Đại Thừa Địa Tạng Thập Luân Kinh Giảng Kư, phần 13

大乘大集地藏十輪經講記

Mộng Tham lăo ḥa thượng chủ giảng

夢參老和尚主講

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

VI. Phẩm thứ sáu, Thiện Nghiệp Đạo (善業道品第六)

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Kim Cang Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát phục bạch Phật ngôn: “Đại đức Thế Tôn! Bồ Tát Ma Ha Tát vân hà ư Thanh Văn Thừa, đắc vô ngộ thất? Vân hà ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất? Vân hà ư Độc Giác Thừa, đắc vô ngộ thất? Vân hà ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất? Vân hà ư Đại Thừa, đắc vô ngộ thất? Vân hà ư Đại Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất? Vân hà thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh? Vân hà ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất? Vân hà ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển? Vân hà lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng? Vân hà ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển? Vân hà thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành? Vân hà thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận cúng dường chúng Tăng? Vân hà ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc? Vân hà thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc?”

          ()爾時,金剛藏菩薩摩訶薩復白佛言:「大德世尊,菩薩摩訶薩,云何於聲聞乘,得無誤失?云何於聲聞乘補特伽羅,得無誤失?云何於獨覺乘,得無誤失?云何於獨覺乘補特伽羅,得無誤失?云何於大乘,得無誤失?云何於大乘補特伽羅,得無誤失?云何常能熾然三寶種姓?云何於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失?云何於大乘法,常得升進,無有退轉?云何利慧勝福,常得增長?云何於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉?云何常得值遇諸善知識,隨順而行?云何常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧?云何於諸善根常精進求,心無厭足?云何常於菩提種種行願,心無厭足?

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Kim Cang Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát lại bạch cùng đức Phật rằng: “Bạch đại đức Thế Tôn! Bồ Tát Ma Ha Tát làm thế nào chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa? Làm thế nào chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La? Làm thế nào chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa? Làm thế nào chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La? Làm thế nào chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa? Làm thế nào chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La? Làm thế nào để chủng tánh Tam Bảo thường rạng rỡ? Làm thế nào chẳng phạm sai lầm đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc? Làm thế nào để thường được thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển nơi pháp Đại Thừa? Làm thế nào để trí huệ nhạy bén và phước thù thắng thường được tăng trưởng? Làm thế nào để mau được tự tại, chẳng thoái chuyển nơi hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa? Làm thế nào để thường được gặp gỡ các thiện tri thức ḥng làm theo họ? Làm thế nào để thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật, và các vị Bồ Tát, cùng đệ tử Thanh Văn, chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận cúng dường chúng Tăng? Làm thế nào để thường tinh tấn cầu các thiện căn, tâm không chán đủ? Làm thế nào để đối với các thứ hạnh nguyện nơi Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ?”)

 

          Phẩm này giảng về Thiện Nghiệp Đạo. Đă sám hối xong, bèn tu hành. Sau khi đă sám trừ nghiệp chướng, sẽ tu ǵ vậy? Tu thiện nghiệp. Kim Cang Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát là người phát khởi. Ngài hướng về đức Phật thỉnh cầu: “Đại đức Thế Tôn! Con c̣n có thắc mắc”. Bồ Tát Ma Ha Tát là bậc đại Bồ Tát trong các vị Bồ Tát. Khi Ngài muốn hoằng pháp lợi sanh, nếu gặp căn cơ Thanh Văn, đối với Thanh Văn Bổ Đặc Già La, Ngài sẽ chẳng nói pháp Độc Giác Thừa, cũng chẳng nói pháp Đại Thừa. Pháp nghĩa của mỗi pháp có giới hạn rạch ṛi, chẳng phải là luông tuồng! Kế đó, đối với mỗi loại Bổ Đặc Già La hữu t́nh chúng sanh, họ thuộc loại pháp khí nào, là căn khí ǵ, sẽ nói với họ pháp ấy, chẳng hề phạm sai lầm.

          Nay chúng ta thuyết pháp, chẳng cần biết là đúng căn cơ hay không, chúng tôi giảng bộ kinh này, chẳng phải là căn cơ, họ cũng đến nghe. Đúng căn cơ cũng tới nghe. Đấy gọi là “[thuyết pháp] chẳng đúng căn cơ”. Đă chẳng đúng căn cơ, đối với pháp Thanh Văn mà chẳng sai lầm sẽ rất khó, hoặc là chẳng sai lầm đối với Độc Giác Thừa, chẳng sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng sai lầm đối với Bồ Tát Thừa, tức là chẳng sai lầm đối với pháp tam thừa. Nếu nói theo căn cơ, [nói pháp] chẳng đúng căn cơ, chẳng đúng với [căn tánh của mỗi loại] Bổ Đặc Già La (Pudgala, hữu t́nh chúng sanh), [đáng lẽ] quư vị phải nói pháp Thanh Văn, lại nói thành pháp Độc Giác, hoặc nói thành pháp Đại Thừa, đó gọi là “ngộ thất” (誤失, sai lầm). Hễ có sai lầm, người nói sẽ chịu trách nhiệm nhân quả.

          Nay đang thời Mạt Pháp, thiếu khuyết năng lực khéo quan sát, khi thuyết pháp, chính ḿnh phải phát nguyện, mong cầu sám hối phát nguyện: “Con là một chúng sanh b́nh phàm, chẳng nhập thánh quả, thuyết pháp nhất định sẽ có sai lầm. Bất luận xét theo căn cơ, hay xét theo pháp, đều phạm sai lầm!” Nếu đă thọ Bồ Tát giới, phát đại tâm, [nếu sợ thuyết pháp sai lầm rồi chẳng thuyết pháp] th́ sẽ là đoạn diệt chủng tánh Tam Bảo. Quư vị phải cân nhắc giữa hai đằng: Cái nào là trọng yếu, cái nào chẳng trọng yếu! Tuy là phạm sai lầm đối với họ (người nghe pháp), họ vẫn có thể gieo thiện căn. Nếu hoàn toàn chẳng có ai nói, pháp chẳng c̣n nữa, có thể gặp gỡ mà không sai lầm hay không, họ cũng chẳng thể biết!

          Cá nhân tôi mỗi khi gặp dịp thuyết pháp, đều cầu Phật, Bồ Tát gia tŕ, hoặc là tụng kinh, hoặc sám hối, cầu Phật, Bồ Tát gia tŕ, khiến cho lời tôi nói chẳng trái nghịch ư Phật. Nói cách khác, gia tŕ tôi khi thuyết pháp bèn có tri kiến chánh xác. Tri kiến như thế nào sẽ là chánh xác hay chẳng chánh xác? Nương theo pháp do đức Phật đă dạy để nói, tri kiến ấy sẽ là chánh đáng. Đức Phật có ba pháp ấn [dành cho pháp Nhị Thừa, tức vô thường, khổ, và vô ngă], và cũng có một pháp ấn [dành cho pháp Đại Thừa, tức Thật Tướng]. Khi thuyết pháp, chẳng ĺa Thật Tướng, đối với mỗi chúng sanh đều nói “chẳng ĺa Thật Tướng”, khiến cho chúng sanh biết đạo lư “vạn pháp duy tâm”. Khi nói pháp Thanh Văn Thừa, nhất định phải biết pháp Tứ Đế, tức Khổ, Tập, Diệt, Đạo; đấy là Tứ Thánh Đế. Các pháp Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ư Túc, ba mươi bảy Đạo Phẩm, tam thừa đều cùng chung có. Quư vị nói như thế nào cũng đều được, rốt cuộc chẳng vượt ra ngoài pháp tam thừa. Chớ nên nói chánh kiến thành tà kiến, [nếu nói thành tà kiến], sẽ là điên đảo, phạm sai lầm. Thanh Văn Thừa, Độc Giác Thừa, và Đại Thừa là pháp tam thừa nhằm đối ứng căn cơ tam thừa, cũng như tam thừa Bổ Đặc Già La. Đối với pháp chẳng có sai lầm, mà cũng chẳng sai lệch, chẳng hỗn loạn thị phi; đối với Bổ Đặc Già La, tức là đối với người [nghe pháp], cũng chẳng sai lầm! Đấy là hạng người nào? Chính là Bồ Tát Ma Ha Tát, đại Bồ Tát tuyệt đối có thể làm được!

          Lại nữa, làm thế nào để khiến cho chủng tánh Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo hưng thịnh, thường sung măn, khiến cho chủng tánh Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo vĩnh viễn chẳng đoạn, vĩnh viễn trụ trong thế gian? Lại làm như thế nào để phân biệt các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai là pháp khí hay chẳng phải pháp khí? Cho đến đối với kẻ khoác một mảnh ca-sa, bèn chẳng phạm sai lầm? Kẻ vô giới” kém cỏi hơn pháp khí và phi pháp khí, v́ kẻ đó giả mạo người xuất gia. Kẻ đó vốn là tội phạm, kiếm được một mảnh ca-sa bèn đeo lên người, mong tiêu tai, thoát nạn, làm như thế đó. Đối với hạng người như thế đó, cũng đều chẳng phạm sai lầm!

          Đối với pháp Đại Thừa, khiến cho pháp ấy vĩnh viễn hưng thịnh, đừng từ Đại Thừa thoái chuyển thành Nhị Thừa. Có những người nếu nói pháp Đại Thừa với họ, họ sẽ dũng mănh tiến lên, chiếu theo pháp Đại Thừa để tu tập. Có những người cảm thấy tu pháp Đại Thừa để độ chúng sanh quá khó khăn, v́ chúng sanh ương ngạnh, khó điều phục. Đừng nói là phàm phu độ chúng sanh, ngay như Thanh Văn đă chứng quả A La Hán muốn độ chúng sanh cũng rất khó khăn. Cho nên họ sợ hăi, thoái đọa địa vị Nhị Thừa, nhập Thiên Không Định. Những trường hợp giống như vậy rất nhiều, ngay cả một vị A La Hán như ngài Xá Lợi Phất, trí huệ bậc nhất, vẫn lui xuống Nhị Thừa như vậy! Ngài mong phát Bồ Đề tâm, vừa mới phát tâm bèn lui sụt. Câu chuyện này chắc là mọi người đều biết: Ngài Xá Lợi Phất vừa phát Bồ Đề tâm, Đế Thích Thiên bèn hóa hiện đến thử thách Ngài. Ông ta thị hiện làm một cô bé, ngồi khóc ở ven đường. Ngài Xá Lợi Phất đến trước cô bé, hỏi: “Con đừng nên bi ai, có khó khăn ǵ, ta có thể giúp con giải quyết. Hăy kể cho ta biết”. Bé gái thưa: “Điều con mong cầu, Ngài giải quyết không nổi đâu. Ngài đâu có tâm Bồ Đề lớn dường ấy!” Ngài nói: “Ta vừa mới phát Bồ Đề tâm”. Cô bé nói: “Được rồi! Con nói với Ngài. Mẹ con nay bị một loại bệnh đặc biệt, t́m thuốc uống, thuốc th́ có, nhưng chất dẫn thuốc chẳng có”. “Chất dẫn thuốc chẳng khó lắm, con cứ t́m đi, hoặc là mua”. Cô bé nói: “Mua không được! Chất dẫn thuốc này cần đến tṛng mắt”. Ngài Xá Lợi Phất nói: “Ta mới vừa phát Bồ Đề tâm, nay gặp gỡ, ta đáng nên phát đại tâm. Được! Ta bố thí một con mắt vậy!”

          Ngài liền móc một con mắt trao cho cô bé. Cô bé nói: “Con mắt này không đúng!” “V́ sao chẳng đúng?” “Con cần mắt trái, mà Ngài móc ra mắt phải”. Ngài Xá Lợi Phất phiền năo: “Sao con không nói sớm? Thôi được! Nếu ta đă muốn phát đại tâm th́ cũng móc luôn con mắt trái, cả hai con đều cho con”. Cô bé cầm lấy ngửi, rồi chê: “Con mắt này tanh hôi quá! Làm sao có thể bỏ vào thuốc cho được?” Quăng bẹt xuống đất, lấy chân giẫm lên, vừa giẫm lên, liền nghe tiếng vỡ đánh bụp một cái! Ngài Xá Lợi Phất liền ngă ḷng, nói Bồ Tát đạo khó hành, gặp phải kiểu chúng sanh như vậy, chẳng có cách nào, thoái thất Bồ Đề tâm!

          Thật ra, A La Hán đều có thần thông. Có một vị A La Hán dẫn theo một Sa Di đi trên đường. Chú Sa Di ấy do thấy trên cánh đồng có con chim sẻ đang ăn những con trùng dưới đất. Những con trùng ấy do bị lưỡi cày lật đất lên [mà lộ ra], chim sẻ liền mổ ăn. Chú bèn phát tâm: “Chúng sanh quá khổ! Ta phải phát Bồ Đề tâm để lợi ích hết thảy chúng sanh”. Khi ấy, chú đang quảy y bát của thầy, trong túi đựng đầy ắp. Vị A La Hán ấy kêu chú: “Con đứng lại! Đồ đệ đứng lại. “Tiểu Sa Di lại đây, đưa đăy cho ta đeo”. Thầy đeo rồi, đồ đệ cũng chẳng biết là chuyện ǵ, liền đi tiếp. Chú Sa Di ấy lại nghĩ: “Độ chúng sanh bằng cách nào đây? Bồ Tát đạo rất khó hành, dài dằng dặc, xa xôi quá! Ḿnh vẫn nên cầu được liễu sanh tử, ḿnh liễu sanh tử trước rồi mới lại nói!” Tâm chú vừa tác ư như thế, thầy lại bỏ cái đăy xuống, hô: “Đứng lại! Con vẫn đeo cái đăy này đi”. Lần đầu tiên, lần thứ hai, chú đồ đệ vẫn không cảm thấy ǵ, lại đi tiếp. Chú Sa Di ấy lại nghĩ: “Không được rồi! Phải thành Phật, phải phát đại tâm, phải rốt ráo th́ mới được!” Chú chẳng phát tâm lui sụt xuống hàng Nhị Thừa, không được! Vẫn phải nên phát đại Bồ Đề tâm, chớ nên nao núng! Thầy lại kêu: “Đứng lại! Đứng lại!” Chú đứng lại, “giao đăy cho thầy đeo”. Chú tiểu Sa Di mới biết là có chuyện rồi, mới hỏi: “Sư phụ! Thầy có bị bệnh tâm thần hay không? Thầy điên rồi! Một chốc con đeo, chốc lát lại thầy đeo. Rốt cuộc là chuyện ǵ thế?” Thầy bảo: “Con đă phát Bồ Đề tâm, là đại Bồ Tát, ta chỉ là A La Hán. Cho nên thầy chẳng dám sai Bồ Tát quảy đăy cho thầy, đưa cho thầy th́ hơn! Con vừa mới phát tâm, lại thoái tâm, lại thoái chuyển, mong liễu sanh tử. Ta đă liễu sanh tử, con vẫn chưa, con chỉ phát tâm mà thôi. Được rồi, vẫn là để cho con đeo. Giao qua, giao lại là như thế đó. V́ con vừa khởi tâm động niệm, ta biết ngay”.

          Bậc A La Hán như thế rất khó có! V́ sao? Ngài có Tha Tâm Thông, chẳng cần nhập Định. Có những vị A La Hán trong cuộc sống thường nhật, Tha Tâm Thông, lục thông đều trọn đủ như thế! Có vị A La Hán cần phải tu Định th́ Lục Thông mới hiển hiện; có vị chẳng cần mà vẫn có thể hiển hiện. Những vị giống như vậy đều là bậc Đại A La Hán, đều giống như trong một ngàn hai trăm năm mươi vị Thường Tùy Chúng [của đức Phật], mười vị đại đệ tử[1] đứng đầu thường luôn ở trong Định.

          V́ thế, khiến cho Đại Thừa thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển, rất khó! Mọi người hằng ngày phát Bồ Đề tâm, nhưng hằng ngày chẳng làm chuyện Bồ Đề, th́ cái tâm đă phát ấy giả trất, phỏng theo người khác mà phát đó thôi! Khi bái sám cũng phát, phát đại nguyện “độ tận hết thảy chúng sanh”, cũng như “chịu khổ thay cho chúng sanh”. Quư vị chẳng xâm chiếm lợi ích của chúng sanh là được rồi, c̣n “chịu khổ thay cho chúng sanh” th́ làm thế nào để thực hiện? Chúng ta bất cứ lúc nào, kể cả mọi người chúng ta đều chẳng có ngoại lệ, đều luôn xâm chiếm lợi ích của chúng sanh! Chúng ta có thể chịu khổ thay cho chúng sanh hay không? Chẳng có! Quư vị làm chánh trị cũng thế, mà làm kinh tế cũng thế, bất cứ quư vị làm ǵ, hăy ngẫm xem tất cả lợi ích của quư vị do đâu mà có? Từ chúng sanh! Đều là của chúng sanh, rất khó!   

          Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni xuất gia, đáng lẽ phải tốt đẹp lắm chứ! Tứ chúng đệ tử, Sa Di, Sa Di Ni, nếu liễu đạo th́ tốt. Nếu chưa liễu đạo, các thứ quư vị hưởng thụ đều là máu và mồ hôi của người ta! Thậm chí, trong số đó, cũng có những thứ do lừa gạt, cũng có thứ phi pháp! Quư vị tiêu trừ các tai họa ấy bằng cách nào? V́ sao quy định người xuất gia có hai đường công khóa sáng tối? Nhằm để tiêu tai! Quư vị chẳng tu hành chi khác, lên đại điện tụng niệm công khóa sáng tối để trả nợ, có thể miễn trừ tai nạn! V́ sao tứ chúng đệ tử đều có công khóa hằng ngày? Bất luận quư vị tụng một quyển Phổ Môn Phẩm, tụng phẩm Phổ Môn là để hồi hướng cho người ta. Như thế th́ ăn, mặc, đi ở, quư vị sống trong căn nhà do người ta [phát tâm cúng dường, kiến tạo], cái ăn của quư vị do người khác cúng dường. Quư vị chẳng tự kiếm được một đồng nào! Phải hiểu đạo lư này! Cần phải luôn luôn phát Bồ Đề tâm! Nếu có thể thường luôn phát Bồ Đề tâm, trí huệ của quư vị có thể tăng trưởng. Phước đức thù thắng như vậy sẽ thường có thể tăng trưởng. Phước đức thù thắng và trí huệ nhạy bén sanh từ chỗ nào? Phải cậy vào Tam Bảo. Tam Bảo là chủng tử của hết thảy. Như thế nào th́ mới có thể khiến cho trí huệ nhạy bén và phước thù thắng của chính ḿnh thường tăng trưởng, chẳng lui sụt? Đấy là một vấn đề!

          Kim Cang Tạng Bồ Tát hỏi đức Phật: Làm thế nào để giữ vững các điều ấy? “Vân hà ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa?” (làm thế nào để đối với hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa?) Đấy là nói theo Thập Địa và Thập Nhẫn trong kinh Hoa Nghiêm, chúng tôi không nói cặn kẽ, chỉ nêu đại lược đôi chút. Mau chóng đạt được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Trong hết thảy các Định, đều có thể tự tại: Muốn nhập Định liền nhập Định, muốn xuất Định bèn xuất Định. Từ địa vị Định này tiến nhập Nhẫn vị. Từ Nhẫn vị đến Sơ Địa, từ Sơ Địa, Nhị Địa, cho đến Thập Địa. “Vân hà thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành?” (Làm thế nào để thường được gặp gỡ các vị thiện tri thức, tùy thuận mà hành?): Như thế nào th́ mới có thể vĩnh viễn chẳng ĺa thiện tri thức, làm theo lời chỉ dạy của thiện tri thức?

          “Vân hà thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử?” (Làm thế nào để thường chẳng rời thấy hết thảy chư Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử?): Các vị đệ tử Thanh Văn ấy đă thành đạo, cho đến “bất ly văn pháp, bất ly thân cận cúng dường chúng Tăng” (chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận cúng dường các vị Tăng): Tăng ở đây là phàm phu Tăng. Phàm phu Tăng cũng bao gồm các hạng người như trong phần trước đức Phật đă dạy, [đối với kẻ] khoác một mảnh ca-sa, là Tăng sĩ giả mạo, chúng ta vẫn coi họ như thánh Tăng.

          “Vân hà ư chư thiện căn thường tinh tấn?” (làm thế nào để thường tinh tấn nơi các thiện căn?): Cầu thiện căn thường tinh tấn. Tinh tấn là chẳng giải đăi, vun trồng thiện căn của chúng ta. Làm thế nào th́ mới có thể vun trồng thiện căn? Thiện căn càng tăng trưởng càng tốt, càng nhiều càng tốt. Trong tâm, chẳng có chán đủ, chẳng có chán phiền, chẳng có thỏa măn! Cái chúng ta thiếu hụt chính là chẳng thể tinh tấn. Bất luận bái sám, bất luận nghe kinh, bất luận chính quư vị niệm kinh, đấy đều là các nghiệp thù thắng; nhưng luôn t́m một cái cớ để bào chữa! “Hôm nay tôi bận việc, tôi xin kiếu. Ngày mai sẽ lại làm bù!” Bù bằng cách nào? Hễ đoạn liền bị chặt đứt! Một ngày đoạn, hai ngày đoạn, đoạn lâu ngày, kẻ đó sẽ chẳng nghĩ thực hiện nữa!

          Người ta nói: “Học đạo như thuyền bơi ngược nước, chẳng tiến, ắt lùi”. Cái thuyền đó, khi chèo ngược gịng, chẳng tiếp tục tiến lên, sẽ bị nước đẩy lùi ngược lại, sẽ bị sóng đánh giạt lui xuống! Tại gia tu hành đều là như vậy, “Thục sơn vô tận, cần vi lộ” (núi Thục vô tận, phải siêng lên đường)[2]. Biển khổ chẳng có bờ bến. Đời người trong biển khổ to lớn, quư vị phải siêng khổ. Giống như đi học. Đi học giống như trèo lên núi, chẳng có đường! Quư vị chỉ cần mong cầu tri thức, mong cầu đạo lư phong phú, đă phải siêng ṛng; huống hồ tu pháp xuất thế ư? Trong tâm vĩnh viễn chẳng có lúc thỏa măn. Đă đạt tới vô cầu, đă đạt tới Bát Địa Bồ Tát, sẽ tùy tâm, cũng chẳng có tinh tấn, mà cũng chẳng có giải đăi!

          “Vân hà thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc?” (Làm thế nào để thường đối với các hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ?): Phát lên rất nhiều hạnh nguyện Bồ Đề, nếu giống như mười đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ Tát, sẽ bao gồm trọn vẹn. “Mười” tức là trùng trùng vô tận. Mỗi vị Bồ Tát phát nguyện đều là trùng trùng vô tận. Đấy là nói các vị đại Bồ Tát, vĩnh viễn luôn phát nguyện, vĩnh viễn vô tận, tâm chẳng chán đủ, mà cũng vĩnh viễn chẳng có lúc phiền chán, cho là đủ rồi! Kim Cang Tạng Bồ Tát thưa hỏi đức Phật như vậy, làm như thế nào th́ mới có thể đạt tới những điều con đă thưa hỏi trên đây? Khi Bồ Tát Ma Ha Tát lợi ích chúng sanh, làm như thế nào th́ mới có thể miễn trừ những lầm lỗi ấy? Đức Phật bèn trả lời Ngài.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Kim Cang Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát ngôn: - Thiện nam tử! Hữu Bồ Tát Ma Ha Tát thập luân. Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát thành thử thập luân, ư Thanh Văn Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Thường ư nhất thiết tiên sở tạo tác ác bất thiện nghiệp, dĩ thánh kim cang, kiên lợi pháp trí, tồi hoại, tán diệt, linh vô dư di, bất thọ quả báo. Cánh bất tạo tân ác bất thiện nghiệp, tâm vô yếm quyện, tốc năng chứng đắc vô thượng pháp luân. Thường cần tu tập Thất Giác Phần bảo, tâm vô yếm quyện, thường năng trừ diệt nhất thiết chúng sanh chư phiền năo bệnh, tâm vô yếm quyện, nhất thiết chúng sanh y chỉ tồn hoạt.

          ()爾時,世尊告金剛藏菩薩摩訶薩言:善男子,有菩薩摩訶薩十輪,若菩薩摩訶薩成此十輪,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種姓;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足;常於一切先所造作惡不善業,以聖金剛堅利法智,摧壞散滅,令無遺餘,不受果報,更不造新惡不善業,心無厭倦,速能證得無上法輪;常勤修習七覺分寶,心無厭倦;常能除滅一切眾生諸煩惱病,心無厭倦;一切眾生,依止存活。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Kim Cang Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: - Này thiện nam tử! Có thập luân của Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu mười luân ấy, sẽ chẳng sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, sẽ chẳng sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, sẽ chẳng sai lầm đối với Độc Giác Thừa, sẽ chẳng sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, sẽ chẳng sai lầm đối với Đại Thừa, sẽ chẳng sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La, thường có thể khiến cho chủng tánh Tam Bảo hưng thịnh. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường được thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén, phước thù thắng, thường được tăng trưởng. Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các vị thiện tri thức, để tùy thuận làm theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận cúng dường chúng Tăng. Trong các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các hạnh nguyện Bồ Đề tâm chẳng chán đủ. Thường đối với hết thảy các nghiệp ác bất thiện đă tạo tác trước kia, dùng pháp trí thánh kim cang cứng chắc, nhạy bén để phá tan diệt mất, khiến cho chẳng c̣n thừa sót, chẳng thọ quả báo. Lại c̣n chẳng tạo nghiệp ác bất thiện mới, tâm chẳng chán mệt, mau có thể chứng đắc vô thượng pháp luân, thường siêng tu tập báu Thất Giác Phần, tâm chẳng chán mệt. Thường có thể trừ diệt hết thảy các bệnh phiền năo cho chúng sanh, tâm chẳng chán mệt. Hết thảy chúng sanh nương cậy để sống sót).

 

          Ông đă hỏi các vấn đề ấy, nếu muốn chẳng sai lầm, hăy học theo mười luân này. [Do học luân này, đối với] tam thừa hữu t́nh, đều có thể chẳng phạm sai lầm, chủng tánh Tam Bảo sẽ vĩnh viễn hừng hực. Đồng thời, “ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất” (đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng sai lầm), để dạy bảo họ chẳng phạm sai lầm th́ phải nương theo thập luân này. Các phần kinh văn trước đó vẫn chưa nói tới thập luân, đợi đến khi đă nói xong công đức của thập luân ấy th́ mới nói thập luân. “Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển” (trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, nhanh chóng được tự tại, chẳng bị thoái chuyển), chẳng phải là ông đă hỏi như thế hay sao? Đức Phật bèn nhắc lại nguyên văn [lời hỏi] lần nữa, dùng thập luân để giải quyết những vấn đề Bồ Tát đă hỏi, có ư nghĩa như vậy đấy!

          Cũng có thể “thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành, thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc” (thường được gặp gỡ các vị thiện tri thức, tùy thuận hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy chư Phật, và các vị Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử. Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ): Hạnh và nguyện chẳng chán đủ. Hạnh và nguyện hai thứ vốn kết hợp lại, hạnh tức là nguyện, nguyện tức là hạnh, nhưng nói theo phía chúng ta th́ chúng bị tách rời. Có khi chúng ta phát nguyện suông, nguyện toàn là rỗng tuếch, chẳng có hạnh phối hợp với nguyện. Có khi chúng ta có hạnh, lại chẳng có nguyện, chẳng biết phát nguyện, nguyện của người ấy hết sức nhỏ bé, chẳng tương hợp với pháp!

          Mỗi lần đến mùng Một, Rằm, người thắp hương rất nhiều, hoặc người bái sám cũng rất nhiều, họ liền thực hiện. Tuy làm, nhưng chẳng biết phát nguyện, chẳng biết vận dụng quán tưởng. Kẻ đó thắp một nén hương là một nén hương, dâng một đĩa hoa là một đĩa hoa, chẳng biết dùng nguyện lực để tăng nhiều hơn, cũng chẳng biết hoa là nhân. Khi chúng ta cúng hoa, nguyện ta đắc quả, hoa là Bồ Đề nhân, ta nguyện đắc Bồ Đề quả. Người ấy chẳng tưởng như thế, chẳng có tâm lượng như vậy, căn bản là chẳng biết!

          Mọi người học Phật pháp đă rất lâu, đă biết. Hăy nhớ lại xem, khi quư vị cúng Phật, có phải là mỗi niệm đều vận dụng Bồ Đề tâm, vận dụng Phổ Hiền cúng (sự cúng dường của Phổ Hiền Bồ Tát) hay không? Có các đạo hữu, chúng ta cũng là cùng nhau dâng cúng, tức là cúng trọn khắp. Cúng dường mười phương hết thảy chư Phật, cúng dường mười phương hết thảy tôn pháp, cúng dường hết thảy thánh hiền Tăng. Bất luận trong nước hay ngoài nước, Tây Tạng, Ấn Độ đều tính gộp vào đó, cho đến hiền thánh đại chúng trong Tây Phương Cực Lạc thế giới Liên Tŕ Hải Hội đều được bao gồm trong ấy, có từng nghĩ tâm lượng của quư vị lớn cỡ nào hay không? Quư vị tưởng lớn cỡ nào, công đức sẽ to cỡ đó. Nguyện và hạnh giống như hai cái chân của mỗi người, một chân ngắn hơn, hay thiếu chân đều không được, sẽ chẳng thể đạt được hiệu quả to lớn. Đấy đều là nhắc lại những lời thưa hỏi của Kim Cang Tạng Bồ Tát.

          Đức Phật dạy: Nếu nương theo thập luân của Bồ Tát Ma Ha Tát th́ những ǵ ông đă hỏi sẽ đều đạt được. Trong các điều [được nêu ra] tiếp đó, [có những điều] chẳng thuộc trong lời hỏi của Ngài. Như “cầu các thứ hạnh nguyện, tâm chẳng chán đủ” th́ vẫn là lời hỏi của Kim Cang Tạng Bồ Tát. Đức Phật nhắc lại, có thể thỏa măn [ước nguyện ấy], nhưng điều sau đó chẳng phải: “Thường ư nhất thiết tiên sở tạo tác ác bất thiện nghiệp” (thường đối với hết thảy các nghiệp ác bất thiện đă tạo tác trước kia): Nghiệp ác bất thiện, tức nghiệp bất thiện đă tạo trong quá khứ. Điều ác đă tạo như thế đó. Đối với điều ác ấy, sám hối như thế nào? Diệt trừ như thế nào? “Dĩ thánh kim cang kiên lợi pháp trí” (Dùng pháp trí thánh kim cang cứng chắc, nhạy bén), tức là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật, chúng ta thường nói là kinh Kim Cang. Trí huệ Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật chính là trí Bát Nhă. Trí huệ Bát Nhă kiên cố như kim cang, chẳng bị hết thảy phá hoại. Sắc bén như kim cang, chẳng bị hết thảy các thứ khác bẻ găy. Trí huệ từ pháp Bát Nhă có thể phá hủy toàn bộ các nghiệp ác bất thiện đă tạo ấy, “linh vô di dư” (khiến cho chẳng c̣n sót thừa). Không chỉ phá hủy, mà c̣n chẳng có tí nào sót lại! Phá hủy sạch sành sanh, phá hủy sạch sẽ chẳng c̣n sót, chẳng thừa sót tí nào, chẳng thọ quả báo!

          Đối với nghiệp đă tạo trong vô lượng kiếp quá khứ, quư vị nương vào thập luân này, ngay lập tức, các nghiệp kiên cố ấy đều bị phá hủy. Dùng ǵ vậy? Dùng trí Bát Nhă, trí huệ Bát Nhă kiên cố, lại c̣n “chẳng thọ quả báo”. “Cánh bất tạo tân ác bất thiện nghiệp” (lại chẳng tạo thêm nghiệp ác bất thiện mới): Nghiệp cũ đă sám hối xong, chẳng tạo nghiệp mới nữa! V́ sao? Nương theo mười luân của Bồ Tát Ma Ha Tát, nương theo mười luân ấy, sẽ chẳng tạo, có thể mau chóng “chứng đắc vô thượng pháp luân”. Nương theo thập luân ấy, sẽ rất nhanh chóng chứng thành quả Phật, có thể chuyển đại pháp luân, thường siêng năng tu tập pháp Thất Giác Chi, tức “Thất Giác Chi Phần bảo”, tâm chẳng chán mệt! “Thường năng trừ diệt nhất thiết chúng sanh chư phiền năo bệnh, tâm vô yếm quyện (thường có thể diệt trừ các bệnh phiền năo của hết thảy chúng sanh, tâm chẳng chán mệt). Bệnh phiền năo của chúng ta quá nhiều, tám vạn bốn ngàn phiền năo. Đức Phật đă nói tám vạn bốn ngàn pháp môn để đối trị, có tổng phiền năo và căn bản phiền năo. Tổng phiền năo là vô minh. “Nhất thiết chúng sanh y chỉ tồn hoạt” (hết thảy chúng sanh nương cậy vào đó để sống sót), tức là do thập luân của Bồ Tát Ma Ha Tát. Nếu hết thảy chúng sanh muốn thành tựu Pháp Thân huệ mạng, nương theo Pháp Thân huệ mạng ấy, Pháp Thân vĩnh viễn thường tồn tại, [th́ phải nương vào thập luân ấy], có hàm nghĩa như thế đó. Đoạn này nhằm nói Bồ Tát Ma Ha Tát trọn đủ thập luân, nương theo mười luân ấy để giữ toàn vẹn Pháp Thân huệ mạng, nhưng vẫn chưa giảng thập luân là ǵ. Nói thật ra, ai nấy đều biết thập luân cả rồi, nó cũng chính là Thập Thiện Nghiệp.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Như Chuyển Luân Vương cụ túc thất bảo. Phàm sở hành động, luân bảo đạo tiền, dư bảo tùy hậu, tuần tứ đại châu, phổ năng trừ diệt nhất thiết chúng sanh thân tâm trược uế, phổ năng sanh trưởng nhất thiết chúng sanh thân tâm an lạc. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, ư Thanh Văn Thừa đắc vô ngộ thất, quảng thuyết năi chí nhất thiết chúng sanh y chỉ tồn hoạt. Thiện nam tử! Như đại xa lộ, cụ túc tứ luân, đa nhân thừa chi, du hành đại lộ. Ư kỳ lộ thượng, thổ khối, ngơa, lịch, thảo mộc căn, hành, chi, diệp, hoa, quả vị luân sở triển, giai tất tồi hoại, bất nhậm thọ dụng. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, tất năng tồi hoại chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, linh bất thọ báo.

          ()善男子,如轉輪王具足七寶,凡所行動,輪寶導前,餘寶隨後,巡四大洲,普能除滅一切眾生身心濁穢,普能生長一切眾生身心安樂;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,於聲聞乘得無誤失,廣說乃至一切眾生,依止存活。善男子,如大車輅具足四輪,多人乘之遊行大路,於其路上土塊、瓦礫、草木、根、莖、枝、葉、華、果為輪所輾,皆悉摧壞,不任受用;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,悉能摧壞諸煩惱障、諸有情障、一切法障,令不受報

          (Kinh: Này thiện nam tử! Như Chuyển Luân Vương trọn đủ bảy báu, phàm khi di chuyển, luân bảo dẫn đường đằng trước, các báu khác theo sau, tuần du khắp bốn đại châu, có thể trừ diệt trọn khắp trược uế nơi thân tâm của hết thảy chúng sanh. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu mười luân, đối với Thanh Văn Thừa chẳng phạm sai lầm, nói rộng là cho đến hết thảy chúng sanh dựa vào đó mà sống sót. Này thiện nam tử! Như cỗ xe lớn trọn đủ bốn bánh, nhiều người ngồi trên đó, rong ruổi trên đường lớn. Các ḥn đất, ngói, sỏi, rễ, thân, cành, lá, hoa, quả của thảo mộc trên đường bị bánh xe nghiền qua, thảy đều tan nát, chẳng thể c̣n tác dụng nữa. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu mười luân, thảy đều có thể phá tan các phiền năo, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng khiến chẳng thọ báo).

 

          Tượng bảo, mă bảo, mỹ nữ bảo, châu bảo, trân châu bảo đều được luân bảo dẫn đường. Trong các Chuyển Luân Thánh Vương, Thiết Luân Vương hễ xuất hành th́ thiết luân tự nhiên hiện tiền, do phước báo cảm vời. Có Đồng Luân Vương cai quản hai châu, đồng luân hiện tiền. [Ngân Luân Vương] cai quản ba châu th́ ngân luân hiện tiền. [Kim Luân Vương] cai quản tứ đại bộ châu th́ kim luân hiện tiền. Hễ ông ta xuất hành, bèn có kim luân hiện tiền. Ở đây, [chánh kinh] nói về kim luân bảo. “Tuần tứ đại châu” tức là Nam Thiệm Bộ Châu (Jambu-dvīpa), Bắc Câu Lô Châu (Uttara-kuru), Tây Ngưu Hạ Châu (Apara-godānīya), và Đông Thắng Thần Châu (Pūrva-videha), cả bốn đại châu đều có thể tuần tra, đều có thể diệt trừ hết thảy trược uế nơi thân tâm của chúng sanh, và có thể sanh trưởng sự an lạc nơi thân tâm cho trọn khắp hết thảy chúng sanh trong bốn đại châu. Chuyển Luân Thánh Vương có công đức ấy. Ông ta đến bốn đại châu, thuyết pháp cho bốn đại bộ châu, dùng mạng lệnh của quốc vương để chế định chánh sách nơi bốn bộ châu, khiến cho chúng sanh ấy đều được an lạc.

          “Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị” (Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế): Đấy là nói tỷ dụ. Trước nêu tỷ dụ, sau đó thuyết pháp, cũng là pháp và dụ (, thí dụ) ḥa hợp. Ta nói Bồ Tát Ma Ha Tát, “thành tựu thập luân” giống như Chuyển Luân Thánh Vương. Khi Bồ Tát hành Bồ Tát đạo, thập luân hiện tiền. Vận dụng thập luân, sẽ chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, nói rộng là đúng như Kim Cang Tạng Bồ Tát đă nói. “Quảng thuyết năi chí nhất thiết chúng sanh y chỉ tồn hoạt” (nói rộng th́ cho đến hết thảy chúng sanh đều dựa vào đó để sống sót), tức là nói rộng ra th́ như trong kinh văn phần trước đă vừa nhắc lại, chẳng lặp lại nữa!

          “Thiện nam tử, như đại xa lộ” (ví như cỗ xe ngựa lớn): “Đại xa lộ” (大車輅) là cỗ xe lớn. “Cụ túc tứ luân” (trọn đủ bốn bánh), xe hiện thời đều có bốn bánh. “Đa nhân thừa chi, du hành đại lộ” (nhiều người ngồi trên đó rong ruổi trên đường lớn): Lái xe trên đường, ḥn đất, ngói, sỏi, thảo mộc, cành, lá, hoa, quả “vị luân sở triển” (bị bánh xe nghiền qua), sẽ đều bị nghiền nát. “Giai tất tồi hoại” (thảy đều tan nát), tức là Bồ Tát thành tựu mười luân này, bất luận cái bánh xe nào cũng đều có công năng này: Phá tan tất cả chướng ngại trên đường. Dẫu phiền năo ngăn chướng, chẳng bị phiền năo xoay chuyển, thọ dụng và tác dụng của phiền năo đều chẳng c̣n nữa, đều bị tiêu mất. Bồ Tát Ma Ha Tát là như vậy đó, có thể “thành tựu thập luân, tất năng tồi hoại chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, linh bất thọ báo” (thành tựu thập luân, thảy đều có thể phá tan các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, khiến chẳng thọ báo): Lật ngược nhân quả, hết thảy các pháp chướng, và các chướng ngại đều chẳng chấp trước, chẳng có Không nghĩa, khiến cho chẳng thọ báo, tức là người ấy đă tự chứng đắc tánh Không, chẳng thọ báo. Nhưng mọi người hăy nên thường xuyên quán tưởng mười luân ấy, nói “định nghiệp chẳng thể chuyển” là nói về luật nhân quả. Quư vị đă tạo cái nhân nào, nhất định phải thọ báo ấy.

          Nếu bị chuyển, sẽ chẳng có nhân quả, luật nhân quả chẳng tồn tại. V́ vậy, định nghiệp chẳng thể chuyển, sức tam-muội gia tŕ chính là định lực gia tŕ. Định lực gia tŕ môn Định nào vậy? Môn Định ấy chính là “hết thảy các pháp đều Không”. Chẳng có định nghiệp, nhân quả vốn cũng chẳng có. Nói như vậy th́ rất dễ rơi vào Đoạn Diệt, rất nhiều người tạo nghiệp. Đó gọi là “hữu ngộ thất” (有誤失,có sai lầm). Quư vị có thể nói như vậy với Đại Thừa Bồ Tát, chứ đối với Thanh Văn, đối với kẻ khoác một mảnh ca-sa, đối với các pháp khí chẳng thuộc loại pháp khí Đại Thừa, [nhất là đối với] kẻ chẳng phải là pháp khí, càng chẳng thể nói như vậy được! Nếu nói với như vậy với họ, sẽ là sai lầm. Nếu muốn chẳng sai lầm, th́ phải nói “các pháp do nhân duyên sanh, ta nói chính là Không, cũng là giả danh, cũng là nghĩa lư Trung Đạo”. Đấy là một loại cảnh giới khác được nói trong một loại kinh điển khác. C̣n ở đây là nói gồm chung các pháp tam thừa, nói chung về tam thừa.

          V́ thế, nói hết thảy các phiền năo chướng đă chẳng có, pháp chướng đă chẳng có, phiền năo chướng đă chẳng có, Kiến Tư phiền năo chướng đă chẳng có. Pháp chướng đă chẳng có, Pháp Chấp và Ngă Chấp đă chẳng có. Pháp Chấp là nói hàng Nhị Thừa có Pháp Chấp. A La Hán đều có Pháp Chấp. Họ nói: “Ngă chẳng có, Ngă đă Không, phiền năo không, nhưng pháp chẳng không”. Họ cho rằng pháp do đức Phật đă nói chẳng không. Đó gọi là Pháp Chướng, tức là đă bị pháp hạn cuộc, c̣n ở đây là hết thảy các chướng ngại đă hoàn toàn tiêu mất. V́ sao chẳng thọ báo? Do các pháp duyên khởi tánh Không; cho nên chẳng bị chướng, mà cũng chẳng thọ báo.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Như lợi kiếm luân, tài nhất đầu xế, năng trảm oán địch thủ cập chi tiết, linh vô thế dụng. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, năng phá nhất thiết ngũ thú lao ngục sanh tử đại khổ, vĩnh đoạn nhất thiết phiền năo ác nghiệp, linh bất thọ báo. Thiện nam tử! Như hỏa tai khởi, ngũ nhật xuất thời, biến tứ đại châu, nhất thiết hà, hải, thủy giới, tân nhuận, vô bất khô kiệt. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, nhất thiết tứ nhân, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, khổ báo căn bản, tất giai khô kiệt. Thiện nam tử! Như phong tai khởi, tứ phương mănh phong, câu thời đốn phát, nhất thiết thế giới đại, tiểu chư sơn, cập chư đại địa, tất giai tán diệt. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, thế gian tứ đảo, kiêu mạn chư sơn, vô bất băng hoại. Nhất thiết chúng sanh chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, khổ báo căn bản, tất giai tán diệt.

          ()善男子,如利劍輪才一投掣,能斬怨敵首及支節,令無勢用;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,能破一切五趣牢獄、生死大苦,永斷一切煩惱惡業,令不受報。善男子,如火災起,五日出時,遍四大洲一切河、海、水界、津潤,無不枯竭;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,一切四因諸煩惱障、諸有情障、一切法障、苦報根本,悉皆枯竭。善男子,如風災起,四方猛風俱時頓發,一切世界大小諸山及諸大地,悉皆散滅;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,世間四倒憍慢諸山,無不崩壞,一切眾生諸煩惱障、諸有情障、一切法障、苦報根本,悉皆散滅。

            (Kinh: Này thiện nam tử! Như vầng gươm sắc vừa mới rút ra, có thể chém phăng đầu và tứ chi của oán địch, khiến họ trở thành vô dụng. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu mười luân, có thể phá hết thảy nỗi khổ sanh tử to lớn trong lao ngục năm đường, vĩnh viễn đoạn dứt hết thảy các ác nghiệp phiền năo, khiến chẳng thọ báo. Này thiện nam tử! Như lúc hỏa tai dấy lên, năm mặt trời mọc, trọn khắp bốn đại châu, hết thảy sông, biển, các chỗ có nước, những nơi ẩm ướt, không đâu chẳng bị khô cạn. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu mười luân, hết thảy bốn nhân, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, căn bản khổ báo, thảy đều khô cạn. Này thiện nam tử! Như lúc phong tai dấy lên, gió mạnh từ bốn phương cùng lúc dấy lên, trong hết thảy các thế giới, các núi lớn, nhỏ, và các đại địa, thảy đều tan diệt. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu thập luân, các núi bốn điên đảo, kiêu căng, ngạo mạn, không ǵ chẳng nứt sụp. Các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, khổ báo căn bản của hết thảy chúng sanh, thảy đều tan diệt).

 

          Đức Phật lại nêu thí dụ. “Như lợi kiếm luân” [nghĩa là] luân ấy giống như gươm báu sắc bén nhất. Gươm báu “tài nhất đầu xế” (vừa mới rút ra), hết sức mau chóng, vừa mới vung lên, đă chặt đứt phăng đầu và tứ chi của oán địch, khiến họ vô dụng. Đó là ư nghĩa của câu “linh vô thế dụng”. Có các đề tài trong tiểu thuyết đă căn cứ theo [các thí dụ] trong kinh Phật để viết. Tôi có đọc một quyển tiểu thuyết, người đó t́m một vị sư phụ thường thất bại. V́ ông ta vĩnh viễn thất bại, cho nên gọi là Thiên Bại (千敗, ngàn lần thất bại). Ông ta tôn vị ấy làm thầy, học ǵ từ sư phụ? Chẳng có ǵ kỳ lạ, đặc biệt, tức là [học sao cho] hễ rút gươm báu sẽ thật nhanh, vung gươm cái roẹt, một phát là xong! Tôi nghĩ công phu ấy chính là như các ḥa thượng chúng tôi gọi là “tác ư”. Tâm đến đâu, pháp tới đó. Tâm đến đâu, kiếm tới đó, vung gươm lấy đầu đối thủ, có ư nghĩa như thế đó. Ông ta rút gươm nhanh đến nỗi địch nhân chẳng có cách nào thấy ông ta ra tay, cũng chẳng thấy ông ta rút kiếm! Nói về chiêu thức th́ ông ta chẳng có chiêu thức, một chiêu như vậy thôi! Chiêu ǵ vậy? Vung gươm, sọ quư vị rơi phập xuống, quư vị c̣n chờ tôi xem quư vị ra chiêu chi nữa? Ta khéo đỡ một chiêu, chẳng có chuyện ấy, chỉ là một nhát kiếm, quư vị chẳng đỡ nổi! Hiểu được đạo lư này, sẽ biết ngay!

          Cái được sử dụng ở đây là huệ kiếm, tức cái tâm trí huệ của quư vị, đến nơi ấy, hắc ám bị phá nát. Chẳng có trí huệ, nếu muốn làm chuyện phương tiện, sẽ càng bị ràng buộc chặt hơn. Do vậy, người có trí huệ sẽ càng thuận tiện, càng giải thoát. V́ thế, “hữu huệ, phương tiện giải; vô huệ, phương tiện phược” (Có huệ th́ phương tiện là giải thoát. Không có trí huệ, sẽ bị phương tiện trói buộc). Chẳng có trí huệ, quư vị đừng tạo phương tiện loạn xạ. Làm lung tung tức là đầu óc có vấn đề! Người có trí huệ, tùy tiện như thế nào, cũng đều có thể vận dụng! Quư vị luyện Bát Quái Kiếm, hay Thái Cực Kiếm chi chi nữa, tùy tiện quư vị luyện loại kiếm nào, người ta rút kiếm, một phát chém phăng sọ quư vị, chẳng chờ quư vị thi triển! Quư vị thi triển bằng cách nào? Căn bản là chẳng có đường nào khác để thi triển! Có ư nghĩa như thế đó.

          Bồ Tát Ma Ha Tát “thành tựu thập luân”, sức mạnh ấy lớn đến nỗi có thể phá tan nỗi khổ sanh tử to lớn trong lao ngục năm đường, sanh tử liền bị đoạn diệt. “Vĩnh đoạn nhất thiết phiền năo ác nghiệp” (vĩnh viễn đoạn dứt hết thảy ác nghiệp phiền năo). Các nghiệp phiền năo ấy Bồ Tát Ma Ha Tát đều đoạn trừ, khiến cho chẳng thể thọ báo. Nghiệp là báo, nghiệp báo là quả báo của nghiệp, đoạn nghiệp th́ đều chẳng c̣n nữa, báo cũng chẳng có! Khi hỏa tai phát sanh trong thế giới này, khi cảm vời nghiệp báo, một vầng thái dương xuất hiện, hai vầng thái dương xuất hiện, ba vầng thái dương xuất hiện, bốn vầng thái dương xuất hiện, năm vầng thái dương xuất hiện. Một vầng thái dương xuất hiện, chúng ta cảm thấy là mùa Hè. Ngay lúc mặt trời chiếu giữa Ngọ, quư vị đều chịu không nổi. Nếu là năm mặt trời, tăng gấp năm lần! Nhiệt độ [mùa Hè thông thường là] ba mươi chín độ, ba lần năm là mười lăm, ba lần chín là hai mươi bảy, tức là [năm nhân ba mươi chín] sẽ là một trăm bảy mươi bảy độ. Một trăm bảy mươi bảy độ chiếu xuống, quư vị bốc hơi, có thể tồn tại nổi ư? Do vậy, sông, biển, những nơi có nước, những chỗ ẩm ướt đều khô cạn.

          “Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân” (Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu mười luân), tiêu trừ bốn cái nhân và các phiền năo chướng của hết thảy chúng sanh. Bốn căn bản phiền năo là bốn cái nhân. Bốn căn bản phiền năo là ngă si, ngă kiến, ngă mạn, và ngă ái. Đó là cơ bản. Nhưng nói sâu hơn chút nữa, sẽ là Kiến phiền năo, Tư phiền năo, Trần Sa phiền năo, và Vô Minh phiền năo. Các thứ phiền năo ấy làm nhân, cảm vời quả báo, cũng rất nhiều. Hết thảy các phiền năo, ác nghiệp đều tiêu mất, cạn hay sâu, cho đến vi tế, cho đến chủng tử, chủng tử phiền năo dùng vô minh làm căn bản. V́ chứng đắc Không tánh, đă lư giải, nói pháp chướng, nghiệp chướng, khổ chướng của hết thảy hữu t́nh, thọ khổ là khổ báo, quả báo và cái nhân cũng đă tiêu mất. Đó là quả!

          “Tất giai khô kiệt” (thảy đều khô cạn), giống như năm vầng thái dương xuất hiện. Năm vầng thái dương nhằm h́nh dung trí huệ của quư vị đă dẹp tan, cạn khô phiền năo chướng, đợi cho đến khi Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thập luân, sẽ cạn khô toàn bộ biển cả phiền năo, biển khổ sanh tử. Các núi bốn điên đảo, kiêu căng, ngạo mạn trong thế gian đều bị sụp vỡ. Đảo kiến (倒見, tri kiến điên đảo) có thể nói chính là ngă si, ngă mạn, ngă ái, ngă kiến”. [Bảo là] điên đảo, chẳng phải là ngă mà chấp là ngă. Đấy là điên đảo kiến! Si là vô minh, chuyển biến vô minh thành trí huệ, chuyển tà tri tà kiến thành chánh kiến, chuyển thành trí huệ, chuyển ngă mạn thành nhẫn nhục, chuyển ngă ái thành từ bi. Đại từ đại bi chuyển thành trí huệ ái. “Nhất thiết chúng sanh chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, khổ báo căn bản, tất giai tán diệt” (Các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, căn bản khổ báo của hết thảy chúng sanh thảy đều tan diệt), đều diệt trừ sạch.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Như sư tử vương, hống thanh nhất phát, nhất thiết cầm thú tất giai kinh bố, phi lạc, tẩu phục, vô cảm triếp động. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, pháp âm nhất chấn, năi chí nhất thiết ngoại đạo, dị học, ác tri thức đẳng, tất giai kinh bố, vong thất ngôn biện, vô cảm thù kháng.

          ()善男子,如師子王吼聲一發,一切禽獸悉皆驚怖,飛落走伏,無敢輒動;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,法音一震,乃至一切外道異學、惡知識等,悉皆驚怖,忘失言辯,無敢酬抗。

          (Kinh: Này thiện nam tử! Như sư tử chúa vừa rống một tiếng, hết thảy cầm thú thảy đều kinh sợ, đang bay bị rơi xuống, chạy núp, chẳng dám tùy tiện động đậy. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu mười luân, pháp âm vừa vang rền, cho đến hết thảy ngoại đạo, dị học, ác tri thức v.v… thảy đều kinh sợ, quên sạch nói năng, biện bác, chẳng dám chống đối).

 

          “Như sư tử vương hống thanh nhất phát” (như sư tử chúa rống một tiếng), “nhất thiết cầm thú tất giai kinh bố, phi lạc tẩu phục, vô cảm triếp động” (hết thảy cầm thú thảy đều kinh sợ, đang bay bị rơi xuống, chạy t́m chỗ ẩn núp, chẳng dám động đậy), “phi lạc” (飛落, đang bay bị rơi xuống) là nói đến loài chim bay. Sư tử rống khiến chúng nó chấn động, đều bay trốn đi. “Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, pháp âm nhất chấn, năi chí nhất thiết ngoại đạo, dị học, ác tri thức đẳng tất giai kinh bố, vong thất ngôn biện” (Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu thập luân, pháp âm vừa vang rền, cho đến hết thảy ngoại đạo, dị học, ác tri thức v.v… thảy đều kinh sợ, quên mất nói năng, biện luận): Lúc họ tính biện luận với quư vị, [quư vị] dùng chánh pháp âm nói ra, họ muốn mở miệng mà chẳng thể mở được. Tà tri, tà kiến đều bị phá hủy. Đó là hàm nghĩa của câu vô cảm thù kháng” (chẳng dám đối kháng), “thù” () là chống đối, “kháng” () nghĩa là kháng biện (抗辯), đối kháng, tức là tranh luận, biện hộ với quư vị.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Như Thiên Đế Thích dữ A Tố Lạc tương dục chiến thời, thiên quân vi nhiễu, thủ chấp kim cang, bôn thú trận địch, chư A Tố Lạc kinh bố, thoái tán. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, nhất thiết đảo kiến ngoại đạo, dị học, ác tri thức đẳng, kinh bố thoái tán. Thiện nam tử! Như Như Ư châu, trí cao tràng thượng, năng vũ chủng chủng thượng diệu trân bảo, cấp thí nhất thiết bần phạp chúng sanh. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, xử tịnh giới tràng, vũ đại pháp vũ, cấp thí nhất thiết vô lượng chúng sanh. Thiện nam tử! Như ám dạ phần, thế gian u minh, đô vô sở kiến, mê thất chánh đạo. Măn nguyệt xuất dĩ, chư ám giai trừ, chư thất đạo giả, giai kiến chánh lộ. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, nhược chư chúng sanh, vô minh hôn ám, do thử mê thất bát chi thánh đạo. Bồ Tát vị kỳ tuyên thuyết chánh pháp, trừ vô minh ám, sanh pháp quang minh, khai thị, hiển hiện bát chi thánh đạo, linh đoạn chư lậu, tận chư khổ tế.

          ()善男子,如天帝釋,與阿素洛將欲戰時,天軍圍繞,手執金剛,奔趣陣敵,諸阿素洛驚怖退散;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,一切倒見外道異學、惡知識等,驚怖退散。善男子,如如意珠置高幢上,能雨種種上妙珍寶,給施一切貧乏眾生;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,處淨戒幢雨大法雨,給施一切無量眾生。善男子,如闇夜分,世間幽冥都無所見,迷失正道,滿月出已,諸闇皆除,諸失道者皆見正路;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,若諸眾生無明昏闇,由此迷失八支聖道,菩薩為其宣說正法,除無明闇,生法光明,開示顯現八支聖道,令斷諸漏,盡諸苦際。

            (Kinh: Này thiện nam tử! Như Thiên Đế Thích và A Tố Lạc lúc sắp giao chiến, quân trời vây quanh, tay cầm kim cang, xông vào trận của địch quân, các A Tố Lạc kinh sợ, tan chạy. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu thập luân, hết thảy ngoại đạo tri kiến điên đảo, dị học, ác tri thức v.v… kinh sợ tan chạy. Này thiện nam tử! Như Như Ư châu đặt trên tràng cao, có thể tuôn ra các thứ trân bảo thượng diệu, thí cho hết thảy chúng sanh nghèo thiếu. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu thập luân, đặt trên tràng tịnh giới, tuôn mưa pháp to, thí cho hết thảy vô lượng chúng sanh. Này thiện nam tử! Như trong đêm tối tăm, thế gian đen tối, trọn chẳng thấy ǵ, mê mất đường chánh. Trăng tṛn vừa mọc, các tối tăm đều trừ, những kẻ lạc đường đều thấy đường chánh. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu thập luân, nếu các chúng sanh vô minh tăm tối; do vậy, mê mất đường tám chi thánh đạo, Bồ Tát v́ họ tuyên nói chánh pháp, trừ tối vô minh, sanh pháp quang minh, khai thị, hiển hiện tám chi thánh đạo, khiến đoạn các lậu, hết sạch các khổ).

 

          “Thiện nam tử, như Thiên Đế Thích dữ A Tố Lạc, tương dục chiến thời, thiên quân vi nhiễu, thủ chấp kim cang, bôn thú trận địch” (Này thiện nam tử! Như Thiên Đế Thích và A Tố Lạc lúc sắp giao chiến, quân trời vây quanh, tay cầm kim cang[3], xông vào trận của địch quân), tức là vào trong chiến trận của A Tố Lạc (A Tu La). “Chư A Tố Lạc, kinh bố thoái tán” (các A Tố Lạc kinh sợ, tan chạy), Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như vậy. Nếu “thành tựu thập luân, nhất thiết đảo kiến ngoại đạo, dị học ác tri thức đẳng, kinh bố thoái tán. Thiện nam tử! Như Như Ư Châu trí cao tràng thượng” (thành tựu thập luân, hết thảy ngoại đạo tri kiến điên đảo, dị học, ác tri thức v.v… kinh sợ tan chạy. Này thiện nam tử! Như Như Ư châu đặt trên tràng cao), lại tỷ dụ, Như Ư bảo châu đặt trên chỗ rất cao. Nếu khô hạn, bèn đem bảo châu đặt trên chỗ cao, bảo châu ấy có thể tuôn ra các loại mưa. Mưa ấy là mưa trân bảo thượng diệu, bố thí hết thảy chúng sanh nghèo thiếu, bọn họ liền được cứu.

          “Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, xử tịnh giới tràng” (Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu mười luân, ở trên tràng tịnh giới): Tŕ giới thanh tịnh. Giới thanh tịnh giống như tràng cao. Mưa đại pháp vũ là thuyết pháp, chẳng phải là trân bảo, c̣n tốt đẹp hơn trân bảo. Thuyết pháp là mưa pháp vũ, mang ư nghĩa mưa ra pháp mà chúng sanh yêu thích. Mưa có thể trừ diệt tai nạn, chuyển đại pháp luân. “Pháp vũ” là từ ngữ h́nh dung thuyết pháp cho họ, hướng về hết thảy chúng sanh để nói, đáng nên dùng pháp ǵ để độ được, liền nói cho họ pháp đó.

          “Thiện nam tử, như ám dạ phần” (Này thiện nam tử! Như trong đêm đen), trời tối đen, như trong lúc ấy, thế gian tối tăm, “u minh” (幽冥) có nghĩa là hắc ám. “Đô vô sở kiến” (đều chẳng trông thấy): Trong tối tăm, mắt chúng ta mất tác dụng. Mắt chúng ta thấy sáng, chẳng thấy tối. Lúc đó, quư vị chẳng thấy vật ǵ, chẳng trông thấy để biết nên đi đường nào, liền bị lạc mất nẻo chánh. Đợi cho đến khi trăng Rằm, “măn nguyệt” là vầng trăng tṛn ngày Rằm, khi trăng tṛn, nó sẽ trừ tối tăm, các tối tăm đều tiêu mất. Quư vị sẽ thấy đường rơ ràng. Kẻ chẳng trông thấy chính là kẻ lạc đường, chẳng t́m ra con đường đúng, ngay lúc ấy bèn trông thấy, quang minh vừa chiếu, kẻ đó sẽ t́m được đúng lối.

          Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như vậy, thành tựu thập luân, nếu các chúng sanh vô minh tăm tối, bị lạc mất tám chi thánh đạo, chẳng đi theo con đường chánh. Như thế th́ Bồ Tát sẽ tuyên nói chánh pháp, trừ bỏ tối vô minh, sanh khởi ánh sáng pháp cho kẻ đó, khai thị, hiển hiện tám chi thánh đạo. “Linh đoạn chư lậu” (khiến đoạn các lậu), bao gồm lậu tam giới, cho đến lậu nhị tử, lậu Biến Dịch Sanh Tử. Những thứ ấy đều là “khổ tế” (苦際, ngằn mé khổ), cũng là “chư lậu tận chư khổ tế”. Điều này bao gồm hết thảy Bồ Tát. Bồ Tát hăy c̣n ở trong nỗi khổ Biến Dịch Sanh Tử, hăy c̣n có Trần Sa và Vô Minh Hoặc, sẽ đều đoạn trừ cho họ!

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Như đại nhật điện xuất hiện thế gian, nhất thiết miêu giá, tất giai tăng trưởng, nhất thiết hoa diệp tất giai phu vinh, nhất thiết xú uế tất giai trừ hiết, chư cốc, quả, dược, tất giai thành thục, Tuyết sơn tiêu lưu, chư hà sung dật, tiệm thứ chuyển chú, măn ư đại hải. Bồ Tát Ma Ha Tát diệc phục như thị, thành tựu thập luân, y chỉ tăng thượng bố thí, điều phục, tịch tĩnh, Thi La, an nhẫn, chánh cần, Tĩnh Lự, Bát Nhă, phương tiện, từ bi, biện tài công đức, giai tất xí thịnh, vị chư chúng sanh, tuyên thuyết chánh pháp, do pháp oai quang, linh chư chúng sanh, chủng chủng tăng thượng thiện căn miêu giá tất giai tăng trưởng, chủng chủng tăng thượng diệu hạnh hoa diệp tất giai phu vinh, chủng chủng phiền năo, ác nghiệp, ác hạnh, tất giai trừ hiết, thiện thú Niết Bàn chư cốc, quả, dược, tất giai thành thục, tà kiến mạn sơn tất giai tiêu lưu, chủng chủng chánh tín, giới, văn, xả, huệ, cập chư định hà, vô bất sung dật, tiệm thứ doanh măn đại Niết Bàn hải, linh chư hữu t́nh tùy ư sở nhạo, thú nhập vô úy Niết Bàn chi thành.

          ()善男子,如大日殿出現世間,一切苗稼悉皆增長,一切華葉悉皆敷榮;一切臭穢悉皆除歇,諸谷果藥悉皆成熟,雪山銷流,諸河充溢,漸次轉註,滿於大海;菩薩摩訶薩亦復如是,成就十輪,依止增上佈施、調伏、寂靜、尸羅、安忍、正勤、靜慮、般若、方便慈悲、辯才功德,皆悉熾盛,為諸眾生宣說正法,由法威光,令諸眾生種種增上善根苗稼悉皆增長,種種增上妙行華葉悉皆敷榮,種種煩惱惡業惡行悉皆除歇,善趣涅槃,諸谷果藥悉皆成熟,邪見慢山悉皆銷流,種種正信戒聞舍慧及諸定河無不充溢,漸次盈滿大涅槃海,令諸有情隨意所樂,趣入無畏涅槃之城。

            (Kinh: Này thiện nam tử! Như cung điện mặt trời to lớn xuất hiện trong thế gian, hết thảy lúa mạ thảy đều tăng trưởng, hết thảy hoa, lá thảy đều sum suê, hết thảy thối dơ thảy đều trừ dứt, các loại ngũ cốc, trái cây, dược thảo, thảy đều chín muồi, Tuyết sơn tan chảy, các gịng sông tràn đầy, lần lượt chảy rót vào nhau, chan chứa biển cả. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng giống như thế, thành tựu thập luân, y chỉ tăng thượng bố thí, điều phục, tịch tĩnh, Thi La, an nhẫn, chánh cần, Tĩnh Lự, Bát Nhă, phương tiện, từ bi, biện tài công đức, thảy đều hừng hực, v́ các chúng sanh tuyên nói chánh pháp. Do oai quang của pháp, khiến cho các thứ lúa mạ thiện căn tăng thượng của các chúng sanh thảy đều tăng trưởng, các loại hoa lá diệu hạnh tăng thượng thảy đều sum suê, các loại phiền năo, ác nghiệp, ác hạnh, thảy đều trừ dứt, các loại ngũ cốc, trái cây, dược thảo khéo hướng đến Niết Bàn thảy đều chín muồi, núi tà kiến, ngạo mạn thảy đều tan chảy, các loại sông chánh tín, Giới, Văn, Xả, Huệ và các Định không ǵ chẳng tràn đầy, lần lượt đầy ắp biển đại Niết Bàn, khiến cho các hữu t́nh tùy ḷng ưa thích, tiến nhập ṭa thành Niết Bàn không sợ hăi).

 

          “Nhật điện” (日殿) chính là thái dương cung điện. “Điện” (殿) có nghĩa là “cung điện”. “Đại nhật điện” là cung điện xuất hiện trong vầng mặt trời. Hết thảy vạn vật chẳng được ánh sáng mặt trời bồi bổ, lúa mạ sẽ chẳng thể tăng trưởng. Ánh mặt trời vun bồi, chẳng nói là “đại nhật”, mà nói là “đại nhật điện”, chẳng nói là “nguyệt xuất” (月出,trăng mọc), mà nói là “măn nguyệt” (滿月, trăng tṛn). Giống như “ôn thất” (溫室, greenhouse), khiến cho hết thảy chủng tử đều có thể tăng trưởng. “Nhất thiết hoa diệp, tất giai phu vinh” (hết thảy hoa, lá, thảy đều sum suê), nở x̣e, trổ hoa tươi tốt, hết thảy hôi thối thảy đều trừ dứt, trở thành thơm tho. “Chư cốc, quả, dược, tất giai thành thục” (các loại ngũ cốc, trái cây, dược vật, thảy đều chín muồi), ngũ cốc, hoa màu thảy đều kết quả, “dược” () là dược thảo.

          “Tuyết sơn tiêu lưu” (Tuyết sơn tan chảy): Lúc đó, năm vầng mặt trời [cùng xuất hiện], núi Tuyết vạn năm cũng tan chảy. Nam Băng Dương, Bắc Băng Dương đều chẳng c̣n. Một quả núi Tuyết vừa tan chảy, khiến cho các gịng sông đều tràn ngập, đều có thể tưới tắm, khiến cho hết thảy vạn vật sanh trưởng. Sau đó, sông đổ vào biển cả. Do vậy, các sanh vật phối hợp tăng trưởng tốt đẹp. Bồ Tát Ma Ha Tát cũng như thế.

          “Thành tựu thập luân, y chỉ tăng thượng bố thí, điều phục, tịch tĩnh, Thi La, an nhẫn, chánh cần, Tĩnh Lự, Bát Nhă, phương tiện, từ bi, biện tài công đức, giai tất xí thịnh” (Thành tựu mười luân, nương vào tăng thượng bố thí, điều phục, tịch tĩnh, Thi La, an nhẫn, chánh cần, Tĩnh Lự, Bát Nhă, phương tiện, từ bi, biện tài công đức, thảy đều hừng hực): Bố thí là bố thí Bát Nhă. “Điều phục” là điều phục cái tâm của chúng ta, điều phục cũng là quán chiếu. Như Tứ Niệm Xứ, là khi chúng ta mới bắt đầu tu Định, dùng Sổ Tức Quán. Sổ Tức Quán có thể điều phục cái tâm tán loạn của quư vị. Nó điều phục cái tâm tán loạn, khiến cho chẳng hôn trầm. Sau đó, đạt được tịch tĩnh, sẽ nhập Định. Tịch tĩnh là Chỉ. Thi La có các ư nghĩa “ngăn giữ, thanh tịnh”. Thi La là Giới. “An nhẫn”: Nếu quư vị muốn b́nh an, mong vui sướng, trước hết phải nhẫn nhục. Hễ nhẫn th́ trăm sự đều tiêu mất. Phải cầu nhẫn, nhẫn chẳng dễ dàng, đặc biệt là người có quyền thế. Nhẫn đúng là chẳng dễ dàng!

          Trước kia, có một vị Tể Tướng. Khi ông ta làm Tể Tướng, con ông ta vẫn c̣n ở quê nhà. Vị Tể Tướng ấy tốt lắm. Nếu chẳng tốt, con ông ta đă sớm hoành hành ngang ngược. V́ đất nhà ông ta bị hàng xóm chiếm mất một phần. Người hàng xóm xây tường, chiếm rất nhiều đất của nhà ông ta. V́ thế, đứa con liền viết thư cho cha, xin cha gởi thư đến quan huyện ở quê nhà, yêu cầu quan huyện phán xử trả lại đất. Vị Tể Tướng ấy trả lời con ḿnh như thế nào? “Thiên lư tu thư chỉ vị tường” (ngàn dặm đưa thư chỉ v́ tường), xa xôi như vậy mà ngươi viết một lá thư chỉ v́ bị người khác xây một bức tường chiếm một vài thước đất! “Nhượng tha kỷ xích hựu hà phương?” (Nhường người vài thước có sao đâu?): Nhường cho hắn vài thước đất thôi, cần ǵ phải tranh giành? “Vạn Lư Trường Thành kim do tại” (Vạn Lư Trường Thành c̣n măi đó), ngươi có thấy chăng, Vạn Lư Trường Thành hăy c̣n đó. “Bất kiến đương niên Tần Thủy Hoàng” (Thủy Hoàng giờ đă mất tăm rồi). Ai là ai? Ba mươi năm Hà Đông, ba mươi năm Hà Tây, cái ǵ là của ngươi, của ta? Nước nhấn ch́m, lửa đốt rụi, ai cũng đều chẳng tồn tại!

          Tài sản trong thế gian là của chung năm nhà, mất đi, quư vị đừng áo năo. Nếu bị lừa gạt, quư vị hăy nên sanh tâm hoan hỷ! Đó là ta trả nợ. Thứ chẳng đáng nên thuộc về hắn, [mà hắn gạt ta], đó là hắn thiếu nợ ta, ta cũng đừng nẩy sanh ư tưởng đ̣i nợ! Nếu muốn đ̣i nợ, quư vị c̣n phải sanh vào thế giới này, đến chỗ nào để đ̣i? Kẻ đó là chủng tử địa ngục, hắn lừa gạt, dối trá người khác, sẽ đến thế giới này chịu khổ! Quư vị cũng theo hắn vào trong thế giới này chịu tội với hắn ư? Hăy quên đi, bố thí cho hắn. Đó là bố thí, đó là nhẫn. Nhẫn cơn nóng giận một lúc, có thể tránh khỏi tai họa cả trăm ngày! Ắt cần phải thường ngày quán tưởng điều này. Nếu không, lỡ có lúc gặp phải, làm sao có thể chịu đựng cho nổi? Đúng không? Ngay cả một câu mà c̣n chẳng nhẫn nổi! Kẻ đó vũ nhục ta, hoặc là nói động tới người trong gia tộc, hoặc nói đến chính ta, nói rất nhiều chuyện xấu của quư vị, bất luận quư vị có hay không. Hễ có, quư vị nghe xong, rất hoan hỷ, người ấy là thiện tri thức của ta, dập đầu lễ người ấy ba lượt. Ôi chao! Quư vị vạch ra sai lầm ấy cho tôi, tôi cảm ơn quư vị, tôi tiêu nghiệp, tôi nhất định phải sám hối. Kẻ ấy sẽ chẳng thể nói nữa! Nếu kẻ đó nói sai sự thật. Kinh Kim Cang dạy kẻ khác hủy báng, vũ nhục quư vị, sau khi đă chịu nhịn, quư vị vốn đáng phải đọa địa ngục, do nghiệp chướng, nghiệp báo ấy, [tội đọa địa ngục] liền tiêu mất, cũng là trọng nạn mà chịu báo nhẹ, cũng phải nên nhẫn. An nhẫn, chánh cần, phải siêng năng học tinh tấn, phải học theo chuyện hữu ích, đối với chuyện vô ích th́ chớ nên rất siêng năng, chịu khó!

          Chúng ta v́ cầu lợi, ngày đêm chẳng ngủ nổi, vắt óc suy nghĩ, ta làm thế nào th́ mới có thể đạt được? Làm thế nào để thắng cử? Ta lôi kéo ai? Chúng ta bỏ ra bao nhiêu tiền, ai cũng không biết. Đấy chẳng phải là hối lộ để trúng cử, th́ cũng là tránh chuyện hối lộ bằng cách bỏ tiền ra mua phiếu bầu! Há có chuyện tiện nghi như vậy ư? Chẳng hề có! Siêng năng, mong được yên tĩnh, Tĩnh Lự tư duy quán sát, nh́n vào chuyện ǵ, cũng đều phải quan sát chánh xác. Bát Nhă là Căn Bản Trí, phương tiện là thiện xảo, từ bi là đại từ đại bi. Đấy là cái tâm lợi ích chúng sanh của bậc đại Bồ Tát, biện tài vô ngại. Biện tài th́ quư vị phải học; quư vị chẳng học th́ làm sao ra biện tài cho được? Có trí huệ th́ mới có biện tài, chẳng có trí huệ th́ quư vị biện luận đây?

          “Công đức”: Công là hạnh. Đức là quư vị làm các chuyện như thế, đạt được nơi tâm, phải từ tâm phát sanh. Đó là công đức chẳng thể nghĩ bàn, sẽ đều hừng hực. “Xí thịnh” (熾盛) là có nghĩa là h́nh thế hưng thịnh, to tát. “Vị chư chúng sanh, tuyên thuyết chánh pháp, do pháp oai quang, linh chư chúng sanh chủng chủng tăng thượng thiện căn miêu giá tất giai tăng trưởng” (v́ các chúng sanh tuyên nói chánh pháp. Do oai quang của chánh pháp, khiến cho đủ loại lúa mạ thiện căn tăng thượng của các chúng sanh thảy đều tăng trưởng). Các tỷ dụ vừa nêu trên đây đều là dùng pháp để kết hợp thành.

          “Chủng chủng tăng thượng diệu hạnh hoa diệp, tất giai phu vinh” (các thứ hoa lá diệu hạnh tăng thượng thảy đều sum suê): Nở x̣e hết sức tươi tốt. “Chủng chủng phiền năo, ác nghiệp, ác hạnh, tất giai trừ hiết” (Các thứ phiền năo, ác nghiệp, ác hạnh, thảy đều trừ dứt): Đều ngưng dứt. “Thiện thú Niết Bàn” (khéo hướng đến Niết Bàn), đấy là sự tiến hướng rất tốt đẹp. Quả hạt bất sanh, bất diệt, “chư cốc, quả, dược tất giai thành thục” (các loại ngũ cốc, trái cây, dược thảo, thảy đều chín muồi): Đấy là đă thành tựu. Thiện nghiệp là các thứ ngũ cốc, trái cây, dược thảo, đă thành tựu, bèn khéo tiến nhập Niết Bàn. Tà kiến, ngă mạn giống như núi cao, “tất giai tiêu lưu” (thảy đều tan chảy), giống như núi băng bị tan chảy. Phiền năo của chúng ta là nghiệp chướng, giống như núi năng bị tan ră. “Linh chư hữu t́nh tùy ư sở nhạo, thú nhập vô úy Niết Bàn chi thành” nghĩa là khiến cho hết thảy hữu t́nh đều có thể chứng đắc bất sanh, bất diệt, bất sanh, bất tử, đạt đến Niết Bàn rốt ráo.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Vân hà danh Bồ Tát Ma Ha Tát thập luân? Thiện nam tử! Thử thập luân giả, phi dư pháp dă, đương tri tức thị Thập Thiện Nghiệp Đạo. Thành tựu như thị thập chủng luân cố, đắc danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă. Ư nhất thiết ác, giai năng giải thoát, nhất thiết thiện pháp tùy ư thành tựu, tốc năng doanh măn đại Niết Bàn hải, dĩ đại thiện xảo phương tiện trí quang, thành thục nhất thiết chúng sanh chi loại, giai linh hoạch đắc lợi ích an lạc. Sở dĩ giả hà? Thiện nam tử! Quá khứ nhất thiết chư Phật Thế Tôn, giai tất viễn ly thập ác nghiệp đạo, giai tất xưng dương, tán thán như thị Thập Thiện Nghiệp Đạo sở đắc quả báo. Thị cố, nhược năng ư thử sở thuyết Thập Thiện Nghiệp Đạo, tùy thủ hộ nhất, năi chí mạng chung, cứu cánh vô phạm, tất hoạch nhất thiết thù thắng quả báo, như tiền sở thuyết.

          ()善男子,云何名菩薩摩訶薩十輪?善男子,此十輪者,非餘法也,當知即是十善業道!成就如是十種輪故,得名菩薩摩訶薩也。於一切惡皆能解脫,一切善法隨意成就,速能盈滿大涅槃海,以大善巧方便智光,成熟一切眾生之類,皆令獲得利益安樂。所以者何?善男子,過去一切諸佛世尊,皆悉遠離十惡業道,皆悉稱揚讚歎如是十善業道所得果報。是故若能於此所說十善業道,隨守護一,乃至命終究竟無犯,必獲一切殊勝果報,如前所說。

          (Kinh: Này thiện nam tử! Thế nào là thập luân của Bồ Tát Ma Ha Tát? Này thiện nam tử! Mười luân ấy chẳng phải là pháp nào khác, hăy nên biết chính là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Do thành tựu mười loại luân như thế, được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Trong hết thảy các ác, đều có thể giải thoát, hết thảy các thiện pháp tùy ư thành tựu, có thể mau chóng tràn đầy biển đại Niết Bàn, dùng quang minh trí huệ đại thiện xảo phương tiện để thành thục hết thảy các loài chúng sanh, khiến cho họ đều đạt được lợi ích an lạc. V́ cớ sao vậy? Này thiện nam tử! Hết thảy chư Phật Thế Tôn trong quá khứ thảy đều xa ĺa thập ác nghiệp đạo, thảy đều xưng dương, tán thán quả báo đạt được do Thập Thiện Nghiệp Đạo như thế. Do vậy, nếu có thể tùy ư thủ hộ một điều trong Thập Thiện Nghiệp Đạo đă nói như thế, cho đến lúc mạng chung, rốt ráo chẳng phạm, ắt sẽ đạt được hết thảy quả báo thù thắng như đă nói trong phần trước).

 

          “Thiện nam tử, vân hà Bồ Tát Ma Ha Tát thập luân?” (Này thiện nam tử! Thế nào là thập luân của Bồ Tát Ma Ha Tát?) Nói cả buổi, bây giờ mới nói đến thập luân. Thế nào là thập luân? “Phi dư pháp dă” [nghĩa là] chẳng phải phương pháp nào khác! “Đương tri tức thị Thập Thiện Nghiệp Đạo” (Hăy nên biết chính là Thập Thiện Nghiệp Đạo): Chúng ta có lúc chẳng ǵn giữ cẩn thận thân, miệng, ư, cho đó là chuyện nhỏ nhặt. Đấy chẳng phải là chuyện nhỏ nhặt, mà là căn bản để thành Phật, là căn bản của hết thảy các thiện nghiệp. Đức Phật nói nửa buổi như thế, trong phần trước, Ngài đă nêu ra nhiều tỷ dụ cũng vậy, mà thuyết pháp cũng vậy, nay mới nêu ra Thập Luân là ǵ? Thập Thiện Nghiệp Đạo là mười loại luân. [Do trọn đủ] mười luân ấy, sẽ được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát. Mười luân trọn đủ, quư vị là đại Bồ Tát trong các vị Bồ Tát, được giải thoát hết thảy các điều ác!

          “Nhất thiết thiện pháp tùy ư thành tựu” (Hết thảy các thiện pháp tùy ư thành tựu): Thành tựu Thập Luân th́ đương nhiên đều thành tựu. Đối với khẩu nghiệp, chẳng hạn như nói chúng ta chẳng nói dối, chẳng nói lời thô ác, chẳng mắng chửi người khác, chẳng nói thêu dệt, chẳng rỉa rói người khác, chẳng nói lời không có nguyên do, chẳng nói đôi chiều, cũng chẳng khuấy đảo thị phi. Chúng ta thường nói mười nghiệp như thế, nhưng quư vị khuyên mỗi chúng sanh đều làm như vậy, đấy là đại Bồ Tát. Ngay cả chúng ta cũng chẳng ǵn giữ tốt đẹp, làm sao có thể khuyên người khác cho được? Chính ḿnh phải làm gương! Nêu một thí dụ, năng lực của bản thân chúng ta chẳng đủ, vậy th́ lại nên làm như thế nào? Mắt bớt thấy, tai bớt nghe, miệng bớt nói, tối thiểu là bớt nói các lời lẽ rời ĺa Tam Bảo. Khi các đệ tử chúng ta bàn luận với nhau, bèn nói nhiều chuyện thuộc Phật pháp. Đoạn Hoặc bằng cách nào? Chứng Chân bằng cách nào? Tôi nghĩ như thế đó. Bác sĩ bảo chúng ta vận động nhiều, đi lại nhiều. Khi đi, lúc Định lực chưa thành tựu th́ khi đi, dễ bị tán loạn. Quư vị hăy nghĩ xem, khi tĩnh th́ chẳng tán loạn, hay là lúc đi th́ chẳng tán loạn? Tôi cũng biết, các đạo hữu khuyên tôi là v́ ư tốt: “Sư phụ, con đưa thầy ra ngoài đi lại đôi chút, hoạt động đôi chút. Thầy cứ ở trong pḥng miết, như vậy, sẽ sanh bệnh rất nhanh!” Chẳng phải vậy, sanh bệnh thuộc về nghiệp. Có nghiệp th́ mới bệnh, chẳng có nghiệp th́ sẽ không! Người ta đều khuyên quư vị, đạo hữu khuyên bảo lẫn nhau, quư vị hăy lắng ḷng, vận dụng công phu Tĩnh Lự cho nhiều. Các vị chẳng biết ai là người tốt, ai là kẻ xấu. Quư vị nói tôi, nói tốt th́ “Được! Được! Tôi nghe th́ nghe vậy, tôi vẫn chẳng thuận theo quư vị”!

          Như thế nào là bị cuốn theo quư vị? Tai tôi xoay chuyển theo lời nói của quư vị! Đi thôi! Càng đi, càng buông lung. Chẳng phải là ra siêu thị, th́ là dạo công viên nh́n ngó. Vậy th́ người nào sẽ đi đến chỗ đó? Người ta nhàn rỗi, có tiền, buông lung ngũ dục. Chúng ta thâu nhiếp thân tâm. Thân, tâm, và miệng của chúng ta lúc nào cũng phải thâu nhiếp, lúc nào cũng chỉ thấy cảnh. Nếu chẳng có định lực to dường ấy, tâm sẽ chuyển theo cảnh. Chúng ta vẫn chưa thể đạt tới “tâm có thể chuyển cảnh”. Tâm có thể chuyển cảnh, liền giống Như Lai. “Tâm bị cảnh chuyển” là chúng sanh. Trong các đạo hữu, giữ ǵn thân, miệng, ư cho nhiều, ít buông lung, trốn tránh c̣n chẳng kịp, c̣n muốn tới đó làm chi? Nơi đó là chốn náo nhiệt!     

          Nói đến đây, tôi nhắc nhở mọi người đôi chút, hảo ư của quư vị tôi chỉ có thể tâm lănh. Các vị chẳng biết, thầy của quư vị chẳng có đạo lực to ngần ấy, sẽ không đến chỗ đó! Chỗ nào không khí tốt đẹp? Trong tâm quư vị, không khí tốt nhất. Quư vị tĩnh lặng, không khí sẽ tốt nhất. Chúng ta đối với thân, miệng, ư của chính ḿnh, phải tuyệt đối ǵn giữ được một thứ. Trong mười nghiệp, quư vị có thể giữ được một nghiệp, chẳng phạm tí nào, thậm chí cho đến khi mạng chung xả mạng, ta chẳng phạm giới ấy. Nếu chẳng sát sanh, chưa hề sát sanh, chẳng chiếm tiện nghi của người khác, nhất định là quư vị sẽ đạt được quả báo thù thắng. Quả báo ǵ vậy? Quư vị cũng chẳng bị bệnh, mà cũng chẳng đoản mạng, chẳng bị nghiệp ấy. Nếu quư vị chẳng trộm cắp, nhiều đời chẳng trộm cắp của người khác, sẽ chẳng bị mất đồ. Tôi đă tự ḿnh thí nghiệm điều này. Từ bé xuất gia, cho đến bây giờ, chẳng có ai ăn trộm đồ của tôi. Cửa pḥng chúng tôi chưa hề khóa, bất luận như thế nào, pḥng của tôi chưa hề khóa. Trước kia, tôi đă phát nguyện, ai muốn lấy ǵ, tôi sẽ bố thí cúng dường. Tôi tự ḿnh có thể làm được, nhưng hai hoặc ba người cùng ở chung th́ không được!  

          Mọi người phải biết: “Mạn tàng hối đạo, trị dung hối dâm” (giấu kỹ xui người trộm, làm đẹp dụ người dâm), quư vị cũng sẽ cảm vời. Quư vị trang điểm đẹp đẽ, người khác tham ái. Quư vị càng cất giấu kỹ lưỡng, càng dễ bị mất. Két an toàn cũng bị phá mở. Thuê một cái két an toàn ở bưu điện hay ngân hàng, khu vực Nữu Ước đă bị mất rất nhiều két bảo hiểm. Hoàn toàn chẳng phải là dùng ch́a khóa để mở, bọn chúng có dụng cụ chạy bằng điện, tự nhiên cắt ra. Chẳng phải là quư vị đặt tất cả các thứ [quư giá] trong két bảo hiểm hay sao? Được! Đều mất sạch. Tôi đọc báo thấy đăng tải có rất nhiều lần [tin két an toàn bị phá], làm thế nào để khéo ǵn giữ? Chẳng ăn trộm đồ vật của người khác, chính là ǵn giữ tốt đẹp. Không chỉ là trong một đời chẳng mất, mà là đời đời đều chẳng mất. Kẻ trộm lấy mất, lửa đốt, quốc vương tịch thâu, thổ phỉ cướp đoạt, quư vị có thể ǵn giữ nổi hay không? Cái sọ của quư vị c̣n chẳng giữ nổi, huống hồ vật ngoài thân, làm sao có thể bảo vệ được? Quư vị hành Thập Thiện Nghiệp, sẽ ǵn giữ được. Ta chẳng trộm cắp đồ đạc của người ta, người khác cũng chẳng trộm cắp của ta. Tôi tin tưởng tuyệt đối là như thế.

          Tôi chẳng hề giết người khác, người khác cũng chẳng thương tổn tôi, cũng chẳng giết tôi. Đó gọi là nghiệp báo, điều này cũng chẳng dễ dàng! Nếu có thể tin khẩn thiết, mọi người đều nỗ lực, đấy mới thật sự là chỗ đáng để chúng ta nỗ lực. Nếu thành tựu Thập Thiện Nghiệp Đạo, “đắc danh Bồ Tát Ma Ha Tát dă. Ư nhất thiết ác, giai năng giải thoát” (được gọi là Bồ Tát Ma Ha Tát, đều có thể giải thoát hết thảy các điều ác). Hoàn toàn giải thoát tất cả các ác nghiệp. Ác là nói về quả, chúng ta có thể chẳng bị kẻ khác trói buộc. Làm thế nào để chẳng bị trói buộc? Thành tựu Thập Thiện Nghiệp. Thập Thiện Nghiệp đă đạt đến rốt ráo. Giết, trộm, dâm, tham, sân, si, nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, nói lời ác, mười ác nghiệp hoàn toàn thanh tịnh, như thế th́ sẽ thành tựu, thành tựu Bồ Tát Ma Ha Tát.

          Cho đến khuyên hết thảy chúng sanh đều làm như thế, do quư vị tràn trề đại trí huệ, giải thoát hết thảy các điều ác, hết thảy các thiện pháp đều có thể tùy ư thành tựu, có thể mau chóng tràn đầy biển đại Niết Bàn, chứng đắc bất sanh, bất diệt thật sự. Dùng quang minh trí huệ phương tiện đại thiện xảo để thành thục hết thảy chúng sanh, đều làm cho họ đạt được lợi ích, an lạc. V́ sao tôi nói như vậy? V́ lẽ nào vậy? Có ư nghĩa gạn hỏi, khơi gợi: Đạo lư ở chỗ nào? Hết thảy chư Phật thành Phật bằng cách nào? Các Ngài xa ĺa thập ác nghiệp đạo, chẳng dám tiếp cận. “Giai tất xưng dương, tán thán như thị Thập Thiện Nghiệp Đạo” (thảy đều xưng dương, tán thán Thập Thiện Nghiệp Đạo), đạt được quả báo nhỏ th́ là quả báo nhân thiên. Thập Thiện Nghiệp là “miệng nói Bồ Đề đạo, trong tâm tưởng nhớ Bồ Đề đạo, thân thể thực hiện Bồ Đề đạo”. Tham, sân, si đă chẳng c̣n, sẽ là Giới, Định, Huệ, sẽ chẳng có các quả báo ấy. Có thể thường nói như thế, phải tán thán Thập Thiện Nghiệp Đạo, phải xa ĺa Thập Ác Nghiệp Đạo, như thế th́ quư vị mới có thể đạt được Thập Thiện Nghiệp Đạo.

          “Sở đắc quả báo, thị cố, năng ư thử sở thuyết Thập Thiện Nghiệp Đạo, tùy thủ hộ nhất”, [nghĩa là] tuy chẳng thể ǵn giữ cả mười điều, chỉ cần ǵn giữ một điều, “năi chí mạng chung, cứu cánh vô phạm” (cho đến mạng chung, rốt ráo chẳng phạm), có thể ǵn giữ tuyệt đối thanh tịnh. Ta suốt đời chẳng ăn trộm của người khác, hoặc suốt đời chẳng lừa dối người khác, hoặc cả đời chẳng thốt lời dối trá. Dối trá bao gồm cả lường gạt. Nếu ta vô t́nh nói sai, ta nằm mộng, hoặc là do cảm vời mà hiểu sai, bèn nói ta đă chứng quả, các trường hợp ấy chẳng phạm giới. Đối với hết thảy giới luật, nếu quư vị chẳng v́ danh lợi, chính ḿnh v́ Bồ Đề đạo, những ǵ ta đă làm, sẽ chuyển thành chuyện thuộc Bồ Đề đạo, chẳng phải là chuyện thuộc về tam nghiệp đạo. Vậy th́ ǵn giữ một thiện nghiệp đạo măi cho đến khi mạng chung, trọn chẳng trái phạm, quư vị nhất định đạt được quả báo thù thắng. Quư vị phải hiểu điều này, “một chính là hết thảy, thâm nhập một môn, mười ác nghiệp đều tiêu mất”. Do cái tâm mạnh mẽ, nhạy bén thù thắng của quư vị, những thứ ấy (ác nghiệp) đều tiêu mất. “Như tiền sở thuyết”: Trong phần trước đă từng nói, trong phần sau sẽ lại nói, sẽ giải thích như dưới đây.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát năng tận h́nh thọ, viễn ly sát sanh, tức thị thí dữ nhất thiết chúng sanh vô kinh, vô bố, linh chư chúng sanh bất sanh ưu khổ, ly mao thụ úy. Do thử thiện căn, tốc đắc thành thục, sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân sát sanh cố, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư thọ mạng chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ. Do thử viễn ly sát sanh luân cố, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô hữu sai lự, thân tâm an lạc, thọ mạng trường viễn. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín.

          ()善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽遠離殺生,即是施與一切眾生無驚無怖,令諸眾生不生憂苦,離毛豎畏,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因殺生故,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸壽命障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離殺生輪故,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無有猜慮,身心安樂,壽命長遠。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。

          (Kinh: Này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng, xa ĺa sát sanh, tức là thí cho hết thảy chúng sanh chẳng kinh sợ, khiến cho các chúng sanh chẳng sanh ưu khổ, ĺa nỗi sợ rởn lông tóc. Do vậy, thiện căn ấy mau được chín muồi, trong tất cả các lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử trước kia, do v́ sát sanh, tạo các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các thọ mạng chướng, tự làm, dạy người, thấy, nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa sát sanh” này, [các thứ chướng ấy] thảy đều bị nghiền nát, phá tan chẳng sót, chẳng chịu quả báo. Trong thân hiện tại, các hàng trời người đều cùng thân mến, chẳng lo ngờ, thân tâm an lạc, thọ mạng dài lâu. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến, quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy bậc vừa ư, điều phục thành tựu các thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng, sanh ḷng kính tin sâu xa).

 

          Quư vị chẳng sát sanh, “tận h́nh thọ” (盡形壽) là từ lúc sanh ra cho đến khi chết, chẳng hề sát sanh. Sau khi đă nghe pháp, ta chẳng sát sanh, xa ĺa sát sanh. “Tức thị thí dữ nhất thiết chúng sanh vô kinh, vô bố” (tức là thí cho hết thảy chúng sanh không kinh sợ): Thập Thiện Nghiệp ở đây khác với [Thập Thiện Nghiệp được nói trong kinh khác, ở chỗ không chỉ] chẳng sát sanh, mà c̣n phải quán tưởng. Không chỉ chẳng sát sanh, mà c̣n bố thí “không sát sanh” cho chúng sanh. V́ sao chúng sanh sợ hăi? Có ai chẳng sợ chết? Chúng sanh cũng sợ chết. Nếu quư vị bắt một con chim sẻ, nó sẽ bay trốn lẹ. Con lợn biết sắp bị mổ, nó sẽ gào lên ầm ĩ. Quư vị dùng hết sức lôi nó, nó sẽ tŕ lại chẳng đi, v́ nó biết sắp bị chết, kinh hoảng! “Linh chư chúng sanh bất sanh ưu khổ, ly mao thụ úy” (khiến cho các chúng sanh chẳng sanh ưu khổ, ĺa nỗi sợ rởn lông tóc): Khi chúng ta kinh hoảng, sẽ rởn lông tóc, toát mồ hôi lạnh, kinh nghiệm ấy ai cũng có. Có kẻ suốt đời chẳng sợ hăi, chưa hề rởn lông tóc, nhưng nhận biết chuyện ấy, tuy kẻ đó chẳng kinh sợ! Nếu bị bắt, có những người rất cứng cỏi, dẫu bị bắt chẳng sao hết! Nếu bị bắn chết, chỉ là chuyện nhỏ, hai mươi năm sau ta sẽ trở lại. Đó gọi là “thế giới Sa Bà”, chúng sanh ương ngạnh, khó điều phục, chẳng sợ hăi, rất hung ác, cho nên mới có nỗi sợ hăi. Có những người thiện nghiệp đă thành tựu, do v́ thiện nghiệp mới chẳng bị sợ hăi. Đó là hai cực đoan. Đấy là nói về thiện nghiệp.

          “Do thử, thiện căn tốc năng thành thục” (do vậy, thiện căn có thể mau chóng chín muồi): Tất cả “tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà” (những lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử trước kia), “tiền tế” (前際) là quá khứ. Trong quá khứ, đă lưu chuyển trong sông sanh tử, “nhân sát sanh cố” tức là v́ sát sanh mà “tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư thọ mạng chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ” (tạo thân, ngữ, ư, các nghiệp chướng ác, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các thọ mạng chướng, tự làm, dạy người khác làm, thấy nghe vui theo). V́ sao thọ mạng có dài hay ngắn? Đấy là do nghiệp sát sanh. Trong nghiệp sát sanh, bao gồm thân, tức là có lúc ra tay giết, hoặc là dùng chân đá chết người khác, đều tính [thành tội sát sanh nơi thân]. Dùng miệng cắn chết người khác, dùng đầu húc chết người khác. Có kẻ đă học công phu “dao chùy quán đảnh” (vung búa đập đầu không bị tổn thương, tức thiết đầu công), có thể dùng đầu húc chết người khác, bất cứ bộ vị nào trên thân thể quư vị cũng đều có thể giết người. Thân, ngữ, ư đều có thể tạo ác nghiệp. Khi sắp bị giết, c̣n chửi bới, sắp chết c̣n hô khẩu hiệu, tin cái này, ủng hộ cái kia. Đó là khẩu nghiệp. Sắp chết mà vẫn c̣n tạo nghiệp!

          Hết thảy chướng ngại thảy đều tiêu trừ. Do các ác nghiệp đă tạo nơi thân, ngữ, ư, tất cả các phiền năo, hết thảy hữu t́nh chằng néo lẫn nhau không rơ ràng. Cha, mẹ, con cái, vợ chồng, quan hệ ái t́nh, đều là hữu t́nh. Hữu t́nh chướng ngại khá nhiều! Hết thảy các pháp chướng, pháp chướng là nói theo hết thảy các pháp. Quư vị hủy báng hết thảy các pháp, dùng khẩu nghiệp hủy báng. Đối với pháp tam thừa, đều hủy báng, nghiệp của quư vị càng to hơn nữa. “Thọ mạng chướng”: Nếu quư vị mong tu đạo, mà thọ mạng đă hết, sẽ chẳng thể tu thành công được! Chúng tôi giảng kinh cũng phải phát nguyện. Trước khi giảng, bèn phát nguyện: Bộ kinh này đừng bị gián đoạn nửa chừng, đừng ngă bệnh, đừng bị gián đoạn vài ngày, cũng đừng giảng một nửa đă chết. Vậy là xong, giảng chẳng được! Đó gọi là “gián đoạn nửa chừng”, đó là nghiệp chướng. Khi quư vị mong làm chuyện tốt, mong chuộc lỗi, chẳng chờ quư vị chuộc xong, mạng đă hết rồi, chẳng c̣n kịp nữa. Đấy là chướng ngại!

          Chính quư vị giết như thế, dạy người ta giết, tự làm, dạy người khác. Chính ḿnh chẳng giết, xúi người khác giết, đó gọi là “giá họa cho kẻ khác”. Ta cùng kẻ khác có cừu hận, muốn giết chết kẻ đó, lại sợ phạm pháp, bèn hoặc là dùng tiền, hoặc là châm ng̣i ly gián. Châm ng̣i đến nỗi kẻ đó nổi cơn thịnh nộ, bèn thêm thắt chút sự thật, giữa hai kẻ đó lại có hiềm oán, bèn giết phăng đi. Quư vị ở bên cạnh ngó thấy hiệu quả, đă báo cừu được rồi, nhưng quư vị hoàn toàn chẳng ra tay, tội ấy cũng rất lớn. Tội lỗi dạy người khác giết cũng to như tội tự tay giết. Mướn hung thủ, mướn lũ đâm thuê chém mướn, cho rằng chính ḿnh chẳng có tội, đến thuở vị lai, quư vị mới biết, khi thọ báo, quư vị mới biết! Thấy kẻ khác giết lợn, có lúc đi coi náo nhiệt, đừng xem chuyện sát sanh, [bởi lẽ], thấy nghe tùy hỷ, quư vị cũng có phần, quư vị cứ đi xem đi nhé!

          Do vậy, chúng ta nói “thọ Bát Quan Trai Giới, chẳng cố ư đi xem, nghe” là do ư nghĩa này. Nếu chẳng có chuyện của quư vị, quư vị tới xem náo nhiệt làm chi? Kẻ thấy sẽ có phần, quư vị phải hiểu! Đặc biệt là nơi pháp trường xử bắn, rất nhiều người đi xem, quư vị sẽ có một phần! Trường hợp ấy, cũng đừng nên đi, thấy nghe tùy hỷ mà! “Do thử viễn ly sát sanh luân cố” (do cái luân “xa ĺa sát sanh” này): Phải rời xa sát sanh. Đă chẳng giết, mà c̣n phải luôn nghiền nát nó. “Triển hoại, tồi diệt vô dư” (nghiền nát, phá tan chẳng c̣n sót): Dùng bất sát luân, tức “chẳng giết” trong Thập Thiện Luân để nghiền nát hết thảy giết chóc và nghiệp báo của nó. Như thế th́ sẽ “chẳng thọ quả báo”.

          “Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự” (trong thân hiện tại, các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng lo ngờ): Chẳng lo ngại, ngờ vực quư vị, do biết quư vị sẽ chẳng thương tổn người khác, v́ quư vị sợ phạm giới. Băn khoăn chính ḿnh trong tương lai sẽ đọa địa ngục, chẳng phải là quư vị không muốn làm, mà là chẳng dám làm. V́ sao chẳng dám làm? Sợ đọa địa ngục, sợ nỗi khổ trong địa ngục, cho nên chẳng dám sát sanh. Chúng ta thấy loài chim bay, hoặc là tiểu động vật, muốn nuôi chơi, hoặc là nuôi chó, nuôi mèo, nuôi chim nhỏ, nuôi vẹt, nuôi nhồng, quư vị bắt chúng nó nhốt vào lồng, trong tương lai, quư vị cũng sẽ bị nhốt. Quư vị nhốt chúng nó bao lâu, sẽ phải trả gấp bội, chúng nó trọn chẳng vui sướng. Quư vị tưởng chúng nó vui sướng hay sao? Giống như chúng tôi bị nhốt vào tù, nói không chừng là trong đời quá khứ, tôi nuôi động vật đă nhốt nó rất lâu, cũng chắc là như thế đó. Quư vị thấy cọp bị nhốt trong sở thú, nhốt trong lồng, nó nôn nóng đi qua đi lại trong ấy. Dă thú quen sống trong rừng núi, chúng ta mong chính ḿnh tự do, nhưng lại hạn chế tự do của các động vật khác. Quả báo ấy cứ suy nghĩ khắc biết!

          “Nhất thiết pháp chướng, chư thọ mạng chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ” (hết thảy pháp chướng, các thọ mạng chướng, tự làm, dạy người khác, thấy nghe vui theo): Trong hiện thời, hàng trời, người v.v… đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực. “Thân tâm an lạc”, thọ mạng cũng lâu dài. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị “ưu khổ bức thiết” (sầu khổ bức bách), chánh niệm hiện tiền, sanh về Cực Lạc cũng nắm chắc. “Sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu, lâm mạng chung thời” (vợ con yêu mến, quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung), chẳng có hiện tượng Diêm La Vương khủng bố!

 

          (Kinh) Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc. Tùy sở sanh xứ, vô bệnh, trường thọ, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc. Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, y bỉ tu học, ly sát sanh pháp, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, ly chư binh khí, vô hữu “oán hại, đấu chiến” chi danh, tuyệt chư bố úy, an ổn, khoái lạc, nhất thiết vô bệnh, trường thọ hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc. Như Lai tự thọ vô lượng, vô biên, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ nhất viễn ly sát sanh luân dă.

          ()既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,無病長壽,端正聰明,安隱快樂;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離殺生法,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,離諸兵器,無有怨害斗戰之名,絕諸怖畏,安隱快樂,一切無病長壽有情來生其國;如來自壽無量無邊,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第一遠離殺生輪也。

          (Kinh: Đă mạng chung rồi, lại sanh làm người, các căn viên măn, chi thể đầy đủ. Sanh ở bất cứ nơi đâu, đều không bệnh, sống lâu, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng. Lại gặp bậc đẹp ư, điều phục, thành tựu các thiện pháp, đủ giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức. Nương theo người ấy tu học, ĺa pháp sát sanh, có thể đoạn hết thảy pháp ác, bất thiện, có thể thành tựu hết thảy pháp thiện căn thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở, ĺa các binh khí, chẳng có danh xưng “oán hại, chiến đấu”, dứt các sợ hăi, an ổn, vui sướng. Hết thảy hữu t́nh không bệnh, sống lâu, sanh về cơi đó. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng, vô biên, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng theo căn cơ. Sau khi Ngài nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là cái luân thứ nhất “xa ĺa sát sanh” của Bồ Tát Ma Ha Tát).

 

          “Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở sanh xứ” (Đă mạng chung rồi, vẫn sanh làm người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ, sanh ở bất cứ nơi đâu), lại c̣n chẳng bị bệnh khổ, lại sống lâu, tướng mạo đoan chánh, ai nấy đều ưa thích, lại c̣n thông minh, lanh lợi. “An ổn, khoái lạc” (an ổn, vui sướng) c̣n có thể gặp người vừa ư, gặp gỡ thiện tri thức, gặp thiện pháp, gặp gỡ “cụ giới, phú đức, chân thật phước điền” (bậc đủ giới, giàu đức, ruộng phước chân thật) làm thiện tri thức cho quư vị, theo họ “tu học ly sát sanh pháp” (tu học pháp “ĺa sát sanh”). Đó là bước đầu tiên, tức “không sát sanh” trong Thập Thiện Nghiệp, cho đến chẳng có ư niệm giết chóc. Bất luận quư vị tắm rửa, bất luận quư vị làm ǵ, đối với những loài trùng nơi thân thể của chính ḿnh, đều phải bảo vệ chúng, Điều này rất vi tế, rất khó!

          “Năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp” (có thể đoạn hết thảy các pháp ác, bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng). Có thể thành tựu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa. V́ sao chúng ta có thể nghe pháp Đại Thừa mà chẳng tin được? Có chướng ngại. Cũng có thể tu tập “nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh” (hết thảy hạnh nguyện của Bồ Tát), Bồ Tát phát nguyện như thế nào? “Tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải”, tức là dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng. Do vậy, “chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề”, bèn thành Phật. “Sở cư Phật độ, ly chư binh khí”, [nghĩa là] nơi quư vị sống, ngay cả vũ khí cũng đều chẳng có. Không chỉ chẳng có vũ khí, ngay cả những danh xưng “oán hại, chiến đấu” cũng đều chẳng có. “Tuyệt chư bố úy” (dứt sạch các sợ hăi): C̣n có cảm giác hoảng sợ hay chăng? Chẳng có! “An ổn, khoái lạc, nhất thiết vô bệnh, trường thọ hữu t́nh lai sanh kỳ quốc” (an ổn, vui sướng, hết thảy các hữu t́nh không bệnh, sống lâu sanh vào cơi ấy): Những ai không bệnh, sống lâu, đều sanh vào trong quốc độ của quư vị. Thọ mạng của Như Lai là vô lượng vô biên, chẳng như Thích Ca Mâu Ni Phật chỉ có một trăm năm. “Vị chư hữu t́nh, như ưng thuyết pháp” (v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ): Đáng nên dùng căn cơ nào để đắc độ, bèn nói cho người ấy pháp đó. Như vậy sẽ khiến chánh pháp tồn tại lâu dài, có thể lợi ích an lạc vô lượng hữu t́nh, khiến cho vô lượng hữu t́nh đều đạt được vui sướng. Này thiện nam tử! Đó gọi là cái luân thứ nhất “xa ĺa sát sanh” của Bồ Tát Ma Ha Tát, tức là chẳng giết. Bồ Tát Ma Ha Tát phải thành tựu cái luân “chẳng sát sanh” này!

 

          (Kinh) Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển, lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành, thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc, thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc, sở đắc quả báo, quảng như tiền thuyết.

          ()菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣如前說。
          (Kinh: Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, không phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, không phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, không phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa, không phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, không phạm sai lầm đối với Đại Thừa, không phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La, thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải pháp khí, thậm chí đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường được thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén và phước thù thắng thường được tăng trưởng. Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử. Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt được quả báo như trên đă rộng nói).

 

          Đoạn kinh văn này toàn là nhắc lại, trùng tuyên những điều đă nói trong phần trước, ḥng mong chúng ta hăy suy xét cho nhiều: Không chỉ là ngôn ngữ, văn tự, mà là mong chúng ta hăy thực hiện. Quư vị mắc bệnh, t́m bác sĩ vô dụng! Chỉ cần chẳng giết chóc, ngưng dứt sát nghiệp; cho đến phóng sanh. Không chỉ là chẳng giết, mà c̣n cứu chúng sanh. Chúng ta nói “ăn một tí thịt có sao đâu”, có sao nhiều lắm đấy! Tuy quư vị chẳng giết, nhưng quư vị thuận theo chuyện giết chóc, tán thán giết chóc. Nếu nói sát sanh chẳng sao hết, ăn thịt chẳng ăn nhằm ǵ, nói “các động vật là để cho chúng ta ăn. Cá, ba ba, tôm, cua dành cho con người ăn”; tôi nói: “Mỗi người quư vị vẫn là để dành cho gấu chó, cọp, beo, sói ăn!” Có thể nói như vậy hay không? Chỉ là gặp nhân duyên ấy, quư vị có thể bị chúng nó ăn thịt. Chẳng có nhân duyên, quư vị chẳng ăn nó được! Đừng tạo nghiệp! Đó là luân thứ nhất “chẳng sát sanh” trong Thập Luân.

          Mười thiện luân này, mọi người có thể xem một lượt. Nói chung, từ “chẳng giết” cho đến điều cuối cùng là “chẳng si”. Thập Thiện là nói đối lập với Thập Ác. V́ sao phải nói lặp đi lặp lại như vậy? Mọi người thấy toàn bộ kinh văn giống hệt như nhau, tức là chẳng giết, chẳng trộm, chẳng tà dâm, chẳng nói thêu dệt, chẳng nói dối… Văn tự thay đổi đôi chút, những điều khác đều y hệt như nhau. Dụng ư của đức Phật là khiến cho chúng sanh chú ư nhiều hơn, khiến cho chúng ta quán tưởng nhiều hơn, tư duy nhiều hơn. Nói một lần không được, nói mười lần th́ có thể. Có hàm nghĩa như thế đó! Đây là nguyên nhân khiến Ngài nhắc lại.

          Giảng bộ kinh này, chẳng thể nói từng điều một, như thế sẽ quá trùng lặp. Quá trùng lặp, sẽ sanh cảm giác chán ngán. Chúng ta nghe kinh Kim Cang, sẽ cảm thức trực tiếp, thỏa đáng hơn, ưa muốn nghe. Những loại kinh như thế, có các danh từ là điểm độc đáo riêng biệt của bộ kinh ấy, mọi người hiểu ư nghĩa là được rồi. Chúng tôi vẫn là giảng một lượt, trong các luân kế tiếp, sẽ chẳng giảng cặn kẽ từng điều nữa!

 

          (Kinh) Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly bất dữ thủ, tức thị thí dữ nhất thiết chúng sanh vô kinh, vô bố, vô hữu nhiệt năo, diệc vô nhiễu động. Ư tự sở đắc như pháp tài lợi, hỷ túc nhi trụ, chung bất hy cầu phi pháp tài lợi. Do thử thiện căn, tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân bất dữ thủ, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư tài bảo chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ. Do thử viễn ly bất dữ thủ luân, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, tài bảo cụ túc. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma Vương sứ. Duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín.

          ()復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離不與取,即是施與一切眾生無驚無怖,無有熱惱,亦無擾動,於自所得如法財利喜足而住,終不希求非法財利,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因不與取,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸財寶障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離不與取輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,財寶具足。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng, ĺa chẳng cho mà lấy, tức là thí cho hết thảy chúng sanh chẳng kinh sợ, chẳng có nhiệt năo, mà cũng chẳng bị nhiễu động. Đối với các tài lợi đạt được đúng pháp, vui mừng cho là đủ, trọn chẳng mong cầu tài lợi phi pháp. Do vậy, thiện căn có thể mau thành thục. Trong tất cả các lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử trước kia, do chẳng cho mà lấy, tạo thành các nghiệp chướng ác nơi thân, miệng, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng ngại nơi tiền của, tự làm, dạy người khác làm, thấy nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa chẳng cho mà lấy” này, [các nghiệp chướng ấy] sẽ đều bị nghiền nát, đập tan chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo. Trong đời hiện tại, các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng hề lo ngờ, thân tâm an lạc, của cải trọn đủ. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy bậc vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, chân thật phước điền làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng, sanh ḷng tin kính sâu xa).

 

          Đây là điều thứ hai trong Thập Thiện Nghiệp Đạo: Chẳng trộm cắp. “Bất dữ thủ” (不與取) tức là người khác chẳng cho quư vị, quư vị cứ cầm lấy. Đó là Đạo (, trộm cắp). Nếu sau khi quư vị nghe pháp, có thể “tận h́nh thọ” (盡形壽, suốt cả đời) chẳng trộm cắp, “h́nh” () là thân thể của quư vị, “thọ mạng” vô h́nh, nhưng h́nh thể là hữu h́nh, tức là cho đến khi quư vị mạng chung, măi cho đến lúc tử vong, trọn chẳng phạm giới “không cho mà lấy”, cũng chẳng phạm giới trộm cắp! Khi chúng ta thọ Ngũ Giới, chỉ cần chẳng trộm cắp là được rồi. Chẳng phạm giới ấy, là đă thanh tịnh. Công đức đạt được, sẽ là chẳng bị người khác trộm cắp, cho đến đối với giới ấy, quư vị chẳng phạm sai lầm. Nhưng c̣n có một hàm nghĩa sâu xa hơn, v́ Bồ Tát Ma Ha Tát trọn đủ mười luân, chẳng phải chỉ là “chẳng trộm cắp” như đối với phàm phu. Hàm nghĩa của mỗi pháp từ Tiểu đến Đại, từ phàm phu măi cho đến địa vị Phật, hàm nghĩa [trong mỗi địa vị] bất đồng, danh từ như nhau, nhưng chúng ta [là phàm phu], chẳng giết th́ là tuyệt đối chẳng thể giết. Hễ giết liền phạm giới, lại c̣n là nói theo ư nghĩa “giết người”.

          [Giới chẳng] trộm cắp là chẳng trộm cắp hết thảy các vật chất của con người, chẳng trộm vật có chủ. Vật phẩm ấy hễ có chủ [mà tự tiện lấy dùng], sẽ là phạm giới trộm cắp. Vật vô chủ rất khó nói. Như núi rừng, chúng ta cho là vô chủ, nhưng thật ra là có chủ, tức quốc gia. Trong biên cảnh của quốc gia ấy, [mọi vật] đều coi là vật có chủ. Ở trên đường, người ta làm rớt vật chi đó, ta không trộm cắp, mà do người khác đánh rơi. Ta thấy đồ vật, hoặc là tiền, hoặc là món ǵ đó, quư vị nhặt lên, khi chúng ta đă thọ giới, tức Ngũ Giới, hoặc những giới khác [mà nhặt lấy những vật đó], đều chẳng coi là phạm giới trộm cắp. Nhưng đối với tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni th́ không được, v́ họ chẳng được phép cầm vàng, bạc, của báu, chẳng cầm tiền. Hễ cầm, cũng là phạm giới. Bồ Tát càng không được, trong thế giới này, chẳng có thứ ǵ vô chủ. Nếu nói vật ấy do chúng sanh làm rơi, ta nhặt được, Bồ Tát cũng phạm giới “chẳng cho mà lấy”.

          Đồng thời, Bồ Tát ắt cần phải quán tưởng, chính ḿnh chẳng trộm cắp, cũng mong sao hết thảy chúng sanh đừng trộm cắp. Ta không sát sanh, tŕ giới cấm “chẳng giết” đến cùng, ta đem giới ấy bố thí cho chúng sanh. Chúng ta tuyệt đối chẳng thể nghĩ tới điều này. Chẳng trộm cắp, ta không chỉ chẳng ăn trộm, mà c̣n mong bố thí cho chúng sanh, bố thí ǵ vậy? Bố thí khiến cho họ không sợ hăi, chớ nên sợ hăi, chớ nên nhiệt năo (nóng nảy, bứt rứt). Nếu chúng ta lấy trộm của họ thứ chi đó, hoặc là cầm đi, họ bị mất, nhất định sẽ bứt rứt, nóng ruột. Hoặc là món đồ ấy có liên quan đến sanh mạng của họ, họ sẽ sanh khởi cảm giác sợ hăi. Chẳng hạn như ăn trộm công văn, hoặc lấy trộm khế ước đất đai, ăn trộm báo cáo thâu nhập của người khác, đối với quư vị chẳng có vấn đề ǵ, nhưng người ấy có thể bị tổn thất to lớn. Không chỉ tâm bất an, mà thân cũng chẳng an. Sau khi họ đánh mất, t́m kiếm khắp nơi! Trộm có nhiều loại, cướp đoạt đồ vật của người khác, đó gọi là Thưởng (, cướp) và cũng bao gồm Đạo (, trộm). Ăn trộm th́ gọi là Đạo, tức cường đạo. Hoặc là khéo bày ra đủ loại phương pháp lừa dối, gạt gẫm, th́ cũng phạm giới trộm cắp. Nếu nói đến Trộm Cắp th́ có rất nhiều loại. Hoặc là dùng ngôn từ, phương thức rất khéo léo, [nại cớ] “chẳng phải là tôi trộm của quư vị, mà là quư vị cho tôi”, nhưng vẫn tính vào giới trộm cắp. V́ đó là lường gạt, dối trá, hoặc là mượn mà không trả, cũng tính là trộm cắp. Cái tội trộm cắp [kiểu ấy] càng nặng hơn. Khi nói tới giới trộm cắp, giới tướng hết sức cặn kẽ, hết sức vi tế, nhưng ở đây, kinh văn chẳng nói [cặn kẽ như vậy]!

          Đức Phật bảo là Bồ Tát Ma Ha Tát “tận h́nh thọ” (cho đến hết thọ mạng), chớ nên trộm cắp. Người ta chẳng cho, chẳng thể lấy. Trái lại, ta chẳng trộm cắp, mà c̣n mong bố thí cho chúng sanh! Bố thí ǵ vậy? Khiến cho họ chẳng kinh sợ, chẳng có nhiệt năo, mà cũng chẳng bị nhiễu động. Đối với tài lợi đạt được đúng pháp, hợp pháp của chính quư vị, giống như chúng ta làm việc kiếm tiền, hoặc là bất luận như thế nào, đó là món tiền chúng ta nên có. Hễ đạt được, phải nên vui mừng, thỏa măn, chớ nên tham cầu. “Bất trụ” có nghĩa là “vẫn cứ truy cầu”. Mặt khác, phàm là tài lợi phi pháp, ta chẳng nên có, th́ đừng mưu cầu, mà cũng đừng mong cầu. Không chỉ ta đích thân chẳng làm, mà tâm cũng chẳng suy tưởng, miệng càng chẳng nên nhắc tới. Có những thứ tài vật là do miệng lừa được, có t́nh huống này. Do chẳng trộm cắp như thế, thiện căn chín muồi rất nhanh chóng, v́ chẳng có duyên cớ trộm cắp, chẳng có tâm trộm cắp.

          Như vậy th́ nghiệp đă tạo trong quá khứ, tiền tế, hậu tế (後際, vị lai), trung tế (中際) là hiện tại, quá khứ là tiền tế (前際). Do tội ác trộm cắp, quư vị đáng nên vào trong năm đường. Năm đường chính là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trời, người, A Tu La [được tính chung vào bốn đường kia, ngoại trừ địa ngục]. Do v́ ăn trộm, luân chuyển sanh tử trong ấy, sanh tử giống như con sông dài, vĩnh viễn ch́m nghỉm trong ấy, chẳng thoát ra được, “một sanh tử hà” (ch́m trong sông sanh tử), vây phủ trong con sông sanh tử! V́ không cho mà lấy, tạo thành thân nghiệp, ngữ nghiệp, ư nghiệp, các ác nghiệp chướng, “chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư tài bảo chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ” (các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng ngại nơi của cải, tự làm, dạy người khác, thấy nghe tùy hỷ): Đó là nghiệp quư vị đă tạo trong quá khứ. Nghiệp ấy v́ trộm cắp mà tạo thành các ác nghiệp chướng nơi thân, ngữ, ư, tức là ta cướp đoạt, dùng thân thể để cưỡng đoạt, hoặc dùng miệng lừa gạt, hoặc dùng ư niệm bày cách. Các ác nghiệp đă tạo nơi thân, ngữ, ư đều thuộc loại trộm cắp. Phàm những ǵ thuộc loại này đều là trộm cắp. Do như thế, gây phiền năo cho chính ḿnh, gây phiền năo cho người khác, ngăn chướng đạo nghiệp tu đạo của quư vị.

          Nếu chúng ta buôn bán chẳng thuận lợi, hoặc là tài nguyên không thuận lợi, các dụng cụ cần thiết cho cuộc sống thiếu thốn, quư vị chẳng oán trời, hờn người, mà hăy oán chính ḿnh, quá khứ đă tạo các nghiệp ấy, cho nên quư vị có các chướng ngại đó. Đối với hết thảy các pháp, quư vị đều chẳng thể tiến nhập, bị ngăn chướng. Của cải quư vị cũng chẳng trọn đủ. V́ thế liền sanh ra các chướng ngại ấy. Không chỉ là chính ḿnh trộm cắp, hoặc là dạy người khác trộm cắp, tự ḿnh làm, dạy người khác trộm cắp, cho đến thấy kẻ khác trộm cắp, quư vị cao hứng, mừng rỡ, thấy nghe tùy hỷ, chẳng phải là tùy hỷ thiện nghiệp, mà là tùy hỷ ác nghiệp.

          Nếu nay quư vị xa ĺa các tội chướng “chẳng cho mà lấy”, chẳng trộm cắp, cách nó rất xa. “Xa ĺa” có nghĩa là chẳng tạo tác nữa. “Giai tất triển hoại” (thảy đều nghiền nát): Do cái luân trong hiện tại, hiện tại là cái luân ǵ vậy? Chính là cái luân “xa ĺa chẳng cho mà lấy”. Trong quá khứ, do mê muội, hồ đồ, do nghiệp chướng, đă làm những chuyện như vậy. Từ nay về sau, phát nguyện chẳng trộm cắp, cũng xác thực là chẳng trộm cắp, cũng tức là nay chúng ta chẳng tạo, tiêu mất nghiệp quá khứ, dẹp tan chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo. Do vậy, phải nên sám hối. Đă sám hối xong; sau đấy, sẽ chẳng làm nữa!

          “Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự” (trong thân hiện tại, các hàng trời, người đều cùng thân ái, chẳng có ngờ lo): Người khác đối với quư vị chẳng ngờ vực, lo ngại. Hễ mất đồ, họ chẳng hoài nghi quư vị lấy, có ư nghĩa như thế đó. Chẳng ngờ vực, lo ngại, họ bị mất đồ tuyệt đối chẳng hề ngờ vực quư vị, chẳng hoài nghi quư vị nhám nhúa. Nếu không, trong nhà này có mấy người, người nào đó mất đồ, sẽ hoài nghi: “Nhà này chỉ có mấy người, chẳng phải Trương Tam th́ chắc là Lư Tứ”. Nhưng do quư vị chẳng có nghiệp này, họ sẽ chẳng hoài nghi quư vị là hạng người như thế đó!

          C̣n có kẻ trộm vật của quỷ thần. Quỷ th́ chúng ta c̣n có thể trộm được thứ ǵ đó, thần th́ chúng ta cũng chẳng thể trộm được. Chẳng phải vậy! Phàm là trong miếu thờ, bất cứ đồ vật, tiền tài, trong miếu thờ thổ địa, quư vị đừng có lấy, đó là xúc phạm quỷ thần. Phàm là những thứ trong chùa, thứ ǵ sư phụ cho quư vị th́ có thể lấy, đó là vật dụng tư nhân. Nhưng nếu ông ta lấy thứ ǵ thuộc Tam Bảo, hoặc lấy vật thuộc thập phương thường trụ làm quà tặng, th́ ông ta phạm lỗi, chứ quư vị chẳng phạm. Trong Phật đường, sư phụ trao cho quư vị thứ chi đó, quư vị chẳng phạm lỗi, mà ông ta cũng chẳng phạm. Ông ta nói những thứ đó là của ông ta, chẳng phải là của thập phương thường trụ. V́ sao ông ta phải ở trong tinh xá, không ở trong chùa lớn? Điều này có nguyên nhân, ông ta sợ phạm tội! Ở trong chùa, quư vị tùy tiện nhất cử nhất động, đều phải suy xét. Đấy là của Tam Bảo, ăn sai một miếng cũng chẳng được! Do v́ như vậy, người ta chẳng ngờ vực, lo ngại quư vị, thân tâm an lạc. Quư vị chẳng trộm cắp, sẽ chẳng gặp cảnh khốn cùng. Quư vị cảm cái quả ấy, của cải trọn đủ. Tới khi quư vị lâm chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, cảm thấy rất nhẹ nhàng, rất tự tại.

          Trong mười luân ấy, hễ luân nào được thành tựu, các thứ khác đều kém quan trọng hơn! Kẻ mạnh chẳng thể chèn ép kẻ yếu được! Thập luân thành tựu, dẫu thành tựu một luân cũng được, lúc lâm chung, quư vị cũng chẳng thấy sứ giả của vua Diễm Ma. Trong đoạn kinh văn trên đây, có một câu “sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu” (vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh): Đấy là “thọ chung chánh tẩm”. “Chánh tẩm” (正寢) là ǵ? Chết ở trong nhà của chính ḿnh, chết ngay trong nhà, thi thể quàn ở trong nhà. Đó gọi là “thọ chung chánh tẩm” (壽終正寢). Chết ở bên ngoài, chuyển xác về, chẳng thể coi là “thọ chung chánh tẩm”. Trong quá khứ, cổ nhân nói: Quư vị tạo rất nhiều nghiệp, làm rất nhiều chuyện xấu, chết ở bên ngoài, sẽ chẳng được coi là “thọ chung chánh tẩm”. [Hiện thời] chết tại nhà rất khó, trong quá khứ rất nhiều. Hiện thời “thọ chung chánh tẩm” rất ít, v́ thọ chung ở bệnh viện chiếm đại đa số. Khi lâm chung, quư vị chẳng thấy vua Diêm La, ông ta cũng chẳng sai người đến câu hồn quư vị, chẳng thể. Chỉ thấy những người khiến cho quư vị đẹp ư, hoặc thấy quang minh, ngửi mùi thơm. Nếu quư vị là người tin Phật, sẽ thấy thánh tượng. Quư vị chẳng tin Phật, nhưng do là người chẳng trộm cắp, sẽ được thiện thần, hộ pháp, sẽ trông thấy thiện thần. Phàm là [trông thấy người] hợp ư, như vậy th́ sẽ thành tựu điều ḥa thiện pháp của quư vị, đó là những người thiện pháp trọn đủ, trọn giới, giàu đức.

          “Thiện pháp điều thành” (điều ḥa thành tựu thiện pháp) tức là thuận theo thiện pháp. “Cụ giới, phú đức” (đủ giới, giàu đức) là tŕ giới thanh tịnh, có oai đức. Hay là chân thật phước điền, phước điền Tăng, hoặc là phước điền cư sĩ, hoặc là phước điền ưu-bà-tắc, ưu-bà-di làm thiện tri thức cho quư vị. Khi lâm chung, sẽ có thể trông thấy họ. Quư vị thấy rồi, “thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín” (thân tâm vui sướng, sanh ḷng kính tin sâu xa): Do có loại tâm t́nh ấy, chết đi sẽ “hoàn sanh nhân trung” (lại sanh trong loài người), hoặc sanh lên cơi trời.

 

          (Kinh) Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc. Tùy sở sanh xứ, cụ đại tài bảo, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc, bất dữ ngũ gia cộng chư tài bảo. Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, y bỉ tu học “ly bất dữ thủ”, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, chúng bảo trang nghiêm, bảo thụ, bảo tŕ, bảo đài, điện đẳng, vô bất sung bị. Ly ngă, ngă sở, vô sở nhiếp thọ, nhất thiết cụ túc nghiêm sức hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ nhị viễn ly bất dữ thủ luân.

          ()既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,具大財寶,端正聰明,安隱快樂,不與五家共諸財寶;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離不與取,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,眾寶莊嚴,寶樹、寶池、寶台殿等,無不充備,離我、我所,無所攝受,一切具足嚴飾有情來生其國;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第二遠離不與取輪。

          (Kinh: Đă mạng chung xong, lại sanh làm người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ. Sanh ở bất cứ nơi đâu, trọn đủ của cải lớn lao, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng, chẳng có chung tài sản với năm nhà. Lại gặp bậc đáng mến, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, chân thật phước điền làm thiện tri thức. Nương theo người ấy tu học, ĺa “chẳng cho mà lấy”, có thể đoạn hết thảy ác pháp bất thiện, có thể thành tựu hết thảy các thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở, các thứ báu trang nghiêm, cây báu, ao báu, đài báu, cung điện v.v… không ǵ chẳng trọn đủ. Các hữu t́nh ĺa ngă, ngă sở, không có ǵ nhiếp thọ, trọn đủ hết thảy trang nghiêm, sanh về cơi ấy. Bản thân đức Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ hai “chẳng cho mà lấy” của Bồ Tát Ma Ha Tát).

 

          “Chư căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở sanh xứ, cụ đại tài bảo, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc” (Các căn viên măn, chi thể trọn đủ, sanh ở bất cứ nơi đâu cũng đều trọn đủ của cải, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng). Đoạn này giống như kinh văn trong phần trước. Chỉ phần giữa nói về trộm hay giết khác nhau, những điều khác giống nhau: Lại được sanh làm người, sáu căn trọn đủ, tứ chi cũng trọn đủ. Sanh ở nơi đâu, cũng đều trọn đủ các của cải. Đương nhiên là gia tộc của quư vị cũng rất giàu có. Sanh vào gia đ́nh tốt đẹp, đoan chánh, thông minh, tướng mạo rất tốt, ai thấy cũng đều thích, thông thái, lanh lợi, an ổn, vui sướng.

          “Bất dữ ngũ gia cộng chư tài bảo” (chẳng cùng chung tài sản với năm nhà): Hết thảy của cải trong thế gian là của chung năm nhà. Quư vị chẳng trộm cắp th́ chính quư vị sẽ làm chủ. Chẳng cùng chung với năm nhà, năm nhà nào vậy?

          1) Quốc gia tịch thâu, hoặc là trưng dụng.

          2) Hoặc là đạo tặc cướp đoạt. Chúng nó cướp đoạt, quư vị chẳng đề pḥng nổi, hoặc là bị kẻ trộm lấy cắp. Đấy là hai nhà.

          3) Nước nhấn ch́m, lũ lụt cuốn trôi mất đi.

          4) Lửa đốt, đó là bốn nhà.

          5) Lợi hại nhất là “cướp nhà khó pḥng”, tức con cháu bất hiếu, quư vị chẳng có cách nào cả!

          Hết thảy tài sản trong thế gian là của chung năm nhà đó. Quư vị có thể an ổn, vui sướng. Tài sản [của quư vị] chẳng phải là của chung năm nhà, chỉ có phước báo của quư vị do quư vị cảm vời. Ai cũng chẳng tịch thâu của quư vị được! Con cháu của quư vị đều thiện lương, chẳng sanh ra con cháu ngỗ nghịch.

          “Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức” (lại gặp bậc đẹp ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, chân thật phước điền làm thiện tri thức): Sẽ nương theo người như vậy để tu học, theo người đó tu hành, học đạo, xa ĺa “không cho mà lấy”, giữ giới này thanh tịnh, chẳng c̣n trộm cắp nữa! Hết thảy các pháp bất thiện như đă nói, quư vị đều có thể đoạn. Tuy chỉ tŕ một giới này, chín điều thiện kia quư vị cũng có thể trọn đủ. Có một điều để đột phá, những điều khác cũng trọn đủ. “Năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, chúng bảo trang nghiêm, bảo thụ, bảo tŕ, bảo đài, điện đẳng, vô bất sung bị” (có thể thành tựu hết thảy các thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở, các thứ báu trang nghiêm, cây báu, ao báu, đài báu, cung điện v.v… không ǵ chẳng trọn đủ): Điều này giống như Tây Phương Cực Lạc thế giới. Mọi người niệm kinh A Di Đà đều biết, sanh vào thế giới nào, cũng đều giống nhau. Sanh vào quốc độ ấy, sanh thiên cũng là như thế. Quư vị đến cơi Phật ấy, bản thân Phật Thế Tôn Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ hết thảy hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ, quư vị đến đó có thể nghe pháp. Sau khi đức Phật diệt độ, trong thế giới ấy, “chánh pháp cửu trụ, lợi ích an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ nhị viễn ly bất dữ thủ luân” (chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ hai “chẳng cho mà lấy” của Bồ Tát Ma Ha Tát).

 

          (Kinh) Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển, lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành, thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc, sở đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.

          ()菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。

            (Kinh: Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân ấy, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La, thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường được thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén, phước thù thắng, thường được tăng trưởng. Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật và các vị Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử. Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt được quả báo như đă nói rộng trong phần trên).

 

          Người thuộc tam thừa, Bổ Đặc Già La (Pudgala) là người, là hữu t́nh. Thanh Văn Thừa, Độc Giác Thừa, Đại Thừa. Ba loại người ấy thọ tŕ pháp tam thừa, quư vị thuyết pháp cho họ, dạy họ, đều chẳng phạm sai lầm, họ cũng sẽ chẳng phạm sai lầm, sẽ nói đúng như pháp. Đó là Bồ Tát Ma Ha Tát. Ngài (Kim Cang Tạng Bồ Tát) hỏi Bồ Tát Ma Ha Tát làm thế nào để có thể thành tựu đại Bồ Tát đạo? Hóa độ chúng sanh bằng cách nào? Đức Phật liền bảo ngài Kim Cang Tạng có thập luân. Nói xong mười luân này, trong phần sau, c̣n có Thập Giáp Trụ Luân. Đó cũng là những việc phải làm của Bồ Tát. Do vậy quư vị thấy thập luân là nhắc lại, kinh Đại Tập Thập Luân chuyên nói về thập luân.

          Dần dần thăng tấn nơi pháp Đại Thừa, măi cho đến khi thành Phật. Từ đấy về sau, chẳng hề thoái chuyển. “Lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng”, [ư nói]: Trí huệ sắc bén, trí huệ giống như kim cang, phước đức thù thắng, vĩnh viễn tăng trưởng; đồng thời, cũng có thể đạt được Giới, Định, Huệ. Bản thân xa ĺa trộm cắp, xa ĺa “chẳng cho mà lấy”, đó là Giới. Khi quư vị tu Định, hết thảy các tam-muội đều có thể đạt được. Cho đến khi thành Phật, sẽ đạt được Thập Nhẫn, Thập Địa, cũng có thể đạt được tự tại, chẳng bị thoái chuyển, thường được gặp gỡ các vị thiện tri thức để tùy thuận làm theo, thường gặp được danh sư chỉ điểm, hướng dẫn quư vị. Quư vị hành theo lời vị ấy nói, người ấy làm như thế nào, quư vị cũng làm như thế đó, hành thuận theo, chẳng trái nghịch. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy các vị Phật, thường được chẳng ĺa thấy hết thảy các vị Bồ Tát, thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Thanh Văn, thường được chẳng ĺa thấy chư Phật, Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, thường được chẳng ĺa nghe pháp. Nơi quư vị ở, thường luôn có các hội thuyết pháp, thường có thể nghe pháp, lại c̣n có thể thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đấy là Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, quư vị thường chẳng tách rời, thường được thân cận.

          “Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc” (thường tinh tấn cầu các thiện căn, tâm chẳng chán đủ): Đấy là vun bồi phước đức, vun bồi thiện căn, tinh tấn chẳng lười nhác, chẳng thỏa măn, tức là chẳng cảm thấy làm lành đă đủ. Đối với ác th́ một niệm chẳng sanh. Đó là một niệm thành Phật. “Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc” (thường đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ): Phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Đề hạnh, phát Bồ Đề nguyện, chẳng chán đủ, đạt được quả báo như trong phần trước đă rộng nói.

 

          (Kinh) Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly dục tà hạnh, tức thị thí dữ dục lưu sở phiêu nhất thiết chúng sanh vô kinh, vô bố, vô tật, vô hại, vô hữu nhiệt năo, diệc vô nhiễu động. Ư kỷ thê thất, hỷ túc nhi trụ, chung bất hy cầu phi pháp sắc dục. Do thử thiện căn, tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân dục tà hạnh, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư thất gia chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ. Do thử viễn ly dục tà hạnh luân, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, thê thất trinh lương. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma Vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc. Tùy sở sanh xứ, cụ chư quyến thuộc, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc. Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, y bỉ tu học, ly dục tà hạnh, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, vô chư nữ nhân, ly chư dâm dục, cụ tục đệ nhất phạm hạnh hữu t́nh lai sanh kỳ quốc. Nhất thiết hữu t́nh giai thọ hóa sanh, bất xử bào thai xú uế bất tịnh. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc, vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ tam viễn ly dục tà hạnh luân.

          ()復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離欲邪行,即是施與欲流所漂一切眾生無驚無怖,無嫉無害,無有熱惱,亦無擾動,於己妻室喜足而住,終不希求非法色慾,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因欲邪行,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸室家障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離欲邪行輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,妻室貞良。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,具諸眷屬,端正聰明,安隱快樂;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離欲邪行,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,無諸女人,離諸淫慾,具足第一梵行有情來生其國,一切有情皆受化生,不處胞胎臭穢不淨;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第三遠離欲邪行輪。

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng ĺa dục tà hạnh, tức là đă thí không kinh sợ, không ghen ghét, không năo hại, không nhiệt năo, cũng như không nhiễu loạn cho hết thảy chúng sanh trôi giạt trong gịng dục. Trụ trong sự vui đủ đối với vợ ḿnh, trọn chẳng mong cầu sắc dục phi pháp. Do vậy, thiện căn mau được thành thục. Trong tất cả những lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử thuở quá khứ, do dục tà hạnh, tạo các ác nghiệp chướng nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng ngại về gia đ́nh, tự làm, dạy người khác làm, thấy nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa dục tà hạnh” này, [các thứ chướng ấy] sẽ đều bị nghiền nát, phá tan chẳng c̣n sót thừa, chẳng nhận lănh quả báo. Trong thân hiện tại, các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại, thân tâm an lạc, thê thiếp trinh lương. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách. Vợ con yêu mến, quyến thuộc vây quanh. Khi sắp mạng chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy người đẹp ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, chân thật phước điền làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng, sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung rồi lại sanh làm người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ, sanh ở bất cứ nơi đâu, quyến thuộc đầy đủ, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng, lại gặp người vừa ư, thành tựu điều phục các thiện pháp, đủ giới, giàu đức, chân thật phước điền làm thiện tri thức, nương theo người ấy tu học, ĺa dục tà hạnh, có thể đoạn hết thảy các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy sống, không có các nữ nhân, ĺa các dâm dục, hữu t́nh trọn đủ phạm hạnh bậc nhất sanh về nước ấy. Hết thảy hữu t́nh đều được hóa sanh, chẳng ở trong bào thai hôi thối, bất tịnh. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng theo căn cơ. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ ba “xa ĺa dục tà hạnh” của Bồ Tát Ma Ha Tát).

 

                [Giữ giới chẳng] tà dâm, “tức thị thí dữ dục lưu sở phiêu, nhất thiết chúng sanh vô kinh, vô bố” (tức là thí chẳng kinh sợ cho hết thảy chúng sanh đang trôi giạt trong gịng dục), giống như giới trộm cắp, đấy cũng là bố thí cho chúng sanh. Tất cả những kẻ đang ch́m đắm trong gịng dục, tham đắm dâm dục, hạng chúng sanh ấy ch́m nổi trong ba đường ác. Bố thí cho hết thảy chúng sanh đang trôi giạt, an ủi, khiến cho họ không sợ hăi, không kinh hoàng, giống hệt như trong phần trước [đă nói]. “Vô tật, vô hại, vô hữu nhiệt năo” (chẳng ghen ghét, chẳng năo hại, chẳng có nhiệt năo), cũng chẳng nhiễu loạn. “Ư kỷ thê thất, hỷ túc nhi trụ” (Trụ nơi vui đủ với vợ ḿnh): Quan hệ vợ chồng là chánh đạo trong nhân gian, cho nên đă thọ Ngũ Giới hay thọ [tại gia] Bồ Tát Giới, sẽ chẳng gây trở ngại cho chánh đạo trong nhân gian. Nếu đă thọ tỳ-kheo Bồ Tát giới th́ không được [có quan hệ dâm dục]. Hàng Bồ Tát thuộc Tín vị phải đoạn hết thảy các dục. Chúng ta cảm thấy lập gia đ́nh sanh nở, nuôi dưỡng con cái, nối dơi tông đường là chuyện b́nh thường trong nhân gian, nhưng điều ấy có đúng hay không? Chẳng đúng!

          Như khi tôi ở chùa Chánh Giác thuộc Trung Nam Hải tại Bắc Kinh, có một vị giáo sư đại học đến công viên Bắc Hải chơi, trông thấy một ngôi chùa, liền bước vào. Trong công viên lại có chùa, ông ta cảm thấy rất lạ lùng. Có thể là lần đầu tiên ông ta bước vào. Ngôi chùa trong công viên Bắc Hải do đế vương nhà Măn Thanh xây dựng; trước kia, chùa hoàn toàn chẳng mở cửa cho công chúng. Bởi lẽ, ngôi chùa ấy chuyên dành cho các vị lạt-ma ở, chẳng dành cho các ḥa thượng ở. Thời đó, các hoàng đế đều quy y lạt-ma, mượn sức người Mông Cổ, mượn sức người Tây Tạng để giúp đỡ biên cương [an ổn].

          Vị giáo sư ấy đến đó, thấy bọn ḥa thượng chúng tôi, ông ta chẳng cung kính đối với tượng Phật, cũng chẳng lễ bái, lên giọng răn dạy chúng tôi: “Nếu ai nấy đều giống như các ngươi, nhân gian sẽ chẳng c̣n ai hết, bị tuyệt chủng cả rồi!” Ông ta nói với tôi rất nhiều, tôi chỉ nêu ra vấn đề liên quan đến chuyện đang nói hôm nay (tức là chuyện đoạn dục). Lúc đó, tôi đáp lời ông ta: “Đều giống như chúng tôi th́ cũng được lắm, đều đoạn dục, tuyệt chủng rồi. [Ông cho rằng] đều giống như chúng tôi là không được, nhưng tôi có thể nói mấy chỗ, chẳng hạn như thế giới Cực Lạc chẳng có nữ nhân, họ chẳng tuyệt chủng, người trong mười phương thế giới đều đến đó”. Tôi nói: “Đại Phạm Thiên chẳng tuyệt chủng! Ở cơi trời ấy, chẳng có tướng nữ nhân, mà cũng chẳng có nữ nhân, chỉ sáu tầng trời trong cơi Dục th́ có, chứ Đại Phạm Thiên tuyệt đối chẳng có. Mười phương thế giới đều sanh về đó, họ chẳng bị tuyệt chủng”. Ông ta đáp: “Tôi chẳng thấy chuyện ấy, tôi không tin. Tôi chỉ tin tưởng chuyện thấy trước mắt. Có sự thật th́ tôi mới tin tưởng. Những điều ấy chẳng phải là sự thật, toàn là chuyện do Phật giáo mấy ông bịa ra!” Tôi nói: “Tôi nói một chút sự thật vậy. Đều giống như chúng tôi th́ không được, vậy th́ đều giống như giáo sư nhà ông th́ có được hay không?” “Có ǵ là không được? Tôi có thể dạy dỗ người khác”. Tôi nói: “Ông có ăn uống hay không? Có mặc quần áo hay không? Quần áo của ông từ đâu mà có? Là do giáo sư làm ra? Hay do học giả làm ra? Lương thực ông ăn do các vị giáo sư như ông trồng trọt à? Đều giống như tôi [đương nhiên] là chuyện chẳng thể. Nhưng nếu đều giống như ông th́ cũng chẳng được! Nếu đều giống như ông th́ thế giới này cũng chẳng có, đều chết đói hết rồi! Ông cũng chẳng cần mặc quần áo, mà cũng chẳng cần ăn cơm nữa, ông c̣n muốn đến chơi chỗ này th́ chẳng thể nào được!”

          Giả sử nói thế giới này đều giống như Phật, đó là chuyện chẳng thể nào! Chỉ có thể nói là Phật quả. Đều giống như Phật, thế giới này sẽ chẳng có, toàn thể thanh tịnh. Đây là chuyện tuyệt đối chẳng thể có. Đó là đă phạm sai lầm căn bản [trong khi biện luận]. Bất luận quư vị nêu lên một pháp nào, nếu đều là một pháp, thứ ǵ cũng đều chẳng có, chỉ có một pháp là chứng đắc tánh Không. Ai nấy đều trọn đủ tánh Không, nhưng [kẻ b́nh phàm] ai nấy đều chẳng chứng được! Người chứng đắc [tánh Không] rất ít, cho nên [người chứng đắc tánh Không] mới thành Phật. Vật ǵ hiếm th́ quư! Trong nhân loại, hễ có một vị A La Hán đoạn phiền năo, chứng Bồ Đề, vị ấy sẽ tôn quư khôn cùng, có ư nghĩa như thế đó.

          Vị Bồ Tát này cho đến hết thọ mạng đều có thể rời ĺa [dục tà hạnh], v́ Bồ Tát có tại gia Bồ Tát và xuất gia Bồ Tát, cho nên các Ngài ĺa dục tà hạnh. Nếu toàn thể [chúng sanh đều] là Bồ Tát, sẽ đều là chánh hạnh ly dục, chẳng thể nào tà hạnh. Thế nhưng nếu quư vị chẳng có dục niệm, th́ đối với hết thảy chúng sanh, chính là đă cúng dường, bố thí cho họ “chẳng kinh sợ, chẳng ghen ghét, chẳng năo hại”. Tà dục là ghen tỵ, do gian dâm sanh ra sát hại. Hễ phá giới này, sát giới cũng phá, mà cũng có thể giới uống rượu bị phá luôn, mà cũng có thể là giới trộm cắp cũng phạm. Giết, trộm, dâm, dối, chỉ cần phá một điều, sẽ có mối liên quan, cũng có thể phá sạch cả năm giới. Do vậy, chớ nên ghen tỵ. “Vô hữu nhiệt năo, diệc vô nhiễu động, ư kỷ thê thất, hỷ túc nhi trụ” (Chẳng có nhiệt năo, cũng chẳng nhiễu loạn, có thể trụ trong vui đủ với vợ của chính ḿnh), phải nên vui thỏa [với những ǵ ḿnh đang có]. Dục vọng là thứ không có chừng hạn!

          “Chung bất hy cầu phi pháp sắc dục” (trọn chẳng mong cầu sắc dục phi pháp), tức là chẳng tham cầu sắc dục trái pháp. Chẳng hợp pháp, chẳng qua các thủ tục [kết hôn], th́ đều gọi là “phi pháp sắc dục”. Hiện thời, chẳng có cách nào! Hằng ngày xem báo chí, [sẽ thấy] sắc dục phi pháp quá nhiều. Nếu Bồ Tát có thể cho đến hết thọ mạng, luôn xa ĺa [dục tà hạnh]; do điều này mà thiện căn nhất định có thể chín muồi! Trong tất cả những lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử trước kia, do dục tà hạnh, tạo ra các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng ngại về gia đ́nh, [những thứ chướng sẽ đều bị trừ diệt]. Có gia đ́nh là có chướng ngại. Mọi người thấy chữ Gia (), phía trên có một chữ giống như cái lọng báu (tức bộ Miên, ), khóa chặt lại, chẳng thể có cách nào thoát ra. Chờ ǵ vậy? Chờ bị tàn sát, chờ đến khi chết ngắc trong nhà. Hiện thời, thật sự chết ở trong nhà vẫn là “chánh tẩm”, nếu chết ở bên ngoài th́ “phiêu lưu” (trôi giạt).

          “Tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ, do thử viễn ly dục tà hạnh luân” (tự làm, dạy người khác làm, thấy nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa dục tà hạnh” này), khi quư vị xem TV, gặp những màn ấy, quư vị phải phát nguyện, nguyện cho hết thảy chúng sanh đoạn tà dục, nhất định phải phát nguyện. Quư vị nh́n những cảnh ấy, lại nh́n vào thế giới động vật, quư vị nói xem, con người và động vật khác nhau bao nhiêu? Đều là lo kiếm ăn, tàn sát lẫn nhau. Mấy hôm nay, tôi xem TV mới biết gấu chó ăn cá. Gấu chó[4] ở Bắc Cực phải dựa vào cá để sống. Thứ ǵ cũng đều chẳng có, trời băng đất tuyết, nó phải bắt cá. Đó gọi là tàn sát lẫn nhau. Trả nợ mạng thay cho nhau. Trông thấy những việc ấy, ngàn vạn phần chớ nên tùy hỷ! Quư vị nói xem, giữa con người với nhau, giữa súc sanh với nhau, có ǵ khác biệt? Trung Hoa cổ đại đă có câu tục ngữ: “Nhân chi dị ư cầm thú giả cơ hy” (con người khác với cầm thú rất ít). Rất ít! Con người xét theo lư, trong cảnh giới ngũ dục, chúng ta một vừa hai phải, chớ nên quá phận. Chữ Dâm () có ba chấm thủy, Dâm là quá mức, [theo nghĩa gốc là] mưa dầm quá lâu, một mực chẳng ngừng. Mưa lâu liền sanh ẩm ướt. Dâm có nghĩa là “quá mức”, càng quá mức th́ khác biệt với động vật càng nhỏ!

          Quư vị có thể quan sát, bồ câu, chim sẻ, chuột, dục niệm của chúng đúng là chẳng có chừng hạn. Phải nên biết điều này! Do “viễn ly dục hạnh luân” sẽ “giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng giai cộng thân ái, vô sở sai lự” (thảy đều nghiền nát, phá tan chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo. Trong thân hiện tại, các hàng trời, người đều cùng thân ái, chẳng có ngờ vực, lo ngại): Trời, người đối với quư vị chẳng ngờ vực, lo ngại. Quư vị đă rời ĺa dục niệm, nữ nhân chẳng phải đề pḥng quư vị, v́ tuyệt đối chẳng phát sanh chuyện cường bạo. Do chính quư vị nhận biết ḿnh đă ĺa dục, hết thảy nữ nhân sẽ chẳng sanh khởi cái tâm tham ái đối với quư vị, v́ “điện quang”, từ trường phóng ra từ tinh thần của quư vị chẳng tương ứng, chẳng khởi tác dụng đối với họ.

          Vấn đề này rất lớn. Thập Thiện Nghiệp Đạo, nói dễ hiểu th́ là nhân thiên thừa, nói lớn hơn th́ Thanh Văn Thừa cũng chưa làm được, họ chỉ có thể làm được một phần. Cho đến hàng Bồ Tát Ma Ha Tát cũng chỉ có thể làm được một phần. Chỉ có Phật với Phật th́ mới có thể rốt ráo thành tựu Thập Thiện Nghiệp Đạo Luân, mỗi pháp đều là như thế. Quả báo đạt được sẽ là nơi thân hiện tại, các hàng nhân thiên đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại quư vị, thân tâm của chính ḿnh cũng an lạc. “Thê thất trinh lương”, theo như kinh Phật đă nói, dường như chủ nghĩa đại nam nhân rất nặng. [Nếu chấp trước văn tự, sẽ hiểu] “thê thất trinh lương” dường như [chỉ cần vợ trinh lương], mặc kệ chồng, chồng có thể tùy tiện [lăng nhăng] chứ ǵ? Nam nữ đều như nhau, đều chẳng thể! Thường nói là “thê thất trinh lương”, nhưng nam nhân cũng phải làm như vậy!

          Trong quá khứ, vào thời Chiến Quốc, anh của ông Liễu Hạ Huệ[5] nước Lỗ, thân bất nhị sắc (người chung thủy với một nữ nhân duy nhất). Xưa nay, mọi người đề xướng, chung thủy với vợ, nam giới chớ nên lẹo tẹo với nữ nhân nào khác. Nữ nhân chớ nên tằng tịu với nam nhân nào khác [ngoài chồng ḿnh]. Có khi là suốt đời thanh tịnh, suốt đời chẳng lập gia đ́nh. Rất nhiều người thời cổ là như vậy. Có người khi phê phán, đă cho rằng hạng người ấy là ngu si, chẳng có trí huệ. [Họ lập luận] “ăn uống và sắc dục là bản tánh. Thế mà người như thế ngay cả ăn uống lẫn sắc dục đều không hiểu; đấy là ngu si”, [đâu có biết] chỉ có thánh nhân mới làm được như thế! Người như Liễu Hạ Huệ, [nữ nhân] ngồi trong ḷng mà tâm vẫn chẳng loạn, “Lỗ nam tử”[6] là một nam nhân ở nước Lỗ như thế! Ông ta thân bất nhị sắc, suốt đời ǵn giữ thanh tịnh. Đó là chuyện chẳng dễ dàng! Phải hiểu đạo lư này!

          Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, “bất kiến khả bố Diễm La Vương sứ, duy kiến khả ư thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức” (chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm La, chỉ thấy người vừa ư, điều phục thành tựu thiện căn, đủ giới, giàu đức, chân thật phước điền làm thiện tri thức): Đoạn này giống như kinh văn trong phần trước. Như vậy th́ sẽ “y bỉ tu học ly dục tà hạnh” (nương theo người ấy tu học ĺa dục tà hạnh), câu kinh văn này khác biệt. Trong đoạn kinh văn trước đó th́ là “ly bất dữ thủ” (ĺa chẳng cho mà lấy), c̣n ở đây là ly dục, các điều khác đều giống nhau. Trong đoạn thứ nhất nơi phần trước là “ly bất sát” (ĺa chẳng giết). “Năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải” (có thể đoạn hết thảy các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng): Dần dần có thể thành Phật, “năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề” (cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề). “Sở cư Phật độ, vô chư nữ nhân”, [nghĩa là] quư vị sanh vào cơi Phật ấy, tŕ giới “chẳng tà dâm” trong Ngũ Giới th́ quư vị sẽ sanh vào cơi Phật chẳng có nữ nhân.

          “Ly chư dâm dục, cụ túc đệ nhất phạm hạnh” (ĺa các dâm dục, trọn đủ phạm hạnh bậc nhất): Phạm hạnh bậc nhất là thanh tịnh hạnh. Người sanh về cơi Phật ấy đều trọn đủ phạm hạnh thanh tịnh, đều ĺa các dâm dục. Thế giới Cực Lạc là như vậy. Thế giới của Đông Phương Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, và thế giới của Bất Động Như Lai ở thượng phương cũng như vậy. Phàm là cơi Phật thanh tịnh đều là như thế. Vậy th́ sẽ chẳng c̣n thọ sanh [trong thai bào], thọ sanh đều là hóa sanh. Cơi Phạm Thiên đều là hóa sanh, thế giới Cực Lạc là liên hoa hóa sanh. Như vậy, sẽ chẳng có t́nh huống “ở trong thai mẹ, thai bào xú uế bất tịnh”. Phật Như Lai trong thế giới ấy thọ mạng vô lượng. “Vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp, bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích an lạc, vô lượng hữu t́nh” (v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng như căn cơ. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh), ư nghĩa như đă nói trong phần trước đă xong. Đấy là “thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ tam viễn ly dục tà hạnh luân” (này thiện nam tử! Đó gọi là cái luân thứ ba “xa ĺa dục tà hạnh” của Bồ Tát Ma Ha Tát). Đấy là cái luân thứ ba.

 

          (Kinh) Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất. Thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc, sở đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.

          ()菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。

            (Kinh: Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân ấy, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường được thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén, phước thù thắng, thường được tăng trưởng. Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật và các vị Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt được quả báo như đă nói rộng trong phần trên).

 

          Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu luân này, Kim Cang Tạng Bồ Tát hỏi đức Phật, làm như thế nào mới chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa? Làm như thế nào chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La? “Ư Độc Giác Thừa đắc vô ngộ thất? Ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất? Ư kỳ Đại Thừa đắc vô ngộ thất? Ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất? (Chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa? Chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La? Chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa? Chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La?), cũng thường khiến cho Tam Bảo hưng thịnh, chủng tánh Tam Bảo thường có thể tồn tại. Nếu có thể thành tựu cái luân “xa ĺa dục tà hạnh”, có thể thành tựu cái luân “chẳng giết chóc”, có thể thành tựu cái luân “xa ĺa chẳng cho mà lấy”, th́ sẽ đều như nhau. Như thế th́ đối với pháp tam thừa, đối với người thuộc tam thừa, sẽ có thể chẳng sai lầm. Khi đại Bồ Tát đang thuyết pháp, khi nương theo pháp để khơi gợi chúng sanh, đối với người thuộc Thanh Văn Thừa, sẽ nói cho họ pháp Thanh Văn thừa, sẽ chẳng lầm lạc nói pháp Đại Thừa cho họ. Đối với người Đại Thừa, cũng chẳng nói pháp Thanh Văn. Đây là đối với tam thừa bèn thuyết pháp tương ứng căn cơ, đều chẳng sai lầm. Như thế th́ chánh pháp sẽ tồn tại lâu dài.

          Trên đây đă nói, sau khi mỗi vị Phật bát Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, có ư nghĩa như thế ấy. Đối với đệ tử xuất gia, “nhược thị pháp khí, hoặc phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, vô hữu ngộ thất” (dù là pháp khí, hay chẳng phải pháp khí, thậm chí đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, chẳng phạm sai lầm): Không chỉ chẳng phạm sai lầm đối với người thuộc tam thừa. Chỉ cần kẻ ấy khoác một mảnh ca-sa [cũng chẳng phạm sai lầm đối với kẻ ấy]. Quư vị phải biết v́ sao người ấy có thể khoác một mảnh ca-sa này, đó gọi là “tri căn vô ngộ” (biết tận cội rễ th́ sẽ chẳng lầm), tuyệt đối chẳng sai lầm! Như thế th́ pháp Đại Thừa thường được thăng tấn; nếu không, sẽ bị thoái chuyển. “Lợi huệ, thắng phước” (trí huệ nhạy bén, phước thù thắng) do vậy “thường đắc tăng trưởng, ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại vô hữu thoái chuyển, thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành” (thường được tăng trưởng, đối với hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận mà hành). Những điều này giống như trong phần trước. “Thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận cúng dường chúng Tăng” (thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận cúng dường chúng Tăng): Đối với Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo thường được thân cận.

 

          (Kinh) Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly hư cuống ngữ, nhất thiết chúng sanh thường cộng ái kính, sở xuất ngôn từ giai thành đế lượng, văn tất kính phụng, vô sở sai nghi. Do thử thiện căn, tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân hư cuống ngữ, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư tín ngôn chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ, do thử viễn ly hư cuống ngữ luân, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, sở xuất ngôn từ, tha giai tín phụng. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết. Sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma Vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở sanh xứ, sở ngôn thành đế, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc. Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, y bỉ tu học, ly hư cuống ngữ, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, nhất thiết chân thật, ly chư hư ngụy, diệu hương khiết vật chi sở trang nghiêm, vô siểm, vô cuống, tâm hạnh chánh trực, hy cầu thuần tịnh thiện pháp hữu t́nh lai sanh kỳ quốc, hương khiết diệu phục, bảo sức trang nghiêm. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ tứ viễn ly hư cuống ngữ luân.

          ()復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離虛誑語,一切眾生常共愛敬,所出言詞皆誠諦量,聞悉敬奉,無所猜疑,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因虛誑語,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸信言障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離虛誑語輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,所出言詞他皆信奉。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,所言誠諦,端正聰明,安隱快樂;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離虛誑語,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,一切真實,離諸虛偽,妙香潔物之所莊嚴,無諂無誑,心行正真,希求純淨善法有情來生其國,香潔妙服,寶飾莊嚴;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第四遠離虛誑語輪。

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng ĺa lời hư dối, hết thảy chúng sanh sẽ thường cùng yêu kính, lời lẽ nói ra đều trở thành chắc thật, đúng lư, người nghe đều kính trọng, vâng theo, chẳng ngờ vực. Do vậy, thiện căn có thể mau chín muồi. Tất cả các nghiệp chướng nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng ngại khiến cho lời nói chẳng đáng tin do lời hư dối tạo ra khi luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử trong quá khứ, tự ḿnh làm, dạy người khác làm, sẽ do cái luân “xa ĺa lời nói hư dối” này mà đều bị nghiền nát, phá tan chẳng c̣n thừa sót, chẳng nhận lănh quả báo. Nơi thân hiện tại, các hàng trời, người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại ǵ. Thân tâm an lạc, lời lẽ nói ra, người khác đều tin tưởng, vâng theo. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến, quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy người đáng mến, thành tựu điều phục thiện pháp, đủ giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui vẻ, sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung, lại sanh làm người, các căn viên măn, chi thể đầy đủ, sanh ở bất cứ nơi đâu, lời nói chân thành, chắc thật, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng. Lại gặp người vừa ư, thành tựu điều phục thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước đức chân thật làm thiện tri thức, nương theo người đó tu học, ĺa lời hư dối, có thể đoạn hết thảy pháp ác, bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở, hết thảy chân thật, ĺa các hư ngụy, trang nghiêm bằng các vật thơm sạch mầu nhiệm. Các hữu t́nh không siểm nịnh, không dối gạt, tâm hạnh chánh trực, mong cầu thiện pháp thuần tịnh sanh về cơi ấy. Các thứ y phục mầu nhiệm thơm sạch, các thứ trang sức báu trang hoàng. Bản thân của Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ. Sau khi Phật bát Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ tư “xa ĺa lời hư dối” của Bồ Tát Ma Ha Tát).

 

          “Hư” () là lời nói rỗng tuếch, giả dối, “cuống” () là lời lẽ gạt người, đều phải xa ĺa. “Nhất thiết chúng sanh thường cộng ái kính, sở hữu ngôn từ giai thành đế lượng” (hết thảy chúng sanh thường cùng yêu kính, tất cả lời lẽ đều trở thành chắc thật, đúng lư). “Lượng” () có nghĩa là như lư (如理, đúng lư), Đế () là lư, c̣n Lượng là “như lư”. Hết thảy lời nói đều là chân thật, sự chân thật ấy phù hợp pháp tánh. Những lời chúng ta nói đều chẳng chân thật, chẳng đúng lư, chẳng phải là sự thật, chứa đựng những yếu tố lừa gạt, dụ hoặc. Lời lẽ dối gạt bao gồm rất nhiều thứ. Đối với chúng ta, chỉ cần [lời nói] chẳng v́ danh lợi, chẳng phải v́ chính ḿnh có lợi, [th́ dẫu không chân thật] cũng tạm chấp nhận được; nhưng đối với Bồ Tát th́ không thể. Yêu cầu của Bồ Tát rất nghiêm ngặt: Bồ Tát chỉ được phép nói dối nếu v́ hành Bồ Tát đạo!

          Chẳng hạn như khi đức Phật c̣n tu nhân, có một con đỗ quyên bị thợ bẫy chim làm bị thương. Con đỗ quyên ấy bay đến bên đức Phật. Đức Phật liền giấu nó trong ngực. Gă thợ bẫy chim tới đó nh́n ngó, thấy có một người như vậy, bèn hỏi: “Tao vừa đánh bẫy được một con chim, mày có thấy hay không?” “Tôi không thấy”. Đó chẳng gọi là nói dối. Ngài giấu con đỗ quyên trong ngực áo, vẫn nói chẳng trông thấy. Điều này chẳng phạm giới, Ngài v́ lợi ích chúng sanh, chính là phương tiện thiện xảo của Phật. Các pháp do đức Phật đă nói đều là phương tiện. Do vậy, trong kinh Kim Cang, đức Phật đă bảo ngài Tu Bồ Đề: “Tri ngă thuyết pháp, như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (hăy biết pháp do ta đă nói ví như thuyền bè. Pháp c̣n nên xả, huống hồ phi pháp). Đó là phương tiện, do là phương tiện thiện xảo độ chúng sanh, cho nên mới nói như thế. Thật ra, chẳng có hết thảy các pháp. Hết thảy các pháp đều chẳng thành lập, đó gọi là “hư cuống, vọng ngữ”. V́ lợi ích chúng sanh, cho nên đối với giới sát, giới trộm, giới dâm, đều nói như thế. Chúng ta thờ tượng Đề Lam Quán Âm (提籃觀音, Quán Âm cầm giỏ), Đề Lam Quán Âm[7] chính là Quán Thế Âm Bồ Tát thị hiện thân nữ nhân, kết hôn với người khác. Ngài có phạm giới hay không? Phạm giới! Ngài v́ lợi ích các chúng sanh ấy, nhưng hôm Ngài kết hôn bèn chết. Đă kết hôn, hoàn thành hôn lễ, tối hôm đó Ngài chết. Ngày dạy người đó niệm phẩm Phổ Môn, hoặc là niệm mấy phẩm. Về sau, c̣n dạy họ tụng thuộc ḷng kinh Pháp Hoa. Chàng họ Mă ấy suốt ngày từ sáng đến tối học kinh Pháp Hoa, Ngài gả cho anh ta, nhưng đến tối đó bèn chết. Chàng họ Mă thấy vậy, [cảm ngộ] đời người vô thường như thế đó, xinh đẹp như vậy để làm ǵ, dù ǵ đi nữa th́ cũng phải chết, anh ta cũng xuất gia, tức là Bồ Tát đă độ anh ta! Đại Bồ Tát hành nghịch hạnh. Hành nghịch hạnh tức chẳng phải là thuận hạnh, trái nghịch giới luật nhà Phật. Tuy hành nghịch hạnh, nhưng thật sự là thuận, chân thuận! Ngài làm đúng như lư, hiểu đạo lư này là được rồi. Nếu không, hăy c̣n có rất nhiều mê hoặc. Các chúng sanh như vậy, người khác cung kính họ, họ bèn ĺa khỏi, chẳng lừa gạt, toàn nói lời chân thật. Như thế th́ người khác đối với lời nói của người đó, chẳng có chỗ nào làm căn cứ để có thể ngờ vực, lo ngại, cho nên chẳng hoài nghi, có thiện căn ấy, đă chín muồi.

          “Chư tín ngôn chướng”: Do kẻ khác chẳng tin, lời nói của người đó sẽ bị chướng ngại. Nếu một kẻ [ăn nói dối trá], khiến cho người khác chỉ trích, th́ dẫu kẻ đó nói cả trăm lượt, ta vẫn chẳng tin. Chuyện này rất khó khăn! Tức là quư vị thốt lời dối gạt quá nhiều, nói dối quá mức, ai c̣n tin nổi quư vị? Gạt người khác một lần, hai lần, ba lần, năm lần, mười lần, ba mươi lần th́ c̣n có thể. Chứ quư vị nói một trăm lần, v́ quư vị thốt lời dối trá, nói rồi chẳng làm, xài chi phiếu lủng, vậy là xong đời rồi! Chẳng có cách nào kinh doanh được nữa!

          Do v́ thiện căn đă chín muồi, dẫu trong quá khứ, khi luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử, đă trót thốt lời dối trá, sanh ra đủ thứ chướng ngại, [các chướng ngại ấy do thiện căn “ĺa lời dối trá”] sẽ đều tiêu mất. Cái luân “xa ĺa hư dối” sẽ đều nghiền nát, xa ĺa [các thứ chướng ấy], chẳng c̣n nói lời hư giả nữa. “Tồi diệt vô dư” (phá tan chẳng c̣n sót thừa), đối với [các nghiệp] đă tạo trước kia sẽ “bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái” (chẳng nhận lănh quả báo, nơi thân hiện tại, các hàng trời người đều cùng thân ái): Mọi người đều thân ái quư vị; bởi lẽ, nếu quư vị rất thành thật, bất luận buôn bán với ai, họ đều mong qua lại với quư vị. Kể ra, chẳng có kẻ nào là thành thật, nhưng ai nấy đều mong kẻ khác thành thật. Có hiểu ư nghĩa này hay chăng? Tôi nghĩ mỗi đạo hữu đều hiểu. Quư vị đă thấy nghe, luôn hy vọng kẻ khác đừng lừa gạt ta, ta có thể lường gạt người khác. Đó là tâm lư của mọi người. Nếu hy vọng “mọi người đều lừa gạt ta, ta trọn chẳng lừa gạt người khác. Ai lừa gạt ta, ta đều bằng ḷng chịu bị gạt” th́ là bậc đại Bồ Tát.

          Hết thảy chúng sanh giết ta, ta đều có thể chịu đựng, ta bằng ḷng cúng dường chúng sanh, nhưng ta chẳng năo hại một chúng sanh nào, kể cả loài kiến. Tôi ở Nữu Ước, [chỗ ở] có gián và chuột, có một đệ tử hỏi: “Làm thế nào đối với gián và kiến?” Lại chẳng thể đập chúng, lại chẳng thể dùng nước sôi rưới nó, lại chẳng thể rảy thuốc. Tin tưởng Phật, tôi nói: “Quư vị thuyết pháp cho nó”. “Nó có thể hiểu hay không?” Tôi nói: “Tôi thuyết pháp cho quư vị, cũng có những điều quư vị không hiểu! Tôi xem kinh, có những chỗ kinh nói tôi không hiểu, rất nhiều thứ chẳng hiểu! Quư vị chớ v́ nó không hiểu mà chẳng nói. Quư vị hăy thử xem, sẽ thật sự linh”. Người đó nói: “Linh thiệt”. Nhà người ấy chẳng có [gián, kiến] nữa!

          Chuyện kiểu này rất nhiều, hễ quư vị tin tưởng th́ sẽ thành tựu. Chẳng tin, thứ ǵ cũng không linh. Hễ tin tưởng bèn linh. Kinh Địa Tạng Bồ Tát dạy: Niệm danh hiệu ta là được, nhưng quư vị vẫn chẳng niệm! Niệm ư? Tôi cảm thấy tôi chẳng thể ngày ngày niệm như thế được! Mỗi ngày niệm một vạn câu, chẳng làm được! Nhưng đạo hữu của tôi, có rất nhiều người làm được! “V́ sao tôi chẳng làm được? Chẳng có thời gian!” Đó toàn là viện cớ! Tín lực vẫn chưa đủ! “Tôi giảng kinh là đủ rồi!” Luôn đổ vấy cho nguyên nhân khác khiến cho ḿnh chẳng thể làm! Nếu thật sự chẳng giải đăi, bất luận là chướng ngại nào, tôi mỗi ngày niệm danh hiệu Ngài một vạn câu, Địa Tạng Vương Bồ Tát sẽ tiếp dẫn quư vị. Để niệm một vạn tiếng, quư vị vẫn phải mất ba năm. Có khi đả thất th́ niệm một trăm vạn tiếng! Như thế th́ mỗi ngày niệm một ngàn câu, phải niệm bao lâu mới được một trăm vạn câu? Mỗi ngày niệm một ngàn câu, một tháng là ba vạn câu, một năm mới hơn ba mươi vạn câu. Quư vị muốn niệm một trăm vạn câu, phải niệm ba năm. Khi quư vị tinh tấn, dũng mănh, quư vị liền niệm một trăm vạn câu. Niệm xong, lại giải đăi ba năm, ba năm sau, lại niệm một trăm vạn câu nữa. Làm kiểu ấy cũng được, ta đặt kế hoạch như vậy. Hết một năm, ta đả thất, niệm một trăm vạn câu, hoặc nhiều hơn. Nói là “niệm một trăm vạn câu”, thật ra là niệm một trăm mười vạn câu, v́ sao? Có lúc dấy vọng tưởng, niệm hơn mười vạn tiếng để bổ sung những câu niệm xen tạp vọng tưởng. Biết chăng? Khi chúng ta niệm kinh, phải niệm nhiều hơn một chút, dấy vọng tưởng chẳng sao hết! Sau đấy, quư vị bổ sung, chuyện này thật sự có thể bổ sung. Khi niệm, ta niệm một ngàn câu, quư vị phải niệm thêm một trăm câu nữa. V́ ở trong ấy, đă dấy vọng tưởng, hoặc là lần chuỗi đếm sai, cũng có khi đếm số chẳng chuẩn xác. Niệm nhiều chẳng ít, các chướng ngại trên đây sẽ đều đoạn trừ.

          Xa ĺa hư dối, quư vị phải nên làm như thế nào để đối trị? Nói lời chân thật. Nói năng tuyệt đối phải suy nghĩ một phen rồi mới nói. Đừng mở miệng thốt lời luông tuồng, hăy suy xét một phen rồi mới nói. Người ta vừa hỏi liền đáp ngay, sẽ dễ sai lầm. [Người ta chê trách] “cứ mở miệng là phun ào ào” là v́ ư nghĩa này. Diệt tan quả báo trong quá khứ, sẽ chẳng lănh nhận quả báo nữa. “Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự. Thân tâm an lạc, sở xuất ngôn từ, tha giai kính phụng” (trong thân hiện tại, các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại. Thân tâm an lạc, lời lẽ nói ra, người khác đều kính trọng, vâng theo): Người khác đều tin lời quư vị nói, làm theo lời quư vị nói. Hoặc là ai nấy đều tuân hành lời nói của quư vị, đó chính là sự tín nhiệm đối với quư vị. Người trong nước, ai nấy đều tin nhận vị Tổng Thống này toàn nói lời thành thật, họ sẽ tuyệt đối làm theo chánh sách do ông ta đă nói. Chánh sách do quốc gia định ra sẽ chẳng trở thành “ăn nói hai lời, toàn là lừa gạt!”

          Giết chóc quá nặng, nước nhà sẽ tồn tại chẳng lâu, chẳng thể tồn tại một trăm năm. Nhà Nguyên tồn tại ngắn nhất, [vương triều của] Lư Tự Thành càng ngắn ngủi hơn, mười tám ngày! Tới ngày thứ mười tám, nhà Măn Thanh vào trong quan ải, đuổi ông ta chạy dài. Ông ta toàn nói lời giả dối, giết người quá nhiều. [Người ĺa lời dối trá], khi mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma. Vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh, mọi người ở đó đều nói lời chân thật, đều tiễn ông ta đi, khiến cho ông ta thật sự chẳng lưu luyến. Điều này rất quan trọng. Khi sắp chết, đối trước cửa ải t́nh ái, nếu khóc sướt mướt, thần thức của người đó đă bị quư vị cầm giữ, rất khó siêu thoát!

          Học tập ĺa lời hư dối. Chắc là mọi người nói: “Ĺa lời hư dối mà c̣n phải học à?” V́ mọi người chẳng học giới kinh. Học giới kinh th́ [sẽ biết] mỗi một giới đều phải học. Như thế nào là phạm phải tội nói hư vọng? Như thế nào là chẳng phạm tội nói hư vọng? Cái nhân của lời hư vọng, cái duyên của lời hư vọng, [hợp thành những điều kiện để xét đoán có phạm] giới hư vọng [hay không]. C̣n nữa, lừa gạt để cầu danh lợi, lừa gạt người ta, người ta bị tổn thất, là đă thành phạm giới. Tùy tiện lừa gạt đứa bé [khi nó quấy khóc], đại khái là do chuyện ấy chẳng phạm th́ không gọi là phạm giới ăn nói hư vọng. Bất quá, quư vị lừa trẻ nhỏ như vậy, sẽ có điều ǵ không tốt? Đứa bé học theo cha mẹ nó, lớn lên sẽ nói láo! V́ từ thuở bé đă học rồi, cha mẹ đều nói như vậy, dỗ suông trẻ nhỏ: “Con đừng có khóc, ta sẽ cho con bánh hoặc kẹo”. Chờ tới khi nó không khóc, muốn nhận lấy th́ chẳng có. Đứa trẻ biết bị gạt, nó cũng sẽ lừa quư vị. Hiểu đạo lư này là được rồi! Quư vị ắt cần phải học, chẳng học sẽ vẫn không hiểu! Học tập xa ĺa lời hư dối như thế nào, xa ĺa lời hư dối th́ hăy nói lời thật cho nhiều. “Năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải” (có thể đoạn hết thảy các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng), dần dần có thể thành Phật.

          “Năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, sở cư Phật độ” (cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở): Trong cơi Phật ấy, “nhất thiết chân thật” (hết thảy chân thật), chẳng có cơi Phật nào không chân thật, nhưng cơi Phật này của Thích Ca Mâu Ni Phật chẳng chân thật, v́ sao? V́ đây là hóa thân [trong cơi đời] chẳng phải là tịnh, là đời ác ngũ trược. Đức Phật đă nói thế giới này chẳng chân thật, hư huyễn. Thích Ca Mâu Ni Phật ở trong cơi Phật này để chuyên hóa độ những kẻ nói lời hư dối; do vậy, Ngài đến nơi đây. Địa Tạng Bồ Tát chuyên tới địa ngục, các cơi Phật khác chẳng có địa ngục. Thế giới Cực Lạc hoặc các thế giới khác chẳng có địa ngục, chẳng có tam đồ. Không chỉ là chẳng có tam đồ, mà cũng chẳng có lục đạo, chỉ có người hóa sanh. Những người đó đều là Bồ Tát. Dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở toàn là chân thật, ĺa các dối trá, trang nghiêm bằng các vật thanh khiết, thơm tho nhiệm mầu. Hữu t́nh chúng sanh không siểm nịnh, không lường gạt, toàn là đoan chánh, tâm hạnh chánh trực, mong cầu thiện pháp thuần tịnh th́ mới có thể sanh về quốc độ ấy.

          Chúng ta toàn nói vọng ngữ, có thuần tịnh hay không? Quư vị làm việc thiện, có phải thật sự là làm việc thiện hay không? Chúng ta ngỡ chúng ta đang làm việc thiện, làm chuyện tốt, nhưng trong ấy, luôn xen tạp rất nhiều thứ chẳng thuần, chẳng thanh tịnh! Chẳng hạn như phóng sanh, mỗi người có cách nghĩ khác nhau, tuy chẳng thuần tịnh, vẫn có công đức. Phóng sanh có thuần tịnh hay không? Chẳng thuần tịnh. V́ sao? Trong tâm tưởng ǵ, chính ḿnh biết ngay! Chúng ta làm hết thảy mọi chuyện đều xen tạp các điều kiện kèm theo! Chẳng hạn như cho người khác mượn tiền, phải có chứng cứ, hoặc ra ngân hàng vay tiền, phải dùng bất động sản để thế chấp, đều cần phải có thứ ǵ đó! Chúng ta đều luôn cần thứ ǵ đó bảo đảm, mong mỏi được hồi báo. Ta phóng sanh, thấy các súc sanh đó bơi trở lại, trong ḷng rất cao hứng, giống như nó quay lại báo đáp, luôn có sự mong cầu ấy. Nếu nó chẳng quay lại hồi báo mà bỏ đi luôn, [sẽ lầm bầm]: “Thứ vô t́nh, vô nghĩa. Ta cứu nó, mà nó vẫn vô t́nh vô nghĩa!” Chuyện kiểu này rất nhiều. Chúng ta làm hết thảy mọi chuyện, trong tâm luôn xen tạp rất nhiều thứ. Niệm một bộ kinh, niệm kinh, niệm Phật, trong ấy có rất nhiều thứ xen tạp. Sau đó, phát nguyện cầu cái này, nguyện cầu cái kia. “Bồ Tát ơi! Ngài v́ con gia tŕ cho ai đó”, giống như khi quư vị cầu th́ Phật Bồ Tát phải gia tŕ vậy! Đợi tới khi Phật, Bồ Tát gia tŕ xong, hết chuyện rồi, chẳng t́m Phật, Bồ Tát làm chi nữa! Như thế đó! Sau đấy [có chuyện], lại ôm chân Phật. Đó là cái tâm chúng sanh, đó là chẳng thuần tịnh. Nếu quư vị mong cầu thiện pháp thuần tịnh, hữu t́nh sanh về cơi ấy ắt cần phải tinh thuần. Muốn sanh về cơi Phật, phải suy tưởng tinh thuần, đừng nói lời giả, đừng nói dối!

 

          (Kinh) Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất. Thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Sở đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.

          ()菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。

            (Kinh: Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân ấy, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường đắc thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén, phước thù thắng thường được tăng trưởng. Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật và các vị Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt được quả báo như đă nói rộng trong phần trên).

 

          Thiện căn khoác một mảnh ca-sa khác với thiện căn tŕ thanh tịnh giới, mà cũng chẳng giống với kẻ phá giới, thiện căn của họ bất đồng. Quư vị chỉ khoác một mảnh ca-sa, do tâm ǵ mà khoác? Đấy đều là có nguyên nhân; hết thảy các pháp đều có nhân. Phạm giới cũng cần phải xét theo cái nhân, nhân ǵ? Duyên ǵ? Hễ có một nhân, sẽ thành phạm giới. Có một nhân khác, sẽ thành chẳng phạm.

 

          (Kinh) Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly ly gián ngữ, nhất thiết chúng sanh thường cộng ái kính, sở phát ngôn từ giai linh ḥa thuận, văn tất kính phụng, vô sở sai nghi. Do thử, thiện căn tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân ly gián ngữ, tạo thân, ngữ, ư chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư ḥa kính chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ, do thử “viễn ly ly gián ngữ” luân, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, sở phát ngôn từ, giai linh ḥa thuận. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma Vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc. Tùy sở sanh xứ, sở ngôn ḥa thuận, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc.

          ()復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離離間語,一切眾生常共愛敬,所發言詞皆令和順,聞悉敬奉,無所猜疑,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因離間語,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸和敬障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離離間語輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,所發言詞皆令和順。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,所言和順,端正聰明,安隱快樂。

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng, ĺa lời ly gián, hết thảy chúng sanh thường cùng yêu kính, ngôn từ nói ra đều khiến cho mọi người ḥa thuận, nghe rồi đều kính vâng, chẳng ngờ vực, lo ngại. Do vậy, thiện căn có thể mau chóng được thành thục. Trong tất cả các lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử thuở trước, do ly gián ngữ mà tạo các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng ngại đối với sự ḥa kính, tự làm, dạy người khác làm, thấy nghe tùy hỷ, do cái luân “ĺa lời ly gián” này, [các chướng ấy] thảy đều bị nghiền nát, phá tan chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo. Nơi thân hiện tại, các hàng trời, người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại, thân tâm an lạc, lời lẽ nói ra đều khiến mọi người ḥa thuận. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Lúc lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy người đẹp ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui mừng, sanh ḷng tin kính sâu xa. Đă mạng chung rồi, vẫn sanh trong loài người, các căn viên măn, chi thể đầy đủ. Sanh ở bất cứ nơi đâu, lời lẽ ḥa thuận, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng).

 

          “Ly gián ngữ” là nói đôi chiều, châm ng̣i ly gián. Mọi người bị ly gián sẽ thay đổi, cừu hận lẫn nhau, c̣n có thể kính yêu lẫn nhau nữa hay không? Nếu ĺa ly gián ngữ, chẳng khấy động thị phi, khi mọi người tiếp xúc với nhau, sẽ tôn kính lẫn nhau, những ngôn từ thốt ra đều là ḥa thuận, chẳng phải là bạo lực. Châm ng̣i ly gián, sẽ chẳng ḥa thuận. Đối trước Trương Tam, chúng ta kể tội Lư Tứ, đối trước Lư Tứ, kể tội Trương Tam, chuyện châm ng̣i ly gián quá nhiều. Trong giới ḥa thượng, giữa người xuất gia với nhau, th́ gọi “phá ḥa hợp Tăng”, c̣n trong những người b́nh phàm, ly gián ngữ được gọi là “châm ng̣i ly gián”. Nhưng có kẻ [làm như vậy] để đạt được lợi ích cho chính ḿnh, lại có kẻ khuấy đảo cho người khác đấu đá, nhưng bản thân kẻ đó chẳng được lợi ích ǵ, chỉ là kẻ đó rất vui thú, thích thấy người khác đấu đá, thích khuấy đảo cho người khác đấu đá. Loại quả báo này khi hứng chịu sẽ rất thảm, giữa người với người là như thế, giữa các nước với nhau cũng là như thế. Ly gián ngữ, ác ngữ: “Ác ngữ thương nhân lục nguyệt hàn”, [ư nói] trời tháng Sáu cực nóng, quư vị nói lời quá mức kích thích người khác, người ấy mẫn cảm, dù trời rất nóng cũng chẳng thể toát mồ hôi nổi, rởn cả da gà, đông cứng luôn! Nếu nói lời êm tai, dẫu trời đang rét mướt, “lương ngôn nhất cú tam đông noăn”. Tức là trời đang lạnh buốt, tâm quư vị cảm thấy rất thoải mái. Hiểu đạo lư này là được rồi. Do vậy, chúng ta đừng nên nói lời ly gián.

          Lại này, thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát cho đến hết thọ mạng, có thể ĺa ly gián ngữ, th́ hết thảy chúng sanh sẽ thân ái với nhau, toàn nói những lời ḥa thuận, mọi người đều kính vâng theo. Nghe những ǵ quư vị nói, đều là “người này tốt đẹp, người này trước nay chưa hề lá mặt lá trái”. Chớ nên trước người này nói thế này, trước kẻ kia nói thế khác. Trong một hội nghị, bất luận đảng Cộng Ḥa hay đảng Dân Chủ của nước Mỹ, hay đảng Dân Tiến và Quốc Dân Đảng của Đài Loan, cho đến có thêm một đảng mới, động tác của họ là như thế nào? Khuấy chọc cho họ bất ḥa để chúng ta ở giữa thủ lợi! Phiếu của ta nhiều hơn, phiếu của ngươi nhất định giảm bớt. Ta nắm quyền, các ngươi phải nghe theo ta, ta chẳng cần nghe theo bọn ngươi! Mục đích là như thế đó, thấy rất rơ ràng! Chỉ là ĺa khỏi hội nghị từ ngoài nh́n vào [mới thấy], chứ trong hội nghị sẽ chẳng thấy! Đó là ǵ? Ly gián lẫn nhau, quấy rối lẫn nhau!

          Hôm nay mới vừa mở hội nghị tại Quốc Hội, buổi họp đầu tiên đă đấu đá nhau. Thường ngày châm ng̣i ly gián đă thành thục, khúc mắc ấy khó tháo gỡ, cuộc họp vừa mở ra bèn tranh chấp, vừa họp liền đấu đá nhau, làm sao có thể tốt đẹp cho nổi? Nói “tôi v́ dân chúng, tôi cũng là v́ nhân dân. Quư vị bầu cho tôi một phiếu, trong tương lai, tôi sẽ cho quư vị hưởng lợi ích như thế này, như thế nọ”. Mọi người bầu cho bọn họ xong, bọn họ tới Quốc Hội, quên béng phiếu bầu, quên sạch lợi ích của nhân dân, lo tranh chấp! Chúng tôi giảng kinh Đại Tập Thập Luân, muốn nói về Thập Thiện Luân và Thập Ác Luân. Ai nấy đều đoạn Thập Ác Luân, hành Thập Thiện Luân, th́ không chỉ trên thế giới này, mà ngay cả A Tu La và chư thiên cũng chẳng đánh nhau. Chẳng cần phải đánh, không cần thiết, như thế sẽ tốt lắm! Hiện thời, có thể ĺa xa các chướng ngại ấy. Nếu không, sẽ chẳng xa ĺa được! V́ ly gián ngữ tạo ra các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, chướng ngại sự ḥa kính, hoặc là tự làm, hoặc dạy người khác làm, thấy nghe tùy hỷ. Chúng ta thấy kẻ khác đánh nhau, đừng sanh tâm hoan hỷ. Trông thấy tranh đấu, bèn sanh tâm chán ĺa. V́ sao phải làm như vậy? Bất luận họ viện ra lư do nào, đều chẳng phải là lư do! Quư vị đă muốn đánh đấm, đánh rồi th́ chẳng có lư do chi hết, c̣n có lư do chi nữa? Vẫn muốn t́m lư do, bản thân chuyện t́m lư do ấy đă sai lầm rồi! Đạo lư cần phải dựa vào đấu đá th́ mới có thể giải quyết ư? Do vậy, người ta dùng hỏa tiễn tấn công quư vị là chánh đáng, lư do ǵ vậy? “Tao đánh mày, v́ tao có thế mạnh”. Đó chẳng gọi là công lư, đó gọi là “cường quyền”.

          Nói đến b́nh đẳng, ta thấy Thích Ca Mâu Ni Phật là b́nh đẳng nhất, Ngài đối xử với mọi người đều như nhau, [ai cũng] đều có thể thành Phật. Đức Phật nói, quư vị và tôi giống hệt như nhau, bản tánh của quư vị sẵn có, có cùng một Thể với tôi, mọi người đều như nhau, nhưng tôi đă trừ sạch nghiệp chướng, quư vị hăy c̣n có nghiệp chướng. [Trừ khử] nghiệp chướng là ĺa chướng ngại nơi ngôn ngữ. Nếu quư vị ĺa ly gián ngữ, nghiệp chướng sẽ diệt trừ. Đó là cái luân “ĺa ly gián ngữ” đă nghiền nát, phá hủy các chướng ấy. “Tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo” (dẹp tan chẳng c̣n sót, chẳng nhận lấy quả báo). Đức Phật giảng đoạn kinh văn này là nói theo phía phàm phu, từ phàm phu cho đến Thanh Văn, Bồ Tát, đạt đến thành Phật, đều bắt đầu từ làm người. Do vậy, mỗi đoạn kinh văn đều khởi đầu bằng chuyện làm người.

 

          (Kinh) Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, y bỉ tu học ly ly gián ngữ, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, nhất thiết kiên mật, nan khả phá hoại. Chư mỹ diệu vật chi sở trang nghiêm. Vô vi, vô cạnh, thiện ḥa tránh tụng, hy cầu thuần chất, thiện pháp hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc, thường tu ḥa kính, thính văn chánh pháp. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh, như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ ngũ viễn ly ly gián ngữ luân. Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất. Thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc, sở đắc quả báo quảng thuyết như tiền.

          ()復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離離間語,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,一切堅密,難可破壞,諸美妙物之所莊嚴,無違無競,善和諍訟,希求淳質善法有情來生其國,常修和敬,聽聞正法;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第五遠離離間語輪。菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。

          (Kinh: Lại gặp bậc vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức. Nương theo người đó tu học, ĺa ly gián ngữ, có thể đoạn hết thảy ác pháp bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí rộng sâu, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở, hết thảy cứng chắc, chặt chẽ, khó thể phá hoại, được trang nghiêm bằng các vật đẹp đẽ mầu nhiệm. Hữu t́nh chúng sanh không chống trái, không đua tranh, khéo ḥa giải các tranh chấp và kiện cáo, mong cầu thiện pháp thuần chất, sẽ sanh về cơi ấy. Họ thường tu ḥa kính, lắng nghe chánh pháp. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ. Sau khi Phật bát Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là cái luân thứ năm “xa ĺa lời ly gián” của Bồ Tát Ma Ha Tát. Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường được thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén và phước thù thắng thường được tăng trưởng. Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, nhanh chóng được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các thiện tri thức để tùy thuận làm theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt được quả báo như trên đây đă rộng nói).

 

          Được làm người, thường xuyên gặp gỡ thiện tri thức, gặp họ để làm ǵ? Học ĺa ly gián ngữ. Học tập sao cho đừng nói những lời châm ng̣i ly gián. Châm ng̣i ly gián gây hại khá lớn. Nếu quư vị đâm thọc người khác, th́ cũng là đâm thọc chính ḿnh! Quư vị thường xuyên khuấy động người khác, chẳng có ai nói lời tốt đẹp với quư vị. Đấy chẳng phải là mắc quả báo ư? Nếu ĺa khỏi ly gián ngữ, có thể đoạn hết thảy pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy các thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề, sẽ thành Phật. Cơi nước người ấy ở, “nhất thiết kiên mật, nan khả phá hoại” (hết thảy cứng chắc, chặt chẽ, khó thể phá hoại). Ly gián ngữ chẳng thể phá hoại được!

          Cơ chế nội bộ của chúng ta chẳng kiện toàn, ly gián ngữ sẽ dễ nẩy sanh tác dụng. Chính quư vị đă đấu đá, cho đến khi kẻ bên ngoài châm ng̣i ly gián, sẽ càng đấu đá hung hăng hơn! Chính ḿnh chẳng chịu thua kém, hằng ngày cứ căi cọ là do chính ḿnh chẳng chịu thua kém, đừng trách ai khác! Một điều ác cũng chẳng có, sẽ có thể thành tựu hết thảy các thiện pháp thù thắng, có thể thành tựu pháp nghĩa Đại Thừa, những điều ấy đều có thể thành tựu. Chúng ta trừ khử các nghiệp bất thiện, trừ khử nghiệp bất thiện, sẽ là thiện nghiệp, cho nên có thể thâm nhập biển trí, cho đến chứng Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật ta đang ở sẽ cứng chắc, chặt chẽ, “nan khả phá hoại, chư mỹ diệu vật chi sở trang nghiêm. Vô vi, vô cạnh, thiện ḥa tránh tụng, hy cầu thuần chất” (khó thể phá hoại. Trang nghiêm bằng các vật đẹp đẽ mầu nhiệm. Không chống trái, không tranh đua, khéo ḥa giải các tranh chấp và thưa kiện, mong cầu thuần chất): “Thuần chất” có ư nghĩa giống như “thuần tịnh”.

          Khi Bồ Tát Ma Ha Tát giáo hóa hết thảy chúng sanh, đối với pháp và đối với mọi người, đều chẳng phạm sai lầm. Pháp chẳng sai lầm, mà đối với người cũng chẳng sai lầm, chẳng nhận sai căn cơ, coi Tiểu Thừa thành Đại Thừa. Đối với kẻ chẳng chán ghét Ngũ Nghịch, chẳng tin Phật pháp, mà lại nói pháp Đại Thừa, th́ người nói phạm sai lầm, phải thọ báo.

 

          (Kinh) Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát, năng tận h́nh thọ, ly thô ác ngữ, nhất thiết chúng sanh thường cộng ái kính. Sở phát ngữ ngôn giai linh hoan duyệt, văn tất kính phụng, vô sở sai nghi. Do thử, thiện căn tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân thô ác ngữ, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư điều thiện chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ, do thử viễn ly thô ác ngữ luân, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, sở xuất ngôn từ, giai linh hoan duyệt. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết. Sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma Vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc. Tùy sở sanh xứ, sở ngôn nhu nhuyễn, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc.

          ()復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離粗惡語,一切眾生常共愛敬,所發語言皆令歡悅,聞悉敬奉,無所猜疑,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因粗惡語,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸調善障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離粗惡語輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,所出言詞皆令歡悅。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,所言柔軟,端正聰明,安隱快樂。

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng ĺa lời thô ác, hết thảy chúng sanh thường cùng yêu kính, lời lẽ nói ra đều khiến cho mọi người hoan hỷ, nghe rồi đều kính trọng, vâng theo, chẳng ngờ vực, lo ngại. Do vậy, thiện căn mau chóng chín muồi. Trong tất cả những lúc luân chuyển năm đường, ch́m trong sông sanh tử thuở trước, do thô ác ngữ, tạo các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng ngại nơi điều phục thiện sự, tự làm, dạy người, thấy nghe vui theo, do cái luân “xa ĺa lời thô ác” này, [các nghiệp chướng ấy] thảy đều bị nghiền nát, phá tan, chẳng c̣n sót, chẳng thọ quả báo. Trong thân hiện đời, các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng có ngờ vực, lo ngại, thân tâm an lạc, lời lẽ nói ra đều khiến cho người khác vui mừng. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui mừng, sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung, lại sanh làm người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ. Sanh ở bất cứ nơi đâu, lời nói mềm mỏng, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng).

 

          Thô ác ngữ là nói lời ác, lời nói khó nghe! Chửi người khác th́ lời lẽ thốt ra thường bẩn thỉu. Nếu là người Tứ Xuyên, hễ mở miệng ra bèn nói “cách lăo tử”. “Cách lăo tử” là ǵ? “Cách lăo tử” (格老子)[8] là câu cửa miệng của họ, gặp ai cũng gọi người ta là “tiểu bối” (小輩, bọn nhỏ). Tôi có tranh luận với thầy tôi về chuyện này, thầy nói đó là tập khí của họ. Tôi nói: “Tập khí ư? Cớ sao họ đối với Phật chẳng dám gọi là “tiểu bối”, mà gọi là Thế Tôn. Họ thấy quốc vương, làm sao dám gọi là “tiểu bối”! Tập khí ǵ vậy? Tập khí có thể sửa đổi, câu cửa miệng của họ, thậm chí thấy ai cũng đều gọi là “quy nhi tử” (龜兒子, đồ con rùa). Tôi nói: “Họ thấy quan địa phương, thấy cảnh sát, đâu có dám gọi những người đó là đồ con rùa!” Phàm là đối với hết thảy thói quen, [nếu quan niệm] có sửa hay không cũng chẳng sao, hỏng bét rồi! Hết thảy thói quen sanh hoạt, hoặc là lời lẽ thô ác, cứ để mặc như vậy, cho là chẳng có vấn đề ǵ! Khi kinh Phật dạy về giới, chẳng nói [cặn kẽ] như thế sẽ không được. Khi đó, những điều [giới kinh] nói ra, [hễ vi phạm] đều tính là phạm giới. Giới luật ắt phải nói như sự thật, nêu rơ sự thật. Trừ giới luật ra, đều chẳng thể nói lời thô ác.

          Không nói lời thô ác, hăy nói lời mềm mỏng. Từ ngữ mềm mỏng, nói những lời đáng mến, khiến cho người khác thích nghe. Mềm mỏng là âm điệu rất nhu ḥa, đừng ăn nói thô bạo, hoặc là lớn tiếng, gắt gỏng, mặt cũng đỏ bừng, mắt cũng trợn trừng trừng. Quư vị c̣n chưa nói ǵ, người ta trông thấy đă phiền năo. Nếu quư vị thốt ra lời, đương nhiên càng tệ hơn thế. Chuyện kiểu này rất nhiều, đều biểu hiện chẳng đoan chánh, chẳng thông minh. Khi người đang nổi giận, tướng mạo hết sức khó coi!

 

          (Kinh) Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, y bỉ tu học ly thô ác ngữ, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, viễn ly nhất thiết bất khả ư thanh, chủng chủng thượng diệu, như ư ḥa nhă, chư ư lạc thanh, kết tập pháp thanh, sung măn kỳ độ. Cụ túc niệm huệ, phạm âm thanh triệt, điều thiện hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc. Thường dĩ nhuyễn ngữ, cánh tương khuyến tấn. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh, như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ lục viễn ly thô ác ngữ luân. Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa, đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa, đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La, đắc vô ngộ thất. Thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Sở đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.

          ()復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離粗惡語,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,遠離一切不可意聲,種種上妙、如意、和雅諸意樂聲、結集法聲,充滿其土,具足念慧,梵音清徹,調善有情來生其國,常以軟語,更相勸進;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第六遠離粗惡語輪。菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。

          (Kinh: Lại gặp bậc vừa ư, thành tựu điều phục thiện pháp, đủ giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, nương theo người ấy tu học, ĺa lời thô ác, có thể đoạn hết thảy các pháp ác, bất thiện, có thể thành tựu hết thảy các thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy đang ở, xa ĺa hết thảy tiếng chẳng đẹp ư, các thứ thượng diệu, như ư, ḥa nhă, các thứ tiếng khiến đẹp ḷng, tiếng kết tập pháp, đầy ắp cơi ấy. Các hữu t́nh chúng sanh trọn đủ niệm huệ, phạm âm trong trẻo, thấu triệt, điều ḥa thuần thiện, sanh về cơi ấy. Thường dùng lời lẽ mềm mỏng để khuyên lơn, sách tấn lẫn nhau. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ. Sau khi Phật bát Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ sáu “xa ĺa lời thô ác” của Bồ Tát Ma Ha Tát. Do Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu luân này, sẽ chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, thậm chí đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường được thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén và phước thù thắng thường được tăng trưởng. Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển, thường được gặp gỡ các thiện tri thức tùy thuận hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ. Đạt được quả báo như trên đây đă rộng nói).

 

          “Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, y bỉ tu học” (Lại gặp người vừa ư, thành tựu điều phục thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền chân thật, nương theo người đó tu học): Phải học như thế nào th́ mới có thể ĺa lời thô ác? Chuyện này lại bất đồng, khác với những điều trước đó. Âm thanh “chủng chủng thượng diệu” (các thứ thượng diệu), sanh vào thế giới Cực Lạc, ngay cả tiếng chim kêu đều là đang thuyết pháp, há c̣n có lời thô ác? Đă chẳng có, cho nên hết thảy [các chúng sanh] tâm t́nh điều phục, hiền lành, ăn nói mềm mỏng, âm thanh vi diệu, đều sanh về cơi Phật ấy. “Thường dĩ nhuyễn ngữ cánh tương khuyến tấn” (thường dùng lời lẽ mềm mỏng để khuyên lơn, khích lệ lẫn nhau), phải tinh tấn tu hành. Điều ǵ được coi là có trí huệ? Điều ǵ có thể khiến cho chúng sanh đạt được lợi ích? Cho đến “sắc bén, chẳng bị hết thảy chướng ngại tối tăm ngăn trở”. Đó là trí huệ. Đấy là huệ kiếm, huệ kiếm chém diệt ma! Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật chính là [trí huệ ấy]. Trí huệ ấy kiên cố như kim cang, sắc bén như kim cang, có thể trừ khử hết thảy các Hoặc. Đó gọi là “lợi huệ”. Có thể nói lợi huệ chính là kim cang trí huệ, cũng gọi là trí Bát Nhă. “Thắng phước” là ǵ? Chẳng chấp trước. Bồ Tát làm hết thảy các sự, độ hết thảy chúng sanh, chẳng có phước đức. Ngài Tu Bồ Đề ngạc nhiên, làm nhiều như vậy mà chẳng có phước đức ư? Bồ Tát tạo phước đức, nhưng chẳng chấp trước, đấy là phước đức lớn nhất. Khi chúng ta làm hết thảy các chuyện tốt mà chẳng chấp trước, chuyện tốt ấy biến thành rất lớn. Lợi huệ và phước đức có thể lư giải theo nhiều cách, thường được tăng trưởng.

 

          (Kinh) Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát năng tận h́nh thọ ly tạp uế ngữ, nhất thiết chúng sanh thường cộng ái kính, sở phát ngôn từ giai hữu nghĩa lợi, văn tất kính phụng, vô sở sai nghi. Do thử thiện căn tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân tạp uế ngữ, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư nghĩa lợi chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ, do thử viễn ly tạp uế ngữ luân, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, sở phát ngôn từ, giai thành nghĩa lợi. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma Vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở sanh xứ, ngôn tất nhiêu ích, đoan chánh, thông minh, an ổn khoái lạc.

          ()復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽離雜穢語,一切眾生常共愛敬,所發言詞皆有義利,聞悉敬奉,無所猜疑,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因雜穢語,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸義利障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離雜穢語輪,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,所發言詞皆成義利。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,言必饒益,端正聰明,安隱快樂。

          (Kinh: Lại này, thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng, ĺa lời tạp uế, hết thảy chúng sanh sẽ thường cùng yêu kính, lời lẽ nói ra đều có nghĩa lợi, người nghe đều tôn kính, vâng theo, chẳng nghi ngờ, lo ngại. Do vậy, thiện căn mau được chín muồi. Trong tất cả các lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử thuở trước, đă do lời lẽ tạp uế mà tạo các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng ngại đối với nghĩa lợi. Do cái luân “xa ĺa lời tạp uế” này, [các nghiệp chướng ấy] đều bị nghiền nát, phá tan, chẳng c̣n sót, chẳng nhận lấy quả báo. Nơi thân hiện tại, các hàng trời, người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại, thân tâm yên vui. Lời lẽ thốt ra đều trở thành nghĩa lợi. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách. Vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy người vừa ư, thành tựu điều phục thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng, sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung, lại được sanh làm người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ, sanh vào bất cứ nơi đâu, cũng đều nói lời lợi ích, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng).

 

          Tạp uế ngữ là món cuối cùng trong ngữ nghiệp. [Chúng ta đă thảo luận về] hư cuống ngữ, thô ác ngữ, ly gián ngữ, loại thứ tư trong ngữ nghiệp là tạp uế ngữ, cũng chính là ỷ ngữ. “Ỷ ngữ” (綺語) là thốt ra lời lẽ vô ích. “Uế” () có nghĩa là “bất tịnh”; nói đúng ra, chính là cái kiểu chuyện gẫu, tán nhảm thông thường của chúng ta! Có mấy người ngồi với nhau, tán gẫu sẽ là [t́nh h́nh] như thế này: Chuyện ǵ cũng nói được, đó chính là tạp uế! Do người nói lời tạp uế chẳng được chúng sanh cung kính, chúng sanh chẳng muốn cung kính, v́ họ ăn nói chẳng có “nghĩa lợi” (義利, nghĩa lư, lợi ích), tức là như chúng ta nói “ngôn ngữ nhạt phèo, nh́n mặt chán ngắt!” Nếu ĺa tạp uế ngữ, [lời nói] sẽ có ư nghĩa. Hết thảy chúng sanh đều muốn thân cận, cung kính, kính mến người ấy. Như thế th́ ĺa khỏi lời tạp uế, lời người ấy nói có đạo lư, có lợi ích cho chúng sanh, người khác nghe thấy sẽ cung kính quư vị, sẽ chẳng ngờ vực, lo ngại. Nếu quư vị ăn nói mà người ta cứ phải “trừ hao” [những điều khoác lác, nhảm nhí, vô bổ] th́ hăy ngẫm xem, lời nói của quư vị c̣n có ư nghĩa ǵ cơ chứ? Đấy chính là “sai nghi” (猜疑, ngờ vực, lo ngại), chẳng thể hoàn toàn tin lời quư vị, sẽ nẩy sanh nghi hoặc đối với lời nói của quư vị. Nếu ĺa khỏi tạp uế ngữ, sẽ khiến cho quư vị mau chóng được thành thục, thành thục ǵ vậy? Thành thục tịnh nghiệp. Trong quá khứ trước kia, đă luân chuyển trong năm đường, ch́m đắm trong sông sanh tử, quả báo ấy có liên quan đến tạp uế ngữ, đồng thời tạo rất nhiều [nghiệp nơi] thân, ngữ, ư, “chư ư nghiệp cố” (do các ư nghiệp), có ư nghĩa ấy!

          [Nếu quư vị] đọc phẩm Phạm Hạnh [của kinh Hoa Nghiêm] đều biết “ngữ” là ngữ nghiệp, cũng có hàm nghĩa như thế. “Ư” là ư nghiệp, “thân” là thân nghiệp. Thân và thân nghiệp khác nhau, v́ lời nói chẳng có ư nghĩa khiến cho các nghiệp đă làm tất cả tác dụng nơi thân, khẩu, ư của quư vị đều trở thành chướng ngại. Khi quư vị giáo hóa, độ chúng sanh, cùng học tập với chúng sanh, [các nghiệp đă tạo nơi thân, ngữ, ư] đều trở thành chướng ngại, cũng tức là người khác chẳng muốn quan tâm quư vị. V́ có chướng ngại ấy, hoặc là do chính ḿnh thốt lời tạp uế, cho đến dạy kẻ khác nói lời tạp uế, hoặc là nghe kẻ khác thốt lời tạp uế, quư vị đều tán thán, tùy hỷ. Nơi trà đ́nh, tửu quán, tiệm ăn, pḥng khiêu vũ, ngôn ngữ thuộc loại này quá nhiều. Đối với chuyện này, quư vị chớ nên nẩy sanh thái độ “thấy, nghe tùy hỷ”, phải xa ĺa! Nếu xa ĺa tạp uế ngữ, luân này sẽ thành tựu. Xa ĺa tạp uế ngữ nghiệp luân có mười luân. Đây là luân cuối cùng trong mười luân. Do cái luân nghiền nát tạp uế ngữ này, hết thảy ngữ nghiệp tạp uế trong quá khứ của quư vị sẽ bị phá nát chẳng c̣n sót thừa, chẳng chịu quả báo. Chẳng chịu quả báo thuộc về “tiền tế” (前際, quá khứ), c̣n “hiện tế” (現際, hiện tại) là “ư hiện thân trung, chư thiên nhân đẳng giai cộng thân cận” (nơi thân hiện tại, các hàng thiên nhân đều cùng thân cận).

          Nếu trời, người đều cùng thân cận quư vị, th́ đối với cá nhân của quư vị, họ chẳng phải lo ngại, suy đoán, rà xét lời lẽ của quư vị, mà sẽ tin ưa chân thành, khẩn thiết, thân tâm của quư vị cũng an lạc. Tất cả ngôn từ “giai thành nghĩa lợi” (đều thành nghĩa lợi), chẳng phải là ngôn từ không có nghĩa lư và vô ích. Tất cả ngôn từ khiến cho hết thảy hữu t́nh chúng sanh đều có thể đạt được lợi ích. Nếu lúc quư vị sắp mạng chung, thân tâm đều chẳng bị ưu sầu, buồn bă, khổ năo trói buộc, cũng chẳng bị khổ nạn vùi dập, bức bách. Sự khổ sở mang tánh chất bức bách khiến cho thân tâm của quư vị chẳng được an lạc. Thân tâm đạt được an lạc, sẽ chẳng có tánh chất bức bách. Mỗi cá nhân đều hy vọng khi chết, lục thân quyến thuộc của chính ḿnh, vợ con yêu mến đều vây quanh bên ḿnh. Những lời này thoạt nh́n rất đơn giản, rất nhiều người khi chết, chẳng có vợ con hiện diện, hoặc là chết v́ tai nạn xe cộ, hoặc chết nơi đất khách quê người. Có thể “thọ chung chánh tẩm”, khi chết, người thân yêu nhất ở bên cạnh, đấy cũng là rất hạnh phúc, ra đi cũng rất thoải mái. Tuy cuối cùng vẫn biệt ly, vẫn là biệt ly rất tốt đẹp. Quư vị cũng chẳng trông thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, Hắc Vô Thường, Bạch Vô Thường. Họ là câu hồn sứ giả, câu hồn quư vị đi. Quư vị cũng chẳng trông thấy.

          Trong khi mạng chung mà trông thấy những kẻ ấy, sẽ sanh ḷng hoảng sợ. Bất quá, quư vị trông thấy toàn là thiện tri thức vừa ư, điều thuận thiện pháp, toàn thấy các vị phước điền chân thật, đủ giới, giàu đức, khiến cho thân tâm của quư vị rất hoan hỷ, rất vui sướng. Đồng thời, đối với vị thiện tri thức ấy, sanh ḷng kính tín sâu xa. Như thế th́ khi quư vị ra đi, sẽ ra đi rất tốt đẹp. Nếu quư vị chẳng tu hành, chỉ do một hạnh ĺa lời tạp uế này, do đă thành tựu nghiệp này, quư vị c̣n có thể sanh làm người, sẽ chẳng [phải lâm vào t́nh cảnh khốn khổ] như đă nói trong Thập Ác Nghiệp Luân thuộc phần trước, tức là hễ sanh làm người, các căn thiếu sót, tứ chi không đầy đủ! Mà sẽ là sanh trong loài người, các căn viên măn, tứ chi trọn vẹn. “Tùy sở sanh xứ, ngôn tất nhiêu ích” (sanh ở bất cứ nơi đâu, lời nói ắt tạo lợi ích): Quư vị sanh ở bất cứ nơi đâu, hễ tới chỗ nào, nói năng đều có thể tạo lợi ích cho người khác. Ai nấy đều sanh tâm hoan hỷ, tướng mạo của quư vị là “đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng”.

 

          (Kinh) Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, y bỉ tu học ly tạp uế ngữ, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, viễn ly nhất thiết vô nghĩa lợi thanh, chủng chủng thượng diệu Bồ Tát tạng nhiếp, đại pháp âm thanh châu biến quốc độ, thành tựu vô biên đại nguyện diệu trí, năng thiện biện thuyết chủng chủng pháp nghĩa, như thị hữu t́nh lai sanh kỳ quốc. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ thất viễn ly tạp uế ngữ luân. Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng phước thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển, thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành, thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc, thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Sở đắc quả báo, quảng thuyết như tiền.

          ()復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離雜穢語,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,遠離一切無義利聲,種種上妙菩薩藏攝大法音聲週徧國土,成就無邊大願妙智,能善辯說種種法義,如是有情來生其國;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第七遠離雜穢語輪。菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。

          (Kinh: Lại gặp người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, nương theo người đó tu học ĺa lời tạp uế, có thể đoạn hết thảy pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở xa ĺa hết thảy tiếng chẳng có nghĩa lợi, âm thanh to lớn thuộc về các loại Bồ Tát Tạng thượng diệu trọn khắp cơi nước, thành tựu vô biên đại nguyện diệu trí, có thể khéo biện luận, giảng giải các thứ pháp nghĩa. Hữu t́nh như thế sanh về nước ấy. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng như căn cơ. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là cái luân thứ bảy “xa ĺa lời tạp uế” của Bồ Tát Ma Ha Tát. Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La, thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, cho đến đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường được thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén và phước thù thắng thường được tăng trưởng. Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các thiện tri thức để tùy thuận hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử. Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Tát, tâm chẳng chán đủ. Đạt được quả báo như đă nói rộng trong phần trước).

 

          Đây là nói quư vị lại sanh trong nhân gian, cũng giống như khi lâm chung [đă nói] trong phần trước, cũng gặp gỡ hàng thiện tri thức vừa ư. Vị ấy đă điều phục ác pháp, chẳng có ác pháp, đều biến thành thiện pháp, trọn đủ giới thanh tịnh, phước đức dồi dào, có trí huệ. “Phước điền chân thật” chính là nói đến bậc phước điền xuất thế. Phước điền chân thật là nói phước điền lư tánh của chính ḿnh, chẳng phải là phước điền hư vọng. Bậc thiện tri thức như thế đến làm bậc y chỉ cho quư vị, quư vị sẽ học tập điều ǵ từ họ? Học tập ĺa tạp uế ngữ, tức là chẳng nói những lời không có ư nghĩa. Đấy là đối chiếu giữa Thập Ác Nghiệp và Thập Thiện Nghiệp. Hăy khéo học tập Thập Thiện Nghiệp, Thập Ác Nghiệp liền biến thành Thập Thiện Nghiệp. Học tập Thập Thiện Nghiệp tốt đẹp, Thập Ác Nghiệp sẽ chẳng c̣n nữa, bị đoạn dứt.

          Trong quá khứ, chúng ta cứ ngỡ Thập Thiện Nghiệp chỉ là phước báo nhân thiên. Nếu tiến thêm bước nữa, dùng Thập Thiện Nghiệp làm cơ sở để tiến lên, hết thảy các thiện pháp đều có thể tăng trưởng, hết thảy các ác pháp đều có thể tách rời. Quư vị có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, bao gồm Tứ Đế, mười hai duyên, Lục Độ. Khi ấy, nếu quư vị cầu pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu Bồ Tát nguyện, phát Bồ Tát nguyện, hành Bồ Tát hạnh, sẽ dần dần tiến nhập trí huệ Bát Nhă, thâm nhập biển trí sâu rộng, cho đến thành Phật, chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Như vậy th́ trong cơi Phật quư vị đang ở, sẽ xa ĺa hết thảy các âm thanh chẳng có nghĩa lợi, chẳng nghe thấy các ngôn ngữ không có nghĩa lợi. Như thế th́ [các âm thanh được nghe] toàn thuộc về Bồ Tát Tạng thượng diệu, luôn được nghe các pháp nghĩa vi diệu, đều thuộc loại Đại Thừa Bồ Tát. “Đại pháp âm thanh châu biến quốc độ” (âm thanh đại pháp trọn khắp cơi nước): Pháp âm như vậy trọn khắp cả nước, trọn khắp cơi Phật quư vị đang ở. Quốc độ ấy chẳng phải là một tiểu châu, mà là một thế giới Phật, [chẳng hạn như] thế giới Sa Bà của chúng ta, toàn thể pháp âm trọn khắp thế giới Sa Bà. “Thành tựu vô biên đại nguyện diệu trí” chỉ nói Đại Thừa. Có đôi khi, đức Phật nói Đại Thừa mà hàm nhiếp Nhị Thừa. [Chánh kinh nói] “hữu t́nh như thế sanh vào cơi ấy” để h́nh dung quốc độ ấy có h́nh dạng như thế nào? Cơi Phật ấy hết sức trang nghiêm, hoàn toàn thuộc về Đại Thừa. Thế giới Cực Lạc cũng thế, đến nơi đó là sẽ tiến thẳng đến thành Phật, nhưng trong ao hoa sen ấy cũng có Thanh Văn, cũng có Duyên Giác, đều là tiến nhập Đại Thừa, hoàn toàn chẳng phải là các Thanh Văn đoạn chủng tử Bồ Đề trong thế giới Sa Bà, mà là hàng Thanh Văn có chủng tử Bồ Đề.

          Thọ mạng của đức Phật th́ sao? Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng, “Như Lai” chính là A Di Đà Phật trong thế giới Cực Lạc, thọ mạng vô lượng. Mỗi vị Phật trong vô lượng các tịnh Phật quốc độ đều có thọ mạng vô lượng. “Vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp” [nghĩa là] họ thuộc căn cơ ǵ, bèn nói cho họ pháp [tương xứng] căn cơ ấy. Sau khi đức Phật trong cơi ấy nhập Niết Bàn, “chánh pháp cửu trụ, lợi ích an lạc vô lượng hữu t́nh” (chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, yên vui vô lượng hữu t́nh). Chẳng có Tượng Pháp và Mạt Pháp, Chánh Pháp vĩnh viễn trụ trong thế gian.

          “Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc” (Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ): Vun bồi thiện căn, vĩnh viễn chẳng chán đủ, măi cho đến khi thành Phật. “Thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc” (Thường đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ): Trăm ngàn vạn ức nguyện, trăm ngàn vạn ức hạnh, vĩnh viễn chẳng chán đủ. V́ thế, Địa Tạng Vương Bồ Tát vẫn đang phát nguyện, Thập Địa Bồ Tát vẫn đang phát nguyện, các Ngài phát nguyện lợi ích chúng sanh. “Sở đắc quả báo quảng như tiền thuyết” (Đạt được quả báo rộng như đă nói trong phần trước): Những điều ấy đă nói tới lần thứ bảy rồi, tổng cộng sẽ nói mười lượt.

          Thân nghiệp gồm giết, trộm, dâm, khẩu nghiệp bao gồm nói hư cuống (虛誑,giả dối, lừa gạt), tức là vọng ngữ. Những danh từ được phiên dịch trong kinh này có đôi chút biến hóa, “hư cuống ngữ” là vọng ngữ, “ly gián ngữ” là lưỡng thiệt. Ngài (pháp sư Huyền Trang) không dùng danh xưng lưỡng thiệt mà gọi là “ly gián ngữ”. Ngài gọi ác khẩu là “thô ác ngữ”, gọi ỷ ngữ là “tạp uế ngữ”. Tuy danh xưng bất đồng, nhưng ư nghĩa như nhau. Mọi người phải nên biết: Danh từ trong các kinh tuy bất đồng, nhưng ư nghĩa của chúng như nhau. Dưới đây c̣n có ba luân, [những câu chữ được sử dụng trong ba luân ấy] đều là trùng lặp.

 

          (Kinh) Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát năng tận h́nh thọ, viễn ly tham dục, nhất thiết chúng sanh thường sở ái trọng, kỳ tâm thanh tịnh, ly chư nhiễm trược. Do thử, thiện căn tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân tham dục cố, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư vô tham chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ. Do thử viễn ly tham dục luân cố, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc. Kỳ tâm thanh tịnh, ly chư nhiễm trược. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở sanh xứ, kỳ tâm thanh tịnh, ly chư nhiễm trược, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc. Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, y bỉ tu học ly tham dục pháp, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, địa b́nh như chưởng, chúng bảo sung măn, chủng chủng bảo thụ hàng liệt trang nghiêm, chủng chủng bảo y, bảo trang nghiêm cụ, bảo tràng, phan, cái, kim, ngân, chân châu, la vơng đẳng thụ, xứ xứ giai hữu, thậm khả ái nhạo, viễn ly kiêu mạn, nhan mạo đoan nghiêm, chư căn vô khuyết, kỳ tâm b́nh đẳng. Như thị hữu t́nh lai sanh kỳ quốc, vô tham công đức, viên măn trang nghiêm. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ bát viễn ly tham dục luân dă.

          ()復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽遠離貪慾,一切眾生常所愛重,其心清淨,離諸染濁,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因貪慾故,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸無貪障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離貪慾輪故,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,其心清淨,離諸染濁。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,其心清淨,離諸染濁,端正聰明,安隱快樂;復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離貪慾法,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,地平如掌,眾寶充滿,種種寶樹行列莊嚴,種種寶衣、寶莊嚴具、寶幢幡蓋、金、銀、真珠、羅網等樹,處處皆有,甚可愛樂,遠離憍慢,顏貌端嚴,諸根無缺,其心平等,如是有情來生其國,無貪功德圓滿莊嚴;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第八遠離貪慾輪也。

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng, xa ĺa tham dục, hết thảy chúng sanh sẽ thường yêu mến, kính trọng. Tâm vị ấy thanh tịnh, ĺa các nhiễm trược. Do vậy, thiện căn có thể mau chóng thành thục. Trong những lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử trước kia, v́ tham dục đă tạo các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chướng ngại đối với vô tham, tự làm, dạy người khác làm, thấy nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa tham dục” này, [các nghiệp chướng ấy] đều bị nghiền nát, tan diệt chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo. Trong thân hiện tại, các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại, thân tâm yên vui. Tâm vị ấy thanh tịnh, ĺa các nhiễm trược. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách. Vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng, sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung rồi, lại được làm người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ. Sanh ở bất cứ chỗ nào, tâm cũng thanh tịnh, ĺa các đắm nhiễm, ô trược, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng. Lại gặp người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, trọn giới, đủ đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, nương theo người ấy tu học pháp ĺa tham dục, có thể đoạn hết thảy các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở, đất bằng phẳng như ḷng bàn tay, các thứ báu đầy ắp, các thứ cây báu bày hàng trang nghiêm, các thứ áo báu, vật trang hoàng báu, tràng, phan, lọng báu, các thứ cây được phủ lưới mành vàng, bạc, chân châu v.v… thật đáng yêu thích, nơi nơi đều có. Xa ĺa kiêu mạn, vẻ mặt đoan nghiêm, các căn chẳng khuyết, tâm người ấy b́nh đẳng. Hữu t́nh như thế sanh vào nước ấy, công đức chẳng tham viên măn trang nghiêm. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng với căn cơ. Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài trong cơi đời, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ tám “xa ĺa tham dục” của Bồ Tát Ma Ha Tát).

 

          Ĺa tham dục rất khó. Ĺa tham dục đến mức ĺa tham dục rốt ráo, chính là đoạn trừ vô minh. Tham dục chia ra rất nhiều tầng cấp. Khi nghiệp của chúng ta rất nặng, khi duyên niệm Tam Bảo, [làm như thế] là đúng, nhưng rốt cuộc, duyên niệm Tam Bảo cũng trở thành chướng ngại. Duyên niệm Tam Bảo vẫn là hữu pháp, nếu đạt đến cái Không rốt ráo (tất cánh Không), thiện pháp lẫn ác pháp đều chẳng có. Thiện pháp Tam Bảo, Tam Bảo là học Giới, Định, Huệ, v́ cung kính Tam Bảo mà học Giới, Định, Huệ, trừ diệt tham, sân, si, đối trị tham dục. Tham, sân, si đă chẳng c̣n, quư vị cũng đừng chấp trước Giới, Định, Huệ. Nếu vẫn chấp trước, sẽ thành bệnh, thuộc loại bệnh chấp trước. Chẳng hạn như chúng ta lập một gian Phật đường, nếu chúng ta thỉnh một bức tượng Phật, cung kính tột bậc, vốn chỉ có một bức tượng vẽ trên giấy được thờ tại đó, vẫn [cung kính] y hệt, cho đến cúng mấy vạn đồng, hoặc là mười vạn đồng đều biểu thị tôn kính. Trong ấy có thiện tham niệm. Có những lúc chúng ta cũng giống như vậy, tham niệm kiểu này rất nặng, phải khắc phục tham niệm ấy; [nếu không], niệm Phật, lạy Phật, luôn mong số lượng cho nhiều, chẳng cầu nội tâm thanh tịnh.

          “Phật” là Giác. Ư nghĩa của Giác là trừ bỏ. Luôn cho rằng ta niệm số lượng càng nhiều, th́ sức gia tŕ của Phật sẽ càng lớn. Niệm thánh hiệu Địa Tạng Vương Bồ Tát một vạn câu chẳng được, niệm mười vạn câu chẳng được, vậy th́ niệm một trăm vạn câu, trong ấy có sự chiết khấu. Ta niệm mười vạn câu ấy, trong đó có rất nhiều vọng tưởng. Ta niệm một trăm vạn câu, trong ấy cũng có vọng tưởng. Như thế th́ một trăm vạn câu niệm của ta đă chiết khấu thành mười vạn niệm thanh tịnh, mười vạn câu chiết khấu thành một vạn niệm thanh tịnh, một vạn câu chiết thành một ngàn thanh tịnh niệm, một ngàn chiết thành một trăm, đáng phải là như vậy! Nếu một trăm niệm thanh tịnh cũng chẳng có, mười tiếng th́ cũng được, có được một câu niệm thanh tịnh th́ sẽ là chẳng thể nghĩ bàn. Đó là ư nghĩa dùng nhiều ḥng đạt được cái ít.

          Mong cầu tham dục rất nhiều, [vận dụng] trí huệ Bát Nhă chân chánh sẽ triệt để đoạn dứt [cái tâm mong cầu ấy], rốt ráo thanh tịnh, nhưng hiện thời vẫn chưa được. V́ để đối trị sự tham dục này, khi quư vị ĺa khỏi sự đắm nhiễm, ô trược, thiện căn đă chín muồi. Do vậy, trong quá khứ, khi luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử, đă v́ tham dục làm duyên [mà tạo các nghiệp chướng]; đấy là căn bản của sanh tử. Thập Luân được nói trong kinh Đại Tập Thập Luân đều là b́nh đẳng. Tạp uế ngữ chính là ỷ ngữ, giới luật chế định vốn rất nhẹ. Chẳng có chuyện ǵ, ngay cả khi chỉ đứng đó nói chuyện gẫu th́ trong mỗi câu tán gẫu đă chứa đựng sự thị phi. Quư vị đến Phật đường, nh́n vào các đạo hữu luôn thấy cái này chẳng đúng, cái kia chẳng đúng, bàn luận người khác, đó chính là lưỡng thiệt. Hoặc là đối với ai cũng chẳng nghị luận, chỉ lượn qua lượn lại tại đó. Lượn qua lượn lại th́ chẳng hợp Phật pháp, chẳng hợp nghĩa lư! Hễ chuyện ǵ chẳng liên quan đến Phật pháp th́ đều gọi là tạp uế ngữ. Rất dễ phạm sai lầm này!

          Trên thực tế, đối với chúng ta, cái khó đoạn nhất là tham dục. V́ quư vị ĺa tham dục, thân tâm an lạc, cái tâm thanh tịnh, ĺa các đắm nhiễm, ô trược. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Lúc lâm chung, quư vị cũng chẳng trông thấy tiểu quỷ sai của vua Diễm Ma, hoặc câu hồn sứ giả Hắc Bạch vô thường sẽ chẳng tới. “Duy kiến khả ư” (chỉ thấy người vừa ư), [những người] khiến cho tâm ư vui thích đều có thể trông thấy, chẳng thấy những kẻ không ưa thích. “Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, y bỉ học tập, ly tham dục pháp” (chỉ thấy người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, nương theo người ấy học tập pháp ĺa tham dục): Đấy là học tập pháp ĺa tham dục từ thiện tri thức, và cũng có thể đoạn trừ hết thảy các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng. Chỉ có kinh Đại Tập Thập Luân nói như thế, các kinh khác chẳng có ư nghĩa như vậy!

          Tham dục là căn bản phiền năo, c̣n nghiêm trọng hơn so với tạp uế ngữ và thô ác ngữ. Giết, trộm, dâm chỉ là trong đời hiện tại, tham đă bao gồm hết. Mười nghiệp đều lấy tham dục làm gốc. Quư vị ngẫm xem, tất cả đều nói lời tạp uế, nói đă quen miệng rồi, nói đă quen nết, sẽ trở thành tập khí. Do tập khí tham dục, cứ thuận miệng đứng ở đâu, dẫu chẳng có chuyện ǵ cũng phải nói. Có những kẻ nói quá nhiều, chẳng có ai nghe họ nói, họ bèn ở trong nhà tự nói chuyện với ḿnh. Có chuyện như thế đấy! Chúng ta gọi những kẻ đó là “thuyết quỷ thoại”. “Thuyết quỷ thoại” là như thế nào? Chẳng có ai nói chuyện với kẻ đó, kẻ đó bèn tự nói với ḿnh. Nhất là mấy bà cụ đă cao tuổi, đặc biệt dông dài! Quư vị nghe họ chót chét suốt ngày! Đó là tập khí căn bản.

          Kinh Đại Tập Thập Luân đối đăi b́nh đẳng với Thập Ác Nghiệp, văn tự đều giống hệt như nhau, các kinh khác chẳng vậy. Kinh này nói về Thập Ác Luân, tức Thập Ác Nghiệp Ác Luân. Thập Thiện Nghiệp Thiện Luân đă được hoàn toàn nêu bày danh tự trong phần trước, nói một lượt là được rồi! V́ sao kinh này đă nói lần này qua lần khác, nói từng lần một, cả mười lần đều như thế? Đấy là v́ sợ quư vị chẳng chú ư. Đó là ḷng đại từ của đức Phật. Nếu giảng bài cho đệ tử trong Phật Học Viện, chẳng thể giảng như vậy. Trong mỗi khóa học tại Phật Học Viện, toàn là giảng về nghĩa lư, rất ít khi giảng kinh. Thời gian giảng nghĩa lư th́ nhiều, thời gian giảng kinh ít. Giảng về luận, Nhiếp Đại Thừa Luận, Hiện Quán Trang Nghiêm Luận, Đại Thừa Khởi Tín Luận, Đại Trí Độ Luận, Du Già Sư Địa Luận. Giảng luận, chẳng giảng kinh, rất ít giảng kinh. Kinh nhằm dạy quư vị thực hiện, c̣n Luận để biện luận, nhằm khai trí huệ. Phật Học Viện là học sự hiểu biết, Thiền Đường chẳng phải vậy. Thiền Đường là quư vị ít nói, tham cứu là được rồi. Niệm Phật Đường th́ quư vị cũng ít nói, chỉ niệm A Di Đà Phật là được rồi! Học Giới th́ suốt ngày làm Yết Ma, bày giới tướng ra, hằng ngày học tập, quư vị làm thế nào để giữ giới thanh tịnh? Trong một tùng lâm, hay trong một ngôi chùa lớn, trừ Học Giới Đường, Niệm Phật Đường, Thiền Đường, và Học Đường ra, c̣n có Như Ư Liêu[9]. Khi quư vị sợ hăi, có thể tiến vào Như Ư Liêu.

          Những điều được giảng trong kinh Thập Luân chuyên v́ đại chúng trong hội Đại Tập mà giảng. Trong pháp hội ấy, từ Bồ Tát cho đến phàm phu đều có. Rất nhiều phàm phu phạm sai lầm này. Do vậy, đức Phật phải nhắc đi, nhắc lại, dặn tới, dặn lui. Thông thường, đức Phật căn dặn ba lượt là được rồi, c̣n kinh Đại Tập Thập Luân là mười lượt, dùng ngôn ngữ, lời lẽ giống hệt nhau, đều b́nh đẳng diễn nói để nhắc lại, là do ư nghĩa này! Có phải là hễ nói mười lượt th́ sẽ ghi nhớ hay chăng? Tâm chẳng để vào đó th́ một trăm lần vẫn là như vậy! Học pháp th́ phải học từ trong tâm. Đấy là soi gương. Quư vị hăy soi để biết trong Thập Luân, chính ḿnh có mấy luân. Có người được toàn bộ, có người chỉ có hai ba luân. Như thế th́ quư vị là thiện tri thức. Nếu biết nghiệp chướng của chính ḿnh chẳng nặng, chính quư vị có thể đối chiếu đôi chút, toàn thể văn tự trong đoạn này đều tương đồng. Trong phần trước đă nói hai lần; từ đây trở đi, chẳng nói nữa!

          Nói “năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ địa b́nh như chưởng, chúng bảo sung măn, chủng chủng bảo thụ, hàng liệt trang nghiêm, chủng chủng bảo y, bảo trang nghiêm cụ, bảo tràng, phan, cái, kim, ngân, chân châu đẳng thụ, xứ xứ giai hữu” (có thể thành tựu hết thảy các thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí rộng sâu, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở, đất bằng phẳng như ḷng bàn tay, các thứ báu đầy ắp, các thứ cây báu bày hàng trang nghiêm, các thứ y báu, vật trang nghiêm báu, tràng, phan, lọng, báu, các thứ cây báu phủ lưới mành bằng vàng, bạc, chân châu v.v… nơi nơi đều có). Đấy là thế giới Cực Lạc, các cơi Phật thanh tịnh đều là như thế. “Thậm khả ái nhạo” (hết sức đáng ưa thích), quư vị c̣n tham chi nữa! V́ quư vị ắt phải ĺa tham dục, phá hủy tham dục luân, sau đó mới có thể đạt được quả báo này!

          “Viễn ly kiêu mạn, nhan mạo đoan nghiêm, chư căn vô khuyết, kỳ tâm b́nh đẳng. Như thị hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc” (Xa ĺa kiêu căng, ngạo mạn, h́nh mạo đoan nghiêm, các căn chẳng khuyết, cái tâm b́nh đẳng. Hữu t́nh như thế sanh vào cơi ấy): Chúng sanh trong quốc độ ấy đều là như thế, chẳng kiêu căng, chẳng ngạo mạn. Tướng mạo của mỗi người chẳng sai biệt cho lắm, cũng không có ai xấu xí chẳng ra sao, mà đều là dung mạo đoan chánh. Xinh đẹp có mấy loại, người xinh đẹp mà có đức hạnh th́ ai trông thấy cũng đều sanh tâm cung kính, chẳng có tâm khinh mạn, chẳng có tâm vũ nhục! Nói đến phụ nữ có đức th́ trong quá khứ, chúng ta nói đến những cô tiểu thư khuê các, hễ có phước đức th́ cũng rất đoan trang, mà cũng rất mỹ lệ! Nhưng đem so với một kỹ nữ xinh đẹp th́ tuyệt đối chẳng thể nói là tương đồng được, chẳng ai nẩy sanh tâm khinh mạn đối với các cô!

          Xưa kia, Địa Tạng Vương Bồ Tát làm một cô gái Bà-la-môn cũng thế, mà khi là cô Quang Mục cũng thế. Ai trông thấy các cô ấy, cũng đều sanh ḷng cung kính. Ngay cả quỷ trông thấy cô ta đều nẩy sanh tâm cung kính. Đó là đức (đức hạnh). Như chúng ta thấy Quán Thế Âm Bồ Tát và thấy một vị mỹ nữ, tuyệt đối là hai tâm thái khác nhau! Chúng ta thấy Quán Thế Âm Bồ Tát, bất luận quư vị tin Phật hay không, sẽ đối với Ngài sanh tâm cung kính, chẳng có tâm giải đăi, ngạo mạn. Đừng nói Phật, Bồ Tát, ngay như thiên nhân, Ma Tổ (Thiên Hậu Nguyên Quân)[10] là một cô bé, tổ miếu tại Bồ Điền, tỉnh Phước Kiến. Các bức tượng của Ma Tổ trong huyện ấy, vẽ rất xinh đẹp, chẳng có ai dám sanh tâm khinh mạn đối với Ngài. C̣n có một câu chuyện tại miếu thờ Cửu Thiên Huyền Nữ Nương Nương, Ân Trụ Vương[11] đến dâng hương tại miếu đó. [Trông thấy] tượng Cửu Thiên Huyền Nữ[12] tạc khéo quá, vua sanh khởi tâm ô nhiễm, sanh khởi tâm tham dục. Vị thần ấy phẫn nộ, chứ Bồ Tát chẳng hề! Cửu Thiên Huyền Nữ liền sai hồ ly tinh chín đuôi [đến phá hoại nhà Ân], hồ ly tinh chín đuôi liền biến thành Đát Kỷ. Do một niệm [tham ái, Trụ Vương] đă chôn vùi giang sơn!         

          Người có đức, công đức viên măn; cho nên lục căn toàn vẹn. “Nhan mạo đoan nghiêm, chư căn vô khuyết, kỳ tâm b́nh đẳng” (dung mạo đoan nghiêm, các căn chẳng khuyết, cái tâm b́nh đẳng), ư nghĩa được bao hàm ở đây chính là người ấy chẳng có tham dục. Đó là công đức của người ấy, quốc độ nơi người ấy sanh vào đều [được trang nghiêm bởi] công đức chẳng tham dục, tức là “viên măn trang nghiêm”. Công đức chẳng tham dục, bản thân “chẳng tham dục” đă là công đức. Bản thân “chẳng nói lời tạp uế” đă là công đức. Như Lai trong cơi Phật ấy thọ mạng vô lượng. Tất cả các đức Như Lai nơi các quốc độ được nói trong cả mười luân đều là thọ mạng vô lượng, [nói thọ mạng vô lượng] chẳng phải là [nói đến thọ mạng của] Báo Thân, mà là [thọ mạng của] Hóa Thân. “Vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ” (V́ các hữu t́nh, thuyết pháp đúng căn cơ. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài): Cũng chẳng có Tượng Pháp và Mạt Pháp. “Lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ bát viễn ly tham dục luân dă” (Lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ tám “xa ĺa tham dục” của Bồ Tát Ma Ha Tát).

 

          (Kinh) Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc, thường ư Bồ Đề chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc. Sở đắc quả báo quảng thuyết như tiền.

          ()菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。

          (Kinh: Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La, thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí, cho đến đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường được thăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén và phước thù thắng thường được tăng trưởng. Đối với hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, mau được tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các thiện tri thức để tùy thuận làm theo. Thường được chẳng ĺa thấy hết thảy các đức Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử. Chẳng ĺa nghe pháp, chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt được quả báo như đă nói rộng trong phần trước).

 

          Ở đây chỉ nói tới ly tham dục luân; sau đó, hăy c̣n hai luân nữa!

 

          (Kinh) Phục thứ, thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát, năng tận h́nh thọ, viễn ly sân khuể, nhất thiết chúng sanh thường sở ái trọng, kỳ tâm thanh tịnh, ly chư cấu uế. Do thử, thiện căn tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân sân khuể cố, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư vô minh chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ. Do thử viễn ly sân khuể luân cố, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng giai cộng thân ái, vô sở sai lự. Kỳ tâm thanh tịnh, ly chư cấu uế. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma vương sứ. Duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở sanh xứ, kỳ tâm thanh tịnh, ly chư cấu uế, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc.

          ()復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽遠離瞋恚,一切眾生常所愛重,其心清淨離諸垢穢,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因瞋恚故,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸無明障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離瞋恚輪故,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,其心清淨,離諸垢穢。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,其心清淨,離諸垢穢,端正聰明,安隱快樂。

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng, xa ĺa nóng giận, hết thảy chúng sanh sẽ thường yêu mến, kính trọng, tâm vị ấy thanh tịnh, ĺa các cấu uế. Do vậy, thiện căn mau được thành thục. Trong những lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử thuở trước, do sân khuể, đă tạo các nghiệp chướng ác nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các vô minh chướng, tự làm, dạy người khác, thấy nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa sân khuể” này, [các nghiệp chướng ấy] đều bị nghiền nát, phá tan chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo. Trong thân hiện tại, các hàng nhân thiên đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại. Cái tâm thanh tịnh, ĺa các cấu uế. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách, vợ con yêu mến, quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, trọn đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng, sanh ḷng kính tín sâu xa. Đă mạng chung, lại sanh làm người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ, hễ sanh vào nơi đâu, cái tâm thanh tịnh, ĺa các cấu uế, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng).

 

          Đoạn kinh văn này có thêm một câu, tức là phá tan “chư vô minh chướng”. Sân hận có lớn và nhỏ. Sân khuể th́ có người nếu nổi nóng, cáu giận, sẽ có khá nhiều người bị mắc họa! Như quốc vương, đại thần, tướng quân, do một niệm sai lầm, sẽ tạo rất nhiều nghiệp. Như tướng Bạch Khởi đời Tần, khi nước Tần giao tranh với nước Triệu, đă ra lệnh đào hầm chôn sống bốn mươi vạn tù binh nước Triệu do hắn bắt được trong trận chiến Trường B́nh! Bản thân hắn mắc quả báo hứng chịu bất tận! Có một năm nọ, báo chí Thượng Hải đăng tin, có một con lợn nơi chỗ da dưới bụng nó có đề tên màu đỏ “Bạch Khởi”. Đấy là Phật, Bồ Tát chỉ bày cảnh tỉnh chúng ta. Lại c̣n có một người họ Tŕnh, chúng tôi không nói tên người ấy, ông ta làm chuyên viên, đă thụt két, nuốt gọn mấy vạn lạng bạc trắng, cũng bị biến thành lợn. Con lợn nái có thai lần ấy, đẻ ba con lợn con, dưới bụng đều có ghi tên, một là Bạch Khởi, hai là tên của gă họ Tŕnh, c̣n con lợn kia cũng đề tên của một người đă từng sống tại vùng Thượng Hải. Đó là nghiệp báo, ở dưới bụng, có đề tên màu đỏ chót, đề rành rành là Bạch Khởi. Đó là ǵ? Đấy là quả báo. Báo chí Thượng Hải bèn đăng tải để giáo dục mọi người.

          Từ thuở đó cho đến hiện thời đă bao nhiêu năm, thời gian ấy vẫn c̣n rất ngắn, hắn vẫn phải thọ báo. Một cuộc chiến thành công, cả vạn bộ hài cốt khô. Không chỉ là một vạn bộ hài cốt, thuở ấy có đến bốn mươi vạn người. Từ xưa đến nay, bất luận ở nơi đâu cũng đều chẳng giết hàng binh, hễ đầu hàng th́ thôi, buông vũ khí là xong! Hắn dùng thủ đoạn lừa gạt, đem họ chôn sống. Trên thực tế, nếu người ta thật sự liều mạng, cũng rất khó đánh! Sau khi đă lừa được họ buông vũ khí xuống, liền đào hầm chôn sống họ, đương nhiên là hắn có các thứ nghiệp! Tôi c̣n nhớ có một bài thơ: “Ô nha thất kỳ mẫu” (Quạ đen bị mất mẹ), khi con quạ đen chết, tức quạ già chết, quạ non mất mẹ. “Kinh niên thủ cố lâm” (Bao năm giữ rừng cũ), trong quá khứ đă ở trong rừng cây ấy. “Dạ dạ bất ly khứ, duy báo niệm mẫu ân” (hằng đêm chẳng ĺa khỏi, chỉ nghĩ báo ơn mẹ): Mỗi đêm nó đều kêu như thế, chẳng chịu bay đi. “Tích hữu Ngô Khởi giả” (xưa có gă Ngô Khởi), có một gă tên là Ngô Khởi[13], chẳng phải là Bạch Khởi. “Mẫu táng, mộ bất lâm” (mẹ mất, chẳng viếng mộ): Mẹ hắn đă chết, ngay cả mộ địa cũng chẳng thèm đến viếng. “Ta thán tư đồ bối, kỳ tâm bất như cầm” (Than ôi! Hạng người đó, tâm chẳng bằng loài chim). So sánh giữa con người và cầm thú, có khi con người vẫn chẳng khác ǵ cầm thú! Khi tôi c̣n ở trong tù, có một bác sĩ, đứa con ruột của ông ta cưỡng hiếp mẹ nó, bị phán tù mười tám năm. Vào thời quá khứ, tội ấy bị ngũ mă phân thi (năm ngựa xé xác), hoặc “ngũ ngưu phân thi” (năm con trâu xé xác). Đó là đại tội nghịch, chẳng bằng cầm thú! Ngựa tuyệt đối chẳng giao phối với ngựa mẹ, c̣n dê khi sắp bú sữa, nhất định sẽ quỳ xuống, quỳ để bú sữa. Đó là báo ân.    

          Hễ nói tới ác nghiệp, đều xen tạp phiền năo. Phiền năo là tâm tham, tâm sân hận. Phật giáo chúng ta chú trọng tâm sân hận nhất. Tất cả công đức do quư vị tích lũy, “một niệm sân hận khởi, cháy rụi rừng công đức”. Hễ nổi cơn lôi đ́nh, quư vị cứ tưởng chỉ là nóng giận một trận rồi thôi ư? Đặc biệt phải đối trị tâm sân hận, nó có thể đem lại cho quư vị rất nhiều họa hoạn. Đối với tâm sân hận, quư vị cho rằng nổi nóng chẳng nhằm nḥ ǵ! Gia đ́nh thường v́ một hai trận giận dữ mà vợ chồng bất ḥa, hoặc là như trong hiện thời, do căm thù mà giết hại nhau, gia đ́nh tan vỡ. Đối với tầm quan trọng của một niệm tâm sân hận, tôi phải nói nhấn mạnh đôi chút như vậy để mọi người tham khảo, những điều khác đều giống như kinh văn trong phần trước. Đấy là nói về sân khuể luân. Quư vị thấy người ta nổi nóng, thấy người ta đánh nhau, rất nhiều kẻ bu lại xem náo nhiệt. Chớ nên xem sự náo nhiệt ấy! Nếu quư vị bu lại coi, không chừng bị ngộ thương, họ đánh lầm quư vị, chớ nên xem náo nhiệt!

 

          (Kinh) Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền vi thiện tri thức, y bỉ tu học, ly sân khuể pháp, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập thâm quảng trí hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, viễn ly nhất thiết trược uế phong vân, úc chưng trần cấu, chư thô tệ vật, chúng bảo trang nghiêm, thậm khả ái nhạo, viễn ly kiêu mạn, nhan mạo đoan nghiêm, chư căn vô khuyết, tâm thường tịch định. Như thị hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc. Từ bi công đức, viên măn trang nghiêm. Như Lai tự thân thọ mạng vô lượng, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp. Bát Niết Bàn hậu, chánh pháp cửu trụ, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Thiện nam tử! Thị danh Bồ Tát Ma Ha Tát đệ cửu viễn ly sân khuể luân dă.

          ()復遇可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,依彼修學離瞋恚法,能斷一切惡不善法,能成一切殊勝善法,能求一切大乘法義,能修一切菩薩願行,漸次趣入深廣智海,乃至證得無上菩提。所居佛土,遠離一切濁穢風雲、郁烝塵垢、諸粗弊物,眾寶莊嚴甚可愛樂,遠離憍慢,顏貌端嚴,諸根無缺,心常寂定,如是有情來生其國,慈悲功德,圓滿莊嚴;如來自身壽命無量,為諸有情如應說法,般涅槃後,正法久住,利益安樂無量有情。善男子,是名菩薩摩訶薩,第九遠離瞋恚輪也。
          (Kinh: Lại gặp người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức, nương theo người ấy tu học, ĺa pháp sân khuể, có thể đoạn hết thảy các pháp ác bất thiện, có thể thành tựu hết thảy thiện pháp thù thắng, có thể cầu hết thảy pháp nghĩa Đại Thừa, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Cơi Phật người ấy ở xa ĺa hết thảy dơ bẩn, gió mây, nung nấu các trần cấu, các vật thô tệ, được trang nghiêm bằng các món báu rất đáng ưa thích. Xa ĺa kiêu căng, ngạo mạn, dung mạo đoan nghiêm, các căn chẳng khuyết, tâm thường tịch định, các hữu t́nh như thế sẽ sanh về cơi ấy. Từ bi công đức viên măn trang nghiêm. Bản thân Như Lai thọ mạng vô lượng, v́ các hữu t́nh nói pháp thích ứng căn cơ. Sau khi Phật nhập Niết Bàn, chánh pháp tồn tại lâu dài, lợi ích, an lạc vô lượng hữu t́nh. Này thiện nam tử! Đó gọi là luân thứ chín “xa ĺa sân khuể” của Bồ Tát Ma Ha Tát).

 

          “Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức” (lại gặp người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức): Nương theo vị thiện tri thức ấy, “tu học ly sân khuể pháp”. Nếu muốn ĺa pháp sân khuể, phải làm như thế nào? Phải nhẫn nhục. Dựa trên sự rèn luyện hằng ngày của quư vị, khi sắp nổi nóng, quư vị hăy vào Phật đường. Hoặc nhằm lúc không có Phật đường, chính quư vị phải tĩnh tọa, đă tĩnh tọa rồi, niệm Phật cũng được, mà niệm kinh cũng được. Hễ niệm th́ cái tâm của quư vị sẽ thanh lương, lửa giận sẽ dịu xuống! Khi đang nóng giận, ngàn vạn lần đừng xử trí công việc. Khi trong tâm quư vị chẳng thoải mái, cũng đừng nên đáp ứng chuyện ǵ, quư vị nhất định phải khắc phục. Quư vị rèn luyện dần dần như thế, đấy cũng là tu hành.    

          Đă nhẫn lại nhẫn nữa, Trương Công bách nhẫn[14], viết một chữ Nhẫn mà chưa nhẫn được, bèn viết một chữ nữa, vẫn chẳng nhẫn được, lại viết một chữ nữa. Ắt cần phải nhẫn! Nhẫn rất khó! [Nhẫn () là] trên chữ Tâm () cắm một thanh đao bén (, đao bén), đau đớn lắm! Nhẫn có sức mạnh lớn như vậy! Đặc biệt là khi sanh khởi phiền năo, quư vị sẽ tạo nghiệp. Không phải chỉ là thân quư vị tạo nghiệp! Trong tâm khởi lên [sân khuể], sẽ phát ra đằng miệng, chửi rủa người khác. Chửi hết mức bèn đánh, đánh đă rồi vung đao, hoặc nổ súng, đèo thêm cái nợ mạng, sẽ bị nhốt vào tù. Lúc đó, quư vị hối hận chẳng kịp, lại c̣n phải đền mạng. Nhất định phải nhẫn, mỗi luân đều là như vậy. Bất quá đối với sân luân này, đặc biệt nói nhiều một chút. Quư vị mong ĺa khỏi nó rất khó. Người quen thói nổi nóng sẽ rất khó ĺa khỏi!

          C̣n nữa, hễ nổi giận, trong ḷng bực bội, trong gia đ́nh, đặc biệt dễ nẩy sanh [chuyện này nhất]: Quư vị bực ḿnh với đứa con nào, hằng ngày chửi mắng nó. Nó làm ǵ, quư vị cũng lập tức xài xể, quở trách nó. Cứ như thế, dẫu là cha mẹ ruột, đâm ra đứa con cũng coi như oán cừu! Hoặc là nó trưởng thành, sẽ ĺa khỏi quư vị, hoặc là nó c̣n muốn báo thù. Tôi đă gặp rất nhiều trường hợp báo thù rồi! Chẳng cần nói quá nhiều, khi người khác sai lầm, đừng nóng giận, phải tha thứ cho người khác. Quư vị thường xuyên nghĩ như vậy, một hai lần không được, cứ cố gắng nhiều lần, dần dần sẽ được. V́ người khác chẳng phải là quư vị, dẫu [kẻ đó] do chính ḿnh sanh ra, vẫn chẳng phải là có cùng một cái tâm với quư vị. Cách nghĩ của quư vị và cách nghĩ của họ phải khác nhau, nhất định phải nhẫn điều này. Học tập ĺa pháp sân khuể như thế, có thể tu hết thảy nguyện hạnh của Bồ Tát, dần dần tiến nhập biển trí sâu rộng, cho đến chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề.

          Cơi Phật người ấy ở, “viễn ly nhất thiết trược uế, phong vân, úc chưng trần cấu, chư thô tệ vật, chúng bảo trang nghiêm, thậm khả ái nhạo” (xa ĺa hết thảy dơ bẩn, gió, mây, nung nấu trần cấu, các vật thô tệ, [lại được] các báu trang nghiêm rất đáng ưa thích). Đấy là vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, [môi trường hiện thời] dơ bẩn, đục ngầu, đặc biệt là nước bị ô nhiễm. Gió thổi qua, [các thứ bẩn thỉu] bị bốc lên không trung, ở trên không trung biến thành mây đen. Phàm là những thứ có màu đen là đă xen tạp vật bất tịnh. “Chưng” () là khi mặt trời mọc, sẽ nung nóng, chúng liền bị bốc hơi. Đă bốc hơi xong, lại rơi xuống đất, hóa thành các vật thô tệ. Các vật thô tệ ấy nếu rơi xuống nước, hoặc các thực phẩm, cũng sẽ khiến cho chúng bị nhiễm độc. Khí oán kết dữ dội hơn bất cứ thứ độc hại nào, tức là như chúng tôi vừa mới nói “phẫn nộ, oán độc”. Oán độc th́ ai gặp cũng sợ. Nếu quốc độ này, tàn sát nhân dân trên quy mô lớn, giống như đại chiến trường, chết một loạt mấy vạn người, mấy chục vạn người, loại oán khí ấy xông lên không trung, ngưng kết thành một loại oán khí mà hễ ai đi qua nơi đó, nếu chẳng né tránh, chạm phải, thần tiên cũng chẳng có cách nào cứu được!

          Oán độc của chúng sanh hết sức dữ dội. Rất nhiều bộ kinh Phật nghiên cứu thứ này, đă nói oán độc nặng nề hơn bất cứ thứ ǵ khác. V́ thế, người ấy [do xa ĺa sân khuể] đă chuyển hóa các vật thô tệ do các trần cấu nung nấu thành, chuyển biến các thứ đó thành “chúng bảo trang nghiêm, thậm khả ái nhạo” (các báu trang nghiêm, rất đáng yêu mến). “Viễn ly kiêu mạn, nhan mạo trang nghiêm, chư căn vô khuyết, tâm thường tịch định” (xa ĺa kiêu căng, ngạo mạn, diện mạo trang nghiêm, các căn chẳng khuyết, tâm thường tịch định). Thêm vào tịch định, tức là trong tâm luôn an tĩnh, luôn lặng lẽ, an định, chẳng tán loạn, chẳng phiền năo th́ mới định được. V́ sao trong tâm chúng ta bứt rứt? Tuy chẳng nổi nóng, cội rễ trong ấy là do phiền năo muốn bùng phát, mà chẳng phát ra được. Hoặc là do khắc chế, khiến cho nó chẳng bùng ra, trong tâm sẽ bứt rứt, chẳng thoải mái! Do vậy, cái tâm phải thường tịch định, đừng buồn bực, đừng bứt rứt. Quốc độ của người ấy (người đă xa ĺa sân khuể) là như thế! Phàm những ai tâm thường tịch định, xa ĺa kiêu mạn, sẽ sanh về cơi ấy, đều là “từ bi công đức, viên măn trang nghiêm”. Trái nghịch với sân hận là từ bi. Do đó, đối với hết thảy chúng sanh, đều phải từ bi. Người tu Từ Bi Quán sẽ chẳng tức giận, mà cũng chẳng nổi cáu!

          C̣n có một loại nữa là Bồ Tát thị hiện: “Tánh t́nh ngươi quá nóng, ta c̣n nóng tánh hơn ngươi nữa! Ngươi c̣n lộn xộn nữa, ta giết ngươi luôn!” Quán Thế Âm Bồ Tát tại đất Hán rất từ bi; ở Tây Tạng Ngài chẳng phải là như vậy. Ngài thị hiện giống như ma vương, Mă Đầu Kim Cang (Hayagriva)[15], hoặc Đại Minh Kim Cang, hiện rất nhiều tướng Kim Cang. Tướng Kim Cang rất dữ tợn. Đấy là từ bi thật sự, hàng phục phiền năo của họ. Muốn hàng phục phiền năo của họ, chúng ta làm không được! Chỉ có thể nhẫn nại đôi chút, chúng ta vẫn chưa có công lực ấy!

 

          (Kinh) Bồ Tát Ma Ha Tát thành tựu thử luân cố, ư Thanh Văn Thừa đắc vô ngộ thất, ư Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa đắc vô ngộ thất, ư Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa đắc vô ngộ thất, ư kỳ Đại Thừa Bổ Đặc Già La đắc vô ngộ thất, thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh. Ư chư Như Lai xuất gia đệ tử, nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí, hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất. Ư Đại Thừa pháp, thường đắc thăng tấn, vô hữu thoái chuyển. Lợi huệ, thắng phước, thường đắc tăng trưởng. Ư nhất thiết Định, chư Đà-la-ni, chư Nhẫn, chư Địa, tốc đắc tự tại, vô hữu thoái chuyển. Thường đắc trị ngộ chư thiện tri thức, tùy thuận nhi hành. Thường đắc bất ly kiến nhất thiết Phật, cập chư Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử, bất ly văn pháp, bất ly thân cận, cúng dường chúng Tăng. Ư chư thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm vô yếm túc. Thường ư Bồ Đề, chủng chủng hạnh nguyện, tâm vô yếm túc, sở đắc quả báo quảng thuyết như tiền.

          ()菩薩摩訶薩成就此輪故,於聲聞乘,得無誤失;於聲聞乘補特伽羅,得無誤失;於獨覺乘,得無誤失;於獨覺乘補特伽羅,得無誤失;於其大乘,得無誤失;於其大乘補特伽羅,得無誤失;常能熾然三寶種性;於諸如來出家弟子,若是法器,若非法器,下至一切被片袈裟、剃鬚發者,得無誤失;於大乘法,常得升進,無有退轉;利慧勝福,常得增長;於一切定諸陀羅尼,諸忍諸地,速得自在,無有退轉;常得值遇諸善知識,隨順而行;常得不離見一切佛及諸菩薩、聲聞弟子,不離聞法,不離親近供養眾僧;於諸善根,常精進求,心無厭足;常於菩提種種行願,心無厭足。所得果報,廣說如前。

          (Kinh: Bồ Tát Ma Ha Tát do thành tựu luân này, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Thanh Văn Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Độc Giác Thừa Bổ Đặc Già La, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa, chẳng phạm sai lầm đối với Đại Thừa Bổ Đặc Già La. Thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo. Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, dù là pháp khí, hay chẳng phải pháp khí, cho đến đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm. Đối với pháp Đại Thừa, thường được tăng tấn, chẳng bị thoái chuyển. Trí huệ nhạy bén và phước thù thắng thường được tăng trưởng. Trong hết thảy các Định, các Đà-la-ni, các Nhẫn, các Địa, đều mau chóng tự tại, chẳng bị thoái chuyển. Thường được gặp gỡ các thiện tri thức, tùy thuận hành theo. Thường được chẳng ĺa thấy Phật, và các Bồ Tát, Thanh Văn đệ tử. Chẳng ĺa thân cận, cúng dường chúng Tăng. Đối với các thiện căn, thường tinh tấn cầu, tâm chẳng chán đủ. Thường đối với các thứ hạnh nguyện Bồ Đề, tâm chẳng chán đủ, đạt được quả báo như đă nói rộng trong phần trước).

 

          Người học pháp tam thừa, hoặc học pháp Nhị Thừa, nếu đối với pháp và người đều chẳng “ngộ thất”, tức là chẳng sai lầm. “Như ưng thuyết pháp, thường năng xí nhiên Tam Bảo chủng tánh” (tùy theo căn cơ thích đáng mà thuyết pháp, thường có thể hưng thịnh chủng tánh Tam Bảo): Đối với các đệ tử xuất gia của các đức Như Lai, bất luận là trong cơi Phật nào, đại đa số là nói tới quốc độ này của chúng ta. “Nhược thị pháp khí, nhược phi pháp khí” (Dù là pháp khí, hay chẳng phải là pháp khí), thế giới Cực Lạc chẳng có “phi pháp khí”, đương nhiên là nói đến cơi [Sa Bà] này. Phàm là những quốc độ tương tự như chúng ta, “hạ chí nhất thiết bị phiến ca-sa, thế tu phát giả, đắc vô ngộ thất” (thậm chí đối với hết thảy những kẻ khoác một mảnh ca-sa, cạo bỏ râu tóc, đều chẳng phạm sai lầm): Không chỉ là chẳng sai lầm đối với ba thừa, mà thậm chí đối với kẻ chỉ khoác một mảnh ca-sa, kẻ ấy nhất định có thiện căn, nhất định là có nhân duyên, phải quan sát quá khứ của kẻ đó.

 

          (Kinh) Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát năng tận h́nh thọ, viễn ly tà kiến, nhất thiết chúng sanh thường sở ái trọng, kỳ tâm thanh tịnh, ly tà phân biệt. Do thử, thiện căn tốc đắc thành thục. Sở hữu tiền tế luân chuyển ngũ thú, một sanh tử hà, nhân tà kiến cố, tạo thân, ngữ, ư, chư ác nghiệp chướng, chư phiền năo chướng, chư hữu t́nh chướng, nhất thiết pháp chướng, chư chánh kiến chướng, tự tác, giáo tha, kiến văn tùy hỷ, do thử viễn ly tà kiến luân cố, giai tất triển hoại, tồi diệt vô dư, bất thọ quả báo. Ư hiện thân trung, chư nhân thiên đẳng, giai cộng thân ái, vô sở sai lự, thân tâm an lạc, kỳ tâm thanh tịnh, ly tà phân biệt. Tương mạng chung thời, thân tâm bất vị ưu khổ bức thiết, sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma vương sứ, duy kiến khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín. Kư mạng chung dĩ, hoàn sanh nhân trung, chư căn viên măn, chi thể cụ túc, tùy sở sanh xứ, kỳ tâm thanh tịnh, ly tà phân biệt, đoan chánh, thông minh, an ổn, khoái lạc.

          ()復次,善男子,若菩薩摩訶薩,能盡形壽遠離邪見,一切眾生常所愛重,其心清淨,離邪分別,由此善根速得成熟。所有前際輪轉五趣沒生死河,因邪見故,造身語意諸惡業障、諸煩惱障、諸有情障、一切法障、諸正見障,自作、教他、見聞隨喜,由此遠離邪見輪故,皆悉輾壞,摧滅無餘,不受果報。於現身中,諸人天等皆共親愛,無所猜慮,身心安樂,其心清淨,離邪分別。將命終時,身心不為憂苦逼切,所愛妻子眷屬圍繞。臨命終時,不見可怖剡魔王使,唯見可意成調善法,具戒富德真實福田,為善知識,身心歡悅,深生敬信。既命終已,還生人中,諸根圓滿,支體具足,隨所生處,其心清淨,離邪分別,端正聰明,安隱快樂。

          (Kinh: Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng, xa ĺa tà kiến, sẽ được hết thảy chúng sanh thường yêu kính, quư trọng. Tâm vị ấy thanh tịnh, ĺa tà phân biệt. Do vậy, thiện căn mau được thành thục. Trong tất cả những lúc luân chuyển trong năm đường, ch́m trong sông sanh tử thuở trước, do tà kiến mà tạo các ác nghiệp chướng nơi thân, ngữ, ư, các phiền năo chướng, các hữu t́nh chướng, hết thảy pháp chướng, các chánh kiến chướng, tự làm, dạy người khác, thấy nghe tùy hỷ. Do cái luân “xa ĺa tà kiến” này, [các nghiệp chướng ấy] thảy đều bị nghiền nát, tan diệt chẳng c̣n sót, chẳng nhận lănh quả báo. Nơi thân hiện tại, các hàng trời người đều cùng thân ái, chẳng ngờ vực, lo ngại, thân tâm an lạc, cái tâm thanh tịnh, ĺa tà phân biệt. Khi sắp mạng chung, thân tâm chẳng bị ưu khổ bức bách. Vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma, chỉ thấy người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, đủ giới, giàu đức, là bậc phước điền chân thật làm thiện tri thức, thân tâm vui sướng, sanh ḷng kính tin sâu xa. Đă mạng chung, lại sanh làm người, các căn viên măn, chi thể trọn đủ. Sanh ở bất cứ nơi đâu, cái tâm thanh tịnh, ĺa tà phân biệt, đoan chánh, thông minh, an ổn, vui sướng).

 

          “Phục thứ thiện nam tử! Nhược Bồ Tát Ma Ha Tát năng tận h́nh thọ, viễn ly tà kiến” (Lại này thiện nam tử! Nếu Bồ Tát Ma Ha Tát có thể cho đến hết thọ mạng, xa ĺa tà kiến): Ngu si cũng là vô minh. Kẻ chẳng có trí huệ, sẽ nẩy sanh tà kiến. Đức Phật nói kẻ phá kiến chẳng thể cứu độ. “Kiến” () là chấp trước. Có những kẻ chẳng xả chấp trước! Quư vị nói thiện pháp với họ, họ chẳng có cách nào nghe lọt tai được! “Tà tri, tà kiến”: Nếu kẻ đó v́ đắc Thiên Nhăn Thông, thấy ḅ sanh lên trời, bèn nói: “Làm ḅ là tốt nhất! Sau khi chết, có thể sanh lên trời!” Kẻ đó chẳng hiểu đời trước của con ḅ ấy như thế nào, chẳng biết nhân quả. Thần thông của kẻ đó chỉ thấy đời này, chẳng thấy tám vạn đại kiếp, càng chẳng thấy vô lượng đại kiếp, chỉ thấy trước mắt, bèn nói ḅ có công đức to lớn. Do vậy, hằng ngày kẻ đó lạy ḅ, chẳng tin Phật. Đối trước tượng Phật, kẻ đó chẳng lễ bái, lại có thể lạy lục con ḅ!

          Khi tôi sang Ca Nhĩ Cách Đáp (Calcutta) của Ấn Độ, có một con đường, chắc là tới cả ngàn con ḅ, to dễ sợ, c̣n to gấp mấy lần chúng tôi! Đầu ḅ gắn một viên ngọc, khoác vải bông đủ màu. C̣n có người dùng tơ vàng kết thành quả cầu đeo bên thân ḅ. Con ḅ đi trên phố, đi đến nhà nào, đại khái là nhà ấy đem đồ ăn cho nó ăn no, lấy nước lọc sạch nhất cho nó uống. Cả con đường ấy đều thờ phụng ḅ. Nếu quư vị chẳng biết, hoặc là đụng phải ḅ, thôi rồi! Người trên phố ấy sẽ liều mạng với quư vị. Khi tôi đến đó là năm 1940, thuở ấy, Đệ Nhị Thế Chiến c̣n chưa chấm dứt, Ấn Độ chưa độc lập, vẫn bị Anh quốc thống trị. Người Anh cũng chẳng dám đụng tới lũ ḅ, v́ biết sẽ chuốc lấy phiền toái. Nếu họ lái xe phải qua khu phố đó, sẽ lái theo đường ṿng, chẳng lái thẳng vào con đường đó. Nếu chẳng thể không lái qua con đường ấy, họ sẽ lái chầm chậm, đợi con ḅ đi qua, đường thông rồi mới lái. Nếu vẫn chưa đi qua, quư vị chẳng thể đuổi nó đi được. Đó là tà tri tà kiến của ngoại đạo tín phụng, chẳng có cách nào hết! Nếu hiện thực hơn chút nữa, trong quốc độ này của chúng ta, kẻ tin tà tri tà kiến quá nhiều! Thế giới này có bao nhiêu ức người đều là tin theo tà tri tà kiến, chứ chánh tri chánh kiến khá ít. Đại Lục có mười ba ức người, được bao nhiêu người có chánh tri chánh kiến? Kể cả trong các tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni, người chánh tri chánh kiến vẫn rất ít.

          Nhưng trong Thập Luân, nói theo tà kiến thông thường, đều như nhau, tức là ngu si, chính là si trong tham, sân, si. Chúng ta mỗi ngày thấy chuyện ǵ cũng đều chẳng chánh xác, phán đoán sai lầm, đều là ngu si, chẳng thể liễu giải “các pháp duyên khởi tánh Không”. Đó là ngu si. Hết thảy các pháp sanh khởi từ “duyên khởi tánh Không”, phải mong hồi quy về duyên khởi tánh Không; đấy là điều căn bản nhất trong khi học Phật. Điều ấy sẽ có thể đoạn tà kiến của quư vị. Nếu xa ĺa các tà kiến, quả báo đạt được sẽ chín muồi, đó chính là “viễn ly tà kiến luân”.

          Đối với tà phân biệt, nếu chẳng có Định lực, chẳng có trí huệ, trong tâm quư vị suy nghĩ, phân biệt, toàn là tà tri tà kiến. Tà tri tà kiến ấy hoàn toàn chẳng phải là tà tri tà kiến của ngoại đạo, mà là trong tâm quư vị, hễ chẳng an lạc, hễ chẳng thanh tịnh, th́ đều thuộc về tà tri tà kiến. Sâu hơn một chút, sẽ là chẳng thấy pháp tánh, tâm vượt ra ngoài đạo, tâm vượt ra ngoài Bồ Đề đạo, nghĩ tưởng các thứ chẳng phải là Bồ Đề đạo, đó gọi là “tà kiến”. Đó là nói tới những cái chẳng chiếu theo lời chỉ dạy của đức Phật, chẳng thể đoạn Khổ, Tập, Diệt, Đạo, chẳng thể nương theo pháp Tứ Đế để tu, chẳng thể nương theo pháp mười hai nhân duyên để tu, chẳng thể nương theo pháp Lục Độ để tu, đó đều là tà kiến. Nếu xa ĺa tà phân biệt, trong tâm tưởng chẳng sanh khởi tà kiến, luôn nương theo chánh kiến, nương theo lời Phật dạy để hành, như thế là ĺa tà phân biệt, sẽ có kết quả tốt đẹp ǵ vậy? Khi mạng chung, thân tâm của quư vị chẳng bị đau khổ bức bách. “Sở ái thê tử, quyến thuộc vi nhiễu. Lâm mạng chung thời, bất kiến khả bố Diễm Ma vương sứ” (vợ con yêu mến và quyến thuộc vây quanh. Khi lâm chung, chẳng thấy sứ giả đáng sợ của vua Diễm Ma), chỉ thấy người vừa ư, điều phục thành tựu thiện pháp, trọn giới, giàu đức, phước điền chân thật làm thiện tri thức cho quư vị. “Thân tâm hoan duyệt, thâm sanh kính tín” (Thân tâm vui sướng, sanh ḷng tin kính sâu xa): Như thế th́ sẽ an tường, nhàn nhă chuyển thế. Sau khi mạng chung, lại sanh trong loài người.

 

          (Kinh) Phục ngộ khả ư, thành điều thiện pháp, cụ giới, phú đức, chân thật phước điền, vi thiện tri thức, y bỉ tu học ly tà kiến pháp, năng đoạn nhất thiết ác bất thiện pháp, năng thành nhất thiết thù thắng thiện pháp, năng cầu nhất thiết Đại Thừa pháp nghĩa, năng tu nhất thiết Bồ Tát nguyện hạnh, tiệm thứ thú nhập Đại Thừa đại hải, năi chí chứng đắc Vô Thượng Bồ Đề. Sở cư Phật độ, viễn ly nhất thiết Thanh Văn, Độc Giác nhị thừa nhân pháp, viễn ly nhất thiết thiên ma đồ chúng, viễn ly nhất thiết ngoại đạo bằng đảng, chúng bảo trang nghiêm, thậm khả ái nhạo, viễn ly nhất thiết vọng chấp cát hung, Thường Kiến, Đoạn Kiến, ngă, ngă sở kiến. Như thị hữu t́nh, lai sanh kỳ quốc,