Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên (phần bổ sung)

(nguyên tác: Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ)

印光法師文鈔三編補

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

Lời giới thiệu của Hoằng Hóa Xă

 

          Pháp sư Ấn Quang là vị được trời, rồng tôn sùng. Ư nghĩa trong ngôn giáo của pháp sư vốn lấy từ kinh Phật, khế cơ, khế lư trong biển tự tánh, ân đức nhuần thấm mười phương. Trước là có các vị đại cư sĩ như Từ Úy Như v.v… trong thời Dân Quốc, sau là pháp sư Đức Sâm, [cư sĩ] La Hồng Đào v.v… muốn báo ân pháp nhũ của pháp sư Ấn Quang, bèn biên tập thành các bộ Tăng Quảng, Tục Biên, Tam Biên Văn Sao gồm mười quyển, tổng cộng hơn một trăm vạn chữ. Từ thời cận đại tới nay, đấy là trước tác Phật giáo được lưu thông với số lượng lớn nhất, rộng khắp nhất.

          Năm 2003, vị cư sĩ chấp sự của bổn xă do được cư sĩ Vũ Diên Khang gợi ư, “thâu thập những bản văn c̣n bỏ sót của Ấn Tổ”, bèn sưu tập các di văn của tổ Ấn Quang từ các tạp chí Phật giáo và các sách vở Phật giáo thời Dân Quốc. Trước sau, có cư sĩ Diệu Âm, cư sĩ Dư Hội Tâm v.v… ở Thượng Hải tham gia công tác chỉnh lư. Năm 2007, Hoa Điển Đồ Thư đă xuất bản bộ Dân Quốc Phật Giáo Kỳ San Tập Thành (tổng tập các tạp chí Phật Giáo xuất bản trong thời Dân Quốc) khiến cho công tác thâu thập và chỉnh lư hết sức thuận tiện.

          Cuối năm 2008, bổn xă đem bản mục lục chỉnh lư sơ bộ của cư sĩ Hội Tâm tŕnh lên pháp sư Minh Học, thượng nhân rất tán thán, trao cho bổn xă các bản chép tay được trân trọng cất giữ tại Linh Nham Sơn Tàng Kinh Lâu để làm tài liệu đối chiếu từng bài. Trong khoảng từ tháng Sáu tới tháng Tám năm 2009, lại do pháp sư Diệu Thiền, cư sĩ Văn Ấn tham dự giảo chánh, đối chiếu, biên soạn bộ sách này. Pháp sư Minh Học lại đích thân đặt tên cho bộ tổng tập này là Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ. Sách này gồm hơn mười vạn chữ, chia thành các thể loại Thư Tín, Tự, Bạt, Duyên Khởi, Pháp Ngữ Khai Thị, Luận Văn, Bi Kư, Đề Từ, Kệ Tụng, Nguyện Văn, Câu Đối, Truyện Kư, Kư Sự, Văn Tế, Phụ Lục v.v…

          Đặc biệt tỏ ư cảm tạ các liên hữu dưới đây đă tham gia công tác chỉnh lư, giảo đối, sao lục bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ: Pháp sư Diệu Thiện, pháp sư Huệ Minh, cư sĩ Dư Hội Tâm, cư sĩ Trương Diệu Âm ở Thượng Hải, cư sĩ Văn Ấn ở Giang Tô, cư sĩ Mă Quư ở Nội Mông, cư sĩ Chánh Nguyên ở Nam Kinh, cư sĩ Nhân Chân ở Liêu Ninh v.v… (c̣n nhiều vị cư sĩ khác nữa, chẳng thể nêu tên từng vị được!)

 

I. Thư tín

 

* Bổ khuyết thư gởi Phật Học Báo Quán (ṭa soạn báo Phật Học)

(tháng Chạp năm Nhâm Tư, tức năm Dân Quốc thứ hai - 1913)

 

          Hiện thời, giấy Tây phổ biến, kẻ in sách hoặc dùng lối thạch ấn (lithography), hoặc dùng lối in typo, giá thành chẳng cao, lưu thông tiện lợi nhất. Nhưng người ta chỉ biết đến điều lợi ấy, tôi lại sợ cái hại của nó! V́ sao nói như thế? In bằng lối thạch ấn hay in typo, đều phải dùng mực in. Nếu dùng mực và giấy của nước nhà, mực loại nhẹ th́ hơn hai mươi năm sau, nét chữ vẫn rơ. Nếu dùng mực đậm th́ sau mười mấy năm, nét chữ sẽ phai nhạt. Nếu dùng giấy Tây, trong ṿng từ ba năm đến năm năm, [sách đă in] liền trở thành giấy trắng. Bởi lẽ, giấy Tây làm từ chất xơ từ vải dơ, dùng chất thuốc tẩy trắng, cho nên nét chữ dễ bị phai. Không chỉ là in bằng loại mực nước [của phương Tây], dẫu in bằng mực Tàu hay chữ son, cũng đều chẳng lâu sau bị bay nét chữ. Tôi đă từng thí nghiệm nhiều lượt. Tháng Bảy năm ngoái, tôi được bạn bè tặng cho bộ Tam Quốc Phật Giáo Lược Sử[1] do chùa Long Tuyền ở kinh đô in vào tháng Tư theo lối thạch ấn. Bộ này [lúc mới nhận được] nét chữ đă hơi lu mờ; đến nay, chưa đầy nửa năm, khá nhiều chỗ chỉ c̣n giấy trắng! Chắc hai năm nữa sẽ thành một quyển giấy trắng! Hiện thời, sách giáo khoa toàn dùng loại giấy này in theo lối thạch ấn, trong dăm ba năm, lại phải mua sách khác. Đối với các sách như Ngũ Kinh v.v… cũng có người dùng loại giấy và mực này để in.

          Hơn nữa, dân quê chẳng biết, nếu dùng loại giấy này để viết các loại khế ước trọng đại, chẳng quá mười năm, sẽ trọn chẳng có bằng chứng nào, chẳng biết sẽ khiến cho bao nhiêu thường dân bị oan uổng! Lại nữa, in bằng lối thạch ấn hoặc typo, bản khắc ván dần dần ít đi. Nếu nhằm lúc thời cuộc thái b́nh, chẳng ngại in nhiều lượt. Nếu gặp phải lúc đói kém, loạn lạc, mấy chục năm sau, chắc là sách vở bị đoạn diệt. Lại có người in kinh theo kiểu ấy, chính là do lưu thông mà khiến cho kinh điển bị diệt vong, ứng với chuyện Như Lai đă thọ kư “thời Mạt Pháp, kinh điển biến thành giấy trắng”. Đó chính là cái gốc khiến cho nước nghèo, dân hèn, diệt thánh giáo của Nho lẫn Thích; sao lại không có ai v́ dân mà nghiêm cấm in sách bằng loại giấy này? Sao lại không có một ai v́ đồng bào mà lo lắng hậu hoạn, luôn đăng báo khắp nơi để nêu rơ cái họa của loại giấy này?

          Phật Học Tùng Báo vốn nhằm lưu thông Phật pháp, chẳng giống như các báo khác, hễ xem xong liền trở thành vật bỏ đi. Cần phải vĩnh viễn không bay nét chữ th́ mới có lợi ích thật sự. Nếu chỉ vài năm đă mất sạch chữ, ắt quư vị chỉ uổng công khổ tâm, chẳng cứu nổi đêm dài hắc ám! Số báo đầu tiên nét chữ đă mờ, tôi hết sức lo âu. Muốn sao lại nhưng thị lực chẳng đủ; muốn để đó, chỉ lo bị ṃn diệt, to gan dâng lời quê kệch, mong chư quân soi xét. Khẩn cầu [chư vị hăy] lập riêng một cách thức, dùng giấy mực của nước nhà để ấn loát, ắt dăm ba năm hoặc trăm năm, vẫn có thể bảo tồn. Dẫu phí tổn tốn gấp một hai phần, nhưng lợi ích sẽ nhiều đến trăm, ngàn, vạn, ức, vô lượng vô biên lần! Hơn nữa, in chữ trên cả hai mặt giấy, nếu bị hư rách, sẽ chẳng thể tu bổ được!

          Năm Quang Tự 31 (1905), tôi đến Kim Lăng Khắc Kinh Xứ[2], thấy bản Đại Tạng Kinh do người Nhật in vào thời ấy, bèn hỏi Dương lăo cư sĩ (cư sĩ Dương Nhân Sơn): [Bản kinh ấy in bằng] mực in ngoại quốc, hay mực Tàu? Ông Dương nói là loại mực dầu của ngoại quốc. Lại hỏi: “Có bị bay chữ hay không?” Ông Dương đáp: “Không bay”. Nếu thật sự không bay, nếu lỡ như chẳng thể in bằng mực Tàu được, xin hăy dùng loại mực dầu ấy. Vẫn mong đem những số đă in trước đây, chọn lấy những bài trọng yếu, so sánh phân loại để in mộc bản, hoặc dùng cách in bằng lối chữ rời khác[3] để ấn hành, lưu thông, ắt văn chương của các vị có thể tồn tại sánh cùng trời đất, các hữu t́nh nơi đại địa trong hiện tại lẫn vị lai sẽ cùng được lên thuyền từ phổ độ. Nếu có thể thương xót ḷng ngu thành của tôi, ắt sẽ chẳng nề xả thân cúng dường.

 

* Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ nhất)

 

          Mùa Đông năm ngoái các hạ đến núi, sai tôi viết bài bi kư duyên khởi, Quang đang trong Phật Thất, chẳng muốn suy nghĩ viết lách, bèn ước hẹn trong tháng Tư sẽ gởi sang Thiểm Tây. Mồng Năm tháng Giêng năm nay, nhận được thư, biết ông vẫn c̣n ở phương Nam, cho nên gom góp hơn một ngàn năm trăm chữ cho xong trách nhiệm! Tiếc là sở học hời hợt, nông cạn, chẳng thể nêu tỏ tột bậc được! Hơn nữa, bài kư ghi lại sự thị hiện ứng tích của Bồ Tát nhằm lúc Ngài trụ tại Đại Đảnh [của Nam Ngũ Đài tại Thiểm Tây] vào năm Quang Tự 11 (1885). Tôi thường nghĩ Đại Sĩ khai sơn, suốt một ngàn mấy trăm năm, trọn chẳng có bi kư để tham khảo, đúng là chuyện đáng tiếc nuối bậc nhất. Một hôm, tôi tới Lưu thôn, tản bộ nơi Tây Tự, thấy có mấy tấm bia, đều là bia thuộc về Đài Sơn, nhưng nội dung đều chẳng khẩn yếu, chẳng cần phải sao lục. Trong số đó, có một tấm bia, vốn là một tấm đá, trọn chẳng có một chữ nào! Quang thử lấy ngói cạo [bỏ rong rêu], th́ ra là tấm bia được khắc vào năm Chí Nguyên thứ bảy (1341) đời Nguyên, trần thuật duyên khởi dựa theo bia cổ. Do đă trải qua hơn sáu trăm năm, bia bị các chất dơ phong kín, tôi mừng rỡ khôn cùng, sao lại để dành. Lại nói với ông hội trưởng Lưu Tứ cho lập bia trên núi.

          Năm sau, lên miền Bắc, tới Hồng Loa, sau đó trở về phương Nam, tới Phổ Đà, thường nhớ tới chuyện này. Tới năm Dân Quốc thứ ba (1914), thầy Định Huệ đến núi, liền dặn thầy ấy sao lại gởi đi. Một là v́ muốn đăng trên báo Phật Học, hai là muốn khi tu chỉnh Phổ Đà Chí, sẽ trần thuật chuyện ấy để nêu tỏ đầu mối “tầm thanh cứu khổ” của Đại Sĩ. Nay đại điện trên núi Nam Ngũ Đài đang trùng tu, mong cư sĩ khi in bài Tịnh Độ Duyên Khởi Kư, sẽ in kèm theo, ḥng khơi gợi tín tâm. Tới núi, hăy nên thưa chuyện với người chủ tŕ công tŕnh trùng tu, khuyên hăy khắc bia trên núi, ngơ hầu một phen từ bi gia hộ của Đại Sĩ chẳng đến nỗi lâu ngày bị tuyệt tích! Bài tán do Quang soạn và bài tựa ngắn trước bài tán đều cùng khắc. Bài văn bia bị cỏ lấp và bài văn bia này đều nên dùng lối chữ thô to [để khắc] cho dễ đọc, lại c̣n có thể tồn tại lâu ngày. Nếu dùng vật liệu bằng đá cao to, không chỉ phí tiền, lại c̣n khó chuyển vận. Có lẽ nên dùng hai tấm bia ghép lại một chỗ, th́ sẽ đỡ tốn tiền đá hơn, vận chuyển thuận tiện thỏa đáng hơn! Chỉ cốt sao thánh tích được nêu tỏ, chẳng quan tâm h́nh dạng hoa mỹ! Hăy nên đem ư Quang nói với người chủ tŕ công tŕnh. Hơn nữa, khi in, ắt cần phải giảo chánh, đối chiếu cẩn thận, đừng bị sai ngoa, tăng giảm! Lại cần phải chấm câu rơ ràng để tiện xem, đọc. Nếu không, kẻ học vấn nông cạn sẽ khó lănh hội. In xong, hăy nên gởi mấy bản cho Quang làm kỷ niệm. Chỉ mong ông an trụ trong Thiền duyệt, những điều khác chẳng nói nữa.

 

Phụ lục 1: Giải trừ nghi vấn về Vô Môn Động

 

          Núi Nam Ngũ Đài chẳng có hang động lớn để người ta có thể sống trong đó, mà cũng chẳng có cái hang nào tên là Vô Môn! Cái hang ấy là động Tương Tử, chắc chắn chẳng c̣n ngờ chi! Ấy là v́ từ cuối đời Thanh đến nay, pháp đạo suy vi, bậc thông triết ẩn mất, sách vở thất lạc. Lại c̣n trải qua nhiều đợt binh lửa, đă lâu chẳng có ai ở. Tăng tục vô tri, do nghe chuyện Hàn Tương Tử[4] đă quen, liền hư vọng đặt ra tên gọi ấy. Vào đầu thời Quang Tự, các vị như sư Pháp Nhẫn v.v… mới tới ở nơi đó, nhưng Tăng chúng trong núi thường hay gây trở ngại, đến nay đă trở thành lệ thường, ai nấy đều sống yên ổn.

          Vô Môn tức là lấy cái tâm như lời dạy của đức Phật trong kinh Lăng Già làm tông. Vô Môn có nghĩa là “pháp môn”. Cần phải biết, Vô Môn chính là Phổ Môn. Bởi lẽ, đối với mọi pháp, mọi sự, hễ mê đều có thể khởi Hoặc, tạo nghiệp; ngộ th́ đều có thể đoạn Hoặc, chứng Chân. V́ thế, hai mươi lăm vị thánh trong kinh Lăng Nghiêm, đối với sáu căn, sáu thức, bảy đại, mỗi pháp đều chứng Viên Thông. Do vậy, không pháp nào chẳng phải là diệu lư Tam Đế, cũng chẳng có pháp nào chẳng kham tiến nhập Niết Bàn. Chỉ v́ các pháp ấy đều là Môn, cho nên chẳng cần phải lập riêng một môn, bèn gọi là Vô Môn! Hăy nên đem ư này bảo cặn kẽ với vị Tăng trụ tŕ nơi lều tranh, để ông ta biết chuyện của bậc cao nhân, và tên gọi vô thượng thậm thâm thật sự ở chỗ nào, chẳng đến nỗi truyền tụng tên gọi hư ngụy của ngoại đạo, để rồi đánh mất chánh danh trong Phật pháp.

 

Phụ lục 2: Biện định sự sai ngoa đối với danh xưng của Nhiếp Thân Nham

 

          Nhiếp Thân Nham (攝身巖) là do núi cao và dốc, thẳng đứng vạn nhận[5]. Kẻ lên tới đỉnh nh́n xuống, khôn ngăn dè dặt, cẩn trọng, thân tâm run rẩy, vọng tưởng tiêu diệt, chánh niệm rơ ràng, tức là ư nghĩa “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” trong kinh Lăng Nghiêm. Bởi lẽ, Thân là tên gọi chung, sáu căn thuộc về tên gọi riêng biệt. Dùng Tổng để thâu nhiếp Biệt, cho nên chỉ nói là Nhiếp Thân mà thôi! Sau này, bậc thông triết đều ẩn mất, sách vở thất lạc, kẻ tăng người tục vô tri bèn ngoa truyền thành Xả Thân. Lại có ma dân tạo tác ma thuyết, bảo Quán Âm xả thân tại đó th́ mới thành đạo quả. Lời lẽ bịa đặt vô căn cứ như thế đă nhuốm bẩn Đại Sĩ, làm nhục pháp môn, chuốc lấy sự báng bỏ tà vạy của ngoại đạo, khơi gợi kẻ ngu nghĩ tưởng ma mị, gây hại quả thật chẳng cạn! Chuyện này giống như kiến giải ma mị, biến Quán Âm Thiếu (觀音眺, Quán Âm dơi nh́n) trở thành Quán Âm Khiêu[6] (觀音跳, Quán Âm nhảy) ở Phổ Đà, đúng là khiến cho người khác đáng than, đáng hận, đáng buồn, đáng thương!

 

* Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ hai)

 

          Thư của ông Trang đă gởi đi, nhưng qua lại giữa Tô Châu, Vân Cư, và Phổ Đà cũng phải hơn nửa tháng, sợ rằng đă gởi đến rồi. Nếu chưa gởi, chưa soạn, Quang sẽ thuật cặn kẽ nguyên do và lợi ích, ông ta sẽ nhanh chóng gởi đi, đừng bận tâm. Ước chừng sau Rằm tháng Tám, Quang sẽ xuống núi. Chắc cuối tháng Tám có thể đến đất Thân (Thượng Hải). Mong ông hăy tùy thời điều trị, đừng để thân tâm bị tổn thương.

 

* Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ ba)

 

          Thu trước vừa qua, tiết Xuân lại đến, quang âm vùn vụt, thật đáng than thở! Mùa Đông năm ngoái, bộ Văn Sao hủ bại của Quang được in ra, ông Vân Lôi tính gởi sang Cửu Hoa, hỏi Quang có biết ông đang ở chỗ nào hay không? Quang nghĩ cư sĩ hành tung vô định, bảo ông ta chẳng cần gởi. Ngày Hai Mươi Bảy tháng Hai, nhận thư từ Hương Cảng, biết ông đă đến núi Kê Túc chiêm bái tôn giả Ca Diếp, khôn ngăn ngưỡng vọng, hâm mộ cùng cực. Hôm nay lại nhận được thư, biết ông sang Tào Khê lễ yết Lục Tổ, lại c̣n cùng với ông Chiếu Nam Giản quen thân sâu đậm, chắc là phải đợi cho Phật sự viên măn rồi mới khởi hành. Bộ Văn Sao của Quang đă gởi hết. Mùa Xuân năm nay, Úy Như lại bảo Thương Vụ Ấn Thư Quán in tiếp. Lại thỉnh cư sĩ Hoàng Ấu Hy giảo chánh, đối chiếu cặn kẽ hơn. Hễ chỗ nào biên tập chẳng hợp quy củ, sẽ sửa đổi ngay. Lại thêm vào mười mấy bài nữa, vẫn chưa ra sách, một hai tháng sau chắc sẽ hoàn thành. Sắp chữ ấn loát lần này, Ấn Thư Quán sẽ tự phát hành, lưu lại bản thảo để sau này họ sẽ tiếp tục in không ngớt, ngơ hầu có thể thỉnh sách bất cứ lúc nào cũng được. Thư này kèm theo ba tờ giới thiệu [bộ sách Văn Sao], mong ông hăy báo cho người có tín tâm biết.

          Chuyện trở về Tần Xuyên, quả thật chẳng có sức ấy. Ngày Hai Mươi Bảy tháng trước, trụ tŕ chùa Ngọa Long là thầy Hiển An vâng lệnh của Trần đốc qn thúc giục Quang quay về đất Bắc. Quang viện cớ tuổi tác lẫn chí hướng đều suy đồi, mắt vừa quáng vừa yếu để tận lực từ chối. V́ sách khơi gợi hàng sơ cơ nhập đạo có đến mấy thứ, hăy bảo những ai có tín tâm thỉnh về đọc, họ sẽ dần dần nhập đạo là được rồi. Nếu chẳng khoan dung, cứ nhất định ép buộc tôi phải quay về, tôi sẽ lánh xa đến chỗ không có bưu cục cho đến hết tuổi thừa!

          Năm ngoái, tôi lại nhận được toa thuốc thần diệu để cai thuốc phiện của ông Trần Tích Châu, hiệu nghiệm phi thường, bèn lập tức gởi tới mười mấy chỗ. Cũng có chỗ in ra, gởi ngược lại cho Quang. Nhà ông Giản dư dả, lại c̣n nhiệt tâm làm chuyện công tích, mong ông ta sẽ đem toa thuốc ấy in ra trăm ngàn vạn bản để lưu truyền rộng khắp, ngơ hầu kẻ muốn cai nghiện sẽ cai được, cũng là công đức không chi lớn bằng! Nay tôi gởi mấy tờ, nhờ vào đạo lực của cư sĩ, chắc Quang chẳng đến nỗi thất vọng! Hơn nữa, cơ duyên pháp đạo ở Vân Nam đă hưng thịnh. Mùa Đông năm ngoái, Đường đốc quân gọi điện, sai Mậu Diên Diên mời pháp sư Đế Nhàn và Quang đến đó giảng kinh. Thầy Đế Nhàn lấy cớ không rảnh để chối từ, Quang viện cớ mắt kém, học cạn để từ chối. V́ thế, ông ta mời Âu Dương Cánh Vô sang đó.

          Hôm nay, ông Trương Chuyết Tiên cũng gởi thư đến, cho biết ông ta ăn chay trường, niệm Phật đă lâu. Hiện thời, ông ta đang khôi phục chùa cổ Viên Thông ở tỉnh lỵ, biến thành thập phương tùng lâm, kiêm lưu thông kinh Phật, và lập Niệm Phật Đường làm chỗ tu tŕ cho hàng Tăng, tục, lập Duyệt Kinh Thất để làm chỗ nghiên cứu. Tôi đem các kinh mà ông ta và Vương Mộng Cúc muốn thỉnh đều xếp vào trong bưu kiện để họ đọc và nghiên cứu. Trong thuở rối loạn cùng cực, bèn mong mỏi b́nh trị, mọi người đều có cùng cái tâm ấy. Do đạo “nhân quả ba đời”, pháp “chúng sanh và Phật chẳng hai” của đức Phật ta, cùng với các pháp “đoạn Hoặc, chứng Chân, siêu phàm nhập thánh”, và “nương vào từ lực của Phật, tín nguyện văng sanh” v.v… cho nên không căn cơ nào chẳng được tiếp độ, không căn cơ nào chẳng thâu nhiếp! Nếu lại được người văn chương lẫn đức hạnh đều ưu tú đề xướng, sẽ thấy “một người xướng, trăm người họa, ngả rạp theo chiều gió”. Sau mấy chục năm, có thể sánh bằng thuở pháp đạo hưng thịnh thời Đường - Tống cũng chưa biết chừng! Chuyết Tiên chất phác, phẩm đức cực thuần túy. Cư sĩ tới đất Điền (Vân Nam), hăy nên kết bạn.

 

* Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ tư)

 

          Nhận được liên tiếp hai lá thư trong mùa Xuân, biết các hạ được mời ở lại nhà ông Giản. Lại đến Tào Khê để lễ Lục Tổ lần nữa. Đợi đến khi Phật sự ở chỗ ông ta viên măn, sẽ cùng sang núi Kê Túc tham lễ Tây Thiên Sơ Tổ (ngài Ma Ha Ca Diếp). Đó là nhờ ḥa thượng Liễu Thanh nhận được thư liền cho Quang xem ngay, lại c̣n giảng giải về núi Kê Túc, biết các hạ thong dong nơi hang Thiền, thân tâm an lạc, tôi vui sướng khôn ngằn! Quang sống uổng quang âm, chẳng có mảy may cảnh giới nào thăng tấn, hổ thẹn khôn cầm! Năm nay chẳng muốn xuống núi, nhưng v́ chuyện khắc kinh, chẳng thể nào không lo liệu. Đợi sang năm khắc xong bộ Pháp Hoa Nhập Sớ, sẽ lại sang Dương Châu lo liệu hết thảy. Mùa Xuân năm nay, Từ Úy Như đem bộ Văn Sao của Quang cậy Thương Vụ Ấn Thư Quán ở Thượng Hải tái bản lưu thông, cũng như lưu lại bản in gốc, cho đến nay vẫn chưa ra sách. Sớm muộn ǵ sách cũng in ra, sẽ gởi sang Kê Túc một hai gói để kết pháp duyên.

          Hiện thời, vận nước ngày một cấp bách, dân chúng lầm than, nếu chẳng gấp cầu văng sanh, chỉ sợ mười hay hai mươi năm sau, t́nh cảnh sẽ giống như An Nam hoặc Cao Ly. Nhắc đến bèn đau ḷng, nghĩ tới mà lệ ứa. Mong ông hăy v́ các sư ở núi Kê Túc trần thuật hiện tượng vận mạng trong cơi đời để kích phát chí hướng thành tâm, đồng tâm nhất ư, ĺa cơi ác trược này, ngơ hầu từ trong ṭa nhà lửa to lớn vô biên này mà thoát thân ra, đến thẳng chốn quê nhà vốn sẵn có. Nếu đời này chẳng thực hiện, chẳng biết mai sau rốt cuộc c̣n có pháp đạo hay không? Dẫu có kinh điển, rốt cuộc chẳng biết c̣n có thể tùy ư tự do nghiên cứu, giở xem, thọ tŕ, đọc tụng hay không? Tháng Ba năm nay, ḥa thượng Liễu Thanh đă xin nghỉ hưu (thôi làm Trụ Tŕ), hiện đang ở Bạn Sơn Am. Có lẽ sau này, Sư sẽ ở tại Đa Bảo Tháp Viện. Chủ nhân hiện thời của chùa Pháp Vũ tên là Liễu Minh, có cùng thầy với sư Liễu Thanh, là người khá trung hậu, lăo thành.

          Anh em ông Giản chưa đến. Hễ họ tới đây, tôi sẽ đúng pháp chăm sóc, ông chẳng cần bận ḷng. Người tại gia sự việc đa đoan, không thể muốn đi bèn lập tức đi ngay. Thường có người đă phát nguyện nhiều năm, vẫn chưa thể đến được, rất nhiều!

 

* Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ năm)

 

          Quang từ ngày Hai Mươi Sáu tháng Bảy vượt biển, ngày Hai Mươi Chín tới đất Thân (Thượng Hải). Tôi đến Hữu Chánh Thư Cục, hỏi thăm các hạ, họ nói vẫn chưa trở về. Lại có thư từ Vân Nam gởi đến. Nay tôi gởi ở Hữu Chánh Thư Cục để ông quay về sẽ đọc. Bộ Văn Sao của Quang đă in ra, c̣n chưa gởi đi cho những người đặt trước, sợ phải mất nửa tháng lo liệu. Quang lại đặt trước một trăm bộ, tiền đă giao xong, chờ tới lúc từ Dương Châu quay về, sẽ phân phát. Cư sĩ ôm chí hướng tham bái cảnh thanh lương của Ngũ Đài, chắc đă nhập thánh cảnh, thù tạc cùng các vị La Hán, khôn ngăn vui mừng, an ủi.

 

* Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ sáu)

 

          Vừa nhận được thư, như gặp cố nhân. Quang tính đầu tháng Tám sẽ đến đất Thân để lo chuyện in An Sĩ Toàn Thư. Chuyện khắc ván ở Dương Châu cứ kéo dài, có sang đó hay không vẫn chưa định, v́ có đi cũng chẳng thể xong việc!

          Đối với chuyện ở Đông Lâm, các vị Tĩnh Thiền và Huệ Thiền muốn biến nơi đó thành chốn cư trú yên vui vạn năm cho con cháu, bất luận thế nào cũng chẳng chịu đổi thành thập phương tùng lâm. Lời này do Tĩnh Thiền nói trước mặt Quang và cư sĩ Thí Tỉnh Chi. Thầy ấy nói: “Xưa kia, thầy tôi sai tôi làm Đương Gia, tôi thưa ‘nếu con làm Đương Gia, sẽ đổi thành đạo tràng thập phương’. Thầy tôi liền cúi đầu đau buồn. Không chỉ là thầy tôi hăy c̣n, chẳng thể đổi thành tùng lâm thập phương. Dẫu thầy đă qua đời, cũng chẳng dám đổi thành tùng lâm thập phương v́ sợ thầy thương tâm”. Ông Thí bèn nói: “Đă chẳng thể làm tùng lâm thập phương, xin hăy đừng bàn tới nữa”. Ḷng Tĩnh Thiền vui sướng, trọn chẳng có một ư niệm tiếc thương! Mười mấy ngày sau khi ông Tỉnh Chi rời đi, Huệ Thiền hẹn với năm vị cư sĩ như Lư Bảo Linh ở Vu Hồ v.v… khải thỉnh Quang phục hưng Đông Lâm. Trong hai ngày liên tiếp, họ hai lượt tới khải thỉnh. Quang viện cớ già, bệnh để từ chối, lại c̣n nói đại lược nguyên do với Lư Bảo Linh. Do ông ta đă từng quy y với Quang, cho nên không thể kể sự thật. Huệ Thiền cũng gởi thư đến, Quang bảo thẳng ư của sư huynh ông ta, bảo ông ta đừng gởi thư tới nữa! Nay thầy Hoằng Khánh nói như thế đều là khuôn sáo dỗ ngọt trẻ nít, Quang há vô tri hăm ḿnh vào trận lốc xoáy ấy ư?

          Huống chi Quang thật sự chẳng có tài lực, lại c̣n hiện thời đă bắt đầu tu chỉnh Phổ Đà Sơn Chí. Tuy phần nói về Đại Sĩ đă có cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh ở Giang Tây đảm nhiệm, những phần khác th́ trưởng ấp đă sai các thân sĩ trong ấp biên soạn. Quang vướng tên trong số đó, thật sự chẳng thể nào không luôn ra sức xem xét, ngơ hầu ít bị sai ngoa. Bọn họ (các sư ở Đông Lâm) chẳng chấp thuận lời thỉnh cầu trước đó, đặc biệt dùng lời lẽ để che giữ thể diện. Họ biết Quang chắc chắn không thể đích thân đến đó, đặc biệt thốt lời ngon ngọt ấy để khỏi bị tai mắt [người đời] chê gièm. Loại tăng nhân kiểu đó c̣n có thể giao thiệp được chăng? Nếu chẳng tự suy xét, ắt sẽ mắc phải chuyện phiền bực bất ngờ! Cố nhiên, Quang chẳng tiếc thân mạng, nhưng chết vô ích cho cả ḿnh lẫn người, sao bằng cẩn trọng từ đầu đến cuối chẳng hay hơn ư? Mong cư sĩ cũng đừng bàn đến nữa. Nếu tổ Huệ Viễn linh thiêng, chắc sẽ có lúc xoay vần, nhưng Quang nhất quyết chẳng can dự vào chuyện ấy.

          Thiên tai nhân họa trong năm nay càng thảm hơn trước, chẳng biết kết quả là nước ta rốt cuộc sẽ là cảnh tượng như thế nào, há c̣n so đo một đạo tràng Đông Lâm nữa ư? Tục nhân muốn hưng thịnh pháp, Tăng muốn diệt pháp! Cố nhiên họ nương theo nguyện mà đến để phá hoại tín tâm của thí chủ và đạo tràng của tổ sư. Do băo lốc gần đây, các nơi đều bị thiệt hại. Tại Sán Đầu ở Quảng Đông, thuyền trôi lên nóc nhà, c̣n được tường vách của căn nhà chống đỡ. Có thể biết là người ở nơi ấy đều bị ch́m đắm, trôi giạt. Buồn thay! Sau cơn băo lại thêm ôn dịch, nhân dân tử vong chẳng biết số lượng! Trong lúc này, cố nhiên hăy nên giữ yên. Nếu khởi sự thực hiện, chưa thành công mà tai họa lại xảy đến, sẽ uổng công nhọc nhằn mà chẳng đạt được ǵ! V́ thế, cần phải biết điều ǵ trọng yếu!

 

* Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ bảy)

 

          Đă lâu chưa gặp gỡ, vẫn luôn tưởng nhớ. Quang đoán ông đang xây cất Trinh Tiết Viện[7] tại nhà. Hôm qua, nhận được thư của một người bạn là cư sĩ Trương Thụy Tăng, nói cư sĩ đang nghe kinh ở Nam Viên. Lần này, cư sĩ Thụy Tăng bị dính tới chuyện mất mát tiền bạc, được cư sĩ từ ái lo liệu vẹn toàn, chẳng đến nỗi nguy khốn, cảm kích sâu đậm. Quang nghe tin, cũng cảm thấy giống như chính ḿnh mắc nạn, cảm tạ khôn ngằn. Vẫn mong ông thay mặt cư sĩ Thụy Tăng cảm ơn cư sĩ Quan Biệt Tiều. Cố nhiên là ông Quan phát tâm Bồ Tát, nhưng ông Trương đă là người chịu ơn được lo liệu vẹn toàn, ắt chẳng thể nào không khấu đầu tạ ơn. Đầu tháng Bảy, Quang sẽ xuống núi, cùng Thí Tỉnh Chi đi Hàng Châu lo toan chuyện ở chùa Phạm Thiên. Khi trở về, sẽ lại đến Nam Kinh để thành lập chùa Pháp Vân. Kế đó, thuận tiện sẽ đến Dương Châu, một là để gặp gỡ cư sĩ Thụy Tăng, hai là sắp đặt chuyện khắc ván bộ Văn Sao. Phỏng chừng sẽ trở về núi vào cuối tháng Chín. Trong tháng Bảy và tháng Tám, đừng gởi thư tới.

 

* Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ tám)

 

          Từ biệt vào tháng Tám đến nay đă hơn một trăm ngày. Khi trước, ở Dương Châu, tôi đă cùng cư sĩ Trương Thụy Tăng bàn chuyện Trinh Tiết Tịnh Độ Viện, do viện thiếu tiền chi dụng, yêu cầu ông ta giúp đỡ. Ông ta nói: Tại Lưu Trang Trường có hơn hai trăm mẫu đất, có thể giúp lương thực cho viện ấy. Sau đó, Quang liền gởi một lá thư nói đến chuyện ấy, đến nay chẳng thấy hồi âm, chẳng biết ông ta có nhận được thư ấy hay không? Do chuyện đă lâu, tôi muốn gởi thư hỏi, nhưng bận bịu quá nhiều việc, chẳng có ngày nào rảnh rỗi, đêm đến dưới đèn vẫn chưa lo liệu xong. Do vậy, chưa thể rảnh rang để làm được. Trộm nghĩ Trinh Tiết Viện sắp hoàn tất, trước đó, lại nghe tin ông bị bệnh, muốn sang chỗ khác để tĩnh dưỡng. Tôi đoán đến nay bệnh đă lành rồi, chẳng biết đă quay về Lưu Trang hay chưa? Nếu thân thể khỏe mạnh, hăy nên sang Dương Châu bàn bạc với Thụy Tăng, ngơ hầu chẳng đến nỗi thành chuyện bỏ lửng, không đâu vào đâu! Mong ông nhận thư này hăy hồi âm.

          Cư sĩ Giản Chiếu Nam đă qua đời ngày Mười Chín tháng Chín. Trước khi ông ta mạng chung, c̣n có Giang Vị Nông, Triệu Vân Thiều, Âu Dương Thạch Chi niệm Phật. Tới khi ông ta tắt thở, con ông ta vừa kêu gào, [thần thức của] ông ta bèn hôn mê, đến nỗi loạn mất chánh niệm. Tiếc thay!

 

* Thư gởi cư sĩ Cao Hạc Niên (thư thứ chín)

 

          Hôm qua tôi đă bảo gởi mấy gói sách (đă quên bao nhiêu gói). Sáng nay bèn tom góp một trăm hai mươi chín chữ để tắc trách hoàn tất chuyện ông sai tôi viết bài tán thán tượng, nhưng văn từ mộc mạc, sợ chẳng thể dùng được. Nếu viết bài ấy lên bức họa tượng, có lẽ đâm ra chẳng đẹp, mong ông hăy châm chước, ngơ hầu chẳng đến nỗi do bài tán của Quang khiến cho bức họa bị suy giảm vẻ mỹ quan. Mong ông hăy châm chước th́ may mắn lắm thay!

 

* Thư trả lời pháp sư Hoằng Nhất

 

          Ngày hôm qua, tôi nhận được thư và hai bản tán tụng cũ và mới, [kiểm giảo thấy] không sai lầm, đừng lo! Trong thư, [thầy có] nhắc đến t́nh cảnh dụng tâm quá độ, Quang đă sớm lường được chuyện này, cho nên đă nói chỉ viết một bản. Do tâm thái của thầy quá tỉ mỉ, thường đối với chuyện chẳng cần phải hết sức nghiêm túc, vẫn không chịu chẳng nghiêm túc, đến nỗi bị thương tổn. Xét theo sắc lực của thầy, có lẽ nên lắng ḷng chuyên nhất niệm Phật. Đối với các giáo điển khác và các sách đang được truyền bá hiện thời, hăy nhất loạt chớ xem, để khỏi bị phân tâm, bị tổn hại vô ích. Người hợp thời th́ cần phải biết chuyện đương thời. Thầy và tôi đều chẳng thể lo liệu mọi sự, hơn nữa, thân ở ngoài thế cục, cố nhiên hăy nên để đó chẳng hỏi tới, cứ nhất tâm niệm Phật, mong cho ḿnh lẫn người đều đạt được lợi ích chân thật. Đó là đường lối duy nhất không hai vậy! Ngày hôm qua vừa giảo chánh xong bộ Cao Tăng Truyện, vẫn phải mất mấy hôm nữa mới có thể gởi đi. V́ chưa sao chép xong bản lưu lại cho tôi, lại cần phải châm chước đại lược đối với bản ghi chép các chỗ nghi vấn. Xong chuyện này, liền cân nhắc [giảo duyệt Phổ Đà] Sơn Chí. Sơn Chí đă châm chước xong xuôi, họ mong sẽ in ngay trên núi (Phổ Đà). Bộ sách ấy sẽ được in theo cách sắp chữ với số lượng nhỏ. Mỗi lần sắp chữ, in mấy chục trang. In xong, lại xóa khuôn chữ, sắp lại các trang khác để tiếp tục in. Đợi sau này sẽ tiến hành khắc ván. Tôi không sang Thượng Hải, mong thầy gởi ba quyển sau đến Phổ Đà.

 

* Thư trả lời Siêu Nhất đại sư

 

          Nhận được thư, biết pháp đạo tại Xuyên Bắc đă khởi sắc, vui mừng khôn ngằn. Quang thuộc loại Tăng nhân chỉ biết ăn cơm, húp cháo, chuyện trong pháp môn hoàn toàn chẳng biết ǵ, chỉ biết học theo ông già bà cả ăn chay, hằng ngày giữ công khóa niệm Phật hiệu để cầu văng sanh Tây Phương, sao kham được tán thán quá mức như thế! Huống chi thầy c̣n nói đặc biệt đích thân đến nghênh tiếp ư? Văn Sao được in trước kia tại kinh đô sai ngoa quá nhiều, do Từ Úy Như lo cư tang mẹ, phải rời khỏi kinh thành, cậy người khác giảo chánh, đối chiếu, nhưng người đó chẳng cẩn thận. V́ thế, mùa Xuân năm nay, Thương Vụ Ấn Thư Quán sắp chữ in một bản khác, khá đích xác. Tọa hạ đă chẳng hiềm [văn chương của tôi] rườm rà, lẩm cẩm, do vậy bèn gởi năm bộ, và một bản [trần thuật] duyên khởi khắc Đại Tạng Kinh, một bản mục lục của kinh tạng vừa mới khắc ở Bắc Kinh, gộp thành một gói, mong Ngài thâu nhận. Văn Sao đă cho khắc mộc bản tại Dương Châu, tới tháng Tư hoặc tháng Năm năm sau có thể ra sách. Ván in được lưu trữ tại Dương Châu Tàng Kinh Viện.

          Hiện thời, thế đạo nhân tâm đă bại hoại tới cực điểm. Hoàng Đạo Doăn[8] và Hà sư trưởng đặc biệt thỉnh lăo pháp sư Phật Nguyên giảng kinh ḥng thay đổi, cứu văn [vận nước] tốt lành hơn, có thể nói là “biết cội gốc”. Nhưng theo kiến giải ngu tối của Quang, đối với các thường dân, hăy nên dùng nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi và pháp môn Tịnh Độ “nương theo từ lực của Phật, đới nghiệp văng sanh” để giảng diễn, tợ hồ dễ đạt được lợi ích hơn! Nếu chuyên nói về Tướng Tông, dẫu khiến cho ai nấy đều biết nghĩa đó, nhưng hai loại vô ngă, ai có thể đích thân chứng? Hai kinh Lăng Nghiêm và Pháp Hoa, một kinh trọn đủ nhân quả của mười pháp giới, kinh kia th́ trọn đủ duyên do hiển thị Quyền, Thật, Bổn, Tích, dường như càng dễ lănh hội để tiến nhập hơn so với Tướng Tông. Lại nữa, Tịnh Độ Tam Kinh cùng với phẩm [Phổ Hiền] Hạnh Nguyện chính là pháp “độ khắp ba căn, thấu triệt sâu xa cội nguồn và kết quả” của Như Lai. Chúng sanh đời mạt chẳng có sức đoạn Hoặc mà nếu chẳng nương theo pháp này, ai có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này? V́ thế, hăy nên thường giảng. Dẫu không chuyên giảng, cũng nên thường diễn nói kèm theo, ắt lợi ích sẽ to lớn.

          Trước kia, tôi đă từng thấy bộ An Sĩ Toàn Thư, toan khắc in lưu hành để giúp cứu đời. Đă mấy lượt mà cơ duyên chẳng thành, đều trở thành bánh vẽ. Tới năm Dân Quốc thứ bảy (1918) mới bắt đầu giao cho thợ khắc. Năm Dân Quốc thứ tám, sau khi ván in khắc xong, từ hai năm đó trở đi, đă lưu thông gần ba ngàn bộ. Nhờ các bạn bè cùng tán trợ, đă cậy Trung Hoa Thư Cục ở Thượng Hải sắp chữ theo kiểu sách cỡ nhỏ, tính quyên mộ các thiện sĩ in tặng mấy ngàn hoặc mấy vạn bộ để phân phát cho các giới ở bốn phương, ngơ hầu [mọi người] sẽ nhờ đấy mà biết nhân quả báo ứng và tâm pháp của Phật, Tổ, thánh hiền, cùng với pháp môn Tịnh Độ “hoành siêu tam giới” (vượt thoát tam giới theo chiều ngang). Mong sao ai nấy đều cảnh tỉnh, chẳng dám buông thả trong chán nản, thất chí, tâm niệm trở về cội gốc và cái tâm ban sơ. Nếu hai vị Hoàng và Hà muốn khiến cho những kẻ b́nh phàm đều đạt được lợi ích, cho in kèm thêm mấy ngàn bộ để mọi người đều được xem th́ lợi ích sẽ to lớn. Mỗi bộ khoảng chừng bảy cắc; nếu muốn in thêm, xin hăy gởi thư cho cư sĩ Đinh Phước Bảo ở số 38 đường chùa Tĩnh An tại Thượng Hải th́ sẽ chẳng sai. Gởi tiền cũng thế. Lại nữa, đối với các bài Khuyên Người Sơ Cơ Niệm Phật, cũng như nơi trang thứ ba của bài bi kư phóng sanh [trong Văn Sao], chữ Thân trong câu “sát bỉ thân mạng” (giết thân mạng của chúng) bị viết sai thành Sanh. Đó là do người sao chép đă tự tiện sửa chữ!

 

* Thư trả lời thầy Siêu Nhất

 

          Nhận được thư biết Phật Học ở Hồ Bắc hưng thịnh, hết sức an ủi. Đối với sách Khuyến Thế Bạch Thoại, tôi đă gởi thư xin sách tới cư sĩ Hoàng Hàm Chi, gởi thẳng tới dinh thự của quan đạo doăn Ninh Ba [của ông Hoàng], tùy ḷng ông ta phát tâm bao nhiêu. Nghe nói [ông Hoàng] chỉ in hai ngàn bản, sợ rằng đă gởi tặng [gần hết], chẳng c̣n được mấy! Nếu hăy c̣n, cố nhiên là Hàm Chi sẽ vui ḷng bố thí trọn khắp. Phàm là đối trước kẻ tại gia thuyết pháp, trước hết, ắt cần phải dạy họ ai nấy trọn hết bổn phận, cha từ, con hiếu, em kính, anh nhường, vợ chồng ḥa thuận, chủ nhân từ, tôi tớ trung lương. Có thể như thế th́ sẽ là thiện nhân trong thế gian. Lại c̣n kèm thêm kiêng giết, phóng sanh, ăn chay, niệm Phật, sẽ chẳng thẹn là đệ tử Phật. Tôi thường thấy người tu hành, phần nhiều đáng thẹn về mặt luân lư, không chỉ chẳng dễ cảm Phật, mà c̣n dễ chuốc lấy tiếng gièm chê! Người tại gia là như thế, mà người xuất gia cũng như thế. Phàm hết thảy mọi người chẳng trọn hết bổn phận của chính ḿnh, hư vọng ăn nói lớn lối, đều là phường tà ác bại hoại lừa ḿnh, dối người, c̣n chẳng được gọi là “người tốt”, huống hồ mong liễu thoát sanh tử ư?

 

* Thư trả lời Từ Hà đại sư

 

          Nhận được thư, khôn ngăn hổ thẹn! Quang là hạng người nào mà dám nói là hoằng pháp! Chẳng qua tôi biết ư nghĩa đại lược của Tịnh Tông đó thôi! Hễ có ai chẳng hiềm Quang kém hèn, Quang ắt dùng chuyện này để thưa tŕnh. Tọa hạ muốn chuyên tu Tịnh nghiệp, hăy nên xem kỹ bộ Tịnh Độ Thập Yếu, đó là tinh hoa trong các trước thuật Tịnh Độ. Các sách khác đều nên xem, nhưng Tịnh Độ Thánh Hiền Lục trọng yếu nhất. Đọc sách ấy, sẽ biết biển cả Tịnh Độ được ngàn kinh vạn luận tán dương, văng thánh tiền hiền thảy đều quy hướng, quyết chẳng đến nỗi bị miệng lưỡi nhạy bén của tri thức thuộc các tông khác đoạt mất. Các tông khác càng đả phá, tín tâm càng kiên cố. Thoạt đầu, cần biết Phật lực và tự lực lớn, nhỏ, khó, dễ, cùng với duyên do của Thiền và Tịnh. Nếu chẳng v́ con người Quang [hèn kém] mà bác bỏ lời thưa thốt, hăy nên xem trước bộ Văn Sao của Quang (Thương Vụ Ấn Thư Quán ở Thượng Hải có bán, chứ ở chỗ Quang chẳng có). Văn từ của Quang lan man, lẩm cẩm, nhưng đối với duyên do và giới hạn giữa Thiền và Tịnh thật sự đă nêu tỏ tường tận, [xem đến] sẽ dễ hiểu rơ ràng.

          Sau khi đă đọc Văn Sao của Quang, lại đọc các trước thuật về Tịnh Độ của cổ nhân, sẽ càng thêm thân thiết. Do cổ nhân phần nhiều nói đại lược, nếu chẳng đặc biệt chú ư lănh hội, sẽ ơ hờ đọc lướt qua. Nhờ vào bộ Văn Sao của Quang mà sẽ biết duyên do, đối với mỗi lời, mỗi chữ của cổ nhân, sẽ đều chẳng đến nỗi ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ. Pháp Tịnh Độ lấy ba pháp Tín, Nguyện, Hạnh làm tông. Nếu [ai giảng giải Tịnh Độ mà] nương theo điều ấy để nói, sẽ có thể vâng theo lời lẽ ấy. Nếu chẳng nói thuận theo [ba pháp] ấy, dẫu nói cao siêu, huyền diệu, có thể khiến cho người khác ngay lập tức đích thân thấy được bổn lai diện mục, cũng đều thuộc về bản lănh của nhà Thiền! Chưa đạt tới đại triệt đại ngộ mà tinh thông kinh tạng, cũng có thể hiểu rơ Thiền giáo, nhưng sẽ cách tuyệt lợi ích văng sanh thù thắng. Điều này trọng yếu tột bậc!

 

* Thư trả lời cư sĩ Từ B́nh Hiên (thư thứ nhất)

 

          Quang thuở bé, bệnh nhiều, thất học, vẫn chưa biết cách viết văn. Dẫu gặp lúc bắt buộc, bất đắc dĩ phải viết lách, chỉ lan man, quẩn quanh cho có lệ, chứ muốn cho văn lư đạt tới chỗ tinh vi, mở mang tâm mục cho người khác, chắc chắn là chẳng có văn tài ấy! Trong mùa Hạ, ông đă cậy viết bài kư về sự văng sanh của thái phu nhân, tôi uyển chuyển từ chối. Hôm trước, ra tiền sơn, gặp ông Phương Vân Lân nói các hạ gởi thư mấy lượt cậy ông ta khẩn cầu giùm. Quang bất đắc dĩ, bèn dựa theo đại ư trong Tịnh Độ và thuật đại lược chuyện của thái phu nhân, ghép thành bài viết gồm một ngàn một trăm lẻ năm chữ. Trước hết là kể về sự tích, nhưng chỉ dùng cách trần thuật sơ lược. Kế đó, đối với chuyện tu Tịnh nghiệp và chuyện cứu tế dân chúng bị tai nạn, cùng với các chuyện lúc lâm chung th́ nói hơi tường tận hơn. Do cứu tế nhằm hiển lộ ḷng Từ, c̣n tất cả các lời lẽ tu tŕ dành cho lúc lâm chung chính là chuẩn mực của người học Phật. V́ thế, đặt tựa đề là Sanh Tây Kư. Nếu ông phiền ḷng v́ những chuyện được trần thuật trước đó quá sơ lược, chẳng ngại bổ sung thêm. C̣n đối với chuyện sau khi cụ mất, tay vẫn nắm chặt xâu chuỗi th́ phải là thật sự có. Nếu không, hăy nên bỏ đi, tránh cho người đọc ngờ vực, bàn tán. Sau khi Phó Đại Sĩ đă mất bảy ngày, huyện lệnh cùng đại chúng tới dâng hương. Tới chỗ Đại Sĩ, Đại Sĩ bèn trở tay nhận hương (“trở tay” nghĩa là dùng lưng bàn tay chạm vào). Đó là Đương Lai Thế Tôn thị hiện. Thái phu nhân nắm chặt xâu chuỗi rất lạ lùng, chắc là do thiện căn đă gieo sâu từ nhiều đời nhiều kiếp mà ra! Lời văn trong bài kư mộc mạc, vẫn mong ông cậy bậc đại thông gia gọt giũa, ngơ hầu có thể lưu truyền! (Hiện thời, vận nước chẳng b́nh yên, chưa thể ấn hành Đại Sĩ Tụng; cần phải đợi tới lúc yên ổn th́ mới có thể sắp đặt được).

 

* Thư trả lời cư sĩ Từ B́nh Hiên (thư thứ hai)

 

          Đă lâu không gặp gỡ, tṛ chuyện, tôi rất nhớ. Ngày Hai Mươi tháng Tám, Quang xuống núi, tới ngày mồng Sáu tháng Mười mới trở về. Mồng Bảy đến tiệm Cẩm Thái, thấy thư ông gởi đến. Hai hôm sau, nhận được Di Huy Tập của lệnh từ. Đọc xong, khôn ngăn cảm phục. Như các hạ có thể nói là khéo phụng sự cha mẹ. Nhưng tôi do công việc bận bịu, chẳng thể ngay lập tức trút ra ư tứ khô cằn, tới hôm nay mới tom góp hơn một trăm chữ cho xong trách nhiệm! Nhưng chữ trong bài đề từ thô mộc, càng khiến cho người khác xấu hổ chẳng ngơi! Tuy thế, phận làm con, chuyện thật sự khiến cho cha mẹ rạng mày nở mặt là ở chỗ “lập đức, hành đạo”, khiến cho kẻ khác ngưỡng mộ cha mẹ ḿnh. Nếu thật sự có thể lập đức, hành đạo, người khác sẽ kính ngưỡng cha mẹ, sẽ được gọi là “hiền”. Nếu không, cha mẹ dẫu hiền, nhưng v́ con cháu chẳng ra ǵ, đến nỗi thiên hạ ngờ vực cha mẹ đức hạnh khiếm khuyết! Cố nhiên các hạ có thể lập đức hành đạo, nhưng Quang vẫn dùng chuyện này để khuyến khích, do bắt chước đường lối bạn bè răn nhắc lẫn nhau của cổ nhân, chẳng như người hiện thời chỉ lo a dua, ca ngợi!

          Sách Quán Thế Âm Tụng đă cho sắp chữ, chắc trong năm nay có thể ra sách, nhưng Quang tính in trước hai ngàn bộ để những người góp công in thỏa ḷng được xem trước. Năm sau sẽ in tiếp, in một lượt hơn một vạn bộ. Hiện thời, người đặt in đă tới bốn vạn bộ, Quang mong mỏi in mấy chục vạn bộ để phân phát rộng khắp trong và ngoài nước, sợ rằng Quang chẳng thể cảm ứng được như thế. Hơn mười vạn bộ chắc là có thể làm được! Nay gởi kèm cho ông một trang thuyết minh, mong hăy tùy duyên khuyên người khác đứng ra in. Đó cũng là một cách giúp đỡ hoằng pháp lợi sanh.

 

* Thư trả lời cư sĩ Vạn Khứ

 

          Nhận thư, biết ông có chí tu tŕ, khôn ngăn vui mừng, an ủi. Quang là một ông Tăng chỉ biết cơm cháo, ông lại lầm lẫn muốn tôn tôi làm thầy. Hăy nên coi tượng Phật bằng đất đắp, gỗ tạc như Phật sống, cung kính cúng dường như vị Phật sống, lợi ích sẽ chẳng thể nghĩ bàn! Nếu bảo “đấy là đất, gỗ, cần ǵ phải cung kính” th́ không chỉ vô ích, mà c̣n mắc tội khinh mạn Phật. Ông có thể tin như thế th́ tôi là thầy của ông. Nếu không, chẳng cần phải khách sáo hư ngụy! Tôi với ông vẫn là kẻ ngang hàng mà thôi để ít lầm lỗi!

          Nay tôi đặt pháp danh cho ông là Tông Nhất (宗一). Tông là “chủ”. Do ông họ Vạn (), Vạn từ một mà phát hiện. Có thể chuyên chú nơi một th́ càng vạn càng nhất! Chẳng thể chuyên chú nơi một, vạn sẽ tản mạn, phồn tạp, chẳng có trật tự! Một là ǵ? Chính là Phật tánh thiên chân vốn có của chúng ta. Do vốn có Phật tánh thiên chân ấy, chẳng thể nào không niệm Phật, trọn chẳng thể “trái nghịch giác, xuôi theo trần lao”, dấy lên tham, sân, si, tạo giết, trộm, dâm để rồi vĩnh viễn đọa trong tam đồ ác đạo. Vợ ông có pháp danh là Tông Trinh (宗貞). Trinh là “chánh”, là “chủ chốt”. Vạn mà có thể chú trọng nơi điều chủ chốt, tức là mọi pháp, mọi chuyện chẳng rời tự tánh, tự tánh thường luôn hiện tiền, há đối với nữ đức có điều hổ thẹn, chẳng thể giúp chồng dạy con để cùng đạt đến địa vị thánh, cùng thoát khỏi đường mê ư?

          E rằng ông chẳng có Văn Sao bản mới in, đợi tới tháng Giêng hay tháng Hai sách in xong, sẽ bảo Vân Lôi gởi cho vợ chồng ông mỗi người một bộ. Trong ấy, có nhiều đoạn nêu rơ ư nghĩa chánh yếu về đạo nữ nhân giúp chồng, dạy con. Biết điều ấy, sẽ làm gương cho vợ ḿnh rồi ảnh hưởng đến anh em. Sau đó, lan ra khắp cả gia tộc, đất nước. Chẳng riêng ǵ Văn Vương là như thế, mà đạo nghĩa hiền thục nội trợ của hậu phi cũng giống như thế. Người hiện thời cũng không một ai chẳng phải là như thế. Có chồng là người tốt đẹp, dẫu vợ chẳng hiền, cũng có thể cảm hóa trở thành hiền! Có vợ tốt đẹp, dẫu chồng chẳng hiền, cũng có thể cảm hóa thành hiền. Nếu vợ lẫn chồng đều tốt, sẽ như ao chuôm giúp ích lẫn nhau[9], hai tay giúp đỡ lẫn nhau, có thể chẳng mấy chốc mà dần dần tiến nhập địa vị thánh hiền đó ư? Con ông năm tuổi, hăy nên dạy bảo nghiêm ngặt, ngơ hầu đứa có thiên tư sẽ có thể thực hiện sự nghiệp “chính ḿnh tốt lành, c̣n khiến cho kẻ khác tốt lành”. Đứa chẳng có thiên tư cũng sẽ thành dân lành chẳng hề không tuân thủ quy củ. Quang bận bịu lắm việc, chẳng có ngày nào rảnh rỗi! Do vậy, viết đại lược mấy câu, nhưng văn chương chẳng ra hồn, mong ông hăy nhận biết ư nghĩa th́ sẽ được lợi ích vậy!

 

* Thư trả lời cư sĩ Thái Cát Đường

 

          Người sống trong thế gian, hiểm nạn quá nhiều: Dâm dục, tà kiến là những điều chánh yếu. Gia cảnh ông khá dư dả, lại c̣n chẳng có cha anh, nếu chẳng cực lực tự khích lệ, khó tránh rơi vào hố sâu dâm dục muôn trượng! Hễ rớt vào trong ấy, chẳng thể thoát ra, chẳng thể nào không chôn thân trong chốn ôn nhu, khiến cho gia nghiệp tan nát, con cháu đoạn tuyệt, đức hạnh của tiền nhân bị chôn sạch, linh tánh của chính ḿnh chẳng bị mai một sẽ chẳng thôi! Hăy nên coi nữ sắc như rắn độc, như la-sát. Dẫu là thê thiếp của chính ḿnh, c̣n phải nên tiết dục để giữ thân, mong sao quyết kế thừa đức hạnh của tiền nhân, khiến cho con cháu măi măi hưng thịnh. Đối với chuyện tà dâm, đừng nói là chẳng thể xâm phạm phụ nữ nhà lành, dẫu đối với bọn gái bán phấn buôn hương cũng chớ nên phạm. V́ trong số ấy, có kẻ tốt lành hay hạ tiện bất đồng, mà ta cứ luôn dùng cái tâm hạnh tà ác để đối xử.

          Kẻ ngu trong cơi đời chẳng biết chánh pháp, phần nhiều thuộc loại tà kiến, ngược ngạo nói chính ḿnh là chánh pháp, bảo chánh pháp là tà pháp! Hết thảy ngoại đạo, chẳng có kẻ nào không trộm cắt xén Phật pháp để khuếch trương to lớn môn đ́nh của chúng, nhưng những điều chúng nó trộm cắt xén chỉ là da lông. Chứ đối với lư tinh vi trong Phật pháp, chúng nó như kẻ mù ngó mặt trời, trọn chẳng thể thấy. Những kẻ bị chúng ngu hoặc toàn là phường ngu phu, ngu phụ! Người có chánh tri kiến sẽ chẳng tự bị mê hoặc. Như đem phân người làm thành h́nh dạng hương chiên đàn, chỉ có thể lừa kẻ chẳng biết thơm thối! Nếu là người biết thơm thối, chẳng đợi trông thấy đă bịt mũi, há bị bọn chúng mê hoặc ư? Những lời lẽ trong sách của chúng chẳng đáng bàn tới, hèn kém tột bậc, hăy nên tránh xa!

          Đức Phật dạy kiêng giết, ḷng Từ thấu tới vô h́nh, sao lại nói do trâu cày ruộng, bèn chẳng được giết ư? [Kẻ viết sách đó] lại cho rằng chùa miếu dùng trống đều do da trâu làm thành, cũng là do sát sanh mà có, chẳng biết ông muốn dùng trâu để làm món ăn hằng ngày, đến nỗi vô lượng vô biên trâu đều thành vật thỏa thích bụng miệng, c̣n chùa miếu dùng da của trâu đă bị giết [để bịt trống], lại ngược ngạo quở là chẳng từ bi! Đó gọi là “bất năng tam niên chi tang, nhi tư tiểu công chi sát” (chẳng thể cung kính để tang ba năm, cứ soi mói chuyện mặc tang phục vặt vănh). Cần phải biết trống là thuận theo t́nh kiến thế tục mà sử dụng, chẳng phải do đức Phật chế định phải sử dụng! Nếu chẳng dùng, cũng chẳng phải là không được! Nhưng do thế gian tấu nhạc, đă có chuông, trống; pháp khí trong Phật môn, chuông là bậc nhất, chứ trống chẳng thuộc loại khẩn yếu. Dùng da trâu đă bị giết để bịt trống, có lợi rất lớn cho con trâu ấy. Bởi lẽ, trong Ngũ Đài Sơn Chí, có câu chuyện cái trống bịt bằng da người. Một vị Tăng giám viện, lén trộm tiền bạc của thường trụ, để tậu ruộng đất cho chùa ḿnh. Sau đấy, ông Tăng chết, biến thành trâu cày ruộng đất ấy. Tới khi trâu già, người quản lư điền trang muốn bán trâu cho đồ tể. Trâu báo mộng cho đồ đệ của ḿnh, cho biết khi ông ta c̣n sống, trộm cắp của thường trụ, mua ruộng đất riêng, cho nên biến thành trâu. Nay chủ điền muốn bán trâu cho đồ tể, tội ấy bao kiếp vĩnh viễn khó chuộc, “mong rằng sau khi ta chết, hăy lột da bịt trống, viết chuyện này lên đó, tặng cho điện Văn Thù, ngơ hầu khi [Tăng chúng] làm Phật sự, đánh trống th́ tội ta sẽ có thể nhanh chóng diệt trừ”. Nói xong, húc đầu vào gốc cây chết mất. Ngày hôm sau, chủ điền trang báo tin con trâu già húc đầu vào cây mà chết. Đồ đệ bèn lấy da nó làm trống, tặng cho điện Văn Thù. Do vậy, người thuở ấy gọi là “cái trống da người”. Xem chuyện đó, biết trâu được bịt trống để làm pháp khí sẽ có thể diệt tội, tăng phước, siêu sanh thiện đạo.

          Kẻ đó lại nói cứu hổ hay chim ưng, chẳng bằng giết ưng, hổ th́ ḷng từ bi sẽ to lớn hơn! Đó là lời lẽ của kẻ may mắn được làm người! Nếu kẻ đó đời sau sanh làm ưng, hổ, sẽ trọn chẳng chịu thốt lời ấy. Hơn nữa, Phật hành từ bi, oán thân b́nh đẳng. Nếu bảo có thứ ǵ tổn thương con người, tổn thương loài vật bèn giết sạch mới là từ bi, thế th́ hăy nên giết người trước. Trong đời một người, chẳng bàn tới kẻ ác, dẫu là thiện nhân trong thế gian, từ bé tới già, chẳng biết đă ăn bao nhiêu thịt? Vậy th́ giết một người, sẽ có thể bớt giết bao nhiêu sanh mạng! Loại tà thuyết ấy chẳng cần phải nhắc tới! Kẻ đó may mắn được làm người đó thôi, chẳng lâu sau sẽ lại sanh trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ngay cả danh từ “trời đất, cha mẹ” đều chẳng được nghe, huống hồ ḷng đại từ b́nh đẳng, ḷng vô duyên đại bi của Như Lai ư? Những lời lẽ ấy khác ǵ ngậm phân phun lên trời. Trời chưa bị bẩn, mà thân và miệng của kẻ ấy đă bị phân nhuốm bẩn. Thế mà vẫn nhơn nhơn đắc ư nói: “Ta đă dùng phân phun lên trời”. Chẳng đáng buồn ư?

 

* Thư trả lời cư sĩ Phật Tâm

 

          Hôm qua từ Thương Vụ Ấn Thư Quán ở Thượng Hải chuyển đến thư ông, biết ông đang độ tuổi dốc chí học hành, lại hâm mộ Phật đạo, khôn ngăn vui mừng, an tâm. Tôi liền bảo ông Nhậm Tâm Bạch ở Thương Vụ Ấn Thư Quán gởi cho ông một gói Văn Sao để thuận tiện xem đọc. Số c̣n lại để tặng cho người có thiện căn. Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng do mê muội, chẳng biết, ngược ngạo nương vào sức công đức của Phật tánh để dấy lên tham, sân, si, tạo giết, trộm, dâm. Do vậy, trầm luân trong tam đồ lục đạo, vĩnh viễn chẳng thể thoát ra. Như Lai thương xót, dạy tu Giới, Định, Huệ ḥng đoạn tham, sân, si do hư vọng dấy lên. Tham, sân, si đă hết, sẽ có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Đó là pháp môn tự lực, muốn liễu thoát ngay trong đời này th́ vạn người chẳng được một. V́ thế, dạy “sanh khởi tín nguyện, tŕ danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương”. Nếu có thể tín nguyện chân thật, thiết tha, sẽ có thể nương vào từ lực của Phật, đới nghiệp văng sanh. So với kẻ cậy vào tự lực, sự khó dễ khác biệt vời vợi như trời với đất!

          Ông đă muốn quy y Phật pháp, làm đệ tử đức Phật, ắt cần phải y giáo phụng hành th́ mới có thể danh xứng với thật. Trong gia đ́nh, ắt phải trọn hết hiếu đễ. Đối với bạn bè, phải khuyến thiện, sửa lỗi. Tâm ắt phải lấy thành kính làm chủ, làm việc ắt phải đặt thận trọng hàng đầu. Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện. Tâm khởi một niệm bất chánh, tức là ác. Ắt cần phải gột sạch làu, chẳng phải đă làm chuyện ác th́ mới là ác. Phàm các ư niệm đều chú trọng ḷng kính, tuân giữ ḷng thành, mong thành thánh, thành hiền, đó là thiện. Ắt cần phải khuếch trương sao cho từ bên trong mà thấu lộ ra ngoài, viên măn chẳng thiếu sót. Điều đại ác trong cơi đời không ǵ bằng sát sanh, ăn thịt! Nếu có thể tự do, hăy nên thôi ăn mặn. Nếu không, hăy nên sanh tâm thương xót, chớ tham muốn ăn nhiều. Điều đại thiện trong thế gian, không chi bằng tự ḿnh niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Lại dùng đủ mọi phương tiện khuyên nhủ cha mẹ, anh em, vợ con, quyến thuộc, làng xóm, láng giềng, thân thích, bằng hữu, và hết thảy kẻ hữu duyên cùng niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Ông hăy nên lượng sức mà hành, ngơ hầu chẳng thẹn với cái tên Phật Tâm. Theo lệ thường, hễ quy y, ắt đặt pháp danh. Tôi lấy ngay tên ông làm pháp danh. Ông nh́n vào tên bèn nghĩ đến nghĩa, gắng sức thực hiện, sẽ chẳng phụ một phen thành tâm này. Xem kỹ Văn Sao, ắt sẽ biết phương pháp tu tŕ. Chớ nên thường gởi thư tới, khiến cho đôi bên phiền ḷng!

 

* Thư trả lời cư sĩ Vương Chửng Bang

 

          Ngày mồng Hai tháng Ba, nhận được thư, biết cư sĩ phát đại Bồ Đề tâm, hoằng dương Tịnh Độ, hướng dẫn trọn khắp những người cùng hàng đều cùng được văng sanh, khôn ngăn vui mừng, an tâm. Nhưng Quang từ ngày Mười Một tháng Hai, túc nghiệp phát ra đến nỗi bị bệnh mắt. Tới nay, tuy đă khỏi hẳn, vẫn chẳng dám dùng mắt nhiều. Thư từ trong hơn hai mươi ngày chất đống, cần phải chọn ra thư chẳng thể trả lời chậm trễ để phúc đáp trước. Do đó, lần khân đến nay [mới hồi âm cho ông], khôn ngăn hổ thẹn! [Tôi viết] lời tựa gồm hơn bảy trăm sáu mươi chữ ghép lại, đại ư vẫn có thể chấp nhận, nhưng câu chữ mộc mạc, chẳng khỏi khiến cho bậc thông sáng chê cười. Tinh xá đặt tên là Quy Tông (歸宗), chữ Tông ấy chẳng phải là Tông trong Tông Môn (宗門, Thiền Tông), mà có nghĩa là “chú trọng giữ lấy cội gốc”. Tôi đặt hai câu đối, chẳng cần phải viết theo lối liễn mừng kiểu “tàng đầu quán danh”[10], hoặc dùng các chữ trong đó để làm kệ truyền pháp. Đấy chính là khuôn sáo của kẻ chẳng thông suốt trong đời Mạt. Quang hoàn toàn chẳng thích câu đối làm theo kiểu “quán danh” ấy. Nay tôi đem câu đối đă nghĩ viết theo lối chữ Khải, nếu dùng được th́ dùng. Nếu không, hiện thời Hạ Phụ[11] có bậc thông sáng ở đó, hăy thỉnh người ấy làm câu khác để khỏi gai mắt phiền ḷng kẻ khác. Quang vốn chẳng quen viết lách; hơn nữa, gần đây bận bịu tột bậc, chẳng dám khơi ra chuyện đó. Hễ khơi ra, sẽ chẳng có ngày nào được rảnh rỗi.

          “Nhất siêu trực nhập Như Lai địa, đương niệm viên chương tịch chiếu tâm” (vượt thoát thẳng vào Như Lai địa, một niệm toàn bày tịch chiếu tâm).“Di Đà thệ nguyện hoằng thâm, nhân tư cửu giới đồng quy, thập phương cộng tán. Tịnh Độ pháp môn quảng đại, cố đắc thiên kinh câu xiển, vạn luận quân tuyên” (Thệ nguyện Di Đà rộng sâu, do vậy, chín giới đều hướng về, mười phương cùng xưng tán. Pháp môn Tịnh Độ rộng lớn, nên được ngàn kinh đều xiển dương, vạn luận cùng tuyên thuyết). Hai câu đối ấy, hai chữ Quy Tông và lời tựa, ắt có chỗ tương ứng.

          Nói đến chuyện khóa tụng niệm Phật, Quang chẳng thể lập. Chuyện này cần phải do chính ông tự ḿnh dựa theo thân phận của mỗi người và thân phận của mọi người để lập. Nếu muốn mô phỏng, có thể tham khảo các sách Tịnh Độ và Ấn Quang Văn Sao. Phàm muốn lợi lạc người khác, chính ḿnh cần phải chân thật tu tŕ là chánh yếu. Nếu chỉ nói suông, chẳng tận lực thực hành, hoặc đối với luân thường, hoặc đối với bằng hữu, suy nghĩ, hành xử có điều chẳng hợp lẽ, sẽ khó thể cảm ứng được! Thế gian và xuất thế gian đều lấy thân làm gốc. Thân đă chánh th́ không cần phải ép buộc mà người khác làm theo. Thân bất chánh, dẫu ép buộc, kẻ khác chẳng nghe theo. Lời dạy ấy của Khổng Tử chính là thánh huấn ngàn đời chẳng thay đổi. Nêu gương cho vợ ḿnh, ảnh hưởng đến anh em, sau đó lan truyền đến gia tộc, nước nhà, đó chính là căn bản pháp luân của Chửng Bang vậy.

          Ngày Hai Mươi Lăm hoặc Hai Mươi Sáu tháng này, Quang sẽ xuống núi, sợ sẽ phải lần khân hai ba tháng [mới trở về Phổ Đà được]. Do Văn Sao bản sắp chữ mới sắp được xuất bản, hễ sách in ra, phải lo liệu gởi tới những người bỏ tiền đứng in các nơi. Lần này, người phát tâm quyên tiền in sách đă tṛn hai vạn, sợ là chưa thể đạt tới con số ba vạn. Nếu muốn lợi lạc người khác, hăy tùy ư nhận chịu tiền in bao nhiêu bản. Nếu chịu bỏ tiền in, hăy chuyển khoản cho Tổng Vụ Xứ của Thương Vụ Ấn Thư Quán ở số 45 đường Bảo Sơn, Thượng Hải, giao cho cư sĩ Nhậm Tâm Bạch thâu nhận. Ông ta sẽ gởi lại biên nhận. Đợi tới khi sách in ra, sẽ lập tức gởi đến. Dựa theo giá của hai vạn bộ th́ một bộ chẳng hơn bốn cắc, không tính bưu phí (cước phí của bưu điện). Dựa theo số tiền mà gởi sách, ắt chẳng lầm lẫn. Nếu qua khỏi thời hạn này, sau đó sẽ chẳng có giá này nữa, v́ giá ấy dựa theo giá in hai vạn bộ để ấn định. Sau đó, [Thương Vụ Ấn Thư Quán] sẽ tính theo giá phát hành. Tôi lại c̣n có các chuyện như Pháp Vân Tự, Từ Ấu Viện, và Quán Âm Đại Sĩ Cảm Ứng Tụng phải đưa đi sắp chữ v.v… Đại Sĩ Tụng (Quán Âm Đại Sĩ Bổn Tích Cảm Ứng Tụng) khoảng mười vạn chữ do một vị đại cư sĩ ở Giang Tây biên soạn, v́ trước kia Quang đă nhờ cậy. Bút lực của người ấy vượt xa văn nhân tầm thường cả trăm lần!

 

* Thư trả lời cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh (thư thứ nhất)

 

          Đối với chuyện thọ giới, nếu đối trước Phật tự thọ th́ chỉ dùng ḷng chí thành, sám hối mấy ngày, liền hướng về Phật, bạch rằng: “Đệ tử con tên là…. thề giữ Ưu Bà Tắc ngũ giới, và mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh của Bồ Tát” là được. Nếu nói “phải thấy hảo tướng” th́ người thời nay rất khó cảm thông. Đó chính là bị hảo tướng gây chướng ngại, chẳng thể tùy phần tùy sức tiếp nhận pháp ích. Sát nghiệp vi tế, kẻ chưa chứng Sơ Quả đều khó thanh tịnh [sát nghiệp] được, chỉ nên lưu tâm bảo vệ sanh mạng [của chúng sanh] là được rồi, há có nên viện dẫn chuyện vô ư tổn thương [chúng sanh] và chẳng có sức cứu vớt [để lo ngại]. Nếu nói như trong thư ông viết, ắt khó thể làm người được!

          Ngoại đạo cho rằng do hít thở có loài trùng nhỏ tí lọt vào miệng, dẫu ăn chay cũng khó tránh khỏi sát nghiệp. Quang cho rằng loại tri kiến ấy giống như thấy muỗi bám vào thân ḿnh, bèn cho rằng thân giống như nhà xí, liền muốn cho hết thảy mọi người cùng gieo ḿnh vào nhà xí để hưởng niềm vui ấy, cùng một loại tà kiến. Sao lại dùng chuyện đó để vấn nạn? Đức Phật dạy bậc La Hán có thiên nhăn chẳng được dùng Thiên Nhăn để nh́n vào nước. V́ dùng Thiên Nhăn để nh́n, sẽ thấy không có nước nào chẳng có trùng!

          Đối trước pháp sư thọ giới, chẳng cần phải thấy hảo tướng; đối trước Phật tự thọ giới, cần phải thấy hảo tướng. [Lời dạy] ấy nhằm đối trị cái tâm khinh Tăng. Nay đă chẳng tiện thọ giới trước Tăng th́ đối trước Phật thọ giới cũng có thể coi như đối trước Tăng thọ giới. Nếu ắt muốn thọ giới từ Tăng, hăy chọn vị nào có đức hạnh là được, không bắt buộc phải đợi đến khi có dịp truyền giới tùy hỷ nhiều ngày (tức là khi có giới đàn). Người xuất gia ắt phải vào trong điện đường tập tành oai nghi để mong sau khi thọ giới, nhập chúng sẽ được an trụ. Kẻ tại gia thọ giới bất cứ lúc nào cũng đều được, chỉ cần nghe truyền giới một buổi là được rồi!

          Đối với chuyện trong tháng mùa Đông, ông sợ lạnh, chẳng có áo cừu[12] sẽ chẳng đủ ấm, cũng có thể ṭng quyền, nhưng tâm phải mang ư niệm cầu siêu [cho các con thú bị lấy da làm áo ấy] để khỏi phạm lỗi. Người đời chẳng chịu phát tâm kiêng giết, thường hay đem chuyện chẳng thể kiêng phạm giới ra bắt bẻ. Đó chính là tà kiến ngăn trở kẻ khác tiến cao hơn! Chúng ta nương theo lời Phật dạy để hành, hăy nên từ cạn tới sâu, từ thô đến tế. Nếu thoạt đầu đă lập tức toan nương theo ư nghĩa trọn vẹn để thực hiện mọi sự rốt ráo, sẽ trở thành tự tổn thương chính ḿnh. Thêm nữa, các hạ kiến giải rất cao, chỉ đối với chuyện ăn chay tới nay mới thanh tịnh, nhưng phu nhân là người b́nh phàm chẳng thể tùy hỷ, tức là thường ngày ông trọn chẳng hướng dẫn, giảng giải cho bà ta. Nếu không, chắc chắn chẳng thể không cảm ứng!

          Tháng Tám năm Dân Quốc thứ mười (1921), ông Ngụy Mai Tôn gặp Quang, nói chính ḿnh chẳng thể ăn chay. Quang bảo ông ta đọc kỹ bài Sớ Ao Phóng Sanh ở Nam Tầm, tới tháng Mười, ông ta bèn ăn chay trường. Năm kế đó, ở Nam Kinh mở đạo tràng phóng sanh tại chùa Pháp Vân, ông Mai Tôn dốc sức lo liệu nhiều nhất. Cả nhà ông Đặng Phác Quân ngay cả người hầu cũng đều ăn chay, mỗi ngày ba thời đều đến Phật đường niệm Phật. Thuốc, rượu đều chẳng lọt vào cửa nhà ấy được! Bà Phương Huệ Uyên do được anh bà ta gởi cho một bộ Văn Sao của Quang, bèn phát tâm niệm Phật. Trong nhà, trẻ nhỏ lẫn tôi tớ đều ăn chay. Chồng bà ta thoạt đầu chẳng tin cho lắm, nay cũng ăn chay hai bữa, cơm tối mới dùng chút đồ mặn, nhưng trong nhà tuyệt đối chẳng sát sanh. Bà ta là phụ nữ chỉ biết chữ đôi chút mà c̣n có sức cảm hóa, hướng dẫn như thế, nếu các hạ dốc chí lợi ích quyến thuộc, hăy thường bàn nói nỗi họa hại do ăn thịt, họ sẽ có thể dần dần thuận theo, quyết chẳng đến nỗi nẩy sanh chống trái!

 

* Thư trả lời cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh (thư thứ hai)

 

          Quang tinh thần chẳng đủ, dễ quên mọi việc. Trong thư trước, ông hỏi phụ nữ trong khi có kinh nguyệt có được lễ Phật hay không mà tôi quên trả lời. Kế đó, tôi nghĩ tuy đây là chuyện nhỏ, nhưng nếu chẳng bàn đến, sẽ khiến cho công phu lễ tụng của phụ nữ vào mỗi tháng v́ chuyện này mà bị gián đoạn, cũng rất có can hệ, cho nên trả lời thêm. Phàm mọi việc đều cần phải xét theo t́nh lư th́ mới hợp lẽ. Chấp kinh mà thông đạt quyền th́ mới thích đáng. Quan tâm đến Kinh, [Kinh] là đạo lư nhất định chẳng thay đổi, nhưng t́nh cảnh th́ muôn vàn biến hóa. Cố nhiên phải gộp chung cái chẳng đổi và cái biến hóa để định luận th́ t́nh lư, kinh quyền hai đằng đều đạt được! Nếu chấp chết cứng nơi kinh gọi là “thủ kinh” (giữ vững kinh), [kẻ như thế] mà chẳng đến nỗi trái lư, nghịch kinh th́ hiếm lắm! Con hiếu phụng sự cha mẹ, chẳng dám dấy lên một niệm trái nghịch. Nếu thân thể cha mẹ có nhọt độc, chẳng ngại đâm kim vàng để chọc bỏ mủ, máu. Tuy cha mẹ kêu đau, vẫn chẳng màng, bởi chẳng làm như thế, sẽ không thể khiến cho cha mẹ an vui. Không làm như thế, sẽ là bất hiếu. Nếu là kẻ chẳng hiểu chuyện, thấy người khác làm như thế được gọi là “hành hiếu”, kẻ đó cũng làm như thế đối với cha mẹ chẳng bị ung nhọt, bèn trở thành đại nghịch! V́ thế biết t́nh lư phù hợp th́ mới là “thủ kinh”. Như chuyện Đoản Cô được chép trong Phổ Đà Sơn Chí, [do cô ta đang có kinh nguyệt], chị dâu không cho phép cùng lên núi dâng hương, Bồ Tát thương xót bèn tặng thức ăn. Do Bồ Tát xét ḷng thành của cô, chẳng màng đến h́nh tích (tuy chuyện này được lưu truyền đă lâu, nhưng xét kỹ chuyện ấy, là do đời sau thêm vào. Ở đây, chỉ luận theo t́nh lư, chẳng cần biết đó là chuyện thật hay giả).

          V́ thế, biết phụ nữ khi có kinh nguyệt, vẫn lễ Phật, tụng kinh chẳng trở ngại ǵ. Nhưng hăy nên giảm bớt lễ tiết, phần nhiều ở trong pḥng của ḿnh niệm Phật. Nếu đang thọ tŕ kinh điển, vẫn đọc tụng như cũ cũng chẳng trở ngại ǵ, chỉ nên tắm rửa sạch sẽ th́ tốt hơn. Nếu lâm vào t́nh thế chẳng thể, chỉ nên gắng sức giữ cho sạch sẽ, đừng để tay bị nhuốm bẩn bởi máu kinh nguyệt th́ chẳng trở ngại ǵ. Trước kia, Quang từng bị sanh nhọt ở móng tay, nhiều ngày chẳng dám rửa ngón tay ấy, nhưng vẫn lễ tụng y như cũ, chẳng coi đó là tội, v́ đấy là bệnh. Nếu ngón không mọc nhọt [mà chẳng rửa tay], sẽ chẳng thể trốn tránh tội lỗi được!

 

* Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ nhất)

 

          Ngày hôm qua, do Giang Vị Nông chuyển thư đến, biết lệnh phu nhân đă chánh niệm văng sanh, khôn ngăn cảm thán! Các hạ và phu nhân đă có nhân duyên từ xưa, giúp nhau nhập đạo, thật đáng gọi là “đức phối”. Xét theo tướng trạng khi lâm chung, chắc là bà ta đă quyết định văng sanh, cố nhiên chẳng cần phải bi thương. Điều đáng tiếc là các hạ mất đi một người bạn trên đường đạo, có bạn mà chẳng thể thường đích thân vỗ về, dạy bảo. Nói đến chuyện chuyển tiền th́ ở Phổ Đà chẳng tiện, do bưu cục nhỏ chẳng có chuyện chuyển khoản. Hăy gởi thẳng sang chùa Thái B́nh tại Trần Gia Tân ở Thượng Hải, giao cho ḥa thượng Chân Đạt, mong thầy thay Quang nhận lấy là được. Hôm qua, tôi đă đưa thư của các hạ cho chủ nhân chùa Pháp Vũ xem, mong hăy dùng hết món tiền ấy làm Phật sự. Sư bèn sai Tăng chúng mở một Phật thất, làm một lễ Thí Diệm Khẩu. Chùa Pháp Vũ đặc biệt lập một Niệm Phật Đường, hiện thời chỉ có mười sáu người, phần nhiều là hai mươi hai người, đều là người có đạo tâm. Chiều hôm qua, Quang đặc biệt đến Niệm Phật Đường, nói rơ ư này và lợi ích do niệm Phật v.v… khoảng hơn một tiếng. Bọn họ nghe xong đều hoan hỷ. Lệnh phu nhân đă được văng sanh, nương theo Phật lực, pháp lực, và sức niệm Phật của đại chúng, ắt sẽ cao thăng phẩm vị, thấy Phật càng nhanh! Nhưng Quang do t́nh bạn với các hạ, cũng trong lúc khóa tụng sáng tối, đều đọc tên hồi hướng cho các hạ và phu nhân nhằm giăi bày tấc ḷng. Tính đến nay, niệm Phật bắt đầu từ hôm thánh đản của Phật Di Đà cho tới ngày Hai Mươi Ba sẽ viên măn. Quang hồi hướng cũng lấy bảy ngày làm hạn.

          Người cầm quyền hiện thời phần nhiều chẳng biết nhân quả báo ứng, chỉ lo danh vọng quyền thế lừng lẫy trước mắt, chẳng màng đầu mặt trong đời sau, đến nỗi chẳng v́ nước, chẳng v́ dân, chỉ v́ quyền thế và lợi ích của chính ḿnh, đấu đá lẫn nhau, khiến cho đất nước tổn thương nguyên khí, dân chúng lầm than. Trong khoảng tháng Tám, ông Ngụy Mai Tôn ở Nam Kinh sang Thượng Hải lánh nạn, đă đem ba mươi sáu điều nói về chuyện hiếu sát và chẳng giết trong sách Địch Cát Lục[13] sao ra, muốn ấn loát để lưu truyền. Quang cho rằng tai họa hiện thời đă h́nh thành, hết thuốc cứu chữa. Muốn dứt họa hại trong tương lai, hăy nên thâu thập rộng răi các chuyện trong lịch sử, ngơ hầu hết thảy mọi người đều cùng biết nhân quả, bèn đem sao lục những chuyện cảm ứng trong hai mươi hai bộ sử gởi sang, ông ta hoan hỷ tột bậc. Quang lại bảo ông ta hăy sưu tầm rộng răi để soạn thành một bộ sách tổng quan, hạn định trong một năm biên soạn xong, sẽ đem sắp chữ và in ra mấy vạn bộ để lưu thông rộng khắp cả nước, chắc sẽ có thể nhờ đó mà văn hồi [vận nước]. Chuyện này vẫn mong các hạ đề xướng, ngơ hầu người có sức sẽ đảm nhiệm chi phí ấn loát ḥng thí tặng th́ mới có thể phổ biến lưu thông.

          Thêm nữa, đối với người lâm chung, chỉ nên niệm Phật, chớ nên tŕ chú. Bởi lẽ, niệm Phật để cho người ấy nghe. Người ấy tuy chẳng thể niệm, nhưng nghe tiếng niệm Phật, tâm liền thanh tịnh. Nếu tŕ chú, chỉ có sức gia tŕ, người ấy chẳng có cách nào tụng theo. Đó là lề lối đă ấn định từ xưa tới nay. Trợ niệm lúc người ấy sắp mất là khẩn yếu nhất, há có nên tŕ chú xong rồi mới dùng niệm Phật để hồi hướng ư? Trong Văn Sao của Quang cũng có nói đến chuyện này. Phàm hết thảy mọi người dù là niệm Phật hay không, lúc lâm chung đều nên dùng niệm Phật để giúp đỡ, đừng tụng các loại kinh chú khác, [v́ các loại kinh chú ấy] sẽ chẳng thể khiến cho người sắp mất ấy thầm niệm theo trong tâm. Chuyện này có mối quan hệ chẳng nhỏ, cho nên tôi sẽ viết thêm vào sau. Lại nữa, niệm Phật giúp cho người lâm chung văng sanh, chỉ nên gơ dẫn khánh, chớ nên đánh mơ. Tiếng mơ đục, tiếng dẫn khánh thanh. Trong khi niệm Phật sáng tối, các hạ cứ thử lắng ḷng nghe kỹ, sẽ tự biết ưu khuyết.

          Cơi đời hiện thời, chẳng có cách nào cứu văn; may là có nhân quả th́ c̣n có thể văn hồi. Đối với chuyện nhân quả, kẻ cao minh thường chán nghe. Cao minh kiểu đó quả thật là hèn kém, tối tăm. Như Lai thành chánh giác, chúng sanh đọa tam đồ, đều chẳng ra ngoài nhân quả. Do kẻ cao minh chuyên bàn lư tánh, chẳng nói nhân quả, thói tệ ấy đă tạo thành cảnh tượng hiện thời. Khi gặp hết thảy mọi người, mong hăy đều nên dùng nhân quả để khuyên bảo, hướng dẫn, sẽ có lợi ích to lớn!

 

* Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ hai)

 

          Nhận được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Nay tôi gởi một gói Tịch Tà Tập và Tam Đại Sĩ Thực Lục, xin hăy kiểm nhận. Trong Phó Đại Sĩ Lục có nhiều thiền cơ, kẻ sơ tâm chẳng thể hiểu ư, hoặc hiểu lầm, nếu chẳng phải là bậc thông gia, chớ nên bảo xem. Tịch Tà Tập[14] chỉ có thể tự biết, chớ nên dựa vào đó để tranh biện với kẻ khác, mà cũng chẳng cần nói với hàng học giả, do họ có thế mạnh, có thể sẽ dấy lên chuyện dă man! Sách Tứ Thư Ngẫu Ích Giải nay đă khắc ván xong, c̣n chưa gởi tới. Đợi Quang duyệt xong, sẽ cho đúc bản kẽm sẽ có thể in thành sách. Mấy năm trước, trường học Tân Đường đă vài lượt gởi thư hỏi, hiện thời có thể tùy ư thỉnh. Họ tính giá bảy cắc một bộ, bao gồm bưu phí. Sách ấy do Ca Âm Xă ở số bốn mươi hai ngơ chùa Kim Cang tỉnh thành Chiết Giang xuất bản. bản gốc do Quang lưu giữ, họ cậy Quang giảo chánh, đă gởi đi sáu bảy năm, tới nay mới xong việc.

          Lệnh từ[15] hằng ngày tŕ danh hai vạn câu, hết sức đáng mừng. Ông hăy nên thường tuyên nói những nghĩa trọng yếu của Tịnh Độ để tín nguyện của cụ chân thật, thiết tha, quyết định văng sanh, ḥng thỏa ư thiết tha khuyên dụ mẹ hướng về đạo của các hạ. Muốn sửa đổi tượng La Hán và chư thiên, cần phải có thợ khéo. Trong lúc này, tuy có thợ khéo, nhưng đường sá xa xôi, chẳng tiện đến xem có thể sửa hay không? Nhị Thập Tứ Sử Cảm Ứng Lục chưa thành sách. Tôi vốn muốn in, chưa thể dự định. Nếu có ai muốn in, chẳng ngại ấn định trước sẽ chịu tiền in bao nhiêu bộ. Đợi cho đến khi giá cả ước định xong xuôi, sẽ dựa theo giá cả mà giao tiền, cho nên chẳng trở ngại.

 

* Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ ba)

 

          Ngày Hai Mươi nhận được thư, không ngăn cảm kích và hổ thẹn. Lệnh phu nhân túc căn sâu dày, lại c̣n chí tâm niệm Phật, lại được cả nhà các hạ niệm Phật cho bà ta, cho nên có các thứ thụy tướng có thể chứng tỏ đă văng sanh. Trong ngày viên măn Phật Thất tại Pháp Vũ, có bằng hữu nằm mộng thấy [tướng tốt lành] chính là do ḷng thành của lệnh từ và cả nhà các hạ cảm vời Tam Bảo gia bị nên được thấy tướng lành ấy, quả thật là do ḷng chí thành của cả nhà các hạ cảm ứng. Nếu cả nhà các hạ chẳng có ḷng thành ấy, dẫu Tăng chúng Pháp Vũ chí thành tột bậc, cũng khó thể có thụy tướng ấy! V́ sao? Do cội gốc chẳng lành, làm sao cành nhánh sum suê cho được? Tất cả các thụy tướng trùng điệp đều có thể chứng minh văng sanh, chẳng cần phải cầu kim luân để quyết đoán. Đối với pháp kim luân, Quang chẳng nghĩ là đúng cho lắm, v́ nó khá giống với cách cầu cơ! Chẳng phải là không có chân tiên, nhưng [cầu cơ hay hỏi han bằng pháp kim luân], phần nhiều là linh quỷ [giáng đàn]. Người hiểu rơ lư phải nên suy xét theo lư, dùng kinh để chứng thực, có chuyện ǵ mà chẳng quyết đoán được, huống hồ toan quyết đoán chuyện này ư? Lịch Sử Cảm Ứng Lục thích hợp nhất cho học đường, bởi toàn là chuyện được biên chép trong sử sách. Nếu có thể khiến cho ai nấy đều nhận lănh một quyển, hằng ngày xem đọc, sẽ bất tri bất giác tự sanh ḷng dè dặt, gắng sức, so với các thứ thiện thư khác c̣n đạt được lợi ích nhiều hơn!

 

* Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ tư)

 

          Đầu tháng Ba, nhận được thư từ bạn bè cho biết, lệnh nghiêm[16] vừa mất, các hạ đau buồn thân thể chẳng khỏe, chẳng thể cầm bút, sai tôi viết thay, khôn ngăn buồn bă, xót xa chẳng thôi! Nhưng lệnh nghiêm tuổi thọ bảy mươi lăm, con, dâu, cháu, chắt đầy đủ, chẳng bệnh nặng mà mất. Đă thế, cả nhà niệm Phật suốt ngày, tiếng niệm Phật không ngừng, cụ ắt nhờ vào ḷng thành của hiếu quyến, được Phật tiếp dẫn văng sanh. Như thế th́ có ǵ tiếc nuối? Tuy con hiếu chẳng nỡ ḷng ĺa cha mẹ, nhưng tướng thế gian vô thường, quyết chẳng có lẽ “ở măi trong thế gian”. Nhưng hăy nên dùng Phật pháp để vun bồi thần thức của cụ, cố nhiên chẳng cần chấp trước lễ nghi thế tục để rồi quá mức đau buồn. Đạo thờ cha mẹ, ắt phải giữ lấy điều chánh yếu. Kẻ chẳng biết Phật pháp, chỉ biết buồn đau là hiếu, rốt cuộc vô ích cho cha mẹ, tổn hại cho chính ḿnh. Sao bằng chuyển cái tâm đau buồn thành niệm Phật, lợi ích há chỉ khác biệt vời vợi như trời với đất? Các hạ hiểu rơ lư, chắc sẽ chẳng nghĩ Quang nói sai lầm! Quang nghèo túng chẳng có ǵ, hễ bạn bè gặp cảnh buồn đau v́ cha mẹ khuất bóng, đều vào lúc hồi hướng trong khóa tụng sáng tối, đọc tên người đă khuất để hồi hướng. Nay tôi v́ lệnh nghiêm hồi hướng ba thất (hai mươi mốt ngày) ḥng trọn hết t́nh bạn.

          C̣n như ông bảo lệnh điệt (cháu) Tri Nguyên gởi hai trăm đồng, sẽ dùng một trăm để cúng dường Tam Bảo, và một trăm để phóng sanh. Trộm nghĩ năm xưa, trong lúc có tang lệnh phu nhân, đă dùng một trăm đồng để mở một khóa Phật Thất, nay cũng làm như thế. Vừa khéo Niệm Phật Đường chỉ có mười hai người, cho nên chẳng thỉnh thêm. [Cúng dường các vị ấy] hết chín mươi đồng, mười đồng dùng để cúng dường sắm thức ăn cho đại chúng trong bữa trưa suốt mười ngày, như thế th́ tâm nguyện cúng dường Tam Bảo của các hạ đă măn, mà chuyện niệm Phật cũng chẳng khuyết, hai đằng đều thích đáng.

          Tiền phóng sanh theo ngu kiến của Quang, hăy nên chọn dùng vào chỗ có lợi ích to lớn. Hiện thời, trong tháng Chín sẽ đưa bộ Quán Âm Tụng đi sắp chữ, ước chừng vào tháng Giêng hay tháng Hai trong mùa Xuân năm sau sẽ in ra. Có lẽ nên đem món tiền này in ba trăm bộ Đại Sĩ Tụng để truyền bá, khiến cho hết thảy mọi người đều hưởng từ ân của Đại Sĩ, cùng biết “kiêng giết, bảo vệ sanh mạng” th́ sẽ thù thắng hơn hẳn! Nếu như ông cứ muốn phóng sanh, xin hăy bảo cho biết. Chẳng thể phóng sanh ở Phổ Đà, v́ ở giữa biển cả, các sanh vật phần đông không chỗ nương về (nước biển mặn, thả cá nước ngọt xuống, nó sẽ chết liền). [Tiền phóng sanh] sẽ gởi sang chùa Pháp Vân ở Nam Kinh. Hiện thời, đấy là đạo tràng phóng sanh bậc nhất ở phương Nam.

          Quán Âm Tụng, Quang muốn quyên mộ in hơn mấy chục vạn bộ để lưu truyền trọn khắp trong ngoài nước. V́ thế, sai làm bốn Chỉ Bản[17] để chuẩn bị sẵn; nhưng do tôi là người đức mỏng, sợ chẳng cảm ứng được chuyện ấy. Hơn mười vạn bộ th́ chắc có thể làm được. Hiện thời, đă có người nhận chịu tiền in năm sáu vạn bộ. Một cư sĩ dùng năm ngàn đồng để cầu nguyện cho mẹ: “Tuổi thọ chưa hết bèn lành bệnh, tuổi thọ đă hết sẽ văng sanh”. Quang cho in một vạn bộ Đại Sĩ Tụng hết ba ngàn ba trăm đồng, c̣n lại một ngàn bảy trăm đồng th́ in Bất Khả Lục, ông ta đă chấp thuận. Món tiền hai trăm đồng này, chẳng biết ông muốn gởi về chỗ nào? Phổ Đà bất tiện, hăy nên gởi sang Thượng Hải là tiện lợi, ổn thỏa nhất. Mong ông hăy dứt buồn niệm Phật, và suất lănh cả nhà niệm Phật để trọn hết ḷng báo đáp cha mẹ, tận hiếu. Đừng câu nệ lễ tục thế gian th́ mới là phải lẽ vậy!

 

* Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ năm)

 

          Từ mùa Đông năm ngoái, do bận bịu, chưa gởi thư, hết sức có lỗi! Trong tháng Năm, Quang bảo Trung Hoa Thư Cục gởi chín trăm bộ Quán Âm Tụng cho cư sĩ Ngô Điệp Khanh. Có người tiện đường về đất Vụ[18], bèn cậy người ấy giao bốn trăm bộ cho các hạ, giao năm trăm bộ cho Tân Đường Thôn Hiệu (trường học của thôn Tân Hiệu) để học sinh nào có tín tâm sẽ đều được thọ tŕ. Hiện thời, Văn Sao ấn bản mới và Thọ Khang Bảo Giám đều in ở Hàng Châu. Nay in An Sĩ Toàn Thư trước, khoảng Trung Thu sẽ có thể ra sách. Văn Sao và Thọ Khang Bảo Giám chắc tháng Mười hay Mười Một có thể ra sách. Hễ sách in ra, cũng cậy ông Ngô chuyển cho ông chừng đó bộ.

          Hôm qua từ chùa Thái B́nh ở Thượng Hải chuyển đến thư của ông Du Hữu Phương nói về chuyện của lệnh thân, cho biết các hạ đă giao hai trăm đồng, bảo gởi đến để làm công đức phóng sanh. Thứ nhất là cầu cho lệnh phu nhân tăng cao phẩm sen, thứ hai là cầu cho lệnh tức (con dâu) sanh nở thuận lợi. Chùa Thái B́nh tạm nhận lấy khoản ấy, chờ Quang sang Thượng Hải sẽ lại giao cho chùa Pháp Vân, đừng lo. Trộm nghĩ: Người sanh nở chẳng thuận lợi là do sát nghiệp đời trước tạo thành. Nếu có thể thường xuyên niệm Phật, dẫu lúc sắp sanh vẫn chí thành niệm Phật, chắc chắn chẳng có chuyện khó sanh! Người đời thường dùng cái tâm phàm phu để hư vọng suy lường, bảo “sắp sanh chẳng được niệm Phật!” Chẳng biết Phật ôm ḷng cứu độ chúng sanh, trong lúc quan yếu sanh tử, chính là lúc Phật ân che chở, chẳng thể lư luận theo lúc b́nh thường được! Như con cái bệnh không thể dậy nổi, cha mẹ c̣n chịu tự tay đút mớm thức ăn, đích thân hầu tiêu tiểu. Đó là t́nh thân khi bệnh tật. Nếu chẳng bệnh tật mà bắt cha mẹ phục dịch như thế, đáng bị sét đánh! Lư có nhất định, Sự chẳng nhất định! Mong hăy dựa theo Sự để luận định Lư ḥng được viên thông. Quang thường nói nghĩa này với mọi người, những người vâng làm theo, đều chẳng bị khổ nạn. Do các hạ đă biết, cho nên nói nguyên do, cũng mong các hạ bảo khắp mọi người trong xă, ngơ hầu hết thảy sản phụ đều được ĺa sản nạn. Mong lắm thay!

 

* Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ sáu)

 

          Đă lâu chưa gởi thư, hết sức có lỗi! Năm ngoái, ông gởi hai trăm đồng, do Tây Hồ quyên mộ tiền mua cá, tôi bảo thầy Chân Đạt thay ông giao cho họ, chắc là ông đă nhận được biên lai rồi. Hai trăm đồng [ông gởi] năm nay cùng với một trăm của Tào Thạch Như từ hồi năm ngoái đều dùng làm chi phí nuôi chó. Chắc là biên lai cũng đều nhận được rồi. Chánh quyền thành phố Hàng Châu đem tất cả chó hoang giết sạch. V́ thế, hội Phật giáo thỉnh cầu họ hễ bắt được [con chó hoang nào], đều đưa sang hội Phật giáo. Hiện đă thâu nhận gần hai ngàn con. [Chó hoang trong thành phố Hàng Châu] vẫn chưa bắt xong! Thức ăn đạm bạc của hai ngàn con chó ấy, mỗi con mỗi ngày tốn một xu năm chinh. Hai ngàn con chó mỗi ngày cần đến ba mươi đồng, lại cần phải có người chăm sóc, cho ăn. Chi phí cho việc này rất lớn. V́ thế, đem khoản tiền của các hạ chuyển sang dùng vào việc này. Tháng Chạp năm ngoái, công ty ấn loát ở Chiết Giang bị hỏa hoạn, đến nỗi các sách như Văn Sao v.v… chưa thể gởi nhiều được. Hiện thời, cho in ở Thượng Hải. Đến tháng Tư, các sách in ra, sẽ gởi cho ông chừng đó để kết tịnh duyên. Tiền đồ của Phật giáo rất nguy hiểm. Quang tính khi chuyện in sách năm nay hoàn tất, giao phó bộ Phổ Đà Sơn Chí xong, sẽ ẩn cư ở nơi chẳng có bưu cục cho tới hết tuổi thừa. Nếu không, suốt ngày bận bịu v́ người khác, sanh tử xảy đến, tay chân rối loạn, chẳng biết làm như thế nào!

 

* Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ bảy)

 

          Đă lâu chưa gởi thư, luôn nhớ nghĩ! Tháng trước, tiên sinh Uông Lăng Châu cậy người gởi tới một trăm mười đồng, cho biết có người bạn gởi thư bảo ông ta đem đồ đạc trong nhà bằng hồng mộc (rosewood) bán đi, tiền thu được th́ một nửa gởi cho Cư Sĩ Lâm, một nửa giao cho Quang. Do bận bịu, Quang chưa thể viết thư nói rơ nguyên do, v́ sách đă in vẫn chưa gởi xong, cho nên đợi nhiều ngày. Nay đem các sách đóng thành sáu gói, số lượng được viết rơ trong một tờ phiếu khác, chẳng nói chi tiết trong thư này. Hai ba năm qua, loạn lạc cùng cực, phế kinh điển, phế luân thường, phế bỏ ḷng hiếu, vứt bỏ liêm sỉ, giết cha, giết mẹ. Các đại học đều lấy vẽ tranh nam nữ lơa thể làm môn học. Thượng Hải th́ lập các vũ trường cho nam nữ khiêu vũ khắp nơi! Đúng là một thế giới cầm thú, đó là hiện tượng từ xưa tới nay chưa hề nghe thấy! Văn minh tiến hóa lạ lùng như thế đó!

          Truy đến căn nguyên, loại họa căn ấy đều do Hàn, Âu, Tŕnh, Châu[19] đả phá, bài xích nhân quả báo ứng và sanh tử luân hồi, chỉ mong dùng “trọn hết bổn phận, chánh tâm, thành ư” làm căn bản của giáo dục. Chẳng biết kẻ không nói đến nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi, mà có thể tận nghĩa, tận phận, quả thật chẳng được mấy ai! Kẻ căn cơ trung hạ, do có sự lư nhân quả luân hồi, mới có thể gắng sức làm người lương thiện. Nếu không, họ sẽ nghĩ “chết rồi, vĩnh viễn diệt mất”, cớ ǵ phải chịu sự ràng buộc ấy? Đă là Nghiêu hay Kiệt đều cùng chết sạch, sao chẳng mặc sức tự tung tự tác cho sướng một đời ư? Lư Học bài xích nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi, ư mong chống đỡ thánh đạo (đạo Nho) ḥng chẳng đến nỗi ai nấy đều học Phật, chẳng biết nỗi độc hại do phế kinh điển, phế luân thường quả thật đă tiềm ẩn từ ngàn trăm năm trước chưa phát ra. Tới khi gió Âu thổi qua, chất độc ấy bộc phát mạnh mẽ! Nếu hơn một ngàn năm qua, ai nấy đều đề xướng các đạo lư như thế, dẫu gió Âu mạnh bạo, ai chịu thuận theo? Ví như người trung hậu, chân thật, chẳng thể bị nhiễm tà. Người thể lực tráng kiện, chẳng sợ gió lùa!

          Trước kia, Quang từng trúng chất độc ấy quá sâu, may đời trước có một tí điều lành, rốt cuộc chẳng bị mê hoặc. Nay xem vận đời, xác thực biết khởi nguồn của mối loạn, và thịnh trị sẽ do đâu mà hưng khởi. V́ thế, thường nói với những người quen biết: “Cần phải chú trọng đề xướng hai pháp giáo dục trong gia đ́nh và nhân quả báo ứng. [Hai pháp ấy] bổ trợ lẫn nhau, xen kết lẫn nhau, th́ thế đạo sẽ có ngày được thấy thái b́nh. Nếu chẳng thực hiện từ chỗ này, dẫu thánh hiền, Bồ Tát cùng xuất hiện trong cơi đời, cũng chẳng làm như thế nào được!”

          Hơn mười năm qua, Quang khá mắc hại bởi hư danh, đến nỗi quanh năm suốt ngày bận bịu khôn nguôi. Nay đă sáu mươi chín tuổi, ngày tháng c̣n lại chẳng nhiều, chẳng thể không tạo phương tiện khác. Tháng Chạp năm ngoái, đă bảo khắp những người quen biết, quyết định vào tháng Chín sẽ giấu tung tích, ẩn cư lâu dài để mong chuyên tu Tịnh nghiệp, ḥng chẳng đến nỗi thường v́ kẻ khác bận bịu mà lầm lỡ đại sự của chính ḿnh. Nghe nói Hàng Châu mở hội chợ, mời thanh niên, thanh nữ đều đến khiêu vũ. Đối với các thanh niên, thanh nữ không biết khiêu vũ, sẽ mở trường dạy khiêu vũ, ngơ hầu ai nấy đều giỏi khiêu vũ. Đề xướng như thế, đúng là lừa người khác xông vào loài thú, phá tan đê đập, khiến cho nước lũ ùa chảy. Thế giới trược ác như thế, quả thật chẳng thể ở thêm buổi nào. Các hạ vốn sẵn có đức từ trước, hăy nói chỗ cội nguồn trị loạn cùng hết thảy mọi người, ngơ hầu ai nấy đều biết đâu là quyền biến, đâu là cội gốc, khiến cho gia đ́nh của chính ḿnh và bản thân trong tương lai đều chẳng đến nỗi ch́m đắm lâu dài vậy!

 

* Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ tám)

 

          Hôm trước nhận được thư, biết lệnh từ niệm Phật văng sanh, khôn ngăn mừng rỡ cho lệnh từ, xót thương cho các hạ. Tuy vậy, lệnh từ đă siêu phàm nhập thánh, cố nhiên chớ nên bắt chước thế tục đau buồn, làm chuyện vô ích suông! Các hạ đề xướng Tịnh Độ, thoạt đầu là khiến cho lệnh phu nhân văng sanh, nay th́ lệnh từ văng sanh, đủ thấy hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh. Đạo do người hoằng dương, hễ xướng ắt có họa. Chỉ v́ Quang bận bịu cùng cực, chẳng thể soạn thuật ngay lập tức, thật cảm thấy có lỗi cùng cực. Bộ Tam Tự Kính (三字鏡)[20] đă sửa chữa đại lược, hôm trước Tuyết Tinh đến đây đă đem đi. Ông ta tính sao lại, bèn giao cho ông ta gởi giùm. Truyện của lệnh từ có khá nhiều chỗ sơ sót, nay đem nguyên cảo (bản gốc) gởi trả lại kèm theo thư, mong ông hăy thêm thắt, gọt giũa để được hoàn bị. Do gần đây Quang bận rộn khá nhiều, chẳng thể châm chước tường tận được! Biết ông đă nhận được tám gói sách gởi trước kia, rất an tâm! Quang dự định vào cuối tháng Chín sẽ ẩn giấu tung tích, ẩn cư lâu dài. Do xă giao ngày càng nhiều, tinh thần ngày một giảm. Nếu không ẩn cư lâu dài, ắt sẽ quanh năm suốt tháng bận bịu v́ kẻ khác, trọn chẳng khi nào dứt. Tất cả bản in của các sách đă in gần đây đều giao cho Cư Sĩ Lâm. Họ tính mở Phật Học Thư Cục để lưu truyền rộng răi, bất quá họ kèm theo tánh chất buôn bán, so với Quang chỉ tính giá thành th́ [giá sách của họ] đắt hơn gấp rưỡi!

 

* Thư trả lời cư sĩ Giang Dịch Viên (thư thứ chín)

 

          Thư viết tường tận, khôn ngăn vui mừng, an tâm! Quang vốn muốn chuyên tu Tịnh nghiệp, do Phổ Đà Sơn Chí chưa hoàn thành, chẳng thể không lo liệu. Sau đó, do Hứa Chỉ Tịnh bổ sung, tu chỉnh bộ Lịch Sử Thống Kỷ đến nỗi phải nhọc nhằn lo liệu ấn hành mấy loại, thật sự chẳng phải là ư tôi muốn. Nguyên bản Tịnh Độ Thập Yếu quả thật là sách hữu ích, sắp xếp (chỉnh lư) đă được ba phần năm, nhưng chiến sự nổ ra đă kéo dài đôi ba tháng, may mà chiến tranh chấm dứt bèn hoàn tất công tŕnh, đúng là may mắn muôn vàn! Lại c̣n Phật Học Cứu Kiếp Biên sắp in. Tịnh Độ Thánh Hiền Lục cũng sắp được in. Tôi tính in xong hai loại sách ấy trong năm nay; sang năm sẽ rời chùa Báo Quốc, đến chỗ không có ai biết để sống hết kiếp tàn này. Cư sĩ hăng hái đề xướng, quả thật hiếm thấy, cũng là do có thể tự tu tập mà ra. Cổ nhân nói: “Dĩ ngôn giáo giả tụng, dĩ thân giáo giả tùng” (dạy dỗ bằng lời nói sẽ có tranh căi, dạy dỗ bằng hành động người khác sẽ thuận theo). Do dùng chính bản thân xướng suất chúng sanh, cho nên ai nấy đều noi theo làm lành.

          Bản giảo duyệt đă gởi tới, tôi đọc từng bản, trừ một hai chữ bị sai quá mức, chẳng thể nào không sửa, th́ sẽ cho thợ sửa lại. Nếu chữ trong nguyên văn xét theo tiêu chuẩn hiện thời vẫn chấp được th́ cố nhiên chẳng cần sửa. Nếu sửa văn, thêm văn th́ trọn chẳng thể làm như thế được! Nếu sửa đổi như thế, ắt cần phải đem hai trang ấy sắp chữ riêng để đúc bản kẽm. Thế rồi giảo duyệt, đối chiếu qua lại, cần phải mất thủ tục bốn năm lượt mới được, há có công sức ấy hay chăng? Thầy Đức Sâm thận trọng, mỗi chỗ đều ghi ra, tôi sẽ bảo Viên Tịnh gởi cho ông xem. Lần này đă in năm ngàn bản, không phải chỉ in một bản. Giảo chánh xong, sẽ cho in [với số lượng lớn]. Tận lực in theo lối Chỉ Bản th́ dẫu mười vạn hay hai mươi vạn bản đều có thể in được. Sau này muốn in, cứ báo tin cho Viên Tịnh, ông ta ắt sẽ có thể lo liệu. Gần đây, Quang cm thấy khá suy yếu. Trước kia, Viên Tịnh c̣n đem các bộ sơn chí của Ngũ Đài, Cửu Hoa, Nga Mi xin tôi giảo chánh để ấn hành. Nay tôi nóng ḷng muốn rời Báo Quốc, cho nên nhất loạt khước từ, ngơ hầu chẳng đến nỗi năm sau rồi lại năm sau, vẫn cứ bận bịu không ngớt! Nếu một mai vô thường xảy đến, bận bịu như thế có thể giúp nổi tôi hay chăng? Do vậy, tôi đă lập chủ ư quyết liệt, trong năm nay sẽ hoàn tất hết thảy thủ tục!

 

* Thư trả lời cư sĩ Ôn Quang Hy

 

          Cớ ǵ ông chấp chết cứng phương diện danh lợi đến nỗi như thế ấy? Ông chẳng đọc Luận Ngữ, “bang hữu đạo cốc, bang vô đạo cốc, sỉ dă” (đất nước có đạo, làm quan hưởng bổng lộc [là chuyện dĩ nhiên]. Nước chẳng có đạo mà kẻ làm quan vẫn ăn bổng lộc, đó là nhục)[21] ư? Dẫu đất nước b́nh trị, chỉ hưởng bổng lộc mà chẳng ra sức phục vụ th́ chính là điều đáng thẹn! Huống hồ hiện thời giới quân nhân chuyên chú trọng tàn sát, cướp đoạt ư? Chí hướng của ông đúng là hèn kém đến cực điểm, coi chuyện liên lụy cửu huyền thất tổ[22] đọa vào A Tỳ địa ngục là vẻ vang, lại c̣n đêm ngày toan tính. Mưu tính chẳng được, nguyện liều tấm thân! Đúng là gịi ở trong nhà xí, cho là mùi vị ấy thật tuyệt, chỗ ấy rất an ổn! Dấy vọng tưởng chẳng được bèn muốn chết; đă chết rồi, há c̣n làm quỷ an vui được ư? Thử hỏi cái tâm của chính Ôn Quang Hy mong mỏi điều ǵ vậy? Chịu nghe lời tôi, toàn thân buông xuống, làm một người dân thường an phận, tuân giữ trách nhiệm, chỉ cần có đức sẽ vẻ vang trong xóm giềng, há chẳng thể rạng mày nở mặt tổ tiên ư? Ông chỉ biết phát tài, làm quan là rạng mày nở mặt tổ tiên, chẳng biết do phát tài, làm quan” đă khiến cho chẳng biết bao nhiêu tổ tông vĩnh viễn đọa trong ác đạo! Huống chi cha ông c̣n muốn ông trở về Thành Đô[23] an phận giữ vững sự nghiệp ư?

 

* Thư trả lời cư sĩ Bích Vân

 

          Nhận được thư, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Quang là một ông Tăng chỉ biết cơm cháo, Viên Văn Thuần đồn thổi sai ngoa, các hạ cũng chẳng xét kỹ, chỉ thuận theo thông lệ “một người đồn đại hư huyễn, đến khi vạn người đồn đă trở thành sự thật” mà tán thán, thật khiến cho kẻ khác hổ thẹn không chốn dung thân! Tuy Phật pháp vô lượng vô biên, chẳng ngại thuận theo căn cơ mà tu. Ví như biển cả, ai có thể một hơi uống cạn? Nhưng Tu La, hương tượng, cho đến muỗi ṃng, uống nước biển cả, mỗi loài đều được no nê đó thôi. Các hạ thân vướng trong lưới đời, chí hâm mộ Phật thừa. V́ thế, hăy nên nương theo pháp môn Tịnh Độ “tín nguyện niệm Phật” ngơ hầu đạt được lợi ích thực tế “tự lợi, lợi người”. Nếu bỏ pháp này, đừng nói chẳng thể thông suốt Phật pháp rộng khắp, dẫu thông suốt Phật pháp rộng khắp, sợ vẫn khó đạt được lợi ích chân thật! Nay tôi gởi cho các hạ một gói gồm các sách như Văn Sao v.v… để một là tự xem, hai là tặng cho người có tín tâm, cung kính.

          Ông nói sẽ đến núi Phổ Đà, trộm nghĩ chẳng cần. Do đường xa nẻo thẳm, chẳng đủ lộ phí. Huống hồ Quang thật sự là một ông Tăng chỉ biết cơm cháo, chẳng có sở đắc ǵ, dẫu gặp gỡ, há có ích lợi ǵ? Dẫu ông bảo “xuất gia nhiều năm, ắt có bao nhiêu điều ngộ nhập, lănh hội”, những điều đă nói trong Văn Sao toàn là những thứ cỏ rơm chứa đầy trong bụng đă phun sạch hết rồi. Nếu gặp gỡ, há c̣n có diệu pháp ǵ để miệng truyền, tâm trao nữa ư? Nếu có diệu pháp để miệng truyền, tâm trao chi đó, tức là ngoại đạo, cố nhiên nên tránh xa hạng người đó, huống hồ cầu kiến ư?

          Nhưng các hạ nghe lầm lời đồn sai truyền nhảm, ngỡ là chân thật, sợ rằng những điều Quang đă nói trên đây vẫn chẳng thể dứt được nghi tâm [của các hạ]. Quang cũng chẳng ngại đem lầm đáp lỗi, thuận theo kiểu của Đại Viên Văn Thuần, đặt cho ông một pháp danh là Huệ Vân (慧雲). Các hạ nếu có thể thật sự dùng mây trí huệ để tuôn mưa pháp, trong là gia đ́nh, ngoài là bằng hữu, và hết thảy mọi người, tùy theo căn cơ của mỗi người mà khuyên bảo, lợi ích ấy lớn lắm! Thư viết tới đây, th́ thư của ông Viên Văn Thuần và chương tŕnh đơn giản của Vũ Cương Phật Giáo Hội đều gởi đến. Cư sĩ đảm nhiệm chức vụ văn thư, cố nhiên là có thể dùng bút mực để tuyên nói pháp tự lợi và lợi tha. E rằng ông sẽ nói: “Tuy đọc văn và đă được xem thư, nhưng chưa gặp mặt, sẽ trọn chẳng thỏa ḷng”. Chẳng biết Quang là một gă phàm phu nghiệp lực, thấy mặt [mới biết] chẳng bằng nghe danh. Do danh c̣n có thể đồn giả, chứ mặt chẳng thể giả vờ được! Nay đem h́nh ảnh xấu xí của Quang gởi cho ông một tấm để dứt cái ḷng mong tưởng đến núi của ông, cạn sức tùy cơ hóa độ kẻ hữu duyên. Lại gởi một trang thuyết minh biện pháp [chịu xuất tiền đứng in] bộ Quán Âm Tụng mà Quang sắp in để ông biết đại khái. Tôi c̣n muốn in bộ Bất Khả Lục để cứu vớt cơi đời đang ch́m đắm trong biển dục. Mùa Xuân năm sau sẽ ra sách, tôi sẽ gởi cho ông chừng đó sách!

 

* Thư trả lời cư sĩ Lưu Thọ Dân

 

          Vừa nhận được bốn bức thư của cư sĩ Đặng Hán Quân và Ngụy Mai Tôn, cho biết tâm niệm của lệnh nghiêm khi lâm chung, và tin tức khi cụ mất và sau khi cụ đă mất, chẳng khỏi khiến cho kẻ khác cảm thán! Lệnh nghiêm chính là người đầu tiên trong số bạn bè tại Nam Kinh, tuy chưa thường ở chung với Quang, nhưng chí hướng đạo hạnh hết sức khế hợp. Quy y hay không, đều thuộc về sự tướng mà thôi, nhưng cụ vẫn tận lực thỉnh người khác thọ giới thay, cũng có thể nói là “chánh niệm rạng ngời”. Lại may mắn là ông có thể thừa kế chí hướng của lệnh nghiêm, dặn người nhà nhất tâm niệm Phật, chẳng rời đi lo toan [hậu sự] và khóc lóc, chuyện ấy hết sức hữu ích. Người tới lúc lâm chung, hoàn toàn phải giữ sao cho cái tâm chẳng dấy lên ư niệm khác. Nếu bị dời động và khóc lóc, sẽ đánh mất cái tâm thanh tịnh niệm Phật. Cũng do cái tâm yêu luyến và bị dời chuyển khó chịu đựng mà sanh ḷng sân hận! Hành vi kiểu đó gọi là “ném đá [người đă rớt] xuống giếng”, nhưng kẻ ngu chẳng biết, cho đó là “hành hiếu (thể hiện ḷng hiếu), đúng là đáng đau tiếc! Trong lúc ấy, ông có thể thành tựu chánh niệm cho cha ḿnh, có thể nói là khéo phụng sự cha mẹ.

          Trong lúc tang ma, cũng nên giữ chí ấy, nhất loạt chẳng dùng đồ mặn, đừng coi chuyện đẹp mắt vui tai người đời là vinh. Chỉ nên khiến cho người mất lẫn kẻ c̣n đều được lợi ích thật sự. Người ta phần nhiều v́ tang cha mẹ mà đau buồn, suy sụp. Đấy cố nhiên là t́nh kiến của người đời. Tuy chẳng thể không đau buồn, nhưng cũng đừng nên chấp trước. Mong hăy chú trọng dứt buồn đau để niệm Phật, khiến cho cha ông chưa văng sanh liền được văng sanh. Đă văng sanh, sẽ tăng cao phẩm vị. Thực hành như thế, và cũng hướng dẫn người nhà, quyến thuộc cùng làm theo, ắt người mất, kẻ c̣n đều hưởng đại lợi ích.

          Về chuyện làm Phật sự, chớ bắt chước thế tục mưu cầu đẹp mắt, hoặc niệm kinh, bái sám, làm đàn Thủy Lục. Chỉ nên chuyên nhất niệm Phật, lợi ích sẽ khác biệt một trời một vực! Đó là lời lẽ phát xuất từ kinh nghiệm từng trải hơn mấy chục năm của Quang, cho nên nói với bạn bè của tôi, chẳng phải là thốt ra lời hư vọng đoán ṃ! Nếu chẳng nghĩ đó là lời lẽ vớ vẩn, hủ bại th́ may mắn lắm thay! C̣n đối với các chuyện chôn cất, tang ma v.v… xin đừng bắt chước thói ác trong đời gần đây, phô trương xa xỉ. Đúng là dùng chuyện tang ma của cha mẹ làm công cụ [để khoe khoang giàu sang]. Nếu chẳng nỡ làm đám tang cha mẹ đơn sơ, hăy nên tiết kiệm chi tiêu để dùng [khoản tiền tiết kiệm ấy] cứu tế, công đức sẽ to lớn. Đối với bạn bè thân thiết mà có tang, Quang đều chẳng làm các chuyện phúng điếu rỗng tuếch màu mè, mà đều vào lúc hồi hướng trong khóa tụng sáng tối, đọc tên để hồi hướng cho người đó. Nếu là kẻ giao hảo thân thiết lúc thường ngày, cũng đều đọc tên hồi hướng, huống hồ người đă qua đời ư? Nay tôi sẽ v́ lệnh nghiêm hồi hướng hai mươi mốt ngày nhằm biểu lộ t́nh bạn hữu. Mong ông hăy dứt buồn niệm Phật, hành đúng theo lời Quang. [Làm như thế], há chỉ có thể an ủi hương linh của cha ông, mà c̣n khiến cho quyến thuộc trong nhà đều gieo thiện căn tối thắng. Thân thích bằng hữu cũng do trông thấy mà được chuyển hóa. Từ ḷng hiếu thảo ấy mà lợi lạc khắp hết thảy, có thể nói là khéo vận dụng ḷng hiếu. Mong ông xét hiểu th́ may mắn lắm thay!

 

* Thư gởi cư sĩ Trịnh Minh Chi

 

          Ấn Quang thuộc loại tăng nhân chỉ biết cơm cháo, suốt đời mê mờ, nào dám xằng bậy gởi thư nói lan man, để tự chuốc nhục ư? Chỉ v́ tháng Tư tới đất Thân (Thượng Hải), lo liệu chuyện ấn loát Quán Âm Tụng, Văn Sao, Thọ Khang Bảo Giám v.v…, người cùng quê là cư sĩ Vương Ấu Nông nhiều lượt đến tṛ chuyện, thường khen ngợi các hạ do thấy thời thế bất lợi, đặc biệt phát Bồ Đề tâm, ăn chay trường, niệm Phật ḥng cầu xuất thế. Lại khuyên Quang gởi thư cho các hạ để kết tịnh duyên. Quang nghe nói, khôn ngăn vui mừng, đẹp dạ, chỉ v́ bận bịu, khó được như nguyện ngay. Đầu tháng Sáu về tới núi, t́m dịp rảnh rỗi, [viết thư cho các hạ ḥng] giăi bày đại lược kiến giải thô lậu, chỉ mong tạo phương tiện để giúp tự lợi, lợi tha, văng sanh thượng phẩm. Chắc các hạ sẽ chẳng v́ mạo muội, nông cạn, sơ sài mà bỏ xó.

          Thế gian hiện thời lầm loạn đến mức cùng cực, phế bỏ kinh điển, phế bỏ luân thường, hết thuốc chữa rồi! Dùng con mắt đạo để nh́n, dường như đó chính là sự cảnh tỉnh to lớn nhằm thúc giục mọi người thoát khỏi cơi Sa Bà này, sanh về cơi Cực Lạc kia. Nếu chẳng có cái tâm xuất thế, ắt trong đời tương lai, đúng là chẳng có ǵ để có thể làm cha mẹ của ta! Những người nghiên cứu Phật học trong thời gần đây đúng là đông đảo, nhưng người thiên tư cao thường có tri kiến chủ quan, thiên trọng lư tánh, chẳng chú trọng sự tu (tu tập nơi mặt Sự). Hoặc cho rằng tín nguyện là chấp tướng, hoặc coi tham cứu là thân thiết. Dẫu tu Tịnh nghiệp, chẳng nương theo tông chỉ của pháp môn Tịnh Độ, đến nỗi biến pháp “cảm ứng đạo giao, liễu thoát ngay trong hiện đời” trở thành cái nhân đắc độ trong vị lai, khiến cho kẻ thiên tư thượng đẳng đâm ra chẳng bằng phường ngu phu, ngu phụ cắm cúi niệm Phật lại có thể đạt được lợi ích thật sự. Chẳng phải là đáng tiếc lắm ư?

          Các hạ đă phát tâm niệm Phật, cố nhiên nên nương theo tông chỉ Tịnh Độ. Phàm đối với các kiểu khai thị “ĺa khỏi tín nguyện” đều chớ nên màng tới. V́ đó là phương pháp thuộc kiểu “chỉ tham cứu tự tâm” của Thiền Tông, chẳng phải là khuôn phép “nương theo từ lực của Phật để cầu văng sanh” của Tịnh Tông. Những điều Quang vừa nói chính là lời chân thành của cổ đức trong Tịnh Tông, chẳng phải là luận định ức đoán bịa đặt lệch lạc! Xin hăy đọc kỹ Tịnh Độ Thập Yếu, ắt sẽ tự biết rơ. Ấn Quang Văn Sao, tuy văn chương nông cạn, thô kệch, nhưng đối với giới hạn giữa Thiền và Tịnh, duyên do của pháp môn thông thường và đặc biệt, lẽ được mất, lớn nhỏ, giữa Phật lực và tự lực, đều nói khá tường tận. Nếu chịu đọc kỹ, cũng chưa phải là trọn chẳng được lợi ích.

          Xưa kia, cư sĩ Trầm Tử Bồi tự coi ḿnh là Bồ Tát, chẳng nguyện văng sanh. Quang cực lực phá trừ, ông ta mới hồi tâm Tịnh Độ. Lúc đó là năm Dân Quốc thứ mười (1921), nhưng do ông ta tuổi cao, danh lớn, chẳng có người thường đàm luận, khích lệ, nhắc nhở, đến nỗi khi mạng chung, vẫn chẳng nhắc tới chuyện văng sanh. Ông Trương Quư Trực ở Thông Châu, do môn nhân là Giang Dịch Viên khuyên nhắc, cũng khá chú ư đạo này, từng gởi thư thăm hỏi Quang. Khi đó là năm Dân Quốc 14 (1925). Chỉ v́ cái tâm kinh doanh sâu nặng, chẳng thể ngay lập tức đảm đương [Tịnh nghiệp], đáng tiếc quá! Chỉ có ông Sa Kiện Am ở Như Cao là có thể nương theo tông chỉ Tín, Nguyện, Hạnh để tu tŕ nghiêm mật. Mấy ngày trước khi lâm chung, liền bảo kẻ khác trợ niệm, đạt được lợi ích văng sanh thật sự. Trong Tăng Quảng Văn Sao bản mới, có bài kư về chuyện văng sanh của ông ta, khoảng tháng Tám, tháng Chín có thể ra sách. Khi sách in ra, sẽ gởi cho ông duyệt.

          Do vậy biết người thiên tư cao, nếu có thể toàn thân buông xuống th́ lợi ích sẽ vượt xa những người cùng hàng. Nếu không, đâm ra chẳng bằng ngu phu ngu phụ thật thà niệm Phật mà đạt được lợi ích thật sự. Nhưng các hạ đức cao vọng trọng, dùng thân hướng dẫn chúng sanh, phàm có ai t́m đến, cố nhiên hăy nên dùng “đề xướng nhân quả báo ứng, tín nguyện niệm Phật” làm phương tiện cứu đời, độ người. Trong cơi đời hiện thời, nếu chẳng đề xướng nhân quả báo ứng, dẫu thánh hiền, Phật, Bồ Tát cùng xuất hiện trong cơi đời, cũng chẳng thể làm như thế nào được! Quang thường nói: “Nhân quả là phương tiện to lớn để thánh nhân thế gian và xuất thế gian b́nh trị thiên hạ, độ thoát chúng sanh”. Có kẻ miệt thị nhân quả, cho là Tiểu Thừa, toàn là kẻ chỉ phô bày cuồng huệ, là bè lũ của ma, chẳng chú trọng chân tu. Nếu có thể đề xướng rộng răi phong cách ấy, ắt kẻ chỉ biết lợi ḿnh, chẳng màng có hại cho người khác ắt sẽ sanh tâm sợ hăi, ém bớt thói bạo ngược của họ, để mong chính ḿnh đạt được lợi ích thật sự, mà cũng chú trọng lợi lạc người khác. Quang nói “đề xướng nhân quả báo ứng chính là diệu pháp có một không hai để cứu đời trong hiện tại”, mà tu tŕ Tịnh nghiệp cũng cần dùng cái đạo thành tựu từ thuở phát tâm cho đến khi chứng quả ấy. Kiến giải thô lậu như thế, chẳng biết các hạ có cho là đúng hay không?

 

* Thư trả lời cư sĩ Từ Úy Như hỏi về sách Tự Tri Lục

 

          Nhận được thư, khôn ngăn cảm khái! Trong thời Mạt Pháp, con người phần nhiều làm chuyện dối trá, thường xuyên cầu tiếng tăm, lợi dưỡng, mong sao đời sau tôn xưng chính ḿnh là bậc Pháp Thân đại sĩ, luôn bịa đặt, ngụy tạo đủ thứ chuyện để huyễn hoặc kẻ vô tri, hoại loạn Phật pháp, khiến cho chúng sanh ngờ vực, lầm lẫn. Sao lại khổ sở v́ cái danh hư huyễn mà mắc lấy tai họa thật sự, đến nỗi trầm luân bao kiếp? Sách Tự Tri Lục[24] thật sự do Lưu Lữ Thanh biên soạn; trong khi in sách, thường bênh vực người ấy (bà Hồ). Trước kia, ông La Tế Đồng có được sách ấy, bèn cho in theo lối thạch ấn một ngàn bản. Ông Đinh Quế Tiều bảo ông La gởi cho Quang một gói. Quế Tiều gởi thư cho Quang, bảo hăy duyệt kỹ, viết lời tựa ḥng lưu truyền rộng khắp. Ngay trong hôm nhận được, Quang liền xem qua, ngay hôm ấy gởi trả về, bảo sách ấy chính là sách dẫn người sơ cơ nhập ma!

          Đối với công phu của bà Hồ, Quang chẳng dám nói bà ta chưa đạt tới cảnh giới ấy, do Quang chẳng có Tha Tâm Thông, mà cũng chẳng dám bảo bà ta thật sự đạt tới cảnh giới ấy. V́ nếu bà ta thật sự đạt tới mức đó, trọn chẳng đến nỗi không biết sách ấy có khuyết điểm lầm lạc người khác vô cùng. Trước nay, bậc thiện tri thức Tịnh Độ khai thị cho người khác, chỉ bàn nói theo hành tướng trong pháp môn, trọn chẳng lôi ra cảnh giới của chính ḿnh để làm khuôn phép cho người khác. Bà ta đă chẳng biết điều lợi hại ấy, vậy th́ công phu của bà ta phần nhiều là giả vờ. Tôi nói đại ư như thế mà thôi, bảo đừng chia ra gởi tặng. Nếu đă gởi th́ thôi, chưa gởi th́ hăy nên đốt đi để tránh ươm mầm tai họa! La Tế Đồng nhận được thư của Quang, đem các sách c̣n lại đốt sạch. Mấy tháng sau, cư sĩ Vương Mưu Phượng ở Hàng Châu trông thấy [sách ấy], cũng muốn đem thạch ấn để lưu thông, gởi sách ấy để xin Quang quyết đoán. Quang liền nói với ông ta đại ư đă nói với Đinh Quế Tiều. Mùa Xuân năm ngoái, một cư sĩ ở Dư Diêu cũng muốn thạch ấn [sách ấy], Quang lại ngăn cản. Lá thư ấy được đăng trên báo Ca Âm.

          Tới tháng Sáu, kẻ thường hộ tŕ “đứa ma con” (tức Lưu Lữ Thanh) đọc báo Ca Âm, bèn viết thư cho Quang, tranh biện, đả kích lời Quang, hết sức tâng bốc bà Hồ, bảo bà ta là “thiên mă hành không, thần long bất trắc” (ngựa cơi trời bay lượn trên không chẳng chướng ngại, rồng thần chẳng thể biết được hành tung). Kẻ đó mô tả bà Hồ đúng là người trên trời dưới thế đáng tôn sùng, có một không hai! Lại c̣n gởi cho Quang truyện kư của bà Hồ, phê chú từng đoạn, lại c̣n sai Quang chuyển sách và truyện kư về bà Hồ tới báo Ca Âm. Trong truyện kư có nói khi bà Hồ sắp chết, nhiều lượt hiển lộ thần thông. Lúc lâm chung, một phụ nữ tại gia, thấy bà Hồ đến, bỗng thấy bà ta hiện thân vô lượng; sau đấy, mới biết đó là lúc [bà ta] lâm chung. Quang đọc đến đó bật cười, bảo bà ta có thần thông to cỡ đó, cũng nên hiển lộ cho Quang. Nếu rơ ràng là kẻ đáng được suy tôn, Quang vẫn chẳng tán thành lưu thông Tự Tri Lục, v́ sẽ khiến cho người khác bị lầm lạc!

          Năm trước, một vị cư sĩ ở Hồ Nam quy y với thầy Bảo Nhất, đến núi có nhắc tới bà Hồ. Ông ta nói bà Hồ tập khí khá nặng, hễ động đến là đùng đùng nổi giận, tới mức chửi rủa người khác. V́ thế, đến nỗi thổ huyết, sau đó mạng chung. Năm ngoái, một vị cư sĩ tên là Dương Hồng Phạm, nhậm chức trường tá (trông coi công tŕnh khai thác muối) ở Cù Sơn, cùng với vợ đến núi. Hai người cùng quy y với thầy Bảo Nhất. Quang đem thư và truyện của kẻ thường hộ tŕ bà Hồ cho họ xem, cả hai vợ chồng đều bảo chẳng phải là sự thật. Vợ ông ta từng thấy lúc bà ta chết, Phật c̣n chẳng thể niệm được, huống hồ có thể hiện thần thông ư? Sách ấy đừng cho người khác xem, đừng lưu thông là được rồi. Nếu phê b́nh, truyền bá, bọn chúng sẽ thường bảo vệ, có thể dẫn đến xung đột, đâm ra chẳng hay! Thư này cũng ngàn vạn phần đừng đăng báo, ngơ hầu chẳng đến nỗi khiến cho những ai muốn thành Phật ngay lại đâm ra chậm trễ nhiều kiếp mới thoát khỏi địa ngục!

          Niết Bàn Kinh Sớ đă có, do sư Đế Nhàn biếu tặng. Quang hằng ngày bận bịu chẳng rảnh rỗi, cũng chỉ đặt lên gác cao đó thôi. Cách tĩnh tọa của ông Trần vốn chẳng phải là tĩnh tọa theo đường lối “chân thật tham cứu, chân thật niệm”, mà đèo thêm tánh chất luyện đan của Đạo gia. Đă thế, gần đây người có tín tâm thường mê mệt thần thông, cho nên có cảnh ấy. Nếu chân thật tham cứu bổn lai diện mục, và chân thật chí thành niệm Phật, chẳng có ư niệm cầu đắc thần thông, sẽ trọn chẳng đến nỗi có ma cảnh ấy. Nếu buông toàn thể ư niệm kiểu ấy xuống, dùng cái tâm thanh tịnh, tŕ danh hiệu Phật, sẽ có thể tiêu diệt, cho nên chẳng cần lo ngại! Điều đáng lo ngại là tâm địa xen tạp ngoại tông (đường lối tu tập của ngoại đạo), và muốn đắc thần thông ngay lập tức v.v… Trước giờ Ngọ chẳng phát, sau giờ Ngọ sẽ phát, đó là do khí ban đêm trấn định, khí ban ngày rối ren mà ra. Nhưng đối với công phu Thiền Định, Quang trọn chẳng thật sự tu, đối với nguyên do của cảnh giới [trong khi tĩnh tọa], cũng chẳng thể biết tường tận. Đấy chẳng qua là dựa theo lư để phán định đó thôi!

 

* Thư trả lời hai vị cư sĩ Khang Kư Dao và Trịnh Tử B́nh

 

          Ngày mồng Mười, nhận được thư của Vương Nhất Đ́nh, nói trong ngày mồng Sáu đă đem ba ngàn đồng do Quang trích ra; sau đó, quyên mộ được thêm năm trăm đồng, hai trăm đồng của thầy Chân Đạt, ba trăm đồng của Tôn Nguyệt Tam, bản thân ông Vương Nhất Đ́nh và Hoàng Hàm Chi mỗi người quyên năm trăm đồng, tổng cộng là năm ngàn đồng, chuyển khoản cho ông Tống Tử Tài của Nghĩa Nguyên Hậu. Lại c̣n năm tiệm thuốc như Nghĩa Nguyên Hậu v.v… Mỗi tiệm bỏ ra một trăm đồng, tổng cộng là năm ngàn năm trăm đồng đem chuyển đi để cứu tai nạn gấp cháy mày. Khoản tiền của Hoa Dương Nghĩa Chẩn[25] th́ đợi cho tới khi phân hội ở Thiểm Tây gởi điện tín tới, sẽ lại bàn bạc. Trên đây đều là lời của Nhất Đ́nh. Do năm trước, Vương Nhất Đ́nh nhận được thư của Quang, không đầy mấy bữa sau, Hoa Dương Nghĩa Chẩn Hội mở cuộc họp, Nhất Đ́nh đem thư Quang gởi tới và thư của Tử B́nh cho mọi người tham dự hội nghị xem. Mọi người trù tính [khoản tiền cứu tế là] mười vạn. Sau đó, Hoa Dương Thị đến đất Hỗ (Thượng Hải), cho biết đă trích ra năm vạn từ tiền thuế quan. Do vậy, năm vạn [c̣n lại] vẫn chưa thể định. Do vậy, họ cần gửi điện tín hỏi thăm t́nh h́nh. Đợi cho tới khi nhận được điện tín trả lời, sẽ bàn bạc quyết định.

          Hôm trước, nhận được thư của thầy Chân Đạt, cho biết đối với ba trăm đồng của Tôn Nguyệt Tam, sẽ lập biên lai riêng v́ ngại ông ta có lẽ nghi tiền bị lạc mất. Có lẽ nên viết một lá thư cảm tạ th́ đúng lẽ hơn. Đối với ba ngàn năm trăm đồng của Quang, hăy viết một lá thư gởi cho Quang, để tiện gởi cho các cư sĩ đă quyên tặng. Tuy họ chẳng ngờ vực Quang, nhưng nhận được thư cảm tạ ấy, họ sẽ càng sanh ḷng hoan hỷ. Trong thư chỉ viết cư sĩ Diệp Đức Quảng ba trăm đồng, Trinh Tịnh Am Chủ một trăm đồng, cư sĩ Hương Đào ba trăm đồng, Bị Khứ Hiên một trăm đồng. Đối với thầy Chân Đạt và Tôn Nguyệt Tam, nên viết hai thư, một phong thư gởi sang chùa Thái B́nh ở Trần Gia Tân, Thượng Hải, giao cho ḥa thượng Chân Đạt. Thư cho Nhất Đ́nh th́ gởi đến nhà ông ta. Quang vốn chẳng muốn dùng loại thủ tục này, nhưng do thầy Chân Đạt gởi thư có nhắc đến, tợ hồ làm như thế th́ mới là thỏa đáng! Do người ta đă giúp nhiều tiền, kẻ lo liệu công việc há tiếc công bút mực ư? Nếu đă nhận được tiền, đă gởi biên lai đi, chẳng ngại lại gởi thư cảm tạ.

          Đối với chỗ ông Vương Nhất Đ́nh, hăy nên dùng lời lẽ cảm kích, tán thán. Huống chi ông ta lại c̣n đề nghị, trù tính. Dẫu có thể trù tính hay không, chẳng thể quyết định; nhưng một niệm từ tâm của ông, đáng khiến cho kẻ khác cảm phục chẳng quên! Các ông trọn chẳng hiểu chuyện! Trong lúc nạn gấp, cầu cạnh người khác, viết thư cho người ta, chẳng đề tên, chỉ dùng danh nghĩa các hội viên của hội Phật giáo để thỉnh cầu. Nếu chẳng cầu cạnh người ta, sẽ dùng cách viết ngạo mạn đến cỡ nào? Quang gởi thư cho Nhất Đ́nh, c̣n dùng chữ “khấu đầu”, do cầu người ta gấp rút cứu tế, họ lại phải tốn hao tâm tư. V́ chuyện này, Nhất Đ́nh đă qua lại giúp đỡ mấy lượt, gởi thư cho Quang năm sáu lần. Thư của hai ông, Nhất Đ́nh đều gởi cho Quang xem, thấy [hai ông] nhất loạt chỉ kư tên là Phật giáo hội. Nhất Đ́nh hỏi đang giao tiếp với ai, Quang bèn nói với ông ta là Kư Dao và Tử B́nh, đều là người lo việc cho hội Phật giáo.

 

* Thư trả lời cư sĩ Kim Huệ Sướng

 

          Nhập đạo có nhiều môn, chỉ Tịnh Độ là bậc nhất. Tông yếu Tịnh Độ chỉ có ba pháp Tín, Nguyện, Hạnh mà thôi. Tổ Liên Tŕ dạy người khác tham cứu (tức tham cứu câu “người niệm Phật là ai?”) v́ thuở ấy, Tông Môn quá thịnh. Chẳng làm như thế, sợ người ta sẽ cho là một tông khác lạ, chẳng chịu tu. Lại cũng do Ngài muốn dẫn dắt, khuyên dụ người trong Tông Môn đều tu Niệm Phật tam-muội. V́ dẫn dắt ai nấy đều tu Niệm Phật tam muội, ngài Ngẫu Ích [đề xướng] “chẳng cần tham cứu”, do pháp Niệm Phật chẳng chú trọng khai ngộ. Nếu cầu khai ngộ, có thể sẽ gác bỏ Tín và Nguyện ra ngoài. Nhưng niệm đến mức cùng cực, cũng có thể khai ngộ. Dẫu chẳng ngộ, cũng chẳng trở ngại. Dù ngộ đến mức cùng cực mà nếu chẳng có tín nguyện, chắc chắn khó văng sanh! V́ thế, đại sư sợ mọi người mắc phải khuyết điểm ấy, bèn dạy cứ thẳng thừng niệm.

          Trước kia, ông nghiên cứu Lư Học, chưa hiểu rơ lời nói của các Nho gia thuộc về Thế Đế, cho nên coi đó là pháp tắc. Đối với việc phát huy tâm tánh đến mức cùng cực, vẫn c̣n mờ mịt. Họ (Tống Nho) vay mượn Phật pháp, lại muốn lập dị với Phật pháp, đến nỗi trở thành tự mâu thuẫn. Đấy đều là v́ tri kiến môn đ́nh nặng nề, bị lầm lạc bởi t́nh kiến hư vọng mong được đời sau thờ phụng trong thánh miếu (miếu thờ Khổng Tử)!

          Người hiện thời phần nhiều tôn sùng ngoại đạo, do ngoại đạo đều có pháp bí truyền. Thật ra, tuy ngoại đạo có trăm ngàn vạn loại, nhưng chỉ có một đạo luyện đan, vận khí mà thôi! Đấy là pháp thuộc loại bảo dưỡng sắc thân, chẳng phải là đạo liễu sanh thoát tử! Huống hồ các danh tự [do các phái ngoại đạo sử dụng], phần nhiều tương tự với chuyện dâm dục. Kẻ hư vọng bèn do đó mà tạo thành nghiệp Vô Gián, đáng đau xót thay!

          Kinh Kim Cang và Lăng Nghiêm được chú giải rất nhiều, mỗi vị chú giải đều có sở trường, nhưng xét theo phía người sơ cơ, bản chú giải của ngài Tông Lặc khá đơn giản, rơ ràng. Nghĩa lư Lăng Nghiêm được chú giải thấu triệt nhất, chỉ có bản Văn Cú[26]. Văn từ rơ ràng nhất chỉ có bộ Chỉ Chưởng[27]. Trộm nghĩ pháp Tịnh Độ là chỗ quy túc của các pháp, chúng ta nương theo để lợi ḿnh, lợi người khác, sao trước hết chẳng nghiên cứu đến mức cùng cực, chẳng c̣n ngờ vực nữa, th́ sẽ chẳng bị dao động bởi hết thảy kinh giáo hoặc lời lẽ của bậc tri thức? Cứ hời hợt nghiên cứu các kinh điển khác th́ càng nghiên cứu sẽ càng coi Tịnh Độ là tầm thường. Nếu trước hết hiểu biết nguồn cội của Tịnh Độ, rồi nghiên cứu các kinh luận khác, sẽ càng nghiên cứu, càng thấy Tịnh Độ cao sâu!

          Đối với chuyện nữ sắc, người tại gia cố nhiên chẳng chú trọng đoạn dục, nhưng cần phải tiết giảm. Nếu coi chuyện ấy như chuyện cơm nước b́nh thường th́ cũng phạm lỗi, nhưng nhẹ hơn so với tà dâm một chút. Nếu có thể tiết dục th́ đối với chính ḿnh, đối với vợ, đối với con cái, đều có lợi ích to lớn chẳng thể nghĩ bàn! Hoặc mỗi năm, hoặc mỗi quư (ba tháng), hoặc một tháng, hành pḥng một lần, dựa theo tánh t́nh của chính ḿnh và vợ để hạn chế, th́ đối với chuyện tu đạo, thờ phụng tổ tông, đều có lợi ích to lớn. Bởi người ít dục sẽ có nhiều con, con cái mập mạp, ít bệnh, tánh t́nh thuần thục.

          Văn Sao bản mới và Thọ Khang Bảo Giám sẽ đều trong tháng Mười hoặc Mười Một có thể ra sách. An Sĩ Toàn Thư có thể ra sách vào dịp Trung Thu. Hễ có sách, sẽ gởi cho ông mấy phần. Quang bận bịu cùng cực, chớ nên thường gởi thư tới. Ông chỉ cần đọc kỹ Văn Sao, sẽ đối với giới hạn, duyên do giữa Thiền và Tịnh, Phật lực và tự lực to nhỏ, khó dễ, cũng như đạo tiết dục, bảo vệ thân thể, trị gia, yên đời, đều có pháp để tuân theo, ngay cả tâm sự (những điều mong mỏi) của các vị Tống Nho cũng có thể nêu tỏ.

 

* Thư gởi cư sĩ Lư Khổ Thật

 

          Ngày Mười Bảy tháng Bảy, Quang xuống núi, ngày Hai Mươi Tám tới Hàng Châu. Ngày Ba Mươi tháng Tám từ Hàng Châu sang đất Hỗ (Thượng Hải). Thấy thư ông gởi ngày mồng Hai tháng Tám, khôn ngăn hổ thẹn. Chỉ v́ thư từ hơn một tháng và sự việc được sai phái phải làm chồng chất, chẳng rảnh rỗi để trả lời. Ông đă xem Văn Sao, sao chẳng nương theo những ǵ Văn Sao đă nói để vâng giữ luân thường, trọn hết bổn phận, tín nguyện niệm Phật, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện để hành tŕ, cứ muốn đến Phổ Đà xin xuống tóc với tôi? Ông có biết tôi là kẻ như thế nào hay không? Tôi chính là khách Tăng từ phương xa, sống bám vào chùa của người ta, sao có thể thâu đồ đệ? Ông đă từng đọc thư tôi gởi cho Châu Quần Tranh trong Văn Sao rồi chứ?

          Ông biết thời cuộc hiện nay là thời như thế nào không? Các chốn đều muốn xua đuổi tăng ni, tịch thu tài sản của chùa chiền (sợ đă trở thành chuyện giống như ở Quảng Châu trước kia, nguy hiểm tột bậc), hiện thời đă nguy ngập cùng cực! Ông muốn đến núi xuống tóc là đă bỏ sanh lộ, t́m đường chết để đi. Đó là ngu muội tới mức như thế ấy. Ngàn vạn lần chớ đến núi! Hễ đến núi, Quang quyết chẳng tiếp xúc với ông. V́ lẽ nào vậy? Do ông chẳng biết tốt xấu, chẳng nghe theo lời khuyên trung thực, tṛ chuyện với nhau chẳng có giá trị ǵ hết! Ông hăy buông xuống cái tâm cuồng vọng, hành xử theo thực tiễn, chiếu theo những điều tôi nói trong phần trước mà hành. Dùng đó để tự lợi, lại c̣n nhờ đó mà lợi ích người khác, chắc chắn có thể đới nghiệp văng sanh. Ông chẳng thấy kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật dạy “hiếu dưỡng phụ mẫu, phụng sự sư trưởng, từ tâm chẳng giết, tu mười thiện nghiệp” chính là chánh nhân tịnh nghiệp của tam thế chư Phật ư? Ông cho rằng “xuất gia sẽ dễ tu hành”, đấy chính là cái tâm né tránh. Giả sử ông thật sự xuất gia, lại phát hiện có các loại phiền năo khác, vẫn chẳng dễ tu hành. Hễ buông xuống được, sẽ thông suốt. Chẳng buông xuống được, sẽ chẳng thông! Ông có biết hay chăng?

 

* Thư trả lời pháp sư Giới Trần

 

          Nhận được thư, khôn ngăn đau ḷng than thở. Phật giáo bị diệt đều do người có chức trách với pháp đạo tham danh lợi, chuộng quyến thuộc [đông đảo]. Toàn thể những chuyện hoằng pháp đều là nền tảng ngấm ngầm khiến cho pháp bị diệt. Như cho xuống tóc tràn lan, truyền giới tràn lan, cho nhập chúng tu học tràn lan. Họ cho rằng ba chuyện đó là hành đạo, là hoằng pháp, chẳng biết đều là lạm dụng, đến nỗi chân Tăng ngày càng ít, tăng sĩ bại hoại ngày càng đông! Hiện thời, những loại tăng sĩ hổ mang, phường hạ lưu, không ai chẳng là tỳ-kheo đă thọ đại giới! Huống hồ Phật pháp ở Hà Nam chỉ có chùa miếu và kẻ nam người nữ trọc đầu! V́ thế, hạng người như thế mắc phải ương họa bất ngờ ấy cũng là do t́nh thế khiến thành ra như vậy. Bài văn của Thượng Phùng thật là thiết thực, xác đáng, hăy đem gởi qua bưu điện. Dẫu họ chẳng nghe theo, cũng có thể biểu lộ cái tâm hộ pháp của các vị. Không chỉ Hà Nam là như thế, mà Hoàng Nham, Vĩnh Khang và huyện X…. cũng như tại Thái Thuận của tỉnh Chiết Giang, [chánh quyền] đă nhất trí tổ chức tiến hành tịch thâu Tăng sản, phá hủy thần tượng. Hơn mười ngày trước, thầy Thâm Nghi tại chùa Tam Phong thuộc thành Thái Thuận đă sao lục các công văn của họ đem gởi tới. Quang cho là đại kiếp đă xảy đến, không có cách nào, đem các công văn của họ gởi trả lại. Nếu như các vị thâm tâm hộ pháp, chẳng ngại đem thư này tŕnh lên chánh phủ.

 

* Thư trả lời nhân sĩ ở Thiên Tân

 

          Nhận được thư, được các vị đại cư sĩ ưu ái, mong Quang đến Thiên Tân, khôn ngăn cảm kích, hổ thẹn. Cảm tạ [các vị], nhưng Quang trọn chẳng thể đến Thiên Tân, v́ Quán Âm Tụng chưa hoàn tất, Văn Sao, Thọ Khang Bảo Giám c̣n chưa sắp xếp xong. Trong khoảng giữa tháng Tư, tôi sẽ đến đất Thân (Thượng Hải) lo liệu, hiện thời so với hồi tháng Hai đă ổn thỏa hơn đôi chút. Trong tháng Hai, nguy ngập gần như lật nhào. Nay các tỉnh đều lập Phật hóa hội, tạm thời vẫn c̣n có thể duy tŕ, nhưng cảnh tượng trong tương lai vẫn chẳng thể dự định. Mong hăy nói với các vị cư sĩ trong và ngoài liên xă: Hăy nên sốt sắng niệm Phật, niệm Quán Thế Âm để có sự chuyển dời ngấm ngầm. Trừ niệm Phật cầu gia bị ra, chẳng c̣n có cách tốt lành nào nữa!

 

* Thư trả lời cư sĩ Mă Hương Thụy

 

          Mấy hôm trước, nhận được thư, biết cư sĩ gần đây đạo tâm chân thật, thiết tha, khôn ngăn hoan hỷ. Nói đến chuyện tu Tịnh nghiệp th́ chỉ là nhất tâm cầu sanh Tây Phương, chẳng mong hết thảy phước báo nhân thiên trong đời này hay trong đời sau. Phàm các kinh chú tŕ tụng, cũng như hết thảy các loại công đức, bất luận lớn nhỏ, đều dùng công đức ấy hồi hướng văng sanh th́ tâm chẳng có hai niệm. Phàm hết thảy đọc tụng, lễ bái, và các thiện hạnh, đều trở thành trợ hạnh cho Tịnh Độ. Chánh hạnh Niệm Phật cộng thêm các thứ công đức bổ trợ, sẽ như thuyền gặp gió thuận, lại căng cao buồm, một ngày đi ngàn dặm, mau chóng đến bờ kia. Điều đáng tránh là tâm và miệng chẳng tương ứng, [nếu tâm và miệng chẳng tương ứng], hết thảy thiện hạnh chỉ đạt được hư danh trong hiện thời, chẳng có cái quả liễu sanh thoát tử thật sự. Dẫu đạt được phước lạc nhân thiên trong đời sau, do hưởng phước, nhất định sẽ tạo đại ác nghiệp. Tới khi mạng chung, sẽ vĩnh viễn đọa vào địa ngục, vạn kiếp khó thoát ra! Buồn thay! Do v́ lẽ ấy, chư Phật, chư tổ đều khuyên chúng sanh cầu sanh Tây Phương.

          Lại nữa, cư sĩ khá tôn trọng pháp luyện đan, cực lực tu tập. Nếu muốn chuyên tu Tịnh nghiệp và dạy người khác, ắt cần phải bỏ loại công phu ấy đi, tận t́nh vứt bỏ. Nếu vẫn c̣n bị lời lẽ của bọn luyện đan mê hoặc, nói là “tánh mạng song tu” th́ mới có thể thành đạo như kiểu Huệ Mạng Kinh[28] v.v… coi Phật pháp là tà pháp, coi tà pháp là Phật pháp, tức là cùng uống đề hồ cam lộ và tỳ sương trấm độc, muốn đạt được Pháp Thân huệ mạng chẳng bị vĩnh viễn chết mất, chôn vùi, sẽ chẳng thể được! Đă đề xướng Tịnh Độ, khuyên khắp đại chúng, ắt phải hiểu tà chánh rơ ràng, ngơ hầu chẳng cô phụ tâm ư hướng về của chính ḿnh lẫn người khác. Pháp Niệm Phật ai nấy đều có thể tu tŕ tại gia, chẳng bắt buộc phải tham dự liên xă. Chỉ mong khắp v́ đại chúng, nương theo giáo nghĩa của pháp môn Tịnh Độ để khéo léo khơi gợi, hướng dẫn, khiến cho hết thảy nam nữ ai nấy trọn hết chức trách, giữ vẹn luân thường, vâng giữ bổn phận, kèm thêm niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Có thể như thế, sẽ sống là lương dân, mất rồi sẽ dự vào hải hội. Há có phải chỉ riêng người xuất gia có thể đề xướng, c̣n người khác chẳng thể đề xướng ư? Nếu chẳng thể chú trọng giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, cư xử thực tiễn, siêng ṛng tu tập Tịnh nghiệp, dẫu cho hội viên vượt quá trăm ngàn vạn người, cũng chỉ là quyến thuộc của ma tung hoành, đúng là gây phiền lụy cho Phật pháp!

          Pháp do hai vị cư sĩ Âu Dương Tiệm (Âu Dương Cánh Vô) và Mă Nhất Phù đă lập, người b́nh phàm trọn chẳng thể học được! Dẫu học mà có sở đắc, vẫn chẳng phải là pháp liễu thoát ngay trong một đời, v́ là pháp tự lực tu Giới, Định, Huệ, đoạn Hoặc, chứng Chân ḥng liễu sanh thoát tử, thuộc về pháp tu chứng theo đường lối thông thường trong Phật giáo, chẳng phải là pháp giúp cho bọn phàm phu đầy dẫy triền phược nương theo từ lực của Phật để thoát khỏi tam giới theo chiều ngang. Chỉ nên nương theo kinh luận, ngữ lục Tịnh Độ, để thực hành tu tŕ pháp “tín nguyện niệm Phật” là được rồi! Các pháp môn khác chẳng thích hợp căn cơ, chẳng cần phải bàn đến.

          Trong cơi đời, có kẻ tin sâu Phật pháp, lại muốn văng sanh, nhưng đối với chuyện ăn thịt, vẫn chưa thể hoàn toàn buông xuống, chính là v́ chẳng thấu hiểu sâu xa lời Phật, cũng như do chẳng thấu hiểu sâu xa duyên do của tự tâm và chúng sanh tâm. Nếu đối với lời Phật, tự tâm, và chúng sanh tâm, mỗi mỗi đều thấu hiểu, sẽ không chỉ chẳng chịu ăn, mà tôi sợ rằng dẫu [kẻ khác] dùng dao sắc bức ép người ấy ăn, cũng chẳng thể ăn được! Bài sớ tu bổ ao phóng sanh ở Nam Tầm của Quang đă nói về lư ấy khá cùng tận. Nếu có thể hằng ngày đọc mấy lượt, và suy nghĩ kỹ càng từng ư nghĩa, mà vẫn cứ coi trọng ăn thịt th́ chẳng có lẽ ấy! Bốn lượt Sa Bà Ha cuối chú Đại Bi là lời truyền tụng sai ngoa bởi tri kiến thế tục, chớ nên tuân theo!

 

* Thư trả lời cư sĩ Lư Huệ Thật (thư thứ nhất)

 

          Tánh t́nh của ông là hoàn toàn chẳng chịu lo toan nơi bổn phận. Các điều ông lo toan đều vượt ngoài lư, cho nên đến nỗi điên đảo, lầm loạn, lại c̣n lôi kéo người khác điên đảo, lầm loạn theo. Nếu Quang chẳng hiểu lư, tán thành chuyện của ông, sau này ông có chửi bới dữ dội Quang là “hạng tri thức mắt mù” hay không? Từ nay về sau, hễ làm việc ǵ chẳng được, đều bỏ mặc đó th́ sẽ không ǵ chẳng an lạc. Trần Thành đă phát tâm quy y, hăy nên bảo ông ta thực hành chuyện thuộc luân thường, cũng như tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương, ngơ hầu chẳng uổng đời này, chẳng phí hoài gặp gỡ lần này. Nay đặt pháp danh cho ông ta là Huệ Thành (慧誠). Đă chân thành th́ sẽ có trí huệ, ḷng thành ấy cũng to lớn vậy. Phàm khởi tâm động niệm, hễ có ǵ chẳng đúng pháp, đều chẳng phải là chân thành, huống huệ thành ư? Nói theo nghĩa nông cạn, gần gũi, Huệ Thành chính là dứt vọng, sáng tỏ lẽ chân. Nói sâu xa hơn, nếu chẳng đoạn vọng, chứng chân, chắc chắn chẳng phải là huệ thành rốt ráo! Mà pháp đoạn vọng chứng chân chỉ có Tịnh Độ là hữu ích nhất! V́ thế, hăy nên sốt sắng tu tŕ. Mong hăy nói với ông ta th́ may mắn lắm thay!

 

* Thư trả lời cư sĩ Lư Huệ Thật (thư thứ hai)

 

          Nhận được thư, do mới tới Thượng Hải, mọi chuyện đều cần phải lo liệu, chẳng rảnh rang để phúc đáp ngay. Ngày hôm qua, tôi mới viết xong bài tựa cho bộ Học Phật Cương Yếu của cư sĩ. Do danh xưng ấy quá cao, xét theo ư của cư sĩ, bèn đổi tên thành Sơ Cơ Học Phật Trích Yếu, đem tên gọi trước đó ghi chú phía dưới tựa đề. Trong lời tựa, tôi có nêu bày đại lược để người đọc biết sách ấy là tác phẩm do ông Tiểu Thuyên biên tập. Lệnh huynh là Vân Giai đă sanh ḷng tin, muốn quy y, nay đặt pháp danh cho ông ta là Huệ Chân (慧真), ngụ ư: Dùng trí huệ chân thật để tu tŕ Tịnh nghiệp ḥng lợi ḿnh, lợi người. Vương Trường Lâm có pháp danh là Huệ Lâm (慧林), ngụ ư: Trí huệ sum suê như rừng rậm, sẽ có thể che rợp cả ḿnh lẫn người cùng đạt được cái quả chân thật. Tôi gởi kèm lời tựa theo thư, mong hăy sao lại cẩn thận, đừng để sai ngoa. Ước chừng tháng Mười, Quang mới về núi, ông muốn đến đất Hỗ sẽ có thể gặp gỡ. Nếu muốn cùng tới Phổ Đà, chỉ sợ khó gặp dịp thuận tiện, do Quang bận chuyện in sách, cần phải xong việc mới trở về được, chẳng thể tùy ư đi lại. Tôi viết điều này để mong ông xét kỹ. Mong ông nói với anh ḿnh và Vương Trường Lâm hăy tận lực dựa theo Văn Sao để tu tŕ, những điều khác chẳng cần phải nói nữa!

 

* Thư trả lời cư sĩ Lư Huệ Thật (thư thứ ba)

 

          Thư ông và hối phiếu ba mươi đồng đều đă nhận được, đừng lo! Sơ Cơ Học Phật Trích Yếu nay đă sắp xếp xong, chẳng lâu sau sẽ ấn hành, [sách in xong sẽ] gởi đến. Bản này dùng phông chữ số ba[29] để sắp chữ. Tôi lại muốn sắp chữ bộ Học Phật Thiển Thuyết theo phông chữ số ba, trong tương lai sẽ ghép thành một bộ. Sách Văn Sao chẳng c̣n mấy (tôi đă sớm bảo Chiết Giang Ấn Loát Công Ty ở Hàng Châu in ra, nhưng họ do có nhiều chuyện vụn vặt, tuy bản kẽm đă đúc xong từ lâu, tới nay vẫn chưa thể in). An Sĩ Toàn Thư đă chẳng c̣n, Gia Ngôn Lục chưa in ra. Nay tôi gởi Quán Âm Tụng, Thọ Khang Bảo Giám, Cảm Ứng Thiên Trực Giảng, Di Đà Kinh Bạch Thoại Giải, Sơ Cơ Tịnh Nghiệp Chỉ Nam, tam thánh kinh (Tịnh Độ Tam Kinh), Giới Sát Phóng Sanh Bạch Thoại Văn, Long Thư Tịnh Độ Văn, Nh́n Thấu Suốt Thế Giới, Niệm Phật Trực Chỉ Phật v.v... bao nhiêu bộ đó. Ngày mai, ông chủ Hoàng sẽ đến, nếu có thể chuyên chở, sẽ thừa dịp gởi nhiều hơn một chút để làm tài liệu cho chỗ duyệt kinh và tùy duyên thí tặng. Các anh họ của ông như Liên Phủ v.v… muốn quy y, tôi sẽ đặt pháp danh cho mỗi người, mong hăy chuyển lời đến họ. Liên Phủ pháp danh là Huệ Triệt (慧徹), Hoạn Tử Ngọc pháp danh là Huệ Ôn (慧溫), vợ ông Trần Huệ Thành pháp danh là Huệ Cung (慧恭), chị dâu của ông ta là bà Mă có pháp danh là Huệ Thục (慧淑), Lục Bí Thị pháp danh là Huệ Chương (慧章). Hăy nên nói với họ: Ai nấy đều phải giữ vẹn luân thường, trọn hết bổn phận, dứt ḷng tà, giữ ḷng thành, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành th́ mới là đệ tử thật sự của đức Phật. Các điều khác được nói tường tận trong Văn Sao, chẳng cần phải viết cặn kẽ ở đây!

 

* Thư trả lời cư sĩ Quách Giới Mai

 

          Thư nhận được đầy đủ. Quang vốn là tăng nhân chỉ biết cơm cháo, vô tri vô thức. Nếu muốn chuyên tu Tịnh nghiệp, vẫn có thể dùng những điều cổ nhân đă đề xướng để tuyên nói. Nếu muốn thông suốt rộng khắp Tông lẫn Giáo, sẽ chẳng biết chi hết, chỉ sợ cô phụ ḷng mong mỏi của ông! Nhưng ông cùng với lệnh thê đă muốn quy y, chẳng ngại tạm dùng lầm đáp lỗi, đợi cho tới khi [vợ chồng ông] gặp gỡ bậc cao tăng, sẽ vứt bỏ kẻ ngu theo về bậc trí. Nay đặt pháp danh cho cư sĩ là Huệ Chấn (慧震), ư nói: Sẽ v́ mọi người mà tuyên nói nhân quả, luân lư, và pháp môn Tịnh Độ. Ví như đang ngủ say mê mệt, bỗng nhanh chóng tỉnh giấc, từ trong đường mê mà biết nẻo về, để tương xứng với cư sĩ lúc sống đă được trống pháp vang rền thức tỉnh. Lệnh thê có pháp danh là Huệ Ư (慧懿), nghĩa là đức hạnh hiếu thảo, ḥa thuận, từ bi, hiền ḥa, giúp chồng dạy con. Lại dùng pháp môn tín nguyện niệm Phật để tự hành, dạy người khác, trở thành bậc thầy gương mẫu cho nữ giới, là bậc mẫu nghi trong chốn khuê khổn (閨閫)[30]. Dùng huệ để phù tá đức, cho nên là Huệ Ư. Xin hăy nh́n vào danh mà nghĩ tới nghĩa, sẽ có thể đích thân được lợi ích thật sự trong Phật pháp. Những điều khác được nói tường tận trong Văn Sao, ở đây chẳng ghi cặn kẽ!

 

* Thư gởi cư sĩ Tiền Thành Thiện

 

          Nay có cư sĩ Lư Trí Chương ghi danh mua báo Hải Triều Âm, mong ṭa soạn dựa theo thời hạn mà gởi báo. Tất cả [các điều khoản về] chi phí mua báo, xin trực tiếp liên lạc với ông ta, chẳng cần Quang phải dính vào. Thư tôi gởi kèm theo xin đăng trên tờ Hải Triều Âm để khơi gợi, phát khởi tín tâm của người niệm Phật. Hiện thời, thiên tai nhân họa ngày càng nhiều. Nếu có thể chí thành tŕ niệm Phật hiệu và danh hiệu Quán Âm, không ai chẳng liền được cảm ứng. Chuyện ấy rất nhiều, Quang một mực lười viết lách. Nếu mỗi chuyện đều chép ra, sẽ thành một quyển sách to.

 

* Thư gởi pháp sư Nhân Sơn

 

          Hôm qua nhận được công văn từ các tự viện ở Dương Châu, khôn ngăn hoảng sợ! Quang suốt đời sống nhờ tự viện của người khác, nay đă sắp chết chẳng lâu, nào dám đảm nhận trách nhiệm nặng nề ấy. Pháp sư Tường Thụy đă có thể hoằng dương, diễn giảng tông Hiền Thủ, há chẳng thể hoằng dương Tịnh Độ ư? [Pháp môn Tịnh Độ] lư cực sâu mầu, uyên áo, sự cực b́nh thường, chỉ cần nương theo sự tướng để nghiêm túc tu tŕ, cho đến khi nghiệp tiêu, trí rạng, chướng hết, phước cao, lư sâu chẳng cầu mà tự đạt được. Nếu chẳng dốc sức nơi sự tu, dẫu nói đến mức trời trút xuống bốn loại hoa[31], đất sáu thứ chấn động, vẫn là nói suông, chẳng có lợi ích thực tế cho mấy. Chuyện này chỉ cần chịu phát tâm là có thể hoằng dương, chẳng cần sai khiến Quang là kẻ chất phác, ăn nói vụng về, bất tài xen vào đó ư? Mong các hạ phát ḷng từ bi to lớn, khéo từ tạ giùm tôi. Nếu không, tôi sẽ trốn ra ngoài biển khơi để khỏi lầm lạc đại sự của người khác. Mong thầy hăy nói cặn kẽ nguyên do với các vị tại các chùa ở Dương Châu th́ tôi sẽ cảm kích suốt đời!

 

* Thư trả lời cư sĩ Lạc Quư Ḥa

 

          Quân tử đối với thiên hạ chẳng thân, chẳng sơ, chỉ chú trọng cân nhắc điều nghĩa. Đem tiền phóng sanh để giúp cứu trợ tai nạn, tức là chuyển khoản tiền tài cứu giúp chỗ “sơ, nhẹ” để cứu vớt chỗ thân thiết, quan trọng, cấp bách. Nhân quả cố nhiên là có, nhưng chẳng đến nỗi do vậy mà bị tội. Năm Dân Quốc 13 (1924), Hoàng Hàm Chi nhận chức đạo doăn, quyên mộ để lập vườn phóng sanh. Sau khi vùng Giang Chiết (Giang Tô - Chiết Giang) nổ ra cuộc chiến, ông ta bèn thôi làm chuyện ấy. Ông Phùng Mộng Hoa biết ông ta c̣n có khoảng tiền lập vườn phóng sanh mấy ngàn đồng, bèn gởi thư cho Quang, bảo Quang khuyên ông ta dùng khoản tiền ấy để cứu trợ dân chúng gặp tai nạn. Quang cực lực khuyên ông ta chuyển món tiền ấy sang cứu trợ. Ông ta gởi thư cho pháp sư Đế Nhàn, nêu nguyên do. Sư Đế Nhàn trách ông ta lầm lạc nhân quả, ông ta bèn gởi thư của thầy Đế Nhàn cho tôi. Quang biện luận nhân quả cố nhiên là có, nếu nói là “Diêm La lăo tử giáng tội trừng phạt”, Quang nguyện chịu thay. Chuyện ấy mới chẳng đến nỗi bỏ lửng giữa chừng.

          Người phóng sanh gần đây, phần nhiều chẳng hiểu đạo lư phóng sanh, mang tiếng là “phóng sanh”, thật sự chẳng đạt được lợi ích do phóng sanh. Do công bố rầm rộ chuyện phóng sanh, khiến cho kẻ bắt các sanh vật càng bắt nhiều hơn. V́ vậy, Quang chẳng tán thành định kỳ phóng sanh. Đối với Tây Hồ, nếu chẳng phải do kẻ chẳng thông hiểu sự vụ đề xướng khôi phục ao phóng sanh, sao đến nỗi tiêu phí oan uổng một vạn mấy ngàn đồng tịnh tài, nhưng vẫn khiến cho bao nhiêu sanh mạng mắc phải tai ương chẳng được cứu vớt! Thiết tha mong ông hăy sốt sắng khuyên mọi người kiêng giết, ăn chay, so với khuyên kẻ khác gom góp tiền bạc phóng sanh mà vẫn cứ ăn thịt như cũ, trọn chẳng giảm bớt, th́ lợi ích sẽ nhiều hơn! Quang đă sáu mươi chín tuổi, việc thù tạc ngày càng nhiều, tinh thần ngày càng giảm. Nếu chẳng ẩn cư lâu dài, sẽ tổn hại cho chính ḿnh, vô ích cho kẻ khác, há có thể nói v́ nguyên do “pháp yếu, ma mạnh” ư? Đó là thân phận của bậc dựng cao pháp tràng, Quang nào dám tiếm phận, trộm lấy danh nghĩa ấy?

 

* Thư gởi Tông Nguyệt và Hiển Lượng

 

          Quang thuộc loại tăng nhân chỉ biết cơm cháo; v́ thế, ăn nói tầm thường, nhạt nhẽo, chẳng có ǵ lạ lùng. Nhưng hai vị muốn bảo khắp những người cùng hàng để họ sanh khởi chánh tín, dùng lời lẽ nông cạn để khế cơ, khế pháp, quả thật khéo hợp thời cơ, lợi ích rất sâu. Hiện thời, cơi đời đă loạn đến cùng cực, do mọi người đều nghĩ chẳng có chuyện nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi. Do vậy, tổn người, lợi ḿnh, thương thiên hại lư, giết cha, giết mẹ, các tà thuyết phế bỏ kinh điển, phế trừ luân thường đều được đề xướng, chỉ sợ con người khác biệt cầm thú, mong cho ai nấy đều nhất loạt giống hệt [cầm thú]. Ngay trong lúc này, chỉ có đề xướng “nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi” là phù hợp cơ nghi nhất. Nếu đàm luận những chuyện huyền diệu, sợ rằng [thính giả] chẳng hiểu. Nếu hiểu lầm th́ sẽ là tổn hại vô ích vậy!

 

* Thư gởi cư sĩ Từ Úy Như

 

          Chắc thư tôi gởi lần trước, ông đă nhận được. Mong hăy chuyển cho các vị Trương, Trần, Triệu v.v… Trong tháng Chạp năm ngoái, Quang bị bệnh hơn mười ngày; do vậy, hủy chuyến đi Hương Cảng. Hiện thời, bệnh đă lành, chẳng bao lâu sẽ sang Tô Châu tự chôn sống (ẩn cư). Ngày hôm qua, đă nhận được món tiền mười một đồng do bà Trương Huệ Khoách quyên góp in sách thay cho con gái là Sư Chiêu; xin hăy nhắn tin cho bà ta giùm. C̣n đối với Tích Châu, hễ tiện dịp gặp mặt, cũng xin ông nói giùm. Tất cả các chuyện bế quan, nhất loạt do ḥa thượng Chân Đạt và đồ đệ của Sư là thầy Minh Đạo lo liệu, ông chẳng cần phải bận tâm. Quang năm nay đă tṛn bảy mươi, cũng chẳng mong sống lâu trên đời. Nếu mấy năm nữa vẫn chưa chết, và có sở đắc to lớn, có thể sẽ xuất quan. Nếu không, cho đến hết đời này, cũng chẳng xuất quan, để tránh tự lầm, lầm người. Hiện thời, muốn cho hết thảy mọi người được lợi ích, trừ phi đề xướng giáo dục gia đ́nh và nhân quả báo ứng, quyết chẳng có hiệu quả to lớn. Phật pháp và pháp thế gian muốn được tiến hóa, đều chẳng ra ngoài hai pháp ấy. Những kẻ tuy đàm luận huyền diệu, bác bỏ sự tu, đúng là sẽ tăng trưởng tà kiến “chấp Không”, không chỉ vô ích mà c̣n gây hại!

          Thượng Hải có xà pḥng chay[32] do Quang đặt làm. Tôi đă bảo gởi mấy rương cho Tích Châu để chia ra tặng cho những người cùng chí hướng. Lại mong sẽ đề xướng tiến hành; đó cũng là đầu mối để ngăn cản giết chóc vậy!

 

* Thư gởi về quê nhà

 

          Thưa bảo trưởng thôn Đông và Tây, các vị hương lăo, và các vị bác, chú, anh, em.

          Từ bé, Ấn Quang khá chẳng biết tự lượng, muốn làm kẻ sĩ trong phái Lư Học, bèn lậm sâu chất độc Tŕnh, Châu, Hàn, Âu; may là có túc nhân, đến nỗi bệnh tật nhiều năm. Tuy chẳng phải nằm mọp trên giường không dậy nổi, nhưng gây trở ngại to lớn cho học vấn. Về sau, bỗng tự biết trước đó sai trái, bèn trong năm Quang Tự thứ bảy (1881) xuất gia làm Tăng mong tiêu ác nghiệp, báo đền ân của lịch đại tổ tông và cha mẹ. Năm Quang Tự 12 (1886), từ Trường An đến núi Hồng Loa ở Bắc Kinh. Năm Quang Tự 19 (1893), sang chùa Pháp Vũ ở Nam Hải Phổ Đà Sơn. Chủ nhân [chùa ấy] do thấy Quang thích yên tĩnh, chẳng tham duyên đời, bèn cho ở trong nhàn liêu, trừ hai thời lên chánh điện tụng niệm ra, trọn chẳng làm một chuyện ǵ, tùy ư xem kinh, niệm Phật. Trên núi có người biết Quang có thể viết lách, bèn đem việc này nọ nhờ vả. [Viết xong], trọn chẳng dùng tên ḿnh, mà đề tên người ấy, hoặc dùng tên giả. V́ thế, suốt hai mươi năm qua rất yên vui. Suốt năm chẳng có ai đến gặp, chẳng có ai gởi thư.

          Tới năm Dân Quốc thứ sáu (1917), Vương Ấu Nông ở huyện Tam Nguyên (tỉnh Thiểm Tây) đem một lá thư in ra mấy ngàn bản, Từ Úy Như đem ba lá thư in ra mấy ngàn bản, dần dần lâm vào cảnh khổ! Năm sau, Từ Úy Như lại ấn hành Văn Sao. Từ đấy về sau, một người đồn đăi hư huyễn, vạn người truyền nhau thành thật, thư từ qua lại, mỗi tháng trên cả trăm lá. Lại do Quang chẳng tự lượng, chí mong lợi lạc mọi người, sắp đặt, khắc in các loại kinh sách, suốt nhiều năm trọn chẳng có lúc nào rảnh rỗi. Năm Dân Quốc 17 (1928), các đệ tử ở Hương Cảng thỉnh Quang sang sống tại Hương Cảng, tính năm kế đó sẽ đi. V́ thế, rời khỏi Phổ Đà, tạm ngụ trong chùa của bạn bè tại Thượng Hải. Năm Dân Quốc 18 (1929), do chỉnh lư bộ Lịch Sử Thống Kư, chẳng thể đi. Trong mùa Đông, do mệt nhọc quá sức, bị bệnh nhẹ, bạn bè ngăn trở không cho sang Hương Cảng, bảo hăy bế quan tại chùa Báo Quốc ở Tô Châu. Tháng Tư năm Dân Quốc 19 (1930), vào quan pḥng (bế quan).

          Do nghe quê ta hạn hán, đói kém, đem một ngàn sáu trăm đồng, giao cho cán sự của Hoa Dương Nghĩa Chẩn Hội, tức là Dương Huệ Mậu, đệ tử quy y của tôi, đích thân tặng cho thôn ta. Ông ta quay về huyện Phù Phong, cũng có thưa tŕnh đôi chút, chưa biết làm như thế nào. Quang cũng chẳng hỏi đến chuyện ấy. Tháng Giêng năm nay, Phước Vân và Vĩnh Quư đến Tô Châu, [nhờ họ, tôi] biết thôn ta điêu linh khó chịu đựng nổi, khôn ngăn đau ḷng. Hỏi tới Tam Phân Từ Đường, họ cho biết trong từ đường đă lập trường học, đặt tên là Ấn Quang Học Hiệu. Học sinh trong thôn Đông và thôn Tây đều học tại đó, Trí Kiệt làm thầy dạy.

          Họ lại cho biết ngoài cửa [từ đường], dựng ba gian nhà mới, đặt tên là Thánh Lượng Hội. Hạ bảo trưởng của thôn đặt mấy cái bàn để người khác ăn tiệc tại đó. V́ căn nhà ấy do người của hai thôn Đông và thôn Tây bỏ tiền ra dựng, cho nên Hạ bảo trưởng của hai thôn Đông và thôn Tây, hễ có công việc phải bàn bạc, đều đến Thánh Lượng Hội. Quang hỏi: “Sao hai thôn Đông và Tây mỗi nhà đều bỏ tiền để dựng công quán trong Tam Phân Từ Đường của gịng họ nhà tôi, ăn thịt, uống rượu, bàn công việc, mà lại đặt tên là Thánh Lượng Hội?” Họ nói: “Khoản tiền cứu trợ một ngàn sáu trăm đồng trong năm Dân Quốc 19 (1930), chia đều cho các gia đ́nh ở hai thôn, chừa lại một phần mười, tức là một trăm sáu mươi đồng, lập một căn nhà trước từ đường của thầy để làm pḥng làm việc cho hai thôn Đông và Tây. V́ món tiền ấy do pháp sư cứu tế mà có, cho nên dùng pháp danh của pháp sư để đặt tên”. Quang nghe xong, khôn ngăn thở dài, bảo: “Sao thôn ta lại nẩy sanh cách làm như thế? Tôi dùng một ngàn sáu trăm đồng để cứu tế hai thôn. Hai thôn rút ra một phần mười tiền cứu tế để dựng nhà trong từ đường của gịng họ tôi, dùng làm nơi tiệc tùng, bàn việc, bảo là họ tự lập, lại c̣n đặt tên là Thánh Lượng Hội! Tức là một ngàn sáu trăm đồng của Thánh Lượng tôi đă dẫn đến chuyện hai thôn Đông Tây chiếm đất từ đường của gịng họ tôi. Tội của tôi quá lớn!”

          Nhưng tôi là người học Phật, chẳng chịu tranh chấp với người khác. Do vậy, chuẩn bị chi phiếu hai trăm đồng, giao cho các vị Phước Vân v.v… cầm về. Đến nhà liền thông tri cho mọi người ở hai thôn, đến miếu Thành Hoàng bàn chuyện, giao cho bảo trưởng, các vị hương lăo v.v… để hoàn lại tiền xây cất, lập tức xóa bỏ danh mục Thánh Lượng Hội. Ngoại trừ chỗ để học tṛ hai thôn học hành ra, những thứ khác đều chẳng chấp thuận. Trường học do người Tam Phân chịu làm việc công ích mà lập ra, chẳng thể nói ngôi từ đường ấy thuộc về cuộc đất của trường học hai thôn được! Biện pháp như thế, nếu hương lăo hai thôn chấp thuận, may mắn nào bằng! Nếu cố chấp, chẳng thay đổi, tôi sẽ mời hai vị lăo tiên sinh rất có thể diện gởi thư uyển chuyển khuyên nhủ, mong họ xem xét kiến nghị của Quang. Chắc các vị chẳng thể không nể mặt hai vị lăo tiên sinh. Chuyện đă ắt phải như thế, dường như có lẽ nên bớt việc th́ hay hơn, chẳng cần phải kinh động hai vị ấy, giảm bớt chuyện nhọc nhằn đôi bên thư từ qua lại với nhau. Bất luận quư vị có đồng ư hay không, Phước Vân, Vĩnh Quư v.v… chẳng được tranh chấp với mọi người, chỉ gởi thư thông báo t́nh h́nh cho tôi. Cách vừa nói trên đây chính là cách để duy tŕ thế đạo. Nếu có thể thực hiện phương cách duy tŕ thế đạo th́ tốt lắm. Nếu không, tôi liền hành theo pháp “Bồ Tát xả thân mạng để thỏa măn ư nguyện của chúng sanh”, sẽ hướng về đại chúng hai thôn đảnh lễ, sám hối, thưa: “Thánh Lượng tội lỗi, xin hăy rủ ḷng tha thứ, đem chuyện này vứt ra ngoài biển Đông, nhất loạt chẳng hỏi đến nữa”. Viết ra điều này, xin quư vị hăy xét soi!

 

* Thư trả lời cư sĩ Triệu Trí Vân (thư thứ nhất)

 

          Trước hôm ông gởi thư đến ba ngày, bảo trưởng và hương lăo đă gởi thư đến, cho biết họ đă dẹp Thánh Lượng Hội, hai trăm đồng dùng làm quỹ cho trường học, ba gian pḥng ngoài cửa đă giao cho từ đường. Chuyện này nếu không có ông đến, sẽ vĩnh viễn là chốn công sở để uống rượu, ăn thịt! Ḷng người quá xấu, đến nỗi tai họa liên tiếp. Nay ruộng lúa mạch không mong thâu hoạch được, vẫn cần mọi người cùng niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát để cầu mưa ngọt mau tuôn xuống. Nếu không, nước ao đă không có, nước giếng cũng giảm, sẽ chết khát. Nếu thật sự chí thành, sẽ có mưa để mong sớm gieo trồng vụ mùa Thu, vẫn chưa đến nỗi vụ mùa Thu chẳng trông mong được! Nếu không, đă hai năm mất mùa, người ta dựa vào đâu để sống sót?

          Trong ngày Mười Ba, tôi đă bảo Hoằng Hóa Xă gởi mười gói Văn Sao. Mỗi gói gồm hai bộ, vẫn chưa đủ một bưu kiện, do vậy kèm thêm một quyển Liễu Phàm Tứ Huấn. Sách ấy văn lẫn lư viên măn tột bậc chu đáo, là sách mà hết thảy mọi người đều nên đọc kỹ. Hôm trước, Trí Tuấn cũng gởi thư đến, nói cha ông ta từng tu tập theo ngoại đạo, trước kia, ông ta cũng học theo. Về sau đọc các kinh sách do tôi gởi, bèn chẳng học pháp ấy nữa, nhưng hăy c̣n qua lại, hăy nên dần dần xa ĺa. Hiện thời, giá giấy đắt tột bậc. Giấy in sách báo lúc rẻ nhất là hai đồng ba cắc một xấp (một xấp gồm năm trăm lẻ sáu tờ), nay đă hơn năm đồng, mà giá mỗi ngày một tăng vọt lên. Hăy nên quư trọng ǵn giữ kinh sách. Nếu không, mai sau sợ chẳng đủ sức có được nữa. Đối với người được tặng sách, hăy nên nói lời này, lại cần phải cung kính chớ nên khinh nhờn!

 

* Thư trả lời cư sĩ Triệu Trí Vân (thư thứ hai)

 

          Gởi sách là do Quốc Quang Thư Cục, sao lại nói là Phật Học Thư Cục? Quốc Quang là chỗ ấn loát, nhận gởi sách cho người nhận là chức trách chánh yếu của tiệm họ, chẳng phải chịu ơn, sao lại cảm tạ họ? Ông đă quy y, hăy nên xưng là “đệ tử”. “Hậu học” là từ ngữ xưng hô thông thường, chẳng phải là không dùng được, nhưng đó là từ ngữ chung chung, chẳng thiết thực, không đúng chuẩn mực. Thời sự ngày càng sai lệch, hăy siêng niệm Phật. Nếu chẳng có chuyện tột bậc quan trọng, chớ nên gởi thư. Chẳng lâu sau nữa sẽ có Viễn Công Văn Sao, sẽ gởi cho mỗi vị một gói. Do sách ấy người b́nh phàm chẳng thể đọc, cho nên chỉ gởi cho hai thôn, mỗi thôn một gói. Người học Phật tâm phải chất trực. Lời ông đă nói trước đây gần như chẳng thật. Nếu phạm lỗi ấy, hăy nên sửa đổi; nếu không, càng thêm cố gắng!

 

* Thư trả lời cư sĩ Triệu Trí Vân (thư thứ ba)

 

          Các thư ông đă gởi, tôi đều nhận được, hết sức an ủi! Làm người nên tri túc, mọi việc chớ nên toan tính quá phận. Ông nói muốn dựng Tam Thánh Đường để làm chỗ căn bản ḥng tự hành, giáo hóa người khác. Chẳng biết dân quê ta, mười nhà th́ chín nhà trống rỗng, khuyên ai bỏ tiền công đức để thành tựu chuyện ấy được ư? Một là ông chẳng biết thời cuộc gian nan, hai là chẳng biết Quang là người như thế nào. Ư ông muốn Quang đứng ra quyên mộ, chẳng biết từ trước tới nay, Quang chưa hề mở miệng kêu gọi quyên góp. Do vậy, chẳng trụ tŕ chùa miếu, chẳng thâu đồ đệ. Nếu ai có tín tâm cúng thí khoản tiền nào, th́ hoặc là in sách, hoặc cứu trợ tai nạn, trọn chẳng tích cóp, để mong khi chết, ngoại trừ quần áo, chăn mền thường dùng, chẳng có vật ǵ đáng giá. Chẳng mong khiến cho kẻ sử dụng tài vật mà tôi đă tích lũy, chửi tôi là con quỷ tham lam! Vốn biết quê tôi và người nhà tôi, chẳng biết Phật pháp và Tăng hành xử như thế nào, cho nên chẳng dám thư từ qua lại. Sợ chẳng biết t́nh đời, họ đường xa t́m đến, chẳng biết đối xử như thế nào? Đi về phải tốn mấy chục đồng. Dẫu hoàn lại lộ phí cho họ, họ đă chịu thiệt tḥi lớn, mà tôi cũng chẳng có sức làm chuyện ấy! Quang là một tăng nhân nghèo nàn, sao có thể bày ra chuyện đó để tự hại, hại người!

          Năm ngoái, do Trương Trí Giáp cho biết đă mở Niệm Phật Xă, cho nên gởi sách, ngơ hầu họ biết lợi ích chân thật của Phật pháp, chẳng đến nỗi xen lẫn ngoại đạo vào Phật pháp. Chuyện gởi sách có lẽ có thể tiếp tục gởi, c̣n bất cứ chuyện nào khác đều chẳng thể giúp tiền hay tán trợ được! Tăng nhân chẳng biết pháp, thường dùng tiền bạc của thập phương thí chủ để nuôi nấng kẻ tục gia. Đó là hành vi của hạng người thô tục trọc đầu, là chủng tử địa ngục! Nếu mong mỏi Quang làm chuyện ấy, c̣n quá đáng hơn xem Quang là kẻ chẳng đáng nửa đồng!

          Niệm Phật Đường là chỗ đề xướng. B́nh thường niệm Phật, hăy nên ai ở nhà nấy. Không chỉ chẳng phải bôn ba, mà c̣n chẳng lỡ làng công việc. Nếu không có chỗ kha khá, th́ miếu Quan Đế ở ngoài cửa Đông, hoặc miếu Thành Hoàng trong thôn, hoặc từ đường của gịng họ, hoặc từ đường của chi họ, mỗi tháng một hoặc hai lần, tuyên nói đại lược đề xướng. Ngoài ra, ai nấy tự niệm Phật tại nhà ḿnh sẽ tốt hơn nhiều! Cứ ắt muốn dựng đền miếu rồi mới siêng năng tu hành, tức là chẳng biết lẽ thật trong tu hành, chính là hành vi của kẻ chỉ cốt phô trương cái danh. Huống hồ hiện thời là lúc khẩn bách, nhận được tiền công đức, gặp chuyện khó khăn riêng, chẳng thể không dùng. Dùng rồi chẳng có cách nào hoàn lại, sẽ trở thành lỗi lầm to lớn.

          Tôi từng nghe người già cả nói: Trong tộc họ của tôi, có ông X… trong thuở thái b́nh thời Đạo Quang - Hàm Phong, đă quyên mộ người giàu có trong Triều Ấp để xây cất Ngọc Cục Quán gồm chừng đó ṭa điện đường, lại c̣n dựng Khôi Tinh Lâu. [Rốt cuộc], Ngọc Cục Quán chỉ là một ngôi miếu nhỏ, Khôi Tinh Lâu chính là nơi đầu tường phía Đông của sân khấu bèn xếp mấy mảnh ngói thành Khôi Tinh Đường! Khoản tiền đóng góp ấy đều dành cho chính ḿnh sử dụng. Về sau, cả nhà ấy chết sạch. Tiền tài của mười phương, chỉ có người đạo đức có thể nắm giữ. Nếu không, khó tránh khỏi gây nên thói tệ, chuốc lấy tai họa.

          Quán Âm Đường ở phía Đông xă ta, bị giặc Hồi Hồi[33] đốt trụi. Mấy năm sau, mọi người đề xướng trùng tu. Thầy phong thủy nói: “Xây cao th́ chẳng có lợi phương Đông, nhưng có lợi cho phương Tây”. Mời cha tôi và một vị lăo nhân ở thôn Tây trông coi chuyện ấy. Ông ta nghe lời thầy phong thủy, cực lực muốn xây cao. Chẳng đầy một năm, ba đứa con của ông ta chết mất một. Đă thế, con dâu trong nhà nhảy xuống giếng tự tử. Muốn lợi cho phương Tây mà đâm ra phương Tây mắc họa, bất lợi cho phương Đông mà rốt cuộc phương Đông chẳng sao! Do vậy, biết mọi sự đều phải tuân theo lẽ công, chớ nên xen tạp ư riêng tư. Xen tạp ư riêng, sẽ khó đạt được kết quả tốt.

          Năm Quang Tự 23 (1897), gặp trận đói lớn, ở Hợp Dương, phàm là người đọc sách lo liệu việc cứu tế, không ai chẳng vướng thói tệ! Sau trận đói năm ấy, người tố cáo có đến hơn bốn mươi hai chỗ. Thôn ta cũng thế (mọi người ồn ào, nhưng chưa tố cáo). Chỉ có ở thôn Tây chẳng mời người đọc sách lo liệu. Một ông lái buôn già họ Ngỗ đă nghỉ hưu lâu ngày tại nhà, [đảm nhiệm việc cứu tế], trọn chẳng có mảy may thói tệ nào. Hễ nhận được gạo cứu trợ liền chia ngay, trọn chẳng giữ lại. Triều Ấp cũng thế, chẳng có người đọc sách nào không vướng thói tệ. Một người buôn bán [lo liệu cứu tế] cũng giống như ông Ngỗ ở thôn Tây. Có thể thấy là thói đời, hễ hơi có quyền thế, sẽ cậy thế hiếp đáp người khác. Hai người không vướng thói tệ ấy, chẳng phải là thật sự hiểu biết nhân quả, biết tội phước, mà là do không có quyền thế cho nên chẳng dám làm. Hễ làm, sẽ bị kẻ khác công kích, cho nên đạt được tiếng thơm! Do ông trẻ tuổi, có sức lực, sau này chắc sẽ được giao phó chuyện này nọ, cho nên tôi nói sẵn lẽ lợi hại vậy!

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ, phần 1 hết



[1] Đây là tác phẩm ghi lại những nét chánh yếu về lịch sử Phật giáo tại Ấn Độ, Trung Hoa, và Nhật Bản. Sách do hai pháp sư thuộc Tịnh Độ Chân Tông của Nhật Bản là Ô Địa Mặc Lôi (Shimaji Mokurai) và Sanh Điền Đắc Năng (Oda Tokuno) biên soạn bằng tiếng Nhật. Tác phẩm này được các vị pháp sư Thích Thính Vân và Thích Hải Thu dịch sang tiếng Hán, in lần đầu vào năm Tuyên Thống thứ ba (1911) đời Thanh.

[2] Kim Lăng Khắc Kinh Xứ là cơ sở văn hóa Phật giáo nổi danh của Trung Hoa. Cơ sở này do cư sĩ Dương Nhân Sơn sáng lập vào năm Đồng Trị thứ năm (1866) tại Nam Kinh (do tên cổ của thành Nam Kinh là Kim Lăng cho nên gọi tên như thế). Cư sĩ Dương Nhân Sơn dạy học tại đó và chủ tŕ ấn loát hơn bốn mươi năm, ấn hành hơn trăm vạn bộ sách, và mười mấy vạn h́nh Phật. Tại đây, cụ Dương c̣n sáng lập các cơ sở giáo dục như Kỳ Hoàn Tinh Xá, Phật Học Nghiên Cứu Hội v.v… Các vị đại đức Phật giáo nổi tiếng thời đó như Thái Hư đại sư, Âu Dương Cánh Vô, Chương Thái Viêm, Tạ Vô Lượng, Mai Quang Hy v.v… đều từng tham học tại đây. Năm 1922, Âu Dương Cánh Vô và Lữ Trừng thành lập Chi Na Nội Học Viện tại đây để nghiên cứu Pháp Tướng. Trong số các học viên, có những người nổi tiếng như Lương Khải Siêu, Lương Sấu Minh, Vương Ân Tường, Hùng Thập Lực. Sang thời Mao Trạch Đông, cơ sở này ngừng hoạt động. Măi đến năm 1980, do chánh sách tôn giáo được nới lỏng, cụ Triệu Phác Sơ mới phục hưng cơ sở này.

[3] Nguyên văn là “tụ trân” (聚珍). Tức là cách dùng các con chữ rời bằng kim loại sắp vào khuôn, in thành từng trang. Do vào năm 1773 (tức năm Càn Long 38), sau khi Tứ Khố Toàn Thư hoàn thành, muốn in ra, nếu dùng lối in khắc ván truyền thống sẽ tốn công rất lớn, chi phí rất cao, lại khó thể hoàn thành đúng kỳ hạn. Hơn nữa, khả năng bị khắc sai sót rất lớn. Đại thần Kim Giản bèn kiến nghị cho thợ khắc từng chữ rời bằng gỗ táo rồi xếp vào khuôn theo từng trang để in. Sau khi in thử, duyệt lại, hễ thấy lỗi ở trang nào, chỉ cần sắp chữ lại trang đó, không cần phải khắc lại từ đầu. Công tŕnh này cần đến 25.000 chữ rời để ấn loát. Vua Càn Long rất thích thú với kiến nghị này, đă đổi tên gọi Hoạt Tự (chữ rời) thành Tụ Trân (chất chứa của báu). Sau này, Trung Hoa Thư Cục dùng kim loại đúc thành chữ rời, font chữ theo lối Phỏng Tống. Các bản in bằng lối này được gọi là Tụ Trân Phỏng Tống Bản, hay chỉ gọi tắt là Tụ Trân.

[4] Hàn Tương Tử, tự Thanh Phu, là một trong Bát Tiên theo tín ngưỡng của Đạo giáo. Theo truyền thuyết, ông này sống vào đời Đường, theo học đạo với Lữ Động Tân, giỏi âm nhạc. Tương truyền, khúc nhạc Thiên Hoa Dẫn của Đạo giáo do ông chế ra. Ông thường được vẽ h́nh như một chàng trai trẻ, tay cầm ống sáo. Hậu nhân cho rằng ông ta tên thật là Hàn Tương, là cháu trai của văn hào Hàn Dũ, nhưng các nhà khảo cứu cho rằng đây chỉ là sự gán ghép trong truyền thuyết dân gian, v́ Hàn Tương làm quan tới chức Đại Lư Thừa, chẳng hề tu tiên.

[5] Nhận () là một đơn vị đo độ dài thời cổ. Thông thường Nhận được hiểu là chiều dài của cánh tay một người đàn ông trưởng thành. Đời Châu, một Nhận là tám thước, đời Hán coi bảy thước là một Nhận, nhưng về sau, thường coi tám thước là một Nhận. Thước ở đây là thước Tàu (Xích) khoảng 33 cm.

[6] Trong âm Phổ Thông, cả hai chữ này ( ) đều đọc là Tiào nên mới có sự lầm lẫn như thế. Cũng giống như thế, do Nhiếp (, Shè) và Xả (, Shě) có âm đọc gần giống nhau nên bị sai ngoa. Thậm chí, họ c̣n bịa truyện gọi là Quán Âm Khiêu v́ Quán Âm thị hiện thần lực nhảy ra đứng giữa biển cả để dằn mặt các thần thánh muốn tranh giành đạo tràng Phổ Đà của Ngài.

[7] Trinh Tiết Tịnh Độ Viện chính là nhà của ông Cao Hạc Niên. Tính ông Cao Hạc Niên thích du lịch, thường đi khắp các thánh tích chiêm bái. Tuy có vợ, nhưng hai vợ chồng đối với nhau tương kính như khách, chưa bao giờ ân ái. Năm Dân Quốc thứ mười (1921), ông về thăm nhà, thấy vợ đă già, không có con cái nương tựa, cảm mộ vợ thủ tiết, hiếu thuận với bố mẹ chồng như cha mẹ ruột, bèn sửa nhà ḿnh thành Trinh Tiết Tịnh Độ Viện cho vợ ḿnh và các phụ nữ góa chồng, hoặc các cô trinh nữ thề không lấy chồng sống ở đó chuyên tu Tịnh nghiệp. Xem chi tiết trong bài kư Giang Tô Hưng Hóa Lưu Trang Trường Trinh Tiết Tịnh Độ Viện Bi Kư trong Ấn Quang Văn Sao Tăng Quảng Chánh Biên.

[8] Đạo Doăn là một chức vụ thời Dân Quốc. Năm Dân Quốc thứ ba (1914), chính quyền Viên Thế Khải quy định mỗi tỉnh được chia thành nhiều đạo, mỗi đạo gồm nhiều huyện. Cả nước có tất cả chín mươi ba đạo, đổi chức vụ Quan Sát Sứ của mỗi tỉnh thành Đạo Doăn, có trách nhiệm quản trị sự vụ của các huyện thuộc về Đạo ấy.

[9] Nguyên văn “lệ trạch chi hỗ ích”. Lệ Trạch là thành ngữ miêu tả t́nh bạn thân thiết rèn giũa, giúp nhau tốt đẹp hơn. Đây là một điển cố rút từ kinh Dịch khi giảng về quẻ Đoài: “Lệ trạch đoài, quân tử dĩ bằng hữu giảng tập”. Câu này được chú giải là phần trên và phần dưới của quẻ Đoài đều có h́nh dạng giống như hai cái ao. Hai ao nước thông nhau, nước sẽ lưu chuyển, không tù đọng nên đều đẹp đẽ. Quân tử cũng giống như thế, cùng với những người cùng chí hướng, tụ tập để bàn luận, răn nhắc nhau tập tành đạo nghĩa.

[10] “Tàng đầu” có nhiều thể loại, thông thường nhất là bài thơ có các chữ đầu và cuối câu ghép thành một câu hoàn chỉnh, hoặc chữ cuối trong câu sau phải chứa một phần của chữ đầu trong câu cuối. Đối với thể loại thứ nhất, bài thơ tiêu biểu thường được nhắc tới là bài Tuyết Lôi của Liễu Tông Nguyên: Thiên sơn điểu phi tuyệt, vạn kính nhân tung diệt, châu thoa lạp ông, độc điếu hành giang tuyết” (Ngàn núi chim bay hết, muôn nẻo chẳng bóng người, thuyền lẻ đội nón trúc, tuyết lạnh câu trên sông). Bốn chữ đầu ghép thành “thiên vạn cô độc” (muôn ngàn cô độc). Lối này thường dùng nhất, gọi là “tàng đầu quán danh”. Cách này thường sử dụng khi viết câu đối đề tên một công tŕnh hoặc đền đài. Chẳng hạn như câu đối ở chùa Khánh Sơn: Khánh trị u thâm, mộ cổ thần chung vong lũy kiếp. Sơn cư khoái hoạt, nhàn hoa dă thảo liễu tam sanh”. Một cách phức tạp hơn là bài Du Tử Tiêu Cung của Bạch Cư Dị, như sau: “Thủy tẩy trần ai đạo vị thường, cam ư danh lợi lưỡng tương vong, tâm hoài lục động đan hà khách” (水洗塵埃道未甞, 甘於名利兩相忘, 心懷六洞丹霞客). Chữ Thường () trong câu đầu có chứa chữ Cam () trong câu thứ hai. Chữ Vong () cuối câu thứ hai có chữ chứa Tâm () ở đầu câu thứ ba v.v…

[11] Hạ Phụ là một hương trấn thuộc khu Nguyệt Hồ, thành phố Ưng Đàm, tỉnh Giang Tây.

[12] Cừu () là danh xưng chung để gọi các loại áo khoác chống lạnh làm bằng da thú, thường là loại có lông dày.

[13] Địch Cát Lục là tác phẩm do Nhan Mậu Do biên soạn vào đời Minh, ghi chép những chuyện nhân quả báo ứng trong lịch sử, nhằm khuyên những ai đang cầm quyền hăy hành theo thiện đạo. Tên sách được dựa theo một câu nói trong thiên sách Đại Vũ Mô của sách Thượng Thư (kinh Thư): “Huệ địch cát, tùng nghịch hung, duy ảnh hưởng”. Câu này được chú giải là nếu thuận theo đạo lư sẽ tốt lành, trái nghịch sẽ bị hung hiểm, giống như bóng theo h́nh, tiếng vọng vang theo âm thanh.

[14] Tịch Tà Tập là tác phẩm phản bác những luận điệu bôi nhọ Phật giáo của giáo sĩ Công giáo Lợi Mă Đậu (Matteo Ricci). Tổ Ngẫu Ích chỉ ra những quan điểm thiển cận, thiếu hiểu biết đối với văn hóa Trung Hoa nói riêng, cũng như kiến thức sai sót, lệch lạc về Phật giáo của Lợi Mă Đậu. Đồng thời vạch ra những sai lầm cơ bản của giáo sĩ Lợi Mă Đậu trong lập luận khi phê phán Nho gia và Phật giáo. Để lôi kéo Nho sĩ chống đối Phật giáo, Lợi Mă Đậu tự xưng ḿnh là Tây Thái Nho sĩ, và nghiên cứu đạo Nho, nhưng do hiểu biết không đến nơi đến chốn, ông ta bị các danh Nho thời ấy chê là “thiết Nho hại Nho” (trộm lấy đạo Nho để hại đạo Nho).

[15] Danh xưng để biểu thị sự tôn kính đối với mẹ người khác.

[16] Danh xưng biểu thị sự tôn kính đối với cha của người khác.

[17] Theo từ điển Từ Hải, Chỉ Bản là một lối in xưa, người ta sắp bản in với các chữ in rời bằng kẽm (tức là mỗi chữ đều được đúc riêng biệt bằng kim loại, rồi sắp vào khuôn gỗ thành trang), đưa vào máy in nén mạnh trên giấy cứng cho lơm xuống. Khi cần in, sẽ chụp những trang đó, không cần phải sắp chữ lại

[18] Vụ có thể hiểu hai nghĩa:

1. Vụ là Vụ Châu, tức Ngô Châu đời Tùy, lỵ sở tại thành phố Kim Hoa thuộc tỉnh Chiết Giang.

2. Vụ là huyện Vụ Nguyên thuộc Huy Châu (tỉnh Giang Tây).

[19] Tức Hàn Dũ, Âu Dương Tu, Tŕnh Di, Châu Hy là các lănh tụ của Tống Nho.

[20] Chúng tôi chưa t́m được tài liệu về sách Tam Tự Kính, nhưng căn cứ theo chữ Hán trong nguyên văn lá thư của Tổ, sách này chẳng phải là Tam Tự Kinh (三字).  

[21] Đây là một câu nói trong thiên Hiến Vấn của sách Luận Ngữ. Các nhà chú giải giảng: Cốc () phải hiểu là bổng lộc. “Đạo” ở đây là b́nh trị, hoặc chánh sách sáng suốt, dân chúng an lạc. Theo các nhà chú giải, câu này có ư nói: Kẻ làm quan khi đất nước b́nh trị hưởng thụ bổng lộc là lẽ đương nhiên; nhưng khi đất nước rối ren, vẫn thản nhiên hưởng thụ bổng lộc th́ là điều đáng nhục nhă.

[22] Cửu huyền thất tổ (九玄七祖) là danh xưng chỉ chung tổ tiên bảy đời và con cháu chín đời thuộc nam giới tính từ bản thân ḿnh. Cửu huyền là con cháu nam giới trực hệ chín đời của chính ḿnh, thất tổ là tổ tiên bảy đời tính từ chính ḿnh trở lên. Do vậy, cửu huyền thất tổ chỉ có nghĩa là tổ tiên và con cháu nhiều đời của ḿnh, hay nói rộng hơn là toàn thể gịng họ nhiều đời của chính ḿnh. Khi nói siêu độ cửu huyền thất tổ tức là tu tập để trên báo đáp tổ tiên, dưới cứu vớt con cháu. Không hiểu v́ lư do ǵ, tại Việt Nam, nhất là miền Nam, chữ Cửu Huyền Thất Tổ trở thành ư nghĩa tổ tiên. Thậm chí một tông phái Phật giáo ở Việt Nam c̣n gọi chỗ thờ vong sau chánh điện là nhà Cửu Huyền, đến nỗi đă có người phải thốt lên: “Cháu chắt nó chưa sinh ra mà cầu siêu sao được?” Thất Tổ là phụ (cha), tổ (ông), tằng tổ (cố), cao tổ (ông sơ), thái tổ (ông sờ), huyền tổ (ông sẩm) và hiển tổ (đừng lầm với hiển khảo là từ ngữ để gọi cha đă chết và hiển tỷ là từ ngữ để gọi mẹ đă chết). Cửu huyền là con cháu tức tử (con), tôn (cháu), tằng tôn (chắt), huyền tôn (chút), lai tôn (chít), côn tôn, nhưng tôn, vân tôn, và nhĩ tôn. Do vậy, không bao giờ thấy bài vị thờ “cửu huyền thất tổ” trong nhà người Hoa hay các từ đường, chùa miếu. Để thờ tổ tiên, họ chỉ ghi “X… thị lịch đại tổ tông chi linh/liên vị” (bài vị tổ tiên các đời trong họ X….). Trong các chùa miền Bắc Việt Nam, cũng không bao giờ thấy có cách đọc cầu siêu cho cửu huyền thất tổ; có lẽ thói quen hiểu cửu huyền thất tổ là tổ tiên” chính là do một người truyền sai, vạn người cùng dùng như vậy th́ dẫu sai cũng trở thành đúng đó chăng?

[23] Thành Đô c̣n gọi là Dung Thành, Cẩm Quan Thành, hay gọi tắt là Dung, là tỉnh lỵ của tỉnh Tứ Xuyên, là thành phố thương nghiệp, tài chánh, kỹ thuật, văn hóa và giáo dục lớn nhất tại miền Tây Trung Hoa. Nơi này chính là kinh đô thời cổ của chín vương triều Cổ Thục, Thành Gia, Thục Hán (vương triều của Lưu Bị), Thành Hán, Tiêu Thục, Tiền Thục, Hậu Thục, Lư Thục và Đại Tây.

[24] Xin đừng lầm lẫn sách này với tác phẩm Tự Tri Lục của tổ Liên Tŕ. Tổ viết về chuyện hằng ngày xét ḿnh để thanh tịnh tam nghiệp ḥng hành tŕ niệm Phật dựa theo Công Quá Cách. Tự Tri Lục nói ở đây là cuốn sách do Lưu Lữ Thanh được bà Hồ nhờ cậy hắn viết ra. Nguyên lai, Lưu Lữ Thanh quy y với pháp sư Bảo Nhất trụ tŕ chùa Tư Phước ở núi Hồng Loa. Vị này cũng là trụ tŕ chùa Cực Lạc ở Bắc Kinh, có một nữ cư sĩ họ Hồ ở Hồ Nam là đệ tử quy y. Bà này muốn phô trương thanh thế cho thầy ḿnh cũng như khoe khoang bản thân, bèn bàn bạc với Lưu Lữ Thanh, mua chuộc ông ta, vay mượn, cắt xén các cảnh giới của bậc đại Bồ Tát được mô tả trong kinh điển Đại Thừa rồi mô tả như là cảnh giới tự chứng của bà Hồ, viết thành Tự Tri Lục. Thầy bà ta (pháp sư Bảo Nhất) do háo danh cũng viết lời b́nh chú tán thán, khuyến khích đại chúng lưu thông.

[25] Đây là một tổ chức từ thiện khá lớn đầu thời Dân Quốc, có tên gọi đầy đủ là Trung Quốc Hoa Dương Nghĩa Chẩn Cứu Tai Tổng Hội (China International Famine Relief Commission), có thành viên là người Hoa lẫn người Âu Tây. Tổ chức này tồn tại đến năm 1949. Nguyên khởi là sau trận hạn hán dữ dội vào năm 1920 tại Hoa Bắc, các tổ chức từ thiện ráo riết hoạt động, kết hợp với tổ chức Hồng Thập Tự Quốc Tế. Nhận thấy cần có một sự hoạt động chung để hoạt động cứu tế hiệu quả hơn, Hoa Dương Nghĩa Chẩn Hội đă ra đời vào tháng 11 năm 1921 tại Thượng Hải. Thành viên đa số là người ngoại quốc, người Mỹ chiếm đa số. Các thành viên người Hoa là những người đă tiếp thụ nền giáo dục Âu Tây. Trên cơ sở đó, năm 1928, đă thành lập Mỹ Quốc Hoa Tai Hiệp Tế Hội (China Famine Relief USA Inc) có trụ sở đặt tại Nữu Ước để làm quỹ từ thiện vận động quyên mộ tại Hoa Kỳ. Các hoạt động của hội rất đáng nể, họ đă góp phần kiến thiết đường xá và các công tŕnh thủy lợi, như công tŕnh chống lũ tại Hoàng Hà. Năm 1922, họ đă chi ra hơn năm mươi vạn Mỹ kim để cứu trợ nạn đói tại Thiểm Tây, đảo kinh Kính Huệ tại Thiểm Tây để dẫn thủy nhập điền và chống lũ, giúp cho việc tưới tiêu hơn 50 vạn mẫu đất tại vùng Quan Trung. Người có công lớn nhất là ông Oliver J. Todd (thường được người Hoa gọi là Tháp Đức tiên sinh). Ông này là tổng công tŕnh sư của các công tŕnh thủy lợi của hội.

[26] Tức sách Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh Văn Cú của tổ Ngẫu Ích gồm mười quyển.

[27] Tức Thủ Lăng Nghiêm Chỉ Chưởng Sớ (c̣n gọi là Lăng Nghiêm Tân Sớ) do ngài Phật Điển sớ giải, ngài Thông Lư giảng giải thêm. Sách được viết vào đời Thanh, do ngài Phật Điển bất đồng ư kiến với Giao Quang đại sư khi duyệt đọc bộ Lăng Nghiêm Chánh Mạch.

[28] Huệ Mạng Kinh là sách dạy về thuật luyện nội đan, tức dùng vận khí, hô hấp và tĩnh tọa để đả thông kinh mạch, thành tựu nội đan với ước vọng trở thành tiên. Sách do Liễu Hoa Dương biên soạn, tự xưng là thâu thập tinh hoa của tam giáo, nhưng những điều nói trong đó toàn là xuyên tạc danh từ Phật giáo để chỉ các cách luyện đan. Chẳng hạn họ gọi đỉnh đầu là Nê Hoàn cung, tức là dùng danh xưng Nê Hoàn (Niết Bàn) để chỉ một bộ vị trên thân thể.

[29] Nguyên văn tam hiệu tự”, tương đương với font size 16 trong Microsoft Word.

[30] Khuê khổn là từ ngữ chỉ nơi ở của nữ giới. Từ ngữ này cũng được dùng để chỉ nữ giới.

[31] Tức bốn loại hoa do chư thiên tuôn xuống để cúng dường người thuyết pháp như kinh Pháp Hoa đă nói: Mạn đà la, ma ha mạn đà la, mạn thù sa, ma ha mạn thù sa.

[32] Tức là loại xà pḥng nấu bằng dầu thực vật. Thuở đó, tại Trung Hoa, đa số xà pḥng nấu bằng mỡ động vật.

[33] Hồi Hồi là một sắc dân thiểu số ở Trung Hoa. Sắc dân này từ thời Đường vốn có tên là Hồi Hột (tức là cách phiên âm của chữ Uighur, nay phiên âm là Duy Ngô Nhĩ). Họ sống ở lưu vực Tây Bắc Hoàng Hà cho đến Sơn Tây, nhưng tập trung đông nhất tại Cam Túc, Thiểm Tây và Tân Cương. Họ vốn là hậu duệ của sắc dân Đột Quyết (Türklär) hỗn huyết với các sắc dân Mông Cổ, Ả Rập v.v… Họ theo đạo Hồi, nên gọi là Hồi tộc, hay Hồi Hồi. Điểm phân biệt là tuy theo đạo Hồi, họ sử dụng tiếng Hán, và phần lớn tuân theo truyền thống văn hóa Hán tộc ngoại trừ các truyền thống của đạo Hồi (như không ăn thịt lợn, phục sức theo kiểu Hồi giáo). Thậm chí phụ nữ Hồi Hồi cũng bó chân giống như người Hán cho đến năm 1948 mới thôi. Trong khi đó, người Uighur tuy cũng theo đạo Hồi, nhưng có ngôn ngữ riêng cũng như tập tục văn hóa khác biệt, cho nên không được xếp vào tộc người Hồi Hồi. Loạn Hồi Hồi là cuộc khởi loạn người Hồi tại vùng Cam Túc và Thanh Hải vào năm 1895 do sự tranh chấp giữa hai giáo phái Sufi của đạo Hồi.