Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 2

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

6. Tăng Huấn Nhật Kỷ[1] (僧訓日紀)

Sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê đất Cổ Hàng kết tập

         

1) Giáo huấn pháp sư tự phản tỉnh

 

          Phẩm Pháp Sư của kinh Pháp Cự Đà La Ni[2] chép: “Phù pháp sư giả, thường ưng từ mẫn, ái ngữ, khiêm hạ. Nhược hoài tật đố, tâm tồn thắng phụ, hoạch đại trọng tội. Từ tâm thuyết pháp, thành đại công đức, năng tiêu thế gian chủng chủng cúng dường. Giả dĩ cao đại sư tử bảo tòa, vô giá danh y phụng thượng pháp sư, vị túc báo ân. Nhi bỉ pháp sư tuy thọ tư sự, ưng thâm tàm quý, vật khởi tham trước, bất đắc ngã mạn” (Phàm là pháp sư thì phải nên thường từ mẫn, ái ngữ, khiêm cung, nhún nhường. Nếu ôm lòng ghen ghét, mang lòng thắng, bại, sẽ mắc trọng tội lớn. Từ tâm thuyết pháp, thành tựu công đức to lớn, có thể tiêu các loại cúng dường của thế gian. Giả sử dùng tòa sư tử báu cao lớn, y quý vô giá để dâng lên pháp sư, vẫn chưa đủ để báo ân. Nhưng vị pháp sư ấy tuy thọ các thứ đó, hãy nên hổ thẹn sâu xa, đừng dấy lòng tham đắm, chẳng được ngã mạn).

 

2) Giáo huấn “vì lợi dưỡng mà xuất gia”

 

          Kinh Đại Bảo Tích[3] nói: “Di Lâu Kiên Đà Phật diệt hậu, chư đại đệ tử giai diệc tùy Phật nhập ư Niết Bàn. Chư đại đệ tử diệt độ chi hậu, đa hữu chúng sanh giai tác thị niệm: ‘Sa-môn pháp trung an ổn khoái lạc, ngã đẳng hà bất các cộng xuất gia?’ Xuất gia chi hậu, duy hành tam sự: Nhất, thường châu toàn vãng lai bạch y xá. Nhị, duy tham trước lợi dưỡng tự hoạt. Tam, trưởng dưỡng cơ phì, vô hữu phước huệ. Hành thị tam sự, bất tu dư nghiệp, đầu đà tế hạnh diệu pháp đa giai phế xả, phục bất độc tụng. Thời, quốc vương tử danh Đà Ma Thi Lợi, văn thiên thần chỉ thị, năi từ phụ mẫu, thế trừ tu phát, vấn chư tỳ-kheo: ‘Di Lâu Kiên Đà Phật vân hà thuyết pháp giáo chư đệ tử? Ngã đắc văn dĩ, đương như thuyết tu hành’. Chư tỳ-kheo ngôn: ‘Ngã đẳng bất văn Phật sở thuyết pháp, đản tùy hòa thượng chư sư sở hành. Nhữ kim diệc ưng hành như thị pháp’. Nhĩ thời, Đà Ma Thi Lợi tỳ-kheo đáp chư tỳ-kheo ngôn: ‘Nhữ đẳng tất tùng bần tiện xuất gia, thị cố kim giả đản quý y thực. Sở hành như thị, bạch y vô dị. Nhữ đẳng kim ưng dữ ngã cộng cầu Phật thâm tịnh pháp’. Thời chư tỳ-kheo dĩ kệ đáp ngôn: ‘Ngã đẳng sở vi giả, thị sự giai dĩ đắc, y thực cực phong túc, miễn ly vương sử dịch, an ổn thậm khoái lạc, vô cảm khinh mạn giả. Bạch y thời khổ não, kim giai vô phục hữu. Thị tức danh Niết Bàn, đệ nhất khoái an lạc. Quá thị sự dĩ ngoại, ngã giai bất phục dụng’. Nhĩ thời, Đà Ma Thi Lợi tỳ-kheo văn thử kệ dĩ, tâm tắc bi năo, thế linh đề khấp, tức tiện xả ly thử chư tỳ-kheo, độc nhập sơn lâm u viễn chi xứ, tinh thành nhất tâm, dục cầu thâm pháp. Tiên thời, Di Lâu Kiên Đà Phật hữu đại đệ tử, danh vi Kiên Lao, tu không nhàn hạnh, độc trụ thâm sơn, thiểu dục tri túc, tâm nhạo viễn ly, sở tác dĩ biện, lục thông, tam minh đại A La Hán, sở trụ thâm sơn thạch quật bích thượng, thư thử kệ ngôn: ‘Sanh tử bất đoạn tuyệt, tham dục thị vi cố, dưỡng oán nhập khâu trủng, đường thọ chư tân khổ. Thân xú như tử thi, cửu khổng lưu bất tịnh, như xí trùng nhạo phẩn, ngu tham thân vô dị. Ức tưởng vọng phân biệt, tắc thị ngũ dục bổn, trí giả bất phân biệt, ngũ dục tắc đoạn diệt. Tà niệm sanh tham trước. Tham trước sanh phiền năo, chánh niệm vô tham trước, dư phiền năo diệc tận’. Đà Ma Thi Lợi tỳ-kheo kinh lịch thâm sơn, kiến thử kệ dĩ, độc tụng, tư duy kỳ nghĩa, vị cửu chi gian, đắc ngũ thần thông”.

          (Sau khi Di Lâu Kiên Đà Phật diệt độ, các đại đệ tử cũng đều theo Phật nhập Niết Bàn. Sau khi các đại đệ tử diệt độ, có nhiều chúng sanh đều nghĩ như thế này: “Trong pháp sa-môn an ổn, vui sướng, sao chúng ta chẳng đều cùng xuất gia?” Sau khi xuất gia, chỉ làm ba chuyện: Một, thường qua lại, lui tới nhà bạch y. Hai, tham đắm lợi dưỡng để tự nuôi sống. Ba, nuôi nấng da thịt mập mạp, chẳng có phước huệ. Làm ba chuyện ấy, chẳng tu các nghiệp khác. Tế hạnh đầu đà và diệu pháp phần nhiều đều phế bỏ, lại chẳng đọc tụng. Khi đó, con trai của quốc vương tên là Đà Ma Thi Lợi nghe theo sự chỉ dạy của thiên thần, bèn từ biệt cha mẹ, cạo bỏ râu, tóc, hỏi các tỳ-kheo: “Di Lâu Kiên Đà Phật thuyết pháp dạy các đệ tử như thế nào? Tôi được nghe xong, sẽ tu hành đúng như lời dạy”. Các tỳ-kheo nói: “Chúng ta chẳng nghe pháp do đức Phật nói, chỉ làm theo các điều hòa thượng và các thầy đã làm. Nay ông cũng nên hành pháp như thế”. Khi đó, tỳ-kheo Đà Ma Thi Lợi trả lời các tỳ-kheo rằng: “Các ông ắt đều do nghèo hèn mà xuất gia. Do đó, nay chỉ quý trọng cơm áo. Hành như thế chẳng khác hàng bạch y! Nay các ông phải nên cùng với tôi cầu pháp thanh tịnh sâu xa của đức Phật”. Lúc ấy, các tỳ-kheo dùng kệ đáp rằng: “Những gì chúng tôi làm, chuyện này đều đã được. Áo cơm tột sung túc, tránh khỏi vua sai khiến, an ổn, rất vui sướng. Chẳng ai dám khinh mạn. Lúc tại gia khổ não, nay đều chẳng còn nữa. Đó gọi là Niết Bàn, an vui, sướng bậc nhất. Ngoại trừ chuyện này ra, ta đều chẳng dùng tới”. Khi ấy, tỳ-kheo Đà Ma Thi Lợi nghe lời kệ đó xong, tâm liền bi thương, áo não, ứa lệ, khóc lóc, liền lìa bỏ các tỳ-kheo ấy, một mình vào chỗ sâu thẳm trong núi rừng, một dạ tinh thành muốn cầu pháp sâu. Trước đó, Di Lâu Kiên Đà Phật có một đại đệ tử tên là Kiên Lao, là một vị đại A La Hán tu hạnh thanh vắng, ở một mình trong núi sâu, ít ham muốn, biết đủ, tâm thích viễn ly, việc làm đã xong, lục thông, tam minh, ở trên vách hang đá nơi Ngài cư trụ trong núi sâu, viết bài kệ rằng: “Sanh tử chẳng đoạn tuyệt, do ham vị tham dục. Ôm oán vào mộ phần, oan uổng chịu cay đắng. Thân thối như xác chết, chín lỗ tuôn bất tịnh, như giòi ưa thích phân. Ngu tham thân khác gì. Ức tưởng, phân biệt xằng, chính là gốc ngũ dục. Người trí chẳng phân biệt, ngũ dục liền đoạn diệt. Tà niệm sanh tham đắm. Tham đắm sanh phiền năo. Chánh niệm chẳng tham đắm, phiền não khác cũng tận”. Tỳ-kheo Đà Ma Thi Lợi trải khắp núi sâu, thấy bài kệ ấy rồi, đọc tụng, tư duy ý nghĩa, chẳng lâu sau, đắc ngũ thần thông).

 

3) Giáo huấn về công đức của từ tâm

 

          Kinh Ban Châu Tam Muội[4] dạy: “Từ tâm tỳ-kheo chung bất trúng độc, chung bất trúng binh, hỏa bất năng thiêu, thủy bất năng tử, đế vương bất năng đắc kỳ tiện” (Tỳ-kheo có từ tâm trọn chẳng trúng độc, trọn chẳng trúng binh đao, lửa chẳng thể đốt, nước chẳng thể nhấn chết chìm, đế vương chẳng thể thừa dịp [làm hại]).

 

4) Giáo huấn “đừng lo lắng cơm áo”

 

          Kinh Phật Tạng[5] dạy: “Nhược hữu nhất tâm hành đạo tỳ-kheo, thiên ức thiên thần nguyện cộng cúng dường, đản năng nhất tâm hành đạo, chung diệc bất niệm y thực sở tu. Như Lai bạch hào tướng trung bách thiên ức phần quang minh, kỳ trung nhất phần cung chư đệ tử. Giả sử nhất thiết thế gian nhân giai xuất gia, tùy thuận pháp hành, hào tướng bách thiên ức phần bất tận kỳ nhất” (Nếu có một tỳ-kheo nhất tâm hành đạo thì ngàn ức thiên thần nguyện cùng cúng dường. Chỉ cần nhất tâm tu đạo thì cũng trọn chẳng cần phải nghĩ đến cơm áo. Từ trong trăm ngàn ức phần quang minh nơi tướng bạch hào của Như Lai, có một phần dành cho các đệ tử. Giả sử hết thảy mọi người trong thế gian đều xuất gia, tùy thuận pháp mà hành, chẳng tốn hết một phần trong trăm ngàn ức phần hào tướng).

 

5) Giáo huấn về kiểm điểm cái tâm để đối đãi nữ nhân

 

          Kinh Trường A Hàm[6] quyển bốn chép: “A Nan bạch Phật ngôn: ‘Phật diệt độ hậu, chư nữ nhân bối lai thọ hối giả, đương như chi hà?’ Phật cáo A Nan: “Mạc dữ tương kiến’. A Nan hựu bạch: ‘Thiết tương kiến giả, đương như chi hà?’ Phật ngôn: 'Mạc dữ cộng ngữ’. A Nan hựu bạch: ‘Thiết dữ ngữ giả, đương như chi hà?’ Phật ngôn: - Đương tự kiểm tâm”.

(A Nan bạch Phật rằng: “Sau khi Phật diệt độ, các hàng nữ nhân đến xin được giáo huấn thì nên làm như thế nào?” Phật bảo: “Đừng gặp họ”. A Nan lại bạch: “Nếu gặp gỡ thì nên làm như thế nào?” Phật nói: “Đừng nói với họ”. A Nan lại bạch: “Nếu nói với họ thì như thế nào?” Phật dạy: “Hãy nên tự kiểm cái tâm”).

 

6) Giáo huấn về tám pháp thoái thất, tám pháp tinh tấn

 

          Kinh Trường A Hàm, quyển thứ chín chép: “Vân hà bát thoái pháp? Giải đãi tỳ-kheo khất thực bất đắc, tiện tác thị niệm ‘ngã ư kim nhật khất thực bất đắc, thân thể bì cực, bất năng kham nhậm tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện ngọa tức. Đắc thực ký túc, phục tác thị niệm ‘ngã triêu khất thực, đắc thực quá túc, thân thể trầm trọng, bất năng kham nhậm tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện ngọa tức. Thiết hoặc chấp sự, tiện tác thị niệm ‘ngã kim chấp sự, thân thể b́ cực, bất năng kham nhậm tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện ngọa tức. Thiết dục chấp sự, tiện tác thị niệm ‘minh đương chấp sự, tất hữu bì cực, kim nhật bất đắc tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện ngọa tức. Thiết thiểu hành lai, tiện tác thị niệm ‘ngã triêu hành lai, thân thể b́ cực, bất năng kham nhậm tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện ngọa tức. Thiết dục thiểu hành, tiện tác thị niệm ‘ngã minh đương hành, tất hữu bì cực, kim giả bất đắc tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện ngọa tức. Thiết ngộ tiểu hoạn, tiện tác thị niệm ‘ngã đắc trọng bệnh, khốn đốc luy sấu, bất năng kham nhậm tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện ngọa tức. Sở hoạn dĩ sai, phục tác thị niệm ‘ngã sai vị cửu, thân thể luy sấu, bất năng kham nhậm tọa Thiền, kinh hành’, tức tiện ngọa tức.

Vân hà bát tinh tấn? Khất thực bất đắc, tức tác thị niệm ‘ngã thân thể khinh tiện, thiểu dục thụy miên, nghi khả tinh tấn tọa Thiền, kinh hành’. Khất thực đắc túc, tiện tác thị niệm ‘ngã kim thực băo, khí lực sung túc, nghi cần tinh tấn’. Thiết hữu chấp sự, tiện tác thị niệm ‘ngã hướng chấp sự, phế ngã hành đạo, kim nghi tinh tấn’. Thiết ưng chấp sự, tiện tác thị niệm ‘minh đương chấp sự, phế ngã hành đạo, kim nghi tinh tấn’. Thiết hữu hành lai, tiện tác thị niệm ‘ngã triêu hành lai, phế ngã hành đạo, kim nghi tinh tấn’. Thiết dục hành lai, tiện tác thị niệm ‘ngã minh đương hành, phế ngã hành đạo, kim nghi tinh tấn’. Thiết ngộ hoạn thời, tiện tác thị niệm ‘ngã đắc trọng bệnh, hoặc năng mạng chung, kim nghi tinh tấn’. Hoạn đắc tiểu sai, phục tác thị niệm: - Ngã bệnh sơ sai, hoặc cánh tăng động, phế ngã hành đạo, kim nghi tinh tấn”.

          (Thế nào là tám pháp lui sụt? Tỳ-kheo biếng nhác, khất thực chẳng được, liền nghĩ thế này ‘hôm nay ta khất thực chẳng được, thân thể mệt mỏi tột cùng, chẳng thể kham tọa Thiền, kinh hành’, bèn liền nằm nghỉ. Xin được thức ăn đầy đủ, lại nghĩ thế này ‘ta buổi sáng khất thực, được thức ăn quá đầy đủ, thân thể nặng nề, chẳng thể kham tọa Thiền, kinh hành’, bèn liền nằm nghỉ. Nếu phải làm lụng, liền nghĩ thế này ‘ta nay làm lụng, thân thể mệt mỏi tột cùng, chẳng thể kham tọa Thiền, kinh hành’, bèn liền nằm nghỉ. Nếu sắp phải làm lụng, liền nghĩ thế này ‘ngày mai sẽ phải làm lụng, ắt sẽ mệt mỏi tột cùng, hôm nay chớ nên tọa Thiền, kinh hành’, bèn liền nằm nghỉ. Nếu phải đi lại đôi chút, liền nghĩ thế này “sáng nay ta đi lại, thân thể mệt mỏi tột cùng, chẳng thể kham tọa Thiền, kinh hành”, bèn liền nằm nghỉ. Nếu sắp phải đi lại đôi chút, liền nghĩ thế này “sáng mai ta sẽ ra đi, ắt sẽ mệt mỏi, nay chớ nên tọa Thiền, kinh hành”, bèn liền nằm nghỉ. Nếu bị bệnh đôi chút, liền nghĩ thế này “ta bị bệnh nặng, khốn khó, gầy còm, chẳng thể kham tọa Thiền, kinh hành”, bèn liền nằm nghỉ. Bệnh đã lành, lại nghĩ thế này “bệnh ta lành chưa bao lâu, thân thể gầy mòn, chẳng thể kham tọa Thiền, kinh hành”, bèn liền nằm nghỉ.

Thế nào là tám pháp tinh tấn? Khất thực chẳng được, liền nghĩ thế này “thân thể ta nhẹ nhàng, ít ham muốn ngủ nghỉ, hãy nên tinh tấn tọa Thiền, kinh hành”. Khất thực được no đủ, liền nghĩ thế này “nay ta ăn no, khí lực sung túc, hãy nên siêng tinh tấn”. Nếu phải làm lụng, liền nghĩ thế này “sáng nay ta làm lụng, bỏ phế chuyện tu tập, nay hãy nên tinh tấn”. Nếu sẽ phải làm lụng, liền nghĩ thế này “ngày mai sẽ phải làm lụng, bỏ phế chuyện tu tập, nay hãy nên tinh tấn”. Nếu phải đi lại, liền nghĩ thế này “sáng nay ta đi lại, bỏ phế chuyện tu tập, nay hãy nên tinh tấn”. Nếu sắp phải đi lại, liền nghĩ thế này “ngày mai ta sẽ phải đi, bỏ phế chuyện tu tập, nay hãy nên tinh tấn”. Nếu lúc bị bệnh, liền nghĩ thế này “ta nay bị bệnh nặng, có thể sẽ mạng chung, nay hãy nên tinh tấn”. Bệnh vừa đỡ đôi chút, lại nghĩ thế này: “Bệnh ta vừa mới đỡ, có thể sẽ lại bệnh nặng thêm, bỏ phế chuyện tu tập, nay hãy nên tinh tấn”).

 

7) Giáo huấn “chẳng bỏ khổ hạnh đầu đà”

 

          Kinh Tăng Nhất A Hàm[7], quyển thứ chín chép: “Thế Tôn cáo Ca Diếp: ‘Nhữ kim niên cao, hủ tệ, khả xả khất thực, nãi chí chư đầu đà hạnh, diệc khả thọ chư trưởng giả thỉnh, tịnh thọ y thường’. Ca Diếp đối viết: ‘Ngã kim bất tùng Như Lai giáo’. Thế Tôn cáo viết: ‘Thiện tai! Thiện tai! Ca Diếp! Đa sở nhiêu ích, độ nhân vô lượng. Sở dĩ nhiên giả? Thử đầu đà hành tại thế giả, ngã pháp diệc đương cửu tại ư thế. Thị cố, chư tỳ-kheo sở học, giai đương như Ca Diếp sở tập”.

          (Đức Thế Tôn bảo Ca Diếp: “Ông nay tuổi cao, suy yếu, có thể bỏ khất thực, cho tới các hạnh đầu đà, cũng có thể nhận lời thỉnh của các trưởng giả và nhận xiêm áo”. Ca Diếp thưa rằng: “Con nay chẳng vâng theo lời dạy của Như Lai”. Đức Thế Tôn bảo rằng: “Lành thay! Lành thay! Ca Diếp! Tạo nhiều lợi ích, độ người vô lượng. Vì cớ sao vậy? Hạnh đầu đà này còn trong thế gian, thì pháp của ta cũng sẽ tồn tại lâu dài nơi đời. Do đó, sở học của các tỳ-kheo hãy đều nên như sự tu tập của Ca Diếp”).

 

* Mười hai hạnh đầu đà

 

          Một, A Lan Nhã (nay sống tại Lan Nhã, tiếng Hán dịch là Tịch Tĩnh, hãy nên nhìn vào tên mà nghĩ đến nghĩa).

          Hai, thường khất thực (nay ở yên, đàn việt tặng thức ăn, hãy nên biết hổ thẹn).

          Ba, khất thực theo thứ tự (nay được tặng thức ăn, hãy nên quán nghèo, giàu v.v…)

          Bốn, ăn một bữa (nay cơm cháo ba thời, phải nên biết hổ thẹn).

          Năm, ăn có chừng mực (nay riêng mình ăn no, hãy nên chia cho chim, thú).

          Sáu, quá Ngọ không uống các chất nước ép (nay ăn tối, hãy nên biết hổ thẹn. Ban đêm càng thêm tinh tấn gấp bội).

          Bảy, y phấn tảo (nay mặc y tốt đẹp, hãy nên biết hổ thẹn).

          Tám, chỉ có ba y (nay y nhiều, hãy nên biết hổ thẹn).

          Chín, ngồi nơi gò mả (nay sống trong nhà đẹp đẽ, hãy nên biết hổ thẹn).

          Mười, ngồi dưới gốc cây (nay sống trong nhà đẹp đẽ, hãy nên biết hổ thẹn).

          Mười một, ngồi nơi đất trống (nay sống trong nhà đẹp đẽ, hãy nên biết hổ thẹn).

          Mười hai, chỉ ngồi, không nằm (nay ngủ thoải mái suốt đêm, hãy nên biết hổ thẹn).

 

8) Giáo huấn “chẳng dạy đệ tử”

 

          Kinh Bồ Tát Thiện Giới[8], quyển thứ tư chép: “Chiên-đà-la đẳng cập dĩ đồ nhi, tuy hành ác nghiệp, bất năng phá hoại Như Lai chánh pháp, bất tất định đọa tam ác đạo trung. Vi sư bất năng giáo ha đệ tử, tắc phá Phật pháp, tất định đương đọa địa ngục chi trung. Vị danh dự cố, tụ súc đồ chúng, thị danh tà kiến, danh ma đệ tử”.

          (Hàng Chiên-đà-la và đồ tể, tuy hành ác nghiệp, chẳng thể phá hoại chánh pháp của Như Lai, chẳng nhất định đọa vào trong đường ác. Làm thầy mà chẳng thể dạy dỗ, quở trách đệ tử, là phá Phật pháp, nhất định sẽ đọa vào trong địa ngục. Vì tiếng tăm mà tụ tập, chứa chấp đồ chúng, đó gọi là tà kiến, gọi là đệ tử của ma).

 

9) Giáo huấn “cúng dường cha mẹ”

 

          Ngũ Phần Luật[9] của Di Sa Tắc Bộ, quyển thứ hai mươi chép: “Tất Lăng Già Bà Tha phụ mẫu bần cùng, dục dĩ y cúng dường, nhi bất cảm, dĩ thị bạch Phật. Phật cáo chư tỳ-kheo: - Nhược nhân bách niên chi trung, hữu kiên đảm phụ, tả kiên đảm mẫu, cực thế trân kỳ y thực cúng dường, do bất năng báo tu du chi ân. Tùng kim thính chư tỳ-kheo tận tâm tận thọ cúng dường phụ mẫu. Nhược bất cúng dường, đắc trọng tội”.

          (Cha mẹ của ngài Tất Lăng Già Bà Tha (Pilinda-vatsa) nghèo túng, Ngài muốn dùng y để cúng dường, nhưng chẳng dám, đem chuyện ấy bạch Phật. Đức Phật bảo các tỳ-kheo: - Nếu người trong một trăm năm, vai phải gánh cha, vai trái gánh mẹ, cúng dường bằng áo cơm quý báu nhất trong cõi đời, vẫn chẳng thể báo ơn trong khoảnh khắc được! Từ nay, ta cho phép các tỳ-kheo tận tâm, trọn hết tuổi thọ cúng dường cha mẹ. Nếu chẳng cúng dường, sẽ mắc tội nặng”).

 

10) Giáo huấn “khinh hủy lẫn nhau”

         

          Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa[10] quyển thứ ba chép: “Học sự tỳ-kheo khinh hủy tọa Thiền, tá sự tỳ-kheo. Tọa Thiền tỳ-kheo diệc khinh hủy học vấn, tá sự tỳ-kheo. Tá sự tỳ-kheo diệc khinh hủy tọa Thiền, học vấn tỳ-kheo. Thị cố, Đà La Phiếu[11] dĩ tọa Thiền lực, thường hiện quang minh, kiêm tri ngọa cụ, khuyến tá chúng sự, diệt tướng khinh hủy thắng phụ tâm cố”.

(Tỳ-kheo chú trọng học vấn liền khinh miệt, hủy báng tỳ-kheo tọa Thiền hay giúp việc. Tỳ-kheo tọa Thiền cũng khinh miệt, hủy báng tỳ-kheo học vấn và giúp việc. Tỳ-kheo giúp việc cũng khinh miệt, hủy báng tỳ-kheo tọa Thiền và học vấn. Do đó, ngài Đà La Phiếu do sức tọa Thiền, thường hiện quang minh, kiêm trông coi ngọa cụ để khuyên những người giúp việc, hòng diệt tướng khinh miệt, hủy báng và cái tâm hơn thua).

 

11) Giáo huấn “thâu nhiếp, dưỡng dục đồ chúng”

 

          Kinh Tỳ Ni Mẫu[12], quyển thứ sáu chép: “Dưỡng đồ chúng: Nhất, pháp sự nhiếp; nhị, y thực nhiếp. Thường ưng phương tiện giáo thọ quyến thuộc, mạc linh đa cầu, nhiếp linh tọa Thiền, tụng kinh, tu phước, ư thử tam nghiệp trung ưng giáo. Phục ưng quán đồ chúng nhạo đa ngôn phủ? Nhạo đa miên phủ? Nhạo tại gia phủ? Nhạo tụ tập điều hý phủ? Phục ưng quán thùy hành như pháp? Thùy hành bất như pháp? Nhược như pháp giả, ưng gia y thực nãi chí pháp vị, sổ sổ giáo thọ. Nhược bất như pháp giả, ưng ngữ linh khứ, hậu thời hối cải giả, hoàn thính tại chúng. Tùng vô lạp nãi chí cửu lạp, thị danh hạ tọa. Tùng thập lạp chí thập cửu lạp thị danh trung tọa. Tùng nhị thập lạp chí tứ thập cửu lạp, thị danh thượng tọa. Ngũ thập lạp dĩ thượng, quốc vương, trưởng giả, xuất gia nhân sở trọng, thị danh kỳ cựu trưởng túc”.

          (Nuôi nấng đồ chúng: Một là dùng pháp sự để nhiếp, hai là dùng cơm áo để nhiếp. Thường nên dùng phương tiện dạy bảo quyến thuộc chớ nên cầu nhiều, nhiếp phục họ tọa Thiền, tụng kinh, tu phước, hãy nên dạy bằng ba nghiệp ấy. Lại nên xem xét đồ chúng có thích nói nhiều hay không? Thích ngủ nhiều hay không? Thích ở nhà hay không? Thích tụ tập đùa giỡn hay không? Lại nên xem xét ai hành đúng như pháp? Ai hành chẳng đúng pháp? Nếu là kẻ đúng pháp, hãy nên tăng thêm cơm, áo, cho đến pháp vị, dạy bảo nhiều lượt. Nếu là kẻ chẳng như pháp, hãy nên bảo kẻ đó rời đi. Sau đó, [kẻ đó] hối cải thì vẫn cho phép ở trong chúng. Từ không có pháp lạp cho đến chín lạp thì gọi là hạ tọa. Từ mười lạp cho tới mười chín lạp thì gọi là trung tọa. Từ hai mươi lạp cho tới bốn mươi chín lạp thì gọi là thượng tọa. Từ năm mươi lạp trở lên, là bậc được quốc vương, trưởng giả, người xuất gia tôn trọng, được gọi là bậc trưởng lão tôn túc kỳ cựu).

 

12) Giáo huấn về “trộm cắp vật dụng của Tăng”

 

          Quyển bảy mươi bốn sách Pháp Uyển Châu Lâm[13] ghi: “Kinh Phương Đẳng nói: - Bồ Tát ngôn: Ngũ Nghịch, Thập Ác, ngã sở năng cứu. Đạo tăng vật giả, ngã bất năng cứu” (Kinh Phương Đẳng dạy: “Bồ Tát nói: - Ngũ Nghịch, Thập Ác, ta có thể cứu, chứ trộm vật của Tăng, ta chẳng thể cứu”).

 

13) Giáo huấn về “đạt được nhiều lợi dưỡng”

 

          Quyển chín mươi hai của sách Pháp Uyển Châu Lâm chép: “Kinh Tạp Bảo Tạng nói: - A Xà Thế vương vị Đề Bà Đạt Đa nhật tống ngũ bách phủ phạn, đa đắc lợi dưỡng. Chư tỳ-kheo bạch Phật, Phật ngôn: ‘Mạc tiện Đề Bà đắc lợi dưỡng’, nhi thuyết kệ ngôn: - Ba tiêu sanh thật khô, lô vi diệc phục nhiên. Cư lư hoài nhâm tử, loa lư diệc phục nhiên. Ngu tham lợi dưỡng khổ, trí giả sở sủy tiếu” (Vua A Xà Thế mỗi ngày vì Đề Bà Đạt Đa tặng năm trăm nồi cơm, đạt được nhiều lợi dưỡng. Các tỳ-kheo bạch với Phật, đức Phật dạy: “Đừng hâm mộ lợi dưỡng của Đề Bà”, Ngài bèn nói kệ rằng: “Chuối trổ buồng, chết khô. Cỏ lau cũng như thế. Con lừa mang thai chết. Con la cũng như vậy. Ngu tham lợi dưỡng: Khổ; bị kẻ trí chê cười”).

 

14) Giáo huấn về quả báo trong cõi âm của năm vị tăng

 

          Sách Lạc Dương Già Lam Ký[14] chép: “Đời Hậu Ngụy, vị tăng ở chùa Sùng Chân tên là Huệ Nghi chết bảy ngày rồi sống lại, cho biết Sư đã cùng với năm vị tỳ-kheo lần lượt tới chỗ Diêm Vương. Một vị là thầy Trí Thông chùa Bảo Minh, nói ‘suốt đời khổ hạnh, lấy tọa Thiền làm nghiệp’, được thăng lên thiên đường. Hai là vị sư tên Đạo Phẩm chùa Bát Nhã, nói ‘tụng kinh Niết Bàn’, cũng được thăng thiên đường. Ba là vị tăng tên Đàm Tối chùa Dung Giác nói ‘tôi giảng kinh Hoa Nghiêm, Niết Bàn, lãnh chúng một ngàn người’. Vua nói: ‘Giảng kinh cho chúng tăng mà ngã mạn, kiêu căng, ôm lòng nhân ngã, đó là thô hạnh bậc nhất trong các tỳ-kheo’. Vua liền bảo: ‘Giao cho mười kẻ thuộc hạ giải vào hắc môn’. Bốn là sư Đạo Hoằng chùa Thiền Lâm nói: ‘Tôi giáo hóa đàn việt tứ chúng, tạo hết thảy kinh tượng’. Vua nói: ‘Cái Thể của sa-môn là ắt cần phải nhiếp tâm nơi đạo tràng, dốc chí tụng niệm, hành Thiền, chẳng can dự chuyện đời. Ngươi giáo hóa để cầu tài lợi, tâm tham liền dấy lên”, cũng tống vào hắc môn. Năm là Bảo Chân chùa Linh Giác, nói: ‘Tôi vốn làm Thái Thú[15], bỏ tiền bạc của chính mình để tạo chùa, bỏ quan để nhập đạo, tuy chẳng hành Thiền, tụng niệm, nhưng lễ bái chẳng thiếu’. Vua bảo: ‘Ngươi làm Thái Thú, chiếm đoạt tài sản trái luật, giả vờ xây chùa ấy, chẳng phải là sức của ngươi, mất công nhắc đến chuyện ấy để làm chi?’, Huệ Nghi do bị bắt lầm, được thả về. Sư bạch với Hồ thái hậu. Thái hậu sai hoàng môn (thái giám) hỏi cả năm chùa, đều nói: - Có năm vị tăng ấy, đã chết bảy ngày. Hạnh nghiệp lúc sống đúng như lời Huệ Nghi luận định chẳng sai”.

 

15) Giáo huấn “chẳng tu Thiền Định”

 

          Sách Vô Tránh Tam Muội chép: “Kinh Thắng Định dạy: - Tư phục hữu nhân bất tu Thiền Định, thân bất chứng pháp, tán tâm độc tụng thập nhị bộ kinh, nãi chí Hằng hà sa kiếp giảng thuyết thị kinh, bất như nhất niệm tư duy nhập định, đản sử phát tâm nguyện tọa Thiền giả, dĩ thắng thập phương nhất thiết luận sư, hà huống đắc Thiền Định giả. Luận sư bạch Phật ngôn: ‘Ngã đẳng đa văn, tổng trì, giảng thuyết vô ngại, thập lục đại bộ kính ngã như Phật Thế Tôn, hà cố bất tán ngã đẳng, độc tán Thiền Định?’ Phật cáo chư luận sư: - Nhữ đẳng tâm loạn, giả sử đa văn, hà sở ích dã? Nhữ dục dữ Thiền Định giác lực, như manh nhãn nhân dục đổ chúng sắc, như vô thủ túc dục bão Tu Di, như chiết xí điểu dục phi hư không, như văn tử xí dục giá nhật nguyệt, như vô giang phảng dục độ đại hải, vô hữu thị xứ. Nhữ đẳng luận sư diệc phục như thị” (Nay lại có người chẳng tu Thiền Định, thân chẳng chứng pháp, tán tâm đọc tụng mười hai bộ kinh, cho tới trong số kiếp nhiều như cát sông Hằng giảng nói kinh này, chẳng bằng một niệm tư duy nhập định. Chỉ cần phát tâm nguyện tọa Thiền, đã hơn hẳn mười phương hết thảy các luận sư, huống hồ đắc Thiền Định! Luận sư bạch Phật rằng: “Chúng con đa văn, tổng trì, giảng nói vô ngại, mười sáu đại bộ[16] đều tôn kính con như Phật Thế Tôn, cớ sao chẳng khen ngợi chúng con, chỉ riêng khen ngợi Thiền Định?” Đức Phật bảo các luận sư: “Các ông tâm loạn, giả sử đa văn, có ích chi đâu? Các ông so sánh với sức của Thiền Định, thì như người mù mắt mà toan thấy các sắc, như không có chân tay mà muốn ôm núi Tu Di, như chim gãy cánh mà muốn bay lên hư không, như cánh con muỗi toan che mặt trời, mặt trăng, như chẳng có thuyền, tàu mà muốn vượt biển cả, chẳng có lẽ ấy. Hàng luận sư các ông cũng giống như thế đó”).

Hơn nữa, trong Tỳ Bà Sa Luận có nói: “Nếu có các tỳ-kheo chẳng chịu tọa Thiền, thân chẳng chứng pháp, tán tâm đọc tụng, giảng nói văn tự, biện luận, vì kẻ chẳng hiểu biết bèn nói dối là có trí, chứ chẳng thể lừa gạt người có trí, tâm cao ngạo khinh miệt người tọa Thiền. Luận sư như thế chết rồi đọa vào địa ngục, nuốt hòn sắt nóng. Thoát khỏi địa ngục, lại làm thân lợn, dê, gà, chó v.v…”

 

16) Giáo huấn về “tiếng tăm vô ích”

 

          Sách Ma Ha Chỉ Quán viết: “Xưa kia, thiền sư ở đất Nghiệp hay Lạc Dương đạo truyền khắp sông, biển. Khi trụ thì bốn phương hướng về ngưỡng mộ như mây, đi thì trăm ngàn người kết đoàn, ồn ào, ầm ĩ, cũng có ích chi? Lâm chung đều hối hận! Tu hành đến mức đó, hãy nên tự suy xét, trí lực mạnh mẽ th́ cần phải tạo lợi ích rộng lớn. Nếu chẳng như vậy, hãy nên tự an nhẫn, tu tam-muội sâu xa, dốc sức hành trì mới khỏi trễ tràng vậy!”

 

17) Giáo huấn về hai chữ Niệm và Tư

 

Thiện Kiến Tỳ Bà Sa Luật, quyển thứ tư chép: “Niệm tưởng là gì? Thoạt đầu đặt tâm nơi chỗ quán, đó gọi là Niệm. Do tâm đã đặt nơi chỗ quán, tâm quẩn quanh nơi chỗ quán, thì gọi là Tư. Ví như tiếng chuông, trước lớn sau nhỏ. Thoạt đầu, tiếng lớn giống như Niệm. Sau đó nhỏ dần là Tư. Như chim bay liệng, thoạt đầu là động như Niệm. Sau đó là Định, như Tư. Như ong hút mật hoa, thoạt đầu đến bên hoa là Niệm, sau đó chọn lựa là Tư”.

 

18) Giáo huấn về sự tinh tấn của Bồ Tát

 

          Kinh Đại Bảo Tích dạy: Bỉ nhị Bồ Tát hành tinh tấn thời, ư thiên tuế trung, vị tằng khởi niệm dục ngọa, vị tằng khởi niệm dục tọa, vị tằng nhất phản khuất thân tôn cứ, vị tằng tái thực, vị tằng khởi niệm xưng lượng ẩm thực hàm, đạm, cam, khổ, tân, tạc, mỹ, ác. Mỗi khất thực thời, vị tằng quán bỉ thọ thực nhân diện vi trượng phu da? Vi phụ nhân da? Nãi chí đồng nam, đồng nữ, giai bất chiêm thị. Cư chỉ thụ hạ, vị tằng ngưỡng diện quán ư thụ tướng. Sở trước y phục, vị tằng tái dịch. Vị tằng nhất niệm khởi ư dục giác, khuể giác, hại giác. Vị tằng khởi duyên thân lư, nhược phụ, nhược mẫu, huynh, đệ, tỷ, muội, cập chư quyến thuộc. Vị tằng khởi niệm ngưỡng quán hư không nhật, nguyệt, tinh tú, vân, hà đẳng sắc. Vị tằng khởi niệm tùng âm ảnh xứ chí quang cảnh xứ, tùng viêm nhiệt xứ chí thanh lương xứ. Ư nghiêm hàn thời, vị tằng khởi niệm phú hậu noăn y nhi thủ ôn thích. Vị tằng khởi niệm luận thuyết thế gian vô ích chi ngữ. Thị nhị Bồ Tát hành như thị đẳng kiên cố tinh tấn”.

          (Khi hai vị Bồ Tát ấy hành tinh tấn, trong một ngàn năm, chưa từng dấy ý niệm muốn nằm, chưa từng dấy ý niệm muốn ngồi, chưa từng một phen khom mình ngồi xổm, chưa từng ăn hơn một bữa, chưa từng dấy ý niệm so đo thức ăn mặn, nhạt, ngọt, đắng, cay, chua, ngon, dở. Mỗi khi khất thực, chưa từng nhìn mặt người cho thức ăn là đàn ông hay phụ nữ? Cho đến trẻ trai, trẻ gái, đều chẳng nhìn ngó. Ở dưới cội cây, chưa từng ngửa mặt xem hình tướng của cây. Y phục đã mặc chưa từng thay đổi. Chưa từng có một niệm dấy lên dục giác, khuể giác, hại giác. Chưa từng khởi duyên thân thiết dù cha, hay mẹ, anh em trai, chị em gái và các quyến thuộc. Chưa từng dấy ý niệm ngửa xem các sắc trong hư không, mặt trời, mặt trăng, tinh tú, mây, ráng v.v… Chưa từng dấy ý niệm từ chỗ rợp bóng tới chỗ sáng sủa, từ chỗ nóng bức đến chỗ mát mẻ. Vào lúc rét buốt, chưa từng dấy ý niệm đắp y dày ấm để được ấm áp dễ chịu. Chưa từng dấy ý niệm bàn luận chuyện vô ích trong thế gian. Hai vị Bồ Tát ấy hành tinh tấn kiên cố như thế đó).

 

          Bình luận: Từ câu “trong một ngàn năm, chưa từng dấy ý niệm muốn nằm” trở đi, mỗi câu đều có bốn chữ “trong một ngàn năm”. Đây là chuyện của bậc đại Bồ Tát, phàm phu chẳng thể làm được! Riêng nêu bày ra, nhằm khiến cho mọi người biết Bồ Tát trong một ngàn năm vô niệm, mà bọn ta thì trong một năm, trong một tháng, trong một ngày, cho đến trong một thời, còn chẳng thể [vô niệm] được, há chẳng hổ thẹn ư? Lại còn chẳng nỗ lực mà hành, chút phần cũng khó lắm thay!

 

19) Giáo huấn nhằm răn dạy, khích lệ người xuất gia

 

          Bài Xuất Gia Châm của pháp sư Từ Ân có nói: “Bỏ nhà xuất gia vì lẽ nào? Đảnh lễ Không Vương cầu xuất ly. Tam sư, thất chứng định sơ cơ. Cạo tóc, y nhuộm, phát hoằng thệ. Khử tham sân, trừ thô, keo. Trong mười hai thời thường cẩn thận. Mài luyện chân tánh như hư không. Tự nhiên đuổi lùi trận ma quân. Siêng học tập, tìm bậc thầy. Nói với đồng nhân kham nương cậy. Tâm địa đừng loạn như nùi gai. Vùi uổng thời gian một trăm năm. Theo gót tiền hiền, học tiên thánh. Nhờ trọn Văn, Tư, Tu chứng đắc. Đi, đứng, ngồi, nằm, phải chuyên ròng. Niệm niệm tương ứng không sai chạy. Chân kinh của Phật mười hai bộ. Ngang dọc chỉ bảo nẻo Bồ Đề. Chẳng tu, chẳng nghe, chẳng hành theo. Hỏi ông ngày nào tâm khai ngộ? Gấp suy xét, như lửa cháy đầu. Đừng đợi năm sau, năm sau nữa! Hơi chẳng hít vào, qua đời sau. Ai dám bảo đảm thân chắc chắn? Chẳng nuôi tằm mà có áo mặc, chẳng cày ruộng mà có cái ăn. Người dệt, người cày mồ hôi máu. Chưa thành đạo nghiệp thí tương lai. Đạo nghiệp chưa thành, sao tiêu được? Xét thay cha, đau xót mẹ, nuốt đắng phun ngọt tột nhọc nhằn. Chỗ ướt nằm, chỗ ráo dời con. Nuôi nấng vất vả con trưởng thành. Muốn con nối nghiệp, rạng tổ tông. Một mai từ biệt, cầu xuống tóc. Cha mẹ tám mươi, hay chín mươi. Bơ vơ không kẻ để nương cậy. Nếu chẳng siêu phàm, lên dòng thánh; cứ mãi quẩn quanh, sai quá to! Áo ruộng phước, bát hàng phục rồng. Thọ dụng một đời, cầu giải thoát. Nếu vì lợi nhỏ ràng buộc tâm, sao lên bờ kia tới Niết Bàn? Thiện nam tử, ngươi nên hay biết: Nay được gặp gỡ điều khó được. Đã được xuất gia, khoác áo thâm. Như rùa mù gặp bọng cây nổi. Đại trượng phu phải nên dũng mãnh, bó buộc thân tâm, đừng dễ duôi. Nếu hành và nguyện lực tương ứng, chắc được thọ ký hội Long Hoa”.

 

20) Giáo huấn răn dạy về “thật sự tu tập”

 

          Thiền sư Vĩnh Minh Thọ răn dạy rằng: “Cửa ngõ học đạo chẳng có gì đặc biệt, lạ lùng. Chỉ cần gột rửa chủng tử của nghiệp thức từ vô lượng kiếp tới nay nơi căn trần. Các ông chỉ cần tiêu trừ tình niệm, đoạn tuyệt vọng duyên. Đối với hết thảy cảnh giới ái dục trong thế gian, tâm giống hệt như gỗ, đá. Dẫu chưa sáng tỏ đạo nhãn, tự nhiên thành tựu thân thanh tịnh. Nếu gặp bậc thầy hướng dẫn chân chánh, rất cần phải siêng lòng thân cận. Giả sử tham cứu chưa thấu triệt, học chưa thành, nhưng [lời dạy] thoảng qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo, đời đời chẳng đọa vào đường ác, đời đời chẳng mất thân người. Vừa mới ló đầu ra, sẽ nghe một ngộ cả ngàn. Cần phải tin thiện tri thức chân thật nơi đạo là nhân duyên lớn nhất trong loài người, có thể hóa độ chúng sanh, được thấy Phật tánh. Than thở sâu xa đời Mạt, kẻ gạt gẫm nói Thiền, chỉ học những điều rỗng tuếch, hoàn toàn chẳng có hiểu biết thật sự, bước nào cũng hành Hữu, miệng luôn bàn Không. Tự mình chẳng trách nghiệp lực lôi kéo, còn dạy kẻ khác bài bác không có nhân quả, bèn nói ‘uống rượu, ăn thịt chẳng trở ngại Bồ Đề; trộm cắp, hành dâm chẳng trở ngại Bát Nhã’. Sống thì mắc phải phép vua, chết hãm trong A Tỳ. Khi nghiệp trong địa ngục đã tiêu, lại vào súc sanh, ngạ quỷ trăm kiếp, vạn kiếp chẳng có thuở thoát ra. Trừ khi một niệm hồi quang, lập tức đổi tà thành chánh. Nếu chẳng tự sám, tự hối, tự độ, tự tu, chư Phật có xuất hiện cũng chẳng có cách cứu ngươi được!

Nếu cắt tim, gan [của chính mình] giống như gỗ, đá thì có thể ăn thịt. Nếu uống rượu giống như uống phân, tiểu thì có thể uống rượu. Nếu thấy nam nữ đoan chánh giống như xác chết thì có thể hành dâm. Nếu thấy tài vật của chính mình và của người khác giống hệt như phân, đất thì có thể xâm đoạt, trộm cắp. Dẫu ngươi luyện đến mức độ ấy, vẫn chưa thể thuận theo tâm ý của chính mình, hãy thẳng thừng đợi cho đến khi chứng thân vô lượng thánh, mới có thể hành chuyện nghịch, thuận trong thế gian. Cổ thánh lập bày, há có tâm khác ư? Chỉ vì tăng ni thời Mạt Pháp ít người giữ giới cấm, sợ sẽ khiến cho người thế tục hướng thiện phần nhiều thoái thất đạo tâm. Do vậy, rộng hành ngăn che, bảo vệ. Ngàn kinh tuyên nói, vạn luận trần thuật, nếu chẳng trừ dâm, sẽ đoạn hết thảy chủng tử thanh tịnh. Nếu chẳng bỏ rượu, sẽ đoạn hết thảy chủng tử trí huệ. Nếu chẳng bỏ trộm cắp, sẽ đoạn hết thảy chủng tử phước đức. Nếu chẳng bỏ ăn thịt, sẽ đoạn hết thảy chủng tử từ bi. Tam thế chư Phật đồng thanh phô diễn, tuyên nói, Thiền Tông trong thiên hạ một âm diễn bày, cớ sao kẻ hậu học coi thường, chẳng nghe theo, tự hủy chánh nhân, ngược ngạo hành ma thuyết? Chỉ vì nghiệp chủng huân tập từ xưa, sanh ra gặp phải thầy tà, thiện lực dễ tiêu, gốc ác khó nhổ trừ! Há chẳng thấy cổ thánh nói: ‘Thấy một ma sự như một vạn mũi tên ghim vào tim, nghe một tiếng ma như ngàn mũi dùi chọc vào tai’. Hãy nên gấp xa lìa, chớ nên thấy nghe. Ai nấy hãy tự xét cõi lòng, hãy cẩn trọng, đừng khinh dễ”.

 

21) Giáo huấn về “nhất tâm nghĩ tới đạo”

 

          * Ngài Triệu Châu nói: “Lăo tăng trừ hai thời cơm cháo ra, đều là chỗ dụng tâm tạp loạn!” Ngài lại nói: “Nếu suốt đời chẳng lìa tùng lâm, chẳng nói mười năm, hay năm năm, sau đấy Phật cũng chẳng làm gì ngươi được!” .

 * Thiền sư Ngưỡng Sơn Hành Vĩ giữ Luật rất nghiêm, tĩnh tọa suốt đêm, ngày ở riêng một thất, tạ tuyệt giao du. Có người tới chỗ Ngài, hết sức khiêm hư mời mọc, Ngài đứng dậy đốt hương, khoanh tay. Nam công nghe chuyện, cho là Ngài quá tuyệt tình, Ngài thưa rằng: “Đạo nghiệp chưa hoàn thành, năm tháng như nước trôi, bậc đại căn khí như Vân Môn, Triệu Châu còn nói ‘ta ngoài hai thời cơm cháo, toàn là cái tâm vận dụng xen tạp’, lại nói ‘ta há có công phu để làm chuyện rảnh rỗi ư?’. Vĩ nào dám lẩn quẩn trong t́nh đời, chú trọng bàn luận suông ư?”

          * Thiền sư Tương Sơn Tán Nguyên nói: “Cây to cao vốn từ một cái mầm bé tí, nước cuộn ngập trời bắt nguồn từ ngòi nước nhỏ. Cái tâm thanh tịnh, vô duyên cớ dấy động ý niệm, nguy ngập lắm thay!”

          * Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ[17] dạy: “Nhất thiết mê hoặc, đa do ngôn ngữ. Thị cố, ưng đương không nhàn khoáng dã tịch tĩnh chi xứ, độc vô dư nhân, tại nhất xứ tọa, nhất tâm chánh niệm, hoại phiền năo ma. Nhất thiết thân cựu, tri thức, huynh đệ, lai khứ tương kiến, ngữ ngôn giai ly” (Hết thảy mê hoặc phần nhiều do lời nói. Do vậy, hãy nên ở chỗ tịch tĩnh nơi thanh vắng hoặc đồng hoang, ở một mình, không có người khác, ngồi ở một chỗ để phá hoại ma phiền não. Hết thảy người thân quen, tri thức, anh em, đến đi, gặp gỡ, nói năng đều lìa khỏi).

          * Kinh Phật Bổn Hạnh Tập[18] dạy: “Nhược tại thiếu niên, nhược tại trung niên, hoặc phục lão niên, đản tu tốc cầu ưng sở biện giả, tảo linh đắc biện, mạc sử yêm trì, nghi tốc tật tác” (Dù là lứa tuổi thiếu niên, hay lứa tuổi trung niên, hay lứa tuổi lão niên, đều chỉ nên mong sao cho những điều đáng nên làm sẽ được sớm thực hiện, chớ nên lần khân, mà hãy nên nhanh chóng thực hiện).

          * Căn Bản Tát Bà Đa Bộ chép: “Giả sử nhập Định, tạm được không ưu phiền, nhưng chẳng thể đoạn phiền năo. Nếu thấy đế lý thì phiền năo đoạn trừ”.

          * Bàn Sơn Ngữ Lục ghi: “Điều đại kỵ đối với người tu hành là nói hay, dở, đúng, sai của người khác, cho tới hết thảy chuyện đời. Chuyện chẳng liên quan tới mình thì miệng chớ nên nói, tâm chớ nên nghĩ! Chỉ vì miệng nói, tâm nghĩ, sẽ khiến cho chính mình mê muội. Nếu chuyên luyện tâm, sẽ thường xét lỗi mình, há có công phu quản chuyện trong nhà kẻ khác! Tan xương, nát thân, chỉ có cái tâm đừng động. Thâu thập tự tâm, như một pho thánh tượng bằng gỗ khắc, ngồi ở trong nhà, suốt ngày chẳng có ai cũng như thế. Phan lọng lũ lượt vây quanh, hương hoa cúng dường, cũng vẫn như thế. Khen ngợi như thế, hủy báng cũng như thế. Người tu hành trong tâm thường vô sự, thời thời khắc khắc suy xét, lãnh hội chỗ cội gốc nơi bổn mạng nguyên thần của chính mình”.

          * Cổ đức nói: “Người chân chánh tu đạo, chẳng có công sức để cắt, chụp”.

* Lại nói: “Tạm thời chẳng tồn tại giống như người đã chết”.

* Bài Cảnh Sách Ca của ngài Trung Phong có câu: “Đi cũng tu, ngồi cũng tu, đừng bỏ lỡ tấc bóng quang âm”.

          * Hàng rào nơi vườn thuốc của Triệu Thanh Hiến công[19] hư hoại, nhưng ông không sửa. Người ta hỏi [lý do], Ngài đáp: “Há có thể dùng chuyện này để động một niệm của ta ư?”

 

22) Ghi chung những lời giáo huấn nhằm giải thích nghi hoặc

 

          * Kinh dạy: “Thiền hữu cực diệu nội lạc, chúng sanh xả chi nhi cầu ngoại, bất đắc nội tâm chi ly dục, nhi ư sắc dục trung cầu lạc” (Thiền có nội lạc cực diệu, chúng sanh bỏ đó mà cầu bên ngoài, chẳng biết lìa dục trong nội tâm, cứ cầu lạc nơi sắc dục).

          * Chư thiên có bảy báu để tự vui sướng; sau đó, đọa trong địa ngục Phí Thỉ (沸屎, phân sôi sùng sục). Người đa văn, thế trí biện thông, sau đó sẽ đọa làm lợn, dê, cầm thú v.v… chẳng biết gì cả!

          * Chúng sanh chẳng có ân gì với Bồ Tát, mà Bồ Tát thường muốn lợi ích chúng sanh. Chúng sanh đoạt mạng Bồ Tát, cắt chặt thân thể, nhưng Bồ Tát ban đệ nhất Phật lạc huệ mạng cho các chúng sanh.

          * Các dục khó thể giải, dùng gì để tháo gỡ? Quán Thật Tướng của thân sẽ chẳng bị nó xoay chuyển. Đại Trí Độ Luận viết: “Thật Tướng chính là rốt ráo không”.

 

7. Tự Tri Lục (自知錄)

7.1. Lời tựa của Tự Tri Lục

 

          Tôi thuở nhỏ xem Công Quá Cách[20] của Thái Vi tiên quân, hết sức ưa thích, bèn cho khắc in để thí tặng. Đă ra khỏi cõi tục, hành cước, lại còn lê la tham học, thỉnh pháp. Đã quy ẩn nơi hang sâu, mới chú trọng Thiền tư, chẳng rảnh chú ý đến chuyện này. Nay đã già rồi, lại tìm được trong đống sách lộn xộn, vẫn vui mừng như cũ, bèn san định đôi chút, tăng thêm những chỗ chưa đầy đủ rồi khắc in lần nữa. Xưa kia, tiên quân nói “phàm nhân nên đặt sách này nơi giường nằm, mỗi tối trước khi ngủ, ghi lại công hay lỗi trong một ngày. Tích ngày thành tháng, tích tháng thành năm, hoặc dùng công để đánh giá lỗi, hoặc dùng lỗi để đánh giá công, nhiều hay ít đắp đổi cho nhau, tự biết tội phước, chẳng cần phải bận tâm cát hay hung”. Nói hết sức có lý! Người xưa đã nói: “Con người khổ mà chẳng tự biết, chỉ biết điều ác bèn sợ mà thâu liễm. Biết điều thiện bèn càng tự gắng sức. Chẳng biết thì sẽ mặc tình thỏa chí, luân hãm như cầm thú, mà cũng chẳng biết [chính mình] là cầm thú vậy!”

Nay tôi vận tâm nâng bút, khó dối gạt linh đài[21], tà chánh khó giấu, khác nào gương sáng soi hình, chẳng có thầy mà tự nghiêm, chẳng có bạn mà tự trách, chẳng thưởng phạt mà khuyên răn, chẳng bói toán mà biết hướng theo [điều lành] hay né tránh [hung hiểm], chẳng do thiên đường hay địa ngục mà thăng trầm, do noi theo sách đó mà tự đạt được đạo ấy khó chi! Do vậy, đổi tên thành Tự Tri Lục. Sách này kẻ bậc hạ có được, sẽ cười to, xem còn chẳng thể, mong chi họ sẽ ghi chép [công và lỗi của chính mình]! Kẻ bậc trung có được, ắt siêng năng ghi chép. Người bậc thượng có được, do họ tự chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, cho nên ghi cũng được, mà chẳng ghi cũng được. Vì lẽ nào vậy? Họ vốn sẽ hành điều thiện, chẳng phải là mong cầu phước. Vốn sẽ chẳng làm ác, chẳng phải vì sợ tội. Suốt ngày dứt ác, suốt ngày tu thiện, ngoài thì chẳng thấy tướng thiện ác, trong chẳng thấy cái tâm “có thể dứt, có thể tu”. Phước còn chẳng nhận, tội cũng là tánh Không, cần gì phải ghi chép nữa?

Ngoài ra, nhị bộ đồng tử, lục trai chư thiên, và các vị được cõi đời gọi là Thai Bành Tư Mạng, nhật du, dạ du, dữ tư, đoạt tư, nguyên hội tiết lạp[22] v.v… la liệt rạng ngời, ở trước ta, sau ta, bên phải, bên trái ta, mắt sáng ngời nhìn chòng chọc ta, nếu như ta chẳng ghi, họ sẽ ghi. Cố nhiên [những điều họ ghi chép sẽ tỉ mỉ] như kén tơ dày đặc, chia chẻ từng điều mảy may. Tuy vậy, thiên hạ chẳng phải đều là bậc thượng. Dẫu đều là bậc thượng, nếu tự biết mà chẳng ghi, vẫn chẳng đánh mất tư cách quân tử; kẻ chẳng tự biết mà chẳng ghi thì nếu chẳng phải do tối tăm, ương bướng, chẳng sáng suốt, thì sẽ là do cố chấp vậy! Xét theo đó, nhân gian có thể chẳng ghi chép ư?

Vì thế, nơi Nho là tứ đoan bách hạnh, nơi Thích là Lục Độ vạn hạnh, nơi Đạo là “ba ngàn công, tám trăm hạnh”, đều là nói về chuyện “tích thiện”. Bọn tự hành xử theo kiểubỏ mặc duyên, tâm niệm như tro tàn thì chẳng bàn đến! Nếu như viện cớ “thiện, ác đều chẳng suy lường được”, thấy người siêng năng ghi chép [công, tội của chính mình], bèn ngạo mạn quở trách rằng: “Sao lại nhọc nhằn lo nghĩ về điều ác để làm gì?” sẽ phạm lỗi chẳng nhỏ! Chao ôi! Người đời siêng khổ trong vòng ngũ dục, nhọc nhằn tinh thần suy tính suốt cả đời chẳng ngại phiền, nhưng lại riêng thấy phiền phức trong khoảnh khắc trước khi ngủ, chẳng uốn nắn tâm tánh, cũng mê hoặc lắm thay! Siêng năng ghi chép, ba lượt phản tỉnh, đêm ắt trình cáo với trời, cho đến dùng đậu đen, đậu trắng [để ghi lại lầm lỗi hay điều thiện], bậc hiền trí thực hiện chẳng bỏ, viết lại thì há có lỗi gì vậy?

Ngày Thanh Minh năm Giáp Thìn, tức năm Vạn Lịch 32 (1604), sa-môn Châu Hoằng ghi          

 

7.2. Phàm lệ của Tự Tri Lục

         

          - Bản cũ ghi là Công Quá, nay là Thiện Quá, dựa theo ý nghĩa “kiến thiện tắc thiên, hữu quá tắc cải” (thấy điều lành bèn thay đổi, có lỗi bèn sửa) trong Châu Dịch. Thiện tức là Công.

          - Bản cũ có Thiên Tôn, Chân Nhân, Thần Quân v.v… Nay gom thành “chư thiên”. Các phần sớ chương tấu trình, phù lục v.v… trong bản cũ nay đều gom vào Phật sự, mỗi thứ đều tùy theo ý mình sùng chuộng, chẳng trở ngại.

          - [Nội dung] gồm bao nhiêu điều thiện, bao nhiêu điều ác so với bản cũ có tăng giảm, sai khác đôi chút, nhưng đại thể tương đồng.

          - Tại gia, xuất gia, hết thảy mọi người, hễ có điều mong cầu, chẳng cần nhọc thân, mệt chí, mưu tính trăm đường để hy vọng thành công, cũng chẳng cần phải cầu thần, cúng trời, giết hại sanh vật hòng cầu xin được ban phước, chỉ phát tâm tích thiện, hoặc làm được năm trăm, một ngàn, ba ngàn, năm ngàn cho tới một vạn điều thiện, sẽ tùy theo lòng mong cầu, ắt được mãn nguyện.

          - Những chuyện dứt lỗi họa trên đây chỉ là hoa báo. Nếu xét theo đời sau, sẽ nhờ đây mà có thể biết quả báo chẳng hư huyễn vậy!

 

7.3. Chánh văn Tự Tri Lục

7.3.1. Thiện môn (những điều thiện)

7.3.1.1 Trung hiếu loại  

         

          * Phụng sự cha mẹ, dốc hết lòng kính, tận tâm phụng dưỡng, cứ mỗi ngày là một điều thiện. Giữ gìn giáo huấn đạo nghĩa, chẳng trái phạm thì mỗi chuyện là một điều thiện. Cha mẹ khuất bóng, đúng như pháp siêu tiến, cứ tốn kém một trăm đồng là một điều thiện. Dùng điều thiện thế gian để khuyến hóa cha mẹ, mỗi chuyện là mười điều thiện. Dùng đại đạo xuất thế gian để khuyến hóa cha mẹ là hai mươi điều thiện.

          Giải: Hễ nói “một trăm đồng”, tức là một trăm đồng bạc. Chuẩn theo mười phân tiền, bất luận tiền có giá hay không.

          * Phụng sự mẹ kế, dốc hết lòng tôn kính, tận tâm phụng dưỡng, cứ mỗi ngày là hai điều thiện. Kính dưỡng ông bà cũng luận định giống như vậy.

          * Phụng sự quân vương, dốc cạn lòng trung, ra sức, cứ mỗi ngày là một điều thiện. Chỉ bày thiện đạo, lợi ích một người là một điều thiện. Lợi ích một phương là mười điều thiện; lợi ích thiên hạ là năm mươi điều thiện, lợi ích thiên hạ trong đời sau là một trăm điều thiện. Tuân theo chế định đương thời của vua, chẳng trái phạm thì mỗi chuyện là một điều thiện. Mọi việc đều chân thật, chẳng dối, mỗi chuyện là một điều thiện.

          * Kính phụng sư trưởng, mỗi ngày là một điều thiện. Vâng giữ lời giáo huấn tốt lành của thầy, mỗi lời là một điều thiện.

          * Kính anh, thương em, mỗi chuyện là một điều thiện. Kính yêu anh em khác cha hay khác mẹ, mỗi chuyện là hai điều thiện.

 

7.3.1.2. Nhân từ loại

 

          * Cứu người bị bệnh nặng, mỗi người là mười điều thiện. [Giúp đỡ người] bệnh nhẹ là năm điều thiện. Thí một thang thuốc là một điều thiện. Trên đường, gặp người bệnh, chở về điều dưỡng thì mỗi người là hai mươi điều thiện. Nếu nhận tiền thì chẳng phải là điều thiện.

          Giải: “Nhận tiền” tức là nhận tiền bạc đền ơn của người đó.

          * Cứu người bị tử hình là một trăm điều thiện. Miễn án tử hình là tám mươi điều thiện. Giảm án tử hình thì một người là bốn mươi điều thiện. Nếu nhận tiền đút lót để làm việc theo t́nh cảm riêng tư thì chẳng phải là thiện. Cứu người bị phạt sung quân hoặc tù giam lao dịch thì một người là bốn mươi điều thiện. Miễn tội ấy là ba mươi điều thiện. Giảm án là mười lăm điều thiện. Cứu người bị phạt trượng thì một người là mười lăm điều thiện. Miễn tội là mười điều thiện, giảm án là năm điều thiện. Cứu người bị đánh đòn[23] thì một người là năm điều thiện, miễn phạt là bốn điều thiện, giảm án là ba điều thiện. Đối với [những hình phạt] trên đây, nếu nhận tiền đút lót [để cứu giúp] thì chẳng phải là điều thiện. Phán án thiên vị, bất công thì chẳng phải là thiện. Ở trong nhà thì giảm, miễn tội của tôi tớ, nô bộc cũng luận định giống như vậy.

          Giải: “Cứu” nghĩa là chính mình chẳng phải làm chủ chuyện ấy, [mà là] ra sức để cứu giúp. “Miễn” là chính mình làm chủ việc đó, đặc biệt cho kẻ đó được miễn [hình phạt ấy]. “Phán đoán thiên vị” tức là chẳng dựa theo lý để tra xét kỹ càng, chỉ dựa theo ý riêng để phán xử, ngược ngạo tha cho kẻ thật sự phạm tội!

          * Thấy người chết chìm bèn cứu, giúp họ tránh khỏi, thâu dưỡng một mạng là năm mươi điều thiện. Khuyên người khác chớ dìm chết một mạng là ba mươi điều thiện. Thu dưỡng trẻ thơ vô chủ, bị vứt bỏ, mỗi mạng là hai mươi lăm điều thiện.

          * Không giết lính đầu hàng, chẳng giết chóc kẻ tùy tùng [của địch quân], tha sống một người là năm mươi điều thiện.

          * Cứu con vật có sức báo đền loài người thì một mạng là hai mươi điều thiện. Cứu con vật không có sức báo đền loài người thì một mạng là mười điều thiện. Cứu con vật nhỏ thì một mạng là một điều thiện. Cứu con vật cực bé thì mười mạng là một điều thiện. Nếu cố ý nói mạng con vật nhỏ thiện nhiều, chuyên cứu mạng con vật nhỏ, chẳng cứu mạng con vật lớn, thì chẳng phải là thiện. Nếu chẳng tiếc giá tiền to lớn để cứu con vật to, sẽ luận định giống như cứu nhiều con vật nhỏ bé.

          Giải: “Có sức báo đền con người” như trâu cày, ngựa cưỡi, chó nuôi trong nhà v.v… “Không có sức báo đền con người” như lợn, dê, ngỗng, vịt, hoẵng, nai v.v… “Mạng nhỏ” như cá, chim sẻ v.v… “Cực nhỏ” như cá nhỏ, tôm, ốc, cho đến ruồi, nhặng, kiến, muỗi, mòng v.v... “Cứu”: Hoặc là mua đem thả, hoặc cấm tuyệt [giết hại], hoặc khuyên lơn ngưng làm. “Chuyên cứu mạng nhỏ, chẳng cứu mạng lớn”: Chỉ tham phước cho chính mình, chẳng có tâm từ đối với loài vật, cho nên chẳng phải là thiện.

          * Cứu con vật hại chúng sanh thì một mạng là một điều thiện.

          Giải: “Hại chúng sanh” là như rắn, chuột v.v… Rắn chưa cắn người, chẳng thể giết nó, nên chẳng có tội đáng giết. Chuột tuy có hại, nhưng tội không đến nỗi chết.

          * Cúng tế, đãi tiệc, theo lệ nên sát sanh, nhưng chẳng giết mà dùng những con vật bán sẵn ở ngoài chợ, tổn phí cứ một trăm đồng là một điều thiện. Nghề nghiệp của gia đình là nuôi tằm, cấm chẳng nuôi nữa là năm điều thiện.

          * Thấy kẻ đánh cá, săn bắn, đồ tể v.v…, bèn dùng lời khéo léo khuyên họ đổi nghề là ba điều thiện. Khuyến hóa, chuyển biến được một người là năm mươi điều thiện.

          * Làm quan, cấm giết chóc một ngày, sẽ là mười điều thiện.

          * Chó trong nhà, trâu cày, ngựa cưỡi v.v… hễ chết bèn chôn cất. Mạng con vật to thì mỗi mạng là mười điều thiện, mạng con vật nhỏ thì mỗi mạng là năm điều thiện, lại còn cầu siêu cho chúng thì mỗi mạng là năm điều thiện.

          * Chẩn tế người quan, quả, cô độc[24], què quặt, mù lòa, dân nghèo, cứ mỗi một trăm đồng là một điều thiện. Thí lẻ tẻ tới một trăm đồng là một điều thiện. Các thứ như gạo, lúa mạch, vải vóc giống như trên, tính theo số tiền mà luận. Châu cấp cho người trong họ cũng luận định giống vậy. Châu cấp cho người hoạn nạn cũng luận định giống như vậy. Thâu gom những dân nghèo như trên để nuôi ăn thì mỗi ngày là một điều thiện.

          * Thấy người khác có chuyện lo sầu, bèn khéo léo an ủi, là một điều thiện.

          * Nhằm năm mất mùa để hạ giá gạo, liền bỏ ra cứ mỗi một trăm đồng là một điều thiện.

          * Giúp người đói một bữa ăn là một điều thiện. Cho người khát uống cứ mười lần là một điều thiện. Giúp người rét cóng được ngủ trong phòng ấm một đêm là một điều thiện. Cho một cái áo bông là hai điều thiện. Trong đêm đen, thí đèn sáng, cứ mỗi người là một điều thiện. Trời mưa thí đồ che mưa, cứ mỗi người là một điều thiện.

          * Thí cho cầm thú hai bữa ăn là một điều thiện.

          * Xóa nợ một trăm đồng cho kẻ mắc nợ là một điều thiện. Phân lời nhiều, lâu ngày, người đó cầu xin, áng chừng khó thu được, bèn xóa nợ, cứ hai trăm đồng là một điều thiện. Thưa lên quan, quan chẳng màng, bất đắc dĩ phải xóa nợ thì chẳng phải là thiện.

          * Cứu tiếp người hoặc loài vật, giúp sức cho họ trong khi họ khổ sở thì cứ một lần là một điều thiện.

          Giải: “Cứu tiếp” là ngưng việc lao dịch, hoặc làm thay.

          * Người chết chẳng thể liệm, bèn thí quan tài, phí tổn cứ mỗi một trăm đồng là một điều thiện.

          * An táng hài cốt vô chủ, cứ mỗi người là một điều thiện. Thí đất cho gia đình không có phần mộ, cứ chôn một người là ba mươi điều thiện. Nếu thâu tô thuế (tính tiền thuê đất hoặc nhượng đất) thì chẳng phải là thiện. Lập nghĩa trang từ thiện thì cứ phí tổn một trăm đồng là một điều thiện.

          * Sửa chữa đường hiểm trở, lầy lội, phí tổn cứ mỗi trăm đồng là một điều thiện. Đào giếng công cộng, dựng hoặc sửa đình hóng mát, tạo cầu, bến, đò v.v… đều luận định giống như vậy. Nếu nhận tiền đút lót [để làm] thì chẳng phải là điều thiện.

          * Làm quan trên, từ ái, vỗ về kẻ chức nhỏ thì cứ một người là một điều thiện. Kẻ đó phạm lỗi, xét theo tình có thể tha thứ để người ấy được giữ nguyên chức là mười điều thiện. Nếu nhận đút lót thì chẳng phải là thiện. Phàm những vị quan trên chẳng làm nhục thuộc hạ cũng luận định giống như trên.

          * Coi dân như con, chỉ sợ họ bị tổn thương, cứ mỗi chuyện là một điều thiện.

          * Khéo quản tỳ thiếp, cứ mỗi người là mười điều thiện. Phát chi phí cho họ, cứ mỗi trăm đồng là một điều thiện. Bỏ tiền ra để chuộc thân cho nam nữ, chẳng đòi họ trả tiền chuộc, cứ mỗi trăm đồng là một điều thiện. Bỏ tiền chuộc nam, nữ trả lại cho người khác, luận định giống như thế.

 

7.3.1.3. Tam Bảo công đức loại

 

          * Tạo tôn tượng Tam Bảo, cứ một trăm đồng chi phí là một điều thiện. [Tạo] tượng chư thiên, tiên thánh, chánh thần trị thế, hiền nhân, quân tử v.v… cứ mỗi hai trăm đồng chi phí là một điều thiện. Trùng tu luận định giống như vậy.

          Giải: “Chư thiên” là các vị như Phạm Vương, Đế Thích v.v… trong Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới, và thiên tôn, chân nhân, thần quân v.v… của Đạo giáo. “Tiên thánh” như Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng v.v… “Chánh thần” tức các vị cai quản núi, sông v.v… “Hiền nhân quân tử” là những vị trung thần, hiếu tử, chồng có nghĩa, vợ trinh bạch v.v…

          * Khắc kinh, luật, luận Đại Thừa, cứ mỗi một trăm đồng chi phí là một điều thiện. [Khắc in kinh sách] Nhị Thừa và nhân quả nhân thiên, cứ mỗi hai trăm đồng chi phí một điều thiện. Nếu nhận tiền thì chẳng phải là thiện. In ra để bố thí, lưu truyền thì cũng luận định giống như thế.

          Giải: “Nhận tiền” tức là định giá để bán chác. “Nhân thiên” tức là Ngũ Giới, Thập Thiện do Phật, Bồ Tát đã nói, và chánh pháp thế gian, lục kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử, các lời tốt đẹp hoặc thiện hạnh của tiên thánh, tiên hiền v.v…

          * Kiến lập tự viện, am, quán, và giường, tòa, vật dụng thờ cúng v.v… nơi Tam Bảo, cứ mỗi trăm đồng chi phí là một điều thiện. Thí đất cho Tam Bảo, giá trị cứ mỗi một trăm đồng là một điều thiện. Hộ tŕ thường trụ, chẳng để hoang phế, hư hoại, luận định giống như vậy. Kiến lập đền miếu thờ chư thiên, chánh thần, thánh hiền v.v… thì cứ mỗi hai trăm đồng chi phí là một điều thiện. Dùng máu thịt để hiến tế thì chẳng phải là thiện.

          * Thí những vật như hương, đuốc, đèn, dầu v.v… để cúng dường Tam Bảo, cứ mỗi hai trăm đồng chi phí là một điều thiện.

          * Thọ Bồ Tát đại giới là bốn mươi điều thiện, thọ giới Tiểu Thừa là ba mươi điều thiện, thọ thập giới là hai mươi điều thiện, thọ ngũ giới là mười điều thiện.

          * Chú thích kinh, luật, luận chánh pháp của Đại Thừa, cứ mỗi quyển là năm mươi điều thiện. Số quyển tuy nhiều, chỉ [tính tối đa là] một ngàn năm trăm điều thiện. [Chú thích giáo pháp] Nhị Thừa và nhân quả nhân thiên, cứ mỗi quyển là một điều thiện. Số quyển tuy nhiều, [tối đa] chỉ là ba trăm điều thiện. Nếu mặc lòng suy đoán[25] thì chẳng phải là thiện.

          * Tự mình trước tác, biên tập văn tự chánh pháp xuất thế, cứ một quyển là hai mươi lăm điều thiện. Quyển nhiều chỉ [tính tối đa] là năm trăm điều thiện. [Biên soạn sách giảng giải] nhân quả nhân thiên, cứ một quyển là mười điều thiện. Số quyển nhiều chỉ [tối đa là] một trăm điều thiện. Nếu bàn nói vô ích, sẽ chẳng phải là thiện.

          * Thấy kinh ngụy tạo, khuyên người khác đừng học là một điều thiện.

          * Vì quân vương, cha mẹ, thân hữu, tri thức, pháp giới chúng sanh, tụng kinh một quyển là hai điều thiện. Một ngàn câu Phật hiệu là hai điều thiện. Lễ sám một trăm lạy là hai điều thiện. Nếu nhận tiền [để lễ bái, đọc tụng] thì chẳng phải là thiện. V chính mình mà tụng kinh một quyển, niệm Phật một ngàn tiếng, lễ sám trăm lạy, mỗi điều đều là một điều thiện.

          * Vì vua, cha, cho đến pháp giới chúng sanh, thí thực một đàn, cứ mỗi một trăm đồng chi phí là một điều thiện. Đăng đàn thí pháp, cứ mỗi lần là ba điều thiện. Nếu nhận tiền trả công thì chẳng phải là thiện. Vì cõi đời bị tai nạn mà làm đạo tràng nhương tai[26], cứ mỗi trăm đồng chi phí là một điều thiện. Nếu nhận tiền thì chẳng phải là thiện.

          * Giảng diễn kinh, luận Đại Thừa, cứ năm người tham dự là một điều thiện. Số người tuy nhiều, [tối đa] chỉ là một trăm điều thiện. [Giảng diễn] Nhị Thừa và nhân quả nhân thiên, người hiện diện cứ mười người là một điều thiện, nhiều người thì [tối đa] chỉ tám mươi điều thiện. Nếu nhận tiền thì chẳng phải là thiện. Cầu danh thì chẳng phải là thiện. Giảng diễn ngoại đạo hư huyền vô ích cho người khác thì chẳng phải là thiện.

          * Lễ bái Đại Thừa kinh điển, cứ năm mươi lạy là một điều thiện.

          * Đối với chỗ giảng diễn chánh pháp, chí tâm đến nghe, cứ một buổi là một điều thiện.

          * Thí cơm cho tăng, do họ đến xin mà cho thì cứ ba vị tăng là một điều thiện. Mời thỉnh tới nhà [thọ trai], cứ hai vị tăng là một điều thiện. Đưa tới chùa cúng thì cứ một vị tăng là một điều thiện. Nếu tận thành, tận kính, cứ mỗi vị tăng là năm điều thiện. Nếu họ phải đôi ba lượt tốn công xin xỏ rồi mới cho thì chẳng phải là thiện.

          * Thí cơm cho tăng, chẳng cự tuyệt người ăn xin, bình đẳng cho họ ăn, cứ hai người là một điều một thiện.

          * Hộ tŕ tăng chúng, cứ mỗi người là một điều thiện. Người được hộ trì chẳng phải là người thì chẳng phải là thiện.

          * Độ đệ tử đức lớn, hiền lương, cứ một người là năm mươi điều thiện. Đệ tử hiểu nghĩa, giữ hạnh, cứ một người là mười điều thiện. Đệ tử chỉ hiểu đạo nghĩa, hoặc chỉ giữ hạnh, cứ một người là năm điều thiện. Nếu độ người bừa bãi thì chẳng phải là thiện.

          Giải: “Đệ tử đức lớn, hiền lương” là người có thể tiếp nối huệ mạng của Phật, lợi ích trời người trọn khắp. “Chỉ hiểu đạo nghĩa, hoặc chỉ giữ các hạnh” là chỉ đạt được một điều.

 

7.3.1.4. Tạp thiện loại

         

          * Tiền tài bất nghĩa chẳng lấy, trị giá cứ mỗi trăm đồng là một điều thiện. Chẳng hại đạo nghĩa, có thể lấy mà chẳng lấy, thì cứ mỗi trăm đồng là hai điều thiện. Ở nơi tột bậc nghèo cùng mà chẳng lấy, mỗi trăm đồng là ba điều thiện.

          * Trong cảnh dục nhiễm, giữ tâm chánh đáng chẳng nhiễm, là năm mươi điều thiện. Nếu do chẳng có khả năng để làm [chuyện dục nhiễm] bèn thôi thì chẳng phải là thiện.

          * Mượn tài vật của người khác, trả đúng hạn, chẳng để trễ là một điều thiện.

          * Trả nợ thay cho người khác, cứ một trăm đồng là một điều thiện.

          * Nhượng đất, nhượng tài sản, giá trị cứ mỗi trăm đồng là một điều thiện.

          * Dùng đạo nghĩa răn dạy con cháu, cứ mỗi chuyện là một điều thiện. Nhà quyền quý ước thúc người nhà, môn khách [không làm chuyện xằng bậy] thì cũng luận định giống như vậy.

          * Khuyên người khác bỏ tiền làm các thứ công đức, cứ mỗi một trăm đồng bỏ ra là một điều thiện. Do cầu danh lợi mà quyên mộ, khuyến hóa thì chẳng phải là thiện.

          * Khuyên người khác dứt thưa kiện, miễn tử hình một người là mười điều thiện. [Miễn giảm] hình phạt sung quân, tù đày, cứ một người là năm điều thiện. [Miễn giảm] hình phạt trượng, cứ một người là hai điều thiện. [Miễn giảm] hình phạt đánh roi, cứ một người là một điều thiện. Khuyên lơn hòa giải người tranh đấu là một điều thiện. Nếu nhận tiền thì chẳng phải là thiện.

          * Thốt lời chí đức thì cứ mỗi lời là mười điều thiện.

          Giải: Như ba lời của Tống Cảnh Công[27], tứ tri của Dương Bá Khởi[28] v.v…

          * Thấy điều lành ắt làm, cứ mỗi chuyện là một điều thiện. Biết lỗi ắt sửa, cứ mỗi chuyện là một điều thiện.

          * Biện luận bèn trống lòng cầu hiền, hễ đúng lý bèn vâng nhận, cứ mỗi nghĩa là một điều thiện.

          * Đề cử dùng người hiền lương, cứ mỗi người là mười điều thiện. Xua đuổi đứa gian tà, cứ một đứa là mười điều thiện. Nêu cao điều thiện của người khác, cứ mỗi chuyện là một điều thiện. Ẩn giấu điều ác của kẻ khác, cứ mỗi chuyện là một điều thiện. Thấy người rêu rao chuyện ác của người khác bèn khuyên thôi dứt là năm điều thiện.

          * Cung kính, cúng dường người hiền thiện, cứ một người là năm điều thiện. Thấy kẻ khác xâm hủy bậc hiền thiện, bèn khuyên ngừng tay, là năm điều thiện.

          * Khuyến hóa người ác sửa ác theo thiện, cứ một người là mười điều thiện.

          * Thành tựu gia nghiệp cho một người là mười điều thiện. Thành tựu học nghiệp cho một người là hai mươi điều thiện. Thành tựu đức nghiệp cho một người là ba mươi điều thiện.

          * Hứa hẹn với bạn bè, giữ đạo nghĩa chẳng trái lời hứa hẹn là mười điều thiện. Vì đạo nghĩa chẳng màng thân mạng là một trăm điều thiện. Vì đạo nghĩa chẳng phụ lời gởi gắm tài vật thì cứ mỗi trăm đồng là một điều thiện.

          Giải: “Chẳng trái lời hứa hẹn” như treo kiếm trên cây[29] chẳng hạn. “Thân mạng” là như vì bảo vệ con côi mà tử tiết chẳng hạn. “Tài vật” như trả vàng cho con thơ.

          * Có ân ắt báo, cứ mỗi chuyện là một điều thiện. Báo ân vượt bậc là mười điều thiện. Có thù chẳng báo, cứ mỗi chuyện là một điều thiện. Nếu phá hoại lẽ công bằng để báo ân riêng thì chẳng phải là thiện.

          * Mặc áo rách vá, cứ mỗi bộ là hai điều thiện. Áo vải thô, cứ mỗi tấm áo là một điều thiện. Nếu vốn chẳng có áo tốt lành, đành mặc [áo rách nát] thì chẳng phải là thiện. Làm bộ để được tiếng khen thì chẳng phải là thiện.

          * Người ăn thịt bèn bớt ăn, cứ mỗi bữa là một điều thiện. Người ăn chay giảm bớt lượng ăn là hai điều thiện. Nếu do không có sức để ăn đầy đủ bèn giảm bớt thì chẳng phải là thiện.

          * Người ăn thịt thấy giết [con vật đó] bèn chẳng ăn, đó là một điều thiện. Nghe tiếng giết bèn chẳng ăn, là một điều thiện. Vì mình mà giết, bèn chẳng ăn, đó là một điều thiện.

          * Nhẫn chịu sự trái ngang xảy đến, cứ mỗi chuyện là một điều thiện.

          * Nhặt vật đánh rơi trả lại cho chủ, giá trị cứ mỗi trăm đồng là một điều thiện.

          * Quy lỗi vào mình, quy điều thiện cho người khác, cứ mỗi chuyện là hai điều thiện.

          * Đối với danh vị, tài lợi v.v… an phận nghe theo mạng trời, chẳng chèo kéo, mưu tính, cứ mỗi chuyện là mười điều thiện.

          * Ở trong đại chúng, thường nghĩ vì đại chúng, chẳng vì chính mình, cứ mỗi ngày ở nơi đó là một điều thiện.

          * Thà mất tiền tài của chính mình, thà mất địa vị của chính mình để khiến cho người khác được tiền, được địa vị, là năm mươi điều thiện.

          * Gặp chuyện bất lợi và các hoạn nạn, chẳng oán trời trách đất mà thuận chịu, cứ mỗi chuyện là ba điều thiện.

          * Đối với các chuyện cầu phước, nhương tai v.v…, chỉ chấp nhận thiện nguyện, chẳng chấp thuận sát sanh để cúng tế, đó là năm điều thiện.

          * Truyền cho người khác sách điều dưỡng thân mạng, cứ mỗi quyển là năm điều thiện. Toa thuốc cứu bệnh, cứ năm toa là một điều thiện. Nếu nhận tiền thì chẳng phải là thiện. Chẳng có hiệu nghiệm mà hư vọng lưu truyền thì chẳng phải là thiện.

          * Nhặt giấy có chữ vứt trên đường để đem thiêu, cứ một trăm chữ là một điều thiện.

          * Có tiền tài, có thế lực, có thể sai sử mà chẳng sai sử, thuận lý an phận, cứ mỗi chuyện là mười điều thiện.

          * Do quyền thế có thể phụ bạc, nhưng chẳng phụ, là mười điều thiện.

          * Người khác dạy thuật luyện đan bèn từ chối chẳng học, là ba mươi điều thiện. Người khác cho đan dược hoặc bạc đã luyện thành, bèn bỏ chẳng dùng, giá trị cứ mỗi một trăm đồng là ba điều thiện.

          Bổ khuyết:

Phàm cứu người khác, cứ một mạng là một trăm điều thiện.

 

7.3.2. Quá môn (những điều lầm lỗi)

7.3.2.1. Bất trung hiếu loại

 

          * Phụng sự cha mẹ chẳng tôn kính, chẳng phụng dưỡng, mỗi chuyện là một lỗi. Vi phạm giáo huấn đạo nghĩa, mỗi chuyện là một lỗi. Cha mẹ trách giận bèn sanh sân hận là một lỗi. Hễ xúc phạm là mười lỗi. Đối với những gì cha mẹ ưa thích mà sơ sài thì mỗi chuyện là một lỗi. Cha mẹ đã khuất, phải nên siêu tiến mà chẳng siêu tiến thì mỗi lần là mười lỗi. Cha mẹ có khuyết điểm, chẳng thể khéo léo khuyến hóa, mỗi chuyện là một lỗi.

          * Chẳng tôn kính, phụng dưỡng ông bà, mẹ kế, mỗi chuyện là một lỗi.

          * Thờ vua chẳng dốc cạn trung, tận sức, mỗi chuyện là một lỗi. Phải nên nói thẳng mà chẳng nói thẳng, chuyện nhỏ là một lỗi, chuyện lớn là mười lỗi, chuyện cực đại là năm mươi lỗi. Vi phạm chế định đương thời của vua, mỗi sự là một lỗi. Nói lời hư giả dối trá, mỗi chuyện là một lỗi.

          * Chẳng kính phụng sư trưởng, mỗi ngày là một lỗi. Chẳng nương theo giáo huấn tốt đẹp của sư trưởng, cứ mỗi lời là một lỗi. Chống trái là ba mươi lỗi. Nếu thầy chẳng hiền mà bỏ đi thì không phạm lỗi.

          Giải: “Chống trái” như Trần Tương học Hứa Hành. “Chẳng hiền mà bỏ đi” như ngài Mục Kiền Liên lìa thầy ngoại đạo.

          * Anh em thù hằn nhau, cứ mỗi chuyện là hai lỗi. Lừa dối, chèn ép anh em khác mẹ hoặc con dòng thứ thì mỗi sự là ba lỗi.

 

7.3.2.2. Bất nhân từ loại

 

          * Người bệnh nặng cầu cứu mà chẳng cứu, cứ mỗi người là hai lỗi. Bệnh nhẹ thì mỗi người là một lỗi. Do không có tiền tài, chẳng có y thuật nên không cứu thì không phạm lỗi.

          * Bào chế thuốc độc là năm lỗi. Muốn hại người khác là mười lỗi. Hại người một mạng là một trăm điều lỗi. [Người bị chuốc thuốc độc] chẳng chết mà bị bệnh thì [người bào chế hoặc dùng thuốc độc] là năm mươi lỗi. Hại cầm thú một mạng là mười lỗi, [cầm thú] chẳng chết mà bệnh là năm lỗi.

          * Nguyền rủa, ếm đối hại người, cứ một mạng là một trăm lỗi. [Người bị nguyền, ếm] chẳng chết mà bị bệnh thì [kẻ ếm đối, nguyền rủa phạm] năm mươi lỗi.

          * Xử đoán sai lầm thành án tử hình là tám mươi lỗi. Cố ý gán tội là một trăm lỗi. Xử đoán sai lầm phạt [nạn nhân bị] sung quân, tù đày, là ba mươi lỗi. Cố ý gán tội là bốn mươi lỗi. Xử lầm thành tội phạt trượng, mắc tám lỗi. Cố ý phạt là mười lỗi. Lầm phạt người khác bị đánh gậy là bốn lỗi; cố ý gán tội sẽ là năm lỗi. Trong tư gia, trừng phạt quở trách tôi tớ cũng luận định giống như thế.

          Giải: “Lầm” là vô tâm, “cố ý” là có tâm.

          * Dụng hình phi pháp, mỗi lần dùng là mười lỗi. [Kẻ khác] vô tội mà đánh đập kẻ đó, cứ mỗi lần là một lỗi.

          * Mưu hại khiến cho kẻ khác bị tử hình là một trăm lỗi. [Mưu hại] chẳng thành là năm mươi lỗi. Nẩy ý [mưu hại] là mười lỗi. Mưu hại khiến cho kẻ khác bị phạt sung quân, tù đày mà thành thì bốn mươi lỗi. [Mưu hại] chẳng thành là hai mươi lỗi. Nẩy ý [mưu hại] là tám lỗi. Phạt trượng thành công thì mười lỗi. Chẳng thành thì tám lỗi. Nẩy ý [hại người khác bị phạt trượng] là năm lỗi. [Hại người khác chịu] hình phạt đánh đập thành công là năm lỗi, chẳng thành là bốn lỗi, nẩy ý là ba lỗi.

          * Cha mẹ dìm chết con cái mới sanh cứ một mạng là năm mươi lỗi. Đọa thai là hai mươi lỗi.

          Giải: Thượng đế đã giáo huấn: “Cha mẹ vô cớ giết con thì chính là giết nhân dân trong thiên hạ, cho nên trở thành lỗi nặng”.

          * Sát hại hàng binh, tàn sát dân trong thành [sau khi chiếm được thành], cứ mỗi mạng là một trăm lỗi. Bắt dân chúng bình thường làm tù binh, cứ mỗi người là năm mươi lỗi, khiến họ bị chết là một trăm lỗi.

          * Người chủ sự biết rõ là oan uổng, nhưng do cố kỵ quyền thế, hoặc chấp chặt án cũ, chẳng làm trắng án, nếu thành tội tử hình thì tám mươi lỗi, phạt sung quân hoặc tù đày thì phạm ba mươi lỗi. Phạt trượng là tám lỗi, thành hình phạt đánh đập là bốn lỗi. Nếu nhận hối lộ, phán tử hình là một trăm lỗi. Những điều kế đó đều luận định giống như trên. Các chuyện phán án cong vẹo, trái pháp, tùy thuộc chuyện nặng nhẹ mà cũng có thể luận định giống như trên.

          * Trong tâm ngầm dấy ác ý muốn tổn hại kẻ khác, cứ mỗi người là một lỗi. Sự thành thì một người là mười lỗi.

          * Cố ý giết, tổn thương người khác, cứ mỗi mạng là một trăm lỗi. [Người bị hại] tổn thương nhưng không chết là tám mươi lỗi. Sai người khác giết, luận định giống như vậy.

          * Cố ý giết con vật có sức báo đáp con người thì cứ một mạng là hai mươi lỗi. Ngộ sát là năm lỗi. Cố ý giết con vật không có sức báo đáp con người thì một mạng là mười lỗi. Ngộ sát là hai lỗi. Cố giết những con vật nhỏ bé thì mỗi mạng là một lỗi. Ngộ sát thì mười mạng là một lỗi. Cố ý giết những con vật cực bé thì mười mạng là một lỗi. Ngộ sát thì hai mươi mạng là một lỗi. Sai người khác giết, luận định giống như vậy. Khen ngợi, giúp đỡ người khác giết chóc, luận định giống như vậy. Do ăn uống hằng ngày mà giết, luận định giống như vậy. Nuôi nấng để bán cho người khác giết, luận định giống như vậy. Bàn xằng bậy họa phước, do cúng bái, van vái quỷ thần mà giết chóc, luận định giống như vậy. Bào chế thuốc độc để giết, luận định giống như vậy. Nuôi tằm thì luận định giống như nuôi dưỡng để giết.

          * Cố ý sát hại súc vật của người khác là một lỗi. Ngộ sát cứ mười mạng là một lỗi.

          * Thấy bị giết chẳng cứu, thuận theo những điều trên đây mà tính lỗi giảm một nửa. Nếu không có cách nào cứu thì không có lỗi. Chẳng thể cứu nhưng chẳng thể sanh ý niệm từ bi là hai lỗi.

          Giải: “Giảm một nửa” là như giết con vật có sức báo đáp con người là mười lỗi thì nay tính là năm lỗi. Những điều sau đó tính giảm [cách tính lỗi trong phần trên] giống như vậy.

          * Trâu cày, ngựa cưỡi, chó nuôi trong nhà v.v… đă già bệnh chết bèn đem bán thịt, con vật to là mười lỗi, con vật nhỏ là năm lỗi.

          * Đang trong lúc cấm giết chóc mà cố ý giết, sẽ dựa theo những điều trên mà tính lỗi gấp bội. Lén mua cũng luận tội giống vậy. Người ở địa vị cao, ngược ngạo tạo đầu mối sát hại cho dân chúng cũng luận tội giống vậy.

          Giải: “Tính gấp bội”: Như giết con vật có thể báo đáp con người mắc hai mươi lỗi thì nay tính thành bốn mươi lỗi. Những điều sau đó cứ tính tăng thêm giống như vậy.

          * Phi pháp nấu nướng sanh vật khiến cho chúng chịu khổ sở cùng cực thì mỗi mạng là hai mươi lỗi.

          Giải: Như nấu sống ba ba, cua, dùng lửa thiêu dê vậy.

          * Thả chim ưng, thả chó săn, câu cá, bắn chim v.v… khiến cho [những con vật] bị thương nhưng không chết, cứ mỗi con vật là năm lỗi. Nếu bị chết thì luận định giống như tội cố ý giết con vật trong phần trên. Phá kén, khuấy động hang ổ loài vật, lấp hang, lật tổ, phá trứng, phá thai [của các con vật], luận định giống như vậy. Nếu làm chuyện như phá kén v.v… để làm thiện sự, lỡ làm chúng bị thương thì không có lỗi.

          Giải: “Làm thiện sự, lỡ làm chúng bị thương” là như dựng cầu, lót đường, xây chùa, tạo tháp, đủ loại thiện sự, vốn xuất phát từ hảo tâm, cố nhiên chẳng phải là lỗi, nhưng cần phải sám hối, cầu siêu cho chúng.

          * Nhốt, trói chim, gia súc, cứ mỗi ngày là một lỗi.

          * Thấy gia súc của người khác chết, chẳng khởi từ tâm là một lỗi.

          * Thấy người quan, quả, cô, độc, dân nghèo, đói khát, rét lạnh v.v… mà chẳng cứu tế, cứ một người là một lỗi. Không có tiền bạc [để cứu tế họ] thì không có lỗi.

          * Dối gạt, tổn hại người mù, người điếc, người bệnh, người ngu, người già, trẻ nít, cứ mỗi người là một tội.

          * Thấy người khác lo sầu, chẳng giúp họ bớt lo, là một lỗi. Ngược ngạo sanh lòng vui sướng, là hai lỗi. Tăng thêm sầu lo cho họ, là năm lỗi. Thấy người bị bất lợi, mất danh tiếng, bèn sanh tâm hoan hỷ, là hai lỗi. Thấy kẻ khác phú quý, mong cho họ nghèo hèn, là năm lỗi.

          * Năm đói kém trữ gạo không phát ra, ngồi chờ lúc giá cao là năm mươi lỗi. Cấm ngặt buôn bán thóc gạo cũng luận định giống như vậy.

          * Ép bức dân nghèo mang nợ, khiến cho họ mang tội danh bị đánh đập là năm lỗi. Mượn tài vật của người khác mà chẳng trả, cứ một trăm đồng là một lỗi.

          * Ép gia súc của người khác dốc sức làm việc đến nỗi kiệt sức, chẳng thương xót nỗi khổ của chúng mà cứ ép làm, cứ mỗi lúc là mười lỗi. Đánh đập chúng thì cứ mỗi roi là một lỗi.

          * Phóng hỏa đốt lều, nhà của người khác, hay đốt núi, rừng, là năm mươi lỗi. Do vậy mà hại người, cứ mỗi mạng là năm mươi lỗi. Hại con vật thì luận định giống như giết con vật trong phần trên. Cố ý muốn hại mạng người thì mỗi mạng là một trăm lỗi.

          * Đào mộ người khác, quăng xương, cứ mỗi mộ là năm mươi lỗi. San phẳng mộ, cứ mỗi mộ là mười lỗi. Mộ quá cổ, không có hài cốt thì không có lỗi.

          * Ỷ thế chiếm đoạt ruộng đất, nhà cửa v.v… của người khác, giá trị cứ mỗi một trăm đồng là mười lỗi. Chèn ép giá để ép người ta bán, cứ mỗi trăm đồng là một lỗi.

* Phá hoại đường sá, khiến cho người và vật khó đi lại, cứ mỗi ngày là năm lỗi. Phá hoại giếng công cộng, đình nghỉ mát, cầu cống, bến thuyền v.v… đều luận định giống như vậy.

* Làm quan trên tùy tiện phá hoại đường tiến của thuộc hạ, cứ mỗi người là ba mươi lỗi. Phá hoại sái pháp là năm mươi lỗi. Người ở địa vị trên hà hiếp, bạo ngược đối với kẻ dưới, luận định giống như vậy.

* Giam, trói tỳ thiếp, cứ mỗi người là một lỗi. Mưu tính cưỡng đoạt vợ hoặc con gái người khác là năm mươi lỗi.

 

7.3.2.3. Tam Bảo tội nghiệp loại

 

* Phế bỏ, phá hoại tôn tượng Tam Bảo, giá trị cứ mỗi trăm đồng là hai lỗi. Phế trừ, phá hoại tượng chư thiên, trị thế chánh thần, hiền nhân, quân tử v.v… giá trị cứ mỗi trăm đồng là một lỗi. [Phá hoại] tà thần dối đời ăn máu thịt thì không phạm lỗi.

* Dùng lời lẽ báng bổ Phật, Bồ Tát, La Hán, cứ mỗi lời là năm lỗi. Báng bổ chư thiên, chánh thần, thánh hiền, cứ mỗi lời là một lỗi. Quở tà phá mê, phát xuất từ lòng chân thành thì chẳng phải là lỗi.

* Lễ Phật không đúng thời là một lỗi. Do bệnh, hoặc do chánh sự [mà không lễ Phật] thì không có lỗi. Ăn ngũ tân, dùng rượu thịt, khởi dục không đúng thời, là năm lỗi. Vi phạm trong ngày lục trai thì luận định gấp bội.

* Hủy hoại điện đường, giường, tòa, các vật thờ cúng v.v… của Tam Bảo, giá trị cứ mỗi trăm đồng là một lỗi. Dụ dỗ người khác phá hoại, luận định giống như vậy. Thấy hủy hoại mà chẳng khuyên can là năm lỗi. Ngược lại còn giúp sức là mười lỗi. [Phá hoại] miếu, đền của chư thiên chánh thần, thánh hiền v.v… giá trị cứ hai trăm đồng là một lỗi. [Hủy hoại] điện thờ của tà thần uống máu ăn thịt dối đời thì không phạm lỗi.

Giải: “Dụ dỗ” là kẻ đó vốn chẳng nghĩ tới, ta bèn xúi họ làm. “Giúp sức”: Kẻ đó trước đã muốn hủy hoại, ta bèn tán thành thêm.

* Chiếm đất của Tam Bảo, giá trị cứ mỗi trăm đồng là một lỗi. Chiếm phòng ốc luận định giống như vậy.

* Xây dựng mới đền thờ thần để cúng tế huyết nhục, cứ một chỗ là năm mươi lỗi, tạo một bức tượng thần là mười lỗi. Trùng tu, thờ tượng, mỗi chuyện luận định giảm một nửa.

Giải: “Xây dựng mới”: Xưa kia vốn không có, đặc biệt kiến tạo.

* Hủy hoại kinh điển chánh pháp xuất thế, giá trị cứ mỗi trăm đồng là hai lỗi. Còn đối với kinh điển Nhị Thừa, sách vở về quả báo nhân thiên, giá trị cứ mỗi trăm đồng là một lỗi.

* Báng bổ kinh điển chánh pháp xuất thế, cứ mỗi lời là mười lỗi. [Báng bổ] quả báo nhân thiên, mỗi lời là năm lỗi.

* Keo tiếc pháp chẳng dạy là mười lỗi. Do họ không đáng dạy thì không phạm lỗi. Ngăn trở thiện pháp khiến cho chẳng lưu thông là mười lỗi. [Nếu pháp ấy] thuộc về tà kiến hoặc sai lầm, thì không có lỗi. Tuy thuộc vào thiện pháp, nhưng do đương thời ẩn tàng, bèn thuận theo thời mà tạm ẩn thì không có lỗi.

* Tụng kinh sai một chữ là một lỗi, sót một chữ là một lỗi. Trong tâm xen tạp vọng tưởng là năm lỗi. Nghĩ tới chuyện ác là mười lỗi. Để lời bên ngoài xen tạp vào là năm lỗi. Nói thiện sự[30] là một lỗi. [Đang tụng mà] đứng dậy đón tiếp khách khứa là hai lỗi, nhưng vua quan đến [bắt buộc phải tiếp đón] thì chẳng phải là lỗi. Chẳng tuân theo nghi thức, cẩu thả tụng kinh là năm lỗi. Khi tụng bèn nổi sân là mười lỗi, chửi người khác là hai mươi lỗi, đánh người khác là ba mươi lỗi. Viết (tức chép kinh) sơ sài, sai sót, luận định giống như vậy.

* Dùng tà pháp của ngoại đạo để dạy đệ tử, mỗi người là hai mươi lỗi.

* Biên soạn ngụy kinh, mỗi quyển là mười lỗi.

* Giảng diễn tà pháp mê hoặc đại chúng, cứ mỗi người hiện diện là một lỗi. Tới chỗ họ (người giảng giải tà pháp) nghe nhận, cứ mỗi buổi là một lỗi.

* Giảng diễn chánh pháp, nhưng mặc tình tuân theo ý kiến riêng của mình, trái nghịch ý chỉ của kinh, trái nghịch bậc tiên hiền, cứ năm người hiện diện là một lỗi.

* Biên soạn từ chương, truyện ký diễm tình v.v… cứ mỗi bài là một lỗi. Truyền bá thì cứ một người là một lỗi. Tự mình ghi nhớ, đọc thuộc, cứ mỗi bài là một lỗi.

Giải: “Một bài” tức là một bài thơ, một đoạn văn, hoặc một vở kịch.

* Truyền cho người khác các loại phương cách ác độc như ếm đối, phá thai, cứ mỗi cách là hai mươi lỗi.

* Tăng nhân khất thực không cho, cứ mỗi người là một lỗi. Người chẳng phải là tăng nhân khất thực, không cho thì cứ hai người là một lỗi. Do không có, nên không cho thì không phạm lỗi. Đã chẳng cho, còn ngược ngạo sỉ nhục là ba lỗi. Tăng không đãi cơm tăng còn cự tuyệt thì cứ mỗi vị Tăng là hai lỗi.

Giải: Trước đó nói “tục nhân không trai tăng”, lỗi vẫn còn nhẹ. Trường hợp sau là tăng chẳng trai tăng, lỗi ấy càng nặng!

* Nuôi chứa đệ tử ác chẳng đuổi đi, cứ mỗi người là năm mươi lỗi. Đệ tử có lỗi chẳng răn dạy, chuyện nhỏ thì mỗi chuyện là một lỗi, chuyện lớn thì mỗi chuyện là mười lỗi.

 

7.3.2.4. Tạp bất thiện loại

 

* Lấy tài vật bất nghĩa, giá trị cứ mỗi trăm đồng là một lỗi. Thuộc địa vị giàu có mà lấy, cứ mỗi trăm đồng là hai lỗi.

* Dục nhiễm người tột bậc thân thiết là năm mươi lỗi, [dụ dỗ] con nhà lành mười lỗi, với gái ăn sương là hai mươi lỗi, [ô uế] tăng ni, tiết phụ là năm mươi lỗi. Thấy sắc đẹp nhà lành bèn dấy tư tâm là hai lỗi.

Giải: Đây là nói người tục gia. Nếu là xuất gia tăng, bất luận thân, sơ, nhà lành, hay hèn mọn, chỉ cần phạm thì đều là năm mươi lỗi. Hễ khởi tâm riêng tư thì đều là hai mươi lỗi.

* Lấy trộm tài vật, cứ mỗi trăm đồng là một lỗi. Trộm vặt, tích tụ đến một trăm đồng là một lỗi. Khai gian thuế má, luận định giống như vậy. Dùng oai thế đoạt lấy hay lừa lấy, cứ mỗi trăm đồng là mười lỗi.

          * Chủ sự nhận hối lộ mà tuyển dụng làm quan, hoặc giảm tội cho người ta, cứ mỗi trăm đồng là một lỗi. Ăn hối lộ để phá hoại hoạn lộ của người khác, hoặc giáng tội cho người ta, cứ mỗi trăm đồng là mười lỗi.

* Mượn tài vật của người khác chẳng trả, cứ mỗi trăm đồng là một lỗi. Mắc nợ người khác, mong cho người đó chết đi là mười lỗi.

* Đong, cân v.v… xuất ít, nhập nhiều, cứ trị giá một trăm đồng là một lỗi.

* Thấy người hiền chẳng đề cử là năm lỗi. Trái lại, nếu vùi dập là mười lỗi. Thấy người ác chẳng trừ khử là năm lỗi. Ngược ngạo giúp đỡ kẻ đó là mười lỗi. Ẩn điều thiện của người khác, cứ mỗi chuyện là một lỗi. Phô bày điều ác của kẻ khác, cứ mỗi sự là một lỗi. Khi do quở trách mà nêu ra điều ác thì chẳng có lỗi. Vì trừ hại, cứu người mà nêu điều ác thì chẳng có lỗi.

* Cố ý bới tìm khuyết điểm của bậc tiên hiền, sáng lập thuyết mới, cứ mỗi lời là một lỗi. Trái nghịch lý thì mỗi lời là mười lỗi. Bịa đặt dã sử, tiểu thuyết, truyện cười, ca khúc để vu hãm, nói xấu người thiện lương, mỗi chuyện là hai mươi lỗi. Chẳng thẩm định sự thật mà lan truyền, rêu rao chuyện thầm kín của người khác và chuyện trong khuê phòng, cứ mỗi chuyện là mười lỗi. Hoàn toàn không có mà hư vọng bịa chuyện là năm mươi lỗi. Lan truyền, niêm yết nhằm phơi bày dấu tích xấu của người khác, nửa thật, nửa giả, sẽ là hai mươi lỗi. Hoàn toàn hư vọng là năm mươi lỗi. Mỗi lời đều thật, nhưng xuất phát từ công tâm, vì dân trừ hại thì chẳng có lỗi.

* Quyên mộ để lo liệu các phước sự, nhưng trộm lấy tiền cúng thí để làm của riêng, cứ mỗi trăm đồng là một lỗi. Vật dụng của Tam Bảo [mà lấy trộm], cứ mười đồng là một lỗi. Nhân quả sai lệch, cứ mỗi trăm đồng là một lỗi.

* Khen ngợi, giúp người khác thưa kiện, nếu thành án tử hình là ba mươi lỗi. Thành án bị phạt sung quân, tù đày, là hai mươi lỗi. Thành án phạt trượng là mười lỗi. Thành án phạt roi là năm lỗi. Khen ngợi, giúp đỡ người khác đấu tranh là một lỗi. Nếu xúi giục để chiếm lợi, nếu thành án tử hình là một trăm lỗi. Thành án bị phạt sung quân, tù đày, là ba mươi lỗi. Thành án phạt trượng là ba mươi lỗi. Thành án phạt roi là mười lăm lỗi. Ly gián cốt nhục là ba mươi lỗi. Phá hôn nhân của người khác là năm lỗi, theo đúng lý chẳng nên kết hôn thì không phạm lỗi.

* Thốt lời tổn đức, cứ mỗi lời là mười lỗi.

Giải: Như Kim Lăng tam bất túc[31], “thà ta phụ người, chẳng để người phụ ta” của Tào Mạnh Đức (Tào Tháo).

* Vọng ngữ hư dối, mỗi chuyện là một lỗi, do [nói dối gây] hại người là mười lỗi.

* Thấy điều thiện chẳng làm, cứ mỗi chuyện là một lỗi. Có lỗi mà chẳng sửa, cứ mỗi chuyện là một lỗi. Có lỗi mà chẳng nhận lỗi, cãi lại cho mình là đúng, đối với người quen biết là hai lỗi, đối với cha mẹ, sư trưởng là mười lỗi.    

          * Biện luận thiên chấp ý kiến của chính mình, chẳng phục thiện, cứ mỗi nghĩa là một lỗi.

          * Chẳng giáo huấn con cháu, mặc cho chúng nó làm chuyện bất thiện, cứ mỗi chuyện là một lỗi. Dung túng người nhà, môn khách thì luận định lỗi giống như vậy.

          * Chẳng học theo bậc đại hiền là năm lỗi. Chẳng chơi với bạn tốt đẹp, ngược lại còn hủy báng, khinh miệt, lừa dối là mười lỗi.

          * Thốt lời ác với bậc đáng tôn trọng là mười lỗi. [Thốt lời ác] đối với người quen biết là bốn lỗi; đối với kẻ kém hơn, nhỏ tuổi hơn là một lỗi; hướng đến thánh nhân là trăm lỗi; hướng đến bậc hiền nhân quân tử là mười lỗi.

          * Dạy người khác làm chuyện bất thiện, cứ mỗi chuyện là hai lỗi. Dạy người khác điều đại ác như bất trung, bất hiếu v.v… cứ mỗi chuyện là năm mươi lỗi. Thấy người khác làm chuyện bất thiện, chẳng khuyên can là một lỗi; chuyện lớn là ba mươi lỗi. Biết kẻ đó ương ngạnh, chắc chắn chẳng nghe khuyên can thì không có lỗi.

          * Đặt vè bêu riếu người khác, gán biệt hiệu xấu cho người khác, cứ mỗi người là năm lỗi.

          * Vọng ngữ chẳng thật, cứ mỗi lời là một lỗi. Tự nói mình đã chứng thánh, gạt gẫm người đời, cứ mỗi lời là năm mươi lỗi.

          * Hứa hẹn với bạn mà không giữ chữ Tín, chuyện nhỏ là một lỗi; chuyện lớn là mười lỗi. Cuỗm tài vật của người khác gởi gắm, cứ một trăm đồng là một lỗi.

          * Có ân mà chẳng báo đáp, cứ mỗi chuyện là một lỗi. Có oán ắt báo, cứ mỗi chuyện là một lỗi. Báo oán quá lố là mười lỗi; [báo oán] đến nỗi [kẻ đó] bị chết là một trăm lỗi. Đối với người gây oan uổng, muốn cho họ chết phứt là một lỗi. Nghe kẻ oán bị tiêu diệt, sanh lòng vui mừng là một lỗi.

          * Ăn thịt, cứ mỗi lần ăn là một lỗi. Trái phạm, [ăn nấu] những con vật cấm như rùa, ba ba chẳng hạn, cứ mỗi lần ăn là hai lỗi. Nếu là con vật có nghĩa, như trâu cày, ngựa cưỡi, chó giữ nhà, cứ mỗi lần ăn là ba lỗi.

          Giải: Trên đây là nói những thứ mua ngoài chợ. Nếu tự giết để ăn trước mắt, phải luận định theo tội cố ý giết.

          * Uống rượu bàn bạc chuyện ác, uống một thưng là sáu lỗi. Uống với kẻ bất lương, cứ mỗi thưng là hai lỗi. Vô cớ mà cùng uống với người thường là một lỗi. Phụng dưỡng cha mẹ, khoản đãi khách khứa chánh đáng [đành phải uống rượu] thì chẳng phải là lỗi. Dùng rượu để chưng nấu thuốc thì chẳng có lỗi.

          * Mở tiệm rượu dụ người khác đến uống, cứ mỗi người là một lỗi.

          * Vô cớ ăn ngũ tân, mỗi lần ăn là một lỗi. Do trị bệnh mà ăn thì không có lỗi. Ăn xong tụng kinh, cứ mỗi quyển là một lỗi.

          * Ngày Lục Trai ăn thịt, mỗi lần ăn là hai lỗi. Ăn xong lên chánh điện là một lỗi. Uống rượu, ăn ngũ tân, luận định giống như vậy.

          * Áo tốt đẹp quá lố, mỗi tấm áo là một lỗi. Ăn ngon thì mỗi lần ăn là một lỗi. Chỉ để phụng dưỡng cha mẹ thì không có lỗi.

          Giải: “Quá lố” là người phú quý đáng phải nên hưởng phước, nhưng vượt ngoài mức vốn hưởng dụng, quá mức xa xỉ, chỉ trừ [dùng để phụng dưỡng] cha mẹ. Chẳng phải là để tế thần, đãi khách [mà mặc áo quá tốt đẹp thì phạm lỗi]. Châu Dịch có câu: “Nhị quỹ[32] khả hưởng, mao dung sơ thực phi bạc” (hai vạc có thể hưởng, dùng cỏ tranh lót rau dưa cúng tế chẳng phải là đơn bạc).

          * Người ăn chay mà cứ mong cầu áo đẹp, thức ăn ngon, mỗi tấm áo là một lỗi, mỗi bữa ăn là một lỗi.

          Giải: Đã biết chay trường, tự phải nên tiếc phước. Tuy là áo vải, ắt cầu thứ tinh hảo; tuy là cơm chay, ắt cầu ngon ngọt, cũng bị chiết phước!

          * Khinh rẻ ngũ cốc là vật của trời, giá trị mỗi trăm đồng là một lỗi.

          * Buôn bán các vật như dao mổ, lưới đánh cá v.v… chi phí cứ một trăm đồng là một lỗi.

* Nhặt được vật đánh rơi, chẳng trả lại cho nguyên chủ, giá trị cứ một trăm đồng là một lỗi.

* Có công thì quy vào mình, có tội bèn đổ cho người khác, mỗi chuyện là hai lỗi.

* Danh vị, tài lợi, chạy vạy, mưu toan, cứ mong ắt cầu được, chẳng màng phi nghĩa, cứ mỗi chuyện là mười lỗi.

* Ở trong đại chúng, chỉ biết vì chính mình, chẳng vì mọi người, thì ở nơi ấy cứ mỗi ngày là một lỗi.

          * Thà khiến cho người khác mất tiền tài, mất địa vị, chỉ cốt sao bảo toàn tiền tài, địa vị của chính mình, là năm mươi lỗi.

          * Gặp cảnh bất lợi và các hoạn nạn, liền dấy lòng oán trời, hờn người, cứ mỗi chuyện là ba lỗi.

* Để cầu phước, nhương tai v.v… mà chẳng tu thiện sự, lại hứa các ác nguyện như giết con vật cúng tế, là mười lỗi. Sanh mạng bị giết luận định giống như giết con vật.

Giải: “Mười lỗi” là chỉ nói khi hứa nguyện. Tâm đã bất lương, cho nên khi đền nguyện bèn giết chóc lại luận tội riêng giống như sát sanh.

* Có toa thuốc cứu bệnh chẳng chịu truyền cho người khác, cứ năm toa là một lỗi. Nếu chưa kiểm nghiệm, sợ gây hại cho người khác thì chẳng có lỗi.

          * Giấy có chữ bị vứt bỏ chẳng đoái hoài, cứ mười chữ là một lỗi.

          * Lìa cha mẹ, xuất gia liền bái người khác làm cha mẹ nuôi là năm mươi lỗi.

          * Người khác truyền thuật luyện đan, nếu tiếp nhận là ba mươi lỗi. Sử dụng đan thuật, trị giá cứ mỗi trăm đồng là ba lỗi. Thật sự [dùng đan thuật luyện] thành vàng ròng, nung đốt trăm lượt chẳng đổi thì không có lỗi.

          Bổ khuyết:

          * Vô cớ lên Phật điện, lên tháp là năm lỗi. Trên điện hoặc tháp mà ăn mặn, uống rượu gây ô uế là mười lỗi.

          Giải: “Cớ” tức là thắp hương, quét dọn, tụng kinh v.v…

          * Nhận hối lộ bèn nhờ cậy để được làm quan, giảm tội v.v… Cứ năm trăm đồng là một lỗi. Nhận hối lộ bèn nhờ cậy để phá hoại hoạn lộ, gán tội cho người khác, cứ năm trăm đồng là mười lỗi.

 

Phụ lục: Nghi thức phóng sanh

         

          Tôi dựa theo bản cũ của pháp sư Tứ Minh Tri Lễ mà tham khảo, châm chước đôi chút hòng giản tiện, dễ hành. Phía sau, lại tăng thêm phần “thay cho chúng nó cầu nguyện vãng sanh”. Lại còn tăng thêm phẩm Hồi Hướng của kinh Hoa Nghiêm để kết lại, dụng ý là trước hết cầu sanh về thế giới Cực Lạc của A Di Đà Phật, sau là nhập Hoa Tạng huyền môn của Tỳ Lô Giá Na Phật. Lại nữa, trong tháng nóng, con vật phóng sanh đưa tới đầu tiên thì chiếu theo nghi thức này để niệm tụng liền phóng sanh. Những con vật đưa tới sau đó, liền tiếp tục phóng sanh, chỉ niệm chú Đại Bi một biến, chú Vãng Sanh ba biến, xưng niệm A Di Đà Phật rồi đem thả, chẳng cần phải đợi [các con vật được phóng sanh] có mặt đầy đủ, kéo dài thời gian đến nỗi tổn hoại sanh mạng. Sau đó, lại có người tiếp tục đưa tới [các con vật phóng sanh khác] thì cũng lại làm như thế.         

Ở chỗ phóng sanh, xếp đặt hương án, cành dương, nước sạch. Đại chúng dùng mắt Từ nhìn các chúng sanh, nghĩ chúng nó trầm luân, sanh lòng xót thương sâu xa. Lại nghĩ Tam Bảo có đại oai lực, có thể cứu bạt. Quán như thế xong, tay cầm chén nước, thầm tưởng niệm rằng: “Nhất tâm phụng thỉnh thập phương từ phụ quảng đại linh cảm Quán Thế Âm Bồ Tát giáng lâm đạo tràng, gia trì nước này trọn đủ đại công huân, rảy thấm dị loại, khiến cho chúng nó thân tâm thanh tịnh, kham nghe diệu pháp”. Liền tụng thần chú Đại Bi một biến, rảy đôi ba lượt. Sau đó, cầm thủ lô[33], bạch rằng:

          - Ngưỡng bạch thập phương Tam Bảo, Thích Ca Bổn Sư, Di Đà từ phụ, Bảo Thắng Như Lai, Quán Âm Bồ Tát, Lưu Thủy trưởng giả tử, Thiên Thai, Vĩnh Minh các vị đại sĩ, chỉ mong từ bi chứng tri, hộ niệm. Nay có các loài chúng sanh bay trên không, dưới nước, trên đất, bị người khác dùng lưới bắt được, sắp vào cửa tử. Tỳ-kheo… (hoặc thiện nam tên là…) nhờ đây mà tu Bồ Tát hạnh, phát tâm từ bi, tạo thành cái nhân trường thọ, hành nghiệp phóng sanh, cứu chuộc thân mạng chúng, khiến cho chúng được tiêu dao. Vẫn vâng theo kinh điển Đại Thừa Phương Đẳng, truyền trao Tam Quy, xưng dương thập hiệu, lại vì chúng nó tuyên nói mười hai nhân duyên. Chỉ vì các loại chúng sanh này tội chướng sâu nặng, thần thức hôn mê, ngưỡng xin Tam Bảo oai đức ngầm gia bị, xót thương nhiếp thọ.

          Bạch rằng:

          - Các chúng sanh dị loại hiện tiền quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng (nói ba lần).

          Các chúng sanh dị loại hiện tiền, quy y Phật xong, quy y Pháp xong, quy y Tăng xong (nói ba lần).

          Từ nay trở đi, gọi Phật là thầy, chẳng còn quy y tà ma ngoại đạo (nói ba lần).        

Chư Phật tử đã quy y Tam Bảo rồi, nay sẽ vì các ngươi xưng dương Bảo Thắng Như Lai mười hiệu công đức, khiến cho các ngươi được nghe, như mười ngàn con cá kia liền được sanh lên trời chẳng khác biệt gì.

Nam-mô Bảo Thắng Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn (nói ba lần).

          Chư Phật tử! Ta nay lại vì các ngươi nói tướng sanh, tướng diệt của mười hai nhân duyên, khiến cho các ngươi biết rõ pháp sanh diệt, ngộ bất sanh diệt, cùng với chư Phật chứng Đại Niết Bàn. Đó gọi là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lăo, tử, ưu, bi, khổ, năo. Đó tức là vô minh diệt thì hành diệt, hành diệt thì thức diệt, thức diệt thì danh sắc diệt, danh sắc diệt thì lục nhập diệt, lục nhập diệt thì xúc diệt, xúc diệt thì thọ diệt, thọ diệt thì ái diệt, ái diệt thì thủ diệt, thủ diệt thì hữu diệt, hữu diệt thì sanh diệt, sanh diệt thì lăo, tử, ưu, bi, khổ, năo diệt.

          Chư Phật tử! Ta nay nương theo kinh Đại Thừa, truyền trao Tam Quy, mười hiệu, mười hai nhân duyên cho các ngươi đã xong. Nay sẽ vì các ngươi đối trước Tam Bảo phát lộ tội khiên, xót xa cầu sám hối, nguyện tội nghiệp của các ngươi tiêu trừ trong một niệm, được sanh vào chốn lành, thân cận Phật, được thọ ký. Các ngươi hãy nên chí tâm theo ta sám hối.

          Xưa kia con tạo các ác nghiệp,

Đều do vô thỉ tham sân si,

          Từ thân, miệng, ý phát sanh ra.

          Hết thảy con nay đều sám hối (nói ba lần).

          Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát (ba lượt).

          Chỉ nguyện sau khi phóng sanh, [các ngươi] vĩnh viễn chẳng gặp ác ma nuốt, ăn, lưới rập, mà sẽ ưu du tự tại, trọn hết tuổi thọ. Sau khi mạng chung, nương Tam Bảo lực, bổn nguyện từ lực của Bảo Thắng Như Lai, hoặc sanh lên trời Đao Lợi, hoặc sanh trong nhân gian, trì giới, tu hành, chẳng còn tạo ác, tín tâm niệm Phật, tùy nguyện vãng sanh. Lại mong đệ tử phóng sanh tên là… từ nay trở đi, hạnh nguyện Bồ Đề niệm niệm thêm sáng, cứu khổ chúng sanh coi như chính mình. Do nhân duyên này, được sanh về An Dưỡng, thấy A Di Đà Phật và các thánh chúng, chứng Vô Sanh Nhẫn, phân thân trong các cõi nhiều như vi trần, rộng độ hữu t́nh, đều thành Chánh Giác. Đại chúng hiện tiền đồng thanh tụng niệm diệu chương Hồi Hướng của kinh Hoa Nghiêm và thần chú vãng sanh Tịnh Độ.

 

* Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm, phẩm Thập Hồi Hướng, chương Tùy Thuận Kiên Cố Nhất Thiết Thiện Căn Hồi Hướng

 

          Phật tử! Bồ Tát Ma Ha Tát làm đại quốc vương, tự tại nơi pháp, hành trọn khắp giáo mạng khiến trừ sát nghiệp. Trong thành ấp, xóm làng nơi Diêm Phù Đề, hết thảy giết chóc đều bị cấm đoán. Thí vô úy trọn khắp các loài sanh vật không chân, hai chân, bốn chân, chẳng có tâm muốn cướp đoạt, rộng tu hết thảy các hạnh Bồ Tát, nhân từ với muôn vật, chẳng làm chuyện xâm phạm, não hại, phát tâm diệu bảo an ổn chúng sanh, lập chí hướng yêu thích sâu xa nơi chư Phật, thường tự an trụ trong ba loại tịnh giới, cũng khiến cho chúng sanh an trụ như thế, Bồ Tát Ma Ha Tát khiến cho các chúng sanh trụ trong ngũ giới, vĩnh viễn đoạn sát nghiệp, dùng thiện căn ấy hồi hướng như thế này, tức là: Nguyện cho hết thảy chúng sanh phát tâm Bồ Đề, trọn đủ trí huệ, mãi giữ được thọ mạng, chẳng có cùng tận. Nguyện cho hết thảy chúng sanh trụ vô lượng kiếp, cúng dường hết thảy chư Phật, cung kính siêng tu, tăng thêm thọ mạng. Nguyện cho hết thảy chúng sanh tu hành trọn đủ, lìa pháp già chết, hết thảy tai ương, độc hại chẳng hại tánh mạng. Nguyện cho hết thảy chúng sanh thành tựu đầy đủ thân không bệnh não, thọ mạng tự tại, có thể tùy ý trụ. Nguyện cho hết thảy chúng sanh được mạng vô tận, tột cùng kiếp vị lai trụ Bồ Tát hạnh, giáo hóa, điều phục hết thảy chúng sanh. Nguyện cho hết thảy chúng sanh được tăng trưởng môn thọ mạng, thiện căn thập lực. Nguyện cho hết thảy chúng sanh thiện căn trọn đủ, đắc vô tận mạng, thành tựu viên măn đại nguyện. Nguyện cho hết thảy chúng sanh đều thấy chư Phật, cúng dường, thừa sự, trụ vô tận thọ, tu tập thiện căn. Nguyện cho hết thảy chúng sanh ở chỗ Như Lai khéo học sở học, đắc thánh pháp hỷ, vô tận thọ mạng. Nguyện cho hết thảy chúng sanh chẳng già, chẳng bệnh, thường trụ mạng căn, dũng mănh tinh tấn, nhập Phật trí huệ. Đấy là thiện căn hồi hướng trụ trong tam tụ tịnh giới, vĩnh viễn đoạn sát nghiệp của Bồ Tát Ma Ha Tát nhằm khiến cho chúng sanh đạt được trí viên mãn thập lực của Phật.

          Kế đó, tụng chú Vãng Sanh ba lượt. Tụng xong, bạch rằng:

          - Công đức phóng sanh trên đây báo trọn bốn ân, cùng giúp ba cõi, pháp giới chúng sanh cùng viên mãn Chủng Trí. Mười phương ba đời hết thảy Phật, hết thảy Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật.

 

8. Giới sát phóng sanh văn (戒殺放生文)

 (bài văn khuyên kiêng giết, hành phóng sanh)

 

8.1. Lời tựa

 

          Liên Trì thượng nhân tuổi trẻ đã tinh thông lục nghệ[34], văn chương thành tựu khiến giấy tại Lạc Dương mắc mỏ[35], luyện tập lâu ngày đã thành ba xe[36]. Chứng pháp nhẫn thì đã vượt trội Thông lãnh[37], dũng mãnh khoác giáp Tỳ Lê (tinh tấn), cầm châu Ma Ni chói rực. Trong lúc rảnh rỗi ngoài lúc tụng kinh, tu Thiền, Ngài xót xa thương xót lũ mê, từ trong Thi La (giới luật), đặc biệt diễn bày giới sát sanh. Bởi lẽ, [các loài vật] do thuộc vào thân máu thịt, không gì chẳng có tri giác; các loài trùng bọ, không gì chẳng giống như ta. Há nên dùng cái tâm sợ chết của ta để tổn thương loài vật? Thấu hiểu đức hiếu sanh của thiên đế nhằm hướng dẫn đường mê. Tấm lòng trắc ẩn ai nấy đều có! Nỗi thảm bị cắt xẻo, nung nấu, cõi đời dễ hiểu rõ. Chủng tộc đông đầy, xưa nay thường mong như vậy. Tan đàn xẻ nghé, tình cầm thú há khác? Cho đến muỗi mòng đốt da bèn sanh bực bội, nhưng vung dao cứa loài vật chẳng xót thương, xẻo lấy mỡ màng của chúng để tọng đẫy bụng miệng của ta, xét lại cái tâm, lòng nhân ở chỗ nào? Xét đến quả báo, oán đối sao tránh khỏi? Đã do mạnh, yếu mà cắn nuốt lẫn nhau, rong ruổi theo cái duyên báo đền mà luân hồi dài lâu. Do vậy, Như Lai thắp đuốc huệ nơi chốn tối trùng điệp, cứu các khổ trong tám nạn, dạy đoạn sát nhân, chẳng vướng mắc trong ác quả!

Đang trong thuở Mạt Pháp, mê muội lời nhỏ nhiệm đã lâu, nhưng thiền sư gột sạch bùn ngũ dục, tháo lưới tam hữu, trong biển âm thanh, giục thuyền trí nguyện, cứu lũ đang chìm đắm đạt tới Nhất Chân. Ý chỉ ấy tốt lành thay! Pháp chẳng phân đốn, tiệm, đều nhập Bất Nhị. Đạo chẳng cách ngăn giữa thánh hay phàm, Tín là bậc nhất. Nếu có thể tuân theo giới chẳng giết của thầy, quán kỹ cái nhân dấy lên giết chóc của ta là để sanh khởi cái tâm linh tri, hay là để tăng trưởng cái thân da thịt? Tâm vốn từ bi, do nhân gì mà tàn hại? Thân thể vốn chẳng có cảm nhận, hay biết, há có tham, sân? Tâm đã mất thì âm thanh, mùi vị chẳng biết gì nữa. Như vậy thì tham lam vị ngon chẳng do thân thể. Thân thể đã vắng lặng thì yêu ghét không do đâu mà dấy lên được. Vậy là háo sát cũng chẳng do tâm! Hai đằng đã chẳng có, ở giữa từ đâu mà có? Vì thế, biết thân tâm vốn thanh tịnh, Tập Hoặc hư vọng quấn trói. Đạt được cái mầu nhiệm vốn tịnh, giới này sẽ chẳng do bên ngoài mà tự rạng. Tháo được sự phủ lấp bởi hư vọng quấn trói, ắt đại bi chẳng bị lấn át nơi tâm. Nhập tam-ma-đề, thành Đẳng Chánh Giác là do đấy. Tôi thuở bé đã nghe lời giáo huấn xa lánh bếp núc của Tử Dư[38], đã có lòng từ yêu thương loài vật sâu xa, nay được xem bài văn răn kiêng giết chóc của thiền sư, ý niệm bảo vệ sanh vật càng sâu nặng hơn, bèn sai con quyên mộ khắc in để [bài văn của thầy] được lưu truyền rộng rãi trong cõi đời.

          Tứ tiến sĩ xuất thân, quang lộc đại phu, thái tử thái bảo, Lại bộ thượng thư, Vũ Anh điện đại học sĩ, tri chế cáo, quốc sử điển chí tổng tài quan Nghiêm Nột ở Hải Ngu soạn.

 

8.2. Giới sát phóng sanh văn (chánh văn)

Đời Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê tại Cổ Hàng biên soạn và chú thích

 

8.2.1. Văn răn kiêng giết

         

          Văn: Người đời ăn thịt, đều nói về lý phải nên như thế bèn mặc sức sát sanh, rộng chất chứa oan nghiệp, do quen thói nên thành tập tục mà chẳng tự hay biết. Người xưa có nói: “Đáng gọi là đau đớn khóc ròng, thở dài sườn sượt vậy”. Xét theo sự mê chấp, đại lược có bảy điều, liệt kê như sau. Những điều khác có thể suy ra.

 

          Giải: Hễ có tri giác, ắt có cùng một Thể. Con người ăn thịt là chuyện quái lạ nhất, nhưng chẳng cho đó là lạ. Ấy là vì gia đình nhiều đời quen thói nên coi là thường, xóm giềng xem đó là tập tục. Tập tục lưu hành lâu ngày, chẳng biết là sai, đâm ra coi là đúng, có gì quái lạ đâu? Nay có kẻ giết người để ăn, người ta ắt hết sức kinh hãi, tận lực tru sát. Vì sao? Do chẳng quen làm như thế! Nếu giết người chẳng bị cấm đoán, thực hành mấy năm, sẽ dùng thịt người để nấu nướng trọn khắp thiên hạ! Do đó nói: “Cả cõi đời quen làm mà chẳng biết là sai, đáng đau lòng ứa lệ, thở dài sườn sượt vậy”.

         

          Văn: Một là sanh nhật chớ nên sát sanh. Xót thay cha mẹ, sanh ta nhọc nhằn. Ngày ta mới sanh ra, chính là ngày cha mẹ gần chết. Ngày hôm ấy chính phải nên kiêng giết, trì trai, rộng làm thiện sự, ngõ hầu cha mẹ đã mất trước sẽ sớm được siêu thăng, cha mẹ còn sống thì tăng thêm phước thọ. Cớ sao quên bẵng mẹ mắc nạn mà sát hại sanh linh? Trên là gây lụy cho song thân, dưới là bất lợi cho chính mình. Đấy là điều thứ nhất cả cõi đời này quen làm mà chẳng biết là sai, đáng đau lòng ứa lệ, thở dài sườn sượt vậy.

 

          Giải: Đường Thái Tông làm chủ của muôn người, sanh nhật còn chẳng coi là vui. Kẻ ở rẫy bái thu hoạch nhiều lắm là mười hộc gạo, khách khứa đầy nhà, tiệc vui suốt ngày, chẳng biết thì còn được! Đời này, có người sanh nhật bèn trai tăng, tụng kinh, tu các việc thiện, hiền lắm thay!

 

          Văn: Hai là sanh con đừng nên sát sanh. Con người chẳng có con bèn đau buồn, có con bèn vui mừng. Chẳng nghĩ hết thảy cầm thú, loài nào cũng yêu mến con chúng nó. Mừng ta sanh được con, làm cho con của chúng nó chết, tâm yên được chăng? Trẻ thơ mới sanh ra, chẳng vì nó tích phước, lại ngược ngạo giết chóc, tạo nghiệp, cũng quá ngu vậy. Đấy là điều thứ hai cả cõi đời này quen làm mà chẳng biết là sai, đáng đau lòng ứa lệ, thở dài sườn sượt vậy.

 

          Giải: Một người thợ săn buổi tối say mèm, thấy con thơ thành con hoẵng, hùng hổ truy sát. Vợ khóc lóc, can gián chẳng nghe, rốt cuộc hắn mổ bụng con, lôi ruột ra. Sau đó, ngủ vùi. Sáng dậy, hắn gọi con vào chợ bán thịt hoẵng, vợ khóc nói: “Đêm qua ngươi đã giết nó chết mất rồi!” Người ấy quăng mình gieo xuống đất, nội tạng vỡ nát! Ôi! Người và vật tuy khác, nhưng cái tâm yêu con giống hệt như nhau, há có nên giết chóc ư?

         

          Văn: Ba là tế tổ tiên đừng nên sát sanh. Vào ngày giỗ của người đã khuất và Xuân, Thu cúng tế, tảo mộ, đều nên kiêng giết để giúp phước cho người trong cõi âm. Sát sanh để tế, chỉ tăng thêm nghiệp. Bát trân[39] bày ra trước [di ảnh hoặc bài vị], há có thể khiến cho di cốt nơi chín suối ăn được hay chăng? Vô ích, lại có hại, người trí chẳng làm. Đấy là điều thứ ba cả cõi đời này quen làm mà chẳng biết là sai, đáng đau lòng ứa lệ, thở dài sườn sượt vậy.

         

Giải: Có người nói rằng: Lương Vũ Đế dùng mì thay cho các con vật để cúng, cõi đời chê gièm là làm như vậy khiến cho tổ tông chẳng hưởng huyết thực. Ôi! Huyết thực chưa chắc đã trân quý, đồ chay chưa chắc dở tệ. Phận làm con quý ở chỗ thận trọng tu thân, chẳng bỏ qua việc cúng tế tổ tiên, vì đó là điều tốt lành. Nhưng sao lại cho rằng cúng tế ắt phải dùng máu thịt? Dược tế (禴祭, dùng các loại rau dưa làm cỗ cúng) hơn hẳn mổ trâu, kinh Dịch đã giáo huấn rành rành. Phụng dưỡng cha mẹ bằng thịt các con vật còn là bất hiếu, thánh nhân đã có khuôn mẫu tốt lành, sao lại chấp cúng tế ắt phải dùng máu thịt?

 

          Văn: Bốn là hôn lễ đừng nên sát sanh. Hôn lễ trong thế gian từ vấn danh, nạp thái, cho tới thành hôn[40], sát sanh chẳng biết là bao nhiêu? Hôn nhân là khởi thủy của sanh ra con người. Khởi đầu của sanh mà giết chóc, lý đã trái nghịch! Hơn nữa, hôn lễ là cát lễ. Trong ngày tốt lành mà dùng chuyện hung hiểm, cũng chẳng thảm ư? Đấy là điều thứ tư cả cõi đời này quen làm mà chẳng biết là sai, đáng đau lòng ứa lệ, thở dài sườn sượt vậy.

 

          Giải: Phàm nhân kết hôn, ắt mong mỏi vợ chồng đầu bạc răng long. Ngươi đã nguyện hạnh phúc đến già, cầm thú lại mong chết trước ư? Nhà gả con gái, ba ngày chẳng tắt đuốc, [hàm ý] buồn vì phải chia lìa. Ngươi đã coi chia lìa là khổ, cầm thú há nghĩ chia lìa là vui ư? Quả thật, hôn lễ chớ nên giết chóc vậy!

 

          Văn: Năm là đãi khách chớ nên sát sanh. Ngày tốt, cảnh đẹp, chủ hiền, khách quý, món chay, canh rau, chẳng trở ngại sự thanh nhã, cần gì phải rộng giết sanh mạng, ngon béo tột cùng, sênh ca, thừa mứa mâm, chén, giết chóc kêu gào oan khuất nơi thớt? Than ôi! Người có tâm há chẳng đau buồn ư? Đấy là điều thứ năm cả cõi đời này quen làm mà chẳng biết là sai, đáng đau lòng ứa lệ, thở dài sườn sượt vậy.

 

          Nếu biết vật trên mâm từ gào khóc oan khuất nơi thớt mà có, tức là dùng sự khổ cùng cực của chúng để tạo niềm vui cùng cực cho ta. Dẫu ăn mà cũng chẳng nuốt xuống nổi, chẳng đáng đau xót ư?

 

          Văn: Sáu là cầu đảo, tiêu tai, chớ nên sát sanh. Người đời mắc bệnh, bèn sát sanh cúng thần, để mong được phước gia hộ, chẳng nghĩ chính mình tế thần vì muốn thoát chết, cầu sống, [nhưng lại] giết mạng kẻ khác để kéo dài mạng mình, nghịch trời, trái lý, không chi hơn được nữa. Phàm bậc chánh trực là thần, thần há có lòng riêng tư ư? Mạng chẳng thể kéo dài, mà sát nghiệp đã sẵn có; các loại cúng tế tà vạy cũng giống như thế đó. Đấy là điều thứ sáu cả cõi đời này quen làm mà chẳng biết là sai, đáng đau lòng ứa lệ, thở dài sườn sượt vậy.

 

          Giải: Kinh Dược Sư dạy: “Sát chủng chủng chúng sanh, giải tấu thần minh, hô chư vơng lượng, thỉnh khất phước hựu, dục ký diên niên, chung bất khả đắc” (Giết các loại chúng sanh để tâu trình thần minh, kêu gọi các loài vơng lượng, cầu xin phước đức gia hộ, mong được tăng thọ, trọn chẳng thể được). Tức là mạng chẳng thể kéo dài, sát nghiệp đã sẵn đó! “Các loại cúng tế tà vạy” như là sát sanh để cầu có con, sát sanh cầu tài, sát sanh cầu quan v.v… Có được con cái, được tiền tài, được làm quan, đều là do chính mình có phần đã định, chẳng phải do quỷ thần làm ra! Ngẫu nhiên được mãn nguyện, liền bảo là linh thiêng, tin tưởng càng kiên cố, hành (sát sanh) càng dốc sức, tà kiến hừng hực, chẳng thể cứu chữa. Buồn thay!

 

          Văn: Bảy là để kiếm sống, chớ nên sát sanh. Người đời vì cơm áo mà hoặc là săn bắn, hoặc đánh cá, hoặc giết mổ trâu, dê, lợn, chó v.v… để kiếm sống. Nhưng ta thấy những người chẳng làm các nghề ấy cũng có cơm, áo, chưa chắc đã đói lạnh mà chết! Sát sanh để kiếm sống, trái lý hết sức! Do giết chóc mà giàu vui, trăm người chẳng được một. Gieo sâu cái nhân địa ngục, thọ ác báo trong đời sau, không chi hơn được nữa! Tội gì mà chẳng tìm cách sống khác? Đấy là điều thứ sáu cả cõi đời này quen làm mà chẳng biết là sai, đáng đau lòng ứa lệ, thở dài sườn sượt vậy!

 

          Giải: Tôi đích thân thấy kẻ giết dê, khi sắp chết, miệng phát tiếng dê kêu. Người bán lươn khi sắp chết, đầu như bị lươn cắn. Hai chuyện này ở gần nơi hàng xóm tôi, chẳng phải là lời truyền tụng. Tôi khuyên người đời, nếu chẳng có cách kiếm sống, thà xin ăn vậy! Tạo giết chóc để sống, chẳng bằng nhịn đói mà chết. Ôi! Chẳng nên răn dè ư?

          Những điều kể trên đây, hết sức chẳng thường tình. Người thông đạt nhìn vào, ắt cho là luận định xác đáng! Nếu có thể kiêng hoàn toàn, không gì tốt lành hơn. Nếu chẳng thể vậy, hãy lượng sức mà trừ giảm. Hoặc trừ điều bốn, điều năm, hoặc loại bỏ điều hai, điều ba. Trừ một chuyện bèn tiêu một nghiệp, giảm một sự giết chóc tức dứt một nỗi oan. Nếu chưa thể đoạn tuyệt thứ tanh hôi, trước hết nên mua thứ bán ngoài chợ, đừng đích thân giết, cũng tránh được lỗi lớn. Tích chứa, vun bồi từ tâm, sẽ dần dần nhập cảnh tốt đẹp. Có được bài văn này, lại mong xoay vần lưu thông, lần lượt khuyến hóa. Có thể khuyên một người chẳng giết, giống như cứu trăm vạn sanh linh. Khuyên tới mười người, trăm người, cho tới ngàn vạn ức người, âm công mênh mông, thiện quả vô cùng. Chỉ chịu tin tưởng mà làm theo, quyết chẳng hư dối. Mỗi năm chép thành mười hai phần, dán lên vách nhà. Một tháng chẳng giết, bèn dưới tháng đó viết hai chữ “không giết”. Một tháng không giết là hạ thiện. Một năm không giết là trung thiện. Suốt đời chẳng giết là thượng thiện. Nhiều đời chẳng giết, lại càng là thiện nhất trong các điều thiện. Nguyện người người kiêng giết, nhà nào cũng trì trai, chư Phật sanh tâm hoan hỷ, vạn thần gia hộ. Chiến tranh bởi đó sẽ vĩnh viễn chấm dứt, hình phạt sẽ chẳng cần thi hành. Địa ngục nhanh chóng rỗng không, giã biệt biển khổ dài lâu!

 

8.2.2. Chúc nguyện kiêng giết

 

          Nếu có thể một tháng chẳng giết, tới đêm cuối tháng, hoặc sáng mồng Một của tháng sau, đối trước tượng Phật, chí tâm lễ bái, bạch rằng:

- Đệ tử tên là… nhất tâm quy mạng Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật. Con tuân theo giáo hối sáng suốt của vị đã thành Phật trước, nay thực hiện chẳng giết đã gần một tháng. Do công đức này, nguyện tội nghiệp của con tiêu trừ, tháo gỡ oan khiên. Các thiện căn đã tu ngày càng tăng trưởng. Lúc mạng chung, thân tâm an ổn, chánh niệm phân minh, được Phật tiếp dẫn, sanh về trong hoa sen nơi ao bảy báu nơi Cực Lạc. Hoa nở thấy Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn, trọn đủ Phật huệ. Do đại thần lực, những oan mạng của con từ bao kiếp cùng với chúng sanh bị giết trong mười phương đều được độ thoát, thành vô thượng đạo. Nguyện Phật từ bi, xót thương nhiếp thọ.

Phát nguyện xong, niệm Phật hoặc một trăm câu, ngàn câu, vạn câu, tùy ý nhiều hay ít.

 

8.2.3. Văn phóng sanh

 

          Văn: Từng nghe: Điều được coi trọng nhất trong thế gian là sanh mạng, điều thê thảm nhất trong thiên hạ là giết hại, tổn thương.

 

          Giải: “Coi trọng nhất” có hai thứ:

- Một là người đời đối với tiền tài, của báu, quan tước, vợ con, cho tới thân mình đều coi trọng, nhưng do chẳng thể nói bao gồm trọn, cho nên trong những điều họ coi trọng, ắt chọn lấy điều trọng yếu nhất. Do vậy, để cứu thân mình, chẳng tiếc nuối vàng, của báu. Để cứu thân mình, chẳng tiếc quan tước. Để cứu thân mình, chẳng đoái hoài vợ con. Do vậy nói là “coi trọng nhất”.

- Hai là hễ có sanh mạng, đều có thể làm Phật, tức là sanh vật có Phật chủng, cho nên nói là “coi trọng nhất”.

“Thê thảm nhất”: Như đánh đập v.v… tuy đều là khổ sự, nhưng chưa đến nỗi đoạn mạng, chỉ có giết chóc là thê thảm nhất.

 

          Văn: Do vậy, hễ bị đuổi bắt liền tháo chạy, rận, rệp còn biết tránh né cái chết. Trời sắp đổ mưa bèn kéo nhau dời tổ; dế, kiến còn tham sống.

 

          Giải: Do mạng được coi trọng nhất, nên bảo toàn tánh mạng. Do giết chóc thê thảm nhất, nên trốn tránh bị giết. Do vậy, rận, rệp, dế, kiến đều biết tránh chết, tham sống. Loài sanh mạng nhỏ nhoi còn như thế, cũng có thể biết loài to hơn [cũng tham sống, sợ chết]!

 

          Văn: Sao lại giăng lưới trong núi, quăng chài nơi vực, lắm cách lùng bắt, bẻ cong lưỡi câu, uốn thẳng mũi tên, trăm cách vây bủa?

 

          Giải: Hết thảy chúng sanh đã đều né chết, tham sống, cớ sao [chúng ta] mê muội lương tâm, làm các chuyện tàn độc? Giăng lưới bắt thú trong núi, quăng chài bắt cá nơi vực, thả câu nơi nước, ngửa mặt lên không bắn tên, cho đến ngầm đặt bẫy rập, bí mật lắp lồng rọ, trăm kế lắm cách, chẳng thể nêu trọn, thật đáng than vậy!

 

          Văn: Khiến cho chúng vỡ mật, tan hồn, mẹ con chia lìa.

 

          Giải: Giăng lưới, quăng chài, thả câu, bắn tên như trên đây, trông thấy kinh sợ, [cầm thú] trông thấy tan hồn vỡ mật. [Loài vật] trúng thương tử vong, mẹ con chia lìa. Như người gặp cảnh đời loạn, binh hỏa lan đến thân, có khác chi đâu?

 

          Văn: Hoặc bị giam cầm trong lồng, cũi, như ở trong tù ngục, hoặc bị đao chặt, giống như xử tử.

 

          Giải: “Giam cầm” tức là bị nhốt chặt, chẳng khác nhà tù! Bị cắt chặt sẽ đau khổ như khi bị tru lục. Nếu đặt chính mình vào cảnh ấy, sẽ có tình tự như thế nào vậy?

 

          Văn: Con nai thương con, liếm vết thương mà đứt từng khúc ruột; con vượn sợ chết, nhìn bóng cây cung mà lệ ứa đôi hàng.

 

          Giải: “Con nai thương con”: Hứa Chân Quân[41] khi còn trẻ thích săn bắn. Một hôm, bắn trúng một con nai. Nai mẹ liếm vết thương [của nai con]. Hồi lâu sau, nai con tắt thở, nai mẹ cũng chết. Chân Quân mổ bụng nó ra xem, thấy từng tấc ruột đứt rời. Ấy là vì thương xót con bị chết, bi thương quá đỗi đến nỗi đứt ruột! Chân Quân hết sức hối hận, bẻ cung tên vào núi tu đạo, về sau chứng tiên phẩm, dẫn cả nhà phi thăng. Chuyện này chứng minh ý nghĩa “mẹ con chia lìa” trong phần trước.

“Vượn sợ chết”: Vua Sở và Dưỡng Diêu Cơ[42] đi săn. Thấy vượn, vua sai [Dưỡng Diêu Cơ] bắn. Vượn từ xa thấy Diêu Cơ bèn chảy nước mắt. Bởi lẽ, tay vượn mềm mại, nhanh nhạy, có thể bắt mũi tên. Diêu Cơ thần xạ, mũi tên bắn đến, tay vượn chẳng bắt kịp được, biết ắt phải chết nên đau buồn. Chuyện này chứng minh ý nghĩa “vỡ mật, tan hồn” trong đoạn trước.

 

          Văn: Ỷ ta mạnh mà hiếp chúng yếu, về lý sợ rằng chẳng nên. Ăn thịt chúng hòng bồi bổ thân mình, tâm ta sao nỡ?

 

          Giải: Xem hai chuyện trên đây, liền biết hết sức chẳng nên sát sanh. Hơn nữa, [cứ lý luận] “thịt của cầm thú con người đáng nên ăn”, chẳng biết đều là mạnh hiếp yếu! Nếu không, mãnh hổ ăn thịt người, cũng phải nên nói “thịt người đáng để cho hổ ăn” ư? Bọ ngựa ăn ve sầu, chim sẻ ăn bọ ngựa, ưng, diều hâu ăn chim sẻ, kẻ mạnh ăn thịt kẻ yếu. Lý này hết sức rõ ràng, chẳng còn ngờ chi! Hơn nữa, người đời cho rằng “kẻ ăn rau còm cõi, người ăn thịt mập mạp”, vì để béo tốt thân mình, chẳng nghĩ đến nỗi khổ của kẻ khác, cái tâm nhân từ để đâu?

 

          Văn: Do vậy, trời cao rủ lòng xót thương, cổ thánh thực hiện lòng nhân.

 

          Giải: Do cõi đời mê hoặc, cho nên sát khí xông tận trời. Trời vốn hiếu sanh, thường chỉ dạy dân đen, dân đen chẳng biết. Do vậy, sát sanh quá nặng, khiến cho mưa gió trái thời, binh đao, tai ương dấy lên. Người tu việc lành, ắt năm ấy trúng mùa, bốn biển phẳng lặng. Người đời sát sanh tức là nghịch thiên vậy. Do đó, thánh nhân thời cổ trên là thuận theo lòng trời, dưới là xót mạng loài vật, thực hiện lòng nhân cứu tế, chuyện ấy sẽ được thấy dưới đây.

 

          Văn: Mở lưới bởi Thành Thang, nuôi cá do Tử Sản khởi xướng.

 

          Giải: “Mở lưới”: Vua nhà Thương là Thành Thang xuất du, gặp thợ săn giăng lưới bốn mặt, mong cầu: “Từ trời đến, từ đất đến, từ bốn phương đến, đều vào trong lưới của ta”. Vua Thang truyền mở ba mặt lưới, chỉ lưu lại một mặt, đổi lời cầu mong thành: “Muốn đi về bên trái thì sang trái, muốn đi về bên phải thì sang phải, muốn lên trên thì lên trên, muốn xuống dưới thì xuống dưới; chẳng cần mạng thì vào lưới của ta”.

“Nuôi cá”: Quan đại phu nước Trịnh là Tử Sản được người khác tặng cá sống, Tử Sản không ăn, sai người hầu nuôi trong ao. Nhìn vào hai chuyện này, ắt biết phóng sanh không chỉ riêng Phật giáo, bậc quân tử trong nhà Nho không ai chẳng phụng hành.

 

          Văn: Thánh thay, Lưu Thủy, dùng túi đựng nước nhuần thấm bọn khô khao. Bi thay, Thích Ca, thay thế kẻ nguy vong mà cắt thịt.

 

          Giải: “Túi đựng nước”: Theo kinh Kim Quang Minh, trưởng giả Lưu Thủy ra ngoài chơi, thấy mười ngàn con cá vùng vẫy trong chỗ nước cạn nguy ngập, sắp chết. Ông dùng voi chở túi đựng nước đổ xuống, khiến cho chúng được toàn mạng. Lại còn vì chúng thuyết pháp, cá hết mạng đều sanh lên cõi trời.

“Cắt thịt”: Khi xưa, lúc Thích Ca Mâu Ni Phật làm Bồ Tát, thấy chim ưng đuổi bắt bồ câu. Bồ câu thấy Bồ Tát bèn gieo mình vào thân Ngài lánh nạn. Chim ưng nói với Bồ Tát: “Ngươi muốn cứu bồ câu, sao lại để ta chết đói?” Bồ Tát hỏi chim ưng: “Ngươi cần ăn gì?” Chim ưng đáp: “Ăn thịt”. Bồ Tát cắt thịt nơi cánh tay mình đền bù. Chim ưng muốn lượng thịt bằng với chim bồ câu. Bồ Tát cắt thịt, càng cắt, thịt càng nhẹ. Tới khi thịt sắp hết, vẫn chẳng thể bằng [trọng lượng của] bồ câu. Chim ưng hỏi: “Ngươi có sanh lòng hối hận hay không?” Bồ Tát đáp: “Ta chẳng có một niệm hối hận. Nếu lời này chẳng dối, sẽ khiến cho thịt ta sanh trưởng như cũ”. Thề nguyện xong, thịt nơi thân [hồi phục] như cũ. Chim ưng hóa thành thân Thiên Đế, lễ bái, tán thán trong hư không.

 

          Văn: Thiên Thai Trí Giả đào ao phóng sanh, tiên nhân nơi cây to thủ hộ chim làm tổ nơi thân.

 

          Giải: “Đào ao”: Thiên Thai Trí Giả đại sư, húy là Trí Nghĩ. Tùy Dượng Đế đặt hiệu cho Ngài là Trí Giả. Ngài từng đào ao, khuyên người khác phóng sanh. Hơn nữa, không chỉ ngài Trí Giả, xưa nay có nhiều vị làm chuyện này! Tây Hồ hiện thời cũng là ao phóng sanh thời cổ. Đời xa, người mất, thời thế biến đổi, pháp bị hư hoại. Ánh lửa thuyền chài như sao băng trên mặt nước, buồn thay!

“Thủ hộ chim”: Xưa có một vị tiên nhân, thường ngồi dưới một cội cây to để hành Thiền, nhập Định. Có con chim làm tổ trong lòng Ngài. Sợ kinh động chim, nên Ngài xếp bằng bất động, đợi chim làm tổ nơi khác rồi mới xuất Định. Cái tâm nhân từ đối với loài vật đến mức như thế đó!

 

          Văn: Chuộc loài có vảy mà đắc độ, thiền sư Diên Thọ hãy còn để lại lòng thương mến. Cứu rồng con lưu truyền cháu ngoan, phong thái từ bi của chân nhân chưa mất.

 

          Giải: “Chuộc loài có vảy”: Vĩnh Minh đại sư, húy Diên Thọ. Thuở Ngô Việt Vương (Tiền Liêu) trấn giữ đất Hàng Châu, Sư làm quan coi kho ở huyện Hàng, nhiều lần lấy tiền trong kho để mua các con vật như tôm, cá v.v… phóng sanh. Về sau, Ngài bị kết tội là người canh giữ mà tự trộm cắp, theo pháp phải bị tử hình ngoài chợ. Vua biết Ngài phóng sanh, truyền người hành hình quan sát sắc mặt của Ngài để tâu lên. Sư bước tới chỗ chết, mặt vẫn ung dung, mọi người lấy làm lạ. Sư đáp: “Tiền trong kho tôi chẳng dùng mảy may cho riêng tư, mà dùng hết để mua loài vật phóng sanh, chẳng biết số bao nhiêu. Nay chết đi, sẽ nhanh chóng về Tây Phương Cực Lạc thế giới, cũng chẳng sướng lắm ư?” Vua nghe nói bèn tha cho. Sư xuất gia làm Tăng, tu Thiền, lễ sám, đắc biện tài vô ngại. Sau khi Sư nhập Niết Bàn, có vị Tăng vào cõi âm, thấy vua Diêm La thường rời tòa, lễ hình tượng một vị Tăng. Hỏi han thì ra là thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ trong dương gian đã thượng phẩm thượng sanh Tây Phương. Vua kính mộ đức của Ngài, cho nên luôn lễ bái.

“Cứu rồng con”: Khi Tôn chân nhân[43] chưa thành tiên, ra ngoài gặp trẻ trong thôn bắt một con rắn, hành hạ gần chết. Chân nhân bèn mua lại, thả xuống nước. Sau đó, trong khi Ngài tĩnh tọa, một thanh y đến thỉnh, bèn đi theo. Đến một công phủ, tức là nơi cõi đời gọi là Thủy Tinh Cung. Vua mời ngồi lên tòa trên, thưa: “Tiểu nhi hôm qua đi chơi, nếu không có tiên sinh chắc đã chết rồi!” Đãi tiệc xong, vua lấy ra đủ thứ trân bảo để cảm tạ. Chân nhân từ chối chẳng nhận, bảo: “Tôi nghe nói cung rồng có nhiều phương thuốc bí truyền, xin truyền cho tôi cứu đời sẽ tốt hơn vàng, ngọc rất nhiều!” Vua bèn giao ra ba mươi sáu phương thuốc trong rương ngọc. Từ đó, chân nhân y thuật càng tinh tường, về sau chứng tiên phẩm.

 

          Văn: Cứu sống kiến, sa-di đổi đoản mạng thành trường thọ; thư sinh đổi hạng thấp thành đỗ cao. Do thả rùa, Mao Bảo lâm nguy mà thoát nạn, Khổng Du chức nhỏ mà được phong hầu.

 

          Giải: “Cứu sống kiến” gồm hai chuyện:

1. “Đoản mạng thành trường thọ”: Xưa kia có một sa-di hầu một vị tôn túc. Tôn túc biết sa-di bảy ngày sau sẽ chết, dạy nó trở về nhà thăm mẹ, căn dặn: “Bảy ngày sau hãy trở về!” Ý muốn cho chết tại nhà. Bảy ngày sau, sa-di trở lại, thầy lấy làm lạ, nhập tam-muội xem xét chuyện ấy. Thì ra trên đường về nhà, sa-di thấy bầy kiến bị ngập nước, bèn bắc cầu cho chúng nó vượt thoát, kiến không bị chết. Do vậy mà sống thọ.

2. “Hạng thấp được đỗ cao”: Tống Giao và Tống Kỳ là anh em, cùng đi thi. Tống Giao từng thấy bầy kiến bị nước ngập, bèn kết cầu tre cho chúng nó vượt lên. Khi đó, có vị Hồ tăng nhìn tướng mạo Tống Giao, kinh ngạc bảo: “Ông đã từng cứu sống mấy trăm vạn mạng”. Tống Giao thưa: “Nhà nho nghèo sao có sức làm được như thế!” Tăng nói: “Chẳng phải vậy! Hễ có sự sống thì đều là mạng”. Tống Giao thưa chuyện cứu sống kiến. Tăng nói: “Chính là đấy! Em ông sẽ đỗ đầu, nhưng ông cũng không kém hơn em”. Về sau, xướng danh, quả nhiên Tống Kỳ đỗ đầu. Triều đình nói “chẳng thể để em đậu cao hơn anh”, bèn đổi Tống Kỳ đỗ thứ mười, lấy Tống Giao đỗ hạng nhất, mới biết vị Tăng chẳng nói hư vọng.

“Thả rùa” gồm hai chuyện:

1. “Lâm nguy thoát nạn”: Mao Bảo lúc hàn vi, trên đường đi, gặp một người xách con rùa, bèn mua lại, đem thả. Về sau, ông làm tướng, thua trận, gieo mình xuống nước, cảm thấy trong nước có vật đỡ chân, bèn không bị chết đuối. Lên được bờ, thì ra vật đỡ chân chính là con rùa ông đã thả.

2. “Chức mọn được phong hầu”: Khổng Du là một viên quan chức vị nhỏ bé, cũng từng phóng sanh rùa. Rùa nổi lên trong nước, nhiều lượt quay đầu ngó Khổng Du. Sau đấy, bơi đi mất. Về sau, Khổng Du do công trạng được phong hầu. Lúc đúc ấn, cái núm hình rùa trên ấn, xoay đầu ngó lại. [Thợ đúc] bèn hủy ấn, đúc lại. Đúc bốn lần, [đầu rùa trên ấn] một mực xoay đầu ngó lại y như cũ. Thợ đúc hết sức kinh hãi, thưa với Khổng Du. Khổng Du bỗng sực nhớ lúc thả rùa, rùa quay đầu ngó lại, vỡ lẽ “được phong hầu” là quả báo của việc thả rùa!

 

Văn: Khuất Sư thả cá chép ở thôn Nguyên, thọ tăng một kỷ. Tùy hầu giúp rắn nơi ruộng Tề, được báo đền viên châu đáng ngàn vàng.

 

          Giải: “Thả cá chép”: Khuất Sư ở thôn Nguyên gặp một con cá chép đỏ, bèn mua lại, đem thả. Về sau, ông mộng thấy long vương mời vào trong cung, thưa: “Tuổi thọ của ông vốn đã tận, do ông cứu rồng, tăng thọ một kỷ (mười hai năm)”.

“Cứu rắn”: Tùy hầu sang nước Tề, trên đường thấy một con rắn bị vướng trong cát, sỏi, đầu nó chảy máu, bèn dùng gậy khều ra, thả xuống nước cho rắn bơi đi. Về sau, ông trở về đến chỗ rắn, rắn ngậm một viên châu đưa cho Tùy hầu. Tùy hầu không dám lấy. Ban đêm mộng thấy chân đạp một con rắn, kinh hãi tỉnh giấc, bèn được hai viên châu.

 

          Văn: Cứu vớt ruồi nhặng đã chết chìm, người làm rượu mắc tội tử hình được miễn. Thả con ba ba sắp nấu, tớ gái trong cơn bệnh ngặt được lành.

 

          Giải: “Cứu ruồi nhặng”: Một người thợ làm rượu thấy một con nhặng xanh rơi vào vò rượu, bèn vớt ra đặt nơi đất khô, dùng tro ủ khô thân nó, nước bị tro hút đi, con nhặng thoát chết. Lâu ngày như thế, cứu nhặng khá nhiều. Về sau, do [bị vu cáo là] qua lại với kẻ trộm, [bị tống giam], không thể biện bạch. Sắp kết thành án, vị quan xử án muốn nhấc bút ghi phán quyết, nhặng bu đầy trên ngọn bút, đuổi xong chúng lại bu, không phán án được! Do vậy, nghi là bị oan, tra hỏi cặn kẽ, thì ra là bị vu cáo. Gọi kẻ cướp tra hỏi, nó bèn khai thật. Do vậy, [người thợ ấy] được thả về. Ôi! Cũng lạ lùng thay!

“Thả ba ba”: Vợ chồng họ Trình tánh thích ăn ba ba. Một hôm, ngẫu nhiên có được một con ba ba to, dặn đứa tớ gái lo liệu. Khi đó, họ có việc tạm ra ngoài. Đứa tớ gái nghĩ tay mình đã giết ba ba chẳng biết là bao nhiêu, nay tâm muốn thả con ba ba to này, “ta cam chịu đòn roi vậy”, bèn thả vào trong ao. Chủ quay về tìm ba ba, thưa đã để lạc mất, bị đánh đập đau đớn. Về sau, cô ta mắc bệnh dịch sắp chết, người nhà cáng ra chỗ cái gác cạnh bờ nước để chờ chết. Đêm đến, bỗng thấy có vật từ ao bò ra, toàn thân đẫm bùn ướt, bôi quanh thân cô tớ gái. Cô ta bèn hạ sốt, bệnh liền lành. Chủ ngạc nhiên vì sao cô ta không chết, cật vấn. Cô thưa đầy đủ sự thật. Chủ không tin, tới đêm rình xem, thì thấy con ba ba đã lạc mất. Cả nhà kinh hãi, than thở, vĩnh viễn không ăn ba ba nữa!

 

          Văn: Mua tử mạng nơi nhà đồ tể, Trương đề h́nh hồn siêu thiên giới; đổi mạng thừa từ thuyền câu, Lý Cảnh Văn giải độc đan sa.

 

          Giải:Mua mạng nơi nhà đồ tể”: Trương đề hình[44] thường đến chỗ lò mổ, dùng tiền mua con vật đem thả. Về sau, khi sắp chết, ông bảo người nhà: “Ta đã phóng sanh tích đức sâu dày, nay thiên cung đến đón, sẽ sanh lên trời”. Ông an nhiên qua đời.

“Đổi sanh mạng nơi thuyền câu”: Lý Cảnh Văn thường đến chỗ người đánh cá đổi lấy những con vật bị bắt đem thả xuống nước. Cảnh Văn vốn thích uống đan được, thường dùng lửa luyện thuốc đan sa[45], nên tích nhiệt thành bệnh, lưng sanh ung nhọt, thuốc chẳng thể chữa được. Trong khi hôn mê, dường như có lũ cá nhả bọt, chất độc trở thành trong mát, thư thái, bèn được lành bệnh, cũng giống như chuyện ba ba báo đáp cô tớ gái trong bếp vậy!

 

          Văn: Tôn Lương Tự giải mối nguy bắn ná; chọn chỗ chôn, loài chim cùng giúp. Phan huyện lệnh ban lệnh cấm nơi sông, hồ, lìa nhiệm sở, thủy tộc buồn khóc.

 

          Giải: “Giải mối nguy bắn ná”: Tôn Lương Tự gặp chim chóc bị bắt, liền mua lại đem thả. Về sau, ông chết, sắp đem chôn, nhưng [gia cảnh] nghèo túng không làm thế nào được. Có mấy trăm con chim ngậm bùn đắp [thành mồ]. Người xem kinh ngạc, than thở, do lòng từ mà cảm vời đến mức ấy.

“Lập lệnh cấm ở sông, hồ”: Phan huyện lệnh cấm dân chúng chẳng được đánh cá nơi sông, hồ, kẻ vi phạm sẽ bị trừng phạt. Về sau, ông đi trấn nhậm chỗ khác, các loài trong nước phát ra tiếng kêu gào to lớn, như chôn cha mẹ, ai nấy đều nghe thấy, không ai chẳng than thở lạ lùng!

         

          Văn: Tín lăo dạy dân ngu chẳng sát sanh, khéo phù hợp mưa lành; chốn Tào Khê giữ lưới thợ săn, đạo truyền khắp Thần Châu[46].

 

          Giải: “Chẳng sát sanh”: Tín đại sư gặp lúc đại hạn, dân chúng toan sát sanh cầu mưa. Sư thương xót họ ngu si, bảo rằng: “Các ngươi nên bỏ các con vật đi, đừng dùng, ta sẽ vì các ngươi cầu mưa”. Dân chúng vâng theo. Sư dùng lòng tinh thành cầu đảo, mưa lành sầm sập trút xuống, xa gần nhiều người được cảm hóa.

“Giữ lưới”: Lục Tổ đã lãnh nhận tâm ấn từ Hoàng Mai, mặc quần áo thế tục, ẩn trong đám thợ săn. Thợ săn sai Tổ giữ lưới. Tổ canh lưới, hễ thấy họ không nh́n, gặp những con như hoẵng, thỏ v.v… có thể thả liền thả ngay. Làm như thế suốt mười sáu năm. Sau Tổ trụ nơi đạo tràng Tào Khê, rộng độ các phẩm, đèn chia thành năm tông, nhuận trạch muôn đời.

 

          Văn: Sẻ được cứu, ngậm vòng báo ân; cáo có thể vào giếng truyền pháp thuật.

 

          Giải: “Chim sẻ ngậm vành”: Dương Bảo thuở bé thấy chim sẻ vàng bị diều hâu đánh rơi xuống đất, lại bị kiến bu rúc rỉa, bèn nhặt lấy, nuôi trong lồng, cho nó ăn hoa vàng. Chim đã lành lặn bèn thả đi. Đêm mộng thấy bé trai mặc áo vàng đến bái tạ, tặng bốn chiếc vòng ngọc, thưa: “Tôi là sứ giả của Vương mẫu, nhờ ông cứu mạng. Nguyện con cháu ông trong trắng, đạt tới địa vị Tam Công, cũng như những chiếc vòng này”. Về sau, nhà ông bốn đời quý hiển.

“Cáo vào giếng”: Một vị tăng vốn là kẻ vô lại, nghe nói củ hoàng tinh có thể kéo dài tuổi thọ, muốn thử xem có hiệu nghiệm hay không. Hắn bèn bỏ hoàng tinh trong giếng khô, dụ người khác vào giếng, dùng tảng đá của cối xay đậy lại. Người ấy ở trong giếng, bàng hoàng, bức rức, chẳng có cách nào. Bỗng một con cáo vào giếng, nói với người ấy: “Ông đừng sợ, tôi sẽ dạy ông một thuật. Loài cáo chúng tôi thông thiên, đào hang nơi mộ, nằm dưới đó, mắt nhìn chăm chú nơi huyệt, lâu ngày sẽ có thể bay ra. Tiên kinh gọi đó là “thần (tâm thức) khiến thân hình bay lên” vậy. Ông có chú ý thấy cái lỗ trên tảng đá hay không? Xưa kia, tôi bị thợ săn bắt được, nhờ ông chuộc mạng, nên đến báo ân, mong hãy đừng hoảng hốt”. Người đó dùng kế ấy, hơn mười ngày bèn từ giếng bay ra. Tăng hết sức vui mừng, cho là hoàng tinh có hiệu nghiệm, bèn từ biệt đại chúng, mang hoàng tinh vào giếng, căn dặn “chừng một tháng, mở giếng ra xem”. Tới hẹn, xem thử, hắn đã chết cứng. Vì ông tăng đó chẳng biết người trước thoát ra là do sức của con cáo vậy. Buồn thay!

 

          Văn: Cho đến thân tàn được sống, rủ mình nơi vách trắng nghe kinh; chốn hoạn nạn cầu sanh, hiện áo vàng vào mộng.

 

          Giải: “Bạch bích nghe kinh”: Tôi tạm trụ tại một am. Có người bắt mấy con rết, lấy tre uốn cong đầu đuôi của chúng. Tôi mua lại đem thả, những con khác đều đã nửa chết nửa sống, chỉ có một con còn sống, vội vàng bò đi. Về sau, tôi cùng một người bạn ban đêm đang ngồi, trên vách có con rết. Lấy thước gỗ cực lực gõ đập chung quanh để đuổi nó đi, nó trọn chẳng đi. Tôi nói: “Khi trước được thả chẳng phải là ngươi đó ư? Ngươi đến cảm tạ ta đó ư? Nếu đúng là ngươi, ta sẽ vì ngươi thuyết pháp, ngươi lắng nghe, đừng động đậy”. Bèn bảo nó rằng: “Hết thảy hữu t́nh chỉ do tâm tạo. Tâm hung bạo hóa thành cọp, sói. Tâm độc hóa thành rắn, rết. Ngươi trừ độc tâm, có thể thoát khỏi thân hình này”. Nói xong, bảo nó đi, nó chẳng cần đợi đuổi, từ từ bò ra ngoài cửa sổ. Người bạn cùng ngồi kinh ngạc than là hy hữu! Đó là chuyện vào năm Long Khánh thứ tư (1506).

“Áo vàng vào mộng”: Can Thị ở Hồ Thự, Hàng Châu, có hàng xóm bị trộm. Con gái người ấy gởi mười con lươn để vấn an mẹ. Bà nuôi trong vò, quên khuấy luôn. Một đêm, mộng thấy mười người áo vàng, mũ nhọn, quỳ thẳng xin tha mạng. Bà tỉnh giấc, nghi hoặc, hỏi ý các thầy bói, họ nói: “Ắt có sanh vật xin được tha mạng”. Bà tìm khắp nhà, thấy trong vò có lươn lớn, đếm đúng mười con, hết sức kinh hãi, đem thả. Đó là chuyện vào năm Vạn Lịch thứ chín (1581).

 

          Văn: Hễ làm thì đều có báo ứng, chẳng phải là chuyện không có bằng chứng!

 

          Giải: Những người phóng sanh hoặc là tăng phước lộc, hoặc tăng thêm tuổi thọ, hoặc thoát nạn gấp, hoặc lành bệnh trầm kha, hoặc sanh lên trời, hoặc chứng đạo quả, hễ thực hiện đều được báo ứng, đều có chứng cứ. Vậy làm lành, đều cát tường đưa tới, người có tâm đạo há nên mong mỏi được báo đáp ư? Không mong được báo đáp mà báo đáp tự đến, nhân quả ắt là như vậy, có chối từ cũng không được! Người phóng sanh hãy nên biết vậy.

 

          Văn: Chép trong sách vở, rạng ngời tai, mắt.

 

          Giải: Rành rành có chứng cứ. Những chuyện sao lục trên đây, xa thì được chép trong sách vở, gần thì rành rành nơi tai mắt, cùng thấy, cùng nghe. Khảo xưa, nghiệm nay, chắc chắn chẳng phải là hư dối.

 

          Văn: Xin nguyện khắp [mọi người] hễ thấy loài vật, đều phát tâm từ bi, bỏ ra tài vật chẳng kiên cố để làm chuyện phương tiện.

 

          Giải: Từ đây trở đi, khuyên khắp người đời: Hễ thấy sanh mạng, đều phát tâm từ bi. Do vậy, bỏ tài vật trong thế gian để hành phương tiện ấy. “Tài vật chẳng kiên cố” tức là [tài vật sẽ] bị nước cuốn trôi, lửa đốt, quan đoạt lấy, trộm cướp mất, mong manh vô thường, chẳng phải là vật kiên cố. Bỏ thứ ấy để làm phước, đó gọi là “dùng tài vật chẳng kiên cố đổi lấy tài vật kiên cố”. Nếu chẳng có tiền tài, chỉ phát tâm từ bi cũng có phước đức. Hoặc là khuyên người khác phóng sanh, hoặc thấy người khác phóng sanh bèn tán thán tùy hỷ, tăng trưởng thiện niệm của họ, thì cũng là phước đức.

 

          Văn: Hoặc là ban ân chu toàn nhiều mạng, sẽ tích tụ âm công to lớn. Dù làm ơn cho một con trùng, cũng có gì chẳng phải là thiện sự!

 

          Giải: Người có sức thì ban ân chu toàn nhiều mạng, cố nhiên là âm công. Người không có sức thì ban ơn cho một con trùng cũng là thiện sự. Đừng nói “tiểu thiện vô ích” mà chẳng làm! Cõi đời có kẻ chẳng hiểu lý này, ắt chọn sanh vật thân nhỏ nhoi số nhiều thì mới chịu mua phóng sanh. Trên đường gặp con vật lớn, mắt lướt nhìn qua. Đấy là chỉ tham phước cho chính mình, chẳng thương xót nỗi khổ của chúng sanh. Phước ấy rất ít, hãy răn dè!

 

          Văn: Nếu lâu ngày chày tháng, tự hành rộng rãi, phước sẽ cao ngất.

 

          Giải: Thiện chẳng lớn, nhỏ, chỉ quý ở chỗ dài lâu! Ngày ngày tăng thêm, tháng tháng tích lũy, thiện nhiều thì hạnh rộng, hạnh rộng thì phước cao.

 

          Văn: Lòng từ đầy ắp nhân gian, danh thông cõi trời.

 

          Giải: Công đức từ bi tích tụ lâu ngày, trọn khắp hoàn vũ. Tình người đã nung đúc, lòng trời ắt quyến luyến. Chắc có kẻ nói trời xanh mờ mịt, sao có thể cảm thông? Chẳng biết thiên vương dùng sáu ngày trai tuần thú nhân gian, có thiện ắt biết, không điều ác nào chẳng xét. Lại do người hành Thập Thiện mà chư thiên chiến thắng, do con người hành Thập Ác mà Tu La chiến thắng. Do vậy, thiên đế lúc nào cũng muốn con người hành thiện. Một người hành thiện, phi thiên thần vương liền báo lên thiên kinh. Kinh đã có văn từ nói rõ, chẳng phải là nói mò vậy!

 

          Văn: Quét sạch oan chướng, lắm phước đức tụ tập trong đời này. Bồi đắp thiện căn, niềm vui thừa lan sang đời khác.

 

          Giải: Phóng sanh, chẳng giết chóc, chẳng gây oán kết với loài vật, không chỉ an lạc trong đời này, mà còn do thiện căn đó, được trường thọ, hưởng phước vĩnh viễn trong đời mai sau, cho đến thành Phật. Muôn loài hữu t́nh yêu mến, ngưỡng mộ, quy phục, đều là sự vui có thừa vậy!

 

          Văn: Nếu còn giúp sức bằng xưng danh hiệu Phật, lại còn tụng kinh văn.

 

          Giải: Gặp sanh vật có thể phóng sanh, tuy là công lao tốt lành, chỉ giúp cho sắc thân, chưa bồi đắp huệ mạng, càng phải nên xưng dương vạn đức hồng danh của A Di Đà Phật, phúng tụng các phẩm kinh điển Đại Thừa. Tuy là như vậy, phàm mua con vật để phóng sanh, hãy nên gấp thả, nếu chẳng tiện đọc kinh, chỉ nên niệm Phật giúp cho chúng. Nếu mua cách đêm, để đến sáng mới thả, hoặc mua vào buổi sáng, đến chiều vẫn còn sống, cứ ắt phải đợi trần thiết đạo tràng, nhóm họp nam nữ, chần chờ hồi lâu, quá nửa đã chết ngắc. Phóng sanh như thế chỉ là phô trương mà thôi!

 

          Văn: Vì chúng hồi hướng Tây Phương, khiến chúng vĩnh viễn lìa khỏi ác đạo.

 

          Giải: Do công đức niệm Phật, nguyện các sanh mạng hết một báo thân này vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, liên hoa hóa sanh, nhập địa vị bất thoái, vĩnh viễn lìa ác đạo, mãi mãi chấm dứt vòng khổ! “Ác đạo” tức là ba đường ác trong lục đạo là địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh.

 

Văn: Tâm niệm càng lớn, gieo đức càng sâu.

 

          Giải: Thấy khổ bèn phóng sanh, tức là ôm lòng thiện tâm, nay cũng là đại Bồ Đề tâm, cho nên nói là “càng lớn”. Phóng sanh được phước, cái được gieo chính là đức thế gian, nay chính là đức xuất thế gian, cho nên nói là “càng sâu”.

 

          Văn: Đạo nghiệp nhờ đó mà chóng thành, sanh trong phẩm thù thắng nơi đài sen.

 

          Giải: Tâm lớn, đức sâu, có sự nào chẳng hiệu nghiệm? Bởi lẽ, lợi tha là Bồ Tát hạnh. Dùng hạnh môn này giúp tu đạo nghiệp, ví như thuyền được thuận gió, ắt có thể nhanh chóng tới bờ kia Niết Bàn. Trong tịnh nghiệp tam phước, từ tâm chẳng giết thật sự đứng bậc nhất. Nay có thể chẳng giết, lại còn phóng sanh. Đã có thể phóng sanh, lại dùng pháp cứu tế, khiến chúng sanh về Tịnh Độ. Dụng tâm như thế, khi báo mãn, cao thăng chín phẩm đài sen chẳng còn ngờ! Khuyên khắp người đời, mong đừng vì tôi đức bạc, người hèn, mà chẳng tin tưởng lời này vậy.

 

8.2.4. Phóng sanh chú nguyện

 

          Phóng sanh xong, đối trước tượng Phật, chí tâm lễ bái, bạch rằng:

- Đệ tử tên là…. nhất tâm quy mạng Tây Phương Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, con tuân theo giáo huấn sáng suốt của vị đã thành Phật trước, nay hành phóng sanh, đã được chừng đó, do công đức này, nguyện tội nghiệp của con tiêu trừ, oan khiên cởi gỡ, thiện căn đã tu ngày càng tăng trưởng. Trong lúc mạng chung, thân tâm an ổn, chánh niệm phân minh, được Phật tiếp dẫn, sanh trong hoa sen nơi ao bảy báu nơi Cực Lạc. Hoa nở thấy Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn, trọn đủ Phật huệ. Do đại thần lực, phàm hết thảy các sanh mạng do con đã thả cùng với mười phương vô tận hữu t́nh đều được độ thoát trọn hết, thành vô thượng đạo. Nguyện Phật từ bi, xót thương nhiếp thọ.

Phát nguyện xong, niệm Phật một trăm câu, ngàn câu, vạn câu, tùy ư nhiều ít.

 

8.3. Phụ lục

8.3.1. Bàn về “điếu dặc” (câu cá, bắn chim)

 

          Luận Ngữ chép: “Tử điếu nhi bất cương, dặc[47] bất xạ túc” (Khổng Tử câu, nhưng không chài lưới, đi săn chẳng bắn con đang đậu). Tôi nghi là có sai sót, vì sao? Thánh nhân là bậc nhân từ tột bậc. Vì thế, vua Nghiêu lòng nhân như trời. Đã câu hay bắn, dẫu chẳng quăng lưới, chẳng bắn con chim đang đậu, tức là lòng nhân chưa cùng tột. Có người nói: “Vua Thuấn có đức hiếu sanh, chẳng bỏ việc tru sát tứ hung[48]. Câu, bắn há có khuyết điểm gì?” Chẳng biết tứ hung là kẻ có tội, chứ chim, cá có tội gì? Văn Vương ân trạch thấm đến xương khô, xương khô vô tri, chim, cá có tri giác, không lẽ Khổng Tử chẳng am hiểu tình cảm của muôn vật đến mức ấy ư?

Người khác tặng cá, Tử Sản nuôi trong ao. Tử Sản nuôi nấng, Khổng Tử đi câu! Tử Sản ban ân huệ cho người, Khổng Tử tàn nhẫn với con người ư? “Được ban tặng gà bèn nuôi chung với chim trĩ, chẳng ăn”, nhân đức, ân trạch của Khổng Tử ắt chẳng kém Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Tử Sản càng rõ. Do vậy biết: “Đạt tới cảnh giới trung hòa thì vạn vật được sanh trưởng yên vui”. Thánh nhân bình trị cõi đời, khiến cho chim, thú, cá, rùa đều sống yên vui. Chẳng nuôi nấng, chẳng giúp cho muôn vật sống yên vui, thì sao là Khổng Tử cho được? Như vậy thì người nước Lỗ săn bắn, Khổng Tử cũng săn bắn, có khác gì đâu? Đáp: Khổng Tử làm quan, có quan chức thì phải thuận theo mạng vua, bất đắc dĩ vậy! Nếu “câu, bắn” là do Khổng Tử tự làm, đối với chuyện có thể [tránh giết chóc, tổn hại] mà Ngài chẳng thực hiện[49], thì không đáng tin! Ý tôi cho rằng sau chữ Tử chắc là có chữ Viết: “Tử viết: - Điếu nhi bất cương, dặc bất xạ túc” (Khổng Tử nói: “Câu mà không thả lưới, chẳng bắn con chim đang đậu”). Tập tục chưa dễ tránh khỏi, đành thuận theo thói tục, vì đời Mạt mà dạy phương cách nhân từ; đó chính là lời nói của Khổng Tử, chẳng phải là việc làm của Khổng Tử vậy!

 

8.3.2. Viết sau Phóng Sanh Quyển

 

          Ba mươi lăm năm trước, tôi đã viết: “Sanh nhật chớ nên sát sanh”. Tuổi năm mươi, soạn kệ nói: “Sanh nhật chớ nên ăn mừng”. Nay đã mười phen nóng lạnh đắp đổi, tròn sáu mươi rồi. Các vị quân tử biết tôi, lại hết sức yêu mến tôi, chẳng sắp đặt lễ lạc mà dùng phóng sanh để mừng sanh nhật. Chắc có người nói: “Không sát sanh thì được rồi, sao chẳng mừng sanh nhật?” Ôi, mừng sanh nhật như thế tức là mừng vạn vật được sanh thành. Tôi chỉ sợ rằng người khác chẳng mừng vạn vật được sanh thành! Chắc có người nói: “Chim chưa duỗi cánh, người bắn đợi sẵn trong rừng. Cá chưa dương vây, kẻ đánh cá đã đầy bãi. Tuy nói là giúp cho nó sống, thật ra là hại cho nó chết! Kẻ ác còn đó, sao có thể phóng sanh?” Ôi! [Chim] bay liệng trên không, [cá] vào trong vực, được sống sót chẳng biết là bao nhiêu. Lại vướng vào lưỡi câu hay mũi tên, trăm phần chưa được một, mới rơi vào tay thợ săn, đợi đầu bếp nấu nướng, đoan chắc sẽ vào bụng của kẻ tham ăn. [Nay những con vật bị bắt] đành chịu nép mình nơi cửa chết, bỗng được giải cứu, tuy chưa bảo đảm kết cục [tốt lành] cho chúng, nhưng thoát khỏi dao, búa, trốn khỏi chảo, vạc, ví như sắp bị hành hình mà được xá tội, nỗi niềm vui sướng ấy là như thế nào?

Hơn nữa, ca múa nơi Tây Hồ, suốt năm chẳng có lúc nào ngơi. Giả sử các vị quân tử Xuân hoa, Thu nguyệt, sáng tiệc tùng, chiều tụ họp, hễ nâng đũa là vạn đồng, động ngón tay là cả ngàn mạng, nay đổi thứ tanh tưởi thành rau dưa, chuyển giết thành sống, so sánh lẽ được mất, khác nào trời với đất? Chẳng nói đó là hành vi thù thắng, tôi chẳng tin! Do vậy, bèn ngâm vịnh, ghép vào sau Phóng Sanh Quyển. Có bài từ rằng:

          - Thượng đế hiếu sanh, dân hèn tổn hại sanh vật. Bỏ tiền phóng sanh. Tham tiền bắt sanh vật. Do hai niệm sanh, nên có chúng sanh. Sanh vô sở sanh, cũng chẳng năng sanh, vô sanh bất sanh, gọi là phóng sanh.

 

8.3.3. Bài ký trùng tu chùa Thượng Phương, đào ao phóng sanh

 

          Vùng Vũ Lâm kể từ khi nhà Tống chênh vênh ở phương Nam, cư trụ quanh Hồ Sơn, các chùa thuộc Thiền, Giảng, Luật rực rỡ chen chúc, trở thành có tiếng trong thành. Cho tới nay, quá nửa bị chìm đắm, đến nỗi chẳng thể khảo cứu các truyện kư hay tự chí. Có chùa Thượng Phương dựa lưng vào tường thành, hai bên liền sát hai cửa Dũng Kim và Tiền Đường [của thành Hàng Châu], trước mặt thông với đường cái quan Tây Tỉnh. Chùa vốn được tạo dựng từ năm Trinh Minh thứ bảy (921) nhà Hậu Lương. Nhưng trong năm Cảnh Thái thứ tư (1453) của quốc triều[50], Tăng cho là khó duy trì, bèn bỏ đi. Chùa bị bỏ hoang, dần dần bị dân cư xâm chiếm, chỉ còn lại một phần mười. Ưu-bà-tắc Trầm Thiện Năng kết lều tranh tại đó.

Tới năm, Gia Tĩnh 23 (1534), quan Thượng Bảo Khanh[51] là Từ Lục Kiều xin phép triều đình, cho thuê đất nơi đó làm vườn. Ông không có con trai, để lại cho con gái, dặn trả lại nhà chùa. Con gái có hiếu lại hiền thục, cầm khế ước về nhà họ Vương, tuân theo lời cha dặn, trao cho Vân Thê, [cuộc đất ấy] bèn trở lại là đất của Tăng như cũ. Họ Vương qua đời, cư sĩ Tống Hóa Khanh nghe đạo nghĩa ấy, bèn đề cao. Hóa Khanh là con cháu của gia tộc nhiều đời ăn bổng lộc, tận lực dùi mài đạo đức, chuộng điều thiện chẳng chán, bèn góp tiền đưa cho nhà họ Vương, lấy lại khế ước. Tôi cũng dốc hết tiền riêng, cùng thiện tín mua lại cuộc đất cũ được chừng đó. Lấy vị trí chánh của chùa trước kia để làm dãy nhà ngang, xoay hướng chùa đối diện cửa thành nhằm đảm bảo sự u tịch, mong đời đời phụng sự Tam Bảo.

Do vậy, bàn bạc cùng đại chúng: “Thượng Phương vừa mới trùng hưng, lênh đênh, suy vi, hãy tu tạo, lo liệu như thế nào để được lâu dài?” Có người bàn bạc đốn cây cối, mở rộng điện đường, tụ tập nhiều tăng sĩ, tăng đông thì sẽ thường trụ. Tôi nghĩ chẳng phải vậy! Đang thuở mạt pháp, tháp chùa chẳng kiên cố. Thử gập ngón tay tính toán. Cửa tam quan hướng ra chốn phố thị, lầu chuông gác trống chẳng thể là hào lũy được! Tăng tuy nhiều mà hạnh thiếu, nhiều để làm gì? Xét ra, cuộc đất này gần thành, thành gần hồ, hồ phía ngoài cao, mà trong thành thì thấp, thuận theo đó đào thành kênh, gặp lúc hạn hán cũng chẳng thể cạn. Do vậy, tạo thành ao. Để tiện làm ao phóng sanh, đối với gian nhà cũ ở chỗ đất trống, sửa sang kèo rường đôi chút, chọn lấy hai ba vị tăng tín thành, sớm chiều Thiền tụng, ngõ hầu trên là chúc nguyện cơ đồ của hoàng thất, dưới là cứu vớt hàm thức, thì sẽ ổn thỏa vậy.

Có kẻ nói: “Loài vật nhiều như cát, bụi; ao như một cái muỗng, chứa đựng hữu hạn. Làm sao được? Kẻ đó nào có biết: Đào ao ấy là khởi đầu, là dẫn khởi, dẫn đến mở rộng ra, lại càng mở rộng hơn, sẽ mênh mông khắp cõi. Xưa kia, Tử Sản nuôi cá chỉ một chỗ nhỏ bé, khiến cho người nước Trịnh dù đại phu, dù quan chức, hay dân chúng đều làm như thế. Nước Trịnh và các nước Yên, Triệu, Tề, Sở cũng đều như thế thì ao vô lượng, nuôi nấng vô lượng. Nếu không, Tây Hồ là ao phóng sanh thời cổ, bảo là dung trọn khắp muôn vật trong vòng trời đất, há có lẽ đó ư? Hóa Khanh thưa: “Vâng, đúng như vậy”. Bèn cùng với em ông ta là Trực Khanh, các vị sĩ phu hiền đức, các tỳ-kheo, tịnh nhân, có người xuất tiền, có người quyên lương thực, sửa sang cuộc đất, cuốc, vét, đào bới, nạo vét dòng suối khô, dẫn nước, đắp đập, đắp đê kiên cố phòng khi nước lũ bị sụp đổ, xây tường vây, vun đất, lèn đá để ngăn ngừa hải ly và rái cá phá hoại, nhằm đề phòng kẻ ngoài xâm phạm bèn đắp tường đất kiên cố, lo cho [các loài vật] gặp phải nóng lạnh bèn trồng cây lấy bóng rợp, phía dưới thì giữ cho nước tràn trề, bận bịu lo toan suốt ngày đêm, nhọc nhằn chẳng nghỉ, ra sức hơn tháng, ao được hoàn thành. Ngay khi đó, [các con vật] từ trong lồng được thả, đang ở trong nồi mà được phóng thích, thoải mái vùng vẫy, thoát ra thảnh thơi. Trong vòng [cái ao nhỏ như] cái muỗng ấy, đủ để cho chúng nó thong dong.

Tôi vừa mừng vừa sợ, đảnh lễ trình với mười phương Như Lai, thần chủ ao, thần chủ già lam, nguyện do Phật lực, pháp lực, hiền thánh lực, thệ nguyện lực của chư thần, từ bi gia hộ, oai đức giáng lâm, khiến cho từ nay trở đi tới tột cùng vị lai, [ao phóng sanh này sẽ] thường là nơi an ổn cho các loài thủy tộc đội mai, mang vảy. Lại đảnh lễ thưa với các vị tăng đang trụ nơi đây và mai sau, nguyện dùng giới lực, bi trí lực, nghĩ tới nỗi khổ cứu vớt nhuần thấm [lũ cá đang bị] khô cạn của [trưởng giả] Lưu Thủy, ngài Thiên Thai dâng biểu dùng lời lẽ thẳng thừng để dứt đăng, đó, ngài Trí Giác (tổ Vĩnh Minh) lãnh tội hòng thành tựu lòng nhân, hứng chịu đao sắc mà chẳng hối, vẫn giữ mãi chẳng để hư hoại [ḷng từ], hòng tạo thành phong hóa cho bốn phương.

Những ai dám trái nghịch lời kết minh khi trước, học theo Đào Châu (Phạm Lãi) kiếm lợi bằng lưới, rập, hoặc hùa theo mọi người bán [những sanh mạng trong ao phóng sanh] cho hàng bạch y, thì gọi là trái nghịch Phật luật, phạm Ba La Di. Những người được gọi là Thích tử sẽ triệu tập tăng chúng làm yết-ma để tẫn xuất kẻ đó, chẳng cho cộng trụ! Tức là do kẻ đó cấu kết với ác thần, ắt thần sẽ ngầm trói buộc hồn họ, rành rành hủy hoại thân họ, chng thể trốn tránh. Nếu họ thoát được, khi báo thân đã tận, sẽ đọa trong Nê Lê, hứng chịu muôn điều khổ chẳng cùng tận. Vì lẽ nào vậy? “Ưa sống, ghét chết” là đạo trời, là lẽ thường tình của con người. Người xưa bỏ ra tiền tài khó bỏ, nhọc nhằn thân xác đáng mến, lập ra nghĩa cử thù thắng chẳng thường thấy trong đời ngũ trược, khiến cho [các con vật] mạng ắt phải chết được sống, đặt chúng nơi an toàn. Người đời sau nỡ lòng chẳng suy nghĩ sâu xa, chỉ cốt thỏa lòng riêng tư, trái đạo trời, nghịch tình người, bất tường là do trái nghịch, hung ác, bất tường thì tai ương đưa đến. Dùi đánh xuống, trống vang rền, bóng theo hình, cảm ứng tự nhiên, chẳng phải là nói dối để dọa dẫm.

Hóa Khanh và các đại chúng hớn hở, hoan hỷ, than là chưa từng có, thưa rằng: “Lành thay! Đấy là khuôn mẫu cho tăng tục vậy, chẳng thể khiến cho đời Mạt Pháp chẳng được nghe”. Bèn lập bia tại Thượng Phương. Tụng rằng:

          - Trùng hưng chốn đã diệt, lại kiêm được phóng sanh. Há chỉ diệt chẳng diệt, sanh cũng tướng vô sanh. Sanh diệt đều diệt rồi. Tịch diệt há trở ngại? Đã siêu hẳn các phương, không phương để nói Thượng. Không phương nói Tây Phương, ý cũng giống như vậy. Người xây chùa, đào ao, nguyện cùng hiểu ý này!

          Ghi vào ngày Phổ Môn Thị Hiện năm Vạn Lịch 28 (1600).

 

8.3.4. Bài ký về ao phóng sanh của Trường Thọ Am nơi cửa Bắc

 

          Tây Hồ là ao phóng sanh thời cổ. Pháp lâu ngày biến thành tệ, thực chất mất đi, chỉ còn danh suông! Thói tệ lâu ngày thành quen. Hồ luôn sanh ra thủy tộc, danh xưng [ao phóng sanh] cũng bị mê mất, dường như chẳng được nghe nhắc đến nữa. Năm Ất Mùi, tôi giảng diễn kinh Viên Giác tại Nam Bình thuộc núi Phật Quốc. Nam Bình vốn có một cái ao ở cửa tam quan. Khi đó, các vị có danh vọng làm chủ hội, quyên tiền mua cái ao để trồng sen trong đó, dứt hẳn ngư nghiệp. Nhờ vậy, mọi người biết ao phóng sanh là chuyện cũ của vùng Vũ Lâm; tôi lại đào ao ở Thượng Phương. Nơi cửa Bắc có vườn, trong vườn có ao, lại mua lấy. Vườn cách Thượng Phương theo trục Nam Bắc nửa câu-lô-xá[52], cho nên trong thành có hai ao phóng sanh.

Tôi vừa lập bia tại Thượng Phương, cho rằng đó là khởi đầu, từ khởi đầu sẽ dẫn đến lan tràn rộng ra. Xét tôi đức mỏng, tuổi già lụm cụm, chẳng đủ để tạo thành phong thái, chẳng biết người kế tục hưng khởi chuyện này sẽ được mấy ao? Thượng Phương khổ vì chật hẹp, chỉ có thể làm ao; ngoài ra chỉ có chút rừng trúc. Loài chim có thể ẩn náu, nương cậy trong đó. Ở đây khá rộng rãi, ao có thể mở rộng hơn, nhưng nước sâu đọng nhiều thành chằm, chỗ nước đọng bèn dùng đất be thành lũy, cao ngất như núi, vây quanh thành ranh giới, vòng quanh thành lối đi. Hãy nên trồng tre hoặc cây tại đó, chúng sẽ mọc rậm rạp thành rừng, khiến cho [loài chim] ríu rít chao lượn, vui sướng quên sầu. Tuy chưa thể mong làm chốn ngưng nghỉ cho các loài bay, lội trong muôn một, nhưng cứ tưởng tượng quang cảnh ấy, thì Thượng Phương chẳng thể sánh bằng được!

Phía Đông của vườn là thiền viện Hưng Phước, xoay sang phía Nam là Dưỡng Tế Viện. Lại xoay sang phía Tây là Đắc Nhất đạo viện. Dưỡng Tế xưa kia có hiệu là Bi Điền. Thánh chúa, hiền thần do thương xót nỗi khổ lênh đênh của dân chúng cô quạnh, không nơi nương tựa, bèn lập ra [viện ấy]. Nay thì loài vật khốn đốn vì cung tên hay mồi câu, rũ rượi nơi đao, thớt, chẳng thể trốn tránh, đợi bị nấu nướng, không nơi kêu cầu càng quá đáng. Mua lấy đặt vào ao nuôi, thả trong rừng, ngõ hầu chúng được trọn hết mạng tàn, lòng bi còn chi hơn được nữa? Đức Phật dạy tam phước, có nói “từ tâm chẳng giết”, nhưng trong ngũ phước thuộc cửu trù[53] của Cơ Tử, Thọ cũng là điều quan trọng nhất. Gần bị giết mà lại được tròn tuổi thọ, phước nào hơn được nữa? Đức lớn trong trời đất là sanh, đức của vua Thuấn là hiếu sanh, đức là một mà thôi! Trên trong lành, dưới yên ổn, vua chúa sở dĩ có thể phối ứng dài lâu trong vòng trời đất là do giữ vững thọ mạng của muôn vật, luôn thuận theo đạo ấy mà đạt được, còn chi hơn được nữa? Dấu tích lớn lao của ba vị thánh nhân Nho, Đạo, Thích như thế chân vạc ở ba phương, giống như giáp vòng bao lấy, vườn nằm gọn trong đó. Nơi ở của người có lòng nhân thuộc Khúc Phụ[54], cái thất từ bi của xứ Ma Kiệt Đà, nhà thiêng của Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân[55] do trời ứng hợp mà ngầm gần nhau, há có phải là chuyện ngẫu nhiên ư?

Cứu sanh vật sắp bị diệt bèn là có sanh, cầu cho chúng được sống mà chưa từng sanh nên là vô sanh. Sau khi đã vô sanh thì vô bất sanh, tức là sanh và diệt là một. Sanh và diệt là một thì phước hưng khởi mà vô tướng, lòng bi cứu tế vô duyên. Phước chẳng thể được, bi chẳng thể được, một cũng chẳng thể được, chỉ có pháp tánh thường trụ, chẳng đoạn, chẳng tiếp nối, giống như hư không. Kinh Phạm Vơng coi phóng sanh là pháp thường trụ, mà thường trụ là kim cang thân vô lượng thọ. Vườn nơi am có tên là Trường Thọ, trong vườn có mấy căn nhà tranh bỏ hoang, bèn sửa chữa để thờ tượng Tiếp Dẫn đạo sư và Đương Lai Từ Thị, hòng đặt ra chốn cầu bến để trước là hết thảy hàm linh đều sanh về An Dưỡng, dứt nỗi khổ luân hồi. Sau là sẽ được thọ ký trong hội Long Hoa. Số lều tranh chỉ giữ như thế, chẳng tăng thêm, cắt vị tăng giới hạnh thanh tịnh trông coi. Phương cách trông nom như đã nói trong bài ký chùa Thượng Phương. Bậc phụ lão trong làng nghe lời tôi nói, tiến đến nắm tay tôi, xót xa than thở: “Chúng tôi chẳng biết cội nguồn của vườn, chúng tôi còn kịp được thấy hai vị thiền nhân sống tại đó. Xưa kia là chốn già lam, nhưng rồi biến thành vườn rau, không cách nào trở lại như xưa, chúng tôi nào mong được thấy quang cảnh như hiện thời?” Trong chuyện này, người khởi xướng là tôi và ông Tống Hóa Khanh, nhưng do các vị thượng thiện nhân vui vẻ giúp sức mà được hoàn thành lợi lạc tốt đẹp như thế, bèn viết vào văn bia như vậy đó.

          Ghi vào ngày Phật Đản năm Canh Tý, tức năm Vạn Lịch 28 (1600).

 

8.3.5. Bi ký về ao phóng sanh chùa Thượng Phương tại Hàng Châu

 

          Ao phóng sanh tại Vân Thê bắt nguồn từ việc trung hưng chùa Thượng Phương từ cổ, Trường Thọ Am nối tiếp, đều do đại sư tự soạn bài ký. Thầy đã thị tịch, vị thượng thủ nghĩ giám viện do tôi là cư sĩ Quảng Ngụ ở Vị Dương đảm nhiệm, lại yêu cầu Thược Tân[56] soạn mấy lời để khắc vào đá. Tôi choáng váng, ngước trông những lời dạy của đại sư ba lượt, than thở Ngài bi trí viên dung, Không lẫn Giả đều diệu, chẳng trụ sắc thanh, hương, vị, xúc, pháp mà hành bố thí, chẳng lìa văn tự mà nói giải thoát, biển nguyện vô nguyện, nâng đỡ trọn khắp loài dị sanh. Than ôi! Cánh chim Ca Lâu La chẳng thể tiêu, tro Côn Minh[57] chẳng thể làm bẩn, Thược Tân còn gì để nói năng được nữa? Dẫu có nói, cũng thêm gì hơn được nữa! Nhưng tôi trộm nghe, mặn chẳng trừ được đắng, mơ chẳng trừ được ngọt, do chẳng tương đồng, nhưng luận theo mỗi sự thì canh là hòa hợp [các vị mặn, đắng, chua, ngọt ấy]. Đất, nước nơi chùa này là hang Na La Diên[58], do Tăng giữ thệ nguyện của Tăng, tục giữ trọn lời hứa của tục, ai nấy tuân theo bổn phận của mình mà thôi!

Đại sư răn nhắc tăng sĩ cũng như con cháu, cảnh chùa thâm nghiêm do bỏ chốn ca múa, ao là duyên ngăn trở dao, thớt. Ngài răn nhắc to lớn: Nếu chẳng có kẻ ham cầu, do đâu mà chợ dấy lên chuyện buôn bán [máu thịt]? Giết một mạng, chính là chôn vùi cả hai[59], sao kẻ ngủ mê chẳng tỉnh? Thược Tân chỉ lo liệu chuyện gần gũi, hời hợt bề ngoài, nhặt nhạnh ý kiến của kẻ khác, khác nào chỉ biết lặp lại ngôn luận của người khác, chẳng biết kế thừa chí hướng đó ư? Chẳng phải người hữu lực, sẽ chẳng thể thấu hiểu phương tiện nhỏ nhiệm của Sư. [Họ sẽ gàn bướng lập luận rằng]: “Đã nói là người hữu lực, sao không thỏa thích lòng ham muốn? Cứ ắt nhốt các sanh vật trong vườn, giam chúng nơi ao trong chùa, cho đó là việc làm đúng thời cơ?” [Có khác ǵ] thôn tính quốc gia nhược tiểu, nuốt chửng đất nước có chánh quyền mê muội, thừa cơ nước khác đang rối loạn mà công kích, chiếm đoạt đất nước sắp diệt vong, bảo đó là “chẳng còn có kẻ nào có thể uy hiếp, gây hại cho ta nữa”!

Ác nghiệt thay! Những kẻ đó ngỡ phú quý là vĩnh hằng, nhân quả chẳng đáng sợ. “Uống rượu suốt đêm, lúc suy rồi chỉ còn được một thạch. Mưu lược lấn át chủ, táng thân do ngáp hay duỗi mình”[60]. Chim khách chẳng được sống yên, bồ câu chẳng cùng một họ[61]. Sáu điều Như[62] trong kinh Kim Cang là nói về cầm, sắt, lụa, là, chẳng phải là nói về kinh kệ nhà Phật. Tới khi chết đi, hình bóng của tội thất giá[63] vẫn chẳng mất. Xưa là nồi, nay là cá; xưa là ngày, nay là kiếp[64], tan xương rục tủy như vàng bị nung chảy, vẫn còn nhớ thuở hung hăng chiến đấu như nước xối lên đá ư? Hiểu rõ thật vốn là hư, hư sẽ chẳng thể trói buộc! Chấp hư thành thật, thật chẳng thể tiêu! Đều từ tâm sanh, chẳng liên quan với người ư? Mượn cớ nói “chết rồi thì vô tri”, vậy thì duy trì gia tộc, chấn hưng tông tộc đối với kẻ vô tri thì có gì hòng để lại sâu dày mà hiu hiu tự đắc? Há có phải là lúc sống ăn xài, hưởng thụ phong phú, khi chết hồn phách mạnh mẽ, sống làm người to lớn, chết thành quỷ mạnh mẽ ư? Khăng khăng ngậm ngọc[65], có điều ác nào chẳng thể làm? Tức là chẳng biết đánh cá, săn bắt đã gây tai ương cho dòng họ Thích[66], châu lưu ly là đuốc nơi Thái Sơn. Bậc chủ của khí thế gian, trọn đủ sức bất tư nghì của Bồ Đề Tát Đỏa, vâng lãnh lời căn dặn nơi núi Kỳ Xà Quật, tới ước hẹn nơi Vân Thê, há lại chẳng tuân theo sự quở phạt nghiêm ngặt của Như Lai mà trừng phạt không thích đáng kẻ phá yết-ma?

Ắt chẳng phải vậy, ông Từ Thượng Bảo[67] bất hạnh khi biến chùa Thượng Phương thành vườn tược. May mắn là ông không có con trai, phần nào ít bị trói buộc, lại may mắn có con gái hiếu thuận, hiền thục, quyết vâng theo di mạng của cha để bù đắp lỗi trước, bán lại cho anh em ông Tống Trụ Tử và Tống Hóa Khanh, hợp sức kiến tạo thành chùa để nêu bày trí quả, ao thấm đẫm Bi Hoa, há chẳng phải là vâng theo hạnh Lưu Thủy của ngài Vân thê, hành theo nghiệp của Thiên Thai và Trí Giác, hòng đạt lên chín phẩm sen, gởi thân trong ba hội [Long Hoa], khiến cho [các thiện hạnh ấy] được hưng khởi, chẳng diệt mất, ngõ hầu đáp tạ ân lồng lộng của cha mẹ nơi vô sanh ư? Nếu con trai chẳng do họ Tống, con gái chẳng do họ Từ, bậc trí mưu tính sẵn, ai sẽ có phần may mắn [thực hiện được]? Thời cơ tốt đẹp giúp cho, uốn nắn sự trầm mê, rối ren, họ hàng giúp đỡ, xóm giềng cảm tạ. Cẩn thận chẳng theo thói “nai khoác da cọp” đến nỗi dẫn đến mối lo “voi bị đốt thân vì có ngà”; đấy chính là lời thề Ba La Di của chúng ta vậy. Nơi Đồng Hương có Phóng Sanh Xã, đại sư rủ tay báu từ xa, suất lãnh tứ chúng, cứu độ tai ách lưới, chài trôi nổi trên sông, [nơi ao phóng sanh này] có ruộng, có nhà tranh, giữ cho pháp hội được vĩnh viễn thì sự giáo hóa càng thêm lợi ích. Ao ở gần vòng thành, dùng A Lan Nhã để giáo hóa. Cây to rợp bóng, noi theo quy củ của Thượng Phương và Trường Thọ. Vũng nước nhỏ (ao phóng sanh) được nhiều thêm, nhờ vào đây mà khởi đầu, nhân duyên huân tập, rộng khắp vùng lân cận, cũng có thể nói là vẫn hành theo chí của phu tử. Trong các ưu-bà-tắc của Vân Thê, Tư Huân[68] Trường Nhụ huệ nghiệp bậc nhất. Viết xong bài ký, gửi thư báo cho vị Giám Viện tháp lập đã xong, Tây Hương thỉnh vời, Trường Nhụ gật đầu, tức là đá gật đầu vậy!

          Tứ tiến sĩ xuất thân Hàn Lâm Viện Quốc Sử Biên Tu ưu-bà-tắc Quảng Thược Ngô Ứng Tân ở Đồng Hương soạn văn.

          Tứ tiến sĩ xuất thân triêu liệt đại phu Quốc Tử Giám Tế Tửu cư sĩ Long Miên Hà Như Sủng ở Đồng Thành khắc chữ triện.

 

8.3.6. Lời tựa ghi sau Giới Sát Phóng Sanh Văn

 

          Kiêng giết chẳng phải là ý của nhà Phật, mà là ý của bậc tiên thánh bên Nho. Thời thượng cổ, dân chưa biết cội nguồn cơm áo, sống lẫn lộn với cầm thú, tận lực giao chiến, may mà thắng thì ăn thịt nó, lấy da nó làm quần áo. Bất hạnh chẳng thắng, nát thân nơi nanh của chúng cũng chẳng thể tính kể. Thánh nhân dạy dân cày cấy, gieo trồng để có cái ăn, dùng dệt, bện để làm áo, uốn cung, chế tên, nhà cửa nhiều lớp cổng để bảo vệ dân chúng khỏi bị cầm thú làm hại, mà cũng chẳng còn nhờ chim, thú để mưu sinh. Thánh nhân thường chẳng quên “cùng sanh trưởng, chẳng tổn hại nhau”. Vì thế, rồng, rắn tột bậc hung hãn, hổ, báo, tê giác, voi tột bậc mạnh bạo, vua Vũ và Châu Công bất quá đuổi chúng ra xa mà thôi, chẳng giết tận loài đó. Ý của thánh nhân là thường chú trọng chẳng giết, nhưng dân quen thói lợi hại của cầm thú, ngỡ giết chóc là có lợi, không giết là có hại, cho nên chưa thể ra lệnh cấm giết. Do vậy, trong chế định về lễ, đã nhấn mạnh rằng: “Quốc quân vô cố bất sát ngưu, đại phu vô cố bất sát dương, sĩ vô cố bất sát khuyển, trư” (Vua không có duyên cớ sẽ chẳng giết trâu, đại phu không duyên cớ sẽ chẳng giết dê, dân chúng không có duyên cớ sẽ chẳng giết chó, lợn). Ắt phải có duyên cớ mới giết, cho nên giết chóc hiếm hoi. Lại nói: “Thiên tử bất hợp vi, chư hầu bất yểm quần, phạt nhất thảo mộc phi kỳ thời viết bất hiếu, điền bất dĩ lễ viết bạo thiên vật” (Thiên tử [đi săn] chẳng bao vây bốn mặt, chư hầu chẳng lùa bầy thú tụ lại một chỗ, chặt cây cỏ không đúng thời là bất hiếu, làm ruộng chẳng tuân thủ lễ pháp[69] gọi là bạo ngược đối với vật của trời). Phu tử (Khổng Tử) câu mà không quăng lưới, không bắn chim đang đậu. Tề Tuyên Vương chẳng nỡ giết một con trâu, Mạnh Tử hết sức khen ngợi là tốt đẹp, cho là có thể che chở dân, đạt tới vương đạo. Do vậy biết ý của thánh nhân là thường chú trọng chẳng giết chóc, chỉ cho phép khi chẳng thể không giết! Vì thế, lễ để phòng thái quá, nhưng cõi đời giết chóc bừa bãi; do vậy nói: “Giết chóc cố nhiên là giáo huấn của bậc tiên thánh Nho gia!” Người nước Lỗ săn bắn, Khổng Tử cũng phải săn bắn, noi theo phong tục để giáo hóa, hướng dẫn dân chẳng tranh chấp, bèn nói “săn bắn vốn xuất phát từ Khổng Tử”, há chẳng trái nghịch ư?

Tôi thấy thời loạn lạc Ngũ Đại, giặc cướp gom người để làm lương thực, tính số đầu người coi như số thưng, đấu [gạo thóc], kẻ già yếu bị giã xương như giã gạo, thóc, lột da, xẻo vú, khoe là món canh ngon. Trẻ nít vô tri, quen dùng giáo đâm chọc [những người bị lôi ra làm thịt] để đùa bỡn. Tới nay bàn đến, vẫn xiêu hồn, lạc phách, ruột gan nhức nhối, nhưng người đương thời điềm nhiên chẳng thấy quái lạ, gì là tội, gì là cừu, khổ độc cùng cực như thế đó! Cái thuyết oan nghiệp báo ứng trong nhà Phật đương nhiên chẳng phải là hư dối. Nếu chẳng cho đúng là như vậy, cũng là do con người quen thói thích giết chóc, giống như người đời giết mổ đã thành thói quen! Nay chim thú tan đàn xẻ nghé, biết bao giờ được trở về quê cũ, bay lòng vòng, kêu gào, quẩn quanh, vật vã, người hữu tâm nghe tiếng chúng giãy giụa nơi thớt, vật vã trong vạc sôi sục, chưa từng biến đổi sắc mặt! Chim thú nhìn con người hiện thời, khác gì người thời nay nhìn lũ giặc? Than ôi! Một bữa no nê ngon lành chi đâu, chúng sanh khổ sở dường nào! Nếu thật sự tin báo ứng sẽ xảy đến cho chính mình, ắt sẽ chẳng phải [thờ ơ] như vậy. Quen thói như thế, lòng trắc ẩn đặt nơi đâu? Cũng đáng sợ thay!

Hơn nữa, thời cổ quen đấu đá lợi hại cùng cầm thú, đem so với sống trong cõi đời hiện thời, lại còn kém xa! Nay hằng ngày chú trọng mổ, xẻ; gà, cò, cá, tôm, sống đã chẳng gây hại gì cho người, nhưng do vui chơi, [con người] bèn dẫm đạp, quăng ném. Kiến, muỗi, thiêu thân, giết chúng chẳng có lợi ích gì cho chính mình! Con người chỉ xét đến lợi hại thiết thân, chẳng thể giáo hóa, khuyên dụ được. [Đối với các loài] chẳng lợi, chẳng hại mà tập thành thói giết chóc, đã tổn thương sanh vật, lại còn tàn hại tánh của chính mình. Than ôi! Cũng phải nên ngưng dứt! Đấy chính là lúc thánh nhân dạy dân chớ nên giết, nhà Phật bèn ứng cơ xiển giáo. Do vậy, nói: “Sát sanh chẳng phải là ý riêng của nhà Phật mà là ý của tiên thánh bên Nho”.

 Than ôi! Thánh nhân dùng lễ lập ra lời răn, nhà Phật dùng giới để duy trì lễ. Người đời nay do mặc sức tham ăn mà vượt lễ, lại mượn lễ để hủy giới, cũng là tàn nhẫn, bạo ngược, phóng túng quá mức. Phá thói quen không gì bằng giới, cứu chữa giết chóc không gì bằng tánh. Nếu dân do ly loạn, bị bắt bớ, mà có kẻ mạnh mẽ, phá nát gông cùm, [khiến họ] thoát khỏi đao, vạc, vẫn thấy thân thích khóc cười ôm nhau, tán thán hoan hỷ. Còn chi vui hơn! Loài vật đáng phải chết, được thả vào vực trời, trở lại rừng sâu, có khác gì như thế? Lại có bậc đạo sư thuyết pháp trong lũ giặc, khơi mở tâm từ của chúng, [khiến chúng] vĩnh viễn chẳng ham giết chóc, quăng giáo, buông gươm, lại thấy thái bình, còn gì tốt lành hơn? Người đời kiêng giết, cứu giúp trọn khắp hữu t́nh, loài trùng nhỏ nhoi ngọ ngoạy, bay lượn, mọi con vật đều được sống yên, há chẳng phải là đức đại sanh của trời đất, là ý “một Thể” của thánh nhân ư? Chao ôi! Người hữu tâm nghĩ tới nỗi khổ bị giam giữ, tưởng niềm vui thoáng đãng, suy xét cái nhân báo ứng, thông suốt ý chỉ của lễ giáo, kiêng giết như chính mình bị giết, phóng sanh như chính mình được thoát chết, ngõ hầu chẳng phụ cái lưỡi ra rả răn nhắc của cụ Vân Thê. Than ôi! Kiêng giết, phóng sanh tột dễ; sanh tử tột đau buồn, chẳng nghĩ ngợi ư?

Thiên sách này đã được khắc in nhiều, mà bản khắc ván của huynh Khắc Tĩnh càng tinh tường. Nhân quả nhà Phật đã được trình bày cặn kẽ trong lời luận định của cụ Vân Thê, phù hợp khít khao với giáo huấn của nhà Nho chúng ta như thế đó!

Tháng Chạp năm Ất Tỵ, đệ tử Cố Vân Hồng ở Hải Ngu chắp tay kính soạn.

          Bồ Tát giới đệ tử Huệ Văn đới lãnh con là Tánh Trạch bỏ tiền kính ấn tống. Kính mong các loài trong nước, trên mặt đất, bay trên không đều được cứu độ, vãng sanh Tịnh Độ, chứng ngay vào Bồ Đề.

          Viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ vào tháng Chín mùa Thu năm Quang Tự 23 (1897).

 

8.3.7. Tiểu Vân Thê Phóng Sanh Ký (khắc kèm thêm)

 

          Thiền viện Tiểu Vân Thê do các vị quân tử cùng làng kết tịnh xã, rộng hành phóng sanh mà lập ra. Trước hết, tính khôi phục quy chế phóng sanh thời cổ tại Lục Kiều ở Tây Hồ, bẩm báo lên vị đại trung thừa[70] thuộc Tuần Phủ Viện hiện thời, đã được chấp thuận. Nào ngờ tiến hành việc đã bàn thì chẳng thuận lợi. Khéo sao ở phía Đông của thành có Dư Am, trước kia là nhà ở của họ Dư, nên đặt tên là Dư Hậu. Các vị tiên sinh Cố Tốc Viên, Tôn Tuân Sĩ kết hợp với tịnh xã, tiền bối Lương Sơn Châu viết biển đề, đổi tên là Dư Am. Am cố nhiên có chánh điện, có nhà ngang, có trượng thất (thất của vị phương trượng), có liêu phòng, giáp vòng hơn hai mươi gian, lại có ao to rộng hai, ba mẫu. Vị tăng trụ nơi đó là Liên Ấn không có đồ đệ, nguyện xả am đã lâu. Các vị quân tử có được am ấy, quả thật là cái nhân tốt đẹp!

Thấy cuộc đất sạch sẽ, khoáng đãng, tuy chuồng trâu, chuồng dê, cũi lợn, chuồng gà, không có chỗ để xếp đặt, nhưng chẳng buông bỏ cái tâm cứu giúp trọn khắp. Do vậy, gần đó có am gọi là Pháp Hoa, vị tăng chủ am tên là Tĩnh Học và Đức Hoài cũng vui vẻ quyên tặng để hoàn thành công đức. Lại có am tên là Hoa Nghiêm, chẳng được cúng bái đã lâu, vị tăng nơi am ấy mệt mỏi, bèn quyên tặng. Giữa hai am, có một khoảng đất trống cách biệt với am khác, cũng mua để nối liền cuộc đất. Lại mua mấy gian nhà dân bên cạnh, thấy quy mô cũ của Dư Am đã được khai thác quá nửa, bèn vây quanh bằng tường dài, có cầu đá nối nhau, dựng gác trên mặt nước, trồng tre, cây. Chỗ chim, thú chẳng thể lộ ra, bèn lợp lại mái. Những loài thủy tộc chẳng nên ở chung một chỗ bèn ngăn ra nuôi riêng trong ao. Chỗ cũ thì tu bổ, chỗ hư nát bèn xây lại, chỗ thiếu thì tăng thêm, trải qua một năm bèn hoàn thành, bèn đặt tên là Tiểu Vân Thê. Bởi lẽ, Vân Thê là đạo tràng do Liên Trì đại sư khôi phục, chuyên chú trọng niệm Phật, phóng sanh, siêu thoát tam giới theo chiều ngang. Ngài lại còn sáng lập hai chùa Thượng Phương và Trường Thọ trong thành để tiện phóng sanh. Tôi thường đọc bài bi ký do Ngài tự soạn có câu: “Dẫn khởi mà mở rộng ra, lại càng mở rộng thêm, sẽ mênh mông trọn khắp cả nước”. Lại nói: “Chẳng biết người kế tục mà hưng khởi, sẽ được mấy ao?” Than ôi! Biển nguyện vô nguyện đủ loại như thế, hai trăm năm qua, trọn chẳng có người tiếp nối. Các vị quân tử đều xướng “khéo đến”, sẽ khiến các loài kêu hót chiêm chiếp, líu ríu, cạp cạp, quang quác được sống yên, rạng rỡ hơn nơi chân núi Ngũ Vân, quây quần hòa thuận, sẽ khiến cho chúng rộn rịp, hớn hở, thoải mái, thong dong, bơi chạy lượn lờ, hoặc tung tăng, như vào Thượng Phương hoặc Trường Thọ, thấy đầy ắp mọi loài, nhưng chẳng chật chội, vẫn chỉnh tề sạch sẽ, chẳng chen chúc, luôn giữ sự thành tín. Khi ấy, tăng tục cùng xướng kinh kệ, lảnh lót cả một góc thành Đông. Phía Bắc lại dựng ba gian nhà, thờ tượng thầy, há chẳng phải là ý “tánh tướng thường trụ để nhờ vào đó, trên là cầu chúc cơ đồ hoàng thất, dưới là tế độ hàm thức ư?

          Nguyễn Đại Trung Thừa đặt tên cho cái thất ấy là Biện Liên (瓣蓮); do vậy, dẫn đến điều tốt lành như hiện thời, hết sức sâu dày vậy. Ba chữ Tiểu Vân Thê là do khi xưa Châu Trung Giới Công ghi tại Long Thọ Am ở Tô Châu, cũng do Trung Thừa viết lời bạt đề biển ngạch tại các viện. Nhưng khi các vị quân tử đặt tên viện, vẫn chưa biết đều đó, mà ngầm khéo hợp. Hoa Nghiêm Am do cư sĩ Di Cung quyên mộ khắc Hoa Nghiêm Sớ Sao, tàng trữ làm của báu; nhưng khi người xưa đặt tên am cũng đâu có biết trước mà ngầm phù hợp. Truy lại xưa kia, khi họ Tiền (Ngô Việt Vương Tiền Liêu) vào đời Tống sáng lập Vân Thê, chẳng biết có thầy (tổ Liên Trì) sẽ trùng hưng, cũng chẳng biết các vị quân tử lại có Tiểu Vân Thê. Chẳng xưa, chẳng nay, nhân quả hiển hiện, đúng là chẳng sai chạy mảy may. Chắc có người nói:Kiêng giết nghiêm ngặt, chuyên phóng sanh, đó là công đức trong Phật môn, chẳng phải là chuyện của nhà Nho!” Chẳng biết Nhan Lỗ Công (Nhan Chân Khanh)[71] hễ tới trấn thủ quận huyện nào, cũng đều lập ao phóng sanh tới tám mươi mốt chỗ. Bạch Lạc Thiên (Bạch Cư Dị) cũng có nghi thức phóng sanh, trong Đông Pha Tập chép rất nhiều bài thơ phóng sanh; đó là cái tâm “nhân từ với dân, yêu thương loài vật” của bậc sĩ quân tử, khác gì Từ Thị (Di Lặc Bồ Tát) ư? Như vậy thì nghĩa cử này tuy vốn là ý khuyến thiện của Liên Tŕ đại sư, nhưng thật ra là lòng thành ưa chuộng điều thiện của thánh hiền, sao chẳng biết kéo dài dằng dặc, Tiểu Vân Thê nối tiếp mà hưng khởi, hoặc lại khôi phục quy chế phóng sanh nơi toàn bộ cái hồ ư? Cố nhiên các vị quân tử chẳng biết trước được, nhưng nhân bao trùm biển quả, quả thấu triệt nguồn nhân, chưa từng chẳng thể biết trước để mong mỏi được! Vì thế, viết thành bài ký.

          Rằm Trung Thu năm Bính Dần, tức năm Gia Khánh 11 (1806), đệ tử Phật là Dương Viết Lễ soạn và chép.

 

8.3.8. Hiếu Sanh Ý Tập - 好生懿集 (khắc kèm thêm)

 

          Mùa Hạ năm Giáp Tý, nhằm năm Gia Khánh thứ chín (1804), các học trò thuộc viện Tử Dương Sùng Văn như Trương Hiệp v.v… cầu thỉnh Đô Chuyển[72] là Dương công mỗi ngày quyên tặng một phần chi phí thắp đèn để làm thiện cử phóng sanh, bẩm rõ với vị cai quản Diêm Viện[73] là Diên Công. Hai năm sau, nhằm năm Bính Dần (1806), chư sanh[74] tại Phu Văn như Đồng Nhân Kiệt v.v… phỏng theo lệ của Tử Dương Sùng Văn, thỉnh quan Giám Ty là Nhạc công bẩm rõ với quan Trung Thừa là Thanh công, các thân sĩ như Trầm Tư Hoa v.v… tám người, cùng coi sóc chuyện ấy. Mỗi tháng, ở Tiểu Vân Thê thuộc phía Đông của thành, thỉnh tăng thuyết pháp, tụng kinh, trên là cầu chúc cơ đồ của hoàng thất, cầu mưa gió đúng thời, nhằm báo ân vua. Con vật bán ở ngoài chợ giá bao nhiêu đó, cùng ghi giá vào sổ, kê khai, kiểm chứng, đóng dấu của chùa, cuối năm kết toán sổ sách, vĩnh viễn lấy đó làm lệ. Từng suy xét Bạch Lạc Thiên có nghi thức phóng sanh, Chân Tây Sơn[75] có lời răn kiêng giết, Nhan Lỗ Công hễ trấn thủ quận huyện nào cũng đều lập ao phóng sanh tám mươi mốt chỗ, cầu xin triều đình ban lời vua răn dạy để mong [thiện cử ấy] chẳng bị bỏ phế. Theo cái nhìn nông cạn của bọn hủ nho, cứ bảo đó là [thiện sự thuộc] Thích, Lão, há chẳng sai lầm ư? Tôi mong nhiều vị cùng lên cõi Nhân Thọ (sống thọ do có ḷng nhân), ngõ hầu biết quốc gia “hưu dưỡng sanh tức”[76] tột bậc như thế đó. Do vậy, thuật lại chuyện này để ghi nhớ.

          Quốc Tử Giám Tế Tửu Ngô Tích Kỳ ở Tiền Đường viết.

 

          * Hiếu sanh là nghĩa bậc nhất của Nho gia, Kinh Dịch giải thích hào thượng của quẻ Phệ Hạp, nói: “Ác tích bất khả yểm, tội đại bất khả giải” (Điều ác chất chứa chẳng thể che giấu, tội lớn chẳng thể giải). Châu Tử soạn sách Tiểu Học, cuối cùng nói một lời “nhai gốc rau”[77], ý răn dạy cũng sâu! Kẻ căn cơ bậc hạ đối với cái ải ăn uống sẽ khó phá, chẳng nói “tứ sanh tất súc” (được ban cho con vật sống bèn nuôi nó), mà nói “chẳng bỏ câu cá, bắn chim, há chẳng phải là ý chỉ nhỏ nhiệm do thánh nhân hiện thân thuyết pháp ư?” Bậc tiên đức nói: “Sát nghiệp bất như cái thực” (Gây sát nghiệp chẳng thà ăn xin mà sống). Những cửa tiệm thuốc của các y gia, tuy hiền hơn bọn đồ tể, thợ săn rất nhiều, nhưng phần nhiều chẳng khá giả, phú quý tiêu vong, tuy hành nghĩa mà chẳng cứu [vớt sanh mạng][78], lỗi ở chỗ nào? Hội này do ông Trầm Thư Hoa sáng lập, em họ của ông là Khởi Tiềm tán thành. Cuối mùa Xuân năm sau, viện Sùng Văn tổ chức khảo hạch sĩ tử, ngày hôm sau, giảng đường nghiêng đổ, nhưng không ai bị tường đè. Năm kế đó, được mùa to, lý vốn là như vậy. Ghi lại để thưa với người có cùng chí hướng.

          Giang Bộ Thanh ở Tiền Đường ghi.

 

          - Lưu Dung:

          Riêng đối hoa mai cười, ăn chay ngày nhiều hơn. Mừng nghe nhiều cử sĩ, kiêm được sách Viễn công. Chuộng đạo, thấy Chân Như. Quán tâm, thương loài vật. Tiền giang lâu chẳng tới, hữu nguyện chẳng lâu thành!

 

          - Châu Khuê:

          Niềm vui hành điều nhân, là vốn để học đạo. Chẳng thẹn với cổ đức, kiêm cứu tế đương thời. Run sợ luôn cẩn thận, thành quy củ lớn thay. Mọi người chắc thấy lạ, nhưng đại nhân nên hành. Bởi không chỉ thọ khảo[79], còn hiển lộ viên dung. Những người trong rừng Nho, hãy đều nên gắng sức.

 

          - Lương Đồng Thư:

          Đốt hương, ăn chay, tưởng cao tiết. Đợi được ghi danh nơi bảng chùa, ý nguyện chẳng hoại trong trần kiếp, gió Xuân lại lùa Tiểu Vân Thê.

          Hổ thẹn tham ăn lỡ một đời, nhai nuốt rau dưa trọn lòng nhân. Lẽ sống chỉ mong chen được chỗ. Nai kêu, cá nhảy, tiếng ca vang.

 

          - Uông Chí Y:

          Thánh cuồng cốt nhận biết. Giúp ngặt, thường kiên tŕ. Kẻ chẳng tin hủy báng, chí này nghiệm cát, hung. Thiên chân định vĩ đại, chế ngự được tấc lòng. Hành xử trọn ngàn đời, chẳng a dua theo người.

 

          - Tần Doanh

          Phong vận xuân hòa vịnh bài thơ, kiếp thừa thường giữ nếp kiên trì. Hiếu sanh ta cũng mong cao đạt. Rau mới, kê vàng qua bữa thôi!

 

* Thơ của hội phóng sanh Tiểu Vân Thê (dùng vần trong bài Kỳ Đình của Tô Đông Pha)

Ngô Tích Kỳ soạn

 

          Hâm mộ Thái Thường Trai; vạc, thớt thôi tanh tưởi. Dứt hẹ, hương tự thanh. Móng ngắt, sương còn ướt. Kinh động, chúng nhảy bay. Vui thích được sống sót, loài vật đều có tình. Khổ chi, gấp gáp nấu. Nuôi lớn cá xóm Đông, rải thức ăn cho cá, khắp ao sóng cuộn tròn. Cây rợp bóng xanh biếc, đau xót cùng một Thể, thương, nuông như chăm con, do mở lượng từ bi, lại bạch cùng với Phật. Quan nhỏ thường thõng tay, nghiễm nhiên đội mũ Nho. Đáng thương một đường khóc, lại kham qua sông khóc[80]. Người trông vườn hái rau, để dùng cho bếp núi. Gặp đúng dịp phóng sanh, làm thơ tặng chư vị. Phước hạnh chẳng luống uổng; đã hẹn, hãy mau nhóm.

 

          - Phan Thế Ân:     

          Mấy gian tinh xá quanh vườn rau. Bóng mây, ánh nước hòa vào nhau. Chiêm Bặc hoa thơm trồng tịnh vực. Giếng sâu trục kéo rõ từng khu. Bên người, chim cá quên niềm sợ. Ngút mắt suối rừng, ẩn thú non. Rừng thưa không bụi, đầy ắp thú. Rêu biếc, lá vàng mặc sức phơi.

 

* Thơ dạy con của cư sĩ Trữ Trà

Trầm Thư Hoa soạn

 

a) Nhà ta xưa nay tiếng trung hậu (nhà ta nhiều đời sống ở trấn Ngũ Hàng, người làng tôn trọng gọi nhà ta là Trung Hậu Trầm Gia), chay trường, niệm Phật, nẩy mầm thiêng (tổ tiên là Đoan Khác Công lúc mười ba tuổi tham yết Thạc Tổ, tọa Thiền hữu ngộ, do vốn được dạy bảo từ trong bụng mẹ), tổ tông xưa trồng cội Bồ Đề, con cháu vẫn nở đóa sen lành. Bùi tướng siêng tu, nhân chẳng lỡ. Lữ Công kết nguyện quả không sai (Văn Chánh (Lữ Mông Chánh) sáng dậy, chúc nguyện đời đời ăn lộc, hộ pháp. Về sau [con cháu] đều quý kính thờ Phật). Cửa đức chuộng lành kham ngưỡng mộ. Thanh bạch truyền thừa chẳng vết nhơ.

          b) Xoay vần sáu chữ tổng trì môn; xương nát khó đền cổ Phật ân. Dẫu không biết chữ, say mùi đạo. Tâm như chủng tử, gốc tự bền. Sóng lặng, trăng in, trừ các vọng. Nước chảy thành dòng, thờ Từ Tôn. Khóc dặn cháu con ghi nhớ kỹ, đừng ham ngũ dục, tối tăm dần.

          c) Tu trì sao lại có dư ương? Tổn mạng sanh linh bởi miệng tham. Đất hưởng gió Xuân, muôn vật trưởng. Người hành thu lệnh[81] dễ tiêu vong (quả báo thê thảm của sát nghiệp, ta thấy chẳng sai sót, tuy làm điều thiện vẫn chẳng cứu được, huống hồ kẻ không có đức ư?). Miếng thịt sướng hơn giỏ, bầu nước[82]? Vạn hạnh tan hoang đều do ăn. Đau khóc khuyên người không ai chịu, cười nhạo còn quở ta si cuồng.

          d) Nho là “nhân, nhu”[83] pháp dạy đời, cớ sao tùy tiện cứ chê cười? Đàm Thiền há ngoài minh tâm tánh? Yêu vật vốn chẳng khác Khổng, Nhan. Xương Lê quật cường, sớm thâu liễm (như nói xét về hình hài bề ngoài của ngài Đại Điên, dùng lý để tự kiềm thúc mình, như nói Mã Hội trích máu nơi tay chép kinh Phật và so sánh nhân gian giống như giấc mộng. Một thiên sách Nguyên Đạo[84] chưa đáng để tin tưởng, ở đây đều là những lời lẽ sau khi đã ngộ). Mậu Thúc[85] phong lưu cũng bớt lời! Tài cao bất hạnh lưu di huấn (tiên sinh Y Xuyên[86] có tài cao, giỏi văn chương, nhưng cuộc đời có ba điều bất hạnh). Tam giới trước là ít nói năng[87].

 

          * Tôi từng đọc Thạc Quỹ Ngữ Lục, biết Ngài thành tựu Đoan Khác Công, đã được cha anh hiền đức không gì chẳng kềm cặp, lại được các vị đại tông tượng Kim Ngọc, Như Nghiêm, Bảo Thành đều là những vị thâm nhập lý Thiền, cùng nhau dùi mài, nên [Đoan Khác Công] trở thành bậc đại Nho một thuở, chẳng phải là ngẫu nhiên. Lại truyền xuống tiên sinh Kính Đường lấy Trình phu nhân, nhân từ, nhẫn nhục, hiếm có trong đời, [sanh được] người nối dõi là Thư Hoa, từ bé đã được gia đình dạy bảo, cùng với vợ là Châu thị chú tâm nơi An Dưỡng. Ngày vợ ông ta mất, thánh cảnh hiện tiền, trì danh chẳng ngớt, đáng gọi là chuyện lạ vậy.

          Giữa Đông năm Đinh Mão, tức năm Gia Khánh 12 (1807), Thượng Hồ cư sĩ Đổng Vân Tiêu ghi thêm.

 

* Danh xưng Tiểu Vân Thê bắt nguồn từ đâu? Năm Giáp Tý (1804) đời Gia Khánh, các đại cư sĩ vùng Vũ Lâm, thấu hiểu di ý của tổ Liên Trì, phát Bồ Đề nguyện, tìm kiếm cuộc đất để mở Niệm Phật Đường, sáng lập phóng sanh viện, thương lượng với thầy Liên Ấn vốn là cựu trụ ở Dư Am tại Đông Thành. Ngài Liên Ấn nghe xong, liền hoan hỷ tán thán, bỏ nền móng cũ và hết thảy các trang nghiêm. Họ lại mua hai am Hoa Nghiêm và Pháp Hoa ở phía bên trái, hợp thành một viện, quy mô giống như Vân Thê nhỏ hơn, nên đặt tên như vậy.

Khi đó, cử vị tăng là Hàn Khôi trông nom viện phóng sanh. Về sau, Sư bị bệnh, bèn thay bằng người khác. Trông nom chúng thường trụ, đôn đốc khóa tụng là vị tăng Hoằng Minh. Kế tục ngài Hoằng Minh là Di Nam. Năm ngoái, ngài Di Nam viên tịch, học trò Ngài là Phổ Nghiêm tạm đứng trông nom hơn một năm, nhưng do thể lực chẳng đủ nên tạ từ. Các cư sĩ phóng sanh bèn bàn bạc tìm người thừa kế. Do chùa vốn thừa kế hoằng nguyện xưa kia của sư tổ, cho nên ở góc Đông, đặc biệt dựng ba gian Biện Liên Thất để thờ tượng Tổ. Năm trước lại còn quyên tiền để khôi phục công đức Thủy Lục nơi Diễn Pháp Đường, tăng thêm ba lượng tiền ăn cho các sanh vật để làm chi phí lo liệu cho việc giải cứu sanh vật và nuôi dưỡng chúng. Do Tiểu Vân Thê giải cứu chúng sanh và thức ăn để nuôi dưỡng các con vật vốn là cùng một mạch quen thực hành, chẳng khác Thượng Phương và Trường Thọ. Do đó, họ bàn bạc gộp Tiểu Vân Thê vào Đại Vân Thê, thỉnh sơn tăng kiêm trông nom thường trụ hòng hô ứng nhanh chóng, đồng thanh đồng khí càng thông suốt.

Họ thương lượng với nạp tăng, nạp tăng được các vị yêu mến sâu đậm, hộ trì đủ mọi lẽ, tuy trong núi lắm việc, chẳng thể chối từ được, bèn trong ngày Mồng Mười của tháng Mười trực viện. Trộm xét chính mình huệ cạn, hạnh mỏng, sợ rằng chẳng lo xuể trách nhiệm, cứ miễn cưỡng làm, ắt sẽ thiếu sót. Do chuyện kết tịnh xã do sư tổ ta truyền lại đã tròn mười năm, kính mong các vị quân tử thiện duyên ngày càng rộng, phước đức ngày càng to. Đă có Tiểu Vân Thê kế tục Thượng Phương, Trường Thọ, trong tương lai sẽ có càng nhiều đạo tràng được mở ra để kế tục Tiểu Vân Thê, ắt sẽ phù hợp với câu nói “dẫn khởi mở rộng ra, lại càng mở rộng ra, mênh mông trọn khắp nước” trong bài bi ký do sư tổ tự soạn. Đó lại là điều khiến cho Dữ Khải hoan hỷ, hớn hở khôn cùng. Do vậy, ghi kèm vào đây.

          Tháng mùa Đông năm Giáp Tuất (1814), vị Tăng kiêm trông coi Tiểu Vân Thê thường trụ là Dữ Khải kính cẩn ghi.

Vân Thê Pháp Vựng, phần 2 hết

 



[1] Nhật Kỷ là những điều hằng ngày cần phải ghi nhớ. Do đó, Tăng Huấn Nhật Kỷ những giáo huấn mà tăng sĩ hằng ngày phải ghi nhớ.

[2] Kinh Đại Pháp Cự Đà La Ni do ngài Xà Na Quật Đa (Jnanagupta) dịch vào thời Tùy, gồm hai mươi quyển. Kinh chép thiên tử Thiện Oai Quang thưa hỏi môn đà-la-ni, đức Phật nhập Đại Lực Trang Nghiêm tam-muội, kể chuyện Phóng Quang Như Lai nói kinh này trong quá khứ. Kinh chia thành năm mươi hai phẩm, mỗi phẩm đều trần thuật những lời Phóng Quang Như Lai đã dạy.

[3] Đoạn kinh này trích từ phẩm Cụ Thiện Căn của hội Phú Lâu Na, tức hội thứ mười bảy trong kinh Đại Bảo Tích.

[4] Kinh Ban Châu Tam Muội (Pratyutpanna-buddha-sammukhāvasthita-samādhi-sūtra) gồm ba quyển, còn có tên gọi là Thập Phương Hiện Tại Phật Tất Tại Tiền Lập Định Kinh, do ngài Chi Lâu Ca Sấm (Lokakṣema) dịch sang tiếng Hán vào năm Quang Hòa thứ hai (179) đời Hán Linh Đế. Kinh gồm mười một phẩm, do đức Phật dạy Hiền Hộ Bồ Tát môn Phật Lập tam-muội. Kinh này c̣n được gọi tắt là Hiện Tiền Tam Muội Kinh hoặc Hiện Tiền Tại Định Kinh.

[5] Kinh Phật Tạng do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào năm Hoằng Thỉ thứ bảy (405) nhà Diêu Tần. Kinh này còn có tên là Phụng Nhập Long Hoa Kinh, hoặc Tuyển Trạch Chư Pháp Kinh. Kinh được chia thành mười phẩm, trần thuật các pháp vô sanh, vô diệt, vô tướng, vô vi, và Thật Tướng của các pháp. Đồng thời phá mười loại phiền não của hàng tỳ-kheo phá giới, quở trách các thứ tội tướng, cũng như nói về tội báo to lớn của kẻ bất tịnh thuyết pháp.

[6] Kinh Trường A Hàm (Dīrghāgama) là bản dịch tiếng Hán tương ứng với Trường Bộ Kinh (Dīgha-nikāya) của Nam Truyền Phật giáo, gồm hai mươi hai quyển, do ngài Phật Đà Da Xá (Buddhayaśas) và Trúc Phật Niệm hợp dịch vào năm Hoằng Thỉ 15 (413) nhà Diêu Tần.

[7] Tăng Nhất A Hàm (Ekottara Āgama) tương ứng với Tăng Chi Bộ Kinh (Aṅguttara-Nikāya) của Nam Truyền Phật giáo, được ngài Cù Đàm Tăng Già Đề Bà (Gautama Saṃghadeva) dịch sang tiếng Hán đời Đông Tấn. Sách Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa giảng: “Vì chư thiên, người đời tùy thời thuyết pháp, kết tập thành Tăng Nhất, nhằm khuyến hóa mọi người tu tập”. Gọi là Tăng Nhất vì kinh văn đối với pháp số tăng dần lên. Chẳng hạn từ một pháp (niệm Phật, niệm Pháp…) tăng lên thành hai (như Chỉ Quán, Danh Sắc), tăng lên thành ba như tam chủng thọ, tam giới…

[8] Bồ Tát Thiện Giới Kinh do ngài Cầu Na Bạt Ma (Guṇavarman) dịch vào đời Lưu Tống. Kinh này còn được gọi là Bồ Tát Địa Thiện Giới Kinh, hoặc Thiện Giới Kinh. Kinh chia thành ba mươi phẩm, trần thuật chủng tánh, sự phát tâm, tu hành, đắc quả, chủng tử vốn sẵn có, chủng tử mới huân tập v.v… của Bồ Tát.

[9] Ngũ Phần Luật (Mahīsasakavinaya) là luật tạng theo truyền thống của Hóa Địa Bộ (Mahīśāsaka, còn phiên âm là Di Sa Tắc, hoặc dịch nghĩa là Chánh Địa Bộ, Giáo Địa Bộ). Nguyên bản của bộ luật này đã thất truyền. Bộ luật này do ngài Pháp Hiển đem từ Tích Lan (Sri Lanka) về, và được ngài Phật Đà Thập (Buddhajīva) cùng với sa môn Trí Nghiêm dịch sang tiếng Hán.

[10] Tát Bà Đa Tỳ Ni Tỳ Bà Sa (Sarvāstivāda-vinaya-vibhāṣā), đă mất tên người dịch, chính là bản chú giải Thập Luật Tụng theo quan điểm của bộ phái Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda),

[11] Đà La Phiếu (Dravya) có tên gọi đầy đủ là Đạt La Tệ Dạ Ma La Phất Đa La (Dravya-mallaputra), là một vị đệ tử của đức Phật. Ngài vốn là con của đại thần Thắng Quân nước Ba Ba, xuất gia lúc mười bốn tuổi, mười sáu tuổi chứng A La Hán, đắc lục thần thông. Hai mươi tuổi thọ Cụ Túc Giới, đảm nhiệm việc cấp phát tọa cụ và thức ăn cho chúng tăng, thường bị hai ác tỳ-kheo phỉ báng, nhưng tâm Ngài an nhiên, bất động. Ngài còn giúp các cư sĩ kiến tạo tinh xá để cúng dường cho tăng đoàn.

[12] Tỳ Ni Mẫu Kinh đã mất tên người dịch, chỉ biết được dịch vào thời Đông Tấn, gồm tám quyển, trần thuật các quy tắc ứng xử nhằm phù hợp giới luật của tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, cách sám hối, cách đoạn phiền não, cũng như các nguyên tắc quản trị Tăng đoàn.

[13] Pháp Uyển Châu Lâm gồm một trăm hai mươi quyển do ngài Đạo Thế trước tác. Ngài Đạo Thế dựa theo cách biên soạn của bộ Đại Đường Nội Điển Lục và Tục Cao Tăng Truyện của ngài Đạo Tuyên để tổng hợp những dữ kiện từ các bộ kinh Phật, hình thành một bộ “bách khoa toàn thư” về Phật giáo. Sách được chia thành một trăm sáu mươi tám tiểu loại, trần thuật khái lược tư tưởng, thuật ngữ, pháp số v.v… của Phật giáo, trích dẫn rất rộng kinh, luật, luận, truyện ký gồm hơn bốn trăm loại.

[14] Lạc Dương Già Lam Ký là một bộ sách do Dương Huyễn Chi khởi soạn vào cuối đời Bắc Ngụy, hoàn thành vào thời Ngụy Hiếu Tĩnh Đế nhà Đông Ngụy. Sách ghi chép lịch sử, địa lý, Phật giáo, văn học, kiến trúc của thành Lạc Dương, tập trung vào các ngôi chùa tại Lạc Dương. Sách ghi chép quy mô kiến trúc của mỗi chùa, lịch sử hình thành, cũng như các nhân vật Phật giáo nổi tiếng thời đó.

[15] Thái Thú (太守, đúng ra là Thái Thủ, nhưng người Việt quen đọc thành Thái Thú), còn gọi là Quận Thủ, là người đứng đầu một quận. Chức vụ này được thiết lập từ thời Chiến Quốc (khi đó, các nước chư hầu đều chia thành nhiều đơn vị hành chánh, to nhất gọi là Quận). Thái Thú nắm giữ quyền cai trị hành chánh và quân sự. Khi Tần Thủy Hoàng thôn tính lục quốc, đã bãi bỏ chế độ phân phong lãnh thổ, chia Trung Hoa thành ba mươi sáu quận, lấy quận thủ làm trưởng quan do hoàng đế trực tiếp bổ nhiệm. Đến đời Hán Cảnh Đế, Quận Thủ đổi danh xưng thành Thái Thú. Sang thời Đông Hán, sau khi châu mục được thiết lập, Thái Thú trở thành chức quan hành chánh thấp hơn Thứ Sử (người đứng đầu một châu) một cấp. Đời Tùy phế bỏ quận, chỉ dùng châu, chức quan Thái Thủ cũng bị phế trừ, nhưng các chức quan Thứ Sử, Tri Châu, hoặc Tri Phủ vẫn được gọi là Thái Thú trong cách nói thông dụng.

[16] Tức mười sáu nước lớn tại Ấn Độ vào thời đức Phật.

[17] Chánh Pháp Niệm Xứ Kinh (Saddharma-smrty-upasthāna-sūtra) gồm bảy mươi quyển, do ngài Bát Nhã Lưu Chi (Prajñāruci) dịch sang tiếng Hán vào đời Bắc Ngụy. Sở dĩ có kinh này là do ngoại đạo dùng các vấn đề về tam nghiệp thân, khẩu, ý chất vấn hàng tỳ-kheo mới xuất gia, đức Phật liền rộng nói pháp môn Chánh Pháp Niệm Xứ để xiển minh quan hệ nhân quả trong tam giới lục đạo, quán sát lục đạo để nêu tỏ đạo xuất ly.

[18] Phật Bổn Hạnh Tập Kinh (Abhiniskramanasūtra) gồm sáu mươi quyển do ngài Xà Na Quật Đa dịch sang tiếng Hán vào đời Tùy. Kinh trần thuật các sự tích giáng sanh, xuất gia, thành đạo, hóa độ v.v… của đức Phật Thích Ca, cũng như các nhân duyên quy hóa của các đệ tử Phật.

[19] Thanh Hiến là thụy hiệu của Triệu Biện (1008-1084), một trọng thần thời Bắc Tống. Ông có tên tự là Duyệt Đạo, hiệu là Tri Phi Tử, người xứ Tây An, Cù Châu (nay là Cù Huyện, tỉnh Chiết Giang). Ông là người công chánh, chẳng kiêng nể quyền thế, người đương thời gọi ông là Thiết Diện Ngự Sử. Do tính nói thẳng, ông thường bị điều đi làm quan ở tỉnh ngoài. Khi ông làm tri phủ tại Việt Châu (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang), vùng ấy bị đói to, bệnh dịch tràn lan, người chết rất nhiều, ông tận lực cứu đói, không tiếc thân.

[20] Tác phẩm này do đạo sĩ Hựu Huyền Tử biên soạn vào năm Đại Định 11 (1171) nhà Kim. Do ông ta viết là trong mộng được Thái Vi Tiên Quân truyền dạy, nên tác phẩm này thường được gọi là Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách. Do tác dụng khuyến thiện sửa lỗi rất hữu ích, nên tác phẩm này rất được Phật môn Trung Hoa coi trọng. Ở đây, Tổ đã sửa đổi đôi chút cho phù hợp với quan điểm Phật giáo, nên đổi tên thành Tự Tri Lục.

[21] Linh đài là chân tâm của chính mình. Linh đài (靈臺) trong nghĩa gốc vốn là cái đài cao để quan sát tinh tú và các hiện tượng thiên văn để dự đoán cát hung của đế vương thời cổ. Do vậy, từ ngữ “linh đài được mượn dùng để chỉ tâm linh, chân tâm sáng suốt của mỗi người.

[22] Nhị bộ đồng tử có hai cách hiểu:

- Theo Phật giáo, khi con người sanh ra, sẽ có hai vị trời thường đi theo, một là Đồng Danh, hai là Đồng Sanh. Hai vị trời này giám sát và ghi chép hành vi thiện, ác của cá nhân ấy.

- Theo Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, có hai vị trời thường giám sát hành vi, ghi chép thiện ác của mỗi cá nhân, gọi là Thiện Ác Nhị Bộ Đồng Tử.

Theo Tứ Thiên Vương Kinh th́ Tứ Thiên Vương và thuộc hạ giáng lâm nhân gian trong sáu ngày trai (mồng Tám, Mười Bốn, Rằm, Hai Mươi Ba, Hai Mươi Chín, Ba Mươi) để tuần tra thiện ác của nhân gian. Do vậy, họ được gọi là Lục Trai Chư Thiên.

Thai Bành Tư Mạng là các vị thần trông coi thiện ác của mỗi cá nhân theo quan điểm Đạo Giáo. Theo đó, Tam Thai chính là sáu tinh tú trong tinh tòa Bắc Đẩu, được thần cách hóa thành tinh quân, chia thành ba cặp là Thượng Thai, Trung Thai và Hạ Thai. Thượng Thai chủ thọ và mạng vận, Trung Thai chủ về công đức, Hạ Thai chủ về tài lộc. Bành tức là Tam Bành, còn gọi là Tam Thi, tức ba vị thần ẩn sâu trong cơ thể con người, sai khiến con người làm những điều sai trái. Theo sách Động Thần Quyết, Thượng Thi Bành Cứ khiến con người ham thích vị ngon, si mê theo những điều ham muốn, Trung Thi Bành Chất khiến con người tham đắm của cải, thích hỷ nộ, Hạ Thi Bành Kiểu khiến con người ham y phục đẹp, đam mê dâm dục.

Nhật du và dạ du là những vị thần du hành trong nhân gian vào ban ngày (nhật du) và ban đêm (dạ du) để xem xét công hay tội của con người.

Dữ Tư là thần chủ trì ban thưởng khi con người làm thiện, Đoạt Tư là vị thần chủ trì trừng phạt như giảm thọ, giảm phước khi con người tạo tội.

Nguyên hội tiết lạp là những ngày lễ quan trọng trong một năm theo quan điểm Đạo giáo, như Tam Nguyên (Thượng Nguyên tức Rằm tháng Giêng, Trung Nguyên tức Rằm tháng Bảy, Hạ Nguyên tức Rằm tháng Mười). Đạo Giáo quy định ngoài Tam Nguyên, còn có Ngũ Lạp là Thiên Lạp (Mồng Một Tết), Địa Lạp (mồng Năm tháng Năm), Đạo Đức Lạp (mồng Bảy tháng Bảy), Dân Tuế Lạp (mồng Một tháng Mười), Vương Hầu Lạp (mồng Tám tháng Chạp). Có thuyết cho rằng Nguyên là ngày Nguyên Tiêu (Rằm tháng Giêng), Hội là Trung Nguyên, Tiết là ngày Đoan Ngọ, Lạp là ngày mồng Tám tháng Chạp.

[23] Nguyên văn là “xuy h́nh” (笞刑)là h́nh phạt đánh đ̣n, khác với trượng h́nh (dùng gậy to, gậy vuông để đánh). Xuy h́nh là dùng roi bằng tre tươi hoặc cành gai quất vào mông và lưng tội nhân. Tuy đỡ tàn khốc hơn trượng, nhưng người bị phạt cũng dễ bị tàn tật hoặc lở loét người.

[24] Quan: góa vợ, quả: góa chồng, cô: mồ côi cha mẹ, độc: không con cái.

[25] Tức là chú giải dựa theo ý kiến ức đoán của chính mình, không dựa theo chánh nghĩa, không dựa theo trí huệ, chánh định để luận giải.

[26] Nhương tai (禳災): Cầu nguyện, làm pháp sự hòng tiêu tai giải nạn.

[27] Tống Cảnh Công (tên thật là Tử Loan) là vua nước Tống thời Xuân Thu. Có một năm nọ, sao Huỳnh Hoặc (Hỏa Tinh) đi vào địa phận sao Tâm mà sao Tâm ứng với nước Tống. Quan Khâm Thiên Giám tên là Tử Vi cho rằng sắp có đại nạn xảy đến cho vua Tống, khuyên vua cho phép ông ta làm phép để chuyển tai nạn sang tể tướng. Cảnh Công nói: “Tể tướng là tay chân của ta”. Lại tâu: “Có thể chuyển sang dân chúng”. Cảnh Công nói: “Vua nhờ cậy dân”. Lại nói: “Có thể chuyển sang mùa màng”. Cảnh Công nói: “Mất mùa thì dân khổ. Ta làm vua với ai?” Tử Vi nói: “Trời cao nghe thấu, vua nói ba câu xuất phát từ lòng nhân ái của bậc vua hiền, Huỳnh Hoặc ắt sẽ dời chuyển”. Quả nhiên, vài ngày sau, sao Huỳnh Hoặc di chuyển qua ba cung khác, không có tai ương, bệnh tật xảy ra.

[28] Bá Khởi là tên tự của Dương Chấn. Ông là người xứ Hóa Dương (tỉnh Thiểm Tây), là một vị đại thần danh tiếng thời Đông Hán. Ông được người đương thời gọi bằng mỹ hiệu Quan Tây Phu Tử, Quan Tây Khổng Tử và Tứ Tri Tiên Sinh. Ông làm quan tới chức Thái Úy, tánh tình cương trực, công chánh, từng nhiều lần hạch tội nhũ mẫu của vua và quở trách họ hàng bên vợ của vua lạm quyền, nhũng loạn triều chánh. Khi ông đi qua Xương Ấp, huyện trưởng Vương Mật do được ông tiến cử làm quan trước đó, ban đêm tìm đến dịch quán xin dâng vàng tạ ơn. Ông kiên quyết không nhận. Vương Mật kèo nài: “Đêm khuya tối tăm có ai biết đâu mà Ngài ngại?” Ông quát to: “Trời biết, đất biết, ta biết, ông biết, sao lại nói không có ai biết?” Vương Mật hổ thẹn, lui ra. Câu nói ấy được gọi là Tứ Tri.

[29] Quý Trát là công tử nước Ngô, trên đường đi sứ sang nước Tấn, đi qua nước Từ. Vua Từ thấy bội kiếm của Quý Trát hết sức ưa thích, nhưng không dám mở miệng xin. Quý Trát nhận biết, nhưng vì cần phải đi sứ nên chưa trao tặng được, thầm hứa khi trở về sẽ trao tặng. Khi trở về, vua Từ đã chết, Quý Trát bèn đem bội kiếm treo lên cây tùng trước mộ vua Từ.

[30] Ư nói: Trong khi tụng kinh, nếu xen tạp lời lẽ không thuộc vào kinh, phán định như sau: Nếu là chuyện xen tạp vô ích hoặc bất thiện, tính là năm lỗi. Nếu lời xen tạp ấy nói đến thiện sự th́ chỉ tính là phạm một lỗi.

[31] “Kim Lăng tam bất túc” là ba câu nói của Vương An Thạch đời Tống khi cổ súy những biện pháp cải cách táo bạo (sử gọi là “biến pháp”) của ông ta trước sự phản đối của triều thần: “Thiên biến bất túc úy, tổ tông bất túc pháp, nhân ngôn bất túc tuất” (Cõi trời biến động không đáng sợ, pháp tắc của tổ tông chẳng đáng để noi theo, lời kêu ca của người khác chẳng đáng quan tâm tới).

[32] Quỹ () là một vật dụng đan bằng tre, hoặc làm bằng đồng, có hình tròn, hai bên có quai. Nếu làm bằng đồng thì trông như một cái đỉnh nhỏ, có nắp hoặc không có nắp, nhưng chân của Quỹ là một miếng đồng tròn. Về sau, diễn biến thành Quỹ có chân vuông, hoặc ba chân. Quỹ thường dùng để đựng đồ cúng tế, có thể dùng để nấu cơm. Sự khác biệt giữa Đỉnh và Quỹ trong đồ cổ khí xưa là đỉnh thường to hơn, miệng rộng hơn, chân cao hơn. Trong khi Quỹ thấp hơn và có bụng phình hơn. Cỗ tế ngày xưa của thiên tử thường quy định là Thất Đỉnh Lục Quỹ, tức các món ăn phải được bày trong bảy cái đỉnh và sáu cái quỹ.

[33] Thủ lô (手爐) thường đọc trại thành Thủ Lư, là một loại lư hương nhỏ, có cán dài. Thủ lô có thể dùng để cắm hương, có loại có nắp để đốt hương trầm. Từ ngữ thủ lô còn được dùng để chỉ một loại lò sưởi nhỏ cá nhân dùng để sưởi ấm trong mùa Đông.

[34] Theo Châu Lễ, Lục Nghệ là sáu thứ kỹ năng mà tầng lớp quý tộc thời Châu phải học tập bao gồm lễ, nhạc, xạ (bắn cung), ngự (điều khiển ngựa, xe), thư (viết lách, thư pháp, tinh thông ngôn ngữ, văn chương) và số (tính toán, tối thiểu là phải thông hiểu bộ Cửu Chương Toán Thuật). Về sau, Lục Nghệ được dùng để chỉ tài năng toàn diện của giới sĩ phu.

[35] Câu này ca ngợi tổ Liên Trì văn chương trác tuyệt, dùng hình ảnh giấy mắc mỏ với cách nói thậm xưng: Văn chương hay đến nỗi người ta đua nhau chép lại, khiến cho giấy trở thành khan hiếm, phải mua cao giá hơn.

[36] Câu này ca ngợi kiến thức học vấn rộng rãi của tổ, nhưng với ý xưng tụng khiêm hư, dựa trên thành ngữ “học phú ngũ xa” (học nhiều đến nỗi sách vở chứa đầy cả năm cỗ xe). Huệ Thi là một chánh trị gia nổi tiếng thời Chiến Quốc, được coi là tỵ tổ của Danh Gia học phái. Ông là bạn thân của Trang Châu, làm Tể Tướng thời Lương Huệ Vương, nổi danh học rộng, đọc nhiều đến nỗi sách vở của ông phải dùng năm cỗ xe mới chở hết. Ông chủ trương liên minh ba nước Tề, Ngụy, Sở để chống lại nước Tần đang hoành hành thời ấy.

[37] Ý nói Tổ chứng pháp nhẫn vượt xa các vị Thiền giả Tây Vực. Thông Lãnh chính là cao nguyên Pamir hiện thời.

[38] Tử Dư là tên tự của Tăng Sâm, một đệ tử đắc ý của Khổng Tử. Ông là người nước Lỗ, được Nho gia đời sau tôn xưng là Tông Thánh, nổi tiếng hiền đức và hiếu thảo, với câu nói “mỗi ngày ta ba lượt phản tỉnh”. Ông được Khổng Tử khen ngợi là người đã nắm vững đạo của Khổng học. Tương truyền sách Đại Học và Hiếu Kinh do chính ông chấp bút.

[39] Bát trân (八珍) nghĩa gốc là tám món ăn quý. Về sau, mở rộng ra thành tám loại nguyên liệu trân quý để nấu nướng. Có nhiều cách hiểu bát trân. Chẳng hạn theo Lễ Ký, bát trân là thuần ngao (tức nước xốt từ thịt trộn với mỡ ḥa vào gạo để nấu thành cơm), thuần mẫu (giống như trên, nhưng cơm nấu bằng loại gạo hoàng mễ, tức một loại kê), bào đồn (lợn sữa quay giòn), bào dương (dê hoặc cừu quay), đảo trân (thịt thăn của bò, dê, và nai đem nướng), thanh trân (thịt dê và trâu bóp rượu), ngao trân (thịt trâu khô ướp ngũ vị hương), hòa can liêu (gan chó bọc mỡ chài đem nướng). Về sau, bát trân ngày càng cầu kỳ hơn như đời Minh, theo tác phẩm Đường Loại Hàm của Du An Kỳ đời Minh, bát trân là gan rồng, tủy phượng, thai báo, đuôi cá chép, cú nướng, môi tinh tinh, tay gấu, ve ngâm bơ sữa. Trong đó, gan rồng thật ra là gan của loài ngựa trắng, tủy phượng là tủy của gà trống, đuôi cá chép thật ra là phần đuôi của con trút. Nói chung là những thứ hiếm có, cầu kỳ, chứ chưa chắc đã ngon lành!

[40] Hôn nhân thời cổ ở Trung Hoa phải trọn đủ các bước gọi là tam thư lục lễ. Tam thư tức là thư nhà trai gởi cho nhà gái bao gồm sính thư (thư xin phép dạm hỏi), lễ thư (thư kèm theo quà tặng trong lễ nạp thái), và nghênh thư (thư xin phép đón dâu). Lục lễ bao gồm:

1) Nạp thái: Nhà trai nhắm cô gái nào cho con trai mình bèn cậy bà mối đem lễ vật qua nhà gái thưa chuyện, lễ này còn gọi là Vấn Khẳng (hỏi xem có đồng ý hay không) hoặc Đề Thân (xin kết thân). Cổ lễ bắt buộc trong Nạp Thái phải có một đôi chim nhạn (do nhạn sống thành đôi). Theo các nhà nghiên cứu, thật ra là Dã Nhạn, tức ngỗng trời, nhưng do chim nhạn khó bắt sống, nên về sau nhiều nơi thay bằng cặp nhạn bằng gỗ, hoặc thay bằng ngỗng nhà.

2) Vấn danh: Nếu nhà gái chấp thuận, bà mối sẽ xin tên và bát tự (ngày tháng năm sanh) để tính toán tuổi đôi bên có xung khắc hay không.

3) Nạp cát: Còn gọi là Bốc Cát, tức là đến từ đường của nhà trai để thỉnh ý tổ tiên qua quẻ bói có nên tiếp tục tiến hành hôn lễ hay không. Về sau, diễn biến thành Tiểu Sính tức nhà trai tặng cô dâu một số lễ vật đính ước như quần áo, các vật dụng trang sức như trâm cài đầu, khăn đội đầu, bông tai, nhẫn v.v… cũng như vải vóc và một món tiền. Khi nhận lễ vật, nhà gái cũng phải tặng lại chú rể một số vật dụng như mũ đội đầu, hài, bút, mực, giấy, nghiên v.v…

4) Nạp chinh: Còn gọi là Nạp Trưng (ta thường gọi trại thành “nạp cheo”), nhà trai biếu tặng các phẩm vật nhà gái đòi hỏi, thường gọi là sính lễ phẩm.

5) Thỉnh kỳ: Còn gọi là Khất Nhật, hoặc Quyên Cát, tức ước định ngày tốt để đón dâu.

6) Thân nghênh: Tức lễ đón dâu, tức lễ thành hôn.

Kể từ thời Tống, lục lễ giản hóa thành ba lễ, tức vấn danh gộp chung với nạp thái, nạp cát, thỉnh kỳ gộp chung với nạp chinh.

[41] Hứa Chân Quân, còn gọi là Hứa Thiên Sư, Từ Tế Chân Quân, Tinh Dương Tổ Sư, hay Cảm Thiên Đại Đế, tên thật là Hứa Tốn (239-374), tự là Kính Chi, sống vào đời Tấn. Ông từng làm quan huyện lệnh trấn nhậm Tinh Dương (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên). Năm 291, chán ngán trước cảnh ly loạn, ông từ quan, ẩn cư tại Tây Sơn thuộc Giang Tây. Có lẽ ông gặp chuyện nai mẹ đứt ruột trong giai đoạn này. Cho đến năm 318, lúc đó ông đã tám mươi tuổi, vùng Giang Tây, Hồ Nam ngập lụt dữ dội. Ông đã bôn ba khảo sát nguồn nước, tổ chức đắp đê, điều chỉnh nguồn nước. Tận tụy suốt mười năm, nạn lũ lụt quanh vùng hồ Bà Dương đã giảm thiểu đáng kể. Do vậy, có truyền thuyết cho rằng ông đã vận dụng phép thuật chế ngự thần giao long. Ông còn giúp trị thủy tại các vùng Hồ Quảng, Phước Kiến v.v… Theo truyền thuyết, khi ông đắc đạo phi thăng, cả nhà kể cả chó mèo đều được phi thăng. Ông được hai phái Tịnh Minh Đạo và Lư Sơn của Đạo giáo tôn xưng là tổ sư sáng lập.

[42] Dưỡng Diêu Cơ chính là Dưỡng Do Cơ, không rõ năm sanh và năm mất, ông có tên là Do Cơ, nhưng có sách ghi là Diêu Cơ, vốn là tướng nước Sở, nổi danh thiện xạ. Truyền thuyết rằng ông có thể bắn trúng lá dương liễu cách xa một trăm bước (do vậy có thành ngữ “bách bộ xuyên dương”), trăm phát trăm trúng, và sức bắn mạnh đến nỗi xuyên thủng bảy tầng áo giáp.

[43] Tôn chân nhân chính là Tôn Tư Mạo (541-682). Ông là người huyện Hoa Nguyên, Kinh Triệu, là một đạo sĩ, đồng thời là một danh y đời Đường, có mỹ hiệu là Dược Vương. Theo truyền thuyết, ông sinh ra vào thời Tây Ngụy, bảy tuổi đi học, mỗi ngày nhớ một ngàn chữ. Ông tinh thông học thuyết của bách gia chư tử, thông thạo học thuyết Lão Trang nhất, và cũng rất hứng thú nghiên cứu kinh Phật. Ông thuở nhỏ lắm bệnh, gia sản gần khánh kiệt vì lo liệu thuốc men, cho nên ông quyết chí học y. Y thuật của ông nổi tiếng đến nỗi các đời vua Châu Tuyên Đế, Châu Tĩnh Đế, Tùy Văn Đế, Đường Thái Tông, Đường Cao Tông đều dùng bổng lộc trọng hậu mời ông làm Thái Y, nhưng ông đều uyển chuyển cự tuyệt. Ông để lại hai bộ sách thuốc nổi tiếng là Bị Cấp Thiên Kim Yếu Phương và Thiên Kim Dực Phương. Ông cũng là người nhấn mạnh đạo đức của lương y: “Chỉ cốt sao cứu chữa bệnh nhân, không bị tiền bạc che mờ lương tâm, cũng như đề xướng quan niệm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”.

[44] Đề Hình gọi đầy đủ là Đề Điểm Hình Ngục Công Sự, là chức quan được thiết lập tại các lộ (các tỉnh) vào thời Bắc Tống, chủ quản việc tư pháp, hình phạt và giám sát tư pháp tại các châu thuộc lộ ấy, kiêm chưởng quản nông tang. Dinh thự của quan Đề Hình được gọi là Hiến Ty. Từ đời Kim trở đi, chức vụ này đổi thành Án Sát Sứ, và chỉ còn lo tư pháp, đến đời Thanh lại đổi thành Đề Hình Án Sát Sứ.

[45] Đan sa (Cinnabar, mercurblende) còn gọi là Châu Sa, Thần Sa, Xích Đan, hay Hống Sa, là một loại khoáng chất có thành phần chủ yếu là sulfide thủy ngân (HgS), có màu đỏ tươi. Do có màu đỏ, người Hoa thích dùng nó làm nguyên liệu để nhuộm màu, nhất là các loại bình gỗ, lọ hoa cỡ lớn. Trung Y dùng châu sa để trị bệnh vì tin nó có tác dụng an thần, trị bệnh động kinh. Châu sa dùng trong Đông y thường có lẫn hùng hoàng (Realgar, tức As4S4, sulfide arsenic rất độc), lân khôi thạch (apatite, tức phosphate fluoride), chì v.v… nên có độc tánh rất cao. Theo nghiên cứu, sử dụng Châu Sa gây tổn hại cho gan, thận, bao tử, ruột, nhất là hệ thống thần kinh, gây thiếu máu nghiêm trọng, co giật v.v….

[46] Thần Châu là danh xưng thời cổ để gọi vùng đất Trung Nguyên của Trung Hoa, c̣n gọi là Xích Huyện Thần Châu hoặc Thần Châu Đại Địa.

[47] Dặc () là một loại cung tên thời cổ, mũi tên có dây buộc vào cánh cung, dùng để bắn chim, vừa đỡ mất tên, vừa thuận tiện lôi con mồi bị trúng tên về.

[48] Tứ hung có hai cách hiểu:

1) Theo chương Thuấn Điển sách Thượng Thư, Tứ Hung là bốn kẻ phạm tội nặng nề:

- Cộng Công (còn gọi là Khang Hồi), thường được coi là thủy thần. Cộng Công tranh ngôi vua với Chuyên Húc, giận dữ húc đổ núi Bất Châu, làm gãy cột trời, khiến trời nghiêng về phía Tây Bắc, nên bà Nữ Oa phải luyện đá ngũ sắc vá trời. Ông ta còn tiếp tục tranh giành ngôi vua, đến thời vua Nghiêu còn gây ra nước lũ to lớn.

- Hoan Đâu: Thủ lãnh của tộc Tam Miêu, thường dẫn quân xâm phạm Trung Nguyên, khiến vua Nghiêu phải nhiều lần đánh dẹp.

- Cổn (cha của Đại Vũ): Thất bại trong việc trị lũ nên bị giết.

- Sắc dân Tam Miêu (còn gọi là Hữu Miêu) sống ở lưu vực Trường Giang, chủ yếu quanh vùng hồ Động Đình và Bà Dương, thường khởi loạn đánh phá Trung Nguyên.

2) Theo Tả Truyện thì Tứ Hung là bốn con quái vật tức Hỗn Độn, Cùng Kỳ, Đào Ngột và Thao Thiết.

[49] Câu này hơi khó hiểu, chúng tôi mạn phép diễn giải như sau: Ý Tổ cho rằng Khổng Tử bản tánh nhân từ, như trong câu trên có nói, theo Luận Ngữ, vua ban tặng gà, Khổng Tử không ăn mà nuôi chung với chim trĩ. Do Khổng Tử làm quan, phải theo hầu vua, vua đi săn bắn thì quan cũng phải đi theo, nên nếu nói Khổng Tử câu cá, săn bắn thì chỉ là chuyện bất đắc dĩ, làm theo mạng vua mà thôi. Chứ nếu nói Khổng Tử tự mình câu cá, săn bắn thì do tự có thể làm chủ, lẽ nào có thể không giết hại mà Ngài lại làm chuyện giết hại hay sao?

[50] Cổ nhân gọi triều đại mình đang sống là “quốc triều”. Do Tổ sống vào đời Minh, nên “quốc triều” chính là nhà Minh. Cảnh Thái là niên hiệu từ năm 1450 đến năm 1457 của Minh Cảnh Tông (Châu Kỳ Ngọc), còn Trinh Minh là niên hiệu của Lương Mạt Đế (Châu Hữu Trinh) từ năm 915 đến 921.

[51] Thượng Bảo Khanh gọi đủ là Thượng Bảo Ty Khanh là chức quan được đặt ra vào thời Minh, chuyên quản thủ ấn báu, tín bài, ấn chương trong triều đình. Thoạt đầu, chức quan này được Minh Thái Tổ (Châu Nguyên Chương) gọi là Phù Tỷ Lang, về sau mới đổi thành Thượng Bảo Ty Khanh.

[52] Câu-lô-xá (Krośa), còn phiên âm là Câu Lũ Xa, là đơn vị đo độ dài của cổ Ấn Độ, nghĩa đen là tiếng trâu rống, ý nói: Trong phạm vi còn nghe được tiếng trâu rống của thôn làng gần nhất. Câu-lô-xá có hai cách hiểu: Một phần tám của một do-tuần, hoặc một phần tư của do-tuần. Như vậy một câu-lô-xá là khoảng bốn cây số, nhưng Câu Xá Luận lại cho rằng một câu-lô-xá chỉ bằng hai dặm Tàu (khoảng một cây số rưỡi).

[53] Cửu Trù là chín cương lãnh để cai trị thiên hạ bằng lòng nhân do Đế Thuấn truyền cho Hạ Vũ (Đại Vũ), những điều này được chép trong thiên Hồng Phạm của Thượng Thư. Hồng Phạm có nghĩa là khuôn phép to lớn. Do thiên sách này được chia làm chín tiểu loại, nên gọi là Hồng Phạm Cửu Trù. Chín tiểu loại ấy là:

1) Ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ).

2) Ngũ sự (diện mạo, lời nói, cách nh́n, cách nghe, tư duy), tức là năm phạm vi cần tu dưỡng trong ứng xử của bậc quân tử.

3) Bát chánh (tám thứ chuyên trách về hành chánh trong sự cai trị đất nước) gồm thực phẩm, hàng hóa, tế bái v.v…

4) Ngũ kỷ (năm, tháng, ngày, tinh tú, lịch số), tức cơ sở để phù hợp với thiên thời.

5) Hoàng cực: Nguyên tắc cai trị đúng ḷng nhân của bậc quân vương, thường gọi là đạo đại trung chí chánh.

6) Tam đức: trực chánh (thẳng thắn, công chánh), cang khắc (cương quyết), nhu khắc (khéo léo mềm mỏng để đối trị), tức là cách vận dụng khéo léo các biện pháp cai trị.

7) Kê nghi: Các phương pháp để giải quyết nếu có nghi hoặc phát sanh trong lúc cai trị.

8) Thứ trưng (mưa, tạnh, nóng, lạnh, gió) tức dựa trên các hiện tượng tự nhiên để xem lại cách cai trị có đúng đường lối, hợp ḷng trời, ḷng người hay không.

9) Ngũ phước, lục cực: Các ư niệm khuyến thiện trừng ác.

Theo Thượng Thư, thiên sách này do Cơ Tử giảng cho Châu Vũ Vương (Cơ Phát) về đại pháp của thiên địa, nói đó là lời dạy của Đế Thuấn truyền cho Hạ Vũ về đạo trị quốc. Cơ Tử tên thật là Tử Tư Dư, là con của Đế Văn Đinh, là chú của Trụ Vương, từng làm quan Thái Sư dưới đời vua Trụ (Đế Ất). Do được phong ở đất Cơ nên Sử thường gọi ông là Cơ Tử. Ông từng khuyên lơn vua Trụ đừng say mê sắc dục, nhưng bị vua Trụ tống giam. Chán ngán, ông xõa tóc giả điên để tránh nạn. Sau khi nhà Châu diệt Trụ, ông được thả. Châu Vũ Vương từng nhiều lần hỏi ông về đạo trị quốc.

[54] Khúc Phụ chính là quốc đô của nước Lỗ thời Xuân Thu, nay thuộc thành phố Tế Ninh của tỉnh Sơn Đông. Theo sử chép, ở phía Đông của thành này có một cái gò ngoằn ngoèo dài bảy tám dặm, nên gọi là Khúc Phụ. Đây cũng chính là quê nhà của Khổng Tử.

[55] Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân là những khái niệm tu tập trong Đạo giáo, nên “nhà thiêng của Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân” là nói đến đạo quán (miếu đạo sĩ), tức đạo viện Đắc Nhất.

[56] Người viết bài kư này là cư sĩ Quảng Thược Ngô Ứng Tân nên tự xưng là Thược Tân, ông này có pháp danh là Quảng Ngụ.

[57] Thời Hán Vũ Đế, để chuẩn bị cho cuộc tấn công nước Côn Minh (nay thuộc tỉnh Vân Nam), do thấy người dân Côn Minh thạo thủy chiến, vua đã cho đào ao Côn Minh tại Trường An để tập luyện thủy quân. Nơi đáy ao có chất đất bùn đen đặc, Đông Phương Sóc bèn giải thích đó là tro khi kiếp hỏa đốt cháy thế gian còn sót lại. Ở đây, tác giả đã ví văn tài của tổ Liên Trì siêu việt, mênh mông, không ai đạt tới được như cánh chim Ca Lâu La, những lời lẽ của tác giả dù trau chuốt cách mấy cũng như bùn đen nơi ao Côn Minh không thể làm lu mờ văn từ của tổ được.

[58] Hang Na La Diên là động đá hoa cương (granite) tại Lao Sơn thuộc thành phố Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông. Gọi là hang Na La Diên vì Na La Diên trong tiếng Phạn có nghĩa là kiên cố, vững chắc. Trong hang có khám thờ Phật, được tôn xưng là một trong mười hai cảnh đẹp của Lao Sơn. Ở đây, tác giả chỉ mượn dùng từ ngữ này để ca ngợi cảnh sắc đẹp đẽ của Thượng Phương và Trường Thọ, chúc tụng công trình này tồn tại dài lâu.

[59] Ý nói: Giết hại một mạng, người giết tạo sát nghiệp, sẽ phải trả báo. Tức là do giết một sanh vật, khiến cho con vật bị giết mất mạng, mà người giết do sát nghiệp cũng phải đọa lạc theo.

[60] Đây là một thành ngữ, diễn tả sự việc đạt đến cực thịnh rồi cũng suy tàn. Tề Oai Vương thuở đầu trầm mê rượu chè, có thể uống rượu suốt đêm, tửu lượng rất cao. Về sau, do Thuần Vu Khôn khuyên can “rượu đến cùng cực thì loạn, vui cùng cực hóa buồn”. Vua bèn thôi nhậu nhẹt, về sau chỉ có thể uống tối đa là một thạch (tức mười đấu). Bầy tôi dù giỏi giang cách mấy, công lao to đến mấy, khi vua ngờ vực, thì chỉ một lỗi nhỏ cũng dễ dàng bị kết tội, thân mất, mạng vong.

[61] Câu này dựa theo ý thành ngữ “cưu chiếm thước sào” (bồ câu chiếm tổ chim khách), nhằm nói lên tình thế mạnh lấn hiếp yếu trong xã hội.

[62] Sáu điều Như trong kinh Kim Cang là nói đến bài kệ “hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng, như sương cũng như chớp. Hãy nên quán như vậy”. Ông Ngô Ứng Tân viết “sáu điều Như của kinh Kim Cang là nói về cầm, sắt, lụa, là” nhằm khẳng định sáu thí dụ ấy nói về hư huyễn của sắc chất, tham dục, chứ không phải là đức Phật nói chuyện kiêng giết, tu thiện cũng đều là hư huyễn.

[63] Thất giá là mở rộng của Ngũ Nghịch, tức là ngoài tội Ngũ Nghịch, cộng thêm hai tội giết vị tăng chuyển pháp luân và giết thánh nhân (“thánh nhân” là La Hán của Tiểu Thừa, hoặc Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên).

[64] Ý nói xưa là kẻ giết chóc, nay thành cá bị giết hại để đền nghiệp sát hại. Xưa là thỏa thích sát hại trong một ngày, nay do sát nghiệp đọa lạc chịu khổ cả kiếp.

[65] Ngậm ngọc (hàm bích, 銜璧): Thời cổ, khi giao chiến thất bại, người thua trận muốn đầu hàng sẽ tự trói hai tay, miệng ngậm ngọc đối trước tướng địch. Cả đoạn này có ý chê trách quan điểm sai lầm của người đương thời: Họ cứ cho rằng chết là hết, chẳng biết gì nữa. Ở đây, ông Ngô Ứng Tân dùng ngay lập luận để vặn hỏi: Nếu chết là hết, chẳng biết gì nữa, vậy thì còn phải phấn đấu tạo sát nghiệp, hoặc đấu đá hòng tạo vinh dự cho gia tộc, để tiếng cho con cháu có ích chi đâu? Lại cứ nghĩ rằng lúc sống phải hưởng thụ sung túc để chết đi có thần hồn vững mạnh. Nghĩ như vậy thì có khác gì sống là kẻ lấn lướt người khác, chết thành một con quỷ mạnh mẽ mà thôi! Cứ khăng khăng ngả theo điều ác như kẻ thua trận trói mình ngậm ngọc để điều ác chi phối, cho nên không điều ác nào chẳng làm!

[66] Do trong quá khứ, dòng họ Thích Ca là ngư dân đã tát cạn một ao nước bắt cá ăn thịt, khiến cho các con cá ngoi ngóp chết lần chết mòn. Cá chúa phát nguyện đã tận diệt dân làng này để báo thù. Do vậy, đời này cá chúa trở thành vua Tỳ Lưu Ly suất lãnh quân đội (tức các con cá trong ao khi xưa) tiêu diệt dòng họ Thích Ca.

[67] Tức quan Thượng Bảo Khanh tên là Từ Lục Kiều được nói trong bài ký về ao phóng sanh chùa Thượng Phương.

[68] Tư Huân (司勳) là một trong bốn ty thuộc bộ Lại, bao gồm ty trưởng là Thị Lang (đời Đường đổi thành Lang Trung) một người, nhân viên gọi là Viên Ngoại Lang gồm hai người. Ty này có chức trách xét việc phong ấm (cho con trưởng của vị quan đã mất thừa kế tước hiệu của cha), đặt thụy hiệu (danh xưng tốt đẹp nhằm ca ngợi đức độ của người đã mất), cũng như đánh giá công huân của các quan. Chức vụ này được đặt ra từ đời Châu, đến đời Kim và Nguyên thì không còn ty này. Đến đời Minh lại tái lập, về sau đổi thành Kê Huân Thanh Lại Ty (稽勛清吏司), nhưng mọi người vẫn quen gọi là Tư Huân. Như vậy, vị Tư Huân Trường Nhụ nói ở đây có thể là một vị Viên Ngoại Lang thuộc bộ Lại.

[69] Câu này trích từ thiên Vương Chế sách Lễ Ký. Theo các nhà chú giải, “điền bất dĩ lễ” tức là canh tác, trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt không tuân thủ những quy định nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên, sử dụng các biện pháp tàn hại như đốt rừng để phá rẫy, hoặc đào bới, trồng trọt vô tội vạ, không cho đất có thời gian hồi phục (hưu canh) thì đều gọi là “điền bất dĩ lễ”.

[70] Đại Trung Thừa là danh xưng để gọi quan Tuần Phủ thời Minh - Thanh, vì các quan Tuần Phủ đều được phong thêm hàm Ngự Sử Trung Thừa.

[71] Nhan Chân Khanh (709-785), tự là Thanh Thần, hiệu là Ứng Phương, người huyện Trường An thuộc Kinh Triệu Phủ (nay là thành phố Tây An tỉnh Thiểm Tây). Ông là nhà chính trị lỗi lạc đời Đường đồng thời là một thư pháp gia trứ danh. Cùng với Âu Dương Tu, Liễu Công Quyền và Triệu Mạnh Phủ được tôn xưng là Khải Thư Tứ Đại Gia (bốn vị nổi danh về lối chữ Khải). Do ông được phong làm Lỗ Quận Công đời Đường Đại Tông, nên Sử thường gọi ông là Nhan Lỗ Công.

[72] Đô Chuyển là một chức quan trực thuộc Đô Chuyển Diêm Vận Sứ Ty. Ty này được thành lập vào đời Minh, có nhiệm vụ chuyên coi sóc việc sản xuất, vận chuyển và buôn bán muối, chủ yếu tại các địa phương sản xuất muối, hoặc có đường thủy thuận tiện cho kinh thương như Dương Châu, Hàng Châu, Thương Châu, Vận Thành… Có lẽ vị này là phó quan, tức Đô Chuyển Diêm Vận Sứ Đồng Tri, vì trong đoạn sau nói phải bẩm báo lên Diêm Viện Diên công.

[73] Diêm Viện tức là tên gọi tắt của Đô Chuyển Diêm Vận Sứ Ty.

[74] Chư sanh là danh xưng gọi chung những người đã đỗ khảo thí, được vào học tại các trường tại phủ, huyện, châu, hoặc học sinh tại Thái Học (Quốc Tử Giám, riêng học sinh tại Quốc Tử Giám thường được gọi là Giám Sanh). Thời Minh, Chư Sanh còn có nghĩa là người đã đậu Tú Tài. Lại còn chia thành ba loại là Lẫm Thiện Sanh (được công quỹ cấp học bổng), Tăng Quảng Sanh là những học trò không có học bổng, Phụ Sanh là những người được tuyển thêm ngoài hạn ngạch.

[75] Chân Tây Sơn chính là Chân Đức Tú (1178-1235), tên tự là Cảnh Nguyên, về sau đổi thành Cảnh Hy, lấy hiệu là Tây Sơn (dựa theo tên quê hương ông là Tây Sơn thuộc huyện Long Tuyền, Xử Châu, Lưỡng Chiết Đông Lộ). Ông là một vị quan văn thời Nam Tống, đồng thời là một học giả theo trường phái Lý Học.

[76] “Hưu dưỡng sanh tức” (休養生息) là thành ngữ ngụ ý sau cơn biến động, hoặc loạn lạc to lớn, triều đình giảm bớt gánh nặng cho dân chúng để họ ổn định cuộc sống, khôi phục sự an định trong xã hội bằng các biện pháp giảm thuế, giảm sưu dịch, khuyến khích nông tang v.v…

[77] Trong thiên Lực Hành của Châu Tử Loại Ngữ có câu: “Mỗ quán kim nhân nhân bất năng giảo thái căn nhi chí ư vi kỳ bổn tâm giả chúng hỹ, bất khả giới tai” (Ta thấy người hiện thời do chẳng thể nhai gốc rau đến nỗi trái nghịch bổn tâm đông lắm, chẳng thể răn dè ư?) Ý nói: Do con người chẳng thể cam chịu cảnh nghèo khổ, giữ chí nơi đạo, nên dễ bị sa ngã.

[78] Ý nói: Do các toa thuốc đôi khi sử dụng rất nhiều sanh vật sống để làm thuốc, nên họ bị dính sát nghiệp.

[79] Thọ khảo (壽考) nghĩa là sống lâu, rất thọ.

[80] Dựa theo tựa đề bài thơ Khô Ngư Quá Hà Khấp (cá khô qua sông khóc) của Lý Bạch. Ở đây, ông Ngô Tích Kỳ chỉ mượn tên bài thơ này để nói đến nỗi niềm đau khổ của những con cá bị người ta bắt được, đem qua sông phơi khô để bán.

[81] Thu lệnh (秋令) nghĩa đen là thời tiết mùa Thu. Do mùa Thu, lá bắt đầu rụng, vạn vật tiêu điều, nên từ ngữ “hành Thu lệnh” ở đây được cụ Trầm dùng theo nghĩa bóng: Tàn sát, ăn thịt loài vật.

[82] Nguyên văn là “đơn biều” (簞瓢). “Đơn” là cái giỏ tre để đựng cơm, “biều” là vỏ bầu để đựng nước, ngụ ý cuộc sống đơn bạc.

[83] Chữ Nho () là do Nhân () và Nhu () ghép lại.

[84] Nguyên Đạo là một thiên sách do Hàn Dũ (Hàn Xương Lê) viết, với dụng ư phục cổ sùng Nho, đả kích Phật giáo.

[85] Mậu Thúc là tên tự của Châu Đôn Di, còn gọi là Liêm Khê tiên sinh, là người sáng lập Lý Học.

[86] Y Xuyên là hiệu của Trình Di, học trò của Châu Đôn Di, cùng với anh là Trình Hạo, đã hoàn thiện tư tưởng của Châu Đôn Di, sau này được Châu Hy hệ thống, trở thành trường phái Tống Nho (thường gọi là Lý Học hay Tống Nho). Anh em Tŕnh Di và Châu Hy đả phá Phật giáo mạnh mẽ nhất, nhưng theo các nhà nghiên cứu Tống Nho, thuyết Lư Khí của họ chỉ là vay mượn từ Phật giáo, thêm thắt một số cách diễn giải ngụy biện để dương danh là phục hưng Nho học, hoàn toàn trái nghịch với học thuyết của Khổng Tử.

[87] Nguyên văn “tam giới tiên tùng bút thiệt nhàn” (trong ba điều răn thì trước hết là phải ít dùng miệng lưỡi để tranh luận).