Vân
Thê Pháp Vựng
雲棲法彙
Phần
1
Cổ Hàng Vân Thê
Châu Hoằng đại sư trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo bản điện tử Gia
Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
Thay lời dẫn nhập
Sau khi được đọc
Di Đà Sớ Sao của Liên Trì đại
sư qua bản dịch của hòa thượng
Hành Trụ, mạt nhân đã rất
ngưỡng mộ kiến thức siêu tuyệt
của tổ Liên Trì và ước mong
được đọc đầy đủ các
trước tác của Ngài. Sau này, khi
được đọc và chuyển ngữ
bộ Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa qua
lời giảng giải của lão pháp sư
Tịnh Không, mạt nhân càng ngưỡng mộ
và cảm phục trí huệ uyên bác, lòng
từ bi sâu thẳm của Tổ hơn. Như
một duyên lành, khi tìm các bản
trước tác của Tổ trên Internet, mạt
nhân đã tìm thấy bản Vân Thê Pháp
Vựng này từ trang CBETA, chẳng nề hà bản thân kém cỏi,
kiến thức nhấp nhem, chỉ mong chia sẻ
với những ai kém cỏi như chính
mình pháp nhũ của một bậc nhục thân
Bồ Tát, hòng làm tư lương để
bồi đắp tín tâm kiên cố trên con
đường tu tập Tịnh Độ vì
dường như từ trước
đến nay, chưa có vị thiện tri thức
nào dịch toàn vẹn bộ này. Văn
chương của Tổ súc tích, bao quát
khá nhiều chủ đề, với trình
độ thấp kém của mạt nhân, chắc
chắn không tránh khỏi phạm phải
những sai lầm khó thể tha thứ
được. Ngưỡng mong các bậc cao
minh niệm tình rộng dung cho kẻ ngu muội vì
lòng tiếc pháp mà bon chen làm chuyện
quá sức mình.
Trong tác phẩm này, trong
quyển thứ nhất, Tổ san định hai
thời công phu thường dùng trong Phật
môn, đối với những phần kinh văn
đã phổ biến, chúng tôi xin phép không
chuyển ngữ, chỉ ra nêu tựa đề và ghi chú là “tỉnh
lược”, chỉ chuyển ngữ
những bài hơi sai khác so với bản
kinh nhật tụng đang lưu hành hiện
thời, hoặc ít phổ biến, hoặc
chưa dịch nghĩa trong thời khóa, cũng
như những lời nhận định của
Tổ. Quyển thứ hai bao gồm phần Cụ
Túc Giới và Thức Xoa Ma Na
Giới, xin được
phép lược đi không dịch vì hàng
cư sĩ không cần đi sâu vào giới
luật của người xuất gia. Chỉ mong Tam
Bảo từ bi gia hộ khiến cho con không hiểu
sai ý Tổ đến nỗi xuyên tạc giáo
nghĩa, khiến cho chính mình lầm lạc,
người khác lầm theo. Nếu vì
sự u mê của con khiến cho người
khác xem đến liền báng bổ giáo
nghĩa Tịnh Độ, phê phán tổ sư,
thì xin chỉ mình con hứng chịu tội
lỗi ấy, không khiến cho người gièm
báng bị đọa lạc theo.
1. Chư kinh nhật tụng tập
yếu (諸經日誦集要)
1.1. Lời
tựa khắc in lại Chư Kinh Nhật Tụng
Ông Hạng ở Gia
Hòa trước kia đã đem một trăm
lẻ tám loại kinh của phường bổn[1]
đến Vân Thê, bảo đấy là các kinh do
tăng, ni, đạo, tục sáng tối trì
tụng, nhưng [ông ta xét thấy các bản
ấy] chân, ngụy xen tạp, khiến cho người
hiểu biết chê cười, mong tôi hãy phân
định chánh xác để làm khuôn mẫu
cho hàng sơ học. Tôi dựa theo bản ấy,
cân nhắc, sắp xếp, loại trừ,
bỏ ngụy giữ lấy chân. Lại còn
giở xem kinh luật và các trước
tác của các vị xưa nay, chọn lấy
một, hai điều gần gũi nhất để
thêm vào. Vừa hoàn thành bản thảo, chưa
giảo duyệt, đã giao cho ông Hạng. Ông Hạng
liền đem giao cho thợ khắc, mà ông
Hứa ở cùng ấp liền cho ấn
hành. Gần đây, tôi xem lại, thấy khá
nhiều chỗ sai lầm, bèn giảo chánh,
sửa chữa lần nữa, cho khắc
riêng theo lối phương sách[2].
Mộc bản cất trong núi Vân Thê ngõ hầu
bản hoàn thiện được lưu
truyền, rốt cuộc thành tựu điều
tốt đẹp cho hai ông. Những người xem hai bản
khắc trước đó của hai ông,
hãy nên lấy bản dưới đây để
làm căn cứ.
Ngày
Rằm tháng Mười năm Vạn Lịch
28 (1600), tức năm Canh Tý, Vân Thê Châu Hoằng
ghi.
1.2.
Chư Kinh Tập Yếu (nội dung)
Hỏi:
Trong bản khắc cũ, Tâm Kinh, Kim Cang, Quán Âm,
kinh Di Đà v.v… được xếp lên
đầu, nay sao chẳng giống như vậy?
Đáp: Vì muốn gom
các kinh chú dùng trong khóa tụng sáng
tối vào một chỗ hòng thuận tiện cho
kẻ sơ học phúng tụng theo đại
chúng, thứ tự phân minh. Hơn nữa,
các kinh như Kim Cang v..v…
được ấn hành bản lưu hành
riêng chẳng biết nổi số lượng,
đầy khắp thế gian, chẳng cần
phải mất công đưa thêm vào đây. Hơn
nữa, nguyên văn của các kinh đại đa
số đều đã được khắc
in riêng, lưu truyền rộng rãi. Nay chỉ trích
yếu nhằm thuận tiện cho kẻ sơ
học.
1.2.1.
Tổng tập
Gọi là Tổng Tập
là vì trong phần Biệt Tập đã chia
thành từng loại như kinh văn, chú
văn, tạp văn. Ở đây, [gom chung các kinh
chú sử dụng] để thuận tiện cho
[việc tụng niệm] trong sáng tối giống
như dệt gấm, cho nên gọi là Tổng.
1.2.1.1.
Khóa tụng buổi sáng
* Đại Phật
Đảnh Thủ Lăng Nghiêm Chú (tỉnh
lược)
* Thiên Thủ Thiên
Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni
(千手千眼無礙大悲心陀羅尼)
Nam mô hát ra đát na
đá ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô yết đế
thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma
ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt
duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất cát
lật đỏa, y mông a rị da, Bà lô cát đế,
thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn tŕ, hê rị
ma ha bàn đá sa mế, tát bà a tha đậu thâu
bằng, a thệ dựng, tát bà tát đá, na ma
bà tát đá, na ma bà già, ma phạt đặc
đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế,
ca la đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát
đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng,
câu lô câu lô yết mông, độ lô độ lô, phạt xà
da đế, ma ha phạt xà da đế, đà la đà la,
địa rị ni, thất phật ra da, giá ra giá ra. Ma
ma phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất
na thất na, a ra sâm phật ra xá lợi, phạt sa phạt
sâm, phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, sa
ra sa ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ
đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ,
bồ đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn
tŕ, địa rị sắt ni na, bà dạ ma na sa
bà ha, tất đà dạ sa bà ha. Ma ha tất đà dạ
sa bà ha. Tất đà dụ nghệ thất bàn ra
da sa bà ha. Na ra cẩn tŕ sa bà ha. Ma ra na ra sa
bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, sa bà ha. Sa
bà ma ha, a tất đà dạ sa bà ha. Giả cát
ra a tất đà dạ sa bà ha. Ba đà ma yết tất
đà dạ sa bà ha. Na ra cẩn tŕ bàn già ra dạ
sa bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ,
sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra
dạ da. Nam mô a rị da bà la cát đế thước
bàn ra dạ, sa bà ha. Án, tất điện đô,
mạn đa ra, bạt đà da, sa bà ha[3].
南無喝囉怛那哆囉夜耶。南無阿唎耶婆盧羯帝爍缽囉耶。菩提薩埵婆耶。摩訶薩埵婆耶。摩訶迦盧尼迦耶。唵。薩皤囉罰曳數怛那怛寫。南無悉吉㗚埵伊蒙阿唎耶。婆盧吉帝。室佛囉楞馱婆。南無那囉謹墀。醯唎摩訶皤哆沙咩。薩婆阿他豆輸朋。阿逝孕薩婆薩哆。那摩婆薩哆。那摩婆伽。摩罰特豆怛姪他。唵。阿婆盧醯盧迦帝。迦羅帝。夷醯唎。摩訶菩提薩埵。薩婆薩婆。摩囉摩囉。摩醯摩醯 唎馱孕。俱盧俱盧羯蒙。度盧度盧。罰闍耶帝。摩訶罰闍耶帝。陀羅陀羅。地唎尼。室佛囉耶。遮囉遮囉。麼麼罰摩囉。穆帝隸。伊醯伊醯。室那室那。阿囉嘇。佛囉舍利。罰沙罰嘇。佛囉舍耶。呼盧呼盧摩囉。呼盧呼盧醯利。娑囉娑囉。悉唎悉唎。蘇嚧蘇嚧。菩提夜。菩提夜。菩馱夜。菩馱夜彌帝唎夜。那囉謹墀。地利瑟尼那。婆夜摩那 娑婆訶。悉陀夜。娑婆訶。摩訶悉陀夜。娑婆訶。悉陀喻藝室皤囉耶 娑婆訶。那囉謹墀。娑婆訶。摩囉那囉娑婆訶。悉囉僧。阿穆佉耶娑婆訶。娑婆摩訶。阿悉陀夜。娑婆訶。者吉囉阿悉陀夜。娑婆訶。波陀摩。羯悉陀夜。娑婆訶。那囉謹墀皤伽囉耶。娑婆訶。摩婆利勝羯囉夜。娑婆訶。南無喝囉怛那哆囉夜耶。南無阿利耶婆羅吉帝爍皤囉夜。娑婆訶。唵。悉殿都。漫多囉。跋陀耶娑婆訶。
Cuối
bài chú này [trong bản của ông Hạng] có
ba câu “kim cang thắng trang nghiêm, sa bà ha. Ma yết
thắng trang nghiêm, sa bà ha. Án, bạt xà ra,
thất rị duệ sa bà ha” (金剛勝莊嚴娑婆訶,摩羯勝莊嚴娑婆訶,唵跋闍囉,室利曳,娑婆訶),
trong cổ bản không có, chẳng biết do ai thêm
vào, không cần niệm cũng được.
* Như Ý Bảo
Luân Vương Đà La Ni (如意寶輪王陀羅尼)
Nam mô Phật Đà da,
nam mô Đạt Ma da, nam mô Tăng Già da, nam mô Quán
Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát cụ
đại bi tâm giả, đát điệt tha: Án,
chước yết ra phạt để, chấn đa
mạt ni, ma ha bát đắng mế, rô rô rô
rô, để sắt tra thước ra a yết
rị, sa dạ hồng phấn sa ha. Án, bát
đạp ma, chấn đa mạt ni, thước ra
hồng. Án, bát lạt đà, bát đản
mế hồng.
南無佛陀耶,南無達摩耶,南無僧伽耶,南無觀自在菩薩摩訶薩具大悲心者,怛姪他,唵,斫揭囉伐底,震多末尼,摩訶缽蹬謎,嚕嚕嚕嚕,底瑟吒爍囉,阿揭利沙夜吽癹莎訶。唵,缽蹋摩,震多末尼,爍囉吽。唵,缽剌陀,缽亶謎吽。
* Tiêu Tai Cát
Tường Thần Chú (消災吉祥神咒)
Nẵng
mô tam măn đá, mẫu đà nẫm, a bát ra để,
hạ đa xá, sa nẵng nẫm, đát điệt
tha. Án, khư khư, khư
hế, khư hế, hồng hồng
nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ
ra, bát ra nhập phạ ra, để sắt sá, để
sắt sá, sắt
trí rị, sắt trí rị, sa phấn tra, sa
phấn tra, phiến để ca, thất rị duệ, sa
phạ ha.
曩謨三滿哆,母馱喃,阿缽囉底,賀多舍,娑曩喃。怛姪他。唵,佉佉佉呬,佉呬,吽吽入嚩囉,入嚩囉,缽囉入嚩囉,缽囉入嚩囉.底瑟奼,底瑟奼,瑟致哩,瑟致哩,娑癹吒,娑癹吒。扇底迦,室哩曳。娑嚩訶。
* Công Đức Bảo Sơn
Thần Chú (功德寶山神咒)
Nam mô Phật-đà-da,
nam mô Đạt-ma-da, nam mô Tăng-già-da, án, tất
đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, cát
rị bà, tất đạt rị, bố rô rị, sa
phạ ha.
南無佛陀耶。南無達磨耶。南無僧伽耶。唵。悉帝護嚕嚕。悉都嚕。只利波吉利婆。悉達哩。布嚕哩。娑嚩訶。
* Phật Mẫu Chuẩn Đề
Thần Chú (佛母準提神咒)
Khể thủ quy y Tô Tất
Đế, đầu diện đảnh lễ Thất
Câu Chi, ngã kim xưng tán Đại Chuẩn
Đề, duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nam
mô tát đá nẫm, tam miệu tam bồ
đề, câu chi nẫm, đát điệt tha: Án,
chiết lệ, chủ lệ, chuẩn đề, sa
bà ha.
稽首皈依蘇悉帝。頭面頂禮七俱胝。我今稱讚大準提。惟願慈悲垂加護。南無薩哆喃。三藐三菩陀。俱胝喃。怛姪他。唵。折隸主隸。準提娑婆訶。
* Thánh Vô Lượng Thọ Quyết
Định Quang Minh Vương Đà Ra Ni
(聖無量壽決定光明王陀羅尼)
Án,
nại ma ba cát ngõa đế, a ba ra mật
đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nễ
thật chấp đạp, điệp tả ra tể dã.
Đát tháp cả đạt dã, a ra
hát đế, tam dược tam bất đạt dã,
đát dã tháp[4]: Án, tát
rị ba tang tư cát rị, bát rị thuật
đạp, đạt ra mã đế, cả cả
nại, tang
mã ngột cả đế, sa ba ngõa tỷ
thuật đế, mã hát nại dã
bát rị ngõa rị, sa hát.
唵捺摩巴葛瓦帝。阿巴囉密沓。阿優哩阿納。蘇必你實執沓。牒左囉宰也。怛塔哿達也。阿囉訶帝。三藥三不達也。怛也塔。唵。薩哩巴桑斯葛哩。叭哩述沓。達囉馬帝。哿哿捺桑馬兀哿帝。莎巴瓦比述帝。馬喝捺也叭哩瓦哩。莎喝。
* Dược Sư Quán
Đảnh Chân Ngôn (藥師灌頂真言)
Nam mô
bạc già phạt đế, bệ sát xã, củ
rô bệ lưu ly, bát lạt bà, hát ra xà
dã, đát tha yết đa da, a ra hát
đế, tam miệu tam bột đà da, đát
điệt tha: Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ,
bệ sát xã, tam một yết đế, sa
ha.
南無薄伽伐帝。鞞殺社。窶嚕薜琉璃。缽剌婆。喝囉闍也。怛他揭多耶。阿囉喝帝。三藐三勃陀耶。怛姪他。唵。鞞殺逝。鞞殺逝。鞞殺社。三沒揭帝。莎訶。
* Quán Âm Linh Cảm Chân Ngôn (觀音靈感真言)
Án, ma ni bát di hồng, ma hạt
nghê nha nạp, tích đô đặc ba đạt,
tích đặc ta nạp, vi
đạt rị cát tát. Nhi oát nhi
tháp, bốc rị tất tháp. Cát nạp
bổ ra nạp, nạp bốc rị, đâu
thắc ban nạp, na ma rô cát thuyết ra
da, sa ha.
唵。嘛呢叭𡄣吽。麻曷倪牙納。積都特巴達。積特些納。微達哩葛薩。而斡而塔。卜哩悉塔。葛納補囉納。納卜哩。丟忒班納。哪麻嚧吉說囉耶。莎訶。
*
Thất Phật Diệt Tội Chân Ngôn (七佛滅罪真言)
Ly bà, ly bà
đế, cầu ha, cầu ha đế, đà ra ni
đế, ni ha ra đế, tỳ lê nễ đế, ma
ha già đế, chân lăng càn đế, sa bà
ha.
離婆離婆帝。求訶求訶帝。陀羅尼帝。尼訶囉帝。毘黎你帝。摩訶伽帝。真陵乾帝。莎婆訶。
Hỏi:
Ở đây, [trong bản cũ] có Giải Oan
Thích Kết Chú[5],
sao không trích lục?
Đáp:
[Chú ấy] tiếng Hoa, tiếng Phạn xen tạp,
không có chú thể. Lại chẳng có
xuất xứ, nên tôi bỏ đi.
* Vãng Sanh Tịnh Độ
Thần Chú - 往生淨土神咒
(tỉnh lược)
* Thiện Thiên Nữ Chú (善天女咒)
Nam
mô Phật Đà, nam mô Đạt Ma, nam mô Tăng
Già. Nam mô thất rị ma ha đề tỵ
da, đát nễ dã tha: Ba rị phú lâu na
giá rị, tam mạn đà đạt xá ni, ma
ha tỳ ha la già dế, tam mạn đà tỳ ni
già đế, ma ha ca rị dã. Ba nễ ba ra
ba nễ. Tát rị phạ lật tha. Tam mạn
đà tu bát lê đế. Phú lệ na. A lợi na. Đạt ma
đế. Ma ha tỳ cổ tất đế. Ma ha di lặc
đế. Lâu bá tăng kỳ đế, hê
đế sỉ. Tăng kỳ hê đế, tam
mạn đà a tha. A nậu bà la ni.
南無佛陀。南無達摩。南無僧伽。南無室利。摩訶提鼻耶。怛你也他。波利富樓那遮利。三曼陀達舍尼。摩訶毘訶羅伽帝。三曼陀毘尼伽帝。摩訶迦利野。波禰波囉波禰。薩利嚩栗他。三曼陀修缽黎帝。富隸那。阿利那。達摩帝。摩訶毘鼓畢帝。摩訶彌勒帝。婁簸僧祗帝。醯帝簁。僧祗醯帝。三曼陀阿他。阿㝹婆羅尼。
Hỏi: Chú Phổ Am[6]
và Nhị Phật Chú[7]
vì sao không ghi?
Đáp:
Chân ngôn là lời nói của Phật, Bồ Tát.
Phổ Am là cao tăng đời sau, không có
lý nào nói chú. Nhị Phật Chú
thì tiếng Hoa tiếng Phạn xen tạp, văn
từ quê kệch, đều nên lược bỏ.
* Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - 般若波羅蜜多心經 (tỉnh
lược)
Hỏi:
Bản cũ có hai chữ Ma Ha vì sao lại
bỏ đi?
Đáp:
Cổ bản vốn chẳng có. Trong tám
bộ Bát Nhã[8],
riêng có bộ Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh ba
mươi quyển, được gọi là
Đại Phẩm Bát Nhã.
* Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa (摩訶般若波羅蜜多,ba lần – Nếu là nghi
thức Chúc Thánh thì
liền đọc tiếp theo ngay sau câu này).
Dĩ
thử kinh chú công đức, hồi
hướng Tam Bảo long thiên, tam giới nhạc
độc linh thông, thủ hộ già lam chân tể.
Kỳ phước bảo an bình thiện. Trang
nghiêm hữu vị tiên vong. Phổ nguyện pháp
giới chúng sanh, cộng nhập Tỳ Lô tánh
hải.
以此經咒功德,回向三寶龍天。三界嶽瀆靈聰,守護伽藍真宰。祈福保安平善,莊嚴有位先亡。普願法界眾生,共入毘盧性海。
(Đem
công đức của kinh chú này, hồi
hướng Tam Bảo, trời, rồng, các
vị linh thông trong thế giới, các vị
thánh hiền chân thật thủ hộ già-lam. Mong cầu ban
phước giữ gìn an ổn, bình yên,
tốt lành, trang nghiêm các vị đã mất
có bài vị. Nguyện khắp chúng sanh trong
pháp giới cùng vào trong biển tánh
Tỳ Lô).
* Niệm Phật kệ (tỉnh
lược)
Nam
mô Tây Phương Cực Lạc thế giới
đại từ đại bi A Di Đà Phật.
Hỏi: Bản cũ có chữ “tam thập
lục vạn ức” [trước danh hiệu A
Di Đà Phật], sao nay không ghi?
Đáp: Tương truyền đấy là do
đức Phật dạy một cụ già
niệm Phật để niệm ít mà công
nhiều, nhưng khảo cứu trong Đại
Tạng chẳng thấy. Nếu cho rằng
niệm ít công nhiều, sao không dùng “số
bằng hằng sa A-tăng-kỳ” sẽ
càng nhiều hơn ư? Hơn nữa, ngài
Bách Trượng dạy nghi thức niệm
Phật cho vị tăng bị bệnh hay đã
mất, đều giống như kinh văn trên đây,
chẳng có từ ngữ “tam thập
lục” v.v…
Nam
mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nam
mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ
Tát
(mỗi danh xưng mười lượt).
* Hồi hướng văn - 回向文 (sẽ chép
đầy đủ trong phần Biệt Tập)
Người thích
đơn giản thì dùng bài Tiểu Tịnh
Độ Văn của ngài Từ Vân.
Người thích tường tận thì dùng
bài Tân Định Tây Phương Nguyện Văn.
1.2.1.2.
Khóa tụng buổi tối
* Phật Thuyết A Di
Đà Kinh - 佛說阿彌陀經 (tỉnh
lược)
Hỏi: Bản
hiện thời sau “nhất tâm bất loạn”
có thêm bốn câu “chuyên trì danh hiệu”, nay sao
chẳng dùng?
Đáp:
Tương truyền bản kinh khắc trên đá
tại Tương Dương có đoạn ấy,
nhưng xét kỹ, nghĩa lý chẳng thông,
đoạn trước và đoạn sau không
phù hợp, chắc là lời của
người chú giải kinh vậy, loại bỏ
là đúng!
* Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng
Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ
Đà La Ni
(拔一切業障根本得生淨土陀羅尼)
Tức Vãng Sanh Chú, xem trong đoạn
trước.
* Sám Hối Văn - 懺悔文 (tức Hồng Danh Bảo
Sám, tỉnh lược)
* Mông Sơn Thí Thực Nghi (蒙山施食儀)[9]
Nhược
nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật.
Ưng quán pháp giới tánh, nhất
thiết duy tâm tạo.
若人欲了知, 三世一切佛,應觀法界性,一切惟心造。
(Nếu ai muốn biết rõ, ba đời
hết thảy Phật. Nên quán tánh pháp
giới, hết thảy chỉ tâm tạo).
(Từ
đây, trở đi mỗi bài đều
đọc ba lượt).
Án,
già la đế da, sa bà ha (chân ngôn phá
địa ngục).
唵,伽羅帝耶,娑婆訶。
Nam
mô bộ bộ dế rị già rị đá,
rị đát đá nga đá da (chân ngôn
phổ triệu thỉnh).
南無部部帝唎伽哩哆。哩怛哆誐哆耶。
Án, tam đà ra già đà, sa
bà ha (chân ngôn giải oan
kết).
唵,三陀囉伽陀,娑婆訶。
Nam
mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh.
Nam mô thường trụ
thập phương Phật.
Nam mô
thường trụ thập phương Pháp.
Nam mô thường trụ
thập phương Tăng.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm
Bồ Tát.
Nam mô Minh Dương Cứu
Khổ Địa Tạng Vương Bồ Tát.
Nam mô Khải Giáo A Nan Đà
tôn giả.
南無大方廣佛華嚴經。
南無常住十方佛。
南無常住十方法。
南無常住十方僧。
南無本師釋迦牟尼佛。
南無大悲觀世音菩薩。
南無冥陽救苦地藏王菩薩。
南無啟教阿難陀尊者。
Quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tăng. Quy y Phật lưỡng túc tôn. Quy y
Pháp ly dục tôn. Quy y Tăng chúng trung tôn. Quy y
Phật cánh, quy y Pháp cánh, quy y Tăng cánh.
歸依佛。歸依法。歸依僧。歸依佛兩足尊。歸依法離欲尊。歸依僧眾中尊。歸依佛竟。歸依法竟。歸依僧竟。
Phật tử sở tạo
chư ác nghiệp, giai do vô thỉ tham,
sân, si, tùng thân ngữ ý chi sở sanh.
Nhất thiết ngã kim giai sám hối.
佛子所造諸惡業。皆繇無始貪瞋癡。從身語意之所生。 一切我今皆懺悔。
(Phật tử trót tạo các nghiệp
ác, đều do vô thỉ tham, sân, si. Từ thân,
miệng, ý phát sanh ra. Hết thảy con nay
đều sám hối).
Chúng sanh vô biên thệ nguyện
độ. Phiền não vô
tận thệ nguyện đoạn. Pháp môn vô
lượng thệ nguyện học, Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Tự tánh chúng sanh thệ nguyện độ,
tự tánh phiền não thệ nguyện
đoạn. Tự tánh pháp môn thệ nguyện
học, tự tánh Phật đạo thệ
nguyện thành.
眾生無邊誓願度,煩惱無盡誓願斷,法門無量誓願學,佛道無上誓願成。自性眾生誓願度,自性煩惱誓願斷,自性法門誓願學,自性佛道誓願成。
Án, bát ra mạt lân
đà nĩnh, sa bà ha (chân ngôn diệt
định nghiệp).
唵。缽羅末鄰陀𩕳。娑婆訶。
Án, a lỗ lặc kế, sa
bà ha (chân ngôn diệt nghiệp chướng).
唵。阿魯勒繼。莎婆訶。
Án, bộ bộ để rị già
đá rị đát đá nga đá da (chân ngôn mở
yết hầu).
唵。步步底哩伽哆哩怛哆誐哆耶。
Án, tam muội da tát
đỏa phạm (chân ngôn Tam Muội Da Giới).
唵。三昧耶。薩埵梵。
Hỏi: Có kết ấn tam-muội đúng
không?
Đáp: Có ấn tam-muội-da, đây là
chân ngôn. Miệng niệm chân ngôn, tay kết ấn.
Nam mô tát phạ đát tha
nga đa, phạ rô chỉ đế. Án, tam bạt ra,
tam bạt ra hồng (chân ngôn biến thức ăn).
南無薩嚩怛他誐哆。嚩嚕枳帝。唵。三跋囉。三跋囉吽。
Nam mô tô rô bà da, đát tha nga
đá da. Đát điệt tha. Án, tô rô tô rô,
bát ra tô rô, bát ra tô rô, sa bà ha (chân ngôn cam lộ
thủy).
南無蘇嚕婆耶。怛他誐哆耶。怛姪他。唵。蘇嚕蘇嚕。缽囉蘇嚕。缽囉蘇嚕。莎婆訶。
Án, vãm[10]
vãm vãm vãm vãm (chân ngôn Nhất
Tự Thủy Luân).
唵。錽錽錽錽錽。
Nam mô tam mãn đa, một
đà nẫm, án vãm (chân ngôn biển
sữa).
南無三滿哆。沒馱喃。唵錽。
Nam mô Đa Bảo Như Lai.
Nam mô Bảo Thắng Như Lai.
Nam mô Diệu Sắc Thân Như
Lai.
Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai.
Nam mô Ly Bố Úy Như Lai.
Nam mô Cam Lộ Vương Như
Lai.
Nam mô A Di Đà Như Lai.
南無多寶如來。
南無寶勝如來。
南無妙色身如來。
南無廣博身如來。
南無離怖畏如來。
南無甘露王如來。
南無阿彌陀如來。
Thần chú gia trì tịnh
pháp thực, phổ thí hà sa chúng
Phật tử. Nguyện giai bảo mãn xả xan
tham, tốc thoát u minh sanh Tịnh Độ. Quy y Tam
Bảo phát Bồ Đề, cứu cánh
đắc thành vô thượng đạo. Công
đức vô biên tận vị lai, nhất thiết
Phật tử đồng pháp thực.
神咒加持淨法食,普施河沙眾佛子,願皆飽滿捨慳貪,速脫幽冥生淨土。皈依三寶發菩提,究竟得成無上道,功德無邊盡未來,一切佛子同法食。
(Thần chú gia trì pháp thực
sạch, thí trọn Phật tử cát sông
Hằng. Nguyện đều no đủ, bỏ keo
tham, mau thoát u minh, sanh Tịnh Độ. Quy y Tam
Bảo phát Bồ Đề, rốt ráo
được thành vô thượng đạo.
Công đức vô biên tột vị lai, hết thảy
Phật tử hưởng pháp thực).
Hỏi: Trong bản cũ, đối với “tịnh
pháp thực”, có thêm “pháp thí
thực” và “cam lộ thủy” [khi
đọc trong hai lần sau], đối với
chữ “Phật tử” cũng thêm “hữu
tình” và “cô hồn”, nay sao chẳng
dùng? ‘
Đáp: Cổ bản vốn chẳng có. “Tịnh
pháp” thì đã trọn đủ hai loại
kia (pháp thí và cam lộ thủy), “Phật
tử” ắt bao gồm hai loại sau! Huống
hồ trong văn Du Già Diệm Khẩu Thí
Thực, chỉ nói “Phật tử”,
nhưng chúng sanh đều được gộp
trong ấy. Nếu cho rằng “Phật tử”
chỉ thuộc về người xuất gia,
ắt phải nói kèm hai loại kia thì
cớ sao nói “hết thảy hàm linh
đều có Phật tánh”?
Nhữ đẳng Phật
tử chúng, ngã kim thí nhữ cúng.
Thử thực biến thập phương,
nhất thiết Phật tử cộng. Nguyện
dĩ thử công đức, phổ cập ư
nhất thiết, ngã đẳng dữ
chúng sanh, giai cộng thành Phật đạo.
汝等佛子眾,我今施汝供,此食遍十方,一切佛子共。願以此功德,普及於一切,我等與眾生,皆共成佛道。
(Này Phật tử các vị, tôi nay
cúng thí rồi. Thức ăn trọn
mười phương, hết thảy Phật
tử hưởng. Nguyện cho công đức
này, cùng trọn khắp hết thảy,
chúng tôi cùng chúng sanh, đều cùng
thành Phật đạo).
Án, mục lực lăng, sa
bà ha (chân ngôn thí thực không ngăn ngại).
唵。穆力陵。娑婆訶。
Án, nga nga nẵng tam bà
phạ phạt nhật ra hộc.
唵。誐誐曩三婆嚩伐日囉斛。
(Đọc chân ngôn Phổ Cúng Dường
xong, đọc Tâm Kinh một biến, chú Vãng Sanh
ba lượt).
Án, sa ma ra, sa ma ra, di ma
nẵng, tát cáp ra, ma ha tát cáp ra
hồng (chân ngôn phổ hồi hướng).
唵。娑摩囉。娑摩囉。彌摩曩。薩哈囉。摩訶咱哈囉吽。
Nguyện trú cát
tường, dạ cát tường. Trú
dạ lục thời hằng cát
tường. Nhất thiết thời
trung cát tường giả. Nguyện chư
thượng sư ai nhiếp thọ (lần
thứ hai thì đọc là “Tam Bảo ai
nhiếp thọ”, lần thứ ba là “hộ
pháp thường ủng hộ”).
願晝吉祥夜吉祥,晝夜六時恒吉祥。一切時中吉祥者。願諸上師哀攝受。
(Nguyện ngày
an lành, đêm an lành. Đêm ngày sáu
thời thường an lành. Trong hết
thảy thời đều an lành. Nguyện các
thượng sư thương nhiếp thọ).
Tứ sanh đăng ư
bảo địa, tam hữu thác hóa liên
trì. Hà sa ngạ quỷ chứng tam hiền,
vạn loại hữu tình đăng thập
địa.
四生登於寶地,三有托化蓮池,河沙餓鬼證三賢,萬類有情登十地。
(Tứ sanh ngự lên đất báu. Ba
cõi gởi thân ao sen. Hà sa ngạ quỷ
chứng tam hiền, muôn loại hữu tình lên
thập địa).
* Niệm Phật hồi hướng - 念佛回向 (chép
đầy đủ trong phần Biệt Tập)
Người thích đơn giản
hoặc tường tận tùy ý, giống
như phần trên.
* Tam Quy Y - 三皈依 (tỉnh lược)
* Thiện Đạo đại sư dạy nhập
quán lúc sắp ngủ
(善導和尚示臨睡入觀文)
“Người tu
Tịnh Độ hễ muốn nhập quán và
lúc sắp ngủ, hãy nhất tâm chắp
tay, hướng thẳng mặt về Tây, hoặc
là ngồi, hoặc đứng, hoặc
quỳ, niệm mười câu A Di Đà, Quán
Âm Thế Chí, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng xong,
phát nguyện rằng:
-
Đệ tử… hiện thị sanh tử phàm
phu, tội chướng thâm trọng, luân hồi lục
đạo, khổ bất khả ngôn. Kim ngộ tri thức,
đắc văn Di Đà danh hiệu, bổn nguyện
công đức, nhất tâm xưng niệm, cầu nguyện
vãng sanh. Nguyện Phật từ bi bất xả, ai
liên nhiếp thọ. Đệ tử… bất thức
Phật thân, tướng hảo, quang minh, nguyện
Phật thị hiện, linh ngã đắc kiến,
cập kiến Quán Âm, Thế Chí, chư Bồ
Tát chúng, bỉ thế giới trung thanh tịnh
trang nghiêm, quang minh diệu tướng đẳng,
linh ngã liễu liễu đắc kiến.
(Đệ tử… đang là phàm phu sanh
tử, tội chướng sâu nặng, luân hồi
lục đạo, khổ chẳng thể nói. Nay
gặp tri thức, được nghe Di Đà
danh hiệu, bổn nguyện, công đức, một
dạ xưng niệm, cầu nguyện vãng sanh. Nguyện
Phật từ bi chẳng bỏ, xót thương
nhiếp thọ. Đệ tử… chẳng biết thân
Phật, tướng hảo, quang minh, nguyện
Phật thị hiện cho con được thấy,
và thấy Quán Âm, Thế Chí, các vị
Bồ Tát, các tướng trang nghiêm thanh
tịnh, diệu tướng quang minh v.v… trong thế
giới ấy, khiến cho được thấy
rõ ràng).
Phát
nguyện xong, chánh niệm nhập quán,
hoặc ngủ. Hãy chánh niệm mà ngủ,
chớ nên nói tạp nhạp, chớ nên
nghĩ tạp nhạp, hoặc có phát
nguyện chân chánh liền được trông
thấy, hoặc có khi được thấy
trong mộng. Chỉ cần chuyên
chí, ắt được như nguyện”.
Thiện
Đạo đại sư được
cổ nhân xưng tụng là hóa thân của A Di
Đà, người tu Tịnh Độ rất nên
tin sâu bài nguyện văn này. Hãy cẩn thận,
đừng vì tạm thời chẳng
có hiệu nghiệm mà vội bỏ bê,
lười nhác. Hãy chú trọng hành
trì dài lâu, ắt công tu Tịnh Độ
chẳng uổng phí vậy!
1.2.2.
Biệt tập
1.2.2.1. Kinh
Hỏi: Vì sao trong Đại Tạng Kinh chỉ
chọn lấy mấy chương này?
Đáp:
Do chọn lấy phần trọng yếu, khiến cho
kẻ không có sức xem rộng toàn bộ
bản kinh sẽ dễ thọ trì.
* Hoa Nghiêm Hạnh Nguyện Phẩm Chương (華嚴行願品章)
Nhất
giả, lễ kính chư Phật. Nhị giả xưng
tán Như Lai. Tam giả, quảng tu cúng
dường. Tứ giả, sám hối nghiệp
chướng. Ngũ giả, tùy hỷ công
đức. Lục giả, thỉnh chuyển pháp luân.
Thất giả, thỉnh Phật trụ thế. Bát
giả, thường tùy Phật học. Cửu
giả, hằng thuận chúng sanh. Thập giả, phổ
giai hồi hướng. Nguyện ngã lâm dục
mạng chung thời. Tận trừ nhất thiết
chư chướng ngại. Diện kiến bỉ
Phật A Di Đà, tức đắc vãng sanh An
Lạc sát. Ngã ký vãng sanh bỉ quốc dĩ,
hiện tiền thành tựu thử đại nguyện.
Nhất thiết viên măn tận vô dư, lợi lạc nhất thiết chúng sanh giới. Bỉ
Phật chúng hội hàm thanh tịnh, ngã thời
ư thắng liên hoa sanh, thân đổ Như Lai Vô
Lượng Quang, hiện tiền thọ ngã Bồ
Đề ký. Mông bỉ Như Lai thọ ký dĩ,
hóa thân vô số bách câu-chi. Trí lực quảng đại
biến thập phương, phổ lợi nhất
thiết chúng sanh giới. Nãi chí hư không thế giới
tận, chúng sanh cập nghiệp phiền năo tận,
như thị nhất thiết vô tận thời.
Ngã nguyện cứu cánh hằng vô tận.
Ngã thử Phổ Hiền thù thắng
hạnh. Vô biên thắng phước giai hồi hướng,
phổ nguyện trầm nịch chư chúng sanh, tốc
vãng Vô Lượng Quang Phật sát.
一者、禮敬諸佛;二者、稱讚如來;三者、廣修供養;四者、懺悔業障;五者、隨喜功德;六者、請轉法輪;七者、請佛住世;八者、常隨佛學;九者、恒順眾生;十者、普皆迴向。願我臨欲命終時,盡除一切諸障礙,面見彼佛阿彌陀, 即得往生安樂剎。我既往生彼國已, 現前成就此大願,一切圓滿盡無餘,利樂一切眾生界。彼佛眾會咸清淨,我時於勝蓮華生,親睹如來無量光,現前授我菩提記。蒙彼如來授記已,化身無數百俱胝,智力廣大遍十方,普利一切眾生界,乃至虛空世界盡,眾生及業煩惱盡,如是一切無盡時,我願究竟恒無盡。我此普賢殊勝行,無邊勝福皆迴向,普願沉溺諸眾生, 速往無量光佛剎。
(Một là lễ kính chư Phật. Hai là ca
ngợi Như Lai. Ba là rộng tu cúng
dường. Bốn là sám
hối nghiệp
chướng. Năm là tùy hỷ công
đức. Sáu là thỉnh chuyển pháp luân.
Bảy là thỉnh đức Phật ở
lại đời. Tám là thường
học theo Phật. Chín là luôn tùy thuận
chúng sanh. Mười là đều hồi
hướng trọn khắp. Nguyện con lúc
sắp mạng chấm dứt, trừ sạch
hết thảy các chướng ngại. Tận
mặt thấy Phật A Di Đà, liền
được vãng sanh cõi An Lạc. Con
đã vãng sanh nước ấy rồi, hiện
tiền thành tựu đại nguyện này. Hết
thảy viên măn chẳng thừa sót. Lợi
lạc hết thảy chúng sanh giới. Chúng
hội Phật ấy đều thanh tịnh. Con sanh trong
hoa sen thù thắng, được thấy
Như Lai Vô Lượng Quang, hiện tiền thọ
ký con Bồ Đề. Đã được
Như Lai thọ ký rồi, hóa thân vô số trăm
câu-chi[11].
Trí lực rộng lớn khắp mười
phương, lợi khắp hết thảy
chúng sanh giới. Cho đến hư không thế giới
tận, chúng sanh và nghiệp phiền năo tận. Khi
hết thảy như thế vô tận, nguyện con
rốt ráo luôn vô tận. Hạnh Phổ Hiền
thù thắng của con, vô biên phước
quý đều hồi hướng. Nguyện
khắp chúng sanh đang chìm đắm, mau
về cõi Phật Vô Lượng Quang).
Đoạn kinh văn này trích lược
trước, trích lấy phần trọng yếu,
tức
là “mười đại nguyện vương
hướng dẫn về Cực Lạc”.
Hỏi: Vì sao đối với kinh Hoa Nghiêm chỉ
riêng chọn phần này?
Đáp: Điều này có hai ý:
- Một là chọn lấy phần trọng
yếu như đã nói trên đây.
- Hai là chính vì muốn nêu tỏ
đức Phổ Hiền chính là
trưởng tử trong Hoa Nghiêm, đã nhập
cảnh giới giải thoát chẳng thể
nghĩ bàn, trọn đủ vô tận hạnh môn,
mà cũng cầu sanh Tịnh Độ, huống hồ
những người khác!
Hơn nữa,
phẩm Hạnh Nguyện, Phạm Hạnh và Tịnh
Hạnh đều được khắc in
toàn bộ, lưu truyền trong thế gian.
* Lăng Nghiêm Thế
Chí Bồ Tát Niệm Phật Chương
(楞嚴勢至菩薩念佛章)
Đại Thế
Chí pháp vương tử dữ kỳ
đồng luân ngũ thập nhị Bồ Tát,
tức tùng ṭa khởi, đảnh lễ Phật
túc, nhi bạch Phật ngôn: - Ngã ức văng tích Hằng
hà sa kiếp, hữu Phật xuất thế, danh Vô
Lượng Quang, thập nhị Như Lai tương
kế nhất kiếp. Kỳ tối hậu Phật, danh
Siêu Nhật Nguyệt Quang. Bỉ Phật giáo ngã Niệm
Phật tam muội. Thí như hữu nhân, nhất
chuyên vi ức, nhất nhân chuyên vong. Như thị nhị
nhân nhược phùng bất phùng, hoặc kiến phi kiến.
Nhị nhân tương ức, nhị
ức niệm thâm. Như thị nãi chí
tùng sanh chí sanh, đồng ư hình ảnh,
bất tương quai dị. Thập phương Như
Lai liên niệm chúng sanh, như mẫu ức tử.
Nhược tử đào thệ, tuy ức
hà vi? Tử nhược ức mẫu,
như mẫu ức thời, mẫu tử lịch
sanh, bất tương vi viễn. Nhược chúng sanh
tâm, ức Phật, niệm Phật, hiện tiền
đương lai, tất định kiến Phật,
khứ Phật bất viễn, bất giả
phương tiện, tự đắc tâm khai. Như nhiễm
hương nhân, thân hữu hương khí. Thử
tắc danh viết Hương Quang Trang Nghiêm. Ngã
bổn nhân địa, dĩ niệm Phật tâm, nhập
Vô Sanh Nhẫn, kim ư thử giới, nhiếp niệm
Phật nhân, quy ư Tịnh Độ. Phật vấn Viên
Thông, ngã vô tuyển trạch, đô nhiếp lục
căn, tịnh niệm tương kế, đắc
tam-ma-địa, tư vi đệ nhất.
大勢至法王子,與其同倫五十二菩薩,即從座起,頂禮佛足,而白佛言:我憶往昔恒河沙劫,有佛出世,名無量光,十二如來相繼一劫,其最後佛,名超日月光,彼佛教我念佛三昧。譬如有人,一專為憶,一人專忘,如是二人,若逢不逢,或見非見,二人相憶,二憶念深,如是乃至從生至生,同於形影,不相乖異。十方如來,憐念眾生,如母憶子,若子逃逝,雖憶何為?子若憶母,如母憶時,母子歷生,不相違遠。若眾生心,憶佛念佛,現前當來,必定見佛,去佛不遠,不假方便,自得心開。如染香人,身有香氣,此則名曰香光莊嚴。我本因地,以念佛心,入無生忍;今於此界,攝念佛人,歸於淨土。佛問圓通,我無選擇,都攝六根,淨念相繼,得三摩地,斯為第一。
(Đại Thế Chí
pháp vương tử cùng với
những người đồng hàng là
năm mươi hai vị Bồ Tát liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
dưới chân đức Phật, mà bạch
Phật rằng:
- Con nhớ xưa
kia nhiều kiếp như cát sông Hằng, có
Phật xuất thế, tên là Vô Lượng Quang.
Mười hai vị Như Lai nối tiếp nhau
[xuất thế] trong một kiếp. Vị Phật
cuối cùng tên là Siêu Nhật Nguyệt Quang. Vị
Phật ấy dạy con Niệm Phật tam-muội.
Ví như có người, một
người chuyên nhớ, một người
chuyên quên. Hai người như thế dù có
gặp mà cũng như chẳng gặp,
hoặc có thấy mà cũng như
chẳng thấy. Hai người như thế
nghĩ nhớ nhau, hai cái tâm nhớ sâu xa,
như thế từ đời này sang
đời khác, giống như hình với
bóng, chẳng hề trái nghịch, sai khác.
Mười phương Như Lai nghĩ thương
xót chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con
bỏ trốn, mẹ dẫu nhớ có ích
gì? Nếu con nhớ mẹ như khi mẹ
nhớ con, mẹ con trải qua nhiều
đời, chẳng xa cách nhau. Nếu tâm
chúng sanh nhớ Phật, hiện tiền,
tương lai, nhất định thấy Phật,
cách Phật chẳng xa, chẳng nhờ
vào phương tiện, tâm tự khơi
mở. Như người nhuốm mùi
hương, thân có mùi thơm. Đó gọi
là Hương Quang Trang Nghiêm. Nhân địa vốn
sẵn có của con là dùng cái tâm
niệm Phật để nhập Vô Sanh Nhẫn; nay trong
cõi này, nhiếp người niệm Phật
trở về Tịnh Độ. Phật hỏi
pháp viên thông, con chẳng chọn lựa, nhiếp
trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối,
đắc tam-ma-địa. Đấy là bậc
nhất).
* Quán Vô
Lượng Thọ Phật Kinh Thượng Phẩm
Thượng Sanh Chương
(觀無量壽佛經上品上生章)
Phật cáo A Nan cập
Vi Đề Hy: - Thượng phẩm thượng sanh
giả, nhược hữu chúng sanh nguyện sanh bỉ
quốc giả, phát tam chủng tâm, tức tiện
vãng sanh. Hà đẳng vi tam? Nhất giả,
chí thành tâm; nhị giả, thâm tâm; tam giả, hồi
hướng phát nguyện tâm. Cụ tam tâm giả, tất
sanh bỉ quốc. Phục hữu tam chủng chúng sanh
đương đắc vãng sanh. Hà
đẳng vi tam? Nhất giả, từ tâm bất sát,
cụ chư giới hạnh; nhị giả, độc
tụng Đại Thừa, Phương
Đẳng kinh điển; tam giả, tu hành lục niệm,
hồi hướng phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc.
Cụ thử công đức, nhất nhật nãi
chí thất nhật tức đắc vãng sanh. Sanh
bỉ quốc thời, thử nhân tinh tấn
dũng mănh cố, A Di Đà Như Lai dữ Quán
Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số hóa Phật,
bách thiên tỳ-kheo, Thanh Văn đại chúng, vô lượng
chư thiên, thất bảo cung điện. Quán Thế
Âm Bồ Tát chấp kim cang đài, dữ Đại
Thế Chí Bồ Tát chí hành giả tiền. A
Di Đà Phật phóng đại quang minh chiếu hành giả
thân, dữ chư Bồ Tát thọ thủ nghênh
tiếp. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, dữ
vô số Bồ Tát tán thán hành giả, khuyến tấn
kỳ tâm. Hành giả kiến dĩ, hoan hỷ dũng
dược, tự kiến kỳ thân thừa kim cang
đài, tùy tùng Phật hậu, như đàn
chỉ khoảnh, vãng sanh bỉ quốc. Sanh bỉ quốc
dĩ, kiến Phật sắc thân chúng tướng
cụ túc, kiến chư Bồ Tát sắc
tướng cụ túc, quang minh bảo lâm diễn
thuyết diệu pháp. Văn dĩ tức ngộ Vô Sanh
Pháp Nhẫn, kinh tu du gian, lịch sự chư
Phật biến thập phương giới. Ư chư
Phật tiền, thứ đệ thọ ký, hoàn
chí bổn quốc, đắc vô lượng bách
thiên đà la ni môn. Thị danh thượng phẩm thượng
sanh giả.
佛告阿難及韋提希:上品上生者,若有眾生願生彼國者,發三種心即便往生。何等為三?一者、至誠心;二者、深心;三者、迴向發願心。具三心者必生彼國。復有三種眾生當得往生。何等為三?一者、慈心不殺具諸戒行;二者、讀誦大乘方等經典;三者、修行六念,迴向發願願生彼國。具此功德,一日乃至七日即得往生。生彼國時,此人精進勇猛故,阿彌陀如來與觀世音、大勢至、無數化佛、百千比丘、聲聞大眾、無量諸天七寶宮殿,觀世音菩薩執金剛臺,與大勢至菩薩至行者前,阿彌陀佛放大光明照行者身,與諸菩薩授手迎接,觀世音、大勢至與無數菩薩讚歎行者勸進其心。行者見已歡喜踴躍,自見其身乘金剛臺隨從佛後,如彈指頃往生彼國。生彼國已,見佛色身眾相具足,見諸菩薩色相具足,光明寶林演說妙法,聞已即悟無生法忍,經須臾間歷事諸佛遍十方界,於諸佛前次第受記還至本國,得無量百千陀羅尼門,是名上品上生者。
(Đức
Phật bảo A Nan và Vi Đề
Hy:
- Thượng phẩm
thượng sanh là nếu có chúng sanh
nguyện sanh về cõi ấy, phát ba loại tâm,
liền được vãng sanh. Những gì
là ba? Một là chí thành tâm; hai là thâm tâm; ba
là hồi hướng phát nguyện tâm. Có
đủ ba tâm, ắt sanh về cõi ấy. Lại
có ba loại chúng sanh sẽ được
vãng sanh. Những gì là ba? Một là
từ tâm chẳng giết, đầy đủ
các giới hạnh; hai là đọc tụng
kinh điển Đại Thừa, Phương
Đẳng; ba là tu hành lục niệm, hồi
hướng phát nguyện, nguyện sanh về cõi
ấy. Trọn đủ công đức ấy,
từ một ngày cho tới bảy ngày,
liền được vãng sanh. Khi sanh về
cõi ấy, người đó do tinh tấn
dũng mănh, A Di Đà Như Lai và Quán Thế
Âm, Đại Thế Chí, vô số hóa Phật, trăm
ngàn tỳ-kheo, Thanh Văn đại chúng, vô lượng
chư thiên, cung điện bảy
báu. Quán Thế Âm Bồ Tát cầm đài
kim cang, cùng với Đại Thế Chí Bồ
Tát đến trước hành giả. A Di
Đà Phật phóng quang minh lớn chiếu vào
thân hành giả, cùng các vị Bồ Tát
xòe tay nghênh tiếp. Quán Thế Âm, Đại
Thế Chí, và vô số Bồ Tát tán thán hành giả,
khuyến tấn tâm người ấy. Hành giả
thấy rồi, hoan hỷ, hớn hở,
tự thấy thân mình nương đài kim
cang, theo sau đức Phật, chỉ trong khoảng
khảy ngón tay, sanh về cõi ấy. Đã sanh
trong cõi ấy rồi, thấy sắc thân Phật
các tướng đầy đủ, thấy
các Bồ Tát sắc tướng
đầy đủ, quang minh, rừng báu diễn
nói diệu pháp. Nghe xong liền ngộ Vô Sanh Pháp
Nhẫn, trải qua khoảnh khắc, phụng
sự chư Phật trọn khắp các
cõi nước trong mười phương.
Ở trước chư Phật, theo thứ
tự được thọ ký, trở
về cõi mình, đắc vô lượng trăm
ngàn đà-la-ni môn. Đó
gọi là thượng phẩm thượng sanh).
* Vô Lượng Thọ
Kinh Tứ Thập Bát Nguyện
(tức cổ bản Đại A Di Đà Kinh)
Thiết ngã
đắc Phật, quốc hữu địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh giả, bất thủ
Chánh Giác (nguyện thứ nhất:
Trong nước không có ba đường
ác).
設我得佛,國有地獄、餓鬼、畜生者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
trong nước có địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh, tôi chẳng giữ lấy ngôi
Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân thọ chung chi
hậu, phục cánh tam ác đạo giả,
bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ hai: Chẳng còn sanh trong ác
đạo).
設我得佛,國中天人壽終之後,復更三惡道者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
trời, người trong nước sau khi
hết tuổi thọ, lại sanh trong ác đạo,
tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất tất
chân kim sắc giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ ba: Mỗi người đều
đạt được thân màu vàng ròng).
設我得佛,國中天人不悉真金色者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật
mà trời người trong nước
chẳng đều thân màu vàng ròng, tôi
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân hình
sắc bất đồng, hữu hảo xú
giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ tư: Hình sắc chẳng có
đẹp hay xấu).
設我得佛,國中天人形色不同,有好醜者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật
mà trời người trong nước
hình sắc khác nhau, có kẻ xấu
người đẹp, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất thức
Túc
Mạng,
hạ chí tri bách thiên ức na-do-tha chư kiếp
sự giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ năm: Người sanh về
cõi ấy đều đắc Túc Mạng
Thông).
設我得佛,國中天人不識宿命,下至知百千億那由他諸劫事者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật mà trời người trong
nước chẳng đều biết Túc Mạng, tối
thiểu là biết chuyện trong trăm ngàn
ức na-do-tha[12]
các kiếp, tôi chẳng giữ lấy ngôi
Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất
đắc Thiên Nhăn, hạ chí kiến bách thiên ức
na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ
Chánh Giác (nguyện thứ sáu:
Đều được Thiên Nhãn thấy thấu
suốt).
設我得佛,國中天人不得天眼,下至見百千億那由他諸佛國者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật
mà trời người trong nước
chẳng đều đắc Thiên Nhãn, tối
thiểu là thấy trăm ngàn ức na-do-tha
các cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất
đắc Thiên Nhĩ, hạ chí văn bách
thiên ức na-do-tha chư Phật sở thuyết bất
đắc thọ trì giả, bất thủ
Chánh Giác (nguyện thứ bảy:
Đều được Thiên Nhĩ nghe thấu
suốt).
設我得佛,國中天人不得天耳,下至聞百千億那由他諸佛所說不得受持者,不取正覺。
(Nếu
tôi thành Phật mà trời người trong
nước chẳng đều đắc Thiên
Nhĩ, tối thiểu là nghe trăm ngàn
ức na-do-tha chư Phật dạy bảo mà
chẳng được thọ trì, tôi
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất
đắc kiến tha tâm trí, hạ chí tri bách
thiên ức na-do-tha chư Phật quốc trung chúng sanh tâm niệm
giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ tám: Đều biết tâm niệm của
người khác).
設我得佛,國中天人不得見他心智,下至知百千億那由他諸佛國中眾生心念者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật mà trời người trong
nước chẳng đều biết tâm trí
của người khác, tối thiểu là tâm
niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức
na-do-tha cõi Phật, tôi chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất
đắc Thần Túc, ư nhất niệm khoảnh
hạ chí bất năng siêu quá bách thiên ức
na-do-tha chư Phật quốc giả, bất thủ
Chánh Giác (nguyện thứ chín:
Đều được thần túc phi hành).
設我得佛,國中天人不得神足,於一念頃下至不能超過百千億那由他諸佛國者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật
mà trời người trong nước
chẳng đạt được Thần Túc,
trong khoảng một niệm, tối thiểu là
chẳng thể vượt qua trăm ngàn
ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân
nhược khởi tưởng niệm tham kế thân
giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ mười: Chẳng khởi
kiến chấp tham đắm cái thân).
設我得佛,國中天人若起想念貪計身者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật mà nếu trời người trong
nước khởi ý niệm tham chấp
cái thân thì tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất trụ
Định Tụ,
tất chí Diệt Độ giả, bất thủ
Chánh Giác (nguyện
thứ mười một: Chánh Định
sẽ đạt đến Niết Bàn).
設我得佛,國中天人不住定聚,必至滅度者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật
mà trời người trong nước
chẳng trụ trong Định Tụ, ắt
đạt đến Diệt
Độ, tôi
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quang minh hữu hạn lượng,
hạ chí bất chiếu bách thiên ức na-do-tha
chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh
Giác (nguyện thứ mười hai:
Quang minh chiếu trọn khắp mười
phương).
設我得佛光明有限量,下至不照百千億那由他諸佛國者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật
mà quang minh có hạn lượng, tối
thiểu chẳng chiếu trăm ngàn ức
na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, thọ mạng hữu hạn
lượng, hạ chí bách thiên ức na-do-tha kiếp
giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ mười ba: Thọ mạng vĩnh cửu
giống như Phật).
設我得佛,壽命有限量,下至百千億那由他劫者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật mà thọ mạng có hạn
lượng, tối thiểu là trăm ngàn
ức na-do-tha kiếp, thì tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Thanh Văn hữu
năng kế lượng, nãi chí tam thiên đại
thiên thế giới chúng sanh tất thành Duyên Giác, ư
bách thiên kiếp tất cộng kế giảo, tri
kỳ số giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ mười bốn: Thanh Văn
rộng nhiều vô lượng).
設我得佛,國中聲聞有能計量,乃至三千大千世界眾生悉成緣覺,於百千劫悉共計較,知其數者不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật
mà Thanh Văn trong nước
có người có
thể tính đếm, cho tới chúng sanh trong tam thiên đại thiên thế
giới đều thành Duyên Giác,
trong trăm ngàn kiếp đều cùng nhau tính
toán, so sánh, biết được số
ấy, thì tôi chẳng giữ lấy ngôi
Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân thọ
mạng vô năng hạn lượng, trừ kỳ
bổn nguyện, tu đoản tự tại.
Nhược bất nhĩ giả, bất thủ
Chánh Giác (nguyện thứ
mười lăm: Thọ mạng dài ngắn
tùy ý).
設我得佛,國中天人壽命無能限量,除其本願,修短自在。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
thọ mạng của trời, người trong
nước chẳng thể hạn
lượng, ngoại trừ do bổn nguyện mà
dài hay ngắn tự tại. Nếu
chẳng như vậy, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân nãi chí
văn hữu bất
thiện danh giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ mười sáu: Trong nước không
có danh xưng bất thiện).
設我得佛,國中天人乃至聞有不善名者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật
mà trời người trong nước
thậm chí nghe có
danh xưng bất thiện thì tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, thập phương thế giới,
vô lượng chư Phật, bất tất tư ta
xưng ngã danh giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ mười bảy: Chư
Phật xưng danh, tán thán).
設我得佛,十方世界,無量諸佛,不悉咨嗟,稱我名者,不取正覺。
(Nếu
tôi thành Phật mà vô lượng chư
Phật trong mười phương thế
giới chẳng nắc nỏm xưng tụng
danh hiệu của tôi, thì tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, thập phương chúng sanh
chí tâm tín nhạo dục sanh ngã quốc,
nãi chí thập niệm, nhược bất sanh
giả, bất thủ Chánh Giác; duy trừ ngũ
nghịch, phỉ báng chánh pháp (nguyện
thứ mười tám: Mười niệm
đều sanh về nước ta).
設我得佛,十方眾生至心信樂欲生我國,乃至十念,若不生者,不取正覺;唯除五逆、誹謗正法。
(Nếu
tôi thành Phật, mười phương chúng
sanh chí tâm tin ưa, muốn sanh về cõi tôi,
thậm chí mười niệm mà nếu
chẳng sanh về, tôi sẽ chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác, chỉ trừ kẻ
ngũ nghịch, phỉ báng chánh pháp).
Thiết ngã
đắc Phật, thập phương chúng sanh phát
Bồ Đề tâm, tu chư công đức, chí tâm phát
nguyện dục sanh ngã quốc, lâm thọ chung
thời, giả linh bất dữ đại
chúng vi nhiễu, hiện kỳ nhân tiền giả, bất
thủ Chánh Giác
(nguyện thứ mười chín: Siêng tu
thì ta đều tiếp dẫn).
設我得佛,十方眾生發菩提心修諸功德,至心發願欲生我國,臨壽終時,假令不與大眾圍遶現其人前者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
mười phương chúng sanh phát Bồ
Đề tâm, tu các công đức, chí tâm
phát nguyện, muốn sanh về cõi tôi, khi thọ
mạng sắp hết, giả sử tôi
chẳng cùng đại chúng vây quanh, hiện ra
trước mặt người ấy, thì
tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, thập phương chúng sanh văn
ngã danh hiệu, hệ niệm ngã quốc, thực
chủng đức bổn, chí tâm hồi hướng
dục sanh ngã quốc, bất quả toại giả,
bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ hai mươi: Hệ niệm ắt
được vãng sanh).
設我得佛,十方眾生聞我名號,繫念我國植種德本,至心迴向欲生我國,不果遂者不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, mười phương chúng sanh nghe danh
hiệu của tôi, nghĩ nhớ chắc
chắn cõi tôi, gieo trồng cội đức,
chí tâm hồi hướng nguyện sanh về
cõi tôi, mà chẳng được toại
nguyện, thì tôi chẳng giữ lấy ngôi
Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân bất tất
thành măn tam thập nhị đại nhân tướng
giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ hai mươi mốt: Ai nấy
đều trọn đủ ba mươi hai
tướng).
設我得佛,國中天人不悉成滿三十二大人相者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, trời, người trong nước
không đều thành tựu trọn vẹn ba
mươi hai tướng đại nhân, thì tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, tha phương Phật độ
chư Bồ Tát chúng lai sanh ngã quốc, cứu
cánh tất chí Nhất Sanh Bổ Xứ, trừ
kỳ bổn nguyện tự tại sở hóa,
vị chúng sanh cố, bị hoằng thệ khải, tích
lũy đức bổn, độ thoát nhất
thiết, du chư Phật quốc, tu Bồ Tát
hạnh, cúng dường thập phương
chư Phật Như Lai, khai hóa hằng sa vô lượng
chúng sanh, sử lập vô thượng chánh chân chi
đạo, siêu xuất thường luân chư
địa chi hạnh, hiện tiền tu tập Phổ
Hiền chi đức. Nhược bất nhĩ
giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ hai mươi hai: Bồ Tát
Nhất Sanh Bổ Xứ).
設我得佛,他方佛土諸菩薩眾來生我國,究竟必至一生補處,除其本願自在所化,為眾生故被弘誓鎧,積累德本度脫一切,遊諸佛國修菩薩行,供養十方諸佛如來,開化恒沙無量眾生,使立無上正真之道,超出常倫諸地之行,現前修習普賢之德。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
các Bồ Tát trong các cõi Phật
phương khác sanh vào cõi tôi, rốt ráo
ắt đạt đến Nhất Sanh Bổ Xứ,
trừ phi do bổn nguyện tự tại giáo
hóa, vì chúng sanh mà mặc giáp
hoằng thệ, tích lũy cội đức,
độ thoát hết thảy, dạo các cõi
Phật, tu Bồ Tát
hạnh, cúng dường mười
phương chư Phật Như Lai, khai hóa hằng sa vô
lượng chúng sanh, khiến cho họ an lập
nơi đạo vô thượng chánh chân,
vượt thoát hạnh thuộc các
địa vị thông thường, hiện tiền tu
tập đức của Phổ Hiền. Nếu
chẳng phải vậy, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Bồ Tát thừa
Phật thần lực, cúng dường chư
Phật, nhất thực chi khoảnh, bất năng
biến chí vô số vô lượng ức na-do-tha
chư Phật quốc giả, bất thủ Chánh
Giác (nguyện thứ hai mươi ba:
Cùng lúc cúng trọn khắp chư
Phật).
設我得佛,國中菩薩承佛神力供養諸佛,一食之頃不能遍至無數無量億那由他諸佛國者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, các Bồ Tát trong nước
nương vào thần lực của Phật
để cúng dường chư Phật, trong
khoảng một bữa ăn, chẳng thể
đến trọn khắp vô số vô lượng
ức na-do-tha các cõi Phật, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Bồ Tát tại
chư Phật tiền, hiện kỳ đức
bổn, chư sở cầu dục cúng
dường chi cụ, nhược bất như ư
giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ hai mươi bốn: Vật cúng
đều tự được như
ý).
設我得佛,國中菩薩在諸佛前現其德本,諸所求欲供養之具,若不如意者不取正覺。
(Nếu
tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước
ở trước chư Phật, hiện cội
đức của mình, mong cầu các vật
dụng dùng để cúng dường, mà
nếu chẳng như ý, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Bồ Tát bất
năng diễn thuyết Nhất Thiết Trí giả,
bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ hai mươi lăm: Bồ Tát diễn
nói Nhất Thiết Trí).
設我得佛,國中菩薩不能演說一切智者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
Bồ Tát trong nước chẳng thể
diễn nói Nhất Thiết Trí, tôi chẳng
giữ lấy Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Bồ Tát bất
đắc kim cang Na La
Diên thân giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ hai mươi sáu: Bồ Tát đạt
được thân kim cang).
設我得佛,國中菩薩不得金剛那羅延身者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
Bồ Tát trong nước chẳng
được thân kim cang Na
La Diên, tôi
chẳng giữ lấy Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân nhất
thiết vạn vật, nghiêm tịnh quang lệ, hình
sắc thù đặc, cùng vi cực diệu, vô
năng xưng lượng. Kỳ chư chúng sanh nãi
chí đăi đắc thiên nhăn, hữu năng minh
liễu, biện kỳ danh số giả, bất thủ
Chánh Giác (nguyện
thứ hai mươi bảy: Vạn vật đều
thù thắng đặc biệt).
設我得佛,國中天人一切萬物,嚴淨光麗形色殊特,窮微極妙無能稱量,其諸眾生乃至逮得天眼,有能明了辨其名數者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
trời người trong nước, hết
thảy muôn vật trang nghiêm thanh tịnh, sáng
đẹp, hình sắc đặc biệt
thù thắng, vi diệu tột cùng chẳng
thể diễn tả, so lường
được. Các chúng sanh ấy dẫu đã
đắc thiên nhãn, mà có thể hiểu
rõ tên gọi, số lượng [của hết
thảy các vật ấy], tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Bồ Tát nãi
chí thiểu công đức giả, bất năng tri
kiến kỳ đạo tràng thụ vô
lượng quang sắc, cao tứ bách vạn
lý giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ hai mươi tám: Bồ Tát
đều thấy cây đạo tràng).
設我得佛,國中菩薩乃至少功德者,不能知見其道場樹無量光色高四百萬里者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
Bồ Tát trong nước, thậm chí
người ít công đức, chẳng
thể thấy biết cây đạo tràng vô lượng
quang minh, sắc tướng, cao bốn trăm
vạn dặm, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Bồ Tát
nhược thọ độc kinh pháp, phúng tụng
tŕ thuyết, nhi bất đắc biện tài trí
huệ giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ hai mươi chín: Thọ trì
kinh đều đắc trí huệ, biện
tài).
設我得佛,國中菩薩若受讀經法諷誦持說,而不得辯才智慧者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, Bồ Tát trong nước nếu nhận
lãnh, đọc kinh pháp, phúng tụng, gìn
giữ, diễn nói mà chẳng đạt
được biện tài, trí huệ, tôi
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Bồ Tát trí
huệ biện tài nhược khả hạn
lượng giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ ba mươi:
Trí huệ, biện tài chẳng có hạn
lượng).
設我得佛,國中菩薩智慧辯才若可限量者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
Bồ Tát trong nước trí huệ và
biện tài nếu có hạn lượng,
tôi chẳng giữ lấy
Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc độ thanh tịnh, giai
tất chiếu kiến thập phương nhất
thiết vô lượng vô số bất khả tư
nghị chư Phật thế giới, do như minh
kính, đổ kỳ diện tượng.
Nhược bất nhĩ giả, bất thủ
Chánh Giác (nguyện thứ ba
mươi mốt: Cõi nước thanh tịnh soi
thấu mười phương).
設我得佛,國土清淨,皆悉照見十方一切無量無數不可思議諸佛世界,猶如明鏡睹其面像。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
quốc độ thanh tịnh, thảy đều
chiếu thấy hết
thảy vô lượng vô số
chẳng thể nghĩ bàn các thế
giới Phật trong mười phương
giống như soi vào gương sáng thấy rõ
vẻ mặt. Nếu chẳng phải vậy, tôi
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, tự địa dĩ
thượng chí ư hư không, cung điện,
lâu quán, tŕ lưu, hoa thụ, quốc độ
sở hữu nhất thiết vạn vật, giai
dĩ vô lượng tạp bảo, bách thiên chủng
hương nhi cộng hợp thành, nghiêm sức kỳ diệu,
siêu chư thiên nhân. Kỳ hương phổ huân thập
phương thế giới, Bồ Tát văn giả,
giai tu Phật hạnh. Nhược bất như
thị, bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ ba mươi hai: Trang nghiêm vượt xa
trời người).
設我得佛,自地以上至於虛空,宮殿、樓觀、池流、華樹、國土所有一切萬物,皆以無量雜寶、百千種香而共合成,嚴飾奇妙超諸天人,其香普熏十方世界,菩薩聞者皆修佛行;若不如是,不取正覺。
(Nếu
tôi thành Phật, từ mặt đất
trở lên cho đến hư không, cung điện,
lầu gác, ao, suối, cây hoa, tất cả hết
thảy vạn vật trong cõi nước
đều do vô lượng các thứ báu,
trăm ngàn các thứ hương cùng
hợp thành, trang hoàng kỳ diệu,
vượt xa trời, người. Mùi
hương ấy xông trọn khắp mười
phương thế giới, Bồ Tát ngửi
thấy đều tu Phật hạnh. Nếu chẳng
như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi
Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, thập phương vô lượng
bất khả tư nghị chư Phật thế giới
chúng sanh chi loại, mông ngã quang minh
xúc kỳ thân
giả, thân tâm nhu nhuyễn siêu quá thiên nhân.
Nhược bất nhĩ giả, bất thủ
Chánh Giác
(nguyện thứ ba mươi ba: Được
quang minh chạm vào thân liền đạt
được lợi ích).
設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界眾生之類,蒙我光明觸其身者,身心柔軟超過天人。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật, các
loài chúng sanh trong mười phương vô
lượng chẳng thể nghĩ bàn các
thế giới Phật, được quang minh
của tôi chạm vào thân họ, thân tâm họ sẽ
mềm mại vượt xa trời,
người. Nếu chẳng như vậy, tôi
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, thập phương vô lượng
bất khả tư nghị chư Phật thế giới
chúng sanh chi loại, văn ngã danh tự, bất
đắc Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn, chư
thâm tổng trì giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ ba mươi bốn: Đều
đắc Pháp Nhẫn tổng trì).
設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界眾生之類,聞我名字,不得菩薩無生法忍諸深總持者,不取正覺。
(Nếu
tôi thành Phật, các loài chúng sanh trong
mười phương vô lượng chẳng
thể nghĩ bàn các thế giới Phật,
nghe danh tự của tôi mà chẳng
đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn của Bồ Tát,
các tổng trì sâu, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, thập phương vô lượng
bất khả tư nghị chư Phật thế giới,
kỳ hữu nữ nhân văn ngã danh tự,
hoan hỷ tín nhạo, phát Bồ Đề tâm, yếm
ố nữ thân, thọ chung chi hậu, phục vi
nữ tượng giả, bất thủ Chánh
Giác (nguyện thứ
ba mươi lăm: Tin ưa sẽ vĩnh viễn
lìa thân nữ).
設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界,其有女人聞我名字,歡喜信樂,發菩提心,厭惡女身,壽終之後復為女像者,不取正覺。
(Nếu
tôi thành Phật, mười phương vô
lượng chẳng thể nghĩ bàn các
thế giới Phật, có người
nữ nghe danh tự của tôi bèn hoan hỷ,
tin ưa, phát Bồ Đề tâm, chán ghét thân
nữ mà sau khi hết tuổi thọ lại
có hình tướng nữ, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, thập phương vô lượng
bất khả tư nghị chư Phật thế giới
chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, thọ
chung chi hậu, thường tu phạm hạnh chí
thành Phật đạo. Nhược bất
nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ ba mươi sáu: Siêng tu
ắt thành Phật đạo).
設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界諸菩薩眾,聞我名字,壽終之後常修梵行至成佛道。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành Phật,
các vị Bồ Tát trong mười
phương vô lượng chẳng thể nghĩ
bàn các thế giới Phật nghe danh tự
của tôi, sau khi hết tuổi thọ, sẽ
thường tu phạm hạnh cho tới khi
thành Phật đạo. Nếu chẳng như
vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, thập phương vô lượng
bất khả tư nghị chư Phật thế giới
chư thiên nhân dân, văn ngã danh tự, ngũ thể
đầu địa, khể thủ tác lễ, hoan
hỷ, tín nhạo, tu Bồ Tát hạnh, chư
thiên thế nhân mạc bất trí kính.
Nhược bất nhĩ giả, bất thủ
Chánh Giác (nguyện thứ ba
mươi bảy: Quy y cảm động trời,
người).
設我得佛,十方無量不可思議諸佛世界諸天人民,聞我名字,五體投地,稽首作禮,歡喜信樂,修菩薩行,諸天世人莫不致敬。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, chư
thiên, nhân dân trong mười phương vô
lượng chẳng thể nghĩ bàn các
thế giới Phật nghe danh tự của tôi,
năm vóc gieo sát đất, dập đầu
làm lễ, hoan hỷ tin ưa, tu Bồ Tát
hạnh, chư thiên, người đời,
chẳng ai không kính trọng. Nếu chẳng
như vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi
Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân dục đắc
y phục, tùy niệm tức chí, như
Phật sở tán, ứng pháp diệu phục tự nhiên
tại thân. Nhược hữu tài phùng, đảo
nhiễm, hoán trạc giả, bất thủ Chánh
Giác (nguyện thứ ba mươi tám:
Y phục đẹp đẽ tự nhiên nơi thân).
設我得佛,國中天人欲得衣服,隨念即至。如佛所讚,應法妙服自然在身,有求裁縫、擣染、浣濯者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, trời, người trong nước
muốn được y phục, vừa nghĩ
bèn có y phục đẹp đẽ đúng
pháp được chư Phật khen ngợi
tự nhiên khoác trên thân. Nếu phải cắt
may, đập nhuộm, giặt giũ, tôi
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung thiên nhân sở thọ
khoái lạc, bất như lậu tận tỳ-kheo giả,
bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ ba mươi chín: Hưởng
lạc giống như Lậu Tận).
設我得佛,國中天人所受快樂,不如漏盡比丘者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, trời, người trong nước
hưởng sự vui sướng chẳng
như lậu tận tỳ-kheo, tôi chẳng giữ
lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Bồ Tát tùy ư
dục kiến thập phương vô lượng nghiêm tịnh
Phật độ, ứng thời như nguyện,
ư bảo thụ trung, giai tất chiếu kiến, do
như minh kính đổ kiến kỳ diện
tượng. Nhược bất nhĩ giả,
bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ bốn mươi: Tùy ý thấy các
cõi Phật).
設我得佛,國中菩薩隨意欲見十方無量嚴淨佛土,應時如願於寶樹中皆悉照見,猶如明鏡睹見其面像。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, các vị Bồ Tát trong nước
tùy ý muốn thấy vô lượng cõi
Phật trang nghiêm, thanh tịnh trong mười phương,
sẽ ngay lập tức như nguyện, từ
nơi cây báu, thảy đều thấy thấu
suốt, giống như do nơi gương sáng trông
thấy vẻ mặt. Nếu chẳng phải
vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, tha phương quốc độ
chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự,
chí vu đắc Phật, chư căn khuyết lậu,
bất cụ túc giả, bất thủ Chánh
Giác (nguyện thứ bốn mươi
mốt: Nghe danh hiệu Phật, các căn trọn
đủ).
設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字至于得佛,諸根缺陋不具足者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi
nước phương khác
nghe danh tự của tôi, cho đến khi thành
Phật mà các căn thiếu sót, chẳng
đầy đủ, tôi chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, tha phương quốc độ
chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, giai
tất đãi đắc thanh tịnh giải thoát
tam-muội. Trụ thị tam-muội, nhất phát
ý khoảnh, cúng dường vô lượng
bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, nhi
bất thất định ý. Nhược bất
nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ bốn mươi hai: Đều
được thanh tịnh, giải thoát).
設我得佛,他方國土諸菩薩眾聞我名字,皆悉逮得清淨解脫三昧。住是三昧一發意頃,供養無量不可思議諸佛世尊而不失定意。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi
nước ở phương khác nghe danh
tự của tôi, thảy đều đạt được
tam-muội giải thoát thanh tịnh. Trụ trong
tam-muội ấy, trong khoảng vừa phát ý,
bèn cúng dường vô lượng
chẳng thể nghĩ bàn chư Phật Thế
Tôn, nhưng chẳng đánh mất định
ý. Nếu chẳng như vậy, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, tha phương quốc độ
chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, thọ
chung chi hậu, sanh tôn quý gia. Nhược bất
nhĩ giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ bốn mươi ba: Nghe danh hiệu
Phật, sanh vào chỗ tôn quý).
設我得佛,他方國土諸菩薩眾聞我名字,壽終之後生尊貴家。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi
nước ở phương khác nghe danh
tự của tôi, sau khi hết tuổi thọ, sanh vào
nhà tôn quý. Nếu chẳng như vậy, tôi
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, tha phương quốc độ
chư Bồ Tát chúng, văn ngã danh tự, hoan
hỷ, dũng dược, tu Bồ Tát hạnh, cụ
túc đức bổn. Nhược bất nhĩ
giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ bốn mươi bốn: Tu hành
cội đức trọn đủ).
設我得佛,他方國土諸菩薩眾,聞我名字歡喜踊躍,修菩薩行具足德本。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi
nước ở phương khác nghe danh
tự của tôi, hoan hỷ, hớn hở, tu Bồ
Tát hạnh, đầy đủ cội
đức. Nếu chẳng như vậy, tôi
chẳng giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, tha phương quốc độ
chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự, giai tất
đăi đắc Phổ Đẳng tam-muội. Trụ
thị tam-muội chí vu thành Phật, thường kiến
vô lượng bất khả tư nghị nhất
thiết chư Phật. Nhược bất nhĩ
giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ bốn mươi lăm: Đều
đắc tam-muội thấy Phật).
設我得佛,他方國土諸菩薩眾聞我名字,皆悉逮得普等三昧。住是三昧至于成佛,常見無量不可思議一切諸佛。若不爾者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, các vị Bồ Tát trong các cõi
nước ở phương khác nghe danh
tự của tôi, thảy đều đạt được
Phổ Đẳng tam-muội. Trụ trong tam-muội
ấy cho đến khi thành Phật, thường
thấy vô lượng chẳng thể nghĩ bàn
hết thảy chư Phật. Nếu chẳng như
vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, quốc trung Bồ Tát tùy
kỳ chí nguyện, sở dục văn pháp, tự nhiên
đắc văn. Nhược bất nhĩ giả,
bất thủ Chánh Giác (nguyện
thứ bốn mươi sáu: Tự nhiên
được nghe diệu pháp).
設我得佛,國中菩薩隨其志願,所欲聞法自然得聞。若不爾者,不取正覺。
(Nếu
tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước
tùy theo chí nguyện, pháp nào muốn
được nghe bèn tự nhiên
được nghe. Nếu chẳng phải
vậy, tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác).
Thiết ngã
đắc Phật, tha phương quốc độ
chư Bồ Tát chúng văn ngã danh tự,
bất tức đắc chí bất thoái
chuyển giả, bất thủ Chánh Giác
(nguyện thứ bốn mươi bảy: Liền
đạt được địa vị bất
thoái chuyển).
設我得佛,他方國土諸菩薩眾聞我名字,不即得至不退轉者,不取正覺。
(Nếu
tôi thành Phật, các Bồ Tát trong các
cõi nước phương khác nghe danh
tự của tôi, chẳng liền đạt
đến bất thoái chuyển, tôi chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác).
Thiết
ngã đắc Phật, tha phương quốc
độ chư Bồ Tát chúng văn ngã danh
tự, bất tức đắc chí đệ nhất nhẫn, đệ nhị,
đệ tam pháp nhẫn, vu chư Phật pháp, bất năng tức đắc bất
thoái chuyển giả, bất thủ Chánh Giác (nguyện thứ bốn mươi tám:
Liền đạt được các môn Nhẫn
rốt ráo).
設我得佛,他方國土諸菩薩眾聞我名字,不即得至第一忍、第二、第三法忍,于諸佛法不能即得不退轉者,不取正覺。
(Nếu tôi thành
Phật, các Bồ Tát trong các cõi
nước phương khác nghe danh tự
của tôi, chẳng liền đạt
được đệ nhất nhẫn, đệ
nhị, đệ tam pháp nhẫn, đối
với các Phật pháp chẳng thể lập tức
đạt được bất thoái chuyển,
tôi chẳng giữ lấy Chánh Giác).
Bản Đại Di
Đà Kinh được lưu truyền trong
cõi đời do cư sĩ Vương Long Thư
(Vương
Nhật Hưu) dung hội kinh văn từ bốn
bản dịch mà tạo thành. Bốn bản
dịch là:
1) Bản dịch của
ngài Ca Lâu Chi Sấm[13]
đời Hán, tên là Vô Lượng Bình
Đẳng Thanh Tịnh Giác Kinh.
2) Bản dịch của ngài
Khang Tăng Khải[14]
đời Tào Ngụy, tên là Vô Lượng
Thọ Kinh.
3) Bản dịch
của ngài Chi Khiêm[15]
đời Ngô tên là A Di Đà Kinh.
4) Bản dịch
của ngài Pháp Hiền[16]
đời Tống tên là Vô Lượng Thọ
Trang Nghiêm Kinh.
Còn bản dịch
kèm thêm của ngài Bồ Đề Lưu Chí
trong kinh Bảo Tích có tựa đề là
Vô Lượng Thọ Như Lai Hội thì cư
sĩ chưa dùng đến. Cư sĩ hội
tập bốn bản dịch, lời lẽ đơn
giản, nghĩa chu đáo, từ ngữ thông
thuận, lý hiển, quả thật rất hữu
công đối với Tịnh Độ. Tiếc
là trong ấy có những chỗ chưa ổn.
Chẳng hạn như bốn mươi tám
nguyện, bản dịch đời Hán chỉ nêu
ra hai mươi bốn nguyện. Bốn mươi
tám nguyện khởi đầu từ bản
dịch đời Ngụy, hai vị Pháp Hiền
và [Bồ Đề] Lưu Chí cũng giống
như thế. Bản dịch đời Ngô giống
như bản đời Hán, cũng là hai mươi
bốn nguyện. Nhưng bốn mươi tám
nguyện xưa nay được lưu thông,
đương nhiên là nên noi theo bản dịch
đời Ngụy. Hiềm rằng cư sĩ
trần thuật lời nguyện, đem so với
bản dịch đời Ngụy, [thì cư
sĩ] hoặc đem nguyện trước xếp
ra nguyện sau, hoặc đem nguyện sau xếp ra
trước, thứ tự rối ren. Nếu
đem so với ba bản dịch kia, cũng đều
chẳng ứng hợp!
Phàm dịch kinh
ắt phải dựa theo bản tiếng Phạn,
cư sĩ dựa vào bản tiếng Phạn
nào mà đổi thứ tự khác
đi? Theo Lý thì tuy dường như
chẳng trở ngại gì, nhưng đối
với pháp tắc dịch thuật, hết
sức chẳng phù hợp. Hơn
nữa, trong bản dịch đời Ngụy,
đối với ba bậc vãng sanh đều
nói là “phát Bồ Đề tâm”, cư
sĩ lại chỉ ghi trong
bậc trung là có [phát Bồ Đề tâm],
bậc hạ bảo “chẳng phát”, bậc
thượng lại chẳng có lời
văn [nhắc đến chuyện ấy], hoàn
toàn thiếu sót, sai khác, chẳng rõ do
ý gì? [Do vậy, tôi]
dùng bản dịch đời Ngụy sao lại
để đem khắc in, ngõ hầu
người đời sau biết có cổ
văn tồn tại. Cư sĩ thần thức ngao
du tịnh vực, thân đã nhập dòng
thánh, ắt là tâm
đã quên, lòng rỗng rang chẳng ngại,
kẻ hèn này do lòng trung khẩn thiết, mong
hãy xét cho!
* Chương Quán
Phổ Hiền trong kinh Quán Phổ Hiền Bồ
Tát
(觀普賢菩薩經普賢觀章)
Hữu nhất
Bồ Tát, kết già phu tọa, danh viết
Phổ Hiền, thân bạch ngọc sắc. Ngũ
thập chủng quang. Quang ngũ thập chủng
sắc, dĩ vi hạng quang. Thân chư mao khổng,
lưu xuất kim quang. Kỳ kim quang đoan, vô lượng
hóa Phật. Chư hóa Bồ Tát, dĩ vi quyến
thuộc. An tường từ bộ, vũ đại
bảo hoa, chí hành giả tiền. Kỳ
tượng khai khẩu, ư tượng nha
thượng, chư tŕ ngọc nữ, cổ nhạc huyền
ca. Kỳ thanh vi diệu, tán thán Đại Thừa,
Nhất Thật chi đạo. Hành giả kiến dĩ,
hoan hỷ kính lễ. Phục cánh độc tụng,
thậm thâm kinh điển, biến lễ thập
phương, vô lượng chư Phật. Lễ Đa
Bảo Phật tháp, cập Thích Ca Mâu Ni, diệc lễ
Phổ Hiền, chư đại Bồ Tát, phát
thị thệ nguyện: “Nhược ngã túc
phước, ưng kiến Phổ Hiền. Nguyện
tôn giả Biến Cát, thị ngã sắc thân”.
有一菩薩,結跏趺坐,名曰普賢,身白玉色。五十種光,光五十種色,以為項光。身諸毛孔,流出金光,其金光端,無量化佛。諸化菩薩,以為眷屬,安庠徐步,雨大寶華,至行者前。其象開口,於象牙上,諸池玉女,鼓樂絃歌,其聲微妙,讚歎大乘,一實之道。行者見已,歡喜敬禮。復更讀誦,甚深經典,遍禮十方,無量諸佛,禮多寶佛塔,及釋迦牟尼,并禮普賢,諸大菩薩,發是誓願:若我宿福,應見普賢,願尊者遍吉,示我色身。
(Có một Bồ Tát,
ngồi kết già phu. Tên là Phổ Hiền. Thân
màu bạch ngọc. Năm mươi loại quang.
Quang năm mươi loại sắc, để
làm quang minh, chiếu sáng quanh cổ. Chân lông nơi
thân, tỏa ánh sáng vàng. Chót mỗi kim
quang, vô lượng hóa Phật. Các hóa Bồ
Tát, để làm quyến thuộc. An
tường, chậm bước, mưa hoa báu
lớn, đến trước hành giả. Con
voi há miệng. Ở trên ngà voi, có các
ngọc nữ, trong ao trên ngà, tấu nhạc,
đàn ca. Âm thanh vi diệu, tán thán Đại
Thừa, và đạo Nhất Thật. Hành
giả đã thấy, hoan hỷ kính lễ. Lại
còn đọc tụng kinh điển rất sâu,
lễ khắp mười phương, vô lượng
chư Phật. Lễ tháp Đa Bảo Phật, và
Thích Ca Mâu Ni, cũng lễ Phổ Hiền, các
đại Bồ Tát, phát thệ nguyện này: “Do
phước xưa của con, phải nên thấy
Phổ Hiền. Nguyện tôn giả Biến Cát,
hiện sắc thân cho con”).
* Phẩm Không trong kinh
Kim Quang Minh[17]
(金光明經空品)
Vô lượng
dư kinh, dĩ quảng thuyết Không. Thị cố
thử trung, lược nhi giải thuyết.
Chúng sanh căn độn, tiển ư trí huệ,
bất năng quảng tri, vô lượng Không nghĩa.
Cố thử tôn kinh, lược nhi thuyết chi.
Dị diệu phương tiện, chủng chủng nhân
duyên. Vị độn căn cố, khởi đại bi
tâm. Ngã kim diễn thuyết, thử diệu kinh
điển. Như ngã sở giải, tri chúng sanh ư.
Thị thân hư ngụy, do như không tụ. Lục
nhập thôn lạc, kết tặc sở chỉ,
nhất thiết tự tại, các bất tương
tri. Nhãn căn thọ sắc, nhĩ phân biệt
thanh, tỵ khứu chư hương, thiệt thị
ư vị. Sở hữu thân căn, tham thọ
chư xúc. Ý căn phân biệt, nhất thiết
chư pháp. Lục tình chư căn, các các
tự duyên, chư trần cảnh giới, bất
hành tha duyên. Tâm như huyễn hóa, trì sính
lục tình, nhi thường vọng tưởng,
phân biệt chư pháp. Do như thế nhân, trì tẩu
không tụ. Lục tặc sở hại, ngu bất
tri tỵ. Tâm thường y chỉ, lục căn cảnh
giới, các các tự tri, sở tý chi
xứ. Tùy hành sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tâm xử lục
tình, như điểu đầu võng. Kỳ tâm
tại tại, thường xử chư căn, tùy trục chư trần,
vô hữu tạm xả. Thân không hư ngụy, bất khả trưởng dưỡng. Vô hữu tránh tụng,
diệc vô chánh chủ. Tùng chư nhân duyên, hòa
hợp nhi hữu, vô hữu kiên thật, vọng
tưởng cố khởi. Nghiệp lực cơ quan, giả
ngụy không tụ. Địa, thủy, hỏa, phong, hợp
tập thành lập. Tùy thời tăng
giảm, cộng tương tàn hại. Do như
tứ xà, đồng xử nhất khiếp. Tứ
đại nguyên xà, kỳ tánh các dị, nhị
thượng, nhị hạ,
chư phương diệc nhị. Như thị xà đại,
tất diệt vô dư. Địa thủy nhị xà,
kỳ tánh trầm hạ. Phong hỏa nhị xà,
tánh khinh thượng thăng. Tâm thức
nhị tánh, tháo động bất đình. Tùy
nghiệp thọ báo, nhân thiên chư thú, tùy
sở tác nghiệp, nhi đọa chư
hữu. Thủy, hỏa, phong chủng, tán diệt
hoại thời, đại tiểu bất tịnh,
doanh lưu ư ngoại. Thể sanh chư trùng, bất
khả ái nhạo. Quyên khí trủng gian, như
hủ bại mộc. Thiện nữ đương
quán, chư pháp như thị, hà xứ
hữu nhân, cập dĩ chúng sanh? Bổn tánh không
tịch, vô minh cố hữu. Như thị chư
đại, nhất nhất bất thật. Bổn tự
bất hữu, tánh vô hòa hợp. Dĩ
thị nhân duyên, ngã thuyết chư đại,
tùng bổn bất thật, hòa hợp nhi
hữu, vô minh thể tướng, bổn
tự bất hữu. Vọng tưởng nhân duyên,
hòa hợp nhi hữu. Vô sở hữu
cố, giả danh vô minh. Thị cố ngã thuyết,
danh viết vô minh. Hành, thức, danh sắc, lục
nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử sầu năo, chúng khổ hạnh nghiệp, bất
khả tư nghị. Sanh tử vô tế, luân chuyển
bất tức. Bổn vô hữu sanh, diệc vô
hòa hợp. Bất thiện tư duy, tâm hành
sở tạo, ngã đoạn nhất thiết,
chư kiến phược đẳng. Dĩ trí
huệ đao, liệt phiền năo vơng. Ngũ ấm
xá trạch, quán tất không tịch, chứng vô
thượng đạo. Vi diệu công đức, khai cam lộ
môn, thị cam lộ khí, nhập cam lộ thành, xử cam lộ
thất, linh chư chúng sanh, thực cam lộ vị. Xuy
đại pháp loa, kích đại pháp cổ,
nhiên đại pháp cự, vũ thắng pháp
vũ. Ngã kim tồi phục, nhất thiết oán kết,
thụ lập đệ nhất, vi diệu pháp tràng. Độ
chư chúng sanh, ư sanh tử hải, vĩnh đoạn
tam ác. Vô lượng khổ năo, phiền não xí
nhiên, thiêu chư chúng sanh, vô hữu cứu hộ. Vô
sở y chỉ. Ngã dĩ cam lộ, thanh lương
mỹ vị, sung túc thị bối, linh ly tiêu nhiệt.
Ư vô lượng kiếp, tuân tu chư hạnh, cúng
dường cung kính, chư Phật Thế Tôn. Kiên cố
tu tập, Bồ Đề chi đạo, cầu ư
Như Lai, chân thật Pháp Thân. Xả chư sở
trọng, chi tiết thủ túc, đầu mục
tủy não, sở ái thê tử. Tiền
tài trân bảo, chân châu, anh lạc, kim, ngân, lưu ly,
chủng chủng dị vật.
無量餘經,已廣說空,是故此中,略而解說。眾生根鈍,尟於智慧,不能廣知,無量空義。故此尊經,略而說之,異妙方便,種種因緣。為鈍根故,起大悲心,我今演說,此妙經典。如我所解,知眾生意,是身虛偽,猶如空聚。六入村落,結賊所止,一切自在,各不相知。眼根受色,耳分別聲,鼻臭諸香,舌嗜於味。所有身根,貪受諸觸,意根分別,一切諸法。六情諸根,各各自緣,諸塵境界,不行他緣。心如幻化,馳騁六情,而常妄想,分別諸法。猶如世人,馳走空聚,六賊所害,愚不知避。心常依止,六根境界,各各自知,所伺之處。隨行色、聲、香、味、觸、法,心處六情,如鳥投網。其心在在,常處諸根,隨逐諸塵,無有暫捨。身空虛偽,不可長養,無有諍訟,亦無正主。從諸因緣,和合而有,無有堅實,妄想故起。業力機關,假偽空聚,地水火風,合集成立。隨時增減,共相殘害,猶如四蛇,同處一篋。四大蚖蛇,其性各異,二上二下,諸方亦二。如是蛇大,悉滅無餘。地水二蛇,其性沉下,風火二蛇,性輕上升。心識二性,躁動不停。隨業受報,人天諸趣,隨所作業,而墮諸有。水火風種,散滅壞時,大小不淨,盈流於外。體生諸蟲,無可愛樂,捐棄塚間,如朽敗木。善女當觀,諸法如是,何處有人,及以眾生?本性空寂,無明故有,如是諸大,一一不實。本自不有,性無和合,以是因緣,我說諸大。從本不實,和合而有,無明體相,本自不有。妄想因緣,和合而有,無所有故,假名無明。是故我說,名曰無明、行、識、名色、六入、觸、受、愛、取、有、生、老死愁惱,眾苦行業,不可思議。生死無際,輪轉不息,本無有生,亦無和合。不善思惟,心行所造,我斷一切,諸見纏等。以智慧刀,裂煩惱網,五陰舍宅,觀悉空寂。證無上道,微妙功德,開甘露門,示甘露器。入甘露城,處甘露室,令諸眾生食甘露味。吹大法螺,擊大法鼓,然大法炬,雨勝法雨。我今摧伏,一切怨結,豎立第一,微妙法幢。度諸眾生,於生死海,永斷三惡,無量苦惱。煩惱熾然,燒諸眾生,無有救護,無所依止。我以甘露,清涼美味,充足是輩,令離焦熱。於無量劫,遵修諸行,供養恭敬,諸佛世尊。堅固修習,菩提之道,求於如來,真實法身。捨諸所重,肢節手足,頭目髓腦,所愛妻子,錢財珍寶,真珠瓔珞,金銀琉璃,種種異物。
(Vô
lượng kinh khác, đã rộng nói Không.
Vì thế ở đây, giải nói đại
lược. Chúng sanh căn độn, trí huệ
kém cỏi, chẳng thể rộng biết, vô
lượng nghĩa Không. Nên tôn kinh này, sẽ
nói đại lược. Phương tiện
diệu lạ, các loại nhân duyên. Do vì độn
căn, khởi tâm đại bi. Tôi nay diễn nói,
kinh điển mầu nhiệm. Như tôi đã
hiểu, biết ý chúng sanh. Thân này hư ngụy,
giống như xóm trống. Thôn làng Lục Nhập, giặc
kết sử ở. Hết thảy tự tại,
đều chẳng biết nhau. Nhãn căn nhận
sắc, tai phân biệt tiếng, mũi ngửi
các mùi, lưỡi thì nếm vị.
Tất cả thân căn, tham nhận các xúc. Ý
căn phân biệt, hết thảy các pháp. Lục
tình các căn, mỗi mỗi tự duyên,
các trần cảnh giới, chẳng duyên theo
khác. Tâm như huyễn hóa, rong ruổi lục
tình, mà thường vọng tưởng, phân
biệt các pháp. Giống như người
đời, rảo chạy thôn trống. Bị sáu
giặc hại, ngu chẳng biết tránh. Tâm
thường nương cậy, cảnh giới
sáu căn, mỗi mỗi tự biết. Nơi
họ tìm cầu, đi theo sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp. Tâm trong lục tình, như
chim sa lưới. Tâm ở mọi nơi,
thường trong các căn, theo đuổi các
trần, chẳng hề tạm bỏ. Thân rỗng,
hư ngụy, chớ nên trưởng
dưỡng. Chẳng có tranh cãi, cũng
chẳng có chủ. Từ các nhân duyên,
hòa hợp mà có. Chẳng hề
chắc chắn, do vọng tưởng khởi.
Nghiệp lực điều khiển, giả ngụy
tụ tập. Đất, nước, gió,
lửa, kết hợp thành lập. Tùy
thời tăng giảm, tàn hại lẫn nhau.
Như bốn con rắn, trong cùng một tráp.
Rắn độc tứ đại, mỗi con
khác tánh, hai trên, hai dưới. Các
phương cũng khác. Rắn tứ đại
ấy, ắt diệt chẳng sót. Hai
rắn đất, nước, tánh chúng
trầm xuống. Hai rắn gió, lửa.
Tánh nhẹ, thăng lên. Hai tánh tâm, thức, lao
xao chẳng ngừng. Theo nghiệp thọ báo.
Các đường trời, người,
theo nghiệp đã tạo, đọa trong các
cõi. Thủy, hỏa, phong chủng, khi tan diệt
hoại. Đại tiểu bất tịnh, chảy
tràn ra ngoài. Thân sanh các trùng, chẳng
thể ưa thích. Vứt bỏ nơi mồ,
như gỗ mục nát. Thiện nữ nên
quán: Các pháp như thế, chỗ nào
có người, cùng với chúng sanh?
Bổn tánh không tịch, vô minh nên có. Các
đại như vậy, mỗi mỗi chẳng
thật. Vốn tự chẳng có, tánh chẳng
hòa hợp. Do nhân duyên ấy, tôi nói các
đại, chẳng thật từ gốc, hòa
hợp mà có. Thể tướng vô minh,
vốn tự chẳng có. Nhân duyên vọng
tưởng, hòa hợp mà có. Do vô
sở hữu, giả gọi vô minh. Vì thế,
tôi nói: Gọi là vô minh, hành, thức, danh
sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ,
hữu, sanh, lão, tử sầu
năo, các hạnh nghiệp khổ, chẳng thể
nghĩ bàn! Sanh tử khôn ngằn, luân chuyển
chẳng ngơi. Vốn chẳng có sanh,
cũng chẳng hòa hợp. Tư duy
chẳng lành, do tâm hành tạo. Ta đoạn
hết thảy, các kiến phược thảy.
Dùng đao trí huệ, xé lưới
phiền não. Nhà cửa Ngũ Ấm, quán
đều không tịch, chứng vô thượng
đạo. Công đức vi diệu. Mở
cửa cam lộ, bày đồ cam lộ, vào
thành cam lộ, ở nhà cam lộ, khiến
các chúng sanh, ăn vị cam lộ. Thổi ốc
pháp lớn, gióng trống pháp lớn.
Đốt đuốc pháp lớn, tuôn mưa
thắng pháp. Ta nay dẹp tan, hết thảy
oán kết. Tạo lập pháp tràng, vi diệu
bậc nhất. Độ các chúng sanh, trong
biển sanh tử, mãi đoạn ba ác. Vô
lượng khổ năo, phiền não cháy
hừng, đốt các chúng sanh, chẳng ai
cứu hộ. Không nơi nương tựa. Ta
dùng cam lộ, vị ngon, trong mát, khiến họ
no đủ, khiến lìa nóng cháy. Trong vô
lượng kiếp, tuân tu các hạnh, cúng
dường cung kính, chư Phật Thế Tôn. Kiên cố
tu tập, nơi đạo Bồ Đề. Cầu
đức Như Lai, chân thật Pháp Thân. Bỏ
điều quý trọng, lóng đốt, chân tay,
đầu, mắt, tủy, não, vợ con yêu
mến. Tiền tài, của báu, chân châu, anh lạc,
vàng, bạc, lưu ly, các thứ vật
lạ).
* Chương Bồ
Tát Giới Phát Thệ Nguyện của kinh
Phạm Võng
(梵網經菩薩戒發誓願章)
Nhược Phật tử!
Thường ưng phát nhất thiết nguyện: “Hiếu
thuận phụ mẫu, sư tăng, nguyện
đắc hảo sư, đồng học, thiện
tri thức, thường giáo ngã Đại
Thừa kinh luật, thập phát thú, thập
trưởng dưỡng, thập kim cang, thập địa,
sử ngã khai giải, như pháp tu hành, kiên tŕ Phật
giới; ninh xả thân mạng, niệm niệm bất khứ tâm”.
Nhược nhất thiết Bồ Tát bất
phát thị nguyện giả, phạm khinh cấu tội.
Nhược Phật tử! Phát thị thập đại
nguyện dĩ, tŕ Phật cấm giới, tác thị
nguyện ngôn: “Ninh dĩ thử thân, đầu xí nhiên mănh hỏa,
đại khanh, đao sơn, chung bất hủy phạm
tam thế chư Phật kinh luật, dữ nhất
thiết nữ nhân tác bất tịnh hạnh”. Phục
tác thị nguyện: “Ninh dĩ nhiệt thiết la
vơng thiên trùng châu táp triền thân, chung bất thủ
dĩ thử phá giới chi thân thọ ư
tín tâm đàn việt nhất thiết y phục”.
Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ thử
khẩu thôn nhiệt thiết hoàn cập đại
lưu mãnh hỏa kinh bách thiên kiếp, chung bất
dĩ thử phá giới chi khẩu thực
ư tín tâm đàn việt bách vị ẩm thực”.
Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ thử thân
ngọa đại lưu mănh hỏa la vơng nhiệt thiết
địa thượng, chung bất dĩ thử
phá giới chi thân thọ ư tín tâm
đàn việt bách chủng sàng ṭa”. Phục
tác thị nguyện: “Ninh dĩ thử thân thọ tam bách mâu thích thân kinh nhất
kiếp, nhị kiếp, chung bất dĩ thử
phá giới chi thân thọ ư tín tâm
đàn việt bách vị y dược”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ
thử thân đầu nhiệt thiết hoạch, kinh
bách thiên kiếp, chung bất dĩ thử phá
giới chi thân
thọ ư tín tâm đàn việt thiên chủng
pḥng xá, ốc trạch, viên lâm, điền địa”.
Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ thiết chùy
đả toái thử thân, tùng đầu
chí túc, linh như vi trần, chung bất dĩ
thử phá giới chi thân thọ ư tín
tâm đàn việt cung kính lễ bái”. Phục tác
thị nguyện: “Ninh dĩ bách thiên nhiệt thiết
đao mâu khiêu kỳ lưỡng mục, chung bất
dĩ thử phá giới chi tâm thị tha
hảo sắc”. Phục tác thị nguyện: “Ninh
dĩ bách thiên thiết chùy sàm thích nhĩ
căn, kinh nhất kiếp, nhị kiếp, chung bất
dĩ thử phá giới chi tâm thính hảo âm
thanh”. Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ bách
thiên nhận đao cát khử kỳ tỵ, chung
bất dĩ thử phá giới chi tâm tham khứu
chư hương”. Phục tác thị nguyện: “Ninh
dĩ bách thiên nhận đao cát đoạn
kỳ thiệt, chung bất dĩ thử phá
giới chi tâm thực nhân bách vị tịnh thực”.
Phục tác thị nguyện: “Ninh dĩ lợi phủ
trảm phá kỳ thân, chung bất dĩ thử phá
giới chi tâm tham trước hảo xúc”. Phục
tác thị nguyện: “Nguyện nhất thiết chúng
sanh tất đắc thành Phật”, nhi Bồ Tát
nhược
bất phát thị nguyện giả, phạm khinh cấu
tội.
若佛子!常應發一切願:「孝順父母、師僧,願得好師、同學、善知識,常教我大乘經律,十發趣、十長養、十金剛、十地,使我開解,如法修行,堅持佛戒;寧捨身命,念念不去心。」若一切菩薩不發是願者,犯輕垢罪。若佛子!發是十大願已,持佛禁戒,作是願言:「寧以此身投熾然猛火、大坑、刀山,終不毀犯三世諸佛經律,與一切女人作不淨行。」復作是願:「寧以熱鐵羅網千重周匝纏身,終不以此破戒之身受於信心檀越一切衣服。」復作是願:「寧以此口吞熱鐵丸及大流猛火經百千劫,終不以此破戒之口食於信心檀越百味飲食。」復作是願:「寧以此身臥大流猛火羅網熱鐵地上,終不以此破戒之身受於信心檀越百種床座。」復作是願:「寧以此身受三百矛刺身經一劫、二劫,終不以此破戒之身受於信心檀越百味醫藥。」復作是願:「寧以此身投熱鐵鑊,經百千劫,終不以此破戒之身受於信心檀越千種房舍、屋宅、園林、田地。」復作是願:「寧以鐵鎚打碎此身,從頭至足令如微塵,終不以此破戒之身受於信心檀越恭敬禮拜。」復作是願:「寧以百千熱鐵刀矛挑其兩目,終不以此破戒之心視他好色。」復作是願:「寧以百千鐵錐劖刺耳根,經一劫、二劫,終不以此破戒之心聽好音聲。」復作是願:「寧以百千刃刀割去其鼻,終不以此破戒之心貪嗅諸香。」復作是願:「寧以百千刃刀割斷其舌,終不以此破戒之心食人百味淨食。」復作是願:「寧以利斧斬破其身,終不以此破戒之心貪著好觸。」復作是願:「願一切眾生悉得成佛。」而菩薩若不發是願者,犯輕垢罪。
(Nếu
là Phật tử, hãy thường nên phát
hết thảy nguyện: “Hiếu thuận cha mẹ,
sư tăng, nguyện được thầy, bạn
học, thiện tri thức tốt đẹp, thường
dạy tôi kinh luận Đại Thừa,
mười phát thú[18],
mười trưởng dưỡng[19],
mười kim cang[20],
thập địa, khiến cho tôi khai giải, đúng
như pháp tu hành, giữ vững Phật giới.
Thà xả thân mạng, niệm nào cũng
chẳng bỏ cái tâm ấy”. Nếu hết
thảy Bồ Tát chẳng phát nguyện
ấy, sẽ phạm tội khinh cấu. Nếu Phật
tử phát mười đại nguyện
ấy xong, giữ giới cấm của Phật,
nguyện như thế này: “Thà đem thân này gieo
vào lửa mạnh cháy hừng hực,
hố to, núi đao, trọn chẳng hủy
phạm kinh luật của hết thảy chư Phật ba đời,
cùng với hết thảy nữ nhân làm
hạnh bất tịnh”. Lại nguyện như thế
này: “Thà dùng ngàn tầng lưới
rập bằng sắt nóng trói kín quanh
thân, trọn chẳng dùng thân phá giới
này để nhận hết thảy y phục của
tín tâm đàn việt”. Lại nguyện như
thế này: “Thà dùng miệng này nuốt
hòn sắt nóng và bị lửa táp
dữ dội trải trăm ngàn kiếp, trọn
chẳng dùng miệng phá giới này
để ăn thức ăn trăm vị của
tín tâm đàn việt”. Lại nguyện như
thế này: “Thà đem thân này nằm trên
mặt đất bằng sắt nóng,
lưới chăng lửa táp dữ
dội, trọn chẳng dùng thân phá
giới này để nhận trăm loại
giường tòa của tín tâm đàn
việt”. Lại nguyện như thế này: “Thà
đem thân này chịu ba trăm ngọn mâu đâm
vào thân trải một kiếp, hai kiếp, trọn chẳng
dùng thân phá giới này để nhận
thuốc men trăm vị của tín tâm đàn
việt”. Lại nguyện như thế này: “Thà
đem thân này gieo vào chảo nóng trải
trăm ngàn kiếp, trọn chẳng dùng thân
phá giới này để nhận ngàn
loại pḥng ở, nhà cửa, vườn
rừng, ruộng đất của tín tâm
đàn việt”. Lại nguyện như thế
này: “Thà dùng búa sắt đập
nát thân này, từ đầu đến chân
như vi trần, trọn chẳng dùng thân phá
giới này để nhận sự cung
kính lễ bái của tín tâm đàn
việt”. Lại nguyện như thế này: “Thà
dùng trăm ngàn đao hoặc mâu bén
bằng sắt nóng khoét bỏ hai
mắt, trọn chẳng dùng tâm phá
giới này để nhìn sắc
đẹp của kẻ khác”. Lại nguyện như
thế này: “Thà dùng trăm ngàn dùi
sắt đâm nát nhĩ căn, trải một
kiếp, hai kiếp, trọn chẳng dùng tâm
phá giới này để nghe âm thanh đáng
ưa”. Lại nguyện như thế này: “Thà
dùng trăm ngàn đao bén cắt bỏ
cái mũi, trọn chẳng dùng tâm phá
giới này để tham
ngửi các mùi”. Lại
nguyện như thế này: “Thà dùng trăm
ngàn đao bén cắt đứt cái
lưỡi, trọn chẳng dùng tâm phá
giới để ăn thức ăn thanh tịnh
trăm vị của người khác”. Lại
nguyện như thế này: “Thà dùng búa bén
chặt nát tấm thân, trọn chẳng
dùng tâm phá giới này để tham
đắm cảm xúc tốt đẹp”. Lại
nguyện như thế này: “Nguyện hết thảy
chúng sanh đều được thành Phật”, Bồ
Tát nếu chẳng phát các nguyện
ấy, sẽ phạm tội khinh cấu).
Hỏi:
Kim Cang Toản được xưng tụng là
công đức rất lớn, vì sao không
trích lục?
Đáp:
Do là sách
ngụy tạo, lại gây hại
lớn. Sách ấy nói: “Tụng lời
tóm tắt này hơn tụng kinh Kim Cang ba
mươi vạn lượt”. Nếu kẻ ngu tin
vào lời ấy, sẽ cho rằng
chẳng cần phải tụng nhiều quyển [kinh
Kim Cang], chỉ dùng một lời tóm
tắt ấy cho xong trách nhiệm, há
chẳng phải hãm người khác
vào địa ngục ư? Còn như [các
ngụy kinh như] Phân Châu, Cao Vương, Diệu Sa,
Huyết Bồn, Thọ Sanh, đủ loại bịa
đặt, đều chẳng đáng tin!
Hỏi: Cao vương
tụng kinh miễn nạn, truyện ký đã
chép, vì sao là ngụy?
Đáp: Phải nên
là Cao vương tụng Quán Âm Phổ Môn Phẩm.
Người đời sau chẳng thông
đạt, ngoa truyền thành ngụy kinh, gọi riêng
là Cao Vương đó thôi!
2.2.2. Chú
* Phật Đảnh
Tôn Thắng Đại Đà Ra Ni (佛頂尊勝大陀羅尼)
(Kinh Tôn Thắng
có năm bản dịch[21],
chú [ghi trong các bản dịch ấy] cũng
đại đồng tiểu dị; đây là một
bản. Cõi đời gọi là Tôn
Thắng Chân Ngôn để xướng vịnh.
Chú này được truyền thừa,
trì tụng; về sau được thêm “ám,
phổ long” (Aum, Bhrum) v.v… Pháp sư Hộ Chân
đã từng nêu câu hỏi với đại
sư. Đại sư nói: “Nên dùng bản
được ghi trong Đại Tạng làm
chánh”. Nay ghi thêm vào).
Nam mô bạc già phạt đế,
điệt rị lô chỉ dã, bát lạt để,
tỳ thất sắt trá dã. Bột đà
dã. Bạc già phạt đế, đát điệt tha:
Án, tỳ thâu đà dã, táp ma tam mạn đa, a
bà bà, sa táp phấn ra noa, yết để
cứ. Hát na tỏa bà bà, tỳ thú thê, a
tỳ sân giả đổ mạn, tô yết đa, bạt
ra bạt giả na, a mật lật đa, bệ sư
kế a. Hát ra a, hát ra a, dũ san đà lạt
nễ, thâu đà dã, thâu đà dã, già già na, tỳ
thú thê, ô sắt nị sa tỳ thệ dã thú thê,
sách ha tát ra, hát lạt thấp mi, san châu địa
đế, tát bà đát tha yết đa, a địa sắt
sá na, a địa sắt sỉ đá một điệt
lệ, bạt chiết ra ca dã. Tăng hát
đán, na thú thê, tát bà a, phạt lạt noa tỳ thú
thê, bát lạt để, nễ bạt đới
dã, a dũ thú thê, tam ma da, a địa sắt sỉ
đế, mạt nễ mạt nễ, ma mạt nễ,
đát thát đa, bộ đa cô trí, bát rị
thú thê tỵ tốt bố trá, bột địa thú thê, thệ
dã, thệ dã, tỵ thệ dã, tỵ thệ
dã, tam mạt ra, tam mạt ra, tát bà bột đà, a
địa sắt sỉ đa thú thê, bạt chiết
lệ, bạt chiết ra, yết bệ, bạt chiết lam
bà, bạt đổ ma ma, a mục yết tả, tát bà tát
đóa nan, giả ca dã, tỳ thú thê, tát bà yết
để, bát rị thú thê, tát bà đát tha yết
đá, tam ma thú hòa sa, a địa sắt sỉ
đế, bột đà, bột đà, bồ đà dã,
bồ đà dã, tam mạn đá, bát rị thú
thê, tát bà đát tha yết đá, a địa sắt sá
na, a địa sắt sỉ đế, sa ha.
南謨薄伽伐帝。咥哩盧枳也。缽剌底。毗失瑟吒也勃陀也。薄伽伐帝。怛姪他。唵。毗輸馱也。颯麼三曼多。阿婆婆娑颯癹囉拏。揭底噱。喝娜瑣婆婆毗戍睇。阿毗詵者睹漫蘇揭多。跋囉跋者那。阿蜜栗多。鞞師計痾喝囉痾。喝囉痾。愈珊陀喇你。輸馱也。輸馱也。伽伽那。毗戍睇。烏瑟膩沙毗逝也戍睇索訶薩囉。喝𡃤濕弭。珊珠地帝。薩婆怛他揭多。阿地瑟侘娜。阿地瑟恥䫂沒姪囇。跋折囉迦也。僧喝旦。娜戍睇。薩婆痾。伐喇拏毗戍睇。缽喇底。你跋戴也。阿愈戍睇。三麼耶。阿地瑟恥帝。末你末你。麼末你。呾闥多。步多孤㨖。缽唎戍睇鼻窣怖吒。勃地戍睇。逝也逝也。鼻逝也。鼻逝也。三末囉。三末囉。薩婆勃陀。阿地瑟恥多戍睇。跋折囇。跋折囉揭鞞跋折藍婆。跋睹麼麼。阿目羯寫。薩婆薩埵難者迦也。毗戍睇。薩婆揭底。缽唎戍睇。薩婆怛他揭哆。三摩戍和娑。阿地瑟恥帝。勃陀勃陀菩馱也。菩馱也。三曼䫂。缽唎戍睇。薩婆怛他揭䫂。阿地瑟侘娜。阿地瑟恥帝。莎訶。
* Lại còn
trích từ Nhân Hiếu Hoàng Hậu[22]
Mộng Cảm Phật Thuyết Đệ Nhất Hy
Hữu Công Đức kinh của bổn triều
(nhà Minh)
Án, phổ long
sa ha. Án, nại mô phấn cát oát đế, tát rị
oát đắc ra lô ca bốc ra đế. Nguyệt thiệp
sắt trá da bột tháp da. Đa nại ma đáp đích nha
tháp. Án, phổ long, phổ long, phổ long, tiêu
ngoa tháp da, tiêu ngoa tháp da. Nguyệt tiêu ngoa tháp da. Nguyệt
tiêu ngoa tháp da. Ách tát ma tát man đạt ách oát phấn
tát tư ba ra nã cát đế. Cát cát nã, sa phấn
oát nguyệt thuật đề ách phiết thiên trán đô mam. Tát lư oát đáp tháp
cát đạt tô cát. Đáp ngõa ra oát tạt nã, ách mật
rị đạt ách. Phiết thích cai nhi mă hạt mộc
đắc ra mạn đặc ra la bát đới, ách hạt
ra, ách hạt ra, mă ma ái do nhi tán tháp ra ni. Tiêu ngoa tháp da, tiêu
ngoa tháp da. Nguyệt tiêu ngoa tháp da, nguyệt tiêu ngoa tháp da.
Cát cát nã, sa phấn oát nguyệt thuật đề. Ô
thất ni sa nguyệt tạt da. Ba rị thuật thiết.
Tát hạt tư ra ra tư di tán tra đa địch
tát rị oát đáp tháp cát đạt ách. Oát lỗ kết
ni sát trá ba ra mật đạt. Ba rị bốc ra ni.
Tát rị oát đáp tháp cát đạt ma đế.
Đáp nhiếp bồ mật bốc ra. Điệp sắt
trá đế, tát rị oát đáp tháp cát đạt hách
rị, đạt da ách điệp sắt trá nã ách,
điệp sắt trá đế, mộc đắc rị,
mộc đắc rị, mã hát mộc đắc
rị, oát tư ra cát da, tam hạt đạt nã
bát rị thuật thiết, tát rị oát cát rị ma
ách. Oát ra nã nguyệt thuật thiết bốc ra. Điệp
niếp oát nhi đạt da, mă ma ái do nhi nguyệt thuật
đề, tát rị oát đáp tháp cát đạt tát ma da ách,
điệp sắt trá nã ách, điệp sắt trá
đế. Án, ma ni ma ni, mă hạt ma ni, nguyệt ma ni,
nguyệt ma ni, mă hạt nguyệt ma ni ma đế, ma đế,
mă hạt ma đế, ma ma đế sa ma đế,
đáp tháp đạt bồ đạt qua khiển ba
rị thuật đề, nguyệt tư bồ trá bốc
thiết thuật thiết hy hy, tạt da, tạt da, nguyệt
tạt da, nguyệt tạt da, tư ma ra, tư ma ra, tư
ba ra, tư ba ra, tư ba ra da, tư ba ra da, tát rị oát bột
tháp ách điệp sắt trá nã ách, điệp sắt
trá đế, thuật thiết, thuật thiết, bốc
thiết, bốc thiết, oát tư rị, oát tư rị,
mă hạt oát tư rị sa oát tư rị, oát tư ra
cát nhi tỳ tạt da, cát nhi tỳ nguyệt tạt da.
Cát nhi tỳ oát tư ra, tả lạt cát nhi tỳ oát
tư rô thắc ba vi. Oát tư ra tam ba
ba vi, oát tư ra, oát tư rị ni, oát tư ram, phấn oát
đô. Ma ma nhiếp rị ram, tát rị oát, tát đóa
nẫm. Tạt cát da, ba rị thuật đề, phấn
oát đô, tát đỏa di tát rị oát cát đế,
ba rị thuật đề, thích triết tát rị oát
đáp tháp cát, đạt thích triết mam, tát ma loát, tát nhan
đô bốc thiết bốc thiết, tất thiết tất
thiết, bột tháp da, bột tháp da, nguyệt bột tháp
da, nguyệt bột tháp da, mô tạt da, mô tạt da, nguyệt
mô tạt da, nguyệt mô tạt da, tiêu ngoa tháp da, tiêu ngoa
tháp da, nguyệt tiêu ngoa tháp da, nguyệt tiêu ngoa tháp da, tát
man đáp mô tạt da, mô tạt da, tát man đáp ra tư di
ba rị thuật đề, tát rị oát đáp tháp cát
đạt hách rị, đạt da ách điệp sắt
trá nã, ách điệp sắt trá đế, mộc đắc
rị, mộc đắc rị, mă hạt mộc đắc
rị, mă hạt mộc đắc ra, mạn đặc ra
bát đế, sa ha.
唵。𠽾𠾐莎訶。唵。捺謨癹葛斡諦。薩哩斡得囉盧迦卜囉諦。月涉瑟吒耶。勃塔耶。爹捺麻荅的牙塔。唵𠽾𠾐𠽾𠾐𠽾𠾐杓訛塔耶。杓訛塔耶。月杓訛塔耶。月杓訛塔耶。啞薩麻薩蠻達啞斡癹薩思葩囉拿葛諦。葛葛拿。娑癹斡月述提啞撇羶𠽷都𦎌。薩哩斡荅塔葛達蘇葛。荅瓦囉斡拶拿。啞密哩達啞。撇釋該而馬曷木得囉曼特囉叭罘。啞曷囉。啞曷囉。馬麻藹由而傘塔囉尼。杓訛塔耶。杓訛塔耶。月杓訛塔耶。月杓訛塔耶。葛葛拿。娑癹斡月述提。烏失尼沙月拶耶。巴哩述鐵。薩曷思囉囉思彌傘柤爹敵。薩哩斡荅塔葛達啞。斡魯結尼煞吒巴囉密達。巴哩卜囉尼。薩哩斡荅塔葛達麻諦。荅攝蒲密卜囉牒瑟吒諦薩哩斡荅塔葛達赫哩達耶啞牒瑟吒拿啞牒瑟吒諦木得哩木得哩馬喝木得哩斡資囉葛耶三曷達拿叭哩述鐵薩哩斡葛哩麻啞斡囉拿月述鐵卜囉牒聶斡而達耶馬麻藹由而月述提薩哩斡荅塔葛達薩麻耶啞牒瑟吒拿啞牒瑟吒諦唵摩尼摩尼馬曷麻尼月摩尼月摩尼馬曷月摩尼麻諦麻諦馬曷麻諦麻麻諦莎麻諦荅塔達蒲達戈遣巴哩述提月思蒲吒卜鐵述鐵希希拶耶拶耶月拶耶月拶耶思麻囉思麻囉思葩囉思葩囉思葩囉耶思葩囉耶薩哩斡勃塔啞牒瑟吒拿啞牒瑟吒諦述鐵述鐵卜銕卜銕斡資哩斡資哩馬曷斡資哩莎斡資哩斡資囉葛而毘拶耶。葛而毘月拶耶。葛而毘斡資囉左辣葛而毘斡資嚕忒葩微。斡資囉三葩微。斡資囉斡資哩尼。斡資㘕癹斡都。麻麻攝哩㘕。薩哩斡薩埵喃。拶葛耶。巴哩述提。癹斡都。薩埵彌。薩哩斡葛諦。巴哩述提。釋哲薩哩斡荅塔葛。達釋哲𦎌。薩麻刷。薩顏都。卜銕卜銕。悉鐵悉鐵。勃塔耶勃塔耶。月勃塔耶。月勃塔耶。謨拶耶。謨拶耶。月謨拶耶。月謨拶耶。杓訛塔耶。杓訛塔耶。月杓訛塔耶。月杓訛塔耶。薩蠻荅謨拶耶。謨拶耶。薩蠻荅囉思彌巴哩述提。薩哩斡荅塔葛。達赫哩達耶啞牒瑟吒拿。啞牒瑟吒諦。木得哩木得哩馬曷木得哩。馬曷木得囉曼特囉叭諦。莎訶。
* Chú thọ
giới đắp y
Thiện tai giải thoát phục, vô
thượng phước điền y, ngã kim
đảnh đới thọ, thế thế bất
xả ly.
Án,
tất đà da, sa ha (y năm điều).
善哉解脫服,無上福田衣,我今頂戴受,世世不捨離。
唵。悉陀耶。娑訶(五條)
(Lành thay áo
giải thoát, y ruộng phước vô
thượng. Con nay cung kính nhận, đời
đời chẳng bỏ lìa).
Thiện tai giải thoát phục,
vô thượng phước điền y, ngã kim
đảnh đới thọ, thế thế thường
đắc phi.
Án,
độ ba, độ ba, sa ha (y bảy điều).
善哉解脫服,無上福田衣,我今頂戴受,世世常得披。
唵。度波度波。娑訶(七條)
(Lành thay áo giải
thoát, y ruộng phước vô thượng. Con
nay cung kính nhận, đời thường
được mặc).
Thiện tai giải thoát phục, vô
thượng phước điền y, tŕ phụng
Như Lai mạng, quảng độ chư chúng sanh.
Án,
ma ha ca ba ba trá tất đế, sa ha (y hai mươi
lăm điều)
善哉解脫服,無上福田衣,持奉如來命,廣度諸眾生。
唵。摩訶迦波波吒悉帝。娑訶(二十五條)
(Lành thay áo giải thoát, y ruộng
phước vô thượng. Vâng giữ Như
Lai mạng, rộng độ các chúng sanh).
Ngọa cụ ni sư đàn,
trưởng dưỡng tâm miêu tánh. Triển khai
đăng thánh địa, phụng tŕ Như Lai mạng.
Án, đàn ba đàn ba, sa ha.
臥具尼師壇,長養心苗性。展開登聖地,奉持如來命。
唵。檀波檀波。莎訶。
(Đồ trải ni sư
đàn, trưởng dưỡng tánh
mầm tâm. Mở ra, lên thánh địa, vâng
giữ Như Lai mạng).
Hỏi: Cư sĩ có
thể đắp y hay không?
Đáp:
Đầu tròn, áo vuông, có tóc mà
đắp y, theo đúng pháp thì không nên,
đâm ra chuốc lấy tội khiên! Điều này
được nói cặn kẽ trong thiên
Từ Vân Sám Chủ Biện Hoặc của
sách Truy Môn Cảnh Huấn.
* Bát Nhã Vô
Tận Tạng chân ngôn (般若無盡藏真言)
Nạp mô bạc già
phạt đế, bát rị nhã ba la mật
đa duệ, đát trí tha: Án, hột rị,
địa rị, thất rị, thú rô tri, tam mật lật
tri phật xă duệ, sa ha.
納謨薄伽伐帝。缽利若波羅蜜多曳。怛致他。唵。紇利。地唎。室唎。戍嚕知。三蜜栗知佛社曳。莎訶。
(Namo bhagavate prajñā paramitaye
tadyathā: Oṃ, hrih, dhih, śrīh, śruti, smriti
vijaye, svā hā).
*
Hoa Nghiêm Bổ Khuyết Chú (華嚴補闕咒)
Nam-mô tam mãn
đá một đà nẫm, a bát ra đế
hát đa. Chiết chiết nại di. Án, kê di, kê
di, đát tháp cát tháp nẫm. Mạt ngõa sơn
đính bát ra đế, ô đát ma, đát ma, đát tháp
cát tháp nẫm, mạt ngõa hồng phấn, sa ha.
南無三滿哆沒馱喃。阿缽囉帝喝多。折折捺彌。唵。雞彌。雞彌。怛塔葛塔喃。末瓦山碇缽囉帝。烏怛摩。怛摩。怛塔葛塔喃。末瓦吽癹。莎訶。
(Namaḥ samanta buddhānaṃ,
apratihata, śāsanānāṃ. Oṃ, kiṇi, kiṇi,
tathā-gata, udbhava śānte varade, udhama-udhama tathāgata
udbhava, hūṃ, phaṭ, svāhā).
* Uế Tích Kim Cang[23] thần chú (穢跡金剛神咒)
Án, bút hoát
khốt lốt, ma ha bát ra ngân na, ngái vẫn
trấp vẫn, hê ma ni, vi kê vi ma na thê. Án, chước
cấp na, ô thâm mộ, khốt lốt, hồng hồng
hồng, phán phán phán phán phán, sa ha.
唵。𠲽咶啒㖀。摩訶般羅狠那。𠵨吻汁吻。醯摩尼。微咭微摩那棲。唵。斫急那。烏深暮。啒㖀。吽吽吽。泮泮泮泮泮。莎訶。
(Oṃ
bhihau guru mahā-pra hun-nahu bucibu himaṇi vikivi manaśe, oṃ,
jaṭila ucchuṣma guru hūṃ hūṃ hūṃ
phaṭ phaṭ phaṭ phaṭ phaṭ, svāhā).
* Thập nhị nhân
duyên chú (ghi kèm thêm
các chú khác)
Án, da đáp nhi ma hề
đô bất ra, ba oát hề đôn đích sơn
đáp, tháp cát đáp hiết oát đát đích sơn tạt,
ước ni rô đát da bang bát đế, ma hạt
thích ra ma nạp da, sa ha.
唵。耶荅兒麻兮都不囉。巴斡兮敦的山荅。搭葛荅歇斡怛的山拶。約尼嚕怛耶𠳐叭諦。麻曷釋囉麻納耶。莎訶。
(Oṃ, dharmā hetu
prabhavā hetūn teṣāṃ
tathāgata hya vadat teṣaṃ cayo nirodha evaṃ vādi
mahā-śramaṇaya, svāhā).
* Chú vào nhà xí
Án, ngận rô
đà da, sa ha.
唵。狠嚕陀耶。莎訶。
* Chú rửa
sạch
Án, hạ
nẵng mật lật đế, sa ha.
唵。賀曩密栗帝。莎訶。
* Chú khử
uế
Án, thất
rị duệ bà hê, sa ha.
唵。室利曳婆醯。莎訶。
* Chú rửa tay
Án, chủ ca ra
dã, sa ha.
唵。主迦囉野。莎訶。
* Chú tịnh thân
Án, bạt chiết
ra não ca tra, sa ha.
唵。跋折囉惱迦吒。莎訶。
* Chú xuống
giường
Án, địa lợi
nhật rị, sa ha
唵。地利日哩。莎訶。
* Chú
bước đi, không tổn thương các
loài trùng[24]
Án, địa lợi
nhật rị, sa ha
唵。地利日哩。莎訶。
* Chú vào
đạo tràng
Án, a mật lật
đế hồng phấn trá.
唵。阿蜜栗帝吽癹吒。
* Lục Tự
Đại Minh Chú
Án, ma ni bát di hồng
唵。嘛呢叭𡄣吽。
(Oṃ, maṇi
padme hūṃ).
* Bổ khuyết chân
ngôn
Nẵng
mô hát ra đát na đa ra dạ da khư ra khư
ra câu trụ câu trụ ma la ma la hổ ra hồng, hạ hạ
tô đát noa hồng, bát mạt noa, sa bà ha
曩謨喝囉怛那。多囉夜耶。佉囉。佉囉。俱住。俱住。摩囉。摩囉。虎囉吽。賀賀蘇怛拏吽。潑沫拏。娑婆訶。
(Namo
ratnatrayāya,
khara, khara, kucu, kucu, mala, mala, hura hūṃ
haha sudāna
hūṃ phaṭ, svāhā).
2.2.3. Các phần
sao lục khác
* Lời cảnh
tỉnh về việc xem kinh
Thiền sư Bảo Ninh Dũng
soạn
Hậu học cần
biết cách xem kinh: Hãy nên thanh tịnh ba nghiệp.
Nếu ba nghiệp chẳng khuyết, trăm
phước đều tụ tập. Ba nghiệp là
thân, miệng, ý. Một là thân ngồi đoan
chánh như đối trước thánh dung,
đó là thân nghiệp thanh tịnh. Hai là
miệng chẳng nói lời xen tạp, dứt
các thứ cười đùa. Đó
là khẩu nghiệp thanh tịnh. Ba là ý
chẳng tán loạn, ngăn dứt
muôn duyên. Đó là ý nghiệp thanh tịnh.
Nội tâm đã tịch tĩnh, ngoại cảnh
đều mất thì mới khế ngộ nguồn chân,
ngõ hầu nghiên cứu cùng tận pháp
lý. Có thể nói là “nước
lặng trong, châu sáng thấu triệt, mây tan,
trăng sáng, biển nghĩa tràn trề tâm
khảm, non trí lắng đọng nơi tai
mắt”. Đừng vội cho là dễ
dàng, quả thật chẳng phải là duyên
nhỏ nhoi. Tâm lẫn pháp đều quên, mình
và người đều được
lợi. Nếu có thể như thế, sẽ thật
sự là báo ân Phật.
* Văn lễ kinh Hoa
Nghiêm
Toại thiền sư ở
Đại Hồng sơn, Tùy Châu soạn
Kính lễ Hoa Nghiêm
biển chân tánh, đấng đủ loại quang minh
chiếu khắp. Trang nghiêm bởi muôn hạnh
Phổ Hiền, hết thảy Chân Như pháp giới
tạng. Long Thọ tụng, nhớ nơi cung rồng.
Thật Xoa Nan Đà nước Vu Điền,
đã xiển dương lời kinh vi diệu.
Diệu pháp môn Nhất Thừa viên đốn, chân
bí điển thấy tánh thành Phật. Tay
nâng, mắt nhìn, miệng tụng niệm. Nên
biết xưa có đại nhân duyên. Thấy nghe
tùy hỷ phát Bồ Đề, rốt ráo viên
thành Tát Bà Nhã.
Nam-mô Tỳ Lô giáo chủ Hoa
Tạng từ tôn, diễn kim văn kệ báu, ban
bố hộp đựng kinh, trục ngọc, các
vi trần nhập vào lẫn nhau, các cõi
nước viên dung. Mười triệu chín
vạn năm ngàn bốn mươi tám chữ
Nhất Thừa Viên Giáo Đại Phương
Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Nếu ai muốn biết
rõ, ba đời hết thảy Phật, nên
quán tánh pháp giới, hết thảy
chỉ tâm tạo. Thường nguyện cúng
dường, thường cung kính, bảy xứ
chín hội[25]
Phật, Bồ Tát. Thường nguyện chứng nhập,
thường tuyên nói, ngũ châu tứ phần[26]
kinh Hoa Nghiêm. Lại nguyện con tên là… đời đời
kiếp kiếp, nơi nơi chốn chốn, mắt
thường thấy kinh điển như thế này,
tai thường nghe kinh điển như thế
này, miệng thường tụng kinh điển
như thế này, tay thường chép kinh
điển như thế này, tâm thường
ngộ kinh điển như thế này. Nguyện
đời đời kiếp kiếp, nơi nơi
chốn chốn, thường được thân
cận hết thảy thánh hiền Hoa Tạng, thường
được hết thảy thánh hiền Hoa
Tạng từ bi nhiếp thọ. Như kinh đã
nói, nguyện đều chứng minh. Nguyện
như Thiện Tài Bồ Tát, nguyện như Văn Thù
Sư Lợi Bồ Tát, nguyện như Di Lặc
Bồ Tát, nguyện như Phổ Hiền Bồ
Tát, nguyện như Quán Thế Âm Bồ Tát,
nguyện như Tỳ Lô Giá Na Phật. Dùng công
đức xưng dương kinh này, do công
đức phát nguyện này, nguyện cùng
tứ ân tam hữu pháp giới hết
thảy chúng sanh tiêu trừ vô lượng
tội cấu cùng tận pháp giới hư
không giới từ vô thỉ tới nay. Nguyện
cùng tứ ân tam hữu pháp giới
hết thảy chúng sanh giải trừ vô
lượng oan nghiệp cùng tận pháp
giới hư không giới từ vô thỉ
tới nay. Nguyện cùng tứ ân tam hữu
pháp giới hết thảy chúng sanh tu tập
vô lượng phước trí cùng tận
pháp giới hư không giới từ vô
thỉ tới nay, cùng dạo chơi trong biển
Hoa Tạng trang nghiêm, cùng nhập nhân Bồ Đề
đại đạo tràng.
Nam-mô Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Hoa Nghiêm hải hội
Phật Bồ Tát
(Tổ
Liên Trì nhận định) Hai câu sau “ngũ châu
tứ phần Hoa Nghiêm Kinh” văn nghĩa
dường như trùng lặp, không niệm
cũng được.
* Kệ phát
nguyện của Đại Từ Bồ Tát
Mười phương
ba đời Phật, A Di Đà bậc nhất.
Chín phẩm độ chúng sanh. Oai đức
không cùng cực. Con nay đại quy y, sám
hối tội tam nghiệp. Hễ có các
phước thiện, chí tâm dùng hồi
hướng. Nguyện người cùng niệm
Phật, cảm ứng tùy thời hiện. Lâm
chung, cảnh Tây Phương, phân minh ngay trước
mắt: Thấy, nghe đều tinh tấn. Cùng sanh
cõi Cực Lạc. Thấy Phật liễu sanh
tử, như Phật độ hết thảy.
* Tịnh Độ
văn
Ngưỡng bạch Di
Đà hóa chủ, Tịnh Độ thánh hiền, nguyện
ban từ bi, vì con chứng minh. Đệ
tử chúng con ai nấy vì đại
sự sanh tử, vô thường nhanh chóng,
thay cho pháp giới chúng sanh, nhất tâm quy
mạng đảnh lễ.
Nam-mô Tây Phương
Cực Lạc thế giới, bạch hào như năm
Tu Di, mắt như bốn biển cả, tám vạn bốn
ngàn tướng hảo quang minh, bốn mươi tám
nguyện nhiếp thọ chúng sanh hữu duyên
niệm Phật trong mười phương thế giới,
đại từ đại bi đại nguyện
đại lực Bổn Sư ḥa thượng A Di
Đà Phật. Kính nguyện A Di Đà Phật
dùng thiên nhãn từ xa trông, thiên nhĩ xa nghe, tha
tâm mau chóng thấy, gia bị chúng con cùng
với chúng sanh, trong mười hai
thời, nguyện được thấy tám
vạn bốn ngàn tướng của A Di
Đà Phật. Trong mỗi tướng, nguyện
được thấy tám vạn bốn ngàn
tùy hình hảo của A Di Đà Phật. Trong
mỗi hảo, nguyện được thấy
tám vạn bốn ngàn quang minh của A Di
Đà Phật. Trong mỗi quang minh, nguyện thấy
mười phương chư Phật, nguyện
thấy mười phương chư đại
Bồ Tát Ma Ha Tát, nguyện thấy
mười phương chư đại Thanh Văn,
Duyên Giác, hiền thánh tăng, khiến cho hết
thảy chúng sanh chúng con nhanh chóng phá vô
minh, phiền não vĩnh viễn mất, cửa
pháp giới rộng mở thông đạt, con
đường Nhất Thừa mở sáng
vòi vọi, mười hiệu phô bày trọn
vẹn, tam thân hiển lộ trọn vẹn, phân thân vô
lượng độ thoát chúng sanh. Nguyện
Phật từ bi, xót thương nhiếp thọ.
Hỏi:
Lời văn còn có đoạn sau, sao không sao
lục?
Đáp:
Nguyên tác vốn chỉ là như vậy, phần
sau do [người đời sau] ghép thêm
vào, ý nghĩa chẳng tương xứng
với phần trước, cho nên chẳng sao
lục. Tiếc là bài văn này thiếu hai
ý “lâm chung vãng sanh” và “sau khi vãng sanh
được nghe pháp”. Bài văn Tiểu
Tịnh Độ sau đây lời lẽ đơn
giản, ý nghĩa châu
đáo, nay phần nhiều sử dụng.
* Tịnh Độ
văn
Từ Vân
sám chủ[27]
soạn
Nhất tâm quy mạng
Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật,
nguyện dùng ánh sáng thanh tịnh chiếu con,
dùng từ thệ nhiếp thọ con. Con nay
chánh niệm, xưng danh Như Lai, vì Bồ
Đề đạo, cầu sanh Tịnh Độ.
Phật xưa vốn có lời thề: Nếu
có chúng sanh muốn sanh về nước ta, chí tâm
tin ưa, dẫu chỉ mười niệm, nếu
chẳng được sanh, chẳng
giữ lấy ngôi Chánh Giác. Do nhân duyên niệm
Phật này, được vào trong biển
đại thệ của Như Lai, nương từ
lực của Phật, các tội tiêu diệt,
thiện căn tăng trưởng. Như khi
sắp mạng chung, tự biết đến
thời, thân không bệnh khổ, tâm chẳng tham
luyến, cũng chẳng điên đảo, như nhập
Thiền Định. Phật và thánh chúng, tay cầm
đài vàng, đến đón tiếp con. Trong
khoảng một niệm, sanh cõi Cực Lạc, hoa
nở thấy Phật, liền nghe Phật
thừa, mau khai Phật huệ, rộng độ chúng
sanh, măn nguyện Bồ Đề, rộng độ
chúng sanh, mãn nguyện Bồ Đề[28].
* Tân định Tây
Phương Nguyện Văn
(bài văn phát nguyện sanh về Tây Phương
được soạn mới)
Vân Thê Châu Hoằng soạn
Đảnh lễ Tây
Phương An Lạc quốc, tiếp dẫn chúng sanh
đại đạo sư. Con nay phát nguyện,
nguyện vãng sanh. Kính mong từ bi thương
nhiếp thọ.
Đệ tử
chúng con là… khắp vì tứ ân tam
hữu pháp giới, cầu đạo Vô
Thượng Bồ Đề Nhất Thừa
của chư Phật, chuyên tâm tŕ niệm A Di Đà
Phật vạn đức hồng danh, cầu sanh Tịnh
Độ. Lại do nghiệp nặng, phước
nhẹ, chướng sâu, huệ cạn, nhiễm tâm
dễ lẫy lừng, tịnh đức khó
thành. Nay đối trước Phật, kính
cẩn siêng năng gieo năm vóc, giãi bày
một dạ, gieo lòng thành sám hối. Con và
chúng sanh, từ bao kiếp tới nay, mê tịnh tâm
vốn có, phóng túng tam nghiệp thâm, sân, si
nhiễm uế, trót tạo vô lượng vô biên tội
cấu, kết vô lượng vô biên oan nghiệp, nguyện
đều tiêu diệt. Kể từ hôm nay, lập
thệ nguyện sâu, xa lìa ác pháp, thề
chẳng tạo nữa, siêng tu thánh đạo.
Thề chẳng thoái thất, lười
nhác, thề thành Chánh Giác, thề độ
chúng sanh. A Di Đà Phật do nguyện lực
từ bi, sẽ chứng biết cho con, sẽ
thương xót con, sẽ gia bị con. Nguyện trong
khi Thiền Quán, trong lúc mộng mị,
được thấy thân kim sắc của A Di
Đà Phật, được trải qua cõi
báu trang nghiêm của A Di Đà, được
A Di Đà Phật cam lộ rưới đỉnh
đầu, quang minh chiếu vào thân, tay Ngài xoa
đầu con, y trùm thân con, khiến cho con túc chướng
tự trừ, thiện căn tăng trưởng,
nhanh chóng rỗng không phiền năo, mau phá vô minh,
rỗng rang khai ngộ viên giác diệu tâm. Chân cảnh
Tịch Quang thường được hiện tiền.
Cho đến khi sắp lâm chung, biết
trước lúc mất, thân chẳng có hết
thảy đau khổ, ách nạn. Tâm chẳng
có hết thảy tham luyến, mê hoặc, các
căn vui đẹp, chánh niệm
phân minh, xả báo an tường
như nhập Thiền Định. A Di Đà Phật
và Quán Âm, Thế Chí, các vị thánh hiền,
phóng quang tiếp dẫn, xòe tay dắt dìu.
Lầu,
gác, tràng phan, hương lạ, nhạc
trời, thánh cảnh Tây Phương bày rõ
trước mắt, khiến các chúng sanh,
người thấy, kẻ nghe, hoan hỷ cảm
thán, phát Bồ Đề tâm. Con trong khi ấy,
nương vào đài kim cang, theo sau đức
Phật, như trong khoảnh khảy ngón tay, sanh trong
hoa sen thù thắng nơi ao bảy báu trong
cõi Cực Lạc.
Hoa nở thấy
Phật, thấy các Bồ Tát, nghe pháp âm mầu
nhiệm, đắc
Vô Sanh Nhẫn, trong khoảnh khắc, phụng
sự chư Phật, đích thân
được thọ ký. Đã
được thọ ký, tam thân, tứ
trí, ngũ nhãn, lục thông, vô lượng trăm
ngàn đà la ni môn, hết thảy công đức
thảy đều thành tựu. Sau đấy, chẳng
lìa An Dưỡng, trở lại Sa Bà, phân
thân vô số, trọn khắp các cõi
mười phương, dùng thần lực
tự tại chẳng thể nghĩ bàn,
các loại phương tiện độ thoát chúng
sanh, khiến họ đều lìa nhiễm, hồi
phục tịnh tâm, cùng sanh Tây Phương, nhập
địa vị chẳng thoái chuyển.
Đại nguyện như thế, thế giới vô tận,
chúng sanh vô tận, nghiệp và phiền năo, hết thảy
vô tận, nguyện của con vô tận. Nguyện đem
công đức lễ Phật, phát nguyện, tu tŕ
hiện thời xoay lại thí cho hữu
tình, báo chung bốn ân, giúp trọn ba cõi,
pháp giới chúng sanh cùng viên thành
Chủng Trí.
[Tổ Liên Trì ghi
chú]: Bài Tịnh Độ văn trước
đó đạt lý, nhưng nghĩa chưa
trọn vẹn, bài Tịnh Độ sau thì nghĩa
trọn vẹn, nhưng từ ngữ quá
đơn giản. Nghĩa chưa trọn vẹn thì
ý vãng sanh chẳng rõ ràng. Từ ngữ quá
đơn giản thì tâm tình đau xót,
khẩn thiết chẳng được giãi
bày! Tôi bèn nương theo Đại Kinh, rộng
thâu các cách nói, dung thông Sự và Lý, xuyên
suốt nhân quả tạo thành bài văn Tịnh
nghiệp này. Các vị thượng thiện
nhân nếu chấp nhận thì mong hãy lưu thông
rộng rãi. Nếu chẳng cho là đúng,
xin hãy rủ lòng răn dạy.
* Bài văn lễ
Phật phát nguyện
Thiền
sư Di Sơn Nhiên[29]
soạn
Quy mạng mười
phương Điều Ngự Sư, diễn
dương pháp vi diệu thanh tịnh. Tam thừa
tứ quả giải thoát tăng, nguyện ban
từ bi thương nhiếp thọ. Chỉ vì con
là… tự trái chân tánh, oan uổng vào
trong dòng mê, trôi nổi theo sanh tử, đuổi
theo sắc, thanh mà tham nhiễm. Mười
triền[30],
mười sử[31],
chất chứa thành cái nhân hữu lậu.
Sáu căn, sáu trần hư vọng, tạo
tội vô biên. Biển khổ, vòng mê, chìm sâu trong
đường tà. Chấp ngã, đắm
nhân, hành xử lệch lạc. Sanh khởi
chất chồng nghiệp chướng, hết
thảy oan khiên. Ngưỡng mong Tam Bảo dùng
lòng từ bi, con giãi một dạ sám
hối. Nguyện đức Năng Nhân cứu
vớt, bạn lành dắt dìu, thoát
khỏi nguồn sâu phiền não, đạt tới
bờ kia Bồ Đề. Nền phước,
mạng vị đời này đều nguyện
hưng thịnh. Mầm thiêng, giống trí
đời sau, cùng mong tăng trưởng
tốt đẹp. Sanh vào nơi chính giữa
đất nước, luôn gặp minh sư, chánh
tín xuất gia, đồng chân nhập đạo. Sáu
căn nhạy bén, tam nghiệp thuần
hòa, chẳng nhiễm duyên đời, thường
tu phạm hạnh, gìn giữ giới cấm,
trần nghiệp chẳng lấn. Giữ nghiêm oai
nghi, chẳng tổn hại trùng bọ,
chẳng gặp tám nạn, chẳng
khuyết bốn duyên[32].
Trí Bát Nhã hiện tiền, Bồ Đề tâm
chẳng lui sụt. Tu tập chánh pháp, liễu
ngộ Đại Thừa. Khai hạnh môn Lục
Độ, vượt biển kiếp ba
A-tăng-kỳ. Dựng pháp tràng khắp
chốn, phá lưới nghi tầng tầng.
Hàng phục lũ ma, nối tiếp hưng thịnh
Tam Bảo. Phụng sự mười phương
chư Phật chẳng mệt nhọc. Tu học hết
thảy pháp môn, thảy đều thông đạt, rộng
tạo phước huệ, lợi khắp
trần sa. Đạt được sáu loại
thần thông, viên mãn Phật quả trong một
đời.
Sau đấy, chẳng bỏ pháp giới, vào
khắp trần lao, từ tâm bằng
với Quán Âm, hành biển nguyện Phổ
Hiền. Phương khác, cõi này, theo tùy
hình loại, ứng hiện sắc thân, diễn
dương diệu pháp. Trong đường khổ Nê
Lê, ngạ quỷ đạo, hoặc phóng quang minh
lớn, hoặc hiện các thần biến.
Có ai thấy tướng con, cho đến nghe tên
con, đều phát Bồ Đề tâm, vĩnh viễn
thoát khỏi nỗi khổ luân hồi. Nơi vạc
lửa, sông băng, biến thành rừng
hương. Kẻ uống đồng lỏng, nuốt
hòn sắt, đều hóa sanh Tịnh
Độ. Kẻ mang lông, đội sừng, thiếu
nợ, ngậm oan, đều sạch hết chua
xót, đều nhuần thấm lợi lạc.
Đời tật dịch, con hiện làm
dược thảo để cứu chữa
bệnh trầm kha. Thuở đói kém, con
hóa làm lúa gạo cứu người
nghèo đói. Chỉ cần là chuyện có
lợi ích, không gì chẳng đề cao,
hưng khởi. Kế đến là mong cho oán
thân nhiều đời, quyến thuộc hiện
còn, khỏi chìm đắm trong tứ sanh,
xả trói buộc muôn kiếp, cùng với
các chúng sanh đều thành Phật
đạo. Hư không có tận, nguyện con vô
cùng. Tình và vô tình cùng viên thành
Chủng Trí.
[Tổ Liên Trì nhận định]: Đây
chính là hoằng thệ nguyện của vị
Đại Thừa Bồ Tát chân thật. Lúc
tôi mới nhập đạo, đọc rồi
liền cảm thán, ứa lệ, phát tâm
rộng lớn. Lại nữa, [những
điều phát nguyện này] quả thật
cùng hành với Tịnh nghiệp chẳng
hề mâu thuẫn. Vì sao vậy? Đây chính là
dùng tu tâm để thấy tâm, đắc vô
thượng đạo, rộng hành bi nguyện.
Kia là dùng niệm Phật để thấy
Phật, chứng Vô Sanh Nhẫn, trở lại
độ sanh, há có trái nghịch gì?
* Lễ Quán Âm văn
Nam-mô
quá khứ Chánh Pháp Minh Như Lai, hiện tiền
Quán Thế Âm Bồ Tát, thành tựu công
đức nhiệm mầu, trọn đủ
đại từ bi. Nơi một thân tâm, hiện
ngàn tay, ngàn mắt, soi thấy pháp
giới, hộ tŕ chúng sanh, khiến họ phát
đạo tâm rộng lớn, dạy trì thần
chú viên mãn, vĩnh viễn lìa ác
đạo, được sanh trước
Phật. Tội khiên vô gián nặng nề, bệnh
ngặt quấn thân, chẳng thể cứu
chữa, thảy đều khiến tiêu trừ.
Tam-muội biện tài, điều mong nguyện trong
đời hiện tại
đều khiến được toại nguyện,
quyết định chẳng nghi! Có thể
khiến cho con mau đạt được tam
thừa, sớm lên địa vị Phật.
Sức oai thần tán thán chẳng thể
cùng tận. Do vậy, con nhất tâm quy mạng
đảnh lễ.
* Bài văn lễ Quán Âm thứ hai
Thiền
sư Đại Huệ Tông Cảo soạn
Ba nghiệp thanh tịnh, năm vóc
một lòng gieo xuống đất, quy y nam-mô thập
phương từ phụ quảng đại linh cảm
Quán Thế Âm Bồ Tát. Con nghe Bồ Tát
từ Văn Tư Tu nhập tam-ma-địa,
đạt được hai thứ tùy thuận[33],
bốn chẳng nghĩ bàn[34],
mười bốn vô úy[35],
mười chín thuyết pháp[36],
bảy nạn, hai thứ cầu[37],
ba mươi hai ứng thân vô lượng công đức,
hưng khởi oai lực lớn, phát
thệ nguyện lớn, cùng lưu chuyển trong
nẻo sanh tử của lục đạo tứ
sanh nơi chín giới, hưng khởi trăm
ngàn vạn ức vô lượng phương tiện
thiện hạnh trong kiếp số nhiều như cát
sông Hằng, cứu độ, cứu vớt
hết thảy chúng sanh chẳng hề ngưng
nghỉ. Con nay xót xa cầu khẩn, ắt Ngài
rủ lòng gia bị.
Kính nghĩ con là…
do may mắn từ đời trước,
được gặp Phật thừa, thân tuy
xuất gia, tâm chẳng nhiễm đạo (người
tại gia thì đổi [câu này] thành “thân
khổ trần duyên, tâm nhiều tán loạn”), ngu si,
tà kiến, các căn tối tăm, bế tắc. Đối
với kinh
sách trong ngoài, tuy học tập chương
cú, chẳng thông hiểu diệu lý. Lại
sợ phước lực mỏng cạn,
thọ mạng chẳng dài, uổng nhập Không
môn (tại gia thì sửa [câu này] thành “uổng
được thân người”), sống
uổng, chết phí. Con
nay gột lòng, ứa huyết lệ, dập
đầu, gieo lòng thành, suốt ngày suốt
đêm suy tưởng thánh dung, thọ trì
thánh hiệu, lễ bái thánh tượng.
Chỉ nguyện Bồ Tát thiên nhĩ nghe tiếng, bi
tâm cứu khổ, xót thương gia bị, phóng
đại thần quang chiếu thân tâm con, rót
đại cam lộ tưới đỉnh đầu
con, gột sạch oan khiên bao đời, rửa
sạch tội cấu ngàn đời, thân tâm thanh tịnh,
ma chướng tiêu trừ, dù ngày hay đêm, trong
khi nằm ngồi, sẽ trông thấy Bồ Tát
phóng đại thần quang, khai huệ tánh cho con,
khiến cho con là… ngay lập tức thần thông
rộng phát, trí huệ, thông minh, hết thảy
kinh sách tự nhiên ghi nhớ, hết thảy
nghĩa lý tự nhiên thông hiểu, đắc đại
biện tài, đắc đại trí huệ, đắc
đại thọ mạng, đắc đại an
lạc, tham Thiền, học đạo, chẳng
có các ma chướng, ngộ Vô Sanh Nhẫn,
đời đời kiếp kiếp hành
Bồ Tát đạo, báo chung bốn ân, cùng
giúp ba cõi, pháp giới chúng sanh đồng viên
thành Chủng Trí.
Hỏi: Văn [lễ Quán Âm] có ba bài,
vì sao không sao lục bài văn sau cùng? Đáp: Do phát nguyện
vãng sanh sau nhiều đời tu hành,
chẳng thuận tịnh nguyện, chẳng
phù hợp cho kẻ sơ phát tâm, sợ
họ sẽ ngờ vực Tịnh Độ.
* Cảnh sách của
thiền sư Quy Sơn Đại Viên
Phàm
do nghiệp ràng buộc mà thọ thân, sẽ
chẳng khỏi bị vướng
lụy vì thân. Bẩm thọ di thể từ cha
mẹ, nhờ vào các duyên mà hợp thành. Tuy
do Tứ Đại gìn giữ, nhưng chúng
thường trái nghịch nhau. Vô thường,
già, bệnh, chẳng ai mong mỏi. Sáng
còn, tối mất, trong sát-na đã qua
đời khác. Ví như sương mùa
Xuân, móc buổi sớm, đột nhiên
chẳng còn. Cây bên bờ vực, dây leo bên
giếng, há có thể lâu dài ư? Niệm
niệm nhanh chóng, trong một sát-na, hơi
thở vừa đổi thì đã là
đời sau, cớ sao điềm nhiên để
luống qua? Đối với cha mẹ, chẳng
dâng thức ăn ngon ngọt, cố nhiên đã
lìa bỏ lục thân, chẳng thể giữ an
nước nhà, đối với gia nghiệp,
đã bỏ sạch nghĩa vụ thừa
kế. Xa làng, bỏ xóm, xuống tóc, theo
thầy, [lẽ ra phải] trong thì siêng năng công phu
khắc chế ý niệm, ngoài thì
hoằng dương đức “chẳng tranh”,
vượt thoát trần thế, mong mỏi
thoát lìa. Cớ sao vừa mới
thọ giới phẩm, liền nói “ta là
tỳ-kheo, đàn việt cần đến ta”, cứ ăn
dùng của thường trụ, chẳng
biết nghĩ suy [những thứ ấy] do
đâu mà có, bảo rằng “theo đúng
lẽ, họ phải cúng dường”. Ăn xong
chụm đầu ồn ào, chỉ nói lời
tạp nhạp trong nhân gian. Thừa dịp vui
sướng một thuở, chẳng biết
vui sướng là cái nhân của khổ. Bao
kiếp xưa kia rong ruổi theo trần cảnh, chưa
từng phản tỉnh, phí uổng thời gian,
lần lữa năm tháng, hưởng dụng càng
nhiều, được bố thí lợi
dưỡng nồng hậu. Trải bao năm
tháng, chẳng tính bỏ lìa, tích
tụ càng nhiều, [chỉ để] gìn
giữ cái thân hư huyễn.
Đạo sư truyền dạy, khuyên răn các
tỳ-kheo, hãy tấn tu nơi đạo để
trang nghiêm cái thân, đối với ba chuyện
ăn, mặc, ngủ, chớ nên hưởng
dụng sung túc. Nhưng người ta
thường vì những thứ ấy
mà tham đắm chẳng ngơi, tháng lại ngày qua, thoáng
chốc đã bạc đầu. Kẻ hậu học
chưa nghe chỉ thú [của đạo giải
thoát], cần phải hỏi rộng bậc đã
hiểu biết trước, sao lại bảo
“xuất gia cốt là để cầu cơm áo?”
Đức Phật trước hết chế
luật để khơi gợi, khải phát cho
kẻ mông muội về quy củ, oai nghi sạch như
băng, tuyết. [Những giới điều]
“chỉ, trì, tác, phạm” nhằm thúc
liễm kẻ sơ tâm. Những điều khoản
vi tế [trong giới luật] nhằm trừ
khử hèn tệ. Đối với pháp
tịch [giảng dạy] Tỳ Ni mà chưa hề
học hỏi, thân cận, há có thể thật
sự biện định liễu nghĩa
thượng thừa ư? Đáng tiếc luống
uổng một đời, sau này hối hận,
khó thể bù đắp. Giáo lý chưa
từng ghim vào lòng, đạo huyền
diệu sẽ chẳng do đâu mà khế ngộ
được! Cho đến khi tuổi cao, pháp
lạp lớn, bụng rỗng tuếch, tâm cao ngất
ngưởng, chẳng chịu thân cận bạn lành,
chỉ biết ngạo nghễ, chẳng am hiểu
pháp lẫn luật, sự thâu liễm hoàn
toàn chẳng có. [Do vậy], hoặc là
ăn nói lớn lối, thốt lời
chẳng có chừng mực, chẳng
kính bậc thượng, trung, hạ tọa,
chẳng khác gì bọn Bà-la-môn tụ
hội. Khua chén, đụng bát, ăn xong
đứng lên trước. Đi ở
đều sai pháp tắc, hoàn toàn
chẳng có Tăng thể. Đứng, ngồi
bộp chộp, khuấy động tâm niệm của
kẻ khác. Chẳng giữ các quy
tắc, oai nghi nhỏ nhặt, lấy gì
để thúc liễm? Đàn em, người
mới học không có ai để noi theo. Vậy
mà có ai vừa mới nhắc
nhở, liền nói “ta là sơn tăng”. Do
chưa nghe sự hành trì do đức
Phật dạy, cho nên cứ một mực ôm
lòng thô tháo.
Có cái nhìn như vậy là do lúc
sơ tâm lười nhác, cho nên cứ lẩn
quẩn nơi thói tham lam, lần khân trong cõi
đời, trở thành quê kệch. Bất
giác run rẩy, già khọm, gặp chuyện
[không biết xử sự như thế nào]
giống như đối diện tường
vách. Kẻ hậu học thưa hỏi, không có
lời nào để tiếp dẫn. Dẫu có
bàn nói, chẳng liên quan đến kinh
điển, pháp tắc. Nếu bị họ
thốt lời coi rẻ, liền trách “hậu sanh vô lễ”, sân tâm bừng
bừng nổi dậy, lời lẽ khiến cho kẻ
khác kinh hãi. Một
mai nằm bệnh trên giường, các sự
khổ trói quấn, bức bách, sáng tối suy
nghĩ, trong tâm bàng hoàng, nẻo trước
mờ mịt, chẳng biết đi về đâu?
Từ đấy mới biết hối lỗi,
khát nước mới đào giếng sao
được? Tự hận chẳng
sớm tu sẵn, tuổi già lắm nỗi
lỗi lầm, lúc lâm chung
cuống quýt, hoảng sợ, kinh hãi. The thủng, sẻ
bay[38],
thức tâm phải theo nghiệp. Như kẻ
mắc nợ, kẻ mạnh lôi đi
trước tiên. Tâm tình lắm mối, riêng
rơi vào chỗ tâm đặt nặng! Sát
quỷ vô thường niệm niệm chẳng
ngừng, mạng chẳng thể kéo dài,
thời chẳng thể đợi. Trời,
người ba cõi, ắt chẳng tránh
khỏi. Thọ thân như thế, chẳng luận
kiếp số, cảm thương, than thở,
buồn thay xót dạ, há chẳng nên răn
nhắc, sách tấn lẫn nhau?
Đáng hận cùng sanh cuối thời
Tượng Pháp, cách thánh đã lâu.
Phật pháp trở nên xa lạ, con người
phần nhiều biếng nhác, [nên tôi phải] trình
bày đại lược cái nhìn hạn
hẹp để khuyên bảo hàng hậu học.
Nếu chẳng bỏ tính nết kiêu căng,
quả thật khó thể thay
đổi. Phàm là người xuất gia,
cất chân vượt thoát sự buộc
ràng, tâm và thân hình khác với lẽ
tục, [đáng phải nên]
tiếp nối hưng thịnh dòng giống thánh,
chấn nhiếp ma quân hòng báo tứ ân,
cứu bạt ba cõi. Nếu chẳng như
vậy, lạm dự vào hàng ngũ tăng
sĩ, lời nói lẫn việc làm rỗng
tuếch, luống hưởng tín thí,
đối với cung cách hành xử [theo
thói tục] trước kia chẳng rời
một bước, mơ màng suốt một
đời, lấy gì để nương
cậy? Huống chi tăng tướng vòi vọi,
dung mạo đáng nhìn, đều do thiện
căn đã
gieo từ đời
trước cảm vời quả báo
đặc biệt ấy. Thế mà lại toan
nghiễm nhiên khoanh tay, chẳng quý tấc bóng,
chẳng siêng tu đạo nghiệp, công quả
chẳng do đâu để đạt thành
tựu được, há có phải
chỉ là luống uổng một đời,
mà còn chẳng lợi ích gì cho
sự nghiệp trong đời sau. Từ
biệt cha mẹ, quyết chí khoác áo thâm,
tức là ý mong vượt lên tới
chỗ nào? Hãy
sáng tối suy nghĩ, há có nên chần
chừ kẻo lỡ thời? Tâm mong làm
rường cột của Phật pháp, hòng
làm gương mẫu cho kẻ mai sau, dẫu
cứ thường hành như thế mà
còn chưa thể tương ứng chút
phần! Nói năng cần phải liên quan với
kinh điển, đàm luận cần phải khảo
cứu cổ thư, cổ nhân. Hình dáng, oai
nghi đĩnh đạc, ý khí cao nhã, thanh
nhàn. Đi xa phải nhờ bạn lành,
hòng được nhiều phen lắng trong tai
mắt. Trụ lại [một nơi], ắt
phải chọn bạn, hòng luôn luôn nghe những
điều chưa được nghe. Vì thế
nói “sanh ta là cha mẹ, thành tựu ta
là bạn bè”. Thân cận, nương
dựa người lành, như đi trong
sương mù, tuy không ướt áo, nhưng
luôn được nhuần thấm! Chen lẫn với
kẻ làm ác, sẽ tăng trưởng tri
kiến ác, sáng tối tạo ác, quả
báo ngay
lập tức, chết rồi
trầm luân. Hễ mất thân người, muôn kiếp
chẳng có lại được! Lời
trung thật chói tai, há chẳng tạc dạ
ư?
Vậy thì có
thể rửa tâm, dưỡng đức,
ẩn thân, vùi tên, hun đúc tinh thần trong
sáng, dứt tuyệt ồn náo. Nếu muốn
tham Thiền, học đạo, là môn đốn siêu
phương tiện, tâm khế hợp nơi bến
huyền, hãy suy xét lẽ tinh yếu, chọn
lựa dứt khoát chỗ cao sâu, khải
ngộ nguồn chân thật,
hỏi rộng bậc biết trước, thân cận
bạn lành. Tông này khó đạt
được chỗ mầu nhiệm, hết
sức cần phải dụng tâm kỹ càng
thì mới hòng đốn ngộ chánh nhân.
Đó là thềm, bậc để xuất
trần. Như vậy bèn phá hai mươi lăm
hữu trong tam giới, đối với
các pháp trong ngoài, đều biết chúng
chẳng thật, do [những gì] do tâm biến
hóa, sanh khởi, đều là giả danh, tâm
chẳng cần vướng mắc vào
đó. Chỉ cần tình chẳng
vướng nơi vật, vật sẽ chẳng
trở ngại người. Mặc cho pháp
tánh lưu xuất trọn khắp, chẳng
đoạn, chẳng tiếp nối. Nghe thanh, thấy
sắc, đều [coi đó] là tầm
thường, thì bên này hay bên kia, đều
ứng dụng chẳng khuyết. Hành xử
như vậy, quả thật chẳng uổng
khoác pháp phục, mà cũng là đền
đáp tứ ân, cứu bạt tam hữu.
Nếu đời đời có
thể chẳng thoái thất,
chắc chắn có thể mong mỏi
đạt đến địa vị Phật. Là
khách qua lại trong tam giới, xuất hiện hay
biến mất đều làm pháp tắc cho
người khác. Cái học này tối
diệu, tối huyền, chỉ chịu quyết tâm,
ắt chẳng lừa dối. Nếu có
người thuộc hạng trung căn, chưa
thể đốn siêu, chỉ nên lưu tâm nơi giáo
pháp, ôn tập, tìm tòi kinh điển, tra
xét nghĩa lý tinh tường, truyền
bá, phô diễn để tiếp dẫn kẻ hậu
học, hòng báo ân đức Phật, mà cũng
chẳng luống uổng thời gian. Ắt
phải dùng cách ấy để nâng đỡ
oai nghi ứng xử, sẽ là pháp khí
trong tăng chúng, há chẳng thấy dây leo
nương vào cội tùng, vượt lên cao
ngàn tầm ư?
Nương cậy cái nhân thù thắng thì
mới có thể đạt được
lợi ích rộng lớn.
Hãy khẩn
thiết tu trai giới, đừng lừa
dối, thiếu sót, đời đời
kiếp kiếp, nhân quả thù thắng nhiệm
mầu. Chớ nên nhàn nhã, lần lữa
qua ngày đoạn tháng, đối với
thời gian trân quý mà chẳng cầu
thăng tấn, uổng tiêu tín thí của
mười phương, mà cũng cô phụ
tứ ân. Tích lũy sâu dần, tâm dễ bị
trần duyên phủ lấp, đụng đâu vướng
mắc đó, bị người khác khinh
thường. Cổ nhân nói: “Kẻ khác
là trượng phu, ta cũng
thế, chớ nên tự khinh mà thoái
khuất”. Nếu chẳng
như vậy, uổng công ở trong hàng ngũ
xuất gia, lần lữa suốt một
đời, trọn chẳng lợi ích
gì? Ngưỡng mong hãy dấy khởi
chí quyết liệt, mở ra hoài bão cao xa,
hành xử theo bậc thượng,
đừng tự tiện thuận theo kẻ
tầm thường, bỉ lậu. Đời
này cần phải giải quyết cho xong, tự
mình lo liệu, chứ chẳng do ai khác. Dứt
ý, quên duyên, chẳng duyên theo các trần, tâm
không, cảnh tịch, chỉ vì trầm trệ
chẳng thông suốt lâu ngày. Hãy xem kỹ
bài văn này, luôn luôn răn nhắc, ép
buộc chính mình làm chủ tể,
đừng noi theo tình kiến của
người đời, bị nghiệp quả lôi
dắt, thật khó trốn tránh! Tiếng
hòa nhã, âm vọng lại sẽ tùy thuận.
Hình thẳng thì bóng ngay, nhân quả
rành rành, há chẳng lo sợ ư? Do vậy kinh dạy: “Giả sử trăm
ngàn kiếp, nghiệp đã tạo chẳng
mất, khi nhân duyên hội ngộ, quả báo vẫn
tự chịu”. Vì thế biết: Hình
phạt trong tam giới ràng buộc giết
người, hãy nỗ lực siêng tu, đừng
luống uổng ngày tháng. Biết sâu xa lỗi
họa, thì mới khuyên nhủ nhau hành trì.
Nguyện trăm kiếp ngàn đời, nơi nơi
đều là pháp lữ, bèn có
lời minh rằng:
Huyễn thân như
nhà mộng. Vật sắc trong hư không, tiền
tế vô cùng, hậu tế há đạt? Hiện
đây, mất kia. Thăng trầm nhọc nhằn, chẳng
khỏi tam luân. Khi nào ngưng nghỉ? Tham luyến thế
gian, ấm duyên thành thân. Từ sanh tới lão,
chẳng đạt được gì. Căn bản
vô minh, do vậy mê hoặc. Tấc bóng trân quý,
sát-na chẳng lường. Luống uổng
đời này, đời sau trắc
trở, từ mê đến mê, đều do lục
tặc. Sáu đường qua lại, lê
lết tam giới. Sớm tìm minh sư, thân
cận cao đức. Quyết trạch thân tâm.
Trừ khử gai góc. Cõi đời
hư huyễn, các duyên há bức? Nghiên
cứu cùng tận, lý nơi các pháp.
Ngộ làm pháp tắc, tâm cảnh đều
mất. Chẳng ghi, chẳng nhớ, sáu
căn vui sướng, đi ngồi lặng
lẽ, nhất tâm chẳng sanh, muôn pháp đều
dứt.
[Tổ Liên Trì
nhận định]: Phàm là tăng sĩ, hãy nên
chép lại [lời cảnh sách này],
đặt bên chỗ ngồi, sáng tối nghiền
ngẫm, phản tỉnh. Đối với
người mới xuất gia, liền dạy
đọc thuộc, đừng để quên
bẵng!
* Nghi thức
cúng Phật (齋佛儀)
Nam-mô thường trụ
thập phương Phật.
南無常住十方佛。
Nam-mô thường trụ
thập phương Pháp.
南無常住十方法。
Nam-mô thường trụ
thập phương Tăng.
南無常住十方僧。
Nam-mô Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật.
南無本師釋迦牟尼佛。
Nam-mô đại bi
Quán Thế Âm Bồ Tát
南無大悲觀世音菩薩。
Nam-mô hộ pháp
chư thiên Bồ Tát
南無護法諸天菩薩。
Nẵng mô tát phạ đát
tháp da đa, phạ lô chỉ đế. Án, tam bà
la, tam bà la, hồng.
曩謨薩縛怛嗒耶多。縛盧枳帝。唵。三婆囉。三婆囉。吽。
(Namaḥ
sarva-tathāgatāvalokite. Oṃ, sambhāra sambhāra,
hūṃ).
Nẵng
mô tô rô bà da, đát tha da đa nga, đát
điệt tha: Án, tô rô, tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô,
sa bà ha.
曩謨蘇嚕婆耶。怛他耶多誐。怛姪他。唵。蘇嚕蘇嚕。缽囉蘇嚕。缽囉蘇嚕。娑婆訶。
(Namaḥ
surūpāya tathāgatāya tadyathā: Oṃ sru sru, para
sru, para sru, svāhā).
Thử
thực sắc hương vị, thượng
cúng thập phương Phật, trung phụng chư
hiền thánh, hạ cập lục đạo phẩm.
Đẳng thí vô sai biệt, tùy nguyện giai
bảo mãn. Linh kim thí giả đắc, vô
lượng Ba La Mật. Tam đức lục
vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu
t́nh, phổ đồng cúng dường.
此食色香味,上供十方佛,中奉諸賢聖,下及六道品。等施無差別,隨願皆飽滿,令今施者得,無量波羅蜜。三德六味供佛及僧,法界有情普同供養。
(Sắc,
hương, vị thức ăn, trên cúng
mười phương Phật. Giữa dâng
các hiền thánh, dưới cúng
khắp sáu đường. Bình
đẳng đem bố thí, chẳng hề
có sai biệt. Tùy nguyện đều no
đủ, khiến người bố thí được,
vô lượng Ba La Mật. Ba đức, sáu
vị, cúng Phật và Tăng, pháp giới
hữu tình, đều cúng dường khắp).
Án nga nga nẵng tam
bà phạ phạt
nhật ra hộc.
唵。誐誐曩。三婆縛。伐日囉。斛。
(Oṃ, gagana saṃbhava vajra hoḥ).
Nhũ lạc
đề hồ, tạo xuất thiên trù cúng
thành đạo. Đương sơ mục
nữ tiền lai tống lão mẫu, tằng
tương thác tại kim bàn phụng hiến
thượng Như Lai, hiền thánh vô biên chúng.
乳酪醍醐,造出天廚供成道。當初牧女前來送老母,曾將托在金盤奉獻上如來、賢聖無邊眾。
(Sữa, lạc,
đề hồ, tạo ra từ
bếp trời, cúng dường Phật
thành đạo. Thoạt đầu nàng chăn
bò đem đưa cho mẹ già, từng
đặt trong khay vàng dâng cúng lên Như Lai, hiền
thánh vô biên chúng).
Thiền Duyệt
Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát
(ba lượt).
禪悅藏菩薩摩訶薩。
Hỏi:
Bản lưu hành đương thời ghi là
“pháp giới nhân thiên”, sao [ở đây]
lại nói là “hữu tình”?
Đáp: Cổ bản ghi
là “hữu tình”. Hữu tình
rộng, nhân thiên hẹp. Đã hạn cuộc trong
trời, người, sao đáng gọi là “phổ
đồng cúng dường”?
* Nhị thời
lâm trai nghi - 二時臨齋儀
(nghi thức dùng trong hai thời thọ trai)
Cúng dường
thanh tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật, viên măn
Báo Thân Lô Xá Na Phật, thiên bách ức hóa thân
Thích Ca Mâu Ni Phật, đương lai hạ sanh Di
Lặc Tôn Phật, Cực Lạc thế giới A
Di Đà Phật, thập phương tam thế
nhất thiết chư Phật, đại trí Văn
Thù Sư Lợi Bồ Tát, đại hạnh Phổ
Hiền Bồ Tát, đại bi Quán Thế Âm
Bồ Tát, chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha
Bát Nhã Ba La Mật.
供養清淨法身毘盧遮那佛、圓滿報身盧舍那佛、千百億化身釋迦牟尼佛、當來下生彌勒尊佛、極樂世界阿彌陀佛、十方三世一切諸佛、大智文殊師利菩薩、大行普賢菩薩、大悲觀世音菩薩、諸尊菩薩摩訶薩、摩訶般若波羅蜜。
Tam đức lục
vị, cúng Phật cập tăng, pháp giới hữu
t́nh, phổ đồng cúng dường.
Nhược phạn thực thời,
đương nguyện chúng sanh, thiền duyệt vi thực,
pháp hỷ sung măn (nếu ăn cháo thì
nói: Chúc hữu thập lợi, nhiêu
ích hành nhân, quả báo vô biên, cứu
cánh thường lạc).
三德六味,供佛及僧,法界有情,普同供養。若飯食時,當願眾生,禪悅為食,法喜充滿。(遇粥則云:粥有十利,饒益行人,果報無邊,究竟常樂)。
(Ba
đức, sáu vị, cúng Phật và
Tăng, pháp giới hữu tình, đều
cúng dường khắp. Như khi ăn
cơm, nên nguyện chúng sanh, ăn bằng
Thiền Duyệt, pháp hỷ ngập tràn (nếu
ăn cháo thì nói: “Cháo mười
điều lợi[39],
hữu ích hành nhân. Quả báo vô biên,
rốt ráo thường vui”).
* Kệ kết trai khi
ăn xong
Phạn
thực dĩ ngật, đương nguyện chúng sanh, sở
tác giai biện, cụ chư Phật pháp.
飯食已訖,當願眾生,所作皆辦,具諸佛法。
(Dùng
bữa đã xong, nên nguyện chúng sanh,
việc làm đều xong, trọn các Phật
pháp).
Hỏi: Trong bản
lưu hành hiện thời, sau Di Lặc không
có A Di Đà Phật, vì sao nay lại thêm
vào?
Đáp: Do cổ bản vốn
có, do chẳng quên Tây Phương. Hơn
nữa, đã xưng “thập phương tam thế”,
[tức là] nêu ra vị Phật đời
vị lai để bao gồm tam thế, nay dùng vị
Phật ở Tây Phương để bao trùm
mười phương, có gì chẳng
được? Hơn nữa, ngay khi ăn
cháo, cũng chỉ niệm kệ “ăn cơm”,
chẳng ngại dùng ăn cơm để bao
gồm cháo.
* Chúc thánh nghi (祝聖儀)
Án nại ma ba cát
ngõa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị
a nạp tô tất nễ thật chấp đạp, điệp
tả ra tể dã, đát tháp cả đạt dã.
A ra ha đế, tam dược tam bất đạt
dã, đát dã tháp: Án, tát rị ba,
tang tư cát rị bát rị thuật đạp,
đạt ra mă đế, cả cả nại, tang mă ngột
cả đế, sa ba ngõa tỷ thuật đế,
mã hát nại dã, bát rị ngõa rị,
sa bà ha.
唵。捺摩巴葛瓦帝。阿巴囉密沓。阿優哩阿納蘇必你實執沓。牒左囉宰也。怛塔哿達也。阿囉訶帝。三藥三不達也。怛也塔。唵。薩哩巴桑斯葛哩叭哩述沓。達囉馬帝。哿哿捺。桑馬兀哿帝。莎巴瓦比述帝。馬喝捺也。叭哩瓦哩。娑婆訶。
(Oṃ, namo bhagavate
aparimita-āyurjñāna suviniścitatejorājāya
tathāgatāya arhate samyak saṃbuddhāya, tadyathā: Oṃ,
sarvasaṃskāra pariśuddha dharmate gagana samudgate
svabhāva viśuddhe mahānaya parivārī, svāhā).
Nguyện tương
dĩ thử thắng công đức, chúc tán hoàng
đế vạn vạn tuế. Thánh minh quân, chư
quốc lai triều hội. Nam mô Vô Lượng
Thọ, chúc tán hoàng đế vạn vạn
tuế. Chúc tán hoàng đế vạn vạn
tuế.
願將以此勝功德,祝讚皇帝萬萬歲。聖明君,諸國來朝會。南無無量壽,祝讚皇帝萬萬歲,祝讚皇帝萬萬歲。
(Nguyện
đem công đức thù thắng này,
chúc tán hoàng đế vạn vạn tuổi.
Vua thánh sáng suốt, các nước
đến triều bái. Nam mô Vô Lượng
Thọ, chúc tán hoàng đế vạn vạn
tuổi. Chúc tán hoàng đế vạn vạn
tuổi).
Đại viên măn
giác, ứng tích Tây Càn. Tâm bao thái hư,
lượng châu sa giới. Ngưỡng khấu hồng từ, phủ thùy minh chứng.
Đại Minh quốc (mỗ) tỉnh, (mỗ) phủ, (mỗ) huyện (mỗ) tự, tỳ-kheo (mỗ) đẳng, ư kim (mỗ)
niên (mỗ) nguyệt (sóc vọng) đán chi
thần, vân tập tăng chúng,
đăng lâm bảo điện, phúng diễn bí
chương, xưng dương gia hiệu. Sở tập
hồng nhân, đoan vi chúc diên: Kim thượng hoàng đế
thánh thọ vạn an. Phục nguyện kim luân vĩnh trấn,
ngọc chúc thường điều, bát hoành an
hữu đạo chi trường, tứ hải lạc
vô vi chi hóa. Hiện tiền đại chúng niệm Kim Cang
Vô Lượng Thọ Nhân Vương Bồ Tát Ma Ha
Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
大圓滿覺,應跡西乾,心包太虛,量周沙界。仰叩洪慈,俯垂明證。大明國(某)省(某)府(某)縣(某)寺比丘(某)等,於今(某)年
(某)月(朔望)旦之辰,雲集僧眾,登臨寶殿,諷演秘章,稱揚嘉號。所集洪因,端為祝延。今上皇帝聖壽萬安。伏願金輪永鎮,玉燭常調,八紘安有道之長,四海樂無為之化。現前大眾念金剛無量壽仁王菩薩摩訶薩摩訶般若波羅蜜。
(Đấng
giác ngộ đại viên mãn, thị hiện
dấu tích nơi trời Tây. Tâm bao trùm
thái hư, lượng phủ các cõi
nhiều như cát. Kính bẩm bạch đấng
lòng từ mênh mông, rủ lòng chứng
biết: Nước Đại Minh, tỉnh… phủ…
huyện… chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm…
tháng… sáng hôm (mồng Một hay Rằm), tụ
tập tăng chúng, bước lên điện
báu, phúng tụng kinh điển bí mật,
xưng dương thánh hiệu cao đẹp. Tích
tập cái nhân rộng lớn, đoan nghiêm chúc
tụng dài lâu: Hoàng đế hiện thời
thánh thọ vạn an. Kính nguyện cơ
đồ vĩnh viễn an định, đuốc
ngọc thường ổn, muôn phương
đạo đức dài lâu, bốn biển vui
cùng sự giáo hóa vô vi. Đại chúng
hiện tiền niệm Kim Cang Vô Lượng Thọ Nhân
Vương Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã
Ba La Mật).
* Nghi thức
chúc tán Vi Đà
Thần công phả
trắc, mật hạnh nan tư. Thị dũng kiện
ư thiên luân, tồi tà phụ chánh. Thọ di chúc ư
Đại Giác, hộ pháp, an tăng. Ngưỡng khải
thiên từ, phủ thùy minh chứng. Đại Minh quốc
(mỗ) tỉnh (mỗ) phủ (mỗ) huyện (mỗ) tự
tỳ-kheo (mỗ) đẳng, ư kim (mỗ) niên (mỗ)
nguyệt (Sóc Vọng) đán chi thần, vân tập
tăng chúng, cung nghệ từ hạ, phúng diễn bí
chương, xưng dương gia hiệu. Sở tập
công đức, chuyên thân kỳ đảo tam châu cảm ứng
hộ pháp Vi Đà tôn thiên Bồ Tát, thị
tùng thiên đẳng. Phục niệm mạt pháp
tăng hạnh, đạo lực suy vi, chướng
duyên thiên xí. Duy ký Bồ Tát thần lực minh
tư, sử pháp luân chuyển xứ, nội chướng
ngoại chướng dĩ tiềm tiêu; tăng hải
hòa thời, ác hữu, ác ma nhi vĩnh
ly. Nhân nhân ngộ Tỳ Lô tánh hải, các các nhập
Phổ Hiền hạnh môn. Cung phụng đàn na, quân
triêm thắng ích.
神功叵測,密行難思。示勇健於天倫,摧邪輔正;受遺囑於大覺,護法安僧。仰啟天慈,俯垂明證。大明國(某)省(某)府(某)縣(某)寺比丘(某)等,於今(某)年(某)月(朔望)旦之辰,雲集僧眾,恭詣祠下,諷演秘章,稱揚嘉號。所集功德,專伸祈禱三洲感應護法韋馱尊天菩薩、侍從天等,伏念末法僧行,道力衰微,障緣偏熾。惟冀菩薩神力冥資,使法輪轉處,內障外障以潛消;僧海和時,惡友惡魔而永離。人人悟毘盧性海,各各入普賢行門。供奉檀那,均霑勝益。
(Công năng thần
diệu khó lường, mật hạnh khó
bề suy tưởng. Thị hiện thân dũng
mãnh trong các vị trời, dẹp tà, phò
chánh. Nhận di chúc của đấng Đại
Giác, hộ pháp, an tăng. Kính bẩm đấng
lòng từ trời thẳm, rủ lòng
xét soi: Nước Đại Minh, tỉnh… phủ…
huyện… chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm…
tháng…, sáng hôm (mồng Một hay Rằm),
nhóm họp tăng chúng, đến dưới
điện thờ, phúng tụng kinh điển
bí mật, xưng dương thánh hiệu cao
đẹp. Do công đức đã tích tập,
chuyên dốc lòng cầu nguyện đức hộ
pháp Vi Đà tôn thiên Bồ Tát cảm
ứng ba châu, các vị trời theo hầu
Ngài. Kính
nghĩ tăng hạnh thuở mạt pháp,
đạo lực suy kém, chướng duyên càng
lẫy lừng. Ngưỡng mong Bồ Tát
dùng thần lực ngầm giúp, khiến cho
pháp luân xoay chuyển muôn nơi, nội
chướng, ngoại chướng ngầm tiêu,
biển tăng hòa hợp mọi thời,
vĩnh viễn xa lìa bạn ác, ác ma. Ai
nấy ngộ biển tánh Tỳ Lô, người
người nhập hạnh môn Phổ Hiền.
Đàn-na
cúng dường, phụng sự đều
được thấm nhuần lợi ích
thù thắng).
Tán:
Vi Đà thiên tướng, Bồ Tát hóa thân, ủng
hộ Phật pháp thệ hoằng thâm. Bảo chử
trấn ma quân, công đức nan luân, kỳ đảo phó
quần tâm.
Nam mô Phổ Nhãn Bồ Tát
(ba lượt)
讚:韋馱天將,菩薩化身,擁護佛法誓弘深。寶杵鎮魔軍,功德難倫,祈禱副群心。
南無普眼菩薩。
(Tán:
Vi Đà thiên tướng, Bồ Tát hóa thân, ủng
hộ Phật pháp, thệ rộng sâu. Chày báu
chế ngự ma quân, công đức khôn sánh,
cầu nguyện ứng hợp tâm muôn
người.
Nam-mô
Phổ Nhãn Bồ Tát).
* Nghi thức
chúc tán Già Lam
Thần oai
hữu hách, nguyện lực duy thâm. Tể nhất tự
chi quyền hành, tác chúng tăng chi bảo
chướng. Ngưỡng khải thần thông, phủ
thùy chiêu giám. Đại Minh quốc (mỗ) tỉnh (mỗ)
phủ (mỗ) huyện (mỗ) tự tỳ-kheo (mỗ)
đẳng, ư kim (mỗ) niên (mỗ) nguyệt
(Sóc Vọng) đán chi thần, vân tập tăng
chúng, cung nghệ từ hạ, phúng diễn bí chương,
xưng dương gia hiệu. Sở tập công đức,
chuyên thân kỳ đảo thủ hộ già lam chi thần,
đương sơn thổ địa, nhất thiết
chân tể. Phục nguyện sơn môn trấn tĩnh, hải
chúng an hòa. Hộ pháp hóa dĩ hưng long, vệ
đàn tràng nhi cát khánh. Như tư kỳ đảo, tất
vọng minh gia.
神威有赫,願力惟深。宰一寺之權衡,作眾僧之保障。仰啟神聰,俯垂昭鑒。大明國(某)省(某)府(某)縣(某)寺比丘(某)等,於今(某)年(某)月(朔望)旦之辰,雲集僧眾,恭詣祠下,諷演秘章,稱揚嘉號。所集功德,專伸祈禱守護伽藍之神、當山土地、一切真宰。伏願山門鎮靜,海眾安和。護法化以興隆,衛壇場而吉慶。如斯祈禱,必望冥加。
(Thần oai hiển
hách, nguyện lực thẳm sâu. Chủ
trì phán xét trong một chùa, bảo vệ
chúng tăng khỏi chướng ngại. Kính
ngưỡng bậc
có thần thông rủ lòng soi xét rành
rành. Nước Đại Minh, tỉnh… phủ…
huyện… chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm…
tháng… sáng hôm (mồng Một hay Rằm),
nhóm họp tăng chúng, đến dưới
điện thờ, phúng tụng kinh điển
bí mật, xưng dương thánh hiệu cao
đẹp. Do công đức tích tập, chuyên
dốc lòng cầu nguyện chư thần thủ
hộ chốn già lam, thổ địa nơi núi
này, hết thảy các vị chân thần, kính
nguyện sơn môn bình ổn, hải chúng an
lạc, thuận hòa. Bảo hộ sự giáo
hóa nơi Phật pháp
hưng thịnh, bảo vệ đàn tràng cát
khánh. Cầu đảo như thế, ắt mong
được ngầm gia hộ).
Tán:
Già lam chủ giả, hiệp tự oai linh, khâm thừa
Phật sắc cộng thâu thành. Ủng hộ pháp
vương thành, vi hàn, vi b́nh, phạm sát vĩnh an ninh.
Nam-mô Hộ Pháp Tạng
Bồ Tát (ba lượt)
讚:伽藍主者,合寺威靈,欽承佛敕共輸誠。擁護法王城,為翰為屏,梵剎永安寧。
南無護法藏菩薩。
(Tán:
Chủ chốn già lam, oai
linh cả chùa, kính vâng lời Phật
sắc truyền, cùng hàng phục. Ủng
hộ thành trì của đấng pháp
vương, làm tường
chắn, làm bình phong, phạm sát[40]
vĩnh viễn an ổn.
Nam-mô Hộ Pháp
Tạng Bồ Tát).
* Nghi thức
chúc tán tổ sư
Nhất hoa hiện thụy,
ngũ diệp lưu phương. Phó pháp tạng
ư Tây Càn, bá tâm tông ư Đông Chấn. Ngưỡng
khải thánh thông, phủ thùy chiêu giám. Đại Minh quốc
(mỗ) tỉnh (mỗ) phủ (mỗ) huyện (mỗ) tự
tỳ-kheo (mỗ) đẳng, ư kim (mỗ) niên
(mỗ) nguyệt (Sóc Vọng) đán chi thần,
vân tập tăng chúng, cung nghệ từ hạ, phúng diễn
bí chương, xưng dương gia hiệu. Sở tập
công đức, chuyên thân kỳ đảo Tây Thiên, Đông
Độ lịch đại tổ sư Bồ Tát,
bổn tự khai sơn ḥa thượng, chư vị
giác linh. Phục nguyện tông phong vĩnh chấn, tổ
ấn trùng quang. Giác hoa hương biến ư
thiền lâm, pháp vũ ân triêm ư học địa.
Như tư kỳ đảo, tất vọng minh gia.
一花現瑞,五葉流芳。付法藏於西乾,播心宗於東震。仰啟聖聰,俯垂昭鑒。大明國(某)省(某)府(某)縣(某)寺比丘(某)等,於今(某)年(某)月(朔望)旦之辰,雲集僧眾,恭詣祠下,諷演秘章,稱揚嘉號。所集功德,專伸祈禱西天東土歷代祖師菩薩、本寺開山和尚、諸位覺靈。伏願宗風永振,祖印重光。覺花香遍於禪林,法雨恩霑於學地。如斯祈禱,必望冥加。
(Một
hoa hiện điềm lành. Năm cánh còn
ngát hương. Giao phó pháp tạng nơi
trời Tây, truyền tâm tông nơi Đông Chấn.
Ngưỡng khải thánh thông, rủ lòng soi
xét. Nước Đại Minh, tỉnh… phủ…
huyện… chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm…
tháng… sáng hôm (mồng Một hay Rằm),
nhóm họp tăng chúng, đến dưới
điện thờ, phúng tụng kinh điển
bí mật, xưng dương thánh hiệu cao đẹp.
Do công đức tích tập, chuyên dốc lòng
cầu nguyện tổ sư Bồ Tát các
đời tại Tây Thiên, Đông Độ, khai sơn
hòa thượng chùa này, các vị
giác linh. Kính nguyện tông phong chấn hưng
mãi mãi, tổ ấn lại rạng ngời.
Hoa giác hương lan tỏa khắp thiền lâm,
mưa pháp thấm nhuần địa vị
hữu học. Cầu nguyện như thế,
ắt mong ngầm gia hộ).
Tán:
Niêm hoa ngộ chỉ, tổ đạo sơ hưng, miên
diên tứ thất diễn chân thừa. Lục
đại viễn truyền đăng. Dịch diệp
tương thừa, chánh pháp vĩnh xương
minh.
Nam-mô độ nhân
sư Bồ Tát
(đọc ba lượt)
讚:拈花悟旨,祖道初興,綿延四七演真乘。六代遠傳燈,奕葉相承,正法永昌明。
南無度人師菩薩。
(Tán:
Giơ cành hoa, ngộ yếu chỉ, tổ đạo
mới hưng khởi, kéo dài hai
mươi tám đời diễn chân thừa.
Sáu đời truyền đăng xa thẳm.
Đời đời nối tiếp, chánh
pháp mãi hưng thịnh.
Nam-mô độ nhân
sư Bồ Tát).
* Nghi thức
chúc tán Giám Trai
Công tư đảnh
nãi, chức nhậm tư thịnh. Viễn thừa
Hương
Tích
chi phong, vĩnh tác vân trù chi chủ. Ngưỡng
khải thần thông, phủ thùy chiêu giám. Đại
Minh quốc (mỗ) tỉnh (mỗ) phủ (mỗ)
huyện (mỗ) tự tỳ-kheo (mỗ) đẳng,
ư kim (mỗ) niên (mỗ) nguyệt (Sóc Vọng)
đán chi thần, vân tập tăng chúng, cung nghệ từ
hạ, phúng diễn bí chương, xưng dương gia
hiệu. Sở tập công đức, chuyên thân kỳ đảo
Giám Trai
sứ giả đại thánh Khẩn Na La
vương chi thần. Phục nguyện nhị
thời vô phạp, lục vị thường doanh.
Chưởng thủy hỏa chi bình an, cúng
Phật Tăng nhi phong bị. Như tư kỳ
đảo, tất vọng minh gia.
功司鼎鼐,職任粢盛。遠承香積之風,永作雲廚之主。仰啟神聰,俯垂昭鑒。大明國(某)省(某)府(某)縣(某)寺比丘(某)等,於今(某)年(某)月(朔望)旦之辰,雲集僧眾,恭詣祠下,諷演秘章,稱揚嘉號。所集功德,專伸祈禱監齋使者大聖緊那羅王之神。伏願二時無乏,六味常盈。掌水火以平安,供佛僧而豐備。如斯祈禱,必望冥加。
(Công
trông nồi, vạc, đảm nhiệm cúng tế, xa
tiếp nối phong cách Hương Tích[41],
mãi làm chủ nơi bếp mây. Ngưỡng
khải thần thông, rủ lòng soi xét.
Nước Đại Minh, tỉnh… phủ… huyện…
chùa… các tỳ-kheo… nay vào năm… tháng…
sáng hôm (mồng Một hay Rằm), nhóm họp
tăng chúng, đến dưới điện
thờ, phúng tụng kinh điển bí mật,
xưng dương thánh hiệu cao đẹp. Do công
đức tích tập, chuyên dốc lòng cầu
nguyện Giám Trai sứ giả[42]
đại thánh Khẩn Na La Vương thần.
Kính nguyện hai thời chẳng thiếu
sót, sáu vị thường ngập tràn. Cai
quản nước lửa bình an, cúng
Phật Tăng trọn đủ. Cầu nguyện như
thế, ắt mong ngầm gia bị).
Tán: Giám Trai sứ
giả, hỏa bộ oai thần, điều hòa
bách vị tiến duy hinh. Tai hao vĩnh vô xâm, hộ
mạng tư thân, thanh chúng vĩnh mông ân.
Nam-mô Diễm
Huệ Địa Bồ Tát (đọc
ba lượt)
讚:監齋使者,火部威神,調和百味薦惟馨。災耗永無侵,護命資身,清眾永蒙恩。
南無燄慧地菩薩。
(Tán: Giám
Trai sứ giả, oai thần thuộc hỏa bộ,
điều hòa trăm vị dâng thơm thảo. Tai
ương, hao tổn chẳng hề xâm, hộ
mạng, bồi thân, thanh chúng mãi hưởng
ân.
Nam-mô Diễm Huệ
Địa Bồ Tát).
* Nghi thức
thỉnh chuông
Trước hết, niệm
kệ rằng:
Nguyện
thử chung thanh siêu pháp giới, Thiết Vi u ám tất
giai văn. Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,
nhất thiết chúng sanh thành Chánh Giác.
願此鐘聲超法界,鐵圍幽暗悉皆聞。聞塵清淨證圓通,一切眾生成正覺。
(Nguyện
tiếng chuông này siêu pháp giới, Thiết Vi
tăm tối thảy đều nghe. Văn trần thanh
tịnh, chứng viên thông. Hết thảy chúng sanh
thành Chánh Giác).
Kế
đó,
xướng:
Văn chung thanh, phiền
năo khinh, xuất địa ngục, ly hỏa khanh. Trí
huệ trưởng, Bồ Đề sanh, nguyện
thành Phật, độ chúng sanh.
聞鐘聲,煩惱輕,出地獄,離火坑,智慧長,菩提生,願成佛,度眾生。
(Nghe
tiếng chuông ngân, phiền não nhẹ. Thoát
địa ngục, lìa hầm lửa hừng.
Trí huệ tăng trưởng, Bồ Đề
sanh. Nguyện thành Phật độ chúng sanh).
Án, già ra đế
da, sa bà ha.
唵伽囉帝耶娑婆訶。
Kế đó,
thỉnh chuông, cứ một tiếng chuông bèn
niệm Quán Thế Âm Bồ Tát.
* Nghi thức
kết hội niệm Phật
Phật tử
tại gia lập hội niệm Phật, ba thời
tụng lễ. Trước hết, tụng kinh Di
Đà một quyển, chú Vãng Sanh ba
lượt, niệm Phật ra tiếng năm trăm
câu, thầm tưởng niệm Phật năm trăm câu,
lễ bốn mươi tám lạy, hồi
hướng một lượt. Thời
giữa cũng thế, thời cuối cũng
thế. Chẳng cần niệm các kinh như
Dược Sư v.v… Chẳng cần đánh,
thổi nhạc khí, chẳng
cần niệm chân ngôn “tán đèn, hiến
cúng”. Thuần nhất niệm Phật, chẳng xen
tạp các chuyện khác. Tu hành như thế,
ắt sanh Tịnh Độ. Nếu không, ắt sẽ
dần dần nhiễm phải tình đời,
rốt cuộc trở thành ứng phó,
hãy cẩn trọng nhé!
* Hương tán
Lư hương
sạ nhiệt, pháp giới mông huân, chư Phật (tùy
hoán) hải hội tất dao văn. Tùy
xứ kết tường vân, thành ư phương ân,
chư Phật hiện toàn thân.
爐香乍爇,法界蒙熏,諸佛(隨換)海會悉遙聞。隨處結祥雲,誠意方殷,諸佛現全身。
(Hương trong
lò vừa đốt, pháp giới ngát thơm
lừng. Chư Phật (có thể thay đổi
thích ứng) hội lớn đều xa hay.
Theo từng chốn kết mây lành, lòng
thành mới ân cần, chư Phật hiện toàn
thân).
* Tây Phương
Tán
Liên tŕ hải hội, Di
Đà Như Lai, Quán Âm, Thế Chí tọa hoa
đài. Chư thượng thiện nhân giai, đại thệ
hoằng khai, phổ nguyện ly trần ai.
蓮池海會,彌陀如來,觀音勢至坐華臺。諸上善人偕,大誓弘開,普願離塵埃。
(Tạm
dịch: Nơi ao sen, hội như biển rộng.
Đức từ phụ Di Đà Như Lai.
Quán Âm, Thế Chí đài hoa ngự. Các
thượng thiên nhân đều quây quần.
Đại thệ vừa rộng mở, nguyện
khắp muôn loài lìa não phiền).
2.
Cụ Giới Tiện Mông (Giới
cụ túc nhằm thuận tiện cho
người chưa hiểu biết) - 具戒便蒙 (tỉnh
lược)
3.
Sa-di Luật Nghi Yếu Lược[43]
(沙彌律儀要略)
Bồ
Tát giới đệ tử chùa Vân Thê sa-môn Châu
Hoằng kết tập
Tiếng
Phạn là Sa-di (Śrāmaṇera), phương này dịch là Tức
Từ (息慈), ý nói “dứt ác hạnh”, và “do lòng từ mà dứt nhiễm
đắm cõi đời”. [Sa-di] còn dịch là
Cần Sách (勤策, sách
tấn chuyên cần), còn dịch là Cầu Tịch (求寂, cầu sự vắng lặng, không
tịch). Luật Nghi (律儀) là mười giới luật và
các oai nghi.
3.1.
Giới luật môn (戒律門)
Đức
Phật chế định người xuất gia
trước khi đạt tới năm hạ
bèn chuyên ròng giới luật, sau đấy
mới được nghe giáo, tham Thiền. Do
vậy, sa-di xuống tóc, trước hết
thọ mười giới. Kế đó,
đăng đàn thọ Cụ Túc Giới. Nay
những kẻ mang tiếng là sa-di,
đối
với giới mà chính mình đã
thọ, kẻ ngu thì mờ mịt
chẳng hay biết, kẻ cuồng thì coi
thường chẳng học, toan vượt
lướt qua, ngỡ như thế là cao xa,
cũng đáng cảm khái thay! Do vậy, tôi
đem mười
giới lược giải mấy câu, ngõ
hầu kẻ mới học biết
được phương hướng,
người do tâm tốt lành mà xuất gia
sẽ dốc ý tuân hành, thận trọng
đừng vi phạm. Sau đấy thì gần
là “thềm, thang” cho tỳ-kheo
giới, xa thì là căn bản cho Bồ
Tát giới. Do giới mà sanh định, do
định mà phát huệ, ngõ hầu thành
tựu thánh đạo, chẳng phụ bạc chí
hướng xuất gia. Nếu thích xem rộng, xin
hãy tự đọc Luật Tạng toàn
thư.
Mười
giới dưới
đây trích từ Sa-di Thập Giới Kinh[44],
do đức Phật sắc truyền ngài
Xá Lợi Phất nói cho La Hầu La.
3.1.1.
Thứ nhất, không sát sanh
Giải:
Trên là đến chư Phật, thánh nhân, sư
tăng, cha mẹ, dưới là đến các
loài trùng bọ bay, bò, ngọ ngoạy
nhỏ nhặt, chỉ cần
là loài có sanh mạng, chẳng
được cố ý giết, hoặc
tự giết, hoặc bảo người
khác giết, thấy người khác giết
mà tùy
hỷ. Rộng nói như trong luật,
do kinh văn rườm rà không sao lục.
Kinh
chép đối với các loài trùng sanh
trong tháng mùa Đông, đem bỏ chúng vào
trong ống tre, giữ ấm bằng sợi
bông, nuôi bằng vật béo, do sợ nó
bị chết đói. Cho đến lọc
nước, che đèn, chẳng nuôi mèo,
chồn v.v… đều là đạo từ bi.
Đối với loài nhỏ bé mà còn
như thế, có thể biết đối với
loài lớn [phải nên làm như thế
nào?] Người hiện thời chẳng
thực hiện lòng Từ
như thế, lại còn làm hại, tổn
thương chúng nó, có nên hay chăng? Vì
vậy kinh dạy: “Thi ân tế phạp, sử
kỳ đắc an. Nhược kiến sát
giả, đương khởi từ tâm” (ban ân,
giúp người thiếu thốn, khiến họ
được an ổn. Nếu thấy kẻ giết
chóc, hãy nên dấy lòng từ). Ôi! Chẳng đáng kiêng dè
ư?
3.1.2.
Thứ hai, không trộm cắp
Giải:
Từ vật quý trọng như vàng, bạc,
cho đến một cây kim, một cọng cỏ,
chẳng được không cho mà lấy.
Nếu là vật của thường trụ,
hoặc đồ vật của tín thí,
hoặc đồ vật của tăng chúng,
hoặc vật của quan (của công),
vật của dân, hết thảy mọi vật,
hoặc là đoạt lấy, hoặc trộm
lấy, hoặc lừa lấy, cho đến
trốn thuế, trốn vé,
đo lường gian dối
v.v… đều là trộm cắp.
Kinh
chép một sa-di trộm bảy trái cây của
thường trụ, một sa-di khác trộm
mấy cái bánh của chúng tăng, một sa-di
khác trộm mấy phần thạch mật của
chúng tăng, đều đọa địa ngục.
Vì thế, kinh chép: “Ninh tựu đoạn
thủ, bất thủ phi tài” (Thà bị
chặt tay, chẳng lấy tài vật sai
trái). Ôi! Há chẳng đáng răn dè
ư?
3.1.3.
Thứ ba, chẳng dâm
Giải:
Ngũ giới của người tại gia
chỉ chế định “không
tà dâm”. Mười
giới của người xuất gia hoàn
toàn đoạn dâm dục. Chỉ cần dính
dáng đến hết thảy nam nữ trong
thế gian đều gọi là “phá giới”.
Kinh
Lăng Nghiêm chép tỳ-kheo-ni
Bảo Liên Hương lén làm chuyện dâm dục,
tự nói “dâm dục chẳng giết,
chẳng trộm, chẳng có tội báo”,
bèn cảm thân tuôn ra lửa mạnh, hãm vào
địa ngục ngay trong khi còn sống.
Người đời do dục mà thân
chết, nhà tan. Bỏ cõi tục làm tăng,
há nên phạm nữa? Căn bản sanh tử
thì dục là bậc nhất. Do vậy, kinh
dạy: “Dâm dật nhi sanh, bất như trinh khiết nhi
tử” (Do dâm dật mà sống, chẳng
bằng trinh khiết mà chết). Ôi, há
chẳng đáng răn dè ư?
3.1.4.
Thứ tư, chẳng nói dối
Giải:
Vọng ngữ có bốn điều:
-
Một là vọng ngôn,
tức coi đúng là sai, coi sai là
đúng, thấy nói chẳng thấy,
chẳng thấy nói thấy, hư vọng
chẳng thật v.v…
-
Hai là ỷ ngữ (nói thêu dệt), tức
là lời lẽ tô vẽ, sáo rỗng, thơ
từ hay ca khúc diễm tình, khơi gợi
dục, tăng thêm bi thương, khiến cho tâm chí
người khác phiêu đãng v.v…
- Ba
là ác khẩu, tức là lời thô
ác, chửi mắng người khác v.v…
-
Bốn là lưỡng thiệt, tức là
hướng về người này kể
lể người kia, hướng về
người kia kể lể người này, ly
gián ân nghĩa, đâm thọc tranh đấu v.v…
Cho đến
trước mặt thì khen, sau lưng hủy
báng, trước mặt nói là
đúng, sau lưng quở là sai, chứng
nhận tội của người khác, rêu rao
khuyết điểm của người ta, đều
thuộc loại vọng ngữ. Nếu phàm phu
tự nói đã chứng thánh, như
nói chính mình đã đắc quả Tu
Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm
v.v… thì gọi là đại vọng ngữ,
tội ấy cực nặng!
Ngoài ra, nói dối nhằm cứu nạn
gấp cho người khác, phương tiện
quyền xảo, từ bi nhằm cứu
vớt, tạo lợi ích v.v… thì chẳng
phạm.
Cổ nhân nói “hành
kỷ chi yếu, tự bất vọng ngữ
thỉ” (điều quan trọng trong lập thân
xử sự khởi đầu bằng
chẳng nói dối), huống hồ học
đạo xuất thế ư? Kinh chép sa-di
cười nhạo một vị tỳ-kheo già
đọc kinh như chó sủa, nhưng vị
tỳ-kheo già là A La Hán;
do vậy, Ngài dạy sa-di hãy gấp sám
hối. [Dẫu sa-di sám hối ngay], chỉ thoát
khỏi địa ngục, vẫn đọa làm thân
chó. Một câu nói ác gây hại đến
thế! Vì thế, kinh
dạy: “Phù sĩ xử thế, phủ tại khẩu
trung. Sở dĩ trảm thân, do kỳ ác ngôn”
(Người sống trên đời,
lưỡi búa ở trong miệng. Sở
dĩ chém thân là do thốt lời ác) Ôi!
Há chẳng đáng răn dè ư?
3.1.5.
Thứ năm, chẳng uống rượu
Giải:
“Uống rượu” là uống hết
thảy những thứ rượu có
thể khiến cho người ta say. Rượu
Tây Vực có nhiều loại; mía, nho, hoặc
bách hoa, đều có thể chế thành
rượu. Phương này chỉ có gạo
chế thành rượu, đều chớ nên
uống. Trừ khi mắc bệnh ngặt,
chẳng có rượu thì không chữa
được, bèn trình với đại
chúng rồi mới uống. Không nguyên cớ
thì một giọt cũng chẳng dính môi!
Thậm chí chẳng được ngửi
rượu, chẳng được nghỉ
lại nhà chế rượu, chẳng
được đưa rượu cho
người khác uống.
Nghi
Địch[45]
chế rượu, do vậy, vua Vũ đau lòng
cấm tuyệt. Vua Trụ lập tửu trì[46],
đất nước diệt vong. Tăng sĩ
uống rượu, càng đáng nhục
tột bậc!
Xưa kia, có ưu-bà-tắc do phá
giới uống rượu, các giới
khác đều bị phá. Ba mươi sáu
lầm lỗi[47],
hễ uống rượu sẽ đều trọn
đủ, lỗi chẳng nhỏ nhoi! Người
tham uống rượu chết, đọa vào
địa ngục Phí Niệu (沸屎,
phân sôi sùng sục), đời đời ngu si,
đánh mất chủng tánh trí huệ.
Rượu là thứ mê hồn, là thuốc
gây cuồng, dữ dội hơn tỳ sương,
chất độc của chim trấm. Do vậy, kinh
nói: “Ninh ẩm dương đồng, thận vô
phạm tửu” (thà uống nước
đồng sôi, cẩn thận chẳng phạm
giới không uống rượu). Ôi! Há
chẳng đáng răn dè ư?
3.1.6.
Thứ sáu, chẳng đeo tràng hoa thơm,
chẳng dùng hương bôi thân
Giải:
“Hoa man” (華鬘):
Tây Vực xâu hoa thành chuỗi để làm
thứ trang sức trên đầu, còn ở
phương này thì
dùng nhung, lụa, vàng, chất báu chế
thành các loại khăn, mũ. “Bôi hương
lên thân”: Quý nhân ở Tây Vực dùng
hương quý nghiền thành
bột, sai người hầu bôi lên thân [chủ nhân].
Cõi này thì là các loại như bội
hương (hương đựng trong túi thơm
để đeo), huân hương
(hương xông y phục, vật dụng), son phấn v.v… Người xuất gia há nên
dùng thứ ấy?
Đức
Phật chế định tam y, đều dùng vải
gai thô sơ. Lông thú, kén tằm tổn hại
loài vật, tổn thương lòng từ,
chớ nên dùng.
Trừ phi tuổi đến bảy mươi, suy yếu quá đỗi,
chẳng có sợi bông sẽ không đủ
ấm thì có thể dùng. Những
trường hợp khác đều
chẳng được. Vua Hạ Vũ áo rách, Công Tôn mặc áo
vải, vương thần quý hiển, đáng
lẽ mặc [gấm, lụa] mà họ
chẳng mặc, há người
đắc đạo ngược ngạo tham
đắm trang sức lộng lẫy? Dùng
hoại sắc làm y phục, y phấn tảo che
thân, cố nhiên là lẽ đáng nên! Xưa kia
có vị cao tăng suốt ba mươi mấy năm
đi một đôi giày, huống bọn phàm
tục ư? Ôi! Chẳng đáng răn dè sao?
3.1.7.
Thứ bảy, không ca múa, tấu nhạc,
chẳng đến xem, nghe
Giải:
“Ca”
là miệng thốt ra ca khúc. “Múa”
là thân nhún nhảy. Tấu nhạc là [diễn
tấu] các loại như đàn cầm,
đàn sắt, tiêu, kèn… Chẳng
được tự tấu, cũng chẳng
được khi người khác diễn
tấu, bèn cố ý đến xem, nghe.
Thuở
xưa có tiên nhân do nghe nữ nhân ca hát, âm thanh
vi diệu, bèn đánh mất thần thông. Cái
hại của xem, nghe như thế đó; huống hồ
là tự tấu. Nhưng kẻ ngu trong hiện
thời do kinh Pháp Hoa có câu “tỳ bà,
não bạt”, bèn mặc sức học âm
nhạc. Nhưng [tấu nhạc trong] kinh Pháp Hoa
là để cúng dường chư Phật,
chẳng phải để tự vui thỏa.
Chùa chiền làm pháp sự hoặc
đạo tràng cho nhân gian [bèn tấu nhạc]
thì còn được. Nay vì sanh tử,
xả tục xuất gia, há có nên chẳng tu
chánh vụ, mà mong khéo léo
nơi âm nhạc ư? Thậm chí cờ vây,
bài bạc, gieo xúc xắc, chơi xu bồ[48]
v.v… đều loạn đạo tâm, tăng
trưởng lỗi ác. Ôi! Há chẳng
đáng răn dè ư?
3.1.8.
Thứ tám, chẳng ngồi giường
cao rộng
Giải:
Đức Phật chế định:
Giường dây chẳng cao hơn tám ngón
tay của Như Lai. Cao hơn sẽ phạm luật. Cho
đến các loại [giường, chõng]
sơn, vẽ, chạm trổ, và màn, nệm
bằng sa, lụa, cũng chẳng nên dùng.
Cổ nhân kết cỏ làm tòa, ngủ
dưới gốc cây. Nay có giường,
chõng, cũng là đã thù thắng
quá rồi, há còn cao rộng, phóng túng
huyễn thân ư? Hiếp tôn giả suốt
đời chẳng ngả lưng xuống
chiếu. Thiền sư Cao Phong Diệu lập nguyện ba
năm không dính đến giường, ghế.
Ngộ Đạt nhận tòa bằng trầm
hương, còn bị tổn phước,
chuốc báo. Ôi! Há chẳng đáng răn
dè ư?
3.1.9.
Thứ chín, chẳng ăn phi thời
Giải:
“Phi thời” là quá Ngọ, chẳng phải là
lúc ăn của chư Tăng.
Chư thiên ăn buổi sáng, Phật ăn
giữa Ngọ, súc sanh ăn buổi chiều,
ngạ quỷ ăn ban đêm. Tăng hãy nên học
theo Phật, chẳng ăn quá Ngọ. Ngạ
quỷ nghe tiếng chén, bát khua, trong họng
bốc lửa. Do đó, ăn Ngọ
còn phải lặng lẽ, hà huống quá
ngọ ư? Xưa kia, có vị cao tăng nghe vị
tăng ở phòng bên cạnh sau Ngọ nổi
lửa nấu cơm, bất giác trào lệ,
xót cho Phật pháp suy tàn. Người
hiện thời, thân yếu, lắm bệnh,
muốn ăn nhiều lượt, có lẽ
chẳng giữ được giới
này. Vì thế, cổ nhân gọi bữa tối
là “dược thạch” (藥石),
mang ý nghĩa “chữa bệnh”, ắt cũng
biết là trái nghịch chế định của
Phật, sanh lòng hổ thẹn to lớn. Nghĩ
đến nỗi khổ của ngạ quỷ,
thường hành sự thương xót
cứu tế, chẳng ăn nhiều, chẳng
ăn ngon, chẳng chú tâm vào ăn uống,
hễ có là được rồi! Nếu
chẳng phải như vậy, sẽ mắc
tội càng nặng. Ôi! Há chẳng đáng
răn dè ư?
3.1.10.
Thứ mười, chẳng cầm nắm
sanh tượng, vàng, bạc, vật báu
Giải:
“Sanh” (生)
tức là vàng. “Tượng” (像)
là giống như. [“Sanh
tượng”] là giống như vàng,
tức bạc. Ý nói màu của vàng
vốn sẵn là vàng. Bạc có thể
nhuốm màu vàng giống như vàng. “Báu”
là bảy báu, đều tăng trưởng
tâm tham, ngăn trở, hư hoại đạo
nghiệp. Vì thế, thuở đức
Phật tại thế, Tăng đều khất
thực, chẳng tạo bếp núc. Y phục,
phòng ốc đều phó mặc cho ngoại
duyên, đặt vàng, bạc vào chỗ vô
dụng. Cầm, nắm còn là phạm
giới, những điều khác có thể
suy ra!
Cuốc
trúng vàng còn chẳng ngó tới[49],
Nho sĩ trong đời còn vậy. Thích Tử
xưng là nghèo, tích cóp tài vật
ích gì? Người thời nay đều
chẳng thể khất
thực, hoặc vào tùng lâm, hoặc
sống trong am viện, hoặc đi đến
phương xa, cũng chưa tránh khỏi chi phí
bằng vàng, bạc, ắt cũng biết
là đã trái nghịch chế định
của đức Phật, sanh lòng hổ thẹn
to lớn. Nghĩ tới
người khác nghèo
thiếu, chẳng tìm cầu, chẳng toan
tính, chẳng tích cóp, chẳng bán
chác, chẳng dùng bảy báu trang hoàng y
phục, vật dụng v.v… để mong
được vậy. Nếu chẳng thể,
sẽ mắc tội càng nặng. Ôi!
Chẳng đáng răn dè ư?
3.2. Oai nghi môn (威儀門)
Đức
Phật chế định sa-di tròn hai mươi
tuổi, khi muốn thọ Cụ Túc Giới,
nếu [thầy] hỏi mà chẳng thể
đáp đầy đủ những
chuyện thuộc về sa-di,
chẳng nên cho thọ Cụ Túc Giới.
Hãy nên nói: “Ngươi chính là sa-di
mà chẳng biết thi hành bổn phận
của sa-di, chuyện của sa-môn sẽ rất khó
làm. Ngươi nên về học thuộc, khi nào
nghe biết tường tận, mới nên thọ
Cụ Túc Giới. Nay truyền giới Cụ
Túc cho ngươi, người ta sẽ nói Phật
pháp dễ hành, sa-môn dễ làm. Vì thế,
phải hỏi trước”.
Các
điều dưới đây xuất phát
từ các kinh dạy về oai nghi của sa-di
và Thanh Quy thời
cổ. Nay tôi trích lục từ khuôn phép
đã hình thành của sa-di. Lại còn
đối với sách Hành Hộ Luật Nghi (行護律儀, luật
nghi để thực hiện và gìn
giữ) của Đạo Tuyên luật sư, tuy
thật sự là áp dụng cho hàng tân
học tỳ-kheo, hễ có chỗ nào có
thể áp dụng chung, cũng trích xuất ra.
Ấy là do tình người thời Mạt
Pháp lắm nỗi biếng nhác, nghe nhiều
thứ bèn chán ngán;
vì vậy, bỏ bớt những chỗ
rườm rà, giữ lại những
điểm quan trọng, phân loại để tiện xem
đọc, học tập. Nếu có chỗ nào
chưa đầy đủ, sẽ theo ý nghĩa
mà bổ sung một, hai điều. Ai thích xem
rộng thì tự kiểm đọc toàn
bộ kinh văn.
3.2.1.
Thứ nhất: Kính đại sa-môn
-
Chẳng được gọi tên đại sa-môn.
- Chẳng
được nghe trộm đại sa-môn thuyết
giới.
- Chẳng
được rêu rao, kể lỗi của đại
sa-môn.
- Chẳng
được đang ngồi, thấy đại
sa-môn đi qua mà không đứng dậy,
trừ lúc đang đọc kinh, bị bệnh,
cạo tóc, dùng cơm, hoặc làm các
việc trong chúng.
Sách
Hành Hộ ghi: “Từ năm hạ trở lên
tức là địa vị A-xà-lê,
mười hạ trở lên là địa
vị hòa thượng. Tuy là chuyện của
tỳ-kheo, sa-di cũng nên cần phải biết”.
3.2.2.
Thứ hai: Phụng sự thầy
-
Hãy nên dậy sớm.
- Muốn vào
cửa, hãy nên khảy ngón tay ba lượt
trước.
- Nếu có
lỗi, được hòa thượng,
A-xà-lê răn dạy, chẳng được
cãi lại.
- Hãy nên thấy
hòa thượng, A-xà-lê như thấy Phật.
- Nếu bị sai
đem đổ đồ chứa bất tịnh,
không được khạc nhổ, không
được giận dữ.
- Đối
với chuyện lễ bái, thầy đang tọa
Thiền, không được lễ bái. Thầy
kinh hành, chớ nên làm lễ. Thầy ăn, thầy
nói kinh, thầy chải răng, thầy tắm
rửa, thầy ngủ nghỉ v.v… đều
chớ nên làm lễ. Thầy đóng
cửa, chớ nên làm lễ ngoài
cửa. Muốn vào cửa làm lễ,
hãy nên khảy ngón tay ba lượt. Thầy
chẳng đáp, hãy nên rời đi.
- Cầm thức
ăn cho thầy, đều nên dùng hai tay bưng.
Thầy ăn xong, [trò] thâu cất chén bát,
hãy nên thong thả.
- Hầu thầy
thì chớ nên đứng đối diện,
chẳng được ngồi ở chỗ
cao, chẳng được đứng quá
xa. Hãy nên sao cho thầy nói nhỏ vẫn nghe
được, chẳng tốn hơi sức.
- Nếu thưa
hỏi nhân duyên Phật pháp, hãy nên chỉnh
đốn y phục, lễ bái, chắp tay, hồ
quỳ. Thầy có lời dạy, hãy
lắng lòng nghe kỹ, tư duy thâm nhập.
- Nếu hỏi về
chuyện thường ngày, chẳng cần
quỳ lễ, chỉ đứng ngay ngắn bên
cạnh thầy, đúng sự thực mà
trình bày.
- Nếu thầy thân
tâm mệt mỏi, dạy trò rời đi, hãy
nên đi, chẳng được bày ra vẻ
mặt tâm tình
chẳng vui.
- Phàm có
những chuyện phạm giới v.v… chẳng
được che giấu, hãy mau đến
chỗ thầy xót xa cầu sám hối. Thầy chấp
thuận, bèn tận tình bộc lộ, tinh
thành hối cải, hoàn phục sự thanh
tịnh.
- Thầy nói
chưa xong, chẳng được cướp
lời. Chẳng được đùa
bỡn ngồi lên tòa của thầy, và nằm
lên giường của thầy, mặc áo,
đội mão của thầy v.v…
- Vì thầy
chuyển giao thư từ, chẳng
được lén bóc ra xem, cũng
chẳng được cho người khác
xem. Đến chỗ người ấy, nếu
được hỏi, chuyện nên đáp thì
đúng sự thật mà thưa. Chuyện
chẳng nên đáp thì khéo léo
từ khước. Người ấy
giữ lại, chớ nên tùy tiện ở
lại, hãy nên nhất tâm nghĩ thầy đang mong
trò trở về.
- Thầy tiếp
khách, trò hoặc đứng chỗ
thường đứng, hoặc ở bên
cạnh thầy, ắt phải sao cho tai mắt tiếp
xúc để giúp thầy khi cần.
-
Thầy bệnh tật, mỗi mỗi đều dụng
tâm sắp xếp phòng ốc, mền, đệm,
thuốc men, cơm cháo v.v…
-
Cầm áo, trao dép, giặt giữ, hong,
phơi v.v… chi tiết như chép trong luật,
ở đây chẳng phiền sao lục.
Nói
thêm:
- Phàm hầu
thầy, thầy chưa cho phép ngồi, chẳng
dám ngồi, thầy chẳng hỏi, chẳng
dám đáp, trừ khi hữu sự muốn
hỏi.
-
Phàm đứng hầu, chẳng
được dựa vách, tựa bàn,
hãy nên ngay thân, nghiêm chân đứng một bên.
- Muốn lễ bái, nếu
thầy bảo thôi, hãy nên vâng theo lệnh thầy
đừng lạy.
-
Hễ thầy và khách đàm luận,
gặp những lời có ích cho thân tâm,
hãy đều nên ghi nhớ.
-
Thầy sai bảo điều gì, hãy nên gấp
thực hiện, đừng nên chống trái,
lần chần.
-
Chẳng được ngủ trước
thầy.
-
Nếu ai hỏi tên húy của thấy, hãy nên
nói thượng là gì, hạ là gì[50].
-
Phàm đệ tử hãy nên chọn minh sư,
thân cận lâu ngày, chẳng được
lìa thầy quá sớm. Nếu thầy thật
sự chẳng sáng suốt, mới nên
cầu người hướng dẫn tốt
lành khác.
-
Nếu rời khỏi thầy, hãy nên nhớ
lời thầy dạy, chẳng được
mặc tình tự ý thuận theo thói
tục trong cõi đời làm chuyện bất
chánh, cũng chẳng được trụ
nơi chợ búa ồn náo, chẳng
được sống trong miếu thờ
thần, chẳng được ở nơi
nhà dân, chẳng được ở
gần chùa ni, chẳng được do ở
khác chỗ với thầy mà làm hết
thảy chuyện ác trong thế gian.
3.2.3
Thứ ba: Theo thầy xuất hành
- Chẳng
được đi qua nhà người ta.
-
Chẳng được ngưng lại trò
chuyện với người khác bên
đường.
-
Chẳng được nhìn ngó quanh
quất, hãy nên cúi đầu theo sau thầy.
-
Tới nhà đàn việt, hãy nên
đứng một bên, thầy bảo ngồi
mới nên ngồi.
-
Tới tự viện khác, thầy lễ
Phật hoặc chính mình tự lễ,
chẳng được tự tiện gõ
khánh.
-
Nếu đi trong núi, hãy nên
cầm tọa cụ theo sau. Nếu đi xa, chớ nên
cách thầy quá xa. Nếu qua đò, hãy nên
cầm gậy dò thử mực nước
nông, sâu.
-
Cầm bình và tích trượng v.v... đã chép đầy đủ trong
Luật, văn từ rườm rà
chẳng cần sao lục.
Nói
kèm thêm:
- Nếu ngẫu nhiên
tách ra, ước hẹn đến nơi nào
đó sẽ gặp gỡ, chẳng
được đến trễ.
-
Thầy thọ trai, hãy nên đứng hầu. Khi
xuất sanh hoặc thọ trai xong, hãy nên
đứng hầu tiếp nhận
vật cúng dường.
3.2.4.
Thứ tư: Nhập chúng
-
Chẳng được giành chỗ ngồi.
-
Chẳng được tại chỗ ngồi kêu
réo từ xa, nói, cười.
-
Trong chúng có người đánh mất oai
nghi, hãy nên ẩn ác, nêu cao điều thiện.
-
Chẳng được làm thay [người khác]
hòng hiển lộ công lao của mình.
-
Phàm ở bất cứ chỗ nào,
chẳng ngủ trước người
khác, chẳng dậy sau người khác.
-
Khi rửa mặt, không dùng quá nhiều
nước.
-
Chà răng, nhổ nước, cần phải
cúi đầu nhổ nước ra, không
được phun nước làm bẩn
người khác.
-
Chẳng được lớn tiếng hỉ
mũi, ói mửa.
-
Chẳng được khạc nhổ nơi
điện, tháp, tịnh thất, đất sạch,
nước sạch, hãy nên làm ở chỗ
khuất.
-
Khi uống trà hay nước nóng, chẳng
được dùng một tay đón lấy.
-
Chẳng được hướng về
tháp, hòa thượng, A-xà-lê v.v...
để súc miệng.
-
Hễ nghe tiếng chuông, bèn chắp tay, niệm
thầm: “Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ,
trí huệ tăng, Bồ Đề sanh. Lìa
địa ngục, thoát hầm lửa. Nguyện
thành Phật, độ chúng sanh. Án, già ra
đế da, sa ha”.
-
Không được cười nhiều. Nếu
cười lớn hoặc ngáp, nên dùng
tay áo che miệng.
-
Không được đi vội, không
được lấy đèn nơi bàn
Phật để dùng riêng. Nếu thắp
đèn, hãy nên đậy chụp đèn cho
kín, đừng để các
loài trùng bay vào.
-
Cúng hoa cho Phật, chọn bông nở xòe,
chẳng được ngửi
trước. Loại bỏ hoa héo rồi
mới cúng hoa mới. Hoa héo chẳng
được vứt xuống đất, giẫm
đạp, hãy nên để chỗ khuất.
-
Chẳng được nghe gọi mà không
đáp. Hễ được gọi, đều
nên dùng tiếng niệm Phật để đáp.
-
Hễ thâu thập di vật
[của vị tăng đã mất],
hãy nên bạch với vị tăng chủ
sự.
Nói
thêm:
-
Chẳng được kết bạn với
sa-di nhỏ tuổi.
-
Chẳng được giảm thiểu ba y,
hoặc lôi thôi, xộc xệch.
-
Chẳng được may nhiều
quần áo. Nếu có dư, hãy nên thí
xả.
-
Chẳng được sắm sửa
phất trần, các món ngoạn cụ tinh tế
v.v..., vẽ vời
cảnh núi sông, trào
lộng.
-
Chẳng mặc sắc phục[51],
và các y phục, trang sức v.v… của
người thế tục.
-
Chẳng được dùng tay bất tịnh
đắp y.
-
Lên chánh điện, cần phải buộc ống
quần và vớ, chẳng được
phóng túng tùy tiện.
-
Chẳng được đi lang thang.
-
Chẳng được nói nhiều.
-
Chẳng được ngồi ngó đại
chúng vất vả, [còn chính mình] tránh
né, lười nhác, trộm an thân.
-
Chẳng được lấy riêng tre, gỗ, hoa,
quả, rau dưa, hết thảy thức ăn và
hết thảy các vật dụng của Chiêu
Đề[52].
-
Chẳng được đàm luận ưu
khuyết của triều đình, công phủ, chánh
sự, và ưu, khuyết, tốt, xấu của
người bạch y.
-
Hễ tự xưng, hãy nên nêu ra hai chữ
pháp danh, chẳng được nói là
“tôi” và “tiểu tăng”.
-
Chẳng được do chuyện nhỏ
nhặt mà tranh chấp. Dẫu là chuyện
lớn khó nhẫn, cũng cần phải tâm
bình khí hòa, dùng lý để bàn
luận. Không được thì thoái thác
bỏ đi. Nếu nổi nóng, phát cáu,
tức chẳng phải là một vị
tăng tốt.
3.2.5.
Thứ năm: Theo chúng thọ trai
-
Nghe tiếng kiền chùy[53],
liền phải chỉnh đốn y phục.
-
Lúc chú nguyện khi sắp ăn, đều nên
cung kính.
-
Xuất sanh thì không quá bảy hạt cơm,
mì thì không quá một tấc, mạn
đầu không to hơn nửa móng tay. Nhiều
thì là tham, ít thì là keo.
-
Khi xuất sanh, đặt thức ăn trong tay
trái, tưởng niệm kệ rằng: “Nhữ
đẳng quỷ thần chúng. Ngã kim thí
nhữ cúng, thử thực biến thập
phương. Nhất thiết quỷ thần cộng”
(Này các vị quỷ thần, nay tôi sẽ cúng
thí. Món này trọn mười
phương, quỷ thần đều được
hưởng).
-
Khi sắp ăn, hãy nên quán tưởng
năm điều: Một là xét công nhiều
ít, suy tính những thức ăn này
từ đâu đến. Hai là suy xét
đức hạnh của chính mình, tròn
vẹn hay khuyết thiếu mà nhận cúng
dường. Ba là ngừa tâm lìa lỗi,
[trong những lỗi ấy] chánh yếu là tham
v.v… Bốn là thức ăn này chính là
thuốc tốt lành để chữa trị thân
thể khô gầy. Năm là vì thành đạo
mới nhận thức ăn này.
-
Không chê trách thức ăn ngon dở.
-
Không được lấy thức ăn để
cho riêng [kẻ khác], hoặc trích ra một
phần cho chó.
-
Nếu được thêm thức ăn,
chẳng được nói “không cần”.
Nếu đã no, hãy nên dùng tay ra dấu
từ chối.
-
Chẳng được gãi đầu khiến
cho gầu rơi vào bát người bên
cạnh.
-
Chẳng được vừa ngậm
thức ăn vừa nói.
-
Chẳng được cười nói,
tán gẫu.
-
Chẳng được nhai nhóc nhách ra
tiếng.
-
Nếu muốn xỉa răng, dùng tay áo che
miệng.
-
Nếu trong thức ăn có trùng, kiến,
hãy nên khéo che kín, đừng để
người bên cạnh trông thấy mà sanh tâm nghi.
-
Hãy nên ăn xong một bữa, [tức là]
chẳng được ăn xong, đã
rời chỗ, lại trở về ngồi ăn
tiếp.
-
Chẳng được ăn xong bèn dùng
ngón tay vét thức ăn trong chén.
-
Hễ ăn thì chẳng được ăn
quá nhanh, hay quá chậm.
-
Thức ăn chưa được đưa
tới, chẳng được sanh phiền
não.
-
Nếu có cần gì, lặng lẽ ra hiệu,
không được lớn tiếng kêu gào.
-
Chẳng được khua bát chén ra
tiếng.
-
Chẳng được ăn xong đứng
dậy trước.
-
Nếu trái nghịch tăng chế (quy chế của
tăng chúng), nghe bạch chùy chẳng
được kháng cự, không phục.
-
Nếu trong cơm có thóc, hãy lột vỏ
trấu rồi ăn.
Nói
kèm thêm:
-
Chẳng được thấy vị ngon bèn
sanh tâm tham, ăn no đẫy.
-
Chẳng được ăn khác biệt
với mọi người.
3.2.6.
Thứ sáu: Lễ bái
-
Lễ bái chẳng được chiếm
chính giữa điện, đó là vị
trí của vị Trụ
Trì.
-
Hễ có người đang lễ Phật,
chẳng được bước qua
trước đầu người ấy.
-
Hễ chắp tay, chẳng được
mười ngón so le, chẳng
được để hở ở
giữa, chẳng được để
đầu ngón tay nhét vào mũi, cần
phải đặt sao cho cao vừa phải ngang
ngực.
-
Chẳng được lễ bái trái
thời. Chẳng được lễ ngang
hàng với thầy. Hãy nên theo sau lạy
ở xa.
- Thầy lạy
người khác, chẳng được
cùng lạy với thầy.
- Đối
trước thầy, chẳng được
vái lạy người cùng hàng.
- Đối
trước thầy, chẳng được
nhận lễ của người khác.
- Tay đã cầm
kinh, tượng, chẳng làm lễ
người khác.
Kèm thêm:
- Hễ lễ bái,
cần phải tinh thành tác quán. Trong giáo
pháp có liệt kê bảy loại lễ[54],
chớ nên không biết.
3.2.7.
Thứ bảy: Nghe pháp
- Hễ gặp
bảng treo báo có thượng
đường[55],
hãy nên sớm tụ tập tại pháp
đường, đừng đợi
trống pháp vang rền.
- Chỉnh đốn y
phục.
- Nhìn thẳng,
tiến thẳng.
- Ngồi thì
ắt đoan nghiêm.
- Chẳng
được nói năng tạp loạn.
- Chẳng
được ho hắng lớn tiếng.
Nói kèm thêm:
- Phàm khi nghe
pháp, cần phải nghe rồi suy nghĩ, suy nghĩ
rồi tu. Chẳng được chuyên nghi
nhớ danh tướng, ngôn từ để
làm vốn cho biện bác.
- Chẳng
được chưa hiểu đã bảo là
hiểu, lọt vào tai bèn thoát ra miệng.
- Sa-di tuổi trẻ,
giới lực chưa vững, càng phải
nên học luật, chẳng được
sớm dự vào giảng tòa.
3.2.8.
Thứ tám: Học tập kinh điển
- Phải nên
trước tiên học Luật, sau đó học
Tu-đa-la (kinh), chẳng được trái
vượt.
- Hễ học một
kinh, cần phải trước hết thưa
với thầy. Học kinh ấy xong, lại thưa
để học một bộ kinh khác nào đó.
- Chẳng
được dùng miệng thổi bụi bám
trên kinh.
- Chẳng
được trên án để kinh mà cất
giữ vụn trà, và các vật linh tinh
khác.
- Người
khác đang xem kinh, chẳng được kinh
hành gần trước bàn của
người ấy.
- Hễ kinh sách
bị tổn hoại, hãy nên gấp tu bổ.
- Sa-di bổn nghiệp
chưa thành, chẳng được học
tập kinh sử, ngoại thư (sách thế gian),
điển chương bình trị cõi đời.
Kèm thêm:
-
Chẳng được chọn lựa học
tập kinh điển nhằm ứng
phó đạo tràng.
-
Chẳng được học tập sách
đoán mạng, sách tướng, sách
thuốc, binh thư, sách bói quẻ, sách thiên
văn, sách địa lý, sách đồ
sấm[56],
cho đến các sách nói về lô hỏa,
hoàng bạch[57],
thần kỳ, quỷ quái, phù thủy v.v…
-
Chẳng được học tập tuyên
quyển đả kệ[58].
-
Chẳng được học tập sách
của ngoại đạo, trừ trường
hợp trí lực có thừa, vì
muốn biết nội giáo và ngoại giáo sâu
cạn [như thế nào] thì có thể
dính dáng, nhưng đừng sanh ý
tưởng học tập.
-
Chẳng được học tập thơ ca,
từ phú.
-
Chẳng được dốc lòng luyện
viết chữ, chỉ viết ngay ngắn, rõ
ràng là được rồi.
-
Chẳng được dùng tay bẩn cầm
kinh.
-
Đối trước kinh điển như
đối trước Phật, chẳng
được cười đùa.
-
Chẳng được bỏ kinh quyển
bừa bãi trên án.
-
Chẳng được [đọc] lớn
tiếng động chúng.
-
Chẳng được mượn kinh
từ người để xem mà không trả,
cũng như chẳng tăng thêm lòng yêu mến,
quý trọng đến nỗi kinh bị tổn
hoại.
3.2.9.
Thứ chín: Vào tự viện
-
Hễ vào tự viện, chẳng
được đi ở chính giữa,
cần phải men theo phía bên phải, bên trái
mà đi. Men theo bên trái thì bước chân
trái trước. Men theo bên phải thì
bước chân phải trước.
-
Chẳng được vô cớ lên đại
điện dạo chơi.
-
Chẳng được vô cớ lên tháp.
-
Vào điện tháp, phải nhiễu theo chiều
bên phải, chẳng được xoay theo
chiều trái.
-
Chẳng được khạc nhổ trong
điện, tháp.
-
Nhiễu tháp ba vòng, bảy vòng, cho đến
mười vòng, trăm vòng, cần phải
biết số lượt.
-
Chẳng được đặt nón,
gậy v.v… dựa vào vách điện.
3.2.10.
Thứ mười: Vào thiền
đường theo đại chúng
- Lên giường, chẳng
được giũ áo mền phát ra
tiếng động, phẩy gió, khiến cho
đơn[59]
bên cạnh động niệm.
-
Xuống giường, thầm niệm kệ
rằng: “Tùng triêu Dần đán trực
chí mộ, nhất thiết chúng sanh tự
hồi hộ. Nhược ư túc hạ táng
thân hình, nguyện nhữ tức thời
sanh Tịnh Độ” (Từ giờ Dần
sớm hôm đến tối, hết thảy chúng
sanh tự lui giữ, nếu bị vùi thân
dưới chân ta,
nguyện ngươi lập tức sanh Tịnh
Độ).
-
Chẳng được nói lớn
tiếng.
-
Nhẹ tay kéo rèm, cần phải dùng tay
đỡ.
-
Chẳng được kéo lê giày phát
ra tiếng.
-
Chẳng được ho hắng lớn
tiếng.
-
Chẳng được chụm đầu, kề
tai với người ở đơn bên
cạnh để bàn nói thế sự.
-
Nếu có đạo hữu thân tình đến
thăm trong thiền đường, chẳng
được mời mọc nói chuyện lâu.
Ở dưới rừng cây, bên chỗ có
nước mới có thể mặc
tình đàm luận.
-
Nếu xem kinh, cần phải thân ngay ngắn,
lắng lòng, thầm nghiền ngẫm,
chẳng được đọc ra tiếng.
-
Nghe hai tiếng bản, liền sớm tiến vào
thiền đường.
-
Vào đến chỗ, bèn thầm niệm kệ
rằng: “Chánh thân đoan tọa, đương
nguyện chúng sanh, tọa Bồ Đề tòa, tâm
vô sở trước” (thân ngay ngồi
thẳng, nên nguyện chúng sanh, ngồi tòa
Bồ Đề, tâm không dính mắc).
Nói
thêm:
-
Chẳng được đi xuyên thẳng
chính giữa thiền đường.
-
Lên đơn hoặc xuống đơn đều
phải nhẹ nhàng, đừng khiến cho
người ở đơn bên cạnh động
niệm.
-
Chẳng được viết văn tự
trên đơn, ngoại trừ lúc đại
chúng xem kinh giáo.
-
Chẳng được ngồi tụ tập
uống trà trên đơn, nói năng tạp
nhạp.
-
Chẳng được may vá y hoặc
mền trên đơn.
-
Chẳng được nằm trên đơn
chuyện trò với người ở
đơn bên cạnh, gây động chúng.
3.2.11.
Thứ mười một: Chấp tác
-
Phải nên quý tiếc vật dụng của tăng
chúng.
-
Phải vâng theo sự dạy bảo của vị Tri
Sự, chẳng được trái
nghịch.
-
Hễ rửa rau, phải thay nước ba lần.
-
Hễ kéo nước, hãy rửa tay
trước.
-
Hễ dùng nước, phải xem kỹ có
trùng hay không, dùng cái lọc dày để
lọc qua rồi mới dùng. Nếu nhằm
lúc rét buốt, chớ nên lọc
nước sớm, cần phải đợi
mặt trời mọc.
-
Hễ đốt bếp, chẳng được
đốt củi mục.
-
Hễ làm thức ăn, chẳng
được để móng tay bẩn.
-
Phàm đổ nước dơ, chẳng
được đổ ra đường đi,
chẳng được vung tay hất
nước, hãy nên cách mặt đất
bốn năm tấc,
từ từ đổ đi.
-
Hễ quét đất, chẳng được
quét ngược gió, chẳng
được lấp bụi đất vào sau
cánh cửa.
-
Giặt nội y, cần phải bắt rận,
rệp bỏ đi rồi mới giặt.
-
Tháng mùa Hạ, dùng chậu xong, cần úp
xuống; nếu để ngửa, sẽ sanh
trùng.
Kèm
thêm:
-
Chẳng được đổ nước
nóng xuống đất.
-
Hết thảy các thứ gạo, mì, rau,
quả v.v… chẳng được tùy tiện
vứt bừa bãi, cần phải càng thêm
quý tiếc.
3.2.12.
Thứ mười hai: Vào nhà tắm
-
Trước tiên, dùng nước nóng
rửa mặt từ trên xuống
dưới, thong thả mà rửa.
-
Chẳng được thô tháo, dùng
nước nóng hất người bên cạnh.
-
Chẳng được tiểu trong nhà
tắm.
-
Chẳng được nói cười
với người khác. Sách Nhân Thiên
Bảo Giám nói: “Có một sa-di vào
tắm cười đùa, bèn cảm
quả báo nơi địa ngục Phí Thang
(nước sôi sùng sục)”.
-
Chẳng được rửa chỗ kín.
-
Nếu có ghẻ chốc, hãy nên tắm sau.
Nếu có vết loét đáng sợ,
hãy nên lui tránh để khỏi làm
nhức mắt người khác.
-
Chẳng được mặc tình
tắm lâu, gây trở ngại cho người
sau.
Nói
thêm:
-
Cởi áo, mặc áo, phải an
tường tự tại.
-
Trước khi tắm, nên gột rửa
sạch sẽ, cần phải cẩn thận, không
được để nước đã
dùng để rửa ráy lẫn vào bồn
chứa nước tắm.
-
Khi nước nóng bị nguội, hãy theo
lệ gõ bang[60],
chẳng được kêu ầm lên.
3.2.13.
Thứ mười ba: Vào nhà xí
-
Muốn đại tiểu tiện liền đi ngay,
đừng đợi cho đến lúc gấp
rút, đánh mất oai nghi.
-
Treo áo trực chuyết[61]
trên sào tre, xếp cho tề chỉnh, dùng khăn
tay hoặc dây thắt lưng cột lại,
một là để ghi nhớ, hai là sợ
nó rơi xuống đất.
-
Cần đổi sang giày khác, chẳng
dùng giày sạch để vào nhà xí.
-
Tiến vào [nhà xí],
hãy nên khảy ngón tay ba lần, khiến cho
người ở bên trong biết.
-
Chẳng được thúc ép
người bên trong đi ra.
-
Đã bước vào, lại nên khảy
ngón tay ba lượt, thầm niệm: “Đại
tiểu tiện thời, đương nguyện
chúng sanh, khí tham sân si, quyên trừ tội
pháp” (Khi đại tiểu tiện, nên nguyện
chúng sanh, bỏ tham, sân, si, trừ sạch tội
pháp).
-
Chẳng được cúi đầu nhìn
xuống dưới.
-
Chẳng được cầm cỏ vẽ lên
mặt đất.
-
Chẳng được ráng vận khí
phát ra tiếng.
-
Chẳng được nói chuyện
với người cách vách.
-
Chẳng được nhổ lên vách.
-
Gặp người khác, chẳng
được làm lễ, hãy nên nghiêng thân
tránh sang một bên.
-
Chẳng được vừa đi
đường vừa cột đai lưng.
-
Tiêu tiểu xong, nên rửa sạch tay; chưa
rửa thì chẳng được cầm
nắm đồ vật.
-
Rửa tay nên thầm niệm: “Dĩ thủy
quán chưởng, đương nguyện
chúng sanh, đắc thanh tịnh thủ, thọ
trì Phật pháp. Án, chủ ca ra da, sa ha”
(Dùng nước rửa tay, nên nguyện
chúng sanh, được tay thanh tịnh, thọ
trì Phật pháp).
Nói
thêm:
-
Nếu đi tiểu, cũng cần phải vén tay
áo, mà cũng chớ nên mặc thiên sam[62]
đi tiểu.
3.2.14.
Thứ mười bốn: Nằm ngủ
-
Cần nằm ngủ bên hông phải, đó gọi
là Cát Tường Thụy (ngủ trong tư
thế tốt lành). Chẳng được
nằm ngửa, nằm sấp, hoặc
nằm bên hông trái.
-
Chẳng được ở cùng phòng,
cùng giường với thầy, hoặc
được ở cùng phòng, nhưng
chẳng được cùng giường.
-
Cũng chẳng được nằm
cùng giường với
sa-di đồng sự.
-
Hễ treo giày, dép, áo ngắn v.v…
chẳng được để cao hơn
mặt người.
Nói
thêm:
-
Không được cởi áo lót để
ngủ.
-
Chẳng được nằm trên
giường nói cười lớn
tiếng.
-
Chẳng được cầm đồ
đựng nước tiểu đi ngang qua
thánh tượng và pháp
đường.
3.2.15.
Thứ mười lăm: Sưởi quanh
lò
-
Chẳng được chụm đầu, sát
tai nói chuyện.
-
Chẳng được gảy hờm vào
lửa.
-
Chẳng được [dùng
lò sưởi để] hong khô giày,
vớ.
-
Chẳng được sưởi quá lâu,
gây trở ngại cho người sau. Hễ
[cảm thấy] hơi ấm áp liền nên trở
về chỗ.
3.2.16.
Ở trong phòng
-
Chào hỏi lẫn nhau, phải nên biết lớn,
nhỏ.
-
Sắp cầm đèn lửa vào phòng,
cần báo trước cho người trong
phòng biết: “Lửa vào”. Muốn tắt
đèn, hỏi trước người
cùng phòng: “Còn cần đèn hay không?”
-
Để tắt đèn, không được
dùng miệng thổi. Chẳng được
niệm tụng lớn tiếng.
-
Nếu có bệnh nhân, hãy nên có lòng
Từ trông nom từ đầu đến cuối.
-
Có người đang ngủ thì không
được khua động đồ đạc ra
tiếng, hoặc nói cười lớn
tiếng.
-
Không được vô duyên cớ vào phòng
viện của người khác.
3.2.17.
Thứ mười bảy: Đến chùa ni
-
Có chỗ ngồi khác thì
mới ngồi; không có chỗ
ngồi khác, không được ngồi.
-
Chẳng được nói với ni không
đúng lúc.
-
Khi trở về, không được nói
chuyện tốt xấu của họ.
-
Chẳng được gởi thư
từ qua lại, cũng như nhờ vả
cắt may, giặt giũ v.v…
-
Chẳng được đích thân cạo
tóc cho ni.
-
Chẳng được cùng ngồi ở
chỗ khuất.
Nói
thêm:
-
Không có người thứ hai, thì
chẳng được một mình tiến
vào [chùa ni].
-
Không được tặng quà cho nhau.
-
Không được nhờ cậy ni tăng vào
nhà sang quý để hóa duyên và xin niệm
kinh sám v.v...
-
Chẳng được cùng ni tăng kết
bái làm cha, mẹ, chị em, đạo hữu.
3.2.18.
Thứ mười tám: Đến nhà
người khác
-
Có chỗ ngồi khác mới ngồi,
chẳng nên ngồi xen lẫn [với
người thế tục].
- Có người
hỏi thì phải nên biết thời [để
đáp lời], hãy cẩn thận chớ
nên nói không đúng lúc.
-
Không được cười nhiều.
-
Chủ nhân mời ăn, dẫu chẳng phải
là pháp hội, cũng đừng để
mất quy củ, oai nghi.
-
Chẳng phạm lỗi đi đêm.
-
Chẳng được cùng ngồi, cùng
trò chuyện với nữ nhân ở trong
phòng hoặc chỗ khuất.
- Chẳng
được gởi thư từ qua lại,
giống như điều trên.
- Nếu đến
nhà người thế tục để thăm
viếng cha mẹ, trước hết nên vào trung
đường lễ Phật, hoặc thánh
tượng trong nhà, đoan nghiêm bái xá.
Kế đến là nhất nhất chào hỏi cha
mẹ, quyến thuộc v.v…
- Chẳng
được hướng về cha mẹ nói
pháp của thầy nghiêm ngặt, xuất gia
khó khăn, quạnh quẽ, đạm bạc, các
chuyện gian nan, cay đắng, khuất lấp v.v…
Hãy nên vì họ nói Phật pháp, khiến
cho họ sanh tín, tăng phước.
- Chẳng
được ngồi lâu, đứng lâu, nói
tạp nhạp, cười đùa với thân
tộc, trẻ nhỏ v.v… Cũng chẳng được
hỏi chuyện thị phi, tốt xấu trong dòng
tộc.
- Nếu đã
trễ, ngủ lại đêm, hãy nên nằm riêng
một giường, ngồi nhiều, nằm
ít, nhất tâm niệm Phật, xong việc liền quay
về, chẳng được nấn ná.
Nói thêm:
- Chẳng
được nhìn ngược ngó xuôi.
- Chẳng
được nói chuyện tạp nhạp.
- Chẳng
được nói với nữ nhân.
Chẳng được thấp giọng, nói
thầm, chẳng được nói nhiều.
- Chẳng
được dối hiện
oai nghi, giả vờ ra vẻ Thiền tướng
để mong được cung kính.
- Chẳng
được nói dối Phật pháp, trả
lời loạn xạ câu hỏi của
người khác hòng được
tiếng đa văn, cầu được họ cung
kính.
- Chẳng
được tặng quà cáp giống
như hàng bạch y biếu xén qua lại.
- Chẳng
được quản chuyện nhà của
người ta.
- Chẳng
được ngồi lẫn vào tiệc
rượu.
- Chẳng
được kết bái làm cha mẹ, chị
em với hàng bạch y.
- Chẳng
được nói lỗi phạm trong Tăng.
3.2.19.
Thứ mười chín: Khất thực
- Hãy nên
cùng đi với bậc lão thành. Nếu
không có người đi cùng, hãy biết
chỗ nào có thể đi được.
-
Tới cửa nhà người ta, hãy nên
suy xét hành vi, đừng để mất oai
nghi.
-
Nhà không có nam nhân, chớ nên vào cửa.
-
Nếu muốn ngồi, trước hết hãy nên
xem xét chỗ ngồi. [Nếu là chỗ] có
vũ khí, chẳng nên ngồi. Có vật
báu, chớ nên ngồi. Có nữ nhân, áo
mền, vật trang hoàng v.v… chớ nên ngồi.
-
Muốn nói kinh, hãy nên biết lúc nào
đáng nên nói, lúc nào không nên nói.
-
Chẳng được nói “thí đồ
ăn cho tôi sẽ khiến cho quý vị
được phước”.
Nói
kèm thêm:
-
Khi khất thực, chẳng được van
cầu, khổ sở kèo nài.
-
Chẳng được rộng bàn nhân quả
hòng mong người ta bố thí nhiều
hơn.
-
Xin được nhiều, đừng sanh tham
đắm. Xin được ít,
đừng sanh ưu não!
-
Chẳng được chuyên hướng
đến nhà thí chủ hoặc chỗ am
viện rất thân quen để khất thực.
3.2.20.
Thứ hai mươi: Vào xóm làng
-
Không có duyên cần thiết, chẳng
được vào.
-
Chẳng được đi vội vã.
-
Chẳng được đi vung tay.
-
Chẳng được nhiều lượt
ngó người hay vật đi bên cạnh.
-
Chẳng được cùng sa-di, trẻ
nhỏ vừa đi vừa cười nói.
-
Chẳng được với nữ nhân
trước sau cùng đi.
-
Chẳng được cùng với ni
tăng trước sau cùng đi.
-
Chẳng được cùng với kẻ
say, kẻ cuồng trước sau cùng đi.
-
Chẳng cố ý ngoái lại nhìn
người nữ, chẳng được
liếc mắt ngó nữ nhân.
-
Nếu gặp bậc tôn túc quen biết,
đều nên đứng lui
xuống bên cạnh, chào hỏi
trước.
-
Nếu gặp những thứ biến huyễn
kỳ quái v.v… đều chớ nên ngó.
-
Chỉ giữ thân ngay ngắn, đi thẳng
trên đường.
-
Gặp hố nước, hoặc chỗ
ngập nước, không được nhảy
vượt qua. Hễ có đường
để tránh thì nên đi vòng. Không có
đường khác, ai nấy đều nhảy
vượt qua thì được phép
[nhảy qua].
-
Chẳng có bệnh duyên và sự cần
gấp, chẳng được cưỡi
ngựa, cho đến do tâm đùa bỡn
mà giục roi ruổi ngựa.
Nói
thêm:
-
Hễ gặp quan phủ, bất luận lớn hay
nhỏ, đều nên tránh đường.
-
Hễ gặp kẻ đấu đá, cũng nên
tránh xa, chẳng được đứng xem.
-
Chẳng được trở về chùa,
bèn khoe khoang những sự hoa mỹ
được thấy trong thành.
3.2.21.
Thứ hai mươi mốt: Những vật
nơi chợ búa
-
Không tranh giành vật sang hay hèn.
-
Không ngồi nơi sạp của người
nữ.
-
Nếu bị người khác mạo phạm,
hãy phương tiện tránh né,
đừng cố biện bác lẽ phải về
mình.
-
Đã hứa mua một vật nào, dầu
bị đòi thêm tiền, chẳng bỏ cái
kia để lấy cái này, khiến cho
người chủ [của vật ấy] bực
bội.
-
Cẩn thận đừng đứng ra bảo
đảm đến nỗi vướng nợ.
3.2.22.
Thứ hai mươi hai: Những điều
chớ nên tự tiện thực hiện
- Ra
vào, đi lại, hãy nên bạch với
thầy trước.
-
May pháp y mới, nên bạch với thầy
trước. Mặc pháp y mới, bạch
với thầy trước.
-
Cạo đầu nên bạch với thầy
trước.
-
Bị bệnh phải uống thuốc, nên bạch
với thầy trước.
- Làm tăng
sự trong đại chúng, nên bạch với
thầy trước.
- Muốn có
những thứ vật dụng riêng như giấy,
bút, nên bạch với thầy trước.
- Nếu đọc
tụng kinh điển, phạm bái, hãy nên bạch
với thầy trước.
- Nếu có
người thí cho vật dụng, hãy nên
bạch với thầy trước rồi
mới hưởng dụng. Đem vật của
mình thí cho người khác, nên bạch
với thầy trước, thầy cho phép
rồi mới làm.
- Người ta vay
mượn mình, nên bạch với thầy
trước. Thầy cho phép rồi mới
làm. Chính mình muốn mượn vật
của người khác, nên bạch với
thầy trước, thầy cho phép rồi
mới mượn.
- Khi bạch thầy,
dù thầy cho phép hay không, đều nên làm
lễ. Thầy không cho phép, chẳng
được ôm lòng oán hận.
Nói thêm: Cho
đến chuyện lớn, hoặc đi tham
phỏng các nơi, hoặc nghe giảng,
hoặc nhập chúng, hoặc giữ
núi, hoặc hưng khởi duyên sự,
đều nên bạch với thầy, chẳng
được tự ý.
3.2.23.
Thứ hai mươi ba: Tham học các phương
- Đi xa phải
cậy bạn lành.
- Cổ nhân hễ tâm
địa chưa thông, sẽ chẳng đi xa ngàn
dặm cầu thầy.
Nói thêm:
- Tuổi nhỏ,
giới nông cạn, chưa được phép
đi xa. Nếu đi, chớ nên cùng đi
với phường bất lương.
- Cần phải
tìm thầy hỏi đạo, hòng quyết
trạch sanh tử, chớ nên [đi tham học
các nơi nhằm] thưởng ngoạn sông
nước, chỉ mong du lịch xa rộng hòng
khoe bày với người khác.
- Đến nơi,
đặt hành lý xuống, chẳng
được khinh thị vào điện
đường ngay. Một người trông coi
hành lý, một người vào
trước chào hỏi, được
thường trụ cho vào ở thì
mới có thể di chuyển hành lý vào
trong.
3.2.24.
Danh tướng về y bát
- Y
năm điều: Tiếng Phạn
là An Đà Hội (Antarvāsa), phương này dịch là Trung Túc
Y, cũng dịch là Hạ Y, còn dịch là
Tạp Tác Y. Phàm làm lụng trong tự
viện, ra vào, đi đường, hãy nên mặc
loại y này. Kệ đắp y: “Thiện tai
giải thoát phục, vô thượng
phước điền y, ngã kim đảnh
đới thọ, thế thế bất xả ly.
Án, tất đà da sa bà ha” (Lành thay
áo giải thoát, áo ruộng phước vô
thượng, con nay kính cẩn nhận,
đời đời chẳng bỏ lìa).
-
Y bảy điều: Tiếng Phạn là Uất Đa La
Tăng (Uttarāsanga), cõi này dịch là Thượng
Trước Y, còn dịch là Nhập Chúng
Y. Hễ khi lễ Phật, tu sám, tụng kinh, tọa
Thiền, đi thọ trai, giảng kinh, bố-tát,
tự tứ, đều nên đắp y
này. Kệ đắp y: “Thiện tai giải
thoát phục, vô thượng phước
điền y, ngã kim đảnh đới thọ,
thế thế thường đắc phi. Án,
độ ba độ ba, sa bà ha” (Lành thay
áo giải thoát, áo ruộng phước vô
thượng, con nay kính cẩn nhận,
đời đời thường được
mặc).
-
Y hai mươi lăm điều: Tiếng Phạn là
Tăng-già-lê (Saṃghāṭī), cõi này dịch là Hợp, còn
dịch là Trùng (nhiều lớp), hoặc
dịch là Tạp Toái Y. Phàm vào cung vua, lên
tòa thuyết pháp, vào xóm làng khất
thực, hãy nên đắp y này. Hơn
nữa, y này có chín phẩm, hạ phẩm
gồm chín điều, mười một
điều, mười ba điều. Trung phẩm
gồm mười lăm điều, mười
bảy điều, mười chín điều. Thượng
phẩm gồm hai mươi mốt
điều, hai mươi ba điều, và hai
mươi lăm điều. Kệ đắp y: “Thiện
tai giải thoát phục, vô thượng
phước điền y, ngã kim đảnh
đới thọ, quảng độ chư quần
mê. Án, ma ha ca ba ba trá tất
đế, sa bà ha” (Lành
thay áo giải thoát, áo ruộng
phước vô thượng, con nay kính cẩn
nhận, rộng độ các loài mê).
-
Bát: Tiếng Phạn là Bát Đa La (Pātra), cõi này dịch là Ứng
Lượng Khí, ý nói thể, sắc,
lượng đều tương ứng
với pháp. Thể là dùng sắt
hoặc sành, sắc thì dùng chất
thuốc [để làm cho bát
có màu sẫm]
hoặc hun khói. Lượng thì chia
thành thượng, trung, hạ.
-
Cụ: Tiếng Phạn là Ni Sư Đàn (Nisidana),
cõi này dịch là Tọa Cụ, cũng
dịch là Tùy Túc Y. Kệ mở tọa
cụ: “Ngọa cụ Ni Sư Đàn,
trưởng dưỡng tâm miêu tánh, triển
khai đăng thánh địa, phụng hành Như
Lai mạng. Án, đàn ba đàn ba, sa bà
ha” (Ngọa cụ Ni Sư Đàn,
trưởng dưỡng tánh mầm tâm.
Mở ra, lên thánh địa, vâng hành lệnh
Như Lai).
4.
Sa-di-ni
tỳ-kheo-ni giới lục yếu
(sao lục những điểm trọng yếu trong
giới luật của sa-di-ni và
tỳ-kheo-ni)
- 沙彌尼比丘尼戒錄要
(tỉnh lược)
5. Nghi thức
tụng giới mỗi nửa tháng (半月誦戒儀式)
5.1.
Ngũ giới
Các vị thọ
năm giới hãy lắng nghe: Một, không sát
sanh. Hai, không trộm cắp. Ba, không tà dâm. Bốn,
chẳng nói dối. Năm, không uống
rượu. Đó
là phạm căn bản giới của các
vị. Nếu phạm lỗi nặng, hãy chủ
động lìa khỏi tự viện. Nếu
có lỗi nhỏ, hãy ra sám hối
trước đại chúng.
5.2.
Thập giới
Các vị thọ thập
giới hãy lắng nghe: Một là không
giết chóc, hai là không trộm cắp, ba
là chẳng dâm, bốn là chẳng nói
dối, năm là không uống rượu, sáu
là không đeo tràng hoa thơm, không dùng
hương xoa thân, bảy là không ca múa, tấu
nhạc, chẳng cố ý đi nghe, tám là
chẳng ngồi giường to cao rộng,
chín là chẳng ăn phi thời,
mười là chẳng chứa giữ
sanh tượng, vàng, bạc, báu vật.
Đó là phạm căn bản giới của
các vị. Nếu phạm lỗi nặng, hãy
chủ động lìa khỏi tự viện.
Nếu có lỗi nhỏ, hãy ra sám hối
trước đại chúng.
5.3. Giới Cụ Túc (tỉnh lược)
5.4. Bồ Tát Giới
Nam-mô Phạm Vơng Giáo Chủ
Lô Xá Na Phật (đọc ba lượt).
Pháp
vi diệu rất sâu vô thượng. Trăm ngàn
vạn ức kiếp khó gặp. Con nay thấy
nghe được thọ trì. Nguyện hiểu
Như Lai chân thật nghĩa.
(Vị
tụng giới sư thăng tòa, bạch
đại chúng rằng):
Các
vị thọ giới Bồ Tát hãy lắng
nghe. Tôi là… chắp tay hòa-nam, kính bạch
đại chúng: Tăng sai tôi tụng giới,
sợ có sai lầm, nguyện những
người đồng tụng từ bi chỉ
dạy.
Các vị Phật
tử chắp tay, chí tâm nghe tôi nói: Tôi nay
muốn nói lời dẫn khởi cho
đại giới của chư Phật. Đại
chúng nhóm họp, im lặng nghe, tự
biết có tội hãy nên sám hối. Sám
hối liền an lạc. Chẳng sám hối,
tội càng sâu. Người vô tội im
lặng. Do im lặng, nên biết là đại
chúng thanh tịnh.
Chư
đại đức! Các vị ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di lắng nghe. Sau khi đức Phật
diệt độ, trong thời Tượng
Pháp, hãy nên tôn kính Ba La Đề Mộc Xoa. Ba
La Đề Mộc Xoa chính là giới này. Khi
trì giới này, như tối tăm gặp sáng sủa, như kẻ
nghèo được của báu, như
người bệnh được lành, như
kẻ bị giam cầm thoát khỏi ngục, như
người đi xa được quay về.
Hãy nên biết: Đây chính là đại sư (大師) của đại chúng. Nếu đức
Phật trụ thế, cũng chẳng khác
điều này. Tâm sợ hãi khó sanh,
thiện tâm khó phát. Do đó, kinh nói: “Vật
khinh tiểu tội, dĩ vi vô ương. Thủy
trích tuy vi, tiệm doanh
đại khí. Sát-na tạo tội, ương
đọa Vô Gián. Nhất thất nhân thân, vạn kiếp
bất phục. Tráng sắc bất đình, do
như bôn mã. Nhân mạng vô thường, quá ư
sơn thủy. Kim nhật tuy tồn, minh diệc nan
bảo” (Đừng coi thường
tội nhỏ, ngỡ nó không gây ương họa
gì. Giọt nước tuy bé, dần dần
chứa đầy đồ đựng
lớn. Tạo tội trong sát-na, họa
ương là đọa Vô Gián. Hễ đánh
mất thân người, muôn kiếp chẳng có
lại được. Mạnh khỏe, dung sắc
không tồn tại mãi, ví như ngựa
rảo chạy. Mạng người vô
thường, còn hơn nước từ
trên núi đổ xuống. Ngày hôm nay tuy còn,
ngày mai cũng khó bảo toàn). Đại
chúng ai nấy nhất tâm, siêng cầu tinh tấn,
cẩn thận, chớ giải đăi, biếng nhác,
mặc tình ngủ nghê. Đêm bèn nhiếp tâm,
nghĩ nhớ Tam Bảo, đừng để
luống qua, chỉ nhọc nhằn suông, đời
sau hối hận sâu xa. Đại chúng ai nấy
nhất tâm, chỉ nương theo giới này,
đúng như pháp tu hành, hãy nên học.
Quy mạng Lô Xá Na,
mười phương kim cang Phật, cũng lễ
tiền luận chủ, đương giác Từ
Thị tôn. Nay nói tam tụ giới,
Bồ Tát đều cùng nghe. Giới như đèn to sáng,
hay tiêu đêm dài tối. Giới như gương
báu thật, chiếu pháp trọn chẳng sót.
Ly thế, mau thành Phật, chỉ pháp này cao
nhất. Do vậy, các Bồ Tát, hãy nên siêng
hộ trì.
Chư đại đức!
Ngày thuộc bốn tháng Xuân Phần là một
thời (đây là theo Tây Vực, một
năm chia thành ba thời,
mỗi thời gồm bốn tháng.
Từ ngày Mười Sáu tháng Chạp
đến Rằm tháng Tư là Xuân Phần.
Từ Mười Sáu tháng Tư đến
Rằm tháng Tám là Hạ Phần.
Từ Mười Sáu tháng Tám
đến Rằm tháng Chạp là Đông
Phần. Nay nói Xuân Phần, hãy nên thuận theo ba
thời mà thay đổi),
ngày thuộc nửa tháng đã qua (hết
tháng Chạp là nửa tháng, cho tới
Rằm tháng Giêng là một tháng. Hết
tháng Giêng là một tháng rưỡi. [Cho
tới] ngày Mười Lăm [của tháng
Hai] là hai tháng. Hết tháng Hai là hai
tháng rưỡi, [cho tới] ngày
Rằm tháng Ba là ba tháng. Hết tháng Ba
là ba tháng rưỡi. Cho tới ngày
Rằm tháng Tư là bốn tháng.
Đối với Hạ, Thu, Đông, chuẩn theo
đây mà sửa), thiếu một đêm,
thừa một đêm, đã ba tháng
rưỡi (ba tháng tròn, hai tháng
rưỡi, hai tháng tròn, một tháng
rưỡi, một tháng tròn, nửa
tháng), già chết đến gần, Phật
pháp sắp diệt. Chư đại
đức! Ưu-bà-tắc, ưu-bà-di
vì đắc đạo mà nhất tâm siêng
cầu tinh tấn, vì lẽ nào vậy? Chư
Phật do nhất tâm siêng cầu tinh tấn mà
đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề, huống hồ các thiện đạo
pháp khác? Ai nấy hãy thừa dịp
mạnh khỏe, nỗ lực siêng tu thiện,
cớ sao chẳng cầu đạo? Há nên
chờ già cả? Há nên vui theo dục ư?
Ngày hôm nay đã qua, mạng cũng giảm theo,
như cá thiếu nước, nào có vui chi?
Tăng đã
nhóm họp chưa? (Đáp: Đã nhóm
họp). Hòa hợp chưa? (đáp:
Hòa hợp). Tăng nhóm hòa hợp
để làm gì? (Đáp rằng:
Thuyết giới bố-tát[63]).
Trong đây,
người chưa thọ Bồ Tát Giới
và người chẳng thanh tịnh đã
đi ra chưa? (ở đây có hai loại:
Một là người chưa thọ Bồ Tát
Giới. Hai là đã từng học,
nhưng vi phạm mà chưa sám hối. Chớ
nên cùng làm bố-tát
với hai loại người ấy. Hễ có
thì đuổi ra, nếu không có
thì đáp là “không”).
Các vị Bồ
Tát chẳng đến được, có
lời căn dặn thì có mấy
người thuyết dục và thanh tịnh? (tức
là trong đại chúng, có người
vì các duyên như Tam Bảo, cha mẹ, bệnh
tật v.v… chẳng thể đến
được, sẽ căn dặn
người tri sự hoặc đồng
bạn thưa với bậc thượng tọa
chuyện thuyết dục và thanh tịnh. “Thuyết
dục” tức là căn dặn rằng:
“Có người tên là… muốn đến
bố-tát, nhưng có sự duyên… chẳng
thể đích thân đến, sai người tên
là… nói thay. “Thanh tịnh” là tăng sự
đúng như pháp này nọ, chẳng
thấy nghe, nghi ngờ tội).
Chư đại đức!
Nay nhằm ngày Mười Lăm của
bạch nguyệt (hoặc hắc nguyệt)[64],
làm bố tát nói Bồ Tát Giới.
Đại chúng hãy nhất tâm khéo nghe,
người có tội phát lộ,
người vô tội im lặng. Do im lặng,
bèn biết các đại đức thanh
tịnh, kham nói Bồ Tát giới. Đã
nói lời dẫn khởi cho Bồ Tát
giới xong.
(Đối với
lời hỏi tội dưới đây,
người có tội thì sám hối,
người không có thì im lặng).
Nay hỏi các đại
đức trong đây có thanh tịnh hay không? Trong
đây có thanh tịnh hay không? Trong đây có thanh
tịnh hay không? (Ba câu cuối là ba lượt
hỏi, ba lượt đáp).
Các đại
đức! Trong đây thanh tịnh; do im lặng,
chuyện này được trì như thế.
(Bạch rằng)
Mười Ba La Đề Mộc Xoa trọng yếu,
nay sẽ nói.
Thứ nhất, sát giới. Đức Phật dạy: -
Phật tử! Nếu tự giết, dạy
kẻ khác giết, phương tiện giết, khen
ngợi giết chóc, thấy kẻ khác làm
bèn tùy hỷ, cho đến dùng chú
ngữ để giết, cái nhân giết chóc,
duyên giết, cách giết, nghiệp giết, cho
đến đối với hết thảy kẻ
có sanh mạng,
chẳng được cố ý giết,
tức là Bồ Tát hãy nên khởi tâm
từ bi, tâm hiếu thuận thường trụ,
phương tiện cứu vớt, che chở
hết thảy chúng sanh. Trái lại, mặc
tình khoái ý sát sanh thì là tội Ba
La Di của Bồ Tát.
Thứ hai, giới
trộm cắp. Nếu Phật tử tự
trộm, dạy người khác trộm,
phương tiện trộm, dùng chú ngữ
để trộm, nhân của trộm, duyên của
trộm, cách trộm, nghiệp trộm, cho tới
cướp đoạt vật của quỷ thần,
hoặc vật có chủ, hết thảy tài
vật, [dẫu là] một cây kim, một nhánh
cỏ, chẳng được cố ý
trộm. Bồ Tát phải nên sanh tâm hiếu thuận,
tâm từ bi thuộc Phật tánh, tâm thường
giúp hết thảy mọi người sanh
phước, sanh lạc. Nếu ngược
lại, trộm cắp tài vật của
người khác thì là tội Ba La Di
của Bồ Tát.
Thứ
ba, giới dâm. Nếu Phật tử
tự dâm, dạy người khác dâm, cho
đến với hết thảy người
nữ không được cố ý dâm, nhân
của dâm, duyên của dâm, cách dâm, nghiệp dâm, cho
đến hành dâm với súc sanh cái,
nữ chư thiên, nữ quỷ thần, và
hành dâm trái đạo; Bồ Tát hãy nên sanh
tâm hiếu thuận, tâm cứu độ hết thảy
chúng sanh, trao pháp thanh tịnh cho người
khác, thế mà ngược lại, khởi
dâm với hết thảy mọi người,
chẳng từ súc sanh, cho đến hành
dâm với mẹ, con gái, chị, em, lục thân,
chẳng có tâm từ bi, thì là tội Ba
La Di của Bồ Tát.
Thứ
tư, giới nói dối. Nếu Phật tử
tự nói dối, dạy người khác
nói dối, phương tiện nói dối, nhân
nói dối, duyên nói dối, cách nói dối,
nghiệp nói dối, cho tới chẳng
thấy mà nói là thấy, thấy nói
là chẳng thấy, thân tâm vọng ngữ, Bồ
Tát [phải nên] thường sanh chánh ngữ,
chánh kiến, cũng sanh chánh ngữ, chánh kiến
cho hết thảy chúng sanh, nhưng trái lại,
khởi tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp cho hết
thảy chúng sanh, đó là tội Ba La Di
của Bồ Tát.
Thứ
năm, giới bán rượu. Nếu Phật
tử! Tự bán rượu, dạy người
khác bán rượu, nhân bán rượu,
duyên bán rượu, cách bán rượu,
nghiệp bán rượu, hết thảy
rượu đều chẳng được
bán, do rượu là nhân duyên khởi
tội, Bồ Tát phải nên sanh trí huệ
sáng suốt, thông đạt cho hết thảy chúng
sanh, nhưng ngược lại, sanh tâm điên
đảo cho hết thảy chúng sanh, đó
là tội Ba La Di của Bồ Tát.
Thứ
sáu, giới nói lỗi của tứ chúng.
Thứ bảy,
giới tự khen mình, chê người.
Thứ tám, giới
keo tiếc, hủy báng.
Thứ chín,
giới sân tâm, chẳng tiếp nhận răn
dạy.
Thứ
mười, giới báng Tam Bảo.
(Bạch rằng)
Chư Phật tử! Vừa nghe mười
pháp Ba La Di nghiêm trọng. Nếu có hủy
phạm, sẽ chẳng được ở
chung với các vị Bồ Tát. Hễ có, bèn chủ
động rời khỏi đạo tràng. Nếu
không thì im lặng.
(Bạch rằng)
Bốn mươi tám giới khinh, nay sẽ
nói.
Thứ nhất, giới
chẳng kính trọng thầy bạn.
Thứ hai,
giới uống rượu.
Thứ
ba, giới ăn thịt.
Thứ
tư, giới ăn ngũ tân.
Thứ
năm, giới chẳng dạy răn tội.
Thứ sáu, giới
không cúng dường, thỉnh pháp.
Thứ bảy,
giới biếng nhác không nghe pháp.
Thứ tám,
giới trái nghịch Đại Thừa,
hướng theo Tiểu Thừa.
Thứ chín,
giới không trông nom người bệnh.
Thứ
mười, giới tích tụ các vật
dụng dùng để giết chúng sanh.
Thứ mười một,
giới làm sứ giả cho đất
nước.
Thứ
mười hai, giới buôn bán[65].
Thứ
mười ba, giới báng hủy.
Thứ
mười bốn, giới phóng hỏa thiêu
đốt.
Thứ
mười lăm, giới dạy giáo lý
sai trái[66].
Thứ
mười sáu, giới vì lợi
mà nói điên đảo.
Thứ
mười bảy, giới dựa dẫm
kẻ quyền thế để xin xỏ[67].
Thứ
mười tám, giới không hiểu mà
làm thầy.
Thứ
mười chín, giới nói đôi
chiều.
Thứ
hai mươi, giới chẳng hành phóng
sanh, cứu vớt.
Thứ
hai mươi mốt, giới do sân hận mà
đánh đập, báo cừu.
Thứ
hai mươi hai, giới do kiêu mạn mà
chẳng nghe pháp.
Thứ
hai mươi ba, giới do kiêu mạn mà giảng
nói cong vạy.
Thứ
hai mươi bốn, giới chẳng tu tập,
học theo Phật.
Thứ
hai mươi lăm, giới chẳng khéo
hiểu biết các giới.
Thứ
hai mươi sáu, giới riêng thọ lợi
dưỡng.
Thứ
hai mươi bảy, giới tiếp nhận
lời thỉnh riêng.
Thứ
hai mươi tám, giới thỉnh riêng Tăng[68].
Thứ hai
mươi chín, giới tự kiếm sống
bằng tà mạng.
Thứ ba
mươi, giới chẳng tôn kính
những thời điểm tốt đẹp[69].
Thứ ba
mươi mốt, giới chẳng thực
hiện cứu chuộc.
Thứ ba
mươi hai, giới tổn hại chúng sanh.
Thứ ba
mươi ba, giới tà nghiệp giác quán.
Thứ ba
mươi bốn, giới tạm nghĩ
tưởng Tiểu Thừa.
Thứ ba
mươi lăm, giới chẳng phát
nguyện.
Thứ ba
mươi sáu, giới chẳng phát
thệ.
Thứ ba
mươi bảy, giới xông pha hiểm nạn
để du hành.
Thứ ba
mươi tám, giới trái nghịch tôn ty
thứ tự.
Thứ ba mươi
chín, giới chẳng tu phước
huệ.
Thứ
bốn mươi, giới chọn lựa kẻ
thọ giới (tức giới truyền
giới không bình đẳng).
Thứ
bốn mươi mốt, giới vì lợi
mà làm thầy.
Thứ
bốn mươi hai, giới vì kẻ ác
mà nói giới.
Thứ
bốn mươi ba, giới chẳng hổ
thẹn mà tiếp nhận bố thí.
Thứ
bốn mươi bốn, giới chẳng cúng
dường kinh điển.
Thứ bốn
mươi lăm, giới chẳng giáo hóa
chúng sanh.
Thứ
bốn mươi sáu, giới thuyết pháp
chẳng như pháp.
Thứ
bốn mươi bảy, giới phi pháp chế
hạn[70].
Thứ
bốn mươi tám, giới phá pháp.
(Tụng xong, [vị
tỳ-kheo tụng giới xuống khỏi tòa,
tạ đại chúng rằng)
Kính tạ
đại chúng, Tăng sai tôi tụng
giới, tam nghiệp chẳng siêng năng,
giới văn sanh thô tháp, ngồi lâu kéo
dài, khiến đại chúng sanh phiền não.
Mong đại chúng từ bi, bố thí hoan
hỷ.
(đệ
tử ở Cổ Tú Châu là Đại
Thắng, Tôn Hồng Cơ quyên tiền tổng cộng
năm lạng sáu tiền để giúp
khắc in.
Vân
Thê Đại Sư Pháp Vựng sưu tập ba
loại Cụ Túc Tiện Mông, Sa Di Yếu
Lược và Tụng Giới. Phật, tổ
rủ ân cứu độ, bèn ghi lại.
Đại sư để lại khuôn phép cho cõi
đời, là kế sách tốt lành cho
đời Mạt Pháp, ban nguyện vô số.
Kính ghi vào
ngày Phật Đản năm Canh Thìn (1640)
đời Sùng Trinh.
Tỳ-kheo Dữ
Xuyên khắc bổ sung vào năm Giáp Dần
(1734) đời Ung Chánh nhà Đại Thanh).
Vân Thê
Pháp Vựng
Phần
1 hết
[1] Phường bổn (坊本) là từ ngữ chỉ các sách vở
được ấn hành bởi các
xưởng in trong dân gian, nhằm phân biệt với quan bổn (bản in do quốc
gia đứng ra chủ trì ấn loát) và
tư thục khắc bổn (bản in của một
cá nhân hoặc một dòng họ).
[2] Phương sách (方冊) có nghĩa gốc là Cổ Thư, chỉ
một kiểu in sách truyền thống của Trung
Hoa. Sách được chia thành trang, in trên
một mặt của một tờ giấy
dài. Sách in xong sẽ được gấp
thành trang, khâu gáy, gắn bìa tạo
thành một quyển sách thường có
từ bốn mươi đến năm mươi
trang. Trước thời Minh, kinh Phật
thường in trên giấy dài, cuộn thành
trục, hoặc theo lối Điệp Tử
tức xếp thành trang, nhưng không khâu gáy.
[3] Những chữ in
đậm trong bài chú này và những
bài chú sau là những chữ sai khác
so với bản kinh Nhật Tụng do nhà xuất
bản Tôn Giáo ấn hành năm 2007 (do tổ in ấn và phát
hành kinh sách Thành hội Phật giáo TPHCM
thực hiện).
[4] Bản lưu hành ghi là “đát
nễ dã tháp”, còn bản của tổ Liên
Trì chỉ ghi là “đát dã tháp”.
[5] Đây là
bài chú trích từ kinh Phật Thuyết
Bách Giải Oán Kết Đà La Ni (không có
tên người dịch, chỉ thấy ghi trong Gia
Hưng Tạng). Kinh văn rất ngắn, chỉ
có vài dòng, xin trích dẫn như sau: “Nghe
thế này: Một thời, Phật tại
thành Tỳ Da , ở dưới cây Âm Nhạc,
cùng với tám ngàn tỳ-kheo nhóm
họp. Khi đó, có một Bồ Tát tên
là Phổ Quang Bồ Tát Ma Ha Tát,
được mọi người biết
đến, nói nhân duyên xưa kia: ‘Chúng sanh đời
Mạt Pháp trong thuở vị lai nhiều tội
khổ thù hằn, kết oán thù xong,
đời đời đều phải
gặp gỡ. Nếu có thiện nam tử,
thiện nữ nhân nghe đà-la-ni này, bảy
ngày bảy đêm trai giới khiết tịnh,
hằng ngày vào sáng sớm niệm danh
hiệu Phổ Quang Bồ Tát Ma Ha Tát này
và đà-la-ni này một trăm lẻ tám
lần, trọn đủ bảy ngày, sẽ
được tiêu diệt hết, chẳng gặp
gỡ oán gia’. Khi đức Phật nói
lời ấy xong, tứ chúng người,
trời, rồng tám bộ thảy đều hoan
hỷ tiếp nhận lời dạy, vâng làm theo.
Án, xỉ lâm. Kim tra, kim tra, tăng kim tra, ngô kim vị
nhữ giải kim tra, chung bất dữ nhữ
kết kim tra. Án, cường trung cường,
cát trung cát, ba la hội lý hữu thù
lợi, nhất thiết oan gia ly ngã thân, ma ha
bát nhã ba la mật”.
[6] Phổ Am Chú có tên gọi
đầy đủ là Phổ Am Đại
Đức Thiền Sư Thích Đàm
Chương Thần Chú, gọi tắt là Thích
Đàm Chương hoặc Tất Đàm
Chương. Bài chú này tương truyền do
ngài Phổ Am Ấn Túc đại sư
thời Nam Tống dựa trên Hoa Nghiêm Tự
Mẫu mà soạn ra, và tương truyền
bài chú này có công đức xua
đuổi hết thảy tai chướng,
hoặc nếu khi không chọn được
ngày thích hợp để cử hành
pháp sự như cầu an, cầu mưa, tiêu tai
trừ bệnh, phá hủy đền thờ
tà thần v.v…, cứ niệm tụng bài
chú này từ một tới ba lần
sẽ biến đổi mọi sự thành
tốt lành. Dân gian còn tin bài chú này
có thể xua đuổi chuột, muỗi, trùng
độc, gián, mối, muỗi v.v… Về sau, bài
chú được sử dụng rộng
rãi trong các nghi lễ siêu độ của Phật
môn, nhất là khi tang ma.
[7] Theo hòa thượng Tuyên
Hóa, Nhị Phật Chú như sau: “Nhị
Phật diễn hóa tại Sa Bà, Đông A Súc,
Tây Di Đà, thập tam điều đại
giới phạm Ba La, phạ Diêm La, cần sám
hối, tội tiêu ma” (Hai vị Phật diễn
giảng, giáo hóa tại Sa Bà, Đông là A
Súc, Tây là Di Đà. Mười ba
điều đại giới phạm tội Ba La Di,
sợ Diêm La, siêng sám hối, tội tiêu mất).
Có vẻ như đây là một bài kệ
được coi lầm là chú ngữ.
[8] Tám
bộ Bát Nhã tức là quan điểm
của Kim Cang Tiên Luận, coi các bản kinh Bát
Nhã trong Đại Tạng như các kinh
điển độc lập thay vì là các
hội như trong cách dịch Đại Bát
Nhã Ba La Mật Đa Kinh của ngài Huyền Trang.
Tám bộ Bát Nhã bao gồm:
1) Đại Phẩm
Bát Nhã, tức Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật
Kinh do ngài Cưu Ma La Thập dịch thời Diêu
Tần.
2) Phóng Quang Bát
Nhã do ngài Vô Đa La dịch vào thời Tây
Tấn.
3) Quang Tán Bát
Nhã do ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào
thời Tây Tấn.
4) Đạo Hành
Bát Nhã do ngài Chi Lâu Ca Sấm dịch vào
đời Đông Hán.
5) Tiểu Phẩm Bát
Nhã do ngài Cưu Ma La Thập dịch.
6) Thiên Vương Vấn
Bát Nhã tức Thắng Thiên Vương
Bát Nhã Ba La Mật Kinh do ngài Nguyệt Bà
Thủ Na dịch vào đời Trần.
7) Văn Thù Bát
Nhã tức Văn Thù Sư Lợi
Sở Thuyết Bát Nhã Ba La Mật Kinh do
ngài Mạn Đà La Tiên dịch vào
đời Lương.
8) Kim Cang Bát Nhã
tức kinh Kim Cang do ngài Cưu Ma La Thập dịch
và các dị bản khác như Kim Cang Năng
Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Kinh (Cấp Đa
dịch vào đời Tùy), Phật Thuyết
Năng Đoạn Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (do
ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời
Đường) v.v…
Cách phân loại
này đã bỏ sót Tâm Kinh cũng như
các kinh thuộc hệ thống Lý Thú Bát
Nhã như kinh Thật Tướng Bát Nhã, kinh
Kim Cang Đảnh Du Già Lý Thú Bát Nhã,
kinh Đại Lạc Kim Cang Bất Không Chân Ngôn Tam Ma Da,
kinh Tối Thượng Căn Bản Đại
Lạc Kim Cang Bất Không Tam Muội Đại Giáo
Vương v.v…
[9] Ở đây, bản chỉnh
lý của Tổ hơi khác với bản
lưu hành, nên chúng tôi ghi lại toàn văn.
[10] Chữ Vãm (錽)
được tự điển Khang Hy phiên
thiết âm đọc là “vong phạm thiết” (亡范切), và âm Quan Thoại ghi là Wàn (mô phỏng âm tiếng Phạn, tức Vam,
chủng tử của Thủy Đại). Các
bản lưu hành thường bị ghi sai
thành “tông” (鍐), nhưng các đạo tràng người
Hoa vẫn đọc thành âm Wàn. Không hiểu vì lý do nào,
theo truyền thống, Thiền môn miền Trung và Nam
Việt Nam thường đọc chữ này
thành “non” hay “noan”.
[11] Câu-chi (koṭi) có ba cách hiểu:
Mười vạn, một trăm vạn và
một ngàn vạn.
[12] Na-do-tha (nayutaḥ), còn phiên
âm là Na-dữu-đa, na-do-đa. Có nhiều
cách hiểu khác nhau về con số này. Theo Câu
Xá Luận, na-do-tha là một ngàn ức.
Theo Đại Tỳ Bà Sa Luận, na-do-tha là 10
lũy thừa 37 (tức 37 con số 0 sau số 1).
Theo kinh Hoa Nghiêm, thì na-do-tha là 10 lũy thừa
28. Theo Toán Học Khải Mông (do Châu Thế Kiệt
soạn vào đời Nguyên) thì một na-do-tha
là 10 lũy thừa 112. Theo Trần Kiếp Ký
bản in năm Khoan Vĩnh 11 (1624) của Nhật Bản,
một na-do-tha là mười lũy thừa
sáu mươi.
[13] Ca Lâu Chi
Sấm đúng ra phải là Chi Lâu Ca Sấm vì
tên Ngài là Lokakṣema
(được phiên âm là Lâu Ca Sấm, nghĩa
là “thế giới thái bình”), nhưng
đôi khi các sách vẫn viết tên Ngài
thành Ca Lâu Chi Sấm. Chữ Chi trong danh hiệu của
Ngài là do Ngài là người xứ Nhục
Chi (Quý Sương đế quốc). Ngài
đến Trung Hoa vào khoảng thế kỷ
thứ hai đời Đông Hán trong
những năm cuối thời Hán Hoàn
Đế. Ngài dịch hơn mười bộ
kinh, hai bộ nổi tiếng nhất là Bát
Nhã Đạo Hành Kinh và Ban Châu Tam Muội Kinh.
Bản dịch của Ngài không trong sáng cho
lắm, khó hiểu, vì Ngài chú trọng
phiên âm hơn là dịch ý, cho rằng “kinh
có nhiều ý sâu mầu, quý ở chỗ
gần với bản gốc, chẳng chú
trọng bóng bẩy”. Ngài được coi
là một trong những vị đi tiên phong trong
việc dịch kinh Đại Thừa sang tiếng
Hán.
[14] Khang Tăng
Khải (Saṃghavarman)
đôi khi còn được gọi là Tăng
Già Bạt Ma, không rõ năm sanh và năm
mất. Đa số các sách ghi Ngài là
người Ấn Độ, nhưng do dùng
chữ Khang trước tên, nên có lẽ
Ngài là người xứ Khang Cư (Sogdiana),
hoặc đến Trung Hoa từ xứ
đó. Năm Gia Bình thứ tư (252), Ngài
đến Lạc Dương, trụ tại Bạch
Mã Tự, dịch các bộ Úc Già
Trưởng Giả Kinh (hai quyển), Vô
Lượng Thọ Kinh, Tứ Phần Tạp
Yết Ma v.v…
[15] Chi Khiêm
là một cư sĩ dịch kinh nổi tiếng
thời Đông Ngô. Ông là hậu duệ của
người Nhục Chi, tổ tiên di cư đến
đất Hán thời Hán Linh Đế.
Vào thời Hán Hiến Đế, chiến tranh
loạn lạc, nên gia tộc của Chi Khiêm di cư
xuống Giang Nam. Tương truyền,
ông được Tôn Quyền (vua Đông Ngô) tin
tưởng, phong làm chức quan Bác Sĩ
để dạy Thái Tử Tôn Lượng. Sau
khi Tôn Lượng lên ngôi (năm 252), ông ẩn cư
ở núi Khung Ải. Ông từng theo học
với ngài Chi Lâu Ca Sấm, và dịch khá
nhiều kinh (hơn ba mươi bộ theo Xuất Tam
Tạng Ký Tập, nhưng Lịch Đại Tam
Bảo Ký nói ông dịch 129 bộ). Các bộ
nổi tiếng là kinh Duy Ma, kinh Đại Bát Nê
Hoàn, kinh Thụy Ứng Bổn Khởi. Ông
dịch lại các bộ kinh như Đạo Hành
Bát Nha, Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Vương,
Đại Bát Nê Hoàn Kinh, Bồ Tát Bổn
Nghiệp Kinh, Đại A Di Đà Kinh (tức kinh
Vô Lượng Thọ), Đại Minh Độ Vô
Cực Kinh (tức kinh Tiểu Phẩm Bát
Nhã), Soạn Tập Bách Duyên Kinh v.v…
[16]
Pháp Hiền, còn gọi là Pháp Thiên
(Dharmadeva, ?-1001) là tăng nhân dịch kinh
người nước Ma Già Đà, Ấn
Độ. Ngài xuất gia tại chùa Na Lan
Đà. Đầu đời Tống, Ngài
cùng anh là Pháp Hộ đến Phu Châu, Trung Hoa,
hợp tác với ngài Pháp Tấn
dịch kinh. Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) rất
tán thưởng bản dịch kinh của các
Ngài. Về sau, các Ngài cùng với Thiên
Tức Tai, Thi Hộ v.v… lập đạo tràng
dịch kinh, và dịch rất nhiều kinh. Phần
lớn các kinh của Ngài dịch là kinh
Mật Giáo.
[17] Đây là một phần
của phẩm Không trích từ kinh Kim Quang Minh do
ngài Đàm Vô Sấm dịch vào thời
Bắc Lương.
[18] Mười phát thú
tức là “thập phát thú tâm” (十發趣心) là mười loại tâm
hướng về, tiến nhập Đại
Thừa của bậc Địa Tiền Bồ
Tát (các địa vị Bồ Tát chưa
chứng Sơ Địa), bao gồm: Xả tâm,
giới tâm, nhẫn tâm, tinh tấn tâm, định tâm,
huệ tâm, nguyện tâm, hộ tâm (tâm bảo vệ,
gìn giữ), hỷ tâm, và đảnh tâm.
Ngài Đạo Phưởng khi chú giải kinh
Phạm Võng đã coi mười tâm này
ứng với Thập Ba La Mật, còn ngài
Pháp Tạng (trong tác phẩm Phạm Võng Kinh
Bồ Tát Giới Bổn Sớ, quyển
nhất) lại coi mười tâm này tương
ứng với Thập Trụ, vì cho
rằng Thập Trụ là địa vị khởi
đầu trong Tam Hiền, nên gọi là
Phát Thú.
[19][19] Hàng Bồ Tát vì
muốn tăng trưởng thiện căn,
trưởng dưỡng thánh thai mà tu
mười loại tâm thì gọi là Thập
Trưởng Dưỡng Tâm, bao gồm từ
tâm, bi tâm, hỷ tâm, xả tâm, thí tâm, hảo
ngữ tâm, ích tâm, đồng tâm, định tâm,
huệ tâm. Mười tâm này do kết hợp
tứ vô lượng tâm, tứ nhiếp tâm
và định, huệ mà thành.
[20] Thập kim cang tâm là
mười loại tâm kiên cố của Bồ Tát,
nên được sánh ví như kim cang, bao
gồm:
1) Giác liễu pháp tánh:
Bồ Tát phát tâm đại nguyện, thề
muốn liễu giải chẳng hề sót
thừa vô lượng vô biên chẳng thể
cùng tận hết thảy các pháp môn vi
diệu.
2) Hóa độ chúng sanh.
3) Trang nghiêm thế giới.
4) Hồi hướng thiện
căn.
5) Phụng sự đại
sư.
6) Thật chứng các
pháp.
7) Rộng hành nhẫn nhục.
8) Tu hành lâu dài.
9) Tự hành viên mãn.
10) Thỏa mãn trọn vẹn
các nguyện của người khác.
[21] Phật Đảnh Tôn Thắng
(Uṣṇīṣa
Vijayā), còn gọi là Tôn Thắng
Phật Mẫu, Trừ Chướng Phật
Đảnh, Tối Thắng Phật Đảnh,
Trừ Chướng Phật Đảnh Luân
Vương, hoặc
Ô Sắt Ni Sa Tôn
Thắng Phật Mẫu, là một trong năm
vị Phật Đảnh, hóa hiện từ
nhục kế của Tỳ Lô Giá Na Phật, biểu trưng cho trí huệ tối cao
của Phật, có công năng trừ hết
thảy phiền não, nghiệp chướng, uế
ác, các nỗi khổ trong ác đạo.
Sở dĩ gọi là Phật Mẫu vì
các vị Phật Đảnh chính là trí huệ
vô lậu của Phật được nhân cách
hóa, có công năng trưởng dưỡng
trí huệ
và Phật tánh
của mỗi người, giống như sanh ra
chư Phật vậy. Vị này thường
được tạc tượng thân có
màu trắng (biểu thị trí huệ vô
cấu, không chấp trước), đội mão
báu năm cánh (tượng trưng cho Ngũ
Trí của Như Lai), thân đeo anh lạc (biểu
thị tánh đức vô lượng), ngồi
xếp bằng, ba mặt. Mặt chính
giữa có ba mắt, có màu trắng,
vẻ mặt từ bi trang nghiêm, biểu thị
tiêu tai dứt nạn. Mặt bên phải sắc
vàng, mỉm cười, biểu thị tăng
phước, diên thọ. Mặt bên trái sắc lam,
có hình tướng phẫn nộ, biểu
thị chế phục ác đạo, Ngài có
tám tay lần lượt như sau:
- Tay thứ nhất bên phải
cầm chày kim cang kép (chày kim cang hình
chữ thập) đặt
trước ngực, biểu thị hàng ma.
- Tay thứ hai bên phải
cầm hoa sen, trên hoa có A Di Đà Phật.
- Tay thứ ba bên phải cầm
mũi tên, biểu thị chế phục vọng
tưởng.
- Tay thứ tư bên phải
kết ấn Thí Nguyện đặt
trước đùi phải.
- Tay thứ nhất bên trái
cầm dây quyến sách (giống loại thừng
lasso thường dùng của cowboy), biểu thị
chế phục các hàng quỷ thần.
- Tay thứ hai bên trái
kết ấn Thí Vô Úy.
- Tay thứ ba bên trái cầm
cung, biểu thị vượt trỗi thù
thắng trong tam giới.
- Tay thứ tư bên trái
kết Thiền Định Ấn nâng bình quân trì
chứa nước cam lộ.
Theo Đại Tạng Kinh và
Chúng Kinh Mục Lục, kinh Tôn Thắng Đà La Ni có nhiều
hơn năm bản dịch:
1) Tôn Thắng Đà La Ni
Tịnh Niệm Tụng Công Năng Pháp, do ngài
Trí Xưng dịch trong đời Hậu Châu,
bản này đã thất truyền.
2) Phật Đảnh Tôn
Thắng Đà La Ni Kinh do ngài Phật
Đà Ba Lợi dịch vào đời
Đường (bản này được lưu
hành rộng nhất và đầy đủ
nhất).
3) Phật Đảnh Tôn
Thắng Đà La Ni Kinh do ngài Đỗ
Hành Khải dịch vào đời
Đường.
4) Phật Đảnh Tôn
Thắng Đà La Ni Kinh do ngài Địa Bà
Ha La dịch vào đời Đường.
5) Tối Thắng Phật
Đảnh Đà La Ni Tịnh Trừ Nghiệp
Chướng Kinh cũng do ngài Địa Bà Ha
La dịch vào đời Đường.
6) Phật Thuyết Phật
Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh do ngài
Nghĩa Tịnh dịch vào đời
Đường.
7) Phật Đảnh Tôn
Thắng Đà La Ni Niệm Tụng Nghi Quỹ
Pháp do ngài Bất Không dịch vào
đời Đường.
8) Tối Thắng Phật
Đảnh Đà La Ni Kinh (chỉ có phần
chú ngữ) do ngài Pháp Thiên dịch vào
đời Bắc Tống.
9) Phật Thuyết Nhất
Thiết Như Lai Ô Sắc Ni Sa Tối Thắng
Tổng Trì Kinh cũng do ngài Pháp Thiên dịch
vào đời Bắc Tống.
[22] Nhân Hiếu
Hoàng Hậu (1362-1407) họ Từ, không rõ tên
thật là gì. Bà là vợ của Minh
Thành Tổ (Châu Lệ), và là con gái
đầu lòng của khai quốc công thần
Từ Đạt. Sử chép bà là
người hiền thục, điềm tĩnh,
thích đọc sách. Minh Thái Tổ nghe nói
bà hiền đức, bèn đích thân
đến nhà Từ Đạt cầu hôn cho con
trai Châu Lệ của mình. Bà có ba người
con trai Châu Cao Xí (Minh Nhân Tông), Hán vương Châu Cao
Hú và Triệu vương Châu Cao Toại, bốn
người con gái là Châu Ngọc Anh (công
chúa Vĩnh An), công chúa Vĩnh Bình, công
chúa An Thành, và công chúa Hàm Ninh. Tháng
Giêng năm Vĩnh Lạc nguyên niên (1403), bà bố cáo
Mộng Cảm Phật Thuyết Đệ Nhất Hy
Hữu Công Đức Kinh ban hành thiên hạ,
còn đích thân soạn hai mươi thiên Nội
Huấn và Khuyến Thiện Thư được
người đương thời đánh
giá rất cao. Nhân Hiếu chính là thụy
hiệu được vua phong tặng sau khi bà
mất.
[23] Uế Tích Kim Cang (Ucchuṣma) gọi đầy
đủ là Đại Lực Oai Nộ Kim Cang Ô Sô
Sử Ma (Vajra Krodha Mahābala Ucchuṣma), còn
được dịch là Hỏa Đầu Kim
Cang, Trừ Uế Kim Cang, Hỏa Thủ Kim Cang, Ô Xu Sa
Ma, Ô Trâu Sáp Ma, Ô Trâu Sắt Ma, và Ô Xu Sắt
Ma, là hóa thân của Bất Không Thành
Tựu Mật, tức thân giáo lệnh minh
vương của Bất Không Thành Tựu
Phật, dùng Kim Cang huệ, hiện thân phẫn nộ
để điều ngự tất cả hữu
tình uế ác. Ngài có công năng chuyển
bất tịnh thành
thanh tịnh. Thần chú của Ngài
thường được sử dụng
với mục đích trừ uế, tịnh
hóa mọi nơi. Đây chính là vị Hỏa
Thủ Kim Cang nói về pháp quán hỏa
đại trong hai mươi lăm môn Viên Thông của kinh
Lăng Nghiêm.
[24] Chú này giống hệt
như chú xuống giường.
[25] Đây là
cách phán định kết cấu của kinh Hoa
Nghiêm đối với Bát Thập Hoa Nghiêm Kinh (kinh
Hoa Nghiêm bản dịch gồm tám mươi quyển),
tức là chín hội thuyết pháp
được tiến hành tại bảy nơi:
1) Hội thứ
nhất tại Bồ Đề Đạo Tràng,
gồm sáu phẩm đầu: Thế Chủ Diệu
Nghiêm, Như Lai Hiện Tướng, Phổ Hiền Tam
Muội, Thế Giới Thành Tựu, Hoa
Tạng Thế Giới, và Tỳ Lô Giá Na.
2) Hội thứ hai
tại điện Phổ Quang Minh gồm sáu phẩm
kế tiếp: Như Lai Danh Hiệu, Tứ Thánh
Đế, Quang Minh Giác, Bồ Tát Vấn Minh,
Tịnh Hạnh, và Hiền Thủ.
3) Hội thứ ba
nói tại cung trời Đao Lợi, gồm
sáu phẩm kế tiếp: Thăng Tu Di Đảnh, Tu
Di Kệ Tán, Thập Trụ, Phạm Hạnh, Sơ
Phát Tâm Công Đức, và Minh Pháp.
4) Hội thứ tư
nói tại cung trởi Dạ Ma, gồm bốn
phẩm: Thăng Dạ Ma Thiên, Dạ Ma Kệ Tán,
Thập Hạnh, và Thập Vô Tận Tạng.
5) Hội thứ
năm nói tại cung trời Đâu Suất,
gồm ba phẩm Thăng Đâu Suất Thiên, Đâu
Suất Kệ Tán và Thập Hồi
Hướng.
6) Hội thứ
sáu nói tại cung trời Tha Hóa Tự
Tại, gồm một phẩm Thập Địa.
7) Hội thứ
bảy nói tại điện Phổ Quang Minh, gồm
mười ba phẩm: Thập Định, Thập
Thông, Thập Nhẫn, A Tăng Kỳ, Thọ Lượng,
Bồ Tát Trụ Xứ, Phật Bất Tư
Nghị Pháp, Thập Thân Tướng Hải,
Tùy Hảo Quang Minh, Phổ Hiền Hạnh, và Như
Lai Xuất Hiện.
8) Hội thứ
tám vẫn nói tại điện Phổ Quang Minh,
gồm một phẩm là Ly Thế Gian.
9) Hội thứ
chín nói tại rừng Thệ Đa, gồm
một phẩm là Nhập Pháp Giới.
Phẩm Phổ Hiền
Hạnh Nguyện lưu hành hiện thời
chỉ là quyển bốn mươi trong phẩm
Nhập Pháp Giới.
[26] Theo tổ
Thanh Lương Trừng Quán, kinh Hoa Nghiêm gồm
năm vòng nhân quả, được gọi
là Ngũ Châu như sau:
1) Sở tín nhân
quả: Tức hội thứ nhất, nói
về quả đức của Tỳ Lô Giá Na
Phật và nhân hạnh khi Ngài còn là Phổ
Trang Nghiêm đồng tử. Nói cách khác,
phần này chính là nhân quả của Phật
mà người tu hành cần phải tin
tưởng.
2) Sai biệt nhân quả,
tức là các phần Thập Tín, Thập
Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng,
Thập Địa chính là nhân. Quả của
các nhân ấy được nói trong phẩm
Phật Bất Tư Nghị Pháp, Thập Thân
Tướng Hải và Tùy Hảo Quang Minh.
3) Bình đẳng
nhân quả, tức là cái nhân bình
đẳng được nói trong phẩm
Phổ Hiền Hạnh. Quả của cái nhân ấy
được nói trong phẩm Như Lai Xuất
Hiện.
4) Thành hạnh nhân
quả: Phẩm Ly Thế Gian đầu tiên nói năm
mươi giai vị, đó là nhân. Sau đó
nói tám tướng thành đạo. Do
hành nhân mà thành tựu cái quả, nên
gọi là Thành Hạnh Nhân Quả.
5) Chứng nhập nhân
quả: Tức phẩm Nhập Pháp Giới,
trước hết nói cái quả do
đức Phật tự chứng nhập, sau
đó nói cái nhân do Thiện Tài đồng
tử chứng nhập.
Tứ phần
chính là:
1) Cử quả
khuyến nhạo sanh tín (nêu ra cái quả
để khuyên ưa thích, sanh lòng tin), tức
sáu phẩm đầu.
2) Tu nhân khế quả sanh
giải: Từ phẩm Như Lai Danh Hiệu cho
tới phẩm Như Lai Xuất Hiện.
3) Thác pháp tấn
tu thành hạnh (nhờ vào pháp mà
tấn tu hòng thành tựu hạnh): Tức
phẩm Ly Thế Gian.
4) Y nhân chứng
nhập thành đức (nương vào
người chứng nhập để thành
tựu đức): Tức phẩm Nhập Pháp
Giới.
[27] Từ Vân Sám Chủ
chính là ngài Tuân Thức (964-1032), tự
là Tri Bạch, sống vào đời
Bắc Tống. Sư xuất gia lúc mười
tám tuổi, hai mươi tuổi được
thọ Cụ Túc Giới,
từng đốt một ngón tay phát nguyện
trước tượng Phổ Hiền Bồ
Tát thề truyền giáo pháp Thiên Thai. Ngài
học giáo nghĩa Thiên Thai với ngài
Nghĩa Thông chùa Bảo Vân. Ngài cùng với ngài Tứ Minh Tri
Lễ trở thành nhân vật chủ chốt
của Sơn Gia Phái thuộc tông Thiên Thai. Tuy chuyên
giảng các kinh Pháp Hoa, Duy Ma, Niết Bàn, Kim
Quang Minh, nhưng Ngài chủ yếu tu Tịnh
Độ, chuyên soạn rất nhiều sám
pháp. Năm Càn Hưng nguyên niên (1022), Sư
được Tống Chân Tông ban gia hiệu là
Từ Vân, do đó, Ngài thường được gọi là
Từ Vân Sám Chủ.
[28] Bài văn này nhắc
lại hai câu này hai lượt.
[29] Tức là ngài
Di Sơn Duy Nhiên. Ngài sống vào cuối
đời Đường, suốt đời tu tŕ nghiêm
khổ, sống hết sức giản dị. Sau khi triệt
ngộ nguồn tâm, Ngài quyết ư ẩn cư nơi núi rừng.
Do thời thế, loạn lạc, dân t́nh khốn khổ,
lênh đênh thất tán, họ lưu lạc đến chỗ
thiền sư. Thiền sư cứu giúp họ sống
sót, vất vả làm lụng để nuôi sống họ.
Một hôm, do quá sức, Sư gục xuống bên cạnh
con suối nhỏ rồi qua đời tại đó. Khi
mai táng Sư, họ chỉ t́m được một thiên
nguyện văn,
tức bài nguyện văn được
trích lục ở đây. Đọc nguyện
văn, họ mới biết chí hướng của Ngài,
không ai chẳng cảm động rơi lệ. Tới thời
Càn Long, khi tu chỉnh Đại Tạng Kinh, không hiểu
v́ sao thiên nguyện văn ấy được đặt
ngay trên bàn vị quan giữ trách nhiệm tổng biên tập.
Xét ra, ngài Di Sơn thân thế chẳng rơ ràng, tuyệt đối
chẳng phù hợp tiêu chuẩn nhập tạng, nhưng những
người đă đọc qua bài nguyện văn ấy,
không ai chẳng kiên quyết muốn đưa vào Đại
Tạng. Trong khi mọi người đang tranh luận ồn
ào, từ tờ nguyện văn ấy, bỗng phát ra ánh
sáng bảy màu chiếu sáng cả tự viện và bầu
trời, đồng thời có âm thanh ầm ́ như sấm
động, chứng tỏ long thiên ủng hộ, chứng
minh bài nguyện văn ấy. Do vậy, viên quan chủ biên
chẳng do dự, nhập tạng bài nguyện văn ấy.
Bài
văn này được đưa vào
thời khóa công phu sáng của Thiền Môn.
[30] Thập triền nghĩa là
mười loại vọng hoặc (phiền
não hư vọng), trói buộc chúng sanh,
khiến họ chẳng thoát khỏi sanh tử,
chẳng chứng Niết Bàn, bao gồm: Vô tàm, vô quý, ghen ghét, keo kiệt,
hối (làm điều lành rồi hối hận),
ham ngủ, lao chao, hôn trầm, sân phẫn và giấu
diếm.
[31] Thập sử (còn gọi
là thập phiền não, thập hoặc,
thập tùy miên) là tham dục, sân khuể, vô minh,
mạn, nghi, thân kiến (ngã kiến), biên kiến,
tà kiến, kiến thủ kiến và giới
thủ kiến. Năm loại đầu
được gọi là ngũ độn
sử (vì tác dụng của chúng chậm
rãi), năm loại sau được gọi
là ngũ lợi sử.
[32] Bát
nạn là tam đồ (địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh), tàn tật, sanh trong
Trường Thọ Thiên, Thế Trí Biện Thông,
sanh trước Phật, và sanh sau Phật.
Tứ duyên là:
1) Nhân duyên: Những duyên
giúp cho nhân tăng trưởng, kết thành
quả.
2) Đẳng vô gián duyên:
“Đẳng” có nghĩa là cùng loại,
tương đương. Ý nói tâm và tâm
sở liên tục, niệm trước đã
diệt, niệm sau liền sanh khởi, liên tục
chẳng gián đoạn, sanh thành theo
thứ tự, nên còn gọi là Thứ
Đệ Duyên.
3) Sở duyên duyên: Còn
gọi là duyên, tức là nói đến
các pháp tương ứng, tâm vương,
và tâm sở pháp. Như nhãn thức
và lấy sắc pháp ở bên ngoài
là sở duyên (tức là ngoại
sắc chính là đối tượng
được nhận biết bởi nhãn
thức), âm thanh là sở duyên của nhĩ
thức v.v… Quan hệ giữa sáu căn,
sáu trần và sáu thức là sở
duyên duyên. Tức là như sáu trần làm
duyên để sáu thức duyên vào, do vậy
sáu trần được gọi là sở
duyên duyên (cái duyên để được duyên)
của sáu thức.
4) Tăng thượng duyên:
Cái duyên không gây chướng ngại, giúp cho
các pháp sanh khởi nhanh chóng, mạnh
mẽ hơn.
[33] Hai
thứ tùy thuận là thuận duyên và
thuận tánh.
[34] Bốn
chẳng nghĩ bàn (tứ bất tư
nghị): Chúng sanh bất tư nghị, thế
giới bất tư nghị, long cảnh giới
bất tư nghị (cảnh giới chẳng
thể nghĩ bàn của loài rồng), và
Phật cảnh giới bất tư nghị.
[35]
Mười bốn món vô úy: Theo kinh Lăng
Nghiêm, quyển sáu, Quán Thế Âm Bồ Tát
dùng kim cang tam-muội vô tác diệu lực
khiến cho chúng sanh đạt được
mười bốn loại công đức vô úy:
1) Bất tự
quán âm dĩ quán âm (chẳng thuận theo âm
thanh để quán sát mà quán sát âm
thanh): Chẳng thuận theo thanh trần mà dấy
lên tri kiến, chỉ do thanh trần mà phản
quán tự tánh, chẳng khởi tri
kiến, chẳng bị thứ gì gây mê
mờ, phản chiếu tự tánh,
chẳng còn khổ não, cho nên không sợ
hãi.
2) Tri kiến toàn
phục (xoay chuyển tri kiến): Bồ Tát có
thể xoay chuyển tri kiến khôi phục chân không, có
thể khiến cho chúng sanh vào lửa mà
lửa chẳng thể đốt, do vậy vô
úy.
3) Quán thính
toàn phục (xoay chuyển cái thấy, cái nghe):
Do tánh của quán và thính là
động, nên thuộc về nước, Bồ
Tát có thể xoay chuyển sự thấy nghe,
khôi phục chân không, khiến cho chúng sanh chẳng
bị nước lũ cuốn trôi hoặc
nhấn chìm, cho nên vô úy.
4) Đoạn diệt tâm
vọng tưởng chẳng sát hại: Bồ
Tát chứng ngộ thật tánh, đoạn
diệt vọng tưởng, phát tâm đại
từ, chẳng có ý niệm sát
hại, khiến cho chúng sanh vào trong
nước quỷ La Sát, mà ác quỷ
tự diệt ác, cho nên vô úy.
5) Huân văn thành
văn lục căn tiêu phục đồng ư thanh
thính (huân tập cái Nghe thành nghe nơi sáu
căn, khiến cho các thức nơi sáu căn
khác giống như nghe âm thanh vậy): Huân văn
thuộc về Tư, suy tư những điều
được nghe, nhận thấy chúng
chẳng có tánh để có thể
đạt được, cái Văn ấy
liền trở thành chân văn. Lục căn
hại người chẳng khác đao binh.
Bồ Tát đã tiêu diệt sự chấp
trước, hư vọng nơi lục căn, khôi
phục chân không, hết thảy căn trần đều
giống như nghe âm thanh, có thể khiến cho
chúng sanh ngay trong lúc bị hại, hết thảy
đao trượng đều gãy từng
khúc, cho nên vô úy.
6) Văn Huân tinh minh, minh
biến pháp giới (Cái nghe được
huân tập, trở thành sáng suốt. Sự
sáng suốt ấy trọn khắp pháp
giới): Bồ Tát do tu tập Văn Huân, tạo
thành huệ tánh, đã được
sự sáng suốt tinh thuần chiếu sáng
mười phương, trọn khắp pháp
giới. Chúng sanh tuy bị loài Dược
Xoa u ám gần kề, nhưng sự tinh minh của
Bồ Tát khiến cho loài Dược Xoa bị
lóa mắt, khiến chúng nó chẳng
thấy chúng sanh, cho nên vô úy.
7) Âm tánh viên tiêu
quán thính phản nhập (Liễu giải viên dung
tánh của âm thanh, xoay cái Nghe theo thanh trần bên
ngoài thành nghe tâm tánh) : Bị thanh trần
hư vọng trói buộc, chẳng khác nào
bị gông xiềng cùm trói, Bồ Tát do
tánh động lẫn tĩnh đều diệt, sự
thấy nghe từ vọng trở về chân,
giải thoát thanh trần, có thể khiến cho
các sự trói buộc chẳng còn
ràng rịt chúng sanh, do vậy vô úy.
8) Diệt âm viên văn
biến tánh từ lực (Diệt
tướng âm thanh, trọn thành Văn Huệ,
từ lực trọn khắp): Bồ Tát
tiêu diệt âm thanh, viên thành Văn Huệ, sanh trọn
khắp từ lực, có thể dùng
đại lực khiến cho chúng sanh thoát khổ
giống như đi đường gặp
giặc cướp mà chúng chẳng
thể cướp. Do vậy, vô úy.
9) Huân văn ly Trần,
sắc chẳng thể cướp: Bồ
Tát dùng Tư Huệ để huân văn thành
tánh, lìa các trần vọng, chẳng
bị sắc trần cướp đoạt,
khiến cho hết thảy chúng sanh đa dâm chẳng sanh dâm dục, do vậy, vô
úy.
10) Thuần âm vô trần
căn tánh viên dung: Tánh âm thanh của Bồ Tát
thuần tịnh, lìa các vọng trần, căn
và cảnh nhập vào nhau, viên dung vô ngại,
có thể cảm hóa kẻ hung ác, cho nên là
vô úy.
11) Tiêu trần toàn minh
(Các trần tiêu dung, khôi phục tâm tánh sáng
suốt): Tức là Bồ Tát do trừ
ám nên trần tiêu dung, khôi phục sự sáng
suốt nơi tánh, có thể khiến cho hết
thảy người hôn muội, ám độn,
bất thiện xa lìa si ám, cho nên vô úy.
12) Dung hình phục
văn (tiêu dung hình sắc, khôi phục tánh Nghe
chân thật): Dung hình là tiêu diệt
chướng ngại, phục văn là tánh
chân. Cho nên vào trong thế gian mà chẳng
hoại tướng thế gian, có thể đi
khắp mười phương cúng
dường vô lượng chư Phật, bẩm
thọ pháp, cho nên vô úy.
13) Sáu căn viên thông,
chiếu sáng bất nhị.
14) Một danh hiệu
của chính mình chẳng khác danh hiệu
của mười hai hằng sa Bồ Tát:
Bồ Tát trọn đủ viên thông chân thật có
thể khiến cho chúng sanh chỉ trì riêng danh
hiệu của Ngài, sẽ giống hệt như
trì danh của trọn hết mười hai
hằng hà sa Bồ Tát.
[36] Tức
Bồ Tát hiện mười chín loại thân
để thuyết pháp cho chúng sanh: Thân Phật,
thân Bích Chi Phật, thân Thanh Văn, thân Phạm
vương, thân Tự Tại Thiên, thân Đại
Tự Tại Thiên, thân Thiên Đại Tướng
Quân, thân Tỳ Sa Môn, thân tiểu vương, thân
trưởng giả, thân cư sĩ, thân tể quan,
thân Bà La Môn, thân tứ chúng, thân phụ
nữ, thân đồng nam, thân đồng nữ,
thân thiên long bát bộ, và thân chấp kim cang.
[37] Tức
bảy loại nạn (nước, lửa,
giặc, cướp…) và hai thứ cầu
(cầu sanh con trai và cầu sanh con gái)
được nói trong phẩm Phổ Môn.
[38] Đây là nói theo ý
của một bài kệ trong Trí Độ
Luận: “Điểu lai nhập bình trung, dĩ
hộc yểm bình khẩu. Hộc xuyên điểu phi
khứ, thần thức tùy nghiệp tẩu” (Chim
lọt vào trong bình, dùng the bịt miệng
bình. Chim xuyên the bay mất, thần thức theo
nghiệp đi). Do đó, cổ nhân hay dùng
từ ngữ “hộc xuyên điểu phi”
để hình dung thần thức lưu chuyển
theo nghiệp.
[39] Theo Ma Ha Tăng Kỳ Luật,
cháo có mười điều lợi
như sau:
1) Khiến cho dáng vẻ no
đủ: Bồi dưỡng da dẻ, khiến cho
dáng vẻ hồng nhuận.
2) Tăng thêm khí lực.
3) Bồi bổ nguyên khí,
tăng thêm thọ mạng.
4) An lạc, mềm mại: Do ăn
cháo dễ tiêu nên thân thể thoải mái.
5) Biểu đạt ngôn ngữ
rõ ràng.
6) Cổ họng được
thấm nhuần.
7) Dễ tiêu hóa.
8) Thích nghi cho người
già, bệnh.
9) Trừ gió: Cháo ấm
nóng, trừ phong tà.
10) An thần.
[40] Phạm
sát (cõi thanh tịnh) là cách gọi
trịnh trọng một ngôi chùa.
[41] Theo kinh Duy Ma
Cật, Hương Tích là danh hiệu của
đức Phật trong thế giới Chúng
Hương: “Đi về phương trên, qua khỏi
bốn mươi hằng hà sa cõi Phật,
có thế giới tên là Chúng Hương,
Phật hiệu Hương Tích, nay vẫn đang
trụ thế. Mùi thơm trong cõi ấy tối
thắng bậc nhất trong các mùi hương
của trời, người trong các thế
giới khắp mười phương.
Cõi ấy dùng hương làm lầu gác,
kinh hành nơi đất hương, vườn
tược đều thơm ngát”. Ngài Duy
Ma Cật cho biết cõi ấy dùng hương
làm Phật sự, hóa hiện một vị
Bồ Tát đến cõi ấy xin cơm về cho
đại chúng đang hiện diện. Khi cơm
ấy tiêu hết thì mùi hương nơi thân
người ăn mới tan. Do vậy, Thiền môn
thường gọi nhà bếp trong chùa là
Hương Tích.
[42] Giám Trai
sứ giả là vị thần thủ hộ trai
soạn của chư Tăng. Ngài còn
được gọi là Giám Trai Bồ
Tát. Ngài mặt xanh, tóc đỏ. Theo
Hà Nam Phủ Chí, đầu niên hiệu Chí
Chánh đời Nguyên, chùa Thiếu Lâm có
một vị tịnh nhân làm tạp vụ chuyên
nhóm lửa, đầu bù tóc rối,
lưng trần, siêng năng tận tụy lo việc trong
nhà bếp. Trong năm Chí Chánh thứ
mười (1350), Lưu Phước Thông suất
lãnh giặc Hồng Cân bao vây Thiếu Lâm. Vị
cư sĩ ấy bèn tay cầm củi đang
cháy, hóa thành Khẩn Na La Vương thân cao
mấy chục trượng, giặc Hồng Cân
hoảng sợ bỏ trốn, Thiếu Lâm Tự
may mắn thoát nạn. Vị cư sĩ ấy
cũng biến mất. Từ đó, nhà
chùa lập điện thờ Khẩn Na La, trong
bếp thờ tượng Khẩn Na La, tôn xưng
là Già Lam Thần, hoặc Côn Thuật Chi Thần.
Về sau, các nơi thờ theo, tôn xưng Ngài
là Giám Trai Sứ Giả, lấy ngày Hai
Mươi Ba tháng Chạp làm ngày vía.
[43] Do
giới Sa Di thông với Thập Thiện của
hàng cư sĩ tại gia, nên chúng tôi không tỉnh
lược phần này.
[44] Kinh này
có tên gọi đầy đủ là Phật
Thuyết Sa Di Thập Giới Nghi Tắc Kinh, do
ngài Thi Hộ dịch vào đời Tống,
gồm bảy mươi hai bài kệ, trần
thuật kỹ càng về giới Sa Di.
[45] Theo truyền thuyết, Nghi
Địch là bầy tôi của Đại Vũ,
khéo ủ rượu hết sức thơm
ngon, đem dâng lên cho vua Vũ. Đại Vũ uống
vào, cảm thấy hết sức ngon lành, say
mê. Do vậy, bèn xa lánh Nghi Địch, cấm
tuyệt rượu ngon. Về sau, Nghi Địch
được tôn xưng là thỉ tổ của
ngành chế rượu.
[46] Trụ vương do say mê
Đát Kỷ nên lập sai đào ao chứa
rượu, gắn thịt đã
nướng trên cây gọi là Nhục Lâm để ăn
nhậu thỏa thích.
[47] Ba mươi
sáu lầm lỗi do uống rượu được
tổng hợp từ Tứ Phần Luật,
kinh Thiện Sanh trong Trường A Hàm và
Phật Thuyết Phân Biệt Thiện Ác Sở Khởi
Kinh, bao gồm: 1) Chẳng hiếu thảo với
cha mẹ 2) Khinh mạn sư trưởng, bạn
bè 3) Chẳng tôn kính Tam Bảo 4) Chẳng
tin kinh pháp 5) Phỉ báng sa-môn 6) Phê bình rêu rao
tội của người khác 7) Luôn nói
lời hư vọng 8) Vu báng chuyện ác cho
người khác 9) Chuyên nói lưỡi
đôi chiều 10) Ác khẩu tổn thương
người khác 11) Căn nguyên của bệnh
tật 12) Là cái gốc của tranh đấu 13)
Tiếng ác lan truyền 14) Bị người
khác ghét bỏ 15) Bài xích thánh hiền
16) Oán trời trách đất 17) Bỏ phế
sự nghiệp 18) Phá tan gia tài 19) Luôn không
biết hổ thẹn 20) Chẳng biết xấu
hổ 21) Vô cớ đánh đập nô tỳ 22)
Ngang ngược giết chóc chúng sanh 23) Gian
dâm, xâm phạm vợ người khác 24)
Trộm cắp tài vật của người
khác 25) Lợt lạt, xa lánh người lành
26) Thân cận kẻ ác 27) Thường ôm lòng giận
dữ 28) Ngày đêm ưu sầu 29) Lôi Đông
kéo Tây 30) Chỉ Nam vướng Bắc 31)
Té xuống ngòi rãnh, nằm vật vạ
ngoài đường 32) Té xe, ngã
ngựa 33) Té xuống sông nước 34)
Cầm đèn gây ra hỏa hoạn 35) Bị chết
vì nóng bức trong tháng nóng 36) Chết
cóng trong tháng rét.
[48] Xu bồ (樗蒲) là một loại cờ
thịnh hành từ đời Đông Hán
cho đến cuối đời Đường.
Người chơi gieo năm miếng gỗ hình
thoi (gọi là Ngũ Mộc, chia thành hai màu
đen và màu trắng), căn cứ vào số điểm sấp hay
ngửa để đi chuyển con cờ. Ngũ
Mộc có thể chế bằng ngà, răng
nanh động vật, hoặc
chất sừng. Màu
đen thì vẽ con trâu, màu trắng vẽ con
gà. Tùy theo cách phối hợp của
Ngũ Mộc mà tính điểm, chẳng hạn
toàn màu đen thì sẽ tính là
mười sáu điểm, toàn trắng
là tám điểm. Dựa trên số
điểm mà di chuyển các con cờ.
[49] Thời Tam Quốc, tại
Bắc Hải, có một nho sĩ tên là
Quản Ninh, tên tự là Ấu An. Thuở
nhỏ, Quản Ninh cùng Hoa Hâm cuốc đất
trồng rau, thấy trong đất có vàng,
Quản Ninh không thèm ngó tới, coi nó
chẳng khác ngói, đá. Hoa Hâm thì
nhặt lấy rồi vứt đi. Khi loạn
Hoàng Cân nổ ra, Quản Ninh tỵ nạn sang vùng
Liêu Đông, người đi theo rất đông. Ông
dạy họ học thi, thư, dùng đức
giáo hóa dân chúng. Triều đình nghe danh, mời ông làm quan đại
phu, nhưng ông không nhận. Hoa Hâm làm Thượng
Thư Lệnh, theo phe Tào Tháo, cuối cùng không
được chết an lành.
[50] Chẳng hạn như khi
hỏi đạo sư của Tịnh Tông Học Hội
là ai, hãy nên trả lời “lão pháp
sư thượng Tịnh hạ Không”.
[51] Sắc
phục ở đây là đồng phục của
binh lính, nha lại, quan viên, công nhân v.v…
[52] Chiêu Đề (Caturdeśa) có nghĩa là nơi
chốn của Phật giáo, hiểu theo nghĩa
rộng là tự viện của tứ
phương Tăng, chùa miếu của tăng sĩ
v.v…
[53] Kiền chùy (揵搥, Ghaṇtā),
còn phiên âm là Kiện Địa, Kiện Trì,
dịch nghĩa là chuông, khánh, gõ mõ,
gõ khánh v.v… Đây là từ ngữ
chỉ chung các vật có thể gõ ra tiếng,
nhằm làm hiệu lệnh trong đạo
tràng, tự viện.
[54] Bảy loại lễ:
1) Ngã mạn lễ: Thân tuy làm lễ,
chẳng có tâm cung kính, bề ngoài
dường như đang lễ kính, nhưng trong
tâm ngạo mạn.
2) Cầu danh lễ: Muốn có tiếng trong khi tu
hành, giả vờ hiện oai nghi, thường
hành lễ bái, thân làm lễ, miệng xưng
danh hiệu Phật, nhưng tâm duyên theo cảnh khác.
3) Thân tâm lễ: Miệng xướng danh hiệu
Phật, tâm nghĩ tới tướng hảo
của Phật, dốc lòng thành kính, cung
kính lễ bái, chẳng có ý niệm
khác.
4) Trí tịnh lễ: Huệ tâm sáng suốt,
nhạy bén, đạt tới cảnh giới
của Phật, trong ngoài thanh tịnh, rỗng rang vô
ngại.
5) Lễ trọn khắp pháp giới: Thân
tâm trụ trong pháp bình đẳng,
chẳng lìa pháp giới sẵn có,
chư Phật chẳng lìa tâm ta.
6) Chánh quán tu thành lễ: Tuy nhiếp tâm
chánh niệm, lễ thân Phật chính là lễ
đức Phật trong tự tâm. Thấy hết
thảy chúng sanh đều có giác tánh bình
đẳng với chư Phật, thuận theo
nhiễm duyên mà thành ra tánh ác, nhưng
Phật tánh chẳng mất, quán hết
thảy chúng sanh chắc chắn sẽ
thành Phật.
7) Thật Tướng bình đẳng
lễ: Trong cách lễ trên đây, vẫn có lễ,
có quán, tự và tha khác biệt. Trong
cách lễ này, tự tha chẳng khác,
chẳng tách biệt, phàm thánh như
một, thể dụng bất nhị.
[55] Trong tự viện, khi vị Trụ Trì thăng tòa thuyết pháp (đôi khi cung thỉnh trưởng lão trong tự viện khai thị), thì gọi là thượng đường. Định kỳ vào ngày mồng Một hay Rằm, hoặc các dịp khánh đản, xuất đội (trụ trì đi xa trở về), hoặc nhân dịp gì quan trọng hoặc có chuyện biến động trong tự viện, hoặc khi hoàng đế băng hà.
[56] Đồ sấm (圖讖), còn gọi
là Sấm Vĩ (谶纬. Đồ (圖) có nghĩa
là Hà Đồ, tức
mô hình được vẽ trên lưng rùa
thiêng), là một loại sách ghi chép các
lời dự đoán theo lối nói ẩn
ý hoặc biểu tượng để tiên
đoán về cát, hung, bình trị hay suy vong
của các triều đại, kiểu như sấm
Trạng Trình của Việt Nam.
[57] Lô hỏa (爐火) là nói
về phép luyện đan (nội đan, ngoại
đan), Hoàng Bạch (黃白) cũng là phép luyện đan, nhưng
chú trọng biến chì thành vàng, biến
bạc thành vàng (tức là tương
ứng với quan điểm giả kim thuật của châu Âu).
[58] Theo sách Sa Di Luật Nghi Yếu
Lược Thuật Nghĩa của sa-môn Truyền
Luật, “tuyên quyển đả kệ” chính
là cách tu tập của Vô Vi Giáo (một
loại ngoại đạo), kinh điển của họ
gồm năm bộ sáu sách. Khi họ làm
pháp hội, một người đọc kệ
từ các sách ấy (gọi là “tuyên
quyển”), đại chúng hòa giọng
đáp theo, gọi là “đả kệ”.
[59] Giường nằm của
tăng chúng chỉ là một miếng gỗ
rộng vừa đủ cho một người
nằm, nên gọi là Đơn.
[60] Bang (梆) là một
dụng cụ dùng để báo hiệu,
thường chế bằng tre hay gỗ. Trong
nhà chùa thì bang thường làm
thành hình con cá bằng gỗ, có dây
treo, gõ vào sẽ phát ra tiếng mạnh hơn
mộc bản.
[61] Trực chuyết (直裰) là một loại áo
dài, do vạt áo gồm hai mảnh ghép lại,
may thẳng một đường từ trên
xuống dưới, cổ xéo, tay áo hơi
rộng, may viền mép, không có eo, thường
được dùng làm đạo phục cho
tăng ni, đạo sĩ. Nói cách khác, trực
chuyết chính là áo tràng theo cách
hiểu của người Việt.
[62] Thiên sam (偏衫) là một loại y phục kế thừa
từ y Tăng-kỳ-chi (y lót mình của
tăng sĩ). Theo sách Sự Vật Kỷ Nguyên,
từ thời Hậu Ngụy, do thấy tăng nhân mặc y
theo lối Ấn Độ hở vai phải không
hợp lễ nghi Trung Hoa, chư tổ bèn
chế biến y theo lối che vai hữu thành thiên
sam. Có thể tạm hiểu thiên sam giống như
áo vạt khách lửng của Việt Nam vậy, hoặc
loại áo dài không có tay, dài quá
đầu gối, như loại áo mà các
pháp sư bên Tịnh Tông thường mặc ra
ngoài áo ngắn khi không lên khóa tụng. Do vạt tương đối
dài nên mặc thiên sam khi đi tiểu sẽ dễ
làm dơ.
[63] Bố Tát (Upavasattha), còn
phiên âm là Bố Sái Tha, Bố Sa Tha, Bao Sa
Đà, Bô Sa Tha, Bố Tát Đà Bà, dịch
nghĩa là Tịnh Trụ, Thiện Trúc,
Trưởng Dưỡng. Tức là lễ
tụng giới trong mỗi nửa tháng của
người xuất gia và người thọ
Bồ Tát Giới.
[64] Bạch nguyệt (Śuklapakṣa) và hắc nguyệt (Kṛṣṇapakṣa) là cách phân chia tháng theo lịch pháp
Ấn Độ. Bạch nguyệt là từ
mồng Một cho đến ngày Rằm trăng
tròn, còn hắc nguyệt là từ
ngày Mười Sáu cho đến cuối
tháng.
[65] Ở đây không có
nghĩa là cấm tuyệt mọi hình thức
buôn bán, mà là cấm ngặt các
loại buôn bán phi pháp. Giới bổn chép:
“Nếu Phật tử cố ý buôn bán
người lành, nô tỳ, lục súc, buôn
bán quan tài, ván gỗ, dụng cụ
chứa đựng xác chết, [những
kiểu buôn bán ấy] còn chẳng nên
tự làm, huống hồ dạy người
khác làm? Nếu cố ý tự làm, dạy
người khác làm, sẽ phạm tội khinh
cấu”.
[66] Giới bổn ghi: “Nếu
là Phật tử thì đối với
đệ tử của Phật và hết thảy
kẻ ác ngoại đạo, lục thân, hết
thảy thiện tri thức, hãy nên đối
với mỗi người đều dạy
họ thọ trì kinh luận Đại Thừa,
hãy nên dạy họ hiểu nghĩa lý, khiến
cho họ phát Bồ Đề tâm, mười
phát thú tâm, mười trưởng
dưỡng tâm, mười kim cang tâm. Trong ba mươi
thứ tâm ấy, mỗi mỗi đều khiến cho
họ hiểu thứ tự pháp dụng, nhưng Bồ Tát do ác tâm, hoặc sân tâm, bèn ngang ngược dạy kinh luận của Thanh
Văn, Nhị Thừa, tà kiến luận của
ngoại đạo v.v… sẽ phạm tội khinh cấu”.
[67] Giới bổn ghi: “Nếu
Phật tử tự vì ăn uống, tiền
tài, lợi dưỡng, danh dự mà
thân cận quốc vương, vương tử,
đại thần, trăm quan, dựa vào quyền
thế họ để xin xỏ, đòi hỏi,
kèo nài, ngang ngược đoạt lấy
tiền tài, vật dụng, hết thảy cầu
lợi thì gọi là ác cầu, đa
cầu, dạy người khác cầu, đều
là chẳng có từ tâm, chẳng có
tâm hiếu thuận, sẽ phạm tội khinh cấu”.
[68] Giới bổn ghi: “Nếu
Phật tử, khi có xuất gia Bồ Tát,
tại gia Bồ Tát, và hết thảy đàn
việt muốn thỉnh tăng để làm phước điền cầu nguyện, hãy
nên vào tăng phường hỏi vị tri
sự, nay tôi muốn thỉnh Tăng cầu
nguyện. Tri sự đáp rằng: ‘Theo
thứ tự thỉnh
sẽ liền
được [giống
như cung thỉnh] mười phương thánh hiền tăng’. Nhưng
người đời thỉnh riêng năm trăm
vị La Hán Bồ Tát Tăng, chẳng
bằng theo thứ tự thỉnh một
vị Tăng phàm phu. Nếu thỉnh riêng Tăng thì
chính là pháp ngoại đạo, thất
Phật không có pháp cho thỉnh riêng, do chẳng
thuận hiếu đạo. Nếu cố ý thỉnh
riêng Tăng thì phạm tội khinh cấu”.
[69] Giới bổn gọi giới này là “giới
chẳng làm quản lý cho hàng bạch y”
và ghi: “Nếu Phật
tử do ác tâm mà chính mình hủy
báng Tam Bảo, giả vờ làm ra vẻ thân
cận, nương tựa, miệng thì nói
Không, hành vi lại luôn ở nơi Có, làm
quản lý cho hàng bạch y, vì kẻ bạch y
mà làm mai mối cho trai, gái trao đổi dâm
sắc, gây thành các nghiệp trói buộc,
trong sáu ngày trai, hoặc trong ba tháng
trường trai mỗi năm mà sát sanh,
trộm cướp, phá trai, phạm giới thì
phạm tội khinh cấu”. Ở
đây, tổ gọi giới này là “không tôn
trọng những thời điểm tốt
đẹp” nhằm nhấn mạnh vấn đề
phạm giới trong ba tháng trường trai
mỗi năm.
[70] Giới bổn ghi: “Nếu
Phật tử đều do tín tâm mà thọ
giới, nhưng quốc vương, thái
tử, bá quan, tứ bộ đệ
tử tự cậy chính mình cao quý,
bèn phá diệt giới luật của Phật
pháp, đặt rõ những điều
hạn chế đối với pháp, hạn
chế bốn bộ đệ tử, chẳng cho
phép xuất gia hành đạo, cũng lại
chẳng cho phép tạo lập hình
tượng, Phật tháp, kinh luật, lập quan
chức thống trị tăng chúng, khiến
tăng chúng phải ghi danh trong sổ bộ, Bồ
Tát tỳ-kheo đứng dưới
đất, còn hàng
bạch y ở trên tòa cao, rộng thực
hiện chuyện phi pháp, [giống như] binh lính,
nô tỳ phụng sự chủ. Bồ Tát lẽ ra
phải được hết thảy mọi
người cúng dường, đâm ra làm
kẻ sai khiến của các quan chức, trái
pháp, trái luật! Nếu là quốc
vương, bá quan do hảo tâm mà thọ
giới của đức Phật, hãy
đừng tạo tội phá Tam Bảo ấy. Nếu
cố ý làm chuyện pháp pháp, sẽ
phạm tội khinh cấu”.