Vân Thê Pháp
Vựng
雲棲法彙
Phần 10
Cổ Hàng Vân Thê
Châu Hoằng đại sư trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo bản điện tử Gia
Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ
Trang
17. Vân Thê Kỷ
Sự (雲棲紀事)
17.1. Cung kính ghi lại chuyện xa giá của vua
ngự đến chùa
Cuộc đất chùa Vân Thê thuộc vùng
núi sâu, u tịch, Tăng chúng nghiêm ngặt vâng giữ lời
răn của thầy, kiền thành tu Tịnh nghiệp. May
mắn sao, vào tháng này, loan giá ngự đến dâng
hương, rủ ḷng hỏi
han nguồn cội, chẳng dám không ghi lại.
Vào ngày Rằm tháng Hai năm nay, xa giá của
hoàng thượng từ Vũ Lăng hồi loan, hoàng
thượng ghé chùa, lễ Phật xong, đến ngồi
nghỉ nơi tăng pḥng ở phía Bắc điện
đường, mở xem nội
điển (kinh Phật), thấy áo treo trên giá đều
rách nát, vá víu, bàn ghế, vật dụng đều thô thiển,
cũ kỹ. Hoàng thượng nói: “Nh́n vậy đủ biết
chư Tăng đều khổ tu, chẳng phải là kẻ
mưu cầu tiếng tăm, lợi dưỡng theo pháp
thế gian”. Do vậy, Ngài bèn hỏi chư Tăng rằng:
“Chùa này được kiến tạo từ năm nào?”
Tăng quỳ tâu rằng: “Chùa do thiền sư Phục Hổ
khai sơn vào năm Càn Đức thứ năm (967) đầu
thời Tống. Đến năm Hoằng Trị thứ
bảy (1494) cuối đời Minh, mưa dầm gây lũ
lớn, điện đường, kinh tượng đều
bị nước nhấn ch́m, hoang phế đến một
trăm năm. Tới năm Long Khánh thứ năm (1571), có
sư tổ Liên Tŕ, pháp húy thượng Châu hạ Hoằng
kết ba gian lều tranh, thiện tín dốc ḷng quy hướng,
dần dần xây dựng lại, tới nay đă là một
trăm mười chín năm”.
Hoàng thượng hỏi: “Từ khi khai sáng
đến nay, chùa vâng giữ tông phái nào?” Tăng lại tâu
rằng: “Thầy giáo huấn chuyên tu Tịnh Độ, ngày
đêm sáu thời tŕ danh niệm Phật, chỉ chú trọng
tŕ giới và phóng sanh”. Hoàng thượng liền sai thị
vệ dẫn tăng lên núi, thưởng ngoạn rừng
trúc, hái vài gốc lan, mặt rồng vui sướng, hỏi
tên và h́nh dáng các loài cây trong rừng, mỗi điều
Tăng đều kính cẩn đáp. Hoàng thượng truyền
dụ đến chỗ phóng sanh, ngắm chim, thú bay nhảy,
ḷng hoàng thượng thương xót. Lại hỏi tăng
chúng được bao nhiêu người, Tăng tâu rằng:
“Tăng chúng trong cả chùa khoảng hơn ba trăm
người, trước nay chưa hề quyên mộ, hóa
duyên, cũng chẳng trồng cấy để tự cung
cấp, nghiêm ngặt tuân thủ quy chế của tùng lâm,
đại chúng ăn uống giống hệt như nhau,
may nhờ ơn trời, cũng chẳng bị thiếu thốn!”
Hoàng thượng liền truyền thị vệ ban cho nhà
chùa năm hộp bạc trắng. Tăng chúng khấu
đầu tạ ơn, kính cẩn đưa tiễn xa
giá. Sau đó, ngày Mười Bảy, kính cẩn nhận
được ngân lượng do vua ban, dùng để cúng
dường Tam Bảo, cung chúc thánh thọ, trai tăng trọn
khắp tăng chúng, xa gần được thấm nhuần
ân đức. Kính nghĩ kinh giáo chép đầy trong Tam Tạng,
chỉ nghe hoàng đế thưởng y ca-sa, hoặc điềm
lành biểu hiện nơi ngài Khuê Phong là vào hoàng
cung thuyết pháp, chưa từng
có việc cửu trùng đích thân ngự giá, loan giá đích
thân ngự đến, sắc diện oai
nghiêm, từ ái hỏi han,
ban thưởng tăng chúng như hôm nay. Nay kính ghi chép
đầu đuôi, khắc lại
để lưu truyền muôn đời.
Ngày lành tháng Hai năm Khang Hy 28 (1689), Tăng
nhân trong chùa là Thành Kiệt và Đẳng Viên kính ghi.
17.2. Ngự bút ân tứ cho bộ Vân Thê Khởi
Cư Tổng Lục
Cung kính nghĩ rằng:
Ḷng Từ của thánh thượng rộng
khắp, che phủ núi rừng. Ân ban sâu thẳm, cúi lănh ân cao dày. Nghĩ tăng
chúng kém nhỏ, được quyến thuộc trời ban tặng trọng hậu. Đức
của bậc đế vương khó thể diễn bày,
cung kính chép lại thành sách.
Năm Càn Long 16 (1751), tức năm Tân Mùi,
đương kim hoàng đế đích thân tuần du,
đặc biệt phụng bồi Thái Hậu đến
thăm vùng Đông Nam. Tháng Ba, xa giá đến đất
Chiết, thừa dịp xem xét phong tục, ngắm khắp
núi sông. Ngày Mồng Năm tháng ấy, chùa Vân Thê được
đón xa giá ngự đến. Hơn ba trăm vị
Tăng trong chùa quỳ đón bên đường. Hoàng
thượng đến sơn môn, ban lời hỏi vị
Đương
Gia có phải
là Phương
Trượng hay không? Tăng
tâu cặn kẽ: “Theo quy ước do vị sư tổ
khai sơn để lại, mỗi năm thay người
làm chánh và phó đương gia, chẳng lập phương
trượng”. Hoàng thượng lại hỏi tông phái,
quy củ, hết thảy các việc hành tŕ như niệm
Phật, giảng kinh. Mỗi việc đều quỳ tâu
xong, hoàng thượng bước vào tiền điện, Thiền Đường và đến
trước tượng tổ Liên Tŕ đều dâng
hương tỏ ḷng cung kính. Trong ấy có bốn
mươi tám vị Tăng thuộc Thiền đường
quỳ tụng kinh Vô Lượng Thọ để cung chúc
thánh tộ[1].
Hoàng thượng đích thân đến hỏi han, căn dặn
đừng bỏ sót.
Sau đó, hoàng thượng vào trong nội
sơn, dùng bữa ăn nhẹ trong rừng trúc dày. Khi ấy,
hoa lan trên núi đang nở rộ, mùi thơm u nhă tỏa
ngát khắp sơn cốc. Hoàng thượng cảm hứng
trước sự thanh nhàn của
tăng xá, hoa cỏ khoe sắc đua hương đầy
sân, bèn ngự bút vẽ một bức tranh lan để ban
tặng.
Phía trên đề thơ rằng: “Bản sắc Tây lai ư,
Vân Thê tĩnh
thả an. Lâm tuyền từ đăi tả, tiên tả sổ
tùng lan” (Ư bản sắc từ Tây, Vân
Thê tĩnh lại
an. Suối rừng hăy đợi vẽ. Họa trước
mấy gị lan).
[Phần lạc khoản của
bức vẽ ấy ghi]:
“Ngồi ở chỗ sâu trong rừng trúc dày chùa Vân Thê, hương
lan u nhă ngát thơm, vui vẻ cảm ngộ, liền nâng bút
miêu tả cảnh sinh động. Thượng tuần cuối
Xuân năm Tân Mùi, Càn Long ghi”.
Hoàng đế lại ban biển ngạch
sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật” và hai trăm lượng
bạc trắng. Tăng chúng dâng vài món sản vật núi rừng,
hoàng thượng đích thân xem xét, truyền dụ nhận
một rương măng khô. Lâu sau, xa giá trở về Tây
Hồ. Tăng nhân trong chùa đến hành cung, cung thỉnh ấn
báu. Bảy ngày sau, xa giá của thánh thượng lại
đến, [hoàng thượng] vẫn dâng hương, lễ Phật tại
ba chỗ [như lần trước]. Xem tới bài bia và biển
ngạch do Đổng Hoa Đ́nh[2] viết, vua
liền hỏi có bản thảo gốc hay không? Tăng
chúng trong chùa dâng lên một quyển Vân Thê Bi Kư và một bản
kinh Kim Cang. Hoàng thượng viết hai chữ to
Hương Quang để làm pháp bảo vĩnh viễn trấn
giữ Vân Thê. Trên trang đầu bản kinh, lại đề
thơ, ghi:
“Trung tuần cuối Xuân năm Tân Mùi niên hiệu
Càn Long, lại ghé qua Vân Thê, t́m xem dấu tích Hương
Quang chân thật. Do vậy, ghi năm tháng.
1) Sơn tự tuy đa, thử tự u. Đặc giao thanh tất trùng lai du. Tẩy Tâm Đ́nh
biệt tiên phàm giới. Vạn kỵ phân điền hợp
trước lưu.
(Chùa núi tuy nhiều cảnh. U tịch riêng
chùa này. Khiến cho xe vua ngự, phải thăm viếng
nhiều phen. Một gian đ́nh Tẩy Tâm. Chia đôi cơi
tiên phàm. Muôn cỗ xe rộn rịp. Hăy nên lưu lại
đây).
2) Lục ngọc tham thiên kính kỷ hồi.
Thạch môn yên nguyệt tỏa môi đài. Liên Tŕ tháp viện
tự thiên cổ. Hề sự hoa tràng tọa mặc thai.
(Nẻo ngọc quanh co, trúc chọc trời.
Thạch môn rêu khóa, khói mờ trăng. Ngàn đời viện
tháp Liên Tŕ đó; há bận Mặc
Thai[3] hoa
trụ ngồi).
3) Tu hoàng thâm xứ tiểu diên nga. Hựu
giác thiềm âm kỷ hứa qua. Sơn điểu trác lâm
hoàn thái cổ. Dă hoa hội bích tự xuân ḥa.
(Rừng trúc ngừng chân nghỉ đôi
chút, bỗng thấy bóng râm dời ít nhiều. Chim rộn
vang rừng như thái cổ, hoa dại phủ sườn
non tợ Xuân).
4) Tịnh thổ hương quang huệ
nghiệp huân. Cử tàng pháp bảo ngoạn nhân cân. Lan
Đ́nh tạc quá tương hành giảo. Chân tích do doanh
Vương Hữu Quân.
(Cơi tịnh hương quang
huệ nghiệp xông. Pháp bảo
trân tàng gân guốc Nhan[4]. Lan Đ́nh
hôm trước từng so
thử. Bút tích vượt xa Vương Hữu Quân).
Ngày hôm ấy, [hoàng thượng] tức cảnh,
vịnh bốn bài tuyệt cú [như đă chép trên đây],
đều ghi sau sách để lưu truyền măi cho đời
sau. Chùa lại được ngự đề thẻ kinh[5] “Kim Cang
Bát Nhă Ba La Mật Kinh”, và ban bút tích thật sự của
Đổng Kỳ Xương. Chùa được vua ngự
giám ghi lên thẻ, cũng như ban biển ngạch “Hương
Môn Tịnh Độ” và đôi câu đối “sơn
thâm độc tịch thanh tịnh giới, trúc thúy thường
phi diệu man vân” (núi sâu riêng mở cơi thanh tịnh, trúc
biếc thường bay mây diệu kỳ). Hoàng thượng
ngự đề một bài thơ Đường luật
ngũ ngôn: “Nhất bích vạn can thúy.
Song lưu bách chiết trừng.
Trúc tuyền hành tận xứ. Môn kính đắc lai
đăng. Khánh lễ bi tâm Phật. Trù tứ khổ hạnh tăng. Chung ngư thủ
bổn sắc. Quyền phất tạ đa năng. Ải
ốc thường phương mạo. Minh châu bất
đoạn đăng. Liên Tŕ gia pháp tại, lục tự quát tam thừa” (Muôn gốc trúc xanh biếc. Trăm khúc
lượn đôi ḍng. Đi hết nguồn suối trúc. Cửa
nẻo bước vào trong. Khánh ngân, lễ đức Phật. Hỏi
han tăng khổ hạnh. Chuông mơ giữ sắc thường.
Chẳng chuộng thói khoa trương. Nhà thấp, thường vướng mũ. Minh châu luôn sáng ngời.
Gia pháp Liên Tŕ vững. Sáu chữ gộp tam thừa). [Phần lạc
khoản ghi] “mùa Xuân năm Tân Mùi, ngự bút đề bài
thơ vịnh chùa Vân Thê gồm sáu vần”.
Chùa lại được ban một bộ
Tam Hy Đường Pháp Thiếp[6] [được
chế tạo] trong đại nội, gồm ba
mươi hai quyển, một quyển trục Tâm Kinh Tháp
Bi Văn[7]
do chính hoàng thượng chép. Chùa thâm nghiêm trong núi sâu
được ơn xa giá từ xa ngự đến,
điềm trời rực rỡ, đúng là ân điển
hiếm có! Ngày hôm sau, tại đại sơn môn, cung tiễn
thánh giá hồi loan.
Năm Càn Long 22 (1757), Thái Tuế tại
Mậu[8], hoàng thượng lại cung nghênh thánh mẫu
(thái hậu) tuần du Chiết Giang. Ngày mồng Hai tháng Ba,
ngự giá chùa Vân Thê, toàn thể tăng chúng trong chùa quét
tước sạch sẽ chờ đón xa giá. Hoàng thượng
đến, hỏi tên họ, tuổi tác, quê quán của
chánh và phó Đương
Gia, cũng
như quy chế trong Thiền đường, [tăng
chúng] mỗi mỗi tâu tŕnh xong, xa giá ngự đến
chánh điện, Thiền đường và tịnh thất
của tổ sư Liên Tŕ. Vua dâng hương, kính lễ
theo đúng cách thức như trong năm Càn Long 16 (1751), vua
liền ban tặng bốn túi
hương[9]
và một đôi b́nh sứ. Vua vẫn đến nghỉ
ngơi sâu trong rừng trúc, ngự đề một đôi
câu đối: “Chỉ huy như ư thiên hoa lạc, tọa
ngọa nhàn pḥng xuân thảo thâm” (chỉ vẫy ngọc như ư, hoa trời lả tả
rơi. Nằm ngồi pḥng nhàn nhă, cỏ xuân mọc kín dày).
Khi đó, hoa trong núi đang bùng nở, sắc núi xanh biếc.
Hoàng thượng dựa lan can ngắm bốn phía, mặt
rồng rạng rỡ, liền dùng bữa nhẹ trong ngôi
đ́nh trên núi. Ngày hôm sau, sai quan to trong cung đem tới hai
trăm lượng bạc trắng ban cho tăng chúng trong
chùa. Lại dặn vị tăng trụ tŕ đến hành
cung[10], lănh hai gói
hương Đông Uyển[11], bốn túi
hương, mười sáu cuộn lụa là hoa văn rực
rỡ các màu, trong đó có hai tấm đoạn màu tím thêu rồng
năm móng. Trước đó, vào tháng Hai, chùa đă
được ban kinh Kim Cang và một bức văn bia tháp
báu do chính hoàng thượng viết. Nay lại được
long giá ngự đến, ân sủng liên tiếp ban xuống,
đúng là sự kỳ ngộ ngàn đời chưa từng
có!
Ba hôm sau, xa giá của thánh thượng lại
tới Vân Thê. Hôm ấy từ giờ Th́n đến giờ
Tỵ, mưa lớn như trút nước. Các đại
thần hộ giá lo ngại đường lầy lội,
hoàng thượng chưa thể lên núi, đều chờ thánh
chỉ tại hai chùa Lư An và Khai Hóa. Hoàng thượng lên
đến Giang Cao, vung roi ngựa tiến vào chùa. Tăng
chúng phủ phục hai bên đường. Hoàng thượng
đích thân truyền dụ “mặt đất ẩm ướt,
bảo mọi người đứng dậy”. Tiếng ngọc
truyền đến, hoàng thượng lại vào đại
điện, dâng hương lễ Phật như trước.
Các vị tăng đang lễ sám cầu phước cho
thánh thượng trong Thiền đường liền quỳ
tiếp đón, hoàng thượng hỏi vị tăng chủ
tŕ đang tụng kinh ǵ và quy củ lễ sám như thế
nào. Hoàng thượng vui vẻ. Tăng chúng nghiêm túc, chỉnh
tề, phạm âm vang vọng, người xem nghe bồi hồi
một lúc lâu. Sau đấy vua mới tiến vào chỗ
sâu trong rừng trúc. Vừa lúc mưa lớn mới tạnh,
ánh mặt trời đỏ rực, bóng cây, sắc núi xanh biếc tươi mát như
được gột rửa. Hoàng thượng thấy vậy,
rất vui; do vậy, phỏng theo cách vẽ trúc của Nghê
Vân Lâm[12] để vẽ
hai cành trúc, và ghi lời ban tặng: “Xưa kia, Nghê Vân Lâm
vẽ trúc, người ta hỏi là cây ǵ? Bức vẽ này
khá phỏng theo ư ấy. Ngày mồng Năm tháng Ba năm
Đinh Sửu, lại đến thăm Vân Thê, ngẫu
nhiên hạ bút ban cho tăng chúng trong chùa”. Hoàng đế
lại truyền thị thần ban cho các vị Tăng lễ
sám một trăm sáu mươi hai nén bạc. Ngày hôm ấy,
bệ hạ đứng ngồi dưới bóng tùng, quẩn
quanh ngắm cảnh, quyến luyến, chăm chú gần
như chẳng biết đến thời gian.
Trên đường đi, hoàng thượng
lại làm một bài thơ Đường Luật thất
ngôn ban cho nhà chùa: “Lộ nhập lâm lang cá cá thanh. Khử
nhân trần thị Tẩy Tâm Đ́nh. Thất niên huyễn
mộng thùy tham phá? Lục tự chân ngôn thử trùng thính.
Điệp vũ hoa hương tự thuyên chú. Bộc phi
thạch súc thục lưu đ́nh. Tu hoàng thâm xứ vong
cơ tọa. Thích khả y nhiên duyệt tánh linh”
(Đường vào cơi ngọc, trúc xanh xanh. Khử sạch cấu
trần Tẩy Tâm Đ́nh. Huyễn mộng bảy năm
ai tham thấu? Chân ngôn sáu chữ lại nghe đây. Bướm
lượn, hoa thơm tự diễn giải. Thác tuôn,
đá dựng há ngưng dừng. Rừng tre ngồi măi quên
toan tính. Vừa đúng an vui thỏa tánh linh).
Ngày mồng Chín tháng Ba năm Nhâm Ngọ, nhằm
năm Càn Long 27 (1762), xa giá của thánh thượng tuần
du phương Nam lần thứ ba, lại đến chùa
Vân Thê. Tăng chúng đốt hương nghênh giá. Vào đại
điện và thiền đường, dâng hương lễ
Phật xong, hoàng thượng hỏi quy chế về
Đương Gia và Giám Viện và bốn câu kệ “nhất
thiết hữu vi pháp” (hết thảy các pháp hữu vi)
của kinh Kim Cang. Tâu rằng: “Thời gian như tên bắn,
ngày tháng chẳng lặng ngừng”. Hoàng thượng tán
đồng; kế đó, vua đến trước tượng tổ
sư Liên Tŕ, dâng hương lễ kính rồi đến
nghỉ tại rừng trúc, truyền đem bút tích
Hương Quang và Kim Cang cho Ngài xem. Do giấy nhỏ, nên vua
sai đem vào hành cung, viết tiếp trên giấy lưu trữ
tại đó [bốn bài
thơ]:
1) Kính nhập vân đương tâm tẩy
trần. Xuân sơn quá vũ tễ quang tân. Chiết trung
tăng viện, tư vi tối. Bất sự trang nghiêm, sự
phác thuần.
(Nẻo vào rừng trúc, gột trần tâm. Núi Xuân mưa tạnh rực
trong ngần. Các chùa đất Chiết, chùa này nhất. Chẳng
trọng phô trương, chỉ phác, thuần).
2) Tĩnh thất tam gian đối bích
lăng. Hoa hương điểu ngữ xử tâm trừng.
Vũ dương thời hỷ nghi thái mạch. Tiếu
ngă tư chi tĩnh vị năng.
(Ba gian tĩnh thất đối non xanh.
Chim hót, hoa thơm, sáng rỡ ḷng. Mưa nắng thuận thời,
mừng lúa chín. Tự cười ḿnh vẫn cứ lăng
xăng).
3) Nhất tâm niệm lục tự chân ngôn. Y
bát hà tằng truyền tử tôn. Giám viện tuế trừ
y lệ hoán. Liên Tŕ gia pháp hỷ do tồn.
(Nhất tâm niệm chân ngôn sáu chữ. Y bát
há truyền cho cháu con? Giám viện cuối năm theo lệ
đổi. Liên Tŕ gia pháp hăy mừng c̣n).
4) Kim Cang chân tích cử Hương Quang. Sách
kiến trùng đề dật hứng thường. Tứ
cú bổn lai vô nhất tự. Cánh hà tu biện huyễn ḥa
thường.
(Bút tích Kim Cang, biển Hương Quang. Lấy
xem, đề vịnh thỏa ḷng mừng. Bốn câu vốn
sẵn không một chữ. Cần ǵ biện định
huyễn hay thường?)
[Phần lạc khoản ghi]: “Cuối Xuân
Nhâm Ngọ, tại tĩnh thất Vân Thê, viết các bài
thơ tứ tuyệt ở cuối sách”.
Ngày Mười Một tháng Ba, xa giá của
thánh thượng lại đến Vân Thê, vua dâng hương
lễ Phật xong, vào rừng trúc, ngự bút đề biển
ngạch “Nam mô A Di Đà Phật”. [Phần lạc khoản
ghi]: “Cuối Xuân năm Nhâm Ngọ đời Càn Long, ngự
bút kính đề biển ngạch Tây Phương Cực Lạc
thế giới, An Dưỡng đạo tràng. Cuối Xuân
năm Nhâm Ngọ, lại đến chùa Vân Thê, phỏng
theo cách viết của
Tô Đông Pha ngự bút”. Lại ban hai gói hương An Nam, sáu tấm lụa hoa
văn rực rỡ, hai trăm lượng bạc trắng,
bốn túi hương. Trước đó, [nhà chùa] đă tiếp
nhận ngự giám bản khắc đá kinh Kim Cang của
ḥa thượng Nghĩa Đạo đời Đường
và bản kinh Pháp Hoa do ông cùng em gái là Trần Yến Tử Đinh
cùng viết chữ nhỏ. Trên đường hồi loan,
vua lại ban hai bài thơ Đường luật:
1) Chư phong dao khán thốc liên thanh. Lộ
chuyển tùng hoàng đắc dă đ́nh. Tri thị tẩy
tâm khế nho ngoạn. Nhiêu tha niệm Phật trước
tăng thính.
(Nh́n xa rặng núi: Đóa sen xanh. Nẻo khuất
rừng tre, một chiếc
đ́nh. Biết chốn gột ḷng: Nho sĩ thích. Để
họ niệm Phật, tăng lắng nghe).
2) Tùng tân Xuân cảnh phấn đồ triển.
Y cựu sơn trai thúy tất đ́nh. Chân tích Hương
Quang liêu khiển hạ. Để luận tiền hậu nghĩ
ḥa linh.
(Cảnh Xuân lại mở bức tranh màu.
Như cũ xe vua viếng tăng pḥng. Bút tích Hương
Quang tiêu khiển ngắm. Há cần sau trước luận
tài danh).
Cuối Xuân Nhâm Ngọ, ngự đề họa
lại vận cũ:
“Ngă hữu nhạo sơn ư. Vân Thê sơn tối
u. Lục vân nhiêu tĩnh thú. Bạch túc sự thanh tu. Phạm
lại thiềm tiền lạc. Hương tuyền giai hạ
lưu. Thiểu đ́nh tiện ưng khứ. Khóa tụng
khả phương phủ?
(Ư ta ưa thích núi. Vân Thê u tịch nhất.
Trúc xanh vui thanh tĩnh. Cao tăng chuyên thanh tu. Sáo
Phạm vẳng trước
mái. Suối thơm vờn bậc
thềm. Dừng một thoáng, phải đi! Có phiền
khóa tụng chăng?)
[Phần lạc khoản ghi]: “Lại
đến Vân Thê đề thơ. Trung tuần cuối Xuân
năm Nhâm Ngọ, ngự bút”.
Tháng Hai nhuận năm Ất Dậu, tức
năm Càn Long 30 (1765), hoàng đế tuần du Chiết
Giang. Mồng Năm đến Hải Ninh Quán Đường.
Ngày Mười Một, ngự giá chùa Vân Thê, từ đại
điện đến thiền đường, đều
dâng hương lễ Phật. Sau đó hỏi tên họ,
quê quán, tuổi tác của chánh và phó giám viện, cùng các việc
lễ sám. Tăng chúng trong chùa lần lượt tâu cặn
kẽ từng điều. Hoàng thượng liền truyền
lệnh thực hành lễ sám. Vua xem hồi lâu rồi đến
tĩnh thất
của Tổ Liên Tŕ, cũng dâng hương kính lễ. Sau
đó, vào rừng trúc sâu, ngự đề một đôi
câu đối: “Thủy hướng thạch biên lưu
xuất lănh, phong tùng hoa lư quá lai hương”. (Nước
lạnh chảy từ bên kè đá. Gió lùa vờn hoa, tỏa ngát
hương). Vua truyền đem bản chép kinh Kim Cang của
Đổng Hoa Đ́nh về hành cung để chép thêm các
bài tứ tuyệt:
1) Vân Thê bổn thị cựu Thê Chân. Vô tục
trần duyên hữu tịnh nhân. Giang ngạn Tây hành tài Bắc
chuyển. Dẫn nhân nhập thắng kiến thương
duân.
(Vân Thê vốn viện Thê Chân cũ. Vô duyên
trần tục, chỉ tịnh nhân. Sông chảy từ Tây,
sang Bắc ngoặt. Dẫn người ngút mắt búp
măng xanh).
2) Thạch kiều giản thủy kỷ
oanh hồi. Tri thị Tẩy Tâm Đ́nh hạ lai. Khước
ngă đáo đ́nh vong sở tẩy. Bổn lai vô vật nhạ
trần ai.
(Nước luồn cầu đá mấy tầng
quanh. Từ Tẩy Tâm Đ́nh tuôn tới đây.
Đến đ́nh toan rửa ǵ, quên bẵng! Vốn sẵn
chẳng vật nhuốm bụi trần).
3) Tháp viện liên tŕ khúc kính Đông. Xà lê kim
thượng thủ tông phong. Chưởng gia chánh phó luân
niên dịch. Lưỡng tự xuất gia đồng bất
đồng.
(Phía Đông nẻo nhỏ tháp Liên Tŕ. Xà-lê
nay vẫn giữ tông phong. Đương gia chánh phó hằng
năm đổi. Hai chữ xuất gia đồng, bất
đồng?)
4) Kinh đường tả chuyển trắc
sùng tiêu. Tinh xá nhàn bằng ư tự siêu. Sơn hủy
đương Xuân đô tịch tịch. Tu hoàng bất
vũ diệc tiêu tiêu.
(Kinh đường sang trái, lên cao vót. Dựa rào tinh xá, ư tự siêu. Cây
cỏ đương Xuân đều lặng lẽ. Rừng
trúc không mưa
vẫn xạc xào).
[Phần lạc khoản ghi]: “Tháng nhuận
mùa Xuân năm Ất Dậu, sang chơi Vân Thê, lại làm bốn
bài tuyệt cú, chép ở cuối sách”.
Ngày hôm ấy, vua sai Phổ đại nhân dẫn
chánh và phó giám viện đến hành cung lănh thưởng gồm:
Bạc trắng hai trăm lượng, tám khúc gấm
đoạn, bốn cân hương An Nam, tám bó Tạng
hương, và bức tượng ngự chế khắc
đá chân dung tổ Hoàng Long. Ngày Mười Sáu, xa giá của
thánh thượng lại đến Vân Thê, vẫn dâng
hương lễ Phật ba nơi xong, vua vào hậu
sơn nghỉ chân, truyền lệnh thị thần đem
bút tích lan hoa đối chiếu với bản khắc
đá. Ngày Mười Chín, tiễn xa giá hồi loan. Trên đường,
vua lại ban hai bài thơ Đường luật:
1) Vạn lục quỳnh can sâm hán thanh. Thập
tầm chi kiến hạ đ́nh đ́nh. Thử trung tầm
lộ nhất thời đáo. Giáo ngoại vô ngôn lục tự
thính.
(Muôn cành quỳnh biếc chọc trời xanh. Cành nhánh mười tầm rủ thướt tha. Nơi đây t́m lối
liền t́m được. Ngoài giáo không lời sáu chữ
nghe)
2) Tọa đối khê thanh lưu bất tận.
Liễu đồng sơn sắc trĩ thường
đ́nh. Đạo tràng khai hậu ư thố tỵ. Tá vấn
sơn tăng thị để linh.
(Ngồi nh́n suối chảy reo không ngớt.
Hiểu ra sắc núi tĩnh vô ngần. Đạo tràng mở
rồi cọp xa lánh. Xin hỏi
sơn tăng linh cỡ nào?)
[Phần lạc khoản ghi]: “Chùa Vân Thê,
lại họa theo vần cũ. Trung tuần tháng Nhuận
mùa Xuân năm Ất Dậu, ngự bút”.
[Lại c̣n đề
rằng]: “Vân Thê tối ái u nhi phác. Mỗi chí Tây Hồ tất
vũ lai. Y cựu ải thiềm hoàn khúc đổ. Để
tu hương các tủng trù đài. Cử đầu trúc mật
tàng phong tuấn. Phác tỵ lan hinh quá vũ tài. Hiệp
chưởng xà lê bất nhiêu thiệt. Chân ngôn lục tự
dĩ vân cai” (Vân Thê mộc mạc mà u tịch, là chỗ
ta yêu mến nhất đời. Hễ đến Tây Hồ
mưa ắt giội. Như cũ tường vây
hiên thấp tè. Cần chi
đài các phải cao vót. Ngẩng đầu trúc phủ non chênh
vênh. Mưa tạnh, hương lan
thơm ngát
mũi. Tăng
sĩ chắp tay, không nịnh hót. Chân ngôn sáu chữ đă
bao trùm).
[Phần lạc khoản
ghi]: “Lại sang chơi Vân Thê, cảm tác, trung tuần
tháng Nhuận mùa Xuân năm Ất Dậu, ngự bút”.
Ḷng luôn vương vấn, tuy rời đi
mà chẳng quên như thế đó. Đó là v́ chùa cổ Vân
Thê là nơi nổi tiếng trong vùng Việt Thủy:
Núi sâu u tĩnh, thường thấy
ráng trôi chiếu xuống mặt đất, đường
quanh co khúc khuỷu, lại càng thấy sắc xanh biếc trùm
khắp trời. Như tổ sư của chúng ta là Liên Tŕ
lăo nhân, nương theo gốc thiêng của đức Cù
Đàm, do cội nguồn thiện huệ, bỏ Nho học
Phật, toan cắm tích trượng trong núi sâu, dưỡng
tánh nơi Thê Chân, bèn kết lều tranh nơi chỗ trống
không. Mây hương vờn quanh, phủ trọn kinh lá bối.
Cây báu um tùm, luôn phẩy ṭa hoa sen. Thoạt đốt đuốc
pháp, đèn Thiền riêng chiếu ở Giang Cao. Phát khởi
rộng lớn pháp luân cát tường, nẻo giác cùng mở
nơi non Thứu; may gặp bậc kim luân của quốc
triều ngự thế, Phật nhật lại được
chiếu tỏa sáng ngời. Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế
(Khang Hy) năm lượt ngự giá núi này, lưu lại
thi văn về tùng và mây được khắc trên đá.
Chùa vinh dự được Thánh Tông Hiến Hoàng Đế
(Ung Chánh) ban phong hiệu “tam thừa xiển giáo” viết
bằng chữ vàng. Cho tới đức hoàng thượng
ta lễ kính chư Phật, ân trạch thấm đến
chiên đàn, bốn lượt
sang đất Chiết, tám lượt vào núi Vân Thê. Ngự
bút rạng rỡ, cùng thọ với núi sông. Văn
chương của bệ hạ chói ḷa, thường cùng mới
mẻ như mặt trời, mặt trăng. Chẳng tiếc
vật trân quư nơi Thượng Phương, nhiều
lượt thưởng tiền vàng từ nội phủ.
Trúc biếc, hoa vàng, đều đẫm mưa ngọt. Tùng
to, cỏ mịn, đều hưởng trận gió ôn ḥa.
Đúng là sự gặp gỡ lạ lùng trong trăm đời,
đúng là ân điển khác thường từ đấng
cửu trùng. Những vị tăng đích thân dạo cơi
Hương Tích, tuy tham học tối thượng thừa,
học rải hoa trời, nguyện chứng quả Bồ
Đề, đều do được ban ân điển
nhiều phen như thế, trộm sợ chưa báo đáp
được chừng bằng mảy giọt, chỉ tụ
họp các tăng chúng nơi Lộc Uyển, kính chúc tụng
một người mừng vui, lại dốc cạn lời
kinh tiếng kệ, thượng chúc vạn thọ vô
cương.
Vị tăng trụ tŕ chùa Vân Thê kính cẩn
ghi.
* Ghi lại
chuyện thời Gia Khánh
Ngày Hai Mươi Sáu
tháng Giêng năm Gia Khánh 18 (1813), có chiếu truyền rằng:
“Cao Kỷ tấu tŕnh vào mùa Đông năm trước,
chùa Vân Thê ở Hàng Châu bị hỏa hoạn, cháy sạch
hơn sáu mươi gian điện đường, pḥng ốc,
đến nỗi bức ngự bút vẽ lan và bốn bộ
pháp thiếp Tam Hy Đường được khâm ban thời
Càn Long đều bị thiêu hủy. Nay đem tăng
sĩ và các quan viên chẳng dốc sức cứu chữa
giam vào nơi phạt riêng. C̣n như pḥng ốc trong chùa vốn do
tăng nhân tận tụy kiến tạo, vẫn truyền
khẩn thiết quyên mộ kiến tạo.
Chùa Vân Thê vốn là chùa cổ nổi tiếng
ở vùng Chiết Giang, tuy nói là do tăng nhân tận tụy
kiến tạo, trọn chẳng phải là được
xây dựng bởi kinh phí được ban cấp đặc
biệt, nhưng nhiều lượt được xa giá
của thánh thượng ngự đến, nhiều phen được
khâm ban mặc bảo (ngự bút), kính cẩn bảo quản.
Nay chẳng cẩn thận bị hỏa hoạn, ngoại
trừ bức vẽ hoa lan đă bị cháy mất, pháp thiếp
Tam Hy Đường trong nội phủ hiện c̣n giữ
được nhiều bản, lại ban một bộ,
giao cho nhà chùa kính cẩn, tôn trọng ǵn giữ. Bộ bị
đốt chẳng toàn vẹn và những thứ kèm theo sẽ
gởi về kinh để tường tŕnh. C̣n các pḥng ốc
trong chùa bị thiêu hủy, cũng nên sớm sửa chữa,
sai Thường Hiển thuộc Diêm Vụ Nội cấp
phát năm trăm lượng bạc, giao cho tăng chúng
trong chùa ấy lănh nhận để tu bổ. Nếu chẳng
đủ, sai họ quyên mộ thêm để lo liệu
cũng được. Đem lời này truyền bảo
Cao Kỷ, và tuyên dụ cho Thường Hiển biết.
Khâm thử!”
Năm Gia Khánh 17 (1812), chùa Vân Thê chẳng cẩn
thận bị hỏa hoạn, long tượng cháy sạch,
do quan to tâu lên, [triều đ́nh] ban tiền để sửa
chữa. Chùa có bộ sách Pháp Vựng quả thật là khuôn
phép cho tăng lẫn tục, bản khắc lưu giữ
cũng bị đốt rụi, cả nước tiếc
nuối. Tháng Năm năm Gia Khánh 18 (1813), thiện tín là ông
Đinh Song Hồ phát nguyện khắc lại sách ấy. Lại
do bản đă khắc chẳng phải không có lỗi chữ
khắc bị sai sót, bèn ước hẹn mấy vị
cùng chí hướng, đem những bản cũ đă in
c̣n giữ được, dốc ḷng giảo chánh, xem xét,
soạn thành bản hoàn chỉnh giao cho thợ khắc. Chuyện
chưa xong, ông Song Hồ đă mất v́ bệnh. Em của
ông là Cổ Tùng và ông Cố Hậu Dư bèn nối gót lănh
trách nhiệm, đổ tâm lực suốt năm mùa nóng lạnh,
tới tháng Sáu năm nay mới hoàn tất. Trong thời
gian đó, vị tăng Dữ Hài của chùa Vân Thê đă ở
chùa Lư An, đă cung kính sao lục bài thơ tán dương
h́nh tượng thiền sư Tịnh Diệu Chân Tu do Thế
Tông Hiến Hoàng Đế (vua Ung Chánh) ngự chế
được ban tặng vào năm Ung Chánh 13 (1735), kính cẩn
khắc thêm vào, đặt ở đầu bộ Vân Thê Kỷ
Sự. Từ đây, điển tịch văn hiến của
chốn sơn môn xem như đă tạm được
đầy đủ. Mạt học Đ́nh Khánh nông cạn,
nay lạm giữ chức trách hiệu đính, vui mừng
thấy sách được khôi phục từ tro tàn. Qua
đó lại càng tán thán
công lao khởi xướng ban đầu của ngài Song Hồ,
công sức hoàn thành bản khắc của hai vị Cổ
Tùng và Hậu Dư, cùng các vị cùng chí hướng hiến
tặng pháp bảo, tiền tài để hoàn tất suông sẻ
chuyện này. Tuy công lao có lớn, có nhỏ, nhưng thấu
hiểu tấm ḷng gây tạo điều thiện cho
người khác của thiền sư, đều theo lệ
bất cứ ai đă bỏ công góp sức đều
được ghi nhận để biên chép đầy
đủ ḥng nêu bày cho người đọc sau này.
Thượng
tuần tháng Sáu năm Gia Khánh 23 (1818), đệ tử
Phật là Châu Đ́nh Khánh kính ghi.
17.3. Bi
kư trùng tu Vân Thê Thiền Viện
Mạch núi Hàng Châu bắt
nguồn từ rặng Thiên Mục, được bao ṿng
bởi ḍng Thiều Thủy, ôm lấy Thánh Hồ, xuôi
về Nam, chấm dứt tại sông lớn (sông Tiền
Đường), quặt về phía Đông, tạo thành dăy
Phượng Hoàng là nơi từng có cố cung của nhà
Tống. Ngược ḍng về phía Tây khoảng hai
mươi dặm là núi Ngũ Vân. Từ chân núi, đi bốn,
năm dặm về phía Tây là Vân Thê Ổ, nay chính là
đạo tràng của thiền sư Liên Tŕ. Thế
đất g̣ đồi xen lẫn đất bằng, hang
hốc sâu kín, rành rành là chốn hoang vu, tách biệt với
hồ và núi. Cảnh từ ồn náo biến thành u
tịch, cuộc đất trừ khử ô uế, trở
thành thanh tịnh, hệt như từ bỏ thế gian! Ngọn
núi ở ngay nơi khúc quanh thứ ba của sông lớn. Khi
sóng cả từ cửa biển như tuyết phun, bủa
vỗ như sấm rền, tới đây đều hóa thành ḍng sông
hiền ḥa, mênh
mông, tràn đầy, hệt như người tu
hạnh nhẫn nhục, tiêu hết sân hận. Theo vách núi
phía Đông đi lên, có ngọn Bích Quán là nơi bắt
nguồn con suối Thanh Long. Bên cạnh đỉnh núi chính
giữa, lại chảy ra ra một con suối có tên là
suối Thánh Nghĩa. Dưới vách núi phía Tây, lại chảy
ra một con suối, có tên là suối Kim Dịch.
Nước tuôn róc rách, ngọt mát, tưới trào chẳng
cạn hệt như hạnh lợi sanh. Nơi này chẳng
phải người hữu đạo sẽ chẳng thể
ở, mà đạo lực của người sống ở
đó cũng được trợ duyên.
Từ
thời Tống, thiền sư Phục Hổ trong núi, cho
tới quốc triều, tuy trong niên hiệu Thiên Hy[13]
hơi được mở mang thành chùa, nhưng nhiều
lượt hưng phế, hóa thành chốn rừng rậm
đă lâu. Vào năm Long Khánh thứ năm (1517), Sư
khất thực tại thôn này, dường như có sự
khế hợp âm thầm, bảo: “Xương ta gặp
được ngọn núi gởi xương, có thể
ở đây đến già”. Sư bèn dựng ba gian
lều tranh, ngồi Thiền tụng kinh, có chí
hướng ở đây trọn đời. Các thôn trong
ṿng bốn mươi dặm thường có hổ dữ,
nhưng Sư dùng ḷng từ ngăn cản hổ giết
chóc, hổ chẳng làm hại người. Gặp năm
hạn hán cầu mưa, th́ mưa dầm liền
đổ xuống, chẳng c̣n nạn hạn hán. Dân cư
lấy làm lạ, tranh nhau kéo đến dựng nhà, lấy
gỗ từ trên núi, xây móng trên nền cũ, dân chúng
hết sức ḥa hợp. Sư nói: “Cung điện
Tỳ Lô khắp pháp giới, trọn hư không, bước
đầu kiến tạo, chẳng nhọc công đàn na
tín thí xây dựng. Chỉ có pháp đường để
thờ phụng kinh luật, Thiền đường cho
tăng chúng ở, đó là điều cần gấp”.
Chùa đă lạc thành, cảnh chùa hoang phế trăm
năm khôi phục quang cảnh cũ. Đấy là duyên
khởi của Vân Thê.
Đệ
tử thị giả của Sư cho rằng công lao khai
sáng của bậc cổ đức và công sức đóng
góp của thí chủ chớ nên bị mai một, xin tôi viết
bi kư. Tôi sao hiểu được chuyện xuất
thế, nhưng trộm có niềm cảm khái trước sự
hưng suy của Phật pháp. Xưa kia vào thời
Đường - Tống, kẻ sĩ coi thường
chẳng làm tướng quân hay thừa tướng th́
mới xuất gia làm bậc đại tăng ḥng giải
quyết xong xuôi chuyện sanh tử trong trăm ngàn ức
kiếp. Do vậy, họ giới hạnh nghiêm ngặt,
tông phong chót vót, có thể trực tiếp cảm hóa quỷ
thần, thuần phục dị loại, hoặc
được người tu, kẻ tục đều quy
y, hoặc được đế vương lễ kính.
V́ đó, danh lam tịnh sát rất nhiều, rất hưng
thịnh. Thời gần đây, do khoa cử thâu nạp
nhân tài, kẻ sĩ chẳng đỗ đạt, do
kiếm ăn mới dấn thân vào chùa. Do vậy, tại
xích huyện thần châu (Trung Hoa), chùa chiền san sát,
kẻ đầu tṛn áo vuông chen chúc tụ hội thành
từng nhóm cả trăm, cả chục người,
nhưng nếu t́m bậc Thiền giảng, luật sư
giống như bậc tôn túc thời cổ, há có được
mấy ai? Nếu
sai khiến [bậc sử gia như] Nhậm
Đại Niên gọt giũa sử liệu, hay [bậc cao
tăng] như ngài Tịch Âm múa bút ghi chép, suốt hai
trăm năm qua, lại có mấy ai đáng
được chọn làm bậc Tăng bảo truyền
đăng? Như vậy th́ dẫu [chùa chiền xây
dựng] trang nghiêm, gỗ đất được giát
ngọc thếp vàng, cao vót tận trời, rộng cả
mười do-tuần, có ích chi đâu? Rơ ràng cái
tướng suy vi của pháp đạo đă hiện
rồi vậy!
Thầy
vốn là bậc danh sĩ chốn học đường,
thoạt đầu mong dùng bổng lộc để
phụng dưỡng [cha mẹ] ḥng tṛn chữ hiếu, sau
đấy nhận biết hoằng dương Phật
pháp ḥng báo ân mới là hiếu, như ngựa kỳ,
ngựa kư sung sức hóa thành long tượng, bỗng
vượt khỏi tâm niệm thuở đầu, cố
nhiên đă vượt ngoài ṿng danh văn lợi
dưỡng rồi! Cụ Bàng Uẩn vứt sạch [gia
sản] trăm vạn xuống ḍng Hán Thủy, ngài Tăng
Thiệu xông pha tam độc để khai hóa vùng Nhiếp
Sơn, há riêng chiếm hết tiếng thơm ư? Sư
kể từ khi làm chủ pháp ṭa đến nay đă hơn
ba mươi sáu năm, hành theo Phạm Vơng, dốc chí
nơi Quán Kinh, lấy Đông Lâm làm mẫu mực cho
Tịnh nghiệp, lập thanh quy theo ngài Bách Trượng,
phân tích nghĩa sớ theo ngài Ngọc Tuyền, biện
định Tông Thừa theo ngài Huệ Nhật, phá tan
Ấm Ma như ngài Bản Độ Không, dẹp hư
luận như ngài Tú Thiết Diện. Vân Thê tuy u tịch,
hoang sơ và mộc mạc, không có các thứ trang nghiêm,
nhưng người có Thiên Nhăn Thông ắt nói: “Đây là
chỗ tháp miếu của chư Phật thuở
trước”. Người có Thiên Nhĩ Thông ắt nói:
“Tiếng nước chảy, tiếng chim hót, tiếng gió
lùa qua rừng cây đều là tiếng niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng”. Người có Túc Mạng
Thông ắt nói: “Vị cổ đức nào đó tái lai”. Dẫu
gió lốc Tỳ Lam quật đổ núi, vẫn chẳng
thể [khiến nơi này] lay động; dẫu
lụt lớn ngập trời vẫn chẳng thể nhấn ch́m.
Pháp đạo hưng thịnh tại Vân Thê có chỗ
dựa to lớn thay! Đại sư soạn Di Đà Kinh
Sớ Sao, Truy Môn Sùng Hạnh Lục, Thiền Quan Sách
Tấn v.v… mấy chục loại sách đều
được khắc in, lưu hành trong cơi đời.
Sư họ ngoài đời là Trầm, pháp húy Châu Hoằng,
pháp tự Phật Huệ, người xứ Nhân Ḥa.
Tháng
Chín năm Vạn Lịch 32 (1604) đời Minh, Thái Tử
Thiếu Bảo Lục Thụ Thanh đă chín mươi sáu
tuổi đề biển ngạch.
Sử
quan Đổng Kỳ Xương soạn văn và viết
chữ.
17.4. Bi kư nơi pháp đường Thiền
viện Vân Thê ở
Hàng Châu
Xưa kia, đức Thế Tôn dùng năm
thời để phô bày giáo pháp, ẩn, hiển, Quyền,
Thật, tùy thuận [các căn cơ] mà
ban bố chẳng sai lệch, như mền
ấm hay chiếu mát, tùy thời mà kiến lập [giáo
pháp] sai khác, cốt sao ứng hợp căn cơ, thích hợp
cội rễ mà thôi! Khi chánh pháp truyền sang phương
Đông, thầy tṛ xác lập ba tông đối ứng là Giảng,
Luật, và Thiền. Tuy chia thành ba, nhưng đều
là đường về cùng một
lối, như vua tôi thay nhau mà sử dụng; đấy
cũng là nhằm gồm trọn hết giáo pháp trong một
đời đức Phật. Thiền sư Trung Phong ở
Thiên Mục từng nói: “Mật Bộ như mùa Xuân, Từ Ân (Pháp Tướng Duy
Thức) như mùa Hạ, Nam Sơn Luật Tông như mùa
Thu, ư chỉ giáo ngoại biệt truyền như mùa Đông”. Từ khi ánh sáng từ đèn tổ nơi
ba tông bị suy lụn, pháp lâu ngày đa phần nẩy sanh
thói tệ tràn lan. Các loại thuốc (các phương tiện
đối trị) được thực hiện quyền
biến, tuy noi theo đường lối “ĺa nói năng,
dứt bặt dấu tích”, nhưng ngôn từ và dấu
tích vẫn trọn đủ. Ngài Đại Trí (tổ Bách
Trượng) sáng lập quy củ (thanh quy) bao gồm giới
luật, ngài Khuê Phong giảng giải kinh th́ Giáo được
thiết lập, cho tới các vị Vĩnh Minh, Thiên Y trở đi, đa phần gởi gắm
ư chỉ liên bang, ngầm nêu [ư chỉ] “tâm chính là cơi”,
tŕ danh tịnh niệm, gần như gọi là Mật vậy.
Như vậy th́ một tông Thiếu Lâm đă có đủ
bốn mùa. Do vậy, nh́n theo đó, một luồng khí có
nóng, lạnh th́ mới thành một năm, một âm thanh có
mở (khai, cho phép) hay ngăn (giá, cấm đoán) th́ mới
có thể giáo hóa, xiển dương, không ǵ chẳng do
cơ nghi (theo đúng lẽ thích hợp căn cơ và thời
thế) mà kiến lập, gặp biến bèn thông: Hoặc
tách ra để nêu riêng các tông, hoặc gộp lại để
thành tựu điều trọng yếu, đích đến
vốn là một vậy.
Nhằm thời mạt pháp suy vi, người
học [hiện thời] chỉ dựa theo văn tự,
ngôn từ để thông hiểu, chưa từng có sự
[thâm nhập, chứng ngộ] như cổ nhân. Trước
là sanh tâm nghiên cứu mấy tác dụng cực sâu, nhưng
vẫn cứ thuận theo bẩm tánh nơi Hữu, toan nhờ
vào Không để ngăn ngừa lỗi, thế mà cứ muốn
khế hợp trọn vẹn pháp giới, ngầm trở
về nguồn tâm, vậy th́ có khác ǵ trẻ thơ đùa
bỡn, nói mớ khi ngủ mê ư? Than ôi! Thiền học
thịnh mà coi nhẹ Giáo và Luật, Thiền học suy mà
Giáo và Luật diệt mất! Đồ chứa nứt vỡ,
mầm mộng cháy lép, chẳng chuyên chở được
đạo, vẫn huênh hoang bảo đại chúng rằng:
“Tông của ta cố nhiên là như thế”. Oai nghi, khuôn phép
lỏng lẻo, quán hạnh cũng nứt vỡ, diệt
mất, giáo pháp đơn truyền của tổ Bồ
Đề Đạt Ma cũng bị quét sạch. Buông lung,
đọa lạc, không ǵ hơn lúc này!
Đường tối u ám đă lâu, mặt
trời trí huệ mới mọc. Do vậy, Vân Thê đại
sư ứng theo pháp vận, nương theo từ nguyện,
hạ sanh trong ḍng họ có danh vọng, nổi danh trong
vườn Nho. Sau đấy, Ngài từ bỏ vinh hoa, ĺa
ái, xuống tóc, khoác áo thâm, thọ Cụ Túc Giới, mang
đăy đi tham học khắp nơi chẳng biết mệt.
Năm Tân Mùi (1571) trong niên hiệu Long Khánh, Ngài mới trở
về trụ tích tại Tây Ổ núi Ngũ Vân thuộc Vũ
Lâm, là nơi c̣n có di tích chùa cổ
của ngài Phục Hổ đời Tống. Nền móng
đă mục nát, tường đổ chỉ c̣n dấu vết,
nhưng Sư vẫn gối sương đội sao, an
nhiên tĩnh tọa nơi ấy. Lâu sau, Ngài mới dẫy
cỏ, dựng lều tranh, giường dây, bát sành, riêng
ḿnh hưởng pháp lạc trong ấy! Giới đức
hun đúc, sự giáo hóa huyền diệu lan tỏa, ḷng từ
cảm hóa mănh thú, ḷng thành cảm mưa dầm. Do vậy, dân chúng gần xa nghe danh, tranh
nhau t́m đến chở gỗ, bỏ công như nước
dồn vào hang sâu. Chẳng lâu sau, công tŕnh hoàn tất, vẫn
dùng tên gọi ban đầu là Vân Thê Thiền Viện. Chẳng
xây cửa tam quan, điện đường, c̣n bếp,
nhà tắm vừa đủ dùng, chỉ có Thiền thất
và pháp đường được xây dựng cao rộng
hơn để thờ kinh tượng và tụ tập
tăng lữ. Đó là chí nguyện từ trước của
đại sư.
Đại sư dạy bảo trừ khử
giả dối, uốn nắn những thói sai lầm, chú trọng
giản lược, trừ hư luận, một mực
nương theo lẽ chân thật ḥng đạt tới diệu
ngộ, tức là điều duy tŕ kỷ cương cho
người tu lẫn kẻ tục không ǵ lớn hơn
hành tŕ. Do vậy, Ngài soạn bộ Truy Môn Sùng Hạnh Lục.
Che chở muôn loài không ǵ bằng đề cao ḷng từ; do vậy, Ngài có bài Giới Sát Phóng Sanh
Văn. Giữ nghiêm giới luật hữu ích cho chúng sanh lẫn
chính ḿnh, không ǵ rộng bằng Phạm Vơng. V́ thế, Ngài
có tác phẩm Giới Sớ Phát Ẩn Nghĩa. Chỉ
thẳng lẽ đốn siêu, quyết chứng chẳng tràn lan, không ǵ trọng yếu
bằng Thiền. Do vậy, Ngài có bộ Thiền Quan Sách Tấn.
Nhằm tạo cầu bến to lớn cho các đời
sau, trong các phương tiện, nêu ra phương tiện
thù thắng, thích hợp trọn khắp các căn cơ, cắt
đứt tam giới theo chiều ngang, không ǵ nhanh chóng bằng
Tịnh Độ. Do vậy, Ngài trước tác Di Đà
Kinh Sớ Sao. Ngài từng nói: “Thuốc A Già Đà chữa
bệnh, như ư châu tuôn ra chất báu, xuyên suốt chung mọi
đường lối, chỉ có nhất tâm tŕ danh đó
chăng?”
Ngài coi tinh tấn là hạnh, dùng tịnh làm luật, coi khế nhập
là pháp, coi rốt ráo là Thiền. V́ thế, những điều
đại sư diễn xướng không ǵ chẳng trọn
vẹn, nhưng có tông thú nhất định. Đồ
chúng tăng, tục đều ngưỡng vọng đại
sư như tổ Thiện Đạo, coi Vân Ổ là Cực
Lạc. Các nơi xa xôi như Giao Châu, Quảng Châu, Dung, Thục,
U Châu, Tinh Châu, Kư Châu, Sóc Châu, không ai chẳng ngại chai sần
bàn chân t́m đến quy y, lễ bái, những người
vươn cổ mong ngóng được giáo hóa và chen chân
trong cái thất đông nghẹt chẳng thể đếm
xuể. Nhưng Ngài càng ẩn kín sự thông hiểu, hiển
lộ sự hành tŕ, khiêm cung, chẳng ngạo nghễ,
đau đáu đè nén thói ngông cuồng, phóng túng, đích
thân làm bờ đê [ngăn chặn], suốt đời
khiêm tốn, đặt ḿnh vào địa vị học tṛ.
Dù là tăng sĩ b́nh phàm hay kẻ sĩ đơn độc
đến bái yết, Ngài đều đối xử lễ
độ như nhau. Ôi
chao! Chẳng phải là bậc đức dày, sao có thể
đạt tới như thế được?
Có kẻ mê muội cho rằng chùa mang tên Thiền,
hăy nên đóng chặt các lối rẽ khác, chỉ noi theo
phương hướng to lớn, tiếp nối và nêu tỏ
tông chỉ đơn truyền thẳng thừng từ
trước đến nay, coi đó là khuyết điểm của đại
sư. Phàm người trị thủy (chế ngự
lũ lụt), có lúc phá đê cho nước chảy đi,
có khi đắp đập để giữ nước.
Đối với đứa trẻ đang bú sữa, có
khi bôi chất đắng [lên vú] để trẻ khỏi
bú, có lúc rửa sạch để trẻ bú sữa, chỉ
nhằm
thích hợp lẽ đáng nên. [Hiện thời], cơi đời
xuống dốc, [con người] quen thói chụp giật,
tà sư hiểu biết lầm lạc như sóng cuồn cuộn,
như ngựa rảo vó. Nếu cứ chăm chăm diệt
tướng, hủy giáo, coi tŕ và phạm như nhau, coi tịnh
và uế bằng nhau, [khác nào] khơi mương máng trong
mùa Thu khô hạn, chẳng cho đứa trẻ đang
đói được bú, há có phải là đạo của
bậc đại sĩ nâng đỡ thời thế, ứng
hợp cơ duyên, vực dậy lúc đạo suy vi tột
cùng, chấn hưng cái sắp bị tuyệt diệt
ư? Thế tục có kẻ khéo vẽ rồng, nhưng
khi thấy rồng thật bèn kinh hoảng. Kẻ trộn
lẫn canh cùng bùn đất, lại chê cười người
cấy cày[14],
cũng chẳng sai lầm lắm ư? Núi này h́nh thế
thù thắng, cùng với duyên khởi sáng lập thiền viện
đă được chép tường tận trong bài kư do
đại sư soạn và bài bi kư của Thái Sử Đổng
Kỳ Xương, cho nên chẳng nói cặn kẽ nữa.
Sở dĩ Sư ứng hóa là để cứu vớt cơi
đời, có công với tông thừa, [cho nên tôi soạn bi
kư] khắc vào đá đặt tại giảng đường
ḥng lưu truyền măi măi.
Đệ tử là cựu Tiến Sĩ Quốc
Tử Giám Tế Tửu đă cáo lăo hồi hưu Đào Vọng
Linh soạn văn, khắc bia nhằm ngày lành Giáp Thân,
tức mồng Ba tháng Ba năm Kỷ
Dậu, nhằm
năm Vạn Lịch 37 (1609).
17.5. Tự chí Vân Thê Lan Nhă
Ngọn
cao nhất nơi núi non đất Hàng là ngọn Ngũ Vân.
Khi lên đến đỉnh, hai ngọn núi cao Nam, Bắc trông
như con cháu. Thế núi xuôi theo hướng Tây Nam, c̣n sông
lớn quặt về phía Đông Bắc rồi hội
tụ. Khí linh tú của trời đất ngưng tụ, nung
đúc bậc hiền tài chưa hết, ắt sẽ có
bậc tuấn kiệt xuất thế, nương theo
bổn nguyện mà lợi sanh, chính là Liên Tŕ đại
sư của chúng ta vậy.
Trước
kia, núi này có tên như thế là do có mây lành ngũ sắc vờn
quanh đỉnh núi; sau đó, mây trôi tụ về khe núi phía
Tây một lúc lâu chẳng tan, nên lại gọi khe núi ấy
là Vân Thê (雲棲, mây
đậu). Nơi đó có lan nhă (chùa) do vị tăng Chí
Phùng khai sơn. Ngài Chí Phùng có đạo hạnh, hổ
dữ thuần phục, người đời gọi Ngài
là Phục Hổ thiền sư. Thuở đầu, Ngài
dựng am trên đỉnh Ngũ Vân, trong niên hiệu Thiên Hy,
được ban biển ngạch là Chân Tế Viện, [triều
đ́nh] lại c̣n mở thêm hai viện là Vân Thê và Thiên Tŕ,
hợp thành ba ngôi chùa, nhưng Vân Thê được coi là
nơi u tịch nhất. Gần cạnh vách phía Đông và
Tây của ngọn
núi chính
giữa, có ba con suối nổi tiếng là Thanh Long, Thánh
Nghĩa, và Kim
Dịch. Đỉnh cao nhất nơi rặng phía Đông
là đỉnh Bích Quán, đều là tên gọi của
những ngọn núi và suối ở phía sau chùa. Con
đường ṃn [vào chùa] đi từ thôn Phạn chừng mười
dặm, khe suối, núi non thăm thẳm, cỏ cây dày
đặc, cách biệt hẳn cơi nhân gian; đây quả
thật là chỗ A Luyện Nhă để tu hành chân chánh.
Nhưng sau ngài Chí Phùng, người sống ở đó
cực ít, bốn trăm năm sau mới có đại
sư. Đại sư húy là Châu Hoằng, hiệu là Liên
Tŕ, là con nhà họ Trầm ở Hàng Châu. Thuở đầu, Ngài học
Nho có tiếng tăm rất lừng lẫy trong chốn trường ốc.
Do duyên xưa thúc giục, Ngài bèn xé rách lưới trần,
soạn bài ca từ giă cơi đời, xuống tóc làm
Tăng. Sau khi tham học trọn đủ các nơi, Ngài
dừng chân nơi đây, nối tiếp liên xă Đông Lâm,
mở ra cầu bến trở về Tây Phương,
nhất thời Tăng, tục đồng ḷng quy
hướng.
Thuở
mới đến, Ngài sống một ḿnh trong lều tranh, nghĩ là
sẽ [đơn độc tu hành] như thế suốt
đời. Do Ngài chú nguyện độ hổ, hổ
chẳng hại người. Ngài cầu mưa, mưa tuôn
ứng hợp.
Đạo phong của Ngài không chân mà lan khắp,
người khiêng gỗ, kẻ vác cuốc xẻng t́m
đến chẳng sót ngày nào! Họ thưa: “Thầy v́
tạo hạnh phúc cho dân chúng mà ở lại đây. Hơn
nữa, nền móng xưa c̣n sót lại chính là chỗ mà
tổ tiên chúng con đă gieo duyên hương đèn, há
nỡ ḷng bỏ mặc chẳng tạo chỗ cho thầy
ở yên ư?” Do vậy, chẳng mấy chốc mà lan nhă
h́nh thành, có pháp đường để thờ phụng kinh
luật, có Thiền đường để tăng chúng
an cư. Phàm những ǵ mà chốn tùng lâm cần nên có th́
theo tháng ngày mà tăng thêm, mở mang. Thầy lại
định ra mười điều ước thúc như
khuôn vàng thước ngọc để ràng buộc
đại chúng tuân thủ. Ngày đêm sáu thời, đồng
hồ sen chẳng ngừng, bảy chúng thánh phàm tụ
tập như biển lớn chẳng lúc nào vắng
vẻ. Danh tiếng của Vân Thê gần như ngang
ngửa với Thanh Lương cơi Bắc và núi Phổ
Đà ở Nam Hải. Chắc có kẻ ngờ vực
Sư chẳng kế thừa tông chỉ từ Tây sang
của tổ Đạt Ma, mà hoằng dương giáo pháp
Tây Quy.
Châu
Hoằng nói: “Quan đại tư thành[15] là
ông Phùng soạn tự chí cho Vân Thê, nhưng chưa xong. Con
trưởng là Quyền Kỳ viết sau sách rằng:
‘Đây là bản thảo của tiên quân, những
điều mong muốn chưa trọn, những
điều đáng nói chưa nói, mong các vị đại
đức trong nước sẽ châm chước’. Ngu ư cho
rằng chưa hoàn tất, chưa nói vẫn chẳng
hại ǵ. Chẳng hạn như kinh Hoa Nghiêm chỉ có tám
mươi quyển, văn chưa trọn mà ư đă
vẹn”. C̣n như có kẻ ngờ vực tổ sư
chẳng nối tiếp tông chỉ từ Tây đến mà
hoằng dương giáo pháp Tây Quy, đối với hai câu
ấy, vẫn gác bút để đó, chỉ gợi mở
chứ không nêu bày, nhưng [hàm ư] đă rơ rành rành rồi, nay
chẳng cần phải nối đuôi vụng về,
chỉ xin chư phương hạ một câu chuyển
ngữ tại chỗ này!
17.6.
Bài kư trùng tu Vân Thê Thiền Viện
Phủ
trị đất Hàng phía Nam kề ngay đại giang (sông
Tiền Đường), phía Tây tiếp nối Minh Thánh nhị
hồ, muôn ḥn núi vây quanh hồ san sát bến sông. Từ phía
Tây của sông, đi ngược
lên hơn hai mươi dặm là quả núi có tên là Ngũ
Vân. Trước kia, đỉnh núi có mây lành năm sắc
quẩn quanh trên đó; do vậy, đặt tên núi [là
Ngũ Vân]. Lại có mây năm sắc trôi về, tụ vào
hang động nơi phía Tây của núi đă lâu chẳng
tan; người đương thời lấy làm lạ, gọi
nơi đó là Vân Thê Ổ (雲棲塢,
hang mây đậu). Năm Càn Đức thứ năm (967)
đời Tống, có vị Tăng kết am [tại
đó] để ở. Trong Ổ có nhiều cọp,
Tăng đến, cọp liền thuần phục, cơi
đời gọi Sư là Phục Hổ thiền sư bởi
lẽ đó. Ngô Việt Vương họ Tiền
bèn v́ Sư lập chùa; do vậy, Vân Thê được sáng
lập. Thiền sư c̣n có một hiệu là Đại
Phiến ḥa thượng (大扇和尚, ḥa
thượng quạt to), húy Chí Phùng (志逢). Thoạt
đầu, Sư dựng thất trên đỉnh Ngũ
Vân. Trong niên hiệu Thiên Hy (thời Tống Chân Tông), vua ban
sắc chỉ đặt tên chùa là Chân Tế Viện (真濟院),
đồng
thời mở thêm hai viện Vân Thê và Thiên Tŕ thành ba cảnh
chùa. Về sau, vào năm Trị B́nh thứ hai (1065), đổi
tên thành Thê Chân. Nay gọi là Vân Thê là khôi phục tên cổ.
Vân
Thê nằm ở phía Tây ngọn Ngũ Vân, đường
ṃn ngoằn ngoèo, rừng cây u tĩnh, bốn quả núi vây
kín xung quanh, cây phủ xanh ŕ. Rặng phía Đông có ngọn
Bích Quán (壁觀), dưới
ngọn núi có suối, gọi là Thanh Long Tuyền (青龍泉, suối rồng
xanh). Kế tiếp, ở bên cạnh ngọn núi giữa, lại
chảy ra một con suối, tên là Suối Thánh Nghĩa.
Phía dưới đó, nơi chân núi thuộc vách núi phía Tây,
lại chảy ra một con suối tên là Suối Kim Dịch (金液),
dùng ống trúc dẫn nước suối chảy êm đềm,
trong mát, thơm ngọt, lấy nước dùng hoặc tuôn
tưới đều chẳng cạn kiệt. Chỉ có
điều hoang vu, vắng vẻ, ít dấu chân người
lui tới, chẳng phải là kẻ quên thân, tâm vắng lặng,
sẽ chẳng thể ở được! Đầu
niên hiệu Thiệu Hưng[16], có Từ Tri
Các[17] theo chân triều
đ́nh [lánh nạn giặc Kim], vượt Trường
Giang về Nam, ở ẩn bên cạnh chùa. Về sau, ông xả
nhà thành chùa. Năm Hoằng Trị thứ bảy (1494) thuộc
thánh triều (nhà Minh), mưa dầm gây lụt lớn, nhà,
điện, kinh, tượng nổi trôi theo nước.
Tăng dần dần ly tán, những vị già yếu bèn
thuê nhà sống trong thôn trang của dân chúng.
V́ vậy, tự viện thành chốn cỏ hoang um tùm. Phụ
lăo đi qua, thương cảm ứa lệ. Vệ tướng
quân Dương Ngọc Khê và con trai là Niệm Đường
mến chuộng Tam Bảo, quyên mộ Tăng trùng tu,
nhưng nhiều lượt khổ sở v́ nạn hổ,
không sống được, phải bỏ đi.
Năm
Long Khánh thứ năm (1571), Châu Hoằng hành cước trở
về Nam, ưa thích nơi này non cao vắng vẻ, thân
đơn, bát lẻ, ngồi xếp bằng trong chỗ
tường sụp. Thái học sinh[18] Trần
Như Ngọc, Lư Tú v.v… dựng cho tôi ba gian tĩnh thất.
Châu Hoằng ngày th́ bầu bạn với nai rừng,
đêm th́ xướng họa cùng chim, suối, thong dong
tưởng sẽ suốt đời. Thôn dân lấy làm lạ
tôi có thể ở lâu như thế. Các thôn thuộc bốn
mươi dặm chung quanh [núi Ngũ Vân], mỗi năm chẳng
dưới hai mươi người bị thương
v́ hổ. Gà, chó chẳng tính! Châu Hoằng phát ḷng bi khẩn
thiết, phúng kinh một ngàn quyển, lập Du Già Thí Thực
để tế độ. Từ đấy, hổ chẳng
tổn thương người. Nhằm năm hạn hán,
tôi cầu đảo trong núi, gặp mưa đúng thời
tuôn xuống, dân trong thôn lại hết sức mừng rỡ,
vui mừng được an cư, cùng nhau nườm
nượp vác gỗ kéo tới, nói: “Những thứ này do
tổ tiên tôi đă trồng”. Họ vác cuốc xẻng,
phát quang, phủi bụi để lộ các tảng đá
kê chân cột, chỉ vào đó, nói rằng: “Đây là vật
cũ của chùa Vân Thê. Thiền sư tạo phước
cho thôn chúng tôi. Tôi nguyện xây chùa mới trên nền cũ,
ḥng giữ vĩnh viễn nơi hương đèn trong
vùng chúng tôi!” Do vậy, chẳng mấy chốc mà thành Lan
Nhă. Ngoài chẳng có cửa cao, giữa chẳng có đại
điện, chỉ có Thiền đường để
tăng ở, pháp đường để sùng phụng
kinh luật mà thôi.
Châu
Hoằng tự biết chính ḿnh viễn vông, thô hèn, chẳng
có một tấc sở trường nào đáng khen ngợi,
ôm bệnh vào núi, cam phận mục nát với cỏ cây. Bỗng
chốc gặp huyễn duyên, hưng khởi chốn suy
đồi, suy sụp này, há dung ăn không ngồi rồi,
chẳng nghĩ “trên là báo ân Phật,
dưới là đền đáp đàn-na tín thí”
ư? Xét ra, tôi suốt đời chuộng chân thật, coi
nhẹ chuyện phù phiếm, khoa trương, cam tâm trong cảnh
khốn cùng, bó buộc, xấu hổ đối với
danh lợi, cùng với một hai người có cùng chí
hướng cùng nhau dùi mài, nỗ lực thực hiện
đạo xưa, ước hẹn với hàng hậu tấn:
Hễ kẻ nào phạm [lỗi giới hạnh và quy ước
cộng trụ của Vân Thê] ắt phải rời đi.
Chủ yếu phần lớn là dùng Tịnh Độ [làm
pháp chủ tu]. Mùa Đông chuyên tọa Thiền, ngoài ra kiêm
giảng tụng. Hằng ngày có lịch tŕnh, mỗi tháng có
kết toán, mỗi năm có sổ sách minh bạch, nghiêm ngặt,
khiến cho kẻ vô lại chẳng thể chen lẫn vào
đó. Tuy chẳng giúp ích to lớn cho pháp môn, chỉ mong cứu
văn thói tệ của người học trong đời Mạt,
ḥng đợi bậc tri thức trong mai sau. Châu Hoằng là
con nhà họ Trầm, tự là Phật Huệ, hiệu Liên
Tŕ, người xứ Nhân Ḥa ghi lại.
Ngày
Rằm đầu Xuân năm Vạn Lịch thứ năm
(1577), sa môn Châu Hoằng kính ghi.
17.7. Bài kư khôi phục chùa cổ
Vân Thê
Khi
tôi mới vào chùa Vân Thê thuộc Phạm sơn, các vị phụ
lăo bảo tôi: “Chùa này bị nước lụt cuốn trôi
sạch, nay đă gần trăm năm. Khi ấy, chẳng
có sức để xây dựng lại, dựng cái lều
tranh ở giữa đường trong cuộc đất
bỏ hoang phế ấy, gọi là Vân Thê Biệt Viện”.
Tôi c̣n thấy một vị Tăng sống ở đó,
nhưng Thê Chân (棲真,
trụ trong lẽ chân thật) là
tên ghi trong sổ sách, chứ dân trong núi hoặc tiều phu
thường gọi nơi ấy là Vân Thê (雲棲, mây đậu lại). Tôi liền
thuận theo, dùng Vân Thê để đặt tên am, am đă
được dựng hơn ba mươi năm rồi.
Cho tới khi đọc Lâm An Cựu Chí được
soạn trong niên hiệu Hàm Thuần[19],
[mới biết] chùa Vân Thê chính là do quốc vương họ
Tiền xứ Ngô Việt[20]
kiến tạo vào năm Càn Đức thứ năm (967)
đời Tống Nghệ Tổ (Tống Thái Tổ Triệu
Khuông Dẫn), tới năm Trị B́nh thứ hai (1065)
đời Tống Anh Tông, đổi thành Thê Chân, xem chi tiết
nơi trang mười lăm thuộc phần “các chùa,
quán ở Tiền Đường”. Tôi vẫn gọi là
Vân Thê, ngầm phù hợp thời cổ, cố nhiên là chuyện
thích đáng.
Xưa
kia, vào khoảng cuối thời Gia Tĩnh - Long Khánh, đầu
thời Vạn Lịch, người tu chỉnh quận chí
cứ viết theo thời gần đây, chẳng tra cứu
thời cổ. Nay khôi phục tên cũ, há chẳng phải
là do túc duyên khiến thành ra như thế ư? Tôi đă cảm
khái v́ vô tâm mà hợp cổ, lại càng cảm khái trước
chuyện xưa nay nối tiếp nhau thay đổi chẳng
thường hằng. Dấu tích linh thiêng thù thắng bị
tịch mịch, ch́m đắm đă lâu, chẳng
được nêu tỏ không biết ngần nào? Ngô Quận
thời cổ là Hàng Châu, đă trở thành Lâm An. Về sau,
lại trở thành đất Hàng, gọi là Cổ Hàng. Nay
chùa cũng giống như thế; do vậy, đề biển
ngạch là Cổ Vân Thê Tự, ngơ hầu [người khác
nh́n vào tên gọi ấy sẽ] biết năm tháng vậy!
Tháng Giêng năm Vạn Lịch thứ 37
(1609) đệ tử Bồ Tát giới, tỳ-kheo Châu Hoằng
ghi
17.8. Bài kư trùng tu chùa và đào ao phóng sanh tại
chùa Thượng Phương
Vùng Vũ Lâm kể
từ khi nhà Tống [lánh nạn giặc Kim] chạy
về phương Nam, quanh Hồ Sơn, các chùa
thuộc Thiền, Giảng, Luật rực rỡ
chen chúc san sát, trở thành có tiếng trong
thành. Cho tới nay, quá nửa bị
chìm đắm, đến nỗi chẳng
thể khảo cứu các truyện kư hay địa
phương chí [để biết về lịch sử
của các chùa ấy]. Có chùa Thượng
Phương dựa lưng vào tường
thành, hai bên liền sát hai cửa Dũng Kim
và Tiền Đường [của thành Hàng Châu],
trước mặt thông với
đường cái quan Tây Tỉnh. Chùa vốn
được tạo dựng từ năm
Trinh Minh thứ bảy (921) nhà Hậu Lương,
nhưng trong năm Cảnh Thái thứ tư (1453)
của quốc triều[21],
Tăng sĩ cho là khó duy trì, bèn bỏ
đi. Chùa bị bỏ hoang, dần dần bị dân
cư xâm chiếm, chỉ còn lại một phần
mười. Ưu-bà-tắc Trầm Thiện
Năng kết lều tranh tại đó.
Tới năm Gia Tĩnh
23 (1534), quan Thượng Bảo Khanh[22]
là Từ Lục Kiều xin phép triều
đình cho thuê đất nơi đó làm
vườn. Ông không có con trai, để lại cho
con gái, dặn trả lại nhà chùa. Con
gái có hiếu lại hiền thục, cầm
khế ước về nhà họ Vương, tuân
theo lời cha dặn, trao cho Vân Thê, [cuộc
đất ấy] bèn trở lại là
đất của Tăng như cũ. Chẳng
lâu sau, họ Vương qua đời, cư sĩ
Tống Hóa Khanh nghe nghĩa cử ấy, bèn
đề cao. Hóa Khanh là con cháu của gia
tộc nhiều đời ăn bổng lộc,
tận lực dùi mài đạo đức,
chuộng làm lành chẳng chán, bèn góp
tiền đưa cho hai đứa con nhà họ
Vương, lấy lại khế ước. Tôi
cũng dốc hết tiền riêng, cùng thiện
tín mua lại cuộc đất cũ
được chừng đó. Hướng
chánh điện về chỗ sáng sủa, lập riêng dăy
nhà ngang, xoay hướng cửa chính của chùa
đối diện tường thành nhằm
đảm bảo sự u tịch, mong đời
đời phụng sự Tam Bảo.
Do vậy, tôi bàn bạc
cùng đại chúng: “Thượng Phương
vừa mới trùng hưng, lênh đênh, suy vi,
hãy tu tạo, lo liệu như thế nào
để được lâu dài?” Có
người bàn bạc đốn cây cối,
mở rộng điện đường, tụ
tập nhiều tăng sĩ, tăng đông thì
sẽ thường trụ. Tôi nghĩ chẳng
phải vậy! Đang thuở Mạt Pháp,
tháp chùa chẳng kiên cố. Thử gập
ngón tay tính toán. Cửa tam quan
hướng ra chốn phố thị, lầu chuông
gác trống chẳng trở thành chốn quăng bừa
chén rượu há được mấy nơi? Tăng tuy
nhiều mà hạnh thiếu, nhiều để làm
gì? Xét ra, cuộc đất này gần
thành, thành gần hồ, hồ phía ngoài
cao, mà trong thành thì thấp, thuận theo
đó mà đào thành kênh, gặp lúc
hạn hán cũng chẳng thể khô cạn. Do
vậy, rất tiện tạo thành ao phóng sanh.
Đối với gian nhà cũ ở chỗ
đất trống, sửa sang kèo rường
đôi chút, chọn lấy hai ba vị tăng thành tín,
sớm chiều Thiền tụng, ngõ hầu trên
là chúc nguyện cơ đồ của hoàng
thất, dưới là cứu vớt
hàm thức, thì sẽ là hành động nhất
cử lưỡng tiện vậy.
Có kẻ nói: “Loài
vật nhiều như cát, bụi; ao như một
cái muỗng, chứa đựng hữu
hạn. Làm sao được?” Kẻ đó
nào có biết: Đào ao chính là khởi
đầu, là dẫn khởi, dẫn đến
mở rộng ra, lại càng mở rộng
hơn, sẽ mênh mông khắp cõi. Xưa kia,
Tử Sản nuôi cá chỉ một chỗ nhỏ
bé. Giả sử người nước
Trịnh dù đại phu, dù quan chức, hay dân
chúng đều làm như thế, các lân quốc của
nước Trịnh như Yên, Triệu, Tề,
Sở cũng đều như thế thì ao vô
lượng, nuôi nấng vô lượng. Nếu
không, Tây Hồ là ao phóng sanh thời cổ,
bảo là “bao dung trọn khắp muôn vật trong
vòng trời đất”, há có lẽ
đó ư? Hóa Khanh thưa: “Vâng, đúng
như vậy”. Bèn cùng với em ông ta là
Trực Khanh, các vị sĩ phu hiền
đức, các tỳ-kheo, tịnh nhân, có
người xuất tiền, có người
quyên lương thực, sửa sang cuộc
đất, cuốc, vét, đào bới, nạo
vét dòng suối khô, dẫn nước,
đắp đập, đắp đê kiên cố
phòng khi nước lũ bị sụp đổ,
xây tường vây, vun đất, lèn đá, rải gai
để ngăn ngừa hải ly và rái
cá.
Nhằm đề phòng kẻ ngoài xâm phạm,
bèn đắp tường đất kiên
cố. Lo cho [các loài vật]
gặp phải nóng lạnh, bèn trên th́ trồng
cây lấy bóng rợp, phía dưới
thì đào ng̣i, bận bịu lo toan suốt ngày đêm,
nhọc nhằn chẳng nghỉ, ra sức hơn
tháng, ao được hoàn thành. Ngay khi
đó, [các con vật] từ trong lồng
được thả, đang ở trong nồi
mà được phóng thích, thoải
mái vùng vẫy, thoát ra thảnh thơi. Trong
vòng [cái ao nhỏ như] cái muỗng ấy,
đủ để cho chúng nó thong dong.
Tôi vừa mừng
vừa sợ, đảnh lễ trình
với mười phương Như Lai, thần
chủ ao, thần chủ già-lam, nguyện do Phật lực,
pháp lực, hiền thánh lực, thệ nguyện
lực của chư thần, từ bi gia hộ,
oai đức giáng lâm, khiến cho từ nay
trở đi tới tột cùng vị lai, [ao
phóng sanh này sẽ] thường là nơi
an ổn cho các loài thủy tộc đội mai,
mang vảy. Lại đảnh lễ thưa với
các vị tăng đang trụ nơi đây và mai
sau, nguyện dùng giới lực, bi trí lực,
nghĩ tới nỗi khổ cứu vớt nhuần
thấm [lũ cá đang bị] khô cạn của
[trưởng giả] Lưu Thủy, ngài Thiên Thai
dâng biểu dùng lời lẽ thẳng
thừng để dứt đăng,
đó; ngài Trí Giác (tổ Vĩnh Minh)
lãnh tội hòng thành tựu lòng nhân,
hứng chịu đao sắc mà chẳng
hối hận, vẫn
giữ mãi chẳng để hư hoại
[ḷng từ], hòng tạo thành phong hóa cho bốn
phương.
Những ai dám trái
nghịch lời kết minh khi trước, học
theo Đào Châu (Phạm Lãi) kiếm lợi
bằng lưới, rập, hoặc hùa theo
mọi người bán [những sanh mạng
trong ao phóng sanh] cho hàng bạch y, thì gọi
là trái nghịch Phật luật, phạm Ba La Di. Những
người được gọi là Thích
tử sẽ triệu tập tăng chúng làm
yết-ma để tẫn xuất kẻ đó,
chẳng cho cộng trụ! Tức là do kẻ
đó cấu kết với ác thần,
ắt thần sẽ ngầm trói buộc hồn
họ, rành rành hủy hoại thân họ, chẳng
thể trốn tránh. Nếu họ thoát
được, khi báo thân đã tận, sẽ
đọa trong Nê Lê (địa ngục), hứng
chịu muôn điều khổ sở chẳng cùng
tận. Vì lẽ nào vậy? “Ưa sống,
ghét chết” là đạo trời, là
lẽ thường tình của con người.
Người xưa bỏ ra tiền tài khó
bỏ, nhọc nhằn thân xác đáng mến,
lập ra nghĩa cử thù thắng
chẳng thường thấy trong đời
ngũ trược, khiến cho [các con vật] mạng
ắt phải chết mà được sống,
đặt chúng nơi an toàn. Người
đời sau nhẫn
tâm chẳng suy nghĩ sâu xa, chỉ cốt
thỏa lòng riêng tư, trái đạo trời,
nghịch tình người, bất tường
là do trái nghịch, hung ác, hễ bất
tường thì tai ương đưa
đến. Dùi đánh xuống, trống vang
rền, bóng theo hình, cảm ứng tự nhiên,
chẳng phải là nói dối để
dọa dẫm!
Hóa Khanh và các
đại chúng hớn hở, hoan hỷ, than
là “chưa từng có”, thưa rằng:
“Lành thay! Đấy là khuôn mẫu cho tăng
tục vậy, chớ nên khiến cho đời
Mạt Pháp chẳng được nghe”. Bèn
lập bia tại Thượng Phương. Tụng
rằng:
- Trùng
hưng chốn đã diệt, lại kiêm
được phóng sanh. Há chỉ diệt
chẳng diệt, sanh cũng tướng vô sanh. Sanh
diệt đều diệt rồi. Tịch diệt há
trở ngại? Đã siêu hẳn các
phương, không phương để nói
Thượng. Không phương nói Tây Phương,
ý cũng giống như vậy. Người xây
chùa, đào ao, nguyện cùng hiểu ý
này!
Ngày lành Thượng Nguyên
tháng Giêng năm Canh Tư, tức năm Vạn Lịch 28 (1600),
Bồ Tát giới đệ tử là sa-môn Châu Hoằng chùa
Vân Thê soạn.
17.9. Bài kư ao phóng sanh của am Trường
Thọ ở cửa Bắc
Tây Hồ là ao phóng
sanh thời cổ. Pháp lâu ngày biến thành
tệ, thực chất mất đi, chỉ còn
danh suông! Thói tệ lâu ngày thành quen. Hồ luôn
sanh ra thủy tộc, danh xưng [ao phóng sanh] cũng
bị mê mất, dường như chẳng
được nghe nhắc đến nữa.
Năm Ất Mùi (1595), tôi giảng diễn kinh Viên
Giác tại Nam Bình thuộc núi Phật
Quốc. Nam Bình vốn có một cái ao
ở cửa tam quan. Khi đó, các vị
có danh vọng làm chủ hội, quyên tiền mua
đứt cái ao để trồng sen trong đó,
dứt hẳn ngư nghiệp. Nhờ vậy,
mọi người biết ao phóng sanh là
chuyện cũ của vùng Vũ Lâm; tôi lại
đào ao ở Thượng Phương. Do
nơi cửa Bắc có vườn, trong
vườn có ao, lại mua lấy. Vườn
cách Thượng Phương theo trục Nam
Bắc nửa câu-lô-xá[23],
cho nên trong thành có hai ao phóng sanh.
Tôi vừa lập bia
tại Thượng Phương, cho rằng
đó là khởi đầu, từ
khởi đầu sẽ dẫn đến lan tràn
rộng ra. Xét ra, tôi đức mỏng, tuổi
già lụm cụm, chẳng đủ để
tạo thành phong thái, chẳng biết
người kế tục hưng khởi chuyện
này sẽ được mấy cái ao?
Thượng Phương khổ vì chật
hẹp, chỉ có thể làm ao; ngoài ra, chỉ
có chút rừng trúc. Loài chim có
thể ẩn náu, nương nhờ trong
đó. Ở đây (am Trường Thọ) khá
rộng rãi, từ chỗ tiếp giáp ao, mở rộng
ra, nước đọng nhiều thành
chằm, đối với chỗ đất lộ ra
trong vùng nước đọng bèn đắp cao
thành lũy, cao ngất như núi, dựa theo
đó tạo thành ranh giới, tạo thành
lối đi sâu kín. Hãy nên trồng tre hoặc cây
tại đó, chúng sẽ mọc rậm rạp
thành rừng, khiến cho [loài chim] ríu
rít, [thủy tộc] tung tăng, vui sướng
quên sầu. Tuy chưa thể bằng một
phần vạn Phi Vịnh Đ́nh[24], nhưng cứ
tưởng tượng quang cảnh ấy,
thì Thượng Phương chẳng thể
sánh bằng được!
Phía Đông của
vườn là thiền viện Hưng
Phước. Xoay sang phía Nam là Dưỡng
Tế Viện. Lại xoay sang phía Tây là Đắc
Nhất đạo viện. Dưỡng Tế xưa
kia có hiệu là Bi Điền. Thánh chúa,
hiền thần do thương xót nỗi khổ lênh
đênh của dân chúng cô quạnh, không nơi
nương tựa, bèn lập ra [viện ấy].
Nay thì loài vật khốn đốn vì cung tên
hay mồi câu, thân rũ
rượi nơi đao, thớt, ắt
chẳng thể trốn tránh, đành
đợi bị nấu nướng, không nơi
kêu cầu càng quá đáng. Mua lấy [những
con vật ấy] đặt vào ao nuôi, thả trong
rừng, ngõ hầu chúng được
trọn hết mạng tàn, lòng bi còn chi hơn
được nữa? Đức Phật
dạy tam phước, có nói “từ tâm
chẳng giết”, nhưng trong ngũ
phước thuộc cửu trù[25]
của Cơ Tử, Thọ cũng là điều
quan trọng nhất. Gần bị giết mà lại
được tròn tuổi thọ,
phước nào hơn được
nữa? Đức lớn trong trời
đất là sanh, đức của vua Thuấn
là hiếu sanh, đức là một mà thôi!
Trên trong lành, dưới yên ổn, vua chúa
sở dĩ có thể phối ứng dài
lâu trong vòng trời đất là do giữ
vững thọ mạng của muôn vật, luôn thuận
theo đạo ấy mà đạt được,
còn chi hơn được nữa? Dấu
tích lớn lao của ba vị thánh nhân Nho,
Đạo, Thích giống như thế chân vạc
ở ba phương, giống như giáp vòng
bao lấy, vườn nằm gọn trong
đó. Nơi ở của người có
lòng nhân thuộc Khúc Phụ[26],
cái thất từ bi của xứ Ma Kiệt
Đà (Maghada), nhà thiêng của Tây Hoa,
Trường Sanh, Bảo Chân[27]
do trời ứng hợp mà ngầm gần
nhau, há có phải là chuyện ngẫu nhiên
ư?
Cứu sanh vật
sắp bị diệt bèn là có sanh, cầu
cho chúng được sống mà chưa
từng sanh nên là vô sanh. Sau khi đã vô sanh thì
vô bất sanh, tức là sanh và diệt là
một. Sanh và diệt là một thì
phước hưng khởi mà vô
tướng, lòng bi cứu tế vô duyên.
Phước chẳng thể được, bi
chẳng thể được, một cũng
chẳng thể được, chỉ có
pháp tánh thường trụ, chẳng
đoạn, chẳng tiếp nối, giống như
hư không. Kinh Phạm Vơng coi phóng sanh là pháp
thường trụ, mà “thường trụ”
là kim cang thân vô lượng thọ. Vườn
nơi am có tên là Trường Thọ, trong
vườn có mấy căn nhà tranh bỏ
hoang, bèn sửa chữa để thờ tượng
Tiếp Dẫn Đạo Sư và Đương Lai
Từ Thị, hòng đặt ra chốn cầu
bến để trước là hết thảy
hàm linh đă được phóng sanh sẽ đều
sanh về An Dưỡng, dứt nỗi khổ luân
hồi. Sau là sẽ được thọ ký
trong hội Long Hoa. Số lều tranh chỉ giữ như
thế, chẳng tăng thêm, phần nhiều chọn
vị tăng có giới hạnh thanh tịnh trông coi.
Phương cách trông nom như đã nói trong
bài ký chùa Thượng Phương. Khi
đó, bậc phụ lão trong làng nghe lời tôi
nói, tiến đến nắm tay tôi, xót xa than
thở: “Chúng tôi chẳng biết cội
nguồn của vườn, chúng tôi còn kịp
được thấy hai vị thiền nhân sống
tại đó. Xưa kia là chốn già-lam,
nhưng rồi biến thành vườn rau, không
cách nào trở lại như xưa, chúng
tôi nào mong được thấy quang cảnh
như hiện thời?” Trong chuyện này,
người khởi xướng là tôi
và ông Tống Hóa Khanh, nhưng do các vị
thượng thiện nhân vui vẻ giúp sức
mà được hoàn thành lợi
lạc tốt đẹp như thế, bèn viết
vào văn bia như vậy đó.
Ngày Phật Đản
năm Canh Tý, tức năm Vạn Lịch 28 (1600),
Bồ Tát giới đệ tử là sa-môn Châu Hoằng chùa
Vân Thê soạn.
17.10. Bi kư ao phóng sanh chùa Thượng
Phương, Hàng Châu
Ao phóng sanh tại Vân Thê
bắt nguồn từ việc trung hưng chùa
Thượng Phương từ cổ,
Trường Thọ Am nối tiếp, đều do
đại sư tự soạn bài ký. Thầy
đã thị tịch, vị thượng thủ
giám viện tên là Tư nhờ người cậu tôi là
cư sĩ Quảng Ngụ yêu cầu Thược Tân[28]
lại soạn mấy lời để khắc
vào đá. Tôi cung kính đảnh lễ, ba lượt
tiếp nhận sự quán đảnh từ quang minh
nơi miệng của
đại sư, than thở Ngài bi
trí viên dung, Không lẫn Giả đều diệu,
chẳng trụ sắc thanh, hương, vị,
xúc, pháp mà hành bố thí, chẳng lìa
văn tự mà nói giải thoát, biển nguyện vô
nguyện, nâng đỡ trọn khắp loài
dị sanh. Than ôi! Cánh chim Ca Lâu La chẳng thể
[quạt cho] tiêu tán, tro Côn Minh[29]
chẳng thể làm bẩn, Thược Tân còn
gì để nói năng được
nữa? Dẫu có nói, cũng thêm gì hơn
được nữa! Nhưng tôi trộm nghe,
mặn chẳng trừ được
đắng, chẳng cưỡng cầu vị ngọt
nơi quả mơ, [mỗi vị] chẳng ảnh hưởng
lẫn nhau, nhưng mỗi đằng hoàn thành phận sự
của chính ḿnh th́ canh sẽ do vậy mà điều ḥa
[các vị mặn, đắng, chua, ngọt
ấy]. Đất, nước nơi chùa này
là hang Na La Diên[30],
do Tăng giữ thệ nguyện của Tăng,
tục giữ trọn lời hứa của tục,
ai nấy tuân theo bổn phận của chính ḿnh mà
thôi!
Đại sư răn
nhắc tăng sĩ cũng như con cháu, nghiêm
túc răn đe rằng: Nếu để cảnh chùa
thành chốn ca múa, ao thành cái duyên cho dao thớt (giết
chóc), đó là điều phải hết sức răn dè.
Nếu chẳng có kẻ ham cầu, do đâu mà chợ
dấy lên chuyện buôn bán [máu thịt]? Giết
một mạng, chính là chôn vùi cả hai[31],
sao kẻ ngủ mê chẳng tỉnh? Thược Tân chỉ
lo liệu chuyện gần gũi, hời hợt
bề ngoài, nhặt nhạnh ý kiến của
kẻ khác, khác nào chỉ biết lặp
lại ngôn luận của người khác,
chẳng biết kế thừa chí
hướng đó ư? Chẳng phải
người hữu lực, sẽ chẳng
thể thấu hiểu phương tiện nhỏ
nhiệm của Sư. [Họ sẽ gàn
bướng lập luận rằng]: “Đã
nói là người hữu lực, sao không
thỏa thích lòng ham muốn? Cứ ắt
nhốt các sanh vật trong vườn, biến hang
pháp thành ao, cho đó là việc làm đúng
thời cơ? [Có khác ǵ] thôn tính quốc gia
nhược tiểu, nuốt chửng đất
nước có chánh quyền mê muội,
thừa cơ nước khác đang rối
loạn mà công kích, chiếm đoạt đất
nước sắp diệt vong, bảo đó
là “chẳng còn có kẻ nào có
thể uy hiếp, gây hại cho ta nữa”!
Ác nghiệt thay!
Những kẻ đó ngỡ phú quý
là vĩnh hằng, nhân quả chẳng
đáng sợ. “Uống rượu suốt
đêm, lúc suy rồi chỉ còn được
một thạch. Mưu lược lấn át
chủ, táng thân do ngáp hay duỗi mình”[32].
Chim khách chẳng được sống yên,
bồ câu chẳng cùng một họ[33].
Sáu điều Như[34]
trong kinh Kim Cang là nói về cầm, sắt,
lụa, là, chẳng phải là nói về
kinh kệ nhà Phật. Tới khi chết đi,
hình bóng của tội thất giá[35]
vẫn tồn tại cùng cái chẳng mất (thần thức).
Xưa
là nồi, nay là cá; xưa là ngày, nay
là kiếp[36],
tan xương rục tủy như vàng bị nung
chảy, c̣n có thể nhớ những lời cảnh tỉnh
sắc bén đầy ắp bên tai [mà chẳng thèm nghe]
như đá quăng vào nước ư? Hiểu rõ
thật vốn là hư, hư sẽ chẳng
thể trói buộc! Chấp hư thành thật,
thật chẳng thể tiêu! Đều từ tâm
sanh, chẳng liên quan với người ư?
Mượn cớ nói “chết rồi thì vô
tri”, vậy thì duy trì gia tộc, chấn hưng
tông tộc đối với kẻ vô tri há có ích ǵ, mà
để lại di sản trọng hậu dẫn khởi
những chuyện quấy nhiễu ồn náo? Há có
phải là lúc sống ăn xài,
hưởng thụ phong phú, khi chết hồn phách
mạnh mẽ, sống làm người to
lớn, chết thành quỷ mạnh mẽ ư?
Khăng khăng ngậm ngọc[37],
có điều ác nào chẳng thể
làm? Tức là chẳng biết đánh
cá, săn bắt đã gây tai ương cho
dòng họ Thích[38],
viên châu lưu ly tạo thành ngọn đuốc to như
Thái Sơn[39].
Bậc chủ của khí thế gian, trọn đủ
sức chẳng
nghĩ bàn của Bồ Đề Tát Đỏa,
vâng lãnh lời căn dặn nơi núi
Kỳ Xà Quật, tới ước hẹn
nơi Vân Thê. Lẽ nào kẻ bại hoại giáo pháp của
Như Lai bị trừng phạt nghiêm ngặt mà kẻ
phá pháp yết-ma lại thoát tội ư? Nhất định
chẳng phải là như vậy!
Ông Từ Thượng
Bảo[40] bất
hạnh khi biến chùa Thượng Phương
thành vườn tược. May mắn
là ông không có con trai, phần nào ít bị
trói buộc, lại may mắn có con gái
hiếu thuận, hiền thục, quyết vâng theo di
mạng của cha để bù đắp lỗi
trước, bán lại cho anh em ông Tống Trụ
Tử và Tống Hóa Khanh, [hai ông ấy] hợp
sức kiến tạo thành chùa để nêu
bày trí quả, dùng nước ao tưới đẫm
hoa từ bi, há chẳng phải là vâng theo
hạnh Lưu Thủy của ngài Vân Thê, hành theo
nghiệp của Thiên Thai và Trí Giác (tổ Vĩnh Minh), hòng
đạt lên chín phẩm sen, gởi thân trong ba
hội [Long Hoa], khiến cho [các thiện hạnh
ấy] được hưng khởi, chẳng
diệt mất, ngõ hầu đáp tạ ân lồng
lộng của cha mẹ nơi vô sanh ư? Nếu con trai
chẳng do họ Tống, con gái chẳng do
họ Từ, bậc trí mưu tính sẵn,
ai sẽ có phần may mắn [thực hiện
được]? Thời cơ tốt đẹp
giúp cho, uốn nắn sự trầm mê, rối
ren, họ hàng giúp đỡ, xóm giềng
cảm tạ. Cẩn thận chẳng theo thói “nai
khoác da cọp” đến nỗi dẫn đến mối
lo “voi bị đốt thân vì có ngà”;
đấy chính là lời thề Ba La Di của
lũ chúng ta vậy.
Nơi Đồng Hương
có Phóng Sanh Xã, đại sư rủ tay
báu từ xa, suất lãnh tứ chúng,
cứu độ tai ách lưới, chài
trôi nổi trên sông, [nơi ao phóng sanh này] có
ruộng, có nhà tranh, giữ cho pháp hội
được vĩnh viễn thì sự
giáo hóa càng thêm lợi ích. Ao ở
gần vòng thành, dùng A Lan Nhã để
giáo hóa. Cây to rợp bóng, noi theo quy củ
của Thượng Phương và
Trường Thọ. Vũng nước nhỏ (ao
phóng sanh) được nhiều thêm, nhờ
vào đây mà khởi đầu, nhân duyên huân
tập, rộng khắp vùng lân cận, cũng
có thể nói là vẫn hành theo chí
của phu tử. Trong các ưu-bà-tắc
của Vân Thê, Tư Huân[41]
Trường Nhụ huệ nghiệp bậc nhất.
Viết xong bài ký, gửi thư báo cho
vị Giám Viện tháp lập đã xong, Tây
Hương thỉnh vời, Trường Nhụ
gật đầu, tức là đá gật
đầu vậy!
Tứ tiến sĩ xuất
thân Hàn Lâm Viện Quốc Sử Biên Tu ưu-bà-tắc
Quảng Thược Ngô Ứng Tân ở
Đồng Hương soạn văn.
Tứ tiến
sĩ xuất thân triêu liệt đại phu Quốc Tử
Giám Tế Tửu cư sĩ Long Miên Hà Như
Sủng ở Đồng Thành viết chữ triện
bằng châu sa.
17.11. Cổ tích - Thơ khắc trên đá
Đào đất t́m được
một tấm bia găy đề là Tùy Long đời Tống,
tôi biết những phiến đá nát gần ranh giới
nơi nhà
của Từ Tri Các lờ mờ có khắc thơ. Có lẽ từ
thời nhà Tống chạy về phương Nam, do ông ta làm
nhà ở nơi đây, sau đó, xả nhà thành chùa, chắc
ông ta là
bậc cao sĩ. Do các bài
thơ không hoàn chỉnh], tôi bèn dùng ư riêng để bổ
sung, chép lại thơ tạc trên đá như sau:
1) Kỷ niên hồn nhiễu
Chiết thành Tây. Thập lư hà hoa dạng cẩm b́. Đạp
biến lưỡng phong tam trúc lộ, hựu tùy thanh
chướng nhập Vân Thê.
(Bao năm
quanh quẩn Tây thành Chiết. Mười dặm hoa sen, sườn gấm
phơi. Đi khắp hai non, ba nẻo trúc, lại theo đỉnh
biếc vào Vân Thê).
2) Thiên lư
tinh kỳ ủng lục phi, đầu trâm dục thượng
điếu ngư ky. Vô đoan hốt bị nhàn vân dẫn.
Hồi Diệu Phong tiền yểm trúc phi.
(Quạt
cờ ngàn dặm rước xe vua. Từ chức, ẩn
cư chốn thả câu. Bỗng dưng vô cớ mây
nhàn cuốn, quay lại Diệu Phong đóng cửa tre).
3) Lạc ấp danh viên ca
vũ trầm. Loạn nha đề phá kỷ hoàng hôn. Hà
nhân học đắc Hương Sơn lăo? Thiên tải
tinh lư hữu phạm âm.
(Vườn
quư Lạc Dương, ca vũ lặng. Quạ kêu
đă rộn mấy hoàng hôn. Ai người học
được Hương Sơn lăo[42]?
Ngàn năm lều cỏ Phạm âm rền).
Lại đào đất được nửa
ṭa Thí Sanh Đài, chỉ c̣n chữ Nam-mô ở sáu chỗ,
dường như có danh hiệu Đa Bảo Như Lai,
bèn viết một chương tán thán:
Phi ngọc, phi kim
ngân. Phi châu, tê, mă năo. Ỷ Đốn thất kỳ phú. Hải
tạng tàm phạp
thiểu. Phổ ứng chúng sanh cầu, thị danh viết
Đa Bảo.
(Chẳng ngọc, chẳng
bạc, vàng. Chẳng châu, tê, mă năo. Ỷ Đốn[43] thua giàu có.
Hải tạng thẹn thiếu
hụt. Ứng khắp chúng sanh cầu, bèn gọi là Đa
Bảo).
17.12. Các quy ước dành cho tăng chúng
(Xem trong Vân Thê Cộng
Trụ Quy Ước)
17.13. Hai bài minh điện đường
1) Bài minh ở phía Đông
Nhất ngơa, nhất chuyên, nhất chúc, nhất
phạn, đàn tín chỉ cao, hành nhân huyết hăn, nhĩ giới
bất tŕ, nhĩ sự bất biện, khả cụ, khả
ưu, khả ta, khả thán.
(Một viên ngói, một cây kèo, một bữa
cháo, một chén cơm, mỡ màng của tín thí, mồ hôi
máu hành nhân. Ngươi chẳng tŕ giới, chẳng lo tu tập,
đáng sợ, đáng lo, đáng than văn lắm).
2) Bài minh ở phía Tây
Nhất thời, nhất nhật. Nhất
nguyệt, nhất niên. Lưu quang dị độ, huyễn
thân phỉ kiên. Phàm tâm vị tận, thánh quả vị
viên. Khả kinh, khả bố. Khả bi, khả lân.
(Một thời, một ngày. Một tháng, một
năm. Thời gian dễ trôi, huyễn thân chẳng chắc.
Tâm phàm chưa hết, thánh quả chưa tṛn. Đáng hăi,
đáng sợ, đáng buồn, đáng thương).
17.14. Ghi chép về các hiền nhân
Sau thời ngài Phục Hổ, người
mất, đời xa, lại c̣n sách vở thất lạc,
chẳng thể truy cầu, sao lục. V́ thế, nay bắt
đầu ghi chép, những vị được lựa chọn
đều là người khi sống có hạnh chân thật,
rơ ràng, lâm chung chánh niệm phân minh, được mọi
người đồng thanh ca ngợi, chẳng có ai dị
nghị. Nếu khuyết một trong hai điều ấy,
sẽ chẳng ghi chép lại. Đấy chẳng phải
là chọn lựa khắt khe, mà là chẳng muốn chép tràn
lan, ngơ hầu đủ xác tín để truyền tụng
vậy.
1) Đại Hiền
Đại Hiền
người xứ Hải Ninh, họ Kim, pháp danh Như
Vinh. Thuở nhỏ, tận lực làm ruộng, lớn lên
làm nghề đồ tể và
bán rượu. Ông bỗng bị lợn cắn, do vậy,
tỉnh ngộ lớn lao, xuất
gia tại ngôi chùa ở
phía Bắc huyện. Sau đó nói: “Nơi đây chẳng phải
nơi ta nên ở, nghe nói Vân Thê có thể sống trọn tuổi
già”. Bèn dứt khoát t́m đến; khi đó, ông đă sáu mươi tuổi.
Ông ngày làm các việc nặng, đêm kinh hành trong Tăng
đường, siêng năng, khẩn thiết, chẳng nghỉ
ngơi. Nếu có người khuyên ông nghỉ ngơi, ông
đáp: “Tôi là kẻ vô đức, sao dám nhận sự cúng
dường của bậc hiền nhân?” Người nhà tới
khuyên ông trở về, ông liền mắng to, chẳng chấp
thuận, bảo: “Há ta lại v́ ân ái mà ĺa chỗ tụ hội
tốt đẹp của
người hiền ư?” Vào năm Vạn Lịch thứ
chín (1581), nhằm ngày sanh nhật, ông sắm
sửa cúng dường trai Tăng, quỳ
thẳng trước Phật, ba lượt lớn tiếng
phát nguyện cầu sanh Tây Phương. Chẳng lâu sau, ông
nhuốm bệnh, tăng chúng vây quanh niệm Phật. Ông hết
sức vui mừng khen là tốt lành, chắp tay cát tường
qua đời, thọ bảy mươi tuổi, Tăng lạp
hai mươi năm.
2) Pháp Nguyên
Pháp Nguyên người xứ Thượng
Ngu, họ Nguyễn, pháp danh Như Thanh. Thoạt đầu
xuất gia tại chùa Long Tỉnh; chẳng lâu sau, vào Vân Thệ thọ Cụ
Túc Giới, nói: “Ta chẳng về nữa, ta tu học ở
đây, sống hết tuổi già ở đây, chết rồi
hỏa thiêu ở đây là đủ rồi”. Ông
dốc chí niệm Phật, tụng
kinh Pháp Hoa, sáu thời lễ bái, gấp rút như chẳng
kịp. Dẫu vào thành thị, trọn chẳng khuyết
phế [công phu], lớn tiếng [tụng niệm], khẩn
thiết, khổ công, [khiến cho] các tỳ-kheo giải
đăi chẳng thể an giấc được. Năm Vạn
Lịch 11 (1583), Sư bị bệnh, thoi thóp suốt mấy
tháng. Nhằm lúc đó, tôi ngẫu nhiên có chuyện phải ra đi, ngay trước
hôm thầy ấy mất
một ngày, tôi vừa về đến núi, nhưng Như
Thanh bệnh t́nh đă nguy ngập, bèn nhóm chúng, bày tượng,
trợ niệm. Như Thanh nghe tiếng niệm Phật bèn
giật ḿnh ngồi dậy, nửa đêm chắp tay, mắt
chăm chú nh́n kim dung, hăng hái kiền thành, kính ngưỡng
mà qua đời. Sư thọ năm mươi bốn tuổi,
Tăng lạp tám năm.
3) Đông Lâm
Đông Lâm người xứ Phổ Giang, họ
Trần, pháp danh Quảng Ḥe. Thuở trẻ, từng làm
lính, sau đó xuống tóc tại am Thanh Thủy, do ngưỡng
mộ Vân Thê mà phát đại thệ, vào núi tu
đạo. Sau khi thọ Cụ Túc Giới,
Sư bèn thọ thêm Bồ Tát Giới, tín lực kiên cố,
chất trực, không dối trá. Ông tŕ kinh Kim Cang hết sức
kiền thành, phúng vịnh đến nửa đêm. Dẫu
tiết trời rét buốt hay nóng bức, đều chẳng
bỏ bê. Hễ nói đến chuyện sanh tử, ắt
to tiếng, nghiến răng, phẫn hận dường
như khôn ngăn hổ thẹn, khiến người nghe đều phải
rùng ḿnh kinh hăi. Hễ thấy người xuất gia trẻ
tuổi, ắt khuyên răn, sách tấn. Đối với
kẻ phạm lỗi, ắt rát miệng quở trách. V́ thế,
những kẻ ḷng tin nông cạn chắc có người bất
măn ông.
Khi ông c̣n tại gia, có ba người con. Khi
đứa con giữa mắc bệnh lao, Quảng Ḥe đến
thăm, biết anh ta chẳng qua khỏi, bèn khuyên nên chọn
người tốt lành để gả vợ của anh
ta đi, vợ con ông đều vui vẻ nghe theo. Ông cáng
người bệnh về núi, dạy con quy y Tam Bảo
để gieo cái nhân cho tương lai. Vừa xong việc
th́ con ông mất. Ngày hôm sau, Quảng Ḥe cũng mất. Hôm
sau nữa, khi sắp trà-tỳ, con út của Quảng Ḥe bất
ngờ t́m đến, mọi người cho là do ḷng từ
hiếu cảm vời. Trước đó, khi Quảng Ḥe mắc
bệnh, mỗi ngày một nặng thêm. Ai đến
thăm hỏi, ông không nói ǵ khác, chỉ ra rả dặn ḍ “hăy
kịp thời niệm Phật”. Ông phân tán y bát trọn
hết để đăi cơm chúng tăng, không
c̣n sót ǵ, nghiêm mặt qua đời. Ông
thọ sáu mươi, Tăng lạp mười hai năm.
Ông có một người đệ tử tên là Đại
Hải.
Lời b́nh:
Thói đời chết rồi vẫn lo vợ ḿnh sẽ lấy
người khác, muốn làm quỷ dữ để giáng họa
cho họ; Quảng Ḥe hướng dẫn con ḿnh, khiến cho nó cắt đứt ân ái như cởi chiếc
giày rách, há chẳng vượt trội kẻ tầm
thường vạn vạn phần ư? Tức là cái tâm của
Quảng Ḥe cương quyết, lỗi lạc, sự nghiệp
đời sau sẽ chẳng thể lường được.
Tôi sợ đại chúng thấy chuyện lạ này mà không
nhận biết [ư nghĩa sâu xa trong ấy], nên dùng lời
này để tỏ lộ.
4) Bổn Chân
Bổn
Chân người huyện Tiêu Sơn, họ Lai, pháp danh
Quảng Như. Lúc hai mươi chín tuổi, xuất gia
tại chùa Vân Thê. Nghe tôi hết lời khen ngợi núi
Phục Ngưu, thầy hăng hái sang đó. Sau khi trở
về, thầy thọ Cụ Túc Giới rồi tiến lên
thọ Bồ Tát giới, quyết tâm dốc chí, âm thầm
tự rèn giũa bản thân. Áo rách, mũ nát, h́nh dung như
gỗ, đất. Bị đại chúng sỉ nhục, Quảng
Như vẫn
thản nhiên, trọn chẳng cầu cạnh. Ông ta
tôn trọng thầy như Phật, kính trọng đạo
hữu như khách, coi chính ḿnh như tôi tớ, tận
lực làm lụng, quên bẵng mệt mỏi. Tánh Sư
nhiều hôn trầm, hễ ngồi xuống thường
ngủ gật, nói năng lại ngắc ngứ, lắp
bắp chẳng rơ ràng. Thuở ấy, lũ thiếu niên
bạc ác phần nhiều coi thường Sư, nhưng
Quảng Như vẫn tự tại, chẳng bị lay
động. Ở giữa đại chúng, Sư chưa
từng nói đùa; hễ được hỏi han, chưa
từng chẳng nghiêm sắc mặt. Sống trong tùng lâm
đă lâu, Sư chưa từng dùng t́nh cảm thế
tục để kết giao riêng tư, sống trong pḥng
ốc chưa từng được sửa sang, đêm chưa
từng quyến luyến giường chiếu.
Mẹ
của Sư đă tám mươi tuổi, đến
thăm Sư, do bị bệnh chẳng thể rời
đi, tôi cho dựng một căn pḥng nhỏ cạnh chùa
để Sư tiện phụng dưỡng cuối
đời. Sư ngầm bớt phần ăn của chính
ḿnh để nuôi mẹ mà tôi chẳng hay biết. Mẹ
mất rồi, linh cữu quàn được nửa tháng
th́ thầy Quảng Như ngă bệnh. Ước chừng
không qua khỏi, thầy gọi đại chúng tới
niệm Phật, đích thân ḥa giọng theo. Sau đó, khi
đă kiệt sức, thầy thưa chúng tăng rằng:
“Hăy v́ tôi đem quần áo, đồ đạc riêng tư
của tôi đổi lấy trái cây theo mùa, hương, hoa
để cúng dường thầy tôi. Tôi chẳng
c̣n được hầu hạ thầy nữa!” Chúng
tăng sửa soạn xong xuôi, Sư tự tay thu xếp rồi
dâng lên cho tôi. Tôi nhận lấy, Sư lộ vẻ vui
mừng, từ giường nhỏm phắt dậy, ngồi
vào chiếc ghế tre, lịm dần như sắp
tịch. Tôi vội vàng chạy đến, nghe thấy
tiếng tôi, Sư lại từ ghế đứng
phắt dậy, chắp tay đứng, mở to mắt
chăm chú nh́n tôi. Chốc sau, Sư ngồi yên, lặng
lẽ qua đời. Đầu vẫn giữ ngay
ngắn, vẻ mặt rạng rỡ như lúc c̣n sống.
Than ôi! Lạ lùng thay! Sư thọ ba mươi tám
tuổi, hạ lạp được chín năm. Lúc
sống, Sư chẳng có đệ tử, đại chúng
v́ nghĩa lập một người đệ tử cho
Sư là Đại Tư.
Lời
bàn: Thầy Quảng Như có ba ẩn
đức mà người đời chẳng nhận
biết: Tợ hồ thô lậu nhưng tinh tế; đó là một
điều. Tợ hồ nhu nhược nhưng
cương quyết; đó là điều thứ hai. Tợ hồ
ngu độn nhưng thật sự mẫn tiệp,
sắc sảo mà người khác chẳng thể sánh
kịp; đó là
điều thứ ba. Cho đến khi đối mặt
với ranh giới giữa sống và chết, thầy
vẫn lẫm liệt sáng suốt, công chánh, chẳng
hề nao núng, khiến cho người nghe chuyện
phấn chấn tinh thần, đó chẳng đáng gọi
là “vị
Thiền tăng mặt sắt” đó hay chăng? Nếu thầy tại
gia, ắt là đứa con hiếu thảo. Nếu ra làm
quan, ắt sẽ là bậc trung thần. Nếu phải
đối diện với những nghĩa vụ lớn
lao, ắt sẽ là bậc nghĩa sĩ. Lúc sống, thầy
c̣n có hoài băo lấy ngộ làm kỳ hạn, coi việc nâng
đỡ, hoằng dương [chánh pháp] trong thời
Mạt Pháp là trách nhiệm của chính ḿnh. Tiếc thay
thầy mất sớm, chẳng được măn
nguyện, buồn thay!
5) Chiếu Không
Chiếu
Không, người xứ Gia Ḥa, họ Châu, pháp danh
Đại Minh. Thuở nhỏ bị mù mắt. Anh thầy
hết sức thương xót, mời người dạy cho Sư nghề bói
toán chiêm tinh để làm kế sanh nhai. Thầy Đại
Minh vặn rằng: “Đạo trời ẩn kín, mạng
lư tinh vi, kẻ tầm thường chẳng thể suy
lường được! Bọn họ xằng bậy
bàn luận họa phước, ve văn thờ phụng
quỷ quái, tranh giành mối lợi nhỏ nhặt như
mũi dùi, ngọn dao, chẳng phải là ước
nguyện của em. Ước nguyện của em là
phụng sự đức Không Vương”. Anh bèn
đưa thầy ấy đi xuất gia. Chẳng lâu sau,
thầy đến Vân Thê, thề suốt đời tu
tập tại đây. Tôi thấy thầy mù mắt, bèn
đặt pháp danh là Minh (冥, tối
tăm); lại thấy tâm thầy chẳng mù ḷa, nên
đặt pháp tự là Chiếu Không. Thầy vốn
thuần nhă, cẩn trọng, siêng ṛng nghĩ tới
đạo pháp.
Sau
đó, người nhà mượn chuyện thúc giục
thầy trở về, giữ lại không cho đi nữa.
Đại Minh bồn chồn, chẳng vui; do vậy
thành bệnh, ngụ tại chùa Đại Thánh. Sau một
năm, bệnh t́nh ngày càng trầm trọng và nguy kịch.
Tôi ngẫu nhiên đi qua vùng Châu Kính để bái phỏng
di tích của ḥa thượng Thuyền Tử, trên
đường đi ngang qua chùa Đại Thánh.
Đại Minh hết sức vui mừng, xin theo thuyền về,
nhưng đại chúng không chấp nhận. Đại
Minh phẫn uất nói: “Tôi được chết tại
Vân Thê là đủ rồi!” Do vậy, gượng bệnh
lên thuyền, theo chân tôi. Tới băi sông Tiền
Đường, thầy nhiều lượt hỏi
người khiêng cáng: “Nơi này cách Vân Thê c̣n bao xa nữa?”
Người khiêng cáng đáp: “Đến nơi rồi!” Vào
chùa, thầy chắp tay hướng về phía Phật và
các tỳ-kheo, trở về Niết Bàn Đường.
Trong chốc lát, thầy qua đời.
Lời
bàn: Đại Minh bị ép trở
về nhà cũ, chẳng phải là bổn tâm của
thầy ấy. Trước kia, giả sử người
nhà chẳng quấy nhiễu, các bạn đồng tu
hết sức ngăn trở để thầy ở trong
núi lâu hơn, ắt thầy sẽ có thành tựu to lớn.
Rốt cuộc chí hướng bị trái nghịch, đúng
là buồn đau! Tuy nhiên, lúc ngụ tại Đại Thánh
không chết, ngồi thuyền không chết,
được cáng về chẳng chết giữa
đường, vẫn giữ chánh mạng để
rồi chết trong Niết Bàn Đường như
đă định sẵn thời khắc vậy, cũng
lạ lùng thay!
17.15. Phụ lục về tông
phái
1) Tông
phái Hoa Nghiêm của Khuê Phong đại sư[44]
Tông phước pháp đức nghĩa. Phổ
Hiền hạnh nguyện thâm. Văn Thù quảng đại
trí. Thành Đẳng Chánh Giác quả.
宗福法德義,普賢行願深,文殊廣大智,成等正覺果。
(Tạm dịch ư
nghĩa:
Nêu cao phước và nghĩa
của đức nơi pháp. Hạnh nguyện Phổ Hiền
sâu xa. Trí rộng lớn của Văn Thù, thành tựu cái quả
Đẳng Chánh Giác).
2) Vân Thê nối kệ rằng:
Quả dữ nhân
giao triệt. Tâm tùy cảnh khuếch thông. Huyền vi kỷ
tất phẫu. Lư tánh diệu hàm cùng.
果與因交徹,心隨境廓通,玄微幾悉剖, 理性妙咸窮。
(Quả và nhân xen lẫn
thấu triệt nhau. Tâm thuận theo cảnh mà rộng mở.
Gần như phân tích tỉ mỉ hết các lẽ huyền
vi, lư tánh mầu nhiệm đều thấu hiểu tận
cùng).
17.16. Đề vịnh
17.16.1. Sáu cảnh ở Vân Thê
Xét ra, trước và sau núi có sáu cảnh có
thể ghi lại, ngẫu nhiên viết thành sáu bài kệ
ḥng dẫn khởi sự nhă hứng to lớn.
1) Ngọn Hồi Diệu
Đông phương sơ xuất tiệm
đương dương, sử đắc nhân gian vạn
sự mang. Chuyển trục Tây lai sơn dục mộ, bảo
quang y cựu ánh sa song.
(Phương Đông vừa mọc, dần
lên đỉnh, khiến chốn nhân gian bận rộn ràng.
Tịch dương dần phủ nơi non thẳm, bảo
quang như cũ chiếu song the).
2) Bảo Đao Lung
Tùng lai lợi
nhận hiệu xuy mao. Vạn thụ tùng ty hệ độc
lao. Mạc vị độn căn, khuy đoạn đức.
Thử trung nguyên thị hoạt nhân đao.
(Trước nay đao bén gọi
“thổi lông”[45],
muôn sợi tơ tùng cột chặt thay! Đừng bảo
độn căn thiếu đoạn đức. Đấy
vốn là đao cứu sống người).
3) Bích Quán Phong
Cửu niên Thiếu Thất tọa
sầm ngâm. Thử địa hà nhân cánh hiệu tần? Phất
tụ tiện quy thiên chướng ngoại. Bất lai tùng
nhĩ vấn an tâm.
(Chín năm
Thiếu Thất ngồi non cao. Chốn này rồi ai sẽ
phỏng theo? Phất tay áo về ngoài ngàn rặng, chẳng
tới hỏi ngươi cách an tâm!)
4) Suối Thanh Long
Bách can
thanh kiển xuất lưu tuyền. Phi vũ Đông Tây khởi
phục miên. Ngọc nhũ bất tri lai xứ viễn. Chỉ
nghi Hương Tích hữu long diên.
(Trăm ống
tre xanh vang tiếng suối, róc rách Đông Tây uốn lượn
quanh. Sữa ngọc chẳng hay từ đâu đến,
chỉ ngờ Hương Tích có dăi rồng).
5) Suối Thánh Nghĩa
Bất y
song tụ bất trung loan. Trạm xuất đương
ương đệ nhất tuyền. Chỉ khủng lăo
hồ do bất khẳng. Tùng giao thiên lư tự quyên quyên.
(Chẳng
nương hai ngọn, chẳng giữa non. Ḍng suối bậc
nhất giữa bạt ngàn. Chỉ sợ lăo hồ c̣n chẳng
chịu, mặc cho ngàn dặm tự tuôn trào).
6) Suối Kim Dịch
An Dưỡng
tŕ trung bảo tự miên. Ngọc hồi châu lưu chánh sạn
viên. Hà niên phân đắc kim cang chủng? Lai tác Vân Thê nhất
phái tuyền.
(Trong ao An Dưỡng, báu
như tơ. Xoáy ngọc, ḍng châu đang cuộn vờn.
Năm nào mới được kim cang chủng? Chảy
đến Vân Thê mạch suối nguồn).
17.16.2. Thơ họa lại sáu bài vịnh cảnh
đẹp ở Vân Thê
Khi rảnh rỗi ngoài lúc Thiền tọa, ngài
Liên Tŕ chơi đùa bút mực,
gặp cảnh sanh t́nh bèn làm thơ, không ǵ chẳng phải
là Thiền lư. Thơ Ngài viết
ra có thể dùng làm ca khúc. Nghe hát mà sanh điều thiện,
há chẳng họa thơ đáp lại ư? Chép, đọc
bài kư này, dường như gặp gỡ, đàm luận
cùng Thiền sư trong núi. Múa bút ghi lại những điều
ức đoán, từ ngữ chẳng trau chuốt. Lời
lẽ nông cạn của phàm phu, chỉ sợ trở thành
chướng ngại trước cửa Phật, thật
đáng chê cười thay! Thơ được chép như
sau:
17.16.2.1. Thơ họa của Tam Châu Trầm
Hoài
1) Ngọn Hồi Diệu
Định trung ngũ sắc cạnh tranh
vanh. Tĩnh
lư thiên cơ dạ diệc minh. Quưnh quưnh linh đài vô nhất
sự. Khả vân nhật xuất sự hoàn sanh.
(Trong Định năm màu đua sắc thắm.
Đêm tĩnh cơ trời vẫn rạng ngời. Vằng
vặc linh đài không mảy sự. Lẽ nào ngày mới sự
lại sanh?)
2) Bảo Đao lung
Thiết ngọc, chuyển tê nhất quyết gian.
Hạp trung thu thủy chiếu
khô thiền. Phong tùng vạn dục tùng trung xuất, lẫm
lẫm hàn quang bất khả ban.
(Cắt ngọc, chém
tê trong khoảnh khắc. Nước thu trong vỏ[46] chiếu
khô Thiền. Gươm bén sanh từ trong vạn dục. Sắc
lạnh thâm nghiêm há đổi dời!)
3) Ngọn Bích Quán
Văn thuyết cửu niên nhân diện bích,
nhi kim chỉ kiến bích thân nhân. Phi nhân, phi bích, tùng hà mịch?
Huyễn xuất Như Lai tự tại thân.
(Nghe người chín năm ngồi ngó vách,
nhưng nay chỉ thấy vách gần người. Chẳng
vách, chẳng người, t́m đâu tá? Huyễn hiện Như Lai tự tại thân).
4) Suối Thanh Long
Yểu kiểu
trường khu biến hóa đa.
Vi vân vi vũ sự phi ngoa. Thiền
sư huệ lực năng hàng nhữ. Cam lộ tân tân lại
nhĩ ḥa.
(Uốn lượn
thân dài nhiều biến hóa. Nhả mây, xối
mưa, chẳng phải ngoa. Sức
huệ thiền sư hàng phục được.
Sương ngọt tràn trề cậy sức ngươi).
5) Suối Thánh Nghĩa
Đệ nhất
tuyền tùng Bắc Cực lai. Tuyền danh Thánh Nghĩa quả
kỳ tai. Quyên quyên tự tiếp thiên hà hạ. Vị nhuận
khô Thiền lăo vạn hồi.
(Phương Bắc
tuôn suối bậc nhất này. Suối tên Thánh Nghĩa lạ lùng
thay. Róc rách dường từ
sông trời giáng, nhuần thấm khô thiền bậc lăo
tăng).
6) Suối Kim Dịch
Hoàng kim bố
địa tận thiên hoa, kim dịch hoàn chưng ngũ sắc
hà. Tự thị lâu đài tiên đắc nguyệt. Hữu
nhân lai cộng phạn hồ ma.
(Vàng ṛng trải
đất, hoa trời rải. Ngũ sắc mây đùn bởi
nước vàng. Lầu cao được ánh trăng soi
trước, có người cùng đến ăn cơm mè).
17.16.2.2. Thơ họa của Dương
Ḥa Trương Nguyên Biện
1) Ngọn Hồi Diệu
Tịch
dương dục hạ Ngũ Vân Tây, phiến phiến
phi hà ánh lạc huy. Tín thị linh quang nguyên bất muội.
Trần duyên tức xứ kiến thiên cơ.
(Chiều tà sắp
phủ Tây Ngũ Vân, từng áng ráng trôi ửng bóng chiều.
Quả thật linh quang không mờ tối. Chỗ trần
duyên dứt, thấy cơ trời).
2) Bảo Đao Lung
Đại dă thiên niên chú bảo đao. Giang
can đột ngột lập thanh tiêu. Bất tu tạm thí
đồ long kỹ. Quái ngạc cuồng ly nghiệt tự
tiêu.
(Ḷ lớn ngàn năm đúc bảo đao.
Bên sông sừng sững chạm trời cao. Giết rồng
tài mọn đâu cần thử! Rồng, sấu cuồng điên đă tự
tiêu).
3) Ngọn Bích Quán
Quán tâm nhập tải tọa liên đài. Bất
giác bồ đoàn tú lục đài. Độc hữu cô
phong thường đối diện. Khước nghi Thiếu
Thất tự phi lai.
(Đài sen quán tâm hai chục năm, bồ
đoàn rêu biếc chẳng hề hay! Riêng có non côi thường
đối diện. Thiếu Thất dường bay đến
tận đây?)
4) Suối Thanh Long
Nhất bát hàng long
Bát Nhă thâm, dao khán phi mạt chú Đông Lâm. Thời nhân chỉ
giải tranh dư lịch, hoạt thủy nguyên đầu
hà xứ tầm?
(Một bát hàng rồng,
Bát Nhă sâu. Ngước trông bọt nước đẫm
Đông Lâm. Người đời chỉ biết giành giọt
cặn. Đầu nguồn nước sạch biết t́m
đâu?)
5) Suối Thánh Nghĩa
Trung phong dũng xuất
tự sàn viên, phân đắc Tào Khê nhập Phạm thôn. Kỷ
xứ sơn tuyền danh đệ nhất? Hà như thử
địa vấn chân nguyên.
(Đỉnh giữa
tuôn trào ḍng suối êm, chia thành ḍng Tào vào Phạm thôn. Mấy
nơi khe suối tôn đệ nhất? Sao bằng chốn
này hỏi chân nguyên).
6) Suối Kim Dịch
Văn thuyết Kỳ
Viên bố địa kim, quang dao tŕ thủy bán phù trầm.
Thượng nhân thấu xỉ vi thanh cúng. Đan dịch
dung dung măn tố khâm.
(Nghe nói Kỳ Viên
đất lót vàng, quang minh chiếu nước nổi ch́m
loang. Thượng nhân súc miệng, tâm thanh tịnh. Nước
thiêng thấm đẫm áo tinh khôi).
17.16.2.3. Thơ họa của Tiểu Ngu Liễu
Cốc
1) Ngọn Hồi Diệu
Nhất hoàn độc
khiết xuất nhân gian. Phóng đại hào quang vạn kiếp
nhàn. Tiếu chỉ phù tang hồi diệu xứ. Thùy xuy thạch
hỏa chiếu thanh sơn?
(Một vầng riêng
thoát cơi nhân gian. Tỏa đại hào quang muôn kiếp nhàn.
Cười chỉ phương Đông, về chốn diệu.
Ai thổi tia lửa chiếu bạt ngàn?)
2) Bảo Đao Lung
Bảo Đao Lung tả động giang tân. Quải tại
Bồ Đề hộ pháp luân. Yếu sử chúng sanh vô khủng
bố, thế gian thùy thị cổ đao nhân?
(Bảo Đao lấp
lánh chói bên sông. Treo tại Bồ Đề, hộ pháp luân.
Giả sử chúng sanh không sợ hăi. Ai sẽ vung đao
trong thế gian?)
3) Ngọn Bích Quán
Tằng văn Phật tử độ
trường hà, lô diệp vi châu tổng thị ma. Kư ngữ
sơn gian hành cước giả, đồng lai diện
bích ư như hà?
(Từng nghe Phật tử vượt sông
dài, thuyền bằng nhánh lau vẫn là ma. Nhắn gởi
trong non hành cước giả, cùng đến nh́n vách ư thế
nào?)
4) Suối Thanh Long
Tŕ thượng
liên hoa ngọc tước thành. Thanh long hoạt thủy tải
hương thanh. Nhược phi sơn hạ quyên quyên xuất.
Nê một linh căn hà xứ sanh?
(Trong ao sen nở
như ngọc giũa. Ḍng mát Thanh Long đẫm
hương lành. Nếu chẳng từ non róc rách chảy, rễ
thiêng bùn lấp chỗ nào sanh?)
5) Suối Thánh Nghĩa
Trung phong vân nhiễu
dũng thanh loa. Thánh Nghĩa phân lưu nhất giám đa. Dục
tá sơn trung quyên trích thủy. Sái tương khổ hải
tĩnh phong ba.
(Ngọn giữa mây
vờn, ốc xanh nổi. Thánh Nghĩa chia ḍng, gương
soi nhiều. Toan mượn giọt nước
từ trong núi, rưới cho biển khổ lặng
phong ba).
6) Suối Dịch Tuyền
Kim Dịch tuyền
hồi nhất giản thâm, Như Lai thổ mạt tổng
lưu kim. Sơn trung bạch nhật nguyên vô tận. Nhật
thính lưu tư ma tú châm.
(Suối Kim Dịch
khe sâu quanh quẩn, Như Lai nhổ bọt, hóa vàng tuôn.
Tháng ngày trong núi chừng vô tận. Nghe tiếng ŕ rào tợ
mài kim).
17.16.2.4. Thơ họa của Doanh Châu Trầm
Lan
1) Ngọn Hồi Diệu
Tŕ tŕ câu ảnh nhật
Tây lưu. Đảo nhập thiên nham tử khí phù. Mạc
hướng tang du sầu cảnh mộ. Huy quang trường
ánh bích sơn đầu.
(Thời gian thong thả,
bóng dương ch́m. Lẫn vào ngàn rặng, khí tía lan. Nh́n
bóng dâu chiều, đừng sầu muộn. Đầu non
sắc biếc ửng tà dương).
2) Bảo Đao Lung
Côn Ngô khê thượng dược du long. Ẩn
phục trần hoàn thụ kỷ trùng. Mạn hướng
ỷ thiên đồng nhậm hiệp. Dă ưng tùy địa
liễm cơ phong.
(Côn Ngô khe suối, vút rồng bay. Ẩn nấp
trần hoàn, cây mấy tầng? Đừng cậy đao trời hành chuyện
nghĩa, cũng nên tùy chốn ẩn tài năng).
3) Ngọn Bích Quán
Tiễu bích lăng tiêu thế độc
hùng. Nhật quán tương trĩ hải thiên không. Nhăn tiền
nhất nhậm phong vân biến. Tĩnh lư đô vong tạo
hóa công.
(Vách dốc chót vót thế riêng hùng. Vầng
nhật ngắm non, trời biển rộng. Trước mắt
mặc cho mây gió chuyển. Tĩnh lặng quên luôn tạo
hóa công).
4) Suối Thanh Long
Quỳnh chi niểu niểu, thủy dung dung. Thanh thấm hàn y chiếu
lục nhung. Yểm ánh Sở thiên minh nguyệt dạ. Trực
nghi thanh hải xuất giao long.
(Cành quỳnh tha thướt, nước
mênh mông. Đẫm trong ḍng lạnh, cỏ xanh nhung. Trời
Sở trăng đêm che khuất bóng. Ngỡ chừng biển
thẳm hiện giao long).
5) Suối Thánh Nghĩa
Kim Dịch, Thanh Long giáp đạo trung. Phân
minh biệt hữu nhất tuyền thông. Quyên quyên bất
quản lưu niên độ. Hoa tự phương phỉ,
thảo tự tùng.
(Thanh Long, Kim Dịch chen vào giữa, riêng có
một ḍng suối chảy thông. Chẳng quản tháng ngày
luôn róc rách. Hoa tự tỏa hương, cỏ rậm
xanh).
6) Suối Kim Dịch
Nhất mạch
vân căn nhược hữu thần. Bảo quang linh khí
cách hồng trần. Tranh lưu bất phí đào dung lực.
Bái nhập càn khôn vạn tượng
xuân.
(Một mạch cội
mây dường có thần. Giữ linh khí sáng cách hồng trần.
Đua chảy chẳng phiền ai un đúc.
Rót ngập càn khôn, muôn sắc
xuân).
17.16.2.5. Thơ họa của Nhẫn Trai
Ngôn Hữu Thời
1) Ngọn Hồi Diệu
Viễn công nhật
nhật tọa kinh đường. Hựu kiến Tây
sơn chiếu tịch dương. Tá vấn dạ lai hà xứ
khứ. Khước tương minh nguyệt kư huy quang.
(Viễn công mỗi
bữa ngự kinh đường[47], lại ngắm
non Tây bóng tịch dương. Ánh dương đêm đến
về đâu tá? Gửi vào trăng sáng để soi đời).
2) Bảo Đao lung
Bảo Đao tốt luật lập giang
cao. Tử khí can vân Bắc Đẩu cao. Trảm đoạn
lục căn vô trụ tướng. Tiếu tha chủy thủ
lợi xuy mao.
(Bến sông, đao báu sừng sững cắm.
Khí tía ḷa mây, Bắc Đẩu cao. Chém đứt sáu căn, vô trụ tướng.
Nực cười dao bén quá tầm thường!)
3) Ngọn Bích Quán
Cao phong bích lập
huyền thiên nhận. Lăo nạp an Thiền chỉ nhất
tâm. Đối nhĩ hồn vong luân đoạn tư, bất
phiền cửu tải diện tùng lâm.
(Đỉnh cao, vách
dựng, treo ngàn dặm. Sư cụ nhất tâm vui mùi Thiền. Quên bẵng chặt
tay không màng nhắc. Chẳng phiền nh́n vách chín năm
ṛng).
4) Suối Thanh Long
Linh tuyền mạn
thuyết long diên thổ, Phật tử năng tương
thủy mạch thông. Trúc kiển dẫn lai trà táo măn. Quyên
quyên bất tận Ngũ Vân Đông.
(Suối thiêng đừng
bịa dăi rồng phun. Do chính con Phật khơi mạch nguồn.
Ống tre dẫn nước, trà đầy bếp. Ŕ rào
tuôn măi Ngũ Vân Đông).
5) Suối Thánh Nghĩa
Trung phong hốt
dũng nhất tuyền khai. Trực hạ Vân Thê Bát Nhă
Đài. Phân cấp chúng tăng quy thánh nghĩa. Nguyên đầu
tự thử mạc nghi sai.
(Ngọn giữa bỗng
phun ḍng suối mát. Hướng thẳng Vân Thê Bát Nhă
Đài, ban phát chư tăng về thánh nghĩa. Cội nguồn từ đấy
chớ lo ngờ).
6) Suối Kim Dịch
Kỳ Viên kim mạt tự Tây lai. Thí ẩm
lănh nhiệt mộng nhăn khai. Ưng thức sơn trung phu tọa
giả, thử tâm nguyên bất nhạ trần ai.
(Bọt vàng Kỳ Viên từ Tây đến.
Uống thử, lạnh, nóng, tỉnh cơn mê. Hăy biết
trong non người tĩnh tọa. Nguồn tâm há vướng
bụi trần gian?)
17.16.2.6. Thơ họa của Đức
Viên Ngu Thuần Hy
1) Ngọn Hồi Diệu
Độc hữu Tu Di chuyển thái
dương. Quán thành huyền cổ dục quy mang. Sơn
trung huệ nhật nguyên vô kiếp. Nhất nhậm kim ô
độ thạch song.
(Vầng dương xoay măi núi Tu Di.
Trống treo quán thành sắp
lặn rồi. Huệ nhật trong non không kiếp số.
Mặc cho ngày tháng lướt qua song).
2) Bảo Đao Lung
Phùng trước
tiên nhân tiện phạt mao. Thụ thần đáo thử bất
kiên lao. Ngũ Đài thích khách quá Linh Thứu. Trịch hạ
chân vương vũ khố đao.
(Gặp gỡ tiên nhân gọt cốt phàm. Thần
cây t́m đến cũng lao đao. Thích khách Ngũ Đài
qua Linh Thứu. Ném phịch
chân vương vũ khố đao).
3) Ngọn Bích Quán
Lưu vân tuyệt bích thác danh ngâm. Vô ảnh
hà nhân đắc hiệu tần? Khước bị giang
đầu cao sĩ tiếu. Chiết lai nhất vĩ thị
thâu tâm.
(Vách hiểm mây vờn, tên đặt sai.
Không bóng, ai ḥng bắt chước đây? Lại bị
đầu sông cao sĩ nhạo! Bẻ một cành lau, tâm trộm
thôi!)
4) Suối Thanh Long
Thất tú Đông
lai chiếu nhất tuyền. Ly châu[48]
sái lạc ngũ vân miên. Hiệu phong đại phiến
kinh phi khởi. Bất phóng hồ long đọa lănh diên.
(Thất tú[49] sang Đông
chiếu suối nguồn. Năm sắc mây
rơi rục ngọc rồng.
Quạt phừng gió lớn
kinh hăi tỉnh. Chẳng để dăi lạnh đọa cáo, rồng).
5) Suối Thánh Nghĩa
Nghĩa long kiểu thủ dược vân
loan. Hảo hộ không sơn đệ nhất tuyền.
Kham tiếu Tây tŕ dũng thiên Phật. Thử trung vô thánh tự
quyên quyên.
(Rồng nghĩa ngẩng đầu vượt
rặng mây. Khéo giữ non Không, suối đứng đầu.
Nực cười ao Tây ngàn Phật hiện; nơi này không
thánh vẫn tuôn trào).
6) Suối Kim Dịch
Ngũ sắc đâu la vân tự miên. Vân gian
tiên lăng chánh sàn viên. Châu vương bất thọ thanh
ngưu hóa. Thổ xuất hoàn đan biến thạch tuyền.
(Mây tợ bông mềm năm sắc phơi.
Sóng tiên róc rách giữa mây trời. Châu vương chẳng
bị trâu xanh[50] chuyển.
Nhả hạt hoàn đan hóa suối tràn).
17.16.2.7. Thơ họa của Phương
Thạch Trần Quang Tán
1) Ngọn Hồi Diệu
Kiểu nhật dung dung thương hải
sanh. Tây luân cao độ ngũ vân hoành. Hồi quang nhất
chiếu thanh loan biến. Vạn tượng linh lung triệt
để minh.
(Ấm áp vầng
dương nhô biển xanh. Sang Tây vượt hẳn sắc
mây lành. Xoay lại chiếu trùm ngàn núi biếc. Muôn h́nh lóng
lánh chiếu rành rành).
2) Bảo Đao Lung
Đại khối chung linh dựng bảo
đao, sơn yêu hoành đới bích thiên cao. Trần phân
đoạn tận cơ phong liễm. Phục hổ hàng
long tổng mạc đào.
(Đất trời chung đúc thành đao
báu. Trời biếc
vờn quanh eo núi cao. Bụi bặm
tan rồi, gươm tra vỏ. Hàng phục cọp rồng
khó thoát tay).
3) Ngọn Bích Quán
Nguy phong bích lập trấn thiền quan. Tọa
đối vô ngôn cảnh tự nhàn. Tùng nhập Thiếu
Lâm truyền pháp hậu. Ư kim hựu đắc nhậm
danh sơn.
(Ải Thiền chớn chở trấn non
cao. Ngồi lặng im ĺm, cảnh tự nhàn. Thiếu Lâm từ
thuở truyền trao pháp. Nay lại đảm nhiệm chốn danh sơn).
4) Suối Thanh Long
Thanh tuyền
dũng xuất bảo sơn đầu. Dẫn nhập
hương trù bất đoạn lưu. Chánh thị Thanh
Long thi pháp vũ. Không trung huyễn hóa trạch thiên châu.
(Suối trong trào vọt
đầu non báu. Dẫn vào trong bếp, chẳng ngừng
tuôn. Đích thị rồng xanh ban mưa pháp. Huyễn hóa
không trung nhuận khắp nơi).
5) Suối Thánh Nghĩa
Bát công đức thủy măn Tây
Phương, Thánh
Nghĩa
phân lưu mạch cánh trường. Cộng thuyết thiền
sư tam-muội lực. Chân nguyên hoạt bát chú thiên hoàng.
(Tây Phương đầy ắp nước
tám đức, Thánh Nghĩa chia ḍng càng dài lâu. Cùng nói Định
lực của thiền sư, nguồn chân sống động
rót Ngân Hà).
6) Suối Kim Dịch
Bảo tŕ tŕ để bố hoàng kim, linh dịch
quyên quyên xuất phạm lâm. Sơn tĩnh vân khai minh nguyệt
hạ. Hàn quang phù động kiến thiên tâm.
(Ao báu vàng ṛng dùng lót đáy. Phạm lâm róc
rách nước thiêng tuôn. Núi vắng, mây tan, trăng sáng rọi.
Ánh trăng lay động thấy ḷng trời).
17.16.2.8. Thơ họa của Hồng Dương
Trương Vị
1) Ngọn Hồi Diệu
Tây Phương kim
giới dũng linh hà, phóng xuất hào quang chiếu bảo
hoa. Thiên nhận cô tung đ́nh tích vọng. Thông minh lục hợp
thị ngô gia.
(Cơi vàng Cực Lạc
tỏa mây thiêng, phóng khắp hào quang chiếu bảo hoa.
Ngàn thước đơn côi, dừng trượng ngắm.
Hiểu rành vũ trụ vốn nhà ta).
2) Bảo Đao Lung
Thần phong lẫm
lẫm quải nguy sầm. Cát đoạn phù sanh lợi dục
tâm. Nguyệt hiệp long đào hàn ảnh tịch. Sơn
si kỹ lưỡng định nan xâm.
(Gươm thiêng lẫm
liệt treo cao vút. Lợi dục hư phù chặt đứt
vèo. Trăng hẻm, sóng cuồng, trơ bóng lạnh. Tài mọn
sơn quỷ làm được ǵ?)
3) Ngọn Bích Quán
Thiếu Lâm khô lănh phí thương lượng.
Nhược cá lư đô hướng bích sương. Di
lư chiết lô kham đốt đốt. Cao sơn lưu thủy
cánh mang mang.
(Thiếu Lâm khô lạnh uổng bàn chi!
Tường vách ai người ngoảnh mặt hoài? Dép lẻ,
bẻ lau, cười huyễn hoặc. Non cao, nước
chảy vẫn mênh mang).
4) Suối Thanh Long
Linh quật thương cầu phún ngọc
diên. Thấp vân phiêu vụ uất lam thiên. Mạc khoa thiên hộc
cung triêu cập. Tọa ỷ liên hoa thán thệ xuyên.
(Rồng xanh hang thiêng phun dăi ngọc. Mây ẩm,
sương giăng, mờ trời lam. Đừng khoe sáng
múc ngàn hộc nước. Ngồi dựa ṭa sen than ḍng
trôi!)
5) Suối Thánh Nghĩa
Nhất sáp thiên kim
biến tánh t́nh. Hà niên trác tích dẫn long hoằng. Hữu
duyên đắc nhập Tào Khê lộ? Đài địch thân
tâm thánh đế minh.
(Một ngụm ngàn
vàng đổi tánh t́nh. Năm nào cắm trượng gọi
hang rồng. Có duyên vào nẻo Tào Khê nhỉ? Gột sạch
thân tâm, thánh đế rành).
6) Suối Kim Dịch
Sái tâm quỳnh dịch
sấu liên đài. Tuyệt thắng kim hành lộ[51]
nhất bôi. Bất thị đề hồ cam bí tích. Vô nhân
tầm hướng khứ trung lai.
(Nước quỳnh
gột ḷng, tẩy đài sen. Hơn hẳn chén sương
của đế vương. Chẳng phải đề hồ
đành giấu tiếc, mà chẳng có ai t́m nẻo này!)
17.16.2.9. Thơ họa của Hóa Khanh Tống Thủ
Nhất
1) Ngọn Hồi Diệu
Kim quang đảo
cảnh bích tha nga. Lộ diểu Tây thiên nại văn hà? Chuyển
đắc pháp luân hồi dạ chiếu. Phiên xa bất dụng
Lỗ Dương qua[52].
(Ánh vàng chiếu
ngược vách xanh ŕ. Xa tít Tây Thiên biết lẽ chi? Xoay
chuyển pháp luân đêm chiếu sáng, quay xe chẳng bận
Lỗ Dương mâu).
2) Bảo Đao Lung
Nhất phiến hùng tâm vị khả lao. Mê
vân khai xứ thối giang đào. Tự tùng sạ xúc cơ
phong hậu. Bất hướng sơn tiền thí bảo
đao.
(Một phiến hùng tâm chưa dễ vững.
Mây mê tan mất, sóng mài đao. Từ khi vừa chạm
cơ phong ấy. Chẳng ở trước non thử bảo
đao).
3) Ngọn Bích Quán
Ngột tọa quán Không thị hóa thân. Cô
phong dao đối chiết lô nhân. Dục đàm thánh đế
vô danh tướng. Thạch bích hàn sanh cổ nguyệt luân.
(Ngồi lặng quán Không là hóa thân. Núi
đơn ngắm kẻ bẻ cành lau. Muốn bàn thánh
đế vô danh tướng. Vách đá in trăng cổ lạnh
lùng).
4) Suối Thanh Long
Nhất mạch tuyền hồi lạc giản
tùng. Lâm lang u vận tạp sơ chung. Thôi song nhật xạ
đông phong hiểu. Ngũ sắc vân trung nhiễu hộ
long.
(Suối vờn tuôn đổ xuống khe
tùng. Nước reo thánh thót lẫn chuông ngân. Đẩy
song, gió mát, trời vừa rạng. Năm sắc mây vờn
quanh thân rồng).
5) Suối Thánh Nghĩa
Trác tích cam tuyền phún
tuyết phi. Pháp lưu bất đoạn khách lai hy. Khả
lân thụy ái bàn không cốc. Kỷ độ phùng sư
hoán bát y.
(Cắm trượng, suối
phun hệt tuyết bay. Pháp lưu chẳng dứt, hiếm
người hay. Thương thay mây đẹp vờn hang
trống. Mấy lượt gặp thầy tẩy bát, y).
6) Suối Kim Dịch
Lân lân ba ẩn dạ minh đài. Đậu
nhật nghênh phong thái sắc khai. Mạc thị tam sanh
dư túc nguyện. Uyển tùng kim túc kiến Như Lai.
(Đêm thâu lấp
lánh vết rêu in. Gió lùa, đón nắng, sắc màu
tươi. Chẳng phải ba đời c̣n nguyện
trước? Khéo từ hoa quế thấy Như Lai!)
17.16.2.10. Thơ họa của Thích Trạm Nhiên Viên
Trừng
1) Ngọn Hồi Diệu
B́nh nguyên vị
đáo quang tiên chiếu. Độc chiếm nhân gian tối
thượng trùng. Nhậm thị tịch dương Tây dục
khứ. Hoàn lưu dư ảnh xạ cô phong.
(Đồng bằng chưa chiếu, soi
đây trước. Riêng chiếm nhân gian chỗ tột
cùng. Mặc buổi chiều tà, trời ngả tối; vẫn
lưu dư ảnh chiếu non côi).
2) Bảo Đao Lung
Bảo đao lung
dữ ngũ vân liên. Bức tắc giang can lạc ảnh
hàn. Trường kiếm y thiên ma đảm táng. Hành nhân
nghi thoái bất nghi tiên.
(Đao báu ḥa cùng mây ngũ sắc. Bóng lạnh
đè lan khắp bến sông. Trường kiếm dựa
trời, ma vỡ mật. Người đi lùi bước,
đừng tiến lên).
3) Ngọn Bích Quán
Tranh vanh đột
ngột thế lăng tằng. Vị thị
đương niên bích quán tăng. Phu tọa tuy vô lư phá
tất. Thông thân dă quải bệ la đằng.
(Chon von đột ngột
chọc trời cao. Hệt tăng nh́n vách một thuở
nào. Chẳng đệm, xếp bằng, đầu gối
rách. Khắp ḿnh quấn quít những dây leo).
4) Suối Thanh Long
Thần long bất chức thụ thiên khiển.
Báo đức vô môn hóa thử tuyền. Bất thị thiền
ông thần lực đại. Ky tao huyết tiễn uế
sơn xuyên.
(Trời phạt rồng thần v́ thất
trách. Không cách báo đức, hóa suối này. Chẳng cậy
Thiền ông thần lực lớn. Gần như tuôn máu bẩn
non sông).
5) Suối Thánh Nghĩa
Nhất trích long
diên thấu đảm hàn. Tào Khê phân nhập kỷ đa
niên. Nhân lai cúc thủ thường tư vị. Do hạ Di
Tề ẩm đạo tuyền.
(Một giọt dăi rồng
lạnh buốt gan. Tào Khê phân nhánh đă bao năm? Tới
đây vốc nước toan nếm thử, Di Tề
cũng phải uống “đạo tuyền”[53]).
6) Suối Kim Dịch
Kim Dịch tuyền
tùng trúc kiển lai. Bất diêu tạo tác dữ an bài. Chử
mính nhật cung tham huyền khách. Nhập khẩu tu giao mộng
nhăn khai.
(Ống tre dẫn nước Kim Dịch tới, chẳng
do tạo tác hoặc an bài. Đun trà dâng tặng người
cầu học. Nhấp môi một ngụm, tỉnh mê ngay).
17.16.2.11. Thơ họa của Tuyết Đ́nh Viên
Tín
1) Ngọn Hồi Diệu
Thảo kính ly ly
sơn ảnh tà. Hàn thanh nhập cốt bán song sa. Sổ
thanh đề điểu phá u tịch. Văn sắc bất
xâm mao ốc gia.
(Đường cỏ rậm ŕ, bóng núi tà.
Song the rét buốt thấm xương da. Mấy tiếng
chim rời, u tịch mất. Nhà tranh chẳng ngại sắc
chiều buông).
2) Bảo Đao Lung
Thùy bả ngoan nham tác bảo đao. Phách
khai thiên địa nhất thu hào. Chí kim túng hữu anh linh
giả, bất nhược Điểu Khoa xuy bố mao.
(Ai dùng đá cứng làm đao báu? Chẻ
tách đất trời tựa mảy lông. Tới nay nếu
có hàng anh kiệt, chẳng sánh Điểu Khoa thổi sợi
tơ).
3) Ngọn Bích Quán
Trác trác xuân sơn bất khả môn. Cát
đằng hoành tuyết lập hoàng hôn. Cửu niên tọa
đoạn vô âm hao. Nhất phiến thạch đầu
thiên cổ ngân.
(Núi Xuân sừng sững khôn ṃ tới. Ngang
tuyết dây ḅ quyện hoàng hôn. Chín năm tĩnh tọa
không tin tức. Tảng đá ngàn năm dấu vẫn hằn).
4) Suối Thanh Long
Bất giả vân
lôi thế tự hào. Nhất phún b́nh địa tận ba
đào. Dung dung lưu nhập Chiết Giang thủy. Ẩm
giả như hà phong điệu cao.
(Không nhờ mây sấm, đă hào hùng. Vừa
phun b́nh địa khắp ba đào. Cuồn cuộn đổ
vào ḍng Chiết thủy. Người uống cốt cách cao
cỡ nào?)
5) Suối Kim Dịch
Tế mạch u u ẩn bệ la. Thạch
biên xuân ư đạm hương đa. Tuy nhiên nhan sắc
đồng thanh thiển. Na thức lâm gian hữu dị
ba.
(Mạch nhỏ lặng thầm, dây leo quấn.
Ư Xuân thoảng ngát đá bên bờ. Dẫu cho dáng sắc
dường trong, nhạt. Ai biết rừng sâu sóng khác
thường?)
6) Suối Thánh Nghĩa
Thủy tánh
vô diêu tạ giả danh. Hương Sơn ao đột
nhữ năng b́nh. Nguyên đầu bất tại thiên nham
thượng. Phanh Phật hà lao vấn Bính Đinh.
(Tánh
nước cần chi cậy giả danh? Hương
Sơn lồi lơm, nước san bằng. Cội nguồn
há phải nơi ngàn rặng. Nấu Phật há phiền
hỏi Bính Đinh).
17.16.2.12. Thơ họa của Chi Quân Đổng
Hán Sách
1) Ngọn Hồi Diệu
Thùy tín
thương nhiên lai mộ ái. Không nhai phản chiếu phát
thiên kê. Bảo phương kỳ thụ giai Xuân sắc.
Huyền cổ hưu đàm lạc nhật Tây.
(Ai tin trời biếc, sương chiều
phủ? Vách đá hắt bóng, rộn tiếng gà. Hoa quỳ,
cây ngọc phô Xuân sắc. Treo trống ngưng bàn, chiều
đă buông).
2) Bảo Đao Lung
Hung huyền thiên
kính tiếu xuy mao. Tiệp cú kinh nhân ác Mạnh Lao. Ủy thổ
hoạch nhiên tằng măn chí. Đàm ngôn vô nghĩa thắng
Long Thao.
(Ngực đeo ngàn kính, khinh bươi móc.
Mẫn tiệp kinh người, nắm Mạnh Lao[54]. Vạch
đất rạch ṛi từng thỏa chí. Nói năng vô nghĩa trội Long Thao[55]).
3) Ngọn Bích Quán
Thạch duẫn
thiên tầm yểu vô lộ. Điểu đề hoa tiếu
tự tân trần. Quyển liêm lănh đắc nhàn trung thú.
Động khẩu vân phong bất kiến nhân.
(Măng đá ngàn tầm không nẻo tiến.
Hoa cười, chim hót tự xoay vần. Cuộn rèm cảm
nhận thanh nhàn thú. Cửa động mây đùn chẳng
thấy ai).
4) Suối Thanh Long
Nhất lũ hàn lang hữu nhược vô.
Thùy tùng thủy nhũ biện chân ngô? Thúy giao thiên xích phi dao
tuyết. Hành vũ giang thôn tác họa đồ.
(Một ḍng nước lạnh có dường
không. Chân ngă ai từ nước sữa hay? Rồng xanh ngàn
thước bay hoa tuyết. Mưa đẫm thôn sông, tợ bức tranh).
5) Suối Thánh Nghĩa
Nhân thế viêm
lương tự ốc tiêu. Linh nhiên nhất chước
tự băng tiêu. Trung phân nhị thủy chân nguyên xuất.
Độc yểm tùng quan thính hải triều.
(Người đời lạnh nóng tựa
tưới, nung. Một gáo nước lạnh tự băng
tiêu. Nguồn thật chia đôi ḍng nước chảy. Riêng
khép cửa tùng, nghe sóng gầm).
6) Suối Kim Dịch
Hà tác liêm tinh, thạch tác đài. Phỉ châu
phún ngọc tự Tây lai. Kim sa tŕ bạn thôn liên lộ. Lịch biến
trang xuân ngă vị hài.
(Mây ráng: Quạt cờ, đá làm đài. Phun
châu, nhả ngọc
tới từ Tây. Sương sen, ngồi cạnh ao vàng nếm.
Trải khắp xuân hồng, tuổi chẳng phai!)
(dưới
đây đều là các bài thơ họa theo đúng nguyên vận)
17.16.2.13. Thơ họa của Kính Viên Đổng Hữu
Tùng
1) Ngọn Hồi Diệu
Tiêm nguyệt phong tiền tằng phục hổ.
Tịch dương thôn ngoại hốt văn kê. Bằng
quân đạp biến tầm xuân kịch. Hồi khiếu
Linh Nham nhật vị Tây.
(Trăng khuyết trước non từng
phục hổ. Thôn chiều chợt vẳng tiếng gà
thưa. Nhờ bạn t́m xuân ṃn gót guốc. Ngó lại Linh
Nham ngày chửa tàn).
2) Bảo Đao Lung
Đới hiệp
thanh sương phất mấn mao. Hâm hà lịch tận vấn
lao lao. Hà như bạch nhật thương yên ngoại.
Thâu liễm hàn mang bí lục thao.
(Giắt gươm xanh lạnh, tóc pha
sương. Hiểm nguy trải khắp, vẫn lao đao.
Sao bằng trời tỏ, ngoài sương khói. Thâu liễm
hàn quang lẫn lục
thao).
3) Ngọn Bích Quán
Trần thế mê lâu không mộ ái. Phạm
cung kỳ thụ tự tinh trần. Dục tri hải khoát
thiên không xứ. Tá vấn đương niên diện bích
nhân.
(Lầu mê trần thế sương chiều
phủ. Cây ngọc bên chùa tợ sao giăng. Muốn hay biển
rộng, trời khoảng khoát. Hỏi kẻ năm xưa
nh́n vách đi!)
4) Suối Thanh Long
U hác tiềm lân nhận
đắc vô. Ngọa Long tằng tự tỷ Di Ngô. Thùy
tương bát thủy hưng phong vũ. Huyễn xuất
vân lâm phá bích đồ.
(Hang sâu rồng ẩn biết hay chăng?
Ngọa Long từng tự sánh Di Ngô[56]. Chén nước
ai thành mưa gió cả. Huyễn hóa tranh rồng phá vách bay?)
5) Suối Thánh Nghĩa
Hỏa dật linh
tuyền thạch dục tiêu. Gián tham thánh nghĩa hoắc
nhiên tiêu. Thám nguyên kư thủ Trung Phong ngoại. Lai khán
thương giang bát nguyệt triều.
(Lửa bốc suối thiêng, đá sắp
chảy. Bỗng tham thánh nghĩa, lửa liền tiêu. T́m
nguồn gởi gắm ngoài rặng giữa. Ngắm sóng
sông xanh tháng Tám xuôi).
6) Suối Kim Dịch
Dục xuy
dương khí tác xuân đài. Khước hướng kim
hành ấp lộ lai. Bát bảo b́nh khuynh dương liễu
vận. Thanh đồng chung cổ thượng anh hài.
(Khí dương toan thổi dựng đài Xuân. Hứng giọt sương trong nơi
cột đồng. Nghiêng b́nh tám báu, cành dương vẩy.
Tiên đồng muôn thuở vẫn thơ ngây).
17.16.2.14. Thơ họa của Phần Viên Đổng
Sư Thực
1) Ngọn Hồi Diệu
Bối phi thanh
điểu trường yên một. Sơn hạ quang hàn lộ
Bích Kê. Thân thế vinh khô thùy ngộ đắc? Bán khai hoa ngoại nhật trầm Tây.
(Chim xanh bay khuất khói sương dày. Chân
núi lập ḷe tợ Bích Kê. Thân thế nhục vinh ai ngộ
được? Hoa x̣e nửa đóa, ánh dương tà).
2) Bảo Đao Lung
Chú tựu Minh Hồng
phỏng thúy mao. Hoành phi sương ngạc địch
quyên lao. Thiên nham vân ngọa hô bất khởi. Thương
thủy thần long môn xích thao.
(Minh Hồng[57] đao
đúc vân phượng bay. Quét phăng sương tuyết,
gột trần lao. Ngàn núi mây vờn, kêu chẳng dậy.
Nước biếc, rồng thần giữ vỏ son).
3) Ngọn Bích Quán
Tà ỷ linh phong
niêm lạc diệp. Vô đoan hoa vũ lạn nhiên trần.
Quật trung sư tử thính tiêu tức. Lâm tĩnh giang
thanh nguyệt cận nhân.
(Dựa ngọn núi thiêng, nhặt lá rơi.
Mưa hoa vô cớ bỗng đầy trời. Sư tử
trong hang nghe ngóng tiếng. Rừng tĩnh, sông trong, trăng
gần người).
4) Suối Thanh Long
Nhất phiến
oánh huỳnh tâm dục vô. Quyên quyên toái ngọc tẩm Côn
Ngô. Dược sảm xuân noăn phanh hương dịch. Khẳng
hướng nhân gian thọ lục đồ.
(Một mảnh trong ngần, không dục vọng.
Ŕ rào ngọc vụn tưới Côn Ngô[58].
Hương thuốc Xuân nồng nung sẻng nhỏ. Có chịu
trao ai bức lục đồ?)
5) Suối Thánh Nghĩa
Noăn phù hoa nhũ nhập
Đồng Tiêu. Trích lịch thanh thanh mộng vị tiêu.
Kim cổ bất tri kỷ đông hạ. Thu tâm tả tận
tác băng triều.
(Đồng Tiêu[59]: Hơi ấm
quyện mùi hoa. Nước rỏ long tong, mộng chửa
tàn. Đông Hạ
xưa nay bao thuở trải? Tâm Thu dốc sạch, sóng
băng trong).
6) Suối Kim Dịch
Kim sa hiểu
lưu xuất tằng đài. Cốc khẩu phong sơ
hương tự lai. Phân đắc dư cam nhưỡng
xuân sắc. Sấu phương chẩm thạch ư như
hài.
(Cát vàng từng bậc
chảy ban mai. Cửa động gió lùa hương thoảng
bay. Dành chút vị ngon nuôi Xuân sắc. Súc hương gối
đá, ư thiên chân).
17.16.2.15. Thơ họa của Ô Đ́nh Uông Văn
Trinh
1) Ngọn Hồi Diệu
Hải thượng
t́nh ba đăng nhật hoa. Tài thăng phong đảnh hựu
tương tà. Kim luân toàn chuyển vô đa địa. Doanh
đắc Tây nham khởi mộ hà.
(Hoa nắng lăn
tăn sóng biển lan. Vừa mới giữa trưa, thoắt
đă chiều. Kim luân xoay chuyển không nhiều chỗ. Chỉ
được vách Tây ửng bóng chiều).
2) Bảo Đao Lung
Cổ thiết
kiên ngoan sương nhẫn tân. Phong đầu quang quái khởi
lân tuân. Kim Cang xiết thủ đương không lập. Mộ
địa hoành trừu hứa hoạt nhân.
(Sắt xưa cứng cỏi thành
gươm sắc. Đỉnh núi chon von sáng lạ lùng. Kim
Cang vung tay, hư không đứng. Chợt tuốt
gươm ra cứu sống người!)
3) Ngọn Bích Quán
Đạp phá giang
ba nhất vĩ khinh. Bích gian thương thúy cổ đài
sanh. Cửu niên khô tọa duyên hà sự. Độc lập
cô phong nhậm ư hành.
(Đạp nát cành lau, nhẹ vượt
sông. Vách biếc rêu xưa phủ kín rồi. Chín năm ngồi
lặng v́ đâu tá? Riêng đứng non côi, tùy ư hành!)
4) Suối Thanh Long
Phi lưu thiên xích
hạ t́nh phong. Cá cá vân đương tiếp thủy
đồng. Thập đắc ba tâm hạm châu tại.
Đương tiền phao xuất hư ly long.
(Trời trong, ngàn thước thác buông ḍng.
Từng ống tre dày dẫn nước thông. Nhặt
được ngọc rồng nơi sóng gợn. Ném ngay
trước mặt bỡn ly long).
5) Suối Thánh Nghĩa
Thánh Đế do lai bổn khuếch nhiên.
Trung Phong hà dụng cưỡng danh tuyền? Quyên quyên bất
đoạn tầm thường sự. Mạc sử lan
phiên ngộ nhăn tiền.
(Thánh Đế xưa
nay vốn rỗng rang. Suối nơi núi giữa cưỡng
mang tên! Ŕ rào chẳng ngớt, đâu kỳ diệu! Đừng
để sóng cồn lầm mắt nh́n).
6) Suối Kim Dịch
Đại địa
mang mang tổng bố kim. Nguyên đầu điểm trích
đáo như kim. Ái hà dục hải hà nhân kiến? Yếu
dữ châm đầu tử tế tầm.
(Đại địa mênh mông thảy lót
vàng. Đầu nguồn từng giọt nhỏ không ngừng.
Biển dục, sông yêu v́ đâu thấy? Phải t́m chăm
chú nơi mũi kim).
17.17. Vân Thê Kỷ Sự Nhị Thập Vận
của Ô Đ́nh Uông Văn Trinh
Tịnh
vực sùng Tam Bảo, chư thiên hỗ cửu trùng. Liên
hương truyền Phục Hổ. Vân ảnh trú Hồi
Long. Sơn cách giang triều chuyển. Tuyền
đương trúc kính xung. Sàn viên Kim Dịch thủy.
Tạc ngạc Bảo Đao phong. Kết xă lai thâm cốc.
Tru mao trác sấu cùng. Đông Dương yêu đới
giảm, Huệ Viễn túc âm củng. Bạch nghiệp
nhân tư khải, hồng trần bất cảm phong.
Lục thời thành hải hội, Tam Quán khế tâm tông.
Phác kiệm tăng quy túc, lưu truyền pháp vũ nùng. Hà
phương tồn khổ hạnh. An dụng sính cơ
phong. Thánh đức hoài thâm quyến. Thời tuần
phỏng cựu tông. Ngô đô phù tử khí. Vũ huyệt
điện hoàng tông. Đạo dữ trai tâm hợp.
Hạnh do giác lộ phùng. Loan kỳ oanh thúy tiểu. Vũ
cái yển thanh tùng. Thập hốt châu cung hiện. Thiên hoa
phủ tọa cung. Kỳ lâm châu pháp giới. Lan nhă
triển từ dung. Giải vơng khoan sanh loại. Đề
khuông biện lăo nông. Hoàng t́nh phương sướng
toại. Phật lực cộng đào dung. Hạnh xí phù
luân hóa. Tàm phi nhị bút tùng. Chiêm thiên do chỉ xích.
Thắng nghĩa cảnh thần chung.
(Cơi
tịnh sùng Tam Bảo, chư thiên pḥ chín trùng. Hương
sen truyền Phục Hổ. Bóng mây quyện Hồi Long. Núi
ngăn sông chuyển hướng. Suối phun ngay lối
tre. Kim Dịch: Suối róc rách. Đá sắc ngọn
Bảo Đao. Kết xă vào núi thẳm. Phạt tranh,
gậy trúc giương. Đông Dương thân c̣m cơi, nghe
bước chân Viễn công. Nghiệp trắng do đây
khởi, hồng
trần chẳng dám phong. Sáu thời thành hải hội, Tam Quán
khế tâm tông. Chất phác, tăng nghiêm ước. Mưa
pháp lưu truyền nồng. Ngại ǵ giữ khổ
hạnh, hiện cơ phong làm ǵ? Thánh đức sâu luyến mộ, tuần du
viếng chốn xưa. Hơi tía phủ Ngô quận, Vũ
huyệt cúng hoàng tông[60].
Đạo hợp cùng tâm tịnh. Hạnh do nẻo giác ḥa.
Cờ loan vờn trúc biếc, lọng vũ[61]
rợp tùng xanh. Mười thước chùa ngọc
hiện. Ngàn hoa cúng ṭa vua. Rừng Kỳ khắp pháp
giới. Lan Nhă hiện từ dung. Mở lưới tha
vạn thú, lăo nông xách giỏ mừng. Ḷng vua đang vui
sướng. Phật lực cùng đúc hun. May ngóng pháp luân
chuyển. Thẹn ḿnh kém văn tài. Ngắm trời trong
gang tấc. Thắng nghĩa rộn chuông mai).
17.18. Phụ lục: Câu đối
17.18.1. Mới đến Vân Thê
1) Trúc kiển tam ngũ thăng dă thủy.
Bồng song lục thất phiến nhàn vân.
(Dăm ba ống trúc dẫn nước rừng.
Sáu bảy song tranh, mây nhàn tản).
2) Ốc bích không
sơ, bát diện hỷ phùng thanh chướng hợp. Khê
sơn tịch tĩnh, tứ thời duy hữu bạch vân
thê.
(Tường nhà trống trải, tám mặt
mừng núi biếc vây quanh. Suối khe vắng lặng, bốn
mùa chỉ có mây trắng tụ về).
17.18.2. Đ́nh Tam Tụ
1) Thúy ái phong trung mịch
lộ, bích phong tận xứ quy am.
(T́m đường
nơi đỉnh mây biếc phủ, hết chốn non
xanh trở về am).
2) Thiên cù hữu lộ
thông phương trúc, Phạm thế vô vi kiến cổ
thôn.
(Đường trời
có nẻo thông am Phật, cơi tịnh vô vi thấy cổ
thôn).
17.18.3. Tam môn
Cổ sát trùng khai, ngũ sắc vân đoan
thê chỉ địa. Thiền lâm triệu kiến, vạn
niên bảo lịch thái b́nh thời
(Chùa cổ trung hưng, mây năm sắc
đậu nơi cuộc đất. Thiền lâm vừa dựng,
muôn năm giữ vững thuở b́nh yên).
17.18.4. Cửa Thiện Hội
Mộ chí đạo,
nhi quyết ư tinh tu, kham đồng thử hội. Đạn
thanh quy nhi vô tâm thượng tấn, mạc nhập tư
môn.
(Một đạo
cao tột, quyết ư chuyên tu, kham cùng dự hội này. Sợ
thanh quy, tâm chẳng cầu tiến, đừng bước
vào cửa đây).
17.18.5. Tịnh nghiệp đường
Vương Cực Lạc, lục bát đại
nguyện chi từ tôn, tuyệt hạn lượng thọ
quang minh bất ly đương xứ. Quá Sa Bà vạn triệu
Phật bang chi Tịnh Độ, diệu trang nghiêm lâu
đài tŕ chiểu nguyên thị ngô hương.
(Đấng từ tôn, vua Cực Lạc, bốn
mươi tám nguyện, thọ quang vượt ngoài hạn
lượng, chẳng ĺa chỗ này. Cơi Tịnh Độ,
ngoài Sa Bà, vạn triệu cơi Phật, lâu đài ao nước
trang nghiêm vốn là quê ta).
17.18.6. Thiền Duyệt Đường
Trục đội nhị thời, phùng Diêm
lăo đả toán phạn tiền, năng vô khiếm phủ?
Băo tham nhất niệm, đối Lư Lăng cận lai
mễ giá, đắc bất nan dư?
(Theo nhóm hai thời, gặp Diêm lăo tính toán tiền
cơm, thiếu được hay chăng? Tham Thiền một
niệm, đối giá gạo Lư Lăng gần đây,
chẳng khó lắm ư?)
17.18.7. Cao bộ
Lâu các tương
đăng, dă tu tùng giá lư quá. Giai cấp bất lạc, tất
cánh thị thậm ma nhân?
(Lầu gác sắp
lên, cũng cần phải bước từ chỗ này. Thềm,
bậc chẳng ngă, rốt cuộc là người như thế
nào?)
17.18.8. Diễn Pháp Đường
Cửu hội dung
dung lục thập vạn tự chi hùng văn, viên cực
Nhất Thừa tánh hải. Thiên hoa thọ thọ ngũ thập
bát thiên chi đại giới, hoằng khai Tam Tụ pháp
môn.
(Chín hội dung thông,
hùng văn sáu mươi vạn chữ, biển tánh Nhất
Thừa viên đốn tột cùng. Ngàn hoa trao truyền
đại giới năm mươi tám chương, pháp
môn Tam Tụ rộng hoằng dương).
17.18.9. Tùy Chỉ Cư (tức pḥng khắc in kinh)
Tích viễn hồng
trần, nhật cận tăng quy thành tịnh lữ. Thân
y bạch xă, thời thân pháp bảo độ phàm t́nh.
(Xa dấu vết cơi
trần, hằng ngày theo tăng quy củ, thành bạn thanh
tịnh. Thân nương bạch liên xă, luôn luôn thân cận
pháp bảo, độ thoát phàm t́nh).
17.19. Các bài khắc in thêm
17.19.1. Ghi chép về chuyện các tín sĩ
thuộc Tiểu Vân Thê trùng tu Diễn Pháp Đường
Xét lại, Vân Thê được sáng lập từ đời Tống. Qua mấy
trăm năm, có Liên Tŕ đại sư mở lại đạo
tràng làm chỗ để niệm Phật và phóng sanh, quy mô hưng khởi. Lại hơn hai
trăm năm sau, các vị quân tử cùng làng kết tịnh
xă, mở rộng việc phóng sanh, kế tục tạo
thành Tiểu Vân Thê. Phóng sanh là do cảm nhận đức hiếu sanh của trời
đất, dùng tâm chân thành để làm việc tốt đẹp. Nếu chỉ
phóng sanh mà chẳng nuôi, các con vật sẽ chẳng sống
trọn hết đời, đâm ra lại khiến cho
chúng chóng chết, chẳng phải là đường
lối giữ vẹn sanh mạng.
Thuở trước, Vân Thê mở hội Thủy Lục
Đạo Tràng, có quy định: Hễ phóng sanh bèn dùng ba
lượng bạc và một lượng bạc dành mua thức
ăn cho các con vật. Cách ấy tới nay vẫn không bị
biến đổi. V́ thuở ấy, chùa cách xa thành, lại
dựng thêm hai ngôi chùa Thượng Phương ở cửa
Tây và Trường Thọ ở cửa Bắc, đào ao
phóng sanh để thuận tiện cho những người
phóng sanh. Sư tự soạn bi kư nói đấy là khởi
đầu, từ đó sẽ lan rộng, chẳng biết
sau này sẽ c̣n có bao nhiêu ao nữa. Ư nguyện rất lớn
lao!
Tiểu Vân Thê là do những người cùng
chí hướng, ngưỡng mộ chuyện cũ phóng sanh của Vân Thê mà noi
theo đó mở rộng ra. Thoạt
đầu, họ từng xin quan đại trung thừa họ
Nguyễn tâu xin phục hồi quy chế [phóng sanh cũ] ở
Tây Hồ, nhưng chẳng thành. Năm Quư Hợi, t́m được
Dư Am ở phía Đông thành do họ Dư quyên tặng.
Am có sẵn điện
vũ, liêu pḥng, ao rộng hai ba mẫu, liền chọn
nơi ấy làm chỗ tụng niệm lễ Phật, phóng
sanh. Sau đấy, do chuồng ḅ, chuồng dê, cũi lợn,
chuồng gà chưa đầy đủ, lại mua thêm am bên cạnh và nhà
dân, nối tiếp mở rộng khu đất, xây thêm nơi nuôi gia súc, ao
cá v.v… và dựng ba gian điện để thờ tượng
Liên Tŕ Đại Sư. Khi hoàn thành, đặt tên là Tiểu
Vân Thê do phỏng theo cách thức của Ngũ Vân, nhưng
quy mô nhỏ hơn.
Tuy cùng là phóng sanh, nhưng Đại Vân Thê
và Tiểu Vân Thê mỗi nơi mỗi khác. Đại Vân Thê
ở trong núi, lập chỗ phóng sanh, đủ loại
chim thú được nuôi trong ấy. Đă có thức
ăn cho các con vật,
tăng chúng cũng giảm khẩu phần để nuôi.
Trừ cỏ rơm ra, ước
chừng phí tổn đến hai trăm thạch gạo.
Đối với hai ao phóng sanh trong và ngoài thành, chi phí mỗi
năm hơn một trăm lạng, trước nay chẳng
khuyết thiếu. C̣n như Tiểu Vân Thê, lương thực
cho các con vật và hết thảy các kinh phí, tính toán các khoản
quyên mộ hằng năm và các khoản tự nguyện
quyên tặng từ thư viện[62] ra, chưa
được một nửa [chi phí cần thiết], cần
phải quyên mộ riêng những khoản khác để bù
đắp. Chùa ở góc thành, đất hẹp mà các con vật
nhiều. V́ thế, đối với mỗi loại đều
hạn định bao nhiêu con cố định. Những
con vật dư
ra sẽ gởi sang Đại Vân Thê nuôi, bù thêm tiền thức
ăn cho các con vật. Nhưng hạng mục này cũng cần
quyên mộ tín thí, nhiều ít chẳng có con số nhất
định, cũng chẳng phải là kế lâu dài.
Những vị cùng chí hướng tính quyên
mộ để tậu ruộng ḥng thâu tô lợi để
mua thức ăn cho các con vật, nhưng đề nghị
ấy chưa được thực hiện th́ chùa [Đại
Vân Thê] gặp trận hỏa hoạn vào mùa Đông năm
Nhâm Thân (1812), được quan đại trung thừa họ
Cao (Cao Kỷ) dâng
sớ, triều đ́nh ban chiếu sai Diêm Vụ[63] cấp
năm trăm lượng bạc để tu bổ, phần
thiếu th́ do tăng nhân tự quyên góp. Do đó, xây lại
điện thờ tổ Liên Tŕ trước, các hạng mục
khác đều cậy mọi người thương
lượng, cậy Thường Diêm Chánh[64] trù tính các
khoản để trùng tu, nhưng chi phí vẫn chưa
đủ, cần phải quyên mộ thêm để hoàn tất
công tŕnh. Những người cùng chí hướng nhóm lại,
bàn bạc: “Đối với khoản tiền chuyên để
mua thức ăn cho các con vật tại Vân Thê, nếu mỗi
năm đều phải quyên mộ, lúc thừa lúc thiếu
không nhất định. Sao bằng thừa dịp trùng tu
chùa lần này, chúng ta quyên tiền xây một ṭa Thủy Lục
Đường, hoạch định lại quy chế mới:
Trong mỗi phần tiền công đức [quyên mộ],
tăng thêm ba lạng bạc để mua thức ăn cho
các con vật được nuôi gởi của Tiểu Vân
Thê. Đối với người làm công đức, họ
sẽ chẳng tiếc chút tiền mọn ấy, mà đối
với việc phóng sanh, thật sự có thể duy tŕ lâu
dài, há chẳng phải là tiện lợi cả đôi đằng
ư?”
Mọi người đều tán đồng,
liền xem xét những ǵ c̣n sót lại sau đám cháy, thấy
chỉ có Diễn Pháp Đường là cao rộng nhất,
ước tính chi phí khoảng một ngàn sáu trăm lượng
bạc, liền quyên góp đủ số, chọn thợ và
vật liệu, trân trọng mời người thông thạo
đến đốc thúc, lo liệu. Chẳng lâu sau, công
tŕnh hoàn thành, nội đàn được mở ra, mà tiền
thức ăn cho các con vật được tăng thêm,
bèn đem ư này bảo rơ với các vị thường trụ,
khắc vào ván gỗ để tuyên bố cùng hết thảy
khiến cho mọi người đều nghe biết, và
muốn cho chuyện này được lâu dài, chẳng bị
băi bỏ, cũng như khiến cho người đời
sau biết duyên do trùng tu và lập điện đường,
bèn cẩn trọng trần thuật đầu đuôi
để ghi vào bia đá.
Ngày lành tháng Sáu năm Gia Khánh 18 (1813), đệ
tử Phật là Đinh Đào kính ghi.
17.19.2. Ngũ Vân Tinh Xá
Ngũ Vân Tinh Xá do thiền sư Phục Hổ
khai sơn từ năm Càn Đức thứ năm (967)
đời Tống. Tới năm Hoằng Trị thứ bảy
(1494) đời Minh, mưa dầm kéo dài gây lũ lụt,
điện đường sụp đổ, kinh tượng
bị cuốn trôi, nơi này bị bỏ hoang gần vài
trăm năm. Tới năm Long Khánh thứ năm (1517), tổ
sư Liên Tŕ dựng ba gian nhà tranh, dùng niệm Phật và phóng sanh để dựng pháp tràng tối thắng. Từ đó, thiện tín dốc
ḷng quy hướng, dần dần thành lan-nhă. Tới nay đă hơn hai trăm
năm, trở thành danh lam cổ tự nổi tiếng. Nhiều
lần được bậc đế vương ngự
giá viếng thăm, lại nhiều lần được
khâm ban bút tích ngự chế, đều được cung
kính lưu giữ. Chùa vốn chẳng có ruộng đất
thường hằng, tăng chúng hơn bốn trăm
người sống nhờ pháp hội Thủy Lục và trai sám.
Tới mùa Đông năm [Gia Khánh] 17 (1812), do không cẩn thận củi lửa
[chùa bị cháy rụi],
được vị Phủ Hiến (quan
Tuần Phủ) tiền nhiệm
là ông Cao dâng sớ tâu tŕnh, được hạ chiếu
ban ân, thưởng cho năm trăm lạng bạc
để tu bổ; nếu chẳng đủ, tăng nhân quyên
mộ lo liệu. Vâng theo đó, kính tuân hoàng lệnh, trước
là xây dựng ba gian điện thờ tổ Liên Tŕ. Kế
đó, ngoại trừ các vị thân sĩ thuộc sở
phóng sanh Tiểu Vân Thê quyên mộ dựng Diễn Pháp
Đường ra, từ sơn môn cho đến đại
điện sau trước và lầu gác để cất
giữ ngự bút đều là các hạng mục khẩn yếu.
Khảo sát, tính toán nhân công và vật liệu, ước
tính cần tám ngàn lượng bạc. Được các vị
thương nhân ngành muối thuộc bốn sở muối
thỉnh vị Diêm Hiến là ông Thường tạm ứng
từ quỹ đóng góp của thương nhân.
Sau đó, họ dựa theo chứng
từ chuyển vận muối mà trả lại sau. Việc
này được phê chuẩn, đồng thời cử
cư sĩ Thẩm Vân Chưng giám sát thi công. Chẳng đầy
mấy tháng, quy mô to lớn lại được tái hiện,
tuy công tŕnh chưa hoàn toàn hoàn tất, nhưng có pháp
đường để thờ kinh luật, có thiền
đường để an trú tăng chúng. Các pháp sự tụng
kinh sám hối đều có nơi để hành lễ. Những
người như Dữ Minh thật sự cảm niệm
ân vua nhân từ và ca ngợi đức hạnh của quan
Diêm Hiến. V́ thế, kính cẩn khắc lại vào pháp tập
để lưu truyền sự việc này.
Trụ tŕ
chùa Vân Thê là tăng Dữ Minh cùng các vị chấp sự
ghi lại.
Bồ-tát giới đệ tử Lưu Huệ
Văn suất lănh con là Tánh Trạch bỏ tiền kính khắc
in. Ghi tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ vào tháng Mười
mùa Đông năm Quang Tự 25 (1899).
Vân Thê Pháp
Vựng
Phần 10 hết
[1] Thánh tộ (聖祚): Ngôi vị
đế vương hoặc hoàng triều bền vững,
dài lâu.
[2] Đổng Hoa Đ́nh chính là đại
thư pháp gia Đổng Kỳ Xương (1555-1636), sống
vào đời Minh. Ông có tên tự là Huyền Tể, hiệu
là Tư Bạch, và Tư Ông, biệt hiệu là Hương
Quang Cư Sĩ. Do ông là người huyện Hoa Đ́nh
(nay là khu Tùng Giang thuộc Thượng Hải), nên thường
được gọi là Đổng Hoa Đ́nh. Ông đậu
tiến sĩ thời Vạn Lịch, làm quan đến chức
Lễ Bộ Thượng Thư.
[3] Theo truyền thuyết, hậu duệ của
Viêm Đế là Mặc Như. Con của Mặc Như là Mặc
Thai được phong làm vua nước Cô Trúc, chư hầu
của vua nhà Hạ; về sau, Mặc Thai làm bầy tôi của nhà Thương. Mặc Thai có ba
người con trai, con đầu là Mặc Di (do là con cả
nên gọi là Bá Di), người con thứ ba tên là Mặc Tề
(thường gọi là Thúc Tề). Sử không
chép người con thứ hai tên là ǵ. Khi Châu Vũ Vương diệt Trụ
Vương của nhà Thương, Bá Di và Thúc Tề không chịu
hàng phục, trốn vào ẩn ở núi Thú Dương. Do vậy,
Mặc Thai dùng ở đây để chỉ bậc ẩn
sĩ lánh đời.
[4] Nét Nhan ở đây là nói tới thư pháp
theo lối Nhan Thể (cách viết chữ Khải của Nhan Chân Khanh). Đặc trưng của
lối viết này là vuông vắn, dày đặn, khoáng đạt,
chánh trực, oai nghiêm, nên phần lớn khi chép kinh, người
ta dùng thể chữ này. Hai câu này ư nói Càn Long xem bản chép
kinh Phật rất thích thú lối chữ viết theo phong
cách của Nhan Chân Khanh, thậm chí đem so với bút tích của
Vương Hy Chi trong Lan Đ́nh Thiếp, vẫn thấy
bút lực của Vương Hy Chi không thể sánh bằng.
Do Vương
Hy Chi từng giữ chức Hữu Quân Tướng Quân
đời Tấn nên thường được gọi là Vương Hữu
Quân.
[5] Thẻ kinh ở đây là cái thẻ dẹp
để cài vào sách nhằm đánh dấu đoạn
đang đọc dở dang.
[6] Tam Hy Đường Pháp Thiếp, gọi
đầy đủ là Ngự Khắc Tam Hy Thạch Cừ
Bảo Cấp Pháp Thiếp, được khắc vào
năm Càn Long 12 (1747) do cung đ́nh khắc in các bức
thư pháp nổi tiếng. Bộ sách này gồm ba
mươi hai quyển, bao gồm hơn ba trăm bốn
mươi bức thư pháp trứ danh của một
trăm ba mươi lăm vị thư pháp gia nổi tiếng
từ đời Ngụy, Đông Tấn cho tới
cuối đời Minh. Do trong
ấy có tác phẩm của Vương Hy Chi, Vương Hiến
Chi và Vương Tuần, những bức vẽ này
được vua Càn Long xưng
tụng là “hy
thế mặc bảo” (tác phẩm thư pháp quư báu hiếm có trong
cơi đời) nên gọi là Tam Hy. Các tác phẩm ấy
được cất giữ tại Dưỡng Tâm Điện,
nên Dưỡng Tâm Điền c̣n được gọi là
Tam Hy Đường.
[7] Đây là bản
chép tay Tâm Kinh do Càn Long viết theo thể thức chữ
dùng khắc trên văn bia, xếp chữ tạo thành h́nh cái
tháp.
[8] Cổ lịch
Trung Hoa dựa theo sự vận chuyển của Mộc
Tinh (Tuế Tinh) để lập ra thiên can (mười chi
như Giáp, Ất, Bính, Đinh…). Thái Tuế tại Mậu
tức là nhằm năm có chữ Mậu. Không rơ ở
đây người viết có chép sai hay không, v́ năm Càn
Long 22 (1757) là năm Đinh Sửu, năm Càn Long 23 (1759) mới
là năm Mậu Dần.
[9] Nguyên văn là “hà bao” (荷包), chính là túi vải, gấm hay lụa, thêu thùa tỉ
mỉ, dùng để đựng tiền hay các vật lặt
vặt. Hà bao ở đây là túi đựng các loại hương liệu hay bột
thơm để đeo lên người khiến cho thân thể
có mùi thơm tho. Vua nhà Thanh, nhất là Càn Long, hay
tháo túi thơm đang đeo trong người ban cho người
vua ưa thích, ngụ ư ban tặng vật đích thân vua
đang dùng, ḥng biểu lộ sự quan tâm đối với
người đó.
[10] Hành cung, c̣n gọi
là hành khuyết, là chỗ cung điện nghỉ ngơi của
hoàng đế khi tuần du. Đời Thanh, tại các
nơi có nhiều ṭa hành cung, bao gồm Nam tuần hành cung
(bốn mươi tám cung), Bắc tuần hành cung (ba
mươi bốn ṭa), Đông tuần hành cung (mười
tám ṭa), Tây tuần hành cung (mười ba ṭa)….
[11] Hương
Đông Uyển c̣n gọi là Hoàn Hương. Đây là một
loại gỗ trầm hương (c̣n gọi là Nha Hương
Thụ hoặc Nữ Nhi Hương), mọc nhiều ở
vùng Hoàn Thị thuộc tỉnh Quảng Đông. Thời cổ,
loại cây này mọc nhiều ở vùng phụ cận của
Hương Cảng (do đó, khi người Anh mở hải
cảng tại đây, người dân đă gọi hải
cảng mới mở là Hương Cảng. Cùng với
đà phát triển của Hương Cảng, loại cây
này hầu như tuyệt tích). Loại hương này
thơm ngọt, thanh nhă, không có mùi nồng đậm
như các loại trầm hay đàn hương khác. Từ
thời Đường, loại hương này được
dành riêng để tiến cống hoàng đế.
[12] Nghê Toản (1301-1374), tự là Nguyên Trấn,
c̣n có tên tự là Huyền Anh, hiệu là Vân Lâm, Huyễn Hà
Sanh, Kinh Man Dân, và Phong Nguyệt
Chủ Nhân, là một thi nhân, họa sĩ, thư pháp gia, kiêm
trà nhân nổi tiếng sống
vào đời Nguyên. Ông nổi tiếng về tài vẽ
tranh thủy mặc, đặc biệt là sử dụng
màu nhạt khiến tranh vẽ mờ ảo mà lại sinh động.
[13] Thiên Hy là niên hiệu thứ tư của Tống
Chân Tông (Triệu Hằng) được sử dụng từ
năm 1017 cho tới năm 1021.
[14] Đây là một cách tỷ dụ: Kẻ mê
muội, hồ đồ, chẳng biết phân biệt
đúng sai, thiếu trí huệ giống như kẻ trộn
lẫn bùn đất vào canh để ăn, lại chê
cười người chăm chỉ cấy cày (tức
người chân thật thực tiễn hành tŕ).
[15] Đại
Tư Thành nghĩa gốc là chức quan phụ tá của
Tư Đồ, chuyên trách giảng dạy Thế Tử,
giảng dạy nghĩa lư. Từ thời Đường
Cao Tông, Quốc Tử Giám bị đổi tên thành Tư
Thành Quán, nên chức Tế Tửu (hiệu trưởng Quốc
Tử Giám) được gọi là Đại Tư Thành.
Từ đấy về sau, mọi người quen gọi
Tế Tửu của Quốc Tử Giám là Đại Tư
Thành.
[16] Thiệu
Hưng là niên hiệu của Tống Cao Tông (Triệu Cấu)
từ năm 1130 đến năm 1162.
[17] Tri Các là gọi
tắt của chức Tri Các Môn Sự. Đây là chức
quan chủ quản của Tri Các Môn Ty, có trách nhiệm lo liệu
việc hướng dẫn lễ nghi trong triều chánh, lo
liệu các dịp khánh điển, tiếp đăi sứ
đoàn, cũng như kiểm tra chéo các sự vụ thuộc
lễ nghi trong bộ Lễ, đồng thời giám sát việc
điều hành các cơ cấu thuộc ngoại giao
như Khách Tỉnh, Tứ Phương Quán v.v…
[18] Thái Học
Sinh c̣n gọi là Giám Sinh, hoặc Bác Sĩ Đệ Tử
Viên, là những người được tuyển vào học
tại Quốc Tử Giám (nhà Thái Học). Sau khi được
công nhận tốt nghiệp tại Quốc Tử Giám, họ
thường được bổ làm quan. Thời Minh -
Thanh, giám sinh được chia thành bốn loại:
- Cử Giám: Những
cử nhân không đỗ kỳ thi Hội, nhưng
được Hàn Lâm Viện tuyển chọn vào học Quốc
Tử Giám.
- Cống Giám tức
là Cống Sanh (người đă đỗ Tú Tài) xuất
thân, được chọn vào Quốc Tử Giám.
- Lệ Giám: Do
triều đ́nh hữu sự, tài chánh chẳng đủ,
con em của quan viên có thể quyên nạp tiền bạc
vào quốc khố, bèn được tuyển vào học tại
Quốc Tử Giám.
- Ấm Giám
(c̣n gọi là Ấm Sanh), tức con cháu của quan viên,
đại thần được vua ban ân sủng vào học
(gọi là Ấm Giám), hoặc do thừa hưởng quan
tước của cha (tập ấm) mà được vào
học tại Quốc Tử Giám.
[19] Hàm Thuần là
niên hiệu của Tống Độ Tông (Triệu Kỳ)
từ năm 1265 đến năm 1274.
[20] Vị vua này có tên là Ngô Việt Trung Ư Vương, tên thật là Tiền Hoằng Thục, cũng là vị vua cuối cùng của nước này. Nước Ngô Việt tồn tại từ năm 907 đến năm 978, đóng đô tại Hàng Châu, là nước tồn tại lâu nhất thời Ngũ Đại Thập Quốc. Lănh thổ bao gồm toàn bộ tỉnh Chiết Giang, miền Đông Nam Giang Tô và phần Đông Bắc tỉnh Phước Kiến. Quốc gia này do Tiền Lưu sáng lập khi nhà Đường suy yếu, các lănh tụ quân phiệt nổi lên cát cứ thành lập các nước riêng. Trong đó có năm triều đại lớn nhất kế tiếp nhau (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Châu), lănh thổ Trung Hoa bị chia thành mười nước (Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Kinh Nam, Mă Sở, Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán. Cuối thời Ngũ Đại, c̣n có những lănh thổ nhỏ, hoặc do lănh chúa không xưng vương, hoặc v́ tầm ảnh hưởng nhỏ nên không kể vào Thập Quốc như Yên, Triệu, Kỳ, Tấn (về sau xưng là Hậu Đường), Ân, như Đại Trường Ḥa (Đại Lư), Vũ B́nh Tiết Độ Sứ, Thanh Nguyên Quân Tiết Độ Sứ, Yên Vân Thập Lục Châu (về sau gọi là Bắc Hán), Định Nạn Tiết Độ Sứ, Hà Tây Tiết Độ Sứ, Sóc Phương Tiết Độ Sứ, Nghĩa Quân Tiêt Độ Sứ, Nghĩa Vũ, Quy Nghĩa, nên không tính là “quốc”). Do vậy, Sử gọi thời này là Ngũ Đại Thập Quốc. Tiền Lưu xuất thân là thương gia bán muối, do giàu có, lại có quân đội riêng. Ông ta quy phục quân phiệt Đổng Xương, trở thành bộ tướng của họ Đổng. Tiền Lưu được phong làm Tri Châu Hàng Châu. Từ đó, ông ta dần dần xây dựng thế lực, được phong là Bành Thành Quận Vương khi Đổng Xương xưng đế, lấy quốc hiệu là Đại Việt La B́nh Quốc. Về sau, Tiền Lưu diệt Đổng Xương, khống chế toàn bộ vùng Lưỡng Chiết, và được nhà Hậu Lương phong làm Ngô Việt Vương. Năm 923, ông ta lập quốc, thiết lập triều đ́nh riêng. Tiền Lưu khôn khéo tiến cống các triều đại lớn hơn (Hậu Lương, Hậu Đường…) nên giữ vững được bờ cơi, truyền được năm đời vua cho tới đời Tiền Hoằng Thục, Triệu Khuông Dẫn thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Tống, Tiền Hoằng Thục phải đầu hàng.
[21] Cổ nhân
gọi triều đại mình đang sống là “quốc
triều”. Do Tổ sống vào đời Minh,
nên “quốc triều” chính là nhà Minh.
Cảnh Thái là niên hiệu từ năm 1450
đến năm 1457 của Minh Cảnh Tông (Châu Kỳ
Ngọc), còn Trinh Minh là niên hiệu của
Lương Mạt Đế (Châu Hữu Trinh) thời
Ngũ Đại Thập Quốc từ năm 915
đến 921.
[22]
Thượng Bảo Khanh gọi đủ là
Thượng Bảo Ty Khanh, là chức quan
được đặt ra vào thời
Minh, chuyên quản thủ ấn báu, tín bài,
ấn chương trong triều đình. Thoạt
đầu, chức quan này được Minh
Thái Tổ (Châu Nguyên Chương) gọi là Phù
Tỷ Lang, về sau mới đổi thành
Thượng Bảo Ty Khanh.
[23] Câu-lô-xá (Krośa), còn phiên âm là Câu Lũ
Xa, là đơn vị đo độ dài của
cổ Ấn Độ, nghĩa đen là “tiếng
trâu rống”, ý nói: Trong phạm vi còn nghe
được tiếng trâu rống của thôn làng
gần nhất. Câu-lô-xá có hai cách hiểu:
Một phần tám của một do-tuần, hoặc
một phần tư của do-tuần. Như vậy,
một câu-lô-xá là khoảng bốn cây số,
nhưng Câu Xá Luận lại cho rằng một
câu-lô-xá chỉ bằng hai dặm Tàu
(khoảng một cây số rưỡi).
[24] Phi Vịnh Đ́nh vốn là nơi phóng sanh
do thái thú Triệu Sư Cao kiến lập vào năm Khánh
Nguyên thứ tư (1198) đời Bắc Tống tại
Tây Hồ ở Hàng Châu, về sau, trở thành phế tích.
[25] Cửu
Trù (九畴) là
chín cương lãnh để cai trị thiên
hạ bằng lòng nhân do Đế Thuấn
truyền cho Hạ Vũ (Đại Vũ). Những
điều này được chép trong thiên Hồng
Phạm (洪范) của
Thượng Thư. Hồng
Phạm có nghĩa là khuôn phép to lớn. Do
thiên sách này được chia làm chín
tiểu loại, nên thường gọi là
Hồng Phạm Cửu Trù. Chín tiểu loại ấy
là:
1) Ngũ hành
(kim, mộc, thủy, hỏa, thổ).
2) Ngũ sự
(diện mạo, lời nói, cách nh́n, cách nghe, tư duy), tức
là năm phạm vi cần tu dưỡng trong ứng xử
của bậc quân tử.
3) Bát chánh (tám
thứ chuyên trách về hành chánh trong sự cai trị đất
nước) gồm thực phẩm, hàng hóa, tế bái v.v…
4) Ngũ kỷ
(năm, tháng, ngày, tinh tú, lịch số), tức cơ sở
để phù hợp với thiên thời.
5) Hoàng cực:
Nguyên tắc cai trị đúng ḷng nhân của bậc quân
vương, thường gọi là đạo “đại
trung chí chánh”.
6) Tam đức:
Trực chánh (thẳng thắn, công chánh), cang khắc
(cương quyết), nhu khắc (khéo léo mềm mỏng
để đối trị), tức là cách vận dụng
khéo léo các biện pháp cai trị.
7) Kê nghi: Các
phương pháp để giải quyết nếu có nghi hoặc
phát sanh trong lúc cai trị.
8) Thứ
trưng (mưa, tạnh, nóng, lạnh, gió), tức dựa
trên các hiện tượng tự nhiên để xem lại
cách cai trị có đúng đường lối, hợp ḷng
trời, ḷng người hay không.
9) Ngũ
phước, lục cực: Các ư niệm khuyến thiện
trừng ác.
Theo
Thượng Thư, thiên sách này do Cơ
Tử giảng cho Châu Vũ Vương (Cơ
Phát) về đại pháp của thiên địa, bảo đó
là lời dạy của Đế Thuấn
truyền cho Hạ Vũ về đạo trị
quốc. Cơ Tử tên thật là Tử Tư
Dư, là con của Đế Văn Đinh, là
chú của Trụ Vương, từng làm quan
Thái Sư dưới đời vua Trụ
(Đế Ất). Do ông được phong ở
đất Cơ, nên Sử thường gọi ông
là Cơ Tử. Ông từng khuyên lơn vua
Trụ đừng say mê sắc dục, nhưng
bị vua Trụ tống giam. Chán ngán, ông xõa
tóc giả điên để tránh nạn. Sau khi
nhà Châu diệt Trụ, ông được thả.
Châu Vũ Vương từng nhiều lần tới
hỏi ông về đạo trị quốc.
[26] Khúc
Phụ chính là quốc đô của
nước Lỗ thời Xuân Thu, nay thuộc
thành phố Tế Ninh của tỉnh Sơn Đông.
Theo sử chép, ở phía Đông của
thành này có một cái gò ngoằn
ngoèo dài bảy tám dặm, nên gọi
là Khúc Phụ. Đây cũng chính là quê
nhà của Khổng Tử.
[27] Tây Hoa,
Trường Sanh, Bảo Chân là những
khái niệm tu tập trong Đạo giáo, nên “nhà
thiêng của Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân”
là nói đến đạo quán (miếu
đạo sĩ), tức đạo viện
Đắc Nhất.
[28] Người viết bài kư này
là cư sĩ Quảng Thược Ngô Ứng Tân, nên tự
xưng là Thược Tân.
[29] Thời
Hán Vũ Đế, nhằm chuẩn bị cho
cuộc tấn công nước Côn Minh (nay thuộc
tỉnh Vân Nam), do vua thấy
người dân Côn Minh thạo thủy chiến,
đã cho đào ao Côn Minh tại Trường
An để tập luyện thủy quân. Nơi đáy
ao có chất đất bùn đen đặc,
Đông Phương Sóc bèn giải thích
đó là tro khi kiếp hỏa đốt cháy
thế gian còn sót lại. Ở đây, tác
giả đã ví văn tài của tổ Liên
Trì siêu việt, mênh mông, không ai đạt tới, không thể hủy hoại
được như cánh chim Ca Lâu La chẳng thể
quạt thổi tan, những
lời lẽ của tác giả dù trau chuốt
cách mấy cũng như bùn đen nơi ao Côn
Minh không thể làm lu mờ văn từ
của tổ được.
[30] Hang Na La Diên
là động đá hoa cương (granite) tại
Lao Sơn thuộc thành phố Thanh Đảo, tỉnh
Sơn Đông. Gọi là hang Na La Diên vì Na La Diên trong
tiếng Phạn có nghĩa là kiên cố,
vững chắc. Trong hang có khám thờ
Phật, được tôn xưng là một trong
mười hai cảnh đẹp của Lao Sơn.
Ở đây, tác giả chỉ mượn
dùng từ ngữ này để ca
ngợi cảnh sắc đẹp đẽ
của Thượng Phương và
Trường Thọ, chúc tụng công trình
này tồn tại dài lâu.
[31] Ý nói:
Giết hại một mạng, người giết
tạo sát nghiệp, sẽ phải trả báo.
Tức là do giết một sanh vật, khiến cho
con vật bị giết mất mạng, mà
người giết do sát nghiệp cũng
phải đọa lạc theo.
[32] Đây là
một thành ngữ, diễn tả sự
việc đạt đến cực thịnh rồi
cũng suy tàn. Tề Oai Vương thuở
đầu trầm mê rượu chè, có thể
uống rượu suốt đêm, tửu
lượng rất cao. Về sau, do Thuần Vu Khôn
khuyên can “rượu đến cùng cực
thì loạn, vui cùng cực hóa buồn”, vua bèn thôi nhậu
nhẹt, về sau chỉ có thể uống tối
đa là một thạch (tức mười
đấu). Bầy tôi dù giỏi giang cách mấy,
công lao to đến mấy, khi vua ngờ vực,
thì chỉ một lỗi nhỏ (như ngáp hay duỗi ḿnh khi
vua đang nói chuyện) cũng dễ
dàng bị kết tội, thân mất, mạng vong.
[33] Câu này
dựa theo ý thành ngữ “cưu chiếm
thước sào” (bồ câu chiếm tổ chim
khách), nhằm nói lên tình thế kẻ mạnh
lấn hiếp kẻ yếu trong
xã hội.
[34] Sáu
điều Như trong kinh Kim Cang là nói đến
bài kệ “hết thảy pháp hữu vi,
như mộng, huyễn, bọt, bóng, như
sương cũng như chớp. Hãy nên quán
như vậy”. Ông Ngô Ứng Tân viết “sáu
điều Như của kinh Kim Cang là nói về
cầm, sắt, lụa, là” nhằm
khẳng định sáu thí dụ ấy
nói về hư huyễn của sắc chất,
tham dục, chứ không phải là đức
Phật nói chuyện kiêng giết, tu thiện cũng
đều là hư huyễn.
[35] Thất
giá là mở rộng của Ngũ Nghịch,
tức là ngoài tội Ngũ Nghịch,
cộng thêm hai tội “giết vị tăng chuyển
pháp luân” và “giết thánh nhân” (“thánh nhân”
là La Hán của Tiểu Thừa, hoặc
Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên).
[36] Ý nói
xưa là kẻ giết chóc, nay thành cá
bị giết hại để đền nghiệp
sát hại. Xưa là thỏa thích sát
hại trong một ngày, nay do sát nghiệp
đọa lạc chịu khổ cả kiếp.
[37] Ngậm
ngọc (hàm bích, 銜璧): Thời
cổ, khi giao chiến thất bại, người thua
trận muốn đầu hàng sẽ tự
trói hai tay, miệng ngậm ngọc đối
trước tướng địch. Cả
đoạn này có ý chê trách quan điểm
sai lầm của người đương
thời: Họ cứ cho rằng chết là
hết, chẳng biết gì nữa. Ở
đây, ông Ngô Ứng Tân dùng ngay lập luận
để vặn hỏi: Nếu chết là hết,
chẳng biết gì nữa, vậy thì
còn phải phấn đấu tạo sát
nghiệp, hoặc đấu đá hòng tạo
vinh dự cho gia tộc, để tiếng cho con
cháu có ích chi đâu? Lại cứ nghĩ
rằng lúc sống phải hưởng thụ
sung túc để chết đi có thần hồn
vững mạnh. Nghĩ như vậy thì có
khác gì sống là kẻ lấn lướt
người khác, chết thành một con quỷ
mạnh mẽ mà thôi! Cứ khăng khăng
ngả theo điều ác như kẻ thua trận
trói mình liền ngậm
ngọc đầu
hàng để điều ác chi phối, cho nên không
điều ác nào chẳng làm!
[38] Do trong quá
khứ, dòng họ Thích Ca là ngư dân
đã tát cạn một ao nước
bắt cá ăn thịt, khiến cho các con
cá ngoi ngóp chết lần chết mòn. Cá
chúa phát nguyện đã tận diệt dân
làng này để báo thù. Do vậy,
đời này cá chúa trở thành
vua Tỳ Lưu Ly suất lãnh quân đội
(tức các con cá trong ao khi xưa) tiêu diệt
dòng họ Thích Ca.
[39] Đây là cách phúng dụ: Viên châu lưu ly ví
như một hành vi nhỏ nhặt, có thể dẫn đến
kết quả hoặc tai họa to lớn (ví như ngọn
đuốc to bằng cả quả núi Thái sơn).
[40] Tức
quan Thượng Bảo Khanh tên là Từ
Lục Kiều được nói trong bài
ký về ao phóng sanh chùa Thượng
Phương.
[41] Tư Huân (司勳) là
một trong bốn ty thuộc bộ Lại, bao gồm ty
trưởng là Thị Lang (đời
Đường đổi thành Lang Trung) một
người, nhân viên gọi là Viên Ngoại Lang
gồm hai người. Ty này có chức
trách xét việc phong ấm (cho con trưởng
của vị quan đã mất thừa kế
tước hiệu của cha), đặt thụy
hiệu (danh xưng tốt đẹp nhằm ca
ngợi đức độ của người
đã mất), cũng như đánh giá công
huân của các quan. Chức vụ này
được đặt ra từ
đời Châu, đến đời Kim và
Nguyên thì không còn ty này. Đến
đời Minh lại tái lập, về sau
đổi thành Kê Huân Thanh Lại Ty (稽勛清吏司), nhưng
mọi người vẫn quen gọi là Tư Huân.
Như vậy, vị Tư Huân Trường Nhụ
nói ở đây có thể là một vị
Viên Ngoại Lang thuộc bộ Lại.
[42] Hương Sơn lăo chính là Bạch Cư
Dị. Bạch Cư Dị có biệt hiệu là Hương Sơn cư sĩ.
[43] Ỷ Đốn là người nước
Lỗ, vốn là một thư sinh bần hàn, bèn đến
chỗ Đào Châu Công (Phạm Lăi) học cách kinh doanh, trở
nên giàu nhất nước Lỗ.
[44] Liên Tŕ đại sư thuộc tông Hoa
Nghiêm theo pháp hệ của Khuê Phong Tông Mật đại
sư. Mỗi chữ trong bài kệ dùng để đặt
pháp danh theo thứ tự truyền thừa. Từ chữ
Quả, tổ Liên Tŕ đặt thêm một bài kệ nữa
nên gọi là “nối kệ”.
Ngài Tông Mật
(780-841) là tổ thứ năm của tông Hoa Nghiêm. Sư là
người xứ Quả Châu, sống vào đời
Đường, có thụy hiệu là Định Huệ
thiền sư. Năm Nguyên Ḥa thứ hai (807), Sư đi
thi cử nhân, đi ngang qua Toại Châu, nghe ḥa thượng
Đạo Viên thuyết pháp, bèn xả tục, theo xuất
gia với ḥa thượng. Vâng lời dạy của ngài
Đạo Viên, Sư tham yết thiền sư Nam Ấn
(đệ tử của Thần Hội) để học
Thiền, lại c̣n tham yết ngài Thần Chiếu chùa Báo
Quốc. Sau đó, vào năm Nguyên Ḥa thứ năm (810),
Sư nghe đại sư Thanh Lương Trùng Quán giảng
pháp, bèn dốc chí học Hoa Nghiêm Tông. Năm sau, Sư trụ
tại chùa Trí Cự thuộc núi Chung Nam, thề chẳng rời
núi, miệt mài duyệt đọc kinh tạng. Về sau,
Sư dời sang chùa Khuê Phong Lan Nhă ở phía Nam chùa ấy,
chuyên tham thiền, tụng kinh. Năm Thái Ḥa thứ hai
(828), do vua triệu vời, Sư đành phải vào cung thuyết
pháp, được vua ban áo bào tía. Tướng quốc Bùi
Hưu và các nhân sĩ trong triều đều thọ giáo với
Sư. Không lâu sau, Sư quay về núi, tọa hóa ngày mồng
Sáu tháng Giêng năm Hội Nguyên thứ hai (841), thọ sáu
mươi hai tuổi, pháp lạp ba mươi tư
năm. Lúc sanh tiền, do thấy các tăng sĩ Thiền
môn luôn tranh căi, gièm chê nhau, Sư viết Thiền Nguyên
Chư Thuyên Tập Đô Tự (gồm một trăm quyển),
đề xướng “Giáo, Thiền nhất trí”.
Sư c̣n viết Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Sớ
Sao, Hoa Nghiêm Kinh Hạnh Nguyện Phẩm Khoa Chú, Nguyên Nhân
Luận, Vu Lan Bồn Kinh Sớ, Hoa Nghiêm Kinh Luân Quán, Viên
Giác Kinh Đại Sớ, Viên Giác Kinh Đại Sớ Thích
Nghĩa Sao, Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao Khoa, Viên Giác Kinh
Lược Sớ, Viên Giác Kinh Lược Sớ Khoa, Kim
Cang Bát Nhă Kinh Sớ Luận Toản Yếu, Khởi Tín Luận
Sớ Chú, Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán Môn, Chú Hoa Nghiêm Pháp Giới
Quán Khoa Văn, Hoa Nghiêm Tâm Yếu Pháp Môn Chú, Trung Hoa Truyền
Tâm Địa Thiền Môn Sư Tư Thừa Tập Đồ,
Viên Giác Kinh Khoa Văn…
[45] Đao, kiếm được mô tả bén
đến nỗi đặt một sợi lông hay tóc lên
đó, nó sẽ bị cắt đứt ngay lập tức.
Tuy vậy, đao dẫu bén như thế, nhưng nếu
bị các sợi tơ từ vạn cây tùng buộc th́ vẫn
bị bó chặt.
[46] “Nước thu” ở đây nhằm sánh ví thanh kiếm sáng loáng, lạnh lùng. Ví
như hành giả ở đây đang tọa Thiền thoạt
nh́n tưởng như khô khan, chẳng sinh động,
nhưng tâm trí tĩnh lặng như nước mùa Thu, ví
như thanh gươm sáng c̣n cất trong vỏ, nhưng ẩn
chứa trong đó là ư chí kiên quyết vượt thoát muôn dục,
ẩn chứa sự uy nghiêm, cao lănh, không ǵ có thể lay
động được.
[47] Kinh đường tức pháp đường,
ṭa nhà dùng để giảng kinh, thuyết pháp.
[48] Ly châu (驪珠) là viên ngọc ở dưới cằm ly long. Theo sách
Trang Tử, ly châu rất quư báu, thường được
dùng như một đại từ chỉ một vật rất
quư, cũng như dùng để gọi nhân tài hoặc tác phẩm hay đẹp. Trong thần thoại Trung Hoa, ly
long là một loại rồng có màu đen, thường sống
dưới đáy đầm hay hồ.
[49] Thất tú là bảy tinh ṭa trong Nhị Thập
Bát Tú, do ở đây là thất tú thuộc Đông
phương Thanh Long,
nên thất tú chính là các sao Giác (Giác Mộc Giao), Cang (Cang Kim Long), Đê (Đê Thổ Lạc), Pḥng (Pḥng Nhật Miêu), Tâm (Tâm Nguyệt Hồ, sao
Thương), Vĩ (Vĩ Hỏa
Hổ), và Cơ (Cơ Thủy Báo).
[50] Trâu xanh (thanh ngưu) ám chỉ Đạo
giáo v́ theo truyền thuyết, Lăo Tử cưỡi trâu xanh
đi về phía Tây. “Châu vương” có nghĩa là vua
trong các loại bảo châu, sánh ví chân tâm thanh tịnh. Cả
câu có ư nói: Tâm thanh tịnh chân thật sẽ không bị xoay
chuyển bởi những tṛ hư huyễn của thế
gian như thần thông, đạo thuật v.v…
[51] Kim hành lộ (金莖露)
là sương hứng từ chiếc cột bằng vàng.
Theo Thần Tiên Truyện, Hán Vũ Đế tuổi già
mong trường sanh, bèn ở tại
cung Kiến Chương, xây dựng đài Thần Minh. Trên
đài, làm tượng tiên nhân bằng đồng, hai tay nâng
chiếc mâm vàng để hứng sương, coi
đó là cam lộ. Vua tin rằng uống nước
sương ấy (gọi là “kim hành lộ”) sẽ
được không bệnh tật, trường thọ.
[52] Theo sách Hoài Nam Tử, thời Chiến Quốc,
Lỗ Dương Công giao chiến với nước Hàn.
Trời đă ngả chiều, sắp tối. Lỗ
Dương Công tức giận vung giáo, hét lên bắt mặt
trời lùi lại để tiếp tục chiến đấu.
Điển tích này được dùng ở đây với ẩn
dụ, người tâm ư đă thanh tịnh luôn vận dụng
đạo pháp vào cuộc sống, ung dung tự tại,
như dẫu trong đêm tối, pháp luân vẫn xoay chuyển
sáng ngời, chẳng cần tác ư vọng tưởng
như Lỗ Dương toan đảo ngược t́nh thế
khi gặp nghịch cảnh.
[53] Đạo tuyền (盜泉) là
suối của kẻ trộm. Ư nói vị nước suối
ngon ngọt, ngay cả người như Bá Di, Thúc Tề
không chịu ăn thóc của nhà Châu cũng phải trộm
uống thử nước suối này.
[54] Mạnh Lao là tên một thanh bảo đao
của nước Lỗ thời Xuân Thu. Về sau,
được dùng để chỉ chung vũ khí sắc
bén nhất.
Hai câu này dựa theo tên núi để ca ngợi người
trí huệ chân thật giống như đeo ngàn tấm kính
soi rơ bản chất của sự vật, nên thản nhiên
trước mọi chỉ trích bới lông t́m vết. Do trí
huệ nên biện tài mẫn tiệp cắt phăng mọi
tà luận như nắm thanh đao báu Mạnh Lao trong tay.
[55] Long Thao là quyển
thứ ba trong Lục Thao (một bộ cổ binh thư trứ
danh tương truyền do Khương Tử Nha trước
tác). Sách này tập hợp những phương sách, chiến
lược, chiến thuật được coi là lời
giải đáp của Khương Tử Nha dành cho các câu hỏi
của Châu Vũ Vương.
[56] Khổng Minh Gia Cát Lượng từng sánh
ví chính ḿnh có tài thao lược chẳng kém Quản Trọng
(Quản Di Ngô) nước Tề thời Xuân Thu.
[57] Minh Hồng là một thanh đao báu thời
cổ, tương truyền do chính Hiên Viên Hoàng Đế
đúc thành.
[58] Theo Sơn Hải Kinh, Côn Ngô là tên một quả
núi sanh ra nhiều mỹ ngọc. Về sau, được
dùng để chỉ một thanh kiếm báu. Ở đây,
do sánh ví bọt nước khi suối trào giống như từng
miếng ngọc vụn, nên Côn Ngô phải hiểu là tên núi.
[59] Theo chú thích của người biên tập
sách này, Đồng Tiêu là tên một hang đá.
[60] Vũ Huyệt thuộc Cối Kê tỉnh
Chiết Giang theo truyền thuyết là nơi an táng của
vua Vũ, có chôn theo các thư tích tài liệu bí mật về
công tŕnh trị thủy. Hoàng tông (黃琮)
là một loại ngọc quư
ngoài vuông trong tṛn, được dùng trong các lễ hiến tế thời cổ.
[61] Lọng vũ (羽蓋, vũ cái): Cái lọng kết bằng lông chim.
[62] Tức Tử Dương Sùng Văn Thư Viện và Phu Văn do các vị chư sanh như Trương Hiệp, Đồng Nhân Kiệt v.v… thỉnh cầu mỗi ngày bớt một phần chi phí thắp đèn trong thư viện để cúng dường cho Tiểu Vân Thê (như đă nói trong Hiếu Sanh Ư Tập thuộc phần đầu bộ Vân Thê Vựng Tập).
[63] Diêm Vụ là cách gọi tắt của
Đô Chuyển Diêm Vận Sứ Ty, là cơ quan quản lư
việc buôn bán muối tại những vùng sản xuất
muối.
[64] Diêm Chánh là gọi tắt của viên tên quan
đứng đầu Đô Chuyển Diêm Vận Sứ Ty,
tức chức quan Đô Chuyển Diêm Vận Sứ Ty Diêm
Vận Sứ. Thường Diêm Chánh ở đây chính là
Thường Hiển được nói trong phần đầu
sách.