Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 1

 

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

Thay lời dẫn nhập

 

          Sau khi được đọc Di Đà Sớ Sao của Liên Trì đại sư qua bản dịch của hòa thượng Hành Trụ, mạt nhân đã rất ngưỡng mộ kiến thức siêu tuyệt của tổ Liên Trì và ước mong được đọc đầy đủ các trước tác của Ngài. Sau này, khi được đọc và chuyển ngữ bộ Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa qua lời giảng giải của lão pháp sư Tịnh Không, mạt nhân càng ngưỡng mộ và cảm phục trí huệ uyên bác, lòng từ bi sâu thẳm của Tổ hơn. Như một duyên lành, khi tìm các bản trước tác của Tổ trên Internet, mạt nhân đã tìm thấy bản Vân Thê Pháp Vựng này từ trang CBETA, chẳng nề hà bản thân kém cỏi, kiến thức nhấp nhem, chỉ mong chia sẻ với những ai kém cỏi như chính mình pháp nhũ của một bậc nhục thân Bồ Tát, hòng làm tư lương để bồi đắp tín tâm kiên cố trên con đường tu tập Tịnh Độ vì dường như từ trước đến nay, chưa có vị thiện tri thức nào dịch toàn vẹn bộ này. Văn chương của Tổ súc tích, bao quát khá nhiều chủ đề, với trình độ thấp kém của mạt nhân, chắc chắn không tránh khỏi phạm phải những sai lầm khó thể tha thứ được. Ngưỡng mong các bậc cao minh niệm tình rộng dung cho kẻ ngu muội vì lòng tiếc pháp mà bon chen làm chuyện quá sức mình.

Trong tác phẩm này, trong quyển thứ nhất, Tổ san định hai thời công phu thường dùng trong Phật môn, đối với những phần kinh văn đã phổ biến, chúng tôi xin phép không chuyển ngữ, chỉ ra nêu tựa đề và ghi chú là “tỉnh lược”, chỉ chuyển ngữ những bài hơi sai khác so với bản kinh nhật tụng đang lưu hành hiện thời, hoặc ít phổ biến, hoặc chưa dịch nghĩa trong thời khóa, cũng như những lời nhận định của Tổ. Quyển thứ hai bao gồm phần Cụ Túc Giới và Thức Xoa Ma Na Giới, xin được phép lược đi không dịch vì hàng cư sĩ không cần đi sâu vào giới luật của người xuất gia. Chỉ mong Tam Bảo từ bi gia hộ khiến cho con không hiểu sai ý Tổ đến nỗi xuyên tạc giáo nghĩa, khiến cho chính mình lầm lạc, người khác lầm theo. Nếu vì sự u mê của con khiến cho người khác xem đến liền báng bổ giáo nghĩa Tịnh Độ, phê phán tổ sư, thì xin chỉ mình con hứng chịu tội lỗi ấy, không khiến cho người gièm báng bị đọa lạc theo.

 

1. Chư kinh nhật tụng tập yếu (諸經日誦集要)

1.1. Lời tựa khắc in lại Chư Kinh Nhật Tụng

 

 Ông Hạng ở Gia Hòa trước kia đã đem một trăm lẻ tám loại kinh của phường bổn[1] đến Vân Thê, bảo đấy là các kinh do tăng, ni, đạo, tục sáng tối trì tụng, nhưng [ông ta xét thấy các bản ấy] chân, ngụy xen tạp, khiến cho người hiểu biết chê cười, mong tôi hãy phân định chánh xác để làm khuôn mẫu cho hàng sơ học. Tôi dựa theo bản ấy, cân nhắc, sắp xếp, loại trừ, bỏ ngụy giữ lấy chân. Lại còn giở xem kinh luật và các trước tác của các vị xưa nay, chọn lấy một, hai điều gần gũi nhất để thêm vào. Vừa hoàn thành bản thảo, chưa giảo duyệt, đã giao cho ông Hạng. Ông Hạng liền đem giao cho thợ khắc, mà ông Hứa ở cùng ấp liền cho ấn hành. Gần đây, tôi xem lại, thấy khá nhiều chỗ sai lầm, bèn giảo chánh, sửa chữa lần nữa, cho khắc riêng theo lối phương sách[2]. Mộc bản cất trong núi Vân Thê ngõ hầu bản hoàn thiện được lưu truyền, rốt cuộc thành tựu điều tốt đẹp cho hai ông. Những người xem hai bản khắc trước đó của hai ông, hãy nên lấy bản dưới đây để làm căn cứ.

          Ngày Rằm tháng Mười năm Vạn Lịch 28 (1600), tức năm Canh Tý, Vân Thê Châu Hoằng ghi.

 

1.2. Chư Kinh Tập Yếu (nội dung)

 

          Hỏi: Trong bản khắc cũ, Tâm Kinh, Kim Cang, Quán Âm, kinh Di Đà v.v… được xếp lên đầu, nay sao chẳng giống như vậy?

          Đáp: Vì muốn gom các kinh chú dùng trong khóa tụng sáng tối vào một chỗ hòng thuận tiện cho kẻ sơ học phúng tụng theo đại chúng, thứ tự phân minh. Hơn nữa, các kinh như Kim Cang v..v… được ấn hành bản lưu hành riêng chẳng biết nổi số lượng, đầy khắp thế gian, chẳng cần phải mất công đưa thêm vào đây. Hơn nữa, nguyên văn của các kinh đại đa số đều đã được khắc in riêng, lưu truyền rộng rãi. Nay chỉ trích yếu nhằm thuận tiện cho kẻ sơ học.

 

1.2.1. Tổng tập

 

          Gọi là Tổng Tập là vì trong phần Biệt Tập đã chia thành từng loại như kinh văn, chú văn, tạp văn. Ở đây, [gom chung các kinh chú sử dụng] để thuận tiện cho [việc tụng niệm] trong sáng tối giống như dệt gấm, cho nên gọi là Tổng.

 

1.2.1.1. Khóa tụng buổi sáng

* Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Chú (tỉnh lược)

* Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni

(千手千眼無礙大悲心陀羅尼)

 

          Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất cát lật đỏa, y mông a rị da, Bà lô cát đế, thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn tŕ, hê rị ma ha bàn đá sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đá, na ma bà tát đá, na ma bà già, ma phạt đặc đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca la đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la, địa rị ni, thất phật ra da, giá ra giá ra. Ma ma phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, sa ra sa ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn tŕ, địa rị sắt ni na, bà dạ ma na sa bà ha, tất đà dạ sa bà ha. Ma ha tất đà dạ sa bà ha. Tất đà dụ nghệ thất bàn ra da sa bà ha. Na ra cẩn tŕ sa bà ha. Ma ra na ra sa bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, sa bà ha. Sa bà ma ha, a tất đà dạ sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ sa bà ha. Na ra cẩn tŕ bàn già ra dạ sa bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da bà la cát đế thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà da, sa bà ha[3].

南無喝囉怛那哆囉夜耶南無阿唎耶婆盧羯帝爍缽囉耶菩提薩埵婆耶摩訶薩埵婆耶摩訶迦盧尼迦耶薩皤囉罰曳數怛那怛寫南無悉吉伊蒙阿唎耶婆盧吉帝室佛囉楞馱婆南無那囉謹墀醯唎摩訶皤哆沙咩薩婆阿他豆輸朋阿逝孕薩婆薩哆那摩婆薩哆那摩婆伽摩罰特豆怛姪他阿婆盧醯盧迦帝迦羅帝夷醯唎摩訶菩提薩埵薩婆薩婆摩囉摩囉摩醯摩醯 唎馱孕俱盧俱盧羯蒙度盧度盧罰闍耶帝摩訶罰闍耶帝陀羅陀羅地唎尼室佛囉耶遮囉遮囉麼麼罰摩囉穆帝隸伊醯伊醯室那室那阿囉嘇佛囉舍利罰沙罰嘇佛囉舍耶呼盧呼盧摩囉呼盧呼盧醯利娑囉娑囉悉唎悉唎蘇嚧蘇嚧菩提夜菩提夜菩馱夜菩馱夜彌帝唎夜那囉謹墀地利瑟尼那婆夜摩那 娑婆訶悉陀夜娑婆訶摩訶悉陀夜娑婆訶悉陀喻藝室皤囉耶 娑婆訶那囉謹墀娑婆訶摩囉那囉娑婆訶悉囉僧阿穆佉耶娑婆訶娑婆摩訶阿悉陀夜娑婆訶者吉囉阿悉陀夜娑婆訶波陀摩羯悉陀夜娑婆訶那囉謹墀皤伽囉耶娑婆訶摩婆利勝羯囉夜娑婆訶南無喝囉怛那哆囉夜耶南無阿利耶婆羅吉帝爍皤囉夜娑婆訶悉殿都漫多囉跋陀耶娑婆訶

 

          Cuối bài chú này [trong bản của ông Hạng] có ba câu “kim cang thắng trang nghiêm, sa bà ha. Ma yết thắng trang nghiêm, sa bà ha. Án, bạt xà ra, thất rị duệ sa bà ha” (金剛勝莊嚴娑婆訶,摩羯勝莊嚴娑婆訶,唵跋闍囉,室利曳,娑婆訶), trong cổ bản không có, chẳng biết do ai thêm vào, không cần niệm cũng được.

 

* Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni (如意寶輪王陀羅尼)

 

          Nam mô Phật Đà da, nam mô Đạt Ma da, nam mô Tăng Già da, nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát cụ đại bi tâm giả, đát điệt tha: Án, chước yết ra phạt để, chấn đa mạt ni, ma ha bát đắng mế, rô rô rô rô, để sắt tra thước ra a yết rị, sa dạ hồng phấn sa ha. Án, bát đạp ma, chấn đa mạt ni, thước ra hồng. Án, bát lạt đà, bát đản mế hồng.

南無佛陀耶,南無達摩耶,南無僧伽耶,南無觀自在菩薩摩訶薩具大悲心者,怛姪他,,斫揭囉伐底,震多末尼,摩訶缽蹬謎,嚕嚕嚕嚕,底瑟吒爍囉,阿揭利沙夜吽癹莎訶,缽蹋摩,震多末尼,爍囉吽,缽剌陀,缽亶謎吽

 

* Tiêu Tai Cát Tường Thần Chú (消災吉祥神咒)

 

          Nẵng tam măn đá, mẫu đà nẫm, a bát ra để, hạ đa xá, sa nẵng nẫm, đát điệt tha. Án, khư khư, khư hế, khư hế, hồng hồng nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắt sá, để sắt sá, sắt trí rị, sắt trí rị, sa phấn tra, sa phấn tra, phiến để ca, thất rị duệ, sa phạ ha.

曩謨三滿哆,母馱喃,阿缽囉底,賀多舍,娑曩喃怛姪他,佉佉佉呬,佉呬,吽吽入嚩囉,入嚩囉,缽囉入嚩囉,缽囉入嚩囉.底瑟奼,底瑟奼,瑟致哩,瑟致哩,娑癹吒,娑癹吒扇底迦,室哩曳娑嚩訶

 

* Công Đức Bảo Sơn Thần Chú (功德寶山神咒)

 

          Nam mô Phật-đà-da, nam mô Đạt-ma-da, nam mô Tăng-già-da, án, tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, cát rị bà, tất đạt rị, bố rô rị, sa phạ ha.

          南無佛陀耶南無達磨耶南無僧伽耶悉帝護嚕嚕悉都嚕只利波吉利婆悉達哩布嚕哩娑嚩訶

 

* Phật Mẫu Chuẩn Đề Thần Chú (佛母準提神咒)

 

          Khể thủ quy y Tô Tất Đế, đầu diện đảnh lễ Thất Câu Chi, ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam mô tát đá nẫm, tam miệu tam bồ đề, câu chi nẫm, đát điệt tha: Án, chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, sa bà ha.

          稽首皈依蘇悉帝。頭面頂禮七俱胝。我今稱讚大準提。惟願慈悲垂加護。南無薩哆喃三藐三菩陀俱胝喃怛姪他折隸主隸準提娑婆訶

 

* Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Đà Ra Ni

(聖無量壽決定光明王陀羅尼)

 

          Án, nại ma ba cát ngõa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nễ thật chấp đạp, điệp tả ra tể dã. Đát tháp cả đạt dã, a ra hát đế, tam dược tam bất đạt dã, đát dã tháp[4]: Án, tát rị ba tang tư cát rị, bát rị thuật đạp, đạt ra mã đế, cả cả nại, tang mã ngột cả đế, sa ba ngõa tỷ thuật đế, mã hát nại dã bát rị ngõa rị, sa hát.

          唵捺摩巴葛瓦帝阿巴囉密沓阿優哩阿納蘇必你實執沓牒左囉宰也怛塔哿達也阿囉訶帝三藥三不達也怛也塔薩哩巴桑斯葛哩叭哩述沓達囉馬帝哿哿捺桑馬兀哿帝莎巴瓦比述帝馬喝捺也叭哩瓦哩莎喝

 

* Dược Sư Quán Đảnh Chân Ngôn (藥師灌頂真言)

 

 Nam mô bạc già phạt đế, bệ sát xã, củ rô bệ lưu ly, bát lạt bà, hát ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hát đế, tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha: Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế, sa ha.

南無薄伽伐帝鞞殺社窶嚕薜琉璃缽剌婆喝囉闍也怛他揭多耶阿囉喝帝三藐三勃陀耶怛姪他鞞殺逝鞞殺逝鞞殺社三沒揭帝莎訶

 

* Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn (觀音靈感真言)

 

Án, ma ni bát di hồng, ma hạt nghê nha nạp, tích đô đặc ba đạt, tích đặc ta nạp, vi đạt rị cát tát. Nhi oát nhi tháp, bốc rị tất tháp. Cát nạp bổ ra nạp, nạp bốc rị, đâu thắc ban nạp, na ma rô cát thuyết ra da, sa ha.

嘛呢叭𡄣麻曷倪牙納積都特巴達積特些納微達哩葛薩而斡而塔卜哩悉塔葛納補囉納納卜哩丟忒班納哪麻嚧吉說囉耶莎訶

 

* Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn (七佛滅罪真言)

 

          Ly bà, ly bà đế, cầu ha, cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nễ đế, ma ha già đế, chân lăng càn đế, sa bà ha.

          離婆離婆帝求訶求訶帝陀羅尼帝尼訶囉帝毘黎你帝摩訶伽帝真陵乾帝莎婆訶

 

          Hỏi: Ở đây, [trong bản cũ] có Giải Oan Thích Kết Chú[5], sao không trích lục?

          Đáp: [Chú ấy] tiếng Hoa, tiếng Phạn xen tạp, không có chú thể. Lại chẳng có xuất xứ, nên tôi bỏ đi.

 

* Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú - 往生淨土神咒 (tỉnh lược)

 

* Thiện Thiên Nữ Chú (善天女咒)

 

          Nam mô Phật Đà, nam mô Đạt Ma, nam mô Tăng Già. Nam mô thất rị ma ha đề tỵ da, đát nễ dã tha: Ba rị phú lâu na giá rị, tam mạn đà đạt xá ni, ma ha tỳ ha la già dế, tam mạn đà tỳ ni già đế, ma ha ca rị dã. Ba nễ ba ra ba nễ. Tát rị phạ lật tha. Tam mạn đà tu bát lê đế. Phú lệ na. A lợi na. Đạt ma đế. Ma ha tỳ cổ tất đế. Ma ha di lặc đế. Lâu bá tăng kỳ đế, hê đế sỉ. Tăng kỳ hê đế, tam mạn đà a tha. A nậu bà la ni.

南無佛陀南無達摩南無僧伽南無室利摩訶提鼻耶怛你也他波利富樓那遮利三曼陀達舍尼摩訶毘訶羅伽帝三曼陀毘尼伽帝摩訶迦利野波禰波囉波禰薩利栗他三曼陀修缽黎帝富隸那阿利那達摩帝摩訶毘鼓畢帝摩訶彌勒帝婁簸僧祗帝醯帝簁僧祗醯帝三曼陀阿他婆羅尼

 

Hỏi: Chú Phổ Am[6] và Nhị Phật Chú[7] vì sao không ghi?

          Đáp: Chân ngôn là lời nói của Phật, Bồ Tát. Phổ Am là cao tăng đời sau, không có lý nào nói chú. Nhị Phật Chú thì tiếng Hoa tiếng Phạn xen tạp, văn từ quê kệch, đều nên lược bỏ.

 

* Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - 般若波羅蜜多心經 (tỉnh lược)

 

          Hỏi: Bản cũ có hai chữ Ma Ha vì sao lại bỏ đi?

          Đáp: Cổ bản vốn chẳng có. Trong tám bộ Bát Nhã[8], riêng có bộ Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh ba mươi quyển, được gọi là Đại Phẩm Bát Nhã.

 

* Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa (摩訶般若波羅蜜多,ba lần – Nếu là nghi thức Chúc Thánh thì liền đọc tiếp theo ngay sau câu này).

 

          Dĩ thử kinh chú công đức, hồi hướng Tam Bảo long thiên, tam giới nhạc độc linh thông, thủ hộ già lam chân tể. Kỳ phước bảo an bình thiện. Trang nghiêm hữu vị tiên vong. Phổ nguyện pháp giới chúng sanh, cộng nhập Tỳ Lô tánh hải.

以此經咒功德回向三寶龍天三界嶽瀆靈聰守護伽藍真宰祈福保安平善莊嚴有位先亡普願法界眾生共入毘盧性海

          (Đem công đức của kinh chú này, hồi hướng Tam Bảo, trời, rồng, các vị linh thông trong thế giới, các vị thánh hiền chân thật thủ hộ già-lam. Mong cầu ban phước giữ gìn an ổn, bình yên, tốt lành, trang nghiêm các vị đã mất có bài vị. Nguyện khắp chúng sanh trong pháp giới cùng vào trong biển tánh Tỳ Lô).

 

* Niệm Phật kệ (tỉnh lược)

 

          Nam mô Tây Phương Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.

Hỏi: Bản cũ có chữ “tam thập lục vạn ức” [trước danh hiệu A Di Đà Phật], sao nay không ghi?

Đáp: Tương truyền đấy là do đức Phật dạy một cụ già niệm Phật để niệm ít mà công nhiều, nhưng khảo cứu trong Đại Tạng chẳng thấy. Nếu cho rằng niệm ít công nhiều, sao không dùng “số bằng hằng sa A-tăng-kỳ” sẽ càng nhiều hơn ư? Hơn nữa, ngài Bách Trượng dạy nghi thức niệm Phật cho vị tăng bị bệnh hay đã mất, đều giống như kinh văn trên đây, chẳng có từ ngữ “tam thập lục” v.v…

          Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát.

          Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát.

Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (mỗi danh xưng mười lượt).

 

* Hồi hướng văn - 回向文 (sẽ chép đầy đủ trong phần Biệt Tập)

 

          Người thích đơn giản thì dùng bài Tiểu Tịnh Độ Văn của ngài Từ Vân. Người thích tường tận thì dùng bài Tân Định Tây Phương Nguyện Văn.

 

1.2.1.2. Khóa tụng buổi tối

 

* Phật Thuyết A Di Đà Kinh - 說阿彌陀 (tỉnh lược)

 

Hỏi: Bản hiện thời sau “nhất tâm bất loạn” có thêm bốn câu “chuyên trì danh hiệu”, nay sao chẳng dùng?

          Đáp: Tương truyền bản kinh khắc trên đá tại Tương Dương có đoạn ấy, nhưng xét kỹ, nghĩa lý chẳng thông, đoạn trước và đoạn sau không phù hợp, chắc là lời của người chú giải kinh vậy, loại bỏ là đúng!

 

* Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni

(拔一切業障根本得生淨土陀羅尼)

         

Tức Vãng Sanh Chú, xem trong đoạn trước.

 

* Sám Hối Văn - 懺悔文 (tức Hồng Danh Bảo Sám, tỉnh lược)

 

* Mông Sơn Thí Thực Nghi (蒙山施食儀)[9]

 

          Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật. Ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo.

若人欲了知三世一切佛,應觀法界性,一切惟心造。

(Nếu ai muốn biết rõ, ba đời hết thảy Phật. Nên quán tánh pháp giới, hết thảy chỉ tâm tạo).

          (Từ đây, trở đi mỗi bài đều đọc ba lượt).

          Án, già la đế da, sa bà ha (chân ngôn phá địa ngục).

          ,伽羅帝耶,娑婆訶

          Nam mô bộ bộ dế rị già rị đá, rị đát đá nga đá da (chân ngôn phổ triệu thỉnh).

          南無部部帝唎伽哩哆哩怛哆誐哆耶

          Án, tam đà ra già đà, sa bà ha (chân ngôn giải oan kết).

          ,三陀囉伽陀,娑婆訶

 Nam mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.

 Nam mô thường trụ thập phương Phật.

Nam mô thường trụ thập phương Pháp.

Nam mô thường trụ thập phương Tăng.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát.

Nam mô Minh Dương Cứu Khổ Địa Tạng Vương Bồ Tát.

Nam mô Khải Giáo A Nan Đà tôn giả.

南無大方廣佛華嚴經

南無常住十方佛

南無常住十方法

南無常住十方僧

南無本師釋迦牟尼佛

南無大悲觀世音菩薩

南無冥陽救苦地藏王菩薩

南無啟教阿難陀尊者

Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Quy y Phật lưỡng túc tôn. Quy y Pháp ly dục tôn. Quy y Tăng chúng trung tôn. Quy y Phật cánh, quy y Pháp cánh, quy y Tăng cánh.

歸依佛歸依法歸依僧歸依佛兩足尊歸依法離欲尊歸依僧眾中尊歸依佛竟歸依法竟歸依僧竟

Phật tử sở tạo chư ác nghiệp, giai do vô thỉ tham, sân, si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh. Nhất thiết ngã kim giai sám hối.

佛子所造諸惡業。皆繇無始貪瞋癡。從身語意之所生。 一切我今皆懺悔。

(Phật tử trót tạo các nghiệp ác, đều do vô thỉ tham, sân, si. Từ thân, miệng, ý phát sanh ra. Hết thảy con nay đều sám hối).

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ, tự tánh phiền não thệ nguyện đoạn. Tự tánh pháp môn thệ nguyện học, tự tánh Phật đạo thệ nguyện thành.

眾生無邊誓願度,煩惱無盡誓願斷,法門無量誓願學,佛道無上誓願成。自性眾生誓願度,自性煩惱誓願斷,自性法門誓願學,自性佛道誓願成。

Án, bát ra mạt lân đà nĩnh, sa bà ha (chân ngôn diệt định nghiệp).

缽羅末鄰陀𩕳娑婆訶

Án, a lỗ lặc kế, sa bà ha (chân ngôn diệt nghiệp chướng).

阿魯勒繼莎婆訶

Án, bộ bộ để rị già đá rị đát đá nga đá da (chân ngôn mở yết hầu).

步步底哩伽哆哩怛哆誐哆耶 

Án, tam muội da tát đỏa phạm (chân ngôn Tam Muội Da Giới).

三昧耶薩埵梵

Hỏi: Có kết ấn tam-muội đúng không?

Đáp: Có ấn tam-muội-da, đây là chân ngôn. Miệng niệm chân ngôn, tay kết ấn.

Nam mô tát phạ đát tha nga đa, phạ rô chỉ đế. Án, tam bạt ra, tam bạt ra hồng (chân ngôn biến thức ăn).

南無薩怛他誐哆嚕枳帝三跋囉三跋囉吽

Nam mô tô rô bà da, đát tha nga đá da. Đát điệt tha. Án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, sa bà ha (chân ngôn cam lộ thủy).

南無蘇嚕婆耶怛他誐哆耶怛姪他蘇嚕蘇嚕缽囉蘇嚕缽囉蘇嚕莎婆訶

Án, vãm[10] vãm vãm vãm vãm (chân ngôn Nhất Tự Thủy Luân).

錽錽錽錽錽

Nam mô tam mãn đa, một đà nẫm, án vãm (chân ngôn biển sữa).

南無三滿哆沒馱喃

Nam mô Đa Bảo Như Lai.

Nam mô Bảo Thắng Như Lai.

Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai.

Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai.

Nam mô Ly Bố Úy Như Lai.

Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai.

Nam mô A Di Đà Như Lai.

南無多寶如來

南無寶勝如來

南無妙色身如來

南無廣博身如來

南無離怖畏如來

南無甘露王如來

南無阿彌陀如來

Thần chú gia trì tịnh pháp thực, phổ thí hà sa chúng Phật tử. Nguyện giai bảo mãn xả xan tham, tốc thoát u minh sanh Tịnh Độ. Quy y Tam Bảo phát Bồ Đề, cứu cánh đắc thành vô thượng đạo. Công đức vô biên tận vị lai, nhất thiết Phật tử đồng pháp thực.

神咒加持淨法食,普施河沙眾佛子,願皆飽滿捨慳貪,速脫幽冥生淨土。皈依三寶發菩提,究竟得成無上道,功德無邊盡未來,一切佛子同法食

(Thần chú gia trì pháp thực sạch, thí trọn Phật tử cát sông Hằng. Nguyện đều no đủ, bỏ keo tham, mau thoát u minh, sanh Tịnh Độ. Quy y Tam Bảo phát Bồ Đề, rốt ráo được thành vô thượng đạo. Công đức vô biên tột vị lai, hết thảy Phật tử hưởng pháp thực).

 

Hỏi: Trong bản cũ, đối với “tịnh pháp thực”, có thêm “pháp thí thực” và “cam lộ thủy” [khi đọc trong hai lần sau], đối với chữ “Phật tử” cũng thêm “hữu tình” và “cô hồn”, nay sao chẳng dùng? ‘

Đáp: Cổ bản vốn chẳng có. “Tịnh pháp” thì đã trọn đủ hai loại kia (pháp thí và cam lộ thủy), “Phật tử” ắt bao gồm hai loại sau! Huống hồ trong văn Du Già Diệm Khẩu Thí Thực, chỉ nói “Phật tử”, nhưng chúng sanh đều được gộp trong ấy. Nếu cho rằng “Phật tử” chỉ thuộc về người xuất gia, ắt phải nói kèm hai loại kia thì cớ sao nói “hết thảy hàm linh đều có Phật tánh”?

 

Nhữ đẳng Phật tử chúng, ngã kim thí nhữ cúng. Thử thực biến thập phương, nhất thiết Phật tử cộng. Nguyện dĩ thử công đức, phổ cập ư nhất thiết, ngã đẳng dữ chúng sanh, giai cộng thành Phật đạo.

汝等佛子眾,我今施汝供,此食遍十方,一切佛子共。願以此功德,普及於一切,我等與眾生,皆共成佛道。

(Này Phật tử các vị, tôi nay cúng thí rồi. Thức ăn trọn mười phương, hết thảy Phật tử hưởng. Nguyện cho công đức này, cùng trọn khắp hết thảy, chúng tôi cùng chúng sanh, đều cùng thành Phật đạo).

Án, mục lực lăng, sa bà ha (chân ngôn thí thực không ngăn ngại).

穆力陵娑婆訶

Án, nga nga nẵng tam bà phạ phạt nhật ra hộc.

誐誐曩三婆嚩伐日囉斛

(Đọc chân ngôn Phổ Cúng Dường xong, đọc Tâm Kinh một biến, chú Vãng Sanh ba lượt).

Án, sa ma ra, sa ma ra, di ma nẵng, tát cáp ra, ma ha tát cáp ra hồng (chân ngôn phổ hồi hướng).

娑摩囉娑摩囉彌摩曩薩哈囉摩訶咱哈囉吽

Nguyện trú cát tường, dạ cát tường. Trú dạ lục thời hằng cát tường. Nhất thiết thời trung cát tường giả. Nguyện chư thượng sư ai nhiếp thọ (lần thứ hai thì đọc là “Tam Bảo ai nhiếp thọ”, lần thứ ba là “hộ pháp thường ủng hộ”).

願晝吉祥夜吉祥,晝夜六時恒吉祥。一切中吉祥者。願諸上師哀攝受。

(Nguyện ngày an lành, đêm an lành. Đêm ngày sáu thời thường an lành. Trong hết thảy thời đều an lành. Nguyện các thượng sư thương nhiếp thọ).

Tứ sanh đăng ư bảo địa, tam hữu thác hóa liên trì. Hà sa ngạ quỷ chứng tam hiền, vạn loại hữu tình đăng thập địa.

四生登於寶地,三有托化蓮池,河沙餓鬼證三賢,萬類有情登十地。

(Tứ sanh ngự lên đất báu. Ba cõi gởi thân ao sen. Hà sa ngạ quỷ chứng tam hiền, muôn loại hữu tình lên thập địa).

 

* Niệm Phật hồi hướng - 念佛回向 (chép đầy đủ trong phần Biệt Tập)

 

Người thích đơn giản hoặc tường tận tùy ý, giống như phần trên.

 

* Tam Quy Y - 三皈依 (tỉnh lược)

 

* Thiện Đạo đại sư dạy nhập quán lúc sắp ngủ

(善導和尚示臨睡入觀文)

 

          “Người tu Tịnh Độ hễ muốn nhập quán và lúc sắp ngủ, hãy nhất tâm chắp tay, hướng thẳng mặt về Tây, hoặc là ngồi, hoặc đứng, hoặc quỳ, niệm mười câu A Di Đà, Quán Âm Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng xong, phát nguyện rằng:

          - Đệ tử… hiện thị sanh tử phàm phu, tội chướng thâm trọng, luân hồi lục đạo, khổ bất khả ngôn. Kim ngộ tri thức, đắc văn Di Đà danh hiệu, bổn nguyện công đức, nhất tâm xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi bất xả, ai liên nhiếp thọ. Đệ tử… bất thức Phật thân, tướng hảo, quang minh, nguyện Phật thị hiện, linh ngã đắc kiến, cập kiến Quán Âm, Thế Chí, chư Bồ Tát chúng, bỉ thế giới trung thanh tịnh trang nghiêm, quang minh diệu tướng đẳng, linh ngã liễu liễu đắc kiến.

(Đệ tử… đang là phàm phu sanh tử, tội chướng sâu nặng, luân hồi lục đạo, khổ chẳng thể nói. Nay gặp tri thức, được nghe Di Đà danh hiệu, bổn nguyện, công đức, một dạ xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện Phật từ bi chẳng bỏ, xót thương nhiếp thọ. Đệ tử… chẳng biết thân Phật, tướng hảo, quang minh, nguyện Phật thị hiện cho con được thấy, và thấy Quán Âm, Thế Chí, các vị Bồ Tát, các tướng trang nghiêm thanh tịnh, diệu tướng quang minh v.v… trong thế giới ấy, khiến cho được thấy rõ ràng).

          Phát nguyện xong, chánh niệm nhập quán, hoặc ngủ. Hãy chánh niệm mà ngủ, chớ nên nói tạp nhạp, chớ nên nghĩ tạp nhạp, hoặc có phát nguyện chân chánh liền được trông thấy, hoặc có khi được thấy trong mộng. Chỉ cần chuyên chí, ắt được như nguyện.

          Thiện Đạo đại được cổ nhân xưng tụng là hóa thân của A Di Đà, người tu Tịnh Độ rất nên tin sâu bài nguyện văn này. Hãy cẩn thận, đừng vì tạm thời chẳng có hiệu nghiệm mà vội bỏ bê, lười nhác. Hãy chú trọng hành trì dài lâu, ắt công tu Tịnh Độ chẳng uổng phí vậy!

 

1.2.2. Biệt tập

1.2.2.1. Kinh

 

Hỏi: Vì sao trong Đại Tạng Kinh chỉ chọn lấy mấy chương này?

          Đáp: Do chọn lấy phần trọng yếu, khiến cho kẻ không có sức xem rộng toàn bộ bản kinh sẽ dễ thọ trì.

 

* Hoa Nghiêm Hạnh Nguyện Phẩm Chương (華嚴行願品章)

 

          Nhất giả, lễ kính chư Phật. Nhị giả xưng tán Như Lai. Tam giả, quảng tu cúng dường. Tứ giả, sám hối nghiệp chướng. Ngũ giả, tùy hỷ công đức. Lục giả, thỉnh chuyển pháp luân. Thất giả, thỉnh Phật trụ thế. Bát giả, thường tùy Phật học. Cửu giả, hằng thuận chúng sanh. Thập giả, phổ giai hồi hướng. Nguyện ngã lâm dục mạng chung thời. Tận trừ nhất thiết chư chướng ngại. Diện kiến bỉ Phật A Di Đà, tức đắc vãng sanh An Lạc sát. Ngã ký vãng sanh bỉ quốc dĩ, hiện tiền thành tựu thử đại nguyện. Nhất thiết viên măn tận vô dư, lợi lạc nhất thiết chúng sanh giới. Bỉ Phật chúng hội hàm thanh tịnh, ngã thời ư thắng liên hoa sanh, thân đổ Như Lai Vô Lượng Quang, hiện tiền thọ ngã Bồ Đề ký. Mông bỉ Như Lai thọ ký dĩ, hóa thân vô số bách câu-chi. Trí lực quảng đại biến thập phương, phổ lợi nhất thiết chúng sanh giới. Nãi chí hư không thế giới tận, chúng sanh cập nghiệp phiền năo tận, như thị nhất thiết vô tận thời. Ngã nguyện cứu cánh hằng vô tận. Ngã thử Phổ Hiền thù thắng hạnh. Vô biên thắng phước giai hồi hướng, phổ nguyện trầm nịch chư chúng sanh, tốc vãng Vô Lượng Quang Phật sát.

一者、禮敬諸佛;二者、稱讚如來;三者、廣修供養;四者、懺悔業障;五者、隨喜功德;六者、請轉法輪;七者、請佛住世;八者、常隨佛學;九者、恒順眾生;十者、普皆迴向。願我臨欲命終時,盡除一切諸障礙,面見彼佛阿彌陀, 即得往生安樂剎。我既往生彼國已, 現前成就此大願,一切圓滿盡無餘,利樂一切眾生界。彼佛眾會咸清淨,我時於勝蓮華生,親睹如來無量光,現前授我菩提記。蒙彼如來授記已,化身無數百俱胝,智力廣大遍十方,普利一切眾生界,乃至虛空世界盡,眾生及業煩惱盡,如是一切無盡時,我願究竟恒無盡。我此普賢殊勝行,無邊勝福皆迴向,普願沉溺諸眾生, 速往無量光佛剎。

(Một là lễ kính chư Phật. Hai là ca ngợi Như Lai. Ba là rộng tu cúng dường. Bốn là sám hối nghiệp chướng. Năm là tùy hỷ công đức. Sáu là thỉnh chuyển pháp luân. Bảy là thỉnh đức Phật ở lại đời. Tám là thường học theo Phật. Chín là luôn tùy thuận chúng sanh. Mười là đều hồi hướng trọn khắp. Nguyện con lúc sắp mạng chấm dứt, trừ sạch hết thảy các chướng ngại. Tận mặt thấy Phật A Di Đà, liền được vãng sanh cõi An Lạc. Con đã vãng sanh nước ấy rồi, hiện tiền thành tựu đại nguyện này. Hết thảy viên măn chẳng thừa sót. Lợi lạc hết thảy chúng sanh giới. Chúng hội Phật ấy đều thanh tịnh. Con sanh trong hoa sen thù thắng, được thấy Như Lai Vô Lượng Quang, hiện tiền thọ ký con Bồ Đề. Đã được Như Lai thọ ký rồi, hóa thân vô số trăm câu-chi[11]. Trí lực rộng lớn khắp mười phương, lợi khắp hết thảy chúng sanh giới. Cho đến hư không thế giới tận, chúng sanh và nghiệp phiền năo tận. Khi hết thảy như thế vô tận, nguyện con rốt ráo luôn vô tận. Hạnh Phổ Hiền thù thắng của con, vô biên phước quý đều hồi hướng. Nguyện khắp chúng sanh đang chìm đắm, mau về cõi Phật Vô Lượng Quang).

Đoạn kinh văn này trích lược trước, trích lấy phần trọng yếu, tức là mười đại nguyện vương hướng dẫn về Cực Lạc.

Hỏi: Vì sao đối với kinh Hoa Nghiêm chỉ riêng chọn phần này?

Đáp: Điều này có hai ý:

- Một là chọn lấy phần trọng yếu như đã nói trên đây.

- Hai là chính vì muốn nêu tỏ đức Phổ Hiền chính là trưởng tử trong Hoa Nghiêm, đã nhập cảnh giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, trọn đủ vô tận hạnh môn, mà cũng cầu sanh Tịnh Độ, huống hồ những người khác!

Hơn nữa, phẩm Hạnh Nguyện, Phạm Hạnh và Tịnh Hạnh đều được khắc in toàn bộ, lưu truyền trong thế gian.

 

* Lăng Nghiêm Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Chương

(楞嚴勢至菩薩念佛章)

 

Đại Thế Chí pháp vương tử dữ kỳ đồng luân ngũ thập nhị Bồ Tát, tức tùng ṭa khởi, đảnh lễ Phật túc, nhi bạch Phật ngôn: - Ngã ức văng tích Hằng hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Vô Lượng Quang, thập nhị Như Lai tương kế nhất kiếp. Kỳ tối hậu Phật, danh Siêu Nhật Nguyệt Quang. Bỉ Phật giáo ngã Niệm Phật tam muội. Thí như hữu nhân, nhất chuyên vi ức, nhất nhân chuyên vong. Như thị nhị nhân nhược phùng bất phùng, hoặc kiến phi kiến. Nhị nhân tương ức, nhị ức niệm thâm. Như thị nãi chí tùng sanh chí sanh, đồng ư hình ảnh, bất tương quai dị. Thập phương Như Lai liên niệm chúng sanh, như mẫu ức tử. Nhược tử đào thệ, tuy ức hà vi? Tử nhược ức mẫu, như mẫu ức thời, mẫu tử lịch sanh, bất tương vi viễn. Nhược chúng sanh tâm, ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật, khứ Phật bất viễn, bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai. Như nhiễm hương nhân, thân hữu hương khí. Thử tắc danh viết Hương Quang Trang Nghiêm. Ngã bổn nhân địa, dĩ niệm Phật tâm, nhập Vô Sanh Nhẫn, kim ư thử giới, nhiếp niệm Phật nhân, quy ư Tịnh Độ. Phật vấn Viên Thông, ngã vô tuyển trạch, đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương kế, đắc tam-ma-địa, tư vi đệ nhất.

大勢至法王子與其同倫五十二菩薩即從座起頂禮佛足而白佛言我憶往昔恒河沙劫有佛出世名無量光十二如來相繼一劫其最後佛名超日月光彼佛教我念佛三昧譬如有人一專為憶一人專忘如是二人若逢不逢或見非見二人相憶二憶念深如是乃至從生至生同於形影不相乖異十方如來憐念眾生如母憶子若子逃逝雖憶何為子若憶母如母憶時母子歷生不相違遠若眾生心憶佛念佛現前當來必定見佛去佛不遠不假方便自得心開如染香人身有香氣此則名曰香光莊嚴我本因地以念佛心入無生忍今於此界攝念佛人歸於淨土佛問圓通我無選擇都攝六根淨念相繼得三摩地斯為第一

          (Đại Thế Chí pháp vương tử cùng với những người đồng hàng là năm mươi hai vị Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân đức Phật, mà bạch Phật rằng:

- Con nhớ xưa kia nhiều kiếp như cát sông Hằng, có Phật xuất thế, tên là Vô Lượng Quang. Mười hai vị Như Lai nối tiếp nhau [xuất thế] trong một kiếp. Vị Phật cuối cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Vị Phật ấy dạy con Niệm Phật tam-muội. Ví như có người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên. Hai người như thế dù có gặp mà cũng như chẳng gặp, hoặc có thấy mà cũng như chẳng thấy. Hai người như thế nghĩ nhớ nhau, hai cái tâm nhớ sâu xa, như thế từ đời này sang đời khác, giống như hình với bóng, chẳng hề trái nghịch, sai khác. Mười phương Như Lai nghĩ thương xót chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con bỏ trốn, mẹ dẫu nhớ có ích gì? Nếu con nhớ mẹ như khi mẹ nhớ con, mẹ con trải qua nhiều đời, chẳng xa cách nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng nhờ vào phương tiện, tâm tự khơi mở. Như người nhuốm mùi hương, thân có mùi thơm. Đó gọi là Hương Quang Trang Nghiêm. Nhân địa vốn sẵn có của con là dùng cái tâm niệm Phật để nhập Vô Sanh Nhẫn; nay trong cõi này, nhiếp người niệm Phật trở về Tịnh Độ. Phật hỏi pháp viên thông, con chẳng chọn lựa, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc tam-ma-địa. Đấy là bậc nhất).

 

* Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Thượng Phẩm Thượng Sanh Chương

(觀無量壽佛經上品上生章)

         

Phật cáo A Nan cập Vi Đề Hy: - Thượng phẩm thượng sanh giả, nhược hữu chúng sanh nguyện sanh bỉ quốc giả, phát tam chủng tâm, tức tiện vãng sanh. Hà đẳng vi tam? Nhất giả, chí thành tâm; nhị giả, thâm tâm; tam giả, hồi hướng phát nguyện tâm. Cụ tam tâm giả, tất sanh bỉ quốc. Phục hữu tam chủng chúng sanh đương đắc vãng sanh. Hà đẳng vi tam? Nhất giả, từ tâm bất sát, cụ chư giới hạnh; nhị giả, độc tụng Đại Thừa, Phương Đẳng kinh điển; tam giả, tu hành lục niệm, hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc. Cụ thử công đức, nhất nhật nãi chí thất nhật tức đắc vãng sanh. Sanh bỉ quốc thời, thử nhân tinh tấn dũng mănh cố, A Di Đà Như Lai dữ Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số hóa Phật, bách thiên tỳ-kheo, Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên, thất bảo cung điện. Quán Thế Âm Bồ Tát chấp kim cang đài, dữ Đại Thế Chí Bồ Tát chí hành giả tiền. A Di Đà Phật phóng đại quang minh chiếu hành giả thân, dữ chư Bồ Tát thọ thủ nghênh tiếp. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, dữ vô số Bồ Tát tán thán hành giả, khuyến tấn kỳ tâm. Hành giả kiến dĩ, hoan hỷ dũng dược, tự kiến kỳ thân thừa kim cang đài, tùy tùng Phật hậu, như đàn chỉ khoảnh, vãng sanh bỉ quốc. Sanh bỉ quốc dĩ, kiến Phật sắc thân chúng tướng cụ túc, kiến chư Bồ Tát sắc tướng cụ túc, quang minh bảo lâm diễn thuyết diệu pháp. Văn dĩ tức ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn, kinh tu du gian, lịch sự chư Phật biến thập phương giới. Ư chư Phật tiền, thứ đệ thọ ký, hoàn chí bổn quốc, đắc vô lượng bách thiên đà la ni môn. Thị danh thượng phẩm thượng sanh giả.

佛告阿難及韋提希:上品上生者,若有眾生願生彼國者,發三種心即便往生。何等為三?一者、至誠心;二者、深心;三者、迴向發願心。具三心者必生彼國。復有三種眾生當得往生。何等為三?一者、慈心不殺具諸戒行;二者、讀誦大乘方等經典;三者、修行六念,迴向發願願生彼國。具此功德,一日乃至七日即得往生。生彼國時,此人精進勇猛故,阿彌陀如來與觀世音、大勢至、無數化佛、百千比丘、聲聞大眾、無量諸天七寶宮殿,觀世音菩薩執金剛臺,與大勢至菩薩至行者前,阿彌陀佛放大光明照行者身,與諸菩薩授手迎接,觀世音、大勢至與無數菩薩讚歎行者勸進其心。行者見已歡喜踴躍,自見其身乘金剛臺隨從佛後,如彈指頃往生彼國。生彼國已,見佛色身眾相具足,見諸菩薩色相具足,光明寶林演說妙法,聞已即悟無生法忍,經須臾間歷事諸佛遍十方界,於諸佛前次第受記還至本國,得無量百千陀羅尼門,是名上品上生者。

          (Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hy:

- Thượng phẩm thượng sanh là nếu có chúng sanh nguyện sanh về cõi ấy, phát ba loại tâm, liền được vãng sanh. Những gì là ba? Một là chí thành tâm; hai là thâm tâm; ba là hồi hướng phát nguyện tâm. Có đủ ba tâm, ắt sanh về cõi ấy. Lại có ba loại chúng sanh sẽ được vãng sanh. Những gì là ba? Một là từ tâm chẳng giết, đầy đủ các giới hạnh; hai là đọc tụng kinh điển Đại Thừa, Phương Đẳng; ba là tu hành lục niệm, hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh về cõi ấy. Trọn đủ công đức ấy, từ một ngày cho tới bảy ngày, liền được vãng sanh. Khi sanh về cõi ấy, người đó do tinh tấn dũng mănh, A Di Đà Như Lai và Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số hóa Phật, trăm ngàn tỳ-kheo, Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên, cung điện bảy báu. Quán Thế Âm Bồ Tát cầm đài kim cang, cùng với Đại Thế Chí Bồ Tát đến trước hành giả. A Di Đà Phật phóng quang minh lớn chiếu vào thân hành giả, cùng các vị Bồ Tát xòe tay nghênh tiếp. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, và vô số Bồ Tát tán thán hành giả, khuyến tấn tâm người ấy. Hành giả thấy rồi, hoan hỷ, hớn hở, tự thấy thân mình nương đài kim cang, theo sau đức Phật, chỉ trong khoảng khảy ngón tay, sanh về cõi ấy. Đã sanh trong cõi ấy rồi, thấy sắc thân Phật các tướng đầy đủ, thấy các Bồ Tát sắc tướng đầy đủ, quang minh, rừng báu diễn nói diệu pháp. Nghe xong liền ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn, trải qua khoảnh khắc, phụng sự chư Phật trọn khắp các cõi nước trong mười phương. Ở trước chư Phật, theo thứ tự được thọ ký, trở về cõi mình, đắc vô lượng trăm ngàn đà-la-ni môn. Đó gọi là thượng phẩm thượng sanh).

 

* Vô Lượng Thọ Kinh Tứ Thập Bát Nguyện (tức cổ bản Đại A Di Đà Kinh)

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc hữu địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ nhất: Trong nước không có ba đường ác).

          設我得佛國有地獄餓鬼畜生者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, trong nước có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân thọ chung chi hậu, phục cánh tam ác đạo giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai: Chẳng còn sanh trong ác đạo).

設我得佛國中天人壽終之後復更三惡道者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, trời, người trong nước sau khi hết tuổi thọ, lại sanh trong ác đạo, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất tất chân kim sắc giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba: Mỗi người đều đạt được thân màu vàng ròng).

          設我得佛國中天人不悉真金色者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật mà trời người trong nước chẳng đều thân màu vàng ròng, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân hình sắc bất đồng, hữu hảo xú giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ tư: Hình sắc chẳng có đẹp hay xấu).

          設我得佛國中天人形色不同有好醜者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật mà trời người trong nước hình sắc khác nhau, có kẻ xấu người đẹp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất thức Túc Mạng, hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha chư kiếp sự giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ năm: Người sanh về cõi ấy đều đắc Túc Mạng Thông).

設我得佛國中天人不識宿命下至知百千億那由他諸劫事者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật mà trời người trong nước chẳng đều biết Túc Mạng, tối thiểu là biết chuyện trong trăm ngàn ức na-do-tha[12] các kiếp, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất đắc Thiên Nhăn, hạ chí kiến bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ sáu: Đều được Thiên Nhãn thấy thấu suốt).

設我得佛國中天人不得天眼下至見百千億那由他諸佛國者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật mà trời người trong nước chẳng đều đắc Thiên Nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất đắc Thiên Nhĩ, hạ chí văn bách thiên ức na-do-tha chư Phật sở thuyết bất đắc thọ trì giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bảy: Đều được Thiên Nhĩ nghe thấu suốt).

設我得佛國中天人不得天耳下至聞百千億那由他諸佛所說不得受持者不取正覺

            (Nếu tôi thành Phật mà trời người trong nước chẳng đều đắc Thiên Nhĩ, tối thiểu là nghe trăm ngàn ức na-do-tha chư Phật dạy bảo mà chẳng được thọ trì, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất đắc kiến tha tâm trí, hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc trung chúng sanh tâm niệm giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ tám: Đều biết tâm niệm của người khác).

設我得佛國中天人不得見他心智下至知百千億那由他諸佛國中眾生心念者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật mà trời người trong nước chẳng đều biết tâm trí của người khác, tối thiểu là tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na-do-tha cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất đắc Thần Túc, ư nhất niệm khoảnh hạ chí bất năng siêu quá bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ chín: Đều được thần túc phi hành).

設我得佛國中天人不得神足於一念頃下至不能超過百千億那由他諸佛國者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật mà trời người trong nước chẳng đạt được Thần Túc, trong khoảng một niệm, tối thiểu là chẳng thể vượt qua trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân nhược khởi tưởng niệm tham kế thân giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ mười: Chẳng khởi kiến chấp tham đắm cái thân).

          設我得佛國中天人若起想念貪計身者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật mà nếu trời người trong nước khởi ý niệm tham chấp cái thân thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất trụ Định Tụ, tất chí Diệt Độ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ mười một: Chánh Định sẽ đạt đến Niết Bàn).

          設我得佛國中天人不住定聚必至滅度者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật mà trời người trong nước chẳng trụ trong Định Tụ, ắt đạt đến Diệt Độ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quang minh hữu hạn lượng, hạ chí bất chiếu bách thiên ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ mười hai: Quang minh chiếu trọn khắp mười phương).

設我得佛光明有限量下至不照百千億那由他諸佛國者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật mà quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu trăm ngàn ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, thọ mạng hữu hạn lượng, hạ chí bách thiên ức na-do-tha kiếp giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ mười ba: Thọ mạng vĩnh cửu giống như Phật).

          設我得佛壽命有限量下至百千億那由他劫者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật mà thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na-do-tha kiếp, thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Thanh Văn hữu năng kế lượng, nãi chí tam thiên đại thiên thế giới chúng sanh tất thành Duyên Giác, ư bách thiên kiếp tất cộng kế giảo, tri kỳ số giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ mười bốn: Thanh Văn rộng nhiều vô lượng).

設我得佛國中聲聞有能計量乃至三千大千世界眾生悉成緣覺於百千劫悉共計較知其數者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật mà Thanh Văn trong nước có người có thể tính đếm, cho tới chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế giới đều thành Duyên Giác, trong trăm ngàn kiếp đều cùng nhau tính toán, so sánh, biết được số ấy, thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân thọ mạng vô năng hạn lượng, trừ kỳ bổn nguyện, tu đoản tự tại. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ mười lăm: Thọ mạng dài ngắn tùy ý).

設我得佛國中天人壽命無能限量除其本願修短自在若不爾者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, thọ mạng của trời, người trong nước chẳng thể hạn lượng, ngoại trừ do bổn nguyện mà dài hay ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân nãi chí văn hữu bất thiện danh giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ mười sáu: Trong nước không có danh xưng bất thiện).

設我得佛國中天人乃至聞有不善名不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật mà trời người trong nước thậm chí nghe có danh xưng bất thiện thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, thập phương thế giới, vô lượng chư Phật, bất tất tư ta xưng ngã danh giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ mười bảy: Chư Phật xưng danh, tán thán).

設我得佛十方世界無量諸佛不悉咨嗟稱我名者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật mà vô lượng chư Phật trong mười phương thế giới chẳng nắc nỏm xưng tụng danh hiệu của tôi, thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, thập phương chúng sanh chí tâm tín nhạo dục sanh ngã quốc, nãi chí thập niệm, nhược bất sanh giả, bất thủ Chánh Giác; duy trừ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp (nguyện thứ mười tám: Mười niệm đều sanh về nước ta).

設我得佛十方眾生至心信樂欲生我國乃至十念若不生者不取正覺唯除五逆誹謗正法

          (Nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi tôi, thậm chí mười niệm mà nếu chẳng sanh về, tôi sẽ chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác, chỉ trừ kẻ ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp).

 

          Thiết ngã đắc Phật, thập phương chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu chư công đức, chí tâm phát nguyện dục sanh ngã quốc, lâm thọ chung thời, giả linh bất dữ đại chúng vi nhiễu, hiện kỳ nhân tiền giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ mười chín: Siêng tu thì ta đều tiếp dẫn).

設我得佛十方眾生發菩提心修諸功德至心發願欲生我國臨壽終時假令不與大眾圍遶現其人前者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh phát Bồ Đề tâm, tu các công đức, chí tâm phát nguyện, muốn sanh về cõi tôi, khi thọ mạng sắp hết, giả sử tôi chẳng cùng đại chúng vây quanh, hiện ra trước mặt người ấy, thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, thập phương chúng sanh văn ngã danh hiệu, hệ niệm ngã quốc, thực chủng đức bổn, chí tâm hồi hướng dục sanh ngã quốc, bất quả toại giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi: Hệ niệm ắt được vãng sanh).

設我得佛十方眾生聞我名號繫念我國植種德本至心迴向欲生我國不果遂者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, mười phương chúng sanh nghe danh hiệu của tôi, nghĩ nhớ chắc chắn cõi tôi, gieo trồng cội đức, chí tâm hồi hướng nguyện sanh về cõi tôi, mà chẳng được toại nguyện, thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất tất thành măn tam thập nhị đại nhân tướng giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi mốt: Ai nấy đều trọn đủ ba mươi hai tướng).

 設我得佛國中天人不悉成滿三十二大人相者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, trời, người trong nước không đều thành tựu trọn vẹn ba mươi hai tướng đại nhân, thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, tha phương Phật độ chư Bồ Tát chúng lai sanh ngã quốc, cứu cánh tất chí Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ kỳ bổn nguyện tự tại sở hóa, vị chúng sanh cố, bị hoằng thệ khải, tích lũy đức bổn, độ thoát nhất thiết, du chư Phật quốc, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường thập phương chư Phật Như Lai, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, sử lập vô thượng chánh chân chi đạo, siêu xuất thường luân chư địa chi hạnh, hiện tiền tu tập Phổ Hiền chi đức. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi hai: Bồ Tát Nhất Sanh Bổ Xứ).

設我得佛他方佛土諸菩薩眾來生我國究竟必至一生補處除其本願自在所化為眾生故被弘誓鎧積累德本度脫一切遊諸佛國修菩薩行供養十方諸佛如來開化恒沙無量眾生使立無上正真之道超出常倫諸地之行現前修習普賢之德若不爾者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, các Bồ Tát trong các cõi Phật phương khác sanh vào cõi tôi, rốt ráo ắt đạt đến Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ phi do bổn nguyện tự tại giáo hóa, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ, tích lũy cội đức, độ thoát hết thảy, dạo các cõi Phật, tu Bồ Tát hạnh, cúng dường mười phương chư Phật Như Lai, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh, khiến cho họ an lập nơi đạo vô thượng chánh chân, vượt thoát hạnh thuộc các địa vị thông thường, hiện tiền tu tập đức của Phổ Hiền. Nếu chẳng phải vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát thừa Phật thần lực, cúng dường chư Phật, nhất thực chi khoảnh, bất năng biến chí vô số vô lượng ức na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi ba: Cùng lúc cúng trọn khắp chư Phật).

設我得佛國中菩薩承佛神力供養諸佛一食之頃不能遍至無數無量億那由他諸佛國者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, các Bồ Tát trong nước nương vào thần lực của Phật để cúng dường chư Phật, trong khoảng một bữa ăn, chẳng thể đến trọn khắp vô số vô lượng ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát tại chư Phật tiền, hiện kỳ đức bổn, chư sở cầu dục cúng dường chi cụ, nhược bất như ư giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi bốn: Vật cúng đều tự được như ý).

設我得佛國中菩薩在諸佛前現其德本諸所求欲供養之具若不如意者不取正覺

 (Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước ở trước chư Phật, hiện cội đức của mình, mong cầu các vật dụng dùng để cúng dường, mà nếu chẳng như ý, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát bất năng diễn thuyết Nhất Thiết Trí giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi lăm: Bồ Tát diễn nói Nhất Thiết Trí).

設我得佛國中菩薩不能演說一切智者不取正覺

 (Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước chẳng thể diễn nói Nhất Thiết Trí, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát bất đắc kim cang Na La Diên thân giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi sáu: Bồ Tát đạt được thân kim cang).

          設我得佛國中菩薩不得金剛那羅延身者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước chẳng được thân kim cang Na La Diên, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân nhất thiết vạn vật, nghiêm tịnh quang lệ, hình sắc thù đặc, cùng vi cực diệu, vô năng xưng lượng. Kỳ chư chúng sanh nãi chí đăi đắc thiên nhăn, hữu năng minh liễu, biện kỳ danh số giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi bảy: Vạn vật đều thù thắng đặc biệt).

我得佛國中天人一切萬物嚴淨光麗形色殊特窮微極妙無能稱量其諸眾生乃至逮得天眼有能明了辨其名數者不取正覺

 (Nếu tôi thành Phật, trời người trong nước, hết thảy muôn vật trang nghiêm thanh tịnh, sáng đẹp, hình sắc đặc biệt thù thắng, vi diệu tột cùng chẳng thể diễn tả, so lường được. Các chúng sanh ấy dẫu đã đắc thiên nhãn, mà có thể hiểu rõ tên gọi, số lượng [của hết thảy các vật ấy], tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát nãi chí thiểu công đức giả, bất năng tri kiến kỳ đạo tràng thụ vô lượng quang sắc, cao tứ bách vạn lý giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi tám: Bồ Tát đều thấy cây đạo tràng).

設我得佛國中菩薩乃至少功德者不能知見其道場樹無量光色高四百萬里者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước, thậm chí người ít công đức, chẳng thể thấy biết cây đạo tràng vô lượng quang minh, sắc tướng, cao bốn trăm vạn dặm, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát nhược thọ độc kinh pháp, phúng tụng tŕ thuyết, nhi bất đắc biện tài trí huệ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ hai mươi chín: Thọ trì kinh đều đắc trí huệ, biện tài).

設我得佛國中菩薩若受讀經法諷誦持說而不得辯才智慧者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước nếu nhận lãnh, đọc kinh pháp, phúng tụng, gìn giữ, diễn nói mà chẳng đạt được biện tài, trí huệ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát trí huệ biện tài nhược khả hạn lượng giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi: Trí huệ, biện tài chẳng có hạn lượng).

          設我得佛國中菩薩智慧辯才若可限量者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước trí huệ và biện tài nếu có hạn lượng, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc độ thanh tịnh, giai tất chiếu kiến thập phương nhất thiết vô lượng vô số bất khả tư nghị chư Phật thế giới, do như minh kính, đổ kỳ diện tượng. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi mốt: Cõi nước thanh tịnh soi thấu mười phương).

設我得佛國土清淨皆悉照見十方一切無量無數不可思議諸佛世界猶如明鏡睹其面像若不爾者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, quốc độ thanh tịnh, thảy đều chiếu thấy hết thảy vô lượng vô số chẳng thể nghĩ bàn các thế giới Phật trong mười phương giống như soi vào gương sáng thấy rõ vẻ mặt. Nếu chẳng phải vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, tự địa dĩ thượng chí ư hư không, cung điện, lâu quán, tŕ lưu, hoa thụ, quốc độ sở hữu nhất thiết vạn vật, giai dĩ vô lượng tạp bảo, bách thiên chủng hương nhi cộng hợp thành, nghiêm sức kỳ diệu, siêu chư thiên nhân. Kỳ hương phổ huân thập phương thế giới, Bồ Tát văn giả, giai tu Phật hạnh. Nhược bất như thị, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi hai: Trang nghiêm vượt xa trời người).

設我得佛自地以上至於虛空宮殿樓觀池流華樹國土所有一切萬物皆以無量雜寶百千種香而共合成嚴飾奇妙超諸天人其香普熏十方世界菩薩聞者皆修佛行若不如是不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, từ mặt đất trở lên cho đến hư không, cung điện, lầu gác, ao, suối, cây hoa, tất cả hết thảy vạn vật trong cõi nước đều do vô lượng các thứ báu, trăm ngàn các thứ hương cùng hợp thành, trang hoàng kỳ diệu, vượt xa trời, người. Mùi hương ấy xông trọn khắp mười phương thế giới, Bồ Tát ngửi thấy đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại, mông ngã quang minh xúc kỳ thân giả, thân tâm nhu nhuyễn siêu quá thiên nhân. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi ba: Được quang minh chạm vào thân liền đạt được lợi ích).

設我得佛十方無量不可思議諸佛世界眾生之類蒙我光明觸其身者身心柔軟超過天人若不爾者不取正覺

            (Nếu tôi thành Phật, các loài chúng sanh trong mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các thế giới Phật, được quang minh của tôi chạm vào thân họ, thân tâm họ sẽ mềm mại vượt xa trời, người. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chúng sanh chi loại, văn ngã danh tự, bất đắc Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn, chư thâm tổng trì giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi bốn: Đều đắc Pháp Nhẫn tổng trì).

設我得佛十方無量不可思議諸佛世界眾生之類聞我名字不得菩薩無生法忍諸深總持者不取正覺

            (Nếu tôi thành Phật, các loài chúng sanh trong mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các thế giới Phật, nghe danh tự của tôi mà chẳng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn của Bồ Tát, các tổng trì sâu, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới, kỳ hữu nữ nhân văn ngã danh tự, hoan hỷ tín nhạo, phát Bồ Đề tâm, yếm ố nữ thân, thọ chung chi hậu, phục vi nữ tượng giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi lăm: Tin ưa sẽ vĩnh viễn lìa thân nữ).

設我得佛十方無量不可思議諸佛世界其有女人聞我名字歡喜信樂發菩提心厭惡女身壽終之後復為女像者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các thế giới Phật, có người nữ nghe danh tự của tôi bèn hoan hỷ, tin ưa, phát Bồ Đề tâm, chán ghét thân nữ mà sau khi hết tuổi thọ lại có hình tướng nữ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, thọ chung chi hậu, thường tu phạm hạnh chí thành Phật đạo. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi sáu: Siêng tu ắt thành Phật đạo).

設我得佛十方無量不可思議諸佛世界諸菩薩眾聞我名字壽終之後常修梵行至成佛道若不爾者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các thế giới Phật nghe danh tự của tôi, sau khi hết tuổi thọ, sẽ thường tu phạm hạnh cho tới khi thành Phật đạo. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, thập phương vô lượng bất khả tư nghị chư Phật thế giới chư thiên nhân dân, văn ngã danh tự, ngũ thể đầu địa, khể thủ tác lễ, hoan hỷ, tín nhạo, tu Bồ Tát hạnh, chư thiên thế nhân mạc bất trí kính. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi bảy: Quy y cảm động trời, người).

設我得佛十方無量不可思議諸佛世界諸天人民聞我名字五體投地稽首作禮歡喜信樂修菩薩行諸天世人莫不致敬若不爾者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, chư thiên, nhân dân trong mười phương vô lượng chẳng thể nghĩ bàn các thế giới Phật nghe danh tự của tôi, năm vóc gieo sát đất, dập đầu làm lễ, hoan hỷ tin ưa, tu Bồ Tát hạnh, chư thiên, người đời, chẳng ai không kính trọng. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân dục đắc y phục, tùy niệm tức chí, như Phật sở tán, ứng pháp diệu phục tự nhiên tại thân. Nhược hữu tài phùng, đảo nhiễm, hoán trạc giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi tám: Y phục đẹp đẽ tự nhiên nơi thân).

設我得佛國中天人欲得衣服隨念即至如佛所讚應法妙服自然在身有求裁縫擣染浣濯者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, trời, người trong nước muốn được y phục, vừa nghĩ bèn có y phục đẹp đẽ đúng pháp được chư Phật khen ngợi tự nhiên khoác trên thân. Nếu phải cắt may, đập nhuộm, giặt giũ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, quốc trung thiên nhân sở thọ khoái lạc, bất như lậu tận tỳ-kheo giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ ba mươi chín: Hưởng lạc giống như Lậu Tận).

設我得佛國中天人所受快樂不如漏盡比丘者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, trời, người trong nước hưởng sự vui sướng chẳng như lậu tận tỳ-kheo, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát tùy ư dục kiến thập phương vô lượng nghiêm tịnh Phật độ, ứng thời như nguyện, ư bảo thụ trung, giai tất chiếu kiến, do như minh kính đổ kiến kỳ diện tượng. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi: Tùy ý thấy các cõi Phật).

設我得佛國中菩薩隨意欲見十方無量嚴淨佛土應時如願於寶樹中皆悉照見猶如明鏡睹見其面像若不爾者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong nước tùy ý muốn thấy vô lượng cõi Phật trang nghiêm, thanh tịnh trong mười phương, sẽ ngay lập tức như nguyện, từ nơi cây báu, thảy đều thấy thấu suốt, giống như do nơi gương sáng trông thấy vẻ mặt. Nếu chẳng phải vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, chí vu đắc Phật, chư căn khuyết lậu, bất cụ túc giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi mốt: Nghe danh hiệu Phật, các căn trọn đủ).

設我得佛他方國土諸菩薩眾聞我名字至于得佛諸根缺陋不具足者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước phương khác nghe danh tự của tôi, cho đến khi thành Phật mà các căn thiếu sót, chẳng đầy đủ, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, giai tất đãi đắc thanh tịnh giải thoát tam-muội. Trụ thị tam-muội, nhất phát ý khoảnh, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, nhi bất thất định ý. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi hai: Đều được thanh tịnh, giải thoát).

設我得佛他方國土諸菩薩眾聞我名字皆悉逮得清淨解脫三昧住是三昧一發意頃供養無量不可思議諸佛世尊而不失定意若不爾者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước ở phương khác nghe danh tự của tôi, thảy đều đạt được tam-muội giải thoát thanh tịnh. Trụ trong tam-muội ấy, trong khoảng vừa phát ý, bèn cúng dường vô lượng chẳng thể nghĩ bàn chư Phật Thế Tôn, nhưng chẳng đánh mất định ý. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, thọ chung chi hậu, sanh tôn quý gia. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi ba: Nghe danh hiệu Phật, sanh vào chỗ tôn quý).

設我得佛他方國土諸菩薩眾聞我名字壽終之後生尊貴家若不爾者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước ở phương khác nghe danh tự của tôi, sau khi hết tuổi thọ, sanh vào nhà tôn quý. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, hoan hỷ, dũng dược, tu Bồ Tát hạnh, cụ túc đức bổn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi bốn: Tu hành cội đức trọn đủ).

設我得佛他方國土諸菩薩眾聞我名字歡喜踊躍修菩薩行具足德本若不爾者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước ở phương khác nghe danh tự của tôi, hoan hỷ, hớn hở, tu Bồ Tát hạnh, đầy đủ cội đức. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, giai tất đăi đắc Phổ Đẳng tam-muội. Trụ thị tam-muội chí vu thành Phật, thường kiến vô lượng bất khả tư nghị nhất thiết chư Phật. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi lăm: Đều đắc tam-muội thấy Phật).

設我得佛他方國土諸菩薩眾聞我名字皆悉逮得普等三昧住是三昧至于成佛常見無量不可思議一切諸佛若不爾者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi nước ở phương khác nghe danh tự của tôi, thảy đều đạt được Phổ Đẳng tam-muội. Trụ trong tam-muội ấy cho đến khi thành Phật, thường thấy vô lượng chẳng thể nghĩ bàn hết thảy chư Phật. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, quốc trung Bồ Tát tùy kỳ chí nguyện, sở dục văn pháp, tự nhiên đắc văn. Nhược bất nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi sáu: Tự nhiên được nghe diệu pháp).

設我得佛國中菩薩隨其志願所欲聞法自然得聞若不爾者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tùy theo chí nguyện, pháp nào muốn được nghe bèn tự nhiên được nghe. Nếu chẳng phải vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

          Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, bất tức đắc chí bất thoái chuyển giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi bảy: Liền đạt được địa vị bất thoái chuyển).

設我得佛他方國土諸菩薩眾聞我名字不即得至不退轉者不取正覺

          (Nếu tôi thành Phật, các Bồ Tát trong các cõi nước phương khác nghe danh tự của tôi, chẳng liền đạt đến bất thoái chuyển, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).

 

Thiết ngã đắc Phật, tha phương quốc độ chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, bất tức đắc chí đệ nhất nhẫn, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn, vu chư Phật pháp, bất năng tức đắc bất thoái chuyển giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi tám: Liền đạt được các môn Nhẫn rốt ráo).

設我得佛他方國土諸菩薩眾聞我名字不即得至第一忍第二第三法忍于諸佛法不能即得不退轉者不取正覺

(Nếu tôi thành Phật, các Bồ Tát trong các cõi nước phương khác nghe danh tự của tôi, chẳng liền đạt được đệ nhất nhẫn, đệ nhị, đệ tam pháp nhẫn, đối với các Phật pháp chẳng thể lập tức đạt được bất thoái chuyển, tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác).

 

Bản Đại Di Đà Kinh được lưu truyền trong cõi đời do cư sĩ Vương Long Thư (Vương Nhật Hưu) dung hội kinh văn từ bốn bản dịch mà tạo thành. Bốn bản dịch là:

          1) Bản dịch của ngài Ca Lâu Chi Sấm[13] đời Hán, tên là Vô Lượng Bình Đẳng Thanh Tịnh Giác Kinh.

          2) Bản dịch của ngài Khang Tăng Khải[14] đời Tào Ngụy, tên là Vô Lượng Thọ Kinh.

3) Bản dịch của ngài Chi Khiêm[15] đời Ngô tên là A Di Đà Kinh.

4) Bản dịch của ngài Pháp Hiền[16] đời Tống tên là Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh.

Còn bản dịch kèm thêm của ngài Bồ Đề Lưu Chí trong kinh Bảo Tích có tựa đề là Vô Lượng Thọ Như Lai Hội thì cư sĩ chưa dùng đến. Cư sĩ hội tập bốn bản dịch, lời lẽ đơn giản, nghĩa chu đáo, từ ngữ thông thuận, lý hiển, quả thật rất hữu công đối với Tịnh Độ. Tiếc là trong ấy có những chỗ chưa ổn. Chẳng hạn như bốn mươi tám nguyện, bản dịch đời Hán chỉ nêu ra hai mươi bốn nguyện. Bốn mươi tám nguyện khởi đầu từ bản dịch đời Ngụy, hai vị Pháp Hiền và [Bồ Đề] Lưu Chí cũng giống như thế. Bản dịch đời Ngô giống như bản đời Hán, cũng là hai mươi bốn nguyện. Nhưng bốn mươi tám nguyện xưa nay được lưu thông, đương nhiên là nên noi theo bản dịch đời Ngụy. Hiềm rằng cư sĩ trần thuật lời nguyện, đem so với bản dịch đời Ngụy, [thì cư sĩ] hoặc đem nguyện trước xếp ra nguyện sau, hoặc đem nguyện sau xếp ra trước, thứ tự rối ren. Nếu đem so với ba bản dịch kia, cũng đều chẳng ứng hợp!

Phàm dịch kinh ắt phải dựa theo bản tiếng Phạn, cư sĩ dựa vào bản tiếng Phạn nào mà đổi thứ tự khác đi? Theo Lý thì tuy dường như chẳng trở ngại gì, nhưng đối với pháp tắc dịch thuật, hết sức chẳng phù hợp. Hơn nữa, trong bản dịch đời Ngụy, đối với ba bậc vãng sanh đều nói là “phát Bồ Đề tâm”, cư sĩ lại chỉ ghi trong bậc trung là có [phát Bồ Đề tâm], bậc hạ bảo “chẳng phát”, bậc thượng lại chẳng có lời văn [nhắc đến chuyện ấy], hoàn toàn thiếu sót, sai khác, chẳng rõ do ý gì? [Do vậy, tôi] dùng bản dịch đời Ngụy sao lại để đem khắc in, ngõ hầu người đời sau biết có cổ văn tồn tại. Cư sĩ thần thức ngao du tịnh vực, thân đã nhập dòng thánh, ắt là tâm đã quên, lòng rỗng rang chẳng ngại, kẻ hèn này do lòng trung khẩn thiết, mong hãy xét cho!

 

* Chương Quán Phổ Hiền trong kinh Quán Phổ Hiền Bồ Tát

(觀普賢菩薩經普賢觀章)

 

Hữu nhất Bồ Tát, kết già phu tọa, danh viết Phổ Hiền, thân bạch ngọc sắc. Ngũ thập chủng quang. Quang ngũ thập chủng sắc, dĩ vi hạng quang. Thân chư mao khổng, lưu xuất kim quang. Kỳ kim quang đoan, vô lượng hóa Phật. Chư hóa Bồ Tát, dĩ vi quyến thuộc. An tường từ bộ, vũ đại bảo hoa, chí hành giả tiền. Kỳ tượng khai khẩu, ư tượng nha thượng, chư tŕ ngọc nữ, cổ nhạc huyền ca. Kỳ thanh vi diệu, tán thán Đại Thừa, Nhất Thật chi đạo. Hành giả kiến dĩ, hoan hỷ kính lễ. Phục cánh độc tụng, thậm thâm kinh điển, biến lễ thập phương, vô lượng chư Phật. Lễ Đa Bảo Phật tháp, cập Thích Ca Mâu Ni, diệc lễ Phổ Hiền, chư đại Bồ Tát, phát thị thệ nguyện: “Nhược ngã túc phước, ưng kiến Phổ Hiền. Nguyện tôn giả Biến Cát, thị ngã sắc thân”.

有一菩薩,結跏趺坐,名曰普賢,身白玉色。五十種光,光五十種色,以為項光。身諸毛孔,流出金光,其金光端,無量化佛。諸化菩薩,以為眷屬,安庠徐步,雨大寶華,至行者前。其象開口,於象牙上,諸池玉女,鼓樂絃歌,其聲微妙,讚歎大乘,一實之道。行者見已,歡喜敬禮。復更讀誦,甚深經典,遍禮十方,無量諸佛,禮多寶佛塔,及釋迦牟尼,并禮普賢,諸大菩薩,發是誓願:若我宿福,應見普賢,願尊者遍吉,示我色身。

          (Có một Bồ Tát, ngồi kết già phu. Tên là Phổ Hiền. Thân màu bạch ngọc. Năm mươi loại quang. Quang năm mươi loại sắc, để làm quang minh, chiếu sáng quanh cổ. Chân lông nơi thân, tỏa ánh sáng vàng. Chót mỗi kim quang, vô lượng hóa Phật. Các hóa Bồ Tát, để làm quyến thuộc. An tường, chậm bước, mưa hoa báu lớn, đến trước hành giả. Con voi há miệng. Ở trên ngà voi, có các ngọc nữ, trong ao trên ngà, tấu nhạc, đàn ca. Âm thanh vi diệu, tán thán Đại Thừa, và đạo Nhất Thật. Hành giả đã thấy, hoan hỷ kính lễ. Lại còn đọc tụng kinh điển rất sâu, lễ khắp mười phương, vô lượng chư Phật. Lễ tháp Đa Bảo Phật, và Thích Ca Mâu Ni, cũng lễ Phổ Hiền, các đại Bồ Tát, phát thệ nguyện này: “Do phước xưa của con, phải nên thấy Phổ Hiền. Nguyện tôn giả Biến Cát, hiện sắc thân cho con”).

 

* Phẩm Không trong kinh Kim Quang Minh[17]

 (金光明經空品) 

 

Vô lượng dư kinh, dĩ quảng thuyết Không. Thị cố thử trung, lược nhi giải thuyết. Chúng sanh căn độn, tiển ư trí huệ, bất năng quảng tri, vô lượng Không nghĩa. Cố thử tôn kinh, lược nhi thuyết chi. Dị diệu phương tiện, chủng chủng nhân duyên. Vị độn căn cố, khởi đại bi tâm. Ngã kim diễn thuyết, thử diệu kinh điển. Như ngã sở giải, tri chúng sanh ư. Thị thân hư ngụy, do như không tụ. Lục nhập thôn lạc, kết tặc sở chỉ, nhất thiết tự tại, các bất tương tri. Nhãn căn thọ sắc, nhĩ phân biệt thanh, tỵ khứu chư hương, thiệt thị ư vị. Sở hữu thân căn, tham thọ chư xúc. Ý căn phân biệt, nhất thiết chư pháp. Lục tình chư căn, các các tự duyên, chư trần cảnh giới, bất hành tha duyên. Tâm như huyễn hóa, trì sính lục tình, nhi thường vọng tưởng, phân biệt chư pháp. Do như thế nhân, trì tẩu không tụ. Lục tặc sở hại, ngu bất tri tỵ. Tâm thường y chỉ, lục căn cảnh giới, các các tự tri, sở tý chi xứ. Tùy hành sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tâm xử lục tình, như điểu đầu võng. Kỳ tâm tại tại, thường xử chư căn, tùy trục chư trần, vô hữu tạm xả. Thân không hư ngụy, bất khả trưởng dưỡng. Vô hữu tránh tụng, diệc vô chánh chủ. Tùng chư nhân duyên, hòa hợp nhi hữu, vô hữu kiên thật, vọng tưởng cố khởi. Nghiệp lực cơ quan, giả ngụy không tụ. Địa, thủy, hỏa, phong, hợp tập thành lập. Tùy thời tăng giảm, cộng tương tàn hại. Do như tứ xà, đồng xử nhất khiếp. Tứ đại nguyên xà, kỳ tánh các dị, nhị thượng, nhị hạ, chư phương diệc nhị. Như thị xà đại, tất diệt vô dư. Địa thủy nhị xà, kỳ tánh trầm hạ. Phong hỏa nhị xà, tánh khinh thượng thăng. Tâm thức nhị tánh, tháo động bất đình. Tùy nghiệp thọ báo, nhân thiên chư thú, tùy sở tác nghiệp, nhi đọa chư hữu. Thủy, hỏa, phong chủng, tán diệt hoại thời, đại tiểu bất tịnh, doanh lưu ư ngoại. Thể sanh chư trùng, bất khả ái nhạo. Quyên khí trủng gian, như hủ bại mộc. Thiện nữ đương quán, chư pháp như thị, hà xứ hữu nhân, cập dĩ chúng sanh? Bổn tánh không tịch, vô minh cố hữu. Như thị chư đại, nhất nhất bất thật. Bổn tự bất hữu, tánh vô hòa hợp. Dĩ thị nhân duyên, ngã thuyết chư đại, tùng bổn bất thật, hòa hợp nhi hữu, vô minh thể tướng, bổn tự bất hữu. Vọng tưởng nhân duyên, hòa hợp nhi hữu. Vô sở hữu cố, giả danh vô minh. Thị cố ngã thuyết, danh viết vô minh. Hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử sầu năo, chúng khổ hạnh nghiệp, bất khả tư nghị. Sanh tử vô tế, luân chuyển bất tức. Bổn vô hữu sanh, diệc vô hòa hợp. Bất thiện tư duy, tâm hành sở tạo, ngã đoạn nhất thiết, chư kiến phược đẳng. Dĩ trí huệ đao, liệt phiền năo vơng. Ngũ ấm xá trạch, quán tất không tịch, chứng vô thượng đạo. Vi diệu công đức, khai cam lộ môn, thị cam lộ khí, nhập cam lộ thành, xử cam lộ thất, linh chư chúng sanh, thực cam lộ vị. Xuy đại pháp loa, kích đại pháp cổ, nhiên đại pháp cự, vũ thắng pháp vũ. Ngã kim tồi phục, nhất thiết oán kết, thụ lập đệ nhất, vi diệu pháp tràng. Độ chư chúng sanh, ư sanh tử hải, vĩnh đoạn tam ác. Vô lượng khổ năo, phiền não xí nhiên, thiêu chư chúng sanh, vô hữu cứu hộ. Vô sở y chỉ. Ngã dĩ cam lộ, thanh lương mỹ vị, sung túc thị bối, linh ly tiêu nhiệt. Ư vô lượng kiếp, tuân tu chư hạnh, cúng dường cung kính, chư Phật Thế Tôn. Kiên cố tu tập, Bồ Đề chi đạo, cầu ư Như Lai, chân thật Pháp Thân. Xả chư sở trọng, chi tiết thủ túc, đầu mục tủy não, sở ái thê tử. Tiền tài trân bảo, chân châu, anh lạc, kim, ngân, lưu ly, chủng chủng dị vật.

無量餘經,已廣說空,是故此中,略而解說。眾生根鈍,尟於智慧,不能廣知,無量空義。故此尊經,略而說之,異妙方便,種種因緣。為鈍根故,起大悲心,我今演說,此妙經典。如我所解,知眾生意,是身虛偽,猶如空聚。六入村落,結賊所止,一切自在,各不相知。眼根受色,耳分別聲,鼻臭諸香,舌嗜於味。所有身根,貪受諸觸,意根分別,一切諸法。六情諸根,各各自緣,諸塵境界,不行他緣。心如幻化,馳騁六情,而常妄想,分別諸法。猶如世人,馳走空聚,六賊所害,愚不知避。心常依止,六根境界,各各自知,所伺之處。隨行色、聲、香、味、觸、法,心處六情,如鳥投網。其心在在,常處諸根,隨逐諸塵,無有暫捨。身空虛偽,不可長養,無有諍訟,亦無正主。從諸因緣,和合而有,無有堅實,妄想故起。業力機關,假偽空聚,地水火風,合集成立。隨時增減,共相殘害,猶如四蛇,同處一篋。四大蚖蛇,其性各異,二上二下,諸方亦二。如是蛇大,悉滅無餘。地水二蛇,其性沉下,風火二蛇,性輕上升。心識二性,躁動不停。隨業受報,人天諸趣,隨所作業,而墮諸有。水火風種,散滅壞時,大小不淨,盈流於外。體生諸蟲,無可愛樂,捐棄塚間,如朽敗木。善女當觀,諸法如是,何處有人,及以眾生?本性空寂,無明故有,如是諸大,一一不實。本自不有,性無和合,以是因緣,我說諸大。從本不實,和合而有,無明體相,本自不有。妄想因緣,和合而有,無所有故,假名無明。是故我說,名曰無明、行、識、名色、六入、觸、受、愛、取、有、生、老死愁惱,眾苦行業,不可思議。生死無際,輪轉不息,本無有生,亦無和合。不善思惟,心行所造,我斷一切,諸見纏等。以智慧刀,裂煩惱網,五陰舍宅,觀悉空寂。證無上道,微妙功德,開甘露門,示甘露器。入甘露城,處甘露室,令諸眾生食甘露味。吹大法螺,擊大法鼓,然大法炬,雨勝法雨。我今摧伏,一切怨結,豎立第一,微妙法幢。度諸眾生,於生死海,永斷三惡,無量苦惱。煩惱熾然,燒諸眾生,無有救護,無所依止。我以甘露,清涼美味,充足是輩,令離焦熱。於無量劫,遵修諸行,供養恭敬,諸佛世尊。堅固修習,菩提之道,求於如來,真實法身。捨諸所重,肢節手足,頭目髓腦,所愛妻子,錢財珍寶,真珠瓔珞,金銀琉璃,種種異物。

          (Vô lượng kinh khác, đã rộng nói Không. Vì thế ở đây, giải nói đại lược. Chúng sanh căn độn, trí huệ kém cỏi, chẳng thể rộng biết, vô lượng nghĩa Không. Nên tôn kinh này, sẽ nói đại lược. Phương tiện diệu lạ, các loại nhân duyên. Do vì độn căn, khởi tâm đại bi. Tôi nay diễn nói, kinh điển mầu nhiệm. Như tôi đã hiểu, biết ý chúng sanh. Thân này hư ngụy, giống như xóm trống. Thôn làng Lục Nhập, giặc kết sử ở. Hết thảy tự tại, đều chẳng biết nhau. Nhãn căn nhận sắc, tai phân biệt tiếng, mũi ngửi các mùi, lưỡi thì nếm vị. Tất cả thân căn, tham nhận các xúc. Ý căn phân biệt, hết thảy các pháp. Lục tình các căn, mỗi mỗi tự duyên, các trần cảnh giới, chẳng duyên theo khác. Tâm như huyễn hóa, rong ruổi lục tình, mà thường vọng tưởng, phân biệt các pháp. Giống như người đời, rảo chạy thôn trống. Bị sáu giặc hại, ngu chẳng biết tránh. Tâm thường nương cậy, cảnh giới sáu căn, mỗi mỗi tự biết. Nơi họ tìm cầu, đi theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tâm trong lục tình, như chim sa lưới. Tâm ở mọi nơi, thường trong các căn, theo đuổi các trần, chẳng hề tạm bỏ. Thân rỗng, hư ngụy, chớ nên trưởng dưỡng. Chẳng có tranh cãi, cũng chẳng có chủ. Từ các nhân duyên, hòa hợp mà có. Chẳng hề chắc chắn, do vọng tưởng khởi. Nghiệp lực điều khiển, giả ngụy tụ tập. Đất, nước, gió, lửa, kết hợp thành lập. Tùy thời tăng giảm, tàn hại lẫn nhau. Như bốn con rắn, trong cùng một tráp. Rắn độc tứ đại, mỗi con khác tánh, hai trên, hai dưới. Các phương cũng khác. Rắn tứ đại ấy, ắt diệt chẳng sót. Hai rắn đất, nước, tánh chúng trầm xuống. Hai rắn gió, lửa. Tánh nhẹ, thăng lên. Hai tánh tâm, thức, lao xao chẳng ngừng. Theo nghiệp thọ báo. Các đường trời, người, theo nghiệp đã tạo, đọa trong các cõi. Thủy, hỏa, phong chủng, khi tan diệt hoại. Đại tiểu bất tịnh, chảy tràn ra ngoài. Thân sanh các trùng, chẳng thể ưa thích. Vứt bỏ nơi mồ, như gỗ mục nát. Thiện nữ nên quán: Các pháp như thế, chỗ nào có người, cùng với chúng sanh? Bổn tánh không tịch, vô minh nên có. Các đại như vậy, mỗi mỗi chẳng thật. Vốn tự chẳng có, tánh chẳng hòa hợp. Do nhân duyên ấy, tôi nói các đại, chẳng thật từ gốc, hòa hợp mà có. Thể tướng vô minh, vốn tự chẳng có. Nhân duyên vọng tưởng, hòa hợp mà có. Do vô sở hữu, giả gọi vô minh. Vì thế, tôi nói: Gọi là vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử sầu năo, các hạnh nghiệp khổ, chẳng thể nghĩ bàn! Sanh tử khôn ngằn, luân chuyển chẳng ngơi. Vốn chẳng có sanh, cũng chẳng hòa hợp. Tư duy chẳng lành, do tâm hành tạo. Ta đoạn hết thảy, các kiến phược thảy. Dùng đao trí huệ, xé lưới phiền não. Nhà cửa Ngũ Ấm, quán đều không tịch, chứng vô thượng đạo. Công đức vi diệu. Mở cửa cam lộ, bày đồ cam lộ, vào thành cam lộ, ở nhà cam lộ, khiến các chúng sanh, ăn vị cam lộ. Thổi ốc pháp lớn, gióng trống pháp lớn. Đốt đuốc pháp lớn, tuôn mưa thắng pháp. Ta nay dẹp tan, hết thảy oán kết. Tạo lập pháp tràng, vi diệu bậc nhất. Độ các chúng sanh, trong biển sanh tử, mãi đoạn ba ác. Vô lượng khổ năo, phiền não cháy hừng, đốt các chúng sanh, chẳng ai cứu hộ. Không nơi nương tựa. Ta dùng cam lộ, vị ngon, trong mát, khiến họ no đủ, khiến lìa nóng cháy. Trong vô lượng kiếp, tuân tu các hạnh, cúng dường cung kính, chư Phật Thế Tôn. Kiên cố tu tập, nơi đạo Bồ Đề. Cầu đức Như Lai, chân thật Pháp Thân. Bỏ điều quý trọng, lóng đốt, chân tay, đầu, mắt, tủy, não, vợ con yêu mến. Tiền tài, của báu, chân châu, anh lạc, vàng, bạc, lưu ly, các thứ vật lạ).

 

* Chương Bồ Tát Giới Phát Thệ Nguyện của kinh Phạm Võng

(梵網經菩薩戒發誓願章)

 

 Nhược Phật tử! Thường ưng phát nhất thiết nguyện: “Hiếu thuận phụ mẫu, sư tăng, nguyện đắc hảo sư, đồng học, thiện tri thức, thường giáo ngã Đại Thừa kinh luật, thập phát thú, thập trưởng dưỡng, thập kim cang, thập địa, sử ngã khai giải, như pháp tu hành, kiên tŕ Phật giới; ninh xả thân mạng, niệm niệm bất khứ tâm”. Nhược nhất thiết Bồ Tát bất phát thị nguyện giả, phạm khinh cấu tội. Nhược Phật tử! Phát thị thập đại nguyện dĩ, tŕ Phật cấm giới, tác thị nguyện ngôn: “Ninh dĩ thử thân, đầu xí nhiên mănh hỏa, đại khanh, đao sơn, chung bất hủy phạm tam thế chư Phật kinh luật, dữ nhất thiết nữ nhân tác bất tịnh hạnh”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ nhiệt thiết la vơng thiên trùng châu táp triền thân, chung bất thủ dĩ thử phá giới chi thân thọ ư tín tâm đàn việt nhất thiết y phục”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ thử khẩu thôn nhiệt thiết hoàn cập đại lưu mãnh hỏa kinh bách thiên kiếp, chung bất dĩ thử phá giới chi khẩu thực ư tín tâm đàn việt bách vị ẩm thực”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ thử thân ngọa đại lưu mănh hỏa la vơng nhiệt thiết địa thượng, chung bất dĩ thử phá giới chi thân thọ ư tín tâm đàn việt bách chủng sàng ṭa”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ thử thân thọ tam bách mâu thích thân kinh nhất kiếp, nhị kiếp, chung bất dĩ thử phá giới chi thân thọ ư tín tâm đàn việt bách vị y dược”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ thử thân đầu nhiệt thiết hoạch, kinh bách thiên kiếp, chung bất dĩ thử phá giới chi thân thọ ư tín tâm đàn việt thiên chủng pḥng xá, ốc trạch, viên lâm, điền địa”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ thiết chùy đả toái thử thân, tùng đầu chí túc, linh như vi trần, chung bất dĩ thử phá giới chi thân thọ ư tín tâm đàn việt cung kính lễ bái”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ bách thiên nhiệt thiết đao mâu khiêu kỳ lưỡng mục, chung bất dĩ thử phá giới chi tâm thị tha hảo sắc”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ bách thiên thiết chùy sàm thích nhĩ căn, kinh nhất kiếp, nhị kiếp, chung bất dĩ thử phá giới chi tâm thính hảo âm thanh”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ bách thiên nhận đao cát khử kỳ tỵ, chung bất dĩ thử phá giới chi tâm tham khứu chư hương”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ bách thiên nhận đao cát đoạn kỳ thiệt, chung bất dĩ thử phá giới chi tâm thực nhân bách vị tịnh thực”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ lợi phủ trảm phá kỳ thân, chung bất dĩ thử phá giới chi tâm tham trước hảo xúc”. Phục tác thị nguyện: “Nguyện nhất thiết chúng sanh tất đắc thành Phật”, nhi Bồ Tát nhược bất phát thị nguyện giả, phạm khinh cấu tội.

若佛子常應發一切願:「孝順父母師僧願得好師同學善知識常教我大乘經律十發趣十長養十金剛十地使我開解如法修行堅持佛戒寧捨身命念念不去心。」若一切菩薩不發是願者犯輕垢罪若佛子發是十大願已持佛禁戒作是願言:「寧以此身投熾然猛火大坑刀山終不毀犯三世諸佛經律與一切女人作不淨行。」復作是願:「寧以熱鐵羅網千重周匝纏身終不以此破戒之身受於信心檀越一切衣服。」復作是願:「寧以此口吞熱鐵丸及大流猛火經百千劫終不以此破戒之口食於信心檀越百味飲食。」復作是願:「寧以此身臥大流猛火羅網熱鐵地上終不以此破戒之身受於信心檀越百種床座。」復作是願:「寧以此身受三百矛刺身經一劫二劫終不以此破戒之身受於信心檀越百味醫藥。」復作是願:「寧以此身投熱鐵鑊經百千劫終不以此破戒之身受於信心檀越千種房舍屋宅園林田地。」復作是願:「寧以鐵鎚打碎此身從頭至足令如微塵終不以此破戒之身受於信心檀越恭敬禮拜。」復作是願:「寧以百千熱鐵刀矛挑其兩目終不以此破戒之心視他好色。」復作是願:「寧以百千鐵錐劖刺耳根經一劫二劫終不以此破戒之心聽好音聲。」復作是願:「寧以百千刃刀割去其鼻終不以此破戒之心貪嗅諸香。」復作是願:「寧以百千刃刀割斷其舌終不以此破戒之心食人百味淨食。」復作是願:「寧以利斧斬破其身終不以此破戒之心貪著好觸。」復作是願:「願一切眾生悉得成佛。」而菩薩若不發是願者犯輕垢罪

          (Nếu là Phật tử, hãy thường nên phát hết thảy nguyện: “Hiếu thuận cha mẹ, sư tăng, nguyện được thầy, bạn học, thiện tri thức tốt đẹp, thường dạy tôi kinh luận Đại Thừa, mười phát thú[18], mười trưởng dưỡng[19], mười kim cang[20], thập địa, khiến cho tôi khai giải, đúng như pháp tu hành, giữ vững Phật giới. Thà xả thân mạng, niệm nào cũng chẳng bỏ cái tâm ấy”. Nếu hết thảy Bồ Tát chẳng phát nguyện ấy, sẽ phạm tội khinh cấu. Nếu Phật tử phát mười đại nguyện ấy xong, giữ giới cấm của Phật, nguyện như thế này: “Thà đem thân này gieo vào lửa mạnh cháy hừng hực, hố to, núi đao, trọn chẳng hủy phạm kinh luật của hết thảy chư Phật ba đời, cùng với hết thảy nữ nhân làm hạnh bất tịnh”. Lại nguyện như thế này: “Thà dùng ngàn tầng lưới rập bằng sắt nóng trói kín quanh thân, trọn chẳng dùng thân phá giới này để nhận hết thảy y phục của tín tâm đàn việt”. Lại nguyện như thế này: “Thà dùng miệng này nuốt hòn sắt nóng và bị lửa táp dữ dội trải trăm ngàn kiếp, trọn chẳng dùng miệng phá giới này để ăn thức ăn trăm vị của tín tâm đàn việt”. Lại nguyện như thế này: “Thà đem thân này nằm trên mặt đất bằng sắt nóng, lưới chăng lửa táp dữ dội, trọn chẳng dùng thân phá giới này để nhận trăm loại giường tòa của tín tâm đàn việt”. Lại nguyện như thế này: “Thà đem thân này chịu ba trăm ngọn mâu đâm vào thân trải một kiếp, hai kiếp, trọn chẳng dùng thân phá giới này để nhận thuốc men trăm vị của tín tâm đàn việt”. Lại nguyện như thế này: “Thà đem thân này gieo vào chảo nóng trải trăm ngàn kiếp, trọn chẳng dùng thân phá giới này để nhận ngàn loại pḥng ở, nhà cửa, vườn rừng, ruộng đất của tín tâm đàn việt”. Lại nguyện như thế này: “Thà dùng búa sắt đập nát thân này, từ đầu đến chân như vi trần, trọn chẳng dùng thân phá giới này để nhận sự cung kính lễ bái của tín tâm đàn việt”. Lại nguyện như thế này: “Thà dùng trăm ngàn đao hoặc mâu bén bằng sắt nóng khoét bỏ hai mắt, trọn chẳng dùng tâm phá giới này để nhìn sắc đẹp của kẻ khác”. Lại nguyện như thế này: “Thà dùng trăm ngàn dùi sắt đâm nát nhĩ căn, trải một kiếp, hai kiếp, trọn chẳng dùng tâm phá giới này để nghe âm thanh đáng ưa”. Lại nguyện như thế này: “Thà dùng trăm ngàn đao bén cắt bỏ cái mũi, trọn chẳng dùng tâm phá giới này để tham ngửi các mùi”. Lại nguyện như thế này: “Thà dùng trăm ngàn đao bén cắt đứt cái lưỡi, trọn chẳng dùng tâm phá giới để ăn thức ăn thanh tịnh trăm vị của người khác”. Lại nguyện như thế này: “Thà dùng búa bén chặt nát tấm thân, trọn chẳng dùng tâm phá giới này để tham đắm cảm xúc tốt đẹp”. Lại nguyện như thế này: “Nguyện hết thảy chúng sanh đều được thành Phật”, Bồ Tát nếu chẳng phát các nguyện ấy, sẽ phạm tội khinh cấu).

          Hỏi: Kim Cang Toản được xưng tụng là công đức rất lớn, vì sao không trích lục?

          Đáp: Do là sách ngụy tạo, lại gây hại lớn. Sách ấy nói: “Tụng lời tóm tắt này hơn tụng kinh Kim Cang ba mươi vạn lượt”. Nếu kẻ ngu tin vào lời ấy, sẽ cho rằng chẳng cần phải tụng nhiều quyển [kinh Kim Cang], chỉ dùng một lời tóm tắt ấy cho xong trách nhiệm, há chẳng phải hãm người khác vào địa ngục ư? Còn như [các ngụy kinh như] Phân Châu, Cao Vương, Diệu Sa, Huyết Bồn, Thọ Sanh, đủ loại bịa đặt, đều chẳng đáng tin!

Hỏi: Cao vương tụng kinh miễn nạn, truyện ký đã chép, vì sao là ngụy?

Đáp: Phải nên là Cao vương tụng Quán Âm Phổ Môn Phẩm. Người đời sau chẳng thông đạt, ngoa truyền thành ngụy kinh, gọi riêng là Cao Vương đó thôi!

 

2.2.2. Chú

* Phật Đảnh Tôn Thắng Đại Đà Ra Ni (佛頂尊勝大陀羅尼)

 

(Kinh Tôn Thắng có năm bản dịch[21], chú [ghi trong các bản dịch ấy] cũng đại đồng tiểu dị; đây là một bản. Cõi đời gọi là Tôn Thắng Chân Ngôn để xướng vịnh. Chú này được truyền thừa, trì tụng; về sau được thêm “ám, phổ long” (Aum, Bhrum) v.v… Pháp sư Hộ Chân đã từng nêu câu hỏi với đại sư. Đại sư nói: “Nên dùng bản được ghi trong Đại Tạng làm chánh”. Nay ghi thêm vào).

 

 Nam mô bạc già phạt đế, điệt rị lô chỉ dã, bát lạt để, tỳ thất sắt trá dã. Bột đà dã. Bạc già phạt đế, đát điệt tha: Án, tỳ thâu đà dã, táp ma tam mạn đa, a bà bà, sa táp phấn ra noa, yết để cứ. Hát na tỏa bà bà, tỳ thú thê, a tỳ sân giả đổ mạn, tô yết đa, bạt ra bạt giả na, a mật lật đa, bệ sư kế a. Hát ra a, hát ra a, dũ san đà lạt nễ, thâu đà dã, thâu đà dã, già già na, tỳ thú thê, ô sắt nị sa tỳ thệ dã thú thê, sách ha tát ra, hát lạt thấp mi, san châu địa đế, tát bà đát tha yết đa, a địa sắt sá na, a địa sắt sỉ đá một điệt lệ, bạt chiết ra ca dã. Tăng hát đán, na thú thê, tát bà a, phạt lạt noa tỳ thú thê, bát lạt để, nễ bạt đới dã, a dũ thú thê, tam ma da, a địa sắt sỉ đế, mạt nễ mạt nễ, ma mạt nễ, đát thát đa, bộ đa cô trí, bát rị thú thê tỵ tốt bố trá, bột địa thú thê, thệ dã, thệ dã, tỵ thệ dã, tỵ thệ dã, tam mạt ra, tam mạt ra, tát bà bột đà, a địa sắt sỉ đa thú thê, bạt chiết lệ, bạt chiết ra, yết bệ, bạt chiết lam bà, bạt đổ ma ma, a mục yết tả, tát bà tát đóa nan, giả ca dã, tỳ thú thê, tát bà yết để, bát rị thú thê, tát bà đát tha yết đá, tam ma thú hòa sa, a địa sắt sỉ đế, bột đà, bột đà, bồ đà dã, bồ đà dã, tam mạn đá, bát rị thú thê, tát bà đát tha yết đá, a địa sắt sá na, a địa sắt sỉ đế, sa ha.

南謨薄伽伐帝。咥哩盧枳也。缽剌底。毗失瑟吒也勃陀也。薄伽伐帝。怛姪他。唵。毗輸馱也。颯麼三曼多。阿婆婆娑颯癹囉拏。揭底噱。喝娜瑣婆婆毗戍睇。阿毗詵者睹漫蘇揭多。跋囉跋者那。阿蜜栗多。鞞師計痾喝囉痾。喝囉痾。愈珊陀喇你。輸馱也。輸馱也。伽伽那。毗戍睇。烏瑟膩沙毗逝也戍睇索訶薩囉。喝𡃤濕弭。珊珠地帝。薩婆怛他揭多。阿地瑟侘娜。阿地瑟恥沒姪囇。跋折囉迦也。僧喝旦。娜戍睇。薩婆痾。伐喇拏毗戍睇。缽喇底。你跋戴也。阿愈戍睇。三麼耶。阿地瑟恥帝。末你末你。麼末你。呾闥多。步多孤。缽唎戍睇鼻窣怖吒。勃地戍睇。逝也逝也。鼻逝也。鼻逝也。三末囉。三末囉。薩婆勃陀。阿地瑟恥多戍睇。跋折囇。跋折囉揭鞞跋折藍婆。跋睹麼麼。阿目羯寫。薩婆薩埵難者迦也。毗戍睇。薩婆揭底。缽唎戍睇。薩婆怛他揭哆。三摩戍和娑。阿地瑟恥帝。勃陀勃陀菩馱也。菩馱也。三曼。缽唎戍睇。薩婆怛他揭。阿地瑟侘娜。阿地瑟恥帝。莎訶。

 

* Lại còn trích từ Nhân Hiếu Hoàng Hậu[22] Mộng Cảm Phật Thuyết Đệ Nhất Hy Hữu Công Đức kinh của bổn triều (nhà Minh)

 

Án, phổ long sa ha. Án, nại mô phấn cát oát đế, tát rị oát đắc ra lô ca bốc ra đế. Nguyệt thiệp sắt trá da bột tháp da. Đa nại ma đáp đích nha tháp. Án, phổ long, phổ long, phổ long, tiêu ngoa tháp da, tiêu ngoa tháp da. Nguyệt tiêu ngoa tháp da. Nguyệt tiêu ngoa tháp da. Ách tát ma tát man đạt ách oát phấn tát tư ba ra nã cát đế. Cát cát nã, sa phấn oát nguyệt thuật đề ách phiết thiên trán đô mam. Tát lư oát đáp tháp cát đạt tô cát. Đáp ngõa ra oát tạt nã, ách mật rị đạt ách. Phiết thích cai nhi mă hạt mộc đắc ra mạn đặc ra la bát đới, ách hạt ra, ách hạt ra, mă ma ái do nhi tán tháp ra ni. Tiêu ngoa tháp da, tiêu ngoa tháp da. Nguyệt tiêu ngoa tháp da, nguyệt tiêu ngoa tháp da. Cát cát nã, sa phấn oát nguyệt thuật đề. Ô thất ni sa nguyệt tạt da. Ba rị thuật thiết. Tát hạt tư ra ra tư di tán tra đa địch tát rị oát đáp tháp cát đạt ách. Oát lỗ kết ni sát trá ba ra mật đạt. Ba rị bốc ra ni. Tát rị oát đáp tháp cát đạt ma đế. Đáp nhiếp bồ mật bốc ra. Điệp sắt trá đế, tát rị oát đáp tháp cát đạt hách rị, đạt da ách điệp sắt trá nã ách, điệp sắt trá đế, mộc đắc rị, mộc đắc rị, mã hát mộc đắc rị, oát tư ra cát da, tam hạt đạt nã bát rị thuật thiết, tát rị oát cát rị ma ách. Oát ra nã nguyệt thuật thiết bốc ra. Điệp niếp oát nhi đạt da, mă ma ái do nhi nguyệt thuật đề, tát rị oát đáp tháp cát đạt tát ma da ách, điệp sắt trá nã ách, điệp sắt trá đế. Án, ma ni ma ni, mă hạt ma ni, nguyệt ma ni, nguyệt ma ni, mă hạt nguyệt ma ni ma đế, ma đế, mă hạt ma đế, ma ma đế sa ma đế, đáp tháp đạt bồ đạt qua khiển ba rị thuật đề, nguyệt tư bồ trá bốc thiết thuật thiết hy hy, tạt da, tạt da, nguyệt tạt da, nguyệt tạt da, tư ma ra, tư ma ra, tư ba ra, tư ba ra, tư ba ra da, tư ba ra da, tát rị oát bột tháp ách điệp sắt trá nã ách, điệp sắt trá đế, thuật thiết, thuật thiết, bốc thiết, bốc thiết, oát tư rị, oát tư rị, mă hạt oát tư rị sa oát tư rị, oát tư ra cát nhi tỳ tạt da, cát nhi tỳ nguyệt tạt da. Cát nhi tỳ oát tư ra, tả lạt cát nhi tỳ oát tư rô thắc ba vi. Oát tư ra tam ba ba vi, oát tư ra, oát tư rị ni, oát tư ram, phấn oát đô. Ma ma nhiếp rị ram, tát rị oát, tát đóa nẫm. Tạt cát da, ba rị thuật đề, phấn oát đô, tát đỏa di tát rị oát cát đế, ba rị thuật đề, thích triết tát rị oát đáp tháp cát, đạt thích triết mam, tát ma loát, tát nhan đô bốc thiết bốc thiết, tất thiết tất thiết, bột tháp da, bột tháp da, nguyệt bột tháp da, nguyệt bột tháp da, mô tạt da, mô tạt da, nguyệt mô tạt da, nguyệt mô tạt da, tiêu ngoa tháp da, tiêu ngoa tháp da, nguyệt tiêu ngoa tháp da, nguyệt tiêu ngoa tháp da, tát man đáp mô tạt da, mô tạt da, tát man đáp ra tư di ba rị thuật đề, tát rị oát đáp tháp cát đạt hách rị, đạt da ách điệp sắt trá nã, ách điệp sắt trá đế, mộc đắc rị, mộc đắc rị, mă hạt mộc đắc rị, mă hạt mộc đắc ra, mạn đặc ra bát đế, sa ha.

唵。𠽾𠾐莎訶。唵。捺謨癹葛斡諦。薩哩斡得囉盧迦卜囉諦。月涉瑟吒耶。勃塔耶。爹捺麻荅的牙塔。唵𠽾𠾐𠽾𠾐𠽾𠾐杓訛塔耶。杓訛塔耶。月杓訛塔耶。月杓訛塔耶。啞薩麻薩蠻達啞斡癹薩思葩囉拿葛諦。葛葛拿。娑癹斡月述提啞撇羶𠽷𦎌。薩哩斡荅塔葛達蘇葛。荅瓦囉斡拶拿。啞密哩達啞。撇釋該而馬曷木得囉曼特囉叭罘。啞曷囉。啞曷囉。馬麻藹由而傘塔囉尼。杓訛塔耶。杓訛塔耶。月杓訛塔耶。月杓訛塔耶。葛葛拿。娑癹斡月述提。烏失尼沙月拶耶。巴哩述鐵。薩曷思囉囉思彌傘柤爹敵。薩哩斡荅塔葛達啞。斡魯結尼煞吒巴囉密達。巴哩卜囉尼。薩哩斡荅塔葛達麻諦。荅攝蒲密卜囉牒瑟吒諦薩哩斡荅塔葛達赫哩達耶啞牒瑟吒拿啞牒瑟吒諦木得哩木得哩馬喝木得哩斡資囉葛耶三曷達拿叭哩述鐵薩哩斡葛哩麻啞斡囉拿月述鐵卜囉牒聶斡而達耶馬麻藹由而月述提薩哩斡荅塔葛達薩麻耶啞牒瑟吒拿啞牒瑟吒諦唵摩尼摩尼馬曷麻尼月摩尼月摩尼馬曷月摩尼麻諦麻諦馬曷麻諦麻麻諦莎麻諦荅塔達蒲達戈遣巴哩述提月思蒲吒卜鐵述鐵希希拶耶拶耶月拶耶月拶耶思麻囉思麻囉思葩囉思葩囉思葩囉耶思葩囉耶薩哩斡勃塔啞牒瑟吒拿啞牒瑟吒諦述鐵述鐵卜銕卜銕斡資哩斡資哩馬曷斡資哩莎斡資哩斡資囉葛而毘拶耶。葛而毘月拶耶。葛而毘斡資囉左辣葛而毘斡資嚕忒葩微。斡資囉三葩微。斡資囉斡資哩尼。斡資癹斡都。麻麻攝哩。薩哩斡薩埵喃。拶葛耶。巴哩述提。癹斡都。薩埵彌。薩哩斡葛諦。巴哩述提。釋哲薩哩斡荅塔葛。達釋哲𦎌。薩麻刷。薩顏都。卜銕卜銕。悉鐵悉鐵。勃塔耶勃塔耶。月勃塔耶。月勃塔耶。謨拶耶。謨拶耶。月謨拶耶。月謨拶耶。杓訛塔耶。杓訛塔耶。月杓訛塔耶。月杓訛塔耶。薩蠻荅謨拶耶。謨拶耶。薩蠻荅囉思彌巴哩述提。薩哩斡荅塔葛。達赫哩達耶啞牒瑟吒拿。啞牒瑟吒諦。木得哩木得哩馬曷木得哩。馬曷木得囉曼特囉叭諦。莎訶。

 

* Chú thọ giới đắp y

 

Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, ngã kim đảnh đới thọ, thế thế bất xả ly.

          Án, tất đà da, sa ha (y năm điều).

          善哉解脫服,無上福田衣,我今頂戴受,世世不捨離。

悉陀耶娑訶(五條)

          (Lành thay áo giải thoát, y ruộng phước vô thượng. Con nay cung kính nhận, đời đời chẳng bỏ lìa).

 

          Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, ngã kim đảnh đới thọ, thế thế thường đắc phi.   

          Án, độ ba, độ ba, sa ha (y bảy điều).

          善哉解脫服,無上福田衣,我今頂戴受,世世常得披。

度波度波娑訶(七條)

          (Lành thay áo giải thoát, y ruộng phước vô thượng. Con nay cung kính nhận, đời thường được mặc).

 

Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, tŕ phụng Như Lai mạng, quảng độ chư chúng sanh.

          Án, ma ha ca ba ba trá tất đế, sa ha (y hai mươi lăm điều)

          善哉解脫服,無上福田衣,持奉如來命,廣度諸眾生。

唵。摩訶迦波波吒悉帝。娑訶(二十五條)

(Lành thay áo giải thoát, y ruộng phước vô thượng. Vâng giữ Như Lai mạng, rộng độ các chúng sanh).

 

Ngọa cụ ni sư đàn, trưởng dưỡng tâm miêu tánh. Triển khai đăng thánh địa, phụng tŕ Như Lai mạng.

Án, đàn ba đàn ba, sa ha.

          臥具尼師壇,長養心苗性。展開登聖地,奉持如來命。

唵。檀波檀波。莎訶。

          (Đồ trải ni sư đàn, trưởng dưỡng tánh mầm tâm. Mở ra, lên thánh địa, vâng giữ Như Lai mạng).

 

          Hỏi: Cư sĩ có thể đắp y hay không?    

          Đáp: Đầu tròn, áo vuông, có tóc mà đắp y, theo đúng pháp thì không nên, đâm ra chuốc lấy tội khiên! Điều này được nói cặn kẽ trong thiên Từ Vân Sám Chủ Biện Hoặc của sách Truy Môn Cảnh Huấn.

 

* Bát Nhã Vô Tận Tạng chân ngôn (般若無盡藏真言)

 

Nạp mô bạc già phạt đế, bát rị nhã ba la mật đa duệ, đát trí tha: Án, hột rị, địa rị, thất rị, thú rô tri, tam mật lật tri phật xă duệ, sa ha.

          納謨薄伽伐帝缽利若波羅蜜多曳怛致他紇利地唎室唎戍嚕知三蜜栗知佛社曳莎訶

          (Namo bhagavate prajñā paramitaye tadyathā: Oṃ, hrih, dhih, śrīh, śruti, smriti vijaye, svā hā).

 

* Hoa Nghiêm Bổ Khuyết Chú (華嚴補闕咒)

 

Nam-mô tam mãn đá một đà nẫm, a bát ra đế hát đa. Chiết chiết nại di. Án, kê di, kê di, đát tháp cát tháp nẫm. Mạt ngõa sơn đính bát ra đế, ô đát ma, đát ma, đát tháp cát tháp nẫm, mạt ngõa hồng phấn, sa ha.

          南無三滿哆沒馱喃阿缽囉帝喝多折折捺彌雞彌雞彌怛塔葛塔喃末瓦山碇缽囉帝烏怛摩怛摩怛塔葛塔喃末瓦吽癹莎訶

          (Namaḥ samanta buddhānaṃ, apratihata, śāsanānāṃ. Oṃ, kiṇi, kiṇi, tathā-gata, udbhava śānte varade, udhama-udhama tathāgata udbhava, hūṃ, phaṭ, svāhā).

 

* Uế Tích Kim Cang[23] thần chú (穢跡金剛神咒)

 

          Án, bút hoát khốt lốt, ma ha bát ra ngân na, ngái vẫn trấp vẫn, hê ma ni, vi kê vi ma na thê. Án, chước cấp na, ô thâm mộ, khốt lốt, hồng hồng hồng, phán phán phán phán phán, sa ha.

          𠲽咶啒摩訶般羅狠那𠵨吻汁吻醯摩尼微咭微摩那棲斫急那烏深暮吽吽吽泮泮泮泮泮莎訶

          (Oṃ bhihau guru mahā-pra hun-nahu bucibu himaṇi vikivi manaśe, oṃ, jaṭila ucchuṣma guru hūṃ hūṃ hūṃ phaṭ phaṭ phaṭ phaṭ phaṭ, svāhā).

 

* Thập nhị nhân duyên chú (ghi kèm thêm các chú khác)

 

          Án, da đáp nhi ma hề đô bất ra, ba oát hề đôn đích sơn đáp, tháp cát đáp hiết oát đát đích sơn tạt, ước ni rô đát da bang bát đế, ma hạt thích ra ma nạp da, sa ha.

          耶荅兒麻兮都不囉巴斡兮敦的山荅搭葛荅歇斡怛的山拶約尼嚕怛耶𠳐叭諦麻曷釋囉麻納耶莎訶

          (O, dharmā hetu prabhavā hetūn teāṃ tathāgata hya vadat tea cayo nirodha eva vādi mahā-śramaaya, svāhā).

 

* Chú vào nhà xí

 

Án, ngận rô đà da, sa ha.

          狠嚕陀耶莎訶

 

* Chú rửa sạch

 

          Án, hạ nẵng mật lật đế, sa ha.

          賀曩密栗帝莎訶

 

* Chú khử uế

 

Án, thất rị duệ bà hê, sa ha.

室利曳婆醯莎訶

 

* Chú rửa tay

 

          Án, chủ ca ra dã, sa ha.

          主迦囉野莎訶

 

 * Chú tịnh thân

 

          Án, bạt chiết ra não ca tra, sa ha.

          跋折囉惱迦吒莎訶

 

* Chú xuống giường

 

          Án, địa lợi nhật rị, sa ha

          地利日哩莎訶

 

* Chú bước đi, không tổn thương các loài trùng[24]

 

          Án, địa lợi nhật rị, sa ha

          地利日哩莎訶

 

* Chú vào đạo tràng

 

          Án, a mật lật đế hồng phấn trá.

          阿蜜栗帝吽癹吒

 

* Lục Tự Đại Minh Chú

 

          Án, ma ni bát di hồng

          嘛呢叭𡄣

          (Oṃ, maṇi padme hūṃ).

 

* Bổ khuyết chân ngôn

 

          Nẵng mô hát ra đát na đa ra dạ da khư ra khư ra câu trụ câu trụ ma la ma la hổ ra hồng, hạ hạ tô đát noa hồng, bát mạt noa, sa bà ha

          曩謨喝囉怛那多囉夜耶佉囉佉囉俱住俱住摩囉摩囉虎囉吽賀賀蘇怛拏吽潑沫拏娑婆訶

          (Namo ratnatrayāya, khara, khara, kucu, kucu, mala, mala, hura hūṃ haha sudāna hūṃ phaṭ, svāhā).

 

2.2.3. Các phần sao lục khác

* Lời cảnh tỉnh về việc xem kinh

Thiền sư Bảo Ninh Dũng soạn

 

          Hậu học cần biết cách xem kinh: Hãy nên thanh tịnh ba nghiệp. Nếu ba nghiệp chẳng khuyết, trăm phước đều tụ tập. Ba nghiệp là thân, miệng, ý. Một là thân ngồi đoan chánh như đối trước thánh dung, đó là thân nghiệp thanh tịnh. Hai là miệng chẳng nói lời xen tạp, dứt các thứ cười đùa. Đó là khẩu nghiệp thanh tịnh. Ba là ý chẳng tán loạn, ngăn dứt muôn duyên. Đó là ý nghiệp thanh tịnh. Nội tâm đã tịch tĩnh, ngoại cảnh đều mất thì mới khế ngộ nguồn chân, ngõ hầu nghiên cứu cùng tận pháp lý. Có thể nói là “nước lặng trong, châu sáng thấu triệt, mây tan, trăng sáng, biển nghĩa tràn trề tâm khảm, non trí lắng đọng nơi tai mắt”. Đừng vội cho là dễ dàng, quả thật chẳng phải là duyên nhỏ nhoi. Tâm lẫn pháp đều quên, mình và người đều được lợi. Nếu có thể như thế, sẽ thật sự là báo ân Phật.

 

* Văn lễ kinh Hoa Nghiêm

Toại thiền sư ở Đại Hồng sơn, Tùy Châu soạn

 

          Kính lễ Hoa Nghiêm biển chân tánh, đấng đủ loại quang minh chiếu khắp. Trang nghiêm bởi muôn hạnh Phổ Hiền, hết thảy Chân Như pháp giới tạng. Long Thọ tụng, nhớ nơi cung rồng. Thật Xoa Nan Đà nước Vu Điền, đã xiển dương lời kinh vi diệu. Diệu pháp môn Nhất Thừa viên đốn, chân bí điển thấy tánh thành Phật. Tay nâng, mắt nhìn, miệng tụng niệm. Nên biết xưa có đại nhân duyên. Thấy nghe tùy hỷ phát Bồ Đề, rốt ráo viên thành Tát Bà Nhã.

          Nam-mô Tỳ Lô giáo chủ Hoa Tạng từ tôn, diễn kim văn kệ báu, ban bố hộp đựng kinh, trục ngọc, các vi trần nhập vào lẫn nhau, các cõi nước viên dung. Mười triệu chín vạn năm ngàn bốn mươi tám chữ Nhất Thừa Viên Giáo Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Nếu ai muốn biết rõ, ba đời hết thảy Phật, nên quán tánh pháp giới, hết thảy chỉ tâm tạo. Thường nguyện cúng dường, thường cung kính, bảy xứ chín hội[25] Phật, Bồ Tát. Thường nguyện chứng nhập, thường tuyên nói, ngũ châu tứ phần[26] kinh Hoa Nghiêm. Lại nguyện con tên là… đời đời kiếp kiếp, nơi nơi chốn chốn, mắt thường thấy kinh điển như thế này, tai thường nghe kinh điển như thế này, miệng thường tụng kinh điển như thế này, tay thường chép kinh điển như thế này, tâm thường ngộ kinh điển như thế này. Nguyện đời đời kiếp kiếp, nơi nơi chốn chốn, thường được thân cận hết thảy thánh hiền Hoa Tạng, thường được hết thảy thánh hiền Hoa Tạng từ bi nhiếp thọ. Như kinh đã nói, nguyện đều chứng minh. Nguyện như Thiện Tài Bồ Tát, nguyện như Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, nguyện như Di Lặc Bồ Tát, nguyện như Phổ Hiền Bồ Tát, nguyện như Quán Thế Âm Bồ Tát, nguyện như Tỳ Lô Giá Na Phật. Dùng công đức xưng dương kinh này, do công đức phát nguyện này, nguyện cùng tứ ân tam hữu pháp giới hết thảy chúng sanh tiêu trừ vô lượng tội cấu cùng tận pháp giới hư không giới từ vô thỉ tới nay. Nguyện cùng tứ ân tam hữu pháp giới hết thảy chúng sanh giải trừ vô lượng oan nghiệp cùng tận pháp giới hư không giới từ vô thỉ tới nay. Nguyện cùng tứ ân tam hữu pháp giới hết thảy chúng sanh tu tập vô lượng phước trí cùng tận pháp giới hư không giới từ vô thỉ tới nay, cùng dạo chơi trong biển Hoa Tạng trang nghiêm, cùng nhập nhân Bồ Đề đại đạo tràng.

Nam-mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Hoa Nghiêm hải hội Phật Bồ Tát

          (Tổ Liên Trì nhận định) Hai câu sau “ngũ châu tứ phần Hoa Nghiêm Kinh” văn nghĩa dường như trùng lặp, không niệm cũng được.

 

* Kệ phát nguyện của Đại Từ Bồ Tát

 

          Mười phương ba đời Phật, A Di Đà bậc nhất. Chín phẩm độ chúng sanh. Oai đức không cùng cực. Con nay đại quy y, sám hối tội tam nghiệp. Hễ có các phước thiện, chí tâm dùng hồi hướng. Nguyện người cùng niệm Phật, cảm ứng tùy thời hiện. Lâm chung, cảnh Tây Phương, phân minh ngay trước mắt: Thấy, nghe đều tinh tấn. Cùng sanh cõi Cực Lạc. Thấy Phật liễu sanh tử, như Phật độ hết thảy.

 

* Tịnh Độ văn

 

          Ngưỡng bạch Di Đà hóa chủ, Tịnh Độ thánh hiền, nguyện ban từ bi, vì con chứng minh. Đệ tử chúng con ai nấy vì đại sự sanh tử, vô thường nhanh chóng, thay cho pháp giới chúng sanh, nhất tâm quy mạng đảnh lễ.

          Nam-mô Tây Phương Cực Lạc thế giới, bạch hào như năm Tu Di, mắt như bốn biển cả, tám vạn bốn ngàn tướng hảo quang minh, bốn mươi tám nguyện nhiếp thọ chúng sanh hữu duyên niệm Phật trong mười phương thế giới, đại từ đại bi đại nguyện đại lực Bổn Sư ḥa thượng A Di Đà Phật. Kính nguyện A Di Đà Phật dùng thiên nhãn từ xa trông, thiên nhĩ xa nghe, tha tâm mau chóng thấy, gia bị chúng con cùng với chúng sanh, trong mười hai thời, nguyện được thấy tám vạn bốn ngàn tướng của A Di Đà Phật. Trong mỗi tướng, nguyện được thấy tám vạn bốn ngàn tùy hình hảo của A Di Đà Phật. Trong mỗi hảo, nguyện được thấy tám vạn bốn ngàn quang minh của A Di Đà Phật. Trong mỗi quang minh, nguyện thấy mười phương chư Phật, nguyện thấy mười phương chư đại Bồ Tát Ma Ha Tát, nguyện thấy mười phương chư đại Thanh Văn, Duyên Giác, hiền thánh tăng, khiến cho hết thảy chúng sanh chúng con nhanh chóng phá vô minh, phiền não vĩnh viễn mất, cửa pháp giới rộng mở thông đạt, con đường Nhất Thừa mở sáng vòi vọi, mười hiệu phô bày trọn vẹn, tam thân hiển lộ trọn vẹn, phân thân vô lượng độ thoát chúng sanh. Nguyện Phật từ bi, xót thương nhiếp thọ.

          Hỏi: Lời văn còn có đoạn sau, sao không sao lục?

          Đáp: Nguyên tác vốn chỉ là như vậy, phần sau do [người đời sau] ghép thêm vào, ý nghĩa chẳng tương xứng với phần trước, cho nên chẳng sao lục. Tiếc là bài văn này thiếu hai ý “lâm chung vãng sanh” và “sau khi vãng sanh được nghe pháp”. Bài văn Tiểu Tịnh Độ sau đây lời lẽ đơn giản, ý nghĩa châu đáo, nay phần nhiều sử dụng.

 

* Tịnh Độ văn

 Từ Vân sám chủ[27] soạn

 

          Nhất tâm quy mạng Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, nguyện dùng ánh sáng thanh tịnh chiếu con, dùng từ thệ nhiếp thọ con. Con nay chánh niệm, xưng danh Như Lai, vì Bồ Đề đạo, cầu sanh Tịnh Độ. Phật xưa vốn có lời thề: Nếu có chúng sanh muốn sanh về nước ta, chí tâm tin ưa, dẫu chỉ mười niệm, nếu chẳng được sanh, chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác. Do nhân duyên niệm Phật này, được vào trong biển đại thệ của Như Lai, nương từ lực của Phật, các tội tiêu diệt, thiện căn tăng trưởng. Như khi sắp mạng chung, tự biết đến thời, thân không bệnh khổ, tâm chẳng tham luyến, cũng chẳng điên đảo, như nhập Thiền Định. Phật và thánh chúng, tay cầm đài vàng, đến đón tiếp con. Trong khoảng một niệm, sanh cõi Cực Lạc, hoa nở thấy Phật, liền nghe Phật thừa, mau khai Phật huệ, rộng độ chúng sanh, măn nguyện Bồ Đề, rộng độ chúng sanh, mãn nguyện Bồ Đề[28].

 

* Tân định Tây Phương Nguyện Văn (bài văn phát nguyện sanh về Tây Phương được soạn mới)

Vân Thê Châu Hoằng soạn

 

          Đảnh lễ Tây Phương An Lạc quốc, tiếp dẫn chúng sanh đại đạo sư. Con nay phát nguyện, nguyện vãng sanh. Kính mong từ bi thương nhiếp thọ.

Đệ tử chúng con là… khắp vì tứ ân tam hữu pháp giới, cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề Nhất Thừa của chư Phật, chuyên tâm tŕ niệm A Di Đà Phật vạn đức hồng danh, cầu sanh Tịnh Độ. Lại do nghiệp nặng, phước nhẹ, chướng sâu, huệ cạn, nhiễm tâm dễ lẫy lừng, tịnh đức khó thành. Nay đối trước Phật, kính cẩn siêng năng gieo năm vóc, giãi bày một dạ, gieo lòng thành sám hối. Con và chúng sanh, từ bao kiếp tới nay, mê tịnh tâm vốn có, phóng túng tam nghiệp thâm, sân, si nhiễm uế, trót tạo vô lượng vô biên tội cấu, kết vô lượng vô biên oan nghiệp, nguyện đều tiêu diệt. Kể từ hôm nay, lập thệ nguyện sâu, xa lìa ác pháp, thề chẳng tạo nữa, siêng tu thánh đạo. Thề chẳng thoái thất, lười nhác, thề thành Chánh Giác, thề độ chúng sanh. A Di Đà Phật do nguyện lực từ bi, sẽ chứng biết cho con, sẽ thương xót con, sẽ gia bị con. Nguyện trong khi Thiền Quán, trong lúc mộng mị, được thấy thân kim sắc của A Di Đà Phật, được trải qua cõi báu trang nghiêm của A Di Đà, được A Di Đà Phật cam lộ rưới đỉnh đầu, quang minh chiếu vào thân, tay Ngài xoa đầu con, y trùm thân con, khiến cho con túc chướng tự trừ, thiện căn tăng trưởng, nhanh chóng rỗng không phiền năo, mau phá vô minh, rỗng rang khai ngộ viên giác diệu tâm. Chân cảnh Tịch Quang thường được hiện tiền. Cho đến khi sắp lâm chung, biết trước lúc mất, thân chẳng có hết thảy đau khổ, ách nạn. Tâm chẳng có hết thảy tham luyến, mê hoặc, các căn vui đẹp, chánh niệm phân minh, xả báo an tường như nhập Thiền Định. A Di Đà Phật và Quán Âm, Thế Chí, các vị thánh hiền, phóng quang tiếp dẫn, xòe tay dắt dìu. Lầu, gác, tràng phan, hương lạ, nhạc trời, thánh cảnh Tây Phương bày rõ trước mắt, khiến các chúng sanh, người thấy, kẻ nghe, hoan hỷ cảm thán, phát Bồ Đề tâm. Con trong khi ấy, nương vào đài kim cang, theo sau đức Phật, như trong khoảnh khảy ngón tay, sanh trong hoa sen thù thắng nơi ao bảy báu trong cõi Cực Lạc.

Hoa nở thấy Phật, thấy các Bồ Tát, nghe pháp âm mầu nhiệm, đắc Vô Sanh Nhẫn, trong khoảnh khắc, phụng sự chư Phật, đích thân được thọ ký. Đã được thọ ký, tam thân, tứ trí, ngũ nhãn, lục thông, vô lượng trăm ngàn đà la ni môn, hết thảy công đức thảy đều thành tựu. Sau đấy, chẳng lìa An Dưỡng, trở lại Sa Bà, phân thân vô số, trọn khắp các cõi mười phương, dùng thần lực tự tại chẳng thể nghĩ bàn, các loại phương tiện độ thoát chúng sanh, khiến họ đều lìa nhiễm, hồi phục tịnh tâm, cùng sanh Tây Phương, nhập địa vị chẳng thoái chuyển. Đại nguyện như thế, thế giới vô tận, chúng sanh vô tận, nghiệp và phiền năo, hết thảy vô tận, nguyện của con vô tận. Nguyện đem công đức lễ Phật, phát nguyện, tu tŕ hiện thời xoay lại thí cho hữu tình, báo chung bốn ân, giúp trọn ba cõi, pháp giới chúng sanh cùng viên thành Chủng Trí.          

[Tổ Liên Trì ghi chú]: Bài Tịnh Độ văn trước đó đạt lý, nhưng nghĩa chưa trọn vẹn, bài Tịnh Độ sau thì nghĩa trọn vẹn, nhưng từ ngữ quá đơn giản. Nghĩa chưa trọn vẹn thì ý vãng sanh chẳng rõ ràng. Từ ngữ quá đơn giản thì tâm tình đau xót, khẩn thiết chẳng được giãi bày! Tôi bèn nương theo Đại Kinh, rộng thâu các cách nói, dung thông Sự và Lý, xuyên suốt nhân quả tạo thành bài văn Tịnh nghiệp này. Các vị thượng thiện nhân nếu chấp nhận thì mong hãy lưu thông rộng rãi. Nếu chẳng cho là đúng, xin hãy rủ lòng răn dạy.

 

* Bài văn lễ Phật phát nguyện

Thiền sư Di Sơn Nhiên[29] soạn

 

          Quy mạng mười phương Điều Ngự Sư, diễn dương pháp vi diệu thanh tịnh. Tam thừa tứ quả giải thoát tăng, nguyện ban từ bi thương nhiếp thọ. Chỉ vì con là… tự trái chân tánh, oan uổng vào trong dòng mê, trôi nổi theo sanh tử, đuổi theo sắc, thanh mà tham nhiễm. Mười triền[30], mười sử[31], chất chứa thành cái nhân hữu lậu. Sáu căn, sáu trần hư vọng, tạo tội vô biên. Biển khổ, vòng mê, chìm sâu trong đường tà. Chấp ngã, đắm nhân, hành xử lệch lạc. Sanh khởi chất chồng nghiệp chướng, hết thảy oan khiên. Ngưỡng mong Tam Bảo dùng lòng từ bi, con giãi một dạ sám hối. Nguyện đức Năng Nhân cứu vớt, bạn lành dắt dìu, thoát khỏi nguồn sâu phiền não, đạt tới bờ kia Bồ Đề. Nền phước, mạng vị đời này đều nguyện hưng thịnh. Mầm thiêng, giống trí đời sau, cùng mong tăng trưởng tốt đẹp. Sanh vào nơi chính giữa đất nước, luôn gặp minh sư, chánh tín xuất gia, đồng chân nhập đạo. Sáu căn nhạy bén, tam nghiệp thuần hòa, chẳng nhiễm duyên đời, thường tu phạm hạnh, gìn giữ giới cấm, trần nghiệp chẳng lấn. Giữ nghiêm oai nghi, chẳng tổn hại trùng bọ, chẳng gặp tám nạn, chẳng khuyết bốn duyên[32]. Trí Bát Nhã hiện tiền, Bồ Đề tâm chẳng lui sụt. Tu tập chánh pháp, liễu ngộ Đại Thừa. Khai hạnh môn Lục Độ, vượt biển kiếp ba A-tăng-kỳ. Dựng pháp tràng khắp chốn, phá lưới nghi tầng tầng. Hàng phục lũ ma, nối tiếp hưng thịnh Tam Bảo. Phụng sự mười phương chư Phật chẳng mệt nhọc. Tu học hết thảy pháp môn, thảy đều thông đạt, rộng tạo phước huệ, lợi khắp trần sa. Đạt được sáu loại thần thông, viên mãn Phật quả trong một đời.

Sau đấy, chẳng bỏ pháp giới, vào khắp trần lao, từ tâm bằng với Quán Âm, hành biển nguyện Phổ Hiền. Phương khác, cõi này, theo tùy hình loại, ứng hiện sắc thân, diễn dương diệu pháp. Trong đường khổ Nê Lê, ngạ quỷ đạo, hoặc phóng quang minh lớn, hoặc hiện các thần biến. Có ai thấy tướng con, cho đến nghe tên con, đều phát Bồ Đề tâm, vĩnh viễn thoát khỏi nỗi khổ luân hồi. Nơi vạc lửa, sông băng, biến thành rừng hương. Kẻ uống đồng lỏng, nuốt hòn sắt, đều hóa sanh Tịnh Độ. Kẻ mang lông, đội sừng, thiếu nợ, ngậm oan, đều sạch hết chua xót, đều nhuần thấm lợi lạc. Đời tật dịch, con hiện làm dược thảo để cứu chữa bệnh trầm kha. Thuở đói kém, con hóa làm lúa gạo cứu người nghèo đói. Chỉ cần là chuyện có lợi ích, không gì chẳng đề cao, hưng khởi. Kế đến là mong cho oán thân nhiều đời, quyến thuộc hiện còn, khỏi chìm đắm trong tứ sanh, xả trói buộc muôn kiếp, cùng với các chúng sanh đều thành Phật đạo. Hư không có tận, nguyện con vô cùng. Tình và vô tình cùng viên thành Chủng Trí.

[Tổ Liên Trì nhận định]: Đây chính là hoằng thệ nguyện của vị Đại Thừa Bồ Tát chân thật. Lúc tôi mới nhập đạo, đọc rồi liền cảm thán, ứa lệ, phát tâm rộng lớn. Lại nữa, [những điều phát nguyện này] quả thật cùng hành với Tịnh nghiệp chẳng hề mâu thuẫn. Vì sao vậy? Đây chính là dùng tu tâm để thấy tâm, đắc vô thượng đạo, rộng hành bi nguyện. Kia là dùng niệm Phật để thấy Phật, chứng Vô Sanh Nhẫn, trở lại độ sanh, há có trái nghịch gì?

 

* Lễ Quán Âm văn

 

          Nam-mô quá khứ Chánh Pháp Minh Như Lai, hiện tiền Quán Thế Âm Bồ Tát, thành tựu công đức nhiệm mầu, trọn đủ đại từ bi. Nơi một thân tâm, hiện ngàn tay, ngàn mắt, soi thấy pháp giới, hộ tŕ chúng sanh, khiến họ phát đạo tâm rộng lớn, dạy trì thần chú viên mãn, vĩnh viễn lìa ác đạo, được sanh trước Phật. Tội khiên vô gián nặng nề, bệnh ngặt quấn thân, chẳng thể cứu chữa, thảy đều khiến tiêu trừ. Tam-muội biện tài, điều mong nguyện trong đời hiện ti đều khiến được toại nguyện, quyết định chẳng nghi! Có thể khiến cho con mau đạt được tam thừa, sớm lên địa vị Phật. Sức oai thần tán thán chẳng thể cùng tận. Do vậy, con nhất tâm quy mạng đảnh lễ.

 

* Bài văn lễ Quán Âm thứ hai

Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo soạn

 

Ba nghiệp thanh tịnh, năm vóc một lòng gieo xuống đất, quy y nam-mô thập phương từ phụ quảng đại linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát. Con nghe Bồ Tát từ Văn Tư Tu nhập tam-ma-địa, đạt được hai thứ tùy thuận[33], bốn chẳng nghĩ bàn[34], mười bốn vô úy[35], mười chín thuyết pháp[36], bảy nạn, hai thứ cầu[37], ba mươi hai ứng thân vô lượng công đức, hưng khởi oai lực lớn, phát thệ nguyện lớn, cùng lưu chuyển trong nẻo sanh tử của lục đạo tứ sanh nơi chín giới, hưng khởi trăm ngàn vạn ức vô lượng phương tiện thiện hạnh trong kiếp số nhiều như cát sông Hằng, cứu độ, cứu vớt hết thảy chúng sanh chẳng hề ngưng nghỉ. Con nay xót xa cầu khẩn, ắt Ngài rủ lòng gia bị.

Kính nghĩ con là… do may mắn từ đời trước, được gặp Phật thừa, thân tuy xuất gia, tâm chẳng nhiễm đạo (người tại gia thì đổi [câu này] thành “thân khổ trần duyên, tâm nhiều tán loạn”), ngu si, tà kiến, các căn tối tăm, bế tắc. Đối với kinh sách trong ngoài, tuy học tập chương cú, chẳng thông hiểu diệu lý. Lại sợ phước lực mỏng cạn, thọ mạng chẳng dài, uổng nhập Không môn (tại gia thì sửa [câu này] thành “uổng được thân người”), sống uổng, chết phí. Con nay gột lòng, ứa huyết lệ, dập đầu, gieo lòng thành, suốt ngày suốt đêm suy tưởng thánh dung, thọ trì thánh hiệu, lễ bái thánh tượng. Chỉ nguyện Bồ Tát thiên nhĩ nghe tiếng, bi tâm cứu khổ, xót thương gia bị, phóng đại thần quang chiếu thân tâm con, rót đại cam lộ tưới đỉnh đầu con, gột sạch oan khiên bao đời, rửa sạch tội cấu ngàn đời, thân tâm thanh tịnh, ma chướng tiêu trừ, dù ngày hay đêm, trong khi nằm ngồi, sẽ trông thấy Bồ Tát phóng đại thần quang, khai huệ tánh cho con, khiến cho con là… ngay lập tức thần thông rộng phát, trí huệ, thông minh, hết thảy kinh sách tự nhiên ghi nhớ, hết thảy nghĩa lý tự nhiên thông hiểu, đắc đại biện tài, đắc đại trí huệ, đắc đại thọ mạng, đắc đại an lạc, tham Thiền, học đạo, chẳng có các ma chướng, ngộ Vô Sanh Nhẫn, đời đời kiếp kiếp hành Bồ Tát đạo, báo chung bốn ân, cùng giúp ba cõi, pháp giới chúng sanh đồng viên thành Chủng Trí.

Hỏi: Văn [lễ Quán Âm] có ba bài, vì sao không sao lục bài văn sau cùng?     Đáp: Do phát nguyện vãng sanh sau nhiều đời tu hành, chẳng thuận tịnh nguyện, chẳng phù hợp cho kẻ sơ phát tâm, sợ họ sẽ ngờ vực Tịnh Độ.

 

 * Cảnh sách của thiền sư Quy Sơn Đại Viên

 

          Phàm do nghiệp ràng buộc mà thọ thân, sẽ chẳng khỏi bị vướng lụy vì thân. Bẩm thọ di thể từ cha mẹ, nhờ vào các duyên mà hợp thành. Tuy do Tứ Đại gìn giữ, nhưng chúng thường trái nghịch nhau. Vô thường, già, bệnh, chẳng ai mong mỏi. Sáng còn, tối mất, trong sát-na đã qua đời khác. Ví như sương mùa Xuân, móc buổi sớm, đột nhiên chẳng còn. Cây bên bờ vực, dây leo bên giếng, há có thể lâu dài ư? Niệm niệm nhanh chóng, trong một sát-na, hơi thở vừa đổi thì đã là đời sau, cớ sao điềm nhiên để luống qua? Đối với cha mẹ, chẳng dâng thức ăn ngon ngọt, cố nhiên đã lìa bỏ lục thân, chẳng thể giữ an nước nhà, đối với gia nghiệp, đã bỏ sạch nghĩa vụ thừa kế. Xa làng, bỏ xóm, xuống tóc, theo thầy, [lẽ ra phải] trong thì siêng năng công phu khắc chế ý niệm, ngoài thì hoằng dương đức “chẳng tranh”, vượt thoát trần thế, mong mỏi thoát lìa. Cớ sao vừa mới thọ giới phẩm, liền nói “ta là tỳ-kheo, đàn việt cần đến ta, cứ ăn dùng của thường trụ, chẳng biết nghĩ suy [những thứ ấy] do đâu mà có, bảo rằng “theo đúng lẽ, họ phải cúng dường”. Ăn xong chụm đầu ồn ào, chỉ nói lời tạp nhạp trong nhân gian. Thừa dịp vui sướng một thuở, chẳng biết vui sướng là cái nhân của khổ. Bao kiếp xưa kia rong ruổi theo trần cảnh, chưa từng phản tỉnh, phí uổng thời gian, lần lữa năm tháng, hưởng dụng càng nhiều, được bố thí lợi dưỡng nồng hậu. Trải bao năm tháng, chẳng tính bỏ lìa, tích tụ càng nhiều, [chỉ để] gìn giữ cái thân hư huyễn.

Đạo sư truyền dạy, khuyên răn các tỳ-kheo, hãy tấn tu nơi đạo để trang nghiêm cái thân, đối với ba chuyện ăn, mặc, ngủ, chớ nên hưởng dụng sung túc. Nhưng người ta thường vì những thứ ấy mà tham đắm chẳng ngơi, tháng lại ngày qua, thoáng chốc đã bạc đầu. Kẻ hậu học chưa nghe chỉ thú [của đạo giải thoát], cần phải hỏi rộng bậc đã hiểu biết trước, sao lại bảo “xuất gia cốt là để cầu cơm áo?” Đức Phật trước hết chế luật để khơi gợi, khải phát cho kẻ mông muội về quy củ, oai nghi sạch như băng, tuyết. [Những giới điều] “chỉ, trì, tác, phạm” nhằm thúc liễm kẻ sơ tâm. Những điều khoản vi tế [trong giới luật] nhằm trừ khử hèn tệ. Đối với pháp tịch [giảng dạy] Tỳ Ni mà chưa hề học hỏi, thân cận, há có thể thật sự biện định liễu nghĩa thượng thừa ư? Đáng tiếc luống uổng một đời, sau này hối hận, khó thể bù đắp. Giáo lý chưa từng ghim vào lòng, đạo huyền diệu sẽ chẳng do đâu mà khế ngộ được! Cho đến khi tuổi cao, pháp lạp lớn, bụng rỗng tuếch, tâm cao ngất ngưởng, chẳng chịu thân cận bạn lành, chỉ biết ngạo nghễ, chẳng am hiểu pháp lẫn luật, sự thâu liễm hoàn toàn chẳng có. [Do vậy], hoặc là ăn nói lớn lối, thốt lời chẳng có chừng mực, chẳng kính bậc thượng, trung, hạ tọa, chẳng khác gì bọn Bà-la-môn tụ hội. Khua chén, đụng bát, ăn xong đứng lên trước. Đi ở đều sai pháp tắc, hoàn toàn chẳng có Tăng thể. Đứng, ngồi bộp chộp, khuấy động tâm niệm của kẻ khác. Chẳng giữ các quy tắc, oai nghi nhỏ nhặt, lấy gì để thúc liễm? Đàn em, người mới học không có ai để noi theo. Vậy mà có ai vừa mới nhắc nhở, liền nói “ta là sơn tăng”. Do chưa nghe sự hành trì do đức Phật dạy, cho nên cứ một mực ôm lòng thô tháo.     

Có cái nhìn như vậy là do lúc sơ tâm lười nhác, cho nên cứ lẩn quẩn nơi thói tham lam, lần khân trong cõi đời, trở thành quê kệch. Bất giác run rẩy, già khọm, gặp chuyện [không biết xử sự như thế nào] giống như đối diện tường vách. Kẻ hậu học thưa hỏi, không có lời nào để tiếp dẫn. Dẫu có bàn nói, chẳng liên quan đến kinh điển, pháp tắc. Nếu bị họ thốt lời coi rẻ, liền trách hậu sanh vô lễ”, sân tâm bừng bừng nổi dậy, lời lẽ khiến cho kẻ khác kinh hãi. Một mai nằm bệnh trên giường, các sự khổ trói quấn, bức bách, sáng tối suy nghĩ, trong tâm bàng hoàng, nẻo trước mờ mịt, chẳng biết đi về đâu? Từ đấy mới biết hối lỗi, khát nước mới đào giếng sao được? Tự hận chẳng sớm tu sẵn, tuổi già lắm nỗi lỗi lầm, lúc lâm chung cuống quýt, hoảng sợ, kinh hãi. The thủng, sẻ bay[38], thức tâm phải theo nghiệp. Như kẻ mắc nợ, kẻ mạnh lôi đi trước tiên. Tâm tình lắm mối, riêng rơi vào chỗ tâm đặt nặng! Sát quỷ vô thường niệm niệm chẳng ngừng, mạng chẳng thể kéo dài, thời chẳng thể đợi. Trời, người ba cõi, ắt chẳng tránh khỏi. Thọ thân như thế, chẳng luận kiếp số, cảm thương, than thở, buồn thay xót dạ, há chẳng nên răn nhắc, sách tấn lẫn nhau?

Đáng hận cùng sanh cuối thời Tượng Pháp, cách thánh đã lâu. Phật pháp trở nên xa lạ, con người phần nhiều biếng nhác, [nên tôi phải] trình bày đại lược cái nhìn hạn hẹp để khuyên bảo hàng hậu học. Nếu chẳng bỏ tính nết kiêu căng, quả thật khó thể thay đổi. Phàm là người xuất gia, cất chân vượt thoát sự buộc ràng, tâm và thân hình khác với lẽ tục, [đáng phải nên] tiếp nối hưng thịnh dòng giống thánh, chấn nhiếp ma quân hòng báo tứ ân, cứu bạt ba cõi. Nếu chẳng như vậy, lạm dự vào hàng ngũ tăng sĩ, lời nói lẫn việc làm rỗng tuếch, luống hưởng tín thí, đối với cung cách hành xử [theo thói tục] trước kia chẳng rời một bước, mơ màng suốt một đời, lấy gì để nương cậy? Huống chi tăng tướng vòi vọi, dung mạo đáng nhìn, đều do thiện căn đã gieo từ đời trước cảm vời quả báo đặc biệt ấy. Thế mà lại toan nghiễm nhiên khoanh tay, chẳng quý tấc bóng, chẳng siêng tu đạo nghiệp, công quả chẳng do đâu để đạt thành tựu được, há có phải chỉ là luống uổng một đời, mà còn chẳng lợi ích gì cho sự nghiệp trong đời sau. Từ biệt cha mẹ, quyết chí khoác áo thâm, tức là ý mong vượt lên tới chỗ nào? Hãy sáng tối suy nghĩ, há có nên chần chừ kẻo lỡ thời? Tâm mong làm rường cột của Phật pháp, hòng làm gương mẫu cho kẻ mai sau, dẫu cứ thường hành như thế mà còn chưa thể tương ứng chút phần! Nói năng cần phải liên quan với kinh điển, đàm luận cần phải khảo cứu cổ thư, cổ nhân. Hình dáng, oai nghi đĩnh đạc, ý khí cao nhã, thanh nhàn. Đi xa phải nhờ bạn lành, hòng được nhiều phen lắng trong tai mắt. Trụ lại [một nơi], ắt phải chọn bạn, hòng luôn luôn nghe những điều chưa được nghe. Vì thế nói “sanh ta là cha mẹ, thành tựu ta là bạn bè”. Thân cận, nương dựa người lành, như đi trong sương mù, tuy không ướt áo, nhưng luôn được nhuần thấm! Chen lẫn với kẻ làm ác, sẽ tăng trưởng tri kiến ác, sáng tối tạo ác, quả báo ngay lập tức, chết rồi trầm luân. Hễ mất thân người, muôn kiếp chẳng có lại được! Lời trung thật chói tai, há chẳng tạc dạ ư?

Vậy thì có thể rửa tâm, dưỡng đức, ẩn thân, vùi tên, hun đúc tinh thần trong sáng, dứt tuyệt ồn náo. Nếu muốn tham Thiền, học đạo, là môn đốn siêu phương tiện, tâm khế hợp nơi bến huyền, hãy suy xét lẽ tinh yếu, chọn lựa dứt khoát chỗ cao sâu, khải ngộ nguồn chân thật, hỏi rộng bậc biết trước, thân cận bạn lành. Tông này khó đạt được chỗ mầu nhiệm, hết sức cần phải dụng tâm kỹ càng thì mới hòng đốn ngộ chánh nhân. Đó là thềm, bậc để xuất trần. Như vậy bèn phá hai mươi lăm hữu trong tam giới, đối với các pháp trong ngoài, đều biết chúng chẳng thật, do [những gì] do tâm biến hóa, sanh khởi, đều là giả danh, tâm chẳng cần vướng mắc vào đó. Chỉ cần tình chẳng vướng nơi vật, vật sẽ chẳng trở ngại người. Mặc cho pháp tánh lưu xuất trọn khắp, chẳng đoạn, chẳng tiếp nối. Nghe thanh, thấy sắc, đều [coi đó] là tầm thường, thì bên này hay bên kia, đều ứng dụng chẳng khuyết. Hành xử như vậy, quả thật chẳng uổng khoác pháp phục, mà cũng là đền đáp tứ ân, cứu bạt tam hữu. Nếu đời đời có thể chẳng thoái thất, chắc chắn có thể mong mỏi đạt đến địa vị Phật. Là khách qua lại trong tam giới, xuất hiện hay biến mất đều làm pháp tắc cho người khác. Cái học này tối diệu, tối huyền, chỉ chịu quyết tâm, ắt chẳng lừa dối. Nếu có người thuộc hạng trung căn, chưa thể đốn siêu, chỉ nên lưu tâm nơi giáo pháp, ôn tập, tìm tòi kinh điển, tra xét nghĩa lý tinh tường, truyền bá, phô diễn để tiếp dẫn kẻ hậu học, hòng báo ân đức Phật, mà cũng chẳng luống uổng thời gian. Ắt phải dùng cách ấy để nâng đỡ oai nghi ứng xử, sẽ là pháp khí trong tăng chúng, há chẳng thấy dây leo nương vào cội tùng, vượt lên cao ngàn tầm ư? Nương cậy cái nhân thù thắng thì mới có thể đạt được lợi ích rộng lớn.

Hãy khẩn thiết tu trai giới, đừng lừa dối, thiếu sót, đời đời kiếp kiếp, nhân quả thù thắng nhiệm mầu. Chớ nên nhàn nhã, lần lữa qua ngày đoạn tháng, đối với thời gian trân quý mà chẳng cầu thăng tấn, uổng tiêu tín thí của mười phương, mà cũng cô phụ tứ ân. Tích lũy sâu dần, tâm dễ bị trần duyên phủ lấp, đụng đâu vướng mắc đó, bị người khác khinh thường. Cổ nhân nói: “Kẻ khác là trượng phu, ta cũng thế, chớ nên tự khinh mà thoái khuất”. Nếu chẳng như vậy, uổng công ở trong hàng ngũ xuất gia, lần lữa suốt một đời, trọn chẳng lợi ích gì? Ngưỡng mong hãy dấy khởi chí quyết liệt, mở ra hoài bão cao xa, hành xử theo bậc thượng, đừng tự tiện thuận theo kẻ tầm thường, bỉ lậu. Đời này cần phải giải quyết cho xong, tự mình lo liệu, chứ chẳng do ai khác. Dứt ý, quên duyên, chẳng duyên theo các trần, tâm không, cảnh tịch, chỉ vì trầm trệ chẳng thông suốt lâu ngày. Hãy xem kỹ bài văn này, luôn luôn răn nhắc, ép buộc chính mình làm chủ tể, đừng noi theo tình kiến của người đời, bị nghiệp quả lôi dắt, thật khó trốn tránh! Tiếng hòa nhã, âm vọng lại sẽ tùy thuận. Hình thẳng thì bóng ngay, nhân quả rành rành, há chẳng lo sợ ư? Do vậy kinh dạy: “Giả sử trăm ngàn kiếp, nghiệp đã tạo chẳng mất, khi nhân duyên hội ngộ, quả báo vẫn tự chịu”. Vì thế biết: Hình phạt trong tam giới ràng buộc giết người, hãy nỗ lực siêng tu, đừng luống uổng ngày tháng. Biết sâu xa lỗi họa, thì mới khuyên nhủ nhau hành trì. Nguyện trăm kiếp ngàn đời, nơi nơi đều là pháp lữ, bèn có lời minh rằng:

Huyễn thân như nhà mộng. Vật sắc trong hư không, tiền tế vô cùng, hậu tế há đạt? Hiện đây, mất kia. Thăng trầm nhọc nhằn, chẳng khỏi tam luân. Khi nào ngưng nghỉ? Tham luyến thế gian, ấm duyên thành thân. Từ sanh tới lão, chẳng đạt được gì. Căn bản vô minh, do vậy mê hoặc. Tấc bóng trân quý, sát-na chẳng lường. Luống uổng đời này, đời sau trắc trở, từ mê đến mê, đều do lục tặc. Sáu đường qua lại, lê lết tam giới. Sớm tìm minh sư, thân cận cao đức. Quyết trạch thân tâm. Trừ khử gai góc. Cõi đời hư huyễn, các duyên há bức? Nghiên cứu cùng tận, lý nơi các pháp. Ngộ làm pháp tắc, tâm cảnh đều mất. Chẳng ghi, chẳng nhớ, sáu căn vui sướng, đi ngồi lặng lẽ, nhất tâm chẳng sanh, muôn pháp đều dứt.       

[Tổ Liên Trì nhận định]: Phàm là tăng sĩ, hãy nên chép lại [lời cảnh sách này], đặt bên chỗ ngồi, sáng tối nghiền ngẫm, phản tỉnh. Đối với người mới xuất gia, liền dạy đọc thuộc, đừng để quên bẵng!

 

* Nghi thức cúng Phật (齋佛儀)

 

          Nam-mô thường trụ thập phương Phật.

            南無常住十方佛。

          Nam-mô thường trụ thập phương Pháp.

          南無常住十方

          Nam-mô thường trụ thập phương Tăng.

          南無常住十方

          Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

            南無本師釋迦牟尼佛。

          Nam-mô đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát

          南無大悲觀世音菩薩。

Nam-mô hộ pháp chư thiên Bồ Tát

          南無護法諸天菩薩。

 Nẵng mô tát phạ đát tháp da đa, phạ lô chỉ đế. Án, tam bà la, tam bà la, hồng.

          曩謨薩縛怛嗒耶多。縛盧枳帝。唵。三婆囉。三婆囉。吽。

          (Namaḥ sarva-tathāgatāvalokite. Oṃ, sambhāra sambhāra, hūṃ).

 

Nẵng mô tô rô bà da, đát tha da đa nga, đát điệt tha: Án, tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, sa bà ha.

曩謨蘇嚕婆耶。怛他耶多誐。怛姪他。唵。蘇嚕蘇嚕。缽囉蘇嚕。缽囉蘇嚕。娑婆訶。

(Namaḥ surūpāya tathāgatāya tadyathā: Oṃ sru sru, para sru, para sru, svāhā).

 

          Thử thực sắc hương vị, thượng cúng thập phương Phật, trung phụng chư hiền thánh, hạ cập lục đạo phẩm. Đẳng thí vô sai biệt, tùy nguyện giai bảo mãn. Linh kim thí giả đắc, vô lượng Ba La Mật. Tam đức lục vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu t́nh, phổ đồng cúng dường.

          此食色香味,上供十方佛,中奉諸賢聖,下及六道品。等施無差別,隨願皆飽滿,令今施者得,無量波羅蜜。三德六味供佛及僧,法界有情普同供養。

          (Sắc, hương, vị thức ăn, trên cúng mười phương Phật. Giữa dâng các hiền thánh, dưới cúng khắp sáu đường. Bình đẳng đem bố thí, chẳng hề có sai biệt. Tùy nguyện đều no đủ, khiến người bố thí được, vô lượng Ba La Mật. Ba đức, sáu vị, cúng Phật và Tăng, pháp giới hữu tình, đều cúng dường khắp).

 

          Án nga nga nẵng tam bà phạ phạt nhật ra hộc.

          唵。誐誐曩。三婆縛。日囉。斛。

          (Oṃ, gagana saṃbhava vajra hoḥ).

 

Nhũ lạc đề hồ, tạo xuất thiên trù cúng thành đạo. Đương sơ mục nữ tiền lai tống lão mẫu, tằng tương thác tại kim bàn phụng hiến thượng Như Lai, hiền thánh vô biên chúng.

乳酪醍醐,造出天廚供成道。當初牧女前來送老母,曾將托在金盤奉獻上如來、賢聖無邊眾。

(Sữa, lạc, đề hồ, tạo ra từ bếp trời, cúng dường Phật thành đạo. Thoạt đầu nàng chăn bò đem đưa cho mẹ già, từng đặt trong khay vàng dâng cúng lên Như Lai, hiền thánh vô biên chúng).

 

Thiền Duyệt Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát (ba lượt).

禪悅藏菩薩摩訶薩。

 

          Hỏi: Bản lưu hành đương thời ghi là “pháp giới nhân thiên”, sao [ở đây] lại nói là “hữu tình”?

          Đáp: Cổ bản ghi là “hữu tình”. Hữu tình rộng, nhân thiên hẹp. Đã hạn cuộc trong trời, người, sao đáng gọi là “phổ đồng cúng dường”?

 

* Nhị thời lâm trai nghi - 二時臨齋儀 (nghi thức dùng trong hai thời thọ trai)

 

          Cúng dường thanh tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật, viên măn Báo Thân Lô Xá Na Phật, thiên bách ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật, đương lai hạ sanh Di Lặc Tôn Phật, Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, thập phương tam thế nhất thiết chư Phật, đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, đại hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát, chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

          供養清淨法身毘盧遮那佛圓滿報身盧舍那佛千百億化身釋迦牟尼佛當來下生彌勒尊佛極樂世界阿彌陀佛十方三世一切諸佛大智文殊師利菩薩大行普賢菩薩大悲觀世音菩薩諸尊菩薩摩訶薩摩訶般若波羅蜜

 

          Tam đức lục vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu t́nh, phổ đồng cúng dường. Nhược phạn thực thời, đương nguyện chúng sanh, thiền duyệt vi thực, pháp hỷ sung măn (nếu ăn cháo thì nói: Chúc hữu thập lợi, nhiêu ích hành nhân, quả báo vô biên, cứu cánh thường lạc).

          三德六味供佛及僧法界有情普同供養若飯食時當願眾生禪悅為食法喜充滿(遇粥則云粥有十利饒益行人果報無邊究竟常樂)

          (Ba đức, sáu vị, cúng Phật và Tăng, pháp giới hữu tình, đều cúng dường khắp. Như khi ăn cơm, nên nguyện chúng sanh, ăn bằng Thiền Duyệt, pháp hỷ ngập tràn (nếu ăn cháo thì nói: “Cháo mười điều lợi[39], hữu ích hành nhân. Quả báo vô biên, rốt ráo thường vui”).

 

* Kệ kết trai khi ăn xong

 

          Phạn thực dĩ ngật, đương nguyện chúng sanh, sở tác giai biện, cụ chư Phật pháp.

          飯食已訖當願眾生所作皆辦具諸佛法

          (Dùng bữa đã xong, nên nguyện chúng sanh, việc làm đều xong, trọn các Phật pháp).

Hỏi: Trong bản lưu hành hiện thời, sau Di Lặc không có A Di Đà Phật, vì sao nay lại thêm vào?

 Đáp: Do cổ bản vốn có, do chẳng quên Tây Phương. Hơn nữa, đã xưng “thập phương tam thế”, [tức là] nêu ra vị Phật đời vị lai để bao gồm tam thế, nay dùng vị Phật ở Tây Phương để bao trùm mười phương, có gì chẳng được? Hơn nữa, ngay khi ăn cháo, cũng chỉ niệm kệ “ăn cơm”, chẳng ngại dùng ăn cơm để bao gồm cháo.

 

* Chúc thánh nghi (祝聖儀)

 

          Án nại ma ba cát ngõa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp tô tất nễ thật chấp đạp, điệp tả ra tể dã, đát tháp cả đạt dã. A ra ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát dã tháp: Án, tát rị ba, tang tư cát rị bát rị thuật đạp, đạt ra mă đế, cả cả nại, tang mă ngột cả đế, sa ba ngõa tỷ thuật đế, mã hát nại dã, bát rị ngõa rị, sa bà ha.

          捺摩巴葛瓦帝阿巴囉密沓阿優哩阿納蘇必你實執沓牒左囉宰也怛塔哿達也阿囉訶帝三藥三不達也怛也塔薩哩巴桑斯葛哩叭哩述沓達囉馬帝哿哿捺桑馬兀哿帝莎巴瓦比述帝馬喝捺也叭哩瓦哩娑婆訶

          (Oṃ, namo bhagavate aparimita-āyurjñāna suviniścitatejorājāya tathāgatāya arhate samyak saṃbuddhāya, tadyathā: Oṃ, sarvasaṃskāra pariśuddha dharmate gagana samudgate svabhāva viśuddhe mahānaya parivārī, svāhā).

 

          Nguyện tương dĩ thử thắng công đức, chúc tán hoàng đế vạn vạn tuế. Thánh minh quân, chư quốc lai triều hội. Nam mô Vô Lượng Thọ, chúc tán hoàng đế vạn vạn tuế. Chúc tán hoàng đế vạn vạn tuế.

          願將以此勝功德祝讚皇帝萬萬歲聖明君諸國來朝會南無無量壽祝讚皇帝萬萬歲祝讚皇帝萬萬歲

          (Nguyện đem công đức thù thắng này, chúc tán hoàng đế vạn vạn tuổi. Vua thánh sáng suốt, các nước đến triều bái. Nam mô Vô Lượng Thọ, chúc tán hoàng đế vạn vạn tuổi. Chúc tán hoàng đế vạn vạn tuổi).  

 

          Đại viên măn giác, ứng tích Tây Càn. Tâm bao thái hư, lượng châu sa giới. Ngưỡng khấu hồng từ, phủ thùy minh chứng. Đại Minh quốc (mỗ) tỉnh, (mỗ) phủ, (mỗ) huyện (mỗ) tự, tỳ-kheo (mỗ) đẳng, ư kim (mỗ) niên (mỗ) nguyệt (sóc vọng) đán chi thần, vân tập tăng chúng, đăng lâm bảo điện, phúng diễn bí chương, xưng dương gia hiệu. Sở tập hồng nhân, đoan vi chúc diên: Kim thượng hoàng đế thánh thọ vạn an. Phục nguyện kim luân vĩnh trấn, ngọc chúc thường điều, bát hoành an hữu đạo chi trường, tứ hải lạc vô vi chi hóa. Hiện tiền đại chúng niệm Kim Cang Vô Lượng Thọ Nhân Vương Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

          大圓滿覺應跡西乾心包太虛量周沙界仰叩洪慈俯垂明證大明國()()()()寺比丘()於今()

()(朔望)旦之辰雲集僧眾登臨寶殿諷演秘章稱揚嘉號所集洪因端為祝延今上皇帝聖壽萬安伏願金輪永鎮玉燭常調八紘安有道之長四海樂無為之化現前大眾念金剛無量壽仁王菩薩摩訶薩摩訶般若波羅蜜

          (Đấng giác ngộ đại viên mãn, thị hiện dấu tích nơi trời Tây. Tâm bao trùm thái hư, lượng phủ các cõi nhiều như cát. Kính bẩm bạch đấng lòng từ mênh mông, rủ lòng chứng biết: Nước Đại Minh, tỉnh… phủ… huyện… chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm… tháng… sáng hôm (mồng Một hay Rằm), tụ tập tăng chúng, bước lên điện báu, phúng tụng kinh điển bí mật, xưng dương thánh hiệu cao đẹp. Tích tập cái nhân rộng lớn, đoan nghiêm chúc tụng dài lâu: Hoàng đế hiện thời thánh thọ vạn an. Kính nguyện cơ đồ vĩnh viễn an định, đuốc ngọc thường ổn, muôn phương đạo đức dài lâu, bốn biển vui cùng sự giáo hóa vô vi. Đại chúng hiện tiền niệm Kim Cang Vô Lượng Thọ Nhân Vương Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật).

 

* Nghi thức chúc tán Vi Đà

 

Thần công phả trắc, mật hạnh nan tư. Thị dũng kiện ư thiên luân, tồi tà phụ chánh. Thọ di chúc ư Đại Giác, hộ pháp, an tăng. Ngưỡng khải thiên từ, phủ thùy minh chứng. Đại Minh quốc (mỗ) tỉnh (mỗ) phủ (mỗ) huyện (mỗ) tự tỳ-kheo (mỗ) đẳng, ư kim (mỗ) niên (mỗ) nguyệt (Sóc Vọng) đán chi thần, vân tập tăng chúng, cung nghệ từ hạ, phúng diễn bí chương, xưng dương gia hiệu. Sở tập công đức, chuyên thân kỳ đảo tam châu cảm ứng hộ pháp Vi Đà tôn thiên Bồ Tát, thị tùng thiên đẳng. Phục niệm mạt pháp tăng hạnh, đạo lực suy vi, chướng duyên thiên xí. Duy ký Bồ Tát thần lực minh tư, sử pháp luân chuyển xứ, nội chướng ngoại chướng dĩ tiềm tiêu; tăng hải hòa thời, ác hữu, ác ma nhi vĩnh ly. Nhân nhân ngộ Tỳ Lô tánh hải, các các nhập Phổ Hiền hạnh môn. Cung phụng đàn na, quân triêm thắng ích.

神功叵測,密行難思。示勇健於天倫,摧邪輔正;受遺囑於大覺,護法安僧。仰啟天慈,俯垂明證。大明國()()()()寺比丘()等,於今()()(朔望)旦之辰,雲集僧眾,恭詣祠下,諷演秘章,稱揚嘉號。所集功德,專伸祈禱三洲感應護法韋馱尊天菩薩、侍從天等,伏念末法僧行,道力衰微,障緣偏熾。惟冀菩薩神力冥資,使法輪轉處,內障外障以潛消;僧海和時,惡友惡魔而永離。人人悟毘盧性海,各各入普賢行門。供奉檀那,均霑勝益。

(Công năng thần diệu khó lường, mật hạnh khó bề suy tưởng. Thị hiện thân dũng mãnh trong các vị trời, dẹp tà, phò chánh. Nhận di chúc của đấng Đại Giác, hộ pháp, an tăng. Kính bẩm đấng lòng từ trời thẳm, rủ lòng xét soi: Nước Đại Minh, tỉnh… phủ… huyện… chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm… tháng…, sáng hôm (mồng Một hay Rằm), nhóm họp tăng chúng, đến dưới điện thờ, phúng tụng kinh điển bí mật, xưng dương thánh hiệu cao đẹp. Do công đức đã tích tập, chuyên dốc lòng cầu nguyện đức hộ pháp Vi Đà tôn thiên Bồ Tát cảm ứng ba châu, các vị trời theo hầu Ngài. Kính nghĩ tăng hạnh thuở mạt pháp, đạo lực suy kém, chướng duyên càng lẫy lừng. Ngưỡng mong Bồ Tát dùng thần lực ngầm giúp, khiến cho pháp luân xoay chuyển muôn nơi, nội chướng, ngoại chướng ngầm tiêu, biển tăng hòa hợp mọi thời, vĩnh viễn xa lìa bạn ác, ác ma. Ai nấy ngộ biển tánh Tỳ Lô, người người nhập hạnh môn Phổ Hiền. Đàn-na cúng dường, phụng sự đều được thấm nhuần lợi ích thù thắng).

 

          Tán: Vi Đà thiên tướng, Bồ Tát hóa thân, ủng hộ Phật pháp thệ hoằng thâm. Bảo chử trấn ma quân, công đức nan luân, kỳ đảo phó quần tâm.

          Nam mô Phổ Nhãn Bồ Tát (ba lượt)

          :韋馱天將菩薩化身擁護佛法誓弘深寶杵鎮魔軍功德難倫祈禱副群心

          南無普眼菩薩

          (Tán: Vi Đà thiên tướng, Bồ Tát hóa thân, ủng hộ Phật pháp, thệ rộng sâu. Chày báu chế ngự ma quân, công đức khôn sánh, cầu nguyện ứng hợp tâm muôn người.

          Nam-mô Phổ Nhãn Bồ Tát).

 

* Nghi thức chúc tán Già Lam

 

Thần oai hữu hách, nguyện lực duy thâm. Tể nhất tự chi quyền hành, tác chúng tăng chi bảo chướng. Ngưỡng khải thần thông, phủ thùy chiêu giám. Đại Minh quốc (mỗ) tỉnh (mỗ) phủ (mỗ) huyện (mỗ) tự tỳ-kheo (mỗ) đẳng, ư kim (mỗ) niên (mỗ) nguyệt (Sóc Vọng) đán chi thần, vân tập tăng chúng, cung nghệ từ hạ, phúng diễn bí chương, xưng dương gia hiệu. Sở tập công đức, chuyên thân kỳ đảo thủ hộ già lam chi thần, đương sơn thổ địa, nhất thiết chân tể. Phục nguyện sơn môn trấn tĩnh, hải chúng an hòa. Hộ pháp hóa dĩ hưng long, vệ đàn tràng nhi cát khánh. Như tư kỳ đảo, tất vọng minh gia.         

神威有赫願力惟深宰一寺之權衡作眾僧之保障仰啟神聰俯垂昭鑒大明國()()()()寺比丘()於今()()(朔望)旦之辰雲集僧眾恭詣祠下諷演秘章稱揚嘉號所集功德專伸祈禱守護伽藍之神當山土地一切真宰伏願山門鎮靜海眾安和護法化以興隆衛壇場而吉慶如斯祈禱必望冥加

(Thần oai hiển hách, nguyện lực thẳm sâu. Chủ trì phán xét trong một chùa, bảo vệ chúng tăng khỏi chướng ngại. Kính ngưỡng bậc có thần thông rủ lòng soi xét rành rành. Nước Đại Minh, tỉnh… phủ… huyện… chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm… tháng… sáng hôm (mồng Một hay Rằm), nhóm họp tăng chúng, đến dưới điện thờ, phúng tụng kinh điển bí mật, xưng dương thánh hiệu cao đẹp. Do công đức tích tập, chuyên dốc lòng cầu nguyện chư thần thủ hộ chốn già lam, thổ địa nơi núi này, hết thảy các vị chân thần, kính nguyện sơn môn bình ổn, hải chúng an lạc, thuận hòa. Bảo hộ sự giáo hóa nơi Phật pháp hưng thịnh, bảo vệ đàn tràng cát khánh. Cầu đảo như thế, ắt mong được ngầm gia hộ).

 

          Tán: Già lam chủ giả, hiệp tự oai linh, khâm thừa Phật sắc cộng thâu thành. Ủng hộ pháp vương thành, vi hàn, vi b́nh, phạm sát vĩnh an ninh.

          Nam-mô Hộ Pháp Tạng Bồ Tát (ba lượt)

          :伽藍主者,合寺威靈,欽承佛敕共輸誠。擁護法王城,為翰為屏,梵剎永安寧。

          南無護法藏菩薩

          (Tán: Chủ chốn già lam, oai linh cả chùa, kính vâng lời Phật sắc truyền, cùng hàng phục. Ủng hộ thành trì của đấng pháp vương, làm tường chắn, làm bình phong, phạm sát[40] vĩnh viễn an ổn.         

Nam-mô Hộ Pháp Tạng Bồ Tát).

 

* Nghi thức chúc tán tổ sư

 

          Nhất hoa hiện thụy, ngũ diệp lưu phương. Phó pháp tạng ư Tây Càn, bá tâm tông ư Đông Chấn. Ngưỡng khải thánh thông, phủ thùy chiêu giám. Đại Minh quốc (mỗ) tỉnh (mỗ) phủ (mỗ) huyện (mỗ) tự tỳ-kheo (mỗ) đẳng, ư kim (mỗ) niên (mỗ) nguyệt (Sóc Vọng) đán chi thần, vân tập tăng chúng, cung nghệ từ hạ, phúng diễn bí chương, xưng dương gia hiệu. Sở tập công đức, chuyên thân kỳ đảo Tây Thiên, Đông Độ lịch đại tổ sư Bồ Tát, bổn tự khai sơn ḥa thượng, chư vị giác linh. Phục nguyện tông phong vĩnh chấn, tổ ấn trùng quang. Giác hoa hương biến ư thiền lâm, pháp vũ ân triêm ư học địa. Như tư kỳ đảo, tất vọng minh gia.

          一花現瑞,五葉流芳。付法藏於西乾,播心宗於東震。仰啟聖聰,俯垂昭鑒。大明國()()()()寺比丘()等,於今()()(朔望)旦之辰,雲集僧眾,恭詣祠下,諷演秘章,稱揚嘉號。所集功德,專伸祈禱西天東土歷代祖師菩薩、本寺開山和尚、諸位覺靈。伏願宗風永振,祖印重光。覺花香遍於禪林,法雨恩霑於學地。如斯祈禱,必望冥加。

          (Một hoa hiện điềm lành. Năm cánh còn ngát hương. Giao phó pháp tạng nơi trời Tây, truyền tâm tông nơi Đông Chấn. Ngưỡng khải thánh thông, rủ lòng soi xét. Nước Đại Minh, tỉnh… phủ… huyện… chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm… tháng… sáng hôm (mồng Một hay Rằm), nhóm họp tăng chúng, đến dưới điện thờ, phúng tụng kinh điển bí mật, xưng dương thánh hiệu cao đẹp. Do công đức tích tập, chuyên dốc lòng cầu nguyện tổ sư Bồ Tát các đời tại Tây Thiên, Đông Độ, khai sơn hòa thượng chùa này, các vị giác linh. Kính nguyện tông phong chấn hưng mãi mãi, tổ ấn lại rạng ngời. Hoa giác hương lan tỏa khắp thiền lâm, mưa pháp thấm nhuần địa vị hữu học. Cầu nguyện như thế, ắt mong ngầm gia hộ).

 

          Tán: Niêm hoa ngộ chỉ, tổ đạo sơ hưng, miên diên tứ thất diễn chân thừa. Lục đại viễn truyền đăng. Dịch diệp tương thừa, chánh pháp vĩnh xương minh.

Nam-mô độ nhân sư Bồ Tát (đọc ba lượt)

          :拈花悟旨,祖道初興,綿延四七演真乘。六代遠傳燈,奕葉相承,正法永昌明。

          南無度人師菩薩

          (Tán: Giơ cành hoa, ngộ yếu chỉ, tổ đạo mới hưng khởi, kéo dài hai mươi tám đời diễn chân thừa. Sáu đời truyền đăng xa thẳm. Đời đời nối tiếp, chánh pháp mãi hưng thịnh.

Nam-mô độ nhân sư Bồ Tát).

 

* Nghi thức chúc tán Giám Trai

 

          Công tư đảnh nãi, chức nhậm tư thịnh. Viễn thừa Hương Tích chi phong, vĩnh tác vân trù chi chủ. Ngưỡng khải thần thông, phủ thùy chiêu giám. Đại Minh quốc (mỗ) tỉnh (mỗ) phủ (mỗ) huyện (mỗ) tự tỳ-kheo (mỗ) đẳng, ư kim (mỗ) niên (mỗ) nguyệt (Sóc Vọng) đán chi thần, vân tập tăng chúng, cung nghệ từ hạ, phúng diễn bí chương, xưng dương gia hiệu. Sở tập công đức, chuyên thân kỳ đảo Giám Trai sứ giả đại thánh Khẩn Na La vương chi thần. Phục nguyện nhị thời vô phạp, lục vị thường doanh. Chưởng thủy hỏa chi bình an, cúng Phật Tăng nhi phong bị. Như tư kỳ đảo, tất vọng minh gia.

          功司鼎鼐,職任粢盛。遠承香積之風,永作雲廚之主。仰啟神聰,俯垂昭鑒。大明國()()()()寺比丘()等,於今()()(朔望)旦之辰,雲集僧眾,恭詣祠下,諷演秘章,稱揚嘉號。所集功德,專伸祈禱監齋使者大聖緊那羅王之神。伏願二時無乏,六味常盈。掌水火以平安,供佛僧而豐備。如斯祈禱,必望冥加。

          (Công trông nồi, vạc, đảm nhiệm cúng tế, xa tiếp nối phong cách Hương Tích[41], mãi làm chủ nơi bếp mây. Ngưỡng khải thần thông, rủ lòng soi xét. Nước Đại Minh, tỉnh… phủ… huyện… chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm… tháng… sáng hôm (mồng Một hay Rằm), nhóm họp tăng chúng, đến dưới điện thờ, phúng tụng kinh điển bí mật, xưng dương thánh hiệu cao đẹp. Do công đức tích tập, chuyên dốc lòng cầu nguyện Giám Trai sứ giả[42] đại thánh Khẩn Na La Vương thần. Kính nguyện hai thời chẳng thiếu sót, sáu vị thường ngập tràn. Cai quản nước lửa bình an, cúng Phật Tăng trọn đủ. Cầu nguyện như thế, ắt mong ngầm gia bị).

 

Tán: Giám Trai sứ giả, hỏa bộ oai thần, điều hòa bách vị tiến duy hinh. Tai hao vĩnh vô xâm, hộ mạng tư thân, thanh chúng vĩnh mông ân.

Nam-mô Diễm Huệ Địa Bồ Tát (đọc ba lượt)

:監齋使者,火部威神,調和百味薦惟馨。災耗永無侵,護命資身,清眾永蒙恩。

南無燄慧地菩薩

          (Tán: Giám Trai sứ giả, oai thần thuộc hỏa bộ, điều hòa trăm vị dâng thơm thảo. Tai ương, hao tổn chẳng hề xâm, hộ mạng, bồi thân, thanh chúng mãi hưởng ân.

Nam-mô Diễm Huệ Địa Bồ Tát).

 

* Nghi thức thỉnh chuông

 

          Trước hết, niệm kệ rằng:

Nguyện thử chung thanh siêu pháp giới, Thiết Vi u ám tất giai văn. Văn trần thanh tịnh chứng viên thông, nhất thiết chúng sanh thành Chánh Giác.

願此鐘聲超法界,鐵圍幽暗悉皆聞。聞塵清淨證圓通,一切眾生成正覺。

          (Nguyện tiếng chuông này siêu pháp giới, Thiết Vi tăm tối thảy đều nghe. Văn trần thanh tịnh, chứng viên thông. Hết thảy chúng sanh thành Chánh Giác).

 

          Kế đó, xướng:

          Văn chung thanh, phiền năo khinh, xuất địa ngục, ly hỏa khanh. Trí huệ trưởng, Bồ Đề sanh, nguyện thành Phật, độ chúng sanh.

          聞鐘聲,煩惱輕,出地獄,離火坑,智慧長,菩提生,願成佛,度眾生。

          (Nghe tiếng chuông ngân, phiền não nhẹ. Thoát địa ngục, lìa hầm lửa hừng. Trí huệ tăng trưởng, Bồ Đề sanh. Nguyện thành Phật độ chúng sanh).

          Án, già ra đế da, sa bà ha.

          唵伽囉帝耶娑婆訶

Kế đó, thỉnh chuông, cứ một tiếng chuông bèn niệm Quán Thế Âm Bồ Tát.

 

* Nghi thức kết hội niệm Phật

 

Phật tử tại gia lập hội niệm Phật, ba thời tụng lễ. Trước hết, tụng kinh Di Đà một quyển, chú Vãng Sanh ba lượt, niệm Phật ra tiếng năm trăm câu, thầm tưởng niệm Phật năm trăm câu, lễ bốn mươi tám lạy, hồi hướng một lượt. Thời giữa cũng thế, thời cuối cũng thế. Chẳng cần niệm các kinh như Dược Sư v.v… Chẳng cần đánh, thổi nhạc khí, chẳng cần niệm chân ngôn “tán đèn, hiến cúng”. Thuần nhất niệm Phật, chẳng xen tạp các chuyện khác. Tu hành như thế, ắt sanh Tịnh Độ. Nếu không, ắt sẽ dần dần nhiễm phải tình đời, rốt cuộc trở thành ứng phó, hãy cẩn trọng nhé!

 

* Hương tán

 

Lư hương sạ nhiệt, pháp giới mông huân, chư Phật (tùy hoán) hải hội tất dao văn. Tùy xứ kết tường vân, thành ư phương ân, chư Phật hiện toàn thân.

爐香乍爇法界蒙熏諸佛(隨換)海會悉遙聞隨處結祥雲誠意方殷諸佛現全身

(Hương trong lò vừa đốt, pháp giới ngát thơm lừng. Chư Phật (có thể thay đổi thích ứng) hội lớn đều xa hay. Theo từng chốn kết mây lành, lòng thành mới ân cần, chư Phật hiện toàn thân).

 

* Tây Phương Tán

 

          Liên tŕ hải hội, Di Đà Như Lai, Quán Âm, Thế Chí tọa hoa đài. Chư thượng thiện nhân giai, đại thệ hoằng khai, phổ nguyện ly trần ai.

          蓮池海會彌陀如來觀音勢至坐華臺諸上善人偕大誓弘開普願離塵埃

          (Tạm dịch: Nơi ao sen, hội như biển rộng. Đức từ phụ Di Đà Như Lai. Quán Âm, Thế Chí đài hoa ngự. Các thượng thiên nhân đều quây quần. Đại thệ vừa rộng mở, nguyện khắp muôn loài lìa não phiền).

 

2. Cụ Giới Tiện Mông (Giới cụ túc nhằm thuận tiện cho người chưa hiểu biết) - 具戒便蒙 (tỉnh lược)

 

3. Sa-di Luật Nghi Yếu Lược[43] (沙彌律儀要略)

Bồ Tát giới đệ tử chùa Vân Thê sa-môn Châu Hoằng kết tập

 

Tiếng Phạn là Sa-di (Śrāmaṇera), phương này dịch là Tức Từ (息慈), ý nói dứt ác hạnh, và do lòng từ mà dứt nhiễm đắm cõi đời. [Sa-di] còn dịch là Cần Sách (勤策, sách tấn chuyên cần), còn dịch là Cầu Tịch (求寂, cầu sự vắng lặng, không tịch). Luật Nghi (律儀) là mười giới luật và các oai nghi.

 

3.1. Giới luật môn (戒律門)

 

          Đức Phật chế định người xuất gia trước khi đạt tới năm hạ bèn chuyên ròng giới luật, sau đấy mới được nghe giáo, tham Thiền. Do vậy, sa-di xuống tóc, trước hết thọ mười giới. Kế đó, đăng đàn thọ Cụ Túc Giới. Nay những kẻ mang tiếng là sa-di, đối với giới mà chính mình đã thọ, kẻ ngu thì mờ mịt chẳng hay biết, kẻ cuồng thì coi thường chẳng học, toan vượt lướt qua, ngỡ như thế là cao xa, cũng đáng cảm khái thay! Do vậy, tôi đem mười giới lược giải mấy câu, ngõ hầu kẻ mới học biết được phương hướng, người do tâm tốt lành mà xuất gia sẽ dốc ý tuân hành, thận trọng đừng vi phạm. Sau đấy thì gần là thềm, thang cho tỳ-kheo giới, xa thì là căn bản cho Bồ Tát giới. Do giới mà sanh định, do định mà phát huệ, ngõ hầu thành tựu thánh đạo, chẳng phụ bạc chí hướng xuất gia. Nếu thích xem rộng, xin hãy tự đọc Luật Tạng toàn thư.

          Mười giới dưới đây trích từ Sa-di Thập Giới Kinh[44], do đức Phật sắc truyền ngài Xá Lợi Phất nói cho La Hầu La.

 

3.1.1. Thứ nhất, không sát sanh

         

          Giải: Trên là đến chư Phật, thánh nhân, sư tăng, cha mẹ, dưới là đến các loài trùng bọ bay, bò, ngọ ngoạy nhỏ nhặt, chỉ cần là loài có sanh mạng, chẳng được cố ý giết, hoặc tự giết, hoặc bảo người khác giết, thấy người khác giết mà tùy hỷ. Rộng nói như trong luật, do kinh văn rườm rà không sao lục.

          Kinh chép đối với các loài trùng sanh trong tháng mùa Đông, đem bỏ chúng vào trong ống tre, giữ ấm bằng sợi bông, nuôi bằng vật béo, do sợ nó bị chết đói. Cho đến lọc nước, che đèn, chẳng nuôi mèo, chồn v.v… đều là đạo từ bi. Đối với loài nhỏ bé mà còn như thế, có thể biết đối với loài lớn [phải nên làm như thế nào?] Người hiện thời chẳng thực hiện lòng Từ như thế, lại còn làm hại, tổn thương chúng nó, có nên hay chăng? Vì vậy kinh dạy: “Thi ân tế phạp, sử kỳ đắc an. Nhược kiến sát giả, đương khởi từ tâm” (ban ân, giúp người thiếu thốn, khiến họ được an ổn. Nếu thấy kẻ giết chóc, hãy nên dấy lòng từ). Ôi! Chẳng đáng kiêng dè ư?

 

3.1.2. Thứ hai, không trộm cắp

 

          Giải: Từ vật quý trọng như vàng, bạc, cho đến một cây kim, một cọng cỏ, chẳng được không cho mà lấy. Nếu là vật của thường trụ, hoặc đồ vật của tín thí, hoặc đồ vật của tăng chúng, hoặc vật của quan (của công), vật của dân, hết thảy mọi vật, hoặc là đoạt lấy, hoặc trộm lấy, hoặc lừa lấy, cho đến trốn thuế, trốn vé, đo lường gian dối v.v… đều là trộm cắp.

          Kinh chép một sa-di trộm bảy trái cây của thường trụ, một sa-di khác trộm mấy cái bánh của chúng tăng, một sa-di khác trộm mấy phần thạch mật của chúng tăng, đều đọa địa ngục. Vì thế, kinh chép: “Ninh tựu đoạn thủ, bất thủ phi tài” (Thà bị chặt tay, chẳng lấy tài vật sai trái). Ôi! Há chẳng đáng răn dè ư?

         

3.1.3. Thứ ba, chẳng dâm

 

          Giải: Ngũ giới của người tại gia chỉ chế định không tà dâm. Mười giới của người xuất gia hoàn toàn đoạn dâm dục. Chỉ cần dính dáng đến hết thảy nam nữ trong thế gian đều gọi là “phá giới”.

          Kinh Lăng Nghiêm chép tỳ-kheo-ni Bảo Liên Hương lén làm chuyện dâm dục, tự nói “dâm dục chẳng giết, chẳng trộm, chẳng có tội báo”, bèn cảm thân tuôn ra lửa mạnh, hãm vào địa ngục ngay trong khi còn sống. Người đời do dục mà thân chết, nhà tan. Bỏ cõi tục làm tăng, há nên phạm nữa? Căn bản sanh tử thì dục là bậc nhất. Do vậy, kinh dạy: “Dâm dật nhi sanh, bất như trinh khiết nhi tử” (Do dâm dật mà sống, chẳng bằng trinh khiết mà chết). Ôi, há chẳng đáng răn dè ư?

 

3.1.4. Thứ tư, chẳng nói dối

 

          Giải: Vọng ngữ có bốn điều:

          - Một là vọng ngôn, tức coi đúng là sai, coi sai là đúng, thấy nói chẳng thấy, chẳng thấy nói thấy, hư vọng chẳng thật v.v…

          - Hai là ỷ ngữ (nói thêu dệt), tức là lời lẽ tô vẽ, sáo rỗng, thơ từ hay ca khúc diễm tình, khơi gợi dục, tăng thêm bi thương, khiến cho tâm chí người khác phiêu đãng v.v…

          - Ba là ác khẩu, tức là lời thô ác, chửi mắng người khác v.v…

          - Bốn là lưỡng thiệt, tức là hướng về người này kể lể người kia, hướng về người kia kể lể người này, ly gián ân nghĩa, đâm thọc tranh đấu v.v…

Cho đến trước mặt thì khen, sau lưng hủy báng, trước mặt nói là đúng, sau lưng quở là sai, chứng nhận tội của người khác, rêu rao khuyết điểm của người ta, đều thuộc loại vọng ngữ. Nếu phàm phu tự nói đã chứng thánh, như nói chính mình đã đắc quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm v.v… thì gọi là đại vọng ngữ, tội ấy cực nặng! Ngoài ra, nói dối nhằm cứu nạn gấp cho người khác, phương tiện quyền xảo, từ bi nhằm cứu vớt, tạo lợi ích v.v… thì chẳng phạm.

Cổ nhân nói “hành kỷ chi yếu, tự bất vọng ngữ thỉ” (điều quan trọng trong lập thân xử sự khởi đầu bằng chẳng nói dối), huống hồ học đạo xuất thế ư? Kinh chép sa-di cười nhạo một vị tỳ-kheo già đọc kinh như chó sủa, nhưng vị tỳ-kheo già là A La Hán; do vậy, Ngài dạy sa-di hãy gấp sám hối. [Dẫu sa-di sám hối ngay], chỉ thoát khỏi địa ngục, vẫn đọa làm thân chó. Một câu nói ác gây hại đến thế! Vì thế, kinh dạy: “Phù sĩ xử thế, phủ tại khẩu trung. Sở dĩ trảm thân, do kỳ ác ngôn” (Người sống trên đời, lưỡi búa ở trong miệng. Sở dĩ chém thân là do thốt lời ác) Ôi! Há chẳng đáng răn dè ư?

         

3.1.5. Thứ năm, chẳng uống rượu

 

          Giải: “Uống rượu” là uống hết thảy những thứ rượu có thể khiến cho người ta say. Rượu Tây Vực có nhiều loại; mía, nho, hoặc bách hoa, đều có thể chế thành rượu. Phương này chỉ có gạo chế thành rượu, đều chớ nên uống. Trừ khi mắc bệnh ngặt, chẳng có rượu thì không chữa được, bèn trình với đại chúng rồi mới uống. Không nguyên cớ thì một giọt cũng chẳng dính môi! Thậm chí chẳng được ngửi rượu, chẳng được nghỉ lại nhà chế rượu, chẳng được đưa rượu cho người khác uống.

          Nghi Địch[45] chế rượu, do vậy, vua Vũ đau lòng cấm tuyệt. Vua Trụ lập tửu trì[46], đất nước diệt vong. Tăng sĩ uống rượu, càng đáng nhục tột bậc! Xưa kia, có ưu-bà-tắc do phá giới uống rượu, các giới khác đều bị phá. Ba mươi sáu lầm lỗi[47], hễ uống rượu sẽ đều trọn đủ, lỗi chẳng nhỏ nhoi! Người tham uống rượu chết, đọa vào địa ngục Phí Niệu (沸屎, phân sôi sùng sục), đời đời ngu si, đánh mất chủng tánh trí huệ. Rượu là thứ mê hồn, là thuốc gây cuồng, dữ dội hơn tỳ sương, chất độc của chim trấm. Do vậy, kinh nói: “Ninh ẩm dương đồng, thận vô phạm tửu” (thà uống nước đồng sôi, cẩn thận chẳng phạm giới không uống rượu). Ôi! Há chẳng đáng răn dè ư?

 

3.1.6. Thứ sáu, chẳng đeo tràng hoa thơm, chẳng dùng hương bôi thân

 

          Giải: “Hoa man” (華鬘): Tây Vực xâu hoa thành chuỗi để làm thứ trang sức trên đầu, còn ở phương này thì dùng nhung, lụa, vàng, chất báu chế thành các loại khăn, mũ. “Bôi hương lên thân”: Quý nhân ở Tây Vực dùng hương quý nghiền thành bột, sai người hầu bôi lên thân [chủ nhân]. Cõi này thì là các loại như bội hương (hương đựng trong túi thơm để đeo), huân hương (hương xông y phục, vật dụng), son phấn v.v… Người xuất gia há nên dùng thứ ấy?

          Đức Phật chế định tam y, đều dùng vải gai thô sơ. Lông thú, kén tằm tổn hại loài vật, tổn thương lòng từ, chớ nên dùng. Trừ phi tuổi đến bảy mươi, suy yếu quá đỗi, chẳng có sợi bông sẽ không đủ ấm thì có thể dùng. Những trường hợp khác đều chẳng được. Vua Hạ Vũ áo rách, Công Tôn mặc áo vải, vương thần quý hiển, đáng lẽ mặc [gấm, lụa] mà họ chẳng mặc, há người đắc đạo ngược ngạo tham đắm trang sức lộng lẫy? Dùng hoại sắc làm y phục, y phấn tảo che thân, cố nhiên là lẽ đáng nên! Xưa kia có vị cao tăng suốt ba mươi mấy năm đi một đôi giày, huống bọn phàm tục ư? Ôi! Chẳng đáng răn dè sao?

 

3.1.7. Thứ bảy, không ca múa, tấu nhạc, chẳng đến xem, nghe

 

          Giải: Ca là miệng thốt ra ca khúc. Múa là thân nhún nhảy. Tấu nhạc là [diễn tấu] các loại như đàn cầm, đàn sắt, tiêu, kèn… Chẳng được tự tấu, cũng chẳng được khi người khác diễn tấu, bèn cố ý đến xem, nghe.

          Thuở xưa có tiên nhân do nghe nữ nhân ca hát, âm thanh vi diệu, bèn đánh mất thần thông. Cái hại của xem, nghe như thế đó; huống hồ là tự tấu. Nhưng kẻ ngu trong hiện thời do kinh Pháp Hoa có câu “tỳ bà, não bạt”, bèn mặc sức học âm nhạc. Nhưng [tấu nhạc trong] kinh Pháp Hoa là để cúng dường chư Phật, chẳng phải để tự vui thỏa. Chùa chiền làm pháp sự hoặc đạo tràng cho nhân gian [bèn tấu nhạc] thì còn được. Nay vì sanh tử, xả tục xuất gia, há có nên chẳng tu chánh vụ, mà mong khéo léo nơi âm nhạc ư? Thậm chí cờ vây, bài bạc, gieo xúc xắc, chơi xu bồ[48] v.v… đều loạn đạo tâm, tăng trưởng lỗi ác. Ôi! Há chẳng đáng răn dè ư?      

 

3.1.8. Thứ tám, chẳng ngồi giường cao rộng

 

          Giải: Đức Phật chế định: Giường dây chẳng cao hơn tám ngón tay của Như Lai. Cao hơn sẽ phạm luật. Cho đến các loại [giường, chõng] sơn, vẽ, chạm trổ, và màn, nệm bằng sa, lụa, cũng chẳng nên dùng. Cổ nhân kết cỏ làm tòa, ngủ dưới gốc cây. Nay có giường, chõng, cũng là đã thù thắng quá rồi, há còn cao rộng, phóng túng huyễn thân ư? Hiếp tôn giả suốt đời chẳng ngả lưng xuống chiếu. Thiền sư Cao Phong Diệu lập nguyện ba năm không dính đến giường, ghế. Ngộ Đạt nhận tòa bằng trầm hương, còn bị tổn phước, chuốc báo. Ôi! Há chẳng đáng răn dè ư?

 

3.1.9. Thứ chín, chẳng ăn phi thời

 

          Giải: “Phi thời” là quá Ngọ, chẳng phải là lúc ăn của chư Tăng. Chư thiên ăn buổi sáng, Phật ăn giữa Ngọ, súc sanh ăn buổi chiều, ngạ quỷ ăn ban đêm. Tăng hãy nên học theo Phật, chẳng ăn quá Ngọ. Ngạ quỷ nghe tiếng chén, bát khua, trong họng bốc lửa. Do đó, ăn Ngọ còn phải lặng lẽ, hà huống quá ngọ ư? Xưa kia, có vị cao tăng nghe vị tăng ở phòng bên cạnh sau Ngọ nổi lửa nấu cơm, bất giác trào lệ, xót cho Phật pháp suy tàn. Người hiện thời, thân yếu, lắm bệnh, muốn ăn nhiều lượt, có lẽ chẳng giữ được giới này. Vì thế, cổ nhân gọi bữa tối là “dược thạch” (藥石), mang ý nghĩa “chữa bệnh”, ắt cũng biết là trái nghịch chế định của Phật, sanh lòng hổ thẹn to lớn. Nghĩ đến nỗi khổ của ngạ quỷ, thường hành sự thương xót cứu tế, chẳng ăn nhiều, chẳng ăn ngon, chẳng chú tâm vào ăn uống, hễ có là được rồi! Nếu chẳng phải như vậy, sẽ mắc tội càng nặng. Ôi! Há chẳng đáng răn dè ư?

 

3.1.10. Thứ mười, chẳng cầm nắm sanh tượng, vàng, bạc, vật báu

 

          Giải: “Sanh” () tức là vàng. “Tượng” () là giống như. [“Sanh tượng”] là giống như vàng, tức bạc. Ý nói màu của vàng vốn sẵn là vàng. Bạc có thể nhuốm màu vàng giống như vàng. “Báu” là bảy báu, đều tăng trưởng tâm tham, ngăn trở, hư hoại đạo nghiệp. Vì thế, thuở đức Phật tại thế, Tăng đều khất thực, chẳng tạo bếp núc. Y phục, phòng ốc đều phó mặc cho ngoại duyên, đặt vàng, bạc vào chỗ vô dụng. Cầm, nắm còn là phạm giới, những điều khác có thể suy ra!

          Cuốc trúng vàng còn chẳng ngó tới[49], Nho sĩ trong đời còn vậy. Thích Tử xưng là nghèo, tích cóp tài vật ích gì? Người thời nay đều chẳng thể khất thực, hoặc vào tùng lâm, hoặc sống trong am viện, hoặc đi đến phương xa, cũng chưa tránh khỏi chi phí bằng vàng, bạc, ắt cũng biết là đã trái nghịch chế định của đức Phật, sanh lòng hổ thẹn to lớn. Nghĩ tới người khác nghèo thiếu, chẳng tìm cầu, chẳng toan tính, chẳng tích cóp, chẳng bán chác, chẳng dùng bảy báu trang hoàng y phục, vật dụng v.v… để mong được vậy. Nếu chẳng thể, sẽ mắc tội càng nặng. Ôi! Chẳng đáng răn dè ư?

 

3.2. Oai nghi môn (威儀門)

 

          Đức Phật chế định sa-di tròn hai mươi tuổi, khi muốn thọ Cụ Túc Giới, nếu [thầy] hỏi mà chẳng thể đáp đầy đủ những chuyện thuộc về sa-di, chẳng nên cho thọ Cụ Túc Giới. Hãy nên nói: “Ngươi chính là sa-di mà chẳng biết thi hành bổn phận của sa-di, chuyện của sa-môn sẽ rất khó làm. Ngươi nên về học thuộc, khi nào nghe biết tường tận, mới nên thọ Cụ Túc Giới. Nay truyền giới Cụ Túc cho ngươi, người ta sẽ nói Phật pháp dễ hành, sa-môn dễ làm. Vì thế, phải hỏi trước”.

          Các điều dưới đây xuất phát từ các kinh dạy về oai nghi của sa-di và Thanh Quy thời cổ. Nay tôi trích lục từ khuôn phép đã hình thành của sa-di. Lại còn đối với sách Hành Hộ Luật Nghi (行護律儀, luật nghi để thực hiện và gìn giữ) của Đạo Tuyên luật sư, tuy thật sự là áp dụng cho hàng tân học tỳ-kheo, hễ có chỗ nào có thể áp dụng chung, cũng trích xuất ra. Ấy là do tình người thời Mạt Pháp lắm nỗi biếng nhác, nghe nhiều thứ bèn chán ngán; vì vậy, bỏ bớt những chỗ rườm rà, giữ lại những điểm quan trọng, phân loại để tiện xem đọc, học tập. Nếu có chỗ nào chưa đầy đủ, sẽ theo ý nghĩa mà bổ sung một, hai điều. Ai thích xem rộng thì tự kiểm đọc toàn bộ kinh văn.

 

3.2.1. Thứ nhất: Kính đại sa-môn

 

          - Chẳng được gọi tên đại sa-môn.

- Chẳng được nghe trộm đại sa-môn thuyết giới.

- Chẳng được rêu rao, kể lỗi của đại sa-môn.

- Chẳng được đang ngồi, thấy đại sa-môn đi qua mà không đứng dậy, trừ lúc đang đọc kinh, bị bệnh, cạo tóc, dùng cơm, hoặc làm các việc trong chúng.

          Sách Hành Hộ ghi: “Từ năm hạ trở lên tức là địa vị A-xà-lê, mười hạ trở lên là địa vị hòa thượng. Tuy là chuyện của tỳ-kheo, sa-di cũng nên cần phải biết”.

         

3.2.2. Thứ hai: Phụng sự thầy

 

          - Hãy nên dậy sớm.

- Muốn vào cửa, hãy nên khảy ngón tay ba lượt trước.

- Nếu có lỗi, được hòa thượng, A-xà-lê răn dạy, chẳng được cãi lại.

- Hãy nên thấy hòa thượng, A-xà-lê như thấy Phật.

- Nếu bị sai đem đổ đồ chứa bất tịnh, không được khạc nhổ, không được giận dữ.

- Đối với chuyện lễ bái, thầy đang tọa Thiền, không được lễ bái. Thầy kinh hành, chớ nên làm lễ. Thầy ăn, thầy nói kinh, thầy chải răng, thầy tắm rửa, thầy ngủ nghỉ v.v… đều chớ nên làm lễ. Thầy đóng cửa, chớ nên làm lễ ngoài cửa. Muốn vào cửa làm lễ, hãy nên khảy ngón tay ba lượt. Thầy chẳng đáp, hãy nên rời đi.

- Cầm thức ăn cho thầy, đều nên dùng hai tay bưng. Thầy ăn xong, [trò] thâu cất chén bát, hãy nên thong thả.

- Hầu thầy thì chớ nên đứng đối diện, chẳng được ngồi ở chỗ cao, chẳng được đứng quá xa. Hãy nên sao cho thầy nói nhỏ vẫn nghe được, chẳng tốn hơi sức.

- Nếu thưa hỏi nhân duyên Phật pháp, hãy nên chỉnh đốn y phục, lễ bái, chắp tay, hồ quỳ. Thầy có lời dạy, hãy lắng lòng nghe kỹ, tư duy thâm nhập.

- Nếu hỏi về chuyện thường ngày, chẳng cần quỳ lễ, chỉ đứng ngay ngắn bên cạnh thầy, đúng sự thực mà trình bày.

- Nếu thầy thân tâm mệt mỏi, dạy trò rời đi, hãy nên đi, chẳng được bày ra vẻ mặt tâm tình chẳng vui.

- Phàm có những chuyện phạm giới v.v… chẳng được che giấu, hãy mau đến chỗ thầy xót xa cầu sám hối. Thầy chấp thuận, bèn tận tình bộc lộ, tinh thành hối cải, hoàn phục sự thanh tịnh.

- Thầy nói chưa xong, chẳng được cướp lời. Chẳng được đùa bỡn ngồi lên tòa của thầy, và nằm lên giường của thầy, mặc áo, đội mão của thầy v.v…

- Vì thầy chuyển giao thư từ, chẳng được lén bóc ra xem, cũng chẳng được cho người khác xem. Đến chỗ người ấy, nếu được hỏi, chuyện nên đáp thì đúng sự thật mà thưa. Chuyện chẳng nên đáp thì khéo léo từ khước. Người ấy giữ lại, chớ nên tùy tiện ở lại, hãy nên nhất tâm nghĩ thầy đang mong trò trở về.

- Thầy tiếp khách, trò hoặc đứng chỗ thường đứng, hoặc ở bên cạnh thầy, ắt phải sao cho tai mắt tiếp xúc để giúp thầy khi cần.

          - Thầy bệnh tật, mỗi mỗi đều dụng tâm sắp xếp phòng ốc, mền, đệm, thuốc men, cơm cháo v.v…

          - Cầm áo, trao dép, giặt giữ, hong, phơi v.v… chi tiết như chép trong luật, ở đây chẳng phiền sao lục.

          Nói thêm:

- Phàm hầu thầy, thầy chưa cho phép ngồi, chẳng dám ngồi, thầy chẳng hỏi, chẳng dám đáp, trừ khi hữu sự muốn hỏi.

          - Phàm đứng hầu, chẳng được dựa vách, tựa bàn, hãy nên ngay thân, nghiêm chân đứng một bên.

- Muốn lễ bái, nếu thầy bảo thôi, hãy nên vâng theo lệnh thầy đừng lạy.

          - Hễ thầy và khách đàm luận, gặp những lời có ích cho thân tâm, hãy đều nên ghi nhớ.

          - Thầy sai bảo điều gì, hãy nên gấp thực hiện, đừng nên chống trái, lần chần.

          - Chẳng được ngủ trước thầy.

          - Nếu ai hỏi tên húy của thấy, hãy nên nói thượng là gì, hạ là gì[50].

          - Phàm đệ tử hãy nên chọn minh sư, thân cận lâu ngày, chẳng được lìa thầy quá sớm. Nếu thầy thật sự chẳng sáng suốt, mới nên cầu người hướng dẫn tốt lành khác.

          - Nếu rời khỏi thầy, hãy nên nhớ lời thầy dạy, chẳng được mặc tình tự ý thuận theo thói tục trong cõi đời làm chuyện bất chánh, cũng chẳng được trụ nơi chợ búa ồn náo, chẳng được sống trong miếu thờ thần, chẳng được ở nơi nhà dân, chẳng được ở gần chùa ni, chẳng được do ở khác chỗ với thầy mà làm hết thảy chuyện ác trong thế gian.

 

3.2.3 Thứ ba: Theo thầy xuất hành

 

          - Chẳng được đi qua nhà người ta.

          - Chẳng được ngưng lại trò chuyện với người khác bên đường.

          - Chẳng được nhìn ngó quanh quất, hãy nên cúi đầu theo sau thầy.

          - Tới nhà đàn việt, hãy nên đứng một bên, thầy bảo ngồi mới nên ngồi.

          - Tới tự viện khác, thầy lễ Phật hoặc chính mình tự lễ, chẳng được tự tiện gõ khánh.

          - Nếu đi trong núi, hãy nên cầm tọa cụ theo sau. Nếu đi xa, chớ nên cách thầy quá xa. Nếu qua đò, hãy nên cầm gậy dò thử mực nước nông, sâu.

          - Cầm bình và tích trượng v.v... đã chép đầy đủ trong Luật, văn từ rườm rà chẳng cần sao lục.

          Nói kèm thêm:

- Nếu ngẫu nhiên tách ra, ước hẹn đến nơi nào đó sẽ gặp gỡ, chẳng được đến trễ.

          - Thầy thọ trai, hãy nên đứng hầu. Khi xuất sanh hoặc thọ trai xong, hãy nên đứng hầu tiếp nhận vật cúng dường.

 

3.2.4. Thứ tư: Nhập chúng

         

          - Chẳng được giành chỗ ngồi.

          - Chẳng được tại chỗ ngồi kêu réo từ xa, nói, cười.

          - Trong chúng có người đánh mất oai nghi, hãy nên ẩn ác, nêu cao điều thiện.

          - Chẳng được làm thay [người khác] hòng hiển lộ công lao của mình.

          - Phàm ở bất cứ chỗ nào, chẳng ngủ trước người khác, chẳng dậy sau người khác.

          - Khi rửa mặt, không dùng quá nhiều nước.

          - Chà răng, nhổ nước, cần phải cúi đầu nhổ nước ra, không được phun nước làm bẩn người khác.

          - Chẳng được lớn tiếng hỉ mũi, ói mửa.

          - Chẳng được khạc nhổ nơi điện, tháp, tịnh thất, đất sạch, nước sạch, hãy nên làm ở chỗ khuất.

          - Khi uống trà hay nước nóng, chẳng được dùng một tay đón lấy.

          - Chẳng được hướng về tháp, hòa thượng, A-xà-lê v.v... để súc miệng.

          - Hễ nghe tiếng chuông, bèn chắp tay, niệm thầm: “Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ, trí huệ tăng, Bồ Đề sanh. Lìa địa ngục, thoát hầm lửa. Nguyện thành Phật, độ chúng sanh. Án, già ra đế da, sa ha”.

          - Không được cười nhiều. Nếu cười lớn hoặc ngáp, nên dùng tay áo che miệng.

          - Không được đi vội, không được lấy đèn nơi bàn Phật để dùng riêng. Nếu thắp đèn, hãy nên đậy chụp đèn cho kín, đừng để các loài trùng bay vào.

          - Cúng hoa cho Phật, chọn bông nở xòe, chẳng được ngửi trước. Loại bỏ hoa héo rồi mới cúng hoa mới. Hoa héo chẳng được vứt xuống đất, giẫm đạp, hãy nên để chỗ khuất.

          - Chẳng được nghe gọi mà không đáp. Hễ được gọi, đều nên dùng tiếng niệm Phật để đáp.

          - Hễ thâu thập di vật [của vị tăng đã mất], hãy nên bạch với vị tăng chủ sự.

          Nói thêm:

          - Chẳng được kết bạn với sa-di nhỏ tuổi.

          - Chẳng được giảm thiểu ba y, hoặc lôi thôi, xộc xệch.

          - Chẳng được may nhiều quần áo. Nếu có dư, hãy nên thí xả.

          - Chẳng được sắm sửa phất trần, các món ngoạn cụ tinh tế v.v..., vẽ vời cảnh núi sông, trào lộng.

          - Chẳng mặc sắc phục[51], và các y phục, trang sức v.v… của người thế tục.

          - Chẳng được dùng tay bất tịnh đắp y.

          - Lên chánh điện, cần phải buộc ống quần và vớ, chẳng được phóng túng tùy tiện.

          - Chẳng được đi lang thang.

          - Chẳng được nói nhiều.

          - Chẳng được ngồi ngó đại chúng vất vả, [còn chính mình] tránh né, lười nhác, trộm an thân.

          - Chẳng được lấy riêng tre, gỗ, hoa, quả, rau dưa, hết thảy thức ăn và hết thảy các vật dụng của Chiêu Đề[52].

          - Chẳng được đàm luận ưu khuyết của triều đình, công phủ, chánh sự, và ưu, khuyết, tốt, xấu của người bạch y.

          - Hễ tự xưng, hãy nên nêu ra hai chữ pháp danh, chẳng được nói là “tôi” và “tiểu tăng”.

          - Chẳng được do chuyện nhỏ nhặt mà tranh chấp. Dẫu là chuyện lớn khó nhẫn, cũng cần phải tâm bình khí hòa, dùng lý để bàn luận. Không được thì thoái thác bỏ đi. Nếu nổi nóng, phát cáu, tức chẳng phải là một vị tăng tốt.

 

3.2.5. Thứ năm: Theo chúng thọ trai

 

          - Nghe tiếng kiền chùy[53], liền phải chỉnh đốn y phục.

          - Lúc chú nguyện khi sắp ăn, đều nên cung kính.

          - Xuất sanh thì không quá bảy hạt cơm, mì thì không quá một tấc, mạn đầu không to hơn nửa móng tay. Nhiều thì là tham, ít thì là keo.

          - Khi xuất sanh, đặt thức ăn trong tay trái, tưởng niệm kệ rằng: “Nhữ đẳng quỷ thần chúng. Ngã kim thí nhữ cúng, thử thực biến thập phương. Nhất thiết quỷ thần cộng” (Này các vị quỷ thần, nay tôi sẽ cúng thí. Món này trọn mười phương, quỷ thần đều được hưởng).

          - Khi sắp ăn, hãy nên quán tưởng năm điều: Một là xét công nhiều ít, suy tính những thức ăn này từ đâu đến. Hai là suy xét đức hạnh của chính mình, tròn vẹn hay khuyết thiếu mà nhận cúng dường. Ba là ngừa tâm lìa lỗi, [trong những lỗi ấy] chánh yếu là tham v.v… Bốn là thức ăn này chính là thuốc tốt lành để chữa trị thân thể khô gầy. Năm là vì thành đạo mới nhận thức ăn này.

          - Không chê trách thức ăn ngon dở.

          - Không được lấy thức ăn để cho riêng [kẻ khác], hoặc trích ra một phần cho chó.

          - Nếu được thêm thức ăn, chẳng được nói “không cần”. Nếu đã no, hãy nên dùng tay ra dấu từ chối.

          - Chẳng được gãi đầu khiến cho gầu rơi vào bát người bên cạnh.

          - Chẳng được vừa ngậm thức ăn vừa nói.

          - Chẳng được cười nói, tán gẫu.

          - Chẳng được nhai nhóc nhách ra tiếng.

          - Nếu muốn xỉa răng, dùng tay áo che miệng.

          - Nếu trong thức ăn có trùng, kiến, hãy nên khéo che kín, đừng để người bên cạnh trông thấy mà sanh tâm nghi.

          - Hãy nên ăn xong một bữa, [tức là] chẳng được ăn xong, đã rời chỗ, lại trở về ngồi ăn tiếp.

          - Chẳng được ăn xong bèn dùng ngón tay vét thức ăn trong chén.

          - Hễ ăn thì chẳng được ăn quá nhanh, hay quá chậm.

          - Thức ăn chưa được đưa tới, chẳng được sanh phiền não.

          - Nếu có cần gì, lặng lẽ ra hiệu, không được lớn tiếng kêu gào.

          - Chẳng được khua bát chén ra tiếng.

          - Chẳng được ăn xong đứng dậy trước.

          - Nếu trái nghịch tăng chế (quy chế của tăng chúng), nghe bạch chùy chẳng được kháng cự, không phục.

          - Nếu trong cơm có thóc, hãy lột vỏ trấu rồi ăn.

          Nói kèm thêm:

          - Chẳng được thấy vị ngon bèn sanh tâm tham, ăn no đẫy.

          - Chẳng được ăn khác biệt với mọi người.

 

3.2.6. Thứ sáu: Lễ bái

 

          - Lễ bái chẳng được chiếm chính giữa điện, đó là vị trí của vị Trụ Trì.

          - Hễ có người đang lễ Phật, chẳng được bước qua trước đầu người ấy.

          - Hễ chắp tay, chẳng được mười ngón so le, chẳng được để hở ở giữa, chẳng được để đầu ngón tay nhét vào mũi, cần phải đặt sao cho cao vừa phải ngang ngực.

          - Chẳng được lễ bái trái thời. Chẳng được lễ ngang hàng với thầy. Hãy nên theo sau lạy ở xa.

- Thầy lạy người khác, chẳng được cùng lạy với thầy.

- Đối trước thầy, chẳng được vái lạy người cùng hàng.

- Đối trước thầy, chẳng được nhận lễ của người khác.

- Tay đã cầm kinh, tượng, chẳng làm lễ người khác.

Kèm thêm:

- Hễ lễ bái, cần phải tinh thành tác quán. Trong giáo pháp có liệt kê bảy loại lễ[54], chớ nên không biết.

 

3.2.7. Thứ bảy: Nghe pháp

 

- Hễ gặp bảng treo báo có thượng đường[55], hãy nên sớm tụ tập tại pháp đường, đừng đợi trống pháp vang rền.

- Chỉnh đốn y phục.

- Nhìn thẳng, tiến thẳng.

- Ngồi thì ắt đoan nghiêm.

- Chẳng được nói năng tạp loạn.

- Chẳng được ho hắng lớn tiếng.

Nói kèm thêm:

- Phàm khi nghe pháp, cần phải nghe rồi suy nghĩ, suy nghĩ rồi tu. Chẳng được chuyên nghi nhớ danh tướng, ngôn từ để làm vốn cho biện bác.

- Chẳng được chưa hiểu đã bảo là hiểu, lọt vào tai bèn thoát ra miệng.

- Sa-di tuổi trẻ, giới lực chưa vững, càng phải nên học luật, chẳng được sớm dự vào giảng tòa.

 

3.2.8. Thứ tám: Học tập kinh điển

 

- Phải nên trước tiên học Luật, sau đó học Tu-đa-la (kinh), chẳng được trái vượt.

- Hễ học một kinh, cần phải trước hết thưa với thầy. Học kinh ấy xong, lại thưa để học một bộ kinh khác nào đó.

- Chẳng được dùng miệng thổi bụi bám trên kinh.

- Chẳng được trên án để kinh mà cất giữ vụn trà, và các vật linh tinh khác.

- Người khác đang xem kinh, chẳng được kinh hành gần trước bàn của người ấy.

- Hễ kinh sách bị tổn hoại, hãy nên gấp tu bổ.

- Sa-di bổn nghiệp chưa thành, chẳng được học tập kinh sử, ngoại thư (sách thế gian), điển chương bình trị cõi đời.

Kèm thêm:

          - Chẳng được chọn lựa học tập kinh điển nhằm ứng phó đạo tràng.

          - Chẳng được học tập sách đoán mạng, sách tướng, sách thuốc, binh thư, sách bói quẻ, sách thiên văn, sách địa lý, sách đồ sấm[56], cho đến các sách nói về lô hỏa, hoàng bạch[57], thần kỳ, quỷ quái, phù thủy v.v…

          - Chẳng được học tập tuyên quyển đả kệ[58].

          - Chẳng được học tập sách của ngoại đạo, trừ trường hợp trí lực có thừa, vì muốn biết nội giáo và ngoại giáo sâu cạn [như thế nào] thì có thể dính dáng, nhưng đừng sanh ý tưởng học tập.

          - Chẳng được học tập thơ ca, từ phú.

          - Chẳng được dốc lòng luyện viết chữ, chỉ viết ngay ngắn, rõ ràng là được rồi.

          - Chẳng được dùng tay bẩn cầm kinh.

          - Đối trước kinh điển như đối trước Phật, chẳng được cười đùa.

          - Chẳng được bỏ kinh quyển bừa bãi trên án.

          - Chẳng được [đọc] lớn tiếng động chúng.

          - Chẳng được mượn kinh từ người để xem mà không trả, cũng như chẳng tăng thêm lòng yêu mến, quý trọng đến nỗi kinh bị tổn hoại.

 

3.2.9. Thứ chín: Vào tự viện

 

          - Hễ vào tự viện, chẳng được đi ở chính giữa, cần phải men theo phía bên phải, bên trái mà đi. Men theo bên trái thì bước chân trái trước. Men theo bên phải thì bước chân phải trước.

          - Chẳng được vô cớ lên đại điện dạo chơi.

          - Chẳng được vô cớ lên tháp.

          - Vào điện tháp, phải nhiễu theo chiều bên phải, chẳng được xoay theo chiều trái.

          - Chẳng được khạc nhổ trong điện, tháp.

          - Nhiễu tháp ba vòng, bảy vòng, cho đến mười vòng, trăm vòng, cần phải biết số lượt.

          - Chẳng được đặt nón, gậy v.v… dựa vào vách điện.

 

3.2.10. Thứ mười: Vào thiền đường theo đại chúng

 

           - Lên giường, chẳng được giũ áo mền phát ra tiếng động, phẩy gió, khiến cho đơn[59] bên cạnh động niệm.

          - Xuống giường, thầm niệm kệ rằng: “Tùng triêu Dần đán trực chí mộ, nhất thiết chúng sanh tự hồi hộ. Nhược ư túc hạ táng thân hình, nguyện nhữ tức thời sanh Tịnh Độ” (Từ giờ Dần sớm hôm đến tối, hết thảy chúng sanh tự lui giữ, nếu bị vùi thân dưới chân ta, nguyện ngươi lập tức sanh Tịnh Độ).

          - Chẳng được nói lớn tiếng.

          - Nhẹ tay kéo rèm, cần phải dùng tay đỡ.

          - Chẳng được kéo lê giày phát ra tiếng.

          - Chẳng được ho hắng lớn tiếng.

          - Chẳng được chụm đầu, kề tai với người ở đơn bên cạnh để bàn nói thế sự.

          - Nếu có đạo hữu thân tình đến thăm trong thiền đường, chẳng được mời mọc nói chuyện lâu. Ở dưới rừng cây, bên chỗ có nước mới có thể mặc tình đàm luận.

          - Nếu xem kinh, cần phải thân ngay ngắn, lắng lòng, thầm nghiền ngẫm, chẳng được đọc ra tiếng.

          - Nghe hai tiếng bản, liền sớm tiến vào thiền đường.

          - Vào đến chỗ, bèn thầm niệm kệ rằng: “Chánh thân đoan tọa, đương nguyện chúng sanh, tọa Bồ Đề tòa, tâm vô sở trước” (thân ngay ngồi thẳng, nên nguyện chúng sanh, ngồi tòa Bồ Đề, tâm không dính mắc).

          Nói thêm:

          - Chẳng được đi xuyên thẳng chính giữa thiền đường.

          - Lên đơn hoặc xuống đơn đều phải nhẹ nhàng, đừng khiến cho người ở đơn bên cạnh động niệm.

          - Chẳng được viết văn tự trên đơn, ngoại trừ lúc đại chúng xem kinh giáo.

          - Chẳng được ngồi tụ tập uống trà trên đơn, nói năng tạp nhạp.

          - Chẳng được may vá y hoặc mền trên đơn.

          - Chẳng được nằm trên đơn chuyện trò với người ở đơn bên cạnh, gây động chúng.

 

3.2.11. Thứ mười một: Chấp tác

 

          - Phải nên quý tiếc vật dụng của tăng chúng.

          - Phải vâng theo sự dạy bảo của vị Tri Sự, chẳng được trái nghịch.

          - Hễ rửa rau, phải thay nước ba lần.

          - Hễ kéo nước, hãy rửa tay trước.

          - Hễ dùng nước, phải xem kỹ có trùng hay không, dùng cái lọc dày để lọc qua rồi mới dùng. Nếu nhằm lúc rét buốt, chớ nên lọc nước sớm, cần phải đợi mặt trời mọc.

          - Hễ đốt bếp, chẳng được đốt củi mục.

          - Hễ làm thức ăn, chẳng được để móng tay bẩn.

          - Phàm đổ nước dơ, chẳng được đổ ra đường đi, chẳng được vung tay hất nước, hãy nên cách mặt đất bốn năm tấc, từ từ đổ đi.

          - Hễ quét đất, chẳng được quét ngược gió, chẳng được lấp bụi đất vào sau cánh cửa.

          - Giặt nội y, cần phải bắt rận, rệp bỏ đi rồi mới giặt.

          - Tháng mùa Hạ, dùng chậu xong, cần úp xuống; nếu để ngửa, sẽ sanh trùng.

          Kèm thêm:

          - Chẳng được đổ nước nóng xuống đất.

          - Hết thảy các thứ gạo, mì, rau, quả v.v… chẳng được tùy tiện vứt bừa bãi, cần phải càng thêm quý tiếc.

 

3.2.12. Thứ mười hai: Vào nhà tắm

 

          - Trước tiên, dùng nước nóng rửa mặt từ trên xuống dưới, thong thả mà rửa.

          - Chẳng được thô tháo, dùng nước nóng hất người bên cạnh.

          - Chẳng được tiểu trong nhà tắm.

          - Chẳng được nói cười với người khác. Sách Nhân Thiên Bảo Giám nói: “Có một sa-di vào tắm cười đùa, bèn cảm quả báo nơi địa ngục Phí Thang (nước sôi sùng sục)”.

          - Chẳng được rửa chỗ kín.

          - Nếu có ghẻ chốc, hãy nên tắm sau. Nếu có vết loét đáng sợ, hãy nên lui tránh để khỏi làm nhức mắt người khác.

          - Chẳng được mặc tình tắm lâu, gây trở ngại cho người sau.

          Nói thêm:

          - Cởi áo, mặc áo, phải an tường tự tại.

          - Trước khi tắm, nên gột rửa sạch sẽ, cần phải cẩn thận, không được để nước đã dùng để rửa ráy lẫn vào bồn chứa nước tắm.

          - Khi nước nóng bị nguội, hãy theo lệ gõ bang[60], chẳng được kêu ầm lên.

 

3.2.13. Thứ mười ba: Vào nhà xí

 

          - Muốn đại tiểu tiện liền đi ngay, đừng đợi cho đến lúc gấp rút, đánh mất oai nghi.

          - Treo áo trực chuyết[61] trên sào tre, xếp cho tề chỉnh, dùng khăn tay hoặc dây thắt lưng cột lại, một là để ghi nhớ, hai là sợ nó rơi xuống đất.

          - Cần đổi sang giày khác, chẳng dùng giày sạch để vào nhà xí.

          - Tiến vào [nhà xí], hãy nên khảy ngón tay ba lần, khiến cho người ở bên trong biết.

          - Chẳng được thúc ép người bên trong đi ra.

          - Đã bước vào, lại nên khảy ngón tay ba lượt, thầm niệm: “Đại tiểu tiện thời, đương nguyện chúng sanh, khí tham sân si, quyên trừ tội pháp” (Khi đại tiểu tiện, nên nguyện chúng sanh, bỏ tham, sân, si, trừ sạch tội pháp).

          - Chẳng được cúi đầu nhìn xuống dưới.

          - Chẳng được cầm cỏ vẽ lên mặt đất.

          - Chẳng được ráng vận khí phát ra tiếng.

          - Chẳng được nói chuyện với người cách vách.

          - Chẳng được nhổ lên vách.

          - Gặp người khác, chẳng được làm lễ, hãy nên nghiêng thân tránh sang một bên.

          - Chẳng được vừa đi đường vừa cột đai lưng.

          - Tiêu tiểu xong, nên rửa sạch tay; chưa rửa thì chẳng được cầm nắm đồ vật.

          - Rửa tay nên thầm niệm: “Dĩ thủy quán chưởng, đương nguyện chúng sanh, đắc thanh tịnh thủ, thọ trì Phật pháp. Án, chủ ca ra da, sa ha” (Dùng nước rửa tay, nên nguyện chúng sanh, được tay thanh tịnh, thọ trì Phật pháp).

          Nói thêm:

          - Nếu đi tiểu, cũng cần phải vén tay áo, mà cũng chớ nên mặc thiên sam[62] đi tiểu.

 

3.2.14. Thứ mười bốn: Nằm ngủ

 

          - Cần nằm ngủ bên hông phải, đó gọi là Cát Tường Thụy (ngủ trong tư thế tốt lành). Chẳng được nằm ngửa, nằm sấp, hoặc nằm bên hông trái.

          - Chẳng được ở cùng phòng, cùng giường với thầy, hoặc được ở cùng phòng, nhưng chẳng được cùng giường.

          - Cũng chẳng được nằm cùng giường với sa-di đồng sự.

          - Hễ treo giày, dép, áo ngắn v.v… chẳng được để cao hơn mặt người.

          Nói thêm:

          - Không được cởi áo lót để ngủ.

          - Chẳng được nằm trên giường nói cười lớn tiếng.

          - Chẳng được cầm đồ đựng nước tiểu đi ngang qua thánh tượng và pháp đường.     

 

3.2.15. Thứ mười lăm: Sưởi quanh lò

 

          - Chẳng được chụm đầu, sát tai nói chuyện.

          - Chẳng được gảy hờm vào lửa.

          - Chẳng được [dùng lò sưởi để] hong khô giày, vớ.

          - Chẳng được sưởi quá lâu, gây trở ngại cho người sau. Hễ [cảm thấy] hơi ấm áp liền nên trở về chỗ.

 

3.2.16. Ở trong phòng

 

          - Chào hỏi lẫn nhau, phải nên biết lớn, nhỏ.

          - Sắp cầm đèn lửa vào phòng, cần báo trước cho người trong phòng biết: “Lửa vào”. Muốn tắt đèn, hỏi trước người cùng phòng: “Còn cần đèn hay không?”

          - Để tắt đèn, không được dùng miệng thổi. Chẳng được niệm tụng lớn tiếng.

          - Nếu có bệnh nhân, hãy nên có lòng Từ trông nom từ đầu đến cuối.

          - Có người đang ngủ thì không được khua động đồ đạc ra tiếng, hoặc nói cười lớn tiếng.

          - Không được vô duyên cớ vào phòng viện của người khác.

 

3.2.17. Thứ mười bảy: Đến chùa ni

         

          - Có chỗ ngồi khác thì mới ngồi; không có chỗ ngồi khác, không được ngồi.

          - Chẳng được nói với ni không đúng lúc.

          - Khi trở về, không được nói chuyện tốt xấu của họ.

          - Chẳng được gởi thư từ qua lại, cũng như nhờ vả cắt may, giặt giũ v.v…

          - Chẳng được đích thân cạo tóc cho ni.

          - Chẳng được cùng ngồi ở chỗ khuất.

          Nói thêm:

          - Không có người thứ hai, thì chẳng được một mình tiến vào [chùa ni].

          - Không được tặng quà cho nhau.

          - Không được nhờ cậy ni tăng vào nhà sang quý để hóa duyên và xin niệm kinh sám v.v...

          - Chẳng được cùng ni tăng kết bái làm cha, mẹ, chị em, đạo hữu.

 

3.2.18. Thứ mười tám: Đến nhà người khác

 

          - Có chỗ ngồi khác mới ngồi, chẳng nên ngồi xen lẫn [với người thế tục].
          - Có người hỏi thì phải nên biết thời [để đáp lời], hãy cẩn thận chớ nên nói không đúng lúc.

          - Không được cười nhiều.

          - Chủ nhân mời ăn, dẫu chẳng phải là pháp hội, cũng đừng để mất quy củ, oai nghi.

          - Chẳng phạm lỗi đi đêm.

          - Chẳng được cùng ngồi, cùng trò chuyện với nữ nhân ở trong phòng hoặc chỗ khuất.

- Chẳng được gởi thư từ qua lại, giống như điều trên.

- Nếu đến nhà người thế tục để thăm viếng cha mẹ, trước hết nên vào trung đường lễ Phật, hoặc thánh tượng trong nhà, đoan nghiêm bái xá. Kế đến là nhất nhất chào hỏi cha mẹ, quyến thuộc v.v…

- Chẳng được hướng về cha mẹ nói pháp của thầy nghiêm ngặt, xuất gia khó khăn, quạnh quẽ, đạm bạc, các chuyện gian nan, cay đắng, khuất lấp v.v… Hãy nên vì họ nói Phật pháp, khiến cho họ sanh tín, tăng phước.

- Chẳng được ngồi lâu, đứng lâu, nói tạp nhạp, cười đùa với thân tộc, trẻ nhỏ v.v… Cũng chẳng được hỏi chuyện thị phi, tốt xấu trong dòng tộc.

- Nếu đã trễ, ngủ lại đêm, hãy nên nằm riêng một giường, ngồi nhiều, nằm ít, nhất tâm niệm Phật, xong việc liền quay về, chẳng được nấn ná.

Nói thêm:

- Chẳng được nhìn ngược ngó xuôi.

- Chẳng được nói chuyện tạp nhạp.

- Chẳng được nói với nữ nhân. Chẳng được thấp giọng, nói thầm, chẳng được nói nhiều.

- Chẳng được dối hiện oai nghi, giả vờ ra vẻ Thiền tướng để mong được cung kính.

- Chẳng được nói dối Phật pháp, trả lời loạn xạ câu hỏi của người khác hòng được tiếng đa văn, cầu được họ cung kính.

- Chẳng được tặng quà cáp giống như hàng bạch y biếu xén qua lại.

- Chẳng được quản chuyện nhà của người ta.

- Chẳng được ngồi lẫn vào tiệc rượu.

- Chẳng được kết bái làm cha mẹ, chị em với hàng bạch y.

- Chẳng được nói lỗi phạm trong Tăng.

 

3.2.19. Thứ mười chín: Khất thực

 

          - Hãy nên cùng đi với bậc lão thành. Nếu không có người đi cùng, hãy biết chỗ nào có thể đi được.

          - Tới cửa nhà người ta, hãy nên suy xét hành vi, đừng để mất oai nghi.

          - Nhà không có nam nhân, chớ nên vào cửa.

          - Nếu muốn ngồi, trước hết hãy nên xem xét chỗ ngồi. [Nếu là chỗ] có vũ khí, chẳng nên ngồi. Có vật báu, chớ nên ngồi. Có nữ nhân, áo mền, vật trang hoàng v.v… chớ nên ngồi.

          - Muốn nói kinh, hãy nên biết lúc nào đáng nên nói, lúc nào không nên nói.

          - Chẳng được nói “thí đồ ăn cho tôi sẽ khiến cho quý vị được phước”.

          Nói kèm thêm:

          - Khi khất thực, chẳng được van cầu, khổ sở kèo nài.

          - Chẳng được rộng bàn nhân quả hòng mong người ta bố thí nhiều hơn.

          - Xin được nhiều, đừng sanh tham đắm. Xin được ít, đừng sanh ưu não!

          - Chẳng được chuyên hướng đến nhà thí chủ hoặc chỗ am viện rất thân quen để khất thực.

 

3.2.20. Thứ hai mươi: Vào xóm làng

 

          - Không có duyên cần thiết, chẳng được vào.

          - Chẳng được đi vội vã.

          - Chẳng được đi vung tay.

          - Chẳng được nhiều lượt ngó người hay vật đi bên cạnh.

          - Chẳng được cùng sa-di, trẻ nhỏ vừa đi vừa cười nói.

          - Chẳng được với nữ nhân trước sau cùng đi.

          - Chẳng được cùng với ni tăng trước sau cùng đi.

          - Chẳng được cùng với kẻ say, kẻ cuồng trước sau cùng đi.

          - Chẳng cố ý ngoái lại nhìn người nữ, chẳng được liếc mắt ngó nữ nhân.

          - Nếu gặp bậc tôn túc quen biết, đều nên đứng lui xuống bên cạnh, chào hỏi trước.

          - Nếu gặp những thứ biến huyễn kỳ quái v.v… đều chớ nên ngó.

          - Chỉ giữ thân ngay ngắn, đi thẳng trên đường.

          - Gặp hố nước, hoặc chỗ ngập nước, không được nhảy vượt qua. Hễ có đường để tránh thì nên đi vòng. Không có đường khác, ai nấy đều nhảy vượt qua thì được phép [nhảy qua].

          - Chẳng có bệnh duyên và sự cần gấp, chẳng được cưỡi ngựa, cho đến do tâm đùa bỡn mà giục roi ruổi ngựa.

          Nói thêm:

          - Hễ gặp quan phủ, bất luận lớn hay nhỏ, đều nên tránh đường.

          - Hễ gặp kẻ đấu đá, cũng nên tránh xa, chẳng được đứng xem.

          - Chẳng được trở về chùa, bèn khoe khoang những sự hoa mỹ được thấy trong thành.

 

3.2.21. Thứ hai mươi mốt: Những vật nơi chợ búa

 

          - Không tranh giành vật sang hay hèn.

          - Không ngồi nơi sạp của người nữ.

          - Nếu bị người khác mạo phạm, hãy phương tiện tránh né, đừng cố biện bác lẽ phải về mình.

          - Đã hứa mua một vật nào, dầu bị đòi thêm tiền, chẳng bỏ cái kia để lấy cái này, khiến cho người chủ [của vật ấy] bực bội.

          - Cẩn thận đừng đứng ra bảo đảm đến nỗi vướng nợ.

 

3.2.22. Thứ hai mươi hai: Những điều chớ nên tự tiện thực hiện

 

          - Ra vào, đi lại, hãy nên bạch với thầy trước.

          - May pháp y mới, nên bạch với thầy trước. Mặc pháp y mới, bạch với thầy trước.

          - Cạo đầu nên bạch với thầy trước.

          - Bị bệnh phải uống thuốc, nên bạch với thầy trước.

- Làm tăng sự trong đại chúng, nên bạch với thầy trước.

- Muốn có những thứ vật dụng riêng như giấy, bút, nên bạch với thầy trước.

- Nếu đọc tụng kinh điển, phạm bái, hãy nên bạch với thầy trước.

- Nếu có người thí cho vật dụng, hãy nên bạch với thầy trước rồi mới hưởng dụng. Đem vật của mình thí cho người khác, nên bạch với thầy trước, thầy cho phép rồi mới làm.

- Người ta vay mượn mình, nên bạch với thầy trước. Thầy cho phép rồi mới làm. Chính mình muốn mượn vật của người khác, nên bạch với thầy trước, thầy cho phép rồi mới mượn.

- Khi bạch thầy, dù thầy cho phép hay không, đều nên làm lễ. Thầy không cho phép, chẳng được ôm lòng oán hận.

Nói thêm: Cho đến chuyện lớn, hoặc đi tham phỏng các nơi, hoặc nghe giảng, hoặc nhập chúng, hoặc giữ núi, hoặc hưng khởi duyên sự, đều nên bạch với thầy, chẳng được tự ý.

 

3.2.23. Thứ hai mươi ba: Tham học các phương

 

- Đi xa phải cậy bạn lành.

- Cổ nhân hễ tâm địa chưa thông, sẽ chẳng đi xa ngàn dặm cầu thầy.

Nói thêm:

- Tuổi nhỏ, giới nông cạn, chưa được phép đi xa. Nếu đi, chớ nên cùng đi với phường bất lương.

- Cần phải tìm thầy hỏi đạo, hòng quyết trạch sanh tử, chớ nên [đi tham học các nơi nhằm] thưởng ngoạn sông nước, chỉ mong du lịch xa rộng hòng khoe bày với người khác.

- Đến nơi, đặt hành lý xuống, chẳng được khinh thị vào điện đường ngay. Một người trông coi hành lý, một người vào trước chào hỏi, được thường trụ cho vào ở thì mới có thể di chuyển hành lý vào trong.

 

3.2.24. Danh tướng về y bát

 

          - Y năm điều: Tiếng Phạn là An Đà Hội (Antarvāsa), phương này dịch là Trung Túc Y, cũng dịch là Hạ Y, còn dịch là Tạp Tác Y. Phàm làm lụng trong tự viện, ra vào, đi đường, hãy nên mặc loại y này. Kệ đắp y: “Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, ngã kim đảnh đới thọ, thế thế bất xả ly. Án, tất đà da sa bà ha” (Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước vô thượng, con nay kính cẩn nhận, đời đời chẳng bỏ lìa).

          - Y bảy điều: Tiếng Phạn là Uất Đa La Tăng (Uttarāsanga), cõi này dịch là Thượng Trước Y, còn dịch là Nhập Chúng Y. Hễ khi lễ Phật, tu sám, tụng kinh, tọa Thiền, đi thọ trai, giảng kinh, bố-tát, tự tứ, đều nên đắp y này. Kệ đắp y: “Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, ngã kim đảnh đới thọ, thế thế thường đắc phi. Án, độ ba độ ba, sa bà ha” (Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước vô thượng, con nay kính cẩn nhận, đời đời thường được mặc).

          - Y hai mươi lăm điều: Tiếng Phạn là Tăng-già-lê (Saṃghāṭī), cõi này dịch là Hợp, còn dịch là Trùng (nhiều lớp), hoặc dịch là Tạp Toái Y. Phàm vào cung vua, lên tòa thuyết pháp, vào xóm làng khất thực, hãy nên đắp y này. Hơn nữa, y này có chín phẩm, hạ phẩm gồm chín điều, mười một điều, mười ba điều. Trung phẩm gồm mười lăm điều, mười bảy điều, mười chín điều. Thượng phẩm gồm hai mươi mốt điều, hai mươi ba điều, và hai mươi lăm điều. Kệ đắp y: “Thiện tai giải thoát phục, vô thượng phước điền y, ngã kim đảnh đới thọ, quảng độ chư quần mê. Án, ma ha ca ba ba trá tất đế, sa bà ha” (Lành thay áo giải thoát, áo ruộng phước vô thượng, con nay kính cẩn nhận, rộng độ các loài mê).

          - Bát: Tiếng Phạn là Bát Đa La (Pātra), cõi này dịch là Ứng Lượng Khí, ý nói thể, sắc, lượng đều tương ứng với pháp. Thể là dùng sắt hoặc sành, sắc thì dùng chất thuốc [để làm cho bát có màu sẫm] hoặc hun khói. Lượng thì chia thành thượng, trung, hạ.

          - Cụ: Tiếng Phạn là Ni Sư Đàn (Nisidana), cõi này dịch là Tọa Cụ, cũng dịch là Tùy Túc Y. Kệ mở tọa cụ: “Ngọa cụ Ni Sư Đàn, trưởng dưỡng tâm miêu tánh, triển khai đăng thánh địa, phụng hành Như Lai mạng. Án, đàn ba đàn ba, sa bà ha” (Ngọa cụ Ni Sư Đàn, trưởng dưỡng tánh mầm tâm. Mở ra, lên thánh địa, vâng hành lệnh Như Lai).

 

4. Sa-di-ni tỳ-kheo-ni giới lục yếu (sao lục những điểm trọng yếu trong giới luật của sa-di-ni và tỳ-kheo-ni) - 沙彌尼比丘尼戒錄要 (tỉnh lược)

 

5. Nghi thức tụng giới mỗi nửa tháng (半月誦戒儀式)

5.1. Ngũ giới

 

Các vị thọ năm giới hãy lắng nghe: Một, không sát sanh. Hai, không trộm cắp. Ba, không tà dâm. Bốn, chẳng nói dối. Năm, không uống rượu. Đó là phạm căn bản giới của các vị. Nếu phạm lỗi nặng, hãy chủ động lìa khỏi tự viện. Nếu có lỗi nhỏ, hãy ra sám hối trước đại chúng.

 

5.2. Thập giới

 

          Các vị thọ thập giới hãy lắng nghe: Một là không giết chóc, hai là không trộm cắp, ba là chẳng dâm, bốn là chẳng nói dối, năm là không uống rượu, sáu là không đeo tràng hoa thơm, không dùng hương xoa thân, bảy là không ca múa, tấu nhạc, chẳng cố ý đi nghe, tám là chẳng ngồi giường to cao rộng, chín là chẳng ăn phi thời, mười là chẳng chứa giữ sanh tượng, vàng, bạc, báu vật. Đó là phạm căn bản giới của các vị. Nếu phạm lỗi nặng, hãy chủ động lìa khỏi tự viện. Nếu có lỗi nhỏ, hãy ra sám hối trước đại chúng.

 

5.3. Giới Cụ Túc (tỉnh lược)

 

5.4. Bồ Tát Giới

 

          Nam-mô Phạm Vơng Giáo Chủ Lô Xá Na Phật (đọc ba lượt).

          Pháp vi diệu rất sâu vô thượng. Trăm ngàn vạn ức kiếp khó gặp. Con nay thấy nghe được thọ trì. Nguyện hiểu Như Lai chân thật nghĩa.

          (Vị tụng giới sư thăng tòa, bạch đại chúng rằng):

          Các vị thọ giới Bồ Tát hãy lắng nghe. Tôi là… chắp tay hòa-nam, kính bạch đại chúng: Tăng sai tôi tụng giới, sợ có sai lầm, nguyện những người đồng tụng từ bi chỉ dạy.

          Các vị Phật tử chắp tay, chí tâm nghe tôi nói: Tôi nay muốn nói lời dẫn khởi cho đại giới của chư Phật. Đại chúng nhóm họp, im lặng nghe, tự biết có tội hãy nên sám hối. Sám hối liền an lạc. Chẳng sám hối, tội càng sâu. Người vô tội im lặng. Do im lặng, nên biết là đại chúng thanh tịnh.

          Chư đại đức! Các vị ưu-bà-tắc, ưu-bà-di lắng nghe. Sau khi đức Phật diệt độ, trong thời Tượng Pháp, hãy nên tôn kính Ba La Đề Mộc Xoa. Ba La Đề Mộc Xoa chính là giới này. Khi trì giới này, như tối tăm gặp sáng sủa, như kẻ nghèo được của báu, như người bệnh được lành, như kẻ bị giam cầm thoát khỏi ngục, như người đi xa được quay về. Hãy nên biết: Đây chính là đại sư (大師) của đại chúng. Nếu đức Phật trụ thế, cũng chẳng khác điều này. Tâm sợ hãi khó sanh, thiện tâm khó phát. Do đó, kinh nói: “Vật khinh tiểu tội, dĩ vi vô ương. Thủy trích tuy vi, tiệm doanh đại khí. Sát-na tạo tội, ương đọa Vô Gián. Nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục. Tráng sắc bất đình, do như bôn mã. Nhân mạng vô thường, quá ư sơn thủy. Kim nhật tuy tồn, minh diệc nan bảo” (Đừng coi thường tội nhỏ, ngỡ nó không gây ương họa gì. Giọt nước tuy bé, dần dần chứa đầy đồ đựng lớn. Tạo tội trong sát-na, họa ương là đọa Vô Gián. Hễ đánh mất thân người, muôn kiếp chẳng có lại được. Mạnh khỏe, dung sắc không tồn tại mãi, ví như ngựa rảo chạy. Mạng người vô thường, còn hơn nước từ trên núi đổ xuống. Ngày hôm nay tuy còn, ngày mai cũng khó bảo toàn). Đại chúng ai nấy nhất tâm, siêng cầu tinh tấn, cẩn thận, chớ giải đăi, biếng nhác, mặc tình ngủ nghê. Đêm bèn nhiếp tâm, nghĩ nhớ Tam Bảo, đừng để luống qua, chỉ nhọc nhằn suông, đời sau hối hận sâu xa. Đại chúng ai nấy nhất tâm, chỉ nương theo giới này, đúng như pháp tu hành, hãy nên học.

Quy mạng Lô Xá Na, mười phương kim cang Phật, cũng lễ tiền luận chủ, đương giác Từ Thị tôn. Nay nói tam tụ giới, Bồ Tát đều cùng nghe. Giới như đèn to sáng, hay tiêu đêm dài tối. Giới như gương báu thật, chiếu pháp trọn chẳng sót. Ly thế, mau thành Phật, chỉ pháp này cao nhất. Do vậy, các Bồ Tát, hãy nên siêng hộ trì.

Chư đại đức! Ngày thuộc bốn tháng Xuân Phần là một thời (đây là theo Tây Vực, một năm chia thành ba thời, mỗi thời gồm bốn tháng. Từ ngày Mười Sáu tháng Chạp đến Rằm tháng Tư là Xuân Phần. Từ Mười Sáu tháng Tư đến Rằm tháng Tám là Hạ Phần. Từ Mười Sáu tháng Tám đến Rằm tháng Chạp là Đông Phần. Nay nói Xuân Phần, hãy nên thuận theo ba thời mà thay đổi), ngày thuộc nửa tháng đã qua (hết tháng Chạp là nửa tháng, cho tới Rằm tháng Giêng là một tháng. Hết tháng Giêng là một tháng rưỡi. [Cho tới] ngày Mười Lăm [của tháng Hai] là hai tháng. Hết tháng Hai là hai tháng rưỡi, [cho tới] ngày Rằm tháng Ba là ba tháng. Hết tháng Ba là ba tháng rưỡi. Cho tới ngày Rằm tháng Tư là bốn tháng. Đối với Hạ, Thu, Đông, chuẩn theo đây mà sửa), thiếu một đêm, thừa một đêm, đã ba tháng rưỡi (ba tháng tròn, hai tháng rưỡi, hai tháng tròn, một tháng rưỡi, một tháng tròn, nửa tháng), già chết đến gần, Phật pháp sắp diệt. Chư đại đức! Ưu-bà-tắc, ưu-bà-di vì đắc đạo mà nhất tâm siêng cầu tinh tấn, vì lẽ nào vậy? Chư Phật do nhất tâm siêng cầu tinh tấn mà đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, huống hồ các thiện đạo pháp khác? Ai nấy hãy thừa dịp mạnh khỏe, nỗ lực siêng tu thiện, cớ sao chẳng cầu đạo? Há nên chờ già cả? Há nên vui theo dục ư? Ngày hôm nay đã qua, mạng cũng giảm theo, như cá thiếu nước, nào có vui chi?

Tăng đã nhóm họp chưa? (Đáp: Đã nhóm họp). Hòa hợp chưa? (đáp: Hòa hợp). Tăng nhóm hòa hợp để làm gì? (Đáp rằng: Thuyết giới bố-tát[63]).

Trong đây, người chưa thọ Bồ Tát Giới và người chẳng thanh tịnh đã đi ra chưa? (ở đây có hai loại: Một là người chưa thọ Bồ Tát Giới. Hai là đã từng học, nhưng vi phạm mà chưa sám hối. Chớ nên cùng làm bố-tát với hai loại người ấy. Hễ có thì đuổi ra, nếu không có thì đáp là không).

Các vị Bồ Tát chẳng đến được, có lời căn dặn thì có mấy người thuyết dục và thanh tịnh? (tức là trong đại chúng, có người vì các duyên như Tam Bảo, cha mẹ, bệnh tật v.v… chẳng thể đến được, sẽ căn dặn người tri sự hoặc đồng bạn thưa với bậc thượng tọa chuyện thuyết dục và thanh tịnh. “Thuyết dục” tức là căn dặn rằng: “Có người tên là… muốn đến bố-tát, nhưng có sự duyên… chẳng thể đích thân đến, sai người tên là… nói thay. “Thanh tịnh” là tăng sự đúng như pháp này nọ, chẳng thấy nghe, nghi ngờ tội).

Chư đại đức! Nay nhằm ngày Mười Lăm của bạch nguyệt (hoặc hắc nguyệt)[64], làm bố tát nói Bồ Tát Giới. Đại chúng hãy nhất tâm khéo nghe, người có tội phát lộ, người vô tội im lặng. Do im lặng, bèn biết các đại đức thanh tịnh, kham nói Bồ Tát giới. Đã nói lời dẫn khởi cho Bồ Tát giới xong.

(Đối với lời hỏi tội dưới đây, người có tội thì sám hối, người không có thì im lặng).

Nay hỏi các đại đức trong đây có thanh tịnh hay không? Trong đây có thanh tịnh hay không? Trong đây có thanh tịnh hay không? (Ba câu cuối là ba lượt hỏi, ba lượt đáp).

Các đại đức! Trong đây thanh tịnh; do im lặng, chuyện này được trì như thế.

(Bạch rằng) Mười Ba La Đề Mộc Xoa trọng yếu, nay sẽ nói.

Thứ nhất, sát giới. Đức Phật dạy: - Phật tử! Nếu tự giết, dạy kẻ khác giết, phương tiện giết, khen ngợi giết chóc, thấy kẻ khác làm bèn tùy hỷ, cho đến dùng chú ngữ để giết, cái nhân giết chóc, duyên giết, cách giết, nghiệp giết, cho đến đối với hết thảy kẻ có sanh mạng, chẳng được cố ý giết, tức là Bồ Tát hãy nên khởi tâm từ bi, tâm hiếu thuận thường trụ, phương tiện cứu vớt, che chở hết thảy chúng sanh. Trái lại, mặc tình khoái ý sát sanh thì là tội Ba La Di của Bồ Tát.

          Thứ hai, giới trộm cắp. Nếu Phật tử tự trộm, dạy người khác trộm, phương tiện trộm, dùng chú ngữ để trộm, nhân của trộm, duyên của trộm, cách trộm, nghiệp trộm, cho tới cướp đoạt vật của quỷ thần, hoặc vật có chủ, hết thảy tài vật, [dẫu là] một cây kim, một nhánh cỏ, chẳng được cố ý trộm. Bồ Tát phải nên sanh tâm hiếu thuận, tâm từ bi thuộc Phật tánh, tâm thường giúp hết thảy mọi người sanh phước, sanh lạc. Nếu ngược lại, trộm cắp tài vật của người khác thì là tội Ba La Di của Bồ Tát.

          Thứ ba, giới dâm. Nếu Phật tử tự dâm, dạy người khác dâm, cho đến với hết thảy người nữ không được cố ý dâm, nhân của dâm, duyên của dâm, cách dâm, nghiệp dâm, cho đến hành dâm với súc sanh cái, nữ chư thiên, nữ quỷ thần, và hành dâm trái đạo; Bồ Tát hãy nên sanh tâm hiếu thuận, tâm cứu độ hết thảy chúng sanh, trao pháp thanh tịnh cho người khác, thế mà ngược lại, khởi dâm với hết thảy mọi người, chẳng từ súc sanh, cho đến hành dâm với mẹ, con gái, chị, em, lục thân, chẳng có tâm từ bi, thì là tội Ba La Di của Bồ Tát.

          Thứ tư, giới nói dối. Nếu Phật tử tự nói dối, dạy người khác nói dối, phương tiện nói dối, nhân nói dối, duyên nói dối, cách nói dối, nghiệp nói dối, cho tới chẳng thấy mà nói là thấy, thấy nói là chẳng thấy, thân tâm vọng ngữ, Bồ Tát [phải nên] thường sanh chánh ngữ, chánh kiến, cũng sanh chánh ngữ, chánh kiến cho hết thảy chúng sanh, nhưng trái lại, khởi tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp cho hết thảy chúng sanh, đó là tội Ba La Di của Bồ Tát.

          Thứ năm, giới bán rượu. Nếu Phật tử! Tự bán rượu, dạy người khác bán rượu, nhân bán rượu, duyên bán rượu, cách bán rượu, nghiệp bán rượu, hết thảy rượu đều chẳng được bán, do rượu là nhân duyên khởi tội, Bồ Tát phải nên sanh trí huệ sáng suốt, thông đạt cho hết thảy chúng sanh, nhưng ngược lại, sanh tâm điên đảo cho hết thảy chúng sanh, đó là tội Ba La Di của Bồ Tát.

          Thứ sáu, giới nói lỗi của tứ chúng.     

Thứ bảy, giới tự khen mình, chê người.

Thứ tám, giới keo tiếc, hủy báng.

Thứ chín, giới sân tâm, chẳng tiếp nhận răn dạy.

Thứ mười, giới báng Tam Bảo.

(Bạch rằng) Chư Phật tử! Vừa nghe mười pháp Ba La Di nghiêm trọng. Nếu có hủy phạm, sẽ chẳng được ở chung với các vị Bồ Tát. Hễ có, bèn chủ động rời khỏi đạo tràng. Nếu không thì im lặng.

(Bạch rằng) Bốn mươi tám giới khinh, nay sẽ nói.           

          Thứ nhất, giới chẳng kính trọng thầy bạn.

Thứ hai, giới uống rượu.

          Thứ ba, giới ăn thịt.

          Thứ tư, giới ăn ngũ tân.

          Thứ năm, giới chẳng dạy răn tội.

Thứ sáu, giới không cúng dường, thỉnh pháp.

Thứ bảy, giới biếng nhác không nghe pháp.

Thứ tám, giới trái nghịch Đại Thừa, hướng theo Tiểu Thừa.

          Thứ chín, giới không trông nom người bệnh.

          Thứ mười, giới tích tụ các vật dụng dùng để giết chúng sanh.

          Thứ mười một, giới làm sứ giả cho đất nước.

          Thứ mười hai, giới buôn bán[65].

          Thứ mười ba, giới báng hủy.

          Thứ mười bốn, giới phóng hỏa thiêu đốt.

          Thứ mười lăm, giới dạy giáo lý sai trái[66].

          Thứ mười sáu, giới vì lợi mà nói điên đảo.

          Thứ mười bảy, giới dựa dẫm kẻ quyền thế để xin xỏ[67].

          Thứ mười tám, giới không hiểu mà làm thầy.

          Thứ mười chín, giới nói đôi chiều.

          Thứ hai mươi, giới chẳng hành phóng sanh, cứu vớt.

          Thứ hai mươi mốt, giới do sân hận mà đánh đập, báo cừu.

          Thứ hai mươi hai, giới do kiêu mạn mà chẳng nghe pháp.

          Thứ hai mươi ba, giới do kiêu mạn mà giảng nói cong vạy.       

          Thứ hai mươi bốn, giới chẳng tu tập, học theo Phật.

          Thứ hai mươi lăm, giới chẳng khéo hiểu biết các giới.

          Thứ hai mươi sáu, giới riêng thọ lợi dưỡng.

          Thứ hai mươi bảy, giới tiếp nhận lời thỉnh riêng.

          Thứ hai mươi tám, giới thỉnh riêng Tăng[68].  

Thứ hai mươi chín, giới tự kiếm sống bằng tà mạng.

Thứ ba mươi, giới chẳng tôn kính những thời điểm tốt đẹp[69].

Thứ ba mươi mốt, giới chẳng thực hiện cứu chuộc.

Thứ ba mươi hai, giới tổn hại chúng sanh.

Thứ ba mươi ba, giới tà nghiệp giác quán.

Thứ ba mươi bốn, giới tạm nghĩ tưởng Tiểu Thừa.

Thứ ba mươi lăm, giới chẳng phát nguyện.

Thứ ba mươi sáu, giới chẳng phát thệ.

Thứ ba mươi bảy, giới xông pha hiểm nạn để du hành.

Thứ ba mươi tám, giới trái nghịch tôn ty thứ tự.

          Thứ ba mươi chín, giới chẳng tu phước huệ.

          Thứ bốn mươi, giới chọn lựa kẻ thọ giới (tức giới truyền giới không bình đẳng).

          Thứ bốn mươi mốt, giới vì lợi mà làm thầy.

          Thứ bốn mươi hai, giới vì kẻ ác mà nói giới.

          Thứ bốn mươi ba, giới chẳng hổ thẹn mà tiếp nhận bố thí.

          Thứ bốn mươi bốn, giới chẳng cúng dường kinh điển.

Thứ bốn mươi lăm, giới chẳng giáo hóa chúng sanh.

          Thứ bốn mươi sáu, giới thuyết pháp chẳng như pháp.

          Thứ bốn mươi bảy, giới phi pháp chế hạn[70].

          Thứ bốn mươi tám, giới phá pháp.

          (Tụng xong, [vị tỳ-kheo tụng giới xuống khỏi tòa, tạ đại chúng rằng)

Kính tạ đại chúng, Tăng sai tôi tụng giới, tam nghiệp chẳng siêng năng, giới văn sanh thô tháp, ngồi lâu kéo dài, khiến đại chúng sanh phiền não. Mong đại chúng từ bi, bố thí hoan hỷ.

          (đệ tử ở Cổ Tú Châu là Đại Thắng, Tôn Hồng Cơ quyên tiền tổng cộng năm lạng sáu tiền để giúp khắc in.

          Vân Thê Đại Sư Pháp Vựng sưu tập ba loại Cụ Túc Tiện Mông, Sa Di Yếu Lược và Tụng Giới. Phật, tổ rủ ân cứu độ, bèn ghi lại. Đại sư để lại khuôn phép cho cõi đời, là kế sách tốt lành cho đời Mạt Pháp, ban nguyện vô số.

Kính ghi vào ngày Phật Đản năm Canh Thìn (1640) đời Sùng Trinh.

Tỳ-kheo Dữ Xuyên khắc bổ sung vào năm Giáp Dần (1734) đời Ung Chánh nhà Đại Thanh).

Vân Thê Pháp Vựng

Phần 1 hết

 



[1] Phường bổn (坊本) là từ ngữ chỉ các sách vở được ấn hành bởi các xưởng in trong dân gian, nhằm phân biệt với quan bổn (bản in do quốc gia đứng ra chủ trì ấn loát) và tư thục khắc bổn (bản in của một cá nhân hoặc một dòng họ).

[2] Phương sách (方冊) có nghĩa gốc là Cổ Thư, chỉ một kiểu in sách truyền thống của Trung Hoa. Sách được chia thành trang, in trên một mặt của một tờ giấy dài. Sách in xong sẽ được gấp thành trang, khâu gáy, gắn bìa tạo thành một quyển sách thường có từ bốn mươi đến năm mươi trang. Trước thời Minh, kinh Phật thường in trên giấy dài, cuộn thành trục, hoặc theo lối Điệp Tử tức xếp thành trang, nhưng không khâu gáy.

[3] Những chữ in đậm trong bài chú này và những bài chú sau là những chữ sai khác so với bản kinh Nhật Tụng do nhà xuất bản Tôn Giáo ấn hành năm 2007 (do tổ in ấn và phát hành kinh sách Thành hội Phật giáo TPHCM thực hiện).

[4] Bản lưu hành ghi là “đát nễ dã tháp”, còn bản của tổ Liên Trì chỉ ghi là “đát dã tháp”.

[5] Đây là bài chú trích từ kinh Phật Thuyết Bách Giải Oán Kết Đà La Ni (không có tên người dịch, chỉ thấy ghi trong Gia Hưng Tạng). Kinh văn rất ngắn, chỉ có vài dòng, xin trích dẫn như sau: “Nghe thế này: Một thời, Phật tại thành Tỳ Da , ở dưới cây Âm Nhạc, cùng với tám ngàn tỳ-kheo nhóm họp. Khi đó, có một Bồ Tát tên là Phổ Quang Bồ Tát Ma Ha Tát, được mọi người biết đến, nói nhân duyên xưa kia: ‘Chúng sanh đời Mạt Pháp trong thuở vị lai nhiều tội khổ thù hằn, kết oán thù xong, đời đời đều phải gặp gỡ. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nghe đà-la-ni này, bảy ngày bảy đêm trai giới khiết tịnh, hằng ngày vào sáng sớm niệm danh hiệu Phổ Quang Bồ Tát Ma Ha Tát này và đà-la-ni này một trăm lẻ tám lần, trọn đủ bảy ngày, sẽ được tiêu diệt hết, chẳng gặp gỡ oán gia’. Khi đức Phật nói lời ấy xong, tứ chúng người, trời, rồng tám bộ thảy đều hoan hỷ tiếp nhận lời dạy, vâng làm theo. Án, xỉ lâm. Kim tra, kim tra, tăng kim tra, ngô kim vị nhữ giải kim tra, chung bất dữ nhữ kết kim tra. Án, cường trung cường, cát trung cát, ba la hội lý hữu thù lợi, nhất thiết oan gia ly ngã thân, ma ha bát nhã ba la mật”.

[6] Phổ Am Chú có tên gọi đầy đủ là Phổ Am Đại Đức Thiền Sư Thích Đàm Chương Thần Chú, gọi tắt là Thích Đàm Chương hoặc Tất Đàm Chương. Bài chú này tương truyền do ngài Phổ Am Ấn Túc đại sư thời Nam Tống dựa trên Hoa Nghiêm Tự Mẫu mà soạn ra, và tương truyền bài chú này có công đức xua đuổi hết thảy tai chướng, hoặc nếu khi không chọn được ngày thích hợp để cử hành pháp sự như cầu an, cầu mưa, tiêu tai trừ bệnh, phá hủy đền thờ tà thần v.v…, cứ niệm tụng bài chú này từ một tới ba lần sẽ biến đổi mọi sự thành tốt lành. Dân gian còn tin bài chú này có thể xua đuổi chuột, muỗi, trùng độc, gián, mối, muỗi v.v… Về sau, bài chú được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ siêu độ của Phật môn, nhất là khi tang ma.

[7] Theo hòa thượng Tuyên Hóa, Nhị Phật Chú như sau: “Nhị Phật diễn hóa tại Sa Bà, Đông A Súc, Tây Di Đà, thập tam điều đại giới phạm Ba La, phạ Diêm La, cần sám hối, tội tiêu ma” (Hai vị Phật diễn giảng, giáo hóa tại Sa Bà, Đông là A Súc, Tây là Di Đà. Mười ba điều đại giới phạm tội Ba La Di, sợ Diêm La, siêng sám hối, tội tiêu mất). Có vẻ như đây là một bài kệ được coi lầm là chú ngữ.

[8] Tám bộ Bát Nhã tức là quan điểm của Kim Cang Tiên Luận, coi các bản kinh Bát Nhã trong Đại Tạng như các kinh điển độc lập thay vì là các hội như trong cách dịch Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh của ngài Huyền Trang. Tám bộ Bát Nhã bao gồm:

1) Đại Phẩm Bát Nhã, tức Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh do ngài Cưu Ma La Thập dịch thời Diêu Tần.

2) Phóng Quang Bát Nhã do ngài Vô Đa La dịch vào thời Tây Tấn.

3) Quang Tán Bát Nhã do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn.

4) Đạo Hành Bát Nhã do ngài Chi Lâu Ca Sấm dịch vào đời Đông Hán.

5) Tiểu Phẩm Bát Nhã do ngài Cưu Ma La Thập dịch.

6) Thiên Vương Vấn Bát Nhã tức Thắng Thiên Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh do ngài Nguyệt Bà Thủ Na dịch vào đời Trần.

7) Văn Thù Bát Nhã tức Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Bát Nhã Ba La Mật Kinh do ngài Mạn Đà La Tiên dịch vào đời Lương.

8) Kim Cang Bát Nhã tức kinh Kim Cang do ngài Cưu Ma La Thập dịch và các dị bản khác như Kim Cang Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Kinh (Cấp Đa dịch vào đời Tùy), Phật Thuyết Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường) v.v…

Cách phân loại này đã bỏ sót Tâm Kinh cũng như các kinh thuộc hệ thống Lý Thú Bát Nhã như kinh Thật Tướng Bát Nhã, kinh Kim Cang Đảnh Du Già Lý Thú Bát Nhã, kinh Đại Lạc Kim Cang Bất Không Chân Ngôn Tam Ma Da, kinh Tối Thượng Căn Bản Đại Lạc Kim Cang Bất Không Tam Muội Đại Giáo Vương v.v…

[9] Ở đây, bản chỉnh lý của Tổ hơi khác với bản lưu hành, nên chúng tôi ghi lại toàn văn.

[10] Chữ Vãm () được tự điển Khang Hy phiên thiết âm đọc là “vong phạm thiết” (亡范切), và âm Quan Thoại ghi là Wàn (mô phỏng âm tiếng Phạn, tức Vam, chủng tử của Thủy Đại). Các bản lưu hành thường bị ghi sai thành “tông” (), nhưng các đạo tràng người Hoa vẫn đọc thành âm Wàn. Không hiểu vì lý do nào, theo truyền thống, Thiền môn miền Trung và Nam Việt Nam thường đọc chữ này thành “non” hay “noan”.

[11] Câu-chi (koṭi) có ba cách hiểu: Mười vạn, một trăm vạn và một ngàn vạn.

[12] Na-do-tha (nayutaḥ), còn phiên âm là Na-dữu-đa, na-do-đa. Có nhiều cách hiểu khác nhau về con số này. Theo Câu Xá Luận, na-do-tha là một ngàn ức. Theo Đại Tỳ Bà Sa Luận, na-do-tha là 10 lũy thừa 37 (tức 37 con số 0 sau số 1). Theo kinh Hoa Nghiêm, thì na-do-tha là 10 lũy thừa 28. Theo Toán Học Khải Mông (do Châu Thế Kiệt soạn vào đời Nguyên) thì một na-do-tha là 10 lũy thừa 112. Theo Trần Kiếp Ký bản in năm Khoan Vĩnh 11 (1624) của Nhật Bản, một na-do-tha là mười lũy thừa sáu mươi.

[13] Ca Lâu Chi Sấm đúng ra phải là Chi Lâu Ca Sấm vì tên Ngài là Lokakṣema (được phiên âm là Lâu Ca Sấm, nghĩa là “thế giới thái bình”), nhưng đôi khi các sách vẫn viết tên Ngài thành Ca Lâu Chi Sấm. Chữ Chi trong danh hiệu của Ngài là do Ngài là người xứ Nhục Chi (Quý Sương đế quốc). Ngài đến Trung Hoa vào khoảng thế kỷ thứ hai đời Đông Hán trong những năm cuối thời Hán Hoàn Đế. Ngài dịch hơn mười bộ kinh, hai bộ nổi tiếng nhất là Bát Nhã Đạo Hành Kinh và Ban Châu Tam Muội Kinh. Bản dịch của Ngài không trong sáng cho lắm, khó hiểu, vì Ngài chú trọng phiên âm hơn là dịch ý, cho rằng “kinh có nhiều ý sâu mầu, quý ở chỗ gần với bản gốc, chẳng chú trọng bóng bẩy”. Ngài được coi là một trong những vị đi tiên phong trong việc dịch kinh Đại Thừa sang tiếng Hán.

[14] Khang Tăng Khải (Saṃghavarman) đôi khi còn được gọi là Tăng Già Bạt Ma, không rõ năm sanh và năm mất. Đa số các sách ghi Ngài là người Ấn Độ, nhưng do dùng chữ Khang trước tên, nên có lẽ Ngài là người xứ Khang Cư (Sogdiana), hoặc đến Trung Hoa từ xứ đó. Năm Gia Bình thứ tư (252), Ngài đến Lạc Dương, trụ tại Bạch Mã Tự, dịch các bộ Úc Già Trưởng Giả Kinh (hai quyển), Vô Lượng Thọ Kinh, Tứ Phần Tạp Yết Ma v.v…

[15] Chi Khiêm là một cư sĩ dịch kinh nổi tiếng thời Đông Ngô. Ông là hậu duệ của người Nhục Chi, tổ tiên di cư đến đất Hán thời Hán Linh Đế. Vào thời Hán Hiến Đế, chiến tranh loạn lạc, nên gia tộc của Chi Khiêm di cư xuống Giang Nam. Tương truyền, ông được Tôn Quyền (vua Đông Ngô) tin tưởng, phong làm chức quan Bác Sĩ để dạy Thái Tử Tôn Lượng. Sau khi Tôn Lượng lên ngôi (năm 252), ông ẩn cư ở núi Khung Ải. Ông từng theo học với ngài Chi Lâu Ca Sấm, và dịch khá nhiều kinh (hơn ba mươi bộ theo Xuất Tam Tạng Ký Tập, nhưng Lịch Đại Tam Bảo Ký nói ông dịch 129 bộ). Các bộ nổi tiếng là kinh Duy Ma, kinh Đại Bát Nê Hoàn, kinh Thụy Ứng Bổn Khởi. Ông dịch lại các bộ kinh như Đạo Hành Bát Nha, Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Vương, Đại Bát Nê Hoàn Kinh, Bồ Tát Bổn Nghiệp Kinh, Đại A Di Đà Kinh (tức kinh Vô Lượng Thọ), Đại Minh Độ Vô Cực Kinh (tức kinh Tiểu Phẩm Bát Nhã), Soạn Tập Bách Duyên Kinh v.v…

[16] Pháp Hiền, còn gọi là Pháp Thiên (Dharmadeva, ?-1001) là tăng nhân dịch kinh người nước Ma Già Đà, Ấn Độ. Ngài xuất gia tại chùa Na Lan Đà. Đầu đời Tống, Ngài cùng anh là Pháp Hộ đến Phu Châu, Trung Hoa, hợp tác với ngài Pháp Tấn dịch kinh. Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) rất tán thưởng bản dịch kinh của các Ngài. Về sau, các Ngài cùng với Thiên Tức Tai, Thi Hộ v.v… lập đạo tràng dịch kinh, và dịch rất nhiều kinh. Phần lớn các kinh của Ngài dịch là kinh Mật Giáo.

[17] Đây là một phần của phẩm Không trích từ kinh Kim Quang Minh do ngài Đàm Vô Sấm dịch vào thời Bắc Lương.

[18] Mười phát thú tức là “thập phát thú tâm” (十發趣心) là mười loại tâm hướng về, tiến nhập Đại Thừa của bậc Địa Tiền Bồ Tát (các địa vị Bồ Tát chưa chứng Sơ Địa), bao gồm: Xả tâm, giới tâm, nhẫn tâm, tinh tấn tâm, định tâm, huệ tâm, nguyện tâm, hộ tâm (tâm bảo vệ, gìn giữ), hỷ tâm, và đảnh tâm. Ngài Đạo Phưởng khi chú giải kinh Phạm Võng đã coi mười tâm này ứng với Thập Ba La Mật, còn ngài Pháp Tạng (trong tác phẩm Phạm Võng Kinh Bồ Tát Giới Bổn Sớ, quyển nhất) lại coi mười tâm này tương ứng với Thập Trụ, vì cho rằng Thập Trụ là địa vị khởi đầu trong Tam Hiền, nên gọi là Phát Thú.

[19][19] Hàng Bồ Tát vì muốn tăng trưởng thiện căn, trưởng dưỡng thánh thai mà tu mười loại tâm thì gọi là Thập Trưởng Dưỡng Tâm, bao gồm từ tâm, bi tâm, hỷ tâm, xả tâm, thí tâm, hảo ngữ tâm, ích tâm, đồng tâm, định tâm, huệ tâm. Mười tâm này do kết hợp tứ vô lượng tâm, tứ nhiếp tâm và định, huệ mà thành.

[20] Thập kim cang tâm là mười loại tâm kiên cố của Bồ Tát, nên được sánh ví như kim cang, bao gồm:

1) Giác liễu pháp tánh: Bồ Tát phát tâm đại nguyện, thề muốn liễu giải chẳng hề sót thừa vô lượng vô biên chẳng thể cùng tận hết thảy các pháp môn vi diệu.

2) Hóa độ chúng sanh.

3) Trang nghiêm thế giới.

4) Hồi hướng thiện căn.

5) Phụng sự đại sư.

6) Thật chứng các pháp.

7) Rộng hành nhẫn nhục.

8) Tu hành lâu dài.

9) Tự hành viên mãn.

10) Thỏa mãn trọn vẹn các nguyện của người khác.

[21] Phật Đảnh Tôn Thắng (Uṣṇīṣa Vijayā), còn gọi là Tôn Thắng Phật Mẫu, Trừ Chướng Phật Đảnh, Tối Thắng Phật Đảnh, Trừ Chướng Phật Đảnh Luân Vương, hoặc Ô Sắt Ni Sa Tôn Thắng Phật Mẫu, là một trong năm vị Phật Đảnh, hóa hiện từ nhục kế của Tỳ Lô Giá Na Phật, biểu trưng cho trí huệ tối cao của Phật, có công năng trừ hết thảy phiền não, nghiệp chướng, uế ác, các nỗi khổ trong ác đạo. Sở dĩ gọi là Phật Mẫu vì các vị Phật Đảnh chính là trí huệ vô lậu của Phật được nhân cách hóa, có công năng trưởng dưỡng trí huệ và Phật tánh của mỗi người, giống như sanh ra chư Phật vậy. Vị này thường được tạc tượng thân có màu trắng (biểu thị trí huệ vô cấu, không chấp trước), đội mão báu năm cánh (tượng trưng cho Ngũ Trí của Như Lai), thân đeo anh lạc (biểu thị tánh đức vô lượng), ngồi xếp bằng, ba mặt. Mặt chính giữa có ba mắt, có màu trắng, vẻ mặt từ bi trang nghiêm, biểu thị tiêu tai dứt nạn. Mặt bên phải sắc vàng, mỉm cười, biểu thị tăng phước, diên thọ. Mặt bên trái sắc lam, có hình tướng phẫn nộ, biểu thị chế phục ác đạo, Ngài có tám tay lần lượt như sau:

- Tay thứ nhất bên phải cầm chày kim cang kép (chày kim cang hình chữ thập) đặt trước ngực, biểu thị hàng ma.

- Tay thứ hai bên phải cầm hoa sen, trên hoa có A Di Đà Phật.

- Tay thứ ba bên phải cầm mũi tên, biểu thị chế phục vọng tưởng.

- Tay thứ tư bên phải kết ấn Thí Nguyện đặt trước đùi phải.

- Tay thứ nhất bên trái cầm dây quyến sách (giống loại thừng lasso thường dùng của cowboy), biểu thị chế phục các hàng quỷ thần.

- Tay thứ hai bên trái kết ấn Thí Vô Úy.

- Tay thứ ba bên trái cầm cung, biểu thị vượt trỗi thù thắng trong tam giới.

- Tay thứ tư bên trái kết Thiền Định Ấn nâng bình quân trì chứa nước cam lộ.

Theo Đại Tạng Kinh và Chúng Kinh Mục Lục, kinh Tôn Thắng Đà La Ni có nhiều hơn năm bản dịch:

1) Tôn Thắng Đà La Ni Tịnh Niệm Tụng Công Năng Pháp, do ngài Trí Xưng dịch trong đời Hậu Châu, bản này đã thất truyền.

2) Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh do ngài Phật Đà Ba Lợi dịch vào đời Đường (bản này được lưu hành rộng nhất và đầy đủ nhất).

3) Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh do ngài Đỗ Hành Khải dịch vào đời Đường.

4) Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh do ngài Địa Bà Ha La dịch vào đời Đường.

5) Tối Thắng Phật Đảnh Đà La Ni Tịnh Trừ Nghiệp Chướng Kinh cũng do ngài Địa Bà Ha La dịch vào đời Đường.

6) Phật Thuyết Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường.

7) Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Niệm Tụng Nghi Quỹ Pháp do ngài Bất Không dịch vào đời Đường.

8) Tối Thắng Phật Đảnh Đà La Ni Kinh (chỉ có phần chú ngữ) do ngài Pháp Thiên dịch vào đời Bắc Tống.

9) Phật Thuyết Nhất Thiết Như Lai Ô Sắc Ni Sa Tối Thắng Tổng Trì Kinh cũng do ngài Pháp Thiên dịch vào đời Bắc Tống.

[22] Nhân Hiếu Hoàng Hậu (1362-1407) họ Từ, không rõ tên thật là gì. Bà là vợ của Minh Thành Tổ (Châu Lệ), và là con gái đầu lòng của khai quốc công thần Từ Đạt. Sử chép bà là người hiền thục, điềm tĩnh, thích đọc sách. Minh Thái Tổ nghe nói bà hiền đức, bèn đích thân đến nhà Từ Đạt cầu hôn cho con trai Châu Lệ của mình. Bà có ba người con trai Châu Cao Xí (Minh Nhân Tông), Hán vương Châu Cao Hú và Triệu vương Châu Cao Toại, bốn người con gái là Châu Ngọc Anh (công chúa Vĩnh An), công chúa Vĩnh Bình, công chúa An Thành, và công chúa Hàm Ninh. Tháng Giêng năm Vĩnh Lạc nguyên niên (1403), bà bố cáo Mộng Cảm Phật Thuyết Đệ Nhất Hy Hữu Công Đức Kinh ban hành thiên hạ, còn đích thân soạn hai mươi thiên Nội Huấn và Khuyến Thiện Thư được người đương thời đánh giá rất cao. Nhân Hiếu chính là thụy hiệu được vua phong tặng sau khi bà mất.

[23] Uế Tích Kim Cang (Ucchuṣma) gọi đầy đủ là Đại Lực Oai Nộ Kim Cang Ô Sô Sử Ma (Vajra Krodha Mahābala Ucchuṣma), còn được dịch là Hỏa Đầu Kim Cang, Trừ Uế Kim Cang, Hỏa Thủ Kim Cang, Ô Xu Sa Ma, Ô Trâu Sáp Ma, Ô Trâu Sắt Ma, và Ô Xu Sắt Ma, là hóa thân của Bất Không Thành Tựu Mật, tức thân giáo lệnh minh vương của Bất Không Thành Tựu Phật, dùng Kim Cang huệ, hiện thân phẫn nộ để điều ngự tất cả hữu tình uế ác. Ngài có công năng chuyển bất tịnh thành thanh tịnh. Thần chú của Ngài thường được sử dụng với mục đích trừ uế, tịnh hóa mọi nơi. Đây chính là vị Hỏa Thủ Kim Cang nói về pháp quán hỏa đại trong hai mươi lăm môn Viên Thông của kinh Lăng Nghiêm.

[24] Chú này giống hệt như chú xuống giường.

[25] Đây là cách phán định kết cấu của kinh Hoa Nghiêm đối với Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh (kinh Hoa Nghiêm bản dịch gồm tám mươi quyển), tức là chín hội thuyết pháp được tiến hành tại bảy nơi:

1) Hội thứ nhất tại Bồ Đề Đạo Tràng, gồm sáu phẩm đầu: Thế Chủ Diệu Nghiêm, Như Lai Hiện Tướng, Phổ Hiền Tam Muội, Thế Giới Thành Tựu, Hoa Tạng Thế Giới, và Tỳ Lô Giá Na.

2) Hội thứ hai tại điện Phổ Quang Minh gồm sáu phẩm kế tiếp: Như Lai Danh Hiệu, Tứ Thánh Đế, Quang Minh Giác, Bồ Tát Vấn Minh, Tịnh Hạnh, và Hiền Thủ.

3) Hội thứ ba nói tại cung trời Đao Lợi, gồm sáu phẩm kế tiếp: Thăng Tu Di Đảnh, Tu Di Kệ Tán, Thập Trụ, Phạm Hạnh, Sơ Phát Tâm Công Đức, và Minh Pháp.

4) Hội thứ tư nói tại cung trởi Dạ Ma, gồm bốn phẩm: Thăng Dạ Ma Thiên, Dạ Ma Kệ Tán, Thập Hạnh, và Thập Vô Tận Tạng.

5) Hội thứ năm nói tại cung trời Đâu Suất, gồm ba phẩm Thăng Đâu Suất Thiên, Đâu Suất Kệ Tán và Thập Hồi Hướng.

6) Hội thứ sáu nói tại cung trời Tha Hóa Tự Tại, gồm một phẩm Thập Địa.

7) Hội thứ bảy nói tại điện Phổ Quang Minh, gồm mười ba phẩm: Thập Định, Thập Thông, Thập Nhẫn, A Tăng Kỳ, Thọ Lượng, Bồ Tát Trụ Xứ, Phật Bất Tư Nghị Pháp, Thập Thân Tướng Hải, Tùy Hảo Quang Minh, Phổ Hiền Hạnh, và Như Lai Xuất Hiện.

8) Hội thứ tám vẫn nói tại điện Phổ Quang Minh, gồm một phẩm là Ly Thế Gian.

9) Hội thứ chín nói tại rừng Thệ Đa, gồm một phẩm là Nhập Pháp Giới.

Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện lưu hành hiện thời chỉ là quyển bốn mươi trong phẩm Nhập Pháp Giới.

[26] Theo tổ Thanh Lương Trừng Quán, kinh Hoa Nghiêm gồm năm vòng nhân quả, được gọi là Ngũ Châu như sau:

1) Sở tín nhân quả: Tức hội thứ nhất, nói về quả đức của Tỳ Lô Giá Na Phật và nhân hạnh khi Ngài còn là Phổ Trang Nghiêm đồng tử. Nói cách khác, phần này chính là nhân quả của Phật mà người tu hành cần phải tin tưởng.

2) Sai biệt nhân quả, tức là các phần Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa chính là nhân. Quả của các nhân ấy được nói trong phẩm Phật Bất Tư Nghị Pháp, Thập Thân Tướng Hải và Tùy Hảo Quang Minh.

3) Bình đẳng nhân quả, tức là cái nhân bình đẳng được nói trong phẩm Phổ Hiền Hạnh. Quả của cái nhân ấy được nói trong phẩm Như Lai Xuất Hiện.

4) Thành hạnh nhân quả: Phẩm Ly Thế Gian đầu tiên nói năm mươi giai vị, đó là nhân. Sau đó nói tám tướng thành đạo. Do hành nhân mà thành tựu cái quả, nên gọi là Thành Hạnh Nhân Quả.

5) Chứng nhập nhân quả: Tức phẩm Nhập Pháp Giới, trước hết nói cái quả do đức Phật tự chứng nhập, sau đó nói cái nhân do Thiện Tài đồng tử chứng nhập.

Tứ phần chính là:

1) Cử quả khuyến nhạo sanh tín (nêu ra cái quả để khuyên ưa thích, sanh lòng tin), tức sáu phẩm đầu.

2) Tu nhân khế quả sanh giải: Từ phẩm Như Lai Danh Hiệu cho tới phẩm Như Lai Xuất Hiện.

3) Thác pháp tấn tu thành hạnh (nhờ vào pháp mà tấn tu hòng thành tựu hạnh): Tức phẩm Ly Thế Gian.

4) Y nhân chứng nhập thành đức (nương vào người chứng nhập để thành tựu đức): Tức phẩm Nhập Pháp Giới.

[27] Từ Vân Sám Chủ chính là ngài Tuân Thức (964-1032), tự là Tri Bạch, sống vào đời Bắc Tống. Sư xuất gia lúc mười tám tuổi, hai mươi tuổi được thọ Cụ Túc Giới, từng đốt một ngón tay phát nguyện trước tượng Phổ Hiền Bồ Tát thề truyền giáo pháp Thiên Thai. Ngài học giáo nghĩa Thiên Thai với ngài Nghĩa Thông chùa Bảo Vân. Ngài cùng với ngài Tứ Minh Tri Lễ trở thành nhân vật chủ chốt của Sơn Gia Phái thuộc tông Thiên Thai. Tuy chuyên giảng các kinh Pháp Hoa, Duy Ma, Niết Bàn, Kim Quang Minh, nhưng Ngài chủ yếu tu Tịnh Độ, chuyên soạn rất nhiều sám pháp. Năm Càn Hưng nguyên niên (1022), Sư được Tống Chân Tông ban gia hiệu là Từ Vân, do đó, Ngài thường được gọi là Từ Vân Sám Chủ.

[28] Bài văn này nhắc lại hai câu này hai lượt.

[29] Tức là ngài Di Sơn Duy Nhiên. Ngài sống vào cuối đời Đường, suốt đời tu tŕ nghiêm khổ, sống hết sức giản dị. Sau khi triệt ngộ nguồn tâm, Ngài quyết ư ẩn cư nơi núi rừng. Do thời thế, loạn lạc, dân t́nh khốn khổ, lênh đênh thất tán, họ lưu lạc đến chỗ thiền sư. Thiền sư cứu giúp họ sống sót, vất vả làm lụng để nuôi sống họ. Một hôm, do quá sức, Sư gục xuống bên cạnh con suối nhỏ rồi qua đời tại đó. Khi mai táng Sư, họ chỉ t́m được một thiên nguyện văn, tức bài nguyện văn được trích lục ở đây. Đọc nguyện văn, họ mới biết chí hướng của Ngài, không ai chẳng cảm động rơi lệ. Tới thời Càn Long, khi tu chỉnh Đại Tạng Kinh, không hiểu v́ sao thiên nguyện văn ấy được đặt ngay trên bàn vị quan giữ trách nhiệm tổng biên tập. Xét ra, ngài Di Sơn thân thế chẳng rơ ràng, tuyệt đối chẳng phù hợp tiêu chuẩn nhập tạng, nhưng những người đă đọc qua bài nguyện văn ấy, không ai chẳng kiên quyết muốn đưa vào Đại Tạng. Trong khi mọi người đang tranh luận ồn ào, từ tờ nguyện văn ấy, bỗng phát ra ánh sáng bảy màu chiếu sáng cả tự viện và bầu trời, đồng thời có âm thanh ầm ́ như sấm động, chứng tỏ long thiên ủng hộ, chứng minh bài nguyện văn ấy. Do vậy, viên quan chủ biên chẳng do dự, nhập tạng bài nguyện văn ấy. Bài văn này được đưa vào thời khóa công phu sáng của Thiền Môn.

[30] Thập triền nghĩa là mười loại vọng hoặc (phiền não hư vọng), trói buộc chúng sanh, khiến họ chẳng thoát khỏi sanh tử, chẳng chứng Niết Bàn, bao gồm: Vô tàm, vô quý, ghen ghét, keo kiệt, hối (làm điều lành rồi hối hận), ham ngủ, lao chao, hôn trầm, sân phẫn và giấu diếm.

[31] Thập sử (còn gọi là thập phiền não, thập hoặc, thập tùy miên) là tham dục, sân khuể, vô minh, mạn, nghi, thân kiến (ngã kiến), biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới thủ kiến. Năm loại đầu được gọi là ngũ độn sử (vì tác dụng của chúng chậm rãi), năm loại sau được gọi là ngũ lợi sử.

[32] Bát nạn là tam đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh), tàn tật, sanh trong Trường Thọ Thiên, Thế Trí Biện Thông, sanh trước Phật, và sanh sau Phật.

Tứ duyên là:

1) Nhân duyên: Những duyên giúp cho nhân tăng trưởng, kết thành quả.

2) Đẳng vô gián duyên: “Đẳng” có nghĩa là cùng loại, tương đương. Ý nói tâm và tâm sở liên tục, niệm trước đã diệt, niệm sau liền sanh khởi, liên tục chẳng gián đoạn, sanh thành theo thứ tự, nên còn gọi là Thứ Đệ Duyên.

3) Sở duyên duyên: Còn gọi là duyên, tức là nói đến các pháp tương ứng, tâm vương, và tâm sở pháp. Như nhãn thức và lấy sắc pháp ở bên ngoài là sở duyên (tức là ngoại sắc chính là đối tượng được nhận biết bởi nhãn thức), âm thanh là sở duyên của nhĩ thức v.v… Quan hệ giữa sáu căn, sáu trần và sáu thức là sở duyên duyên. Tức là như sáu trần làm duyên để sáu thức duyên vào, do vậy sáu trần được gọi là sở duyên duyên (cái duyên để được duyên) của sáu thức.

4) Tăng thượng duyên: Cái duyên không gây chướng ngại, giúp cho các pháp sanh khởi nhanh chóng, mạnh mẽ hơn.

[33] Hai thứ tùy thuận là thuận duyên và thuận tánh.

[34] Bốn chẳng nghĩ bàn (tứ bất tư nghị): Chúng sanh bất tư nghị, thế giới bất tư nghị, long cảnh giới bất tư nghị (cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của loài rồng), và Phật cảnh giới bất tư nghị.

[35] Mười bốn món vô úy: Theo kinh Lăng Nghiêm, quyển sáu, Quán Thế Âm Bồ Tát dùng kim cang tam-muội vô tác diệu lực khiến cho chúng sanh đạt được mười bốn loại công đức vô úy:

1) Bất tự quán âm dĩ quán âm (chẳng thuận theo âm thanh để quán sát mà quán sát âm thanh): Chẳng thuận theo thanh trần mà dấy lên tri kiến, chỉ do thanh trần mà phản quán tự tánh, chẳng khởi tri kiến, chẳng bị thứ gì gây mê mờ, phản chiếu tự tánh, chẳng còn khổ não, cho nên không sợ hãi.

2) Tri kiến toàn phục (xoay chuyển tri kiến): Bồ Tát có thể xoay chuyển tri kiến khôi phục chân không, có thể khiến cho chúng sanh vào lửa mà lửa chẳng thể đốt, do vậy vô úy.

3) Quán thính toàn phục (xoay chuyển cái thấy, cái nghe): Do tánh của quán và thính là động, nên thuộc về nước, Bồ Tát có thể xoay chuyển sự thấy nghe, khôi phục chân không, khiến cho chúng sanh chẳng bị nước lũ cuốn trôi hoặc nhấn chìm, cho nên vô úy.

4) Đoạn diệt tâm vọng tưởng chẳng sát hại: Bồ Tát chứng ngộ thật tánh, đoạn diệt vọng tưởng, phát tâm đại từ, chẳng có ý niệm sát hại, khiến cho chúng sanh vào trong nước quỷ La Sát, mà ác quỷ tự diệt ác, cho nên vô úy.

5) Huân văn thành văn lục căn tiêu phục đồng ư thanh thính (huân tập cái Nghe thành nghe nơi sáu căn, khiến cho các thức nơi sáu căn khác giống như nghe âm thanh vậy): Huân văn thuộc về Tư, suy tư những điều được nghe, nhận thấy chúng chẳng có tánh để có thể đạt được, cái Văn ấy liền trở thành chân văn. Lục căn hại người chẳng khác đao binh. Bồ Tát đã tiêu diệt sự chấp trước, hư vọng nơi lục căn, khôi phục chân không, hết thảy căn trần đều giống như nghe âm thanh, có thể khiến cho chúng sanh ngay trong lúc bị hại, hết thảy đao trượng đều gãy từng khúc, cho nên vô úy.

6) Văn Huân tinh minh, minh biến pháp giới (Cái nghe được huân tập, trở thành sáng suốt. Sự sáng suốt ấy trọn khắp pháp giới): Bồ Tát do tu tập Văn Huân, tạo thành huệ tánh, đã được sự sáng suốt tinh thuần chiếu sáng mười phương, trọn khắp pháp giới. Chúng sanh tuy bị loài Dược Xoa u ám gần kề, nhưng sự tinh minh của Bồ Tát khiến cho loài Dược Xoa bị lóa mắt, khiến chúng nó chẳng thấy chúng sanh, cho nên vô úy.

7) Âm tánh viên tiêu quán thính phản nhập (Liễu giải viên dung tánh của âm thanh, xoay cái Nghe theo thanh trần bên ngoài thành nghe tâm tánh) : Bị thanh trần hư vọng trói buộc, chẳng khác nào bị gông xiềng cùm trói, Bồ Tát do tánh động lẫn tĩnh đều diệt, sự thấy nghe từ vọng trở về chân, giải thoát thanh trần, có thể khiến cho các sự trói buộc chẳng còn ràng rịt chúng sanh, do vậy vô úy.

8) Diệt âm viên văn biến tánh từ lực (Diệt tướng âm thanh, trọn thành Văn Huệ, từ lực trọn khắp): Bồ Tát tiêu diệt âm thanh, viên thành Văn Huệ, sanh trọn khắp từ lực, có thể dùng đại lực khiến cho chúng sanh thoát khổ giống như đi đường gặp giặc cướp mà chúng chẳng thể cướp. Do vậy, vô úy.

9) Huân văn ly Trần, sắc chẳng thể cướp: Bồ Tát dùng Tư Huệ để huân văn thành tánh, lìa các trần vọng, chẳng bị sắc trần cướp đoạt, khiến cho hết thảy chúng sanh đa dâm chẳng sanh dâm dục, do vậy, vô úy.

10) Thuần âm vô trần căn tánh viên dung: Tánh âm thanh của Bồ Tát thuần tịnh, lìa các vọng trần, căn và cảnh nhập vào nhau, viên dung vô ngại, có thể cảm hóa kẻ hung ác, cho nên là vô úy.

11) Tiêu trần toàn minh (Các trần tiêu dung, khôi phục tâm tánh sáng suốt): Tức là Bồ Tát do trừ ám nên trần tiêu dung, khôi phục sự sáng suốt nơi tánh, có thể khiến cho hết thảy người hôn muội, ám độn, bất thiện xa lìa si ám, cho nên vô úy.

12) Dung hình phục văn (tiêu dung hình sắc, khôi phục tánh Nghe chân thật): Dung hình là tiêu diệt chướng ngại, phục văn là tánh chân. Cho nên vào trong thế gian mà chẳng hoại tướng thế gian, có thể đi khắp mười phương cúng dường vô lượng chư Phật, bẩm thọ pháp, cho nên vô úy.

13) Sáu căn viên thông, chiếu sáng bất nhị.

14) Một danh hiệu của chính mình chẳng khác danh hiệu của mười hai hằng sa Bồ Tát: Bồ Tát trọn đủ viên thông chân thật có thể khiến cho chúng sanh chỉ trì riêng danh hiệu của Ngài, sẽ giống hệt như trì danh của trọn hết mười hai hằng hà sa Bồ Tát.

[36] Tức Bồ Tát hiện mười chín loại thân để thuyết pháp cho chúng sanh: Thân Phật, thân Bích Chi Phật, thân Thanh Văn, thân Phạm vương, thân Tự Tại Thiên, thân Đại Tự Tại Thiên, thân Thiên Đại Tướng Quân, thân Tỳ Sa Môn, thân tiểu vương, thân trưởng giả, thân cư sĩ, thân tể quan, thân Bà La Môn, thân tứ chúng, thân phụ nữ, thân đồng nam, thân đồng nữ, thân thiên long bát bộ, và thân chấp kim cang.

[37] Tức bảy loại nạn (nước, lửa, giặc, cướp…) và hai thứ cầu (cầu sanh con trai và cầu sanh con gái) được nói trong phẩm Phổ Môn.

 

[38] Đây là nói theo ý của một bài kệ trong Trí Độ Luận: “Điểu lai nhập bình trung, dĩ hộc yểm bình khẩu. Hộc xuyên điểu phi khứ, thần thức tùy nghiệp tẩu” (Chim lọt vào trong bình, dùng the bịt miệng bình. Chim xuyên the bay mất, thần thức theo nghiệp đi). Do đó, cổ nhân hay dùng từ ngữ “hộc xuyên điểu phi” để hình dung thần thức lưu chuyển theo nghiệp.

[39] Theo Ma Ha Tăng Kỳ Luật, cháo có mười điều lợi như sau:

1) Khiến cho dáng vẻ no đủ: Bồi dưỡng da dẻ, khiến cho dáng vẻ hồng nhuận.

2) Tăng thêm khí lực.

3) Bồi bổ nguyên khí, tăng thêm thọ mạng.

4) An lạc, mềm mại: Do ăn cháo dễ tiêu nên thân thể thoải mái.

5) Biểu đạt ngôn ngữ rõ ràng.

6) Cổ họng được thấm nhuần.

7) Dễ tiêu hóa.

8) Thích nghi cho người già, bệnh.

9) Trừ gió: Cháo ấm nóng, trừ phong tà.

10) An thần.

 

[40] Phạm sát (cõi thanh tịnh) là cách gọi trịnh trọng một ngôi chùa.

[41] Theo kinh Duy Ma Cật, Hương Tích là danh hiệu của đức Phật trong thế giới Chúng Hương: “Đi về phương trên, qua khỏi bốn mươi hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên là Chúng Hương, Phật hiệu Hương Tích, nay vẫn đang trụ thế. Mùi thơm trong cõi ấy tối thắng bậc nhất trong các mùi hương của trời, người trong các thế giới khắp mười phương. Cõi ấy dùng hương làm lầu gác, kinh hành nơi đất hương, vườn tược đều thơm ngát”. Ngài Duy Ma Cật cho biết cõi ấy dùng hương làm Phật sự, hóa hiện một vị Bồ Tát đến cõi ấy xin cơm về cho đại chúng đang hiện diện. Khi cơm ấy tiêu hết thì mùi hương nơi thân người ăn mới tan. Do vậy, Thiền môn thường gọi nhà bếp trong chùa là Hương Tích.

[42] Giám Trai sứ giả là vị thần thủ hộ trai soạn của chư Tăng. Ngài còn được gọi là Giám Trai Bồ Tát. Ngài mặt xanh, tóc đỏ. Theo Hà Nam Phủ Chí, đầu niên hiệu Chí Chánh đời Nguyên, chùa Thiếu Lâm có một vị tịnh nhân làm tạp vụ chuyên nhóm lửa, đầu bù tóc rối, lưng trần, siêng năng tận tụy lo việc trong nhà bếp. Trong năm Chí Chánh thứ mười (1350), Lưu Phước Thông suất lãnh giặc Hồng Cân bao vây Thiếu Lâm. Vị cư sĩ ấy bèn tay cầm củi đang cháy, hóa thành Khẩn Na La Vương thân cao mấy chục trượng, giặc Hồng Cân hoảng sợ bỏ trốn, Thiếu Lâm Tự may mắn thoát nạn. Vị cư sĩ ấy cũng biến mất. Từ đó, nhà chùa lập điện thờ Khẩn Na La, trong bếp thờ tượng Khẩn Na La, tôn xưng là Già Lam Thần, hoặc Côn Thuật Chi Thần. Về sau, các nơi thờ theo, tôn xưng Ngài là Giám Trai Sứ Giả, lấy ngày Hai Mươi Ba tháng Chạp làm ngày vía.

[43] Do giới Sa Di thông với Thập Thiện của hàng cư sĩ tại gia, nên chúng tôi không tỉnh lược phần này.

[44] Kinh này có tên gọi đầy đủ là Phật Thuyết Sa Di Thập Giới Nghi Tắc Kinh, do ngài Thi Hộ dịch vào đời Tống, gồm bảy mươi hai bài kệ, trần thuật kỹ càng về giới Sa Di.

[45] Theo truyền thuyết, Nghi Địch là bầy tôi của Đại Vũ, khéo ủ rượu hết sức thơm ngon, đem dâng lên cho vua Vũ. Đại Vũ uống vào, cảm thấy hết sức ngon lành, say mê. Do vậy, bèn xa lánh Nghi Địch, cấm tuyệt rượu ngon. Về sau, Nghi Địch được tôn xưng là thỉ tổ của ngành chế rượu.

[46] Trụ vương do say mê Đát Kỷ nên lập sai đào ao chứa rượu, gắn thịt đã nướng trên cây gọi là Nhục Lâm để ăn nhậu thỏa thích.

[47] Ba mươi sáu lầm lỗi do uống rượu được tổng hợp từ Tứ Phần Luật, kinh Thiện Sanh trong Trường A Hàm và Phật Thuyết Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi Kinh, bao gồm: 1) Chẳng hiếu thảo với cha mẹ 2) Khinh mạn sư trưởng, bạn bè 3) Chẳng tôn kính Tam Bảo 4) Chẳng tin kinh pháp 5) Phỉ báng sa-môn 6) Phê bình rêu rao tội của người khác 7) Luôn nói lời hư vọng 8) Vu báng chuyện ác cho người khác 9) Chuyên nói lưỡi đôi chiều 10) Ác khẩu tổn thương người khác 11) Căn nguyên của bệnh tật 12) Là cái gốc của tranh đấu 13) Tiếng ác lan truyền 14) Bị người khác ghét bỏ 15) Bài xích thánh hiền 16) Oán trời trách đất 17) Bỏ phế sự nghiệp 18) Phá tan gia tài 19) Luôn không biết hổ thẹn 20) Chẳng biết xấu hổ 21) Vô cớ đánh đập nô tỳ 22) Ngang ngược giết chóc chúng sanh 23) Gian dâm, xâm phạm vợ người khác 24) Trộm cắp tài vật của người khác 25) Lợt lạt, xa lánh người lành 26) Thân cận kẻ ác 27) Thường ôm lòng giận dữ 28) Ngày đêm ưu sầu 29) Lôi Đông kéo Tây 30) Chỉ Nam vướng Bắc 31) Té xuống ngòi rãnh, nằm vật vạ ngoài đường 32) Té xe, ngã ngựa 33) Té xuống sông nước 34) Cầm đèn gây ra hỏa hoạn 35) Bị chết vì nóng bức trong tháng nóng 36) Chết cóng trong tháng rét.

[48] Xu bồ (樗蒲) là một loại cờ thịnh hành từ đời Đông Hán cho đến cuối đời Đường. Người chơi gieo năm miếng gỗ hình thoi (gọi là Ngũ Mộc, chia thành hai màu đen và màu trắng), căn cứ vào số điểm sấp hay ngửa để đi chuyển con cờ. Ngũ Mộc có thể chế bằng ngà, răng nanh động vật, hoặc chất sừng. Màu đen thì vẽ con trâu, màu trắng vẽ con gà. Tùy theo cách phối hợp của Ngũ Mộc mà tính điểm, chẳng hạn toàn màu đen thì sẽ tính là mười sáu điểm, toàn trắng là tám điểm. Dựa trên số điểm mà di chuyển các con cờ.

[49] Thời Tam Quốc, tại Bắc Hải, có một nho sĩ tên là Quản Ninh, tên tự là Ấu An. Thuở nhỏ, Quản Ninh cùng Hoa Hâm cuốc đất trồng rau, thấy trong đất có vàng, Quản Ninh không thèm ngó tới, coi nó chẳng khác ngói, đá. Hoa Hâm thì nhặt lấy rồi vứt đi. Khi loạn Hoàng Cân nổ ra, Quản Ninh tỵ nạn sang vùng Liêu Đông, người đi theo rất đông. Ông dạy họ học thi, thư, dùng đức giáo hóa dân chúng. Triều đình nghe danh, mời ông làm quan đại phu, nhưng ông không nhận. Hoa Hâm làm Thượng Thư Lệnh, theo phe Tào Tháo, cuối cùng không được chết an lành.

[50] Chẳng hạn như khi hỏi đạo sư của Tịnh Tông Học Hội là ai, hãy nên trả lời “lão pháp sư thượng Tịnh hạ Không”.

[51] Sắc phục ở đây là đồng phục của binh lính, nha lại, quan viên, công nhân v.v…

[52] Chiêu Đề (Caturdeśa) có nghĩa là nơi chốn của Phật giáo, hiểu theo nghĩa rộng là tự viện của tứ phương Tăng, chùa miếu của tăng sĩ v.v…

[53] Kiền chùy (揵搥, Ghaṇtā), còn phiên âm là Kiện Địa, Kiện Trì, dịch nghĩa là chuông, khánh, gõ mõ, gõ khánh v.v… Đây là từ ngữ chỉ chung các vật có thể gõ ra tiếng, nhằm làm hiệu lệnh trong đạo tràng, tự viện.

[54] Bảy loại lễ:

1) Ngã mạn lễ: Thân tuy làm lễ, chẳng có tâm cung kính, bề ngoài dường như đang lễ kính, nhưng trong tâm ngạo mạn.

2) Cầu danh lễ: Muốn có tiếng trong khi tu hành, giả vờ hiện oai nghi, thường hành lễ bái, thân làm lễ, miệng xưng danh hiệu Phật, nhưng tâm duyên theo cảnh khác.

3) Thân tâm lễ: Miệng xướng danh hiệu Phật, tâm nghĩ tới tướng hảo của Phật, dốc lòng thành kính, cung kính lễ bái, chẳng có ý niệm khác.

4) Trí tịnh lễ: Huệ tâm sáng suốt, nhạy bén, đạt tới cảnh giới của Phật, trong ngoài thanh tịnh, rỗng rang vô ngại.

5) Lễ trọn khắp pháp giới: Thân tâm trụ trong pháp bình đẳng, chẳng lìa pháp giới sẵn có, chư Phật chẳng lìa tâm ta.

6) Chánh quán tu thành lễ: Tuy nhiếp tâm chánh niệm, lễ thân Phật chính là lễ đức Phật trong tự tâm. Thấy hết thảy chúng sanh đều có giác tánh bình đẳng với chư Phật, thuận theo nhiễm duyên mà thành ra tánh ác, nhưng Phật tánh chẳng mất, quán hết thảy chúng sanh chắc chắn sẽ thành Phật.

7) Thật Tướng bình đẳng lễ: Trong cách lễ trên đây, vẫn có lễ, có quán, tự và tha khác biệt. Trong cách lễ này, tự tha chẳng khác, chẳng tách biệt, phàm thánh như một, thể dụng bất nhị.

[55] Trong tự viện, khi vị Trụ Trì thăng tòa thuyết pháp (đôi khi cung thỉnh trưởng lão trong tự viện khai thị), thì gọi là thượng đường. Định kỳ vào ngày mồng Một hay Rằm, hoặc các dịp khánh đản, xuất đội (trụ trì đi xa trở về), hoặc nhân dịp gì quan trọng hoặc có chuyện biến động trong tự viện, hoặc khi hoàng đế băng hà.

[56] Đồ sấm (圖讖), còn gọi là Sấm Vĩ (谶纬. Đồ () có nghĩa là Hà Đồ, tức mô hình được vẽ trên lưng rùa thiêng), là một loại sách ghi chép các lời dự đoán theo lối nói ẩn ý hoặc biểu tượng để tiên đoán về cát, hung, bình trị hay suy vong của các triều đại, kiểu như sấm Trạng Trình của Việt Nam.

[57] Lô hỏa (爐火) là nói về phép luyện đan (nội đan, ngoại đan), Hoàng Bạch (黃白) cũng là phép luyện đan, nhưng chú trọng biến chì thành vàng, biến bạc thành vàng (tức là tương ứng với quan điểm giả kim thuật của châu Âu).

[58] Theo sách Sa Di Luật Nghi Yếu Lược Thuật Nghĩa của sa-môn Truyền Luật, “tuyên quyển đả kệ” chính là cách tu tập của Vô Vi Giáo (một loại ngoại đạo), kinh điển của họ gồm năm bộ sáu sách. Khi họ làm pháp hội, một người đọc kệ từ các sách ấy (gọi là “tuyên quyển”), đại chúng hòa giọng đáp theo, gọi là “đả kệ”.

[59] Giường nằm của tăng chúng chỉ là một miếng gỗ rộng vừa đủ cho một người nằm, nên gọi là Đơn.

[60] Bang () là một dụng cụ dùng để báo hiệu, thường chế bằng tre hay gỗ. Trong nhà chùa thì bang thường làm thành hình con cá bằng gỗ, có dây treo, gõ vào sẽ phát ra tiếng mạnh hơn mộc bản.

[61] Trực chuyết (直裰) là một loại áo dài, do vạt áo gồm hai mảnh ghép lại, may thẳng một đường từ trên xuống dưới, cổ xéo, tay áo hơi rộng, may viền mép, không có eo, thường được dùng làm đạo phục cho tăng ni, đạo sĩ. Nói cách khác, trực chuyết chính là áo tràng theo cách hiểu của người Việt.

[62] Thiên sam (偏衫) là một loại y phục kế thừa từ y Tăng-kỳ-chi (y lót mình của tăng sĩ). Theo sách Sự Vật Kỷ Nguyên, từ thời Hậu Ngụy, do thấy tăng nhân mặc y theo lối Ấn Độ hở vai phải không hợp lễ nghi Trung Hoa, chư tổ bèn chế biến y theo lối che vai hữu thành thiên sam. Có thể tạm hiểu thiên sam giống như áo vạt khách lửng của Việt Nam vậy, hoặc loại áo dài không có tay, dài quá đầu gối, như loại áo mà các pháp sư bên Tịnh Tông thường mặc ra ngoài áo ngắn khi không lên khóa tụng. Do vạt tương đối dài nên mặc thiên sam khi đi tiểu sẽ dễ làm dơ.

[63] Bố Tát (Upavasattha), còn phiên âm là Bố Sái Tha, Bố Sa Tha, Bao Sa Đà, Bô Sa Tha, Bố Tát Đà Bà, dịch nghĩa là Tịnh Trụ, Thiện Trúc, Trưởng Dưỡng. Tức là lễ tụng giới trong mỗi nửa tháng của người xuất gia và người thọ Bồ Tát Giới.

[64] Bạch nguyệt (Śuklapakṣa) và hắc nguyệt (Kṛṣṇapakṣa) là cách phân chia tháng theo lịch pháp Ấn Độ. Bạch nguyệt là từ mồng Một cho đến ngày Rằm trăng tròn, còn hắc nguyệt là từ ngày Mười Sáu cho đến cuối tháng.

[65] Ở đây không có nghĩa là cấm tuyệt mọi hình thức buôn bán, mà là cấm ngặt các loại buôn bán phi pháp. Giới bổn chép: “Nếu Phật tử cố ý buôn bán người lành, nô tỳ, lục súc, buôn bán quan tài, ván gỗ, dụng cụ chứa đựng xác chết, [những kiểu buôn bán ấy] còn chẳng nên tự làm, huống hồ dạy người khác làm? Nếu cố ý tự làm, dạy người khác làm, sẽ phạm tội khinh cấu”.

[66] Giới bổn ghi: “Nếu là Phật tử thì đối với đệ tử của Phật và hết thảy kẻ ác ngoại đạo, lục thân, hết thảy thiện tri thức, hãy nên đối với mỗi người đều dạy họ thọ trì kinh luận Đại Thừa, hãy nên dạy họ hiểu nghĩa lý, khiến cho họ phát Bồ Đề tâm, mười phát thú tâm, mười trưởng dưỡng tâm, mười kim cang tâm. Trong ba mươi thứ tâm ấy, mỗi mỗi đều khiến cho họ hiểu thứ tự pháp dụng, nhưng Bồ Tát do ác tâm, hoặc sân tâm, bèn ngang ngược dạy kinh luận của Thanh Văn, Nhị Thừa, tà kiến luận của ngoại đạo v.v… sẽ phạm tội khinh cấu”.

[67] Giới bổn ghi: “Nếu Phật tử tự vì ăn uống, tiền tài, lợi dưỡng, danh dự mà thân cận quốc vương, vương tử, đại thần, trăm quan, dựa vào quyền thế họ để xin xỏ, đòi hỏi, kèo nài, ngang ngược đoạt lấy tiền tài, vật dụng, hết thảy cầu lợi thì gọi là ác cầu, đa cầu, dạy người khác cầu, đều là chẳng có từ tâm, chẳng có tâm hiếu thuận, sẽ phạm tội khinh cấu”.

[68] Giới bổn ghi: “Nếu Phật tử, khi có xuất gia Bồ Tát, tại gia Bồ Tát, và hết thảy đàn việt muốn thỉnh tăng để làm phước điền cầu nguyện, hãy nên vào tăng phường hỏi vị tri sự, nay tôi muốn thỉnh Tăng cầu nguyện. Tri sự đáp rằng: ‘Theo thứ tự thỉnh sẽ liền được [giống như cung thỉnh] mười phương thánh hiền tăng’. Nhưng người đời thỉnh riêng năm trăm vị La Hán Bồ Tát Tăng, chẳng bằng theo thứ tự thỉnh một vị Tăng phàm phu. Nếu thỉnh riêng Tăng thì chính là pháp ngoại đạo, thất Phật không có pháp cho thỉnh riêng, do chẳng thuận hiếu đạo. Nếu cố ý thỉnh riêng Tăng thì phạm tội khinh cấu”.

[69] Giới bổn gọi giới này là “giới chẳng làm quản lý cho hàng bạch y” và ghi: “Nếu Phật tử do ác tâm mà chính mình hủy báng Tam Bảo, giả vờ làm ra vẻ thân cận, nương tựa, miệng thì nói Không, hành vi lại luôn ở nơi Có, làm quản lý cho hàng bạch y, vì kẻ bạch y mà làm mai mối cho trai, gái trao đổi dâm sắc, gây thành các nghiệp trói buộc, trong sáu ngày trai, hoặc trong ba tháng trường trai mỗi năm mà sát sanh, trộm cướp, phá trai, phạm giới thì phạm tội khinh cấu”. Ở đây, tổ gọi giới này là “không tôn trọng những thời điểm tốt đẹp” nhằm nhấn mạnh vấn đề phạm giới trong ba tháng trường trai mỗi năm.

[70] Giới bổn ghi: “Nếu Phật tử đều do tín tâm mà thọ giới, nhưng quốc vương, thái tử, bá quan, tứ bộ đệ tử tự cậy chính mình cao quý, bèn phá diệt giới luật của Phật pháp, đặt rõ những điều hạn chế đối với pháp, hạn chế bốn bộ đệ tử, chẳng cho phép xuất gia hành đạo, cũng lại chẳng cho phép tạo lập hình tượng, Phật tháp, kinh luật, lập quan chức thống trị tăng chúng, khiến tăng chúng phải ghi danh trong sổ bộ, Bồ Tát tỳ-kheo đứng dưới đất, còn hàng bạch y ở trên tòa cao, rộng thực hiện chuyện phi pháp, [giống như] binh lính, nô tỳ phụng sự chủ. Bồ Tát lẽ ra phải được hết thảy mọi người cúng dường, đâm ra làm kẻ sai khiến của các quan chức, trái pháp, trái luật! Nếu là quốc vương, bá quan do hảo tâm mà thọ giới của đức Phật, hãy đừng tạo tội phá Tam Bảo ấy. Nếu cố ý làm chuyện pháp pháp, sẽ phạm tội khinh cấu”.