Lược truyện Lăo Cư Sĩ Hạ Liên Cư (1884-1965)

Liên Hải kính ghi

Lăo cư sĩ Hạ Kế Tuyền, tự Phổ Trai, hiệu Cừ Viên; khi tỵ nạn tại Nhật Bản, lấy tên là Hạ Tuyền, khi về nước đổi thành Liên Cư, biệt hiệu là Nhất Ông. Hạ lăo cư sĩ là người Vận Thành, tỉnh Sơn Đông, là con trưởng của quan đề đốc hai tỉnh Vân Nam – Quư Châu triều Thanh là cụ Hạ Tân Dậu, thụy hiệu Tráng Vũ Công. Hạ lăo cư sĩ sanh ngày 20 tháng Ba năm 1884 (tức ngày 23 tháng Hai năm Giáp Thân) tại Vu Điền, Tân Cương. Về già, cụ sống tại Bắc Kinh; đến ngày 14 tháng 12 năm 1965 (tức ngày 22 tháng 11 năm Ất Tỵ), cụ không bịnh mà mất, trụ thế 82 năm.

Sinh b́nh, cụ Hạ từng giữ các chức vụ tri châu tỉnh Trực Lệ, tri huyện Tịnh Hải, tri phủ Giang Tô, đoàn luyện phó đại thần tỉnh Sơn Đông. Sau cách mạng Tân Hợi (1911), cụ Hạ được cử giữ chức hội trưởng hội Liên Hiệp Các Giới tỉnh Sơn Đông để tuyên cáo tỉnh Sơn Đông độc lập. Khi chế độ Dân Quốc được thành lập, cụ được mời giữ chức cố vấn tối cao cho phủ Đề Đốc tỉnh Sơn Đông, kiêm nhiệm các chứ bí thư trưởng, tham mưu trưởng v.v… Năm 1916, cụ được mời giữ chức bí thư trưởng phủ Tổng Thống. Năm 1918, được bầu làm nghị viên Quốc Hội, đảm nhiệm chức giám đốc viện bảo tàng Tề Lỗ Kim Thạch Họa Thư Quán, đồng thời làm lâm trưởng của Sơn Đông Phật Giáo Cư Sĩ Lâm. Năm 1920, cụ giữ chức Giám Vận Sứ tỉnh Sơn Đông, tận lực bài trừ những tệ đoan lâu đời trong việc đánh thuế muối, được dân chúng khen ngợi khôn cùng. Năm 1921, cụ từ chức để trù bị kế hoạch lập đại học Điền Phụ và đảm nhiệm chức vụ hiệu trưởng trường Đông Lỗ.

Năm Ất Sửu (1925), đề đốc Trương Tông Xương, lănh tụ quân phiệt ở Sơn Đông, vu khống cụ Hạ tội tuyên truyền tư tưởng Cộng Sản rồi ra lệnh tập nă nên cụ phải lánh qua qua Nhật. Trong thời gian ở Nhật, cụ giao du thân thiết với các nhân sĩ thuộc giới nghệ thuật, văn hóa hay tôn giáo như các ông Đằng Hổ (người tỉnh Hồ Nam), Thủ Dă Hỷ Trực v.v… Lại c̣n có các ông Cát Xuyên Hạnh Thứ Lang, Thương Thạch Vũ Tứ Lang và ông Kim Cửu Kinh người Triều Tiên đến cầu học với cụ Hạ. Hai năm sau, cụ Hạ trở về nước, dưỡng bệnh ở vùng Thiên Tân - Đại Cô. Năm 1932, chuyển đến sống ở Bắc Kinh, chuyên tâm nghiên cứu, hoằng dương Phật pháp. Trong thời gian này, ông Hà Tư Nguyên, cũng là người tỉnh Sơn Đông, được cử làm thị trưởng Bắc B́nh, thường đến thảo luận, nghiên cứu Phật pháp với cụ Hạ. Các vị như Hoàng Niệm Tổ (chuyên viên thâu phát sóng thuộc cục phát thanh trung ương Bắc B́nh – Thiên Tân, kiêm trưởng đài phát thanh Bắc B́nh), Tề Xướng Đỉnh (phó trưởng đài) v.v… đều đến học Phật với cụ.

Năm 1939, cùng với Hiện Minh trưởng lăo, phương trượng chùa Quảng Tế ở Bắc Kinh, cư sĩ Cận Dực Thanh (Vân Bằng) sáng lập Tịnh Tông Học Hội, lấy ngày khánh đản Đại Thế Chí Bồ Tát làm ngày kỷ niệm sáng lập hội, với tông chỉ: “Nghiên cứu kinh điển Đại Thừa, phát dương tinh thần Phật giáo. Lấy tín nguyện tŕ danh để nhập Di Đà Nguyện Hải”. Tổ chức này không có một cơ cấu quản trị trung ương mà chỉ hoạt động dựa trên tinh thần tự giác cộng tu của các đoàn viên, lấy việc hoằng dương Tịnh Độ làm sự nghiệp chính. Hiện thời cố vấn giáo đạo là Ḥa Thượng Tịnh Không.

Thoạt đầu, Tịnh Tông Học Hội chỉ tổ chức các khóa Phật thất mỗi năm vài lượt tại các chùa Quảng Tế, Hiền Lương, Niêm Hoa, Cực Lạc Am và trường tiểu học Từ Đức cũng như cung thỉnh các vị cao tăng đại đức, cư sĩ hữu danh luân phiên diễn giảng. Năm 1945, cụ Hạ cùng các nhân sĩ thuộc Bắc Hải Đoàn tổ chức pháp hội tiêu tai cầu nguyện ḥa b́nh vào đúng ngày thánh đản Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, kéo dài suốt bảy ngày, quy tụ cả vạn người tham dự.

Sau khi Trung Hoa rơi vào tay Mao Trạch Đông, các tự miếu bị đàn áp, kiểm soát nặng nề, nhưng Tịnh Tông Học Hội vẫn kiên tŕ duy tŕ những pháp hội “bỏ túi” dù không c̣n có cơ hội tổ chức các Phật thất cộng tu như trước năm 1949 nữa. Chính nhờ sự hoằng pháp liên tục âm thầm của Tịnh Tông Học Hội tại Hoa Lục, Phật giáo Trung Hoa vẫn bảo tồn được nguyên khí và có dịp phục hưng sau khi cơn đại hoạn Cách Mạng Văn Hóa chấm dứt.

Cụ Hạ là người rất ham học, tính t́nh nghiêm cẩn, thông duệ hơn người, thường hay quên ăn bỏ ngủ đọc sách. Có những lúc dù chính sự bề bộn, cụ vẫn không hề xao nhăng việc học. Lúc trẻ, cụ chú trọng từ chương, thông đạt các học thuyết Tống Nho, Lăo Trang, nhưng càng lớn tuổi, cụ càng chuyên tâm nghiên cứu nội điển nhà Phật. Do vậy, sự hiểu biết của cụ về thế học lẫn Phật học rất quảng bác. Trước tác của cụ gồm đủ thể loại, các bài thơ của cụ được các văn đàn khen ngợi nồng nhiệt. Nhà xuất bản Nhân Dân từng dự định ấn hành di cảo Cừ Viên Ngoại Biên Thập Chủng của cụ, nhưng Cách Mạng Văn Hóa nổ ra khiến cho dự án này bị bỏ phế. Cụ Hạ cũng là một nhà nghiên cứu có tiếng về văn hóa, nhất là thư họa, cổ vật, khả năng giám định các cổ vật của cụ được giới nghiên cứu đánh giá rất cao.

Về mặt Phật học, cụ Hạ được đại chúng khâm ngưỡng sâu xa v́ tŕnh độ Phật học uyên thâm, đức hạnh nghiêm cẩn, điềm đạm, chuyên chí hoằng dương Phật pháp thật mạnh mẽ, sâu rộng. Phật giáo đồ Hoa Lục thường lưu truyền câu: “Nam Mai, Bắc Hạ”; nghĩa là: trong giới cư sĩ hoằng truyền Phật pháp nổi tiếng nhất th́ ở miền Nam là cụ Mai Quang Hy (cậu của cư sĩ Hoàng Niệm Tổ), miền Bắc là cụ Hạ Liên Cư. Sau khi quy y thọ giới nơi Huệ Minh Pháp Sư ở An Khánh, cụ Hạ không những cầu học với Huệ Minh Trưởng Lăo, tự học nội điển, mà c̣n tham học rộng răi với các bậc kỳ túc thạc đức trong các tông phái, kể cả những bậc thạc đức Phật giáo Nhật Bản. Cụ Hạ thông hiểu thông suốt ba tông Thiền, Tịnh, Mật, nhưng vẫn quy hướng Tịnh Độ, lấy việc hoằng dương Tịnh Tông làm lẽ sống. Dù từng bao lượt thăng pháp ṭa dạy pháp cho cả Tăng lẫn tục, bao Tăng Ni nhờ Hạ lăo cư sĩ khai ngộ bỏ tục xuất gia, suốt đời cụ Hạ luôn khiêm cung, giữ lễ đệ tử tục gia đối với các bậc tôn túc trong Phật Môn. Những người theo học với cụ thường suốt đời kính mộ, coi cụ Hạ như một bậc Đại Sĩ tại gia Bồ Tát. Đề tài diễn giảng của cụ rất rộng, bao gồm phần lớn những kinh luận chủ yếu của Phật Giáo Đại Thừa, nhưng mỗi bài diễn giảng đều quy dẫn về Tịnh Nghiệp. Rất tiếc, phần lớn những biên thuật, trứ tác của Hạ lăo cư sĩ bị hủy mất dưới tay những Hồng Vệ Binh điên cuồng hô hào “bài trừ văn hóa phản động, triệt để đập tan những tư tưởng xét lại, phong kiến, bợ đỡ Tây Phương” trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa tại Hoa Lục.

Cụ Hạ được biết Phật giáo đồ Trung Hoa ở hải ngoại biết đến nhiều nhất nhờ công tŕnh hội tập kinh Vô Lượng Thọ. Trong thời gian yểm quan tuyệt khách tại Thiên Tân khi từ Nhật Bản trở về nước, cụ Hạ chuyên tâm hội tập năm bản dịch Vô Lượng Thọ của các đời Ngô, Ngụy, Hán, Đường, Tống, trong suốt ba năm chẳng nghỉ, thiên châm vạn chước, soạn thành bản hội tập hoàn chỉnh của kinh Vô Lượng Thọ mang tên Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh, được tứ chúng hải nội, hải ngoại tán dương là bản hội tập công phu xuất sắc nhất. Hiện thời, đa phần các hành giả Tịnh Độ Trung Hoa dùng bản hội tập này làm khóa tụng. Tịnh Tông Học Hội của pháp sư Tịnh Không chỉ dùng bản này để tụng niệm mỗi khi cung tụng Vô Lượng Thọ kinh.

Ngoài việc hội tập kinh Vô Lượng Thọ, cụ cũng hội tập hai bản Phật thuyết A Di Đà Kinh (bản Tần dịch của ngài Cưu Ma La Thập) và kinh Phật Thuyết Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ (bản Đường dịch của ngài Huyền Trang) với tựa đề A Di Đà Kinh. Ngoài bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ, những tác phẩm Tịnh Tu Tiệp Yếu và Bảo Vương Tam Muội Sám của cụ Hạ cũng được ấn hành, lưu thông rất rộng răi trong và ngoài nước, được tứ chúng hoan hỷ thọ tŕ, đánh giá rất cao.

Sau khi hội tập Đại Kinh xong, theo lời thỉnh của Hiện Minh trưởng lăo, phuơng trượng chùa Quảng Tế ở Bắc Kinh, cụ Hạ chuyên giảng kinh Di Đà. Mỗi buổi giảng, Hiện Minh trưởng lăo cùng phương trượng các chùa tại Bắc Kinh thường đến dự thính để làm ảnh hưởng chúng cho pháp ṭa. Trong suốt mấy mươi năm ở Bắc Kinh, cụ Hạ tích cực hoằng dương Tịnh Tông, đào tạo được nhiều học tṛ lỗi lạc về hoằng pháp lẫn biên thuật. Người nổi tiếng nhất trong số này là cụ Hoàng Niệm Tổ. Các vị tôn túc pháp sư đương đại như Đế Nhàn, Huệ Minh, Tỉnh Minh cũng đều hâm mộ, tán thán nồng nhiệt công hạnh hoằng dương Tịnh Nghiệp, hoằng pháp độ sanh của Hạ đại sĩ.

Công hạnh, kiến giải của cụ Hạ Liên Cư quảng bác, hoằng thâm đến nỗi pháp vương Cống Cát Hoạt Phật của Hồng Bạch Giáo Tây Tạng phải thốt lên: “Người xứng đáng làm kim cang a xà lê trong thế gian này chỉ có cụ Hạ mà thôi!” Ngay đến bậc Thái Sơn Bắc Đẩu của nhà Thiền là Hư Vân Đại Lăo Ḥa Thượng cũng ngậm ngùi bảo: “Chẳng biết bao giờ ta mới có dịp gặp được vị đại thiện tri thức ở phương Bắc này!” Tiếc thay vô thường chợt đến, duyên thị hiện hóa độ của bậc Đại Sĩ đă tận. Một ngày mùa Đông năm 1965, cụ Hạ chợt cảm thấy không khỏe. Ngay trong đêm ấy, cụ an tường quy Tây giữa tiếng niệm Phật, trụ thế 82 năm, để lại sự thương tiếc muôn đời cho các môn nhân.

Sau khi Hạ lăo cư sĩ quy Tây, Tịnh Tông Học Hội do cụ Hạ đồng sáng lập được đệ tử tâm đắc là cụ Hoàng Niệm Tổ tích cực duy tŕ, củng cố nên phát dương rộng răi. Tiếc là sau khi cụ Hoàng quy Tây, ảnh hưởng và hoạt động của học hội này tại Hoa Lục yếu hẳn đi; chỉ c̣n mạnh mẽ tại Đài Loan. Nay được hỗ trợ của Tịnh Tông Học Hội Đài Loan, Tịnh Tông Học Hội Hoa Lục đang có triển vọng phục hưng. Điểm lại sự nghiệp của cụ Hạ, ta có thể thấy là sau khi tổ Ấn Quang viên tịch, công cuộc duy tŕ, hoằng dương Tịnh Độ cũng như giữ cho pháp âm của Phật vẫn c̣n được vang vọng tại Hoa Lục luôn có sự đóng góp rất lớn lao của cụ Hạ Liên Cư. Tuy thị hiện thân tục gia cư sĩ, cụ Hạ đă góp phần đào tạo nên những bậc cư sĩ hữu danh, hữu đức có khả năng biên thuật, diễn giảng lưu loát, góp phần huấn dưỡng đại chúng sống theo chánh tín, tin tưởng sâu xa vào chánh pháp của Phật dưới bao hoàn cảnh khắc nghiệt của xă hội. Những thành viên Tịnh Tông Học Hội tại Đài Loan đă đem kế thừa chí hướng của cụ, nhân rộng mô thức tổ chức tu tập này trong khắp các cộng đồng người Hoa tại hải ngoại. Nhờ đó, những Phật tử Việt Nam tại hải ngoại cũng có cơ duyên được ân triêm pháp nhũ của các bậc cao tăng, thạc đức trong Tịnh Tông Học Hội như Ḥa Thượng Tịnh Không, lăo cư sĩ Hoàng Niệm Tổ… Ngưỡng mong Hạ Đại Sĩ lại hồi nhập Sa Bà, phân thân tiếp độ tứ chúng cùng viên nhập Di Đà Nguyện Hải.

(Viết theo tài liệu Tịnh Tông Học Hội Lục Thập Chu Niên Kỷ Niệm ấn hành năm 1999)

Tâm Kinh Lược Giảng

Chủ giảng: Lăo cư sĩ Hạ Liên Cư

Chuyển ngữ: Liên Hải

Phật giảng A Hàm mười hai năm, rồi giảng Phương Đẳng tám năm, sau đấy mới giảng Bát Nhă suốt hai mươi năm. Ba trăm chữ của Tâm Kinh bao quát toàn bộ kinh Đại Bát Nhă. Xét ra, các bản dịch Tâm Kinh từ đời Thanh trở về trước c̣n lưu truyền bảy bản. Bản thường được đọc nhất là bản do đại sư Huyền Trang phiên dịch. Lúc Huyền Trang Đại Sư vượt ải Ngọc Môn cầu Pháp, theo chân ngài có hơn trăm ba người. Lúc trở về chỉ c̣n một, hai người. Sau khi vượt ải Ngọc Môn, ngài Huyền Trang thọ nạn trùng trùng, không cách nào tiến bước, nhờ được một cụ già truyền cho bản kinh này mà khắc phục gian nan, đến được Ấn Độ.

Bản dịch Tâm Kinh của ngài Huyền Trang hoàn thiện nhất, văn tự ít nhưng bao hàm nghĩa lư thật nhiều. Hôm nay được giảng thuật kinh này trước mặt pháp hội, thật là một chuyện hy hữu vậy.

Mấy chữ tựa đề Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh đây bao quát cả một Đại Tạng Giáo. Nếu hiểu rơ được ư nghĩa sẽ hiểu rơ cả Đại Giáo. Bát Nhă là Thể, Ba La Mật là Dụng. Nếu không có Ba La Mật th́ Bát Nhă vô dụng. Bát Nhă có ba loại: Văn Tự Bát Nhă, Quán Chiếu Bát Nhă và Thật Tướng Bát Nhă. Ba La Mật có sáu thứ, tức là Bố Thí, Tŕ Giới, Tinh Tấn, Nhẫn Nhục, Thiền Định và Bát Nhă; hoặc cũng có thể chia thành mười loại Ba La Mật.

Chữ Bát Nhă dịch nghĩa là Thắng Diệu Trí Huệ, vốn sẵn có chứ chẳng phải từ bên ngoài mà có. C̣n có thể gọi nó là Tự Tánh, Chân Như, Bồ Đề, Viên Giác, Phương Tiện. Phải nương vào Bát Nhă mới có thể vượt thoát biển sanh tử.

Ba La Mật là Đáo Bỉ Ngạn (đến bờ bên kia). Bờ này là sanh tử, bờ kia là Niết Bàn, giữa ḍng là phiền năo. Trái nghịch với Bát Nhă là Vô Minh, Ngu Si. Bát Nhă vốn sẵn có, nhưng sao nay vẫn là vô minh? Đây chính là do trái nghịch tánh Giác, hiệp cùng trần lao mà thành Vô Minh. Chuyển Thức thành Trí th́ chính là Bát Nhă.

Những người có thể tham gia đạo tràng ngày hôm nay đều là do nhân duyên, thiện căn, phước đức nhiều đời. Thiếu một trong những nhân duyên ấy sẽ chẳng tham gia được. Đạo Tràng này thật là trăm ngàn vạn kiếp khó hội ngộ vậy.

Quán Tự Tại chính là Quán Thế Âm, từ quán, bi quán, trí huệ quán, phạm âm, diệu âm, hải triều âm. Xem bài Quán Thế Âm Tán ắt sẽ hiểu rất rơ. Điều cần chú ư nhất [trong bản kinh này] là Bát Nhă. Nên hạ thủ như thế nào? Thật tướng là Thể, văn tự là Tướng, quán chiếu là Dụng. Dùng văn tự để quán chiếu Thật Tướng. Trong Lục Độ, tu Độ nào cũng đều có thể đạt tới bờ kia, nhưng chẳng thể [tu hành bất cứ Độ nào mà lại] rời ĺa Bát Nhă. Chẳng hạn như Bố Thí. Bố Thí phải tam luân thể không (không thấy có người thí, không thấy có kẻ thọ thí, không thấy có vật được thí) th́ mới đạt đến bờ kia được. Các Độ khác lệ theo đây. Làm thế nào để dùng một môn thâm nhập Đáo Bỉ Ngạn? Không có Bát Nhă là không xong!

Thế nào là Bát Nhă? Chính là Quán Tự Tại. Phật pháp có thể nhờ đôi chút văn tự mà lănh hội được nhiều nghĩa. Quán Tự Tại: Quán dùng mắt, mà cũng có thể dùng tai. Chữ Quán chỉ từ quán, bi quán, trí huệ quán. Quán điều ǵ? Xin thưa: Quán tự. Thế nào là Tự? Thân thể là tự ư? Đó chỉ là giả. Điều quan trọng là quán xem chính ḿnh là tại hay chẳng tại? Trong hết thảy thời, chẳng mất chánh niệm, chẳng ĺa Phật pháp th́ đó là “tại”. Quán sát chính ḿnh tại hay chẳng tại chính là phương pháp hạ thủ đầu tiên. Luôn luôn “tại” th́ hễ một căn hoàn nguyên, sáu căn cùng giải thoát. Nếu như chẳng biết quán tự kỷ, chẳng biết chính ḿnh là “tại” hay “chẳng tại” th́ chẳng thể coi là nhập môn được.

Người tu hành cần phải trải qua mấy độ gian nan, thất bại, khổ sở th́ mới nhập môn được. Lục Tổ là hạng một phen siêu việt liền nhập môn. Bước thứ nhất của hành giả là từ Quán Tự Tại mà hạ thủ, quán xem ư niệm của ḿnh là tại hay chẳng tại, quán xem có chút bịnh vặt hay tập khí nào chăng. Điều khẩn yếu nhất là phá Ngă Chấp. Vấn đề căn bản là cải tạo chính ḿnh, thành tựu chính ḿnh, chẳng được sợ đau. Đau chỗ nào, châm chỗ đó. Muốn thoát phiền năo phải tu Bát Nhă. Quán chính ḿnh trong hết thảy lúc có nắm giữ điều ǵ hay không. Bồ Tát luyện tâm như khoáng sư luyện khoáng: khoáng thạch một khi biến thành vàng xong, không c̣n biến trở lại thành khoáng nữa!

Bồ Tát nói đủ là Bồ Đề Tát Đỏa, nghĩa là Giác Hữu T́nh. Chẳng thể quán tự kỷ, chẳng thể tự giác th́ chẳng thể giác tha, th́ chẳng đáng gọi là Bồ Tát. Cần phải chú ư chữ “thâm” trong câu “hành thâm Bát Nhă”. Chúng sanh kiến giải hời hợt chẳng sâu th́ chẳng thể nhập môn. Chẳng phát khởi trọn vẹn ba tâm th́ chẳng phải là Phật giáo đồ. Ba tâm là:

Một là Trực Tâm, trong trực cũng có phương tiện, chẳng nên thẳng thừng tạo nghiệp. Không có Bát Nhă th́ cũng không làm nổi [điều này].

Hai là Thâm Tâm. Chẳng nên ngưng tại mặt ngoài, thâm tâm cũng chẳng rời ĺa Bát Nhă.

Ba là Đại Bi Tâm. Không có Bát Nhă cũng không giải quyết được vấn đề.

“Ba tâm chưa phát là ḷng tin chưa sâu” nên chẳng đáng gọi là Phật giáo đồ. Cả ba tâm trên chẳng thể ly khai Bát Nhă. Có thể thực hành Bát Nhă một cách sâu xa th́ sẽ soi thấy Ngũ Uẩn đều là không. Hăy biết rằng là phải dùng Chiếu, chứ không được dùng Tưởng. Chiếu là Trí Huệ chẳng khởi phân biệt như tấm gương. Thế nào là dụng chiếu? Loài trùng rất nhỏ chỗ nào cũng bám vào được, nhưng không thể bám vào ngọn lửa. Vọng tưởng không lỗ nào chẳng len vào được, trọn không thể len vào Bát Nhă. Khởi tâm liền lầm, động niệm tức trái. V́ thế, chẳng thể dùng Tưởng.

Những lời ấy chính là lời Phật nói. Những câu kinh dạy: “Bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm” đều chỉ về Bát Nhă. Chữ Quán Tự Tại là xem những câu trên là tại hay chẳng tại. Luôn luôn có Phật hiệu th́ liền được đại tự tại. Vị Phật ấy cớ sao hiệu là Quán Tự Tại? Do vong ngă nên đạt đến chỗ vô sở ngại. Phật hiệu này chính là chân Bát Nhă. Đây chính là cốt lơi tối mật, là cái lơi ta nh́n thấy khi bóc cây chuối ra. Câu Phật hiệu này phải b́nh thường, ổn thỏa th́ mới là đáng kể, chứ nếu để vọng tưởng xen lẫn th́ chẳng tính. Phân biệt là nghiệp thức, Thức là nhiễm, Chiếu là tịnh. Có Chiếu mới biết được Ngũ Uẩn đều là Không. Trong Ngũ Uẩn, Sắc là Sắc Pháp, c̣n Thọ, Tưởng v.v… là Tâm Pháp. “Sắc tức là Không” là đối với phàm phu mà nói; “Không tức là Sắc” là đối với Nhị Thừa mà nói. “Không chẳng khác Sắc, Sắc chẳng khác Không” là cảnh giới của Bồ Tát Đại Thừa. Soi thấy được năm uẩn đều là không th́ trừ được hết thảy khổ. Tâm Kinh là thuyền từ để thoát sanh tử của hết thảy chúng sanh.

Sáu trăm quyển Đại Bát Nhă kinh tinh luyện thành một bộ Kim Cang kinh. Kim Cang kinh lại có thể tinh luyện thành Tâm Kinh. Toàn bộ Tâm Kinh có thể quy thành một câu: “Quán Tự Tại Bồ Tát”. Cả câu này lại có thể quy nạp về một chữ Chiếu. Chúng sanh có hai con đường: Nhập Khổ hoặc thoát Khổ, tức là thành tựu tự kỷ hoặc hủy diệt tự kỷ. Hai con đường phân minh rất mực, nên đi theo con đường nào? Ai nấy hăy tự cố gắng.

Mong mọi người thường ngay lúc c̣n thời gian hăy nghĩ đến khi không có thời gian, đừng đợi đến lúc không thời gian mới nhớ tưởng lúc có thời gian, hăy tự kiểm điểm, quang âm mấy mươi năm của chính ḿnh rốt cuộc uổng phí về đâu, vớt vát được ǵ chăng? Mỗi phen nghĩ đến lại thở dài.

Giảng ngày 13 tháng Giêng năm Ất Mùi (1955)

[Trở về trang trước]