Vân Thê Pháp
Vựng
雲棲法彙
Phần 2
Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng
đại sư trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo bản
điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh
của CBETA)
Giảo
duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
6. Tăng Huấn Nhật Kỷ[1]
(僧訓日紀)
Sa-môn Châu Hoằng
chùa Vân Thê đất Cổ Hàng kết tập
1) Giáo huấn pháp sư tự
phản tỉnh
Phẩm Pháp Sư
của kinh Pháp Cự Đà La Ni[2]
chép: “Phù pháp sư giả, thường
ưng từ mẫn, ái ngữ, khiêm hạ. Nhược hoài
tật đố, tâm tồn thắng phụ, hoạch
đại trọng tội. Từ tâm thuyết pháp, thành
đại công đức, năng tiêu thế gian
chủng chủng cúng dường. Giả dĩ
cao đại sư tử bảo tòa, vô giá danh y phụng
thượng pháp sư, vị túc báo ân. Nhi bỉ pháp
sư tuy thọ tư sự, ưng thâm tàm quý,
vật khởi tham trước, bất
đắc ngã mạn” (Phàm là pháp
sư thì phải nên thường từ
mẫn, ái ngữ, khiêm cung, nhún
nhường. Nếu ôm lòng ghen ghét, mang
lòng thắng, bại, sẽ mắc trọng
tội lớn. Từ tâm thuyết pháp,
thành tựu công đức to lớn, có thể tiêu các
loại cúng dường của thế gian. Giả
sử dùng tòa sư tử báu cao
lớn, y quý vô giá để dâng lên pháp
sư, vẫn chưa đủ để báo ân.
Nhưng vị pháp sư ấy tuy thọ các
thứ đó, hãy nên hổ thẹn sâu xa,
đừng dấy lòng tham đắm,
chẳng được ngã mạn).
2) Giáo huấn “vì lợi
dưỡng mà xuất gia”
Kinh Đại Bảo
Tích[3]
nói: “Di Lâu Kiên Đà Phật diệt hậu,
chư đại đệ tử giai diệc tùy Phật
nhập ư Niết Bàn. Chư đại đệ tử
diệt độ chi hậu, đa hữu chúng sanh
giai tác thị niệm: ‘Sa-môn pháp trung an ổn
khoái lạc, ngã đẳng hà bất
các cộng xuất gia?’ Xuất gia chi hậu, duy
hành tam sự: Nhất, thường châu toàn vãng lai
bạch y xá. Nhị, duy tham trước lợi
dưỡng tự hoạt. Tam, trưởng
dưỡng cơ phì, vô hữu
phước huệ. Hành thị tam sự, bất
tu dư nghiệp, đầu đà tế hạnh diệu
pháp đa giai phế xả, phục bất độc
tụng. Thời, quốc vương tử danh
Đà Ma Thi Lợi, văn thiên thần chỉ thị,
năi từ phụ mẫu, thế trừ tu phát,
vấn chư tỳ-kheo: ‘Di Lâu Kiên Đà Phật vân
hà thuyết pháp giáo chư đệ tử? Ngã
đắc văn dĩ, đương như thuyết
tu hành’. Chư tỳ-kheo ngôn: ‘Ngã đẳng
bất văn Phật sở thuyết pháp, đản
tùy hòa thượng chư sư sở
hành. Nhữ kim diệc ưng hành như
thị pháp’. Nhĩ thời, Đà Ma Thi Lợi
tỳ-kheo đáp chư tỳ-kheo ngôn: ‘Nhữ
đẳng tất tùng bần tiện xuất gia,
thị cố kim giả đản quý y thực.
Sở hành như thị, bạch y vô dị.
Nhữ đẳng kim ưng dữ ngã
cộng cầu Phật thâm tịnh pháp’. Thời
chư tỳ-kheo dĩ kệ đáp ngôn: ‘Ngã
đẳng sở vi giả, thị sự giai
dĩ đắc, y thực cực phong túc,
miễn ly vương sử dịch, an ổn thậm
khoái lạc, vô cảm khinh mạn giả. Bạch y
thời khổ não, kim giai vô phục hữu.
Thị tức danh Niết Bàn, đệ nhất
khoái an lạc. Quá thị sự dĩ
ngoại, ngã giai bất phục dụng’. Nhĩ
thời, Đà Ma Thi Lợi tỳ-kheo văn
thử kệ dĩ, tâm tắc bi năo, thế linh
đề khấp, tức tiện xả ly thử
chư tỳ-kheo, độc nhập sơn lâm u viễn chi
xứ, tinh thành nhất tâm, dục cầu thâm pháp.
Tiên thời, Di Lâu Kiên Đà Phật hữu
đại đệ tử, danh vi Kiên Lao, tu không
nhàn hạnh, độc trụ thâm sơn, thiểu
dục tri túc, tâm nhạo viễn ly, sở tác
dĩ biện, lục thông, tam minh đại A La Hán, sở
trụ thâm sơn thạch quật bích
thượng, thư thử kệ ngôn: ‘Sanh
tử bất đoạn tuyệt, tham dục thị
vi cố, dưỡng oán nhập khâu trủng,
đường thọ chư tân khổ. Thân xú
như tử thi, cửu khổng lưu bất tịnh,
như xí trùng nhạo phẩn, ngu tham thân vô dị. Ức
tưởng vọng phân biệt, tắc thị
ngũ dục bổn, trí giả bất phân biệt,
ngũ dục tắc đoạn diệt. Tà niệm sanh
tham trước. Tham trước sanh phiền năo,
chánh niệm vô tham trước, dư phiền năo
diệc tận’. Đà Ma Thi Lợi tỳ-kheo kinh
lịch thâm sơn, kiến thử kệ dĩ,
độc tụng, tư duy kỳ nghĩa, vị
cửu chi gian, đắc ngũ thần thông”.
(Sau khi Di Lâu Kiên Đà
Phật diệt độ, các đại đệ tử
cũng đều theo Phật nhập Niết Bàn. Sau
khi các đại đệ tử diệt độ,
có nhiều chúng sanh đều nghĩ như
thế này: “Trong pháp sa-môn an ổn, vui
sướng, sao chúng ta chẳng đều
cùng xuất gia?” Sau khi xuất gia, chỉ làm ba
chuyện: Một, thường qua lại, lui
tới nhà bạch y. Hai, tham đắm lợi
dưỡng để tự nuôi sống. Ba, nuôi nấng da
thịt mập mạp, chẳng có phước
huệ. Làm ba chuyện ấy,
chẳng tu các nghiệp khác. Tế hạnh
đầu đà và diệu pháp phần nhiều
đều phế bỏ, lại chẳng đọc tụng. Khi đó, con
trai của quốc vương tên là Đà Ma Thi
Lợi nghe theo sự chỉ dạy của thiên
thần, bèn từ biệt cha mẹ, cạo bỏ
râu, tóc, hỏi
các tỳ-kheo: “Di Lâu Kiên Đà Phật thuyết
pháp dạy các đệ tử như thế
nào? Tôi được nghe xong, sẽ tu hành
đúng như lời dạy”. Các tỳ-kheo
nói: “Chúng ta chẳng nghe pháp do
đức Phật nói, chỉ làm theo các
điều hòa thượng và các thầy
đã làm. Nay ông cũng nên hành pháp như
thế”. Khi đó, tỳ-kheo Đà Ma Thi
Lợi trả lời các tỳ-kheo
rằng: “Các ông ắt đều do nghèo
hèn mà xuất gia. Do đó, nay chỉ quý trọng
cơm áo. Hành như thế chẳng khác
hàng bạch y! Nay các ông phải nên cùng
với tôi cầu pháp thanh tịnh sâu xa của
đức Phật”. Lúc ấy, các tỳ-kheo
dùng kệ đáp rằng: “Những gì
chúng tôi làm, chuyện này đều đã
được. Áo cơm tột
sung túc, tránh khỏi vua sai khiến, an ổn,
rất vui sướng. Chẳng ai dám khinh
mạn. Lúc tại gia khổ não, nay đều
chẳng còn nữa. Đó gọi là
Niết Bàn, an vui, sướng bậc nhất.
Ngoại trừ chuyện này ra, ta đều
chẳng dùng tới”. Khi ấy, tỳ-kheo
Đà Ma Thi Lợi nghe lời kệ
đó xong, tâm liền bi
thương, áo não, ứa lệ, khóc
lóc, liền lìa bỏ các tỳ-kheo ấy,
một mình vào chỗ sâu thẳm trong núi
rừng, một dạ tinh thành muốn cầu
pháp sâu. Trước đó, Di Lâu Kiên Đà
Phật có một đại đệ tử tên
là Kiên Lao, là một vị đại A La Hán tu
hạnh thanh vắng, ở một mình trong núi
sâu, ít ham muốn, biết đủ, tâm thích
viễn ly, việc làm đã xong, lục thông, tam
minh, ở trên vách hang đá nơi Ngài cư trụ trong núi sâu,
viết bài kệ rằng: “Sanh tử
chẳng đoạn tuyệt, do ham vị tham dục.
Ôm oán vào mộ phần, oan uổng chịu cay
đắng. Thân thối như xác chết, chín
lỗ tuôn bất tịnh, như giòi ưa thích
phân. Ngu tham thân khác gì. Ức tưởng,
phân biệt xằng, chính là gốc ngũ
dục. Người trí chẳng phân biệt,
ngũ dục liền đoạn diệt. Tà niệm sanh tham
đắm. Tham đắm sanh phiền năo. Chánh
niệm chẳng tham đắm, phiền não
khác cũng tận”. Tỳ-kheo Đà Ma Thi
Lợi trải khắp núi sâu, thấy bài
kệ ấy rồi, đọc tụng, tư duy ý
nghĩa, chẳng lâu sau, đắc ngũ thần
thông).
3) Giáo huấn về công
đức của từ tâm
Kinh Ban Châu Tam Muội[4]
dạy: “Từ tâm tỳ-kheo chung bất trúng
độc, chung bất trúng binh, hỏa bất năng
thiêu, thủy bất năng tử, đế
vương bất năng đắc kỳ tiện”
(Tỳ-kheo có từ tâm trọn chẳng
trúng độc, trọn chẳng trúng binh
đao, lửa chẳng thể đốt,
nước chẳng thể nhấn chết
chìm, đế vương chẳng thể
thừa dịp [làm hại]).
4) Giáo huấn “đừng lo
lắng cơm áo”
Kinh Phật Tạng[5]
dạy: “Nhược hữu nhất tâm hành
đạo tỳ-kheo, thiên ức thiên thần nguyện
cộng cúng dường, đản năng
nhất tâm hành đạo, chung diệc bất niệm
y thực sở tu. Như Lai bạch hào
tướng trung bách thiên ức phần quang
minh, kỳ trung nhất phần cung chư đệ
tử. Giả sử nhất thiết thế gian nhân
giai xuất gia, tùy thuận pháp hành, hào tướng
bách thiên ức phần bất tận kỳ
nhất” (Nếu có một tỳ-kheo nhất tâm
hành đạo thì ngàn ức thiên thần
nguyện cùng cúng dường. Chỉ cần nhất tâm tu đạo
thì cũng trọn chẳng cần phải
nghĩ đến cơm áo. Từ trong trăm
ngàn ức phần quang minh nơi tướng
bạch hào của Như Lai, có một phần
dành cho các đệ tử. Giả sử
hết thảy mọi người trong thế gian
đều xuất gia, tùy thuận pháp mà
hành, chẳng tốn hết một phần trong
trăm ngàn ức phần hào tướng).
5) Giáo huấn về kiểm
điểm cái tâm để đối đãi
nữ nhân
Kinh Trường A
Hàm[6]
quyển bốn chép: “A Nan bạch Phật ngôn:
‘Phật diệt độ hậu, chư nữ nhân bối
lai thọ hối giả, đương như chi hà?’
Phật cáo A Nan: “Mạc dữ tương
kiến’. A Nan hựu bạch: ‘Thiết tương
kiến giả, đương như chi hà?’ Phật
ngôn: 'Mạc dữ cộng ngữ’. A Nan hựu
bạch: ‘Thiết dữ ngữ giả, đương
như chi hà?’ Phật ngôn: - Đương tự
kiểm tâm”.
(A Nan bạch Phật rằng: “Sau khi
Phật diệt độ, các hàng nữ nhân
đến xin được giáo huấn thì
nên làm như thế nào?” Phật bảo:
“Đừng gặp họ”. A Nan lại bạch:
“Nếu gặp gỡ thì nên làm như
thế nào?” Phật nói: “Đừng nói
với họ”. A Nan lại bạch: “Nếu nói
với họ thì như thế nào?” Phật
dạy: “Hãy nên tự kiểm cái tâm”).
6) Giáo huấn về tám pháp
thoái thất, tám pháp tinh tấn
Kinh Trường A
Hàm, quyển thứ chín chép: “Vân hà
bát thoái pháp? Giải đãi tỳ-kheo
khất thực bất đắc, tiện tác
thị niệm ‘ngã ư kim nhật khất
thực bất đắc, thân thể bì
cực, bất năng kham nhậm tọa Thiền, kinh
hành’, tức tiện ngọa tức.
Đắc thực ký túc, phục tác
thị niệm ‘ngã triêu khất thực,
đắc thực quá túc, thân thể trầm
trọng, bất năng kham nhậm tọa Thiền, kinh
hành’, tức tiện ngọa tức. Thiết hoặc
chấp sự, tiện tác thị niệm ‘ngã kim
chấp sự, thân thể b́ cực, bất năng kham
nhậm tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện
ngọa tức. Thiết dục chấp sự,
tiện tác thị niệm ‘minh đương chấp
sự, tất hữu bì cực, kim nhật
bất đắc tọa Thiền, kinh hành’,
tức tiện ngọa tức. Thiết thiểu
hành lai, tiện tác thị niệm ‘ngã triêu
hành lai, thân thể b́ cực, bất năng kham
nhậm tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện
ngọa tức. Thiết dục thiểu hành,
tiện tác thị niệm ‘ngã minh đương
hành, tất hữu bì cực, kim giả bất đắc tọa Thiền, kinh
hành’, tức tiện ngọa tức. Thiết ngộ
tiểu hoạn, tiện tác thị niệm ‘ngã
đắc trọng bệnh, khốn đốc luy
sấu, bất năng kham nhậm tọa Thiền, kinh
hành’, tức tiện ngọa tức. Sở hoạn
dĩ sai, phục tác thị niệm ‘ngã sai vị
cửu, thân thể luy sấu, bất năng kham
nhậm tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện
ngọa tức.
Vân hà bát tinh tấn? Khất thực
bất đắc, tức tác thị niệm
‘ngã thân thể khinh tiện, thiểu dục thụy
miên, nghi khả tinh tấn tọa Thiền, kinh hành’.
Khất thực đắc túc, tiện tác thị
niệm ‘ngã kim thực băo, khí lực sung túc, nghi cần
tinh tấn’. Thiết hữu chấp sự, tiện
tác thị niệm ‘ngã hướng chấp sự,
phế ngã hành đạo, kim nghi tinh tấn’. Thiết
ưng chấp sự, tiện tác thị niệm ‘minh
đương chấp sự, phế ngã hành đạo,
kim nghi tinh tấn’. Thiết hữu hành lai, tiện
tác thị niệm ‘ngã triêu hành lai, phế
ngã hành đạo, kim nghi tinh tấn’. Thiết dục
hành lai, tiện tác thị niệm ‘ngã minh
đương hành, phế ngã hành đạo, kim
nghi tinh tấn’. Thiết ngộ hoạn thời,
tiện tác thị niệm ‘ngã đắc
trọng bệnh, hoặc năng mạng chung, kim nghi
tinh tấn’. Hoạn đắc tiểu sai, phục
tác thị niệm: - Ngã
bệnh sơ sai, hoặc cánh tăng động, phế
ngã hành đạo, kim nghi tinh tấn”.
(Thế nào là
tám pháp lui sụt? Tỳ-kheo biếng nhác, khất thực chẳng
được, liền nghĩ thế này ‘hôm nay
ta khất thực chẳng được, thân
thể mệt mỏi tột cùng, chẳng thể
kham tọa Thiền, kinh hành’, bèn liền
nằm nghỉ. Xin được thức
ăn đầy đủ, lại nghĩ thế này
‘ta buổi sáng khất thực, được
thức ăn quá đầy đủ, thân thể
nặng nề, chẳng thể kham tọa
Thiền, kinh hành’, bèn liền nằm nghỉ.
Nếu phải làm lụng, liền nghĩ thế
này ‘ta nay làm lụng, thân thể mệt mỏi
tột cùng, chẳng thể kham tọa Thiền,
kinh hành’, bèn liền nằm nghỉ. Nếu
sắp phải làm lụng, liền nghĩ thế
này ‘ngày mai sẽ phải làm lụng,
ắt sẽ mệt mỏi tột cùng, hôm nay
chớ nên tọa Thiền, kinh hành’, bèn
liền nằm nghỉ. Nếu phải đi lại
đôi chút, liền nghĩ thế này “sáng nay
ta đi lại, thân thể mệt mỏi tột cùng,
chẳng thể kham tọa Thiền, kinh hành”,
bèn liền nằm nghỉ. Nếu sắp
phải đi lại đôi chút, liền nghĩ
thế này “sáng mai ta sẽ ra đi, ắt
sẽ mệt mỏi, nay chớ nên tọa Thiền, kinh
hành”, bèn liền nằm nghỉ. Nếu bị
bệnh đôi chút, liền nghĩ thế này “ta
bị bệnh nặng, khốn khó, gầy còm, chẳng thể kham
tọa Thiền, kinh hành”, bèn liền nằm
nghỉ. Bệnh đã lành, lại nghĩ thế
này “bệnh ta lành chưa bao lâu, thân thể gầy
mòn, chẳng thể kham tọa Thiền, kinh
hành”, bèn liền nằm nghỉ.
Thế nào là tám pháp tinh
tấn? Khất thực chẳng
được, liền nghĩ thế này “thân
thể ta nhẹ nhàng, ít ham muốn ngủ
nghỉ, hãy nên tinh tấn tọa Thiền, kinh
hành”. Khất thực được no đủ,
liền nghĩ thế này “nay ta ăn no, khí lực
sung túc, hãy nên siêng tinh tấn”. Nếu phải làm
lụng, liền nghĩ thế này “sáng nay ta
làm lụng, bỏ phế chuyện tu tập, nay
hãy nên tinh tấn”. Nếu sẽ phải làm
lụng, liền nghĩ thế này “ngày mai sẽ
phải làm lụng, bỏ phế chuyện tu tập,
nay hãy nên tinh tấn”. Nếu phải đi lại,
liền nghĩ thế này “sáng nay ta đi lại,
bỏ phế chuyện tu tập, nay hãy nên tinh
tấn”. Nếu sắp phải đi lại, liền
nghĩ thế này “ngày mai ta sẽ phải đi,
bỏ phế chuyện tu tập, nay hãy nên tinh
tấn”. Nếu lúc bị bệnh, liền nghĩ
thế này “ta nay bị bệnh nặng, có
thể sẽ mạng chung, nay hãy nên tinh tấn”.
Bệnh vừa đỡ đôi chút, lại
nghĩ thế này: “Bệnh ta vừa mới
đỡ, có thể sẽ lại bệnh
nặng thêm, bỏ phế chuyện tu tập, nay
hãy nên tinh tấn”).
7) Giáo huấn “chẳng bỏ
khổ hạnh đầu đà”
Kinh Tăng Nhất A Hàm[7],
quyển thứ chín chép: “Thế Tôn cáo Ca
Diếp: ‘Nhữ kim niên cao, hủ tệ, khả xả
khất thực, nãi chí chư đầu đà
hạnh, diệc khả thọ chư trưởng
giả thỉnh, tịnh thọ y thường’. Ca
Diếp đối viết: ‘Ngã kim bất tùng
Như Lai giáo’. Thế Tôn cáo viết: ‘Thiện tai! Thiện
tai! Ca Diếp! Đa sở nhiêu ích, độ nhân
vô lượng. Sở dĩ nhiên giả? Thử
đầu đà hành tại thế giả, ngã pháp
diệc đương cửu tại ư thế.
Thị cố, chư tỳ-kheo sở học, giai
đương như Ca Diếp sở tập”.
(Đức Thế Tôn
bảo Ca Diếp: “Ông nay tuổi cao, suy yếu, có
thể bỏ khất thực, cho tới các
hạnh đầu đà, cũng có thể nhận
lời thỉnh của các trưởng giả
và nhận xiêm áo”. Ca Diếp thưa rằng:
“Con nay chẳng vâng theo lời dạy của Như
Lai”. Đức Thế Tôn bảo rằng: “Lành
thay! Lành thay! Ca Diếp! Tạo nhiều lợi
ích, độ người vô lượng.
Vì cớ sao vậy? Hạnh đầu đà
này còn trong thế gian, thì pháp của ta
cũng sẽ tồn tại lâu dài nơi
đời. Do đó, sở học của
các tỳ-kheo hãy đều nên như sự tu
tập của Ca Diếp”).
* Mười hai hạnh đầu
đà
Một, A Lan Nhã (nay
sống tại Lan Nhã, tiếng Hán dịch là
Tịch Tĩnh, hãy nên nhìn vào tên mà
nghĩ đến nghĩa).
Hai, thường khất thực
(nay ở yên, đàn việt tặng
thức ăn, hãy nên biết hổ thẹn).
Ba, khất thực theo thứ
tự (nay được tặng thức
ăn, hãy nên quán nghèo, giàu v.v…)
Bốn, ăn một
bữa (nay cơm cháo ba thời, phải nên
biết hổ thẹn).
Năm, ăn có
chừng mực (nay riêng mình ăn no, hãy nên
chia cho chim, thú).
Sáu, quá Ngọ không uống
các chất nước ép (nay ăn tối,
hãy nên biết hổ thẹn. Ban đêm càng thêm tinh
tấn gấp bội).
Bảy, y phấn tảo (nay
mặc y tốt đẹp, hãy nên biết hổ thẹn).
Tám, chỉ có ba y (nay y
nhiều, hãy nên biết hổ thẹn).
Chín, ngồi nơi gò
mả (nay sống trong nhà đẹp đẽ,
hãy nên biết hổ thẹn).
Mười, ngồi
dưới gốc cây (nay sống trong nhà
đẹp đẽ, hãy nên biết hổ thẹn).
Mười một, ngồi
nơi đất trống (nay sống trong nhà
đẹp đẽ, hãy nên biết hổ thẹn).
Mười hai, chỉ
ngồi, không nằm (nay ngủ thoải mái
suốt đêm, hãy nên biết hổ thẹn).
8) Giáo huấn “chẳng dạy
đệ tử”
Kinh Bồ Tát Thiện
Giới[8],
quyển thứ tư chép: “Chiên-đà-la
đẳng cập dĩ đồ nhi, tuy hành
ác nghiệp, bất năng phá hoại Như Lai
chánh pháp, bất tất định đọa tam
ác đạo trung. Vi sư bất năng giáo ha
đệ tử, tắc phá Phật pháp, tất
định đương đọa địa ngục
chi trung. Vị danh dự cố, tụ súc đồ chúng,
thị danh tà kiến, danh ma đệ tử”.
(Hàng Chiên-đà-la
và đồ tể, tuy hành ác nghiệp,
chẳng thể phá hoại chánh pháp
của Như Lai, chẳng nhất định
đọa vào trong đường ác. Làm
thầy mà chẳng thể dạy dỗ,
quở trách đệ tử, là phá Phật
pháp, nhất định sẽ đọa vào trong
địa ngục. Vì tiếng tăm mà tụ
tập, chứa chấp đồ chúng, đó
gọi là tà kiến, gọi là đệ
tử của ma).
9) Giáo huấn “cúng
dường cha mẹ”
Ngũ Phần Luật[9]
của Di Sa Tắc Bộ, quyển thứ hai
mươi chép: “Tất Lăng Già Bà Tha phụ
mẫu bần cùng, dục dĩ y cúng
dường, nhi bất cảm, dĩ thị bạch
Phật. Phật cáo chư tỳ-kheo: - Nhược nhân
bách niên chi trung, hữu kiên đảm phụ,
tả kiên đảm mẫu, cực thế trân kỳ
y thực cúng dường, do bất năng
báo tu du chi ân. Tùng kim thính chư tỳ-kheo tận
tâm tận thọ cúng dường phụ mẫu.
Nhược bất cúng dường,
đắc trọng tội”.
(Cha mẹ của ngài Tất
Lăng Già Bà Tha (Pilinda-vatsa) nghèo
túng, Ngài muốn dùng y để cúng
dường, nhưng chẳng dám, đem
chuyện ấy bạch Phật. Đức Phật
bảo các tỳ-kheo: - Nếu người trong
một trăm năm, vai phải gánh cha, vai trái
gánh mẹ, cúng dường bằng
áo cơm quý báu nhất trong cõi
đời, vẫn chẳng thể báo ơn
trong khoảnh khắc được! Từ
nay, ta cho phép các tỳ-kheo tận tâm, trọn
hết tuổi thọ cúng dường cha mẹ.
Nếu chẳng cúng dường, sẽ
mắc tội nặng”).
10) Giáo huấn “khinh hủy lẫn
nhau”
Tát Bà Đa Tỳ Ni
Tỳ Bà Sa[10]
quyển thứ ba chép: “Học sự tỳ-kheo
khinh hủy tọa Thiền, tá sự tỳ-kheo. Tọa
Thiền tỳ-kheo diệc khinh hủy học vấn,
tá sự tỳ-kheo. Tá sự tỳ-kheo
diệc khinh hủy tọa Thiền, học vấn
tỳ-kheo. Thị cố, Đà La Phiếu[11]
dĩ tọa Thiền lực, thường hiện quang minh, kiêm tri ngọa
cụ, khuyến tá chúng sự, diệt tướng
khinh hủy thắng phụ tâm cố”.
(Tỳ-kheo chú trọng học vấn
liền khinh miệt, hủy báng tỳ-kheo tọa
Thiền hay giúp việc. Tỳ-kheo tọa Thiền
cũng khinh miệt, hủy báng tỳ-kheo học vấn
và giúp việc. Tỳ-kheo giúp việc cũng
khinh miệt, hủy báng tỳ-kheo tọa Thiền
và học vấn. Do đó, ngài Đà La
Phiếu do sức tọa Thiền, thường hiện
quang minh, kiêm trông coi ngọa cụ để khuyên
những người giúp việc, hòng
diệt tướng khinh miệt, hủy báng
và cái tâm hơn thua).
11) Giáo huấn “thâu nhiếp,
dưỡng dục đồ chúng”
Kinh Tỳ Ni Mẫu[12],
quyển thứ sáu chép: “Dưỡng đồ
chúng: Nhất, pháp sự nhiếp; nhị, y thực nhiếp.
Thường ưng phương tiện giáo thọ
quyến thuộc, mạc linh đa cầu, nhiếp linh tọa
Thiền, tụng kinh, tu phước, ư thử
tam nghiệp trung ưng giáo. Phục ưng quán đồ
chúng nhạo đa ngôn phủ? Nhạo đa miên phủ? Nhạo
tại gia phủ? Nhạo tụ tập điều hý
phủ? Phục ưng quán thùy hành như pháp?
Thùy hành bất như pháp? Nhược như
pháp giả, ưng gia y thực nãi chí pháp vị,
sổ sổ giáo thọ. Nhược bất như pháp
giả, ưng ngữ linh khứ, hậu
thời hối cải giả, hoàn thính tại
chúng. Tùng vô lạp nãi chí cửu
lạp, thị danh hạ tọa. Tùng thập lạp
chí thập cửu lạp thị danh trung tọa.
Tùng nhị thập lạp chí tứ thập
cửu lạp, thị danh thượng tọa.
Ngũ thập lạp dĩ thượng, quốc
vương, trưởng giả, xuất gia nhân sở
trọng, thị danh kỳ cựu trưởng túc”.
(Nuôi nấng đồ chúng:
Một là dùng pháp sự để
nhiếp, hai là dùng cơm áo để
nhiếp. Thường nên dùng phương tiện
dạy bảo quyến thuộc chớ nên cầu
nhiều, nhiếp phục
họ tọa Thiền, tụng kinh, tu phước,
hãy nên dạy bằng ba nghiệp ấy. Lại nên
xem xét đồ chúng
có thích nói nhiều hay không? Thích ngủ
nhiều hay không? Thích ở nhà hay không?
Thích tụ tập đùa giỡn hay không?
Lại nên xem xét ai hành đúng như pháp? Ai
hành chẳng đúng pháp? Nếu là kẻ
đúng pháp, hãy nên tăng thêm cơm, áo,
cho đến pháp vị, dạy bảo nhiều
lượt. Nếu là kẻ chẳng như
pháp, hãy nên bảo kẻ đó rời đi.
Sau đó, [kẻ đó] hối cải thì
vẫn cho phép ở trong chúng. Từ không
có pháp lạp cho đến chín lạp thì
gọi là hạ tọa. Từ mười
lạp cho tới mười chín lạp
thì gọi là trung tọa. Từ hai mươi
lạp cho tới bốn mươi chín lạp
thì gọi là thượng tọa. Từ
năm mươi lạp trở lên, là bậc
được quốc vương, trưởng
giả, người xuất gia tôn trọng,
được gọi là bậc trưởng
lão tôn túc kỳ cựu).
12) Giáo huấn về “trộm
cắp vật dụng của Tăng”
Quyển bảy mươi
bốn sách Pháp Uyển Châu Lâm[13]
ghi: “Kinh Phương Đẳng nói: - Bồ
Tát ngôn: Ngũ Nghịch, Thập Ác, ngã
sở năng cứu. Đạo tăng vật
giả, ngã bất năng cứu” (Kinh
Phương Đẳng dạy: “Bồ Tát nói:
- Ngũ Nghịch, Thập Ác, ta có thể
cứu, chứ trộm vật của Tăng, ta
chẳng thể cứu”).
13) Giáo huấn về “đạt
được nhiều lợi dưỡng”
Quyển chín mươi
hai của sách Pháp Uyển Châu Lâm chép: “Kinh
Tạp Bảo Tạng nói: - A Xà Thế
vương vị Đề Bà Đạt Đa
nhật tống ngũ bách phủ phạn, đa
đắc lợi dưỡng. Chư
tỳ-kheo bạch Phật, Phật ngôn: ‘Mạc tiện
Đề Bà đắc lợi dưỡng’, nhi
thuyết kệ ngôn: - Ba tiêu sanh thật khô, lô vi diệc
phục nhiên. Cư lư hoài nhâm tử, loa lư
diệc phục nhiên. Ngu tham lợi dưỡng khổ, trí
giả sở sủy tiếu” (Vua A Xà Thế
mỗi ngày vì Đề Bà Đạt Đa
tặng năm trăm nồi cơm, đạt
được nhiều lợi dưỡng. Các
tỳ-kheo bạch với Phật, đức
Phật dạy: “Đừng hâm mộ lợi
dưỡng của Đề Bà”, Ngài bèn
nói kệ rằng: “Chuối trổ buồng,
chết khô. Cỏ lau cũng như thế. Con lừa
mang thai chết. Con la cũng như vậy. Ngu tham
lợi dưỡng: Khổ; bị kẻ trí
chê cười”).
14) Giáo huấn về quả báo
trong cõi âm của năm vị tăng
Sách Lạc Dương
Già Lam Ký[14]
chép: “Đời Hậu Ngụy, vị tăng
ở chùa Sùng Chân tên là Huệ Nghi chết
bảy ngày rồi sống lại, cho biết Sư đã cùng
với năm vị tỳ-kheo lần lượt
tới chỗ Diêm Vương. Một vị là
thầy Trí Thông chùa Bảo Minh, nói ‘suốt
đời khổ hạnh, lấy tọa Thiền
làm nghiệp’, được thăng lên thiên
đường. Hai là vị sư tên Đạo Phẩm
chùa Bát Nhã, nói ‘tụng kinh Niết
Bàn’, cũng được thăng thiên
đường. Ba là vị tăng tên Đàm
Tối chùa Dung Giác nói ‘tôi giảng kinh Hoa
Nghiêm, Niết Bàn, lãnh chúng một ngàn
người’. Vua nói: ‘Giảng kinh cho chúng
tăng mà ngã mạn, kiêu căng, ôm lòng nhân
ngã, đó là thô hạnh bậc nhất trong
các tỳ-kheo’. Vua liền bảo: ‘Giao cho
mười kẻ thuộc hạ giải vào
hắc môn’. Bốn là sư Đạo Hoằng
chùa Thiền Lâm nói: ‘Tôi giáo hóa đàn
việt tứ chúng, tạo hết thảy kinh
tượng’. Vua nói: ‘Cái Thể của sa-môn
là ắt cần phải nhiếp tâm nơi
đạo tràng, dốc chí tụng niệm,
hành Thiền, chẳng can dự chuyện
đời. Ngươi giáo hóa để
cầu tài lợi, tâm tham liền dấy lên”,
cũng tống vào hắc môn. Năm là Bảo
Chân chùa Linh Giác, nói: ‘Tôi vốn làm Thái
Thú[15],
bỏ tiền bạc của chính mình để
tạo chùa, bỏ quan để nhập đạo, tuy chẳng
hành Thiền, tụng niệm, nhưng lễ bái
chẳng thiếu’. Vua bảo: ‘Ngươi làm
Thái Thú, chiếm đoạt tài sản
trái luật, giả vờ xây chùa ấy,
chẳng phải là sức của ngươi,
mất công nhắc đến chuyện ấy
để làm chi?’, Huệ Nghi do bị bắt
lầm, được thả về. Sư bạch
với Hồ thái hậu. Thái hậu sai
hoàng môn (thái giám) hỏi cả năm chùa,
đều nói: - Có năm vị tăng ấy,
đã chết bảy ngày. Hạnh nghiệp
lúc sống đúng như lời Huệ Nghi
luận định chẳng sai”.
15) Giáo huấn “chẳng tu
Thiền Định”
Sách Vô Tránh Tam
Muội chép: “Kinh Thắng Định dạy: -
Tư phục hữu nhân bất tu Thiền
Định, thân bất chứng pháp, tán tâm độc
tụng thập nhị bộ kinh, nãi chí
Hằng hà sa kiếp giảng thuyết thị kinh,
bất như nhất niệm tư duy nhập định,
đản sử phát tâm nguyện tọa Thiền
giả, dĩ thắng thập phương nhất
thiết luận sư, hà huống đắc Thiền
Định giả. Luận sư bạch Phật ngôn:
‘Ngã đẳng đa văn, tổng trì, giảng
thuyết vô ngại, thập lục đại bộ
kính ngã như Phật Thế Tôn, hà cố
bất tán ngã đẳng, độc tán
Thiền Định?’ Phật cáo chư luận sư: -
Nhữ đẳng tâm loạn, giả sử
đa văn, hà sở ích dã? Nhữ dục
dữ Thiền Định giác lực, như manh
nhãn nhân dục đổ chúng sắc, như vô
thủ túc dục bão Tu Di, như chiết xí điểu
dục phi hư không, như văn tử xí dục
giá nhật nguyệt, như vô giang phảng dục
độ đại hải, vô hữu thị
xứ. Nhữ đẳng luận sư diệc phục
như thị” (Nay lại có người
chẳng tu Thiền Định, thân chẳng chứng
pháp, tán tâm đọc tụng mười hai bộ
kinh, cho tới trong số kiếp nhiều như
cát sông Hằng giảng nói kinh này,
chẳng bằng một niệm tư duy nhập
định. Chỉ cần phát tâm nguyện tọa
Thiền, đã hơn hẳn mười
phương hết thảy các luận sư, huống
hồ đắc Thiền Định! Luận sư bạch Phật
rằng: “Chúng con đa văn, tổng trì, giảng
nói vô ngại, mười sáu đại bộ[16]
đều tôn kính con như Phật Thế Tôn,
cớ sao chẳng khen ngợi chúng con,
chỉ riêng khen ngợi Thiền Định?”
Đức Phật bảo các luận sư:
“Các ông tâm loạn, giả sử đa văn,
có ích chi đâu? Các ông so sánh với
sức của Thiền Định, thì như
người mù mắt mà toan thấy
các sắc, như không có chân tay mà muốn
ôm núi Tu Di, như chim gãy cánh mà muốn bay
lên hư không, như cánh con muỗi toan che mặt
trời, mặt trăng, như chẳng có
thuyền, tàu mà muốn vượt biển
cả, chẳng có lẽ ấy. Hàng luận
sư các ông cũng giống như thế
đó”).
Hơn nữa, trong Tỳ Bà Sa
Luận có nói: “Nếu có các tỳ-kheo
chẳng chịu tọa Thiền, thân chẳng chứng
pháp, tán tâm đọc tụng, giảng nói
văn tự, biện luận, vì kẻ
chẳng hiểu biết bèn nói dối là
có trí, chứ chẳng thể lừa
gạt người có trí, tâm cao ngạo khinh
miệt người tọa Thiền. Luận sư
như thế chết rồi đọa vào địa
ngục, nuốt hòn sắt nóng. Thoát
khỏi địa ngục, lại làm thân lợn,
dê, gà, chó v.v…”
16) Giáo huấn về “tiếng tăm
vô ích”
Sách Ma Ha Chỉ Quán
viết: “Xưa kia, thiền sư ở đất
Nghiệp hay Lạc Dương đạo truyền
khắp sông, biển. Khi trụ thì bốn
phương hướng về ngưỡng mộ
như mây, đi thì trăm ngàn người
kết đoàn, ồn ào, ầm ĩ, cũng
có ích chi? Lâm chung đều hối hận! Tu hành
đến mức đó, hãy nên tự suy
xét, trí lực mạnh mẽ th́ cần phải tạo
lợi ích rộng lớn. Nếu chẳng
như vậy, hãy nên tự an nhẫn, tu
tam-muội sâu xa, dốc sức hành trì mới
khỏi trễ tràng vậy!”
17) Giáo huấn về hai chữ
Niệm và Tư
Thiện Kiến Tỳ Bà Sa Luật,
quyển thứ tư chép: “Niệm
tưởng là gì? Thoạt đầu
đặt tâm nơi chỗ quán, đó gọi
là Niệm. Do tâm đã đặt nơi
chỗ quán, tâm quẩn quanh nơi chỗ quán,
thì gọi là Tư. Ví như tiếng chuông,
trước lớn sau nhỏ. Thoạt đầu,
tiếng lớn giống như Niệm. Sau đó
nhỏ dần là Tư. Như chim bay liệng,
thoạt đầu là động như Niệm. Sau đó
là Định, như Tư. Như ong hút mật
hoa, thoạt đầu đến bên hoa là Niệm, sau
đó chọn lựa là Tư”.
18) Giáo huấn về sự tinh
tấn của Bồ Tát
(Khi hai vị Bồ Tát ấy
hành tinh tấn, trong một ngàn năm, chưa
từng dấy ý niệm muốn nằm,
chưa từng dấy ý niệm muốn ngồi,
chưa từng một phen khom mình ngồi xổm,
chưa từng ăn hơn một bữa, chưa
từng dấy ý niệm so đo thức ăn mặn, nhạt,
ngọt, đắng, cay, chua, ngon, dở. Mỗi khi
khất thực, chưa từng nhìn mặt
người cho thức ăn là đàn ông
hay phụ nữ? Cho đến trẻ trai, trẻ
gái, đều chẳng nhìn ngó. Ở
dưới cội cây, chưa từng ngửa
mặt xem hình tướng của cây. Y phục
đã mặc chưa từng thay đổi.
Chưa từng có một niệm dấy lên dục
giác, khuể giác, hại giác. Chưa
từng khởi duyên thân thiết dù cha, hay mẹ,
anh em trai, chị em gái và các quyến thuộc.
Chưa từng dấy ý niệm ngửa xem
các sắc trong hư không, mặt trời,
mặt trăng, tinh tú, mây, ráng v.v… Chưa
từng dấy ý niệm từ chỗ
rợp bóng tới chỗ sáng sủa,
từ chỗ nóng bức đến chỗ
mát mẻ. Vào lúc rét buốt, chưa
từng dấy ý niệm đắp y dày
ấm để được ấm áp dễ
chịu. Chưa từng dấy ý niệm bàn
luận chuyện vô ích trong thế gian. Hai vị
Bồ Tát ấy hành tinh tấn kiên cố như
thế đó).
Bình luận: Từ câu “trong
một ngàn năm, chưa từng dấy ý
niệm muốn nằm” trở đi, mỗi câu
đều có bốn chữ “trong một ngàn
năm”. Đây là chuyện của bậc
đại Bồ Tát, phàm phu chẳng thể
làm được! Riêng nêu bày ra, nhằm
khiến cho mọi người biết Bồ Tát
trong một ngàn năm vô niệm, mà bọn ta
thì trong một năm, trong một tháng, trong
một ngày, cho đến trong một thời,
còn chẳng thể [vô niệm] được,
há chẳng hổ thẹn ư? Lại còn
chẳng nỗ lực mà hành, chút phần
cũng khó lắm thay!
19) Giáo huấn nhằm răn
dạy, khích lệ người xuất gia
Bài Xuất Gia Châm
của pháp sư Từ Ân có nói: “Bỏ
nhà xuất gia vì lẽ nào? Đảnh lễ
Không Vương cầu xuất ly. Tam sư, thất
chứng định sơ cơ. Cạo tóc, y
nhuộm, phát hoằng thệ. Khử tham sân,
trừ thô, keo. Trong mười hai thời
thường cẩn thận. Mài luyện chân
tánh như hư không. Tự nhiên đuổi
lùi trận ma quân. Siêng học tập, tìm bậc
thầy. Nói với đồng nhân
kham nương cậy. Tâm địa đừng loạn như nùi gai. Vùi uổng
thời gian một trăm năm. Theo gót tiền
hiền, học tiên thánh. Nhờ trọn Văn, Tư,
Tu chứng
đắc. Đi, đứng, ngồi,
nằm, phải chuyên ròng. Niệm niệm
tương ứng không sai chạy. Chân kinh của
Phật mười hai bộ. Ngang dọc chỉ bảo
nẻo Bồ Đề. Chẳng tu, chẳng nghe,
chẳng hành theo. Hỏi ông ngày nào tâm khai
ngộ? Gấp suy xét, như lửa cháy
đầu. Đừng đợi năm sau, năm
sau nữa! Hơi chẳng hít vào, qua
đời sau. Ai dám bảo đảm thân
chắc chắn? Chẳng nuôi tằm mà
có áo mặc, chẳng cày ruộng
mà có cái ăn. Người dệt,
người cày mồ hôi máu. Chưa thành
đạo nghiệp thí tương lai. Đạo
nghiệp chưa thành, sao
tiêu được? Xét thay cha, đau xót
mẹ, nuốt đắng phun ngọt tột nhọc
nhằn. Chỗ ướt nằm, chỗ
ráo dời con. Nuôi nấng vất vả con
trưởng thành. Muốn con nối nghiệp,
rạng tổ tông. Một mai từ biệt, cầu
xuống tóc. Cha mẹ tám mươi, hay chín
mươi. Bơ vơ không kẻ để nương
cậy. Nếu chẳng siêu phàm, lên dòng
thánh; cứ mãi quẩn quanh, sai quá to! Áo ruộng
phước, bát hàng phục rồng. Thọ
dụng một đời, cầu giải thoát. Nếu
vì lợi nhỏ ràng buộc tâm, sao lên
bờ kia tới Niết Bàn? Thiện nam tử,
ngươi nên hay biết: Nay được
gặp gỡ điều khó
được. Đã được xuất
gia, khoác áo thâm. Như rùa mù gặp
bọng cây nổi. Đại trượng phu phải nên
dũng mãnh, bó buộc thân tâm, đừng dễ duôi.
Nếu hành và nguyện lực tương
ứng, chắc được thọ ký
hội Long Hoa”.
20) Giáo huấn răn dạy về “thật
sự tu tập”
Thiền sư Vĩnh Minh Thọ
răn dạy rằng: “Cửa ngõ học
đạo chẳng có gì đặc
biệt, lạ lùng. Chỉ cần gột rửa
chủng tử của nghiệp thức từ
vô lượng kiếp tới nay nơi căn
trần. Các ông chỉ cần tiêu trừ tình
niệm, đoạn tuyệt vọng duyên. Đối
với hết thảy cảnh giới ái
dục trong thế gian, tâm giống hệt như gỗ,
đá. Dẫu chưa sáng tỏ đạo
nhãn, tự nhiên thành tựu thân thanh
tịnh. Nếu gặp bậc thầy hướng
dẫn chân chánh, rất cần phải siêng lòng thân cận.
Giả sử tham cứu chưa thấu triệt, học
chưa thành, nhưng [lời dạy] thoảng qua
tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống
đạo, đời đời chẳng
đọa vào đường ác, đời
đời chẳng mất thân người.
Vừa mới ló đầu ra, sẽ nghe
một ngộ cả ngàn. Cần phải tin thiện
tri thức chân thật nơi đạo là nhân duyên
lớn nhất trong loài người, có
thể hóa độ chúng sanh, được
thấy Phật tánh. Than thở sâu xa
đời Mạt, kẻ gạt gẫm nói
Thiền, chỉ học những điều rỗng
tuếch, hoàn toàn chẳng có hiểu
biết thật sự, bước nào cũng
hành Hữu, miệng luôn bàn Không. Tự
mình chẳng trách nghiệp lực lôi
kéo, còn dạy kẻ khác bài bác không
có nhân quả, bèn nói ‘uống rượu,
ăn thịt chẳng trở ngại Bồ
Đề; trộm cắp, hành dâm chẳng
trở ngại Bát Nhã’. Sống thì
mắc phải phép vua, chết hãm trong A
Tỳ. Khi nghiệp trong địa ngục đã tiêu,
lại vào súc sanh, ngạ quỷ trăm kiếp, vạn
kiếp chẳng có thuở thoát ra.
Trừ khi một niệm hồi quang, lập tức
đổi tà thành chánh. Nếu chẳng tự
sám, tự hối, tự độ, tự tu, chư Phật có
xuất hiện cũng chẳng có cách
cứu ngươi được!
Nếu cắt tim, gan [của chính
mình] giống như gỗ, đá thì có
thể ăn thịt. Nếu uống rượu
giống như uống phân, tiểu thì có thể
uống rượu. Nếu thấy nam nữ
đoan chánh giống như xác chết thì
có thể hành dâm. Nếu thấy tài vật của
chính mình và của người khác
giống hệt như phân, đất thì có
thể xâm đoạt, trộm cắp. Dẫu ngươi luyện
đến mức độ ấy, vẫn chưa
thể thuận theo tâm ý của chính mình,
hãy thẳng thừng đợi cho đến
khi chứng thân vô lượng thánh, mới có
thể hành chuyện nghịch, thuận trong thế
gian. Cổ thánh lập bày, há có tâm
khác ư? Chỉ vì tăng ni thời Mạt
Pháp ít người giữ giới
cấm, sợ sẽ khiến cho người
thế tục hướng thiện phần nhiều
thoái thất đạo tâm. Do vậy, rộng hành
ngăn che, bảo vệ. Ngàn kinh tuyên nói, vạn
luận trần thuật, nếu chẳng trừ
dâm, sẽ đoạn hết thảy chủng tử
thanh tịnh. Nếu chẳng bỏ rượu, sẽ
đoạn hết thảy chủng tử trí huệ.
Nếu chẳng bỏ trộm cắp, sẽ đoạn
hết thảy chủng tử phước đức.
Nếu chẳng bỏ ăn thịt, sẽ đoạn
hết thảy chủng tử từ bi. Tam thế
chư Phật đồng thanh phô diễn, tuyên nói,
Thiền Tông trong thiên hạ
một âm diễn bày, cớ sao kẻ hậu
học coi thường, chẳng nghe theo, tự
hủy chánh nhân, ngược ngạo hành ma thuyết?
Chỉ vì nghiệp chủng huân tập từ
xưa, sanh ra gặp phải thầy tà, thiện
lực dễ tiêu, gốc ác khó nhổ
trừ! Há chẳng thấy cổ thánh
nói: ‘Thấy một ma sự như một vạn
mũi tên ghim vào tim, nghe một tiếng ma như
ngàn mũi dùi chọc vào tai’. Hãy nên
gấp xa lìa, chớ nên thấy nghe. Ai nấy
hãy tự xét cõi lòng, hãy cẩn
trọng, đừng khinh dễ”.
21) Giáo huấn về “nhất tâm
nghĩ tới đạo”
* Ngài Triệu Châu
nói: “Lăo tăng trừ hai thời cơm cháo
ra, đều là chỗ
dụng tâm tạp loạn!” Ngài lại
nói: “Nếu suốt đời chẳng
lìa tùng lâm, chẳng nói
mười năm, hay năm năm, sau đấy
Phật cũng chẳng làm gì ngươi
được!” .
* Thiền
sư Ngưỡng Sơn Hành Vĩ
giữ Luật rất nghiêm, tĩnh tọa suốt
đêm, ngày ở riêng một thất, tạ
tuyệt giao du. Có người tới chỗ
Ngài, hết sức khiêm hư mời mọc,
Ngài đứng dậy đốt hương,
khoanh tay. Nam công nghe chuyện, cho là Ngài
quá tuyệt tình, Ngài thưa rằng: “Đạo
nghiệp chưa hoàn thành, năm tháng như
nước trôi, bậc đại căn khí như
Vân Môn, Triệu Châu còn nói ‘ta ngoài hai thời
cơm cháo, toàn là cái tâm vận dụng xen
tạp’, lại nói ‘ta há có công phu để
làm chuyện rảnh rỗi ư?’. Vĩ nào
dám lẩn quẩn trong t́nh đời, chú trọng
bàn luận suông ư?”
* Thiền sư Tương
Sơn Tán Nguyên nói: “Cây to
cao vốn từ một cái mầm bé tí,
nước cuộn ngập trời bắt
nguồn từ ngòi nước nhỏ. Cái
tâm thanh tịnh, vô duyên cớ dấy động ý
niệm, nguy ngập lắm thay!”
* Kinh Chánh Pháp
Niệm Xứ[17]
dạy: “Nhất thiết mê hoặc, đa do ngôn
ngữ. Thị cố, ưng đương không
nhàn khoáng dã tịch tĩnh chi xứ,
độc vô dư nhân, tại nhất xứ tọa,
nhất tâm chánh niệm, hoại phiền năo ma.
Nhất thiết thân cựu, tri thức, huynh
đệ, lai khứ tương kiến, ngữ
ngôn giai ly” (Hết thảy mê hoặc phần
nhiều do lời nói. Do vậy, hãy nên
ở chỗ tịch tĩnh nơi thanh vắng
hoặc đồng hoang, ở một mình, không
có người khác, ngồi ở một
chỗ để phá hoại ma phiền não.
Hết thảy người thân quen, tri thức, anh
em, đến đi, gặp gỡ, nói năng
đều lìa khỏi).
* Kinh Phật Bổn Hạnh
Tập[18]
dạy: “Nhược tại thiếu niên,
nhược tại trung niên, hoặc phục
lão niên, đản tu tốc cầu ưng sở
biện giả, tảo linh đắc biện, mạc
sử yêm trì, nghi tốc tật tác” (Dù
là lứa tuổi thiếu niên, hay lứa
tuổi trung niên, hay lứa tuổi lão niên,
đều chỉ nên mong sao cho những điều
đáng nên làm sẽ được sớm
thực hiện, chớ nên lần khân, mà
hãy nên nhanh chóng thực hiện).
* Căn Bản Tát
Bà Đa Bộ chép: “Giả sử nhập Định, tạm
được không ưu phiền, nhưng
chẳng thể đoạn phiền năo. Nếu
thấy đế lý thì phiền năo đoạn trừ”.
* Bàn Sơn Ngữ
Lục ghi: “Điều đại kỵ đối
với người tu hành là nói hay,
dở, đúng, sai của người khác, cho tới
hết thảy chuyện đời. Chuyện
chẳng liên quan tới mình thì miệng
chớ nên nói, tâm chớ nên nghĩ! Chỉ
vì miệng nói, tâm nghĩ, sẽ khiến cho chính mình mê
muội. Nếu chuyên luyện tâm, sẽ thường
xét lỗi mình, há có công phu quản
chuyện trong nhà kẻ khác! Tan xương,
nát thân, chỉ có cái tâm đừng động.
Thâu thập tự tâm, như một pho thánh
tượng bằng gỗ khắc, ngồi
ở trong nhà, suốt ngày chẳng có
ai cũng như thế. Phan lọng lũ lượt
vây quanh, hương hoa cúng dường, cũng vẫn như
thế. Khen ngợi như thế, hủy báng cũng
như thế. Người tu hành trong tâm
thường vô sự, thời thời
khắc khắc suy xét, lãnh hội chỗ
cội gốc nơi bổn mạng nguyên thần của
chính mình”.
* Cổ đức
nói: “Người chân chánh tu đạo,
chẳng có công sức để cắt,
chụp”.
* Lại nói: “Tạm thời
chẳng tồn tại giống như người
đã chết”.
* Bài Cảnh Sách Ca của ngài
Trung Phong có câu: “Đi cũng tu, ngồi cũng tu,
đừng bỏ lỡ tấc bóng quang âm”.
* Hàng rào nơi
vườn thuốc của Triệu Thanh Hiến công[19]
hư hoại, nhưng ông không sửa.
Người ta hỏi [lý do], Ngài đáp:
“Há có thể dùng chuyện này để
động một niệm của ta ư?”
22) Ghi chung những lời giáo
huấn nhằm giải thích nghi hoặc
* Kinh dạy: “Thiền
hữu cực diệu nội lạc, chúng sanh
xả chi nhi cầu ngoại, bất đắc nội
tâm chi ly dục, nhi ư sắc dục trung cầu
lạc” (Thiền có nội lạc cực
diệu, chúng sanh bỏ đó mà cầu bên
ngoài, chẳng biết lìa dục trong nội
tâm, cứ cầu lạc nơi sắc dục).
* Chư thiên có bảy
báu để tự vui sướng; sau đó, đọa trong
địa ngục Phí Thỉ (沸屎, phân sôi sùng sục). Người
đa văn, thế trí biện thông, sau đó sẽ
đọa làm lợn, dê, cầm thú v.v…
chẳng biết gì cả!
* Chúng sanh chẳng
có ân gì với Bồ Tát, mà Bồ
Tát thường muốn lợi ích chúng sanh.
Chúng sanh đoạt mạng Bồ Tát, cắt
chặt thân thể, nhưng Bồ Tát ban đệ
nhất Phật lạc huệ mạng cho các chúng
sanh.
* Các dục khó
thể giải, dùng gì để tháo
gỡ? Quán Thật Tướng của thân
sẽ chẳng bị nó xoay chuyển. Đại
Trí Độ Luận viết: “Thật
Tướng chính là rốt ráo không”.
7. Tự Tri Lục
(自知錄)
7.1. Lời
tựa của Tự Tri Lục
Tôi
thuở nhỏ xem Công Quá Cách[20]
của Thái Vi tiên quân, hết sức ưa
thích, bèn cho khắc in để thí
tặng. Đă ra khỏi cõi tục, hành cước,
lại còn lê la tham học, thỉnh pháp. Đã
quy ẩn nơi hang sâu, mới chú trọng
Thiền tư, chẳng rảnh chú ý
đến chuyện này. Nay đã già rồi,
lại tìm được trong đống sách
lộn xộn, vẫn vui mừng như cũ, bèn
san định đôi chút, tăng
thêm những chỗ chưa đầy đủ
rồi khắc in lần nữa. Xưa kia, tiên quân
nói “phàm nhân nên đặt sách này
nơi giường nằm, mỗi tối trước khi ngủ, ghi lại công hay lỗi
trong một ngày. Tích ngày thành tháng,
tích tháng thành năm, hoặc dùng công
để đánh giá lỗi, hoặc dùng
lỗi để đánh giá công, nhiều hay
ít đắp đổi cho nhau, tự biết tội
phước, chẳng cần phải bận tâm
cát hay hung”. Nói hết sức có lý!
Người xưa đã nói: “Con
người khổ mà chẳng tự
biết, chỉ biết điều ác bèn
sợ mà thâu liễm. Biết điều thiện
bèn càng tự gắng sức.
Chẳng biết thì sẽ mặc tình
thỏa chí, luân hãm như cầm thú, mà
cũng chẳng biết [chính mình] là
cầm thú vậy!”
Nay tôi vận tâm nâng bút, khó dối gạt linh
đài[21], tà chánh
khó giấu, khác nào gương sáng soi
hình, chẳng có thầy mà tự nghiêm,
chẳng có bạn
mà tự trách, chẳng thưởng
phạt mà khuyên răn, chẳng bói toán
mà biết hướng theo [điều lành] hay
né tránh [hung hiểm], chẳng do thiên
đường hay địa ngục mà thăng
trầm, do noi theo sách đó mà tự
đạt được đạo ấy khó chi!
Do vậy, đổi tên thành Tự Tri Lục.
Sách này kẻ bậc hạ có
được, sẽ cười to, xem còn
chẳng thể, mong chi họ sẽ ghi chép [công
và lỗi của chính mình]! Kẻ bậc trung
có được, ắt siêng năng ghi
chép. Người bậc thượng có
được, do họ tự chẳng làm
các điều ác, vâng làm các điều
thiện, cho nên ghi cũng được, mà
chẳng ghi cũng được. Vì lẽ
nào vậy? Họ vốn sẽ hành điều
thiện, chẳng phải là mong cầu
phước. Vốn sẽ chẳng làm ác,
chẳng phải vì sợ tội. Suốt
ngày dứt ác, suốt ngày tu thiện,
ngoài thì chẳng thấy tướng thiện
ác, trong chẳng thấy cái tâm “có thể
dứt, có thể tu”. Phước còn
chẳng nhận, tội cũng là tánh Không,
cần gì phải ghi chép nữa?
Ngoài ra, nhị bộ đồng tử,
lục trai chư thiên, và các vị
được cõi đời gọi là Thai
Bành Tư Mạng, nhật du, dạ du, dữ
tư, đoạt tư, nguyên hội tiết lạp[22]
v.v… la liệt rạng ngời, ở
trước ta, sau ta, bên phải, bên trái ta,
mắt sáng ngời nhìn chòng chọc ta,
nếu như ta chẳng ghi, họ sẽ ghi. Cố
nhiên [những điều họ ghi chép sẽ
tỉ mỉ] như kén tơ dày đặc,
chia chẻ từng điều mảy may. Tuy vậy,
thiên hạ chẳng phải đều là bậc
thượng. Dẫu đều là bậc
thượng, nếu tự biết mà
chẳng ghi, vẫn chẳng đánh mất
tư cách quân tử; kẻ
chẳng tự biết mà chẳng ghi
thì nếu chẳng phải do tối tăm,
ương bướng, chẳng sáng suốt,
thì sẽ là do cố chấp
vậy! Xét theo đó, nhân gian có thể
chẳng ghi chép ư?
Vì thế, nơi Nho là tứ
đoan bách hạnh, nơi Thích là Lục Độ vạn hạnh, nơi Đạo
là “ba ngàn công, tám trăm hạnh”,
đều là nói về chuyện “tích
thiện”. Bọn tự hành xử
theo kiểu “bỏ
mặc duyên, tâm niệm như tro tàn” thì
chẳng bàn đến! Nếu như viện
cớ “thiện, ác đều chẳng suy lường
được”, thấy người siêng năng
ghi chép [công, tội của chính mình], bèn ngạo mạn quở
trách rằng: “Sao lại nhọc nhằn lo nghĩ về điều ác
để làm gì?” sẽ phạm lỗi
chẳng nhỏ! Chao ôi! Người đời
siêng khổ trong vòng ngũ
dục, nhọc nhằn tinh thần suy tính suốt
cả đời chẳng ngại phiền,
nhưng lại riêng thấy phiền phức trong khoảnh
khắc trước khi ngủ, chẳng uốn
nắn tâm tánh, cũng mê hoặc lắm
thay! Siêng năng ghi chép, ba lượt phản
tỉnh, đêm ắt trình cáo với
trời, cho đến dùng đậu đen,
đậu trắng
[để ghi lại lầm lỗi hay điều
thiện],
bậc hiền trí thực hiện chẳng
bỏ, viết lại thì há có lỗi gì
vậy?
Ngày Thanh Minh năm Giáp Thìn,
tức năm Vạn Lịch 32 (1604), sa-môn Châu
Hoằng ghi
7.2. Phàm lệ
của Tự Tri Lục
- Bản cũ ghi là Công
Quá, nay là Thiện Quá, dựa theo ý
nghĩa “kiến thiện tắc thiên, hữu
quá tắc cải” (thấy điều lành
bèn thay đổi, có lỗi bèn sửa)
trong Châu Dịch. Thiện
tức là Công.
- Bản cũ có Thiên
Tôn, Chân Nhân, Thần Quân
v.v… Nay gom thành “chư thiên”. Các phần
sớ chương tấu trình, phù lục v.v…
trong bản cũ nay đều gom vào Phật
sự, mỗi thứ đều tùy theo ý
mình sùng chuộng, chẳng trở ngại.
- [Nội dung] gồm bao nhiêu
điều thiện, bao nhiêu điều ác so
với bản cũ có tăng giảm, sai khác đôi chút, nhưng đại
thể tương đồng.
- Tại gia, xuất gia,
hết thảy mọi người, hễ có
điều mong cầu, chẳng cần
nhọc thân, mệt chí, mưu tính trăm
đường để hy vọng thành công,
cũng chẳng cần phải cầu thần,
cúng trời, giết hại sanh vật hòng cầu xin
được ban phước, chỉ phát tâm
tích thiện, hoặc làm được
năm trăm, một ngàn, ba ngàn, năm ngàn
cho tới một vạn điều thiện, sẽ
tùy theo lòng mong cầu,
ắt được mãn nguyện.
- Những chuyện
dứt lỗi họa trên đây chỉ là hoa
báo. Nếu xét theo đời sau, sẽ nhờ đây mà có thể biết
quả báo chẳng hư huyễn vậy!
7.3. Chánh văn
Tự Tri Lục
7.3.1. Thiện môn (những
điều thiện)
7.3.1.1 Trung hiếu
loại
*
Phụng sự cha mẹ, dốc hết lòng
kính, tận tâm phụng dưỡng, cứ
mỗi ngày là một điều thiện.
Giữ gìn giáo huấn đạo nghĩa,
chẳng trái phạm thì mỗi chuyện
là một điều thiện. Cha mẹ khuất
bóng, đúng như pháp siêu tiến, cứ
tốn kém một trăm đồng là một
điều thiện. Dùng điều thiện thế
gian để khuyến hóa cha mẹ, mỗi chuyện
là mười điều thiện. Dùng
đại đạo xuất thế gian để
khuyến hóa cha mẹ là hai mươi điều
thiện.
Giải:
Hễ nói “một trăm đồng”, tức
là một trăm đồng bạc. Chuẩn theo
mười phân tiền, bất luận tiền có
giá hay không.
* Phụng sự
mẹ kế, dốc hết lòng tôn kính, tận tâm
phụng dưỡng, cứ mỗi ngày là
hai điều thiện. Kính dưỡng ông bà
cũng luận định giống như vậy.
* Phụng sự
quân vương, dốc cạn lòng trung, ra sức,
cứ mỗi ngày là một điều thiện. Chỉ
bày thiện đạo, lợi ích một
người là một điều thiện.
Lợi ích một phương là
mười điều thiện; lợi ích
thiên hạ là năm mươi điều thiện,
lợi ích thiên hạ trong đời sau là
một trăm điều thiện. Tuân theo chế
định đương thời của vua,
chẳng trái phạm thì mỗi chuyện
là một điều thiện. Mọi việc
đều chân thật, chẳng dối, mỗi
chuyện là một điều thiện.
* Kính phụng sư
trưởng, mỗi ngày là một điều
thiện. Vâng giữ lời giáo huấn tốt
lành của thầy, mỗi lời là một
điều thiện.
* Kính anh, thương em,
mỗi chuyện là một điều thiện.
Kính yêu anh em khác cha hay khác mẹ, mỗi
chuyện là hai điều thiện.
7.3.1.2. Nhân từ
loại
* Cứu người
bị bệnh nặng, mỗi người là
mười điều thiện. [Giúp đỡ
người] bệnh nhẹ là năm điều
thiện. Thí một thang thuốc là một
điều thiện. Trên đường, gặp
người bệnh, chở về điều
dưỡng thì mỗi người là hai
mươi điều thiện. Nếu nhận tiền
thì chẳng phải là điều thiện.
Giải: “Nhận
tiền” tức là nhận tiền bạc
đền ơn của người đó.
* Cứu người
bị tử hình là một trăm điều
thiện. Miễn án tử hình là tám
mươi điều thiện. Giảm án tử
hình thì một người là bốn
mươi điều thiện. Nếu nhận tiền
đút lót để làm việc theo t́nh cảm riêng tư thì
chẳng phải là thiện. Cứu
người bị phạt sung quân hoặc tù
giam lao dịch thì một người là bốn
mươi điều thiện. Miễn tội ấy là ba mươi điều thiện.
Giảm án là mười lăm điều thiện.
Cứu người bị phạt trượng
thì một người là mười lăm
điều thiện. Miễn tội là mười
điều thiện, giảm án là năm
điều thiện. Cứu người bị
đánh đòn[23]
thì một người là năm điều thiện,
miễn phạt là bốn điều thiện, giảm
án là ba điều thiện. Đối với
[những hình phạt] trên đây, nếu nhận
tiền đút lót [để cứu giúp]
thì chẳng phải là điều thiện.
Phán án thiên vị, bất công thì chẳng
phải là thiện. Ở trong nhà thì
giảm, miễn tội của tôi tớ, nô bộc
cũng luận định giống như vậy.
Giải: “Cứu”
nghĩa là chính mình chẳng phải
làm chủ chuyện ấy, [mà là] ra
sức để cứu giúp. “Miễn”
là chính mình làm chủ việc đó,
đặc biệt cho kẻ đó
được miễn [hình phạt ấy]. “Phán
đoán thiên vị” tức là chẳng
dựa theo lý để tra xét kỹ càng,
chỉ dựa theo ý riêng để phán
xử, ngược ngạo tha cho kẻ thật
sự phạm tội!
* Thấy người
chết chìm bèn cứu, giúp họ tránh
khỏi, thâu dưỡng một mạng là năm
mươi điều thiện. Khuyên người khác chớ dìm chết
một mạng là ba mươi điều thiện.
Thu dưỡng trẻ thơ vô chủ, bị vứt
bỏ, mỗi mạng
là hai mươi lăm điều thiện.
* Không giết lính
đầu hàng, chẳng giết chóc kẻ
tùy tùng [của địch quân], tha sống một người là
năm mươi điều thiện.
* Cứu con
vật có sức báo đền loài
người thì một mạng là hai
mươi điều thiện. Cứu con vật không
có sức báo đền loài
người thì một mạng là mười
điều thiện. Cứu con vật nhỏ thì một
mạng là một điều thiện. Cứu con
vật cực bé thì mười mạng là
một điều thiện. Nếu cố ý nói “mạng con
vật nhỏ thiện nhiều”, chuyên cứu mạng con vật
nhỏ, chẳng cứu mạng con vật
lớn, thì chẳng phải là thiện. Nếu
chẳng tiếc giá tiền to lớn
để cứu con vật to, sẽ luận
định giống như cứu nhiều con vật
nhỏ bé.
Giải: “Có
sức báo đền con người” như
trâu cày, ngựa cưỡi, chó nuôi trong
nhà v.v… “Không có sức báo đền con
người” như lợn, dê, ngỗng, vịt,
hoẵng, nai v.v… “Mạng nhỏ” như cá,
chim sẻ v.v… “Cực nhỏ” như cá
nhỏ, tôm, ốc, cho đến ruồi, nhặng,
kiến, muỗi, mòng v.v... “Cứu”:
Hoặc là mua đem thả, hoặc cấm
tuyệt [giết hại], hoặc khuyên lơn ngưng làm. “Chuyên cứu
mạng nhỏ, chẳng cứu mạng
lớn”: Chỉ tham phước cho chính
mình, chẳng có tâm từ đối
với loài vật, cho nên chẳng phải
là thiện.
* Cứu con vật
hại chúng sanh thì một mạng là một
điều thiện.
Giải: “Hại
chúng sanh” là như rắn, chuột v.v…
Rắn chưa cắn người, chẳng
thể giết nó, nên chẳng có tội
đáng giết. Chuột tuy có hại, nhưng
tội không đến nỗi chết.
* Cúng tế, đãi
tiệc, theo lệ nên sát sanh, nhưng chẳng
giết mà dùng những con vật bán
sẵn ở ngoài chợ, tổn phí
cứ một trăm đồng là một
điều thiện. Nghề nghiệp của gia
đình là nuôi tằm, cấm chẳng nuôi
nữa là năm điều thiện.
* Thấy kẻ đánh
cá, săn bắn, đồ tể v.v…, bèn
dùng lời khéo léo khuyên họ đổi
nghề là ba điều thiện. Khuyến hóa,
chuyển biến được một
người là năm mươi điều thiện.
* Làm quan, cấm giết
chóc một ngày, sẽ là mười
điều thiện.
* Chó trong nhà, trâu cày,
ngựa cưỡi v.v… hễ chết bèn chôn
cất. Mạng con vật to thì mỗi mạng là
mười điều thiện, mạng con vật nhỏ
thì mỗi mạng là năm điều
thiện, lại còn cầu siêu cho chúng thì
mỗi mạng là năm điều thiện.
* Chẩn tế
người quan, quả, cô độc[24],
què quặt, mù lòa, dân nghèo, cứ
mỗi một trăm đồng là một
điều thiện. Thí lẻ tẻ tới
một trăm đồng là một điều thiện.
Các thứ như gạo, lúa mạch, vải
vóc giống như trên, tính theo số tiền
mà luận. Châu cấp cho người trong họ
cũng luận định giống vậy. Châu cấp cho
người hoạn nạn cũng luận
định giống như vậy. Thâu gom những dân
nghèo như trên để nuôi ăn thì mỗi
ngày là một điều thiện.
* Thấy người
khác có chuyện lo sầu, bèn khéo léo
an ủi, là một điều thiện.
* Nhằm năm mất
mùa để hạ giá gạo, liền bỏ ra
cứ mỗi một trăm đồng là một
điều thiện.
* Giúp người
đói một bữa ăn là một
điều thiện. Cho người khát uống
cứ mười lần là một điều
thiện. Giúp người rét cóng
được ngủ trong phòng ấm một
đêm là một điều thiện. Cho một
cái áo bông là hai điều thiện. Trong
đêm đen, thí đèn sáng, cứ mỗi người là một
điều thiện. Trời mưa thí đồ
che mưa, cứ mỗi người là một
điều thiện.
* Thí cho cầm thú
hai bữa ăn là một điều thiện.
* Xóa nợ một
trăm đồng cho kẻ mắc nợ là một
điều thiện. Phân lời nhiều, lâu ngày,
người đó cầu xin, áng chừng khó
thu được, bèn xóa nợ, cứ
hai trăm đồng là một điều thiện.
Thưa lên quan, quan chẳng màng, bất
đắc dĩ phải xóa nợ thì
chẳng phải là thiện.
* Cứu tiếp
người hoặc loài vật, giúp
sức cho họ trong khi họ khổ sở
thì cứ một lần là một điều
thiện.
Giải: “Cứu
tiếp” là ngưng việc lao dịch, hoặc
làm thay.
* Người chết
chẳng thể liệm, bèn thí quan tài,
phí tổn cứ mỗi một trăm đồng
là một điều thiện.
* An táng hài cốt vô
chủ, cứ mỗi người là một
điều thiện. Thí đất cho gia đình
không có phần mộ, cứ chôn một
người là ba mươi điều thiện.
Nếu thâu tô thuế (tính tiền
thuê đất hoặc nhượng đất)
thì chẳng phải là thiện. Lập
nghĩa trang từ thiện thì cứ phí
tổn một trăm đồng là một
điều thiện.
* Sửa
chữa đường hiểm trở, lầy
lội, phí tổn cứ mỗi trăm
đồng là một điều thiện. Đào
giếng công cộng, dựng hoặc sửa
đình hóng mát, tạo cầu, bến,
đò v.v… đều luận định giống
như vậy. Nếu nhận tiền đút lót [để làm] thì
chẳng phải là điều thiện.
* Làm quan trên, từ
ái, vỗ về kẻ chức nhỏ thì
cứ một người là một
điều thiện. Kẻ đó phạm lỗi, xét
theo tình có thể tha thứ để
người ấy được giữ nguyên
chức là mười điều thiện. Nếu
nhận đút lót thì chẳng phải
là thiện. Phàm những vị quan trên chẳng
làm nhục thuộc hạ cũng luận định
giống như trên.
* Coi dân như con, chỉ
sợ họ bị tổn thương, cứ
mỗi chuyện là một điều thiện.
* Khéo quản tỳ
thiếp, cứ mỗi người là mười
điều thiện. Phát chi phí cho họ,
cứ mỗi trăm đồng là một
điều thiện. Bỏ tiền ra để chuộc
thân cho nam nữ, chẳng đòi họ trả
tiền chuộc, cứ mỗi trăm đồng
là một điều thiện. Bỏ tiền chuộc
nam, nữ trả lại cho người khác,
luận định giống như thế.
7.3.1.3. Tam Bảo công
đức loại
* Tạo tôn tượng
Tam Bảo, cứ một trăm đồng chi phí
là một điều thiện. [Tạo]
tượng chư thiên, tiên thánh, chánh thần
trị thế, hiền nhân, quân tử v.v… cứ
mỗi hai trăm đồng chi phí là một
điều thiện. Trùng tu luận định
giống như vậy.
Giải: “Chư
thiên” là các vị như Phạm Vương,
Đế Thích v.v… trong Dục Giới, Sắc
Giới, Vô Sắc Giới, và thiên tôn, chân
nhân, thần quân v.v… của Đạo giáo. “Tiên
thánh” như Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng v.v… “Chánh
thần” tức các vị cai quản núi,
sông v.v… “Hiền nhân quân tử” là những
vị trung thần, hiếu tử, chồng có
nghĩa, vợ trinh bạch v.v…
* Khắc kinh, luật,
luận Đại Thừa, cứ mỗi một
trăm đồng chi phí là một điều thiện.
[Khắc in kinh sách] Nhị Thừa và nhân
quả nhân thiên, cứ mỗi hai trăm đồng chi
phí là một điều thiện.
Nếu nhận tiền thì chẳng phải là
thiện. In ra để bố thí, lưu truyền
thì cũng luận định giống như thế.
Giải: “Nhận
tiền” tức là định giá để
bán chác. “Nhân thiên” tức là Ngũ Giới,
Thập Thiện do Phật, Bồ
Tát đã nói, và
chánh pháp thế gian, lục kinh, Luận
Ngữ, Mạnh Tử, các lời tốt
đẹp hoặc thiện hạnh của tiên
thánh, tiên hiền v.v…
* Kiến lập tự
viện, am, quán, và giường, tòa,
vật dụng thờ cúng v.v… nơi Tam Bảo,
cứ mỗi trăm đồng chi phí là một
điều thiện. Thí đất cho Tam Bảo,
giá trị cứ mỗi một trăm đồng
là một điều thiện. Hộ tŕ thường trụ,
chẳng để hoang phế, hư hoại, luận
định giống như vậy. Kiến lập
đền miếu thờ chư thiên, chánh
thần, thánh hiền v.v… thì cứ mỗi hai
trăm đồng chi phí là một điều
thiện. Dùng máu thịt để hiến tế
thì chẳng phải là thiện.
* Thí những vật
như hương, đuốc, đèn, dầu v.v…
để cúng dường Tam Bảo, cứ
mỗi hai trăm đồng chi phí là một
điều thiện.
* Thọ Bồ Tát
đại giới là bốn mươi
điều thiện, thọ giới Tiểu
Thừa là ba mươi điều thiện,
thọ thập giới là hai mươi
điều thiện, thọ ngũ giới là
mười điều thiện.
* Chú thích kinh, luật,
luận chánh pháp của Đại Thừa,
cứ mỗi quyển là năm mươi
điều thiện. Số quyển tuy nhiều, chỉ
[tính tối đa là] một ngàn năm trăm
điều thiện. [Chú thích giáo pháp]
Nhị Thừa và nhân quả nhân thiên, cứ
mỗi quyển là một điều thiện. Số
quyển tuy nhiều, [tối đa] chỉ là ba
trăm điều thiện. Nếu mặc lòng suy
đoán[25]
thì chẳng phải là thiện.
* Tự mình
trước tác, biên tập văn tự
chánh pháp xuất thế, cứ một
quyển là hai mươi lăm điều thiện.
Quyển nhiều chỉ [tính tối đa] là
năm trăm điều thiện. [Biên soạn sách
giảng giải] nhân quả nhân thiên, cứ một quyển là mười
điều thiện.
Số quyển
nhiều chỉ [tối đa là] một trăm
điều thiện. Nếu bàn nói vô ích,
sẽ chẳng phải là thiện.
* Thấy
kinh ngụy tạo, khuyên người khác
đừng học là một điều thiện.
* Vì quân
vương, cha mẹ, thân hữu, tri thức, pháp giới
chúng sanh, tụng kinh một quyển là hai điều
thiện. Một ngàn câu Phật hiệu là hai
điều thiện. Lễ sám một trăm lạy
là hai điều thiện. Nếu nhận tiền
[để lễ bái, đọc tụng] thì
chẳng phải là thiện. Vì chính
mình mà tụng kinh một quyển, niệm
Phật một ngàn tiếng, lễ sám trăm
lạy, mỗi điều đều là một
điều thiện.
* Vì vua, cha, cho
đến pháp giới chúng sanh, thí
thực một đàn, cứ mỗi một trăm đồng
chi phí là một điều thiện. Đăng
đàn thí pháp, cứ mỗi lần là ba
điều thiện. Nếu nhận tiền trả công
thì chẳng phải là thiện. Vì cõi
đời bị tai nạn mà
làm đạo tràng nhương tai[26],
cứ mỗi trăm đồng chi phí là
một điều thiện. Nếu nhận tiền
thì chẳng phải là thiện.
* Giảng diễn kinh,
luận Đại Thừa, cứ năm người tham dự là
một điều thiện. Số người tuy
nhiều, [tối đa] chỉ là một trăm
điều thiện. [Giảng diễn] Nhị Thừa
và nhân quả nhân thiên, người hiện diện
cứ mười người là một
điều thiện, nhiều người thì [tối
đa] chỉ tám mươi điều thiện. Nếu
nhận tiền thì chẳng phải là
thiện. Cầu danh thì chẳng phải là
thiện. Giảng diễn ngoại
đạo hư huyền vô ích cho người
khác thì chẳng phải là thiện.
* Lễ bái Đại
Thừa kinh điển, cứ năm mươi
lạy là một điều thiện.
* Đối với
chỗ giảng diễn chánh pháp, chí tâm
đến nghe, cứ một buổi là một
điều thiện.
* Thí cơm cho tăng, do
họ đến xin mà cho thì cứ ba vị
tăng là một điều thiện. Mời
thỉnh tới nhà [thọ trai], cứ hai
vị tăng là một điều thiện.
Đưa tới chùa cúng thì cứ
một vị tăng là một điều thiện. Nếu
tận thành, tận kính,
cứ mỗi vị tăng là năm điều
thiện. Nếu họ phải đôi ba lượt
tốn công xin xỏ rồi mới cho thì
chẳng phải là thiện.
* Thí cơm cho tăng,
chẳng cự tuyệt người ăn xin,
bình đẳng cho họ ăn, cứ hai
người là một điều một thiện.
* Hộ tŕ tăng chúng,
cứ mỗi người
là một điều thiện. Người
được hộ trì chẳng phải
là người thì chẳng phải là
thiện.
* Độ đệ
tử đức lớn, hiền lương,
cứ một người là năm mươi
điều thiện. Đệ tử hiểu
nghĩa, giữ hạnh, cứ một
người là mười điều thiện. Đệ tử
chỉ hiểu đạo nghĩa, hoặc chỉ
giữ hạnh, cứ một người là
năm điều thiện. Nếu độ
người bừa bãi thì chẳng
phải là thiện.
Giải: “Đệ
tử đức lớn, hiền lương”
là người có thể tiếp nối
huệ mạng của Phật, lợi ích
trời người trọn khắp. “Chỉ
hiểu đạo nghĩa, hoặc chỉ giữ
các hạnh” là chỉ đạt
được một điều.
7.3.1.4. Tạp thiện
loại
* Tiền tài bất
nghĩa chẳng lấy, trị giá cứ
mỗi trăm đồng là một điều thiện.
Chẳng hại đạo nghĩa, có thể
lấy mà chẳng lấy, thì cứ
mỗi trăm đồng là hai điều thiện.
Ở nơi tột bậc nghèo cùng mà
chẳng lấy, mỗi trăm đồng là ba
điều thiện.
* Trong cảnh dục
nhiễm, giữ tâm chánh đáng chẳng
nhiễm, là năm mươi điều thiện. Nếu do chẳng có
khả năng để làm [chuyện dục nhiễm] bèn thôi thì
chẳng phải là thiện.
* Mượn tài
vật của người khác, trả đúng
hạn, chẳng để trễ là một
điều thiện.
* Trả nợ thay cho
người khác, cứ một trăm
đồng là một điều thiện.
* Nhượng
đất, nhượng tài sản, giá trị
cứ mỗi trăm đồng là một
điều thiện.
* Dùng đạo
nghĩa răn dạy con cháu, cứ mỗi chuyện
là một điều thiện. Nhà quyền quý
ước thúc người nhà, môn khách
[không làm chuyện xằng bậy] thì cũng
luận định giống như vậy.
* Khuyên người
khác bỏ tiền làm các thứ công đức,
cứ mỗi một trăm đồng bỏ ra
là một điều thiện. Do cầu danh
lợi mà quyên mộ, khuyến hóa thì
chẳng phải là thiện.
* Khuyên người
khác dứt thưa kiện, miễn tử
hình một người là mười
điều thiện. [Miễn giảm] hình phạt sung
quân, tù đày, cứ một người
là năm điều thiện. [Miễn giảm] hình phạt
trượng, cứ một
người là hai điều thiện. [Miễn giảm] hình phạt
đánh roi, cứ một
người là một điều thiện. Khuyên
lơn hòa giải người tranh đấu
là một điều thiện. Nếu nhận tiền
thì chẳng phải là thiện.
* Thốt lời chí
đức thì cứ mỗi lời là
mười điều thiện.
Giải: Như ba
lời của Tống Cảnh Công[27],
tứ tri của Dương Bá Khởi[28]
v.v…
* Thấy điều
lành ắt làm, cứ mỗi chuyện
là một điều thiện. Biết lỗi
ắt sửa, cứ mỗi chuyện là một
điều thiện.
* Biện luận bèn
trống lòng cầu hiền, hễ đúng lý
bèn vâng nhận, cứ mỗi nghĩa là một
điều thiện.
* Đề cử
dùng người hiền lương, cứ
mỗi người là mười điều thiện.
Xua đuổi đứa gian tà, cứ một
đứa là mười điều thiện. Nêu
cao điều thiện của người khác,
cứ mỗi chuyện là một điều thiện.
Ẩn giấu điều ác
của kẻ khác, cứ mỗi chuyện là
một điều thiện. Thấy người rêu rao
chuyện ác của người khác bèn
khuyên thôi dứt là năm điều thiện.
* Cung kính, cúng
dường người hiền thiện,
cứ một người là năm điều
thiện. Thấy kẻ khác xâm hủy bậc hiền
thiện, bèn khuyên ngừng tay, là năm
điều thiện.
* Khuyến hóa
người ác sửa ác theo thiện,
cứ một người là mười
điều thiện.
* Thành tựu gia
nghiệp cho một người là mười
điều thiện. Thành tựu học nghiệp cho
một người là hai mươi điều thiện.
Thành tựu đức nghiệp cho một
người là ba mươi điều thiện.
* Hứa hẹn
với bạn bè, giữ đạo nghĩa
chẳng trái lời hứa hẹn là
mười điều thiện. Vì đạo
nghĩa chẳng màng thân mạng là một
trăm điều thiện. Vì đạo nghĩa
chẳng phụ lời gởi gắm
tài vật thì cứ mỗi trăm đồng
là một điều thiện.
Giải: “Chẳng
trái lời hứa hẹn” như treo
kiếm trên cây[29]
chẳng hạn. “Thân mạng” là như vì
bảo vệ con côi mà tử tiết chẳng
hạn. “Tài vật” như trả vàng cho con
thơ.
* Có ân ắt báo,
cứ mỗi chuyện là một điều
thiện. Báo ân vượt bậc là mười
điều thiện. Có thù chẳng báo, cứ
mỗi chuyện là một điều thiện. Nếu
phá hoại lẽ công bằng để báo ân
riêng thì chẳng phải là thiện.
* Mặc áo rách
vá, cứ mỗi bộ là hai điều thiện.
Áo vải thô, cứ mỗi tấm áo là
một điều thiện. Nếu vốn chẳng
có áo tốt lành,
đành mặc [áo rách nát] thì
chẳng phải là thiện. Làm bộ
để được tiếng khen thì
chẳng phải là thiện.
* Người ăn
thịt bèn bớt ăn, cứ mỗi
bữa là một điều thiện.
Người ăn chay giảm bớt
lượng ăn là hai điều thiện. Nếu
do không có sức để ăn đầy
đủ bèn giảm bớt thì chẳng
phải là thiện.
* Người ăn
thịt thấy giết [con vật đó] bèn
chẳng ăn, đó là một điều thiện.
Nghe tiếng giết bèn chẳng ăn, là một
điều thiện. Vì mình mà giết, bèn
chẳng ăn, đó là một điều thiện.
* Nhẫn chịu sự
trái ngang xảy đến, cứ mỗi chuyện
là một điều thiện.
* Nhặt vật
đánh rơi trả lại cho chủ, giá trị
cứ mỗi trăm đồng là một
điều thiện.
* Quy lỗi vào mình,
quy điều thiện cho người khác,
cứ mỗi chuyện là hai điều thiện.
* Đối với danh
vị, tài lợi v.v… an phận nghe theo mạng
trời, chẳng chèo kéo, mưu tính,
cứ mỗi chuyện là mười điều
thiện.
* Ở trong đại
chúng, thường
nghĩ vì đại chúng, chẳng vì
chính mình, cứ mỗi ngày ở
nơi đó là một điều thiện.
* Thà mất tiền
tài của chính mình, thà mất địa
vị của chính mình để khiến cho
người khác được tiền,
được địa vị, là năm
mươi điều thiện.
* Gặp chuyện
bất lợi và các hoạn nạn,
chẳng oán trời trách đất mà thuận chịu,
cứ mỗi chuyện là ba điều thiện.
* Đối với
các chuyện cầu phước, nhương tai
v.v…, chỉ chấp nhận thiện nguyện,
chẳng chấp thuận sát sanh để cúng
tế, đó là năm điều thiện.
* Truyền cho
người khác sách điều dưỡng
thân mạng, cứ mỗi quyển là năm
điều thiện. Toa thuốc cứu bệnh,
cứ năm toa là một điều thiện.
Nếu nhận tiền thì chẳng phải là
thiện. Chẳng có hiệu nghiệm mà hư
vọng lưu truyền thì chẳng phải là
thiện.
* Nhặt giấy có
chữ vứt trên đường để
đem thiêu, cứ một trăm chữ là
một điều thiện.
* Có tiền tài,
có thế lực, có thể sai sử
mà chẳng sai sử, thuận lý an
phận, cứ mỗi chuyện là mười
điều thiện.
* Do quyền thế có
thể phụ bạc, nhưng chẳng phụ, là
mười điều thiện.
* Người khác
dạy thuật luyện đan bèn từ chối
chẳng học, là ba mươi điều thiện.
Người khác cho đan dược
hoặc bạc đã luyện thành, bèn
bỏ chẳng dùng, giá trị cứ
mỗi một trăm đồng là ba điều
thiện.
Bổ khuyết:
Phàm cứu người
khác, cứ một mạng là một trăm
điều thiện.
7.3.2. Quá môn (những
điều lầm lỗi)
7.3.2.1. Bất trung
hiếu loại
* Phụng sự
cha mẹ chẳng tôn kính, chẳng phụng
dưỡng, mỗi chuyện là một lỗi. Vi
phạm giáo huấn đạo nghĩa, mỗi chuyện
là một lỗi. Cha mẹ trách giận bèn
sanh sân hận là một lỗi. Hễ xúc phạm là
mười lỗi. Đối với những
gì cha mẹ ưa thích mà sơ sài thì
mỗi chuyện là một lỗi. Cha mẹ đã
khuất, phải nên siêu tiến mà chẳng siêu
tiến thì mỗi lần là mười
lỗi. Cha mẹ có khuyết điểm, chẳng
thể khéo léo khuyến hóa, mỗi chuyện
là một lỗi.
* Chẳng tôn kính,
phụng dưỡng ông bà, mẹ kế, mỗi
chuyện là một lỗi.
* Thờ vua chẳng
dốc cạn trung, tận sức, mỗi chuyện
là một lỗi. Phải nên nói thẳng
mà chẳng nói thẳng, chuyện nhỏ là
một lỗi, chuyện lớn là mười
lỗi, chuyện cực đại là năm
mươi lỗi. Vi phạm chế định
đương thời của vua, mỗi sự
là một lỗi. Nói lời hư giả
dối trá, mỗi chuyện là một lỗi.
* Chẳng kính
phụng sư trưởng, mỗi ngày là
một lỗi. Chẳng nương theo giáo
huấn tốt đẹp của sư trưởng, cứ
mỗi lời là một lỗi. Chống trái
là ba mươi lỗi. Nếu thầy chẳng
hiền mà bỏ đi thì không phạm lỗi.
Giải: “Chống
trái” như Trần Tương học Hứa
Hành. “Chẳng hiền mà bỏ đi”
như ngài Mục Kiền Liên lìa thầy ngoại
đạo.
* Anh em thù hằn
nhau, cứ mỗi chuyện là hai lỗi.
Lừa dối, chèn ép anh em khác mẹ
hoặc con dòng thứ thì mỗi sự
là ba lỗi.
7.3.2.2. Bất nhân
từ loại
* Người
bệnh nặng cầu cứu mà chẳng
cứu, cứ mỗi người là hai
lỗi. Bệnh nhẹ thì mỗi người là
một lỗi. Do không có tiền tài, chẳng
có y thuật nên không cứu thì không phạm
lỗi.
* Bào chế thuốc
độc là năm lỗi. Muốn hại
người khác là mười lỗi.
Hại người một mạng là một
trăm điều lỗi. [Người bị
chuốc thuốc độc] chẳng chết mà bị bệnh thì
[người bào chế hoặc dùng
thuốc độc] là năm mươi lỗi.
Hại cầm thú một mạng là
mười lỗi, [cầm thú] chẳng
chết mà bệnh là năm lỗi.
* Nguyền rủa, ếm
đối hại người, cứ một
mạng là một trăm lỗi. [Người
bị nguyền, ếm] chẳng chết mà bị
bệnh thì [kẻ ếm đối, nguyền rủa
phạm] năm mươi lỗi.
* Xử đoán sai
lầm thành án tử hình là tám
mươi lỗi. Cố ý gán tội là
một trăm lỗi. Xử đoán sai lầm
phạt [nạn nhân bị] sung quân, tù
đày, là ba mươi lỗi. Cố ý
gán tội là bốn mươi lỗi. Xử
lầm thành tội phạt trượng,
mắc tám lỗi. Cố ý phạt là
mười lỗi. Lầm phạt người
khác bị đánh gậy là bốn lỗi;
cố ý gán tội sẽ là năm lỗi.
Trong tư gia, trừng phạt quở trách tôi
tớ cũng luận định giống như
thế.
Giải: “Lầm”
là vô tâm, “cố ý” là có tâm.
* Dụng hình phi
pháp, mỗi lần dùng là mười
lỗi. [Kẻ khác] vô tội mà đánh
đập kẻ đó, cứ mỗi lần
là một lỗi.
* Mưu hại khiến cho
kẻ khác bị tử hình là một
trăm lỗi. [Mưu hại] chẳng thành
là năm mươi lỗi. Nẩy ý [mưu hại] là mười
lỗi. Mưu hại khiến cho kẻ khác bị
phạt sung quân, tù đày mà thành thì
bốn mươi lỗi. [Mưu hại] chẳng
thành là hai mươi lỗi. Nẩy ý [mưu
hại] là tám lỗi. Phạt trượng
thành công thì mười lỗi. Chẳng
thành thì tám lỗi. Nẩy ý [hại
người khác bị phạt trượng] là
năm lỗi. [Hại người khác chịu]
hình phạt đánh đập thành công là
năm lỗi, chẳng thành là bốn lỗi,
nẩy ý là ba lỗi.
* Cha mẹ dìm chết
con cái mới sanh cứ một mạng là
năm mươi lỗi. Đọa thai là hai
mươi lỗi.
Giải:
Thượng đế đã giáo huấn: “Cha
mẹ vô cớ giết con thì chính là giết nhân dân
trong thiên hạ, cho nên trở thành lỗi
nặng”.
* Sát hại
hàng binh, tàn sát dân trong thành [sau khi chiếm
được thành], cứ mỗi mạng
là một trăm lỗi. Bắt dân chúng bình
thường làm tù binh, cứ mỗi
người là năm mươi lỗi, khiến
họ bị chết là một trăm lỗi.
* Người chủ
sự biết rõ là oan uổng, nhưng do
cố kỵ quyền thế, hoặc chấp
chặt án cũ, chẳng làm trắng án,
nếu thành tội tử hình thì tám
mươi lỗi, phạt sung quân hoặc tù
đày thì phạm ba mươi lỗi.
Phạt trượng là tám lỗi, thành
hình phạt đánh đập là bốn
lỗi. Nếu nhận hối lộ, phán tử
hình là một trăm lỗi. Những điều
kế đó đều luận định giống
như trên. Các chuyện phán án cong vẹo,
trái pháp, tùy thuộc chuyện nặng
nhẹ mà cũng có thể luận định
giống như trên.
* Trong tâm ngầm dấy
ác ý muốn tổn hại kẻ khác,
cứ mỗi người là một lỗi.
Sự thành thì một người là
mười lỗi.
* Cố ý giết,
tổn thương người khác, cứ mỗi mạng là
một trăm lỗi. [Người bị hại]
tổn thương nhưng không chết là tám
mươi lỗi. Sai người khác giết, luận định giống như
vậy.
* Cố ý giết con
vật có sức báo đáp con
người thì cứ một mạng là hai
mươi lỗi. Ngộ sát là năm lỗi. Cố
ý giết con vật không có sức báo
đáp con người thì một mạng
là mười lỗi. Ngộ sát là hai lỗi.
Cố giết những con vật nhỏ bé thì
mỗi mạng là một lỗi. Ngộ sát
thì mười mạng là một lỗi.
Cố ý giết những con vật cực
bé thì mười mạng là một
lỗi. Ngộ sát thì hai mươi mạng là
một lỗi. Sai người khác giết,
luận định giống như vậy. Khen
ngợi, giúp đỡ người khác
giết chóc, luận định giống như
vậy. Do ăn uống hằng ngày mà giết,
luận định giống như vậy. Nuôi nấng
để bán cho người khác giết,
luận định giống như vậy. Bàn
xằng bậy họa phước, do cúng
bái, van vái quỷ thần mà giết chóc,
luận định giống như vậy. Bào chế
thuốc độc để giết, luận định
giống như vậy. Nuôi tằm thì luận
định giống như nuôi dưỡng để
giết.
* Cố ý sát hại
súc vật của người khác là
một lỗi. Ngộ sát cứ mười
mạng là một lỗi.
* Thấy bị giết chẳng
cứu, thuận theo những điều trên đây
mà tính lỗi giảm
một
nửa. Nếu không có cách nào cứu
thì không có lỗi. Chẳng thể cứu
nhưng chẳng thể sanh ý niệm từ bi là
hai lỗi.
Giải: “Giảm
một nửa” là như giết con vật
có sức báo đáp con người
là mười lỗi thì nay tính là
năm lỗi. Những điều sau đó
tính giảm [cách tính lỗi trong phần trên]
giống như vậy.
* Trâu cày, ngựa
cưỡi, chó nuôi trong nhà v.v… đă già bệnh chết
bèn đem bán thịt, con vật to là
mười lỗi, con vật nhỏ là năm
lỗi.
* Đang trong lúc cấm
giết chóc mà cố ý giết, sẽ
dựa theo những điều trên mà tính
lỗi gấp bội. Lén mua cũng luận tội
giống vậy. Người ở địa
vị cao, ngược ngạo tạo đầu
mối sát hại cho dân chúng cũng
luận tội giống vậy.
Giải: “Tính
gấp bội”: Như giết con vật có thể
báo đáp con người mắc hai
mươi lỗi thì nay tính thành bốn
mươi lỗi. Những điều sau đó
cứ tính tăng thêm giống như vậy.
* Phi pháp nấu
nướng sanh vật khiến cho chúng chịu
khổ sở cùng cực thì mỗi
mạng là hai mươi lỗi.
Giải: Như
nấu sống ba ba, cua, dùng lửa thiêu dê vậy.
* Thả chim ưng, thả
chó săn, câu cá, bắn chim v.v… khiến cho [những con vật] bị thương nhưng không
chết, cứ mỗi con vật là năm lỗi.
Nếu bị chết thì luận định giống
như tội cố ý giết con vật trong phần
trên. Phá kén, khuấy động hang ổ loài
vật, lấp hang, lật tổ, phá trứng,
phá thai [của các con vật], luận định giống như
vậy. Nếu làm chuyện như phá kén v.v…
để làm thiện sự, lỡ làm
chúng bị thương thì không có lỗi.
Giải: “Làm
thiện sự, lỡ làm chúng bị
thương” là như dựng cầu, lót
đường, xây chùa, tạo tháp, đủ
loại thiện sự, vốn xuất phát
từ hảo tâm, cố nhiên chẳng phải
là lỗi, nhưng cần phải sám hối,
cầu siêu cho chúng.
* Nhốt, trói chim, gia súc, cứ mỗi
ngày là một lỗi.
* Thấy gia súc của
người khác chết, chẳng khởi
từ tâm là một lỗi.
* Thấy người
quan, quả, cô, độc, dân nghèo, đói
khát, rét lạnh v.v… mà chẳng cứu
tế, cứ một người là một lỗi. Không có tiền
bạc [để
cứu tế họ] thì không có lỗi.
* Dối gạt, tổn
hại người mù, người
điếc, người bệnh, người ngu,
người già, trẻ nít, cứ mỗi người
là một tội.
* Thấy người
khác lo sầu, chẳng giúp họ bớt
lo, là một lỗi. Ngược ngạo sanh
lòng vui sướng, là hai lỗi. Tăng thêm
sầu lo cho họ, là năm lỗi. Thấy
người bị bất lợi, mất danh
tiếng, bèn sanh tâm hoan hỷ, là hai lỗi. Thấy
kẻ khác phú quý, mong cho họ nghèo
hèn, là năm lỗi.
* Năm đói kém
trữ gạo không phát ra, ngồi chờ
lúc giá cao là năm mươi lỗi. Cấm
ngặt buôn bán thóc gạo cũng luận
định giống như vậy.
* Ép bức dân
nghèo mang nợ, khiến cho họ mang tội danh bị đánh đập là năm
lỗi. Mượn tài vật của
người khác mà chẳng trả,
cứ một trăm đồng là một lỗi.
* Ép gia súc của
người khác dốc sức làm việc
đến nỗi kiệt sức, chẳng
thương xót nỗi khổ của chúng mà
cứ ép làm, cứ mỗi lúc là
mười lỗi. Đánh
đập chúng thì cứ mỗi roi là
một lỗi.
* Phóng hỏa đốt
lều, nhà của người khác, hay
đốt núi, rừng, là năm mươi
lỗi. Do vậy mà hại người, cứ mỗi mạng là
năm mươi lỗi. Hại con vật thì luận
định giống như giết con vật trong phần
trên. Cố ý muốn hại mạng người
thì mỗi mạng là một trăm lỗi.
* Đào mộ
người khác, quăng xương, cứ
mỗi mộ là năm mươi lỗi. San
phẳng mộ, cứ mỗi mộ là
mười lỗi. Mộ quá cổ, không có
hài cốt thì không có lỗi.
* Ỷ thế chiếm
đoạt ruộng đất, nhà cửa v.v…
của người khác, giá trị cứ
mỗi một trăm đồng là mười
lỗi. Chèn ép giá để ép
người ta bán, cứ mỗi trăm
đồng là một lỗi.
* Phá hoại đường
sá, khiến cho người và vật khó
đi lại, cứ mỗi ngày là năm
lỗi. Phá hoại giếng công cộng, đình
nghỉ mát, cầu cống, bến thuyền v.v…
đều luận định giống như vậy.
* Làm quan trên mà
tùy tiện phá hoại đường tiến
của thuộc hạ, cứ mỗi người
là ba mươi lỗi. Phá hoại sái pháp
là năm mươi lỗi. Người ở
địa vị trên hà
hiếp, bạo
ngược đối với kẻ
dưới, luận định giống như
vậy.
* Giam,
trói
tỳ thiếp, cứ mỗi
người là một lỗi. Mưu tính
cưỡng đoạt vợ hoặc con
gái người khác là năm mươi
lỗi.
7.3.2.3. Tam Bảo
tội nghiệp loại
* Phế bỏ, phá hoại tôn
tượng Tam Bảo, giá trị cứ
mỗi trăm đồng là hai lỗi. Phế
trừ, phá hoại tượng chư thiên,
trị thế chánh thần, hiền nhân, quân tử
v.v… giá trị cứ mỗi trăm đồng
là một lỗi. [Phá hoại] tà thần
dối đời ăn máu thịt thì không
phạm lỗi.
* Dùng lời lẽ báng bổ
Phật, Bồ Tát, La Hán, cứ mỗi
lời là năm lỗi. Báng bổ chư thiên,
chánh thần, thánh hiền, cứ mỗi
lời là một lỗi. Quở tà phá
mê, phát xuất từ lòng chân thành thì
chẳng phải là lỗi.
* Lễ Phật không đúng
thời là một lỗi. Do bệnh, hoặc do chánh sự
[mà không lễ Phật] thì không có lỗi.
Ăn ngũ tân, dùng rượu thịt,
khởi dục không đúng thời, là
năm lỗi. Vi phạm trong ngày lục trai thì
luận định gấp bội.
* Hủy hoại điện
đường, giường, tòa, các
vật thờ cúng v.v… của Tam Bảo, giá
trị cứ mỗi trăm đồng là một
lỗi. Dụ dỗ người khác phá
hoại, luận định giống như vậy.
Thấy hủy hoại mà chẳng khuyên can là
năm lỗi. Ngược lại còn giúp
sức là mười lỗi. [Phá hoại]
miếu, đền của chư thiên chánh thần,
thánh hiền v.v… giá trị cứ hai trăm
đồng là một lỗi. [Hủy hoại]
điện thờ của tà thần uống
máu ăn thịt dối đời thì không
phạm lỗi.
Giải: “Dụ dỗ”
là kẻ đó vốn chẳng nghĩ
tới, ta bèn xúi họ làm. “Giúp
sức”: Kẻ đó trước đã
muốn hủy hoại, ta bèn tán thành thêm.
* Chiếm đất của Tam Bảo,
giá trị cứ mỗi trăm đồng là
một lỗi. Chiếm phòng ốc luận
định giống như vậy.
* Xây dựng mới đền
thờ thần để cúng tế huyết
nhục, cứ một chỗ là năm mươi
lỗi, tạo một bức tượng thần
là mười lỗi. Trùng tu, thờ
tượng, mỗi chuyện luận định
giảm một nửa.
Giải: “Xây dựng
mới”: Xưa kia vốn không có, đặc
biệt kiến tạo.
* Hủy hoại kinh điển chánh
pháp xuất thế, giá trị cứ mỗi
trăm đồng là hai lỗi. Còn đối
với kinh điển Nhị Thừa, sách
vở về quả báo nhân thiên, giá trị
cứ mỗi trăm đồng là một lỗi.
* Báng bổ kinh điển chánh
pháp xuất thế, cứ mỗi lời
là mười lỗi. [Báng bổ] quả
báo nhân thiên, mỗi lời
là năm lỗi.
* Keo tiếc pháp chẳng dạy
là mười lỗi. Do họ không đáng
dạy thì không phạm lỗi. Ngăn trở
thiện pháp khiến cho chẳng lưu thông là
mười lỗi. [Nếu pháp ấy] thuộc
về tà kiến hoặc sai lầm, thì không
có lỗi. Tuy thuộc vào thiện pháp,
nhưng do đương thời ẩn tàng,
bèn thuận theo thời mà tạm ẩn
thì không có lỗi.
* Tụng kinh sai một chữ là
một lỗi, sót một chữ là một
lỗi. Trong tâm xen tạp vọng tưởng là
năm lỗi. Nghĩ tới chuyện ác là
mười lỗi. Để lời bên ngoài
xen tạp vào là năm lỗi. Nói thiện
sự[30]
là một lỗi. [Đang
tụng mà] đứng dậy đón tiếp
khách khứa là hai lỗi, nhưng vua quan
đến [bắt buộc phải
tiếp đón] thì chẳng phải là
lỗi. Chẳng tuân theo nghi thức, cẩu thả
tụng kinh là năm lỗi. Khi tụng bèn nổi
sân là mười lỗi, chửi
người khác là hai mươi lỗi, đánh người
khác là ba mươi lỗi. Viết (tức chép kinh) sơ sài, sai
sót, luận định giống như vậy.
* Dùng tà pháp của ngoại
đạo để dạy đệ tử, mỗi
người là hai mươi lỗi.
* Biên soạn ngụy kinh, mỗi quyển
là mười lỗi.
* Giảng diễn tà pháp mê
hoặc đại chúng, cứ mỗi
người hiện diện là một lỗi.
Tới chỗ họ (người giảng giải tà pháp) nghe nhận,
cứ mỗi buổi là một lỗi.
* Giảng diễn chánh pháp,
nhưng mặc tình tuân theo ý kiến riêng
của mình, trái nghịch ý chỉ của kinh,
trái nghịch bậc tiên hiền, cứ năm
người hiện diện là một lỗi.
* Biên soạn từ chương,
truyện ký diễm tình v.v… cứ mỗi
bài là một lỗi. Truyền bá thì
cứ một người là một lỗi. Tự mình ghi nhớ,
đọc thuộc, cứ mỗi bài là
một lỗi.
Giải: “Một bài”
tức là một bài thơ, một đoạn văn, hoặc
một vở kịch.
* Truyền cho người khác
các loại phương cách ác độc như ếm đối,
phá thai, cứ mỗi cách là hai mươi
lỗi.
* Tăng nhân khất thực không cho,
cứ mỗi người là một lỗi.
Người chẳng phải là tăng nhân
khất thực, không cho thì cứ hai
người là một lỗi. Do không có, nên
không cho thì không phạm lỗi. Đã chẳng
cho, còn ngược ngạo sỉ nhục là ba
lỗi. Tăng không đãi cơm tăng còn
cự tuyệt thì cứ mỗi vị Tăng
là hai lỗi.
Giải: Trước
đó nói “tục nhân không trai tăng”, lỗi
vẫn còn nhẹ. Trường hợp sau
là tăng chẳng
trai tăng, lỗi ấy càng nặng!
* Nuôi chứa đệ tử
ác chẳng đuổi đi, cứ mỗi
người là năm mươi lỗi. Đệ
tử có lỗi chẳng răn dạy,
chuyện nhỏ thì mỗi chuyện là một
lỗi, chuyện lớn thì mỗi chuyện
là mười lỗi.
7.3.2.4. Tạp bất
thiện loại
* Lấy tài vật bất nghĩa,
giá trị cứ mỗi trăm đồng là
một lỗi. Thuộc địa vị giàu có
mà lấy, cứ mỗi trăm
đồng là hai lỗi.
* Dục nhiễm người tột
bậc thân thiết là năm mươi lỗi,
[dụ dỗ] con nhà lành là mười lỗi, với
gái ăn sương là hai mươi lỗi, [ô
uế] tăng ni, tiết phụ là năm mươi
lỗi. Thấy sắc đẹp nhà lành
bèn dấy tư tâm là hai lỗi.
Giải: Đây là nói
người tục gia. Nếu là xuất gia
tăng, bất luận thân, sơ, nhà lành, hay
hèn mọn, chỉ cần phạm thì đều là
năm mươi lỗi. Hễ khởi tâm riêng tư thì đều là hai
mươi lỗi.
* Lấy trộm tài vật,
cứ mỗi trăm đồng là một lỗi.
Trộm vặt, tích tụ đến một
trăm đồng là một lỗi. Khai gian thuế
má, luận định giống như vậy. Dùng
oai thế đoạt lấy hay lừa lấy,
cứ mỗi trăm đồng là mười
lỗi.
* Chủ sự
nhận hối lộ mà tuyển dụng làm quan, hoặc
giảm tội cho người ta, cứ mỗi
trăm đồng là một lỗi. Ăn hối
lộ để phá hoại hoạn lộ của
người khác, hoặc giáng tội cho
người ta, cứ mỗi trăm đồng
là mười lỗi.
* Mượn tài vật của
người khác chẳng trả,
cứ mỗi trăm đồng là một lỗi.
Mắc nợ người khác, mong cho
người đó chết đi là mười lỗi.
* Đong, cân v.v… xuất ít, nhập
nhiều, cứ trị giá một trăm
đồng là một lỗi.
* Thấy người hiền
chẳng đề cử là năm lỗi.
Trái lại, nếu vùi dập là mười
lỗi. Thấy người ác chẳng
trừ khử là năm lỗi.
Ngược ngạo giúp đỡ kẻ
đó là mười lỗi. Ẩn điều
thiện của người khác, cứ mỗi
chuyện là một lỗi. Phô bày điều
ác của kẻ khác, cứ mỗi sự
là một lỗi. Khi do quở trách mà nêu ra
điều ác thì chẳng có lỗi.
Vì trừ hại, cứu người
mà nêu điều ác thì chẳng có
lỗi.
* Cố ý bới tìm khuyết
điểm của bậc tiên hiền, sáng lập
thuyết mới, cứ mỗi lời là
một lỗi. Trái nghịch lý thì mỗi
lời là mười lỗi. Bịa
đặt dã sử, tiểu thuyết,
truyện cười, ca khúc để vu hãm,
nói xấu người thiện lương,
mỗi chuyện là hai mươi lỗi. Chẳng
thẩm định sự thật mà lan truyền,
rêu rao chuyện thầm kín của người
khác và chuyện trong khuê phòng, cứ
mỗi chuyện là mười lỗi. Hoàn
toàn không có mà hư vọng bịa chuyện
là năm mươi lỗi. Lan truyền, niêm yết
nhằm phơi bày dấu tích xấu của
người khác, nửa thật, nửa
giả, sẽ là hai mươi lỗi. Hoàn
toàn hư vọng là năm mươi lỗi.
Mỗi lời đều thật, nhưng xuất
phát từ công tâm, vì dân trừ hại
thì chẳng có lỗi.
* Quyên mộ để lo liệu các
phước sự, nhưng trộm lấy tiền
cúng thí để làm của riêng, cứ
mỗi trăm đồng là một lỗi. Vật
dụng của Tam Bảo [mà lấy trộm], cứ mười đồng
là một lỗi. Nhân quả sai lệch, cứ
mỗi trăm đồng là một lỗi.
* Khen ngợi, giúp người
khác thưa kiện, nếu thành án tử
hình là ba mươi lỗi. Thành án bị
phạt sung quân, tù đày, là hai mươi lỗi.
Thành án phạt trượng là
mười lỗi. Thành án phạt roi là năm
lỗi. Khen ngợi, giúp đỡ
người khác đấu tranh là một
lỗi. Nếu xúi giục để chiếm
lợi, nếu thành án tử hình là
một trăm lỗi. Thành án bị phạt sung
quân, tù đày, là ba mươi lỗi. Thành
án phạt trượng là ba mươi
lỗi. Thành án phạt roi là mười lăm
lỗi. Ly gián cốt
nhục là ba mươi lỗi. Phá hôn nhân của
người khác là năm lỗi, theo
đúng lý chẳng nên kết hôn thì không
phạm lỗi.
* Thốt lời tổn
đức, cứ mỗi lời là
mười lỗi.
Giải: Như Kim Lăng tam
bất túc[31],
“thà ta phụ người, chẳng
để người phụ ta” của Tào
Mạnh Đức (Tào Tháo).
* Vọng ngữ hư dối, mỗi
chuyện là một lỗi, do [nói dối gây] hại
người là mười lỗi.
* Thấy điều thiện chẳng
làm, cứ mỗi chuyện là một lỗi.
Có lỗi mà chẳng sửa, cứ
mỗi chuyện là một lỗi. Có lỗi
mà chẳng nhận lỗi, cãi lại cho
mình là đúng, đối với
người quen biết là hai lỗi, đối
với cha mẹ, sư trưởng là
mười lỗi.
* Biện luận thiên
chấp ý kiến của chính mình,
chẳng phục thiện, cứ mỗi nghĩa
là một lỗi.
* Chẳng giáo
huấn con cháu, mặc cho chúng nó làm
chuyện bất thiện, cứ mỗi chuyện
là một lỗi. Dung túng người nhà,
môn khách thì luận định lỗi giống
như vậy.
* Chẳng học theo
bậc đại hiền là năm lỗi.
Chẳng chơi với bạn tốt đẹp,
ngược lại còn hủy báng, khinh miệt,
lừa dối là mười lỗi.
* Thốt
lời ác với bậc đáng tôn
trọng là mười lỗi. [Thốt lời
ác] đối với người quen biết
là bốn lỗi; đối với kẻ kém
hơn, nhỏ tuổi hơn là một lỗi;
hướng đến thánh nhân là trăm
lỗi;
hướng đến bậc hiền nhân quân
tử là mười lỗi.
* Dạy
người khác làm chuyện bất thiện,
cứ mỗi chuyện là hai lỗi. Dạy
người khác điều đại ác
như bất trung, bất hiếu v.v… cứ mỗi
chuyện là năm mươi lỗi. Thấy
người khác làm chuyện bất thiện,
chẳng khuyên can là một lỗi; chuyện
lớn là ba mươi lỗi. Biết kẻ
đó ương ngạnh, chắc chắn
chẳng nghe khuyên can thì không có lỗi.
* Đặt vè bêu
riếu người khác, gán biệt hiệu
xấu cho người khác, cứ mỗi
người là năm lỗi.
* Vọng ngữ
chẳng thật, cứ mỗi lời là
một lỗi. Tự nói mình đã
chứng thánh, gạt gẫm người đời,
cứ mỗi lời là năm mươi
lỗi.
* Hứa hẹn
với bạn mà không giữ chữ
Tín, chuyện nhỏ là một lỗi; chuyện
lớn là mười lỗi. Cuỗm tài
vật của người khác gởi
gắm, cứ một trăm đồng là
một lỗi.
* Có ân mà
chẳng báo đáp, cứ mỗi chuyện
là một lỗi. Có oán ắt báo,
cứ mỗi chuyện là một lỗi. Báo oán
quá lố là mười lỗi; [báo
oán] đến nỗi [kẻ đó] bị
chết là một trăm lỗi. Đối
với người gây oan uổng, muốn cho
họ chết phứt là một lỗi. Nghe kẻ
oán bị tiêu diệt, sanh lòng vui mừng
là một lỗi.
* Ăn thịt, cứ
mỗi lần ăn là một lỗi. Trái
phạm, [ăn nấu] những con vật cấm như rùa, ba ba
chẳng hạn, cứ mỗi lần ăn là
hai lỗi. Nếu là con vật có nghĩa, như
trâu cày, ngựa cưỡi, chó giữ
nhà, cứ mỗi lần ăn là ba lỗi.
Giải: Trên
đây là nói những thứ mua ngoài
chợ. Nếu tự giết để ăn
trước mắt, phải luận định
theo tội cố ý giết.
* Uống rượu
bàn bạc chuyện ác, uống một thưng
là sáu lỗi. Uống với
kẻ bất lương,
cứ mỗi thưng là hai lỗi. Vô cớ
mà cùng uống với người
thường là một lỗi. Phụng
dưỡng cha mẹ, khoản đãi khách
khứa chánh đáng [đành phải uống rượu] thì chẳng
phải là lỗi. Dùng rượu để
chưng nấu thuốc thì chẳng có lỗi.
* Mở tiệm
rượu dụ người khác đến
uống, cứ mỗi người là một
lỗi.
* Vô cớ ăn ngũ
tân, mỗi lần ăn là một lỗi. Do trị
bệnh mà ăn thì không có lỗi. Ăn xong
tụng kinh, cứ mỗi quyển là một
lỗi.
* Ngày Lục Trai ăn
thịt, mỗi lần ăn là hai lỗi. Ăn xong
lên chánh điện là một lỗi. Uống
rượu, ăn ngũ tân, luận định
giống như vậy.
* Áo tốt đẹp
quá lố, mỗi tấm áo là một lỗi.
Ăn ngon thì mỗi lần ăn là một
lỗi. Chỉ để phụng dưỡng cha
mẹ thì không có lỗi.
Giải: “Quá
lố” là người phú quý
đáng phải nên hưởng phước,
nhưng vượt ngoài mức vốn
hưởng dụng, quá mức xa xỉ,
chỉ trừ [dùng để phụng
dưỡng] cha mẹ. Chẳng phải là
để tế thần, đãi khách [mà
mặc áo quá tốt đẹp thì phạm
lỗi]. Châu Dịch có câu: “Nhị quỹ[32]
khả hưởng, mao dung sơ thực phi
bạc” (hai vạc có thể hưởng,
dùng cỏ tranh lót rau dưa cúng tế
chẳng phải là đơn bạc).
* Người ăn chay
mà cứ mong cầu áo đẹp, thức
ăn ngon, mỗi tấm áo là một lỗi,
mỗi bữa ăn là một lỗi.
Giải:
Đã biết chay trường, tự phải
nên tiếc phước. Tuy là áo vải,
ắt cầu thứ tinh hảo; tuy là cơm
chay, ắt cầu ngon ngọt, cũng bị chiết
phước!
* Khinh rẻ ngũ cốc
là vật của trời, giá trị mỗi
trăm đồng là một lỗi.
* Buôn bán các vật
như dao mổ, lưới đánh cá v.v… chi
phí cứ một trăm đồng là một
lỗi.
* Nhặt được vật
đánh rơi, chẳng trả lại cho nguyên
chủ, giá trị cứ một trăm
đồng là một lỗi.
* Có công thì quy vào mình,
có tội bèn đổ cho người
khác, mỗi chuyện là hai lỗi.
* Danh vị, tài lợi, chạy
vạy, mưu toan, cứ mong ắt cầu
được, chẳng màng phi nghĩa,
cứ mỗi chuyện là mười lỗi.
* Ở trong đại chúng,
chỉ biết vì chính mình, chẳng vì
mọi người, thì ở nơi ấy
cứ mỗi ngày là một lỗi.
* Thà khiến cho
người khác mất tiền tài, mất
địa vị, chỉ cốt sao bảo toàn
tiền tài, địa vị của chính mình,
là năm mươi lỗi.
* Gặp cảnh bất lợi và
các hoạn nạn, liền dấy
lòng oán trời, hờn người,
cứ mỗi chuyện là ba lỗi.
* Để cầu phước,
nhương tai v.v… mà chẳng tu thiện
sự, lại hứa các ác nguyện
như giết con vật cúng tế, là mười
lỗi. Sanh mạng bị giết luận định
giống như giết con vật.
Giải: “Mười
lỗi” là chỉ nói khi hứa nguyện. Tâm
đã bất lương, cho nên khi đền
nguyện bèn giết chóc lại luận tội
riêng giống như sát sanh.
* Có toa
thuốc cứu bệnh chẳng chịu truyền
cho người khác, cứ năm toa là
một lỗi. Nếu chưa kiểm nghiệm, sợ
gây hại cho người khác thì chẳng
có lỗi.
* Giấy có chữ
bị vứt bỏ chẳng đoái hoài,
cứ mười chữ là một lỗi.
* Lìa cha mẹ, xuất
gia liền bái người khác làm cha
mẹ nuôi là năm mươi lỗi.
* Người khác
truyền thuật luyện đan, nếu tiếp nhận
là ba mươi lỗi. Sử dụng đan
thuật, trị giá cứ mỗi trăm đồng
là ba lỗi. Thật sự [dùng đan thuật luyện] thành vàng
ròng, nung đốt trăm lượt chẳng
đổi thì không có lỗi.
Bổ khuyết:
* Vô cớ lên Phật
điện, lên tháp là năm lỗi. Trên
điện hoặc tháp mà ăn
mặn, uống rượu gây ô uế là
mười lỗi.
Giải:
“Cớ” tức là thắp hương,
quét dọn, tụng kinh v.v…
* Nhận hối lộ
bèn nhờ cậy để được
làm quan, giảm tội v.v… Cứ năm trăm
đồng là một lỗi. Nhận hối lộ
bèn nhờ cậy để phá hoại
hoạn lộ, gán tội cho người khác,
cứ năm trăm đồng là mười
lỗi.
Phụ lục: Nghi thức phóng
sanh
Tôi
dựa theo bản cũ của pháp sư
Tứ Minh Tri Lễ mà tham khảo, châm
chước đôi chút hòng giản tiện,
dễ hành. Phía sau, lại tăng thêm phần “thay
cho chúng nó cầu nguyện vãng sanh”. Lại
còn tăng thêm phẩm Hồi Hướng của
kinh Hoa Nghiêm để kết lại, dụng ý là
trước hết cầu sanh về thế giới Cực Lạc
của A Di Đà Phật, sau là nhập Hoa Tạng
huyền môn của Tỳ Lô Giá Na Phật. Lại
nữa, trong tháng nóng, con vật phóng sanh
đưa tới đầu tiên thì chiếu theo
nghi thức này để niệm tụng liền
phóng sanh. Những con vật đưa tới
sau đó, liền tiếp tục phóng sanh, chỉ
niệm chú Đại Bi một biến, chú Vãng
Sanh ba biến, xưng niệm A Di Đà Phật
rồi đem thả, chẳng cần phải
đợi [các con vật được
phóng sanh] có mặt đầy đủ,
kéo dài thời gian đến nỗi tổn
hoại sanh mạng. Sau đó, lại có
người tiếp tục đưa tới
[các con vật phóng sanh khác] thì cũng lại làm như thế.
Ở chỗ phóng sanh, xếp
đặt hương án, cành dương,
nước sạch. Đại chúng dùng
mắt Từ nhìn các chúng sanh, nghĩ
chúng nó trầm luân, sanh
lòng xót thương sâu xa. Lại nghĩ Tam
Bảo có đại oai lực, có thể
cứu bạt. Quán như thế xong, tay cầm
chén nước, thầm tưởng niệm
rằng: “Nhất tâm phụng thỉnh thập
phương từ phụ quảng đại linh cảm
Quán Thế Âm Bồ Tát giáng lâm đạo
tràng, gia trì nước này trọn
đủ đại công huân, rảy thấm dị loại,
khiến cho chúng nó thân tâm thanh tịnh, kham nghe diệu
pháp”. Liền tụng thần chú Đại Bi
một biến, rảy đôi ba lượt. Sau
đó, cầm thủ lô[33],
bạch rằng:
- Ngưỡng bạch thập
phương Tam Bảo, Thích Ca Bổn Sư, Di
Đà từ phụ, Bảo Thắng Như Lai,
Quán Âm Bồ Tát, Lưu Thủy trưởng
giả tử, Thiên Thai, Vĩnh Minh các vị
đại sĩ, chỉ mong từ bi chứng tri,
hộ niệm. Nay có các loài chúng sanh bay trên
không, dưới nước, trên đất, bị
người khác dùng lưới bắt
được, sắp vào cửa
tử. Tỳ-kheo… (hoặc thiện nam tên là…)
nhờ đây mà tu Bồ Tát hạnh, phát tâm từ
bi, tạo thành cái nhân trường thọ,
hành nghiệp phóng sanh, cứu chuộc thân mạng
chúng, khiến cho
chúng
được tiêu dao. Vẫn vâng theo kinh điển
Đại Thừa Phương Đẳng,
truyền trao Tam Quy, xưng dương thập hiệu,
lại vì chúng nó tuyên nói mười hai
nhân duyên. Chỉ vì các loại chúng sanh này tội
chướng sâu nặng, thần thức hôn mê,
ngưỡng xin Tam Bảo oai đức ngầm gia
bị, xót thương nhiếp thọ.
Bạch rằng:
- Các chúng sanh dị
loại hiện tiền quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tăng (nói ba lần).
Các chúng sanh dị
loại hiện tiền, quy y Phật xong, quy y Pháp xong,
quy y Tăng xong (nói ba lần).
Từ nay trở
đi, gọi Phật là thầy, chẳng còn
quy y tà ma ngoại đạo (nói ba lần).
Chư Phật tử đã quy y Tam
Bảo rồi, nay sẽ vì các ngươi xưng
dương Bảo Thắng Như Lai mười hiệu
công đức, khiến cho các ngươi
được nghe, như mười ngàn con
cá kia liền được sanh lên trời
chẳng khác biệt gì.
Nam-mô Bảo Thắng Như Lai, Ứng
Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện
Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều
Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn (nói
ba lần).
Chư Phật tử! Ta nay
lại vì các ngươi nói tướng
sanh, tướng diệt của mười hai nhân
duyên, khiến cho các ngươi biết rõ pháp sanh diệt,
ngộ bất sanh diệt, cùng với chư
Phật chứng Đại Niết Bàn. Đó
gọi là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức
duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập,
lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái
duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh,
sanh duyên lăo, tử, ưu, bi, khổ, năo. Đó
tức là vô minh diệt thì hành diệt,
hành diệt thì thức diệt, thức diệt
thì danh sắc diệt, danh sắc diệt
thì lục nhập diệt, lục nhập diệt
thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt,
thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ
diệt, thủ diệt thì hữu diệt,
hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì
lăo, tử, ưu, bi, khổ, năo diệt.
Chư Phật tử! Ta nay
nương theo kinh Đại Thừa, truyền trao Tam
Quy, mười hiệu, mười hai nhân duyên cho các ngươi đã xong. Nay
sẽ vì các ngươi đối
trước Tam Bảo phát lộ tội khiên, xót xa cầu sám hối, nguyện
tội nghiệp của các ngươi tiêu trừ trong một niệm, được
sanh vào chốn lành, thân cận Phật,
được thọ ký. Các ngươi
hãy nên chí tâm theo ta sám hối.
Xưa kia con tạo các
ác nghiệp,
Đều do vô thỉ tham
sân si,
Từ thân, miệng,
ý phát sanh ra.
Hết thảy con nay
đều sám hối (nói ba lần).
Thanh Lương Địa
Bồ Tát Ma Ha Tát (ba lượt).
Chỉ nguyện sau khi phóng
sanh, [các ngươi] vĩnh viễn chẳng
gặp ác ma nuốt, ăn, lưới rập,
mà sẽ ưu du tự tại, trọn hết tuổi
thọ. Sau khi mạng chung, nương Tam Bảo lực,
bổn nguyện từ lực của Bảo Thắng
Như Lai, hoặc sanh lên trời Đao Lợi,
hoặc sanh trong nhân gian, trì giới, tu hành,
chẳng còn tạo ác, tín tâm niệm
Phật, tùy nguyện vãng sanh. Lại mong đệ
tử phóng sanh tên là… từ nay trở
đi, hạnh nguyện Bồ Đề niệm niệm
thêm sáng, cứu khổ chúng sanh coi như chính
mình. Do nhân duyên này, được sanh về An
Dưỡng, thấy A Di Đà Phật và
các thánh chúng, chứng Vô Sanh Nhẫn, phân thân trong
các cõi nhiều như vi trần, rộng độ
hữu t́nh, đều thành Chánh Giác.
Đại chúng hiện tiền đồng thanh tụng
niệm diệu chương Hồi Hướng
của kinh Hoa Nghiêm và thần chú vãng sanh
Tịnh Độ.
* Kinh Đại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm, phẩm Thập Hồi Hướng,
chương Tùy Thuận Kiên Cố Nhất Thiết
Thiện Căn Hồi Hướng
Phật tử! Bồ
Tát Ma Ha Tát làm đại quốc vương,
tự tại nơi pháp, hành trọn
khắp giáo mạng khiến trừ sát nghiệp. Trong
thành ấp, xóm làng nơi Diêm Phù
Đề, hết thảy giết chóc đều bị cấm đoán.
Thí vô úy trọn khắp các loài sanh
vật không chân, hai chân, bốn chân, chẳng có tâm
muốn cướp đoạt, rộng tu hết thảy
các hạnh Bồ Tát, nhân từ với muôn
vật, chẳng làm chuyện xâm phạm, não
hại, phát tâm diệu bảo an ổn chúng sanh,
lập chí hướng yêu thích sâu xa nơi chư
Phật, thường tự an trụ trong ba
loại tịnh giới, cũng khiến cho chúng sanh an
trụ như thế, Bồ Tát Ma Ha Tát khiến
cho các chúng sanh trụ trong ngũ giới, vĩnh
viễn đoạn sát nghiệp, dùng thiện
căn ấy hồi hướng như thế này,
tức là: Nguyện cho hết thảy chúng sanh
phát tâm Bồ Đề, trọn đủ trí huệ,
mãi giữ được thọ mạng,
chẳng có cùng tận. Nguyện cho hết thảy
chúng sanh trụ vô lượng kiếp, cúng
dường hết thảy chư Phật, cung kính
siêng tu, tăng thêm thọ mạng. Nguyện cho hết thảy
chúng sanh tu hành trọn đủ, lìa pháp
già chết, hết thảy tai ương, độc hại chẳng hại
tánh mạng. Nguyện cho hết thảy chúng sanh
thành tựu đầy đủ thân không bệnh
não, thọ mạng tự tại, có thể
tùy ý trụ. Nguyện cho hết thảy chúng
sanh được mạng vô tận, tột cùng
kiếp vị lai trụ Bồ Tát hạnh, giáo hóa,
điều phục hết thảy chúng sanh. Nguyện
cho hết thảy chúng sanh được tăng
trưởng môn thọ mạng, thiện căn thập
lực. Nguyện cho hết thảy chúng sanh thiện
căn trọn đủ, đắc vô tận mạng,
thành tựu viên măn đại nguyện. Nguyện cho hết
thảy chúng sanh đều thấy chư Phật, cúng
dường, thừa sự, trụ vô tận thọ,
tu tập thiện căn. Nguyện cho hết thảy chúng
sanh ở chỗ Như Lai khéo học sở
học, đắc thánh pháp hỷ, vô tận thọ mạng. Nguyện cho hết
thảy chúng sanh chẳng già,
chẳng bệnh, thường trụ mạng căn,
dũng mănh tinh tấn, nhập Phật trí huệ. Đấy là thiện căn
hồi hướng trụ trong tam tụ tịnh
giới, vĩnh
viễn đoạn sát nghiệp của Bồ Tát
Ma Ha Tát nhằm khiến cho chúng sanh đạt
được trí viên mãn thập lực của
Phật.
Kế đó,
tụng chú Vãng Sanh ba lượt. Tụng
xong, bạch rằng:
- Công đức phóng
sanh trên đây báo trọn bốn ân, cùng giúp ba
cõi, pháp giới chúng sanh cùng viên
mãn Chủng Trí. Mười phương ba
đời hết thảy Phật, hết thảy
Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.
8. Giới sát phóng sanh văn (戒殺放生文)
(bài văn khuyên kiêng giết,
hành phóng sanh)
8.1.
Lời tựa
Liên
Trì thượng nhân tuổi trẻ đã tinh
thông lục nghệ[34],
văn chương thành tựu khiến giấy
tại Lạc Dương mắc mỏ[35],
luyện tập lâu ngày đã thành ba xe[36].
Chứng pháp nhẫn thì đã
vượt trội Thông lãnh[37],
dũng mãnh khoác giáp Tỳ Lê (tinh tấn),
cầm châu Ma Ni chói rực. Trong lúc rảnh
rỗi ngoài lúc tụng kinh, tu Thiền, Ngài
xót xa thương xót lũ mê, từ trong Thi La
(giới luật), đặc biệt diễn
bày giới sát sanh. Bởi lẽ, [các loài vật] do thuộc vào thân máu thịt, không gì
chẳng có tri giác; các loài trùng
bọ, không gì chẳng giống như ta. Há nên
dùng cái tâm sợ chết của ta để
tổn thương loài vật? Thấu hiểu
đức hiếu sanh của thiên đế
nhằm hướng dẫn đường mê.
Tấm lòng trắc ẩn ai nấy đều
có! Nỗi thảm bị cắt xẻo, nung
nấu, cõi đời dễ hiểu rõ.
Chủng tộc đông đầy, xưa nay
thường mong như vậy. Tan đàn xẻ
nghé, tình cầm thú há khác? Cho
đến muỗi mòng đốt da bèn sanh bực bội, nhưng vung dao cứa loài vật chẳng xót
thương, xẻo lấy mỡ màng của
chúng để tọng đẫy bụng miệng
của ta, xét lại cái tâm, lòng nhân ở
chỗ nào? Xét đến quả báo, oán
đối sao tránh khỏi? Đã do mạnh,
yếu mà cắn nuốt lẫn nhau, rong ruổi
theo cái duyên báo đền mà luân hồi dài
lâu. Do vậy, Như Lai thắp đuốc huệ
nơi chốn tối trùng điệp, cứu
các khổ trong tám nạn, dạy đoạn
sát nhân, chẳng vướng mắc trong
ác quả!
Đang
trong thuở Mạt Pháp, mê muội lời
nhỏ nhiệm đã lâu, nhưng thiền sư
gột sạch bùn ngũ dục, tháo
lưới tam hữu, trong biển âm thanh, giục
thuyền trí nguyện, cứu lũ đang
chìm đắm đạt tới Nhất Chân.
Ý chỉ ấy tốt lành thay! Pháp
chẳng phân đốn, tiệm, đều nhập
Bất Nhị. Đạo chẳng cách ngăn giữa thánh
hay phàm, Tín là bậc nhất. Nếu có
thể tuân theo giới chẳng giết của
thầy, quán kỹ cái nhân dấy lên giết
chóc của ta là để sanh khởi cái
tâm linh tri, hay là để tăng trưởng
cái thân da thịt? Tâm vốn từ bi, do nhân gì
mà tàn hại? Thân thể vốn chẳng
có cảm nhận, hay biết, há có tham, sân? Tâm
đã mất thì âm thanh, mùi vị chẳng
biết gì nữa. Như vậy thì tham lam vị ngon chẳng do thân thể.
Thân thể đã vắng lặng thì yêu
ghét không do đâu mà dấy lên được.
Vậy là háo sát cũng chẳng do tâm! Hai
đằng đã chẳng có, ở
giữa từ đâu mà có? Vì thế,
biết thân tâm vốn thanh tịnh, Tập Hoặc hư vọng
quấn trói. Đạt được cái
mầu nhiệm vốn tịnh, giới này sẽ
chẳng do bên ngoài mà tự rạng.
Tháo được sự phủ lấp
bởi hư vọng quấn trói, ắt
đại bi chẳng bị lấn át nơi tâm.
Nhập tam-ma-đề, thành Đẳng Chánh
Giác là do đấy. Tôi thuở bé
đã nghe lời giáo huấn “xa lánh bếp núc” của Tử Dư[38],
đã có lòng từ yêu thương loài
vật sâu xa, nay được xem bài văn răn
kiêng giết chóc của thiền sư, ý niệm
bảo vệ sanh vật càng sâu nặng hơn, bèn sai con
quyên mộ khắc in để [bài
văn của thầy] được lưu truyền rộng rãi trong
cõi đời.
Tứ tiến sĩ xuất
thân, quang lộc đại phu, thái tử thái bảo, Lại
bộ thượng thư, Vũ Anh điện đại
học sĩ, tri chế cáo, quốc sử
điển chí tổng tài quan Nghiêm Nột
ở Hải Ngu soạn.
8.2. Giới sát phóng sanh văn (chánh văn)
Đời
Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê tại Cổ
Hàng biên soạn và chú thích
8.2.1. Văn răn kiêng giết
Văn: Người
đời ăn thịt, đều nói “về lý phải
nên như thế” bèn mặc sức sát sanh,
rộng chất chứa oan nghiệp, do quen thói nên
thành tập tục mà chẳng tự hay
biết. Người xưa có nói: “Đáng
gọi là đau đớn khóc ròng,
thở dài sườn sượt vậy”.
Xét theo sự mê chấp, đại lược
có bảy điều, liệt kê như sau.
Những điều khác có thể suy ra.
Giải: Hễ
có tri giác, ắt có cùng một Thể.
Con người ăn thịt là chuyện quái
lạ nhất, nhưng chẳng cho đó là
lạ. Ấy là vì gia đình nhiều
đời quen thói nên coi là thường,
xóm giềng xem đó là tập tục. Tập
tục lưu hành lâu ngày, chẳng biết
là sai, đâm ra coi là đúng, có gì
quái lạ đâu? Nay có kẻ giết
người để ăn, người ta ắt
hết sức kinh hãi, tận lực tru
sát. Vì sao? Do chẳng quen làm như thế!
Nếu giết người chẳng bị cấm
đoán, thực hành mấy năm, sẽ
dùng thịt người để nấu
nướng trọn khắp thiên hạ! Do
đó nói: “Cả cõi đời quen
làm mà chẳng biết là sai, đáng
đau lòng ứa lệ, thở dài
sườn sượt vậy”.
Văn: Một là
sanh nhật chớ nên sát sanh. Xót thay cha mẹ,
sanh ta nhọc nhằn. Ngày ta mới sanh ra,
chính là ngày cha mẹ gần chết. Ngày
hôm ấy chính phải nên kiêng giết, trì trai,
rộng làm thiện sự, ngõ hầu cha mẹ
đã mất trước sẽ sớm
được siêu thăng, cha mẹ còn sống
thì tăng thêm phước thọ. Cớ sao
quên bẵng mẹ mắc nạn mà sát
hại sanh linh? Trên là gây
lụy cho song thân, dưới là bất lợi
cho chính mình. Đấy là điều
thứ nhất cả cõi đời này quen làm mà
chẳng biết là sai, đáng đau lòng
ứa lệ, thở dài sườn
sượt vậy.
Giải: Đường
Thái Tông làm chủ của muôn người, sanh
nhật còn chẳng coi là vui. Kẻ ở
rẫy bái thu hoạch nhiều lắm là
mười hộc gạo, khách khứa
đầy nhà, tiệc vui suốt ngày,
chẳng biết thì còn được!
Đời này, có người sanh nhật
bèn trai tăng, tụng kinh, tu các việc thiện,
hiền lắm thay!
Văn: Hai là sanh con
đừng nên sát sanh. Con người
chẳng có con bèn đau buồn, có con
bèn vui mừng. Chẳng nghĩ hết thảy
cầm thú, loài nào cũng yêu mến con
chúng nó. Mừng ta sanh được con,
làm cho con của chúng nó chết, tâm yên
được chăng? Trẻ thơ mới sanh
ra, chẳng vì nó tích phước, lại
ngược ngạo giết chóc, tạo nghiệp,
cũng quá ngu vậy.
Đấy là điều thứ hai cả cõi
đời này quen làm mà chẳng
biết là sai, đáng đau lòng ứa
lệ, thở dài sườn sượt
vậy.
Giải: Một
người thợ săn buổi tối say
mèm, thấy con thơ thành con hoẵng, hùng
hổ truy sát. Vợ khóc lóc, can gián
chẳng nghe, rốt cuộc hắn mổ bụng
con, lôi ruột ra. Sau đó, ngủ vùi. Sáng
dậy, hắn gọi con vào chợ bán
thịt hoẵng, vợ khóc nói: “Đêm qua
ngươi đã giết nó chết mất
rồi!” Người ấy quăng mình gieo
xuống đất, nội tạng vỡ nát! Ôi!
Người và vật tuy khác, nhưng cái
tâm yêu con giống hệt như nhau, há có nên
giết chóc ư?
Văn: Ba là tế
tổ tiên đừng nên sát sanh. Vào ngày giỗ
của người đã khuất và Xuân, Thu
cúng tế, tảo mộ, đều nên kiêng giết để giúp
phước cho người trong cõi âm. Sát sanh
để tế, chỉ tăng thêm nghiệp. Bát trân[39] bày ra
trước [di ảnh hoặc bài vị],
há có thể khiến cho di cốt nơi chín
suối ăn được hay chăng? Vô ích, lại có
hại, người trí chẳng làm.
Đấy là điều thứ ba cả cõi
đời này quen làm mà chẳng biết
là sai, đáng đau lòng ứa lệ,
thở dài sườn sượt vậy.
Giải: Có người nói rằng:
Lương Vũ Đế dùng mì thay cho các
con vật để cúng, cõi đời chê
gièm là làm
như vậy khiến cho tổ tông chẳng
hưởng huyết thực. Ôi! Huyết thực
chưa chắc đã trân quý, đồ chay
chưa chắc dở tệ. Phận làm con
quý ở chỗ thận trọng tu thân, chẳng
bỏ qua việc cúng tế tổ tiên, vì
đó là điều tốt lành. Nhưng sao
lại cho rằng cúng tế ắt phải
dùng máu thịt? Dược tế (禴祭, dùng các loại rau dưa
làm cỗ cúng) hơn hẳn mổ trâu, kinh
Dịch đã giáo huấn rành rành.
Phụng dưỡng cha mẹ bằng thịt
các con vật còn là bất hiếu, thánh nhân
đã có khuôn mẫu tốt lành, sao lại
chấp cúng tế ắt phải dùng máu
thịt?
Văn: Bốn là hôn
lễ đừng nên sát sanh. Hôn lễ trong thế gian
từ vấn danh, nạp thái, cho tới
thành hôn[40],
sát sanh chẳng biết là bao nhiêu? Hôn nhân
là khởi thủy của sanh ra con
người. Khởi đầu của sanh mà
giết chóc, lý đã trái nghịch! Hơn
nữa, hôn lễ là cát lễ. Trong ngày
tốt lành mà dùng chuyện hung hiểm,
cũng chẳng thảm ư? Đấy là
điều thứ tư cả cõi đời
này quen làm mà chẳng biết là sai,
đáng đau lòng ứa lệ, thở
dài sườn sượt vậy.
Giải: Phàm nhân kết
hôn, ắt mong mỏi vợ chồng đầu
bạc răng long. Ngươi đã nguyện hạnh
phúc đến già, cầm thú
lại mong chết trước ư? Nhà gả con
gái, ba ngày chẳng tắt đuốc,
[hàm ý] buồn vì phải chia lìa. Ngươi
đã coi chia lìa là khổ, cầm thú
há nghĩ chia lìa là vui ư? Quả thật,
hôn lễ chớ nên giết chóc vậy!
Văn: Năm là
đãi khách chớ nên sát sanh. Ngày tốt, cảnh
đẹp, chủ hiền, khách quý, món chay,
canh rau, chẳng trở ngại sự thanh
nhã, cần gì phải rộng giết sanh mạng, ngon béo tột cùng, sênh ca,
thừa mứa mâm, chén, giết chóc kêu
gào oan khuất nơi thớt? Than ôi!
Người có tâm há chẳng đau
buồn ư? Đấy là điều thứ
năm cả cõi đời này quen làm
mà chẳng biết là sai, đáng đau
lòng ứa lệ, thở dài
sườn sượt vậy.
Nếu biết vật trên
mâm từ gào khóc oan khuất nơi thớt
mà có, tức là dùng sự khổ
cùng cực của chúng nó để tạo niềm vui cùng
cực cho ta. Dẫu ăn mà cũng chẳng
nuốt xuống nổi, chẳng đáng đau
xót ư?
Văn:
Sáu là cầu đảo, tiêu tai, chớ
nên sát sanh. Người đời mắc
bệnh, bèn sát sanh cúng
thần, để mong được phước
gia hộ, chẳng nghĩ chính mình tế
thần vì muốn thoát chết, cầu sống,
[nhưng lại] giết mạng kẻ khác
để kéo dài mạng mình, nghịch
trời, trái lý, không chi hơn
được nữa. Phàm bậc chánh
trực là thần, thần há có lòng
riêng tư ư? Mạng chẳng thể kéo
dài, mà sát nghiệp đã sẵn
có; các loại cúng tế tà vạy
cũng giống như thế đó. Đấy là
điều thứ sáu cả cõi đời
này quen làm mà chẳng biết là sai,
đáng đau lòng ứa lệ, thở
dài sườn sượt vậy.
Giải: Kinh Dược
Sư dạy: “Sát chủng chủng chúng sanh, giải tấu
thần minh, hô chư vơng lượng, thỉnh khất
phước hựu, dục ký diên niên, chung
bất khả đắc” (Giết các loại
chúng sanh để tâu trình thần minh, kêu gọi
các loài vơng lượng,
cầu xin phước đức gia hộ, mong
được tăng thọ, trọn chẳng
thể được). Tức là mạng
chẳng thể kéo dài, sát nghiệp
đã sẵn đó! “Các loại cúng
tế tà vạy” như là sát sanh để
cầu có con, sát sanh cầu tài, sát sanh
cầu quan v.v… Có được con cái,
được tiền tài, được
làm quan, đều là do chính mình có
phần đã định, chẳng phải do
quỷ thần làm ra! Ngẫu nhiên được
mãn nguyện, liền bảo là linh thiêng, tin
tưởng càng kiên cố, hành (sát sanh)
càng dốc sức, tà kiến hừng
hực, chẳng thể cứu chữa.
Buồn thay!
Văn: Bảy là
để kiếm sống, chớ nên sát sanh.
Người đời vì cơm áo mà
hoặc là săn bắn, hoặc
đánh cá, hoặc giết mổ trâu, dê, lợn,
chó v.v… để kiếm sống. Nhưng ta thấy
những người chẳng làm các
nghề ấy cũng có cơm, áo, chưa
chắc đã đói lạnh mà chết!
Sát sanh để kiếm sống, trái lý
hết sức! Do giết chóc mà giàu vui,
trăm người chẳng được
một. Gieo sâu cái nhân địa ngục, thọ
ác báo trong đời sau, không chi hơn
được nữa! Tội gì mà chẳng
tìm cách sống khác? Đấy là
điều thứ sáu cả cõi đời
này quen làm mà chẳng biết là sai,
đáng đau lòng ứa lệ, thở
dài sườn sượt vậy!
Giải: Tôi
đích thân thấy kẻ giết dê, khi sắp
chết, miệng phát tiếng dê kêu. Người
bán lươn khi sắp chết, đầu như
bị lươn cắn. Hai chuyện này ở
gần nơi hàng xóm tôi, chẳng phải
là lời truyền tụng. Tôi khuyên
người đời, nếu chẳng có
cách kiếm sống, thà xin ăn vậy! Tạo
giết chóc để sống, chẳng
bằng nhịn đói mà chết. Ôi!
Chẳng nên răn dè ư?
Những điều
kể trên đây, hết sức chẳng
thường tình. Người thông đạt
nhìn vào, ắt cho là luận định xác
đáng! Nếu có thể kiêng hoàn toàn,
không gì tốt lành hơn. Nếu chẳng
thể vậy, hãy lượng sức mà
trừ giảm. Hoặc trừ điều
bốn, điều năm, hoặc loại bỏ
điều hai, điều ba. Trừ một chuyện
bèn tiêu một nghiệp, giảm một sự
giết chóc tức dứt một nỗi oan.
Nếu chưa thể đoạn tuyệt thứ tanh
hôi, trước hết nên mua thứ bán
ngoài chợ, đừng đích thân
giết, cũng tránh được lỗi
lớn. Tích chứa, vun bồi từ tâm,
sẽ dần dần nhập cảnh tốt đẹp.
Có được bài văn này, lại mong
xoay vần lưu thông, lần lượt khuyến
hóa. Có thể khuyên một người
chẳng giết, giống như cứu trăm
vạn sanh linh. Khuyên tới mười người,
trăm người, cho tới ngàn vạn
ức người, âm công mênh mông, thiện quả
vô cùng. Chỉ chịu tin tưởng mà
làm theo, quyết chẳng hư dối. Mỗi
năm chép thành mười hai phần, dán
lên vách nhà. Một tháng chẳng giết,
bèn dưới tháng đó viết hai
chữ “không giết”. Một tháng không giết
là hạ thiện. Một năm không giết là
trung thiện. Suốt đời chẳng giết
là thượng thiện. Nhiều đời
chẳng giết, lại càng là thiện
nhất trong các điều thiện. Nguyện
người người kiêng giết, nhà nào
cũng trì trai, chư Phật sanh tâm hoan hỷ,
vạn thần gia hộ. Chiến tranh bởi
đó sẽ vĩnh viễn chấm dứt,
hình phạt sẽ chẳng cần thi hành.
Địa ngục nhanh chóng rỗng không, giã
biệt biển khổ dài lâu!
8.2.2. Chúc nguyện kiêng giết
Nếu có thể một tháng
chẳng giết, tới đêm cuối tháng,
hoặc sáng mồng Một của tháng sau,
đối trước tượng Phật,
chí tâm lễ bái, bạch rằng:
- Đệ tử tên là… nhất
tâm quy mạng Tây Phương Cực Lạc thế giới
A Di Đà Phật. Con tuân theo
giáo hối sáng suốt của vị đã
thành Phật trước, nay thực hiện
chẳng giết đã gần một tháng. Do công
đức này, nguyện tội nghiệp của
con tiêu trừ, tháo gỡ oan khiên. Các thiện
căn đã tu ngày càng tăng trưởng. Lúc
mạng chung, thân tâm an ổn, chánh niệm phân minh,
được Phật tiếp dẫn, sanh về trong
hoa sen nơi ao bảy báu nơi Cực Lạc. Hoa
nở thấy Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn,
trọn đủ Phật huệ. Do đại thần
lực, những oan mạng của con từ bao
kiếp cùng với chúng sanh bị giết trong
mười phương đều được
độ thoát, thành vô thượng đạo. Nguyện
Phật từ bi, xót thương nhiếp
thọ.
Phát nguyện xong, niệm Phật
hoặc một trăm câu, ngàn câu, vạn câu,
tùy ý nhiều hay ít.
8.2.3. Văn phóng sanh
Văn: Từng nghe:
Điều được coi trọng nhất trong
thế gian là sanh mạng, điều thê thảm
nhất trong thiên hạ là giết hại, tổn thương.
Giải: “Coi
trọng nhất” có hai thứ:
- Một là người
đời đối với tiền tài, của báu, quan
tước, vợ con, cho tới thân mình
đều coi trọng, nhưng do chẳng thể
nói bao gồm trọn, cho nên trong những điều
họ coi trọng, ắt chọn lấy điều
trọng yếu nhất. Do vậy, để cứu
thân mình, chẳng tiếc nuối vàng, của
báu. Để cứu thân mình, chẳng
tiếc quan tước. Để cứu thân
mình, chẳng đoái hoài vợ con. Do
vậy nói là “coi trọng nhất”.
- Hai là hễ có sanh mạng,
đều có thể làm Phật, tức là
sanh vật có Phật chủng, cho nên nói là “coi
trọng nhất”.
“Thê thảm nhất”: Như đánh
đập v.v… tuy đều là khổ sự,
nhưng chưa đến nỗi đoạn mạng,
chỉ có giết chóc
là
thê thảm nhất.
Văn: Do vậy, hễ
bị đuổi bắt liền tháo chạy,
rận, rệp còn biết tránh né cái
chết. Trời sắp đổ mưa bèn
kéo nhau dời tổ; dế, kiến còn tham
sống.
Giải: Do
mạng được coi trọng nhất, nên bảo toàn tánh mạng. Do
giết chóc thê thảm nhất, nên trốn tránh
bị giết. Do vậy, rận, rệp, dế, kiến
đều biết tránh chết, tham sống. Loài
sanh mạng nhỏ nhoi còn như thế, cũng
có thể biết loài to hơn [cũng tham
sống, sợ chết]!
Văn: Sao lại
giăng lưới trong núi, quăng chài nơi
vực, lắm cách lùng bắt, bẻ
cong lưỡi câu, uốn thẳng mũi tên,
trăm cách vây bủa?
Giải: Hết thảy
chúng sanh đã đều né chết, tham sống,
cớ sao [chúng ta] mê muội lương tâm, làm
các chuyện tàn độc? Giăng lưới bắt thú
trong núi, quăng chài bắt
cá nơi vực, thả câu nơi nước,
ngửa mặt lên không bắn tên, cho đến
ngầm đặt bẫy rập, bí mật
lắp lồng rọ, trăm kế lắm
cách, chẳng thể nêu trọn, thật
đáng than vậy!
Văn: Khiến cho
chúng vỡ mật, tan hồn, mẹ con chia
lìa.
Giải: Giăng
lưới, quăng chài, thả câu, bắn tên
như trên đây, trông thấy kinh sợ, [cầm
thú] trông thấy tan hồn vỡ mật. [Loài
vật] trúng thương tử vong, mẹ con chia
lìa. Như người gặp cảnh
đời loạn, binh hỏa lan đến thân,
có khác chi đâu?
Văn: Hoặc
bị giam cầm trong lồng, cũi, như ở
trong tù ngục, hoặc bị đao chặt,
giống như xử tử.
Giải: “Giam
cầm” tức là bị nhốt chặt,
chẳng khác nhà tù! Bị cắt
chặt sẽ đau khổ như khi bị tru
lục. Nếu đặt chính mình vào
cảnh ấy, sẽ có tình tự như
thế nào vậy?
Văn: Con nai
thương con, liếm vết thương mà
đứt từng khúc ruột; con
vượn sợ chết, nhìn bóng cây cung
mà lệ ứa đôi hàng.
Giải: “Con nai
thương con”: Hứa Chân Quân[41]
khi còn trẻ thích săn bắn. Một hôm,
bắn trúng một con nai. Nai mẹ liếm vết
thương [của nai con]. Hồi lâu sau, nai con
tắt thở, nai mẹ cũng chết. Chân Quân
mổ bụng nó ra xem, thấy từng tấc
ruột đứt rời. Ấy là vì nó thương xót con bị chết,
bi thương quá đỗi đến nỗi
đứt ruột! Chân Quân hết sức hối
hận, bẻ cung tên vào núi tu đạo, về
sau chứng tiên phẩm, dẫn cả nhà phi
thăng. Chuyện này chứng minh ý nghĩa “mẹ
con chia lìa” trong phần trước.
“Vượn sợ chết”: Vua Sở và
Dưỡng Diêu Cơ[42]
đi săn. Thấy
vượn, vua sai [Dưỡng Diêu Cơ]
bắn. Vượn từ xa thấy Diêu Cơ
bèn chảy nước mắt. Bởi
lẽ, tay vượn mềm mại, nhanh nhạy,
có thể bắt mũi tên. Diêu Cơ thần
xạ, mũi tên bắn đến, tay vượn
chẳng bắt kịp được, biết
ắt phải chết nên đau buồn. Chuyện
này chứng minh ý nghĩa “vỡ
mật, tan hồn” trong đoạn trước.
Văn: Ỷ ta mạnh
mà hiếp chúng yếu, về lý sợ
rằng chẳng nên. Ăn thịt chúng hòng
bồi bổ thân mình, tâm ta sao nỡ?
Giải: Xem hai
chuyện trên đây, liền biết hết sức
chẳng nên sát sanh. Hơn nữa, [cứ
lý luận] “thịt của cầm thú con
người đáng nên ăn”, chẳng biết
đều là mạnh hiếp yếu! Nếu không,
mãnh hổ ăn thịt người, cũng
phải nên nói “thịt người đáng
để cho hổ ăn” ư? Bọ ngựa ăn ve
sầu, chim sẻ ăn bọ ngựa, ưng, diều
hâu ăn chim sẻ, kẻ mạnh ăn thịt kẻ
yếu. Lý này hết sức rõ ràng,
chẳng còn ngờ chi! Hơn nữa,
người đời cho rằng “kẻ ăn
rau còm cõi, người ăn thịt mập
mạp”, vì để béo tốt thân mình,
chẳng nghĩ đến nỗi khổ của
kẻ khác, cái tâm nhân từ để đâu?
Văn: Do vậy,
trời cao rủ lòng xót thương, cổ
thánh thực hiện lòng nhân.
Giải: Do cõi
đời mê hoặc, cho nên sát khí xông
tận trời. Trời vốn hiếu sanh,
thường chỉ dạy dân đen, dân đen
chẳng biết. Do vậy, sát sanh quá
nặng, khiến cho mưa gió trái thời,
binh đao, tai ương dấy lên. Người tu
việc lành, ắt năm
ấy trúng mùa, bốn biển phẳng
lặng. Người đời sát sanh
tức là nghịch thiên vậy. Do đó,
thánh nhân thời cổ trên là thuận theo
lòng trời, dưới là xót mạng
loài vật, thực hiện lòng nhân cứu
tế, chuyện ấy sẽ được thấy dưới
đây.
Văn: Mở
lưới bởi Thành Thang, nuôi cá do
Tử Sản khởi xướng.
Giải: “Mở
lưới”: Vua nhà Thương là Thành
Thang xuất du, gặp thợ săn giăng
lưới bốn mặt, mong cầu: “Từ
trời đến, từ đất đến,
từ bốn phương đến, đều vào trong lưới của ta”. Vua
Thang truyền mở ba mặt lưới,
chỉ lưu lại một mặt, đổi
lời cầu mong thành: “Muốn đi về bên
trái thì sang trái, muốn đi về bên
phải thì sang phải, muốn lên trên thì lên trên, muốn xuống
dưới thì xuống dưới;
chẳng cần mạng thì vào lưới
của ta”.
“Nuôi cá”: Quan
đại phu nước Trịnh là Tử
Sản được người khác
tặng cá sống, Tử Sản không ăn, sai
người hầu nuôi trong ao. Nhìn vào hai chuyện
này, ắt biết phóng sanh không chỉ riêng
Phật giáo, bậc quân tử trong nhà Nho không
ai chẳng phụng hành.
Văn: Thánh thay,
Lưu Thủy, dùng túi đựng
nước nhuần thấm bọn khô khao. Bi thay,
Thích Ca, thay thế kẻ nguy vong mà cắt
thịt.
Giải: “Túi
đựng nước”: Theo kinh Kim Quang Minh,
trưởng giả Lưu Thủy ra ngoài chơi,
thấy mười ngàn con cá vùng vẫy
trong chỗ nước cạn nguy ngập, sắp
chết. Ông dùng voi chở túi đựng
nước đổ xuống, khiến cho chúng được toàn
mạng. Lại còn vì chúng thuyết pháp,
cá hết mạng đều sanh lên cõi
trời.
“Cắt thịt”: Khi xưa, lúc
Thích Ca Mâu Ni Phật làm Bồ Tát, thấy chim
ưng đuổi bắt bồ câu. Bồ câu thấy
Bồ Tát bèn gieo mình vào thân Ngài lánh
nạn. Chim ưng nói với Bồ Tát:
“Ngươi muốn cứu bồ câu, sao lại
để ta chết đói?” Bồ Tát hỏi chim
ưng: “Ngươi cần ăn gì?” Chim ưng đáp:
“Ăn thịt”. Bồ Tát cắt thịt nơi
cánh tay mình đền bù. Chim ưng muốn
lượng thịt bằng với chim bồ
câu. Bồ Tát cắt thịt, càng cắt,
thịt càng nhẹ. Tới khi thịt sắp
hết, vẫn chẳng thể bằng [trọng
lượng của] bồ câu. Chim ưng hỏi:
“Ngươi có sanh lòng hối hận hay không?”
Bồ Tát đáp: “Ta chẳng có một
niệm hối hận. Nếu lời này
chẳng dối, sẽ khiến cho thịt ta sanh
trưởng như cũ”. Thề nguyện xong,
thịt nơi thân [hồi phục] như cũ. Chim
ưng hóa thành thân Thiên Đế, lễ bái,
tán thán trong hư không.
Văn: Thiên Thai Trí Giả
đào ao phóng sanh, tiên nhân nơi cây to thủ
hộ chim làm tổ nơi thân.
Giải:
“Đào ao”: Thiên Thai Trí Giả đại sư,
húy là Trí Nghĩ. Tùy Dượng
Đế đặt hiệu cho Ngài là Trí
Giả. Ngài từng đào ao, khuyên
người khác phóng sanh. Hơn nữa,
không chỉ ngài Trí Giả, xưa nay có
nhiều vị làm chuyện này! Tây Hồ hiện
thời cũng là ao phóng sanh thời
cổ. Đời xa, người mất,
thời thế biến đổi, pháp bị
hư hoại. Ánh lửa thuyền chài như
sao băng trên mặt nước, buồn thay!
“Thủ hộ chim”: Xưa có một
vị tiên nhân, thường ngồi dưới
một cội cây to để hành Thiền, nhập
Định. Có con chim làm tổ trong lòng Ngài. Sợ kinh động chim, nên
Ngài xếp bằng bất động,
đợi chim làm tổ nơi khác rồi
mới xuất Định. Cái tâm nhân từ
đối với loài vật đến
mức như thế đó!
Văn: Chuộc loài
có vảy mà đắc độ, thiền
sư Diên Thọ hãy còn để lại lòng
thương mến. Cứu rồng con lưu truyền
cháu ngoan, phong thái từ bi của chân nhân
chưa mất.
Giải: “Chuộc
loài có vảy”: Vĩnh Minh đại sư,
húy Diên Thọ. Thuở Ngô Việt Vương (Tiền Liêu) trấn giữ
đất Hàng Châu, Sư làm quan coi
kho ở huyện Hàng, nhiều lần lấy
tiền trong kho để mua các con vật như tôm,
cá v.v… phóng sanh. Về sau, Ngài bị kết
tội là người canh giữ mà
tự trộm cắp, theo pháp phải bị
tử hình ngoài chợ. Vua biết Ngài
phóng sanh, truyền người hành hình quan
sát sắc mặt của Ngài để tâu
lên. Sư bước tới chỗ chết,
mặt vẫn ung dung, mọi người lấy
làm lạ. Sư đáp: “Tiền trong kho tôi
chẳng dùng mảy may cho riêng tư, mà
dùng hết để mua loài vật phóng sanh,
chẳng biết số bao nhiêu. Nay chết đi,
sẽ nhanh chóng về Tây Phương Cực
Lạc thế giới, cũng chẳng
sướng lắm ư?” Vua nghe nói bèn tha
cho. Sư xuất gia làm Tăng, tu Thiền, lễ
sám, đắc biện tài vô ngại. Sau khi
Sư nhập Niết Bàn, có vị Tăng vào
cõi âm, thấy vua Diêm La thường rời
tòa, lễ hình tượng một vị
Tăng. Hỏi han thì ra là thiền sư Vĩnh
Minh Diên Thọ trong dương gian đã
thượng phẩm thượng sanh Tây
Phương. Vua kính mộ đức của
Ngài, cho nên luôn lễ bái.
“Cứu rồng con”: Khi Tôn chân nhân[43]
chưa thành tiên, ra ngoài gặp trẻ trong thôn
bắt một con rắn, hành hạ gần
chết. Chân nhân bèn mua lại, thả xuống nước. Sau
đó, trong khi Ngài tĩnh tọa, một thanh y
đến thỉnh, bèn đi theo. Đến một
công phủ, tức là nơi cõi đời
gọi là Thủy Tinh Cung. Vua mời ngồi lên
tòa trên, thưa: “Tiểu nhi hôm qua đi chơi, nếu
không có tiên sinh chắc đã chết rồi!” Đãi tiệc xong,
vua lấy ra đủ thứ trân bảo để
cảm tạ. Chân nhân từ chối chẳng
nhận, bảo: “Tôi nghe nói cung rồng có nhiều
phương thuốc bí truyền, xin truyền cho tôi
cứu đời sẽ tốt hơn vàng,
ngọc rất nhiều!” Vua bèn giao ra ba mươi
sáu phương thuốc trong rương ngọc. Từ đó, chân nhân y thuật
càng tinh tường, về sau chứng tiên phẩm.
Văn: Cứu
sống kiến, sa-di đổi đoản mạng
thành trường thọ; thư sinh đổi hạng thấp thành đỗ cao. Do
thả rùa, Mao Bảo lâm nguy mà thoát nạn,
Khổng Du chức
nhỏ mà được phong hầu.
Giải: “Cứu
sống kiến” gồm hai chuyện:
1. “Đoản mạng thành
trường thọ”: Xưa kia có một sa-di
hầu một vị tôn túc. Tôn túc biết sa-di
bảy ngày sau sẽ chết, dạy nó trở về nhà
thăm mẹ, căn dặn: “Bảy ngày sau
hãy trở về!” Ý muốn cho nó chết tại nhà. Bảy ngày
sau, sa-di trở lại, thầy lấy làm lạ,
nhập tam-muội xem xét chuyện ấy. Thì ra
trên đường về nhà, sa-di thấy bầy
kiến bị ngập nước, bèn bắc
cầu cho chúng nó vượt thoát, kiến
không bị chết. Do vậy mà sống thọ.
2. “Hạng thấp được
đỗ cao”: Tống Giao và Tống Kỳ là
anh em, cùng đi thi. Tống Giao từng thấy bầy kiến bị
nước ngập, bèn kết cầu tre cho
chúng nó vượt lên. Khi đó, có
vị Hồ tăng nhìn tướng mạo
Tống Giao, kinh ngạc bảo: “Ông đã từng
cứu sống mấy trăm vạn mạng”. Tống
Giao thưa: “Nhà nho nghèo sao có sức
làm được như thế!” Tăng nói:
“Chẳng phải vậy! Hễ có sự sống
thì đều là mạng”. Tống Giao thưa
chuyện cứu sống kiến. Tăng nói:
“Chính là đấy! Em ông sẽ đỗ
đầu, nhưng ông cũng không kém hơn em”.
Về sau, xướng danh, quả nhiên Tống Kỳ
đỗ đầu.
Triều
đình nói “chẳng thể để em
đậu cao hơn anh”, bèn đổi Tống Kỳ
đỗ thứ mười, lấy Tống Giao
đỗ hạng nhất, mới biết vị
Tăng chẳng nói hư vọng.
“Thả rùa” gồm hai chuyện:
1. “Lâm nguy thoát nạn”: Mao Bảo
lúc hàn vi, trên đường đi, gặp
một người xách con rùa, bèn mua
lại, đem thả. Về sau, ông
làm tướng, thua trận, gieo mình xuống
nước, cảm thấy trong nước có
vật đỡ chân, bèn không bị chết
đuối. Lên được bờ, thì ra
vật đỡ chân chính là con rùa ông
đã thả.
2. “Chức mọn
được phong hầu”: Khổng Du là
một viên quan có chức vị
nhỏ bé, cũng từng phóng sanh rùa.
Rùa nổi lên trong nước, nhiều
lượt quay đầu ngó Khổng Du. Sau
đấy, bơi đi mất. Về sau, Khổng Du do
công trạng được phong hầu. Lúc
đúc ấn, cái núm hình rùa trên
ấn, xoay đầu ngó lại. [Thợ
đúc] bèn hủy ấn, đúc lại.
Đúc bốn lần, [đầu rùa trên ấn]
một mực xoay đầu ngó lại y như
cũ. Thợ đúc hết sức kinh
hãi, thưa với Khổng Du. Khổng Du bỗng
sực nhớ lúc thả rùa, rùa quay
đầu ngó lại, vỡ lẽ
“được phong hầu” là quả báo
của việc thả rùa!
Văn: Khuất Sư thả cá
chép ở thôn Nguyên, thọ tăng một kỷ.
Tùy hầu giúp rắn nơi ruộng Tề,
được báo đền viên châu đáng
ngàn vàng.
Giải: “Thả
cá chép”: Khuất Sư ở thôn Nguyên
gặp một con cá chép đỏ, bèn mua
lại, đem thả. Về
sau, ông mộng thấy long
vương mời vào trong cung, thưa: “Tuổi
thọ của ông vốn đã tận, do ông
cứu rồng, tăng thọ một kỷ
(mười hai năm)”.
“Cứu rắn”: Tùy hầu sang
nước Tề, trên đường thấy
một con rắn bị vướng trong cát,
sỏi, đầu nó chảy máu, bèn dùng
gậy khều ra, thả xuống nước cho
rắn bơi đi. Về sau, ông trở về
đến chỗ rắn, rắn ngậm một
viên châu đưa cho Tùy hầu. Tùy hầu không
dám lấy. Ban đêm mộng thấy chân đạp
một con rắn, kinh hãi tỉnh giấc, bèn
được hai viên châu.
Văn: Cứu
vớt ruồi nhặng đã chết chìm,
người làm rượu mắc tội
tử hình được miễn. Thả con ba
ba sắp nấu, tớ gái trong cơn bệnh
ngặt được lành.
Giải: “Cứu
ruồi nhặng”: Một người
thợ làm rượu thấy một con
nhặng xanh rơi vào vò rượu,
bèn vớt ra đặt nơi đất khô, dùng
tro ủ khô thân nó, nước bị tro hút
đi, con nhặng thoát chết. Lâu ngày như
thế, cứu nhặng khá nhiều. Về sau,
do [bị vu cáo là] qua lại với kẻ
trộm, [bị tống giam], không thể biện bạch.
Sắp kết thành án, vị quan xử
án muốn nhấc bút ghi phán quyết,
nhặng bu đầy trên ngọn bút, đuổi
xong chúng lại bu, không phán án
được! Do vậy, nghi là bị oan, tra
hỏi cặn kẽ, thì ra là bị vu cáo.
Gọi kẻ cướp tra hỏi, nó bèn khai
thật. Do vậy, [người thợ ấy]
được thả về. Ôi! Cũng lạ
lùng thay!
“Thả ba ba”: Vợ chồng
họ Trình tánh thích ăn ba ba. Một hôm,
ngẫu nhiên có được một con ba ba to,
dặn đứa tớ gái lo liệu. Khi
đó, họ có việc tạm ra ngoài.
Đứa tớ gái nghĩ tay mình
đã giết ba ba chẳng biết là bao nhiêu,
nay tâm muốn thả con ba ba to này, “ta cam chịu
đòn roi vậy”, bèn thả vào trong ao.
Chủ quay về tìm ba ba, thưa đã để
lạc mất, bị đánh đập đau
đớn. Về sau, cô ta mắc bệnh dịch
sắp chết, người nhà cáng ra
chỗ cái gác cạnh bờ nước để chờ
chết. Đêm đến, bỗng thấy có vật
từ ao bò ra, toàn thân đẫm bùn
ướt, bôi quanh thân cô tớ gái. Cô ta bèn
hạ sốt, bệnh liền lành. Chủ ngạc
nhiên vì sao cô ta không chết, cật vấn. Cô thưa
đầy đủ sự thật. Chủ không tin, tới
đêm rình xem, thì thấy con ba ba đã lạc
mất. Cả nhà kinh hãi, than thở, vĩnh
viễn không ăn ba ba nữa!
Văn: Mua tử
mạng nơi nhà đồ tể, Trương đề
h́nh hồn siêu thiên giới; đổi mạng thừa
từ thuyền câu, Lý Cảnh Văn giải
độc đan sa.
Giải: “Mua
mạng nơi nhà đồ tể”: Trương
đề hình[44]
thường đến chỗ lò mổ, dùng
tiền mua con vật đem thả. Về sau, khi
sắp chết, ông bảo người nhà: “Ta
đã phóng sanh tích đức sâu dày,
nay thiên cung đến đón, sẽ sanh lên
trời”. Ông an nhiên qua đời.
“Đổi sanh mạng nơi thuyền
câu”:
Lý Cảnh Văn thường đến chỗ
người đánh cá đổi lấy
những con vật bị bắt đem thả
xuống nước. Cảnh Văn vốn thích
uống đan được, thường
dùng lửa luyện thuốc đan sa[45],
nên tích nhiệt thành bệnh, lưng sanh ung
nhọt, thuốc chẳng thể chữa
được. Trong khi hôn mê, dường như
có lũ cá nhả bọt, chất độc
trở thành trong mát, thư thái, bèn
được lành bệnh, cũng giống
như chuyện ba ba báo đáp cô tớ gái
trong bếp vậy!
Văn: Tôn Lương Tự
giải mối nguy bắn ná; chọn chỗ chôn,
loài chim cùng giúp. Phan huyện lệnh ban
lệnh cấm nơi sông, hồ, lìa nhiệm
sở, thủy tộc buồn khóc.
Giải: “Giải
mối nguy bắn ná”: Tôn Lương Tự
gặp chim chóc bị bắt, liền mua
lại đem thả. Về sau, ông chết, sắp
đem chôn, nhưng [gia cảnh] nghèo túng không làm
thế nào được. Có mấy trăm con
chim ngậm bùn đắp [thành mồ].
Người xem kinh ngạc, than thở, do lòng
từ mà cảm vời đến mức
ấy.
“Lập lệnh cấm ở sông,
hồ”:
Phan huyện lệnh cấm dân chúng chẳng
được đánh cá nơi sông, hồ,
kẻ vi phạm sẽ bị trừng phạt. Về
sau, ông đi trấn nhậm chỗ khác, các
loài trong nước phát ra tiếng kêu gào
to lớn, như chôn cha mẹ, ai nấy đều nghe
thấy, không ai chẳng than thở lạ lùng!
Văn: Tín lăo dạy dân
ngu chẳng sát sanh, khéo phù hợp
mưa lành; chốn Tào Khê giữ lưới
thợ săn, đạo truyền khắp Thần
Châu[46].
Giải:
“Chẳng sát sanh”: Tín đại sư
gặp lúc đại hạn, dân chúng toan
sát sanh cầu mưa. Sư thương xót họ
ngu si, bảo rằng: “Các ngươi nên bỏ
các con vật đi, đừng dùng, ta sẽ
vì các ngươi cầu mưa”. Dân chúng vâng
theo. Sư dùng lòng tinh thành cầu đảo,
mưa lành sầm sập trút xuống, xa gần
nhiều người được cảm
hóa.
“Giữ lưới”: Lục Tổ
đã lãnh nhận tâm ấn từ Hoàng Mai,
mặc quần áo thế tục, ẩn trong
đám thợ săn. Thợ săn sai Tổ giữ
lưới. Tổ canh lưới, hễ thấy họ không nh́n, gặp những con như
hoẵng, thỏ v.v… có thể thả liền
thả ngay. Làm như thế
suốt mười sáu năm. Sau Tổ trụ nơi
đạo tràng Tào Khê, rộng độ các phẩm,
đèn chia thành năm tông, nhuận trạch muôn
đời.
Văn: Sẻ
được cứu, ngậm vòng báo ân;
cáo có thể vào giếng truyền pháp
thuật.
Giải: “Chim
sẻ ngậm vành”: Dương Bảo thuở
bé thấy chim sẻ vàng bị diều hâu
đánh rơi xuống đất, lại bị
kiến bu rúc rỉa, bèn nhặt lấy, nuôi
trong lồng, cho nó ăn hoa vàng. Chim đã lành lặn
bèn thả đi. Đêm mộng thấy bé trai
mặc áo vàng đến bái tạ,
tặng bốn chiếc vòng ngọc, thưa: “Tôi
là sứ giả của Vương mẫu,
nhờ ông cứu mạng. Nguyện con cháu ông
trong trắng, đạt tới địa vị
Tam Công, cũng như những chiếc vòng
này”. Về sau, nhà ông bốn đời
quý hiển.
“Cáo vào giếng”: Một vị
tăng vốn là kẻ vô lại, nghe nói củ
hoàng tinh có thể kéo dài tuổi thọ,
muốn thử xem có hiệu nghiệm hay không. Hắn
bèn bỏ hoàng tinh trong giếng khô, dụ
người khác vào giếng, dùng tảng
đá của cối xay đậy lại.
Người ấy ở trong giếng, bàng
hoàng, bức rức,
chẳng có cách nào. Bỗng một con
cáo vào giếng, nói với người
ấy: “Ông đừng sợ, tôi sẽ dạy ông
một thuật. Loài cáo chúng tôi thông thiên,
đào hang nơi mộ, nằm dưới
đó, mắt nhìn chăm chú nơi
huyệt, lâu ngày sẽ có thể bay ra. Tiên kinh
gọi đó là “thần (tâm thức) khiến
thân hình bay lên” vậy. Ông có chú ý thấy
cái lỗ trên tảng đá hay không? Xưa kia, tôi bị thợ săn bắt
được, nhờ ông chuộc mạng, nên
đến báo ân, mong hãy đừng hoảng
hốt”. Người đó dùng kế ấy,
hơn mười ngày bèn từ giếng
bay ra. Tăng hết sức vui mừng, cho là
hoàng tinh có hiệu nghiệm, bèn từ
biệt đại chúng, mang hoàng tinh vào
giếng, căn dặn “chừng một tháng,
mở giếng ra xem”. Tới hẹn, xem
thử, hắn đã chết cứng.
Vì ông tăng đó chẳng biết người
trước thoát ra là do sức của con
cáo vậy. Buồn thay!
Văn: Cho đến
thân tàn được sống, rủ mình
nơi vách trắng nghe kinh; chốn hoạn nạn
cầu sanh, hiện áo vàng vào mộng.
Giải:
“Bạch bích nghe kinh”: Tôi tạm trụ tại
một am. Có người bắt mấy con
rết, lấy tre uốn cong đầu đuôi của
chúng. Tôi mua lại đem thả, những con
khác đều đã nửa chết
nửa sống, chỉ có một con còn
sống, vội vàng bò đi. Về sau, tôi cùng
một người bạn ban đêm đang ngồi,
trên vách có con rết. Lấy thước
gỗ cực lực gõ đập chung quanh
để đuổi nó đi, nó trọn
chẳng đi. Tôi nói: “Khi trước
được thả chẳng phải là
ngươi đó ư? Ngươi đến cảm
tạ ta đó ư? Nếu đúng là
ngươi, ta sẽ vì ngươi thuyết pháp,
ngươi lắng nghe, đừng động
đậy”. Bèn bảo nó rằng: “Hết thảy
hữu t́nh chỉ do tâm tạo. Tâm hung bạo hóa
thành cọp, sói. Tâm độc hóa thành
rắn, rết. Ngươi trừ độc tâm,
có thể thoát khỏi thân hình này”.
Nói xong, bảo nó đi, nó chẳng cần
đợi đuổi, từ từ bò ra
ngoài cửa sổ. Người bạn cùng
ngồi kinh ngạc than là hy hữu! Đó
là chuyện vào năm Long Khánh thứ
tư (1506).
“Áo vàng vào mộng”: Can Thị ở
Hồ Thự, Hàng Châu, có hàng xóm
bị trộm. Con gái người ấy
gởi mười con lươn để vấn
an mẹ. Bà nuôi trong vò, quên khuấy luôn. Một
đêm, mộng thấy mười người
áo vàng, mũ nhọn, quỳ thẳng xin tha
mạng. Bà tỉnh giấc, nghi hoặc, hỏi
ý các thầy bói, họ nói: “Ắt
có sanh vật xin được tha mạng”. Bà
tìm khắp nhà, thấy trong vò có
lươn lớn, đếm đúng
mười con, hết sức kinh hãi, đem
thả. Đó là chuyện vào năm Vạn
Lịch thứ chín (1581).
Văn: Hễ làm
thì đều có báo ứng, chẳng
phải là chuyện không có bằng chứng!
Giải:
Những người phóng sanh hoặc
là tăng phước lộc, hoặc tăng
thêm tuổi thọ, hoặc thoát nạn gấp,
hoặc lành bệnh trầm kha, hoặc sanh lên
trời, hoặc chứng đạo quả,
hễ thực hiện đều được
báo ứng, đều có chứng
cứ. Vậy làm lành, đều cát
tường đưa tới, người
có tâm đạo há nên mong mỏi
được báo đáp ư? Không mong
được báo đáp mà báo
đáp tự đến, nhân quả ắt
là như vậy, có chối từ cũng không
được! Người phóng sanh hãy nên
biết vậy.
Văn: Chép trong
sách vở, rạng ngời tai, mắt.
Giải: Rành
rành có chứng cứ. Những
chuyện sao lục trên đây, xa thì
được chép trong sách vở, gần
thì rành rành nơi tai mắt, cùng
thấy, cùng nghe. Khảo xưa, nghiệm nay,
chắc chắn chẳng phải là hư
dối.
Văn: Xin nguyện
khắp [mọi người] hễ thấy
loài vật, đều phát tâm từ bi, bỏ
ra tài vật chẳng kiên cố để làm chuyện
phương tiện.
Giải:
Từ đây trở đi, khuyên khắp
người đời: Hễ thấy sanh mạng,
đều phát tâm từ bi. Do vậy, bỏ
tài vật trong thế gian để hành phương tiện ấy. “Tài
vật chẳng kiên cố” tức là
[tài vật sẽ] bị nước cuốn trôi,
lửa đốt, quan đoạt lấy, trộm
cướp mất, mong manh vô thường,
chẳng phải là vật kiên cố. Bỏ
thứ ấy để làm phước,
đó gọi là “dùng tài vật
chẳng kiên cố đổi lấy tài vật
kiên cố”. Nếu chẳng có tiền tài,
chỉ phát tâm từ bi cũng có
phước đức. Hoặc là khuyên
người khác phóng sanh, hoặc thấy người
khác phóng sanh bèn tán thán tùy hỷ,
tăng trưởng thiện niệm của họ,
thì cũng là phước đức.
Văn: Hoặc
là ban ân chu toàn nhiều mạng, sẽ tích
tụ âm công to lớn. Dù làm ơn cho một
con trùng, cũng có gì chẳng phải là
thiện sự!
Giải:
Người có sức thì ban ân chu toàn
nhiều mạng, cố nhiên là âm công.
Người không có sức thì ban ơn cho
một con trùng cũng là thiện sự.
Đừng nói “tiểu thiện vô ích” mà
chẳng làm! Cõi đời có kẻ
chẳng hiểu lý này, ắt chọn sanh
vật thân nhỏ nhoi số nhiều thì mới
chịu mua phóng sanh. Trên đường gặp
con vật lớn, mắt lướt nhìn
qua. Đấy là chỉ tham phước cho
chính mình, chẳng thương xót nỗi
khổ của chúng sanh. Phước ấy rất
ít, hãy răn dè!
Văn: Nếu lâu
ngày chày tháng, tự hành rộng
rãi, phước sẽ cao ngất.
Giải: Thiện
chẳng lớn, nhỏ, chỉ quý ở
chỗ dài lâu! Ngày ngày tăng thêm, tháng
tháng tích lũy, thiện nhiều thì hạnh
rộng, hạnh rộng thì phước cao.
Văn: Lòng
từ đầy ắp nhân gian, danh thông cõi
trời.
Giải: Công
đức từ bi tích tụ lâu ngày,
trọn khắp hoàn vũ. Tình
người đã nung đúc, lòng
trời ắt quyến luyến. Chắc có
kẻ nói trời xanh mờ mịt, sao có
thể cảm thông? Chẳng biết thiên vương dùng sáu ngày trai tuần thú nhân gian,
có thiện ắt biết, không điều ác
nào chẳng xét. Lại do người
hành Thập Thiện mà chư thiên chiến
thắng, do con người hành Thập
Ác mà Tu La chiến thắng. Do vậy, thiên
đế lúc nào cũng muốn con
người hành thiện. Một người
hành thiện, phi thiên thần vương liền
báo lên thiên kinh. Kinh đã có văn từ
nói rõ, chẳng phải là nói mò
vậy!
Văn: Quét sạch
oan chướng, lắm phước
đức tụ tập trong đời này.
Bồi đắp thiện căn, niềm vui
thừa lan sang đời khác.
Giải: Phóng sanh,
chẳng giết chóc, chẳng gây oán
kết với loài vật, không chỉ an lạc
trong đời này, mà còn do thiện căn
đó, được trường thọ,
hưởng phước vĩnh viễn trong
đời mai sau, cho đến thành Phật. Muôn
loài hữu t́nh yêu mến, ngưỡng mộ, quy
phục, đều là sự vui có thừa
vậy!
Văn: Nếu còn
giúp sức bằng xưng danh hiệu Phật,
lại còn tụng kinh văn.
Giải:
Gặp sanh vật có thể phóng sanh, tuy là
công lao tốt lành, chỉ giúp cho sắc thân,
chưa bồi đắp huệ mạng, càng phải
nên xưng dương vạn đức hồng danh
của A Di Đà Phật, phúng tụng các
phẩm kinh điển Đại Thừa. Tuy là
như vậy, phàm mua con vật để phóng
sanh, hãy nên gấp thả, nếu chẳng tiện
đọc kinh, chỉ nên niệm Phật giúp cho
chúng. Nếu mua cách đêm, để đến sáng mới
thả, hoặc mua vào buổi sáng, đến
chiều vẫn còn sống, cứ ắt
phải đợi trần thiết đạo
tràng, nhóm họp nam nữ,
chần chờ hồi lâu, quá nửa đã
chết ngắc. Phóng
sanh như thế chỉ là phô trương mà thôi!
Văn: Vì
chúng hồi hướng Tây Phương, khiến
chúng vĩnh viễn lìa khỏi ác đạo.
Giải: Do
công đức niệm Phật, nguyện các sanh
mạng hết một báo thân này vãng sanh Tây
Phương Cực Lạc thế giới, liên hoa
hóa sanh, nhập địa vị bất thoái,
vĩnh viễn lìa ác đạo, mãi mãi
chấm dứt vòng khổ! “Ác đạo”
tức là ba đường ác trong lục
đạo là địa ngục, ngạ quỷ,
và súc sanh.
Văn: Tâm niệm càng lớn,
gieo đức càng sâu.
Giải: Thấy
khổ bèn phóng sanh, tức là ôm lòng thiện
tâm, nay cũng là đại Bồ Đề tâm, cho nên
nói là “càng lớn”. Phóng sanh
được phước, cái
được gieo chính là đức
thế gian, nay chính là đức xuất
thế gian, cho nên nói là “càng sâu”.
Văn: Đạo nghiệp
nhờ đó mà chóng thành, sanh trong
phẩm thù thắng nơi đài sen.
Giải: Tâm
lớn, đức sâu, có sự nào
chẳng hiệu nghiệm? Bởi lẽ,
lợi tha là Bồ Tát hạnh. Dùng
hạnh môn này giúp tu đạo nghiệp, ví
như thuyền được thuận gió,
ắt có thể nhanh chóng tới bờ
kia Niết Bàn. Trong tịnh nghiệp tam
phước, “từ tâm
chẳng giết”
thật sự đứng bậc nhất. Nay có thể
chẳng giết, lại còn phóng sanh.
Đã có thể phóng sanh, lại dùng
pháp cứu tế, khiến chúng sanh về
Tịnh Độ. Dụng tâm như thế, khi báo
mãn, cao thăng chín phẩm đài sen
chẳng còn ngờ! Khuyên khắp
người đời, mong đừng vì
tôi đức bạc, người hèn, mà
chẳng tin tưởng lời này vậy.
8.2.4. Phóng sanh chú nguyện
Phóng sanh
xong, đối trước tượng Phật,
chí tâm lễ bái, bạch rằng:
- Đệ tử tên là….
nhất tâm quy mạng Tây Phương Cực Lạc
thế giới A Di Đà Phật, con tuân theo
giáo huấn sáng suốt của vị đã
thành Phật trước, nay hành phóng sanh,
đã được chừng đó, do công
đức này, nguyện tội nghiệp của
con tiêu trừ, oan khiên cởi gỡ, thiện
căn đã tu ngày càng tăng
trưởng. Trong lúc mạng chung, thân tâm an ổn,
chánh niệm phân minh, được Phật tiếp
dẫn, sanh trong hoa sen nơi ao bảy báu nơi
Cực Lạc. Hoa nở thấy Phật, đắc
Vô Sanh Nhẫn, trọn đủ Phật huệ. Do đại
thần lực, phàm hết thảy các sanh mạng do
con đã thả cùng với mười
phương vô tận hữu t́nh đều
được độ thoát trọn hết, thành
vô thượng đạo. Nguyện Phật từ bi,
xót thương nhiếp thọ.
Phát nguyện xong, niệm Phật
một trăm câu, ngàn câu, vạn câu, tùy ư nhiều ít.
8.3. Phụ lục
8.3.1. Bàn về “điếu
dặc” (câu cá, bắn chim)
Luận Ngữ chép: “Tử
điếu nhi bất cương, dặc[47]
bất xạ túc” (Khổng Tử câu, nhưng không chài lưới, đi săn chẳng
bắn con đang đậu). Tôi nghi là có sai
sót, vì sao? Thánh nhân là bậc nhân từ
tột bậc. Vì thế, vua Nghiêu lòng nhân như trời.
Đã câu hay bắn, dẫu chẳng quăng
lưới, chẳng bắn con chim đang
đậu, tức là lòng nhân chưa cùng
tột. Có người nói: “Vua Thuấn có
đức hiếu sanh, chẳng bỏ việc tru
sát tứ hung[48].
Câu, bắn há có khuyết điểm gì?”
Chẳng biết tứ hung là kẻ có
tội, chứ chim, cá có tội gì? Văn
Vương ân trạch thấm đến xương khô,
xương khô vô tri, chim, cá có tri giác, không lẽ Khổng Tử chẳng
am hiểu tình cảm của muôn vật đến
mức ấy ư?
Người khác tặng
cá, Tử Sản nuôi trong ao. Tử Sản nuôi
nấng, Khổng Tử đi câu! Tử Sản ban
ân huệ cho người, Khổng Tử tàn
nhẫn với con người ư? “Được
ban tặng gà bèn nuôi chung với chim
trĩ, chẳng ăn”, nhân đức, ân
trạch của Khổng Tử ắt chẳng
kém Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Tử
Sản càng rõ. Do vậy biết: “Đạt
tới cảnh giới trung hòa thì vạn
vật được sanh trưởng yên vui”.
Thánh nhân bình trị cõi đời,
khiến cho chim, thú, cá, rùa đều sống
yên vui. Chẳng nuôi nấng, chẳng giúp cho muôn
vật sống yên vui, thì sao là Khổng Tử
cho được? Như vậy thì
người nước Lỗ săn bắn,
Khổng Tử cũng săn bắn, có khác gì đâu?
Đáp: Khổng Tử làm quan, có quan
chức thì phải thuận theo mạng vua, bất
đắc dĩ vậy! Nếu “câu, bắn”
là do Khổng Tử tự làm, đối
với chuyện có thể [tránh giết chóc, tổn hại] mà Ngài
chẳng thực hiện[49],
thì không đáng tin! Ý tôi cho rằng sau
chữ Tử chắc là có chữ
Viết: “Tử viết: - Điếu nhi bất cương,
dặc bất xạ túc” (Khổng Tử
nói: “Câu mà không thả lưới, chẳng
bắn con chim đang đậu”). Tập tục
chưa dễ tránh khỏi, đành
thuận theo thói tục, vì đời Mạt
mà dạy phương cách nhân từ;
đó chính là lời nói của
Khổng Tử, chẳng phải là việc
làm của Khổng Tử vậy!
8.3.2. Viết sau Phóng Sanh Quyển
Ba mươi lăm năm
trước, tôi đã viết: “Sanh nhật
chớ nên sát sanh”. Tuổi năm mươi,
soạn kệ nói: “Sanh nhật chớ nên ăn
mừng”. Nay đã mười phen nóng
lạnh đắp đổi, tròn sáu
mươi rồi. Các vị quân tử biết tôi,
lại hết sức yêu mến tôi, chẳng sắp đặt lễ
lạc mà dùng phóng sanh để mừng
sanh nhật. Chắc có người nói:
“Không sát sanh thì được rồi, sao
chẳng mừng sanh nhật?” Ôi, mừng sanh
nhật như thế tức là mừng vạn
vật được sanh thành. Tôi chỉ
sợ rằng người khác chẳng
mừng vạn vật được sanh thành!
Chắc có người nói: “Chim chưa
duỗi cánh, người bắn đợi sẵn trong rừng.
Cá chưa dương vây, kẻ đánh cá
đã đầy bãi. Tuy nói là
giúp cho nó sống, thật ra là hại cho
nó chết! Kẻ ác còn đó, sao có
thể phóng sanh?” Ôi! [Chim] bay liệng trên không, [cá] vào
trong vực, được sống sót
chẳng biết là bao nhiêu. Lại vướng
vào lưỡi câu hay mũi tên, trăm phần
chưa được một, mới rơi
vào tay thợ săn, đợi đầu
bếp nấu nướng, đoan chắc sẽ
vào bụng của kẻ tham ăn. [Nay những con
vật bị bắt] đành chịu nép
mình nơi cửa chết, bỗng
được giải cứu, tuy chưa bảo
đảm kết cục [tốt lành] cho chúng,
nhưng thoát khỏi dao, búa, trốn khỏi
chảo, vạc, ví như sắp bị hành
hình mà được xá tội, nỗi
niềm vui sướng ấy là như thế
nào?
Hơn nữa, ca múa nơi Tây
Hồ, suốt năm chẳng có lúc nào
ngơi. Giả sử các vị quân tử Xuân
hoa, Thu nguyệt, sáng tiệc tùng, chiều tụ
họp, hễ nâng đũa là vạn đồng,
động ngón tay là cả ngàn mạng, nay
đổi thứ tanh tưởi thành rau
dưa, chuyển giết thành sống, so sánh
lẽ được mất, khác nào
trời với đất? Chẳng nói
đó là hành vi thù thắng, tôi
chẳng tin! Do vậy, bèn ngâm vịnh, ghép
vào sau Phóng Sanh Quyển. Có bài từ
rằng:
- Thượng đế
hiếu sanh, dân hèn tổn hại sanh vật. Bỏ
tiền phóng sanh. Tham tiền bắt sanh vật. Do
hai niệm sanh, nên có chúng sanh. Sanh vô sở sanh,
cũng chẳng năng sanh, vô sanh bất sanh, gọi
là phóng sanh.
8.3.3. Bài ký trùng tu chùa
Thượng Phương, đào ao phóng sanh
Vùng Vũ Lâm kể
từ khi nhà Tống chênh vênh ở phương Nam, cư trụ quanh Hồ
Sơn, các chùa thuộc Thiền, Giảng, Luật
rực rỡ chen chúc, trở thành
có tiếng trong thành. Cho tới nay, quá
nửa bị chìm đắm, đến
nỗi chẳng thể khảo cứu các truyện kư hay tự chí.
Có chùa Thượng Phương dựa
lưng vào tường thành, hai bên liền
sát hai cửa Dũng Kim và Tiền Đường [của thành Hàng Châu], trước
mặt thông với đường cái quan
Tây Tỉnh. Chùa vốn được tạo
dựng từ năm Trinh Minh thứ bảy (921)
nhà Hậu Lương. Nhưng trong năm Cảnh
Thái thứ tư (1453) của quốc triều[50],
Tăng cho là khó duy trì, bèn bỏ đi.
Chùa bị bỏ hoang, dần dần bị dân cư
xâm chiếm, chỉ còn lại một phần
mười. Ưu-bà-tắc Trầm Thiện
Năng kết lều tranh tại đó.
Tới năm, Gia Tĩnh 23 (1534), quan
Thượng Bảo Khanh[51]
là Từ Lục Kiều xin phép triều
đình, cho thuê đất nơi đó làm
vườn. Ông không có con trai, để lại cho
con gái, dặn trả lại nhà chùa. Con
gái có hiếu lại hiền thục, cầm
khế ước về nhà họ Vương, tuân
theo lời cha dặn, trao
cho Vân Thê, [cuộc đất ấy] bèn trở
lại là đất của Tăng
như cũ. Họ Vương qua đời, cư
sĩ Tống Hóa Khanh nghe đạo nghĩa ấy, bèn đề cao. Hóa Khanh
là con cháu của gia tộc nhiều đời
ăn bổng lộc, tận lực dùi mài
đạo đức, chuộng điều thiện
chẳng chán, bèn góp tiền đưa cho
nhà họ Vương, lấy lại khế
ước. Tôi cũng dốc hết tiền riêng,
cùng thiện tín mua lại cuộc đất
cũ được chừng đó. Lấy
vị trí chánh của chùa trước kia
để làm dãy nhà ngang, xoay hướng
chùa đối diện cửa thành nhằm
đảm bảo sự u tịch, mong đời
đời phụng sự Tam Bảo.
Do vậy, bàn bạc cùng
đại chúng: “Thượng Phương
vừa mới trùng hưng, lênh đênh, suy vi, hãy tu tạo, lo liệu như
thế nào để được lâu dài?”
Có người bàn bạc đốn cây
cối, mở rộng điện đường,
tụ tập nhiều tăng sĩ, tăng đông thì sẽ thường
trụ. Tôi nghĩ chẳng phải vậy! Đang
thuở mạt pháp, tháp chùa chẳng
kiên cố. Thử gập ngón tay tính toán.
Cửa tam quan hướng ra chốn phố
thị, lầu chuông gác trống chẳng thể
là hào lũy được! Tăng tuy nhiều
mà hạnh thiếu, nhiều để làm gì?
Xét ra, cuộc đất này gần thành,
thành gần hồ, hồ phía ngoài cao, mà trong thành thì thấp,
thuận theo đó đào thành kênh, gặp
lúc hạn hán cũng chẳng thể cạn.
Do vậy, tạo thành ao. Để tiện làm ao
phóng sanh, đối
với gian nhà cũ ở chỗ đất
trống, sửa
sang kèo rường đôi chút, chọn lấy
hai ba vị tăng tín thành, sớm chiều
Thiền tụng, ngõ hầu trên là chúc
nguyện cơ đồ của hoàng thất,
dưới là cứu vớt hàm
thức, thì sẽ ổn thỏa vậy.
Có kẻ nói: “Loài vật
nhiều như cát, bụi; ao như một cái
muỗng, chứa đựng hữu hạn.
Làm sao được?”
Kẻ đó nào có biết: Đào ao
ấy là khởi đầu, là dẫn
khởi, dẫn đến mở rộng ra,
lại càng mở rộng hơn, sẽ mênh mông
khắp cõi. Xưa kia, Tử Sản nuôi cá
chỉ một chỗ nhỏ bé, khiến cho người nước
Trịnh dù đại phu, dù quan chức, hay dân
chúng đều làm như thế. Nước Trịnh và
các nước Yên, Triệu, Tề, Sở cũng
đều như thế thì ao vô lượng, nuôi
nấng vô lượng. Nếu không, Tây Hồ là ao
phóng sanh thời cổ, bảo là dung trọn
khắp muôn vật trong vòng trời đất,
há có lẽ đó ư? Hóa Khanh thưa:
“Vâng, đúng như vậy”. Bèn cùng với
em ông ta là Trực Khanh,
các vị sĩ phu hiền đức, các
tỳ-kheo, tịnh nhân, có người xuất tiền,
có người quyên lương thực, sửa
sang cuộc đất, cuốc, vét, đào
bới, nạo vét dòng suối khô, dẫn
nước, đắp đập, đắp
đê kiên cố phòng khi nước lũ bị
sụp đổ, xây tường vây, vun đất,
lèn đá để ngăn ngừa hải ly
và rái cá phá hoại, nhằm đề
phòng kẻ ngoài xâm phạm bèn đắp
tường đất kiên cố, lo cho [các
loài vật] gặp phải nóng lạnh bèn
trồng cây lấy bóng rợp, phía
dưới thì giữ cho nước
tràn trề, bận bịu lo
toan suốt ngày đêm, nhọc nhằn chẳng nghỉ,
ra sức hơn tháng, ao được hoàn
thành. Ngay khi đó, [các con vật] từ
trong lồng được thả, đang ở
trong nồi mà được phóng thích,
thoải mái vùng vẫy, thoát ra thảnh
thơi. Trong vòng [cái ao nhỏ như] cái
muỗng ấy, đủ để cho chúng nó
thong dong.
Tôi vừa mừng vừa
sợ, đảnh lễ trình với
mười phương Như Lai, thần chủ ao,
thần chủ già lam, nguyện do Phật lực, pháp lực,
hiền thánh lực, thệ nguyện lực của
chư thần, từ bi gia hộ, oai đức
giáng lâm, khiến cho từ nay trở đi
tới tột cùng vị lai, [ao phóng sanh
này sẽ] thường là nơi an ổn cho
các loài thủy tộc đội mai, mang vảy.
Lại đảnh lễ thưa với các vị
tăng đang trụ nơi đây và mai sau, nguyện
dùng giới lực, bi trí lực, nghĩ
tới nỗi khổ cứu vớt nhuần thấm [lũ cá đang
bị] khô cạn của [trưởng giả] Lưu
Thủy, ngài Thiên Thai dâng biểu dùng lời
lẽ thẳng thừng để dứt
đăng, đó, ngài
Trí Giác (tổ Vĩnh Minh) lãnh tội hòng
thành tựu lòng nhân, hứng chịu đao
sắc mà chẳng hối, vẫn giữ
mãi chẳng để hư hoại [ḷng từ], hòng tạo
thành phong hóa cho bốn phương.
Những ai dám trái nghịch
lời kết minh khi trước, học theo
Đào Châu (Phạm Lãi) kiếm lợi
bằng lưới, rập, hoặc hùa theo
mọi người bán [những sanh mạng
trong ao phóng sanh] cho hàng bạch y, thì gọi
là trái nghịch Phật luật, phạm Ba La Di. Những
người được gọi là Thích
tử sẽ triệu tập tăng chúng làm
yết-ma để tẫn xuất kẻ
đó, chẳng cho cộng trụ! Tức
là do kẻ đó
cấu kết với ác thần, ắt
thần sẽ ngầm trói buộc hồn họ,
rành rành hủy hoại thân họ, chẳng thể trốn tránh. Nếu
họ thoát được, khi báo thân
đã tận, sẽ đọa trong Nê Lê, hứng
chịu muôn điều khổ chẳng cùng
tận. Vì lẽ nào vậy? “Ưa sống,
ghét chết” là đạo trời, là
lẽ thường tình của con người.
Người xưa bỏ ra tiền tài khó
bỏ, nhọc nhằn thân xác đáng mến,
lập ra nghĩa cử thù thắng
chẳng thường thấy trong đời
ngũ trược, khiến cho [các con vật] mạng
ắt phải chết mà
được sống,
đặt chúng nơi an toàn. Người
đời sau nỡ lòng chẳng suy
nghĩ sâu xa, chỉ cốt thỏa lòng riêng tư,
trái đạo trời, nghịch tình
người, bất tường là do trái
nghịch, hung ác, bất tường thì tai
ương đưa đến. Dùi đánh
xuống, trống vang rền, bóng theo hình, cảm
ứng tự nhiên, chẳng phải là nói
dối để dọa dẫm.
Hóa Khanh và các đại
chúng hớn hở, hoan hỷ, than là “chưa từng có”, thưa rằng: “Lành thay!
Đấy là khuôn mẫu cho tăng tục vậy,
chẳng thể khiến cho đời Mạt Pháp chẳng được nghe”.
Bèn lập bia tại Thượng Phương.
Tụng rằng:
- Trùng hưng chốn
đã diệt, lại kiêm được phóng sanh.
Há chỉ diệt chẳng diệt, sanh cũng
tướng vô sanh. Sanh diệt đều diệt
rồi. Tịch diệt há trở ngại?
Đã siêu hẳn các phương, không
phương để nói Thượng. Không
phương nói Tây Phương, ý cũng giống
như vậy. Người xây chùa, đào ao,
nguyện cùng hiểu ý này!
Ghi vào ngày Phổ
Môn Thị Hiện năm Vạn Lịch 28 (1600).
8.3.4. Bài ký về ao phóng sanh
của Trường Thọ Am nơi cửa
Bắc
Tây Hồ là ao phóng
sanh thời cổ. Pháp lâu ngày biến thành
tệ, thực chất mất đi, chỉ còn
danh suông! Thói tệ lâu ngày thành quen. Hồ luôn
sanh ra thủy tộc, danh xưng [ao phóng sanh] cũng
bị mê mất, dường như chẳng
được nghe nhắc đến nữa.
Năm Ất Mùi, tôi giảng diễn kinh Viên Giác
tại Nam Bình thuộc núi Phật Quốc. Nam
Bình vốn có một cái ao ở
cửa tam quan. Khi đó, các vị có danh
vọng làm chủ hội, quyên tiền mua cái ao để trồng sen trong
đó, dứt hẳn ngư nghiệp.
Nhờ vậy, mọi người biết ao
phóng sanh là chuyện cũ của vùng Vũ
Lâm; tôi lại đào ao ở Thượng
Phương. Nơi cửa Bắc có
vườn, trong vườn có ao, lại mua
lấy. Vườn cách Thượng
Phương theo trục Nam Bắc nửa câu-lô-xá[52],
cho nên trong thành có hai ao phóng sanh.
Tôi vừa lập bia tại
Thượng Phương, cho rằng đó
là khởi đầu, từ khởi
đầu sẽ dẫn đến lan tràn rộng ra.
Xét tôi đức mỏng, tuổi già lụm
cụm, chẳng đủ để tạo thành
phong thái, chẳng biết người kế
tục hưng khởi chuyện này sẽ
được mấy ao? Thượng Phương
khổ vì chật hẹp, chỉ có thể làm
ao; ngoài ra chỉ có chút rừng trúc.
Loài chim có thể ẩn náu, nương
cậy trong đó. Ở đây khá rộng
rãi, ao có thể mở rộng hơn, nhưng
nước sâu đọng nhiều thành chằm,
chỗ nước đọng bèn dùng
đất be thành lũy, cao ngất như núi, vây
quanh thành ranh giới, vòng quanh thành lối
đi. Hãy nên trồng tre hoặc cây tại
đó, chúng sẽ mọc rậm rạp thành
rừng, khiến cho [loài chim] ríu rít chao
lượn, vui sướng quên sầu. Tuy chưa
thể mong làm chốn ngưng nghỉ cho các
loài bay, lội trong muôn một, nhưng cứ
tưởng tượng quang cảnh ấy,
thì Thượng Phương chẳng thể
sánh bằng được!
Phía Đông của vườn
là thiền viện Hưng Phước, xoay sang
phía Nam là Dưỡng Tế Viện. Lại
xoay sang phía Tây là Đắc Nhất đạo
viện. Dưỡng Tế xưa kia có hiệu
là Bi Điền. Thánh chúa, hiền thần do
thương xót nỗi khổ lênh đênh của dân
chúng cô quạnh, không nơi nương tựa,
bèn lập ra [viện ấy]. Nay thì loài
vật khốn đốn vì cung tên hay mồi câu,
rũ rượi nơi đao, thớt,
chẳng thể trốn tránh, đợi bị
nấu nướng, không nơi kêu cầu càng
quá đáng. Mua lấy đặt vào ao nuôi,
thả trong
rừng,
ngõ hầu chúng được trọn hết
mạng tàn, lòng bi còn chi hơn
được nữa? Đức Phật
dạy tam phước, có nói “từ tâm
chẳng giết”, nhưng trong ngũ
phước thuộc cửu trù[53]
của Cơ Tử, Thọ cũng là điều
quan trọng nhất. Gần bị giết mà lại
được tròn tuổi thọ,
phước nào hơn được
nữa? Đức lớn trong trời
đất là sanh, đức của vua Thuấn
là hiếu sanh, đức là một mà thôi!
Trên trong lành, dưới yên ổn, vua chúa
sở dĩ có thể phối ứng dài
lâu trong vòng trời đất là do giữ
vững thọ mạng của muôn vật, luôn thuận
theo đạo ấy mà đạt được,
còn chi hơn được
nữa?
Dấu tích lớn lao của ba vị thánh nhân
Nho, Đạo, Thích như thế chân vạc ở
ba phương, giống như
giáp vòng bao lấy, vườn nằm
gọn trong đó. Nơi ở của
người có lòng nhân thuộc Khúc Phụ[54],
cái thất từ bi của xứ Ma Kiệt
Đà, nhà thiêng của Tây Hoa, Trường Sanh,
Bảo Chân[55]
do trời ứng hợp mà ngầm gần
nhau, há có phải là chuyện ngẫu nhiên
ư?
Cứu sanh vật sắp bị
diệt bèn là có sanh, cầu cho chúng
được sống mà chưa từng sanh
nên là vô sanh. Sau khi đã vô sanh thì vô bất
sanh, tức là sanh và diệt là một. Sanh
và diệt là một thì phước
hưng khởi mà vô tướng, lòng bi cứu
tế vô duyên. Phước chẳng thể
được, bi chẳng thể
được, một cũng chẳng thể
được, chỉ có pháp tánh thường
trụ, chẳng đoạn, chẳng tiếp
nối, giống như hư không. Kinh Phạm Vơng coi
phóng sanh là pháp thường trụ, mà
thường trụ là kim cang thân vô lượng thọ.
Vườn nơi am có tên là Trường
Thọ, trong vườn có mấy căn nhà
tranh bỏ hoang, bèn sửa chữa để
thờ tượng Tiếp Dẫn đạo
sư và Đương Lai Từ Thị, hòng
đặt ra chốn cầu bến để
trước là hết thảy hàm linh
đều sanh về An Dưỡng, dứt nỗi
khổ luân hồi. Sau là sẽ được
thọ ký trong hội Long Hoa. Số lều tranh chỉ
giữ như thế, chẳng tăng thêm,
cắt vị tăng có giới
hạnh thanh tịnh trông coi. Phương cách trông nom
như đã nói trong bài ký chùa
Thượng Phương. Bậc phụ lão trong
làng nghe lời tôi nói, tiến đến
nắm tay tôi, xót xa than thở: “Chúng tôi
chẳng biết cội nguồn của
vườn, chúng tôi còn kịp
được thấy hai vị thiền nhân sống
tại đó. Xưa kia là chốn già lam, nhưng rồi biến
thành vườn rau, không cách nào trở
lại như xưa, chúng tôi nào mong
được thấy quang cảnh như hiện thời?” Trong chuyện
này, người khởi xướng là
tôi và ông Tống Hóa Khanh, nhưng do các vị
thượng thiện nhân vui vẻ giúp sức
mà được hoàn thành lợi
lạc tốt đẹp như thế, bèn viết
vào văn bia như vậy đó.
Ghi vào ngày Phật
Đản năm Canh Tý, tức năm Vạn
Lịch 28 (1600).
8.3.5. Bi ký về ao phóng sanh
chùa Thượng Phương tại Hàng Châu
Ao phóng sanh tại Vân Thê
bắt nguồn từ việc trung hưng chùa
Thượng Phương từ cổ, Trường Thọ Am nối
tiếp, đều do đại sư tự soạn
bài ký. Thầy đã thị tịch, vị
thượng thủ nghĩ giám viện do tôi
là cư sĩ Quảng Ngụ ở Vị
Dương đảm nhiệm, lại yêu cầu Thược Tân[56] soạn mấy
lời để khắc vào đá. Tôi
choáng váng, ngước trông những
lời dạy của đại sư ba
lượt, than thở Ngài bi trí viên dung,
Không lẫn Giả đều diệu, chẳng trụ
sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp mà hành
bố thí, chẳng lìa văn tự mà nói
giải thoát, biển nguyện vô nguyện, nâng
đỡ trọn khắp loài dị sanh. Than
ôi! Cánh chim Ca Lâu La chẳng thể tiêu, tro Côn Minh[57]
chẳng thể làm bẩn, Thược Tân còn gì
để nói năng được nữa?
Dẫu có nói, cũng thêm gì hơn
được nữa! Nhưng tôi trộm nghe,
mặn chẳng trừ được
đắng, mơ chẳng trừ
được ngọt, do chẳng tương
đồng, nhưng luận theo mỗi sự thì
canh là hòa hợp [các vị mặn,
đắng, chua, ngọt ấy]. Đất,
nước nơi chùa này là hang Na La Diên[58],
do Tăng giữ
thệ nguyện của Tăng, tục giữ trọn
lời hứa của
tục, ai
nấy tuân theo bổn phận của mình mà thôi!
Đại sư răn nhắc tăng
sĩ cũng như con cháu, cảnh chùa thâm nghiêm
do bỏ chốn ca múa, ao là duyên ngăn trở
dao, thớt. Ngài răn nhắc to lớn:
Nếu chẳng có kẻ ham cầu, do đâu mà chợ dấy lên chuyện buôn
bán [máu thịt]? Giết một mạng, chính
là chôn vùi cả hai[59],
sao kẻ ngủ mê chẳng tỉnh? Thược Tân chỉ lo liệu chuyện
gần gũi, hời hợt bề ngoài,
nhặt nhạnh ý kiến của kẻ khác,
khác nào chỉ biết lặp lại ngôn luận
của người khác, chẳng biết
kế thừa chí hướng đó ư?
Chẳng phải người hữu lực, sẽ chẳng thể thấu
hiểu phương tiện nhỏ nhiệm của Sư.
[Họ sẽ gàn bướng lập luận
rằng]: “Đã nói là người hữu
lực, sao không thỏa thích lòng ham muốn? Cứ ắt nhốt các sanh
vật trong vườn, giam chúng nơi ao trong
chùa, cho đó là việc làm đúng
thời cơ?” [Có
khác ǵ] thôn
tính quốc gia nhược tiểu, nuốt
chửng đất nước có chánh
quyền mê muội, thừa cơ nước
khác đang rối loạn mà công kích, chiếm
đoạt đất nước sắp diệt
vong, bảo đó là “chẳng còn có
kẻ nào có thể uy hiếp, gây hại cho ta
nữa”!
Ác nghiệt thay! Những kẻ
đó ngỡ phú quý là vĩnh
hằng, nhân quả chẳng đáng sợ.
“Uống rượu suốt đêm, lúc suy
rồi chỉ còn được một thạch.
Mưu lược lấn át chủ, táng thân do
ngáp hay duỗi mình”[60].
Chim khách chẳng được sống yên,
bồ câu chẳng cùng một họ[61].
Sáu điều Như[62]
trong kinh Kim Cang là nói về cầm, sắt,
lụa, là, chẳng phải là nói về
kinh kệ nhà Phật. Tới khi chết đi,
hình bóng của tội thất giá[63]
vẫn chẳng mất. Xưa là nồi, nay là
cá; xưa là ngày, nay là kiếp[64],
tan xương rục tủy như vàng bị nung
chảy, vẫn còn nhớ thuở hung hăng
chiến đấu như nước xối lên
đá ư? Hiểu rõ thật vốn là
hư, hư sẽ chẳng thể trói buộc!
Chấp hư thành thật, thật chẳng
thể tiêu! Đều từ tâm sanh, chẳng liên
quan với người ư? Mượn
cớ nói “chết rồi thì vô tri”, vậy
thì duy trì gia tộc, chấn hưng tông tộc
đối với kẻ vô tri thì có gì
hòng để lại sâu dày mà hiu hiu tự
đắc? Há có phải là lúc sống
ăn xài, hưởng thụ phong phú, khi
chết hồn phách mạnh mẽ,
sống làm người to lớn, chết
thành quỷ mạnh mẽ ư? Khăng khăng
ngậm ngọc[65],
có điều ác nào chẳng thể
làm? Tức là chẳng biết đánh
cá, săn bắt đã gây tai ương cho
dòng họ Thích[66],
châu lưu ly là đuốc nơi Thái Sơn.
Bậc chủ của khí
thế
gian, trọn đủ sức bất tư nghì
của Bồ Đề Tát Đỏa, vâng lãnh
lời căn dặn nơi núi Kỳ Xà
Quật, tới ước hẹn nơi Vân Thê,
há lại chẳng tuân theo sự quở
phạt nghiêm ngặt của Như Lai mà
trừng phạt không thích đáng kẻ
phá yết-ma?
Ắt chẳng phải vậy, ông
Từ Thượng Bảo[67]
bất hạnh khi biến chùa Thượng
Phương thành vườn tược. May
mắn là ông không có con trai, phần nào
ít bị trói buộc, lại may mắn có
con gái hiếu thuận, hiền thục, quyết vâng
theo di mạng của cha để bù đắp
lỗi trước, bán lại cho anh em ông Tống
Trụ Tử và Tống Hóa Khanh, hợp
sức kiến tạo thành chùa để nêu
bày trí quả, ao thấm đẫm Bi Hoa, há
chẳng phải là vâng theo hạnh Lưu Thủy
của ngài Vân thê, hành theo nghiệp của Thiên Thai
và Trí Giác, hòng đạt lên chín
phẩm sen, gởi thân trong ba hội [Long Hoa], khiến
cho [các thiện hạnh ấy] được
hưng khởi, chẳng diệt mất, ngõ hầu
đáp tạ ân lồng lộng của cha mẹ
nơi vô sanh ư? Nếu con trai chẳng do họ
Tống, con gái chẳng do họ Từ, bậc
trí mưu tính sẵn, ai sẽ có phần may mắn [thực hiện
được]? Thời cơ
tốt đẹp giúp cho, uốn nắn sự
trầm mê, rối ren, họ hàng giúp
đỡ, xóm giềng cảm tạ. Cẩn
thận chẳng theo thói “nai khoác da cọp”
đến nỗi dẫn đến mối lo “voi bị đốt
thân vì có ngà”; đấy
chính là lời thề Ba La Di của lũ chúng ta vậy. Nơi
Đồng Hương có Phóng Sanh Xã,
đại sư rủ tay báu từ xa, suất
lãnh tứ chúng, cứu độ tai
ách lưới, chài trôi nổi trên sông, [nơi
ao phóng sanh này] có ruộng, có nhà tranh,
giữ cho pháp hội được vĩnh
viễn thì sự giáo hóa càng thêm
lợi ích. Ao ở gần vòng thành,
dùng A Lan Nhã để giáo hóa. Cây to rợp bóng, noi theo quy củ
của Thượng Phương và
Trường Thọ. Vũng nước nhỏ (ao
phóng sanh) được nhiều thêm, nhờ
vào đây mà khởi đầu, nhân duyên huân
tập, rộng khắp vùng lân cận, cũng
có thể nói là vẫn hành theo chí
của phu tử. Trong các ưu-bà-tắc
của Vân Thê, Tư Huân[68]
Trường Nhụ huệ nghiệp bậc nhất.
Viết xong bài ký, gửi thư báo cho
vị Giám Viện tháp lập đã xong, Tây
Hương thỉnh vời, Trường Nhụ
gật đầu, tức là đá gật
đầu vậy!
Tứ
tiến sĩ xuất thân Hàn Lâm Viện Quốc Sử Biên
Tu ưu-bà-tắc Quảng Thược Ngô Ứng
Tân ở Đồng Hương soạn văn.
Tứ tiến sĩ xuất
thân triêu liệt đại phu Quốc Tử Giám
Tế Tửu cư sĩ Long Miên Hà Như Sủng
ở Đồng Thành khắc chữ
triện.
8.3.6. Lời tựa ghi sau
Giới Sát Phóng Sanh Văn
Kiêng giết chẳng
phải là ý của nhà Phật, mà là
ý của bậc tiên thánh bên Nho. Thời
thượng cổ, dân chưa biết cội nguồn
cơm áo, sống lẫn lộn với cầm
thú, tận lực giao chiến, may mà
thắng thì ăn thịt nó, lấy da nó
làm quần áo. Bất hạnh chẳng
thắng, nát thân nơi nanh của chúng cũng
chẳng thể tính kể. Thánh nhân dạy dân cày cấy, gieo trồng để
có cái ăn, dùng dệt, bện để
làm áo, uốn cung, chế tên, nhà cửa
nhiều lớp cổng để bảo vệ dân
chúng khỏi bị cầm thú làm hại, mà
cũng chẳng còn nhờ chim, thú
để mưu sinh. Thánh nhân thường
chẳng quên “cùng sanh trưởng,
chẳng tổn hại nhau”. Vì thế, rồng, rắn tột bậc hung hãn, hổ, báo, tê giác, voi tột
bậc mạnh bạo, vua Vũ và Châu Công bất
quá đuổi chúng ra xa mà thôi, chẳng
giết tận loài đó. Ý của thánh
nhân là thường chú trọng chẳng
giết, nhưng dân quen thói lợi hại của
cầm thú, ngỡ giết chóc là có
lợi, không giết là có hại, cho nên chưa thể ra lệnh cấm
giết. Do
vậy, trong chế định về lễ, đã
nhấn mạnh rằng: “Quốc quân vô cố
bất sát ngưu, đại phu vô cố bất
sát dương, sĩ vô cố bất sát
khuyển, trư” (Vua không có duyên cớ sẽ chẳng giết trâu,
đại phu không có duyên cớ sẽ chẳng giết dê, dân
chúng không có duyên cớ sẽ
chẳng giết
chó, lợn). Ắt phải có duyên
cớ mới giết, cho nên giết chóc
hiếm hoi. Lại nói: “Thiên tử bất
hợp vi, chư hầu bất yểm quần,
phạt nhất thảo mộc phi kỳ thời
viết bất hiếu, điền bất dĩ lễ
viết bạo thiên vật” (Thiên tử [đi
săn] chẳng bao vây bốn mặt, chư hầu
chẳng lùa bầy thú tụ lại một
chỗ, chặt cây cỏ không đúng thời
là bất hiếu, làm ruộng chẳng tuân
thủ lễ pháp[69]
gọi là bạo ngược đối
với vật của trời). Phu tử (Khổng Tử) câu mà không quăng
lưới, không bắn chim đang đậu.
Tề Tuyên Vương chẳng nỡ giết
một con trâu, Mạnh Tử hết sức khen ngợi
là tốt đẹp, cho là có thể che
chở dân, đạt tới vương
đạo. Do vậy biết ý của thánh nhân
là thường chú trọng chẳng
giết chóc, chỉ cho phép khi chẳng thể
không giết! Vì thế, lễ để phòng
thái quá, nhưng cõi đời giết
chóc bừa bãi; do vậy nói: “Giết
chóc cố nhiên là giáo huấn của bậc
tiên thánh Nho gia!” Người nước
Lỗ săn bắn, Khổng Tử cũng phải
săn bắn, noi theo phong tục để giáo
hóa, hướng dẫn dân chẳng tranh
chấp, bèn nói “săn bắn vốn
xuất phát từ Khổng Tử”, há chẳng trái nghịch ư?
Tôi thấy thời loạn lạc
Ngũ Đại, giặc cướp gom
người để làm lương thực,
tính số đầu người coi như số
thưng, đấu [gạo thóc], kẻ già yếu
bị giã xương như giã gạo, thóc,
lột da, xẻo vú, khoe
là món canh ngon. Trẻ nít vô tri, quen dùng
giáo đâm chọc
[những người bị lôi ra làm thịt]
để
đùa bỡn. Tới nay bàn đến,
vẫn xiêu hồn, lạc phách, ruột gan nhức nhối, nhưng
người đương thời điềm
nhiên chẳng thấy quái lạ, gì là
tội, gì là cừu, khổ độc
cùng cực như thế đó! Cái
thuyết oan nghiệp báo ứng trong nhà
Phật đương nhiên chẳng phải là
hư dối. Nếu chẳng cho đúng là
như vậy, cũng là do con người quen
thói thích giết chóc, giống như
người đời giết mổ đã
thành thói quen! Nay chim thú tan đàn xẻ
nghé, biết bao giờ được
trở về quê cũ, bay lòng vòng, kêu gào,
quẩn quanh, vật vã, người hữu tâm
nghe tiếng chúng giãy giụa nơi thớt,
vật vã trong vạc sôi sục, chưa từng biến đổi
sắc mặt! Chim thú nhìn con
người hiện thời, khác gì
người thời nay nhìn lũ giặc?
Than ôi! Một bữa no nê ngon lành chi đâu, chúng sanh khổ sở dường nào! Nếu thật
sự tin báo ứng sẽ xảy đến
cho chính mình, ắt sẽ chẳng phải
[thờ ơ] như vậy. Quen thói như thế,
lòng trắc ẩn đặt nơi đâu?
Cũng đáng sợ thay!
Hơn nữa, thời cổ quen
đấu đá lợi hại cùng cầm
thú, đem so với sống trong cõi
đời hiện thời, lại còn kém xa! Nay hằng
ngày chú trọng
mổ, xẻ; gà, cò, cá, tôm, sống
đã chẳng gây hại gì cho
người, nhưng do vui chơi, [con người]
bèn dẫm đạp, quăng ném. Kiến,
muỗi, thiêu thân, giết chúng chẳng có
lợi ích gì cho chính mình! Con
người chỉ xét đến lợi
hại thiết thân, chẳng thể giáo hóa,
khuyên dụ được. [Đối với
các loài] chẳng lợi, chẳng
hại mà tập thành thói giết chóc,
đã tổn thương sanh vật, lại còn
tàn hại tánh của chính mình. Than ôi!
Cũng phải nên ngưng dứt! Đấy chính
là lúc thánh nhân dạy dân chớ nên
giết, nhà Phật bèn ứng cơ xiển
giáo. Do vậy, nói: “Sát sanh chẳng phải
là ý riêng của nhà Phật mà là ý
của tiên thánh bên Nho”.
Than ôi!
Thánh nhân dùng lễ lập ra lời răn,
nhà Phật dùng giới để duy trì
lễ. Người đời nay do mặc sức tham ăn mà
vượt lễ, lại mượn lễ
để hủy giới, cũng là tàn nhẫn,
bạo ngược, phóng túng quá
mức. Phá thói quen không gì bằng
giới, cứu chữa giết chóc không
gì bằng tánh. Nếu dân do ly loạn, bị
bắt bớ, mà có kẻ mạnh mẽ,
phá nát gông cùm, [khiến họ] thoát khỏi đao, vạc, vẫn thấy thân thích
khóc cười ôm nhau, tán thán
hoan hỷ. Còn chi vui hơn! Loài vật đáng
phải chết, được thả vào
vực trời, trở lại rừng sâu,
có khác gì như thế? Lại có bậc
đạo sư thuyết pháp trong lũ giặc,
khơi mở tâm từ của chúng, [khiến
chúng] vĩnh viễn chẳng ham giết chóc,
quăng giáo, buông gươm, lại thấy thái
bình, còn gì tốt lành hơn?
Người đời kiêng giết, cứu
giúp trọn khắp hữu t́nh, loài trùng
nhỏ nhoi ngọ ngoạy, bay lượn, mọi con
vật đều được sống yên, há
chẳng phải là đức đại sanh
của trời đất, là ý “một
Thể” của thánh nhân ư? Chao ôi! Người
hữu tâm nghĩ tới nỗi khổ bị giam
giữ, tưởng niềm vui thoáng
đãng, suy xét cái nhân báo ứng, thông
suốt ý chỉ của lễ giáo, kiêng giết
như chính mình bị giết, phóng sanh như
chính mình được thoát chết,
ngõ hầu chẳng phụ cái lưỡi
ra rả răn nhắc của cụ Vân Thê. Than ôi! Kiêng
giết, phóng sanh tột dễ; sanh tử tột
đau buồn, há chẳng nghĩ
ngợi ư?
Thiên sách này đã
được khắc in nhiều, mà bản
khắc ván của huynh Khắc Tĩnh càng
tinh tường. Nhân quả nhà Phật đã
được trình bày cặn kẽ trong
lời luận định của cụ Vân Thê, phù
hợp khít khao với giáo huấn của
nhà Nho chúng ta như thế đó!
Tháng Chạp năm Ất Tỵ,
đệ tử Cố Vân Hồng ở Hải Ngu
chắp tay kính soạn.
Bồ Tát giới
đệ tử Huệ Văn đới lãnh con
là Tánh Trạch bỏ tiền kính ấn
tống. Kính mong các loài trong nước,
trên mặt đất, bay trên không đều
được cứu độ, vãng sanh
Tịnh Độ, chứng ngay vào Bồ
Đề.
Viết tại Kim Lăng
Khắc Kinh Xứ vào tháng Chín mùa
Thu năm Quang Tự 23 (1897).
8.3.7. Tiểu Vân Thê Phóng Sanh Ký (khắc
kèm thêm)
Thiền viện Tiểu Vân
Thê do các vị quân tử cùng làng kết
tịnh xã, rộng hành phóng sanh mà lập
ra. Trước hết, tính khôi phục quy chế
phóng sanh thời cổ tại Lục Kiều
ở Tây Hồ, bẩm báo lên vị đại
trung thừa[70]
thuộc Tuần Phủ Viện hiện thời,
đã được chấp thuận. Nào
ngờ tiến hành việc đã bàn thì chẳng thuận
lợi. Khéo sao ở phía Đông của
thành có Dư Am, trước kia là nhà
ở của họ Dư, nên đặt tên là
Dư Hậu. Các vị tiên sinh Cố Tốc Viên, Tôn
Tuân Sĩ kết hợp với tịnh xã,
tiền bối Lương Sơn Châu viết biển
đề, đổi tên là Dư Am. Am cố nhiên
có chánh điện, có nhà ngang, có
trượng thất (thất của vị phương trượng), có liêu phòng,
giáp vòng hơn hai mươi gian, lại có ao to rộng hai, ba mẫu. Vị tăng
trụ nơi đó là Liên Ấn không có
đồ đệ, nguyện xả am đã lâu. Các vị quân tử có
được am ấy, quả thật là cái
nhân tốt đẹp!
Thấy cuộc đất sạch sẽ,
khoáng đãng, tuy chuồng trâu, chuồng dê, cũi
lợn, chuồng gà, không có chỗ để
xếp đặt, nhưng chẳng buông bỏ
cái tâm cứu giúp trọn khắp. Do
vậy, gần đó có am gọi là Pháp
Hoa, vị tăng chủ am tên là Tĩnh Học và
Đức Hoài cũng vui vẻ quyên tặng
để hoàn thành công đức. Lại có am
tên là Hoa Nghiêm, chẳng được cúng
bái đã lâu, vị tăng nơi am ấy mệt
mỏi, bèn quyên tặng. Giữa hai am, có
một khoảng đất trống cách biệt
với am khác, cũng mua để nối liền
cuộc đất. Lại mua mấy gian nhà dân bên cạnh, thấy quy mô cũ
của Dư Am đã được khai thác
quá nửa, bèn vây quanh bằng
tường dài, có cầu đá nối
nhau, dựng gác trên mặt nước, trồng tre, cây. Chỗ chim, thú
chẳng thể lộ ra, bèn lợp lại
mái. Những loài thủy tộc chẳng
nên ở chung một chỗ bèn ngăn ra nuôi riêng
trong ao. Chỗ cũ thì tu bổ, chỗ hư nát
bèn xây lại, chỗ thiếu thì tăng thêm,
trải qua một năm bèn hoàn thành, bèn
đặt tên là Tiểu Vân Thê. Bởi lẽ,
Vân Thê là đạo tràng do Liên
Trì đại sư khôi phục, chuyên chú trọng niệm Phật,
phóng sanh, siêu thoát tam giới theo chiều ngang.
Ngài lại còn sáng lập hai chùa
Thượng Phương và Trường
Thọ trong thành để tiện phóng sanh. Tôi
thường đọc bài bi ký do Ngài
tự soạn có câu: “Dẫn khởi mà
mở rộng ra, lại càng mở rộng
thêm, sẽ mênh mông trọn khắp cả
nước”. Lại nói: “Chẳng biết
người kế tục mà hưng khởi,
sẽ được mấy ao?” Than ôi! Biển
nguyện vô nguyện đủ loại như thế, hai
trăm năm qua, trọn chẳng có
người tiếp nối. Các vị quân
tử đều xướng “khéo
đến”, sẽ khiến các loài kêu hót
chiêm chiếp, líu ríu, cạp cạp, quang quác
được sống yên, rạng rỡ hơn
nơi chân núi Ngũ Vân, quây quần hòa thuận,
sẽ khiến cho chúng rộn rịp, hớn
hở, thoải mái,
thong dong, bơi chạy lượn lờ,
hoặc tung tăng, như vào Thượng
Phương hoặc Trường Thọ, thấy
đầy ắp mọi loài, nhưng chẳng
chật chội, vẫn chỉnh tề sạch sẽ, chẳng chen chúc, luôn giữ
sự thành tín. Khi ấy, tăng tục
cùng xướng kinh kệ, lảnh lót cả
một góc thành Đông. Phía Bắc lại
dựng ba gian nhà, thờ tượng
thầy, há chẳng phải là ý “tánh
tướng thường trụ” để nhờ vào
đó, trên là cầu chúc cơ đồ
hoàng thất, dưới là tế độ
hàm thức ư?
Nguyễn Đại Trung
Thừa đặt tên cho cái thất ấy
là Biện Liên (瓣蓮); do vậy, dẫn đến điều
tốt lành như hiện thời, hết
sức sâu dày vậy. Ba chữ Tiểu Vân Thê
là do khi xưa Châu Trung Giới Công ghi tại Long
Thọ Am ở Tô Châu, cũng do Trung Thừa
viết lời bạt đề biển ngạch
tại các viện. Nhưng khi các vị quân
tử đặt tên viện, vẫn chưa
biết đều đó, mà ngầm khéo
hợp. Hoa Nghiêm Am do cư sĩ Di Cung quyên mộ
khắc Hoa Nghiêm Sớ Sao, tàng trữ
làm của báu; nhưng khi người xưa
đặt tên am cũng đâu có biết
trước mà ngầm phù hợp. Truy
lại xưa kia, khi họ Tiền (Ngô Việt Vương Tiền Liêu) vào đời Tống
sáng lập Vân Thê, chẳng biết có thầy
(tổ Liên Trì) sẽ trùng hưng, cũng
chẳng biết các vị quân tử lại có
Tiểu Vân Thê. Chẳng xưa, chẳng nay, nhân
quả hiển hiện, đúng là chẳng sai
chạy mảy may. Chắc có người
nói: “Kiêng giết nghiêm ngặt, chuyên
phóng sanh, đó là công đức trong
Phật môn, chẳng phải là chuyện của nhà Nho!” Chẳng biết
Nhan Lỗ Công (Nhan Chân Khanh)[71] hễ tới trấn thủ quận huyện
nào, cũng đều lập ao phóng sanh
tới tám mươi mốt chỗ. Bạch
Lạc Thiên (Bạch Cư Dị) cũng có nghi
thức phóng sanh, trong Đông Pha Tập chép
rất nhiều bài thơ phóng sanh; đó
là cái tâm “nhân từ với dân, yêu
thương loài vật” của bậc sĩ quân
tử, khác gì Từ Thị (Di Lặc
Bồ Tát) ư? Như vậy thì nghĩa
cử này tuy vốn là ý khuyến thiện
của Liên Tŕ đại sư, nhưng thật ra là
lòng thành ưa chuộng điều thiện
của thánh hiền, sao chẳng biết kéo
dài dằng dặc, có
Tiểu Vân Thê nối tiếp mà hưng khởi,
hoặc lại khôi phục quy chế phóng sanh
nơi toàn bộ cái hồ ư? Cố nhiên
các vị quân tử chẳng biết
trước được, nhưng nhân bao trùm
biển quả, quả thấu triệt nguồn nhân,
chưa từng chẳng thể biết
trước để mong mỏi được!
Vì thế, viết thành bài ký.
Rằm Trung Thu năm
Bính Dần, tức năm Gia Khánh 11 (1806),
đệ tử Phật là Dương Viết
Lễ soạn và chép.
8.3.8. Hiếu Sanh Ý Tập - 好生懿集 (khắc kèm
thêm)
Mùa Hạ năm Giáp
Tý, nhằm năm Gia Khánh thứ chín
(1804), các học trò thuộc viện Tử
Dương Sùng Văn như Trương Hiệp v.v…
cầu thỉnh Đô Chuyển[72]
là Dương công mỗi ngày quyên tặng
một phần chi phí thắp đèn để
làm thiện cử phóng sanh, bẩm rõ
với vị cai quản Diêm Viện[73]
là Diên Công. Hai năm sau, nhằm năm Bính
Dần (1806), chư sanh[74]
tại Phu Văn như Đồng Nhân Kiệt v.v…
phỏng theo lệ của Tử Dương Sùng
Văn, thỉnh quan Giám Ty là Nhạc công bẩm
rõ với quan Trung Thừa là Thanh công,
các thân sĩ như Trầm Tư Hoa v.v… tám
người, cùng coi sóc chuyện ấy.
Mỗi tháng, ở Tiểu Vân Thê thuộc phía
Đông của thành, thỉnh tăng thuyết pháp,
tụng kinh, trên là cầu chúc cơ đồ
của hoàng thất, cầu mưa gió đúng
thời, nhằm báo ân vua. Con vật bán
ở ngoài chợ giá bao nhiêu đó,
cùng ghi giá vào sổ, kê khai, kiểm chứng, đóng
dấu của chùa, cuối năm kết toán
sổ sách, vĩnh viễn lấy đó làm
lệ. Từng suy xét Bạch Lạc Thiên có
nghi thức phóng sanh, Chân Tây Sơn[75]
có lời răn kiêng giết, Nhan Lỗ Công hễ
trấn thủ quận huyện nào cũng đều
lập ao phóng sanh tám mươi mốt chỗ,
cầu xin triều đình ban lời vua răn
dạy để mong [thiện cử ấy]
chẳng bị bỏ phế. Theo cái nhìn nông
cạn của bọn hủ nho, cứ bảo
đó là [thiện sự thuộc] Thích,
Lão, há chẳng sai lầm ư? Tôi mong nhiều
vị cùng lên cõi Nhân Thọ (sống thọ do có ḷng nhân), ngõ hầu
biết quốc gia “hưu dưỡng sanh
tức”[76]
tột bậc như thế đó. Do vậy, thuật lại chuyện
này để ghi nhớ.
Quốc Tử Giám
Tế Tửu Ngô Tích Kỳ ở Tiền
Đường viết.
* Hiếu sanh là nghĩa
bậc nhất của Nho gia, Kinh Dịch giải thích
hào thượng của quẻ Phệ Hạp,
nói: “Ác tích bất khả yểm, tội
đại bất khả giải” (Điều ác
chất chứa chẳng thể che giấu, tội
lớn chẳng thể giải). Châu Tử
soạn sách Tiểu Học, cuối cùng nói
một lời “nhai gốc rau”[77],
ý răn dạy cũng sâu! Kẻ căn cơ bậc
hạ đối với cái ải ăn uống
sẽ khó phá, chẳng nói “tứ sanh tất
súc” (được ban cho con vật sống bèn
nuôi nó), mà nói “chẳng bỏ câu cá,
bắn chim, há chẳng phải là ý
chỉ nhỏ nhiệm do thánh nhân hiện thân
thuyết pháp ư?” Bậc tiên đức
nói: “Sát nghiệp bất như cái
thực” (Gây sát nghiệp chẳng thà
ăn xin mà sống). Những cửa tiệm
thuốc của các y gia, tuy hiền hơn bọn
đồ tể, thợ săn rất nhiều,
nhưng phần nhiều chẳng khá giả,
phú quý tiêu vong, tuy hành nghĩa mà
chẳng cứu [vớt sanh mạng][78],
lỗi ở chỗ nào? Hội này do ông
Trầm Thư Hoa sáng lập, em họ của ông
là Khởi Tiềm tán thành. Cuối mùa
Xuân năm sau, viện Sùng Văn tổ chức
khảo hạch sĩ tử, ngày hôm sau, giảng
đường nghiêng đổ, nhưng không ai bị
tường đè. Năm kế đó,
được mùa to, lý vốn là như
vậy. Ghi lại để thưa với
người có cùng chí hướng.
Giang Bộ Thanh ở
Tiền Đường ghi.
- Lưu Dung:
Riêng đối hoa mai
cười, ăn chay ngày nhiều hơn.
Mừng nghe nhiều cử sĩ, kiêm
được sách Viễn công. Chuộng
đạo, thấy Chân Như. Quán tâm, thương
loài vật. Tiền giang lâu chẳng tới,
hữu nguyện chẳng lâu thành!
- Châu Khuê:
Niềm vui hành
điều nhân, là vốn để học
đạo. Chẳng thẹn với cổ
đức, kiêm cứu tế đương
thời. Run sợ luôn cẩn thận, thành quy
củ lớn thay. Mọi người chắc
thấy lạ, nhưng đại nhân nên hành.
Bởi không chỉ thọ khảo[79],
còn hiển lộ viên dung. Những người
trong rừng Nho, hãy đều nên gắng
sức.
- Lương Đồng
Thư:
Đốt hương,
ăn chay, tưởng cao tiết. Đợi
được ghi danh nơi bảng chùa, ý
nguyện chẳng hoại trong trần kiếp, gió
Xuân lại lùa Tiểu Vân Thê.
Hổ thẹn tham ăn
lỡ một đời, nhai nuốt rau dưa
trọn lòng nhân. Lẽ sống chỉ mong chen
được chỗ. Nai kêu, cá nhảy, tiếng ca
vang.
- Uông Chí Y:
Thánh cuồng cốt
nhận biết. Giúp ngặt, thường kiên tŕ.
Kẻ chẳng tin hủy báng, chí này
nghiệm cát, hung. Thiên chân định vĩ
đại, chế ngự được tấc
lòng. Hành xử trọn ngàn đời,
chẳng a dua theo người.
- Tần Doanh
Phong vận xuân hòa
vịnh bài thơ, kiếp thừa
thường giữ nếp kiên trì. Hiếu sanh
ta cũng mong cao đạt. Rau
mới, kê vàng qua bữa thôi!
* Thơ của hội phóng sanh
Tiểu Vân Thê (dùng vần trong bài Kỳ
Đình của Tô Đông Pha)
Ngô
Tích Kỳ soạn
Hâm mộ Thái
Thường Trai;
vạc, thớt thôi tanh tưởi. Dứt
hẹ, hương tự thanh. Móng ngắt,
sương còn ướt. Kinh động,
chúng nhảy bay. Vui thích được
sống sót, loài vật đều có tình.
Khổ chi, gấp gáp nấu. Nuôi lớn cá
xóm Đông, rải thức ăn cho cá,
khắp ao sóng cuộn tròn. Cây rợp
bóng xanh biếc, đau xót cùng một Thể,
thương, nuông như chăm con, do mở
lượng từ bi, lại bạch cùng với Phật. Quan nhỏ
thường thõng tay, nghiễm nhiên đội
mũ Nho. Đáng thương một
đường khóc, lại kham qua sông khóc[80].
Người trông vườn hái rau, để
dùng cho bếp núi. Gặp đúng dịp
phóng sanh, làm thơ tặng chư vị.
Phước hạnh chẳng luống uổng; đã hẹn, hãy
mau nhóm.
- Phan Thế Ân:
Mấy gian tinh xá quanh
vườn rau.
Bóng
mây, ánh nước hòa vào nhau. Chiêm Bặc hoa thơm
trồng tịnh vực. Giếng
sâu trục kéo rõ từng khu. Bên
người, chim cá quên niềm sợ. Ngút
mắt suối rừng, ẩn thú non. Rừng thưa
không bụi, đầy ắp thú. Rêu biếc,
lá vàng mặc sức phơi.
* Thơ dạy con của cư sĩ
Trữ Trà
Trầm
Thư Hoa soạn
a) Nhà ta xưa nay tiếng
trung hậu (nhà ta nhiều đời sống
ở trấn Ngũ Hàng,
người làng tôn trọng gọi nhà ta
là Trung Hậu Trầm Gia), chay trường,
niệm Phật, nẩy mầm thiêng (tổ tiên là
Đoan Khác Công lúc mười ba
tuổi tham yết Thạc Tổ, tọa Thiền
hữu ngộ, do vốn được dạy
bảo từ trong bụng mẹ), tổ tông xưa
trồng cội Bồ Đề, con cháu vẫn
nở đóa sen lành. Bùi tướng
siêng tu, nhân chẳng
lỡ. Lữ Công kết nguyện quả
không sai (Văn Chánh (Lữ Mông Chánh) sáng dậy, chúc nguyện
đời đời ăn lộc, hộ pháp.
Về sau [con cháu] đều quý kính
thờ Phật). Cửa đức chuộng
lành kham ngưỡng mộ. Thanh bạch truyền
thừa chẳng vết nhơ.
b) Xoay
vần sáu chữ tổng trì môn; xương nát khó
đền cổ Phật ân. Dẫu không biết
chữ, say mùi đạo. Tâm như chủng
tử, gốc tự bền. Sóng lặng,
trăng in, trừ các vọng. Nước
chảy thành dòng, thờ Từ Tôn. Khóc
dặn cháu con ghi nhớ kỹ, đừng
ham ngũ dục, tối tăm dần.
c) Tu
trì sao lại có dư ương? Tổn mạng
sanh linh bởi miệng tham. Đất hưởng
gió Xuân, muôn vật trưởng. Người
hành thu lệnh[81]
dễ tiêu vong (quả báo thê thảm của sát
nghiệp, ta thấy
chẳng sai sót, tuy làm điều thiện
vẫn chẳng cứu được,
huống hồ kẻ không có đức ư?). Miếng
thịt sướng hơn giỏ, bầu
nước[82]?
Vạn hạnh tan hoang đều do ăn. Đau khóc
khuyên người không ai chịu, cười
nhạo còn quở ta si cuồng.
d) Nho
là “nhân, nhu”[83]
pháp dạy đời, cớ sao tùy
tiện cứ chê cười? Đàm Thiền
há ngoài minh tâm tánh? Yêu vật vốn
chẳng khác Khổng, Nhan. Xương Lê quật
cường, sớm thâu liễm (như nói
xét về hình hài bề ngoài của
ngài Đại Điên, dùng lý để
tự kiềm thúc mình, như nói Mã
Hội trích máu nơi tay chép kinh Phật
và so sánh nhân gian giống như giấc mộng.
Một thiên sách Nguyên Đạo[84]
chưa đáng để tin tưởng, ở
đây đều là những lời lẽ sau
khi đã ngộ). Mậu Thúc[85]
phong lưu cũng bớt lời! Tài cao
bất hạnh lưu di huấn (tiên sinh Y Xuyên[86]
có tài cao, giỏi văn chương, nhưng
cuộc đời có ba điều bất
hạnh). Tam giới trước là ít
nói năng[87].
* Tôi từng đọc
Thạc Quỹ Ngữ Lục, biết Ngài
thành tựu Đoan Khác Công, đã
được cha anh hiền đức không gì
chẳng kềm cặp, lại được
các vị đại tông tượng Kim Ngọc,
Như Nghiêm, Bảo Thành đều là những
vị thâm nhập lý Thiền, cùng nhau dùi
mài, nên [Đoan Khác Công] trở thành bậc
đại Nho một thuở, chẳng phải
là ngẫu nhiên. Lại truyền xuống tiên sinh
Kính Đường lấy Trình phu nhân, nhân
từ, nhẫn nhục, hiếm có trong
đời, [sanh được] người
nối dõi là Thư Hoa, từ bé đã
được gia đình dạy bảo, cùng
với vợ là Châu thị chú tâm nơi An
Dưỡng. Ngày vợ ông ta mất, thánh
cảnh hiện tiền, trì danh chẳng
ngớt, đáng gọi là chuyện lạ
vậy.
Giữa Đông năm
Đinh Mão, tức năm Gia Khánh 12 (1807),
Thượng Hồ cư sĩ Đổng Vân Tiêu ghi
thêm.
* Danh
xưng Tiểu Vân Thê bắt nguồn từ đâu?
Năm Giáp Tý (1804) đời Gia Khánh,
các đại cư sĩ vùng Vũ Lâm, thấu
hiểu di ý của tổ Liên Trì, phát Bồ
Đề nguyện, tìm kiếm cuộc đất
để mở Niệm Phật Đường,
sáng lập phóng sanh viện, thương
lượng với thầy Liên Ấn vốn
là cựu trụ ở Dư Am tại Đông
Thành. Ngài Liên Ấn nghe xong, liền hoan hỷ
tán thán, bỏ nền móng cũ và hết
thảy các trang nghiêm. Họ lại mua hai am Hoa Nghiêm
và Pháp Hoa ở phía bên trái, hợp
thành một viện, quy mô giống như Vân Thê nhỏ
hơn, nên đặt tên như vậy.
Khi
đó, cử vị tăng là Hàn Khôi trông
nom viện phóng sanh. Về sau, Sư bị bệnh,
bèn thay bằng người khác. Trông nom
chúng thường trụ, đôn đốc khóa tụng
là vị tăng Hoằng Minh. Kế tục
ngài Hoằng Minh là Di Nam. Năm ngoái,
ngài Di Nam viên tịch, học trò Ngài là
Phổ Nghiêm tạm đứng trông nom hơn một
năm, nhưng do thể lực chẳng đủ
nên tạ từ. Các cư sĩ phóng sanh bèn
bàn bạc tìm người thừa kế.
Do chùa vốn thừa kế hoằng nguyện
xưa kia của sư tổ, cho nên ở góc
Đông, đặc biệt dựng ba gian Biện
Liên Thất để thờ tượng Tổ.
Năm trước lại còn quyên tiền
để khôi phục công đức Thủy Lục
nơi Diễn Pháp Đường, tăng thêm ba
lượng tiền ăn cho các sanh vật
để làm chi phí lo liệu cho việc giải
cứu sanh vật và nuôi dưỡng chúng. Do Tiểu Vân Thê giải cứu chúng sanh và thức
ăn để nuôi dưỡng các con vật vốn là cùng một mạch
quen thực hành, chẳng khác
Thượng Phương và Trường
Thọ. Do đó, họ bàn bạc gộp Tiểu
Vân Thê vào Đại Vân Thê, thỉnh sơn tăng kiêm
trông nom thường trụ hòng hô ứng nhanh chóng, đồng thanh
đồng khí càng thông suốt.
Họ thương lượng với nạp tăng,
nạp tăng được các vị yêu mến
sâu đậm, hộ trì đủ mọi lẽ, tuy
trong núi lắm việc, chẳng thể
chối từ được, bèn trong ngày Mồng Mười của tháng Mười
trực viện. Trộm xét chính mình
huệ cạn, hạnh mỏng, sợ rằng
chẳng lo xuể trách nhiệm, cứ miễn
cưỡng làm, ắt sẽ thiếu sót. Do chuyện kết
tịnh xã do sư tổ ta truyền lại đã
tròn mười năm, kính mong các vị
quân tử thiện duyên ngày càng rộng,
phước đức ngày càng to. Đă có Tiểu Vân Thê
kế tục Thượng Phương, Trường
Thọ, trong tương lai sẽ có càng nhiều
đạo tràng được mở ra
để kế tục Tiểu Vân Thê, ắt sẽ
phù hợp với câu nói “dẫn
khởi mở rộng ra, lại càng mở
rộng ra, mênh mông trọn khắp nước”
trong bài bi ký do sư tổ tự soạn. Đó lại là
điều khiến cho Dữ Khải hoan hỷ, hớn hở khôn
cùng. Do vậy, ghi kèm vào đây.
Tháng
mùa Đông năm Giáp Tuất (1814), vị Tăng
kiêm trông coi Tiểu Vân Thê thường trụ là
Dữ Khải kính cẩn ghi.
Vân Thê Pháp Vựng, phần 2 hết
[1] Nhật Kỷ là
những điều hằng ngày cần
phải ghi nhớ. Do đó, Tăng Huấn
Nhật Kỷ là những giáo
huấn mà tăng sĩ hằng ngày phải
ghi nhớ.
[2] Kinh Đại Pháp Cự
Đà La Ni do ngài Xà Na Quật Đa (Jnanagupta) dịch
vào thời Tùy, gồm hai mươi quyển.
Kinh chép thiên tử Thiện Oai Quang thưa hỏi
môn đà-la-ni, đức Phật nhập
Đại Lực Trang Nghiêm tam-muội, kể
chuyện Phóng Quang Như Lai nói kinh này trong
quá khứ. Kinh chia thành năm mươi hai
phẩm, mỗi phẩm đều trần thuật những
lời Phóng Quang Như Lai đã dạy.
[3] Đoạn kinh này
trích từ phẩm Cụ Thiện Căn của
hội Phú Lâu Na, tức hội thứ
mười bảy trong kinh Đại Bảo Tích.
[4] Kinh Ban Châu Tam Muội (Pratyutpanna-buddha-sammukhāvasthita-samādhi-sūtra)
gồm ba quyển, còn có tên gọi là Thập
Phương Hiện Tại Phật Tất Tại Tiền
Lập Định Kinh, do ngài Chi Lâu Ca Sấm (Lokakṣema) dịch sang tiếng Hán vào năm Quang
Hòa thứ hai (179) đời Hán Linh
Đế. Kinh gồm mười một phẩm, do
đức Phật dạy Hiền Hộ Bồ Tát
môn Phật Lập tam-muội. Kinh này c̣n được gọi
tắt là Hiện Tiền Tam Muội Kinh hoặc Hiện Tiền
Tại Định Kinh.
[5] Kinh Phật Tạng do ngài Cưu Ma La
Thập dịch vào năm Hoằng Thỉ
thứ bảy (405) nhà Diêu Tần. Kinh này
còn có tên là Phụng Nhập Long Hoa Kinh,
hoặc Tuyển Trạch Chư Pháp Kinh. Kinh
được chia thành mười phẩm,
trần thuật các pháp vô sanh, vô diệt, vô
tướng, vô vi, và Thật Tướng
của các pháp. Đồng thời phá
mười loại phiền não của hàng
tỳ-kheo phá giới, quở trách các
thứ tội tướng, cũng như nói
về tội báo to lớn của kẻ bất
tịnh thuyết pháp.
[6] Kinh Trường A Hàm (Dīrghāgama) là bản
dịch tiếng Hán tương ứng với
Trường Bộ Kinh (Dīgha-nikāya)
của Nam Truyền Phật giáo, gồm hai
mươi hai quyển, do ngài Phật Đà Da
Xá (Buddhayaśas) và Trúc Phật Niệm hợp
dịch vào năm Hoằng Thỉ 15 (413) nhà
Diêu Tần.
[7] Tăng Nhất A Hàm (Ekottara Āgama) tương
ứng với Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara-Nikāya) của Nam
Truyền Phật giáo, được ngài
Cù Đàm Tăng Già Đề Bà (Gautama Saṃghadeva) dịch sang tiếng
Hán đời Đông Tấn. Sách Tát Bà
Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa giảng: “Vì chư
thiên, người đời tùy thời
thuyết pháp, kết tập thành Tăng Nhất,
nhằm khuyến hóa mọi người tu tập”.
Gọi là Tăng Nhất vì kinh văn đối
với pháp số tăng dần lên. Chẳng
hạn từ một pháp (niệm Phật, niệm
Pháp…) tăng lên thành hai (như Chỉ Quán, Danh
Sắc), tăng lên thành ba như tam chủng
thọ, tam giới…
[8] Bồ Tát Thiện Giới Kinh do
ngài Cầu Na Bạt Ma (Guṇavarman) dịch vào đời Lưu
Tống. Kinh này còn được gọi
là Bồ Tát Địa Thiện Giới Kinh,
hoặc Thiện Giới Kinh. Kinh chia thành ba
mươi phẩm, trần thuật chủng tánh,
sự phát tâm, tu hành, đắc quả,
chủng tử vốn sẵn có, chủng
tử mới huân tập v.v… của Bồ Tát.
[9] Ngũ Phần Luật (Mahīsasakavinaya) là luật
tạng theo truyền thống của Hóa Địa
Bộ (Mahīśāsaka, còn
phiên âm là Di Sa Tắc, hoặc dịch nghĩa
là Chánh Địa Bộ, Giáo Địa
Bộ). Nguyên bản của bộ luật này
đã thất truyền. Bộ luật này do
ngài Pháp Hiển đem từ Tích Lan (Sri
Lanka) về, và được ngài Phật
Đà Thập (Buddhajīva) cùng với sa môn
Trí Nghiêm dịch sang tiếng Hán.
[10] Tát Bà Đa Tỳ
Ni Tỳ Bà Sa (Sarvāstivāda-vinaya-vibhāṣā),
đă mất tên người dịch, chính là bản chú giải
Thập Luật Tụng theo quan điểm của bộ
phái Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda),
[11] Đà
La Phiếu (Dravya) có tên gọi đầy đủ
là Đạt La Tệ Dạ Ma La Phất Đa La
(Dravya-mallaputra), là một vị đệ tử
của đức Phật. Ngài vốn là con
của đại thần Thắng Quân
nước Ba Ba, xuất gia lúc mười
bốn tuổi, mười sáu tuổi
chứng A La Hán, đắc lục thần
thông. Hai mươi tuổi thọ Cụ Túc
Giới, đảm nhiệm việc cấp phát
tọa cụ và thức ăn cho chúng tăng,
thường bị hai ác tỳ-kheo phỉ báng, nhưng tâm Ngài
an nhiên, bất động. Ngài còn giúp các cư sĩ kiến tạo
tinh xá để
cúng dường cho tăng đoàn.
[12] Tỳ Ni Mẫu Kinh
đã mất tên người dịch, chỉ
biết được dịch vào thời
Đông Tấn, gồm tám quyển, trần thuật các
quy tắc ứng xử nhằm phù
hợp giới luật của tỳ-kheo,
tỳ-kheo-ni, cách sám hối, cách đoạn
phiền não, cũng như các nguyên
tắc quản trị Tăng đoàn.
[13] Pháp Uyển Châu Lâm gồm một
trăm hai mươi quyển do ngài Đạo Thế
trước tác. Ngài Đạo Thế
dựa theo cách biên soạn của bộ
Đại Đường Nội Điển Lục
và Tục Cao Tăng Truyện của ngài
Đạo Tuyên để tổng hợp những
dữ kiện từ các bộ kinh Phật,
hình thành một bộ “bách khoa toàn thư”
về Phật giáo. Sách được chia
thành một trăm sáu mươi tám tiểu
loại, trần thuật khái lược tư
tưởng, thuật ngữ, pháp số v.v…
của Phật giáo, trích dẫn rất rộng
kinh, luật, luận, truyện ký gồm hơn
bốn trăm loại.
[14] Lạc Dương Già Lam Ký
là một bộ sách do Dương Huyễn Chi
khởi soạn vào cuối đời
Bắc Ngụy, hoàn thành vào thời
Ngụy Hiếu Tĩnh Đế nhà Đông Ngụy.
Sách ghi chép lịch sử, địa lý,
Phật giáo, văn học, kiến trúc của
thành Lạc Dương, tập trung vào các ngôi
chùa tại Lạc Dương. Sách ghi chép quy
mô kiến trúc của mỗi chùa, lịch
sử hình thành, cũng như các nhân
vật Phật giáo nổi tiếng thời
đó.
[15] Thái Thú (太守, đúng ra là Thái
Thủ, nhưng
người Việt quen đọc thành Thái
Thú), còn gọi là Quận Thủ, là
người đứng đầu một quận.
Chức vụ này được thiết
lập từ thời Chiến Quốc (khi
đó, các nước chư hầu đều
chia thành nhiều đơn vị hành chánh, to
nhất gọi là Quận). Thái Thú nắm
giữ quyền cai trị hành chánh và quân
sự. Khi Tần Thủy Hoàng thôn tính lục
quốc, đã bãi bỏ chế độ phân phong
lãnh thổ, chia Trung Hoa thành ba mươi sáu
quận, lấy quận thủ làm trưởng
quan do hoàng đế trực tiếp bổ
nhiệm. Đến đời Hán Cảnh
Đế, Quận Thủ đổi danh xưng thành
Thái Thú. Sang thời Đông Hán, sau khi châu
mục được thiết lập, Thái Thú
trở thành chức quan hành chánh
thấp hơn Thứ Sử (người
đứng đầu một châu) một cấp.
Đời Tùy phế bỏ quận, chỉ
dùng châu, chức quan Thái Thủ cũng bị
phế trừ, nhưng các chức quan Thứ Sử,
Tri Châu, hoặc Tri Phủ vẫn được
gọi là Thái Thú trong cách nói thông
dụng.
[16] Tức mười
sáu nước lớn tại Ấn Độ
vào thời đức Phật.
[17] Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (Saddharma-smrty-upasthāna-sūtra)
gồm bảy mươi quyển, do ngài Bát
Nhã Lưu Chi (Prajñāruci) dịch sang tiếng Hán vào
đời Bắc Ngụy. Sở dĩ có
kinh này là do ngoại đạo dùng các
vấn đề về tam nghiệp thân, khẩu, ý
chất vấn hàng tỳ-kheo mới xuất gia,
đức Phật liền rộng nói pháp môn
Chánh Pháp Niệm Xứ để xiển minh
quan hệ nhân quả trong tam giới lục
đạo, quán sát lục đạo để nêu
tỏ đạo xuất ly.
[18] Phật Bổn Hạnh Tập Kinh (Abhiniskramanasūtra) gồm sáu
mươi quyển do ngài Xà Na Quật Đa
dịch sang tiếng Hán vào đời Tùy.
Kinh trần thuật các sự tích giáng
sanh, xuất gia, thành đạo, hóa độ v.v…
của đức Phật Thích Ca, cũng như
các nhân duyên quy hóa của các đệ
tử Phật.
[19] Thanh Hiến là
thụy hiệu của Triệu Biện (1008-1084), một
trọng thần thời Bắc Tống. Ông có
tên tự là Duyệt Đạo, hiệu là Tri
Phi Tử, người xứ Tây An, Cù Châu
(nay là Cù Huyện, tỉnh
Chiết Giang). Ông là người công chánh,
chẳng kiêng nể quyền thế, người
đương thời gọi ông là Thiết
Diện Ngự Sử. Do tính nói
thẳng, ông thường bị điều đi
làm quan ở tỉnh ngoài. Khi ông làm tri
phủ tại Việt Châu (nay là huyện Thiệu
Hưng, tỉnh Chiết Giang), vùng ấy bị đói
to, bệnh dịch tràn lan, người chết
rất nhiều, ông tận lực cứu
đói, không tiếc thân.
[20] Tác phẩm này do đạo sĩ Hựu Huyền
Tử biên soạn vào năm Đại Định
11 (1171) nhà Kim. Do ông ta viết là trong
mộng được Thái Vi Tiên Quân truyền
dạy, nên tác phẩm này thường
được gọi là Thái Vi Tiên Quân Công Quá
Cách. Do tác dụng khuyến thiện sửa
lỗi rất hữu ích, nên tác phẩm này rất được
Phật môn Trung Hoa coi trọng. Ở đây, Tổ
đã sửa đổi đôi chút cho phù
hợp với quan điểm Phật giáo, nên đổi tên thành Tự Tri
Lục.
[21] Linh đài là chân
tâm của chính mình. Linh đài (靈臺) trong nghĩa gốc vốn
là cái đài cao để quan sát tinh
tú và các hiện tượng thiên văn
để dự đoán cát hung của
đế vương thời cổ. Do vậy, từ ngữ “linh đài” được mượn
dùng để chỉ tâm linh, chân tâm sáng suốt
của mỗi người.
[22] Nhị bộ đồng tử có hai
cách hiểu:
- Theo Phật giáo, khi con người sanh
ra, sẽ có hai vị trời thường
đi theo, một là Đồng Danh, hai là
Đồng Sanh. Hai vị trời này giám
sát và ghi chép hành vi thiện, ác của
cá nhân ấy.
- Theo Thái Thượng Cảm Ứng
Thiên, có hai vị trời thường giám
sát hành vi, ghi chép thiện ác của
mỗi cá nhân, gọi là Thiện Ác Nhị
Bộ Đồng Tử.
Theo Tứ Thiên Vương Kinh th́ Tứ
Thiên Vương và thuộc hạ giáng lâm nhân gian
trong sáu ngày trai (mồng Tám, Mười Bốn, Rằm,
Hai Mươi Ba, Hai Mươi Chín, Ba Mươi) để
tuần tra thiện ác của nhân gian. Do vậy, họ
được gọi là Lục Trai Chư Thiên.
Thai Bành Tư Mạng
là các vị thần trông coi thiện ác của
mỗi cá nhân theo quan điểm Đạo Giáo.
Theo đó, Tam Thai chính là sáu tinh tú trong
tinh tòa Bắc Đẩu, được
thần cách hóa thành tinh quân, chia thành ba
cặp là Thượng Thai, Trung Thai và
Hạ Thai. Thượng Thai chủ thọ và
mạng vận, Trung Thai chủ về công đức,
Hạ Thai chủ về tài lộc. Bành tức
là Tam Bành, còn gọi là Tam Thi, tức
ba vị thần ẩn sâu trong cơ thể con
người, sai khiến con người làm
những điều sai trái. Theo sách Động Thần Quyết,
Thượng Thi Bành Cứ khiến con
người ham thích vị ngon, si mê theo
những điều ham muốn, Trung Thi Bành
Chất khiến con người tham đắm
của cải, thích hỷ nộ, Hạ Thi Bành
Kiểu khiến con người ham y phục
đẹp, đam mê dâm dục.
Nhật du và dạ du
là những vị thần du hành trong nhân gian vào ban ngày (nhật du) và ban
đêm (dạ du) để xem xét công hay tội của
con người.
Dữ Tư là
thần chủ trì ban thưởng khi con
người làm thiện, Đoạt Tư là
vị thần chủ trì trừng phạt như giảm
thọ, giảm phước khi con người
tạo tội.
Nguyên hội tiết
lạp là những ngày lễ quan trọng trong một năm theo quan điểm
Đạo giáo, như Tam Nguyên (Thượng Nguyên
tức Rằm tháng Giêng, Trung Nguyên tức
Rằm tháng Bảy, Hạ Nguyên tức
Rằm tháng Mười). Đạo Giáo quy
định ngoài Tam Nguyên, còn
có Ngũ Lạp là Thiên Lạp (Mồng Một
Tết), Địa Lạp (mồng Năm tháng
Năm), Đạo Đức Lạp (mồng Bảy
tháng Bảy), Dân Tuế Lạp (mồng Một
tháng Mười), và Vương
Hầu Lạp (mồng Tám tháng Chạp). Có
thuyết cho rằng Nguyên là ngày Nguyên Tiêu
(Rằm tháng Giêng), Hội là Trung Nguyên, Tiết
là ngày Đoan Ngọ, Lạp là ngày
mồng Tám tháng Chạp.
[23] Nguyên văn là “xuy h́nh” (笞刑)là h́nh phạt đánh đ̣n,
khác với trượng h́nh (dùng gậy to, gậy vuông
để đánh). Xuy h́nh là dùng roi bằng tre tươi hoặc
cành gai quất vào mông và lưng tội nhân. Tuy đỡ tàn
khốc hơn trượng, nhưng người bị phạt
cũng dễ bị tàn tật hoặc lở loét người.
[24] Quan: góa vợ,
quả: góa chồng, cô: mồ côi cha mẹ,
độc: không con cái.
[25] Tức là chú
giải dựa theo ý kiến ức đoán
của chính mình, không dựa theo chánh
nghĩa, không dựa theo trí huệ, chánh
định để luận giải.
[26] Nhương tai (禳災): Cầu nguyện, làm pháp
sự hòng tiêu tai giải nạn.
[27] Tống Cảnh Công (tên
thật là Tử Loan) là vua nước
Tống thời Xuân Thu. Có một năm nọ, sao Huỳnh Hoặc (Hỏa Tinh) đi vào địa phận
sao Tâm mà sao Tâm ứng với nước
Tống. Quan Khâm Thiên Giám tên là
Tử Vi cho rằng sắp có đại
nạn xảy đến cho vua Tống, khuyên vua cho
phép ông ta làm phép để chuyển tai nạn
sang tể tướng. Cảnh Công nói: “Tể
tướng là tay chân của ta”. Lại tâu: “Có
thể chuyển sang dân chúng”. Cảnh Công nói: “Vua
nhờ cậy dân”. Lại nói: “Có thể chuyển
sang mùa màng”. Cảnh Công nói: “Mất mùa
thì dân khổ. Ta làm vua với ai?” Tử Vi nói: “Trời cao nghe
thấu, vua nói ba câu xuất phát từ lòng
nhân ái của bậc vua hiền, Huỳnh Hoặc
ắt sẽ dời chuyển”. Quả nhiên, vài
ngày sau, sao Huỳnh Hoặc di chuyển qua ba cung
khác, không có tai ương, bệnh tật xảy
ra.
[28] Bá Khởi là
tên tự của Dương Chấn. Ông là
người xứ Hóa Dương (tỉnh
Thiểm Tây), là một vị đại thần danh
tiếng thời Đông Hán. Ông được
người đương thời gọi
bằng mỹ hiệu Quan Tây Phu Tử, Quan Tây
Khổng Tử và Tứ Tri Tiên Sinh. Ông làm quan tới
chức Thái Úy, tánh tình cương
trực, công chánh, từng nhiều lần
hạch tội nhũ mẫu của vua và quở trách họ hàng bên
vợ của vua lạm quyền, nhũng loạn
triều chánh. Khi ông đi qua Xương Ấp,
huyện trưởng Vương Mật do
được ông tiến cử làm quan
trước đó, ban đêm tìm đến
dịch quán xin dâng vàng tạ ơn.
Ông kiên quyết không nhận. Vương Mật kèo
nài: “Đêm khuya tối tăm có ai biết đâu
mà Ngài ngại?” Ông quát to: “Trời
biết, đất biết, ta biết, ông biết, sao
lại nói không có ai biết?” Vương Mật
hổ thẹn, lui ra. Câu nói ấy được
gọi là Tứ Tri.
[29] Quý Trát là công
tử nước Ngô, trên đường đi
sứ sang nước Tấn, đi qua
nước Từ. Vua Từ thấy bội kiếm
của Quý Trát hết sức ưa thích,
nhưng không dám mở miệng xin. Quý Trát
nhận biết, nhưng vì cần phải đi
sứ nên chưa trao tặng được,
thầm hứa khi trở về sẽ trao
tặng. Khi trở về, vua Từ đã
chết, Quý Trát bèn đem bội kiếm treo
lên cây tùng trước mộ vua Từ.
[30] Ư nói: Trong khi
tụng kinh, nếu xen tạp lời lẽ không thuộc
vào kinh, phán định như sau: Nếu là chuyện xen tạp
vô ích hoặc bất thiện, tính là năm lỗi. Nếu
lời xen tạp ấy nói đến thiện sự th́ chỉ
tính là phạm một lỗi.
[31] “Kim Lăng tam bất
túc” là ba câu nói của Vương An
Thạch đời Tống khi cổ súy
những biện pháp cải cách táo bạo
(sử gọi là “biến pháp”) của ông
ta trước sự phản đối của
triều thần: “Thiên biến bất túc úy,
tổ tông bất túc pháp, nhân ngôn bất túc
tuất” (Cõi trời biến động không
đáng sợ, pháp tắc
của tổ
tông chẳng đáng để noi theo, lời kêu ca của
người khác chẳng đáng quan tâm
tới).
[32] Quỹ (簋) là một
vật dụng đan bằng tre, hoặc làm
bằng đồng, có hình tròn, hai bên
có quai. Nếu
làm bằng đồng thì trông như một
cái đỉnh nhỏ, có nắp hoặc
không có nắp, nhưng chân của Quỹ là
một miếng đồng tròn. Về sau, diễn
biến thành Quỹ có chân
vuông, hoặc ba chân. Quỹ thường dùng
để đựng đồ
cúng tế, có thể dùng để nấu
cơm. Sự khác biệt giữa Đỉnh
và Quỹ trong đồ cổ khí xưa là
đỉnh thường to hơn, miệng rộng
hơn, chân cao hơn. Trong khi Quỹ thấp hơn và
có bụng phình hơn. Cỗ tế ngày xưa
của thiên tử thường quy định
là Thất Đỉnh Lục Quỹ, tức
các món ăn phải được bày
trong bảy cái đỉnh và sáu cái
quỹ.
[33] Thủ lô (手爐) thường
đọc trại thành Thủ Lư, là một
loại lư hương nhỏ, có cán dài.
Thủ lô có thể dùng để cắm hương,
có loại có nắp để đốt
hương trầm. Từ ngữ thủ lô còn
được dùng để chỉ một
loại lò sưởi nhỏ cá nhân dùng
để sưởi ấm trong mùa Đông.
[34] Theo Châu Lễ, Lục
Nghệ là sáu thứ kỹ năng mà tầng lớp quý tộc thời
Châu phải học tập bao gồm lễ, nhạc,
xạ (bắn cung), ngự (điều khiển
ngựa, xe), thư (viết lách, thư pháp,
tinh thông ngôn ngữ, văn chương) và số
(tính toán, tối thiểu là phải thông
hiểu bộ Cửu Chương Toán Thuật).
Về sau, Lục Nghệ được dùng để chỉ tài năng toàn
diện của giới sĩ phu.
[35] Câu này ca ngợi
tổ Liên Trì văn chương trác tuyệt,
dùng hình ảnh giấy mắc mỏ với cách nói
thậm xưng: Văn chương hay đến nỗi
người ta đua nhau chép lại, khiến cho giấy trở thành khan hiếm, phải mua cao
giá hơn.
[36] Câu này ca ngợi
kiến thức học vấn rộng rãi của
tổ, nhưng với ý
xưng tụng khiêm hư, dựa trên thành
ngữ “học phú ngũ xa” (học nhiều
đến nỗi sách vở chứa
đầy cả năm cỗ xe). Huệ Thi là một
chánh trị gia nổi tiếng thời Chiến Quốc,
được coi là tỵ tổ của Danh Gia
học phái. Ông là bạn thân của Trang Châu,
làm Tể Tướng thời Lương
Huệ Vương, nổi danh học rộng, đọc
nhiều đến nỗi sách vở
của ông phải dùng năm cỗ xe mới chở hết.
Ông chủ
trương liên minh ba nước Tề, Ngụy,
Sở để chống lại nước Tần đang hoành hành
thời ấy.
[37] Ý nói Tổ
chứng pháp nhẫn vượt xa các
vị Thiền giả Tây Vực. Thông Lãnh chính là cao nguyên Pamir
hiện thời.
[38] Tử Dư là tên
tự của Tăng Sâm, một đệ tử
đắc ý của Khổng Tử. Ông là
người nước Lỗ, được
Nho gia đời sau tôn xưng là Tông Thánh,
nổi tiếng hiền đức và hiếu
thảo, với câu nói “mỗi ngày ta ba
lượt phản tỉnh”. Ông được
Khổng Tử khen ngợi là người
đã nắm vững đạo của
Khổng học. Tương truyền sách Đại
Học và Hiếu Kinh do chính ông chấp bút.
[39] Bát trân (八珍) nghĩa gốc là tám
món ăn quý. Về sau, mở rộng ra
thành tám loại nguyên liệu trân quý để
nấu nướng. Có nhiều cách hiểu
bát trân. Chẳng hạn theo Lễ Ký, bát
trân là thuần ngao (tức nước xốt
từ thịt trộn với mỡ ḥa vào gạo để
nấu thành cơm), thuần mẫu (giống như
trên, nhưng cơm nấu bằng loại
gạo hoàng mễ, tức một loại kê),
bào đồn (lợn sữa quay giòn),
bào dương (dê hoặc cừu quay),
đảo trân (thịt thăn của bò, dê, và nai
đem nướng), thanh trân (thịt dê và trâu
bóp rượu), ngao trân (thịt trâu khô
ướp ngũ vị hương), hòa can liêu
(gan chó bọc mỡ chài đem nướng).
Về sau, bát trân ngày càng cầu kỳ hơn
như đời Minh, theo tác phẩm
Đường Loại Hàm của Du An Kỳ
đời Minh, bát trân là gan rồng, tủy
phượng, thai báo, đuôi cá chép, cú
nướng, môi tinh tinh, tay gấu, ve ngâm bơ
sữa. Trong đó, gan rồng thật ra là gan
của loài ngựa trắng, tủy
phượng là tủy của gà trống,
đuôi cá chép thật ra là phần đuôi
của con trút. Nói chung là những
thứ hiếm có, cầu kỳ, chứ
chưa chắc đã ngon lành!
[40] Hôn nhân thời cổ
ở Trung Hoa phải trọn đủ các
bước gọi là “tam thư lục lễ”. Tam thư tức là
thư nhà trai gởi cho nhà gái bao gồm
sính thư (thư xin phép dạm hỏi), lễ
thư (thư kèm theo quà tặng trong lễ
nạp thái), và nghênh thư (thư xin phép
đón dâu). Lục lễ bao gồm:
1) Nạp thái: Nhà
trai nhắm cô gái nào cho con trai mình
bèn cậy bà mối đem lễ vật qua
nhà gái thưa chuyện, lễ này còn
gọi là Vấn Khẳng (hỏi xem có đồng
ý hay không) hoặc Đề Thân (xin kết thân).
Cổ lễ bắt buộc trong Nạp Thái
phải có một đôi chim nhạn (do nhạn
sống thành đôi). Theo các nhà nghiên
cứu, thật ra là Dã Nhạn, tức
ngỗng trời, nhưng do chim nhạn khó
bắt sống, nên về sau nhiều nơi thay
bằng cặp nhạn bằng gỗ,
hoặc thay bằng ngỗng nhà.
2) Vấn danh: Nếu
nhà gái chấp thuận, bà mối sẽ xin tên
và bát tự (ngày tháng năm sanh)
để tính toán tuổi đôi bên có xung
khắc hay không.
3) Nạp cát: Còn
gọi là Bốc Cát, tức là đến
từ đường của nhà trai để
thỉnh ý tổ tiên qua quẻ bói có nên
tiếp tục tiến hành hôn lễ hay không. Về
sau, diễn biến thành Tiểu Sính tức là nhà trai tặng cô dâu
một số lễ vật đính ước
như quần áo, các vật dụng trang
sức như trâm cài đầu, khăn đội
đầu, bông tai, nhẫn v.v… cũng
như vải vóc và một món tiền. Khi
nhận lễ vật, nhà gái cũng phải
tặng lại chú rể một số vật
dụng như mũ đội đầu, hài,
bút, mực, giấy, nghiên v.v…
4) Nạp chinh: Còn
gọi là Nạp Trưng (ta thường gọi trại thành “nạp
cheo”), nhà
trai biếu tặng các phẩm vật nhà
gái đòi hỏi, thường gọi là “sính lễ phẩm”.
5) Thỉnh kỳ: Còn
gọi là Khất Nhật, hoặc Quyên Cát,
tức ước định ngày tốt
để đón dâu.
6) Thân nghênh: Tức
lễ đón dâu, tức lễ thành hôn.
Kể từ
thời Tống, lục lễ giản hóa thành
ba lễ, tức vấn danh gộp chung với
nạp thái, nạp cát, và thỉnh
kỳ gộp chung với nạp chinh.
[41] Hứa Chân Quân, còn
gọi là Hứa Thiên Sư, Từ Tế Chân
Quân, Tinh Dương Tổ Sư, hay Cảm
Thiên Đại Đế, tên thật là Hứa
Tốn (239-374), tự là Kính Chi, sống
vào đời Tấn. Ông từng làm quan
huyện lệnh trấn nhậm Tinh Dương (nay
thuộc tỉnh Tứ Xuyên). Năm 291, chán
ngán trước cảnh ly loạn, ông từ
quan, ẩn cư tại Tây Sơn thuộc Giang Tây. Có
lẽ ông gặp chuyện nai mẹ đứt
ruột trong giai đoạn này. Cho đến năm
318, lúc đó ông đã tám mươi
tuổi, vùng Giang Tây, Hồ Nam ngập lụt
dữ dội. Ông đã bôn ba khảo sát
nguồn nước, tổ chức đắp
đê, điều chỉnh nguồn nước.
Tận tụy suốt mười năm, nạn
lũ lụt quanh vùng hồ Bà Dương
đã giảm thiểu đáng kể. Do vậy,
có truyền thuyết cho rằng ông đã vận dụng
phép thuật chế ngự thần giao long. Ông
còn giúp trị thủy tại các vùng
Hồ Quảng, Phước Kiến v.v… Theo truyền
thuyết, khi ông đắc đạo phi thăng,
cả nhà kể cả chó mèo đều
được phi thăng. Ông được hai
phái Tịnh Minh Đạo và Lư Sơn của
Đạo giáo tôn xưng là tổ sư sáng
lập.
[42] Dưỡng Diêu Cơ
chính là Dưỡng Do Cơ, không rõ năm
sanh và năm mất, ông có tên là Do Cơ,
nhưng có sách ghi là Diêu Cơ, vốn là
tướng nước Sở, nổi danh
thiện xạ. Truyền thuyết rằng ông có
thể bắn trúng lá dương liễu
cách xa một trăm bước (do vậy có thành ngữ “bách bộ xuyên
dương”), trăm
phát trăm trúng, và sức bắn
mạnh đến nỗi xuyên thủng bảy tầng
áo giáp.
[43] Tôn chân nhân chính là
Tôn Tư Mạo (541-682). Ông là người huyện Hoa Nguyên, Kinh Triệu, là một đạo sĩ, đồng thời là một danh
y đời Đường, có mỹ hiệu
là Dược Vương. Theo truyền thuyết, ông sinh ra vào thời Tây Ngụy,
bảy tuổi đi học, mỗi ngày nhớ
một ngàn chữ. Ông tinh thông học thuyết
của bách gia chư tử, thông thạo học
thuyết Lão Trang nhất, và cũng rất
hứng thú nghiên cứu kinh Phật. Ông
thuở nhỏ lắm bệnh, gia sản gần
khánh kiệt vì lo liệu thuốc men, cho nên ông quyết chí học
y. Y thuật của ông nổi tiếng đến nỗi
các đời vua Châu Tuyên Đế, Châu Tĩnh
Đế, Tùy Văn Đế, Đường
Thái Tông, Đường Cao Tông đều dùng
bổng lộc trọng hậu mời ông làm
Thái Y, nhưng ông đều uyển chuyển
cự tuyệt. Ông để lại hai bộ sách
thuốc nổi tiếng là Bị Cấp Thiên Kim
Yếu Phương và Thiên Kim Dực Phương.
Ông cũng là người nhấn mạnh
đạo đức của lương y: “Chỉ cốt sao cứu
chữa bệnh nhân, không bị tiền bạc che
mờ lương tâm”, cũng
như đề xướng quan niệm “phòng
bệnh hơn chữa bệnh”.
[44] Đề Hình gọi
đầy đủ là Đề Điểm Hình
Ngục Công Sự, là chức quan
được thiết lập tại các lộ (các
tỉnh) vào thời Bắc Tống, chủ
quản việc tư pháp, hình phạt và
giám sát tư pháp tại các châu thuộc
lộ ấy, kiêm chưởng quản nông tang. Dinh
thự của quan Đề Hình
được gọi là Hiến Ty. Từ
đời Kim trở đi, chức vụ
này đổi thành Án Sát Sứ, và
chỉ còn lo tư pháp, đến đời
Thanh lại đổi thành Đề Hình Án
Sát Sứ.
[45] Đan sa
(Cinnabar, mercurblende) còn gọi là Châu Sa, Thần Sa,
Xích Đan, hay Hống Sa, là một loại
khoáng chất có thành phần chủ yếu là
sulfide thủy ngân (HgS), có màu đỏ tươi.
Do có màu đỏ, người Hoa thích
dùng nó làm nguyên liệu để nhuộm
màu, nhất là các loại bình gỗ,
lọ hoa cỡ lớn. Trung Y dùng châu sa
để trị bệnh vì tin nó có tác
dụng an thần, trị bệnh động kinh. Châu sa
dùng trong Đông y thường có lẫn
hùng hoàng (Realgar, tức As4S4,
sulfide arsenic rất độc), lân khôi thạch (apatite,
tức phosphate fluoride), chì v.v… nên có độc
tánh rất cao. Theo nghiên cứu, sử dụng
Châu Sa gây tổn hại cho gan, thận, bao tử,
ruột, nhất là hệ thống thần kinh, gây
thiếu máu nghiêm trọng, co giật v.v….
[46] Thần
Châu là danh xưng thời cổ để gọi vùng đất
Trung Nguyên của Trung Hoa, c̣n gọi là Xích Huyện Thần
Châu hoặc Thần Châu Đại Địa.
[47] Dặc (弋) là một
loại cung tên thời cổ, mũi tên có dây
buộc vào cánh cung, dùng để bắn
chim, vừa đỡ mất tên, vừa thuận
tiện lôi con mồi bị trúng tên về.
[48] Tứ hung có hai
cách hiểu:
1) Theo chương Thuấn
Điển sách Thượng Thư, Tứ Hung
là bốn kẻ phạm tội nặng nề:
- Cộng Công (còn
gọi là Khang Hồi), thường
được coi là thủy thần. Cộng Công
tranh ngôi vua với Chuyên Húc, giận dữ
húc đổ núi Bất Châu, làm gãy cột
trời, khiến trời nghiêng về phía Tây
Bắc, nên bà Nữ Oa phải luyện đá ngũ sắc vá trời. Ông ta
còn tiếp tục tranh giành ngôi vua, đến
thời vua Nghiêu còn gây ra nước lũ to
lớn.
- Hoan Đâu: Thủ
lãnh của tộc Tam Miêu, thường dẫn quân
xâm phạm Trung Nguyên, khiến vua Nghiêu phải nhiều
lần đánh dẹp.
- Cổn (cha của
Đại Vũ): Thất bại trong việc trị
lũ nên bị giết.
- Sắc dân Tam Miêu
(còn gọi là Hữu Miêu) sống ở
lưu vực Trường Giang, chủ yếu quanh
vùng hồ Động Đình và Bà
Dương, thường khởi loạn
đánh phá Trung Nguyên.
2) Theo Tả Truyện
thì Tứ Hung là bốn con quái vật
tức Hỗn Độn, Cùng Kỳ, Đào
Ngột và Thao Thiết.
[49] Câu này hơi khó
hiểu, chúng tôi mạn phép diễn giải như
sau: Ý Tổ cho rằng Khổng Tử bản
tánh nhân từ, như trong câu trên có nói, theo
Luận Ngữ, vua ban tặng gà, Khổng
Tử không ăn mà nuôi chung với chim trĩ.
Do Khổng Tử làm quan, phải theo hầu vua, vua đi săn bắn thì
quan cũng phải đi theo, nên nếu nói “Khổng Tử câu cá, săn
bắn” thì chỉ là
chuyện bất đắc dĩ, làm theo mạng
vua mà thôi. Chứ nếu nói Khổng Tử
tự mình câu cá, săn bắn thì do
tự có thể làm chủ, lẽ nào
có thể không giết hại mà Ngài lại
làm chuyện giết hại hay sao?
[50] Cổ nhân gọi triều
đại mình đang sống là “quốc
triều”. Do Tổ sống vào đời Minh, nên
“quốc triều” chính là nhà Minh. Cảnh
Thái là niên hiệu từ năm 1450 đến
năm 1457 của Minh Cảnh Tông (Châu Kỳ Ngọc), còn Trinh Minh là niên hiệu của
Lương Mạt Đế (Châu Hữu Trinh)
từ năm 915 đến 921.
[51] Thượng Bảo
Khanh gọi đủ là Thượng Bảo Ty
Khanh là chức quan được
đặt ra vào thời Minh, chuyên quản
thủ ấn báu, tín bài, ấn chương
trong triều đình. Thoạt đầu, chức
quan này được Minh Thái Tổ (Châu Nguyên
Chương) gọi là Phù Tỷ Lang, về sau
mới đổi thành Thượng Bảo Ty
Khanh.
[52] Câu-lô-xá (Krośa), còn phiên âm là Câu Lũ
Xa, là đơn vị đo độ dài của
cổ Ấn Độ, nghĩa đen là “tiếng trâu rống,
ý nói”: Trong phạm
vi còn nghe
được tiếng trâu rống
của thôn làng gần nhất. Câu-lô-xá có hai
cách hiểu: Một phần tám của một
do-tuần, hoặc
một phần tư của do-tuần. Như vậy
một câu-lô-xá là khoảng bốn cây số,
nhưng Câu Xá Luận lại cho rằng một
câu-lô-xá chỉ bằng hai dặm Tàu
(khoảng một cây số rưỡi).
[53] Cửu Trù là chín cương lãnh
để cai trị thiên hạ bằng lòng nhân do
Đế Thuấn truyền cho Hạ Vũ (Đại
Vũ), những điều này được
chép trong thiên Hồng Phạm của Thượng
Thư. Hồng Phạm có
nghĩa là khuôn phép to lớn. Do thiên sách
này được chia làm chín tiểu
loại, nên gọi là Hồng Phạm Cửu Trù.
Chín tiểu loại ấy là:
1) Ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ).
2) Ngũ sự (diện mạo, lời nói, cách
nh́n, cách nghe, tư duy), tức là năm phạm vi cần tu
dưỡng trong ứng xử của bậc quân tử.
3) Bát chánh (tám thứ chuyên trách về hành chánh trong
sự cai trị đất nước) gồm thực phẩm,
hàng hóa, tế bái v.v…
4) Ngũ kỷ (năm, tháng, ngày, tinh tú, lịch số),
tức cơ sở để phù hợp với thiên thời.
5) Hoàng cực: Nguyên tắc cai trị đúng ḷng
nhân của bậc quân vương, thường gọi là
đạo đại trung chí chánh.
6) Tam đức: trực chánh (thẳng thắn,
công chánh), cang khắc (cương quyết), nhu khắc
(khéo léo mềm mỏng để đối trị), tức
là cách vận dụng khéo léo các biện pháp cai trị.
7) Kê nghi: Các phương pháp để giải quyết
nếu có nghi hoặc phát sanh trong lúc cai trị.
8) Thứ trưng (mưa, tạnh, nóng, lạnh,
gió) tức dựa trên các hiện tượng tự nhiên
để xem lại cách cai trị có đúng đường
lối, hợp ḷng trời, ḷng người hay không.
9) Ngũ phước, lục cực: Các ư niệm
khuyến thiện trừng ác.
Theo Thượng Thư, thiên sách này
do Cơ Tử giảng cho Châu Vũ Vương (Cơ
Phát) về đại pháp của thiên địa,
nói đó là lời dạy của
Đế Thuấn truyền cho Hạ Vũ về
đạo trị quốc. Cơ Tử tên thật
là Tử Tư Dư, là con của Đế
Văn Đinh, là chú của Trụ Vương,
từng làm quan Thái Sư dưới
đời vua Trụ (Đế Ất). Do
được phong ở đất Cơ nên
Sử thường gọi ông là Cơ
Tử. Ông từng khuyên lơn vua Trụ đừng
say mê sắc dục, nhưng bị vua Trụ tống
giam. Chán ngán, ông xõa tóc giả điên
để tránh nạn. Sau khi nhà Châu diệt
Trụ, ông được thả. Châu Vũ
Vương từng nhiều lần hỏi ông về
đạo trị quốc.
[54] Khúc Phụ chính
là quốc đô của nước Lỗ
thời Xuân Thu, nay thuộc thành phố Tế Ninh
của tỉnh Sơn Đông. Theo sử chép, ở
phía Đông của thành này có một
cái gò ngoằn ngoèo dài bảy tám
dặm, nên gọi là Khúc Phụ. Đây
cũng chính là quê nhà của Khổng
Tử.
[55] Tây Hoa, Trường
Sanh, Bảo Chân là những khái niệm tu
tập trong Đạo giáo, nên “nhà thiêng của Tây
Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân” là nói đến
đạo quán (miếu đạo sĩ), tức đạo viện
Đắc Nhất.
[56]
Người viết bài kư này là cư sĩ Quảng Thược
Ngô Ứng Tân nên tự xưng là Thược Tân, ông này có
pháp danh là Quảng Ngụ.
[57] Thời Hán Vũ
Đế, để chuẩn bị cho cuộc tấn công
nước Côn Minh (nay thuộc tỉnh Vân Nam), do thấy người dân Côn Minh thạo
thủy chiến, vua đã cho đào ao Côn Minh
tại Trường An để tập luyện
thủy quân. Nơi đáy ao có chất đất bùn đen
đặc, Đông Phương Sóc bèn giải
thích đó là tro khi kiếp hỏa đốt
cháy thế gian còn sót lại. Ở đây,
tác giả đã ví văn tài của
tổ Liên Trì siêu việt, mênh mông, không
ai đạt tới được như cánh
chim Ca Lâu La, những lời lẽ của tác
giả dù trau chuốt cách mấy cũng như
bùn đen nơi ao Côn Minh không thể làm lu
mờ văn từ của tổ
được.
[58] Hang Na La Diên là
động đá hoa cương (granite) tại Lao
Sơn thuộc thành phố Thanh Đảo, tỉnh
Sơn Đông. Gọi là hang Na La Diên vì Na La Diên trong
tiếng Phạn có nghĩa là kiên cố,
vững chắc. Trong hang có khám thờ
Phật, được tôn xưng là một trong
mười hai cảnh đẹp của Lao Sơn.
Ở đây, tác giả chỉ mượn
dùng từ ngữ này để ca
ngợi cảnh sắc đẹp đẽ
của Thượng Phương và
Trường Thọ, chúc tụng công trình
này tồn tại dài lâu.
[59] Ý nói: Giết
hại một mạng, người giết tạo
sát nghiệp, sẽ phải trả báo. Tức
là do giết một sanh vật, khiến cho con vật
bị giết mất mạng, mà người
giết do sát nghiệp cũng phải đọa
lạc theo.
[60] Đây là một
thành ngữ, diễn tả sự việc
đạt đến cực thịnh rồi cũng
suy tàn. Tề Oai Vương thuở đầu
trầm mê rượu chè, có thể uống
rượu suốt đêm, tửu lượng
rất cao. Về sau, do Thuần Vu Khôn khuyên can “rượu
đến cùng cực thì loạn, vui cùng
cực hóa buồn”. Vua bèn thôi nhậu
nhẹt, về sau chỉ có thể uống tối
đa là một thạch (tức mười
đấu). Bầy tôi dù giỏi giang cách mấy,
công lao to đến mấy, khi vua ngờ vực,
thì chỉ một lỗi nhỏ cũng dễ
dàng bị kết tội, thân mất, mạng vong.
[61] Câu này dựa theo
ý thành ngữ “cưu chiếm
thước sào” (bồ câu chiếm tổ chim
khách), nhằm nói lên tình thế mạnh
lấn hiếp yếu trong xã hội.
[62] Sáu điều Như
trong kinh Kim Cang là nói đến bài kệ “hết
thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn,
bọt, bóng, như sương cũng như
chớp. Hãy nên quán như vậy”. Ông Ngô Ứng Tân viết “sáu
điều Như của kinh Kim Cang là nói về
cầm, sắt, lụa, là” nhằm
khẳng định sáu thí dụ ấy
nói về hư huyễn của sắc chất,
tham dục, chứ không phải là đức
Phật nói chuyện kiêng giết, tu thiện cũng
đều là hư huyễn.
[63] Thất giá là
mở rộng của Ngũ Nghịch, tức
là ngoài tội Ngũ Nghịch, cộng thêm hai tội “giết vị tăng chuyển pháp
luân” và “giết thánh nhân” (“thánh nhân” là La Hán của Tiểu
Thừa, hoặc Bồ Tát từ Sơ
Địa trở lên).
[64] Ý nói xưa là
kẻ giết chóc, nay thành cá bị giết
hại để đền nghiệp sát hại.
Xưa là thỏa thích sát hại trong một
ngày, nay do sát nghiệp đọa lạc chịu
khổ cả kiếp.
[65] Ngậm ngọc (hàm
bích, 銜璧): Thời cổ, khi
giao chiến thất bại, người thua trận
muốn đầu hàng sẽ tự trói hai tay,
miệng ngậm ngọc đối trước
tướng địch. Cả đoạn này
có ý chê trách quan điểm sai lầm của
người đương thời: Họ
cứ cho rằng chết là hết,
chẳng biết gì nữa. Ở đây, ông Ngô Ứng Tân
dùng ngay lập luận để vặn hỏi:
Nếu chết là hết, chẳng biết gì
nữa, vậy
thì còn phải phấn đấu tạo sát
nghiệp, hoặc đấu đá
hòng tạo vinh dự cho gia tộc, để tiếng cho
con cháu có ích chi đâu? Lại cứ
nghĩ rằng lúc sống phải
hưởng thụ sung túc để chết đi
có thần hồn vững mạnh. Nghĩ như
vậy thì có khác gì sống là kẻ
lấn lướt người khác, chết
thành một con quỷ mạnh mẽ mà thôi!
Cứ khăng khăng ngả theo điều ác
như kẻ thua trận trói mình ngậm ngọc
để điều ác chi phối, cho nên không
điều ác nào chẳng làm!
[66] Do trong quá khứ,
dòng họ Thích Ca là ngư dân đã
tát cạn một ao nước bắt cá
ăn thịt, khiến cho các con cá ngoi ngóp
chết lần chết mòn. Cá chúa phát
nguyện đã tận diệt dân làng này
để báo thù. Do vậy, đời này
cá chúa trở thành vua Tỳ Lưu Ly
suất lãnh quân đội (tức các con
cá trong ao khi xưa) tiêu diệt dòng họ Thích
Ca.
[67] Tức quan
Thượng Bảo Khanh tên là Từ Lục
Kiều được nói trong bài ký
về ao phóng sanh chùa Thượng
Phương.
[68] Tư Huân (司勳) là
một trong bốn ty thuộc bộ Lại, bao gồm ty
trưởng là Thị Lang (đời
Đường đổi thành Lang Trung) một
người, nhân viên gọi là Viên Ngoại Lang
gồm hai người. Ty này có chức
trách xét việc phong ấm (cho con trưởng
của vị quan đã mất thừa kế
tước hiệu của cha), đặt thụy
hiệu (danh xưng tốt đẹp nhằm ca
ngợi đức độ của người
đã mất), cũng
như đánh
giá công huân của các quan. Chức vụ
này được đặt ra từ
đời Châu, đến đời Kim và
Nguyên thì không còn ty này. Đến
đời Minh lại tái lập, về sau
đổi thành Kê Huân Thanh Lại Ty (稽勛清吏司), nhưng mọi người
vẫn quen gọi là Tư Huân. Như vậy, vị Tư Huân Trường Nhụ nói ở đây có thể là
một vị Viên Ngoại Lang thuộc bộ Lại.
[69] Câu này trích
từ thiên Vương Chế sách Lễ Ký.
Theo các nhà chú giải, “điền bất
dĩ lễ” tức là canh tác, trồng
trọt, chăn nuôi, săn bắt không tuân thủ
những quy định nhằm bảo vệ môi
trường tự nhiên, sử dụng các
biện pháp tàn hại như đốt
rừng để phá rẫy, hoặc
đào bới, trồng trọt vô tội vạ,
không cho đất có thời gian hồi phục
(hưu canh) thì đều gọi là “điền
bất dĩ lễ”.
[70] Đại Trung Thừa là danh
xưng để gọi quan Tuần Phủ thời
Minh - Thanh, vì các quan Tuần Phủ đều
được phong thêm hàm Ngự Sử
Trung Thừa.
[71] Nhan Chân Khanh (709-785),
tự là Thanh Thần, hiệu là Ứng Phương,
người huyện Trường An thuộc Kinh
Triệu Phủ (nay là thành phố Tây An tỉnh
Thiểm Tây). Ông là nhà chính trị lỗi
lạc đời Đường đồng
thời là một thư pháp gia trứ danh.
Cùng với Âu Dương Tu, Liễu Công Quyền
và Triệu Mạnh Phủ được tôn
xưng là Khải Thư Tứ Đại Gia
(bốn vị nổi danh về lối chữ
Khải). Do ông được phong làm Lỗ
Quận Công đời Đường Đại
Tông, nên Sử thường gọi ông là Nhan
Lỗ Công.
[72] Đô Chuyển là
một chức quan trực thuộc Đô Chuyển
Diêm Vận Sứ Ty. Ty này được
thành lập vào đời Minh, có nhiệm
vụ chuyên coi sóc việc sản xuất, vận
chuyển và buôn bán muối, chủ yếu tại
các địa phương sản xuất muối, hoặc có đường
thủy thuận tiện cho kinh thương như
Dương Châu, Hàng Châu, Thương Châu, Vận
Thành… Có lẽ vị này là phó quan,
tức Đô Chuyển Diêm Vận Sứ
Đồng Tri, vì trong đoạn sau nói phải
bẩm báo lên Diêm Viện Diên công.
[73] Diêm Viện tức
là tên gọi tắt của Đô Chuyển Diêm
Vận Sứ Ty.
[74] Chư sanh là danh
xưng gọi chung những người đã
đỗ khảo thí, được vào
học tại các trường tại phủ, huyện,
châu, hoặc học sinh tại Thái Học (Quốc
Tử Giám, riêng học sinh tại Quốc
Tử Giám thường được
gọi là Giám Sanh). Thời Minh, Chư Sanh
còn có nghĩa là người đã
đậu Tú Tài. Lại còn chia thành ba
loại là Lẫm Thiện Sanh (được công
quỹ cấp học bổng), Tăng Quảng Sanh là
những học trò không có học bổng,
Phụ Sanh là những người được
tuyển thêm ngoài hạn ngạch.
[75] Chân Tây Sơn chính
là Chân Đức Tú (1178-1235), tên tự
là Cảnh Nguyên, về sau đổi thành Cảnh
Hy, lấy hiệu là Tây Sơn (dựa theo tên quê
hương ông là Tây Sơn thuộc huyện Long
Tuyền, Xử Châu, Lưỡng Chiết Đông
Lộ). Ông là một vị quan văn thời Nam
Tống, đồng thời là một học
giả theo trường phái Lý Học.
[76] “Hưu dưỡng
sanh tức” (休養生息) là thành ngữ ngụ
ý sau cơn biến động,
hoặc loạn lạc to lớn, triều
đình giảm bớt gánh nặng cho dân
chúng để họ ổn định cuộc
sống, khôi phục sự an định trong xã
hội bằng các biện pháp giảm
thuế, giảm sưu dịch, khuyến khích nông tang
v.v…
[77] Trong thiên Lực
Hành của Châu Tử Loại Ngữ có câu:
“Mỗ quán kim nhân nhân bất năng giảo thái
căn nhi chí ư vi kỳ bổn tâm giả chúng
hỹ, bất khả giới tai” (Ta thấy
người hiện thời do chẳng thể
nhai gốc rau đến nỗi trái nghịch bổn
tâm đông lắm, chẳng thể răn dè
ư?) Ý nói: Do con người chẳng
thể cam chịu cảnh nghèo khổ, giữ
chí nơi đạo, nên dễ bị sa ngã.
[78] Ý nói: Do các toa
thuốc đôi khi sử dụng rất nhiều sanh
vật sống để làm thuốc, nên họ bị dính sát nghiệp.
[79] Thọ
khảo (壽考) nghĩa là sống
lâu, rất thọ.
[80] Dựa theo tựa
đề bài thơ Khô Ngư Quá Hà Khấp
(cá khô qua sông khóc) của Lý Bạch. Ở
đây, ông Ngô Tích Kỳ chỉ mượn tên bài thơ này
để nói
đến nỗi niềm đau khổ của
những con cá bị người ta bắt
được, đem qua sông phơi khô để
bán.
[81] Thu lệnh (秋令) nghĩa đen
là thời tiết mùa Thu. Do mùa Thu, lá
bắt đầu rụng, vạn vật tiêu
điều, nên từ
ngữ “hành Thu lệnh”
ở đây được cụ Trầm dùng
theo nghĩa bóng: Tàn sát, ăn thịt loài
vật.
[82] Nguyên văn là “đơn
biều” (簞瓢). “Đơn” là
cái giỏ tre để đựng cơm,
“biều” là vỏ bầu để đựng
nước, ngụ ý cuộc sống đơn bạc.
[83] Chữ Nho (儒) là do Nhân (人) và Nhu (需) ghép lại.
[84] Nguyên Đạo là
một thiên sách do Hàn Dũ (Hàn Xương Lê)
viết, với dụng ư phục cổ sùng Nho,
đả kích Phật giáo.
[85] Mậu Thúc là tên
tự của Châu Đôn Di, còn gọi là Liêm Khê
tiên sinh, là người sáng lập Lý
Học.
[86] Y Xuyên là hiệu
của Trình Di, học trò của Châu Đôn Di,
cùng với anh là Trình Hạo, đã
hoàn thiện tư tưởng của Châu Đôn
Di, sau này được Châu Hy hệ thống,
trở thành trường phái Tống Nho
(thường gọi là Lý Học hay Tống Nho). Anh em Tŕnh Di và Châu Hy đả phá Phật giáo mạnh
mẽ nhất, nhưng theo các nhà nghiên cứu Tống Nho,
thuyết Lư Khí của họ chỉ là vay mượn từ
Phật giáo, thêm thắt một số cách diễn giải
ngụy biện để dương danh là phục
hưng Nho học, hoàn toàn trái nghịch với học thuyết
của Khổng Tử.
[87] Nguyên văn “tam
giới tiên tùng bút thiệt nhàn” (trong ba
điều răn thì trước hết là
phải ít dùng miệng lưỡi để
tranh luận).