Vân Thê Pháp Vựng
雲棲法彙
Phần 3
Cổ
Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư
trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo bản điện tử Gia Hưng
Đại Tạng Kinh của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ
Trang
9. Trúc song tùy bút (竹窗隨筆)
Đời
Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn
* Vị tăng tên Vô Vi
Ngài Vô
Vi Năng ở Lưu Khánh Am tại Ngô Giang
lớn tuổi hơn tôi, đức cao hơn tôi,
xuất gia trước tôi. Năm xưa, tôi sang chơi
vùng Cô Tô, Hồ Châu, tọa Thiền cùng một
Thiền đường với Ngài.
Tới khi tôi trụ tại Vân Thê, Ngài đến thọ
giới, xin được ghi danh làm đệ
tử. Tôi từ tạ, chẳng chấp thuận,
Ngài cố thỉnh rằng: “Xưa kia, hai vị
đại Bồ Tát là Phổ Huệ, Phổ
Hiền còn cầu nhập Khuông Lư liên xă. Tôi là
kẻ như thế nào mà tự dứt
phần nơi hội tốt đẹp?” Bất đắc
dĩ, giống như chuyện Đổng La Thạch tham
yết Tân Kiến
(Vương Dương Minh)[1] mà
chấp thuận. Ngài do hiền đức mà
rủ lòng hỏi kẻ ngu, có phong thái của
cổ nhân, tôi ghi lại để khuyên hàng hậu
tấn.
* Mạng người trong
hơi thở
Một vị
Tăng bệnh tật lâu năm, nằm liệt
giường đã lâu, mọi người
biết ông ta ắt chết, nhưng ông ta chẳng
nghĩ tới cái chết. Hễ nói
đến cái chết, ông ta liền không vui. Tôi sai
người bảo thẳng: “Hãy nhanh chóng
lo liệu hậu sự, nhất tâm chánh niệm”.
Ông ta nói: “Nam nhân bị bệnh kỵ [nói
đến chuyện chết chóc] trước sanh
nhật, sau đó sẽ thong thả bàn
định”. Ngày Mười Bảy tháng
Bảy khi đó
mới là ngày sanh, trước một hôm, [ông ta] bỗng
chết mất. Ôi! Mạng người trong hơi
thở, đức Phật vì người
không bệnh mà nói [như thế đó],
huống hồ kẻ sắp chết mà chẳng
ngộ, buồn thay!
* Trước thuật
xưa nay
Lúc tôi
còn tại gia, ở tại
nhà một người bạn là ông Tiền
Khải Đông, do tôi nói về chuyện xuất gia, có
một người tu đạo bảo: “Chẳng
do xuất gia, chỉ cốt sao có được
minh sư mà thôi!” Lúc đó, tôi chưa
nghĩ là đúng. Lại có một
người tu đạo nói: “Đối
với văn tự trong huyền môn, cần
phải xem những trước tác của
bậc thánh hiền thượng
cổ, chứ [những tác phẩm của]
người cận đại phần nhiều
phát xuất từ ý kiến suy đoán,
chẳng đáng tin”. Khi
đó, tôi cũng chẳng nghĩ là
đúng. Nay nghĩ lại hai lời ấy,
đều có ý nghĩa sâu xa. Tuy chưa ắt
hoàn toàn đúng như thế, nhưng xét
theo tông của ta thì cũng lại đúng như
thế. Do vậy, ghi lại.
* Dung hội Nho và Thích
Có người thông minh
hòa hợp, dung hội Thiền tông và sách
Nho. Chuyện ấy không chỉ là huệ giải viên
dung, mà
còn dẫn dắt những kẻ hiểu
biết nông cạn chẳng còn dùng Nho
để báng đạo Thích. Ý ấy cố nhiên
hết sức tốt đẹp. Tuy vậy, nếu
dựa trên lời thô hay lẽ tế đều
là Đệ Nhất Nghĩa, quả đúng
là như vậy; nhưng nếu xét theo văn
tự để phân tích lý sâu xa tột
cùng, vi tế tột bậc, thì lại trở
thành hý luận. Người đã nhập
môn lại chẳng thể không biết [điều
này].
* Lăng Nghiêm (1)
Ngài
Thiên Như soạn sách Lăng Nghiêm Hội Giải,
có người nói rằng: “Đấy là Lăng
Nghiêm của Thiên Như, chẳng phải Lăng Nghiêm
của Thích Ca”. Tôi cho rằng lời ấy tuy
đúng, nhưng kẻ mới học chấp
trước lời này, bèn muốn phế sạch
chú sớ của cổ nhân thì chẳng
đúng. Dẫu phế sạch các chú
sớ, chỉ còn lại chánh văn (nguyên
văn kinh Lăng Nghiêm), há chẳng nói:
“Đấy là Lăng Nghiêm của Thích Ca,
chẳng phải là Lăng Nghiêm của chính
mình ư?” Tức là kinh có thể phế bỏ,
huống hồ chú sớ ư? Lại chẳng
biết “Lăng Nghiêm của chính mình” trọn
khắp hết thảy mọi nơi ư? Vậy
thì chư tử bách gia[2],
thậm chí những bài ca xướng của
tiều phu, mục đồng đều chẳng
thể phế bỏ, huống gì chú sớ?
* Lăng Nghiêm (2)
Không chỉ
Lăng Nghiêm, trong thời
gần đây, [người học] các kinh đa
số đều chẳng dùng tới chú
sớ. Phàm chẳng câu nệ những
lời giải thích sẵn có mà nghiên cứu
thẳng vào ý
chỉ của kinh văn, quả thật là có
chủ kiến. Nhưng do vậy mà trở
thành phong trào, thậm chí phô diễn
những ý kiến ức đoán mong
vượt trội cổ nhân, ngỡ đó
là cao siêu, nhưng có khi là hiểu cong vạy,
nói sai lệch, kẻ
mới học vô tri đâm ra bị lầm lẫn.
Hơn nữa, người xưa có
những chỗ hơn người hiện
thời cực nhiều, những chỗ không bằng
chỉ là một phần mười!
Người đời nay những chỗ
chẳng bằng cổ nhân cực nhiều,
những chỗ hơn xưa chỉ
được một phần trăm! Vậy thì
sao bằng giữ lại lời giáo
huấn [của người xưa], như
người học nghề ắt phải
trước hết tuân lời thầy dạy
để làm chuẩn mực, để
đến mai sau, thần cơ diệu thủ hơn
hẳn thầy mình, ai có thể hạn chế
được? Việc gì cứ phải
gấp gáp mong vượt trội? Huống chi
trọn chẳng thể vượt ngoài
phạm vi của cổ nhân!
* Công đức lễ sám
Cư
sĩ Tào Lỗ Xuyên ở Cô Tô bảo tôi:
- Có một cô gái
ở nhà chồng, mùa Hè ngồi trong
nhà, một con rắn từ trên
tường rượt đuổi chim bồ câu,
rơi xuống giữa sân. Người nhà trông
thấy bèn giết chết. Mấy ngày sau,
rắn dựa vào thân cô gái, nói năng.
Lỗ Xuyên đến xem, [rắn] bèn nói: “Xưa
kia ta trấn thủ Kinh Châu. Cao Hoan[3]
làm phản, đuổi ta tới bến sông,
bèn chết trong sông, chẳng biết cha, mẹ,
vợ, con ta có bình yên hay không?” Lỗ Xuyên kinh
ngạc nói: “Cao Hoan là người
thời Lục Triều, nay đã trải qua
Tùy, Đường, Tống, Nguyên tới
Đại Minh rồi!” Quỷ mới ngộ chính
mình chết đã lâu, cũng biết mình
là rắn, nói: “Đã là rắn,
chết cũng chẳng hận, chỉ vì ta
lễ một bộ Lương Hoàng Sám, ta sẽ
đi”. [Người nhà cô gái ấy] bèn
thỉnh vị tăng Định Không ở chùa
Tứ Châu lễ sám. Bái sám xong, thiết
trai đàn, thí hộc thực[4]
một đàn, ngày hôm sau cô gái an ổn như
cũ.
Sám lễ đúng
thời có ý nghĩa to lớn thay!
* Ăn nuốt nghêu, hào
Hà
Dận[5]
đời Tấn nói: “Lươn, cua đi
vào chỗ chết, do có tri giác nên đáng
thương, còn như ngao mật, sò biển,
hào, trong thì chẳng có mặt mày,
ngoài thì mồm mép câm nín, chẳng
tươi, chẳng héo, chẳng bằng
thảo mộc, không phát ra tiếng, không ngửi,
khác nào ngói, sỏi! Do vậy, đáng nên
đưa vào bếp núc, vĩnh viễn làm
thức ăn!” Ôi! Đó là lời
lẽ như thế nào vậy? Bọn chúng tuy
chẳng có mặt mày, môi mép,
tươi, héo, âm thanh, ngửi, há có
phải là chẳng có hình chất ngọ
ngoạy ư? Hễ có hình chất, có thể
vận động, thì đều có tri giác. Ngươi
chẳng biết chúng có tri giác, huống
hồ mày, mắt v.v… thật ra không gì
chẳng đủ, chỉ là đặc
biệt vi tế, mắt phàm tục chẳng
thấy được, mà toan vĩnh viễn
dùng chúng làm thức ăn! Cái tội
của Hà Dận thấu tận trời vậy!
* Chó vàng ở
Đông Môn
Lý
Tư[6]
sắp bị hành hình, nhìn con bảo: “Ta
muốn cùng con lại dẫn chó vàng, chim
ưng xanh đậu trên tay, ra ngoài cửa Đông
thành Thượng Thái săn thỏ khôn, há
có được chăng?” Cha con cùng
khóc, ba họ bị tru di. Ấy là Lư Tư hối
hận nay phú quý mà chết, chẳng
bằng xưa kia nghèo hèn mà được
sống. Sao chẳng nghĩ thỏ gặp chim
ưng, chó săn, chẳng giống như chính
mình mắc búa, rìu ư? Thỏ bị
diệt bầy, ngươi bị diệt tộc,
vừa khéo như nhau! Chẳng biết tội
mình, lại ngược ngạo hâm mộ,
đến chết vẫn chẳng ngộ, đấy
là cha con Lý Tư đấy chăng?
* Vì cha mẹ sát sanh
Ông Kim X…
ở Tiền Đường trai giới
kiền thành, chuyên dốc, do bệnh mà mất,
dựa vào thân một bé trai nói: “Do
thời gian tu thiện nghiệp còn ít, chưa
được vãng sanh Tịnh Độ, nay ở
cõi âm, nhưng cũng rất vui sướng,
đi, ở tự tại”. Một hôm, ông
quở trách vợ con rằng: “Vì sao do
chuyện phần mộ của ta mà giết gà,
nấu xôi? Nay có quỷ sứ theo ta, gần như
chẳng được thoải mái như
trước nữa!” Vợ của đứa con trai
có thai, do vậy hỏi ông, ông bèn nói: “Sẽ sanh
con trai bình yên. Sau đó, sẽ lại sanh con trai,
nhưng mẹ lẫn con cùng chết”. Tôi ghi lại
cẩn thận để xem về sau có ứng
nghiệm hay không? Không lâu sau, cô ta sanh con trai, lại
hoài thai, lại sanh con trai, con trai chết, mẹ
cũng chết theo, mới biết mỗi lời
đều chẳng sai. Như vậy thì vì cha
mẹ mà sát sanh, hiếu tử có nên
làm hay chăng?
* Giết nai cúng bái
để cầu danh
Có
kẻ sĩ học đã thành tài, nhưng thi
cử lận đận, bèn cầu đảo
thần Văn Xương: “Nếu đỗ khoa thi
Hương, sẽ giết nai cúng tế”. Chẳng
mấy chốc, anh ta thi đậu, đã đền
nguyện, đi thi Hội vào mùa Xuân, lại
hứa cúng hai con nai, chưa kịp đỗ
đã chết! Ôi! Giết nai để cầu tài
lộc cho mình, há ngươi an ổn
được chăng?
* Thí dụ về tâm
Tâm không ǵ có thể
thí dụ được! Phàm nêu thí dụ
về tâm, bất đắc dĩ mà quyền
biến [chọn lấy những thứ] gần
giống, chẳng phải là thật. Thử
nêu ra một, hai
điều: Như dùng gương để sánh ví tâm, vì
gương có thể chiếu vật. Khi vật
chưa đến trước gương, gương
chẳng đón sẵn. Khi vật đối
trước gương, gương chẳng yêu,
ghét. Khi vật đã rời đi, gương
chẳng lưu giữ. Cái tâm của thánh nhân
thường tịch, thường chiếu, không tịch suốt ba
thời, cho nên ví như gương. Nhưng
chỉ là đại lược tương
tự mà thôi, nếu xét cùng cực
để luận định, gương thật
sự vô tri, tâm thật sự vô tri như thế
ư? [Nếu thật sự vô tri] thì sẽ
tối tăm, chẳng linh thông, sao có thể
nói là “diệu
minh chân thể” cho được?
Hoặc ví tâm như bảo châu, hoặc ví
như hư không, đủ loại thí dụ cũng
lại giống như thế!
* Hoán cốt (thay
đổi xương)
Trần Hậu
Sơn[7]
nói: “Học thơ như học đạo tiên,
đến thời xương sẽ tự thay
đổi”. Tôi cũng nói: “Học Thiền
như học đạo tiên, đến thời
xương sẽ tự thay đổi”. Vì
thế, người học không lo Thiền chẳng
thành, chỉ lo thời chẳng đến! Không lo
thời chẳng đến, chỉ lo học không
siêng năng!
* Hồng Châu chẳng
đạt được cái Thể của
bảo châu
Hồng Châu
tức là Mã đại sư (Mã Tổ
Đạo Nhất). Ngài Khuê Phong [Tông Mật] cho
rằng: Như Lai truyền pháp cho ngài Ca
Diếp, truyền tới Tào Khê (Lục Tổ
Huệ Năng). Đạo của Tào Khê chỉ có
Hà Trạch (Thần Hội) là chánh truyền,
các tông khác đều thuộc loại nhánh
phụ. Ví
như châu ma-ni, chỉ có Hà Trạch riêng
đạt được cái thể của viên
châu! Cách nói
của ngài Khuê Phong phân tích lý tột
bậc tinh vi, nhưng bình phẩm về
người thì chẳng thỏa đáng!
Bởi lẽ, Mã Tổ đích thân kế
thừa ngài Nam Nhạc [Hoài Nhượng],
Nam Nhạc đích thân kế thừa Tào Khê
(Lục Tổ Huệ Năng). Sau đấy, Bách Trượng,
Hoàng Bá, Lâm Tế, Nam Tuyền, Triệu Châu,
chẳng thể kể xiết các vị đại
tôn túc đều từ Mă Tổ mà ra, chỉ đề
cao một mình ngài Hà Trạch, sao có
thể khiến cho thiên hạ phục được?
Ngài Khuê Phong cho
rằng ngài Hà Trạch nêu ra một chữ
Tri (biết) là tâm, còn các tông thì chỉ
bày nơi tác dụng, tức là chỉ
đạt được bóng dáng của viên
châu. Nhưng cổ nhân tháo niêm, cởi trói cho
người khác, thuận theo thời, thuận
theo căn cơ, vốn chẳng có pháp
nhất định. Nói Tri là chánh thuyết; nói
đến tác dụng là xảo thuyết (cách
nói thiện xảo)! Xảo là gì? Muốn cho
mọi người do bóng dáng mà biết
cái gì hiện ra bóng dáng? Nếu chấp
một chữ Tri, vậy thì đức Thế
Tôn giơ cành hoa lên, chưa từng có
chữ Tri, tức là đức Thế Tôn
chẳng bằng Hà Trạch ư? Huống
hồ những chỗ các tông nêu thẳng
chữ Tri cũng chẳng ít, há bảo là “chuyên
nói theo tác dụng” ư? Ngài Khuê Phong thường
nhật kiến địa cực cao, tôi khâm phục sâu
đậm, riêng chỗ này chẳng thỏa ý
người khác!
* Phần mộ
Tôi
đã già, bệnh, đại chúng chọn cuộc
đất để dựng tháp, mấy
lượt thay đổi. Tôi than rằng: “Người
đời hết sức chú trọng, lo toan
Phong Thủy, mong cho con cháu vĩnh viễn phú
quý. Các ngươi mong mỏi sẽ
được tập ấm làm vị quốc
sư áo tía ư? Cổ nhân có nói: “Vứt
thây nơi rừng rú để nuôi cầm thú”.
Mong sao chẳng bỏ ta vào bụng quạ,
ruột cáo là đủ rồi, những
điều khác chẳng phải là thứ
người tu đạo cần biết tới!”
* Bồ Tát độ sanh
Kinh dạy:
“Bồ Tát chẳng thể tự độ
mà có thể độ người khác
trước”. Ngu phu bèn cho rằng Bồ
Tát chỉ độ chúng sanh, chẳng độ
chính mình. Chẳng biết chính mình
cũng thuộc trong số chúng sanh, há có
chuyện độ hết chúng sanh mà riêng bỏ
sót một chúng sanh là chính mình ư?
Há có nên viện cớ là Bồ Tát,
đuổi theo cái bên ngoài, quên khuấy cái bên
trong ư?
* Sau khi đã ngộ
Hòa
thượng Quy Sơn nói: “Như nay kẻ
sơ tâm tuy do duyên mà đạt được
một niệm đốn ngộ để tự
nhập lý, nhưng hãy còn tập khí từ
vô thỉ kiếp lâu xa chưa thể nhanh chóng
trừ sạch, cần phải trừ sạch hiện
nghiệp lưu thức[8];
đó chính là tu vậy, chẳng nói
có riêng một pháp để dạy họ tu
hành, hướng theo”. Lời này của
ngài Quy Sơn, nếu chẳng phải là
người thấu triệt nguồn cội của
pháp, sẽ chẳng thể nói
được. Nay có người tỉnh
giác đôi chút liền nói “sự
tham học trong suốt một đời đã
hoàn tất”, có
phải chỉ một đôi kẻ mà thôi ư?
* Hai vị tọa chủ Phu
và Toại
Phu
thượng tọa ở Thái Nguyên giảng
kinh Niết Bàn tại chùa Hiếu Tiên ở
Dương Châu, rộng đàm luận diệu lý Pháp
Thân, có vị thiền giả bật cười.
Phu thượng tọa giảng xong, mời
thiền giả dùng trà, bạch rằng: “Tôi
hẹp hòi, kém cỏi, nương theo văn
tự mà hiểu nghĩa, khéo sao
được ngài chê cười, mong
được dạy bảo”. Thiền giả
nói: “Chẳng phải là tọa chủ nói
không đúng, nhưng chỉ là nói
được chuyện ngoài rìa Pháp Thân lượng, thật
sự chưa biết Pháp Thân ở đâu”. Phu
thượng tọa thưa: “Đã là như
vậy, xin hãy v́ tôi nói”.
Đáp: “Tọa chủ vẫn tin tưởng
ư?’ Thưa: “Nào dám chẳng tin!” Đáp:
“Thỉnh tọa chủ ngưng giảng mười
ngày, đoan nghiêm tĩnh tọa, thâu tâm, nhiếp
niệm, các duyên dù thiện hay ác đều
nhất loạt buông xuống”. Phu thượng tọa
nhất loạt vâng theo lời dạy, từ
đầu đêm tới cuối canh năm, nghe
tiếng tù và, bỗng đại ngộ.
Lại nữa, Lương Toại
tọa chủ tham yết ngài Ma Cốc[9].
Ma Cốc vác cuốc vào vườn,
chẳng ngó ngàng tới, trở về
phương trượng, liền đóng
chặt cửa. Ngày hôm sau, [Toại tọa chủ] lại
cầu kiến, lại bị đóng cửa.
Toại tọa chủ liền gõ cửa, Ma Cốc hỏi:
“Ai đó?” Toại tọa chủ vừa
mới xưng tên, bỗng đại ngộ. Hai vị
tôn túc ấy chỉ do trống lòng cầu
hiền, chẳng ôm lòng ngã mạn.
Người hiện thời tự cao, sao
đạt như thế được?
* Thật ngộ
Diệu Hỷ[10]
nói: “Khi nói được rành rẽ ‘que
cứt khô’[11] là
như thế nào, thì ‘cưa đứt quả
cân, ba cân gai, con chó có Phật tánh’ v.v… sẽ
đều có thể nói được như
thế. Đã chẳng thể nói như
thế, cần phải là ngộ rồi mới
đắc. Nếu ngươi thật sự
đắc ngộ mà sư gia (thầy truyền
pháp) cố ý nói chẳng phải, cũng
sẽ chuốc lấy nhân quả chẳng nhỏ!”
Người học hãy nên nhớ kỹ
lời nói này của ngài Diệu Hỷ,
sẽ dứt khẩu đầu tam-muội mà
cầu ngộ thật sự.
* Cha mẹ lạy
ngược lại người xuất gia
Tôi soạn
Chánh Ngoa Tập, có nói: “Phản nghĩa
là ‘trả
lại’. Cha
mẹ là người tại gia chẳng
tiếp nhận người con đã xuất gia
lễ bái, bèn hoàn lễ, chẳng phải
là lạy ngược lại con mình”. Một vị
Tăng bực tức nói: “Kinh Pháp Hoa
nói Đại Thông Trí Thắng Như Lai đã
thành Phật, cha Ngài là luân vương
hướng về Phật đảnh lễ.
Đó là lạy ngược lại con.
Phật đã có giáo huấn rành rành;
do vậy, khắc vào cuối kinh”. Tôi chắp
thay, thưa: “Ngài gọi điều gì là
Như Lai?” Vị Tăng từ tạ, chẳng
dám đáp. Lại hỏi: “Ngài chưa phải
là Như Lai, nhưng sắp thành Chánh
Giác ư?” Tăng lại chối chẳng dám.
Tôi nói: “Đã chẳng dám thì
đợi cho đến khi chính Ngài thành
Chánh Giác, ngồi đoan nghiêm suốt
mười kiếp, thật sự tiếp nhận
địa vị của Đại Thông Như Lai, sẽ
tiếp nhận cha mẹ lạy mình vẫn chưa
muộn! Nay Ngài là Tăng, chưa phải là
Phật. Phật vì Tăng mà lập pháp,
chẳng vì Phật mà lập pháp. Hơn
nữa, người đời báng bổ
Phật không cha, không vua. Tôi vì sợ lẽ ấy
mà uốn nắn sự sai ngoa đó,
hòng dứt sự chê gièm trong cõi
đời, mong cho chánh pháp tồn tại lâu
dài! Vì sao Ngài chẳng sợ khẩu
nghiệp, cam tâm làm loài trùng trong thân sư
tử vậy? Buồn thay!”
* Sống ngu, chết trí
Lạc
Dương Già Lam Ký ghi: “Sách sử
đều chẳng phải là sách ghi chép
sự thật”. Người thời nay
sống ngu, chết trí, cũng hết sức mê
hoặc. Bởi lẽ, nói sử phần
nhiều khen ngợi quá đáng, chẳng
đáng tin; nhưng hai chữ “giai phi”
(đều chẳng phải) là nhận
định thái quá. Cổ nhân nói sử
là “trực bút” (ghi chép thẳng
thừng), lẽ đâu chẳng phải là [ghi
chép] sự thật? Phu tử (Khổng Tử)
nói “văn thắng chất”[12]
thì sử sẽ có những điều
chẳng thật, hãy nên sửa “giai phi”
thành “vị tất” (chưa chắc). Cổ
nhân thận trọng trong việc khẳng định,
một lời phẩm đề sẽ truyền
tiếng thơm ngàn đời, nhưng hiện
thời xem đó là chuyện xưa, giống
như vì tình cảm riêng mà a dua hư vọng,
khen bừa, khiến cho người hiểu
biết chê cười, đáng than thay! Vì
thế, sách Lạc Dương Ký do khích động mà
luận định như thế, đánh ngay vào
thói tệ trong đời mạt, chẳng
nói toạc như thế này: Đối với
các vị thiện tri thức thật sự
đời trước trong Truyền Đăng
Lục và những tên họ được
đưa vào trong hiện thời, ghép chung
vào tổ đồ (hệ thống truyền
thừa của chư tổ sư) thì biện
định như thế nào đây? Sau này,
những ai là đệ tử của tôi
đừng hư vọng ghép những
người nổi danh [vào tiểu truyện
của tôi] hòng tô vẽ những gì tôi chưa
đạt đến!
* Trang Tử (1)
Có kẻ
sĩ trong cõi tục tụ tập các sa-di nhỏ
tuổi để giảng sách Trang Tử, nói
lớn lối rằng: “Nam Hoa[13]
có ý nghĩa vượt trội kinh Lăng
Nghiêm”. Nhất thời, tăng sĩ và các
cư sĩ chẳng
ai quở trách kẻ ấy sai
trái. Nam Hoa quả thật tuyệt diệu trong các
sách thế tục, nhưng bảo là hơn
hẳn kinh Lăng Nghiêm, sao mà nực
cười quá đỗi? Kẻ sĩ ấy
cố nhiên là loại học vấn nhà quê, xét
ra phẩm đức của hắn thô thiển,
vụn vặt, chẳng đáng so đo!
Lời lẽ của hắn cũng chẳng
có chỉ thú đáng luận, chỉ
sợ sẽ khiến cho các sa-di lầm lẫn!
Nhưng các sa-di hễ hơi minh mẫn thì lâu
ngày sẽ tự biết, như nói “đồng
thau hơn hẳn vàng ròng” chỉ
lừa được trẻ nít, trẻ
nít lớn lên ắt sẽ nhổ vào
mặt kẻ đó!
* Trang Tử (2)
Có người
nói rằng: “Sách Trang Tử tuy nghĩa kém cỏi,
nhưng văn chương huyền diệu, phóng
khoáng, đáng chuộng, đáng kinh ngạc,
đó là những điều kinh Phật
chẳng có! Do vậy, các bản văn chương
thời cổ và kẻ theo đuổi cử
nghiệp đều không ai chẳng noi theo, là
như thế nào vậy?”
Đáp: Kinh Phật
được gọi là lời lẽ chí
lý, không bóng bẩy, nhưng so với văn
chương của người đời thì
là ánh sáng rực rỡ của mùa
Xuân đua sắc với các loài thảo
mộc! Khoan bàn đến đã, ông muốn
bàn luận về văn chương, há
chẳng phải là có Lục Kinh, tứ
tử[14] tồn
tại đó ư? Nhưng Khổng Tử là
người tổng tập hoàn thiện. Tôi
thử dùng thí dụ để nói: Văn
của Khổng Tử chánh đại, quang minh, như
mặt trời, mặt trăng. Còn sách
Nam Hoa thì chỗ hay như sao dày, chớp
lóe, chỗ dở như lửa cháy
đồng. Văn của Khổng Tử sâu lắng,
hàm súc, mênh mông, là sông, là biển.
Chỗ hay của sách Nam Hoa như sóng trào
nơi thác nước, chỗ dở thì
như dòng nước chảy loạn xạ.
Văn của Khổng Tử dung hội tinh túy,
ấm áp, mượt mà như ngọc quý.
Nam Hoa thì chỗ hay như thủy tinh, lưu ly,
chỗ dở thì như loại đá thoạt nhìn
giống như ngọc. Văn của Khổng Tử
thiết thực, gần gũi, tinh tường,
chân thật như ngũ cốc. Nam Hoa thì chỗ hay
như quả vải của xứ An Nam, nho của xứ
Đại Uyển, chỗ dở thì như lê
và hồng chưa chín. Đó là so sánh
đại lược, người theo cử
nghiệp nên học theo loại văn nào? Huống
hồ người làm Tăng chẳng coi
văn chương là sự nghiệp của
chính mình!
* Trang Tử (3)
Hỏi: - Bậc
tôn túc thời cổ chú sớ kinh, tạo
luận, có dẫn lời Trang Tử, là
vì lẽ nào?
Đáp: - Sách
vở nơi Chấn Đán (Trung Hoa) thì
Châu, Khổng, Lão, Trang là hay nhất. Kinh Phật
từ Ngũ Thiên Trúc truyền đến,
muốn mượn lời lẽ trong cõi
này để nêu rõ, chẳng trích dẫn
lời lẽ của họ thì trích dẫn ai
đây? Nhưng phần nhiều là dùng từ
ngữ của họ, chứ không dùng trọn
nghĩa của họ, chỉ là mường
tượng mà thôi! Bởi lẽ, [ý
nghĩa trong các lời nói của họ]
chỉ là hơi tương tự, chẳng
phải là đúng thật. Người
phương Nam lên đất Bắc, người
đất Bắc chẳng biết thuyền
[là như thế nào], [người
phương Nam] bèn chỉ cỗ xe mà giảng
giải rằng: “Thuyền của tôi chở
vật đi xa giống như xe cộ ở
phương này”. Mượn xe để chỉ
rõ thuyền, chẳng phải coi xe là
thuyền!
* Sách dưỡng lăo
Có người
biên tập sách dưỡng lão, ăn uống
hằng ngày phần nhiều là quay,
nướng sanh vật, đến mức chim
sẻ, nhạn, trĩ, uyên ương, nai, thỏ, lạc
đà, gấu, lợn rừng, kể cả nhiều
kẻ thiếu niên giàu có còn chưa
từng được nếm. Tiên đức
có nói: “Dẫu anh khéo bồi bổ, khó tranh
cùng tử ma”. Cớ sao đã già
mà chẳng thôi dứt ý niệm ấy?
Cứ ngược ngạo siêng năng sát
hại, khiến cho người già trong thiên hạ
bị lầm lẫn, cũng như khiến cho con, em
họ đều hãm trong địa ngục, chính
là vì sách này! Khổng Tử nói “lão
giả an chi” (khiến cho người già được
an ổn)[15],
chắc chắn Ngài chẳng dạy họ
sát sanh để được yên ổn. Mạnh
Tử nói “thất thập thực
nhục” (bảy
mươi tuổi ăn thịt) cũng chắc
chắn chẳng dạy ăn trọn khắp
thịt của chúng sanh. Kẻ xướng suất [ăn trọn các loại thịt để
dưỡng lão] hãy suy nghĩ đi!
* Tâm đắc
Cái
đạt được do dùng tai để nghe và nhận
chẳng rộng bằng điều đạt
được do dùng mắt để thấy
hoặc đọc. Cái đạt
được do dùng mắt để thấy
hoặc đọc chẳng rộng tột cùng
bằng cái đạt được do
dùng tâm để
ngộ, để thông hiểu. Do tâm là
vua, do mắt là bầy tôi, do tai là kẻ giúp đỡ. Dùng
mắt làm tâm kém hơn, dùng tai làm
mắt lại càng kém hơn nữa!
* Cúng tế quỷ
thần chẳng dùng các con vật[16]
Phong
tục ở đất Hàng cuối năm tế
thần, lớn thì mổ dê, hầm
lợn. Kém hơn thì dùng
đầu lợn, gà, cá. Khi tôi chưa xuất
gia, trì giới chẳng giết, bèn thay
bằng rau quả, người nhà dẫu
là đứa trẻ chỉ cao ba thước
không ai chẳng ngạc nhiên, cho là ắt
chẳng thể được! Tôi
thắp hương, cầm đuốc, lớn
tiếng bạch với thần rằng: “Tôi tên
là… giữ giới chẳng giết. Sát
sanh để cúng tế thì không chỉ là tôi
phạm lỗi, mà cũng chẳng phải là
phước của thần! Nhưng ý này do
một mình tôi quyết đoán, những
người khác đều muốn dùng các
con vật. Nếu thần chẳng vui, hễ có tai
vạ, xin giáng xuống thân tôi.
Nếu lạm hại kẻ vô tội, sẽ chẳng
thể gọi là đấng thông minh, chánh
trực!” Người nhà
vẫn cho là tôi sẽ bị nguy hại, nhưng suốt
năm cả nhà chẳng có chuyện gì,
bèn theo lệ ấy.
* Ưa chuộng
Người
sống trong cõi đời, mỗi người
có riêng sở thích, cũng như ai nấy
thuận theo sở thích mà sống đến
già, nhưng thanh hay trược khác nhau! Ô
trược nhất là ham tiền tài, kế
đó là háo sắc, kế đó
là ham chè chén. Hơi thanh hơn thì
hoặc là chuộng đồ cổ ngoạn,
hoặc thích đàn, cờ, hoặc
thích núi, sông, hoặc chuộng ngâm vịnh.
Hoặc tiến hơn nữa là thích
đọc sách, mở sách ra bèn có
ích. Trong các điều ưa thích, đọc
sách là tốt nhất, nhưng đấy vẫn
là pháp thế gian. Lại tiến hơn
nữa là thích đọc nội điển
(kinh Phật). Lại tiến hơn nữa là
thích tịnh cái tâm. Ưa thích tịnh cái
tâm đến mức cùng tột chính là
ưa thích tối thắng nhất trong thế gian
và xuất thế gian, sẽ dần tiến nhập
cảnh tốt đẹp ví như ăn mía
vậy!
* Hãy nên ngộ trí
thế gian
Trí có hai
loại, có trí thế gian và trí xuất thế
gian. Trí thế gian lại có hai loại:
- Một là học
rộng, ngôn từ rộng rãi, tài nghệ
giỏi giang, bản lãnh sâu xa, chỉ do hiểu
biết nhiều mà hơn hẳn người
khác.
- Hai là hiểu rõ
thiện ác, thông hiểu tà chánh, thực
hiện điều đáng nên làm và ngăn
dứt điều đáng nên ngăn dứt.
Chỉ đạt
được điều thứ nhất thì
là cuồng trí, sẽ đọa vào tam đồ.
Kiêm đạt được cả điều sau,
thì gọi là Chánh Trí, quả báo
thuộc vào đường trời,
người. Vì sao vậy? Đức
thắng tài thì gọi là quân tử, tài
thắng đức thì gọi là tiểu
nhân.
Trí xuất thế gian
cũng gồm hai loại:
- Một là khéo có
thể phân biệt chánh pháp của Như Lai,
như Tứ Đế, Lục Độ v.v…
nương theo đó mà phụng hành.
- Hai là phá vô minh hoặc, đúng
như thật hiểu rành rẽ, thấy bổn tâm
của chính mình.
Chỉ đạt
được loại đầu thì là
trí xuất thế gian, gọi là “tiệm nhập”.
Kiêm đạt được điều sau thì
là thượng thượng trí xuất
thế gian, gọi là “đốn siêu”. Vì sao
vậy? Chỉ cần đạt được
cái gốc, lo chi cái ngọn. Đạt
được cái ngọn, chưa chắc
đạt được cái gốc. Nay có
kẻ vừa mới đạt được
phần đầu của trí thế gian, liền
bảo là “đại
triệt đại ngộ”, lầm lẫn, mê muội
quá đỗi!
* Chớ nên bỏ
lỡ thời cơ
Phàm
người mới xuất gia, tâm ắt
mạnh mẽ, nhạy
bén, hãy nên thừa dịp ấy mà một
mực đổ công dốc sức khiến cho được
thành lập. Nếu cứ chểnh mảng, ơ
hờ, bỏ lỡ lúc ấy, ngày sau
hoặc làm trụ trì, hoặc nhận
học trò, hoặc tín thí đông nhiều, phần
lớn sẽ
mắc lụy, vùi đắm cái chí ban
đầu. Người tu hành chớ nên không
biết điều này!
* Niệm Phật được
quỷ kính trọng
Thôn dân X…
ở Hải Xương, có một bà cụ
chết, nhập vào thân người nhà
để nói chuyện lúc sống và
sự báo ứng trong âm phủ hết
sức tường tận. Người nhà
vây quanh nghe. Ông X… ở giữa đại chúng,
bỗng nhiếp tâm niệm Phật. Bà cụ nói:
“Ông thường như thế, lo gì chẳng
thể thành tựu Phật đạo”. Hỏi:
“Vì sao vậy?” Đáp: “Do tâm ông niệm A Di Đà
Phật”. Hỏi: “Vì sao biết?” Đáp: “Do
thấy thân ông có quang minh”. Thôn dân chẳng biết
một chữ, niệm Phật trong thoáng chốc, mà
còn khiến cho quỷ kính trọng, huống
hồ người tu đã lâu? Do vậy, công
đức niệm Phật chẳng thể nghĩ
bàn!
* Quỷ thần
Nếu
hỏi “có quỷ thần hay không?”, đáp: “Có
quỷ thần”. “Có thể tin thờ hay
chớ nên tin thờ?” Đáp: “Vừa nên, vừa
chẳng nên”. “Nghĩa là sao?” Đáp: “Phu
tử (Khổng Tử) chẳng nói “kính
quỷ thần nhi viễn chi” (kính trọng quỷ
thần nhưng xa cách) ư? Một lời ấy
đã trọn hết mọi lẽ. “Kính chi”
là nói có [quỷ thần], “viễn
chi” là nói tín phụng, nhưng chẳng siểm
nịnh. Cúng tế đúng thời, giao
tiếp bằng lễ, như thế mà thôi! Quá tin
tưởng mà bợ đỡ, thờ
phụng, hòng được họ báo
trước cát, hung, ban phước, đạt
được sự linh thông, ắt sẽ
xăm xăm đi vào đường tà
vậy! Ôi! Có đấng đáng kính mà
chớ nên xa chính là Phật, Bồ Tát, sao
chẳng suy nghĩ?
* Đông Pha (1)
Ngài Huệ Hồng
Giác Phạm[17]
nói Tô Đông Pha văn chương và
đức hạnh rạng ngời ngàn
đời, lại còn thâm nhập Phật pháp,
nhưng lưu luyến thuật trường sanh chẳng
thể quên, chẳng phải chỉ không có công lao,
mà đâm ra còn do vậy mà bị bệnh
chết. Tôi nói: “Đông Pha mà còn
như thế, huống chi những kẻ khác
ư? Nay có kẻ miệng bàn vô sanh mà tâm hâm mộ
trường sanh. Có kẻ mới học vô sanh, trong
chốc lát liền
đổi sang học trường sanh.
Đó là vì cái biết chẳng chân
thật, cái thấy chẳng vững vàng. Do
vậy, người tu đạo chớ nên
đánh mất chánh kiến trong khoảng
sát-na!
* Đông Pha (2)
Nguyên thiền
sư gửi thư cho Đông Pha nói: “Người
hiện thời kiêng kỵ Tử Chiêm[18] đang
làm Tể Tướng. Công danh, phú quý ba
mươi năm chớp mắt thành rỗng
không, sao chẳng dũng mãnh một đao
chặt phăng?” Lại nói: “Trong bụng
Tử Chiêm có vạn quyển sách,
dưới ngòi bút chẳng có một
mảy trần, vì sao chẳng biết tánh
mạng của chính mình sẽ rơi vào
đâu?” Do Tô Đông Pha dĩnh ngộ, mẫn tiệp,
lại có bạn lành đốc thúc, khơi
gợi như thế, còn lo gì chẳng
mỗi ngày một tiến bộ hơn? Nay hạng
quan lại giao du với bậc tăng sĩ, hãy
nên theo tình nghĩa ấy.
* Yêu, ghét
Tục ngữ
nói: “Ái kỳ nhân cập kỳ ốc
thượng chi ô” (yêu mến một
người bèn yêu mến cả con
quạ trên mái nhà), ý nói: Yêu mến tột
bậc, bỗng do duyên biến đổi mà tình
xoay chuyển, biến yêu thành ghét, đã
ghét lại càng ghét hơn, tình yêu mến
trước đó ở chỗ nào vậy?
Chuyển ghét thành yêu, cũng lại như
thế. Do vậy, yêu chẳng cần phải
mừng, ghét chẳng cần phải giận,
do đó là chuyện
trong mộng, hoa đốm trên không, vốn chẳng
phải là thật!
* Lợi ích của
Tĩnh (1)
Ban ngày có việc,
có khi chẳng biết xử sự ra sao, ngủ
đến canh tư hoặc canh năm ngồi dậy,
thì “đúng, sai, nên, không nên” bỗng
tự hiểu rõ. Những chỗ sai lầm
trong lúc ban ngày do vậy đều hiện ra,
bèn biết trước nay chẳng thấy
rõ tâm tánh đều là do bận bịu,
rối ren che lấp bản thể mà thôi. Cổ nhân nói:
“Tĩnh kiến Chân Như tánh” (do tĩnh mà
thấy tánh Chân Như), “tánh thủy
trừng thanh, tâm châu tự hiện”
(nước tánh trong lặng th́ viên châu
trong tâm tự hiện), há có phải
là lời rỗng tuếch ư?
* Lợi ích của
Tĩnh (2)
Mắm
ngấu, rượu ngon trong thế gian cất
giữ càng lâu, càng ngon, đều do bịt
chặt, phong kín, chẳng bị rò hơi.
Vì thế, cổ nhân nói: “Hai mươi năm
chẳng mở miệng nói chuyện; sau
đấy Phật cũng không làm gì ngươi
được!” Lời ấy hay lắm
thay!
* Kinh Hoa Nghiêm không bằng
quẻ Cấn
Tống Nho
có nói “đọc một bộ kinh Hoa Nghiêm
chẳng bằng xem một quẻ Cấn”.
Người cao minh biết nói kiểu ấy sai
lầm, kẻ kém hèn bèn tin tưởng
chẳng ngờ. Mở cửa tà kiến,
đóng lấp nẻo viên thừa, chẳng
thể không ăn nói cẩn thận! Giả sử
nói “đọc
một bộ kinh Dịch chẳng bằng xem
một quẻ Cấn” còn chẳng thể
được, huống hồ Phật pháp ư?
Huống hồ kinh Hoa Nghiêm trong Phật pháp ư? Hoa
Nghiêm trọn đủ vô lượng môn, các kinh
Đại Thừa khác vẫn là một môn
trong vô lượng môn của kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm
là thiên vương, các kinh Đại Thừa
là chư hầu được phong
tước. Các kinh Tiểu Thừa là
nước phụ thuộc của các
nước được phong hầu,
những điều khác có thể [suy ra
mà] biết được!
* Hàn Hoài Âm (Hàn
Tín)
Hoài Âm[19]
giúp Hán diệt Sở, đã được
phong vương, mời người phụ
nữ giặt giũ đến tặng
ngàn vàng. Mời kẻ thiếu niên đã
làm nhục mình đến, cũng
tặng cho ngàn vàng. Phàm báo ân là
lẽ thường tình của con người,
chẳng báo oán mà ngược lại
dùng ân để báo
oán, có thể nói là có độ
lượng của bậc đại nhân, có phong
thái của bậc trưởng giả quân
tử, nhưng rốt cuộc chẳng
được chết yên lành, khiến cho
từ ngàn xưa đến nay vẫn đáng
than tiếc. Tuy vậy, có hai nguyên nhân: Một là
[Hàn Tín] lòng nhân có thừa, nhưng
trí chẳng đủ. Hai là do giết
nhiều người, chẳng tránh khỏi tự
giết mình. Lý cố nhiên phải là như
thế, chẳng có gì đáng ngạc nhiên!
* Tụng kinh xen tạp
lời khác
Quan
Tổng Nhung[20] họ
Thích (Thích Kế Quang) chuyên trì kinh Kim Cang. Ông
trấn thủ Tam Giang thuộc đất Việt, có
người lính đã mất báo mộng:
“Ngày mai tôi sẽ bảo vợ tôi đến
chỗ Ngài, xin vì tôi tụng kinh một quyển
để giúp cho cõi âm”. Hôm sau, quả nhiên có
một người đàn bà buồn khóc
xin gặp. Hỏi han thì đúng như
lời trong mộng, ông chấp thuận. Ông sáng
dậy tụng kinh, ban đêm mộng thấy
người lính nói: “Nhờ ân lớn
của ông, nhưng chỉ được nửa
quyển do xen tạp hai chữ Chẳng Dùng”.
Ông nghĩ nguyên nhân là do vợ sai tớ
gái đưa trà, bánh, ông từ xa trông thấy,
vẫy tay từ chối, tuy miệng chẳng
nói, nhưng tâm nghĩ “chẳng dùng”.
Sáng hôm sau, ông đóng cửa tụng kinh; ban
đêm, mộng
thấy người lính cảm tạ rằng:
“Đã được siêu thoát”. Chuyện
này tôi đích thân nghe từ vị Tăng
Đông Lâm ở Tam Giang. Đông Lâm là
người chân thành, chuyên dốc, có
đạo hạnh, chẳng nói dối. Ôi, tăng
sĩ tụng kinh lẽ nào chẳng cẩn
thận ư?
* Tâm bình đẳng
siêu tiến vong linh
Tại
phường Đa Sĩ thuộc quận Hàng
có miếu Đông Bình. Có một
người nghèo túng trong quận đã
chết, báo mộng với vợ rằng:
“Xem ra bà không có sức cầu siêu, chẳng
bằng nhờ chủ miếu của miếu
Đông Bình là ngài X… thí cho một hộc
cơm là đủ rồi”. Vợ đến
chỗ chủ miếu cầu xin, chủ miếu nói:
“Tôi tới kỳ hạn có bảy người
đứng ra xin cử hành lễ cúng,
biết làm thế nào? Nhưng tôi thà
từ chối họ để làm cho bà”.
Bèn làm lễ thí thực. Vợ
mộng thấy chồng nói: “Đã siêu thoát
rồi. Vị ấy thường ngày phía trên
chõng nằm có thờ tượng
Vương Linh Quan[21],
trước tượng đặt một
cái bình. Hễ được biếu tiền
cúng do tụng kinh, mắt chẳng nhìn
tới, bỏ ngay vào bình, cần dùng
bèn lấy, chẳng so đo [tiền cúng]
trọng hậu hay đơn bạc. Một niệm
bình đẳng, vong hồn nhờ đó
mà được tế độ!” Ôi! Tâm bình
đẳng liền có oai đức như
thế đó, huống hồ tâm rỗng rang ư?
Thích tử hãy nên tự gắng lên!
* Đối cảnh
Con
người đối trước cảnh
giới “tài, sắc, danh lợi”, nếu
dùng thí dụ để nói rõ thì
như có đống lửa ở ngay đây,
năm món vật ở bên cạnh: Một là
như cỏ khô, vừa mới chạm vào
đã cháy tan. Hai là như gỗ, thổi lửa
mạnh mới cháy. Vật thứ ba như
sắt, chẳng thể cháy
được, nhưng có thể tan chảy.
Vật thứ tư như nước, không chỉ chẳng
cháy mà ngược lại có thể
dập tắt lửa, nhưng nếu cách
ngăn bởi nồi hay vò, sẽ có thể
sôi sùng sục. Vật thứ năm như hư
không, sau đấy mặc tình đun nấu,
bản thể luôn như như, cũng chẳng
cần phải diệt mà lửa sẽ tự
diệt. Phàm phu như vật thứ nhất,
những vật thuộc loại giữa là tu
học dần dần theo thứ tự, loại
cuối cùng mới được gọi
là Như Lai đại thánh nhân.
* Trừ khử chướng
Tu hành trừ
khử chướng cũng có năm bậc,
ví như nơi thân một người có
năm tầng quấn,
phủ: Ngoài cùng là giáp sắt,
kế đến là áo da cừu, kế
đến là áo vải, kế đó là áo
bằng lụa, lại kế đó là áo
sát thịt bằng the tột mỏng nhẹ. Theo
thứ tự tháo gỡ, ngay cả
lớp the mỏng cũng đều bỏ đi,
mới là bản thể tự thân trần
trụi. Hành nhân ngoài là trừ khử
thô chướng, trừ khử rồi lại
trừ khử, mãi cho đến khi căn
bản vô minh là chướng ngại cực vi
tế thảy đều trừ sạch thì
mới là bản thể thanh tịnh Pháp Thân.
* Coi khổ là vui
Con giòi
đang ở trong nhà xí, trong mắt của
chó, dê thì thấy nó khổ sở khôn
ngằn, nhưng con giòi chẳng biết khổ,
vẫn thấy đó mới là
sướng. Chó, dê ở trên mặt
đất, con người thấy chúng nó
khổ khôn ngằn, nhưng chó, dê chẳng biết
khổ, vẫn nghĩ là sướng. Con
người sống trên cõi đời, chư
thiên thấy con người khổ sở khôn
ngằn, nhưng con người chẳng
biết khổ, vẫn tưởng là vui. Suy
đến cùng cực, khổ hay sướng
của chư thiên cũng giống như thế đó.
Biết điều này bèn cầu sanh Tịnh
Độ, một vạn con trâu chẳng kéo
lại được!
* Hai người khách
đánh cờ vây[22]
Hai
người khách đánh cờ vây, có
người ở bên cạnh cười
nhạo rằng: “Tôi thấy hai cây cột thịt
đang lay động!” Khách nói: “Nghĩa là
sao?” “Hai ông thân hình còn đó mà tâm thần
đã lìa. Tâm thần đã đặt
nơi con cờ đen trắng từ lâu
rồi. Thứ đang đối địch
với nhau chẳng phải là cột thịt
thì là gì?” Khách im lặng.
* Tư duy tu
Thiền-na
được phương này dịch là
Tư Duy Tu. Vì thế, được gọi
là Thiền Tư tỳ-kheo thì phải chú
trọng tư duy. Kinh lại nói: “Hữu tư
duy tâm, chung bất năng nhập Như Lai đại Niết
Bàn hải” (Có tâm tư duy thì trọn
chẳng thể nhập biển đại Niết
Bàn của Như Lai). Lại nói: “Thị
pháp phi tư lượng phân biệt chi sở
năng cập” (pháp này chẳng thể do
suy lường, phân biệt mà thấu hiểu
được). Đó là [luận về]
cái bệnh trong tư duy. Vì sao vậy? Do tư
có hai loại: Một đằng là chánh
tư duy, đằng kia là tà tư duy. Tư
duy mà không suy tưởng là chánh tư duy.
Tư duy có suy tưởng thì là tà tư
duy.
Tư lại có hai
loại: Một là từ ngoài mà tư duy
bên trong, sẽ là trái trần, hợp giác.
Hai là từ trong mà tư duy bên ngoài,
tức là trái nghịch giác, xuôi theo
trần lao. Tư duy theo lối tư duy từ trong ra ngoài,
cứ tư duy mãi, lại tư duy nữa,
tư duy vô tận thì lẽ chân càng xa! Tư duy
theo kiểu từ ngoài mà tư duy vào bên
trong, đã tư duy lại tư duy thêm nữa,
tư duy sẽ hết, quay về nguồn. Do tư mà
nhập vô tư, tức là niệm Phật do
niệm mà nhập vô niệm vậy!
* Bạn bè can gián
Lúc tôi
mới xuất gia, vị lão tăng chùa
Trà Thang ở Cao Đình mời tôi thọ
trai nhân dịp sanh nhật. Khi ấy, tại Đại
Lãnh có Lập Thiền là người
phương Bắc, tánh bộc trực,
chẳng siểm nịnh, nhìn tôi bảo: “Ông ta
mời thầy là vì Phật pháp ư? Hay
là vì tình cảm? Ông ta do tình cảm mà
coi trọng thầy, đi làm gì?” Tôi hết
sức hổ thẹn. Lại có người
bạn là Cổ Minh bảo tôi: “Sau này thầy
chẳng ra mặt trong cõi đời là
hay nhất”. Tôi thưa sở nguyện vốn có
của mình: “Nguyện
suốt đời ở địa vị là
học tṛ
để rèn luyện”. Thầy Cổ Minh
cười bảo: “Thầy vẫn có ngày
lại ra mặt trong cõi đời,
chẳng tránh khỏi”. Nay nghĩ chẳng
thể nào lại có hai người bạn
như thế được nữa, buồn
bã thương cảm hồi lâu!
* Tấu nhạc
Bảng
kết quả kỳ thi mùa Thu (khoa thi Hương)
vừa niêm yết, những người
mới thi đỗ, tấu
nhạc đi qua cửa chùa Thượng
Phương, hai vị Tăng ùa ra xem. Vị
tăng thứ nhất nói: “Lành thay! Cũng
chẳng vui lắm sao!” Vị thứ hai
nói: “Lành thay! Cũng chẳng buồn lắm
sao!” Vị tăng thứ nhất hỏi duyên
cớ, vị tăng thứ hai đáp: “Ông
chỉ biết tấu nhạc ngày hôm nay mà
chẳng biết có tấu nhạc ngày mai sau[23]”.
Vị tăng thứ nhất không hiểu, vẫn
cứ khen ngợi, hâm mộ như cũ!
* Điều coi trọng
và xem thường của người tu
đạo
Người
thời cổ được gọi là “đạo
nhân” do coi thường những thứ
người đời xem trọng, coi trọng
những thứ người đời khinh
thường. Cõi đời coi trọng
điều gì? Phú quư. Cõi đời xem
thường điều ǵ? Thân tâm. Nay coi trọng
và xem thường giống hệt như cõi
đời, còn được gọi là “đạo
nhân”
nữa ư?
* Chẳng thể không
đọc kinh Phật
Tôi
thuở nhỏ thấy tiền hiền quở
Phật, do vâng theo lời được nghe
trước hết, ngỡ đó là
chánh yếu, có cái nhìn như kẻ
lùn mà chẳng hay biết[24].
Ngẫu nhiên từ sạp kinh nơi giới đàn,
thỉnh vài quyển kinh về đọc, mới
hết sức kinh hãi, nói: “Chẳng
đọc các sách như thế này, gần
như sống uổng một đời!” Người
hiện thời có kẻ trẻ khỏe, rồi
già nua, rồi chết, nhưng [kinh Phật] chưa
từng liếc mắt, có thể nói
là “đối trước núi báu mà
chẳng vào”. Lại có một loại
người, tuy đọc, nhưng bất quá
chọn lấy những từ ngữ hay khéo để
giúp cho việc đàm luận, tăng oai thế
trong viết lách. Từ trẻ khỏe đến
già nua, chết đi, chẳng hề suy xét
lý ấy, có thể nói là “vào
núi báu mà chẳng nhặt lấy”.
Lại có một loại, tuy thảo luận, tuy giảng
diễn, cũng bất quá
là giải thích từ ngữ, giảng
giải văn tự, ganh đua [nêu ra ý kiến]
mới mẻ, cao vọi, từ trẻ khỏe
đến già nua, chết đi, nhưng chưa hề
thật sự hành trì, có thể nói
là “nhặt lấy của báu,
thưởng thức, ngắm nghía, cất
trong tay áo rồi lại vứt đi!” Dẫu
vậy, hễ nhiễm vào thần thức, rốt
cuộc trở thành hạt giống đạo. Do
đó, chẳng thể không đọc kinh Phật.
* Tiêu phi
Vũ
Hậu (Vũ Tắc Thiên) bắt chước
chuyện “lợn người”[25] để
giết bọn Vương
hoàng hậu. Khi Vương hậu sắp
chết, thề nguyện đời đời
kiếp kiếp chính mình làm mèo, Vũ
Hậu làm chuột, để chẹn họng nó
chết tươi mà ăn thịt. Tới nay,
trong mèo và chuột vẫn có hai
người ấy thọ sanh, tuy báo thù
trăm ngàn vạn lần vẫn chưa thôi! Trước
kia, tôi làm trai đàn Thủy Lục, đã
thương xót mà siêu tiến cho họ, chỉ
sợ sức oán thù sâu đậm,
sức siêu độ cạn cợt chẳng
thể giải trừ được! Xưa nay,
những trường hợp giống như
vậy khá nhiều, người hiện
thời không nề hà tu thiện sự cho
nhiều thì mới cứu độ
được!
* Thái thủ tọa
Có
người nói Thái thủ tọa khắc
hương, ngồi qua đời, ngài Cửu
Phong [Đạo Kiền] chẳng chấp nhận,
vì cho rằng [Thái thủ tọa] chưa
hiểu những lời “nghỉ đi, chấm
dứt đi, hãy như tro lạnh, cây khô” v.v…
của ngài Thạch Sương[26],
còn đạo giả Chỉ Y có thể đi,
có thể đến, có thể hiểu ý
ngài Thạch Sương, nhưng ngài Động
Sơn [Lương Giới] cũng chẳng
chấp thuận. Vì sao? Ngu tôi cho rằng nếu
Chỉ Y thật sự thở ra chẳng
dính dáng các duyên, hít vào chẳng
trụ trong ấm giới, sẽ đi, ở tự
tại, sẽ cùng với Động Sơn
làm chay ngu si[27],
nắm tay nhau cùng đi, Thái thủ tọa sao
có thể sánh bằng được?
Nếu chẳng phải vậy, chẳng tránh
khỏi là hao phí tâm lực, trầm mê trong
tư duy, cổ nhân gọi là “kẻ mưu tính
sống còn như quỷ thần”. Nhưng ông Thái
đã có định lực chân thật,
chỉ vì một câu “đắm đuối trong
tĩnh cảnh, chẳng biết chuyển thân”
mà hai người (Thái thủ tọa và
Chỉ Y) cùng mắc khuyết điểm như
nhau. Nhưng Chỉ Y do trống lòng nên thấu
hiểu được ý của ngài
Động Sơn, còn ông Thái cứ hùng
hục đi mãi, tự đánh mất
lợi ích to lớn. Tự mãn chuốc
lấy tổn hại, khiêm cung sẽ được
lợi ích, người học Thiền cần
phải nên biết.
* Chủ nhân trong khi ngủ
nghê không mộng
Tuyết Nham[28]
hỏi Cao Phong câu đầu tiên rằng: “Ban ngày mênh
mông, có làm chủ được hay không?”
Câu kế tiếp hỏi: “Đêm nằm mộng
có làm chủ được hay không?” Câu
thứ ba hỏi: “Ngay trong lúc đang ngủ,
không mộng mị, chủ nhân ông ở chỗ
nào?” Người hiện thời dùng
tình thức suy đoán câu hỏi thứ ba,
sai mất rồi! Ban ngày quý vị chẳng
làm chủ được, còn bàn chi
chỗ cực sâu thẳm tối hậu?
Chẳng bằng lúc mới nhập môn
bèn khẩn thiết dụng công, lần
lượt lãnh hội dần dần vẫn
chưa muộn. Tuy vậy, nếu liễu ngộ
chẳng nghi câu hỏi thứ ba, thì ban ngày
hay trong đêm nằm mộng, không gì chẳng
khít khao thuận theo mình. Trước khi
mình đủ sức, lại chớ nên câu
nệ những điều vượt ngoài
khuôn khổ vậy!
* Bố thí
Bàng cư
sĩ (Bàng Long Uẩn) đem gia tài dìm
xuống biển, có người nói: “Sao không
bố thí?” Cư sĩ đáp: “Tôi đã
nhiều kiếp bị lụy bởi bố thí,
cho nên đem dìm hết”. Kẻ ngu viện
cớ bèn ngầm keo tiếc chẳng thí,
chẳng biết cư sĩ tháo gỡ
trói buộc cho kẻ bố thí trụ tướng,
chẳng phải cho rằng “không thể bố
thí!” Nếu vạn hạnh được
hướng dẫn bởi Bát Nhã, tam luân
không tịch, tuy suốt ngày bố thí, có
khuyết điểm chi đâu? Hơn nữa, phàm
phu chấp chặt nơi hành vi bố thí. Hành
vi dìm [của
cải] xuống biển chính là gộp chung
bố thí lại để bố thí, đó
gọi là đại thí, gọi là bố
thí chân thật, sao lại nói cư sĩ
chẳng bố thí?
* Hai bộ sách
Thượng Trực và Thượng Lý
Thuở
quốc sơ[29],
thiền sư Không Cốc[30]
soạn Thượng Trực Biên và
Thượng Lý Biên đàm luận tột
cùng về giới hạn giữa Nho và
Thích. Trong ấy, Sư tận lực biện
định tiên sinh Hối Am (Châu Hy) ngầm vận
dụng Phật pháp mà ngoài mặt thì
bài xích. Ngu ý cho rằng: Sợ rằng Hối
Am chẳng có cái tâm ấy, hoặc là
kiến giải chưa tới mức! Vì sao
biết? Tôi nhớ lúc còn niên thiếu,
từng đọc Châu Tử Loại Ngữ,
ông ta tự nói: “Xưa kia tôi ngồi ở
chỗ tiên sinh X… nghe một vị Tăng nghị luận,
tâm vui thích. Sau đấy, vào trường thi,
viết [những điều nghe nói ấy] vào
quyển thi, khiến cho quan chấm thi bị lừa,
bèn thi đỗ. Tới khi gặp tiên sinh Diên
Bình (Lý Đồng), mới biết có
học vấn thánh hiền”. Do vậy biết
Hối Am học Phật bất quá như
người hiện thời dùng [những
kiến thức Phật học] để giúp cho
văn chương bóng bẩy mà thôi, vốn chưa
từng đạt được lý sâu của
nhà Phật. Ông ta bài bác Phật là vì
kiến giải chưa tới mức. Ngài Không
Cốc quở trách dường như là
thái quá!
* Kiêng giết
Sanh vật
trong trời đất cung cấp thức ăn cho
con người, như
các loại hạt lương thực, các
loại quả, các loại rau dưa, các
thứ vị ngon trong nước hay trên đất
liền mà con người lại dùng trí
xảo để làm thành bánh trái, đem
muối, ngâm dấm, nấu, quay, có thể nói
là muôn vàn cách thức. Sao lại khổ
sở đem những con vật cùng có
máu thịt, cùng có mẹ con, cùng có tri
giác, biết đau, biết ngứa, biết
sống, biết chết để giết ăn, há
đúng lẽ ư? Nói thông thường,
chỉ cần là người có tâm tốt
lành, không ai chẳng ăn chay. Chao ôi! Tàn
sát thân chúng nó để ăn thịt chúng nó, thiên
hạ gọi là “tâm hung tàn, tâm thảm
độc, tâm độc địa, tâm ác nghiệt”, còn
chi hơn được nữa? Cái tâm tốt
lành đặt ở chỗ nào? Xưa kia,
tôi có soạn Giới Sát Phóng Sanh Văn
để khuyên đời, bài văn ấy
được in khắc khá nhiều lượt, không
chỉ là một hai chục bản. Lành thay! Cõi
đời này may sao vẫn còn có bậc
quân tử nhân từ!
* Tạo lập tùng lâm
Tùng lâm
dành cho đại chúng, cố nhiên là chuyện
tốt đẹp, nhưng cần phải sau khi đã
hoàn thành chuyện của chính mình rồi
mới làm. Nếu không, hoặc là
bực bội, nhọc nhằn tinh thần, ý
chí, hoặc đắm chấp duyên
đời, đến nỗi chưa đạt
được gì, nhìn biển cả mà
mất, hoặc đã đạt
được rồi bèn nửa chừng
bỏ phế. Tôi trùng hưng Vân Thê, mọi chuyện
đều do tình thế bức bách rồi
mới làm, chưa từng cưỡng
làm, mà chính mình cũng bị tổn
hại chẳng ít. Huống hồ kẻ dốc
trọn tâm lực mong cầu ư? Viết điều
này để tự cảnh tỉnh, mà
cũng là để thưa với người
mai sau vậy!
* Tín tâm của tăng,
tục
Trong
đời Mạt Pháp, có khá nhiều
tỳ-kheo xuất gia tín tâm chẳng bằng
cư sĩ tại gia. Cư sĩ tại gia tín tâm
chẳng bằng nữ nhân tại gia. Lạ
gì người học Phật thì đông
mà kẻ thành Phật ít ỏi!
* Tổn mình, lợi
người
Tổ
Trí Giả nhập diệt, nói: “Ta chẳng
lãnh chúng, ắt thanh tịnh sáu căn. Do
tổn mình, lợi người, chỉ
dự vào Ngũ Phẩm”. Ngài Nam Nhạc
[Huệ Tư] cũng tự nói: “Ta chỉ
chứng Thiết Luân[31]”. Hai vị
tuy là khiêm hạ để dạy người
khác, nhưng cũng là lời thật, chỉ
là so với chúng ta thì tổn hại
bất đồng! Vì sao vậy? Bọn ta hễ
bị tổn hại thì là thật sự
tổn hại, c̣n hai vị
ấy tuy tổn mà chẳng tổn! Nay tôi dùng
thí dụ để nói rõ: Như một
đằng là nhà giàu, một
đằng là kẻ túng quẫn. Hai
người đều tổn tài để
giúp đỡ đại chúng, tổn hại
chẳng khác nhau. Nhưng kẻ túng quẫn
càng hết sức túng quẫn, nhà giàu
thì vẫn giàu tự nhiên. Lại như
ngòi, rãnh, sông, biển đều dùng
để tưới tắm; ngòi, rãnh
sẽ bị giảm bớt, khô cạn, còn sông, biển
chẳng sao! Đã chẳng bị tổn
hại, cớ sao chỉ hạn chế trong Ngũ
Phẩm hay Thiết Luân? Ôi! Thiên hạ quy Trọng Ni
(Khổng Tử) vào bậc thánh, Trọng Ni
nói “ta chẳng thể là thánh”.
Đạo trong thiên hạ thuộc về Văn
Vương, nhưng
Văn Vương mong ngóng đạo
mà chưa thấy. Tỳ-kheo tăng thượng
mạn há chẳng suy nghĩ ư?
* Lương tri
Tân Kiến (Vương
Dương Minh) sáng lập thuyết Lương Tri
là do kiến thức, học lực sâu xa
tạo thành, chẳng phải là
cưỡng lập chủ thuyết để phô
trương môn đình của chính mình.
Nhưng kẻ chuộng đánh đồng Nho và
Thích bảo [lương tri] chính là “chân tri” như đức Phật đã
nói, thì chẳng thể được.
Vì sao? Hai chữ Lương Tri vốn phát
xuất từ Tử Dư Thị (Tăng Sâm), nay
dùng cách nói tam đoạn luận[32]
[trong Nhân Minh]: Lương tri là Tông. Chẳng lo
nghĩ mà biết; đó là Nhân. Nay trẻ
thơ non nớt không đứa nào
chẳng biết yêu cha mẹ, kính bậc
trưởng thượng; đấy là Dụ. Như vậy, biết điều
tốt lành thì tốt đẹp, đó là
cái biết tự nhiên, chẳng do tạo
tác. Nhưng do cái biết kính yêu bị nhuốm vọng đã lâu, há
có thể nói là thật sự
thường tịch chiếu được hay chăng? [Đối
với] Chân và
Lương, cố nhiên phải biện định
[sự khác biệt]!
* Tinh thần nơi tâm được gọi
là thánh
[Có người
nói] sách Khổng Tùng Tử[33]
chép: “Tinh thần của tâm được
gọi là thánh”. Học vấn cả một
đời của Dương Từ Hồ[34]
được coi là Tông, sao lại giống
lương tri đến thế? Chẳng ứng
hợp với Chân Tri do đức Phật
nói hay sao?”
Thưa: - Tinh thần nông cạn hơn lương tri, đều
là sóng trên mặt nước, lẽ
nào là chân tri cho được? Hơn
nữa, hai chữ Tinh Thần nếu tách ra
để nói thì mỗi chữ đều
có chỉ thú riêng, hợp lại thành một
từ ngữ là nói đến tinh hồn
thần thức (精魂神識). Xưa kia có người nói “cái
gốc của sanh tử từ vô lượng
kiếp đến nay”, kẻ si ngỡ đó
là con người vốn sẵn có của
chính mình.
* Tịch cảm
Dương Từ Hồ
là nhà Nho, sao chẳng xét lời của
Trọng Ni (Khổng Tử) vậy? “Tháo
tắc tồn, xả tắc vong, xuất nhập
vô thời, mạc tri kỳ hương” (nắm
vững thì còn, buông bỏ thì mất, ra
vào chẳng có lúc nhất định,
chẳng biết nó sẽ hướng về
đâu)[35],
tức tiến cao hơn là tinh thần, lại
tiến hơn nữa th́ là lương tri.
Vậy th́ đó là Chân Tri như đức
Phật đã nói ư?
Thưa: - Vẫn chưa phải! Chân thì
chẳng có còn hay mất. Chân thì
chẳng có ra hay vào! “Mạc tri kỳ
hương” tức là “gần như”, vẫn
chưa nêu ra toàn bộ. Trọng Ni lại nói: “Vô
tư dã, vô vi dã, tịch nhiên bất động,
cảm nhi toại thông thiên hạ chi cố” (Chẳng
suy nghĩ, chẳng làm gì, vắng
lặng bất động, bèn có thể
cảm để hiểu thông suốt các
đạo lý của sự vật trong thiên hạ).
Dứt hết suy nghĩ bèn nhập vắng
lặng, đó là “mạc tri kỳ
hương”. Chẳng có câu sau cùng, sẽ trở
thành đoạn diệt, đoạn diệt thì vô
tri. “Thông thiên hạ chi cố” (thấu hiểu
đạo lý của mọi sự vật trong thiên
hạ) mà không có ba câu trước đó,
sẽ trở thành loạn tưởng.
Loạn tưởng tức là “vọng tri”
(nhận biết hư vọng). Tuy tịch mà thông,
đó gọi là chân tri. Nhưng nói như
thế là luận định theo sự biến
đổi, chẳng phải là luận tâm, do con
người gán [đạo lý ấy] cho
việc dùng cỏ Thi để xủ quẻ
đó thôi! Bởi lẽ, chưa đến
thời, căn cơ chưa chín muồi, Trọng
Ni bèn tiết lộ đôi chút, gởi
gắm vào kinh Dịch, khiến cho người
khác tự đạt được! Trọng
Ni nói về cái tâm rất khéo! [Cách
nói] “Trọng Ni là Nho
Đồng Bồ Tát” đáng tin!
Như vậy thì đọc sách Nho đủ
để liễu sanh tử, dùng Phật
để làm gì?
Thưa: - Đức Phật đàm luận
diệu lý như thế trọn khắp Tam
Tạng, còn trong sách Nho, trong trăm ngàn
lời, chỉ ngẫu nhiên đề cập,
chẳng phải là Trọng Ni không biết. Trọng
Ni chủ về pháp thế gian, Phật Thích Ca chủ
về pháp xuất thế gian. Tâm tuy chẳng hai,
nhưng môn đình thiết lập bất đồng,
người học chẳng thể không mỗi
đằng theo một môn.
* Đời sau (1)
Đời này
làm vị Tăng trì giới, tu
phước, nếu tâm địa chẳng trong
sáng, nguyện lực nhẹ ít, lại
chẳng cầu sanh Tịnh Độ, người
ấy đời sau phần nhiều cảm báo
phú quý, mà cũng phần nhiều bị phú quư
mê hoặc, có thể đến nỗi do tạo nghiệp mà đọa lạc.
Có vị lăo tăng vẫy tay chẳng tin, tôi
nói: “Cách một đời, thôi chẳng
bàn đến! Tôi từng đích thân thấy một vị Tăng kết lều tranh
ở phía Bắc của ngọn Bắc
Phong mười năm, khá nổi tiếng
thanh tu, được thiện
tín kính trọng, ngưỡng mộ một
thuở. Sau đó, dựng một am khác,
dọn sang đó ở, bèn đến nỗi
chìm đắm, những gì nhỏ nhặt đạt
được trước kia đều mất
sạch. Đời hiện tại mà còn
như thế, huống gì vị lai?” Hỏi:
“Đấy là ai?” Tôi nói: “Chính là lão
huynh”. Vị ấy im lặng!
* Đời sau (2)
Có vị Tăng trông
thấy người quư hiển, sanh tâm hâm mộ,
nguyện được giống như vậy.
Lại có vị trông thấy kẻ quý hiển, bèn sanh tâm chán nhàm, coi thường. Hai hạng người ấy
đều sai. Vì sao? Chỉ biết hâm mộ kẻ
đó, đâu có biết kẻ đó
đời trước chính là tăng nhân
khổ hạnh tu phước, cần gì phải
hâm mộ? Chỉ biết chán nhàm người
đó, chẳng biết kẻ ấy do khổ
hạnh mà đời sau trở thành kẻ
làm quan có danh vọng, có địa vị,
có gì đáng chán ghét, coi thường?
Chưa lìa khỏi sanh tử, sẽ đây kia đắp đổi, như cái
guồng kéo nước ở giếng, lần
lượt lên cao xuống thấp. Nghĩ ngợi
chuyện này, sao chẳng nguội lạnh tấm
lòng? Chỉ nên nỗ lực tấn tu,
chẳng bỏ lỡ tấc bóng để mong
xuất thế, há có công phu rảnh rỗi
để hâm mộ hay chán ghét kẻ khác ư?
* Vứt bỏ sở trường
Phàm là
người có thiên bẩm sở
trường [một môn chi đó], ắt
sẽ chấp trước, chẳng thể xả!
Như sở trường về thơ văn,
sở trường về chánh sự,
sở trường về buôn bán, trồng
trọt, sở trường về chiến trận,
cho đến sở trường về thư
pháp, vẽ vời, đánh đàn, chơi
cờ, đều vướng thói cạn
kiệt tinh thần, dốc chí trọn hết nơi tài khéo để theo đuổi. Có
nhiều người đạt tới chỗ sâu
mầu, trở thành bậc danh gia để
tiếng bất hủ trong cõi đời. Nếu
có thể buông xuống, chẳng dùng
tới, xoay chuyển một phen, dốc hết tinh
thần, trí xảo vào Bát Nhã, lo gì
đạo nghiệp chẳng thành tựu?
Nhưng trong cõi đời mênh mang xưa nay,
trăm ngàn người chưa thấy
được một hai kẻ!
* Hai loại chuột
Chuột nhà khoét
vách, chạy trên xà nhà, chạy quanh
giường, vào trong rương, nhan nhản gần gũi con người, nhưng trốn hình né bóng, từ
xưa không thể nào thuần dưỡng
được! Tùng thử (松鼠: con sóc) lấy hang
núi làm chốn cư trú, lấy ngọn cây
làm nhà ở, giống như người tu
hành, hoặc người dân ở vùng
thiếu văn minh, nhưng người ta có
thể ôm chúng vào lòng, thuần
dưỡng như mẹ hiền vỗ về con
đỏ. Đó là do lẽ nào vậy? Tôi cho
rằng do tập khí đời
trước khiến thành như thế. Chuột
nhà xưa kia là kẻ trộm đào
tường, khoét vách đó chăng?
Còn con sóc xưa kia phục dịch con người
đó chăng? Đều là súc sanh, vậy
mà không gì chẳng phải là con này
tốt lành hơn con kia, tâm thuật không thể thận
trọng vậy!
* Tăng luyện tập
Tăng thời Mạt
Pháp có người luyện tập thư
pháp, luyện tập thơ thẩn, luyện tập
các thể tài văn chương, mà ba chuyện
ấy đều là chuyện vốn có của
sĩ đại phu, nhưng sĩ đại phu lìa
bỏ chẳng học tập [các thứ ấy] mà tập Thiền, Tăng lại
đổ công nơi chuyện sĩ phu buông bỏ, gác
bỏ đại sự nhân duyên thuộc bổn
phận của chính mình, sao mà điên
đảo đến thế?
* Người thời nay chẳng
bằng người xưa
Các vị tôn túc
thuộc bổn triều (nhà Minh) từ
thời Hồng Vũ đến nay gần như
chẳng thấy nhiều lắm. Chẳng
bàn đến đời Đường,
đời Tống, chỉ như các cụ Trung
Phong, Thiên Như thời Nguyên, hiện thời
chỉ có một mình ngài Thiên Kỳ Sở
Thạch có thể so sánh cao thấp
được, huống hồ
so với
thời càng cổ hơn ư? Chẳng
phải là mỗi đời sau chướng
càng sâu hơn ư? Cố nhiên hào kiệt dẫu không
có, Văn Vương vẫn dấy khởi,
rốt cuộc như mặt trăng giữa
các tinh tú mà thôi. Nhưng người trong
thời Mạt Pháp chớ nên tự tôn tự
đại coi thường cổ đức, lại chớ
nên cam tâm tự ruồng rẫy, vứt bỏ,
chẳng làm bậc hào kiệt!
* Bài bác Vật Bất Thiên Luận
Có người vì
bài bác Vật Bất Thiên Luận, nói Triệu
công (ngài Tăng Triệu) chẳng nên vì mỗi
vật đều trụ đúng vị trí của
chúng mà cho là chúng chẳng đổi
dời, phải nên nói “mỗi vật đều vô
tánh là chẳng đổi dời”, nhưng
kẻ bất bình phản bác thuyết bài
bác ấy, hoặc chưa quyết nghi
được, đem hỏi tôi.
Tôi nói: - Kẻ bài bác cố nhiên
chẳng phải là hoàn toàn vô căn
cứ mà bàn xằng. Kẻ đả
phá lời bài bác ấy cũng
chẳng phải do cố ý chèn ép nay,
đề cao xưa, mà đều là có
sở kiến. Tôi nay b́nh tâm mà chiết trung. Ông không
đọc ba bộ luận Chân Không, Bát Nhã và
Niết Bàn, cùng với tác phẩm Tông
Bổn Nghĩa khởi đầu [của ngài
Tăng Triệu] ư? Nếu không có những
sách ấy, đối với lời bác
bỏ hiện thời, tôi cho rằng Triệu công
sẽ treo miệng lên vách, chẳng thể trả
lời được, chẳng có lý
lẽ nào để diễn giải. Nay ba
bộ luận ấy nêu tỏ ý chỉ tánh Không, không
gì chẳng cặn kẽ, trọn vẹn,
nhưng trong sách Tông Bổn Nghĩa lại nói rõ “duyên
hội và tánh Không là một”, há [Triệu
công] chẳng
hiểu cái gọi là Tánh Không ư?
Bởi lẽ, bổn
ý của luận ấy (Vật Bất Thiên Luận)
là do người đời cho rằng mọi
vật có từ xưa sẽ chẳng tồn
tại đến nay được, v́ cái xưa th́ đă qua từ
lâu, cho nên gọi là Vật Thiên (物遷, vật
đổi dời). Do vậy, [Triệu công] nói
ngược lại cách nói ấy, [cho nên
mới gọi là Vật Bất Thiên], giống
như nói: “Cái mà ông nói là ‘đổi
dời’ chính
là cái mà tôi gọi là chẳng
đổi dời”. Đó gọi là “theo
đường về nhà”, dùng giặc
tấn công giặc, vị trí chẳng xoay
chuyển mà đổi thành Nam, thành
Bắc, chất không thay đổi mà biến thau, hay thành
vàng, xảo tâm diệu thủ, vô ngại biện
tài!
Vì vậy, luận này
chẳng phải là chủ yếu luận
định “vật
không đổi dời”, mà mượn hai câu
“vật xưa” và “vật nay” để nói
đó thôi. Nếu chẳng có cái nhân
mà tự làm ra, ắt cả bài
luận phải dùng tánh Không để lập
luận giống như ba bộ luận kia. Nay vội
vàng lấy chuyện “chẳng hiểu tánh
Không” để chê trách Triệu công, sao Triệu công tâm
phục cho được? Do vậy, “tìm vật
nơi xưa thì xưa chưa hề không; đòi
vật trong hiện thời, hiện thời
chưa từng có”. Mấy câu ấy tợ
hồ trái nghịch ý chỉ “tánh Không”,
nhưng xưa do duyên hợp mà chẳng không,
nay do duyên tán mà chẳng có. Duyên tụ hội
và tánh Không đã là chẳng hai,
cần gì phải tốn lời để biện
định khuyết điểm của Triệu công?
Nếu hỏi: “Vì sao
toàn bộ bài luận ấy chẳng ra
ngoài ý này?” Đáp: “Do có câu ‘duyên
hội chẳng khác tánh Không’ ở ngay
trong Tông Bổn Nghĩa, người quán có
thể thầm tự khế hội. Nếu biết
có ngày này, [Triệu công] sẽ ở
cuối bài luận tăng thêm một hai câu nhằm kết
rõ ý ấy, sao [người đời sau] có
thể sanh khởi sự bài bác cho
được? Ôi! Ắt Triệu công sẽ
gật đầu chấp thuận, chẳng biết
kẻ bài bác có tin hay chăng?
* Bích Nham Tập
Ngài Viên
Ngộ soạn Bích Nham Tập[36],
ngài Diệu Hỷ muốn vào đất Mân (Phước Kiến) để
phá tan bản khắc
ấy. Người trí cạn bèn
chê trách ngài Viên Ngộ, chẳng biết
ngài Diệu Hỷ riêng dùng lời lẽ trong
một thời để phá chấp
trước đó thôi. Do viết trăm bài
tụng cổ, ngài
Tuyết Đậu được tiên đức gọi là “bậc
thánh về tụng cổ”[37]. Ngài Viên
Ngộ là người khởi đầu
bình xướng, lại [được tôn xưng] là
bậc thánh về bình xướng[38],
nhưng chẳng khỏi là Văn Tự Bát
Nhã. Do kẻ ngu chấp vào đó, cho nên ngài
Diệu Hỷ nói lời ấy nhằm phá
nát tình thức của người học,
chẳng phải là đả phá Bích Nham Tập.
Nói “phá nát” thì gần giống như
ý “một gậy đập chết” của
ngài Vân Môn. Nếu coi đó là thần diệu,
cao minh thì mỗi tấc của Bích Nham
đều là chiên đàn. Nếu chấp
trước, câu nệ, thì cả một bản
Đại Tạng cũng đều đáng
đập nát. Ôi! Chỉ nên nói với
người hiểu biết mà thôi!
* Đâu Suất Duyệt[39] và
Trương Vô Tận
Trương
Vô Tận sắp đến gặp Duyệt công (ngài Đâu Suất Tùng
Duyệt). Duyệt công nói: “Ta sẽ châm chích
sâu cay người này”. Có người
nói: “Những người làm quan phần
nhiều thích
người khác thuận tùng, sợ sẽ
nổi giận”. Duyệt công nói: “Bất quá ta
thoái viện[40]
mà thôi”. Do vậy, bèn tận lực chèn
ép; Vô Tận nhờ
vậy liễu ngộ. Ngu ý cho rằng
Duyệt công
khéo léo hun đúc, cố nhiên hiền
đức của Ngài chẳng cần bàn
nữa, nhưng Vô Tận hoàn toàn khuất
mình tôn phụng bậc tri thức, dốc
sức tham cứu đến cùng tận,
rốt cuộc sáng tỏ, quả thật là khuôn
mẫu cho hàng sĩ phu học đạo vậy.
* Vấn đáp trong Tông
môn
Bậc
tài năng tôn túc thời cổ gặp nhau,
cơ duyên vấn đáp hoặc là
chẳng có ý nghĩa, chẳng có
ý vị gì, hoặc là đáng kinh
hãi, đáng ngờ, hoặc như
chửi, như đùa, nhưng đều là
từ chân tham thật ngộ mà ra, không gì
chẳng như nước hòa lẫn vào
sữa, nắp vừa khít hộp, không
một chữ, một câu nào thừa thãi!
Người đời sau vô tri bắt
chước thì khẩu nghiệp chẳng
nhỏ. Ví như hai người cùng ấp,
cách biệt ngàn dặm đã lâu, bỗng
gặp gỡ nhau, nói tiếng của quê
nhà, dùng ẩn ngữ hay ngạn ngữ,
người bên cạnh nghe cũng cảm thấy vô
nghĩa, chẳng có ý vị gì,
đáng kinh ngạc, đáng ngờ, như
chửi, như đùa, nhưng quả thật
là từng chữ, từng câu đều
là những lời tự đáy
lòng, những điều trọng yếu trong gan
ruột. Người bên cạnh cố nhiên
chẳng biết là lời lẽ như thế
nào, nhưng hai người ấy ăn ý
như nước hòa vào sữa, như
nắp vừa khít hộp! Nay chẳng
thà ngậm miệng, kín tiếng, chỉ dốc
sức nơi điều mình đang tham
cứu, chỉ lo chẳng ngộ, chẳng lo
đã ngộ rồi không có gì để
nói!
* Sống say, chết
mộng
“Sống
say, chết
mộng” là
lời thường hằng, thật sự
là lời chí lý. Người
đời nói chung có hai loại là
nghèo hèn và phú quý. Kẻ nghèo
hèn cố nhiên sẽ sáng chiều tất bật lo
toan cơm áo. Kẻ phú quý cũng sáng
chiều túi bụi hưởng thụ dục
lạc. Hưởng thụ khác nhau, nhưng bận
bịu như nhau. Bận bịu đến chết
mới thôi, mà tâm vẫn chưa thôi! Ôm cái tâm
ấy qua đời, rồi lại sanh ra, lại
bận bịu, lại chết đi, chết sống,
sống chết, mơ màng, mờ mịt, như say,
như mộng trải trăm ngàn kiếp, chưa
từng có lúc xong. Hãy riêng tỉnh ngộ
sáng suốt, bậc đại trượng phu
phải nên như thế!
* Người chân thật
tu đạo khó có
Phàm nhân tạo
nghiệp cả trăm, làm lành được
một, hai kẻ. Làm lành cả trăm,
hướng đến đạo được
một, hai kẻ. Hướng đến đạo
cả trăm, nhưng người kiên trì lâu
dài được một, hai kẻ. Kiên trì lâu
dài cả trăm, nhưng kiên trì lại càng
kiên trì hơn, lâu dài lại lâu dài hơn,
mãi cho tới khi Bồ Đề tâm chẳng
thoái chuyển chỉ được một, hai
người. Như vậy thì cuối cùng
được gọi là “người
tu đạo chân thật” khó khăn lắm
thay!
* Không sở không tận (chấm
dứt ngay cả cái thấy “cái
được coi là không” cũng
là không)
Có
kẻ nói: “Lão Tử Thanh Tĩnh Kinh[41]
nói ‘quán Không cũng là Không, Không vô sở
không’ v.v… chính
là nghĩa ‘không sở không tận’ trong kinh Lăng
Nghiêm”. Tôi nói: - Lăng Nghiêm Sớ viết: “Hai
tướng động và tĩnh, hiểu rõ
ràng chẳng sanh”. Nay dùng Thanh Tĩnh
để đặt tên kinh, tức là
tướng động chẳng sanh, nhưng
tướng tĩnh vẫn sanh. Tướng
tĩnh chưa không, còn luận không không (chẳng
có cái Không) nỗi gì!
* Truyền riêng ngoài
giáo
Nếu
nói ngoài giáo thật sự có truyền
riêng ư? Nếu là như vậy thì giáo
pháp suốt một đời đức
Phật là văn tự thừa thãi ư?
Ngoài giáo thật sự chẳng có
truyền riêng ư? Tổ sư từ phương Tây
đến uổng công ư?
Thưa: - Ngoài
giáo thật sự có truyền riêng, mà
cũng thật sự chẳng có truyền
riêng? Kinh Viên Giác chẳng nói “Tu Đa La
như ngón tay chỉ mặt trăng” đó
ư? Ngón tay chẳng phải là mặt
trăng, tức là ngoài ngón tay có riêng
mặt trăng cũng được! Nhưng ngay
từ nơi mặt trăng được
chỉ ấy, nói “ngoài ngón tay, không
có riêng mặt trăng” cũng được!
Chấp ngón tay là mặt trăng, bảo “không
có mặt trăng”, tức là ngu.
Trái nghịch cái được chỉ, riêng
cầu cái được gọi là mặt
trăng, tức là cuồng. Thần diệu,
sáng suốt ở ngay nơi mỗi người
mà thôi!
* Phát chân quy nguyên
Kinh Lăng
Nghiêm nói: “Nhất nhân phát chân quy nguyên, thập
phương hư không tất giai tiêu vẫn”
(Người nào chứng nhập chân tánh,
trở về cội nguồn tâm tánh vốn thanh
tịnh, mười phương hư không sẽ
đều tiêu mất). Sách Trung Dung coi “hỷ
nộ ai lạc vị phát vi Trung” (khi mừng,
giận, buồn, vui chưa nẩy sanh thì gọi
là Trung); do vậy nói “chí trung tắc
thiên địa vị” (đạt đến Trung
thì thuộc
vào địa vị trời đất).
Kẻ hội thông Nho và Thích bèn nói Trung
tức là chân nguyên. Nhưng quy nguyên thì thế
giới tiêu, đạt tới Trung thì thế
giới thành lập, sao nhân như nhau mà
quả lại khác biệt như thế? Bởi
lẽ, mừng, giận, buồn, vui thuộc về
thức thứ sáu nơi ý căn. Nay [mừng,
giận, buồn, vui chưa
phát khởi tức là] chỉ riêng ý
thức chẳng hiện hành, chứ hãy
còn Mạt Na và Lại Da, sóng to dứt,
mà gợn sóng nhỏ vẫn còn, chưa
từng quy nguyên, hư không sẽ tiêu mất như thế
nào đây?
* Lời lẽ trong
đạo
Người
học thời cổ, chủ và khách
gặp nhau, vừa vào cửa liền coi
đấy là một đại sự nhân duyên, bèn
cùng nhau nghiên cứu. Nay [người học đạo] tụ
tập, nói năng tạp nhạp, phần nhiều
là chuyện thế gian, xa tít ngàn dặm,
chẳng dính dáng đến chuyện tham
học, kém xa phong thái thời cổ,
chẳng thể khôi phục được
nữa! Than ôi!
* Vua Sở mất cung
Vua
Sở đánh mất cái cung, kẻ hầu
muốn tìm kiếm. Vua nói: “Người
nước Sở mất cung, người khác của nước
Sở có được, cần gì phải
tìm?” Trọng Ni (Khổng Tử) nói: “Tiếc
là vua tâm
lượng chưa rộng. Sao không nói
‘người này mất cung,
người khác có được’,
cứ gì phải là Sở?”
Lớn lao thay! Cố nhiên vua Sở ḷng dạ mênh mông,
nhưng Trọng Ni quả thật có độ
lượng rộng như càn khôn. Tuy vậy,
Trọng Ni chỉ tạm dựa vào lời
của Sở vương để nói, chứ
chưa nêu trọn hết những điều Ngài
muốn nói. Vì sao? [Vua Sở] còn chưa
thể quên tình chấp đối với cái
cung! Tiến cao hơn nữa thì vua dẫu mất
cung vẫn như cũ, [dường như]
chẳng bị mất. Giả sử vua có
lại được cái cung ấy, vẫn như
cũ, [dường như] chẳng có! Tuy
vậy, vua chưa được như thế, tức
là vẫn chưa thể quên tình kiến
đối với cái ta. Lại tiến cao hơn
nữa, tìm cái được gọi
là Ngã thì chẳng thể
được, sao còn tìm cái gọi là
cung, là người, hay nước Sở
ư?
* Bị bỏng vì
nước sôi (1)
Ngày
mồng Mười đầu Xuân Tân Sửu (1601),
tôi theo lệ thường đi tắm,
trượt chân ngã vào trong [bồn
đựng] nước sôi, bị bỏng
từ gót chân đến đùi. Do điều
trị sai cách, hơn hai tháng sau mới
lành. Tuy trải qua đủ mọi nỗi khổ,
nhưng trong khi bị khổ, soi xét lại
những lầm lỗi trong thường nhật,
sanh lòng hổ thẹn to lớn, phát Bồ
Đề tâm. Đó là vì thường
nhật tứ đại an ổn, đi, ngồi tùy ư,
ngủ, thức tùy ư, ăn uống tùy ư, cười,
nói tùy ý, chẳng biết đấy là
phước to lớn của trời,
người. An hưởng phước ấy,
chẳng lại nghĩ tới chúng sanh trong sáu
đường. Hơn nữa, trong khi ta một
mực hưởng an vui, chúng sanh trong
địa ngục bị chặt, đốt, giã,
xay, chẳng biết họ trải qua khổ
sở ngần nào! Chúng sanh trong
đường ngạ quỷ ăn đồng
(nước đồng nóng chảy), uống
máu, chẳng biết trải qua khổ sở
ngần nào! Chúng sanh trong đường
súc sanh ngậm hàm thiếc, đeo yên, bị đao
chặt, vạc nấu, chẳng biết trải
qua khổ sở ngần nào! Dẫu
được làm người, bị
đói rét bức bách, phục dịch nhọc
nhằn, bệnh tật triền miên, quyến thuộc
chia ĺa, bị
hình phạt trừng trị, bị giam chặt
trong tù ngục, khốn đốn túng thiếu
vì thuế má, bị nước chìm,
lửa thiêu mà chết, bị rắn mổ,
hổ nhai mà chết, ngậm oan gánh uổng
mà chết, nỗi khổ ấy cũng chẳng biết
ngần nào, nhưng ta đâu có biết. Từ
nay trở đi, hễ được
hưởng yên vui, liền phải nên nghĩ
tưởng chúng sanh khổ não trong sáu
đường, nhiếp tâm chánh ư, nguyện sớm
thành đạo quả, cứu tế trọn
khắp hàm thức, mong cho họ đều cùng sanh
Tịnh Độ, đắc bất thoái chuyển. Nếu tự
buông lung trong một sát-na, dùng gì để
trên là báo ân Phật và dưới là
đền đáp đàn tín? Hãy
gắng lên!
* Bị bỏng vì
nước sôi (2)
Đức
Phật dạy “mạng người trong hơi
thở”, tôi thường ngày cũng
thường nêu lên điều này để cảnh
sách đại chúng, nhưng thật sự chưa
từng đích thân kinh nghiệm. Cho tới khi
tôi bị bỏng vì nước sôi, lúc
mới vào tắm thì thân an, tâm vui, thảnh
thơi, thoải mái, bỗng đạp chân vào
trong nồi nước nóng, suýt chết,
còn sống là may rồi, do trời, rồng
cứu giúp. Chỉ trong một sát-na đã
có mối quan hệ sống chết, “mạng
trong hơi thở” há chẳng phải
là đúng lắm ư? Do vậy biết,
làm tăng đối với lời
đức Phật dạy đem khuyên người
khác thì luôn thiết tha, nhưng để khuyên
chính mình sẽ có
lẽ vướng thói tệ chung là ơ
hờ. Do vậy, tôi hổ thẹn, hết sức
kinh hãi, hết sức chấn chỉnh chính
mình.
* Bị bỏng vì
nước sôi (3)
Tôi
thường ngày bàn đến chỗ dụng
công trong khi bị bệnh, cũng biết “thuần
tỉnh giác sẽ quên thân” như ngài Tất
Lăng Già Bà Tha[42]
nói, mà cũng biết “chẳng có
bệnh” như Mã đại sư (Mă Tổ Đạo Nhất)
đã nói, cũng biết “dẫu
gặp phong đao vẫn thường thản
nhiên, dẫu uống thuốc
độc vẫn nhàn tản” như
ngài Vĩnh Gia đã nói, cũng biết “Tứ
Đại vốn không, Ngũ Uẩn chẳng có” như
Triệu công (ngài Tăng Triệu) đã nói,
cho tới khi nhúng chân vào nước sôi,
kiểm điểm từ đầu, cảm
thấy đau đớn khắp thân, ai là
người quên thân? Ta nay bị bệnh, ai là người chẳng
bị bệnh? Mũi đao, thuốc độc cắt da
thịt, ai là người thanh thản,
nhàn tản? Tứ Đại, Ngũ Uẩn
thật sự là thân ta, thật sự khiến
cho ta
phiền lụy, ai là “vốn không, chẳng
có”? Mới biết trí huệ khô khan
thường ngày trọn chẳng giúp
được. Nếu chẳng có định
lực, đành gục dưới cửa
tử, kẻ nói suông tam-muội chỉ tự
lừa mình mà thôi! Ôi! Há chẳng
gắng công ư?
* Bị bỏng vì
nước sôi (4)
Tôi thấy
các tiệm của phường đồ tể
bỏ các loài ba ba, lươn, tôm, cua còn
sống vào trong nồi, dùng nước sôi sùng sục để
nấu, bèn khuyên nhủ rằng: “Sức
của bọn chúng sanh ấy chẳng chống
nổi các ngươi, lại còn yếu
ớt chẳng thể phát ra tiếng. Nếu
sức chống lại được, ắt
sẽ như cọp, báo ăn ngươi. Nếu chúng nó có
thể thốt ra tiếng, âm thanh kêu oan, chua xót sẽ
chấn động đại thiên thế giới!
Dẫu ngươi thoát khỏi báo ứng trong
hiện thời, nhưng trong ngàn vạn kiếp,
các chúng sanh ấy chẳng buông tha ngươi.
Ngươi thử nhúng một tay vào trong
nước sôi chốc lát rồi rút ra, sẽ
biết ngay!” Nay chẳng ngờ, sự báo
ứng ấy tôi phải gánh. Do vậy, suy nghĩ
từ bé đến già, tuy chẳng tạo
nghiệp ấy, nhưng trong vô lượng
đời đến nay, chưa thông hiểu Túc
Mạng, nào dám bảo
đảm chẳng làm? Do vậy, chẳng
oán, chẳng hờn, an lòng chịu
đựng, càng thêm siêng năng tu tập
những gì chính ḿnh chưa đạt
đến!
* Kinh giáo
Có kẻ
tự phụ tham Thiền, vội nói ngay: “Đạt
Ma chẳng lập văn tự, kiến tánh là
xong rồi”. Có kẻ
tự phụ niệm Phật, vội nói: “Chỉ
quư thẳng thừng có người [niệm Phật], cần
gì kinh điển?” Hai hạng
người ấy, có người do thật
sự đạt được mà thốt
lời ấy, chẳng cần phải bàn
đến; cũng có kẻ thật sự
chẳng đạt được gì mà
khinh mạn nói như thế, phần lớn
đều v́ chẳng
thông giáo lý, che giấu khuyết điểm của
chính mình. Tôi suốt một đời sùng
thượng niệm Phật, nhưng vẫn sốt
sắng khuyên người khác xem Giáo.
Vì lẽ nào vậy? Thuyết Niệm Phật do
đâu mà có? Chẳng do kim khẩu tuyên
thuyết, chép rõ trong sách vở, nay
chúng ta do đâu mà biết ngoài mười
vạn ức cõi nước có A Di
Đà? Người tham Thiền viện cớ “truyền
riêng ngoài giáo”, chẳng biết lìa
giáo mà tham cứu sẽ là cái nhân
tà vạy. Lìa giáo mà ngộ thì là tà
giải. Dẫu cho ngươi tham cứu
đắc ngộ, ắt cần phải
dùng giáo để ấn chứng. Chẳng phù
hợp giáo, sẽ đều là tà.
Do vậy, người học Nho ắt dùng
lục kinh, tứ tử để cân nhắc.
Người học Phật ắt dùng Tam
Tạng, mười hai bộ loại kinh điển
để làm khuôn mẫu, bậc thềm.
* Ngữ lục
Cổ nhân
đạo sáng, đức lập, đủ
để làm bậc thầy khuôn mẫu cho
trời người sau đó mới có
ngữ lục để lại cho đời. Đại
khái có hai loại: Hoặc là do môn nhân ghi lại,
giống như Lục Tổ Đàn Kinh; hoặc là
đích thân tự viết như Trung Phong Quảng
Lục chẳng hạn. Tôi thật sự là
phàm phu, tự cứu chẳng xong. Kẻ làm
học trò tôi hãy cẩn thận,
đừng ghi chép những lời tôi
ngẫu nhiên bàn bạc trong một lúc, san
định thành ngữ lục. Không chỉ là hư vọng
tự cao, tự đại, mà những
lời tôi ngẫu nhiên bàn luận có khi do
có chuyện chi đó mà thốt ra, hoặc
do người
nào đó mà đặt ra, chưa phải
là liễu nghĩa rốt ráo. Huống hồ
người nghe loáng thoáng lọt vào tai,
bèn ghi lại trên giấy, mực, cũng
sợ phạm lỗi khiến cho kẻ khác
lầm lạc.
* Nghe phỉ báng
Kinh
dạy: “Nhân chi báng ngã dã, xuất sơ
nhất tự thời, hậu tự vị
sanh. Xuất hậu nhất tự thời, sơ
tự dĩ diệt, thị nãi phong khí cổ
động, toàn vô chân thật. Nhược nhân
thử phát sân, tắc thước táo,
nha minh, giai ưng phát sân hỹ” (Người
khác báng ta, khi một chữ đầu
thốt ra, chữ sau chưa sanh. Khi phát ra
chữ sau, chữ đầu đã diệt.
Đó là gió và hơi lay động,
hoàn toàn chẳng chân thật. Nếu do vậy
mà nổi sân thì chim khách hót, quạ kêu,
sẽ đều phải nên nổi sân). Lời này
tột hay! Chắc có người nói:
Nếu kẻ đó viết sách báng bổ,
thì khi đã xem, chữ nào cũng
đều trọn đủ, lại còn vĩnh
viễn chẳng diệt, sẽ dùng cách
nào để phá? Sao chẳng nghĩ
trắng là giấy, đen là mực,
thứ nào là báng? Huống chi mỗi
chữ đều từ âm vận[43]
hợp thành, nhưng đặt mỗi bộ
âm vận trên bàn thì trăm ngàn vạn
ức sách báng bổ không lúc nào
chẳng hiện tiền, sao mà mê hoặc
quá đỗi? Tuy vậy, đó vẫn là
pháp môn đối trị, nếu biết ngã
là không, ai sẽ tiếp nhận sự hủy
báng?
* Ngu nhất trong những
kẻ ngu
Người
đời coi kẻ không biết chữ, không
hiểu việc là ngu; đấy quả thật
là ngu, nhưng chẳng phải là ngu nhất
trong những kẻ ngu. Đọc trọn hết
năm xe sách[44],
không chữ nào chẳng hiểu, thu trọn
hết muôn thứ khéo léo, không chuyện gì
chẳng thể, cho đến đàm huyền,
thuyết Thiền, không gì chẳng thông suốt,
nhưng xét tới chỗ chân thật thì
điên đảo, mê hoặc, lại ngược
ngạo cười chê kẻ được
gọi là ngu trên đây, [người như
vậy] chẳng phải là ngu nhất trong
những kẻ ngu thì là gì vậy?
* Chuẩn bị sẵn
Vô thường
nhanh chóng, dẫu già hay trẻ đều chẳng
khác, nhưng kẻ thiếu niên do còn thuộc trong
lứa tuổi chưa định, hư vọng mong
trường thọ, còn kẻ già cả
đã biết chắc ngày tháng
chẳng còn nhiều nữa. Cần phải
đem chuyện thuộc bản thân trong thế gian lo
liệu thỏa đáng, để một mai vô
thường, dù sáng hay chiều, buông tay
liền đi, chẳng có hệ lụy gì!
Đó là chỗ đại khẩn yếu trong
tuổi bóng xế, đừng nên coi
thường, đừng nên ơ hờ!
* Đọc rộng
Xem kinh cần
phải rộng rãi trọn khắp thì
mới dung thông, chắc chắn, chẳng
đến nỗi thiên chấp. Bởi kinh có
chỗ này kiến lập, chỗ kia quét sạch,
hoặc chỗ này quét sạch, chỗ kia
kiến lập, tùy thời, thuận theo căn
cơ, chẳng có pháp nhất định. Giả
sử chỉ xem kinh Lăng Nghiêm, thấy ngài Thế
Chí chẳng nhập Viên Thông, mà chẳng xem
rộng các kinh khen ngợi Tịnh Độ,
liền nói pháp môn Niệm Phật chẳng
đủ cao! Chỉ xem lời Đạt Ma
đáp lời Lương Vũ Đế,
thấy công đức không do làm phước, chẳng
rộng xem các kinh về Lục Độ vạn hạnh,
sẽ bảo “phước
đức hữu vi đều có thể
phế trừ”. Nhìn
ngược lại, chấp Tịnh Độ, phủ
nhận Thiền Tông, chấp hữu vi, phủ
nhận vô vi, cũng
giống như thế đó. Ví như đọc
sách thuốc mà chẳng xem rộng, chỉ
thấy trị bệnh hàn bèn dùng quế,
phụ tử[45],
bèn chê trách hoàng cầm, hoàng liên; trị bệnh
hư dùng sâm, hoàng kỳ, bèn chê trách
chỉ thật và hậu phác, chẳng biết
hoàng cầm, hoàng liên, chỉ thật, hậu
phác cũng có lúc nên dùng, mà quế,
phụ tử, nhân sâm, hoàng kỳ cũng có nên
bị phế trừ. Vì thế, chấp vào
một phương thuốc, sẽ gây lầm lẫn cho
sắc thân. Chấp một nghĩa trong kinh, sẽ
lầm lỡ huệ mạng. Tôi từng nói “chớ
nên để cho kẻ vô trí xem Lục Tổ
Đàn Kinh”,
chính là do sợ họ chấp đây rồi
phế kia!
* Tìm lỗi
người khác
Thấy
kẻ khác trau mình, lập đức, khá
có tiếng tăm, bèn nhiều cách bươi
móc lỗi của kẻ đó; đó là
tâm đố kỵ, đạo kém cỏi. Hoặc
thấy người khác có trước
thuật bèn tìm lỗi cũng thế. Chẳng
biết nghe một thiện hạnh, xem một quyển
sách tốt đẹp, đều nên tùy hỷ, tán
thán; nhưng lại ngược ngạo giấu,
diệt, thật sự là cái tâm gì vậy?
Nếu thật sự hạnh thuộc tà hạnh,
sách thuộc loại tà thư, tự phải
nên dùng lời lẽ chánh đáng
để luận định công bằng, đả
phá những lỗi sai, lại chớ nên
nửa khen, nửa chê, lằng nhằng, ba
phải!
* Mưu đoán
Thời
cổ xưng tụng Phòng Huyền Linh là kẻ
khéo mưu tính, Đỗ Như Hối[46]
giỏi quyết đoán, bởi lẽ, mưu
tính và quyết đoán phải nên cùng
có đủ, chẳng thể thiếu một
đằng nào! Nhiều chuyện tôi thấy
hết sức rõ ràng, nhưng chẳng dám
mạnh mẽ giữ ý kiến đến nỗi
hỏng chuyện, thường hối hận. Vì
thế, Thiền môn quý
ở chỗ bi và trí cùng đầy
đủ, nhưng mưu tính và quyết
đoán đều thuộc về trí. Có
mưu tính mà thiếu quyết đoán, chính
là có thể thấy mà không thể kiên trì
được. Rốt cuộc là trí cạn,
chẳng sâu, lệch lạc chẳng toàn
vẹn, rất phải nên gắng gỏi!
* Tranh chấp giữa
Thiền và Phật
Hai vị
tăng gặp nhau trên đường, một
vị tham Thiền, một vị niệm Phật. Vị tham
Thiền nói: “Vốn chẳng có Phật
để có thể niệm, một chữ
Phật tôi chẳng thích nghe”. Người
niệm Phật nói: “Phương Tây có Phật, hiệu
A Di Đà, nhớ Phật, niệm Phật,
nhất định thấy Phật”. Chấp hữu,
chấp vô, tranh luận chẳng ngớt. Có
một thiếu niên đi qua, nghe thấy, bảo:
“Lời lẽ của hai vị đều là
khăng khăng chấp một bề[47]”.
Hai vị tăng quở: “Ngươi là kẻ
tục, há biết Phật pháp?” Thiếu niên
đáp: “Tôi đúng là kẻ tục, nhưng
dùng pháp thế tục để sánh ví
mà biết Phật pháp. Tôi là kép hát,
trong khi diễn tuồng, hoặc là vua, hoặc
là bầy tôi, hoặc là nam, hoặc là
nữ, hoặc là người lành,
hoặc là kẻ ác, nhưng tìm tòi
cái gọi là vua, bầy tôi, nam, nữ,
thiện, ác, ngỡ là có
thì thật sự chẳng có, cho là
không thì lại thật sự có. Bởi
lẽ, Có chính là do Không mà có. Không
chính là do Có mà có! Có và Không
đều chẳng thật, nhưng tôi vẫn
lặng lẽ thường trụ. Biết tôi
là thường trụ, lấy gì để
tranh cãi?” Hai vị tăng không đáp
được!
* Bản vẽ núi Vũ
Di
Trong khi tôi
bị bệnh, có người tặng cho
bản vẽ Vũ Di Cửu Khúc[48],
xem xong vui vẻ. Do vậy, nghĩ cổ nhân bị bệnh
trầm kha chẳng dậy được, một
người bạn bảo ngắm tranh Võng
Xuyên[49],
chưa đầy mười ngày đã
lành bệnh. Huống chi Tây Phương Cực
Lạc thế giới được vẽ
vời đầy dẫy, sáng tối tham lễ,
chưa hề nghe
nói có hiệu quả nhanh chóng kỳ diệu
như tranh Võng Xuyên. Vì sao? Đấy là do Võng
Xuyên lưu dấu tích trong thế giới này,
dễ miêu tả. Cảnh Cực Lạc
vượt ngoài cõi thế, khó thể h́nh
dung, sẽ chẳng thể vẽ tinh xảo trọn
vẹn cùng cực như Võng Xuyên, chấn
động tâm mắt mọi người.
Bức vẽ do Kê Đầu Ma[50]
truyền lại cũng chỉ hình dung đại
khái những điều đã nói trong
Thập Lục Quán Kinh mà thôi. Các cõi
trời như Đao Lợi, Đâu Suất
chẳng thể sánh bằng một phần
cực nhỏ của thế giới Cực
Lạc, khiến cho người trông thấy
tường tận không chỉ bốn trăm bốn
bệnh đều mất, mà các bệnh do tám
vạn bốn ngàn phiền não cũng đều
tiêu diệt chẳng sót. Xưa có
người nói “gởi thần thức
nơi An Dưỡng”, lại nói “để
tâm nơi trời Cực Lạc”, há có
phải là nói
suông ư?
* Đàm luận về Tông
Lúc tôi chưa xuất gia,
vừa mới đọc những lời
của Tông môn, liền dùng tình thức suy
đoán, gởi thư cho một vị tọa
chủ, trái phải tung hoành, khiến cho vị
tọa chủ ấy phải nể sợ. Xuất gia
được mấy năm, lại gặp
vị tọa chủ ấy trong lúc nghỉ lại
một am, trong khi hỏi han, vị ấy thấy tôi chuyên
chí nơi Tịnh Độ, chẳng nhắc
tới Tông, sửng sốt hỏi: “Xưa kia ông
kiến địa hết sức cao minh, nay đâm ra
thấp kém, thiển cận là vì sao?” Tôi
cười nói: “Ngạn ngữ có câu
‘nghé mới sanh chẳng sợ cọp’,
hiểu pháp rồi bèn sợ, Ngài
có biết hay không?” Tọa chủ chẳng đáp.
* Niệm Phật
Người
đời hơi thượng căn bèn coi
thường niệm Phật, cho đó là
biện pháp của ngu phu, ngu phụ. Bọn họ
chỉ thấy ngu phu, ngu phụ miệng tụng danh
hiệu Phật, tâm rong ruổi ngàn dặm, chẳng
biết bọn đó chỉ gọi là “đọc
Phật”, chẳng phải là niệm Phật! Niệm
từ tâm, tâm nghĩ nhớ chẳng quên, nên
gọi là Niệm. Thử dùng Nho để
thí dụ, nhà Nho niệm nào cũng nghĩ
tới Khổng Tử, người ấy
cũng chẳng xa cách Khổng Tử cho
mấy? Nay niệm nào cũng nghĩ nhớ ngũ
dục, chẳng coi đó là sai trái,
ngược ngạo chê niệm Phật là sai. Ôi!
Tựa hồ luống uổng đời này,
sao bằng ngu phu, ngu phụ? Tiếc là trí
có thể làm được, mà ngu
chẳng thể làm!
* Vị tăng tên Tánh
Không
Vị
tăng Tánh Không thuộc chùa Tứ Châu
ở đất Ngô, bỏ ứng viện (thôi giữ chức vụ
trong một ngôi chùa), bế quan ở
núi Nghiêu Phong, từng gởi lời thệ nguyện
cho tôi và bẩm báo mười phương, tôi
hết sức khen ngợi là hiếm có.
Chẳng mấy chốc, Sư bị ma dựa,
bèn điên cuồng mà chết, tôi hết
sức thương tiếc. Truy tìm nguyên do là
vì vừa mới khởi tín tâm,
nhưng có tín mà chẳng có huệ.
Cổ nhân chưa thông tâm địa, chẳng ngại
xa xôi ngàn dặm tham yết thầy, hỏi đạo,
ra khỏi một tùng lâm, liền vào một
bảo xã, cho tới khi tham học tận cùng
trải khắp, chưa từng nghỉ ngơi. Sau
khi đã hiểu được ý, mới
ở bên cạnh chỗ có nước hay trong
rừng để trưởng dưỡng
thánh thai. Sao lại vừa mới lìa
nhà lửa liền bế quan chết cứng,
có lỗi mà chẳng biết, có nghi mà chẳng biện
định được, cầu thăng tấn
đâm ra đọa lạc, chẳng trách thành
ra như vậy! Có khá nhiều người
sơ tâm học đạo liền kết lều tranh trong
núi thẳm, ở quạnh quẽ một
mình, tự cho là cao thượng, tuy chưa
chắc bị ma dựa hay điên đảo,
nhưng cũng nhanh chóng đánh mất
lợi ích chẳng ít, người
sáng suốt hãy thử nghĩ xem!
* Hành cước
Khi tôi
một mình hành cước, chịu
đựng đói, khát, xông xáo nóng, lạnh, trải
đủ các nỗi khổ. Nay may mắn có
được một túp lều tranh, tuy
chẳng biết tu hành, nhưng biết hổ
thẹn. Vân thủy (khách tăng vân du) vừa
đến, bèn cúng dường, phụng
sự siêng năng, chứ chính mình thọ
dụng thì chẳng dám quá phận. Ấy
là như câu nói: “Tăng là lãng
tử riêng
thương khách. Kẻ nghèo khởi
nghiệp tiếc đất như vàng”. Nay
[có kẻ] vừa mới vào truy môn,
liền trụ trong am viện đã xây cất hoàn
thành, mọi chuyện như ý, ví như con
nhà giàu chẳng hiểu nỗi nghèo
khổ của dân gian. Dẫu tài trí hơn
người, lại chẳng nhờ vào tham
học, phỏng đạo, cứ đóng
cửa tự cao tự đại, tập thành
thói ngã mạn, tăng trưởng vô minh
thì cũng bị mất mát nhiều lắm!
* Sách Diệu Tông Sao
Trước
kia, có một vị Tăng bảo tôi: “Đức
Phật thị hiện ở phương Tây, vốn
nhằm lợi ích trọn khắp các
căn, mau chóng vượt khỏi sanh tử, là
đạo dễ hành, nhưng pháp sư Tri Lễ
thuần dùng giáo nghĩa Thiên Thai để
giải thích pháp quán tinh thâm, khiến cho dễ trở thành khó,
đánh mất bổn ý tùy thuận phàm
phu của Như Lai”. Lời luận định
ấy cũng rất hữu lý. Nay suy nghĩ,
cổ nhân nói “giảng giải kinh Phật thà
coi cạn là sâu, đừng coi sâu là cạn”.
Những điều được nói trong
sách Diệu Tông (Quán Vô Lượng Phật Kinh
Sớ Diệu Tông Sao)[51]
thì người lợi căn tự ngộ
lý sâu, kẻ độn căn cũng chẳng
bị mất phần, cứ dựa theo kinh mà
trực tiếp quán, cầu nguyện vãng sanh,
dường như chẳng ngăn ngại.
* Xuất thần (1)
Nếu
hỏi: “Tiên xuất thần, Thiền giả có
thể làm được hay không?” Đáp:
“Có thể, nhưng không làm. Kinh Lăng Nghiêm
dạy ‘kỳ tâm ly thân, phản quán kỳ diện’
(tâm lìa thân, nhìn ngược lại
mặt), chính là nói về chuyện
này. Tiếp đó nói: ‘Phi vi thánh
chứng, nhược tác thánh giải,
tức thọ quần tà” (Đừng coi
đó là đã chứng thánh. Nếu
coi đó là chứng nhập thánh cảnh,
liền rơi vào các loại tà tưởng).
Đó là “có
thể làm mà không làm”.
Lại hỏi: “Thần
thức xuất ra, cũng có âm, có dương.
Kinh Lăng Nghiêm nói đến âm thần, tiên xuất
dương thần, Thiền giả có làm
được hay không?” Đáp: “Cũng có
thể mà không làm!” Người vặn
hỏi ngạc nhiên, tôi đáp:
- Đừng kinh ngạc! Ông
chẳng thấy Sơ Tổ đã mất, [quảy]
một chiếc dép về Tây ư? Ông chẳng
thấy Bảo Chí Công một thân ở trong ngục,
mà một thân ở nơi chợ búa ư?
Ông chẳng thấy ngài Quy Sơn ngồi yên trong
tĩnh thất, mà lại ăn bánh rán[52]
trong thôn trang ư? Nhưng [những chuyện biến
hiện ấy] cũng chẳng gọi là “thánh
chứng”, bị
Tông môn chê trách. Xưa kia có một vị Tăng
nhập Định, xuất thần, tự nói: “Ta
xuất thần, bất luận xa hay gần đều
có thể lui tới, cũng có thể lấy
đồ vật”, đó chính là dương
thần. Tiên đức quở rằng: “Đầu
tròn, áo vuông, cớ sao lại toan sống theo
quỷ thần vậy?” Vì thế, tông ta hết
sức cấm đoán, chẳng chấp
thuận xuất thần!
* Xuất thần (2)
Lại hỏi:
“Thần có lỗi gì?” Đáp: “Thần
chính là thức, chia ra thô và tế. Có
xuất và nhập là thô. Nếu như xuất
lẫn nhập đều mất, vẫn trụ trong
tế thức. Đã tế lại càng tế
hơn, thảy đều hòa lẫn, thì
mới đạt được bản thể.
Nếu chấp vào xuất nhập, cho đó
là kỳ diệu, trong phần trước đă nói là “cái
gốc sanh tử từ vô lượng kiếp”
bị kẻ si tưởng là con người
sẵn có của chính mình!
* Nghe cáo phó
Người
ta nghe cáo phó, ắt hết sức
kinh ngạc. Đấy tuy là thế gian
thường tình, nhưng hễ sanh ắt
có tử, cũng là chuyện bình
thường trong thế gian. Từ xưa
tới nay, chẳng có một ai tránh
khỏi, há đáng kinh ngạc? Chỉ riêng có
chuyện sống uổng chết phí đời
này chẳng nghe đạo mới là
hết sức đáng kinh ngạc, nhưng lại điềm
nhiên chẳng kinh ngạc, buồn thay!
* Ăn chay
Người
phú quư chẳng thể ăn chay, có hai nguyên nhân:
Một là đắm chấp [ăn thịt] gia
súc[53] cho
sướng miệng, hai là lo rau dưa sẽ
tổn hại cái thân. Chẳng biết ăn chay
hay ăn thịt có thể khiến cho cái thân
béo hay gầy, nhưng chẳng liên quan đến
thọ hay yểu. Như nai là
loài thọ nhất trong các loài thú,
nhưng nó ăn cỏ. Cọp ăn thịt nhưng
thọ dài hay ngắn đều chẳng
bằng nai! Nai chẳng ăn thịt mà thọ,
lẽ nào riêng con người chẳng giống
như vậy? Tuy nhiên, có kẻ bị vướng
bệnh khổ, tâm tuy muốn ăn chay mà sức
chẳng đủ. Có người bị
kẻ tôn quý ép buộc, tâm tuy muốn ăn chay
mà chẳng thể được, đành
ăn chay mấy tháng, ăn chay mấy ngày,
hoặc ăn tam
tịnh nhục, chỉ cần kiên trì chẳng
giết là được, lâu ngày tập
khí cũ sẽ tự đoạn!
* Căn bản của luân
hồi
Kinh Viên
Giác nói “luân
hồi là do ái dục làm căn bản”, nhưng
ái dục dùng trăm cách để chế
ngự, chẳng thể trừ diệt. Đại để, Mạnh Bôn và Hạ Dục[54]
chẳng thể thi thố sự dũng mãnh,
Trương Lương, Trần Bình[55]
chẳng thể dùng trí của họ, Ly Lâu,
Công Thâu[56]
chẳng thể thi thố tài khéo thông sáng.
Tuy Bất Tịnh Quán chính là để
đối trị ái dục, nhưng phàm phu lè
tè sát đất chướng nặng,
nhiễm sâu, chỉ thấy được tịnh,
chẳng thấy bất tịnh. Phép Quán tinh
vi, hiếm người thành tựu; nhưng
rốt cuộc là như thế nào? Kinh dạy: “Dục
sanh ư nhữ ý, ý dĩ tư
tưởng sanh” (dục sanh từ ý của
ngươi, ý do tư tưởng sanh ra). Nay
quán cái tưởng ấy lại do gì
mà sanh? Nghiền ngẫm suy xét, lại nghiền
ngẫm, suy xét, nghiền ngẫm chẳng thôi,
[giống như] chuột chui vào sừng trâu,
ắt sẽ có chỗ đảo ngược!
* Bệnh là thuốc
tốt lành cho chúng sanh
Người
đời coi bệnh là khổ, nhưng tiên
đức nói: “Bệnh là thuốc tốt
lành cho chúng sanh”. Thuốc tương phản
với bệnh, sao lại lấy bệnh làm
thuốc? Bởi có thân thể, chẳng thể
không bệnh, đó là lẽ tất nhiên. Nhưng
khi chẳng bệnh, vui đùa, buông lung, ai nhận
biết được? Chỉ có bệnh khổ
bức bách tấm thân, mới biết Tứ
Đại chẳng thật, mạng người vô
thường, sẽ là một dịp hối hận,
tỉnh ngộ, giúp cho tấn tu. Tôi xuất gia
đến nay, bệnh ngặt gần chết ba
lượt, mà mỗi khi bệnh đều hối
hận, tỉnh ngộ, càng thêm tấn tu; do vậy tin
tưởng lời nói “bệnh là
thuốc tốt lành” thật sự là
lời chí lý!
* Rắn thành rồng
Người
xưa có thí dụ, như rắn thành
rồng, chẳng thay đổi da. Như
người thành Phật, chẳng thay
đổi mặt. Điều này nhằm
phá chấp tướng cầu Phật của ngu
phu, cho nên so sánh từa tựa như thế,
chẳng phải là thí dụ đích
đáng, cắt câu lấy nghĩa, chẳng
phải là thí dụ trọn vẹn. Lại
còn nói rắn nép trong đất, do tu
luyện mà thành rồng, chẳng biết
tánh vốn sẵn như vậy, chẳng phải
do tu luyện mà đạt được! Vì
thế, trong nước bẩn, trùng hóa
thành muỗi, giòi trong nhà xí hóa
thành ruồi, ấu trùng hóa thành ve
sầu, tằm biến thành con ngài, chim trĩ
hóa thành con thẩn[57],
chim sẻ hóa thành sò, cá mập hóa
thành cọp, cá Côn hóa thành chim Bằng[58].
Những điều tương tự như
thế đủ loại, chẳng phải một
chuyện, há chúng có thuật tu luyện hay
chăng? Lại chẳng thấy cỏ sanh ra đom
đóm, cơm sanh ra ốc, ngói sanh ra uyên
ương, vô tình mà hóa hữu hình, tu
luyện ở chỗ nào? Tôi sợ
người chẳng hiểu lý, tuy gọi
là học đạo, nhưng ngầm thực
hiện tà nhân, hư vọng mong cầu tà quả,
chẳng thể không biện định!
* Danh lợi
Danh vẻ
vang, lợi trọng hậu, cả cõi
đời cùng ganh đua, nhưng bậc hiền
nhân thuở trước nói “cầu
chẳng thể được, mà từ
khước cũng chẳng thể tránh khỏi”. Câu
nói “từ khước chẳng thể
tránh khỏi” ấy huyền diệu tột
bậc, người sống trong cõi đời
hãy nên tin sâu, ngẫm kỹ. Bởi lẽ, cầu
chẳng thể được, con người
có thể biết; chứ từ
khước chẳng thể tránh khỏi, ai
biết? Nếu biết chẳng thể tránh
khỏi, còn cầu chi nữa? Hơn nữa,
cầu chưa được, khôn ngăn bức
rức. Đến khi cầu được, khôn
ngăn vui mừng. Nếu biết là
chẳng thể tránh khỏi, có gì là
vui? Lại còn chính mình đạt
được thì vui, người khác
đạt được thì đố kỵ!
Nếu biết chẳng thể tránh khỏi,
còn đố kỵ chi nữa? Cốt sao thông
đạt do túc duyên mà tự đạt
được, hiểu rõ vạn cảnh như
không, thì đối với “thành, bại, lợi,
độn”, sẽ
điềm nhiên, chẳng náo nức. Vì
thế biết lời ấy huyền diệu
lắm!
* Lâm chung chánh niệm
Kinh dạy:
“Nhân dục chung thời, văn chung khánh thanh, tăng
kỳ chánh niệm” (người sắp
mạng chung, nghe tiếng chuông, khánh, sẽ tăng thêm
chánh niệm), nhưng phong tục ở đất
Hàng, thật lâu sau khi người chết
đã tắt hơi, mới mời Tăng
gõ khánh, đã chẳng kịp nữa!
Lại còn nói ngoa rằng: “Gõ khánh
là để thúc đẩy người
chết đi tới Diêm La”. Lầm lạc
đến nỗi như thế đó!
* Mùi thơm của hoa
Trong sân hoa bách
hợp nở, ban ngày tuy có mùi thơm, nhưng rất nhẹ, ban đêm hương
mới nồng. Chẳng phải là mũi
ngửi kém vào ban ngày, nhạy vào ban
đêm. Ban ngày ồn náo, các cảnh lăng
xăng xen tạp, khi mắt nhìn, tai nghe,
sức của mũi ngửi bị tai và
mắt phân tán, chẳng chuyên. Dụng chí
chẳng phân tán, sẽ ngưng lặng tâm
thần, đúng lắm thay!
* Truyện người hóa hổ
Sách Thuyết Hải[59]
chép truyện người hóa hổ: Một
vị tăng đùa bỡn, khoác da hổ
đi trong đường mòn trên núi. Có
người trông thấy kinh hãi, ù té chạy, vứt lại túi
hành lý, Sư liền nhặt
lấy. Da bỗng dính chặt vào thân, bèn
thành hổ, chẳng dám trở về
chùa, nhưng tâm hiểu rõ ràng mình là
người. Dần dần bị đói, bất
đắc dĩ, ăn cáo, thỏ, dê, chó. Về
sau, bị [người ta] bắt
được, mọi người sắp
mổ thịt thì ra là tăng. [Vị tăng
ấy] hết sức hối hận, kêu gào bi
thiết ân hận tột cùng, tự quăng
ném thân mình, da bỗng rơi xuống đất,
trở lại thân người. Do cảm
vời chuyện lạ ấy, bèn khoác áo
chằm rách rưới, đi ăn xin, tham
học khắp các vị tri thức, quyết
tâm tu đạo. Về sau, rốt cuộc trở
thành bậc danh đức. Kinh dạy: “Hết
thảy chỉ do tâm tạo”, xem chuyện này
bèn càng tin tưởng!
* Sáu đường
có lẫn nhau
Trong
lục đạo, lại có lục đạo.
Cứ lấy loài người để
nói, có người là trời, như các quốc
vương, đại thần chẳng hạn. Có
người là người, như các quan
lại cấp nhỏ và dân thường, áo
cơm no đủ, sống yên ổn trong cõi
đời. Có người mà là Tu La,
như lính coi ngục, đồ tể, đao phủ
v.v… Có người là súc sanh, như
những người chuyên khiêng nặng, làm
lụng nhọc nhằn, luôn bị đánh
chửi. Có người là ngạ quỷ,
như những người ăn mày nghèo
túng, kêu đói, gào khát. Có
người mà là địa ngục như
những người bị hành hình,
cắt xẻo. Các đường khác
như trời v.v… có đủ năm
đường khác, cũng giống như
thế. Vì sao vậy? Do xưa kia đã trì
giới, tu phước, nay được
làm người, nhưng phước và
giới đã tu có thượng, trung, hạ.
Trong ba loại ấy, [mỗi loại] lại có ba
loại, nhiều đến vô tận, mỗi mỗi
đều thuận theo cái tâm mà cảm báo
chẳng phải chỉ một loại. Kinh dạy: “Hết
thảy chỉ do tâm tạo”, lại nhìn vào
điều này, càng tin tưởng hơn!
* Trí huệ
Trong kinh
Tăng Nhất A Hàm, đức Phật dạy: “Giới
luật thành tựu thị thế tục thường số,
tam-muội thành tựu diệc thế tục
thường số. Thần túc phi hành diệc
thế tục thường số, duy trí huệ
thành tựu vi Đệ Nhất Nghĩa”
(Giới luật thành tựu là pháp
thông thường trong thế tục. Tam-muội
thành tựu cũng là pháp thông
thường trong thế tục. Thần túc bay
đi vẫn là pháp thông thường trong
thế tục, chỉ có trí huệ thành
tựu là Đệ Nhất Nghĩa). Do vậy biết
trong Tam Học Giới, Định, Huệ, Lục Ba
La Mật như Bố Thí v.v… chỉ có trí
huệ đáng trọng nhất, chớ nên khinh thường.
Chỉ có trí huệ đứng
trước hết, chẳng thể ở sau.
Chỉ có trí huệ quán triệt hết
thảy các pháp môn, chẳng thể coi chúng
ngang hàng với trí huệ được!
Kinh dạy: “Do giới sanh định, do định
phát huệ”. Lời ấy nói về
thứ tự sanh khởi của chúng
thì đúng như vậy, nhưng phải biết
điều gì đáng trọng, biết
điều gì trước tiên, biết quán triệt
thì mới được! Tuy vậy, trí
huệ ấy lại chẳng phải là nói về thông minh
biện tài, như trong phần trước
đã nói “phải nên ngộ trí thế gian”.
* Ngoại học
Đời
Tùy, sa-môn Huệ Toàn ở Lương Châu,
đồ chúng năm trăm người. Trong
ấy, có một người khá thô thiển,
khác lạ, vốn không được ngài
Huệ Toàn thâu nạp. Ông ta bỗng tự nói:
“Đắc quả A Na Hàm”. Huệ Toàn
mắc bệnh, đóng cửa,
người ấy tới thẳng
trước giường thăm bệnh, nhưng cửa
vẫn đóng như cũ. Hôm sau lại giống
như vậy, nhân đó, bảo Huệ Toàn:
“Sư sau khi chết, sẽ sanh vào nhà
Bà La Môn”. Huệ Toàn nói: “Ta suốt
đời tọa Thiền, vì sao sanh vào
đó?” Đáp rằng: “Sư tin đạo
không chuyên dốc, chưa dứt ngoại học; tuy có phước
nghiệp, chẳng thể vượt thoát”.
Tăng nhân hiện thời có người
học Lão, Trang, có người học theo kinh
sách của cử nghiệp (kinh sách của
sĩ tử đi thi), có người học
Mao Thi, Sở Tao[60],
và từ chương, thơ phú thời
cổ. Họ lấy Thiền làm cái học
chánh yếu, nhưng chưa dứt ngoại
học, vẫn dính dáng những thứ gây
phiền lụy cho đạo ấy. Nay buông lung theo
ngoại học, gác Thiền lại chẳng nghe
tới, chẳng biết như thế nào
nữa!
* Pháp sư Linh Dụ
Dụ pháp
sư giảng kinh, hoặc là một chữ
mà quanh quẩn kéo dài suốt một ngày,
hoặc trong chốc lát đã giảng hết
mấy quyển, hoặc chia [kinh văn thành]
từng khoa đã định, cho tới khi
giảng lần sau lại đổi thành khoa
trước, tăng, giảm, xuất nhập, tùy
cơ mà nói rõ hay ẩn đi, người
học sanh nghi. Ngài Linh Dụ nói: “Đấy
là quy mô rộng lớn của bậc đại
sĩ, có thể dùng thường tình
để phán đoán ư?” Đó là
vì ngài Linh Dụ đã đắc vô ngại
biện tài, gần như tự tại nơi
pháp. Nhưng kẻ câu nệ danh tướng, do
văn mà hại từ, do từ mà hại
ý, cùng với bọn tham cứu chết
cứng một câu, sao có thể biết
được? Người hiện thời
đừng nên chấp vào kiến giải của
chính mình rồi miệt thị bậc thù
thắng, biện luận khinh suất ngang
bướng. Lại chớ nên chẳng
lượng sức mình, bắt
chước bậc tiên đức, mặc
sức làm xằng!
* Hành cước, trụ
sơn
Người
hiện thời thấy ngài Huyền Sa [Sư
Bị] chẳng vượt Ngũ Lãnh, ngài Bảo
Phước [Thanh Khoát] chẳng ra ngoài quan
ải, liền khoanh tay ngồi yên, nhìn suông bốn
biển. Và kẻ thấy ngài Tuyết Phong [Nghĩa
Tồn] ba lượt lên tham yết ngài Đầu
Tử, chín lượt lên Động Sơn,
Triệu Châu tám mươi vẫn hành
cước, bèn bôn ba Nam Bắc, lang thang
suốt một đời. Hai hạng người
ấy đều chẳng đúng. Tâm địa
chưa sáng tỏ, đúng là phải nên ngàn
dặm, vạn dặm thân cận, gần kề bậc
tri thức, há nên giữ ngu, ngồi suông,
ngã mạn, tự cao? Đã vì sanh
tử mà tham yết thầy, hỏi đạo,
lại há có nên ngắm non, ngắm
nước, chỉ khoe khoang từng trải
rộng rãi mà thôi! Bậc hành cước
chánh đáng ắt chẳng phải là
như vậy.
* Lăng Nghiêm do Phòng Dung
sáng tác
Có kẻ
thấy kinh Lăng Nghiêm không chỉ nghĩa sâu xa, mà
văn từ cũng hay khéo, bèn ngờ
là do thừa tướng Phòng Dung soạn
ra. Phàm tại đạo tràng dịch kinh, tăng
sĩ Hồ, Hán, và các vị quan giỏi
văn chương, cư sĩ v.v… chẳng
dưới mấy trăm người, sau
đấy một bộ kinh mới hình thành. Bất
quá, Phòng Dung[61]
nhuận sắc lời văn, chẳng phải
là chuyên chủ trì ý nghĩa. Nếu Phòng
Dung tự nêu ý mình, sáng tác bản kinh
này, cố nhiên Phòng Dung là trời của
các trời, là thánh của các thánh
rồi! Khảo cứu các bộ sử
đời Đường, [sẽ thấy] tài
trí của Phòng Dung còn chẳng sánh
bằng các vị Liễu, Hàn, Nguyên, Bạch[62],
sao có thể sáng tác Lăng Nghiêm
vượt trội Khổng, Mạnh, Lão, Trang cho
được? Than ôi! Ngàn đời trăm
kiếp, được gặp kinh điển
tột bậc tinh vi, chí huyền, chí cực
như thế, chẳng chịu kiên quyết tin
nhận, mà nẩy sanh nỗi ngờ hèn
kém, trái nghịch ấy, cũng đáng
buồn lắm thay! Cũng đáng xót
lắm thay!
* Quả báo (1)
Kinh nói
“vạn pháp duy tâm”, người hiểu
lầm cho rằng “vô tâm thì không có nhân, không
có quả. Do vậy, chẳng lo có nghiệp,
chỉ lo có tâm! Có nghiệp mà không có tâm,
ông cụ Diêm La làm gì được ta”, bèn
an tâm tạo nghiệp, chẳng còn cố kỵ!
Chẳng biết vô tâm có hai loại:
1) Đúng như lý
mà tư duy, dụng tâm tột bậc, tự nhiên
nhập vô tâm tam-muội, thật sự là vô tâm.
2) Khởi tâm tạo
nghiệp, lại khởi tâm chế ngự tâm,
cưỡng chế khiến cho vô tâm, tợ hồ
vô tâm, nhưng tâm lại thành có. Tâm có,
nghiệp có, gậy sắt của ông cụ Diêm La
chưa tha cho ngươi đâu!
* Quả báo (2)
Kinh lại
nói: “Cụ túc trí huệ Bồ Tát,
thoát sử đọa lạc tại súc sanh
trung, súc sanh trung vương, tại ngạ quỷ
trung, ngạ quỷ trung vương” (Bồ Tát
trọn đủ trí huệ, giả sử
đọa lạc trong loài súc sanh sẽ là vua
của súc sanh, ở trong loài ngạ quỷ, sẽ
là vua của ngạ quỷ). Kẻ hiểu lầm cho
rằng: “Có trí sẽ có thể chuyển nghiệp.
Vì vậy, chẳng lo có nghiệp, chỉ lo
không có trí! Có nghiệp mà có trí, ông cụ Diêm La
làm gì được ta?”, bèn an tâm tạo
nghiệp, chẳng còn cố kỵ. Chẳng
biết kinh nói “trí huệ”, chẳng phải
là trí thế gian tầm thường. Hơn
nữa, ngươi có trí huệ thì có
được như Văn Thù, Thân Tử
(Xá Lợi Phất) hay không? Dẫu chẳng
bằng họ, kém hơn thì có
được như Thiện Tinh, Điều
Đạt hay không? Thiện Tinh học rộng các
pháp tụ đến
nỗi mười tám con hương
tượng mới chở hết, Điều
Đạt (Đề Bà Đạt Đa)
đắc thần thông của bậc La Hán, nhưng
đều chẳng khỏi hãm vào địa
ngục trong khi còn sống! Huống hồ trí
huệ của ngươi chưa chắc đã
hơn nổi hai người ấy. Chén
nước chẳng thể dập tắt
lửa của cả xe củi. Ánh sáng đom
đóm chẳng thể phá tan tối tăm
trong hang sâu. Nay là tiểu trí, diệt nghiệp
được mấy? Gậy sắt của
cụ Diêm La chẳng tha cho ngươi đâu!
* Tái ông (ông già ở biên ải)
Được,
mất chưa từng cố định; họa,
phước nương dựa lẫn nhau. Một
đoạn nhân duyên của Tái Ông[63]
ai nấy đều biết, nhưng chưa chắc
đã tin! Tôi trượt chân ngă vào
nước sôi, gân co rút chẳng duỗi ra
được, phải dùng đôi nạng làm
hai đứa hầu,
ngỡ suốt đời sẽ là như
vậy, viết bài ca Pháp Sư Què Chân
để tự giễu, có câu “chỉ sầu
chân này chẳng què mãi”. Chân duỗi ra
như cũ, cười là làm thơ thành
sấm, nghiễm nhiên coi đó là lời
răn bằng thơ. Vừa cảm kích, vừa
sợ, nguyện chẳng quên câu chuyện “bắn
móc câu”[64].
* Thần thông
Thần
thông đại loại có ba thứ: Một là
báo đắc, hai là tu đắc, ba là
chứng đắc.
Báo đắc là do phước
nghiệp mà tự có, như chư thiên đều
có thể thấy thấu triệt, nghe thấu suốt,
và quỷ cũng có thần thông.
Tu đắc là do học tập mà thành,
như Đề Bà Đạt Đa học thần thông
từ tôn giả A Nan.
Chứng đắc
là chuyên tâm học đạo, chẳng có tâm học thần
thông, nhưng đạo trọn đủ,
thần thông bèn tự có, chỉ là nhanh hay
chậm khác nhau, như chư tổ, chư thiện
tri thức xưa nay.
So sánh để luận,
đắc đạo thì chẳng lo không có
thần thông, đắc thần thông chưa chắc
có đạo! Tiên đức
có nói: “Thần thông diệu dụng chẳng
bằng xà-lê, Phật pháp vẫn cần
lão tăng”, rất có ý vị. Thử
lập thí dụ: Tất cả tước
lộc, quan phục (phẩm phục của quan
chức), phủ thự, nghi vệ v.v… của quan viên
trong thế gian, giống như thần thông, cũng
có ba loại: Báo đắc là như công
huân [của chính mình hay tổ phụ], hoặc
con cháu được tập ấm, tự
nhiên có những thứ [tước lộc,
quan phục v.v…]. Tu đắc là do sức
người tuần tự học tập thăng
tấn mà thành, cổ nhân không ưa, vì chẳng
do đạo tạo thành. Chứng đắc
là như người đạo sáng,
đức lập, địa vị tự
thuận theo. Trọng Ni nói: “Học dã, lộc
tại kỳ trung hỹ” (Học thì bổng
lộc có sẵn trong ấy). Ba loại ấy, hơn
kém có thể biết được!
* Người đại
hào quý
Người
đại hào quý trong thế gian đa phần do
tu hành mà ra, nhưng có ba bậc:
- Thứ nhất, tŕ giới,
tu phước, niệm niệm chẳng quên
chánh trí Bát Nhã, đời sau tuy
ở địa vị cao, ngũ dục trọn
đủ, nhưng tâm lúc nào cũng
đặt nơi đạo, thật sự
được gọi là “vị tăng để
tóc”.
- Thứ hai, tŕ giới, tu phước,
nhưng ý niệm Bát Nhã hơi sơ sót,
đời sau chỉ dạo chơi trong pháp môn
mà thôi.
- Thứ ba, trì
giới, tu phước, nhưng coi nhẹ Bát
Nhã, chẳng hệ niệm, đời sau
sẽ thuận theo cảnh mà mê, trái nghịch
thiện, theo ác, thậm chí có trường
hợp báng Phật, hủy pháp, diệt tăng. Xét
đến nhân địa của họ, đều là
người tu hành!
Sai biệt như thế,
đời sau rồi đời sau nữa, sai
biệt sẽ đến mức độ nào?
Nguội lạnh tấm lòng vậy!
* Thiên Thai và Thanh Lương (1)
Người
ta thường nói Thiên Thai, Hiền Thủ,
nhưng theo ngu tôi suy xét: Ngài Nam Nhạc giơ lên sợi dây
chài chính [của
tấm lưới] mà muôn mắt
lưới đều căng ra[65],
nhưng không trọn đủ bằng ngài Thiên Thai.
Ngài Hiền Thủ cầm ngọc hành[66]
mà ngàn tinh tú [hiện ra] đan xen, nhưng
chẳng đầy đủ bằng ngài Thanh
Lương. Vì vậy, kể từ khi có
Phật pháp đến nay, ngài Thiên Thai tập
đại thành[67].
Kể từ khi có Thiên Thai tới nay, ngài
Thanh Lương tập đại thành. Vì thế,
phải nên dùng hai vị đối ứng
với nhau mà gọi tên tông[68].
Có người nói rằng: “Người
ta đối với Thiên Thai chẳng dị
nghị, nhưng đối với Hiền Thủ
có lúc chõ mõm vào, vì sao vậy?”
Đáp: - Bôi bác
ngài Hiền Thủ cũng là một trong trăm
điều bôi bác! Chẳng phải
trước đó đã nói “đạo
của Hiền Thủ tới ngài Thanh
Lương mới hoàn bị” ư? Do
vậy, hai vị Thiên Thai và Thanh Lương ân như cha
mẹ, đạo cũng như cha mẹ, há có
thể nghị luận ngài Thanh Lương ư?
Chắc họ sẽ không đáp
được. Tôi cười bảo: “Chẳng
nhọc công ông suy nghĩ. Sau Thiên Thai có Thanh
Lương, giống
như sau Nghiêu, Thuấn có Khổng Tử, sao
lại có thể bàn định
được?”
* Thiên Thai, Thanh Lương (2)
Có người
nói rằng: “Tông kia (Thiên Thai) có tứ giáo, tông
này (Hoa Nghiêm) có ngũ giáo, rành rành
là hai tông, cũng có chỗ tương
đồng ư?”
Đáp: - Đừng
nghĩ là hai. Tứ giáo và ngũ giáo
là do ngũ uẩn và lục căn tách ra hay
hợp vào mà thôi. Tiểu Giáo trong ngũ
giáo nhiếp nhập Tạng Giáo của tứ
giáo, mà nói là Tạng Giáo, tức
là còn xen lẫn dấu tích, cho nên tách ra
thành một giáo khác là Tiểu. Đốn
Giáo trong ngũ giáo nhiếp nhập Viên Giáo
của tứ giáo, còn trực chỉ
của Đạt Ma chính là thuộc vào Đốn.
Do muốn nêu rõ, nên đặc biệt gọi
là Đốn, chứ Viên Giáo của hai Tông
vốn là một. Chỉ thú Thập Huyền
của Hoa Nghiêm thì Viên Giáo của tứ
giáo vốn chứa đựng ý ấy, nhưng
chưa trọn. Vì thế, sau Tiểu, Thỉ, Chung,
Đốn, vẫn bao trùm bằng Viên của
nhất thừa, là có thâm ý vậy! Do
mỗi đằng đều là chỗ
nương vào, quay về của một thuở,
đều là thể thức cho muôn đời.
Do vậy, gọi là hai tông. Tông tuy thường hai,
nhưng đạo thường một, rẽ
thành hai nẻo thì sai mất rồi!
* Sơn Cư Thi của
thiền sư Úc Đường
Các
vị đại lão Vĩnh Minh, Thạch Ốc, Trung
Phong đều có “sơn cư thi” (thơ
ở trong núi) nêu tỏ tự tánh,
rền tiếng ngàn đời, lại còn
có khí phách hùng hồn, câu lẫn
chữ đều tinh vi, khéo léo, nhưng bốn
mươi bài vịnh của Úc
Đường[69]
chính là lời xướng tuyệt
diệu nhất trong các vị. Vì sao vậy? Do
đều từ chân tham thật ngộ, tràn
trề bên trong, bộc lộ ra ngoài, như gió
nhẹ lùa cây báu trong cõi Cực Lạc, tâm
vua trời cảm đàn dao cầm của Càn
Thát Bà, chẳng khảy mà phát ra
tiếng, chẳng vuốt mà ngân, là cực
diệu của thơ, lại còn chẳng thể
dùng thơ để luận được! Nếu chẳng
dốc sức nơi gốc mà cứ suy
tính nơi ngọn, suốt đời chắt lọc từ
ngữ, có lợi ích chi? Nguyện
người sống trong núi hãy học theo
đạo của cổ nhân, đừng học theo
thơ của cổ nhân.
* Sắc núi
Nhìn gần,
sắc núi xanh rì, màu xanh ấy như
màu lam. Nhìn sắc núi từ xa, sắc
biếc như màu lam ấy trở thành xanh
thẫm. Sắc núi quả thật biến
đổi ư? Sắc núi vẫn như cũ, mà
sức nhìn có dài hay ngắn. Từ
gần cho đến xa dần, xanh đổi thành
biếc. Từ xa mà dần đến gần,
màu biếc đổi thành xanh. Do vậy, xanh
là do duyên hội tụ mà thành xanh, biếc do
duyên hội tụ mà thành biếc. Không chỉ
biếc là huyễn, mà xanh cũng là huyễn; đại khái, vạn
pháp đều là như thế.
* Nằm mộng trong
đời hiện tại
Nằm
mộng ban đêm phần nhiều là
chuyện thuộc đời hiện tại, hiếm
khi thấy chuyện thuộc đời
trước. Vì sao? Bởi lẽ, mộng do
tưởng thành, phần nhiều tưởng
chuyện trong đời hiện tại, chẳng
nghĩ tới chuyện đời
trước. Hơn nữa, tam thừa hiền
thánh còn bị cách ấm khi sanh ra, bỗng
bị tối tăm, huống hồ phàm phu trọn
đủ phiền não trói buộc, thoát
khỏi một cái vỏ này, lại vào trong
một cái vỏ khác, từ trong bụng
mẹ điên đảo mà sanh ra, há còn có
thể ghi nhớ chuyện đời
trước được ư? Chỉ
dựa vào những chuyện lăng xăng
trước mắt, ngày thì
tưởng, đêm bèn thành mộng, nhưng
có lúc vật chưa từng thấy, chuyện
chưa hề làm,
địa vị chưa từng trải qua hiện ra
trong giấc mộng tức là cảnh vô thỉ
tùy ý mà hiện ra như thế, cũng
chẳng biết là do nguyên do nào! Tưởng
ấm đã phá, sẽ ngủ thức luôn
như một, mong hãy cùng dốc sức!
* Vị tăng lễ sám
Có người
tu Tịnh Độ Sám Pháp, một vị Tăng
bảo: “Kinh chẳng nói đó ư? ‘Nếu
muốn sám hối, hãy ngồi ngay ngắn
niệm Thật Tướng’. Sao lại hùng
hục lễ bái gấp gáp vậy?” Người
tu sám hỏi: “Như thế nào là Thật
Tướng”. Tăng đáp: “Tâm chẳng
dấy vọng chính là Thật Tướng”. Lại
hỏi: “Tâm là vật ra sao? Vọng là vật ra
sao? Cái tâm có thể chế phục vọng lại
là vật gì?” Tăng chẳng đáp
được!
Người tu sám
nói: “Tôi nghe rằng: Sám coi Lý là
chánh, coi Sự là trợ. Ngay như
niệm Thật Tướng, tam nghiệp siêng năng,
chân thành, cũng chẳng trở ngại!
Vì lẽ nào vậy? Hành nhân sơ cơ chưa thể
lập tức tương ứng với Thật
Tướng, cần phải cậy vào ngoại
duyên giúp đỡ. Kinh Pháp Hoa dạy: ‘Ngã
dĩ dị phương tiện, trợ hiển Đệ
Nhất Nghĩa’ (ta dùng phương tiện
lạ, giúp hiển Đệ Nhất Nghĩa)
chính là ý này. Luận Khởi Tín
cũng nói: ‘Chúng sanh thời Mạt Pháp
tu pháp này, tự sợ chẳng
thường hằng, gặp Phật
Như Lai Thế Tôn có phương tiện lạ,
dạy hãy niệm Phật, cầu sanh Tịnh
Độ”. Vì thế biết
Tịnh Độ Sám Pháp của Từ Vân
đại sư, châm chước xưa, chuẩn theo
nay, tinh mật tột bậc, cùng với các
sám pháp Pháp Hoa và Kim Quang Minh, đều
là Lý và Sự cùng đủ,
trời, người đều khâm phục, là
đuốc báu lớn soi đường
tối trong thời Mạt Pháp. Hơn nữa,
lo liệu kiếm sống, lo toan sản nghiệp,
chẳng trái Thật Tướng, có
phải là do đức Phật nói hay
chăng?” Tăng đáp: “Đúng thế!”
Người ấy bảo: “Như vậy thì
lễ sám chẳng sánh bằng sanh nhai
kiếm sống, lo toan
sản nghiệp ư?” Tăng lại
chẳng đáp được!
* Sách Chỉ Quán
của ngài Nam Nhạc
Trong
sách Đại Thừa Chỉ Quán của
ngài Nam Nhạc đã dẫn Khởi Tín
Luận như sau: “Do vậy luận nói: -
Điều thứ ba là Dụng Đại, do
có thể sanh ra thiện ác nhân quả thế gian
và xuất thế gian”. Luận Khởi Tín
vốn không có chữ Ác, đọc đến
[câu
trích dẫn trên đây] khiến cho
người ta kinh hãi. Hơn nữa, tánh
ác tuy là tông chỉ của tông Thiên Thai, nhưng
ngài Từ Vân nói ngài Nam Nhạc xa là
kế thừa ngài Ca Diếp, kế đến là bẩm
thọ từ ngài Mã Minh, mà Mã Minh
là cổ Phật thị hiện [làm Bồ
Tát] thuộc địa vị Bát Địa.
Ngài Nam Nhạc do có đức lạ thường mà
được xếp vào hạng thần tăng,
chẳng lẽ nào trái nghịch với
cả hai vị tiên thánh (Ca Diếp) và hậu
thánh (Mã Minh).
Hơn nữa, Khởi
Tín Luận ngôn từ ngắn gọn, ý nghĩa
phong phú, từ ngữ tinh vi, lý tột
bậc, bao trùm chung các kinh liễu nghĩa của
Đại Thừa. Mỗi câu, mỗi chữ [trong luận ấy] đều
chẳng thể tăng giảm được!
Ngài Nam Nhạc mở đầu sách Chỉ
Quán, dẫn Khởi Tín Luận chính là
nêu ra nguồn cội, rõ ràng là có
chứng cứ, nhưng nguyên gốc của
luận không có [chữ Ác], liền tự tiện thêm
vào, có lý ấy hay chăng? Ắt là
do người đời sau làm ra. Hoặc
có người cho rằng do ngài Từ
Vân khắc in sách, đáng lẽ phải
nên là không lẫn lộn, xen tạp! Ôi! Biết đâu
là do sau ngài Từ Vân, lại có
người đời sau tăng thêm? Tôi tuy chí
ngu, biết chắc ngài Nam Nhạc chẳng
sửa đổi luận Khởi Tín, xin
bậc cao minh giảng tường tận hơn!
* Hàn Xương Lê
(Hàn Dũ)
Cõi
đời đồn rằng Xương Lê
thoạt đầu báng Phật, về sau, do
gặp sư Đại
Điên, nhanh chóng có ngộ nhập. Nhưng
khảo cứu văn tập của ông ta, có
chép: “Gần đây đồn rằng Dũ tôi hơi
tin họ Thích (đạo Phật), lời
đồn ấy là hư vọng. Người
xứ Triều Châu chẳng thể nói
chuyện được. Vị tăng Đại
Điên khá thông minh, hiểu đạo lý, cho nên
giao du với ông ta. Khi trở về, lưu lại
y phục để từ biệt. Đó
là tình cảm, chẳng phải sùng tín
đạo ấy, cầu lợi ích
phước điền”. Xét theo đó,
tức là [Hàn Dũ] vẫn ngang
bướng, chẳng tin như cũ, lấy
đâu ra ngộ nhập? Tuy vậy, nếu chỉ xét
[theo phương diện] thị hiện ảnh
hưởng, nghịch thuận tán dương, sẽ
chẳng thể lường được, sao
biết Xương Lê chẳng phải là cố
ý tạo nhân duyên dẫn phát ư? Chẳng
có Xương Lê báng Phật, sao có
người do hiểu rõ giáo mà phủ
định [những lời bài bác của]
họ Hàn? Chuông do gõ mà tiếng mới ngân rền,
đuốc do cắt bấc mà ánh sáng
càng thịnh. Vì thế, chưa đắc
Túc Mạng, chưa có Tha Tâm, chưa thể tùy
tiện đàm luận cao xa, b́nh luận nhân vật
được!
* Tỉnh giác và tịch
tĩnh
Chỉ
Quán quý ở chỗ cân bằng, đó
là chỗ đáng chú trọng; dẫu thánh
nhân lại xuất hiện, chẳng thể thay
đổi được! Có thể là vì
có hoãn hay cấp trong ấy mà nói: “Kinh
dạy ‘do Định
phát Huệ’,
nên Chỉ là trọng yếu”. Vì
vậy, [người
học] dựa dẫm theo đó thành
thói quen. Người tu hành phần nhiều coi
tịch tĩnh là chủ yếu, chỉ có ngài Vĩnh
Gia nói “tỉnh tỉnh, tịch tịch; tịch
tịch, tỉnh tỉnh” (tuy tỉnh ngộ, hiểu
biết thông suốt vẫn vắng lặng, tuy
vắng lặng mà thấu hiểu, tỉnh
thức) để nói rõ sự cân
bằng. Phần văn từ sau đó [trong
Chứng Đạo Ca] lại nói “tỉnh
tỉnh là chánh, tịch tịch là
trợ”, tức là khác xa với
cách nhìn chỉ đạt được
một khía cạnh (tức cách nh́n coi Chỉ là trọng yếu
trên đây), từ xưa đến nay, chưa
có ai đề cập. Sau này, Tông Môn dạy
mọi người khán thoại đầu
để mong triệt ngộ, nhưng ngài Diệu
Hỷ quở mặc chiếu[70]
là tà thiền, chính là do ý này. Do
vậy, đức Phật được gọi
là đại giác, chúng sanh được
gọi là bất giác. Giác là tỉnh, ý
chỉ của ngài Vĩnh Gia nhỏ nhiệm thay!
* Nguồn đạo
Nếu
hỏi: - Đạo Đức Kinh chép: ‘Ngô
bất tri kỳ danh, tự chi viết Đạo’ (ta
chẳng biết tên của nó, bèn gọi nó là Đạo),
tức là một chữ Đạo bắt
nguồn từ Lão Tử, muôn đời
tuân theo. Cái được gọi là
Đạo trong
kinh Phật cũng không thể trái nghịch
được, đó là như thế
nào?”
Đáp: - Cái được
chép trong kinh Dịch là “lý
đạo thản thản”[71] (đi theo
chánh đạo rộng rãi, tâm địa
khoảng khoát, thản nhiên), ghi trong kinh Thư thì
nói “tất cầu chư đạo”[72]
(ắt tìm tòi từ trong đạo
đức), vịnh trong kinh Thi thì nói “Châu
đạo như chỉ”[73]
(đạo cai trị của nhà Châu như đá
mài dao). Khi năm ngàn chữ (Đạo
Đức Kinh gồm năm ngàn chữ) chưa
xuất hiện, cái tên Đạo đã
được lập trước. Huống hồ
cái Đạo được nói trong sách
ấy (Đạo Đức Kinh) chính là “vâng
theo tự nhiên”. Nếu như chẳng có
nguồn cội, tự nhiên sanh ra đạo, thì
ngài Thanh Lương phán định là “không
có nhân”. Nếu như nó vốn là tự
nhiên mới sanh ra đạo thì ngài Thanh
Lương phán định là “tà nhân”. Vô nhân
và tà nhân đều là so đo khác lạ,
chẳng phải là đạo như
đức Thế Tôn đã nói! Phật đạo
là vạn pháp đều bắt nguồn
từ tự tâm, chẳng phải là
tự nhiên, chẳng phải là bất
tự nhiên. Kinh nói A Nậu Đa La Tam Miệu Tam
Bồ Đề chính là đại đạo Vô Thượng
Chánh Giác, còn chẳng phải là
tự nhiên, huống hồ là pháp tự nhiên
ư?
* Hiện thời, Bồ
Tát chẳng hiện
Trộm
lấy làm lạ hiện thời kẻ tạo
nghiệp nhiều, người tin đạo ít;
Bồ Tát độ sanh chẳng ngơi, sao
chẳng phân thân thị hiện, hóa độ,
khuyên dụ quần mê? Hơn nữa, xưa kia Phật
pháp truyền sang phương Đông, từ
Hán, Ngụy cho đến Tống, Nguyên, thiện tri thức
xuất thế như vảy cá, như răng
lược[74].
Cuối đời Nguyên, đầu đời Minh,
còn thấy được một, hai vị;
gần đây thì đìu hiu, chẳng nghe
thấy nữa! Như đức Địa
Tạng nguyện độ tận chúng sanh, Quán Âm
được xưng tụng là “không cõi
nào chẳng hiện”, há nỡ lòng
bỏ mặc chúng sanh chưa được
độ, cũng có cõi chẳng hiện
ư? Suy nghĩ lâu ngày mới biết Bồ
Tát tùy duyên độ sanh; chúng sanh vô duyên
sẽ chẳng thể độ. Ví như
mặt trăng ở trên bầu trời,
vốn chẳng có tâm cự tuyệt
nước. Nước tự chẳng trong,
mặt trăng bèn chẳng hiện. Huống
chi nay Mạt Pháp dần sâu hơn, tâm cấu càng
quá đáng; cố
nhiên Bồ Tát luôn luôn độ sanh, nhưng chúng
sanh thuộc
vào nơi không chịu tiếp nhập
sự hóa độ, thì vào
nước đục mà tìm trăng sáng
há có được chăng?
* Như Lai chẳng
cứu sát nghiệp
Hơn
nữa, hiện thời tạo nghiệp, chỉ
có giết chóc là dữ dội nhất!
Đừng nói rộng trong bốn biển, ngay
chỉ trong một ấp, mỗi ngày sanh mạng
bị giết hại như bò, dê, chó, lợn,
ngỗng, vịt, cá, ba ba, hở ra là cả
ngàn vạn, còn những con vật nhỏ
hơn chẳng thể kể xiết! Trong hai mùa
Xuân, Thu, tế trời, đất, cúng quỷ
thần, cúng bái tổ tiên, báo đức,
báo công tiên thánh, tiên hiền, dùng đến
các con vật chẳng biết là bao nhiêu!
Nhưng trời đất chẳng xót, quỷ
thần không thương, tổ tiên chẳng biết,
tiên thánh, tiên hiền chẳng ngầm cấm
ngặt. Còn như Như Lai, lòng nhân bao
trùm trời đất, lòng từ thâu
nhiếp quỷ thần, ân vượt xa tổ tiên,
đức bao trùm các thánh hiền, sao chẳng
thị hiện đôi chút thần thông, hiển
hiện [kẻ
sát sanh sẽ] thọ ác báo, hoặc khiến
cho [ác báo] trở ngược lại
kẻ gây tội, thì không ai là chẳng run
sợ, hối cải, lẽ đâu hờ
hững như chẳng nghe.
Vì sao? Suy nghĩ
đã lâu, bèn biết là những con vật
như bò, dê v.v… do trước kia tạo nghiệp
giết chóc mà chịu quả
báo trong đường súc sanh. Hạng
Chiên-đà-la tức là những kẻ
trước kia bị giết, nay chuyển thành
kẻ giết. Nhân duyên hội ngộ, mới thỏa
thích điều ấp ủ, định nghiệp
khiến thành như
vậy. Đợi đến khi nghiệp tận, sau
đấy báo chấm dứt, dẫu bậc
trời trong trời, bậc thánh trong thánh
cũng chẳng biết làm như thế nào?
Huống chi túc báo vừa mới yên,
ương họa mới lại tạo, nhân quả ruổi
theo nhau, ta chẳng biết khi nào mới
kết thúc? Hơn nữa, chuyện đã qua
chẳng ngăn trở được,
chuyện sẽ đến có thể truy tầm,
tức là nay đoạn cái nhân giết
chóc, sẽ chẳng có quả báo do
giết chóc về sau! Giáo huấn sáng suốt
của Như Lai rạng ngời như mặt
trời, tinh tú, [đấy chẳng phải
là] vì các chúng sanh mà cứu sát
nghiệp không ngớt tới mức cùng
cực đó chăng?
* Tăng giảm văn
tự của cổ nhân
Ở
chỗ người bạn, tôi ngẫu nhiên thấy
một quyển dă sử và thi kệ cảnh tỉnh
cõi đời của tiền bối, có
khá nhiều chỗ tăng, giảm so với nguyên
văn. Do vậy, nghĩ các trước thuật
xưa nay, sách Nho thì trừ Lục Kinh,
Luận Ngữ, Mạnh Tử ra, kinh Phật
thì trừ kinh
luận của Phật, Bồ Tát, và [các
tác phẩm] của các vị đại lão
danh xưng hiển hách nhất ra, [người
đời] cẩn thận chẳng dám
động đến, chứ những thứ
khác cũng bị tùy ý tăng giảm khá
nhiều! Phàm lưu thông thiện pháp, lợi lạc,
cứu giúp chúng sanh, quả thật là tâm
đẹp, ý lành, nhưng giao cho người
khác mong họ giảo chánh đến nỗi
như thế, mong hãy tự đứng ra
làm chủ. Nếu giữ tâm trân trọng, ân
cần, ắt sẽ có người giúp cho
thành tựu[75]!
* Thí dụ về
rắn độc
Xưa kia,
đức Phật đi trên cánh đồng,
thấy có cái túi bị rơi trên mặt
đất, bèn chỉ vào đó, nói:
“Rắn độc! Rắn độc!” Nói xong,
Ngài nhanh chóng rời khỏi. Có nông phu
vác cuốc đến phang thử, thì ra là
cái túi bị đánh rơi, bèn cầm
về, được mấy dật[76]
vàng, mừng rỡ quá lòng mong mỏi!
Thoáng chốc, chuyện đến tai vua, [nông phu
ấy] bị quở tội trộm của công. [Quan
trên] cho là dâng lên ít, giấu đi nhiều, [nông phu ấy] bị
đánh đập nhừ tử, vặn
hỏi không ngớt, đến nỗi của cải
đều hết sạch. Ngày khác,
[người ấy] gặp đức Phật,
khóc rằng: “Cù Đàm gạt ta! Cù
Đàm khiến ta bị lầm!” Đức
Phật nói: “Ta đã hướng về ông
nói là rắn độc, chẳng phải
là rắn độc ư?” Than ôi! Nay thứ
rắn độc cắn mổ nhiều
lắm, mà kẻ bị mổ chẳng hối
hận, lại
còn chịu bị mổ tiếp cũng đông
lắm, há có phải một mình gã nông
phu ấy đâu?
* Ăn thịt (1)
Có
vị tăng chuyên học kinh Lăng Già, ngẫu nhiên
tụ hội tăng và tục. Có
một vị cư sĩ là Nho sinh, dứt ăn
thịt mà ăn chay, bị bọn họ xúm nhau chê
cười. Vị tăng trì kinh Lăng Già không
chỉ chẳng khuyên can
họ thôi điều ra tiếng vào, lại
ngược ngạo hùa theo họ khuyên lơn
[người ấy ăn mặn]. Nho sinh bất
đắc dĩ phải nâng đũa. Ôi! Vị tăng ấy ngày
sau đọc kinh Lăng Già, xem tới đoạn
đức Phật dạy có vô lượng nhân
duyên chớ nên ăn thịt, chẳng biết
sẽ có vẻ mặt như thế nào?
* Ăn thịt (2)
Người
đời hễ thấy có bằng hữu hoặc thân
thích thôi ăn thịt mà ăn chay, nếu
chẳng kinh ngạc cho là lạ lùng,
ắt sẽ cười cợt cho là
kẻ ngu! Con người và súc sanh đều
cùng là những khối thịt!
Người là thịt sẽ chẳng ăn
thú cũng là thịt; đó là lẽ
tất nhiên trong lẽ trời, tình
người, cũng có gì là lạ,
huống hồ bảo là ngu ư? Ôi! Chúng sanh mê
muội cùng cực thay!
* Tào Khê chẳng đoạn tư
tưởng
Có kẻ
tụng bài kệ của Lục Tổ “Huệ
Năng chẳng tài cán, chẳng
đoạn trăm tư tưởng. Đối cảnh,
tâm số[77]
khởi, Bồ Đề sao tăng trưởng?”,
bèn dương dương tự đắc, cho
là đã thấu hiểu ý chỉ, liền tính
buông lung thân tâm, [ngỡ
đó là] hết thảy vô ngại. Có một
cư sĩ hiện diện quở rằng: “Bài
kệ này của đại sư là thuốc
nhằm đoạn căn bệnh tư
tưởng cho Ngọa Luân[78]. Ngươi
chẳng có bệnh ấy, hư vọng uống
thuốc này, thuốc này đâm ra thành
bệnh!” Nói hay lắm thay!
Nay lại nêu một thí
dụ: Tào Khê chẳng đoạn trăm tư
tưởng, như gương sáng chẳng
đoạn muôn hình tượng. Người thời nay
chẳng đoạn trăm tư tưởng như lụa
trắng chẳng đoạn năm
màu[79]. Tào Khê
đối cảnh, tâm số
khởi lên, [giống như] hang trống
gặp tiếng hô bèn dấy tiếng vọng.
Người hiện thời đối cảnh, tâm
số khởi lên, [khác nào] gỗ khô
gặp lửa liền bốc khói. Chẳng
suy xét chính mình mà chen gần bậc tiên
thánh, hãy thử ở nơi thanh
vắng suy nghĩ đi!
* Tứ tri (bốn
điều biết)
“Trời
biết, đất biết, ông biết, ta biết”
là câu nói của Dương Bá Khởi[80].
Người bàn luận cho rằng,
người và mình biết thì khác
biệt, chứ trời và đất thì chẳng phải là hai cái
biết. Lúc trẻ, ngu tôi cũng cho là
đúng như thế. Về sau, đọc Phật
Mạ Ý Kinh có nói đến Tứ Tri,
hoàn toàn giống với điều này.
Đó là vì nói thiên thần biết,
địa thần biết, trong tâm người
khác biết, tâm ta biết. Phẩm Thế Chủ
của kinh Hoa Nghiêm [có nói các vị thần]
chủ trời, chủ đất, chủ ngày,
chủ đêm, chủ núi v.v… không đâu chẳng
có thần, tức là lời của Bá
Khởi chẳng sai. Do vậy, đối
với lời của bậc tiên hiền,
chớ nên dễ dãi bàn luận!
* Tứ đại, ngũ
hành
Ngũ
Hành trong thế gian, chính là trung khí của
Xuân, Hạ, Thu, Đông, là trung phương của
Đông, Tây, Nam, Bắc, là thiên kinh, là
địa vĩ[81],
là lý tự nhiên, mà cũng là thế
tất nhiên, nhưng
kinh Phật chẳng nhắc tới Ngũ
Hành mà nói Tứ Đại. Có người nói:
“Đất, nước, lửa, có ba
thứ thuộc Ngũ Hành, Kim thuộc vào
địa, Mộc thuộc vào gió, tức
là bốn chưa hề chẳng phải là
năm”. Cách nói này hay lắm, nhưng
chưa trọn vẹn. Trong vũ trụ, bao trùm
bằng Ngũ Hành thì đã đủ,
nhưng nếu luận luôn ngoài vũ trụ thì
nếu muốn nói cùng tột “thành, trụ,
hoại, không”, ắt Tứ Đại mới
đủ để bao gồm, nhưng vẫn chưa
trọn hết. Ngoài địa, thủy, hỏa, phong,
lại còn thêm Không, Thức, và Niệm
thành bảy món. Đấy là nói lên
điều gì? Chất của đất là
chắc thật nhất, chất của
nước không cứng chắc mà chảy
tràn, chất của hỏa là tột bậc
chẳng thể nắm chạm, còn phong thì
có khí mà không có chất. Không thì ngay
cả khí cũng chẳng có. Sau đấy
hội quy vào Thức, phát động nơi
niệm, từ thô đến vi tế,
được gọi là Thất Đại
thì mới trọn hết được! Ngũ
Hành được phân bố trong địa,
thủy, hỏa, phong, hình thành trời,
đất, người, vật. Ngũ Hành
hẹp mà Tứ Đại rộng.
* Thế giới
Nhớ
xưa kia khi còn là trẻ con, chơi đùa
cùng lũ trẻ, cật vấn lẫn nhau
“chỗ cùng tận của trời, đất
có hình dạng như thế nào? Có
phải là chỗ rỗng không đều như
thái hư ư? Cái rỗng không ấy kết
thúc ở chỗ nào? Hay là cứng
chắc như tường, vách ư? Nếu
vậy thì cái cứng chắc ấy
kết thúc ở đâu?” Các đứa
trẻ chẳng đáp được,
cười xòa giải tán, nhưng tôi
cứ ngấm ngầm vướng mắc trong
lòng. Sơn Hải Kinh[82]
nói Đông và Tây cách nhau hai ức
dặm, Nam và Bắc cách nhau một
ức năm vạn dặm, chỉ là
dựa theo một phương, quả thật là
cái nhìn hẹp hòi mà thôi! Về sau,
đọc nội điển, tới phần nói “hư
không chẳng thể tận, thế giới
chẳng thể tận”, mới thấu hiểu
rỗng rang, cho rằng chẳng phải là
Phật, sẽ
chẳng thể nói [rơ ràng như vậy được]. Than ôi!
Điều này chẳng dễ nói vậy!
* Năm và kiếp
Từ
thế giới mà suy rộng đến năm
và kiếp, từ hiện thời mà
truy về xưa, xưa bắt đầu như
thế nào? Từ hiện thời mà
muốn tìm đến mai sau, mai sau kết thúc
nơi đâu? Thái Cực Đồ nói Thái
Cực sanh Lưỡng Nghi, rồi sanh Ngũ
Hành, rồi đến vạn vật, tức
Thái Cực là khởi đầu. Kinh
Thế Thư[83]
dùng con số một Nguyên (元) để
tính toán, gồm mười hai vạn chín
ngàn sáu trăm năm, tức Nguyên là
khởi đầu của ban sơ. Nhưng Thái
Cực lại
khởi đầu như thế nào?
Nguyên sơ khởi đầu như thế nào?
Ngay như xét theo thứ tự của năm,
thì trước năm nay có năm ngoái,
năm ngoái lại có năm trước
đó nữa, cái gì là khởi
nguồn đầu tiên trước hết? Lại
còn khi nào sẽ chỗ rốt ráo tận
cùng, chẳng còn lại khởi đầu
mà là vĩnh viễn chấm dứt?
Mờ mịt như say. Về sau, đọc nội
điển, tới phần đức Phật
nói vô thỉ, lại nói kiếp số
chẳng thể tận, ý mới hết
sức thông suốt, cho là chẳng phải
đức Phật sẽ chẳng thể nói
được! Than ôi! Chuyện này lại chưa
dễ nói vậy!
* Học đạo không
gì hơn được trí
Hàn Tín
là kẻ sĩ nước Sở, bỏ
Sở theo Hán. Quân Sở bị Hàn Tín
vây hãm, Hán do Hàn Tín mà hưng
khởi. Trước sau chỉ là một
Hàn Tín, mà là cái nhân khiến cho hai
nước phế hưng, do [kẻ cầm quyền] khéo
dùng và chẳng khéo dùng vậy. Lục
căn ở nơi con người, chẳng
khéo dùng thì gọi là lục tặc
(sáu tên giặc); khéo dùng thì là
đủ loại thần thông diệu dụng. Phiền
năo tức Bồ Đề, há chẳng đúng
lắm ư? Tuy vậy, Hán Cao Đế (Lưu
Bang) đối với Hàn Tín, thoạt
đầu đối đãi như kẻ tầm
thường, nhưng Tiêu tướng quốc (Tiêu
Hà) coi Hàn Tín là bậc kỳ tài. Sau
này, [Hàn Tín] xin được làm
giả vương[84],
nhưng vua không cho, gần như đến hỏng
chuyện, nhưng nhờ Lưu Hầu (Trương
Lương) mà thành. Như vậy thì bổ
cứu những chỗ lệch lạc, khuyết
điểm [của nhà vua], ngầm chuyển biến để ngầm
duy tŕ là do sức của bầy tôi
có trí. Học đạo không gì hơn
được trí cũng lại giống như
thế.
* Đạo tràng phóng
xá
Sự
phóng xá (xá tội) trong đạo tràng, hai
môn Tăng và Đạo đều luôn có.
Đạo giáo tôn sùng thiên đế, chẳng
biết chuyện xá tội là do ai? Cung trời
Đao Lợi thống lãnh người
dưới thế gian, nay kẻ mặc áo lông (đạo
sĩ) tự làm, chẳng khác ngụy
truyền thánh chỉ ư? Tăng thờ Phật,
mà Phật ngự trong Thường Tịch
Quang, rốt cuộc Phật làm vua cõi nào?
Đóng đô tại thành ấp nào? Thống
lãnh thần dân nào? Chiếu sắc chế
cáo quan liêu nào? Thế mà [tăng sĩ] cũng
phỏng theo bọn đạo sĩ làm thư ân
xá, hết sức nực cười!
Tăng hiện thời chẳng cảm thấy là
sai, trai chủ cũng chẳng biết là sai,
là như thế nào vậy? Không chi khác, có
một lẽ mà thôi. [Tăng sĩ hay đạo
sĩ viết thư thỉnh xá tội], tấu
thỉnh lên trời, xin ban ân xá tội, được
chấp thuận hay không, chỉ có chúa tể
cõi trời biết! Còn như Phật thì
từ bi phủ khắp, dường như
hư không, không một chúng sanh nào chẳng
độ, há có chuyện xá tội ư?
* Kinh văn trong nghi
thức Thủy Lục
Thủy
Lục Trai là một lễ phổ độ long
trọng. Nghi thức Thủy Lục ở chùa Kim
Sơn tương truyền xưa kia từ trong
Đại Tạng phóng quang, nhưng nay trong
Đại Tạng không có văn từ ấy.
Đời đã cách xa, chẳng thể
khảo cứu, không biết có hoàn toàn là
do Hữu luật sư[85]
của Lương Vũ Đế soạn ra hay không? Nhưng
nếu xét văn bản từ đầu
đến cuối mạch lạc, tường tận
đúng lề lối, phàm lẫn thánh
đều cùng bao gồm, tuy giản ước
mà trọn hết, từ ngữ lẫn Lý
đều đắc thể, thì bản văn
gồm sáu quyển do ngài Tứ Minh Chí Bàn
biên tập sẽ là ổn thỏa nhất. Huống
hồ [nghi thức
theo] bản Kim Sơn tốn phí nhiều,
khó cử hành; bản Tứ Minh chi phí
ít, dễ thực hiện, đúng là
phải nên lưu thông vô tận, nhưng cả cõi
đời chẳng làm theo. Các quận
tại vùng Chiết Giang cũng chẳng
hành theo, chỉ có nơi đây là làm theo,
nhưng lại chẳng thẳng thừng tuân
theo nguyên bản, tăng thêm những văn từ
thừa thãi, xen tạp trầm cử, đâm ra
sơ lược những chỗ khẩn yếu,
đáng than thở thay! Nhưng chỗ thuyết
pháp khai đạo trong quyển thứ năm
trần thuật cặn kẽ
ý chỉ Tam Quán dường như hơi
quá rườm rà. Nếu như
đơn giản, thẳng thừng, dễ
hiểu, thì kẻ ngu lẫn người trí
trong cõi âm và dương gian sẽ cùng
được lợi ích, chẳng sót.
Đấy sẽ là tận mỹ, lại còn
tận thiện!
* Thấy lỗi của
tăng
Cõi
đời có nói: “Mọi người
đừng nên thấy lỗi của tăng, thấy
lỗi của tăng sẽ mắc tội”.
Nhưng Khổng Tử là bậc thánh nhân,
mừng vì người khác biết lỗi
của Ngài. Quý Lộ[86]
là hiền nhân, mừng vì được
nghe vạch lỗi. Sao Tăng lại sợ
người khác biết mà chẳng
muốn nghe? Đại
để, “chẳng
thấy lỗi của Tăng” là
nói với hàng bạch y, chẳng phải
là nói với Tăng! Nếu Tăng
dựa vào đó, làm xằng không
cấm kỵ, thì lời này tuy là thuốc
tốt lành cho kẻ bạch y, lại là tỳ
sương, rượu
trấm độc[87]
cho tăng sĩ, buồn thay!
* Tâm không ở bên trong
Kinh Lăng
Nghiêm gạn hỏi cái tâm, nói “tâm chẳng
ở bên trong”, đó là nói về chân tâm.
Nếu là cái tâm vọng tưởng thì
cũng có thể nói là ở bên trong. Ư này
vi diệu, chẳng dễ nói với kẻ không
biết. Sách thế tục chép: “Tâm tàng
thần”. “Thần”
tức là tên gọi khác của vọng tưởng.
Cái được gọi là Tâm [trong câu nói trên đây] chính
là nói về quả
tim thịt. Có kẻ nghĩa học[88]
nghe tôi nói bèn lắc đầu chẳng
tin. Nay xin dùng Sự để nói rõ: Người
ngủ say, đùa bỡn dùng vật đè
lên tim, sẽ bị bóng đè, hoặc tay
của chính mình lỡ đè lên tim th́ cũng
bị bóng đè. Lại còn đùa
bỡn vẽ mặt người đang
ngủ, có khi người đó mê mệt
đến chết. Đó là bằng
chứng rõ rệt “tâm ở bên trong” vậy.
Nghĩa học nói:
“Như thế thì chân và vọng trở
thành hai vật?”
Đáp: Ông chỉ biết chân và vọng
chẳng hai, chẳng biết chân và vọng tuy
là một mà thường hai, tuy hai mà
thường là một.
Chẳng thấy nước và băng
đó sao? Nước và băng chẳng
hai, ai không biết? Nhưng nước trở
thành băng th́ nước
lưu động không có nơi chốn nhất
định, c̣n nước
đông cứng [thành băng] thì có nơi
chốn thường hằng. Chân chẳng có nơi
chốn, vọng thì có, cũng giống như
vậy đó. Từ chân dấy vọng, ngoài
vọng chẳng có chân, giống như
nước kết thành băng, ngoài băng chẳng
có nước. Vì thế, cái Thể
của nó thường một, mà Dụng
thường hai.
Kẻ
nghĩa học nói: “Đó là
sự suy đoán của ông, hoàn toàn
trái nghịch kinh Lăng Nghiêm, hễ có
chứng cứ thì chấp nhận
được!” Đáp: Có chứng
cứ! Chứng cứ ở ngay trong kinh
Lăng Nghiêm, nhưng
chính các ông chẳng suy xét.
Kinh dạy: “Nhất mê vi tâm, quyết định
Hoặc vi sắc thân chi nội. Tuy tại
sắc thân chi nội, bất phương Thể
biến thập phương. Chánh biến thập
phương chi thời, bất phương hiện
tại thân nội” (Hễ mê thì là
tâm, quyết định lầm tưởng là [tâm] ở
trong sắc thân. Tuy ở trong sắc thân,
chẳng trở ngại cái Thể trọn
khắp mười phương. Ngay trong lúc
trọn khắp mười phương,
chẳng trở ngại hiện ở trong thân).
Điều này có nghĩa là “phá
hết vọng tưởng thì mới có
thể chứng”. Tôi và ông vẫn còn
trong vọng tưởng, chỉ là nói quẩn
quanh mà thôi!
* Căn bản của sanh
tử
Hoàng Lỗ
Trực[89] nói: “Tìm
cầu Thiền duyệt sâu xa, soi tan cội rễ sanh
tử, thì lo, sợ, dâm, giận chẳng
có chỗ đặt chân. Chỉ cần cái
rễ bị khô thì cành, lá tự héo
úa”. Đấy là luận định chí
lý, nhưng chưa nói rõ điều gì
là cội rễ của sanh tử. Hơn
nữa, Thiền duyệt yếu khẩn tại
chữ Chiếu
Phá. Nếu đạt được
Thiền duyệt, liền nói là “trọn
đủ tột bậc, giữ lấy sự u
nhàn bên trong”;
đó chính là cội rễ của sanh
tử. Cần phải dốc sức tham
cứu cùng tận, thấy rõ rành rành
bổn tánh của chính mình thì sanh
tử chẳng có chỗ đặt chân.
Sanh tử còn chẳng có chỗ để đặt
chân thì lo, sợ, dâm, giận sẽ do đâu mà
sanh?
* Người
nước Tề
Tử Dư
Thị (Tăng Sâm) lập ra thí dụ về
người nước Tề, phân minh tựa
một quyển tranh, lại giống như trong một
tòa nhà lập sân khấu diễn tuồng. Nó
mô tả, hình
dung trọn đủ các thói xấu. Đọc
đến thí dụ này mà chẳng kinh
hãi, hối
hận, tỉnh ngộ, thì là gỗ,
đá vậy! Tuy vậy, danh lợi cố nhiên
là lẽ thường tình của
người đời, nhưng nơi kẻ
tại gia thì chưa đáng để quở
trách sâu xa, chứ kẻ áo nhuộm (người
xuất gia) mà giữ thói của
người đất Tề, tôi chẳng biết
cái tâm kẻ ấy như thế nào nữa? Ôi chao,
thảm thương thay!
* Chí thành cảm động
người khác
Dương
Hộ[90] gởi
tặng rượu cho chủ soái của quân
địch, chủ soái uống rượu chẳng
nghi, bảo: “Há có chuyện Dương Thúc
Tử (Dương Hộ) dùng rượu
đầu độc kẻ khác ư?” Chẳng do một
niềm chân thành đáng tin phục, sao có
thể cảm động người khác
đến mức ấy! Nay kẻ xưng là
Thích tử, ắt phải giữ
chữ tín với lục đạo chúng
sanh như thế thì mới được.
Lại còn như vua Đường Văn Tông tha
tử tù, ước định ngày
trở lại, người ấy quay lại
chẳng lỡ hẹn. Tuy người
đời sau bàn luận chê trách, nhưng
cử chỉ ấy của Đường Văn
Tông quả thật là ngàn đời hiếm
có, sao có thể chê bai? Chẳng do một
niềm chân thành đáng tin phục, sao có
thể cảm động người khác
đến mức ấy! Nay kẻ được
gọi là Thích Tử, chẳng ngờ vực lục
đạo chúng sanh, ắt cũng phải như
thế đó thì mới được.
Kinh Dịch nói: “Trung phu, đồn ngư cát”
(sự đáng tin cậy phát xuất
từ lòng trung thực thì lợn,
cá đều bị cảm động; đó
là điều tốt lành). Tôi thấy hai chuyện
ấy, rất tin tưởng [câu nói này].
* Thân cận thiện tri
thức
Tiên đức
nói: “Ví như người hèn tệ
cầm đuốc, chẳng do người ấy
hèn tệ mà chẳng dùng [ánh sáng từ ngọn
đuốc ấy] để chiếu soi”, ư nói
Khổng Tử chẳng do con người [hèn
tệ] mà bỏ lời [chánh đáng] của
kẻ ấy. Kẻ viện cớ bèn nói
“chẳng cần phải chọn thầy là người
hiền, chỉ cậy vào ngôn luận và học
thức của người ấy là đủ
rồi! Kẻ ấy chẳng có đức,
ăn nhằm gì đến ta?” Rồi nương
theo [vị thầy ấy], chẳng trái nghịch,
nào có biết
chi lan hay bào ngư[91]
dần dần nhiễm thành tánh ư? Luận Ngữ
nói: “Bất dĩ nhân phế ngôn” (Chẳng do
tư cách của con người mà vứt
bỏ lời nói chánh đáng của
người ấy). Lại nói: “Nhân bất
thất kỳ thân, diệc khả tông dã”[92]
(Do chẳng bỏ lỡ người
đáng thân cận (hiền nhân), chính mình
cũng có đức hạnh đáng
để noi theo), sao chẳng gộp lại để
suy xét?
* Niệm Phật không chuyên
nhất
Xưa kia, khi tôi
ở trong chốn rèn luyện, vị phương
trượng bảo đại chúng rằng:
“Trong ngày Trung Nguyên, hãy nên cử hành Vu Lan
Bồn Trai”. Tôi bèn sắp đặt đồ
cúng. Chốc sau, chẳng cử hành trai
hội, chỉ niệm Phật ba ngày mà thôi. Lại nghe
nói xưa kia có vị viện chủ bị quan
phủ bắt giam. Vị tọa chủ thứ
nhất trong chùa nhóm họp đại chúng tìm
cách cứu giúp. Đại chúng trì
tụng cũng
chỉ là lớn tiếng niệm
Phật mà thôi. Hai chuyện này vượt xa
lẽ thường t́nh, có bản lãnh của bậc đại
nhân, thật sự đáng để noi theo.
Kẻ niệm Phật hiện
thời, tuy gọi là “chuyên tu”, nhưng
đến khi cầu đảo thọ mạng bèn
tụng kinh Dược Sư, để giải
tội bèn niệm Lương Hoàng Sám, để cứu
ách nạn bèn dùng chú Tiêu Tai, để cầu
trí huệ thì dùng Quán Âm Văn, c̣n niệm
Phật th́ bó
chặt, cất lên gác cao, coi như chuyện vô
bổ. Chẳng nghĩ đức Phật ấy
thọ mạng vô lượng, huống gì thọ
mạng trăm năm ư? Chẳng nghĩ niệm
đức Phật ấy có thể diệt trọng
tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử,
huống hồ tội cấu, nạn ách
trước mắt ư? Chẳng nghĩ
đức Phật ấy nói: “Ta dùng ánh
sáng trí huệ chiếu rộng vô ương
thế giới”, huống hồ cái gọi
là “trí
huệ” của
người đương thời ư? Thuốc
A Già Đà trị chung vạn bệnh, nhưng tâm
hai ba ngả, chẳng chịu tin tưởng để uống
lấy, công khéo thần thánh cũng đành
chẳng biết làm sao được!
* Kỹ nhạc[93]
Có người
nói rằng: - Chẳng tấu kỹ nhạc và cũng
chẳng đi xem, nghe. Đó là luật Sa Di,
chẳng phải là đạo Bồ Tát.
Thời cổ có quốc vương, đại
thần dùng trăm ngàn loại kỹ nhạc
cúng Phật, đức Phật
chẳng cự tuyệt, nghĩa là chuyện
như thế nào?
Ngu tôi cho rằng chuyện
này có
ba nghĩa:
- Một là thánh
phàm chẳng thể luận định nhất
loạt như
nhau được.
- Hai là tà chánh
chẳng thể luận định nhất loạt
được.
- Ba là tự tha
chẳng thể luận định nhất loạt
được.
“Ta” là pháp
vương, tự tại trong các pháp,
nghịch hành, thuận hành, trời c̣n chẳng
thể lường được. Đó
là hành vi của bậc đại thánh nhân,
phàm phu chẳng thể bắt chước
được. Đó là một.
Biên soạn những
chuyện xưa nay thành tuồng tích, thì trên
là Hương Sơn, Mục Liên, hoặc
Đàm Hoa v.v… trong thời gần đây, dùng
chánh pháp xuất thế gian để cảm
ngộ người đương thời. Kém
hơn là [chuyện của] trung thần, hiếu
tử, nghĩa sĩ, trinh nữ v.v… dùng
chánh pháp thế gian để cảm ngộ
người đương thời. Những loại
như thế, cố nhiên là có xem vẫn vô
hại. Vì sao vậy? Nếu những loại như thế ấy
chẳng thể xem thì sách, sử,
truyện ký cũng chẳng thể xem. Do sách
vở dùng ngôn từ để ghi chép
sự, còn [tuồng tích] dùng
người để hiển sự, có
cùng một ý. Còn như [những thứ ca hát, tuồng
tích] hoa nguyệt tung hô, can qua đấu
đá, xui dâm, gợi sát, khêu dục, tăng
buồn, tuy tợ hồ trào phúng sự
tối tăm, nhưng thật ra là trưởng
dưỡng sự phóng dật,
người bạch y còn nên kiêng dè, huống
hồ Tăng ni ư? Đó là hai.
Ngẫu nhiên tự xem
còn được, chứ ắt phải dạy
người khác xem thì chẳng
được! Đó là ba. Hãy
thận trọng!
* Thân là di thể của
cha mẹ
Trong
mộng, tôi bỗng nhớ tới bệnh của
song thân nguy ngập, hết sức buồn bã.
Lại nói “hãy
còn tạm
được” để tự an
ủi đôi chút. Đang trong lúc suy tính
cực lực điều trị, bỗng mộng
thấy, lại hết sức buồn bã. Lại
tự an ủi: “Hãy còn được!” Nay
thân này của ta là di thể của cha mẹ. Khi
ta còn tấm
thân, hãy dùng di thể của cha
mẹ để tận lực làm các thiện
sự. Đó là cha mẹ diệt mà
bất diệt vậy, huống hồ tận lực
học vô sanh ư? Đánh mất thân thể hiện
thời, chẳng tự gắng sức,
sẽ là chuyện đáng hận to lớn!
Lớn lao thay! Sao ngươi có thể điềm
nhiên cho được?
* Thí dụ ra khỏi hang
(1)
Kinh Thi
vịnh chim, nói chim từ hang sâu thoát ra,
dời sang cây cao. Đó là luận định “tránh
thị phi, thận trọng đối với lấy,
bỏ”. Xưa kia, ngài Đức Sơn soạn
Thanh Long Sao, thoạt đầu cho rằng: “Tu
luyện ba A-tăng-kỳ mới được
thành Phật, còn gã ma ở phương Nam
nói ‘hễ ngộ là xong’, ta sẽ đến
diệt giống loài ấy hòng báo ơn Phật”.
Ngay trong khi ấy, Sư một bầu hảo tâm
chân thật canh cánh trong tâm khảm, hoàn toàn
chẳng biết kiến giải của chính
mình sai lầm. Cho tới khi được
một bà cụ giáo huấn, đích thân
gặp ngài Long Đàm, bèn vứt
bỏ những gì mình quý báu, trân
trọng bao năm như cỏ mục. Do vậy, Sư
có thể rốt cuộc trở thành
đại khí, rạng ngời trong thời Mạt
Pháp. Nếu như Ngài bị trầm trệ, phong
kín trong sự suy đoán, ngã mạn
tự cho mình là hiền, ví như kẻ nghèo
túng trân trọng, giấu kín đá núi Yên[94],
ngược ngạo báng bổ thương lái
người Hồ ghen ghét báu vật của
mình, dẫu có trăm bà cụ, ngàn
ngài Long Đàm, cũng chẳng làm
như thế nào được!
* Thí dụ ra khỏi hang
(2)
Các
vị La Hán như ba vị Ca Diếp[95],
Mục Kiền Liên trước kia học theo ngoại
đạo, đã có thành tựu,
chứng nghiệm, tự phụ chẳng
cạn. Nhưng vừa nghe đức Phật
dạy, vừa thấy Phật, lập tức thay
đổi, vứt bỏ những gì mình
đã tôn sùng bao năm như lông hồng. Do
vậy, các Ngài có thể nối tiếp
huệ mạng của Phật, là bậc thầy
gương mẫu cho muôn đời! Giả sử đối
với những lời được nghe
trước đó cứ giữ
chặt trong lòng, ương ngạnh giữ
chủ kiến, tự vững chắc như
tường vách, ví như người
bệnh giữ chết cứng cách chữa
trị cũ, dẫu có phương thuốc
mới, vẫn lắc đầu chẳng
ngó ngàng, dẫu ngàn vị Phật xuất
thế, cũng chẳng thể làm như thế
nào được?
* Dùng viên bánh gạo
gạt trẻ
Tôi
nhớ thuở tại gia, một đứa
trẻ ban đêm đòi vằn thắn[96],
khi đó, cửa chợ đã đóng,
người nhà không làm cách nào
được, đem hoàn mễ phấn[97]
cho nó, nó khóc lóc, không nhìn tới,
mẹ nó rất giận. Tôi nói: “Chuyện dễ mà!”
Bèn lấy viên bột gạo ép dẹp,
đứa trẻ cầm lấy, im bặt
rồi cười. Khi đó, tôi nói: “Trẻ
dễ bị lừa như thế đó!” Do
vậy, biết người đời nay khinh Tịnh
Độ, trọng Thiền Tông cũng giống như
thế đó. Nói dùng Tịnh Độ như
canh bột viên tròn thì khóc, đổi thành
viên bột gạo dẹp là Thiền Tông bèn
cười; điều này thật sự
có khác gì đứa trẻ đâu? Buồn
thay!
* Lo, vui
Người
nghèo lo không có tiền tài, hâm mộ
người giàu vui sướng, chẳng
biết người giàu có nỗi lo của
người giàu. Kẻ hèn lo không có
chức quan, hâm mộ niềm vui của bậc quý
nhân, chẳng biết quý nhân có nỗi lo
của quý nhân. Kẻ nghèo, kẻ hèn, kẻ
giàu, quý nhân, ai nấy đều lo chẳng
đủ, hâm mộ người làm vua thiên hạ,
coi đó là niềm vui tột cùng của người
đời, chẳng biết người
làm vua thiên hạ bèn có nỗi lo của
người làm vua thiên hạ, lại còn
chẳng biết nỗi lo ấy hết sức
nặng nề, mà cũng không biết vua ngược
lại hâm mộ niềm vui của quần thần, dân chúng!
Than ôi! Đều là vọng. Chỉ riêng
người trí là có thể hai
đằng đều không lo, mừng, trụ trong “chẳng
lo, mừng”;
đó cũng là vọng, chẳng phải
là bậc đại triệt đại ngộ sẽ
chẳng có phần!
* Cội nguồn và
cành nhánh
Người
thời Mạt Pháp học tập kinh luận, phần
nhiều chuộng nơi danh tướng
rườm rà, khó ghi nhớ, nghĩa
lý u huyền khó thể phân tích, văn ẩn
tàng, câu trúc trắc khó thể thấu
hiểu, dùng đó để khoe tài biện
bác, khoe khoang mới lạ, nhưng “tăng sĩ
phải đặt vững chân nơi đại
sự nhân duyên” thì bỏ mặc chẳng
nghe nói tới! Lại có biết danh
tướng, nghĩa lý, câu chữ đều
từ đó (từ đại sự nhân
duyên) lưu xuất hay chăng? Do vậy, dốc
sức nơi cành lá, mê mờ nguồn
cội. Vì thế, ngài Vĩnh Gia than dài, cho
nên nói: “Chỉ đạt được cái
gốc, chẳng lo cái ngọn”. Chỉ
sợ người hiện thời chẳng
tin nổi điều này, chẳng buông xuống
được mà thôi!
* Mong thấy Côn Luân
Đời
Hán, Trang Bá Vi mỗi khi mặt trời
lặn, đều ngoảnh mặt về phía
Tây Bắc, nghĩ tưởng núi Côn Luân[98].
Lâu ngày, thấy tiên nhân ở Côn Luân truyền
pháp, đắc độ. Cách này hơi
tương tự với pháp nhật quán
ở phương Tây [trong Quán Kinh], nhưng
thuộc vào vọng tưởng, chẳng
phải là tu chánh quán. Vọng tưởng
tích tập lâu ngày, do lòng tinh thành cùng
cực, còn được toại nguyện
trông thấy, huống hồ nhất tâm chánh quán,
tam-muội thành tựu mà chẳng vãng
sanh ư?
* Biện định
sự hư ngụy của sách Thiền Dư Không
Đế
Ngô quận
khắc in một quyển sách có tựa
đề là Thiền Dư Không Đế, ghi tên
của kẻ chẳng ra gì này, tức
là “Vân Thê Châu
Hoằng soạn”. Người khắc
sách này vốn vì kiếm lợi, vốn chẳng
có ác tâm, tợ hồ chẳng cần
phải biện định. Nhưng sợ rằng
những vị tăng mới học tin
rằng sách ấy do kẻ không ra gì này
soạn; do vậy, bị trôi giạt thì mối
hại chẳng nhỏ, chẳng thể không biện
định. Trong sách liệt kê sự
thưởng ngoạn u nhã bốn mùa Xuân,
Hạ, Thu, Đông gồm ba mươi ba điều. Tôi
chỉ trích lấy một hai điều để
đại diện cho những điều khác.
Điều thứ
nhất là tại Cô Sơn, ngắm hoa mai
dưới ánh trăng. Trong ấy nói
dưới trăng vào buổi hoàng hôn, nâng
chén ngâm nga, thưởng ngoạn. Phàm
người xuất gia chẳng tọa Thiền
trong đêm thanh, mà nếm rượu
thưởng thức hoa thì là tao nhân
hiệp khách. Kẻ chẳng ra gì này
là một ông Tăng giữ bổn phận
từng chút, há có phong vị đại
giải thoát ấy? Đó là một
điều nực cười.
Điều khác là
nơi Đông Thành xem lúa mạch. Kẻ
chẳng ra gì này sống trong núi
thẳm vùng Tây Nam, đến Đông Thành
cực xa, chẳng xem tùng, trúc
nơi núi ấy, lại đến đó
để ngắm lúa mạch ư? Đó
là một điều nực cười!
Điều khác là
nói xem cỏ Xuân tại Tam Tháp Cơ. Tôi cả
đời chẳng biết Tam Tháp Cơ
ở chỗ nào? Đó là một
điều nực cười.
Điều khác nói xem
liễu tại lầu Sơn Mãn. Trong ấy còn
nói lầu do kẻ chẳng ra gì này
dựng. Trước nay, tôi không có tấc
đất, mảnh ngói tại Tây Hồ, do duyên gì
mà có sản nghiệp riêng ấy? Đó là
một điều nực cười.
Điều khác nói
ngắm hoa đào ở Tô Đê, trong ấy,
sánh ví hoa đào với mỹ nhân.
Những lời dâm diễm ấy há kẻ
đã xuống tóc, y nhuộm có nên thốt ra
hay chăng? Dẫu kẻ chẳng ra gì này
lúc còn chưa xuất gia, cũng chưa
từng nói. Đó là một điều
nực cười.
Điều nữa thì
nói xem liễu ở Tô Đê, trong ấy có
trích dẫn nếu làm thơ chẳng
thành, sẽ phạt uống rượu theo lệ
của Kim Cốc[99].
Kẻ chẳng ra gì này là người
xuất gia, chưa hề làm câu đối, làm
thơ với người khác, huống chi
đấu rượu! Đó là một
điều nực cười.
Một điều nữa
nói đêm có tuyết, nướng khoai bàn
chuyện Thiền; những lời đàm
luận được trích dẫn trong ấy
đều là lời thô lậu, ai sẽ bị
những lời ấy lay tỉnh? Đó là
một điều nực cười.
Những người
hảo tâm xuất gia sẽ biết chắc
chắn kẻ chẳng ra gì này không nói
những lời đó. Đã
làm tăng, ắt cần phải giữ
gìn Thanh Quy, dốc sức tu hành,
đừng lầm tưởng phong lưu phóng
khoáng là cao Tăng. Châu Hoằng kính
bạch.
* Các loại pháp môn
Ví
như quân nhà vua thảo phạt, đối trận
giao chiến, coi giết giặc là toàn
thắng; nhưng
giết giặc thì dùng gươm hoặc
giáo, hoặc chùy, hoặc kích, cho
đến tên, đạn, tùy ý dùng đủ
thứ, chỉ
cốt sao tinh thông một kỹ năng mà thôi! Dùng điều
này để sánh ví người học th́ vô minh Hoặc
chướng giống như kẻ giặc, các loại
pháp môn như gươm, giáo v.v… phá diệt
Hoặc chướng, giống như đạt
được toàn thắng. Do vậy biết:
Chẳng bàn đến dụng cụ để
giết, chỉ cần giết được
giặc. Giặc
đă bị giết thì đại
sự đã hoàn tất. Những dụng cụ
để giết như đã nói đều
là chiếc bè để vượt sông,
chẳng nhất
quyết phải to lớn, cứ khăng
khăng bảo “gươm
có thể giết người, chứ giáo
chẳng thể giết được”, há
có lẽ ấy hay chăng? Người tham
Thiền chê bai người niệm Phật chấp
tướng, người chăm tu tập
quở trách người tu Định là
rơi vào rỗng không, cũng giống như thế
đó. Do vậy, kinh dạy: “Quy nguyên vô nhị
đạo, phương tiện hữu đa môn”
(Về nguồn chẳng hai đạo, phương
tiện có nhiều môn). Tiên đức nói: “Như
người đi xa, mong sao đến nơi,
chứ chẳng cưỡng chia trên
đường đi là khó hay dễ”.
Bồ
Tát giới đệ tử Lưu Huệ
Văn suất lãnh con là Tánh Trạch quyên
tiền khắc in. Nguyện khắp những
những người thấy nghe sẽ phá
trừ tà chấp, khai phát chánh kiến, trực
tâm niệm Phật, vãng sanh tịnh vực.
Tháng
Tư mùa Hạ năm Quang Tự 24 (1898), viết
tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.
10. Trúc song nhị bút (竹窗二筆)
Đời
Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn
* Chú Bát Nhã
Bát Nhã Tâm Kinh chép: “Bát
Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú,
là đại minh chú, là vô thượng chú, là chú
không gì sánh bằng”, tức là
nói “Bát
Nhã là chú”, chẳng phải nói
về bốn câu “yết đế, yết đế”.
Người hiện thời chỉ biết chú
thuộc về Mật Bộ, nhưng Bát Nhã Tâm
Kinh thuộc về Hiển Bộ, mà Hiển Bộ
cũng là chú! Người trì chú
thường sơ sót, chẳng suy xét
điều này. Hơn nữa, bốn chữ A
Di Đà Phật đều là tiếng Phạn,
nếu người đời trước
chẳng chú thích thì có khác gì
Đại Minh[100],
Chuẩn Đề, Mật Bộ? Người hiện
thời chỉ biết Đại Minh, Chuẩn
Đề là chú, nhưng đối với danh
hiệu Phật Di Đà thì danh hiệu Phật
cũng là chú. Đấy là điều
người trì chú sơ sót, chẳng
suy xét tới!
* Nho Đồng Bồ Tát
Tương
truyền Khổng Tử có hiệu là Nho Đồng
Bồ Tát. Có người nói rằng: “Phu tử của
ta là tổ của tư văn[101]
muôn đời mà gọi là Đồng (童, bé
trai). Đồng là ấu, mà ấu là nhỏ.
Họ cho thầy của ta là thơ dại, lạ
gì nhà Nho chê trách Phật? Lại nữa,
tăng còn gọi là tỳ-kheo (比丘, tỷ
khưu). Mà Khưu (丘, Khâu)
mà tên húy của Phu Tử. Tỷ (比) là sánh
bằng. Tăng là đệ tử của
Phật, mà cùng hàng với phu tử.
Họ còn cho thầy ta là đệ tử, trách
sao nhà Nho chê trách Phật?”
Chẳng phải vậy!
Đồng (童) là
từ ngữ ca ngợi sự thuần
nhất, chẳng dối trá. Văn Thù là
thầy của bảy vị Phật, mà
được gọi là Văn Thù Sư
Lợi Đồng Tử. Thiện Tài
đắc Vô Thượng Bồ Đề ngay trong
một đời, mà gọi là Thiện
Tài Đồng Tử. Cho đến trong bốn
mươi hai địa vị hiền thánh có
Đồng Chân Trụ (童真住, tức địa
vị thứ tám trong Thập Trụ),
đều nhằm tán thán đức
cùng cực. Do vậy nói: “Đại nhân
là người chẳng đánh mất
tấm lòng của trẻ thơ”, chẳng phải là “thơ
dại”. Còn như tỷ-khưu
(tỳ-kheo) là tiếng Phạn. Tỳ-kheo (Bhikṣu) trong tiếng Phạn có
nghĩa là Khất Sĩ, cũng gọi là
Phá Ác, cũng gọi là Bố Ma (怖魔, làm cho ma kinh
sợ). Tỷ
chẳng có nghĩa là “sánh bằng”, do chỉ là mượn
âm, chẳng giữ lấy [ý nghĩa của]
chữ.
Ví như, tiếng Phạn
nói “nam-mô” (南無, nam vô), phương này
dịch là Quy Mạng. Nam chẳng phải là
Nam trong Nam Bắc. Vô chẳng phải là Vô trong
Hữu Vô. Ôi! Nếu phu tử sanh tại Thiên
Trúc, ắt sẽ diễn dương Phật
pháp để độ chúng sanh. Nếu Thích Ca thị
hiện tại nước Lỗ, ắt sẽ nêu
tỏ Nho giáo để dạy muôn đời.
Ấy là vì đổi chỗ thì sẽ
đều là như thế. Việc làm của
bậc đại thánh nhân, cố nhiên phàm tình
chẳng thể biết được! Nhà Nho
chẳng thể hủy báng Phật, riêng
người theo Phật có thể hủy Nho ư?
* Lâm Tế
Tiên
đức có nói: “Nếu Lâm Tế không
xuất gia, ắt sẽ cừ khôi giống như
Tôn Quyền, Tào Tháo”, sao lại sánh ví
Lâm Tế như Tôn, Tào? Đó là sánh
về trí, chẳng phải xét theo
đức. Viên Thiệu[102]
nói “sanh con thì phải nên như Tôn Trọng
Mưu[103]”,
mà Khổng Minh cũng nói Tào Tháo dụng
binh gần như Tôn Ngô[104],
có thể biết [Tào Tháo] là bậc trí.
Nếu chẳng dùng cái trí ấy nhọc
nhằn bên ngoài, mà dùng trí ấy
để xoay chuyển bên trong, vận dụng trọn
hết diệu toán thần cơ vào Bát
Nhã, có gì mà chẳng đắc
đạo? Cổ đức lại nói: “Tất
Đạt (thái tử Tất Đạt Đa) nếu
chẳng xuất gia, ắt làm Chuyển Luân
Thánh Vương”. Đó là luận
định cả trí lẫn đức, tuy
lớn nhỏ khác nhau, nhưng có cùng
một ý.
* Núi Nhạn Đãng
Thiên Thai
và Nhạn Đãng được gọi
là danh sơn của vùng Lưỡng Chiết,
nhưng Nhạn Đãng càng kỳ lạ, có
người coi thường ngàn dặm,
mang lương thực đến du ngoạn.
Trước kia, tôi nhận lời thỉnh sang
Thái Bình, cách Nhạn Đãng chỉ
một do-tuần. Kỳ hạn đã mãn, viện
chủ mời tôi đến Nhạn Đãng
chơi. Tôi sắp đi, những người
vui thích theo tôi đi chơi hơn một trăm
người. Do suy xét núi ấy đã lâu
không tiếp đãi, nếu tôi quẩn quanh dạo xem
khắp, đi về chẳng dưới
nửa tháng, tốn đến mấy thạch[105]
gạo. Tự viện nghèo chẳng thể chi
nổi, bèn kiên quyết ngăn lại. Đại
chúng không vui, tôi bèn an ủi rằng: “So
với sự thù thắng của Nhạn
Đãng, trong Chấn Đán còn có
những nơi trội hơn. Dẫu là chỗ
tối thắng trong Chấn Đán, chẳng
thể bằng cung trời. Cung trời lần
lượt [càng lên cao] càng thù thắng
hơn, vẫn chẳng bằng Tây Phương
Cực Lạc thế giới. Các ông chẳng
hâm mộ Cực Lạc mà cứ khăng
khăng hâm mộ Nhạn Đãng là vì sao
vậy?” Rốt cuộc chẳng đi!
* Hối hận chẳng
làm tăng
Tể
tướng đời Đường là
Đỗ Hoàng Thường[106],
lúc lâm chung tự hối chẳng
được làm Tăng, dặn
[người nhà] cạo tóc, cho ông mặc y
nhuộm để khâm liệm. Lại còn
đời Tống, có quan chấp chánh nổi
tiếng là X… cũng để lại di mạng
như thế. Đấy chẳng phải là do giữ
vững chánh nhân đời trước, sao
có thể có thể ở trong địa
vị lớn mà tỉnh ngộ chẳng mê
muội? Khi Phong, Hỏa ly tán, có bản lãnh
sáng ngời như thế. Nhưng có hai
cách nói: Hoặc là do một niệm mê,
đến chết mới trở lại cội
gốc. Hoặc là do thị hiện hòng
cảnh tỉnh, giác ngộ những kẻ
đồng hàng cũng chưa thể biết
được!
* Biến Phật pháp
thành tình cảm thông tục
Ngài
Diệu Hỷ tự nói: “Xưa kia,
được trưởng lão Vô Nhãn
ấn chứng bừa bãi, về sau gặp
lão nhân Viên Ngộ thì mới đại triệt,
bèn tự lập thệ ràng buộc: Nhất
định chẳng biến Phật pháp thành
tình cảm thông tục”. Có thể nói
là ngài Diệu Hỷ đại từ đại
bi, đúng là con mắt chân thật muôn
đời cho trời,
người. Tiếc là tôi sanh sau đẻ muộn,
chẳng được đích thân phụng
sự, đáng tiếc hận lắm! Nhưng
ngài Diệu Hỷ nói trưởng lão Vô
Nhãn dùng cái ấn bí đao[107]
để ấn chứng cho người học,
nay người học phần nhiều dùng ấn
bí đao để ấn chứng chính
mình, ngài Diệu Hỷ mà trông thấy sẽ
lại như thế nào nữa?
* Y bát của ngài
Hoàng Mai
Cổ
đức dạy đại chúng rằng: “Y
bát của Hoàng Mai chẳng phải chỉ
là hạng ‘luôn luôn siêng lau chùi’ chẳng
đạt được, ngay cả bọn ‘chỗ
nào bám bụi bặm?’ cũng chẳng
đạt được! Hãy nói xem rốt
cuộc là như thế nào mới đáng
được y bát?” Một vị
tăng nêu ra chín mươi chín câu chuyển
ngữ, đều chẳng khế hội, cuối
cùng nói: “Nhất định phải muốn y
bát của người khác để làm
gì?” Cổ đức bèn hoan hỷ chấp
nhận. Ôi! Thầy có thể nói là “giết
người thấy máu”, có thể nói
đệ tử là thẳng thừng đến
cùng tận đáy vậy!
* Nhĩ Căn Viên Thông
Kinh Lăng
Nghiêm chọn lựa pháp viên thông, chỉ chọn
lấy Nhĩ Căn. Nhưng đức Thế Tôn
là vị chủ của sự giáo hóa,
hướng dẫn trong một thời, do thấy
sao Mai mà ngộ. Ngài Ẩm Quang (Ca Diếp) là
vị tổ truyền đăng muôn đời, do
thấy [đức Thế Tôn] giơ cành hoa mà
ngộ, đều là thuộc về Nhãn Căn,
đó là như thế nào vậy? Điều
này có hai nghĩa: Một là nghĩa tùy
thuận chúng sanh, do giáo thể chân thật của
phương này thanh tịnh do nghe tiếng. Hai là
nghĩa trừ khử chấp trước.
Chúng sanh đâu đâu cũng chấp vào Văn
Viên Thông, chỉ đề cao Nhĩ Căn, cho rằng
các căn khác chẳng thể nhập
đạo. Vì vậy, đối với bậc
hào kiệt, căn nào cũng viên thông, như
người đại phước đức
dẫu cầm đá cũng thành chất báu.
Người khéo đọc Lăng Nghiêm sẽ
hiểu tường tận.
* Thế giới
Cực Lạc
Chắc
là có kẻ nghi kinh Hoa Nghiêm nói Cực
Lạc chỉ hơn Sa Bà, mà kinh Đại
Bổn Di Đà nói [Cực Lạc] hơn
hẳn mười phương, là vì sao?
Có kẻ bảo: Hơn hẳn mười
phương tức chỉ là mười
phương gần Sa Bà, chẳng phải là
mười phương trong thế giới Hoa
Tạng. Nói kiểu ấy cũng đúng,
nhưng chưa trọn hết. Ấy là vì nói
“chỉ hơn” tức là dùng ngày
đêm để so sánh, cho nên nói “một
kiếp trong Sa Bà là một ngày đêm trong
cõi Cực Lạc. Một kiếp trong cõi Cực
Lạc là một ngày đêm trong cõi Ca Sa
Tràng”, lần lượt trải qua hằng sa
thế giới cho tới cõi Thắng Liên Hoa,
tức là chuyên xét theo phương diện
thời gian dài hay ngắn, chẳng phải
là so sánh hơn kém nơi toàn thể.
Nếu không, do ngàn vạn năm trong nhân gian là
một ngày đêm trong địa ngục, sẽ coi địa
ngục thù thắng hơn nhân gian ư? Lại
phỏng theo đó, nếu cứ chấp
chặt vào thân lượng cao, thấp
để so sánh hơn kém thì do Lô Xá Na
Phật chỉ cao một ngàn trượng, mà
Tu La cao tám vạn bốn ngàn do-tuần, sẽ coi
Tu La hơn hẳn đức Lô Xá Na ư? Do
vậy, nói “Cực Lạc hơn hẳn
mười phương” chính là nói
về sự xa rộng th́ cũng chẳng
ngăn ngại!
* Một lời chuyển
ngữ
Tiên đức
khai thị học nhân, nói: “Ta nay chẳng bàn
đến Thiền Định, trí huệ, thần thông, biện
tài của ngươi, chỉ cần ngươi
nói một câu chuyển ngữ đích
đáng”. Người học nghe câu ấy,
liền ngày đêm học chuyển ngữ, sai mất
rồi! Một lời chuyển ngữ đã
tôn quý như thế, kỳ lạ, đặc
biệt như thế, ắt biết chắc
chắn chẳng phải là do tình
thức suy đoán, hoặc do kiến giải
nương vào những điều học tập
thông thường để đạt được, mà
phải từ đại triệt đại ngộ chân
thật tự
nhiên lưu xuất. Nếu hướng theo
kinh giáo, hướng theo cơ duyên vấn
đáp của cổ nhân, dùng thông minh tiểu
trí để mô phỏng, dùi mài, hòng
biện bác đằng miệng, không gì
chẳng phải là lời lẽ sắc
bén, mới mẻ, thật ra là gãi
ngứa ngoài giày. Giả sử trong một
sát-na, thốt ra hằng hà sa số chuyển
ngữ, có gì dính dáng đến chính
mình? Nay đừng quản chuyển ngữ
có đích đáng hay không, hãy ném
nó ra ngoài bất khả thuyết bất khả
thuyết thế giới, chỉ giữ chặt
sự tham cứu của chính mình, miên
mật dụng tâm, chẳng lúc nào bỏ
lìa, thì khi đã ngộ thấu triệt,
há lo chẳng có lời lẽ nào? Tôi
tuy độn căn, chẳng dám không cố
gắng!
* Pháp Hoa Yếu Giải
(1)
Đối
với kinh Pháp Hoa, ngài Thiên Thai soạn [Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh] Huyền Nghĩa và [Pháp Hoa] Văn
Cú to lớn, tường tận, ngài Ôn
Lăng[108] soạn
Yếu Giải thì tinh vi, giản ước.
[Sớ giải] của ngài Thiên Thai đáng
trọng, mà [lời giảng giải của
ngài] Ôn Lăng cũng chẳng thể coi
thường. Có người nói rằng: “Trước
hết đọc Yếu Giải, sau đó tham
cứu Huyền Nghĩa và Văn Cú, [sẽ
thấy] hơn kém cách biệt rất xa, nói
chẳng thể coi thường [tác phẩm
của] ngài Ôn Lăng nghĩa là sao?” Ngài Ôn
Lăng sanh sau ngài Thiên Thai, các sách như
Huyền Nghĩa, Văn Cú v.v… đều đã
xem qua, đối với những chỗ phân tích
biện định chi ly [trong các sách ấy]
chẳng phải là [ngài Ôn Lăng] không
biết, nhưng Ngài đặt tên [bản chú
giải của chính mình] là Yếu Giải, chính
là chọn lấy những chỗ thẳng,
chóng, ngắn gọn, nếu lại giải
thích rườm rà, cặn kẽ cùng
tận sâu xa, thì sẽ là bác giải (博解, giải
thích rộng rãi), chứ chẳng phải
là yếu giải! Huống hồ, Ngài phân khoa phần
nhiều dùng những từ ngữ của
ngài Thiên Thai, những chỗ chẳng dùng cũng
là do có ý nghĩa riêng. Những chỗ
giải văn, giảng nghĩa trong sách ấy
(sách Pháp Hoa Yếu Giải) có ưu, có
khuyết, người học hãy nên trống
lòng, bình tâm mà nghiền ngẫm thì
mới nên.
* Pháp Hoa Yếu Giải
(2)
Trong
phần trước, đã nói về ưu,
khuyết, tôi thử nêu khuyết điểm. Kinh
dạy “ngũ chúng chi sanh diệt”, Yếu
Giải giảng [ngũ chúng] là năm
đường, nhưng ngũ chúng chính
là tên gọi khác của ngũ uẩn. Đại
Trí Độ Luận đã nói rõ nhiều
lượt, thế mà giảng là năm
đường, tức là chẳng khảo
chứng. Thử nêu ưu điểm, như
đối với chuyện ngài Dược
Vương đốt thân, Yếu Giải nói là “do
diệu giác viên chiếu, lìa Thân Kiến, hiểu
Uẩn là Không, cho nên có thể như thế.
Nếu chẳng thấu đạt sự phát
khởi cái hạnh ấy, cứ hâm mộ suông
dấu tích ấy, chỉ tăng thêm nghiệp
khổ”. Đấy là nêu rõ chỗ ngài Thiên
Thai chưa nêu tỏ, hữu ích rất sâu cho
hậu học.
* Châu Học Dụ
Ông Châu
Mậu Chánh ở Gia Hòa nói:
- Cụ bác[109]
ông ta là ngài Học Dụ đã hưu trí,
dùng bổng lộc nhận được
để dựng một gian nhà nhỏ ở
ngoại thành, đọc sách trong ấy,
đóng cửa không tiếp khách, dẫu con,
cháu, thân thích, cho đến ấp lệnh
trưởng, hiếm khi được thấy
mặt cụ. Riêng có một ông bạn già,
mỗi chiều sẽ đến, cùng chơi mấy
ván cờ vây, ca vang mấy chương, đến
tối bèn nghỉ ngơi, lấy đó làm
thường lệ, cách tuyệt với
cõi đời như ở trong hang cùng, non
sâu. Lúc cụ tám mươi, đêm tháng
Chín, bước lên cầu, trượt chân,
bị bệnh nhẹ, hai con đón về. Đến
khi cụ sắp mất, cầm bút đinh ninh
răn nhắc đạo nghĩa, chẳng
nhắc tới những chuyện vụn
vặt trong nhà. Viết xong, cụ nhắm
mắt, qua đời. Chốc sau, cụ mở
mắt nói: “Còn muốn căn dặn Gia
Định”. Gia Định là cháu nội của
cụ, mới đỗ Tiến Sĩ, làm quan trấn
nhậm Gia Định. Do vậy, cụ lại viết
thư, dặn dò từ đầu đến
cuối [cháu mình phải] giữ gìn
sự thanh bạch, đừng do làm quan mà thay
đổi tiết tháo lúc cuối đời.
Do đấy, cụ quăng bút qua đời.
Ôi! Cụ chưa nghe Phật
pháp, mà ra đi lỗi lạc, tiêu sái, người
tu đã lâu chẳng thể sánh kịp. Vì
sao vậy? Ấy là do tâm chẳng có
vướng mắc, Phật pháp đã suy
tưởng quá nửa! Những kẻ
suốt ngày râm ran tụng kinh, thuyết pháp,
nhưng tâm bất tịnh, lúc cuối cùng
hoảng hốt, cuống quýt, đâm ra chẳng
bằng kẻ tục, cũng có gì lạ
đâu? Do vậy, tôi bèn cảm khái. Nếu như
cụ được nghe Phật pháp, đem
hết sức ngấm ngầm tu tập của cụ
dốc lòng nơi Bát Nhã, lo chi chẳng
thấu hiểu đại sự? Do vậy, tôi lại
càng cảm khái.
* Lô Xá Na nơi bản thân
Tăng
hỏi cổ đức: “Như thế nào là Lô Xá Na
nơi bản thân?” Đáp rằng: “Đưa phất
trần cho ta”. Chốc sau lại nói: “Đặt
vào chỗ cũ”. Tăng lý giải câu hỏi
trước, nói: “Cổ Phật đã qua lâu
rồi!” Sư
lại nói: “Kẻ chưa hiểu hãy nghe
một lời, chỉ như lúc này ai
mở miệng?” Người đời sau do
vậy bèn cho rằng giơ tay, nhấc chân,
mở miệng phát ra tiếng là chân Phật.
Đúng thì đúng thật đấy, nhưng
thật ra chẳng đúng, đáng gọi
là “nhận giặc làm con”. Thế rồi
nhất loạt cho rằng [những cơ phong
chuyển ngữ như] “cây bách, ba cân gai,
trúc biếc, hoa vàng, chim ngậm, vượn
ôm” v.v… [là chân Phật], há chẳng lầm
lạc ư? Ngài Câu Chi[110]
hễ được hỏi, liền giơ một
ngón tay. Lỗ Tổ[111]
gặp tăng, xoay thân nhìn vào vách.
Người xưa nói: “Nếu ta xem thấy,
bẻ gãy ngón tay”. Tôi cũng nói:
“Chờ hắn xoay mình, ta sẽ thộp
ngực, đạp ngã lăn chiêng”.
* Mặc áo lụa,
ăn thịt
Tiên sinh
Hối Am (Châu Hy) bài bác Phật, ngài Không
Cốc tận lực biện bác. Tuy vậy,
Hối Am cũng có chỗ giúp cho Phật pháp
được hoằng dương, giáo
hóa, chớ nên không biết! Ông ta giải thích
sách Mạnh Tử, nói: “Tuổi đã
năm mươi, nếu chẳng phải là
lụa thì sẽ không ấm, kẻ chưa năm
mươi tuổi không được mặc.
Bảy mươi tuổi thì chẳng ăn
thịt sẽ không no. Kẻ chưa đủ bảy
mươi tuổi chẳng được ăn”.
Lông thú, kén tằm, hại vật, tổn
hại lòng từ, nên đức Phật chế
định [cấm
dùng]. Ắt phải năm mươi tuổi
mới được mặc lụa,
tức là kẻ mặc lụa sẽ ít
ỏi. Ăn thịt là đoạn chủng tử
đại từ bi, nên đức Phật
ngăn cấm. Ắt phải bảy mươi
tuổi mới ăn thịt, tức là
người ăn thịt ít ỏi. Nay những
đứa trẻ tuổi còn ẵm bồng
đã khoác nhiều lớp áo
lông, lụa là, nấu mổ những thứ
tươi béo đẫy miệng, chẳng
đợi đến lúc trưởng
thành, huống là tuổi già ư? Nếu
lời Hối Am đã nói được
thực hiện, há chẳng giúp chút phần
cho Phật pháp ư? Người trách lỗi
Hối Am chẳng xem xét [điều này]; do
vậy, tôi nêu rõ ra!
* Chấp trước
Con
người luôn mắc bệnh chấp
trước, nhưng cũng chẳng thể
luận định nhất loạt được!
Ấy là vì học tập là do ưa thích
mà thành, ưa thích đến cùng
cực thì gọi là Chấp. Hậu Nghệ[112]
ham chấp bắn tên, Nghi Liêu[113]
ham bắn đạn, Thành Liên[114]
ham đàn, và người
ham đánh cờ vây đến mức bình
phong, màn, tường vây, cửa sổ, đều
chi chít quân đen, quân trắng bày thành
thế cờ. Người ham thư pháp
thì đến nỗi gỗ, đá trong núi
đều đen thui. Kẻ học vẽ ngựa
đến nỗi ngựa hiện nơi
giường, chõng. Sau đấy, họ do tài
nghệ ấy mà nổi danh trong thiện hạ và
để tiếng cho đời sau, sao lại riêng
ngờ đối với chuyện học
đạo?
Do đó, người
tham Thiền đến nỗi uống trà chẳng
biết vị trà, ăn cơm chẳng biết
là cơm, đi mà chẳng biết là
đi, ngồi chẳng biết là ngồi,
mở tráp quên khóa, ra khỏi nhà xí
mà quên mặc áo. Người niệm
Phật đến nỗi nhắm mắt,
mở mắt đều thấy [Phật] trước
mặt, nhiếp tâm hay tán tâm mà niệm luôn
là một, chẳng nêu mà tự nêu,
chẳng nghi mà tự nghi, đều là
chấp. Ấy là vì tình tột bậc,
chí chuyên ròng, công sâu bèn đắc
lực, bất giác, bất tri, bỗng nhập
tam-muội. Cũng ví như người dùi
lửa, dùi không nghỉ, [gỗ] sẽ bốc lửa.
Luyện sắt mà luyện không ngừng, sẽ
thành thép. Điều đáng ghét
đối với chấp trước là
chẳng biết “vạn pháp đều là huyễn”, nhưng
cái tâm mong đắc quả gấp gáp,
chẳng biết “hết thảy duy thức”, ý
chấp giữ tướng sâu đậm,
đó là bị ngăn chướng. Cứ
nhất loạt lo ngại chấp trước, bèn
ơ hờ, phè phỡn, như nước
ngâm đá, dẫu trải bao năm, cùng tận
kiếp số, có ích chi đâu? Do vậy, chớ nên chấp
cứng vào sự ham thích, nhưng
ham chấp trì thì chớ nên chẳng
có.
* Chuộng cổ (1)
Có
mấy kẻ chuộng cổ, sống chung một nhà,
ai nấy đem đồ cổ ra so sánh. Có
người lấy ra các vật từ
đời Nguyên, Tống, Ngũ Quý (Ngũ Đại), mọi
người nhìn nhau cười. Thế
rồi, [đưa ra các cổ vật] đời
Đường, Tấn, Hán, Tần, Tam
Đại, hận chẳng thể có
được cái xanh của Cao Tân[115],
cái dùi của Toại Nhân[116],
đàn cầm của Thần Nông[117],
đàn sắt của Thái Hạo[118],
đá ngũ sắc do Nữ Oa Thị[119] luyện
còn sót lại. Một người nói:
“Những thứ các ông tích chứa
đúng là cổ, nhưng chẳng phải
là thái cổ, chẳng phải là thái cổ
của thái cổ”. Mọi người nói: “Là
mặt trời, mặt trăng ư?”
Đáp: “Chưa cổ! Có trời đất rồi
mới có mặt trời, mặt
trăng”. “Như vậy thì là trời,
đất ư?” Đáp: “Chưa cổ! Có hư
không rồi mới trời, đất”. “Như
vậy thì là hư không ư?” Đáp: “Chưa
cổ! Tôi tích chứa vật lúc mặt
trời, mặt trăng chưa sanh, trời
đất chưa lập, trước lúc có
không kiếp. Các ông chẳng tiếc ngàn
vàng để đổi lấy một cái lò,
một cái bình, một quyển sách, một
bức họa, mà chẳng biết của
báu thật sự cổ, cũng là mê
hoặc lắm vậy!” Mọi người
nhìn nhau, im lặng!
* Chuộng cổ (2)
Chốc
lát, họ bèn
nói: “Đồ cổ của ông, mọi
người đều có, chẳng phải
chỉ riêng ông, sao quý cho được?”
Đáp: “Cùng có, nhưng đều cùng mê,
mê thì chẳng khác gì không có. Tuy nói
là riêng tôi có, cũng chẳng sai!” Đáp:
“Đồ cổ của bọn tôi trông thấy rành
rành, đồ cổ của ông ở chỗ
nào?” Người ấy giang hai tay chỉ, mọi
người lại nhìn nhau, nín lặng!
* Lập nghĩa khó
lắm
Xưa kia,
Lưu Hâm[120] lúc
mới san định bản cổ văn của các
sách Xuân Thu, Tả Thị, Mao Thi, Thượng
Thư v.v… Khi ấy, Nho gia ghen ghét, dấy lên nghị
luận như ong. Hối Am (Châu Hy) soạn Liêm Khê Thái
Cực Đồ Giải, sách vừa ra
đời, cả đống kẻ chõ miệng
vào. Cho đến ngài Nam Nhạc vừa lập
chỉ thú Bát Nhã, Sơ Tổ khai Thiền
trực chỉ, [những người theo] nghĩa
học chẳng chấp các thuyết ấy,
gán tiếng độc hại, huống hồ
người hiện thời ư? Những
người bàn về lễ gọi đó
là “họp nhau tranh cãi”. Lập nghĩa khó
khăn lắm thay! Chẳng thể không thận
trọng!
* Chẳng làm Phật
sự
Chắc
có kẻ nói: “Đối với việc tang ma
cho cha mẹ, chẳng làm Phật sự.
Đấy là gia lễ của Hối Am”. Than ôi! Trong
cõi đời có kẻ sanh con làm
đến chức vụ trọng yếu, cơ
mật, tiền của dư dả, nhưng chẳng
được con cái vì chính mình lễ
một vị Phật, tụng một bài kệ
bốn câu, đãi cơm một vị sa-môn, lại
còn trong bốn mươi chín ngày mổ trâu
bò để biếu thịt cho họ hàng và những
kẻ quen biết, coi đó là tôn sùng chánh
đạo, đả phá tà thuyết! Chẳng
biết đấy chỉ là tăng nghiệp thêm cho
cha mẹ, giúp họ trầm luân! Nếu
người chết hay biết, ắt sẽ
đấm ngực, khóc than dưới suối
vàng, đâm ra chẳng bằng con của kẻ
nghèo báo đáp cha mẹ, há chẳng
hết sức đáng thương ư? Sách
Nhan Thị Gia Huấn[121]
được xưa nay tán thán, nhưng trong
ấy riêng nói “ắt làm Phật sự”.
Họ Nhan và họ Châu đều là
người hiền, hãy gộp chung lại mà
xem!
* Bảo Miễn
Sách
Chân Cáo[122]
nói: “Bảo Miễn chẳng biết đạo,
chỉ sáng tối gõ răng[123] không
ngớt, quỷ sứ chẳng thể
bắt được”. Bởi lẽ,
gõ răng chính là nhóm họp thần
ở trong thân, thần chẳng lìa, cho nên
quỷ chẳng
thể đến gần được.
Giả sử dùng sức gõ răng
để tu chân, có chân nào mà chẳng
thành? Tôi cho rằng: Há riêng gì tu chân,
dùng sức gõ răng để mỗi niệm
đều tham cứu chính mình, có Phật
nào chẳng thành ư? Thần trong thân chỉ
là một loại tinh hồn (精魂), còn có sức
chế phục quỷ, huống hồ kinh nói: “Thọ
trì nhất Phật danh giả, hữu
bách thiên đại lực thiên thần vị chi
ủng hộ” (Thọ trì danh hiệu
một vị Phật, sẽ có trăm ngàn
đại lực thiên thần ủng hộ). Lại
nói: “Niệm Phật chi nhân, Phật trụ kỳ
đảnh” (Người niệm Phật, Phật
đứng trên đỉnh đầu người
đó). Nay lại siêng năng gõ răng là
chuyện nhỏ nhặt, cam tâm bỏ đại
đạo niệm Phật, tiếc thay!
* Môn đình cao ngất
Thời
cổ, được gọi là “môn đình
cao ngất” là như ngài Tịnh Danh (Duy Ma
Cật) thị hiện
bị bệnh, các vị A La Hán đều
nói: “Tôi chẳng thể kham đến chỗ ông
ta thăm bệnh”. Ngài Văn Thù cũng nói:
“Vị thượng nhân ấy khó lòng
ứng đối”. Về sau, các vị
đại lão trong Tông Môn hoặc dùng gậy,
hoặc hét, hoặt dựng ngón tay,
hoặc giương cung,
hoặc buông một lời, như canh nấu
bằng thẻ gỗ chẳng thể có
mùi vị, như gươm Thái A chẳng
thể chạm vào, như mặt trăng trong
nước chẳng thể cầm nắm,
chẳng phải là bậc thượng sĩ
tham cứu đã lâu, sẽ chẳng dám
vào cửa của họ. Đó gọi là “môn
đình cao ngất”, há có phải là ra
vẻ tôn nghiêm, thị uy, quát lớn, tạo vẻ
mặt giận dữ ư?
* Ma dựa
Ma đại
lược có hai loại: Một là thiên ma, hai
là tâm ma. Thiên ma dễ biết, hãy gác lại
chẳng luận. Tâm ma chẳng cần phải
là nổi khùng, phát điên, thậm chí
khinh nhờn bậc tôn trưởng, khinh mạn
người trên, chẳng hề cố kỵ,
bịt đầu, cởi áo, chẳng
sợ chê cười rồi mới là ma.
Hễ có chấp trước, như đam mê
tiền tài, đam mê sắc, đắm
đuối thơ ca, đam mê rượu, đam mê
thư pháp, tham đắm vẽ vời v.v…
thì cũng là ma. Há chỉ có vậy
mà thôi, ý vọng tưởng muốn công trùm
một thuở, danh lưu trăm đời,
cũng là ma! Không chỉ là như thế, dẫu
tu đủ loại các thiện pháp môn, nhưng ý
vọng tưởng mong mỏi thành Phật
thì cũng là ma! Há chỉ phải là
như thế, các loại ma như đã nói
trên đây thảy đều chẳng có, mà
nói “nay một mình ta tránh khỏi ma” thì
cũng là ma. Vi tế lắm thay! Ma sự
khó quan sát lắm!
* Tham học các
phương cần phải có mắt
Làm
tăng trong thời chánh pháp chỉ sợ
phân biệt người khác. Làm tăng trong
đời mạt, chỉ sợ chẳng phân
biệt được người khác! Vì
sao? Đời Mạt bạc bẽo, cỏ thơm,
cỏ thối lẫn lộn. Nếu chẳng suy
xét cẩn thận, chọn lựa sai lệch, coi
đúng là sai, ngỡ tà là chánh,
đáng nên thân thiết mà lại lợt
lạt, đáng nên tránh xa mà lại gần
gũi, sẽ bị hun đúc, đắm nhiễm
bởi kẻ xấu, lâu ngày sẽ hóa
thành giống như họ, đời
đời kiếp kiếp thường làm
bạn bè của ma. Tham học các phương
há chẳng cần có con mắt ư?
* Thân người khó
được
Hễ
đánh mất thân người, muôn kiếp
chẳng có lại được! Lời
này có ai chẳng biết? Tuy biết, nhưng
coi thường, chẳng chú ý, giống
như chẳng biết vậy! Xưa kia, ông Tu
Đạt vì đức Phật tạo thất,
đức Phật chỉ con kiến trên mặt
đất bảo ông Tu Đạt rằng: “Con
kiến này từ thời Tỳ Bà Thi Phật
tới nay, đã trải qua bảy vị Phật
mà vẫn mang thân kiến”. Một vị Phật
xuất thế trải qua thời gian rất dài,
huống hồ bảy đức Phật ư? Sau
đức Phật Thích Ca, phải qua hơn năm
trăm vạn năm, Từ Thị (Di Lặc) mới
xuất thế, được gọi là
đức Phật thứ tám, chẳng
biết con kiến ấy có thoát khỏi thân
cũ hay không? Dẫu thoát khỏi thân kiến,
chẳng biết ngày nào sẽ
được làm thân người? Nay chỉ
thấy nhan nhản người đời, chen vai
thích cánh, chẳng biết được
làm thân người khó lắm thay!
Đã được làm thân người,
điềm nhiên để luống qua, thật đáng
đau tiếc lắm! Tôi giải đãi, luống
uổng, chẳng thể không tự đau tiếc
sâu đậm, lại thưa với người có
cùng chí hướng!
* Sự việc sợ
người hữu tâm
Ngài Cao
Phong tự trần thuật nguyên do đắc
ngộ như sau: “Chẳng tin có chuyện lạ
lùng, đặc biệt như thế đó, do
sự sợ người có tâm”. Lời
ấy nói về sự tự chứng
của ngài, chân thật chẳng dối,
người học đạo hãy nên tin
chắc. Thế nào là hữu tâm? Một
tài khéo, một nghề trong thế gian, lúc
mới học khó khăn khôn xiết,
dường như muôn phần chẳng thể
thành tựu được; do vậy, bèn
gác lại, chẳng học, sẽ trọn
chẳng thể thành. Vì thế, lúc ban
đầu cốt sao có cái tâm quyết định
chẳng nghi. Tuy đã quyết định,
nhưng nhởn nhơ, trì hoãn, thì cũng
chẳng thành. Vì vậy, tiếp đó,
cốt sao có tâm tinh tấn dũng mănh. Tuy đã
tinh tấn, nhưng hoặc là được
chút ít đã cho là đủ, hoặc
thời gian lâu dài bèn mệt mỏi,
hoặc gặp thuận cảnh bèn mê,
hoặc gặp nghịch cảnh mà đọa, thì
cũng chẳng thành. Do vậy, kế đó,
cốt sao phải có tâm thường hằng,
bền bỉ, kiên cố, thề chẳng lui sụt. Ngài Cao Phong
dốc sức suốt một đời làm
một gã ngây ngốc, chắc chắn phải
thấy minh bạch phương thức này,
đó gọi là vị trượng phu thật
sự hữu tâm. Cổ nhân lại nói: “Tam-muội
chẳng thành, giả sử gân đứt,
xương khô, trọn chẳng ngưng nghỉ”.
Lại nói: “Đạo chẳng hơn Tuyết
Đậu, chẳng lại lên núi này
nữa”. Lại nói: “Chẳng phá
khối nghi, thề chẳng nghỉ”. Có tâm
như thế, có chuyện gì chẳng làm
xong? Tôi hết sức hổ thẹn, chẳng
dám không gắng sức!
* Lão thành rồi
mới lộ mặt trong cõi đời
Cổ nhân sau
khi đã thấu hiểu được ý,
bèn ở trong hang sâu núi thẳm, nấu
cái xanh
gãy chân[124],
náu mình bảo dưỡng, bị trời
rồng thôi thúc, sau đấy mới bất
đắc dĩ mà lộ mặt trong cõi
đời. Người đời sau dần
dần chẳng được như xưa,
nhưng tôi vẫn còn thấy các pháp sư
giảng kinh luận, các pháp sư thực
hiện pháp Du Già thí thực, tuy đã
học thành mà tuổi chưa đủ cao, họ
bèn từ từ chờ đợi.
Gần đây, kẻ thiếu niên đã lên pháp
tòa đông lúc nhúc. Phật pháp suy dần,
há cũng chẳng đúng lý ư?
* Nối tiếp tổ
truyền đăng
Cõi
đời thường nói: “Hễ đại
triệt đại ngộ, tiếp nối đèn
tổ, nối huệ mạng của Phật, cần
phải là người có phước
làm thiên tử ba đời, hoặc làm
trạng nguyên bảy đời thì mới
được”. Lời ấy tợ hồ
quá đáng, nhưng lý đúng là
như vậy. Xưa kia, Trung Phong lão nhân nói: “Vô
lượng kiếp sanh tử đến nay, ngày
nay muốn xoay chuyển trọn hết, há có
phải là chuyện dễ dàng ư?” Vì
vậy, do Thập Thiện mới được
sanh lên cõi trời, do Nhân Không thì mới
chứng tiểu quả. Bậc Bồ Tát tích
tập vạn hạnh đã lâu còn chẳng
khỏi mẻ đầu sứt trán nơi Long Môn,
tức là ba đời hay bảy
đời vẫn là nói rất nông cạn
vậy. Làm chủ trong thế gian, đứng
đầu nhiều nho sĩ, vẫn là thí dụ
nhỏ nhặt. Nói tột cùng, sẽ là
thành tựu bởi công đức và
trí huệ chẳng thể nghĩ bàn! Tuy
vậy, cũng đừng nên tự nhủ
khó khăn rồi gieo mình vào tuyệt vọng!
Chỉ nên quyết tâm tinh tấn, gặp ma
chẳng lùi, gặp nạn càng kiên
quyết, nghiên cứu cùng tột chí lý,
lấy ngộ làm mục tiêu, chẳng lo không
có lúc tương ứng. Vì sao vậy? Do
thiện căn đời trước khó
lường được!
* Tội giết chóc
Trong
việc đánh
thắng quân Đằng Giáp[125],
Khổng Minh đã thiêu người Man ở
các động thành tro, ông ta nói: “Ta tuy có
công với nước, nhưng bị tổn
thọ”. Người đời đều biết
giết người là có tội, nhưng
đối với bò, dê, chó, lợn v.v….
hằng ngày mổ nấu thì lại
điềm nhiên chẳng thấy lạ, chẳng
phải là coi nhẹ chuyện ấy, há vô tội
ư? Lễ Ký nói: “Quân vô cố bất sát
ngưu, đại phu vô cố bất sát dương,
sĩ vô cố bất sát khuyển, thỉ” (Vua không duyên
cớ chẳng giết trâu, đại phu không duyên
cớ chẳng giết dê, kẻ sĩ không duyên
cớ chẳng giết chó, lợn). Người
đời đều biết giết con vật to lớn
là có tội, nhưng đối với tôm,
hến, ốc, sò v.v… hễ hạ đũa là
tính cả trăm ngàn con, vẫn điềm nhiên
chẳng lấy làm lạ, há chẳng
phải là coi nhẹ chuyện ấy, lẽ nào vô
tội?
Ôi! Xét ra hàm linh đều
có Phật tánh, cho nên kiến và người
như một, sao đáng để coi trọng hay xem
nhẹ? Như kẻ quý hiển khinh miệt
người hèn, mạnh lấn hiếp yếu,
vậy thì con người cũng có thể
giết để ăn thịt, cũng có gì
là xem trọng hay coi nhẹ đáng để
nói đâu? Kinh Phạm Võng dạy “phàm
hữu mạng giả, bất đắc cố
sát” (hễ có sanh mạng, đều
chẳng được cố ý giết), ý
chỉ ấy sâu thẳm thay!
* Chẳng thể suy
đoán loạn xạ lời lẽ trong Tông Môn
Cổ nhân sau khi đại
ngộ, nói ngang, nói dọc, nói xuôi, nói
ngược, nói hiển, nói mật, mỗi
mỗi đều khế hợp tâm ấn của Phật,
đều là chân ngữ, thật ngữ,
chẳng phải lời ngụ ngôn của Trang sinh
(Trang Châu). Người hiện thời tâm chưa diệu
ngộ, nhưng bẩm tánh thông lợi, ăn
nói lưu loát, lén xem những lời
cơ duyên vấn đáp trong các bộ ngữ
lục, liền có thể mô phỏng. Chỉ cốt
sao điên đảo, dị thường, đáng
mừng, đáng ngạc nhiên nhằm dối
gạt mắt thế tục. Như “canh ba
giữa Ngọ, nửa đêm mặt
trời mọc, sóng vỗ đầu non,
đáy biển sanh bụi”, đủ mọi
lời chẳng có nghĩa vị gì,
cứ thuận miệng thốt bừa.
Những kẻ không hiểu biết chẳng
thể kiểm giảo, khám nghiệm, đồng
thanh tán dương. Kẻ đó giả vờ lâu
ngày chẳng hối cải, cũng tự cho
là thật sự đắc, thậm chí “một
gậy đập chết cho chó ăn”, “ở
đây có tổ sư hay không? Gọi đến
rửa chân cho ta”. Đối với những
chỗ ấy, cũng chẳng hề kiêng dè,
thường thường bắt
chước. Ôi! Bàn xằng Bát Nhã,
tội chẳng thể tha, đáng sợ thay!
* Xem ngữ lục cần
tìm ra chỗ dụng tâm của cổ nhân
Hễ xem
văn tự trong ngữ lục của cổ nhân,
chớ nên chuyên dựa theo một câu hỏi,
một lời đáp, một bài niêm, một
bài tụng, hoặc những chỗ cơ phong
cao ngất, sắc bén, ngôn ngữ hay lạ,
hòng sảng khoái tâm mục ta, giúp cho ta có
cái để đàm luận. Cần phải tham
cứu cùng tột người ấy vì
đâu mà đạt tới chỗ
đại triệt đại ngộ ấy. Trong
đó, vị ấy
đã tự thuật chỗ đổ công dốc
sức, chỗ khắc khổ dụng tâm, hãy tuân
theo đó mà hành, tức là cớ sao
chẳng nương theo khuôn mẫu của vị
ấy để tu? Nếu chỉ lén lút cắt
xén, mô phỏng, dẫu cho lâu ngày chày tháng,
mồm mép trơn bóng, nghiễm nhiên đã
rối loạn sự chân thật của cổ nhân,
cũng chỉ là cắt hoa đẹp, vẽ
bánh trên giấy, thành ra chuyện thuộc phía
nào đây?
* Khí ban đêm
Tô Tử Chiêm
(Tô Thức, Tô Đông Pha) nói ông X… chẳng
học Thiền, lâm chung tự biết đã
đến lúc. Các con hỏi han, bèn dạy
điều thứ nhất là “canh năm bèn
dậy sớm”. Các con chẳng ngộ, cho
là siêng năng việc nhà. Ông bảo: “Chẳng
phải vậy! Việc làm vào lúc canh năm
sẽ mang theo được lúc lâm chung.
Người xưa nói: ‘Muôn thứ
chẳng mang được, chỉ có nghiệp
theo thân’. Cái nghiệp theo thân sẽ mang đi
được. Nhưng nghiệp có hai loại:
Một là sự nghiệp, hai là đạo nghiệp.
Sự nghiệp có thiện, có ác; hãy gác ác
nghiệp lại đó. Thiện nghiệp chính
là phước đã tu. Đạo nghiệp
chính là huệ đã tu, nhưng ắt
dùng canh năm [để sánh ví], Mạnh
Tử gọi là “dạ khí”. Tuy vậy,
chẳng có gì để đem đến,
chẳng có gì để mang đi. Đấy
chính là không chỉ canh năm, mà phải nên
là thực hiện trong mỗi niệm,
chẳng thể lìa trong khoảnh khắc
nào!
* Phật Ấn
Thơ
của Tô Đông Pha có câu “Viễn công cô tửu
diên Đào lệnh, Phật Ấn thiêu trư
đãi Tử Chiêm” (Viễn công mua
rượu mời Đào lệnh[126],
Phật Ấn quay heo đãi Tử Chiêm). Tôi cho
rằng người đại giải thoát
chẳng ngại đối xử vượt
ngoài khuôn khổ, nhưng mua rượu thì
còn được, chứ quay heo thì
quá đáng ư? Giả sử hiệp
khách dùng Tử Chiêm (Tô Đông Pha) để
viện cớ, cuồng tăng bắt
chước Phật Ấn, khởi sự
làm xằng, ai sẽ chịu tội ấy? Do
vậy, chuyện này chẳng thể đáng
tin! Cổ nhân nói “thi nhân mượn sự
để so sánh, ngâm vịnh, chớ nên cho là
thật”, đúng lắm! Nếu là có,
thì Tử Chiêm chẳng bàn tới,
chứ Phật Ấn sẽ bị dựa theo
luật mà đuổi khỏi chùa!
* Học quý ở
chỗ chuyên ròng
Mễ Nguyên
Chương[127]
nói: “Học sách cần phải chuyên nhất; do
vậy, không còn ham thích chi khác thì
mới có thể thành công”. Nhưng tôi nghe
người giỏi đánh đàn thời
cổ cũng bảo là chuyên dốc sức nơi
hai, ba khúc thì mới đạt được
hay khéo. Lời ấy tuy nhỏ, có thể
sánh ví chuyện lớn lao. Đức
Phật dạy: “Chế tâm nhất xứ, vô
sự bất biện” (chế ngự cho cái
tâm chuyên nhất một
chỗ, không chuyện gì chẳng hoàn
thành). Do vậy, tâm chia thành hai nẻo, sự
chẳng quy nhất; t́nh chuyên, chí dốc,
tam-muội chóng thành! Người tham Thiền
hay niệm Phật chớ nên không biết.
* Lòng Từ của
Bồ Tát hơn hẳn Thanh Văn
Kinh dạy:
“Thanh Văn nhân ư mạ giả, hại giả,
hoặc mặc nhiên, hoặc viễn ly. Bồ
Tát tắc bất nhiên, cánh gia từ tâm, ái chi
như tử, phương tiện tế độ. Cố
viễn thắng Thanh Văn, bất khả vi tỷ”
(Hàng Thanh Văn đối với kẻ
chửi bới, làm hại thì hoặc
là im lặng, hoặc xa lìa. Bồ Tát
chẳng phải vậy, càng tăng thêm lòng
từ, yêu mến như con, phương tiện tế
độ. Do vậy, vượt xa Thanh Văn, [Thanh
Văn] chẳng thể sánh bằng). Tôi
thấy người đời đối
với khổ nhục còn luôn khó chịu
đựng, huống hồ không chỉ nhẫn
nhục mà còn từ ái hơn ư? Kinh lại
dạy: “Chúng sanh vô ân vu Bồ Tát, nhi Bồ Tát
thường dục lợi ích chúng sanh”
(Chúng sanh chẳng có ân với Bồ
Tát, mà Bồ Tát thường muốn
lợi ích chúng sanh). Tôi chỉ thấy
người đời chịu ân mà còn
chẳng báo, huống hồ đối với
kẻ không có ân mà có thể tạo lợi
ích ư? Người hiểu biết ý chỉ
ấy, thiên hạ không một ai chẳng thể giao du
được, thiên hạ không một ai chẳng
thể cảm hóa được!
* Tông thừa chẳng
hòa hợp với giáo
Học
sĩ Tăng Tông Nguyên[128]
dùng các sách Trung Dung và Đại Học tham
cứu kinh Lăng Nghiêm, dùng câu nói hòa
hợp trong Tông Môn để chất vấn thiền
sư Tuyết Đậu Trùng Hiển. Ngài
Tuyết Đậu Trùng Hiển nói: “Chuyện
này c̣n chẳng
hợp với giáo thừa, huống hồ
Trung Dung ư? Học sĩ hãy nên thẳng
thừng thấu
hiểu”. Bèn khảy ngón
tay, bảo: “Chỉ nên lãnh hội như thế”.
Tông Nguyên từ ngay lời ấy mà có
sự tỉnh ngộ. Người tu hành
lấy giáo pháp trong một đời
đức Phật làm chuẩn mực, nếu chẳng
phù hợp Giáo thì là ma thuyết!
Nhưng [ngài Tuyết Đậu] nói như
thế, chính là [nói theo] ý chỉ “truyền
riêng ngoài giáo”. Truyền ngoài giáo,
thì những điều được
đàm luận trong giáo là chuyện gì
vậy? Đó cũng là lìa ngón tay để
thấy mặt trăng, hiểu ý
được biểu thị qua ngôn ngữ,
văn tự. Hơn nữa, đức Thế
Tôn giơ cành hoa lên, ngài Ca Diếp mỉm
cười, khởi đầu của sự
truyền pháp muôn đời trong Tông Môn. Nay nói
ngược lại rằng: “Điều ấy
chẳng hợp với giơ cành hoa,
ngoài hoa có sự truyền riêng là như
thế nào?” Cổ nhân nói chỗ ngộ của
ngài Câu Chi chẳng ở trên đầu ngón
tay; nay
ngài Tuyết Đậu khảy ngón tay, Tông Nguyên
có sự tỉnh ngộ, lại nói
ngược rằng: “Chuyện ấy còn
chẳng hợp với cái khảy ngón
tay, ngoài ngón tay có sự truyền riêng
là như thế nào vậy?”
* Phóng tham phạn (Cơm
ăn sau khi xả Thiền)
Ở đất Việt
(các vùng Phước Kiến, Quảng Đông),
sau thời khóa tham Thiền, nấu cơm chay
vào ban đêm, gọi là “phóng tham phạn”
(cơm ăn sau khi xả tham cứu), đua nhau
nấu xa xỉ, ngon lành hơn hẳn cơm
buổi trưa, bắt chước nhau thành
tập tục đã lâu. Xưa kia có vị tôn
túc nghe vị tăng ở phòng bên cạnh
nấu cơm sau Ngọ, bất giác khóc òa, buồn
cho Phật pháp suy bại. Do vậy, cấm Tăng
ăn quá Ngọ, huống hồ ăn ban đêm ư?
Luật dạy: “Nhân gian oản bát tác thanh,
ngạ quỷ yết trung khởi hỏa” (nhân gian
khua chén bát ra tiếng, trong họng ngạ quỷ
bốc lửa). Trong lúc đêm khua, người
im lặng, mà khua
khoắng thớt, khay, mâm, bát, tiếng vang
thấu vào nhĩ căn. Lại còn nấu,
đun, hầm, nướng, mùi hương
sực nức kích động tỵ
thức, quên bẵng lời giáo huấn
từ bi, thỏa thích ham muốn nơi miệng
bụng, há an tâm được chăng? Có người
nói: “Nửa đêm đói thì làm như
thế nào?” Có thể thay bằng các
thứ hạt, bánh, lương khô, chẳng
phiền động nồi, chén thì cũng
được. Huống chi người giữ
giới không ăn quá Ngọ, từ sau
giờ Ngọ đến sáng, chẳng ăn
chút thứ gì, chúng ta buổi tối
có dược thạch[129],
sao chẳng biết đủ quá đáng
vậy?
* Tăng đường
Cổ tôn
túc mở tăng đường để
đại chúng được an cư,
hoặc ba trăm hoặc năm trăm
người, thậm chí ở Hoàng Mai
là bảy trăm, tại Tuyết Phong trọn cả
ngàn, Kính Sơn một ngàn bảy trăm. Tôi
thoạt đầu hâm mộ, tự buồn sanh sau,
đẻ muộn, chẳng được
dự vào chốn tụ hội của bậc long
tượng ấy. Nay đã già rồi,
mới biết Chánh, Tượng, Mạt
Pháp, đúng là lời chẳng hư
dối! Trong chỗ hội tụ đông đảo
ấy, tìm một, hai người chân thật tu
đạo còn chẳng thể được!
Vì thế, tôn giả Kim Xí La cùng ba người
làm bạn khất thực, thiền sư
Từ Minh Viên (tức
ngài Thạch Sương Sở Viên) sáu
người kết bạn tham yết ngài Phần Dương [Thiện Chiêu][130], mà
ba người chứng La Hán, sáu
người thành đại khí. Nếu chỉ
cốt cho đông, mà người chứng
ít ỏi, người thành tựu hiếm
hoi, dẫu nhiều để làm gì? Tôi
dựng tăng đường, chỉ dung nạp
bốn mươi tám đơn, chẳng
bằng một phần mười cổ nhân,
vẫn cảm thấy là nhiều, vẫn mong hẹp,
bé hơn nữa. Chẳng phải là không
có tâm phổ độ, mà là trong thời
Mạt Pháp, theo đúng lẽ phải nên như
thế!
* Kết xã, kết
hội
Kết
xã niệm Phật bắt nguồn từ
ngài Lư Sơn Huệ Viễn; nay người
chủ liên xã có được như ngài
Huệ Viễn hay chăng? Người dự
vào liên xã có được như mười
tám vị hiền nhân không? Do vậy, hãy nên ít,
chớ nên nhiều, do người chân thật tu
Tịnh Độ cũng giống như người
trong Tăng đường vậy. Còn như nam
nữ xen tạp trong cùng một liên xã, thì
Lư Sơn chưa từng có. Nữ nhân
hãy nên niệm Phật tại nhà, đừng
dự vào bọn nam giới để xa
lìa tiếng chê cười của người
đời. Hộ trì chánh pháp của
Phật, không gì trọng yếu hơn điều
này! Nguyện người tham dự cùng
vâng theo gìn giữ. Còn như phóng sanh
xã, cũng nên ít, chớ nên nhiều. Do
người có lòng từ chân thật
thả các sanh linh
cũng giống như người trong Phật
hội (hội niệm Phật), ngu ý cho rằng
mỗi mỗi đều nên thuận theo những
điều mắt thấy, tùy theo khả năng,
mà mua [các con vật] để thả. Hoặc
là cuối mỗi quý (ba tháng), hoặc
đến cuối năm, cùng đến một chỗ,
tính toán để phóng sanh, khảo
đức, luận nghiệp trong chốc lát
rồi giải tán, đừng tốn phí
cúng bái, trai soạn tốn kém, đừng
ham chơi phí uổng thời gian thì hơn!
Nguyện những người tham dự
cùng vâng theo, cùng nhau giữ gìn!
* Liên xă
Trong
cõi đời, có phường xấu
ác, vô lại, giả cậy danh xưng nhà
Phật, tụ họp đại chúng hết
sức đông đảo, mưu toan làm
điều sái quấy. Nhưng bọn chúng
giả dối, đều nói “Phật
Thích Ca đã suy, Di Lặc Phật sẽ cai
trị cõi đời”; đó chẳng
phải là liên xã của ngài Lư Sơn
Huệ Viễn. Ngài Huệ Viễn khuyên mọi
người xả Sa Bà, cầu Tịnh Độ.
Ngài dạy coi vàng, bạc là uế vật
khiến tâm đắm nhiễm, coi tước
lộc là dụng cụ tra tấn ràng buộc
thân, coi nữ sắc là búa rìu hại
mạng, coi áo đẹp, thức ăn ngon,
ruộng vườn, nhà cửa là hầm
hố khiến đọa lạc tam giới, chỉ
mong thoát cõi đời mà gởi thân
nơi chín phẩm sen, đáng hâm mộ, tốt
đẹp chi bằng? Còn lũ giả danh đức
Di Lặc dùng ngay vàng, bạc, tước
lộc, nữ sắc, áo cơm, ruộng
vườn để dụ dỗ lũ ngu dân, khiến
họ vui thích, hùa theo. Tức là hai
đằng tương phản như băng và
than, chẳng thể không biện định. Nhưng người
trong liên xã, cũng tự nên tránh tỵ
hiềm, xa lìa họa, hướng theo lời
tha thiết “hãy nên ít, đừng nên nhiều”.
Tôi từng có bài
viết Tại Gia Chân Thật Tu Hành Văn để
khuyên đời, đại ý như sau: Phàm
là người thật tu, chẳng cần
tụ họp, lập hội. Trong nhà có gian
phòng thanh tĩnh, đóng cửa niệm
Phật là được rồi, chẳng
cần phải cung phụng tà sư. Trong nhà
có cha mẹ, hiếu thuận niệm Phật là
được, chẳng cần phải rong
ruổi nghe giảng bên ngoài. Trong nhà có kinh
sách, y giáo niệm Phật là
được rồi, chẳng cần phải chú
trọng lân la Không môn. Trong nhà có thân thích
hoặc xóm giềng, người quen biết
nghèo túng, hoạn nạn, hãy nên giúp
đỡ họ mà niệm Phật là
được rồi. Vì sao vậy? Chú
trọng thực chất, đừng chú
trọng bề ngoài. Nguyện người làm
Tăng, mong hãy đem điều này bảo ban
khắp các vị cư sĩ.
* Tâm và gan
Cổ nhân
có nói: “Gan phải to, mà tâm phải nhỏ”.
“Gan to” tức là có gan gánh vác. “Tâm
nhỏ” tức là phải biết cân
nhắc. Do gánh vác, nên ngàn vạn
người đến chỗ ta. Do biết cân
nhắc nên gặp chuyện bèn e dè, mưu
tính kỹ hòng thành tựu. Đấy
là lời luận định chánh đáng.
Còn như Tăng thì ngược lại. Tôi
nói là “tâm phải lớn mà gan phải
nhỏ”. Do tâm lớn nên bao trùm mười
pháp giới, gánh vác muôn vàn sanh linh,
hoằng dương, hóa độ vô tận. Gan
nhỏ nên ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh
đều vâng giữ, chẳng dám khinh mạn.
Nay kẻ sơ học hễ hơi có chút sáng
suốt, mẫn tiệp, gần thì khinh miệt
người đương thời, xa thì coi
thường người xưa, coi rẻ Thanh Quy,
rẻ rúng Tịnh Độ. Gan thì to đấy,
nhưng xét đến chỗ chân thật, thì
chỉ biết có chính mình, chẳng
biết có kẻ khác, chỉ biết gìn
giữ, vun bồi, chăm lo, yêu mến cái thân
máu thịt bé tẹo, chẳng biết khôi
phục sung mãn lượng pháp giới
rộng lớn! Tâm nhỏ tí mà! Hoặc
là nói: “Hoàng Bá có hiệu là Thô
Hạnh Sa-môn, chẳng phải là nói Ngài
gan to đấy ư?” Ôi! Vẽ hổ vụng về,
chẳng thành hổ, mà giống như chó!
Nói là “gan to”, tôi
chỉ sợ chẳng thành Thô Hạnh Sa-môn,
mà thành gã tăng vô lại đấy thôi,
há chẳng cẩn thận ư?
* Dùng cỗ Thái
Lao tế Khổng
Tử
Hán Cao
Đế (Lưu Bang) đi qua đất Lỗ, bèn
dùng Thái Lao[131]
để tế Khổng Tử, sử quan chép
lại [chuyện
này] và khen ngợi. Điều này
có hai ý: Một là sau khi vua Tần hung bạo
đốt sách, chôn Nho sĩ, [vua Hán] bèn có
cử chỉ ấy. Hai là Cao Đế cố nhiên
là kẻ làm chúa, nhưng đâu có
chuộng Thi, Thư, lại từng hủy mũ Nho,
làm nhục Nho sĩ, mà có cử chỉ
ấy; cho nên đặc biệt khen ngợi
chuyện ấy (chuyện tế Khổng Tử).
Xét theo đạo đức của Khổng
Tử, thì Ngài hiền như vua Nghiêu, vua
Thuấn, xứng với trời, đất,
còn hơn cha mẹ, dẫu nấu rồng, quay
phượng, hầm voi, nướng cá kình, vẫn chẳng
đủ để để đáp đền
một phần vạn ân đức, huống hồ [cúng bằng] một
con vật có sừng, lông hoe ư? “Đông lân
sát ngưu, bất như Tây lân chi dược
tế” (láng giềng bên Đông giết trâu,
chẳng bằng láng giềng bên Tây cúng
cỗ chay), kinh Dịch đã giáo huấn rõ
ràng. Lễ nghi mà chẳng sử dụng
đúng vật, thần sẽ nhổ ra, huống
hồ thánh nhân ư? Vận dụng theo lệ ấy
để suy ra, sẽ
biết được những điều
khác. Tiếc là từ xưa đến nay,
cứ noi theo đã lâu, chẳng thể vãn
hồi được!
* Phật và Nho chê bai
lẫn nhau
Từ
xưa, nhà Nho chê bai Phật, người theo
Phật cũng chê bai Nho. Tôi cho rằng: Khi Phật
pháp mới truyền vào Trung Quốc,
người sùng Phật đông đảo, nhà
Nho lo cho thế đạo, chê bai Phật cũng chưa
quá đáng. Do nhà Nho đã chê Phật,
người ngờ đạo Phật đông
đảo, người theo Phật lo cho đạo
xuất thế, chê ngược lại [đạo Nho]
cũng chưa đến nỗi quá đáng. Cho
tới sau khi Phó Duyệt, Hàn Dũ bài
bác Phật, kẻ đời sau lại bắt
chước theo bài bác, bèn thành quá
đáng. Vì sao vậy? Mây đã che mặt
trời, chẳng cần phải tạo thêm
khói, sương mù. Cho tới sau khi Minh
Giáo, Không Cốc bài bác Nho, người
đời sau lại bắt chước
bài bác, bèn thành quá đáng. Vì
sao vậy? Mặt trời đã phá tan
tối tăm, cần gì phải tạo thêm
đèn, đuốc?
Cứ xét theo
sự thật để luận thì Nho và
Phật chẳng hại lẫn nhau mà là
giúp đỡ lẫn nhau. Thử nêu đại
lược: Phàm kẻ làm ác, có khi
trốn tránh khỏi pháp luật lúc còn
sống, vẫn sợ đọa địa ngục
nơi thân sau, bèn sửa ác, tu thiện. Đó
là Phật ngầm giúp cho chỗ chưa thấu
đến trong sự giáo hóa của
vương đạo. Tăng thì nếu chẳng
thể dùng Thanh Quy để bó buộc, do
sợ hình phạt [trong pháp thế gian] mà
chẳng dám luông tuồng, đó là
Nho đã rành rành giúp chỗ chẳng
thấu đến trong Phật pháp. Nay Tăng chỉ
lo Phật pháp chẳng thịnh, chẳng
biết Phật pháp quá thịnh thì chẳng phải là
phước của Tăng, bèn đè nén
đôi chút, thì Phật pháp sẽ
được tồn tại lâu dài trong cõi
đời, chính là vì lý do này.
Biết điều này thì hai đằng
sẽ chẳng chê trách nhau, mà ngược
lại sẽ tán thán lẫn nhau!
* Háo danh
Con
người biết cái hại do ham lợi,
nhưng chẳng biết cái hại do háo danh
càng quá đáng hơn! Sở dĩ
chẳng biết là vì cái hại do ham
lợi thô thiển, dễ thấy, còn cái
hại do danh thì vi tế, khó biết. Vì
thế, kẻ hơi biết là mình ham lợi,
sẽ dễ coi thường lợi. Còn
đối với danh, chẳng phải là
bậc đại hiền, đại trí, sẽ
chẳng thể tránh khỏi. Nghĩ đến
lập danh, sẽ cố làm những chuyện
quỷ dị. Muốn giữ gìn danh tiếng,
sẽ gian dối tính toán che đậy. Suốt
đời nhọc nhằn vì danh chẳng
ngơi, há rảnh để đối trị thân tâm
ư? Xưa kia, có một vị lão túc
bảo: “Cả cõi đời chẳng có
ai không háo danh”. Do vậy, thở dài
sườn sượt. Trong những
người hiện diện, có một
người nói: “Đúng như lời Ngài
dạy, kẻ chẳng háo danh chỉ có
một mình Ngài mà thôi!” Vị lão
túc vui sướng, hết sức hoan hỷ,
hớn hở, chẳng biết đã
bị kẻ đó chơi khăm! Cái ải danh
vọng khó phá như thế đó!
* Lương Vũ Đế
Trong
Chánh Ngoa Tập, tôi đã biện minh lời vu
vạ về chuyện Vũ Đế chết
đói, nhưng vẫn chưa nhắc đến
các chuyện khác, như dứt ăn thịt,
ăn chay, bị mọi người cười
cợt: “Ngay cả như ông lão nơi rẫy
bái dốc sức cấy cày trở nên giàu có, còn
có thể hưởng thụ thỏa thích
bụng miệng, sao nhà vua chẳng biết tự mình
ăn những thứ ngon quý muôn phương?” Vua dùng
sợi mì thay cho các con vật để
cúng, mọi người chê cười: “Kẻ
sĩ đỗ hạng nhất còn muốn [mổ
trâu bò cúng tế] để xin tổ tiên ban ơn,
coi đó là vinh sủng (được ân vua
sủng ái vẻ vang), sao nhà vua chẳng
biết chính mình là thiên tử cao quý?” Phán
[kẻ có tội lãnh] án tử hình, vua ắt
ứa lệ, mọi người cười
cợt: “Nhà
vua xuống xe khóc trước kẻ có tội
‘một
người có tội là do ta hãm hại’, sao
nhà vua chẳng biết [toàn quyền] sanh
sát theo lòng mong muốn?” Riêng chuyện vua xả thân
làm tăng ở chùa, đã đánh
mất cái Thể của người làm vua,
bởi vua có tín mà chẳng có
huệ, kiến giải chẳng sáng suốt. Do
vậy, khinh thân trọng pháp, câu nệ thái quá!
Hơn nữa, từ
đời Tấn, Tống đến nay, đua nhau coi
Thiền Quán là cao, chẳng biết có
chuyện hướng thượng. Vì thế, vua
gặp đại pháp của Đạt Ma mà
chẳng khế hội, đó là điều
đáng tiếc. Nếu vì vua mất
nước mà chê trách vua thì không
được! Lỗi của Vũ Đế là
lỗi do nhân từ. Vũ Đế có ḷng từ, nhưng do ḷng
từ mà phạm lỗi. Há nên luận
định nhà vua giống như Trần Hậu
Chủ, Châu Thiên Nguyên[132]?
Nếu do vua thờ Phật mà chê gièm thì
đó là điều tôi chẳng biết
được!
* Hoa vương sở
Trong
núi có loài hoa, cùng gốc, cùng cành,
mà hoa chia thành lớn, nhỏ. Lớn
thì như hoa mơ, hoa mận, mọc giáp vòng
ở phía ngoài. Nhỏ thì như hoa
quất, hoa quế, chen chúc ở trong. Ở bên
ngoài thì chừng tám hoa, ở bên trong
thì hơn trăm đóa. Dân trong núi không ai cho
là lạ, cũng chẳng biết tên hoa này.
Tôi trông thấy, lấy làm lạ.
Vì cùng là hoa mà có lớn, nhỏ
sai khác, nên là lạ. Lớn ở bên
ngoài, nhỏ tụ tập ở bên trong, lại
càng lạ hơn. Do vậy, đặt tên là
Vương Sở. Lớn là tâm vương,
nhỏ là tâm sở. Tâm vương có tám,
hoa ở bên ngoài trổ theo số đó. Tâm
sở có năm mươi mốt món, hoa bên
trong theo số đó. Con số tám hoa ở bên
ngoài có thể tăng, giảm, nhưng thông
thường là tám hoa. Hoa bên trong thì luôn
gấp bội con số gốc (số lượng
các tâm sở). Tâm sở tuy có năm
mươi mốt món, nhưng chia nhỏ ra, sẽ
là vô tận. Tâm vương ở bên ngoài, tâm
sở ở bên trong. Vương có thể
nhiếp Sở, Sở chẳng thể nhiếp
Vương. Vương trổ năm tua, mà Sở
cũng trổ năm tua, nhưng đối với
năm tua ấy, Vương là tua đơn, còn
Sở là tua kép. Hoa bên ngoài nở
trước, hoa bên trong nở muộn hơn,
[giống như] Tâm Vương là gốc, Tâm
Sở là ngọn. Ẩn tàng đã lâu, nay
mới hiển lộ, nói chung là do thời
tiết nhân duyên.
Chắc có kẻ
nói: “Hoa ấy chẳng đẹp đẽ,
đốt lên thì mùi khói làm
người khác khó chịu, tiều phu chê
chẳng đẵn củi, có gì là
lạ?” Than ôi! Đấy chính là lý do khiến
cho nó lạ. Trang Tử quý cây Xư[133]
vì chẳng thể dùng gỗ nó để
làm vật dụng. Tuy chẳng dùng làm
vật dụng, người ta lấy gỗ Xư làm
củi. Nay thân loại
hoa này chẳng thể làm củi, tức
là thứ tột bậc vô dụng trong thiên hạ!
Kinh Dịch nói “phì độn” (肥遯, ẩn
cư lánh đời, cơm no áo ấm,
tự hưởng lạc thú) là nói
về điều này đấy chăng?
* Đạo này
Xưa kia
có người nói: “Tuy có xe bốn
ngựa kéo trước rồi hai tay ôm ngọc bích,
chẳng bằng tăng tấn nơi đạo
này”. Do vậy, tôi suy rộng ra rằng:
Há chỉ là xe bốn ngựa kéo, ôm ngọc
bích, dẫu làm vua thiên hạ, vẫn chẳng
bằng tăng tấn nơi đạo này! Há
chỉ làm vua một thiên hạ, dẫu là kim luân
thánh vương vua cả tứ thiên hạ,
vẫn chẳng bằng tăng tấn nơi
đạo này. Há chỉ là vua tứ thiên
hạ, dẫu làm vua trời Đao Lợi,
Dạ Ma, cho đến làm vua cả đại thiên
thế giới, cũng chẳng bằng
tăng tấn nơi đạo này. Nhưng xưa kia
nói “đạo này”, tức là nói
đến đạo trường sanh cửu
thị (vĩnh viễn trường sanh chẳng
già). Nay đầu tròn, áo vuông,
được gọi là Thích Tử,
phải nên tăng tấn nơi đại đạo Vô
Thượng Bồ Đề, chứ
ngược ngạo hâm mộ phú quý trong nhân
gian, tôi chẳng biết đó là cái tâm
như thế nào nữa?
* Thân kim sắc
Tán
thán thân Phật kim sắc, chính là chọn
lấy ý nghĩa gần giống, chẳng
phải thật sự là vàng như
người đời đã nói. Vàng
cõi trời, bạc cõi trời so với
vàng thế gian và bạc thế gian giống
như mỹ ngọc so với đá cuội,
hơn kém tự rành rành. Nhưng vàng
cõi trời còn chưa đủ để
sánh ví Phật, huống hồ vàng thế gian
ư? Thân Phật tinh túy, vi diệu, rạng
rỡ, trong suốt,
mắt phàm phu chẳng thể thấy
được, chớ nên không biết! Như nay
dùng đất, gỗ tạc tượng, trang
hoàng bằng các miếng vàng, nếu cho
rằng thật sự sắc tướng
của Phật cũng chỉ là như thế thì
sai mất rồi!
* Xuất gia, tâm thôi mong muốn khó lắm
Đời
người lạnh thì nghĩ tưởng
áo, đói thì nghĩ tới ăn,
đối với chỗ ở thì mong
ở yên, đối với vật dụng thì
mong đầy đủ, có con trai thì mong
cưới vợ, có con gái thì mong
gả chồng, đọc sách thì mong
tước lộc, kinh doanh thì mong đạt
tới giàu có, luôn luôn chẳng buông
xuống được. Người dũng
mãnh xuất gia là vì không có những hệ
lụy ấy, nhưng vẫn có y hệt đủ
loại ý niệm chẳng quên thì xuất gia
quý ở chỗ nào? Đức Phật
dạy: “Thường tự ma đảnh,
dĩ xả sức hảo” (Thường
tự xoa đầu để bỏ các
thứ trang sức đẹp đẽ). Há
chỉ trang sức đẹp đẽ, hãy
thường tự xoa đỉnh đầu
nhủ “ta là tăng”, nhanh chóng bỏ muôn duyên,
nhất tâm nghĩ tới đạo.
* Tơ tằm (1)
Sát
hại tánh mạng của tằm đã
nhiều lại tàn khốc, cõi đời
chẳng ngăn cấm, cứ nói trên là thiên
tử, trăm quan còn dùng [tơ lụa]
làm triều phục, dưới là
người dân quê dựa vào đó làm
kế sanh nhai. Thế nhưng, từ thời
cổ chẳng có tằm, ắt sẽ
đành dùng vải mà thôi. Nếu là kế
sanh nhai, dân
chẳng nuôi tằm chiếm chín phần
mười, dân nuôi tằm là một phần
mười, chưa thấy người
chẳng nuôi tằm đều chết đói.
Nếu nói: “Phu tử vì sao bỏ gai để
dùng lụa?” Ấy là vì trong thời phu
tử, lụa được sử dụng
đã lâu, đỡ tốn công hơn dùng gai,
phu tử đành thuận theo, vì biết
tập tục khó lòng thay đổi! Hơn
nữa, vua Vũ áo quần rách
rưới mà mũ miện đẹp đẽ.
Mũ miện dùng lụa, các thứ khác
ắt đều chẳng dùng, có thể
biết ý Ngài vậy!
* Tơ
tằm (2)
Kinh
Dịch chép: “Phục Hy tác kết thằng
nhi vi võng cổ, dĩ điền, dĩ ngư”
(Phục Hy thắt dây làm lưới rập,
làm ruộng, đánh cá). Sao thánh nhân nêu
gương cho kẻ sát sanh? Từ cổ không
có ai biện định [chuyện này]. Gần
đây, ông Vương Hòe Đình[134]
quả quyết: “Đời hồng hoang, chim,
thú, cá, rùa tổn hại mùa màng
của dân. Lưới rập nhằm trừ
những con vật gây hại cho dân, chẳng
phải là bắt chúng để ăn”.
Cách hiểu ấy không chỉ bảo toàn sanh
mạng của loài vật, lay tỉnh cõi
đời mê muội, mà cũng có công
đối với các bậc cổ thánh.
Nhưng sử nói nguyên phi của Hoàng
Đế là Tây Lăng Thị[135]
dạy dân nuôi tằm, vậy thì cách ấy
nói sao cho suông? Tôi nghe nói có loài tằm
hoang, có thể nhả tơ trên cành cây, gỡ
lấy sẽ chẳng phiền luộc kén. Tôi cho
rằng cách Tây Lăng Thị dạy dân có
phải là nói về tằm hoang đấy
chăng? Tằm nuôi trong nhà có thể là do
người đời sau tự sáng
chế ra, chứ chẳng phải xuất phát
từ Tây Lăng Thị? Nếu không, Thành Thang
mở ba mặt lưới để
mở đường sống cho các con
vật, còn Hoàng Đế bỏ hết vào
vạc chẳng bỏ sót. Tức là
Thành Thang mở lưới, Hoàng Đế
một lưới bắt trọn hết.
Hoặc là nói: “Tô Đông Pha bảo: -
Đợi con ngài chui ra khỏi kén rồi
mới kéo tơ thì chẳng có
nghiệp giết nhộng”. Chẳng biết con
ngài chui ra khỏi kén thì sợi kén
chỗ đứt, chỗ liền, chẳng thể
dùng làm tơ được, chưa chắc
là Đông Pha đã nói lời ấy.
* Ông Lã Văn Chánh
Ông Lã
Văn Chánh[136]
đã quý hiển, làm thừa
tướng. Khi được chúa
thượng ban thưởng, đều phong
kín chẳng dùng. Vua biết, hỏi nguyên do, ông
thưa: “Thần có ơn riêng chưa đền
đáp”. Ấy là vì thuở hàn vi, ông
chịu ơn của một ngôi chùa. Nay đồn
rằng lúc trẻ ông nghèo rớt,
đọc sách trong một ngôi chùa, đợi
chư tăng thọ trai thỉnh chuông, sẽ đến
ăn ké. Tăng chán ngán, ăn xong mới
thỉnh chuông. Ông đến, hết sức cùng
quẫn, đề trên vách rằng: “Mười
lần ăn ké, chín lượt không, xà-lê
ăn xong mới thỉnh chuông”. Ông thi đỗ,
chư tăng dùng vải sa bọc bài thơ
ấy. Ông đến chùa, viết tiếp: “Hai
mươi năm trước mặt lem bụi, nay
mới trông thấy vách bọc sa”. Nếu theo
thuyết trước thì tăng hiền cỡ
nào, nếu theo thuyết sau thì tăng chẳng
ra gì cỡ nào? Nếu vu hãm, oan uổng người
hiền, sẽ thành khẩu nghiệp, nhưng
lời đồn đại trong cõi
đời phát xuất từ dã sử,
rạp tuồng, sợ là chẳng đáng
tin!
* Học đạo chẳng
có cầu may hay khuất lấp
Kẻ cầu danh trong thế gian,
có kẻ học chưa thành mà danh đã
thành; đó gọi là “may mắn”, vì
chẳng đáng đạt được
mà đạt được. Có
người học thành mà danh chẳng
thành, đó gọi là “khuất lấp”, do
đáng đạt được mà
chẳng đạt được. Vì thế
nói bọn ta thi đỗ, Lưu Phần[137]
thi trượt, đó gọi là “may
mắn” và “khuất lấp”. Học đạo
chẳng phải vậy, chưa hề có
danh treo ở rừng núi, thân đã rong
ruổi nơi triều đình, phố thị,
nhởn nhơ, tung tăng, một nóng
mười lạnh, mà thành đạo
nghiệp; cũng chưa hề có trường
hợp khổ chí, tận lực hành,
dốc cạn tinh thần, chẳng lùi,
chẳng nghỉ, lấy ngộ làm chuẩn,
nhưng đạo nghiệp chẳng thành!
Bởi lẽ, cầu danh ở nơi
người, cầu đạo tại nơi mình.
Người học đạo chỉ nên quyết tâm
tinh tấn mà thôi, đừng ôm lòng cầu may,
đừng lo bị oan uổng, khuất lấp!
* Trước thuật
hãy nên thực hiện vào lúc tuổi
già
Người
tu đạo trước thuật, chẳng
giống như [trước tác] từ
chương, truyện ký trong thế gian! Trên là
xiển dương tâm pháp của cổ Phật,
dưới là mở cửa ngộ cho
hậu học, mối quan hệ ấy chẳng
nhỏ. Nếu học vấn chưa tinh, kiến giải
chưa vững, có thể phạm sai lầm,
sẽ gần như là cô phụ cổ Phật,
khiến cho hậu học bị lầm lạc. Trọng
Ni (Khổng
Tử) ba lượt đứt dây buộc
sách, Thập Dực[138]
mới thành. Hối Am (Châu Hy) lâm chung vẫn sửa
đổi ý chỉ “thành ý” của
sách Đại Học. Cổ nhân thường
là thận trọng như thế, huống hồ
luận định lời lẽ xuất thế,
há dễ dàng ư? Thanh Long Sao khi [ngài
Đức Sơn Tuyên Giám] chưa gặp Long
Đàm [Sùng Tín], được gọi
là “sách chẳng thể sửa đổi
được”, rốt cuộc phó cho ngọn
đuốc! Diệu Hỷ lúc mới được
ấn chứng, nếu Ngài tự cho là
trọn đủ, sao có chuyện như ngày sau?
Tuổi trẻ trước thuật, cố nhiên là
hãy nên từ từ đã!
* Cơ duyên
Thạch
Đầu bái yết Lục Tổ, Tổ biết
cơ duyên của Thạch Đầu chẳng tại
nơi Ngài, chỉ bảo Thạch Đầu
gặp Thanh Nguyên, [Thạch Đầu] bèn
đại ngộ. Đơn Hà bái yết Mã
Tổ, cũng lại do [Mã Tổ] biết cơ duyên
[của Đơn Hà] chẳng ở chỗ
Ngài, chỉ bảo Đơn Hà đến
gặp Thạch Đầu mà [Đơn Hà]
được đại ngộ. Cho đến Lâm
Tế bái yết Hoàng Bá mà [được
chỉ dạy đến] gặp Đại Ngu,
Huệ Minh từ chỗ Hoàng Mai (Ngũ Tổ
Hoằng Nhẫn) mà gặp Tào Khê (Lục
Tổ Huệ Năng), đều là như thế. Lại
còn chẳng riêng như vậy, người
mà đức Phật chẳng thể
độ, lại
đắc độ bởi ngài Mục
Liên, cũng do cơ duyên khiến thành ra như
vậy. Vì thế, người học gặp
gỡ chân thiện tri thức, cần phải nên
dấy lòng kính tin to lớn. Đời
này, đời mai sau đều lấy đó
làm cầu, bến, chớ nên khinh mạn
để luống qua thì mới
được!
* Bát Nhã (1)
Đất
có thể làm mục nát vật,
nước có thể làm rữa vật,
ắt có tàn chất lưu lại, cho
đến khi bị chôn vùi, ngâm đẫm rồi
mới bị tiêu diệt. Như lửa đốt
vật, khoảnh khắc
bèn thành tro tàn. Do vậy, ta
biết trí Bát Nhã như đống
lửa lớn, các dòng nước tham
ái bị ép bức liền khô cạn, các
củi phiền não chạm đến đều
bị đốt, các hòn đá ngu si rơi
vào đều bị tiêu tan, các rừng rậm
tà kiến, các nhà cửa chướng
ngại, đủ loại tạp vật như các
vọng tưởng tình thức đều
cháy hừng hực, chẳng còn
thừa sót. Cổ nhân nói thái mạt
trùng[139] chỗ
nào cũng đều đậu được,
chỉ chẳng thể đậu vào ngọn
lửa, nhằm sánh ví cái tâm chúng
sanh chỗ nào cũng đều có thể duyên,
chỉ chẳng thể duyên nơi Bát Nhã.
Vì thế, người học đạo
chớ nên đánh mất trí Bát Nhã
trong một sát-na.
* Bát Nhã (2)
Tôi bị
bệnh ở chân, đi lại ắt phải
nhờ vào kiệu. Một chiều, trời
vừa sụp tối, người khiêng kiệu say
rượu,
trượt chân, kiệu đổ
nhào, liền có mấy gã đàn ông giơ
tay giặt lấy mũ của tôi, chắc họ
cho rằng người ngồi bên trong chắc
có tiền bạc hay của báu trang sức trên
đầu. Giật được rồi, họ
hết sức hổ thẹn, chạy lẹ. Tôi do
vậy biết trí Bát Nhã như vầng
mặt trời to lớn. Mặt trời
vừa mới lặn thì đạo
tặc, kẻ gian xuất hiện; sự chiếu
sáng chân thật vừa mới thưa thớt
thì vô minh phiền não bèn trỗi dậy. Tiên
đức nói: “Tạm thời chẳng
tồn tại giống như người chết”.
Vì thế, người học đạo
chớ nên đánh mất trí Bát Nhã
trong một sát-na.
* Bát Nhã (3)
Kinh
dạy: “Thử nguyệt trữ thủy tại
khí, nhất túc tức hữu trùng sanh,
đản cực vi tế, phi phàm mục
sở năng đổ. Cố lự thủy nhi
hậu dụng. Nhược thủy tại hỏa
thượng, hỏa bất tức, thủy
bất lãnh, tắc trùng bất sanh”
(Tháng nóng chứa nước trong
đồ đựng, qua một đêm liền có
trùng sanh ra, nhưng cực vi tế, mắt
phàm phu chẳng thể trông thấy. Do vậy,
phải lọc nước rồi mới dùng.
Nếu đặt nước trên lửa,
lửa chẳng tắt, nước
chẳng lạnh, trùng sẽ chẳng sanh). Do
vậy, tôi biết trí Bát Nhã như lửa
đun nước, quán chiếu hừng
hực chẳng ngơi, ôn dưỡng miên
mật chẳng gián đoạn, những
cái tâm mong ngóng, xen tạp phiền não sẽ
từ đâu mà sanh cho được? Do vậy,
người học đạo chẳng thể
đánh mất trí Bát Nhã trong một
sát-na!
* Thiên Thai Chỉ Quán
Trong môn
Trị Bệnh của sách Chỉ Quán, có
nói những câu “lục tự khí, chú
tâm, nhìn xuống”[140]
v.v… Bởi lẽ, đạo Chỉ Quán rộng
rãi không gì chẳng bao trùm, tức
là cách trị bệnh cũng được
bao gồm trong ấy, phần lớn có cùng
ý nghĩa như uống thuốc, tức là
dùng Chỉ Quán để thay cho thuốc.
Những đầu mối khác trong sách Chỉ
Quán chẳng phải là ý chỉ chánh
yếu của Chỉ Quán. Người
đời sau chẳng biết ý này,
những nhà dưỡng sanh bèn viện
dẫn [những
điều ấy] làm căn cứ. Do vậy,
có chuyện đặt tên hoa mỹ bên ngoài
là Thiền, nhưng bên trong là tu Đạo
thuật. Hỏi ra, họ viện cớ là
phát xuất từ ngài Thiên Thai, cho nên tôi phải
biện định.
* Nhìn cảnh bận
rộn
Cõi
đời có người gia nghiệp
đã lo liệu xong, vào ngày cuối năm,
ngồi yên thấy người nghèo tất bật
vì cơm áo, gọi là “khán mang” (看忙, xem cảnh
bận rộn). Đời có người
đã đỗ đạt, trong ngày đại
tỷ (大比, chỉ
khoa thi Hương), ngồi yên thấy kẻ sĩ
tất bật thi cử, cũng gọi là “khán
mang”. Riêng chẳng nói tới cõi
đời có người đã phá
Hoặc, trí thành tựu, việc làm
đã xong, ngồi yên thấy chúng sanh trong sáu
đường tất bật luân hồi sanh
tử, chẳng gọi là “khán mang”
ư? Ôi! Cả cõi đời đang bận
rộn, ai là người xem cảnh bận rộn?
Cổ nhân nói: “Lão tăng tự có
cách an nhàn”. Cách an nhàn ấy há
dễ dàng ư? Tuy vậy, người
đời do nhàn mà xem cảnh bận rộn,
có cái tâm tự mình kiêu căng,
chẳng có tâm thương xót người
khác. Bồ Tát thấy kẻ khác bận
rộn, khởi tâm đại từ bi, giác
ngộ trọn khắp quần mê, mong cho họ
cùng được giải thoát. Hai cái tâm
khác hẳn nhau; do vậy, phàm, thánh,
lớn, nhỏ
khác biệt.
* Biện Dung
Tôi lên kinh
đô, có hơn hai mươi người cùng
đi, đến chỗ thầy Biện Dung[141]
tham lễ, thỉnh ích (請益, thưa
hỏi pháp yếu). Ngài Biện Dung dạy môn “dùng
không tham lợi, không cầu danh, chẳng
nắm níu kẻ sang quý, yếu nhân; chỉ
nhất tâm tu đạo”. Lúc rời đi,
có mấy kẻ trẻ tuổi cười
nói: “Tôi cho là sẽ nghe được
điều khác lạ, hóa ra chỉ là lời
lẽ chung chung!” Tôi nói: “Chẳng phải vậy!
Đấy chính là chỗ đáng kính
của ông cụ này. Dù cụ ăn nói
lắp bắp, há chẳng thể
nhặt nhạnh một hai cơ duyên vấn
đáp của tiên đức để che lấp
cửa nẻo (ý nói giấu diếm khuyết
điểm)? Nhưng cụ chẳng làm vậy,
cụ nói những điều chính mình
đã thực hiện, nêu ra sự thực
hành của chính mình để dạy
người khác. Đấy chính
là bậc thiền hòa[142]
chân thật, chớ nên coi thường!”
* Thiền, Giảng, Luật
Cổ nhân
gọi Thiền, Giảng, Luật là Tam Tông. Chùa
của người học [mỗi tông ấy], áo
người ấy mặc, cũng đều
khác biệt. Như tại quận của tôi thì
Tịnh Từ, Hổ Bão, Thiết Phật v.v…
là Thiền tự. Tam Thiên Trúc, Linh Ẩn,
Phổ Phước v.v… là Giảng tự. Chiêu
Khánh, Linh Chi, Bồ Đề, Lục Thông v.v… là
Luật tự. Áo thì người học
Thiền màu nâu, người học Giảng
màu lam, người học Luật màu đen. Lúc tôi
mới xuất gia, vẫn thấy y gồm ba
sắc, nay thì đều thành màu đen.
Các chùa Thiền và Luật đều thành
Giảng. Than ôi! Tôi chẳng biết rốt cuộc
như thế nào!
* Đồ cổ lọt
vào tay tôi
Người
hiện thời một cái “di” (彝,
lọ đựng rượu
bằng đồng xanh để tế lễ),
một cái “anh” (罌,
cái vò nhỏ bụng to, miệng thót lại), một
quyển sách, một bức họa xa xưa từ
thời thượng cổ, hoặc phát
xuất từ các danh gia, suốt đời hâm
mộ mà chẳng thể có
được. Một khi có được,
sẽ mừng rỡ quá lòng mong mỏi, vui
vẻ, tự nhủ: “Thứ này vốn là
do nơi này nơi kia thay nhau cất giấu, trân
quý, nay may sao lọt vào tay ta!” Chưa
từng nghĩ tới thứ chí bảo từ
bao đời lâu xa trước khi nào sẽ lọt
vào tay ta? Huống hồ đồ cổ ngoạn trong
cõi đời ở bên ngoài, có cầu
chưa chắc đạt được, còn của
chí bảo ở tại
nơi ta, hễ cầu bèn được, mà
cũng chẳng hề nghĩ đến!
* Ngộ đạo khó,
hành thiện dễ
Đang
trong đời ác ngũ trược này,
kèm thêm túc tập nhiều đời, muốn
đoạn vô minh Hoặc, ngộ bổn tâm của
chính mình, thì trong ngàn vạn
người, hiếm được một hai
người, cũng không có gì là lạ!
Còn như chẳng làm ác mà làm
lành, đấy cũng là chuyện dễ,
nhưng kẻ cam tâm bất thiện, tôi chẳng
biết là cái tâm như thế nào? Lại
như ba nghiệp thân, khẩu, ý, muốn khiến cho
nhiếp ý bất động, xuất nhập không
có lúc nhất định, dấy lên hay diệt
mất vô hình, định lực khó thành,
cũng chẳng có gì là lạ! Còn
như chế phục cái thân chẳng làm
ác, chế phục cái miệng chẳng
thốt lời ác, đấy vẫn là
chuyện dễ, chứ cam đành để thân,
miệng ác, tôi chẳng biết là cái tâm
như thế nào!
* Coi trọng sự
hứa khả
Cổ nhân
chẳng dễ dãi hứa khả, ắt
phải suy xét lẽ chân, vạch trần lẽ
ngụy rồi mới thốt lời, như
người tán thán Viên Giác Sớ
đã nói: “Là một trong tứ y
đấy chăng? Hoặc là đích thân nghe
Tịnh Độ đó chăng? Sao
có thể trọn hết nghĩa vị như thế
ấy?” Cho đến tán thán Viễn công (tổ Huệ Viễn) là “Đông
phương hộ pháp Bồ Tát”. Ngài
Triệu Châu tán thán ngài Nam Tuyền là “cổ
Phật”, tán thán ngài Ngưỡng
Sơn là “tiểu Thích Ca”, tán thán
ngài Thanh Lương là “hậu thân của Văn
Thù”, ngàn đời sau chẳng có ai
dị nghị. Vì sao? Lời chân thật,
chẳng phải là những lời sáo
rỗng siểm nịnh khi chúc thọ, hoặc a
dua trên bia mộ, hoặc lời chúc
mừng khi [quan viên] được thăng
chức, tô vẽ cho đẹp mặt như
người hiện thời: Chép
vào trong sách, khắc lên kim loại hay
đá, hòng tạo niềm tin cho người
đương thời, lưu truyền cho hậu
thế, khen ngợi rỗng tuếch [người
được khen phẩm hạnh] bằng
Phật, bằng tổ! Ôi! Tuy chẳng thể
dối gạt huệ nhật được, nhưng
đối với kẻ học chưa thông hiểu
thì chưa chắc đã không bị lầm
lẫn!
* Ao phóng sanh
Tôi làm
ao phóng sanh, có kẻ ngờ vực cho
rằng cá bị hạn cuộc trong ao, chen
chúc, chật chội, chẳng có lạc
thú được vùng vẫy, chẳng
bằng thả chúng trong hồ, hoặc hộ
trì một đoạn sông thuộc quyền quản
trị của nhà cầm quyền, cấm ngặt
đánh cá, cũng là “chẳng phóng
mà là phóng”. Tôi nói:
- Cách nói ấy
cũng hay, nhưng so sánh sự lợi hại
giữa ao, hồ và sông, đại lược
cũng tương đương. Ao tuy chật hẹp, nhưng
người giăng lưới quăng chài
chẳng vào được. Hồ tuy rộng,
ngày đêm đánh bắt. Ngõ hèn tuy
nghèo nhưng vui sướng, vườn Kim
Cốc tuy giàu nhưng lo âu[143];
cho nên lợi hại như nhau. Hơn nữa, sông
thuộc quyền quản lý của chánh quyền
ngăn cấm hữu hạn, các loài cá ra
vào không nhất định: Có khi từ bên
ngoài vào vùng cấm, có khi từ trong
vùng cấm lọt ra ngoài, vượt khỏi
vùng cấm sẽ gặp nguy, chẳng bằng
ở trong ao vĩnh viễn chẳng thoát
khỏi vùng ngăn cấm. Vì thế, lợi
hại bằng nhau. Lại còn ngờ [cá
nhốt trong ao] chẳng có lạc thú
được vùng vẫy, thì có một
thí dụ: Vị tăng bế quan ở trong
một căn phòng, kinh hành xoay vòng trong
đó, tùy ư trăm
ngàn dặm chẳng cùng, tự
được thong dong, há có phải là
chẳng hoạt bát ư?
Lại có một thí
dụ: Nay may mắn được sống trong thuở
thanh bình, dân chúng trong thành coi cửa
thành đóng mở là trở ngại.
Một mai giặc cướp ép sát
vùng ấy, có thành thì sẽ yên ổn, hay
chẳng có thành là yên ổn? Kẻ
đánh cá ví như giặc, ao ví
như thành, người dùng thành
để bảo vệ, há hạn cuộc chi? Đối với cá, cứ
suy ra là có thể biết vậy!
* Thôi Thận cầu con
Xưa kia,
Thôi Thận không có con. Có vị tăng dạy ông
đưa vợ đã trang điểm thật đẹp
đẽ vào chùa cúng trai tăng, tìm
vị tăng nào hoan hỷ tiếp nhận, kiền
thành phụng cúng trọng hậu, mong [vị
Tăng ấy sẽ xả thân] sanh vào nhà ông ta.
Phàm người xuất gia sẽ vượt
thoát tam giới, thành đạo, độ
sanh, [thế mà ông Thôi] lại tạo lồng cạm
ấy để lôi kéo. Kẻ chẳng có tâm
xuất thế thì còn được,
chứ nếu khiến cho một người chân
thật tu đạo đọa lạc, cái hại
sẽ khôn kể xiết! Thôi Thận và vị Tăng
ấy đều mắc tội, mà tội của
vị tăng [xúi giục ông ta] càng nặng
hơn. Khổ thân cho vị tăng đó, sao
chẳng dùng lời thuộc về
đường lối cầu con chánh đáng
để bảo ban?
* Không con chẳng
đáng lo
Người
đời lo rầu vì không có con,
người phú quý càng hết sức
lo rầu. Chắc có kẻ nói: “Không gì
bất hiếu lớn bằng chẳng có
người nối dõi, sao không lo rầu cho
được?” Tôi nói:
- Đúng lắm!
Ý nghĩa trong lời nói của cổ nhân
rõ ràng là nói “chẳng cưới,
chẳng có con”, chẳng phải là
nói “cưới
vợ mà không có con”. Cưới vợ
mà không có con, có tội gì đâu? Ngay
như đế vương thống trị cả
ức triệu người, chẳng phải
là không có sức cưới thê, nạp thiếp,
chẳng phải là không có phương sĩ,
kỳ nhân dâng thuốc men, nhưng rốt cuộc có
vị trọn chẳng có người nối
dõi. Đó là mạng, cho nên chẳng
đáng lo rầu! Có chuyện đáng
để lo là làm nhiều chuyện bất
nghĩa, đoạt những thứ sở
hữu của người khác, dứt
tuyệt con cháu của người khác, chia
lìa cốt nhục của người ta,
ngược đãi, ép buộc con cái
của người khác làm tôi tớ cho
mình, đủ loại âm hiểm, thảm độc,
đều là cái nhân không con. Đó là
điều đáng lo. Chẳng tạo những
cái nhân ấy mà không có con, tức là
mạng, chẳng phải lỗi của ta, cho nên chẳng
đáng lo!
* Hậu thân (1)
Sách
Tán Tây Phương có chép hậu thân của
Giới thiền sư là Tô Tử Chiêm (Tô
Đông Pha), hậu thân của Thanh Thảo
Đường là Tăng Lỗ Công, hậu thân của
Tôn Trưởng Lão là Lý Thị Lang,
hậu thân của Nam Am Chủ là Trần Trung Tú,
hậu thân của vị Tri Tạng X… là Trương
Văn Định, hậu thân của Nghiêm Thủ Tọa
là Vương Quy Linh. Kém hơn thì Thừa
thiền sư làm con nhà họ Hàn, vị
tăng ở chùa Kính làm con nhà họ
Vương ở đất Kỳ. Lại còn
kém hơn nữa thì Thiện Mân làm con
gái của quan Tư Hộ[144]
họ Đổng, Hải Ấn làm con gái của quan
Phòng Ngự họ Châu. Lại còn quá
đáng hơn nữa là vị Tăng
ở Nhạn Đãng làm Tần Cối,
nắm trọng quyền, tạo các ác
nghiệp. Mấy vị ấy nếu chuyên ròng cầu
Tịnh Độ, sao đến nỗi ấy? Tôi cho
rằng đại nguyện đại lực
như ngài Linh Thụ đời đời
làm tăng, còn Vân Môn ba lượt làm
quốc vương, bèn đánh mất thần
thông. Trăm đời sau, như Vân Môn đã
hiếm, huống hồ Linh Thụ ư? Là
người thường, là nữ nhân,
là kẻ ác, sẽ lần lượt càng
thấp hèn hơn. Dẫu cho là các quan
đại thần nổi tiếng, cũng chẳng
thể tính kể được! Thật vậy!
Chẳng thể không sanh về Tây Phương.
* Hậu thân (2)
Hoặc
nói hậu thân của các sư là những
vị quan nổi tiếng, ví như đề hồ
hóa ngược thành tô còn
được, là thường nhân thì
là lạc, là nữ nhân thì là
sữa, cho đến là kẻ ác thì
như độc dược! Tu tập cả
đời, quả thật chẳng đủ
để trông cậy ư? Vậy thì tu có quý
báu chi? Đó là nói quá thô lược!
Phàm người tu
hành có hai lực: Một là
phước lực, giữ vững
giới hạnh, tạo đủ loại công
đức hữu vi. Hai là đạo
lực, giữ vững chánh quán,
niệm nào cũng trụ trong Bát Nhã.
Thuần là đạo lực như ngài Linh
Thụ thì hãy gác lại đó,
chẳng bàn tới. Đạo lực
hơn phước lực thì ở trong
cảnh phú quý mà chẳng mê.
Phước lực hơn đạo lực,
sẽ mê bởi phú quý, cố nhiên chẳng
thể giữ vững được. Trong số đó,
kẻ tham dục nặng sẽ là nữ nhân,
kẻ tham, sân đều
nặng sẽ thành kẻ ác. Tức là
do chỉ tu phước lực, đạo
lực sẽ chuyển thành nhẹ.
Người làm Tăng dốc tâm nơi
đạo lực, phải nên làm như thế
nào? Tuy vậy, nếu siêng tu đạo lực,
lại còn được nguyện lực
giúp, sẽ được theo sau các vị
thượng thiện nhân. Há không chỉ là
ác nhân, ngay cả là những vị đại
thần nổi tiếng cũng chẳng làm!
Đúng lắm thay! Chẳng thể không sanh
về Tây Phương!
* Hậu thân (3)
Hàn
Cầm Hổ[145]
nói: “Sống làm bậc thượng trụ
quốc[146],
chết làm vua Diêm La, đó là vinh”.
Chẳng biết Diêm Vương tuy hưởng
sự vui của vua, nhưng cũng hai thời
chịu khổ, bởi lẽ thuộc địa
vị tội và phước
đều có, chẳng phải là chuyện
tốt đẹp. Xưa kia, có một vị Tăng,
thấy quỷ sứ đến, bèn hỏi, quỷ
đáp: “Đón thầy làm Diêm Vương”.
Vị tăng hoảng sợ, dốc sức
chánh niệm chuyên ròng, quỷ sứ
chẳng đến nữa. Xưa kia có
người nói làm tăng mà chẳng
thông sáng tâm địa, phần nhiều làm linh
kỳ (thần linh) trong nước hay trên đất,
tuy chưa ắt hoàn toàn đúng như
thế, nhưng phần nào có lẽ ấy.
Vãng sanh bậc hạ còn hơn thiên cung,
trời còn chẳng làm, huống hồ
quỷ thần ư? Đúng lắm thay!
Chẳng thể không sanh về Tây Phương!
* Vương Giới
Phủ
Giới
Phủ[147] phỏng
theo Hàn Sơn làm thơ rằng: “Ta
từng làm trâu ngựa, thấy cỏ
đậu vui mừng. Lại từng làm
nữ nhân, thấy đàn ông hoan hỷ. Ta nếu
thật là ta, chỉ nên thường như thế.
Lẩn quẩn nơi biến đổi, chớ
nhận vật là mình”. Lời này
của Giới Phủ đúng là có
kiến giải, nhưng sao chẳng nói: “Ta
từng nghe lời nịnh, vào tai bèn hoan
hỷ. Lại từng nghe lời chê trách,
mất vui, sân nổi lên. Nếu ta thật là ta,
chỉ nên thường như thế. Lẩn quẩn
nơi biến đổi, đừng nhận vật
là mình”. Vậy thì ưa thích
lời dua nịnh, ghét lời chê bai, vẫn
là “nhận vật là chính mình” y
như cũ ư? Vì thế, biết người
thông minh nói Thiền chẳng khó,
đắc Thiền mới khó.
* Mừng, giận,
buồn, vui chưa phát ra (1)
Tôi
mới nhập đạo, nhớ Tử Tư (Khổng
Cấp, cháu nội Khổng Tử) coi lúc
mừng, giận, buồn, vui chưa phát là
Trung, ngỡ cái Trung ấy chính là chính
mình trước lúc không kiếp. Về sau, tham
cứu kinh Lăng Nghiêm, thấy kinh nói: “Túng
diệt nhất thiết kiến, văn, giác, tri,
nội thủ u nhàn, do vi pháp trần phân biệt ảnh
sự” (dẫu diệt hết thảy thấy, nghe, hay
biết, giữ sự u nhàn bên trong, vẫn
là chuyện thuộc phân biệt bóng dáng của pháp
trần). Phàm thấy, nghe diệt, sự hay
biết chấm dứt, tợ hồ mừng,
giận, buồn, vui chưa phát, mà bảo là “pháp
trần phân biệt” là vì sao? Ý là
căn, pháp là trần. Căn đối
ứng với trần, thuận cảnh sẽ
cảm phát mừng và vui, nghịch cảnh
sẽ cảm phát giận và buồn. Đó là
ý căn phân biệt pháp trần. “Chưa
phát” tức là trần chưa giao tiếp bên
ngoài, căn chưa khởi bên trong, vắng
lặng, yên tĩnh, phải nên là bản thể.
Chẳng biết trước kia là theo duyên
động cảnh, nay thì duyên theo tĩnh cảnh.
Trước kia cố nhiên là thô phân biệt
đối với pháp trần, nay vẫn là tế
phân biệt đối với pháp trần,
đều là “ảnh sự” (chuyện
thuộc hình bóng), chẳng chân thật. Nói
“u nhàn” là đặc biệt nói u
vượt hơn hiển, nhàn vượt
trội ồn náo, vẫn còn cách biệt với
“chính mình trước không kiếp”
ở chỗ này. Hãy nên xét kỹ, quan
sát tinh tường, đã nghiên cứu
lại càng thêm nghiên cứu, đã cùng
tột lại càng thêm cùng tột, chớ nên
qua loa!
* Mừng, giận,
buồn, vui chưa phát ra (2)
Dương
Từ Hồ (Dương Giản) nói “thấy
rõ bệnh của Tử Tư và Mạnh
Tử có cùng một nguồn gốc”. Nhưng
Từ Hồ tự trần thuật điều
chính mình đã chứng trong khi tĩnh
là “rỗng rang, vắng lặng, rộng xa
chẳng ngằn mé”; đấy chính
là cái được Tử Tư gọi
là “khí tượng khi mừng, giận,
buồn, vui chưa phát”. Lời này của
Tử Tư do đã trải qua sự tham
cứu sâu xa, vi tế tột cùng, cho nên nói “vẫn
chưa phải là chính mình trước
Không kiếp”. Nếu trong Nho Tông thì có thể
nói là [Tử Tư] khéo đạt
được tâm pháp của họ Khổng.
Lời ấy tột bậc tinh vi, tột bậc
thích đáng, lầm lẫn ở chỗ
nào mà Từ Hồ chê trách? Từ Hồ
đã tôn sùng họ Khổng, chủ trương
đạo học, nhưng lại chê Tử Tư,
tức là [đối với ông ta], phu
tử (Khổng Tử) cũng chẳng
đáng để noi theo, sẽ nương theo ai?
Nếu Từ Hồ
khéo ngộ Phật lý, hãy nên thẳng
thừng luận định chỗ giống nhau và
khác nhau giữa Nho và Phật, mà cũng
chớ nên nói lời lẫn lộn này,
tợ hồ tiến thoái không có chứng
cứ!
* Ngài Trung Phong dạy
đại chúng
Hòa
thượng Thiên Mục Trung Phong dạy đại
chúng rằng: “Nếu ngươi không có
sức to lớn, chẳng bằng
gởi thân nơi nửa gian nhà tranh, áo quần
rách rưới xin ăn, cũng tránh khỏi
xâm phạm mùa màng của người
khác”. Đó là lời định
luận chí lý! Nay người xuất gia
phần nhiều tạo công đức hữu vi, bươn
bả cả đời, đối với
chuyện đại sự sanh tử ở ngay
dưới gót chân của chính mình bèn bỏ
qua, chẳng nghe nói tới, há cũng
chẳng lầm lạc ư? Chắc có người
nói rằng: “Mỗi thứ đều là như ông
nói, như vậy thì tượng nát, điện sụp, tăng
sẽ ở nơi đất trống mà đói
lả!” Đáp: Chẳng phải vậy! Nếu ông
có sức lớn, cứ tùy ý
làm. Lời này của cổ nhân nhằm
dạy nhiệm vụ cấp bách phải làm
trước tiên cho những kẻ không có
sức như chúng ta. Một là đại
sự chưa hiểu rơ, hãy [gấp rút
dụng công] như chôn cha mẹ, sẽ chẳng
rảnh mà [tạo tác công đức
hữu vi]. Hai là thấy lý chưa thấu triệt,
nhân quả sai lệch, đối với những
cái gọi là công đức hữu vi, phần
nhiều sai phạm, thiên đường chưa
đến, địa ngục đã thành
trước, bèn chẳng dám làm.
Ngài Trung Phong lại nói: “Nhất tâm làm
gốc, muôn hạnh có thể xếp ra sau”.
Đó là lời luận định chí
lý. Ngưu Đầu tới Hàm Hoa Nham, Mã
Tổ tới Truyền Pháp Viện. Ôi! Phong
thái cao cả xa thẳm, chẳng thể
thấy lần nữa.
* Sát sanh khi tạ
tướng[148] trong
pháp sự của Đạo giáo
Các
đạo sĩ làm pháp sự xong, ắt
tạ tướng. Lớn thì giết dê,
lợn; nhỏ thì mua thịt làm sẵn, luôn có tam sanh (dê, lợn,
trâu hoặc ḅ). Họ nói: “Đáp tạ
chư tướng thủ hộ đàn tràng. Nếu
chẳng vậy, sẽ mắc tội!” Than ôi!
Ngày hôm qua làm một đàn chay, sáng nay
giết lục súc[149].
Một lượt tạo thiên đường, trăm
lượt tạo địa ngục, nghĩa là sao vậy?
Đối với chư tướng, những
vị khác tôi không thể biết, chỉ như
ngài Vân Trường (Quan Công) bẩm tánh
đại nghĩa, Vương nguyên soái (Vương
Linh Quan) lòng son trung lương, há các Ngài
để ý chuyện dùng các con vật to
lớn để cảm tạ ư? Xét nay lẫn
xưa, trong Đạo gia, chẳng có vị cao
hạnh nào ngăn cấm, thật đáng buồn
tiếc! Nếu sợ đắc tội với
chư tướng, thì gần đây có một
kẻ giang hồ vô lại, để cầu mưa
bèn xiềng trói thân [của tượng]
chư tướng, nhưng chư tướng
chẳng giáng họa, đó là vì [các Ngài] chẳng
so đo với kẻ tiểu nhân. Nhưng cứ vì
chuyện ăn uống tẹp nhẹp mà ngược
ngạo tăng thêm họa cho trai chủ tu công
đức, có lý ấy hay chăng? Dám xin
thưa với kẻ sĩ và bậc quân
tử hiểu rõ lý vậy!
* Kiêng giết trong tháng
chay
Đời
Đường chế định: Tháng Giêng,
tháng Năm, tháng Chín, quan chẳng
tới nhận nhiệm sở, do tới
nhiệm sở, ắt phải tiệc tùng
nhiều. Tiệc tùng ắt phải giết sanh
vật. Chẳng đến nhận nhiệm sở
nhằm kiêng giết. Người đời
ngoa truyền, coi ba tháng ấy là ác nguyệt
(tháng xấu ác), kiêng làm các chuyện tốt
lành bởi mê mất nguyên do. Hiện thời
cũng kiêng tháng Giêng, tháng Năm, tháng
Chín và mười ngày trai, không
được hành hình. Yêu thương muôn
vật, nhân từ với dân, tâm hiếu sanh của
thánh vương giống hệt như nhau. Riêng
tiếc nuối là đối với chuyện
cầu tạnh hay cầu mưa, quan phủ ắt
cấm giết mổ, do biết rõ sát sanh là
bất thiện, sao trong tháng chay, ngày chay, chẳng
tuân theo thời cổ kiêng giết, mà cứ
ắt phải đợi tai nạn nẩy sanh
rồi mới cấm? Than ôi! Nạn phát sanh
rồi mới cấm, nạn chưa yên mà
đã bỏ lệnh cấm, đáng than
thở lắm thay!
* Kiêng giết tăng tuổi
thọ
Ông
Triệu X… ở Hoa Đình tới Thanh Phổ
thăm người thân. Thuyền đậu lại,
bỗng thấy một người đứng trên
thuyền, nhìn kỹ thì ra người
đầy tớ đã mất. Ông ngạc nhiên,
hỏi han, người ấy đáp: “Tôi đang phục
dịch trong âm ty, nay sắp truy bắt ba
người”. Hỏi ba người ấy là
ai, bèn đáp: “Một người ở
Hồ Quảng, người nữa là
người ông sắp đến thăm”. Còn
người thứ ba chẳng đáp. Ông
lại hỏi: “Có phải là Triệu mỗ hay
không?” Đáp: “Đúng vậy”. Ông Triệu hết
sức kinh hãi, đến thăm người
thân, đã nghe trong nhà vang tiếng khóc. Ông
càng hết sức sợ hãi, vội
giục chèo nhanh về nhà. Người
đầy tớ nói: “Ông chẳng phải
sợ, đến đêm mà tôi không tới
thì được miễn rồi”. Ông Triệu
hỏi nguyên cớ, người ấy đáp:
“Trên đường, tôi thấy có người
đã biện giải cho ông, vì cả nhà ông đều
kiêng giết”. Sau đó, ban đêm quả nhiên [quỷ
sứ] không tới. Ông Triệu rốt cuộc vô
sự, nay hãy còn sống. Chuyện đã
mười năm rồi! Ghi lại trong tháng
Bảy năm Bính Ngọ (1606) đời Vạn
Lịch.
* Cư sĩ ngộ
đạo thời Tống - Nguyên
Từ
đời Tống đến đời Nguyên,
cư sĩ có người ngộ nhập
chẳng phải là trường hợp
cá biệt. Cư sĩ Lưu Hưng Triều
đời Tống có Ngộ Đạo Tập
tự trần thuật ngộ xứ rất
tường tận, bởi ông thật sự
đạt được. Đời Nguyên, cư
sĩ Phóng Ngưu ngộ nhập câu “bất
thị, bất thị” (chẳng phải,
chẳng phải) của Vô Môn lăo nhân. Tác phẩm
Phi Thị Quan (cái ải đúng sai) của ông ta
nói ngang, nói dọc, chẳng phải là
bậc có đại tri kiến sẽ chẳng thể
nói! Tung tích của hai vị này chẳng được
tường tận cho lắm. Hưng Triều
còn được chép vào sách
Truyền Đăng Lục, chứ Phóng Ngưu
thì ít người biết. Do vậy, tôi nêu ra!
* Lời nói
chẳng có nghĩa vị
Đối
với những câu đáp trong Tông Môn, có
người bảo là chẳng có ý
nghĩa gì, vì chẳng thể dùng
đạo lý để hiểu, chẳng thể
dùng tư duy để thấu suốt.
Người đời sau dùng cái tâm tư
duy để cưỡng nói đạo lý, cho
nên càng nói càng xa. Không chỉ là nói sai,
dẫu cho nói tột bậc đúng, vẫn
chỉ là con két học tiếng người
mà thôi! Viên Ngộ lăo nhân nói: “Chỉ cần
người hiểu được tình
thức, hết thảy vọng tưởng đều
hết sạch, tự nhiên sẽ thấu hiểu trong ấy”.
Đấy là phương cách đã
chứng nghiệm của tiên đức, trọn
chẳng phải là nói suông, chúng ta phải
nên tin sâu, tận lực hành!
* Của tín thí
khó tiêu
Đặng
Khoát Cừ[150]
tự trách tội rằng: “Làm tăng
thực hiện chuyện của mình, gây lụy
tín chủ cả mười phương, quả
thật sợ khó tiêu hết được”.
Nói đúng lắm thay! Tăng nhân vì sanh
tử của chính mình, giống như kẻ
sĩ vì khoa cử cầu công danh của chính họ. V́ khoa
cử mà gây
lụy cho xóm giềng, thân thích phải cung cấp
những thứ cần thiết. Hễ thành
danh bèn đủ để báo đền; danh
chẳng thành sẽ mắc nợ họ
rất nhiều! Chẳng hiểu nghĩa này,
chỉ hiềm tín thí chẳng rộng, há
chẳng lầm lẫn to lớn ư?
* Biết mà chẳng
thể làm
Cư
sĩ Ngũ Đài nói với tôi: “Tôi
biết có đạo này mà chẳng
thể tận lực, suốt đời chẳng
vui. Nay kẻ sĩ chẳng biết có đạo
này, hễ đỗ đạt, tâm bèn thỏa
thích trong ngũ dục, ngỡ đó là
vui. Tôi đã biết, chẳng dám buông lung theo
lòng ham muốn, nhưng lại bận bịu vì việc
vua, việc nhà, lầm lỡ thời gian. Nay
đã già rồi, đã đánh mất
niềm vui trong đời người, lại
còn chưa đạt được niềm vui
xuất thế. Cho nên suốt đời u uất”.
Đấy là lời thật của cư sĩ,
nhưng người tự mê muội thì
đông, người tự giác ít ỏi, ai
nhắc đến chuyện này? Cư sĩ
quả thật là người hiền! Nay kẻ xuất
gia chẳng có chuyện vua, chuyện nhà,
thế mà cũng phí uổng một
đời, lắng lòng suy nghĩ, nội tâm
kinh hoàng, run rẩy!
* Tránh xa một
chữ Quan
Cha tôi tuy
không làm quan, nhưng học rộng, siêng hành,
có nhiều câu nói đáng làm khuôn phép,
từng bảo kẻ bất hiếu này
rằng: “Hãy cẩn thận chớ mang
lấy một chữ Quan”. Do vậy, tôi hỏi:
“Mang một chữ Quan là sao ạ?” Cha tôi nói: “Những
chuyện như nhận tiền cấp phát của quan
lại, dệt the đoạn cho quan chức, làm
trung gian buôn bán muối cho quan lại, làm người
đảm bảo cho người khác nơi quan
phủ, cho đến vào quan phủ làm nha lại
hoặc thư ký, kết giao với
người làm quan, nhờ cậy chuyện
công v.v… đều là [mang lấy một chữ
Quan]”. Tôi lại lạy, vâng giữ. Về sau, nhìn
vào những người quen biết, hễ vướng
vào đó thì thua bại bảy, tám
phần mười. Do vậy, suy rộng ra, ngay cả
làm quan cũng chẳng muốn! Sau khi xuất gia,
lại suy rộng hơn, chẳng dám hư
vọng dính líu người có chức
tước lớn, lại còn răn đồ
chúng chẳng được do hóa duyên
mà ra vào nhà quan, chẳng
được dựa dẫm thế lực
của quan lại để kiện tụng
người khác, hãy an bần thủ phận (yên phận nghèo, vâng giữ
bổn phận) thì may ra tránh
được tội khiên to lớn. Dẫu tuân
giữ lời sắc truyền của
đức Phật, đó cũng là lời
giáo huấn từ trong gia đình. Ơn
dạy bảo chẳng quên, khôn ngăn buồn
thương!
* Sách Niệm Phật
Kính
Hai vị
tăng Đạo Kính và Thiện Đạo
soạn Niệm Phật Kính (gương niệm
Phật), so sánh niệm Phật với các
thứ pháp môn, đều phán định
rằng: “Nếu đem so với công
đức niệm Phật thì chẳng
bằng được một phần trong trăm
ngàn vạn ức phần”. Có thể
nói lòng tin chuyên dốc, biện định
rành rẽ, rất có công đối với Tịnh
Độ. Riêng chương so sánh với Thiền
Tông, nói quán tâm, quán vô sanh đem so với công
đức niệm Phật chẳng bằng
một phần trong trăm ngàn vạn ức phần,
người học nghi ngờ. Tôi cho rằng: Ngay
trong Tứ Liệu Giản, đấy là “hữu
Thiền, hữu Tịnh Độ”. Nếu chỉ
chấp quán tâm, chẳng tin có Cực
Lạc Tịnh Độ, hoặc chỉ chấp Vô
Sanh, chẳng tin có vãng sanh Tịnh Độ,
tức là chưa thông đạt “tâm chính
là cõi”, chẳng biết “sanh chính
là vô sanh”, đó là kiến giải Thiên
Không, chẳng phải là Viên Đốn Thiền!
Đâm ra chẳng bằng người tuy
chưa hiểu thật rõ lý tánh, nhưng
niệm Phật đã thành tam-muội, có
gì lạ đâu? Phàm quán tâm mà diệu
ngộ tự tâm, quán vô sanh mà đắc Vô Sanh Nhẫn,
đấy chính là cùng một khoa mục
với người niệm Phật
thượng phẩm thượng sanh, há
có gì là cao hay thấp?
* Tham cứu niệm
Phật
Quốc triều
(nhà Minh) trong các niên hiệu Hồng Vũ và
Vĩnh Lạc có ba vị đại lão là
Không Cốc, Thiên Kỳ, Độc Phong luận
định niệm Phật. Hai vị Thiên Kỳ và
Độc Phong dạy người ta khán câu “người
niệm Phật là ai?” Chỉ có ngài Không
Cốc bảo “chỉ thẳng thừng niệm
cũng có ngộ môn”. Hai đường
lối mỗi đằng tùy thuận cơ nghi
đều đúng, nhưng ngài Không Cốc nói
“chỉ thẳng thừng niệm cũng
được”, chứ chẳng nói “tham
cứu là sai”. Trong Sớ Sao (A Di Đà
Kinh Sớ Sao), tôi đã trần thuật
đại lược, nhưng vẫn có
người nghi, cho rằng tham cứu chú
trọng kiến tánh, chỉ trì danh mới
là phù hợp khít khao vãng sanh, muốn
phế bỏ tham cứu để chỉ chuyên trì
danh. Họ nói rằng trong kinh chỉ nói “chấp
tŕ danh hiệu”, chưa từng có cách
nói tham cứu! Lời bàn luận này
cũng rất hữu lư, nương theo đó mà
hành, chắc chắn vãng sanh, nhưng
muốn giữ điều này, phế điều
kia thì không được! Bởi lẽ,
người niệm Phật kiến tánh chính
là chuyện thuộc vào thượng phẩm
thượng sanh, lại ngược ngạo lo
chẳng vãng sanh ư? Do vậy, trong Sớ Sao
đều giữ cả hai đằng để
đợi [người tu hành tự] chọn
lựa, xin đừng ngờ vực!
Nếu do chữ Ai mang khí thế bức
bách mà hành, cho rằng đó là “truy
cứu người niệm Phật” thì
đấy là tà vạy, sai lầm hại
người, sẽ mắc tội vô
lượng.
* Gấp tham, gấp ngộ
Cư
sĩ Phóng Ngưu là người Cổ
Hàng, con nhà họ Dư, tham yết Vô Môn lão
nhân, đắc ngộ trong niên hiệu Thuần
Hựu[151]
đời Tống. Ông ta nói: “Người
đại thông minh vừa mới nghe việc
này, liền dùng tâm ý thức để
tiếp nhận, thông hiểu, cho nên ngỡ ảnh
là thật. Đến ngày Ba Mươi tháng
Chạp, khi ánh mắt sắp lạc thần,
hướng về ông cụ Diêm vương nói:
‘Đợi tôi lắng lòng nhiếp niệm, sẽ
đi cùng Ngài’. Chắc chắn là không
thể được, hãy nên gấp tham, gấp
ngộ!” Có thể nói lời này của
Phóng Ngưu là khẩn thiết làm
người. Nếu là kẻ chân thật triệt
ngộ, hằng ngày sẽ đặt chân
vững chắc, ổn thỏa, thích
đáng, chẳng dấy can qua mà có thể
tám mặt đối địch, vô
thường xảy đến sẽ an nhàn,
điềm tĩnh, chẳng hoảng hốt,
chẳng hoảng sợ, rối loạn, há
còn đợi phải lắng lòng nhiếp
tâm, miễn cưỡng lắp bắp chống
chọi ư? “Gấp tham, gấp ngộ” như ông ta
đã nói, chúng ta phải nên tận lực
thực hiện.
* Giải Thiền Kệ
Ôn Công
(Tư Mã Quang)[152]
soạn Giải Thiền Kệ quả thật là khuôn
mẫu cho người học Phật mà chưa
hiểu lý, nhưng ông ta cho rằng “lời
nói và hành vi đáng để noi theo”
là thân bất hoại (Pháp Thân), “nhân nghĩa
chẳng thiếu” là quang minh tạng, lại
chỉ là lời nói để chữa
bệnh cho một thuở, chẳng phải là
lời luận định khít khao sự
thật, không thay đổi được! Ngôn
từ và hành vi cẩn trọng, tu tập nhân nghĩa,
đúng là đáng quý trọng trong thế
gian, nhưng đâu phải là thân kim cang bất hoại,
thần thông đại quang minh tạng? Sao lại dễ
dãi nhận định như thế!
Ông ta lại coi quân tử thường
thanh thản là thiên đường, tiểu nhân mãi
lo lắng là địa ngục, xét theo lý
thì đúng, nhưng cũng có khuyết
điểm “chấp Lý, đánh mất Sự”!
Há có nên nói “ngu si chính là trâu, dê, hung
bạo tức là hổ, báo”, ngoài lẽ
đó ra, chẳng thật sự có trâu, dê
khoác lông, đội sừng, chẳng có
hổ báo nanh bén, móng nhọn ư? Tôi
sợ người đời thấy
lời lẽ của Ôn công đạt tới chỗ
tinh diệu, trọng yếu, ắt sẽ hết
sức vui thích mà tin sâu thói tệ ấy,
bài bác chẳng có nhân quả, cho
đến tự coi “hành thiện trong thế gian” là
đủ, chẳng còn biết có chuyện
hướng thượng, tức là bài
kệ này vốn để giác ngộ
người đời, đâm ra khiến cho
người đời lầm lạc, chẳng
thể không vạch rõ!
* Phạm Cảnh Nhân
Cảnh Nhân[153]
tự nói “ta hai mươi năm chưa
từng dấy lên một tư lự”. Cảnh
Nhân đúng là người hiền, nhưng
suốt hai mươi năm dài, chẳng sanh
một niệm, chắc chẳng dễ đạt
đến điều ấy! Nhan Tử (Nhan Uyên) mà
chỉ
“ba tháng chẳng trái nghịch”,
tức là ngoài ba tháng, chắc có
ý niệm sanh khởi. Triệu Châu còn phải
mất bốn mươi năm mới thành
một phiến, tức là khi chưa thành
một phiến thì sẽ có ý niệm sanh
khởi. Như Cảnh Nhân đạt
được chẳng có thô niệm, tuy
vậy, [thật sự] chẳng có tư
lự vi tế ngấm ngầm phát khởi,
há ông ta có tự nhận biết hay chăng?
Chẳng phải là tôi coi thường Cảnh
Nhân, chỉ sợ là “được chút
ít đã cho là đủ”, [bàn định
chuyện này là] để răn nhắc sẵn
chính mình đó thôi!
* Tập tục
Người xưa
nói: “Tập tục đổi dời con
người, bậc hiền trí chẳng
tránh được”. Nay một tấm áo,
một cái mũ, một vật, một chữ,
một lời, đủ loại việc làm,
hành vi, đều do một người xướng
suất, nhiều người hùa theo mà
thành, gọi đó là “thời
thượng”[154]. Như
có người chuộng bế quan một
khoảng thời gian, mọi người đua
nhau bế quan. Hoặc có người chuộng
lễ sám, mọi người đua nhau lễ
sám, đua nhau học thuộc kinh, đua nhau trì chú
Chuẩn Đề, đua nhau nghiên cứu cách
phát âm và gieo vần, đua nhau gạt bỏ chú
sớ, chuyên học chánh văn, đua nhau trai
tăng mười vạn tám ngàn vị,
đua nhau học thư pháp, học làm thơ, học
theo lời lẽ văn chương bóng bẩy
của sĩ phu, không gì chẳng thành phong
trào, chẳng ước hẹn mà
hợp. Riêng đối với chuyện chế phục
cái tâm, dốc chí, chân thật tham Thiền, niệm
Phật, dẫu có người đề
xướng mà chẳng có ai theo, đó
là như thế nào vậy?
* Chán ồn, cầu tĩnh
Có người
tập tu tĩnh, ở riêng một nhà, hễ hơi
có tiếng người, liền cho là trở
ngại. Tiếng người có thể cấm,
nhưng tiếng sẻ hót quạ kêu trong sân, làm
như thế nào đây? Sẻ, quạ có thể
xua đuổi, nhưng hổ, báo gầm rú trong
rừng, làm như thế nào đây? Hổ,
báo vẫn có thể sai thợ săn
bắt đi, nhưng tiếng gió lùa,
nước chảy, sấm rền, mưa rào,
làm như thế nào đây? Do vậy nói: “Kẻ
ngu trừ cảnh, chẳng trừ tâm;
người trí trừ tâm, chẳng trừ cảnh”.
Muốn trừ cảnh mà cảnh rốt cuộc
chẳng thể trừ, nên đạo rốt
cuộc chẳng thể học! Hoặc nói: “Đức
Thế Tôn chẳng biết tiếng của năm
trăm cỗ xe”. Đấy là chuyện trong
Thiền Định, phàm phu chẳng thể
làm được. Nhưng như Cao
Phượng[155]
đọc sách, chẳng biết mưa rào trôi
lúa, ngay trong khí ấy, Cao Phượng nhập
Định gì? Chẳng trách chí không
vững, lại chê cảnh chẳng vắng
lặng, cũng lầm lẫn lắm thay!
* Trừ nhật
Cổ nhân
coi trừ nhật (除日, ngày
Ba Mươi tháng Chạp) là tử nhật,
bởi một năm đã hết giống như
lúc một đời đã tận. Vì
thế, ngài Hoàng Bá dạy như sau: “Nếu
trước hết chẳng thấu triệt, ngày
Ba Mươi tháng Chạp đưa đến, chắc
chắn ngươi sẽ như kiến bò trên
chảo nóng”. Như vậy thì ngày mồng
Một tháng Giêng đã lo chuyện thuộc
ngày Ba Mươi tháng Chạp vẫn chẳng
là sớm, lúc mới sanh rơi xuống
đất đã lo chuyện thuộc ngày chết cũng chẳng
sớm; sao mặc
cho thời gian dần trôi, cứ nhởn
nhơ, nhàn nhã, bất giác trẻ dại
đã tráng niên, tráng niên rồi già
khọm, già khọm rồi chết đi? Huống
hồ cũng có kẻ chẳng kịp tráng
niên hay già cả! Há chẳng càng
đáng buồn ư?
Đêm nay là đã
hết năm, hãy nên tự e sợ, tự ước
hẹn, chớ để năm sau vẫn lần khân y như
cũ. Tuy vậy, hai chữ “đả triệt” (打徹, giác
ngộ thấu triệt) chớ nên dễ dãi xem
lướt qua, chẳng phải là thông qua
mấy bản kinh luận thì sẽ thấu triệt,
chẳng phải là ngồi bất động,
chẳng lắc lư mấy nén hương
thì sẽ thấu triệt, chẳng phải do
hiểu mấy đoạn cơ duyên vấn đáp
của cổ đức rồi viết mấy câu
tụng cổ hoặc niêm cổ thì sẽ thấu
triệt, chẳng phải là ứng đối
mấy câu khẩu đầu tam-muội lưu loát
thì sẽ được thấu triệt. Cổ
nhân nói: “Đối với chuyện này,
hiểu rỗng rang như cái thùng bị tụt
đáy, rành rẽ như mộng sâu
được tỉnh, trọn chẳng có
chỗ mảy may ngờ vực thì sau
đấy mới được!” Than ôi!
Dám chẳng nỗ lực ư?
* Tịnh Độ là
pháp khó tin (1)
Kẻ coi
rẻ Tịnh Độ, cho đó là đạo
để hàng ngu phu, ngu phụ hành trì, bị
ngài Thiên Như quở trách, bảo đấy
chẳng phải là coi thường hạng ngu
phu ngụ ấy, mà là coi rẻ Mă Minh, Long Thọ,
Văn Thù, Phổ Hiền. Vì thế, tôi soạn Di Đà Kinh Sớ
Sao nêu rõ chỉ thú rất sâu này, họ
lại cho rằng giảng giải kinh này
chớ nên quá sâu vì kinh ấy rốt cuộc
là đạo để ngu phu ngu phụ hành
trì. Đức Phật nói kinh này là “pháp
khó tin”
chẳng đúng lắm ư?
* Tịnh Độ là
pháp khó tin (2)
Hoặc
là có kẻ nói chớ nên giảng giải
quá sâu, vì kinh này vốn nông cạn, [sao thầy
cứ] dùi mài khiến cho nó thành sâu, do
vậy chớ nên. Ôi! Pháp Hoa coi lời lẽ
bình trị cõi đời đều là
Thật Tướng, mà kinh này cắt ngang
sang tử, tiến thẳng lên Bất Thoái,
há chẳng bằng lời lẽ bình
trị cõi đời ư? Hoặc lại
nói kinh này thuộc Phương Đẳng,
lời Sớ lại cho là Viên thì
chẳng được! Ôi! Quán Kinh cũng
thuộc về Phương Đẳng, ngài Trí
Giả phán định là Viên. Viên Giác cũng
thuộc Phương Đẳng, ngài Khuê Phong
phán định là Viên. Đối với kinh Di
Đà, tôi đặc biệt phán định
là Phần Viên, có gì là chẳng
được? Đức Phật nói đây
là pháp khó tin chẳng đúng
lắm ư?
* Tịnh Độ là
pháp khó tin (3)
Trong kinh Hoa
Nghiêm quyển mười, Chủ Dược
Thần đạt được môn giải thoát “niệm
Phật diệt hết thảy bệnh cho chúng sanh”,
Thanh Lương Sớ giảng “hướng
về xưng niệm một vị Phật, tam-muội
dễ thành, nhất tâm kính trọng nồng
hậu, các điều khác đều trọn
hết”. Huống hồ lắng lòng nơi
nẻo giác, ngầm hành phương tiện
lớn lao ư? Mấy câu trước rộng
tán dương chuyên niệm, hai câu sau đàm
luận nhập lý sâu xa, ai nói Tịnh Độ là
nông cạn? Phẩm Hạnh Nguyện bàn rộng
bất khả thuyết thế giới hải, bất
khả thuyết công đức của Phật, Bồ
Tát, mà lâm chung chẳng cầu sanh Hoa Tạng,
lại cầu sanh Cực Lạc, ai nói Tịnh
Độ là nông cạn? Thánh hiền để
lại lời giáo hóa như thế, mà con
người tự coi là nông cạn.
Đức Phật nói đây là pháp khó
tin chẳng đúng lắm ư?
* Niệm Phật chẳng
trở ngại tham Thiền
Cổ nhân
nói “tham Thiền chẳng trở ngại niệm
Phật, niệm Phật chẳng trở ngại tham
Thiền”. Lại nói: “Chẳng
được tu kèm lẫn nhau”. Nhưng
cũng có vị tu Thiền kiêm Tịnh Độ,
như các vị Viên Chiếu Tông Bổn,
Chân Hiết Thanh Liễu,
Vĩnh Minh Diên Thọ,
Hoàng Long Ngộ
Tân, Từ Thọ Hoài Thâm v.v… đều là
bậc đại tông tượng của Thiền Môn,
nhưng lưu tâm nơi Tịnh Độ, chẳng
trở ngại Thiền! Do vậy biết: Người
tham Thiền tuy niệm nào cũng tham cứu
bổn tâm của chính mình, nhưng chẳng
trở ngại phát nguyện, nguyện khi mạng chung vãng
sanh Cực Lạc. Vì lẽ nào vậy? Tham
Thiền tuy đạt được ngộ
xứ, nếu chẳng thể như chư Phật
trụ trong Thường Tịch Quang, lại chẳng thể
như A La Hán chẳng
thọ hậu hữu (thân sau), thì khi hết
một báo thân này, ắt có sanh xứ.
So với việc sanh trong nhân gian thân cận minh sư,
sao tốt đẹp hơn sanh trong hoa sen, thân cận Phật
Di Đà? Do vậy, niệm Phật chẳng
chỉ không trở ngại tham Thiền, mà thật
sự còn hữu ích cho tham Thiền.
* Răn thầy thuốc
đừng sát sanh
Đào Ẩn
Quân[156]
dùng các con vật sống làm thuốc, [do
sát nghiệp] bèn bị vướng
mắc, chẳng thể thăng thiên! Sát sanh
để thỏa thích bụng miệng, đúng
là chẳng nên. Tổn hại mạng của con
vật để bảo toàn tánh mạng của
con người, lẽ đâu vô tội? Chẳng
biết quý người mà coi rẻ con vật,
xem đó là lẽ thường tình,
chẳng phải là cái tâm bình
đẳng của chư Phật, Bồ Tát.
Giết một mạng để cứu sống
một mạng khác, người có lòng nhân
chẳng làm, huống hồ sống chết có
phần định sẵn, chưa chắc
đã có thể cứu sống
được? Chỉ càng tăng thêm oan
nghiệt, báo ứng mà thôi! Người
bị bệnh hãy nghĩ kỹ, người theo
nghề y hãy nên nghĩ kỹ!
Vân Thê Pháp Vựng
Phần 3 hết
[1] Đổng
Vân tự Tử Đào, hiệu La Thạch,
là một thi nhân nổi tiếng đời Minh,
sống ở vùng Chiết Giang. Lúc sáu
mươi tám tuổi, ông sang chơi vùng Cối
Kê, nghe Vương Dương Minh giảng giải trong
núi, bèn đến nghe. Ông có dịp đàm
luận cùng Vương Dương Minh suốt
ngày đêm, bèn cầu xin làm đệ
tử. Vương Dương
Minh từ chối, viện cớ “có bao
giờ đệ tử lớn tuổi hơn
thầy”. La Thạch cầu khẩn ba lượt,
Dương Minh mới nhận lời. Do Vương Dương Minh
có công dẹp cuộc phản loạn của Ninh
Vương (Châu Thần Hào) trong ṿng bốn mươi hai
ngày, ông được phong làm Tân Kiến Bá, nên Tổ
thường gọi Vương Dương Minh là Tân Kiến.
[2] “Chư
tử bách gia” là từ ngữ
chỉ chung trước thuật, học thuyết
của các tư tưởng gia từ
thời Tiên Tần (trước khi Tần Thủy
Hoàng gồm thâu lục quốc, thống nhất Trung Hoa) cho
đến đầu đời
Hán, như Khổng Tử, Lão Tử,
Mặc Tử, Hàn Phi Tử, Trang Tử,
Tuân Tử, Mạnh Tử, Liệt Tử, Tôn Tử,
Thân Tử, Cáo Tử, Quỷ Cốc Tử
v.v… Bách gia không có nghĩa là trăm nhà
mà chỉ là từ ngữ chỉ chung
các trường phái học thuyết khác
nhau, bao gồm Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp
gia, Danh gia, Binh gia, Âm Dương gia, Nông gia, Tung Hoành
gia, Tạp gia v.v…
[3] Cao Hoan (496-547) là người Tiên Ty,
tên lúc nhỏ là Hạ Lục Hồn, là
quyền thần giữ chức Tướng
Quốc (Thượng Trụ Quốc) thời
Bắc Ngụy. Sau khi Hiếu Trang Đế (Nguyên Tử Du) nhà
Ngụy giết chết bè lũ quyền thần
Nhĩ Châu Vinh, bộ tộc Nhĩ Châu do Nhĩ Châu
Trọng Viễn, Nhĩ Châu Độ Luật v.v… dẫn
quân đến
đánh, bắt được Hiếu Trang Đế,
giết chết vua, rồi lập Trường
Quảng Vương Nguyên Diệp lên làm vua. Sau
đó, bè lũ họ Nhĩ Châu lại phế
Nguyên Diệp, đưa Nguyên Cung lên làm vua (tức
Ngụy Tiết Mẫn Đế). Năm 531, khi thế
lực lớn mạnh, Cao Hoan khởi binh, tôn
Nguyên Lãng lên ngôi, xóa sổ họ Nhĩ Châu. Sau
đó, ông ta phế Nguyên Cung, tôn Nguyên Tu thuộc
dòng đích lên làm vua, tức Ngụy
Hiếu Vũ Đế. Do vậy, ông ta
được phong là Bột Hải Vương,
chức Thượng Trụ Quốc, gả con
gái cho vua làm hoàng hậu. Sau đó, Hiếu Vũ Đế e ngại
thế lực của Cao Hoan, bèn dựa
dẫm một quân phiệt khác là Vũ Văn
Thái, dời
đô sang
Trường An. Cao Hoan liền lập Nguyên Thiện
Kiến lên ngôi tại Lạc
Dương, tức Ngụy Hiếu
Tĩnh Đế, và
dời đô từ Lạc Dương về
Nghiệp Thành, sử gọi đó là
nhà Đông Ngụy. Về sau, con ông ta là Cao
Dương phế trừ Ngụy Hiếu Tĩnh
Đế, tự lập làm vua, lập ra nhà
Tề, Sử gọi triều đại ấy là nhà
Cao Tề, hoặc Bắc Tề. Gọi là
Lục Triều hay thời Nam Bắc Triều (220-589) là do khi nhà Ngụy
suy yếu, các quân phiệt tự lập làm
vua, chia Trung Hoa thành hai hệ thống triều
đình riêng biệt: Bắc Trung Hoa có các
triều đại Tây Tấn, Ngũ Hồ Thập
Lục Quốc, Bắc Ngụy, Đông Ngụy - Tây Ngụy,
Bắc Tề, Bắc Châu, còn Nam Trung Hoa có
các triều đại: Lưu Tống, Nam Tề,
Lương, Trần. Giai đoạn này chấm
dứt khi Dương Kiên thống nhất Trung Hoa,
lập ra nhà Tùy.
[4] Hộc
thực (斛食) là
một cái hộp vuông bằng gỗ, dùng
để đựng cơm cúng cho các vong linh
trong tam giới. Đấy là dựa theo ý
trong kinh Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm
Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni, đức
Phật dạy dùng cái hộc của
nước Ma Già Đà để thí
cơm cho ngạ quỷ.
[5] Hà Dận
(446-531), tự Tử Quư, c̣n có tên tự khác nữa là Dận
Thúc, người huyện Tiềm, quận Lô Giang (tỉnh
An Huy), là nhà kinh học (chuyên nghiên cứu kinh điển
Nho gia) sống vào đời Nam Tề và Nam Lương. Ông
ta tinh thông kinh Dịch, Lễ Kư, Mao Thi và c̣n học kinh Phật.
[6] Lý Tư
là thừa tướng thời Tần
Thủy Hoàng và Tần Nhị Thế. Ông là
người nước Sở, học trò
của Tuân Tử. Thoạt đầu, Lý Tư xin
làm môn hạ của Lã Bất Vi (thừa
tướng nước Tần). Sau đó,
nhờ tài ăn nói và văn chương,
Lý Tư trở thành nổi bật trong đám môn khách. Khi Tần
Thủy Hoàng bắt giam Lã Bất Vi, do là
môn khách của họ Lã, Lý Tư bị xua
đuổi, ông ta liền viết
Gián Trục Khách Thư dâng lên vua Tần. Vua
Tần bị thuyết
phục, đồng ý sử dụng ông ta. Dùng âm
mưu quỷ kế, ông ta ngoi dần lên thành
thừa tướng. Chính ông ta xúi vua
Tần đốt sách vở của bách gia
chư tử, chế định luật pháp,
thống nhất văn tự. Dưới
thời Tần Nhị Thế, ông ta bị Triệu Cao
dần dần đoạt quyền, cuối cùng bị
kết tội tử hình (chém ngang lưng).
Thượng Thái là quê hương của
Lý Tư (nay là huyện Thượng Thái,
tỉnh Hà Nam).
[7] Trần
Hậu Sơn (1053-1101), tên thật là Trần Sư
Đạo, tự Lý Thường, và Vô
Kỷ, biệt hiệu là Hậu Sơn cư sĩ,
là thi nhân nổi tiếng thời Bắc
Tống.
[8] Sau khi
đã ngộ, trong thức thứ tám
vẫn còn lưu lại vô lượng chủng
tử ác nghiệp từ vô lượng
đời quá khứ, đó gọi là
lưu thức. Do lưu thức mà sẽ sanh
khởi các nghiệp trong hiện tiền,
đó gọi là hiện nghiệp.
[9] Tức là Ma Cốc Bảo Triệt,
đệ tử đắc pháp của Mă Tổ Đạo
Nhất. Do sau khi đắc pháp nơi Mă Tổ, Sư trụ
tại núi Ma Cốc ở Bồ Châu (tỉnh Sơn Tây)
để hoằng dương tông phong, nên được
gọi là Ma Cốc Bảo Triệt.
[10] Diệu
Hỷ là hiệu của ngài Đại Huệ Tông
Cảo (1089-1163), một vị cao tăng thuộc phái
Dương Kỵ trong tông Lâm Tế
đời Tống. Ngài có pháp tự
là Đàm Hối, lại còn có hiệu
là Vân Môn. Ngài xuất gia năm mười
bảy tuổi, tham học với các vị
Động Sơn Vi, Trạm
Đường Văn Chuẩn, Viên Ngộ Khắc
Cần v.v… Về sau, nối pháp của ngài Viên
Ngộ.
[11] Nguyên văn “càn
thỉ quyết” (乾屎橛) là
một công án trong Thiền gia. Thỉ quyết còn
gọi là xí trù, tịnh trù, tịnh
mộc, xí giản tử v.v… là một dụng
cụ để gạt phân trong nhà xí (vì
xưa kia, chưa có hầm vệ sinh như hiện
thời, phân phải chứa vào thùng
rồi đem đổ. Dụng cụ này dùng
để gạt phân khi quá đầy để khi
khiêng đổ đi, không vương vãi ra
đất). Sách Chỉ Nguyệt Lục ghi: “Lâm
Tế nói: ‘Trong khối thịt đỏ hỏn
này có một vị chân nhân chẳng có
địa vị, người chưa có
chứng cứ hãy xem đi’. Có một
vị tăng bước ra hỏi, Lâm Tế
đáp: ‘Đó là que cứt khô’. Lại
có một vị tăng hỏi: ‘Như thế nào
là người trong đạo?’ Đáp: - Que
cứt khô”. Các câu kế tiếp như “ba cân gai,
cưa đứt quả cân” v.v… đều
là các công án trong
Thiền Tông.
[12] Trong thiên Ung
Dã sách Luận Ngữ, Khổng Tử
nói: “Chất thắng văn tắc dã,
văn thắng chất tắc sử, văn
chất bân bân, nhiên hậu quân tử”. Theo các
nhà chú giải, Chất là sự thật,
còn Văn là những lời đẹp
đẽ, bóng bẩy. Do vậy, câu trên
đây phải hiểu là: “Sự thật
vượt hơn văn chương bóng bẩy thì
thành quê kệch, chỉ chú trọng bóng bẩy hơn
sự thật thì gọi là Sử. Văn
chương và bản chất phải cân bằng
tương xứng, thì mới thành bậc
quân tử”.
[13] Nam Hoa nói
ở đây tức là Nam Hoa Kinh, chính là tên gọi
khác của sách Trang Tử. Sách Trang Tử
là tác phẩm tập hợp các giai
thoại, ngụ ngôn, những câu nói của Trang
Châu (Trang Tử). Do tương truyền ông ẩn
cư tại núi Nam Hoa ở Tào Châu, cho nên đạo sĩ trong các
đời thường gọi ông là Nam Hoa tiên
nhân. Vì thế, Đường Huyền Tông ban phong
hiệu cho ông là Nam Hoa Chân Nhân, và bắt dân
chúng gọi sách Trang Tử là Nam Hoa Kinh.
[14] Tứ
tử ở đây là nói tới
Tứ Thư, tức Luận Ngữ,
Đại Học, Trung Dung, và Mạnh
Tử.
[15] Trong thiên Công
Tôn Dã sách Luận Ngữ, khi
được Tử Lộ hỏi về chí
nguyện của chính Ngài, Khổng Tử
nói: “Lão giả an chi, bằng hữu
tín chi, thiếu giả hoài chi”. Các nhà
chú giải giảng câu này phải hiểu là
“khiến cho người già được
sống an ổn, giao du với bạn bè luôn giữ
chữ tín, quan tâm đến những
người ít tuổi”.
[16] Nguyên văn
là Sanh (牲)
tức các con vật lớn dùng để
giết mổ trong các cuộc lễ cúng tế
như trâu, bò, dê, lợn, cừu.
[17] Ngài Huệ Hồng Giác Phạm
(1071-1128), pháp danh Đức Hồng, pháp tự Giác Phạm,
hiệu là Tịch Âm tôn giả, Cam Lộ Diệt v.v… Sau khi
cha mẹ mất lúc Ngài mười bốn tuổi, phải
nương nhờ chùa Bảo Vân thuộc núi Tam Phong, huyện
Tân Xương. Sau đó, Ngài theo học với thiền
sư Khắc Văn. Ngài có thi tài, được các bậc
văn nhân nổi tiếng thời đó như Trần
Quán, Hoàng Đ́nh Kiên, Trương Thương Anh hết sức
tán thưởng. Năm Đại Quán thứ ba (1109), Ngài
trụ tại chùa Thanh Lương ở phủ Giang Ninh, bị
một tăng nhân vu cáo ngụy tạo tăng tịch, cho nên
bị tù một năm, tước mất tăng tịch.
May nhờ cựu tể tướng Trương
Thương Anh tấu tŕnh mới được phục
hồi tăng tịch. Hai năm sau, do Trương
Thương Anh mắc tội, Ngài bị liên lụy. Triều
đ́nh hạ lệnh phạt hai mươi trượng
và sung quân, ba năm sau mới được tha. Năm
Chánh Ḥa thứ tám (1118), Ngài lại bị một đạo
sĩ vu cáo, bị tù một lần nữa hết một
trăm ngày. Khi đó, bè lũ gian nịnh của Sái Kinh thất
thế, triều đ́nh phục hồi quan tước cho
Trương Thương Anh, Trần Quán v.v… Ngài Giác Phạm
phải nhiều lượt kêu cầu phục hồi
tăng tịch cho chính ḿnh.
[18] Tô Đông Pha
tên thật là Tô Thức, tên tự là
Tử Chiêm và Hòa Trọng. Do ông làm nhà
ở sườn núi, lấy hiệu là
Đông Pha cư sĩ, nên thường
được gọi là Tô Đông Pha.
[19] Hàn
Tín là người xứ Hoài Âm, là
khai quốc công thần của nhà Hán. Ông xuất
thân bình dân, giỏi dụng binh, có mỹ hiệu
là Binh Tiên. Ông được Tiêu Hà ca
ngợi là Quốc Sĩ Vô Song. Sau khi giúp
Lưu Bang diệt Sở, thống nhất Trung Hoa, ông
bị Hán Cao Tổ
(Lưu Bang) nghi kỵ, dần dần tước đoạt
binh quyền, chỉ phong cho một tước
hữu danh vô thực là Hoài Âm Hầu.
Cuối cùng, chính Tiêu Hà ngầm mưu
với Lữ Hậu (vợ Lưu Bang) dùng
ngũ hình phanh thây giết chết Hàn Tín tại cung
Trường Lạc. Lúc hàn vi, Hàn Tín
thường đói ăn, được
một người đàn bà làm nghề
giặt giũ ở bên sông (phiếu mẫu) cho
ăn, nên khi hiển đạt bèn mời bà ta
đến biếu tặng ngàn lượng
vàng. Hàn Tín từng bị một gã
bán thịt vô lại ở Hoài Âm bắt
nạt, bắt luồn qua háng hắn. Khi
thành danh, Hàn Tín vẫn mời hắn
đến tặng vàng, cảm ơn hắn
đã khiến mình quyết chí tiến lên.
[20] Tổng Nhung
hay Đại Tổng Nhung là tên gọi khác của
chức quan Tổng Binh, còn gọi là Trấn
Hiến. Chức quan này được thiết
lập từ đời Minh, cùng cấp
với chức Tổng Đốc bên văn quan, nhưng thấp hơn
chức Đề Đốc một cấp. Tổng
Nhung coi về quân sự trong một tỉnh, là
hạ quan của Tuần Phủ (quan văn coi một
tỉnh).
Thích
Kế Quang (1528-1588), tự Nguyên Kính, hiệu
là Nam Đường và Mạnh Chư, là
võ tướng nổi tiếng thời Minh. Ông
từng có công phòng ngự cướp
biển Oa Khấu miền Đông Trung Hoa. Ông giỏi
võ, khéo dụng binh, nổi tiếng về
quyền pháp, chuyên sử
dụng côn và thương. Ông viết nhiều sách
võ học, nổi tiếng là hai bộ Kỷ
Hiệu Tân Thư và Luyện Binh Thật Ký.
[21] Vương
Linh Quan còn gọi là Vương Thiên Quân, Long Ân Chân
Quân, Thái Ất Lôi Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn,
Ngọc Xu Hỏa Phủ Thiên Tướng v.v… là
thần trấn thủ sơn môn của Đạo
giáo, kiêm chủ trì hỏa bộ và lôi bộ,
cũng như là thần hộ pháp. Vị này
là thần hộ pháp được sùng
bái nhất trong Đạo giáo, thường
được tạc tượng thờ
có ba mắt, con mắt tròn xoe phẫn
nộ, mặt đỏ, khoác giáp đỏ,
chân đạp trên phong hỏa luân, một tay cầm roi kim
cang, tay kia kết ấn Linh Quan (còn gọi
là Thông Thiên Chỉ).
[22] Cờ vây
(dịch kỳ, 弈棋),
còn gọi là Vi Kỳ (圍棋),
hoặc Thủ Đàm (手談)
hoặc Kỳ (碁), là một loại
cờ truyền thống của Trung Hoa, vẫn còn
được chơi cho
tới hiện thời. Khi nói “cầm kỳ
thi họa” th́ Kỳ chính
là nói loại cờ này. Loại cờ
này cũng được chơi khá phổ biến tại
Nhật Bản và Đại Hàn. Tương
truyền loại cờ này do Hoàng Đế
phát minh. Do Thái Tử Đan Châu ngạo
mạn, tự mãn, nên vua chế ra loại
cờ này để uốn nắn tâm tánh
của con mình. Bàn cờ có mười chín vạch
mỗi phía, gồm hai quân cờ đen và
trắng. Các con cờ sẽ đặt trên
giao điểm của các đường kẻ
này. Đúng như tên gọi, người
chơi cờ dùng con cờ bao vây đối
thủ cho đến khi đối thủ không thể di
chuyển được nữa.
[23] Tức nhạc
đám ma.
[24] Cách
nói này dựa trên thành ngữ “ải
nhân khán kịch” (người lùn xem
tuồng), xuất phát từ một câu chuyện
ngụ ngôn: Gã lùn đi xem tuồng, do quá lùn,
chỉ thấy bóng lưng của người
khác, chẳng thấy sân khấu đang diễn
gì. Gã nghe người khác vỗ tay khen, cũng
hò hét khen hay, nghe chê dở cũng gào thét chê dở.
Thành ngữ này được dùng
để chê trách kẻ chẳng hiểu biết,
chỉ biết hùa theo đám đông, không phân
biệt hay dở, không có chánh kiến. Tổ dùng thành ngữ này tự
giễu: Thuở trẻ chính ḿnh chưa biết Phật
pháp là ǵ, chưa hề đọc kinh Phật, chỉ nghe bọn
Tống Nho bác Phật cũng hùa theo đả kích Phật,
giống như gă lùn xem tuồng vậy!
[25] Lợn
người (nhân trệ, 人彘) là hình
thức trả thù thảm khốc do Lữ
Hậu (vợ của Hán Cao Tổ Lưu Bang)
nghĩ ra để trừng trị Thích phu nhân (sủng
phi của Hán Cao Tổ). Khi Hán Cao Tổ
trở thành hoàng đế, Lữ Hậu
tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, Hán
Cao Tổ chán ngán, thường sủng ái
Thích phu nhân (còn gọi là Thích Cơ).
Mỗi khi vua xuất chinh, tuần du,
đều dẫn Thích Cơ theo. Do
Thích phu nhân trẻ đẹp, vua rất sủng
ái. Nàng có một người con tên là
Lưu Như Ý, được phong làm
Triệu Vương. Thích phu nhân thổi gió bên tai
vua, mong con nàng được phong làm Thái
Tử. Vua nghe ton hót, toan phế thái tử
Lưu Doanh (con trai của Lữ Hậu), may nhờ
Trương Lương hiến kế, Lữ Hậu mới
bảo toàn được địa vị
thái tử cho con trai. Sẵn lòng ghen
tức, khi vua chết, Lữ Hậu sai
người bắt Thích phu nhân cạo trọc
đầu, cho mặc quần áo rách
rưới, bắt giã gạo từ
sáng đến tối. Sau đó, sai người
giết chết Lưu Như Ý, chặt chân tay, khoét
mắt, chọc tai của Thích phu nhân, rạch
mặt, ném vào nhà xí cho sống trong
đó, gọi là “nhân trệ” (lợn
người).
Tiêu
phi chính là vợ lẽ
của thái tử Lý Trị
(Đường Cao Tông sau này). Bà là
hậu duệ của nhà Lương (con cháu
Lương Vũ Đế). Khi Lý Trị lên ngôi,
bà được phong làm Thục Phi, chỉ
kém Vương hoàng hậu một chút. Tiêu phi
từng ỏn thót mong vua phong cho con mình làm
Thái Tử. Do ghen tức, Vương hoàng
hậu lại nghe lời ngon ngọt của Vũ
Chiếu (tên thật của Vũ Tắc Thiên) lúc
đó đang bị đưa đi làm ni cô canh
lăng mộ của Đường Thái Tông, xin
vua đón Vũ Chiếu về cung để vua bớt
sủng ái Tiêu phi. Do
trước đó, Lý Trị đã
tằng tịu với Vũ Chiếu, nên khi
Vương hoàng hậu ton hót, vua bèn
đồng ý đón Vũ Chiếu về cung.
Vũ Chiếu dùng mọi âm mưu hạ bệ
Vương hoàng hậu lẫn Tiêu phi, trở
thành hoàng hậu, hoàn toàn khống chế
Đường Cao Tông. Bà ta cũng bắt
chước Lữ Hậu dùng thảm hình “nhân
trệ” để hành hạ Tiêu phi và
Vương hoàng hậu.
[26] Ngài
Thạch Sương Sở Viên tự là
Từ Minh, thuộc tông Lâm Tế, trụ tại
núi Thạch Sương ở Đàm Châu, nên
thường gọi là Thạch Sương. Sư
thoạt đầu học Nho, hai mươi hai tuổi
xuất gia, nối pháp của ngài Phần
Dương Thiện Chiêu. Từ đệ tử
của ngài mà tông Lâm Tế tách ra thành
hai phái là Hoàng Long và Dương Kỵ.
[27] Năm Hàm
Thông thứ mười (869), vào ngày Hai
Mươi Mốt tháng Ba, ngài Động Sơn
Lương Giới (tổ sư của tông Tào
Động) sai đệ tử cạo tóc,
đắp y cho mình, nói pháp ngữ khai thị
xong, Ngài ngồi xếp bằng an nhiên ra đi.
Đệ tử khóc than dữ dội. Ngài
Động Sơn lại mở mắt ra, bảo
đại chúng: “Đều là người
xuất gia, tâm ắt phải thuần tịnh,
chẳng tạp, mới là chân chánh tu
hành, sao lại
buồn khóc quá người thế tục
như vậy?” Đại chúng thỉnh cầu quá
tha thiết, Ngài dời ngày viên tịch thêm
bảy ngày nữa. Đến ngày thứ
bảy, Ngài sai
tăng sĩ chuẩn
bị cơm chay đãi đại chúng. Khi thọ
trai, Ngài chỉ
vào các món chay, bảo: “Những món
chay này gọi là chay ngu si”. Ngụ ý chê
trách đại chúng tu hành chẳng
hướng theo trí huệ Bát Nhã,
chẳng ngộ nhập sâu xa sanh tử
chẳng đến, chẳng đi, cứ
chấp trước vào hình tướng
sanh diệt. Tới ngày thứ tám, Ngài
thay áo mới, an nhiên tọa thoát.
[28] Vị này
là cao tăng thuộc phái Dương Kỳ
của tông Lâm Tế, sống vào đời
Tống, người xứ Vụ Châu (tỉnh
Chiết Giang), pháp hiệu là Tổ Khâm, hiệu
là Tuyết Nham. Sư lúc năm tuổi
xuất gia làm sa-di, mười sáu tuổi
đắc độ. Sư từng tham học
các vị Thiền túc nổi tiếng thời
bấy giờ như Song Lâm Tự Đoản Bồng Viễn, Diệu Phong
Chi Thiện, Diệt Ông Văn Chuẩn, Kính Sơn Vô
Chuẩn Sư Phạm, về sau nối pháp của
ngài Sư Phạm. Sư còn để lại
tác phẩm Tuyết Nham Hòa Thượng
Ngữ Lục gồm bốn quyển.
[29] Khi một
triều đại mới thành lập thì
gọi là Quốc Sơ, ở đây là nói
lúc nhà Minh mới thành lập.
[30] Không Cốc Ảnh Long, pháp tự
Tổ Đ́nh, pháp hiệu Không Cốc, là tăng nhân thuộc
tông Lâm Tế, sống vào đầu đời Minh. Sư
là người Động Đ́nh, Tô Châu, hai mươi tuổi
xuất gia, ba mươi lăm tuổi thọ Cụ Túc tại
chùa Chiêu Khánh. Sư chủ trương dùng Niệm Phật
Thiền làm pháp yếu tu hành, đề xướng “một
môn niệm Phật là cốt yếu để tu hành nhanh
chóng”, phản đối phương thức tham công án.
Trong năm Chánh Thống thứ năm (1440), Sư soạn
Thượng Trực Biên để phản đối những
lư luận báng Phật của Châu Hy. Lại c̣n soạn
Thượng Lư Biên để chê trách những sai lầm
trong cách tu hành Phật pháp của người
đương thời.
[31] Tức địa
vị Thập Tín.
[32] Trong cách lập
luận của Nhân Minh Học thường gồm có ba phần:
Phần nêu ra một luận điểm, hay một điều
khẳng định th́ được gọi là Tông. Phần
thứ hai nêu ra nguyên nhân hay lời giải thích v́ sao có sự
khẳng định ấy. Điều này gọi là Nhân. Phần
thứ ba là Dụ, tức dùng thí dụ để giải
thích rơ hơn.
[33] Khổng
Tùng Tử (孔叢子) là một bộ
sách cổ ghi chép ngôn hạnh của Khổng
Tử và các môn đệ hoặc hậu
duệ như Tử Tư, Tử Thượng,
Tử Cao, Tử Thuận, Khổng Phụ v.v… Sách ấy ghi tác giả
là Khổng Phụ. Sách được chia
thành sáu quyển, gồm hai
mươi mốt thiên. Tác phẩm này
được nhắc đến lần
đầu tiên trong bộ Chứng Thánh Luận
của Vương
Túc thời Tào Ngụy. So sánh văn phong và cách sử dụng từ ngữ
giữa bộ Khổng
Tùng Tử và bộ Khổng Tử Gia
Ngữ, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sách Khổng
Tùng Tử cũng do chính Vương Túc
soạn rồi gán cho Khổng Phụ.
[34] Dương
Giản (1141-1226), tự là Kính Trọng,
được cõi đời gọi là
Từ Hồ tiên sinh, là một nhà Lý
học thời Nam Tống, chú trọng phát
triển thuyết Tâm Học.
[35] Theo các
nhà chú giải, câu nói này có ý
dạy người học phải biết tập trung
tinh thần. “Ra, vào” (xuất nhập) trong câu nói
trên đây chính là khi chú ý nắm
vững sự vật thì gọi là
nhập, quên bẵng không chú ý tới
nó là xuất. Để tập trung tinh thần,
phải luôn chú ý, chứ nếu hời
hợt, không chú ý, những điều
đã học sẽ bị quên mất, tinh thần không
có chỗ chú ý tập trung nhất định
thì gọi là “xuất nhập vô thời”.
Khi tinh thần không tập trung, nó sẽ không có
phương hướng nhất định, nên
nói là “mạc tri kỳ hương” (không
biết sẽ đi về đâu, hoặc không biết
quy vào đâu). Nhưng ở đây, tổ Liên
Trì hiểu câu này theo phương hướng
nhà Thiền, “xuất nhập” tức là không
chấp trước sự vật, dù sự
đến hay sự
đi đều
chẳng bận lòng, tâm trí nhập vào cảnh
tịch tĩnh, chẳng thể dùng tư duy thông
tục để suy lường, nên nói là “mạc
tri kỳ hương” (chẳng biết nó quy
vào đâu).
[36] Bích Nham
Tập còn gọi là Bích Nham Lục, do ngài
Viên Ngộ Khắc Cần soạn vào
đời Tống. Sách này vốn do ngài
Tuyết Đậu Trùng Hiển chọn ra một
trăm công án từ một ngàn bảy trăm
công án trong Cảnh Đức Truyền Đăng
Lục, viết thêm lời tụng cho mỗi công
án. Về sau, ngài Viên Ngộ đối với
các công án bèn thêm lời giải thích,
bình luận, nhận định. Tức là
đối với mỗi công án, ngài viết
lời dẫn nhập giới thiệu, ghi sơ
lược hoàn cảnh vì sao có
đoạn công án ấy, bình luận về ý
nghĩa của cơ phong, tự soạn kệ
tụng, và nhận định chung. Gọi là
Bích Nham Tập là do dựa theo chữ
đề trên phương trượng thất tại
chùa Linh Tuyền ở Giáp Sơn thuộc
Lễ Châu.
[37] Tụng Cổ là một
thể loại kệ tụng dùng trong nhà
Thiền. Tụng Cổ
tức là dùng lời lẽ đơn
giản viết thành kệ tụng để chỉ rõ ý
nghĩa được biểu thị trong lời
dạy của cổ nhân (thường áp dụng
cho công án).
[38] Bình Xướng (評唱): Bình luận,
nhận định để đề cao một ý
kiến của cổ nhân.
[39] Đâu
Suất Tùng Duyệt (1044-1091) là cao tăng
thuộc tông Lâm Tế, sống vào đời
Tống - Nguyên. Ngài
quê ở Cám Châu, tỉnh Giang Tây, mười
lăm tuổi xuất gia với thiền sư Y
Đức Tung, về sau kế thừa pháp
mạch của thiền sư Bảo Phong Khắc
Văn, trở thành pháp duệ của tổ
Hoàng Long Huệ Nam. Trương Vô Tận tức
là Trương Thương Anh. Ông này làm Hữu
Thừa Tướng thời Tống Huy Tông. Do Trương Thương Anh lấy
hiệu là Vô Tận cư sĩ, nên gọi là
Trương Vô Tận. Do Trương Thương Anh
đắc ngộ nơi ngài Tùng Duyệt mà khiến cho
giới sĩ phu thời ấy hâm mộ Phật
pháp, lưu tâm nghiên cứu Thiền Tông.
[40] “Thoái
viện” có
nghĩa gốc là rời khỏi tự
viện, được dùng ở đây
với ý nghĩa từ bỏ hoặc bị tước
hết ngôi vị trong chùa như tọa chủ,
phương trượng, trụ trì, giám
viện… chẳng hạn.
[41] Lão
Tử Thanh Tĩnh Kinh có tên gọi đầy
đủ là Thái Thượng Thanh Tĩnh Kinh,
còn gọi là Thường Thanh Tĩnh Kinh,
là một bản kinh của Đạo giáo do
người đời sau soạn ra, gán cho
Lão Tử nói. Các đạo sĩ
tương truyền bản kinh này do Lão
Tử khi viếng thăm núi Côn Luân đã
giảng cho Tây Vương Mẫu nghe. Các tiên nhân
truyền tụng, cuối cùng dạy cho Cát
Hồng ghi lại. Các học giả cho rằng
bản kinh này ra đời vào thời
Lục Triều hoặc nhà Đường.
Những nhân vật truyền thừa kinh này
như Cát Tiên Ông (Cát Hồng), Tả Huyền Chân
Nhân và Chánh Nhất Chân Nhân đều là do
người đời sau thêm vào nhằm
tạo tính khả tín cho bộ kinh này. Kinh
này chưa đến bốn trăm chữ,
nội dung có phần nào vay mượn
khái niệm tịch tĩnh của kinh Phật kết
hợp với tư tưởng của
Đạo Đức Kinh.
[42] Tất
Lăng Già Bà Tha (Pilinda-vatsa),
còn phiên âm là Tất Lăng Già Phạt Tha,
Tất Lân Đà Bà Tha, Tất Lan Đà
Phạt Tha, Tỷ Lợi Đà Bà Giá,
dịch nghĩa là Trừ Tập, Ác Khẩu.
Ngài thuộc chủng tánh Bà La Môn, quê ở
thành Xá Vệ, thoạt đầu học chú
ẩn thân, thành tựu rất có tiếng
tăm. Khi gặp đức Phật, chú
lực hoàn toàn vô tác dụng, bèn
xuất gia làm đệ tử đức
Phật. Ngài có tập khí là ăn nói
thô thiển, hay thích mắng người
khác. Khi vượt sông Hằng, Ngài kêu:
“Hằng hà tiện tỳ! Mau tách
nước ra”. Nữ thần do tuân phục bậc
La Hán, vẫn tách nước sông ra, nhưng ấm
ức, bèn đến mách
với đức Phật. Đức Phật
dạy Ngài xin lỗi nữ thần. Ngài
nói: “Hằng hà thần tiện tỳ! Ta
sám hối với ngươi”.
Đại chúng bật cười, vì sám
hối kiểu đó khác gì chửi
người ta. Đức Phật nói
đó là tập khí do năm trăm
đời làm Bà La Môn, tạo thành thói
quen ngạo mạn. Theo kinh Lăng Nghiêm, Ngài
trần thuật pháp Thân Căn Viên Thông: Trong khi đi
khất thực, đạp phải gai, toàn thân
đau đớn. Do quán niệm cái đau,
Ngài ngộ ra: Tâm niệm biết sự đau đớn
ấy, nhưng cái tâm thanh tịnh không có đau
và cái biết đau, như vậy thì một
thân lại có hai cái biết ư?
Ngài nhiếp tâm quán niệm. Chẳng lâu sau,
thân tâm rỗng không, trong khoảng hai mươi mốt
ngày, các lậu tiêu hết, thành quả A La
Hán, được đức Phật
ấn chứng.
[43] Nguyên văn
là Thiên Vận (篇韻)
tức là gọi gộp chung hai bộ sách
Ngọc Thiên và Quảng Vận. Sách Ngọc Thiên do
Cố Dã Vương biên soạn vào đời
Nam Lương, Quảng Vận do Trần Bành Niên biên
soạn vào đời Bắc Tống. Cả
hai sách đều chú trọng cách gieo vần
trong văn từ và thơ ca Hán ngữ. Do
đó, khi nói Thiên Vận có nghĩa là
nói tới âm đọc, gieo vần cho câu văn
bóng bẩy, nhịp nhàng.
[44] Đây là
dựa theo thành ngữ “học phú
ngũ xa” hoặc “độc thư ngũ xa”
trích từ sách Trang Tử. Theo đó,
thời Chiến Quốc, Huệ Thí nổi
tiếng học rộng, sách vở của ông
phải tốn năm cỗ xe mới chở
hết nổi. Do vậy, hai thành ngữ trên đây
nhằm ca ngợi người kiến
thức rộng rãi, đọc nhiều, hiểu
biết nhiều.
[45] Phụ
tử (附子)
là một vị thuốc trích từ một
loại thảo mộc gọi là Ô Đầu (Aconitum
Carmichaelli). Loại thảo mộc này còn
được biết dưới tên gọi
Thổ Phụ Tử, Đoạn Tràng, Khổ Ô
Uế, Hề Độc, Kê Độc, Độc Công,
Độc Bạch Thảo. Cây này có củ, hoa
tím như cánh bướm lớn, phần
thân cây có thể cao đến một mét hai,
lá có hình trái xoan, nhiều lông. Cây này
kịch độc, cho nên chế biến phải hết
sức cẩn thận. Nếu hái lá
bằng tay trần, sẽ
dễ bị trúng độc, dẫn đến tim
ngừng đập.
[46] Phòng
Huyền Linh (579-648) tên thật là Phòng Kiều,
Huyền Linh là tên tự. Ông là mưu sĩ
nổi tiếng, là người phù tá
Lý Thế Dân (Đường Thái Tông). Về
sau, ông từng
giữ các chức Tư Mã, Trung Thư
Lệnh (Tể Tướng), Tư Không, Tể Phụ
dưới triều Đường Thái Tông,
và cũng là một trong hai mươi bốn
vị khai quốc công thần được vẽ
hình trong Lăng Yên Các, cũng như
được phong làm Lương Quốc
Công.
Đỗ
Như Hối (585-630), tự Khắc Minh, cũng
là một trong mưu thần chủ yếu của
Lý Thế Dân. Ông làm binh tào tham quân trong phủ
của Tần Vương Lý Thế Dân. Thái
tử Kiến Thành rất e ngại ông ta, nói: “Người
đáng sợ trong phủ Tần Vương
chỉ có Đỗ Như Hối và Phòng
Huyền Linh”. Ông từng làm đến
chức Thượng Thư Hữu Bộc Xạ
(phó thừa tướng).
[47] Nguyên văn “từ
lục đảm hán” (徐六擔板), xuất phát
từ ngạn ngữ “đảm bản hán,
đản kiến nhất phương”, tức
là kẻ vác tấm gỗ to, chỉ có thể
thấy đằng trước, không thấy hai bên
được, vì tấm gỗ che khuất tầm
nhìn. Thành ngữ này được
nhà Thiền dùng để sánh ví kẻ
thiên chấp, kiến giải hẹp hòi.
[48] Vũ Di
là một quả núi nổi tiếng thuộc
tỉnh Phước Kiến, nơi này sản
xuất một loại trà nổi tiếng là
trà Vũ Di. Phong cảnh nên thơ, cực
đẹp, được coi là thắng
cảnh trong vùng Nam Hoa. Cửu Khúc chính
là sông Cửu Khúc Khê. Sông bắt nguồn
từ núi Vũ Di, quanh co uốn lượn
dài 58.500 mét, là chi
lưu của sông Sùng Dương. Sông và núi
hợp thành một cảnh đẹp lung linh,
được tán thưởng là “hành lang tranh thủy mặc”.
[49] Võng Xuyên
chính là Võng Xuyên Trấn thuộc huyện Lam
Điền tỉnh Thiểm Tây, rất nhiều cảnh
đẹp. Đây là nơi ẩn cư của thi nhân
Vương Duy đời Đường.
Vương Duy tức là Ma Cật cư sĩ, thơ của ông mang
đậm ảnh hưởng Phật giáo, siêu
thoát, nên được xưng tụng là Thi
Phật.
[50] Kê Đầu
Ma (Kukkuṭārāma) còn
gọi là Kê Đầu Mạt Tự, Kê Viên, Kê
Tước Tự, Kê Tự v.v… thuộc
thành Ba Trá Ly Tử (Pāṭaliputta,
tức thành phố Patna hiện thời) nước
Ma Kiệt Đà, là ngôi chùa do vua Ưu
Điền (tức vua A Dục) kiến lập. Theo Tây
Vực Ký, lúc hưng thịnh, nơi đây
có hơn một ngàn vị tăng trụ. Tu viện này bị
phá hủy bởi vua Puṣpamitra
Śuṅga. Sau khi lật đổ Khổng
Tước vương triều (Maurya), nhà vua đă nỗ
lực tiêu diệt Phật giáo, phá chùa (hơn năm
trăm ngôi chùa), đốt kinh, giết sư.
[51] Sách này do pháp
sư Tri Lễ (Tứ Minh tôn giả) soạn vào đời
Tống, nhằm chú thích (sao) lời chú giải (sớ) Quán
Kinh của tổ Thiên Thai Trí Giả đại sư. Ngài
Tri Lễ nói “trên là vâng theo tông chỉ mầu nhiệm, giải
nghĩa đại lược lời Sớ” nên đặt
tên sách là Diệu Tông Sao, tức nêu rơ lư luận và
phương hướng dùng Thiên Thai giáo quán để tu
pháp môn Niệm Phật.
[52] Nguyên văn “du
tư” (油糍
hoặc 油餈) là
một loại bánh rán, thường
dùng như một món ăn vặt ở Hoa
Nam. Bánh làm bằng bột nếp (hoặc
bột mì) trộn lẫn với bột khoai,
bọc nhân bằng củ cải thái sợi,
sợi khoai môn, tôm băm nhuyễn, các loại rau
bằm, hành băm, nấm hương, thịt heo
bằm, hay các loại rau trộn thịt rồi
đem chiên giòn. Bánh chia làm hai loại nhân
ngọt (không có thịt)
và nhân mặn. Nếu nhân mặn thì
ăn với tương ngọt hoặc
tương ớt. Nếu là nhân ngọt, nhiều
khi phủ một lớp keo đường bên
ngoài giống như bánh cam của Việt Nam.
Loại bánh này không chỉ ăn vặt,
mà còn dùng trong ngày Tết, mang ý
nghĩa đoàn viên.
[53] Nguyên văn “sô
hoạn” (芻豢):
Sô là những con vật ăn cỏ, Hoạn
là những con vật ăn ngũ cốc. Do
vậy, Sô Hoạn là từ ngữ chỉ chung
các con vật như trâu, bò, dê, chó, lợn
v.v…
[54] Mạnh Bôn
và Hạ Dục là những dũng sĩ
nổi tiếng thời Chiến Quốc. Mạnh Bôn
có thể tách đôi hai con trâu đang húc nhau
bằng tay không, Hạ Dục có thể nâng một
ngàn quân dễ dàng (một quân là ba mươi
cân, tức mỗi quân
là mười lăm kilogram).
[55] Trương
Lương và Trần Bình là hai mưu sĩ
nổi tiếng thời Tây Hán, được
coi là khai quốc công thần của nhà Hán.
[56] Ly Lâu là
người được coi là có
mắt sáng rất sáng, có thể thấy
được mảy lông bé tí trong không trung.
Theo thiên Ly Lâu sách Mạnh Tử, Ly Lâu sống
vào thời Hoàng Đế. Hoàng Đế
đánh mất huyền châu, sai Ly Lâu tìm kiếm.
Công Thâu chính là Lỗ Ban. Lỗ Ban họ Công Thâu,
tên là Ban, do ông là người nước
Lỗ nên thường gọi là Lỗ Ban. Lỗ
Ban có tài khéo về chế tác, thiết
kế, kiến trúc. Ông được tôn là
tổ của thợ mộc, thợ hồ,
thợ rèn, thợ khắc đá v.v…
[57] Thẩn (蜃) là một
loài ṣ lớn ngoài biển, theo truyền thuyết, hơi thở
của nó tạo thành huyễn ảnh như thành thị
trên mặt biển, nên mới có thành ngữ “hải thị
thẩn lâu” (phố biển, lầu thẩn).
[58] Đây là những
thí dụ thường được lưu truyền theo
quan niệm của người xưa, Tổ chỉ mượn
dùng để nói lên ư nghĩa h́nh chất chuyển biến
không nhất định.
[59] Bộ
sách này có tên gọi đầy đủ
là Cổ Kim Thuyết Hải, gồm một trăm bốn
mươi hai quyển, do Lục Tiếp
và Hoàng Tiêu biên soạn vào đời Minh
với sự góp sức của
Khương Nam, Cố Định Phương, Cù Học
Thiệu, Đường Nỗ, Cố Danh Thế v.v…
Sách thâu thập các chuyện dã sử, ghi
chép trong dân gian bao gồm nhiều lãnh vực,
kể cả các chuyện thần dị. Sách
tiếp thu rất nhiều tư liệu từ bộ
Thái Bình Quảng Ký và Thuyết Phù,
chép các chuyện từ đời
Đường cho đến niên hiệu Chánh
Đức đời Minh.
[60] Mao Thi là
kinh Thi theo trường phái Mao Hanh người
nước Lỗ thời Tây Hán phục
tạo và hiệu đính. Do Tần Thủy
Hoàng đốt sách, kinh điển Nho gia bị
thất lạc. Đời Hán, các Nho sĩ
tìm cách phục hồi các bản cổ văn
dựa theo các bản chép tay do tư nhân
cất giấu. Kinh Thi được phục hồi
chia thành bốn phiên bản: Tề Thi (do Viên Cố
người nước Tề hiệu đính,
bản này đã bị thất truyền vào
thời Tào Ngụy), Lỗ Thi (do Thân Bồi
người nước Lỗ hiệu đính,
bản này cũng bị tàn khuyết
dưới thời Tây Tấn), Hàn Thi (do
Hàn Anh người nước Yên hiệu
đính. Bản này bị thất truyền vào thời Bắc
Tống), và Mao Thi còn nguyên vẹn đến
hiện thời. Do vậy, Thi Kinh hiện thời
được lưu truyền chính là bản
Mao Thi.
Sở Tao
gồm hai ý nghĩa: Một là tác phẩm Ly
Tao do Khuất Nguyên nước Sở sáng
tác, hai là một thể loại thơ văn
của nước Sở, thường gọi
là Sở Từ. Các bài văn
chương theo thể thức này
được Lưu Hướng, Tống Ngọc
v.v… sưu tập, hợp
thành một bộ sách đặt tên là
Sở Từ. Từ thể loại Sở
Từ này mà hình
thành các loại phú hoặc từ phú
về sau.
[61] Phòng Dung
làm tể tướng thời Vũ
Tắc Thiên, tức là giữ chức
Chánh Gián Đại Phu Đồng
Phượng Cách Loan Đài Bình
Chương Sự. Đến đời
Đường Trung Tông, ông bị cách
chức, đày đi Khâm Châu (thuộc Quảng
Tây), có thuyết nói là Cao Châu (thuộc
Quảng Đông). Về sau, chết tại
nơi đi đày.
[62] Tức
Liễu Tông Nguyên, Hàn Dũ, Nguyên Chấn, Bạch
Cư Dị, bốn đại văn học gia
thời Đường.
[63] Tái Ông là một câu
chuyện trích từ thiên Nhân Gian Huấn trong sách
Hoài Nam Tử. Theo đó, Tái Ông là một ông
già sống ở biên ải, giỏi nuôi
ngựa. Một hôm, con ngựa của ông vô
cớ chạy vào vùng người Hồ,
thế là ông mất ngựa. Hàng xóm chia
buồn, ông đáp: “Biết đâu là chuyện
tốt thì sao?” Không lâu sau, con ngựa chạy
mất trở lại, dẫn theo một bầy
ngựa. Hàng xóm chúc mừng, ông
nói: “Biết đâu biến thành chuyện xấu
thì sao?” Quả nhiên, không lâu sau, con trai ông
cưỡi con ngựa khỏe nhất trong
đó, bị té gãy chân, biến thành
què quặt. Mọi
người an ủi, ông nói: “Biết đâu
biến thành chuyện tốt thì sao?” Một
năm sau, người Hồ tấn công quan ải,
mọi tráng niên đều phải tòng quân. Kết
quả là thanh niên trai tráng chết chín phần
mười, riêng con ông do què quặt
được miễn lính.
[64] Đây là
câu chuyện Quản Trọng bắn trúng cái
móc giữ đai lưng của Tề Hoàn Công.
Năm 686 trước Công nguyên, Tề Tương Công (Khương
Chư Nhi) bị đại phu Liên Xưng và Quản
Chí Phụ gây binh biến giết chết. Công Tôn Vô Tri
thừa cơ chiếm ngôi. Năm sau, đại phu Ung
Lẫm giết chết Công Tôn Vô Tri, đưa Tiểu
Bạch lên ngôi, nhưng đồng thời, Khước Chi
nước Lỗ lại ủng hộ một
người anh khác của Tiểu Bạch là
Tử Củ lên ngôi. Do vậy, nước Lỗ xua quân
tấn công Tề. Quản Trọng khi đó là
thuộc hạ của Tử Củ đã
giương cung toan sát hại Tiểu Bạch,
nhưng chỉ bắn trúng cái móc nơi
đai lưng của Tiểu Bạch. Về sau, quân Tề
chiến thắng. Bão Thúc Nha đòi Lỗ
Trang Công xử tử Tử Củ và giao
nạp Quản Trọng. Ai cũng nghĩ Quản
Trọng phải chết, nhưng do sự tiến
cử nồng nhiệt của Bão Thúc Nha,
Tề Hoàn Công (Khương Tiểu Bạch) trọng
dụng Quản Trọng làm tướng quốc. Quảng Trọng đưa
nước Tề thành bá chủ của chư
hầu thuở ấy.
[65] Ý nói:
Ngài Nam Nhạc Huệ Tư chỉ nêu ra những
cương lãnh chánh yếu của giáo
nghĩa trong Pháp Hoa, nhờ đó,
đặt cơ sở cho tông Pháp Hoa, nhưng
ngài Thiên Thai Trí Giả mới là
người hoàn bị giáo thuyết Pháp
Hoa.
[67] Hoàn
thiện, hệ thống hóa giáo nghĩa trong một học
thuyết thì gọi là “tập đại
thành”. Chẳng
hạn như Lục Kinh đã có trước
thời Khổng Tử, nhưng ông san định,
chỉnh lý, nên gọi là “Khổng Tử
tập đại thành lục kinh”.
Trước ngài Thiên Thai Trí Giả đã
có những giáo nghĩa về Pháp Hoa
của các vị Bắc Tề Huệ Văn, Nam
Nhạc Huệ Tư v.v… nhưng tổ Thiên Thai Trí
Giả đã hoàn thiện, hệ thống hóa,
đặt cơ sở vững vàng cho
những khái niệm như “Bổn, Tích, nhất
niệm tam thiên” v.v… khiến
cho giáo nghĩa Thiên Thai trở thành hoàn
bị, chặt chẽ, nhất quán, nên gọi là “tập
đại thành”.
[68] Tức là lẽ
ra phải gọi là tông Thiên Thai và tông Thanh Lương (thay
v́ gọi là tông Hiền Thủ).
[69] Vị này
có tên đầy đủ là Úc
Đường Văn Ích, trụ tại chùa
Nhạc Lâm, thuộc Khánh Nguyên huyện Phụng
Hóa, là pháp tôn đời thứ tư
của ngài Đại Huệ Tông Cảo,
đắc pháp với ngài Tịnh
Từ Ẩn Công.
[70] Mặc Chiếu
là cách Thiền do thiền sư Hoằng Trí Chánh Giác của
tông Tào Động đề xướng. Nói Mặc tức
là nhấn mạnh sự tịch tĩnh, buông xuống chấp
trước tự ngă, chẳng bị ngoại cảnh dao
động, trong tâm ǵn giữ sự tịch tĩnh. Chiếu
tức là tuy tịch tĩnh vẫn nhận biết vạn
sự vạn vật rơ ràng, tâm như gương sáng. Mặc
Chiếu bị quở trách là Tà Thiền do người
đời sau không hiểu ư của Mặc Chiếu, biến
thành cách ngồi lặng thinh, không quán chiếu, giống
như cỏ cây vô tri, thậm chí bị chê trách là “lănh thủy
bào thạch đầu” (nước lạnh ngâm đá).
[71] Đây là
phần Hào Từ trong kinh Dịch nhằm
giải thích ý nghĩa của hào thứ
hai trong quẻ Lý (Thiên Trạch Lý).
[72] Câu này
trích từ thiên Thái Giáp Hạ sách
Thượng Thư: “Hữu ngôn nghịch ư
nhữ tâm, tất cầu chư đạo. Hữu
ngôn tốn ư nhữ ý, tất cầu chư phi
đạo”. Các vị chú giải giảng
rằng: Hễ có điều gì trái
nghịch với tâm ý của ngươi, nhất
định phải suy xét xem nó phù hợp
đạo đức hay không. Nếu có lời
lẽ tùy thuận, đẹp dạ ngươi,
ắt phải suy xét xem nó có trái
nghịch đạo nghĩa hay không?
[73] Đây là hai câu thơ trong
bài Đại Đông thuộc phần Tiểu Nhã
của kinh Thi: “Châu đạo như thỉ, kỳ
trực như thỉ” (đạo cai trị của
nhà Châu như đá mài dao, thẳng như
mũi tên), mang ý nghĩa ca ngợi: Chánh
quyền nhà Châu cai trị dân bằng đường
lối sáng suốt, nhân ái, bình thản
vững vàng như hòn đá mài dao,
gọt giũa những thói hư tật xấu của
dân, lại luôn công chánh, thẳng thắn như
mũi tên vậy.
[74] Nguyên văn “nhược
lân thứ nhiên” (若鱗次然) là
cách nói khác của thành ngữ “lân
thứ tiết tỷ” (鱗次櫛比: Vảy
cá, răng lược), hàm nghĩa “san
sát, chật kín”.
[75] Nguyên văn “xuy
lê” (吹藜).
Đây là một điển tích. Theo chương
Hậu Hán trong bộ Thập Di Ký của
Vương Gia đời Tấn, thời Hán
Thành Đế (Lưu Ngao), Lưu Hướng
(một học giả thuộc hoàng thất nhà
Hán) giảo chánh, hiệu đính sách
cổ tại Thiên Lộc Các. Lúc Lưu Hướng đang
đọc sách ban đêm, bỗng thấy một
cụ già mặc áo vàng,
cầm một cành lê đốt cháy, thổi
lửa soi sáng cho Lưu Hướng đọc
sách dễ dàng hơn. Do đó, “xuy lê”
được dùng với hai nghĩa:
Quyết chí thực hiện việc gì phù
hợp với đạo nghĩa th́ sẽ
có người giúp đỡ cho thành
tựu. Nghĩa thứ hai là ca ngợi
sự học tập khắc khổ, cần
cù.
[76] Dật (鎰)
là đơn vị đo trọng lượng
thời cổ. Một dật là mười hai
lượng hoặc hai mươi bốn
lượng.
[77] Tâm số
là tên gọi khác của tâm sở, tức
các thuộc tánh của tâm vương phát
khởi.
[78] Theo Lục
Tổ Đàn Kinh, do có một vị tăng
đọc bài kệ của Ngọa Luân thiền
sư: “Ngọa Luân có tài cán, hay đoạn
trăm tư tưởng, đối cảnh, tâm
chẳng khởi. Bồ Đề ngày tăng
trưởng”, Lục Tổ liền
đọc bài kệ trên đây để đối
trị.
[79] Ư nói: Người
hiện thời toan tính chẳng đoạn suy tưởng,
sẽ giống như lụa trắng kháng cự các màu nhuộm
vậy! (Lụa trắng chẳng thể nào không nhuốm
màu nhuộm!)
[80] Bá
Khởi là tên tự của Dương Chấn
(59-124).
Dương Chấn còn có
hiệu là Quan Tây Phu Tử hoặc Tứ
Tri Tiên Sinh. Ông là người xứ Hoa
Dương (nay thuộc thành phố Hoa Dương,
tỉnh Thiểm Tây), là một vị đại
thần nổi danh thời Tây Hán, là con trai
của ẩn sĩ Dương Bảo. Dương Chấn nổi
tiếng học rộng, phẩm đức thanh cao. Ông
từng làm đến chức Thái Úy,
nổi tiếng cương trực, hạch tội
bọn ngoại thích (họ hàng bên vợ vua)
lộng quyền không kiêng dè. Trong một chuyến công
cán, ông đi qua Xương Ấp, Vương Mật
làm ấp lệnh tại đó vốn là
người được Dương Chấn
đề cử, nên Vương Mật ban đêm
tìm tới công quán biếu Dương Chấn mười
cân vàng ḥng tạ ơn
cất nhắc. Dương Chấn kiên quyết
từ chối. Vương Mật kèo nài:
“Đêm khuya thanh vắng, chẳng có ai biết,
xin Ngài nhận cho”. Ông quát: “Trời biết,
đất biết, ta biết, ông biết, sao lại
nói là không ai biết?”
[81] Thiên kinh: “Kinh” có nghĩa
là tuân theo quy luật thường hằng. Do
đó, “thiên kinh” chỉ
các tinh tú luôn vận hành trên bầu
trời theo quy luật, có quỹ đạo riêng
biệt. “Địa
vĩ” là
những vĩ tuyến trên trái đất, nói
rộng ra là các quy luật ứng xử
của con người trên mặt đất. Do
vậy, “thiên kinh địa vĩ” là từ
ngữ chỉ chung những quy luật
thường hằng trong thiên nhiên cũng như
trong xã hội.
[82] Sơn Hải
Kinh là một quyển sách cổ đã có
từ thời Tiên Tần, gồm mười
tám thiên, không rõ ai là tác giả, chép những
truyền thuyết lạ lùng, thuộc loại
sách địa lý kiêm thần thoại. Nội dung
bao gồm tình hình địa lý, thực
vật, động vật, khoáng vật, vu thuật,
lịch sử, y dược, tập tục của
từng địa phương, và nhất
là đặc
điểm của các loài yêu
quái.
[83] Sách
này có tên gọi đầy đủ là Hoàng Cực Kinh
Thế Thư do Thiệu Ung (Thiệu Khang Tiết) soạn
vào đời Bắc Tống, viết về
Hà Lạc thuật số, gồm mười hai
quyển, chia thành sáu mươi bốn thiên.
Dựa theo Tiên Thiên Dịch Số của Phục Hy,
Thiệu Ung hệ thống hóa các quy luật trong
tự nhiên và con người, hình thành
cơ sở triết học dựa trên Dịch lý.
Khái niệm Nguyên được ông đưa ra
trong phần Nguyên Hội Vận Thế theo quan niệm
mọi việc đều có chu kỳ. Điều
này ảnh hưởng đến quan niệm
đời Hạ Nguyên (thường đọc
trại thành Hạ
Nguơn) trong Đạo giáo và các “tôn giáo”
mạo danh “Phật
giáo chánh truyền” như Bạch Liên,
Nhất Quán Đạo v.v…
[84] Khi
đánh xong nước Tề của Điền
Quảng, Hàn Tín sai
người xin Lưu Bang phong cho mình làm
Giả Tề Vương (vua tạm thời của
nước Tề). Lưu Bang tức giận
vì đang bị quân Sở vây rất gấp
ở Huỳnh Dương, nhưng do Trương
Lương, Trần Bình can ngăn, vua đành thuận theo
phong vương cho Hàn
Tín để ông ta khỏi phản nghịch, và thừa dịp trưng
dụng quân của Hàn Tín để đánh
Sở.
[85] Hựu luật sư chính là
ngài Tăng Hựu (415-518). Sư là một vị cao tăng
nổi tiếng về Luật Học, đồng thời
là một sử gia kiệt xuất về Phật giáo sử.
Sư quê ở quận Hạ B́, Từ Châu (nay là Hạ B́
Châu thuộc tỉnh Giang Tô). Thuở bé, Sư theo cha mẹ
đến chùa Kiến Sơ (nay thuộc Nam Kinh) dâng
hương, lễ Phật xong, nhất định không chịu
về nhà. Cha mẹ đành cho Sư xuất gia với ngài
Tăng Phạm. Tới lúc mười bốn tuổi,
Sư theo học với ngài Pháp Đạt chùa Định
Lâm, chuyên học Luật. Đồng thời, ngài Pháp Hiến
cũng đang hoằng hóa tại Định Lâm, Tăng Hựu
cần mẫn phụng sự hai vị. Sau khi thọ Cụ
Túc, Sư lại c̣n học Luật với ngài Pháp Dĩnh,
lắng ḷng nghiên cứu Luật Học suốt hai
mươi mấy năm. Sau khi ngài Pháp Dĩnh qua đời,
Cánh Lăng Vương Tiêu Tử Lương thường
thỉnh ngài Tăng Hựu giảng luật. Mỗi lần
giảng, có bảy, tám trăm người nghe. Sư lại
tuân lệnh Tề Vũ Vương qua vùng Tam Ngô (Hồ
Châu, Tô Châu và Thiệu Hưng) để khảo hạch
tăng chúng về giới luật, chuyên giảng Thập Tụng
Luật. Hễ được cúng dường, Sư đều
chuyển cúng cho hai chùa Kiến Sơ và Định Lâm, và kiến
lập Kinh Tạng cho hai ngôi chùa này. Trước sau, Sư
giảng luật bảy mươi lần. Một công tŕnh
được đánh giá rất cao của Sư là bộ
Xuất Tam Tạng Kư Tập, tức là mục lục các
kinh Phật cổ nhất mà hiện thời c̣n giữ
được. Tác phẩm này chính là công tŕnh hiệu
đính, tăng bổ, chỉnh lư bộ Tổng Lư Chúng Kinh
Mục Lục của ngài Đạo An. Ngoài ra, Sư c̣n
trước tác Tát Bà Đa Bộ Tương Thừa Truyện,
Thập Tụng Nghĩa Kư, Thích Ca Phổ, Thế Giới
Kư, Pháp Uyển Tập, Hoằng Minh Tập, Pháp Tập Tạp
Kư Truyện Minh đều là những sử liệu Phật
giáo quan trọng.
[86] Quý Lộ
chính là Tử Lộ, môn đệ của
Khổng Tử. Ông tên thật là Trọng Do,
tự là Tử Lộ, được
xếp vào hàng Thập Triết (mười
đệ tử đứng đầu của
Khổng Tử). Ông do nhà nghèo,
thường đi xa đội gạo về phụng
dưỡng cha mẹ, được coi là
một tấm gương hiếu thảo trong Nhị Thập
Tứ Hiếu. Về sau, ông theo Khổng Lý
nước Vệ. Khi Vệ Hậu Trang Công phát
động binh biến, ông do cứu Khổng Lý
mà bị giết chết. Vệ Hậu Trang Công
còn sai người băm nát di thể của ông.
[87] Tỳ
Sương chính là oxide arsenic (As₂O₃) là một chất kịch
độc, sắc trắng, không mùi, không
vị, thường dùng để đầu
độc người khác thời cổ.
Trấm (酖) là
một loại rượu cực độc ngâm
từ lông chim trấm (鸩). Theo truyền
thuyết, chim Trấm là một loại chim kịch
độc. Người ta lấy lông của nó ngâm
rượu, sẽ
tạo thành rượu độc.
[88] Nghĩa học
tức là kiểu học chú trọng tìm
hiểu ý nghĩa, số lượng của
các danh tướng trong nhà Phật, tức
là chú trọng đến phần lý luận,
ý nghĩa của danh từ Phật học, ít chú ý phương diện
thực hành.
[89] Lỗ Trực
là tên tự của Hoàng Đình Kiên
(1045-1105). Ông còn có hiệu là Sơn Cốc
Đạo Nhân và Dự Chương tiên sinh. Ông
là người Phần Ninh thuộc Hồng Châu (nay
là huyện Tu Thủy, tỉnh Giang Tây). Hoàng
Đình Kiên là thi nhân, đồng thời
là một thư pháp gia
nổi tiếng thời Bắc Tống,
được coi là tổ sư của Giang Tây Thi
Phái. Ông sùng mộ Phật giáo, nổi
tiếng là hiếu thảo, dẫu làm quan
lớn vẫn đích thân đổ bô cho cha
mẹ. Ông cùng với Trương Lỗi, Triều
Bổ Chi, Tần Quán Đô từng theo học
với Tô Thức (Tô Đông Pha), người
đương thời gọi bốn người
này là Tô Môn Tứ Học Sĩ. Do chống
đối bè phái của tể tướng Vương An Thạch,
ông từng bị đi đày.
[90] Dương Hộ
(221-178), tên tự là Thúc Tử,
người huyện Nam Thành, quận Thái Sơn (nay là thành
phố Thái Sơn tỉnh Sơn Tây). Ông này là
đại thần cuối trào Tào Ngụy và
Tây Tấn, đồng thời là một danh
tướng. Ông xuất thân từ một gia
tộc hiển hách. Ông nội là Dương
Tục từng làm Thái Thú của Nam Dương,
cha là Dương Đào làm Thái Thú
Thượng Đảng, chị ông là Dương
Huy Du là hoàng hậu của Tấn Cảnh
Đế (Tư Mã Sư).
[91] Ý nói: Do huân
nhiễm lâu ngày sẽ trở thành giống
hệt như vậy. Ví như ở lâu nơi
trồng cỏ chi, hoặc hoa lan, sẽ không ngửi
thấy mùi thơm, nhưng mùi thơm sẽ nhuốm thân. Ở trong
chỗ bán cá hoặc hải sản
đã lâu sẽ không thấy mùi tanh nữa,
nhưng thân thể bị nhuốm mùi tanh mà
chẳng biết.
[92] Đây là một
câu nói trong thiên Học Nhi sách Luận Ngữ.
[93] Kỹ nhạc có
nghĩa là âm nhạc được diễn
tấu bởi những người có
kỹ năng điêu luyện, chuyên nghiệp. Về sau,
trong tự viện, kỹ nhạc được
dùng với ý nghĩa là các loại
nhạc tấu lên để tán tụng, hoặc
cúng dường Tam Bảo.
[94] Yên Sơn là
một rặng núi nằm giữa thành
phố Bắc Kinh và tỉnh Hà Bắc.
Mạch núi phát xuất từ Trương Gia
Khẩu của tỉnh Hà Bắc đến
tận Sơn Hải Quan thuộc tỉnh Liêu Ninh. Núi
này sanh ra một loại đá thoạt nhìn
giống như ngọc, nhưng chẳng phải
là ngọc. Do vậy, nếu không kinh nghiệm, dễ
mua lầm đá núi Yên mà tưởng
là ngọc quý. Thương nhân người
Hồ chuyên buôn ngọc, nhìn biết ngay là ngọc
hay đá.
[95] Ba vị Ca Diếp
tức là ba anh em họ Ca Diếp: Ưu Lâu Tần
Loa Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, và Già Da Ca
Diếp. Các ngài thoạt đầu thờ
lửa, đồ chúng đông đảo. Về
sau, do được đức Phật hóa
độ bèn quy hướng Phật.
[96] Nguyên văn “thang
bính” (湯餅).
Đây là từ ngữ chỉ chung các
loại thức ăn chế bằng bột mì
được nấu trong nước lèo (nước
dùng), như miến phiến (bột mì
cắt thành miếng ép dẹp, luộc
chín rồi thả trong nước lèo), mì
sợi to bản, hoặc hồn đồn (餛飩,
tức vằn thắn (hoành thánh, wonton)
trong tiếng Quảng Đông) v.v… Do
ở đây nói đem viên bột của hoàn
mễ phấn ép bẹp, thì chắc là
nói tới vằn thắn. Do vằn
thắn phổ biến hơn, chúng tôi tạm
dùng chữ Vằn Thắn cho dễ
hiểu.
[97] Hoàn mễ phấn
là bánh làm bằng bột gạo, vo
tròn, bọc thịt heo bằm, thả trong
nước lèo.
[98] Côn Luân là một
rặng núi nổi tiếng của Trung Hoa (được
gọi là Qurum Teghi trong tiếng Uighur, c̣n người Tây Tạng
gọi là Kuni Ri’gyü). Mạch
núi này dài hơn ba ngàn cây số, chạy từ Tây sang
Đông, khởi nguồn từ phía Đông cao nguyên Pamir tới
thượng nguồn sông Sài Đạt Mộc (Qaidam) thuộc
tỉnh Thanh Hải, tiếp giáp mạch núi Ba Nhan Khách Lạp
(Bayankhar uul) và mạch núi A Ni Mă Khanh (Amyé Machen). Đây
cũng là mạch núi cao nhất của Trung Hoa. Ngọn núi
cao nhất là ngọn Công Cách Nhĩ (K̂ongur Taĝ) cao 7.649 mét.
Mạch núi này có nhiều nguồn sông, Hoàng Hà cũng bắt
nguồn từ núi này. Núi Côn Luân được coi là nơi
thần tiên cư ngụ, Đạo giáo tin cung điện
của Tây Vương Mẫu cũng ở trên núi này.
[99] Đây là thể
lệ uống rượu trong tiệc tùng tại
vườn Kim Cốc của Thạch Sùng
đời Tấn. Trong tiệc, nếu khách làm phú hoặc
thơ không thành, sẽ bị phạt uống ba
chén rượu. Về sau, thể lệ phạt
rượu trong tiệc tùng như vậy cũng được
gọi chung là Kim Cốc Tửu Số.
[100] Tức chú
Lục Tự Đại Minh “Án, ma ni bát di
hồng” (Oṃ maṇi
padme hūm̐).
[101] Tư văn (斯文)
có các nghĩa: Văn chương, văn nhân,
người ôn hòa, nhã nhặn.
[102] Viên Thiệu có tên
tự là Bổn Sơ, người huyện
Nhữ Dương quận Nhữ Nam (nay là huyện Thương
Thủy, tỉnh Hà Nam), là quân phiệt cát
cứ cuối đời Hán. Viên Thiệu
xuất thân từ dòng họ bốn đời
làm Tam Công. Viên Thiệu từng hợp binh
với Tào Tháo đánh vào hoàng cung
giết các hoạn quan. Về sau, ông ta
được các lộ chư hầu tôn làm
minh chủ nhằm chống lại quyền thần
Đổng Trác. Sau đó, ông ta là đối
thủ lớn nhất của Tào Tháo, nhưng cuối cùng thất bại
dưới tay Tào Tháo. Không lâu sau, ông ta bị
bệnh chết.
[103] Trọng Mưu là
tên tự của Tôn Quyền.
[104] Tôn Ngô là gọi
tắt của Tôn Vũ và Ngô Khởi, hai
đại tướng thời Chiến Quốc
nổi tiếng về tài dùng binh. Tôn Vũ còn
để lại một quyển binh pháp nổi
tiếng là Tôn Tử Binh Pháp
được đánh giá rất cao. Ít
nổi tiếng hơn là bộ Ngô Tử Binh
Pháp của Ngô Khởi.
[105] Thạch là
đơn vị đo lường (đúng ra, khi
nói về đơn vị đo lường, chữ này phải đọc
là “đạn”, nhưng ta quen đọc
là Thạch trong mọi trường hợp).
Nếu là dung lượng thì một Thạch
là mười đấu, tức 100 lít.
Nếu là đơn vị đo trọng
lượng thì một thạch là 120 cân,
gần bằng 60 kg.
[106] Đỗ Hoàng
Thường (738-808), tự là Tuân Tố,
người xứ Đỗ Lăng thuộc Kinh
Triệu, ông từng làm Đồng Trung Thư Môn Hạ
Bình Chương Sự (tể tướng)
thời Đường Hiến Tông.
[107] Ấn bí đao
(Đông qua ấn tử) là một từ
ngữ dùng trong Thiền Tông để sánh
ví sự ấn chứng bừa bãi dựa
theo tình cảm riêng, chẳng dựa trên
thực chất. Ví như quả bí đem
cắt ngang thì mặt cắt có
hình dạng giống như cái ấn tròn,
nhưng hư ngụy, chẳng thật. Từ
ngữ này có ý châm biếm thầy dạy
không nghiêm túc. Khi người
học
đến cầu ấn chứng, thầy chẳng nghiêm túc suy xét căn cơ, cứ ấn khả bừa
bãi giống như dùng con dấu khắc
từ quả bí đao đóng bừa bãi
lên công văn vậy.
[108] Ngài Ôn Lăng
chính là ngài Giới Hoàn, sống
vào đời Bắc Tống. Do Sư trụ
tại chùa Khai Nguyên thuộc Ôn Lăng, nên thường
được gọi là Ôn Lăng đại
sư, hoặc Ôn Lăng Giới Hoàn. Sư
soạn Pháp Hoa Kinh Yếu
Giải
hai mươi quyển, lại còn thông đạt sâu xa
ý chỉ của kinh Hoa Nghiêm.
[109] Cụ bác: Nguyên
văn “tằng đại phụ” (曾大父). Đại phụ
là từ ngữ chỉ anh của cha.
Tằng tức là thuộc vào vai vế
tằng tổ (cụ cố). Như vậy
tằng đại phụ chính là cụ tổ
thuộc vào hàng anh của cụ (ông cố), nên
gọi là “cụ bác”.
[110] Câu Chi là một
vị Tăng sống vào đời
Đường, không rõ năm sanh, năm mất,
quê quán. Chỉ biết Ngài thuộc thiền
phái của ngài Nam Nhạc Hoài
Nhượng. Do Sư thường tụng chú
Câu Chi Quán Âm (chú Chuẩn Đề), nên
người đời gọi Sư là Câu Chi
hòa thượng. Sư từng trụ tại
chùa Kim Hoa ở Vụ Châu thuộc tỉnh
Chiết Giang, do chẳng đáp được
lời cật vấn của ni sư Thật Tế, nên Sư khởi tâm dũng
mãnh tinh tấn. Chẳng lâu sau, thiền sư Thiên
Long nối pháp của ngài Đại Mai Pháp
Thường đến am, ngài Câu Chi đem
chuyện ấy ra hỏi. Ngài Thiên Long chỉ giơ một
ngón tay lên, Câu Chi liền đại ngộ. Sau
đấy, hễ ai đến hỏi pháp, Sư
đều giơ một ngón tay lên, nên cõi
đời gọi Sư là Câu Chi Nhất Chỉ,
hoặc Nhất Chỉ Thiền. Trước khi
viên tịch, Sư nói: “Ta được một
ngón tay của ngài Thiên Long, dùng cả
đời chẳng hết”.
[111] Lỗ Tổ chính
là ngài Bảo Vân, do trụ tại núi Lỗ
Tổ thuộc Ba Châu, tỉnh Tứ Xuyên nên gọi
là Lỗ Tổ Bảo Vân, hoặc Lỗ Tổ thiền sư.
Mỗi khi có người tới hỏi
pháp, Sư quay mặt vào vách, không nói
lời nào.
[112] Hậu Nghệ còn
gọi là Đại Nghệ, hay chỉ gọi là
Nghệ, là một xạ thủ truyền thuyết
của Trung Hoa thời cổ. Tương truyền,
mười đứa con trai của Ngọc
Hoàng biến thành mười mặt
trời khiến cho dân chúng điêu linh.
Hậu Nghệ bèn bắn rớt chín
mặt trời. Ngọc Hoàng tức giận, đày vợ
chồng Hậu Nghệ xuống cõi trần. Về
sau, do được Tây Vương Mẫu
cho một viên thuốc bất tử, Hậu Nghệ
cất trong hộp. Vợ
Hậu Nghệ là Hằng Nga (Thường Nga) tò mò,
mở hộp, nuốt chửng viên thuốc và
bay lên mặt trăng. Đó là điển tích “Hằng Nga bôn nguyệt”.
[113] Nghi Liêu vốn có
tên là Hùng Nghi Liêu, là một dũng sĩ
của nước Sở thời Chiến
Quốc, do sống ở Thị Nam, nên còn có tên
gọi là Thị Nam Tử, nổi tiếng với tài bắn đạn
(hòn sỏi, hòn đá, hòn đồng)
bách phát bách trúng. Tả Truyện
từng chép khi Bạch Công Thắng mưu toan
phản loạn, đã mua chuộc Nghi Liêu ám
sát quan Lệnh Doãn nước Sở
là Tử Tây, nhưng ông không nghe theo.
[114] Thành Liên là
người nổi tiếng về tài nghệ
đánh cổ cầm (dao cầm) thời Xuân Thu.
Tương truyền, Bá Nha theo ông học đàn
suốt ba năm mới có thể tùy tâm
đối trước hoàn cảnh tự nhiên
mà sáng tạo cầm khúc.
[115] Cao Tân là tên gọi
khác của Đế Khốc. Do ông sanh tại Cao Tân, nên thường gọi
là Đế Khốc Cao Tân. Ông là chắt
của Hoàng Đế, con của Kiều Cực.
Kiều Cực là con của Huyền Hiêu, Huyền
Hiêu là con của Hoàng Đế. Huyền Hiêu
lẫn Kiều Cực đều không làm vua,
chỉ có Đế Khốc làm vua. Ông chính
là cha của Y Kỳ Phóng Huân (vua Nghiêu). Một người con khác của
ông là Cơ Khí tức Hậu Tắc.
Cái xanh (đang, 鐺)
là một dụng cụ nấu ăn thời
xưa, có hình dạng như chiếc chảo
trũng, có ba chân (để có thể
đốt than, củi nấu trực tiếp, không
cần dùng bếp).
[116] Toại Nhân là
một vị vua thời thượng cổ theo
huyền thoại Trung Hoa, đứng đầu trong
Tam Hoàng, còn gọi là Thiên Hoàng hoặc
Toại Hoàng. Ông là người phát minh ra
cách dùi gỗ để lấy lửa, dạy
dân dùng lửa nấu chín thức ăn,
kết thúc thời đại ăn sống
nuốt tươi. Do vậy, ông còn
được hậu thế tôn xưng là Hỏa
Tổ.
[117] Thần Nông
c̣n được gọi là Liệt Sơn Thị, Liên
Sơn Thị, Khôi Ngỗi Thị, hoặc Viêm Đế,
được coi là vị tổ dạy nông nghiệp, y
dược, tự ḿnh nếm cỏ thuốc để t́m
ra thuốc cứu dân. Do vậy, ông c̣n được tôn
xưng là Dược Vương, Ngũ Cốc
Vương, Ngũ Cốc Tiên Đế, Tắc
Vương, Ngũ Cốc Da, Ngũ Cốc Tiên Sư, Khai
Thiên Viêm Đế, Điền Chủ, Điền Tổ,
Thần Nông Đại Đế v.v… Theo các nhà nghiên cứu,
Thần Nông Thị không phải là một nhân vật, mà là
tên gọi chung của cả một thị tộc, từng
là người thống trị vùng Trung Nguyên. Bộ tộc
Thần Nông về sau bị bộ tộc của Hoàng Đế
(Hiên Viên Thị) đánh bại, thay thế làm cộng chủ.
Thần Nông Đại Đế chính là thủ lănh của
thị tộc Thần Nông Thị. Theo truyền thuyết, bụng ông trong suốt
như gương, khi nếm thuốc có thể thấy rơ
thuốc có tác dụng như thế nào đối với nội
tạng của con người. Về sau, do nếm quá nhiều
độc dược, ông chết khi nếm Đoạn
Trường Thảo (có thuyết nói là trùng trăm chân). Theo huyền
thoại, ông cũng là người phát minh ra phương
pháp canh tác, gieo trồng ngũ cốc để làm
lương thực, sáng tạo lưỡi cày, cũng
như là người phát hiện ra trà và phương pháp
thu hoạch trà. Nhiều người cho rằng sau khi Hiên
Viên Thị đánh bại lănh tụ Xi Vưu của Thần
Nông Thị, một số hậu duệ của Thần
Nông Thị rời khỏi Trung Nguyên, trở thành Miêu tộc
ở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc, Quư Châu hiện thời.
Kinh Dương Vương (Lộc Tục) và Lạc Long
Quân (Sùng Lăm) của Việt Nam theo cổ sử (như
Đại Việt Sử Kư Toàn Thư chẳng hạn)
cũng thuộc ḍng dơi của Thần Nông Thị (con cháu của
Đế Minh).
[118] Thái Hạo
được coi là tổ tiên của các
thị tộc Đông Di và Hoa Hạ, đóng đô
tại Văn Thượng (nay là Tế Ninh tỉnh
Sơn Đông), sau dời sang Uyển Khâu (nay là
Hoài Dương tỉnh Hà Nam). Ông còn
được gọi là Nhân Hoàng. Có
thuyết lại cho rằng
Thái
Hạo chính là Phục Hy.
[119] Nữ Oa c̣n được gọi là Oa Hoàng, Nữ Hy Thị, được coi là thỉ tổ của nhân loại, em gái của Phục Hy. Theo thần thoại, bà đầu người, thân rắn, nặn đất hà hơi tạo ra con người, luyện đá ngũ sắc vá trời khi thủy thần Cộng Công bị Chúc Dung đánh bại, đă húc đổ núi Bất Châu, khiến trời bị lệch, bà đă chặt chân con rùa lớn để làm cội chống trời, phát minh ra sênh (một loại nhạc khí), lập điển lễ hôn nhân v.v… Oa Hoàng Lăng (tương truyền là phần mộ của bà) được các đời vua đều cúng tế rất thịnh. Đạo giáo tôn xưng bà là Huyền Nguyên Động Phủ Luyện Thạch Bổ Thiên Oa Hoàng Đại Thánh Nguyên Quân, thậm chí có những phái Đạo giáo coi các vị nữ thần nổi tiếng như Cửu Thiên Huyền Nữ, Địa Mẫu Nương Nương, Lê Sơn Lăo Mẫu đều là hóa thân của Nữ Oa.
[120] Lưu Hâm (50-23
trước Công Nguyên), tên tự là Tử
Tuấn, về sau đổi tên thành Lưu Tú,
thuộc tông thất nhà Hán. Ông được
phong là Quốc Sư thời nhà Tân của
Vương Mãng. Lưu Hâm thông thạo kinh sử,
tinh thông kinh học (nghiên cứu kinh điển Nho gia),
đề xướng Cổ Văn Kinh Học,
tức là chủ trương bảo tồn
các trước tác của kinh điển Nho
gia theo đúng văn bản cổ, nghiên cứu
văn bản theo chữ Khoa Đẩu
(được dùng trước thời
Tiên Tần) để phục hồi diện mạo
cổ thư. Cùng với cha là Lưu
Hướng, Lưu Hâm đã biên soạn
thành các trước tác như Thất
Lược và Biệt Lục, hình thành
ngành học hệ thống, phân loại sách vở
thường được biết với tên
gọi là Mục Lục Học.
[121] Đây là bộ
sách do Nhan Chi Thôi biên soạn khởi đầu
từ thời Bắc Tề cho đến
đời Tùy mới hoàn tất, gồm bảy
quyển, chia thành hai mươi thiên. Sách lấy
tư tưởng Nho gia làm trung tâm, bao gồm
những lời răn dạy về tu thân,
dưỡng đức, xử thế, trị
gia, học vấn v.v… Thiên Quy Tâm trong ấy hoàn toàn vâng theo tư
tưởng Phật giáo.
[122] Chân Cáo là
tác phẩm gồm bảy quyển do đạo sĩ
Đào Hoằng Cảnh biên soạn vào
thời Nam Lương trong thời gian ông ẩn cư
tại Mao Sơn, được coi là kinh
điển chủ yếu của phái Thượng
Thanh trong Đạo giáo. Chân Cáo có nghĩa
là “lời răn truyền của bậc chân
nhân”. Sách này do
Đào Hoằng Cảnh biên tập, chú giải
những lời dạy thông linh (tức
tương truyền là do thần tiên dạy qua giáng
cơ, hay nhập định) từ những
đạo sĩ trước đó như
Dương Hy, Hứa Mật, Hứa Hội,
Cố Hoan v.v… Sách chủ yếu ghi lại sự
truyền thừa của Thượng Thanh Phái,
truyện ký, phương thuật v.v…
[123] Gõ răng (khấu
xỉ, 扣齒)
là một phương pháp bảo dưỡng
răng theo quan điểm của Trung Y, tức là
dùng hai hàm răng va nhẹ vào nhau. Họ tin
rằng làm như vậy sẽ tăng
cường sức khỏe của hàm răng,
kiên cố thận, bổ tinh, tăng tuần hoàn
máu cho vùng mặt v.v…
[124] Nguyên văn “chiết
cước đang” (折腳鐺, cái xanh bị
gãy chân): Như trên đã nói, xanh là một loại
chảo nhỏ có quai
để có thể bưng, xách, có ba chân
để có thể đốt lửa nấu
mà không dùng bếp. Nói “cái xanh đã bị
gãy chân mà vẫn dùng” để mô tả cuộc sống
đạm bạc, khắc khổ. Cảnh
Đức Truyền Đăng Lục chép quốc
sư Vô Nghiệp dùng cái xanh gãy chân suốt ba
mươi năm. Hoàng Đình Kiên có câu
thơ: “Chiết cước đang biên ổi
đạm chúc, khúc chi tang hạ ẩm ly bôi”
(bên xanh chân gãy, nấu cháo loãng; dưới cành dâu
vẹo, uống chia tay).
[125] Đằng
Giáp là đội quân chiến đấu dũng
mãnh của quốc vương Ngột Đột
Cốt nước Ô Qua thuộc Nam Man. Theo Tam Quốc
Chí Diễn Nghĩa, Khổng Minh bảy
lượt tấn công người Nam Man, bảy
lần bắt, bảy lần tha vua Nam Man là
Mạnh Hoạch. Gọi là quân Đằng Giáp
vì họ dùng dây mây chắc dẻo chế
thành áo giáp hộ thân, tẩm dầu phơi
nắng mười mấy lượt, cho nên rất bền chắc,
tên bắn không lủng, đao chém không
đứt, rất khó đối phó. Quân
Đằng Giáp dưới sự lãnh đạo
của Thổ An và Hề Nê Tốt đánh bại
quân Thục Hán của Ngụy Diên dễ dàng.
Khổng Minh bày kế giả vờ thua trận,
dụ họ vào trong Bàn Xà Cốc, dùng
địa lôi tấn công quân Đằng
Giáp. Giáp mây trên người họ cháy
bừng bừng không cách nào
cởi ra kịp, đành
phải tử trận. Ba vạn quân Đằng
Giáp chết rụi, không sót một ai.
[126] Tức Đào
Tiềm (tên tự là Uyên Minh), một thi nhân nổi
tiếng đời Tấn, rất thích uống
rượu. Ông có bài Đào Nguyên Ký
rất nổi tiếng.
[127] Nguyên Chương
là tên tự của Mễ Phất (1051-1107, có
chỗ phiên âm tên ông này là Mễ Phế), hiệu
là Tương Dương Mạn Sĩ, Hải Nhạc
Ngoại Sứ, Lộc Môn Cư Sĩ. Ông là
một nhà thư pháp, họa sĩ, giám
định gia, và là người sưu
tập nổi tiếng thời Bắc Tống.
[128] Tông Nguyên là tên
tự của Tăng Hội (952-1033), người
xứ Tấn Giang, Tuyền Châu, là một vị
quan văn thời Bắc
Tống. Ông từng giữ các chức quan
Hình Bộ Lang Trung, Tập Hiền Điện Tu
Soạn, Thái Sư Trung Thư Kiêm Thượng
Thư Lệnh, tước phong Sở Quốc Công.
Do ông nắm giữ địa vị cao tột
như các vị đại học sĩ sau này,
nên cũng được gọi là Học Sĩ.
[129] Dược
thạch (藥石)
có nghĩa gốc là thuốc men; về sau
được dùng để chỉ bữa
ăn tối nhẹ trong nhà chùa để
đỡ đói (thường chỉ là
cháo loãng). Gọi là Dược Thạch
hay Dược Thực nhằm nói rõ
ý nghĩa coi đó như là phương
thuốc để tạm trị bệnh đói.
[130] Phần Dương Thiện
Chiêu (947-1024) là một vị đại sư thuộc tông
Lâm Tế sống vào đời Tống. Sau khi xuất gia,
Ngài tham phỏng bảy mươi mốt vị đại
sư để mong khai ngộ. Về sau, Ngài tham phỏng
Nhữ Châu Thủ Sơn và Thủ Sơn Tỉnh Niệm,
được tiếp dẫn ngộ đạo. Sau đấy,
Sư vân du tại vùng Hồ Quảng, được các
quan lại tranh nhau mời mọc, nhưng Ngài đều cự
tuyệt, tiếp tục vân du. Về sau, do nhận lời
thỉnh của thiền sư Khế Thông, mới trụ
lại Thái Tử Viện ở Phần Dương. Ngài Thạch
Sương Sở Viên đắc ngộ nơi ngài Phần
Dương Thiện Chiêu.
[131] Thái Lao (太牢)
là cỗ cúng của thiên tử và chư
hầu dùng để cúng trời, hoặc
tổ tiên. Thái là to lớn, Lao có nghĩa
là chỗ nuôi nhốt gia súc. Về sau diễn biến
thành ý nghĩa các con vật để
cúng tế sau khi bị giết phải để nguyên
con, xếp cho nằm phủ phục trên mâm cúng.
Thái Lao thường dùng trâu, dê, lợn ba
loại, gọi là Tam Sanh. Đến đời
Thanh quy định nghiêm ngặt, Thái Lao phải
dùng trâu đen, ngựa trắng và
lợn đen. Nhưng theo Lễ Ký, hễ dùng
trâu hay bò thì gọi là Thái Lao, dùng dê
để tế thì gọi là Thiếu Lao (nếu không
có trâu, bò, dẫu thêm lợn vào,
vẫn gọi là Thiếu Lao).
[132] Trần Hậu Chủ (553-664), tên thật là Trần
Thúc Bảo, tự là Nguyên Tú, là vua
cuối cùng của nhà Trần, làm vua chỉ
có bảy năm. Ông này tánh tình xa xỉ,
chẳng quan tâm triều chánh, thích
hưởng lạc, thích thơ ca, đàn
hát, xây dựng điện đài lộng
lẫy, đặc biệt sủng ái quý phi Dương Lệ
Hoa đến nỗi khi lâm triều vẫn ôm ấp
Dương Lệ Hoa nghe các quan tấu trình.
Triều đại của ông bị nhà Tùy
diệt vong. Khi bị bắt, ông đã kinh hoảng
phủ phục trước tướng nhà
Tùy là Hạ Nhược Bật, khiến
người này hết sức coi
thườngTrần Hậu
Chủ.
Châu Thiên Nguyên chính
là Châu Tuyên Đế (Vũ Văn Uân), tự
là Càn Bá, chỉ làm vua 283 ngày. Ông
là con trưởng của Châu Vũ Đế (Vũ
Văn Ung). Ông này tánh tình hoang
đường, khi còn làm Thái Tử
thường bị vua cha đánh đập vì
tội bừa bãi. Khi cha chết, ông chẳng
hề thương tiếc, sờ vết thương
ở chân mình, hướng về quan tài, kêu ầm lên: “Sao mà ông
chết muộn quá vậy?” Vũ Văn Uân tự xưng là
Thiên Nguyên Hoàng Đế, ra sức trang hoàng,
sửa sang cung điện, nghi kỵ đại
thần, lạm dụng hình phạt. Sau đó,
thấy làm vua phiền phức quá, chưa
đầy một năm, ông nhường ngôi cho con là
Vũ Văn Xiển tức Châu Tĩnh Đế, lên
làm Thái Thượng Hoàng, nhưng vẫn
khống chế triều chánh, lập thêm bốn
người thiếp ngoài chánh hậu Dương Lệ Hoa (con
Dương Kiên) làm hoàng hậu, trở thành vị vua có đến
năm hoàng hậu trong lịch sử Trung Hoa. Khi
ông ta chết vào năm 580 (mới 21 tuổi),
Dương Kiên cướp ngôi của Tĩnh Đế,
lập ra nhà Tùy.
[133] Xư
(樗),
tên khoa học là Ailanthus Attissima, còn gọi là
Xú Xư, hoặc Xú Xuân, Xú Đồng,
Đại Nhãn Đồng, thuộc họ Khổ
Mộc, là một loại cây rụng lá, vốn
sanh trưởng tại vùng Đông Bắc châu
Á. Cây có thể cao đến mười
lăm mét, rất to. Toàn bộ thân, cành,
lá cây này tỏa ra mùi hôi như đậu
phộng bị mục nát; do vậy, gọi là
Xú Xư (cây Xư thối). Cây sinh trưởng rất
nhanh, được coi là một giống cây
có hại cho môi trường, đặc
biệt cây này là chỗ sanh trưởng
lý tưởng cho một loài bọ gọi
là spotted lanternfly (có hình dáng như con ve
lớn, cánh có chấm đen to) chuyên gây
hại cho đậu nành, nho v.v… vì chúng
hút nhựa khiến cho cây
bị khô héo, phân của chúng khiến các
loài thảo mộc bị cháy xém lá.
[134] Hòe Đình
là biệt hiệu của Vương Hiên (1546-không
rõ năm mất), tự là Lâm Khanh,
người huyện Thanh Uyển, phủ Bảo
Định, thuộc Trực Lệ. Ông đỗ
Tiến Sĩ năm Gia Tĩnh 40 (1561) đời Minh lúc mười
bảy tuổi. Ông từng làm
Hình Bộ Lang Trung rồi được
cử đi làm Tri Phủ hoặc phó
sứ các nơi.
[135] Bà này có
tên là Luy Tổ, phát xuất từ gia tộc
Phương Lôi Thị ở Tây Lăng Quốc, nên
thường gọi là Tây Lăng Thị. Theo
Sử Ký, bà là người dạy dân
nuôi tằm, nên mới có thành ngữ “Luy
Tổ thỉ tàm” (Luy Tổ khởi
xướng việc nuôi tằm). Bà du hành
khắp nơi, dạy dân trồng dâu
nuôi tằm, được tôn xưng bằng
các mỹ hiệu Đạo Thần, Hành Thần,
Tổ Thần. Bà sanh ra hai con là Huyền Hiêu (ông
nội của Đế Khốc, ông cố của vua
Nghiêu) và Xương Ý. Con Xương Ý là
Cao Dương, tức Chuyên Húc Đế. Cháu
chín đời của Cao Dương là
Trùng Hoa (tức vua Thuấn).
[136] Lã Văn Chánh
Công chính là Lã Mông Chánh (946-1011), tự
là Thánh Công, người Lạc Dương,
tỉnh Hà Nam, từng ba lượt làm
Tể Tướng (tức chức Đồng
Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự).
[137] Lưu Phần tự là Khứ Hoa,
người huyện Xương B́nh, U Châu, tánh trầm
tĩnh, thông hiểu kinh sự, thường ôm ḷng cứu
đời. Trong thời Đường Văn Tông, ông
đi thi, trong bài thi Đ́nh, khi được hỏi về
chánh sách cai trị tốt lành, ông đă cực lực khuyên
vua tru sát gian thần, trừ bỏ tất cả chức
tước của bọn thái giám, không cho chúng can dự triều
chánh, các khảo quan như Phùng Túc, Giả Tốc, Bàng Nghiêm
v.v… đều ca ngợi, nhưng sợ thế lực của
bọn thái giám, không dám chấm ông thi đậu.
[138] Thập Dực
còn gọi là Dịch Truyện là phần
chú giải kinh Dịch, tương truyền do
Khổng Tử biên soạn. Do chia thành
mười phần, nên gọi là Thập
Dực, hiện thời chỉ còn Hệ
Từ, Thuyết Quái, Tự Quái và
Tạp Quái. Người đời sau đem
các phần Văn Ngôn, Thoán Từ ghép vào, chia thành mười chương, vẫn
gọi là Thập
Dực:
1. Thoán Từ:
Giải thích ý nghĩa của sáu mươi
tư quẻ trong kinh Dịch.
2. Tượng
Truyện, luận chung hình tượng của
mỗi quẻ. Mỗi quẻ gồm sáu hào,
phần giải thích hình tượng của mỗi
hào, gọi là Tiểu Tượng.
3. Hệ Từ
Truyện: Tổng luận về kinh Dịch.
4. Thuyết Quái
Truyện: Thuyết minh ý nghĩa tượng
trưng của Bát Quái.
5.Tự Quái
Truyện: Giải thích thứ tự của
sáu mươi bốn quẻ.
6. Tạp Quái
Truyện: Giải thích ý nghĩa tên gọi
của sáu mươi bốn quẻ.
7. Văn Ngôn Truyện:
Giải thích tường tận hai quẻ Càn
và Khôn.
Tuy có bảy
loại, nhưng chia thành mười thiên nên
gọi là Thập Dực.
[139] Thái mạt
trùng là vi sinh vật cực nhỏ
được nói trong kinh Phật.
[140] Lục tự
khí: Sách Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền
Pháp Yếu ghi: “Kế đó nói về
cách quán để trị bệnh, có vị
sư nói: Chỉ quán tâm tưởng, dùng
sáu loại khí để trị bệnh,
tức là quán có thể trị bệnh?
Thế nào là sáu loại khí? Một là thổi ra, hai là
hít vào, ba là thở nhẹ thành
tiếng Hy, bốn là thở mạnh thành tiếng Ha, năm là
thở hơi dài, sáu là thở chậm
rãi. Sáu loại hơi thở ấy đều
tưởng nơi môi và miệng, phương
tiện xoay chuyển sao cho miên mật”.
“Chú tâm nhìn
xuống”: Sách ấy cũng nói: “Thế
nào là dùng Chỉ Quán để trị
bệnh? Chỉ chú tâm nơi chỗ bị bệnh, liền có thể trị
bệnh. Vì sao vậy? Tâm là chủ của cái
thân quả báo trong một đời. Ví như
vua đi đến đâu, lũ giặc đều
tan chạy. Kế đó, có vị sư nói: - Dưới rốn một
tấc gọi là Ưu Đà Na, phương
này dịch là Đan Điền. Nếu có
thể chú tâm chẳng tán loạn nơi
đó, lâu ngày sẽ trị được
nhiều bệnh…”
[141] Ngài Biện Dung (辯融), tên gọi đầy
đủ là Biến Dung Chân Viên (遍融真圆,
tuy
đôi khi ghi là Biện Dung), Ngài là cao tăng
tông Lâm Tế, đời thứ ba mươi
mốt, đệ tử của thiền sư Phật
Nham Bất Nhị Chân Tế, thuộc dòng dõi
thư hương. Sư xuất gia lúc ba mươi
hai tuổi. Khi đến kinh đô, do nghe Thông Tú đại sư giảng Hoa
Nghiêm mà khế ngộ, bèn
lui về tu hành tại động Mã Tổ trong
núi Thiên Trụ thuộc tỉnh An Huy suốt bảy
năm. Về già, Ngài an trụ tại Bách Lâm
thiền viện, người đương
thời nghi Ngài là Di Lặc tái thế.
Sư chứng Hoa Nghiêm tam-muội, chỉ dạy
đại chúng lắng lòng trì danh niệm
Phật, chẳng cầu danh lợi.
[142] Thiền hòa (禪和) là
từ ngữ gọi người chân thật tu
hành Thiền Tông.
[143] Đây là so sánh niềm
vui của Nhan Hồi và
Thạch Sùng. Nhan Hồi ở trong ngõ nghèo
hèn, nghèo đến
nỗi chỉ có giỏ cơm, bầu
nước, co tay làm gối để ngủ,
nhưng vui thú khôn sánh. Thạch Sùng sống
trong vườn Kim Cốc, giàu nứt
đố đổ vách, nhưng luôn phải lo âu,
đối phó với kẻ quyền quý luôn
nhắm vào tài sản của ông ta.
[144] Tư Hộ
(司戶) là một chức quan có tên gọi
đầy đủ là Tư Hộ Tham Quân, c̣n gọi là Hộ
Tào Tham Quân, Hộ Tào Duyện, Hộ Tào Sứ, đôi khi
c̣n được gọi tắt là Hộ Tào. Chức vụ
chủ yếu là quản lư hộ tịch, sổ sách ghi
chép các sự vụ trong địa phương, sửa
sang đường sá, ruộng đất, thuế khóa, cấp
giấy hôn thú, ly hôn, thâu nhập vào kho chứa thóc tại
các châu huyện, cũng như cấp giấy miễn thuế,
phán xử các tranh chấp về tài sản tư nhân…
[145] Hàn Cầm Hổ (538-592), tự
Tử Thông, người huyện Đông Hoàn, quận Hà Nam (nay là huyện Tân An,
tỉnh Hà Nam), là khai quốc công thần của
nhà Tùy. Hàn Cầm Hổ thân hình to
lớn, dũng mãnh, có mưu trí, học
rộng, từng làm đến chức Xa
Kỵ Đại Tướng Quân rồi Khai Phủ
Đồng Tam Ty nhà Bắc Tề. Nhà Bắc
Tề diệt, ông ta tiếp tục làm quan to
dưới nhà Bắc Châu. Về sau, làm
đến chức Thượng Trụ Quốc
dưới triều Tùy Văn Đế
Dương Kiên.
[146] Thượng Trụ Quốc là
chức quan đã có từ thời
Chiến Quốc, dành cho các đại
tướng có công lao hiển hách.
[147] Giới Phủ là tên tự
của Vương An Thạch (1021-1086). Ông này
từng làm tể tướng dưới
hai thời Tống Nhân Tông và Anh Tông, đề
xướng tân pháp cải cách kinh tế,
nhưng không thành công. Chính ông ta đề ra kế
hoạch xâm chiếm Đại Việt, nhưng bị Lý
Thường Kiệt đánh bại. Lý
Thường Kiệt còn thừa cơ tấn
công ba châu Khâu, Liêm, và Ung, khiến cả triều đình
nhà Tống náo động. Cuộc xâm lăng
Đại Việt chỉ gây hao binh, tổn
tướng, tốn kém công quỹ, khiến uy
tín của An Thạch xuống dốc. Ông đề
xướng Tân Pháp một lần nữa
để cải cách kinh tế, nhưng những
biện pháp của ông bị các sĩ phu và
dân chúng chống đối quyết liệt.
[148] “Tạ
tướng” tức là cúng bái các
vị thiên thần, thiên tướng nhằm
cảm tạ họ đã hộ trì pháp
sự của Đạo giáo viên mãn.
[149] “Lục
súc” là
từ ngữ chỉ chung sáu loại gia súc
thường được nuôi: ngựa, trâu hay bò, dê, lợn,
chó và gà.
[150] Đặng Khoát Cừ,
hiệu Thái Hồ, người huyện Nội
Giang thuộc Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên,
đã đỗ Tiến Sĩ. Lúc hai mươi
tuổi được dị nhân dạy đạo Vô
Vi, bèn bỏ vào núi Thanh Thành xuất gia.
Về sau,
ông có viết bộ Nam Tuân
Lục để
trần thuật kinh nghiệm tu chứng.
[151] Thuần Hựu là niên hiệu
của Tống Lý Tông (Triệu Quân) từ năm
1241 cho dến năm 1252.
[152] Tư Mã Quang tên tự là Quân
Thật, hiệu là Vu Tẩu, còn
được gọi là Thúc Thủy Tiên Sinh
vì quê ở làng Thúc Thủy. Ông làm quan
trải các triều vua Tống Nhân Tông, Anh Tông, Thần
Tông và Triết Tông. Ông chủ trì công
cuộc biên soạn một
bộ sử rất
có giá trị là Tư Trị Thông Giám. Ông
cực lực phản đối chính sách
cải cách kinh tế của Vương An Thạch.
Khi ông mất, được vua phong thụy hiệu
là Văn Chánh, và phong tặng
tước Ôn Quốc Công, nên Tư Mã Quang
thường được gọi là Ôn Công.
[153] Cảnh Nhân là tên tự của
Phạm Trấn (1009-1089), ông là người
xứ Hoa Dương, là một nhà văn
học, đồng thời là một sử gia
sống vào đời Bắc Tống. Ông
chơi thân với Tư Mã Quang, có tài
văn chương, rất được Tô Đông Pha
tán thưởng. Ông từng tham dự biên
soạn bộ Tân Đường Thư, và
trước tác rất nhiều tác phẩm
có giá trị như Nhạc Thư, Quốc
Triều Vận Đối, Quốc Triều Sự
Thỉ v.v…
[154] Thời thượng: Còn
gọi là thời mao, trào lưu, tức
là sự ưa thích của đại đa
số quần chúng trong một giai đoạn nhất
định, đặc biệt là đối
với quan niệm về cái đẹp, cách
ăn mặc, cách ứng xử, ta thường
gọi là “cái gu” trong một giai đoạn
nào đó. Chẳng hạn khi một nghệ
sĩ để một kiểu tóc lạ, hay ăn mặc khác lạ, rất
nhiều người, đặc biệt là
giới trẻ bắt chước theo.
Hoặc do một “lãnh tụ” nào thay vì
nói “anh ăn nói rất hợp lý”, bèn nói cầu kỳ nửa Tây nửa
ta là “ăn nói
hợp logique”, thế là cả xã hội
bắt chước theo nói “ăn nói
hợp nô rích” tuy chẳng hiểu logique là
gì!
[155] Cao Phượng là người
thời Đông Hán, tên tự là Văn Thông.
Từ bé, ông đã
chuyên ròng đọc sách, ngày đêm
chẳng nghỉ. Nhà theo nghề nông, vợ ra
đồng làm việc, bảo ông trông lúa phơi
trong sân. Ông cầm gậy để xua gà, nhưng
đọc sách mê mải đến nỗi gậy
rơi khỏi tay mà chẳng biết, mưa
cuốn trôi sạch lúa vẫn chẳng biết.
[156] Ẩn Quân
là mỹ hiệu của Đào Hoằng
Cảnh, do ông tự xưng là Hoa Dương
Ẩn Cư (người ẩn dật ở
núi Hoa Dương). Đào Hoằng Cảnh
(456-536) sống vào thời Lưu Tống cho
đến nhà Nam Lương. Ông có tên tự
là Thông Minh, được vua ban hiệu là
Trinh Bạch Tiên Sinh. Ông là đạo sĩ, y sĩ,
văn học gia, và thư pháp gia, kiêm tu Phật
và Đạo giáo. Ông đặc biệt tôn
sùng Thượng Thanh Kinh, trở thành nhân vật
đại biểu cho Thượng Thanh Phái của
Đạo giáo. Ông say mê luyện đan, các
trước tác nổi tiếng của ông là
Chân Cáo, Đăng Chân Ẩn Quyết, Bổn Thảo
Kinh Tập Chú (sách y học). Ông
được phái Mao Sơn Tông của Đạo
Giáo tôn là tổ thứ chín.