Vân Thê Pháp
Vựng
雲棲法彙
Phần 11
Cổ Hàng Vân Thê
Châu Hoằng đại sư trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển ngữ: Bửu
Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo bản điện
tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)
Giảo duyệt: Đức
Phong và Huệ Trang
18. Hiếu Nghĩa Vô Ngại
Am Lục (孝義無礙庵錄)
18.1. Ghi chép về việc
xây dựng lại Hiếu Nghĩa Vô Ngại Am ở cầu
Thái Thị
Thiền sư Liên Tŕ
lúc trẻ cùng học với tôi nơi trường huyện.
Khi tôi ra làm quan, Thiền sư xuất gia, đó là năm Ất
Sửu (1565) thời Gia Tĩnh. Thiền sư vốn có chí
hướng xuất thế, nhưng v́ song thân c̣n tại thế,
chẳng dám rời đi. Sau khi cha mẹ Ngài lần lượt
qua đời, Ngài toan dốc
sức thực hiện tâm nguyện, th́ vợ là Thang Thị
mới mười chín tuổi, đứa con trước
đó lại mất sớm. Nhớ đến khuôn mẫu
của Tử Dư[1], Ngài c̣n phân
vân chưa quyết. Thế rồi nghĩ tới [đời
người như] ngọn đèn trước gió, như lửa
xẹt từ đá, thời chẳng đợi ta, bèn nhanh
chóng xuống tóc. Thang Thị ở lại nhà, trai giới,
thiền định, tụng kinh, sống cùng mẹ. Mẹ mất
rồi, bà Thang sống lẻ loi, cô quạnh. Người
trong họ đề nghị lấy người cháu thứ
ba bên nội là Văn Bân làm con thừa tự. Chẳng lâu
sau, Thang Thị cũng tháo bỏ trang sức để làm ni
cô. Bà gọi Văn Bân đến bảo: “Nay ta chẳng
vướng bận ǵ. Có người thừa tự hay
không đối với ta, cố nhiên chẳng có hại ǵ! Khi sống
th́ phụng dưỡng, khi chết th́ để tang, chôn cất,
cúng tế, đó là pháp tắc thế gian. Ta học Phật,
khi sống chỉ dựa vào bát và ca-sa, chết rồi th́ hỏa
thiêu, c̣n mong cầu chi nữa?” V́ vậy, bà đem tất cả
ruộng đất, nhà cửa chia hết cho các cháu,
nhưng Văn Bân được phần nhiều hơn,
riêng đem căn nhà đang ở giao cho Văn Bân, c̣n chính
ḿnh thuê một gian nhà trọ ở lân cận. Cửa buộc
bằng dây thừng, cổng cỏ tranh, tối thắp
đèn, sáng dâng hương, lặng lẽ tịch mịch.
Cậu Châu Trung Thuần
ở Gia Ḥa noi theo di nguyện của người cha quá cố
là tiên sinh Ngân Đài Ngu Phong đứng
ra xướng suất dựng am. Tôi cùng với các quan viên,
cư sĩ và tỳ-kheo đương thời là… cùng giúp
sức. Chúng tôi góp được một trăm lạng bạc,
mua lại ngôi nhà cũ của họ Triệu. Do ngôi nhà ấy
chật hẹp, ông Thủy Văn Học cúng thêm một
gian nhà bên cạnh để mở rộng ra. Lại do
năm tháng đă lâu, ngôi nhà bị hư hại gần hết,
mọi người bèn cùng nhau quyên góp vật liệu, các
tăng lữ có tay nghề thợ đá, thợ nề, thợ
đắp gánh đất, mang cuốc cùng nhau đến
thi công, góp sức. Ở giữa làm Thiền đường,
đào giếng ở ngoài dăy nhà ngang bên trái. Các công tŕnh phụ
như tường bao quanh, hiên nhà, nhà bếp, nhà tắm, đại lược đều
đầy đủ. Tôi nghĩ Thiền sư không có con
trai, chẳng để lại tài sản, trọn chẳng
có thân thích hay đồng liêu cũ để dựa dẫm.
Thang Thị là phụ nữ trẻ tuổi, một ḿnh quán
xuyến việc nhà, lênh đênh, cay đắng trải nhiều
năm tháng hệt như một ngày. Tới khi chia ruộng,
cắt nhà, đều phát xuất từ tâm nguyện ban
đầu của ḿnh, cũng khó có lắm thay! Các bậc thượng
thiện nhân thương xót mà dựng am cho bà, đó là
nghĩa cử. Hành động ấy phát xuất từ
nghĩa, chính là tài sản của mười phương
thường trụ. Sau đấy, thanh tín nữ nối
tiếp nhau đến am này đốt hương, tu hành,
xa là trang nghiêm báo độ của hai đấng sanh thành,
đó lại là đạo hiếu thảo vậy.
Theo phủ chí, phía tây cầu
Thái Thị có ngôi am cổ là Vô Ngại, về sau dần dần
hoang phế, đất đai rơi vào tay dân chúng, nhà cửa
dời về phía Bắc. Các bậc trưởng thượng
trong làng bảo tôi cuộc đất này chính là nền
cũ của ngôi am xưa. Ch́m đắm đă lâu, nay lại
được hưng khởi; đó là ư trời, chẳng
phải do sức người. Nghĩa do hiếu mà chẳng
rỗng tuếch, hiếu nhờ nghĩa mà chẳng bị
mai một. Hai điều ấy giúp nhau thành tựu, chứ
chẳng mâu thuẫn. Nay dựa theo xưa để chứng
nay, gộp lại mà đặt tên am là Hiếu Nghĩa Vô
Ngại Am. Con cháu họ Trầm hăy nên nhớ kỹ và bảo
vệ nơi này, ngơ hầu chẳng quên bẵng hiếu nghĩa,
măi măi làm ruộng phước điền cho trời,
người, điều tốt lành lưu truyền sâu thẳm,
sau này ắt sẽ có người rạng rỡ tổ
tông. Thang Thị pháp húy là Châu Cẩm (袾錦), cùng với Thiền
sư bái ḥa thượng Tánh Thiên ở Nam Ngũ Đài vùng
Quan Trung làm thầy. Kể từ lúc Thiền sư xuất
gia tới nay đă hơn bốn mươi năm, lúc Ngài
năm mươi chín tuổi th́ ngôi am này khánh thành.
Ngày Rằm tháng Giêng
năm Bính Ngọ, tức năm Vạn Lịch 34 (1606),
người cùng huyện là tứ Tiến Sĩ xuất
thân, Tư Thiện đại phu, Đô Sát Viện Hữu
Đô Ngự Sử[2],
cựu Binh Bộ Tả Thị Lang, khi xuất chinh ngoại quốc
được ban thêm phẩm phục nhất phẩm, Tống
Ứng Xương soạn.
18.2. Di chúc
Lập
di chúc, ông tăng già bệnh là Châu Hoằng, hiệu Liên Tŕ,
họ Trầm, cha là Minh Trai phủ quân, mẹ là Châu Thị.
Lúc Hoằng hai mươi bảy tuổi, cha tôi qua đời.
Không lâu sau, con tôi là Tổ Thực chết sớm. Lúc tôi hai
mươi chín tuổi, vợ mất. Tôi lấy vợ kế
là Thang Thị. Lúc tôi ba mươi mốt tuổi, mẹ
tôi lại qua đời, tôi bèn phát tâm xuất gia. Khi đó,
bà Thang mới mười chín tuổi, [ở lại nhà] sống
cùng với mẹ của bà ta. Do mẹ bà ta mất, trong khoảng
thời gian ấy, trước đó đă có người
đề nghị lập con thừa tự; sau đấy,
bà xuống tóc làm ni, chẳng lập người thừa kế
nữa, mà đem chia ruộng đất, nhà cửa, chi tiết
như trong bi kư đă chép, ở đây không rườm lời
nữa. Nhưng xét ra, bà Thang đă đem hết
tài sản của ḿnh chia cho năm đứa cháu trai bên chồng, riêng với Văn Bân
th́ có phần hậu hĩnh hơn, lại c̣n cho riêng Văn
Bân một ngôi nhà để ở, như vậy về lư
đă thuận, về t́nh đă trọn vẹn rồi!
Nay ngôi am Hiếu
Nghĩa này khởi đầu do quan Văn Học Châu Mậu
Chánh, người chủ tŕ xây cất là quan Tư Mă Tống
Đồng Cương và quan Tư Gián[3] Hồng
Tương Cao; cùng với sự giúp đỡ của các vị
quan viên, cư sĩ, tỳ-kheo... tổng cộng hơn
năm trăm người, mỗi vị tự quyên góp tiền
riêng để xây cất. Riêng quan Huyện họ Ngô đă
đặc biệt thí ba lạng tiền bổng lộc, có
biên nhận lưu lại để đối chiếu. Lại
có một gian lầu bên cạnh do ông Văn Học Thủy Thâm Phủ mua lại
từ Từ Cửu Đức, cúng dường cho am, c̣n
giữ khế đất để đối chiếu. Sở
dĩ được như vậy là do Thang Thị từ
thuở trẻ đă trơ trọi, giữ vững chí nguyện
chẳng thay đổi. Nay đă già rồi, các vị quân tử
coi đó là Nghĩa. Thang Thị tuổi trẻ trơ trọi,
tự ḿnh gánh nước, giă gạo, thờ phụng tổ
tông, phụng dưỡng mẹ kế của chồng tại
nhà, sống phụng sự, chết chôn, các vị quân tử
coi đó là Hiếu. Do vậy, am được đặt
tên là Hiếu Nghĩa.
Những thứ nhỏ
nhặt nhất trong ngôi am này đều do đàn việt
tín thí tạo thành. Ngoài ra, chẳng có một khúc gỗ, một
tấc đất nào dính líu với nhà họ Trầm. Người
đời sau chẳng hiểu cặn kẽ, nếu sanh dị
tâm, ngang ngược xâm chiếm hay trục lợi, chính là
tự dối ḷng ḿnh, dối lừa mười
phương đàn-na tín thí, dối gạt quan phụ mẫu
trong huyện, dối gạt ta và cha mẹ, tổ tông ta! Huống hồ bà Thang c̣n có
đệ tử, c̣n có đồ tôn, có đạo hữu kết
bạn tu hành đă lâu. Dẫu cho đồ đệ, bạn
đạo của bà Thang đă qua đời hết sạch,
cũng nên riêng t́m một vị ni sư lăo thành, chuyên dốc
tu hành đến làm trụ tŕ để thanh danh Hiếu
Nghĩa được lưu truyền măi. Gia đ́nh thế
tục chẳng được chiếm làm của riêng, sợ
là lâu ngày sự t́nh mai một, tôi viết ra và cho khắc gỗ
lưu lại làm chứng cứ, mong bậc cao minh soi xét.
Ngày mùng Tám tháng Chạp
đầu Đông năm Bính Ngọ, tức năm Vạn
Lịch 34 (1606), người con xuất gia của ḍng họ
Trầm là sa-môn Châu Hoằng viết lúc bảy mươi
hai tuổi, khi đó, bà Thang năm mươi chín tuổi.
Ghi thêm: Quan Niết Ty Hiến
Trưởng là Ngô Bổn Như tặng biển ngạch
là Cổ Vô Ngại Am, thí tiền ba lượng, khắc một
bức tượng Thích Ca để thờ phụng
vĩnh viễn, có lưu biên nhận để đối
chiếu (tháng Chín năm Vạn Lịch 37, tức năm
1609). Tuần phủ Quư Châu cựu Phiên Ty là Quách Thanh Loa tặng
tấm biển đề “Siêu Trần”.
18.3. Những điều
căn dặn thêm
Tôi đă viết bài Hiếu
Nghĩa Am Chúc (những lời căn dặn về am Hiếu
Nghĩa), năm nay là năm Tân Hợi (1611) đời Vạn
Lịch, vừa tṛn năm mươi năm cha tôi khuất
bóng, tôi trở về am để cầu siêu. Do vậy
nghĩ tôi đă bảy mươi bảy tuổi, mạng trong sớm tối, mà am chủ là Thang Thị
tuổi cũng đă ngoài sáu mươi bốn, lại nhiều
bệnh tật, cần phải căn dặn những
người như Quảng Chiêm v.v… về các việc hậu sự. V́ sao vậy? Thuở am
chủ chưa xuống tóc, có người cháu trai đến
ở rể tại nhà họ Từ ở cạnh sông, tên là
Văn Bân, muốn xin làm con thừa tự. Tôi chẳng
đồng ư, nhưng nó cứ cưỡng làm, nhưng tên
th́ thuộc nhà họ Trầm, mà thân ở nhà họ Từ,
chưa từng ở chung để sáng thăm tối viếng,
thay bà Thang trông nom việc nhà. Tới khi am chủ xuống
tóc, chia ruộng nương, nhà cửa, Tăng tục
đă rạch ṛi th́ cách nói thừa tự đă chẳng c̣n
nữa như đă được nêu trong bài văn bia của
quan Tống Tư Mă. Nay Quảng Chiêm tại gia th́ là mẹ
con, đối với xuất gia là thầy tṛ, hăy cùng với
đồ chúng, thiện hữu trong hiện tại lắng
nghe lời tôi, đừng để sau này rối loạn:
1) Thọ cụ (đồ đạc dùng để mai táng) đă có sẵn
tọa khám[4],
chẳng cần phải theo thế tục mua quan, quách.
2) Thọ phục (đồ
tang) đă có áo tràng, giới y, chẳng cần phải theo
thế tục sắm sửa thọ y[5].
3) Thọ địa
(đất chôn) đă có sẵn tháp Phổ Đồng, chẳng
cần theo thói tục t́m mộ phần, xem Phong Thủy.
4) Phải giữ quy chế
Thiền môn, chẳng cần phải theo thế tục gởi
thiệp báo tang, xưng là hiếu tử trong lời cáo phó.
5) Tuân theo di huấn của
Lục Tổ, chẳng cần phải theo thói tục mặc
áo tang bằng vải sô, phát khăn tang, dựng nhà hiếu[6].
6) Lễ tam triêu[7] và tuần
thất đầu thỉnh tăng tụng kinh, các thất
khác chỉ do đại chúng trong am tự niệm Phật,
chẳng cần phải theo thế tục nhiều lượt
lập đạo tràng.
7) Đưa tang chỉ
dùng một ṭa hương đ́nh[8], nhờ dân
trong núi khiêng khám, chẳng cần phải theo thế tục
thuê người chuyên liệm xác tốn kém, đừng tốn tiền sắm sửa các thứ
lặt vặt khác như thần đ́nh, minh tinh, hồn kiệu
v.v…
8) Các đạo hữu
niệm Phật tiễn đưa, chẳng cần phải
theo thói tục thuê phường nhạc đánh trống, thổi kèn, gây nhiễu huyên
náo.
9) Tất cả sản
nghiệp lúc c̣n tại gia đă chia cho các cháu như Văn
Bân, y phục, trang sức đă cho Văn Bân thâu nhận một
nửa rồi. Ngoài ra, chẳng c̣n vàng ngọc, châu báu, lụa
là, gấm vóc hay vật ǵ
đáng tiền cả. Những quần áo vải thô cũ
mặc thường ngày, cho đến kinh, tượng,
lư hương, b́nh hoa, bàn, ghế và các gia cụ thô nặng khác đều
do am Hiếu Nghĩa tự sắm sửa, thảy đều
là vật dụng của chiêu-đề, thuộc về thập
phương thường trụ, chẳng cần phải
theo thế tục phân chia gia tài mà dấy lên tranh chấp.
10) Am chủ đă xuất
gia, tự nhiên thuộc loại tăng lữ. Thầy mất
th́ tṛ nối pháp, chẳng cần theo thói tục để
thân tộc đến xử lư việc nhà!
Từ nay về sau,
đại chúng chỉ nên nghiêm túc giữ ǵn thanh quy, cẩn
thận dè dặt. Nếu như nghèo thiếu th́ ôm bát khất
thực để sống, chớ vào nhà kẻ khác hóa duyên,
chớ chèo kéo nữ nhân lập hội, chớ đi dâng
hương nơi xa, đừng qua lại với nam
tăng, đừng tạo tác những dụng cụ tinh xảo,
đừng may xiêm áo lộng lẫy, đừng dễ dăi
thâu nhận người xuất gia, đừng mua sắm
ruộng đất,
tài sản thế
tục. Hăy thống thiết nghĩ tới sanh tử, nhất
tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Hăy nhớ
kỹ, nhớ kỹ nhé!
Ngày Hai Mươi Mốt
tháng Sáu năm Tân Hợi, tức năm Vạn Lịch 39 (1611),
ông tăng già mang bệnh ở Vân Thê là Châu Hoằng viết
thư này giao cho am chủ Hiếu Nghĩa Am và đồ chúng
là Quảng Chiêm v.v… thâu nhận.
Các đồ chúng là
Đại Văn, Đại Chí, Trí Thận, Quảng Diệu,
Quảng Đàm, Quảng Tất, Quảng Cao, Quảng Liên,
Quảng Thiện, Quảng Thâm.
18.4. Quy ước của
Hiếu Nghĩa Am
1) Cửa lớn phải
luôn đóng kín, chẳng có việc khẩn yếu th́ đừng
mở. Chỉ đứng bên trong cửa hỏi đáp là
được. Chẳng tuân theo, phạt ba phân bạc.
2) Cửa Viên Quang phải
luôn luôn khóa kỹ. Khi có khách đến, gơ bản ba tiếng
rồi mời khách ngồi. Đợi một lát, vị chủ
tăng ra, chủ ở trong, khách ở ngoài, nh́n nhau qua cửa
Viên Quang. Nữ khách có chánh sự muốn tiến vào th́ mới
mở, những người khác nếu có chuyện khẩn
yếu th́ mới mở. Chẳng tuân theo, tùy tiện cho người
vào, phạt bạc một tiền.
3) Cửa sau trừ lúc
đem đồ nhơ bẩn ra ngoài (đổ rác, chất
thải), không có việc ǵ th́ không được mở.
Tùy tiện mở, phạt năm phân bạc.
4) Mọi chi tiêu phải
tiết giảm, chớ nên quá phung phí, đăi khách cũng vậy.
Trà quá bốn món, cơm quá bốn món, cỗ chay quá năm
món, cứ quá một món phạt ba phân bạc.
5) Kẻ nào quyên mộ,
hóa duyên phi lư, phạt gấp mười lần [số tiền
quyên được].
6) Các ngày Rằm tháng
Giêng, Mười Chín tháng Hai (vía Quan Âm), mồng Tám tháng Tư
(Phật Đản), Rằm tháng Bảy (Vu Lan), mồng Tám
tháng Chạp (Phật thành đạo)... phải đóng chặt
cửa am, chẳng được làm pháp hội. Chẳng tuân
theo, phạt bạc năm tiền.
7) Tăng chúng
phương xa đến hóa duyên, thảy đều từ
chối.
8) Ni chúng phương xa
không quen biết, tuyệt đối không cho qua cửa Viên
Quang. Chẳng nghe theo, phạt bạc ba tiền.
9) Bày bốn chiếc
bàn tụng kinh, mỗi ngày tụng kinh một quyển, ba
thời niệm Phật. Gọi tên mà không đến [tham dự
khóa lễ], phạt hai phân bạc.
10) Mỗi nửa tháng
phải tụng mười giới trọng, tám giới khinh
một lần. Ai không đến, phạt ba phân bạc.
11) Đặt ống thẻ để gọi tên lễ tụng sáng
tối. Kẻ chẳng đến, phạt một phân bạc.
12) Không có việc ǵ mà
ra ngoài đi dạo chơi, phạt bạc một tiền.
13) Kẻ nào xâm phạm,
ḅn rút tiền tín thí, phạt gấp mười lần.
14) Phải có hai người
đi cùng nhau mới được ngủ lại nhà
người thế tục. Kẻ nào đi một ḿnh rồi
ngủ lại, phạt bạc năm tiền.
15) Đi du ngoạn
phương xa như Phổ Đà, Thiên Thai v.v… hoặc
đến những nơi thuyền bè trên hồ tụ tập
phụ nữ để nhập hội, phạt bạc
năm tiền.
16) Đôi bên đấu
tranh, trước hết là mỗi người bị phạt
ba phân bạc, sau đó phân xử đúng sai.
17) Cố giữ ni chúng
từ xa tới ở lại, phạt bạc năm tiền.
18) Kẻ lén lấy của
thường trụ, phạt gấp mười lần.
19) Mời mọc, tiếp
đón các bà làm nghề bói toán, xem tướng, trừ tà
v.v… vào am, phạt bạc một tiền.
20) Dễ dăi nhận
người xuất gia, phạt năm lạng bạc, trục
xuất khỏi am.
21) Tổ chức cưới
gả tại am cho người nữ có pháp danh, phạt
năm lạng bạc và trục xuất khỏi am.
22) Nuôi trẻ nam cho
đến mười lăm, mười sáu tuổi mà
không đưa đi, phạt ba lạng bạc.
23) Mang đồ ăn
mặn vào am, phạt ba lạng bạc.
24) Mang rượu vào
am, phạt ba lạng bạc, trừ khi dùng để uống
thuốc.
25) Học thổi kèn,
đánh trống, lắc chuông, chày, niệm chân ngôn v.v…, phạt một lạng bạc.
26) Tự tiện giữ
phụ nữ tại gia trong am v́ gia đ́nh bất ḥa, căi
vă mà họ t́m tới, chẳng khuyên họ trở về, lại giữ họ ở lại lâu ngày, phạt ba lạng bạc.
27) Tự tiện lưu giữ thân thích của
chính ḿnh trong am gây hỗn loạn, quấy nhiễu, phạt
bạc năm tiền.
28) Khinh nhờn, bắt
nạt vị Đương Gia, chẳng để họ
làm chủ xử trí mọi việc, bị trục xuất
khỏi am.
29) Người Đương Gia hành sự sai sót, kẻ
nào a dua nịnh hót mà không can gián, phạt bạc ba tiền.
18.5. Ghi chép các bậc hiền
đức
18.5.1. Sa-di-ni Quảng
Giác
Sa-di-ni Quảng Giác là
con gái nhà họ Cung ở huyện Sùng Minh thuộc Trực
Lệ[9]. Cha bà là Cung
Nhất Quỳ, biệt hiệu là Mộng Huyên, là một vị quân tử đức
độ lớn trong vùng. Mẹ là bà Thí Thị. Bà Thí sanh
ra sa-di-ni Quảng Giác vào năm Kỷ Măo (1579) đời Vạn
Lịch. Vừa mới mười hai tuổi, Sư đă
chẳng ăn mặn, cùng với người em họ là
Quảng Diệu học tập kinh chú, sáng tối kính cẩn
lễ Phật, tự thề giữ ḷng trinh, chẳng lấy
chồng. Cha mẹ và họ hàng đều can ngăn, nhiều
cách khuyên dụ, nhưng chẳng thể lay chuyển
được! Lúc hai mươi tám tuổi, Sư xuống
tóc, khoác áo thâm (xuất gia). Năm sau, Sư dẫn em gái theo chú đến am.
Trước đó, cụ Mộng Huyên đă từng kể
về sự thù thắng của Hiếu Nghĩa Am. Sư
Quảng Giác hết sức hoan hỷ, hớn hở, bèn gởi
thân nương tựa tại đó. Trước đó, khi
Quảng Giác c̣n tại gia, đă phụng sự cha mẹ
như phụng sự thầy. Tới khi Ngài xuất gia, phụng
sự am chủ Hiếu Nghĩa như phụng sự cha mẹ.
Sư chuyên ṛng giữ ǵn phạm hạnh, thuần
nhất, chẳng xen tạp, xa gần đều chiêm
ngưỡng, mến mộ. Người dân huyện Sùng
Minh nhờ đó mà được cảm hóa, phát tâm nhiều
chẳng thể đếm xuể. Tuy vậy, Sư bẩm
chất yếu ớt, nhưng quyết tâm khắc khổ
hành tŕ, nhọc nhằn chẳng tiếc thân. Chẳng mấy
chốc, Sư nhuốm bệnh, lâu sau, Sư từ chối
thuốc thang, một dạ đợi mạng tận. Cụ
Mộng Huyên nghe con gái bị bệnh, dẫn mẹ của
Sư tới thăm. Sư thưa: “Khi trước con xuống
tóc với ni sư, chưa thỏa nguyện của con”.
Sư bèn lôi chỏm tóc c̣n giữ lại, thưa với tôi
(Liên Tŕ đại sư) rằng: “Nút thắt cuối
cùng này, chỉ mong đại sư cắt đứt cho.
Đó là quy chế nhà Phật vậy!” Tôi nhận lời;
từ đó, Sư không nói ǵ khác nữa, hơi thở thoi
thóp như sợi tơ. Bỗng Sư ngồi dậy, ngồi
xếp bằng ngay ngắn, thưa: “Con mong gặp am chủ”.
Am chủ tới, Sư chắp tay cảm tạ, từ biệt.
Kế đó, [đại chúng] v́ Sư tôn trí tượng Phật
Di Đà tiếp dẫn, Sư bèn hiện vẻ hoan hỷ,
mỉm cười, chăm chú nh́n kỹ, chắp tay quy mạng.
Sau đó, Sư xin nước rửa tay, mặc áo mới
sạch, tay cầm chuỗi hạt, ngay ngắn đối
trước Phật như nhập Thiền Định.
Người chăm bệnh sợ Sư ngă quỵ, dùng hai
chiếc gối chèn hai bên hông. Sư xua tay bảo: “Không cần
dùng thứ này”. Chúng tăng vây quanh trợ niệm, sư lại
xua tay nói: “Con tự có chủ định, không phiền
đại chúng”. Sư ngồi xếp bằng bất động,
trải qua hơn hai ngày đêm, tiếng niệm Phật nhỏ
dần rồi dứt hẳn, lặng lẽ qua đời.
Lúc bấy giờ là ngày mồng Bảy tháng Hai năm Tân Hợi
(1611) trong niên hiệu Vạn Lịch, hạ lạp sáu
năm, thọ ba mươi ba tuổi.
Châu Hoằng nói: - Khi Quảng
Giác bệnh nặng, những người do Quảng Giác mà
phát tâm bèn sanh ḷng vực, muốn lui sụt nói: “Tại sao
thờ Phật mà chẳng thọ?” Có người giải
thích rằng: “Phải chăng là giống như Nhan Hồi
có ḷng nhân mà chết yểu đó chăng?” Thuở xưa,
bậc Duyên Giác có nói: “Ta chỉ mong sớm thoát Sa Bà, sanh
về Tịnh Độ là sự may mắn lớn lao, há
chuộng sống lâu?” Than ôi! Người sống trong cơi trần,
như bị giam giữ, sớm
được phóng thích quay về so với bị giam giữ
lâu ngày chẳng được thả, khổ và lạc
như thế nào? Bậc trí tự hiểu rơ, chứ kẻ
phàm phu ngu muội chẳng thể biết được.
Quảng Giác tuy thân nữ nhi mà có tri kiến vượt trội
như thế. Huống chi lâm chung hành xử rạng rỡ
như thế, rúng động kẻ ngoan cố, thức tỉnh
kẻ nhu nhược, dẫu bậc trưởng lăo cao
đức cũng chẳng thể hơn được.
Giả sử sống thọ đến trăm tuổi mà chẳng
được nghe đạo th́ thọ cũng ích ǵ? Những
người phát tâm hăy nên hoan hỷ cảm thán, càng thêm tinh
tấn tu hành. V́ vậy tôi chép lại đầu đuôi
để xếp vào đầu phần Kỷ Hiền (ghi
chép các bậc hiền đức).
18.5.2. Am chủ Thái Tố
Sư
Am chủ họ Thang,
cha là cụ Tiểu Giang, mẹ là bà Châu thị. Lúc mười
bốn tuổi, Sư v́ mẹ phát tâm tŕ Huyết Bồn
Trai suốt ba năm. Khi ấy, tôi (Liên Tŕ đại
sư) hai mươi chín tuổi, vợ chết, chẳng
muốn tục huyền, [chỉ có] một con trai mà nó lại
chết yểu, do vâng lệnh cha mẹ bèn cưới vợ
lần nữa. Người mai mối dạm hỏi am chủ,
tôi mừng v́ đạo hợp, bèn dứt khoát nhận lời.
Năm sau, mẹ tôi qua đời, an táng xong xuôi, tôi bèn quyết
chí xuất gia. Chẳng bao lâu, tôi hành cước
phương xa, do bị bệnh mà quay về, dựng cḥi
tranh ở trong núi sâu, bỗng có kẻ đem đứa
cháu gọi tôi bằng bác là Văn Bân đến làm con thừa
tự. Tôi nghĩ khi xuất gia đă không có con, chẳng ngờ
nay lại có chuyện này? Tôi cực lực ngăn lại,
th́ người đó nói: “Việc đă xong, chẳng thể
thay đổi”. Tôi nghĩ ḿnh đă xuất gia, lại chẳng
chấp thuận người tại gia thủ tiết, con
thừa tự chẳng hợp t́nh, nhưng bất đắc
dĩ phải thuận theo.
Không bao lâu sau, am chủ
cũng xuống tóc làm tỳ-kheo-ni, đem hết phần
tài sản đơn bạc của ḿnh phân phát cho các cháu,
c̣n cho Văn Bân có phần hậu hĩnh hơn. Từ
đó, biến nhà thành am, đổi áo trắng thành áo thâm, chuyện
lập con thừa tự kia cũng trở thành mộng huyễn.
Tới Giáp Dần năm nay, Sư thọ sáu mươi bảy
tuổi, ăn chay năm mươi hai năm, pháp lạp
hai mươi mốt năm. Đầu Hạ, Sư ngă bệnh,
ăn uống giảm dần, tới ngày Mười Ba
tháng Tám, cả tháng không nuốt một hạt cơm nào.
H́nh hài c̣m cơi, chỉ c̣n thở thoi thóp. Bỗng Sư nói:
“Kinh nói mười niệm văng sanh, hăy gấp đỡ tôi
dậy”. Dậy rồi, Sư ngồi ngay ngắn niệm
Phật qua đời. Am chủ pháp húy là Châu Cẩm, thầy
của Sư là ḥa thượng Tánh Thiên thuộc Nam Ngũ
Đài vùng Quan Trung. Sư b́nh sanh giới hạnh khiết bạch,
đối với của tín thí luôn hiểu rơ, cẩn thận
nhân quả, chẳng có mảy may cẩu thả, hạnh
chân thật của Sư xứng đáng là khuôn mẫu cho
ni chúng vậy.
Châu Hoằng nói: - Khi
xưa, lúc tôi sắp xuất gia, đă viết tờ khải
từ biệt để đi học đạo, người
anh họ là cụ Tam Châu đă ngầm ngăn tờ khải
ấy lại. Am chủ bảo tôi: “Chuyện này tôi đă
biết rồi. Nhưng nếu không nói rơ, sau này người
ta sẽ nói tôi chẳng phải là vợ hiền, làm lỡ
chuyện của ông”. Tôi nghe nói, cảm động rơi lệ.
Một đêm nọ, tôi xuống tóc, khoác áo thâm, các anh em,
thân hữu muốn giữ tôi lại, kích động am chủ
đứng ra ngăn cản để họ hùa theo. Am chủ
đáp: “Tôi thường nghe nhà tôi nói sanh tử là chuyện
lớn, nay cố ư ngăn trở sao đành? Xin các ông đừng
nói nữa”.
Sau này tôi bị bệnh
ở Bạch Hạ suưt chết, am chủ nghe tin, vội
vàng lễ bái Bắc Đẩu để cầu an. Bác gái
tôi là Nghê Cung Nhân nói với các phụ nữ rằng: “Các bà
có thấy nghe chưa? Chồng bỏ đi xuất gia, bà
ta chẳng ôm ḷng oán hận, mà ngược lại c̣n cầu
nguyện chồng tiêu tai, hiếm có thay! Nguyện các bà noi
gương”. Than ôi! Tôi có thể khảng khái xuất gia, chẳng
c̣n lo nghĩ, vướng bận ǵ, chính là nhờ sức
giải thoát của am chủ vậy. Điều đáng tiếc
là lầm tin lời kẻ sai quấy mà phạm sai lầm
lập con thừa tự. Sư lại vừa lo tu đạo
vừa lo việc nhà, tâm hai ngả nên khó thể chẳng loạn.
Tuy chưa thể khẳng định Sư văng sanh,
nhưng hạnh chân thật không tỳ vết, lâm chung chánh
niệm, [tức là đă] gieo trồng nền tảng trí huệ
cho tương lai chẳng nông cạn vậy. Hiền đức
thay!
18.5.3. Văn bia nơi
tháp của Hiếu Nghĩa Vô Ngại am chủ đại
ni Thái Tố Sư (có lời tựa)
Do tiến sĩ xuất
thân, Phụng Trực Đại Phu, Tả Xuân Phường[10]
Tả Dụ Đức kiêm Hàn Lâm Viện Thị Độc,
đệ tử Ưu-bà-tắc giới chùa Vân Thê là Quảng
Thược Ngô Ứng Tân soạn văn.
Tôi từng nghe âm thanh
sư tử hống nơi cơi Chấn Đán (Trung Hoa), c̣n
như am chủ của Hiếu Nghĩa Vô Ngại Am, tôi trộm
tán thán việc pháp luân của ngài và Vân Thê giao xen, nâng đỡ
nhau, khiến cho Liên Tông
tăng trưởng. Trong ấy, có bốn điều chẳng
thể nghĩ bàn:
1) Thoạt đầu,
am chủ là vợ của Vân Thê đại sư, dục ái
như dầu, Phật trí như lửa, siêng năng
dũng mănh hun đúc, bỗng chốc dứt sạch, chẳng
c̣n sót thừa. Do vậy, có phương tiện lạ lùng,
khiến cho duyên xuất gia của đại sư
được tự tại, làm bậc pháp chủ cả
một đời. Đại sư cũng nói am chủ hiểu
cơ nghi giáo hóa đúng đắn, vỗ về đồ
chúng, cho tới thấu hiểu các loại tâm của Ba Tuần
trong tương lai như gương Tần soi rành rành. Do
vậy, am Hiếu Nghĩa là kết thúc, Vân Thê là khởi
đầu, pháp luân đan xen. Đó là điều chẳng thể
nghĩ bàn thứ nhất.
2) Am chủ tôn trọng
Mộc Xoa (giới luật), trong sân am chẳng có dấu
chân của tỳ-kheo, phạm hạnh cảm ứng, tứ
sự cúng dường đầy đủ. Sư cùng ở
với đại chúng, lượng bụng đo thân,
đem phần dư dả cúng dường về bếp
Hương Tích của Vân Thê. Một ngôi già-lam Hiếu
Nghĩa dùng nhất hạnh làm hương quang, dùng sáu chữ
(Nam-mô A Di Đà Phật) làm pháp hỷ, dùng tam tâm làm Thiền
duyệt, dùng chín phẩm làm đèn vô tận. Nẻo xuất
yếu đều hướng theo bước của Vân
Thê. Do vậy, Đàn Ba La Mật là cái được am chủ
trao đi, c̣n Huệ Ba La Mật là cái để đại
sư báo đáp. Pháp luân đan xen; đấy là điều chẳng thể
nghĩ bàn thứ hai.
3) Đại sư thượng
độ là hiếu, phổ độ là từ, bỏ ngắn
lấy dài, thay thế sự suy đồi bằng sự
thanh tịnh, am chủ dùng thân Cận Sự Nữ (Ưu-bà-di) giữ ǵn luật nghi như
băng tuyết, dâng niềm tin trong sạch tần tảo
gần ba mươi năm, tới khi mẹ kế của
chồng qua đời mới hiện tướng tỳ-kheo-ni.
Cho đến khi niệm tâm thành tựu, nương nguyện
văng sanh, tạo phương tiện làm khuôn mẫu hoằng
dương to tát, như ánh mặt trời lại chiếu
rực từ nơi tối tăm. Cao túc là Quảng Chiêm,
Đại Văn, Quảng Diệu v.v… đến
nương tựa Sư như bóng theo h́nh, như tiếng vọng ḥa
theo âm thanh, đều là do đại sư “bói rùa, vẽ
đá” (chỉ dạy, hướng dẫn) vậy. Am chủ
ḥa hợp cái nghĩa để bổ khuyết cho cái hiếu
của đại sư trong thế gian; mà đại
sư ban cái hiếu của ḿnh để nâng đỡ cái
nghĩa của Am chủ ở ngoài thế gian. Pháp luân đan
xen; đấy là điều chẳng thể nghĩ bàn thứ
ba.
4) Do am chủ là
Ưu-bà-di mà gượng nuôi con thừa tự, v́ là tỳ-kheo-ni
mà sớm khước từ con thừa tự, phân chia ruộng
đất, nhà cửa, không điều ǵ chẳng
hợp lẽ, bảo: “Người làm hậu duệ cho
đứa con xuất gia của họ Trầm cố nhiên
đă có người rồi!” Tinh xá Hiếu Nghĩa lại
nằm ngay trên nền cũ của Vô Ngại Am thời cổ,
đất đai vững chăi, đàn-na trải vàng, tịnh
giác quán tâm dường như luôn tùy thời phát khởi. Sở
dĩ đại sư tách rời tăng tục, liệu
giản hết sức hợp lẽ, trong mỗi một
nghĩa đủ khiến cho một hạt bụi của
Chiêu-đề nặng hơn cái đỉnh Giáp Nhục[11]! Sách tấn
như thế, ai chẳng tự xét ḷng? Đấy là am chủ
phụng sự Vân Thê bằng trí xuất thế gian, c̣n
đại sư nhiếp thọ Hiếu Nghĩa bằng
trí nhập thế gian. Pháp luân đan xen; đấy là
điều chẳng thể nghĩ bàn thứ tư.
Xưa kia, Thiện Huệ
dùng dục để lôi kéo, Cù Di làm vợ của bậc
thiện tri thức[12], do
được trí lực ǵn giữ, qua hai A-tăng-kỳ
kiếp, làm bạn giai ngẫu vốn sẵn đúng lẽ,
keo sơn gắn bó, chẳng biết ai độ ai? Như
am chủ đối với đại sư, há chẳng phải
là chia đôi h́nh ảnh trong cái gương vô duyên huân tập
hay sao? Đại sư trọn chẳng cố ư giáo huấn người nhà bằng ngôn ngữ, mà
hai ṭa tháp lại từ tâm huệ giải thoát chẳng thể
nghĩ bàn tùy ư nêu bày. Đại sư hướng về
phía Nam, ở bên trái Chiêu-đề, như ngự trên pháp
đàn. Am chủ hướng về phía Đông, ở bên phải
của A Lan Nhă như bậc thượng thủ từ mây
đáp xuống. Xem trọn khắp sự thần kỳ,
đủ khiến cho bạch hạc mất đi cơ
duyên, thanh điểu phải ngậm miệng, dùng trí nguyện
vương hướng dẫn, h́nh bóng hiện trùng trùng,
t́nh và khí thế gian tùy thuận chẳng hai! Tôi là Quảng
Dược Ứng Tân, từ giám viện chùa Vân Thê,
được tắm gội bằng ánh sáng quán đảnh
nơi lời dạy của hai vị đại sĩ,
lược thuật chuyện pháp luân đan xen chẳng thể
nghĩ bàn như thế, trong biển kiếp ba lượt
nhiễu Tứ Nhiếp, ắt có sự huân tập kỳ
diệu vậy.
Am chủ họ Thang,
lúc mười bốn tuổi v́ mẹ tŕ trai, mười
sáu tuổi về nơi trượng thất (lấy chồng), mười chín tuổi
theo đại sư đến cửa ḥa thượng Tánh
Thiên ở Nam Ngũ Đài, làm đệ tử thọ giới
Ưu-bà-di, pháp húy là Châu Cẩm. Lúc bốn mươi bảy
tuổi xuất gia, thọ giới Cụ Túc, thuê nhà để
ở mà tu hành, dùng bạch pháp khiến cho bạn đồng tu tôn kính,
ngưỡng mộ. Lúc [am chủ] năm mươi chín tuổi,
am Hiếu Nghĩa lạc thành, quan Đại Tư Mă Tống
Đồng Cương (Tống Ứng Xương) soạn
văn khắc vào đá. Trước khi đại sư nhập
Niết Bàn một năm, am chủ hiện tướng bị
bệnh nhiều tháng, chợt bảo thị giả đỡ
dậy, bảo: “Ta nương vào mười niệm
để đi đây”. Am chủ ngồi ngay ngắn niệm Phật
mà tịch, nhằm ngày Mười Ba tháng Tám năm Giáp Dần
(1614) trong niên hiệu Vạn Lịch. Am chủ sanh ngày mồng Chín tháng Chạp
năm Mậu Thân (1548) trong niên hiệu Gia Tĩnh, thế
thọ sáu mươi bảy tuổi, tăng lạp hai
mươi mốt năm, được học nhân gọi
là Thái Tố Sư. Đại sư đă chép hạnh nguyện
trí huệ của ni sư vào phần Kỷ Hiền để
làm khuôn mẫu cho ni chúng. Minh rằng:
- Tướng Tăng
chẳng phải nam. Tướng Ni chẳng phải nữ.
B́nh đẳng với chúng sanh, làm mẹ bậc Trí Độ. Thân tướng chẳng
phải xưa. Tháp tướng chẳng phải nay. B́nh
đẳng với chúng sanh, là mây từ nhiệm mầu. Hoa
ưu-bát khi nở, sen trắng
cùng chiếu soi. Đồng sự hiển phàm phu. Ngầm
nắm thánh quyền biến. Số hoa tính bằng kiếp.
Số bụi tính bằng năm. Cơi này được an ổn,
như thần Na-la-diên.
Bồ Tát giới đệ
tử Lưu Huệ Văn suất lănh con là Tánh Trạch thí
tiền cung kính khắc in.
Tháng Mười mùa Đông
năm Quang Tự 25 (1899), viết tại Kim Lăng Khắc
Kinh Xứ.
19. Phần Phụ Lục
19.1. A Di Đà Kinh Sớ
Sao Vấn Biện (hỏi đáp và biện luận
về sách A Di Đà Kinh Sớ Sao) - 阿彌陀經疏鈔問辯
Sa-môn Liên Tŕ Châu Hoằng
soạn
19.1.1. Những câu thắc
mắc
Sau khi sách Sớ Sao ra
đời, có người chưa thỏa măn, nên đă gởi
thư cật vấn. Những điều nào đáng tiếp
nhận, tôi đều vui vẻ thuận theo. Những
điều chẳng thể vâng theo, tôi đều biện
định rơ ràng từng điều một. Những
điều chẳng hết sức thiết yếu th́ gác lại,
chẳng sao lục. Nghiên cứu đến nơi đến
chốn, phân tích theo lư là chuyện chẳng thể không làm;
chẳng phải là ham tranh biện, mà là pháp hỷ.
1) Hỏi: Tâm niệm Phật
không tạp loạn, không gián đoạn; chính là Tinh Tấn
Độ, cớ sao lại nói là “chẳng thoái đọa”?
Đáp: Quư vị cho rằng
do tinh tấn mới có thể chẳng thoái đọa, chứ
tinh tấn chẳng phải là “chẳng thoái đọa”
ư? Biện luận điều này có hai ư:
- Một, tinh tấn
cũng chính là bất thoái. V́ sao vậy? Tuy thường nói
Tinh là chẳng xen tạp, Tấn là chẳng thoái, nhưng
hai chữ này nói chung nhằm thành tựu nghĩa Tấn (tiến lên). Cổ nhân nói “tinh tấn
độ giải đăi” chính là ư này. Tấn đối
lập với Thoái, cho nên tinh tấn chính là bất thoái.
- Hai, ở đây nhấn
mạnh “niệm Phật bao gồm trọn khắp các
Độ”, chẳng chú trọng giải thích ngữ
nghĩa hai chữ Tinh Tấn. Huống hồ đă nói do
tinh tấn nên có thể bất thoái. Nay người niệm
Phật vĩnh viễn chẳng thoái đọa, chính là do
niệm Phật liền thành tựu tinh tấn, chẳng cần
phải cầu tinh tấn nữa! Như lời quư vị
hỏi, chính là tinh tấn niệm Phật chứ chẳng
phải là “niệm Phật chính là tinh tấn”.
2) Hỏi: Kinh Hoa Nghiêm
nói Bát Địa, Viên Giáo nói Sơ Trụ đều đắc
Vô Sanh Nhẫn. Thiên Thai Tông nói: “Căn cơ Viên Giáo, có
người chứng Thập Địa ngay trong một
đời”. Thiện Tài đồng tử trong kinh Hoa
Nghiêm, Long Nữ trong kinh Pháp Hoa, và chư Tổ Thiền
Tông chính là những người như vậy. Tại sao lại
đánh đồng tất cả, coi đó đều là cảnh
giới khó tiến nhập?
Đáp: Đạt tới
Bát Địa mới gọi là thật sự đắc Vô
Sanh, tông Hoa Nghiêm nói như thế đó. Theo kinh Hoa Nghiêm, từ
Sơ Địa trở lên c̣n chưa nói là thật sự
đắc, huống hồ Sơ Trụ? Há chẳng phải
là [đối với] bậc thánh c̣n khó [đạt
được Vô Sanh Nhẫn] hay sao? Chỉ tán thán là “khó đắc”, chứ không nói quả quyết
“không có ai đắc!” Vị nào chứng đắc Thập
Địa ngay trong một đời, ai dám ngăn cản
vị ấy chẳng chứng nhập? Hơn nữa,
chư Tổ Thiền Tông có sự chứng đắc bất
đồng rất lớn, há có phải là dễ dàng ư?
3) Hỏi: Nếu
đem năm pháp đối ứng với Tam Tự Tánh, phải
nên nói Danh và Tướng ứng với Y Tha Khởi, Vọng
Tưởng ứng với Biến Kế Sở Chấp. Kinh
Lăng Già và Duy Thức đều nói như vậy. Nay tại
sao Ngài lại chẳng làm vậy? Kinh Lăng Già nói: “Bỉ
danh cập tướng, thị vọng tưởng tự
tánh sanh” (Danh và tướng đó do vọng tưởng tự tánh sanh ra). Xin hăy
quan sát chữ Sanh ấy, đó chính là Y Tha Khởi Tự
Tánh, do phân biệt duyên mà sanh, chẳng phải là nói “danh và
tướng chính là vọng tưởng”, mà chúng là cái
được sanh từ vọng tưởng. Giống
như nói ngài Xá Lợi Phất là do bà Thu Tử sanh ra, há có
phải con chính là bà Thu Tử ư?
Đáp: Ngài cho rằng
tôi phối hợp sai lầm giữa Danh Tướng với
Tam Tự Tánh, lại cho rằng “Danh và Tướng là do vọng
tưởng sanh ra”, chẳng phải “Danh và Tướng chính là vọng
tưởng”. Sau đó, Ngài dẫn kinh văn của Lăng Già để
làm chứng; nhưng kinh Lăng Già lại
nói “bỉ Danh cập Tướng,
thị vọng tưởng tự tánh” (Danh và Tướng chính là tự
tánh của vọng tưởng), tức Danh và Tướng chính là Biến
Kế Sở Chấp. Hơn nữa, kinh văn dùng một
chữ Thị (là) rất rơ ràng, chẳng có chữ Sanh! Các bản dịch
đời Ngụy và Đường đều giống như
thế, cách phối ứng hoàn toàn tương phản với
điều ngài nói. Tôi dựa vào theo bản dịch cổ
để trần thuật trực tiếp. Đó lời
thốt ra từ kim khẩu [của đức Phật], ngài
cho là sai ư? Hay là ngài tự t́m được một bản
tiếng Phạn khác, muốn dịch thành một bản mới
ư?
Ngài lại nói “kinh Lăng Già và Duy Thức
đều như vậy”, hóa ra ngài chưa từng xem kinh Lăng Già,
đáng kinh hăi quá! Hơn nữa, gom ngũ pháp[13] vào tam tự
tánh vốn từ kinh Lăng Già mà ra. Các vị Hiền Thủ
và Thanh Lương dựa theo kinh Lăng Già để phán
định Đốn Giáo, chứ không dựa theo Duy Thức.
Nay luận về Đốn Giáo chính là phải nên dùng kinh
văn của Lăng Già, lại chẳng nói về Duy Thức
Luận, chẳng cần phải trộn lẫn! Than ôi!
Văn tự trong ba bản dịch [của kinh Lăng Già]
rạng ngời như mặt trời, mặt trăng. Nay
[ông lập luận trái khoáy như thế] tức là người
dịch sai, hay đức Thế Tôn sai? Tôi chẳng biết
được! Hăy ghi nhớ để mai sau hỏi ngài Di
Lặc.
4) Hỏi: [Sớ Sao] dẫn
kinh Đại Bổn và Quán Kinh để chứng minh
nghĩa Viên có nhiều điều trái nghịch và trở
ngại:
- Một là trở ngại
do dẫn kinh khác để thành tựu kinh đang giảng,
v́ ư viên măn trong kinh khác chẳng liên quan đến kinh này.
- Hai là trở ngại do
trước sau bất nhất. Nay bản Sớ Sao này
trước sau nhiều lượt nói kinh này thù thắng
hơn Đại Bổn và Thập Lục Quán, là trọng
yếu nhất trong những điều trọng yếu,
là mầu nhiệm nhất trong các diệu kinh [thế mà phải
dẫn hai kinh kia để chứng minh kinh này]!
- Ba là trở ngại do
nhập nhằng giữa toàn viên và phần viên. Nay lời Sớ
phán định kinh này là phần viên, sách Diệu Tông Sao phán
định kinh là thuần viên (hoàn toàn là Viên Giáo).
- Bốn là chướng
ngại do lẫn lộn coi quán và niệm như nhau, v́ kinh
này dạy Tŕ Danh, kinh kia dạy Quán Phật.
- Năm là chướng
ngại do nhập nhằng coi rườm rà và giản
ước như nhau. Kinh này hết sức tóm lược
những điều cốt lơi, kinh kia văn tự rườm
rà. V́ thế biết là chớ nên dẫn các kinh kia để
làm chứng cho kinh này.
Đáp:
a) Trước hết,
đả thông về trở ngại “dẫn kinh khác để thành
tựu kinh đang giảng”. Trong đây, lại chia thành hai ư:
- Đả thông về
kinh Đại Bổn. Hai kinh vốn là một Thể, chẳng
thể gọi là “kinh ḿnh” hay “kinh khác” được!
Đó là v́ kinh Vô Lượng Thọ có năm bản dịch
và một bản hội tập, tổng cộng là sáu bản,
đều gọi là Đại Bổn, c̣n kinh này gọi là
Tiểu Bổn, cùng là một kinh, chỉ là nói nhiều hay
ít mà thôi, sao lại phán định là “kinh ḿnh” hay “kinh khác”?
Như phần trích dẫn kinh Đại Bổn: “Hoặc
dĩ nhất bảo nghiêm thụ, hoặc dĩ tạp bảo
nghiêm thụ” (hoặc dùng một thứ báu để
trang nghiêm cây, hoặc dùng các thứ báu để trang nghiêm
cây), kinh này không có câu văn ấy, nhưng có nói “thất
trùng hàng thụ” (bảy lớp hàng cây), thật sự
đă dùng bốn chữ đó để gồm thâu ư
nghĩa “trang nghiêm thuần bằng một thứ”, hoặc
“trang nghiêm xen kẽ”. Lại như tôi trích dẫn câu “vô
lượng quang hoa, xuất vô lượng bảo quang”
(vô lượng hoa sáng rực, tỏa ra vô lượng ánh
sáng báu), tuy kinh này không có đoạn văn ấy, nhưng
có nói “xanh, vàng, đỏ, trắng”, quả thật đă
dùng bốn loại để gồm thâu ư nghĩa “vô lượng
quang, hoa”. V́ thế, sách Sớ Sao nhiều lượt nói
trong kinh có đủ những nghĩa ấy, chỉ là lời
văn tỉnh lược, chính là nêu ra ư này. Do vậy biết:
Đáng nên trích dẫn Đại Bổn [để chứng
minh kinh Di Đà], cố nhiên chẳng cần đợi luận
bàn nữa!
- Đả thông về
Quán Kinh: Quán Kinh tuy hơi sơ lược hơn [so với
kinh Vô Lượng Thọ], nhưng cũng chẳng phải
là khác Thể. Đó là v́ tuy trong kinh văn có thể không có
[những điều được
nói trong
Đại Bổn và kinh Di Đà], nhưng xét theo nghĩa
th́ thật sự có. Như trích dẫn Quán Kinh “Phật
đă hiện thân rộng lớn sáu mươi vạn ức”,
mà lại hiện thân nhỏ một trượng sáu; tuy
kinh này không có những đoạn văn đó, nhưng vô
lượng thọ và vô lượng quang
chính là thân rộng lớn. “Dữ chư thánh chúng hiện
tại kỳ tiền” (cùng với các thánh chúng hiện
ra trước mặt) chính là hoặc hiện thân lớn,
hoặc hiện thân nhỏ vậy. Phỏng theo đó mà suy, Quán Kinh có chim le le, nhạn,
uyên ương, há lẽ nào Cực Lạc của kinh này chỉ
có bạch hạc, khổng tước v.v… mà thôi? Quán Kinh có năm trăm
ức lầu, gác, há lẽ nào Cực Lạc theo kinh này chỉ
có bảy tầng lầu gác mà thôi ư? Quán Kinh có Quán Âm, Thế
Chí, há lẽ nào Cực Lạc của kinh này chỉ có ḿnh đức
Phật Di Đà, thiếu hai vị thị giả ư? Luận
ngược lại, kinh này có bảy tầng lan thuẫn, Quán
Kinh không có lời ấy, chẳng lẽ Cực Lạc của
kinh đó chỉ có hàng cây, không có lan can ư? Kinh này có các vị
Bồ Tát nhiều vô lượng vô biên, Quán Kinh không có lời
ấy, chẳng lẽ Cực Lạc theo kinh kia chỉ có
hai vị Bồ Tát Quán Âm và Thế Chí thôi ư? Đối
chiếu ḥa hợp như thế, nên gọi là “văn ẩn
hiện bổ túc cho nhau, nghĩa ắt sẽ châu toàn”.
Đại Bổn vốn cùng một Thể, Quán Kinh
cũng cực thân thiết, cho nên trích dẫn để chứng
minh. Chẳng thể so sánh với chuyện dẫn Viên Giác
để chứng minh Pháp Hoa, dẫn Hoa Nghiêm để chứng
minh Niết Bàn được!
b) Đả thông trở
ngại về “trước sau bất
nhất”. Phần trước
nói Đồng, phần sau chưa từng nói Dị. Chỉ
nói càng là đơn giản, ước lược; cho nên gọi
là Yếu Diệu (trọng yếu, huyền nhiệm), v́
kinh này giản lược mà bao hàm trọn vẹn. Chẳng
phải là tương phản với tán loạn mà gọi
là Yếu, hoặc do tương phản với thô thiển
mà gọi là Diệu.
c) Đả thông về
trở ngại do “nhập nhằng giữa
Toàn Viên và Phần Viên”. Kinh này dù nói là Phần
Viên, nhưng chẳng khác ǵ cái Viên của Quán Kinh. V́ sao vậy?
So với Hoa Nghiêm, Quán Kinh cũng là Phần Viên, v́ là Đồng
Phận Viên của Biệt Giáo Nhất Thừa. Chữ Biệt
này chẳng phải là Biệt trong “Tạng, Thông, Biệt,
Viên”.
d) Đả thông chướng
ngại do “lẫn lộn coi Quán và
Niệm như nhau”. [Ông bắt bẻ
như vậy] chính là đă coi Niệm chuyên thuộc vào Tŕ
Danh; nhưng phần kinh
văn nói về Hạ Phẩm trong Quán Kinh đă bảo: “Kỳ
nhân khổ bức, bất hoảng niệm Phật”
(Người đó do bị nỗi khổ bức bách, chẳng
rảnh để niệm Phật), há chẳng phải ở
đây Quán chính là Niệm hay sao? Kinh này cũng nói quang minh vô
lượng, hàng cây, lầu gác, các thứ trang nghiêm, há đấy
chẳng phải là cảnh giới để quán ư? Lại
nữa, tŕ danh và quán tưởng cùng xuất phát từ một tâm. Một tâm
quán tưởng, một tâm tŕ danh, đều được
gọi chung là Niệm Phật vậy.
e) Đả thông chướng
ngại do “nhập nhằng coi
rườm rà và giản ước như nhau”. Trong phần trên, tôi đă trần
thuật rơ ràng lời kinh văn có nhiều hay ít, nhưng
nghĩa chẳng khác biệt, chẳng cần nhọc công biện định nữa!
Ôi! Nếu đă nhập
huyền môn Hoa Tạng th́ ta hay người, trước
hay sau, cho đến rườm rà hay đơn giản, đều là “tương tức,
tương nhập” (chính là lẫn nhau, nhập vào nhau)
chẳng thể nghĩ bàn! Do vậy, kinh này mới
được gọi là Bất Khả Tư Nghị.
5) Hỏi: Ngôn ngữ của
Tây Trúc được gọi là Phạm ngữ, v́ nó vốn
do chư thiên thuộc cơi trời Quang Âm truyền lại.
Nay thầy lại nói: “Phạm nghĩa là thanh tịnh.
Nói theo tiếng Hoa th́ là Văn (nói bóng bẩy, hoa mỹ) và
Chất (nói mộc mạc, đúng sự thật) vậy”.
[Cách nói ấy] chẳng đáng coi là trọn hết
được! Huống hồ Phạm âm cơi kia há chỉ
có Chất mà chẳng có Văn? Tiếng Hoa trong cơi này há lại
chỉ có Văn mà chẳng có Chất? Nho gia nói: “Văn
chất bân bân, nhiên hậu quân tử” (Văn và Chất
phải cân bằng th́ mới là bậc quân tử). Nhà Phật
nói: “Văn tùy theo nghĩa, nghĩa tùy theo văn”. Nếu
bên kia là Chất, bên này là Văn, th́ đôi bên đều có khiếm
khuyết. Sách Phụ Hành viết: “Thuở xưa khi tranh
chấp chưa sanh, lời của phương Tây đều
gọi là 'Hồ ngữ' (tiếng của người Hồ).
Sau v́ đạo sĩ ngụy tạo Hóa Hồ Kinh[14],
mới coi phía Tây của Thông Lănh là Phạm, phía Đông của
Thông Lănh là Hồ”. Nay nếu dùng chữ Tịnh để
giải thích chữ Phạm rồi coi đó là Chất, há lại
có thể dùng chữ Loạn để giải thích chữ
Hồ, khiến cho Văn lẫn Chất đều bị
mất sạch ư?
Đáp: Hai chữ
Văn và Chất trong Sớ Sao là tạm mượn từ
ngữ ở phương này (Trung Hoa) để làm ảnh
dụ[15]
mà thôi! Có ư nói Phạm là h́nh tướng thanh bạch. Hoa là
h́nh tướng rực rỡ. Trọn chẳng phải là
chuyện to tát, việc ǵ cứ phải tốn lời biện
bác? Nhưng cổ nhân đă dùng Hoa để đối ứng
Phạm, ắt có ư nghĩa, chớ nên xem thường. Ông
dẫn câu “văn chất bân bân”, hết sức chẳng
thỏa đáng! Văn và Chất ắt phải kiêm cả
hai, cớ sao nhà Thương chuộng Chất, nhà Châu chuộng
Văn? V́ sao hai triều đại đó đều
được xưng tụng là “thánh thế” (thời
của thánh nhân)? Tịnh giới của ngài Ưu Ba Ly,
văn sức (tài văn chương bóng bẩy, trau chuốt)
của ngài Ca Chiên Diên, há hai vị tôn giả ấy chẳng
phải là “bân bân” hay sao? Đấy là v́ nói theo điều
được coi trọng, cố nhiên chẳng trở ngại
ǵ!
Hơn nữa, hạnh
khiết bạch được gọi là Phạm Hạnh.
Âm thanh cổ kính, đạm bạc gọi là Phạm Âm,
sao chẳng thể không dùng chữ Tịnh để giải
thích chữ Phạm? Huống chi dùng Tịnh để giải
thích Phạm xuất phát từ cách dịch thời cổ.
Trong Hoa Nghiêm Sớ, Thanh Lương đại sư
cũng viết: “Phạm là âm của Tây Vực, gọi
đủ là Bột-lăm-ma (Brahma), phương này dịch là
Tịnh. Do ĺa nhiễm đến tột bậc, nên gọi
là Phạm”. Ĺa nhiễm mà nói là “tột bậc”, chính là
thanh tịnh đạt đến tột bậc vậy!
Ông lại dẫn “văn
nghĩa tương tùy” để chứng minh Văn và
Chất; nhưng một chữ Nghĩa sao có thể coi là
Chất? Hoa và Phạn c̣n chưa được gọi là
Văn và Chất, vậy mà Văn và Nghĩa lại có thể
gọi là Văn và Chất ư? Lại nữa, Hồ là [từ
ngữ] để chỉ di địch, c̣n Ngũ Thiên Trúc chính là trung
ương của cơi Diêm Phù, là nơi sanh của chư Phật.
Đánh đồng tất cả thành Hồ là luận
điệu của kẻ lầm lạc, Tăng sĩ chớ nên nói lời ấy.
Hơn nữa, Tịnh và Loạn sao có thể đối lập
với nhau? Tịnh ở đây là tịnh trong “tịnh nhiễm”,
chẳng phải là tĩnh trong “động tĩnh”. Thế
mà ông bảo dùng Tịnh để giải thích Phạm, dùng Loạn để giải
thích Hồ, khiến cho Văn lẫn Chất đều mất,
sao lại ăn nói chẳng ra làm sao vậy?
6) Sách Diệu Tông Sao viết:
“Mỗi giáo có bốn môn, mỗi môn đều có Tứ Tất
Đàn”, nay sao thầy lại coi Tứ Tất Đàn là
một môn?
Đáp: Phàm điều
ǵ có thể dẫn người nhập đạo, đều
có thể gọi là Môn. Tứ Tất Đàn cũng là môn vậy!
Sách Diệu Tông Sao ngụ ư: Mỗi giáo đều tự có
bốn môn, mỗi môn trong bốn môn ấy lại đều
có Tứ Tất Đàn Môn. Chỗ nào thiếu chữ Môn là
do lược bớt văn tự cho gọn mà thôi. Nếu
chẳng tin lời này, xin hăy tham khảo các bậc tôn túc kể
từ ngài Thiên Thai trở đi.
7) Hỏi: Kinh nói chung là
do năm hạng người nói. Bốn hạng người
kia nếu được Phật ấn chứng th́
cũng giống như Phật nói. Nay thầy nói đức
Phật nói th́ giống như thánh vương sắc truyền,
chẳng giống như lời nói của bầy tôi. [Nói
như thế chính là] phạm lỗi “đề cao bên này,
chèn ép bên kia”. Ngài Chân Đế giải thích kinh Kim Quang Minh
đă thiên vị ca ngợi kinh ấy, ngài Trí Giả nói: “[Làm
như vậy] khiến cho kẻ ngu phạm lỗi coi
thường các kinh khác. Chớ nên tán thán thiên vị”. Nay
nếu thầy nói “Bồ Tát là người c̣n thuộc
vào địa vị tu nhân” v.v… Kinh Hoa Nghiêm phần nhiều
do Bồ Tát nói, pháp môn Bất Nhị trong kinh Duy Ma Cật
đều do Bồ Tát nói. Kinh Niết Bàn do Dạ Xoa nói kệ.
Kinh Pháp Hoa do tiên nhân truyền kinh, há có nên v́ người nói thấp hèn
mà coi thường đạo của họ ư? Kinh dạy:
“Y pháp, bất y nhân”, sao lại có thể dựa theo
người để phán định pháp? Nếu dựa
vào người để phán định pháp, Bát Nhă do Không Sanh
(Tu Bồ Đề) nói phải nên xếp vào A Hàm, c̣n Tiểu
Thừa do Như Lai nói phải nên quy vào đại giáo
ư? Mối nghi ấy làm nghẽn tắc cơi ḷng, mong thầy
rủ ḷng dạy cho!
Đáp: Bề tôi tôn kính vua, con cái tôn kính cha là lẽ
tột cùng trong thiên lư và nhân t́nh. Vốn chẳng phải là
“bằng vai, phải lứa”, sao có thể nói là đề
cao hay chèn ép cho được? Nếu bảo ngài Chân Đế
thiên vị ca ngợi Kim Quang Minh là lỗi, vậy ngài Trí Giả riêng tán
thán kinh Pháp Hoa cũng phạm lỗi ư? Nếu bảo
kinh Pháp Hoa không có kinh nào vượt hơn, vậy kinh Hoa
Nghiêm có thể bị hạ thấp hay chăng? Trong kinh
Pháp Hoa, đức Thế Tôn ca ngợi [kinh Pháp Hoa] là vua của
các kinh, trong kinh Kim Quang Minh cũng ca ngợi [Kim Quang Minh] là
vua của các kinh. Thuận theo cơ nghi mà ca ngợi, đều
đúng cả; chẳng lẽ đức Thế Tôn cũng
phạm lỗi ư?
Ông lại nói Hoa Nghiêm phần
nhiều do Bồ Tát nói, cho đến dẫn tạp nham Dạ
Xoa [nói kệ] v.v… Nhưng bảo “được
đức Phật ấn chứng th́ giống như đức
Phật nói” th́ được, chứ bảo “chính do
đức Phật nói” th́ chẳng thể! Nay các chánh lệnh
do trăm quan ban hành, đều là đă được bẩm
báo với quốc vương, há liền gọi đó là
“chiếu thư” ư? Hơn nữa, các vị như Bồ
Tát v.v... nếu đă chẳng khác đức Phật, tại
sao chẳng tự ḿnh lập giáo, mà phải chờ đức
Phật ấn chứng? Phải chờ đức Phật
ấn chứng, th́ [thứ tự] thầy tṛ, trên dưới
đă được biện định rành rành rồi! Huống
hồ nay tôi chỉ nói rơ kinh này do chính đức Phật
nói, chẳng giống như [những kinh] do người
khác nói, chưa hề chê trách các vị như Bồ Tát v.v…,
bảo họ chẳng thể nói kinh! V́ sao ông lại thốt
lời “không có gió mà cuộn sóng” vậy? Giúp bề
tôi, con cái tranh cao thấp với vua, cha, chẳng thuận lẽ
trời, mà đối với t́nh người cũng chẳng
ổn, huống hồ đối với Phật pháp ư?
Ông lại bảo Bát Nhă
của Không Sanh phải xếp vào Tiểu Thừa v.v…
cũng là sai mất rồi! Hiện thời, đang luận
về người, chẳng bàn về pháp, chẳng phải
là do La Hán nói pháp Đại Thừa mà tôi lại coi đó là
pháp Tiểu Thừa! Những chỗ như thế này vốn
chẳng có ai sanh nghi, nay ông tự khởi xướng mà
sanh nghi vậy! Do nghi điều này mà nghi luôn cả kinh,
đâm ra chẳng tin Tịnh Độ! Xin ông hăy cẩn thận
ngôn từ!
8) Hỏi: Từ Phật
Tỳ Bà Thi cho đến thời Phật Thích Ca là chín
mươi mốt kiếp; v́ sao thầy lại nói là “hai”?
Nếu nói là đại kiếp th́ phải nên thêm vào một
chữ Đại. Huống hồ, luận theo đại
kiếp, tám mươi tiểu kiếp mới thành một đại
kiếp, nhưng một kiếp th́ có dư?
Đáp: Tại sao ông
không thấy bốn chữ “thủ vĩ nhị kiếp”
(hai kiếp đầu và cuối) trong lời Sao? Bảy
đức Phật, ba vị thuộc về phần cuối
của kiếp Trang Nghiêm, bốn vị thuộc về phần
đầu của kiếp Hiền. Đó chẳng phải
là đầu và cuối của hai đại kiếp hay
sao? Giữa đầu và cuối của hai đại kiếp
ấy chính là chín mươi mốt tiểu kiếp. Đă
nói rơ ràng là “đại kiếp” rồi, cần ǵ phải
thêm một chữ Đại? Bản dịch đời
Đường đối với câu “thành Phật dĩ
lai thập kiếp” (thành Phật cho tới nay là mười
kiếp) viết là “thập đại kiếp”. Ngài Cưu
Ma La Thập chỉ nói “thập kiếp”, đó chính là
mười đại kiếp vậy, cũng chẳng cần
thêm chữ “Đại”. Ông lại nói “chỉ một kiếp
có dư”, “một kiếp có dư” chẳng phải là
đầu và cuối của hai kiếp ư? Hăy nghĩ
xem!
9) Hỏi: Sao có thể
nói ngài La Thập là dịch sư của một ngàn đức
Phật rồi dẫn cha mẹ làm ví dụ? Cha mẹ của
ngàn đức Phật thuộc vào thời đức Phật
tại thế. Huống chi cha mẹ, con cái, và thị giả
v.v… [của mỗi đức Phật] chẳng nhiều,
chẳng có ai khác để so sánh. Đó chỉ là quyền
biến, chẳng thật, chẳng trở ngại những
điều khác. Nay dịch sư khá nhiều. Nếu ngài La
Thập là dịch sư của ngàn đức Phật, th́
các vị Nghĩa Tịnh, Huyền Trang v.v... cũng theo lệ
đó hay sao? Nếu hết thảy đều là như vậy,
cần ǵ phải trân quư bản dịch của ngài La Thập
đáng hoằng dương, tán thán? Nếu dịch sư
đă là như vậy, vậy th́ Thiền Tông, Luật Tông
v.v... cũng theo lệ đó hay sao? Bậc thánh đă là
như vậy th́ kẻ phàm cũng phải như vậy hay
sao? Như vậy là đại loạn Quyền và Thật;
do vậy, chẳng thể được! Chỉ nên giữ
theo thuyết cũ!
Đáp: Sao ông lại coi
thường ngài La Thập vậy? V́ [đoạn văn ấy
trong Sớ Sao] đang nêu ra bảy đức Phật, cho
nên nói “từ bảy đức Phật đến nay”. Nếu
nêu ra tám vị Phật, chín vị Phật, mười vị
Phật, biết đâu chẳng nói “làm vị dịch kinh của
nhiều vị Phật cho đến nay”? Nếu cứ chấp
chặt là bảy vị Phật, vậy ngài Văn Thù
cũng nhất định chỉ là thầy của bảy
đức Phật mà thôi ư? Phật Thích Ca cũng nhất
định là phát xuất từ thành Già Da, nay mới thành
Phật, chẳng phải là đă thành Phật từ vô
lượng vô biên kiếp trước hay sao? Ông lại nói
“ắt phải thuộc lúc đức Phật tại thế”,
tức là chẳng biết “dẫu không có Văn
Vương, hào kiệt vẫn nổi dậy”!
Ông lại dẫn chứng
rằng mẹ của Phật, con của Phật, thị
giả của Phật, không có người thứ hai,
nhưng người dịch kinh th́ đông lắm. Mẹ
chỉ có một, con chỉ có một, đúng là như thế
đó. Đức Phật đă thành đạo ba
mươi năm, ngài A Nan mới làm thị giả. Đệ
tử Phật vô lượng, trong suốt ba mươi
năm ấy, chẳng lẽ không có một ai hầu cận
đức Phật hay sao? Người hầu Phật
đông đảo, chẳng lẽ ngài A Nan chẳng thể
đời đời hầu Phật ư? Ông lại cho rằng
ngài Nghĩa Tịnh, Huyền Trang v.v... cũng phải
như vậy, các phàm nhân cũng phải như vậy,
điều này lại càng chẳng đúng! Các vị thầy
dịch kinh chẳng có hơn kém ư? Thánh và phàm lại chẳng
phân biệt ư? Vậy th́ những người thông dịch
hiện thời thuộc Tứ Di Quán[16] trí huệ
đều bằng ngài La Thập ư?
Lại nữa, “dịch
sư của bảy đức Phật” là do chư thiên
nói. Há chẳng biết chư thiên chỉ thấy bảy
đức Phật, chưa thấy trước thời bảy
đức Phật! Như thuở đức Phật tại thế, có
một cụ già xin xuất gia, các vị La Hán chẳng biết
thiện căn của người ấy từ tám vạn
kiếp trước, sao ông có thể suy lường nhân
duyên nhiều kiếp của ngài La Thập? Hơn nữa,
trong phần đầu lời Sao, chưa hề coi cách nói cũ “bảy
đức Phật” là sai, chỉ là dùng lư để suy
lường, chắc là có cái lẽ “là vị thầy dịch
kinh của nhiều vị Phật” mà thôi! Người
xưa nói: “Mân pháp sư từ thời Tỳ Bà Thi Phật
đă làm pháp sư rồi”. Lại nói: “Phật Tỳ
Bà Thi đă sớm lưu tâm”. Đó là nói tới cái gốc
xa xôi, thông thường dùng bảy đức Phật làm
chuẩn mực, chứ chẳng phải hạn lượng
nhất định chỉ có bảy đức Phật. Sách
Mạnh Tử viết: “Thánh nhân bách thế chi sư dă”
(Thánh nhân là thầy của trăm đời). Há lại hạn
lượng nhất định là một trăm đời,
chẳng thể làm thầy của hai trăm, ba trăm
đời hay sao?
Người hứa khả
cho kẻ khác nói: “Đây là thiện tri thức của
năm trăm vị tăng”. Há lại hạn lượng
nhất định là năm trăm, c̣n sáu trăm, bảy
trăm th́ chẳng thể hay sao? [Cổ nhân] ca ngợi Lăo Tử rằng: “Vô
thế bất xuất” (Không đời nào chẳng xuất
hiện). Ngài Vĩnh Gia nói: “Ta đă sớm từng nhiều
kiếp tu hành”, sao cứ chẳng cho phép ngài La Thập mở
rộng thêm một cơi Phật ư? Hăy gác lời này lại
đó. Kinh Pháp Hoa xưng tụng ngài Phú Lâu Na là “vị
thuyết pháp bậc nhất từ bảy đức Phật
tới nay”. Lại nói: “Cửu thập ức Phật
dĩ lai, thuyết pháp nhân trung, diệc vi đệ nhất”
(Kể từ chín mươi ức đức Phật tới
nay, trong những người thuyết pháp, [Phú Lâu Na] cũng
là đệ nhất). Đó có phải là lời từ kim
khẩu thốt ra hay chăng? Thử mở kinh mà xem lại
đi!
10) Hỏi: Hiển giáo chính
là Tu-đa-la (kinh); Mật giáo chính là Chú. Tại sao thầy
coi tiếng Phạn là Mật, tiếng Hoa là Hiển? Phải
chăng v́ người phương Đông chẳng thể
suy lường tiếng Tây Trúc, nên gọi là Mật? Hay là
v́ Phạn ngữ ở bên đó đă tự là Mật? Nếu
ở nơi kia, [tiếng Phạn] đă chính là Mật, sẽ
là Tây Thổ chẳng có Hiển giáo. Nếu do cơi này chẳng
thấu đạt ngôn ngữ của cơi kia mà gọi là Mật,
th́ điển tịch của phương này truyền sang
Đông Thổ, khi chưa phiên dịch, cũng phải gọi
là Mật. Nếu chưa phiên dịch th́ chẳng thể suy
lường. Nếu đă phiên dịch th́ sẽ có thể
biết được. Nếu là như vậy, cớ sao
lại nói “kẻ phàm phu chẳng thể ḍ lường
Chú được?”
Đáp: Phàm những câu
chữ sau hai chữ Xứng Lư cần phải nh́n bằng
con mắt khác th́ mới được. V́ đó là những
lời đàm luận vượt ngoài khuôn khổ, chớ
nên câu nệ văn tự, kẹt trong danh tướng, cứ
khăng khăng dùng cách giải thích từ ngữ thông
thường để đánh đồng được!
Huống chi chẳng phải là lúc giải thích Hiển và Mật
trong kinh chú vậy! Hàng sa-di mới học không ai chẳng
biết kinh là Hiển, chú là Mật, nào có biết đây là mượn
sự đại lược gần giống nhau để
làm thí dụ, Quyền lẫn Thật chẳng trở ngại,
dời chuyển lật xuôi, lật ngược, ngang dọc
chẳng trở ngại. Suy rộng ra, đối với pháp thế gian và xuất
thế gian, những ǵ rơ ràng, dễ thấy đều có thể
nói là Hiển. Những ǵ u uẩn khó biết đều có
thể nói là Mật. Cần ǵ cứ phải coi cái ǵ chẳng
thể ḍ lường là Mật, có thể ḍ lường là
Hiển ư? Đối với kinh th́ Pháp Hoa có nói: “Thị
pháp phi tư lượng, phân biệt chi sở năng giải”
(Pháp này chẳng thể dùng suy lường, phân biệt
để có thể hiểu được), kinh Duy Ma Cật
nói: “Bất tri thị hà ngôn, bất tri dĩ hà đáp”
(chẳng biết là nói như thế nào, chẳng biết
dùng ǵ để đáp). Trong hội Niết Bàn, đức
Thế Tôn giơ cành hoa cho đại chúng xem, trăm vạn
trời người thảy đều ngơ ngác. Kinh này
có lúc chẳng thể suy lường, đâm ra kinh trở
thành Mật. Trong chú, chữ A là toàn thân của đức Tỳ
Lô, chữ Hồng là ba môn giải thoát. Đối với
Văn Thù Ngũ Tự Chú[17], chữ A
nghĩa là Vô Sanh, chữ Ra nghĩa là vô nhiễm. Đó là
Chú có khi là có thể suy lường,
vậy th́ chú lại biến thành Hiển rồi!
Do vậy biết ông nói
“tiếng Phạn là Mật th́ Tây Thổ chẳng có Hiển
Giáo. Ngôn ngữ ở phương này Tây Thổ không biết
th́ cũng có thể gọi là Mật”, dùng chuyện
đó để bắt bẻ, đều là lỗi do chấp
trước, câu nệ giải thích hai chữ Hiển và Mật
theo văn tự. Hơn nữa, hai chữ Hiển và Mật
trước nay hiểu theo nghĩa văn tự thế
gian, do muốn nêu tỏ sự viên thông của kinh chú mà dùng
hai chữ này để phối ứng, chứ sách Thuyết
Văn của họ Hứa hay các vị soạn Thiên Vận
thời cổ có bao giờ giải thích từ ngữ rằng:
“Hiển là Kinh, Mật là Chú”! Vậy th́ hai chữ này
tại sao lại chẳng thể đem sử dụng ở
chỗ khác được? Do vậy mới nói: “Phàm rơ
ràng, dễ thấy, thảy đều có thể gọi là Hiển;
phàm u uẩn khó biết, thảy đều có thể gọi
là Mật”. Thử nêu một thí dụ, sách Luận Ngữ
viết: “Thiên hạ hữu đạo tắc kiến,
vô đạo tắc ẩn” (cơi đời có đạo
đức th́ ra làm quan, vô đạo th́ ở ẩn). Chữ
Kiến (見) ở đây có nghĩa là Xuất
(出, ra làm quan), Ẩn (隱) có nghĩa là Xử (處, ở ẩn, náu ḿnh, không ra làm
quan). Nếu chấp chặt Ẩn Kiến là Xuất Xử,
thế sao khi giải thích câu “mạc kiến hồ ẩn”[18]
trong sách Trung Dung, lại coi Kiến là chỗ sáng, Ẩn là
chỗ tối? “Ẩn Kiến” có thể hiểu là “sáng tối”
lẫn “xuất xử”, sao riêng Hiển Mật lại chỉ
có thể hiểu là Kinh Chú, chẳng thể hiểu là Hoa Phạn
được?
Đấy mới là chỉ
dựa theo ngoại điển để nói. Nếu dựa
theo nội điển để nói, Hiển Mật há chẳng
phải giống như Bán Măn, Tân Cựu đó sao? Đă coi
Tiểu Thừa làm Bán, Đại Thừa là Măn rồi, tại
sao lại c̣n nói: “Căn bản để sanh ra chữ
trong Tất Đàm Chương gọi là Bán, văn tự
trong các chương khác đầy đủ là Măn”? Tức
là Bán và Măn có thể dùng thông với nhau! Đă coi đức
Phật là vua trong ba cơi là Tân (mới), Luân vương thập
thiện là Cựu (cũ), tại sao lại nói: “Tam đức
chính là lẫn nhau, đó là Tân. Ba đức chẳng chính là
lẫn nhau, đó là Cựu”? Đấy là Tân và Cựu
có thể dùng thông với nhau được. Nhưng đấy
vẫn là dựa theo sự so sánh để nói. Nếu lại
dựa theo Hiển và Mật để nói, đă coi kinh là
Hiển, coi chú là Mật, sao lại nói: “Thanh Văn thấy
tám vạn mốt người đắc đạo gọi
là Hiển, Bồ Tát thấy vô lượng A-tăng-kỳ
người đắc đạo gọi là Mật”? Đấy
là Hiển và Mật có thể dùng dung thông vậy. Cớ sao
đối với Hoa và Phạm lại sanh nghi?
Hơn nữa, đây là
mới xét riêng về cơi Chấn Đán. Nếu thông cả
hai cơi (Chấn Đán và Tây Thổ), cũng có thể là
Đông Độ th́ Hoa hiển, Phạn mật, c̣n Tây Thổ
th́ Phạn hiển mà Hoa mật. Trên đây v́ muốn gấp
biện định mối nghi nên mới nói những lời
vụn vặt. Nói đúng như thật th́ “nửa
đêm chính là lúc sáng ngời, sáng ra chẳng c̣n sương
móc”. Từ chỗ nào mà biện định Hiển hay Mật?
Chẳng thấy nói “liên hoa hà diệp báo quân tri, xuất
thủy hà như vị xuất thời. Giang Bắc,
Giang Nam vấn Vương lăo, nhất hồ nghi liễu, nhất hồ nghi” (hoa sen, cánh sen báo ông biết.
Vươn lên mặt nước khác ẩn tàng. Giang Bắc,
Giang Nam hỏi cụ Vương. Hết một nghi ngờ, lại tiếp nghi).
11) Hỏi: Trong phần
Tạng Thừa Phần Nhiếp (thuộc về Tạng
nào, Thừa nào, Phần nào) [trong Sớ Sao] nói chỉ có hai tạng: Một
là Thanh Văn Tạng, hai là Bồ Tát Tạng, c̣n Duyên Giác
th́ được gộp vào trong Thanh Văn Tạng, sao nay
thầy lại bảo ngài A Nan thọ tŕ Duyên Giác Tạng?
Đáp: Thuyết hai tạng
là do các vị Hiền Thủ và Thanh Lương dựa theo Nhiếp Luận
và Trang Nghiêm Luận lập ra. Hơn nữa, gộp chung Duyên
Giác và Thanh Văn làm một tạng, lấy riêng Bồ Tát
làm một tạng, đó là lệ chung của việc tách
ra hay gộp vào, có ǵ là chẳng thể được? Ví
như ba anh em, hai người ở chung một nhà, một
người ở riêng một nhà, cũng có ǵ là chẳng thể?
Nhưng ông cho rằng đă chia làm hai nhà, chẳng thể gọi
là ba anh em ư? Người anh thứ hai ở nhờ nhà
người em út, chẳng có nghĩa là không có người
anh thứ hai! Duyên Giác được thâu nhiếp vào tạng
Thanh Văn, không có nghĩa là chẳng có Duyên Giác! Lúc gộp
vào, lúc tách ra, cố nhiên là song hành mà chẳng hề trái nghịch
vậy!
12) Hỏi: Sách Kim Cang Sớ
viết: “Xá Vệ c̣n gọi là Xá Bà Đề, đấy
là dùng tên người để đặt tên đất.
Xưa kia có hai anh em tên là Xá Bà Đề, nên [gọi nơi
này] là Xá Bà Đề”. Nay sao thầy lại nói “v́ có
nhiều người hiền”?
Đáp: Lời Sớ ấy
nói đến hai anh em đắc quả
tiên. Người trong cơi đời hễ anh em cùng đỗ
đạt th́ gọi là “nhà có nhiều tài năng”. Nay
hai anh em cùng chứng quả tiên th́ gọi là “nước
có nhiều người hiền” cũng chẳng thể
được ư?
13) Hỏi: Đoạn
trước dùng nghĩa “không có nơi nương cậy,
không có người che chở” để giải thích chữ
Cô Độc; [vậy th́] những điều dẫn chứng
cũng phải nên giống như thế đó. Sách Luận
Ngữ nói: “Quân tử châu cấp bất kế phú”
(quân tử châu cấp cho kẻ nghèo túng, chẳng giúp cho
người giàu được giàu thêm), đây chỉ là
không có tiền của, sao lại bảo là “không có nơi
nương cậy”?
Đáp: Ông cứ nhất
định cho rằng “chẳng có tiền tài, bần cùng”
th́ mới gọi là Cấp (急, gấp gáp) ư? Hễ
nói Cô Độc, đă bao hàm ư nghĩa “bần cùng”. Nói “bần
cùng” đă bao hàm ư nghĩa “cô độc”. Ư nghĩa của
câu “ḷng từ không ǵ chẳng trọn khắp” trong lời
Sao đă hết sức rơ ràng, sao ông cứ chấp trước,
câu nệ hai chữ Cô Độc khiến cho v́ từ ngữ
mà hại ư nghĩa? Giả sử một người không
có cha, nhưng hết sức giàu có, chẳng lẽ ông Tu
Đạt cũng châu cấp cho kẻ đó ư? Giả
sử một người có con, nhưng nghèo mạt, ông Tu
Đạt bèn v́ người đó chẳng cô độc mà
không châu cấp ư? Nay các Dưỡng Tế Viện, thế
tục gọi là Cô Lăo Viện, há có phải họ (những
người được nuôi trong đó) đều là những
người không cha, không con, nhưng nhiều tiền của
ư? Hơn nữa Quan, Quả, Cô, Độc có bốn hạng
người, chẳng lẽ Tu Đạt quyết chẳng
châu cấp cho ông chồng góa hoặc vợ góa ư? C̣n
như Khổng Tử chỉ giúp đỡ kẻ không có tiền,
c̣n hạng cô độc thảy đều bỏ mặc
ư? Lại nữa, hai chữ Hỗ Thị (怙恃, nương cậy) là từ ngữ trong phần
Tự thuộc Huyền Nghĩa, chẳng liên quan đến
ư nghĩa này, chẳng thể viện dẫn được!
14) Hỏi: Vị
Tăng đă mất, nhưng giữ vẹn giới luật,
được thấy Phật trước. Đấy chỉ
là tâm thấy, chẳng phải là thấy tâm, v́ sắc thân
của Phật đối ứng với cái thức của
vị đó. Nếu dẫn chuyện Hoa Sắc (tỳ-kheo-ni
Liên Hoa Sắc) thấy sắc thân của Phật, Tu Bồ
Đề thấy Pháp Thân của Phật th́ đấy mới
là Thấy Tâm, có ǵ là chẳng được?
Đáp: Phật pháp chính
là Phật tâm. Vị Tăng này thà chết mà giữ giới,
chứ chẳng phá giới để được sống.
Đấy chính là đă đắc Phật tâm. Do vậy,
kinh Phạm Vơng coi Giới là tâm địa của ngàn vị
Phật. Người đắc Phật tâm th́ gọi là “thấy
Phật”. Hơn nữa, nói là “tâm thấy” là dùng cái tâm nào
để thấy Phật vậy? Nếu là vọng tâm, vọng
thuộc hư ngụy, chẳng thể thấy Phật! Nếu
là chân tâm, thật sự chẳng có đến đi, thật
sự chẳng có sanh diệt. Chẳng đến, chẳng
đi, chẳng sanh, chẳng diệt, đó chính là Pháp Thân của
Phật, sao chẳng thể gọi là “thấy tâm”? Ông lại
bảo “v́ sắc thân của Phật đối ứng với
với thức của vị đó”, càng chẳng suông!
Chắc là ông cho rằng vị ấy đă mất rồi,
thức của vị ấy nhanh chóng, nhanh hơn người
đang đi (vị tăng không giữ giới, c̣n sống,
đang đi đến chỗ đức Phật), đến
chỗ đức Phật trước để thấy
thân kim sắc của Ngài ư? Vậy th́ có khác ǵ người
chết thấy vua Diêm La, há đáng chấp nhận ư?
Do đó, ngài Tu Bồ Đề thấy Phật và vị
tăng này thấy Phật, thảy đều là thấy Pháp
Thân của Phật, sao chẳng được gọi là
“thấy tâm”?
15) Hỏi: Thân quang của
ngài Ca Diếp che lấp các ánh sáng khác, khiến cho chúng chẳng
hiện, nên được gọi là Ẩm Quang (uống
ánh sáng), sao thầy lại nói là Sắc? Nếu nuốt các
sắc khác th́ phải gọi là Ẩm Sắc! Huống chi
sắc pháp chẳng thể nuốt được! Đem
Sắc so với Quang, sẽ càng rơ rệt hơn!
Đáp: Do có Sắc nên mới
có Quang. Nếu không có thân kim sắc, quang minh do đâu mà có?
Sắc chẳng thể nuốt, vậy th́ riêng ḿnh quang minh
có thể nuốt được ư? Chữ Nuốt mang
ư nghĩa biểu đạt sát sao chữ Ẩm. Đă biết
đó là ư nghĩa “che lấp” rồi! Che lấp các sắc
khác khiến cho quang minh chẳng hiện th́ gọi là Ẩm
mà thôi! Há có phải là thật sự nuốt vào bụng của
Ngài ư? Do căn bệnh câu nệ mà chấp trước
đến nỗi như thế ấy!
16) Hỏi: Dưới
mục Câu Hy La, đáng ra phải nói nhân duyên nhập đạo
của vị ấy trước rồi mới luận
định Ngài là bậc Đáp Vấn Đệ Nhất. Nếu
không làm như vậy, có vẻ như vị này là bậc
đáp vấn đệ nhất ở trong pháp ngoại
đạo!
Đáp: Câu “diêu tinh cần
cố” (do siêng ṛng vậy) trong lời Sao chính là nói tới
nhân duyên nhập đạo; dùng hai chữ Tinh Cần (siêng ṛng) để thâu nhiếp đại
lược nhiều thứ nhân duyên. Ông lại nói “khủng
lạm ngoại đạo luận nghị” (sợ xen tạp
những lời luận định của ngoại đạo),
chẳng biết ngoại đạo có đủ bốn thứ
biện tài hay không? Huống hồ ở đây chuyên chú trọng
nêu tỏ, hoằng dương Niệm Phật, cho nên
lược thuật với đại chúng trong hội mà
thôi, chẳng phải là hiện thời đang viết truyện
kư về hành trạng của ngài Câu Hy La!
17) Trong mục La Hầu
La, hăy nên nói vị ấy là con của đức Phật rồi
sau đấy mới giải thích th́ ư nghĩa mới có chỗ
quy về. Nếu chẳng nói rơ, phần văn nghĩa tiếp
đó đều thành không có căn cứ, cũng như
[khiến cho người đọc] mê mất, chẳng biết vị này từ
đâu mà ra!
Đáp: Ông hăy thử xem
các câu “Phật vị sở chướng, bất tức
xuất gia” (Phật bị ngăn chướng, chẳng
thể xuất gia ngay) và câu “chỉ phúc” (chỉ vào bụng)
v.v… [rồi suy luận xem] vị ấy là con đức Phật,
hay cháu gọi đức Phật bằng chú, hay là cháu nội
của đức Phật? Thế mà ông c̣n mê muội chẳng
biết Ngài từ đâu ra nữa!
18) Hỏi: Khoa đầu
của phần Chánh Tông nhằm giảng rộng y báo và
chánh báo. Đấy chính là cảnh để sanh tín, phát nguyện,
khởi hạnh. Nay sao thầy lại nói chỉ là cảnh
để sanh ḷng tin?
Đáp: Nhập đạo
dùng Tín làm chánh yếu. Trong kinh có nói “nhược hữu
tín giả” (nếu có người tin), lại nói “nan
tín chi pháp” (pháp khó tin). Trong Tín đă bao hàm Hạnh và Nguyện,
v́ “Tín là nguồn đạo, mẹ công đức”.
19) Hỏi: Ở đây,
hăy nên nói “Tu-ma-đề được phương này dịch
là Cực Lạc”; sau đấy mới ghép thêm các tên
khác vào. V́ sao thầy chẳng nói Cực Lạc của kinh
này, chỉ nói các tên gọi khác?
Đáp: Nếu kinh
văn nói “hữu thế giới danh Tu-ma-đề”
th́ mới phải nói: “Tu-ma-đề, phương này dịch
là Cực Lạc”. Nay kinh văn lại nói “hữu thế
giới danh Cực Lạc” th́ phải nói “Cực Lạc,
tiếng Phạn là Tu-ma-đề”. Đó là pháp tắc
chẳng thay đổi. Huống chi trong những đoạn
sau đó, sau khi đă nêu ra các tên gọi khác như An Lạc,
An Dưỡng v.v… xong, đă dùng ngay Cực Lạc để
tổng kết. Trước sau chiếu ứng, cũng đă
hết sức rơ rồi!
20) Hỏi: Trong các
nơi, tông Thiên Thai nêu ra bốn cơi Tịnh Độ, thảy
đều coi cơi Phàm Thánh Đồng Cư là cơi thứ nhất,
cho đến cơi Thường Tịch Quang là cơi thứ
tư. Nay v́ sao thầy lại lấy cơi Thường Tịch
Quang làm cơi thứ nhất?
Đáp: Đi từ kém
cỏi tới thù thắng, Đồng Cư là thứ nhất.
Từ thù thắng xuống thấp kém, Tịch Quang là thứ
nhất. Ví như người làm quan, trước tiên từ
cửu phẩm mà tiến lên nhất phẩm. C̣n xếp
theo thứ tự tước vị th́ trước hết
là nhất phẩm rồi đến cửu phẩm, đều
được cả! Có lúc nói là huynh đệ, có lúc nói là
đệ huynh, đều được cả. Nay chẳng
giảng sách Tứ Giáo Nghi[19], chẳng cần
phải phí lời vào chỗ vô ích!
21) Hỏi: Kinh nói: “Vô
hữu chúng khổ, đản thọ chư lạc” (Không
có các nỗi khổ, chỉ hưởng những điều
vui). Khổ và vui có nhiều loại; đáng nên dùng bốn
cơi Tịnh Độ để giản trạch như sách
Diệu Tông Sao đă nói. Nay nếu nói thẳng là “không có
nỗi khổ v́ hai thứ sanh tử, nên gọi là Cực
Lạc” th́ chỉ xét theo Tịch Quang, đánh mất ba
cơi dưới. V́ chỉ có cơi Tịch Quang Tịnh Độ
mới ĺa hai thứ tử. Trong chín phẩm văng sanh, chỉ
có thượng thượng phẩm mới ĺa một phần
Biến Dịch Sanh Tử, chứ thượng trung và thượng
hạ chỉ mới ĺa được Phần Đoạn
Sanh Tử. C̣n lại sáu phẩm dưới đó, hai thứ
sanh tử vẫn c̣n nguyên vẹn, chẳng lẽ hai thứ
sanh tử c̣n nguyên th́ chẳng gọi là Cực Lạc hay
sao? Do vậy, cần phải giải thích cặn kẽ th́
mới tránh được khuyết điểm này!
Đáp: Nhiều loại
khổ vui, cao thấp khác nhau, tự khắc được
giải thích trong phần Sao ở phía sau. Từ cơi Đồng
Cư cho đến cơi Tịch Quang, bốn loại hiển
thị rơ ràng, sao lại bảo là không giải thích chi tiết?
Đoạn văn này là nhằm giải thích rơ tổng quát
ư nghĩa “chẳng có khổ”, cho nên sau khi đă liệt kê
chi tiết các thứ khổ, liền dùng hai thứ khổ
(Phần Đoạn và Biến Dịch) để kết lại
lời ca ngợi. Nói “hoa sen hóa sanh” tức là ĺa Phần
Đoạn; nói “một đời
bất thoái” tức là rốt ráo ĺa Biến Dịch vậy.
C̣n như ông nói sáu phẩm trung hạ “hai thứ sanh tử
vẫn c̣n nguyên vẹn”, dùng một chữ “nguyên” th́ một
chữ Tử hết sức chẳng gánh vác nổi! Biến
Dịch th́ có thể nói vẫn c̣n, chứ Phần Đoạn
sao có thể là c̣n nguyên cho được! Nói đại
lược, có ba ư:
- Một, Phần Đoạn
Sanh Tử là do có thân vật chất ngăn ngại, cho nên
mới có sanh tử. Kinh Đại Bổn nói: “Sanh bỉ
quốc giả, giai thanh hư chi thân” (người sanh về
cơi kia, đều là thân thanh hư). Như vậy th́ há có Phần
Đoạn Sanh Tử ư?
- Hai, chỉ nghe “sanh
trong hoa sen”, chưa hề nghe “chết trong hoa sen”. Do vậy,
kinh này nói: “Cập kỳ nhân dân, thọ mạng vô lượng”
(và nhân dân của Ngài thọ mạng vô lượng). Kinh Đại
Bổn nói: “Nhược ngă thành Phật, quốc trung hữu
t́nh, thọ hữu tề hạn giả, bất thủ Chánh
Giác” (nếu tôi thành Phật, hữu t́nh trong nước
tuổi thọ có hạn định, sẽ chẳng giữ
lấy Chánh Giác). Trí Giả đại sư nói: “Người
sanh về nước kia liền thọ bao kiếp dài lâu, ngang
bằng với Phật và Bồ Tát”; há có Phần Đoạn
Tử ư?
- Ba, đă chết ắt
có sanh, chưa từng nghe trong cơi kia có người chết
ở bông hoa này rồi lại sanh trong bông hoa khác. Đại
sư Trí Giả nói: “Chỉ cần sanh về nước
kia liền đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, chưa từng có
một ai thoái chuyển, rơi vào tam giới bị
trói buộc trong nghiệp sanh tử nữa!” Sao lại
có Phần Đoạn Tử cho được?
Do ĺa nỗi khổ sanh
tử, nên nguyện cầu sanh. Nếu sanh tử ở bên
đó cũng giống như ở Sa Bà, cầu sanh [về
Cực Lạc] có ích ǵ? Từ Vân Sám Chủ nói: “Nước
kia không có sanh tử”. Cư sĩ Vô Vi nói: “Thân ở
nước kia chẳng phải là phần đoạn”. Nếu
hai vị ấy chưa đủ để tin tưởng
th́ Trí Giả đại sư vẫn chưa đáng tin hay
sao? Nếu cứ dựa theo chuyện chế phục Hoặc
hay đoạn Hoặc rồi bảo người chưa
đoạn Hoặc phải có Phần Đoạn Tử, tu hành trong cơi này th́ đúng là
như thế; nhưng ông há chẳng nghe Tịnh Độ
là “đới Hoặc văng sanh”, cho nên mới thù thắng
dị thường đó sao? Nếu Cực Lạc mà
cũng giống như các thế giới khác, cớ sao ngài
Trí Giả nói: “Thời Phật Thích Ca, có rất nhiều
chúng sanh thấy Phật mà chẳng đắc thánh quả.
Khi ngài Di Lặc xuất thế cũng lại như vậy”,
nhưng Ngài lại đặc biệt ca ngợi một
ḿnh cơi Cực Lạc! Huống chi quả báo trong Cực Lạc
là chẳng thể nghĩ bàn, xin chớ câu nệ bởi
danh tướng!
22) Hỏi: Cổ nhân
dùng câu “Hạ nhưng phi tuyết, Đông tích kiên
băng” (mùa Hè tuyết vẫn bay, mùa Đông tích băng
dày) để giải thích cho ư nghĩa Thanh Lương
Sơn. Có người bắt bẻ rằng: “Nếu vậy,
phải gọi là núi Thanh Lănh”. Do đó biết Lương
và Lănh phải nên phân biệt!
Đáp: Do mùa Hè tuyết
vẫn bay, mùa Đông tích băng dày, bèn [bắt bẻ] “chẳng
thể gọi là Thanh Lương”; đó là nói vớ vẩn!
Núi Ngũ Đài mùa Hè có tuyết, mùa Đông có băng, cho
đến nay vẫn cứ như vậy, mà xưa nay
nơi đó được gọi là “chỗ cư trụ
của muôn vị Bồ Tát”, sao chẳng có một vị
Bồ Tát đứng ra sửa sai, đổi thành Thanh Lănh Sơn vậy? Chính v́ nơi đó
chưa từng có sự nóng bức của mùa Hè, nên mới gọi là Thanh
Lương, tức là Lương và Lănh dùng lẫn cho nhau!
Ông lại nói “chẳng lạnh chẳng nóng th́ gọi là
Thanh Lương”, đâu có biết chẳng lạnh, chẳng
nóng gọi là Ḥa. Xuân ấm, Hạ nóng, nói chung thuộc về
Dương, Thu mát, Đông lạnh,
đều thuộc vào Âm, cho nên có thể dùng lẫn nhau,
sao cứ so đo vụn vặt vô ích nơi hai chữ
Lương và Lănh, cũng là mê lầm lắm thay! Hơn nữa,
sách Pháp Số giải thích hai chữ Thanh Lănh trong bản dịch
đời Đường cũng nói là “thanh oánh
lương lănh” (trong suốt mát lạnh).
23) Hỏi: Hai chữ “thanh
lương” và “nhuận trạch” chẳng thể
dùng các nghĩa như “Kiếp hỏa chẳng thể
nung nóng, khô cạn” v.v… để giải thích được.
V́ sao vậy? Vạn pháp do duyên, biến hóa khôn lường.
Chân Như tánh chẳng sanh diệt mà c̣n tự tùy duyên. Tịnh
Độ dù nói là duy tâm, nhưng lẽ nào lại chẳng
chuyển biến? Nếu chẳng chuyển biến, đó
là vật chất chết cứng, có ǵ đáng gọi là Diệu?
Do vậy, kinh nói: “Dục lănh tắc lănh, dục noăn tắc
noăn, dục măn, dục thiển, giai tùy nhân ư” ([nước]
muốn lạnh liền lạnh, muốn ấm liền ấm,
muốn đầy, muốn vơi, đều tùy theo ư
người). Do vậy biết chẳng cần phải
dùng [các ư nghĩa] “chẳng nóng, chẳng cạn” để
giải thích “thanh lănh” và “nhuận trạch”.
Đáp: Nếu chỉ
nói thông thường là “trong lạnh, nhuận trạch” th́
nước nào cũng đều là như thế, sao riêng
[nước] của Tây Phương được gọi
là công đức cho được? Nếu ông cứ nhất
định cho rằng “không biến đổi là vật chất
chết cứng”, đức Phật nói “kiếp hỏa
sở thiêu thời, ngă thử độ an ổn” (khi kiếp
hỏa thiêu đốt, cơi ta đây an ổn) th́ cũng có
thể nói là vật chất chết cứng ư? Phỏng
theo đó mà suy, dầu sôi chẳng thể làm nát tay của
Huệ công, ông cũng cho đó là cái tay vật chất chết
cứng ư? Lửa hừng chẳng thể cháy kinh của
ngài Ma Đằng, cũng gọi là bộ kinh vật chất
chết cứng ư? Chưa hết đâu! Quỷ mẫu
dốc hết sức lực của người nhà, vẫn
chẳng thể nhấc nổi cái bát của Như Lai, ngoại
đạo tụng ngàn bài chú chẳng thể làm bay chéo áo của
Thiền sư Thần Trù, ngài Văn Thù dùng hết thần
lực cũng chẳng khiến cho cô gái xuất Định[20]. Mặt trời
có thể làm cho lạnh, mặt trăng có thể làm cho
nóng, nhưng chẳng thể thay đổi giáo pháp Tứ
Đế. Ông cho rằng do đắp cái y vật chất
ngăn ngại chết cứng, bưng cái bát vật chất
ngăn ngại chết cứng, nhập Định vật
chất ngăn ngại chết cứng, nói pháp vật chất
ngăn ngại chết cứng ư?
“Kiếp hỏa hừng
hực mảy lông chưa tan, núi xanh như cũ phủ bạch
vân”, cơi
này c̣n chẳng tăng giảm, đổi dời chừng
mảy lông, mà bảo Tịnh Độ há chẳng chuyển
biến có được hay không? Vô Lượng Thọ Kinh
Luận viết: “Vượt hơn đạo tam giới,
rốt ráo như hư không”. Hư không c̣n có thể chuyển
biến hay chăng? Các nạn nước, lửa, gió của
đại tam tai đều chẳng thể làm lay động
được cơi đất kia, cho nên nói là “vượt
hơn tam giới”. Ông lại dẫn phần kinh văn “ao
báu tùy ư” để chứng minh sự chuyển biến,
lại càng chẳng thể! Ao báu là niềm vui do tự tâm
thọ dụng, kiếp hỏa là nỗi khổ do ngoại
nạn xâm bức. Nếu ngoại nạn có thể xâm phạm,
đó là do cảnh, chẳng do tâm! Sao có thể gọi là “tùy
ư chuyển biến” được! Nếu đúng như
ông nói, ao báu ắt phải có lúc khô cạn, đất vàng ắt
phải có lúc nóng chảy, hàng cây ắt phải có lúc găy
đổ, tàn tạ, lầu các ắt phải có lúc sụp
hư, sau đấy mới được gọi là cơi mầu
nhiệm ư? Trong phần trước, ông vừa nói hai thứ
sanh tử c̣n nguyên, nay nói kiếp hỏa có thể đốt,
vậy th́ Cực Lạc hóa thành uế độ rồi,
há có lẽ ấy hay chăng?
24) Hỏi: Năm
phương thuộc về Ngũ Hành là lư số thế
gian của cơi Chấn Đán này. Đối với Tây Vực
c̣n chưa thông trọn hết, huống hồ Cực Lạc
ở ngoài vạn ức cơi ư? Nếu Cực Lạc ở
phía Tây của Sa Bà mà thuộc về Canh Tân Kim, vậy th́ từ
đây đi về phía Tây cho đến bất khả thuyết
bất khả thuyết cơi Phật, thảy đều ở
phía Tây của Sa Bà, thảy đều thuộc về Canh
Tân Kim, thảy đều mưa hoa trắng ư? Lẽ
nào lại như vậy? Nếu phương Tây thuộc hành
Kim mà mưa hoa trắng th́ Sa Bà ở phía Đông của Cực
Lạc, thuộc về Giáp Ất Mộc, phải thường
mưa hoa xanh chứ? Cớ sao khi đức Phật nói
kinh Pháp Hoa, trời lại mưa đủ thứ hoa lớn, nhỏ, đỏ, trắng? Huống chi hoa sen Cực Lạc
nở đủ bốn sắc, lại c̣n có thứ màu sắc
xen kẽ v.v… Do vậy biết: Chớ nên dùng Ngũ Hành
để phán định cơi Phật kia!
Đáp: Lời Sao
trước đó đă trần thuật nhiều loại
hoa trời nhiều màu, chánh ư đă trọn vẹn rồi.
Sau đấy mới nêu ra những ư khác, cho nên mới
đặt hai chữ “diệc khả” (cũng có thể),
ngụ ư phương Tây cũng có thể thuộc hành Kim nhằm
biểu thị bạch nghiệp. Đấy là lấy sắc
hoa trắng trong số các sắc hoa xen kẽ mà thôi, có bao
giờ nói cơi kia chỉ rặt một sắc hoa trắng
ư? Đă phân biệt rơ ràng như thế, cần ǵ cứ
phải dẫn sen nở bốn sắc để làm chứng?
Hơn nữa, chánh kinh
chỉ nêu hoa trắng để bao gồm các màu khác, cho nên
hơi biểu lộ cơ nghi thần diệu khuyên bảo, hướng dẫn hay
khéo của đức Thế Tôn. Chuyện này có thể nói
với người hiểu biết, chưa dễ đàm
luận với kẻ câu nệ! Ngài Táo Bách dùng Bát Quái để
phán định phương hướng, thế giới cũng
chẳng ít, chưa thể nghị luận Ngài nói như thế
là sai! Nếu bảo từ Sa Bà đi về phía Tây có thế
giới nhiều vô lượng, chẳng thể đều
gọi là phương Tây. Ư ông cho rằng nh́n từ Đông
th́ thành Tây, nh́n từ Tây th́ thành Đông, đâu biết kinh
Hoa Nghiêm dùng phương Đông để biểu thị Bất
Động Trí. Ngài Văn Thù từ vô lượng cơi ở
phương Đông đến, những cơi ấy đều
tên là Bất Động. Đă coi phương Đông là Bất
Động, nh́n từ Sa Bà th́ thành Đông, nh́n từ ngoài
thế giới ấy lại thành Tây, sao vẫn tên là Bất
Động?
Thiện Tài đi về
phương Nam, coi phương Nam là chánh vị, ư nghĩa
cũng lại như thế. Ôi! Nếu đă nhập Hoa Tạng
huyền môn, trọn hết các thế giới đều
có thể gọi là Tây, trọn hết các hoa trời đều
có thể gọi là sắc trắng. Ngay khi là chánh Tây, chẳng
ngại năm phương cùng hiển hiện. Ngay khi là chánh
bạch, chẳng ngại năm sắc rực rỡ. Phương
khác, sắc khác liền ḥa nhập, dung thông cũng lại
như thế đó.
25) Hỏi: “Tự quy
y Phật, đương nguyện chúng sanh”. Câu này do coi
người khác là đối ứng với ḿnh, nên xưng
là Tự. Tự là năng quy (người quy y), Phật là
sở quy (đấng để ta nương theo mà quy y).
Tại sao thầy lại dùng ư nghĩa “quy y tự tánh Phật”
để giải thích? Thiền Tông vốn có lời này,
nhưng e rằng khó thể áp dụng vào Giáo Thừa. Về
lư luận th́ được, chứ theo sự tướng
chẳng suông!
Đáp: Nơi đấy
là chỗ nào để đến mà nói là năng, nói sở?
Ông lại bảo Thiền Tông khó thể áp dụng cho Giáo,
hăy thấp giọng nhé! Ông không chỉ mê mờ Thiền, mà
cũng mê mờ đối với Giáo đấy!
V́ sao bảo là mê mờ
đối với Thiền? Chỗ không có Phật th́ chẳng
thể trụ, chỗ có Phật th́ phải mau qua đó. Thử
mua giày cỏ hành cước ba mươi năm, ôm khư
khư một cái “năng quy” rồi rảo bước trọn khắp chân trời góc
biển để t́m cái “sở quy” đi! Như thế
nào là Phật? Chính ông là Phật vậy! Ông đă là Phật,
tức là sở quy, vậy th́ năng quy rốt cuộc ở
chỗ nào?
Thế nào là mê muội
đối với Giáo? Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Niệm niệm
tự tâm, thường hữu Phật thành Chánh Giác” (trong
mỗi niệm, tự tâm thường có Phật thành Chánh
Giác). Kinh Pháp Hoa dạy: “Tự tri đương tác Phật”
(tự biết chính ḿnh sẽ thành Phật). Kinh Viên Giác dạy:
“Thỉ tri chúng sanh bổn lai thành Phật” (Mới biết
chúng sanh vốn sẵn thành Phật). Trong Tứ Hoằng Thệ
Nguyện lại có câu: “Tự tánh Phật đạo thệ
nguyện thành”, ông há chưa từng đọc qua hay sao?
Hơn nữa, đă
chia thành Lư luận và Sự luận, tại sao ông chẳng
thấy đây chính là câu tiếp theo hai chữ Xứng Lư?
Thế mà lại c̣n lại [cho rằng] “về Lư th́
được, chứ Sự th́ không được!” Phán
định Thiền và Giáo thành hai đường, tách biệt
Sự và Lư thành hai vật. Buồn thay!
26) Hỏi: Kinh chép: “Chuyển
Luân Thánh Vương bách thiên chủng nhạc bất như
Đao Lợi Thiên nhất âm chi mỹ, năi chí Tha Hóa Thiên bách
thiên chủng nhạc, bất như Cực Lạc thụ
trung nhất âm chi mỹ” (Trăm ngàn loại nhạc của
Chuyển Luân Thánh Vương chẳng bằng cái hay của
một âm thanh trong cơi trời Đao Lợi. Cho tới
trăm ngàn loại nhạc của cơi trời Tha Hóa chẳng
hay đẹp bằng một âm thanh của hàng cây nơi Cực
Lạc). Ở đấy dùng cái nhiều làm “năng huống” (cái có thể
so sánh), lấy cái ít làm “sở huống”
(cái bị so sánh), chính là dùng nhiều để so với ít; sao thầy lại nói “dùng ít
để so nhiều”? Nếu nói “một âm thanh của Cực
Lạc hơn hẳn trăm ngàn thứ nhạc của Tha
Hóa”, đấy mới là lấy ít so nhiều vậy!
Đáp: Lời Sớ
nói “dĩ thiểu huống đa” (đem ít so với
nhiều) nhằm giải thích kinh này (kinh A Di Đà). Kinh này
trước tiên nói về âm thanh do gió thổi qua hàng cây của
Cực Lạc, sau đó mới nói đến trăm ngàn thứ
nhạc; đấy chính là đem ít so nhiều! Trong lời
Sao lại dẫn kinh Đại Bổn th́ kinh ấy
trước hết nói về trời người, sau đấy
mới nói đến Cực Lạc. Đấy mới là
dùng nhiều so ít, sao ông không xét kỹ? Tuy vậy, dùng ít so
nhiều, hay dùng nhiều so ít, dùng trời so đất, hay
đem đất so trời, [khác nào so đo] sáng - tối, ba - bốn! Hăy ngừng
tranh luận đi!
27) Khởi Tín Sớ
chép: “Bất Thoái có ba loại. Loại đầu tiên là
sơ tâm trong Thập Tín, chưa từng đoạn Hoặc,
chưa phải là địa vị Bất Thoái; nhưng nhờ
sanh vào nước kia, chẳng có duyên thoái chuyển; cho nên
gọi là Bất Thoái. Hai loại sau mới thật sự
là người thuộc địa vị đoạn Hoặc
bất thoái”. Điều này có ư nghĩa giống như
chín phẩm do ngài Thiên Thai phán định. V́ thế biết
người sanh vào cơi kia tuy đều gọi là A Bệ Bạt
Trí, nhưng loại thứ nhất th́ nhiều. Nếu
đạt tới Vô Sanh, trong vạn người chỉ
được một, hai người! Sao thầy lại
bộp chộp nói là “đốn siêu”, vượt xa
các bậc Bất Thoái trong Tứ Giáo? Hoằng dương,
tán thán ca ngợi Đại Thừa theo lẽ phải nên
như vậy, nhưng đề cao hoặc chèn ép thái quá, sợ
sẽ đâm ra nẩy sanh tranh chấp!
Đáp: Đối với
ba loại Bất Thoái của Khởi Tín Luận, trong phần
Sao đă tự nêu ra, ông chẳng cần phải viện dẫn
lại! Nay nói chung về Bất Thoái để tán thán công
đức thù thắng của môn Niệm Phật. Hơn nữa,
Tứ Giáo đều nói phải tu tới một chỗ
nào đó (tới một mức độ nào đó) th́ mới
đắc Bất Thoái. Tức là khi chưa đạt tới
đó, ắt có duyên gây thoái chuyển. Kinh này nói thẳng là
Bất Thoái, nghĩa là chỉ cần sanh về nước
kia, rốt ráo sẽ chứng Vô Sanh; do đó mới khác biệt
so với các giáo khác. Há có nên bảo [đề cao cơi Cực
Lạc] là dè bỉu các giáo khác chẳng tốt đẹp
ư? Chính v́ đức Thế Tôn bi tâm hết sức thiết
tha, dẫu đă nói các giáo, vẫn
sợ [căn cơ của chúng sanh] lợi hoặc độn
khác nhau, có thể rơi vào duyên thoái chuyển. Nay dùng một
pháp này để thâu tóm, sẽ chẳng có ai c̣n bị thoái
chuyển nữa. Đấy là giúp đỡ các giáo mau thành
tựu sự cứu tế rộng lớn, chẳng phải
là tranh đua thua thắng giữa các giáo! Đáng gọi là “ḥa
hợp”, v́ sao ông lại nói ngược ngạo là “dấy lên tranh chấp?” Huống hồ trong phần
nói về Bát Địa trước đó, ông có nói Vô Sanh cực
dễ. Nay trong phần nói về A Bệ Bạt Trí, ông lại
nói “chứng Vô Sanh cực
khó”! Tại sao đoạn
trước th́ ngạo nghễ, đoạn sau lại cung
kính, bỗng nâng lên rồi đột ngột hạ thấp,
há chẳng phải tranh đua ư?
28) Hỏi: Tu-đà-hoàn
c̣n bảy lần sanh, đó là Phần Đoạn sanh tử.
Nhất Sanh Bổ Xứ chỉ c̣n một phần Vô Minh, tức
là một lần Biến Dịch sanh tử. Do đó, trong
Viên Giáo, từ Sơ Địa cho tới địa vị
Diệu Giác có tổng cộng mười một lần sanh,
đều dựa theo Biến Dịch để luận.
V́ vậy, Pháp Hoa có nói “tăng đạo tổn sanh” (trí
huệ nơi đạo dần dần tăng tấn, Biến
Dịch sanh tử dần dần giảm thiểu). Do
vậy biết hai thứ sanh tử chẳng thể coi
như cá mè một lứa! Sao có thể đem Tu-đà-hoàn sánh
ngang bậc Bổ Xứ? Người sanh về Tây
Phương đạt đến bậc Bổ Xứ là
việc cực kỳ khó. Người văng sanh thuộc hạ
phẩm cho đến khi thành A La Hán c̣n phải trải qua
nhiều kiếp, huống hồ là bảy lần sanh ư? Nhưng địa
vị Tu-đà-hoàn thuộc vào trung phẩm, đại
sư ḷng từ quá nhiệt thành, ca ngợi kinh th́
được rồi, nhưng hăy nên [ca ngợi] khoan thai
khiến cho kẻ khác chẳng lường được!
Đáp: Trong lời Sao
đă dẫn các bậc thánh nhân Tam Quả, Tứ Quả
c̣n cách Phật khá xa, chính là so sánh để tán thán Nhất
Sanh Bổ Xứ khó đạt tới, trọn chẳng phải
là coi Tu-đà-hoàn ngang hàng với Bổ Xứ. Lời ông
nói chẳng có chút nào ăn nhập ǵ với
lời Sao cả! Nay sự bài bác, bắt bẻ này ngược
lại đă khiến cho cái nghĩa của tôi được
thành tựu, lạ thay! Huống hồ giải thích kinh cốt
sao khiến cho người khác dễ biết, cần ǵ phải
khiến cho người ta chẳng lường được!
19.1.2. Phần vấn
đáp nối tiếp
Có những câu đáng
nên hỏi, nhưng phần thắc mắc trên đây chẳng
nhắc tới, tôi tự đặt ra những câu hỏi
giả thiết như sau:
1) Hỏi: Kinh Đại
Bổn và kinh này có cùng một Thể, nay tôi đă nghe lời
dạy rồi, nhưng ba việc trong kinh Đại Bổn,
tợ hồ kinh này chẳng có:
- Một, bốn
mươi tám đại nguyện lúc c̣n tu nhân.
- Hai, sau khi phát nguyện,
rộng tu các hạnh.
- Ba, năm mươi
ba đức Phật trong các kiếp quá khứ.
Kinh này đă không nói
đến [những chuyện ấy], sao gọi là một
Thể?
Đáp: Chỉ giải
thích bằng một câu “A Di Đà Phật thành Phật
dĩ lai” (từ khi A Di Đà Phật thành Phật đến
nay) trong kinh th́ ba nghĩa trên đây đều được
bao gồm chẳng sót. Một, nói “thành Phật”, ắt có
cái nhân để thành. Đại nguyện là nhân, ở ngay
trong đó. Hai, nói “thành Phật”, ắt có cái duyên để
giúp thành. Các hạnh là duyên đă ở sẵn trong đó rồi.
Ba, nói “thành Phật tới nay”, ắt có cội nguồn từ
đâu mà đến. Phật Phật nối tiếp nhau
đă ở sẵn trong ấy rồi. Một câu gồm trọn
ba nghĩa, cho nên bảo “càng là trọng yếu, nhiệm
mầu”. Hơn nữa, tŕ danh cũng có đủ ba
nghĩa. Danh hiệu vạn đức của Phật Di
Đà, không một nguyện nào chẳng bao trùm, không một
hạnh nào chẳng trọn đủ, không một đức
Phật nào là chẳng quán triệt.
2) Hỏi: Kinh này đă
chú trọng tŕ danh, chỉ nên dùng tŕ danh để chứng
Viên, sao lại c̣n kiêm cả y báo và chánh báo?
Đáp: Chú trọng tŕ
danh là nói tới công phu giản ước. Muốn cho hành
nhân tŕ ít mà đắc nhiều, chứ không có nghĩa là
kinh chỉ nói về tŕ danh, chẳng c̣n nghĩa nào khác. V́ vậy,
kinh này lấy tự tánh làm Thể, lấy “y báo và chánh
báo thanh tịnh, tín nguyện văng sanh” làm Tông. Dùng nhiều
nghĩa để chứng minh cho nghĩa Viên, chẳng có
ǵ đáng nghi!
3) Hỏi: Ngài Văn Thù
khi giản trạch phép Niệm Phật của ngài Thế
Chí, có nói: “Chư hành thị vô thường, niệm tánh
nguyên sanh diệt, nhân quả kim thù cảm, vân hà hoạch
Viên Thông?” (Các hành là vô thường, tánh niệm vốn
sanh diệt. Nhân quả cảm ứng khác, sao nói đắc
viên thông?). Nay lại dạy người ta niệm Phật
là do lẽ nào?
Đáp: Trong phần trần
thuật Huyền Nghĩa đă nói “niệm mà vô niệm”.
Trong phần Lục Phương đă nêu rơ sự thích hợp
căn cơ rộng lớn. Từ đó, đă thấy
được đại ư, nhưng vẫn c̣n chưa trọn
hết, nay tôi bàn luận thêm. Kinh Lăng Nghiêm nói nhân và quả
ắt phải phù hợp. Niệm Phật là dùng sanh diệt
vô thường làm nhân để cầu cái quả chân
thường chẳng sanh diệt; do vậy, gọi là “thù
cảm” (cảm vời khác biệt). Nhưng tùy theo mỗi
lúc mà ca ngợi th́ mỗi môn đều khác. Gạn bỏ
hết thảy, riêng hiển lộ Nhĩ Căn. Chứ
nói đúng sự thật, pháp nào cũng đều Viên. Niệm
Phật và Nhĩ Căn có sai biệt ǵ? Bởi lẽ,
thường chẳng ra ngoài vô thường. Tánh chẳng
sanh diệt ở ngay trong sanh diệt. V́ thế, Bồ Tát
tuy biết “các hành vô thường”, nhưng chẳng
phế bỏ hạnh môn! Dù biết “niệm thuộc sanh diệt”, nhưng chẳng quên nhiếp
niệm. Hiểu rơ nghĩa này, sẽ biết bậc thượng
trí niệm Phật, từ ngay nơi hữu niệm chính là
vô niệm. Bậc trung hạ niệm Phật, do hữu niệm
mà nhập vô niệm, có ǵ là cảm vời khác biệt?
4) Hỏi: Kẻ làm ác
chưa hề nguyện sanh vào ác đạo, vậy mà tự
nhiên đọa lạc. Làm lành cũng thế. Người
niệm Phật chỉ cần Tín và Hạnh là đủ rồi,
cần Nguyện để làm ǵ?
Đáp: Làm lành như lên
núi, làm ác như núi lở. Lên cao th́ khó, sụp xuống th́ dễ.
Do dễ, nên chẳng nguyện vẫn đạt được.
Do khó, nên không có nguyện sẽ chẳng thành. Hơn nữa,
đức Bổn Sư trang nghiêm cơi tịnh, thật sự
chỉ do bốn mươi tám nguyện. Ngài Phổ Hiền
dẫn đường quy hướng Cực Lạc, cũng
dùng mười đại nguyện vương. Do vậy,
trong kinh, câu “nguyện sanh về nước kia” cứ
lặp đi lặp lại không ngừng, há phải là nói
suông ư?
5) Hỏi: Chư vị
tổ sư các đời đều do tham Thiền mà
đắc ngộ, niệm Phật cũng có ngộ hay
chăng?
Đáp: Thử hỏi
cái ngộ của người ấy là đă ngộ điều
ǵ vậy? Há chẳng phải là phá sanh tử Hoặc, đạt
được bản tâm của chính ḿnh, rành rành giống
như tỉnh giấc mộng lớn đó sao? Nếu
hướng về chỗ “ai là người đang niệm
Phật?” mà nh́n thấu suốt, sự tham học trong
suốt một đời đă xong. Lúc đó mà nói văng sanh
th́ đă là một gă lóng ngóng chậm chạp rồi! Tuy
nhiên, hễ sanh về cơi kia, liền đắc bất
thoái Bồ Đề, rốt cuộc sẽ là đại
ngộ, c̣n hỏi tham Thiền và niệm Phật là đồng
hay dị chi nữa?
6) Hỏi: V́ sao nói công
đức của Văng Sanh Chú chẳng bằng tŕ danh? Cứ
b́nh đẳng ca ngợi cả hai, lẽ nào chẳng
được? Sao cứ phải đề cao bên này, hạ
thấp bên kia?
Đáp: Điều này
có hai nghĩa:
- Một, so sánh công
đức để luận định, công đức niệm
Phật được sáu phương chư Phật tán
thán, Văng Sanh Chú không có phần kinh văn ấy. V́ thế,
Niệm Phật tam-muội trong Hoa Nghiêm được gọi
là Vô Biên Hải Tạng, chính là công đức chẳng thể
nghĩ bàn.
- Hai, tùy thuộc vào thời
nghi, chứ không có pháp nhất định! Có lúc tùy thuộc
cơ nghi mà tŕ danh là bậc nhất; có khi tùy thuộc
cơ nghi mà tŕ chú là bậc nhất. Nay đang chú trọng
tŕ danh, chứ chẳng phải là đề cao hay hạ thấp!
V́ hễ đổi chỗ th́ đều là như thế cả!
7) Hỏi: Ngài Thiên
Như nói: “Tham thiền và niệm Phật, tuy môn hộ
chẳng tranh chấp nhiều, nhưng chẳng chấp nhận
hành kèm lẫn nhau”. Nay thầy lại dạy
phương pháp thể cứu niệm Phật, há chẳng
phải là kèm thêm đó ư?
Đáp: Từ Sớ Sao
đă thấy được đại ư rồi, nay tôi nói
tường tận hơn để dứt sạch mối
nghi. Nói “chẳng chấp thuận kèm theo” là do người
niệm Phật tự sanh nghi niệm Phật khác hẳn
đường lối tham Thiền, cho nên t́m Thiền ngoài
niệm Phật! Người tham Thiền tự sanh nghi,
cho rằng khác với chỗ quy túc của niệm Phật,
cho nên t́m Phật ngoài Thiền. [V́ thế], tâm chia thành hai ngả,
nghiệp chẳng chuyên ṛng; do vậy, chẳng chấp thuận.
Nay người niệm Phật, thể cứu ngay nơi
cái niệm ấy, chưa từng làm ǵ khác, chỉ từ
ngay nơi nắm đấm mà t́m hiểu bàn tay, từ ngay
nơi sóng mà t́m hiểu nước. Đó là Một, chẳng
phải Hai; sao gọi là Kiêm cho được? Dẫu gọi
là Kiêm, th́ Kiêm như thế chẳng phải là Kiêm như
cơi đời thường nói, dẫu Kiêm cũng chẳng
ngại ǵ! Ngài Thế Chí dùng tâm niệm Phật để
nhập Vô Sanh Nhẫn, đấy là Phật kiêm Thiền. Ngài
Phổ Hiền dùng cảnh giới giải thoát chẳng thể
nghĩ bàn để văng sanh An Lạc; đấy là Thiền kiêm Phật
vậy. Bởi đó, ngài Vĩnh Minh nói: “Có Thiền, có Tịnh
Độ, như hổ được thêm sừng”.
Ngài Viên Chiếu vốn bẩm thọ tông chỉ đơn
truyền của Thiền Tông, vẫn ngầm tu Tịnh
Độ. Đó đều là những bậc Kiêm mà không
hai, dẫu Một mà thường Kiêm, c̣n ngờ chi nữa?
8) Hỏi: Trong phần
giải thích câu “trú dạ lục thời” (ngày đêm
sáu thời), trong phần trước, thầy nói “cơi kia
vốn không có mặt trời, mặt trăng, chỉ
lấy lúc hoa sen nở, chim hót làm ban ngày; coi khi hoa sen búp,
chim đậu làm ban đêm”. Nay [chánh kinh] lại nói “trú dạ lục
thời, xuất ḥa nhă âm” (ngày đêm sáu thời, hót ra âm
thanh ḥa nhă), tức là [chim chóc] chẳng có lúc nào đậu
lại nghỉ ngơi, tợ hồ mâu thuẫn với lời
giải thích trước đó?
Đáp: Đối với
câu “điểu thê” (chim đậu) nói trong kinh Đại
Bổn, chữ Thê (棲) có nghĩa là “dừng
lại”. “Dừng lại” là không bay, chẳng phải là
không hót! Trong bụi trúc trước cửa sổ pḥng tôi,
bầy sẻ chiều về đậu lại. Đúng
canh giờ là chúng cùng hót, chẳng sai nhịp. Đó chính là
vừa đậu vừa hót; huống hồ chim trong cơi kia
do thần lực của Phật biến hóa. Hót ra tiếng
để thuyết pháp, sao có thể nghĩ bàn được!
9) Hỏi: Lời Sớ
viết: “Kinh Hoa Nghiêm là viên cực, kinh này là phần viên. Kinh toàn viên nhiếp trọn
kinh này, kinh này nhiếp một phần kinh kia”. Nhưng viên vốn chẳng
có toàn hay phần. Trong Toàn có Phần th́ Viên chính là có từng
đoạn. Nếu trong Phần chẳng phải là Toàn, tức
là Viên chẳng trọn khắp! Như trăng trong nước,
mỗi tấc nước toàn là trăng. Như gió lùa qua
cây, mỗi phiến lá đều là gió. Phần và Toàn trái
nghịch nhau, nghĩa Viên chẳng thành lập được!
Đáp: Ông chỉ biết
một, chưa biết hai. [Điều ông] “biết” là “chẳng có Toàn, chẳng có Phần th́ mới
được gọi là Viên”. Điều ông chẳng biết là “có thể Toàn, có thể
Phần”. Chính v́ vậy mới là Viên. Nếu nói “trong Toàn có
Phần, Viên chính là có từng đoạn”, nhưng trăng
in bóng trên ngàn sông, [tức là] một vầng trăng chia
thành ngàn vần trăng. Gió thổi vào vạn hang hốc, một
ngọn gió chia thành vạn ngọn gió. Đó là trong Toàn có Phần
vậy. Nhưng thật ra chẳng có ngàn, chẳng có vạn,
lo chi Viên có từng đoạn? Nếu bảo “Phần chẳng phải là Toàn
th́ Viên chẳng bao khắp”, thế nhưng vầng trăng lọt qua
khe cửa, chỉ là một vệt sáng nhỏ mà thôi; ngọn
gió thổi qua ống bễ
[ḷ rèn], chỉ
là một vốc gió mà thôi! Đó chính là cái Phần chẳng phải
là cái Toàn vậy! Nhưng toàn thể của nó chính
là vầng trăng ấy, là ngọn gió ấy, việc ǵ phải
lo cái Viên không bao khắp? Chân Như có thể chứng từng
phần, vô minh có thể đoạn từng phần, tức
là Toàn mà Phần, ngay nơi Phần chính là Toàn, há có ngăn ngại ǵ? Do vậy,
kinh Hoa Nghiêm được gọi là Đại Bất Khả
Tư Nghị, kinh Duy Ma được gọi là Tiểu Bất
Khả Tư Nghị; đấy chính là ư nghĩa “kinh này
nhiếp trọn kinh kia, kinh kia nhiếp một phần kinh
này” vậy. Đă là bất khả tư ngh́, cho nên chẳng
Toàn, chẳng Phần, mà lại có thể Toàn, có thể Phần.
Đấy mới chính là lư do v́ sao giáo pháp viên cực, sao có thể
dùng t́nh thức tầm thường để ḍ lường
được ư?
Hơn nữa, sách Mạnh
Tử chép: “Khổng Tử, thánh chi thời giả dă”
(Khổng Tử là bậc thánh nhân khéo ứng thuận thời
thế nhất). “Thời” chính là Viên của đạo
Nho vậy, mà Tử Hạ, Tử Du, Tử Trương, mỗi
người đều có một phần Thể của
thánh nhân. Nhiễm Ngưu, Mẫn Tử, Nhan Uyên th́ có trọn
cái Thể, nhưng nhỏ bé hơn. Nếu đúng là “trong
Toàn có Phần th́ Viên sẽ có từng đoạn”, chưa hề nghe nói “do mỗi môn đệ đạt được
một phần nơi cái Viên của Khổng Tử, [cái
Viên ấy] bèn bị cắt xẻ thành từng đoạn!” Nếu là “Phần chẳng phải
là Toàn, Viên sẽ chẳng trọn khắp”,
chưa hề nghe nói “do một phần Thể
chẳng phải là toàn Thể, cái Viên của Khổng tử
hạn cuộc, hẹp ḥi, chẳng trọn khắp”. Nếu bảo “Viên tự thuộc
cái Viên trọn vẹn Thể, tuy trọn đủ cái Thể nhưng nhỏ bé”, Vi (nhỏ bé) do đối lập
với Cự (to lớn) mà thành ra danh xưng, Cự và Vi
chính là nói tới Toàn và Phần vậy. Lớn và Nhỏ chính
là cách gọi khác của Toàn và Phần. Thế nên, cái Viên
kia nhiếp thâu trọn vẹn kinh này, kinh này phần nào nhiếp
thâu cái Viên kia! Do vậy, ngài Khuê Phong khẳng
định kinh Viên Giác là lời luận định tột
cùng muôn đời chẳng thể đổi được! So
theo đó để suy ra, Khổng Tử nhiếp trọn
các vị hiền nhân, các hiền nhân nhiếp phần nào Khổng
Tử cũng giống như thế đó, há c̣n ngờ
chi?
10) Hỏi: Trong phần
Năng Thuyên Thể Tánh (luận định về thể
tánh của người nói kinh này), đối với bốn
câu của Tùy Thức Môn, chưa nói “phi bổn, phi ảnh”
(chẳng phải căn bản, chẳng phải h́nh bóng). “Phi
bổn, phi ảnh” là Đốn. Đốn th́ tám thức
đều là Không, nhưng lại xếp vào Tùy Thức Môn
là v́ lẽ nào?
Đáp: Ngài Khuê Phong vốn
dựa vào mười cái Thể do ngài Thanh Lương trần thuật mà đúc kết thành
bốn. Do tôi thấy thuyết ấy giản ước mà
rơ ràng nên đă dùng toàn bộ. Thanh Lương Sớ chép: “Dùng
nghĩa Đốn giáo của các kinh như Lăng Già v.v… th́ dù tám thức rỗng không, vẫn
nói là Duy Thức”. Sách c̣n viết: “Bốn câu
về ‘bổn, ảnh’, ở trong một thánh giáo viên dung
vô ngại th́ mới gọi là đạo lư Duy Thức rốt
ráo rất sâu vậy”. Ư nghĩa ấy sâu xa, huyền diệu,
hăy suy nghĩ sẽ có thể thấy!
11) Hỏi: Trong ba bậc
văng sanh của kinh Đại Bổn, đối với
Thượng Bối có nói “xả gia ly tục, nhi tác
sa-môn” (bỏ nhà, ĺa cơi tục để làm sa-môn),
như vậy th́ kẻ tại gia chẳng mong chi đạt
được Thượng Bối ư?
Đáp: Đức Phật
v́ chúng sanh thuyết pháp, tùy thời, tùy cơ, vốn chẳng
có pháp nhất định. Chỉ là một pháp mà thôi, nhưng
có khi chỗ này lập, chỗ kia phá, có khi chỗ này xem nhẹ,
mà chỗ kia th́ coi trọng. Quán Kinh v́ vương hậu
thuyết pháp, chỉ xét theo sự tu tập thù thắng hay
kém cỏi để luận định phẩm vị. Kinh
Đại Bổn v́ hết thảy [mọi người]
mà nói, cho nên bao gồm trọn khắp Tăng và tục.
Nhưng Tăng được xếp vào Tam Bảo, trong
pháp thế gian th́ kẻ tục hăy nên nhường Tăng.
Nếu luận định cùng tột theo Lư, chỉ cần
phá trừ chướng ngại
phiền năo, chính là “bỏ nhà, ĺa tục”, cố nhiên
chẳng cần bận tâm có tóc hay không, [chẳng bận
tâm] kẻ đó là tăng hay tục!
12) Hỏi: Đối với
chim Cộng Mạng, trong Sớ Sao viết “nay vẽ
đắp h́nh đầu người là sai”, nhưng
trong sách Sơn Hải Kinh[21] nói khá nhiều
loại chim có đầu người, tại sao thầy lại
cho việc đó (chim Cộng Mạng có đầu người)
là sai?
Đáp: Tôi chẳng nói “không
có loài chim đầu người!” Nhưng nếu [chim Cộng
Mạng] thật sự có đầu người, các kinh
như Pháp Hoa đă có chú thích rơ ràng rồi! [Các kinh] chỉ nói “hai đầu”,
chẳng nói “hai đầu người”, há nên tự bịa
đặt ư? Huống hồ Sơn Hải Kinh chưa từng
nhắc đến danh xưng “chim Cộng Mạng”. Đối
với những loài chim đầu người nói trong sách ấy,
như loại chim đầu người, có một chân, tên là Đố
Phỉ (蠹𩇯). Chim đầu
người mà có hai chân th́ gọi là Phù Khê (鳧溪). Chim đầu người
mà có bốn mắt th́ gọi là Ngung Ngung (顒顒). Những loài đó
đều một đầu, chẳng phải là hai đầu!
Có loại ba đầu gọi là Cù Như (瞿如), nhưng đều là
đầu chim chẳng phải đầu người. Cù
Như ba đầu, Cộng Mạng hai đầu, từa
tựa na ná mà thôi! Tự nhiên là phải theo kiểu Cù
Như mà nói là đầu chim, há có nên có lấy h́nh tượng
của thợ vẽ, thợ đắp tạo ra làm chuẩn
mực ư?
19.1.3. Vấn đáp
19.1.3.1. Trả lời
ông Ngu Đức Viên
(Những lời biện luận
trước đây với ông ta, nay tạm gác lại chẳng
bàn. Nay biện luận thêm)
Những lời biện
luận trước kia nhằm chiết phục sự cuồng
ngu, c̣n biện định hiện thời là b́nh tâm tĩnh
khí để bàn bạc xác quyết với bậc hiền
trí, xin đừng coi là nhất loạt như nhau. Tôi biết
cư sĩ tột bậc yêu mến tôi, ắt muốn khắc
bản này thành một bộ toàn thư. Nay tôi biện luận
cũng giống như ḷng yêu mến của cư sĩ
đối với tôi. Chỉ mong thấu hiểu rơ ràng th́
may lắm thay!
* Chim Cộng Mạng:
Chữ “phi dă” (là sai) đă sửa thành “khủng phi
dă” (sợ là sai vậy); nhưng chẳng thể không biện
luận rơ ràng. Cộng Mạng chẳng phải chỉ
riêng Cực Lạc [mới có]; ở Tuyết Sơn và
Ngũ Thiên Trúc đều có [loài chim này]. Kinh Pháp Hoa và các
kinh điển nhiều lần dùng loài chim này làm thí dụ.
Các vị chú thích chỉ nói là “hai đầu”, và sách Phiên Dịch
Danh Nghĩa cũng đều viết như vậy,
chưa từng có một ai nói “thân người”! Ngay như
bức vẽ do Kê Đầu Ma truyền lại, tuy chẳng
c̣n nữa, cũng chưa nghe kinh, truyện nào chép vị
Ngũ Thông Bồ Tát (Kê Đầu Ma) nói [loài chim này] có thân
người! Há nên lấy tác phẩm của các người
thợ đắp, thợ vẽ làm chuẩn mực ư?
Do vậy, trong lời biện luận trước đó,
tôi có nói: “Có kinh, luận chép rơ th́ mới được!”
Hơn nữa, Cực Lạc
phẳng như ḷng bàn tay, chẳng có núi non. Nay vẽ vời,
tô đắp cảnh Tây Phương, lại vẽ thành
h́nh núi non, há đáng tin ư? Người hiện thời
đối với chú sớ của bậc hiền thánh thời
cổ luôn t́m bắt lỗi sai, c̣n đối với những
thứ do thợ làm ra th́ ngược ngạo dẫm theo lối
ṃn, chẳng dám thốt một lời biện định
cho đúng, thế là thế nào? Lại có kẻ bảo thân
rắn cũng được gọi là Đế [như
Phục Hy, Nữ Oa].
Đă là thân rắn mà c̣n gọi là Đế, chẳng gọi
là rắn; nay
thân người mà lại ngược ngạo chẳng gọi
là người, mà gọi là chim ư? Do đó, trước
kia tôi biện luận: “Đă là thân người, chẳng
được gọi là Chim!” Ngu ư cho rằng: “Thân rắn”
[của các bậc thánh hoàng thuở trước] chỉ là do
da họ rằn ri như da rắn mà thôi, chẳng phải
là rắn thật. Nếu là rắn thật, họ dùng cái
thân nằm ngang để xưng Đế ư? Nghiễm
nhiên là một con rắn, sao có thể thống ngự thần
dân? Không chân, không tay, vặn vẹo như một cái sào tre, đứng bằng
cách nào? Ngồi như thế nào? Do đâu mà chỉ huy động
tác để thực hiện chánh sự?
Ngay như Thần Nông
đầu trâu, cũng là có h́nh dạng từa tựa trâu,
giống như kiểu Bái Công (Lưu Bang) “mặt rồng”,
Ban Siêu “đầu hổ”. Nếu thật sự hai sừng
chỉ lên trời, hai tai phe phẩy gió, lông lá tua tủa
như kim, mỏ dài ngoằng ngoẵng, sẽ là “đầu
trâu, mặt ngựa”, là bầy tôi của vua Diêm La
như cơi đời thường nói. Người khác [trông
thấy] sẽ chạy trốn c̣n chẳng kịp! V́ thế,
người xưa mới nói Ngoại Kỷ chẳng thể
tin trọn hết được. Đối với chuyện
Cộng Công dùng đầu húc sập núi Bất Châu,
Vương Sung biện định rằng: “Bất Châu
đă gọi là trụ trời, sức Cộng Công có thể
húc găy [Bất Châu], sao chẳng đánh thắng?” Lời
luận định ấy chẳng hùa theo thuyết cũ,
thống khoái muôn đời! Nay chim Cộng Mạng sợ
rằng cũng tương tự như thế!
* Bạch Hạc: Theo
sách Chánh Ḥa Đồ Kinh: “Hạc có các loại đen,
vàng, xám, và trắng, hạc trắng tốt lành nhất”.
Sách Mục Thiên Tử Truyện ghi: “Thiên tử đến
đất nước của hai họ Cự và Sưu. Hai
họ ấy dâng máu chim bạch hạc cho thiên tử uống”.
Nếu chỉ là loài bạch hạc tầm thường,
người nuôi rất nhiều, việc ǵ phải đem
dâng lên bậc Chí Tôn? Đă gọi là đồ hiến dâng,
ắt phải là vật trân quư dị thường, hiếm
có trong thế gian. Chỉ cần có một tí lông đen,
đă chẳng phải là bạch hạc chân thật rồi.
Nếu là bạch hạc thật sự, lông vũ, lông
tơ phải thuần một sắc trắng muốt. Thuở
kẻ chẳng ra ǵ này c̣n bé, có nghe một vị lăo nhân thông
hiểu rộng răi thời cổ đă nói điều này. Ông Cao Thụy
Nam cũng từng nghe nói qua, có thể làm chứng. Ông lại
dẫn các loài ngỗng, c̣ cũng có màu trắng; nhưng các
loài đó vốn chẳng được coi màu trắng là
quư, chẳng thể dùng để so sánh tương tự
được! Như hạc trắng, các loài vẹt trắng,
rùa trắng, hươu trắng, thỏ trắng, voi trắng,
đều lấy màu trắng làm quư, cực kỳ hiếm
có trong cơi đời. Sắc trắng thuần của chim hạc
chính là thuộc vào loại này, mong hăy xét kỹ!
* “Tai chưa từng
nghe, mắt chưa từng thấy”: Kinh dạy: “Thượng
vô ác đạo chi danh” (c̣n không có cái tên đường
ác), nghĩa là tai chẳng
nghe cái tên ấy, bất quá nhằm nói tột bậc “chắc
chắn không có ác đạo” mà thôi! Nếu nói “cũng ắt
bàn đến ác đạo, ắt sẽ có kẻ nghe [những
danh xưng ấy”, tức là trong cơi ấy, mắt thật
sự thấy hạc, chim sẻ, há chỉ là tai nghe ư?
Dựa theo [lư luận bắt bẻ của ông] th́ phải
nên sửa kinh văn thành “thượng hữu ác đạo
chi thật, hà huống hữu danh!” (c̣n có ác đạo
thật sự, huống hồ có tên [ác đạo] ư?) Lời
biện luận trước đó là do ông chê trách cách hành
văn theo lối nói đảo ngược, chẳng hiểu
ư nghĩa đến mức như thế đó!
Cư sĩ có tài
năng trác tuyệt, học vấn uyên bác, trong xứ Chấn
Đán chẳng có mấy ai sánh kịp. Nay cư sĩ
đang là người được Thiền môn, được hai nhà Nho và Thích mong mỏi
giương cao ngọn cờ đỏ để họ
noi theo ḥng chuyển dời, chớ nên đâm ra bị mê hoặc
v́ câu nệ danh tướng. Hăy nên dùng lập luận rộng
lớn để chiết phục kiến giải nhỏ
hẹp, dùng ư chỉ viên thông để đập tan kiến
giải hẹp ḥi, khô khan, khiến cho chánh pháp được
sáng ngời trong cơi đời ḥng báo ơn Phật. Đấy
chính là chuyện thuộc phận sự [của chính ông].
Sao lại đóng chặt môn Bất Nhị của thành Tỳ
Da, so đo chuyện Đông, chuyện Tây nơi lối ṃn
quanh co, dẹp ṭa sư tử của Đăng
Vương, tranh thước tấc nơi cái giường
dây? Đó chẳng phải là điều mong mỏi của
hậu thân ngài Kim Túc[22]! Như kẻ
chẳng ra ǵ này, chẳng mong mỏi ngôi vị pháp sư,
chẳng hâm mộ danh xưng thiện tri thức, chẳng
tham cầu tứ chúng quy ngưỡng, dẫu bị khắp
thiên hạ báng bổ, thậm chí [những ǵ tôi viết
lách] bị đem [làm giấy] bịt ṿ, để đốt thay củi, cũng
đành như thế mà thôi!
20. Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh Cảm Ứng
Lược Kư - 大方廣佛華嚴經感應略記
(Ghi chép tóm tắt về
những sự cảm ứng của kinh Hoa Nghiêm)
Sa môn Châu Hoằng chùa
Vân Thê, đất Cổ Hàng, đời Minh sưu tập
1. Song đồng hiện
thụy (hai đứa trẻ hiện điềm
lành)
Đời Tấn, ngài Phật
Độ Bạt Đà La (Buddhabhadra) lần đầu dịch
kinh tại chùa Đạo Tràng. Mỗi ngày từ cái ao
trước điện đường, thường có
hai đồng tử áo xanh từ trong ao ra, dâng cúng
hương, hoa, toàn thể đại chúng đều thấy.
Do kinh này được cất giữ lâu ngày tại cung rồng,
long vương vui mừng v́ kinh được truyền
bá, nên sai người đến hầu hạ.
2. Thiên địa tŕnh tường (trời đất hiện
điềm lành)
Đời Đường,
ngài Thật Xoa Nan Đà (Siksananda) dịch lại[23] kinh Hoa
Nghiêm từ ngày Mười Bốn tháng Ba năm Chứng
Thánh nguyên niên (695), tức năm Tân Dậu. Trước
đó một ngày, tức ngày Canh Thân, thiên hậu (Vũ Tắc
Thiên) mộng thấy khắp trời tuôn mưa cam lộ.
Ngày hôm sau, tức ngày Nhâm Tuất, trời lại tuôn
mưa ngọt. Khi bản dịch kinh mới hoàn tất,
vua sắc truyền ḥa thượng Pháp Tạng Hiền Thủ
khai giảng. Tới ngày Mười Hai tháng Chạp, khi Sư giảng đến câu “Hoa Tạng
thế giới hải chấn động”, trong giảng
đường và tự viện bỗng dưng chấn
động, lúc đó, tăng tục mấy ngàn người
đều cùng thấy, than thở là chưa từng có!
3. Địa chấn quang
lưu (đất chấn động, tỏa ánh
sáng)
Sách
Tây Vực Kư chép Thế Thân Bồ Tát thoạt đầu tu
theo Tiểu Thừa, anh Ngài là Vô Trước lấy cớ
bị bệnh để gọi Thế Thân về, ḥng khai
thị về Đại giáo. Ngài Vô Trước bảo: “Trước
khi ta chết, em hăy đọc những kinh điển mà ta
thường học tập”. Thế Thân vừa đọc
đến kinh Hoa Nghiêm, liền thấy rơ pháp giới Tỳ
Lô và biển hạnh của Phổ Hiền. Do sanh ḷng tin
kính và giải ngộ, Ngài tự trách: “Ta muốn lấy
gươm bén cắt đứt lưỡi ḿnh để
chuộc lỗi xưa nay từng tán dương Tiểu Thừa”.
Anh Ngài ngăn lại: “Như người do đất
mà ngă th́ cũng do đất mà đứng dậy. Xưa
kia, em dùng lưỡi hủy báng Đại Thừa, nay hăy
dùng lưỡi để tán dương Đại Thừa!”
Thế Thân bèn vào núi, xem đọc Đại
Thừa, viết Thập Địa Luận. Ngày luận viết
xong, đại địa đều chấn động,
hào quang chiếu sáng rực rỡ.
4. Cảm thông huyền ngộ (cảm thông thấu suốt
lư huyền vi)
Trong niên hiệu Thái Ḥa
thời Bắc Tề, vương tử thứ ba lên núi
Thanh Lương cầu thấy Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, tự đốt
thân cúng dường. Quan tùy tùng là Thị Trung[24] Lưu Khiêm
Chi thấy chuyện đốt thân, bèn tâu xin vào núi tu đạo.
Ông mang theo kinh này (kinh Hoa Nghiêm), ngày đêm siêng ṛng lễ
sám, đọc tụng, tâm cầu diệu ngộ. Ông tuyệt
thực, chỉ uống nước trọn hai mươi
mốt ngày, thân h́nh, khí lực hơi suy yếu, nhưng
ḷng son thành khẩn càng thêm mạnh mẽ. Bỗng dưng cảm
ứng râu tóc đều mọc lại, khôi phục tướng
trượng phu, thần thái thông ngộ, hiểu rỗng
rang ư chỉ u huyền, viết ra bộ luận gồm sáu
trăm quyển cho kinh này.
Đời Hậu Ngụy, Linh Biện
vốn đă có thiện căn thù thắng thuở trước,
gặp được kinh Hoa Nghiêm, riêng dốc sức dùi
mài, ngưỡng mộ, đầu đội kinh này vào núi
Thanh Lương, cầu đức Văn Thù ngầm gia hộ.
Suốt một năm trời, chân rách, máu tuôn, gầy
trơ cả xương, bỗng nghe trên hư không có tiếng
nói: “Ông hăy thôi đi! Chỉ nên tư duy kinh này”. Do vậy,
Ngài mở kinh xem, hoát nhiên đại ngộ, viết Hoa
Nghiêm Diễn Nghĩa Thích Văn gồm một trăm quyển.
5. Kinh huy ngũ thái (kinh tỏa ánh sáng
năm màu)
Đời Hậu Ngụy,
An Phong Vương Diên Minh và Trung Sơn Vương Nguyên Hy
cùng hướng tâm về đạo vô thượng, kính lễ
Viên Tông (Hoa Nghiêm Tông). Hai ông từng dùng hương ḥa với
mực để chép một trăm bộ kinh Hoa Nghiêm, một
bộ chép bằng chữ vàng, đều dùng năm loại hương làm
tạng, dùng bảy
báu làm hộp đựng. Vào đêm thanh, ngày lành, họ tŕ
trai thanh tịnh tu hành. Ngay lập tức, kinh tỏa ra thần quang, năm sắc rạng ngời, chiếu sáng ngời
đ́nh đài, điện vũ.
6. Thần nhân cảnh vệ (thần nhân canh gác, thủ
vệ)
Vị tăng tên Đức
Viên thường dùng kinh Hoa Nghiêm để tu tập. Ngài tạo
một cảnh vườn thanh tịnh, trồng các cây dó
(để làm giấy) và các loại cỏ thơm, xen lẫn
hoa tươi. Mỗi khi vào vườn, Sư đều tắm
gội sạch sẽ, mặc áo thanh tịnh, tưới
cây bằng nước thơm. Cây dó trồng được
ba năm, mùi thơm lan khắp bốn phía. Sư dùng giấy
ấy (giấy làm bằng bột cây dó) để chép kinh.
Vừa viết được mấy hàng, mỗi chữ
đều phóng quang chiếu sáng điện đường
trong viện. Có thần nhân cầm kích, hiện thân canh gác,
bảo vệ. Lại có đồng tử (bé trai) người
Ấn mặc áo xanh, tay cầm hoa trời bỗng xuất
hiện cúng dường.
7. Thiên nữ cấp thị (thiên nữ hầu hạ)
Đời Đường,
Lư Trưởng Giả, húy Thông Huyền, thoạt đầu
tới Thái Nguyên, ở nhờ nhà một người nông nô
trên núi cao, mỗi sáng chỉ ăn mười quả táo và
một chiếc bánh bằng bột lá bách. Sau đó, ông rời
đi, trên đường gặp một con hổ phủ
phục trên đường như đang chờ đợi.
Trưởng giả nói: “Ta sắp soạn luận giải
thích kinh Hoa Nghiêm, ngươi nên chọn một nơi ở
cho ta”. Hổ cơng trưởng
giả và đăy, bát đi hơn ba mươi
dặm. Tới một cái hang bằng đất, nó ngồi chồm chỗm tại
đó. Trưởng giả vào hang, hang vốn chẳng có
nước. Ngay đêm đó, sấm gió quật ngă một cây tùng già. Từ dưới
gốc tùng, tuôn ra một con suối trong vắt, ngọt
ngào. Khi trưởng giả soạn luận, có hai người
con gái dung nhan tuyệt thế tới gánh nước, thắp
hương, cung cấp giấy mực. Cứ vào khoảng
giờ Măo, giờ Th́n, họ liền sửa soạn thức
ăn thanh tịnh, chẳng biết họ từ đâu tới
và đi về đâu. Khi luận soạn sắp xong, họ
cũng liền biến mất tăm tích.
8. Đông quỳ phát diễm (hoa quỳ nở rộ
giữa mùa Đông)
Đời Đường,
Đặng Nguyên Sảng người xứ Hoa Âm, trong niên
hiệu Chứng Thánh, có người thân đột ngột
qua đời. Bảy ngày sau, người ấy sống lại,
nói “dưới âm phủ muốn bắt Nguyên Sảng”. Nguyên
Sảng sợ hăi, có người dạy chép kinh Hoa Nghiêm.
Sau khi Nguyên Sảng chép xong, bên cạnh mộ mẹ của
Nguyên Sảng trước đó có trồng hoa Thục Quỳ
(common hollyhock), tới mùa Đông, đă
héo tàn, nay bỗng trổ hoa rực rỡ, tươi tốt.
Dân trong làng đều lấy làm lạ, chuyện thấu
đến triều đ́nh, ông Đặng được
ban cờ tuyên dương “gia môn hiếu thảo”.
9. Thụy điểu hàm
hoa (chim
quư ngậm hoa)
Vị tăng Pháp Thành ẩn
cư ở Lam Cốc. Sau đó, Sư xây điện Hoa
Nghiêm ở Lănh Nam, vẽ h́nh tượng “thất xứ
cửu hội” (bảy nơi, chín hội của kinh Hoa
Nghiêm) để chuyên ṛng cúng dường. Về sau, Sư
cảm vời chim tốt lành h́nh sắc lạ thường,
ngậm hoa bay vào trong nhà, chao lượn ṿng quanh để
cúng dường.
10. Thần nhân diên thỉnh (thần nhân vời thỉnh)
Đời Tùy, vị
tăng Huệ Ngộ thuộc đạo tràng Thiền
Định, người xứ Kinh Triệu, cùng một vị
tăng khác ẩn tu tại Chung Nam. Sư Huệ Ngộ thọ
tŕ kinh Hoa Nghiêm, vị tăng kia thọ tŕ kinh Niết Bàn.
Họ ăn vỏ cây, ở trong hang đá, ai nấy chuyên
tu hạnh nghiệp của chính ḿnh. Bỗng có người
tới thỉnh họ về nhà người ấy thọ
trai. Hai vị tăng nhường nhau, người kia nói: “Chỉ
thỉnh pháp sư Hoa Nghiêm”. Do vậy, Huệ Ngộ bèn
đi theo, hóa ra là sơn thần [cung thỉnh]. Ông ta thỉnh
một ngàn vị La Hán [dự trai tăng], họ đều
nhường cho Huệ Ngộ ngồi ngôi thượng tọa.
Thọ trai xong, sắp rời đi, sơn thần gọi
một một đứa bé đến hầu, nó bèn chui vào
trong miệng Sư. Sư bèn thành tiên, bèn trở về lấy
kinh, từ biệt người bạn, thong dong bước
lên hư không biến mất.
11. Phổ Hiền thọ
nghĩa (Phổ Hiền truyền trao nghĩa lư)
Vị tăng tên Biện
Tài, chẳng biết người xứ nào. Từ bé, Sư
thờ Dụ pháp sư làm thầy, lấy Hoa Nghiêm làm nghiệp
tu tập chánh yếu, nhưng lâu ngày vẫn chẳng ngộ.
Sư bèn tạo riêng một chốn thanh tịnh, chế hộp
thơm đựng kinh, đội lên đầu đi kinh
hành suốt ba năm trời. Sư mộng thấy Phổ
Hiền Bồ Tát chỉ dạy huyền nghĩa, bỗng
dưng thuộc ḷng, [tâm trí] sáng ngời như nh́n vào
gương.
12. Khẩu hoạch xá-lợi
(được
xá lợi nơi miệng)
Đời Đường,
Phan Huyền Trí người xứ An Định thuở bé
quy y ḥa thượng Đỗ Thuận, được
ngài Đỗ Thuận dạy chuyên tụng niệm kinh Hoa
Nghiêm, nương theo kinh ấy tu hạnh Phổ Hiền. Mỗi
lần tụng kinh, trong miệng Sư nhiều lần có
xá-lợi, trước sau vài trăm hạt.
13. Bồ Tát dũng hiện (Bồ Tát từ dưới
đất hiện lên)
Đời Đường,
vị tăng là Huệ Hựu ở chùa Sùng Phước,
giới hạnh tinh nghiêm, siêng khổ, thờ Nghiễm ḥa
thượng (Trí Nghiễm, tổ
thứ hai của tông Hoa Nghiêm) làm thầy, chuyên tu Hoa Nghiêm.
Vào những lúc b́nh minh hay đêm thanh, Sư thắp
hương, thành kính tụng phẩm Như Lai Xuất Hiện.
Bỗng dưng Sư thấy mười mấy vị Bồ
Tát từ dưới đất vọt lên, hiện thân sắc vàng ṛng, đều
phóng quang minh, ngồi trên ṭa hoa sen, chắp tay nghe tụng
kinh. Khi tụng xong, các Ngài liền ẩn mất.
14. Tu La thoái trận (A Tu La lui quân)
Sa-di Bát Nhă Di Già Bạc ở
nước Vu Điền, kiên tŕ giữ giới, chuyên tụng
Hoa Nghiêm. Bỗng có người chắp tay bảo Sư: “Chư thiên muốn thỉnh thầy, xin
thầy nhắm mắt lại”. Trong chớp mắt, Sư
đă đến cơi trời. Chủ cơi trời quỳ gối,
thỉnh cầu: “Nay đang chiến đấu với quân
A Tu La, nhiều lượt bại trận. Kính xin pháp
sư tụng kinh Hoa Nghiêm để mong được pháp
lực gia bị”. Sư ngồi trên xe trời, tâm niệm
kinh Hoa Nghiêm, dẫn dắt thiên chúng đối đầu
với cường địch. Quân A Tu La vừa thấy, liền
kinh sợ tan ră, tháo chạy. Khoảnh khắc, họ
đưa Sư quay về, toàn thân đượm mùi
hương trời, suốt đời không phai nhạt.
15. Chứng nhập Vô
Sanh
Ḥa thượng Giải
Thoát, họ H́nh, người huyện Ngũ Đài thuộc
Đại Châu. Bảy tuổi xuất gia, thoạt đầu
theo thiền sư Huệ Siêu, được thầy hết
sức coi trọng. Về sau, Sư ở Ngũ Đài,
chuyên tụng Hoa Nghiêm, nương theo kinh mà tác quán, cầu
thấy Văn Thù Bồ Tát. Đức Văn Thù hiện
thân, răn bảo: “Nay ông chẳng cần lễ bái, thân
cận ta, hăy tự phản tỉnh trách lỗi ḿnh, ắt
sẽ đại ngộ”. Do vậy, Sư tự xét ḿnh,
bèn ngộ Vô Sanh, cảm chư Phật hiện ra, v́ Sư
nói kệ rằng: “Chư Phật tịch diệt thậm
thâm pháp, khoáng kiếp tu hành kim năi đắc. Nhược
năng khai hiểu thử pháp nhăn, nhất thiết chư Phật
giai tùy hỷ” (Pháp tịch diệt rất sâu của Phật,
bao kiếp tu hành nay mới đắc. Nếu như thông
hiểu pháp nhăn này, hết thảy chư Phật đều
tùy hỷ).
Sư Giải Thoát bạch
hỏi: “Pháp tịch diệt như thế nào th́ có thể
diễn nói để dạy người khác?” Chư Phật
liền ẩn mất. Lại có tiếng từ không trung bảo
rằng: “Phương tiện trí vi đăng, chiếu
kiến tâm cảnh giới. Dục không chân thật pháp, nhất
thiết vô sở kiến” (Trí phương tiện làm
đèn, soi thấu cảnh giới tâm. Muốn rỗng pháp
chân thật, hết thảy đều chẳng thấy). Lại
c̣n khi ngài đang đi trên đường, mong đốt
hương, trên không có tiếng nói: “Chắp tay để
làm hoa, thân là vật cúng dường. Thiện tâm:
Hương chân thật. Tán thán: Khói hương tỏa.
Chư Phật ngửi hương ấy, theo tiếng sẽ
tới độ. Mọi người siêng tinh tấn. Trọn
chẳng hề nghi lầm”. V́ thế mới nói là “kệ tán trọn khắp hư không”.
16. Thời vũ bàng lưu (mưa lớn tuôn tràn
đúng lúc)
Vị tăng Đạo
Anh, họ Trần, người huyện Bồ. Lúc mười
tám tuổi, cha mẹ cưới vợ cho. Ở chung suốt
năm năm, nhưng thề chẳng đụng chạm
vợ. Sau đó, Sư theo Cự pháp sư ở Tinh Huyện
nghe giảng kinh Hoa Nghiêm, bèn xuống tóc. Sư vào chùa Bách
Đề núi Thái Hành, tu hành Chỉ Quán. Gặp lúc hạn
hán, Sư giảng kinh Hoa Nghiêm để cầu mưa ngọt.
Có hai ông lăo, mỗi người dẫn theo hai đứa trẻ
hầu cận thường đến nghe giảng. Đạo
Anh lấy làm lạ, hỏi han, mới biết họ là hải
thần. Do vậy, Sư nói: “Nay v́ đàn việt, xin các vị
hăy tuôn xuống một trận mưa nhỏ”. Ông lăo sai hai
đứa trẻ, chúng liền từ lỗ cửa sổ
bay ra, trong khoảnh khắc mưa lớn tuôn xối xả,
xa gần đều nhờ ơn!
17. Hoa Tạng thọ sanh (sanh vào thế giới
Hoa Tạng)
Đời Tùy, sư
Linh Cán, người xứ Địch Đạo,
nương theo Diễn pháp sư xuất gia. Mười
tám tuổi, Sư có thể giảng kinh Hoa Nghiêm. Sư thường nương theo kinh
để quán Hoa Tạng và quán Di Lặc Thiên Cung. Tới
lúc bệnh nặng, sắp mất, Sư cứ nh́n lên phía
trên. Vị tăng tên Đồng Chân hỏi, Sư đáp: “Vẫn
thấy đồng tử áo xanh dẫn đến Đâu
Suất, nhưng sự
vui sướng trong cơi trời chẳng lâu dài, rốt
cuộc vẫn rơi vào luân hồi. Thế giới Hoa Tạng
là tâm nguyện của ta”. Nói xong, Sư tắt thở,
khoảnh khắc lại hồi sanh, Đồng Chân lại
hỏi “nay thầy thấy ǵ?” Sư đáp: “Thấy
nước lớn trọn khắp, ta đang ngồi trên
hoa to như bánh xe. Nguyện của ta đă trọn”. Nói
xong liền viên tịch.
18. Thần thọ Hoa âm (Thần dạy tiếng
Hán)
Đời Tống, ngài
Cầu Na Bạt Đà La (Gunabhadra) là người Trung Ấn
Độ. Sư thọc tay vào rương rút kinh, liền
rút được kinh Hoa Nghiêm. Về sau, Tiếu
Vương thỉnh Sư giảng kinh, nhưng Sư
chưa thông thạo tiếng Hoa, bèn lễ sám, kiền thành
thỉnh cầu Quán Âm ḥng cầu được cảm ứng
ngấm ngầm. Sư bèn mộng thấy thần
nhân cầm gươm, đem đầu người khác
đến đổi [đầu cho Sư]. Sư giật
ḿnh tỉnh giấc, liền thông hiểu tiếng Hoa, bèn giảng
đại kinh suốt mấy chục lượt.
19. Thiên cung thỉnh giảng (cung trời thỉnh
giảng)
Đời Ngụy, ngài
Lặc Na Ma Đề (Ratnamati), người xứ Trung Thiên Trúc, học vấn uyên bác, thấu
triệt thiền lư. Thoạt đầu, Sư đến
Lạc Dương, dịch Thập Địa Luận. Vua
thường truyền Sư giảng kinh Hoa Nghiêm, phát huy những
ư nghĩa tinh tường rất xuất sắc. Sư từng
ở trên ṭa cao, bỗng có người cầm hốt, cầm
sớ, h́nh dáng như một vị quan tôn quư, thưa: “Thiên
đế tới thỉnh pháp sư giảng kinh Hoa Nghiêm, vị
đô giảng và duy-na cũng đều cần đi cùng”.
Các vị tăng nơi giảng ṭa đều cùng trông thấy.
Sư mỉm cười hoan hỷ, nói lời từ biệt
đại chúng rồi tịch ngay trên pháp ṭa. Vị
tăng đô giảng và duy-na cũng đồng thời nhập
diệt.
20. Hồng thủy đoạn
lưu (ngăn ḍng nước lũ)
Ḥa thượng Đỗ
Thuận, ngài họ Đỗ, húy là Pháp Thuận, người
xứ Đỗ Lăng thuộc Kinh Triệu, lấy việc
hoằng truyền Hoa Nghiêm làm sự nghiệp. Ngài từng ở
trên núi, định trồng rau quỳ, nhưng đất
có nhiều trùng kiến. Sư bèn đi ṿng quanh vạch
định ranh giới, loài trùng đều tự dời
đi nơi khác. Có người dân ở huyện Tam Nguyên
sanh ra đă câm, điếc, Sư gọi đến nói chuyện.
Người đó ứng tiếng đáp, liền khỏi
bệnh. Khi Sư đến Nam Sơn, gặp lúc ḍng kênh
dâng tràn, Sư bảo nước ngưng lại, nước
ngưng chảy để
Sư thong thả bước qua. Khi sắp tịch, Sư
nhóm họp những người
hữu
duyên, tiếng nói, sắc mặt chẳng đổi; nói xong liền qua đời.
Chuyện linh ứng chẳng phải chỉ một! Biệt truyện nói Sư chính
là hóa thân của Văn Thù Bồ Tát.
21. Thần quang lũ hiện (nhiều lượt
hiện thần quang)
Đời Đường,
ngài Pháp Tạng, pháp tự là Hiền Thủ. Mẹ Ngài mộng
thấy ánh sáng lạ mà mang thai. Về sau,
Sư gặp Nghiễm pháp sư (ngài Trí Nghiễm) đang giảng kinh Hoa
Nghiêm tại chùa Vân Hoa, bèn đến bái kiến. Nửa
đêm, Sư thấy có ánh sáng thần dị chiếu khắp
sân và điện đường. Sư than rằng: “Ắt
có bậc phát khởi, hoằng dương đại giáo”.
Tới sáng, Sư gặp Nghiễm ḥa thượng. Từ
đấy, theo làm học tṛ, thâm nhập vô tận. Về
sau, khi Sư bắt đầu giảng kinh tại chùa Vân
Hoa, có quang minh từ trong miệng chiếu ra, trong chốc
lát tụ thành chiếc lọng [che trên pháp ṭa]. Đại
chúng đều hay biết.
22. Địa ngục tiêu
diệt
Theo Toản Linh Kư[25], người
đất Kinh Triệu là Vương Minh Cán, trọn chẳng
tu nhân lành, bỗng bị chết đột ngột. Khi sắp
vào địa ngục, ông ta thấy một vị tăng dạy
một bài kệ rằng: “Nhược nhân dục liễu
tri, tam thế nhất thiết Phật. Ưng
đương như thị quán, tâm tạo chư Như
Lai” (Nếu người muốn biết rơ, ba đời
tất cả Phật. Nên quán sát như thế, tâm tạo
các Như Lai). [Vị tăng bảo] tụng bài kệ này
có thể tiêu trừ các nỗi khổ trong địa ngục.
Vương Minh Cán tụng
xong, liền
vào gặp Diêm Vương, Diêm Vương lập tức thả
về. Trong lúc [ông ta] tụng bài kệ ấy, tiếng tụng
vang đến đâu, những kẻ đang chịu khổ
đều được giải thoát. Đây là kinh văn
trong bản dịch đời Tấn, hai câu dưới so
với bản dịch đời Đường hơi
khác một chút.
23. Quán thủy tế sanh (nước rửa tay
cứu vớt chúng sanh)
Vị tăng Già Di
Đa La (Sanghamitra), người nước
Sư Tử (Sri Lanka), đă chứng quả
vị Đệ Tam Quả
(A-na-hàm). Trong năm Lân Đức
nguyên niên (664), Sư mới tới Chấn Đán (Trung Hoa),
Đường Cao Tông hết sức kính trọng. Sau
đó, Sư đến núi Thanh Lương đảnh lễ
Văn Thù Bồ Tát, sang chùa Tây Thái Nguyên. Đúng lúc các vị
tăng đang tụng kinh Hoa Nghiêm, Sư hỏi đấy
là kinh ǵ. [Chư tăng] đáp là Hoa Nghiêm. Sư nghiêm mặt,
cung kính nói: “Chẳng ngờ nơi đây cũng có bộ
kinh này!”, chắp tay tán thán: “Bộ Đại
Phương Quảng này công đức khó thể thể
nghĩ bàn. Ở Tây Trúc tương truyền rằng: Có người đọc tụng
kinh này, dùng nước rửa tay, nước thấm vào
trùng kiến, chúng xả mạng đều được
sanh lên trời!”
24. Cảnh vân hiện thụy (mây lành hiện điềm
tốt)
Đời Đường,
quốc sư Thanh Lương, húy là Trừng Quán, pháp tự
Đại Hưu, người xứ Cối Kê, họ Hạ
Hầu. Ngài sanh năm Mậu Dần (738) trong niên hiệu
Khai Nguyên đời Đường Huyền Tông. Sư thân cao chín thước bốn
tấc, tay dài quá gối, miệng có bốn mươi chiếc
răng, ban đêm mắt phát ra ánh sáng, ban ngày th́ không chớp
mắt. Trong năm Kiến Trung thứ hai (781) thời
Đường Đức Tông, Ngài đặt bút soạn sớ
giải thích kinh, trước hết cầu ứng hiện
điềm lành. Một đêm, Ngài mộng thấy ṭa núi
vàng sừng sững, tướng quang minh rực rỡ trong
ngần. Tỉnh giấc, Ngài biết đó là điềm
báo “quang minh biến chiếu” (quang minh chiếu trọn
khắp). Từ đó, Ngài viết sớ, ư tưởng
tuôn trào không dứt. Trải bốn năm bèn hoàn thành. Ngài lại
mộng thấy hóa thân thành rồng, ngẩng đầu ở đài Nam, đuôi vắt vẻo đài Bắc, uốn
éo bay lượn trên không trung, trong khoảnh khắc, biến
ra số lượng trăm ngàn [con rồng], vùng vẫy giữa
trời xanh rồi phân tán khắp bốn phương. Bậc
tri thức đều cho là điềm báo [bản sớ ấy]
sẽ được lưu thông rộng răi.
Lần đầu Ngài
giảng sớ cho đại chúng, cảm vời mây lành
ngưng đọng trên hư không, xoay tṛn, kết thành lọng
che. Ngoài bộ Sớ Sao ấy, Ngài c̣n soạn các bộ Thủ
Kính gồm một trăm quyển, Cương Yếu gồm
ba quyển, Chánh Yếu một quyển, Huyền Kính một
quyển, Kính Chứng Thuyết Văn một quyển, Tam
Thánh Viên Dung Quán một quyển, Thất Xứ Cửu Hội
Đồ Tâm Thuyết Văn một quyển. Vua sắc
truyền hữu ty đúc ấn, phong Ngài làm quốc sư,
hiệu là Thanh Lương. Ngày mồng Sáu tháng Ba năm Khai
Thành thứ ba (838), Ngài thị tịch. Ngài sống qua chín
triều vua, làm thầy của bảy đời vua, thọ
một trăm lẻ hai tuổi, tăng lạp tám mươi ba
năm. Tháp thờ toàn thân tại núi Chung Nam.
Không lâu sau, có vị Phạm
tăng đến cửa khuyết, dâng biểu nói ở
Thông Lănh, thấy hai sứ giả bay lên không mà đi. Sư
dùng thần chú chặn họ lại để hỏi han,
họ đáp: “Chúng tôi là thần thuộc Văn Thù
Đường ở Bắc Ấn Độ, sang Đông Độ
cung thỉnh một chiếc răng hàm của Hoa Nghiêm Bồ
Tát (tức ngài Trừng Quán) về nước cúng dường”.
Vua liền hạ chỉ mở tháp, quả nhiên mất một
chiếc răng, chỉ c̣n lại ba mươi chín chiếc.
Sau đó, trà-tỳ, xá-lợi sáng ngời, trong trẻo,
tươi nhuận; lưỡi như sen hồng.
[Triều đ́nh] ban thụy hiệu cho tháp là “Thanh Lương quốc
sư chi tháp”.
25. Dị tăng thọ
chỉ (vị tăng lạ lùng truyền trao tông
chỉ)
Đời Đường,
ngài Pháp Không vốn là lang tướng thuộc quận Nhạn
Môn cuối thời Tùy. Sư bỏ gia đ́nh để vào
hang sâu trong núi Thanh Lương, thường tŕ tụng bài
kệ “duy tâm tác Phật” (chỉ do tâm này mà làm Phật)
trong kinh Hoa Nghiêm. Sau đó, Sư gặp một vị dị
tăng truyền dạy huyền chỉ của kinh Bát Nhă,
bỗng chốc tâm địa rỗng rang. Lâm chung, Sư ngồi qua đời.
26. Sơn thần thính kinh (thần núi nghe kinh)
Đời Tào, sư Thành Huệ là con nhà họ Lư ở
Linh Khâu. Cha mẹ Sư cầu con ở núi
Ngũ Đài mà sanh ra Ngài. Đă khôn lớn, Sư bèn từ biệt cha mẹ
sang Chân Dung Viện ở Ngũ Đài, xuống tóc xuất
gia với ḥa thượng Pháp Thuận. Sư từng tụng
kinh Hoa Nghiêm tại hang Lư Ngưu, lấy cỏ cây làm thức
ăn. Mỗi lần tụng kinh, thường có năm bảy
người mặc nho phục đến ngồi nghe, nhiều
lần dâng hoa lạ quả tươi để cúng dường.
Sư lấy làm lạ, gạn hỏi, họ thưa: “Chúng
tôi là sơn thần, nhờ pháp lực của thầy mà
không có ǵ báo đáp, nguyện xin được làm người
hầu hạ cho thầy”. Sư không vui, bèn bỏ
nơi ấy [để rời đi].
27. Kim thành huy ánh (thành vàng tỏa sáng)
Đời Kim, ngài Tô
Đà Thất Lợi (Sudhasiri) là tăng nhân
thuộc chùa Na Lan Đà tại Trung Ấn Độ, chuyên
tụng tŕ Hoa Nghiêm. Lúc tám mươi lăm tuổi, Sư
vượt biển đến lễ Ngũ Đài. Cứ
lên đến đỉnh của mỗi đài, Sư đều
tụng mười bộ Hoa Nghiêm, nhập Thiền tịch
suốt bảy ngày. Trong định, Sư thấy thành vàng,
điện ngọc, sen báu, nước thơm, lưới
ngọc đan xen tỏa sáng rực rỡ, các đồng
tử cơi trời vui chơi trong ấy. Về sau, Sư tịch tại đỉnh
Linh Thứu. [Trà-tỳ] thu được tám hộc xá-lợi,
lấp lánh như những hạt châu.
28. Long quang ngũ thái (ánh rồng năm màu)
Đời Nguyên, Hoa
Nghiêm Bồ Tát, húy là Chánh Thuận, con nhà họ Cao ở Úy
Châu. Sư xuống tóc với ngài Dụng Công thuộc chùa
Thọ Ninh trên núi Ngũ Đài, kết am tranh nương
náu dưới hàng cây dày, chỉ đọc tụng Hoa
Nghiêm số trọn ngàn bộ. Mỗi lần nhập Hoa Tạng
Quán, phải từ ba đến năm ngày mới xả
Định. Cơi đời gọi Sư là Hoa Nghiêm Bồ Tát. Khi Bồ
Tát sắp thị tịch, môn nhân cầu Sư ban kệ. Sư nói: “Lịch kiếp bổn
vô khứ trụ. Ưng dụng hà tư hà lự. Chuyển
thân đạp phá hư không. Nhất thiết thị phi mạc
cố” (Trải kiếp vốn chẳng
đi, ở. Phải nên há nghĩ, há lo? Chuyển thân đạp
nát hư không, hết thảy thị phi chẳng đoái).
Nói xong, Sư qua đời. Ngày hôm
đó, trên án thờ vong bỗng hiện h́nh rồng, phóng
hào quang năm màu, chiếu sáng khắp cả sân am điện
vũ.
Vân Thê Pháp
Vựng
Phần 11 hết
[1] Đây là một nhân vật trong câu chuyện
ngụ ngôn được chép trong sách Trang Tử. Trang Tử
viết trong thiên sách Đại Tông Sư rằng Tử
Dư chơi thân với Tử Tang. Một thuở nọ,
trời đổ mưa dầm suốt mười ngày, Tử
Dư sợ Tử Tang bị đói lạnh bức bách, bèn
đội mưa, cầm lương khô sang nhà Tử Tang.
Tới cửa nhà bạn, Tử Dư thấy Tử Tang vừa
đánh đàn, vừa khóc than: “Ta nghèo túng v́ đâu? V́ cha mẹ?
V́ trời cao? Hay v́ vận mạng?” Tử Dư lại nghĩ rằng “cứ thuận
theo thời mà chịu đựng, buồn vui chẳng thể
lay động ta”.
[2] Đô Sát Viện
chính là Ngự Sử Đài. Năm Hồng Vũ 15 (138),
Minh Thái Tổ (Châu Nguyên Chương) đă đổi tên gọi
của cơ quan giám sát này thành Đô Sát Viện, và lập
ra hai trưởng quan là Tả Đô Ngự Sử và Hữu
Đô Ngự Sử, nhưng Tả Đô Ngự Sử có
nhiều quyền hạn hơn một chút. Cơ quan này có
trách nhiệm giám sát, đàn hặc các quan, biện minh các vụ
trọng án. Các vụ án nếu oan khuất có thể kêu cầu
lên Đô Ngự Sử. Đồng thời, cơ quan này
c̣n giám sát các quan lại trung ương lẫn địa
phương để bảo đảm guồng máy cai trị
vận hành đúng pháp tắc. Khi có trọng án, Đô Sát Viện
cùng H́nh Bộ và Đại Lư Tự kết hợp điều
tra phá án. Do vậy, ba cơ quan này c̣n gọi là Tam Pháp Ty. Chức
quan Đô Ngự Sử khá cao v́ được xếp vào
Chánh Nhị Phẩm. Tư Thiện Đại Phu là chức
tước danh dự, nhưng không có thực quyền,
thường dùng để phong tặng nhằm đề
cao phẩm cấp. Thị Lang tương đương với
phó bộ trưởng hiện thời.
[3] Tư Gián (司諫) là
một chức quan thời cổ, chuyên trách giám sát quan lại,
tuyển chọn, đề bạt nhân tài, hướng dẫn
giáo dục đạo đức. Từ thời Châu, đă thiết lập chức quan này. Đến đời
Đường, chức quan này trực thuộc Môn Hạ
Tỉnh. Sang đời
Minh, Tư Gián trực thuộc Đông Cung (tiểu triều
đ́nh của thái tử), gồm Tả và Hữu Tư
Gián, lần lượt trực thuộc Tả và Hữu
Xuân Phường của Đông Cung, chỉ có trách nhiệm
khuyên răn, can gián thái tử và các quan hầu cận,
đồng thời là cố vấn của thái tử khi cần
thiết.
[4] Tọa khám (坐龕) ở
đây là một vật dụng để chứa di thể
của một vị tăng từ lúc mất cho tới khi
trà tỳ thay cho quan tài. Người mất thường
được ngồi xếp bằng trong đó. Tọa
khám thường đơn giản là một ống gỗ h́nh trụ, có nắp đậy, hoặc
chạm trổ theo mô thức Phật giáo. Đôi khi
người ta dùng chum đặt người chết ngồi
trong đó để mai táng.
[5] Thọ y: Quần áo, trang phục để
mặc cho người chết khi đă tắt hơi, c̣n gọi
là “áo liệm”.
[6] Nhà hiếu (hiếu đường) là một
gian nhà hay dựng rạp để quàn quan tài, tế lễ
và tiếp đăi khách viếng tang. Ngoài ra, trước phần
mộ, c̣n dựng một gian nhà để cúng tế, gọi
là minh đường. Những nhà giàu có, minh đường
gồm ba dăy theo thứ tự từ gần ra xa.
[7] Tam triêu: Lễ tế sau khi một người
đă chết ba ngày.
[8] Hương đ́nh là một cái kiệu nhỏ
thường làm bằng gỗ chạm trổ hoặc phất
giấy màu, để đặt bát hương của
người chết. Đôi khi chỉ đơn giản là
một cái bàn nhỏ để đặt lư
hương, thường được khiêng dẫn
đường khi đưa đám.
Thần đ́nh là kiệu đặt bài vị
của người chết.
Hồn kiệu là kiệu đặt hồn
bạch. Hồn bạch là một tấm lụa trắng
được ướm vào thân người chết khi
người ấy vừa tắt hơi, cổ nhân tin rằng
hồn người chết sẽ nhập vào đó. Sau
đó, tấm lụa ấy thắt thành h́nh người,
sáng tối con cháu nâng ra đỡ vào hồn bạch như
thể người chết vẫn c̣n sống. Hồn bạch
sẽ được
chôn theo hay thiêu khi đưa quan.
Minh tinh là một
tấm vải dài thường được treo sau quan
tài, khi đưa tang sẽ được căng cao và
đặt trên một bàn riêng. Trên minh tinh đề quê quán,
chức tước, họ tên tự, biệt hiệu, thụy
hiệu, pháp danh của người chết. Nếu không có
hồn kiệu và thần đ́nh, th́ bài vị sẽ đặt
trong hương đ́nh.
[9] Trực Lệ là danh từ chỉ
đơn vị hành chánh đặc biệt thời Minh –
Thanh do trung ương trực tiếp quản lư, không thiết
lập các cơ quan đầu tỉnh như Thừa Tuyên
Bố Chánh Sứ Ty, Đề H́nh Án Sát Sứ Ty và Đô Chỉ
Huy Sứ Ty. Thời Minh có hai khu Trực Lệ: Nam Trực
Lệ là Nam Kinh, c̣n gọi là Ứng Thiên Phủ, và Bắc Kinh, c̣n gọi là Thuận Thiên Phủ.
Do vậy, khi nói về cách tổ chức hành chánh đời
Minh, thường có cách nói Lưỡng Trực Lệ Thập
Tam Bố Chánh Sứ Ty, hoặc Lưỡng Kinh Thập Tam
Châu.
[10] Tả Xuân
Phường và Hữu Xuân Phường trực thuộc
Đông Cung của Hoàng Thái Tử có trách nhiệm xử lư
thường vụ, giúp Thái Tử quen với việc cai trị
để sau này quen xử trí chánh sự khi làm vua. Hai cơ
cấu này đă h́nh thành từ thời Bắc Tề. Theo
đó, Đông Cung có hai cơ cấu hành chánh là Môn Hạ
Phường và Điển Thư Phường. Đến
đời Đường, hai phường này đổi
thành Tả Xuân Phường và Hữu Xuân Phường. Tả
Xuân Phường vào đời Minh lại trực thuộc
Chiêm Sự Phủ (cơ quan cao nhất trong Đông Cung),
chuyên lo việc giảng dạy kinh sách, kiến thức,
các sự vụ v.v… Trong khi đó, Hữu Xuân Phường
chuyên chú trọng văn thư, sớ tấu, sổ sách
v.v… Nói cách khác, Tả Xuân Phường mô phỏng cơ cấu
Môn Hạ Tỉnh của triều đ́nh, c̣n Hữu Xuân
Phường mô phỏng Trung Thư Tỉnh.
Dụ Đức là chức
quan có nhiệm vụ giáo huấn thái tử về đạo
đức và lễ nghi, tùy thời can gián, khuyên răn khi Thái
Tử sai sót, hoặc hành xử không đúng lễ nghi, chia
thành Tả Dụ Đức (thuộc Tả Xuân Phường)
và Hữu Dụ Đức (thuộc Hữu Xuân Phường).
Thời nhà Minh, chức quan này thường do quan chức
thuộc Hàn Lâm Viện kiêm nhiệm. V́ thế, ông Ngô Ứng
Tân đang làm Hàn Lâm Thị Độc, được phân
kiêm nhiệm chức Tả Dụ Đức thuộc Tả
Xuân Phường.
[11] Giáp Nhục (郟鄏) là Đông Đô của
nhà Châu (nay thuộc thành phố Lạc Dương). Vua
Đại Vũ nhà Hạ đă cho đúc chín cái đỉnh
lớn tương ứng với chín châu thời đó. Khi
Châu Vũ Vương diệt nhà Ân Thương, đă sai vận
chuyển chín cái đỉnh đó từ Triều Ca (kinh đô của nhà Thương) về Cảo Kinh (kinh đô của nhà Châu). Sau đó, Châu Thành
Vương kiến tạo Lạc Ấp (Lạc Dương) thành Đông Đô, gọi
nơi đó là Giáp Nhục, nên chín cái đỉnh được
chuyển về Giáp Nhục, và được gọi chung
là Giáp Nhục Đỉnh.
[12] Đây là chuyện tiền thân của
Thích Ca Mâu Ni Phật. Trong quá khứ, đức Phật là một
phạm chí tu hành, tên là Thiện Huệ. Do thấy Nhiên
Đăng Phật, sanh tâm cảm mến, muốn cúng
dường Phật. Do thấy cô Cù Di có hoa sen xanh, Thiện
Huệ muốn mua lại. Cù Di sanh ḷng ái chấp với Thiện
Huệ, ra điều kiện: “Chàng phải thề nguyện
đời sau thường làm vợ chồng với tôi, dẫu
xấu hay đẹp đều chẳng xa ĺa”. V́ muốn
thành tựu đại nguyện cúng Phật, Thiện Huệ
đáp ứng. Cù Di hoan hỷ, biếu tặng hoa, cùng gieo
nhân lành, phát tâm tu tŕ. Đó là chuyện “dùng dục để
lôi kéo khiến cho người ấy về sau được
nhập Phật trí”.
[13] Ngũ Pháp bao gồm Tướng, Danh, Phân Biệt, Chánh Trí và Chân Như. Ba pháp đầu là vọng
tưởng đặc biệt ứng với h́nh thái và danh xưng của sự vật.
Hai pháp sau là trí huệ siêu việt và bản thể chân thật.
Tam Tự Tánh là Biến Kế Sở Chấp Tánh, Y Tha
Khởi Tánh, và Viên Thành Thật Tánh. Theo kinh Lăng Già, Danh, Tướng và Phân Biệt thuộc
về Biến Kế Sở Chấp Tánh và Y Tha Khởi Tánh,
c̣n Chánh Trí và Chân Như thuộc vào Viên Thành Thật Tánh.
[14] Đây là một tác phẩm nhằm đề cao Đạo giáo, hạ thấp Phật giáo (có thuyết nói do đạo sĩ Vương Phù soạn ra vào thời Tây Tấn). Dù tác giả là ai, mục đích đều là nhằm tuyên xưng Phật giáo chỉ bắt nguồn từ Đạo Giáo, để hạ thấp vai tṛ của Phật giáo trong xă hội! Tác phẩm ấy bịa đặt rằng Lăo Tử cưỡi trâu xanh ra khỏi cửa ải, gặp quan giữ ải là Doăn Hỷ lưu lại, bèn khuyên ông ta “khí số nhà Châu sắp hết, hăy theo ta đến đất nước của người Hồ”. Đến đó Lăo Tử được quốc vương kính trọng bèn giáo hóa họ, dặn họ về sau khi Lăo Tử qua đời, hăy tuân theo lời dạy của Doăn Hỷ. Do vậy, về sau Doăn Hỷ được tôn xưng là Phật. Lại c̣n bịa chuyện Doăn Hỷ đầu thai thành thái tử Tất Đạt Đa để tiếp tục giáo hóa. Theo sách Tấn Thế Tạp Luận của Trúc Đạo Tổ, do Vương Phù thường tranh luận với sa-môn Bạch Viễn về sự hơn kém giữa Phật và đạo nhưng không thắng, bèn dựa theo Tây Vực Truyện, viết lại thành Hóa Hồ Kinh để đề cao Đạo giáo là cội nguồn của Phật giáo. Các đạo sĩ sau này tiếp tục bịa đặt thêm tạo thành các bộ Hóa Hồ Tiêu Băng Kinh, Thái Thượng Linh Bảo Lăo Tử Hóa Hồ Diệu Kinh, Văn Thỉ Tiên Sinh Vô Thượng Chân Nhân Quan Lệnh Doăn Hỷ Nội Truyện v.v…
[15] Ảnh dụ là cách dùng những h́nh ảnh,
phù hiệu v.v… hoặc một khái niệm gần giống,
dễ hiểu hơn để biểu đạt một
khái niệm trừu tượng.
[16] Tứ Di Quán, c̣n gọi là Hội Đồng Quán
hay Tứ Dịch Quán là cơ
quan chuyên trách tiếp đăi sứ giả các nước
đến Trung Hoa triều cống.
[17] Văn Thù Ngũ Tự Chú c̣n gọi là
Văn Thù Ngũ Tự Tâm Chú, Văn Thù Bồ Tát Tâm Chú, hoặc
Văn Thù Trí Huệ Chú bao gồm năm chữ “Om, A Ra Pa Ca
Na Dhih” (thường được
phiên âm là “Án, a ra bả tả nẵng địa”). Gọi
là Ngũ Tự Chú v́ cốt lơi là các chữ A Ra Pa Ca Na (अ र प च न), c̣n Om và Dhih chỉ là chữ khởi
đầu và kết thúc. Chú này trích từ Kim Cang Đảnh
Du Già Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Kinh. Theo kinh
đó, căn bản chú này có tác dụng giúp cho hành nhân
tăng trưởng trí huệ, tổng tŕ chẳng quên, biện
tài vô ngại, tiêu diệt hết thảy khổ nạn,
phước trí trọn đủ.
[18] Đây là một câu trích từ sách Trung Dung:
“Mạc kiến hồ ẩn, mặc hiển hồ vi, cố
quân tử thận kỳ độc dă” hàm nghĩa từ
những hành vi, lời lẽ nơi kín đáo nhất, hoặc
nơi vi tế nhất, sẽ bộc lộ bản chất
thật sự của một người. Do vậy,
người quân tử phải biết cẩn trọng dù
chỉ ở một ḿnh.
[19] Tác phẩm
này có tên gọi đầy đủ là Thiên Thai Tứ Giáo
Nghi, c̣n gọi là Đế Quán Lục, do tăng nhân nước
Cao Ly là Đế Quán soạn vào năm Kiến Long thứ
hai (961) đầu thời Bắc Tống. Tác phẩm này dựa
theo tác phẩm Thiên Thai Bát Giáo Đại Ư của ngài Quán
Đảnh, vẫn dùng thuyết ngũ thời bát giáo
để phán định giáo pháp trong một đời của
Thích Ca Mâu Ni Phật, nhưng chú trọng biện định
tứ hóa nghi và tứ hóa pháp, lược thuật hai
mươi lăm pháp phương tiện của Viên Giáo và
thập thừa quán pháp. Sách gồm hai quyển, nhưng quyển
hạ đă bị thất truyền. Do vào năm Kiến
Long nguyên niên (960) đời Tống Thái Tổ, Ngô Việt
Vương Tiền Thục sai sứ sang Cao Ly và Nhật Bản
t́m kiếm điển tịch Thiên Thai Tông đă bị thất
truyền tại Trung Hoa do loạn lạc thời Ngũ
Đại, vua nước Cao Ly sai tăng nhân Đế
Quán mang các luận sớ Thiên Thai họ giữ được
sang Trung Hoa. Sư đến Loa Khê, theo học với pháp
sư Nghĩa Tịch, nghiên cứu giáo quán suốt mười
năm sau đó. Sư khởi công soạn bộ sách này
trong năm Kiến Long nguyên niên, và hoàn thành vào năm Kiến
Long thứ hai. Tuy vậy, chỉ sau khi Sư thị tịch,
môn nhân mới phát hiện sách này trong tráp và cho lưu hành.
Điểm đặc sắc là Sư khéo dung hợp tư
tưởng của ngài Quán Đảnh với thí dụ
trong phẩm Tín Giải của kinh Pháp Hoa, thuyết ngũ
vị của kinh Niết Bàn và thí dụ về tam chiếu
trong kinh Hoa Nghiêm để xiển minh thuyết ngũ thời
bát giáo của tông Thiên Thai.
[20] Theo Chư Phật
Tập Yếu Kinh, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từ
thế giới Sa Bà đến thế giới Phổ Quang,
gặp Thiên Vương Như Lai. Bên phải Thiên
Vương Phật có cô gái tên Ly Ư đang nhập Phổ
Nguyệt Ly Cấu Quang Minh tam-muội gần pháp ṭa của
Phật, Văn Thù Bồ Tát lấy làm lạ, hỏi Phật
cô gái ấy phát tâm tu hành từ khi nào. Thiên Vương
Như Lai bảo Văn Thù hăy khiến cho cô ta xuất định
để hỏi. Văn Thù Bồ Tát dùng hết thần lực
vẫn không thể làm cho cô xuất định được.
Đức Phật bảo trăm ngàn vạn Văn Thù
cũng không khiến cho cô ta xuất định được,
nhưng trong thế giới ở phương dưới
có một vị Bồ Tát tên là Khí Chư Ấm Cái có thể
khiến cho cô ta xuất Định. Khí Chư Ấm Cái Bồ
Tát nói Ngài chẳng thể làm cho cô ta xuất Định
được, nguyện Như Lai ra sức. Đức Phật
nhập Hưng Định Ư tam-muội, liền khiến
cho cô ta xuất Định.
[21] Sơn Hải
Kinh là một bộ sách cổ, không rơ ai là tác giả. Theo
các nhà nghiên cứu, sách được dần dần h́nh
thành từ thời Tiên Tần đến đầu thời
Hán, tuy thường đề là do Đại Vũ và Bá Ích
soạn. Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng sách là
công tŕnh tập thể của nhiều người, người
biên tập đầu tiên là Lưu Hướng thời Tây
Hán. Sách chia thành mười tám chương, gồm bốn
phần Sơn Kinh, Hải Kinh, Đại Hoang Kinh và Hải
Nội Kinh, chép về các truyền thuyết thần thoại,
địa lư, động vật, thực vật, khoáng vật,
vu thuật, tôn giáo, lịch sử, y dược v.v… rất
phong phú. Phần đặc biệt nhất là sách chép về
các sinh vật huyền bí thời thượng cổ.
[22] Cư sĩ Duy Ma Cật là hóa thân của
Kim Túc Như Lai.
[23] Nói là “dịch
lại” v́ kinh Hoa Nghiêm trước đó đă được
ngài Phật Độ Bạt Đà La dịch vào đời
Tấn gồm sáu mươi quyển, tức Lục Thập
Hoa Nghiêm. Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch bản đầy
đủ hơn gồm tám mươi quyển, tức Bát
Thập Hoa Nghiêm.
[24] Thị Trung
là chức quan được thiết lập từ thời
Tần, vốn là thuộc quan của Tể Tướng. Từ
thời Hán trở đi, được phép ra vào cung cấm,
trở thành bề tôi thân cận của hoàng đế.
Đến thời Đông Hán thiết lập Thị Trung Tự,
các triều đại sau đổi cơ cấu này thành
Môn Hạ Tỉnh, tức là cơ cấu đóng vai tṛ cố
vấn cho nhà vua. Các quan đứng đầu Môn Hạ Tỉnh
vẫn gọi là Thị Trung, có trách nhiệm kiểm tra chiếu
lệnh, đóng dấu tấu chương, thậm chí có
quyền bác bỏ tấu chương. Có lúc Môn Hạ Tỉnh
bị đổi thành Đông Đài, Loan Đài, Hoàng Môn Tỉnh
v.v… Nhưng rồi lại gọi là Môn Hạ Tỉnh
như cũ. Thị Trung cũng có lúc đổi thành Nạp
Ngôn, Tả Tướng, Hoàng Môn Giám v.v… Thị Trung có các
quan thuộc hạ như Hoàng Môn Thị Lang, Cấp Sự
Trung, Tán Kỵ Thường Thị, Gián Nghị Đại
Phu, Khởi Cư Lang v.v… Thời Tống, chức vụ
này do Thượng Thư Tả Bộc Xạ kiêm nhiệm.
Thời Minh, Thị Trung bị giảm xuống vai tṛ là phụ
tá cho Thượng Thư, cao hơn Thị Lang một bậc.
Chức vụ này hoàn toàn bị phế trừ vào thời
Minh Thành Tổ.
[25] Toản Linh Kư (纂靈記) do Hiền Thủ Pháp Tạng
đại sư soạn vào đời Đường, ghi
chép lược sử phiên dịch, truyền thừa của
kinh Hoa Nghiêm, cũng như các chuyện linh ứng của
kinh Hoa Nghiêm. Sách này đă bị thất truyền vào đầu
đời Minh, văn bản hiện thời chỉ là một
phần của nguyên tác được khôi phục từ
những trích dẫn của ngài Thanh Lương Trừng
Quán và các sử liệu Phật giáo khác.