Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 10

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師著

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

17. Vân Thê Kỷ Sự (雲棲紀事)

17.1. Cung kính ghi lại chuyện xa giá của vua ngự đến chùa

 

Cuộc đất chùa Vân Thê thuộc vùng núi sâu, u tịch, Tăng chúng nghiêm ngặt vâng giữ lời răn của thầy, kiền thành tu Tịnh nghiệp. May mắn sao, vào tháng này, loan giá ngự đến dâng hương, rủ ḷng hỏi han nguồn cội, chẳng dám không ghi lại.

Vào ngày Rằm tháng Hai năm nay, xa giá của hoàng thượng từ Vũ Lăng hồi loan, hoàng thượng ghé chùa, lễ Phật xong, đến ngồi nghỉ nơi tăng pḥng ở phía Bắc điện đường, mở xem nội điển (kinh Phật), thấy áo treo trên giá đều rách nát, vá víu, bàn ghế, vật dụng đều thô thiển, cũ kỹ. Hoàng thượng nói: “Nh́n vậy đủ biết chư Tăng đều khổ tu, chẳng phải là kẻ mưu cầu tiếng tăm, lợi dưỡng theo pháp thế gian”. Do vậy, Ngài bèn hỏi chư Tăng rằng: “Chùa này được kiến tạo từ năm nào?” Tăng quỳ tâu rằng: “Chùa do thiền sư Phục Hổ khai sơn vào năm Càn Đức thứ năm (967) đầu thời Tống. Đến năm Hoằng Trị thứ bảy (1494) cuối đời Minh, mưa dầm gây lũ lớn, điện đường, kinh tượng đều bị nước nhấn ch́m, hoang phế đến một trăm năm. Tới năm Long Khánh thứ năm (1571), có sư tổ Liên Tŕ, pháp húy thượng Châu hạ Hoằng kết ba gian lều tranh, thiện tín dốc ḷng quy hướng, dần dần xây dựng lại, tới nay đă là một trăm mười chín năm”.

Hoàng thượng hỏi: “Từ khi khai sáng đến nay, chùa vâng giữ tông phái nào?” Tăng lại tâu rằng: “Thầy giáo huấn chuyên tu Tịnh Độ, ngày đêm sáu thời tŕ danh niệm Phật, chỉ chú trọng tŕ giới và phóng sanh”. Hoàng thượng liền sai thị vệ dẫn tăng lên núi, thưởng ngoạn rừng trúc, hái vài gốc lan, mặt rồng vui sướng, hỏi tên và h́nh dáng các loài cây trong rừng, mỗi điều Tăng đều kính cẩn đáp. Hoàng thượng truyền dụ đến chỗ phóng sanh, ngắm chim, thú bay nhảy, ḷng hoàng thượng thương xót. Lại hỏi tăng chúng được bao nhiêu người, Tăng tâu rằng: “Tăng chúng trong cả chùa khoảng hơn ba trăm người, trước nay chưa hề quyên mộ, hóa duyên, cũng chẳng trồng cấy để tự cung cấp, nghiêm ngặt tuân thủ quy chế của tùng lâm, đại chúng ăn uống giống hệt như nhau, may nhờ ơn trời, cũng chẳng bị thiếu thốn!” Hoàng thượng liền truyền thị vệ ban cho nhà chùa năm hộp bạc trắng. Tăng chúng khấu đầu tạ ơn, kính cẩn đưa tiễn xa giá. Sau đó, ngày Mười Bảy, kính cẩn nhận được ngân lượng do vua ban, dùng để cúng dường Tam Bảo, cung chúc thánh thọ, trai tăng trọn khắp tăng chúng, xa gần được thấm nhuần ân đức. Kính nghĩ kinh giáo chép đầy trong Tam Tạng, chỉ nghe hoàng đế thưởng y ca-sa, hoặc điềm lành biểu hiện nơi ngài Khuê Phong là vào hoàng cung thuyết pháp, chưa từng có việc cửu trùng đích thân ngự giá, loan giá đích thân ngự đến, sắc diện oai nghiêm, từ ái hỏi han, ban thưởng tăng chúng như hôm nay. Nay kính ghi chép đầu đuôi, khắc lại để lưu truyền muôn đời.

Ngày lành tháng Hai năm Khang Hy 28 (1689), Tăng nhân trong chùa là Thành Kiệt và Đẳng Viên kính ghi.

 

17.2. Ngự bút ân tứ cho bộ Vân Thê Khởi Cư Tổng Lục

 

Cung kính nghĩ rằng:

Ḷng Từ của thánh thượng rộng khắp, che phủ núi rừng. Ân ban sâu thẳm, cúi lănh ân cao dày. Nghĩ tăng chúng kém nhỏ, được quyến thuộc trời ban tặng trọng hậu. Đức của bậc đế vương khó thể diễn bày, cung kính chép lại thành sách.

 

Năm Càn Long 16 (1751), tức năm Tân Mùi, đương kim hoàng đế đích thân tuần du, đặc biệt phụng bồi Thái Hậu đến thăm vùng Đông Nam. Tháng Ba, xa giá đến đất Chiết, thừa dịp xem xét phong tục, ngắm khắp núi sông. Ngày Mồng Năm tháng ấy, chùa Vân Thê được đón xa giá ngự đến. Hơn ba trăm vị Tăng trong chùa quỳ đón bên đường. Hoàng thượng đến sơn môn, ban lời hỏi vị Đương Gia có phải là Phương Trượng hay không? Tăng tâu cặn kẽ: “Theo quy ước do vị sư tổ khai sơn để lại, mỗi năm thay người làm chánh và phó đương gia, chẳng lập phương trượng”. Hoàng thượng lại hỏi tông phái, quy củ, hết thảy các việc hành tŕ như niệm Phật, giảng kinh. Mỗi việc đều quỳ tâu xong, hoàng thượng bước vào tiền điện, Thiền Đường và đến trước tượng tổ Liên Tŕ đều dâng hương tỏ ḷng cung kính. Trong ấy có bốn mươi tám vị Tăng thuộc Thiền đường quỳ tụng kinh Vô Lượng Thọ để cung chúc thánh tộ[1]. Hoàng thượng đích thân đến hỏi han, căn dặn đừng bỏ sót.

Sau đó, hoàng thượng vào trong nội sơn, dùng bữa ăn nhẹ trong rừng trúc dày. Khi ấy, hoa lan trên núi đang nở rộ, mùi thơm u nhă tỏa ngát khắp sơn cốc. Hoàng thượng cảm hứng trước sự thanh nhàn của tăng xá, hoa cỏ khoe sắc đua hương đầy sân, bèn ngự bút vẽ một bức tranh lan để ban tặng. Phía trên đề thơ rằng: “Bản sắc Tây lai ư, Vân Thê tĩnh thả an. Lâm tuyền từ đăi tả, tiên tả sổ tùng lan” (Ư bản sắc từ Tây, Vân Thê tĩnh lại an. Suối rừng hăy đợi vẽ. Họa trước mấy gị lan).

[Phần lạc khoản của bức vẽ ấy ghi]: “Ngồi ở chỗ sâu trong rừng trúc dày chùa Vân Thê, hương lan u nhă ngát thơm, vui vẻ cảm ngộ, liền nâng bút miêu tả cảnh sinh động. Thượng tuần cuối Xuân năm Tân Mùi, Càn Long ghi”.

Hoàng đế lại ban biển ngạch sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” và hai trăm lượng bạc trắng. Tăng chúng dâng vài món sản vật núi rừng, hoàng thượng đích thân xem xét, truyền dụ nhận một rương măng khô. Lâu sau, xa giá trở về Tây Hồ. Tăng nhân trong chùa đến hành cung, cung thỉnh ấn báu. Bảy ngày sau, xa giá của thánh thượng lại đến, [hoàng thượng] vẫn dâng hương, lễ Phật tại ba chỗ [như lần trước]. Xem tới bài bia và biển ngạch do Đổng Hoa Đ́nh[2] viết, vua liền hỏi có bản thảo gốc hay không? Tăng chúng trong chùa dâng lên một quyển Vân Thê Bi Kư và một bản kinh Kim Cang. Hoàng thượng viết hai chữ to Hương Quang để làm pháp bảo vĩnh viễn trấn giữ Vân Thê. Trên trang đầu bản kinh, lại đề thơ, ghi:

“Trung tuần cuối Xuân năm Tân Mùi niên hiệu Càn Long, lại ghé qua Vân Thê, t́m xem dấu tích Hương Quang chân thật. Do vậy, ghi năm tháng.

1) Sơn tự tuy đa, thử tự u. Đặc giao thanh tất trùng lai du. Tẩy Tâm Đ́nh biệt tiên phàm giới. Vạn kỵ phân điền hợp trước lưu.

(Chùa núi tuy nhiều cảnh. U tịch riêng chùa này. Khiến cho xe vua ngự, phải thăm viếng nhiều phen. Một gian đ́nh Tẩy Tâm. Chia đôi cơi tiên phàm. Muôn cỗ xe rộn rịp. Hăy nên lưu lại đây).

2) Lục ngọc tham thiên kính kỷ hồi. Thạch môn yên nguyệt tỏa môi đài. Liên Tŕ tháp viện tự thiên cổ. Hề sự hoa tràng tọa mặc thai.

(Nẻo ngọc quanh co, trúc chọc trời. Thạch môn rêu khóa, khói mờ trăng. Ngàn đời viện tháp Liên Tŕ đó; há bận Mặc Thai[3] hoa trụ ngồi).

3) Tu hoàng thâm xứ tiểu diên nga. Hựu giác thiềm âm kỷ hứa qua. Sơn điểu trác lâm hoàn thái cổ. Dă hoa hội bích tự xuân ḥa.

(Rừng trúc ngừng chân nghỉ đôi chút, bỗng thấy bóng râm dời ít nhiều. Chim rộn vang rừng như thái cổ, hoa dại phủ sườn non tợ Xuân).

4) Tịnh thổ hương quang huệ nghiệp huân. Cử tàng pháp bảo ngoạn nhân cân. Lan Đ́nh tạc quá tương hành giảo. Chân tích do doanh Vương Hữu Quân.

(Cơi tịnh hương quang huệ nghiệp xông. Pháp bảo trân tàng gân guốc Nhan[4]. Lan Đ́nh hôm trước từng so thử. Bút tích vượt xa Vương Hữu Quân).

Ngày hôm ấy, [hoàng thượng] tức cảnh, vịnh bốn bài tuyệt cú [như đă chép trên đây], đều ghi sau sách để lưu truyền măi cho đời sau. Chùa lại được ngự đề thẻ kinh[5] “Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Kinh”, và ban bút tích thật sự của Đổng Kỳ Xương. Chùa được vua ngự giám ghi lên thẻ, cũng như ban biển ngạch “Hương Môn Tịnh Độ” và đôi câu đối “sơn thâm độc tịch thanh tịnh giới, trúc thúy thường phi diệu man vân” (núi sâu riêng mở cơi thanh tịnh, trúc biếc thường bay mây diệu kỳ). Hoàng thượng ngự đề một bài thơ Đường luật ngũ ngôn: “Nhất bích vạn can thúy. Song lưu bách chiết trừng. Trúc tuyền hành tận xứ. Môn kính đắc lai đăng. Khánh lễ bi tâm Phật. Trù tứ khổ hạnh tăng. Chung ngư thủ bổn sắc. Quyền phất tạ đa năng. Ải ốc thường phương mạo. Minh châu bất đoạn đăng. Liên Tŕ gia pháp tại, lục tự quát tam thừa” (Muôn gốc trúc xanh biếc. Trăm khúc lượn đôi ḍng. Đi hết nguồn suối trúc. Cửa nẻo bước vào trong. Khánh ngân, lễ đức Phật. Hỏi han tăng khổ hạnh. Chuông mơ giữ sắc thường. Chẳng chuộng thói khoa trương. Nhà thấp, thường vướng mũ. Minh châu luôn sáng ngời. Gia pháp Liên Tŕ vững. Sáu chữ gộp tam thừa). [Phần lạc khoản ghi] “mùa Xuân năm Tân Mùi, ngự bút đề bài thơ vịnh chùa Vân Thê gồm sáu vần”.

Chùa lại được ban một bộ Tam Hy Đường Pháp Thiếp[6] [được chế tạo] trong đại nội, gồm ba mươi hai quyển, một quyển trục Tâm Kinh Tháp Bi Văn[7] do chính hoàng thượng chép. Chùa thâm nghiêm trong núi sâu được ơn xa giá từ xa ngự đến, điềm trời rực rỡ, đúng là ân điển hiếm có! Ngày hôm sau, tại đại sơn môn, cung tiễn thánh giá hồi loan.

Năm Càn Long 22 (1757), Thái Tuế tại Mậu[8], hoàng thượng lại cung nghênh thánh mẫu (thái hậu) tuần du Chiết Giang. Ngày mồng Hai tháng Ba, ngự giá chùa Vân Thê, toàn thể tăng chúng trong chùa quét tước sạch sẽ chờ đón xa giá. Hoàng thượng đến, hỏi tên họ, tuổi tác, quê quán của chánh và phó Đương Gia, cũng như quy chế trong Thiền đường, [tăng chúng] mỗi mỗi tâu tŕnh xong, xa giá ngự đến chánh điện, Thiền đường và tịnh thất của tổ sư Liên Tŕ. Vua dâng hương, kính lễ theo đúng cách thức như trong năm Càn Long 16 (1751), vua liền ban tặng bốn túi hương[9] và một đôi b́nh sứ. Vua vẫn đến nghỉ ngơi sâu trong rừng trúc, ngự đề một đôi câu đối: “Chỉ huy như ư thiên hoa lạc, tọa ngọa nhàn pḥng xuân thảo thâm” (chỉ vẫy ngọc như ư, hoa trời lả tả rơi. Nằm ngồi pḥng nhàn nhă, cỏ xuân mọc kín dày). Khi đó, hoa trong núi đang bùng nở, sắc núi xanh biếc. Hoàng thượng dựa lan can ngắm bốn phía, mặt rồng rạng rỡ, liền dùng bữa nhẹ trong ngôi đ́nh trên núi. Ngày hôm sau, sai quan to trong cung đem tới hai trăm lượng bạc trắng ban cho tăng chúng trong chùa. Lại dặn vị tăng trụ tŕ đến hành cung[10], lănh hai gói hương Đông Uyển[11], bốn túi hương, mười sáu cuộn lụa là hoa văn rực rỡ các màu, trong đó có hai tấm đoạn màu tím thêu rồng năm móng. Trước đó, vào tháng Hai, chùa đă được ban kinh Kim Cang và một bức văn bia tháp báu do chính hoàng thượng viết. Nay lại được long giá ngự đến, ân sủng liên tiếp ban xuống, đúng là sự kỳ ngộ ngàn đời chưa từng có!

Ba hôm sau, xa giá của thánh thượng lại tới Vân Thê. Hôm ấy từ giờ Th́n đến giờ Tỵ, mưa lớn như trút nước. Các đại thần hộ giá lo ngại đường lầy lội, hoàng thượng chưa thể lên núi, đều chờ thánh chỉ tại hai chùa Lư An và Khai Hóa. Hoàng thượng lên đến Giang Cao, vung roi ngựa tiến vào chùa. Tăng chúng phủ phục hai bên đường. Hoàng thượng đích thân truyền dụ “mặt đất ẩm ướt, bảo mọi người đứng dậy”. Tiếng ngọc truyền đến, hoàng thượng lại vào đại điện, dâng hương lễ Phật như trước. Các vị tăng đang lễ sám cầu phước cho thánh thượng trong Thiền đường liền quỳ tiếp đón, hoàng thượng hỏi vị tăng chủ tŕ đang tụng kinh ǵ và quy củ lễ sám như thế nào. Hoàng thượng vui vẻ. Tăng chúng nghiêm túc, chỉnh tề, phạm âm vang vọng, người xem nghe bồi hồi một lúc lâu. Sau đấy vua mới tiến vào chỗ sâu trong rừng trúc. Vừa lúc mưa lớn mới tạnh, ánh mặt trời đỏ rực, bóng cây, sắc núi xanh biếc tươi mát như được gột rửa. Hoàng thượng thấy vậy, rất vui; do vậy, phỏng theo cách vẽ trúc của Nghê Vân Lâm[12] để vẽ hai cành trúc, và ghi lời ban tặng: “Xưa kia, Nghê Vân Lâm vẽ trúc, người ta hỏi là cây ǵ? Bức vẽ này khá phỏng theo ư ấy. Ngày mồng Năm tháng Ba năm Đinh Sửu, lại đến thăm Vân Thê, ngẫu nhiên hạ bút ban cho tăng chúng trong chùa”. Hoàng đế lại truyền thị thần ban cho các vị Tăng lễ sám một trăm sáu mươi hai nén bạc. Ngày hôm ấy, bệ hạ đứng ngồi dưới bóng tùng, quẩn quanh ngắm cảnh, quyến luyến, chăm chú gần như chẳng biết đến thời gian.

Trên đường đi, hoàng thượng lại làm một bài thơ Đường Luật thất ngôn ban cho nhà chùa: “Lộ nhập lâm lang cá cá thanh. Khử nhân trần thị Tẩy Tâm Đ́nh. Thất niên huyễn mộng thùy tham phá? Lục tự chân ngôn thử trùng thính. Điệp vũ hoa hương tự thuyên chú. Bộc phi thạch súc thục lưu đ́nh. Tu hoàng thâm xứ vong cơ tọa. Thích khả y nhiên duyệt tánh linh” (Đường vào cơi ngọc, trúc xanh xanh. Khử sạch cấu trần Tẩy Tâm Đ́nh. Huyễn mộng bảy năm ai tham thấu? Chân ngôn sáu chữ lại nghe đây. Bướm lượn, hoa thơm tự diễn giải. Thác tuôn, đá dựng há ngưng dừng. Rừng tre ngồi măi quên toan tính. Vừa đúng an vui thỏa tánh linh).

Ngày mồng Chín tháng Ba năm Nhâm Ngọ, nhằm năm Càn Long 27 (1762), xa giá của thánh thượng tuần du phương Nam lần thứ ba, lại đến chùa Vân Thê. Tăng chúng đốt hương nghênh giá. Vào đại điện và thiền đường, dâng hương lễ Phật xong, hoàng thượng hỏi quy chế về Đương Gia và Giám Viện và bốn câu kệ “nhất thiết hữu vi pháp” (hết thảy các pháp hữu vi) của kinh Kim Cang. Tâu rằng: “Thời gian như tên bắn, ngày tháng chẳng lặng ngừng”. Hoàng thượng tán đồng; kế đó, vua đến trước tượng tổ sư Liên Tŕ, dâng hương lễ kính rồi đến nghỉ tại rừng trúc, truyền đem bút tích Hương Quang và Kim Cang cho Ngài xem. Do giấy nhỏ, nên vua sai đem vào hành cung, viết tiếp trên giấy lưu trữ tại đó [bốn bài thơ]:

1) Kính nhập vân đương tâm tẩy trần. Xuân sơn quá vũ tễ quang tân. Chiết trung tăng viện, tư vi tối. Bất sự trang nghiêm, sự phác thuần.

(Nẻo vào rừng trúc, gột trần tâm. Núi Xuân mưa tạnh rực trong ngần. Các chùa đất Chiết, chùa này nhất. Chẳng trọng phô trương, chỉ phác, thuần).

2) Tĩnh thất tam gian đối bích lăng. Hoa hương điểu ngữ xử tâm trừng. Vũ dương thời hỷ nghi thái mạch. Tiếu ngă tư chi tĩnh vị năng.

(Ba gian tĩnh thất đối non xanh. Chim hót, hoa thơm, sáng rỡ ḷng. Mưa nắng thuận thời, mừng lúa chín. Tự cười ḿnh vẫn cứ lăng xăng).

3) Nhất tâm niệm lục tự chân ngôn. Y bát hà tằng truyền tử tôn. Giám viện tuế trừ y lệ hoán. Liên Tŕ gia pháp hỷ do tồn.

(Nhất tâm niệm chân ngôn sáu chữ. Y bát há truyền cho cháu con? Giám viện cuối năm theo lệ đổi. Liên Tŕ gia pháp hăy mừng c̣n).

4) Kim Cang chân tích cử Hương Quang. Sách kiến trùng đề dật hứng thường. Tứ cú bổn lai vô nhất tự. Cánh hà tu biện huyễn ḥa thường.

(Bút tích Kim Cang, biển Hương Quang. Lấy xem, đề vịnh thỏa ḷng mừng. Bốn câu vốn sẵn không một chữ. Cần ǵ biện định huyễn hay thường?)

[Phần lạc khoản ghi]: “Cuối Xuân Nhâm Ngọ, tại tĩnh thất Vân Thê, viết các bài thơ tứ tuyệt ở cuối sách”.

Ngày Mười Một tháng Ba, xa giá của thánh thượng lại đến Vân Thê, vua dâng hương lễ Phật xong, vào rừng trúc, ngự bút đề biển ngạch “Nam mô A Di Đà Phật”. [Phần lạc khoản ghi]: “Cuối Xuân năm Nhâm Ngọ đời Càn Long, ngự bút kính đề biển ngạch Tây Phương Cực Lạc thế giới, An Dưỡng đạo tràng. Cuối Xuân năm Nhâm Ngọ, lại đến chùa Vân Thê, phỏng theo cách viết của Tô Đông Pha ngự bút”. Lại ban hai gói hương An Nam, sáu tấm lụa hoa văn rực rỡ, hai trăm lượng bạc trắng, bốn túi hương. Trước đó, [nhà chùa] đă tiếp nhận ngự giám bản khắc đá kinh Kim Cang của ḥa thượng Nghĩa Đạo đời Đường và bản kinh Pháp Hoa do ông cùng em gái là Trần Yến Tử Đinh cùng viết chữ nhỏ. Trên đường hồi loan, vua lại ban hai bài thơ Đường luật:

1) Chư phong dao khán thốc liên thanh. Lộ chuyển tùng hoàng đắc dă đ́nh. Tri thị tẩy tâm khế nho ngoạn. Nhiêu tha niệm Phật trước tăng thính.

(Nh́n xa rặng núi: Đóa sen xanh. Nẻo khuất rừng tre, một chiếc đ́nh. Biết chốn gột ḷng: Nho sĩ thích. Để họ niệm Phật, tăng lắng nghe).

2) Tùng tân Xuân cảnh phấn đồ triển. Y cựu sơn trai thúy tất đ́nh. Chân tích Hương Quang liêu khiển hạ. Để luận tiền hậu nghĩ ḥa linh.

          (Cảnh Xuân lại mở bức tranh màu. Như cũ xe vua viếng tăng pḥng. Bút tích Hương Quang tiêu khiển ngắm. Há cần sau trước luận tài danh).

Cuối Xuân Nhâm Ngọ, ngự đề họa lại vận cũ:

“Ngă hữu nhạo sơn ư. Vân Thê sơn tối u. Lục vân nhiêu tĩnh thú. Bạch túc sự thanh tu. Phạm lại thiềm tiền lạc. Hương tuyền giai hạ lưu. Thiểu đ́nh tiện ưng khứ. Khóa tụng khả phương phủ?

(Ư ta ưa thích núi. Vân Thê u tịch nhất. Trúc xanh vui thanh tĩnh. Cao tăng chuyên thanh tu. Sáo Phạm vẳng trước mái. Suối thơm vờn bậc thềm. Dừng một thoáng, phải đi! Có phiền khóa tụng chăng?)

[Phần lạc khoản ghi]: “Lại đến Vân Thê đề thơ. Trung tuần cuối Xuân năm Nhâm Ngọ, ngự bút”.

Tháng Hai nhuận năm Ất Dậu, tức năm Càn Long 30 (1765), hoàng đế tuần du Chiết Giang. Mồng Năm đến Hải Ninh Quán Đường. Ngày Mười Một, ngự giá chùa Vân Thê, từ đại điện đến thiền đường, đều dâng hương lễ Phật. Sau đó hỏi tên họ, quê quán, tuổi tác của chánh và phó giám viện, cùng các việc lễ sám. Tăng chúng trong chùa lần lượt tâu cặn kẽ từng điều. Hoàng thượng liền truyền lệnh thực hành lễ sám. Vua xem hồi lâu rồi đến tĩnh thất của Tổ Liên Tŕ, cũng dâng hương kính lễ. Sau đó, vào rừng trúc sâu, ngự đề một đôi câu đối: “Thủy hướng thạch biên lưu xuất lănh, phong tùng hoa lư quá lai hương”. (Nước lạnh chảy từ bên kè đá. Gió lùa vờn hoa, tỏa ngát hương). Vua truyền đem bản chép kinh Kim Cang của Đổng Hoa Đ́nh về hành cung để chép thêm các bài tứ tuyệt:

1) Vân Thê bổn thị cựu Thê Chân. Vô tục trần duyên hữu tịnh nhân. Giang ngạn Tây hành tài Bắc chuyển. Dẫn nhân nhập thắng kiến thương duân.

(Vân Thê vốn viện Thê Chân cũ. Vô duyên trần tục, chỉ tịnh nhân. Sông chảy từ Tây, sang Bắc ngoặt. Dẫn người ngút mắt búp măng xanh).

2) Thạch kiều giản thủy kỷ oanh hồi. Tri thị Tẩy Tâm Đ́nh hạ lai. Khước ngă đáo đ́nh vong sở tẩy. Bổn lai vô vật nhạ trần ai.

(Nước luồn cầu đá mấy tầng quanh. Từ Tẩy Tâm Đ́nh tuôn tới đây. Đến đ́nh toan rửa ǵ, quên bẵng! Vốn sẵn chẳng vật nhuốm bụi trần).

3) Tháp viện liên tŕ khúc kính Đông. Xà lê kim thượng thủ tông phong. Chưởng gia chánh phó luân niên dịch. Lưỡng tự xuất gia đồng bất đồng.

(Phía Đông nẻo nhỏ tháp Liên Tŕ. Xà-lê nay vẫn giữ tông phong. Đương gia chánh phó hằng năm đổi. Hai chữ xuất gia đồng, bất đồng?)

4) Kinh đường tả chuyển trắc sùng tiêu. Tinh xá nhàn bằng ư tự siêu. Sơn hủy đương Xuân đô tịch tịch. Tu hoàng bất vũ diệc tiêu tiêu.

(Kinh đường sang trái, lên cao vót. Dựa rào tinh xá, ư tự siêu. Cây cỏ đương Xuân đều lặng lẽ. Rừng trúc không mưa vẫn xạc xào).

[Phần lạc khoản ghi]: “Tháng nhuận mùa Xuân năm Ất Dậu, sang chơi Vân Thê, lại làm bốn bài tuyệt cú, chép ở cuối sách”.

Ngày hôm ấy, vua sai Phổ đại nhân dẫn chánh và phó giám viện đến hành cung lănh thưởng gồm: Bạc trắng hai trăm lượng, tám khúc gấm đoạn, bốn cân hương An Nam, tám bó Tạng hương, và bức tượng ngự chế khắc đá chân dung tổ Hoàng Long. Ngày Mười Sáu, xa giá của thánh thượng lại đến Vân Thê, vẫn dâng hương lễ Phật ba nơi xong, vua vào hậu sơn nghỉ chân, truyền lệnh thị thần đem bút tích lan hoa đối chiếu với bản khắc đá. Ngày Mười Chín, tiễn xa giá hồi loan. Trên đường, vua lại ban hai bài thơ Đường luật:

1) Vạn lục quỳnh can sâm hán thanh. Thập tầm chi kiến hạ đ́nh đ́nh. Thử trung tầm lộ nhất thời đáo. Giáo ngoại vô ngôn lục tự thính.

(Muôn cành quỳnh biếc chọc trời xanh. Cành nhánh mười tầm rủ thướt tha. Nơi đây t́m lối liền t́m được. Ngoài giáo không lời sáu chữ nghe)

2) Tọa đối khê thanh lưu bất tận. Liễu đồng sơn sắc trĩ thường đ́nh. Đạo tràng khai hậu ư thố tỵ. Tá vấn sơn tăng thị để linh.

(Ngồi nh́n suối chảy reo không ngớt. Hiểu ra sắc núi tĩnh vô ngần. Đạo tràng mở rồi cọp xa lánh. Xin hỏi sơn tăng linh cỡ nào?)

[Phần lạc khoản ghi]: “Chùa Vân Thê, lại họa theo vần cũ. Trung tuần tháng Nhuận mùa Xuân năm Ất Dậu, ngự bút”.

          [Lại c̣n đề rằng]: “Vân Thê tối ái u nhi phác. Mỗi chí Tây Hồ tất vũ lai. Y cựu ải thiềm hoàn khúc đổ. Để tu hương các tủng trù đài. Cử đầu trúc mật tàng phong tuấn. Phác tỵ lan hinh quá vũ tài. Hiệp chưởng xà lê bất nhiêu thiệt. Chân ngôn lục tự dĩ vân cai” (Vân Thê mộc mạc mà u tịch, là chỗ ta yêu mến nhất đời. Hễ đến Tây Hồ mưa ắt giội. Như cũ tường vây hiên thấp tè. Cần chi đài các phải cao vót. Ngẩng đầu trúc phủ non chênh vênh. Mưa tạnh, hương lan thơm ngát mũi. Tăng sĩ chắp tay, không nịnh hót. Chân ngôn sáu chữ đă bao trùm).        

          [Phần lạc khoản ghi]: “Lại sang chơi Vân Thê, cảm tác, trung tuần tháng Nhuận mùa Xuân năm Ất Dậu, ngự bút”.

Ḷng luôn vương vấn, tuy rời đi mà chẳng quên như thế đó. Đó là v́ chùa cổ Vân Thê là nơi nổi tiếng trong vùng Việt Thủy: Núi sâu u tĩnh, thường thấy ráng trôi chiếu xuống mặt đất, đường quanh co khúc khuỷu, lại càng thấy sắc xanh biếc trùm khắp trời. Như tổ sư của chúng ta là Liên Tŕ lăo nhân, nương theo gốc thiêng của đức Cù Đàm, do cội nguồn thiện huệ, bỏ Nho học Phật, toan cắm tích trượng trong núi sâu, dưỡng tánh nơi Thê Chân, bèn kết lều tranh nơi chỗ trống không. Mây hương vờn quanh, phủ trọn kinh lá bối. Cây báu um tùm, luôn phẩy ṭa hoa sen. Thoạt đốt đuốc pháp, đèn Thiền riêng chiếu ở Giang Cao. Phát khởi rộng lớn pháp luân cát tường, nẻo giác cùng mở nơi non Thứu; may gặp bậc kim luân của quốc triều ngự thế, Phật nhật lại được chiếu tỏa sáng ngời. Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế (Khang Hy) năm lượt ngự giá núi này, lưu lại thi văn về tùng và mây được khắc trên đá. Chùa vinh dự được Thánh Tông Hiến Hoàng Đế (Ung Chánh) ban phong hiệu “tam thừa xiển giáo” viết bằng chữ vàng. Cho tới đức hoàng thượng ta lễ kính chư Phật, ân trạch thấm đến chiên đàn, bốn lượt sang đất Chiết, tám lượt vào núi Vân Thê. Ngự bút rạng rỡ, cùng thọ với núi sông. Văn chương của bệ hạ chói ḷa, thường cùng mới mẻ như mặt trời, mặt trăng. Chẳng tiếc vật trân quư nơi Thượng Phương, nhiều lượt thưởng tiền vàng từ nội phủ. Trúc biếc, hoa vàng, đều đẫm mưa ngọt. Tùng to, cỏ mịn, đều hưởng trận gió ôn ḥa. Đúng là sự gặp gỡ lạ lùng trong trăm đời, đúng là ân điển khác thường từ đấng cửu trùng. Những vị tăng đích thân dạo cơi Hương Tích, tuy tham học tối thượng thừa, học rải hoa trời, nguyện chứng quả Bồ Đề, đều do được ban ân điển nhiều phen như thế, trộm sợ chưa báo đáp được chừng bằng mảy giọt, chỉ tụ họp các tăng chúng nơi Lộc Uyển, kính chúc tụng một người mừng vui, lại dốc cạn lời kinh tiếng kệ, thượng chúc vạn thọ vô cương.

Vị tăng trụ tŕ chùa Vân Thê kính cẩn ghi.

 

* Ghi lại chuyện thời Gia Khánh

 

          Ngày Hai Mươi Sáu tháng Giêng năm Gia Khánh 18 (1813), có chiếu truyền rằng: “Cao Kỷ tấu tŕnh vào mùa Đông năm trước, chùa Vân Thê ở Hàng Châu bị hỏa hoạn, cháy sạch hơn sáu mươi gian điện đường, pḥng ốc, đến nỗi bức ngự bút vẽ lan và bốn bộ pháp thiếp Tam Hy Đường được khâm ban thời Càn Long đều bị thiêu hủy. Nay đem tăng sĩ và các quan viên chẳng dốc sức cứu chữa giam vào nơi phạt riêng. C̣n như pḥng ốc trong chùa vốn do tăng nhân tận tụy kiến tạo, vẫn truyền khẩn thiết quyên mộ kiến tạo.

Chùa Vân Thê vốn là chùa cổ nổi tiếng ở vùng Chiết Giang, tuy nói là do tăng nhân tận tụy kiến tạo, trọn chẳng phải là được xây dựng bởi kinh phí được ban cấp đặc biệt, nhưng nhiều lượt được xa giá của thánh thượng ngự đến, nhiều phen được khâm ban mặc bảo (ngự bút), kính cẩn bảo quản. Nay chẳng cẩn thận bị hỏa hoạn, ngoại trừ bức vẽ hoa lan đă bị cháy mất, pháp thiếp Tam Hy Đường trong nội phủ hiện c̣n giữ được nhiều bản, lại ban một bộ, giao cho nhà chùa kính cẩn, tôn trọng ǵn giữ. Bộ bị đốt chẳng toàn vẹn và những thứ kèm theo sẽ gởi về kinh để tường tŕnh. C̣n các pḥng ốc trong chùa bị thiêu hủy, cũng nên sớm sửa chữa, sai Thường Hiển thuộc Diêm Vụ Nội cấp phát năm trăm lượng bạc, giao cho tăng chúng trong chùa ấy lănh nhận để tu bổ. Nếu chẳng đủ, sai họ quyên mộ thêm để lo liệu cũng được. Đem lời này truyền bảo Cao Kỷ, và tuyên dụ cho Thường Hiển biết. Khâm thử!”

Năm Gia Khánh 17 (1812), chùa Vân Thê chẳng cẩn thận bị hỏa hoạn, long tượng cháy sạch, do quan to tâu lên, [triều đ́nh] ban tiền để sửa chữa. Chùa có bộ sách Pháp Vựng quả thật là khuôn phép cho tăng lẫn tục, bản khắc lưu giữ cũng bị đốt rụi, cả nước tiếc nuối. Tháng Năm năm Gia Khánh 18 (1813), thiện tín là ông Đinh Song Hồ phát nguyện khắc lại sách ấy. Lại do bản đă khắc chẳng phải không có lỗi chữ khắc bị sai sót, bèn ước hẹn mấy vị cùng chí hướng, đem những bản cũ đă in c̣n giữ được, dốc ḷng giảo chánh, xem xét, soạn thành bản hoàn chỉnh giao cho thợ khắc. Chuyện chưa xong, ông Song Hồ đă mất v́ bệnh. Em của ông là Cổ Tùng và ông Cố Hậu Dư bèn nối gót lănh trách nhiệm, đổ tâm lực suốt năm mùa nóng lạnh, tới tháng Sáu năm nay mới hoàn tất. Trong thời gian đó, vị tăng Dữ Hài của chùa Vân Thê đă ở chùa Lư An, đă cung kính sao lục bài thơ tán dương h́nh tượng thiền sư Tịnh Diệu Chân Tu do Thế Tông Hiến Hoàng Đế (vua Ung Chánh) ngự chế được ban tặng vào năm Ung Chánh 13 (1735), kính cẩn khắc thêm vào, đặt ở đầu bộ Vân Thê Kỷ Sự. Từ đây, điển tịch văn hiến của chốn sơn môn xem như đă tạm được đầy đủ. Mạt học Đ́nh Khánh nông cạn, nay lạm giữ chức trách hiệu đính, vui mừng thấy sách được khôi phục từ tro tàn. Qua đó lại càng tán thán công lao khởi xướng ban đầu của ngài Song Hồ, công sức hoàn thành bản khắc của hai vị Cổ Tùng và Hậu Dư, cùng các vị cùng chí hướng hiến tặng pháp bảo, tiền tài để hoàn tất suông sẻ chuyện này. Tuy công lao có lớn, có nhỏ, nhưng thấu hiểu tấm ḷng gây tạo điều thiện cho người khác của thiền sư, đều theo lệ bất cứ ai đă bỏ công góp sức đều được ghi nhận để biên chép đầy đủ ḥng nêu bày cho người đọc sau này.

Thượng tuần tháng Sáu năm Gia Khánh 23 (1818), đệ tử Phật là Châu Đ́nh Khánh kính ghi.

 

17.3. Bi kư trùng tu Vân Thê Thiền Viện

 

          Mạch núi Hàng Châu bắt nguồn từ rặng Thiên Mục, được bao ṿng bởi ḍng Thiều Thủy, ôm lấy Thánh Hồ, xuôi về Nam, chấm dứt tại sông lớn (sông Tiền Đường), quặt về phía Đông, tạo thành dăy Phượng Hoàng là nơi từng có cố cung của nhà Tống. Ngược ḍng về phía Tây khoảng hai mươi dặm là núi Ngũ Vân. Từ chân núi, đi bốn, năm dặm về phía Tây là Vân Thê Ổ, nay chính là đạo tràng của thiền sư Liên Tŕ. Thế đất g̣ đồi xen lẫn đất bằng, hang hốc sâu kín, rành rành là chốn hoang vu, tách biệt với hồ và núi. Cảnh từ ồn náo biến thành u tịch, cuộc đất trừ khử ô uế, trở thành thanh tịnh, hệt như từ bỏ thế gian! Ngọn núi ở ngay nơi khúc quanh thứ ba của sông lớn. Khi sóng cả từ cửa biển như tuyết phun, bủa vỗ như sấm rền, tới đây đều hóa thành ḍng sông hiền ḥa, mênh mông, tràn đầy, hệt như người tu hạnh nhẫn nhục, tiêu hết sân hận. Theo vách núi phía Đông đi lên, có ngọn Bích Quán là nơi bắt nguồn con suối Thanh Long. Bên cạnh đỉnh núi chính giữa, lại chảy ra ra một con suối có tên là suối Thánh Nghĩa. Dưới vách núi phía Tây, lại chảy ra một con suối, có tên là suối Kim Dịch. Nước tuôn róc rách, ngọt mát, tưới trào chẳng cạn hệt như hạnh lợi sanh. Nơi này chẳng phải người hữu đạo sẽ chẳng thể ở, mà đạo lực của người sống ở đó cũng được trợ duyên.

Từ thời Tống, thiền sư Phục Hổ trong núi, cho tới quốc triều, tuy trong niên hiệu Thiên Hy[13] hơi được mở mang thành chùa, nhưng nhiều lượt hưng phế, hóa thành chốn rừng rậm đă lâu. Vào năm Long Khánh thứ năm (1517), Sư khất thực tại thôn này, dường như có sự khế hợp âm thầm, bảo: “Xương ta gặp được ngọn núi gởi xương, có thể ở đây đến già”. Sư bèn dựng ba gian lều tranh, ngồi Thiền tụng kinh, có chí hướng ở đây trọn đời. Các thôn trong ṿng bốn mươi dặm thường có hổ dữ, nhưng Sư dùng ḷng từ ngăn cản hổ giết chóc, hổ chẳng làm hại người. Gặp năm hạn hán cầu mưa, th́ mưa dầm liền đổ xuống, chẳng c̣n nạn hạn hán. Dân cư lấy làm lạ, tranh nhau kéo đến dựng nhà, lấy gỗ từ trên núi, xây móng trên nền cũ, dân chúng hết sức ḥa hợp. Sư nói: “Cung điện Tỳ Lô khắp pháp giới, trọn hư không, bước đầu kiến tạo, chẳng nhọc công đàn na tín thí xây dựng. Chỉ có pháp đường để thờ phụng kinh luật, Thiền đường cho tăng chúng ở, đó là điều cần gấp”. Chùa đă lạc thành, cảnh chùa hoang phế trăm năm khôi phục quang cảnh cũ. Đấy là duyên khởi của Vân Thê.

Đệ tử thị giả của Sư cho rằng công lao khai sáng của bậc cổ đức và công sức đóng góp của thí chủ chớ nên bị mai một, xin tôi viết bi kư. Tôi sao hiểu được chuyện xuất thế, nhưng trộm có niềm cảm khái trước sự hưng suy của Phật pháp. Xưa kia vào thời Đường - Tống, kẻ sĩ coi thường chẳng làm tướng quân hay thừa tướng th́ mới xuất gia làm bậc đại tăng ḥng giải quyết xong xuôi chuyện sanh tử trong trăm ngàn ức kiếp. Do vậy, họ giới hạnh nghiêm ngặt, tông phong chót vót, có thể trực tiếp cảm hóa quỷ thần, thuần phục dị loại, hoặc được người tu, kẻ tục đều quy y, hoặc được đế vương lễ kính. V́ đó, danh lam tịnh sát rất nhiều, rất hưng thịnh. Thời gần đây, do khoa cử thâu nạp nhân tài, kẻ sĩ chẳng đỗ đạt, do kiếm ăn mới dấn thân vào chùa. Do vậy, tại xích huyện thần châu (Trung Hoa), chùa chiền san sát, kẻ đầu tṛn áo vuông chen chúc tụ hội thành từng nhóm cả trăm, cả chục người, nhưng nếu t́m bậc Thiền giảng, luật sư giống như bậc tôn túc thời cổ, há có được mấy ai? Nếu sai khiến [bậc sử gia như] Nhậm Đại Niên gọt giũa sử liệu, hay [bậc cao tăng] như ngài Tịch Âm múa bút ghi chép, suốt hai trăm năm qua, lại có mấy ai đáng được chọn làm bậc Tăng bảo truyền đăng? Như vậy th́ dẫu [chùa chiền xây dựng] trang nghiêm, gỗ đất được giát ngọc thếp vàng, cao vót tận trời, rộng cả mười do-tuần, có ích chi đâu? Rơ ràng cái tướng suy vi của pháp đạo đă hiện rồi vậy!

Thầy vốn là bậc danh sĩ chốn học đường, thoạt đầu mong dùng bổng lộc để phụng dưỡng [cha mẹ] ḥng tṛn chữ hiếu, sau đấy nhận biết hoằng dương Phật pháp ḥng báo ân mới là hiếu, như ngựa kỳ, ngựa kư sung sức hóa thành long tượng, bỗng vượt khỏi tâm niệm thuở đầu, cố nhiên đă vượt ngoài ṿng danh văn lợi dưỡng rồi! Cụ Bàng Uẩn vứt sạch [gia sản] trăm vạn xuống ḍng Hán Thủy, ngài Tăng Thiệu xông pha tam độc để khai hóa vùng Nhiếp Sơn, há riêng chiếm hết tiếng thơm ư? Sư kể từ khi làm chủ pháp ṭa đến nay đă hơn ba mươi sáu năm, hành theo Phạm Vơng, dốc chí nơi Quán Kinh, lấy Đông Lâm làm mẫu mực cho Tịnh nghiệp, lập thanh quy theo ngài Bách Trượng, phân tích nghĩa sớ theo ngài Ngọc Tuyền, biện định Tông Thừa theo ngài Huệ Nhật, phá tan Ấm Ma như ngài Bản Độ Không, dẹp hư luận như ngài Tú Thiết Diện. Vân Thê tuy u tịch, hoang sơ và mộc mạc, không có các thứ trang nghiêm, nhưng người có Thiên Nhăn Thông ắt nói: “Đây là chỗ tháp miếu của chư Phật thuở trước”. Người có Thiên Nhĩ Thông ắt nói: “Tiếng nước chảy, tiếng chim hót, tiếng gió lùa qua rừng cây đều là tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng”. Người có Túc Mạng Thông ắt nói: “Vị cổ đức nào đó tái lai”. Dẫu gió lốc Tỳ Lam quật đổ núi, vẫn chẳng thể [khiến nơi này] lay động; dẫu lụt lớn ngập trời vẫn chẳng thể nhấn ch́m. Pháp đạo hưng thịnh tại Vân Thê có chỗ dựa to lớn thay! Đại sư soạn Di Đà Kinh Sớ Sao, Truy Môn Sùng Hạnh Lục, Thiền Quan Sách Tấn v.v… mấy chục loại sách đều được khắc in, lưu hành trong cơi đời. Sư họ ngoài đời là Trầm, pháp húy Châu Hoằng, pháp tự Phật Huệ, người xứ Nhân Ḥa.

Tháng Chín năm Vạn Lịch 32 (1604) đời Minh, Thái Tử Thiếu Bảo Lục Thụ Thanh đă chín mươi sáu tuổi đề biển ngạch.

Sử quan Đổng Kỳ Xương soạn văn và viết chữ.

 

17.4. Bi kư nơi pháp đường Thiền viện Vân Thê ở Hàng Châu

 

Xưa kia, đức Thế Tôn dùng năm thời để phô bày giáo pháp, ẩn, hiển, Quyền, Thật, tùy thuận [các căn cơ] mà ban bố chẳng sai lệch, như mền ấm hay chiếu mát, tùy thời mà kiến lập [giáo pháp] sai khác, cốt sao ứng hợp căn cơ, thích hợp cội rễ mà thôi! Khi chánh pháp truyền sang phương Đông, thầy tṛ xác lập ba tông đối ứng là Giảng, Luật, và Thiền. Tuy chia thành ba, nhưng đều là đường về cùng một lối, như vua tôi thay nhau mà sử dụng; đấy cũng là nhằm gồm trọn hết giáo pháp trong một đời đức Phật. Thiền sư Trung Phong ở Thiên Mục từng nói: “Mật Bộ như mùa Xuân, Từ Ân (Pháp Tướng Duy Thức) như mùa Hạ, Nam Sơn Luật Tông như mùa Thu, ư chỉ giáo ngoại biệt truyền như mùa Đông”. Từ khi ánh sáng từ đèn tổ nơi ba tông bị suy lụn, pháp lâu ngày đa phần nẩy sanh thói tệ tràn lan. Các loại thuốc (các phương tiện đối trị) được thực hiện quyền biến, tuy noi theo đường lối “ĺa nói năng, dứt bặt dấu tích”, nhưng ngôn từ và dấu tích vẫn trọn đủ. Ngài Đại Trí (tổ Bách Trượng) sáng lập quy củ (thanh quy) bao gồm giới luật, ngài Khuê Phong giảng giải kinh th́ Giáo được thiết lập, cho tới các vị Vĩnh Minh, Thiên Y trở đi, đa phần gởi gắm ư chỉ liên bang, ngầm nêu [ư chỉ] “tâm chính là cơi”, tŕ danh tịnh niệm, gần như gọi là Mật vậy. Như vậy th́ một tông Thiếu Lâm đă có đủ bốn mùa. Do vậy, nh́n theo đó, một luồng khí có nóng, lạnh th́ mới thành một năm, một âm thanh có mở (khai, cho phép) hay ngăn (giá, cấm đoán) th́ mới có thể giáo hóa, xiển dương, không ǵ chẳng do cơ nghi (theo đúng lẽ thích hợp căn cơ và thời thế) mà kiến lập, gặp biến bèn thông: Hoặc tách ra để nêu riêng các tông, hoặc gộp lại để thành tựu điều trọng yếu, đích đến vốn là một vậy.

Nhằm thời mạt pháp suy vi, người học [hiện thời] chỉ dựa theo văn tự, ngôn từ để thông hiểu, chưa từng có sự [thâm nhập, chứng ngộ] như cổ nhân. Trước là sanh tâm nghiên cứu mấy tác dụng cực sâu, nhưng vẫn cứ thuận theo bẩm tánh nơi Hữu, toan nhờ vào Không để ngăn ngừa lỗi, thế mà cứ muốn khế hợp trọn vẹn pháp giới, ngầm trở về nguồn tâm, vậy th́ có khác ǵ trẻ thơ đùa bỡn, nói mớ khi ngủ mê ư? Than ôi! Thiền học thịnh mà coi nhẹ Giáo và Luật, Thiền học suy mà Giáo và Luật diệt mất! Đồ chứa nứt vỡ, mầm mộng cháy lép, chẳng chuyên chở được đạo, vẫn huênh hoang bảo đại chúng rằng: “Tông của ta cố nhiên là như thế”. Oai nghi, khuôn phép lỏng lẻo, quán hạnh cũng nứt vỡ, diệt mất, giáo pháp đơn truyền của tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng bị quét sạch. Buông lung, đọa lạc, không ǵ hơn lúc này!

Đường tối u ám đă lâu, mặt trời trí huệ mới mọc. Do vậy, Vân Thê đại sư ứng theo pháp vận, nương theo từ nguyện, hạ sanh trong ḍng họ có danh vọng, nổi danh trong vườn Nho. Sau đấy, Ngài từ bỏ vinh hoa, ĺa ái, xuống tóc, khoác áo thâm, thọ Cụ Túc Giới, mang đăy đi tham học khắp nơi chẳng biết mệt. Năm Tân Mùi (1571) trong niên hiệu Long Khánh, Ngài mới trở về trụ tích tại Tây Ổ núi Ngũ Vân thuộc Vũ Lâm, là nơi c̣n có di tích chùa cổ của ngài Phục Hổ đời Tống. Nền móng đă mục nát, tường đổ chỉ c̣n dấu vết, nhưng Sư vẫn gối sương đội sao, an nhiên tĩnh tọa nơi ấy. Lâu sau, Ngài mới dẫy cỏ, dựng lều tranh, giường dây, bát sành, riêng ḿnh hưởng pháp lạc trong ấy! Giới đức hun đúc, sự giáo hóa huyền diệu lan tỏa, ḷng từ cảm hóa mănh thú, ḷng thành cảm mưa dầm. Do vậy, dân chúng gần xa nghe danh, tranh nhau t́m đến chở gỗ, bỏ công như nước dồn vào hang sâu. Chẳng lâu sau, công tŕnh hoàn tất, vẫn dùng tên gọi ban đầu là Vân Thê Thiền Viện. Chẳng xây cửa tam quan, điện đường, c̣n bếp, nhà tắm vừa đủ dùng, chỉ có Thiền thất và pháp đường được xây dựng cao rộng hơn để thờ kinh tượng và tụ tập tăng lữ. Đó là chí nguyện từ trước của đại sư.

Đại sư dạy bảo trừ khử giả dối, uốn nắn những thói sai lầm, chú trọng giản lược, trừ hư luận, một mực nương theo lẽ chân thật ḥng đạt tới diệu ngộ, tức là điều duy tŕ kỷ cương cho người tu lẫn kẻ tục không ǵ lớn hơn hành tŕ. Do vậy, Ngài soạn bộ Truy Môn Sùng Hạnh Lục. Che chở muôn loài không ǵ bằng đề cao ḷng từ; do vậy, Ngài có bài Giới Sát Phóng Sanh Văn. Giữ nghiêm giới luật hữu ích cho chúng sanh lẫn chính ḿnh, không ǵ rộng bằng Phạm Vơng. V́ thế, Ngài có tác phẩm Giới Sớ Phát Ẩn Nghĩa. Chỉ thẳng lẽ đốn siêu, quyết chứng chẳng tràn lan, không ǵ trọng yếu bằng Thiền. Do vậy, Ngài có bộ Thiền Quan Sách Tấn. Nhằm tạo cầu bến to lớn cho các đời sau, trong các phương tiện, nêu ra phương tiện thù thắng, thích hợp trọn khắp các căn cơ, cắt đứt tam giới theo chiều ngang, không ǵ nhanh chóng bằng Tịnh Độ. Do vậy, Ngài trước tác Di Đà Kinh Sớ Sao. Ngài từng nói: “Thuốc A Già Đà chữa bệnh, như ư châu tuôn ra chất báu, xuyên suốt chung mọi đường lối, chỉ có nhất tâm tŕ danh đó chăng?”

Ngài coi tinh tấn là hạnh, dùng tịnh làm luật, coi khế nhập là pháp, coi rốt ráo là Thiền. V́ thế, những điều đại sư diễn xướng không ǵ chẳng trọn vẹn, nhưng có tông thú nhất định. Đồ chúng tăng, tục đều ngưỡng vọng đại sư như tổ Thiện Đạo, coi Vân Ổ là Cực Lạc. Các nơi xa xôi như Giao Châu, Quảng Châu, Dung, Thục, U Châu, Tinh Châu, Kư Châu, Sóc Châu, không ai chẳng ngại chai sần bàn chân t́m đến quy y, lễ bái, những người vươn cổ mong ngóng được giáo hóa và chen chân trong cái thất đông nghẹt chẳng thể đếm xuể. Nhưng Ngài càng ẩn kín sự thông hiểu, hiển lộ sự hành tŕ, khiêm cung, chẳng ngạo nghễ, đau đáu đè nén thói ngông cuồng, phóng túng, đích thân làm bờ đê [ngăn chặn], suốt đời khiêm tốn, đặt ḿnh vào địa vị học tṛ. Dù là tăng sĩ b́nh phàm hay kẻ sĩ đơn độc đến bái yết, Ngài đều đối xử lễ độ như nhau. Ôi chao! Chẳng phải là bậc đức dày, sao có thể đạt tới như thế được?

Có kẻ mê muội cho rằng chùa mang tên Thiền, hăy nên đóng chặt các lối rẽ khác, chỉ noi theo phương hướng to lớn, tiếp nối và nêu tỏ tông chỉ đơn truyền thẳng thừng từ trước đến nay, coi đó là khuyết điểm của đại sư. Phàm người trị thủy (chế ngự lũ lụt), có lúc phá đê cho nước chảy đi, có khi đắp đập để giữ nước. Đối với đứa trẻ đang bú sữa, có khi bôi chất đắng [lên vú] để trẻ khỏi bú, có lúc rửa sạch để trẻ bú sữa, chỉ nhằm thích hợp lẽ đáng nên. [Hiện thời], cơi đời xuống dốc, [con người] quen thói chụp giật, tà sư hiểu biết lầm lạc như sóng cuồn cuộn, như ngựa rảo vó. Nếu cứ chăm chăm diệt tướng, hủy giáo, coi tŕ và phạm như nhau, coi tịnh và uế bằng nhau, [khác nào] khơi mương máng trong mùa Thu khô hạn, chẳng cho đứa trẻ đang đói được bú, há có phải là đạo của bậc đại sĩ nâng đỡ thời thế, ứng hợp cơ duyên, vực dậy lúc đạo suy vi tột cùng, chấn hưng cái sắp bị tuyệt diệt ư? Thế tục có kẻ khéo vẽ rồng, nhưng khi thấy rồng thật bèn kinh hoảng. Kẻ trộn lẫn canh cùng bùn đất, lại chê cười người cấy cày[14], cũng chẳng sai lầm lắm ư? Núi này h́nh thế thù thắng, cùng với duyên khởi sáng lập thiền viện đă được chép tường tận trong bài kư do đại sư soạn và bài bi kư của Thái Sử Đổng Kỳ Xương, cho nên chẳng nói cặn kẽ nữa. Sở dĩ Sư ứng hóa là để cứu vớt cơi đời, có công với tông thừa, [cho nên tôi soạn bi kư] khắc vào đá đặt tại giảng đường ḥng lưu truyền măi măi.

Đệ tử là cựu Tiến Sĩ Quốc Tử Giám Tế Tửu đă cáo lăo hồi hưu Đào Vọng Linh soạn văn, khắc bia nhằm ngày lành Giáp Thân, tức mồng Ba tháng Ba năm Kỷ Dậu, nhằm năm Vạn Lịch 37 (1609).

 

17.5. Tự chí Vân Thê Lan Nhă

 

Ngọn cao nhất nơi núi non đất Hàng là ngọn Ngũ Vân. Khi lên đến đỉnh, hai ngọn núi cao Nam, Bắc trông như con cháu. Thế núi xuôi theo hướng Tây Nam, c̣n sông lớn quặt về phía Đông Bắc rồi hội tụ. Khí linh tú của trời đất ngưng tụ, nung đúc bậc hiền tài chưa hết, ắt sẽ có bậc tuấn kiệt xuất thế, nương theo bổn nguyện mà lợi sanh, chính là Liên Tŕ đại sư của chúng ta vậy.

Trước kia, núi này có tên như thế là do có mây lành ngũ sắc vờn quanh đỉnh núi; sau đó, mây trôi tụ về khe núi phía Tây một lúc lâu chẳng tan, nên lại gọi khe núi ấy là Vân Thê (雲棲, mây đậu). Nơi đó có lan nhă (chùa) do vị tăng Chí Phùng khai sơn. Ngài Chí Phùng có đạo hạnh, hổ dữ thuần phục, người đời gọi Ngài là Phục Hổ thiền sư. Thuở đầu, Ngài dựng am trên đỉnh Ngũ Vân, trong niên hiệu Thiên Hy, được ban biển ngạch là Chân Tế Viện, [triều đ́nh] lại c̣n mở thêm hai viện là Vân Thê và Thiên Tŕ, hợp thành ba ngôi chùa, nhưng Vân Thê được coi là nơi u tịch nhất. Gần cạnh vách phía Đông và Tây của ngọn núi chính giữa, có ba con suối nổi tiếng là Thanh Long, Thánh Nghĩa, và Kim Dịch. Đỉnh cao nhất nơi rặng phía Đông là đỉnh Bích Quán, đều là tên gọi của những ngọn núi và suối ở phía sau chùa. Con đường ṃn [vào chùa] đi từ thôn Phạn chừng mười dặm, khe suối, núi non thăm thẳm, cỏ cây dày đặc, cách biệt hẳn cơi nhân gian; đây quả thật là chỗ A Luyện Nhă để tu hành chân chánh. Nhưng sau ngài Chí Phùng, người sống ở đó cực ít, bốn trăm năm sau mới có đại sư. Đại sư húy là Châu Hoằng, hiệu là Liên Tŕ, là con nhà họ Trầm ở Hàng Châu. Thuở đầu, Ngài học Nho có tiếng tăm rất lừng lẫy trong chốn trường ốc. Do duyên xưa thúc giục, Ngài bèn xé rách lưới trần, soạn bài ca từ giă cơi đời, xuống tóc làm Tăng. Sau khi tham học trọn đủ các nơi, Ngài dừng chân nơi đây, nối tiếp liên xă Đông Lâm, mở ra cầu bến trở về Tây Phương, nhất thời Tăng, tục đồng ḷng quy hướng.

Thuở mới đến, Ngài sống một ḿnh trong lều tranh, nghĩ là sẽ [đơn độc tu hành] như thế suốt đời. Do Ngài chú nguyện độ hổ, hổ chẳng hại người. Ngài cầu mưa, mưa tuôn ứng hợp. Đạo phong của Ngài không chân mà lan khắp, người khiêng gỗ, kẻ vác cuốc xẻng t́m đến chẳng sót ngày nào! Họ thưa: “Thầy v́ tạo hạnh phúc cho dân chúng mà ở lại đây. Hơn nữa, nền móng xưa c̣n sót lại chính là chỗ mà tổ tiên chúng con đă gieo duyên hương đèn, há nỡ ḷng bỏ mặc chẳng tạo chỗ cho thầy ở yên ư?” Do vậy, chẳng mấy chốc mà lan nhă h́nh thành, có pháp đường để thờ phụng kinh luật, có Thiền đường để tăng chúng an cư. Phàm những ǵ mà chốn tùng lâm cần nên có th́ theo tháng ngày mà tăng thêm, mở mang. Thầy lại định ra mười điều ước thúc như khuôn vàng thước ngọc để ràng buộc đại chúng tuân thủ. Ngày đêm sáu thời, đồng hồ sen chẳng ngừng, bảy chúng thánh phàm tụ tập như biển lớn chẳng lúc nào vắng vẻ. Danh tiếng của Vân Thê gần như ngang ngửa với Thanh Lương cơi Bắc và núi Phổ Đà ở Nam Hải. Chắc có kẻ ngờ vực Sư chẳng kế thừa tông chỉ từ Tây sang của tổ Đạt Ma, mà hoằng dương giáo pháp Tây Quy.

Châu Hoằng nói: “Quan đại tư thành[15] là ông Phùng soạn tự chí cho Vân Thê, nhưng chưa xong. Con trưởng là Quyền Kỳ viết sau sách rằng: ‘Đây là bản thảo của tiên quân, những điều mong muốn chưa trọn, những điều đáng nói chưa nói, mong các vị đại đức trong nước sẽ châm chước’. Ngu ư cho rằng chưa hoàn tất, chưa nói vẫn chẳng hại ǵ. Chẳng hạn như kinh Hoa Nghiêm chỉ có tám mươi quyển, văn chưa trọn mà ư đă vẹn”. C̣n như có kẻ ngờ vực tổ sư chẳng nối tiếp tông chỉ từ Tây đến mà hoằng dương giáo pháp Tây Quy, đối với hai câu ấy, vẫn gác bút để đó, chỉ gợi mở chứ không nêu bày, nhưng [hàm ư] đă rơ rành rành rồi, nay chẳng cần phải nối đuôi vụng về, chỉ xin chư phương hạ một câu chuyển ngữ tại chỗ này!

 

17.6. Bài kư trùng tu Vân Thê Thiền Viện

 

Phủ trị đất Hàng phía Nam kề ngay đại giang (sông Tiền Đường), phía Tây tiếp nối Minh Thánh nhị hồ, muôn ḥn núi vây quanh hồ san sát bến sông. Từ phía Tây của sông, đi ngược lên hơn hai mươi dặm là quả núi có tên là Ngũ Vân. Trước kia, đỉnh núi có mây lành năm sắc quẩn quanh trên đó; do vậy, đặt tên núi [là Ngũ Vân]. Lại có mây năm sắc trôi về, tụ vào hang động nơi phía Tây của núi đă lâu chẳng tan; người đương thời lấy làm lạ, gọi nơi đó là Vân Thê Ổ (雲棲塢, hang mây đậu). Năm Càn Đức thứ năm (967) đời Tống, có vị Tăng kết am [tại đó] để ở. Trong Ổ có nhiều cọp, Tăng đến, cọp liền thuần phục, cơi đời gọi Sư là Phục Hổ thiền sư bởi lẽ đó. Ngô Việt Vương họ Tiền bèn v́ Sư lập chùa; do vậy, Vân Thê được sáng lập. Thiền sư c̣n có một hiệu là Đại Phiến ḥa thượng (大扇和尚, ḥa thượng quạt to), húy Chí Phùng (志逢). Thoạt đầu, Sư dựng thất trên đỉnh Ngũ Vân. Trong niên hiệu Thiên Hy (thời Tống Chân Tông), vua ban sắc chỉ đặt tên chùa là Chân Tế Viện (真濟院), đồng thời mở thêm hai viện Vân Thê và Thiên Tŕ thành ba cảnh chùa. Về sau, vào năm Trị B́nh thứ hai (1065), đổi tên thành Thê Chân. Nay gọi là Vân Thê là khôi phục tên cổ.

Vân Thê nằm ở phía Tây ngọn Ngũ Vân, đường ṃn ngoằn ngoèo, rừng cây u tĩnh, bốn quả núi vây kín xung quanh, cây phủ xanh ŕ. Rặng phía Đông có ngọn Bích Quán (壁觀), dưới ngọn núi có suối, gọi là Thanh Long Tuyền (青龍泉, suối rồng xanh). Kế tiếp, ở bên cạnh ngọn núi giữa, lại chảy ra một con suối, tên là Suối Thánh Nghĩa. Phía dưới đó, nơi chân núi thuộc vách núi phía Tây, lại chảy ra một con suối tên là Suối Kim Dịch (金液), dùng ống trúc dẫn nước suối chảy êm đềm, trong mát, thơm ngọt, lấy nước dùng hoặc tuôn tưới đều chẳng cạn kiệt. Chỉ có điều hoang vu, vắng vẻ, ít dấu chân người lui tới, chẳng phải là kẻ quên thân, tâm vắng lặng, sẽ chẳng thể ở được! Đầu niên hiệu Thiệu Hưng[16], có Từ Tri Các[17] theo chân triều đ́nh [lánh nạn giặc Kim], vượt Trường Giang về Nam, ở ẩn bên cạnh chùa. Về sau, ông xả nhà thành chùa. Năm Hoằng Trị thứ bảy (1494) thuộc thánh triều (nhà Minh), mưa dầm gây lụt lớn, nhà, điện, kinh, tượng nổi trôi theo nước. Tăng dần dần ly tán, những vị già yếu bèn thuê nhà sống trong thôn trang của dân chúng. V́ vậy, tự viện thành chốn cỏ hoang um tùm. Phụ lăo đi qua, thương cảm ứa lệ. Vệ tướng quân Dương Ngọc Khê và con trai là Niệm Đường mến chuộng Tam Bảo, quyên mộ Tăng trùng tu, nhưng nhiều lượt khổ sở v́ nạn hổ, không sống được, phải bỏ đi.

Năm Long Khánh thứ năm (1571), Châu Hoằng hành cước trở về Nam, ưa thích nơi này non cao vắng vẻ, thân đơn, bát lẻ, ngồi xếp bằng trong chỗ tường sụp. Thái học sinh[18] Trần Như Ngọc, Lư Tú v.v… dựng cho tôi ba gian tĩnh thất. Châu Hoằng ngày th́ bầu bạn với nai rừng, đêm th́ xướng họa cùng chim, suối, thong dong tưởng sẽ suốt đời. Thôn dân lấy làm lạ tôi có thể ở lâu như thế. Các thôn thuộc bốn mươi dặm chung quanh [núi Ngũ Vân], mỗi năm chẳng dưới hai mươi người bị thương v́ hổ. Gà, chó chẳng tính! Châu Hoằng phát ḷng bi khẩn thiết, phúng kinh một ngàn quyển, lập Du Già Thí Thực để tế độ. Từ đấy, hổ chẳng tổn thương người. Nhằm năm hạn hán, tôi cầu đảo trong núi, gặp mưa đúng thời tuôn xuống, dân trong thôn lại hết sức mừng rỡ, vui mừng được an cư, cùng nhau nườm nượp vác gỗ kéo tới, nói: “Những thứ này do tổ tiên tôi đă trồng”. Họ vác cuốc xẻng, phát quang, phủi bụi để lộ các tảng đá kê chân cột, chỉ vào đó, nói rằng: “Đây là vật cũ của chùa Vân Thê. Thiền sư tạo phước cho thôn chúng tôi. Tôi nguyện xây chùa mới trên nền cũ, ḥng giữ vĩnh viễn nơi hương đèn trong vùng chúng tôi!” Do vậy, chẳng mấy chốc mà thành Lan Nhă. Ngoài chẳng có cửa cao, giữa chẳng có đại điện, chỉ có Thiền đường để tăng ở, pháp đường để sùng phụng kinh luật mà thôi.

Châu Hoằng tự biết chính ḿnh viễn vông, thô hèn, chẳng có một tấc sở trường nào đáng khen ngợi, ôm bệnh vào núi, cam phận mục nát với cỏ cây. Bỗng chốc gặp huyễn duyên, hưng khởi chốn suy đồi, suy sụp này, há dung ăn không ngồi rồi, chẳng nghĩ “trên là báo ân Phật, dưới là đền đáp đàn-na tín thí” ư? Xét ra, tôi suốt đời chuộng chân thật, coi nhẹ chuyện phù phiếm, khoa trương, cam tâm trong cảnh khốn cùng, bó buộc, xấu hổ đối với danh lợi, cùng với một hai người có cùng chí hướng cùng nhau dùi mài, nỗ lực thực hiện đạo xưa, ước hẹn với hàng hậu tấn: Hễ kẻ nào phạm [lỗi giới hạnh và quy ước cộng trụ của Vân Thê] ắt phải rời đi. Chủ yếu phần lớn là dùng Tịnh Độ [làm pháp chủ tu]. Mùa Đông chuyên tọa Thiền, ngoài ra kiêm giảng tụng. Hằng ngày có lịch tŕnh, mỗi tháng có kết toán, mỗi năm có sổ sách minh bạch, nghiêm ngặt, khiến cho kẻ vô lại chẳng thể chen lẫn vào đó. Tuy chẳng giúp ích to lớn cho pháp môn, chỉ mong cứu văn thói tệ của người học trong đời Mạt, ḥng đợi bậc tri thức trong mai sau. Châu Hoằng là con nhà họ Trầm, tự là Phật Huệ, hiệu Liên Tŕ, người xứ Nhân Ḥa ghi lại.

Ngày Rằm đầu Xuân năm Vạn Lịch thứ năm (1577), sa môn Châu Hoằng kính ghi.

 

17.7. Bài kư khôi phục chùa cổ Vân Thê

 

Khi tôi mới vào chùa Vân Thê thuộc Phạm sơn, các vị phụ lăo bảo tôi: “Chùa này bị nước lụt cuốn trôi sạch, nay đă gần trăm năm. Khi ấy, chẳng có sức để xây dựng lại, dựng cái lều tranh ở giữa đường trong cuộc đất bỏ hoang phế ấy, gọi là Vân Thê Biệt Viện”. Tôi c̣n thấy một vị Tăng sống ở đó, nhưng Thê Chân (棲真, trụ trong lẽ chân thật) là tên ghi trong sổ sách, chứ dân trong núi hoặc tiều phu thường gọi nơi ấy là Vân Thê (雲棲, mây đậu lại). Tôi liền thuận theo, dùng Vân Thê để đặt tên am, am đă được dựng hơn ba mươi năm rồi. Cho tới khi đọc Lâm An Cựu Chí được soạn trong niên hiệu Hàm Thuần[19], [mới biết] chùa Vân Thê chính là do quốc vương họ Tiền xứ Ngô Việt[20] kiến tạo vào năm Càn Đức thứ năm (967) đời Tống Nghệ Tổ (Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn), tới năm Trị B́nh thứ hai (1065) đời Tống Anh Tông, đổi thành Thê Chân, xem chi tiết nơi trang mười lăm thuộc phần “các chùa, quán ở Tiền Đường”. Tôi vẫn gọi là Vân Thê, ngầm phù hợp thời cổ, cố nhiên là chuyện thích đáng.

Xưa kia, vào khoảng cuối thời Gia Tĩnh - Long Khánh, đầu thời Vạn Lịch, người tu chỉnh quận chí cứ viết theo thời gần đây, chẳng tra cứu thời cổ. Nay khôi phục tên cũ, há chẳng phải là do túc duyên khiến thành ra như thế ư? Tôi đă cảm khái v́ vô tâm mà hợp cổ, lại càng cảm khái trước chuyện xưa nay nối tiếp nhau thay đổi chẳng thường hằng. Dấu tích linh thiêng thù thắng bị tịch mịch, ch́m đắm đă lâu, chẳng được nêu tỏ không biết ngần nào? Ngô Quận thời cổ là Hàng Châu, đă trở thành Lâm An. Về sau, lại trở thành đất Hàng, gọi là Cổ Hàng. Nay chùa cũng giống như thế; do vậy, đề biển ngạch là Cổ Vân Thê Tự, ngơ hầu [người khác nh́n vào tên gọi ấy sẽ] biết năm tháng vậy!

Tháng Giêng năm Vạn Lịch thứ 37 (1609) đệ tử Bồ Tát giới, tỳ-kheo Châu Hoằng ghi

 

17.8. Bài kư trùng tu chùa và đào ao phóng sanh tại chùa Thượng Phương

 

Vùng Vũ Lâm kể từ khi nhà Tống [lánh nạn giặc Kim] chạy về phương Nam, quanh Hồ Sơn, các chùa thuộc Thiền, Giảng, Luật rực rỡ chen chúc san sát, trở thành có tiếng trong thành. Cho tới nay, quá nửa bị chìm đắm, đến nỗi chẳng thể khảo cứu các truyện kư hay địa phương chí [để biết về lịch sử của các chùa ấy]. Có chùa Thượng Phương dựa lưng vào tường thành, hai bên liền sát hai cửa Dũng Kim và Tiền Đường [của thành Hàng Châu], trước mặt thông với đường cái quan Tây Tỉnh. Chùa vốn được tạo dựng từ năm Trinh Minh thứ bảy (921) nhà Hậu Lương, nhưng trong năm Cảnh Thái thứ tư (1453) của quốc triều[21], Tăng sĩ cho là khó duy trì, bèn bỏ đi. Chùa bị bỏ hoang, dần dần bị dân cư xâm chiếm, chỉ còn lại một phần mười. Ưu-bà-tắc Trầm Thiện Năng kết lều tranh tại đó.

Tới năm Gia Tĩnh 23 (1534), quan Thượng Bảo Khanh[22] là Từ Lục Kiều xin phép triều đình cho thuê đất nơi đó làm vườn. Ông không có con trai, để lại cho con gái, dặn trả lại nhà chùa. Con gái có hiếu lại hiền thục, cầm khế ước về nhà họ Vương, tuân theo lời cha dặn, trao cho Vân Thê, [cuộc đất ấy] bèn trở lại là đất của Tăng như cũ. Chẳng lâu sau, họ Vương qua đời, cư sĩ Tống Hóa Khanh nghe nghĩa cử ấy, bèn đề cao. Hóa Khanh là con cháu của gia tộc nhiều đời ăn bổng lộc, tận lực dùi mài đạo đức, chuộng làm lành chẳng chán, bèn góp tiền đưa cho hai đứa con nhà họ Vương, lấy lại khế ước. Tôi cũng dốc hết tiền riêng, cùng thiện tín mua lại cuộc đất cũ được chừng đó. Hướng chánh điện về chỗ sáng sủa, lập riêng dăy nhà ngang, xoay hướng cửa chính của chùa đối diện tường thành nhằm đảm bảo sự u tịch, mong đời đời phụng sự Tam Bảo.

Do vậy, tôi bàn bạc cùng đại chúng: “Thượng Phương vừa mới trùng hưng, lênh đênh, suy vi, hãy tu tạo, lo liệu như thế nào để được lâu dài?” Có người bàn bạc đốn cây cối, mở rộng điện đường, tụ tập nhiều tăng sĩ, tăng đông thì sẽ thường trụ. Tôi nghĩ chẳng phải vậy! Đang thuở Mạt Pháp, tháp chùa chẳng kiên cố. Thử gập ngón tay tính toán. Cửa tam quan hướng ra chốn phố thị, lầu chuông gác trống chẳng trở thành chốn quăng bừa chén rượu há được mấy nơi? Tăng tuy nhiều mà hạnh thiếu, nhiều để làm gì? Xét ra, cuộc đất này gần thành, thành gần hồ, hồ phía ngoài cao, mà trong thành thì thấp, thuận theo đó mà đào thành kênh, gặp lúc hạn hán cũng chẳng thể khô cạn. Do vậy, rất tiện tạo thành ao phóng sanh. Đối với gian nhà cũ ở chỗ đất trống, sửa sang kèo rường đôi chút, chọn lấy hai ba vị tăng thành tín, sớm chiều Thiền tụng, ngõ hầu trên là chúc nguyện cơ đồ của hoàng thất, dưới là cứu vớt hàm thức, thì sẽ là hành động nhất cử lưỡng tiện vậy.

Có kẻ nói: “Loài vật nhiều như cát, bụi; ao như một cái muỗng, chứa đựng hữu hạn. Làm sao được?” Kẻ đó nào có biết: Đào ao chính là khởi đầu, là dẫn khởi, dẫn đến mở rộng ra, lại càng mở rộng hơn, sẽ mênh mông khắp cõi. Xưa kia, Tử Sản nuôi cá chỉ một chỗ nhỏ bé. Giả sử người nước Trịnh dù đại phu, dù quan chức, hay dân chúng đều làm như thế, các lân quốc của nước Trịnh như Yên, Triệu, Tề, Sở cũng đều như thế thì ao vô lượng, nuôi nấng vô lượng. Nếu không, Tây Hồ là ao phóng sanh thời cổ, bảo là “bao dung trọn khắp muôn vật trong vòng trời đất”, há có lẽ đó ư? Hóa Khanh thưa: “Vâng, đúng như vậy”. Bèn cùng với em ông ta là Trực Khanh, các vị sĩ phu hiền đức, các tỳ-kheo, tịnh nhân, có người xuất tiền, có người quyên lương thực, sửa sang cuộc đất, cuốc, vét, đào bới, nạo vét dòng suối khô, dẫn nước, đắp đập, đắp đê kiên cố phòng khi nước lũ bị sụp đổ, xây tường vây, vun đất, lèn đá, rải gai để ngăn ngừa hải ly và rái cá. Nhằm đề phòng kẻ ngoài xâm phạm, bèn đắp tường đất kiên cố. Lo cho [các loài vật] gặp phải nóng lạnh, bèn trên th́ trồng cây lấy bóng rợp, phía dưới thì đào ng̣i, bận bịu lo toan suốt ngày đêm, nhọc nhằn chẳng nghỉ, ra sức hơn tháng, ao được hoàn thành. Ngay khi đó, [các con vật] từ trong lồng được thả, đang ở trong nồi mà được phóng thích, thoải mái vùng vẫy, thoát ra thảnh thơi. Trong vòng [cái ao nhỏ như] cái muỗng ấy, đủ để cho chúng nó thong dong.

Tôi vừa mừng vừa sợ, đảnh lễ trình với mười phương Như Lai, thần chủ ao, thần chủ già-lam, nguyện do Phật lực, pháp lực, hiền thánh lực, thệ nguyện lực của chư thần, từ bi gia hộ, oai đức giáng lâm, khiến cho từ nay trở đi tới tột cùng vị lai, [ao phóng sanh này sẽ] thường là nơi an ổn cho các loài thủy tộc đội mai, mang vảy. Lại đảnh lễ thưa với các vị tăng đang trụ nơi đây và mai sau, nguyện dùng giới lực, bi trí lực, nghĩ tới nỗi khổ cứu vớt nhuần thấm [lũ cá đang bị] khô cạn của [trưởng giả] Lưu Thủy, ngài Thiên Thai dâng biểu dùng lời lẽ thẳng thừng để dứt đăng, đó; ngài Trí Giác (tổ Vĩnh Minh) lãnh tội hòng thành tựu lòng nhân, hứng chịu đao sắc mà chẳng hối hận, vẫn giữ mãi chẳng để hư hoại [ḷng từ], hòng tạo thành phong hóa cho bốn phương.

Những ai dám trái nghịch lời kết minh khi trước, học theo Đào Châu (Phạm Lãi) kiếm lợi bằng lưới, rập, hoặc hùa theo mọi người bán [những sanh mạng trong ao phóng sanh] cho hàng bạch y, thì gọi là trái nghịch Phật luật, phạm Ba La Di. Những người được gọi là Thích tử sẽ triệu tập tăng chúng làm yết-ma để tẫn xuất kẻ đó, chẳng cho cộng trụ! Tức là do kẻ đó cấu kết với ác thần, ắt thần sẽ ngầm trói buộc hồn họ, rành rành hủy hoại thân họ, chẳng thể trốn tránh. Nếu họ thoát được, khi báo thân đã tận, sẽ đọa trong Nê Lê (địa ngục), hứng chịu muôn điều khổ sở chẳng cùng tận. Vì lẽ nào vậy? “Ưa sống, ghét chết” là đạo trời, là lẽ thường tình của con người. Người xưa bỏ ra tiền tài khó bỏ, nhọc nhằn thân xác đáng mến, lập ra nghĩa cử thù thắng chẳng thường thấy trong đời ngũ trược, khiến cho [các con vật] mạng ắt phải chết mà được sống, đặt chúng nơi an toàn. Người đời sau nhẫn tâm chẳng suy nghĩ sâu xa, chỉ cốt thỏa lòng riêng tư, trái đạo trời, nghịch tình người, bất tường là do trái nghịch, hung ác, hễ bất tường thì tai ương đưa đến. Dùi đánh xuống, trống vang rền, bóng theo hình, cảm ứng tự nhiên, chẳng phải là nói dối để dọa dẫm!

Hóa Khanh và các đại chúng hớn hở, hoan hỷ, than là “chưa từng có”, thưa rằng: “Lành thay! Đấy là khuôn mẫu cho tăng tục vậy, chớ nên khiến cho đời Mạt Pháp chẳng được nghe”. Bèn lập bia tại Thượng Phương. Tụng rằng:

          - Trùng hưng chốn đã diệt, lại kiêm được phóng sanh. Há chỉ diệt chẳng diệt, sanh cũng tướng vô sanh. Sanh diệt đều diệt rồi. Tịch diệt há trở ngại? Đã siêu hẳn các phương, không phương để nói Thượng. Không phương nói Tây Phương, ý cũng giống như vậy. Người xây chùa, đào ao, nguyện cùng hiểu ý này!

          Ngày lành Thượng Nguyên tháng Giêng năm Canh Tư, tức năm Vạn Lịch 28 (1600), Bồ Tát giới đệ tử là sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn.

 

17.9. Bài kư ao phóng sanh của am Trường Thọ ở cửa Bắc

 

Tây Hồ là ao phóng sanh thời cổ. Pháp lâu ngày biến thành tệ, thực chất mất đi, chỉ còn danh suông! Thói tệ lâu ngày thành quen. Hồ luôn sanh ra thủy tộc, danh xưng [ao phóng sanh] cũng bị mê mất, dường như chẳng được nghe nhắc đến nữa. Năm Ất Mùi (1595), tôi giảng diễn kinh Viên Giác tại Nam Bình thuộc núi Phật Quốc. Nam Bình vốn có một cái ao ở cửa tam quan. Khi đó, các vị có danh vọng làm chủ hội, quyên tiền mua đứt cái ao để trồng sen trong đó, dứt hẳn ngư nghiệp. Nhờ vậy, mọi người biết ao phóng sanh là chuyện cũ của vùng Vũ Lâm; tôi lại đào ao ở Thượng Phương. Do nơi cửa Bắc có vườn, trong vườn có ao, lại mua lấy. Vườn cách Thượng Phương theo trục Nam Bắc nửa câu-lô-xá[23], cho nên trong thành có hai ao phóng sanh.

Tôi vừa lập bia tại Thượng Phương, cho rằng đó là khởi đầu, từ khởi đầu sẽ dẫn đến lan tràn rộng ra. Xét ra, tôi đức mỏng, tuổi già lụm cụm, chẳng đủ để tạo thành phong thái, chẳng biết người kế tục hưng khởi chuyện này sẽ được mấy cái ao? Thượng Phương khổ vì chật hẹp, chỉ có thể làm ao; ngoài ra, chỉ có chút rừng trúc. Loài chim có thể ẩn náu, nương nhờ trong đó. Ở đây (am Trường Thọ) khá rộng rãi, từ chỗ tiếp giáp ao, mở rộng ra, nước đọng nhiều thành chằm, đối với chỗ đất lộ ra trong vùng nước đọng bèn đắp cao thành lũy, cao ngất như núi, dựa theo đó tạo thành ranh giới, tạo thành lối đi sâu kín. Hãy nên trồng tre hoặc cây tại đó, chúng sẽ mọc rậm rạp thành rừng, khiến cho [loài chim] ríu rít, [thủy tộc] tung tăng, vui sướng quên sầu. Tuy chưa thể bằng một phần vạn Phi Vịnh Đ́nh[24], nhưng cứ tưởng tượng quang cảnh ấy, thì Thượng Phương chẳng thể sánh bằng được!

Phía Đông của vườn là thiền viện Hưng Phước. Xoay sang phía Nam là Dưỡng Tế Viện. Lại xoay sang phía Tây là Đắc Nhất đạo viện. Dưỡng Tế xưa kia có hiệu là Bi Điền. Thánh chúa, hiền thần do thương xót nỗi khổ lênh đênh của dân chúng cô quạnh, không nơi nương tựa, bèn lập ra [viện ấy]. Nay thì loài vật khốn đốn vì cung tên hay mồi câu, thân rũ rượi nơi đao, thớt, ắt chẳng thể trốn tránh, đành đợi bị nấu nướng, không nơi kêu cầu càng quá đáng. Mua lấy [những con vật ấy] đặt vào ao nuôi, thả trong rừng, ngõ hầu chúng được trọn hết mạng tàn, lòng bi còn chi hơn được nữa? Đức Phật dạy tam phước, có nói “từ tâm chẳng giết”, nhưng trong ngũ phước thuộc cửu trù[25] của Cơ Tử, Thọ cũng là điều quan trọng nhất. Gần bị giết mà lại được tròn tuổi thọ, phước nào hơn được nữa? Đức lớn trong trời đất là sanh, đức của vua Thuấn là hiếu sanh, đức là một mà thôi! Trên trong lành, dưới yên ổn, vua chúa sở dĩ có thể phối ứng dài lâu trong vòng trời đất là do giữ vững thọ mạng của muôn vật, luôn thuận theo đạo ấy mà đạt được, còn chi hơn được nữa? Dấu tích lớn lao của ba vị thánh nhân Nho, Đạo, Thích giống như thế chân vạc ở ba phương, giống như giáp vòng bao lấy, vườn nằm gọn trong đó. Nơi ở của người có lòng nhân thuộc Khúc Phụ[26], cái thất từ bi của xứ Ma Kiệt Đà (Maghada), nhà thiêng của Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân[27] do trời ứng hợp mà ngầm gần nhau, há có phải là chuyện ngẫu nhiên ư?

Cứu sanh vật sắp bị diệt bèn là có sanh, cầu cho chúng được sống mà chưa từng sanh nên là vô sanh. Sau khi đã vô sanh thì vô bất sanh, tức là sanh và diệt là một. Sanh và diệt là một thì phước hưng khởi mà vô tướng, lòng bi cứu tế vô duyên. Phước chẳng thể được, bi chẳng thể được, một cũng chẳng thể được, chỉ có pháp tánh thường trụ, chẳng đoạn, chẳng tiếp nối, giống như hư không. Kinh Phạm Vơng coi phóng sanh là pháp thường trụ, mà “thường trụ” là kim cang thân vô lượng thọ. Vườn nơi am có tên là Trường Thọ, trong vườn có mấy căn nhà tranh bỏ hoang, bèn sửa chữa để thờ tượng Tiếp Dẫn Đạo Sư và Đương Lai Từ Thị, hòng đặt ra chốn cầu bến để trước là hết thảy hàm linh đă được phóng sanh sẽ đều sanh về An Dưỡng, dứt nỗi khổ luân hồi. Sau là sẽ được thọ ký trong hội Long Hoa. Số lều tranh chỉ giữ như thế, chẳng tăng thêm, phần nhiều chọn vị tăng có giới hạnh thanh tịnh trông coi. Phương cách trông nom như đã nói trong bài ký chùa Thượng Phương. Khi đó, bậc phụ lão trong làng nghe lời tôi nói, tiến đến nắm tay tôi, xót xa than thở: “Chúng tôi chẳng biết cội nguồn của vườn, chúng tôi còn kịp được thấy hai vị thiền nhân sống tại đó. Xưa kia là chốn già-lam, nhưng rồi biến thành vườn rau, không cách nào trở lại như xưa, chúng tôi nào mong được thấy quang cảnh như hiện thời?” Trong chuyện này, người khởi xướng là tôi và ông Tống Hóa Khanh, nhưng do các vị thượng thiện nhân vui vẻ giúp sức mà được hoàn thành lợi lạc tốt đẹp như thế, bèn viết vào văn bia như vậy đó.

          Ngày Phật Đản năm Canh Tý, tức năm Vạn Lịch 28 (1600), Bồ Tát giới đệ tử là sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn.

 

17.10. Bi kư ao phóng sanh chùa Thượng Phương, Hàng Châu

 

Ao phóng sanh tại Vân Thê bắt nguồn từ việc trung hưng chùa Thượng Phương từ cổ, Trường Thọ Am nối tiếp, đều do đại sư tự soạn bài ký. Thầy đã thị tịch, vị thượng thủ giám viện tên là Tư nhờ người cậu tôi là cư sĩ Quảng Ngụ yêu cầu Thược Tân[28] lại soạn mấy lời để khắc vào đá. Tôi cung kính đảnh lễ, ba lượt tiếp nhận sự quán đảnh từ quang minh nơi miệng của đại sư, than thở Ngài bi trí viên dung, Không lẫn Giả đều diệu, chẳng trụ sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp mà hành bố thí, chẳng lìa văn tự mà nói giải thoát, biển nguyện vô nguyện, nâng đỡ trọn khắp loài dị sanh. Than ôi! Cánh chim Ca Lâu La chẳng thể [quạt cho] tiêu tán, tro Côn Minh[29] chẳng thể làm bẩn, Thược Tân còn gì để nói năng được nữa? Dẫu có nói, cũng thêm gì hơn được nữa! Nhưng tôi trộm nghe, mặn chẳng trừ được đắng, chẳng cưỡng cầu vị ngọt nơi quả mơ, [mỗi vị] chẳng ảnh hưởng lẫn nhau, nhưng mỗi đằng hoàn thành phận sự của chính ḿnh th́ canh sẽ do vậy mà điều ḥa [các vị mặn, đắng, chua, ngọt ấy]. Đất, nước nơi chùa này là hang Na La Diên[30], do Tăng giữ thệ nguyện của Tăng, tục giữ trọn lời hứa của tục, ai nấy tuân theo bổn phận của chính ḿnh mà thôi!

Đại sư răn nhắc tăng sĩ cũng như con cháu, nghiêm túc răn đe rằng: Nếu để cảnh chùa thành chốn ca múa, ao thành cái duyên cho dao thớt (giết chóc), đó là điều phải hết sức răn dè. Nếu chẳng có kẻ ham cầu, do đâu mà chợ dấy lên chuyện buôn bán [máu thịt]? Giết một mạng, chính là chôn vùi cả hai[31], sao kẻ ngủ mê chẳng tỉnh? Thược Tân chỉ lo liệu chuyện gần gũi, hời hợt bề ngoài, nhặt nhạnh ý kiến của kẻ khác, khác nào chỉ biết lặp lại ngôn luận của người khác, chẳng biết kế thừa chí hướng đó ư? Chẳng phải người hữu lực, sẽ chẳng thể thấu hiểu phương tiện nhỏ nhiệm của Sư. [Họ sẽ gàn bướng lập luận rằng]: “Đã nói là người hữu lực, sao không thỏa thích lòng ham muốn? Cứ ắt nhốt các sanh vật trong vườn, biến hang pháp thành ao, cho đó là việc làm đúng thời cơ? [Có khác ǵ] thôn tính quốc gia nhược tiểu, nuốt chửng đất nước có chánh quyền mê muội, thừa cơ nước khác đang rối loạn mà công kích, chiếm đoạt đất nước sắp diệt vong, bảo đó là “chẳng còn có kẻ nào có thể uy hiếp, gây hại cho ta nữa”!

Ác nghiệt thay! Những kẻ đó ngỡ phú quý là vĩnh hằng, nhân quả chẳng đáng sợ. “Uống rượu suốt đêm, lúc suy rồi chỉ còn được một thạch. Mưu lược lấn át chủ, táng thân do ngáp hay duỗi mình”[32]. Chim khách chẳng được sống yên, bồ câu chẳng cùng một họ[33]. Sáu điều Như[34] trong kinh Kim Cang là nói về cầm, sắt, lụa, là, chẳng phải là nói về kinh kệ nhà Phật. Tới khi chết đi, hình bóng của tội thất giá[35] vẫn tồn tại cùng cái chẳng mất (thần thức). Xưa là nồi, nay là cá; xưa là ngày, nay là kiếp[36], tan xương rục tủy như vàng bị nung chảy, c̣n có thể nhớ những lời cảnh tỉnh sắc bén đầy ắp bên tai [mà chẳng thèm nghe] như đá quăng vào nước ư? Hiểu rõ thật vốn là hư, hư sẽ chẳng thể trói buộc! Chấp hư thành thật, thật chẳng thể tiêu! Đều từ tâm sanh, chẳng liên quan với người ư? Mượn cớ nói “chết rồi thì vô tri”, vậy thì duy trì gia tộc, chấn hưng tông tộc đối với kẻ vô tri há có ích ǵ, mà để lại di sản trọng hậu dẫn khởi những chuyện quấy nhiễu ồn náo? Há có phải là lúc sống ăn xài, hưởng thụ phong phú, khi chết hồn phách mạnh mẽ, sống làm người to lớn, chết thành quỷ mạnh mẽ ư? Khăng khăng ngậm ngọc[37], có điều ác nào chẳng thể làm? Tức là chẳng biết đánh cá, săn bắt đã gây tai ương cho dòng họ Thích[38], viên châu lưu ly tạo thành ngọn đuốc to như Thái Sơn[39]. Bậc chủ của khí thế gian, trọn đủ sức chẳng nghĩ bàn của Bồ Đề Tát Đỏa, vâng lãnh lời căn dặn nơi núi Kỳ Xà Quật, tới ước hẹn nơi Vân Thê. Lẽ nào kẻ bại hoại giáo pháp của Như Lai bị trừng phạt nghiêm ngặt mà kẻ phá pháp yết-ma lại thoát tội ư? Nhất định chẳng phải là như vậy!

Ông Từ Thượng Bảo[40] bất hạnh khi biến chùa Thượng Phương thành vườn tược. May mắn là ông không có con trai, phần nào ít bị trói buộc, lại may mắn có con gái hiếu thuận, hiền thục, quyết vâng theo di mạng của cha để bù đắp lỗi trước, bán lại cho anh em ông Tống Trụ Tử và Tống Hóa Khanh, [hai ông ấy] hợp sức kiến tạo thành chùa để nêu bày trí quả, dùng nước ao tưới đẫm hoa từ bi, há chẳng phải là vâng theo hạnh Lưu Thủy của ngài Vân Thê, hành theo nghiệp của Thiên Thai và Trí Giác (tổ Vĩnh Minh), hòng đạt lên chín phẩm sen, gởi thân trong ba hội [Long Hoa], khiến cho [các thiện hạnh ấy] được hưng khởi, chẳng diệt mất, ngõ hầu đáp tạ ân lồng lộng của cha mẹ nơi vô sanh ư? Nếu con trai chẳng do họ Tống, con gái chẳng do họ Từ, bậc trí mưu tính sẵn, ai sẽ có phần may mắn [thực hiện được]? Thời cơ tốt đẹp giúp cho, uốn nắn sự trầm mê, rối ren, họ hàng giúp đỡ, xóm giềng cảm tạ. Cẩn thận chẳng theo thói “nai khoác da cọp” đến nỗi dẫn đến mối lo “voi bị đốt thân vì có ngà”; đấy chính là lời thề Ba La Di của lũ chúng ta vậy.

Nơi Đồng Hương có Phóng Sanh Xã, đại sư rủ tay báu từ xa, suất lãnh tứ chúng, cứu độ tai ách lưới, chài trôi nổi trên sông, [nơi ao phóng sanh này] có ruộng, có nhà tranh, giữ cho pháp hội được vĩnh viễn thì sự giáo hóa càng thêm lợi ích. Ao ở gần vòng thành, dùng A Lan Nhã để giáo hóa. Cây to rợp bóng, noi theo quy củ của Thượng Phương và Trường Thọ. Vũng nước nhỏ (ao phóng sanh) được nhiều thêm, nhờ vào đây mà khởi đầu, nhân duyên huân tập, rộng khắp vùng lân cận, cũng có thể nói là vẫn hành theo chí của phu tử. Trong các ưu-bà-tắc của Vân Thê, Tư Huân[41] Trường Nhụ huệ nghiệp bậc nhất. Viết xong bài ký, gửi thư báo cho vị Giám Viện tháp lập đã xong, Tây Hương thỉnh vời, Trường Nhụ gật đầu, tức là đá gật đầu vậy!

          Tứ tiến sĩ xuất thân Hàn Lâm Viện Quốc Sử Biên Tu ưu-bà-tắc Quảng Thược Ngô Ứng Tân ở Đồng Hương soạn văn.

          Tứ tiến sĩ xuất thân triêu liệt đại phu Quốc Tử Giám Tế Tửu cư sĩ Long Miên Hà Như Sủng ở Đồng Thành viết chữ triện bằng châu sa.

 

17.11. Cổ tích - Thơ khắc trên đá

 

Đào đất t́m được một tấm bia găy đề là Tùy Long đời Tống, tôi biết những phiến đá nát gần ranh giới nơi nhà của Từ Tri Các lờ mờ có khắc thơ. Có lẽ từ thời nhà Tống chạy về phương Nam, do ông ta làm nhà ở nơi đây, sau đó, xả nhà thành chùa, chắc ông ta là bậc cao sĩ. Do các bài thơ không hoàn chỉnh], tôi bèn dùng ư riêng để bổ sung, chép lại thơ tạc trên đá như sau:

1) Kỷ niên hồn nhiễu Chiết thành Tây. Thập lư hà hoa dạng cẩm b́. Đạp biến lưỡng phong tam trúc lộ, hựu tùy thanh chướng nhập Vân Thê.

          (Bao năm quanh quẩn Tây thành Chiết. Mười dặm hoa sen, sườn gấm phơi. Đi khắp hai non, ba nẻo trúc, lại theo đỉnh biếc vào Vân Thê).

          2) Thiên lư tinh kỳ ủng lục phi, đầu trâm dục thượng điếu ngư ky. Vô đoan hốt bị nhàn vân dẫn. Hồi Diệu Phong tiền yểm trúc phi.

          (Quạt cờ ngàn dặm rước xe vua. Từ chức, ẩn cư chốn thả câu. Bỗng dưng vô cớ mây nhàn cuốn, quay lại Diệu Phong đóng cửa tre).

3) Lạc ấp danh viên ca vũ trầm. Loạn nha đề phá kỷ hoàng hôn. Hà nhân học đắc Hương Sơn lăo? Thiên tải tinh lư hữu phạm âm.

          (Vườn quư Lạc Dương, ca vũ lặng. Quạ kêu đă rộn mấy hoàng hôn. Ai người học được Hương Sơn lăo[42]? Ngàn năm lều cỏ Phạm âm rền).

Lại đào đất được nửa ṭa Thí Sanh Đài, chỉ c̣n chữ Nam-mô ở sáu chỗ, dường như có danh hiệu Đa Bảo Như Lai, bèn viết một chương tán thán:

          Phi ngọc, phi kim ngân. Phi châu, tê, mă năo. Ỷ Đốn thất kỳ phú. Hải tạng tàm phạp thiểu. Phổ ứng chúng sanh cầu, thị danh viết Đa Bảo.

          (Chẳng ngọc, chẳng bạc, vàng. Chẳng châu, tê, mă năo. Ỷ Đốn[43] thua giàu có. Hải tạng thẹn thiếu hụt. Ứng khắp chúng sanh cầu, bèn gọi là Đa Bảo).

 

17.12. Các quy ước dành cho tăng chúng

 

          (Xem trong Vân Thê Cộng Trụ Quy Ước)

 

17.13. Hai bài minh điện đường

1) Bài minh ở phía Đông

 

          Nhất ngơa, nhất chuyên, nhất chúc, nhất phạn, đàn tín chỉ cao, hành nhân huyết hăn, nhĩ giới bất tŕ, nhĩ sự bất biện, khả cụ, khả ưu, khả ta, khả thán.

          (Một viên ngói, một cây kèo, một bữa cháo, một chén cơm, mỡ màng của tín thí, mồ hôi máu hành nhân. Ngươi chẳng tŕ giới, chẳng lo tu tập, đáng sợ, đáng lo, đáng than văn lắm).

 

2) Bài minh ở phía Tây

 

Nhất thời, nhất nhật. Nhất nguyệt, nhất niên. Lưu quang dị độ, huyễn thân phỉ kiên. Phàm tâm vị tận, thánh quả vị viên. Khả kinh, khả bố. Khả bi, khả lân.

(Một thời, một ngày. Một tháng, một năm. Thời gian dễ trôi, huyễn thân chẳng chắc. Tâm phàm chưa hết, thánh quả chưa tṛn. Đáng hăi, đáng sợ, đáng buồn, đáng thương).

 

17.14. Ghi chép về các hiền nhân

 

Sau thời ngài Phục Hổ, người mất, đời xa, lại c̣n sách vở thất lạc, chẳng thể truy cầu, sao lục. V́ thế, nay bắt đầu ghi chép, những vị được lựa chọn đều là người khi sống có hạnh chân thật, rơ ràng, lâm chung chánh niệm phân minh, được mọi người đồng thanh ca ngợi, chẳng có ai dị nghị. Nếu khuyết một trong hai điều ấy, sẽ chẳng ghi chép lại. Đấy chẳng phải là chọn lựa khắt khe, mà là chẳng muốn chép tràn lan, ngơ hầu đủ xác tín để truyền tụng vậy.

 

1) Đại Hiền

 

          Đại Hiền người xứ Hải Ninh, họ Kim, pháp danh Như Vinh. Thuở nhỏ, tận lực làm ruộng, lớn lên làm nghề đồ tể và bán rượu. Ông bỗng bị lợn cắn, do vậy, tỉnh ngộ lớn lao, xuất gia tại ngôi chùa ở phía Bắc huyện. Sau đó nói: “Nơi đây chẳng phải nơi ta nên ở, nghe nói Vân Thê có thể sống trọn tuổi già”. Bèn dứt khoát t́m đến; khi đó, ông đă sáu mươi tuổi. Ông ngày làm các việc nặng, đêm kinh hành trong Tăng đường, siêng năng, khẩn thiết, chẳng nghỉ ngơi. Nếu có người khuyên ông nghỉ ngơi, ông đáp: “Tôi là kẻ vô đức, sao dám nhận sự cúng dường của bậc hiền nhân?” Người nhà tới khuyên ông trở về, ông liền mắng to, chẳng chấp thuận, bảo: “Há ta lại v́ ân ái mà ĺa chỗ tụ hội tốt đẹp của người hiền ư?” Vào năm Vạn Lịch thứ chín (1581), nhằm ngày sanh nhật, ông sắm sửa cúng dường trai Tăng, quỳ thẳng trước Phật, ba lượt lớn tiếng phát nguyện cầu sanh Tây Phương. Chẳng lâu sau, ông nhuốm bệnh, tăng chúng vây quanh niệm Phật. Ông hết sức vui mừng khen là tốt lành, chắp tay cát tường qua đời, thọ bảy mươi tuổi, Tăng lạp hai mươi năm.

 

2) Pháp Nguyên

 

Pháp Nguyên người xứ Thượng Ngu, họ Nguyễn, pháp danh Như Thanh. Thoạt đầu xuất gia tại chùa Long Tỉnh; chẳng lâu sau, vào Vân Thệ thọ Cụ Túc Giới, nói: “Ta chẳng về nữa, ta tu học ở đây, sống hết tuổi già ở đây, chết rồi hỏa thiêu ở đây là đủ rồi”. Ông dốc chí niệm Phật, tụng kinh Pháp Hoa, sáu thời lễ bái, gấp rút như chẳng kịp. Dẫu vào thành thị, trọn chẳng khuyết phế [công phu], lớn tiếng [tụng niệm], khẩn thiết, khổ công, [khiến cho] các tỳ-kheo giải đăi chẳng thể an giấc được. Năm Vạn Lịch 11 (1583), Sư bị bệnh, thoi thóp suốt mấy tháng. Nhằm lúc đó, tôi ngẫu nhiên có chuyện phải ra đi, ngay trước hôm thầy ấy mất một ngày, tôi vừa về đến núi, nhưng Như Thanh bệnh t́nh đă nguy ngập, bèn nhóm chúng, bày tượng, trợ niệm. Như Thanh nghe tiếng niệm Phật bèn giật ḿnh ngồi dậy, nửa đêm chắp tay, mắt chăm chú nh́n kim dung, hăng hái kiền thành, kính ngưỡng mà qua đời. Sư thọ năm mươi bốn tuổi, Tăng lạp tám năm.

 

3) Đông Lâm

 

Đông Lâm người xứ Phổ Giang, họ Trần, pháp danh Quảng Ḥe. Thuở trẻ, từng làm lính, sau đó xuống tóc tại am Thanh Thủy, do ngưỡng mộ Vân Thê mà phát đại thệ, vào núi tu đạo. Sau khi thọ Cụ Túc Giới, Sư bèn thọ thêm Bồ Tát Giới, tín lực kiên cố, chất trực, không dối trá. Ông tŕ kinh Kim Cang hết sức kiền thành, phúng vịnh đến nửa đêm. Dẫu tiết trời rét buốt hay nóng bức, đều chẳng bỏ bê. Hễ nói đến chuyện sanh tử, ắt to tiếng, nghiến răng, phẫn hận dường như khôn ngăn hổ thẹn, khiến người nghe đều phải rùng ḿnh kinh hăi. Hễ thấy người xuất gia trẻ tuổi, ắt khuyên răn, sách tấn. Đối với kẻ phạm lỗi, ắt rát miệng quở trách. V́ thế, những kẻ ḷng tin nông cạn chắc có người bất măn ông.

Khi ông c̣n tại gia, có ba người con. Khi đứa con giữa mắc bệnh lao, Quảng Ḥe đến thăm, biết anh ta chẳng qua khỏi, bèn khuyên nên chọn người tốt lành để gả vợ của anh ta đi, vợ con ông đều vui vẻ nghe theo. Ông cáng người bệnh về núi, dạy con quy y Tam Bảo để gieo cái nhân cho tương lai. Vừa xong việc th́ con ông mất. Ngày hôm sau, Quảng Ḥe cũng mất. Hôm sau nữa, khi sắp trà-tỳ, con út của Quảng Ḥe bất ngờ t́m đến, mọi người cho là do ḷng từ hiếu cảm vời. Trước đó, khi Quảng Ḥe mắc bệnh, mỗi ngày một nặng thêm. Ai đến thăm hỏi, ông không nói ǵ khác, chỉ ra rả dặn ḍ “hăy kịp thời niệm Phật”. Ông phân tán y bát trọn hết để đăi cơm chúng tăng, không c̣n sót ǵ, nghiêm mặt qua đời. Ông thọ sáu mươi, Tăng lạp mười hai năm. Ông có một người đệ tử tên là Đại Hải.

          Lời b́nh: Thói đời chết rồi vẫn lo vợ ḿnh sẽ lấy người khác, muốn làm quỷ dữ để giáng họa cho họ; Quảng Ḥe hướng dẫn con ḿnh, khiến cho nó cắt đứt ân ái như cởi chiếc giày rách, há chẳng vượt trội kẻ tầm thường vạn vạn phần ư? Tức là cái tâm của Quảng Ḥe cương quyết, lỗi lạc, sự nghiệp đời sau sẽ chẳng thể lường được. Tôi sợ đại chúng thấy chuyện lạ này mà không nhận biết [ư nghĩa sâu xa trong ấy], nên dùng lời này để tỏ lộ.

 

4) Bổn Chân

 

Bổn Chân người huyện Tiêu Sơn, họ Lai, pháp danh Quảng Như. Lúc hai mươi chín tuổi, xuất gia tại chùa Vân Thê. Nghe tôi hết lời khen ngợi núi Phục Ngưu, thầy hăng hái sang đó. Sau khi trở về, thầy thọ Cụ Túc Giới rồi tiến lên thọ Bồ Tát giới, quyết tâm dốc chí, âm thầm tự rèn giũa bản thân. Áo rách, mũ nát, h́nh dung như gỗ, đất. Bị đại chúng sỉ nhục, Quảng Như vẫn thản nhiên, trọn chẳng cầu cạnh. Ông ta tôn trọng thầy như Phật, kính trọng đạo hữu như khách, coi chính ḿnh như tôi tớ, tận lực làm lụng, quên bẵng mệt mỏi. Tánh Sư nhiều hôn trầm, hễ ngồi xuống thường ngủ gật, nói năng lại ngắc ngứ, lắp bắp chẳng rơ ràng. Thuở ấy, lũ thiếu niên bạc ác phần nhiều coi thường Sư, nhưng Quảng Như vẫn tự tại, chẳng bị lay động. Ở giữa đại chúng, Sư chưa từng nói đùa; hễ được hỏi han, chưa từng chẳng nghiêm sắc mặt. Sống trong tùng lâm đă lâu, Sư chưa từng dùng t́nh cảm thế tục để kết giao riêng tư, sống trong pḥng ốc chưa từng được sửa sang, đêm chưa từng quyến luyến giường chiếu.

Mẹ của Sư đă tám mươi tuổi, đến thăm Sư, do bị bệnh chẳng thể rời đi, tôi cho dựng một căn pḥng nhỏ cạnh chùa để Sư tiện phụng dưỡng cuối đời. Sư ngầm bớt phần ăn của chính ḿnh để nuôi mẹ mà tôi chẳng hay biết. Mẹ mất rồi, linh cữu quàn được nửa tháng th́ thầy Quảng Như ngă bệnh. Ước chừng không qua khỏi, thầy gọi đại chúng tới niệm Phật, đích thân ḥa giọng theo. Sau đó, khi đă kiệt sức, thầy thưa chúng tăng rằng: “Hăy v́ tôi đem quần áo, đồ đạc riêng tư của tôi đổi lấy trái cây theo mùa, hương, hoa để cúng dường thầy tôi. Tôi chẳng c̣n được hầu hạ thầy nữa!” Chúng tăng sửa soạn xong xuôi, Sư tự tay thu xếp rồi dâng lên cho tôi. Tôi nhận lấy, Sư lộ vẻ vui mừng, từ giường nhỏm phắt dậy, ngồi vào chiếc ghế tre, lịm dần như sắp tịch. Tôi vội vàng chạy đến, nghe thấy tiếng tôi, Sư lại từ ghế đứng phắt dậy, chắp tay đứng, mở to mắt chăm chú nh́n tôi. Chốc sau, Sư ngồi yên, lặng lẽ qua đời. Đầu vẫn giữ ngay ngắn, vẻ mặt rạng rỡ như lúc c̣n sống. Than ôi! Lạ lùng thay! Sư thọ ba mươi tám tuổi, hạ lạp được chín năm. Lúc sống, Sư chẳng có đệ tử, đại chúng v́ nghĩa lập một người đệ tử cho Sư là Đại Tư.

Lời bàn: Thầy Quảng Như có ba ẩn đức mà người đời chẳng nhận biết: Tợ hồ thô lậu nhưng tinh tế; đó là một điều. Tợ hồ nhu nhược nhưng cương quyết; đó là điều thứ hai. Tợ hồ ngu độn nhưng thật sự mẫn tiệp, sắc sảo mà người khác chẳng thể sánh kịp; đó là điều thứ ba. Cho đến khi đối mặt với ranh giới giữa sống và chết, thầy vẫn lẫm liệt sáng suốt, công chánh, chẳng hề nao núng, khiến cho người nghe chuyện phấn chấn tinh thần, đó chẳng đáng gọi là “vị Thiền tăng mặt sắt” đó hay chăng? Nếu thầy tại gia, ắt là đứa con hiếu thảo. Nếu ra làm quan, ắt sẽ là bậc trung thần. Nếu phải đối diện với những nghĩa vụ lớn lao, ắt sẽ là bậc nghĩa sĩ. Lúc sống, thầy c̣n có hoài băo lấy ngộ làm kỳ hạn, coi việc nâng đỡ, hoằng dương [chánh pháp] trong thời Mạt Pháp là trách nhiệm của chính ḿnh. Tiếc thay thầy mất sớm, chẳng được măn nguyện, buồn thay!

 

5) Chiếu Không

 

Chiếu Không, người xứ Gia Ḥa, họ Châu, pháp danh Đại Minh. Thuở nhỏ bị mù mắt. Anh thầy hết sức thương xót, mời người dạy cho Sư nghề bói toán chiêm tinh để làm kế sanh nhai. Thầy Đại Minh vặn rằng: “Đạo trời ẩn kín, mạng lư tinh vi, kẻ tầm thường chẳng thể suy lường được! Bọn họ xằng bậy bàn luận họa phước, ve văn thờ phụng quỷ quái, tranh giành mối lợi nhỏ nhặt như mũi dùi, ngọn dao, chẳng phải là ước nguyện của em. Ước nguyện của em là phụng sự đức Không Vương”. Anh bèn đưa thầy ấy đi xuất gia. Chẳng lâu sau, thầy đến Vân Thê, thề suốt đời tu tập tại đây. Tôi thấy thầy mù mắt, bèn đặt pháp danh là Minh (冥, tối tăm); lại thấy tâm thầy chẳng mù ḷa, nên đặt pháp tự là Chiếu Không. Thầy vốn thuần nhă, cẩn trọng, siêng ṛng nghĩ tới đạo pháp.

Sau đó, người nhà mượn chuyện thúc giục thầy trở về, giữ lại không cho đi nữa. Đại Minh bồn chồn, chẳng vui; do vậy thành bệnh, ngụ tại chùa Đại Thánh. Sau một năm, bệnh t́nh ngày càng trầm trọng và nguy kịch. Tôi ngẫu nhiên đi qua vùng Châu Kính để bái phỏng di tích của ḥa thượng Thuyền Tử, trên đường đi ngang qua chùa Đại Thánh. Đại Minh hết sức vui mừng, xin theo thuyền về, nhưng đại chúng không chấp nhận. Đại Minh phẫn uất nói: “Tôi được chết tại Vân Thê là đủ rồi!” Do vậy, gượng bệnh lên thuyền, theo chân tôi. Tới băi sông Tiền Đường, thầy nhiều lượt hỏi người khiêng cáng: “Nơi này cách Vân Thê c̣n bao xa nữa?” Người khiêng cáng đáp: “Đến nơi rồi!” Vào chùa, thầy chắp tay hướng về phía Phật và các tỳ-kheo, trở về Niết Bàn Đường. Trong chốc lát, thầy qua đời.

Lời bàn: Đại Minh bị ép trở về nhà cũ, chẳng phải là bổn tâm của thầy ấy. Trước kia, giả sử người nhà chẳng quấy nhiễu, các bạn đồng tu hết sức ngăn trở để thầy ở trong núi lâu hơn, ắt thầy sẽ có thành tựu to lớn. Rốt cuộc chí hướng bị trái nghịch, đúng là buồn đau! Tuy nhiên, lúc ngụ tại Đại Thánh không chết, ngồi thuyền không chết, được cáng về chẳng chết giữa đường, vẫn giữ chánh mạng để rồi chết trong Niết Bàn Đường như đă định sẵn thời khắc vậy, cũng lạ lùng thay!

 

17.15. Phụ lục về tông phái

1) Tông phái Hoa Nghiêm của Khuê Phong đại sư[44]

 

Tông phước pháp đức nghĩa. Phổ Hiền hạnh nguyện thâm. Văn Thù quảng đại trí. Thành Đẳng Chánh Giác quả.

          宗福法德義,普賢行願深,文殊廣大智,成等正覺果。

    (Tạm dịch ư nghĩa:

          Nêu cao phước và nghĩa của đức nơi pháp. Hạnh nguyện Phổ Hiền sâu xa. Trí rộng lớn của Văn Thù, thành tựu cái quả Đẳng Chánh Giác).

 

2) Vân Thê nối kệ rằng:

 

          Quả dữ nhân giao triệt. Tâm tùy cảnh khuếch thông. Huyền vi kỷ tất phẫu. Lư tánh diệu hàm cùng.

          果與因交徹,心隨境廓通,玄微幾悉剖, 理性妙咸窮。

          (Quả và nhân xen lẫn thấu triệt nhau. Tâm thuận theo cảnh mà rộng mở. Gần như phân tích tỉ mỉ hết các lẽ huyền vi, lư tánh mầu nhiệm đều thấu hiểu tận cùng).

17.16. Đề vịnh

17.16.1. Sáu cảnh ở Vân Thê

 

          Xét ra, trước và sau núi có sáu cảnh có thể ghi lại, ngẫu nhiên viết thành sáu bài kệ ḥng dẫn khởi sự nhă hứng to lớn.

 

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Đông phương sơ xuất tiệm đương dương, sử đắc nhân gian vạn sự mang. Chuyển trục Tây lai sơn dục mộ, bảo quang y cựu ánh sa song.

          (Phương Đông vừa mọc, dần lên đỉnh, khiến chốn nhân gian bận rộn ràng. Tịch dương dần phủ nơi non thẳm, bảo quang như cũ chiếu song the).

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Tùng lai lợi nhận hiệu xuy mao. Vạn thụ tùng ty hệ độc lao. Mạc vị độn căn, khuy đoạn đức. Thử trung nguyên thị hoạt nhân đao.

          (Trước nay đao bén gọi “thổi lông”[45], muôn sợi tơ tùng cột chặt thay! Đừng bảo độn căn thiếu đoạn đức. Đấy vốn là đao cứu sống người).

         

3) Bích Quán Phong

 

Cửu niên Thiếu Thất tọa sầm ngâm. Thử địa hà nhân cánh hiệu tần? Phất tụ tiện quy thiên chướng ngoại. Bất lai tùng nhĩ vấn an tâm.

          (Chín năm Thiếu Thất ngồi non cao. Chốn này rồi ai sẽ phỏng theo? Phất tay áo về ngoài ngàn rặng, chẳng tới hỏi ngươi cách an tâm!)

 

4) Suối Thanh Long

 

          Bách can thanh kiển xuất lưu tuyền. Phi vũ Đông Tây khởi phục miên. Ngọc nhũ bất tri lai xứ viễn. Chỉ nghi Hương Tích hữu long diên.

          (Trăm ống tre xanh vang tiếng suối, róc rách Đông Tây uốn lượn quanh. Sữa ngọc chẳng hay từ đâu đến, chỉ ngờ Hương Tích có dăi rồng).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Bất y song tụ bất trung loan. Trạm xuất đương ương đệ nhất tuyền. Chỉ khủng lăo hồ do bất khẳng. Tùng giao thiên lư tự quyên quyên.

          (Chẳng nương hai ngọn, chẳng giữa non. Ḍng suối bậc nhất giữa bạt ngàn. Chỉ sợ lăo hồ c̣n chẳng chịu, mặc cho ngàn dặm tự tuôn trào).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          An Dưỡng tŕ trung bảo tự miên. Ngọc hồi châu lưu chánh sạn viên. Hà niên phân đắc kim cang chủng? Lai tác Vân Thê nhất phái tuyền.

          (Trong ao An Dưỡng, báu như tơ. Xoáy ngọc, ḍng châu đang cuộn vờn. Năm nào mới được kim cang chủng? Chảy đến Vân Thê mạch suối nguồn).

 

17.16.2. Thơ họa lại sáu bài vịnh cảnh đẹp ở Vân Thê

 

Khi rảnh rỗi ngoài lúc Thiền tọa, ngài Liên Tŕ chơi đùa bút mực, gặp cảnh sanh t́nh bèn làm thơ, không ǵ chẳng phải là Thiền lư. Thơ Ngài viết ra có thể dùng làm ca khúc. Nghe hát mà sanh điều thiện, há chẳng họa thơ đáp lại ư? Chép, đọc bài kư này, dường như gặp gỡ, đàm luận cùng Thiền sư trong núi. Múa bút ghi lại những điều ức đoán, từ ngữ chẳng trau chuốt. Lời lẽ nông cạn của phàm phu, chỉ sợ trở thành chướng ngại trước cửa Phật, thật đáng chê cười thay! Thơ được chép như sau:

 

17.16.2.1. Thơ họa của Tam Châu Trầm Hoài

1) Ngọn Hồi Diệu

 

Định trung ngũ sắc cạnh tranh vanh. Tĩnh lư thiên cơ dạ diệc minh. Quưnh quưnh linh đài vô nhất sự. Khả vân nhật xuất sự hoàn sanh.

(Trong Định năm màu đua sắc thắm. Đêm tĩnh cơ trời vẫn rạng ngời. Vằng vặc linh đài không mảy sự. Lẽ nào ngày mới sự lại sanh?)

 

2) Bảo Đao lung

 

          Thiết ngọc, chuyển tê nhất quyết gian. Hạp trung thu thủy chiếu khô thiền. Phong tùng vạn dục tùng trung xuất, lẫm lẫm hàn quang bất khả ban.         

          (Cắt ngọc, chém tê trong khoảnh khắc. Nước thu trong vỏ[46] chiếu khô Thiền. Gươm bén sanh từ trong vạn dục. Sắc lạnh thâm nghiêm há đổi dời!)

 

3) Ngọn Bích Quán

 

Văn thuyết cửu niên nhân diện bích, nhi kim chỉ kiến bích thân nhân. Phi nhân, phi bích, tùng hà mịch? Huyễn xuất Như Lai tự tại thân.

(Nghe người chín năm ngồi ngó vách, nhưng nay chỉ thấy vách gần người. Chẳng vách, chẳng người, t́m đâu tá? Huyễn hiện Như Lai tự tại thân).

 

4) Suối Thanh Long

 

          Yểu kiểu trường khu biến hóa đa. Vi vân vi vũ sự phi ngoa. Thiền sư huệ lực năng hàng nhữ. Cam lộ tân tân lại nhĩ ḥa.

          (Uốn lượn thân dài nhiều biến hóa. Nhả mây, xối mưa, chẳng phải ngoa. Sức huệ thiền sư hàng phục được. Sương ngọt tràn trề cậy sức ngươi).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Đệ nhất tuyền tùng Bắc Cực lai. Tuyền danh Thánh Nghĩa quả kỳ tai. Quyên quyên tự tiếp thiên hà hạ. Vị nhuận khô Thiền lăo vạn hồi.

          (Phương Bắc tuôn suối bậc nhất này. Suối tên Thánh Nghĩa lạ lùng thay. Róc rách dường từ sông trời giáng, nhuần thấm khô thiền bậc lăo tăng).

           

6) Suối Kim Dịch

 

          Hoàng kim bố địa tận thiên hoa, kim dịch hoàn chưng ngũ sắc hà. Tự thị lâu đài tiên đắc nguyệt. Hữu nhân lai cộng phạn hồ ma.

          (Vàng ṛng trải đất, hoa trời rải. Ngũ sắc mây đùn bởi nước vàng. Lầu cao được ánh trăng soi trước, có người cùng đến ăn cơm mè).

 

17.16.2.2. Thơ họa của Dương Ḥa Trương Nguyên Biện

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Tịch dương dục hạ Ngũ Vân Tây, phiến phiến phi hà ánh lạc huy. Tín thị linh quang nguyên bất muội. Trần duyên tức xứ kiến thiên cơ.

          (Chiều tà sắp phủ Tây Ngũ Vân, từng áng ráng trôi ửng bóng chiều. Quả thật linh quang không mờ tối. Chỗ trần duyên dứt, thấy cơ trời).

 

2) Bảo Đao Lung

 

Đại dă thiên niên chú bảo đao. Giang can đột ngột lập thanh tiêu. Bất tu tạm thí đồ long kỹ. Quái ngạc cuồng ly nghiệt tự tiêu.

(Ḷ lớn ngàn năm đúc bảo đao. Bên sông sừng sững chạm trời cao. Giết rồng tài mọn đâu cần thử! Rồng, sấu cuồng điên đă tự tiêu).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

Quán tâm nhập tải tọa liên đài. Bất giác bồ đoàn tú lục đài. Độc hữu cô phong thường đối diện. Khước nghi Thiếu Thất tự phi lai.

(Đài sen quán tâm hai chục năm, bồ đoàn rêu biếc chẳng hề hay! Riêng có non côi thường đối diện. Thiếu Thất dường bay đến tận đây?)

 

4) Suối Thanh Long

 

          Nhất bát hàng long Bát Nhă thâm, dao khán phi mạt chú Đông Lâm. Thời nhân chỉ giải tranh dư lịch, hoạt thủy nguyên đầu hà xứ tầm?

          (Một bát hàng rồng, Bát Nhă sâu. Ngước trông bọt nước đẫm Đông Lâm. Người đời chỉ biết giành giọt cặn. Đầu nguồn nước sạch biết t́m đâu?)

         

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Trung phong dũng xuất tự sàn viên, phân đắc Tào Khê nhập Phạm thôn. Kỷ xứ sơn tuyền danh đệ nhất? Hà như thử địa vấn chân nguyên.

          (Đỉnh giữa tuôn trào ḍng suối êm, chia thành ḍng Tào vào Phạm thôn. Mấy nơi khe suối tôn đệ nhất? Sao bằng chốn này hỏi chân nguyên).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          Văn thuyết Kỳ Viên bố địa kim, quang dao tŕ thủy bán phù trầm. Thượng nhân thấu xỉ vi thanh cúng. Đan dịch dung dung măn tố khâm.

          (Nghe nói Kỳ Viên đất lót vàng, quang minh chiếu nước nổi ch́m loang. Thượng nhân súc miệng, tâm thanh tịnh. Nước thiêng thấm đẫm áo tinh khôi).

 

17.16.2.3. Thơ họa của Tiểu Ngu Liễu Cốc

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Nhất hoàn độc khiết xuất nhân gian. Phóng đại hào quang vạn kiếp nhàn. Tiếu chỉ phù tang hồi diệu xứ. Thùy xuy thạch hỏa chiếu thanh sơn?

          (Một vầng riêng thoát cơi nhân gian. Tỏa đại hào quang muôn kiếp nhàn. Cười chỉ phương Đông, về chốn diệu. Ai thổi tia lửa chiếu bạt ngàn?)

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Bảo Đao Lung tả động giang tân. Quải tại Bồ Đề hộ pháp luân. Yếu sử chúng sanh vô khủng bố, thế gian thùy thị cổ đao nhân?

          (Bảo Đao lấp lánh chói bên sông. Treo tại Bồ Đề, hộ pháp luân. Giả sử chúng sanh không sợ hăi. Ai sẽ vung đao trong thế gian?)

 

3) Ngọn Bích Quán

 

Tằng văn Phật tử độ trường hà, lô diệp vi châu tổng thị ma. Kư ngữ sơn gian hành cước giả, đồng lai diện bích ư như hà?

(Từng nghe Phật tử vượt sông dài, thuyền bằng nhánh lau vẫn là ma. Nhắn gởi trong non hành cước giả, cùng đến nh́n vách ư thế nào?)

 

4) Suối Thanh Long

 

          Tŕ thượng liên hoa ngọc tước thành. Thanh long hoạt thủy tải hương thanh. Nhược phi sơn hạ quyên quyên xuất. Nê một linh căn hà xứ sanh?

          (Trong ao sen nở như ngọc giũa. Ḍng mát Thanh Long đẫm hương lành. Nếu chẳng từ non róc rách chảy, rễ thiêng bùn lấp chỗ nào sanh?)

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Trung phong vân nhiễu dũng thanh loa. Thánh Nghĩa phân lưu nhất giám đa. Dục tá sơn trung quyên trích thủy. Sái tương khổ hải tĩnh phong ba.

          (Ngọn giữa mây vờn, ốc xanh nổi. Thánh Nghĩa chia ḍng, gương soi nhiều. Toan mượn giọt nước từ trong núi, rưới cho biển khổ lặng phong ba).

 

6) Suối Dịch Tuyền

 

          Kim Dịch tuyền hồi nhất giản thâm, Như Lai thổ mạt tổng lưu kim. Sơn trung bạch nhật nguyên vô tận. Nhật thính lưu tư ma tú châm.

          (Suối Kim Dịch khe sâu quanh quẩn, Như Lai nhổ bọt, hóa vàng tuôn. Tháng ngày trong núi chừng vô tận. Nghe tiếng ŕ rào tợ mài kim).

 

17.16.2.4. Thơ họa của Doanh Châu Trầm Lan

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Tŕ tŕ câu ảnh nhật Tây lưu. Đảo nhập thiên nham tử khí phù. Mạc hướng tang du sầu cảnh mộ. Huy quang trường ánh bích sơn đầu.

          (Thời gian thong thả, bóng dương ch́m. Lẫn vào ngàn rặng, khí tía lan. Nh́n bóng dâu chiều, đừng sầu muộn. Đầu non sắc biếc ửng tà dương).

 

2) Bảo Đao Lung

 

Côn Ngô khê thượng dược du long. Ẩn phục trần hoàn thụ kỷ trùng. Mạn hướng ỷ thiên đồng nhậm hiệp. Dă ưng tùy địa liễm cơ phong.

(Côn Ngô khe suối, vút rồng bay. Ẩn nấp trần hoàn, cây mấy tầng? Đừng cậy đao trời hành chuyện nghĩa, cũng nên tùy chốn ẩn tài năng).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

Tiễu bích lăng tiêu thế độc hùng. Nhật quán tương trĩ hải thiên không. Nhăn tiền nhất nhậm phong vân biến. Tĩnh lư đô vong tạo hóa công.

(Vách dốc chót vót thế riêng hùng. Vầng nhật ngắm non, trời biển rộng. Trước mắt mặc cho mây gió chuyển. Tĩnh lặng quên luôn tạo hóa công).

         

4) Suối Thanh Long

 

Quỳnh chi niểu niểu, thủy dung dung. Thanh thấm hàn y chiếu lục nhung. Yểm ánh Sở thiên minh nguyệt dạ. Trực nghi thanh hải xuất giao long.

(Cành quỳnh tha thướt, nước mênh mông. Đẫm trong ḍng lạnh, cỏ xanh nhung. Trời Sở trăng đêm che khuất bóng. Ngỡ chừng biển thẳm hiện giao long).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

Kim Dịch, Thanh Long giáp đạo trung. Phân minh biệt hữu nhất tuyền thông. Quyên quyên bất quản lưu niên độ. Hoa tự phương phỉ, thảo tự tùng.

(Thanh Long, Kim Dịch chen vào giữa, riêng có một ḍng suối chảy thông. Chẳng quản tháng ngày luôn róc rách. Hoa tự tỏa hương, cỏ rậm xanh).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          Nhất mạch vân căn nhược hữu thần. Bảo quang linh khí cách hồng trần. Tranh lưu bất phí đào dung lực. Bái nhập càn khôn vạn tượng xuân.

          (Một mạch cội mây dường có thần. Giữ linh khí sáng cách hồng trần. Đua chảy chẳng phiền ai un đúc. Rót ngập càn khôn, muôn sắc xuân).

 

17.16.2.5. Thơ họa của Nhẫn Trai Ngôn Hữu Thời

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Viễn công nhật nhật tọa kinh đường. Hựu kiến Tây sơn chiếu tịch dương. Tá vấn dạ lai hà xứ khứ. Khước tương minh nguyệt kư huy quang.

          (Viễn công mỗi bữa ngự kinh đường[47], lại ngắm non Tây bóng tịch dương. Ánh dương đêm đến về đâu tá? Gửi vào trăng sáng để soi đời).

 

2) Bảo Đao lung

 

          Bảo Đao tốt luật lập giang cao. Tử khí can vân Bắc Đẩu cao. Trảm đoạn lục căn vô trụ tướng. Tiếu tha chủy thủ lợi xuy mao.

          (Bến sông, đao báu sừng sững cắm. Khí tía ḷa mây, Bắc Đẩu cao. Chém đứt sáu căn, vô trụ tướng. Nực cười dao bén quá tầm thường!)

 

3) Ngọn Bích Quán

 

          Cao phong bích lập huyền thiên nhận. Lăo nạp an Thiền chỉ nhất tâm. Đối nhĩ hồn vong luân đoạn tư, bất phiền cửu tải diện tùng lâm.

          (Đỉnh cao, vách dựng, treo ngàn dặm. Sư cụ nhất tâm vui mùi Thiền. Quên bẵng chặt tay không màng nhắc. Chẳng phiền nh́n vách chín năm ṛng).

 

4) Suối Thanh Long

 

          Linh tuyền mạn thuyết long diên thổ, Phật tử năng tương thủy mạch thông. Trúc kiển dẫn lai trà táo măn. Quyên quyên bất tận Ngũ Vân Đông.

          (Suối thiêng đừng bịa dăi rồng phun. Do chính con Phật khơi mạch nguồn. Ống tre dẫn nước, trà đầy bếp. Ŕ rào tuôn măi Ngũ Vân Đông).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Trung phong hốt dũng nhất tuyền khai. Trực hạ Vân Thê Bát Nhă Đài. Phân cấp chúng tăng quy thánh nghĩa. Nguyên đầu tự thử mạc nghi sai.

          (Ngọn giữa bỗng phun ḍng suối mát. Hướng thẳng Vân Thê Bát Nhă Đài, ban phát chư tăng về thánh nghĩa. Cội nguồn từ đấy chớ lo ngờ).

 

6) Suối Kim Dịch

 

Kỳ Viên kim mạt tự Tây lai. Thí ẩm lănh nhiệt mộng nhăn khai. Ưng thức sơn trung phu tọa giả, thử tâm nguyên bất nhạ trần ai.

(Bọt vàng Kỳ Viên từ Tây đến. Uống thử, lạnh, nóng, tỉnh cơn mê. Hăy biết trong non người tĩnh tọa. Nguồn tâm há vướng bụi trần gian?)

 

17.16.2.6. Thơ họa của Đức Viên Ngu Thuần Hy

1) Ngọn Hồi Diệu

 

Độc hữu Tu Di chuyển thái dương. Quán thành huyền cổ dục quy mang. Sơn trung huệ nhật nguyên vô kiếp. Nhất nhậm kim ô độ thạch song.

(Vầng dương xoay măi núi Tu Di. Trống treo quán thành sắp lặn rồi. Huệ nhật trong non không kiếp số. Mặc cho ngày tháng lướt qua song).

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Phùng trước tiên nhân tiện phạt mao. Thụ thần đáo thử bất kiên lao. Ngũ Đài thích khách quá Linh Thứu. Trịch hạ chân vương vũ khố đao.

          (Gặp gỡ tiên nhân gọt cốt phàm. Thần cây t́m đến cũng lao đao. Thích khách Ngũ Đài qua Linh Thứu. Ném phịch chân vương vũ khố đao).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

          Lưu vân tuyệt bích thác danh ngâm. Vô ảnh hà nhân đắc hiệu tần? Khước bị giang đầu cao sĩ tiếu. Chiết lai nhất vĩ thị thâu tâm.

          (Vách hiểm mây vờn, tên đặt sai. Không bóng, ai ḥng bắt chước đây? Lại bị đầu sông cao sĩ nhạo! Bẻ một cành lau, tâm trộm thôi!)

 

4) Suối Thanh Long

 

          Thất tú Đông lai chiếu nhất tuyền. Ly châu[48] sái lạc ngũ vân miên. Hiệu phong đại phiến kinh phi khởi. Bất phóng hồ long đọa lănh diên.

          (Thất tú[49] sang Đông chiếu suối nguồn. Năm sắc mây rơi rục ngọc rồng. Quạt phừng gió lớn kinh hăi tỉnh. Chẳng để dăi lạnh đọa cáo, rồng).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

Nghĩa long kiểu thủ dược vân loan. Hảo hộ không sơn đệ nhất tuyền. Kham tiếu Tây tŕ dũng thiên Phật. Thử trung vô thánh tự quyên quyên.

(Rồng nghĩa ngẩng đầu vượt rặng mây. Khéo giữ non Không, suối đứng đầu. Nực cười ao Tây ngàn Phật hiện; nơi này không thánh vẫn tuôn trào).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          Ngũ sắc đâu la vân tự miên. Vân gian tiên lăng chánh sàn viên. Châu vương bất thọ thanh ngưu hóa. Thổ xuất hoàn đan biến thạch tuyền.

          (Mây tợ bông mềm năm sắc phơi. Sóng tiên róc rách giữa mây trời. Châu vương chẳng bị trâu xanh[50] chuyển. Nhả hạt hoàn đan hóa suối tràn).

 

17.16.2.7. Thơ họa của Phương Thạch Trần Quang Tán

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Kiểu nhật dung dung thương hải sanh. Tây luân cao độ ngũ vân hoành. Hồi quang nhất chiếu thanh loan biến. Vạn tượng linh lung triệt để minh.

          (Ấm áp vầng dương nhô biển xanh. Sang Tây vượt hẳn sắc mây lành. Xoay lại chiếu trùm ngàn núi biếc. Muôn h́nh lóng lánh chiếu rành rành).

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Đại khối chung linh dựng bảo đao, sơn yêu hoành đới bích thiên cao. Trần phân đoạn tận cơ phong liễm. Phục hổ hàng long tổng mạc đào.

          (Đất trời chung đúc thành đao báu. Trời biếc vờn quanh eo núi cao. Bụi bặm tan rồi, gươm tra vỏ. Hàng phục cọp rồng khó thoát tay).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

Nguy phong bích lập trấn thiền quan. Tọa đối vô ngôn cảnh tự nhàn. Tùng nhập Thiếu Lâm truyền pháp hậu. Ư kim hựu đắc nhậm danh sơn.

(Ải Thiền chớn chở trấn non cao. Ngồi lặng im ĺm, cảnh tự nhàn. Thiếu Lâm từ thuở truyền trao pháp. Nay lại đảm nhiệm chốn danh sơn).

 

4) Suối Thanh Long

 

          Thanh tuyền dũng xuất bảo sơn đầu. Dẫn nhập hương trù bất đoạn lưu. Chánh thị Thanh Long thi pháp vũ. Không trung huyễn hóa trạch thiên châu.

          (Suối trong trào vọt đầu non báu. Dẫn vào trong bếp, chẳng ngừng tuôn. Đích thị rồng xanh ban mưa pháp. Huyễn hóa không trung nhuận khắp nơi).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

Bát công đức thủy măn Tây Phương, Thánh Nghĩa phân lưu mạch cánh trường. Cộng thuyết thiền sư tam-muội lực. Chân nguyên hoạt bát chú thiên hoàng.

(Tây Phương đầy ắp nước tám đức, Thánh Nghĩa chia ḍng càng dài lâu. Cùng nói Định lực của thiền sư, nguồn chân sống động rót Ngân Hà).

 

6) Suối Kim Dịch

 

Bảo tŕ tŕ để bố hoàng kim, linh dịch quyên quyên xuất phạm lâm. Sơn tĩnh vân khai minh nguyệt hạ. Hàn quang phù động kiến thiên tâm.

(Ao báu vàng ṛng dùng lót đáy. Phạm lâm róc rách nước thiêng tuôn. Núi vắng, mây tan, trăng sáng rọi. Ánh trăng lay động thấy ḷng trời).

 

17.16.2.8. Thơ họa của Hồng Dương Trương Vị

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Tây Phương kim giới dũng linh hà, phóng xuất hào quang chiếu bảo hoa. Thiên nhận cô tung đ́nh tích vọng. Thông minh lục hợp thị ngô gia.

          (Cơi vàng Cực Lạc tỏa mây thiêng, phóng khắp hào quang chiếu bảo hoa. Ngàn thước đơn côi, dừng trượng ngắm. Hiểu rành vũ trụ vốn nhà ta).

 

2) Bảo Đao Lung

         

          Thần phong lẫm lẫm quải nguy sầm. Cát đoạn phù sanh lợi dục tâm. Nguyệt hiệp long đào hàn ảnh tịch. Sơn si kỹ lưỡng định nan xâm.

          (Gươm thiêng lẫm liệt treo cao vút. Lợi dục hư phù chặt đứt vèo. Trăng hẻm, sóng cuồng, trơ bóng lạnh. Tài mọn sơn quỷ làm được ǵ?)

 

3) Ngọn Bích Quán

 

Thiếu Lâm khô lănh phí thương lượng. Nhược cá lư đô hướng bích sương. Di lư chiết lô kham đốt đốt. Cao sơn lưu thủy cánh mang mang.

(Thiếu Lâm khô lạnh uổng bàn chi! Tường vách ai người ngoảnh mặt hoài? Dép lẻ, bẻ lau, cười huyễn hoặc. Non cao, nước chảy vẫn mênh mang).

 

4) Suối Thanh Long

 

Linh quật thương cầu phún ngọc diên. Thấp vân phiêu vụ uất lam thiên. Mạc khoa thiên hộc cung triêu cập. Tọa ỷ liên hoa thán thệ xuyên.

(Rồng xanh hang thiêng phun dăi ngọc. Mây ẩm, sương giăng, mờ trời lam. Đừng khoe sáng múc ngàn hộc nước. Ngồi dựa ṭa sen than ḍng trôi!)

 

5) Suối Thánh Nghĩa

         

          Nhất sáp thiên kim biến tánh t́nh. Hà niên trác tích dẫn long hoằng. Hữu duyên đắc nhập Tào Khê lộ? Đài địch thân tâm thánh đế minh.

          (Một ngụm ngàn vàng đổi tánh t́nh. Năm nào cắm trượng gọi hang rồng. Có duyên vào nẻo Tào Khê nhỉ? Gột sạch thân tâm, thánh đế rành).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          Sái tâm quỳnh dịch sấu liên đài. Tuyệt thắng kim hành lộ[51] nhất bôi. Bất thị đề hồ cam bí tích. Vô nhân tầm hướng khứ trung lai.

          (Nước quỳnh gột ḷng, tẩy đài sen. Hơn hẳn chén sương của đế vương. Chẳng phải đề hồ đành giấu tiếc, mà chẳng có ai t́m nẻo này!)

 

17.16.2.9. Thơ họa của Hóa Khanh Tống Thủ Nhất

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Kim quang đảo cảnh bích tha nga. Lộ diểu Tây thiên nại văn hà? Chuyển đắc pháp luân hồi dạ chiếu. Phiên xa bất dụng Lỗ Dương qua[52].

          (Ánh vàng chiếu ngược vách xanh ŕ. Xa tít Tây Thiên biết lẽ chi? Xoay chuyển pháp luân đêm chiếu sáng, quay xe chẳng bận Lỗ Dương mâu).

 

2) Bảo Đao Lung

 

Nhất phiến hùng tâm vị khả lao. Mê vân khai xứ thối giang đào. Tự tùng sạ xúc cơ phong hậu. Bất hướng sơn tiền thí bảo đao.

(Một phiến hùng tâm chưa dễ vững. Mây mê tan mất, sóng mài đao. Từ khi vừa chạm cơ phong ấy. Chẳng ở trước non thử bảo đao).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

          Ngột tọa quán Không thị hóa thân. Cô phong dao đối chiết lô nhân. Dục đàm thánh đế vô danh tướng. Thạch bích hàn sanh cổ nguyệt luân.

          (Ngồi lặng quán Không là hóa thân. Núi đơn ngắm kẻ bẻ cành lau. Muốn bàn thánh đế vô danh tướng. Vách đá in trăng cổ lạnh lùng).

 

4) Suối Thanh Long

 

Nhất mạch tuyền hồi lạc giản tùng. Lâm lang u vận tạp sơ chung. Thôi song nhật xạ đông phong hiểu. Ngũ sắc vân trung nhiễu hộ long.

(Suối vờn tuôn đổ xuống khe tùng. Nước reo thánh thót lẫn chuông ngân. Đẩy song, gió mát, trời vừa rạng. Năm sắc mây vờn quanh thân rồng).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Trác tích cam tuyền phún tuyết phi. Pháp lưu bất đoạn khách lai hy. Khả lân thụy ái bàn không cốc. Kỷ độ phùng sư hoán bát y.

          (Cắm trượng, suối phun hệt tuyết bay. Pháp lưu chẳng dứt, hiếm người hay. Thương thay mây đẹp vờn hang trống. Mấy lượt gặp thầy tẩy bát, y).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          Lân lân ba ẩn dạ minh đài. Đậu nhật nghênh phong thái sắc khai. Mạc thị tam sanh dư túc nguyện. Uyển tùng kim túc kiến Như Lai.

          (Đêm thâu lấp lánh vết rêu in. Gió lùa, đón nắng, sắc màu tươi. Chẳng phải ba đời c̣n nguyện trước? Khéo từ hoa quế thấy Như Lai!)

 

17.16.2.10. Thơ họa của Thích Trạm Nhiên Viên Trừng

1) Ngọn Hồi Diệu

         

          B́nh nguyên vị đáo quang tiên chiếu. Độc chiếm nhân gian tối thượng trùng. Nhậm thị tịch dương Tây dục khứ. Hoàn lưu dư ảnh xạ cô phong.

(Đồng bằng chưa chiếu, soi đây trước. Riêng chiếm nhân gian chỗ tột cùng. Mặc buổi chiều tà, trời ngả tối; vẫn lưu dư ảnh chiếu non côi).

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Bảo đao lung dữ ngũ vân liên. Bức tắc giang can lạc ảnh hàn. Trường kiếm y thiên ma đảm táng. Hành nhân nghi thoái bất nghi tiên.

          (Đao báu ḥa cùng mây ngũ sắc. Bóng lạnh đè lan khắp bến sông. Trường kiếm dựa trời, ma vỡ mật. Người đi lùi bước, đừng tiến lên).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

          Tranh vanh đột ngột thế lăng tằng. Vị thị đương niên bích quán tăng. Phu tọa tuy vô lư phá tất. Thông thân dă quải bệ la đằng.

          (Chon von đột ngột chọc trời cao. Hệt tăng nh́n vách một thuở nào. Chẳng đệm, xếp bằng, đầu gối rách. Khắp ḿnh quấn quít những dây leo).

 

4) Suối Thanh Long

 

          Thần long bất chức thụ thiên khiển. Báo đức vô môn hóa thử tuyền. Bất thị thiền ông thần lực đại. Ky tao huyết tiễn uế sơn xuyên.

(Trời phạt rồng thần v́ thất trách. Không cách báo đức, hóa suối này. Chẳng cậy Thiền ông thần lực lớn. Gần như tuôn máu bẩn non sông).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Nhất trích long diên thấu đảm hàn. Tào Khê phân nhập kỷ đa niên. Nhân lai cúc thủ thường tư vị. Do hạ Di Tề ẩm đạo tuyền.

          (Một giọt dăi rồng lạnh buốt gan. Tào Khê phân nhánh đă bao năm? Tới đây vốc nước toan nếm thử, Di Tề cũng phải uống “đạo tuyền”[53]).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          Kim Dịch tuyền tùng trúc kiển lai. Bất diêu tạo tác dữ an bài. Chử mính nhật cung tham huyền khách. Nhập khẩu tu giao mộng nhăn khai.

          (Ống tre dẫn nước Kim Dịch tới, chẳng do tạo tác hoặc an bài. Đun trà dâng tặng người cầu học. Nhấp môi một ngụm, tỉnh mê ngay).

 

17.16.2.11. Thơ họa của Tuyết Đ́nh Viên Tín

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Thảo kính ly ly sơn ảnh tà. Hàn thanh nhập cốt bán song sa. Sổ thanh đề điểu phá u tịch. Văn sắc bất xâm mao ốc gia.

(Đường cỏ rậm ŕ, bóng núi tà. Song the rét buốt thấm xương da. Mấy tiếng chim rời, u tịch mất. Nhà tranh chẳng ngại sắc chiều buông).

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Thùy bả ngoan nham tác bảo đao. Phách khai thiên địa nhất thu hào. Chí kim túng hữu anh linh giả, bất nhược Điểu Khoa xuy bố mao.

          (Ai dùng đá cứng làm đao báu? Chẻ tách đất trời tựa mảy lông. Tới nay nếu có hàng anh kiệt, chẳng sánh Điểu Khoa thổi sợi tơ).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

          Trác trác xuân sơn bất khả môn. Cát đằng hoành tuyết lập hoàng hôn. Cửu niên tọa đoạn vô âm hao. Nhất phiến thạch đầu thiên cổ ngân.

          (Núi Xuân sừng sững khôn ṃ tới. Ngang tuyết dây ḅ quyện hoàng hôn. Chín năm tĩnh tọa không tin tức. Tảng đá ngàn năm dấu vẫn hằn).

 

4) Suối Thanh Long

 

          Bất giả vân lôi thế tự hào. Nhất phún b́nh địa tận ba đào. Dung dung lưu nhập Chiết Giang thủy. Ẩm giả như hà phong điệu cao.

          (Không nhờ mây sấm, đă hào hùng. Vừa phun b́nh địa khắp ba đào. Cuồn cuộn đổ vào ḍng Chiết thủy. Người uống cốt cách cao cỡ nào?)

 

5) Suối Kim Dịch

 

          Tế mạch u u ẩn bệ la. Thạch biên xuân ư đạm hương đa. Tuy nhiên nhan sắc đồng thanh thiển. Na thức lâm gian hữu dị ba.

          (Mạch nhỏ lặng thầm, dây leo quấn. Ư Xuân thoảng ngát đá bên bờ. Dẫu cho dáng sắc dường trong, nhạt. Ai biết rừng sâu sóng khác thường?)

 

6) Suối Thánh Nghĩa

 

Thủy tánh vô diêu tạ giả danh. Hương Sơn ao đột nhữ năng b́nh. Nguyên đầu bất tại thiên nham thượng. Phanh Phật hà lao vấn Bính Đinh.

(Tánh nước cần chi cậy giả danh? Hương Sơn lồi lơm, nước san bằng. Cội nguồn há phải nơi ngàn rặng. Nấu Phật há phiền hỏi Bính Đinh).

 

17.16.2.12. Thơ họa của Chi Quân Đổng Hán Sách

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Thùy tín thương nhiên lai mộ ái. Không nhai phản chiếu phát thiên kê. Bảo phương kỳ thụ giai Xuân sắc. Huyền cổ hưu đàm lạc nhật Tây.

          (Ai tin trời biếc, sương chiều phủ? Vách đá hắt bóng, rộn tiếng gà. Hoa quỳ, cây ngọc phô Xuân sắc. Treo trống ngưng bàn, chiều đă buông).

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Hung huyền thiên kính tiếu xuy mao. Tiệp cú kinh nhân ác Mạnh Lao. Ủy thổ hoạch nhiên tằng măn chí. Đàm ngôn vô nghĩa thắng Long Thao.

          (Ngực đeo ngàn kính, khinh bươi móc. Mẫn tiệp kinh người, nắm Mạnh Lao[54]. Vạch đất rạch ṛi từng thỏa chí. Nói năng vô nghĩa trội Long Thao[55]).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

          Thạch duẫn thiên tầm yểu vô lộ. Điểu đề hoa tiếu tự tân trần. Quyển liêm lănh đắc nhàn trung thú. Động khẩu vân phong bất kiến nhân.

          (Măng đá ngàn tầm không nẻo tiến. Hoa cười, chim hót tự xoay vần. Cuộn rèm cảm nhận thanh nhàn thú. Cửa động mây đùn chẳng thấy ai).

 

4) Suối Thanh Long

 

Nhất lũ hàn lang hữu nhược vô. Thùy tùng thủy nhũ biện chân ngô? Thúy giao thiên xích phi dao tuyết. Hành vũ giang thôn tác họa đồ.

(Một ḍng nước lạnh có dường không. Chân ngă ai từ nước sữa hay? Rồng xanh ngàn thước bay hoa tuyết. Mưa đẫm thôn sông, tợ bức tranh).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Nhân thế viêm lương tự ốc tiêu. Linh nhiên nhất chước tự băng tiêu. Trung phân nhị thủy chân nguyên xuất. Độc yểm tùng quan thính hải triều.

(Người đời lạnh nóng tựa tưới, nung. Một gáo nước lạnh tự băng tiêu. Nguồn thật chia đôi ḍng nước chảy. Riêng khép cửa tùng, nghe sóng gầm).

 

6) Suối Kim Dịch

 

Hà tác liêm tinh, thạch tác đài. Phỉ châu phún ngọc tự Tây lai. Kim sa tŕ bạn thôn liên lộ. Lịch biến trang xuân ngă vị hài.

(Mây ráng: Quạt cờ, đá làm đài. Phun châu, nhả ngọc tới từ Tây. Sương sen, ngồi cạnh ao vàng nếm. Trải khắp xuân hồng, tuổi chẳng phai!)

          (dưới đây đều là các bài thơ họa theo đúng nguyên vận)

 

17.16.2.13. Thơ họa của Kính Viên Đổng Hữu Tùng

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Tiêm nguyệt phong tiền tằng phục hổ. Tịch dương thôn ngoại hốt văn kê. Bằng quân đạp biến tầm xuân kịch. Hồi khiếu Linh Nham nhật vị Tây.

          (Trăng khuyết trước non từng phục hổ. Thôn chiều chợt vẳng tiếng gà thưa. Nhờ bạn t́m xuân ṃn gót guốc. Ngó lại Linh Nham ngày chửa tàn).

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Đới hiệp thanh sương phất mấn mao. Hâm hà lịch tận vấn lao lao. Hà như bạch nhật thương yên ngoại. Thâu liễm hàn mang bí lục thao.

          (Giắt gươm xanh lạnh, tóc pha sương. Hiểm nguy trải khắp, vẫn lao đao. Sao bằng trời tỏ, ngoài sương khói. Thâu liễm hàn quang lẫn lục thao).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

Trần thế mê lâu không mộ ái. Phạm cung kỳ thụ tự tinh trần. Dục tri hải khoát thiên không xứ. Tá vấn đương niên diện bích nhân.

(Lầu mê trần thế sương chiều phủ. Cây ngọc bên chùa tợ sao giăng. Muốn hay biển rộng, trời khoảng khoát. Hỏi kẻ năm xưa nh́n vách đi!)

 

4) Suối Thanh Long

 

          U hác tiềm lân nhận đắc vô. Ngọa Long tằng tự tỷ Di Ngô. Thùy tương bát thủy hưng phong vũ. Huyễn xuất vân lâm phá bích đồ.

          (Hang sâu rồng ẩn biết hay chăng? Ngọa Long từng tự sánh Di Ngô[56]. Chén nước ai thành mưa gió cả. Huyễn hóa tranh rồng phá vách bay?)

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Hỏa dật linh tuyền thạch dục tiêu. Gián tham thánh nghĩa hoắc nhiên tiêu. Thám nguyên kư thủ Trung Phong ngoại. Lai khán thương giang bát nguyệt triều.

          (Lửa bốc suối thiêng, đá sắp chảy. Bỗng tham thánh nghĩa, lửa liền tiêu. T́m nguồn gởi gắm ngoài rặng giữa. Ngắm sóng sông xanh tháng Tám xuôi).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          Dục xuy dương khí tác xuân đài. Khước hướng kim hành ấp lộ lai. Bát bảo b́nh khuynh dương liễu vận. Thanh đồng chung cổ thượng anh hài.

          (Khí dương toan thổi dựng đài Xuân. Hứng giọt sương trong nơi cột đồng. Nghiêng b́nh tám báu, cành dương vẩy. Tiên đồng muôn thuở vẫn thơ ngây).

 

17.16.2.14. Thơ họa của Phần Viên Đổng Sư Thực

1) Ngọn Hồi Diệu

         

          Bối phi thanh điểu trường yên một. Sơn hạ quang hàn lộ Bích Kê. Thân thế vinh khô thùy ngộ đắc? Bán khai hoa ngoại nhật trầm Tây.

          (Chim xanh bay khuất khói sương dày. Chân núi lập ḷe tợ Bích Kê. Thân thế nhục vinh ai ngộ được? Hoa x̣e nửa đóa, ánh dương tà).

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Chú tựu Minh Hồng phỏng thúy mao. Hoành phi sương ngạc địch quyên lao. Thiên nham vân ngọa hô bất khởi. Thương thủy thần long môn xích thao.

          (Minh Hồng[57] đao đúc vân phượng bay. Quét phăng sương tuyết, gột trần lao. Ngàn núi mây vờn, kêu chẳng dậy. Nước biếc, rồng thần giữ vỏ son).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

          Tà ỷ linh phong niêm lạc diệp. Vô đoan hoa vũ lạn nhiên trần. Quật trung sư tử thính tiêu tức. Lâm tĩnh giang thanh nguyệt cận nhân.

          (Dựa ngọn núi thiêng, nhặt lá rơi. Mưa hoa vô cớ bỗng đầy trời. Sư tử trong hang nghe ngóng tiếng. Rừng tĩnh, sông trong, trăng gần người).

 

4) Suối Thanh Long

 

          Nhất phiến oánh huỳnh tâm dục vô. Quyên quyên toái ngọc tẩm Côn Ngô. Dược sảm xuân noăn phanh hương dịch. Khẳng hướng nhân gian thọ lục đồ.

(Một mảnh trong ngần, không dục vọng. Ŕ rào ngọc vụn tưới Côn Ngô[58]. Hương thuốc Xuân nồng nung sẻng nhỏ. Có chịu trao ai bức lục đồ?)

 

5) Suối Thánh Nghĩa

         

          Noăn phù hoa nhũ nhập Đồng Tiêu. Trích lịch thanh thanh mộng vị tiêu. Kim cổ bất tri kỷ đông hạ. Thu tâm tả tận tác băng triều.

(Đồng Tiêu[59]: Hơi ấm quyện mùi hoa. Nước rỏ long tong, mộng chửa tàn. Đông Hạ xưa nay bao thuở trải? Tâm Thu dốc sạch, sóng băng trong).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          Kim sa hiểu lưu xuất tằng đài. Cốc khẩu phong sơ hương tự lai. Phân đắc dư cam nhưỡng xuân sắc. Sấu phương chẩm thạch ư như hài.

          (Cát vàng từng bậc chảy ban mai. Cửa động gió lùa hương thoảng bay. Dành chút vị ngon nuôi Xuân sắc. Súc hương gối đá, ư thiên chân).

 

17.16.2.15. Thơ họa của Ô Đ́nh Uông Văn Trinh

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Hải thượng t́nh ba đăng nhật hoa. Tài thăng phong đảnh hựu tương tà. Kim luân toàn chuyển vô đa địa. Doanh đắc Tây nham khởi mộ hà.

          (Hoa nắng lăn tăn sóng biển lan. Vừa mới giữa trưa, thoắt đă chiều. Kim luân xoay chuyển không nhiều chỗ. Chỉ được vách Tây ửng bóng chiều).

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Cổ thiết kiên ngoan sương nhẫn tân. Phong đầu quang quái khởi lân tuân. Kim Cang xiết thủ đương không lập. Mộ địa hoành trừu hứa hoạt nhân.

          (Sắt xưa cứng cỏi thành gươm sắc. Đỉnh núi chon von sáng lạ lùng. Kim Cang vung tay, hư không đứng. Chợt tuốt gươm ra cứu sống người!)

 

3) Ngọn Bích Quán

 

          Đạp phá giang ba nhất vĩ khinh. Bích gian thương thúy cổ đài sanh. Cửu niên khô tọa duyên hà sự. Độc lập cô phong nhậm ư hành.

          (Đạp nát cành lau, nhẹ vượt sông. Vách biếc rêu xưa phủ kín rồi. Chín năm ngồi lặng v́ đâu tá? Riêng đứng non côi, tùy ư hành!)

 

4) Suối Thanh Long

 

          Phi lưu thiên xích hạ t́nh phong. Cá cá vân đương tiếp thủy đồng. Thập đắc ba tâm hạm châu tại. Đương tiền phao xuất hư ly long.

          (Trời trong, ngàn thước thác buông ḍng. Từng ống tre dày dẫn nước thông. Nhặt được ngọc rồng nơi sóng gợn. Ném ngay trước mặt bỡn ly long).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

Thánh Đế do lai bổn khuếch nhiên. Trung Phong hà dụng cưỡng danh tuyền? Quyên quyên bất đoạn tầm thường sự. Mạc sử lan phiên ngộ nhăn tiền.

          (Thánh Đế xưa nay vốn rỗng rang. Suối nơi núi giữa cưỡng mang tên! Ŕ rào chẳng ngớt, đâu kỳ diệu! Đừng để sóng cồn lầm mắt nh́n).

         

6) Suối Kim Dịch

 

          Đại địa mang mang tổng bố kim. Nguyên đầu điểm trích đáo như kim. Ái hà dục hải hà nhân kiến? Yếu dữ châm đầu tử tế tầm.

          (Đại địa mênh mông thảy lót vàng. Đầu nguồn từng giọt nhỏ không ngừng. Biển dục, sông yêu v́ đâu thấy? Phải t́m chăm chú nơi mũi kim).

 

17.17. Vân Thê Kỷ Sự Nhị Thập Vận của Ô Đ́nh Uông Văn Trinh

 

Tịnh vực sùng Tam Bảo, chư thiên hỗ cửu trùng. Liên hương truyền Phục Hổ. Vân ảnh trú Hồi Long. Sơn cách giang triều chuyển. Tuyền đương trúc kính xung. Sàn viên Kim Dịch thủy. Tạc ngạc Bảo Đao phong. Kết xă lai thâm cốc. Tru mao trác sấu cùng. Đông Dương yêu đới giảm, Huệ Viễn túc âm củng. Bạch nghiệp nhân tư khải, hồng trần bất cảm phong. Lục thời thành hải hội, Tam Quán khế tâm tông. Phác kiệm tăng quy túc, lưu truyền pháp vũ nùng. Hà phương tồn khổ hạnh. An dụng sính cơ phong. Thánh đức hoài thâm quyến. Thời tuần phỏng cựu tông. Ngô đô phù tử khí. Vũ huyệt điện hoàng tông. Đạo dữ trai tâm hợp. Hạnh do giác lộ phùng. Loan kỳ oanh thúy tiểu. Vũ cái yển thanh tùng. Thập hốt châu cung hiện. Thiên hoa phủ tọa cung. Kỳ lâm châu pháp giới. Lan nhă triển từ dung. Giải vơng khoan sanh loại. Đề khuông biện lăo nông. Hoàng t́nh phương sướng toại. Phật lực cộng đào dung. Hạnh xí phù luân hóa. Tàm phi nhị bút tùng. Chiêm thiên do chỉ xích. Thắng nghĩa cảnh thần chung.

(Cơi tịnh sùng Tam Bảo, chư thiên pḥ chín trùng. Hương sen truyền Phục Hổ. Bóng mây quyện Hồi Long. Núi ngăn sông chuyển hướng. Suối phun ngay lối tre. Kim Dịch: Suối róc rách. Đá sắc ngọn Bảo Đao. Kết xă vào núi thẳm. Phạt tranh, gậy trúc giương. Đông Dương thân c̣m cơi, nghe bước chân Viễn công. Nghiệp trắng do đây khởi, hồng trần chẳng dám phong. Sáu thời thành hải hội, Tam Quán khế tâm tông. Chất phác, tăng nghiêm ước. Mưa pháp lưu truyền nồng. Ngại ǵ giữ khổ hạnh, hiện cơ phong làm ǵ? Thánh đức sâu luyến mộ, tuần du viếng chốn xưa. Hơi tía phủ Ngô quận, Vũ huyệt cúng hoàng tông[60]. Đạo hợp cùng tâm tịnh. Hạnh do nẻo giác ḥa. Cờ loan vờn trúc biếc, lọng vũ[61] rợp tùng xanh. Mười thước chùa ngọc hiện. Ngàn hoa cúng ṭa vua. Rừng Kỳ khắp pháp giới. Lan Nhă hiện từ dung. Mở lưới tha vạn thú, lăo nông xách giỏ mừng. Ḷng vua đang vui sướng. Phật lực cùng đúc hun. May ngóng pháp luân chuyển. Thẹn ḿnh kém văn tài. Ngắm trời trong gang tấc. Thắng nghĩa rộn chuông mai).

 

17.18. Phụ lục: Câu đối

17.18.1. Mới đến Vân Thê

 

1) Trúc kiển tam ngũ thăng dă thủy. Bồng song lục thất phiến nhàn vân.

(Dăm ba ống trúc dẫn nước rừng. Sáu bảy song tranh, mây nhàn tản).

          2) Ốc bích không sơ, bát diện hỷ phùng thanh chướng hợp. Khê sơn tịch tĩnh, tứ thời duy hữu bạch vân thê.

(Tường nhà trống trải, tám mặt mừng núi biếc vây quanh. Suối khe vắng lặng, bốn mùa chỉ có mây trắng tụ về).

 

17.18.2. Đ́nh Tam Tụ

 

          1) Thúy ái phong trung mịch lộ, bích phong tận xứ quy am.

          (T́m đường nơi đỉnh mây biếc phủ, hết chốn non xanh trở về am).

          2) Thiên cù hữu lộ thông phương trúc, Phạm thế vô vi kiến cổ thôn.

          (Đường trời có nẻo thông am Phật, cơi tịnh vô vi thấy cổ thôn).

 

17.18.3. Tam môn

 

          Cổ sát trùng khai, ngũ sắc vân đoan thê chỉ địa. Thiền lâm triệu kiến, vạn niên bảo lịch thái b́nh thời

          (Chùa cổ trung hưng, mây năm sắc đậu nơi cuộc đất. Thiền lâm vừa dựng, muôn năm giữ vững thuở b́nh yên).

 

17.18.4. Cửa Thiện Hội

 

          Mộ chí đạo, nhi quyết ư tinh tu, kham đồng thử hội. Đạn thanh quy nhi vô tâm thượng tấn, mạc nhập tư môn.

          (Một đạo cao tột, quyết ư chuyên tu, kham cùng dự hội này. Sợ thanh quy, tâm chẳng cầu tiến, đừng bước vào cửa đây).

 

17.18.5. Tịnh nghiệp đường

 

Vương Cực Lạc, lục bát đại nguyện chi từ tôn, tuyệt hạn lượng thọ quang minh bất ly đương xứ. Quá Sa Bà vạn triệu Phật bang chi Tịnh Độ, diệu trang nghiêm lâu đài tŕ chiểu nguyên thị ngô hương.

(Đấng từ tôn, vua Cực Lạc, bốn mươi tám nguyện, thọ quang vượt ngoài hạn lượng, chẳng ĺa chỗ này. Cơi Tịnh Độ, ngoài Sa Bà, vạn triệu cơi Phật, lâu đài ao nước trang nghiêm vốn là quê ta).

 

17.18.6. Thiền Duyệt Đường

 

Trục đội nhị thời, phùng Diêm lăo đả toán phạn tiền, năng vô khiếm phủ? Băo tham nhất niệm, đối Lư Lăng cận lai mễ giá, đắc bất nan dư?

(Theo nhóm hai thời, gặp Diêm lăo tính toán tiền cơm, thiếu được hay chăng? Tham Thiền một niệm, đối giá gạo Lư Lăng gần đây, chẳng khó lắm ư?)

 

17.18.7. Cao bộ

 

          Lâu các tương đăng, dă tu tùng giá lư quá. Giai cấp bất lạc, tất cánh thị thậm ma nhân?

          (Lầu gác sắp lên, cũng cần phải bước từ chỗ này. Thềm, bậc chẳng ngă, rốt cuộc là người như thế nào?)

 

17.18.8. Diễn Pháp Đường

 

          Cửu hội dung dung lục thập vạn tự chi hùng văn, viên cực Nhất Thừa tánh hải. Thiên hoa thọ thọ ngũ thập bát thiên chi đại giới, hoằng khai Tam Tụ pháp môn.

          (Chín hội dung thông, hùng văn sáu mươi vạn chữ, biển tánh Nhất Thừa viên đốn tột cùng. Ngàn hoa trao truyền đại giới năm mươi tám chương, pháp môn Tam Tụ rộng hoằng dương).

 

17.18.9. Tùy Chỉ Cư (tức pḥng khắc in kinh)

 

          Tích viễn hồng trần, nhật cận tăng quy thành tịnh lữ. Thân y bạch xă, thời thân pháp bảo độ phàm t́nh.

          (Xa dấu vết cơi trần, hằng ngày theo tăng quy củ, thành bạn thanh tịnh. Thân nương bạch liên xă, luôn luôn thân cận pháp bảo, độ thoát phàm t́nh).

 

17.19. Các bài khắc in thêm

17.19.1. Ghi chép về chuyện các tín sĩ thuộc Tiểu Vân Thê trùng tu Diễn Pháp Đường

 

Xét lại, Vân Thê được sáng lập từ đời Tống. Qua mấy trăm năm, có Liên Tŕ đại sư mở lại đạo tràng làm chỗ để niệm Phật và phóng sanh, quy mô hưng khởi. Lại hơn hai trăm năm sau, các vị quân tử cùng làng kết tịnh xă, mở rộng việc phóng sanh, kế tục tạo thành Tiểu Vân Thê. Phóng sanh là do cảm nhận đức hiếu sanh của trời đất, dùng tâm chân thành để làm việc tốt đẹp. Nếu chỉ phóng sanh mà chẳng nuôi, các con vật sẽ chẳng sống trọn hết đời, đâm ra lại khiến cho chúng chóng chết, chẳng phải là đường lối giữ vẹn sanh mạng. Thuở trước, Vân Thê mở hội Thủy Lục Đạo Tràng, có quy định: Hễ phóng sanh bèn dùng ba lượng bạc và một lượng bạc dành mua thức ăn cho các con vật. Cách ấy tới nay vẫn không bị biến đổi. V́ thuở ấy, chùa cách xa thành, lại dựng thêm hai ngôi chùa Thượng Phương ở cửa Tây và Trường Thọ ở cửa Bắc, đào ao phóng sanh để thuận tiện cho những người phóng sanh. Sư tự soạn bi kư nói đấy là khởi đầu, từ đó sẽ lan rộng, chẳng biết sau này sẽ c̣n có bao nhiêu ao nữa. Ư nguyện rất lớn lao!

Tiểu Vân Thê là do những người cùng chí hướng, ngưỡng mộ chuyện cũ phóng sanh của Vân Thê mà noi theo đó mở rộng ra. Thoạt đầu, họ từng xin quan đại trung thừa họ Nguyễn tâu xin phục hồi quy chế [phóng sanh cũ] ở Tây Hồ, nhưng chẳng thành. Năm Quư Hợi, t́m được Dư Am ở phía Đông thành do họ Dư quyên tặng. Am có sẵn điện vũ, liêu pḥng, ao rộng hai ba mẫu, liền chọn nơi ấy làm chỗ tụng niệm lễ Phật, phóng sanh. Sau đấy, do chuồng ḅ, chuồng dê, cũi lợn, chuồng gà chưa đầy đủ, lại mua thêm am bên cạnh và nhà dân, nối tiếp mở rộng khu đất, xây thêm nơi nuôi gia súc, ao cá v.v… và dựng ba gian điện để thờ tượng Liên Tŕ Đại Sư. Khi hoàn thành, đặt tên là Tiểu Vân Thê do phỏng theo cách thức của Ngũ Vân, nhưng quy mô nhỏ hơn.

Tuy cùng là phóng sanh, nhưng Đại Vân Thê và Tiểu Vân Thê mỗi nơi mỗi khác. Đại Vân Thê ở trong núi, lập chỗ phóng sanh, đủ loại chim thú được nuôi trong ấy. Đă có thức ăn cho các con vật, tăng chúng cũng giảm khẩu phần để nuôi. Trừ cỏ rơm ra, ước chừng phí tổn đến hai trăm thạch gạo. Đối với hai ao phóng sanh trong và ngoài thành, chi phí mỗi năm hơn một trăm lạng, trước nay chẳng khuyết thiếu. C̣n như Tiểu Vân Thê, lương thực cho các con vật và hết thảy các kinh phí, tính toán các khoản quyên mộ hằng năm và các khoản tự nguyện quyên tặng từ thư viện[62] ra, chưa được một nửa [chi phí cần thiết], cần phải quyên mộ riêng những khoản khác để bù đắp. Chùa ở góc thành, đất hẹp mà các con vật nhiều. V́ thế, đối với mỗi loại đều hạn định bao nhiêu con cố định. Những con vật dư ra sẽ gởi sang Đại Vân Thê nuôi, bù thêm tiền thức ăn cho các con vật. Nhưng hạng mục này cũng cần quyên mộ tín thí, nhiều ít chẳng có con số nhất định, cũng chẳng phải là kế lâu dài.

Những vị cùng chí hướng tính quyên mộ để tậu ruộng ḥng thâu tô lợi để mua thức ăn cho các con vật, nhưng đề nghị ấy chưa được thực hiện th́ chùa [Đại Vân Thê] gặp trận hỏa hoạn vào mùa Đông năm Nhâm Thân (1812), được quan đại trung thừa họ Cao (Cao Kỷ) dâng sớ, triều đ́nh ban chiếu sai Diêm Vụ[63] cấp năm trăm lượng bạc để tu bổ, phần thiếu th́ do tăng nhân tự quyên góp. Do đó, xây lại điện thờ tổ Liên Tŕ trước, các hạng mục khác đều cậy mọi người thương lượng, cậy Thường Diêm Chánh[64] trù tính các khoản để trùng tu, nhưng chi phí vẫn chưa đủ, cần phải quyên mộ thêm để hoàn tất công tŕnh. Những người cùng chí hướng nhóm lại, bàn bạc: “Đối với khoản tiền chuyên để mua thức ăn cho các con vật tại Vân Thê, nếu mỗi năm đều phải quyên mộ, lúc thừa lúc thiếu không nhất định. Sao bằng thừa dịp trùng tu chùa lần này, chúng ta quyên tiền xây một ṭa Thủy Lục Đường, hoạch định lại quy chế mới: Trong mỗi phần tiền công đức [quyên mộ], tăng thêm ba lạng bạc để mua thức ăn cho các con vật được nuôi gởi của Tiểu Vân Thê. Đối với người làm công đức, họ sẽ chẳng tiếc chút tiền mọn ấy, mà đối với việc phóng sanh, thật sự có thể duy tŕ lâu dài, há chẳng phải là tiện lợi cả đôi đằng ư?”

Mọi người đều tán đồng, liền xem xét những ǵ c̣n sót lại sau đám cháy, thấy chỉ có Diễn Pháp Đường là cao rộng nhất, ước tính chi phí khoảng một ngàn sáu trăm lượng bạc, liền quyên góp đủ số, chọn thợ và vật liệu, trân trọng mời người thông thạo đến đốc thúc, lo liệu. Chẳng lâu sau, công tŕnh hoàn thành, nội đàn được mở ra, mà tiền thức ăn cho các con vật được tăng thêm, bèn đem ư này bảo rơ với các vị thường trụ, khắc vào ván gỗ để tuyên bố cùng hết thảy khiến cho mọi người đều nghe biết, và muốn cho chuyện này được lâu dài, chẳng bị băi bỏ, cũng như khiến cho người đời sau biết duyên do trùng tu và lập điện đường, bèn cẩn trọng trần thuật đầu đuôi để ghi vào bia đá.

Ngày lành tháng Sáu năm Gia Khánh 18 (1813), đệ tử Phật là Đinh Đào kính ghi.

 

17.19.2. Ngũ Vân Tinh Xá

 

Ngũ Vân Tinh Xá do thiền sư Phục Hổ khai sơn từ năm Càn Đức thứ năm (967) đời Tống. Tới năm Hoằng Trị thứ bảy (1494) đời Minh, mưa dầm kéo dài gây lũ lụt, điện đường sụp đổ, kinh tượng bị cuốn trôi, nơi này bị bỏ hoang gần vài trăm năm. Tới năm Long Khánh thứ năm (1517), tổ sư Liên Tŕ dựng ba gian nhà tranh, dùng niệm Phật và phóng sanh để dựng pháp tràng tối thắng. Từ đó, thiện tín dốc ḷng quy hướng, dần dần thành lan-nhă. Tới nay đă hơn hai trăm năm, trở thành danh lam cổ tự nổi tiếng. Nhiều lần được bậc đế vương ngự giá viếng thăm, lại nhiều lần được khâm ban bút tích ngự chế, đều được cung kính lưu giữ. Chùa vốn chẳng có ruộng đất thường hằng, tăng chúng hơn bốn trăm người sống nhờ pháp hội Thủy Lục và trai sám.

Tới mùa Đông năm [Gia Khánh] 17 (1812), do không cẩn thận củi lửa [chùa bị cháy rụi], được vị Phủ Hiến (quan Tuần Phủ) tiền nhiệm là ông Cao dâng sớ tâu tŕnh, được hạ chiếu ban ân, thưởng cho năm trăm lạng bạc để tu bổ; nếu chẳng đủ, tăng nhân quyên mộ lo liệu. Vâng theo đó, kính tuân hoàng lệnh, trước là xây dựng ba gian điện thờ tổ Liên Tŕ. Kế đó, ngoại trừ các vị thân sĩ thuộc sở phóng sanh Tiểu Vân Thê quyên mộ dựng Diễn Pháp Đường ra, từ sơn môn cho đến đại điện sau trước và lầu gác để cất giữ ngự bút đều là các hạng mục khẩn yếu. Khảo sát, tính toán nhân công và vật liệu, ước tính cần tám ngàn lượng bạc. Được các vị thương nhân ngành muối thuộc bốn sở muối thỉnh vị Diêm Hiến là ông Thường tạm ứng từ quỹ đóng góp của thương nhân. Sau đó, họ dựa theo chứng từ chuyển vận muối mà trả lại sau. Việc này được phê chuẩn, đồng thời cử cư sĩ Thẩm Vân Chưng giám sát thi công. Chẳng đầy mấy tháng, quy mô to lớn lại được tái hiện, tuy công tŕnh chưa hoàn toàn hoàn tất, nhưng có pháp đường để thờ kinh luật, có thiền đường để an trú tăng chúng. Các pháp sự tụng kinh sám hối đều có nơi để hành lễ. Những người như Dữ Minh thật sự cảm niệm ân vua nhân từ và ca ngợi đức hạnh của quan Diêm Hiến. V́ thế, kính cẩn khắc lại vào pháp tập để lưu truyền sự việc này.

 Trụ tŕ chùa Vân Thê là tăng Dữ Minh cùng các vị chấp sự ghi lại.

Bồ-tát giới đệ tử Lưu Huệ Văn suất lănh con là Tánh Trạch bỏ tiền kính khắc in. Ghi tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ vào tháng Mười mùa Đông năm Quang Tự 25 (1899).

Vân Thê Pháp Vựng

Phần 10 hết

 



[1] Thánh tộ (聖祚): Ngôi vị đế vương hoặc hoàng triều bền vững, dài lâu.

[2] Đổng Hoa Đ́nh chính là đại thư pháp gia Đổng Kỳ Xương (1555-1636), sống vào đời Minh. Ông có tên tự là Huyền Tể, hiệu là Tư Bạch, và Tư Ông, biệt hiệu là Hương Quang Cư Sĩ. Do ông là người huyện Hoa Đ́nh (nay là khu Tùng Giang thuộc Thượng Hải), nên thường được gọi là Đổng Hoa Đ́nh. Ông đậu tiến sĩ thời Vạn Lịch, làm quan đến chức Lễ Bộ Thượng Thư.

[3] Theo truyền thuyết, hậu duệ của Viêm Đế là Mặc Như. Con của Mặc Như là Mặc Thai được phong làm vua nước Cô Trúc, chư hầu của vua nhà Hạ; về sau, Mặc Thai làm bầy tôi của nhà Thương. Mặc Thai có ba người con trai, con đầu là Mặc Di (do là con cả nên gọi là Bá Di), người con thứ ba tên là Mặc Tề (thường gọi là Thúc Tề). Sử không chép người con thứ hai tên là ǵ. Khi Châu Vũ Vương diệt Trụ Vương của nhà Thương, Bá Di và Thúc Tề không chịu hàng phục, trốn vào ẩn ở núi Thú Dương. Do vậy, Mặc Thai dùng ở đây để chỉ bậc ẩn sĩ lánh đời.

[4] Nét Nhan ở đây là nói tới thư pháp theo lối Nhan Thể (cách viết chữ Khải của Nhan Chân Khanh). Đặc trưng của lối viết này là vuông vắn, dày đặn, khoáng đạt, chánh trực, oai nghiêm, nên phần lớn khi chép kinh, người ta dùng thể chữ này. Hai câu này ư nói Càn Long xem bản chép kinh Phật rất thích thú lối chữ viết theo phong cách của Nhan Chân Khanh, thậm chí đem so với bút tích của Vương Hy Chi trong Lan Đ́nh Thiếp, vẫn thấy bút lực của Vương Hy Chi không thể sánh bằng. Do Vương Hy Chi từng giữ chức Hữu Quân Tướng Quân đời Tấn nên thường được gọi là Vương Hữu Quân.

[5] Thẻ kinh ở đây là cái thẻ dẹp để cài vào sách nhằm đánh dấu đoạn đang đọc dở dang.

[6] Tam Hy Đường Pháp Thiếp, gọi đầy đủ là Ngự Khắc Tam Hy Thạch Cừ Bảo Cấp Pháp Thiếp, được khắc vào năm Càn Long 12 (1747) do cung đ́nh khắc in các bức thư pháp nổi tiếng. Bộ sách này gồm ba mươi hai quyển, bao gồm hơn ba trăm bốn mươi bức thư pháp trứ danh của một trăm ba mươi lăm vị thư pháp gia nổi tiếng từ đời Ngụy, Đông Tấn cho tới cuối đời Minh. Do trong ấy có tác phẩm của Vương Hy Chi, Vương Hiến Chi và Vương Tuần, những bức vẽ này được vua Càn Long xưng tụng là “hy thế mặc bảo” (tác phẩm thư pháp quư báu hiếm có trong cơi đời) nên gọi là Tam Hy. Các tác phẩm ấy được cất giữ tại Dưỡng Tâm Điện, nên Dưỡng Tâm Điền c̣n được gọi là Tam Hy Đường.

[7] Đây là bản chép tay Tâm Kinh do Càn Long viết theo thể thức chữ dùng khắc trên văn bia, xếp chữ tạo thành h́nh cái tháp.

[8] Cổ lịch Trung Hoa dựa theo sự vận chuyển của Mộc Tinh (Tuế Tinh) để lập ra thiên can (mười chi như Giáp, Ất, Bính, Đinh…). Thái Tuế tại Mậu tức là nhằm năm có chữ Mậu. Không rơ ở đây người viết có chép sai hay không, v́ năm Càn Long 22 (1757) là năm Đinh Sửu, năm Càn Long 23 (1759) mới là năm Mậu Dần.

[9] Nguyên văn là “hà bao” (荷包), chính là túi vải, gấm hay lụa, thêu thùa tỉ mỉ, dùng để đựng tiền hay các vật lặt vặt. Hà bao ở đây là túi đựng các loại hương liệu hay bột thơm để đeo lên người khiến cho thân thể có mùi thơm tho. Vua nhà Thanh, nhất là Càn Long, hay tháo túi thơm đang đeo trong người ban cho người vua ưa thích, ngụ ư ban tặng vật đích thân vua đang dùng, ḥng biểu lộ sự quan tâm đối với người đó.

[10] Hành cung, c̣n gọi là hành khuyết, là chỗ cung điện nghỉ ngơi của hoàng đế khi tuần du. Đời Thanh, tại các nơi có nhiều ṭa hành cung, bao gồm Nam tuần hành cung (bốn mươi tám cung), Bắc tuần hành cung (ba mươi bốn ṭa), Đông tuần hành cung (mười tám ṭa), Tây tuần hành cung (mười ba ṭa)….

[11] Hương Đông Uyển c̣n gọi là Hoàn Hương. Đây là một loại gỗ trầm hương (c̣n gọi là Nha Hương Thụ hoặc Nữ Nhi Hương), mọc nhiều ở vùng Hoàn Thị thuộc tỉnh Quảng Đông. Thời cổ, loại cây này mọc nhiều ở vùng phụ cận của Hương Cảng (do đó, khi người Anh mở hải cảng tại đây, người dân đă gọi hải cảng mới mở là Hương Cảng. Cùng với đà phát triển của Hương Cảng, loại cây này hầu như tuyệt tích). Loại hương này thơm ngọt, thanh nhă, không có mùi nồng đậm như các loại trầm hay đàn hương khác. Từ thời Đường, loại hương này được dành riêng để tiến cống hoàng đế.

[12] Nghê Toản (1301-1374), tự là Nguyên Trấn, c̣n có tên tự là Huyền Anh, hiệu là Vân Lâm, Huyễn Hà Sanh, Kinh Man Dân, và Phong Nguyệt Chủ Nhân, là một thi nhân, họa sĩ, thư pháp gia, kiêm trà nhân nổi tiếng sống vào đời Nguyên. Ông nổi tiếng về tài vẽ tranh thủy mặc, đặc biệt là sử dụng màu nhạt khiến tranh vẽ mờ ảo mà lại sinh động.

[13] Thiên Hy là niên hiệu thứ tư của Tống Chân Tông (Triệu Hằng) được sử dụng từ năm 1017 cho tới năm 1021.

[14] Đây là một cách tỷ dụ: Kẻ mê muội, hồ đồ, chẳng biết phân biệt đúng sai, thiếu trí huệ giống như kẻ trộn lẫn bùn đất vào canh để ăn, lại chê cười người chăm chỉ cấy cày (tức người chân thật thực tiễn hành tŕ).

[15] Đại Tư Thành nghĩa gốc là chức quan phụ tá của Tư Đồ, chuyên trách giảng dạy Thế Tử, giảng dạy nghĩa lư. Từ thời Đường Cao Tông, Quốc Tử Giám bị đổi tên thành Tư Thành Quán, nên chức Tế Tửu (hiệu trưởng Quốc Tử Giám) được gọi là Đại Tư Thành. Từ đấy về sau, mọi người quen gọi Tế Tửu của Quốc Tử Giám là Đại Tư Thành.

[16] Thiệu Hưng là niên hiệu của Tống Cao Tông (Triệu Cấu) từ năm 1130 đến năm 1162.

[17] Tri Các là gọi tắt của chức Tri Các Môn Sự. Đây là chức quan chủ quản của Tri Các Môn Ty, có trách nhiệm lo liệu việc hướng dẫn lễ nghi trong triều chánh, lo liệu các dịp khánh điển, tiếp đăi sứ đoàn, cũng như kiểm tra chéo các sự vụ thuộc lễ nghi trong bộ Lễ, đồng thời giám sát việc điều hành các cơ cấu thuộc ngoại giao như Khách Tỉnh, Tứ Phương Quán v.v…

[18] Thái Học Sinh c̣n gọi là Giám Sinh, hoặc Bác Sĩ Đệ Tử Viên, là những người được tuyển vào học tại Quốc Tử Giám (nhà Thái Học). Sau khi được công nhận tốt nghiệp tại Quốc Tử Giám, họ thường được bổ làm quan. Thời Minh - Thanh, giám sinh được chia thành bốn loại:

- Cử Giám: Những cử nhân không đỗ kỳ thi Hội, nhưng được Hàn Lâm Viện tuyển chọn vào học Quốc Tử Giám.

- Cống Giám tức là Cống Sanh (người đă đỗ Tú Tài) xuất thân, được chọn vào Quốc Tử Giám.

- Lệ Giám: Do triều đ́nh hữu sự, tài chánh chẳng đủ, con em của quan viên có thể quyên nạp tiền bạc vào quốc khố, bèn được tuyển vào học tại Quốc Tử Giám.

- Ấm Giám (c̣n gọi là Ấm Sanh), tức con cháu của quan viên, đại thần được vua ban ân sủng vào học (gọi là Ấm Giám), hoặc do thừa hưởng quan tước của cha (tập ấm) mà được vào học tại Quốc Tử Giám.

[19] Hàm Thuần là niên hiệu của Tống Độ Tông (Triệu Kỳ) từ năm 1265 đến năm 1274.

[20]  Vị vua này có tên là Ngô Việt Trung Ư Vương, tên thật là Tiền Hoằng Thục, cũng là vị vua cuối cùng của nước này. Nước Ngô Việt tồn tại từ năm 907 đến năm 978, đóng đô tại Hàng Châu, là nước tồn tại lâu nhất thời Ngũ Đại Thập Quốc. Lănh thổ bao gồm toàn bộ tỉnh Chiết Giang, miền Đông Nam Giang Tô và phần Đông Bắc tỉnh Phước Kiến. Quốc gia này do Tiền Lưu sáng lập khi nhà Đường suy yếu, các lănh tụ quân phiệt nổi lên cát cứ thành lập các nước riêng. Trong đó có năm triều đại lớn nhất kế tiếp nhau (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Châu), lănh thổ Trung Hoa bị chia thành mười nước (Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Kinh Nam, Mă Sở, Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán. Cuối thời Ngũ Đại, c̣n có những lănh thổ nhỏ, hoặc do lănh chúa không xưng vương, hoặc v́ tầm ảnh hưởng nhỏ nên không kể vào Thập Quốc như Yên, Triệu, Kỳ, Tấn (về sau xưng là Hậu Đường), Ân,  như Đại Trường Ḥa (Đại Lư), Vũ B́nh Tiết Độ Sứ, Thanh Nguyên Quân Tiết Độ Sứ, Yên Vân Thập Lục Châu (về sau gọi là Bắc Hán), Định Nạn Tiết Độ Sứ, Hà Tây Tiết Độ Sứ, Sóc Phương Tiết Độ Sứ, Nghĩa Quân Tiêt Độ Sứ, Nghĩa Vũ, Quy Nghĩa, nên không tính là “quốc”). Do vậy, Sử gọi thời này là Ngũ Đại Thập Quốc. Tiền Lưu xuất thân là thương gia bán muối, do giàu có, lại có quân đội riêng. Ông ta quy phục quân phiệt Đổng Xương, trở thành bộ tướng của họ Đổng. Tiền Lưu được phong làm Tri Châu Hàng Châu. Từ đó, ông ta dần dần xây dựng thế lực, được phong là Bành Thành Quận Vương khi Đổng Xương xưng đế, lấy quốc hiệu là Đại Việt La B́nh Quốc. Về sau, Tiền Lưu diệt Đổng Xương, khống chế toàn bộ vùng Lưỡng Chiết, và được nhà Hậu Lương phong làm Ngô Việt Vương. Năm 923, ông ta lập quốc, thiết lập triều đ́nh riêng. Tiền Lưu khôn khéo tiến cống các triều đại lớn hơn (Hậu Lương, Hậu Đường…) nên giữ vững được bờ cơi, truyền được năm đời vua cho tới đời Tiền Hoằng Thục, Triệu Khuông Dẫn thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Tống, Tiền Hoằng Thục phải đầu hàng. 

[21] Cổ nhân gọi triều đại mình đang sống là “quốc triều”. Do Tổ sống vào đời Minh, nên “quốc triều” chính là nhà Minh. Cảnh Thái là niên hiệu từ năm 1450 đến năm 1457 của Minh Cảnh Tông (Châu Kỳ Ngọc), còn Trinh Minh là niên hiệu của Lương Mạt Đế (Châu Hữu Trinh) thời Ngũ Đại Thập Quốc từ năm 915 đến 921.

[22] Thượng Bảo Khanh gọi đủ là Thượng Bảo Ty Khanh, là chức quan được đặt ra vào thời Minh, chuyên quản thủ ấn báu, tín bài, ấn chương trong triều đình. Thoạt đầu, chức quan này được Minh Thái Tổ (Châu Nguyên Chương) gọi là Phù Tỷ Lang, về sau mới đổi thành Thượng Bảo Ty Khanh.

[23] Câu-lô-xá (Krośa), còn phiên âm là Câu Lũ Xa, là đơn vị đo độ dài của cổ Ấn Độ, nghĩa đen là “tiếng trâu rống”, ý nói: Trong phạm vi còn nghe được tiếng trâu rống của thôn làng gần nhất. Câu-lô-xá có hai cách hiểu: Một phần tám của một do-tuần, hoặc một phần tư của do-tuần. Như vậy, một câu-lô-xá là khoảng bốn cây số, nhưng Câu Xá Luận lại cho rằng một câu-lô-xá chỉ bằng hai dặm Tàu (khoảng một cây số rưỡi).

[24] Phi Vịnh Đ́nh vốn là nơi phóng sanh do thái thú Triệu Sư Cao kiến lập vào năm Khánh Nguyên thứ tư (1198) đời Bắc Tống tại Tây Hồ ở Hàng Châu, về sau, trở thành phế tích.

[25] Cửu Trù (九畴) là chín cương lãnh để cai trị thiên hạ bằng lòng nhân do Đế Thuấn truyền cho Hạ Vũ (Đại Vũ). Những điều này được chép trong thiên Hồng Phạm (洪范) của Thượng Thư. Hồng Phạm có nghĩa là khuôn phép to lớn. Do thiên sách này được chia làm chín tiểu loại, nên thường gọi là Hồng Phạm Cửu Trù. Chín tiểu loại ấy là:

1) Ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ).

2) Ngũ sự (diện mạo, lời nói, cách nh́n, cách nghe, tư duy), tức là năm phạm vi cần tu dưỡng trong ứng xử của bậc quân tử.

3) Bát chánh (tám thứ chuyên trách về hành chánh trong sự cai trị đất nước) gồm thực phẩm, hàng hóa, tế bái v.v…

4) Ngũ kỷ (năm, tháng, ngày, tinh tú, lịch số), tức cơ sở để phù hợp với thiên thời.

5) Hoàng cực: Nguyên tắc cai trị đúng ḷng nhân của bậc quân vương, thường gọi là đạo “đại trung chí chánh”.

6) Tam đức: Trực chánh (thẳng thắn, công chánh), cang khắc (cương quyết), nhu khắc (khéo léo mềm mỏng để đối trị), tức là cách vận dụng khéo léo các biện pháp cai trị.

7) Kê nghi: Các phương pháp để giải quyết nếu có nghi hoặc phát sanh trong lúc cai trị.

8) Thứ trưng (mưa, tạnh, nóng, lạnh, gió), tức dựa trên các hiện tượng tự nhiên để xem lại cách cai trị có đúng đường lối, hợp ḷng trời, ḷng người hay không.

9) Ngũ phước, lục cực: Các ư niệm khuyến thiện trừng ác.

Theo Thượng Thư, thiên sách này do Cơ Tử giảng cho Châu Vũ Vương (Cơ Phát) về đại pháp của thiên địa, bảo đó là lời dạy của Đế Thuấn truyền cho Hạ Vũ về đạo trị quốc. Cơ Tử tên thật là Tử Tư Dư, là con của Đế Văn Đinh, là chú của Trụ Vương, từng làm quan Thái Sư dưới đời vua Trụ (Đế Ất). Do ông được phong ở đất Cơ, nên Sử thường gọi ông là Cơ Tử. Ông từng khuyên lơn vua Trụ đừng say mê sắc dục, nhưng bị vua Trụ tống giam. Chán ngán, ông xõa tóc giả điên để tránh nạn. Sau khi nhà Châu diệt Trụ, ông được thả. Châu Vũ Vương từng nhiều lần tới hỏi ông về đạo trị quốc.

[26] Khúc Phụ chính là quốc đô của nước Lỗ thời Xuân Thu, nay thuộc thành phố Tế Ninh của tỉnh Sơn Đông. Theo sử chép, ở phía Đông của thành này có một cái gò ngoằn ngoèo dài bảy tám dặm, nên gọi là Khúc Phụ. Đây cũng chính là quê nhà của Khổng Tử.

[27] Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân là những khái niệm tu tập trong Đạo giáo, nên “nhà thiêng của Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân” là nói đến đạo quán (miếu đạo sĩ), tức đạo viện Đắc Nhất.

[28] Người viết bài kư này là cư sĩ Quảng Thược Ngô Ứng Tân, nên tự xưng là Thược Tân.

[29] Thời Hán Vũ Đế, nhằm chuẩn bị cho cuộc tấn công nước Côn Minh (nay thuộc tỉnh Vân Nam), do vua thấy người dân Côn Minh thạo thủy chiến, đã cho đào ao Côn Minh tại Trường An để tập luyện thủy quân. Nơi đáy ao có chất đất bùn đen đặc, Đông Phương Sóc bèn giải thích đó là tro khi kiếp hỏa đốt cháy thế gian còn sót lại. Ở đây, tác giả đã ví văn tài của tổ Liên Trì siêu việt, mênh mông, không ai đạt tới, không thể hủy hoại được như cánh chim Ca Lâu La chẳng thể quạt thổi tan, những lời lẽ của tác giả dù trau chuốt cách mấy cũng như bùn đen nơi ao Côn Minh không thể làm lu mờ văn từ của tổ được.

[30] Hang Na La Diên là động đá hoa cương (granite) tại Lao Sơn thuộc thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông. Gọi là hang Na La Diên vì Na La Diên trong tiếng Phạn có nghĩa là kiên cố, vững chắc. Trong hang có khám thờ Phật, được tôn xưng là một trong mười hai cảnh đẹp của Lao Sơn. Ở đây, tác giả chỉ mượn dùng từ ngữ này để ca ngợi cảnh sắc đẹp đẽ của Thượng Phương và Trường Thọ, chúc tụng công trình này tồn tại dài lâu.

[31] Ý nói: Giết hại một mạng, người giết tạo sát nghiệp, sẽ phải trả báo. Tức là do giết một sanh vật, khiến cho con vật bị giết mất mạng, mà người giết do sát nghiệp cũng phải đọa lạc theo.

[32] Đây là một thành ngữ, diễn tả sự việc đạt đến cực thịnh rồi cũng suy tàn. Tề Oai Vương thuở đầu trầm mê rượu chè, có thể uống rượu suốt đêm, tửu lượng rất cao. Về sau, do Thuần Vu Khôn khuyên can “rượu đến cùng cực thì loạn, vui cùng cực hóa buồn”, vua bèn thôi nhậu nhẹt, về sau chỉ có thể uống tối đa là một thạch (tức mười đấu). Bầy tôi dù giỏi giang cách mấy, công lao to đến mấy, khi vua ngờ vực, thì chỉ một lỗi nhỏ (như ngáp hay duỗi ḿnh khi vua đang nói chuyện) cũng dễ dàng bị kết tội, thân mất, mạng vong.

[33] Câu này dựa theo ý thành ngữ “cưu chiếm thước sào” (bồ câu chiếm tổ chim khách), nhằm nói lên tình thế kẻ mạnh lấn hiếp kẻ yếu trong xã hội.

[34] Sáu điều Như trong kinh Kim Cang là nói đến bài kệ “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương cũng như chớp. Hãy nên quán như vậy”. Ông Ngô Ứng Tân viết “sáu điều Như của kinh Kim Cang là nói về cầm, sắt, lụa, là” nhằm khẳng định sáu thí dụ ấy nói về hư huyễn của sắc chất, tham dục, chứ không phải là đức Phật nói chuyện kiêng giết, tu thiện cũng đều là hư huyễn.

[35] Thất giá là mở rộng của Ngũ Nghịch, tức là ngoài tội Ngũ Nghịch, cộng thêm hai tội “giết vị tăng chuyển pháp luân” và “giết thánh nhân” (“thánh nhân” là La Hán của Tiểu Thừa, hoặc Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên).

[36] Ý nói xưa là kẻ giết chóc, nay thành cá bị giết hại để đền nghiệp sát hại. Xưa là thỏa thích sát hại trong một ngày, nay do sát nghiệp đọa lạc chịu khổ cả kiếp.

[37] Ngậm ngọc (hàm bích, 銜璧): Thời cổ, khi giao chiến thất bại, người thua trận muốn đầu hàng sẽ tự trói hai tay, miệng ngậm ngọc đối trước tướng địch. Cả đoạn này có ý chê trách quan điểm sai lầm của người đương thời: Họ cứ cho rằng chết là hết, chẳng biết gì nữa. Ở đây, ông Ngô Ứng Tân dùng ngay lập luận để vặn hỏi: Nếu chết là hết, chẳng biết gì nữa, vậy thì còn phải phấn đấu tạo sát nghiệp, hoặc đấu đá hòng tạo vinh dự cho gia tộc, để tiếng cho con cháu có ích chi đâu? Lại cứ nghĩ rằng lúc sống phải hưởng thụ sung túc để chết đi có thần hồn vững mạnh. Nghĩ như vậy thì có khác gì sống là kẻ lấn lướt người khác, chết thành một con quỷ mạnh mẽ mà thôi! Cứ khăng khăng ngả theo điều ác như kẻ thua trận trói mình liền ngậm ngọc đầu hàng để điều ác chi phối, cho nên không điều ác nào chẳng làm!

[38] Do trong quá khứ, dòng họ Thích Ca là ngư dân đã tát cạn một ao nước bắt cá ăn thịt, khiến cho các con cá ngoi ngóp chết lần chết mòn. Cá chúa phát nguyện đã tận diệt dân làng này để báo thù. Do vậy, đời này cá chúa trở thành vua Tỳ Lưu Ly suất lãnh quân đội (tức các con cá trong ao khi xưa) tiêu diệt dòng họ Thích Ca.

[39] Đây là cách phúng dụ: Viên châu lưu ly ví như một hành vi nhỏ nhặt, có thể dẫn đến kết quả hoặc tai họa to lớn (ví như ngọn đuốc to bằng cả quả núi Thái sơn).

[40] Tức quan Thượng Bảo Khanh tên là Từ Lục Kiều được nói trong bài ký về ao phóng sanh chùa Thượng Phương.

[41] Tư Huân (司勳) là một trong bốn ty thuộc bộ Lại, bao gồm ty trưởng là Thị Lang (đời Đường đổi thành Lang Trung) một người, nhân viên gọi là Viên Ngoại Lang gồm hai người. Ty này có chức trách xét việc phong ấm (cho con trưởng của vị quan đã mất thừa kế tước hiệu của cha), đặt thụy hiệu (danh xưng tốt đẹp nhằm ca ngợi đức độ của người đã mất), cũng như đánh giá công huân của các quan. Chức vụ này được đặt ra từ đời Châu, đến đời Kim và Nguyên thì không còn ty này. Đến đời Minh lại tái lập, về sau đổi thành Kê Huân Thanh Lại Ty (稽勛清吏司), nhưng mọi người vẫn quen gọi là Tư Huân. Như vậy, vị Tư Huân Trường Nhụ nói ở đây có thể là một vị Viên Ngoại Lang thuộc bộ Lại.

[42] Hương Sơn lăo chính là Bạch Cư Dị. Bạch Cư Dị có biệt hiệu là Hương Sơn cư sĩ.

[43] Ỷ Đốn là người nước Lỗ, vốn là một thư sinh bần hàn, bèn đến chỗ Đào Châu Công (Phạm Lăi) học cách kinh doanh, trở nên giàu nhất nước Lỗ.

[44] Liên Tŕ đại sư thuộc tông Hoa Nghiêm theo pháp hệ của Khuê Phong Tông Mật đại sư. Mỗi chữ trong bài kệ dùng để đặt pháp danh theo thứ tự truyền thừa. Từ chữ Quả, tổ Liên Tŕ đặt thêm một bài kệ nữa nên gọi là “nối kệ”.

Ngài Tông Mật (780-841) là tổ thứ năm của tông Hoa Nghiêm. Sư là người xứ Quả Châu, sống vào đời Đường, có thụy hiệu là Định Huệ thiền sư. Năm Nguyên Ḥa thứ hai (807), Sư đi thi cử nhân, đi ngang qua Toại Châu, nghe ḥa thượng Đạo Viên thuyết pháp, bèn xả tục, theo xuất gia với ḥa thượng. Vâng lời dạy của ngài Đạo Viên, Sư tham yết thiền sư Nam Ấn (đệ tử của Thần Hội) để học Thiền, lại c̣n tham yết ngài Thần Chiếu chùa Báo Quốc. Sau đó, vào năm Nguyên Ḥa thứ năm (810), Sư nghe đại sư Thanh Lương Trùng Quán giảng pháp, bèn dốc chí học Hoa Nghiêm Tông. Năm sau, Sư trụ tại chùa Trí Cự thuộc núi Chung Nam, thề chẳng rời núi, miệt mài duyệt đọc kinh tạng. Về sau, Sư dời sang chùa Khuê Phong Lan Nhă ở phía Nam chùa ấy, chuyên tham thiền, tụng kinh. Năm Thái Ḥa thứ hai (828), do vua triệu vời, Sư đành phải vào cung thuyết pháp, được vua ban áo bào tía. Tướng quốc Bùi Hưu và các nhân sĩ trong triều đều thọ giáo với Sư. Không lâu sau, Sư quay về núi, tọa hóa ngày mồng Sáu tháng Giêng năm Hội Nguyên thứ hai (841), thọ sáu mươi hai tuổi, pháp lạp ba mươi tư năm. Lúc sanh tiền, do thấy các tăng sĩ Thiền môn luôn tranh căi, gièm chê nhau, Sư viết Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự (gồm một trăm quyển), đề xướng “Giáo, Thiền nhất trí”. Sư c̣n viết Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Sớ Sao, Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Khoa Chú, Nguyên Nhân Luận, Vu Lan Bồn Kinh Sớ, Hoa Nghiêm Kinh Luân Quán, Viên Giác Kinh Đại Sớ, Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích Nghĩa Sao, Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao Khoa, Viên Giác Kinh Lược Sớ, Viên Giác Kinh Lược Sớ Khoa, Kim Cang Bát Nhă Kinh Sớ Luận Toản Yếu, Khởi Tín Luận Sớ Chú, Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn, Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Khoa Văn, Hoa Nghiêm Tâm Yếu Pháp Môn Chú, Trung Hoa Truyền Tâm Địa Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ, Viên Giác Kinh Khoa Văn…

[45] Đao, kiếm được mô tả bén đến nỗi đặt một sợi lông hay tóc lên đó, nó sẽ bị cắt đứt ngay lập tức. Tuy vậy, đao dẫu bén như thế, nhưng nếu bị các sợi tơ từ vạn cây tùng buộc th́ vẫn bị bó chặt.

[46] “Nước thu” ở đây nhằm sánh ví thanh kiếm sáng loáng, lạnh lùng. Ví như hành giả ở đây đang tọa Thiền thoạt nh́n tưởng như khô khan, chẳng sinh động, nhưng tâm trí tĩnh lặng như nước mùa Thu, ví như thanh gươm sáng c̣n cất trong vỏ, nhưng ẩn chứa trong đó là ư chí kiên quyết vượt thoát muôn dục, ẩn chứa sự uy nghiêm, cao lănh, không ǵ có thể lay động được.

[47] Kinh đường tức pháp đường, ṭa nhà dùng để giảng kinh, thuyết pháp.

[48] Ly châu (驪珠) là viên ngọc ở dưới cằm ly long. Theo sách Trang Tử, ly châu rất quư báu, thường được dùng như một đại từ chỉ một vật rất quư, cũng như dùng để gọi nhân tài hoặc tác phẩm hay đẹp. Trong thần thoại Trung Hoa, ly long là một loại rồng có màu đen, thường sống dưới đáy đầm hay hồ.

[49] Thất tú là bảy tinh ṭa trong Nhị Thập Bát Tú, do ở đây là thất tú thuộc Đông phương Thanh Long, nên thất tú chính là các sao Giác (Giác Mộc Giao), Cang (Cang Kim Long), Đê (Đê Thổ Lạc), Pḥng (Pḥng Nhật Miêu), Tâm (Tâm Nguyệt Hồ, sao Thương), Vĩ (Vĩ Hỏa Hổ), và Cơ (Cơ Thủy Báo).

[50] Trâu xanh (thanh ngưu) ám chỉ Đạo giáo v́ theo truyền thuyết, Lăo Tử cưỡi trâu xanh đi về phía Tây. “Châu vương” có nghĩa là vua trong các loại bảo châu, sánh ví chân tâm thanh tịnh. Cả câu có ư nói: Tâm thanh tịnh chân thật sẽ không bị xoay chuyển bởi những tṛ hư huyễn của thế gian như thần thông, đạo thuật v.v…

[51] Kim hành lộ (金莖露) là sương hứng từ chiếc cột bằng vàng. Theo Thần Tiên Truyện, Hán Vũ Đế tuổi già mong trường sanh, bèn ở tại cung Kiến Chương, xây dựng đài Thần Minh. Trên đài, làm tượng tiên nhân bằng đồng, hai tay nâng chiếc mâm vàng để hứng sương, coi đó là cam lộ. Vua tin rằng uống nước sương ấy (gọi là “kim hành lộ”) sẽ được không bệnh tật, trường thọ.

[52] Theo sách Hoài Nam Tử, thời Chiến Quốc, Lỗ Dương Công giao chiến với nước Hàn. Trời đă ngả chiều, sắp tối. Lỗ Dương Công tức giận vung giáo, hét lên bắt mặt trời lùi lại để tiếp tục chiến đấu. Điển tích này được dùng ở đây với ẩn dụ, người tâm ư đă thanh tịnh luôn vận dụng đạo pháp vào cuộc sống, ung dung tự tại, như dẫu trong đêm tối, pháp luân vẫn xoay chuyển sáng ngời, chẳng cần tác ư vọng tưởng như Lỗ Dương toan đảo ngược t́nh thế khi gặp nghịch cảnh.

[53] Đạo tuyền (盜泉) là suối của kẻ trộm. Ư nói vị nước suối ngon ngọt, ngay cả người như Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn thóc của nhà Châu cũng phải trộm uống thử nước suối này.

[54] Mạnh Lao là tên một thanh bảo đao của nước Lỗ thời Xuân Thu. Về sau, được dùng để chỉ chung vũ khí sắc bén nhất. Hai câu này dựa theo tên núi để ca ngợi người trí huệ chân thật giống như đeo ngàn tấm kính soi rơ bản chất của sự vật, nên thản nhiên trước mọi chỉ trích bới lông t́m vết. Do trí huệ nên biện tài mẫn tiệp cắt phăng mọi tà luận như nắm thanh đao báu Mạnh Lao trong tay.

[55] Long Thao là quyển thứ ba trong Lục Thao (một bộ cổ binh thư trứ danh tương truyền do Khương Tử Nha trước tác). Sách này tập hợp những phương sách, chiến lược, chiến thuật được coi là lời giải đáp của Khương Tử Nha dành cho các câu hỏi của Châu Vũ Vương.

[56] Khổng Minh Gia Cát Lượng từng sánh ví chính ḿnh có tài thao lược chẳng kém Quản Trọng (Quản Di Ngô) nước Tề thời Xuân Thu.

[57] Minh Hồng là một thanh đao báu thời cổ, tương truyền do chính Hiên Viên Hoàng Đế đúc thành.

[58] Theo Sơn Hải Kinh, Côn Ngô là tên một quả núi sanh ra nhiều mỹ ngọc. Về sau, được dùng để chỉ một thanh kiếm báu. Ở đây, do sánh ví bọt nước khi suối trào giống như từng miếng ngọc vụn, nên Côn Ngô phải hiểu là tên núi.

[59] Theo chú thích của người biên tập sách này, Đồng Tiêu là tên một hang đá.

[60] Vũ Huyệt thuộc Cối Kê tỉnh Chiết Giang theo truyền thuyết là nơi an táng của vua Vũ, có chôn theo các thư tích tài liệu bí mật về công tŕnh trị thủy. Hoàng tông (黃琮) là một loại ngọc quư ngoài vuông trong tṛn, được dùng trong các lễ hiến tế thời cổ.

[61] Lọng vũ (羽蓋, vũ cái): Cái lọng kết bằng lông chim.

[62] Tức Tử Dương Sùng Văn Thư Viện và Phu Văn do các vị chư sanh như Trương Hiệp, Đồng Nhân Kiệt v.v… thỉnh cầu mỗi ngày bớt một phần chi phí thắp đèn trong thư viện để cúng dường cho Tiểu Vân Thê (như đă nói trong Hiếu Sanh Ư Tập thuộc phần đầu bộ Vân Thê Vựng Tập).

[63] Diêm Vụ là cách gọi tắt của Đô Chuyển Diêm Vận Sứ Ty, là cơ quan quản lư việc buôn bán muối tại những vùng sản xuất muối.

[64] Diêm Chánh là gọi tắt của viên tên quan đứng đầu Đô Chuyển Diêm Vận Sứ Ty, tức chức quan Đô Chuyển Diêm Vận Sứ Ty Diêm Vận Sứ. Thường Diêm Chánh ở đây chính là Thường Hiển được nói trong phần đầu sách.