Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên (phần bổ sung)

phần 4

(nguyên tác: Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ)

印光法師文鈔三編補

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang

 

IV. Luận văn

 

* Giải trừ nghi hoặc về chuyện Trầm Hà Sanh sanh Tây (Ấn Quang đại sư b́nh luận, Trầm Thọ Nhân ghi lại)

 

          Hết thảy mọi việc trong thế gian và xuất thế gian đều do nội nhân và ngoại duyên mà được thành tựu. Đứa trẻ Hà Sanh đời trước cố nhiên là có thiện căn. Nếu chẳng nhờ cha nó dạy niệm Phật cầu sanh Tây Phương, và nghe sẵn lợi ích do trợ niệm khi lâm chung, chắc chắn nó sẽ khó thể chánh niệm rạng rỡ, niệm Phật ra đi. Do hễ cảm thấy đau đớn, khổ sở khó thể chịu đựng, nếu gặp phải quyến thuộc chẳng biết nặng nhẹ, ắt sẽ đau đớn, thương tiếc, an ủi, phá hoại chánh niệm [của người sắp mất]. Phàm t́nh đă dấy lên, Phật niệm liền diệt mất. Lúc ấy, tột bậc khẩn yếu! Người tu Tịnh nghiệp hăy nên nói sẵn [với quyến thuộc những điều này]. Chắc là có người cho rằng một đứa trẻ non nớt, niệm Phật chưa được bao lâu, sao có thể văng sanh? Cần phải biết: Văng sanh Tây Phương hoàn toàn cậy vào Phật lực. Nếu có ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, mười niệm vẫn có thể được văng sanh; huống hồ Hà Sanh theo đuổi tịnh nghiệp đă hơn một năm ư?

          Bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật được chép trong kinh Vô Lượng Thọ, nguyện thứ mười tám là: “Nếu có chúng sanh chí tâm tin ưa, muốn sanh về cơi ta, dẫu chỉ mười niệm, mà nếu chẳng sanh về, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Nguyện thứ mười chín là: “Nếu có chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu các công đức, chí tâm phát nguyện, muốn sanh về nước ta. Khi lâm chung, giả sử ta chẳng cùng đại chúng vây quanh, hiện ra trước người ấy, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Nguyện thứ hai mươi là: “Nếu ta thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu của ta, hệ niệm cơi ta, gieo các cội đức, chí tâm hồi hướng, muốn sanh về cơi ta, nếu chẳng được toại nguyện, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác”. Dùng ba nguyện ấy để xét, biết Phật niệm chúng sanh c̣n hơn chúng sanh niệm Phật! Phàm người lâm chung nếu trọn đủ ḷng thành “tín nguyện niệm Phật cầu văng sanh”, lại được sức trợ niệm đôn đốc, nhắc nhở của quyến thuộc, ngay trong lúc Phật rủ ḷng Từ tiếp dẫn ấy, nếu chẳng có quyến thuộc tối tăm, ương bướng, không hiểu biết phá hoại, chắc chắn có thể cậy vào Phật lực, đới nghiệp văng sanh. V́ thế, chẳng cần phải luận định tu tŕ lâu hay mau! Mười niệm c̣n văng sanh, huống hồ [đứa bé ấy đă niệm Phật] hơn một năm ư? Huống hồ nó được quyến thuộc và chư Tăng giúp đỡ ư?

          Như người rơi xuống biển, bỗng có thuyền đến cứu. Có người giúp th́ lên được thuyền; có kẻ phá hoại, vẫn rơi xuống biển. Sanh tử tồn vong, chỉ trong khoảng chớp mắt! Đối với chuyện được giúp hay bị phá hoại khi lên thuyền đă chẳng nghi, sao lại ngờ vực chuyện được trợ niệm hay bị phá hoại vậy? Sanh nghi đối với chuyện này tức là chẳng tin lời Phật; dẫu có sức tu tŕ sâu xa, vẫn khó văng sanh. V́ lẽ nào vậy? Do có nghi t́nh ấy, sẽ chẳng tương ứng với Phật. Đă chẳng tương ứng với Phật, sao có thể nương vào từ lực của Phật cho được? Phàm người tu Tịnh nghiệp, ắt phải hiểu sâu xa nghĩa này, th́ mới chẳng cô phụ ân Phật, chẳng khiến cho nguyện của chính ḿnh hư luống vậy!

 

* Giải thích đại lược về Tam Chuyển Tứ Đế Pháp Luân

 

          Đầu tiên là Thị Tướng Chuyển (示相轉, chuyển pháp luân bằng cách dạy về tướng trạng của Tứ Đế), tức là nói: “Đây là Khổ, có tánh chất bức bách. Đây là Tập, có tánh chất chuốc vời. Đây là Diệt, có tánh chất có thể chứng. Đây là Đạo, có tánh chất có thể tu”. Hai là Khuyến Tu Chuyển (勸修轉, chuyển pháp luân bằng cách khuyên tu), nói: “Đây là Khổ, ông hăy nên biết. Đây là Tập, ông hăy nên đoạn. Đây là Diệt, ông hăy nên chứng. Đây là Đạo, ông hăy nên tu”. Ba là Tác Chứng Chuyển (作證轉, chuyển pháp luân bằng cách làm chứng), tức là nói: “Đây là Khổ, ta đă biết. Đây là Tập, ta đă đoạn. Đây là Diệt, ta đă chứng. Đây là Đạo, ta đă tu”.

          Khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây Phương, cốt sao đơn giản, rơ ràng, thẳng chóng, cố nhiên chẳng cần dẫn tràn lan sang pháp môn Tứ Đế, nhưng muốn chỉ bày sự khó dễ giữa hai thứ liễu sanh thoát tử cậy vào tự lực hoặc nương vào Phật lực, đặc biệt mượn chuyện này để làm căn cứ so sánh giữa đôi bên. Đă biết nghĩa này, ai chịu bỏ Phật lực để chuyên cậy vào tự lực nữa ư? Nay giải thích đại lược nghĩa ấy, phần văn từ so sánh sẽ nói kèm thêm vào phần giải thích ư nghĩa ấy.    Tam Chuyển Tứ Đế Pháp Luân chính là khi đức Phật mới thành Chánh Giác, nơi Lộc Dă Uyển, v́ những người đă theo Ngài tu đạo như Kiều Trần Như, Át Bệ, Bạt Đề, Thập Lực Ca Diếp, Câu Lợi mà nói pháp môn này. Họ nghe xong, đều đắc quả A La Hán. Tăng Bảo v́ thế bèn hiện hữu trong thế gian. Tứ Đế là bốn pháp Khổ, Tập, Diệt, Đạo đều chân thật, chẳng giả, trọn chẳng có ư nghĩa sai lầm. “Chuyển” có nghĩa là lần lượt truyền dạy. “Luân” là t dụ, ví như bánh xe trong cơi đời có thể nghiền nát, hoặc vận chuyển các vật. Đức Phật dùng pháp này nói với chúng sanh, chúng sanh nương theo đó tu tập, sẽ có thể phá trừ phiền năo Hoặc nghiệp. Đó là ư nghĩa “nghiền nát”. Hoặc nghiệp đă phá, liền có thể đích thân chứng đế lư Niết Bàn bất sanh bất diệt, tức là ư nghĩa “chuyên chở”. Do v́ các nghĩa ấy, bèn gọi là “pháp luân”.

          Đầu tiên là Thị Tướng Chuyển, tức là trước hết chỉ dạy tánh tướng ấy như thế nào, khiến cho [người nghe] biết lẽ lợi, hại, sẽ quyết định giữ lấy hay bỏ đi. Đấy là Khổ, có tánh chất bức bách. Chữ “đấy” là nói đến các khổ quả phải hứng chịu, nghĩa là sắc thân chánh báo này và y báo quốc độ. Nay nói theo sắc thân, hễ có sắc thân này, liền có tám loại khổ như sanh, lăo, bệnh, tử, ái biệt ly (yêu thương mà phải chia ĺa), oán tăng hội (oán ghét mà cứ phải gặp gỡ), cầu bất đắc (cầu chẳng được), Ngũ Ấm xí thịnh khổ (năm ấm lừng lẫy). Tám loại khổ ấy, phú quư hay nghèo hèn đều cùng có. Huống hồ ai nấy do nghiệp riêng mà cảm vời sự khổ riêng biệt. Do các nỗi khổ ấy, bức bách, năo loạn thân và tâm, khiến cho suốt một đời người chẳng được tự tại.

          Đấy là Tập, có tánh chất cảm vời. Chữ “đấy” nhằm nói đến hai thứ Kiến Hoặc và Tư Hoặc, chính là căn bản của sanh tử, danh tướng rất nhiều, chẳng rảnh để nói tường tận được! Nói ước lược, tức là gặp cảnh bèn dấy lên tham, sân, si, và tham, sân, si dấy lên khi không thấy cảnh. Phiền năo tuy nhiều, nhưng ba món tham, sân, si đă gồm trọn chẳng sót. Tập có nghĩa là “tụ tập”. Do có hai loại Hoặc ấy, cho nên có thể tụ tập hết thảy các phiền năo, chuốc vời hết thảy khổ báo. Do khởi các tâm thiện, ác v.v… sẽ tạo các nghiệp thiện, ác v.v… Hễ có nghiệp, ắt phải hứng chịu báo ấy. V́ thế, luân hồi dài lâu trong đường thiện, nẻo ác của tam đồ lục đạo, bao kiếp chẳng thể thoát ra.

          Đấy là Diệt, có tánh chất có thể chứng. Tức là diệt các thứ khổ tập trên đây, sẽ đạt được lư thể bất sanh bất diệt. Do tu đạo Giới, Định, Huệ, cho nên đoạn được cái nhân của sanh tử là tham, sân, si. Từ đấy, chẳng c̣n hứng chịu khổ quả luân hồi sanh tử, chứng Niết Bàn bất sanh, bất diệt. V́ thế gọi là Diệt. Diệt có nghĩa là “không có”. Đă chẳng có sanh, th́ cũng chẳng có diệt. Bất sanh, bất diệt, cưỡng gọi là Diệt. Ví như mây mù ngăn chướng hư không, một trận gió mạnh vừa thổi, mây mù tiêu trừ. Hư không vốn sẵn có do vậy bèn hiện ra. Khi mây mù ngăn chướng, hư không vốn chưa từng diệt. Khi mây mù tiêu tan, hư không vốn chưa từng sanh. Bản thể của hư không cố nhiên là thường hằng, bất biến, tướng “sáng, tối, thông, tắc” của nó quả thật khác biệt một trời, một vực. Hiểu rơ điều này mà chẳng phát tâm tu Đạo ḥng chứng Diệt, chẳng có lẽ ấy! Lư này, ai nấy đều có. Nếu chịu tu Đạo, chẳng có ai không đạt được! V́ thế nói là “có tánh chất có thể chứng”.

          Đấy là Đạo, có tánh chất có thể tu. Chữ “đấy” chính là nói về Giới, Định, Huệ. Do Phật pháp tuy vô lượng, vô biên, nhưng ba môn Giới, Định, Huệ đă thâu nhiếp không ǵ chẳng tận. “Đạo” có nghĩa là có thể thông”, ư nói: Nương vào đạo Giới, Định, Huệ để tu, ắt sẽ có thể đoạn cái nhân của sanh tử là tham, sân, si, chẳng hứng chịu cái quả sanh tử luân hồi trong tam đồ lục đạo, đích thân đắc Niết Bàn bất sanh bất diệt vốn sẵn có trong tự tâm, nhưng đạo Giới, Định, Huệ ấy cũng sẵn có trong tự tâm. Chẳng tu th́ trọn chẳng phải là ta có, tu th́ cố nhiên chẳng do bên ngoài tới. V́ thế nói là “có tánh chất có thể tu”. Bốn loại pháp ấy đều là nêu ra cái quả trước, sau đó chỉ bày cái nhân. Khổ là quả của Tập, Tập là cái nhân của Khổ. Diệt là cái quả của Đạo, Đạo là cái nhân của Diệt. Nói như thế khiến cho họ biết Khổ mà đoạn Tập, hâm mộ Diệt mà tu Đạo.

          Điều thứ hai Khuyến Tu Chuyển. Đă biết tánh, tướng, lợi, hại, nếu chẳng chân thật tu tŕ, sẽ chẳng thể đạt được lợi ích, xa rời họa hại. V́ thế, khuyên rằng: “Đây là Khổ, ông nên biết. Đây là Tập, ông nên đoạn. Đây là Diệt, ông nên chứng. Đây là Đạo, ông nên tu”. Do muốn ĺa khổ quả, trước hết phải đoạn cái nhân là Tập, muốn chứng lư Diệt, trước hết phải tu đạo phẩm.

          Điều thứ ba là Tác Chứng Chuyển. Do trước khi đức Phật xuất thế, trọn chẳng có nghĩa này; nay tuy nói ra, sợ c̣n hoài nghi. V́ thế, dẫn sự từng trải của chính ḿnh để làm chứng cứ, bèn nói rằng: “Đây là Khổ, ta đă biết. Đây là Tập, ta đă đoạn. Đây là Diệt, ta chứng. Đây là Đạo, ta đă tu”. Muốn biết đường dưới núi, phải hỏi người đă từng đi qua. Đức Phật là người từng trải, lời của Ngài chắc chắn đáng nương cậy. V́ thế, năm vị ấy nghe xong, đều chứng quả A La Hán. Năm vị ấy túc căn đă chín muồi, lại đuợc oai thần của Phật gia bị, cho nên có thể được như thế.

          Nếu xét bất cứ sự chứng đắc theo đường lối thông thường nào, sự khó dễ khác biệt rất xa! V́ bậc Sơ Quả đă đoạn Kiến Hoặc, vẫn cần phải bảy lượt sanh lên trời, bảy lượt trở lại nhân gian mới chứng Tứ Quả. Nhị Quả th́ một lần sanh trời, một lần trở lại nhân gian mới chứng Tứ Quả. Tam Quả th́ trải qua [tất cả các cơi trời] thuộc Ngũ Bất Hoàn Thiên[1] mới chứng Tứ Quả. Hoặc có vị trải qua Tứ Không Thiên[2], cố nhiên chẳng dễ tính nổi số lượng năm tháng ấy! Sơ Quả, Nhị Quả, Tam Quả c̣n phải tốn thời gian lâu dài như thế, th́ kẻ chưa đoạn Kiến Hoặc sẽ càng khó khăn gấp bao nhiêu lần! Huống chi quả A La Hán vẫn thuộc về Tiểu Thừa, cách biệt địa vị Bồ Tát rất xa! Nếu có thể hồi Tiểu hướng Đại th́ mới có thể nhập địa vị Bồ Tát, tiến tu dần dần cho đến khi thành Phật. Xét theo sự tự lực tu tŕ đạo Giới, Định, Huệ để liễu sanh tử th́ khó khăn đúng là như lên trời. Do vậy, Như Lai đặc biệt mở ra một pháp môn “tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ” để các vị Bồ Tát đă chứng Đẳng Giác cũng như phàm phu tạo ác nghiệp đều cùng văng sanh Tây Phương trong đời hiện tại. Luận định theo giáo lư thông thường, phàm phu trọn đủ Hoặc nghiệp, trọn chẳng có phần liễu sanh tử. Chỉ có pháp môn Tịnh Độ, nếu có đủ ḷng tin chân thành, nguyện thiết tha, kiền thành tŕ Phật hiệu, sẽ có thể nương vào từ lực của Phật, đới nghiệp văng sanh. Hễ được văng sanh, ắt Hoặc nghiệp cũng chẳng thể có, do cảnh duyên của Tây Phương thù thắng như ḷ luyện to, mảy tuyết chưa đến nơi, đă tan mất! Cũng như Kiếp Hỏa thiêu đốt thế giới, tro cũng chẳng c̣n. Phật lực, pháp lực, chúng sanh tâm lực, ba thứ ấy đều chẳng thể nghĩ bàn. V́ thế, pháp môn đặc biệt này đă đem lại lợi ích đặc biệt.

          Cần phải biết pháp môn Tịnh Độ chính là pháp môn vô thượng để mười phương ba đời hết thảy chư Phật trên thành Phật đạo, dưới hóa độ chúng sanh, thành tựu từ lúc tu nhân cho đến khi chứng quả. Cơi đời lắm kẻ quen thói chẳng quan sát, cho rằng pháp này v́ kẻ ngu phu ngu phụ mà lập ra, tự cho rằng chính ḿnh là bậc trí huệ, chẳng chịu tùy thuận tu tập, nhường cho ngu phu ngu phụ cậy vào Phật lực, văng sanh Tây Phương, liễu thoát sanh tử, siêu phàm nhập thánh. Kẻ tự cho ḿnh là bậc trí huệ, trí lực vẫn chẳng thể đả động Hoặc nghiệp! Chưa đoạn Hoặc nghiệp, sẽ chẳng thể không hướng đến tam đồ lục đạo thọ sanh. Đă ở trong tam đồ, lục đạo, ắt sẽ khác biệt người hạ hạ phẩm văng sanh Tịnh Độ há chỉ một trời một vực, huống hồ [so với] bậc thượng thượng phẩm ư? Ngu phu ngu phụ cố nhiên là có thể coi thường, nhưng ngu phu ngu phụ niệm Phật cầu sanh Tây Phương, há có thể xem thường ư? Coi thường, tức là khinh thường pháp để mười phương chư Phật phổ độ thượng thánh hạ phàm, tự lầm, lầm người cũng to tát lắm thay! Chẳng đáng sợ sao? Chẳng đáng kiêng dè sao? (chép từ bộ Trùng Đính Tây Phương Công Cứ năm 1930).

 

* Bài văn phổ khuyến kính tiếc giấy có chữ và tôn kính kinh sách

 

          Người sống trong thế gian, cái giúp cho thành đức, đạt tài, kiến lập công nghiệp, cho đến có một tài, một nghề để nuôi thân và gia đ́nh, đều là do sức chủ tŕ của văn tự giúp cho được thành tựu. Chữ viết là của báu cùng tột trong thế gian, có thể khiến cho kẻ phàm thành thánh, kẻ ngu thành trí, kẻ nghèo hèn thành phú quư, người bệnh tật được an khang. Đạo mạch của thánh hiền được lưu truyền thiên cổ, chính ḿnh và gia đ́nh kinh doanh, truyền lại cho con cháu, không ǵ chẳng nhờ vào sức của chữ viết. Giả sử cơi đời chẳng có chữ, ắt hết thảy sự lư đều chẳng thành lập, mà con người cũng chẳng khác cầm thú! Chữ đă có công sức như thế, cố nhiên nên trân trọng, yêu tiếc. Trộm thấy người hiện thời tùy ư khinh nhờn, đúng là coi vật chí bảo giống như cặn bă, có lẽ nào chẳng bị chiết phước, giảm thọ trong đời hiện tại, đời sau là kẻ vô tri vô thức ư? Lại nữa, không chỉ chữ hữu h́nh chẳng thể khinh nhờn, vứt bỏ, mà chữ vô h́nh càng chớ nên khinh nhờn, vứt bỏ! “Hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ”, nếu không tận lực thực hành, sẽ là đă đánh mất tám chữ ấy. Đă đánh mất tám chữ ấy th́ sống là loài cầm thú mặc áo, đội mũ, chết đọa vào tam đồ ác đạo, chẳng đáng buồn ư?

          Hơn nữa, nhà Nho trong thời cận đại, thảy đều chẳng biết kính trọng sách, hoặc bỏ nơi giường, chỗ ngồi, hoặc dùng để gối đầu, hoặc dùng lời giáo huấn của thánh nhân để bỡn cợt, hoặc dùng các lời khuôn phép [của cổ thánh tiên hiền] để chứng minh chuyện thô bỉ, hoặc giận dữ quăng sách xuống đất, hoặc tiêu tiểu mà vẫn đọc sách. Đủ loại khinh nhờn, chẳng thể nêu trọn! Không chỉ sau khi đại tiểu tiện, nhất loạt chẳng rửa tay, ngay cả đêm ngủ với vợ cũng chẳng rửa tay [mà đă cầm sách]. Do vậy, bậc chân Nho ngày một hiếm hoi, thế đạo ngày một ch́m đắm! Nếu dùng thói quen ấy để xem kinh Phật, sẽ chưa đạt được lợi ích, mà đă mắc họa trước, đáng đau xót sâu xa! Khẩn cầu nam nữ tín tâm, ai nấy hăy chú ư tôn kính kinh điển. Ngay như nói đến sách Nho th́ cũng là khuôn mẫu tốt lành “cách vật trí tri, chánh tâm, thành ư, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ”, há nên mặc sức khinh nhờn? Khinh nhờn tức là tự vứt bỏ bản thân ra ngoài “minh minh đức, chỉ ư chí thiện” (làm sáng tỏ đức sáng, đạt tới điều tốt lành tột bậc). Kinh Phật nói về nhân quả ba đời của chúng sanh và Phật, phàm phu luân hồi lục đạo, phương pháp để trái nghịch trần lao, xứng hợp giác ngộ, và đạo siêu phàm nhập thánh, so với sách Nho chỉ nói tới đời hiện tại, chẳng nói đến quá khứ vị lai, chỉ coi trọng thân h́nh, chẳng trọng tâm tánh, th́ càng thiết yếu hơn trăm ngàn vạn lần. Cứ theo thói quen mà đọc sách Nho [chẳng hề tôn kính], c̣n mắc đại tội! Nếu dùng thói quen ấy để đọc kinh Phật, tội càng chẳng to lớn hơn ư? Nếu có thể dốc cạn ḷng thành, trọn hết ḷng kính, th́ tội nghiệp sẽ ngày một tiêu, phước huệ ngày một tăng. Gần là văng sanh Tây Phương trong đời hiện tại, xa là trong tương lai viên thành Phật đạo. Tôi nguyện các đồng nhân tiếp nhận lời quê kệch này th́ lợi ích trong đời hiện tại và vị lai, [ai nấy] sẽ đều đích thân nhận lănh!

 

* Phủ quyết bài luận “Nhất Tâm Niệm Phật Liền Được Văng Sanh” của pháp sư Thủ Bồi

 

          Tôi trộm cho rằng: Trong thế giới thuộc đời Mạt Pháp, trong Thiền, Giáo, Luật, thật sự khó có ai có thể đoạn Hoặc, chứng Chân, ngay trong thân hiện tại mà có thể thoát khỏi sanh tử luân hồi, bởi cậy vào tự lực. Chỉ có pháp môn Tịnh Độ, bất luận thượng, trung, hạ căn, chỉ cần trọn đủ tín nguyện, đều có thể văng sanh, do cậy vào Phật lực. Nhưng bài luận Nhất Tâm Niệm Phật Liền Được Văng Sanh của pháp sư Thủ Bồi thoạt đầu nói “tín, nguyện, niệm như ba chân của cái đỉnh, khuyết một chẳng thể được chính là lời nói của cổ nhân nhằm phù hợp căn cơ một thuở, chẳng phải là lời nói thông thường. Nhưng người thời nay chấp chặt, tức là cam lộ ngược ngạo trở thành độc dược”. Như thế th́ [ông ta đă] coi các ngôn luận hoằng dương Tịnh Độ của Phật và các vị đại tổ sư Đông Độ đều là độc dược! V́ sao vậy? V́ khiến cho người ta sanh ḷng tin quyết định!

          Sau đó lại nói: “Niệm Phật nhất định phải sanh ḷng tin, phát nguyện. Chẳng có tín nguyện, sẽ chẳng thể! Nếu phát khởi tín nguyện, nhất định phải niệm Phật, chẳng niệm Phật sẽ không được! Như thế th́ có khác ǵ dựa theo một toa thuốc nhất định để chữa bệnh, khó tránh khiến cho người khác bị lỡ làng! Linh đan, diệu dược th́ người bệnh nên uống, bệnh đă hết th́ chẳng uống nữa. Kẻ chẳng bệnh, tuy có diệu dược, chớ nên uống!” Nếu đúng như ông ta nói, đức Phật và các vị tổ sư, thiện tri thức Tây Thiên, Đông Độ đều là hạng lang băm hại người! Người bệnh th́ uống, người không bệnh chớ nên uống; thử hỏi ai là người không bệnh? Ngài Phổ Hiền dùng “mười đại nguyện vương dẫn về Cực Lạc” để dạy Thiện Tài là bậc đă chứng bằng với chư Phật, cũng như [khuyến tấn trọn khắp] Hoa Tạng hải chúng. Do họ đều chưa ĺa bệnh hoàn toàn, cho nên dạy họ uống thuốc. Nay pháp sư Thủ Bồi dạy đức Phật, hay là dạy chúng sanh trong chín pháp giới vậy? Nếu là dạy Phật th́ Quang là kẻ ngu độn, kém cỏi, chẳng thể hiểu được! Nếu dạy chín pháp giới, chẳng tương phản với đức Phật, Phổ Hiền, và các vị thiện tri thức ư? Kiểu ăn nói đao to búa lớn ấy, ông X… c̣n chẳng cho là sai mà c̣n đăng tải, sợ rằng sẽ chiêu họa chẳng cạn!

          Trong phần sau, ông ta c̣n nói không có pháp Ngũ Giới, Thập Thiện, không có đạo cương thường, không duyên chân thật theo các pháp Lục Độ, vạn hạnh v.v… đúng là ăn nói chẳng ra ǵ! Ngài Linh Phong (tổ Ngẫu Ích) bảo: “Chẳng có tín nguyện, dẫu tŕ danh hiệu tới mức gió thổi chẳng lọt, mưa tạt chẳng ướt, giống như tường đồng, vách sắt, vẫn chẳng thể nào văng sanh!” Chẳng có tín nguyện, th́ đều thuộc về tự lực. Dẫu là công phu tinh thuần, chuyên dốc, vẫn chưa đạt tới mức nghiệp tận, t́nh không! Chẳng có tín nguyện, sẽ không thể cậy vào Phật lực. Chưa đạt đến mức nghiệp tận t́nh không, do tự lực, cũng sẽ chẳng thể đạt tới thế giới Cực Lạc là cảnh giới của Phật, Bồ Tát. Kiểu nói ấy chính là luận định chẳng thể sửa đổi được, tam thế chư Phật đều tán thán. Nay pháp sư Thủ Bồi chắc là bậc đại thiện tri thức đă đạt tới lên cao tới đỉnh đầu Tỳ Lô[3]. Nếu không, sao có thể bác bỏ luận định ấy? Phàm là người tu hành, không ai chẳng tŕ giới, tu thiện, trọn hết đạo cương thường luân lư. V́ thế, trong luật Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa, đều có nguyên tắc chung “đừng làm các điều ác, vâng hành các điều thiện”. Nay ông ta nói “người nhất tâm niệm Phật chẳng có đạo hay đức”, chẳng lẽ người nhất tâm niệm Phật là tượng đất nặn, gỗ tạc ư? V́ vẫn mặc áo, ăn cơm, chẳng khác ǵ người đời; nếu đă mặc áo, ăn cơm, sao có thể chẳng có giới, thiện, cương thường vậy? Hơn nữa, mặc áo, ăn cơm đă chẳng trở ngại nhất tâm, vậy th́ sanh ḷng tin, phát nguyện sao lại là tạp nhiễm, chẳng phải là nhất tâm vậy? Nói tóm gọn một lời: Chỉ biết ăn nói đao to, búa lớn, chưa từng thực hành! Mong hăy phát tâm đại từ bi, phá tà kiến, chấp trước lầm lạc của tôi, ngơ hầu lời luận định của pháp sư Thủ Bồi trọn khắp trong ngoài nước, đấy là điều Quang thơm thảo mong mỏi. Hoằng pháp kiểu đó, Quang là phường ngu độn, hèn kém, chẳng thể lănh hội được; cho nên chẳng thể không thưa tŕnh ḷng ngu thành của chính ḿnh. Nếu có diệu đế, xin hăy chỉ đích xác chỗ Ấn Quang nói chẳng phù hợp đạo lư, xin hăy bài bác để tháo gỡ chỗ vướng mắc, nhưng cần phải đem nguyên văn lá thư của Quang gởi kèm theo, ngơ hầu đối ứng với diệu nghĩa của tọa hạ vậy!

 

* Phụ lục bài Nhất Tâm Niệm Phật Liền Được Văng Sanh của pháp sư Thủ Bồi

 

          Hoặc có kẻ hỏi rằng: “Tín nguyện niệm Phật là ba thứ tư lương của pháp môn Tịnh Độ, h́nh thế như ba chân của cái đỉnh, khuyết một chẳng thể được! Linh Phong Ngẫu Ích đại sư nói: ‘Niệm Phật nếu chẳng có tín nguyện, dẫu tŕ danh hiệu tới mức nhất tâm bất loạn, gió thổi chẳng lọt, mưa tạt không ướt, giống như tường đồng, vách sắt, cũng chẳng có lẽ nào được văng sanh’. Cớ sao thầy ta dạy nhất tâm niệm Phật liền được văng sanh, khác với cổ nhân?”

          Đáp: Phật pháp chẳng có giống hay khác, do thời cơ mà có lớn hay nhỏ. Nói đến Tín th́ là tin ngoài mười vạn ức cơi Phật có Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, chẳng sanh nghi hoặc. Dẫu có tín tâm mà chẳng nguyện, chẳng niệm, khác ǵ kể tên món ăn, đếm của báu ư? V́ thế nói thiếu khuyết nguyện và niệm, sẽ chẳng thể văng sanh. “Nguyện” là ư ưa muốn. Tin có Tây Phương Cực Lạc thế giới, bảy báu trang nghiêm, vi diệu chẳng thể nghĩ bàn. Nhưng có thể dấy ḷng ưa muốn, mà chẳng niệm Phật, khác nào kể tên món ăn, chẳng nấu nướng, mà mong được ăn ư? V́ thế, thiếu khuyết niệm, cũng chẳng thể văng sanh. Niệm chính là nghĩ nhớ Tây Phương A Di Đà Phật như con nhớ mẹ, niệm nào cũng chẳng bỏ, lâm chung văng sanh Tây Phương, có khác ǵ kể tên món ăn, nấu nướng rồi sau đó ăn ư? V́ vậy, tín, nguyện, niệm như ba chân của cái đỉnh, thiếu một thứ đều chẳng thể được! Lời ấy tuy hay khéo, nhưng là lời bàn luận nhằm phù hợp căn cơ một thuở, chẳng phải là có thể thường nói như vậy được! Nếu quyết định chấp trước, chẳng dung thông, cam lộ ngược ngạo trở thành độc dược! Tôi nói “nhất tâm niệm Phật liền được văng sanh” chẳng khác ǵ điều ấy; nhưng đối với ba pháp tín, nguyện, niệm, đừng nên dấy ḷng chấp trước! Như nói “niệm Phật nhất định phải tín nguyện. Chẳng tín nguyện, sẽ không thể. Nếu tín nguyện th́ nhất định phải niệm Phật, chẳng niệm Phật sẽ không được”, có khác ǵ dùng một toa thuốc nhất định để trị bệnh, há tránh khỏi không hại người? Tuy linh đan mầu nhiệm, người chẳng có bệnh sao lại dùng thứ ấy? Người bệnh th́ nên uống, bệnh hết th́ bỏ đi. Đó là lư nhất định!

          Nếu hỏi: “Nhưng niệm Phật mà chẳng có tín nguyện, như đỉnh có hai chân, làm sao có thể đứng vững cho được?” Đáp: Nếu có tín nguyện mà chẳng niệm Phật mà có thể nói là “chẳng sanh”, vậy th́ niệm Phật mà chẳng có tín nguyện, sẽ không thể nói là “chẳng sanh”! V́ lẽ nào vậy? Nếu ai có thể nhất tâm niệm Phật, chẳng nguyện sanh về Tây Phương, mà cũng chẳng nguyện không sanh về Tây Phương, chẳng nguyện ĺa Đông Độ, mà cũng chẳng nguyện không ĺa Đông Độ, chẳng muốn sanh lên trời, chẳng nguyện làm người, chẳng nguyện làm Tu La, chẳng nguyện thành thần tiên, chẳng nguyện chứng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, chẳng nguyện đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chẳng nguyện sanh vào các cơi Phật ở Đông, Nam, Bắc, bốn góc, trên, dưới, chỉ có nhất tâm niệm Phật, không có hết thảy các niệm khác, gió thổi chẳng lọt, mưa tạt chẳng ướt, giống như tường đồng, vách sắt, hăy nói xem người ấy khi lâm chung, sẽ sanh vào nơi nào! Nếu sanh vào Tứ Không Thiên th́ người ấy thiếu cái nhân Không Định. Nếu sanh vào Tứ Thiền Thiên, người ấy thiếu cái duyên ĺa hỷ lạc. Nếu sanh vào Lục Dục Thiên, người ấy lại thiếu đức “giới, thiện”. Nếu sanh vào Tu La, người ấy lại chẳng ôm ḷng sân khuể. Nếu sanh vào nhân gian, người ấy lại chưa hành các điều thiện thuộc về cương thường. Nếu đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người ấy lại chưa hề vướng các tội “mắc nợ, keo tham, NNghịch, Thập Ác”. Nếu chứng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, người ấy lại chẳng tu nhân duyên Tứ Đế, các pháp Lục Độ, vạn hạnh v.v… Nếu sanh vào cơi Phật ở phương Đông, kẻ ấy lại chưa từng niệm A Súc Phật. Nếu sanh vào cơi Phật ở phương Nam, người ấy lại chưa từng niệm Bảo Thắng Phật. Nếu sanh vào cơi Phật ở phương Bắc, người ấy lại chưa từng niệm [Bất Không] Thành Tựu Phật. Bốn góc, trên, dưới cũng giống như thế. Nhưng đă có cái nhân “nhất tâm thanh tịnh niệm A Di Đà Phật”, nếu chẳng sanh vào Tây Phương Tịnh Độ, thử hỏi sẽ sanh vào nơi nào? Chẳng lẽ sanh trong hư không ư? Hư không lại chẳng phải là chỗ để sanh. Hơn nữa, người ấy chưa từng niệm hư không. Nếu chỗ sanh vào chẳng lấy niệm nhân làm chủ, mà lấy tín nguyện làm chủ, tôi nghe cơi đời có người tạo cái nhân giết, trộm, dâm, chưa từng nghe có ai phát nguyện đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Nếu thật sự chẳng có nguyện sẽ chẳng sanh, vậy th́ tam đồ lẽ ra trống rỗng v́ chẳng có ai nguyện [sanh vào đó]. Nếu tam đồ chẳng phải là chỗ con người sanh vào th́ nhân quả báo ứng lại đặt vào đâu? Đúng là chẳng biết: Nhất tâm niệm Phật đă bao hàm hết thảy. Không chỉ tín nguyện được gộp trong đó, mà Lục Độ, vạn hạnh, hết thảy vạn pháp thảy đều đầy đủ. Nhất tâm niệm Phật sẽ ngay lập tức là quốc độ thanh tịnh, cần ǵ cứ phải chấp chặt “phải sanh tín nguyện, phát nguyện” nữa ư? Niệm đă là như thế, th́ nguyện cũng như thế, mà tín cũng như thế. Pháp môn Tịnh Độ quư ở nhất tâm. Nhất tâm là chủ, lấy tín, nguyện, niệm làm dụng. Đối với kẻ hạ căn th́ hoàn toàn nên dùng; đối với người trung căn, chẳng nhất định phải dùng. Đối với người thượng căn th́ đơn dụng, đối với người thượng thượng căn th́ chẳng dùng mà cũng không chẳng dùng. Nếu ngay trong khi niệm Phật mà lại xen tạp cái tâm “thích cơi kia, ghét cơi này”, mà cái tâm ấy có thể nhất tâm bất loạn th́ là chuyện chưa hề có! Niệm chẳng nhất, chẳng sanh Cực Lạc, nghe tên, thấy h́nh, đều được văng sanh, há có phải là hư huyễn ư?

 

* Lâm chung châu tiếp (臨終舟楫, mái chèo lâm chung)

 

          Đức Phật chế định hỏa thiêu vị Tăng đă mất, vốn là khiến cho họ ĺa h́nh tướng phần đoạn hư giả, chứng Pháp Thân chân thường. V́ thế, từ khi đức Phật lập chế định tới nay, Tăng chúng tuân phụng thành quy củ thường lệ. Hiềm rằng pháp đạo suy bại, lâu ngày nẩy sanh thói tệ! Hiện thời, Thích Tử đều coi chuyện hỏa thiêu cho xong chuyện, chẳng tuân theo quy chế. Thường có chuyện lúc người bệnh sắp mất, thở hắt ra, bèn thay áo, dời động người ấy, và nhập khám[4] trong một hai ngày, liền cử hành hỏa thiêu. Có thể là trái nghịch chế định của Phật rất lớn! Đức Phật nói con người có tám thức, tức là sự hay biết. Năm thức đầu tức là Nhăn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ư, thức thứ sáu là Ư Thức, thứ bảy là Mạt Na, c̣n gọi là Truyền Tống Thức, thức thứ tám là A Lại Da, c̣n gọi là Hàm Tàng Thức. Phàm người sanh ra, chỉ có thức thứ tám đến trước nhất. Các thức thứ bảy, thứ sáu và năm thức trước lần lượt đến sau. Tới khi chết, cũng là thức thứ tám ấy rời đi sau cùng. Các thức khác lần lượt đi trước, bởi thức thứ tám chính là linh thức của con người, thế tục nói đến “linh hồn”, chính là nó vậy. Nhưng cái thức ấy đă linh, cho nên con người thoạt đầu vào trong thai mẹ, nó bèn đến trước tiên. V́ thế, con ở trong thai mẹ chính là vật sống. Cho tới khi người chết tắt hơi, nó chẳng rời đi ngay, ắt phải đợi tới khi toàn thân đều lạnh, chẳng c̣n một chút hơi ấm nào, thức ấy mới rời đi. Thức rời đi, thân thể chẳng c̣n mảy may hay biết nữa. Nếu c̣n chút hơi ấm, tức là thức ấy chưa từng rời đi. Động chạm vẫn biết đau khổ. Lúc ấy, phải tránh các chuyện thay quần áo, xếp chân cho ngồi xếp bằng v.v… Nếu hơi đụng chạm, ắt [người chết] sẽ đau khổ khó thể chịu đựng nổi nhất, bất quá miệng chẳng thể nói, thân chẳng thể động mà thôi! Xét ra, kinh dạy: Thọ mạng, hơi ấm và thức, ba thứ thường chẳng tách ĺa. Như người có hơi ấm, bèn có thức tồn tại. Thức c̣n th́ thọ mạng vẫn chưa chấm dứt. Xưa kia, có nhiều người đă chết dăm ba ngày bèn sống lại, chép tường tận trong sách vở, rành rành có thể khảo chứng được. Nho giáo cũng có lễ chế “ba ngày mới đại liệm[5], v́ t́nh quyến thuộc yêu thương, vẫn mong biết đâu người ấy sống lại. C̣n như Tăng chúng bọn ta, tuy chẳng mong người ấy sống lại, nhưng cũng chớ nên không thấu hiểu nỗi thống khổ của người đă chết, cứ lập tức dời động và đưa đi hỏa thiêu, tâm từ bi tồn tại ở chỗ nào vậy? Cổ nhân nói: “Thố tử, hồ bi, vật thương kỳ loại” (Thỏ chết, cáo buồn, loài vật thương xót đồng loại). Loài vật c̣n như thế, huống hồ cùng là nhân loại ư? Huống nữa lại c̣n đều là Phật tử ư?

          Hơn nữa, con người khi tâm t́nh đau khổ cùng cực, dễ nẩy sanh sân tâm. Do v́ sân tâm, dễ bị đọa lạc nhất! Như kinh dạy, vua A Kỳ Đạt lập chùa tháp thờ Phật công đức ṿi vọi. Khi lâm chung, thị thần (người hầu) cầm quạt, lỡ tay làm rơi trúng mặt nhà vua. Vua bị đau, dấy ḷng sân, chết đọa làm thân rắn. Nhờ có công đức, sau đó, gặp sa-môn v́ nhà vua thuyết pháp. Do được nghe pháp, bèn thoát thân rắn, được sanh lên trời. Xét điều này, có thể biết khi thần thức của người chết chưa rời đi, mà ngay lập tức làm các chuyện như thay quần áo, dời động, và lập tức hỏa thiêu, sẽ khiến cho người ấy do đau đớn mà nổi sân, càng thêm đọa lạc. Há chẳng phải là nhẫn tâm hại lư, cố t́nh làm chuyện thảm độc ư? Hăy nên nghĩ ta và người chết có cừu hận ǵ, mà do hảo tâm bèn tạo ác duyên? Nếu nói là chuyện mơ hồ, chẳng thể khảo cứu được, những điều ghi chép trong kinh điển há chẳng đáng tin ư? Gần đây, đủ thứ thói tệ lưu hành, nói chung là v́ người c̣n sống chẳng thương xót nỗi khổ của người chết, chỉ mong sao nhanh chóng cho xong chuyện, cho nên chẳng hơi đâu mà xét kỹ ấm lạnh. Do vậy, quen thói cho là chuyện thường! Dẫu có người chỉ bảo, đâm ra chê cười là viễn vông, đến nỗi khiến cho người chết có nỗi khổ nạn kéo dài. Than ôi! Điều khổ nhất trong cơi đời không ǵ hơn sanh tử. Sanh th́ như con rùa c̣n sống bị bóc mai, chết th́ như con cua rơi vào nước sôi. Tám nỗi khổ nung nấu, đau đớn chẳng thể nói nổi! Nguyện những ai chăm sóc người bệnh, hăy chú tâm, cẩn thận, đừng nói chuyện tạp nhạp với người bệnh khiến tâm họ tán loạn, cũng chớ nên bi ai, ồn ào! Hăy nên khuyên người bệnh buông xuống thân tâm, nhất tâm niệm Phật để cầu văng sanh. Lại hăy nên trợ niệm, khiến cho người bệnh nương theo tiếng niệm Phật của ḿnh, trong tâm tưởng Phật. Nếu có tiền tài, hăy nên thỉnh Tăng chúng chia ban trợ niệm Phật hiệu, khiến cho tiếng niệm Phật ngày đêm chẳng dứt, khiến cho tai người bệnh thường nghe thấy tiếng Phật hiệu, trong tâm thường niệm Phật hiệu, chắc chắn sẽ có thể nương theo từ lực của Phật, văng sanh Tây Phương. Dẫu chẳng có tiền bạc, mọi người cũng nên phát tâm trợ niệm để kết duyên cuối cùng.

          Đối với chuyện sắp đặt hậu sự, đừng bàn bạc trước mặt người bệnh. Chỉ nên gơ dẫn khánh, cao giọng niệm Phật, ắt khiến cho câu nào cũng đều lọt vào tai người bệnh, khiến cho tâm người ấy thường chẳng rời Phật. Tiếng mơ đục, khi lâm chung trợ niệm, quyết chớ nên dùng. Tùy ư để cho người ấy ngồi hoặc nằm, chớ nên dời động, mọi người cứ chuyên tâm niệm Phật. Chờ tới khi toàn thân đă lạnh buốt, tức là thần thức đă rời đi. Lại để qua hai thời (bốn tiếng đồng hồ), mới có thể tắm rửa, thay quần áo. Nếu thân lạnh, trở thành cứng c̣ng, hăy nên dùng nước ấm lau rửa, dùng vải ấm đắp lên khủy tay, đầu gối, chừng ít khắc sẽ có thể chuyển động. Sau đó, xếp bằng để vào khám. Tới khi sắp đặt mọi việc xong xuôi, càng cần phải chú trọng niệm Phật. Tất cả chuyện tụng kinh, bái sám, đều chẳng có lợi ích rộng lớn bằng niệm Phật. Phàm hết thảy quyến thuộc tại gia và xuất gia đều nên nương theo đó mà hành, th́ kẻ c̣n lẫn người mất đều được lợi ích to lớn.

          Hơn nữa, đức Phật nhập Niết Bàn, vốn nằm bên hông phải. Do vậy, [các đệ tử của Ngài để nguyên tư thế nằm mà] nhập quan trà tỳ. Người đời nay nếu thuận theo tự nhiên, ngồi mà mất cũng nhập quan; nằm mà mất cũng nhập quan, sẽ là thỏa đáng nhất. Nhưng người đời nay đă thành thói quen, sợ chẳng nghĩ như vậy là đúng, cũng chỉ thuận theo [họ thích xếp đặt như thế nào để nhập quan] mà thôi. C̣n như cảnh tướng thiện hay ác sau khi người ấy đă chết, vốn có chứng cứ thật sự. Người sanh vào thiện đạo, hơi nóng từ dưới dồn lên trên. Kẻ sanh vào ác đạo, [hơi nóng sẽ] từ bên trên giáng xuống dưới. Như toàn thân đều lạnh, mà hơi nóng tụ về đỉnh đầu th́ sanh vào thánh đạo. Tụ về mắt th́ sanh vào thiên đạo. Tụ vào tim th́ là sanh trong nhân đạo. Tụ về bụng th́ vào ngạ quỷ đạo. Tụ vào đầu gối th́ đọa vào súc sanh đạo. Tụ vào bàn chân th́ đọa địa ngục đạo. V́ thế, có kệ rằng: “Đảnh thánh, nhăn thiên sanh. Tâm nhân, ngạ quỷ phúc. Súc sanh tất cái ly. Địa ngục cước bàn xuất” (Đỉnh: Thánh; mắt: Sanh thiên. Tim: Người. Ngạ quỷ: Bụng. Súc sanh: Đầu gối ĺa. Địa ngục: Bàn chân ra). Sanh tử là chuyện lớn, chẳng ai tránh được. Đối với chuyện này, phải nên thận trọng bậc nhất. Người chăm sóc bệnh nhân, hăy nên dùng bi tâm đồng thể để giúp thành tựu đại sự văng sanh. Cổ nhân nói: “Ngă kiến tha nhân tử, ngă tâm nhiệt như hỏa. Bất thị nhiệt tha nhân, khán khán luân đáo ngă” (ta thấy người khác chết, ḷng ta nóng như lửa. Chẳng nóng ḷng ai khác, mà thấy đến lượt ḿnh). Nhân duyên quả báo, cảm ứng chẳng sai. Muốn cầu tự lợi, ắt phải lợi người khác trước. Viết những điều này để bảo khắp đồng bào, mong cầu ai nấy đều chú ư!

 

V. Bi kư

* Bi kư về chuyện công đức quyên mộ mua ruộng để có chi dụng vĩnh viễn của Long Thọ Am

 

          Phổ Đà là đạo tràng ứng hóa của Quán Âm Đại Sĩ, Long Thọ chính là chốn Lan Nhă để tứ chúng cầu phước thường trụ. Xét ra, từ vô lượng kiếp trước, Đại Sĩ đă sớm thành Phật đạo, do thệ nguyện từ bi, trọn chẳng cùng tận, cho nên trong mười phương vô tận thế giới hải, hiện khắp các sắc thân. Hoặc hiện thân Phật, hoặc thân tam thừa, hoặc thân lục đạo, hoặc núi, sông, cầu, bến, ao, giếng, nhà cửa v.v... tức các thứ thân vô t́nh để độ thoát chúng sanh. Kinh Pháp Hoa nói: “Đáng nên hiện thân ǵ để đắc độ, liền hiện thân ấy thuyết pháp”. Do Đại Sĩ chẳng có tâm, chẳng có thân, cho nên tâm có thể rủ ḷng ứng theo các căn cơ mà hiện thân. Một vầng trăng in bóng trọn khắp ngàn sông, một trận mưa tưới tắm muôn cây cỏ. Lại như rồng ẩn, hiện khó lường, giăng mây từ rộng khắp, tưới trọn mưa pháp cho đến hết đời vị lai, chẳng có lúc nào hết, cho nên đặt tên am là Long Thọ (龍壽). Am được sáng lập vào đời Minh, trải mấy trăm năm qua, sửa cũ, xây mới, đă chẳng phải là một hai lượt.

          Từ mùa Đông năm Tuyên Thống thứ hai (1910), Trụ Tŕ Viên Thông Am là Liên Thiền đă sai đồ đit[6] là Hóa Năng đến tiếp nhận am ấy, tính chuyện hưng phục. Mười mấy năm qua, điện đường, liêu thất, thảy đều xây cất hoàn bị, nhưng do chẳng có hằng sản, sau này chẳng có lương thực, chi dụng, làm sao có căn cứ để có thể chuyên tâm dốc chí tu Tịnh nghiệp, báo đền mười phương thí chủ và tứ ân tam hữu? Cư sĩ Hoàng Kim Vinh dốc ḷng tin tưởng Phật pháp, một mực là bậc hộ pháp của am, bèn khẳng khái bỏ tiền để làm chi phí tậu ruộng, lựa đúng dịp mà tậu thượng đẳng điền chừng đó mẫu để cho cấy rẽ thâu tô, vĩnh viễn dùng làm lương thực, chi dụng. Ư ấy sâu xa, lợi ích rộng lớn. Hóa Năng muốn cho con cháu sau này ăn tô lợi, dốc ḷng tu đạo nghiệp. Nay điện vũ, điền sản, các thí chủ đều được nhờ sức từ bi của Đại Sĩ và công tu tŕ của đại chúng trong am, khiến cho mỗi vị thí chủ đều trong hiện đời phước sâu, thọ dài, vĩnh viễn hưởng ngàn điều tốt lành. Khi lâm chung, nghiệp tận t́nh không, cao đăng chín phẩm. Sư cậy tôi soạn bài kư để khắc vào bia đá, hộ pháp tín sĩ Hoàng Kim Vinh giúp khoản tiền một ngàn đồng, Đỗ Nguyệt Sanh cúng một ngàn đồng, hộ pháp tín nữ Châu Hóa Dẫn, Lâm Hóa Nhân, mỗi vị đều giúp một ngàn đồng. Điền sản tại trang viên Động Ngao và Lô Hoa, tổng cộng là hai mươi chín mẫu.

 

* Bi kư tu bổ bến tàu Phổ Đà Sơn

 

          Phổ Đà là đạo tràng của Quán Âm đại sĩ, thiện tín triều bái quanh năm không dứt, nhưng gần bờ nước cạn, thuyền chẳng thể cập sát bờ được. Nếu không nhờ vào người khác cơng, chẳng có cách nào lên bờ được. Hơn nữa, đá lổn nhổn trong bùn, trơn trợt khó thể đặt chân, hơi chẳng cẩn thận, sẽ ngă chỏng gọng! Bạn tôi là Liễu Dư vào năm Quang Tự 30 (1904) đă quyên mộ, xây bến tàu bằng đá, khá tiện lợi. Nhưng khi gặp thủy triều rút xuống, vẫn có khoảng lầy rộng hơn cả trượng. Khi nước cạn, vẫn cần có người cơng. Gần như mỗi tháng có mười ngày như thế. Cho nên trong các ngày ấy, v́ mực nước [quá cạn], chẳng tiện sắp xếp, trở thành chuyện đáng tiếc nuối. Đồ đệ của Sư là Minh Giác phát tâm tu bổ thêm, xây một kè đá rộng một thước năm tấc, dài một trượng tám, mỗi phía đều có ba bậc, mở rộng bến đá cũ thêm hai trượng nữa. Chỗ thấp th́ xây thêm một hai bậc, dài hai trượng hai thước. Phía ngoài, đóng xuống hơn một trăm cọc gỗ tùng để bảo vệ. Công vận chuyển, lát đá khá tốn tâm lực. Mỗi lần gặp lúc thủy triều rút sạch th́ mới có thể thi công, nhưng chẳng thể lâu hơn hai tiếng đồng hồ được. Thầy Minh Giác đích thân đốc thúc chuyện này, hơn năm mươi ngày mới hoàn tất. Từ nay, vĩnh viễn chẳng cần phải có người cơng [từ thuyền lên bờ], công sức so với [lần xây dựng] khi trước đỡ tốn hơn, nhưng lao tâm nhọc trí gấp bội! Thoạt đầu, lăo ḥa thượng Khai Như đề xướng quyên tặng hai trăm đồng, thầy Liên Phương cũng quyên tặng hai trăm đồng. Gặp dịp lăo ḥa thượng Minh Ấn dẫn các đệ tử đến núi, ở tại Tích Lân Đường, nghe chuyện bèn tùy hỷ, nguyện đảm nhiệm toàn bộ chi phí, quyên tặng một ngàn sáu trăm ba mươi đồng, mong cho chuyện ấy thành tựu, khiến cho công tác chẳng thể thực hiện của Liễu Dư được hoàn thành chẳng khiếm khuyết. Quả thật nhờ vào sức thành toàn của Minh Ấn lăo nhân, công đức ấy thật chẳng cạn nhỏ vậy. C̣n như ông Chí X… đă lập biện pháp, kế hoạch, tấm ḷng ấy quả thật càng đáng ca ngợi! Nguyện những vị đề xướng, bỏ tiền của, sẽ đều nghiệp tiêu, chí rạng, chướng tận, phước cao. C̣n sống th́ các duyên thuận thảo, vừa ư, mất th́ sẽ cao đăng liên bang. V́ thế, bèn ghi lại.


* Bi kư công đức dựng Như Ư Liêu, mở Niệm Phật Đường của chùa Phổ Tế

 

          Danh sơn Phổ Đà chính là cuộc đất thù thắng thị hiện dấu tích của Đại Sĩ. Phổ Tế Thiền Tự thật sự là đạo tràng cầu phước của tứ chúng. V́ thế, các đời đều khâm phục, tôn kính, cả cơi đời tôn sùng. Hết thảy thiện tín, nhân dân trong ngoài nước, ai nấy đều muốn lễ bái để gieo ḷng thành, chẳng sợ trèo núi, vượt biển. Mười phương Tăng chúng đến triều bái mỗi năm thường có mấy ngàn vị. Tuy là chia thành ba ngôi chùa[7] để ở, nhưng Phổ Tế thật sự chiếm quá nửa. Số người đă đông, không thể nào chẳng có người bệnh tật, tử vong. Như Ư liêu xá vốn được lập ở phía dưới lầu trống, hiềm rằng pḥng ốc quá sâu, cửa sổ quá ít, tối tăm, ảm đạm, có trở ngại về vấn đề vệ sinh. Các vị Trụ Tŕ trước kia và hiện thời đều muốn xây dựng mới, nhưng các hạng mục quá nhiều, chưa thể lo xuể!

          Đương gia của Tích Lân Đường là thầy Minh Giác ôm ấp chí ấy đă lâu, nhưng cơ duyên quá ít. Nay có bà Tôn Dung Tinh ở Thọ Châu, tỉnh An Huy, vốn là hậu duệ của Tôn Trung Đường, cũng là bậc ngoại hộ của pháp môn, mùa Hạ năm nay đến núi, ngụ tại Tích Lân Đường. Thầy Minh Giác nói chuyện với bà, bà ta liền khảng khái quyên tặng hai ngàn đồng để phát khởi. Do vậy, các vị tăng tục, ai nấy đều giúp đỡ tịnh tài để mong thành tựu chuyện ấy. Lại do mười tám vị đại đức trong núi này, khởi xướng một hội Niệm Phật, lo liệu Niệm Phật Đường, hết thảy quy tắc và kinh phí. Do vậy, bèn ở phía Nam của lầu trống, dựng một ṭa nhà lầu có mười gian để làm chỗ dưỡng bệnh. Phía dưới lầu trống, chính giữa làm Niệm Phật Đường. Hai bên th́ dựng sáu gian pḥng để làm chỗ ở cho sư tăng. Phía trên trổ cửa sổ trời để cho ánh nắng mặt trời soi thấu, pḥng ốc thanh tịnh, bàn sạch sẽ, khá tiện tụng tŕ. Thỉnh vị cao tăng phát Bồ Đề tâm làm quản đường, và sáu vị sư tăng tu hành chân thật, mỗi ngày hai thời công khóa, ba thời niệm Phật tại Niệm Phật Đường. Các chuyện thù tạc trong các điện đường của chùa nhất loạt chẳng dính líu, để mong bệnh nhân thường được nghe Phật hiệu, tâm niệm quy nhất, ngơ hầu dễ được lành bệnh. Nếu [bệnh nhân] sắp mất, sẽ trợ niệm, khiến cho người ấy chánh niệm rơ ràng, theo Phật văng sanh.

          Cho tới khi đă mất, bèn dời sang Niết Bàn Đường ở bên cạnh để tiện khâm liệm, chuyển đi, chẳng gây trở ngại. Người săn sóc bệnh nhân, quản đường trông coi tổng quát, c̣n các vị hương đăng, tư thủy (người trông coi nước nôi) sẽ lo liệu mọi việc chi tiết. Di quan, đưa đi hỏa thiêu, đều có trợ niệm. Chỉ riêng một chuyện này, đă có nhiều lợi ích, khiến cho người niệm Phật biết thân là cội khổ, nỗ lực siêng tu. Nếu người bệnh nặng, chẳng thể tự niệm, do nghe tiếng niệm Phật trong Niệm Phật Đường, trong tâm người ấy niệm nào cũng đều có Phật hiển hiện. Nếu sắp qua đời, do sức trợ niệm của mọi người, chẳng đến nỗi tâm hiện trần cảnh, theo nghiệp duyên mà đi. Đức Phật coi chăm sóc người bệnh là phước bậc nhất trong tám thứ phước điền! Nguyện những ai ở trong Niệm Phật Đường sau này đều phát tâm tự lợi, lợi người, tu ṛng tịnh nghiệp, quyết định trong hiện đời, phiền hoặc tiêu trừ, thiện căn tăng trưởng, lâm chung cảm ứng đạo giao, Phật thánh tới đón.

          Lại c̣n các khoản đă quyên mộ, ngoài tu bổ Niệm Phật Đường, xây cất Như Ư Liêu và Niết Bàn Đường ra, lại c̣n tu bổ cửa rào quanh Ngự Bi Đ́nh, tạo Hóa Thân Quật[8], dời hơn bảy mươi cỗ quan tài đă quàn lâu ngày[9] đem cải táng ở vùng đất cát sau hậu sơn của Phạm Âm Động, trùng tu bến tàu bằng đá, dựng nhà vệ sinh nam nữ ở mỗi đầu bến tàu, đều do thầy Minh Giác và Giám Viện chùa Phổ Tế là Dung Thông, thầy tri khách là Bổn Lập quyên mộ. Trộm nghĩ trong Như Ư Liêu lập Niệm Phật Đường là hợp lẽ nhất, do người c̣n, kẻ mất, người khỏe, kẻ bệnh sẽ đều được lợi ích. Tùng lâm các nơi hăy nên nối tiếp nhau thành lập, nguyện những người cùng sắc áo với tôi đều cùng đề xướng.

 

* Bi kư về chuyện xây vườn phóng sanh mới của chùa Dũng Tuyền tại Cổ Sơn

 

          Đức to lớn của trời đất gọi là Sanh; v́ thế, vạn vật cùng sanh trưởng, chẳng làm hại lẫn nhau. Đức Phật coi hết thảy chúng sanh giống như con một. V́ thế, cắt thịt [của chính ḿnh] cho chim ưng ăn, xả thân nuôi hổ, đủ loại thuyết pháp khiến cho chúng sanh được độ thoát. Ấy là v́ hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ trong quá khứ, là chư Phật trong vị lai. Huống hồ ham sống sợ chết, muôn vật và ta đều như nhau. Ta đă tham sống, loài vật há muốn chết? Không ǵ chẳng v́ kẻ tham ăn tục uống, hằng ngày cần phải ăn thịt, đến nỗi bọn đồ tể chuyên hành nghề giết chóc. Mỗi ngày [các con vật bị] giết chóc số lượng nhiều hơn cát sông Hằng. Tích lũy lâu ngày, bèn thành sát kiếp. Người có ḷng nhân, có trí, biết cái nhân gây nên kiếp nạn là do sát sanh, ăn thịt, muốn phát khởi từ tâm cho kẻ sát sanh, ăn thịt, cho nên đặc biệt mua loài vật phóng sanh để hướng dẫn, mong mọi người sẽ giữ ḷng trung hậu, khoan dung, có ư niệm nhân từ, ngơ hầu chim, thú, cá, rùa đều được sống yên vui. Như thế th́ sát kiếp ngập trời sẽ có thể mau chóng ngưng dứt.

          Vườn phóng sanh ở Cổ Sơn vốn được thành lập trong chùa, nhỏ hẹp, chẳng thể chứa đựng rộng răi. Đă đề xướng, bàn bạc xây cái khác, nhưng do cơ duyên chưa chín muồi, phải ngưng lại. Ḥa thượng Hư Vân đă đến núi, bao nhiêu chuyện phế bỏ đều được tiến hành. Sang năm kế đó, các bậc kỳ túc trong cả núi và các đàn tín, sau mấy lượt suy xét, tham khảo rộng răi các kế sách, bèn ở trước đài La Hán ngoài chùa, lập một cái ao có tường vây quanh, dựa vào núi, nh́n ra sông. Dựng một ngôi lầu thờ Phật, cắt đặt bốn vị tăng phát Bồ Đề tâm trông nom đèn nhang. Sáng chiều tụng niệm thanh tịnh, khiến cho các loài trong hiện tiền đều được nghe kinh pháp, khơi gợi linh giác. Năm gian pḥng dưới lầu th́ pḥng chính ngay sau cửa vào dùng làm pḥng tiếp khách, làm tăng pḥng, làm khách đường, và người lo trai soạn ngủ đêm. Trước lầu, đào cái ao h́nh vuông. Ṿng chung quanh sân có bậc cấp bằng đá thấp dần xuống. Thế đất dần dần rộng hơn phía trên. Nơi cuộc đất trong ấy, ba mặt dựng nhà. Tầng trên và dưới lầu gồm sáu mươi gian, cao ráo, rộng răi. Phía trên cất các loại lương thảo, các loại hạt, phía dưới là chuồng ngựa, chuồng trâu, chuồng dê, chuồng gà, chuồng lợn và chỗ cho vịt ngỗng, chia riêng từng loại, chẳng để cho đực cái lẫn lộn. Theo đúng giờ sẽ lùa về chuồng, hay chăn thả, mỗi loài đều có chỗ nhất định. Có cây che bóng mát, có suối để uống, chia cỏ và lương thực. Quét dọn phân tiểu bèn có người làm công. Đôn đốc, quản lư, ghi chép, tính toán số lượng [các con vật] sống chết th́ do Tăng sĩ đốc thúc. Vừa mới khởi đầu mà quy mô đều đủ. Tính ra bắt đầu từ giữa Thu năm Nhâm Thân (1932) cho đến giữa Hạ năm Quư Dậu (1933), tốn đến hơn một vạn đồng, công tŕnh to lớn mới hoàn thành.

          Xem khắp thần châu (Trung Hoa), đao binh dây dưa đă nhiều năm, xót thay dân ta gặp tai ương, gan óc lầy đất, tan tác, lênh đênh, khổ khôn kể xiết! C̣n may chỗ này an ổn không việc ǵ, cái vườn ấy chắc chắn sẽ hoàn thành, chưa hề chẳng phải do một niệm hiếu sanh cảm vời ư? Nhưng họa phước dựa dẫm lẫn nhau, sao có thể tự buông thả, chẳng bàn đến đạo đức, vẫn cứ xa xỉ! Đấy quả thật điều đáng lo trong phong tục, ḷng người! Trộm mong các vị thiện tín đang lo liệu và các vị quân tử, vốn do ḷng từ bi yêu thương muôn vật, sẽ nhân từ với dân chúng, tôn kính cha mẹ, giữ vẹn ḷng nhân, tận tánh, khôi phục sự thuần phác, trừ sạch kiến chấp nhân ngă, sám hối tham sân độc, đoan chánh chính ḿnh để cảm hóa người khác, trái trần, hợp giác, thỏa măn nguyện độ sanh của Như Lai, sanh về cơi Cực Lạc thanh tịnh, sẽ thấy sự thái ḥa cuồn cuộn, muôn vật và ta cùng khởi sắc. Do vậy, công đức của vườn sẽ ngày càng phong phú hơn, tạo tác dụng xướng suất, chỉ đạo, há cũng chẳng đẹp đẽ lắm ư? (Tháng Năm nhuận năm Quư Dậu - 1933).

 

VI. Đề từ[10]

* Đề từ cho An Sĩ Toàn Thư

 

          Sách này tuy gọi là thiện thư, thật ra giống như kinh Phật, do trong ấy không chỉ trích dẫn kinh Phật, mà c̣n dựa theo ư nghĩa trong kinh Phật. Độc giả hăy nên xem sách này giống như kinh Phật. Theo đúng lư, phải nên khiết tịnh, cung kính, chớ nên ô uế, khinh nhờn. Như kẻ hèn mọn truyền đạt, tuyên bố sắc lệnh của vua, hàng công khanh và dân chúng đều phải dốc ḷng cung kính, chẳng phải là kính trọng người ấy, mà là kính trọng sắc lệnh của vua. Sách này cũng thế, mượn nhân quả thế gian để chỉ bày cơ mưu độ sanh huyền diệu, quả thật là đạo trọng yếu để Như Lai tùy cơ lợi sanh, là chân thuyên[11] để chúng sanh ĺa khổ, được vui. Nếu có thể tín kính, tai chướng sẽ băng tiêu, cát khánh tập hợp như mây nhóm, thân tâm khỏe mạnh, vui sướng, gia đ́nh êm ấm vẫn là chuyện nhỏ! Nói đến công năng tột bậc th́ sẽ là nghiệp tận, t́nh không, siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử trong đời hiện tại, chứng giác đạo trong tương lai. Nếu khinh nhờn, tội sẽ chẳng nhỏ! Kính mong các độc giả đều cùng chấp thuận lời lẽ quê mùa này th́ may mắn lắm thay!

 

* Đề từ nơi trang đầu tiên của sách Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao bản in lần thứ ba

         

          Hết thảy kinh Phật và các sách xiển dương Phật pháp, không ǵ chẳng nhằm khiến cho con người hướng lành, tránh dữ, sửa lỗi, đổi thành tốt lành. Hiểu nhân quả ba đời, biết Phật tánh vốn sẵn có, ra khỏi biển khổ sanh tử, sanh vào Cực Lạc liên bang. Độc giả ắt phải nên sanh tâm cảm ơn, sanh ư tưởng khó gặp gỡ. Tay sạch, bàn sạch, giữ ḷng kính, ǵn ḷng thành, như đối diện trước Phật, trời, như đối trước thầy dạy, sẽ đích thân đạt được lợi ích vô biên. Nếu phóng túng chẳng kiêng dè, mặc sức khinh nhờn, và cố chấp, thiên kiến hẹp ḥi, lầm lạc sanh ḷng hủy báng, tội lỗi sẽ ngập trời, khổ báo vô tận. Nếu xét soi ḷng ngu thành th́ may mắn lắm thay!

 

* Đề từ cho Văng Sanh Truyện của Kỷ mẫu Châu thái phu nhân ở Tượng Sơn

 

          Đời có mẹ hiền th́ mới có con hiền. Đời có người chân thiện th́ mới có thể là đệ tử đức Phật. Kỷ mẫu túc căn sâu dày, hiện hạnh tinh thuần. Lại được con khéo phụ trợ, cho nên được chánh niệm rạng rỡ, theo Phật văng sanh, liễu sanh thoát tử. Tôi nguyện người làm mẹ trong thiên hạ đều như Kỷ mẫu, người làm con đều như Tử Canh, ngơ hầu thiên hạ thái b́nh, nhân dân an lạc, sống dự vào địa vị thánh hiền, mất lên cơi Cực Lạc.

 

* Đề từ cho quyển Dục Hải Hồi Cuồng (lời đề từ thứ nhất)

 

          Sách Dục Hải Hồi Cuồng do tiên sinh Châu An Sĩ v́ ḷng đại từ bi muốn cứu vớt con em trong lứa tuổi thanh niên [đang ch́m nổi] trong biển dục, ngơ hầu họ sẽ có thể vượt lên bờ giác. V́ thế, xếp đặt từ ngữ, lập luận, thiết tha, chu đáo. Không chỉ hiển lộ rơ rệt cái họa sắc dục khiến cho kẻ khác nhận biết để kiêng dè, thận trọng, lại c̣n nêu rơ chuyện chánh tâm, tu thân, trị gia, dạy con, độ vật, ứng duyên, giúp nước, yên đời, cũng như pháp cùng lư tận tánh, đoạn Hoặc, chứng Chân, liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, không ǵ chẳng chỉ dạy tường tận, uyển chuyển tột khéo, há chỉ răn dâm mà thôi ư? Nếu [ông Châu An Sĩ] chẳng đạt được tâm pháp của thánh nhân Nho, Thích, sao có thể như thế được? Mong những ai thấy sách này, thảy đều thọ tŕ, tuân hành, sẽ có thể sống th́ dự vào địa vị thánh hiền, lâm chung vào thẳng cơi Cực Lạc. Lại mong [các độc giả] sẽ phát Bồ Đề tâm, lần lượt lưu thông, khiến cho khắp các đồng nhân đều được thấy nghe, mở rộng chí hướng tự lập, lập người, tự hành, dạy người; đấy là điều tôi thơm thảo cầu chúc vậy!

 

* Đề từ cho quyển Dục Hải Hồi Cuồng (lời đề từ thứ hai)

 

          Con người từ sắc dục mà sanh, v́ thế, tập khí này đặc biệt sâu dày. Hễ chẳng kiêng dè, thận trọng, thường sẽ do vậy mà đến nỗi chết mất. Cổ thánh vương do v́ yêu dân, đối với chuyện pḥng the giữa vợ chồng, chẳng tiếc công sai người truyền lệnh dùng mơ gỗ đi khắp các nẻo đường để bảo ban, răn nhắc, mong cho dân chúng vô tri chẳng lầm lẫn đánh mất tánh mạng. Ḷng từ ái ấy kể sao cho xiết? Cho đến đời sau, không chỉ chánh lệnh của quốc gia chẳng c̣n nhắc tới, ngay cả cha mẹ cũng không nhắc nhở con cái. V́ thế, đại đa số thiếu niên do vậy mà mất mạng, đau xót quá đỗi! Tiên sinh An Sĩ thương xót sâu đậm, đặc biệt trước tác sách này. Tuy là v́ răn dâm mà soạn ra, thật sự là hết thảy các thiện pháp thế gian và xuất thế gian đều được bao gồm chẳng sót. Đúng là sách hiếm có trong ṿng trời đất. Cư sĩ Ngô Tử Tường muốn đề xướng, kính in một ngàn bản để tặng kẻ hữu duyên, mong cho thiện tín thấy, nghe, sẽ lần lượt lưu thông, ngơ hầu hết thảy những người cùng nghiệp ắt đều được sống thọ, cùng lên bờ giác vậy!

 

* Lời đề từ đầu sách Cảm Ứng Thiên Trực Giảng

 

          Lư nhân quả báo ứng được Ngũ Kinh nhiều lần nhắc tới. Kinh Dịch chép: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (Nhà tích thiện ắt điều vui có thừa. Nhà tích tụ điều bất thiện, tai ương có thừa). Kinh Thư chép: “Huệ địch cát, tùng nghịch hung, duy ảnh hưởng” (Thuận theo điều thiện sẽ dẫn đến chuyện tốt lành, trái nghịch điều thiện sẽ bị hung hiểm, giống hệt như bóng theo h́nh). Kinh Thi chép: “Vĩnh ngôn phối mạng, tự cầu đa phước” (thường suy nghĩ hành vi của chính ḿnh có phù hợp với thiên mạng (đạo lư chánh đáng) để mong cuộc sống được hưởng nhiều điều tốt đẹp). Khổng Tử nói: “Thỉ tác dũng giả, kỳ vô hậu hồ?” (Kẻ khởi xướng làm tượng để bồi táng, chẳng phải là không có hậu duệ ư)[12]. Đó đều là [những lời lẽ] nêu tỏ lư nhân quả báo ứng. C̣n như Tả Truyện[13] và hai mươi hai bộ sử, những chuyện [nhân quả báo ứng] như thế nhiều chẳng thể kể xiết! Nho sĩ trong cơi đời chẳng lấy thánh nhân làm khuôn phép, cho nên chẳng tin nhân quả. Bọn cuồng đồ học Phật coi nhân quả là Tiểu Thừa. Những kẻ đó là tội nhân của cả hai giáo Nho và Thích. Như Lai thành Chánh Giác, chúng sanh đọa tam đồ, đều chẳng ra ngoài nhân quả! Kẻ xằng bậy bảo chẳng có [nhân quả], chê là Tiểu Thừa, v́ ghét nhân quả sẽ gây trở ngại cho các hành vi phóng túng, tà vạy, xa xỉ của chính ḿnh. V́ che giấu sự xấu ác của chính ḿnh, chẳng sợ vô lượng vô biên người sẽ do đó mà tạo ác nghiệp, đọa vào ác đạo, có thể nói là “gă đui dẫn một lũ mù, kéo nhau vào hầm lửa!” Tội ác cực đại, không ǵ bằng tội này được! Cơi đời muốn văn hồi thế đạo nhân tâm, và cầu siêu tiên vong, yên ổn hậu duệ, tiêu tai chướng, nhận lănh cát tường, và cầu mưa ḥa gió thuận, dân chúng an ổn, tài vật phong phú, vận nước hưng thịnh, thiên hạ thái b́nh, mong ai nấy đều nương theo sách này mà tu tập, lại c̣n lần lượt lưu truyền rộng khắp cả nước th́ các điều mong cầu không ǵ chẳng đạt được!

 

* Lời đề từ đầu sách Khuê Phạm

 

          Nơi khuê khổn chính là chỗ sanh ra hiền tài, mẹ dạy bảo chính là cái gốc khiến cho thiên hạ thái b́nh. Muốn cho hiền tài bừng bừng nẩy sanh, thiên hạ thái b́nh, mà chẳng có khuôn mẫu cao đẹp để khơi gợi, dẫn dắt, sẽ chẳng có cách nào toại nguyện. Trong sách Khuê Phạm[14] chép sự tích của các hiền nữ, hiền phụ (賢婦, vợ hiền), hiền mẫu, đều đáng giữ yên đạo hạnh của nữ giới, văn hồi thế đạo, chấn chỉnh thói đời bạc bẽo, uốn nắn cho ḷng người ngay thẳng. Nếu kẻ làm con gái, làm vợ, làm mẹ của người khác trong cơi đời thảy đều như thế, sự giáo dục đức hạnh của gia đ́nh sẽ hưng khởi, tai ương, họa hại của nhân dân sẽ chấm dứt. Mong rằng những ai có được quyển sách này, ai nấy sẽ đều là trong nhà th́ v́ quyến thuộc diễn nói, ra ngoài bèn đề xướng với đại chúng, khiến cho người thấy nghe đều lần lượt lưu truyền, khiến cho hết thảy nữ giới trong chốn khuê các đều được thọ tŕ, phỏng theo pháp tắc ấy, ngơ hầu chẳng phụ công tiền nhân khổ tâm trước thuật và chí hướng thanh sạch của các vị lưu truyền. Nguyện những người có cùng nghiệp với tôi đều cùng xét soi ḷng ngu thành!

 

* Đề từ cho sách Tân Biên Quán Âm Linh Cảm Lục

 

          Quán Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, từ bi rộng lớn, tùy loại hiện thân, tầm thanh cứu khổ. Người đời hễ gặp lúc bệnh tật, hoạn nạn, nếu có thể sửa lỗi, hướng thiện, tâm cung kính chí thành, thường niệm danh hiệu của Bồ Tát, không ai chẳng do ḷng thành lớn hay nhỏ mà được Bồ Tát rủ ḷng gia bị. Nhỏ th́ gặp chuyện hung hiểm bèn hóa thành tốt lành, gặp nạn thành hên. Lớn th́ nghiệp tiêu, trí rạng, chướng tận, phước cao, cho đến siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử! Tiếc rằng cơi đời lắm kẻ chẳng biết! V́ thế, đặc biệt biên soạn, tập hợp các sự tích linh cảm được ghi chép trong sử cách trải các đời, chia thành từng loại để biên tập, trích lục, ghép vào sau phần kinh chú, ngơ hầu cả cơi đời đều biết Bồ Tát quả thật là thuốc chữa lành cố tật, là thóc gạo trong năm đói kém, là người chỉ đường nơi lối hiểm, là chiếc bè báu nơi bến mê. Lại nguyện người thấy nghe sách này, ai nấy đều tùy theo sức ḿnh mà lần lượt khuyên dạy, ấn thí lưu truyền, khiến cho hết thảy những người cùng nghiệp đều được tắm gội từ ân, cùng thấm nhuần pháp hóa, ngơ hầu chẳng phụ bi tâm độ sanh của Bồ Tát vậy.

 

* Viết cuối sách Hành Trạng Của Tiên Sinh Tề Sắc Khanh

 

          Khi trước tôi đọc Dương Phục Trai Thi Kệ Tập, biết ông Tề Sắc Khanh là bậc quân tử ẩn dật ở Vụ Nguyên, tâm hết sức khâm kính, bội phục. Gần đây, nhận được tác phẩm do con trai ông là Triều Chương viết về hành trạng của ông, được biết rơ phẩm hạnh, đạo nghĩa của ông, cũng như biết ông dốc ḷng tu Tịnh nghiệp, lâm chung hiện tướng lành, khi sống th́ đă dự vào địa vị thánh hiền cao cả, mất bèn cao đăng cơi Cực Lạc, chẳng khiến cho người sanh ra ḿnh hổ thẹn, măi măi nêu khuôn phép cho cơi đời. Do chẳng đủ mục lực, bèn viết đại lược, mong con cháu đời đời đều tuân thủ vậy!

 

VII. Kệ tụng, nguyện văn, đối liễn

* Kệ niệm Phật măi ĺa kiếp đao binh, văng sanh Tây Phương

 

          Đường đời gió sương, là cảnh luyện tâm. T́nh đời ấm lạnh, là cảnh luyện nhẫn. Thế sự điên đảo, là vốn tu hành. Số kiếp tuần hoàn đáng bi thương nhất. Thoát khổ không chi hơn Cực Lạc. Chuyên niệm Di Đà, ĺa cơi này. Siêng tŕ Phật hiệu, nhập liên bang. Cơi trần hiện bóng nghiệp đời trước, đau xót đời sau gánh họa ương. Thề quyết đời này về Tịnh Độ, măi ĺa chinh chiến tới Tây Phương.

 

* Bài ca tụng Châu Mẫu Nhậm Thái Cung Nhân[15] văng sanh Tây Phương

 

          Đức cao đẹp Châu Mẫu, xưa đă sẵn linh căn. Từ bé đă thờ Phật, ôn nhu và cung kính, bụng dạ sẵn nhân từ. Bố mẹ chồng, thân sanh[16], đều trọn ḷng hiếu thảo. Giúp chồng dạy dỗ con, đều đúng lư thích đáng. Bẩm tánh bà nghiêm chánh, đối đăi với người khác, khoan dung và ôn ḥa. Tuổi sắp được sáu mươi, nhanh chóng ghét Sa Bà, muôn duyên thảy buông xuống, một ḷng niệm Phật thôi! Thân sống trong Sa Bà, tâm gởi chốn Cực Lạc. Con ngoan là Điều Sanh, cùng với Châu Cát Sanh, trong ba bốn năm qua, cũng hâm mộ về Tây. Hằng ngày cùng Cung Nhân, sách tấn cổ vũ nhau. Do vậy được tịnh nghiệp, công huân đều thuần khiết. Cho tới lúc lâm chung, mộng nghe thấy giải thoát, bệnh ngặt đă nhiều năm, liền khỏi, chẳng cần thuốc. Biết trước lúc ra đi, lại nghe mùi hương lạ. Mất rồi, sau mấy ngày, đỉnh đầu mới dần lạnh. Hỏa thiêu, sổ công cứ, tro giấy chẳng tan đi. Tăng đứng trên hoa sen, nét vẽ vẫn thấy rơ. Thệ nguyện đức Di Đà, độ khắp các hữu t́nh. Kẻ nghịch ác mười niệm, vẫn c̣n được văng sanh. Huống hồ là Cung Nhân, suốt một đời tu tŕ. Lên thẳng chín phẩm sen, c̣n ngờ vực chi nữa? Hai bà phi Hữu Ngu[17], ba bà Thái đời Châu. Dấu thơm của đức đẹp, tồn tại đến muôn đời!

 

* Tán thán h́nh tượng của Từ mẫu Dương thái phu nhân

 

          Người sống trong thế gian, ai nấy đều có phần. Thiên chức được phú bẩm, phải hoàn toàn gánh vác. Nay có mẹ ông Từ, đức chói ḷa nữ giới, giúp chồng dạy dỗ con, thảy đúng lẽ thích đáng. Bẩm tánh vốn nhân từ, thương xót kẻ khốn cùng. Thí pháp lẫn thí tài, hai đằng chẳng keo tiếc. Cảm vời các con bà, đều tôn trọng chuyện nghĩa, nhiều lượt lo cứu tế, tiếng tăm càng vang rền. Điều lạ lùng bậc nhất, dốc ḷng tin Phật Thừa, chuyên tâm tu Tịnh nghiệp, quyết chí sanh về Tây. Con thứ ba Quốc Trị, giữ phép tắc nghiêm cẩn. Sách tấn mẹ nhất tâm, sắt son quyết một ḷng. Tướng lành đều đă hiện, vinh dự nhiều lượt ban. Gom tiền, lập miếu thờ, để nhân dân chiêm ngưỡng. Nguyện cho khắp người đời, ai nấy đều như thế, để làm con chân thật, của chư Phật, trời đất.

 

* Kệ tụng hồi hướng sách Thọ Khang Bảo Giám

 

          V́ khắp những vị thiện sĩ ấn loát, thí tặng, lần lượt lưu truyền, tán dương, khuyên đọc Thọ Khang Bảo Giám, viết kệ tụng hồi hướng như sau:

          Hết thảy sự nghiệp, lấy thân làm gốc. Nếu thân hao tổn, sự đều tiêu mất. Chuyện thương tổn thân, đủ loại, chẳng một. Nhưng khốc liệt nhất, chẳng qua dâm dục. Do vậy quân tử, giữ thân như ngọc, dứt tà, giữ thành, ngày đêm dè dặt. Chế tâm như thế, dục niệm chẳng dấy, huống hồ tà dâm, khinh vượt luân lư. Đời có kẻ ngu, chẳng biết nghĩa này, thường cứ buông thả, chẳng tuân lễ chế, ham vui chốc lát, chịu khổ cả kiếp, giảm thọ, tổn phước, vẫn là chuyện nhỏ. V́ thế tiền hiền, kính soạn sách này, mong người cùng hàng, cùng vui tánh thiên. Bất Huệ cảm khái, tăng đính, lưu truyền, treo cao gương răn, ḥng cứu thanh niên. Cư sĩ Đức Quảng, quyên sáu ngàn đồng, in tặng các giới, mong đều sống thọ. Lại có thiện sĩ, tùy duyên in kèm, mong cho sách này, truyền khắp gần xa. Nguyện các người đọc, mở rộng tâm ấy, lần lượt lưu truyền, thấy nghe trọn khắp, ngơ hầu đồng nhân, đều thọ và khỏe, con cháu hiền thiện, tăng trưởng điều lành. Phàm người quyên tiền, và người tán trợ, tai chướng tiêu diệt, phước thọ to mạnh, tổ tiên đă khuất, siêu sanh Tịnh Độ. Con cháu hậu duệ, cát khánh chẳng tận. Vận đời tốt dần, phong tục càng đẹp. Hạnh đẹp tiên hiền, đều được kế thừa. Lời lẽ sách này, quê kệch chất phác, biểu lộ ḷng thành, mong phát đại từ, tự lợi, lợi người.

 

* Bài văn phát nguyện dành cho các ủy viên nhậm chức trong Chỉnh Lư Tăng Già Ủy Viên Hội

 

          Đại pháp Như Lai, chân tướng làm Thể, theo chiều dọc, chẳng có trước sau, theo chiều ngang, dứt bặt ngằn mé! Đă chẳng có sanh, há nào có diệt? Phàm, thánh, chúng sanh, Phật đều được hun đúc. Nếu luận theo Thế Đế, hết thảy tùy duyên, mất ḷng người th́ tŕ trệ, được ḷng người th́ sẽ lưu truyền. Kể từ khi đức Phật lập giáo, [đến nay] đă gần ba ngàn năm, pháp đạo lưu truyền, phổ biến trong cơi trần. Xét từ xa xưa, cao nhân liên tiếp, tự lợi, lợi người, ai nấy nêu cao dấu tích lạ lùng. V́ thế bèn được cả cơi đời tôn sùng; chùa miếu san sát, tông phong rạng rỡ. Cho đến cuối đời Thanh, nhiều phen đao binh, đói kém, bậc thông triết ngày một hiếm hoi, vườn pháp ngày một tiêu điều. Pháp môn chẳng có người, kẻ ngoài thường khinh lấn, biến chùa thành trường học, là chuyện luôn thường nghe nói. Cho đến hiện thời, nguy ngập tột bậc! Nếu chẳng chỉnh đốn, sẽ lập tức thấy khuynh đảo, sụp đổ. Do vậy, nhóm họp pháp lữ, châm chước lập ra chương tŕnh, tự tu hoằng pháp, kiệt lực tiến hành, tận lực tu Định, Huệ, mong nối tiếp huệ mạng, kiêm tu điều lành trong thế gian để lợi ích quần luân, khuếch trương ḷng Từ của Phật, lợi ích rộng khắp ta lẫn người, hiển thị Phật đạo tối cao không chi hơn được! Nguyện đức Thế Tôn và các thánh hiền, cùng rủ ḷng gia bị, tháo gỡ khắp các sự khổ treo ngược; bởi lẽ, Phật pháp chính là pháp nơi tự tâm. Tất cả sóng gió, đều là v́ chưa suy xét. Nguyện đem công đức này, giúp khắp các ân và các cơi, sống th́ được trường thọ, mạnh khỏe, mất th́ về Tịnh Độ. Pháp chẳng có tướng nhất định, hết thảy duy tâm, đồng phát Bồ Đề, đạo xuyên suốt xưa nay!

 

* Bài ca tụng Long Thái Huệ Huy văng sanh

 

          Người sống trong trời đất, ai nấy chức phận riêng, nam lo việc bên ngoài, nữ lo việc bên trong. Nếu đôn đốc luân lư, do thân giáo ảnh hưởng, con cháu ắt hành theo. Do vậy, lũ con cái, khiến cha mẹ chẳng thẹn. Đẹp thay, Thái Huệ Huy, bẩm tánh thật thuần phác, thờ cha mẹ, giúp chồng, thảy dốc cạn thành kính. Dạy con khá nghiêm túc, từ bi giúp người, vật. Niệm Phật mấy chục năm, tấm ḷng đă rỗng rang, tuổi già càng gắng sức, cảm ứng đạo phù hợp. Nương sức Phật từ bi, lâm chung lên Cực Lạc. Tự ḿnh trọn chánh niệm, lại được siêng trợ niệm. Tuy thuộc hàng phàm phu, đă chứng diệu nhân ấy! Con bà tên Ân Lộc, mẹ khéo dạy từ xưa. Tới khi mẹ bệnh ngặt, cắt bắp tay làm thuốc, nào biết Tịnh nghiệp chín, sao có thể chậm trễ? Viết lại ḷng thành khẩn, mong truyền cho hậu duệ.

 

* Kệ hồi hướng cho sách Lịch Sử Cảm Ứng Thống Kỷ

 

          V́ khắp những vị thiện tín thí tiền, lưu truyền, và lần lượt truyền , xem đọc, viết kệ hồi hướng như sau:

          Tam giới hết thảy pháp, chỉ do nhất tâm tạo. Thuận đạo ắt tốt lành, nghịch lư ắt hung ác. Hay thay, cổ đại nhân, ôm ḷng đồng thiên địa. Dùng sức tài trí ḿnh, tham tán[18] sự hóa dục. Mọi chuyện mong lợi khắp, thiên hạ và đời sau, bác ái, giúp chúng sanh, trọn chẳng chấp đức đẹp. Công cao, tiếng tăm nổi. Đức lớn, cát khánh tới. Sống hưởng trọn ngũ phước, dư khánh truyền hậu duệ. Nếu thói này thịnh hành, thế giới tự yên vững. Mọi người giữ lễ kính, đều cùng nhân nhượng nhau, đều mong trọn t́nh nghĩa. Buồn thay, lũ tiểu nhân, chỉ biết đến chính ḿnh, suy nghĩ và xử sự, trọn chẳng theo thiên lư. Hăm người để tự an, tổn người để lợi ḿnh. Cốt sao lợi trước mắt, chẳng hiểu tổn túc phước. Tới khi kết thành quả, khổ báo chẳng cùng cực! Chỉ khiến người thương xót, tội nghiệp chẳng dứt được! Trên từ thuở Đường Ngu[19], dưới đến tận đời Minh. Các sự tích thiện ác, sử sách chép đầy đủ. Nay thế đạo ch́m đắm, người hiểu biết lo sợ! Bạn tôi Nhiếp Vân Đài, nghĩ cách toan cứu tế. Riêng thỉnh Hứa Chỉ Tịnh, soạn Cảm Ứng Thống Kỷ, ấn loát, lưu truyền rộng, mong tự giữ giới pháp. May được các thiện sĩ, bỏ tiền hơn vạn đồng. Kính in hai vạn bộ, để kết trọn thiện duyên. Khoản tịnh tài c̣n dư, cho in bản giấy thường. Chữ nhỏ, giá rẻ hơn, cho thanh niên học tập. Nguyện khắp người thấy nghe, lập cách lưu truyền rộng, để ngưng dứt cạnh tranh, tiến thẳng đến đại đồng. Nguyện những người phát khởi, cùng với người biên tập, các thiện sĩ giúp in, xem đọc rồi bắt chước. Hiện tại và tương lai, hết thảy các thiện nhân, cùng tiêu các ác nghiệp, tăng trưởng thắng thiện căn. Sống th́ hưởng ngũ phước, chết lên chín phẩm sen. Tiên vong sanh Tịnh Độ, hậu duệ gương cơi đời. Mưa gió thuận, đúng thời. Dân yên, tài vật thịnh, ngơ hầu người bốn phương, đều ngưỡng mộ nước nhà!

 

* Bài kệ hồi hướng nhân dịp xây xong tường vây quanh ao phóng sanh ở Di Sơn

 

          Sát kiếp thời cận đại, xưa nay chưa hề có, suy cùng tột cội nguồn, quả thật v́ tham ăn. Xây tường chung quanh ao, rộng hành chuyện phóng sanh, mong nhờ đó cứu văn. Nguyện khắp người thấy nghe, kiêng thịt, đều ăn chay. Ăn chay rất vệ sinh, chẳng hại mạng loài vật. Khiến tâm ta nhân từ, gần bằng như cổ thánh. Sát nghiệp đă chẳng kết, thế đạo tự thái b́nh. Cách cứu loài vật này, lợi măi các quần manh[20]. Hồi hướng thắng công đức, văng sanh Phật Tịnh Độ, thấy Phật, chứng vô sanh, để lục đạo nương cậy.

 

* Ca tụng bà Lâm Tánh Ngộ văng sanh, và răn dạy những kẻ ham cao chuộng xa coi thường Tịnh Độ

 

          Phật tánh trong hàm thức, b́nh đẳng chẳng hề hai. Do mê ngộ khác nhau, khổ vui cách biệt một trời một vực. Hay thay, Lâm Tánh Ngộ, đă đủ đại thiện căn từ xưa, tuy mang thân ngũ lậu, thật sự uẩn tàng tâm Nhất Thừa. Vừa được nghe Phật pháp, chặt đứt ngay tập khí của nữ nhân, chuyên tâm tu Tịnh nghiệp. Do có con gái làm bạn lành, c̣n thơ ngây mà đă hiện Tăng tướng. Không lâu sau, cháu liền sanh Tây. Ấy là v́ muốn cho cái tâm xuất ly của cha mẹ được quyết định. Bà cùng chồng bái ngài Đế Nhàn làm thầy, lại được quán đảnh, nhất tâm cùng khế nhập, lănh hội hai nghĩa Tịnh và Mật. Thường ngày, sức tŕ tụng cực chuyên, cực khẩn thiết, mộ đạo như đói khát, cái tâm càng kiên quyết, son sắt. Cho tới khi lâm chung, được thấy Phật đến nghênh tiếp, tướng lành hiện hoa sen, chân bước lên Lạc Bang. Đáng tiếc người trong thế gian phần nhiều tự phụ tự lực! Nếu chưa đoạn hết Kiến Tư Hoặc, chẳng thể nào thoát khỏi tù ngục tam giới. Ngục ấy tường rất cao, chưa thể tùy ư được. Nếu chỉ nói đến lư tánh, rốt cuộc sẽ hăm vào chuyện nói suông! Thật tuy ít vẫn hơn giả nhiều, khéo quá chẳng bằng vụng. Vụng về mà nếu đạt đến chỗ cùng cực th́ kẻ hay khéo đều phải nhường bước! Ngài Liên Tŕ dạy thật thà, ngài Thiện Đạo dạy chuyên tu. Kẻ ham cao chuộng xa phần nhiều làm tù nhân của Diêm lăo! Buồn thay, lại thảm thay! Sao lại vướng lấy tội lệ ấy, chỉ v́ chẳng chú trọng thực hành, sẽ biến thành tṛ đùa trẻ nít!

 

* Câu đối ghi trên lan can vây quanh sân của Thánh Thủy Tỉnh chùa Tịnh Cư ở Tế Nam

 

          Tiểu nhi đọa tỉnh phục ngọa gia, mạc danh kỳ diệu.

          Thánh thủy phái lâm hựu khử dịch, duy tại hồ thành.

          (Trẻ nhỏ té giếng, lại nằm ở nhà, diệu kỳ khôn diễn tả,

          Nước thánh tràn trề, c̣n trừ tật dịch, chỉ v́ ḷng thành kính).

 

* Câu đối trước bàn Phật trong nhà

 

          Phật đức hồng thâm, độ chúng sanh ưng độ ngă.

          Thế t́nh nguy hiểm, bất niệm Di Dà cánh niệm thùy?

          (Phật đức rộng sâu, độ chúng sanh hăy nên độ con,

          Thói đời nguy hiểm, chẳng niệm Di Đà lại niệm ai?)

 

* Khích lệ Đức Chấn

 

          Tri Phật tánh thường, phấn khắc chứng chí.

          Tư địa ngục khổ, phát Bồ Đề tâm.

          (Biết Phật tánh chân thường, dũng mănh quyết chứng,

          Nghĩ địa ngục khổ sở, phát Bồ Đề tâm).

 

IX. Truyện kư, kư sự, tế văn

 

* Bé gái Tra Lục Khánh ở Cửu Giang (văng sanh năm Dân Quốc 14 - 1925)

 

          Thầy Quảng Ấn ở am Song Tuyền nói: - Bé gái Tra Lục Khánh là con gái của cư sĩ Tra Tân Thần ở Cửu Giang. Lúc bé sanh ra, nhằm đúng lúc sanh nhật sáu mươi tuổi của bà nội, nên đặt tên là Lục Khánh. Tân Thần và vợ đều quy y Phật pháp. Bé gái cũng quy y Phật pháp, pháp danh là Hựu Hỷ. Năm nay mới sáu tuổi, trong khoảng tháng Năm và tháng Sáu, thường nói: “Nhà cửa này của ta hết sức chật hẹp”. Cha mẹ chẳng để ư. Ngày Hai Mươi Ba tháng Bảy, mẹ bé sắp đến Niệm Phật Lâm để niệm Phật, bé nhất định muốn đi theo. Ngày hôm sau liền mắc bệnh nhẹ, suốt ngày tự kết thủ ấn, cha mẹ cũng chẳng hiểu v́ sao bé biết pháp ấy. Sau đó, bệnh chuyển nặng, cha mẹ cầu khẩn Quán Thế Âm ba ngày, cầu gia bị cho con lành bệnh. Trong ba ngày ấy, bé thường nói: “Con phải đi”. Cha mẹ thấy bé quyết định muốn đi, liền hỏi: “Con đi đến chỗ nào?” Bé liền lấy tay chỉ về hướng Tây. Cha bé nói: “Con đi được rồi”. Bé liền nhắm mắt, qua đời. Ôi! Cô bé ấy nếu chẳng phải là Bồ Tát hiện thân, th́ là do túc căn đă chín muồi, cho nên nêu gương hướng dẫn trong thế giới trược ác này. Phàm người thấy nghe, ai nấy hăy nên phát tâm chân tín, tu tŕ Tịnh nghiệp để mong lâm chung nương vào từ lực của Phật, văng sanh Tây Phương, thường cùng các vị thượng thiện nhân tụ hội một chỗ, đến tột cùng đời vị lai thường hưởng pháp lạc.

 

* Bài kư về chuyện con gái ông Mă Kỳ Sưởng ở An Huy nghe kinh Kim Cang lành bệnh, tọa thoát

 

          Ông Mă Kỳ Sưởng ở An Huy, tự là Thông Bạch, chính là một bậc đại văn học gia trong hiện thời, trước tác hết sức phong phú. Thoạt đầu, ông chỉ nghiên cứu Nho tông, chẳng biết Phật pháp. Mười mấy năm gần đây, mới biết Phật là đại thánh nhân, giáo pháp của Ngài có các chuyện chẳng thể nghĩ bàn. Do vậy, hằng ngày tụng kinh Kim Cang, kiêm tŕ Phật hiệu, cầu sanh Tây Phương. Cô con gái thứ ba của ông tên là Quân Can, gả cho họ Phương, khá thông minh, thông văn lư, có phong phạm của bậc liệt nữ thời cổ, Thông Bạch hết sức yêu mến. Cô ta đề xướng giáo dục cho nữ giới, chẳng tiếc sức thừa. Thoạt đầu, cô ta tốt nghiệp trường nữ sinh Vụ Bổn tại Thượng Hải; kế đó, nhận lời mời của Bắc Dương đại thần là ông Viên (Viên Thế Khải), mở trường Sư Phạm dành cho nữ giới tại Thiên Tân. Sau đó, lại sang Nhật du học để mở rộng kiến thức. Chỉ có điều đối với Phật pháp, trọn chẳng tin tưởng.

          Tháng Năm năm Dân Quốc 15 (1926), cô ta do sản hậu thành bệnh, khổ nạn khó thể chịu đựng. Thông Bạch thương xót, đối trước cô ta niệm kinh Kim Cang. Cô ta vừa nghe tiếng tụng kinh, thân tâm an lạc. Cho đến khi kinh hết, lại cảm thấy đau khổ. Thông Bạch bèn thức trắng đêm niệm kinh. Bỗng cô ta ngồi dậy, nói cha ngưng niệm, giống như người khỏe mạnh. Lại nói: “Con đối với đạo lư nói trong kinh Kim Cang thảy đều ngộ được”. Cô ta liền muốn hiện tướng đại nhân, nói pháp Vô Sanh, ngơ hầu hết thảy những ai thấy nghe đều gieo thiện căn, giả vờ nói nhà cửa chật hẹp, muốn đến bệnh viện để dưỡng bệnh. Do ông Thông Bạch và con rể là Phương Thời Giản cùng ngụ tại kinh đô, thuê nhà ở chung, cho nên chỗ ở chẳng thể rộng răi, thanh nhàn, u nhă được. Thông Bạch thấy cô ta quyết chí, bèn bảo chồng cô ta đưa đến bệnh viện của người Đức, chọn pḥng bệnh tốt nhất cho cô ta nằm. Cô ta bảo chồng và những người chăm sóc đi khỏi, bèn chắp tay, ngồi qua đời. Ôi lạ lùng thay! Cô này giống như cô Linh Chiếu con gái của Bàng cư sĩ (Bàng Long Uẩn), dùng chuyện nhật thực để dụ cha rời khỏi chỗ ngồi, cô ta liền ngồi nơi ấy mà thoát hóa, có khác ǵ đâu? Ông Lư Mộc trọn chẳng tin Phật, nghe Thông Bạch kể lại nhân duyên này (ông Mộc là môn sinh của Thông Bạch, mùa Thu năm Dân Quốc thứ mười (1921)[21], Thông Bạch trở về An Huy, qua đất Hỗ, đến nhà ông Mộc, nói chuyện này), cả nhà [ông Mộc] bèn quy y Tam Bảo. Phổ Môn phẩm nói “đáng nên hiện thân ǵ để đắc độ, bèn hiện thân ấy thuyết pháp”, ai chẳng tin vậy thay? Nhưng chồng cô ta là Thời Giản đối với hành trạng đă thực hiện của cô ta lại ngược ngạo vùi lấp, tội lỗi ấy quả thật chẳng nhỏ cạn!

 

* Vị tăng tên Liên X… ở Úy Châu

 

          Năm Quang Tự thứ 23 (1897) đời Thanh, mấy tỉnh ở phương Bắc bị đại hạn. Có vị tăng tên Liên X… trụ trong một ngôi chùa nhỏ ở ngoài thôn. Có mấy tên dân đói từ Sơn Đông bỗng t́m đến, kêu gào đói bụng, muốn xin cơm. Tăng nói: “Cơm tôi đă ăn hết rồi, chẳng c̣n sót ǵ”. Mấy kẻ đó đ̣i hỏi càng gấp. Vị tăng nói: “Ta sẽ nấu nồi cơm khác cho các ngươi”. Vị tăng ấy hằng ngày giữ khóa tụng là sáu vạn câu Phật hiệu, tuy miệng hứa nói sẽ nấu, muốn lần tràng hạt cho xong một chuỗi trước đă. Bọn họ cho rằng sư chẳng cho họ ăn, bèn cầm búa từ phía sau đập vào đầu sư, sư ngă lăn quay. Bọn họ dùng cái th́a sắt dùng để múc dầu, khoét hai muỗng máu thịt trên đầu Sư đổ vào dầu rồi mới bỏ đi. Vị tăng ấy choáng váng, chẳng biết ǵ nữa, bèn lần đến trước cái chuông, vội vàng giộng chuông mấy chục tiếng. Trong thôn, hễ có việc quan, đều giộng chuông để làm hiệu lệnh. [Nghe tiếng chuông, mọi người] đều kéo đến chùa, thấy chỗ Tăng ngă xuống do bị đánh chảy máu tung tóe, nhưng từ trong nhà cho đến trước chỗ để chuông, tới lui đều có vết máu tuôn. Sờ thử, thấy sư vẫn c̣n thở, do vậy nâng dậy, lay tỉnh. Sư nói: “Bị dân đói đánh”. Họ bèn sai mấy chục người đi bốn phía truy lùng. Những gă đó bị bắt, đều xin đền mạng. Lôi bọn chúng về chùa, vị Tăng nói: “Chắc chắn là đời trước tôi và họ có oán thù. Nay họ đánh tôi, các vị lại làm khó họ, há chẳng phải là khiến cho tôi bị đánh uổng công, không chỉ là túc oán chẳng thể tháo gỡ, mà c̣n kết thêm oán mới. Tôi chịu không nổi mối nợ này! Tôi hăy c̣n hơn một ngàn đồng, hăy cho họ cầm đi”. Đỉnh đầu vị sư ấy dần dần lành sẹo, vẫn cứng rắn như người b́nh phàm, chỉ là trên đỉnh đầu chẳng có cọng tóc nào, quanh đó đều có vết thương, cũng lạ lùng thay! Năm Quang Tự 13 (1787)[22], Quang và sư đệ của thầy ấy là Liên Như từ núi Hồng Loa đến triều bái Ngũ Đài. Lúc trở về, đến chùa của vị Tăng ấy, lúc đó, Sư đă hơn sáu mươi tuổi, mặt mũi rạng rỡ, sáng láng, vừa nh́n liền biết là bậc có đạo đức. Liên Như chỉ vào đỉnh đầu của Sư, kể lại chuyện ấy. V́ thế, ghép vào đây để giúp khơi gợi ḷng tin.

 

* Văn tế cư sĩ Giản Chiếu Nam

 

          Khi Ngũ Uẩn hừng hực kiến lập, thật thể rốt cuộc chẳng thể được. Gặp lúc Tứ Đại chia ĺa này, hễ chiếu sẽ ngay lập tức thoát khổ ách. Đáng khen thay cư sĩ Giản Chiếu Nam, túc căn sâu dày, bẩm tánh hiền lành. Tay trắng lập nghiệp, chẳng khác ngày nay! Đào Châu[23] ḷng son hộ pháp, đúng là Tu Đạt Đa trong hiện thời. Lại c̣n tu trọn các điều lành trong thế gian, nghiêm túc giữ Tam Quy, Ngũ Giới. Tịnh nghiệp nhờ vào phước lực mà viên thành, cố nhiên đáng cao siêu Cực Lạc. Lâm chung do quyến thuộc đau buồn, quyến luyến, sợ sẽ vướng mắc trong Sa Bà! Cần phải biết Phật chẳng nguyện suông, chính ḿnh đă có Phật tâm, chỉ cần có thể phá tan cửa ải t́nh kiến, tự nhiên chân tâm hiển hiện thấu triệt. Vẫn mong ông phát trọn ba tâm, chỉ khởi lên nhất niệm, sẽ lập tức nhanh chóng lên chín phẩm. Ôi! Đường Tây Phương rộng thênh thang, ngay lập tức trở về nhà há cần hỏi lối. Tự chẳng quay về, về liền được; gió trăng quê cũ có ai giành?

 

* Điếu Đế Nhàn đại sư

 

          Than ôi Đế công, nương nguyện thị hiện giáng sanh. Giương rộng lưới giáo, tôi sao diễn nói trọn nổi? Nguyện được Phật thọ kư, mau trở lại Sa Bà, phổ độ hàm thức, cùng sanh Cực Lạc.

 

* Thôi sanh tử (trường sanh oa)

 

          Thôi sanh tử (催生子, vật giúp cho dễ sanh) c̣n gọi là trường sanh oa (長生蝸, ốc trường sanh), sống trong cát biển. Ở Phổ Đà Sơn chẳng có mấy, thổ dân ở các nơi khác bắt về, đem bán tại các tiệm ở Phổ Đà. Khách đến hành hương mua về, để dùng cho phụ nữ khi sanh nở, cất trong rương hoặc tráp sạch, vĩnh viễn chẳng hư, chẳng chết. V́ thế, có cái tên là ốc Trường Sanh. Nếu có người khó sanh, chí thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, dùng nước đun sôi hơi ấm (nước nóng sợ bỏng chết vật ấy. Nước lạnh sợ gây trở ngại cho sản phụ), nuốt xuống một con, trẻ liền sanh ra ngay, liền có thể kiếm thấy con ốc ấy được nắm trong tay đứa trẻ. Nam bên tay trái, nữ bên tay phải. Rửa sạch cất đi, có thể sử dụng nhiều lần. Vật ấy nếu không chuyển đến Phổ Đà Sơn sẽ chẳng linh; cho nên, chỗ khác chẳng bán. Thoạt đầu, tôi nghe nói nuốt nó sẽ giúp sanh mau, lại theo tay trẻ thoát ra, ngờ rằng trọn chẳng có lư ấy! Bởi lẽ, nuốt vào bụng, phải xuống ruột già, sao lại có thể vào trong tử cung? Huống hồ trẻ ở trong bụng mẹ, phía ngoài có nhau thai, chân tay trẻ cong queo như bị nhiều lớp quần áo bó chặt, sao có thể duỗi tay bắt lấy vật ấy?

          Năm Dân Quốc thứ bảy (1918), có đồng hương ở Triều Ấp tỉnh Thiểm Tây là Lưu Cần Phố đến thăm (nhà Cần Phố nhiều đời thư hương, là bậc quân tử đức dày), nghe tôi nhắc đến chuyện ấy, bèn nói: “Chuyện trong thiên hạ, có chuyện chẳng thể dùng phàm t́nh để suy đoán được. Lư như thầy đă nói đúng là như thế, nhưng sự th́ thầy chưa thấy. Nhà tôi tổ truyền có một hạt [trường sanh oa]. Thường mỗi khi phụ nữ trong nhà và thân bằng sanh nở thường dùng đến. Sử dụng nhiều lượt chẳng thể đếm nổi số. Về sau, bị người khác mượn đi, nghe nói là đă mất rồi! Chẳng biết có thật sự bị mất hay là giấu nhẹm đi, hết sức đáng tiếc”. Năm sau, tôi đến Dương Châu, kể lại với cư sĩ Trương Thụy Tăng lời đối đáp của Cần Phố. Ông ta nói: “Nhà tôi vốn có một viên lôi chấn tử (雷震子). Hễ phụ nữ sanh nở, nuốt vào liền sanh. Vật ấy được nắm trong tay đứa trẻ. Nhặt lấy rửa sạch, cất đi để dành. Đă sử dụng khá nhiều lần rồi. Về sau, bị kẻ khác mượn không trả, nói là đă đánh mất”. Trời đất to lớn, sự vật đông đảo, dẫu là thánh nhân vẫn có điều không biết! Chuyện trong thế gian này c̣n chẳng thể dùng phàm t́nh để suy lường, huống hồ cảnh giới của Phật, Bồ Tát ư?

          Điều đáng giận là các cửa tiệm sợ người khác chẳng tin tưởng, bảo vật ấy gọi là “thố miết” (醋鱉, ba ba trong giấm), có thể giục cho mau sanh, bỏ vào trong giấm nó sẽ cử động. Ngẫu nhiên dùng giấm thử, quả nhiên thật vậy, nhưng chẳng biết, hễ bị thả vào giấm chua, nó sẽ chết, chẳng thể dùng được nữa. Các văn nhân do thấy nghe lời ấy, chẳng suy xét sâu xa, bèn nói hùa theo, cho là đúng như vậy. Như Châu Tự Tăng soạn sách Xương Quốc Điển Vịnh bảo: “Vật ấy gặp giấm bèn sống. V́ vậy, dùng giấm để thử, quả thật giống như viên châu ḅ trên cái khay”. Châu Công Cẩn cũng nói: “Ốc trường sanh thả vào giấm chua sẽ sống động”. Sách Chánh Tự Thông[24] chép: “Loài ấy có đực cái, bỏ vào trong giấm, con cái và con đực sẽ đuổi theo nhau, quanh quẩn kết hợp, liền đẻ trứng nhỏ như hạt kê”. Loại lời lẽ thêu dệt vô căn cứ ấy, thật đáng thống hận! Chẳng biết đă khiến cho bao nhiêu người dấy ḷng thử xem mà hại mạng của loài vật. Nếu vẫn dùng con ốc Trường Sanh đă bị thử [bằng giấm] để giúp cho người ta dễ sanh, sẽ gây hỏng chuyện, hoặc hại mạng người. Bọn văn nhân kiểu đó, đời sau ắt khó tránh khỏi cái họa không duyên cớ ǵ mà bị người khác hăm hại, chẳng biết nguyên do là v́ đời trước đă tự hào v́ tài văn chương, hư vọng bịa chuyện mà nên nỗi, cũng chẳng đáng buồn ư?

          Nói nó có thể giúp dễ sanh th́ đúng như vậy. Vật ấy phía trên khum khum tṛn, phía dưới th́ bằng phẳng, dưới đáy có mấy chục đường vằn, càng hướng vào giữa càng dày đặc. Để lâu ngày, ở chính giữa, sẽ lọt ra một con nhỏ hơn, tức là nó sanh con. Con lớn th́ phần chính giữa lơm vào, chẳng bằng phẳng như trước. V́ thế, cất càng lâu, sẽ thấy có nhiều. Cần phải xét kỹ coi nó c̣n sống hay đă chết. Đă chết th́ chẳng thể dùng. Nếu toàn thân nó ôn nhuận, hơi ửng đỏ như màu thịt th́ c̣n sống. Nếu toàn thân khô trắng, chẳng có chút ôn nhuận ửng hồng như màu thịt th́ là đă chết.

          Lại nữa, vật này khéo trị chứng mắt sưng đỏ. Mắt con người, bất cứ vật ǵ đều chẳng bỏ vào mắt được. Nếu vật ấy (ốc Trường Sanh) c̣n sống, dẫu to một hai phân, vạch mí mắt, để vào trong mắt, trọn chẳng có mảy may khó chịu nào. Nếu mắt khỏe mạnh, nó sẽ chẳng chịu khảm vào. Vừa bỏ tay ra, nó sẽ rơi ra ngay. Nếu mắt bị sưng phù đỏ, bỏ vào, tùy tiện ấn nhẹ, nó sẽ tự dính chặt. Không chỉ chẳng cảm thấy cồm cộm, mà c̣n chẳng thấy mí mắt có chỗ nào phồng lên, chẳng khác ǵ chẳng bỏ vật nào vào! Sau đó liền chẳng cảm thấy chi hết; đợi đến khi mắt đă lành bệnh, nó sẽ tự rớt ra, nhưng người ta không hay biết, mười trường hợp th́ chín bị thất lạc. Nếu đă bỏ vào mắt, phải thường luôn lưu tâm th́ chắc chẳng bị mất, nhưng khó lắm, do nó ở trong mắt, người ta tuyệt chẳng cảm nhận được! Đấy cũng là chuyện chẳng thể dùng lư thường để phán đoán được.

          Lôi chấn tử tức là quả màu hồng do cây vạn niên thanh kết thành, khi sét đánh, nó sẽ liền rơi xuống đất. Nếu trước hoặc sau đó, sẽ đều chẳng có hiệu nghiệm. Thôi sanh tử c̣n dễ có, chứ lôi chấn tử càng khó có. Nhưng có thứ so với hai vật ấy càng hữu ích hơn, mà cầu th́ không ǵ chẳng đạt được, tiếc là lắm kẻ chẳng biết. Nếu ai nấy đều biết th́ hai vật ấy cũng đều chẳng dùng đến. Phụ nữ khó sanh, nói chung là do sát nghiệp trong đời trước hoặc đời này mà ra. Nếu thường ngày luôn yêu tiếc sanh mạng loài vật, kiêng giết, bảo vệ sanh vật, thường niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, ắt nghiệp chướng tiêu trừ, tự sanh sản dễ dàng. Dẫu xưa nay chẳng biết niệm Bồ Tát, tới lúc sắp sanh mà có thể chí thành khẩn thiết niệm, và quyến thuộc chăm sóc đều cùng niệm cho người ấy, th́ cũng có thể b́nh an, sanh nở mau chóng, mẹ tṛn con vuông. Lại c̣n gieo thiện căn to lớn, lợi ích ấy há có hạn lượng?

          Có kẻ nói khi sanh nở, lơa lồ, bất tịnh, niệm danh hiệu Bồ Tát sợ mắc tội lỗi. Chẳng biết Phật, Bồ Tát coi hết thảy chúng sanh như con cái do chính ḿnh sanh ra. Nếu con ngă vào chỗ lửa nước, cầu cứu cha mẹ, cha mẹ ắt chẳng v́ con áo mũ không chỉnh tề, thân thể chẳng sạch sẽ mà vứt bỏ chẳng cứu! Lại như mặt trời, mặt trăng chiếu sáng giữa trời, tịnh hay uế đều b́nh đẳng chiếu, trọn chẳng phân biệt. Nhưng xét về phần chúng ta, cố nhiên nên dốc hết ḷng thành, cạn hết ḷng kính th́ mới có thể ngưỡng mong Ngài rủ ḷng ứng hiện. Người có sức ắt cần phải thân lẫn tâm đều dốc hết ḷng cung kính. Kẻ chẳng có sức, cần phải nhất tâm cung kính, đối với thân h́nh, cố nhiên chẳng thể chấp chết cứng được! Có hạng người ăn chay, niệm Phật, nhưng là kẻ chẳng biết lẽ biến thông, do trong nhà có phụ nữ sắp sanh nở, bèn bỏ ra ngoài ở tạm hơn một tháng mới quay về, nói là “hễ bị huyết xông nhằm, kinh chú đă tụng niệm trước kia đều vô hiệu!” Tri kiến chấp trước hẹp ḥi đến nỗi trái t́nh nghịch lư như thế đó! V́ thế, tôi nêu bày điều này, để mong cho hết thảy mọi người đều an b́nh mà sanh, mẹ con đều tốt lành. Đứa con sanh ra sẽ đều hiếu, hữu, nhân từ, phước thọ an khang. Chưa ra làm quan th́ là gương mẫu cho làng ấp, gia đ́nh êm đẹp. Hễ cầm quyền bèn b́nh trị thiên hạ, hộ quốc, cứu dân. Tuy chúng ta mong sớm sanh về Tây Phương, cũng phải nguyện trong cơi đời có hiền nhân, thiện sĩ, làm người đề xướng, hướng dẫn trong quốc gia, xă hội. Đấy chính là điều tôi sáng tối thơm thảo cầu chúc vậy, mong cho mỗi mỗi đều được như nguyện.

 

X. Phụ lục

* Tưởng nhớ pháp ngữ của pháp sư Ấn Quang

(Vân Tuyền Tử ghi)

 

          Pháp sư Ấn Quang tự chôn sống trong quan pḥng tại chùa Pháp Vũ ở Nam Hải, chuyên tu Tịnh nghiệp, hết sức khẩn thiết hơn người. Một hôm, Vân Tuyền Tử đến thăm, tṛ chuyện hồi lâu. Lúc sắp từ biệt, Ấn công nắm tay căn dặn:

          - Trước nay, các vị tổ Thiền và Giáo thường nói “nếu Thiên Thai Giáo Quán Tông chẳng có người truyền thừa, giảng giải, sẽ là lúc Phật pháp sắp diệt mất”. Thời này chẳng phải như thế.

          Vân Tuyền Tử ân cần hỏi duyên cớ, Ấn công bùi ngùi bảo:

          - Hiện thời, thánh giáo ngày càng đi xuống, căn cơ con người nông cạn. Do pháp Chỉ Quán mà được xuất sanh tử th́ vạn người chẳng được một, hai! Chỉ có Tịnh Độ là có thể nương cậy! Nếu hiện thời, tông Tịnh Độ chẳng có ai nói, truyền, hành, Phật pháp đúng là sắp diệt tận vậy. Chúng ta là đệ tử đức Phật, càng phải nên cố gắng.

          Vân Tuyền Tử lại lễ bái, tiếp nhận, lui ra. Do lời lẽ ấy tuy nói rất b́nh thường, thật ra có liên quan đến chỗ ẩn tàng sâu xa trong Tịnh Độ, v́ thế, ghi lại dành cho người thông sáng trong mai sau!

 

* Bái yết Ấn Quang đại sư kư

(Cư sĩ Tạ Huệ Lâm viết)

         

          1. Ngày Mười Chín

          Ngày Mười Chín, tức ngày Quư Mùi, bảy giờ sáng, cùng Minh Đạo thượng nhân đáp chuyến xe lửa tuyến Bắc Kinh - Thượng Hải đến Tô Châu. Chín giờ sáng tới nơi. Khi vào thành, bỗng ngộ “một câu danh hiệu Phật buông xuống hết thảy, miên mật tŕ niệm, sẽ liền bao gồm hàm dưỡng, quan sát, nhận biết, hết thảy công phu trong ấy chẳng cần phải nghiêm ngặt dụng tâm”. Minh Đạo thượng nhân dẫn tôi đến đường Hộ Long ở phía Nam con phố chính để vào chùa Báo Quốc, yết kiến thầy tôi là Ấn Quang lăo nhân, liền ở lại trong chùa. Lăo nhân đă bảy mươi ba tuổi, tinh thần nội liễm, ngôn từ khẩn thiết, bàn đến Lư Học đời Tống, Minh, Sư cho rằng họ lập luận thái quá, chẳng đáng để tiếp dẫn kẻ sơ cơ. Họ chẳng tin nhân quả luân hồi th́ càng sai lầm! Hiện thời, nhân tâm phóng túng, chẳng kiêng dè, ươm thành hạo kiếp, không ǵ chẳng do kiểu ăn nói ấy làm cơ sở khởi xướng. Bởi lẽ, nhân quả là lư tột cùng được chỉ bày để thánh nhân thế gian và xuất thế gian b́nh trị thiên hạ, cứu độ chúng sanh, như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, quyết chẳng có mảy may sai lầm! Cơi đời trị hay loạn, an hay nguy, chuyện cát, hung, lợi, hại, Nhất Thừa do Như Lai đă chứng, chúng sanh đọa lạc tam đồ, đều khởi nguồn từ cái nhân ban đầu, kết thành cái quả về sau. Lắm kẻ coi thường, chẳng suy xét sâu xa. V́ thế, nhân tâm ngày một bại hoại, thế giới ngày một loạn, chẳng đáng sợ ư?

          Tôi hỏi: “Bọn Lư Học chẳng tin vào khai ngộ, cũng tự có cảnh tượng vắng lặng, bất động, hư linh, chẳng tối tăm. Sợ rằng họ vẫn thuộc vào căn bản vô minh trụ địa, chưa thể triệt để trở ḿnh đấy chăng?” Sư dạy: “E là bọn Lư Học chưa đoạn Kiến Tư Hoặc, c̣n bàn ǵ đến Trần Sa, Vô Minh nữa! Nếu họ thật sự đại công vô tư, chẳng chấp vào kiến giải môn đ́nh, thành tựu sẽ chẳng chỉ có chừng ấy. C̣n như nói ‘ta không có tâm luân hồi, tự chẳng có chuyện luân hồi’, đó là cảnh giới của Phật, Bồ Tát, học nhân chưa dễ ǵ đạt được. Chỉ cần giữ ḷng từ bi niệm Phật, hết thảy dụng công tự có sẵn trong ấy”. Lăo nhân từ bi sâu đậm, thiết tha, cảnh giới cực cao, kẻ học cạn chẳng thể suy lường được!

 

          2. Ngày Hai Mươi

 

          Tám giờ sáng ngày Hai Mươi, tức ngày Giáp Thân, Ấu Am (em vợ của Tạ cư sĩ) và ông Trương Lộc Minh quy y với Ấn công, tôi cũng đi theo cùng làm lễ. Lăo nhân dùng chuyện Tam Quy niệm Phật thiết tha căn dặn. Kế đó, lại luận định bọn Lư Học không hiểu rơ lư nhân quả tinh vi, ngược ngạo mặc sức phỉ báng. Họa hoạn cho thế đạo, nhân tâm trong hiện thời đều do các thứ nghị luận ấy dẫn khởi. Bản lănh của họ chẳng thể sâu sắc, chánh tâm thành ư chẳng thể chuyên dốc, chân thật, cũng v́ lẽ này! Ai nấy đều cần phải lấy đó để răn dè!

 

          3. Ngày Hai Mươi Mốt

 

          Sáng sớm ngày Hai Mươi Mốt, tức ngày Ất Dậu, Ấn lăo (tổ Ấn Quang) bảo Minh Đạo thượng nhân dẫn tôi và Ấu Am đến chùa Khai Nguyên lễ bái tượng hai vị Thế Tôn Ca Diếp và Duy Vệ (tức Tỳ Bà Thi Phật, Vipaśyin), bảo tượng ấy vào đời Tấn từ ngoài biển trôi vào, bèn đón về thờ trong chùa, tột bậc linh dị. Chuyện ấy được chép tường tận trong sách vở của huyện. Tăng nhân Nhật Bản nhiều người đến chiêm lễ, thế mà nhân sĩ Tô Châu ngược lại phần nhiều chẳng biết. Sau đó, chúng tôi từ tạ Ấn lăo, đáp xe lửa trở về Vô Tích.

Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao Tam Biên Bổ hết

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Ngũ Bất Hoàn Thiên (Śuddhāvāsa) c̣n gọi là Ngũ Bộ Tịnh Cư Thiên, bao gồm năm tầng trời cao nhất của Sắc Giới Thiên, tức Vô Phiền Thiên (Avha), Vô Nhiệt Thiên (Atapa), Thiện Kiến Thiên (Sudśa), Thiện Hiện Thiên (Sudarśana), và Sắc Cứu Cánh Thiên (Akaniṣṭha). Đây là nơi cư ngụ của các vị thánh nhân Nhị Thừa đă đoạn chín phẩm Tư Hoặc trong Dục Giới, chứng Tam Quả trở lên.

[2] Tứ Không Thiên (c̣n gọi là Tứ Vô Sắc Xứ) là các cơi trời thuộc Vô Sắc Giới, bao gồm:

1) Không Vô Biên Xứ Thiên (Ākāśānantyāyatana): Đây là trụ xứ của người chứng Vô Sắc Định do tu Vô Biên Vô Tế Không Quán.

2) Thức Vô Biên Xứ Thiên (Vijñānānantyāyatana): Trụ xứ của người tu vô biên vô tế tâm thức quán, chán ĺa vật chất ngăn ngại của cảnh giới bên ngoài.

3) Vô Sở Hữu Xứ Thiên (Ākiṃcanyāyatana): Đă phủ định cảnh giới bên ngoài, lại c̣n phủ định tâm thức trong nội tâm, tư duy hết thảy các thứ trong ngoài đều vô sở hữu, tu Vô Sở Hữu Quán.

4) Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên (Naivasaṃjñānāsaṃjñāyatana): Đây là cảnh giới cực tịnh cực diệu của người tu Không Thiền. Do chẳng có hết thảy các thứ thô tưởng nên gọi là Phi Tưởng. Do vẫn c̣n có tế tưởng, nên gọi là Phi Phi Tưởng.

[3] Đây là một công án trong Bích Nham Lục, công án chín mươi chín: “Túc Tông hoàng đế hỏi Trung quốc sư: ‘Mười thân điều ngự là như thế nào?’ Quốc sư nói: ‘Đàn việt đạp lên đỉnh đầu Tỳ Lô mà đi’. Vua nói: ‘Quả nhân chẳng hiểu’. Quốc sư đáp: ‘Đừng chấp nhận Pháp Thân thanh tịnh của chính ḿnh”. Tỳ Lô tức là Tỳ Lô Giá Na Phật, tức thanh tịnh Pháp Thân của mười phương chư Phật. Lời của Huệ Trung quốc sư nhằm khuyên nhà vua trực tiếp thấy Pháp Thân thanh tịnh của chính ḿnh, đừng chấp trước vào danh tướng. Sau này, từ ngữ “Tỳ Lô đảnh” thường dùng để chỉ người đă chứng nhập Pháp Thân nơi tự tánh. Như trong Đại Huệ Phổ Thuyết có viết: “Cao bộ Tỳ Lô đảnh, bất bẩm Thích Ca Văn” (bước cao lên đỉnh Tỳ Lô, chẳng noi theo lối của ngài Thích Ca).  

[4] “Nhập khám” (入龕) chính là nghi thức khâm liệm, đặt xác chết vào trong quan tài.

[5] Gọi là “đại liệm” (大殮) nhằm phân biệt với “tiểu liệm”. Theo cổ tục, tùy theo thân phận mà thời gian từ khi chết đến khi cử hành tiểu liệm sẽ dài ngắn khác nhau. B́nh dân th́ qua hôm sau sẽ tiểu liệm, quư tộc th́ sau khi chết năm ngày mới tiểu liệm, hoàng đế th́ chờ bảy ngày. Khi tiểu liệm th́ dùng vải liệm bọc kín thân thể, phải bọc đầu trước, sau đó mới đặt vào trong quan tài. Khi đặt vào quan tài, con cả nâng đầu, phải đưa chân vào quan tài trước. Sau khi đặt vào quan tài, sẽ bỏ các h́nh nhân bằng giấy làm người hầu, đặt kính hộ tâm, bảy đóa hoa sen, đắp mền liệm, các thứ bùa trừ tà, bùa trấn ếm trùng tang v.v… Sau đó, đậy nắp quan tài, nhưng chưa đóng đinh. Đại Liệm tức là nghi thức hoàn toàn đóng đinh phong kín quan tài. Nghi thức này chỉ cử hành khi con cháu về đủ, gia quyến và thân hữu nh́n mặt người chết lần cuối trước khi đóng đinh. Có một số vùng tại Trung Hoa, gia quyến c̣n mời người đức cao trọng vọng hay trưởng bối trong họ đến đóng tượng trưng một hai cái đinh trước khi âm công (đạo tỳ) thật sự đóng đinh. Theo diễn biến thời gian, hiện thời, Tiểu Liệm được hiểu là tắm rửa, thay áo, đắp khăn che mặt người chết, đeo bao tay và bao chân, bó chặt ống quần của người chết, c̣n Đại Liệm chính là đặt xác vào trong quan tài và phong kín ngay trong ngày hôm ấy. Tại Hoa Lục, vẫn c̣n cử hành nghi thức mời người đức cao trọng vọng đóng đinh trước khi đưa đi chôn hay hỏa táng, nhưng chuyện đóng đinh khi đó chỉ mang tính cách tượng trưng.

[6] Đồ điệt (徒侄): Học tṛ của sư huynh hay sư đệ của một vị thầy.

[7] Phổ Đà có ba ngôi chùa chính là Phổ Tế, Pháp Vũ, và Huệ Tế. Phổ Tế được gọi là Tiền Tự (chùa trước), được xây dựng trong niên hiệu Nguyên Phong (1078-1085) đời Tống, là ngôi chùa lớn nhất, có quy mô rất lớn. Thường được mô tả là “ngũ bộ nhất lâu, thập bộ nhất các” (năm bước là một lầu, mười bước là một gác). Điện Đại Viên Thông là chánh điện của chùa này, trong điện thờ tượng Tỳ Lô Quán Âm cao 8,8 mét, hai bên là tượng ba mươi ứng thân của Quán Âm đại sĩ. Chùa Pháp Vũ gọi là Hậu Tự, thoạt đầu có tên là Hải Triều Am, xây dựng vào năm 38 đời Khang Hy (1699), được triều đ́nh ban biển ngạch là Thiên Hoa Pháp Vũ, điện Phật là do toàn thể điện thờ từ cố cung nhà Minh ở Nam Kinh chuyển sang. Chùa Huệ Tế ở cao nhất trên Phổ Đà Sơn, c̣n có tên gọi là Phật Đảnh Sơn Tự. Kiến trúc của chùa khác hẳn quy củ của các tùng lâm v́ sau điện Thiên Vương, các ṭa Đại Hùng Bảo Điện, Đại Bi Điện, Ngọc Hoàng Điện, Phương Trượng Thất v.v… đều nằm thành một hàng. Chánh điện là Đại Hùng Bảo Điện thờ Phật Thích Ca, Đại Bi Điện ở bên trái thờ tượng Quán Âm có từ đời Đường (đây là bức tượng cổ nhất ở Phổ Đà Sơn).

[8][8] Hóa Thân Quật ở đây là cái hang núi dùng để tạm chứa quan tài, chờ hỏa thiêu.

[9] Nguyên văn “thố quan” (厝棺), tức là quan tài chưa chôn, c̣n để quàn tại đó. Tục lệ xưa của Trung Hoa là quan tài của người đă chết thường phải đưa về cố hương an táng. Nếu do chưa đủ chi phí, hoặc v́ một lư do nào đó chưa thể đưa về chôn tại quê nhà (chẳng hạn chưa t́m được cuộc đất tốt đẹp, hay mẹ góa, con thơ không thể tự ḿnh đưa quan tài về quê, hay gặp lúc loạn lạc), người ta sẽ lập một gian nhà tạm (thường gọi là “thố ốc” tức nhà tạm) quàn quan tài tại đó, chờ đến khi thuận tiện sẽ đưa về quê chôn. Đôi khi họ gởi vào các chùa chiền hay đạo quán để quàn tại đó. Riêng tại tỉnh Sơn Đông, có tục lệ không cho chôn ngay, phải quàn quan tài ba năm rồi mới chánh thức cử hành chôn cất.

[10] Đề từ (題辭) là một thể loại văn chương thời cổ, nhằm mục đích nhắn nhủ độc giả ư nghĩa chánh yếu trong một tác phẩm và tán dương tác dụng của sách ấy. Đề từ thường đặt ở đầu sách, trước lời tựa vừa có tác dụng giới thiệu, vừa nâng cao giá trị của tác phẩm.

[11] Chân thuyên (真詮): Lời nói, lời giảng giải chân thật.

[12] Đây là một câu nói gây khá nhiều tranh căi, thậm chí có người c̣n đi quá xa, cho rằng Khổng Tử tán thành phong tục tuẫn táng (chôn người sống bồi táng người đă chết). “Dũng” () chính là tượng người bằng đất nung, hoặc khắc bằng đá, thường dùng để chôn theo trong mộ các quư tộc. Như trong mộ Tần Thủy Hoàng có mấy ngàn tượng bằng đất nung, to bằng người thật, mặc giáp trụ để tượng trưng quân sĩ của nhà vua. Đa số các nhà chú giải cho rằng khi nói lời này Khổng Tử có dụng ư phê phán thói xa xỉ khi chết, hàng quư tộc thường tạo lăng mộ xa hoa, làm rất nhiều tượng thế thân cho người hầu, gia nô, quân sĩ chôn theo, lăng phí vô ích. Khổng Tử nói kẻ đề ra cái thói tuẫn táng hoặc dùng tượng h́nh người để bồi táng đều chẳng thể tốt lành được, gia tộc đó sẽ suy bại!

[13] Tả Truyện có tên gọi đầy đủ là Xuân Thu Tả Thị Truyện, hoặc Xuân Thu Nội Truyện. Đây là một bộ sử chép theo lối biên niên, ghi chép lịch sử các nước tại Trung Nguyên (phần b́nh nguyên rộng lớn nằm trong lưu vực Hoàng Hà, thuộc mạn Bắc của sông Dương Tử) trong thời Xuân Thu. Sách này được xếp vào Thập Tam Kinh bắt buộc phải học của Nho sĩ. Sách này được coi là tác phẩm do Tả Khâu Minh biên soạn (tuy vẫn có nhiều ư kiến tranh luận ai mới là tác giả thật sự) nhằm chú giải kinh Xuân Thu.

[14] Khuê Phạm là do Lữ Khôn biên soạn vào đời Minh, bao gồm các lời dạy về nữ đức của các bậc tiên triết và các tấm gương hiền phụ, hiền nữ, hiền mẫu, kèm thêm các h́nh vẽ minh họa, cho nên c̣n gọi là Khuê Phạm Đồ Thuyết. Năm Vạn Lịch 22 (1595), Trịnh quư phi đọc sách này, bèn nhờ bác là Trịnh Thừa Ân và anh là Trịnh Quốc Thái soạn thêm phần Hậu Phi, cộng thêm mười bảy tấm gương phụ nữ hiền thục trong chốn hậu cung.

[15] Cung Nhân (恭人) có nghĩa là người có đức hạnh khiêm cung. Đây là một danh vị được triều đ́nh sắc phong cho chánh thất (vợ cả) của các quan. Vào đời Minh – Thanh, đă có quy định cáo phong (cáo mạng sắc phong, 誥命敕葑) cho vợ các quan có công trạng hoặc hiền lương theo quy chế sau: Quan nhất phẩm th́ vợ được phong là phu nhân (夫人, thường gọi là nhất phẩm phu nhân), nhị phẩm cũng là phu nhân, tam phẩm là thục nhân (淑人), tứ phẩm là cung nhân, ngũ phẩm là nghi nhân (宜人), lục phẩm là an nhân (安人), từ thất phẩm trở xuống đều gọi là nhụ nhân (孺人). Các bà đă được phong danh tước như vậy đều gọi là mạng phụ (命婦, mệnh phụ). Theo lệ xưa, khi nói về tên họ của phụ nữ, thường gọi tên họ chồng trước họ của ḿnh. Ở đây, bà Nhậm là vợ của ông Châu, mẹ của Châu Điều Sanh và Châu Cát Sanh, nên gọi là Châu mẫu Nhậm thái cung nhân, tức là chồng bà ta đă từng làm quan tứ phẩm dưới đời Thanh.

[16] Bố mẹ ruột.

[17] Hai bà phi Hữu Ngu tức là hai người con gái của vua Nghiêu, chị tên là Nga Hoàng, em tên Nữ Anh. Hai bà lấy vua Thuấn, cùng được tôn xưng là bậc hiền thục giúp chồng trị quốc. Hữu Ngu tức là vua Thuấn, v́ vua Thuấn thuộc bộ tộc Hữu Ngu Thị, sống ở đất Ngu (nay là huyện Ngu Thành, thành phố Thương Khâu, tỉnh Hà Nam). V́ thế, vua Thuấn thường gọi là Ngu Thuấn.

[18] Tham tán (參贊): Tham gia giúp cho thành tựu. Ở đây ư nói bậc hiền nhân đă góp phần khiến cho sự dưỡng dục của trời đất đối với nhân loại và muôn vật được thành tựu.

[19] Đường Ngu tức là thời Nghiêu Thuấn. Do vua Nghiêu thuộc bộ tộc Đào Đường Thị nên thường gọi là Đường Nghiêu (Đạo giáo tôn xưng vị vua này là Thiên Quan Đại Đế, và lấy ngày Rằm tháng Giêng làm khánh đản, c̣n gọi là lễ Thượng Nguyên), c̣n vua Thuấn thuộc bộ tộc Hữu Ngu Thị nên thường gọi là Ngu Thuấn. Vị vua này được Đạo giáo tôn xưng là Địa Quan Đại Đế, chưởng quản Ngũ Nhạc Đại Đế (khánh đản là ngày Rằm tháng Bảy, c̣n gọi là lễ Trung Nguyên), c̣n vua Đại Vũ th́ được tôn xưng là Thủy Quan Đại Đế (khánh đản vào Rằm tháng Mười, tức lễ Hạ Nguyên). Tuy thế, có thuyết lại nói ba vị này do là Tam Thanh (Nguyên Thủy Thượng Thanh, Linh Bảo Ngọc Thanh, và Đạo Đức Thái Thanh tức Lăo Tử) hóa ra. Vào các ngày lễ này, theo cổ tục, nhất là ngày Trung Nguyên, người Hoa sát sanh cúng tế tổ tiên rất nhiều. Nhằm khuyến thiện và hạn chế người dân sát sanh, cũng như căn cứ theo thời tiết tại Trung Hoa, chư Tổ đă đổi ngày Trung Nguyên thành ngày Giải Hạ (sau ba tháng An Cư Kết Hạ) và biến ngày Rằm Trung Nguyên thành ngày Vu Lan Thắng Hội để chúng sanh kiêng giết, phóng sanh, gieo phước, tụng niệm ḥng siêu độ tổ tiên. Trong khi đó, Phật giáo Nam Truyền tuân theo quy chế tại Ấn Độ, sẽ kết hạ vào tháng Sáu và giải hạ vào tháng Chín (tức ngày dâng y Kathina).

[20] Quần manh (羣萌, bahu-jana) chỉ dân chúng, trăm họ. Hiểu theo nghĩa rộng là tất cả chúng sanh, c̣n gọi là quần sanh, tức chúng sanh. “Manh” là mầm mộng. Gọi chúng sanh là “quần manh” nhằm diễn tả ư nghĩa: Tất cả chúng sanh đều có chủng tử đạo tâm, nhưng bị vô minh che lấp, giống như cái mầm ẩn kín trong tạng thức.

[21] Chỗ này chắc người biên tập viết nhầm. V́ đoạn trên nói rơ cô Quân Can ngă bệnh, tọa thoát trong khoảng tháng Năm năm Dân Quốc 15 th́ làm sao ông Mă Kỳ Sưởng kể chuyện này cho ông Lư Mộc nghe vào năm Dân Quốc thứ mười được!

[22] Ở đây, thời gian cũng bị nhầm lẫn v́ lỗi của người biên tập. Theo niên phổ của Ấn Quang đại sư, sau khi thọ Cụ Túc Giới với Ấn Hải Định Luật Sư vào năm 1882, tức năm Quang Tự thứ tám, Tổ tiềm tu tại Thái Ất Sơn măi cho đến năm Quang Tự 12 (1886) mới đến chùa Tư Phước núi Hồng Loa. Năm Quang Tự 16 (1890), Ngài đến chùa Long Tuyền ở Bắc Kinh quải đơn, và gặp ḥa thượng Hóa Văn lên Bắc Kinh thỉnh Đại Tạng, được ngài Hóa Văn tin tưởng, giao phó trông coi chuyện ấn hành Đại Tạng cho chùa Pháp Vũ. Năm Quang Tự 19 (1893), Tổ theo ngài Hóa Văn về ẩn cư tại Tàng Kinh Các chùa Pháp Vũ ở Phổ Đà. Như vậy chuyện Ngài đến triều bái Ngũ Đài không thể nào xảy ra vào năm Quang Tự thứ mười được, chỉ có thể sớm nhất là vào năm Quang Tự 12 và trễ nhất là đầu năm Quang Tự 16, trước khi đứng trông coi ấn loát Đại Tạng Kinh! Cũng như chuyện vị Sư bị dân đói đập đầu không thể xảy ra vào năm Quang Tự 23 (1897) được, phải sớm hơn trước đó rất nhiều.

[23] Đào Châu tức là Đào Châu Công. Phạm Lăi sau khi giúp Câu Tiễn diệt Ngô khôi phục nước Việt thành công, thấy Câu Tiễn là kẻ tướng cổ dài, miệng chúm như mỏ chim, tức là người hẹp ḥi, đa nghi, bạc ác, không thể cùng hưởng vinh quang, ông bèn lén gởi thư nhắn đại phu Văn Chủng hăy từ quan bỏ nước ra đi, rồi đem Tây Thi trốn sang nước Tề. Văn Chủng không nghe, quả nhiên về sau bị Câu Tiễn kiếm cớ gán tội, bắt tự tử chết. Đến đất Tề, Phạm Lăi đổi tên là Chi Di Tử B́, sống ở vùng đất hoang ven biển, tận lực canh tác và buôn bán, trở thành một người giàu nhất thời ấy. Do bị vua Tề ép làm Tướng Quốc, Phạm Lăi bèn từ chối, lại đem chia hết tài sản cho người khác và những người trong vùng, trốn sang đất Đào (nay thuộc huyện Định Đào, tỉnh Sơn Tây), tự xưng là Đào Châu Công, kinh doanh lần nữa, trở thành bậc cự phú. Do vậy, người Hoa thờ ông làm thần Tài, gọi là Văn Tài Thần, c̣n Vơ Tài Thần là Triệu Công Minh hoặc Quan Công. Tuy thế, trong niềm tin dân gian của Trung Hoa, có rất nhiều vị Văn Tài Thần, chẳng hạn như Tỷ Can (chú Trụ Vương) được Đạo giáo tôn là Thủ Tài Chân Quân, Lư Quỷ Tổ được tôn là Tăng Phước Chân Quân, Đoan Mộc Tứ (tức Tử Cống, học tṛ của Khổng Tử) do khéo kinh doanh cũng được tôn là Tài Thần v.v…

[24] Chánh Tự Thông là tác phẩm do Trương Tự Liệt soạn vào cuối đời Minh, thuộc thể loại từ điển, thâu thập hơn ba vạn chữ Hán, giải thích ư nghĩa cặn kẽ từng từ, trích dẫn nhiều tài liệu để chứng minh ư nghĩa.