Măi đến
thời vua Hán Vũ Đế (141-87 trước Công Nguyên),
nền thương mại giữa Ấn Độ và Trung Hoa
mới được tái lập và quan hệ liên minh,
chư hầu giữa Trung Hoa với các tiểu quốc
Trung Á h́nh thành.
Hiện nay, đa số các nhà học
giả nghiêng về giả thuyết đạo Phật
được truyền vào Trung Hoa dưới thời Hán
Minh Đế (57-75 sau Công Nguyên). Huyền thuyết
thường được nhắc đến là trong
giấc mộng, Hán Minh Đế mơ thấy người
vàng hiện thân trước đền, và theo lời khuyên
của quan Thái Sử đoán mộng, vua đă cho
người sang Thiên Trúc thỉnh kinh, đồng thời
thỉnh được hai vị cao tăng thời đó
là ngài Ca Diếp Ma Đằng (Kasyapamatanga) và Trúc Pháp Lan
(Dharmaraksa) đến Lạc Dương, kinh đô nhà
Hậu Hán. Bản kinh đầu tiên được
dịch là kinh Tứ Thập Nhị Chương. Tuy
thế, các nhà khảo cứu vẫn cho rằng, xét trên
văn phong, cú pháp, kinh Tứ Thập Nhị Chương
chỉ có thể dịch sớm nhất vào thời Tam
Quốc (220-280). Như vậy, những bản dịch kinh
cổ nhất phải là bản dịch của ngài An
Thế Cao (mất năm 170) và Chi Lâu Ca Sấm (Lokakshema 147-185).
Ngài An Thế Cao không rơ sinh năm nào, ngài là
vương tử nước An Tức (
Ngài Chi Lâu Ca Sấm, người nước
Đại Nhục Chi (v́ thế, tên ngài được
người Tàu thêm chữ Chi vào đằng trước),
đến Trung Hoa vào thời Hán Hoàn Đế (147-167), dịch
được 20 bản kinh. Hiện chỉ c̣n giữ
được 12 dịch phẩm của ngài như kinh Bát
Châu Tam Muội, kinh A Xà Thế Vương, kinh Vô
Lượng Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác, kinh Bảo Tích.
Dựa trên giáo nghĩa kinh Bát Châu Tam Muội, vào thời
Ngụy - Tấn, sơ tổ Tịnh Tông Huệ Viễn
đă đề xướng việc kết xă niệm
Phật. Dịch phẩm quan trọng nhất là Bát Thiên
Tụng Bát Nhă (Ashtasahasrika prajaparamita sutra, c̣n gọi là kinh
Đạo Hành Bát Nhă). Kinh này đă thúc đẩy phong trào
Huyền Học Thanh Đàm rất mạnh thời Ngụy -
Tấn. Có thể nói ngài Chi Lâu Ca Sấm là một trong
những vị cổ đức tiên khởi góp phần
Đại Thừa hóa Phật Giáo Trung Hoa.
Để độc giả Trung Hoa có thể
lănh hội được các giáo nghĩa uyên áo của
Phật giáo, các nhà dịch kinh thời sơ khởi đă
phải vay mượn một số thuật ngữ Lăo
Giáo để diễn giải. Danh từ chuyên môn gọi
cách diễn giải Phật giáo bằng từ ngữ Lăo
Giáo là “cách nghĩa”. Về sau, khi Phật giáo đă
được phổ cập rộng lớn, việc vay
mượn các từ ngữ Lăo Giáo để dịch kinh
đă bị các dịch sư, tông sư, nhất là ngài
Đạo An, quyết liệt bác bỏ.
Nh́n chung, các kinh điển được
dịch trong suốt một thời gian dài từ thời
Hậu Hán (25-220) đến tận gần cuối
đời Nguyên (1280-1368). Số lượng kinh, luật,
luận và sớ giải được hoàn thành nhiều
nhất vào thời Đường (618-907) với 1.191 tác
phẩm của 261 dịch giả và soạn giả.
Tiếp đó là đời Tống ((960-1280). Đến
đời nhà Nguyên (1280-1368), chỉ có mỗi ḿnh ngài Sa La
Ba dịch một số nghi quỹ Mật Tông mà thôi.
Để h́nh dung được công sức
vĩ đại của chư Tổ trong việc phiên
dịch, chúng ta hăy thử xét qua trường hợp kinh Bát
Nhă. Trước đó, tuy ngài Chi Lâu Ca Sấm đă dịch
kinh Bát Thiên Tụng Bát Nhă, nhưng bản dịch này
vẫn c̣n nhiều điểm chưa rơ ràng; v́ thế,
sư Châu Sĩ Hành (203-282), một học giả nổi
tiếng thời Tam Quốc, đă nhất quyết sang Tây
Vực để t́m một bản kinh gốc hoàn chỉnh
hơn. Năm 260, Sư đến Vu Điền (Khotan) và nghe
nói tại đó có một bản kinh Bát Nhă hoàn chỉnh, bèn
xin quốc vương cho thỉnh một bản. Khi
đó, Vu Điền theo Tiểu Thừa và coi kinh Bát Nhă là
ngụy kinh. Quốc vương không muốn ngụy
thuyết được lưu truyền ra ngoài nên đă
từ chối và toan đốt kinh. Châu Sĩ Hành đă
phải tốn nhiều công sức mới thuyết
phục được vua cho xin bản kinh ấy đem
về Trung Hoa. Măi đến năm 291, các vị Trúc Thúc Lan
và Vô La Xoa mới dịch kinh này sang tiếng Hán với
tựa đề Phóng Quang Bát Nhă (Panchavimshati sahasrika
prajnaparamita sutra, hay c̣n gọi là Nhị Thập Ngũ Thiên
Tụng Bát Nhă). Một trường hợp khác là kinh
Phật Đảnh Tôn Thắng: khi ngài Phật Đà Ba Lỵ
dịch xong kinh này, thấy pháp bảo quá vi diệu, vua
đă tịch thu cả bản dịch lẫn Phạn
bản để giữ kín làm của riêng trong cung. Sau bao
lần khẩn cầu, ngài Phật Đà Ba Lỵ mới xin
lại được Phạn bản và lại phải
dịch lại từ đầu. Trường hợp kinh
Lăng Nghiêm cũng thế: kinh này được coi là pháp
bảo quốc gia nên vua nghiêm cấm truyền ra ngoại
quốc. Ngài Bát Lạt Mật Đế phải chép kinh trên
lụa, mổ bắp tay nhét vào, giả vờ bị
thương mới mang đến Trung Hoa được.
Các vị cổ đức dịch kinh
nhiều nhất là ngài Bất Không (176 dịch phẩm), Thi
Hộ (153 dịch phẩm), Trúc Pháp Hộ (91 dịch
phẩm), Huyền Trang (91 dịch phẩm), Pháp Hiền (74
dịch phẩm), Nghĩa Tịnh (70 dịch phẩm), An
Thế Cao (55 dịch phẩm), Cưu Ma La Thập (49
dịch phẩm), Xà Na Quật Đa (35 dịch phẩm), Chân
Đế (32 dịch phẩm), Bồ Đề Lưu Chi (29
dịch phẩm), Cầu Na Bạt Đà La (28 dịch
phẩm), Trúc Đàm Vô Lan (27 dịch phẩm), Bồ Đề
Lưu Chí (25 dịch phẩm), Kim Cang Trí (24 dịch
phẩm), Thiên Tức Tai (18 dịch phẩm), Thiện Vô Úy
(18 dịch phẩm)…
Thoạt đầu, việc dịch kinh mang
tính cách cá nhân tự phát cho nên có nhiều bản kinh
được dịch bởi nhiều dịch giả khác
nhau, nhất là trong thời kỳ Trung Hoa bị chia năm
xẻ bảy thành các tiểu quốc sau khi nhà Tây Tấn
mất ngôi. Có những vị gặp đủ những
hoàn cảnh ngang trái nhưng vẫn bền ḷng dịch kinh.
Một thí dụ cụ thể là trường hợp
của ngài Chân Đế (Paramartha 499-569). Ngài sống vào
triều Trần và Lương thời Nam Bắc Triều.
T́nh h́nh loạn lạc triền miên khiến cho ngài không bao
giờ có được một trụ xứ nhất
định trong một thời gian dài để toàn tâm
phiên dịch kinh điển, cứ phải liên tục di
chuyển. Tuy thế, sức phiên dịch của ngài
thật đáng khâm phục (32 dịch phẩm lớn).
Những dịch phẩm nổi tiếng nhất của
ngài là kinh Kim Quang Minh (Suvarnaprabhasa sutra), kinh Kim Cương,
Phật Thuyết Giải Tiết Kinh (tên khác của kinh
Giải Thâm Mật), Thập Thất Địa Luận
(Saptadasha bhumika sastra, tức là một phần của Du Già
Sư Địa Luận), A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận
(Abhidharmakosha sastra). Ngoài ra ngài c̣n viết nhiều bộ
luận sớ để giải thích kinh điển,
nhưng tiếc rằng chúng đă bị thất lạc
hết. Có những vị đă là nạn nhân của
những âm mưu chính trị của các vương
quyền như ngài Đàm Vô Sấm: Ngài Đàm Vô Sấm là một
dịch sư lỗi lạc thời Bắc Lương.
Khi đó, Bắc Lương luôn bị bộ tộc Thác
Bạc quấy phá. Bộ tộc này đă diệt nhà
Hậu Tần và lập ra nhà Bắc Ngụy. Bắt
chước Diêu Hưng nhà Dao Tần sùng thượng
Phật giáo, vua Bắc Ngụy đ̣i nhà Bắc
Lương phải giao cống ngài Đàm Vô Sấm. Vua Bắc
Lương thời ấy là Thư Cừ Mông Tốn e
sợ nhà Bắc Ngụy sẽ dùng tài trí lỗi lạc
của Pháp Sư để thôn tính ḿnh nên đă sai
người phục kích giết chết Pháp Sư khi ngài
đi về phía Tây kiếm thêm tài liệu để hoàn
chỉnh bản dịch kinh Niết Bàn.
Không giống như trường hợp
của ngài Chân Đế, các đạo tràng dịch kinh
của hai vị Cưu Ma La Thập và Huyền Trang
được tổ chức rất quy mô:
- Khi ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch kinh
Đại Bát Nhă, ngài lănh đạo một nhóm rất đông
các vị tăng sĩ và học giả có tŕnh độ
thế học lẫn nội điển rất cao như
Tăng Duệ, Tăng Triệu v.v… Thoạt đầu,
Đại Sư đọc văn bản bằng tiếng
Phạn rồi đọc lời dịch sang tiếng Hán.
Những vị bút thọ sẽ cùng chép lại thành
nhiều bản để phát hiện những sai lầm
nếu có. Kế đó, bản dịch sơ khởi
sẽ được so với các bản dịch của
tác giả khác trước đó như bản dịch
của ngài Đàm Ma La Sát (Dharmaraksa), ngài Vô Xoa La để
giảo chánh. Sau khi bản dịch sơ khởi đă
được chứng nghĩa, các vị học giả
và tăng sĩ sẽ nhuận sắc, tu từ, gọt
dũa sao cho bản dịch vừa bóng bẩy vừa
lưu loát, nhưng không làm sai lạc ư nghĩa. Do đó, những
bản dịch của Đại Sư La Thập gồm
đủ ba đức tính: tín (chính xác), đạt (dễ
hiểu) và nhă (thanh tao, bóng bảy).
- Đạo tràng dịch kinh của ngài
Huyền Trang c̣n quy mô hơn nữa. Khi dịch kinh,
thoạt tiên Pháp Sư đọc lời dịch từ
tiếng Phạn sang Hán. Một vị bút thọ sẽ chép
lại lời khẩu dịch này, trong khi một vị
tăng khác sẽ kiểm lại bản gốc và chứng
thực sự chân xác của các từ Phạn do Pháp Sư
tuyên đọc. Một vị chứng nghĩa sẽ
thẩm định ư nghĩa từng câu, từng chữ
trong bản dịch. Một vị tăng khác sẽ
kiểm từng chữ trong bản Hán để
đảm bảo không chữ Hán nào bị dùng sai hay chép sai
nét. Một vị tăng khác sẽ nhuận sắc,
hiệu đính bản dịch sao cho lời văn
được thanh nhă, lưu loát, dễ hiểu. Cuối
cùng, một vị tổng giám tu sẽ thẩm định
toàn bộ quá tŕnh dịch thuật bản kinh ấy. V́
lẽ đó, những bản dịch của ngài Huyền
Trang cực kỳ tinh xác.
Cung cách dịch thuật này được
tuân thủ chặt chẽ vào thời Tống và phát
triển thành chín công đoạn. Dù được phiên
dịch bằng công sức tập thể dưới
sự chỉ đạo của một vị Tam Tạng
Pháp Sư như trường hợp đạo tràng
dịch kinh của ngài Huyền Trang hay cá nhân như ngài Chi
Khiêm, thể thức phiên dịch kinh điển Hán
Tạng có thể phân thành hai trường phái lớn:
1. Trường phái Cựu Dịch: tức
là những kinh được dịch từ ngài Cưu Ma
La Thập trở về trước, chú trọng việc
chuyển tải ư kinh là chính, lược bỏ những
phần trùng lặp.
2. Trường phái Tân Dịch: do ngài
Huyền Trang khởi xướng. Đại Sư chủ
trương không lược bỏ bất cứ một
chữ nào. Dịch trung thành và bám sát bản gốc dù
bản gốc rườm rà cách mấy.
Theo truyện kư, khi bắt đầu phiên
dịch bộ kinh Đại Bát Nhă, pháp sư đă 62 tuổi.
Để dịch tác phẩm này, đại sư và các môn
đệ đă dựa vào ba bản gốc tiếng
Phạn mang từ Ấn Độ về. Xin mở ngoặc
là tất cả các bản kinh Bát Nhă hiện có trong Đại
Tạng như kinh Đại Bát Nhă (bản dịch của ngài
Cưu Ma La Thập), Phóng Quang Bát Nhă, Kim Cang Bát Nhă, Tiểu
Phẩm Bát Nhă, Nhân Vương Hộ Quốc Bát Nhă v.v…
chỉ là những pháp hội khác nhau trong bản kinh Đại
Bát Nhă 600 quyển do ngài Huyền Trang dịch. V́ bản
gốc quá dài và có nhiều ư tưởng trùng lặp, các môn
đệ đă xin thầy chỉ nên dịch những
phần trọng yếu như cách Pháp Sư Cưu Ma La
Thập dịch kinh. Trong khi c̣n đang phân vân trước những
lời khuyên này, ngài liên tiếp gặp phải những
cơn ác mộng như thấy ḿnh đang trèo lên vách đá
cheo leo và bị ác thú tấn công. Cuối cùng, đại
sư quyết định dịch kinh đúng như
bản gốc không thêm bớt ǵ. Ngay đêm ấy, ngài
mộng thấy đức Phật và chư Bồ Tát
hiện đến, phóng quang minh từ tướng
bạch hào khiến thân ngài ngập tràn pháp hỷ. Trong quá
tŕnh dịch kinh, không những ḿnh ngài Huyền Trang mà
cả các môn đệ cũng mộng thấy những
giấc mơ tốt lành.
Ngài Huyền Trang đă đề ra năm
nguyên tắc chính trong việc phiên dịch mệnh danh là
“ngũ chủng bất phiên” (năm lư do cần phải
giữ nguyên âm tiếng Phạn):
a. Bí mật bất phiên: Đây là
trường hợp các đà ra ni và mật chú là lời nói
sâu xa, mầu nhiệm, bí mật của chư Phật,
chư Bồ Tát, không thể phiên dịch được.
b. Đa nghĩa bất phiên: Một từ
bao gồm quá nhiều nghĩa, nếu dịch ra tiếng
Hán chỉ diễn đạt được một
nghĩa. Ví dụ chữ Bhagavat có đến sáu nghĩa nên
chỉ phiên âm là Bà Già Bà hay Bạc Già Phạm.
c. Phi hữu bất phiên: tên những
thứ ở Trung Hoa không có th́ không dịch, chẳng
hạn như tên các loại cây, các loại ngọc quư, các
thứ dược thảo, ví dụ như Diêm Phù Đàn
(Jambhudana).
d. Cổ dịch bất phiên: Các từ
ngữ từ xưa đă phiên âm chứ không dịch
nghĩa như A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề.
e. Thất nghĩa bất phiên:
Những chữ nếu dịch ra sẽ mất nghĩa
như chữ Niết Bàn, Bát Nhă. Bát Nhă có nghĩa là trí
huệ, nhưng Bát Nhă không phải là thứ trí huệ thông
tục như thế gian thường hiểu nên không phiên.
Năm nguyên tắc này đa số
được các dịch giả sau thời ngài Huyền
Trang tuân thủ chặt chẽ.
Cũng trong thời đại nhà
Đường, Tam Tạng thánh giáo đă hầu như hoàn
chỉnh, các bộ kinh, luật, luận Đại Thừa
đă được dịch ra. Phần lớn các kinh
điển Mật giáo cũng được dịch trong
thời kỳ này. Được sự bảo trợ của
vương triều, công cuộc nghiên cứu và dịch
thuật kinh điển đă đạt đến
mức phức tạp nhất. Mỗi thế hệ
dịch kinh đă ghi lại dấu ấn ngôn ngữ và
văn hóa thời đại lên bản dịch, nhưng các
bản dịch kinh đều cùng chia sẻ một
đặc tánh: rơ ràng, ngắn gọn, nói trực tiếp,
không dùng những điển tích cầu kỳ, hoa mỹ
giống như các tác phẩm trước tác của chư
Tổ Trung Hoa. Khi ngài Chi Khiêm thời Đông Ngô dịch kinh Pháp
Cú, ngài toan vận dụng thi pháp bóng bảy của Trung
Quốc th́ đă bị pháp sư Duy Kỳ Nạn
người Thiên Trúc quở trách. Theo Duy pháp sư, tự
thân Phật ngôn đă tinh túy, hay đẹp, không cần
phải dùng những hoa ngôn, ỷ ngữ thế gian
để vẽ vời thêm khiến cho thánh giáo bị sai
lạc ư nghĩa. Ngài Chi Khiêm đă tuân thủ lời
khuyến hóa ấy nên bản dịch kinh Pháp Cú của ngài
rất giản phác, trong sáng, dễ hiểu.
B.2. Các
đại dịch giả
V́ khuôn khổ hạn chế của bài
viết, chúng tôi chỉ xin nêu lên công nghiệp và hành
trạng của một vài đại dịch giả tiêu
biểu nhất:
a.
Cưu Ma La
Thập (Kumarajiva 344-413):
Đại sư là người xứ Quy Tư
(Kucha), cha là Cưu Ma La Viêm, người Ấn Độ. Cha
ngài đă bỏ chức Tướng Quốc đi tu. Trong
quá tŕnh du hóa, Cưu Ma La Viêm đă đến Quy Tư và
bị vua xứ này ép phải lấy công chúa em ruột vua.
Trong khi mang thai Đại Sư, bà mẹ trở nên sùng tín
đạo Phật và thông tuệ khác thường. Sau khi
sinh ra Đại Sư, bà đă đ̣i xuất gia, nhưng ông
chồng không chấp thuận cho đến khi đứa
con thứ hai ra đời. Lúc bà xuất gia, Đại Sư
vừa tṛn bảy tuổi.
Khi lên chín, Đại Sư theo mẹ sang Ấn
Độ cầu học với đại sư Bandhudatta, ngài
được dạy hai bộ kinh quan trọng là
Trường A Hàm và Trung A Hàm. Dù c̣n rất trẻ, Đại
Sư đủ sức khuất phục mọi tăng
sĩ ngoại đạo trong những cuộc tranh
luận. Trở về Quy Tư năm 20 tuổi, Đại
Sư cùng mẹ lại tiếp tục tham học các
nơi thuộc vùng Trung Á. Đại Sư học Tăng
Nhất A Hàm và luận A Tỳ Đàm tại Kashgar. Sư
học Thập Tụng Luật (Sarvastidin Vinaya) với ngài
Phật Đà Da Xá (Buddhayasas), học Trung Đạo Luận
(Madhyamaka Shastra), Bách Luận (Shatika sastra) và Thập Nhị
Môn Luận (Dvadashamukha sastra) với hoàng tử Suryasoma
ở Yarkand.
Do thâm nhập kinh điển Đại
Thừa cùng tài luận nghị vô ngại, Đại Sư
đă nhanh chóng nổi tiếng khắp vùng Trung Á. Ngay
cả các vua chúa Trung Hoa cũng mến mộ đức
hạnh ngài. V́ thế, vua nhà Tiền Tần là Phù Kiên (cai
trị từ 357-385) đă sai tướng Lữ Quang sang
đánh chiếm Quy Tư để bắt cho
được ngài về nước. Một bộ
tướng của Phù Kiên là Diêu (Dao) Trành đă soán ngôi vào
năm 384, lập ra nhà Hậu Tần. Nhân cơ hội
đó, Lữ Quang chiếm cứ Lương Châu và tự
xưng vương, giữ riệt Đại Sư ở
Lương Châu. Măi đến khi Diêu Trành chết, con trai là
Diêu Hưng (cai trị từ 393-415) hạ được
Lữ Quang, mới đưa được Đại Sư
về Trường An. Khi đó, Đại Sư đă 50
tuổi.
Diêu Hưng tôn Đại Sư làm Quốc Sư
và đích thân tham dự đạo tràng dịch kinh. Ba
dịch phẩm: Trung Luận, Bách Luận và Thập
Nhị Môn Luận của Đại Sư là ba tác phẩm
trọng yếu để lập tông của Tam Luận
Tông Trung Hoa. Dù số lượng dịch phẩm không
nhiều bằng các vị khác, nhưng những dịch
phẩm của Đại Sư được lưu
truyền rộng răi nhất từ trước đến
nay v́ mức độ tinh xác và lời văn thanh nhă, mang đầy
nhạc điệu. Đại sư đă dịch các bản
kinh, luận, luật sau đây:
Kinh Phật thuyết Hải Bát Đức kinh,
Phật thuyết Phóng Ngưu kinh, Đại Trang Nghiêm Kinh
Luận, Chúng Kinh Soạn Tạp Thí Dụ, Ma Ha Bát Nhă Ba La
Mật kinh, Tiểu Phẩm Bát Nhă Ba La Mật kinh, Kim Cang
Bát Nhă Ba La Mật kinh, Phật thuyết Nhân Vương
Hộ Quốc Bát Nhă Ba La Mật kinh, Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật
Đại Minh Chú kinh, Diệu Pháp Liên Hoa kinh, Thập Trụ
kinh, Phật thuyết Trang Nghiêm Bồ Đề tâm kinh,
Phật thuyết Tu Ma Đề Bồ Tát kinh, Phật
thuyết A Di Đà kinh, Tập Nhất Thiết Phước Đức
Tam Muội kinh, Phật Thùy Bát Niết Bàn Lược
Thuyết Giáo Giới kinh, Tự Tại Vương Bồ
Tát kinh, Phật thuyết Thiên Phật Nhân Duyên kinh, Phật
thuyết Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật kinh, Phật
thuyết Di Lặc Đại Thành Phật kinh, Văn Thù Sư
Lợi Vấn Bồ Đề kinh, Duy Ma Cật Sở
Thuyết kinh, Tŕ Thế kinh, Bất Tư Nghị Quang
Bồ Tát Sở Thuyết kinh, Tư Ích Phạm Thiên Sở
Vấn kinh, Thiền Bí Yếu Pháp kinh, Tọa Thiền Tam
Muội kinh, Bồ Tát Ha Sắc Dục Pháp kinh, Thiền
Pháp Yếu Giải, Tư Duy Lược Yếu Pháp,
Đại Thụ Khẩn Na La Vương Sở Vấn kinh,
Phật thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội kinh,
Chư Pháp Vô Hành kinh, Phật Tạng kinh, Phật thuyết
Hoa Thủ kinh, Đăng Chỉ Nhân Duyên kinh, Khổng
Tước Vương Chú kinh, Thập Tụng Tỳ Kheo
Ba La Đề Mộc Xoa Giới Bản, Phạm Vơng kinh,
Đại Trí Độ Luận, Thập Trụ Tỳ Bà Sa
Luận, Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận, Bách
Luận, Thành Thật Luận, Phát Bồ Đề Tâm Kinh
Luận, Mă Minh Bồ Tát Truyện, Long Thọ Bồ Tát
Truyện, Đề Bà Bồ Tát Truyện.
b.
Huyền
Trang (596-664)
Ngài Huyền Trang sanh khoảng năm 596 trong
một gia đ́nh quư tộc ở Lạc Dương,
họ Trần húy Huy. Cha ngài là một vị quan đầu
tỉnh dưới thời Tùy Dạng Đế (604-618). Khi nhà
Tùy mất ngôi, thân phụ ngài đă cáo quan về ở
ẩn nên gia đ́nh trở nên ngày càng túng bấn. Một
người anh của ngài đă xuất gia từ
trước là pháp sư Trương Tiệp đă đem
ngài Huyền Trang đến tu ở chùa Tịnh Độ. Tuy
mới tṛn mười một tuổi, ngài đă
đọc trôi chảy các kinh Duy Ma, Pháp Hoa và ham học
tột bực.
Năm ngài tṛn mười lăm tuổi, tài
học và sự hiểu biết của ngài đă vang
dội khắp Lạc Dương và các khu vực lân
cận. V́ không c̣n một pháp sư nào có thể chỉ
dạy thêm về nội điển, ngài liền
đến chùa Trang Nghiêm ở Trường An để
học hỏi thêm. Trên bước đường cầu
học, hai anh em ngài đă đến tận đất
Tứ Xuyên. Sau khi đă thọ Cụ Túc giới, Đại
Sư đă tham học khắp vùng Hoa Bắc, học Thành
Thật Luận với ngài Đạo Thâm, học kinh Tiểu
Thừa với pháp sư Huệ Hưu. Càng tham học, ngài
càng thấy c̣n có nhiều điểm tưởng như
mâu thuẫn trong các giáo nghĩa cũng như càng nhiều
nghi t́nh nảy sinh. V́ thế ngài quyết chí sang Tây Thiên tham
phỏng, cầu đạo. Đă bao lần Pháp Sư thỉnh
cầu Đường Thái Tông cho phép sang Thiên Trúc, nhưng
bị bác v́ lúc đó triều đ́nh nghiêm cấm thông
thương với Thiên Trúc do các rợ Hồ, nhất là
các bộ tộc Tây Tạng, liên tục quấy phá biên
giới phía Tây.
Măi đến năm 629, khi đă tṛn 30
tuổi, ngài lén theo chân những người dân tha
phương cầu thực v́ hạn hán khởi hành sang
Tây. Chuyến đi này rất gian khổ và nhiều phen ngài
đă tưởng phải mất mạng trong sa mạc.
Sau khi tham học nhiều nơi ở Thiên Trúc, ngài
đến Nalanda cầu pháp với pháp sư Giới
Hiền (Silabhadra). Vừa gặp mặt ngài, pháp sư
Giới Hiền đă khóc nức nở. Theo thị giả
Giác Hiền (Budhabhadra), pháp sư Giới Hiền bị
một ác tật trầm kha từ ba năm trước,
đau đớn không chịu đựng nổi,
đến nỗi nhiều phen Sư toan tự tử.
Sư Giới Hiền đă tuyệt thực chờ
chết th́ ngài mộng thấy Bồ Tát Văn Thù hiện
ra bảo: “Ông phải cố sống v́ trong tiền
kiếp, ông là vua đă ngược đăi nhiều
người nên kiếp này phải chịu đau khổ
khó nhẫn như thế. Sẽ có một vị Tăng
người Hoa t́m đến tham học. Nếu ông tận
tâm dạy tất cả những pháp ḿnh đă biết cho
ông ấy th́ mọi ác tật sẽ lành!”
Huyền Trang học Du Già Sư Địa
Luận với ngài Giới Hiền. Sau đó, ngài đi
khắp Nam Ấn học hỏi thêm về giáo nghĩa
Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa suốt 17 năm.
Không những chỉ quảng bác đa văn, pháp sư
Huyền Trang c̣n là một bậc biện tài vô ngại.
Trong đại hội Vô Già năm 641 do vua Harsha (Giới
Nhật) tổ chức tại Khúc Nữ thành (Kanyakubja) có
hơn 7 ngàn vị tăng và bà la môn tham dự, pháp sư
Huyền Trang đă tranh luận với các phái Tiểu
thừa và ngoại đạo. Ngài đă viết Chân Duy
Thức Luận để làm cơ sở tranh luận. Vua
Giới Nhật ghi dưới bản văn: “Nếu ai
nhận thấy một chữ sai lầm, trẫm xin
cắt đầu ḿnh tạ lỗi”. Không một ai t́m
được chỗ sơ sót nào trong bản luận
ấy. Do vậy, ngài hóa độ được rất
nhiều người trở về Đại Thừa. Năm
645, sau nhiều lần từ chối quyết liệt
những lời cầu thỉnh của các vua chúa Thiên Trúc,
ngài trở về Trường An mang theo 150 viên xá lợi, 6
tượng Phật gỗ trầm và 657 Phạn bản
gồm 224 bộ kinh và 192 bản luận. Ngoài ra ngài c̣n mang
theo nhiều trước tác của các tông phái Tiểu
Thừa .
Vua Đường Thái Tông hoan hỷ nghênh
đón pháp sư và do quá khâm phục tài trí trác tuyệt
của pháp sư nên đă nhiều phen cưỡng ép ngài
hoàn tục để lănh chức Tướng Quốc. Sau
nhiều lần khôn khéo cự tuyệt, thuyết phục,
cuối cùng nhà vua chấp thuận bảo trợ sự
nghiệp phiên dịch kinh điển của Pháp Sư.
Dưới tay ngài có 12 vị tăng đảm nhiệm
việc chứng nghĩa, 9 vị tăng đảm
nhiệm việc biên chép, hiệu đính, một vị
tăng thạc học đảm nhận kiểm soát
mức chân xác của từng chữ Hán được
chép. Ngay trong năm đầu, pháp sư đă dịch
được Bồ Tát Tạng Kinh gồm 20 quyển,
Phật Địa kinh (1 quyển) và Lục Môn Đà Ra Ni kinh (1
quyển). Năm kế đó (646), bộ Đại Thừa A
Tỳ Đạt Ma Tạp Tập Luận (12 quyển) được
phiên dịch. Bộ Du Già Sư Địa Luận (100
quyển) được hoàn thành vào năm 648.
Tuy bận rộn với công việc
dịch kinh, Đại Sư không bao giờ được
toàn tâm toàn ư để phiên dịch cả. Vua Thái Tông liên
tục triệu kiến ngài vào cung để hỏi han
về t́nh h́nh các tiểu vương quốc ở Thiên
Trúc. Đại Sư phải viết cuốn Đại
Đường Tây Vực Kư ghi chép tỉ mỉ t́nh h́nh các
nước Thiên Trúc để khỏi phải bị
quấy rầy về vấn đề này nữa. Ngoài ra,
Đại Sư phải tháp tùng nhà vua tham dự các pháp hội
cũng như những cuộc hỏi đạo
đột ngột bất cứ khi nào nhà vua cao hứng.
Mặc dù đă bước vào tuổi 50, sức làm
việc của Pháp Sư rất đáng vị nể. Ngoài
việc phiên dịch, Đại Sư c̣n truyền thụ
Bồ Tát Giới, giảng pháp cho hoàng tộc và các quan.
Năm 657, khi Vũ Hậu cầm quyền, bà cũng
rất thường hay phỏng đạo với pháp
sư đến nỗi ngài hầu như không c̣n thời
gian để phiên dịch nữa. Cuối cùng, pháp sư
phải xin vua Đường Cao Tông cho phép ḿnh được
yên tịnh dịch kinh ở chùa Từ Ân. Cuối năm
đó, ngài phải theo vua trở về Trường An và
xin được an cư ở cung Ngọc Hoa để
hoàn tất bản kinh lớn lao nhất bộ kinh Đại
Bát Nhă. Bộ kinh này gồm 200 ngàn bài kệ (khoảng 6
triệu bốn trăm ngàn chữ Phạn). Khi đó,
Đại Sư đă 62 tuổi. Bản dịch gồm 600
quyển (chiếm trọn 3 tập của Đại Chánh
Tạng) hoàn thành sau 4 năm làm việc cật lực quên
ăn bỏ ngủ của Đại Sư và môn đồ.
Tương truyền, khi bản dịch hoàn thành, trời
đổ mưa hoa, mọi người nghe thiên nhạc
ngân vang và thiên hương ngào ngạt.
Năm sau (664), môn nhân cầu thỉnh Pháp
Sư dịch kinh Bảo Tích. Vừa dịch
được vài ḍng, Pháp Sư biết sức ḿnh đă
cạn, không thể nào hoàn thành nổi nên ngài ngưng
lại. Tháng Hai âm lịch năm ấy, Đại Sư
thị tịch. Đại Sư để lại cho
đời chỉ 74 dịch phẩm, nhưng mỗi
dịch phẩm đều rất đồ sộ,
bằng mấy chục lần tâm huyết cả
đời của các vị pháp sư khác. Thể loại
các kinh, luận được ngài chọn dịch rất
đa dạng: từ hệ thống Bát Nhă, Tịnh Độ,
Kim Cang Thừa, Luật, Duy Thức cho đến Nhân Minh.
Xin hăy tạm kể những dịch phẩm tiêu biểu
của ngài như: Hiển Vô Biên Phật Độ Công Đức
kinh, Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập
Luân kinh, Thọ Tŕ Thất Phật Danh Hiệu Sở Sinh
Công Đức kinh, Tịch Chiếu Thần Biến Tam Ma
Địa Kinh, Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp
Thọ kinh, Giải Thâm Mật kinh, Xưng Tán Đại
Thừa Công Đức Kinh, Chư Phật Tâm Đà Ra Ni kinh,
Thập Nhất Diện Thần Chú kinh, Bất Không
Quyến Sách Thần Chú Tâm kinh, Thắng Tràng Tư Ấn Đà Ra
Ni kinh, Bồ Tát Giới Yết Ma Văn, A Tỳ Đạt Ma
Tập Dị Môn Túc Luận, A Tỳ Đạt Ma Thức Thân
Túc Luận, A Tỳ Đạt Ma Phẩm Loại Túc Luận,
Nhập A Tỳ Đạt Ma Luận, Ngũ Sự Tỳ Bà Sa
Luận, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận, Đại Thừa
Quảng Bác Luận Thích Luận, Du Già Sư Địa
Luận, Thành Duy Thức Luận, Nhiếp Đại Thừa
Luận Bổn, Biện Trung Biên Luận, Hiển
Dương Thánh Giáo Luận, Đại Thừa Thành Nghiệp
Luận, Quán Sở Duyên Duyên Luận, Nhân Minh Chánh Lư Môn
Luận Bản, Dị Bộ Tông Luân Luận…
c. Nghĩa
Tịnh (635-713)
Pháp
Sư sống vào đời Đường, người
huyện Trác, tỉnh Hà Bắc, họ Trương, tự
Văn Minh. Sư xuất gia từ nhỏ, bản tánh thông
minh, tham học khắp các danh đức. Noi gương
Đại Sư Pháp Hiển, ngài quyết tâm nhập Trúc
cầu pháp. Năm 671, sư theo đường biển
từ Quảng Châu đến Nam Dương, rồi qua
Ấn Độ. Sau khi tham học khắp các trung tâm Phật
giáo danh tiếng thời đó tại Thiên Trúc, sư đă
thỉnh về nước 400 bộ kinh luận tiếng
Phạn và 300 viên xá lợi. Vũ Hậu ra tận cửa
Thượng Đông nghênh tiếp Pháp Sư và sắc chỉ
sư an trụ tại chùa Phật Thọ Kư.
Trong
suốt 12 năm sau đó, từ 699 đến 711, sư
đă dịch được 56 tác phẩm gồm 230
quyển đủ các thể loại. Các bộ luật
trong Hữu Bộ Tỳ Nại Da ngày nay đa phần do
sư dịch. Ngoài việc phiên dịch, sư c̣n dạy
luật cho hàng hậu học. Tác phẩm Nam Hải Kư Quy
Nội Pháp Truyện (4 quyển) và Đại Đường Tây
Vực Cầu Pháp Truyện (2 quyển) là những di
liệu lịch sử rất quư về t́nh h́nh các tiểu
quốc ở Ấn Độ thời đó.
Các dịch phẩm tiêu biểu của
Đại Sư là: Phật thuyết Ngũ Uẩn Giai Không
kinh, Phật thuyết Tam Chuyển Pháp Luân kinh, Phật
thuyết Diệu Sắc Vương Nhân Duyên kinh, Phật
thuyết Kim Cang Năng Đoạn Bát Nhă Ba La Mật Đa kinh (bản
dịch khác của kinh Kim Cang), Dược Sư Lưu Ly
Quang Thất Phật Bản Nguyện Công Đức kinh
(chỉ mỗi bản kinh này chép đủ Dược
Sư thất Phật), Nhập Định Bất Định
Ấn kinh, Mạn Thù Thất Lợi Chú Tạng Trung
Giảo Lượng Sổ Châu Công Đức kinh, Phật
thuyết Lược Giáo Giới kinh, Phật thuyết
Phật Đảnh Tôn Thắng Đà Ra Ni kinh, Hương
Vương Bồ Tát Đà Ra Ni kinh, Phật thuyết Xưng
Tán Như Lai Công Đức Thần Chú kinh, Phật thuyết
Bạt Trừ Tội Chướng Chú Vương kinh,
Phật thuyết Nhất Thiết Công Đức Trang Nghiêm
Vương kinh, Kim Quang Minh Tối Thắng Vương
kinh, Căn Bản Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ
Nại Da, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu
Bộ Bí Sô Ni Tỳ Nại Da, Căn Bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da An Cư
Sự, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu
Bộ Tỳ Nại Da Phá Tăng Sự, Căn Bản Thuyết
Nhất Thiết Hữu Bộ Bách Nhất Yết Ma,
Lục Môn Giáo Thọ Tập Định Luận, Nhân Minh Chánh
Lư Môn Luận, Chưởng Trung Luận, Thành Duy Thức
Bảo Sinh Luận, Hộ Mạng Phóng Sinh Nghi Quỹ Pháp…
d. Bất Không Kim Cang (705-774)
Đại Sư người nước Sư
Tử (nay là Sri Lanka). Năm 14 tuổi, Sư theo pháp sư
Kim Cang Trí (Vajrabodhi) học văn tự Tất Đàm và
tụng tŕ Mật Tạng. Có thuyết nói Sư là ḍng Bà La
Môn, mồ côi từ nhỏ, theo chú đến Vũ Oai, Thái
Nguyên (Trung Hoa), sau thờ ngài Kim Cang Trí làm thầy.
Năm 720, Sư vượt biển
đến Lạc Dương. Năm 20 tuổi, Sư
thọ Cụ Túc Giới. Sư thông minh, tính t́nh nghiêm
cẩn, tu đắc pháp Ngũ Bộ Tam Mật. Sau khi ngài
Kim Cang Trí thị tịch, tuân theo di huấn, Sư cùng các
vị Hàm Quang và Huệ Biện sang Tây Trúc học 18 hội
Kim Cang Đảnh Du Già và Đại Bi Tỳ Lô Giá Na Thai Tạng,
5 bộ Quán Đảnh Chân Ngôn Bí Điển. Sư c̣n tham học
khắp các xứ Ngũ Thiên Trúc.
Năm 746, trở về kinh đô, sư làm
pháp quán đảnh cho vua Đường Huyền Tông và
trụ tại chùa Tịnh Ảnh. Do đảo vũ linh
nghiệm, Sư được ban hiệu là Trí Tạng và hồng
y. Vua Đại Tông phong cho Sư chức Hồng Lô Khanh, ban
hiệu là Đại Quảng Trí Tam Tạng. Sư lập
đạo tràng Mật giáo ở Ngũ Đà, Thái Nguyên. Sư
thị tịch năm 774, lưu lại 176 dịch phẩm
Mật Tông. Cùng với các ngài Cưu Ma La Thập, Chân
Đế và Huyền Trang, Sư được xưng tặng
là Tứ Đại Dịch Giả. Cùng với các vị
Thiện Vô Úy (Shubhakarasimha) và Kim Cang Trí, ngài được
người đương thời gọi là Khai Nguyên Tam
Đại Sĩ (ba vị đại sĩ trong niên hiệu
Khai Nguyên). Sư làm tổ sư đời thứ sáu
của Mật Tông Trung Hoa. Đệ tử nối pháp là Huệ
Quả. Ngài Huệ Quả về sau là bổn sư của
ngài Không Hải (Kukai), khai tổ Chân Ngôn Tông Nhật
Bản.
Dịch phẩm tiêu biểu: Đại Nhạo
Kim Cang Bất Không Chân Thực Tam Ma Da kinh, Đại Tỳ Lô
Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Tŕ Kinh Lược
Thị Thất Chi Niệm Tụng Nghi Quỹ Hành Pháp,
Đại Nhật Kinh Lược Nhiếp Niệm Tụng Tùy
Hành Pháp, Kim Cang Đảnh Nhất Thiết Như Lai Chân
Thực Nhiếp Đại Thừa Hiện Chứng Đại Giáo
Vương kinh, Kim Cang Đảnh Kinh Du Già Thập Bát Hội
Chỉ Quy, Nhuy Hế Da kinh, A Súc Như Lai Niệm Tụng
Nghi Quỹ, Vô Lượng Thọ Như Lai Quán Hạnh Cúng
Dường Nghi Quỹ, Kim Cang Đảnh Kinh Quán Tự
Tại Vương Như Lai Tu Hành Pháp, Cửu Phẩm Văng
Sanh A Di Đà Tam Ma Địa Tập Đà Ra Ni kinh, Bồ Đề Tràng
Sở Thuyết Nhất Tự Đảnh Luân Vương kinh,
Bất Không Quyến Sách Tỳ Lô Giá Na Phật Đại Quán
Đảnh Quang Chân Ngôn….
e. Chi Khiêm
Không rơ năm sanh và năm mất, chỉ
biết ngài sống vào thời Tam Quốc. Sư vốn là
người xứ Đại Nhục Chi, tự là Cung Minh. Ban
đầu, Sư đến Đông Độ, ở tại Hà Nam,
theo học với ngài Chi Lượng (đệ tử
của ngài Chi Lâu Ca Sấm). Sư thông thạo ngôn ngữ
sáu nước, đọc thông tất cả sách vở nên
được tặng mỹ hiệu là Trí Nang (cái túi trí
huệ). Sau Sư qua Đông Ngô, được Tôn Quyền tôn
làm Bác Sĩ dạy thái tử Tôn Lượng.
Trong suốt khoảng thời gian 222-253,
Sư dành trọn thời gian dịch kinh. Số
lượng dịch phẩm của sư rất lớn,
theo Lương Cao Tăng Truyện là 49 bộ, theo Lịch
Đại Tam Bảo Kỷ, quyển 5, là 129 bộ. Trong
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh có ghi 51 dịch
phẩm. Khi Thái Tử lên ngôi, Sư lui về ẩn cư
tại Khung Ải, theo ngài Trúc Pháp Lan giữ ǵn giới
luật, chuyên tu Thiền Định. Sư thị tịch
năm 60 tuổi. Có thể nói Sư là một trong những
bậc cổ đức khai phá sự nghiệp dịch
kinh của Trung Hoa. Lời văn dịch kinh của sư
trong sáng, găy gọn, chắc thật, giản phác. Do Sư
sống trong vương triều Đông Ngô thời Tam Quốc
nên các bản kinh do Sư dịch đều ghi tác giả
là Ngô Chi Khiêm.
Dịch phẩm tiêu biểu: Duy Ma Cật
kinh, Thái Tử Thụy Ứng Bản Khởi kinh, Đại
Minh Độ kinh…
f. Bồ Đề
Lưu Chi (Bodhiruci):
Không rơ năm sanh, chỉ biết ngài
sống vào thời Bắc Ngụy (386-534). Ngài là bậc
học giả lỗi lạc về Duy Thức, tinh thông
cả chú thuật, thông cả tam tạng. Năm 508
thời Ngụy Tuyên Vũ Đế, ngài đến Lạc
Dương, rất được vua kính trọng. Vua
thỉnh ngài trụ tại chùa Vĩnh Ninh, ngài chuyên tâm
dịch kinh, được tất cả 39 bộ.
Ngài cũng chú trọng vấn đề phán
giáo: Căn cứ vào kinh Đại Niết Bàn, ngài chia một
đời giáo hóa của đức Phật thành Măn Tự
Giáo và Bán Tự Giáo, cho rằng những pháp đức
Phật nói trong 12 năm đầu đều là Bán Tự
Giáo, sau đó mới là Măn Tự Giáo. Ngài cũng lập ra
giáo thuyết Nhất Âm Giáo, nghĩa là đức Như Lai
nói ra cùng một âm thanh nhưng muôn pháp cùng hiển bày. Tùy
theo căn tánh của thính chúng mà nghe nhận là giáo pháp Đại
Thừa, Tiểu Thừa. Ngài cũng là người
đầu tiên dựa vào giáo nghĩa kinh Lăng Nghiêm
để đưa ra khái niệm Đốn Giáo và Tiệm
Giáo. Do cùng dịch Thập Địa Kinh Luận với ngài
Lặc Na Ma Đề, ngài c̣n được tôn là Tổ
của Địa Luận tông. Chính ngài là người
truyền kinh Quán Vô Lượng Thọ cho ngài Đàm Loan. V́
thế, Tịnh Độ Tông Nhật Bản tôn ngài làm Sơ
Tổ, ngài Đàm Loan làm nhị tổ.
Dịch phẩm tiêu biểu: Kim Cang Bát Nhă Ba
La Mật, Phật thuyết Phật Danh kinh (thường
được biết dưới tên gọi Kinh Vạn
Phật), Già Da Sơn Đảnh kinh, Phật thuyết Văn
Thù Sư Lợi Tuần Hành kinh, Thắng Tư Ích Phạm
Thiên Sở Vấn kinh, Nhập Lăng Già kinh, Thâm Mật
Giải Thoát kinh, Vô Tự Bảo Khiếp Kinh, Kim Cang Tiên
Luận, Vô Lượng Thọ Ưu Ba Đề Xá kinh,
Quyền Hiện Kim Sắc Ca Na Bà Để Cửu Mục
Thiên Pháp, Sai Ma Bà Đế Thọ Kư kinh, Đại Bảo Tích Kinh
Luận…
g. Bồ
Đề Lưu Chí (Bodhiruci):
V́ hai vị đại sư sống kế
tiếp trong hai thời, nên rất nhiều người
bị lẫn lộn giữa hai vị Bồ Đề Lưu
Chi và Bồ Đề Lưu Chí. V́ thế, có người
đă nói ngài Bồ Đề Lưu Chi sống đến
hơn 200 tuổi. Thêm nữa, ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch
Đại Bảo Kinh Luận và ngài Bồ Đề Lưu Chí
dịch kinh Đại Bảo Tích nên càng dễ nhận lầm
hai người chỉ là một người.
Thật ra, ngài Bồ Đề Lưu Chí
thoạt đầu có tên là Đạt Ma Lưu Chi (Dharmaruci),
thuộc ḍng Bà La Môn, bẩm tánh thông minh, xuất gia trong
phái ngoại đạo từ năm 12 tuổi. Đến 60
tuổi, Sư mới giác ngộ Phật Pháp, liền
ẩn cư trong hang núi tu hạnh Đầu Đà. Sư học
pháp với ngài Da Xá Cù Sa, chưa đầy 5 năm đă
hiểu rơ. Đường Cao Tông nghe tiếng liền sai
người đến thỉnh qua Trung Hoa. Năm 693, ngài
đến Trường An, Vũ Hậu Tắc Thiên
cực kỳ kính trọng, ưu đăi. Cũng trong năm
này, ngài dịch được mười một bộ
kinh như Phật Cảnh Giới, Bảo Vũ…
Trong năm 706, đời Đường Trung
Tông, ngài trụ tích tại chùa Sùng Phước,
Trường An, dịch kinh Bất Không Quyến Sách
Thần Biến Chân Ngôn, Nhất Tự Phật Đảnh Luân
Vương… và tiếp tục sự nghiệp dịch kinh
Bảo Tích của ngài Huyền Trang. Do tuổi đă cao,
Sư chỉ dịch những pháp hội nào chưa
dịch, được 26 hội nữa, cộng chung
với bản cựu dịch thành 49 hội (120 quyển).
Năm 722, ngài đến chùa Trường Thọ. Tháng 9
năm 727, ngài tuyệt thực. Ngày mùng 5 tháng 11, Đại
Sư thị tịch, thọ 166 tuổi (?).
Tính ra ngài dịch được 53 bộ
kinh cả thảy; Đại Chánh Tạng và Tục Tạng
chỉ giữ lại được 25 bộ.
h. Thư Cừ Kinh Thanh:Đây là một trường hợp rất đặc biệt v́ Thư Cừ Kinh Thanh chỉ là một vị tục gia cư sĩ. Ông sanh năm nào không rơ, là em họ của Thư Cừ Mông Tốn, vua nước Bắc Lương, người Hung Nô, được phong An Dương Hầu. Là người thông minh nhớ dai, sáng suốt trí huệ, đọc nhiều sách, giỏi đàm luận. Thuở thiếu thời ông từng đến Vu Điền học Phạn văn, gặp ngài Phật Đà Tư Na tại Cù Ma Đế đại tự, học Kinh Thiền Yếu Bí Mật Trị Bệnh( Trị Thiền Bệnh Bí Yếu Pháp).
Sau ông về lại Hà Tây, gặp ngài Đàm Vô Sấm, ông lễ bái thân cận, thưa hỏi nhiều việc. Năm 439 nhà Bắc Lương đầu hàng Bắc Ngụy, ông đi về phía Nam đến ở trong lănh thổ nhà Lưu Tống, trong tâm chán ngán việc đời, thường đến các chùa tháp, phiên dịch kinh văn, các kinh do ông dịch hiện c̣n 16 bộ, 17 quyển: Phật thuyết Bát Quan Trai kinh, Phật thuyết Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng Sanh Đâu Suất Thiên kinh, Phật thuyết Tịnh Phạn Vương Bát Niết Bàn kinh, Phật thuyết Gián Vương kinh, Phật thuyết Chiên Đà Việt Quốc Vương kinh, Phật thuyết Ma Đạt Quốc Vương kinh, Phật thuyết Phật Đại Tăng Đại kinh, Phật thuyết Gia Kỳ kinh, Trị Thiền Bịnh Bí Yếu Pháp, Phật thuyết Tấn Học Kinh, Phật thuyết Ngũ Vô Phản Phục Kinh, Ngũ Phản Phục Đại Nghĩa kinh, Đệ Tử Tử Phục Sinh kinh, Phật thuyết Ca Diếp Cấm Giới kinh, Phật thuyết Ngũ Khủng Bố Thế kinh…. Ông mất năm 464. Năm sinh th́ không rơ.
Ngoài ra, c̣n rất nhiều vị dịch
kinh luận rất nhiều, nhưng các tác phẩm các ngài
dịch lại không được lưu hành rộng răi
như các vị Xà Na Cấp Đa (Jnanagupta), Cầu Na Bạt
Đà La (Gunabhadra), Thi Hộ (Danapala), Pháp Hiền (Dharmabhadra),
Pháp Thiên (Dharmadeva)... Có những vị dịch không
nhiều, chỉ có 15 bộ (hoặc là dịch nhiều
hơn, nhưng bị thất lạc) như ngài Thật
Xoa Nan Đà (Siksananda), nhưng quá bán những dịch phẩm
đó đă được lưu hành, nghiên cứu rộng
răi. Điển h́nh là kinh Hoa Nghiêm, kinh Địa Tạng Bồ Tát
Bản Nguyện, kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo,
kinh Đại Thừa Nhập Lăng Già, kinh Quán Thế Âm
Bồ Tát Bí Mật Tạng Như Ư Luân Đà Ra Thần Chú, kinh
Phật Thuyết Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà Ra Ni
Thần Chú, Đại Thừa Khởi Tín Luận. Riêng hai kinh
Quán Âm Như Ư Luân và kinh Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ
nói trên được Đông Mật Nhật Bản rất coi
trọng và tôn tượng Như Ư Luân Quán Âm
được thấy rất nhiều ở Nhật
Bản là do ảnh hưởng của kinh này. Nghi thức
Mông Sơn Thí Thực trong thời khóa công phu chiều
của Thiền Gia cũng dùng một số bài chú lấy
trong kinh Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ.
C.
Quá tŕnh
sớ giải, phán giáo (phân loại, hệ thống hóa kinh
điển) và thống kê kinh điển
C1. Sớ
giải và phán giáo:
Song song với việc phiên dịch kinh
điển, các vị cổ đức Trung Hoa cũng
viết những bản sớ giải để giải
thích nghĩa kinh cũng như tạo luận để
hiển dương giáo nghĩa của tông môn ḿnh. Các
bản sớ giải thường mang tên là Sớ như A
Di Đà Kinh Sớ của ngài Trí Khải hoặc Huyền
Luận (ví dụ như Pháp Hoa Huyền Luận của ngài
Cát Tạng), Huyền Nghĩa (Pháp Hoa Huyền Nghĩa
của ngài Trí Khải), hoặc Nghĩa Kư (ví dụ như
Pháp Hoa Kinh Nghĩa Kư của ngài Pháp Vân), hoặc Thuật Kư
(như Thành Duy Thức Luận Thuật Kư của ngài Khuy
Cơ). Đôi khi c̣n được gọi là Văn Cú như
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú của ngài Trí Khải.
Người viết nhiều nhất là tổ
Trí Húc (37 tác phẩm), Trí Khải (36 tác phẩm), Cát Tạng
(28 tác phẩm), Khuy Cơ (24 tác phẩm), Đạo Tuyên (23 tác
phẩm), Liên Tŕ Châu Hoằng (21 tác phẩm), Nguyên Hiểu
(18 tác phẩm), Quán Đảnh (14 tác phẩm). Sớ giải
không nhiều nhưng rất đồ sộ là ngài Thanh
Lương Hiền Thủ, tác giả của bộ Thanh
Lương Sớ chú giải kinh Hoa Nghiêm. Riêng tổ Vân Thê
Châu Hoằng c̣n lập ra một đường lối
độc đáo gọi là Sớ Sao (Sớ để
giải thích ư kinh, Sao để giải thích những
điểm khó hiểu, gút mắc trong lời Sớ). Có
những vị chỉ căn cứ vào các kinh điển
đă có cộng với kiến giải lỗi lạc
của ḿnh mà đề xướng ra những giáo nghĩa
gây choáng váng cho người đương thời như
trường hợp ngài Trúc Đạo Sanh chẳng hạn:
Ngài Đạo Sanh là một cao tăng học
giả thời Đông Tấn, người huyện Cự
Lộc (nay thuộc tỉnh Hà Bắc). Ngài vốn họ
Ngụy, nhưng thờ ngài Trúc Pháp Thải làm thầy nên
đổi sang họ Trúc. Ngài từng thọ học
với các bậc cao tăng thời ấy như ngài Lô
Sơn Huệ Viễn và ngài Cưu Ma La Thập. Qua nghiên
cứu kinh điển, Sư đă đề xướng
thuyết “xiển đề thành Phật, đốn
ngộ thành Phật” bị người đời cực
lực công kích. Sau này, khi ngài Đàm Vô Sấm dịch kinh
Niết Bàn, mọi người mới khâm phục kiến
giải thông tuệ của ngài.
Có thể người đầu tiên
khởi xướng việc sớ giải kinh điển
tại Trung Hoa là ngài Chi Khiêm qua tác phẩm Liễu Bản
Sanh Tử Kinh Giải. Nhưng người đi tiên phong
trong việc hệ thống hóa giáo nghĩa phải là ngài
Đạo An (312-385). Ngài quyết liệt bác bỏ
phương cách vay mượn thuật ngữ Lăo Giáo
để diễn tả những khái niệm phức
tạp của Phật giáo trong thời kỳ tiên khởi
của Phật giáo Trung Hoa. Suốt cuộc đời,
Sư tha thiết cầu pháp. Khi biết đến
đạo phong của pháp sư Cưu Ma La Phật, ngài
đă nhiều lượt thỉnh cầu vua Phù Kiên
triều Phù Tần cung thỉnh Pháp Sư nhập Hoa.
Tiếc thay, khi ngài La Thập đến được
Trường An, ngài Đạo An đă mất.
Chính ngài Đạo An đă quy định
tăng, ni phải lấy chữ Thích đặt
trước tên nhằm thuận theo ư kinh: mọi Phật
tử đều là đệ tử của Phật Thích
Ca, và khi xuất gia, mọi người dù thuộc giai
cấp nào đều b́nh đẳng thuộc về ḍng dơi
nhà Phật. Dựa theo kinh luật, ngài đă chế tác
tăng phục cho giới tăng sĩ Trung Hoa dựa theo
khuôn mẫu tăng phục của các vị Tăng Ấn
Độ. Tăng phục hiện tại của chư
Tăng dĩ nhiên đă trải qua nhiều canh cải,
nhưng ư tưởng chế ra y ca sa khoác ngoài áo dài mặc
trong bắt nguồn từ ngài Đạo An. Ngài cũng
đưa tăng đoàn vào khuôn khổ truyền giới,
thọ giới đúng theo pháp thức yết ma, tác
bạch như chư Tăng Thiên Trúc.
Pháp Sư Đạo An cũng chính là
người đầu tiên biên soạn mục lục kinh
điển nhằm thống kê những kinh đă
được dịch thời ấy. Danh mục này
liệt kê 374 bản kinh dựa trên hơn 500 bản
thảo mà ngài đă sưu tập được. Những
kinh nào bị mất tựa (v́ truyền thống chép kinh
của Thiên Trúc thường ghi tên kinh ở trang cuối),
ngài bèn thận trọng cân nhắc giáo nghĩa trong kinh
rồi đặt tựa mới.
Một trong những đóng góp quan trọng
của ngài trong việc ghi chép kinh điển là chia thành
quyển. Ở Ấn Độ, thoạt đầu, kinh
thường được ghi chép trên lá một loại
cây thuộc họ cọ tên là tala (cây đa la). Do tiếng
Phạn gọi lá loại cây đó là pattra (Tàu phiên âm là
bối đa la), nên từ đó về sau, kinh điển
nhà Phật thường được gọi là “bối
diệp kinh văn”. Khi ngài Huyền Trang du học Thiên Trúc,
ngài thấy ở Nam Ấn và Tích Lan vẫn c̣n dùng vật
liệu tương tự là lá cây palmira và talipot. Lá
được sơ chế và cắt thành những
mảnh dài kích thước 25x80 cm. Kinh được chép
bằng mực không phai, hay dùng mũi kim nhọn xâm chữ
xong quét mực lên. Các bản kinh chép xong được xỏ
dây buộc rồi dùng hai mảnh ván ép chặt lại
để bảo quản. Hiện tại, người Tây
Tạng vẫn dùng cách chép kinh và in kinh trên những mảnh
giấy dài và hẹp để mô phỏng cách chép kinh trên lá
bối thuở xưa.
Ở Trung Hoa, kinh thường
được chép trên một mảnh giấy dài
để cuộn thành trục hay xếp lại, đóng
thành từng quyển. Do khuôn khổ của giấy, các
bản kinh dài phải chia thành nhiều quyển và đánh
số cho dễ nhớ. Kinh được chia quyển
như vậy vừa tiện đọc tụng, vừa
không sợ rớt mất trang, lạc thứ tự như
cách chép kinh trong Phạn Bản. Ngay cả sau này, khi kỹ
thuật in kinh tối tân hơn, Phật Giáo Bắc Tông
vẫn chia thành quyển. Chẳng hạn, như kinh Pháp Hoa
gồm 8 quyển, mặc dù khi in chỉ có một tập
mà thôi. Cũng từ khái niệm “quyển” này, hai bản
dịch kinh Hoa Nghiêm tân dịch và cựu dịch,
được mệnh danh là Lục Thập Hoa Nghiêm và Bát
Thập Hoa Nghiêm (kinh Hoa Nghiêm bản 60 quyển và kinh Hoa
Nghiêm 80 quyển). Khi Trung A Hàm và Tăng Nhất A Hàm
được dịch ra tiếng Hán, ngài Đạo An đă
đích thân viết sớ giải. Ngài cũng viết
lời tựa giới thiệu cho bản dịch các
bộ luận Tỳ Bà Sa và các bản kinh thuộc Luật
Tạng.
Tuy thế, phải đợi đến
thời ngài La Thập truyền bá, phiên dịch kinh, giáo
nghĩa Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa mới
được nghiên cứu có hệ thống. Noi
gương ngài La Thập, chư Tổ đă nỗ
lực phiên dịch kinh, nên trong suốt thời gian Nam
Bắc Triều (317-589), các kinh điển Đại Thừa
được phiên dịch rộng răi với một
số lượng lớn. Mỗi kinh phô diễn một
giáo nghĩa độc đáo khiến cho giới học
Phật thời ấy đôi khi hoang mang v́ những khác
biệt giữa giáo nghĩa Tiểu thừa và Đại
Thừa cũng như các điểm khác biệt về
mặt giáo nghĩa giữa các kinh Đại Thừa. Để
hệ thống hóa tư tưởng Phật giáo, các vị
cổ đức đă lập ra hệ thống “giáo
tướng phán thích” hay gọi tắt là “phán giáo”. Hiểu
một cách đại lược, “phán giáo” là so sánh các
hệ thống giáo nghĩa, đặt chúng theo một tŕnh
tự hợp lư về mặt lư luận hay nói cách khác là
hệ thống hóa các kinh điển Phật giáo theo
một tiêu chuẩn nhất quán, triệt để
người học không bị bối rối v́ những
giáo nghĩa tưởng chừng mâu thuẫn nhau.
Thoạt đầu, chư vị cổ
đức phán giáo theo tiêu chí: phán định kinh nào sẽ
thuộc vào thời gian thuyết giảng nào của
đức Phật. Nhưng vào thời Tùy - Đường
(581-907), chư Tổ nghiêng về quan điểm: phán
định mỗi bộ kinh thuộc về hệ
thống tư tưởng giáo nghĩa, giáo thuyết nào.
Để giải thích v́ sao có nhiều giáo nghĩa khác nhau,
chư Tổ đă đưa ra hai thuyết:
1/
Thứ nhất, đức Bổn Sư giáo hóa cho nhiều
căn cơ khác nhau trong nhiều thời điểm khác
nhau như một vị y sư tùy bịnh cho thuốc. Tùy
mỗi căn cơ, Phật sẽ giảng pháp môn thích
hợp. Chẳng hạn như đối với kẻ
tham dục, Phật dạy tu Bạch Cốt Quán, Bất
Tịnh Quán. Đối với người chấp pháp, ngài
dạy Thập Nhị Nhân Duyên… Do đó, có đến tám
vạn bốn ngàn pháp môn (xin lưu ư là chữ “tám vạn
bốn ngàn pháp môn” ở đây chỉ là cách nói
tượng trưng cho một số lượng rất
lớn. Chứ thật ra có đến vô lượng vô
biên pháp môn).
2/
Thứ hai, Phật dùng viên âm để giảng pháp: Ngài
chỉ nói cùng một bài pháp, nhưng căn cơ thính chúng
sai khác nên nghe thành các bài pháp khác nhau. Đây chính là quan
điểm Nhất Âm Giáo của ngài Bồ Đề Lưu
Chi.
Căn
cứ vào cách giải thích thứ nhất, thoạt
đầu chư Tổ chia kinh Phật thành hai loại: Măn
Tự Giáo (kinh phô diễn trọn vẹn sự thật
tuyệt đối, thường được gọi là
Đệ Nhất Nghĩa Đế) và Bán Tự Giáo (kinh do
đức Phật phương tiện giảng nói
thuận theo kiến chấp thế gian để chúng sanh
dễ hiểu, dễ lănh thọ; giáo nghĩa này thường
được gọi là Tục Đế). Lập luận này
được minh chứng bằng kinh Niết Bàn: V́ chúng
sanh chấp pháp, chấp ngă nên Phật dạy vô thường,
vô lạc, vô ngă, vô tịnh; khi tứ chúng đạt
đến mức độ giải thoát Nhị Thừa,
ngài muốn dẫn họ lên một mức độ cao
hơn nên dạy về Chân Thường, Chân Lạc, Chân
Ngă, Chân Tịnh.
Khi
phán giáo, chư Tổ cũng thường dẫn khái
niệm Tứ Tất Đàn trong Đại Trí Độ Luận
của Bồ Tát Long Thọ để giải thích sự
khác biệt giữa giáo nghĩa của các kinh điển.
Tứ Tất Đàn là:
1.
Thế Giới Tất Đàn (hay c̣n gọi là Lạc Dục
Tất Đàn): tùy thuận pháp thế gian mà nói nghĩa nhân
duyên ḥa hợp, dùng các sự vật thế gian để
thuyết minh chân lư duyên khởi.
2.
Nhân Tất Đàn (hay c̣n gọi là Sanh Thiện Tất Đàn): tùy
theo căn cơ và năng lực của chúng sanh, Phật
giảng ra pháp môn thực tiễn xuất thế cho
mỗi người được lợi ích.
3.
Đối Trị Tất Đàn (Đoạn Ác Tất Đàn): nhằm
đối trị phiền năo nên tùy bịnh cho thuốc.
Chẳng hạn như v́ ngài Tôn Đà La Nan Đà tham dục,
Phật dùng phương pháp đưa tôn giả lên thiên
cung cho thấy các thiên nữ xinh đẹp tuyệt
trần để tôn giả hăng hái tu tập, và
cuối cùng, tôn giả đoạn được tham ái.
4.
Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn (Nhập Lư Tất Đàn): phá
trừ tất cả biện luận, lư luận xuông,
trực tiếp dùng chân lư tuyệt đối (Đệ
Nhất Nghĩa Đế, Thật Tế, Thật
Tướng) khiến chúng sanh thực sự khế
nhập chân lư.
Người
đầu tiên đưa ra khái niệm Đốn Giáo và
Tiệm Giáo chính là pháp sư Huệ Quán, đệ tử
của ngài La Thập, sống vào thời Lưu Tống.
Về Tiệm Giáo, ngài cho rằng một thời giáo hóa
của đức Phật chia làm năm thời kỳ: thời
A Hàm, thời Bát Nhă, thời Duy Ma, thời Pháp Hoa và thời
Niết Bàn. Tư tưởng này về sau được
tông Thiên Thai hoàn thiện. Đại Sư c̣n có công hội
tập hai bản kinh Niết Bàn, tạo thành một
bản kinh hoàn chỉnh. Có thể nói Sư là người
hội tập kinh điển đầu tiên của Trung
Hoa. Sở dĩ cần phải hội tập kinh Niết
Bàn v́ khi ngài Đàm Vô Sấm (Dharmkshema 385-433) dịch kinh
Đại Bát Niết Bàn vào thời Bắc Lương
dưới sự bảo trợ của vua Thư Cừ
Mông Tốn (cai trị từ 401-433), ngài nhận thấy
Phạn Bản ngài có chưa đầy đủ. Qua
nhiều lượt cử người sang Vu Điền
(Khotan) thỉnh Phạn bản, bản Niết Bàn do ngài
ĐàmVô Sấm dịch lên đến 40 quyển. Trong khi
đó, bản dịch kinh Niết Bàn của ngài Pháp
Hiển chỉ có sáu quyển. Mỗi bản có ưu
khuyết điểm riêng; v́ thế, ngài Huệ Quán đă
xướng suất các vị danh tăng thời đó
hội tập hai kinh Niết Bàn. Bản hội tập này
được gọi là kinh Niết Bàn bản Nam
để phân biệt với bản Bắc là bản
dịch của ngài Đàm Vô Sấm.
Đến
đời Tùy, việc sớ giải kinh điển
mạnh mẽ nhất. Kinh được giới học
Phật Trung Hoa thời đó quan tâm nhất là kinh Pháp Hoa.
Không thỏa măn với hai bản sớ giải ban
đầu là Pháp Hoa Kinh Nghĩa Sớ của ngài Đạo
Sanh (355-434) và Pháp Hoa Kinh Nghĩa Kư của ngài Pháp Vận
(467-529) viết vào thời Lương ở Nam Kinh, các
bản sớ giải khác được viết là
Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa của ngài Trí
Khải (538-597) và Pháp Hoa Kinh Huyền Luận của ngài Cát
Tạng (549-623) thuộc tông Tam Luận.
Tuy
chỉ thị hiện trên thế gian này trong một
thời gian ngắn (59 năm), những đóng góp của
Tổ Trí Khải thật vĩ đại. Đại Sư
đă hoàn thiện phương pháp chú giải, hoàn thiện
lư luận phán giáo đến mức độ tinh vi,
phức tạp nhất. Về phương diện chú
giải, Đại Sư đề ra “lục chủng thành
tựu” (để dễ hiểu về khái niệm này, xin
xem cuốn Quán Vô Lượng Thọ Sớ Sao của Ḥa
Thượng Thiền Tâm) và “ngũ trùng huyền nghĩa”,
tức là để giải thích một kinh, người
viết sớ giải phải tuân thủ năm
điều sau:
1.
Thích danh: giải thích đề mục kinh.
2.
Biện thể: luận về thể tánh kinh ấy
giải thích. Chẳng hạn, kinh Pháp Hoa lấy Thật
Tướng Trung Đạo làm thể.
3.
Minh tông: giải thích điều kinh đặc biệt
xiển dương. Chẳng hạn, tông chỉ kinh A Di Đà
là “tín hạnh tŕ danh”.
4.
Luận dụng: nêu công dụng của kinh, chẳng
hạn: công dụng của kinh Di Đà là “phổ nhiếp tam
căn văng sanh Cực Lạc, kiến tánh thành Phật”.
5.
Phán giáo: Phán định giáo tướng của kinh.
Chẳng hạn như kinh Di Đà thuộc về Viên Giáo,
thuộc về Bồ Tát tạng.