Đại Thừa Địa Tạng Thập Luân Kinh Giảng Kư, phần 3

大乘大集地藏十輪經講記

Mộng Tham lăo ḥa thượng chủ giảng

梦参老和尚主講

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, hỗ tương quai vi, hưng chư đấu tránh, hữu năng chí tâm xưng danh niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc xả độc hại tâm, cộng tương ḥa mục, hoan hỷ nhẫn thọ, triển chuyển hối quư, từ tâm tương hướng, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,互相乖違,興諸斗諍,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得舍毒害心,共相和穆,歡喜忍受,展轉悔愧,慈心相向,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh chống trái lẫn nhau, dấy lên các sự đấu đá, tranh chấp, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy sẽ đều bỏ tâm độc hại, ḥa thuận với nhau, hoan hỷ chịu đựng, lần lượt hối hận, thẹn thùng, đối đăi với nhau bằng ḷng Từ, tùy theo căn tánh đáng độ mà đặt yên họ nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Đoạn kinh văn này ư nghĩa rất dễ hiểu, chẳng cần phải giải thích như thế nào. Mọi người biết rất rơ: Trong hiện thời, chúng ta luôn có đủ các hiện tượng này, làm thế nào để vượt thoát, ḥng Địa Tạng Bồ Tát sẽ đặt yên chúng ta nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn? Phải chí tâm! Tôi mới vừa đọc [một đoạn] kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, chẳng biết mọi người có quên hay chăng? Phải học tập, tức là học tập phát nguyện chí tâm. Chẳng học tập, sẽ chẳng đạt được chí tâm. Phần lớn chúng ta là tán loạn tâm, hôn trầm tâm, điều này có mối liên quan rất lớn với tín tâm. Chúng ta phải vun bồi tín tâm. Tin tưởng pháp sâu đậm, chẳng đổi dời, rất khó! Chẳng cần biết nói như thế nào, chỉ sợ các đạo hữu vẫn là “thật vậy sao?” Cứ phết dấu hỏi: “Sao tôi chẳng đạt được?” Rất nhiều người đều có cái dấu hỏi này, chẳng thèm tự vấn chí tâm của chính ḿnh đă đạt tới mức độ nào? V́ chẳng có chí tâm, chẳng tương ứng với Địa Tạng Bồ Tát, sẽ chẳng đạt được t́nh huống ấy. Đấy là nói về đạo sanh thiên, Niết Bàn, chứ tiêu tai miễn nạn th́ ít nhiều ǵ vẫn có!

          Dựa theo kinh nghiệm của cá nhân tôi, từ sau khi tới Mỹ, tôi và pháp sư Hoằng Giác hai người đều thấu hiểu: Hễ ai đến Phật đường tùy hỷ lễ bái, sẽ đều đạt được lợi ích nhất định; bất quá chẳng phải là lợi ích triệt để rốt ráo! V́ tâm người ấy chẳng triệt để, cho nên cũng chẳng thể đạt được lợi ích triệt để. Có khi người ấy cầu chuyện chi đó, hoặc là cầu cho con cái của ḿnh tiêu trừ tai nạn, một khi tai nạn của con ḿnh trừ sạch rồi, người đó chẳng tin nữa, chẳng làm nữa. Như vậy th́ đạo sanh thiên, Niết Bàn sẽ chẳng thể đạt được! Hơn nữa, so sánh giữa hai đằng, t́nh kiến thế gian đặc biệt nặng nề, cái tâm xuất ly đặc biệt nhẹ tênh; cái nặng nề th́ ngày càng nặng nề hơn, cái nhẹ tênh ngày càng nhẹ bẫng!

          Tôi thấy rất nhiều đạo hữu như vậy. Trong một năm, mỗi người đều biến hóa rất lớn. Điều chúng ta có thể làm là khuyên nhủ, khơi gợi họ. Khi chúng ta cùng nhau bái sám, hễ đạt được mục đích, họ sẽ chẳng bái sám nữa, chúng ta cũng tách ĺa nhau: “A! Tôi sẽ lạy ở nhà nghe!” Tôi nói: “Quư vị đừng gạt tôi! Quư vị ở nhà lạy ai vậy?” “Đâu có! Tôi vẫn niệm mà!” Niệm cái ǵ cũng chẳng biết! Chúng ta đừng nên dối gạt chính ḿnh! Quư vị mong lừa gạt quỷ thần, sẽ chẳng gạt được đâu! Quư vị có lừa Bồ Tát nổi không? Bồ Tát vốn ở ngay trong tâm quư vị. Nếu tâm của quư vị linh, sự nghiệp đều linh. Đó là cái tâm của chính quư vị. Tới phần sau, chúng tôi sẽ giảng Địa Tạng Bồ Tát chính là cái tâm của chính ḿnh. Trong phần trước, tôi có nói: “Địa” là tâm địa của chúng ta. “Tạng”“mật tạng” (, ẩn giấu). Tâm địa của chúng ta bao gồm những chuyện ấy. Dẫu sao, hai phương diện ấy đều là Không; nhưng Không chẳng phải là rỗng không, mà nó có thể biến thành công đức vô lậu tánh, cũng có thể biến thành hết thảy ưu bi phiền năo, tùy thuộc quư vị lư giải như thế nào!

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, bế tại lao ngục, nữu, giới, già, tỏa, kiểm hệ kỳ thân, cụ thọ chúng khổ, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc giải thoát lao ngục, nữu, giới, già, tỏa, tự tại hoan lạc, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,閉在牢獄,杻械枷鎖檢系其身,具受眾苦,有能至心稱名,念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得解脫牢獄、杻械枷鎖,自在歡樂,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, bị giam kín trong tù ngục, gông, cùm, xiềng xích trói chặt thân h́nh, chịu đủ mọi nỗi khổ, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát th́ hết thảy lao ngục, gông, cùm, xiềng xích đều được giải thoát, tự tại vui sướng, tùy theo căn tánh đáng độ mà đặt yên họ nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Giải thoát tai ương lao ngục, thoát khỏi nỗi khổ bị gông xiềng; hễ giải thoát bèn tự tại, vui sướng. Nhưng ở đây cũng có một vấn đề, có vấn đề ǵ vậy? Quan niệm thời gian của chúng ta khác với quan niệm thời gian của Phật. Chư Phật thấy là một sát-na, khảo nghiệm quư vị, nhưng quư vị cảm thấy đă trải qua mấy chục năm. Cá nhân tôi thấu hiểu chuyện này sâu xa, có thể là mọi người chẳng thấu hiểu điều này. V́ quư vị chưa từng bị tù, cũng chẳng ở tù trong một thời gian lâu như thế, nhưng ưu bi khổ năo th́ ai mà chẳng có? Tôi thấy người nào cũng đều có. Dẫu quư vị lắm tiền nhiều của, dẫu là đế vương, tể tướng, hễ chẳng đạt được mục đích, th́ vẫn khổ năo. Đă đạt được quyền lực, sợ bị mất đi. Đă có của cải, sợ bị mất mát. Ưu sầu như thế đó, nghĩ đủ trọn mọi biện pháp để ǵn giữ.

          Quư vị có của cải rất lớn, niệm Địa Tạng Bồ Tát, cầu cho của cải đừng bị mất đi, như thế th́ có giữ nổi hay chăng? Sự an bài của Địa Tạng Bồ Tát sẽ chẳng giống như sự an bài quư vị nghĩ tưởng, cũng không chừng là của cải tán thất nhanh hơn một chút! V́ sao vậy? Địa Tạng Bồ Tát mong vun bồi phước cho quư vị, chẳng để cho quư vị giữ khư khư những thứ ấy, những thứ ấy chính là rắn độc! Quư vị cho rằng Địa Tạng Bồ Tát chẳng linh; thật ra, Địa Tạng Bồ Tát rất linh. Ngài tán tài để quư vị miễn trừ tai nạn. Ngay trong khi quư vị oán thán, thường là lúc chúng ta đạt được lợi ích!

          “Tự tại hoan lạc, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo” (Tự tại vui sướng, tùy theo căn tánh đáng nên độ, mà đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn): Thế nhưng, lúc Địa Tạng Bồ Tát cứu độ chúng sanh, mục đích tối hậu của Ngài là khiến cho quư vị đạt được đạo Niết Bàn bất sanh, bất diệt. Sanh lên trời cũng là quá tŕnh, chẳng phải là sự vui sướng mà quư vị mong đạt được hay sao? Sanh lên trời, vui sướng hơn sự vui sướng trong nhân gian rất nhiều. Đó là vô ưu, vô sầu, vĩnh viễn chẳng c̣n ưu sầu nữa. Nếu quư vị lại tu hành thành Phật, sẽ càng tốt đẹp hơn!

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, ưng bị tù chấp, tiên thát khảo sở, lâm đương bị hại, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc miễn ly tù chấp, tiên thát, gia hại, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo. Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, thân tâm b́ quyện, khí lực luy chuyết, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc thân tâm sướng thích, khí lực cường thịnh, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,應被囚執,鞭撻拷楚,臨當被害,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得免離囚執、鞭撻、加害,隨其所應,安置生天涅槃之道。隨所在處,若諸有情,身心疲倦,氣力羸惙,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得身心暢適,氣力強盛,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, đáng bị tù ngục, đánh đập, tra khảo, sắp sửa bị hại, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy đều được thoát khỏi, xa ĺa tù rạc, đánh đập, làm hại, tùy theo căn cơ đáng nên độ, mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn. Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, thân tâm mệt mỏi, khí lực hao ṃn, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy đều được thân tâm thoải mái, thư thái, khí lực cường thịnh, tùy theo căn cơ đáng nên độ, mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Đức Phật bảo Hảo Nghi Vấn Bồ Tát: “Ông hỏi ta về công đức của Địa Tạng Bồ Tát ư? Ta nói với ông từng điều như thế đó”. Đấy vẫn là chút phần, v́ khổ năo của chúng sanh quá ư là nhiều. Nơi thân của mỗi cá nhân đều khác nhau, phiền năo cũng quá nhiều. Do vậy, tuy nói mấy điều như thế, vẫn chỉ là nêu đại lược.

          “Tùy sở tại xứ” (ở bất cứ nơi đâu): Hễ nói “tùy sở tại xứ” th́ là nói về Địa Tạng Bồ Tát. Địa Tạng Bồ Tát ở chỗ nào, hữu t́nh ở chỗ đó đều có thể tránh khỏi khổ nạn. Thân tâm mệt mỏi là nội tâm mệt mỏi, thân thể mệt mỏi, quá sức mệt nhọc! Người ta phải làm mấy jobs, lại c̣n phải đi học. Tôi ở Mỹ, đă từng thấy có người làm hai jobs, lại c̣n phải đi học. Buổi tối đi học, buổi sáng đi làm. Có những người rất hạnh phúc, cuộc sống gia đ́nh sung túc, có thể nuôi người ấy đi học. Có những người rất khổ sở, tự đến nước Mỹ th́ tiền chi tiêu cũng phải tự ḿnh kiếm, làm lụng để tự nuôi thân. Thậm chí mấy người sống chen chúc trong một pḥng. Tôi ở Nữu Ước, nghe nói có mấy người thuê chung một chỗ để đặt giường, ba người, anh dùng tám tiếng, tôi dùng tám tiếng, người kia dùng tám tiếng. Trong tám tiếng này, tôi đi làm th́ anh ngủ; tám giờ sau, đến phiên người khác đi làm. Ba người dùng chung một cái giường như vậy. Đấy là sự thật, chẳng phải là nói giỡn! Có người nhà ở rất lớn, rất thoáng đăng. V́ sao? Đó là do phước báo của người này, do nghiệp chướng của người kia. Nếu nói rất bất b́nh đẳng, th́ thật ra, hết sức b́nh đẳng. Chúng tôi nghe chuyện ấy, cảm thấy rất b́nh đẳng. Nghiệp đấy nhé! Chính ḿnh tạo nghiệp, tự ḿnh hứng chịu, có thoát cũng chẳng thoát được! Nếu người ấy chí thành khẩn thiết niệm Địa Tạng Bồ Tát, cũng có lẽ sẽ thay đổi.

          Người đang trong lúc khổ nạn, sẽ dễ sanh khởi chí tâm. Một khi đạt được, chí tâm mất tiêu, lại biến đổi! Cầu cho thân thể khỏe khoắn đôi chút, hễ thân thể thật sự khỏe hơn đôi chút, quên khuấy Bồ Tát liền, lại buông lung. Chuyện này bản thân ai cũng đều có, tôi cũng có luôn! Khi tôi ở trong tù, tưởng Phật, tưởng Tam Bảo. Vừa ra khỏi tù, chẳng phải là chuyện như vậy nữa, hoàn toàn chẳng phải là niệm nào cũng đều nghĩ [đến Tam Bảo]. Trong tù khổ sở, rất bức bách, cũng chẳng có chuyện chi khác, đầu óc tập trung suy tưởng như thế. Vừa thoát ra, quá nhiều chuyện, chuyện vui sướng rất nhiều, quên bẵng Phật sự, chẳng thể chí tâm niệm như vậy được nữa. Đó là lẽ tất nhiên. Trừ phi tu Định thành công, đạt được địa vị Bất Thoái Chuyển! Nếu không, hết thảy chúng sanh đều giống nhau!

          Hoặc là chẳng có khí lực, cầu Bồ Tát tăng thêm một chút khí lực. Tôi rất cảm kích Bồ Tát, từ lúc ở tù cho đến nay, suốt đời chẳng bị bệnh ǵ. Năm nay đă tám mươi mốt tuổi, sắp tám mươi hai tuổi rồi, cảm thấy vẫn rất có khí lực. Quư vị nghe tôi nói chuyện, hăy c̣n có khí lực. Bồ Tát sẽ gia tŕ quư vị như thế nào? Không bị bệnh là đủ rồi! Do vậy, v́ sao mỗi vị đạo hữu hăy đều nên báo ân Phật, báo ân Bồ Tát? V́ các Ngài đă gia tŕ rất nhiều, chính ḿnh đang hưởng phước mà chẳng biết! Hôm nay, tôi xem TV, thấy nói băo lốc (Tornado) đánh xuống bốn tiểu bang của Mỹ, tổng cộng tổn thất hai mươi tám ức Mỹ Kim. Hai mươi tám ức Mỹ Kim là một con số chẳng nhỏ. Băo lốc tràn qua như vậy, sẽ chẳng có chỗ để ở. Ngày hôm qua c̣n rất hạnh phúc, băo cuốn qua, hôm nay chẳng hạnh phúc nữa, mong chờ cứu tế, phải chờ đợi! Quư vị hứng chịu khổ nạn, chờ đợi cứu tế, rất khốn khó! Các hiện tượng như vậy trên thế giới, tuy quư vị đều trông thấy, nhưng đều có một thứ tâm lư cầu may: “Vẫn chưa đến phiên ta”. Ai nấy đều có ư tưởng này: “Chưa đến lượt ta, có thể sẽ không bị”. Đệ tử Tam Bảo phải luôn quy hết thảy công đức về Tam Bảo, Tam Bảo sẽ gia tŕ ta, khiến cho ta c̣n có khí lực. Nếu chí tâm xưng niệm danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, thân tâm thoải mái, thư thái, khí lực sẽ cường thịnh.

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, chư căn bất cụ, tùy hữu tổn hoại, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc chư căn cụ túc, vô hữu tổn hoại, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,諸根不具,隨有損壞,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得諸根具足,無有損壞,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, các căn chẳng đủ, có chỗ bị hư tổn, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy đều được các căn đầy đủ, chẳng bị tổn hoại, tùy theo căn tánh đáng nên độ mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Đối với những câu này, tôi có cách nghĩ như sau: Có phải là những người sáu căn tàn khuyết, chẳng trọn vẹn, sẽ ngay lập tức mọc ra hay không, hoặc là chân bị cụt sẽ mọc ra chân khác hay không? Chẳng phải là ư nghĩa ấy! Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ quư vị, dùng một phương thức khác để gia tŕ, khiến cho quư vị sau khi chết đi, sẽ lại đầu thai [với thân thể toàn vẹn]. C̣n có một loại khác: Người ấy thật sự là kẻ sáu căn chẳng hoàn bị, kẻ mù bỗng nhiên thấy đường, kẻ điếc tai đột nhiên nghe tiếng. Chuyện này đă có các trường hợp chứng minh cụ thể. Khi chúng tôi đến đây vào mấy năm trước, có một cô bé tai đeo máy trợ thính (hearing aids), nói chuyện cứ ú ớ không thốt nên lời. Cách nay chưa đầy một năm, cô ta đă có thể nói chuyện, lại c̣n học rất khá. Cô ta mới niệm Địa Tạng Bồ Tát đôi chút, nhưng niệm lực rất thành khẩn, trong tâm thuần tịnh, chẳng tạp. Đó là một đứa bé mười mấy tuổi, người Cao Hùng, ở đây có người có thể chứng minh. Đấy là sự thật. Đó là Địa Tạng Bồ Tát tiêu trừ sáu căn không toàn vẹn cho cô ta, sẽ đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn, vẫn phải tiếp tục tu hành. Do vậy, kẻ các căn chẳng đủ th́ phải cầu khẩn như thế.

          Nhưng cuối mỗi đoạn [thuyết minh sự cứu giúp] khổ nạn [của Địa Tạng Bồ Tát], đều có một điều kiện: Phải chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, lại c̣n phải cúng dường. Mọi người vừa nghe nói cúng dường, bèn cho là phải bỏ tiền, không nhất định đâu nhé! Sự cúng dường tốt nhất là pháp cúng dường, tức là dùng niệm thánh hiệu để cúng dường. Quư vị cúng dường Địa Tạng Bồ Tát th́ hoặc là niệm kinh Chiêm Sát, hay niệm kinh Địa Tạng, dùng pháp để cúng dường cũng được. C̣n có cách dùng ư để cúng dường. Nếu quư vị chẳng có rất nhiều tiền, hoặc giả như quư vị có tiền, nhưng chẳng có cách nào ra phố, vậy th́ cứ nghĩ ḿnh đến tiệm hoa, hay tới tiệm trái cây dọn hết về là được rồi. Có người hỏi tôi: “Sư phụ! Làm như vậy chẳng phạm tội trộm cắp ư?” Tôi nói: “Quư vị chẳng lấy của người ta cái chi hết, phạm giới trộm cắp nỗi ǵ?” Giới trộm cắp là quư vị ở chỗ người ta lấy cái ǵ khỏi chỗ của nó [mà không xin phép] th́ mới phạm giới trộm cắp. C̣n đây là trong tâm quư vị biến hóa, phạm giới trộm cắp nỗi ǵ? Quư vị tưởng những thứ trái cây, so với trái cây của họ c̣n tốt đẹp hơn, chúng được sanh từ ư niệm. Sanh từ ư niệm th́ là pháp cúng dường, tức là một cách cúng dường bằng ư niệm. Đấy chính là pháp cúng dường trong “quảng tu cúng dường” của Phổ Hiền thập đại nguyện vương.

          V́ thế, cúng dường th́ có thể dùng pháp cúng dường, nhưng tôi phải cảnh tỉnh mọi người: Tâm tham chớ nên quá nặng, thứ ǵ cũng chẳng xả được, cứ suy tính “ta niệm một ít kinh, pháp cúng dường đă thành rồi”, một đồng cũng chẳng bỏ ra, một chút sức cũng chẳng xuất ra, sai mất rồi! V́ pháp cần phải kết hợp với Sự, trong t́nh huống bất đắc dĩ, chẳng có cách nào, quư vị mới dùng pháp cúng dường. Nhưng quư vị có sức làm được, th́ phải nhờ vào Sự để biểu thị pháp th́ Lư và Sự mới có thể vô ngại. Nếu tôi không nói như vậy, chắc có người sẽ chửi tôi v́ đă kêu gọi mọi người chẳng cần bỏ tiền cúng dường Tam Bảo, chỉ dùng ư niệm để cúng dường, ḥa thượng trong chùa lấy ǵ mà ăn? Do vậy, phải kết hợp hai đằng, chớ nên lệch lạc bỏ phế! Nghe pháp th́ ngàn vạn lần đừng nẩy sanh Pháp Chấp. Nếu nói như thế này, quư vị sẽ chấp trước như thế này; nói như thế kia, quư vị lại chấp trước như thế kia, sẽ phiền phức lắm. Quư vị chẳng học được, mà có cố học cũng chẳng nổi! Nhất định phải hiểu đạo lư này!

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, điên cuồng, tâm loạn, quỷ mị sở trước, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc tâm vô cuồng loạn, ly chư nhiễu năo, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,顛狂心亂,鬼魅所著,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得心無狂亂,離諸擾惱,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, điên cuồng, loạn tâm, bị quỷ mị dựa, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy sẽ đều được tâm chẳng cuồng loạn, ĺa các quấy nhiễu, năo hại, tùy theo căn tánh đáng nên độ mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Đây là kẻ cuồng loạn, mắc bệnh tâm thần, loại bệnh này chẳng dễ trị. Kẻ nổi điên rất khó trị. C̣n có những kẻ bị quỷ mị dựa, thật sự có chuyện này! Đích xác là có quỷ trạch (, nhà có quỷ quấy nhiễu), chúng ta gặp phải bèn niệm kinh. Niệm kinh gia tŕ. Có đạo hữu nói chính ḿnh vừa mở kinh Địa Tạng ra, bà nội hiện đến, bà ngoại cũng đến, lục thân quyến dọa người ấy kinh hồn. Người ấy cũng chẳng biết là chuyện như thế nào! Đó là họ t́m người ấy [cầu mong] siêu độ. Họ t́m kiếm đă rất lâu, t́m chẳng được người nào có duyên giúp họ siêu độ. Do đó, vừa niệm kinh Địa Tạng, họ bèn t́m đến, quư vị đừng sợ. Có người là thấy trong mộng, có kẻ thấy ngay lúc tỉnh táo.

          Ở Nữu Ước, tôi có một người đệ tử phát sanh hiện tượng này; sau đó, chẳng niệm kinh Địa Tạng nữa! Trước đó, người ấy niệm kinh Địa Tạng, ban ngày lái xe từ nhà đến công ty, trông thấy một cái đầu lâu ở bốn phương, lại có người vừa cao vừa lớn hướng về xe của ông ta chạy đến. Ông ta bị dọa choáng váng; từ đấy, chẳng niệm kinh Địa Tạng nữa. Sau đó, ở nhà cũng thường xuyên gặp chuyện như thế ấy, trông thấy quỷ mị. Gặp phải chuyện như vậy, nhất định phải kiên định. Ông ta chẳng tin lời tôi. Tôi nói: “Ông phải kiên định, tiếp tục đối xử tốt với họ”. Ông ta nói: “Không niệm nữa! Không niệm th́ sẽ không có nữa”. Thế nhưng, có rất nhiều đạo hữu của chúng ta đều niệm kinh Địa Tạng, mà cũng chẳng có ai không niệm nữa. Người mỗi ngày niệm một bộ vẫn rất nhiều!

          Giả sử có hiện tượng ấy phát sanh, hăy chí tâm niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, tâm quư vị sẽ khôi phục, chẳng bị cuồng loạn nữa! Các quỷ mị nhiễu hại, năo loạn quư vị cũng stheo đó mà tiêu mất! Không chỉ là như thế, Địa Tạng Bồ Tát c̣n chỉ dạy quư vị phải học tập như thế nào, sử dụng pháp môn nào! Tụng kinh cũng được, mà tu theo kinh Chiêm Sát cũng được, tu kinh Thập Luân cũng được, hoặc là tu quán tưởng cũng được. Sau đấy, sẽ đặt yên quư vị nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn.

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, tham dục, sân khuể, ngu si, phẫn hận, xan tật, kiêu mạn, ác kiến, thùy miên, phóng dật, nghi đẳng, giai tất xí thịnh, năo loạn thân tâm, thường bất an lạc, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc ly tham dục đẳng, thân tâm an lạc, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,貪慾、瞋恚、愚癡、忿恨、慳嫉、憍慢、惡見、睡眠、放逸、疑等,皆悉熾盛,惱亂身心,常不安樂,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得離貪慾等,身心安樂,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, tham dục, nóng giận, ngu si, phẫn hận, keo kiệt, ganh ghét, kiêu căng, ngạo mạn, ác kiến, mê ngủ, buông lung, ngờ vực v.v… thảy đều lừng lẫy, năo loạn thân tâm, thường chẳng an lạc, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát th́ hết thảy đều ĺa tham dục v.v… thân tâm yên vui, tùy theo căn tánh đáng nên độ mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Buông lung (phóng dật, 放逸) và nghi là hai chuyện khác nhau. “Nghi” là hoài nghi, “buông lung” nghĩa là tán loạn, rất thiếu tinh tấn. Tinh tấn tương phản với buông lung, có ư nghĩa bao hàm như thế đó. Nếu các hữu t́nh tâm tham dục rất nặng nề, rất nóng tánh, cái tâm sân khuể rất nặng, c̣n có kẻ ngu si, tà kiến, nh́n nhận sự vật, nh́n nhận vấn đề luôn bất đồng người khác. Đối với Phẫn, có người c̣n cho nó là tốt, hễ bất b́nh bèn la lên. Trông thấy kẻ này lấn hiếp kẻ khác, sẽ sanh khởi cái tâm phẫn hận, chẳng thể nhịn tức nổi! Mọi người cho rằng kẻ đó có tác phong hiệp nghĩa, có tinh thần chánh nghĩa rất nặng. Phật giáo chẳng nói như thế, v́ quư vị chẳng hiểu rơ sự lư, chẳng hiểu nhân quả, chẳng biết là chuyện như thế nào. Đời trước là chuyện như thế nào, tương lai và quá khứ là chuyện như thế nào. V́ sao có chuyện ấy phát sanh? Quư vị đâm ra kêu ca v́ chuyện bất b́nh! Tôi cho rằng đấy là Phẫn (忿), Phẫn chính là bất b́nh. Hoặc là v́ người khác đối xử [không đẹp] với quư vị mà quư vị sanh ra bất b́nh, hoặc là thấy chuyện của người khác mà quư vị nẩy sanh phẫn hận. Chuyện này cho thấy quư vị chẳng có cách nào, chỉ có thể hận kẻ đó mà thôi. Quư vị muốn trả thù, nhưng chẳng đánh lại người ta, bèn ghim hận trong tâm. Nay chẳng có cách nào, chờ có dịp “tao sẽ đối phó mày”; điều này thuộc về Hận.

          Xan () là keo kiệt, tham lam. Chính ḿnh tuy có, nhưng chẳng chịu xả. Tật đố (嫉妒) là ganh ghét người khác. Thấy người khác xả, chính ḿnh lại chẳng xả được, [bèn ganh ghét]. Hoặc là thấy kẻ khác làm chuyện tốt, tự ḿnh chẳng làm được, nhưng ganh tỵ người ta, ganh công sức của người khác, ghét kẻ hiền tài. Kiêu () là cảm thấy ḿnh ngon lành hơn kẻ khác. Kiêu ngạo, nếu thêm chữ Nữ bên cạnh th́ sẽ là Kiều (, yêu kiều, tha thướt). Kiêu và Mạn thường có mối liên quan. Mạn có rất nhiều loại. Có một loại là chính ḿnh chẳng bằng người ta, lại cảm thấy ḿnh hơn hẳn, loại này gọi là Quá Mạn (過慢). Có những kẻ thấy người khác tốt đẹp, bèn nói “có ǵ hay ho đâu! Tao cũng có thể làm được mà!” Đấy cũng là một loại Mạn. Thật ra, kẻ đó chẳng làm được, căn bản là chẳng có bản lănh ấy, vẫn cảm thấy ḿnh hơn hẳn người ta. Điều này có tánh chất kiêu mạn!

          Ác kiến thuộc loại ngu si. Họ có cách nh́n vấn đề khác hẳn người khác, [cho rằng] “cứ ăn mặn, chẳng cần phải bận tâm!” Giết cá, giết tôm, giết ǵ ǵ đi nữa, đều cho rằng những thứ đấy phải nên bị ăn; đó là ác kiến. Tổn hại người khác, vẫn cho rằng đó là chuyện đáng nên làm. Tôi nghe một bà cụ nói: “Lợn, dê để cho người ta ăn. Lợn, dê là thức ăn mà”. [Nói như vậy], người dành để cho cọp ăn. Nếu măng xà, rắn độc, mănh thú ăn thịt quư vị, quư vị có chịu để cho chúng nó ăn hay không? Mỗi người có hoàn cảnh riêng. Bất quá, sức chúng nó không thể chống lại quư vị nổi, bị quư vị giết. Quư vị chẳng nuôi dê, nó ở trong núi sống theo cách của nó. Nó ăn cỏ, dẫu quư vị chẳng cho nó ăn, nó vẫn sống theo kiểu của nó được! Quư vị bắt nó về giết. Nuôi trong nhà [đem giết] th́ c̣n tạm chấp nhận, chứ dê sống trong núi, trở ngại quư vị nỗi ǵ? Quư vị cho là chuyện đáng nên làm; đấy đều là ác kiến.

          C̣n có một loại ác kiến là luôn muốn hại người khác. Khi tôi ở trong tù, có các phạm nhân đă vào tù, vẫn mong mỗi ngày hại kẻ khác. Có các phạm nhân chuyên báo cáo cho những kẻ ác hơn họ, họ ba ngày không hại người khác, sẽ ủ rũ! Các thí dụ về ác kiến đặc biệt nhiều, ai nấy đều có. Đừng cho rằng chính ḿnh rất thanh tịnh! Dùng cách kiến giải này để nh́n nhận vấn đề, sẽ thấy chúng ta đều có. Bất quá, sau khi học Phật, đều cố gắng sửa đổi.

          Ngủ nghê th́ bất cứ ai cũng đều chẳng tránh được. Có người ắt phải ngủ mười mấy tiếng đồng hồ, có người ngủ mấy giờ là đủ rồi. Đức Phật dạy chúng ta giảm bớt ngủ nghê, ngủ càng nhiều, sẽ càng hôn trầm. C̣n có t́nh h́nh, nói đùa thôi, họ chẳng xem kinh, sẽ không bị ngủ gục. Vừa mở kinh bổn ra, ngủ gục liền. C̣n có những kẻ chẳng tĩnh tọa th́ không ngủ, vừa tĩnh tọa là đầu gật gù ngay. V́ sao? Chúng ta thường nói là nghiệp chướng, đấy là chướng! Ngủ nghê là Cái () v́ nó che lấp trí năng của quư vị, được gọi là Thùy Miên Cái (睡眠).

          C̣n có khi tâm trí hôn trầm, bất luận ai cũng có, tôi cũng có. Mấy hôm trước, khi tôi niệm Phật, bái sám xong, khi tĩnh tọa, vừa niệm xong thánh hiệu, tôi có chút lơ mơ. Pháp sư Hoằng Giác nhắc nhở tôi: “Lăo pháp sư! Ngài ngủ gục”. Tôi liền chú ư, không được rồi! Hễ chú ư, xốc dậy tinh thần cảnh tỉnh th́ đỡ hơn. Món Cái này chẳng phải là chuyện tốt. Có người khuyên quư vị nghỉ ngơi một chút, ngủ một lát sẽ đỡ ngay. Ngủ th́ làm sao mà đỡ hơn được? Ngủ hồ đồ luôn. Quư vị tĩnh tọa một chốc, quán tâm, trong khi buồn ngủ, quư vị bèn tu Quán. Nếu quư vị thật sự tu quán Địa Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát sẽ tiến nhập thân tâm quư vị. Quang minh của Địa Tạng Bồ Tát sẽ xua tan cơn mê ngủ. Ngủ mê quá nhiều là lỗi lầm của chúng ta. Cứ tính xem, suốt đời, ngủ nghê đă chiếm bao nhiêu thời gian?

          Phóng dật là khi cao hứng, vọng tâm sẽ tơi bời. Chơi banh hào hứng, năm sáu tiếng đồng hồ không sao cả. Bảo kẻ đó tĩnh tọa tu hành hay niệm kinh ở đây, ngồi chỉ một tiếng đồng hồ, chịu không nổi! Ngồi nửa tiếng đồng hồ đă nóng ruột, nhấp nhổm, muốn đứng dậy. Nếu chơi banh, chơi rất hăng, bắt kẻ đó chơi dăm ba tiếng đồng hồ, không sao hết! C̣n có kẻ đánh mạt chược; chơi hết bốn ván, lại chơi thêm bốn ván nữa, càng đánh càng hăng. V́ sao? Phóng dật (buông lung). Đấy là cái nghiệp của chúng sanh.

          Nghi là chướng ngại lớn nhất trong tu đạo, đối với chuyện ǵ cũng đều phết dấu hỏi. Có rất nhiều người từ thuở bé do bị cha mẹ lừa gạt đă quen, đến khi trưởng thành, bất luận ai nói ǵ, kẻ đó cũng đều phết dấu hỏi. Cho nên các đạo hữu có con cái, ngàn vạn lần đừng gạt con cái. Đầu óc con cái hết sức ngây thơ, quư vị nói với nó điều ǵ, nó sẽ tin ngay. Về sau, nó thấy chuyện chẳng phải như vậy, từ đó, đối với chuyện ǵ cũng đều hoài nghi. Đặc biệt là người học Phật, quư vị kể với họ các thánh cảnh các công đức của Địa Tạng Bồ Tát, [họ sẽ ngờ vực]: “Sao tôi chẳng đạt được? Vị lăo ḥa thượng này nói nhảm rồi!” Họ sanh ḷng hoài nghi. Nghi là chướng ngại lớn nhất trong tu đạo. V́ sao hoài nghi? Tương phản của Nghi là Tín. Tín chẳng trọn đủ th́ sẽ hoài nghi. Chuyện ǵ cũng đều ngờ vực, nghi là nhân duyên chướng đạo. T́nh h́nh ấy hết sức mạnh mẽ.

          “Giai tất xí thịnh” (thảy đều lừng lẫy): Toàn thể rất hừng hực, năo loạn thân tâm của quư vị, khiến cho thân tâm của quư vị chẳng thể tu đạo, chẳng thể an lạc. Những đạo hữu vướng phải những căn bệnh ấy, khi tham dục, sân khuể, ngu si, phẫn hận, keo kiệt, đố kỵ, kiêu căng, ngạo mạn, ác kiến, ham ngủ, buông lung, nghi ngờ lừng lẫy, quư vị phải buông xuống, an tâm, chí tâm xưng niệm, quy ngưỡng, cung kính cúng dường Địa Tạng Bồ Tát. Những điều đó chúng tôi đă đều từng thí nghiệm. Sở dĩ quư vị có phiền năo là do mấy thứ ấy. Bất luận thứ ǵ, hoặc do hoàn cảnh bên ngoài đưa tới, hoặc là v́ nhận điện thoại của đệ tử, hoặc là v́ họ xảy ra chuyện chi đó, chúng tôi động tâm, cũng sẽ phiền năo như họ.

          một khoảng thời gian, chúng tôi ở thành phố Tam Phan (San Francisco) của Mỹ, nhằm lúc Trung Quốc Đại Lục đang tiến hành thử bắn hỏa tiễn định vị sang Đài Loan, chúng tôi đều đi mua báo, mỗi tối đều xem đài truyền h́nh Đài Loan. V́ sao? Pháp sư Hoằng Giác nói: “Con thấy gần đây thầy rất quan tâm”, tôi nói: “Đúng rồi! Rất quan tâm”. V́ Đài Loan có nhiều đệ tử quy y ngần ấy, gia đ́nh của họ sẽ ra sao? Ắt cần phải quan tâm! Hễ quan tâm bèn loạn. Trên Đại Lục có nhiều lục thân quyến thuộc như thế, Đài Loan cũng có nhiều đạo hữu Phật giáo dường ấy. Do vậy, hễ gặp phải chuyện quư vị quan tâm, chính ḿnh chẳng thể làm chủ nổi, tự nhiên sẽ bị rối loạn theo nó. Hăy niệm Địa Tạng Bồ Tát đi nhé! Niệm th́ niệm đấy, cầu th́ cũng cầu đấy, cảm thấy chẳng linh, v́ bên này quư vị tận sức niệm, tận sức cầu, bên kia họ vẫn tận lực đánh! Sự thật trước mặt thường sẽ khiến cho đạo lực của quư vị lui sụt. Chuyện này thường gọi là “đạo lực thoái thất”.

          B́nh thường, chúng ta nói Không, nói Giả, quư vị phải tự thấu hiểu: Quư vị nói Không, nói Giả th́ được, chứ đối với chúng sanh mà nói Không, nói Giả, họ có tin quư vị hay không? Bên đó họ đang khổ, quư vị ở đây nói là Không. Giống như cá thuộc loại súc sanh, chúng ta chẳng hiểu ngôn ngữ của nó. Nếu quư vị hiểu ngôn ngữ của nó, sẽ biết nỗi thống khổ của nó! [Sẽ nghe chúng nó than thở]: “Chúng mày ngồi vui sướng trên bàn, dùng dầu chiên tao, dùng dao xắt tao, c̣n bảo: ‘Ngon quá xá, ngon thiệt!’ Lại c̣n chú trọng hương vị!”

          “Dục tri thế thượng đao binh kiếp, thả thính đồ môn bán dạ thanh” (muốn biết đao binh trên cơi thế, ḷ mổ xin nghe tiếng nửa đêm). Hiện thời ăn uống đủ mọi vẻ mọi tṛ. Bày vẽ cho lắm th́ hỏa tiễn định vị, phi cơ chi đó cũng đều bay tới! Quư vị ăn cầu kỳ cho cố vào th́ sẽ bị trả thù cũng đủ tṛ lắm vẻ! V́ thế, chúng ta hiểu đạo lư này, phải nên chí thành xưng niệm xưng niệm Địa Tạng Bồ Tát. Như thế th́ Địa Tạng Bồ Tát có thể cứu chúng ta ĺa khỏi khổ nạn, đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn.

          Phát nguyện chí tâm. Phát nguyện có thể tăng thêm sự chí tâm của chúng ta, nói “tôi mong độ hết thảy chúng sanh, tôi nghĩ tới nỗi khổ của hết thảy chúng sanh”. Như tôi vừa mới nói, có thể nói theo hai phương diện. Nói theo phương diện tốt lành, “dục tiêu thế thượng đao binh kiếp” (muốn tiêu trừ kiếp đao binh trên cơi đời), hằng ngày ta niệm cầu các tai nạn trên thế giới này tiêu mất, cầu Phật, Bồ Tát gia tŕ. Đó là tốt, đấy là đại bi tâm. Suy nghĩ theo phương diện khác, [tức là hăy quan tâm tới những điều trước kia chúng ta] chẳng quan tâm. V́ sao quư vị chẳng nghĩ tới Trung Đông, hoặc những quốc gia bị băo tố, chúng ta có cái tâm vui sướng khi người khác mắc họa hay chăng? Phía địch nhân của chúng ta bị băo tố, [bèn hả hê]: “Thấy chưa! Ông trời đối nghịch với tụi bay ḱa!” Quư vị có vui sướng khi kẻ khác mắc tai gặp họa hay chăng? Nếu có, phạm tội mất rồi, phải đối đăi b́nh đẳng. V́ sao có lắm thiên tai ngần ấy? Nhân gian chẳng có cách nào trừng trị quư vị, nhân gian chẳng trả thù quư vị nổi, quư vị nói “chẳng công bằng” ư? “Thiên” có nghĩa là tự nhiên. Sức mạnh tự nhiên sẽ xảy tới!

          Quư vị muốn t́m nguyên nhân, hăy t́m đi! Trong quá khứ, từ thuở bé đến nay, chưa hề nghe nói bảo vệ môi trường, bảo vệ sanh thái, dường như cũng chẳng có lắm tai nạn như hiện thời. Hiện thời, đặc biệt nhiều! V́ sao khí hậu khác thường? Nhân loại nghiên cứu các thiên thể, chẳng nghiên cứu nhân quả. Chúng ta ai nấy đều hiểu: Địa cầu c̣n tồn tại lâu dài hay không? Chẳng thể lâu dài được! Hằng ngày khai thác, mỗi ngày đều muốn khai thác bao nhiêu thứ từ địa cầu. Khai thác xong, sẽ đưa các thứ đó đến đâu? Chúng ta khai thác nền lục địa để lấy dầu mỏ, để làm ǵ? Đốt cháy hoặc chế biến, chế biến rồi th́ chúng sẽ đi đâu? Chẳng mất đi chút nào! Nó ở trên không trung. Không trung cũng là vật thể, nó lại dần dần ngưng tụ. Ngưng tụ rồi sẽ lại rơi xuống thế giới này, hư hoại, sau đó, tích tụ tăng trưởng, tăng trưởng rồi sẽ lại ch́m xuống. Xoay ṿng luân chuyển như thế đó. Đó gọi là Chúng Sanh Nghiệp, gọi là Nghiệp Luân.

          Chúng ta giảng kinh Thập Luân là nói tới Luân. Luân là “vĩnh viễn chẳng ngừng nghỉ”. Phật giáo nói về chuyện này. Các khoa học gia hiện thời cũng chứng thực vấn đề này, chứng thực vấn đề: Chính con người tạo nghiệp, chính ḿnh tạo tác. Hằng ngày kêu ca không khí ô nhiễm, nhưng hằng ngày tăng thêm ô nhiễm. Làm như thế nào đây? Do vậy, khi chúng ta niệm Địa Tạng Bồ Tát, phải hồi hướng, bản thân chúng sanh tạo nghiệp th́ phải tự ḿnh hứng chịu. V́ sao họ làm như vậy? V́ tâm họ đă cuồng loạn. Muốn t́m một kẻ không cuồng loạn, sẽ rất ít, nhưng chúng ta là đệ tử Phật giáo, phải ngưng dứt cuồng loạn, chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, cung kính cúng dường Địa Tạng Bồ Tát. Địa Tạng Bồ Tát có sức lớn như vậy, nhập Định nhiều như vậy, có thể ban cho chúng ta an vui nhiều như vậy, có thể đặt yên chúng ta nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn. Địa Tạng Bồ Tát có sức mạnh ấy, chúng ta có sức để cầu hay không? Có chứ! Chính là chí tâm. Sức mạnh của chí tâm và sức mạnh gia tŕ của Địa Tạng Bồ Tát, hai đằng kết hợp lại, vấn đề này liền được giải quyết.

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, vi hỏa sở phần, vi thủy sở nịch, vi phong sở phiêu, hoặc ư sơn nham, nhai ngạn, thụ xá, điên trụy, đọa lạc, kỳ tâm chương hoàng, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc ly chư nguy nan, an ổn, vô tổn, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,為火所焚,為水所溺,為風所飄,或於山岩、崖岸、樹舍顛墜墮落,其心慞惶,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得離諸危難,安隱無損,隨其所應,安置生天涅槃之道

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, bị lửa thiêu đốt, bị nước nhấn ch́m, bị gió thổi bay, hoặc nơi vách núi, bờ đá chênh vênh, cây cối, hay nhà cửa mà té nhào, rớt ngă, trong tâm kinh hoàng, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy đều được ĺa các nguy nan, an ổn, chẳng bị tổn hoại, tùy theo căn tánh đáng nên độ mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Bất luận quư vị ở nơi đâu, chỉ cần niệm Địa Tạng Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát sẽ đến nơi đó. Địa Tạng Bồ Tát trọn khắp hết thảy mọi nơi.

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, vi chư độc xà, độc trùng sở thích, hoặc bị chủng chủng độc dược sở trúng, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc ly chư năo hại, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,為諸毒蛇、毒蟲所螫,或被種種毒藥所中,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得離諸惱害,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, bị các rắn độc, trùng độc cắn, hoặc trúng phải các thứ thuốc độc, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy đều được ĺa các năo hại, tùy theo căn tánh đáng nên độ mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Đây là những chuyện chúng ta thường trông thấy. Trong phần kinh văn phía sau, khi giảng về Thập Luân, sẽ nói rơ những tai nạn ấy do đâu mà có, tôi tính lược đi không nói. Trong phần Tự Phẩm, đọc một lượt, thuận theo kinh văn mà nói là được rồi. Pháp sư Hoằng Giác đề nghị: “Kẻ b́nh phàm chẳng lư giải cho mấy. Nói đôi chút sẽ tốt hơn”. Hôm nay, tôi sẽ dông dài đôi chút, tiến độ giảng kinh sẽ rất chậm. Mỗi bộ kinh có ư nghĩa chủ yếu, ư nghĩa trung tâm là ǵ? Chúng ta học một bài văn, hoặc làm chuyện ǵ, nói chung là có một mục đích trung tâm. Chúng ta phải đặt trọng điểm nơi mục đích trung tâm, nhưng nói về những hiện tượng này sẽ có lợi. Mọi người có biết những hiện tượng ấy do đâu mà có hay không? Ngay trong lúc tâm quư vị động niệm, bèn dấy lên gió. Tâm vừa động niệm, nghiệp liền sanh ra.

          Nói về bản thân tôi, tôi là như thế này: Tôi muốn quư vị làm lành, người khác cho đó là quạt gió, nổi lửa. Nếu ở trong ngục mà nói quư vị hăy gắng niệm Phật, làm nhiều chuyện tốt hơn, người khác bảo quư vị đang quạt gió, nổi lửa, tuyên truyền Phật giáo. Bởi vậy, tâm quư vị vừa động niệm, người khác ngược ngạo cho đó là quạt gió; kết quả là càng quạt gió, lửa càng lớn. Lửa càng lớn, càng đốt nhanh. Lửa càng đốt nhanh th́ tai nạn trên thế giới càng nhiều. Hiện thời, mọi người đều đang quạt gió, đều đang châm lửa, lửa càng dữ dội hơn! Mọi người hăy ngẫm xem, nước thuộc về t́nh thức. Nước lẫn t́nh thức đều đi xuống; t́nh cảm càng nặng, thủy tai càng lớn. Tâm sân hận càng nặng, hỏa tai càng lớn. Ai nấy đều chẳng nén giận, tai nạn băo lốc càng lớn. Hằng ngày quư vị moi rỗng địa cầu, địa cầu sẽ trả thù. Do vậy, năm 1976, Đường Sơn (thuộc tỉnh Hà Bắc) bị động đất lớn, toàn thể dưới đáy thành phố Đường Sơn trống rỗng, moi khoét cả mấy trăm năm. Một khi bị khoét rỗng, nó có thể chẳng sụp xuống ư? Dưới nền đất trống rỗng. Hiện thời, có rất nhiều chỗ địa tằng (地層, các lớp đất) c̣n bị ch́m xuống. V́ sao ch́m xuống? Rút hết nước ngầm, ai sẽ duy tŕ nó?

          Trung Hoa có câu nói cũ x́: “Thiên tác nghiệt do khả vi, tự tác nghiệt bất khả hoạt” (trời gieo oan nghiệt th́ c̣n có thể chống lại, tự ḿnh tạo oan nghiệt chẳng thể sống). Tự ḿnh tạo nghiệp, tự ḿnh chôn vùi chính ḿnh. Nếu chẳng phải như vậy, cớ sao địa cầu bị hư hoại? Họ làm như thế nào đi nữa, vẫn tự coi là đúng, đợi cho đến khi hư hoại hết cả, đă không phải là chuyện của thế hệ chúng ta, đó là chuyện của không biết bao nhiêu vạn vạn năm sau. Địa cầu vẫn là rất lớn, cứ đào khoét đi! Dẫu sao trong một thời gian cũng chưa thấy ǵ mà! Tuy chưa thấy ǵ, [những hậu quả đă nẩy sanh] trong tâm của chúng ta.

          Tịnh tâm, ít ham muốn bằng cách nào? Niệm thánh hiệu cho nhiều. Chẳng phải là tôi vừa nhắc tới chí tâm ư? Quư vị chẳng niệm, đạt tới chí tâm bằng cách nào đây? Chúng ta từ chẳng chí tâm đạt đến chí tâm, nhất định phải đạt được chí tâm, đừng nên gấp gáp. “Tôi vừa niệm, tâm liền tán loạn, tụng làm sao được?” Khi quư vị niệm lâu ngày, tâm tán loạn chẳng c̣n nữa! Quư vị hoàn toàn chẳng niệm, mới thật sự là tán tâm. Có những người đă từng hỏi tôi như thế này. Người ấy nói: “Khi con chẳng niệm Phật, chẳng tĩnh tọa, chẳng niệm kinh, dường như tâm chẳng có nhiều tán loạn như vậy, chẳng có phiền năo nhiều như vậy. Hễ con niệm kinh liền cảm thấy chính ḿnh tận lực dấy vọng tưởng”. Mọi người lư giải như thế nào? Không niệm kinh, dường như chẳng có phiền năo. Vừa niệm kinh, dường như có quá nhiều phiền năo, có phải là như vậy hay không? Chẳng niệm kinh, quư vị đang ở trong phiền năo. Quư vị niệm kinh bèn tách khỏi phiền năo, quay đầu nh́n lại phiền năo, t́nh huống là như thế đó. Quư vị chẳng niệm kinh, [chính là] luôn ở trong tán loạn, làm sao nhận biết tán loạn cho được? Quư vị lắng ḷng niệm kinh, tức là lại có những tư tưởng khác; do vậy, cảm thấy cái tâm tán loạn rất nhiều. Nếu chẳng niệm kinh, quư vị luôn ở trong tán loạn, làm sao biết tán loạn cho được? Niệm lâu ngày, quư vị sẽ đạt tới chí tâm. Bái sám một chập chẳng chí tâm, bèn bái sám hai chập! Bái sám lâu ngày, tự nhiên sẽ sanh ra sức mạnh.

          Hiện thời, chúng ta có rất nhiều đạo hữu bái sám đă rất lâu. Trong khi họ bái sám, trong tâm rất thanh tịnh. Quư vị vĩnh viễn chẳng tiếp cận, sẽ vĩnh viễn chẳng lư giải! Quư vị tiếp cận, sẽ dần dần lư giải, dần dần tiến nhập, hết thảy mọi chuyện đều là như thế. Chớ nên v́ hiện thời ta c̣n chưa đạt được chí tâm, bèn cảm thấy rất uể oải. Không sao hết! Chí tâm là do học tập mà ra! Địa Tạng Bồ Tát dạy chúng ta học tập phát nguyện chí tâm, phát nguyện nhiều lượt, học tập cho nhiều, sẽ thành tựu chí tâm. Hễ chí tâm đă thành, đạo lực cũng sẽ thành, khổ nạn liền dần dần giải trừ. Quư vị phát nguyện thân tâm khỏe mạnh, chẳng bị bệnh khổ, nguyện gia trạch b́nh an, lục thân quyến thuộc b́nh an, những người đang ở Đài Loan b́nh an.

          Ngoài ra, nh́n trước mắt, quả địa cầu này vẫn c̣n tồn tại. Nếu mọi người đều chẳng b́nh an, Đài Loan cũng chẳng b́nh an. Ắt cần phải là toàn thể địa cầu đều b́nh an, quư vị mới có thể đạt được b́nh an. Nếu gia tộc chẳng b́nh an, quư vị mong một ḿnh an tĩnh sẽ chẳng được, sẽ có rất nhiều người đến quấy nhiễu, chẳng phải là như vậy hay sao? Nếu con cái, chồng, vợ chẳng b́nh an, một ḿnh quư vị muốn được b́nh an trong nhà, tôi thấy là chuyện khó khăn rất lớn. Mọi người đều b́nh an cả rồi, quư vị mới được b́nh an. Nhân loại đều b́nh an th́ thế giới mới b́nh an được. Hết thảy chúng sanh đều b́nh an th́ nhân loại mới có thể b́nh an.

          Tôi chẳng nói ăn mặn, giết cá, mổ vịt là không đúng. Quư vị muốn ăn là chuyện của quư vị, quư vị muốn giết là chuyện của quư vị, nhưng trong khi quư vị giết và ăn, phải sanh khởi một niệm tâm từ bi. Quư vị nói: “Tôi cũng chẳng ăn suông quư vị, tôi luôn đền bồi cho quư vị. Tôi niệm Phật cho quư vị để quư vị đừng đọa làm súc sanh nữa”. Chỉ cần quư vị có một niệm tâm như vậy đă là rất khó có rồi! Khi tôi giảng kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo, tôi chuyên giảng “chí tâm”. Chí tâm là chí thành khẩn thiết, nhiếp niệm chuyên ṛng, dũng mănh, tinh tấn. Quư vị niệm như vậy, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát th́ mới có hiệu quả. Nếu niệm hời hợt, hiệu quả sẽ chẳng lớn. Kinh văn ở đây chẳng nói [rơ ràng] như vậy, v́ đây là Tự Phần, chỉ là đức Phật đang tán thán công đức của Địa Tạng Bồ Tát. Khi thật sự vận dụng, quư vị nhất định đạt được chí tâm. V́ thế, mỗi câu kinh văn đều có từ ngữ “hữu năng chí tâm” (có thể chí tâm), mỗi câu đều có “chí tâm xưng danh”, đừng nên quên “chí tâm”. Nếu chẳng có “chí tâm”, một tí hiệu quả cũng chẳng có! Nhưng để chí tâm th́ phải tu hành. Tu đạt được “chí tâm” rất khó, trước hết phải tu “tín tâm”. Trước hết, quư vị ắt cần phải tin tưởng cùng cực. Nếu quư vị hàm hồ, một mai sanh bệnh, sẽ cho rằng t́m bác sĩ là chuyện khẩn yếu, niệm Địa Tạng Bồ Tát có tác dụng ǵ đâu? Như thế th́ sẽ chẳng có hiệu quả chi hết!

          Có đạo hữu cũng biết căn bệnh chẳng có cách nào chữa khỏi, bèn niệm Địa Tạng Bồ Tát, chí tâm niệm, hiệu quả bèn sanh ra. Nhưng có người bị sâu cắn, rắn cắn, thậm chí trúng phải thuốc độc, có thể thật sự chí tâm niệm, hoặc là trong mộng liền ói ra, hoặc lúc đang tỉnh bèn ói ra, người ấy sẽ có phản ứng. Địa Tạng Bồ Tát cũng chẳng hiện thân, cũng chẳng cảm ứng chi hết, người ấy tự nôn mửa hoặc bài tiết ra. Ngay từ đầu, trong mỗi đoạn kinh văn đều là “chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường”. Mấy câu này đều liên quan với nhau. Thứ nhất là nhất định phải chí tâm, sẽ có thể ĺa khỏi, trừ diệt khổ năo. Không chỉ là ĺa khỏi, trừ diệt khổ năo trong hiện tại, mà trong tương lai, sau khi chết, chẳng đọa vào tam đồ, chẳng đọa làm ngạ quỷ, súc sanh, có thể trực tiếp sanh lên trời. Sau khi đă sanh lên trời, lại tiếp tục nghe pháp, tiếp tục tu đạo, chứng đắc Niết Bàn.

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, ác quỷ sở tŕ, thành chư ngược bệnh, hoặc nhật nhật phát, hoặc cách nhật phát, hoặc tam tứ nhật nhi nhất phát giả, hoặc linh cuồng loạn, thân tâm chiến điệu, mê muộn thất niệm, vô sở liễu tri, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc giải thoát vô úy, thân tâm an thích, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,惡鬼所持,成諸瘧病,或日日發,或隔日發,或三四日而一發者,或令狂亂身心戰掉,迷悶失念,無所了知,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得解脫無畏,身心安適,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh bị ác quỷ bám, thành các thứ bệnh sốt rét, hoặc phát bệnh mỗi ngày, hoặc phát bệnh cách ngày, hoặc cách ba bốn ngày phát bệnh một lần, hoặc khiến cho cuồng loạn, thân tâm run rẩy, mê man, ngây ngốc, chẳng hay biết ǵ, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy đều được giải thoát, không sợ hăi, thân tâm an ổn, thoải mái, tùy theo căn tánh đáng nên độ mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Mỗi câu “tùy sở tại xứ” đều là nói Địa Tạng Bồ Tát ở chỗ nào, ở xứ sở nào, xứ sở ấy sẽ được lợi ích. Hữu t́nh chúng sanh ở nơi ấy bị ác quỷ nắm giữ, có khi là hồ tiên (cáo), hoàng tiên (chồn), bị chúng nó mê hoặc. Tuy nói là mê hoặc, nhưng cũng ắt phải là hữu duyên! Ác quỷ ấy có duyên với quư vị, nhưng không phải là ai cũng đều gặp. Đệ tử Phật đều tin tưởng quỷ thần, v́ trong lục đạo chúng sanh, quỷ là một đường. Nếu là những kẻ không tin Phật, họ sẽ nói “chẳng thấy quỷ thần sẽ chẳng tin”, cho rằng không có quỷ. Có những người trông thấy quỷ, lại ngược ngạo nói là quư vị bị hoa mắt, cũng chẳng tin tưởng cho lắm. V́ trong lục đạo, người và súc sanh là những loài chúng ta tiếp xúc, c̣n chúng sanh trong địa ngục, ngạ quỷ, A Tu La, chư thiên, kẻ b́nh phàm chẳng hề tiếp xúc, liền cho rằng những chúng sanh ấy chẳng tồn tại.

          “Ác quỷ sở tŕ” (bị ác quỷ nắm giữ): Ác quỷ không chỉ bám vào thân quư vị, khiến cho quư vị không thoải mái, mà c̣n có khi dựa vào thân người khác, khiến cho người đó điên cuồng, mê loạn, cầm dao, vung súng giết quư vị mà bản thân người đó vẫn chẳng hay biết. Giống như tôi thấy những kẻ cầu cơ, đối với chuyện này, tôi cũng chẳng hoài nghi chút nào. Đứa bé mười mấy tuổi làm sao có thể biết ǵ? Nhưng thần vừa giáng xuống thân, kẻ pḥ cơ liền nắm lấy bút viết nhoay nhoáy, viết ra rất nhiều bài thơ, kẻ đó có biết hay không? Quư vị nói là có hay không? Xác thực là có[1]. Tất cả ngôn từ của Phật, chẳng có một câu nào, chẳng có một chữ nào là giả. Chúng ta thường nói “bị ác quỷ dựa”, có những kẻ chẳng tin tưởng. Có kẻ bị quỷ làm cho mê muội, t́nh huống nghiêm trọng nhất là khiến cho người ấy điên rồ, cuồng loạn, chuyện này rất nhiều. Có kẻ chẳng tin, cho nên vừa rồi tôi nói phải chí tâm. Trước hết, ắt cần phải kiến lập tín tâm. Có tín tâm rồi th́ sau đấy mới có thể chí tâm. Xác thực là có những người bị quỷ kềm kẹp, có người bèn phát bệnh sốt rét, mỗi ngày phát một lần, hoặc là cách một ngày, hoặc cách ba bốn ngày, cứ đúng giờ bèn phát tác, đó chính là bị quỷ thần kềm kẹp. Hễ bệnh phát tác, khi lạnh th́ lạnh gần chết, khi nóng th́ phát sốt không thể chịu nổi!

          Bệnh sốt rét nếu là v́ quỷ dựa, khiến cho quư vị cuồng loạn, phát rồ. Chúng ta thấy người ấy điên điên khùng khùng suốt ngày chạy khắp nơi, đă cuồng loạn rồi. Cuộc sống b́nh thường, hành động chánh đáng đều bị mê mất. Khi đó, nếu thân hữu của người ấy có thể niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát giúp cho người ấy khôi phục đôi chút tri giác; sau đó, dạy người ấy tự niệm. Nếu người ấy có thể tự niệm, sẽ có hiệu quả. Những trường hợp như vậy rất nhiều, mọi người nhất định phải tin tưởng. Quỷ đạo là một đường [trong lục đạo]. Quỷ nhiều hơn người. Người chết đi biến thành quỷ, súc sanh chết đi cũng biến thành quỷ. Lục đạo chúng sanh đều là biến hóa lẫn nhau. Nếu có thể chí tâm niệm tụng thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, sẽ có thể khiến cho căn bệnh này chuyển biến tốt đẹp, có thể xua đuổi ác quỷ.

          Trước kia, khi tôi ở Vạn Phật Thánh Thành, có một vị lăo cư sĩ tin Phật đă rất nhiều năm. Ông ta bị một con hồ ly từ đời Hán mê hoặc. Ông ta đặc biệt từ Nữu Ước t́m đến Vạn Phật Thánh Thành, thỉnh Tuyên Hóa thượng nhân trị liệu. Tuyên Hóa thượng nhân khi đó có một vị đệ tử, đă nói con hồ ly ấy không phải là hồ ly b́nh thường, mà là thay cha báo cừu, được gọi là “bạch hồ vương tử” (vương tử cáo trắng). V́ sao tôi biết rơ như vậy? Có một hôm, vị pháp sư ấy lái xe chở vị lăo cư sĩ ấy đến chỗ tôi để cho tôi thuyết pháp cho con hồ ly ấy. Do vậy, tôi mới biết rất tường tận. [Con hồ ly] từ đời Hán cho đến hiện thời, quả thật là có, ông ta thấy nó, chúng tôi không thấy. Ông ta muốn tôi giảng pháp cho nó. Tôi nói với nó, oan gia nên cởi gỡ, đừng nên thắt buộc, giảng về Khổ, Không, Vô Thường. Bản thân ông ta khóc, mà con hồ ly cũng khóc. Sau đó, vị pháp sư ấy kết nhân duyên với con hồ ly ấy. Không chỉ chẳng muốn rời bỏ nó. Thầy ấy giảng kinh Pháp Hoa tại Nữu Ước, niệm chú Đại Bi, con hồ ly ấy cũng niệm chú Đại Bi theo. Hồ ly cùng ông ta hai người hợp tác, khi pháp sư giảng kinh Pháp Hoa, con hồ ly gia tŕ cho người ta, nhưng do chẳng có sức mạnh của Địa Tạng Bồ Tát, vậy là có chuyện chẳng chánh đáng.

          Kẻ b́nh phàm sau khi bị quỷ thần mê hoặc, sẽ thường có hiện tượng ấy. Đó là sự thật, nhưng vẫn là phải có nhân duyên với họ. Chẳng có nhân duyên, sẽ chẳng thể phát sanh. Đặc biệt là đệ tử Tam Bảo, v́ sao gặp phải loại nhân duyên túc thế này? Chúng ta niệm kinh Địa Tạng, niệm xong sẽ thấy, đặc biệt là niệm vào ban đêm sẽ rất sợ hăi, vừa niệm bèn sanh cảm giác sợ hăi. Có khi quư vị niệm bèn phát sốt, hoặc cảm thấy thân lạnh ngắt. Đấy là hiện tượng b́nh thường, đừng phát sanh cảm giác hoảng sợ. Trong khi quư vị niệm kinh Địa Tạng, những người t́m tới đều là quyến thuộc của quư vị. Nếu không, họ sẽ chẳng thể đến trước quư vị được. Họ rất mong được độ, nghe kinh Địa Tạng. Nếu quư vị niệm hai ngày, hoặc là niệm mấy lượt, hiện tượng ấy sẽ chẳng có nữa, sẽ mất đi. Đó là lẽ tất nhiên.

          Đường quỷ thần từ xưa đến nay đều có. Bất cứ quốc gia nào, bất cứ khu vực nào cũng đều có, có chuyện nhà cửa chẳng yên ổn, đặc biệt quái dị. Hôm nay, tôi thấy [kinh văn nói] những loài quỷ này, nhớ tới lúc ở Nữu Ước, có một vị đạo hữu, c̣n chưa thọ Tam Quy Y. Chồng bà ta là người Nhật, làm việc cho một công ty Nhật. Bà ta có một gian nhà hôi thối khôn cùng; đó là v́ ác quỷ được nói trên đây. Thân thể ác quỷ đặc biệt hôi thối. Sau đó, bà ta niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, cũng niệm kinh Địa Tạng, mời chúng tôi đến sái tịnh. Sau đó, ác quỷ cũng tiêu mất. Trước đó, bà ta xịt loại nước hoa nào cũng đều vô hiệu, đều không [khử mùi hôi thối] được. Chuyện này xác thực là có, mọi người phải chí tâm. Chúng ta là đệ tử Phật, nhất định phải tin tưởng lời đức Phật dạy: Quỷ đạo là một đường trong lục đạo. Người đă chết biến thành quỷ, vẫn chẳng phải dễ! C̣n phải đầu thai vào quỷ đạo. Đầu thai vào đường nào, giống như đầu thai làm nhân loại, đầu thai vào súc sanh đạo, [đều phải có cái nhân trong đường ấy], phải đầu thai vào quỷ đạo th́ mới có thể biến thành quỷ.

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, vị chư Dược Xoa, La Sát, ngạ quỷ, Tất Xá Giá quỷ, Bố Đát Na quỷ, Cưu Bạn Đồ quỷ, Yết Trá Bố Đát Na quỷ, hấp tinh khí quỷ.

          ()隨所在處,若諸有情,為諸藥叉、羅剎、餓鬼、畢舍遮鬼、布怛那鬼、鳩畔荼鬼、羯吒布怛那鬼、吸精氣鬼。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, bị các Dược Xoa, La Sát, ngạ quỷ, quỷ Tất Xá Giá, quỷ Bố Đát Na, quỷ Cưu Bạn Đồ, quỷ Yết Trá Bố Đát Na, quỷ hút tinh khí).

 

          Có một quyển Phiên Dịch Danh Tướng Kư (翻譯名相記) giải thích những tên gọi của quỷ, tôi đại khái dựa theo thứ tự đọc mấy đoạn là được rồi. Quỷ Tất Xá Giá (Piśāca) chính là hấp huyết quỷ (quỷ hút máu). Loại quỷ này ăn tinh khí của con người, nhưng chúng không hiện h́nh. Quư vị chẳng thấy nó, mà nó cũng chẳng hiện ra dọa dẫm quư vị. Nó hút máu, hấp thụ tinh khí của quư vị, chẳng phải là theo bên thân quư vị để hấp thụ. Nếu vật bài tiết của quư vị có máu, chẳng hạn như trong bệnh viện, đặc biệt là khi mẹ sanh con, những con quỷ ấy ăn mùi vị đó. Chẳng phải là thật sự ăn, chỉ là ngửi mùi th́ là đă ăn.

          Kế đó là quỷ Bố Đát Na (Pūtana). Bố Đát Na là “hôi thối”. Thân thể nó hôi thối lạ lùng, nhưng không ăn đồ vật này nọ. Ở đâu có mùi hôi thối, nó liền chạy đến ăn mùi hôi thối đó. Hiện thời, sợ rằng nhà vệ sinh ở Mỹ và Gia Nă Đại không có quỷ này v́ không hôi thối. Nó hướng xuống phía dưới đất, chuyên t́m những chỗ hôi thối, để hút mùi thối. Nhưng trong các loài quỷ, trong số các ngạ quỷ, chúng có phước báo lớn nhất. Đă là quỷ chuyên môn hút mùi thối, cớ sao có phước báo lớn nhất? Nó chuyên môn cḥng ghẹo người hoặc súc vật, khiến cho họ bĩnh ra, chuyên môn ăn mùi thối của quư vị. Nó được ăn trong khi các ngạ quỷ khác không được ăn. Do vậy nói nó có phước báo to lớn.

          Dược Xoa, La Sát: Dược Xoa (Yakṣa) là Dạ Xoa, chuyên uống máu người, chuyên ăn tinh khí của con người. Chúng ta thường nhắc tới Dược Xoa và La Sát (Rākṣas)[2] cùng lúc, loại quỷ này cực ác.

          Quỷ Cưu Bạn Đồ (Kumbhāṇḍa) tức là Ung H́nh Quỷ (甕形鬼) v́ nó [có h́nh dáng] giống như một cái ṿ. Trong quá khứ, có một người công danh rất lớn, làm người rất chánh trực. Khi ông ta vào nhà vệ sinh, gặp phải Ung H́nh Quỷ. Ông ta là người có công danh, trên thân có quang minh. Ung H́nh Quỷ muốn tránh né, nhưng chạy không được, bị ông ta chặn lại. Ông ta từ ngoài cửa tiến vào, bảo Ung H́nh Quỷ: “Ngươi đừng có chạy!” Con quỷ ấy chẳng dám chạy. V́ khi đó, đi vệ sinh đâu có đèn điện, phải cầm theo đèn dầu. Ông ta bảo: “Ngươi đợi ở đây!” Ông ta liền đặt thếp đèn lên đầu Ung H́nh Quỷ. Chẳng sợ hăi mà cũng chẳng kinh hoảng v́ con Ung H́nh Quỷ ấy. Chờ lúc xong xuôi, ông ta cầm lấy đèn, bảo: “Ngươi đi đi”. Trong lịch sử có ghi chép về loại quỷ này. Nếu muốn xem những câu chuyện về quỷ, có một quyển sách là Duyệt Vi Thảo Đường Bút Kư (閱微草堂筆記) do Kỷ Hiểu Lam soạn. Sách ấy toàn viết về quỷ, chép những chuyện ông ta được nghe kể lại, khác hẳn Liêu Trai Chí Dị. Liêu Trai Chí Dị là chuyện soạn ra, c̣n Duyệt Vi Thảo Đường Bút Kư đại đa số được viết khi Kỷ Hiểu Lam bị đày đi Tân Cương. Vùng biên cương, những chuyện ấy đặc biệt nhiều. Ông ta nghe kể những câu chuyện cũ bèn ghi chép lại. Duyệt Vi (閱微) có nghĩa là ẩn kín. Tôi nêu ra mấy chuyện để chứng minh quỷ thật sự tồn tại.

          Quỷ Yết Trá Bố Đát Na (Kaṭapūtana): Loại quỷ này có h́nh dáng cực xấu, thường ra vào chốn mồ mả. Chúng không đến chỗ b́nh thường v́ chuyên ăn xác chết, [đúng ra là] ngửi xác chết. Khi xác chết rữa nát, quỷ sẽ hút lấy mùi xác chết. V́ sao khi tỳ-kheo ăn cơm, nhất định phải thí thực cho những loài quỷ ấy? Khi cúng Ngọ, cúng dường hết thảy chúng sanh, cũng bao gồm các loài quỷ ấy trong đó. Hễ như vậy, chúng nó có thể ngửi thấy mùi, ngửi được hương vị của thức ăn.

                   

          (Kinh) Cập chư hổ, lang, sư tử, ác thú, cổ độc, yếm đảo, chư ác chú thuật, oán tặc, quân trận, cập dư chủng chủng chư bố úy sự chi sở triền nhiễu, thân tâm chương hoàng, cụ thất thân mạng, ố tử tham sanh, yếm khổ cầu lạc, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết giai đắc ly chư bố úy, bảo toàn thân mạng, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()及諸虎、狼、師子惡獸,蠱毒、厭禱、諸惡咒術,怨賊、軍陣及餘種種,諸怖畏事之所纏繞,身心慞惶,懼失身命,惡死貪生,厭苦求樂,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切皆得離諸怖畏,保全身命,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Và các loài cọp, sói, sư tử, ác thú, cổ độc, ếm đối, các chú thuật ác, oán tặc, quân trận, và các chuyện sợ hăi khác quấn trói, thân tâm hoảng hốt, sợ mất thân mạng, ghét chết, tham sống, ghét khổ, cầu vui, nếu có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy đều được ĺa khỏi các sợ hăi, bảo toàn thân mạng, tùy theo căn cơ đáng nên độ mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          “Yếm đảo chư ác chú thuật”: (Các thuật ếm đối, chú thuật ác): Đấy những chú thuật xấu ác để trù ếm người họ rất chán ghét. C̣n có quân đội hai bên giao chiến, trong chiến trận đối địch giữa hai bên, sanh khởi đủ loại chuyện đáng sợ hăi. Các thứ quấn trói, vấn vít, khiến cho thân tâm của quư vị không biết đâu mà lường, kinh hoảng, thất thố, sợ mất thân mạng. Ai nấy đều ham sống, chẳng muốn chết. Đó là lẽ thường t́nh của con người. Ai cũng chẳng muốn chịu khổ, đều mong cầu vui sướng, đó là “yếm khổ, cầu lạc”. Nếu đối trước lúc nguy nan ấy, quư vị có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, sẽ có thể ĺa bỏ hết thảy sợ hăi, mà cũng có thể giữ vẹn thân mạng của chính ḿnh, dần dần nhập đạo, tùy theo căn tánh của quư vị mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn. Điều này biểu thị đại từ, đại bi, đại nguyện của Địa Tạng Bồ Tát. Ngài chẳng ngại nhiều chuyện, chuyên quản mọi chuyện vặt vănh của hết thảy chúng sanh, v́ Ngài đă phát cái nguyện ấy. Có những người rất sợ lo chuyện bao đồng, đặc biệt là bọn lăo ḥa thượng như chúng tôi, trong tâm luôn nghĩ “nhiều thêm một chuyện, chẳng bằng ít đi một chuyện”, chính ḿnh tu hành là được rồi!

          Trong thế giới Sa Bà này, từ bi nhất là Địa Tạng Bồ Tát và Quán Thế Âm Bồ Tát, các Ngài chuyên lo chuyện bao đồng! Tuy nói theo phía các Ngài là chuyện bao đồng, nhưng vẫn là quư vị hữu duyên với các Ngài. Như thế nào th́ được coi là hữu duyên? Quư vị có thể niệm danh hiệu của các Ngài, có thể niệm thánh hiệu là hữu duyên. Chẳng dễ ǵ được nghe danh hiệu của các Ngài, lại c̣n có thể tŕ niệm. Khi gặp lúc đau khổ bức bách, bèn nghĩ tới các Ngài. Quư vị chớ nên gọi mẹ, gọi mẹ chẳng có tác dụng chi hết! Chúng ta thường là hễ đau khổ bèn gọi mẹ. Người Tây Tạng gọi mẹ là Á Ma. Tôi đă nghe rất nhiều ngôn ngữ, chữ Mẹ vẫn chẳng biến đổi, Chữ Mẹ từ lúc sanh ra bèn hiểu, dường như đều giống nhau. Hễ gặp khó khăn, lúc bị đau khổ, luôn gọi mẹ. Tuy vậy, quư vị phải đổi thành gọi Địa Tạng Bồ Tát, hoặc gọi Quán Thế Âm Bồ Tát, chứ gọi mẹ chẳng thể giải quyết vấn đề. Nếu quư vị gọi Địa Tạng Bồ Tát, Ngài trở thành mẹ của quư vị, vấn đề sẽ được giải quyết, Ngài thật sự có thể cứu quư vị.

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, hoặc vị đa văn, hoặc vị tịnh tín, hoặc vị tịnh giới, hoặc vị Tĩnh Lự, hoặc vị thần thông, hoặc vị Bát Nhă, hoặc vị giải thoát, hoặc vị diệu sắc, hoặc vị diệu thanh, hoặc vị diệu hương, hoặc vị diệu vị, hoặc vị diệu xúc, hoặc vị lợi dưỡng, hoặc vị danh văn, hoặc vị công đức, hoặc vị công xảo, hoặc vị hoa quả, hoặc vị thụ lâm, hoặc vị sàng ṭa, hoặc vị phu cụ, hoặc vị đạo lộ, hoặc vị tài cốc, hoặc vị y dược, hoặc vị xá trạch, hoặc vị bộc sử, hoặc vị thái sắc, hoặc vị cam vũ, hoặc vị cầu thủy, hoặc vị giá sắc, hoặc vị phiến phất, hoặc vị lương phong, hoặc vị cầu hỏa, hoặc vị xa thặng, hoặc vị nam nữ, hoặc vị phương tiện, hoặc vị tu phước, hoặc vị ôn noăn, hoặc vị thanh lương, hoặc vị ức niệm, hoặc vị chủng chủng thế xuất thế gian chư lợi lạc sự, ư truy cầu thời, vị chư ưu khổ chi sở bức thiết, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, thử thiện nam tử công đức diệu định oai thần lực cố, linh bỉ nhất thiết giai ly ưu khổ, ư nguyện măn túc, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,或為多聞,或為淨信,或為淨戒,或為靜慮,或為神通,或為般若,或為解脫,或為妙色,或為妙聲,或為妙香,或為妙味,或為妙觸,或為利養,或為名聞,或為功德,或為工巧,或為華果,或為樹林,或為床座,或為敷具,或為道路,或為財谷,或為醫藥,或為舍宅,或為僕使,或為彩色,或為甘雨,或為求水,或為稼穡,或為扇拂,或為涼風,或為求火,或為車乘,或為男女,或為方便,或為修福,或為溫暖,或為清涼,或為憶念,或為種種世出世間諸利樂事,於追求時為諸憂苦之所逼切,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,此善男子功德妙定威神力故,令彼一切皆離憂苦,意願滿足,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, hoặc v́ đa văn, hoặc v́ tịnh tín, hoặc v́ tịnh giới, hoặc v́ Tĩnh Lự, hoặc v́ thần thông, hoặc v́ Bát Nhă, hoặc v́ giải thoát, hoặc v́ diệu sắc, hoặc v́ diệu thanh, hoặc v́ diệu hương, hoặc v́ diệu vị, hoặc v́ diệu xúc, hoặc v́ lợi dưỡng, hoặc v́ tiếng tăm, hoặc v́ công đức, hoặc v́ hay khéo, hoặc v́ hoa quả, hoặc v́ rừng cây, hoặc v́ giường, ṭa, hoặc v́ đồ trải, hoặc v́ đường sá, hoặc v́ của cải, ngũ cốc, hoặc v́ thuốc thang, hoặc v́ nhà cửa, hoặc v́ tôi tớ, hoặc v́ màu sắc, hoặc v́ mưa ngọt, hoặc v́ cầu nước, hoặc v́ mùa màng, hoặc v́ gió thoảng, hoặc v́ gió mát, hoặc v́ cầu lửa, hoặc v́ xe cộ, hoặc v́ con cái, hoặc v́ phương tiện, hoặc v́ tu phước, hoặc v́ ấm áp, hoặc v́ mát mẻ, hoặc v́ ức niệm, hoặc v́ các thứ chuyện lợi lạc thế gian và xuất thế gian, trong lúc theo đuổi, bị các thứ ưu khổ bức bách, nếu có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, do công đức, diệu định và sức oai thần của vị thiện nam tử ấy, khiến cho hết thảy đều ĺa ưu khổ, ư nguyện được thỏa măn, tùy theo căn tánh đáng nên độ mà được đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Những điều đó đều có thể măn nguyện. Những điều được nói trong phần sau là pháp thế gian, c̣n trong phần trước là pháp xuất thế gian. Mong nghe nhiều kinh, nghe pháp thấu hiểu. Do đa văn, ắt sẽ đắc Văn Huệ. Như chúng ta nghe kinh, nghe pháp ở nơi đây, tợ hồ có chỗ nào đó giảng kinh, chúng ta đến nghe rất dễ dàng, chẳng khó khăn cho lắm. Nhưng đối với tôi mà nói, tôi cảm thấy hết sức khó khăn, rất khó khăn! Hiện thời, tại Đại Lục (Hoa Lục), có rất nhiều người tin Phật, mong được nghe truyền Tam Quy Y mà chẳng được nghe. “Chẳng phải là có Phật Học Viện ư?” Phật Học Viện tại Đại Lục chẳng cho phép dự thính. Giảng kinh, giảng pháp chỉ có thể làm trong chùa miếu, chẳng thể tụ họp giảng kinh. Pháp luật tại Hoa Lục không cho phép chuyện này.

          Có lẽ chúng ta cảm thấy đa văn là chuyện dường như rất dễ dàng. Thật ra, rất khó! Muốn nghe một bộ kinh, chẳng dễ dàng như thế đâu nhé, ắt cần phải có nhân duyên. Người nói, kẻ nghe, đều phải có nhân duyên. Muốn thuyết pháp, c̣n phải có nơi chốn. Nơi chốn rất khó khăn. Nếu nghe pháp mà có thể sanh khởi tín tâm thanh tịnh, càng khó hơn nữa! Tôi nói như vậy, mọi người đừng phiền năo, tịnh tín rất khó. [Khó phát khởi] tịnh tín cũng bao gồm những vị sư phụ xuất gia như chúng tôi! Nghe pháp, sanh khởi tín tâm thanh tịnh [chẳng phải là chuyện dễ]. Nếu nói theo cách phân chia phẩm vị, phải đạt tới địa vị Ngũ Phẩm th́ nghe pháp mới có thể thanh tịnh, trong tâm có thể thanh tịnh th́ mới có thể nghe pháp!

          Sanh khởi tịnh tín rất khó, phải là trong tư tưởng của chúng ta, tí xíu tiếng tăm, lợi dưỡng, tham, sân, si, ái, hết thảy đố kỵ, chướng ngại đều chẳng có. Chẳng đạt được tín tâm thanh tịnh, hăy niệm Địa Tạng Bồ Tát, cầu đắc tín tâm thanh tịnh. Nay chúng ta tin Phật, nhưng xen tạp rất nhiều động cơ (motivation), cho nên hiệu quả chẳng tốt đẹp cho mấy, chẳng thể khai ngộ. Tận lực nghe rất nhiều bộ kinh, quư vị vẫn hiểu rất ít. Pháp được nghe chẳng khế hợp cái tâm của chính ḿnh, quư vị sẽ chẳng thể sanh khởi ḷng tin thanh tịnh thật sự. Ḷng tin thanh tịnh chẳng phải là chúng ta tùy tiện nói một câu sẽ là ḷng tin thanh tịnh. Nếu quư vị có thể giác ngộ ư niệm chẳng đúng, ngay lập tức chấm dứt th́ mới được. Nhận biết “niệm trước khởi ác” bèn có thể ngăn chặn, không cho “niệm sau khởi lên”, sẽ là có tín tâm. Các vị đạo hữu có tín tâm v́ hộ tŕ Tam Bảo, thà xả thân mạng, trọn chẳng suy tính cho thân mạng của chính ḿnh, họ lo toan cho Phật, Pháp, Tăng. Chúng ta có ḷng tin thanh tịnh như thế hay chăng? Đă thế, họ vừa nghe pháp bèn có thể nhập. Có thể nhập, bèn có thể đắc Định. Có thể Định th́ sẽ có thể sanh Huệ. Họ nhất định phát nguyện, phát nguyện rồi ắt cần phải thực hiện theo đúng điều đă nguyện. Đó mới là biểu hiện của tịnh tín.

          Lại nói sâu hơn một chút, tin tưởng chính ḿnh là Phật! Đấy mới là tịnh tín. Quư vị niệm Địa Tạng Bồ Tát, phải tin tưởng chính ḿnh là Địa Tạng Bồ Tát. Hoặc là xoay trở lại cái Nghe, quán ngược lại, quán cái tâm của chính ḿnh và tâm Địa Tạng Bồ Tát hợp nhất: Tâm ta chính là Phật tâm, mà cũng là chúng sanh tâm. Không chỉ chính ḿnh tịnh tín như thế, mà c̣n khiến cho hết thảy chúng sanh đều trở thành tín tâm thanh tịnh. Đó là cầu Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ. Khi chúng ta chí tâm niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, quư vị chính là Địa Tạng Bồ Tát, đó gọi là tịnh tín. Lúc quư vị chí tâm niệm A Di Đà Phật, bản thân quư vị phải biết chính ḿnh đă trở thành A Di Đà Phật. Phải kiến lập tín tâm như thế! Nếu t́m cầu sự gia tŕ của Địa Tạng Bồ Tát th́ Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ chính là tự tâm của quư vị gia tŕ tự tâm!

          C̣n có “tịnh giới”. Bất luận quư vị thọ Tam Quy, Ngũ Giới, Bát Quan Trai Giới, cho đến hai trăm năm mươi giới tỳ-kheo, ba trăm bốn mươi tám giới của tỳ-kheo-ni, cho đến Bồ Tát trọng giới. Nói chung, Tam Tụ Tịnh Giới, tức Nhiếp Luật Nghi Giới, Nhiếp Thiện Pháp Giới, và Nhiêu Ích Hữu T́nh Giới, v́ tŕ giới thanh tịnh, chính ḿnh sẽ được thanh tịnh.

          “Hoặc v́ Tĩnh Lự”: Tĩnh Lự là Định, là tên gọi khác của Định, cũng là tam-muội. Tĩnh tọa tư duy là tu tư duy.

          “Hoặc v́ thần thông”: Mọi người đều biết thần thông: Người khác chẳng thể, mà quư vị có thể. Ở nơi đây, quư vị tác ư liền tới Bắc Kinh, vừa tác ư liền đến Đài Bắc. Chỗ nào có đao binh kiếp, quư vị ở nơi đây giơ tay, kiếp đao binh tiêu mất, đánh nhau chẳng thành công! Giống như có vị đại ḥa thượng trông thấy lửa lớn đă bốc cháy, bèn mượn rượu của người khác uống vào, phun rượu lên không trung, dập tắt trận lửa ấy. Lửa bị dập tắt, nhưng ngửi thấy có mùi rượu. Khi đó, vị ấy ở Tây An, dập tắt lửa ở Bắc B́nh Phủ. Đó gọi là thần thông. Bất quá, thần thông kiểu đó vẫn là tiểu thần thông. Đại thần thông là có trí huệ, huệ tánh có thể thông đạt hết thảy. Đối với cái tâm tự nhiên, bèn khôi phục cái tâm tự nhiên quư vị vốn sẵn có. Đấy gọi là Thần. Thần minh thiên tâm, thiên tâm là tự tánh. Tâm rất tự nhiên, thông minh huệ tánh, diệu dụng vô biên, đó gọi là “thần thông”. Nhưng thông thường là hiện ra các tiểu cảnh giới, đấy chẳng phải thần thông to lớn ǵ! Khi Bồ Tát vận dụng thần thông, nhất định sẽ chuyển biến Hoặc nghiệp của chúng sanh, tiêu trừ nghiệp chướng của chúng sanh, tăng thêm tín tâm thanh tịnh cho họ.

          “Hoặc v́ Bát Nhă”: Bát Nhă là diệu huệ. Chúng ta đọc kinh Bát Nhă, kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật, cho đến đọc Tâm Kinh, thành tựu trí huệ. Trí huệ ấy chẳng phải là trí huệ b́nh phàm, mà là trí Bát Nhă Lục Độ vạn hạnh, hoặc là giải thoát đạo.

          Có hai cách giải thích chữ “diệu sắc”:

          - Tướng mạo rất trang nghiêm, vượt xa kẻ b́nh phàm. Ba mươi hai tướng, tám mươi loại hảo, đều là diệu sắc.

          - C̣n có vô sắc diệu sắc, vô h́nh, vô tướng.

          Diệu sắc, diệu thanh, diệu hương, diệu vị, diệu xúc, tức là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, lại kèm thêm chữ Diệu, sẽ là chẳng thể nghĩ bàn. Gọi là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, tức chẳng phải là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, mà gọi là Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, đấy mới là Diệu. Chẳng đạt đến mức độ ấy, chẳng gọi là Diệu. Diệu là chẳng thể nghĩ bàn. Rơ ràng là xanh, hồng, đỏ, vàng, nhưng hết thảy sắc tướng chẳng phải là sắc tướng, v́ xét theo tánh, sẽ biết chúng là duyên khởi, chẳng chân thật. Từ nơi tướng mà hiện ra tánh của chúng, đó là Diệu. Sắc, phi sắc tướng, hoa, phi hoa, hoa chẳng phải là hoa!

          Tôi nhớ đă từng đọc một câu đối: “Sơn sắc, thủy sắc, yên hà sắc, sắc sắc giai không” (sắc núi, sắc nước, sắc khói ráng chiều, sắc nào cũng đều là Không), ư nói: Chẳng có Sắc, nó do cái tâm của quư vị biến hiện. “Phong thanh, vũ thanh, chung khánh thanh, thanh thanh tự tại” (tiếng gió, tiếng mưa, tiếng chuông khánh, tiếng nào cũng tự tại). Tiếng cũng chẳng có. V́ thế, diệu sắc, diệu thanh, cho đến diệu hương đều là như thế mà thôi. Đấy chẳng phải là cảnh giới b́nh thường. Nếu muốn đạt đến cảnh giới này, quư vị phải chí tâm niệm Địa Tạng Bồ Tát, chuyển cái tâm của chính ḿnh thành nhất trí với cái tâm của Địa Tạng Bồ Tát. Quư vị là Địa Tạng Bồ Tát th́ mới có thể đạt tới cảnh giới thù diệu này. V́ tiếng tăm, v́ lợi dưỡng, v́ muốn làm công đức, quư vị cũng có thể [xưng niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát].

          “Hoặc v́ tôi tớ”, nói đại lược một phen. Trong nhà muốn mướn mấy người hầu, hoặc là quư vị muốn mở công ty, muốn thuê mấy nhân viên, đều coi là “tôi tớ”. Hoặc trong nhà phải thuê vú em, cũng coi như là tôi tớ. Trong các t́nh h́nh như thế, cầu Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ một phen, dường như chuyện ǵ Địa Tạng Bồ Tát cũng quản. Mục đích là quư vị phải chí tâm niệm danh hiệu của Ngài, chờ cho đến khi quư vị niệm linh ứng, tâm tư của quư vị nẩy sanh biến hóa. Kinh Thập Luân nhằm chuyển biến phiền năo của quư vị. Đầu tiên là Tự Phần nhằm nói công đức thù thắng của Địa Tạng Bồ Tát, ḥng quư vị sanh khởi tín tâm, ngơ hầu chúng ta tin tưởng Địa Tạng Bồ Tát. Nếu tâm quư vị có thể tin tưởng Địa Tạng Bồ Tát, tâm quư vị sẽ ứng hợp tâm Địa Tạng Bồ Tát; sau đấy, cái tâm của quư vị chuyển thành tâm Địa Tạng Bồ Tát. Tâm của Địa Tạng Bồ Tát là đại nguyện, quư vị cũng sẽ luôn thuận theo mà phát khởi đại nguyện. Địa Tạng Bồ Tát thuận theo chư Phật, Bồ Tát mà phát đại nguyện.

          Chúng ta học theo Ngài, cũng phát đại nguyện. Ngài v́ thành tựu chúng ta, khiến cho nguyện và tâm của chúng ta nhất trí với nguyện và tâm của Ngài, Phật Phật đạo đồng. Nếu quư vị có thể chí tâm, thành tín niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính Địa Tạng Bồ Tát th́ những điều mong cầu trên đây đều có thể đạt được. V́ sao? Trong phần trên, tôi đă nói, Địa Tạng Bồ Tát nhập diệu định nhiều ngần ấy. Từ trong các Định ấy, sanh ra trí năng nhiều dường ấy, Ngài có thể chuyển hóa cái tâm của chúng ta. Khi Ngài gia tŕ quư vị, chẳng phải là Ngài ban cho quư vị, mà là tự tâm của quư vị sanh khởi diệu dụng, tự nhiên trọn đủ. Đừng nên nghĩ Địa Tạng Bồ Tát sẽ ban cho chúng ta điều ǵ, mà là tự tâm của quư vị sanh khởi công đức, sanh khởi thù thắng, là sức mạnh từ chính cái tâm của quư vị, kết hợp với diệu định và sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn của Địa Tạng Bồ Tát, cho nên mới có thể ĺa khổ, ĺa khỏi hết thảy ưu, bi, khổ năo; do vậy, những nguyện vọng mong cầu của quư vị đều được thỏa măn. Không chỉ là như thế, mà c̣n có thể đặt yên quư vị nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn.

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, dĩ chư chủng tử, thực ư hoang điền, hoặc thục điền trung, nhược cần doanh vụ, hoặc bất doanh vụ, hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, thử thiện nam tử, công đức diệu định, oai thần lực cố, linh bỉ nhất thiết quả thật phong nẫm. Sở dĩ giả hà? Thử thiện nam tử tằng quá vô lượng vô số đại kiếp, ư quá số lượng Phật Thế Tôn sở, phát đại tinh tấn, kiên cố thệ nguyện. Do thử nguyện lực, vị dục thành thục chư hữu t́nh cố, thường phổ nhậm tŕ nhất thiết đại địa, thường phổ nhậm tŕ nhất thiết chủng tử, thường phổ linh bỉ nhất thiết hữu t́nh tùy ư thọ dụng. Thử thiện nam tử oai thần lực cố, năng linh đại địa nhất thiết thảo mộc, căn, tu, nha, hành, chi, diệp, hoa, quả, giai tất sanh trưởng, dược cốc, miêu giá, hoa quả mậu thật, thành thục nhuận trạch, thanh khiết nhuyễn mỹ.

          ()隨所在處,若諸有情,以諸種子植於荒田或熟田中,若勤營務,或不營務,有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,此善男子功德妙定威神力故,令彼一切果實豐稔。所以者何?此善男子,曾過無量無數大劫,於過數量佛世尊所,發大精進堅固誓願;由此願力,為欲成熟諸有情故,常普任持一切大地,常普任持一切種子,常普令彼一切有情隨意受用。此善男子威神力故,能令大地一切草木根鬚、芽、莖、枝葉、華果,皆悉生長,藥谷、苗稼、華果茂實,成熟潤澤,香潔軟美。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, lấy các hạt giống gieo xuống ruộng hoang, hoặc nơi ruộng thục, hoặc là siêng chăm bón, hoặc chẳng chăm bón, mà có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, do công đức, diệu định, và sức oai thần của vị thiện nam tử y, khiến cho hết thảy quả hạt sanh trưởng dồi dào. V́ cớ sao vậy? Vị thiện nam tử này đă từng trải qua vô lượng vô số đại kiếp, ở nơi chẳng thể tính đếm chư Phật Thế Tôn, phát ra thệ nguyện kiên cố đại tinh tấn. Do nguyện lực ấy, v́ muốn thành thục các hữu t́nh, thường duy tŕ trọn khắp hết thảy các đại địa, thường duy tŕ trọn khắp hết thảy hạt giống, thường khiến cho trọn khắp hết thảy hữu t́nh tùy ư thọ dụng. Do sức oai thần của vị thiện nam tử này, có thể khiến cho hết thảy cỏ cây trong đại địa, rễ, tua, mầm, thân, cành, lá, hoa, quả, thảy đều sanh trưởng, dược thảo, ngũ cốc, thóc lúa, hoa quả sum suê, chi chít, chín rộ tươi nhuận, tinh sạch, mềm mại, ngon đẹp).

 

          Đoạn này nói về người trồng trọt hoa mầu, hy vọng những hoa mầu đă gieo trồng đều tăng trưởng rất tốt đẹp. Hoặc là quư vị mong trồng hoa, mong cho những chậu cây cảnh trong nhà mọc tươi tốt hơn đôi chút, hăy đối trước những bồn hoa ấy niệm Địa Tạng Bồ Tát, đi nhiễu quanh nó (đừng cười, [làm như vậy] thật sự rất tốt). Chậu cây cảnh sắp chết, đặc biệt là chúng tôi thích quân tử lan và lan thảo, chúng sắp chết rụi hết. Trở về, bái sám, cầu nguyện, nó lại mọc tươi tốt. Nhưng nếu coi hiệu quả của những chuyện nhỏ nhặt ấy là thánh nghiệm, thánh quả, sẽ hỏng bét. Chúng ta học Phật, cầu Địa Tạng Bồ Tát, phải đúng lẽ tự nhiên là tu hành, bái sám. Quư vị chẳng nghĩ đến những chuyện ấy, nhưng đă tác ư th́ hoa cỏ cũng rất tươi tốt, chẳng thể nghĩ bàn.

          Ở quê tôi, có một chuyện như thế này: Có một phụ nữ chỉ có một đứa con duy nhất. Bà ta nghĩ nhớ đứa con, có người dạy bà một phương pháp: “Bà đứng ở bậc cửa, một tay nắm then cài, một tay cầm giỏ cơm. Ăn cơm trong cái giỏ, tận lực gơ cái then ngang ấy. Chẳng đầy mấy hôm, con bà sẽ quay về”. Bà cụ ấy liền ngày ngày gơ, chưa được mười mấy hôm, con bà thật sự trở về. Do nguyên nhân nào? Con bà trong ḷng chẳng yên, cho là trong nhà đă xảy ra tai họa to lớn chi đó, vội trở về th́ chẳng có chuyện chi hết, chỉ là mẹ nhớ mong. Đấy là một thí dụ cho thấy [tác dụng] của chí tâm.

          Một thí dụ khác về chí tâm: Có một bà mẹ tưởng nhớ con, tưởng nhớ khôn cùng, nhưng đứa con ấy hết sức bất hiếu với mẹ. Tuy vậy, mẹ rất thương yêu nó, rất chí tâm. Có một lần, con bà ta gặp một nhóm người muốn triều bái Phổ Đà Sơn, nó cũng muốn theo họ đi triều bái. Có người nói: “Mày bất hiếu như thế, lên núi lễ Phật sẽ ảnh hưởng bọn tao”. Nó nói: “Không đâu, tôi đă thay đổi”. Nó liền đi theo mọi người đi lên núi lễ Phật. Khi đă tới Phổ Đà Sơn, trên mặt biển xuất hiện hoa sen sắt. Trên mặt biển toàn là hoa sen sắt, thuyền không tiến lên được. Mọi người liền chí thành niệm hoa sen sắt, nó cũng niệm theo mọi người. Nó thấy Quán Thế Âm Bồ Tát bảo: “Ngươi chẳng cần triều bái ta, hăy quay về nhà. Ngươi quay về th́ sẽ chẳng có hoa sen sắt nữa, quay về đi!” Nó thưa: “Con tới triều bái Bồ Tát”. Quán Thế Âm Bồ Tát nói: “Khi ngươi trở về, sẽ thấy người mở cửa cho ngươi chính là ta”. V́ thế, nó quay về, hoa sen sắt cũng biến mất, mọi người tiếp tục dong thuyền đến Phổ Đà Sơn. Nó chẳng thành công triều bái, bèn trở về nhà. Khi về đến nhà, đă là mười hai giờ đêm, mẹ già đă ngủ rồi, nó liền gơ cửa. Mẹ nghe tiếng con, liền khoác áo bông ra mở cửa cho nó. Đấy chính là Quán Âm Bồ Tát độ cho hai mẹ con họ. Nó trở về sám hối với mẹ, thật sự sám hối. V́ nó triều bái Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát cảm động trước một niệm chí thành của nó, bèn chuyển biến [tâm nó] thành hiếu tâm. Chí tâm có mối quan hệ rất lớn!

          Những kiểu chí tâm trên đây là chí tâm nhỏ nhoi, chẳng phải là loại chí tâm chúng ta cần phát. Chúng ta phải phát nguyện thành Phật độ chúng sanh. Mọi người phải ghi nhớ: Phàm là mỗi vị đạo hữu chúng ta, đều phải nên phát nguyện “thành Phật độ chúng sanh”. Đấy là nguyện rốt ráo của chúng ta. Bất luận phẩm Tịnh Hạnh hay phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, nguyện đă phát ra, nguyện nào cũng đều là độ chúng sanh, nguyện nào cũng là nguyện thành Phật, làm cho hết thảy chúng sanh đều thành Phật. Đọc các bộ kinh điển Bát Nhă, những bộ kinh ấy có liên quan đến chúng ta v́ cầu trí huệ Bát Nhă. Ngoài những điều ấy ra, cho đến tịnh tín, tịnh giới đều cần thiết. C̣n những thứ vật dụng trong cuộc sống th́ không cần nhất thiết phải cầu! Chúng càng nhiều th́ càng lắm phiền năo, càng ít càng thanh tịnh. V́ thế, nói đến “chủng tử”“hoang điền” (ruộng hoang) trong đoạn kinh văn này chính là nói về Bát Nhă, có thể giải thích như vậy!

          “Sở dĩ giả hà” (v́ cớ sao vậy): V́ sao Địa Tạng Bồ Tát có sức công đức nhiều dường ấy? Đức Phật lại tán thán Địa Tạng Bồ Tát. “Thử thiện nam tử” (vị thiện nam tử này) tức là nói Địa Tạng Vương Bồ Tát. “Tằng quá vô lượng vô số đại kiếp” (đă từng trải qua vô lượng vô số đại kiếp): Đă trải qua một thời gian rất dài, thời gian không thể tính đếm được.

          “Ư quá số lượng Phật Thế Tôn sở” (ở chỗ chẳng thể tính đếm chư Phật Thế Tôn): Dùng số lượng để tính toán, cũng chẳng có cách nào tính toán nơi chốn của chư Phật Thế Tôn. Phật Thế Tôn là chư Phật. Bồ Tát đă phát thệ nguyện đại tinh tấn kiên cố. Không chỉ là tinh tấn, mà c̣n kiên cố, tuyệt đối chẳng lay động. Nguyện trọn chẳng lay động, nhất định phải đạt tới mục đích. Mọi người hăy tự kiểm xem cái nguyện của chính ḿnh có lay động hay chăng? Trong khi quư vị hứng chịu khổ nạn, hoặc lúc gặp cảnh giới chẳng vừa ư, hoặc trong lúc quư vị bái sám nẩy sanh chướng ngại, niệm kinh nẩy sanh chướng ngại, quư vị có c̣n niệm hay không? Quư vị bái sám mà chẳng thành tựu, có c̣n bái sám nữa hay không? Những chuyện nhỏ nhặt đó mà chẳng thể khắc phục nổi, c̣n mong chi thành Phật? Do vậy, thệ nguyện ắt cần phải kiên cố. Gặp phải bất cứ vùi dập hay khó khăn ǵ, một khi quư vị đă phát nguyện, đừng để các cảnh giới bên ngoài xoay chuyển, phải kiên tŕ, đừng gián đoạn giữa chừng. Quư vị phát ra cái nguyện nhỏ nhất là thọ Tam Quy, Ngũ Giới. Thọ quy y th́ vị sư phụ truyền trao sẽ bảo quư vị, dạy quư vị phải “quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng”, mỗi ngày có thể niệm nhiều lượt sẽ càng tốt hơn. Nếu thật sự chẳng có thời gian niệm, sáng tối hăy liên tục niệm, tối thiểu là mười lượt, quư vị có làm được hay không? Ngay cả thệ nguyện như vậy mà làm chẳng được, làm sao có thể tiêu tai miễn nạn cơ chứ? Đă chẳng thể tránh khỏi tai nạn trước mắt, càng chẳng cần phải nói đến chuyện miễn trừ tai nạn từ vô lượng kiếp đến nay, [cũng như chẳng cần phải nói tới chuyện] tiêu trừ họa nghiệp, chứng đắc trí Bát Nhă, cho đến thành Phật chi nữa!

          Giả sử nói tướng cảnh giới hiện tiền đem lại tổn thất cho chúng ta, nhưng rất hữu ích cho người khác, chúng ta có chịu bị hao tổn để giúp đỡ người khác hay không? Mỗi người hăy tự vấn cái tâm của chính ḿnh, sẽ tự biết ngay, đều hiểu rơ ràng. Do Địa Tạng Bồ Tát thệ nguyện, phát tâm thệ nguyện thành thục chúng sanh, Ngài thường duy tŕ trọn khắp đại địa, không chỉ riêng thế giới Sa Bà. Trong phần trên c̣n nói, “tùy sở tại xứ, tùy kỳ sở ưng” (ở bất cứ nơi đâu, thuận theo căn tánh), Ngài ở nơi nào, nơi đó được lợi ích, khiến cho hết thảy đại địa nhuận trạch trọn khắp chúng sanh. Đấy là công năng chuyên chở của đại địa. Nếu chẳng có đại địa gánh vác chúng ta, chúng ta đều chẳng thể sống sót được! Nếu chẳng có đại địa sanh trưởng vạn vật, chúng ta đều chẳng thể sống sót được! Nếu hiện thời dầu mỏ phía dưới đại địa đều cạn sạch, nếu chẳng sanh ra điện lực, chúng ta sẽ sống như thế nào? Đặc biệt là trong những quốc gia phát triển, nếu chẳng có điện, ngay cả cơm cũng chẳng có mà ăn. Hiện thời, mùa Đông đang đến, thời tiết rất lạnh, nếu chẳng có điện, hệ thống sưởi ấm hoạt động bằng cách nào? Sẽ khiến cho quư vị đông cứng hết!

          “Thường phổ nhậm tŕ nhất thiết đại địa” (thường duy tŕ trọn khắp hết thảy đại địa): Đại địa là nói tới tâm địa của hết thảy chúng sanh, tạo chủng tử thành Phật cho hết thảy chúng sanh. “Thường phổ trụ tŕ nhất thiết chủng tử” (thường duy tŕ trọn khắp hết thảy các hạt giống). Nói theo tướng thế gian, sẽ là đại địa chứa đựng tất cả các hạt giống. Hết thảy lương thực là thứ cần thiết cho cuộc sống, giúp chúng ta duy tŕ sanh mạng, đều sanh từ đất. Nay chúng ta hăy nhướng mắt mà xem, mắt chúng ta đeo kiếng, y phục khoác trên thân, cho đến bàn, ghế, băng ghế, quư vị nói xem: Có thứ nào chẳng phải từ đất mà ra? Có thứ nào chẳng sanh trưởng từ đất? Do vậy nói Địa Tạng Bồ Tát phát nguyện, Ngài duy tŕ trọn khắp hết thảy đại địa, duy tŕ hết thảy các hạt giống, khiến cho hết thảy chúng sanh đều tùy ư thọ dụng, thỏa măn cái nguyện của chúng sanh.

          Do sức oai thần của vị thiện nam tử ấy, có thể khiến cho đại địa, cỏ cây, rễ, tua, mầm, thân, cành, lá, hoa, quả, đều có thể sanh trưởng, thậm chí dược thảo, ngũ cốc, thóc lúa, hoa quả sum suê, chi chít, tăng trưởng tươi nhuận, thơm tho, tinh sạch, mềm mại, ngon lành, ở nơi đâu, Ngài cũng đều thành thục chúng sanh. Đấy là những thứ giúp cho cuộc sống. Lại nói bản thân chúng sanh trọn đủ hết thảy mọi thứ, thứ ǵ cũng đều có thể ăn được!

 

          (Kinh) Tùy sở tại xứ, nhược chư hữu t́nh, tham, sân, si đẳng, giai mănh lợi cố, tạo tác sát sanh, hoặc bất dữ thủ, hoặc dục tà hạnh, hoặc hư cuống ngữ, hoặc thô ác ngữ, hoặc ly gián ngữ, hoặc tạp uế ngữ, hoặc tham, hoặc sân, hoặc phục tà kiến, Thập Ác nghiệp đạo.

          ()隨所在處,若諸有情,貪、瞋、癡等,皆猛利故,造作殺生,或不與取,或欲邪行,或虛誑語,或粗惡語,或離間語,或雜穢語,或貪,或瞋,或復邪見十惡業道。

          (Kinh: Ở bất cứ nơi đâu, nếu các hữu t́nh, tham, sân, si v.v… đều mạnh mẽ, tạo tác sát sanh, hoặc chẳng cho mà lấy, hoặc muốn làm tà hạnh, hoặc nói lời hư dối, hoặc lời thô ác, hoặc lời ly gián, hoặc lời tạp uế, hoặc tham, hoặc sân, hoặc lại tà kiến, mười ác nghiệp đạo).

 

          Sát sanh, trộm cắp, dâm, đây là ba nghiệp nơi thân. Giết, trộm, dâm là ba nghiệp nơi thân, lại c̣n thêm nói dối, nói lời thô ác, nói thêu dệt, nói đôi chiều là bốn nghiệp nơi miệng, lại c̣n thêm tham, sân, si là ư nghiệp, hợp thành Thập Ác Nghiệp Đạo. Thập Ác Nghiệp Đạo, tham dục, sân hận, tà kiến hết sức mănh liệt. Tà kiến có khi là vô minh, hết sức mănh liệt. V́ mănh liệt, tâm sân hận nặng nề. Do vậy, sát sanh, trộm cắp, không cho mà lấy, người ta không cho, quư vị cứ lấy, hoặc là cưỡng đoạt, hoặc là lấy trộm, đều thuộc loại trộm cắp. “Đạo” () là dùng sức mạnh đoạt lấy, “thâu” () là trộm lấy. Kẻ chẳng tin Tam Bảo, chẳng có duyên này, ác nghiệp rất nặng. Càng là hạng người như vậy, càng khó thấy, nghe danh hiệu của Địa Tạng Bồ Tát.

 

          (Kinh) Hữu năng chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát giả, nhất thiết phiền năo tất giai tiêu diệt, viễn ly Thập Ác, thành tựu Thập Thiện, ư chư chúng sanh, khởi từ bi tâm, cập lợi ích tâm. Thử thiện nam tử, thành tựu như thị công đức, diệu định, oai thần chi lực, dũng mănh tinh tấn, ư nhất thực khoảnh, năng ư vô lượng vô số Phật độ, nhất nhất độ trung, dĩ nhất thực khoảnh, giai năng độ thoát vô lượng vô số Căng Già sa đẳng sở hóa hữu t́nh, linh ly chúng khổ, giai đắc an lạc, tùy kỳ sở ưng, an trí sanh thiên, Niết Bàn chi đạo.

          ()有能至心稱名念誦歸敬供養地藏菩薩摩訶薩者,一切煩惱,悉皆銷滅,遠離十惡,成就十善,於諸眾生,起慈悲心及利益心。此善男子成就如是功德妙定,威神之力,勇猛精進,於一食頃能於無量無數佛土,一一土中,以一食頃皆能度脫無量無數殑伽沙等所化有情,令離眾苦,皆得安樂,隨其所應,安置生天涅槃之道。

          (Kinh: Có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, tôn kính, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, hết thảy phiền năo thảy đều tiêu diệt, xa ĺa Thập Ác, thành tựu Thập Thiện, đối với các chúng sanh khởi tâm từ bi và tâm lợi ích. Vị thiện nam tử ấy thành tựu công đức, diệu định, và sức oai thần như thế, dũng mănh tinh tấn, trong khoảng một bữa ăn, có thể trong vô lượng vô số Phật độ, trong mỗi một cơi, trong khoảng một bữa ăn, đều có thể độ thoát vô lượng vô số các hữu t́nh được hóa độ nhiều như cát sông Hằng, khiến cho họ ĺa các khổ, đều được yên vui, tùy theo căn tánh đáng nên độ mà đặt yên nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn).

 

          Có thể nghe biết Địa Tạng Bồ Tát, lại có thể chí tâm xưng danh, niệm tụng, quy ngưỡng, cung kính cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, hết thảy phiền năo đều được tiêu diệt. V́ sao? V́ chí tâm xưng niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát. Tướng cảnh giới ấy và cái tâm của quư vị có thể phù hợp, tâm và cảnh như một, đương nhiên là có thể tiêu trừ nghiệp Thập Ác. Thập Ác chuyển thành Thập Thiện, có thể biến thành nghiệp Thập Thiện. Thập Thiện là cội gốc để sanh thiên, là đạo lương (道粮, tư lương nơi đạo nghiệp) để sanh thiên. Nếu chẳng có nghiệp Thập Thiện, sẽ chẳng thể sanh thiên được, chẳng có phước phận ấy! Trên cơ sở này, lại có thể đối với hết thảy chúng sanh, sanh khởi tâm từ bi, dẹp trừ hết thảy thống khổ của chúng sanh, ban vui sướng cho hết thảy chúng sanh, lợi ích hết thảy chúng sanh, chẳng so đo cho chính ḿnh. Nếu quư vị phát nguyện giống như Địa Tạng, hành theo Địa Tạng Bồ Tát, quư vị chính là Địa Tạng Bồ Tát, có thể thành tựu công đức, diệu định, và sức oai thần như vậy, giống hệt như Địa Tạng Bồ Tát.

          Hễ bàn đến dũng mănh, tinh tấn, khó lắm đấy! Nếu mỗi ngày chúng ta có thể thực hiện (dũng mănh, tinh tấn) năm, sáu tiếng đồng hồ, sẽ cảm thấy là tu hành rất tuyệt vời. Nắm thời gian bên Đông, níu thời gian bên Tây, chỉ sợ cũng chẳng đạt được tám tiếng đồng hồ, vẫn chưa nói là dũng mănh được! Dũng mănh là suốt ngày đêm sáu thời, suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ đều chí tâm dũng mănh, chẳng đoái hoài thân mạng, thật sự dũng mănh chí tâm, chí tâm khẩn thiết niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, tưởng Địa Tạng Bồ Tát. Do diệu định và oai thần dũng mănh, tinh tấn mà Ngài có thể trong khoảng một bữa ăn, tức “nhất thực khoảnh”, có thể nhập vô cùng vô tận diệu định. Trong phần trước, chúng tôi đă có nói “vô cùng vô tận quốc độ”. Ngài có thể trụ trong vô lượng vô số Phật độ. Phàm là ở bất cứ nơi đâu, trong vô lượng vô số cơi Phật, trong ức vạn cơi Phật, Ngài có thể độ thoát vô lượng vô số, Hằng hà sa số chúng sanh nhiều ngần ấy, hóa độ hữu t́nh nhiều ngần ấy, khiến cho hữu t́nh nhiều ngần ấy đều có thể xa ĺa đau khổ, chẳng c̣n hứng chịu đau khổ nữa, khiến cho những chúng sanh ấy đều được yên vui. “Tùy kỳ sở ưng”, tức là thuận theo căn cơ mà thuyết pháp, tùy theo căn cơ mà thí pháp hóa độ, tức là thuận theo căn cơ người ấy đáng nên hóa độ như thế nào mà đặt yên họ nơi đạo sanh thiên, Niết Bàn.

 

          (Kinh) Thử thiện nam tử, thành tựu như thị như ngă sở thuyết bất khả tư nghị chư công đức pháp, kiên cố thệ nguyện, dũng mănh tinh tấn, vị dục thành thục chư hữu t́nh cố, ư thập phương giới.

            ()此善男子,成就如是如我所說不可思議諸功德法,堅固誓願,勇猛精進,為欲成熟諸有情故,於十方界。

            (Kinh: Vị thiện nam tử này thành tựu các pháp công đức chẳng thể nghĩ bàn như ta đă nói như thế, thệ nguyện kiên cố, dũng mănh, tinh tấn, v́ muốn thành thục các hữu t́nh nên trong mười phương cơi).

 

          V́ làm cho Hằng hà sa số hữu t́nh chúng sanh ĺa khổ, được vui, khiến cho bọn họ chứng đắc Niết Bàn, Địa Tạng Bồ Tát có sức mạnh chẳng thể nghĩ bàn như thế nào? Có các pháp cứu độ như thế nào? Kế đó, nói rơ pháp cứu độ của Ngài. “Như ngă sở thuyết bất khả tư nghị chư công đức pháp” (các pháp công đức chẳng thể nghĩ bàn như ta đă nói): Thệ nguyện kiên cố, dũng mănh, tinh tấn, mong thành thục hết thảy chúng sanh. Ngài làm như thế nào? Đức Phật nói Ngài ở trong mười phương thế giới, v́ lợi ích chúng sanh thị hiện Đồng Sự. [Tức là] quư vị thuộc loài chúng sanh nào, Ngài bèn hiện thân thuộc loài ấy để độ quư vị, tổng cộng có bốn mươi hai loại.

 

          (Kinh) Hoặc thời hiện tác Đại Phạm Vương thân, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp, hoặc phục hiện tác Đại Tự Tại Thiên thân, hoặc tác Dục Giới Tha Hóa Tự Tại Thiên thân, hoặc tác Lạc Biến Hóa Thiên thân, hoặc tác Đổ Sử Đa Thiên thân, hoặc tác Dạ Ma Thiên thân, hoặc tác Đế Thích Thiên thân, hoặc tác Tứ Đại Vương Thiên thân, hoặc tác Phật thân, hoặc tác Bồ Tát thân, hoặc tác Độc Giác thân, hoặc tác Thanh Văn thân.

          ()或時現作大梵王身,為諸有情如應說法;或復現作大自在天身,或作欲界他化自在天身,或作樂變化天身,或作睹史多天身,或作夜摩天身,或作帝釋天身,或作四大王天身;或作佛身,或作菩薩身,或作獨覺身,或作聲聞身。

          (Kinh: Hoặc có lúc hiện làm thân Đại Phạm Vương, v́ các hữu t́nh thuyết pháp đúng theo căn cơ, hoặc lại hiện làm thân Đại Tự Tại Thiên, hoặc làm thân Tha Hóa Tự Tại Thiên trong Dục Giới, hoặc làm thân Lạc Biến Hóa Thiên, hoặc làm thân Đổ Sử Đa Thiên, hoặc làm thân Dạ Ma Thiên, hoặc làm thân Đế Thích Thiên, hoặc làm thân Tứ Đại Vương Thiên, hoặc làm thân Phật, hoặc làm thân Bồ Tát, hoặc làm thân Độc Giác, hoặc làm thân Thanh Văn).

 

          “Hoặc thời hiện tác Đại Phạm Vương thân” (hoặc là có lúc hiện làm thân Đại Phạm Vương): Thân Đại Phạm Vương là thân Đế Thích Thiên[3], v́ các hữu t́nh thuyết pháp. Hoặc là hiện thân Đại Tự Tại Thiên, tức là Ma Hê Thủ La Thiên. Thị hiện thân Đại Tự Tại Thiên Vương để thuyết pháp cho loài chúng sanh ấy. Hoặc là hiện thân Tha Hóa Tự Tại Thiên trong Dục Giới, hoặc là Lạc Biến Hóa Thiên, tức là Hóa Lạc Thiên. Hoặc là hiện thân Đổ Sử Đa Thiên, tức là Đâu Suất Thiên, chính là Lục Dục Thiên. Hoặc là hiện Dạ Ma Thiên, tức tầng trời thứ ba. Hoặc hiện Đế Thích Thiên, hoặc là thân Tứ Đại Vương Thiên (cũng tức là thân Tứ Thiên Vương), hoặc hiện thân chư thiên cho đến Phạm Thiên, Đại Phạm Thiên, Lục Dục Thiên, thị hiện thân trời để làm đồng loại của họ, hoặc thị hiện thân Phật. Bồ Tát chỉ cần sau khi đă đăng địa (chứng Sơ Địa), đă có thể thị hiện thân Phật. Cho đến trong cảnh giới Hoa Nghiêm, hễ phát Bồ Đề tâm, hễ trụ trong Vị Bất Thoái, là đă có thể thị hiện. Thất Trụ Bồ Tát có thể thị hiện thân Phật.

          “Hoặc tác Bồ Tát thân” (hoặc làm thân Bồ Tát): Có bao nhiêu địa vị Bồ Tát? Có khi thị hiện làm đại Bồ Tát, có lúc thị hiện làm tiểu Bồ Tát. Nói “tiểu Bồ Tát”, tức là những vị Bồ Tát b́nh phàm, như các vị Bồ Tát thuộc địa vị Tam Hiền. Hoặc thị hiện thân Nhị Thừa, tức là Độc Giác và Thanh Văn. Độc Giác và Duyên Giác thuộc cùng một địa vị. Sanh nhằm lúc có Phật, nương theo pháp thập nhị nhân duyên để chứng đắc thông suốt th́ là Duyên Giác. Sanh nhằm lúc không có Phật, tự ḿnh quán thấy vật chất biến hóa: Xuân sanh, Hạ trưởng, Thu thâu hoạch, Đông tàng trữ, trông thấy hết thảy sự vật biến hóa, chứng đắc ngộ đạo, th́ gọi là Độc Giác. Thanh Văn là nghe âm thanh thuyết pháp của đức Phật mà ngộ đạo. Tứ thánh pháp giới là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, và Duyên Giác. Trên đây là thị hiện tứ thánh pháp giới.

 

          (Kinh) Hoặc tác Chuyển Luân Vương thân, hoặc tác Sát-đế-lợi thân, hoặc tác Bà-la-môn thân, hoặc tác Phiệt-xá thân, hoặc tác Thú-đạt-la thân, hoặc tác trượng phu thân, hoặc tác phụ nữ thân, hoặc tác đồng nam thân, hoặc tác đồng nữ thân, hoặc tác Kiện Đạt Phược thân, hoặc tác A Tố Lạc thân, hoặc tác Khẩn Nại Lạc thân, hoặc tác Mạc Hô Lạc Già thân, hoặc tác long thân, hoặc tác Dược Xoa thân, hoặc tác La Sát thân, hoặc tác Cưu Bạn Đồ thân, hoặc tác Tất Xá Giá thân, hoặc tác ngạ quỷ thân, hoặc tác Bố Đát Na thân, hoặc tác Yết Trá Bố Đát Na thân, hoặc tác Việt Đồ Ha Lạc quỷ thân, hoặc tác sư tử thân, hoặc tác hương tượng thân, hoặc tác mă thân, hoặc tác ngưu thân, hoặc tác chủng chủng cầm thú chi thân, hoặc tác Diệm Ma Vương thân, hoặc tác địa ngục tốt thân, hoặc tác địa ngục chư hữu t́nh thân, hiện tác như thị đẳng vô lượng vô số dị loại chi thân, vị chư hữu t́nh như ưng thuyết pháp, tùy kỳ sở ưng, an trí tam thừa bất thoái chuyển vị.

          ()或作轉輪王身,或作剎帝利身,或作婆羅門身,或作筏舍身,或作戍達羅身;或作丈夫身,或作婦女身,或作童男身,或作童女身;或作健達縛身,或作阿素洛身,或作緊捺洛身,或作莫呼洛伽身;或作龍身,或作藥叉身,或作羅剎身,或作鳩畔荼身;或作畢舍遮身,或作餓鬼身,或作布怛那身,或作羯吒布怛那身,或作粵闍訶洛鬼身;或作師子身,或作香象身,或作馬身,或作牛身,或作種種禽獸之身;或作剡魔王身,或作地獄卒身,或作地獄諸有情身。現作如是等無量無數異類之身,為諸有情如應說法,隨其所應,安置三乘不退轉位。

          (Kinh: Hoặc làm thân Chuyển Luân Vương, hoặc làm thân Sát-đế-lợi, hoặc làm thân Bà-la-môn, hoặc làm thân Phiệt-xá, hoặc làm thân Thú-đạt-la, hoặc làm thân trượng phu, hoặc làm thân phụ nữ, hoặc làm thân bé trai, hoặc làm thân bé gái, hoặc làm thân Kiện Đạt Phược, hoặc làm thân A Tố Lạc, hoặc làm thân Khẩn Nại Lạc, hoặc làm thân Mạc Hô Lạc Già, hoặc làm thân rồng, hoặc làm thân Dược Xoa, hoặc làm thân La Sát, hoặc làm thân Cưu Bạn Đồ, hoặc làm thân Tất Xá Giá, hoặc làm thân ngạ quỷ, hoặc làm thân Bố Đát Na, hoặc làm thân Yết Trá Bố Đát Na, hoặc làm thân quỷ Việt Đồ Ha Lạc, hoặc làm thân sư tử, hoặc làm thân hương tượng, hoặc làm thân ngựa, hoặc làm thân trâu, hoặc làm thân các loại cầm thú, hoặc làm thân vua Diệm Ma, hoặc làm thân quỷ tốt trong địa ngục, hoặc làm thân các hữu t́nh trong địa ngục, hiện ra vô lượng vô số thân dị loại như thế, v́ các hữu t́nh thuyết pháp thích hợp, tùy theo căn tánh mà đặt yên họ nơi đạo địa vị bất thoái chuyển trong tam thừa).

 

          Tiếp đó, thị hiện tướng nhân gian. Hoặc làm thân Chuyển Luân Vương (Cakravartin-raja), hoặc làm thân Sát-đế-lợi, làm thân tiểu quốc vương. Sát-đế-lợi (Kṣatriya) là chủng tánh (vara). Hoặc là chủng tánh Bà-la-môn (Brāhmaṇa), hoặc là Phiệt-xá. Phiệt-xá (Vaiśya) c̣n gọi là Phệ Xá, tức là công, nông, thương, cũng là chủng tánh thứ ba trong bốn loại chủng tánh (vara) của Ấn Độ. Bà-la-môn tôn quư nhất, Sát-đế-lợi là loại thứ hai, thuộc gịng vua chúa. Công, nông, thương là Phiệt-xá. Thú-đạt-la (Śūdra) là nô lệ, nô lệ là dân thấp kém nhất.

          Hoặc là hiện thân nam tử, tức thân trượng phu. Hoặc là hiện thân nữ nhân, hoặc thị hiện thân bé trai, bé gái. Hoặc là Kiện Đạt Phược (Gandharvas, CànThát Bà, ca thần), tức là thân thuộc tám bộ quỷ (Aṣṭasenā, thiên long bát bộ). Hoặc là A Tố Lạc (Asura, A Tu La), hoặc là Khẩn Nại Lạc (Kinara, Khẩn Na La, nhạc thần), hoặc làm Mạc Hô Lạc Già (Mahoraga, Ma Hầu La Già). Hoặc làm thân rồng, hoặc làm thân Dược Xoa, hoặc làm thân La Sát, hoặc làm thân Cưu Bạn Đồ (Kumbhāṇḍa, Cưu Bàn Trà), hoặc làm thân Tất Xá Giá (Piśāca), hoặc làm thân ngạ quỷ, hoặc làm thân Bố Đát Na (Pūtana), hoặc làm thân Yết Trá Bố Đát Na (Kaṭa-pūtana), hoặc làm thân quỷ Việt Đồ Ha Lạc, hoặc làm thân sư tử. Kế đó là các thân súc sanh, địa ngục v.v… Hoặc làm thân hương tượng[4], hoặc làm thân ngựa, hoặc làm thân trâu, hoặc làm thân các loại cầm thú, hoặc làm thân Diệm Ma Vương, hoặc làm thân ngục tốt trong địa ngục, hiện làm vô lượng vô số thân dị loại như thế.

          Địa Tạng Bồ Tát hiện rất nhiều thân trong địa ngục, ngay cả những thân hữu t́nh thọ tội, Ngài cũng thị hiện. Khi ấy, Ngài thị hiện thuyết pháp cho những người thọ khổ nạn ấy, họ sẽ nghe nhận. Ở trong nhà tù, vẫn là có hiển linh thuyết pháp. Ở đây, chúng tôi giảng về Địa Tạng Bồ Tát, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát cũng chẳng sao, điều quan trọng nhất là quư vị chí tâm. Niệm Quán Âm Bồ Tát cũng được, mà niệm Địa Tạng cũng như thế. Quán Thế Âm Bồ Tát, Địa Tạng Bồ Tát, Văn Thù, Phổ Hiền Bồ Tát, tùy tiện niệm bất cứ vị Bồ Tát nào, chỉ cần trong khi đó có thể niệm được rồi. Rất nhiều người vào lúc ấy đều chẳng thể niệm. Đặc biệt là vào lúc lâm chung mà có thể niệm, bất luận quư vị niệm danh hiệu của một vị Bồ Tát hay một vị Phật nào, thậm chí niệm một câu kệ tụng trong kinh điển Đại Thừa.

          Trong Cảm Ứng Lục, có một đoạn ghi như thế này: Có một người đến cửa địa ngục, ông ta chỉ niệm nửa câu “nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật” (nếu ai muốn biết rơ, ba đời hết thảy Phật), địa ngục chẳng c̣n nữa, ông ta cũng được cứu. Rất nhiều người khi sắp mạng chung, sau khi đọa địa ngục, hoặc là đọa làm ngạ quỷ, đọa vào súc sanh đạo, rất đáng tiếc là hoàn toàn quên bẵng Phật pháp. Quư vị có thể dùng giấc mộng để thể nghiệm, hăy xem là trong ấy quư vị c̣n có Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo hay không? Chỉ cần quư vị có một niệm, niệm ra được, ngay lập tức tỉnh mộng. Mọi người có làm thử hay không? Hoặc là niệm chú Đại Bi, bất luận quư vị niệm ǵ đi nữa, bèn tỉnh thức. Điều đáng tiếc là trong khi gấp rút, quư vị quên bẵng toàn bộ Phật pháp. Ngay lúc đó, hăy nên niệm Địa Tạng Bồ Tát, thế nhưng niệm chẳng thành! Khi ấy chẳng có niệm, lúc tỉnh mới nghĩ tới. Thường ngày quư vị chẳng dụng công, đến khi đó th́ làm sao được?

          Do vậy nói khi Địa Tạng Bồ Tát muốn độ chúng sanh, tùy thuộc người ấy đáng nên nghe pháp nào, đáng nên dùng thân nào để hóa độ, Ngài bèn hiện thân đó, cũng hiện thân ngục tốt trong địa ngục, cũng hiện thân Diệm vương gia, thậm chí c̣n hiện thân các chúng sanh chịu tội, vào chảo dầu, lên núi đao. Hoặc là khi thị hiện, Ngài sẽ niệm Địa Tạng Bồ Tát. Địa Tạng Bồ Tát cũng sẽ niệm Địa Tạng Bồ Tát, hoặc là Địa Tạng Bồ Tát sẽ lạy Địa Tạng Bồ Tát. Địa Tạng Bồ Tát c̣n phải lạy Địa Tạng Bồ Tát ư? Tôi kể một câu chuyện nhé.

          Tô Đông Pha và thiền sư Phật Ấn, hai người đến một ngôi chùa to. Tô Đông Pha thấy tượng Quán Thế Âm tay cầm một một xâu chuỗi, liền hỏi thiền sư Phật Ấn: “Bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát này cầm xâu chuỗi để làm ǵ nhỉ? Ngài c̣n phải niệm chi nữa!” Thiền sư Phật Ấn nói: “V́ sao Ngài chẳng cần phải niệm?” Tô Đông Pha hỏi: “Ngài niệm ai?” “Ngài niệm Quán Thế Âm Bồ Tát”. Nghe vậy, [Tô Đông Pha ngạc nhiên]: “Quán Thế Âm Bồ Tát c̣n phải niệm Quán Thế Âm Bồ Tát à?” Thiền sư Phật Ấn nói: “Đúng thế! Quán Thế Âm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát”. Tô Đông Pha lại hỏi: “Ngài có lạy Phật hay không?” Thiền sư đáp: “Lạy chứ!” “Lạy ai?” Thiền sư Phật Ấn nói: “Lạy Quán Thế Âm Bồ Tát”. Mọi người hăy suy nghĩ ư nghĩa là như thế nào vậy? Ngay lúc đó, Tô Đông Pha khai ngộ, có phải là đại khai ngộ hay không? Ngộ đôi chút, cầu người khác chẳng bằng cầu chính ḿnh!

          Do vậy, tôi nói với quư vị một lần nữa: Quư vị niệm Địa Tạng Bồ Tát là niệm chính ḿnh. Tâm quư vị là tâm Địa Tạng, tâm Địa Tạng là tâm của quư vị. Quư vị đă quên khuấy chính ḿnh, chẳng đặt chính ḿnh vào đó. Chỉ niệm suông Địa Tạng Bồ Tát, sức gia tŕ sẽ khá nhỏ. Trí huệ Bát Nhă của Địa Tạng Bồ Tát chiếu quư vị, trí huệ Bát Nhă của quư vị và trí huệ Bát Nhă của Địa Tạng Bồ Tát cùng kết hợp lại, tự tánh của quư vị sẽ được gọi là tự tánh Địa Tạng. Niệm nào cũng từ tâm khởi, niệm nào cũng trở về cái tâm. V́ thế, cầu người khác chẳng bằng cầu chính ḿnh.

          Tuy vậy, khi chính quư vị chưa linh, vẫn phải cầu người khác. Khi cầu người khác, hăy nghĩ đến chính ḿnh. Khi cầu chính ḿnh, tức là cầu người khác. Phải tưởng nhiều, quán nhiều, phải có công lực kha khá th́ mới có thể sanh ra tác dụng tương đương. Quư vị thường xuyên nghĩ như vậy, niệm Địa Tạng Bồ Tát là niệm chính ḿnh, niệm chính ḿnh cũng là niệm Địa Tạng Bồ Tát. Như vậy th́ quư vị sẽ mộng càng tốt đẹp hơn, sẽ mộng hết sức thù thắng. Mộng ǵ vậy? Đă tỉnh mộng, tất cả giấc mộng đều tỉnh. Nay chúng ta đang ở trong mộng, tôi ở nơi đây nói mớ, quư vị ở nơi đây nghe trong mộng. Đợi đến khi tôi cũng chẳng nói mớ, quư vị cũng không nghe trong mộng, mọi người đều thành tựu cả rồi. Chúc mọi người cát tường, sớm có ngày thành tựu.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Như thị Đại Sĩ thành tựu như thị bất khả tư nghị chư công đức pháp, thị chư thù thắng công đức phục tạng, thị chư giải thoát trân bảo xuất xứ, thị chư Bồ Tát minh tịnh nhăn mục, thị thú Niết Bàn thương nhân đạo thủ, như thị năi chí năng vô công dụng chuyển đại pháp luân, như tiền quảng thuyết.

          ()善男子,如是大士,成就如是不可思議諸功德法,是諸殊勝功德伏藏,是諸解脫珍寶出處,是諸菩薩明淨眼目,是趣涅槃商人導首,如是乃至能無功用轉大法輪,如前廣說。

          (Kinh: Này thiện nam tử! Vị Đại Sĩ như thế thành tựu các pháp công đức chẳng thể nghĩ bàn như thế, là kho tàng các công đức thù thắng, là chỗ sanh ra các của báu giải thoát, là mắt sáng sạch của các Bồ Tát, là người hướng dẫn cho các thương nhân đạt đến Niết Bàn, cho đến có thể vô công dụng chuyển đại pháp luân như thế, như đă nói rộng trên đây).

 

          Đấy là bốn mươi hai loại thân của Địa Tạng Bồ Tát như đă nói trên đây, đáng nên dùng thân ǵ để đắc độ, bèn thị hiện thân ấy để thuyết pháp. Ở đây, chỉ nêu ra những loại lớn, trong mỗi loại c̣n có vô lượng thân. Như là thị hiện làm các hữu t́nh trong địa ngục, địa ngục quá nhiều. Chúng ta niệm kinh Địa Tạng, [sẽ thấy] địa ngục nhiều dường ấy, Ngài có thể thị hiện các loại thân h́nh. Chỉ đành nói công đức của Địa Tạng Bồ Tát là chẳng thể nghĩ bàn. Tán thán công đức của Địa Tạng Bồ Tát để khiến cho tâm mọi người chúng ta hướng về, mong cầu Bồ Tát gia tŕ. Trong phần trước, tôi đă nói: Đấy cũng là cầu tâm lực của chính quư vị gia tŕ. Nhưng ắt cần phải đối cảnh, tâm đối cảnh mới sanh. Đối với cảnh, tức Địa Tạng Bồ Tát, bèn duyên niệm Địa Tạng Bồ Tát, tâm quư vị bèn chuyển biến thành Địa Tạng Bồ Tát, hiệu quả sẽ như thế nào? Theo như tôi liễu giải, tâm thành bèn linh.

          Mấy hôm nay, các đạo hữu ở Đài Loan gọi điện thoại cho tôi hai lượt, nói có hai người bệnh hết sức nguy ngập, bác sĩ cho là chẳng c̣n có mảy may cách nào chữa trị được nữa. Cha của một vị cư sĩ đă vào bệnh viện, cần phải giải phẫu, nhưng bác sĩ chẳng dám mổ, nói là rất nguy hiểm. Vị cư sĩ ấy gọi điện thoại cho tôi, tôi bảo: “Chính ông hăy chí thành niệm, niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát là được rồi”. Khi ấy, chỉ có niệm thánh hiệu. V́ như trong kinh văn phần trước đă nói, chỉ cần xưng thánh hiệu, nhất tâm nhất ư, chí tâm xưng niệm thánh niệm, hiệu quả sẽ tốt đẹp. C̣n có một vị cư sĩ khác có chị phải đưa vào bệnh viện Trường Canh ở Lâm Khẩu, bệnh t́nh cũng rất nguy ngập, bác sĩ chẳng dám giải phẫu, nhưng lại cần phải mổ. Cô ta ở Đài Bắc, vốn đă theo tôi bái sám rất nhiều lần, nhưng trong t́nh huống này, tôi yêu cầu cô ta ngưng lại, hồi hướng cho chị. Hai ngày gần đây, họ đều gọi điện thoại báo tin: “Hiệu quả rất tốt, sau khi mổ rất b́nh an”. Quư vị nói xem: Có hiệu nghiệm hay là không? Địa Tạng Bồ Tát có thật sự hiện thân hay không? Chẳng hiện! Rốt cuộc, họ phẫu thuật xong, b́nh an vô sự, bệnh được lành. Đấy là sự thật. Trước kia, chúng tôi nói quá nhiều chủng loại, thậm chí ngũ cốc, hoa cỏ, cây cối. Đấy trọn chẳng phải là Bồ Tát quản quá nhiều chuyện, mà đều là do cái tâm của chúng ta khởi lên biến hóa. Trong khi thân nhân của chính quư vị phát sanh nguy nan, nếu người ấy là đệ tử tin Phật, hiệu quả sẽ càng tốt đẹp hơn. Nếu họ chẳng tin Phật, phải dựa vào sức gia tŕ khác, hiệu quả chẳng nhất định sẽ xác thực, chắc chắn. Nhưng nếu có cái tâm khẩn thiết, vẫn có thể thâu được hiệu quả. V́ thế, nói “cầu sư phụ gia tŕ”, vị sư phụ nào gia tŕ được?

          Trong phần trên, chúng tôi đă nói: “Cầu người chẳng bằng cầu ḿnh”. Quán Thế Âm Bồ Tát c̣n lạy Quán Thế Âm Bồ Tát, tức là ư nghĩa này. Có gia tŕ hay không? Đương nhiên là có. Khi quư vị thỉnh mấy vị sư phụ niệm kinh, hoặc là mời vị sư phụ quy y của chính quư vị trong khi bái sám hăy hồi hướng th́ cũng được. Nhưng công đức ấy không nhất định là của sư phụ, mà đa số là từ thân nhân của chính ḿnh, cũng như do sự quan tâm của chính ḿnh. Nếu ḷng đại bi của vị sư phụ ấy không trọn đủ, như tôi chẳng hạn, tôi không nhất định rất quan tâm người ấy, lại c̣n do người khác gọi điện thoại giới thiệu, trước nay tôi chưa từng gặp gỡ, tôi có quan tâm cũng chỉ có thể nghĩ tưởng tên họ của người ấy, duyên niệm Địa Tạng Bồ Tát từ bi, cầu Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ, quán tưởng [như vậy], hoàn toàn chẳng bằng bản thân người ấy cầu. Nếu có thể chí tâm xưng niệm Địa Tạng Bồ Tát, quy kính, cúng dường danh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, hết thảy phiền năo, hết thảy bệnh khổ, tai nạn đều tiêu diệt. Nêu ra những điều này chỉ nhằm tăng thêm tín tâm cho mọi người mà thôi!

          Công đức ấy do tu vô lượng kiếp mà có, đấy là Địa Tạng Bồ Tát. “Như thị Đại Sĩ” (vị Đại Sĩ như thế) là nói đức Địa Tạng Bồ Tát. Ngài thành tựu công đức chẳng thể nghĩ bàn như thế, lợi ích hết thảy chúng sanh, phương tiện thiện xảo. Tất cả chúng ta đều được lợi ích là do công đức của Địa Tạng Bồ Tát. Ngài có công đức chẳng thể nghĩ bàn đến mức độ nào? Giống như kho báu, như kho tàng ẩn kín, chỉ cần quư vị khai quật là có. Dùng cách nào để khai quật? Khi xưng danh hiệu tức là khai quật. Chỉ cần quư vị chí thành khẩn thiết niệm “Nam-mô Địa Tạng Bồ Tát”, cho đến dùng ḷng chí tâm niệm đều được. Nói “dùng ḷng chí tâm” tức là khi niệm thánh hiệu Địa Tạng Bồ Tát, bèn niệm đến mức phân minh, rành rẽ, chẳng hôn trầm, chẳng tán loạn, tâm chính ḿnh rơ ràng, sáng suốt, niệm từng chữ như thế. Trong khi quư vị niệm, sẽ tương thông Địa Tạng Bồ Tát, chuyện mong cầu sẽ nẩy sanh hiệu quả. Quư vị phải cảm tạ ai? Phải cảm tạ Địa Tạng Bồ Tát.

          “Thị chư thù thắng công đức phục tạng” (là kho tàng của các công đức thù thắng): Đấy là nói h́nh dung, h́nh dung công đức thù thắng của Ngài giống như kho báu. Kho báu ấy chứa đựng công đức lợi ích chúng sanh.

          “Thị chư giải thoát trân bảo xuất xứ” (là nơi sanh ra các của báu giải thoát): Bản thân của giải thoát chính là trân bảo. Điều này vô h́nh, vô tướng, phải như thế nào th́ mới có thể giải thoát? Không, Vô Tướng, Vô Nguyện, rốt ráo giải thoát. Trong khi chúng ta cầu, chẳng có năng cầu (chủ thể cầu nguyện) và sở cầu (điều mong cầu), đến lúc ấy sẽ giải thoát, giống như trân bảo vậy. “Trân bảo” là cách nói h́nh dung để h́nh dung sự giải thoát. Địa Tạng Bồ Tát là chỗ sanh ra của báu giải thoát. Nếu chúng ta mong cầu trân bảo, cầu Địa Tạng Bồ Tát, sẽ giống như lúc Địa Tạng Bồ Tát vừa mới đến hội này, tất cả hết thảy chúng sanh trong hội Đại Tập đều thấy trên hai tay hiện ra Ma Ni bảo châu. Ma Ni bảo châu xuất hiện vô lượng trân bảo. V́ thế, Địa Tạng Bồ Tát là hết thảy các món trân bảo giải thoát.

          “Thị chư Bồ Tát thanh tịnh nhăn mục” (là mắt thanh tịnh của các Bồ Tát) tức là pháp nhăn thanh tịnh. Chúng ta hăy xem xét vấn đề này: Mắt là thứ vẩn đục, chẳng phân biệt rơ ràng đúng, sai. Nếu nhận được bưu kiện gởi tới, biết bưu kiện ấy là bom, quư vị sẽ tuyệt đối chẳng mở ra. V́ chẳng biết đấy là họa hay phước, [nên mới mở ra]. Khi chúng ta thấy hảo sự, trong tâm vui sướng khôn cùng. Thật ra, đấy là họa căn. Như ở Đài Loan rất chú trọng sanh con, nghĩ đó là hạnh phúc. Nó trưởng thành, làm cho quư mắc họa, khuynh gia bại sản, đó là họa căn! Quư vị làm sao biết nổi? Căn bản là chẳng biết! V́ chẳng có con mắt thanh tịnh, đó là nói theo phương diện thế gian.

          Nói theo Phật pháp, pháp nào khiến cho quư vị có thể khai ngộ, có thể giải thoát, có thể thành tựu? Ta chẳng có loại pháp nhăn ấy, chẳng biết đời trước chúng ta tu ǵ. Do vậy, bèn ṃ mẫm. Vị sư phụ này giảng kinh, quư vị cũng nghe. Vị sư phụ kia bảo quư vị niệm Phật, quư vị cũng niệm. Vị sư phụ khác bảo niệm Địa Tạng Bồ Tát, quư vị cũng hành tŕ. Bảo niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, quư vị cũng niệm theo. Vị Bồ Tát nào mới thích ứng căn cơ của quư vị? Cứ phải thử, v́ quư vị chẳng có sự sáng suốt ấy. “Minh” là có trí huệ, “tịnh” có nghĩa thanh tịnh. Đấy là pháp nhăn, mà cũng là pháp nhăn thanh tịnh. Pháp nhăn thanh tịnh th́ đối với hết thảy các pháp, quư vị có thể thấy bản thể của các pháp. Điều này cũng rất sâu, hết thảy các pháp vốn bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh. Phải đạt tới loại cảnh giới này th́ mới là rốt ráo; đấy là thanh tịnh nhăn mục. Vậy th́ Địa Tạng Bồ Tát chính là hết thảy các vị Bồ Tát. Quư vị muốn liễu sanh tử, muốn cầu Phật pháp, muốn cầu khai ngộ, muốn chứng đắc giải thoát, Địa Tạng Bồ Tát sẽ giúp đỡ, gia tŕ quư vị, khiến cho quư vị sáng mắt, sáng ḷng.

          “Thị thú Niết Bàn thương nhân đạo thủ” (là người hướng dẫn thương nhân đến Niết Bàn): Niết Bàn có nghĩa là “bất sanh, bất diệt”. Nay mọi người đều mong hướng đến Niết Bàn. Hướng đến Niết Bàn là liễu sanh tử. Liễu sanh tử, sẽ chứng đắc rốt ráo giải thoát, giống như thương nhân muốn vào biển thâu nhặt của báu, phải có người chỉ dẫn, giúp đỡ. Muốn tiến hướng Niết Bàn, cũng ắt phải có đạo sư (導師, người dẫn đường, người hướng đạo). T́m ai đây? T́m Địa Tạng Bồ Tát! Địa Tạng Bồ Tát là người hướng dẫn tiến đến Niết Bàn, giống như thương nhân vào biển thâu thập của báu [có người kinh nghiệm hướng dẫn].

          “Như thị năi chí năng vô công dụng chuyển đại pháp luân, như tiền quảng thuyết” (như thế cho đến có thể vô công dụng chuyển đại pháp luân, như trong phần trước đă nói cặn kẽ): V́ sao ta ở nơi giải thoát trân bảo này, mong đạt được Không, Vô Tướng, Vô Nguyện? V́ khi Địa Tạng Bồ Tát làm những chuyện ấy, Ngài chẳng nhờ vào công dụng, chẳng cậy vào tu vi[5], mà có thể khiến cho những điều chúng ta mong cầu đều đạt được. Chúng ta cầu Địa Tạng Bồ Tát, niệm kinh Địa Tạng, cho đến xưng thánh hiệu, đạt được những điều chúng ta mong cầu, chuyển hóa hoàn cảnh. Địa Tạng Bồ Tát cũng chẳng phóng quang, mà cũng chẳng hiện thân. Có người nói sẽ phóng quang, sẽ hiện thân, sẽ thấy thụy tướng, nhưng đều chẳng có, chỉ cần đạt được mục đích mong cầu là được rồi. Đó gọi là “vô công dụng”. Khi chúng ta tu hành, có thể chẳng cậy vào công dụng mà tự nhiên thành tựu, chuyện ấy rất khó! Địa Tạng Bồ Tát chuyển đại pháp luân, chẳng cần phải tác ư. Trong một niệm, nơi vô lượng thế giới, Ngài thị hiện vô lượng thân h́nh, độ vô lượng chúng sanh, trong cùng một thời gian mà nhanh chóng hiện ra. Đấy là “vô công dụng”. Do trong phần trước đă nói rất nhiều, nên bảo là “như tiền quảng thuyết”.

 

          (Kinh) Thiện nam tử! Giả sử hữu nhân, ư kỳ Di Lặc, cập Diệu Cát Tường, tịnh Quán Tự Tại, Phổ Hiền chi loại, nhi vi thượng thủ, Căng Già sa đẳng chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát sở, ư bách kiếp trung, chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường, cầu chư sở nguyện, bất như hữu nhân ư nhất thực khoảnh, chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, cầu chư sở nguyện, tốc đắc măn túc.

          ()善男子,假使有人於其彌勒,及妙吉祥,並觀自在、普賢之類而為上首,殑伽沙等諸大菩薩摩訶薩所,於百劫中至心歸依,稱名、念誦、禮拜、供養,求諸所願,不如有人於一食頃,至心歸依,稱名、念誦、禮拜、供養地藏菩薩,求諸所願,速得滿足。

          (Kinh: Này thiện nam tử! Giả sử có người ở chỗ các vị đại Bồ Tát Ma Ha Tát như Di Lặc, và Diệu Cát Tường, cùng với Quán Tự Tại, Phổ Hiền là các bậc thượng thủ, nhiều như cát sông Hằng, trong một trăm kiếp, chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường, mong cầu các nguyện, th́ chẳng bằng có kẻ trong khoảng một bữa ăn, chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, các điều nguyện cầu sẽ được nhanh chóng thỏa nguyện).

 

          “Thiện nam tử” là danh xưng đức Phật dùng để gọi Vô Cấu Sanh Thiên Đế Thích. Đức Phật bảo Vô Cấu Sanh Thiên Đế Thích: Giả sử có một nam tử phát khởi thiện tâm, khi mong cầu giải thoát, đă cầu Di Lặc Bồ Tát, hoặc Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Diệu Cát Tường là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát), hoặc là cầu Quán Tự Tại Bồ Tát, hoặc cầu Phổ Hiền Bồ Tát. Không chỉ là cầu một, hai vị, mà là cầu các vị Đại Bồ Tát Ma Ha Tát nhiều như cát sông Hằng, cầu các vị Bồ Tát nhiều ngần ấy trong thời gian bao lâu? Cầu suốt một trăm kiếp. Nếu quư vị chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, cúng dường các vị Bồ Tát ấy như thế, chẳng bằng “ư nhất thực khoảnh”, “nhất thực khoảnh” là thời gian ăn một bữa cơm, chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, lễ bái, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát. Những điều người ấy cầu nguyện sẽ có thể nhanh chóng được thỏa nguyện, chẳng cần thời gian dài cả trăm kiếp như thế! Đức Phật vẫn sợ Vô Cấu Sanh Thiên Đế Thích hoài nghi, bèn giải thích thêm lần nữa. V́ sao ta nói như vậy? Đấy là so lường công đức, tức là so sánh giữa Địa Tạng Bồ Tát với Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Bồ Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát, hoặc là Phổ Hiền Bồ Tát. Nếu nói so sánh, th́ cầu Địa Tạng Bồ Tát sẽ được măn nguyện nhanh hơn, do nguyên nhân nào?

 

          (Kinh) Sở dĩ giả hà? Địa Tạng Bồ Tát lợi ích an lạc nhất thiết hữu t́nh, linh chư hữu t́nh sở nguyện măn túc, như Như Ư bảo, diệc như phục tạng. Như thị Đại Sĩ, vị dục thành thục chư hữu t́nh cố, cửu tu kiên cố đại nguyện, đại bi, dũng mănh, tinh tấn quá chư Bồ Tát. Thị cố, nhữ đẳng ưng đương cúng dường.

          ()所以者何?地藏菩薩利益安樂一切有情,令諸有情所願滿足,如如意寶,亦如伏藏。如是大士,為欲成熟諸有情故,久修堅固大願大悲,勇猛精進過諸菩薩,是故汝等應當供養。

          (Kinh: V́ cớ sao vậy? Địa Tạng Bồ Tát lợi ích an lạc hết thảy hữu t́nh, khiến cho các nguyện cầu của hữu t́nh được thỏa măn, như báu Như Ư, cũng như kho tàng. Vị Đại Sĩ như thế v́ muốn thành thục các hữu t́nh, cho nên tu đại nguyện, đại bi kiên cố đă lâu, dũng mănh, tinh tấn vượt hẳn các vị Bồ Tát khác. Do vậy, các ông hăy nên cúng dường).

 

          “Sở dĩ giả hà?” (v́ cớ sao vậy) mang ư nghĩa gạn hỏi: V́ Địa Tạng Bồ Tát lợi ích yên vui hết thảy hữu t́nh, khiến cho các điều mong cầu của hữu t́nh được thỏa măn giống như Như Ư Bảo Châu, như “phục tạng” (, kho tàng) đă nói trong phần trước? Ngài tàng trữ vô lượng tâm nguyện. Vị Đại Sĩ Địa Tạng Bồ Tát này “vị dục thành thục nhất thiết hữu t́nh, cửu tu kiên cố đại nguyện đại bi, dũng mănh, tinh tấn” (v́ muốn thành thục hết thảy hữu t́nh, tu đại nguyện, đại bi kiên cố đă lâu, dũng mănh, tinh tấn), Ngài tu đại bi, dũng mănh tinh tấn. “Quá chư Bồ Tát” nghĩa là vượt xa các vị Bồ Tát đă nói trong phần trước như Di Lặc, Diệu Cát Tường, Phổ Hiền. “Thị cố nhữ đẳng ưng đương cúng dường” (do vậy, các ông hăy nên cúng dường), chúng tôi giải thích câu này nhiều hơn. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, cho đến Quán Thế Âm Bồ Tát, đấy là bốn vị đại Bồ Tát chúng ta quen thuộc nhất. Pháp chúng ta học, nói theo cơi này, tức là thế giới Sa Bà, chẳng phải là của Di Lặc Bồ Tát, th́ cũng là của Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, hay Phổ Hiền Bồ Tát. V́ sao đức Phật dùng bốn vị đại Bồ Tát này để so sánh? V́ nay đang nói kinh Thập Luân, chẳng phải là nói kinh Đại Bát Nhă. Nếu giảng kinh Đại Bát Nhă, chỉ có Diệu Cát Tường Bồ Tát, tức là chỉ hiển thị Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát. Nếu giảng kinh Di Lặc Thượng Sanh, sẽ chỉ có Di Lặc Bồ Tát. Nay chúng ta đang nói kinh Thập Luân, cho nên khi giảng một bộ kinh nào, muốn đề cao một vị Bồ Tát nào, đức Phật sẽ dùng các vị Bồ Tát khác để so sánh, đó là Hiển, ḥng làm cho quư vị sanh khởi tâm thù thắng, v́ tâm chúng sanh phân biệt đặc biệt nặng nề. Vị nào công đức to lớn, người ta sẽ t́m vị đó, họ nghĩ như thế đó.

          Thật ra, cầu người chẳng bằng cầu ḿnh, quư vị phải nên hiểu đạo lư này. Địa Tạng Bồ Tát so với Quán Thế Âm Bồ Tát và Văn Thù Bồ Tát, vị nào công đức to hơn? Văn Thù Bồ Tát đă thành Phật trong quá khứ, nay [thị hiện] vẫn chưa thành Phật, thị hiện làm thân Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát trong quá khứ cũng đă thành Phật, các Ngài đều là Cổ Phật. Nhưng trong tâm phàm phu, chúng ta sẽ dấy lên cái tâm phân biệt.

          Khi giảng bộ kinh này, đức Phật đặc biệt đề cao Địa Tạng Bồ Tát, nói Ngài nguyện lực kiên cố, tâm đại bi mạnh mẽ. Quán Thế Âm Bồ Tát là Đại Bi Quán Thế Âm, tâm đại bi y hệt. Do chúng ta hiện thời đang học kinh Thập Luân, cho nên đức Phật đặc biệt đề cao công đức của Địa Tạng Bồ Tát. Chúng sanh được Địa Tạng Bồ Tát hóa độ, chốn Ngài đến, nơi chúng sanh được độ là trong tam ác đạo, điều này rất thù thắng, chẳng lẽ Quán Thế Âm Bồ Tát không phải là như vậy hay sao? Ngạ quỷ Diệm Nhiên Đại Sĩ trong lễ cúng Diệm Khẩu chẳng phải do Quán Thế Âm Bồ Tát hóa hiện đó sao? Phật Phật đạo đồng, trọn chẳng phải là A Di Đà Phật cao hơn Thích Ca Mâu Ni Phật, cũng chẳng phải là Phật Dược Sư cao hơn Thích Ca Mâu Ni Phật. Nếu chẳng có Thích Ca Mâu Ni Phật, chúng ta cũng chẳng biết Phật Dược Sư là ǵ, A Di Đà Phật là ǵ? Có người niệm A Di Đà Phật, quên tuốt Thích Ca Mâu Ni Phật. Có người chỉ biết A Di Đà Phật, ngay cả Thích Ca Mâu Ni Phật cũng chẳng hiểu rành cho mấy! Phật chẳng có chướng ngại đố kỵ, chẳng giống như phàm phu. Chúng ta sẽ nói: “Tôi giới thiệu cho quư vị, vậy mà quư vị quên tuốt tôi. Quư vị chỉ niệm vị ấy, chẳng thèm niệm tôi!” Đó chẳng gọi là Phật!

          Ư của tôi là trong khi đọc tụng bộ kinh này, hăy chí tâm quy y, xưng danh, niệm tụng, cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, v́ Địa Tạng Bồ Tát thệ nguyện kiên cố, dũng mănh, tinh tấn, vượt xa Di Lặc, Diệu Cát Tường, Quán Tự Tại, Phổ Hiền. Đức Phật cũng nói lời thành thật, trọn chẳng nói dối, nhưng trong bộ kinh này, Ngài đặc biệt nêu bày Địa Tạng Bồ Tát. Nếu nói theo kinh Địa Tạng, ngay cả Văn Thù Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát cũng đều tán thán Địa Tạng Bồ Tát. Nếu niệm phẩm Phổ Môn, [quư vị sẽ thấy kinh văn dạy] cúng dường sáu mươi hai ức Hằng Hà sa Bồ Tát nhiều ngần ấy, chẳng bằng cúng dường Quán Thế Âm trong khoảng một bữa ăn, ư nghĩa như nhau!

          Sở dĩ tôi nói như vậy v́ có đạo hữu đang hiện diện ở đây tụng phẩm Phổ Môn, cũng có vị niệm Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm. Nếu như nói: Chỉ cần niệm kinh Thập Luân là được rồi, v́ công đức của Địa Tạng Bồ Tát to tát dường ấy, đều vượt hơn các vị kia”. Sai lầm mất rồi! Bồ Tát đều như nhau, công đức đều như nhau. Đối với vị Bồ Tát này, chúng ta học theo đôi chút, sẽ có thể thọ dụng thành tựu.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, thập phương chư lai đại chúng, nhất thiết Bồ Tát Ma Ha Tát, cập chư Thanh Văn, thiên, nhân, Dược Xoa, Kiện Đạt Phược đẳng, giai tùng ṭa khởi, tùy lực sở tác, các tŕ chủng chủng kim, ngân đẳng tiết, chúng bảo hoa, hương, phụng tán Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, phục tŕ chủng chủng thượng diệu y phục, mạt-ni bảo châu, chân châu hoa man, chân châu anh lạc, kim ngân bảo lũ, tràng, phan, cái đẳng, phụng thượng Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Phục dĩ vô lượng thượng diệu âm nhạc, chủng chủng tán tụng, cung kính cúng dường Địa Tạng Bồ Tát.         

          ()爾時,十方諸來大眾,一切菩薩摩訶薩,及諸聲聞、天人、藥叉、健達縛等,皆從座起,隨力所作,各持種種金銀等屑、眾寶華香,奉散地藏菩薩摩訶薩。復持種種上妙衣服、末尼寶珠、真珠華鬘、真珠瓔珞、金銀寶縷、幢幡蓋等,奉上地藏菩薩摩訶薩。復以無量上妙音樂,種種讚頌,恭敬供養地藏菩薩。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, đại chúng từ mười phương đến, hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát và các vị Thanh Văn, trời, người, Dược Xoa, Kiện Đạt Phược v.v… đều từ chỗ ngồi đứng dậy, tùy theo sức ḿnh, ai nấy cầm các loại mảnh vàng, bạc v.v… các hoa, hương báu, dâng rải lên Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Lại cầm các thứ y phục tốt đẹp nhất, bảo châu Mạt-ni, tràng hoa chân châu, chuỗi anh lạc chân châu, các sợi dây báu bằng vàng, bạc, tràng, phan, lọng v.v… dâng lên Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. Lại dùng vô lượng âm nhạc thượng diệu, các thứ tán tụng để cung kính cúng dường Địa Tạng Bồ Tát).   

 

          “Nhĩ thời thập phương chư lai đại chúng” (lúc bấy giờ, các đại chúng từ mười phương đến): Hội Đại Tập này chẳng thể tính đếm số lượng, các vị Bồ Tát cũng là chẳng thể tính số lượng, chẳng thể dùng con số để biết trong ấy có bao nhiêu vị Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác. Hội thuyết pháp của đức Phật đều là như thế. Các đại chúng từ mười phương đến dự hội, tức là hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát, cũng như Thanh Văn, chư thiên, Dược Xoa, tám bộ quỷ thần, nghe đức Phật tán thán Địa Tạng Bồ Tát đều từ chỗ ngồi đứng dậy. “Tùy lực sở tác” là trọn hết sức ḿnh, sức có bao nhiêu, bèn cúng dường bấy nhiêu. Cúng dường những ǵ? Chính là “kim, ngân đẳng tiết, chúng bảo hoa, hương, phụng tán Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát” (các mảnh vàng, bạc v.v… các hương, hoa báu, dâng rải lên Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát), tận hết sức ḿnh cúng dường Địa Tạng Bồ Tát. Trong mỗi pháp hội, Bồ Tát cho đến chư Phật sẽ đều cúng dường. Ở trong hội, vào lúc ấy, chư Phật đến từ phương khác đều cúng dường Thích Ca Mâu Ni Phật, và cũng cúng dường Địa Tạng Bồ Tát, từ chỗ ngồi đứng lên, nghe đức Phật tán thán Địa Tạng Bồ Tát, liền tùy theo sức kham nổi, chẳng quay về [cơi ḿnh] để sắm sửa, mà cũng là trên ḿnh có đem theo ǵ [bèn dâng ra]. “Tùy lực sở tác” cúng dường là như thế đó, mọi người đều dùng những thứ như vàng, bạc, châu báu chẳng hạn để dâng hiến Địa Tạng Bồ Tát.

          C̣n có người “tŕ chủng chủng thượng diệu y phục” (cầm các thứ y phục tốt đẹp). Thượng diệu y phục th́ như trong kinh Địa Tạng và trong hết thảy các kinh luận đều nói như vậy. Khi sắp mặc quần áo mới, hăy cúng dường Địa Tạng Bồ Tát trước. Khi sắp ăn món ngon, đều nên cúng dường Địa Tạng Bồ Tát trước. Cho đến cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, đều là như thế. Ngay cả món đồ chơi mới mua về, cũng cúng dường Bồ Tát trước. Phàm những thứ quư vị cho là đồ tốt, muốn sử dụng, đều cúng dường Bồ Tát trước đă. Nếu dưỡng thành thói quen ấy, công đức của quư vị sẽ là chẳng thể nghĩ bàn.

          Tiếp đó, c̣n có mạt-ni (ma-ni) bảo châu, tràng hoa chân châu, chuỗi anh lạc bằng chân châu, dây báu vàng, bạc, tràng, phan, lọng báu, dâng lên Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát. C̣n có vô lượng âm nhạc và nhạc cụ thượng diệu, hoặc xướng những bài ca, hoặc xướng những bài tán tụng, cho đến các thứ tán tụng để cung kính cúng dường Địa Tạng Bồ Tát. Nhưng sau khi Địa Tạng Bồ Tát tiếp nhận những thứ cúng dường ấy, Ngài sẽ làm như thế nào? Trong phẩm Phổ Môn, Vô Tận Ư Bồ Tát cúng dường Quán Thế Âm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát chẳng nhận. Vô Tận Ư Bồ Tát lại thỉnh, sau đấy, c̣n phải nhờ đức Phật nhắc nhở Quán Thế Âm Bồ Tát thương xót Vô Tận Ư Bồ Tát và đại chúng tham dự pháp hội, Quán Thế Âm Bồ Tát mới tiếp nhận. Nhận xong, Quán Thế Âm Bồ Tát liền đem vật được cúng dường chia thành hai phần, một phần dâng lên tháp Đa Bảo, một phần cúng dường Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong hội này, chỉ có đức Phật hiện diện, cho nên Địa Tạng Bồ Tát đem tất cả những vật cúng, tức là tất cả các vật dụng của mọi người, đều dâng lên đức Thế Tôn. Không chỉ là cúng dường, mà c̣n nói kệ tán tụng.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, tŕ thử chủng chủng thượng diệu cúng cụ hồi phụng Thế Tôn, nhi thuyết tụng viết: “Thiên, nhân, long, thần sở cúng dường, thập phương Bồ Tát giai lai phụng. Văn cứu thế hữu đại công đức, duy nguyện thọ ngă tối thắng cúng”.

          ()爾時,地藏菩薩摩訶薩持此種種上妙供具,回奉世尊,而說頌曰:「天人龍神所供養,十方菩薩皆來奉,聞救世有大功德,唯願受我最勝供。」

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát lại cầm thứ cúng dường thượng diệu dâng lên đức Thế Tôn, bèn nói kệ tụng rằng: “Trời, người, rồng, thần đă cúng dường, mười phương Bồ Tát đến dâng hiến, nghe đấng Cứu Thế công đức lớn, kính xin nhận đồ cúng tối thắng”).

 

          Những vật cúng con cầm trên tay là do trời, người, rồng, thần, mười phương Bồ Tát dâng hiến cho con, con lại kính dâng lên đức Thế Tôn. Ai nấy đều biết đức Thế Tôn là đấng cứu thế công đức to lớn, kính mong tiếp nhận vật cúng tối thắng của con. Họ cúng dường con, cho nên con lại đem cúng dường đức Thế Tôn.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát thuyết thị tụng dĩ, đảnh lễ Phật túc. Ư thị, Thế Tôn phục thuyết tụng viết:

            ()爾時,地藏菩薩摩訶薩說是頌已,頂禮佛足。於是世尊復說頌曰。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát nói bài tụng ấy xong, đảnh lễ dưới chân đức Phật. Ngay khi đó, đức Thế Tôn lại nói kệ tụng rằng).

 

          Sau khi Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát nói bài kệ tụng ấy rồi, đảnh lễ dưới chân đức Phật, trở về chỗ ngồi. Khi đó, đức Phật lại nói kệ tụng để xưng dương Địa Tạng Bồ Tát.

 

          (Kinh) Khởi kiên cố huệ thanh tịnh tâm, diệt chư hữu t́nh vô lượng khổ. Thí chúng diệu lạc như bảo thủ, năng đoạn Hoặc vơng như kim cang, khởi đại bi huệ cụ tinh tấn, thiện tŕ diệu cúng phụng Thế Tôn. Dĩ hải trí cứu khổ chúng sanh, đăng chư thú hữu vô úy ngạn.

            ()起堅固慧清淨心,滅諸有情無量苦,施眾妙樂如寶手,能斷惑網如金剛。起大悲慧具精進,善持妙供奉世尊,以海智救苦眾生,登諸趣有無畏岸。

          (Kinh: Dấy tâm thanh tịnh, huệ kiên cố, diệt vô lượng khổ cho hữu t́nh. Như tay báu thí các diệu lạc, như kim cang cắt đứt lưới Hoặc, dấy đại bi huệ, trọn tinh tấn, khéo dùng diệu cúng hiến Thế Tôn, dùng biển trí cứu chúng sanh khổ, độ các đường lên bờ vô úy).

 

          Đức Phật nói: “Cúng dường rất khéo. Ông có trí huệ kiên định chẳng đổi dời, chứng đắc các pháp tánh”. Chẳng phải là chúng ta nói đến cảnh giới Nhất Thật ư? Cái tâm trong cảnh giới Nhất Thật chính là chân tâm, mà cũng là diệu minh chân tâm. Đồng thời, ông có thể diệt vô lượng khổ nạn của hết thảy hữu t́nh, bố thí những thứ âm nhạc tột bậc vi diệu. “Bảo thủ” (tay báu) là tay mầu nhiệm khảy các âm nhạc, mà cũng có thể đoạn trừ hết thảy nghi hoặc của chúng sanh giống như kim cang. Kim cang trí có thể đoạn hết thảy lưới phiền năo. “Khởi đại bi huệ cụ tinh tấn” (dấy trí huệ đại bi có tinh tấn), [ư nói] có tâm đại bi trí huệ độ chúng sanh. Lại c̣n độ suốt một thời gian dài dường ấy, tinh tấn chẳng lười nhác.

          “Thiện tŕ diệu cúng phụng Thế Tôn” (khéo cầm đồ cúng mầu nhiệm dâng lên đức Thế Tôn): Những thứ cúng dường của ông rất vi diệu. Khi vị đại Bồ Tát này chuyển dâng cúng dường đức Phật, tất cả những phẩm vật cúng dường trải qua sự biến hóa, hợp tất cả bảo vật thành một lọng báu, hoặc một tràng phan, chẳng phải là vật chất ban đầu. Như mọi người cúng dường Phật, chúng ta chỉ thấy là táo, trái cây, hoặc là lê, hoặc là hương, hoa, nhưng qua sự chuyển hóa cúng dường, những thứ hoa, hương bèn trọn khắp mười phương thế giới. Nếu quư vị cúng dường, đă đọc lời đại nguyện thứ ba trong phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, tức “quảng tu cúng dường” th́ khi quư vị đặt tràng hoa trong giỏ hoa để cúng dường đức Phật, nếu quư vị biết cúng dường như thế nào, nhất định sẽ tu quán tưởng. Các vị đạo hữu hăy nên tu như thế. Nếu chưa hề tu, tôi sẽ nhắc lại đôi chút.       

          Quư vị phải quán tưởng tràng hoa ấy, đừng nghĩ nó chỉ lớn chừng đó. Hăy dùng tâm lực của quư vị, khiến cho trọn hư không, khắp pháp giới đều biến thành tràng hoa ấy. Tràng hoa ấy thoạt nh́n dường như chỉ cúng dường trong thế giới Sa Bà này, hoặc cúng tại Ôn Ca Hoa (Vancouver), nhưng nó đă trọn khắp thế giới Sa Bà, sẽ đến tận thế giới Cực Lạc cúng dường Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, cũng đến thế giới của Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai ở phương Đông. Nếu chúng ta chẳng biết nhiều lắm, chỉ biết Tây Phương A Di Đà Phật, mọi người rất quen thuộc nơi ấy, hoặc là Đông Phương Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai, v́ chúng ta thường niệm kinh Dược Sư, hoặc là chư Phật trong thượng phương hay thập phương, thậm chí lạy Chiêm Sát Sám, trong ấy có danh hiệu của năm mươi ba vị Phật rất thân thuộc! Hăy tưởng tượng tràng hoa trọn khắp từng cơi Phật, từng vị Phật, Bồ Tát đều có. Đấy là “ư cúng”. Như thế th́ tràng hoa không chỉ là trạng thái như trước mắt, mà hết thảy sẽ đều sanh khởi biến hóa. Ai khởi lên biến hóa? Do sức gia tŕ của hành giả, tức người tu hành. Cũng là do tứ chúng đệ tử, tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di khi cúng dường, nhờ vào tâm lực của họ để cúng dường. Đó gọi là “diệu cúng”. Cách cúng ấy chẳng thể nghĩ bàn.

          Đồng thời, trí huệ của quư vị sâu như biển, to như biển, vĩnh viễn cứu độ chúng sanh đang chịu khổ, vô cùng, vô tận. Nước biển vĩnh viễn chẳng khô cạn, ngàn vạn sông rạch đổ vào biển, nước biển cũng chẳng tăng thêm. Trí huệ của chư Phật, Bồ Tát sâu như biển, rộng như biển, có thể dung nạp hết thảy, khiến cho hết thảy chúng sanh, tức là chúng sanh trong hết thảy các đường, đều có thể đạt tới bờ kia, đều có thể thành Phật. Chúng ta th́ ngay cả nói kệ tán thán cũng chẳng nổi. Khi chư Phật, Bồ Tát tán thán, các Ngài sử dụng ngôn ngữ và văn tự rất vi diệu, biến hóa hết sức to lớn. Chúng ta biết: “Đạt đến bờ kia” chính là thành Phật, nhưng Ngài không nói là “bờ kia”, mà nói là “bờ vô úy”, hoặc là “bờ trí huệ, bờ Bát Nhă”. Đấy là sự hay khéo trong văn tự.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, tức tùng ṭa khởi, nhi bạch Phật ngôn: - Đại đức Thế Tôn, ngă đương tế độ thử tứ châu chử, Thế Tôn đệ tử nhất thiết bật-sô, cập bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, linh kỳ giai đắc tăng trưởng ức niệm, tăng trưởng thủ hộ ức niệm, tăng trưởng thọ mạng, tăng trưởng thân thể, tăng trưởng vô bệnh, tăng trưởng sắc lực, tăng trưởng danh văn, tăng trưởng tư cụ, tăng trưởng thân hữu, tăng trưởng đệ tử, tăng trưởng tịnh giới, tăng trưởng đa văn, tăng trưởng huệ xả, tăng trưởng diệu định, tăng trưởng an nhẫn, tăng trưởng phương tiện, tăng trưởng giác phần thánh đế quang minh, tăng trưởng thú nhập Đại Thừa chánh đạo, tăng trưởng pháp minh, tăng trưởng thành thục hữu t́nh, tăng trưởng đại từ đại bi, tăng trưởng nhất thiết bạch pháp, tăng trưởng diệu xưng biến măn tam giới, tăng trưởng pháp vũ phổ nhuận tam giới, tăng trưởng nhất thiết đại địa tinh khí, tư vị, tăng trưởng nhất thiết chúng sanh tinh khí thiện tác sự nghiệp, tăng trưởng chánh pháp tinh khí thiện hạnh, tăng trưởng trí huệ quang minh, tăng trưởng lục đáo bỉ ngạn diệu hạnh, tăng trưởng ngũ nhăn, tăng trưởng quán đảnh, tăng trưởng sanh thiên, Niết Bàn.

          ()爾時,地藏菩薩摩訶薩即從座起,而白佛言:大德世尊,我當濟度此四洲渚,世尊弟子一切苾芻、苾芻尼、鄔波索迦、鄔波斯迦,令其皆得增長憶念,增長守護憶念,增長壽命,增長身體,增長無病,增長色力,增長名聞,增長資具,增長親友,增長弟子,增長淨戒,增長多聞,增長慧舍,增長妙定,增長安忍,增長方便,增長覺分聖諦光明,增長趣入大乘正道,增長法明,增長成熟有情,增長大慈大悲,增長一切白法,增長妙稱徧滿三界,增長法雨普潤三界,增長一切大地精氣滋味,增長一切眾生精氣善作事業,增長正法精氣善行,增長智慧光明,增長六到彼岸妙行,增長五眼,增長灌頂,增長生天涅槃。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bạch cùng đức Phật rằng:

          - Bạch đại đức Thế Tôn, con sẽ độ các đệ tử của đức Thế Tôn trong bốn đại châu này, hết thảy tỳ-kheo, tỳ-kheo ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, khiến cho họ đều được tăng trưởng nghĩ nhớ, tăng trưởng ǵn giữ nghĩ nhớ, tăng trưởng thọ mạng, tăng trưởng thân thể, tăng trưởng không bệnh tật, tăng trưởng sắc lực, tăng trưởng tiếng tăm, tăng trưởng những vật cần dùng, tăng trưởng thân hữu, tăng trưởng đệ tử, tăng trưởng tịnh giới, tăng trưởng đa văn, tăng trưởng huệ xả, tăng trưởng diệu định, tăng trưởng an nhẫn, tăng trưởng phương tiện, tăng trưởng giác phần thánh đế quang minh, tăng trưởng tiến nhập thánh đạo Đại Thừa, tăng trưởng pháp minh, tăng trưởng thành thục hữu t́nh, tăng trưởng đại từ đại bi, tăng trưởng hết thảy bạch pháp, tăng trưởng sự xưng tán mầu nhiệm trọn khắp ba cơi, tăng trưởng mưa pháp nhuần thấm trọn khắp ba cơi, tăng trưởng tinh khí mùi vị của hết thảy đại địa, tăng trưởng tinh khí sự nghiệp khéo làm của hết thảy chúng sanh, tăng trưởng tinh khí thiện hạnh của chánh pháp, tăng trưởng quang minh trí huệ, tăng trưởng diệu hạnh Lục Ba La Mật, tăng trưởng ngũ nhăn, tăng trưởng quán đảnh, tăng trưởng sanh thiên Niết Bàn).

 

          “Nhĩ thời, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, tức tùng ṭa khởi nhi bạch Phật ngôn” (lúc bấy giờ, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bạch cùng đức Phật rằng): Sau khi cúng dường đức Phật, Địa Tạng Bồ Tát trở về chỗ ngồi, đức Phật lại khen ngợi: “Ông cúng dường rất hay!” Lại nói kệ tụng, Địa Tạng Bồ Tát lại từ chỗ ngồi đứng lên, đảnh lễ đức Phật, hướng về đức Phật, thưa: “Đại đức Thế Tôn”. Gọi đức Phật là “đại đức”. “Đại” có nghĩa là vô lượng. Phàm trong hết thảy các kinh luận, hễ đức Phật nói đến Đại, tức là nói tới cái Thể của chúng ta, là cảnh giới Nhất Thật, hoặc nói “diệu minh chân tâm”, hoặc nói “Như Lai tạng tánh” đều được. Tuy danh xưng khác nhau, đều là giả danh. Nhưng trên thực tế, chỉ là một chữ Đại. Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đều là Đại. Chữ Đại này có ư nghĩa là “đương thể” (bản thể của chính nó).

          Xưng tán công đức của Phật là “đại đức” có ư nghĩa như vậy đó. Thế Tôn! Con phải nên tuân chiếu lời đức Phật chỉ dạy. Đối thế giới này, tức là như chúng ta thường nói “tứ đại bộ châu”, [c̣n ngài Huyền Trang dịch thành] “thử tứ châu chử”. “Thế Tôn đệ tử” (đệ tử của đức Thế Tôn) tức là đệ tử của Thích Ca Mâu Ni Phật (“tứ chúng” bao gồm bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ba-tư-ca, đấy là hai chúng xuất gia và hai chúng tại gia. Xuất gia là tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, tại gia là nam cư sĩ và nữ cư sĩ, cũng là Cận Sự Nam và Cận Sự Nữ), con đều làm cho họ tăng trưởng ức niệm.

          “Tăng trưởng ức niệm” nghĩa là tăng trưởng trí huệ. Chẳng phải là chúng ta không có trí nhớ hay sao? Trong phẩm mười hai của kinh Địa Tạng đă nói: Đọc kinh mà không có trí nhớ, đọc xong quên bẵng, dạy một lượt chẳng thể nhớ được, dạy mấy lần cũng chẳng nhớ. Đấy là chẳng có trí nhớ, đă học rồi mà chẳng nhớ được. Địa Tạng Bồ Tát nói: “Con có thể giúp đỡ họ, khiến cho họ tăng trưởng ức niệm”. Tăng trưởng ức niệm ở đây đương nhiên là nói đến niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Do vậy, “họ đă có tín tâm, đă học Phật pháp, con sẽ tăng trưởng cho họ”. Đó gọi là tâm tăng thượng, ắt cần phải niệm niệm tăng trưởng, niệm niệm tăng thượng. Càng tăng trưởng, trí huệ càng lớn, phước đức càng nặng, có hàm nghĩa như thế đó.

          Tăng trưởng thủ hộ ức niệm”, phải ǵn giữ sự ức niệm, v́ sao? Khi ngủ nghê phải niệm “quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng”, hoặc sáng sớm, vừa mở mắt ra, niệm “quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng”, thủ hộ Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo, ngàn vạn lần đừng để mất. Đấy chính là ư nghĩa “thủ hộ”, giống như chúng ta bảo vệ tài sản.

          “Tăng trưởng thọ mạng”: Trước là từ cạn vào sâu. Đấy là thuận theo mong muốn của chúng sanh. Chẳng có ai mong đoản mạng, trừ phi họ quá ưu sầu khổ năo, chẳng muốn sống nữa. Vẫn có kẻ tự sát, v́ sao? V́ rất khổ, chẳng thể cam chịu sống nổi nữa, chẳng có hứng thú để sống tiếp. V́ thế nói “tăng trưởng thọ mạng” là ước nguyện của mọi người. Địa Tạng Bồ Tát liền hướng về đức Phật phát nguyện, cứu giúp các đệ tử được Ngài giáo hóa trong bốn đại châu, nói “bốn châu” là chuyên chỉ Nam Thiệm Bộ Châu, Bắc Câu La Châu (Bắc Câu Lô Châu), Đông Thắng Thần Châu, và Tây Ngưu Hạ Châu (Tây Ngưu Hóa Châu), nói đến bốn đại bộ châu ấy.

          “Tăng trưởng thân thể”: Chuyện này có một cách giải thích, hoặc là mong thân thể khỏe mạnh, hoặc thân thể vốn rất xấu xí, thô kệch, mong biến thành xinh đẹp hơn một tí, đẹp trai hơn một tí. Hoặc là quư vị cảm thấy quá bé nhỏ, mong to lớn hơn đôi chút. Do vậy, “tăng trưởng thân thể” có rất nhiều chủng loại, đấy cũng là điều quư vị mong cầu. Quư vị vốn chẳng có bệnh, nếu tăng trưởng thân thể, sẽ vĩnh viễn chẳng bị bệnh. Đấy là “tăng trưởng vô bệnh”. “Tăng trưởng sắc lực” là tăng trưởng thể lực của quư vị. “Tăng trưởng danh văn” là điều chúng ta mong mỏi, ai nấy đều hy vọng sẽ có danh tiếng tốt đẹp. “Tăng trưởng tư cụ”: “Tư cụ” () là những vật dụng cần thiết trong đời sống, giúp cho quư vị sống sót, bao gồm nhà ở, xe hơi, những vật dùng cần thiết v.v… đều có thể trọn đủ. “Tăng trưởng đệ tử”: Nói đến đức Phật hay nói đến bốn vị đại đệ tử của đức Phật. Bất luận xuất gia hay tại gia, ai nấy đều muốn đồ chúng đông đảo hơn đôi chút. Có người chẳng nhất định cầu có nhiều đồ chúng. Đồ đệ đông đảo phiền toái lắm, con cháu cũng rất phiền nhiễu; nhưng đấy là nguyện của Địa Tạng Bồ Tát, chẳng giống với những điều tiếp theo dưới đây.

          “Tăng trưởng tịnh giới”: Quư vị thọ Tam Quy, Ngũ Giới, cho đến tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni giới. Tại gia th́ có Ngũ Giới, Bát Giới, có sáu giới trọng, hai mươi tám giới khinh [của giới tại gia Bồ Tát], đều có thể thanh tịnh, vĩnh viễn tŕ giới thanh tịnh.

          “Tăng trưởng đa văn”: Đa văn là nghe pháp thù thắng. Tăng trưởng nghe th́ là Đa Văn, đă nghe xong bèn sanh trưởng trí huệ.

          “Tăng trưởng huệ xả”: [Huệ xả] là bố thí. Xả nói sâu hơn đôi chút, sẽ là xả trừ Ngă Chấp, đừng nên chấp cái Ta, nhưng chuyện này cần phải có trí huệ. Xả rất khó. Người có trí huệ th́ hết thảy đều có thể xả, ngay cả thân mạng của chính ḿnh vẫn có thể xả. Chuyện này cậy vào trí huệ.

          “Tăng trưởng diệu định”: Diệu định là như thế nào? Chính là Định lực ngay trong hết thảy các hành động. Điều này chẳng thể nghĩ bàn. Hiện thời, quư vị nghe kinh nhập Định, trọn chẳng phải là ngủ gà ngủ gật, mà là thật sự nhập Định, nghe kinh ở trong Định. Do vậy, khi các vị đại Bồ Tát lợi lạc chúng sanh, đều ở trong Định. Chúng ta thấy các Ngài bay qua, bay lại, thật ra là đang nhập Định. Do vậy, khi mới khởi đầu bộ kinh này, Địa Tạng Bồ Tát vào lúc sáng sớm, đă nhập Định nhiều ngần ấy, hết thảy mọi lúc, hết thảy mọi nơi đều ở trong Định.

          “Tăng trưởng an nhẫn”: An nhẫn là nhẫn nhục, nhưng v́ sao Ngài không nói là “nhẫn nhục”, mà nói là “an nhẫn”? Nói theo phía chúng ta, chúng ta phần nhiều chẳng tuân thủ bổn phận. Nhẫn có thể ǵn giữ bổn phận của quư vị. Chuyện ǵn giữ bổn phận bao gồm rất nhiều. Do có trí huệ, có diệu Định, sẽ có thể ǵn giữ Định, Huệ chẳng mất, có thể điều ḥa, cân nhắc, khiến cho Định và Huệ cân bằng. Đó gọi là An Nhẫn. Từ an nhẫn, có thể sanh ra các phương tiện thiện xảo, như Địa Tạng Bồ Tát đă nhập Định nhiều ngần ấy, dùng nhiều phương tiện lợi ích chúng sanh ngần ấy. Đó là phương tiện thiện xảo. Đă có trí huệ, cho nên sanh ra phương tiện huệ. Do đă có trí huệ, hết thảy các phương tiện đều là giải thoát. Nếu chẳng có trí huệ, phương tiện sẽ là trói buộc. Chẳng hạn như chúng ta làm chuyện ǵ, tứ bề đều gặp chướng ngại. Quư vị cũng phát tâm độ chúng sanh, chẳng độ được. Đă thế, c̣n nẩy sanh tràn lan rất nhiều thứ phiền toái, nẩy sanh rắc rối tứ phía. Đó là v́ chẳng có thiện xảo huệ, cho nên xử trí chẳng thích đáng!

          “Tăng trưởng giác phần thánh đế quang minh”: Giác phần là Bồ Đề đạo. Thất Giác Phần là nói riêng biệt. Tăng trưởng Bồ Đề tức là tăng trưởng sự giác ngộ của chính ḿnh. Sự giác ngộ ấy có thể khiến cho thánh đế của quư vị quang minh. Thánh Đế là có thể nương vào Thật Tế Lư Thể để chứng đắc thánh vị, ngay cả thành Phật cũng có thể. Thập Địa Bồ Tát cũng đều là thánh vị, cho đến nói theo giáo nghĩa ban sơ, Tứ Quả A La Hán cũng là Thánh Đế; pháp ấy được gọi là Tứ Thánh Đế Pháp. Tăng trưởng thánh đế quang minh có nghĩa là [tăng trưởng] trí huệ; bản thân của Đế chính là quang minh.

          “Tăng trưởng thú nhập Đại Thừa chánh đạo”: Có thể vận chuyển bổn tâm của chính ḿnh th́ chính là Đại Thừa. Chúng ta nói “hết thảy đều chẳng thể ĺa khỏi tâm ta”, đó là Bồ Đề đạo thật sự. Bồ Đề đạo thật sự th́ ngoài tâm chẳng có pháp, ngoài pháp lại chẳng có tâm. Hết thảy các pháp đều do tâm tánh của quư vị hiển hiện. Đấy là Đại Thừa chánh đạo.

          “Tăng trưởng pháp minh”: Liễu giải tánh thể của hết thảy các pháp, đừng khởi phân biệt nơi tướng. Liễu giải pháp tánh của hết thảy các pháp, điều này được gọi là trí huệ, được gọi là “minh” thật sự.

          “Tăng trưởng thành thục hữu t́nh”: Nói sâu hay cạn đều được, thành thục ǵ vậy? Thành thục hết thảy hữu t́nh; tăng trưởng sự tư giáo (giáo dục tư tưởng) của quư vị. Chẳng phải là đă phát nguyện lợi ích chúng sanh đó sao? Như vậy th́ có phải là chúng sanh có thể thành thục hay sao? Có thể y giáo phụng hành hay sao? Có phải là có thể y giáo phụng hành để thành đạo hay không? Chẳng hạn như tứ chúng đệ tử chiếu theo lời dạy bảo của đức Phật để lần lượt hóa độ chúng sanh, khiến cho họ đều có thể tín nhập, đều có thể y giáo phụng hành, đều có thể tu hành, đều có thể thành thục. Hễ thành thục, sẽ có thể liễu thoát, khiến cho hữu t́nh đều có thể thành thục. Tăng trưởng cái tâm đại từ đại bi chính là tăng trưởng Bồ Đề tâm. Bồ Đề tâm bao hàm rất nhiều thứ, đại từ đại bi chính là Bồ Đề tâm.

          “Tăng trưởng nhất thiết bạch pháp” (tăng trưởng hết thảy bạch pháp): [Bạch pháp] tức là thanh tịnh pháp. Thanh tịnh pháp là ǵ? Hết thảy Giới, Định, Huệ, hết thảy các pháp do đức Phật dạy chúng ta. Bạch pháp là thanh tịnh pháp, tiêu mất hắc pháp. Hắc pháp là pháp ô nhiễm. Kinh văn của phẩm Vô Y Hạnh và Hữu Y Hạnh trong phần sau sẽ nói cặn kẽ về đạo lư hắc bạch. Hết thảy các pháp trên đây đều là tổng thuyết, trong phần sau sẽ giải thích. Trong phần trước chỉ nói tổng quát đôi chút.

          “Tăng trưởng nhất thiết chúng sanh tinh khí”: Có tinh thần, có khí lực. “Tinh” là thuần, “khí” là khí chất. V́ chúng ta là đệ tử đức Phật, khiến cho tứ chúng đệ tử đều có thể tinh thuần, ngơ hầu mọi người nh́n vào, đều thấy khí chất của hàng đệ tử Phật khác hẳn. Mọi người trông thấy biểu hiện khí chất của đệ tử Phật đều rất cung kính, đồng thời cũng “khéo làm các sự nghiệp”.

          “Thiện tác sự nghiệp” (khéo làm các sự nghiệp): Có thể tăng trưởng tinh khí thiện hạnh của chánh pháp, tăng trưởng quang minh trí huệ, ư nghĩa của chúng đều như nhau.

          Tăng trưởng đáo bỉ ngạn diệu hạnh” (tămh trưởng các diệu hạnh đạt đến bờ kia): Tức là Lục Ba La Mật, bố thí, tŕ giới, nhẫn nhục, tinh tấn, Thiền Định, trí huệ; đấy đều là các diệu hạnh thù thắng chẳng thể nghĩ bàn, có thể đạt đến bờ kia thành Phật.

          “Tăng trưởng ngũ nhăn”: Ngũ Nhăn là nhục nhăn, thiên nhăn, huệ nhăn, pháp nhăn, và Phật nhăn. Từ địa vị phàm phu cho đến khi thành Phật, chúng ta đều là nhục nhăn. Hiện thời, mọi người đều là nhục nhăn. Nhục nhăn có chướng ngại, người khác dùng tay chắn, quư vị sẽ chẳng thấy chi hết. Chẳng có quang minh, quư vị cũng chẳng trông thấy. Nhục nhăn có chướng ngại, chẳng thông đạt. Nhục nhăn có chướng ngại, chẳng thông suốt, c̣n thiên nhăn thông suốt, chẳng chướng ngại. Thiên Nhăn Thông là báo đắc (報得, do quả báo mà đạt được), có thể thấy hết thảy. Họ có thể thấy chúng ta, nhưng chúng ta chẳng trông thấy họ. Huệ nhăn chiếu soi hết thảy Tục Đế, Tục Đế là phương tiện huệ. Có huệ nhăn th́ sẽ quán Tục. Loại mắt thứ tư là pháp nhăn. Pháp nhăn hiểu rơ Chân Không, [thấy thấu suốt] hai lư Tục Đế và Chân Đế. Phật nhăn chiếu hết thảy. Đối với ngũ nhăn, nay chúng ta dừng lại nơi giai đoạn nhục nhăn. Nhưng có một số người cá biệt, do quả báo, mới sanh ra đă có thể thấy. Đó là như hiện thời gọi là “công năng đặc dị”. Họ có thể thấy sự vật dưới mặt đất; đấy là báo đắc. Công năng thuộc loại này súc sanh cũng có. Có những con hồ ly, chồn, [thường nói là] “hồ hoàng liễu đậu”, có khi là rắn, tức là bốn loại “tiên” hồ, hoàng, liễu, đậu (狐黄柳豆)[6], c̣n có quỷ như các vị đại lực quỷ thần chúng ta vừa đọc trong phần trên. Họ đều có thần thông, nhưng chẳng rốt ráo! Họ vẫn bị chướng ngại, chẳng con mắt như chư thiên, [chỉ là] thấy thông suốt một chút. Đó gọi là “báo đắc thông” (thần thông do quả báocó). Chư thiên [có thiên nhăn] là do báo đắc. Huệ nhăn và pháp nhăn đều do tu được. Phật nhăn là thành tựu rốt ráo. Đó là Ngũ Nhăn, chúng tôi nói giản lược đôi chút như vậy.

          “Tăng trưởng quán đảnh”: Quán đảnh có rất nhiều cách giải thích. Thọ quán đảnh chính là nghi thức từ Ấn Độ. Xưa kia, tại Ấn Độ, [nghi thức này] nhằm cầu gia tŕ đứa bé vừa mới sanh ra. [Đứa bé ấy] vốn là Thái Tử của quốc vương sanh ra, [quốc vương] bèn t́m người tu đạo. Người tu đạo không nhất định là Phật, [các tu sĩ] thuộc sáu phái ngoại đạo đều được, dùng nước bốn biển rưới lên đầu Thái Tử nhằm tiêu trừ tai nạn. Như chúng ta cầu pháp, [vị thầy truyền pháp] sẽ dùng cách xối pháp thủy lên đỉnh đầu. Hiện thời, chúng ta học cách tu theo Mật Tông, Quán Đảnh là thuật ngữ chuyên biệt. Vốn có rất nhiều loại Quán Đảnh (Abhiṣeka); ở đây nói là “tăng trưởng quán đảnh” là nói theo ư nghĩa gia tŕ. Đấy là nói về pháp quán đảnh.

          Khi chúng ta tu Quán, cũng phải tự ḿnh quán đảnh cho chính ḿnh. Hoặc là quán Dược Sư Phật, hoặc quán A Di Đà Phật đang ngự trên đỉnh đầu quư vị, và gia tŕ, tăng trưởng cơ hội cho quư vị nhập Niết Bàn. Địa Tạng Bồ Tát gia tŕ, khiến cho đệ tử Phật trong bốn đại châu đều có thể từ cơ sở vốn sẵn có của chính ḿnh mà dần dần tăng trưởng. Nếu vốn là chẳng có tí ǵ, làm sao có thể tăng trưởng cho được? Tăng trưởng từ trên cơ sở vốn sẵn có. Nếu đă học pháp tu đạo, sẽ tăng trưởng cơ hội chứng đắc quả vị của Như Lai, hoặc là sẽ khiến cho kẻ ấy thoát khỏi tam đồ. Sau đấy, sẽ có thể sanh lên trời, hưởng thụ hạnh phúc, lại c̣n có thể nghe pháp.

 

          (Kinh) Sở vị hữu danh Cụ Túc Thủy Hỏa Cát Tường Quang Minh Đại Kư Minh Chú Tổng Tŕ Chương Cú, ngă ư quá khứ Căng Già sa đẳng Phật Thế Tôn sở, thân thừa thọ tŕ thử đà-la-ni, năng linh tăng trưởng nhất thiết bạch pháp, tăng trưởng nhất thiết chủng tử, căn, nha, tu, hành, chi, diệp, hoa, quả, dược cốc tinh khí, tư vị, tăng trưởng vũ trạch, tăng trưởng hữu ích địa, thủy, hỏa, phong, tăng trưởng hỷ lạc, tăng trưởng tài bảo, tăng trưởng thắng lực, tăng trưởng nhất thiết thọ dụng tư cụ. Thử đà-la-ni năng linh nhất thiết trí huệ mănh lợi, phá phiền năo tặc, tức thuyết chú viết.

          ()所謂有名具足水火吉祥光明大記明咒總持章句。我於過去殑伽沙等佛世尊所,親承受持此陀羅尼,能令增長一切白法,增長一切種子、根鬚、芽莖、枝葉、華果、藥谷、精氣滋味,增長雨澤,增長有益地水火風,增長喜樂,增長財寶,增長勝力,增長一切受用資具。此陀羅尼,能令一切智慧猛利,破煩惱賊。即說咒曰。

          (Kinh: “Có chương cú tổng tŕ được gọi là Cụ Túc Thủy Hỏa Cát Tường Quang Minh Đại Kư Minh Chú. Trong quá khứ, con đă ở chỗ chư Phật Thế Tôn nhiều như cát sông Hằng, đích thân nhận lănh, thọ tŕ đà-la-ni này, [chú này] có thể tăng trưởng hết thảy các bạch pháp, tăng trưởng tinh khí và vị ngon của hết thảy hạt giống, rễ, mầm, tua, thân, cành, lá, hoa, quả, dược thảo, ngũ cốc, tăng trưởng mưa tưới nhuần, tăng trưởng hữu ích đất, nước, lửa, gió, tăng trưởng hỷ lạc, tăng trưởng của cải, tăng trưởng sức thù thắng, tăng trưởng hết thảy sự hưởng thụ vật dụng cần thiết. Đà-la-ni này có thể khiến cho hết thảy trí huệ mạnh mẽ, nhạy bén, phá giặc phiền năo”. Liền nói chú rằng).

 

          Địa Tạng Bồ Tát có bài chú, chú ǵ vậy? Cụ Túc Thủy Hỏa Cát Tường Quang Minh Đại Kư Minh Chú Tổng Tŕ Chương Cú. Tŕ () là tam-muội. Địa Tạng Bồ Tát có tam-muội như vậy, nói đơn giản là Chân Ngôn, cũng chính là chú ngữ. Chú ngữ này có tên gọi là Cụ Túc Thủy Hỏa Cát Tường Quang Minh Đại Kư Minh Chú, cũng chính là Đại Minh Chú. Tâm Kinh cũng có thể gọi là Đại Minh Chú, có ư nghĩa đại quang minh, mà cũng có nghĩa là Tổng Tŕ. [Bồ Tát nói]:Bài chú này do trong quá khứ con đă từ chỗ chư Phật Thế Tôn nhiều như cát sông Hằng, mỗi hạt cát là một cơi Phật, ở chỗ các đức Thế Tôn ấy, con đích thân tự thọ quán đảnh, đích thân lănh thọ đà-la-ni này, tức là bài chú này, hay tam-muội này. Nếu tụng niệm bài chú này, hết thảy thiện nghiệp đều có thể tăng trưởng, hết thảy ác nghiệp đều có thể tiêu mất. Tinh khí và vị ngon của hạt giống, cho đến rễ, tua, mầm, thân, cành, lá, hoa, quả, dược thảo, ngũ cốc đều tăng trưởng, tăng trưởng mưa thấm nhuần.

          “Dược cốc tinh khí” (tinh khí của dược thảo, ngũ cốc) có đôi chút thần bí. Chúng ta uống thuốc, chẳng hạn như nhân sâm, đông trùng hạ thảo (caterpillar fungus), bối mẫu (fritillaria cirrhosa), linh chi (gardonema), các thứ thuốc ấy cần phải sanh trưởng hoang dại th́ mới có thể bồi bổ thân thể con người khỏe mạnh, sống lâu. Các loại thực vật ấy có thể tăng trưởng bằng cách nào? Ắt cần phải mưa đúng chừng mực. Trời đổ mưa tưới tắm, đặc biệt là tăng trưởng sự hữu ích của đất, nước, gió, lửa. Chẳng có sức gió, lương thực sẽ không tăng trưởng. Do sức gió nhẹ thổi, các thứ lương thực sẽ tăng trưởng nhanh chóng như dùng tay kéo lên, mọi người phải biết sức gió như thế. Hỏa (lửa) là hơi ấm. V́ sao mùa Hạ, nhằm lúc trời mưa, [thảo mộc] tăng trưởng, mà mùa Đông nhằm lúc có tuyết, nó lại chẳng tăng trưởng? V́ chẳng đủ hơi ấm, sẽ chẳng thể tăng trưởng được!

          Địa Đại có tánh chất cứng chắc. Tăng trưởng tánh chất kiên cố của địa đại, khiến cho nó đừng hư vỡ, đừng nẩy sanh động đất. Tứ Đại tăng trưởng chính là tăng trưởng sự mừng vui của chúng sanh, tăng trưởng của cải cho chúng sanh, tăng trưởng sức mạnh thù thắng, tăng trưởng thọ dụng hết thảy các vật cần dùng cho đời sống. Trong phần trên đă nói “tăng trưởng tư cụ”, ở đây nhắc lại. Ư nghĩa của việc nhắc lại chính là do niệm bài chú này, sẽ khiến cho những thứ ấy được tăng trưởng. Bài đà-la-ni này có thể khiến cho trí huệ mạnh mẽ, nhạy bén, phá trừ kẻ giặc phiền năo. Bài chú này có công đức to lớn ngần ấy. Hồng cư sĩ sợ mọi người đọc sai bài chú này, đă chú thích âm đọc. Trong tương lai, nếu khi mọi người muốn tŕ tụng, sẽ lại in thêm mấy phần nữa, ai cần sẽ tặng cho người đó một bản. Tôi đọc một lượt, nếu mọi người niệm thầm theo, hoặc là tôi đọc một câu, quư vị đọc theo một câu, th́ cũng coi như đă nhận lănh rồi.

           

          (Kinh) Sấm bồ, sấm bồ, sấm sấm bồ, a ca xá sấm bồ, phược yết lạc sấm bồ, am bạt lạc sấm bồ, phiệt la sấm bồ, phạt chiết lạc sấm bồ, a lộ ca sấm bồ, đạm ma sấm bồ, tát đế ma sấm bồ, tát đế nật ha la sấm bồ, tỳ bà lộ ca sáp bà sấm bồ, ổ ba thiểm ma sấm bồ, nại dă na sấm bồ, bát lạt nhạ tam mâu để lạt noa sấm bồ, sát noa sấm bồ, tỳ thấp bà lê dạ sấm bồ, xá tát đa lạp bà sấm bồ, tỳ a đồ tố trá, mạc hê lệ, đạm mê, thiểm mê, chước yết lạc tế, chước yết lạc mạt hứ lệ, xí lệ, tỳ lệ, yết lạt bà bạt la phạt lạt đế, hê lệ, bát lạp bệ, bát lạt giá ra phạn đát nê, hạt lạt đát nê, bá ra, giá giá giá giá, hê lệ, nhị lệ, ê yết tha, thác khế, thác củ lô, thát lệ, thát lệ, nhị lệ, ma điện, đản điện, củ lệ, nhị lệ, áng củ chi đa tỳ, át lê, kỳ lê, ba ra kỳ lê, củ trá thiêm mạt lệ, đôn kỳ, đôn kỳ, đôn cụ lệ, hử lô, hử lô, hử lô, củ lô tốt đô nhị lệ, nhị lư đệ, di lư điện, bạn đồ đà, hát la, hê lê, hử lô, hử lỗ lô.

          ()讖蒱讖蒱讖讖蒱阿迦舍讖蒱縛羯洛讖蒱菴跋洛讖蒱筏羅讖蒱伐折洛讖蒱阿路迦讖蒱萏摩讖蒱薩帝摩讖蒱薩帝昵訶羅讖蒱毗婆路迦插婆讖蒱鄔波睒摩讖蒱奈野娜讖蒱缽剌惹三牟底剌拏讖蒱剎拏讖蒱毗濕婆梨夜讖蒱舍薩多臘婆讖蒱毗掗荼素吒莫醯隸萏謎睒謎斫羯洛細斫羯洛沬呬隸廁隸諀隸揭剌婆跋羅伐剌帝𣢁缽臘薜缽剌遮囉飯怛泥曷剌怛泥播囉遮遮遮遮𣢁弭隸黳羯他齲盧弭隸。磨綻.癉綻矩隸弭隸盎矩之多毗𠼝𠼝波囉祁𠼝矩吒苫沫隸敦祇敦祇敦具隸滸盧滸盧滸盧矩盧窣都弭隸弭李第彌李綻叛荼陀喝羅𣢁滸盧滸魯盧

          (Kinh: 1) Sấm bồ. 2) Sấm bồ. 3) Sấm sấm bồ. 4) A ca xá sấm bồ. 5) Phược yết lạc sấm bồ. 6) Am bạt lạc sấm bồ. 7) Phiệt la sấm bồ. 8) Phạt chiết lạc sấm bồ. 9) A lộ ca sấm bồ. 10) Đạm ma sấm bồ. 11) Tát đế ma sấm bồ. 12) Tát đế nật ha la sấm bồ. 13) Tỳ bà lộ ca sáp bà sấm bồ. 14) Ổ ba thiểm ma sấm bồ. 15) Nại dă na sấm bồ. 16) Bát lạt nhạ tam mâu để lạt noa sấm bồ. 17) Sát noa sấm bồ. 18) Tỳ thấp bà lê dạ sấm bồ. 19) Xá tát đa lạp bà sấm bồ. 20) Tỳ a đồ tố trá. 21) Mạc hê lệ. 22) Đạm mê. 23) Thiểm mê. 24) Chước yết lạc tế. 25) Chước yết lạc mạt hứ lệ. 26) Xí lệ. 27) Tỳ lệ. 28) Yết lạt bà bạt la phạt lạt đế. 29) Hê lệ. 30) Bát lạp bệ. 31) Bát lạt giá ra phạn đát nê. 32) Hạt lạt đát nê. 33) Bá ra. 34) Giá giá giá giá. 35) Hê lệ. 36) Nhị lệ. 37) Ê yết tha. 38) Thác khế. 39) Thác củ lô. 40) Thát lệ. 41) Thát lệ. 42) Nhị lệ. 43) Ma điện. 44) Đản điện. 45) Củ lệ. 46) Nhị lệ. 47) Áng củ chi đa tỳ. 48) Át lê. 49) Kỳ lê. 50) Ba ra kỳ lê. 51) Củ trá thiêm mạt lệ. 52) Đôn kỳ. 53) Đôn kỳ. 54) Đôn cụ lệ. 55) Hử lô. 56) Hử lô. 57) Hử lô. 58) Củ lô tốt đô nhị lệ. 59) Nhị lư đệ. 60) Di lư điện. 61) Bạn đồ đà. 62) Hát la. 63) Hê lê. 64) Hử lô. 65) Hử lỗ lô).

 

          Bài Đại Minh Chú này có tất cả sáu mươi lăm câu. Niệm lần đầu đương nhiên không quen; trong tương lai, niệm nhiều lần là được. Nếu muốn tŕ niệm th́ một ngày niệm bảy lần, cũng là đối với các điều mong cầu của Địa Tạng Bồ Tát trong phần trước, do niệm chú này, chúng ta sẽ có thể đạt được. Chú ngữ của chú này và chú Đại Bi có sức mạnh như nhau. Hàm nghĩa trong bài chú này chẳng thể giảng giải được, chúng tôi chẳng dịch được, cho nên đương nhiên cũng chẳng thể giảng!

 

          (Kinh) Thiện thuyết năng tịnh chư hữu trần, thiện thuyết năng tịnh đấu tránh kiếp, thiện thuyết năng tịnh trược ác ư, thiện thuyết năng tịnh trược đại chủng, thiện thuyết năng tịnh trược ác vị, thiện thuyết năng tịnh trược ác khí, thiện thuyết năng măn chư hy vọng, thiện thuyết năng thành chư giá sắc, thiện thuyết năng linh nhất thiết Phật, Như Lai Thế Tôn sở gia hộ, thiện thuyết hựu năng linh nhất thiết, Bồ Tát gia hộ nhi tùy hỷ.

            ()善說能淨諸有塵,善說能淨斗諍劫,善說能淨濁惡意,善說能淨濁大種,善說能淨濁惡味,善說能淨濁惡氣,善說能滿諸希望,善說能成諸稼穡,善說能令一切佛,如來世尊所加護,善說又能令一切,菩薩加護而隨喜。

          (Kinh: Khéo nói thanh tịnh các hữu trần, khéo nói tịnh trừ kiếp đấu tránh, khéo nói tịnh trừ ư nhơ ác, khéo nói tịnh hóa đại chủng nhơ, khéo nói tịnh hóa vị nhơ ác, khéo nói tịnh hóa khí nhơ ác, khéo nói thỏa măn các mong mỏi, khéo nói thành thục các mùa màng, khéo nói khiến cho hết thảy Phật, Như Lai Thế Tôn đều gia hộ, khéo nói lại khiến cho hết thảy, Bồ Tát gia hộ và tùy hỷ).

 

          “Thiện thuyết” tức là đức Phật nói. Bài kệ này tán thán đức Phật, hoặc có thể nói là chư Phật khéo nói chú ngữ. Chư Phật nói bài chú ngữ này có thể thanh tịnh hết thảy các trần cấu, cũng có thể thanh tịnh kiếp đấu tránh, nay chúng ta gọi là “kiếp tranh đấu”. Người với người tranh chấp, tập thể này đấu tranh với tập thể kia, nước này đấu đá nước kia. Hễ có đấu tranh, cho thấy thời đại này bất hảo. Niệm bài chú này có thể khiến cho chiến tranh tiêu trừ đôi chút, nhưng c̣n phải tùy thuộc niệm lực của chúng ta có đủ hay không. Dùng bài chú ngữ này có thể thanh tịnh ư niệm ác.

          “Thiện thuyết năng tịnh trược đại chủng”: Hiện thời, địa, thủy, hỏa, phong vẩn đục, chẳng tuân theo quy củ, thường phát sanh thủy tai, địa đại th́ có động đất, phong tai và hỏa tai đều trái thời, do bốn đại địa chủng (Tứ Đại) dấy lên đủ mọi tai ương.

          “Thiện thuyết năng tịnh trược ác vị”: Trược ác vị tức là hoàn cảnh hiện thời rất ô nhiễm, có hương vị rất xấu. Nếu hít loại hương vị này, sẽ khiến cho thân thể chẳng khỏe mạnh, chẳng thể sống lâu được. Hai thứ khí và vị tương thông. Ngồi xe hơi rất thoải mái, lại mau chóng, nhưng mùi xăng rất khó ngửi. Đấy là khí trược ác.

          “Thiện thuyết năng măn chư hy vọng”: Chú này có thể thỏa măn hết thảy các mong mỏi của quư vị, hoặc là nói hết thảy chư Phật đều có thể thỏa măn niềm hy vọng của hết thảy chúng sanh. “Thiện thuyết” có thể hiểu là nói rất hay. “Thiện” là nói rất tốt đẹp, bậc nói hay đẹp nhất vẫn là Phật. Nay Địa Tạng Bồ Tát nói chú này, chú này cũng do vô lượng chư Phật nói. V́ thế, khi tŕ chú này, có thể thỏa măn các mong mỏi.

          “Thiện thuyết năng thành chư giá sắc”: Những thứ hoa mầu, ngũ cốc đều có thể được mùa, chín rộ.

          “Thiện thuyết năng linh nhất thiết Phật, Như Lai Thế Tôn sở gia hộ”: Hai câu này phải nói gộp chung. Tŕ chú này có thể khiến cho hết thảy chư Phật, có thể khiến cho hết thảy các đức Thế Tôn gia hộ chúng ta, khiến cho thiện nghiệp của chúng ta sớm có ngày thành tựu, sớm thành đạo nghiệp.

          “Thiện thuyết hựu năng linh nhất thiết Bồ Tát gia hộ nhi tùy hỷ”: Không chỉ chư Phật gia hộ quư vị. Do tŕ chú này, cũng có thể khiến cho hết thảy các vị Bồ Tát đều chiếu cố, gia hộ, tùy hỷ quư vị. Bài kệ tụng trên đây nhằm tán tụng bài chú này!

 

          (Kinh) Thế Tôn! Như thị Cụ Túc Thủy Hỏa Cát Tường Quang Minh Đại Kư Minh Chú Tổng Tŕ Chương Cú, ngă ư quá khứ Căng Già sa đẳng Phật Thế Tôn sở, thân thừa thọ tŕ thử đà-la-ni, năng linh tăng trưởng nhất thiết bạch pháp, quảng thuyết năi chí tăng trưởng nhất thiết thọ dụng tư cụ.

          ()世尊,如是具足水火吉祥光明大記明咒總持章句,我於過去殑伽沙等佛世尊所,親承受持此陀羅尼,能令增長一切白法,廣說乃至增長一切受用資具。

          (Kinh: Bạch đức Thế Tôn! Cụ Túc Thủy Hỏa Cát Tường Quang Minh Đại Kư Minh Chú Tổng Tŕ Chương Cú như thế, trong quá khứ, con ở chỗ chư Phật Thế Tôn nhiều như cát sông Hằng, đích thân nhận lănh, thọ tŕ đà-la-ni này, có thể khiến cho hết thảy bạch pháp tăng trưởng, nói rộng th́ cho đến tăng trưởng hưởng thụ hết thảy các vật cần dùng).

 

          Chú này có tên là Cụ Túc Thủy Hỏa Cát Tường Quang Minh Đại Kư Minh Chú. Tổng tŕ chương cú này là do Địa Tạng đă trải qua thời gian rất dài, ở chỗ chư Phật Thế Tôn nhiều như cát sông Hằng, đích thân đối trước Phật lănh thọ, và cũng là do Như Lai đích thân truyền dạy. Chú đà-la-ni này có thể khiến cho hết thảy các bạch pháp tăng trưởng, cho đến có thể tăng trưởng sự thọ dụng các vật cần dùng. Ai cần thọ dụng những vật cần thiết, mong cuộc sống thoải mái hơn một chút, hăy niệm chú nhiều hơn, những vật dụng cần thiết của quư vị sẽ sung túc.

 

          (Kinh) Đại đức Thế Tôn! Thử đà-la-ni phổ năng tế độ thử tứ châu chử Thế Tôn đệ tử, nhất thiết bật-sô, bật-sô-ni, ổ-ba-sách-ca, ổ-ta-tư-ca, linh kỳ giai đắc tăng trưởng ức niệm, quảng thuyết năi chí tăng trưởng nhất thiết thọ dụng tư cụ. Thử đà-la-ni năng linh Thế Tôn cam lộ thánh giáo xí nhiên cửu trụ, lợi ích an lạc tam giới chúng sanh.

          ()大德世尊,此陀羅尼,普能濟度此四洲渚,世尊弟子一切苾芻、苾芻尼、鄔波索迦、鄔波斯迦,令其皆得增長憶念,廣說乃至增長一切受用資具。此陀羅尼,能令世尊甘露聖教,熾然久住,利益安樂三界眾生。

          (Kinh: Bạch Đại Đức Thế Tôn! Đà-la-ni này có thể tế độ trọn khắp các đệ tử của đức Thế Tôn trong bốn bộ châu, hết thảy tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, khiến cho họ tăng trưởng ức niệm, nói rộng là cho đến tăng trưởng sự thọ dụng hết thảy các vật cần dùng. Đà-la-ni này có thể khiến cho thánh giáo cam lộ của đức Thế Tôn tồn tại hưng thịnh lâu dài, lợi ích an lạc chúng sanh trong tam giới).

 

          “Đại đức Thế Tôn”: Địa Tạng Bồ Tát lại tôn xưng Thích Ca Mâu Ni Phật là đại đức Thế Tôn. “Thử đà-la-ni” là nói đến chú ngữ này. “Phổ năng tế độ thử tứ châu chử” (có thể tế độ trọn khắp trong bốn bộ châu này), các đệ tử của đức Thế Tôn bao gồm tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, “ổ-ba-sách-ca, ổ-ta-tư-ca” chính là ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cũng tức là xuất gia nam chúng và nữ chúng, tại gia nam chúng và nữ chúng trong Phật giáo, nói gộp chung lại là bốn loại đệ tử của đức Phật. Họ đều có thể tăng trưởng ức niệm, đắc Tổng Tŕ. Ức niệm chẳng quên mất, tức là trí nhớ tăng cường. Tất cả những ǵ đă hấp thụ, hết thảy các pháp được nghe, sẽ chẳng quên mất, nghĩ nhớ, thọ tŕ. Cho đến các sự vật quư vị đă trông thấy, niệm kinh, chỉ cần đọc một lượt, bèn có thể ức niệm thọ tŕ, vĩnh viễn chẳng quên mất. Nếu nói rộng, hết thảy thọ dụng đều có thể thỏa măn. Vậy th́ đà-la-ni chú này sẽ khiến cho thánh giáo giống như cam lộ, phổ tế quần sanh. “Xí nhiên” (熾燃) là tướng mạo quang minh chói rực, giống như khi lửa cháy bừng bừng, vĩnh viễn trụ thế lâu dài, chẳng bị mất đi.

          “Lợi ích an lạc tam giới chúng sanh”: Không chỉ là nhân gian hay cơi trời, ở đây là nói Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, chúng sanh trong tam giới là nói tới bốn bộ châu. Nay chúng ta đang thuộc Nam Thiệm Bộ Châu. Nói theo phía chúng ta, nếu chúng ta tŕ chú này, sẽ có thể được gia tŕ.

 

          (Kinh) Nhĩ thời, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát diễn thuyết như thị Đại Kư Minh Chú Tổng Tŕ Chương Cú, thời Khư La Đế Da sơn phổ giai chấn động, câu-chi thiên nhạc bất cổ tự minh, vũ vô lượng chủng thiên diệu hương, hoa, cập trân bảo đẳng. Nhất thiết chúng hội hàm tất kinh dược, giai hoạch hy kỳ, đắc vị tằng hữu.

          ()爾時,地藏菩薩摩訶薩,演說如是大記明咒總持章句,時佉羅帝耶山普皆震動,俱胝天樂不鼓自鳴,雨無量種天妙香華及珍寶等。一切眾會咸悉驚躍,皆獲希奇,得未曾有。

          (Kinh: Lúc bấy giờ, Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát diễn nói Đại Kư Minh Chú Tổng Tŕ Chương Cú như thế, khi đó, núi Khư La Đế Da thảy đều chấn động, câu-chi nhạc trời không ai tấu mà tự vang ra tiếng, tuôn vô lượng thứ hương, hoa mầu nhiệm và các trân bảo cơi trời v.v… Hết thảy đại chúng trong hội thảy đều kinh ngạc, hớn hở, đều đạt được sự hiếm lạ, đạt được điều chưa từng có).

 

          Khi nói chú ngữ này, nẩy sanh sáu loại chấn động. Đạo tràng ấy là nơi thuyết pháp, đại địa chấn động. C̣n có ức nhạc khí của chư thiên trên hư không, trống không ai gơ, chuông không ai thỉnh, tự ḿnh vang ra tiếng. Lúc đang nói chú ngữ này, c̣n có vô lượng hương, hoa, và trân bảo mầu nhiệm của cơi trời giống như mưa tuôn, rơi xuống núi Khư La Đế Da. Đại chúng tham dự pháp hội, kể các vị đại Bồ Tát “hàm tất kinh dược” (thảy đều kinh ngạc, hớn hở), “kinh” ở đây chẳng phải là sợ hăi, mà là vui mừng hớn hở. “Thán” có nghĩa là quá hiếm lạ, quá khó có, ai nấy đều có tâm t́nh hiếm lạ, chẳng thể nghĩ bàn như thế. “Đắc vị tằng hữu”: Trước nay, chưa hề trông thấy. Ngay trong lúc đó, có một nhóm thiên nữ từ chỗ ngồi đứng dậy.

 

          (Kinh) Thời chúng hội trung hữu Đại Cát Tường thiên nữ, Cụ Đại Cát Tường thiên nữ, Đại Tŕ Diệu Âm thiên nữ, Đại Kiên Cố thiên nữ, Cụ Đại Thủy thiên nữ, Phóng Đại Quang thiên nữ nhi vi thượng thủ, tổng hữu nhất vạn bát thiên thiên nữ, ư tứ đại chủng, giai đắc tự tại, tùng ṭa nhi khởi, khể thủ Phật túc, hiệp chưởng cung kính, nhi bạch Phật ngôn: “Hy hữu đại đức! Thậm kỳ Thế Tôn. Ngă đẳng tuy ư chư tứ đại chủng, đắc tự tại chuyển, nhi bất năng tri thị tứ đại chủng sơ, trung, hậu tướng, sanh diệt vi thuận. Như thị Đại Sĩ, dĩ đắc vi tế thậm thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa, năng thiện liễu tri thị tứ đại chủng sơ trung hậu tướng, sanh diệt vi thuận”.

          ()時眾會中,有大吉祥天女、具大吉祥天女、大池妙音天女、大堅固天女、具大水天女、放大光天女而為上首,總有一萬八千天女,於四大種皆得自在,從座而起,稽首佛足,合掌恭敬,而白佛言:「希有大德!甚奇世尊!我等雖於諸四大種得自在轉,而不能知是四大種初中後相、生滅違順。如此大士,已得微細甚深般若波羅蜜多,能善了知是四大種初中後相、生滅違順。」

          (Kinh: Lúc bấy giờ, trong đại chúng dự hội có Đại Cát Tường thiên nữ, Cụ Đại Cát Tường thiên nữ, Đại Tŕ Diệu Âm thiên nữ, Đại Kiên Cố thiên nữ, Cụ Đại Thủy thiên nữ, Phóng Đại Quang thiên nữ làm thượng thủ, có tất cả một vạn tám ngàn thiên nữ đều được tự tại nơi bốn đại chủng, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân đức Phật, chắp tay cung kính, bạch cùng đức Phật rằng: “Hy hữu đại đức! Thật lạ lùng đức Thế Tôn! Tuy chúng con được tự tại chuyển nơi tứ đại chủng, nhưng chẳng thể biết tướng thoạt đầu, chặng giữa, cuối cùng, sanh, diệt, nghịch, thuận. Bậc Đại Sĩ như thế, đă đắc Bát Nhă Ba La Mật Đa rất sâu vi tế, có thể khéo hiểu rơ tướng ban đầu, chặng giữa, cuối cùng, sanh diệt nghịch thuận của bốn đại chủng này”).

 

          Có tất cả một vạn tám ngàn thiên nữ, ở đây, chỉ nêu một vài vị thiên nữ đứng đầu. Các thiên nữ này đều tu các pháp thuộc về bốn đại chủng, tức địa, thủy, hỏa, phong, đă đều đắc tự tại với bốn đại chủng ấy. Trong tứ đại chủng “địa, thủy, hỏa, phong”, chỉ nêu thủy và hỏa, thật ra, bao gồm cả địa và phong. Mấy vị thiên nữ ấy cùng tất cả một vạn tám ngàn vị [thiên nữ] đều từ chỗ ngồi đứng dậy. “Khể thủ” nghĩa là đảnh lễ, “khể thủ Phật túc” nghĩa là hướng về đức Phật đảnh lễ. “Hiệp chưởng cung kính” (chắp tay cung kính), họ muốn thỉnh giáo đức Phật. “Nhi bạch Phật ngôn, hy hữu đại đức” (mà bạch với đức Phật rằng: “Hy hữu đại đức”): Đức Thế Tôn rất hy hữu, rất kỳ đặc, “Thậm tai Thế Tôn, ngă đẳng tuy ư chư tứ đại chủng đắc tự tại chuyển” (lạ thay đức Thế Tôn! Chúng con tuy được tự tại chuyển đối với bốn đại chủng ấy): Các cô có thể tự tại đối với địa, thủy, hỏa, phong, chẳng bị địa, thủy, hỏa, phong chuyển, lại c̣n có thể chuyển địa, thủy, hỏa, phong. “Nhi bất năng tri tứ đại chủng sơ, trung, hậu tướng” (nhưng chẳng thể biết tướng ban đầu, chặng giữa, và cuối cùng của bốn đại chủng): Chẳng biết tướng trạng của tứ đại chủng khi chúng mới thành h́nh cho đến tướng trạng khi chúng tồn tại, cho đến tướng trạng khi chúng hủy diệt, cũng tức là đối với ba tướng sơ, trung, hậu, chẳng biết “sanh, diệt, vi, thuận” (sanh, diệt, trái nghịch, tùy thuận) của bốn đại chủng ấy. Họ chẳng có cách nào nắm vững! Địa Tạng Bồ Tát liễu giải sâu xa bốn đại chủng như vậy, đă đạt được Bát Nhă Ba La Mật Đa rất sâu, đă đạt được trí huệ rất sâu đối với bốn đại chủng. Các thiên nữ hướng về đức Phật thỉnh vấn, đức Phật sẽ dạy cho họ.

 

          (Kinh) Phật ngôn: - Như thị, như thị, thiên nữ! Thử thiện nam tử, dĩ đắc vi tế thậm thâm Bát Nhă Ba La Mật Đa, năng thiện liễu tri thị tứ đại chủng sơ, trung, hậu tướng, sanh, diệt, vi, thuận. Thiên nữ đương tri, như như ư châu, cụ túc chúng đức, năng vũ chủng chủng thượng diệu trân bảo, thí chư chúng sanh. Thử thiện nam tử diệc phục như thị, năng vũ chủng chủng Giác Chi trân bảo, thí chư chúng sanh. Như bảo châu chử, chủng chủng trân bảo sung măn kỳ trung. Thử thiện nam tử diệc phục như thị, thành tựu chủng chủng Giác Chi trân bảo.

                ()佛言:如是,如是。天女,此善男子,已得微細甚深般波羅蜜多,能善了知是四大種初中後相、生滅違順。天女當知,如如意珠,具足眾德,能雨種種上妙珍寶施諸眾生;此善男子,亦復如是,能雨種種覺支珍寶,施諸眾生。如寶洲渚,種種珍寶,充滿其中;此善男子,亦復如是,成就種種覺支珍寶。

          (Kinh: Đức Phật dạy: - Đúng thế, đúng thế, này thiên nữ! Vị thiện nam tử này đă đắc Bát Nhă Ba La Mật Đa vi tế rất sâu, có thể khéo biết rơ tướng ban đầu, chặng giữa, cuối cùng và tướng sanh, diệt, trái nghịch, thuận theo của bốn đại chủng ấy. Thiên nữ nên biết, như châu Như Ư có đủ các đức, có thể tuôn ra các thứ trân bảo thượng diệu thí cho các chúng sanh. Vị thiện nam tử này cũng giống như thế, có thể tuôn các thứ trân bảo Giác Chi thí cho các chúng sanh. Như bờ băi báu, các thứ trân bảo đầy ắp trong đó. Vị thiện nam tử này cũng giống như thế, thành tựu các thứ trân bảo Giác Chi).

 

          “Phật ngôn như thị, như thị” (đức Phật nói:- Đúng thế! Đúng thế): Các cô nói hay lắm! “Thử thiện nam tử” là nói tới Địa Tạng Bồ Tát, v́ Ngài đă đắc Bát Nhă Ba La Mật Đa vi tế rất sâu, đă đạt được Trí Huệ Ba La Mật rốt ráo, cho nên có thể liễu giải bốn đại chủng. Đối với tướng “sanh diệt vi thuận” của “tứ đại chủng sơ, trung, hậu tướng”, như thế nào được coi là thuận? Như thế nào được coi là “vi” (, trái nghịch)? Trái nghịch tứ đại chủng, tứ đại chúng sẽ sanh khởi tác dụng tương phản. Thuận theo tứ đại chủng, tứ đại chủng sẽ khiến cho các vật dụng cần thiết trong đời sống của quư vị sung túc. Trái nghịch tứ đại chủng, không chỉ là chẳng thể tạo điều tốt lành cho quư vị, mà ngược lại c̣n gây nên họa hại. Chẳng hạn như tướng trạng của địa, thủy, hỏa, phong khi mới h́nh thành cho đến tướng trạng khi chúng tồn tại, và tướng trạng khi chúng hủy diệt, tứ đại chủng sẽ mang đến tai họa cho chúng ta, nhưng nó cũng đem lại hết thảy cát tường. Chẳng có tứ đại chủng, sẽ chẳng có cách nào sống sót, phải nắm vững cả hai phương diện trái nghịch và tùy thuận chúng.

          “Thiên nữ đương tri” (thiên nữ nên biết): Đức Phật bảo một vạn tám ngàn thiên nữ: Các vị phải biết t́nh huống thuận nghịch của bốn đại chủng ấy. Do Địa Tạng Bồ Tát đă nắm vững, nên giống như Như Ư Bảo Châu mà Ngài cầm trong tay. Nó có đầy đủ các đức, khiến cho bốn đại chủng tạo lợi ích cho chúng sanh, khiến cho Địa Đại sanh ra các thứ trân bảo thượng diệu, dùng đó để bố thí chúng sanh. Vị thiện nam tử ấy cũng giống như thế, tức là Địa Tạng Bồ Tát cũng có thể làm như vậy.

          “Năng vũ chủng chủng Giác Chi trân bảo, thí chư chúng sanh” (có thể tuôn ra các thứ trân bảo Giác Chi thí cho các chúng sanh): Ở đây là Pháp Bố Thí, chẳng phải là dùng trân bảo thế gian để h́nh dung Địa Tạng Bồ Tát. Ngài thị hiện đủ thứ chủng loại, tùy theo từng loại mà giáo hóa, khiến cho họ giác ngộ. Thiên nữ hướng về đức Phật thỉnh vấn, đức Phật trả lời, tán thán các thứ công đức của Địa Tạng Bồ Tát, đặc biệt là tứ đại chủng, đối với tướng ban đầu, chặng giữa, và cuối cùng của địa, thủy, hỏa, phong, hết thảy quá tŕnh chuyển hóa, Địa Tạng Bồ Tát đều biết sâu xa đúng như thật. Đồng thời, đức Phật bảo các thiên nữ, công đức của vị thiện nam tử ấy giống như Như Ư Bảo Châu. Như Ư Bảo Châu mang ư nghĩa tỷ dụ. Từ Như Ư Bảo Châu, có thể sanh ra các thứ châu báu thỏa măn ước nguyện của chúng sanh. Vị thiện nam tử ấy có thể đúng như thật liễu tri hết thảy các pháp, mà cũng có thể xứng tánh liễu tri. Do vậy, Ngài có thể tuôn ra các thứ trân bảo thượng diệu. “Trân bảo thượng diệu” là nói h́nh dung, [hàm nghĩa] có thể nói hết thảy các pháp cho hết thảy chúng sanh, khiến cho chúng sanh nghe pháp được khai ngộ, ư giải (意解, thấu hiểu ư nghĩa chân thật), miễn trừ khổ nạn.

          “Thử thiện nam tử, diệc phục như thị” (vị thiện nam tử này cũng giống như thế): Địa Tạng Bồ Tát cũng có thể lợi ích chúng sanh giống như Như Ư Bảo Châu, tuôn ra hết thảy các thứ báu. Các thứ báu do Ngài tuôn ra chẳng phải là bảo châu trong thế gian, mà là pháp bảo khiến cho hết thảy chúng sanh có thể giác ngộ, có thể nghe pháp mà ư giải. Dùng trân bảo thí cho các chúng sanh, giống như trong băi châu báu sanh ra các thứ châu báu. Vị thiện nam tử này chứa đựng hết thảy các pháp từ vô lượng kiếp tới nay, hết thảy châu báu do đă nghe pháp rồi tích trữ, Địa Tạng Bồ Tát có công đức nhiều dường ấy.

 

          (Kinh) Như thiên Ba Lợi Chất Đa La thụ, chúng diệu hương, hoa chi sở nghiêm sức. Thử thiện nam tử diệc phục như thị, chủng chủng vi diệu Phật pháp trân bảo nhi tự trang nghiêm.

            ()如天波利質多羅樹,眾妙香華之所嚴飾;此善男子,亦復如是,種種微妙佛法珍寶而自莊嚴。

          (Kinh: Như cây Ba Lợi Chất Đa La cơi trời được trang hoàng bằng các thứ hương, hoa mầu nhiệm. Vị thiện nam tử này cũng giống như vậy, dùng đủ loại trân bảo Phật pháp vi diệu để tự trang nghiêm).

 

          “Như thiên Ba Lợi Chất Đa La thụ” (như cây Ba Lợi Chất Đa La cơi trời): Thiên Ba Lợi Chất Đa La Thụ (Pārijātaka) là cây báu chỉ riêng trời Đế Thích mới có. Loại cây báu này không giống như [các thứ cây có] cành, lá, hoa, quả [thông thường] của chúng ta, nó do hết thảy châu báu kết hợp thành. Thiện nam tử này giống như cây Ba Lợi Chất Đa La cơi trời, trọn đủ hết thảy trân bảo, lại c̣n trọn đủ hết thảy Phật Bảo, dùng hết thảy Pháp Bảo để trang hoàng. Những pháp bảo nào vậy? Chính là trân bảo Phật pháp vi diệu, lại c̣n trang nghiêm. Đức Phật thuyết pháp luôn luôn là vận dụng tỷ dụ trước, sau đấy mới thuyết pháp. Pháp và thí dụ hai đằng nói gộp chung. Chỉ v́ sợ mọi người không hiểu rơ pháp, cho nên nói tỷ dụ trước. Những thứ châu báu và cây báu đều là tỷ dụ, h́nh dung Địa Tạng Bồ Tát dùng hết thảy các pháp để trang nghiêm.

 

          (Kinh) Như sư tử vương, nhất thiết súc thú vô năng kinh phục. Thử thiện nam tử diệc phục như thị, nhất thiết chúng sanh vô năng kinh phục.

          ()如師子王,一切畜獸無能驚伏;此善男子,亦復如是,一切眾生無能驚伏。

          (Kinh: Như sư tử chúa, hết thảy các loài thú chẳng thể không kinh sợ, khuất phục. Vị thiện nam tử này cũng giống như thế, hết thảy chúng sanh chẳng thể không kinh sợ, kính phục).

         

          “Năng tồi phục nhất thiết” có nghĩa là có thể hàng phục hết thảy, giống như trong các loài thú, sư tử chúa có thể dẹp tan các loài thú. Đây là dùng chuyện mọi người đều thấy, đều thừa nhận trong thế gian để h́nh dung Địa Tạng Bồ Tát trọn đủ các pháp công đức.

 

          (Kinh) Thí như lăng nhật, năng diệt thế gian nhất thiết hôn ám. Thử thiện nam tử diệc phục như thị, năng diệt nhất thiết chúng sanh ác kiến vô minh hôn ám. Thí như minh nguyệt, ư dạ phần trung, năng thị nhất thiết thất đạo chúng sanh b́nh thản chánh lộ, tùy kỳ dục văng, giai linh đắc chí. Thử thiện nam tử diệc phục như thị, ư vô minh dạ, năng thị nhất thiết mê tam thừa đạo, tŕ sính sanh tử khoáng dă chúng sanh tam thừa chánh lộ, tùy kỳ sở ưng, phương tiện an lập, linh đắc xuất ly.

          ()譬如朗日,能滅世間一切昏暗;此善男子,亦復如是,能滅一切眾生惡見、無明昏暗。譬如明月,於夜分中,能示一切失道眾生平坦正路,隨其欲往,皆令得至;此善男子,亦復如是,於無明夜,能示一切迷三乘道、馳騁生死曠野眾生三乘正路,隨其所應,方便安立,令得出離。

          (Kinh: Ví như mặt trời rạng ngời có thể diệt hết thảy tối tăm trong thế gian. Vị thiện nam tử này cũng giống như thế, có thể diệt ác kiến vô minh tối tăm của hết thảy chúng sanh. Ví như trăng sáng trong đêm tối, có thể chỉ con đường chánh đáng bằng phẳng cho hết thảy chúng sanh lạc đường, họ muốn tới đâu đều đến được. Vị thiện nam tử này cũng giống như thế, trong đêm tối vô minh, có thể chỉ bày đường chánh tam thừa cho hết thảy chúng sanh mê mất đạo tam thừa, chạy quàng trong đồng hoang sanh tử. Tùy theo căn tánh đáng nên độ mà dùng phương tiện an lập, khiến cho họ được thoát ĺa).

 

          “Thí như lăng nhật, năng diệt thế gian nhất thiết hôn ám” (Ví như mặt trời rạng rỡ có thể diệt hết thảy tối tăm trong thế gian): “Lăng nhật” (朗日) có nghĩa là mặt trời chẳng bị mây che phủ, là vầng thái dương rạng ngời, trừ khử hết thảy tối tăm. Nơi cơi Phật mà Địa Tạng Bồ Tát đang ngự, Ngài ở bất cứ nơi đâu, đều có thể khiến cho hết thảy chúng sanh miễn trừ đau khổ tăm tối, cũng có thể trừ diệt ác kiến, mông muội, vô minh phiền năo của hết thảy chúng sanh, giống như trăng sáng trong đêm tối, có thể khiến cho người lạc đường t́m được đường lối, chúng sanh chẳng thấy lối có thể đến được nơi đường sá bằng phẳng.

          “Tùy kỳ dục văng, giai linh đắc chí” (tùy họ muốn tới nơi đâu đều đến được): Dưới ánh trăng soi tỏ, người đó muốn đi lại, sẽ chẳng lạc vào ngơ rẽ. Vị thiện nam tử ấy là nói Địa Tạng Bồ Tát, “diệc phục như thị” (cũng giống như thế), tức là cũng giống như vầng trăng sáng chỉ bày cho chúng sanh một con đường quang minh chánh đại. “Ư vô minh dạ, năng thị nhất thiết mê tam thừa đạo tŕ sính sanh tử khoáng dă chúng sanh” (trong đêm tối vô minh, có thể chỉ cho hết thảy chúng sanh mê mất đường tam thừa, chạy quàng trong đồng hoang sanh tử): Đêm tối vô minh chính là chúng ta đang lạc lối trong nẻo sanh tử. Địa Tạng Bồ Tát có thể khiến cho chúng ta thoát ra. “Tam thừa” là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Tam thừa đạo quả tuy chưa phải là rốt ráo, nhưng quư vị có thể liễu sanh tử. Những điều này đều là tỷ dụ, sánh ví: Khi Địa Tạng Bồ Tát lợi ích chúng sanh, có thể thuận theo mong cầu của chúng sanh, dùng đủ mọi phương tiện an lập, khiến cho chúng sanh đạt được lợi ích, được thoát ĺa.

          Đại Thừa Địa Tạng Thập Luân Kinh Giảng Kư, phần 3 hết



[1] Xin chú ư, ở đây, ḥa thượng nói quỷ mị giáng cơ là có, chẳng phải do những đồng tử hầu cơ bịa đặt, chứ không hề nói những kẻ giáng cơ tự xưng là “thần này, thánh nọ” chính là thần tiên, Bồ Tát, thật sự giáng cơ. Ngài cũng không hề nói những lời cơ bút là chân thật, đáng tin cậy, v́ như tổ Ấn Quang đă khẳng định: Trong các đàn cầu cơ, thường là các tiểu quỷ dối gạt tự xưng là thiên tiên, thần, Phật để mê hoặc tín đồ thờ phụng họ. Những lời họ tiên đoán đa số đều vụn vặt, có thể đúng trong tương lai rất gần, chứ những điều trọng đại đều tiên đoán sai be bét. Hoặc họ tự xưng là Phật này, Bồ Tát nọ, nhưng không giảng được một bài kinh pháp nào ra hồn!

[2] La Sát (Rākṣas) c̣n phiên âm là La Sát Tư, La Xoa Sa, La Khất Sát Sa, dịch nghĩa là Khả Úy (đáng sợ) hay Tốc Tật (nhanh chóng), là một loại quỷ thần. Mật giáo gọi họ là La Sát Thiên, có tên riêng là Niết Rị Để (Nairṛtī). Quỷ La Sát thường được mô tả là loài quỷ hung tợn, thích ăn thịt người, thích uống máu, bay lượn rất nhanh, có khả năng biến h́nh đủ loại để trà trộn ăn thịt nạn nhân. La Sát nam tóc đỏ, mắt xanh, nanh chĩa rất hung tợn, La Sát Nữ đẹp đẽ tuyệt diệu, thường dụ dỗ nhân loại lấy họ làm vợ rồi ăn thịt chồng.

[3] Ở đây, lăo pháp sư Mộng Tham nói nhầm. Đại Phạm Vương là vua cơi trời Sơ Thiền, là chúa tể của mười tám cơi trời thuộc Sắc Giới, trong khi Đế Thích Thiên chỉ là chúa cơi trời Đao Lợi, tức tầng trời thứ hai trong Dục Giới, thua kém Đại Phạm Vương rất xa.

[4] Hương tượng (Gandha-hastin): Loài voi lớn vào mùa giao phối, thân thể tiết ra mùi thơm, có sức rất mạnh, tánh t́nh rất hung bạo, rất khó chế phục. Theo Đại Tỳ Bà Sa Luận, một con hương tượng sức mạnh bằng mười con voi thường.

[5] Hiểu theo thuật ngữ thông thường, nhất là trong vơ thuật, “tu vi” (修爲) là quá tŕnh tu luyện đạt được những thành tựu nhất định, có bản lănh nhất định. Hoặc có thể hiểu đơn giản là thực lực của một người trải qua quá tŕnh luyện tập, bồi dưỡng. C̣n trong Phật giáo, tu vi chính là những cảnh giới chứng đắc do tu tập.

[6] Đây là tín ngưỡng dân gian của người Hoa tại Đại Lục, nhất là vùng Giang Chiết, họ thờ phụng các con vật có linh tánh, có thể tu đắc thần thông, tin rằng chúng sẽ đem lại tài vận và may mắn cho người thờ. Hồ là hồ ly (cáo), hoàng là hoàng thử lang (chồn), liễu là rắn, đậu là chuột. Đúng ra, có năm loại “tiên gia” thường gọi là “ngũ đại tiên gia”, hoặc “ngũ hiển tài thần”, thường gọi bằng danh xưng hồ tiên (cáo), hoàng tiên (chồn), bạch tiên (nhím), liễu tiên (rắn), và hôi tiên (tiên màu xám, tức chuột).