Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng

Thập Luân Kinh Giảng Kư

phần 1

大乘大集地藏十輪經講記

Mộng Tham lăo ḥa thượng chủ giảng

梦参老和尚主講

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

Đôi nét về lăo ḥa thượng Mộng Tham

         

          Lăo pháp sư Mộng Tham (1915-2017), tục danh là Lưu Thụy Đ́nh, pháp danh Giác Tỉnh, tự hiệu là Mộng Tham, hàm ư “chẳng giác mà cũng chẳng tỉnh”. Lại do một giấc mộng mà xuất gia, nên Sư tự xưng như thế. Sư sanh năm 1915 tại huyện Khai Thông, tỉnh Hắc Long Giang, là con cả trong gia đ́nh. Năm 1928, Sư xin vào làm cảnh sát đường sắt tại cục đường sắt Trường Xuân. Năm 1930, Sư vào học trường quân sự Phụng Thiên, trở thành sĩ quan trong lữ đoàn Phụng Thiên. Khi thủ lănh quân phiệt Phụng Thiên là Trương Tác Lâm thua trận, phải rút quân về Bắc Kinh, Sư theo quân đoàn về Bắc Kinh. Khi được giao nhiệm vụ tuần pḥng tại Thạch Gia Trang vào cuối năm ấy, trong khi nghỉ đêm tại một cơ xưởng bỏ hoang, Sư mộng thấy chính ḿnh xuất gia. Tỉnh giấc, Sư bèn t́m đến xin xuất gia với lăo ḥa thượng Tu Lâm ở chùa Đâu Suất núi Thượng Phương thuộc huyện Pḥng Sơn, thành phố Bắc Kinh. Sư xuống tóc tại miếu Dược Vương thuộc hậu sơn Di Ḥa Viên, được đặt pháp danh là Giác Tỉnh. Do tự khiêm “chẳng giác, chẳng tỉnh”, lại do mộng mà xuất gia, nên lấy hiệu là Mộng Tham.

          Sau khi xuất gia, Sư lại mộng thấy một vị Tăng bảo hăy sang núi Cửu Hoa. Tỉnh giấc, Sư bỗng phát hiện vị Tăng trong mộng giống hệt chân dung của ḥa thượng Biến Dung (tổ Liên Tŕ cũng do vị này mà đắc ngộ), Phật giáo Trung Hoa thường coi ngài Biến Dung là một hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát. Ngài đến Cửu Hoa Sơn, đúng dịp mở tháp thờ nhục thân Kim Địa Tạng (ngài Kim Kiều Giác), cho nên càng đặc biệt tín ngưỡng, tôn phụng Địa Tạng Bồ Tát. Khi ở tại Cửu Hoa, Sư lại mộng thấy có người bảo hăy sang chùa Dũng Tuyền tại Cổ Sơn. Do vậy, Sư xin vào Cổ Sơn Phật Học Viện để học kinh Hoa Nghiêm với lăo pháp sư Từ Châu. Do tŕnh độ văn hóa quá thấp, Sư nghe giảng chẳng hiểu ǵ, tính rời Cổ Sơn, th́ trong mộng lại thấy có một vị Tăng dạy hăy học tập phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện trước để khai trí huệ. Sư vâng theo, quả nhiên, trí huệ tăng tấn. Sư lại t́m đến chùa Trạm Sơn ở Thanh Đảo để học Thiên Thai Tứ Giáo và thư pháp với pháp sư Đàm Hư.

          Năm 1937, Sư vâng lệnh thầy, sang Hạ Môn, cung thỉnh pháp sư Hoằng Nhất đến chùa Trạm Sơn. Sư làm thị giả cho ngài Hoằng Nhất suốt nửa năm, bèn cầu thỉnh pháp sư Hoằng Nhất chế tác một bộ Luân Tướng theo đúng cách thức như kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo đă dạy. Pháp sư Hoằng Nhất không chỉ tạo Luân Tướng, c̣n dạy rất nhiều yếu nghĩa của kinh ấy, lại c̣n đích thân chép phẩm Tịnh Hạnh của kinh Hoa Nghiêm trao tặng. Bản thư pháp trân quư này được trân trọng cất giữ chùa Pháp Nguyên ở Bắc Kinh, nhưng đă bị Hồng Vệ Binh phá hủy tan nát trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa.

          Năm 1940, do ủng hộ quân Kháng Nhật, Sư bị truy bắt, phải ẩn náu, đổi trang phục thành thị giả của một vị lạt-ma tại Ung Ḥa Cung. Muốn hiểu thêm về Mật Tông, Sư bèn từ Bắc Kinh xuống Thượng Hải, sang Hương Cảng, rồi đáp thuyền sang Ấn Độ qua Tây Tạng cầu pháp. Tại Tây Tạng, Sư y chỉ Rinphoche Hạ Ba của phái Cách Lỗ (Gelugpa) chùa Sắc Lạp (Sera), học Bồ Tát Đạo Tu Pháp Thứ Đệ với pháp danh là Cổn Khước Đồ Đăng.

          Khi Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa thành lập, chánh quyền Mao Trạch Đông t́m mọi cách hủy diệt Phật giáo Tây Tạng nói riêng, và Phật giáo Trung Hoa nói chung. Đa số các tăng lữ đều lâm vào cảnh tù đày, hay bị hạn chế mọi tự do hoạt động, rất nhiều chùa chiền bị sung công, biến thành hợp tác xă hay kho chứa lương thực, tăng sĩ bị đưa về nông thôn “đi sâu sát với quần chúng”, thực chất đi lao động cưỡng bức. Năm 1950, Sư đang ở huyện Cam Đốn tỉnh Tứ Xuyên, do kiên quyết từ chối hoàn tục, chẳng muốn theo các cán bộ nhà nước vào Tây Tạng để thực hiện công tác đồng hóa dân bản xứ nhằm xóa bỏ nền văn hóa Tây Tạng, Sư bị tống vào trại học tập cải tạo. Trong trại, do Sư vẫn khăng khăng không chịu hoàn tục, không chịu chối bỏ Phật giáo, nên đă bị giam vào trại tù h́nh sự. Trong tù, Sư vẫn tuyên truyền Phật giáo, giúp nhiều người hướng về Phật pháp, nên bị chánh quyền Trung Cộng gán cho tội danh phản cách mạng và bị giam cầm suốt mười lăm năm. Sau đó, chánh quyền Trung Cộng kết thêm án lao động khổ sai mười tám năm, tức là Sư bị tù suốt ba mươi ba năm. Nhiều lúc hoàn cảnh cơ cực, chèn ép, bế tắc khiến Sư phẫn chí, toan tự tử, luôn mộng thấy có người đẩy lên đài giảng, cung thỉnh giảng kinh. Sư tự biết ḿnh c̣n có trọng trách hoằng dương Phật pháp nên ráng ẩn nhẫn. Sư thường niệm bài kệ “giả sử nhiệt thiết luân, tại nhữ đảnh thượng toàn, chung bất dĩ thử khổ, thoái thất Bồ Đề tâm” (giả sử ṿng sắt nóng, xoay trên đỉnh đầu ngươi, trọn chẳng v́ khổ ấy, lui sụt tâm Bồ Đề) để tự khích lệ, nhẫn nại trong hoàn cảnh ngặt nghèo.

          Măi cho tới năm 1982, khi Trung Ương Đảng Trung Cộng và Quốc Vụ Viện (phủ thủ tướng) Hoa Lục quyết định nới lỏng chánh sách tôn giáo, ngài Mộng Tham mới được trả tự do. Từ Tứ Xuyên trở về Bắc Kinh, Sư được mời dạy học tại Trung Quốc Phật Học Viện, chuyên giảng dạy Tứ Phần Luật. Năm 1984, Sư được các vị pháp sư Diệu Trạm và Viên Chuyết thỉnh sang chùa Nam Phổ Đà tại Hạ Môn để giúp khôi phục Mân Nam Phật Học Viện, giữ chức Giáo Vụ Trưởng. Năm 1987, Sư được ḥa thượng Tuyên Hóa mời sang Vạn Phật Thánh Thành chủ tŕ pháp hội Thủy Lục, tạo thành nhân duyên hoằng pháp tại hải ngoại sau này. Năm 1988, nhận lời thỉnh của Mỹ Quốc Bồ Đề Tâm Cơ Kim Hội, Sư cùng thị giả là pháp sư Hoằng Giác định cư tại Nữu Ước, bắt đầu giảng kinh Chiêm Sát và pháp môn Địa Tạng suốt năm năm tại Mỹ.

          Từ đó, Sư lần lượt chống tích trượng sang Gia Nă Đại, Tân Tây Lan, Tân Gia Ba, Hương Cảng, Đài Loan hoằng pháp. Năm 1995, trong khi trụ tích tại chùa Hoằng Pháp ở Vancouver, sau khi phát hiện bị ung thư trực tràng, Sư tính bỏ vạn duyên, nhất tâm niệm Phật văng sanh. Chấp thuận lời tha thiết cầu thỉnh trụ thế của các đệ tử, Sư chấp thuận phẫu thuật vào năm 1996 tại bệnh viện Chương Hóa, Đài Bắc. Năm 2004, chấp thuận lời thỉnh của tứ chúng chùa Phổ Thọ, Sư bắt đầu giảng kinh Hoa Nghiêm từ ngày mồng Hai tháng Hai và các kinh luận Đại Thừa. Năm 2006, nhận lời thỉnh của tổ chức Phương Quảng Văn Hóa, giảng kinh Thập Luân tại chùa Phổ Thọ. Năm 2007, Sư đến các chùa Thông Giáo Tự và Cư Sĩ Lâm tại Bắc Kinh hoằng pháp. Năm 2009, Sư tham dự hoạt động hoằng pháp do Đài Bắc Quốc Tế Hội Nghị tổ chức, mỗi buổi giảng có mấy ngàn người nghe. Cuối năm đó, Sư trở về Ngũ Đài Sơn, giảng kinh Lăng Nghiêm. Năm 2014, do lời thỉnh cầu của các đệ tử xuất gia, Sư từ Mộng Tham Tinh Xá ở Thâm Quyến (Quảng Đông) về an dưỡng tại chùa Chân Dung núi Ngũ Đài. Ngày 27 tháng Mười Một, Sư thị hiện viên tịch tại chùa Chân Dung, thọ 103 tuổi.

          Suốt đời, Sư luôn tự coi ḿnh chưa xứng là một vị tỳ-kheo, chỉ là người xuất gia vân du, không truyền pháp (chẳng lập môn hộ), mà cũng chẳng kiến lập đạo tràng nào (ngay cả Mộng Tham Tinh Xá tại Thẩm Quyến chỉ là do các đệ tử kiến lập rồi nhiều lượt tha thiết thỉnh cầu, Sư mới chấp thuận cho đặt tên như thế). Sư suốt đời chỉ mang ư niệm hoằng pháp, cốt sao giảng giải những ư nghĩa thâm viễn trong kinh cho mọi người đều hiểu. Những lời giảng của Sư chất phác, b́nh dị. Những người hâm mộ Sư, phát tâm tu học, hoặc xuất gia rất đông. Chính nhờ ảnh hưởng của Sư mà các chùa Phổ Thọ tại Ngũ Đài, Năng Nhân tại núi Nhạn Đăng, và Chân Dung tại Ngũ Đài đều được khôi phục, đỉnh thịnh. Tuy giảng nhiều pháp khác nhau, nhưng pháp môn được Sư đặc biệt chú trọng là pháp môn Địa Tạng, nhất là kinh Chiêm Sát.

 

Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân Kinh Giảng Kư

 

* Mạn đàm phẩm Tự của kinh Thập Luân

 

          Trước khi bắt đầu giảng kinh Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân, tôi cùng mọi người mạn đàm đôi chút. Chúng ta học một bộ kinh, phải học thấu đáo, học hiểu như thế nào? Học kinh xong th́ phải hành, phải kết hợp với thân tâm của chính ḿnh, cũng phải hiểu pháp nhân duyên. Nhân duyên đă trọn đủ, hết thảy sự vật sẽ thành. Nhân duyên chẳng trọn đủ, chuyện ấy sẽ chẳng thể thành tựu được! Tôi cùng chư vị đạo hữu chia tay nửa năm, trong nửa năm ấy, tôi đă đến rất nhiều nơi, chẳng hạn như Đài Bắc, Đại Lục, Hoa Kỳ; đấy là nhân duyên. Hàm nghĩa của nhân duyên chính là chúng ta làm bất cứ chuyện ǵ, nhất định là có “tiền nhân” (, cái nhân từ trước), tùy thuộc cái duyên có trọn đủ hay không? Duyên chẳng trọn đủ, sẽ chẳng thể thành tựu được! Bất luận sự vật nào cũng đều chẳng thể thành tựu. Nhưng tất cả hết thảy nhân duyên lại đều là giả, cho nên nói “pháp nhân duyên chẳng có thật thể”. Chúng ta cũng sẽ nói tới “duyên khởi tánh không”, đối với vấn đề này, bộ kinh này giảng rất nhiều.

          Trước khi chúng ta học tập kinh Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân, mọi người cần phải phát tâm, phát tâm ǵ vậy? Phát tâm sám hối! Tôi nghe rất nhiều người nói: “Tuy tôi chẳng liễu giải chuyện chi khác, chứ đối với chính ḿnh, tôi c̣n chẳng liễu giải hay sao?” Tôi nói: “Tuy tôi xuất đă hơn sáu mươi năm, vẫn chẳng liễu giải chính ḿnh!” Chắc mọi người nghe nói, sẽ cảm thấy rất lạ lùng! Không chỉ một ḿnh tôi chẳng liễu giải chính ḿnh, chỉ sợ quư vị, trừ bậc thánh nhân và Bồ Tát ra, kẻ chẳng liễu giải chính ḿnh rất nhiều! Phần lớn mọi người đều chẳng liễu giải chính ḿnh! Quư vị có biết trong quá khứ, chính ḿnh đă làm những ǵ hay không? Kẻ chẳng liễu giải cái nhân trong quá khứ, nay phải hứng chịu cái quả mà cũng chẳng nhận biết. V́ sao tôi phải chịu đau khổ như thế này? V́ sao tai nạn này giáng xuống thân tôi? Chắc mỗi vị đạo hữu đều có kinh nghiệm như thế này: Lọt vào t́nh cảnh oan uổng, bị ủy khuất. Chuyện ấy về căn bản chẳng liên quan ǵ đến ta, cuối cùng đổ xuống đầu ta! Quư vị nghĩ “oan uổng quá”, đó là v́ quư vị chẳng biết cái nhân trong quá khứ, chẳng liễu giải chính ḿnh!

          Cũng có người mạn đàm cùng tôi, nói: “Trên thế giới này, chuyện bất công quá nhiều!” Tôi nói: “Đó là cái nh́n của quư vị”. Họ nói: “Sư phụ! Thầy thấy như thế nào?” Tôi đáp: “Chẳng có nửa điểm không công bằng! Hết sức công bằng, đặc biệt công bằng”. Tôi nói những lời này, chắc là trong ḷng mọi người chẳng thể chấp nhận cho lắm! Hết thảy những ǵ quư vị phải hứng chịu, đều do chính ḿnh đă làm. Chính quư vị làm, chính ḿnh hứng chịu; sao không công bằng cho được? V́ chúng ta không có trí huệ, chẳng thấy rơ rất nhiều chuyện, mới cho rằng chuyện ấy quá thiếu công bằng. Trong quá khứ, lúc quư vị oan uổng người khác, chính ḿnh có hiểu hay không? Tôi nói: “Nay quư vị bị kẻ khác hại, có biết là trong quá khứ, quư vị cũng từng hại người hay không?”

          Chúng ta nói đến một vấn đề lớn hơn đôi chút. Người Nhật xâm lược Trung Hoa, giết rất nhiều người Hoa. Hiện thời, người Nhật vẫn sống rất tốt, kinh tế rất phát triển, c̣n người Hoa lại chịu nhiều đau khổ dường ấy. Họ hỏi tôi thấy thế nào? Tôi đáp: “Chuyện này rất công bằng!” Họ hỏi: “Chuyện này làm sao công bằng cho được?” Tôi đáp: “Những người bị giết chết thuở đó, đều đă bốn mươi, năm mươi năm rồi. Hiện thời, những người ấy đầu thai sống tại Nhật Bản, đến nơi đó hưởng phước, c̣n những tên sát nhân người Nhật lại sanh vào Trung Hoa. Mọi người đổi vị trí để nh́n, sẽ chấp nhận ngay!” Nếu nh́n theo quan điểm nhân quả vô lượng kiếp, sẽ thấy hết sức công bằng. Tôi nói những lời này, hy vọng các vị đạo hữu lúc học kinh Thập Luân sẽ dùng cái tâm sám hối như vậy để học. Bộ kinh này có một phẩm là phẩm Sám Hối nhằm mong chúng ta hăy sám hối tội nghiệp trong quá khứ, sám hối cho tội nghiệp thanh tịnh. Hễ có trí huệ, quư vị sẽ biết. Mọi người phải chuẩn bị trước tư tưởng. Quư vị chẳng biết [chính ḿnh] trong quá khứ đă từng làm chuyện ǵ! Kinh Thập Luân dạy cho quư vị biết: Trong quá khứ, quư vị đă làm những chuyện ǵ, hiện tại phải hứng chịu những khổ nạn ǵ. V́ sao quư sanh vào thời điểm này? Lúc Thích Ca Mâu Ni Phật tại thế, quư vị chẳng sanh, chẳng sanh về thế giới Cực Lạc, chẳng sanh về Đâu Suất Thiên, cũng chẳng sanh về thế giới của Đông Phương Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, mà sanh trong thế giới Sa Bà vào thời điểm này. V́ sao vậy? V́ quư vị đă tạo nghiệp ấy. Đă có cái nghiệp ấy, chính ḿnh phải hứng chịu. Đấy là rất công bằng, chẳng có ǵ không công bằng! Do vậy, kinh Thập Luân giống như một cái màn h́nh cho chúng ta biết những tội ác, những sai lầm của chính ḿnh, trong tâm sẽ chẳng bất b́nh nữa!

          Lần này, vào lúc chúng ta học tập kinh Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân, bản thân tôi chẳng có tín tâm [đối với chính ḿnh], v́ chẳng t́m thấy những bản giảng thuật của cổ nhân, chẳng t́m thấy tài liệu tham khảo, vậy là rất có thể sẽ nói sai nhiều chỗ! Những kinh chúng tôi đă giảng trước kia đều đă được cổ nhân giảng rất nhiều lượt, có tài liệu tham khảo để tra cứu. Nói sai th́ c̣n có thể đùn đẩy đôi chút: “Các vị đại đức đều nói như vậy, chẳng liên quan đến tôi cho lắm!” Nhưng bộ kinh này người khác chưa từng nói qua, chẳng thể nào đùn đẩy được!

          Trước tiên, tôi bắt đầu nói về một ngàn vị Phật, khiến cho mọi người nhận thức nay chúng ta đang thuộc thời đại nào. Trong một ngàn vị Phật ấy, hiện thời là thời đại Mạt Pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật. Ở trong thời đại này, chúng ta rất khổ. Cái nhân khiến chúng ta chịu khổ là do cái nghiệp trong quá khứ rất nặng. Thời đại Thích Ca Mâu Ni Phật, thọ mạng của nhân loại đặc biệt ngắn ngủi, chỉ có một trăm năm. So trong thời đại của Thất Phật, [sẽ thấy] thời đại của chúng ta tốt nhất, v́ chỉ có Thích Ca Mâu Ni Phật mới có nguyện lực lớn dường ấy, Ngài đến giáng sanh nơi đây. Nếu Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng xuất hiện trong thời đại này, th́ ngay cả đạo lư này chúng ta cũng chẳng biết. V́ thế, một khi chúng ta đă nhận thức rơ ràng những sự đau khổ đang phải hứng chịu trong thời đại này, cái tâm sẽ b́nh tĩnh. Cho đến khi quư vị học, cũng sẽ biết học như thế nào!

          Ngoài ra, bộ kinh này có phân lượng khá dài, thời gian chúng ta học tập sẽ dài hơn đôi chút. Chẳng giống như kinh Kim Cang, kinh Di Đà, hay Tâm Kinh có thể học xong rất nhanh chóng, bộ kinh này th́ không thể vậy! Bất quá, số phẩm cũng không nhiều, tất cả chỉ có tám phẩm, gồm mười quyển. Mọi người có thể mở quyển thứ nhất ra xem: Phẩm Vô Y Hạnh và phẩm Hữu Y Hạnh chiếm năm quyển. Lại thêm phẩm Tự trước đó và phẩm Hoạch Ích Chúc Lụy, ngoại trừ phẩm Thập Luân, số quyển của các phẩm trung gian cũng chẳng nhiều. Phẩm Thập Luân dạy: Dùng Thập Luân của đức Phật để đối trị thập luân nghiệp chướng của phàm phu. Kế đó là phẩm Sám Hối, phẩm Thiện Ác Nghiệp Đạo, và phẩm Phước Điền Tướng, tuy số quyển và số phẩm chẳng nhiều, các đạo lư trong ấy vẫn rất phức tạp.

          Trong phẩm Tự, đức Phật tán thán công đức của Địa Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát lễ Phật và tán thán công đức của Phật. Do vậy, trong phẩm Tự, chẳng có đạo lư to lớn ǵ để có thể nói [cặn kẽ], nhưng đại ư của phẩm Thập Luân th́ khác hẳn! Dùng Thập Luân của Phật để đối trị thập luân trong hiện tại của chúng ta đấy nhé!

          Chúng ta học tập bộ kinh này, phải có phương pháp; nhất định phải kết hợp làm một với cuộc sống hằng ngày của quư vị. Bộ kinh này dạy chúng ta phải sống như thế nào. Trong cuộc sống thường ngày, đừng tạo nghiệp nữa, đừng làm chuyện sai trái nữa. V́ sau khi đă tạo, đợi đến lúc phải hứng chịu, quư vị sẽ chịu không nổi, sẽ rất đau khổ. Nếu có thể kết hợp với cuộc sống hằng ngày để học tập, kinh thường nói Thập Trí hoặc Thập Lực của Phật, quư vị phải đối chiếu, học tập Phật nghiệp, dùng nghiệp của Phật để chuyển hóa nghiệp của chúng ta thành Phật nghiệp. Điều này có nghĩa là mỗi câu nói, mỗi hành động, khi thốt lời, khi thân thể hành động, khi tâm suy tưởng, bèn dùng [Phật nghiệp] để đối chiếu. Quư vị phải học tập từ mọi sự ngay trong cuộc sống thường ngày. Sau khi đă học xong, sẽ đối chiếu với chính ḿnh để dần dần sửa đổi, càng học càng thâm nhập, sẽ chẳng sanh phiền chán, sẽ có thể tiến nhập rất nhanh chóng!

          Nếu chẳng học như vậy, quư vị sẽ chẳng thể tiến nhập được. Nói theo ngôn ngữ thường ngày của chúng ta, bộ kinh này do Huyền Trang đại sư phiên dịch, so với kinh Địa Tạng, hoặc kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, văn tự phiên dịch có khác nhau. V́ có những vị đại đức sử dụng cách “dịch ư”, tức là căn cứ trên nếp sống, t́nh cảm, ngôn ngữ, và hết thảy tập quán của chúng ta để biểu đạt [ư kinh]. Huyền Trang đại sư cho rằng cách biểu đạt ấy có thể đánh mất tánh chất chân thật của [bản kinh gốc], chỉ sợ sẽ chênh lệch với nguyên nghĩa do đức Phật đă nói tại Ấn Độ. Do vậy, Ngài dịch theo sát văn tự, và cũng dựa theo ư nghĩa để dịch. Phần lớn văn tự [trong kinh này] vốn là văn tự xuất phát từ Ấn Độ, thoạt nh́n hơi xa lạ. Những danh tướng thường thấy trong kinh văn, chẳng hạn như Phật, Thế Tôn, trong bộ kinh này sẽ được gọi là Bạc Già Phạm (Bhagavat).

          Giống như lúc thuở đầu, tôi qua Tây Tạng học pháp, không chỉ là [cảm thấy] những câu văn trong kinh điển rất khó học tập, mà ngay lời nói cũng rất kỳ quặc, tốn một thời gian rất dài mà cũng chẳng sửa được. Chẳng hạn như chúng tôi muốn mời quư vị dùng cơm hay uống trà, sẽ không nói “mời dùng cơm” hay “mời uống trà”, mà nói là “trà uống mời” hay “cơm dùng mời”. Quư vị nghe xong thấy rất kỳ quái, nói ra cũng rất trặc trẹo. Văn từ trong bộ kinh này, có rất nhiều chỗ giống như thế đó. Hiểu cách dùng từ, khi chúng ta nói, sẽ đảo lại, hoán chuyển ư nghĩa bao hàm trong ấy. Khi xem bộ kinh này, cũng phải xem như vậy.

          Trong kinh văn có những chỗ “tỷ phương” (, so sánh, tỷ dụ). Nói “tỷ phương” tức là xét theo ư nghĩa trong Phật pháp, sợ quư vị không hiểu, cho nên dùng ư nghĩa khác để tỷ dụ, như vậy th́ chúng ta sẽ hiểu. Nhưng một khi đă thông qua cách “tỷ phương” th́ nghĩa lư đă cách xa tám vạn bốn ngàn dặm! Chẳng hạn như nói đến Không, Phật giáo thường hay dùng Không để tỷ dụ Pháp Tánh, tỷ dụ Tự Thể, tỷ dụ Thật Tướng. Chúng ta hoàn toàn hiểu sai, bèn nói “đă là Không th́ cái ǵ cũng chẳng có”; do vậy, rơi vào Đoạn Kiến. Không trong Phật giáo chẳng phải là rỗng không như thế! Nó chẳng tách rời vật chất, do hiển thị vật chất, nên mới nói là Không! Cái Không ấy do từ trên vật chất cụ thể mà thấu đạt Không. Giống như quư vị nói “người” là cụ thể, vẫn tồn tại, [nhưng xét theo bản chất, theo nhân duyên ḥa hợp th́ người] “là Không”. Hàm nghĩa trong Phật pháp là như vậy đó. Chẳng phải nói Không th́ sẽ chẳng có ǵ cả! Ở đây, chỉ nêu thí dụ mà thôi, có rất nhiều trường hợp giống như vậy.      

          Lại ví như nói phẩm Tự của kinh Thập Luân nói tới Địa Tạng Bồ Tát, v́ bộ kinh này chủ yếu lấy Địa Tạng Bồ Tát làm vị thuyết pháp chủ. Nhưng trong kinh, ngài Địa Tạng là tùy hỷ mà đến, [lúc Ngài chưa đến đă] có Bồ Tát Tăng, La Hán Tăng, và phàm phu Tăng. Mọi người tụ họp nói kinh Nguyệt Tạng. Khi bộ kinh ấy đă nói xong, Địa Tạng Bồ Tát mới tùy hỷ mà đến, hoàn toàn chẳng phải v́ thỉnh kinh (thưa hỏi đức Phật dạy một kinh nào đó) hay thuyết pháp mà đến. Đức Phật liền do nhân duyên ấy mà nói công đức của Địa Tạng Bồ Tát, mà Địa Tạng cũng tán thán công đức của Phật. Nhân duyên của bộ kinh này do như vậy mà dẫn khởi. Trước khi giảng kinh này, đức Phật đang giảng kinh Đại Thừa Đại Tập Nguyệt Tạng. Kinh Nguyệt Tạng vừa mới viên măn, Địa Tạng Bồ Tát đến nơi. Tướng cảnh giới khi Bồ Tát đến, mọi người xem kinh văn liền biết ngay.

          Trong khi thâu thập các tài liệu, Hồng cư sĩ đă thâu thập các kinh điển có liên quan đến Địa Tạng Bồ Tát như kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, kinh Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân, kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, kinh Địa Tạng Thập Vương, kinh Địa Tạng Bồ Tát Đà La Ni, Địa Tạng Bồ Tát Nghi Quỹ, Địa Tạng Bồ Tát Tam Quốc Linh Dị Kư, Địa Tạng Bồ Tát Sám Bổn, và Chiêm Sát Sám Pháp. Những bộ ấy đều thuộc về pháp môn Địa Tạng Bồ Tát. Quư vị chỉ cần thông đạt một bộ, những bộ khác đều có liên quan.

          Kinh Địa Tạng và kinh Thập Luân tương thông, nhưng chỗ bất đồng là phương pháp chuyển nghiệp cho chúng sanh có đôi chút khác biệt. Kinh Thập Luân tu Chỉ Quán, kinh Địa Tạng th́ chỉ cần tạo tượng, bái sám, có thể niệm thánh hiệu Địa Tạng th́ coi như đă tu hành. Kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo th́ phần liên quan đến sự tu hành của chúng ta, tôi vẫn chưa giảng, tức là nửa bộ sau của kinh Chiêm Sát. Kinh Thập Luân thoạt đầu dạy quư vị tu hành như thế nào để chứng nhập Thiền Định. Chẳng nhập Thiền Định, sẽ chẳng thành đạo. Vừa khởi đầu, kinh dạy quư vị một phương pháp từ cạn nhập sâu. Chúng ta nghe xong, cảm thấy dường như rất đơn giản, nhưng sử dụng sẽ chẳng dễ dàng cho lắm! Vẫn là sáu chữ Sổ, Tùy, Chỉ, Quán, Chuyển, Tịnh, nếu quư vị khởi tu, sẽ chẳng dễ dàng cho lắm. Đại khái, chúng ta biết những phương pháp do Địa Tạng Bồ Tát truyền dạy đều có các phương pháp ấy, đều bao gồm trong những tài liệu ấy.

          Tuy vậy, trong ấy có một điều:“Khư La sơn là Tịnh Độ của Địa Tạng Bồ Tát”; Đối với cách nói ấy, chúng tôi không hoàn toàn nghĩ như thế. V́ lúc đó, đức Phật đang thuyết pháp tại núi Khư La; khi Ngài sắp nói xong, Địa Tạng Bồ Tát từ phương Nam đến đó. Điều ấy cho thấy núi Khư La không phải là Tịnh Độ của Ngài. Nếu là Tịnh Độ của Ngài, Ngài lại cần ǵ phải từ phương Nam đến đó? Hơn nữa, kinh Chiêm Sát và kinh Địa Tạng đều chỉ ra Địa Tạng Bồ Tát từ phương Nam đến, từ phương Nam nào vậy? Trong thời điểm ấy, chính là phương Nam của trời Đao Lợi! “Phương vô định phương” (không có phương vị nhất định).

          Tôi nghĩ: Chỗ nào có địa ngục, chỗ nào nhằm thời đại không có Phật, người nơi nào khổ sở nhất, nơi ấy nhất định có Địa Tạng Bồ Tát độ chúng sanh. Đấy là nguyện của Ngài. Bất luận Ngài đến chỗ nào, chỗ ấy sẽ là Tịnh Độ của Ngài. Chúng ta thấy chữ Tịnh Độ, bèn nghĩ nơi đó phải giống như thế giới Cực Lạc, thế giới Bất Động, thế giới Lưu Ly, thế giới Hương Tích th́ mới là Tịnh Độ, nhưng Tịnh Độ của Địa Tạng Bồ Tát th́ “chỗ nào có địa ngục, chỗ đó là Tịnh Độ, chỗ ấy là Tịnh Độ để Ngài hóa độ chúng sanh”. Có phải là chúng ta bắt buộc phải lư giải như vậy hay không? Ở đây là mạn đàm, mỗi người có phương pháp tu hành riêng. Có khi cách tu hành là dựa theo Chiêm Sát Sám Pháp để lạy Chiêm Sát Sám. Đấy chỉ là bước đầu trong tu hành, trọn chẳng phải là chúng ta bái sám th́ là tu hành! Đương nhiên cũng coi như là tu hành, v́ trước hết quư vị phải tiêu nghiệp chướng. Nghiệp chướng đă tiêu th́ mới có trí huệ; có trí huệ th́ mới có thể tu hành.

          Hiện thời, chúng ta vẫn chưa thể tu hành, hễ quan sát hơi thở ra vào, vừa quán bèn tán loạn, làm sao có thể nhập Định cho nổi? Nhưng qua việc bái sám, nghiệp chướng tiêu mất. Hễ nghiệp chướng tiêu, trí huệ sẽ sanh khởi, dễ dàng tiến nhập tu hành. Do vậy, bất cứ pháp môn tu hành tối sơ nào, đều coi sám hối là bậc nhất, phải tiêu trừ nghiệp chướng trước hết. Học Mật Tông cũng giống như thế! Trước hết, quư vị phải lạy mười vạn đại lễ[1]. Cách lễ ấy chẳng giống như chúng ta đảnh lễ, mà là đại lễ bái! Trước hết, quư vị phải tiêu nghiệp chướng, những điều ấy đều là tiền phương tiện (phương tiện chuẩn bị). Nếu suốt đời cứ lạy như vậy, có thể thành tựu hay không? Nhất định là có thể thành tựu, v́ trí huệ của quư vị tăng trưởng! Khi lạy, quư vị khởi lên quán tưởng: “Năng lễ, sở lễ tánh không tịch” (người lễ và đấng được lễ, tánh đều không tịch). Thường xuyên quán tưởng như vậy, lâu ngày sẽ có thể chứng nhập. Khi đó, tu Định sẽ tiến nhập rất nhanh chóng!

          Nhưng phương thức tu hành trong mỗi bộ kinh, mỗi bộ luận, mỗi vị Bồ Tát cũng đều bất đồng. Cũng có đạo hữu hỏi tôi như thế này: “Địa Tạng Bồ Tát đến hội này, v́ sao có rất nhiều người chẳng biết nhận biết Ngài, c̣n cần phải t́m người giới thiệu?” Tôi nói: “Không chỉ Địa Tạng Bồ Tát là như thế, ngay cả Thích Ca Mâu Ni Phật mà c̣n có rất nhiều kẻ trong cơi Phật của Ngài mà chẳng biết Ngài!” Pháp sư Hoằng Giác từng nói đùa: “Chẳng cần nói quốc độ Phật giáo nào khác, ngay cả quốc độ này, là đệ tử của Thích Ca Mâu Ni Phật, họ chỉ biết niệm A Di Đà Phật, chẳng biết thầy họ là Thích Ca Mâu Ni Phật”. Chẳng có ǵ khác, chỉ có thể nói là “không có duyên”. Cũng có các pháp sư chẳng biết Địa Tạng Bồ Tát. Tôi cũng đă nghe có người nói: “Tôi chưa từng nghe về Địa Tạng Bồ Tát, chẳng học pháp môn của Địa Tạng Bồ Tát, cũng chẳng biết Địa Tạng Bồ Tát luôn!” Cũng giống như vậy, hiện thời, cũng có rất nhiều người chẳng biết Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. V́ sao vậy? Là do Duyên như tôi vừa thưa cùng mọi người. Nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ chưa từng kết duyên với Bồ Tát, tự nhiên sẽ chẳng liễu giải phương pháp của Ngài.

          Rất nhiều người có thói quen phán giáo, phàm là kinh nói về Địa Tạng Bồ Tát, bất luận là kinh Địa Tạng cũng thế, mà kinh Thập Luân cũng thế, hễ nói về chuyện địa ngục và nhân gian th́ dường như chẳng phải là Đại Thừa! Hễ nói đến Đại Thừa th́ phải là rất ư là lớn. Họ cho rằng phải như pháp môn Duy Tâm th́ mới là Đại Thừa, hoặc như Đại Thủ Ấn (Mahāmudrā) của Mật Tông “lập tức thành Phật”, cho rằng đấy mới là Đại Thừa. Bọn họ nghĩ kinh Địa Tạng, kinh Thập Luân, thậm chí kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo là Tiểu Thừa. C̣n như [tựa đề là] Đại Thừa Đại Tập Thập Luân Kinh đặc biệt chỉ ra đây là Đại Thừa, có những kẻ chỉ viết là Đại Tập Thập Luân Kinh, chẳng có chữ Đại Thừa, dẫu bản dịch của pháp sư Huyền Trang ghi rơ là Đại Thừa!

          Bộ kinh này được dịch hai lần, một lần vào đời Tùy, ai phiên dịch cũng chẳng biết, v́ bản dịch ấy bị thiếu tên [người dịch]. Lần phiên dịch thứ hai do Huyền Trang đại sư phiên dịch. Mọi người thấy Ngài chú thích thời gian, địa điểm, và điều kiện đều có. Pháp sư Huyền Trang dịch bộ kinh này trong niên hiệu Vĩnh Huy[2] đời Đường, tức là mười sáu năm sau khi Ngài từ Ấn Độ trở về Trung Hoa mới phiên dịch bộ kinh này.

          Trong kinh, trừ tán thán công đức của Địa Tạng Bồ Tát ra, Địa Tạng Bồ Tát cũng hướng về đức Phật tán thán một lượt. Mục đích đức Phật và Địa Tạng Bồ Tát thù tạc xướng họa với nhau, chủ yếu là để phá trừ Thập Ác của chúng ta. Phần Chiêm Sát Luân trong kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo cũng chú trọng Thập Ác. Kinh Địa Tạng dạy: Sở dĩ quư vị phải đọa địa ngục cũng là v́ Thập Ác. Thập Ác là ǵ? Là giết, trộm, dâm phát sanh nơi thân, nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, ác khẩu nơi miệng, và tham, sân, si nơi tâm của chúng ta. Đó là mười nghiệp. Những nghiệp tạo tác nơi thân, nghiệp phát xuất từ miệng, nghiệp dấy khởi từ tâm, đấy là mười nghiệp. Chẳng tạo mười ác nghiệp ấy, làm toàn chuyện tốt, đó là Thập Thiện. Nói lời hay đẹp, chẳng ác khẩu, tận lực xúc tiến khiến cho mọi người ḥa hảo, chẳng phá hoại người khác, tức là chẳng phạm Lưỡng Thiệt. Nói năng chưa hề thốt lời ô uế, đó gọi là “chẳng ác khẩu”. Luôn tán thán; ngoài tán thán công đức của người khác ra, tận lực nói những lời êm tai, thốt lên những lời lẽ khiến cho người khác hoan hỷ, đấy là đối trị Ác Khẩu. Lời lẽ nào chẳng có đạo lư sẽ không nói, suốt ngày từ sáng đến tối đừng nói chuyện phiếm; chẳng c̣n nói những chuyện “ta đúng, người sai” nữa. Chẳng nói những lời lẽ kiểu đó, tức là “chẳng nói lời thêu dệt”. Chẳng nói những lời lẽ vô nghĩa, gạt người, lừa dối, những lời lẽ dối trá lại càng chẳng nói, như thế th́ khẩu nghiệp thanh tịnh. Hễ thêm chữ Chẳng vào trước [Thập Ác], liền thành thiện nghiệp. Không có chữ Chẳng th́ là ác nghiệp, c̣n gọi là Ác Luân. Trong tâm khởi tham niệm, khởi sân niệm, dấy lên tà kiến. Ngu si là tà kiến. Tà kiến là không hiểu rơ, hồ đồ, nghiệp nhân của vô minh do “tham, sân, si” dẫn khởi. Nếu trong tâm chúng ta chẳng có tham, sân, si, th́ là thiện nghiệp. Thân chẳng giết, trộm, dâm là thiện nghiệp. “Không dâm” tức là ngoài quan hệ vợ chồng ra, nhưng nói rốt ráo th́ hết thảy không dâm, đấy là thiện nghiệp.

          H́nh dung mười thiện nghiệp ấy th́ là Thiện Luân. Nếu tạo tội, sẽ trở thành Ác Luân. Luân có tác dụng ǵ? Mọi người đều biết: Luân là phát động, vận chuyển chẳng ngừng. Luân mang ư nghĩa chuyển biến, luân chuyển không ngừng. V́ sao chúng ta luân hồi trong lục đạo vĩnh viễn chẳng ngưng dứt, vĩnh viễn lưu chuyển? Chính v́ nghiệp. Nghiệp khiến cho quư vị chẳng thể ngưng dứt. Nếu quư vị tạo thiện nghiệp, thiện cũng khiến cho quư vị chẳng thể ngưng nghỉ. Nhưng Thập Luân cũng có rốt ráo và sơ bộ:

          - Khiến cho thiện nghiệp đạt tới Thập Luân của Phật th́ là Thập Trí.

          - Chuyển các điều ác của chúng sanh thành Ngũ Nghịch, Thập Ác chính là Thập Ác Luân ác nhất. Phẩm Vô Y Hạnh và Hữu Y Hạnh cũng giảng về Thập Ác Luân.

          Trước hết là nói dùng Thập Luân của Phật để đối trị Thập Ác Luân của chúng sanh. Do vậy, tên gọi của bộ kinh này là Thập Luân. V́ sao lại phải thêm Địa Tạng Thập Luân? Cuối bộ kinh này, vị được dặn ḍ lưu truyền và hộ tŕ kinh này chính là Hư Không Tạng Bồ Tát. Trong phẩm Chúc Lụy Nhân Thiên của kinh Địa Tạng cũng là Hư Không Tạng Bồ Tát. Mọi người biết Hư Không Tạng Bồ Tát có hàm nghĩa ǵ? Trong kinh Hoa Nghiêm, Hư Không Tạng Bồ Tát biểu thị “dung nạp hết thảy, hàm nhiếp hết thảy”. Chữ Tạng () trong Hư Không Tạng có nghĩa là “kho báu”. Hư Không chẳng phải là rỗng tuếch, mà là h́nh dung Ngài đă chứng đắc tánh Không, chứng đắc chân tâm, chứng đắc mười tướng của kinh Chiêm Sát. Không chẳng phải là không có ǵ. Hư Không bao hàm hết thảy các pháp, chẳng rỗng không. Căn dặn Ngài hăy tuyên truyền kinh này, dặn Ngài hăy hoằng dương.

          Mười cái luân ấy chẳng có lúc nào ngưng nghỉ, bất luận là thiện luân hay ác luân, khi nào th́ mới có thể ngưng nghỉ? Chờ đến khi cái tâm của chính ḿnh lắng xuống. Vị Phật nào cũng đều chứng cảnh giới Thập Luân ngưng dứt, chứng đắc tánh thể ấy. Nhằm khiến cho chúng ta đạt được mục đích ấy, cho nên gọi là Đại Thừa.

          Đại là nói cái tâm của chúng ta. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh cũng là chữ Đại ấy. Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh cũng là chữ Đại ấy. Chữ Đại nêu rơ tâm thể, hoặc tổng thể của chúng ta. Cái Thể của hết thảy các pháp môn, đại tổng tướng của pháp môn là Đại. “Thừa” là chuyên chở. Nếu nương vào mười thiện nghiệp ấy, chúng nó sẽ có thể chuyên chở quư vị đạt đến Tịch Diệt rốt ráo. “Có thể tịch diệt” chính là Phật quả. Hàm nghĩa của Không trong tiếng Phạn là Tịch Diệt, hoặc Tịch Tĩnh, đều nhằm h́nh dung Không; thế nhưng chẳng nói là Không! Do tiếng Hán không có chữ ấy, chúng ta chẳng thể dịch được, bèn dùng chữ Không để thay thế. Nhưng sử dụng chữ Không, chúng ta lại hiểu lầm là “chẳng có ǵ”. Vừa nói Không, có rất nhiều người liền rơi vào Đoạn Diệt Kiến, bởi nghĩ Không là “chẳng có ǵ cả”! “Không” chẳng phải là “không có”. Chữ Không ấy bao gồm hết thảy các pháp Duyên Khởi, bản thể của chúng là Tánh Không. Cái Không ấy bao gồm hết thảy các pháp Duyên Khởi, làm thế nào để hiển thị Tánh Không ấy? Dùng duyên khởi để hiển thị cái Không ấy. Làm thế nào để chứng đắc cái Không ấy? “Duyên khởi hoàn diệt” chính là chứng đắc cái Không ấy.

          Có hai cách giải thích chữ “Đại Tập”:

          1) Một là trong pháp hội ấy, đă tập hợp rất nhiều chúng sanh. Nhiều tới mức độ nào? Vô số! Quư vị xem kinh văn sẽ biết: Có bao nhiêu Thanh Văn Tăng? Vượt quá số lượng! Tức là dùng số lượng để tính toán, sẽ chẳng thể tính toán được! Đó gọi là “vượt quá số lượng”. Có bao nhiêu vị Bồ Tát Tăng? Vượt quá số lượng! Hễ nói đến pháp môn Địa Tạng, trừ kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo ra, xứ sở có hai chỗ: Một là ở Đao Lợi Thiên, hai là giữa bảy rặng núi Kim Sơn, tức là núi Khư La, ở giữa Dục Giới và Sắc Giới, kẻ b́nh phàm chẳng thể tới được. Đấy là xứ sở thù thắng. Tụ họp ở nơi đấy th́ mới có thể dung nạp nổi!

          Trong kinh Phật, hễ nói đến con số th́ chẳng dùng những con số trong nhân gian để tính toán, [tức là chẳng] dùng một, hai, ba, bốn, năm, sáu để tính toán. Bao nhiêu ức? Bao nhiêu vạn? Bao nhiêu triệu? Chúng ta chẳng thể tính toán; do vậy, đức Phật dùng một tỷ dụ, tức là dùng cát sông Hằng để tỷ dụ. “Hằng hà sa” (cát sông Hằng): Sông Hằng dài bảy, tám ngàn dặm, số lượng cát trong ấy là bao nhiêu? Trí lực con người chẳng thể tính đếm được. Như vậy, đối với những con số ở đây, quư vị phải nên lư giải như thế!     

          2) Một cách giải thích khác: Quư vị có thể nghe nói Thập Nghiệp tức là có thể vận chuyển quư vị, nêu tỏ tâm địa, thành tựu Thể Tánh của chính ḿnh, thành tựu Tỳ Lô Giá Na của chính ḿnh, tức là có thể đạt đến Đại. Do vậy, các đại chúng nhóm họp trong pháp hội lần này, đều là những người hữu duyên. Nay chúng ta có thể cùng nhau học tập bộ kinh này, luân chuyển măi cho tới nay, chúng ta mới có duyên. Chẳng có cái duyên ấy, sẽ chẳng thể gặp được!

          Đối với vấn đề này, tôi cũng suy nghĩ rất nhiều lần. Bất cứ lúc nào, cũng đều suy tưởng: “Nói là vô duyên th́ dường như lại là hữu duyên. Nói là hữu duyên th́ dường như đă nhiều năm qua, trước nay chưa có ai phát tâm muốn giảng kinh Thập Luân”. Khi tôi chưa phát cái tâm ấy, cứ thật thà nói: “Bộ kinh này, trừ khi có dịp phải cùng học tập với mọi người th́ tôi mới xem”. Trước kia, tôi chưa hề đọc qua. Tuy chúng tôi có nhắc tới Địa Tạng Tam Kinh, nhưng tôi chưa hề xem từ đầu đến đuôi kinh Thập Luân. Ngược lại, pháp sư Hoằng Giác đă đọc, đă nghiên cứu trước tôi. Sư đă xem một lượt, Sư cầm quyển kinh được bọc b́a màu đỏ, tức là không chỉ xem một lượt, mà c̣n phê chú.

          Trước kia, tôi không có tâm nguyện muốn giảng bộ kinh này. Nay v́ một vài vị đạo hữu đề nghị: “Mọi người cùng nhau học tập bộ kinh này”. Tôi một chút tín tâm cũng không có; nếu học tập kinh này, có ai nghe hay không? Bọn họ đáp: “Lẽ nào lại không có ai nghe? V́ rất ít người biết có bộ kinh này!” Cũng có lẽ là nhân duyên chín muồi. Hiện thời, người đến nghe cũng chẳng ít, vẫn là có người nghe, chẳng phải là không ai nghe! Như vậy, khi chúng ta học, mọi người có thắc mắc ǵ hăy nêu ra. Chúng ta phải dùng một thời gian dài để học. Nếu đă phát tâm học, phải học kỹ lưỡng. Như thế nào mới là học kỹ lưỡng? Chúng ta phải sử dụng! Bất luận học vấn ǵ, đều phải vận dụng. Học viết chữ là v́ quư vị phải dùng. Học tiếng Anh th́ quư vị cũng phải dùng, dùng tiếng Anh để nói năng, tức là chúng ta phải dùng. Vậy th́ học phương pháp do Địa Tạng Bồ Tát dạy để làm ǵ? Thành Phật!     

          Nếu phát tâm lớn hơn một chút, đương nhiên là sẽ chẳng đọa địa ngục! Hễ học kinh Thập Luân, sẽ chẳng đọa tam đồ nữa, chẳng đọa địa ngục nữa, chẳng đọa làm ác quỷ, chẳng đọa làm súc sanh! Chúng ta xem đó có phải là đă thành tựu rồi hay chưa? Chưa phải! Nhất định phải thành Phật. Có thể sanh lên trời cũng thế, huởng thọ hạnh phúc cũng thế, chỉ là tới một lúc nào đó, chúng ta sẽ chẳng thể thỏa măn được. Cũng như trước kia, cuộc sống và tập quán tại Trung Hoa Đại Lục chẳng có cách nào so sánh với nước Mỹ, mà cũng chẳng có cách nào so sánh với Ôn Ca Hoa (Vancouver) của Gia Nă Đại, chúng ta thường nói cuộc sống ở những nơi đó là thiên đường. Nhưng đă đến đây, đă tới thiên đường rồi đó, có cảm thấy hạnh phúc hay không? Chẳng thể! V́ yêu cầu lại nâng cao hơn! Kết quả là chỗ này chẳng phải, chỗ kia cũng không phải, như thế nào cũng chẳng vừa ư. Chúng ta sanh lên trời rồi, có măn ư hay không? Dẫu sanh lên trời, quư vị cũng chẳng măn ư, tuy toàn là cảnh giới vui sướng. Khi đă có cảnh giới vui sướng, quư vị lại có yêu cầu khác, mong cầu bất tử! Làm thế nào để đạt được? Nếu nói đến sung sướng th́ đầu óc cũng ph́nh to. Chịu khổ th́ đầu óc cũng ph́nh to. Ở trên trời hưởng phước, hưởng sự vui sướng, đầu óc cũng sẽ ph́nh to! Chuyện ǵ cũng chẳng làm, hưởng hết sạch phước, lại phải nên làm như thế nào? Do vậy, chúng ta nhất định phải chiếu theo kinh Thập Luân học tập.

          Chúng ta phát nguyện thành Phật. Pháp môn này dạy chúng ta từng bước thành Phật như thế nào. Chúng ta vận dụng phương pháp này sẽ thành tựu. Lúc mới học kinh Thập Luân, quư vị cảm thấy có những vấn đề ǵ hay không? Hăy nêu ra để thảo luận. Chúng ta tuân theo tánh chất nửa nghiên cứu, nửa học tập, chớ nên nghe suông, chỉ dùng tai để nghe sẽ chẳng đủ! Quư vị cần phải dùng ư căn, phải dùng trí huệ, lục căn dùng lẫn cho nhau th́ mới học được!

          Khi học tập, sẽ có những chướng ngại. Chướng ngại ǵ vậy? Gia đ́nh của quư vị có chuyện, hoặc là có nhân duyên này, nhân duyên nọ, rất khó nói! Trước hết, quư vị phát nguyện, mong mỏi Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ, khiến cho con học hoàn măn, có thể học từ đầu đến cuối chẳng thiếu một buổi nào. Thiện căn như vậy cũng rất khó có. Do vậy, quư vị nhất định phải phát cái nguyện đầu tiên ấy. Kế đó, phát nguyện thứ hai: “Nguyện cho con chấm dứt nỗi đau khổ trong hiện tiền”. Muốn giảm thiểu chướng ngại đâu phải dễ dàng như thế! Ngă bệnh sẽ không đến được, hoặc là đúng ngay lúc quư vị chuẩn bị đi nghe giảng, vừa mới ra khỏi cửa, có khách tới chơi. Quư vị cự tuyệt kẻ đó, nói phải đi nghe giảng, sẽ là chẳng biết cách đối xử. Nếu tiếp đăi kẻ đó th́ tối nay sẽ mất một buổi học.

          Quư vị thấy vấn đề ấy thoạt nh́n là chuyện nhỏ, nhưng nói tổng quát, sẽ thấy chẳng nhỏ! Nếu chướng ngại phát sanh nơi thân tôi, tôi cũng chẳng giảng được, cũng phải gián đoạn. Do vậy, hiện thời, hễ gặp dịp giảng kinh, cùng mọi người học một bộ kinh nào, chính tôi sẽ phát nguyện tụng những bộ kinh ấy, lại c̣n niệm thánh hiệu Địa Tạng để cầu gia tŕ. Chẳng cầu gia tŕ, sẽ bị gián đoạn giữa chừng. Một thứ bị gián đoạn, hết thảy đều gián đoạn. Từ lúc giảng kinh tới nay, cho đến bây giờ, điều tôi tiếc nuối nhất là lần giảng kinh Hoa Nghiêm ở chùa Nam Phổ Đà chẳng được viên măn! Tôi giảng đến phẩm Ly Thế Gian bèn rời khỏi đó. Vẫn mong trở về giảng viên măn bộ kinh ấy, thế mà vĩnh viễn chẳng viên măn được! Quư vị quay lại giảng, người nghe kinh thuở đó và người nghe kinh hiện thời không giống nhau. Họ đă sớm đi hết rồi, tôi quay lại giảng cách nào cũng chẳng thể bổ sung khóa giảng ấy được! Làm thế nào đây? Cũng chỉ đành sám hối, những kinh khác đều giảng xong từ đầu đến đuôi. Tôi hy vọng sẽ giảng viên măn kinh Thập Luân. Nếu không, trong tương lai, đến khi lâm chung, sẽ bị vướng mắc, sẽ rất khổ năo! V́ thế nói: Mọi người chúng ta hăy cùng nhau phát nguyện mong học tập rất tốt đẹp.

          Mọi người nhất định phải học hiểu tŕnh tự, đừng học nửa vời. Như thế nào là hiểu? Có thể sử dụng! Khi sử dụng, chẳng bị chướng ngại. Lúc quư vị tu quán tưởng, chẳng có ǵ gây chướng ngại. Bộ kinh này không giống như kinh Địa Tạng dùng để đọc tụng. Kinh Địa Tạng tán thành quư vị đọc tụng, giống như chúng ta đọc Tâm Kinh hoặc kinh Kim Cang, các kinh ấy dạy chúng ta đọc tụng. Kinh Thập Luân bảo quư vị hăy hành! Quư vị có thể làm được bao nhiêu, không nhất định! Nay chúng tôi bắt đầu giảng kinh văn.

 

I. Tự phẩm đệ nhất (序品第一, phẩm thứ nhất: Tự)

 

          (Kinh) Như thị ngă văn: Nhất thời, Bạc Già Phạm tại Khư La Đế Da sơn, chư mâu-ni tiên sở y trụ xứ, dữ đại bật-sô chúng câu, vị quá số lượng đại Thanh Văn Tăng, phục hữu Bồ Tát Ma Ha Tát chúng, vị quá số lượng đại Bồ Tát Tăng, thuyết Nguyệt Tạng dĩ.

          ()如是我聞:一時,薄伽梵在佉羅帝耶山,諸牟尼仙所依住處。與大苾芻眾俱。謂過數量大聲聞僧,復有菩薩摩訶薩眾,謂過數量大菩薩僧,說《月藏》已。

        (Kinh: Tôi nghe như thế này: Một thời, đức Bạc Già Phạm ở tại núi Khư La Đế Da, là nơi y trụ của các vị mâu-ni tiên, cùng các vị đại bật-sô nhóm họp, tức là hàng đại Thanh Văn Tăng chẳng thể tính đếm. Lại có các vị Bồ Tát Ma Ha Tát, tức là chẳng thể tính đếm các vị đại Bồ Tát Tăng, nói kinh Nguyệt Tạng xong).

 

          Đây là một đoạn kinh văn. Nhân duyên ḥa hợp, nhằm lúc khế lư, khế cơ, đức Phật thuyết pháp, thuyết pháp ǵ vậy? Kinh Nguyệt Tạng. Chúng ta không học kinh Nguyệt Tạng trong Đại Tạng Kinh, cho nên chúng tôi không nhắc tới. Vào lúc khế cơ, khế lư ấy, đức Thế Tôn ngự tại núi Khư La Đế Da (Kharādīya). Nơi ấy là chỗ của những người tu hạnh Tịch Tịnh. Mâu Ni (Muni) dịch [sang tiếng Hán] là Tịch Tịnh (). Các vị tiên nhân tu Tịch Tịnh ở nơi ấy, đó là chỗ họ nương náu để tu hành. Khi đó, có rất nhiều vị tỳ-kheo Tăng thọ giới tỳ-kheo, có bao nhiêu? “Quá số lượng” tức là chẳng thể dùng số lượng để tính toán. Chẳng phải là ngàn, vạn, ức, triệu! C̣n nhiều hơn những con số ấy, chẳng thể biết nổi số lượng! C̣n có những vị Bồ Tát Ma Ha Tát, Bồ Tát là giác hữu t́nh. Đó là những chúng sanh phát đại tâm, đều là bậc đại Bồ Tát, đạt được thành tựu, cũng là chẳng thể tính đếm số lượng.

          Vị đương cơ trong bộ kinh ấy là Nguyệt Tạng Bồ Tát. Khi [đức Phật] giảng bộ kinh ấy, chính tôi (ngài A Nan) được nghe. “Như thị” là nói đến pháp môn này. Đức Phật nói các pháp như thế, tôi đích thân được nghe. Điều này được gọi là “lục thành chứng tín tự” (phần tựa đề chứng tín gồm sáu thứ thành tựu), tức là có sáu thứ chứng minh ḥng thành tựu pháp môn này, hoàn toàn chẳng phải là hư giả. “Như thị” là nói đến pháp này, “ngă” là ngài A Nan tự nói về ḿnh. Nói theo pháp Đại Thừa th́ kinh điển do ngài A Nan kết tập, Ngài nói: “Tôi đích thân tự nghe, chẳng phải là giả”. Nghe khi nào?

          “Nhất thời”: Phàm thời gian đức Phật thuyết pháp đều là lúc khế lư, khế cơ. V́ đức Phật có khi nói trên trời, có lúc nói trong nhân gian, có khi ở địa điểm này, có lúc ở địa điểm khác. Điều kiện địa điểm và thời gian đều khác biệt. Chúng tôi có thể nêu thí dụ để thuyết minh. Hiện thời, ở nơi đây là tám giờ rưỡi, thời gian tại Đài Loan sẽ khác, Đại Lục cũng khác. Nữu Ước th́ sớm hơn ba tiếng đồng hồ, cũng đều là thời gian bất đồng. “Thời vô định thể” (thời gian không có bản thể nhất định): Nó là pháp vô định, huống hồ đức Phật thuyết pháp trọn khắp các thế giới, nhân gian lẫn cơi trời, khắp nơi đều có, lấy thời gian ở chỗ nào làm chuẩn? Do vậy bèn ước định là “nhất thời”, tức là lúc nhân duyên ḥa hợp, khế lư, khế cơ. Đấy là Thời Thành Tựu.

          “Văn Thành Tựu”: Ai nói? Đức Bạc Già Phạm, tức là Thế Tôn, cũng là do đức Phật nói. Đấy gọi là Chủ Thành Tựu. Nói ở chỗ nào? Núi Khư La Đế Da (Kharādīya). Địa điểm núi Khư La Đế Da chính là một quả núi trong bảy Kim Sơn, rất gần núi Tu Di. Vây quanh núi Tu Di là một lớp Kim Sơn, một tầng biển nước thơm, [có lần lượt bảy tầng như thế]. Kim sơn được nói trong kinh Phật bằng sắt, v́ sắt là một thứ kim loại, không nhất định là hoàng kim, cho nên nói là Kim Sơn. “Hải” là biển nước thơm vây quanh núi Tu Di. Nếu nói theo cách phiên âm tiếng Hán th́ gọi là La Lân Sơn. V́ nơi ấy chẳng có khói lửa của con người, những vị tiên nhân có thần thông, tu tịnh hạnh mới có thể đến đó tu hành. Đấy chính là trụ xứ để các vị Mâu-ni tiên nhân nương ở.

          Đức Phật giảng kinh Nguyệt Tạng ở nơi đó. Có những đại chúng nào tham dự pháp hội? Chính là các vị Thanh Văn và Bồ Tát. Nơi ấy cũng chẳng có phàm phu Tăng, v́ phàm phu Tăng chẳng thể đến được. Không có thần thông, sẽ chẳng thể đến nơi ấy được. Do vậy, chỉ nêu lên hai chúng Thanh Văn và Bồ Tát nghe pháp. Chúng ta có thể dựa trên hai chữ Đại Tập để lư giải. Nếu đă là Đại Tập, chúng Thanh Văn và Bồ Tát tới tham dự sẽ hết sức đông đảo. Thanh Văn học tập Bồ Tát, đấy là cách nh́n và suy nghĩ của chúng tôi, cũng có nghĩa là khiến cho hàng Thanh Văn nghe pháp sẽ tiến nhập Đại Thừa, đều trở thành đại Bồ Tát. Do vậy, kinh có tên là Đại Thừa Đại Tập.

          Khi bộ kinh ấy viên măn, pháp hội c̣n chưa giải tán, Địa Tạng Bồ Tát đến tùy hỷ. Ngài biết nhân duyên hoằng dương pháp môn trong kinh Thập Luân của Thích Ca Mâu Ni Phật đă chín muồi, cho nên Ngài đến đấy vào lúc đó. Đoạn kinh văn trên đây trần thuật t́nh huống trước khi Địa Tạng Bồ Tát đến tụ hội với đức Phật.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Nam phương đại hương vân lai, vũ đại hương vũ, đại hoa vân lai, vũ đại hoa vũ, đại diệu thù lệ bảo sức vân lai, vũ đại thù lệ diệu bảo sức vũ, đại diệu tiễn khiết y phục vân lai, vũ đại tiễn khiết diệu y phục vũ. Thị chư vân vũ sung biến kỳ sơn, chư mâu-ni tiên sở y trụ xứ. Tùng chư hương, hoa, bảo sức, y phục, diễn xuất chủng chủng bách thiên vi diệu đại pháp âm thanh, vị quy kính Tam Bảo thanh, thọ tŕ học xứ thanh, nhẫn nhục nhu ḥa thanh.

          ()爾時,南方大香雲來,雨大香雨;大華雲來,雨大華雨;大妙殊麗寶飾雲來,雨大殊麗妙寶飾雨;大妙鮮潔衣服雲來,雨大鮮潔妙衣服雨。是諸雲雨,充遍其山,諸牟尼仙所依住處。從諸香華、寶飾、衣服,演出種種百千微妙大法音聲,謂歸敬三寶聲、受持學處聲、忍辱柔和聲。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, phương Nam có mây hương lớn bay đến, tuôn mưa hương to, mây hoa lớn bay đến, tuôn mưa hoa lớn, mây đồ trang hoàng quư báu, đặc biệt lộng lẫy, mầu nhiệm to lớn bay đến, mưa các thứ trang hoàng quư báu to lớn, đặc biệt lộng lẫy, mầu nhiệm, mây y phục mới, sạch, đẹp đẽ to lớn bay đến, tuôn xuống các thứ y phục mới, sạch, đẹp đẽ to lớn. Các thứ mây ấy mưa trọn khắp núi ấy, tức chỗ nương trụ của các vị Mâu-ni tiên. Từ trong các thứ hương, hoa, vật trang sức báu, y phục, diễn xuất đủ loại trăm ngàn âm thanh đại pháp vi diệu, như tiếng quy kính Tam Bảo, tiếng thọ tŕ học xứ, tiếng nhẫn nhục, nhu ḥa).

 

          Kế đó là Địa Tạng Bồ Tát đến dự. Địa Tạng Bồ Tát đến đó, trước hết, có một thứ khí thế mà mỗi khi chúng ta xem kinh Địa tạng và kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo đều [mô tả] như thế. Ngay trong lúc ấy, từ phương Nam dấy lên mây hương, tức là vầng mây. Trong hư không có vầng mây chứa đựng hương thơm. Khi ngồi máy bay, tôi từng dấy lên ảo tưởng, bay lên tận chỗ cao tới hai vạn mét trên không trung, bay qua những đám mây bồng bềnh phía dưới. Đă lên đến các tầng mây, tôi nghĩ không có cách nào mở cửa sổ. Nếu có thể mở cửa sổ, chắc chắn sẽ có cảm nhận bất đồng về không khí hoặc các đám mây. Lúc đó (lúc đức Phật vừa nói xong kinh Nguyệt Tạng xong), mây hương trôi tới, lại c̣n có mưa. Mọi người đừng hiểu Vũ ở đây là trời mưa, v́ nhắc tới “vũ”, chắc chắn ngỡ là trời mưa. Ở đây, quư vị thấy nhé, ngay lập tức tuôn xuống châu báu. Tuôn xuống nhiều như mưa sa vậy. Ngay lập tức lại tuôn xuống y phục, đấy chẳng phải là mưa. Quư vị hỏi tôi: “Chuyện này có thật hay không?” Tôi thưa với quư vị: “Đấy là ư cảnh”. Đă thế, đến cuối cùng, trên hai tay của mỗi người đều xuất hiện Như Ư Bảo Châu. Như Ư Bảo Châu tuôn ra vô lượng bảy báu. Nay Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ chúng ta, cũng sẽ khiến cho hai tay chúng ta đều hiện ra bảy báu. Như thế th́ mọi người đều hoan hỷ, thế giới này sẽ chẳng có chiến tranh. Chiến tranh chẳng qua là v́ tiền hay sao? Đă có rồi, tức là có châu báu rồi.

          Mây bay tới là mây hương, tuôn ra mưa hương. Có thể hiểu Vũ là tuôn xuống, tuôn xuống các thứ hương. Mây đại hoa bay tới, mây hoa sẽ trút hoa xuống, đều chẳng phải là nước. Nếu là tuôn nước, khắp trời toàn là nước, sẽ thành thủy tai! “Mưa” ở đây phải hiểu theo ư nghĩa này. C̣n có một loại mây gồm các thứ trang hoàng báu mầu nhiệm đặc biệt lộng lẫy. Chắc mọi người đă từng đến các chùa miếu rất trang nghiêm, tràng và bảo cái (lọng báu) rất đầy đủ. Ở Đài Loan cũng có. Kế đó là những vật trang hoàng như bảo tràng. Những vật trang hoàng như bảo tràng cũng từ trên hư không giáng xuống. Y phục mầu nhiệm mới sạch từ trên cao rơi xuống. Những thứ hương, vật trang sức đẹp đẽ, hương, hoa tịnh khiết, y phục đẹp đẽ mới mẻ, sạch sẽ đầy khắp La Lân Sơn. Khắp đất đều là hương, hoa, y báu, hoa đẹp. Điều kỳ lạ nhất là lại c̣n có các âm thanh. Áo thơm bèn có âm thanh của áo thơm, hương có âm thanh của hương, vật trang hoàng có những âm thanh của vật trang hoàng, các loại hoa có âm thanh của hoa, giống như kinh Di Đà đă nói: Hết thảy âm thanh đều là pháp âm. V́ thế, cuối cùng tổng kết bằng một câu: Từ những thứ hương, hoa, vật trang sức báu, y phục, diễn nói trăm ngàn pháp âm vi diệu để thuyết pháp. Chúng ta có thể tưởng tượng, đấy là mong quư vị bố thí, mong quư vị nhẫn nhục, mong quư vị hành thiện nghiệp, chẳng giết, chẳng trộm, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si. Pháp âm nói các pháp ấy.

          Lại c̣n [có âm thanh] khuyên quư vị quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, c̣n có âm thanh quy y Tam Bảo, c̣n có âm thanh thọ tŕ giới luật học xứ. Điều phải học ở đây là chuyên nói về giới luật. Chúng ta phải nên học giới. Phàm là đệ tử Phật, vừa khởi đầu, nhất định phải học giới. Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng cũng là giới. Trước hết, quư vị học quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Khi những thứ y phục, bảo vật, cho đến những vật trang hoàng báu rơi xuống, trong đó có âm thanh. Âm thanh dạy quy y Tam Bảo, quy y Phật, Pháp, Tăng, cho đến Lục Độ vạn hạnh, đoạn ác, làm lành. Tất cả những âm thanh đều là âm thanh như vậy! Dưới đây liệt kê những âm thanh của các thứ từ trên cao rơi xuống, tức là từ trong các vật rơi xuống, trong y phục có âm thanh, trong hoa có âm thanh, trong mây hương tuôn ra các mùi hương có âm thanh.

 

          (Kinh) Tinh tấn dũng mănh thanh, hàng phục tứ ma thanh, thú nhập trí huệ thanh, quảng đại danh xưng biến măn tam giới thanh, khuyến tu thù thắng niệm định tổng tŕ thanh, không vô tướng vô nguyện thanh.

          ()精進勇猛聲、降伏四魔聲、趣入智慧聲、廣大名稱徧滿三界聲、勸修殊勝念定總持聲、空無相無願聲.

          (Kinh: Tiếng tinh tấn dũng mănh, tiếng hàng phục tứ ma, tiếng tiến nhập trí huệ, tiếng danh xưng rộng lớn trọn khắp ba cơi, tiếng khuyên tu niệm định tổng tŕ thù thắng, tiếng Không, Vô Tướng, Vô Nguyện).

 

          Đây là ba môn giải thoát Không, Vô Tướng, Vô Nguyện.

 

          (Kinh) Yếm ly tham dục thanh, Sắc như tụ mạt thanh, Thọ như phù bào thanh, Tưởng như dương diễm thanh, Hành như ba tiêu thanh, Thức như huyễn sự thanh, vô thường thanh, khổ thanh, vô ngă thanh, không thanh, tàm quư thanh, viễn ly thanh, hộ niệm thanh, từ bi hỷ xả thanh, chứng đắc chư pháp thanh, sanh thiên Niết Bàn thanh, thú hướng tam thừa thanh, chuyển đại pháp luân thanh, vũ đại pháp vũ thanh, thành thục hữu t́nh thanh, độ tam ác thú thanh, tu trị viên măn lục đáo bỉ ngạn thanh, thiện xảo phương tiện thanh, thú nhập Thập Địa thanh, du hư thần thông thanh, du hư thanh tịnh vô thượng Đại Thừa thanh, bất thoái chuyển địa thanh, Vô Sanh Pháp Nhẫn thanh, quán đảnh thọ vị thanh, thú nhập nhất thiết chư Phật đại hải thanh.

            ()厭離貪慾聲、色如聚沬聲、受如浮泡聲、想如陽焰聲、行如芭蕉聲、識如幻事聲、無常聲、苦聲、無我聲、空聲、慚愧聲、遠離聲、護念聲、慈悲喜舍聲、證得諸法聲、生天涅槃聲、趣向三乘聲、轉大法輪聲、雨大法雨聲、成熟有情聲、度三惡趣聲、修治圓滿六到彼岸聲、善巧方便聲、趣入十地聲、遊戲神通聲、遊戲清淨無上大乘聲、不退轉地聲、無生法忍聲、灌頂受位聲、趣入一切諸佛大海聲。

          (Kinh: Tiếng chán ghét, xa ĺa tham dục, tiếng Sắc như bọt nước tụ lại, tiếng Thọ như bọt nổi, tiếng Tưởng như dợn nắng[3], tiếng Hành như cây chuối[4], tiếng Thức như huyễn sự, tiếng vô thường, tiếng khổ, tiếng vô ngă, tiếng Không, tiếng hổ thẹn, tiếng xa ĺa, tiếng hộ niệm, tiếng từ bi hỷ xả, tiếng chứng đắc các pháp, tiếng sanh lên trời, chứng Niết Bàn, tiếng tiến hướng tam thừa, tiếng chuyển đại pháp luân, tiếng tuôn mưa đại pháp, tiếng thành thục hữu t́nh, tiếng độ ba nẻo ác, tiếng tu tập đối trị viên măn Lục Ba La Mật, tiếng phương tiện thiện xảo, tiếng tiến nhập Thập Địa, tiếng du hư thần thông, tiếng du hư Đại Thừa vô thượng thanh tịnh, tiếng địa vị chẳng thoái chuyển, tiếng Vô Sanh Pháp Nhẫn, tiếng quán đảnh tiếp nhận địa vị, tiếng tiến nhập biển cả của hết thảy chư Phật).

 

          Ư nghĩa được bao hàm trong bộ kinh này là các âm thanh thuyết pháp. Nếu là bậc đại trí huệ, như hàng Bồ Tát Ma Ha Tát vừa nghe các âm thanh ấy, sẽ thành đạo. Đối với những điều sau đó, sẽ chưa nói đều có thể hiểu rơ, giống như một câu nói của thiền sư Trung Hoa (“thoại đầu” hoặc “chuyển ngữ”), vừa chỉ điểm bèn thông suốt, chuyện ǵ cũng chẳng cần phải rườm lời nữa! Nhưng các âm thanh ấy, tức những tiếng thuyết pháp ấy, nếu quư vị bảo là do Thích Ca Mâu Ni Phật nói th́ cũng được, nhờ vào sức oai thần của Phật. Nếu nói là Địa Tạng Bồ Tát chưa tới mà đă thuyết pháp trước, cũng được luôn! Nếu nói theo cách thứ nhất th́ đó là pháp do đức Phật nói, và là pháp do chẳng thể tính đếm số lượng Thanh Văn Tăng và chẳng thể tính đếm số lượng Bồ Tát Tăng đă nghe trong pháp hội [giảng giải về] Nguyệt Tạng Bồ Tát. Nay chúng ta nghe những ǵ? Chính là các âm thanh ấy, chúng ta có nghe biết hay không? Nếu phải giải thích từng điều một, giải thích bộ kinh này rất dài. Phẩm Tự thuộc Tự Phần, trọn chẳng phải là chánh văn. Từ quyển thứ nhất là phẩm Tự cho đến phẩm cuối cùng là phẩm Hoạch Ích Chúc Lụy [thuộc phần Lưu Thông], các phẩm ở giữa là phần Chánh Tông.

          Phần Chánh Tông giảng rơ mục đích của kinh này. Quư vị mong đạt được điều ǵ, sẽ tu hành ở chỗ nào? Nếu vừa bắt đầu biểu diễn như thế, quư vị liền khai ngộ th́ có thể rời đi rồi, chẳng cần phải nghe những điều sẽ nói kế tiếp nữa! V́ chính ḿnh đă biết bộ kinh này muốn nói điều ǵ, những điều sẽ nói sau đó đă được vạch ra trong đại ư của phần trước. V́ sao? Các vị đại sức xưa kia vừa nghe liền hiểu rơ phần Huyền Nghĩa của quư vị, cho nên chẳng nghe nữa! Pháp quư vị toan nói, họ đă hiểu rơ, đă chứng nhập. Do đó, họ mới có thể rời khỏi pháp hội, chỉ cần nghe phần Huyền Nghĩa của quư vị. Nay chúng ta không có loại trí huệ ấy, chẳng có sức mạnh ấy để có thể vận dụng Huyền Nghĩa khiến cho người khác khai ngộ, thành đạo. Thuở đức Phật tại thế, Ngài cũng đối trước ba căn thuyết pháp. Bậc thượng thượng căn [vừa nghe nói] đă đạt được, đă lănh ngộ, người ta bèn rời đi để tu đạo ḥng thành tựu. Người thuộc căn cơ trung hạ vẫn phải chờ ở đấy. Đức Phật lại phải nói tiếp, nói đến cuối cùng mới lục tục kéo đi. Cuối cùng, đức Phật vẫn chẳng có cách nào độ trọn hết chúng sanh, phải đợi Di Lặc Bồ Tát giáng thế, Ngài sẽ thay Phật độ họ. Hoặc là rốt cuộc đức Phật bèn phó chúc Hư Không Tạng Bồ Tát: “Ông lưu truyền bộ kinh này để độ chúng sanh”. Hàm nghĩa như vậy đấy!

          Từ phẩm Tự, chúng ta có thể cảm nhận oai lực của Địa Tạng Bồ Tát; từ chỗ này, sẽ có thể thấy chỗ tiến nhập. Chúng ta sẽ sanh khởi tín tâm cực đại thù thắng, tín ngưỡng cực đại đối với Địa Tạng Bồ Tát; đồng thời sẽ phát nguyện: Nguyện có thần thông giống như Địa Tạng Bồ Tát. Bất luận đến nơi đâu, thanh thế đều hơn người! Của cải, xe cộ, người hầu đă sớm đến đó trước, đă an bài sẵn. Vừa nh́n vào, đă tạo thành thanh thế. Bồ Tát cũng giống như vậy. Bất quá, thanh thế của Ngài khác hẳn thanh thế của chúng ta. [Ngài làm như vậy] có thể khiến cho rất nhiều người được lợi ích.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, nhất thiết chư lai đại chúng, hàm kiến như thị chủng chủng vân vũ, diệc văn như thị chư pháp âm thanh. Tùy ư sở nhạo, các kiến kỳ thân, chủng chủng hương, hoa, bảo sức, y phục chi sở trang nghiêm. Hựu các tự kiến lưỡng thủ chưởng trung tŕ Như Ư Châu, tùng thị nhất nhất Như Ư Châu trung, vũ chủng chủng bảo. Phục tùng nhất nhất Như Ư trung, phóng chư quang minh. Nhân quang minh cố, nhất nhất hữu t́nh giai kiến thập phương Căng-già sa đẳng chư Phật thế giới. Hựu nhân quang minh, kiến chư Phật độ, nhất nhất Thế Tôn, vô lượng chúng hội cung kính vi nhiễu. Phục nhân quang minh, kiến chư Phật độ nhất thiết hữu t́nh, nhược hữu bệnh giả, nhân thử quang minh chi sở chiếu xúc, chúng bệnh trừ dũ. Chư ưng bị sát cập tù hệ giả, quang minh chiếu cố, giai đắc giải thoát. Chư thân, ngữ, ư thô trọng uế trược, nhân quang giai đắc khinh nhuyễn thanh tịnh. Chư cơ khát giả diệc giai băo măn. Chư bị chủng chủng h́nh phạt bức thiết, quang minh chiếu cố, giai ly ưu khổ. Chư thiểu y phục, bảo sức, trân tài, quang minh chiếu cố, tùy niệm giai túc. Nhược chư hữu t́nh nhạo dục sát sanh, năi chí hoặc hữu nhạo dục tà kiến, do thử quang minh chi sở chiếu xúc, giai tất nhạo dục viễn ly sát sanh, năi chí nhạo dục viễn ly tà kiến. Nhược chư hữu t́nh, vị ư chủng chủng cầu bất đắc khổ chi sở bức thiết, quang minh chiếu cố, tùy nguyện giai đắc. Hựu nhân quang minh, kiến chư Phật độ nhất thiết hữu t́nh sở thọ chúng khổ, vô bất hưu tức, giai tất hoan ngu, thọ chư diệu lạc. Hựu kiến như thị chư Phật độ trung, do thử quang minh chi sở chiếu xúc, viễn ly nhất thiết hôn vân, trần vụ, liệt phong, bạo vũ, bất thiện âm thanh, cập chư xú uế, khổ tân ác vị, ác xúc khủng bố, viễn ly nhất thiết tà nghiệp, tà ngữ, tà ư, tà quy, bất hàn, bất nhiệt, an tĩnh thản nhiên, địa b́nh như chưởng, chư diệu lạc cụ sung măn kỳ trung.

          ()爾時一切諸來大衆,見如是種種雲雨,亦聞如是諸法音聲,隨意所樂,各見其身種種香花寶飾衣服之所莊嚴,又各自見兩手掌中持如意珠,從是一一如意珠中雨種種寶,復從一一如意中放諸光明,因光明故,一一有情皆見十方殑伽沙等諸佛世界。又因光明,見諸佛土一一世尊,無量衆會恭敬圍繞,復因光明,見諸佛土一切有情,若有病者,因此光明之所照觸,衆病除愈,諸應被殺及囚繫者,光明照故,皆得解脫。諸身語意粗重穢濁,因光皆得輕軟清淨,諸飢渴者亦皆飽滿,諸被種種刑罰逼切,光明照故,皆離憂苦,諸少衣服寶飾珍財,光明照故,隨念皆足若諸有情樂欲殺生,乃至或有樂欲邪見,由此光明之所照觸,皆悉樂欲遠離殺生,乃至樂欲遠離邪見。若諸有情,爲於種種求不得苦之所逼切,光明照故,隨願皆得。又因光明,見諸佛土一切有情所受衆苦,無不休息,皆悉歡娛受諸妙樂。又見如是諸佛土中,由此光明之所照觸,遠離一切昏雲塵霧、烈風暴雨不善音聲,及諸臭穢苦辛惡味惡觸恐怖,遠離一切邪業邪語邪意邪歸,不寒不熱,安靜坦然,地平如掌,諸妙樂具充滿其中。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, hết thảy các đại chúng đến dự pháp hội đều thấy các thứ mây tuôn mưa như thế, cũng nghe các âm thanh thuyết pháp như thế. Tùy theo ḷng ưa thích, ai nấy đều thấy các thứ hương, hoa, vật trang hoàng báu, y phục trang nghiêm thân ḿnh. Mỗi người lại thấy hai tay cầm Như Ư Châu. Từ trong mỗi Như Ư Châu ấy, tuôn ra các thứ báu. Lại từ mỗi viên Như Ư Châu, tỏa ra các quang minh. Do quang minh, mỗi hữu t́nh đều thấy mười phương các thế giới nhiều như cát sông Hằng. Lại do quang minh, thấy các cơi Phật, mỗi vị Thế Tôn có vô lượng chúng hội cung kính vây quanh. Lại do quang minh, thấy trong các cơi Phật, hết thảy hữu t́nh nếu là kẻ bị bệnh, do quang minh ấy chiếu chạm, các bệnh trừ sạch. Những kẻ đáng bị giết và tù tội, trói buộc, do quang minh chiếu tới, đều được giải thoát. Những kẻ thân, ngữ, ư thô tháp, nặng nề, nhơ uế, do quang minh mà đều được nhẹ nhàng, mềm dịu, thanh tịnh. Những kẻ đói khát cũng đều được no đủ. Những kẻ bị đủ mọi h́nh phạt bức bách, do quang minh chiếu đến, đều ĺa ưu khổ. Những kẻ thiếu thốn y phục, vật trang hoàng báu, của cải quư báu, do quang minh chiếu tới, thuận theo ư niệm mà trọn đủ. Nếu các hữu t́nh ưa thích sát sanh, cho đến có kẻ ưa thích tà kiến, do quang minh ấy chiếu chạm, thảy đều ưa thích xa ĺa sát sanh, cho đến ưa thích xa ĺa tà kiến. Nếu các hữu t́nh, bị đủ mọi nỗi khổ v́ cầu chẳng được bức bách, do quang minh chiếu tới, sẽ tùy theo ước nguyện mà đều đạt được. Lại do quang minh mà thấy hết thảy hữu t́nh trong các cơi Phật đang chịu các thứ khổ, không ai chẳng được ngơi nghỉ, ngưng dứt, thảy đều vui sướng, hưởng sự vui mầu nhiệm. Lại thấy trong các cơi Phật như thế, do quang minh này chiếu chạm, xa ĺa hết thảy mây đen, sương bụi, gió dữ, mưa cuồng, các âm thanh bất thiện, và các thứ thối tha, bẩn thỉu, các vị ác đắng cay, các sự đụng chạm xấu ác, kinh sợ, xa ĺa hết thảy tà nghiệp, tà ngữ, tà ư, quy hướng tà vạy, chẳng lạnh, chẳng nóng, an tĩnh, thản nhiên, đất bằng phẳng như ḷng bàn tay, các thứ vật tạo nên sự vui sướng mầu nhiệm đều đầy ắp trong đó).        

 

          “Chư lai đại chúng”các vị Thanh Văn Tăng, Bồ Tát Tăng, và c̣n có các vị đại chúng mới đến. Khi Địa Tạng Bồ Tát tới, c̣n có những người theo Địa Tạng Bồ Tát từ thế giới phương khác mới tới. Đại chúng c̣n chưa giải tán trong pháp hội ấy, đều thấy các vầng mây ấy tuôn xuống những vật báu. Đồng thời cũng thấy, nghe từ trong các thứ y phục, vật trang hoàng báu ấy tuyên dương pháp âm. Bất luận quư vị ưa thích màu sắc hoặc vật báu nào, quư vị sẽ thấy từ trên hư không rơi xuống các vật trang sức báu tự động khoác lên thân ḿnh. V́ thế, kinh nói: “Diệc văn như thị chư pháp âm thanh, tùy ư sở nhạo” (cũng nghe các âm thanh như thế, tùy theo ḷng yêu thích): Tùy ư ḿnh thích thứ ǵ, sẽ thấy thân ḿnh được trang nghiêm bởi tất cả các thứ hương, hoa, vật trang sức báu, y phục. Các thứ y phục dâng lên quư vị đều là kích thước lớn, nhỏ, dài, ngắn rất phù hợp, may cắt c̣n chuẩn xác hơn thợ may! Tùy ư th́ một là do nguyện lực của Bồ Tát, đằng khác là do tâm lực của quư vị.

          Không chỉ như thế, đồng thời ai nấy đều thấy trên hai tay cầm Như Ư Bảo Châu, v́ Địa Tạng Bồ Tát tay cầm Như Ư Bảo Châu. Tác dụng của Như Ư Bảo Châu là trong tâm quư vị nghĩ tới điều ǵ, bảo châu liền xuất hiện thứ đó, thỏa măn hết thảy nhu cầu của quư vị. Đấy là đối với mỗi người tham dự pháp hội, không chỉ thỏa măn nhu cầu nơi thân, mà hết thảy những điều mong muốn trong tâm đều được thỏa măn. Đối với y phục, trăm hoa, vật trang sức, có kẻ thích màu đỏ, có kẻ chuộng màu xanh, chẳng thấy giống hệt như nhau, tự nhiên khoác trên thân quư vị, trang nghiêm viên măn.

          Nhưng có một điều b́nh đẳng như nhau, tức là tay ai nấy đều cầm Như Ư Bảo Châu. Chúng ta thấy tượng ngài Địa Tạng, một tay cầm tích trượng, tay kia cầm Như Ư Châu; Ngài bố thí Như Ư Bảo Châu. Trong tay mỗi đại chúng dự hội đều có Như Ư Châu. Không chỉ là có, mà c̣n từ Như Ư Châu sanh ra vô lượng vật báu. Viên châu ấy phóng quang minh. Không chỉ là có thể tuôn ra châu báu, mà c̣n có thể tỏa sáng. Quang minh tỏa ra từ những viên châu ấy to cỡ nào? C̣n to hơn ánh sáng đèn, c̣n to hơn ánh sáng mặt trời, v́ ánh sáng của đèn đuốc hoặc mặt trời chẳng thể chiếu tới các cơi Phật khác. Quang minh của chúng khác hẳn.

          “Nhất nhất hữu t́nh” (mỗi một hữu t́nh) tức là đại chúng tham dự pháp hội, họ có thể thấy mười phương Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới. “Căng-già sa” tức là cát sông Hằng. Có Hằng hà sa thế giới Phật nhiều dường ấy, mỗi hạt cát là một thế giới Phật. Tức là quang minh từ Như Ư Châu tỏa ra chiếu sáng các thế giới nhiều ngần ấy. Mỗi thế giới đều có Phật đang thuyết pháp. Vậy th́ mỗi quang minh chiếu thấu hết thảy các cơi Phật nhiều như cát sông Hằng. Mỗi hạt cát là một thế giới Phật. Mỗi thế giới có một vị Phật, đều hiển hiện trong quang minh. Đồng thời, trong hội ấy chẳng có tâm phân biệt, cũng chẳng phân biệt đây là vị Phật ǵ, vị Phật kia có danh hiệu là ǵ? Khi đó, họ chẳng có tâm phân biệt. “Nhân quang minh cố” (do v́ quang minh), cho nên chiếu soi, hiện ra hết thảy các cơi Phật, cũng thấy mỗi vị Phật đều có vô lượng Bồ Tát, vô lượng đại chúng vây quanh nơi đó. Vô lượng chư Phật đang thuyết pháp trong đó.

          Vừa trông thấy như thế, nghiệp chướng ǵ cũng đều tiêu trừ. Nếu nghiệp chẳng tiêu, sẽ chẳng trông thấy! Lại do quang minh ấy mà trông thấy hết thảy hữu t́nh trong các cơi Phật. Không chỉ thấy chư Phật thuyết pháp, mà c̣n có thể thấy hết thảy chúng sanh trong quốc độ của các Ngài. V́ quang minh của Địa Tạng Bồ Tát chiếu đến nơi nào, kẻ có bệnh liền khỏi bệnh, các bệnh trừ sạch. Hoặc là kẻ sắp bị giết hại, đúng lúc sắp ra pháp trường, cũng được giải thoát, chẳng bị giết hại. Hoặc đang bị giam cầm trong ngục, sẽ được thả ra. V́ sao? “Quang minh chiếu cố” (do quang minh chiếu), tức là do Như Ư Châu của Địa Tạng Vương Bồ Tát ở trong tay các hữu t́nh tỏa ra quang minh chiếu rọi. Quang minh từ [những viên châu trong tay] tất cả đại chúng đều cùng chiếu rọi, cho nên đều được giải thoát. Bất quá, chúng ta chỉ có thể thấy cái Thể của cảnh giới quang minh.

          Nói đến quang minh nơi tánh thể, do nghiệp của mỗi người chúng ta, dẫu vẫn chưa thanh tịnh, nhưng cậy vào sức gia tŕ của Địa Tạng Bồ Tát, cùng với sức gia tŕ của đức Phật trong pháp hội, sẽ ngay lập tức có tướng cảnh giới ấy. Có tự do hay không? Có chứ! Địa Tạng Bồ Tát đến đây, chiếu trọn khắp đại địa. [Trong đoạn kinh văn kế tiếp, sẽ nói Địa Đại nơi thân của đại chúng nặng hơn, kiên cố hơn], muốn nâng cánh tay ư? Chẳng nâng được, v́ [quang minh đă] chiếu trọn khắp các Địa Đại. Đó chỉ là hiện tượng trong một sát-na, đấy là oai lực của Địa Tạng Bồ Tát.

          Gọi là Tự Phẩm tức là TThuyết (diễn giải để dẫn nhập). Tự Thuyết sẽ chẳng thể giảng giải thâm nhập được. Nếu đă giảng hết trong phẩm Tự, những kinh văn phía sau chẳng cần phải nói nữa. Nếu giảng phẩm Tự hết sức dài, cũng là đem những kinh văn trong phần sau giảng ghép vào phẩm Tự để giảng. V́ mọi người cùng nhau học tập, rất khó giảng theo thứ tự. Nhưng chúng tôi có mấy điều phạm sai lầm, là v́ cố ư vi phạm!

          [V́ sao nói như vậy?] Bản thân tôi học [Thiên Thai] Tứ Giáo, tức là dùng Tứ Giáo để phân khoa, phán giáo. Tức là đối với Tạng, Thông, Biệt, Viên, nhận định bộ kinh này nên thuộc về giáo nào. Trước hết, phải thích danh (giải thích tên kinh). Giải thích tên kinh xong, c̣n phải giảng giải ư nghĩa (tức là nói đến Thể Tướng). Giảng giải ư nghĩa xong, giảng về Tông Thú. Giảng Tông Thú xong, lại c̣n phải nêu rơ mục đích (tức phần Lực Dụng). Ắt cần phải tuân theo quy luật ấy. Đó là quy luật do các vị đại đức trong Phật giáo Trung Hoa đă ấn định, gọi là Ngũ Trùng Huyền Nghĩa (năm tầng ư nghĩa u huyền). Năm tầng ấy, nếu phải giảng từng tầng một, cũng phải tốn thời gian mười hôm th́ mới giảng trọn hết năm tầng huyền nghĩa được.

          Nhưng tôi thuở đầu học Ngũ Giáo; nếu giảng theo Ngũ Giáo, ngoại trừ Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, Viên ra, c̣n phải giảng Thập Huyền Môn. Trước khi chưa giảng vào kinh văn, nhất định phải giảng Thập Huyền Môn. Giảng Thập Huyền Môn, chỉ sợ giảng phần huyền đàm mất nửa tháng hoặc một tháng. Hiện thời, mỗi bữa chúng tôi chỉ giảng một tiếng rưỡi, v́ sao phải làm như vậy? V́ khi các vị đại đức thời cổ giảng kinh, chẳng hạn như tôi muốn giảng kinh Pháp Hoa, những người đến dự toàn là học kinh Pháp Hoa, nghiên cứu kinh Pháp Hoa, người đến nghe cũng là v́ nghe Huyền Nghĩa mà đến, do nghe phán giáo mà đến. Học xong những điều ấy rồi, họ sẽ rời đi, không nghe phần giảng về kinh văn. Ở đây, mọi người đều là sơ học, nếu tôi bắt đầu bằng Huyền Đàm, sợ mọi người sẽ lơ lửng hết, giống như xe bay lên trời thẳm vậy, sẽ khiến cho mọi người nghe không hiểu, chẳng biết bay đến chỗ nào nữa!

          Nay chúng tôi dựa theo kinh văn để giảng rơ ư nghĩa, nhưng đây là cách thức sai lầm! Nếu giảng kinh, “y văn hiển nghĩa” tức là dựa theo văn tự để giải thích ư nghĩa. Nếu chẳng chiếu theo văn tự để nói, lại nói những nghĩa lư khác, “tam thế Phật oan!” Đó là oan gia đối đầu của tam thế Phật, chẳng thể được! “Ly kinh nhất tự” (rời kinh một chữ), nếu pháp sư rời ĺa kinh, tự ḿnh mù quáng nói bừa, không thể nào chẳng đọa địa ngục, “tức đồng ma thuyết” (liền giống như ma nói). Đấy chẳng phải là Phật nói, mà là ma nói. Mọi người hăy nghĩ xem, như vậy th́ pháp sư phải nên làm như thế nào? Ĺa khỏi kinh, ĺa khỏi một chữ, là phạm sai lầm. Chẳng ĺa văn tự, cứ dựa theo văn tự để nói, sẽ là oan gia đối đầu của Phật. Đấy là một lẽ!

          Đối ứng căn cơ để thuyết pháp, do [căn tánh của] người nghe mà thí giáo. Hôm nay cùng mọi người hữu duyên, mà trí huệ của tôi chỉ được như thế, cống hiến cho mọi người đôi chút hiểu biết như thế. Nhiều hơn nữa, tôi cũng chẳng có trí lực. Nói sai, chỉ có đọa địa ngục. Đọa địa ngục th́ cũng đành chịu, chẳng có cách nào! Đă từ lâu rồi, bất luận giảng kinh, xử sự, tôi luôn nghĩ như thế này: “Chuẩn bị xuống địa ngục bất cứ lúc nào”. Có thể trốn thoát hay không? Phải xem Địa Tạng Bồ Tát có gia tŕ hay không? Nếu Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ, chắc là tôi sẽ tạm thời chẳng đọa địa ngục; hoặc là đọa địa ngục, tôi sẽ sám hối trước rồi mới làm. Đợi đến khi làm xong, tôi lại sám hối. Chỉ có cách như thế! Nếu không, kinh sẽ bị đoạn tuyệt. Nếu không có ai giảng, kinh Thập Luân sẽ tuyệt chủng. Thật sự đă gần như sắp tuyệt chủng rồi! Trong Đại Tạng Kinh có rất nhiều kinh hết sức vi diệu, hết sức hay đối với chúng ta, chẳng có ai nói! Chẳng có ai nói th́ cũng như đoạn tuyệt rồi! Chỉ có trong Đại Tạng Kinh th́ cũng như bị bỏ xó trong ấy! C̣n có rất nhiều chùa miếu, chẳng cho xem, mà cũng chẳng cho phép động tới Đại Tạng Kinh, bảo động tới là phạm tội, cho rằng Đại Tạng đáng nên để thờ! Mỗi đằng đều có lư lẽ riêng. Đối với tôi, kinh do đức Phật nói nhằm dạy chúng ta học. Chẳng cho phép xem, chất đống tại đó để làm ǵ? Chất lâu ngày, hư nát hết. Hư nát hết mà mọi người cũng chẳng biết!

          Khi chúng ta học, phải xác thực học. Khi học vào phần chánh văn, phải thật sự nhập lư, chẳng trái nghịch lư. Ngoài ra, c̣n phải nhập thế, tức là nhất định phải kết hợp với cuộc sống hằng ngày, tức là phải có thể sử dụng những ǵ chúng ta đă học, học xong dùng được liền! Hiện thời có phiền năo, học xong kinh Thập Luân, phiền năo tiêu mất, tức là dùng được! Rất khổ, trong tâm nghĩ chẳng thông, lấy kinh Thập Luân xem, nghe, học, cũng sẽ thông suốt. Có thể vận dụng như vậy th́ rất tốt!

          Trong phần trước, tôi đă mạn đàm cùng quư vị, nay chúng tôi chánh thức giảng kinh, không phải là nhắc lại, mà là nói lại từ đầu. Bộ kinh này có danh xưng là Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân Kinh.

          “Đại Thừa”: Phật giáo chia là ba thừa, tức đại, trung, tiểu, v́ đức Phật thuyết pháp “đối cơ”, tức là phù hợp căn cơ của người nghe. Đối với Đại Thừa Bồ Tát, hoặc là đối trước những người phát đại tâm, bèn nói pháp liễu nghĩa rất sâu. Đối với căn cơ trung hạ, tùy thuộc sự ưa thích hay cần thiết của họ mà nói [các pháp thích ứng], để có thể dần dần dẫn họ nhập môn các pháp thuộc Trung, Tiểu Thừa. Hàm nghĩa của pháp đại và tiểu, trong phần trước tôi đă giải thích. Chữ Đại giải thích rất đơn giản, chính là một niệm tâm b́nh thường trong hiện tiền của chúng ta. Hễ nói đến Đại, đến tột cùng là muốn chỉ rơ cái tâm của quư vị, hiểu rơ cái tâm của quư vị trọn đủ hết thảy.

          Pháp không có đại, mà cũng chẳng có tiểu. Có người v́ chịu khổ, biết khổ, họ sẽ hy vọng hết thảy chúng sanh đều có thể ĺa khổ. Đó là Đại. Dẫu đức Phật nói pháp tánh, lư thể, đối với kẻ chỉ nghĩ đến chính ḿnh, chẳng nghĩ đến người khác, đại pháp cũng biến thành tiểu pháp! Pháp chẳng có đại mà cũng chẳng có tiểu, chỉ thuận theo cái tâm của quư vị mà lập! Bản thân Pháp là nói đến Tánh Thể. V́ chúng sanh có đủ mọi tánh, cho nên Phật [thuyết pháp] cũng có đủ loại tánh. Pháp là phương pháp, là đường lối, pháp tắc, tùy thuộc quư vị lư giải như thế nào. V́ thế, Đại Thừa, Tiểu Thừa, Hiển Tông, Mật Tông, Tứ Giáo, Ngũ Giáo, chẳng cần phải dấy lên tranh chấp. Hễ tranh chấp, sẽ thành hư luận. Do vậy, trước hết chúng ta phải hiểu rơ hai chữ Đại Thừa.

          “Đại Tập”: Đại chúng đến tham dự pháp hội lần này rất đông. “Tập” () có nghĩa là nhiều. Tập hợp một chỗ để làm ǵ? Để diễn giải tuyên lưu Đại Thừa.

          “Địa Tạng”: Địa là cái tâm của mỗi người, tức tâm địa, và sử dụng cái tâm địa ấy như thế nào? “Địa” là h́nh dung cái tâm của chúng ta, v́ đại địa chứa đựng hết thảy. Hết thảy những thứ chúng ta cần đều đến từ đất. Bất luận xăng, than đá, nhiệt năng, toàn thể đều từ đất mà ra. Địa có nghĩa “hàm tàng” (chứa đựng), c̣n có ư nghĩa “sanh trưởng”. Những thứ chúng ta ăn hoặc dùng đều sanh từ đất. “Tạng” là giấu kín, cũng là “chứa đựng rất nhiều nghĩa lư, nhưng chúng ta không biết. V́ sao không biết? V́ chúng ta đă mê, cũng có nghĩa là cái tâm chúng ta đă mê. Hai chữ này đều có thể giải thích là cái tâm của chúng ta. Do cái tâm của chúng ta sanh ra thân, ngữ, ư nghiệp; từ thân, ngữ, ư nghiệp, lần lượt sanh ra ba điều nơi thân, bốn điều nơi miệng, và ba điều nơi ư, hợp thành mười nghiệp. Mười nghiệp ấy vĩnh viễn không ngừng, giống như bánh xe xoay tṛn, chẳng ngưng nghỉ, vĩnh viễn xoay chuyển. Đồng thời, bánh xe có một công năng là nghiền nát, có thể giúp chúng ta nghiền nát Hoặc, Nghiệp, Khổ, sanh ra Giới, Định, Huệ thanh tịnh.

          Nói theo hàng đệ tử Phật chúng ta, nếu quy y Tam Bảo, học Phật pháp, sẽ xoay ngược bánh xe. [Hiện thời], không chỉ chẳng thể chuyển hướng chánh đáng để trừ khử ba nghiệp, mà ngược lại c̣n tăng thêm ba nghiệp rất nhiều là v́ lẽ nào? V́ vốn đă sẵn có rất nhiều khổ năo, đáng lẽ vốn phải tin Phật, tin Pháp, tin Tăng để diệt trừ khổ năo, nhưng họ chẳng phải là như thế. Trong Phật pháp, họ dấy lên phân biệt, phá ḥa hợp Tăng, thậm chí tạo nghiệp, báng pháp, phá hoại Phật. Họ tưởng họ đang tán thán Phật, thật ra là phá hoại Phật.       

          Bộ kinh này chuyên nói về hiện tượng ấy. Do vậy, trong bộ kinh này, đối với hạng tỳ-kheo phá giới, chỉ cần họ vẫn c̣n khoác ca-sa, họ tạo nghiệp của họ, quư vị chẳng cần quan tâm đến họ. Chỉ cần họ hiện tướng Tam Bảo, vẫn phải cung kính họ. Cung kính họ, sẽ là phước đức của quư vị. Nếu quư vị phá hoại, tức là sanh ra tội ác. Bất luận họ bại hoại cỡ nào, chẳng do quư vị quản. Do vậy, đức Phật chẳng chấp thuận quốc vương, đại thần dùng pháp luật để xử phạt tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni xuất gia. Tôi nêu lên thí dụ này nhằm nói rơ: Thập Luân là dùng Thập Luân của Phật để đối trị Thập Luân của chúng ta.

          “Kinh” là có nghĩa là xuyên suốt, giống như chúng ta xâu hoa lại với nhau. Tại Ấn Độ, họ dùng chỉ để xâu hoa [thành tràng hoa]. V́ những nghĩa lư được giảng trong kinh nhằm nói đối ứng với chúng sanh này, hoặc đối ứng chúng sanh khác, nói trước, nói sau, hiển thuyết, mật thuyết, đều được gom lại một chỗ, khiến cho nghĩa lư trong kinh được gom tụ lại. Đấy là tựa đề kinh.

          Phẩm Tự tức là phần giới thiệu dẫn nhập nhằm phát khởi bộ kinh này. Trong phẩm Tự, một là tán thán công đức của Phật, hai là đức Phật tán thán công đức của

Địa Tạng Bồ Tát. V́ sao đức Phật tán thán công đức của ngài Địa Tạng? Trong [khi giảng] kinh Địa Tạng, chúng tôi cũng đă từng nói. Trong [khi giảng] kinh Chiêm Sát, cũng đă từng giảng, chính là khiến cho những kẻ chẳng liễu giải sự tu hành nơi nhân địa của Địa Tạng Bồ Tát và những kẻ tín tâm lẫn cung kính tâm chưa trọn đủ, nhờ đức Phật tán thán, sẽ sanh khởi ḷng ưa thích: “Vị đại Bồ Tát này tuyệt diệu quá, ta phải thân cận Ngài, cho đến nghe danh hiệu Ngài, lễ bái tượng Ngài, ta sẽ đạt được nhiều điều tốt đẹp”. Vậy th́ quư vị đến học, sẽ có thể tiến nhập rất nhanh chóng.

          Tâm chúng sanh là như vậy. Nếu nghe người khác nói người ấy tốt lắm, quư vị c̣n chưa gặp người ấy, quư vị đă hết sức tin tưởng người ấy. Giả sử gặp gỡ, càng cảm thấy tốt đẹp hơn. Nhưng có những kẻ giả dối, danh chẳng xứng với thật, nghe tiếng chẳng bằng gặp mặt. Gặp mặt dường như hơn hẳn nghe tiếng. Có kẻ ta gặp gỡ, [nhận thấy kẻ ấy] chẳng được như danh tiếng. Gặp kẻ đó, quả thật sẽ khinh thường, sẽ càng liễu giải hơn, biết kẻ đó tồi tệ, là phường giả danh. Bồ Tát khác hẳn! Phàm là đối với các vị Phật, Bồ Tát được nói trong kinh, quư vị nghiên cứu, được gặp gỡ, sẽ sanh khởi vô lượng tâm cung kính.

          Có đạo hữu hỏi tôi: “Những vị như Địa Tạng Bồ Tát hay Quán Thế Âm Bồ Tát, chẳng phải là ai nghe nói cũng đều sanh khởi tâm cung kính ư? V́ sao c̣n phải giới thiệu?” Đức Phật hướng đến đại chúng, hướng về pháp hội này giới thiệu, chúng ta hăy xem xét vấn đề này từ cảnh giới tư tưởng. Trên thế giới này, trong năm sáu chục ức người, kẻ chẳng biết Địa Tạng Bồ Tát quá nhiều, v́ chẳng thân cận Tam Bảo, cho nên họ chẳng biết. Có kẻ đă thân cận Tam Bảo, thậm chí có người xuất gia rất nhiều năm, vẫn có kẻ chẳng biết đến danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, lại càng chẳng cần phải nói tới các kinh Địa Tạng, kinh Thập Luân, kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo. Chính tôi biết chuyện này, chẳng phải là nói xằng. Có kẻ giảng kinh rất nhiều năm, vẫn chẳng biết Địa Tạng Bồ Tát, chưa hề học đến, mà cũng chẳng hề thân cận, cũng chẳng xem tới. Do vậy, ắt cần phải giới thiệu một phen!

          Ngay trong pháp hội ấy, có rất nhiều người chẳng thấy, chẳng biết Địa Tạng Bồ Tát. Do vậy, quư vị thấy trong kinh Địa Tạng, ngay cả Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Phổ Quảng Bồ Tát, đều hướng về đức Phật thưa hỏi để đức Phật dạy về công đức của Địa Tạng Bồ Tát. Quư vị nghĩ xem: Quán Thế Âm Bồ Tát thần lực lớn dường ấy, thần thông to dường ấy, Ngài c̣n chẳng biết Địa Tạng Bồ Tát ư? Mỗi vị giáo hóa một phương, duyên của mỗi vị Phật bất đồng. Tuy nói “Phật Phật đạo đồng”, bất quá mỗi vị Phật thuyết pháp bất đồng, mỗi thế giới Phật bất đồng. Do vậy, ắt phải giới thiệu đôi chút, ư nghĩa của phẩm Tự là như vậy đấy.

          Trong hội này, Địa Tạng Bồ Tát dùng sức thần thông và nguyện lực của Ngài đến tùy hỷ. Ngài biết Ngài có nhân duyên với pháp hội này, bèn đến tùy hỷ, tán thán. Trong kinh Địa Tạng, đức Phật phóng quang triệu vời. Quang tượng trưng cho âm thanh, quang minh và âm thanh tương đồng. Trong phần trước, chúng tôi đă giảng đại khái ba mươi chín loại âm thanh. Mỗi loại vật dụng được tuôn xuống, như y phục rơi xuống, vật trang sức báu đặc biệt lộng lẫy rơi xuống, đều đang thuyết pháp. Trong ấy chứa đựng âm thanh, hết thảy động tác đều có âm thanh, nhưng chúng ta chẳng nghe được. V́ sao? V́ chúng ta chưa chứng đắc Nhĩ Căn viên thông. Do vậy, Ngài cần phải dùng phương thức này để biểu đạt. Âm thanh thuyết pháp [đă xuất hiện] tuy người c̣n chưa tới, tức là Địa Tạng Bồ Tát c̣n chưa hiện thân, âm thanh đă đến trước. Đă thế, những thứ rơi xuống do Ngài chiêu cảm như vật báu, y phục, đều là những vật dụng trong đời sống, là những thứ ai nấy đều cần dùng, ai nấy đều cảm thấy chúng tự động khoác lên người.

          V́ sao có cảnh tượng ấy? Đấy là do nguyện lực của Địa Tạng Bồ Tát, là cái nhân tu hành trong vô lượng kiếp chiêu cảm cái quả. Ngài vừa mới động thân, c̣n chưa đến nơi ấy. Chỉ cần chúng sanh nơi nào có duyên với Ngài, Ngài sẽ đều đến đó. Đấy là tán thán công đức của Địa Tạng Vương Bồ Tát [dựa trên] những điều hy vọng, ưa thích liên quan đến đại chúng. Những điều được nói trong bộ kinh này đều liên quan đến cuộc sống thường nhật, như trong phần trên đă nói: Chúng ta luôn có các nhu cầu. Có cần của cải hay không? Dẫu hiện thời không có nhu cầu ấy, nhưng chúng ta vẫn đang ở trong hắc ám, vô tri, vô minh. Vô minh là vô tri. Chúng ta có rất nhiều tà kiến, tức là tri kiến chẳng chánh xác, nh́n vấn đề nào cũng đều chẳng đúng. Do chẳng nh́n đúng vấn đề, xử sự dễ phạm sai lầm. Vốn kinh doanh để mong phát tài, nhưng do chẳng nh́n nhận đúng, đầu tư bèn cụt vốn. Vốn mong đi giải trí, đến đó bèn ngă bệnh, v́ quư vị chẳng thích hợp khí hậu. Muốn đi du lịch, máy bay xuất hiện trục trặc, cho đến đủ mọi thứ bức hại. Đấy là v́ hôn ám, vô trí. Chuyện chẳng nên làm, quư vị cứ làm, sẽ gặp nguy hiểm. Nếu có trí huệ, sẽ chẳng đi. Nếu quư vị được quang minh của Địa Tạng Bồ Tát chiếu tới, sẽ có trí huệ. Đă có trí huệ, sẽ hiểu rơ: Điều ǵ chẳng nên làm, quư vị sẽ chẳng làm; chỗ nào chẳng nên tới, quư vị sẽ chẳng tới; điều ǵ chẳng nên nói, quư vị sẽ không nói, liên quan đến những điều bản thân chúng ta sẽ làm như thế đó!

          Nhưng đối với các thứ công đức, cho đến các thứ âm thanh thuyết pháp ở đây, có đạo hữu hỏi: “V́ sao một thứ tôi cũng chẳng gặp được?” V́ không có cái duyên ấy! Nay chúng tôi giảng bộ kinh này, giảng công đức của Địa Tạng Bồ Tát, tức là quư vị hữu duyên gặp gỡ. Mai sau, quư vị niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, hoặc cầu Địa Tạng Bồ Tát, lễ tượng Địa Tạng, hoặc học kinh Địa Tạng Thập Luân, kể cả kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, hoặc kinh Địa Tạng [Bổn Nguyện Công Đức], đều là có mối liên quan với Địa Tạng Bồ Tát. Sau khi đă duyên niệm nhiều lần, quư vị sẽ dần dần có thể đạt được. Đương thời, trong pháp hội ấy của đức Phật, những người trong pháp hội ấy đều đạt được. Nay chúng ta cũng sẽ đạt được; trong tương lai, khi chúng ta gặp nhân duyên này, cũng sẽ được gia tŕ.

          Ở đây, có hai loại [gia tŕ]: Một là chúng ta thấy rơ ràng, hoặc trong tâm cảm nhận. Loại kia là quư vị chẳng thấy được, chẳng cảm nhận được. Có những hiện tượng do Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ, hoặc là do niệm kinh Địa Tạng, sẽ cảm thấy chuyện của chính ḿnh tốt hơn trước kia đôi chút. Đó gọi là “minh gia” (gia tŕ ngấm ngầm). “Minh gia” tức là chẳng hiển hiện, nhưng cũng có khi thật sự mộng thấy, cũng có người mộng thấy Địa Tạng Bồ Tát đến quán đảnh. Uống nước quán đảnh xong, vốn là kẻ rất ngu si, sẽ biến thành trí nhớ rất mạnh, khôi phục trí nhớ. Có đứa bé vốn bị ngu độn, hoặc sanh ra chẳng nghe được hay nh́n được, tâm trí hôn ám. V́ nó niệm Địa Tạng Bồ Tát, [hay do] cha mẹ cầu thay cho nó bèn niệm Địa Tạng Bồ Tát, nó đă b́nh phục. Xác thực là có những chuyện ấy, tôi biết rất nhiều trường hợp. Đấy là Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ, nhưng đấy đều là những cái nhân nhỏ nhoi. Hy vọng lớn nhất của chúng ta là thành Phật. Có những người do vậy bèn có thể minh tâm kiến tánh. Họ vừa trông thấy liền tâm khai ư giải, toàn thể nghiệp chướng đều tiêu mất. Điều này là do căn tánh mỗi người mỗi khác.

          Khi nghe pháp, đại chúng cùng ở trong pháp hội khi đó, có người chứng quả Thanh Văn, có người phát Bồ Đề tâm, nhưng cũng có người chưa đạt được lợi ích, cũng có người tạo thành chủng tử cho mai sau. Khi Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết pháp tại Ấn Độ, biết đâu chúng ta cũng hiện diện tại đó! Tuy nghe, nhưng chẳng đạt được lợi ích, vẫn bị lưu chuyển, đó gọi là “viễn chủng tử”. Nếu đức Phật thuyết pháp mà độ được hết th́ đức Phật cũng chẳng cần căn dặn Di Lặc Bồ Tát hóa độ chúng sanh! Quư vị thấy đó: Nói xong mỗi bộ kinh, đức Phật đều phải phó thác một vị Bồ Tát: “Ông phải khéo hoằng dương bộ kinh này, khiến cho chúng sanh chưa đắc độ sẽ được độ, người đă độ sẽ được tăng trưởng, đều khiến cho họ thành Phật”. Mỗi bộ kinh đều như thế. Chúng ta cần phải nghĩ như thế này: Chỉ cần ta nghe thấy, chỉ cần được nghe là đă được gieo chủng tử, vĩnh viễn chẳng hư hoại. Đức Phật sẽ tùy thời gia tŕ chúng ta, khiến cho chúng ta sẽ đạt được lợi ích.

          Trong phẩm Tự, đức Phật giảng về công đức của Địa Tạng Bồ Tát. Mỗi sự nghiệp, mỗi công đức do Ngài đă làm, đều do Ngài tu thành. Giống như hiện thời mọi người phát tâm tu tập, tu các phương thức hoặc phương pháp, chiếu theo cách nào đó để tu, h́nh thức bất đồng, hiệu quả cũng khác biệt. Dụng tâm rất chân thật, thiết tha, dụng tâm rất chí thành, sẽ đạt được hiệu quả vừa mau chóng, vừa to lớn. Nếu cái tâm của quư vị chỉ là tùy tiện nghe, giống như đi học, quư vị sẽ chỉ đạt được viễn nhân, trong tương lai sẽ chẳng giống người khác, sẽ dần dần đến đời nào đó mới chín muồi, mới có thể lại gặp gỡ, lại tăng trưởng. Lại phải sau nhiều đời nhiều kiếp mới chín muồi, mới tăng trưởng. Thậm chí trong một đời của mỗi cá nhân, sau khi quư vị nghe pháp, sẽ dần dần tăng trưởng biến hóa. Tuy vậy, quư vị đừng nẩy sanh tà kiến. Nếu sanh khởi tà kiến, các công đức trước đó sẽ giống như quư vị ấn nút Cancel của computer vậy, ngay lập tức trừ sạch, chẳng c̣n! Nẩy sanh tà kiến, sẽ chẳng thành tựu. Điều đáng chú ư nhất ở đây là tà kiến. Nhất định phải rời xa hết thảy tà nghiệp, tà ngữ.

          Tôi đặc biệt giải thích cùng mọi người đôi chút về tà nghiệp, đặc biệt là nghiệp sát sanh. Đương nhiên, hàng đệ tử Phật chúng ta chẳng mở kỹ viện, nhưng mở Karaoke sợ là vẫn có, chỉ tùy thuộc quư vị làm như thế nào! Quư vị làm nghề đồ tể, chuyên môn sát hại chúng sanh, đó gọi là tà nghiệp. Tà ngữ c̣n quá hơn nữa, nói những lời không chánh xác, nói những lời trái nghịch lương tâm của chính ḿnh. V́ sao? V́ một chút lợi nhỏ nhoi trước mắt, chính ḿnh cũng biết là không đúng, cũng biết là chẳng thể nói như vậy, nhưng để bảo vệ lợi ích của chính ḿnh mà phải cổ động, ắt phải làm như thế. Chuyện như vậy rất nhiều, chỉ sợ ai nấy đều đă từng nói những lời lẽ như vậy!

          Tà ư càng khốn khổ hơn nữa! Tà ư nằm ngay trong tâm chúng ta. Đối với ư niệm chẳng chánh đáng sanh khởi, quư vị phải luôn quán chiếu, đừng để mất chánh niệm. Cuối cùng, phải xa ĺa hết thảy tà nghiệp, tà ngữ, tà kiến. V́ quư vị có thể lựa chọn nghề nghiệp, nói năng th́ quư vị có thể làm chủ, có thể uốn nắn tư tưởng được. Bản thân quư vị thực hiện tốt đẹp, quy y Tam Bảo, sẽ chẳng cần phải Đông t́m phương tiện, Tây kiếm phương tiện chi nữa! Có người sở dĩ học Khí Công là để giữ cho thân thể khỏe mạnh. Thế nhưng, bất luận ǵn giữ như thế nào, cũng chẳng thể ǵn giữ được, v́ đấy chẳng phải là chánh nghiệp. Tôi thấy những người bị xe đụng chết, hoặc do máy bay xảy ra tai nạn, chẳng thấy thân thể họ [trước khi tai nạn xảy ra] không tốt đẹp. Quư vị chẳng thể làm chủ chuyện này được. Quư vị phải chánh tín Tam Bảo. Nếu muốn vận động th́ lạy nhiều hơn cũng được. Lạy theo kiểu b́nh thường không được, th́ lạy rạp cả người xuống đất. Lạy chưa tới hai ba chục lễ, cả người đẫm mồ hôi. Đấy cũng là vận động, đấy cũng là chánh nghiệp.

          Tuy vậy, tôi thấy rất nhiều người nghe xong, chẳng cảm thấy thoải mái cho lắm. Họ nghĩ chuyện bảo dưỡng thân thể không phải là chuyện xấu. [Hăy tự vấn] v́ sao phải bảo dưỡng thân thể? Thân thể tồn tại là v́ ư nghĩa nào? Họ chẳng nghiên cứu, lại ngược ngạo theo đuổi ngũ dục. Suốt ngày từ sáng đến tối vào quán rượu, uống say bét nhè. Mong thân xác bảo dưỡng tốt đẹp, rốt cuộc lại chơi ma túy. Mong thân thể bảo dưỡng tốt đẹp, lại quan hệ nam nữ bừa băi. Chúng ta bảo dưỡng thẩn thể này như thế nào, để làm ǵ? Bảo dưỡng nó để tạo nghiệp! Đó gọi là tà nghiệp.

          Tà ngữ là do tư tưởng chẳng chánh xác chủ đạo. Mối quan hệ lớn nhất của tà kiến là nó chỉ đạo cái thân và lời ăn tiếng nói của quư vị. Sau khi ăn nói bừa băi, thường là chuốc họa rất lớn. Chúng tôi thường nói: Trong mỗi niệm, đều duyên niệm Tam Bảo. Tam Bảo là nơi quy y của quư vị. Nếu ĺa chỗ quy y ấy, mong quy y nơi khác, sẽ là tà quy. Quy y Tam Bảo, vĩnh viễn đạt được thanh tịnh măi cho đến khi thành Phật. Quư vị thọ Tam Quy Y mà có thể giữ vững, sẽ chẳng đọa tam đồ, vĩnh viễn thuộc vào nhân đạo. Dẫu quư vị tu một đời chẳng thành, cứ từ từ tu, cũng có thể thành đạo. Nếu quư vị vốn tin tưởng đích xác là chánh giáo, cũng đă quy y [Tam Bảo] rồi, nhưng cảm thấy kiểu này chậm quá, nghe kẻ khác nói có một phương pháp ngay lập tức có thần thông, liền bỏ rơi Tam Bảo, trái ĺa Tam Bảo. T́nh h́nh này tôi nghe nói rất nhiều, đấy cũng là nghiệp của mỗi người!

          Tôi vừa mới đến Nữu Ước, có những vị cư sĩ đến quy y với tôi. Sau đó, họ lại quy y Thanh Hải. Sau đấy, lại cảm thấy Thanh Hải cũng chẳng đủ mau, muốn t́m một phương pháp khác nhanh hơn. Cuối cùng, dẫn phát ma chứng. Ma chứng ấy đă hiện ra, chẳng có cách nào cứu chữa! Nếu quư vị muốn cứu văn, cũng chẳng thể cứu văn được. Đă phá rồi, rất khó cứu. Đă phá giới, c̣n có thể sám hối. Nếu là phá kiến, sẽ chẳng phải là một hai đời, mà là vô lượng kiếp. Hễ một ngày nào đó đọa vào tà trí, tà kiến, rất khó văn hồi được! Giả như người ấy có đại thiện căn, gặp Địa Tạng Bồ Tát. Ngài phóng quang minh chiếu kẻ đó, kẻ đó sẽ buông xả tà kiến, buông xả tà nghiệp, nhưng nhân duyên kiểu ấy có nhiều hay chăng? Rất ư là ít! Nay mọi người có vị nào được quang minh của Địa Tạng Bồ Tát chiếu soi hay chưa? Tôi cho rằng chưa có. Tôi nghĩ mọi người chắc là sẽ đạt được lợi ích, nhưng chuyện này tùy thuộc nhân duyên của mỗi người!

         

          (Kinh) Nhĩ thời, chúng hội kỳ thân huất nhiên, địa giới tăng cường, kiên trọng nan cử. Kư đổ tư thụy, hàm tất kinh nghi: “Hà nhân, hà duyên, nhi hiện thử tướng? Ư chúng hội trung, hữu thiên Đế Thích, danh Vô Cấu Sanh, khứ Bạc Già Phạm bất viễn nhi tọa, tức tùng ṭa khởi, đảnh lễ Thế Tôn, hiệp chưởng hướng Phật, dĩ tụng vấn viết:

          ()爾時,眾會其身欻然,地界增強,堅重難舉,既睹斯瑞,咸悉驚疑:何因何緣,而現此相?於眾會中有天帝釋,名無垢生,去薄伽梵不遠而坐,即從座起,頂禮世尊,合掌向佛,以頌問曰:

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đại chúng trong hội bỗng thấy địa đại trong thân họ tăng mạnh, cứng chắc, nặng nề khó cử động. Đă thấy điềm ấy, thảy đều kinh nghi: “Nhân ǵ, duyên ǵ mà hiện tướng này?” Trong chúng hội có trời Đế Thích, tên là Vô Cấu Sanh, ngồi cách đức Bạc Già Phạm chẳng xa, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Thế Tôn, và chắp tay hướng về đức Phật, dùng kệ hỏi rằng).

 

          Mọi người đều hoài nghi, chẳng biết xảy ra chuyện ǵ. Trong hội trường Đại Tập, đức Phật đang thuyết pháp, bỗng có những hiện tượng ấy. Đấy chẳng phải là hiện tượng b́nh thường. Trước đó, đă xuất hiện đủ loại thụy tướng. Người tham dự đại hội bỗng cảm thấy nơi thân thể họ, tay chẳng thể động, chẳng nâng tay lên được. “Địa giới tăng cường” tức là nơi thân thể họ, Địa Đại mất đi tác dụng. Bất quá, họ biết đây là tạm thời, chẳng gây trở ngại. V́ sao có hiện tượng ấy xảy ra? Hoài nghi, kinh sợ, chẳng biết nhân duyên ǵ mà nẩy sanh hiện tướng ấy? Mọi người đều nghĩ như thế.

          Trong số đó, có hàng đại Bồ Tát thưa hỏi đức Phật. Trong đại chúng ở đây, có một vị trời là Đế Thích. Chúng ta có thể nói Thiên Đế Thích là Ngọc Hoàng Đại Đế, tức chúa trời Đao Lợi, có tên là Vô Cấu Sanh. Đây là bậc đại Bồ Tát thị hiện. Phàm là Đế Thích Thiên cũng vậy, mà Phạm Thiên cũng thế, ở trong pháp hội ấy, hướng về đức Phật thưa hỏi đạo lư hết sức sâu xa, đều là bậc Bồ Tát hóa hiện. Bồ Tát hóa hiện th́ mới có trí huệ ấy. Cũng v́ ông ta ngồi cách đức Thế Tôn chẳng xa, khi đứng lên hỏi, sẽ rất thuận tiện. Ông ta liền từ chỗ ngồi đứng dậy, hướng về đức Phật đảnh lễ. Để thỉnh pháp, trước hết, phải tuân theo nghi thức. Chúng ta đều là phàm phu, mọi người thỉnh pháp, hoặc hỏi vấn đề ǵ, trọn chẳng theo quy củ ấy. Mọi người cất tiếng hỏi là được rồi, thầy yêu cầu như thế, đạo hữu cũng làm như thế. Thuở đức Phật tại thế, trong một đại pháp hội, chẳng phải là tùy tiện hỏi như vậy. Quư vị muốn thỉnh pháp, trước hết, ắt cần phải rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ đức Phật trước đă. Đảnh lễ Thế Tôn xong, trong kinh thường nói là “hồ quỳ, hiệp chưởng”, tức là quỳ một chân xuống. Nay chúng ta quỳ cả hai chân. Hồ quỳ, chắp tay, hướng về đức Phật, trước khi thưa hỏi, phải tán thán đức Phật. Kế đó, ông ta dùng kệ tán thán đức Phật.

 

          (Kinh) “Cụ đế ngữ, đế kiến, đế thiện trụ Mâu Ni, phổ vị chúng hoằng tuyên, đế cứu cánh kiên pháp, linh chư hữu t́nh loại, diệt khổ cập khổ nhân, hà duyên ư thử trung, hiện chư vân vũ đẳng? Linh cử chúng hoan duyệt, hàm sanh tịnh tín tâm, giai phát thú Đại Thừa, độ nghi, sanh thật kiến. Thiên nhân đại chúng thân, địa giới tăng kiên trọng, bất năng tự thắng cử, thử tướng hữu hà duyên? Lưỡng thủ giai châu hiện, vũ chúng bảo, phóng quang, chiếu thập phương trừ tội, tức khổ, hoạch an lạc. Đạo sư, phục hà nhân, linh cử chúng giai kiến, chủng chủng hương man đẳng, các các tự nghiêm thân? Thiên nhân phổ do dự, bất trắc hà nhân duyên, hữu thùy tương dục lai, hiện thử thần thông lực? Vị thị Phật, Bồ Tát? Vị Phạm, ma, Thích, thiên? Duy nguyện đại đạo sư, tốc vị chúng tuyên thuyết”.

          ()具諦語諦見,諦善住牟尼,普為眾弘宣,諦究竟堅法,令諸有情類,滅苦及苦因。何緣於此中,現諸雲雨等?令舉眾歡悅,咸生淨信心,皆發趣大乘,度疑生實見。天人大眾身,地界增堅重,不能自勝舉,此相有何緣?兩手皆珠現,雨眾寶放光,照十方除罪,息苦獲安樂。導師復何因,令舉眾皆見,種種香鬘等,各各自嚴身?天人普猶豫,不測何因緣,有誰將欲來,現此神通力?為是佛菩薩,為梵魔釋天?唯願大導師,速為眾宣說。

          (Kinh: Đấng lời thật, thấy thật. Đấng Mâu Ni khéo trụ, khắp v́ chúng hoằng tuyên, pháp rốt ráo chắc thật, khiến các loài hữu t́nh, diệt khổ và nhân khổ. Duyên ǵ ở nơi đây, hiện các thứ mây, mưa, khiến đại chúng vui sướng, đều sanh tâm tịnh tín, đều tiến hướng Đại Thừa, thoát nghi, sanh chân kiến? Thân đại chúng trời, người, địa đại thêm cứng, nặng, chẳng thể tự cử động. Tướng ấy do duyên ǵ? Hai tay đều hiện châu, tuôn các báu, phóng quang, chiếu mười phương trừ tội, dứt khổ, được an lạc. Đạo sư! Do nhân ǵ, khiến mọi người đều thấy, các thứ như tràng hương, tự trang nghiêm thân ḿnh? Trời, người đều do dự, chẳng lường nhân duyên ǵ, là ai sẽ sắp đến, hiện sức thần thông này? Đó là Phật, Bồ Tát? Hay Phạm, ma, Thích, thiên? Kính mong đại sư, mau v́ đại chúng nói).

         

          Lời đức Phật nói, những vấn đề đức Phật thấy đều là chân thật. “Đế” () có nghĩa là chân thật. “Đế” là lời nói đúng thật. Khi đức Phật thuyết pháp, thường bảo: “Đế thính! Đế thính!” (hăy lắng nghe chắc thật), tức là “hăy nghe đúng như thật”, cũng có nghĩa là “hăy quán chiếu cái tâm của quư vị”, hăy dùng cái tâm của quư vị để nghe, đừng dùng tai để nghe. Khi nói năng, phải nói tương xứng với cái tâm, phải nói lời chân thật; đấy là Thật Tướng. Đức Phật toàn nói tướng chân thật. Đức Phật thuyết pháp, cũng sanh hoạt, cũng ôm bát khất thực, nhưng Ngài chẳng rời Định. Như Lai thường ở trong Định, hết thảy động tác đều chẳng rời Định. Địa Tạng Bồ Tát cũng giống như thế, hết thảy mọi lúc đều chẳng rời Định, đều là hoạt động trong Định. Định có thể sanh ra huệ. Phương tiện ở trong huệ, hết thảy những ǵ đă làm đều là phương tiện thiện xảo. Thật ra, cơ sở thực tại của phương tiện thiện xảo được sanh từ trí huệ căn bản, mà trí huệ căn bản sanh từ Thật Tướng Lư Thể. Ngày nào đó, quư vị chứng đắc trọn vẹn, thấy Thật Tướng, những lời quư vị nói ra sẽ đều những lời lẽ thực tại, tri kiến cũng đều là tri kiến chân chánh, chẳng hư dối. Quư vị trụ trong cảnh giới tương xứng với lẽ Chân, thường ở trong Định.

          “Mâu Ni” (Muni) c̣n dịch là Tịch Mặc. Chữ Mâu Ni trong Thích Ca Mâu Ni Phật được dịch thành Tịch Mặc (), Tịch Mặc chính là Tĩnh. Cũng có thể nói Tịch Tĩnh là Niết Bàn, hoặc cũng có thể nói là Niết Bàn Tịch Tĩnh, chính là một loại trong ba loại pháp ấn. Khéo trụ trong Tịch Tĩnh, trụ ở nơi đâu? Trong Thật Tế lư địa, trụ trong Thật Tướng Lư Thể, trụ trong nghĩa Trung Đạo, trụ trong Đệ Nhất Nghĩa. Tịch Tĩnh có ư nghĩa như thế đó.

          Vô Cấu Sanh Thiên Đế Thích tán thán đức Phật: “Bạch Phật! Ngài trọn đủ hết thảy lời lẽ chân thật. Ngài là đấng tri kiến chân thật, thường ở trong Định”. “Phổ vị chúng hoằng tuyên” (v́ khắp đại chúng mà tuyên dương rộng lớn): Mong Ngài sẽ dùng phương tiện thiện xảo, tức là phương tiện huệ sanh khởi từ trí huệ căn bản để thị hiện thiện xảo giáo hóa chúng con là những kẻ vô tri. Thỉnh pháp cũng chẳng phải dễ! Phàm là thỉnh pháp, ngoài tán thán ra, c̣n là mong cầu những nghĩa lư được hiển lộ. Khi thỉnh vấn những nghĩa lư ấy, người hỏi cũng phải dùng đủ mọi phương tiện thiện xảo để nêu ra câu hỏi. Nêu ra câu hỏi chẳng dễ dàng đâu nhé! Phải xin khai thị, và cũng phải học tập. Như trong hiện tại, giữa các đạo hữu tán gẫu chuyện đời thường với nhau, [phải hỏi thăm] con cái như thế nào, thân thể như thế nào, hiện tượng xă hội như thế nào. Trong pháp hội thuở ấy, rất ít hỏi những vấn đề ấy, nhưng cũng chẳng ngoài những vấn đề ấy; bất quá, ngôn ngữ thiện xảo bất đồng. Đức Phật dạy chúng ta những pháp thiện xảo rốt ráo, kiên cố bất hoại, kim cang tánh. Đức Phật là bậc “cụ đế ngữ, đế kiến, đế thiện trụ Mâu Ni, phổ vị chúng hoằng tuyên, đế cứu cánh kiên pháp” (là bậc nói chân thật, thấy chân thật, là bậc khéo trụ trong Tịch Tĩnh, v́ khắp các chúng sanh tuyên thuyết rộng răi các pháp rốt ráo kiên cố chân thật), chuyên v́ chúng sanh nói pháp kim cang, nói pháp bất động, khiến cho chúng sanh được nhập chân thật. Đấy là sự thỉnh cầu.

          Do vậy, con mong cầu Phật “linh chư hữu t́nh loại, diệt khổ cập khổ nhân, hà duyên ư thử trung, hiện chư vân vũ đẳng” (khiến cho các loài hữu t́nh diệt khổ quả và khổ nhân. V́ sao trong hội này, hiện ra các thứ mây tuôn mưa). Trong pháp hội hiện thời, xuất hiện những hiện tượng lạ lùng, đặc biệt nhất, hiện ra những đám mây tuôn mưa như vậy, tuôn xuống những thứ báu nhiệm mầu, trên tay mỗi người đều có một viên Như Ư Bảo Châu, khiến cho hết thảy chúng sanh không chỉ là diệt quả khổ, mà ngay cả khổ nhân cũng đều chẳng có. Có nhân th́ mới có quả. Chỉ diệt khổ quả, chẳng diệt khổ nhân, hoặc chúng ta tu đạo chỉ cầu chuyển biến khổ quả, chẳng cầu chuyển biến khổ nhân. Nay chúng ta chẳng thoải mái, bệnh đă lành rồi, phải suy xét bệnh đă lành vẫn có thể bị lại. Do vậy, phải trừ bỏ cái nhân [gây bệnh] ấy. V́ sao quư vị mắc bệnh? Đó là khổ nhân. V́ sao chúng ta bị khổ? V́ sao người khác chẳng bị khổ? Ta chịu khổ, [cảm thấy] thế giới này rất bất b́nh đẳng! Kẻ khác có tiền, ta chẳng có tiền. V́ sao? Kẻ nào chẳng t́m nhân, chỉ cầu b́nh đẳng nơi quả, sẽ chẳng thể b́nh đẳng được! Chẳng có cách nào b́nh đẳng! B́nh đẳng th́ phải b́nh đẳng nơi cái nhân, phải hiểu đạo lư này!

          Câu hỏi ở đây là do nhân duyên ǵ mà trong pháp hội này, hiện ra nhiều tướng đặc biệt, lạ lùng như vậy? Sau khi thị hiện những đám mây ấy, lại thị hiện tuôn ra những vật trang hoàng quư báu, mầu nhiệm, tuôn xuống những vật dụng cần thiết cho cuộc sống, cho đến hiện ra Như Ư Bảo Châu. V́ sao? V́ những cảnh giới ấy khiến cho đại chúng hết sức hoan hỷ, sung sướng, mọi người đều hoan hỷ, hoan hỷ khôn ngằn, sanh khởi tín tâm thanh tịnh. Nói đến chữ Tịnh, đó là nói tới tham, sân, si, mạn, nghi, Thân Kiến, Biên Kiến, Giới Thủ, Tà Kiến, [cũng như Thập Ác], tức tham, sân, si, vọng ngữ, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, giết, trộm, dâm đều chẳng có, mà là sanh khởi tâm thanh tịnh. Do tín tâm mà sanh khởi niềm tin thanh tịnh, cảm nhận rất thù thắng.

          Mọi người đều biết Đại Thừa; nói đến Đại Thừa th́ nói thông tục hơn sẽ là “thành Phật”. Một khi đă phát tâm hướng tới thành Phật; đấy là Đại Thừa. Biết cảnh giới ấy là chẳng thể nghĩ bàn, chẳng phải là b́nh phàm. Chướng ngại lớn nhất của chúng ta là không có tín tâm. V́ sao chẳng có tín tâm? Do nghi hoặc quá nặng: “Thật vậy ư? Có thể thành Phật ư?” Quá nhiều dấu hỏi, chẳng biết đă đánh bao nhiêu dấu hỏi? Toàn là nghi! Kẻ nghi chẳng phải là hoàn toàn không tin, mà là nửa tin nửa ngờ. Hoàn toàn không tin th́ ngay cả nghi cũng chẳng có; căn bản là họ không tin! Nghi là có chứa đựng một chút tin tưởng, có nghi là tốt rồi! Ư nghĩa bao hàm trong nghi là như thế đó. Cái tâm hoài nghi ấy vẫn là cái tâm chẳng liễu giải, chưa thể thành tựu, chưa có kiến giải thật sự. Khiến cho những người như thế sanh khởi thật kiến (kiến giải chân thật), [đó là ư nghĩa của câu] “độ nghi, sanh thật kiến”. “Thật kiến” tức là kiến địa chân thật. Người minh tâm kiến tánh như vậy sẽ sanh khởi kiến giải đều là thật kiến, những kiến giải khởi lên từ tâm người ấy đều là thật kiến.

          C̣n có một loại t́nh huống: Đột nhiên trong lúc ấy, bất luận là trời hay người, tất cả đại chúng tham dự pháp hội, v́ sao “địa giới tăng kiên trọng” (địa giới tăng thêm cứng cỏi, nặng nề)? “Địa giới” chính là thân thể, Địa Đại cứng, nặng. “Bất năng tự thắng cử” nghĩa là chính ḿnh muốn giơ tay lên, muốn động đậy, đều chẳng thể động được. Tôi nhớ hồi trước xem tiểu thuyết, có nói một thứ là “định thân pháp”. Đă bị định thân th́ một ngón tay cũng chẳng thể cử động được. Ở đây là nói do sức oai đức của Địa Tạng Bồ Tát, thân thể [của đại chúng trong pháp hội] sẽ cảm thấy chẳng thể cử động được. Đấy là do duyên ǵ? V́ sao có hiện tượng ấy?

          C̣n có một hiện tượng đặc biệt lạ lùng, “lưỡng thủ giai châu hiện” (hai tay đều có bảo châu hiện ra). Bài kệ này nhằm trùng tụng những điều đă nói trước đó, Thiên Đế muốn nhắc lại lần nữa. Những điều trước đó chưa nói cặn kẽ, sẽ được nhắc lại trong bài kệ tụng này. “Lưỡng thủ giai châu hiện”: Quư vị thấy tay Địa Tạng Bồ Tát cầm Như Ư Bảo Châu. Như Ư Bảo Châu là “cầu ǵ hiện đó”. Quán Thế Âm cầm b́nh tịnh thủy, cái b́nh ấy không chỉ là chứa nước, mà là thứ ǵ cũng đều có. Chỉ cần quư vị cầu ǵ, bèn hiện ra thứ ấy. Không chỉ là hiện châu, mà châu ấy c̣n tuôn ra chất báu, tuôn đủ loại báu. Lại c̣n từ các thứ báu đă xuất hiện ấy, mỗi thứ báu đều phóng quang, chiếu thấu các cơi Phật trong mười phương. Bất quá, hoàn toàn chẳng phải là toàn bộ đều chiếu. Tức là trên tay có châu, châu hiện ra các thứ báu, có thể tuôn ra các thứ báu. Sau đó, lại hiện ra các thứ quang minh. Các thứ quang minh ấy chiếu đến chỗ nào, chỗ ấy đều được cát tường, vui sướng. Trong phần trước, [kinh văn đă nói] các loại bệnh tật hễ được quang minh chiếu tới, đều khỏi hẳn. Vậy th́, nếu là người tu đạo, gặp được quang minh ấy, cũng sẽ thành đạo, hết thảy khổ luân cũng đều “tức diệt” (ngưng dứt, diệt trừ), “tức” () là ngưng nghỉ. Hết thảy các khổ đều ngưng dứt, đều được an lạc.

          “Thế Tôn”: Đức đạo sư được gọi là Thế Tôn. Bạch Thế Tôn! Đây là do nguyên nhân nào? V́ sao có thể khiến cho đại chúng đều trông thấy, [đó là ư nghĩa của câu] “linh cử chúng giai kiến”. Chúng con đều thấy, mỗi người đều tận mặt trông thấy. V́ sao quang minh vừa diệt dứt th́ [khổ đau] ǵ cũng chẳng trông thấy? V́ sao có quang minh ấy, đấy là v́ nguyên nhân nào? Điều ǵ đă khiến cho đại chúng có thể trông thấy, do cái nhân nào vậy? Cho đến hiện ra các thứ hương, hoa, các vật trang hoàng, tràng hoa, khiến cho thân thể mỗi người đều trở thành rất trang nghiêm, rất đầy đủ, trong quá khứ chẳng hề có chuyện này! Đối với các thứ hiện tượng ấy, mọi người đều rất hoài nghi, “thiên nhân phổ do dự” (trời người đều do dự). “Do dự” là hoài nghi, chẳng biết là chuyện ǵ? Do chẳng thể suy lường nhân duyên v́ sao có những hiện tượng như thế, chẳng lẽ là do có vị Phật hay Bồ Tát nào đến? Là do các vị ấy hiện sức thần thông ư? Hoặc là do Phạm Thiên, hoặc là ma vương, hoặc là Đế Thích Thiên [có thế lực] đặc biệt to lớn. Chuyện ấy vẫn là một dấu hỏi! Ai có phước đức lớn dường ấy để có thể hiện các sức thần thông khiến cho đại chúng có các cảm nhận như vậy? “Duy nguyện đại đạo sư, tốc vị chúng tuyên thuyết” (kính mong đại đạo sư, mau v́ chúng tuyên nói): Đức Phật là vị đại đạo sư tiếp dẫn chúng con, hăy mau nói cho đại chúng biết. Trong tâm đại chúng chẳng buông nghi vấn xuống được, c̣n có điều do dự, hoài nghi. V́ thế, thưa hỏi. Đế Thích vừa hỏi, đức Phật liền trả lời.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Vô Cấu Sanh Thiên Đế Thích viết: “Nhữ đẳng đương tri, hữu Bồ Tát Ma Ha Tát, danh viết Địa Tạng, dĩ ư vô lượng vô số đại kiếp, ngũ trược ác thời, vô Phật thế giới thành thục hữu t́nh, kim dữ bát thập bách thiên na-dữu-đa tần-bạt-la Bồ Tát câu, vị dục lai thử, lễ kính, thân cận, cúng dường ngă cố, quán Đại Tập hội sanh tùy hỷ cố, tịnh chư quyến thuộc tác Thanh Văn tượng, tương lai chí thử, dĩ thần thông lực hiện thị biến hóa”.

          ()爾時,世尊告無垢生天帝釋曰:汝等當知,有菩薩摩訶薩,名曰地藏,已於無量無數大劫,五濁惡時,無佛世界,成熟有情。今與八十百千那庾多頻跋羅菩薩俱,為欲來此禮敬親近供養我故,觀大集會生隨喜故,並諸眷屬,作聲聞像將來至此,以神通力現是變化。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Vô Cấu Sanh Thiên Đế Thích rằng: “Các ông nên biết, có Bồ Tát Ma Ha Tát tên là Địa Tạng, đă trong vô lượng vô số đại kiếp, nhằm thời ác ngũ trược, ở trong thế giới không có Phật để thành thục hữu t́nh, cùng với tám mươi trăm ngàn na-dữu-đa tần-bạt-la Bồ Tát câu hội, v́ muốn đến đây để lễ kính, thân cận, cúng dường ta, do thấy hội Đại Tập sanh tùy hỷ, bèn cùng các quyến thuộc, dùng h́nh tượng Thanh Văn sẽ đến nơi đây, dùng sức thần thông hiện ra các sự biến hóa ấy”).

         

          V́ Vô Cấu Sanh Thiên Đế Thích thưa hỏi như vậy, đức Phật liền giải thích cho ông ta. Đức Phật là bậc Nhất Thiết Trí, hết thảy các sự vật không có ǵ Ngài chẳng hiểu. Đức Phật biết Địa Tạng Bồ Tát sắp tới, bèn bảo Vô Cấu Sanh Thiên Đế Thích: “Ông hăy nên biết, hiện thời có một vị đại Bồ Tát tên là Địa Tạng”. “Ư vô lượng vô số đại kiếp” (trong vô lượng vô số đại kiếp) là nói đến quá tŕnh tu hành của Ngài, hóa độ, hướng dẫn chúng sanh trải qua một thời gian rất dài. Do vậy, dùng “vô lượng vô số” để h́nh dung. “Kiếp” là tiếng Ấn Độ, [nói đầy đủ là] Kiếp Bá (Kalpa), dịch là Thời Phần. [Kiếp là] Thời Phần dài nhất. Hễ nói tới Kiếp bèn h́nh dung một thời gian rất dài, nói thời gian ngắn th́ gọi là “sát-na”. Sát-na (kṣaṇa) trong tiếng Ấn Độ là thời gian ngắn nhất, Kiếp là thời gian dài nhất, nhưng ở đây là “đại kiếp”. Kiếp có đại, trung, tiểu kiếp. Vị đại Bồ Tát này nguyện lực hết sức to lớn. Ngài chuyên ở trong đời ác Ngũ Trược hóa độ chúng sanh.

          Ngũ Trược (Pañca-kasāyāh) là thời đại này. Chúng ta thường nói tới thời Mạt Pháp, tức là trong thời đại này rất tệ, đục ngầu, dơ bẩn, chẳng trong trẻo. Trong thời đại đục ngầu, dơ bẩn, chẳng trong trẻo, muốn bảo vệ môi trường, sẽ chẳng thể được. Chúng ta thật sự chẳng thể bảo vệ. Sanh mạng của chúng ta có thể chấm dứt bất cứ lúc nào, chẳng như Bắc La Châu (Bắc Câu Lô Châu), [thọ mạng ở nơi đó là] tám vạn bốn ngàn tuổi, chẳng đục ngầu, nhơ bẩn, rất rơ ràng. V́ chúng ta người già cũng chết, mà kẻ trẻ tuổi cũng chết, chỉ là chẳng biết lúc nào thôi! Sanh tử chẳng nhất định, nhơ đục, chẳng trong lành. Mỗi người có quan điểm đối với các vấn đề khác nhau. Con người có quá nhiều cách nh́n, ngay cả đối với chính ḿnh cũng có quá nhiều tri kiến. Đó là Kiến Trược (Drsti-kasāya). Do nh́n nhận vấn đề chẳng nhất trí, cho nên có Phiền Năo Trược (Kleśa-kasāya). Đối với Phiền Năo Trược, tôi nghĩ mỗi người đều có thể tự biết phiền năo của chính ḿnh, chẳng cần phải nói nữa! Thế giới này có năm, sáu mươi ức người, phiền năo và tri kiến của mỗi người đều rất vẩn đục, đó là Chúng Sanh Trược (Sattva-kasāya). Nói chung, thời đại này chẳng tốt đẹp.

          Trong thời đại này, đối với “vô Phật thế giới” (thế giới không có Phật), nguyện của Địa Tạng Bồ Tát là ở trong đời ác Ngũ Trược độ chúng sanh. Nơi nào chẳng có Phật, nơi nào tam đồ khổ nạn đặc biệt nặng nề, Ngài sẽ đến đó để độ các chúng sanh ấy. “Thành thục hữu t́nh” chính là nguyện của Ngài. “Na-dữu-đa tần-bạt-la” (Nayuta Vivara) là những con số lớn, là mười triệu; có bao nhiêu mười triệu? Tám mươi trăm ngàn lần mười triệu. Đó là nói tới các quyến thuộc theo Địa Tạng Bồ Tát cùng đến. Đối với số lượng nhiều đến tám mươi trăm ngàn tần-bạt-la, thế giới này của chúng ta cũng chẳng thể chứa nổi nhiều người ngần ấy. Đó là ư cảnh, chớ nên t́m cầu nơi con số. Chúng ta chỉ hiểu ư [là được rồi].   

          Thích Ca Mâu Ni Phật bảo Vô Cấu Sanh Thiên Đế Thích: Địa Tạng Bồ Tát muốn đến nơi đây để thân cận, cúng dường ta. Đồng thời, Bồ Tát thấy hội Đại Tập này của ta, rất vui thích, Ngài sẽ đến tùy hỷ, tán thán, tham dự pháp hội này. Nhưng Ngài hiện h́nh tướng Thanh Văn. H́nh tướng Thanh Văn là cạo tóc, đắp y nhiễm sắc. Phàm là Địa Tạng Bồ Tát th́ đều là cạo tóc, hiện h́nh tướng Thanh Văn, nhưng có lúc chúng ta thấy tượng Ngài ngồi đội măo Ngũ Phật, tức là [trên măo có h́nh] Ngũ Phương Phật[5]. Đó là [h́nh tướng] dùng trong [trai đàn] Diệm Khẩu. Trừ pháp hội Diệm Khẩu ra, nếu làm pháp sự, khi cầu đảo cho chúng sanh, phải đội măo Ngũ Phật. Bất quá, những lúc như vậy rất ít, thường là Ngài để đầu trần, chúng ta thờ tượng Địa Tạng Bồ Tát đều là h́nh tượng Thanh Văn. Ngài muốn đến pháp hội này, bèn hiện ra sự biến hóa ấy.

 

          (Kinh) Thị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát hữu vô lượng vô số bất khả tư nghị thù thắng công đức chi sở trang nghiêm, nhất thiết thế gian Thanh Văn, Độc Giác sở bất năng trắc. Thử đại Bồ Tát thị chư vi diệu công đức phục tạng, thị chư giải thoát trân bảo xuất xứ, thị chư Bồ Tát minh tịnh nhăn mục.

          ()是地藏菩薩摩訶薩,有無量無數不可思議殊勝功德之所莊嚴,一切世間聲聞、獨覺所不能測。此大菩薩,是諸微妙功德伏藏,是諸解脫珍寶出處,是諸菩薩明淨眼目

          (Kinh: Vị Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát này có vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn công đức thù thắng để trang nghiêm, hết thảy thế gian, Thanh Văn, Độc Giác chẳng thể lường được. Vị đại Bồ Tát này là kho tàng của các công đức vi diệu, là chỗ sanh ra các thứ trân quư giải thoát, là mắt sáng sạch của các vị Bồ Tát).

 

          Nhưng vị Địa Tạng Bồ Tát Đại Bồ Tát này có vô lượng vô số công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn. Tuy Ngài thị hiện h́nh tướng Thanh Văn, nhưng Ngài thù thắng trang nghiêm vượt xa hết thảy các vị đại Bồ Tát, hơn hẳn các vị Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm. Trong phẩm thứ mười một của kinh Địa Tạng, Kiên Lao địa thần đă khen ngợi Địa Tạng Bồ Tát như sau: “Con ở trong thế giới này, gặp rất nhiều vị đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm, Di Lặc, công đức và nguyện lực của những vị ấy đă là chẳng thể nghĩ bàn, nhưng Địa Tạng Bồ Tát vượt xa các vị ấy”. So sánh các vị Bồ Tát với nhau, cũng như giữa các vị Phật với nhau, vốn chỉ nhằm hiển thị công đức của Địa Tạng Bồ Tát, cho nên đến phần sau kinh Thập Luân cũng nêu rơ, kinh Địa Tạng cũng nêu rơ. Như Ngài phát nguyện chuyên cứu độ chúng sanh trong đời ác ngũ trược, độ chúng sanh nơi địa ngục trong thế gian không có Phật, chẳng dễ hóa độ! V́ vậy, hết thảy chư Phật đều tán thán.

          Có một câu chuyện: Tôn giả Ca Diếp muốn nghe thử rốt cuộc âm thanh của đức Phật lan xa tới cỡ nào, bèn dùng sức thần thông của Ngài [để đi thật xa]. Kết quả là Ngài chẳng biết đă đến nơi đâu, thế mà âm thanh của đức Phật vẫn ở bên tai. Ngài tới quốc độ nào vậy? Ngài tới pháp hội của người ta, đúng vào lúc đang thọ trai. Ngài ở trên miệng bát của một vị Tăng, đi trên một cái bát dùng để ăn cơm. Vị Tăng đang dùng cơm ấy tưởng Ngài chỉ là một con trùng nhỏ. Đức Phật [nơi ấy] bảo vị Tăng ấy: “Ông đừng có động! Đấy là đại đệ tử của một vị Phật ở phương Đông”. Nói xong, vị tăng nhân ấy cũng chẳng dám cử động. Đức Phật ấy liền hướng về tôn giả Ca Diếp bảo: “Ông có thể niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hễ niệm Bổn Sư, vóc dáng của ông sẽ bằng vị đệ tử này”. Vừa niệm Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, thân lượng của Ngài bèn là vô lượng vô biên.

          Tôi nêu ra câu chuyện này là v́ muốn chứng minh điều ǵ? Phật Phật đạo đồng. V́ độ một loại chúng sanh ấy, Ngài chỉ có thể thị hiện tương tự như họ. Do vậy, đến địa ngục, Địa Tạng Bồ Tát liền hiện thành một vị xuất gia, tức là một vị ḥa thượng rất khổ năo. Đôi khi quư vị thấy tượng Địa Tạng, bất luận là trong mộng cũng thế, hay là cảnh giới được thấy cũng thế, Ngài giống như một vị ḥa thượng b́nh phàm. Nếu thấy rất nhiều quang minh thù thắng, tức là nghiệp lực của quư vị đă biến hóa, sẽ trông thấy Địa Tạng Bồ Tát cũng biến hóa. Chư Phật, Bồ Tát tùy tâm của quư vị mà biến hiện.

          Chẳng hạn như quư vị đến triều bái Ngũ Đài Sơn, mỗi người thấy Văn Thù Bồ Tát khác nhau, tức là tùy theo cái tâm của quư vị mà hiện. Hết thảy các vị đại Bồ Tát đều là như thế. Do kinh Địa Tạng hay kinh Thập Luân đều nhằm hiển thị công đức của Địa Tạng Bồ Tát, công đức của Địa Tạng Bồ Tát sẽ được nói đặc biệt thù thắng. Nếu là một bộ kinh khác, chẳng hạn như kinh nói về Văn Thù Bồ Tát th́ sẽ lại khác hẳn: Văn Thù Bồ Tát đặc biệt thù thắng. Văn Thù Bồ Tát đă sớm thành Phật, là thầy của bảy vị Phật, là mẹ của chư Phật, tức Bát Nhă là mẹ của chư Phật. Đấy là hiển thị cho chúng sanh thấy. C̣n có những bộ kinh, trong ấy đức Phật tán thán vị Bồ Tát này; qua kinh khác, đức Phật đột nhiên hiển thị vị Bồ Tát khác, tán thán công đức của vị ấy. Phải hiểu đạo lư này, đừng sanh khởi cái tâm phân biệt! Nếu nói “công đức của Địa Tạng Bồ Tát to lớn, công đức của Quán Âm Bồ Tát nhỏ bé”, đă phạm sai lầm mất rồi! Nhưng trong kinh, sở dĩ đức Phật nói như vậy nhằm khiến cho đại chúng nhận biết, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, trong tâm sanh khởi cảm giác thù thắng. Hàm nghĩa là như thế đó!

          Đức Phật tán thán Địa Tạng Bồ Tát có vô lượng vô số công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn để trang nghiêm. Hết thảy thế gian, Thanh Văn, Độc Giác đều chẳng thể lường được. Nếu muốn suy lường công đức của Ngài, chẳng thể suy lường nổi! Mọi người có c̣n nhớ trong phẩm thứ nhất của kinh Địa Tạng: Đối trước chư Phật, Bồ Tát cho đến trời, người tới tham dự pháp hội, đức Phật hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát rằng: “Ông có tính được số lượng người tham dự pháp hội là bao nhiêu hay không?” Văn Thù Bồ Tát thưa cùng đức Phật: “Dùng sức trí huệ của con để suy lường trong một ngàn kiếp, vẫn chẳng thể biết trọn hết con số ấy”. Đức Phật bảo: “Ta dùng Phật nhăn để xem trong một ngàn kiếp mà vẫn chưa trọn hết số ấy. Dùng Phật nhăn để xem mà vẫn chưa thể trọn hết số lượng. Phật nhăn chiếu hết thảy mà vẫn c̣n chưa thể cùng tận con số đó. Đấy là đề cao công đức của Địa Tạng Bồ Tát, khiến cho chúng sanh sanh khởi cái tâm thù thắng. Học pháp, học Phật, quư vị cũng phải vận dụng trí huệ của chính ḿnh. Nếu hiểu được nghĩa lư của Phật th́ sẽ thành tựu.

          Trong kinh này cũng vậy. Đức Phật tán thán Địa Tạng Bồ Tát nói: Hết thảy Thanh Văn và Duyên Giác chẳng thể suy lường, chẳng thể suy tính ngằn mé công đức của Bồ Tát. Vị đại Bồ Tát này là kho tàng của hết thảy công đức vi diệu, chứa đựng vô lượng công đức. Lại là chỗ sanh ra hết thảy của báu giải thoát. V́ thế, từ Như Ư Bảo Châu trong tay mỗi người, đều có thể tuôn ra vô lượng trân bảo. V́ Địa Tạng Bồ Tát hàm tàng hết thảy trân bảo, Ngài có thể khiến cho mọi người đều đạt được chánh pháp nhăn tàng. V́ thế nói “thị chư Bồ Tát minh tịnh nhăn mục” (là mắt sáng trong sạch của các Bồ Tát). Mong đạt được như thế th́ quư vị phải tu trong vô lượng kiếp, chỉ sợ tu chẳng thành. Những lời tán thán ấy biểu thị ư nghĩa rất tôn quư, rất thù thắng.

Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luân Kinh Giảng Kư phần 1 hết



 



[1] Đây là cách lễ theo truyền thống của Tây Tạng, toàn bộ thân h́nh đổ rạp xuống đất, hai tay duỗi thẳng về trước.

[2] Vĩnh Huy là niên hiệu của Đường Cao Tông (Lư Trị) từ năm 650 đến năm 655.

[3] Dợn nắng (dương diệm, 陽焰) là một hiện tượng quang học. Khi trời nắng gắt, sẽ thấy xa xa có những vệt nước đọng.

[4] Thân cây chuối gồm nhiều lớp bẹ hợp thành, cứ bóc ra, bóc măi, cuối cùng chẳng có ǵ.

[5] Ngũ Phương Phật c̣n gọi là Ngũ Phương Như Lai, hoặc Ngũ Trí Như Lai, hoặc Ngũ Thiền Na Phật, chính là năm vị Phật ở bốn phương và trung ương. Đây là cụ thể hóa Chân Trí lưu xuất các trí riêng biệt, hoặc từ tám thức đă chuyển biến thành năm trí:

1. Trung ương là Tỳ Lô Giá Na Phật (một hóa thân của Ngài là Quảng Bác Thân Như Lai), là cụ thể hóa của Pháp Giới Thể Tánh Trí, màu trắng, pháp bảo là bánh xe, kết ấn Chuyển Pháp Luân, đối trị vô minh, chủng tự (seed syllable) là Vam, lưu xuất Phật Bộ. Vị Bồ Tát tương ứng là Phổ Hiền Bồ Tát, lưu xuất Bất Động Minh Vương.

2. Đông phương A Súc Phật (hóa thân là Diệu Sắc Thân Như Lai), cụ thể hóa của Đại Viên Kính Trí, màu xanh dương thẫm, pháp bảo là chày kim cang đơn, kết Xúc Địa ấn, đối trị đố kỵ, chủng tự là Hu, lưu xuất Kim Cang Bộ. Vị Bồ Tát tương ứng là Kim Cang Thủ Bồ Tát, lưu xuất Hàng Tam Thế Minh Vương.

3. Tây phương A Di Đà Phật (hóa thân là Cam Lộ Vương Như Lai), cụ thể hóa của Diệu Quán Sát Trí, màu đỏ, pháp bảo là hoa sen, kết Thiền Định ấn, đối trị ích kỷ, chủng tự là Hrih, lưu xuất Liên Hoa Bộ. Vị Bồ Tát tương ứng là Quán Thế Âm Bồ Tát, lưu xuất Quân Trà Lợi Minh Vương.

4. Nam phương Bảo Sanh Phật (hóa thân là Bảo Thắng Như Lai), cụ thể hóa của B́nh Đẳng Tánh Trí, màu vàng, pháp bảo là Như Ư Bảo Châu, kết Thí Xả ấn, đối trị kiêu ngạo, chủng tự là Tram, lưu xuất Bảo Bộ. Vị Bồ Tát tương ứng là Bảo Thủ Bồ Tát (tức Địa Tạng Bồ Tát), lưu xuất Diễm Man Đắc Ca (Yamantaka) Minh Vương.

5. Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật (hóa thân là Ly Bố Úy Như Lai), cụ thể hóa của Thành Sở Tác Trí, màu xanh, pháp bảo là chày kim cang kép, kết Thí Vô Úy Ấn, đối trị sân hận, chủng tự là Ah, lưu xuất Yết Ma Bộ. Vị Bồ Tát tương ứng là Viśvapāni Bồ Tát (Phổ Thủ Bồ Tát), lưu xuất Kim Cang Dược Xoa Minh Vương.