Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 3

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

9. Trúc song tùy bút (竹窗隨)

Đời Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn

 

* Vị tăng tên Vô Vi

 

          Ngài Vô Vi Năng ở Lưu Khánh Am tại Ngô Giang lớn tuổi hơn tôi, đức cao hơn tôi, xuất gia trước tôi. Năm xưa, tôi sang chơi vùng Cô Tô, Hồ Châu, tọa Thiền cùng một Thiền đường với Ngài. Tới khi tôi trụ tại Vân Thê, Ngài đến thọ giới, xin được ghi danh làm đệ tử. Tôi từ tạ, chẳng chấp thuận, Ngài cố thỉnh rằng: “Xưa kia, hai vị đại Bồ Tát là Phổ Huệ, Phổ Hiền còn cầu nhập Khuông Lư liên xă. Tôi là kẻ như thế nào mà tự dứt phần nơi hội tốt đẹp?” Bất đắc dĩ, giống như chuyện Đổng La Thạch tham yết Tân Kiến (Vương Dương Minh)[1] mà chấp thuận. Ngài do hiền đức mà rủ lòng hỏi kẻ ngu, có phong thái của cổ nhân, tôi ghi lại để khuyên hàng hậu tấn.

 

* Mạng người trong hơi thở

 

          Một vị Tăng bệnh tật lâu năm, nằm liệt giường đã lâu, mọi người biết ông ta ắt chết, nhưng ông ta chẳng nghĩ tới cái chết. Hễ nói đến cái chết, ông ta liền không vui. Tôi sai người bảo thẳng: “Hãy nhanh chóng lo liệu hậu sự, nhất tâm chánh niệm”. Ông ta nói: “Nam nhân bị bệnh kỵ [nói đến chuyện chết chóc] trước sanh nhật, sau đó sẽ thong thả bàn định”. Ngày Mười Bảy tháng Bảy khi đó mới là ngày sanh, trước một hôm, [ông ta] bỗng chết mất. Ôi! Mạng người trong hơi thở, đức Phật vì người không bệnh mà nói [như thế đó], huống hồ kẻ sắp chết mà chẳng ngộ, buồn thay!

 

* Trước thuật xưa nay

 

          Lúc tôi còn tại gia, tại nhà một người bạn là ông Tiền Khải Đông, do tôi nói về chuyện xuất gia, có một người tu đạo bảo: “Chẳng do xuất gia, chỉ cốt sao có được minh sư mà thôi!” Lúc đó, tôi chưa nghĩ là đúng. Lại có một người tu đạo nói: “Đối với văn tự trong huyền môn, cần phải xem những trước tác của bậc thánh hiền thượng cổ, chứ [những tác phẩm của] người cận đại phần nhiều phát xuất từ ý kiến suy đoán, chẳng đáng tin”. Khi đó, tôi cũng chẳng nghĩ là đúng. Nay nghĩ lại hai lời ấy, đều có ý nghĩa sâu xa. Tuy chưa ắt hoàn toàn đúng như thế, nhưng xét theo tông của ta thì cũng lại đúng như thế. Do vậy, ghi lại.

 

* Dung hội Nho và Thích

 

Có người thông minh hòa hợp, dung hội Thiền tông và sách Nho. Chuyện ấy không chỉ là huệ giải viên dung, mà còn dẫn dắt những kẻ hiểu biết nông cạn chẳng còn dùng Nho để báng đạo Thích. Ý ấy cố nhiên hết sức tốt đẹp. Tuy vậy, nếu dựa trên lời thô hay lẽ tế đều là Đệ Nhất Nghĩa, quả đúng là như vậy; nhưng nếu xét theo văn tự để phân tích lý sâu xa tột cùng, vi tế tột bậc, thì lại trở thành hý luận. Người đã nhập môn lại chẳng thể không biết [điều này].

 

* Lăng Nghiêm (1)

 

          Ngài Thiên Như soạn sách Lăng Nghiêm Hội Giải, có người nói rằng: “Đấy là Lăng Nghiêm của Thiên Như, chẳng phải Lăng Nghiêm của Thích Ca”. Tôi cho rằng lời ấy tuy đúng, nhưng kẻ mới học chấp trước lời này, bèn muốn phế sạch chú sớ của cổ nhân thì chẳng đúng. Dẫu phế sạch các chú sớ, chỉ còn lại chánh văn (nguyên văn kinh Lăng Nghiêm), há chẳng nói: “Đấy là Lăng Nghiêm của Thích Ca, chẳng phải là Lăng Nghiêm của chính mình ư?” Tức là kinh có thể phế bỏ, huống hồ chú sớ ư? Lại chẳng biết “Lăng Nghiêm của chính mình” trọn khắp hết thảy mọi nơi ư? Vậy thì chư tử bách gia[2], thậm chí những bài ca xướng của tiều phu, mục đồng đều chẳng thể phế bỏ, huống gì chú sớ?

 

* Lăng Nghiêm (2)

 

          Không chỉ Lăng Nghiêm, trong thời gần đây, [người học] các kinh đa số đều chẳng dùng tới chú sớ. Phàm chẳng câu nệ những lời giải thích sẵn có mà nghiên cứu thẳng vào ý chỉ của kinh văn, quả thật là có chủ kiến. Nhưng do vậy mà trở thành phong trào, thậm chí phô diễn những ý kiến ức đoán mong vượt trội cổ nhân, ngỡ đó là cao siêu, nhưng có khi là hiểu cong vạy, nói sai lệch, kẻ mới học vô tri đâm ra bị lầm lẫn. Hơn nữa, người xưa có những chỗ hơn người hiện thời cực nhiều, những chỗ không bằng chỉ là một phần mười! Người đời nay những chỗ chẳng bằng cổ nhân cực nhiều, những chỗ hơn xưa chỉ được một phần trăm! Vậy thì sao bằng giữ lại lời giáo huấn [của người xưa], như người học nghề ắt phải trước hết tuân lời thầy dạy để làm chuẩn mực, để đến mai sau, thần cơ diệu thủ hơn hẳn thầy mình, ai có thể hạn chế được? Việc gì cứ phải gấp gáp mong vượt trội? Huống chi trọn chẳng thể vượt ngoài phạm vi của cổ nhân!

 

* Công đức lễ sám

 

          Cư sĩ Tào Lỗ Xuyên ở Cô Tô bảo tôi:

- Có một cô gái ở nhà chồng, mùa Hè ngồi trong nhà, một con rắn từ trên tường rượt đuổi chim bồ câu, rơi xuống giữa sân. Người nhà trông thấy bèn giết chết. Mấy ngày sau, rắn dựa vào thân cô gái, nói năng. Lỗ Xuyên đến xem, [rắn] bèn nói: “Xưa kia ta trấn thủ Kinh Châu. Cao Hoan[3] làm phản, đuổi ta tới bến sông, bèn chết trong sông, chẳng biết cha, mẹ, vợ, con ta có bình yên hay không?” Lỗ Xuyên kinh ngạc nói: “Cao Hoan là người thời Lục Triều, nay đã trải qua Tùy, Đường, Tống, Nguyên tới Đại Minh rồi!” Quỷ mới ngộ chính mình chết đã lâu, cũng biết mình là rắn, nói: “Đã là rắn, chết cũng chẳng hận, chỉ vì ta lễ một bộ Lương Hoàng Sám, ta sẽ đi”. [Người nhà cô gái ấy] bèn thỉnh vị tăng Định Không ở chùa Tứ Châu lễ sám. Bái sám xong, thiết trai đàn, thí hộc thực[4] một đàn, ngày hôm sau cô gái an ổn như cũ.

Sám lễ đúng thời có ý nghĩa to lớn thay!

 

* Ăn nuốt nghêu, hào

 

          Hà Dận[5] đời Tấn nói: “Lươn, cua đi vào chỗ chết, do có tri giác nên đáng thương, còn như ngao mật, sò biển, hào, trong thì chẳng có mặt mày, ngoài thì mồm mép câm nín, chẳng tươi, chẳng héo, chẳng bằng thảo mộc, không phát ra tiếng, không ngửi, khác nào ngói, sỏi! Do vậy, đáng nên đưa vào bếp núc, vĩnh viễn làm thức ăn!” Ôi! Đó là lời lẽ như thế nào vậy? Bọn chúng tuy chẳng có mặt mày, môi mép, tươi, héo, âm thanh, ngửi, há có phải là chẳng có hình chất ngọ ngoạy ư? Hễ có hình chất, có thể vận động, thì đều có tri giác. Ngươi chẳng biết chúng có tri giác, huống hồ mày, mắt v.v… thật ra không gì chẳng đủ, chỉ là đặc biệt vi tế, mắt phàm tục chẳng thấy được, mà toan vĩnh viễn dùng chúng làm thức ăn! Cái tội của Hà Dận thấu tận trời vậy!

 

* Chó vàng ở Đông Môn

 

          Lý Tư[6] sắp bị hành hình, nhìn con bảo: “Ta muốn cùng con lại dẫn chó vàng, chim ưng xanh đậu trên tay, ra ngoài cửa Đông thành Thượng Thái săn thỏ khôn, há có được chăng?” Cha con cùng khóc, ba họ bị tru di. Ấy là Lư Tư hối hận nay phú quý mà chết, chẳng bằng xưa kia nghèo hèn mà được sống. Sao chẳng nghĩ thỏ gặp chim ưng, chó săn, chẳng giống như chính mình mắc búa, rìu ư? Thỏ bị diệt bầy, ngươi bị diệt tộc, vừa khéo như nhau! Chẳng biết tội mình, lại ngược ngạo hâm mộ, đến chết vẫn chẳng ngộ, đấy là cha con Lý Tư đấy chăng?

 

* Vì cha mẹ sát sanh

 

          Ông Kim X… ở Tiền Đường trai giới kiền thành, chuyên dốc, do bệnh mà mất, dựa vào thân một bé trai nói: “Do thời gian tu thiện nghiệp còn ít, chưa được vãng sanh Tịnh Độ, nay ở cõi âm, nhưng cũng rất vui sướng, đi, ở tự tại”. Một hôm, ông quở trách vợ con rằng: “Vì sao do chuyện phần mộ của ta mà giết gà, nấu xôi? Nay có quỷ sứ theo ta, gần như chẳng được thoải mái như trước nữa!” Vợ của đứa con trai có thai, do vậy hỏi ông, ông bèn nói: “Sẽ sanh con trai bình yên. Sau đó, sẽ lại sanh con trai, nhưng mẹ lẫn con cùng chết”. Tôi ghi lại cẩn thận để xem về sau có ứng nghiệm hay không? Không lâu sau, cô ta sanh con trai, lại hoài thai, lại sanh con trai, con trai chết, mẹ cũng chết theo, mới biết mỗi lời đều chẳng sai. Như vậy thì vì cha mẹ mà sát sanh, hiếu tử có nên làm hay chăng?

 

* Giết nai cúng bái để cầu danh

 

          Có kẻ sĩ học đã thành tài, nhưng thi cử lận đận, bèn cầu đảo thần Văn Xương: “Nếu đỗ khoa thi Hương, sẽ giết nai cúng tế”. Chẳng mấy chốc, anh ta thi đậu, đã đền nguyện, đi thi Hội vào mùa Xuân, lại hứa cúng hai con nai, chưa kịp đỗ đã chết! Ôi! Giết nai để cầu tài lộc cho mình, há ngươi an ổn được chăng?

 

* Thí dụ về tâm

 

          Tâm không ǵ có thể thí dụ được! Phàm nêu thí dụ về tâm, bất đắc dĩ mà quyền biến [chọn lấy những thứ] gần giống, chẳng phải là thật. Thử nêu ra một, hai điều: Như dùng gương để sánh ví tâm, vì gương có thể chiếu vật. Khi vật chưa đến trước gương, gương chẳng đón sẵn. Khi vật đối trước gương, gương chẳng yêu, ghét. Khi vật đã rời đi, gương chẳng lưu giữ. Cái tâm của thánh nhân thường tịch, thường chiếu, không tịch suốt ba thời, cho nên ví như gương. Nhưng chỉ là đại lược tương tự mà thôi, nếu xét cùng cực để luận định, gương thật sự vô tri, tâm thật sự vô tri như thế ư? [Nếu thật sự vô tri] thì sẽ tối tăm, chẳng linh thông, sao có thể nói là diệu minh chân thể cho được? Hoặc ví tâm như bảo châu, hoặc ví như hư không, đủ loại thí dụ cũng lại giống như thế!

 

* Hoán cốt (thay đổi xương)

 

          Trần Hậu Sơn[7] nói: “Học thơ như học đạo tiên, đến thời xương sẽ tự thay đổi”. Tôi cũng nói: “Học Thiền như học đạo tiên, đến thời xương sẽ tự thay đổi”. Vì thế, người học không lo Thiền chẳng thành, chỉ lo thời chẳng đến! Không lo thời chẳng đến, chỉ lo học không siêng năng!

 

* Hồng Châu chẳng đạt được cái Thể của bảo châu

 

          Hồng Châu tức là Mã đại sư (Mã Tổ Đạo Nhất). Ngài Khuê Phong [Tông Mật] cho rằng: Như Lai truyền pháp cho ngài Ca Diếp, truyền tới Tào Khê (Lục Tổ Huệ Năng). Đạo của Tào Khê chỉ có Hà Trạch (Thần Hội) là chánh truyền, các tông khác đều thuộc loại nhánh phụ. Ví như châu ma-ni, chỉ có Hà Trạch riêng đạt được cái thể của viên châu! Cách nói của ngài Khuê Phong phân tích lý tột bậc tinh vi, nhưng bình phẩm về người thì chẳng thỏa đáng! Bởi lẽ, Mã Tổ đích thân kế thừa ngài Nam Nhạc [Hoài Nhượng], Nam Nhạc đích thân kế thừa Tào Khê (Lục Tổ Huệ Năng). Sau đấy, Bách Trượng, Hoàng Bá, Lâm Tế, Nam Tuyền, Triệu Châu, chẳng thể kể xiết các vị đại tôn túc đều từ Mă Tổ mà ra, chỉ đề cao một mình ngài Hà Trạch, sao có thể khiến cho thiên hạ phục được?

Ngài Khuê Phong cho rằng ngài Hà Trạch nêu ra một chữ Tri (biết) là tâm, còn các tông thì chỉ bày nơi tác dụng, tức là chỉ đạt được bóng dáng của viên châu. Nhưng cổ nhân tháo niêm, cởi trói cho người khác, thuận theo thời, thuận theo căn cơ, vốn chẳng có pháp nhất định. Nói Tri là chánh thuyết; nói đến tác dụng là xảo thuyết (cách nói thiện xảo)! Xảo là gì? Muốn cho mọi người do bóng dáng mà biết cái gì hiện ra bóng dáng? Nếu chấp một chữ Tri, vậy thì đức Thế Tôn giơ cành hoa lên, chưa từng có chữ Tri, tức là đức Thế Tôn chẳng bằng Hà Trạch ư? Huống hồ những chỗ các tông nêu thẳng chữ Tri cũng chẳng ít, há bảo là “chuyên nói theo tác dụng” ư? Ngài Khuê Phong thường nhật kiến địa cực cao, tôi khâm phục sâu đậm, riêng chỗ này chẳng thỏa ý người khác!

 

* Phần mộ

 

          Tôi đã già, bệnh, đại chúng chọn cuộc đất để dựng tháp, mấy lượt thay đổi. Tôi than rằng: “Người đời hết sức chú trọng, lo toan Phong Thủy, mong cho con cháu vĩnh viễn phú quý. Các ngươi mong mỏi sẽ được tập ấm làm vị quốc sư áo tía ư? Cổ nhân có nói: “Vứt thây nơi rừng rú để nuôi cầm thú”. Mong sao chẳng bỏ ta vào bụng quạ, ruột cáo là đủ rồi, những điều khác chẳng phải là thứ người tu đạo cần biết tới!

 

* Bồ Tát độ sanh

 

          Kinh dạy: “Bồ Tát chẳng thể tự độ mà có thể độ người khác trước”. Ngu phu bèn cho rằng Bồ Tát chỉ độ chúng sanh, chẳng độ chính mình. Chẳng biết chính mình cũng thuộc trong số chúng sanh, há có chuyện độ hết chúng sanh mà riêng bỏ sót một chúng sanh là chính mình ư? Há có nên viện cớ là Bồ Tát, đuổi theo cái bên ngoài, quên khuấy cái bên trong ư?

 

* Sau khi đã ngộ

 

          Hòa thượng Quy Sơn nói: “Như nay kẻ sơ tâm tuy do duyên mà đạt được một niệm đốn ngộ để tự nhập lý, nhưng hãy còn tập khí từ vô thỉ kiếp lâu xa chưa thể nhanh chóng trừ sạch, cần phải trừ sạch hiện nghiệp lưu thức[8]; đó chính là tu vậy, chẳng nói có riêng một pháp để dạy họ tu hành, hướng theo”. Lời này của ngài Quy Sơn, nếu chẳng phải là người thấu triệt nguồn cội của pháp, sẽ chẳng thể nói được. Nay có người tỉnh giác đôi chút liền nói sự tham học trong suốt một đời đã hoàn tất, có phải chỉ một đôi kẻ mà thôi ư?

 

* Hai vị tọa chủ Phu và Toại

 

          Phu thượng tọa ở Thái Nguyên giảng kinh Niết Bàn tại chùa Hiếu Tiên ở Dương Châu, rộng đàm luận diệu lý Pháp Thân, có vị thiền giả bật cười. Phu thượng tọa giảng xong, mời thiền giả dùng trà, bạch rằng: “Tôi hẹp hòi, kém cỏi, nương theo văn tự mà hiểu nghĩa, khéo sao được ngài chê cười, mong được dạy bảo”. Thiền giả nói: “Chẳng phải là tọa chủ nói không đúng, nhưng chỉ là nói được chuyện ngoài rìa Pháp Thân lượng, thật sự chưa biết Pháp Thân ở đâu”. Phu thượng tọa thưa: “Đã là như vậy, xin hãy tôi nói”. Đáp: “Tọa chủ vẫn tin tưởng ư?’ Thưa: “Nào dám chẳng tin!” Đáp: “Thỉnh tọa chủ ngưng giảng mười ngày, đoan nghiêm tĩnh tọa, thâu tâm, nhiếp niệm, các duyên dù thiện hay ác đều nhất loạt buông xuống”. Phu thượng tọa nhất loạt vâng theo lời dạy, từ đầu đêm tới cuối canh năm, nghe tiếng tù và, bỗng đại ngộ.

Lại nữa, Lương Toại tọa chủ tham yết ngài Ma Cốc[9]. Ma Cốc vác cuốc vào vườn, chẳng ngó ngàng tới, trở về phương trượng, liền đóng chặt cửa. Ngày hôm sau, [Toại tọa chủ] lại cầu kiến, lại bị đóng cửa. Toại tọa chủ liền gõ cửa, Ma Cốc hỏi: “Ai đó?” Toại tọa chủ vừa mới xưng tên, bỗng đại ngộ. Hai vị tôn túc ấy chỉ do trống lòng cầu hiền, chẳng ôm lòng ngã mạn. Người hiện thời tự cao, sao đạt như thế được?

 

* Thật ngộ

 

          Diệu Hỷ[10] nói: “Khi nói được rành rẽ ‘que cứt khô’[11] là như thế nào, thì ‘cưa đứt quả cân, ba cân gai, con chó có Phật tánh’ v.v… sẽ đều có thể nói được như thế. Đã chẳng thể nói như thế, cần phải là ngộ rồi mới đắc. Nếu ngươi thật sự đắc ngộ mà sư gia (thầy truyền pháp) cố ý nói chẳng phải, cũng sẽ chuốc lấy nhân quả chẳng nhỏ!” Người học hãy nên nhớ kỹ lời nói này của ngài Diệu Hỷ, sẽ dứt khẩu đầu tam-muội mà cầu ngộ thật sự.

 

* Cha mẹ lạy ngược lại người xuất gia

 

          Tôi soạn Chánh Ngoa Tập, có nói: “Phản nghĩa là trả lại. Cha mẹ là người tại gia chẳng tiếp nhận người con đã xuất gia lễ bái, bèn hoàn lễ, chẳng phải là lạy ngược lại con mình”. Một vị Tăng bực tức nói: “Kinh Pháp Hoa nói Đại Thông Trí Thắng Như Lai đã thành Phật, cha Ngài là luân vương hướng về Phật đảnh lễ. Đó là lạy ngược lại con. Phật đã có giáo huấn rành rành; do vậy, khắc vào cuối kinh”. Tôi chắp thay, thưa: “Ngài gọi điều gì là Như Lai?” Vị Tăng từ tạ, chẳng dám đáp. Lại hỏi: “Ngài chưa phải là Như Lai, nhưng sắp thành Chánh Giác ư?” Tăng lại chối chẳng dám. Tôi nói: “Đã chẳng dám thì đợi cho đến khi chính Ngài thành Chánh Giác, ngồi đoan nghiêm suốt mười kiếp, thật sự tiếp nhận địa vị của Đại Thông Như Lai, sẽ tiếp nhận cha mẹ lạy mình vẫn chưa muộn! Nay Ngài là Tăng, chưa phải là Phật. Phật vì Tăng mà lập pháp, chẳng vì Phật mà lập pháp. Hơn nữa, người đời báng bổ Phật không cha, không vua. Tôi vì sợ lẽ ấy mà uốn nắn sự sai ngoa đó, hòng dứt sự chê gièm trong cõi đời, mong cho chánh pháp tồn tại lâu dài! Vì sao Ngài chẳng sợ khẩu nghiệp, cam tâm làm loài trùng trong thân sư tử vậy? Buồn thay!”

 

* Sống ngu, chết trí

 

          Lạc Dương Già Lam Ký ghi: “Sách sử đều chẳng phải là sách ghi chép sự thật”. Người thời nay sống ngu, chết trí, cũng hết sức mê hoặc. Bởi lẽ, nói sử phần nhiều khen ngợi quá đáng, chẳng đáng tin; nhưng hai chữ “giai phi” (đều chẳng phải) là nhận định thái quá. Cổ nhân nói sử là “trực bút” (ghi chép thẳng thừng), lẽ đâu chẳng phải là [ghi chép] sự thật? Phu tử (Khổng Tử) nói “văn thắng chất”[12] thì sử sẽ có những điều chẳng thật, hãy nên sửa “giai phi” thành “vị tất” (chưa chắc). Cổ nhân thận trọng trong việc khẳng định, một lời phẩm đề sẽ truyền tiếng thơm ngàn đời, nhưng hiện thời xem đó là chuyện xưa, giống như vì tình cảm riêng mà a dua hư vọng, khen bừa, khiến cho người hiểu biết chê cười, đáng than thay! Vì thế, sách Lạc Dương Ký do khích động mà luận định như thế, đánh ngay vào thói tệ trong đời mạt, chẳng nói toạc như thế này: Đối với các vị thiện tri thức thật sự đời trước trong Truyền Đăng Lục và những tên họ được đưa vào trong hiện thời, ghép chung vào tổ đồ (hệ thống truyền thừa của chư tổ sư) thì biện định như thế nào đây? Sau này, những ai là đệ tử của tôi đừng hư vọng ghép những người nổi danh [vào tiểu truyện của tôi] hòng tô vẽ những gì tôi chưa đạt đến!

 

* Trang Tử (1)

 

          Có kẻ sĩ trong cõi tục tụ tập các sa-di nhỏ tuổi để giảng sách Trang Tử, nói lớn lối rằng: “Nam Hoa[13] có ý nghĩa vượt trội kinh Lăng Nghiêm”. Nhất thời, tăng sĩ và các cư sĩ chẳng ai quở trách kẻ ấy sai trái. Nam Hoa quả thật tuyệt diệu trong các sách thế tục, nhưng bảo là hơn hẳn kinh Lăng Nghiêm, sao mà nực cười quá đỗi? Kẻ sĩ ấy cố nhiên là loại học vấn nhà quê, xét ra phẩm đức của hắn thô thiển, vụn vặt, chẳng đáng so đo! Lời lẽ của hắn cũng chẳng có chỉ thú đáng luận, chỉ sợ sẽ khiến cho các sa-di lầm lẫn! Nhưng các sa-di hễ hơi minh mẫn thì lâu ngày sẽ tự biết, như nói đồng thau hơn hẳn vàng ròng chỉ lừa được trẻ nít, trẻ nít lớn lên ắt sẽ nhổ vào mặt kẻ đó!

 

* Trang Tử (2)

 

          Có người nói rằng: “Sách Trang Tử tuy nghĩa kém cỏi, nhưng văn chương huyền diệu, phóng khoáng, đáng chuộng, đáng kinh ngạc, đó là những điều kinh Phật chẳng có! Do vậy, các bản văn chương thời cổ và kẻ theo đuổi cử nghiệp đều không ai chẳng noi theo, là như thế nào vậy?”

Đáp: Kinh Phật được gọi là lời lẽ chí lý, không bóng bẩy, nhưng so với văn chương của người đời thì là ánh sáng rực rỡ của mùa Xuân đua sắc với các loài thảo mộc! Khoan bàn đến đã, ông muốn bàn luận về văn chương, há chẳng phải là có Lục Kinh, tứ tử[14] tồn tại đó ư? Nhưng Khổng Tử là người tổng tập hoàn thiện. Tôi thử dùng thí dụ để nói: Văn của Khổng Tử chánh đại, quang minh, như mặt trời, mặt trăng. Còn sách Nam Hoa thì chỗ hay như sao dày, chớp lóe, chỗ dở như lửa cháy đồng. Văn của Khổng Tử sâu lắng, hàm súc, mênh mông, là sông, biển. Chỗ hay của sách Nam Hoa như sóng trào nơi thác nước, chỗ dở thì như dòng nước chảy loạn xạ. Văn của Khổng Tử dung hội tinh túy, ấm áp, mượt mà như ngọc quý. Nam Hoa thì chỗ hay như thủy tinh, lưu ly, chỗ dở thì như loại đá thoạt nhìn giống như ngọc. Văn của Khổng Tử thiết thực, gần gũi, tinh tường, chân thật như ngũ cốc. Nam Hoa thì chỗ hay như quả vải của xứ An Nam, nho của xứ Đại Uyển, chỗ dở thì như lê và hồng chưa chín. Đó là so sánh đại lược, người theo cử nghiệp nên học theo loại văn nào? Huống hồ người làm Tăng chẳng coi văn chương là sự nghiệp của chính mình!

 

* Trang Tử (3)

 

          Hỏi: - Bậc tôn túc thời cổ chú sớ kinh, tạo luận, có dẫn lời Trang Tử, là vì lẽ nào?

Đáp: - Sách vở nơi Chấn Đán (Trung Hoa) thì Châu, Khổng, Lão, Trang là hay nhất. Kinh Phật từ Ngũ Thiên Trúc truyền đến, muốn mượn lời lẽ trong cõi này để nêu rõ, chẳng trích dẫn lời lẽ của họ thì trích dẫn ai đây? Nhưng phần nhiều là dùng từ ngữ của họ, chứ không dùng trọn nghĩa của họ, chỉ là mường tượng mà thôi! Bởi lẽ, [ý nghĩa trong các lời nói của họ] chỉ là hơi tương tự, chẳng phải là đúng thật. Người phương Nam lên đất Bắc, người đất Bắc chẳng biết thuyền [là như thế nào], [người phương Nam] bèn chỉ cỗ xe mà giảng giải rằng: “Thuyền của tôi chở vật đi xa giống như xe cộ ở phương này”. Mượn xe để chỉ rõ thuyền, chẳng phải coi xe là thuyền!

 

* Sách dưỡng lăo

 

          Có người biên tập sách dưỡng lão, ăn uống hằng ngày phần nhiều là quay, nướng sanh vật, đến mức chim sẻ, nhạn, trĩ, uyên ương, nai, thỏ, lạc đà, gấu, lợn rừng, kể cả nhiều kẻ thiếu niên giàu có còn chưa từng được nếm. Tiên đức có nói: “Dẫu anh khéo bồi bổ, khó tranh cùng tử ma”. Cớ sao đã già mà chẳng thôi dứt ý niệm ấy? Cứ ngược ngạo siêng năng sát hại, khiến cho người già trong thiên hạ bị lầm lẫn, cũng như khiến cho con, em họ đều hãm trong địa ngục, chính là vì sách này! Khổng Tử nói lão giả an chi” (khiến cho người già được an ổn)[15], chắc chắn Ngài chẳng dạy họ sát sanh để được yên ổn. Mạnh Tử nói thất thập thực nhục” (bảy mươi tuổi ăn thịt) cũng chắc chắn chẳng dạy ăn trọn khắp thịt của chúng sanh. Kẻ xướng suất [ăn trọn các loại thịt để dưỡng lão] hãy suy nghĩ đi!

 

* Tâm đắc

 

          Cái đạt được do dùng tai để nghe nhận chẳng rộng bằng điều đạt được do dùng mắt để thấy hoặc đọc. Cái đạt được do dùng mắt để thấy hoặc đọc chẳng rộng tột cùng bằng cái đạt được do dùng tâm để ngộ, để thông hiểu. Do tâm là vua, do mắt là bầy tôi, do tai là kẻ giúp đỡ. Dùng mắt làm tâm kém hơn, dùng tai làm mắt lại càng kém hơn nữa!

 

* Cúng tế quỷ thần chẳng dùng các con vật[16]

 

          Phong tục ở đất Hàng cuối năm tế thần, lớn thì mổ dê, hầm lợn. Kém hơn thì dùng đầu lợn, gà, cá. Khi tôi chưa xuất gia, trì giới chẳng giết, bèn thay bằng rau quả, người nhà dẫu là đứa trẻ chỉ cao ba thước không ai chẳng ngạc nhiên, cho là ắt chẳng thể được! Tôi thắp hương, cầm đuốc, lớn tiếng bạch với thần rằng: “Tôi tên là… giữ giới chẳng giết. Sát sanh để cúng tế thì không chỉ là tôi phạm lỗi, mà cũng chẳng phải là phước của thần! Nhưng ý này do một mình tôi quyết đoán, những người khác đều muốn dùng các con vật. Nếu thần chẳng vui, hễ có tai vạ, xin giáng xuống thân tôi. Nếu lạm hại kẻ vô tội, sẽ chẳng thể gọi là đấng thông minh, chánh trực!” Người nhà vẫn cho là tôi sẽ bị nguy hại, nhưng suốt năm cả nhà chẳng có chuyện gì, bèn theo lệ ấy.

 

* Ưa chuộng

 

          Người sống trong cõi đời, mỗi người có riêng sở thích, cũng như ai nấy thuận theo sở thích mà sống đến già, nhưng thanh hay trược khác nhau! Ô trược nhất là ham tiền tài, kế đó là háo sắc, kế đó là ham chè chén. Hơi thanh hơn thì hoặc là chuộng đồ cổ ngoạn, hoặc thích đàn, cờ, hoặc thích núi, sông, hoặc chuộng ngâm vịnh. Hoặc tiến hơn nữa là thích đọc sách, mở sách ra bèn có ích. Trong các điều ưa thích, đọc sách là tốt nhất, nhưng đấy vẫn là pháp thế gian. Lại tiến hơn nữa là thích đọc nội điển (kinh Phật). Lại tiến hơn nữa là thích tịnh cái tâm. Ưa thích tịnh cái tâm đến mức cùng tột chính là ưa thích tối thắng nhất trong thế gian và xuất thế gian, sẽ dần tiến nhập cảnh tốt đẹp ví như ăn mía vậy!

 

* Hãy nên ngộ trí thế gian

 

          Trí có hai loại, có trí thế gian và trí xuất thế gian. Trí thế gian lại có hai loại:

- Một là học rộng, ngôn từ rộng rãi, tài nghệ giỏi giang, bản lãnh sâu xa, chỉ do hiểu biết nhiều mà hơn hẳn người khác.

- Hai là hiểu rõ thiện ác, thông hiểu tà chánh, thực hiện điều đáng nên làm và ngăn dứt điều đáng nên ngăn dứt.

Chỉ đạt được điều thứ nhất thì là cuồng trí, sẽ đọa vào tam đồ. Kiêm đạt được cả điều sau, thì gọi là Chánh Trí, quả báo thuộc vào đường trời, người. Vì sao vậy? Đức thắng tài thì gọi là quân tử, tài thắng đức thì gọi là tiểu nhân.

Trí xuất thế gian cũng gồm hai loại:

- Một là khéo có thể phân biệt chánh pháp của Như Lai, như Tứ Đế, Lục Độ v.v… nương theo đó mà phụng hành.

- Hai là phá vô minh hoặc, đúng như thật hiểu rành rẽ, thấy bổn tâm của chính mình.

Chỉ đạt được loại đầu thì là trí xuất thế gian, gọi là “tiệm nhập”. Kiêm đạt được điều sau thì là thượng thượng trí xuất thế gian, gọi là “đốn siêu”. Vì sao vậy? Chỉ cần đạt được cái gốc, lo chi cái ngọn. Đạt được cái ngọn, chưa chắc đạt được cái gốc. Nay có kẻ vừa mới đạt được phần đầu của trí thế gian, liền bảo là đại triệt đại ngộ, lầm lẫn, mê muội quá đỗi!

 

* Chớ nên bỏ lỡ thời cơ

 

          Phàm người mới xuất gia, tâm ắt mạnh mẽ, nhạy bén, hãy nên thừa dịp ấy mà một mực đổ công dốc sức khiến cho được thành lập. Nếu cứ chểnh mảng, ơ hờ, bỏ lỡ lúc ấy, ngày sau hoặc làm trụ trì, hoặc nhận học trò, hoặc tín thí đông nhiều, phần lớn sẽ mắc lụy, vùi đắm cái chí ban đầu. Người tu hành chớ nên không biết điều này!

 

* Niệm Phật được quỷ kính trọng

 

          Thôn dân X… ở Hải Xương, có một bà cụ chết, nhập vào thân người nhà để nói chuyện lúc sống và sự báo ứng trong âm phủ hết sức tường tận. Người nhà vây quanh nghe. Ông X… ở giữa đại chúng, bỗng nhiếp tâm niệm Phật. Bà cụ nói: “Ông thường như thế, lo gì chẳng thể thành tựu Phật đạo”. Hỏi: “Vì sao vậy?” Đáp: “Do tâm ông niệm A Di Đà Phật”. Hỏi: “Vì sao biết?” Đáp: “Do thấy thân ông có quang minh”. Thôn dân chẳng biết một chữ, niệm Phật trong thoáng chốc, mà còn khiến cho quỷ kính trọng, huống hồ người tu đã lâu? Do vậy, công đức niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn!

 

* Quỷ thần

 

          Nếu hỏi “có quỷ thần hay không?”, đáp: “Có quỷ thần”. “Có thể tin thờ hay chớ nên tin thờ?” Đáp: “Vừa nên, vừa chẳng nên”. “Nghĩa là sao?” Đáp: “Phu tử (Khổng Tử) chẳng nói “kính quỷ thần nhi viễn chi” (kính trọng quỷ thần nhưng xa cách) ư? Một lời ấy đã trọn hết mọi lẽ. “Kính chi” là nói có [quỷ thần], “viễn chi” là nói tín phụng, nhưng chẳng siểm nịnh. Cúng tế đúng thời, giao tiếp bằng lễ, như thế mà thôi! Quá tin tưởng mà bợ đỡ, thờ phụng, hòng được họ báo trước cát, hung, ban phước, đạt được sự linh thông, ắt sẽ xăm xăm đi vào đường tà vậy! Ôi! Có đấng đáng kính mà chớ nên xa chính là Phật, Bồ Tát, sao chẳng suy nghĩ?

 

* Đông Pha (1)

 

          Ngài Huệ Hồng Giác Phạm[17] nói Tô Đông Pha văn chương và đức hạnh rạng ngời ngàn đời, lại còn thâm nhập Phật pháp, nhưng lưu luyến thuật trường sanh chẳng thể quên, chẳng phải chỉ không có công lao, mà đâm ra còn do vậy mà bị bệnh chết. Tôi nói: Đông Pha mà còn như thế, huống chi những kẻ khác ư? Nay có kẻ miệng bàn vô sanh mà tâm hâm mộ trường sanh. Có kẻ mới học vô sanh, trong chốc lát liền đổi sang học trường sanh. Đó là vì cái biết chẳng chân thật, cái thấy chẳng vững vàng. Do vậy, người tu đạo chớ nên đánh mất chánh kiến trong khoảng sát-na!

 

* Đông Pha (2)

 

          Nguyên thiền sư gửi thư cho Đông Pha nói: “Người hiện thời kiêng kỵ Tử Chiêm[18] đang làm Tể Tướng. Công danh, phú quý ba mươi năm chớp mắt thành rỗng không, sao chẳng dũng mãnh một đao chặt phăng?” Lại nói: “Trong bụng Tử Chiêm có vạn quyển sách, dưới ngòi bút chẳng có một mảy trần, vì sao chẳng biết tánh mạng của chính mình sẽ rơi vào đâu?” Do Tô Đông Pha dĩnh ngộ, mẫn tiệp, lại có bạn lành đốc thúc, khơi gợi như thế, còn lo gì chẳng mỗi ngày một tiến bộ hơn? Nay hạng quan lại giao du với bậc tăng sĩ, hãy nên theo tình nghĩa ấy.

 

* Yêu, ghét

 

          Tục ngữ nói: “Ái kỳ nhân cập kỳ ốc thượng chi ô” (yêu mến một người bèn yêu mến cả con quạ trên mái nhà), ý nói: Yêu mến tột bậc, bỗng do duyên biến đổi mà tình xoay chuyển, biến yêu thành ghét, đã ghét lại càng ghét hơn, tình yêu mến trước đó ở chỗ nào vậy? Chuyển ghét thành yêu, cũng lại như thế. Do vậy, yêu chẳng cần phải mừng, ghét chẳng cần phải giận, do đó là chuyện trong mộng, hoa đốm trên không, vốn chẳng phải là thật!

 

* Lợi ích của Tĩnh (1)

 

          Ban ngày có việc, có khi chẳng biết xử sự ra sao, ngủ đến canh tư hoặc canh năm ngồi dậy, thì “đúng, sai, nên, không nên” bỗng tự hiểu rõ. Những chỗ sai lầm trong lúc ban ngày do vậy đều hiện ra, bèn biết trước nay chẳng thấy rõ tâm tánh đều là do bận bịu, rối ren che lấp bản thể mà thôi. Cổ nhân nói: “Tĩnh kiến Chân Như tánh” (do tĩnh mà thấy tánh Chân Như), “tánh thủy trừng thanh, tâm châu tự hiện” (nước tánh trong lặng t viên châu trong tâm tự hiện), há có phải là lời rỗng tuếch ư?

 

* Lợi ích của Tĩnh (2)

 

          Mắm ngấu, rượu ngon trong thế gian cất giữ càng lâu, càng ngon, đều do bịt chặt, phong kín, chẳng bị rò hơi. Vì thế, cổ nhân nói: “Hai mươi năm chẳng mở miệng nói chuyện; sau đấy Phật cũng không làm gì ngươi được!” Lời ấy hay lắm thay!

 

* Kinh Hoa Nghiêm không bằng quẻ Cấn

 

          Tống Nho có nói “đọc một bộ kinh Hoa Nghiêm chẳng bằng xem một quẻ Cấn”. Người cao minh biết nói kiểu ấy sai lầm, kẻ kém hèn bèn tin tưởng chẳng ngờ. Mở cửa tà kiến, đóng lấp nẻo viên thừa, chẳng thể không ăn nói cẩn thận! Giả sử nói đọc một bộ kinh Dịch chẳng bằng xem một quẻ Cấn còn chẳng thể được, huống hồ Phật pháp ư? Huống hồ kinh Hoa Nghiêm trong Phật pháp ư? Hoa Nghiêm trọn đủ vô lượng môn, các kinh Đại Thừa khác vẫn là một môn trong vô lượng môn của kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm là thiên vương, các kinh Đại Thừa là chư hầu được phong tước. Các kinh Tiểu Thừa là nước phụ thuộc của các nước được phong hầu, những điều khác có thể [suy ra mà] biết được!

 

* Hàn Hoài Âm (Hàn Tín)

 

          Hoài Âm[19] giúp Hán diệt Sở, đã được phong vương, mời người phụ nữ giặt giũ đến tặng ngàn vàng. Mời kẻ thiếu niên đã làm nhục mình đến, cũng tặng cho ngàn vàng. Phàm báo ân là lẽ thường tình của con người, chẳng báo oán mà ngược lại dùng ân để báo oán, có thể nói là có độ lượng của bậc đại nhân, có phong thái của bậc trưởng giả quân tử, nhưng rốt cuộc chẳng được chết yên lành, khiến cho từ ngàn xưa đến nay vẫn đáng than tiếc. Tuy vậy, có hai nguyên nhân: Một là [Hàn Tín] lòng nhân có thừa, nhưng trí chẳng đủ. Hai là do giết nhiều người, chẳng tránh khỏi tự giết mình. Lý cố nhiên phải là như thế, chẳng có gì đáng ngạc nhiên!

 

* Tụng kinh xen tạp lời khác

 

          Quan Tổng Nhung[20] họ Thích (Thích Kế Quang) chuyên trì kinh Kim Cang. Ông trấn thủ Tam Giang thuộc đất Việt, có người lính đã mất báo mộng: “Ngày mai tôi sẽ bảo vợ tôi đến chỗ Ngài, xin vì tôi tụng kinh một quyển để giúp cho cõi âm”. Hôm sau, quả nhiên có một người đàn bà buồn khóc xin gặp. Hỏi han thì đúng như lời trong mộng, ông chấp thuận. Ông sáng dậy tụng kinh, ban đêm mộng thấy người lính nói: “Nhờ ân lớn của ông, nhưng chỉ được nửa quyển do xen tạp hai chữ Chẳng Dùng”. Ông nghĩ nguyên nhân là do vợ sai tớ gái đưa trà, bánh, ông từ xa trông thấy, vẫy tay từ chối, tuy miệng chẳng nói, nhưng tâm nghĩ “chẳng dùng”. Sáng hôm sau, ông đóng cửa tụng kinh; ban đêm, mộng thấy người lính cảm tạ rằng: “Đã được siêu thoát”. Chuyện này tôi đích thân nghe từ vị Tăng Đông Lâm ở Tam Giang. Đông Lâm là người chân thành, chuyên dốc, có đạo hạnh, chẳng nói dối. Ôi, tăng sĩ tụng kinh lẽ nào chẳng cẩn thận ư?

 

* Tâm bình đẳng siêu tiến vong linh

         

          Tại phường Đa Sĩ thuộc quận Hàng có miếu Đông Bình. Có một người nghèo túng trong quận đã chết, báo mộng với vợ rằng: “Xem ra bà không có sức cầu siêu, chẳng bằng nhờ chủ miếu của miếu Đông Bình là ngài X… thí cho một hộc cơm là đủ rồi”. Vợ đến chỗ chủ miếu cầu xin, chủ miếu nói: “Tôi tới kỳ hạn có bảy người đứng ra xin cử hành lễ cúng, biết làm thế nào? Nhưng tôi thà từ chối họ để làm cho bà”. Bèn làm lễ thí thực. Vợ mộng thấy chồng nói: “Đã siêu thoát rồi. Vị ấy thường ngày phía trên chõng nằm có thờ tượng Vương Linh Quan[21], trước tượng đặt một cái bình. Hễ được biếu tiền cúng do tụng kinh, mắt chẳng nhìn tới, bỏ ngay vào bình, cần dùng bèn lấy, chẳng so đo [tiền cúng] trọng hậu hay đơn bạc. Một niệm bình đẳng, vong hồn nhờ đó mà được tế độ!” Ôi! Tâm bình đẳng liền có oai đức như thế đó, huống hồ tâm rỗng rang ư? Thích tử hãy nên tự gắng lên!

 

* Đối cảnh

 

          Con người đối trước cảnh giới “tài, sắc, danh lợi”, nếu dùng thí dụ để nói rõ thì như có đống lửa ở ngay đây, năm món vật ở bên cạnh: Một là như cỏ khô, vừa mới chạm vào đã cháy tan. Hai là như gỗ, thổi lửa mạnh mới cháy. Vật thứ ba như sắt, chẳng thể cháy được, nhưng có thể tan chảy. Vật thứ tư như nước, không chỉ chẳng cháy mà ngược lại có thể dập tắt lửa, nhưng nếu cách ngăn bởi nồi hay vò, sẽ có thể sôi sùng sục. Vật thứ năm như hư không, sau đấy mặc tình đun nấu, bản thể luôn như như, cũng chẳng cần phải diệt mà lửa sẽ tự diệt. Phàm phu như vật thứ nhất, những vật thuộc loại giữa là tu học dần dần theo thứ tự, loại cuối cùng mới được gọi là Như Lai đại thánh nhân.

 

* Trừ khử chướng

 

          Tu hành trừ khử chướng cũng có năm bậc, ví như nơi thân một người có năm tầng quấn, phủ: Ngoài cùng là giáp sắt, kế đến là áo da cừu, kế đến là áo vải, kế đó là áo bằng lụa, lại kế đó là áo sát thịt bằng the tột mỏng nhẹ. Theo thứ tự tháo gỡ, ngay cả lớp the mỏng cũng đều bỏ đi, mới là bản thể tự thân trần trụi. Hành nhân ngoài là trừ khử thô chướng, trừ khử rồi lại trừ khử, mãi cho đến khi căn bản vô minh là chướng ngại cực vi tế thảy đều trừ sạch thì mới là bản thể thanh tịnh Pháp Thân.

 

* Coi khổ là vui

 

          Con giòi đang ở trong nhà xí, trong mắt của chó, dê thì thấy nó khổ sở khôn ngằn, nhưng con giòi chẳng biết khổ, vẫn thấy đó mới là sướng. Chó, dê ở trên mặt đất, con người thấy chúng nó khổ khôn ngằn, nhưng chó, dê chẳng biết khổ, vẫn nghĩ là sướng. Con người sống trên cõi đời, chư thiên thấy con người khổ sở khôn ngằn, nhưng con người chẳng biết khổ, vẫn tưởng là vui. Suy đến cùng cực, khổ hay sướng của chư thiên cũng giống như thế đó. Biết điều này bèn cầu sanh Tịnh Độ, một vạn con trâu chẳng kéo lại được!

 

* Hai người khách đánh cờ vây[22]

 

          Hai người khách đánh cờ vây, có người ở bên cạnh cười nhạo rằng: “Tôi thấy hai cây cột thịt đang lay động!” Khách nói: “Nghĩa là sao?” “Hai ông thân hình còn đó mà tâm thần đã lìa. Tâm thần đã đặt nơi con cờ đen trắng từ lâu rồi. Thứ đang đối địch với nhau chẳng phải là cột thịt thì là gì?” Khách im lặng.

 

* Tư duy tu

 

          Thiền-na được phương này dịch là Tư Duy Tu. Vì thế, được gọi là Thiền Tư tỳ-kheo thì phải chú trọng tư duy. Kinh lại nói: “Hữu tư duy tâm, chung bất năng nhập Như Lai đại Niết Bàn hải” (Có tâm tư duy thì trọn chẳng thể nhập biển đại Niết Bàn của Như Lai). Lại nói: “Thị pháp phi tư lượng phân biệt chi sở năng cập” (pháp này chẳng thể do suy lường, phân biệt mà thấu hiểu được). Đó là [luận về] cái bệnh trong tư duy. Vì sao vậy? Do tư có hai loại: Một đằng là chánh tư duy, đằng kia là tà tư duy. Tư duy mà không suy tưởng là chánh tư duy. Tư duy có suy tưởng thì là tà tư duy.

Tư lại có hai loại: Một là từ ngoài mà tư duy bên trong, sẽ là trái trần, hợp giác. Hai là từ trong mà tư duy bên ngoài, tức là trái nghịch giác, xuôi theo trần lao. Tư duy theo lối tư duy từ trong ra ngoài, cứ tư duy mãi, lại tư duy nữa, tư duy vô tận thì lẽ chân càng xa! Tư duy theo kiểu từ ngoài mà tư duy vào bên trong, đã tư duy lại tư duy thêm nữa, tư duy sẽ hết, quay về nguồn. Do tư mà nhập vô tư, tức là niệm Phật do niệm mà nhập vô niệm vậy!

 

* Bạn bè can gián

 

          Lúc tôi mới xuất gia, vị lão tăng chùa Trà Thang ở Cao Đình mời tôi thọ trai nhân dịp sanh nhật. Khi ấy, tại Đại Lãnh có Lập Thiền là người phương Bắc, tánh bộc trực, chẳng siểm nịnh, nhìn tôi bảo: “Ông ta mời thầy là vì Phật pháp ư? Hay là vì tình cảm? Ông ta do tình cảm mà coi trọng thầy, đi làm gì?” Tôi hết sức hổ thẹn. Lại có người bạn là Cổ Minh bảo tôi: “Sau này thầy chẳng ra mặt trong cõi đời là hay nhất”. Tôi thưa sở nguyện vốn có của mình: “Nguyện suốt đời ở địa vị là học tṛ để rèn luyện”. Thầy Cổ Minh cười bảo: “Thầy vẫn có ngày lại ra mặt trong cõi đời, chẳng tránh khỏi”. Nay nghĩ chẳng thể nào lại có hai người bạn như thế được nữa, buồn bã thương cảm hồi lâu!

 

* Tấu nhạc

 

          Bảng kết quả kỳ thi mùa Thu (khoa thi Hương) vừa niêm yết, những người mới thi đỗ, tấu nhạc đi qua cửa chùa Thượng Phương, hai vị Tăng ùa ra xem. Vị tăng thứ nhất nói: “Lành thay! Cũng chẳng vui lắm sao!” Vị thứ hai nói: “Lành thay! Cũng chẳng buồn lắm sao!” Vị tăng thứ nhất hỏi duyên cớ, vị tăng thứ hai đáp: “Ông chỉ biết tấu nhạc ngày hôm nay mà chẳng biết có tấu nhạc ngày mai sau[23]”. Vị tăng thứ nhất không hiểu, vẫn cứ khen ngợi, hâm mộ như cũ!

 

* Điều coi trọng và xem thường của người tu đạo

 

          Người thời cổ được gọi là “đạo nhân” do coi thường những thứ người đời xem trọng, coi trọng những thứ người đời khinh thường. Cõi đời coi trọng điều gì? Phú quư. Cõi đời xem thường điều ǵ? Thân tâm. Nay coi trọng và xem thường giống hệt như cõi đời, còn được gọi là đạo nhân nữa ư?

 

* Chẳng thể không đọc kinh Phật

 

          Tôi thuở nhỏ thấy tiền hiền quở Phật, do vâng theo lời được nghe trước hết, ngỡ đó là chánh yếu, có cái nhìn như kẻ lùn mà chẳng hay biết[24]. Ngẫu nhiên từ sạp kinh nơi giới đàn, thỉnh vài quyển kinh về đọc, mới hết sức kinh hãi, nói: “Chẳng đọc các sách như thế này, gần như sống uổng một đời!” Người hiện thời có kẻ trẻ khỏe, rồi già nua, rồi chết, nhưng [kinh Phật] chưa từng liếc mắt, có thể nói là “đối trước núi báu mà chẳng vào”. Lại có một loại người, tuy đọc, nhưng bất quá chọn lấy những từ ngữ hay khéo để giúp cho việc đàm luận, tăng oai thế trong viết lách. Từ trẻ khỏe đến già nua, chết đi, chẳng hề suy xét lý ấy, có thể nói là “vào núi báu mà chẳng nhặt lấy”. Lại có một loại, tuy thảo luận, tuy giảng diễn, cũng bt quá là giải thích từ ngữ, giảng giải văn tự, ganh đua [nêu ra ý kiến] mới mẻ, cao vọi, từ trẻ khỏe đến già nua, chết đi, nhưng chưa hề thật sự hành trì, có thể nói là “nhặt lấy của báu, thưởng thức, ngắm nghía, cất trong tay áo rồi lại vứt đi!” Dẫu vậy, hễ nhiễm vào thần thức, rốt cuộc trở thành hạt giống đạo. Do đó, chẳng thể không đọc kinh Phật.

 

* Tiêu phi

 

          Vũ Hậu (Vũ Tắc Thiên) bắt chước chuyện “lợn người”[25] để giết bọn Vương hoàng hậu. Khi Vương hậu sắp chết, thề nguyện đời đời kiếp kiếp chính mình làm mèo, Vũ Hậu làm chuột, để chẹn họng nó chết tươi mà ăn thịt. Tới nay, trong mèo và chuột vẫn có hai người ấy thọ sanh, tuy báo thù trăm ngàn vạn lần vẫn chưa thôi! Trước kia, tôi làm trai đàn Thủy Lục, đã thương xót mà siêu tiến cho họ, chỉ sợ sức oán thù sâu đậm, sức siêu độ cạn cợt chẳng thể giải trừ được! Xưa nay, những trường hợp giống như vậy khá nhiều, người hiện thời không nề hà tu thiện sự cho nhiều thì mới cứu độ được!

 

* Thái thủ tọa

 

          Có người nói Thái thủ tọa khắc hương, ngồi qua đời, ngài Cửu Phong [Đạo Kiền] chẳng chấp nhận, vì cho rằng [Thái thủ tọa] chưa hiểu những lời “nghỉ đi, chấm dứt đi, hãy như tro lạnh, cây khô” v.v… của ngài Thạch Sương[26], còn đạo giả Chỉ Y có thể đi, có thể đến, có thể hiểu ý ngài Thạch Sương, nhưng ngài Động Sơn [Lương Giới] cũng chẳng chấp thuận. Vì sao? Ngu tôi cho rằng nếu Chỉ Y thật sự thở ra chẳng dính dáng các duyên, hít vào chẳng trụ trong ấm giới, sẽ đi, ở tự tại, sẽ cùng với Động Sơn làm chay ngu si[27], nắm tay nhau cùng đi, Thái thủ tọa sao có thể sánh bằng được? Nếu chẳng phải vậy, chẳng tránh khỏi là hao phí tâm lực, trầm mê trong tư duy, cổ nhân gọi là “kẻ mưu tính sống còn như quỷ thần”. Nhưng ông Thái đã có định lực chân thật, chỉ vì một câu “đắm đuối trong tĩnh cảnh, chẳng biết chuyển thân” mà hai người (Thái thủ tọa và Chỉ Y) cùng mắc khuyết điểm như nhau. Nhưng Chỉ Y do trống lòng nên thấu hiểu được ý của ngài Động Sơn, còn ông Thái cứ hùng hục đi mãi, tự đánh mất lợi ích to lớn. Tự mãn chuốc lấy tổn hại, khiêm cung sẽ được lợi ích, người học Thiền cần phải nên biết.

 

* Chủ nhân trong khi ngủ nghê không mộng

 

          Tuyết Nham[28] hỏi Cao Phong câu đầu tiên rằng: “Ban ngày mênh mông, có làm chủ được hay không?” Câu kế tiếp hỏi: “Đêm nằm mộng có làm chủ được hay không?” Câu thứ ba hỏi: “Ngay trong lúc đang ngủ, không mộng mị, chủ nhân ông ở chỗ nào?” Người hiện thời dùng tình thức suy đoán câu hỏi thứ ba, sai mất rồi! Ban ngày quý vị chẳng làm chủ được, còn bàn chi chỗ cực sâu thẳm tối hậu? Chẳng bằng lúc mới nhập môn bèn khẩn thiết dụng công, lần lượt lãnh hội dần dần vẫn chưa muộn. Tuy vậy, nếu liễu ngộ chẳng nghi câu hỏi thứ ba, thì ban ngày hay trong đêm nằm mộng, không gì chẳng khít khao thuận theo mình. Trước khi mình đủ sức, lại chớ nên câu nệ những điều vượt ngoài khuôn khổ vậy!

 

* Bố thí

 

          Bàng cư sĩ (Bàng Long Uẩn) đem gia tài dìm xuống biển, có người nói: “Sao không bố thí?” Cư sĩ đáp: “Tôi đã nhiều kiếp bị lụy bởi bố thí, cho nên đem dìm hết”. Kẻ ngu viện cớ bèn ngầm keo tiếc chẳng thí, chẳng biết cư sĩ tháo gỡ trói buộc cho kẻ bố thí trụ tướng, chẳng phải cho rằng không thể bố thí! Nếu vạn hạnh được hướng dẫn bởi Bát Nhã, tam luân không tịch, tuy suốt ngày bố thí, có khuyết điểm chi đâu? Hơn nữa, phàm phu chấp chặt nơi hành vi bố thí. Hành vi dìm [của cải] xuống biển chính là gộp chung bố thí lại để bố thí, đó gọi là đại thí, gọi là bố thí chân thật, sao lại nói cư sĩ chẳng bố thí?

 

* Hai bộ sách Thượng Trực và Thượng Lý

 

          Thuở quốc sơ[29], thiền sư Không Cốc[30] soạn Thượng Trực Biên và Thượng Lý Biên đàm luận tột cùng về giới hạn giữa Nho và Thích. Trong ấy, Sư tận lực biện định tiên sinh Hối Am (Châu Hy) ngầm vận dụng Phật pháp mà ngoài mặt thì bài xích. Ngu ý cho rằng: Sợ rằng Hối Am chẳng có cái tâm ấy, hoặc là kiến giải chưa tới mức! Vì sao biết? Tôi nhớ lúc còn niên thiếu, từng đọc Châu Tử Loại Ngữ, ông ta tự nói: “Xưa kia tôi ngồi ở chỗ tiên sinh X… nghe một vị Tăng nghị luận, tâm vui thích. Sau đấy, vào trường thi, viết [những điều nghe nói ấy] vào quyển thi, khiến cho quan chấm thi bị lừa, bèn thi đỗ. Tới khi gặp tiên sinh Diên Bình (Lý Đồng), mới biết có học vấn thánh hiền”. Do vậy biết Hối Am học Phật bất quá như người hiện thời dùng [những kiến thức Phật học] để giúp cho văn chương bóng by mà thôi, vốn chưa từng đạt được lý sâu của nhà Phật. Ông ta bài bác Phật là vì kiến giải chưa tới mức. Ngài Không Cốc quở trách dường như là thái quá!

 

* Kiêng giết

 

          Sanh vật trong trời đất cung cấp thức ăn cho con người, như các loại hạt lương thực, các loại quả, các loại rau dưa, các thứ vị ngon trong nước hay trên đất liền mà con người lại dùng trí xảo để làm thành bánh trái, đem muối, ngâm dấm, nấu, quay, có thể nói là muôn vàn cách thức. Sao lại khổ sở đem những con vật cùng có máu thịt, cùng có mẹ con, cùng có tri giác, biết đau, biết ngứa, biết sống, biết chết để giết ăn, há đúng lẽ ư? Nói thông thường, chỉ cần là người có tâm tốt lành, không ai chẳng ăn chay. Chao ôi! Tàn sát thân chúng nó để ăn thịt chúng nó, thiên hạ gọi là tâm hung tàn, tâm thảm độc, tâm độc địa, tâm ác nghiệt, còn chi hơn được nữa? Cái tâm tốt lành đặt ở chỗ nào? Xưa kia, tôi có soạn Giới Sát Phóng Sanh Văn để khuyên đời, bài văn ấy được in khắc khá nhiều lượt, không chỉ là một hai chục bản. Lành thay! Cõi đời này may sao vẫn còn có bậc quân tử nhân từ!

 

* Tạo lập tùng lâm

 

          Tùng lâm dành cho đại chúng, cố nhiên là chuyện tốt đẹp, nhưng cần phải sau khi đã hoàn thành chuyện của chính mình rồi mới làm. Nếu không, hoặc là bực bội, nhọc nhằn tinh thần, ý chí, hoặc đắm chấp duyên đời, đến nỗi chưa đạt được gì, nhìn biển cả mà mất, hoặc đã đạt được rồi bèn nửa chừng bỏ phế. Tôi trùng hưng Vân Thê, mọi chuyện đều do tình thế bức bách rồi mới làm, chưa từng cưỡng làm, mà chính mình cũng bị tổn hại chẳng ít. Huống hồ kẻ dốc trọn tâm lực mong cầu ư? Viết điều này để tự cảnh tỉnh, mà cũng là để thưa với người mai sau vậy!

 

* Tín tâm của tăng, tục

 

          Trong đời Mạt Pháp, có khá nhiều tỳ-kheo xuất gia tín tâm chẳng bằng cư sĩ tại gia. Cư sĩ tại gia tín tâm chẳng bằng nữ nhân tại gia. Lạ gì người học Phật thì đông mà kẻ thành Phật ít ỏi!

 

* Tổn mình, lợi người

 

          Tổ Trí Giả nhập diệt, nói: “Ta chẳng lãnh chúng, ắt thanh tịnh sáu căn. Do tổn mình, lợi người, chỉ dự vào Ngũ Phẩm”. Ngài Nam Nhạc [Huệ Tư] cũng tự nói: “Ta chỉ chứng Thiết Luân[31]”. Hai vị tuy là khiêm hạ để dạy người khác, nhưng cũng là lời thật, chỉ là so với chúng ta thì tổn hại bất đồng! Vì sao vậy? Bọn ta hễ bị tổn hại thì là thật sự tổn hại, c̣n hai vị ấy tuy tổn mà chẳng tổn! Nay tôi dùng thí dụ để nói rõ: Như một đằng là nhà giàu, một đằng là kẻ túng quẫn. Hai người đều tổn tài để giúp đỡ đại chúng, tổn hại chẳng khác nhau. Nhưng kẻ túng quẫn càng hết sức túng quẫn, nhà giàu thì vẫn giàu tự nhiên. Lại như ngòi, rãnh, sông, biển đều dùng để tưới tắm; ngòi, rãnh sẽ bị giảm bớt, khô cạn, còn sông, biển chẳng sao! Đã chẳng bị tổn hại, cớ sao chỉ hạn chế trong Ngũ Phẩm hay Thiết Luân? Ôi! Thiên hạ quy Trọng Ni (Khổng Tử) vào bậc thánh, Trọng Ni nói “ta chẳng thể là thánh”. Đạo trong thiên hạ thuộc về Văn Vương, nhưng Văn Vương mong ngóng đạo mà chưa thấy. Tỳ-kheo tăng thượng mạn há chẳng suy nghĩ ư?

 

* Lương tri

 

          Tân Kiến (Vương Dương Minh) sáng lập thuyết Lương Tri là do kiến thức, học lực sâu xa tạo thành, chẳng phải là cưỡng lập chủ thuyết để phô trương môn đình của chính mình. Nhưng kẻ chuộng đánh đồng Nho và Thích bảo [lương tri] chính là chân tri như đức Phật đã nói, thì chẳng thể được. Vì sao? Hai chữ Lương Tri vốn phát xuất từ Tử Dư Thị (Tăng Sâm), nay dùng cách nói tam đoạn luận[32] [trong Nhân Minh]: Lương tri là Tông. Chẳng lo nghĩ mà biết; đó là Nhân. Nay trẻ thơ non nớt không đứa nào chẳng biết yêu cha mẹ, kính bậc trưởng thượng; đấy là Dụ. Như vậy, biết điều tốt lành thì tốt đẹp, đó là cái biết tự nhiên, chẳng do tạo tác. Nhưng do cái biết kính yêu bị nhuốm vọng đã lâu, há có thể nói là thật sự thường tịch chiếu được hay chăng? [Đối với] Chân và Lương, cố nhiên phải biện định [sự khác biệt]!

 

* Tinh thần nơi tâm được gọi là thánh

 

          [Có người nói] sách Khổng Tùng Tử[33] chép: “Tinh thần của tâm được gọi là thánh”. Học vấn cả một đời của Dương Từ Hồ[34] được coi là Tông, sao lại giống lương tri đến thế? Chẳng ứng hợp với Chân Tri do đức Phật nói hay sao?”

Thưa: - Tinh thần nông cạn hơn lương tri, đều là sóng trên mặt nước, lẽ nào là chân tri cho được? Hơn nữa, hai chữ Tinh Thần nếu tách ra để nói thì mỗi chữ đều có chỉ thú riêng, hợp lại thành một từ ngữ là nói đến tinh hồn thần thức (精魂神識). Xưa kia có người nói “cái gốc của sanh tử từ vô lượng kiếp đến nay”, kẻ si ngỡ đó là con người vốn sẵn có của chính mình.

 

* Tịch cảm

 

          Dương Từ Hồ là nhà Nho, sao chẳng xét lời của Trọng Ni (Khổng Tử) vậy? “Tháo tắc tồn, xả tắc vong, xuất nhập vô thời, mạc tri kỳ hương” (nắm vững thì còn, buông bỏ thì mất, ra vào chẳng có lúc nhất định, chẳng biết nó sẽ hướng về đâu)[35], tức tiến cao hơn là tinh thần, lại tiến hơn nữa th́ là lương tri. Vậy th́ đó là Chân Tri như đức Phật đã nói ư?

Thưa: - Vẫn chưa phải! Chân thì chẳng có còn hay mất. Chân thì chẳng có ra hay vào! “Mạc tri kỳ hương” tức là “gần như”, vẫn chưa nêu ra toàn bộ. Trọng Ni lại nói: “Vô tư dã, vô vi dã, tịch nhiên bất động, cảm nhi toại thông thiên hạ chi cố” (Chẳng suy nghĩ, chẳng làm gì, vắng lặng bất động, bèn có thể cảm để hiểu thông suốt các đạo lý của sự vật trong thiên hạ). Dứt hết suy nghĩ bèn nhập vắng lặng, đó là “mạc tri kỳ hương”. Chẳng có câu sau cùng, sẽ trở thành đoạn diệt, đoạn diệt thì vô tri. “Thông thiên hạ chi cố” (thấu hiểu đạo lý của mọi sự vật trong thiên hạ) mà không có ba câu trước đó, sẽ trở thành loạn tưởng. Loạn tưởng tức là “vọng tri” (nhận biết hư vọng). Tuy tịch mà thông, đó gọi là chân tri. Nhưng nói như thế là luận định theo sự biến đổi, chẳng phải là luận tâm, do con người gán [đạo lý ấy] cho việc dùng cỏ Thi để xủ quẻ đó thôi! Bởi lẽ, chưa đến thời, căn cơ chưa chín muồi, Trọng Ni bèn tiết lộ đôi chút, gởi gắm vào kinh Dịch, khiến cho người khác tự đạt được! Trọng Ni nói về cái tâm rất khéo! [Cách nói] Trọng Ni là Nho Đồng Bồ Tát đáng tin!

Như vậy thì đọc sách Nho đủ để liễu sanh tử, dùng Phật để làm gì?

Thưa: - Đức Phật đàm luận diệu lý như thế trọn khắp Tam Tạng, còn trong sách Nho, trong trăm ngàn lời, chỉ ngẫu nhiên đề cập, chẳng phải là Trọng Ni không biết. Trọng Ni chủ về pháp thế gian, Phật Thích Ca chủ về pháp xuất thế gian. Tâm tuy chẳng hai, nhưng môn đình thiết lập bất đồng, người học chẳng thể không mỗi đằng theo một môn.

 

* Đời sau (1)

 

          Đời này làm vị Tăng trì giới, tu phước, nếu tâm địa chẳng trong sáng, nguyện lực nhẹ ít, lại chẳng cầu sanh Tịnh Độ, người ấy đời sau phần nhiều cảm báo phú quý, mà cũng phần nhiều bị phú quư mê hoặc, có thể đến nỗi do tạo nghiệp mà đọa lạc. Có vị lăo tăng vẫy tay chẳng tin, tôi nói: “Cách một đời, thôi chẳng bàn đến! Tôi từng đích thân thấy một vị Tăng kết lều tranh ở phía Bắc của ngọn Bắc Phong mười năm, khá nổi tiếng thanh tu, được thiện tín kính trọng, ngưỡng mộ một thuở. Sau đó, dựng một am khác, dọn sang đó ở, bèn đến nỗi chìm đắm, những gì nhỏ nhặt đạt được trước kia đều mất sạch. Đời hiện tại mà còn như thế, huống gì vị lai?” Hỏi: “Đấy là ai?” Tôi nói: “Chính là lão huynh”. Vị ấy im lặng!

 

* Đời sau (2)

 

          Có vị Tăng trông thấy người quư hiển, sanh tâm hâm mộ, nguyện được giống như vậy. Lại có vị trông thấy kẻ quý hiển, bèn sanh tâm chán nhàm, coi thường. Hai hạng người ấy đều sai. Vì sao? Chỉ biết hâm mộ kẻ đó, đâu có biết kẻ đó đời trước chính là tăng nhân khổ hạnh tu phước, cần gì phải hâm mộ? Chỉ biết chán nhàm người đó, chẳng biết kẻ ấy do khổ hạnh mà đời sau trở thành kẻ làm quan có danh vọng, có địa vị, có gì đáng chán ghét, coi thường? Chưa lìa khỏi sanh tử, sẽ đây kia đắp đổi, như cái guồng kéo nước ở giếng, lần lượt lên cao xuống thấp. Nghĩ ngợi chuyện này, sao chẳng nguội lạnh tấm lòng? Chỉ nên nỗ lực tấn tu, chẳng bỏ lỡ tấc bóng để mong xuất thế, há có công phu rảnh rỗi để hâm mộ hay chán ghét kẻ khác ư?

 

* Vứt bỏ sở trường

 

          Phàm là người có thiên bẩm sở trường [một môn chi đó], ắt sẽ chấp trước, chẳng thể xả! Như sở trường về thơ văn, sở trường về chánh sự, sở trường về buôn bán, trồng trọt, sở trường về chiến trận, cho đến sở trường về thư pháp, vẽ vời, đánh đàn, chơi cờ, đều vướng thói cạn kiệt tinh thần, dốc chí trọn hết nơi tài khéo để theo đuổi. Có nhiều người đạt tới chỗ sâu mầu, trở thành bậc danh gia để tiếng bất hủ trong cõi đời. Nếu có thể buông xuống, chẳng dùng tới, xoay chuyển một phen, dốc hết tinh thần, trí xảo vào Bát Nhã, lo gì đạo nghiệp chẳng thành tựu? Nhưng trong cõi đời mênh mang xưa nay, trăm ngàn người chưa thấy được một hai kẻ!

 

* Hai loại chuột

 

          Chuột nhà khoét vách, chạy trên xà nhà, chạy quanh giường, vào trong rương, nhan nhn gần gũi con người, nhưng trốn hình né bóng, từ xưa không thể nào thuần dưỡng được! Tùng thử (松鼠: con sóc) lấy hang núi làm chốn cư trú, lấy ngọn cây làm nhà ở, giống như người tu hành, hoặc người dân ở vùng thiếu văn minh, nhưng người ta có thể ôm chúng vào lòng, thuần dưỡng như mẹ hiền vỗ về con đỏ. Đó là do lẽ nào vậy? Tôi cho rằng do tập khí đời trước khiến thành như thế. Chuột nhà xưa kia là kẻ trộm đào tường, khoét vách đó chăng? Còn con sóc xưa kia phục dịch con người đó chăng? Đều là súc sanh, vậy mà không gì chẳng phải là con này tốt lành hơn con kia, tâm thuật không thể thận trọng vậy!

 

* Tăng luyện tập

 

          Tăng thời Mạt Pháp có người luyện tập thư pháp, luyện tập thơ thẩn, luyện tập các thể tài văn chương, mà ba chuyện ấy đều là chuyện vốn có của sĩ đại phu, nhưng sĩ đại phu lìa bỏ chẳng học tập [các thứ ấy] mà tập Thiền, Tăng lại đổ công nơi chuyện sĩ phu buông bỏ, gác bỏ đại sự nhân duyên thuộc bổn phận của chính mình, sao mà điên đảo đến thế?

 

* Người thời nay chẳng bằng người xưa

 

          Các vị tôn túc thuộc bổn triều (nhà Minh) từ thời Hồng Vũ đến nay gần như chẳng thấy nhiều lắm. Chẳng bàn đến đời Đường, đời Tống, chỉ như các cụ Trung Phong, Thiên Như thời Nguyên, hiện thời chỉ có một mình ngài Thiên Kỳ Sở Thạch có thể so sánh cao thấp được, huống hồ so với thời càng cổ hơn ư? Chẳng phải là mỗi đời sau chướng càng sâu hơn ư? Cố nhiên hào kiệt dẫu không có, Văn Vương vẫn dấy khởi, rốt cuộc như mặt trăng giữa các tinh tú mà thôi. Nhưng người trong thời Mạt Pháp chớ nên tự tôn tự đại coi thường cổ đức, lại chớ nên cam tâm tự ruồng rẫy, vứt bỏ, chẳng làm bậc hào kiệt!

 

* Bài bác Vật Bất Thiên Luận

 

          Có người vì bài bác Vật Bất Thiên Luận, nói Triệu công (ngài Tăng Triệu) chẳng nên vì mỗi vật đều trụ đúng vị trí của chúng mà cho là chúng chẳng đổi dời, phải nên nói “mỗi vật đều vô tánh là chẳng đổi dời”, nhưng kẻ bất bình phản bác thuyết bài bác ấy, hoặc chưa quyết nghi được, đem hỏi tôi.

Tôi nói: - Kẻ bài bác cố nhiên chẳng phải là hoàn toàn vô căn cứ mà bàn xằng. Kẻ đả phá lời bài bác ấy cũng chẳng phải do cố ý chèn ép nay, đề cao xưa, mà đều là có sở kiến. Tôi nay b́nh tâm mà chiết trung. Ông không đọc ba bộ luận Chân Không, Bát Nhã và Niết Bàn, cùng với tác phẩm Tông Bổn Nghĩa khởi đầu [của ngài Tăng Triệu] ư? Nếu không có những sách ấy, đối với lời bác bỏ hiện thời, tôi cho rằng Triệu công sẽ treo miệng lên vách, chẳng thể trả lời được, chẳng có lý lẽ nào để diễn giải. Nay ba bộ luận ấy nêu tỏ ý chỉ tánh Không, không gì chẳng cặn kẽ, trọn vẹn, nhưng trong sách Tông Bổn Nghĩa lại nói rõ “duyên hội và tánh Không là một”, há [Triệu công] chẳng hiểu cái gọi là Tánh Không ư?

Bởi lẽ, bổn ý của luận ấy (Vật Bất Thiên Luận) là do người đời cho rằng mọi vật có từ xưa sẽ chẳng tồn tại đến nay được, v́ cái xưa th́ đă qua từ lâu, cho nên gọi là Vật Thiên (物遷, vật đổi dời). Do vậy, [Triệu công] nói ngược lại cách nói ấy, [cho nên mới gọi là Vật Bất Thiên], giống như nói: “Cái mà ông nói là đổi dời chính là cái mà tôi gọi là chẳng đổi dời”. Đó gọi là “theo đường về nhà”, dùng giặc tấn công giặc, vị trí chẳng xoay chuyển mà đổi thành Nam, thành Bắc, chất không thay đổi mà biến thau, hay thành vàng, xảo tâm diệu thủ, vô ngại biện tài!

Vì vậy, luận này chẳng phải là chủ yếu luận định vật không đổi dời, mà mượn hai câu “vật xưa” và “vật nay” để nói đó thôi. Nếu chẳng có cái nhân mà tự làm ra, ắt cả bài luận phải dùng tánh Không để lập luận giống như ba bộ luận kia. Nay vội vàng lấy chuyện “chẳng hiểu tánh Không” để chê trách Triệu công, sao Triệu công tâm phục cho được? Do vậy, “tìm vật nơi xưa thì xưa chưa hề không; đòi vật trong hiện thời, hiện thời chưa từng có”. Mấy câu ấy tợ hồ trái nghịch ý chỉ “tánh Không”, nhưng xưa do duyên hợp mà chẳng không, nay do duyên tán mà chẳng có. Duyên tụ hội và tánh Không đã là chẳng hai, cần gì phải tốn lời để biện định khuyết điểm của Triệu công?

Nếu hỏi: “Vì sao toàn bộ bài luận ấy chẳng ra ngoài ý này?” Đáp: “Do có câu ‘duyên hội chẳng khác tánh Không’ ở ngay trong Tông Bổn Nghĩa, người quán có thể thầm tự khế hội. Nếu biết có ngày này, [Triệu công] sẽ ở cuối bài luận tăng thêm một hai câu nhằm kết rõ ý ấy, sao [người đời sau] có thể sanh khởi sự bài bác cho được? Ôi! Ắt Triệu công sẽ gật đầu chấp thuận, chẳng biết kẻ bài bác có tin hay chăng?

 

* Bích Nham Tập

 

          Ngài Viên Ngộ soạn Bích Nham Tập[36], ngài Diệu Hỷ muốn vào đất Mân (Phước Kiến) để phá tan bản khắc ấy. Người trí cạn bèn chê trách ngài Viên Ngộ, chẳng biết ngài Diệu Hỷ riêng dùng lời lẽ trong một thời để phá chấp trước đó thôi. Do viết trăm bài tụng cổ, ngài Tuyết Đậu được tiên đức gọi là bậc thánh về tụng cổ[37]. Ngài Viên Ngộ là người khởi đầu bình xướng, lại [được tôn xưng] là bậc thánh về bình xướng[38], nhưng chẳng khỏi là Văn Tự Bát Nhã. Do kẻ ngu chấp vào đó, cho nên ngài Diệu Hỷ nói lời ấy nhằm phá nát tình thức của người học, chẳng phải là đả phá Bích Nham Tập. Nói “phá nát” thì gần giống như ý “một gậy đập chết” của ngài Vân Môn. Nếu coi đó là thần diệu, cao minh thì mỗi tấc của Bích Nham đều là chiên đàn. Nếu chấp trước, câu nệ, thì cả một bản Đại Tạng cũng đều đáng đập nát. Ôi! Chỉ nên nói với người hiểu biết mà thôi!

 

* Đâu Suất Duyệt[39] và Trương Vô Tận

 

          Trương Vô Tận sắp đến gặp Duyệt công (ngài Đâu Suất Tùng Duyệt). Duyệt công nói: “Ta sẽ châm chích sâu cay người này”. Có người nói: “Những người làm quan phần nhiều thích người khác thuận tùng, sợ sẽ nổi giận”. Duyệt công nói: “Bất quá ta thoái viện[40] mà thôi”. Do vậy, bèn tận lực chèn ép; Vô Tận nhờ vậy liễu ngộ. Ngu ý cho rằng Duyệt công khéo léo hun đúc, cố nhiên hiền đức của Ngài chẳng cần bàn nữa, nhưng Vô Tận hoàn toàn khuất mình tôn phụng bậc tri thức, dốc sức tham cứu đến cùng tận, rốt cuộc sáng tỏ, quả thật là khuôn mẫu cho hàng sĩ phu học đạo vậy.

 

* Vấn đáp trong Tông môn

 

          Bậc tài năng tôn túc thời cổ gặp nhau, cơ duyên vấn đáp hoặc là chẳng có ý nghĩa, chẳng có ý vị gì, hoặc là đáng kinh hãi, đáng ngờ, hoặc như chửi, như đùa, nhưng đều là từ chân tham thật ngộ mà ra, không gì chẳng như nước hòa lẫn vào sữa, nắp vừa khít hộp, không một chữ, một câu nào thừa thãi! Người đời sau vô tri bắt chước thì khẩu nghiệp chẳng nhỏ. Ví như hai người cùng ấp, cách biệt ngàn dặm đã lâu, bỗng gặp gỡ nhau, nói tiếng của quê nhà, dùng ẩn ngữ hay ngạn ngữ, người bên cạnh nghe cũng cảm thấy vô nghĩa, chẳng có ý vị gì, đáng kinh ngạc, đáng ngờ, như chửi, như đùa, nhưng quả thật là từng chữ, từng câu đều là những lời tự đáy lòng, những điều trọng yếu trong gan ruột. Người bên cạnh cố nhiên chẳng biết là lời lẽ như thế nào, nhưng hai người ấy ăn ý như nước hòa vào sữa, như nắp vừa khít hộp! Nay chẳng thà ngậm miệng, kín tiếng, chỉ dốc sức nơi điều mình đang tham cứu, chỉ lo chẳng ngộ, chẳng lo đã ngộ rồi không có gì để nói!

 

* Sống say, chết mộng

 

          Sống say, chết mộng là lời thường hằng, thật sự là lời chí lý. Người đời nói chung có hai loại là nghèo hèn và phú quý. Kẻ nghèo hèn cố nhiên sẽ sáng chiều tất bật lo toan cơm áo. Kẻ phú quý cũng sáng chiều túi bụi hưởng thụ dục lạc. Hưởng thụ khác nhau, nhưng bận bịu như nhau. Bận bịu đến chết mới thôi, mà tâm vẫn chưa thôi! Ôm cái tâm ấy qua đời, rồi lại sanh ra, lại bận bịu, lại chết đi, chết sống, sống chết, mơ màng, mờ mịt, như say, như mộng trải trăm ngàn kiếp, chưa từng có lúc xong. Hãy riêng tỉnh ngộ sáng suốt, bậc đại trượng phu phải nên như thế!

 

* Người chân thật tu đạo khó có

 

          Phàm nhân tạo nghiệp cả trăm, làm lành được một, hai kẻ. Làm lành cả trăm, hướng đến đạo được một, hai kẻ. Hướng đến đạo cả trăm, nhưng người kiên trì lâu dài được một, hai kẻ. Kiên trì lâu dài cả trăm, nhưng kiên trì lại càng kiên trì hơn, lâu dài lại lâu dài hơn, mãi cho tới khi Bồ Đề tâm chẳng thoái chuyển chỉ được một, hai người. Như vậy thì cuối cùng được gọi là người tu đạo chân thật khó khăn lắm thay!

 

* Không sở không tận (chấm dứt ngay cả cái thấy cái được coi là không cũng là không)

 

          Có kẻ nói: “Lão Tử Thanh Tĩnh Kinh[41] nói ‘quán Không cũng là Không, Không vô sở không’ v.v… chính là nghĩa ‘không sở không tận’ trong kinh Lăng Nghiêm”. Tôi nói: - Lăng Nghiêm Sớ viết: “Hai tướng động và tĩnh, hiểu rõ ràng chẳng sanh”. Nay dùng Thanh Tĩnh để đặt tên kinh, tức là tướng động chẳng sanh, nhưng tướng tĩnh vẫn sanh. Tướng tĩnh chưa không, còn luận không không (chẳng có cái Không) nỗi gì!

 

* Truyền riêng ngoài giáo

 

          Nếu nói ngoài giáo thật sự có truyền riêng ư? Nếu là như vậy thì giáo pháp suốt một đời đức Phật là văn tự thừa thãi ư? Ngoài giáo thật sự chẳng có truyền riêng ư? Tổ sư từ phương Tây đến uổng công ư?

Thưa: - Ngoài giáo thật sự có truyền riêng, mà cũng thật sự chẳng có truyền riêng? Kinh Viên Giác chẳng nói “Tu Đa La như ngón tay chỉ mặt trăng” đó ư? Ngón tay chẳng phải là mặt trăng, tức là ngoài ngón tay có riêng mặt trăng cũng được! Nhưng ngay từ nơi mặt trăng được chỉ ấy, nói ngoài ngón tay, không có riêng mặt trăng cũng được! Chấp ngón tay là mặt trăng, bảo không có mặt trăng, tức là ngu. Trái nghịch cái được chỉ, riêng cầu cái được gọi là mặt trăng, tức là cuồng. Thần diệu, sáng suốt ở ngay nơi mỗi người mà thôi!

 

* Phát chân quy nguyên

 

          Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhất nhân phát chân quy nguyên, thập phương hư không tất giai tiêu vẫn” (Người nào chứng nhập chân tánh, trở về cội nguồn tâm tánh vốn thanh tịnh, mười phương hư không sẽ đều tiêu mất). Sách Trung Dung coi “hỷ nộ ai lạc vị phát vi Trung” (khi mừng, giận, buồn, vui chưa nẩy sanh thì gọi là Trung); do vậy nói “chí trung tắc thiên địa vị” (đạt đến Trung thì thuộc vào địa vị trời đất). Kẻ hội thông Nho và Thích bèn nói Trung tức là chân nguyên. Nhưng quy nguyên thì thế giới tiêu, đạt tới Trung thì thế giới thành lập, sao nhân như nhau mà quả lại khác biệt như thế? Bởi lẽ, mừng, giận, buồn, vui thuộc về thức thứ sáu nơi ý căn. Nay [mừng, giận, buồn, vui chưa phát khởi tức là] chỉ riêng ý thức chẳng hiện hành, chứ hãy còn Mạt Na và Lại Da, sóng to dứt, mà gợn sóng nhỏ vẫn còn, chưa từng quy nguyên, hư không sẽ tiêu mất như thế nào đây?

 

* Lời lẽ trong đạo

 

          Người học thời cổ, chủ và khách gặp nhau, vừa vào cửa liền coi đấy là một đại sự nhân duyên, bèn cùng nhau nghiên cứu. Nay [người học đạo] tụ tập, nói năng tạp nhạp, phần nhiều là chuyện thế gian, xa tít ngàn dặm, chẳng dính dáng đến chuyện tham học, kém xa phong thái thời cổ, chẳng thể khôi phục được nữa! Than ôi!

 

* Vua Sở mất cung

 

          Vua Sở đánh mất cái cung, kẻ hầu muốn tìm kiếm. Vua nói: “Người nước Sở mất cung, người khác của nước Sở có được, cần gì phải tìm?” Trọng Ni (Khổng Tử) nói: “Tiếc là vua tâm lượng chưa rộng. Sao không nói ‘người này mất cung, người khác có được’, cứ gì phải là Sở?” Lớn lao thay! Cố nhiên vua Sở ḷng dạ mênh mông, nhưng Trọng Ni quả thật có độ lượng rộng như càn khôn. Tuy vậy, Trọng Ni chỉ tạm dựa vào lời của Sở vương để nói, chứ chưa nêu trọn hết những điều Ngài muốn nói. Vì sao? [Vua Sở] còn chưa thể quên tình chấp đối với cái cung! Tiến cao hơn nữa thì vua dẫu mất cung vẫn như cũ, [dường như] chẳng bị mất. Giả sử vua có lại được cái cung ấy, vẫn như cũ, [dường như] chẳng có! Tuy vậy, vua chưa được như thế, tức là vẫn chưa thể quên tình kiến đối với cái ta. Lại tiến cao hơn nữa, tìm cái được gọi là Ngã thì chẳng thể được, sao còn tìm cái gọi là cung, là người, hay nước Sở ư?

 

* Bị bỏng vì nước sôi (1)

 

          Ngày mồng Mười đầu Xuân Tân Sửu (1601), tôi theo lệ thường đi tắm, trượt chân ngã vào trong [bồn đựng] nước sôi, bị bỏng từ gót chân đến đùi. Do điều trị sai cách, hơn hai tháng sau mới lành. Tuy trải qua đủ mọi nỗi khổ, nhưng trong khi bị khổ, soi xét lại những lầm lỗi trong thường nhật, sanh lòng hổ thẹn to lớn, phát Bồ Đề tâm. Đó là vì thường nhật tứ đại an ổn, đi, ngồi tùy ư, ngủ, thức tùy ư, ăn uống tùy ư, cười, nói tùy ý, chẳng biết đấy là phước to lớn của trời, người. An hưởng phước ấy, chẳng lại nghĩ tới chúng sanh trong sáu đường. Hơn nữa, trong khi ta một mực hưởng an vui, chúng sanh trong địa ngục bị chặt, đốt, giã, xay, chẳng biết họ trải qua khổ sở ngần nào! Chúng sanh trong đường ngạ quỷ ăn đồng (nước đồng nóng chảy), uống máu, chẳng biết trải qua khổ sở ngần nào! Chúng sanh trong đường súc sanh ngậm hàm thiếc, đeo yên, bị đao chặt, vạc nấu, chẳng biết trải qua khổ sở ngần nào! Dẫu được làm người, bị đói rét bức bách, phục dịch nhọc nhằn, bệnh tật triền miên, quyến thuộc chia ĺa, bị hình phạt trừng trị, bị giam chặt trong tù ngục, khốn đốn túng thiếu vì thuế má, bị nước chìm, lửa thiêu mà chết, bị rắn mổ, hổ nhai mà chết, ngậm oan gánh uổng mà chết, nỗi khổ ấy cũng chẳng biết ngần nào, nhưng ta đâu có biết. Từ nay trở đi, hễ được hưởng yên vui, liền phải nên nghĩ tưởng chúng sanh khổ não trong sáu đường, nhiếp tâm chánh ư, nguyện sớm thành đạo quả, cứu tế trọn khắp hàm thức, mong cho họ đều cùng sanh Tịnh Độ, đắc bất thoái chuyển. Nếu tự buông lung trong một sát-na, dùng gì để trên là báo ân Phật và dưới là đền đáp đàn tín? Hãy gắng lên!

 

* Bị bỏng vì nước sôi (2)

 

          Đức Phật dạy “mạng người trong hơi thở”, tôi thường ngày cũng thường nêu lên điều này để cảnh sách đại chúng, nhưng thật sự chưa từng đích thân kinh nghiệm. Cho tới khi tôi bị bỏng vì nước sôi, lúc mới vào tắm thì thân an, tâm vui, thảnh thơi, thoải mái, bỗng đạp chân vào trong nồi nước nóng, suýt chết, còn sống là may rồi, do trời, rồng cứu giúp. Chỉ trong một sát-na đã có mối quan hệ sống chết, mạng trong hơi thởhá chẳng phải là đúng lắm ư? Do vậy biết, làm tăng đối với lời đức Phật dạy đem khuyên người khác thì luôn thiết tha, nhưng để khuyên chính mình sẽ có lẽ vướng thói tệ chung là ơ hờ. Do vậy, tôi hổ thẹn, hết sức kinh hãi, hết sức chấn chỉnh chính mình.

 

* Bị bỏng vì nước sôi (3)

 

          Tôi thường ngày bàn đến chỗ dụng công trong khi bị bệnh, cũng biết “thuần tỉnh giác sẽ quên thân” như ngài Tất Lăng Già Bà Tha[42] nói, mà cũng biết “chẳng có bệnh” như Mã đại sư (Mă Tổ Đạo Nhất) đã nói, cũng biết “dẫu gặp phong đao vẫn thường thản nhiên, dẫu uống thuốc độc vẫn nhàn tản” như ngài Vĩnh Gia đã nói, cũng biết “Tứ Đại vốn không, Ngũ Uẩn chẳng có” như Triệu công (ngài Tăng Triệu) đã nói, cho tới khi nhúng chân vào nước sôi, kiểm điểm từ đu, cảm thấy đau đớn khắp thân, ai là người quên thân? Ta nay bị bệnh, ai là người chẳng bị bệnh? Mũi đao, thuốc độc cắt da thịt, ai là người thanh thản, nhàn tản? Tứ Đại, Ngũ Uẩn thật sự là thân ta, thật sự khiến cho ta phiền lụy, ai là “vốn không, chẳng có”? Mới biết trí huệ khô khan thường ngày trọn chẳng giúp được. Nếu chẳng có định lực, đành gục dưới cửa tử, kẻ nói suông tam-muội chỉ tự lừa mình mà thôi! Ôi! Há chẳng gắng công ư?

 

* Bị bỏng vì nước sôi (4)

 

          Tôi thấy các tiệm của phường đồ tể bỏ các loài ba ba, lươn, tôm, cua còn sống vào trong nồi, dùng nước sôi sùng sục để nấu, bèn khuyên nhủ rằng: “Sức của bọn chúng sanh ấy chẳng chống nổi các ngươi, lại còn yếu ớt chẳng thể phát ra tiếng. Nếu sức chống lại được, ắt sẽ như cọp, báo ăn ngươi. Nếu chúng nó có thể thốt ra tiếng, âm thanh kêu oan, chua xót sẽ chấn động đại thiên thế giới! Dẫu ngươi thoát khỏi báo ứng trong hiện thời, nhưng trong ngàn vạn kiếp, các chúng sanh ấy chẳng buông tha ngươi. Ngươi thử nhúng một tay vào trong nước sôi chốc lát rồi rút ra, sẽ biết ngay!” Nay chẳng ngờ, sự báo ứng ấy tôi phải gánh. Do vậy, suy nghĩ từ bé đến già, tuy chẳng tạo nghiệp ấy, nhưng trong vô lượng đời đến nay, chưa thông hiểu Túc Mạng, nào dám bảo đảm chẳng làm? Do vậy, chẳng oán, chẳng hờn, an lòng chịu đựng, càng thêm siêng năng tu tập những gì chính ḿnh chưa đạt đến!

 

* Kinh giáo

 

          Có kẻ tự phụ tham Thiền, vội nói ngay: “Đạt Ma chẳng lập văn tự, kiến tánh là xong rồi”. Có kẻ tự phụ niệm Phật, vội nói: “Chỉ quư thẳng thừng có người [niệm Phật], cần gì kinh điển?” Hai hạng người ấy, có người do thật sự đạt được mà thốt lời ấy, chẳng cần phải bàn đến; cũng có kẻ thật sự chẳng đạt được gì mà khinh mạn nói như thế, phần lớn đều chẳng thông giáo lý, che giấu khuyết điểm của chính mình. Tôi suốt một đời sùng thượng niệm Phật, nhưng vẫn sốt sắng khuyên người khác xem Giáo. Vì lẽ nào vậy? Thuyết Niệm Phật do đâu mà có? Chẳng do kim khẩu tuyên thuyết, chép rõ trong sách vở, nay chúng ta do đâu mà biết ngoài mười vạn ức cõi nước có A Di Đà? Người tham Thiền viện cớ “truyền riêng ngoài giáo”, chẳng biết lìa giáo mà tham cứu sẽ là cái nhân tà vạy. Lìa giáo mà ngộ thì là tà giải. Dẫu cho ngươi tham cứu đắc ngộ, ắt cần phải dùng giáo để ấn chứng. Chẳng phù hợp giáo, sẽ đều là tà. Do vậy, người học Nho ắt dùng lục kinh, tứ tử để cân nhắc. Người học Phật ắt dùng Tam Tạng, mười hai bộ loại kinh điển để làm khuôn mẫu, bậc thềm.

 

* Ngữ lục

 

          Cổ nhân đạo sáng, đức lập, đủ để làm bậc thầy khuôn mẫu cho trời người sau đó mới có ngữ lục để lại cho đời. Đại khái có hai loại: Hoặc là do môn nhân ghi lại, giống như Lục Tổ Đàn Kinh; hoặc là đích thân tự viết như Trung Phong Quảng Lục chẳng hạn. Tôi thật sự là phàm phu, tự cứu chẳng xong. Kẻ làm học trò tôi hãy cẩn thận, đừng ghi chép những lời tôi ngẫu nhiên bàn bạc trong một lúc, san định thành ngữ lục. Không chỉ là hư vọng tự cao, tự đại, mà những lời tôi ngẫu nhiên bàn luận có khi do có chuyện chi đó mà thốt ra, hoặc do người nào đó mà đặt ra, chưa phải là liễu nghĩa rốt ráo. Huống hồ người nghe loáng thoáng lọt vào tai, bèn ghi lại trên giấy, mực, cũng sợ phạm lỗi khiến cho kẻ khác lầm lạc.

 

* Nghe phỉ báng

 

          Kinh dạy: “Nhân chi báng ngã dã, xuất sơ nhất tự thời, hậu tự vị sanh. Xuất hậu nhất tự thời, sơ tự dĩ diệt, thị nãi phong khí cổ động, toàn vô chân thật. Nhược nhân thử phát sân, tắc thước táo, nha minh, giai ưng phát sân hỹ” (Người khác báng ta, khi một chữ đầu thốt ra, chữ sau chưa sanh. Khi phát ra chữ sau, chữ đầu đã diệt. Đó là gió và hơi lay động, hoàn toàn chẳng chân thật. Nếu do vậy mà nổi sân thì chim khách hót, quạ kêu, sẽ đều phải nên nổi sân). Lời này tột hay! Chắc có người nói: Nếu kẻ đó viết sách báng bổ, thì khi đã xem, chữ nào cũng đều trọn đủ, lại còn vĩnh viễn chẳng diệt, sẽ dùng cách nào để phá? Sao chẳng nghĩ trắng là giấy, đen là mực, thứ nào là báng? Huống chi mỗi chữ đều từ âm vận[43] hợp thành, nhưng đặt mỗi bộ âm vận trên bàn thì trăm ngàn vạn ức sách báng bổ không lúc nào chẳng hiện tiền, sao mà mê hoặc quá đỗi? Tuy vậy, đó vẫn là pháp môn đối trị, nếu biết ngã là không, ai sẽ tiếp nhận sự hủy báng?

 

* Ngu nhất trong những kẻ ngu

 

          Người đời coi kẻ không biết chữ, không hiểu việc là ngu; đấy quả thật là ngu, nhưng chẳng phải là ngu nhất trong những kẻ ngu. Đọc trọn hết năm xe sách[44], không chữ nào chẳng hiểu, thu trọn hết muôn thứ khéo léo, không chuyện gì chẳng thể, cho đến đàm huyền, thuyết Thiền, không gì chẳng thông suốt, nhưng xét tới chỗ chân thật thì điên đảo, mê hoặc, lại ngược ngạo cười chê kẻ được gọi là ngu trên đây, [người như vậy] chẳng phải là ngu nhất trong những kẻ ngu thì là gì vậy?

 

* Chuẩn bị sẵn

 

          Vô thường nhanh chóng, dẫu già hay trẻ đều chẳng khác, nhưng kẻ thiếu niên do còn thuộc trong lứa tuổi chưa định, hư vọng mong trường thọ, còn kẻ già cả đã biết chắc ngày tháng chẳng còn nhiều nữa. Cần phải đem chuyện thuộc bản thân trong thế gian lo liệu thỏa đáng, để một mai vô thường, dù sáng hay chiều, buông tay liền đi, chẳng có hệ lụy gì! Đó là chỗ đại khẩn yếu trong tuổi bóng xế, đừng nên coi thường, đừng nên ơ hờ!

 

* Đọc rộng

 

          Xem kinh cần phải rộng rãi trọn khắp thì mới dung thông, chắc chắn, chẳng đến nỗi thiên chấp. Bởi kinh có chỗ này kiến lập, chỗ kia quét sạch, hoặc chỗ này quét sạch, chỗ kia kiến lập, tùy thời, thuận theo căn cơ, chẳng có pháp nhất định. Giả sử chỉ xem kinh Lăng Nghiêm, thấy ngài Thế Chí chẳng nhập Viên Thông, mà chẳng xem rộng các kinh khen ngợi Tịnh Độ, liền nói pháp môn Niệm Phật chẳng đủ cao! Chỉ xem lời Đạt Ma đáp lời Lương Vũ Đế, thấy công đức không do làm phước, chẳng rộng xem các kinh về Lục Độ vạn hạnh, sẽ bảo phước đức hữu vi đều có thể phế trừ. Nhìn ngược lại, chấp Tịnh Độ, phủ nhận Thiền Tông, chấp hữu vi, phủ nhận vô vi, cũng giống như thế đó. Ví như đọc sách thuốc mà chẳng xem rộng, chỉ thấy trị bệnh hàn bèn dùng quế, phụ tử[45], bèn chê trách hoàng cầm, hoàng liên; trị bệnh hư dùng sâm, hoàng kỳ, bèn chê trách chỉ thật và hậu phác, chẳng biết hoàng cầm, hoàng liên, chỉ thật, hậu phác cũng có lúc nên dùng, mà quế, phụ tử, nhân sâm, hoàng kỳ cũng có nên bị phế trừ. Vì thế, chấp vào một phương thuốc, sẽ gây lầm lẫn cho sắc thân. Chấp một nghĩa trong kinh, sẽ lầm lỡ huệ mạng. Tôi từng nói chớ nên để cho kẻ vô trí xem Lục Tổ Đàn Kinh, chính là do sợ họ chấp đây rồi phế kia!

 

* Tìm lỗi người khác

 

          Thấy kẻ khác trau mình, lập đức, khá có tiếng tăm, bèn nhiều cách bươi móc lỗi của kẻ đó; đó là tâm đố kỵ, đạo kém cỏi. Hoặc thấy người khác có trước thuật bèn tìm lỗi cũng thế. Chẳng biết nghe một thiện hạnh, xem một quyển sách tốt đẹp, đều nên tùy hỷ, tán thán; nhưng lại ngược ngạo giấu, diệt, thật sự là cái tâm gì vậy? Nếu thật sự hạnh thuộc tà hạnh, sách thuộc loại tà thư, tự phải nên dùng lời lẽ chánh đáng để luận định công bằng, đả phá những lỗi sai, lại chớ nên nửa khen, nửa chê, lằng nhằng, ba phải!

 

* Mưu đoán

 

          Thời cổ xưng tụng Phòng Huyền Linh là kẻ khéo mưu tính, Đỗ Như Hối[46] giỏi quyết đoán, bởi lẽ, mưu tính và quyết đoán phải nên cùng có đủ, chẳng thể thiếu một đằng nào! Nhiều chuyện tôi thấy hết sức rõ ràng, nhưng chẳng dám mạnh mẽ giữ ý kiến đến nỗi hỏng chuyện, thường hối hận. Vì thế, Thiền môn quý ở chỗ bi và trí cùng đầy đủ, nhưng mưu tính và quyết đoán đều thuộc về trí. Có mưu tính mà thiếu quyết đoán, chính là có thể thấy mà không thể kiên trì được. Rốt cuộc là trí cạn, chẳng sâu, lệch lạc chẳng toàn vẹn, rất phải nên gắng gỏi!

 

* Tranh chấp giữa Thiền và Phật

 

          Hai vị tăng gặp nhau trên đường, một vị tham Thiền, một vị niệm Phật. Vị tham Thiền nói: “Vốn chẳng có Phật để có thể niệm, một chữ Phật tôi chẳng thích nghe”. Người niệm Phật nói: “Phương Tây có Phật, hiệu A Di Đà, nhớ Phật, niệm Phật, nhất định thấy Phật”. Chấp hữu, chấp vô, tranh luận chẳng ngớt. Có một thiếu niên đi qua, nghe thấy, bảo: “Lời lẽ của hai vị đều là khăng khăng chấp một bề[47]”. Hai vị tăng quở: “Ngươi là kẻ tục, há biết Phật pháp?” Thiếu niên đáp: “Tôi đúng là kẻ tục, nhưng dùng pháp thế tục để sánh ví mà biết Phật pháp. Tôi là kép hát, trong khi diễn tuồng, hoặc là vua, hoặc là bầy tôi, hoặc là nam, hoặc là nữ, hoặc là người lành, hoặc là kẻ ác, nhưng tìm tòi cái gọi là vua, bầy tôi, nam, nữ, thiện, ác, ngỡ là có thì thật sự chẳng có, cho là không thì lại thật sự có. Bởi lẽ, Có chính là do Không mà có. Không chính là do Có mà có! Có và Không đều chẳng thật, nhưng tôi vẫn lặng lẽ thường trụ. Biết tôi là thường trụ, lấy gì để tranh cãi?” Hai vị tăng không đáp được!

 

* Bản vẽ núi Vũ Di

 

          Trong khi tôi bị bệnh, có người tặng cho bản vẽ Vũ Di Cửu Khúc[48], xem xong vui vẻ. Do vậy, nghĩ cổ nhân bị bệnh trầm kha chẳng dậy được, một người bạn bảo ngắm tranh Võng Xuyên[49], chưa đầy mười ngày đã lành bệnh. Huống chi Tây Phương Cực Lạc thế giới được vẽ vời đầy dẫy, sáng tối tham lễ, chưa hề nghe nói có hiệu quả nhanh chóng kỳ diệu như tranh Võng Xuyên. Vì sao? Đấy là do Võng Xuyên lưu dấu tích trong thế giới này, dễ miêu tả. Cảnh Cực Lạc vượt ngoài cõi thế, khó thể h́nh dung, sẽ chẳng thể vẽ tinh xảo trọn vẹn cùng cực như Võng Xuyên, chấn động tâm mắt mọi người. Bức vẽ do Kê Đầu Ma[50] truyền lại cũng chỉ hình dung đại khái những điều đã nói trong Thập Lục Quán Kinh mà thôi. Các cõi trời như Đao Lợi, Đâu Suất chẳng thể sánh bằng một phần cực nhỏ của thế giới Cực Lạc, khiến cho người trông thấy tường tận không chỉ bốn trăm bốn bệnh đều mất, mà các bệnh do tám vạn bốn ngàn phiền não cũng đều tiêu diệt chẳng sót. Xưa có người nói “gởi thần thức nơi An Dưỡng”, lại nói “để tâm nơi trời Cực Lạc”, há có phải là nói suông ư?

 

* Đàm luận về Tông

 

Lúc tôi chưa xuất gia, vừa mới đọc những lời của Tông môn, liền dùng tình thức suy đoán, gởi thư cho một vị tọa chủ, trái phải tung hoành, khiến cho vị tọa chủ ấy phải nể sợ. Xuất gia được mấy năm, lại gặp vị tọa chủ ấy trong lúc nghỉ lại một am, trong khi hỏi han, vị ấy thấy tôi chuyên chí nơi Tịnh Độ, chẳng nhắc tới Tông, sửng sốt hỏi: “Xưa kia ông kiến địa hết sức cao minh, nay đâm ra thấp kém, thiển cận là vì sao?” Tôi cười nói: Ngạn ngữ có câu ‘nghé mới sanh chẳng sợ cọp’, hiểu pháp rồi bèn sợ, Ngài có biết hay không? Tọa chủ chẳng đáp.

 

* Niệm Phật

 

          Người đời hơi thượng căn bèn coi thường niệm Phật, cho đó là biện pháp của ngu phu, ngu phụ. Bọn họ chỉ thấy ngu phu, ngu phụ miệng tụng danh hiệu Phật, tâm rong ruổi ngàn dặm, chẳng biết bọn đó chỉ gọi là “đọc Phật”, chẳng phải là niệm Phật! Niệm từ tâm, tâm nghĩ nhớ chẳng quên, nên gọi là Niệm. Thử dùng Nho để thí dụ, nhà Nho niệm nào cũng nghĩ tới Khổng Tử, người ấy cũng chẳng xa cách Khổng Tử cho mấy? Nay niệm nào cũng nghĩ nhớ ngũ dục, chẳng coi đó là sai trái, ngược ngạo chê niệm Phật là sai. Ôi! Tựa hồ luống uổng đời này, sao bằng ngu phu, ngu phụ? Tiếc là trí có thể làm được, mà ngu chẳng thể làm!

 

* Vị tăng tên Tánh Không

 

          Vị tăng Tánh Không thuộc chùa Tứ Châu ở đất Ngô, bỏ ứng viện (thôi giữ chức vụ trong một ngôi chùa), bế quan ở núi Nghiêu Phong, từng gởi lời thệ nguyện cho tôi và bẩm báo mười phương, tôi hết sức khen ngợi là hiếm có. Chẳng mấy chốc, Sư bị ma dựa, bèn điên cuồng mà chết, tôi hết sức thương tiếc. Truy tìm nguyên do là vì vừa mới khởi tín tâm, nhưng có tín mà chẳng có huệ. Cổ nhân chưa thông tâm địa, chẳng ngại xa xôi ngàn dặm tham yết thầy, hỏi đạo, ra khỏi một tùng lâm, liền vào một bảo xã, cho tới khi tham học tận cùng trải khắp, chưa từng nghỉ ngơi. Sau khi đã hiểu được ý, mới ở bên cạnh chỗ có nước hay trong rừng để trưởng dưỡng thánh thai. Sao lại vừa mới lìa nhà lửa liền bế quan chết cứng, có lỗi mà chẳng biết, có nghi mà chẳng biện định được, cầu thăng tấn đâm ra đọa lạc, chẳng trách thành ra như vậy! Có khá nhiều người sơ tâm học đạo liền kết lều tranh trong núi thẳm, ở quạnh quẽ một mình, tự cho là cao thượng, tuy chưa chắc bị ma dựa hay điên đảo, nhưng cũng nhanh chóng đánh mất lợi ích chẳng ít, người sáng suốt hãy thử nghĩ xem!

 

* Hành cước

 

          Khi tôi một mình hành cước, chịu đựng đói, khát, xông xáo nóng, lạnh, trải đủ các nỗi khổ. Nay may mắn có được một túp lều tranh, tuy chẳng biết tu hành, nhưng biết hổ thẹn. Vân thủy (khách tăng vân du) vừa đến, bèn cúng dường, phụng sự siêng năng, chứ chính mình thọ dụng thì chẳng dám quá phận. Ấy là như câu nói: “Tăng là lãng tử riêng thương khách. Kẻ nghèo khởi nghiệp tiếc đất như vàng”. Nay [có kẻ] vừa mới vào truy môn, liền trụ trong am viện đã xây cất hoàn thành, mọi chuyện như ý, ví như con nhà giàu chẳng hiểu nỗi nghèo khổ của dân gian. Dẫu tài trí hơn người, lại chẳng nhờ vào tham học, phỏng đạo, cứ đóng cửa tự cao tự đại, tập thành thói ngã mạn, tăng trưởng vô minh thì cũng bị mất mát nhiều lắm!

 

* Sách Diệu Tông Sao

         

          Trước kia, có một vị Tăng bảo tôi: “Đức Phật thị hiện ở phương Tây, vốn nhằm lợi ích trọn khắp các căn, mau chóng vượt khỏi sanh tử, là đạo dễ hành, nhưng pháp sư Tri Lễ thuần dùng giáo nghĩa Thiên Thai để giải thích pháp quán tinh thâm, khiến cho dễ trở thành khó, đánh mất bổn ý tùy thuận phàm phu của Như Lai”. Lời luận định ấy cũng rất hữu lý. Nay suy nghĩ, cổ nhân nói “giảng giải kinh Phật thà coi cạn là sâu, đừng coi sâu là cạn”. Những điều được nói trong sách Diệu Tông (Quán Vô Lượng Phật Kinh Sớ Diệu Tông Sao)[51] thì người lợi căn tự ngộ lý sâu, kẻ độn căn cũng chẳng bị mất phần, cứ dựa theo kinh mà trực tiếp quán, cầu nguyện vãng sanh, dường như chẳng ngăn ngại.

 

* Xuất thần (1)

 

          Nếu hỏi: “Tiên xuất thần, Thiền giả có thể làm được hay không?” Đáp: “Có thể, nhưng không làm. Kinh Lăng Nghiêm dạy ‘kỳ tâm ly thân, phản quán kỳ diện’ (tâm lìa thân, nhìn ngược lại mặt), chính là nói về chuyện này. Tiếp đó nói: ‘Phi vi thánh chứng, nhược tác thánh giải, tức thọ quần tà” (Đừng coi đó là đã chứng thánh. Nếu coi đó là chứng nhập thánh cảnh, liền rơi vào các loại tà tưởng). Đó là có thể làm mà không làm”.

Lại hỏi: “Thần thức xuất ra, cũng có âm, có dương. Kinh Lăng Nghiêm nói đến âm thần, tiên xuất dương thần, Thiền giả có làm được hay không?” Đáp: “Cũng có thể mà không làm!” Người vặn hỏi ngạc nhiên, tôi đáp:

- Đừng kinh ngạc! Ông chẳng thấy Sơ Tổ đã mất, [quảy] một chiếc dép về Tây ư? Ông chẳng thấy Bảo Chí Công một thân ở trong ngục, mà một thân ở nơi chợ búa ư? Ông chẳng thấy ngài Quy Sơn ngồi yên trong tĩnh thất, mà lại ăn bánh rán[52] trong thôn trang ư? Nhưng [những chuyện biến hiện ấy] cũng chẳng gọi là thánh chứng, bị Tông môn chê trách. Xưa kia có một vị Tăng nhập Định, xuất thần, tự nói: “Ta xuất thần, bất luận xa hay gần đều có thể lui tới, cũng có thể lấy đồ vật”, đó chính là dương thần. Tiên đức quở rằng: “Đầu tròn, áo vuông, cớ sao lại toan sống theo quỷ thần vậy?” Vì thế, tông ta hết sức cấm đoán, chẳng chấp thuận xuất thần!

 

* Xuất thần (2)

 

          Lại hỏi: “Thần có lỗi gì?” Đáp: “Thần chính là thức, chia ra thô và tế. Có xuất và nhập là thô. Nếu như xuất lẫn nhập đều mất, vẫn trụ trong tế thức. Đã tế lại càng tế hơn, thảy đều hòa lẫn, thì mới đạt được bản thể. Nếu chấp vào xuất nhập, cho đó là kỳ diệu, trong phần trước đă nói là “cái gốc sanh tử từ vô lượng kiếp” bị kẻ si tưởng là con người sẵn có của chính mình!

 

* Nghe cáo phó

 

          Người ta nghe cáo phó, ắt hết sức kinh ngạc. Đấy tuy là thế gian thường tình, nhưng hễ sanh ắt có tử, cũng là chuyện bình thường trong thế gian. Từ xưa tới nay, chẳng có một ai tránh khỏi, há đáng kinh ngạc? Chỉ riêng có chuyện sống uổng chết phí đời này chẳng nghe đạo mới là hết sức đáng kinh ngạc, nhưng lại điềm nhiên chẳng kinh ngạc, buồn thay!

 

* Ăn chay

 

          Người phú quư chẳng thể ăn chay, có hai nguyên nhân: Một là đắm chấp [ăn thịt] gia súc[53] cho sướng miệng, hai là lo rau dưa sẽ tổn hại cái thân. Chẳng biết ăn chay hay ăn thịt có thể khiến cho cái thân béo hay gầy, nhưng chẳng liên quan đến thọ hay yểu. Như nai là loài thọ nhất trong các loài thú, nhưng nó ăn cỏ. Cọp ăn thịt nhưng thọ dài hay ngắn đều chẳng bằng nai! Nai chẳng ăn thịt mà thọ, lẽ nào riêng con người chẳng giống như vậy? Tuy nhiên, có kẻ bị vướng bệnh khổ, tâm tuy muốn ăn chay mà sức chẳng đủ. Có người bị kẻ tôn quý ép buộc, tâm tuy muốn ăn chay mà chẳng thể được, đành ăn chay mấy tháng, ăn chay mấy ngày, hoặc ăn tam tịnh nhục, chỉ cần kiên trì chẳng giết là được, lâu ngày tập khí cũ sẽ tự đoạn!

 

* Căn bản của luân hồi

 

          Kinh Viên Giác nói luân hồi là do ái dục làm căn bản, nhưng ái dục dùng trăm cách để chế ngự, chẳng thể trừ diệt. Đại để, Mạnh Bôn và Hạ Dục[54] chẳng thể thi thố sự dũng mãnh, Trương Lương, Trần Bình[55] chẳng thể dùng trí của họ, Ly Lâu, Công Thâu[56] chẳng thể thi thố tài khéo thông sáng. Tuy Bất Tịnh Quán chính là để đối trị ái dục, nhưng phàm phu lè tè sát đất chướng nặng, nhiễm sâu, chỉ thấy được tịnh, chẳng thấy bất tịnh. Phép Quán tinh vi, hiếm người thành tựu; nhưng rốt cuộc là như thế nào? Kinh dạy: “Dục sanh ư nhữ ý, ý dĩ tư tưởng sanh” (dục sanh từ ý của ngươi, ý do tư tưởng sanh ra). Nay quán cái tưởng ấy lại do gì mà sanh? Nghiền ngẫm suy xét, lại nghiền ngẫm, suy xét, nghiền ngẫm chẳng thôi, [giống như] chuột chui vào sừng trâu, ắt sẽ có chỗ đảo ngược!

 

* Bệnh là thuốc tốt lành cho chúng sanh

 

          Người đời coi bệnh là khổ, nhưng tiên đức nói: “Bệnh là thuốc tốt lành cho chúng sanh”. Thuốc tương phản với bệnh, sao lại lấy bệnh làm thuốc? Bởi có thân thể, chẳng thể không bệnh, đó là lẽ tất nhiên. Nhưng khi chẳng bệnh, vui đùa, buông lung, ai nhận biết được? Chỉ có bệnh khổ bức bách tấm thân, mới biết Tứ Đại chẳng thật, mạng người vô thường, sẽ là một dịp hối hận, tỉnh ngộ, giúp cho tấn tu. Tôi xuất gia đến nay, bệnh ngặt gần chết ba lượt, mà mỗi khi bệnh đều hối hận, tỉnh ngộ, càng thêm tấn tu; do vậy tin tưởng lời nói “bệnh là thuốc tốt lành” thật sự là lời chí lý!

 

* Rắn thành rồng

 

          Người xưa có thí dụ, như rắn thành rồng, chẳng thay đổi da. Như người thành Phật, chẳng thay đổi mặt. Điều này nhằm phá chấp tướng cầu Phật của ngu phu, cho nên so sánh từa tựa như thế, chẳng phải là thí dụ đích đáng, cắt câu lấy nghĩa, chẳng phải là thí dụ trọn vẹn. Lại còn nói rắn nép trong đất, do tu luyện mà thành rồng, chẳng biết tánh vốn sẵn như vậy, chẳng phải do tu luyện mà đạt được! Vì thế, trong nước bẩn, trùng hóa thành muỗi, giòi trong nhà xí hóa thành ruồi, ấu trùng hóa thành ve sầu, tằm biến thành con ngài, chim trĩ hóa thành con thẩn[57], chim sẻ hóa thành sò, cá mập hóa thành cọp, cá Côn hóa thành chim Bằng[58]. Những điều tương tự như thế đủ loại, chẳng phải một chuyện, há chúng có thuật tu luyện hay chăng? Lại chẳng thấy cỏ sanh ra đom đóm, cơm sanh ra ốc, ngói sanh ra uyên ương, vô tình mà hóa hữu hình, tu luyện ở chỗ nào? Tôi sợ người chẳng hiểu lý, tuy gọi là học đạo, nhưng ngầm thực hiện tà nhân, hư vọng mong cầu tà quả, chẳng thể không biện định!

 

* Danh lợi

 

          Danh vẻ vang, lợi trọng hậu, cả cõi đời cùng ganh đua, nhưng bậc hiền nhân thuở trước nói “cầu chẳng thể được, mà từ khước cũng chẳng thể tránh khỏi”. Câu nói “từ khước chẳng thể tránh khỏi” ấy huyền diệu tột bậc, người sống trong cõi đời hãy nên tin sâu, ngẫm kỹ. Bởi lẽ, cầu chẳng thể được, con người có thể biết; chứ từ khước chẳng thể tránh khỏi, ai biết? Nếu biết chẳng thể tránh khỏi, còn cầu chi nữa? Hơn nữa, cầu chưa được, khôn ngăn bức rức. Đến khi cầu được, khôn ngăn vui mừng. Nếu biết chẳng thể tránh khỏi, có gì là vui? Lại còn chính mình đạt được thì vui, người khác đạt được thì đố kỵ! Nếu biết chẳng thể tránh khỏi, còn đố kỵ chi nữa? Cốt sao thông đạt do túc duyên mà tự đạt được, hiểu rõ vạn cảnh như không, thì đối với thành, bại, lợi, độn, sẽ điềm nhiên, chẳng náo nức. Vì thế biết lời ấy huyền diệu lắm!

 

* Lâm chung chánh niệm

 

          Kinh dạy: “Nhân dục chung thời, văn chung khánh thanh, tăng kỳ chánh niệm” (người sắp mạng chung, nghe tiếng chuông, khánh, sẽ tăng thêm chánh niệm), nhưng phong tục ở đất Hàng, thật lâu sau khi người chết đã tắt hơi, mới mời Tăng gõ khánh, đã chẳng kịp nữa! Lại còn nói ngoa rằng: “Gõ khánh là để thúc đẩy người chết đi tới Diêm La”. Lầm lạc đến nỗi như thế đó!    

 

* Mùi thơm của hoa

 

          Trong sân hoa bách hợp nở, ban ngày tuy có mùi thơm, nhưng rất nhẹ, ban đêm hương mới nồng. Chẳng phải là mũi ngửi kém vào ban ngày, nhạy vào ban đêm. Ban ngày ồn náo, các cảnh lăng xăng xen tạp, khi mắt nhìn, tai nghe, sức của mũi ngửi bị tai và mắt phân tán, chẳng chuyên. Dụng chí chẳng phân tán, sẽ ngưng lặng tâm thần, đúng lắm thay!

 

* Truyện người hóa hổ

 

          Sách Thuyết Hải[59] chép truyện người hóa hổ: Một vị tăng đùa bỡn, khoác da hổ đi trong đường mòn trên núi. Có người trông thấy kinh hãi, ù té chạy, vứt lại túi hành lý, liền nhặt lấy. Da bỗng dính chặt vào thân, bèn thành hổ, chẳng dám trở về chùa, nhưng tâm hiểu rõ ràng mình là người. Dần dần bị đói, bất đắc dĩ, ăn cáo, thỏ, dê, chó. Về sau, bị [người ta] bắt được, mọi người sắp mổ thịt thì ra là tăng. [Vị tăng ấy] hết sức hối hận, kêu gào bi thiết ân hận tột cùng, tự quăng ném thân mình, da bỗng rơi xuống đất, trở lại thân người. Do cảm vời chuyện lạ ấy, bèn khoác áo chằm rách rưới, đi ăn xin, tham học khắp các vị tri thức, quyết tâm tu đạo. Về sau, rốt cuộc trở thành bậc danh đức. Kinh dạy: “Hết thảy chỉ do tâm tạo”, xem chuyện này bèn càng tin tưởng!

 

* Sáu đường có lẫn nhau

 

          Trong lục đạo, lại có lục đạo. Cứ lấy loài người để nói, có người là trời, như các quốc vương, đại thần chẳng hạn. Có người là người, như các quan lại cấp nhỏ và dân thường, áo cơm no đủ, sống yên ổn trong cõi đời. Có người mà là Tu La, như lính coi ngục, đồ tể, đao phủ v.v… Có người là súc sanh, như những người chuyên khiêng nặng, làm lụng nhọc nhằn, luôn bị đánh chửi. Có người là ngạ quỷ, như những người ăn mày nghèo túng, kêu đói, gào khát. Có người mà là địa ngục như những người bị hành hình, cắt xẻo. Các đường khác như trời v.v… có đủ năm đường khác, cũng giống như thế. Vì sao vậy? Do xưa kia đã trì giới, tu phước, nay được làm người, nhưng phước và giới đã tu có thượng, trung, hạ. Trong ba loại ấy, [mỗi loại] lại có ba loại, nhiều đến vô tận, mỗi mỗi đều thuận theo cái tâm mà cảm báo chẳng phải chỉ một loại. Kinh dạy: “Hết thảy chỉ do tâm tạo”, lại nhìn vào điều này, càng tin tưởng hơn!

 

* Trí huệ

 

          Trong kinh Tăng Nhất A Hàm, đức Phật dạy: “Giới luật thành tựu thị thế tục thường số, tam-muội thành tựu diệc thế tục thường số. Thần túc phi hành diệc thế tục thường số, duy trí huệ thành tựu vi Đệ Nhất Nghĩa” (Giới luật thành tựu là pháp thông thường trong thế tục. Tam-muội thành tựu cũng là pháp thông thường trong thế tục. Thần túc bay đi vẫn là pháp thông thường trong thế tục, chỉ có trí huệ thành tựu là Đệ Nhất Nghĩa). Do vậy biết trong Tam Học Giới, Định, Huệ, Lục Ba La Mật như Bố Thí v.v… chỉ có trí huệ đáng trọng nhất, chớ nên khinh thường. Chỉ có trí huệ đứng trước hết, chẳng thể ở sau. Chỉ có trí huệ quán triệt hết thảy các pháp môn, chẳng thể coi chúng ngang hàng với trí huệ được! Kinh dạy: “Do giới sanh định, do định phát huệ”. Lời ấy nói về thứ tự sanh khởi của chúng thì đúng như vậy, nhưng phải biết điều gì đáng trọng, biết điều gì trước tiên, biết quán triệt thì mới được! Tuy vậy, trí huệ ấy lại chẳng phải là nói về thông minh biện tài, như trong phần trước đã nói “phải nên ngộ trí thế gian”.

 

* Ngoại học

 

          Đời Tùy, sa-môn Huệ Toàn ở Lương Châu, đồ chúng năm trăm người. Trong ấy, có một người khá thô thiển, khác lạ, vốn không được ngài Huệ Toàn thâu nạp. Ông ta bỗng tự nói: “Đắc quả A Na Hàm”. Huệ Toàn mắc bệnh, đóng cửa, người ấy tới thẳng trước giường thăm bệnh, nhưng cửa vẫn đóng như cũ. Hôm sau lại giống như vậy, nhân đó, bảo Huệ Toàn: “Sư sau khi chết, sẽ sanh vào nhà Bà La Môn”. Huệ Toàn nói: “Ta suốt đời tọa Thiền, vì sao sanh vào đó?” Đáp rằng: “Sư tin đạo không chuyên dốc, chưa dứt ngoại học; tuy có phước nghiệp, chẳng thể vượt thoát”. Tăng nhân hiện thời có người học Lão, Trang, có người học theo kinh sách của cử nghiệp (kinh sách của sĩ tử đi thi), có người học Mao Thi, Sở Tao[60], và từ chương, thơ phú thời cổ. Họ lấy Thiền làm cái học chánh yếu, nhưng chưa dứt ngoại học, vẫn dính dáng những thứ gây phiền lụy cho đạo ấy. Nay buông lung theo ngoại học, gác Thiền lại chẳng nghe tới, chẳng biết như thế nào nữa!

 

* Pháp sư Linh Dụ

 

          Dụ pháp sư giảng kinh, hoặc là một chữ mà quanh quẩn kéo dài suốt một ngày, hoặc trong chốc lát đã giảng hết mấy quyển, hoặc chia [kinh văn thành] từng khoa đã định, cho tới khi giảng lần sau lại đổi thành khoa trước, tăng, giảm, xuất nhập, tùy cơ mà nói rõ hay ẩn đi, người học sanh nghi. Ngài Linh Dụ nói: “Đấy là quy mô rộng lớn của bậc đại sĩ, có thể dùng thường tình để phán đoán ư?” Đó là vì ngài Linh Dụ đã đắc vô ngại biện tài, gần như tự tại nơi pháp. Nhưng kẻ câu nệ danh tướng, do văn mà hại từ, do từ mà hại ý, cùng với bọn tham cứu chết cứng một câu, sao có thể biết được? Người hiện thời đừng nên chấp vào kiến giải của chính mình rồi miệt thị bậc thù thắng, biện luận khinh suất ngang bướng. Lại chớ nên chẳng lượng sức mình, bắt chước bậc tiên đức, mặc sức làm xằng!

 

* Hành cước, trụ sơn

 

          Người hiện thời thấy ngài Huyền Sa [Sư Bị] chẳng vượt Ngũ Lãnh, ngài Bảo Phước [Thanh Khoát] chẳng ra ngoài quan ải, liền khoanh tay ngồi yên, nhìn suông bốn biển. Và kẻ thấy ngài Tuyết Phong [Nghĩa Tồn] ba lượt lên tham yết ngài Đầu Tử, chín lượt lên Động Sơn, Triệu Châu tám mươi vẫn hành cước, bèn bôn ba Nam Bắc, lang thang suốt một đời. Hai hạng người ấy đều chẳng đúng. Tâm địa chưa sáng tỏ, đúng là phải nên ngàn dặm, vạn dặm thân cận, gần kề bậc tri thức, há nên giữ ngu, ngồi suông, ngã mạn, tự cao? Đã vì sanh tử mà tham yết thầy, hỏi đạo, lại há có nên ngắm non, ngắm nước, chỉ khoe khoang từng trải rộng rãi mà thôi! Bậc hành cước chánh đáng ắt chẳng phải là như vậy.

 

* Lăng Nghiêm do Phòng Dung sáng tác

 

          Có kẻ thấy kinh Lăng Nghiêm không chỉ nghĩa sâu xa, mà văn từ cũng hay khéo, bèn ngờ là do thừa tướng Phòng Dung soạn ra. Phàm tại đạo tràng dịch kinh, tăng sĩ Hồ, Hán, và các vị quan giỏi văn chương, cư sĩ v.v… chẳng dưới mấy trăm người, sau đấy một bộ kinh mới hình thành. Bất quá, Phòng Dung[61] nhuận sắc lời văn, chẳng phải là chuyên chủ trì ý nghĩa. Nếu Phòng Dung tự nêu ý mình, sáng tác bản kinh này, cố nhiên Phòng Dung là trời của các trời, là thánh của các thánh rồi! Khảo cứu các bộ sử đời Đường, [sẽ thấy] tài trí của Phòng Dung còn chẳng sánh bằng các vị Liễu, Hàn, Nguyên, Bạch[62], sao có thể sáng tác Lăng Nghiêm vượt trội Khổng, Mạnh, Lão, Trang cho được? Than ôi! Ngàn đời trăm kiếp, được gặp kinh điển tột bậc tinh vi, chí huyền, chí cực như thế, chẳng chịu kiên quyết tin nhận, mà nẩy sanh nỗi ngờ hèn kém, trái nghịch ấy, cũng đáng buồn lắm thay! Cũng đáng xót lắm thay!

 

* Quả báo (1)

 

          Kinh nói “vạn pháp duy tâm”, người hiểu lầm cho rằng “vô tâm thì không có nhân, không có quả. Do vậy, chẳng lo có nghiệp, chỉ lo có tâm! Có nghiệp mà không có tâm, ông cụ Diêm La làm gì được ta”, bèn an tâm tạo nghiệp, chẳng còn cố kỵ! Chẳng biết vô tâm có hai loại:

1) Đúng như lý mà tư duy, dụng tâm tột bậc, tự nhiên nhập vô tâm tam-muội, thật sự là vô tâm.

2) Khởi tâm tạo nghiệp, lại khởi tâm chế ngự tâm, cưỡng chế khiến cho vô tâm, tợ hồ vô tâm, nhưng tâm lại thành có. Tâm có, nghiệp có, gậy sắt của ông cụ Diêm La chưa tha cho ngươi đâu!

 

* Quả báo (2)

 

          Kinh lại nói: “Cụ túc trí huệ Bồ Tát, thoát sử đọa lạc tại súc sanh trung, súc sanh trung vương, tại ngạ quỷ trung, ngạ quỷ trung vương” (Bồ Tát trọn đủ trí huệ, giả sử đọa lạc trong loài súc sanh sẽ là vua của súc sanh, ở trong loài ngạ quỷ, sẽ là vua của ngạ quỷ). Kẻ hiểu lầm cho rằng: “Có trí sẽ có thể chuyển nghiệp. Vì vậy, chẳng lo có nghiệp, chỉ lo không có trí! Có nghiệp mà có trí, ông cụ Diêm La làm gì được ta?”, bèn an tâm tạo nghiệp, chẳng còn cố kỵ. Chẳng biết kinh nói “trí huệ”, chẳng phải là trí thế gian tầm thường. Hơn nữa, ngươi có trí huệ thì có được như Văn Thù, Thân Tử (Xá Lợi Phất) hay không? Dẫu chẳng bằng họ, kém hơn thì có được như Thiện Tinh, Điều Đạt hay không? Thiện Tinh học rộng các pháp tụ đến nỗi mười tám con hương tượng mới chở hết, Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa) đắc thần thông của bậc La Hán, nhưng đều chẳng khỏi hãm vào địa ngục trong khi còn sống! Huống hồ trí huệ của ngươi chưa chắc đã hơn nổi hai người ấy. Chén nước chẳng thể dập tắt lửa của cả xe củi. Ánh sáng đom đóm chẳng thể phá tan tối tăm trong hang sâu. Nay là tiểu trí, diệt nghiệp được mấy? Gậy sắt của cụ Diêm La chẳng tha cho ngươi đâu!

 

* Tái ông (ông già ở biên ải)

 

          Được, mất chưa từng cố định; họa, phước nương dựa lẫn nhau. Một đoạn nhân duyên của Tái Ông[63] ai nấy đều biết, nhưng chưa chắc đã tin! Tôi trượt chân ngă vào nước sôi, gân co rút chẳng duỗi ra được, phải dùng đôi nạng làm hai đứa hầu, ngỡ suốt đời sẽ là như vậy, viết bài ca Pháp Sư Què Chân để tự giễu, có câu “chỉ sầu chân này chẳng què mãi”. Chân duỗi ra như cũ, cười là làm thơ thành sấm, nghiễm nhiên coi đó là lời răn bằng thơ. Vừa cảm kích, vừa sợ, nguyện chẳng quên câu chuyện “bắn móc câu”[64].

 

* Thần thông

 

          Thần thông đại loại có ba thứ: Một là báo đắc, hai là tu đắc, ba là chứng đắc.

Báo đắc là do phước nghiệp mà tự có, như chư thiên đều có thể thấy thấu triệt, nghe thấu suốt, và quỷ cũng có thần thông.

Tu đắc là do học tập mà thành, như Đề Bà Đạt Đa học thần thông từ tôn giả A Nan.

Chứng đắc là chuyên tâm học đạo, chẳng có tâm học thần thông, nhưng đạo trọn đủ, thần thông bèn tự có, chỉ là nhanh hay chậm khác nhau, như chư tổ, chư thiện tri thức xưa nay.

So sánh để luận, đắc đạo thì chẳng lo không có thần thông, đắc thần thông chưa chắc có đạo! Tiên đức có nói: “Thần thông diệu dụng chẳng bằng xà-lê, Phật pháp vẫn cần lão tăng”, rất có ý vị. Thử lập thí dụ: Tất cả tước lộc, quan phục (phẩm phục của quan chức), phủ thự, nghi vệ v.v… của quan viên trong thế gian, giống như thần thông, cũng có ba loại: Báo đắc là như công huân [của chính mình hay tổ phụ], hoặc con cháu được tập ấm, tự nhiên có những thứ [tước lộc, quan phục v.v…]. Tu đắc là do sức người tuần tự học tập thăng tấn mà thành, cổ nhân không ưa, vì chẳng do đạo tạo thành. Chứng đắc là như người đạo sáng, đức lập, địa vị tự thuận theo. Trọng Ni nói: “Học dã, lộc tại kỳ trung hỹ” (Học thì bổng lộc có sẵn trong ấy). Ba loại ấy, hơn kém có thể biết được!

 

* Người đại hào quý

 

          Người đại hào quý trong thế gian đa phần do tu hành mà ra, nhưng có ba bậc:

- Thứ nhất, tŕ giới, tu phước, niệm niệm chẳng quên chánh trí Bát Nhã, đời sau tuy ở địa vị cao, ngũ dục trọn đủ, nhưng tâm lúc nào cũng đặt nơi đạo, thật sự được gọi là “vị tăng để tóc”.

- Thứ hai, tŕ giới, tu phước, nhưng ý niệm Bát Nhã hơi sơ sót, đời sau chỉ dạo chơi trong pháp môn mà thôi.

- Thứ ba, trì giới, tu phước, nhưng coi nhẹ Bát Nhã, chẳng hệ niệm, đời sau sẽ thuận theo cảnh mà mê, trái nghịch thiện, theo ác, thậm chí có trường hợp báng Phật, hủy pháp, diệt tăng. Xét đến nhân địa của họ, đều là người tu hành!

Sai biệt như thế, đời sau rồi đời sau nữa, sai biệt sẽ đến mức độ nào? Nguội lạnh tấm lòng vậy!

 

* Thiên Thai Thanh Lương (1)

 

          Người ta thường nói Thiên Thai, Hiền Thủ, nhưng theo ngu tôi suy xét: Ngài Nam Nhạc giơ lên sợi dây chài chính [của tấm lưới] mà muôn mắt lưới đều căng ra[65], nhưng không trọn đủ bằng ngài Thiên Thai. Ngài Hiền Thủ cầm ngọc hành[66] mà ngàn tinh tú [hiện ra] đan xen, nhưng chẳng đầy đủ bằng ngài Thanh Lương. Vì vậy, kể từ khi có Phật pháp đến nay, ngài Thiên Thai tập đại thành[67]. Kể từ khi có Thiên Thai tới nay, ngài Thanh Lương tập đại thành. Vì thế, phải nên dùng hai vị đối ứng với nhau mà gọi tên tông[68].

Có người nói rằng: “Người ta đối với Thiên Thai chẳng dị nghị, nhưng đối với Hiền Thủ có lúc chõ mõm vào, vì sao vậy?”

Đáp: - Bôi bác ngài Hiền Thủ cũng là một trong trăm điều bôi bác! Chẳng phải trước đó đã nói đạo của Hiền Thủ tới ngài Thanh Lương mới hoàn bị” ư? Do vậy, hai vị Thiên Thai và Thanh Lương ân như cha mẹ, đạo cũng như cha mẹ, há có thể nghị luận ngài Thanh Lương ư? Chắc họ sẽ không đáp được. Tôi cười bảo: “Chẳng nhọc công ông suy nghĩ. Sau Thiên Thai có Thanh Lương, giống như sau Nghiêu, Thuấn có Khổng Tử, sao lại có thể bàn định được?”

 

* Thiên Thai, Thanh Lương (2)

 

          Có người nói rằng: “Tông kia (Thiên Thai) có tứ giáo, tông này (Hoa Nghiêm) có ngũ giáo, rành rành là hai tông, cũng có chỗ tương đồng ư?”

Đáp: - Đừng nghĩ là hai. Tứ giáo và ngũ giáo là do ngũ uẩn lục căn tách ra hay hợp vào mà thôi. Tiểu Giáo trong ngũ giáo nhiếp nhập Tạng Giáo của tứ giáo, mà nói là Tạng Giáo, tức là còn xen lẫn dấu tích, cho nên tách ra thành một giáo khác là Tiểu. Đốn Giáo trong ngũ giáo nhiếp nhập Viên Giáo của tứ giáo, còn trực chỉ của Đạt Ma chính là thuộc vào Đốn. Do muốn nêu rõ, nên đặc biệt gọi là Đốn, chứ Viên Giáo của hai Tông vốn là một. Chỉ thú Thập Huyền của Hoa Nghiêm thì Viên Giáo của tứ giáo vốn chứa đựng ý ấy, nhưng chưa trọn. Vì thế, sau Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, vẫn bao trùm bằng Viên của nhất thừa, là có thâm ý vậy! Do mỗi đằng đều là chỗ nương vào, quay về của một thuở, đều là thể thức cho muôn đời. Do vậy, gọi là hai tông. Tông tuy thường hai, nhưng đạo thường một, rẽ thành hai nẻo thì sai mất rồi!

 

* Sơn Cư Thi của thiền sư Úc Đường

 

          Các vị đại lão Vĩnh Minh, Thạch Ốc, Trung Phong đều có “sơn cư thi” (thơ ở trong núi) nêu tỏ tự tánh, rền tiếng ngàn đời, lại còn có khí phách hùng hồn, câu lẫn chữ đều tinh vi, khéo léo, nhưng bốn mươi bài vịnh của Úc Đường[69] chính là lời xướng tuyệt diệu nhất trong các vị. Vì sao vậy? Do đều từ chân tham thật ngộ, tràn trề bên trong, bộc lộ ra ngoài, như gió nhẹ lùa cây báu trong cõi Cực Lạc, tâm vua trời cảm đàn dao cầm của Càn Thát Bà, chẳng khảy mà phát ra tiếng, chẳng vuốt mà ngân, là cực diệu của thơ, lại còn chẳng thể dùng thơ để luận được! Nếu chẳng dốc sức nơi gốc mà cứ suy tính nơi ngọn, suốt đời chắt lọc từ ngữ, có lợi ích chi? Nguyện người sống trong núi hãy học theo đạo của cổ nhân, đừng học theo thơ của cổ nhân.

 

* Sắc núi

 

          Nhìn gần, sắc núi xanh rì, màu xanh ấy như màu lam. Nhìn sắc núi từ xa, sắc biếc như màu lam ấy trở thành xanh thẫm. Sắc núi quả thật biến đổi ư? Sắc núi vẫn như cũ, mà sức nhìn có dài hay ngắn. Từ gần cho đến xa dần, xanh đổi thành biếc. Từ xa mà dần đến gần, màu biếc đổi thành xanh. Do vậy, xanh là do duyên hội tụ mà thành xanh, biếc do duyên hội tụ mà thành biếc. Không chỉ biếc là huyễn, mà xanh cũng là huyễn; đại khái, vạn pháp đều là như thế.

 

* Nằm mộng trong đời hiện tại

 

          Nằm mộng ban đêm phần nhiều chuyện thuộc đời hiện tại, hiếm khi thấy chuyện thuộc đời trước. Vì sao? Bởi lẽ, mộng do tưởng thành, phần nhiều tưởng chuyện trong đời hiện tại, chẳng nghĩ tới chuyện đời trước. Hơn nữa, tam thừa hiền thánh còn bị cách ấm khi sanh ra, bỗng bị tối tăm, huống hồ phàm phu trọn đủ phiền não trói buộc, thoát khỏi một cái vỏ này, lại vào trong một cái vỏ khác, từ trong bụng mẹ điên đảo mà sanh ra, há còn có thể ghi nhớ chuyện đời trước được ư? Chỉ dựa vào những chuyện lăng xăng trước mắt, ngày thì tưởng, đêm bèn thành mộng, nhưng có lúc vật chưa từng thấy, chuyện chưa hề làm, địa vị chưa từng trải qua hiện ra trong giấc mộng tức là cảnh vô thỉ tùy ý mà hiện ra như thế, cũng chẳng biết là do nguyên do nào! Tưởng ấm đã phá, sẽ ngủ thức luôn như một, mong hãy cùng dốc sức!

 

* Vị tăng lễ sám

 

          Có người tu Tịnh Độ Sám Pháp, một vị Tăng bảo: “Kinh chẳng nói đó ư? ‘Nếu muốn sám hối, hãy ngồi ngay ngắn niệm Thật Tướng’. Sao lại hùng hục lễ bái gấp gáp vậy?” Người tu sám hỏi: “Như thế nào là Thật Tướng”. Tăng đáp: “Tâm chẳng dấy vọng chính là Thật Tướng”. Lại hỏi: “Tâm là vật ra sao? Vọng là vật ra sao? Cái tâm có thể chế phục vọng lại là vật gì?” Tăng chẳng đáp được!

Người tu sám nói: “Tôi nghe rằng: Sám coi Lý là chánh, coi Sự là trợ. Ngay như niệm Thật Tướng, tam nghiệp siêng năng, chân thành, cũng chẳng trở ngại! Vì lẽ nào vậy? Hành nhân sơ cơ chưa thể lập tức tương ứng với Thật Tướng, cần phải cậy vào ngoại duyên giúp đỡ. Kinh Pháp Hoa dạy: ‘Ngã dĩ dị phương tiện, trợ hiển Đệ Nhất Nghĩa’ (ta dùng phương tiện lạ, giúp hiển Đệ Nhất Nghĩa) chính là ý này. Luận Khởi Tín cũng nói: ‘Chúng sanh thời Mạt Pháp tu pháp này, tự sợ chẳng thường hằng, gặp Phật Như Lai Thế Tôn có phương tiện lạ, dạy hãy niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ”. Vì thế biết Tịnh Độ Sám Pháp của Từ Vân đại sư, châm chước xưa, chuẩn theo nay, tinh mật tột bậc, cùng với các sám pháp Pháp Hoa và Kim Quang Minh, đều là Lý và Sự cùng đủ, trời, người đều khâm phục, là đuốc báu lớn soi đường tối trong thời Mạt Pháp. Hơn nữa, lo liệu kiếm sống, lo toan sản nghiệp, chẳng trái Thật Tướng, có phải là do đức Phật nói hay chăng?” Tăng đáp: “Đúng thế!” Người ấy bảo: “Như vậy thì lễ sám chẳng sánh bằng sanh nhai kiếm sống, lo toan sản nghiệp ư?” Tăng lại chẳng đáp được!

 

* Sách Chỉ Quán của ngài Nam Nhạc

 

          Trong sách Đại Thừa Chỉ Quán của ngài Nam Nhạc đã dẫn Khởi Tín Luận như sau: “Do vậy luận nói: - Điều thứ ba là Dụng Đại, do có thể sanh ra thiện ác nhân quả thế gian và xuất thế gian”. Luận Khởi Tín vốn không có chữ Ác, đọc đến [câu trích dẫn trên đây] khiến cho người ta kinh hãi. Hơn nữa, tánh ác tuy là tông chỉ của tông Thiên Thai, nhưng ngài Từ Vân nói ngài Nam Nhạc xa là kế thừa ngài Ca Diếp, kế đến bẩm thọ từ ngài Mã Minh, mà Mã Minh là cổ Phật thị hiện [làm Bồ Tát] thuộc địa vị Bát Địa. Ngài Nam Nhạc do đức lạ thường mà được xếp vào hạng thần tăng, chẳng lẽ nào trái nghịch với cả hai vị tiên thánh (Ca Diếp) và hậu thánh (Mã Minh).

Hơn nữa, Khởi Tín Luận ngôn từ ngắn gọn, ý nghĩa phong phú, từ ngữ tinh vi, lý tột bậc, bao trùm chung các kinh liễu nghĩa của Đại Thừa. Mỗi câu, mỗi chữ [trong luận ấy] đều chẳng thể tăng giảm được! Ngài Nam Nhạc mở đầu sách Chỉ Quán, dẫn Khởi Tín Luận chính là nêu ra nguồn cội, rõ ràng là có chứng cứ, nhưng nguyên gốc của luận không có [chữ Ác], liền tự tiện thêm vào, có lý ấy hay chăng? Ắt là do người đời sau làm ra. Hoặc có người cho rằng do ngài Từ Vân khắc in sách, đáng lẽ phải nên là không lẫn lộn, xen tạp! Ôi! Biết đâu là do sau ngài Từ Vân, lại có người đời sau tăng thêm? Tôi tuy chí ngu, biết chắc ngài Nam Nhạc chẳng sửa đổi luận Khởi Tín, xin bậc cao minh giảng tường tận hơn!

 

* Hàn Xương Lê (Hàn Dũ)

 

          Cõi đời đồn rằng Xương Lê thoạt đầu báng Phật, về sau, do gặp Đại Điên, nhanh chóng có ngộ nhập. Nhưng khảo cứu văn tập của ông ta, có chép: “Gần đây đồn rằng Dũ tôi hơi tin họ Thích (đạo Phật), lời đồn ấy là hư vọng. Người xứ Triều Châu chẳng thể nói chuyện được. Vị tăng Đại Điên khá thông minh, hiểu đạo lý, cho nên giao du với ông ta. Khi trở về, lưu lại y phục để từ biệt. Đó là tình cảm, chẳng phải sùng tín đạo ấy, cầu lợi ích phước điền”. Xét theo đó, tức là [Hàn Dũ] vẫn ngang bướng, chẳng tin như cũ, lấy đâu ra ngộ nhập? Tuy vậy, nếu chỉ xét [theo phương diện] thị hiện ảnh hưởng, nghịch thuận tán dương, sẽ chẳng thể lường được, sao biết Xương Lê chẳng phải là cố ý tạo nhân duyên dẫn phát ư? Chẳng có Xương Lê báng Phật, sao có người do hiểu rõ giáo mà phủ định [những lời bài bác của] họ Hàn? Chuông do gõ mà tiếng mới ngân rền, đuốc do cắt bấc mà ánh sáng càng thịnh. Vì thế, chưa đắc Túc Mạng, chưa có Tha Tâm, chưa thể tùy tiện đàm luận cao xa, b́nh luận nhân vật được!

 

* Tỉnh giác và tịch tĩnh

 

          Chỉ Quán quý ở chỗ cân bằng, đó là chỗ đáng chú trọng; dẫu thánh nhân lại xuất hiện, chẳng thể thay đổi được! Có thể là vì có hoãn hay cấp trong ấy mà nói: “Kinh dạy ‘do Định phát Huệ’, nên Chỉ là trọng yếu”. Vì vậy, [người học] dựa dẫm theo đó thành thói quen. Người tu hành phần nhiều coi tịch tĩnh là chủ yếu, chỉ có ngài Vĩnh Gia nói “tỉnh tỉnh, tịch tịch; tịch tịch, tỉnh tỉnh” (tuy tỉnh ngộ, hiểu biết thông suốt vẫn vắng lặng, tuy vắng lặng mà thấu hiểu, tỉnh thức) để nói rõ sự cân bằng. Phần văn từ sau đó [trong Chứng Đạo Ca] lại nói “tỉnh tỉnh là chánh, tịch tịch là trợ”, tức là khác xa với cách nhìn chỉ đạt được một khía cạnh (tức cách nh́n coi Chỉ là trọng yếu trên đây), từ xưa đến nay, chưa có ai đề cập. Sau này, Tông Môn dạy mọi người khán thoại đầu để mong triệt ngộ, nhưng ngài Diệu Hỷ quở mặc chiếu[70] là tà thiền, chính là do ý này. Do vậy, đức Phật được gọi là đại giác, chúng sanh được gọi là bất giác. Giác là tỉnh, ý chỉ của ngài Vĩnh Gia nhỏ nhiệm thay!

 

* Nguồn đạo

 

          Nếu hỏi: - Đạo Đức Kinh chép: ‘Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết Đạo’ (ta chẳng biết tên của nó, bèn gọi nó là Đạo), tức là một chữ Đạo bắt nguồn từ Lão Tử, muôn đời tuân theo. Cái được gọi là Đạo trong kinh Phật cũng không thể trái nghịch được, đó là như thế nào?”

Đáp: - Cái được chép trong kinh Dịch “lý đạo thản thản”[71] (đi theo chánh đạo rộng rãi, tâm địa khoảng khoát, thản nhiên), ghi trong kinh Thư thì nói “tất cầu chư đạo”[72] (ắt tìm tòi từ trong đạo đức), vịnh trong kinh Thi thì nói “Châu đạo như chỉ”[73] (đạo cai trị của nhà Châu như đá mài dao). Khi năm ngàn chữ (Đạo Đức Kinh gồm năm ngàn chữ) chưa xuất hiện, cái tên Đạo đã được lập trước. Huống hồ cái Đạo được nói trong sách ấy (Đạo Đức Kinh) chính là “vâng theo tự nhiên”. Nếu như chẳng có nguồn cội, tự nhiên sanh ra đạo, thì ngài Thanh Lương phán định là “không có nhân”. Nếu như nó vốn là tự nhiên mới sanh ra đạo thì ngài Thanh Lương phán định là “tà nhân”. Vô nhân và tà nhân đều là so đo khác lạ, chẳng phải là đạo như đức Thế Tôn đã nói! Phật đạo là vạn pháp đều bắt nguồn từ tự tâm, chẳng phải là tự nhiên, chẳng phải là bất tự nhiên. Kinh nói A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề chính là đại đạo Vô Thượng Chánh Giác, còn chẳng phải là tự nhiên, huống hồ pháp tự nhiên ư?

 

* Hiện thời, Bồ Tát chẳng hiện

 

          Trộm lấy làm lạ hiện thời kẻ tạo nghiệp nhiều, người tin đạo ít; Bồ Tát độ sanh chẳng ngơi, sao chẳng phân thân thị hiện, hóa độ, khuyên dụ quần mê? Hơn nữa, xưa kia Phật pháp truyền sang phương Đông, từ Hán, Ngụy cho đến Tống, Nguyên, thiện tri thức xuất thế như vảy cá, như răng lược[74]. Cuối đời Nguyên, đầu đời Minh, còn thấy được một, hai vị; gần đây thì đìu hiu, chẳng nghe thấy nữa! Như đức Địa Tạng nguyện độ tận chúng sanh, Quán Âm được xưng tụng là “không cõi nào chẳng hiện”, há nỡ lòng bỏ mặc chúng sanh chưa được độ, cũng có cõi chẳng hiện ư? Suy nghĩ lâu ngày mới biết Bồ Tát tùy duyên độ sanh; chúng sanh vô duyên sẽ chẳng thể độ. Ví như mặt trăng ở trên bầu trời, vốn chẳng có tâm cự tuyệt nước. Nước tự chẳng trong, mặt trăng bèn chẳng hiện. Huống chi nay Mạt Pháp dần sâu hơn, tâm cấu càng quá đáng; cố nhiên Bồ Tát luôn luôn độ sanh, nhưng chúng sanh thuộc vào nơi không chịu tiếp nhập sự hóa độ, thì vào nước đục mà tìm trăng sáng há có được chăng?

 

* Như Lai chẳng cứu sát nghiệp

 

          Hơn nữa, hiện thời tạo nghiệp, chỉ có giết chóc là dữ dội nhất! Đừng nói rộng trong bốn biển, ngay chỉ trong một ấp, mỗi ngày sanh mạng bị giết hại như bò, dê, chó, lợn, ngỗng, vịt, cá, ba ba, hở ra là cả ngàn vạn, còn những con vật nhỏ hơn chẳng thể kể xiết! Trong hai mùa Xuân, Thu, tế trời, đất, cúng quỷ thần, cúng bái tổ tiên, báo đức, báo công tiên thánh, tiên hiền, dùng đến các con vật chẳng biết là bao nhiêu! Nhưng trời đất chẳng xót, quỷ thần không thương, tổ tiên chẳng biết, tiên thánh, tiên hiền chẳng ngầm cấm ngặt. Còn như Như Lai, lòng nhân bao trùm trời đất, lòng từ thâu nhiếp quỷ thần, ân vượt xa tổ tiên, đức bao trùm các thánh hiền, sao chẳng thị hiện đôi chút thần thông, hiển hiện [kẻ sát sanh sẽ] thọ ác báo, hoặc khiến cho [ác báo] trở ngược lại kẻ gây tội, thì không ai là chẳng run sợ, hối cải, lẽ đâu hờ hững như chẳng nghe.

Vì sao? Suy nghĩ đã lâu, bèn biết là những con vật như bò, dê v.v… do trước kia tạo nghiệp giết chóc chịu quả báo trong đường súc sanh. Hạng Chiên-đà-la tức là những kẻ trước kia bị giết, nay chuyển thành kẻ giết. Nhân duyên hội ngộ, mới thỏa thích điều ấp ủ, định nghiệp khiến thành như vậy. Đợi đến khi nghiệp tận, sau đấy báo chấm dứt, dẫu bậc trời trong trời, bậc thánh trong thánh cũng chẳng biết làm như thế nào? Huống chi túc báo vừa mới yên, ương họa mới lại tạo, nhân quả ruổi theo nhau, ta chẳng biết khi nào mới kết thúc? Hơn nữa, chuyện đã qua chẳng ngăn trở được, chuyện sẽ đến có thể truy tầm, tức là nay đoạn cái nhân giết chóc, sẽ chẳng có quả báo do giết chóc về sau! Giáo huấn sáng suốt của Như Lai rạng ngời như mặt trời, tinh tú, [đấy chẳng phải là] vì các chúng sanh mà cứu sát nghiệp không ngớt tới mức cùng cực đó chăng?

 

* Tăng giảm văn tự của cổ nhân

 

          Ở chỗ người bạn, tôi ngẫu nhiên thấy một quyển dă sử và thi kệ cảnh tỉnh cõi đời của tiền bối, có khá nhiều chỗ tăng, giảm so với nguyên văn. Do vậy, nghĩ các trước thuật xưa nay, sách Nho thì trừ Lục Kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử ra, kinh Phật thì trừ kinh luận của Phật, Bồ Tát, và [các tác phẩm] của các vị đại lão danh xưng hiển hách nhất ra, [người đời] cẩn thận chẳng dám động đến, chứ những thứ khác cũng bị tùy ý tăng giảm khá nhiều! Phàm lưu thông thiện pháp, lợi lạc, cứu giúp chúng sanh, quả thật là tâm đẹp, ý lành, nhưng giao cho người khác mong họ giảo chánh đến nỗi như thế, mong hãy tự đứng ra làm chủ. Nếu giữ tâm trân trọng, ân cần, ắt sẽ có người giúp cho thành tựu[75]!

 

* Thí dụ về rắn độc

 

          Xưa kia, đức Phật đi trên cánh đồng, thấy có cái túi bị rơi trên mặt đất, bèn chỉ vào đó, nói: “Rắn độc! Rắn độc!” Nói xong, Ngài nhanh chóng rời khỏi. Có nông phu vác cuốc đến phang thử, thì ra là cái túi bị đánh rơi, bèn cầm về, được mấy dật[76] vàng, mừng rỡ quá lòng mong mỏi! Thoáng chốc, chuyện đến tai vua, [nông phu ấy] bị quở tội trộm của công. [Quan trên] cho là dâng lên ít, giấu đi nhiều, [nông phu ấy] bị đánh đập nhừ tử, vặn hỏi không ngớt, đến nỗi của cải đều hết sạch. Ngày khác, [người ấy] gặp đức Phật, khóc rằng: “Cù Đàm gạt ta! Cù Đàm khiến ta bị lầm!” Đức Phật nói: “Ta đã hướng về ông nói là rắn độc, chẳng phải là rắn độc ư?” Than ôi! Nay thứ rắn độc cắn mổ nhiều lắm, mà kẻ bị mổ chẳng hối hận, lại còn chịu bị mổ tiếp cũng đông lắm, há có phải một mình gã nông phu ấy đâu?

 

* Ăn thịt (1)

 

          Có vị tăng chuyên học kinh Lăng Già, ngẫu nhiên tụ hội tăng và tục. Có một vị cư sĩ là Nho sinh, dứt ăn thịt mà ăn chay, bị bọn họ xúm nhau chê cười. Vị tăng trì kinh Lăng Già không chỉ chẳng khuyên can họ thôi điều ra tiếng vào, lại ngược ngạo hùa theo họ khuyên lơn [người ấy ăn mặn]. Nho sinh bất đắc dĩ phải nâng đũa. Ôi! Vị tăng ấy ngày sau đọc kinh Lăng Già, xem tới đoạn đức Phật dạy có vô lượng nhân duyên chớ nên ăn thịt, chẳng biết sẽ có vẻ mặt như thế nào?

 

* Ăn thịt (2)

 

          Người đời hễ thấy có bằng hữu hoặc thân thích thôi ăn thịt mà ăn chay, nếu chẳng kinh ngạc cho là lạ lùng, ắt sẽ cười cợt cho là kẻ ngu! Con người và súc sanh đều cùng là những khối thịt! Người là thịt sẽ chẳng ăn thú cũng là thịt; đó là lẽ tất nhiên trong lẽ trời, tình người, cũng có gì là lạ, huống hồ bảo là ngu ư? Ôi! Chúng sanh mê muội cùng cực thay!

 

* Tào Khê chẳng đoạn tư tưởng

 

          Có kẻ tụng bài kệ của Lục Tổ “Huệ Năng chẳng tài cán, chẳng đoạn trăm tư tưởng. Đối cảnh, tâm số[77] khởi, Bồ Đề sao tăng trưởng?”, bèn dương dương tự đắc, cho là đã thấu hiểu ý chỉ, liền tính buông lung thân tâm, [ngỡ đó là] hết thảy vô ngại. Có một cư sĩ hiện diện quở rằng: “Bài kệ này của đại sư là thuốc nhằm đoạn căn bệnh tư tưởng cho Ngọa Luân[78]. Ngươi chẳng có bệnh ấy, hư vọng uống thuốc này, thuốc này đâm ra thành bệnh!” Nói hay lắm thay!

Nay lại nêu một thí dụ: Tào Khê chẳng đoạn trăm tư tưởng, như gương sáng chẳng đoạn muôn hình tượng. Người thời nay chẳng đoạn trăm tư tưởng như lụa trắng chẳng đoạn năm màu[79]. Tào Khê đối cảnh, tâm số khởi lên, [giống như] hang trống gặp tiếng hô bèn dấy tiếng vọng. Người hiện thời đối cảnh, tâm số khởi lên, [khác nào] gỗ khô gặp lửa liền bốc khói. Chẳng suy xét chính mình mà chen gần bậc tiên thánh, hãy thử ở nơi thanh vắng suy nghĩ đi!

 

* Tứ tri (bốn điều biết)

 

          “Trời biết, đất biết, ông biết, ta biết” là câu nói của Dương Bá Khởi[80]. Người bàn luận cho rằng, người và mình biết thì khác biệt, chứ trời và đất thì chẳng phải là hai cái biết. Lúc trẻ, ngu tôi cũng cho là đúng như thế. Về sau, đọc Phật Mạ Ý Kinh có nói đến Tứ Tri, hoàn toàn giống với điều này. Đó là vì nói thiên thần biết, địa thần biết, trong tâm người khác biết, tâm ta biết. Phẩm Thế Chủ của kinh Hoa Nghiêm [có nói các vị thần] chủ trời, chủ đất, chủ ngày, chủ đêm, chủ núi v.v… không đâu chẳng có thần, tức là lời của Bá Khởi chẳng sai. Do vậy, đối với lời của bậc tiên hiền, chớ nên dễ dãi bàn luận!

 

* Tứ đại, ngũ hành

 

          Ngũ Hành trong thế gian, chính là trung khí của Xuân, Hạ, Thu, Đông, là trung phương của Đông, Tây, Nam, Bắc, là thiên kinh, là địa vĩ[81], là lý tự nhiên, mà cũng là thế tất nhiên, nhưng kinh Phật chẳng nhắc tới Ngũ Hành mà nói Tứ Đại. Có người nói: “Đất, nước, lửa, có ba thứ thuộc Ngũ Hành, Kim thuộc vào địa, Mộc thuộc vào gió, tức là bốn chưa hề chẳng phải là năm”. Cách nói này hay lắm, nhưng chưa trọn vẹn. Trong vũ trụ, bao trùm bằng Ngũ Hành thì đã đủ, nhưng nếu luận luôn ngoài vũ trụ thì nếu muốn nói cùng tột “thành, trụ, hoại, không”, ắt Tứ Đại mới đủ để bao gồm, nhưng vẫn chưa trọn hết. Ngoài địa, thủy, hỏa, phong, lại còn thêm Không, Thức, Niệm thành bảy món. Đấy là nói lên điều gì? Chất của đất là chắc thật nhất, chất của nước không cứng chắc mà chảy tràn, chất của hỏa là tột bậc chẳng thể nắm chạm, còn phong thì có khí mà không có chất. Không thì ngay cả khí cũng chẳng có. Sau đấy hội quy vào Thức, phát động nơi niệm, từ thô đến vi tế, được gọi là Thất Đại thì mới trọn hết được! Ngũ Hành được phân bố trong địa, thủy, hỏa, phong, hình thành trời, đất, người, vật. Ngũ Hành hẹp mà Tứ Đại rộng.

 

* Thế giới

 

          Nhớ xưa kia khi còn là trẻ con, chơi đùa cùng lũ trẻ, cật vấn lẫn nhau “chỗ cùng tận của trời, đất có hình dạng như thế nào? Có phải là chỗ rỗng không đều như thái hư ư? Cái rỗng không ấy kết thúc ở chỗ nào? Hay là cứng chắc như tường, vách ư? Nếu vậy thì cái cứng chắc ấy kết thúc ở đâu?” Các đứa trẻ chẳng đáp được, cười xòa giải tán, nhưng tôi cứ ngấm ngầm vướng mắc trong lòng. Sơn Hải Kinh[82] nói Đông và Tây cách nhau hai ức dặm, Nam và Bắc cách nhau một ức năm vạn dặm, chỉ là dựa theo một phương, quả thật là cái nhìn hẹp hòi mà thôi! Về sau, đọc nội điển, tới phần nói “hư không chẳng thể tận, thế giới chẳng thể tận”, mới thấu hiểu rỗng rang, cho rằng chẳng phải là Phật, sẽ chẳng thể nói [rơ ràng như vậy được]. Than ôi! Điều này chẳng dễ nói vậy!

 

* Năm và kiếp

 

          Từ thế giới mà suy rộng đến năm và kiếp, từ hiện thời mà truy về xưa, xưa bắt đầu như thế nào? Từ hiện thời mà muốn tìm đến mai sau, mai sau kết thúc nơi đâu? Thái Cực Đồ nói Thái Cực sanh Lưỡng Nghi, rồi sanh Ngũ Hành, rồi đến vạn vật, tức Thái Cực là khởi đầu. Kinh Thế Thư[83] dùng con số một Nguyên () để tính toán, gồm mười hai vạn chín ngàn sáu trăm năm, tức Nguyên là khởi đầu của ban sơ. Nhưng Thái Cực lại khởi đầu như thế nào? Nguyên sơ khởi đầu như thế nào? Ngay như xét theo thứ tự của năm, thì trước năm nay có năm ngoái, năm ngoái lại có năm trước đó nữa, cái gì là khởi nguồn đầu tiên trước hết? Lại còn khi nào sẽ chỗ rốt ráo tận cùng, chẳng còn lại khởi đầu mà là vĩnh viễn chấm dứt? Mờ mịt như say. Về sau, đọc nội điển, tới phần đức Phật nói vô thỉ, lại nói kiếp số chẳng thể tận, ý mới hết sức thông suốt, cho là chẳng phải đức Phật sẽ chẳng thể nói được! Than ôi! Chuyện này lại chưa dễ nói vậy!

 

* Học đạo không gì hơn được trí

 

          Hàn Tín là kẻ sĩ nước Sở, bỏ Sở theo Hán. Quân Sở bị Hàn Tín vây hãm, Hán do Hàn Tín mà hưng khởi. Trước sau chỉ là một Hàn Tín, mà là cái nhân khiến cho hai nước phế hưng, do [kẻ cầm quyền] khéo dùng và chẳng khéo dùng vậy. Lục căn ở nơi con người, chẳng khéo dùng thì gọi là lục tặc (sáu tên giặc); khéo dùng thì là đủ loại thần thông diệu dụng. Phiền năo tức Bồ Đề, há chẳng đúng lắm ư? Tuy vậy, Hán Cao Đế (Lưu Bang) đối với Hàn Tín, thoạt đầu đối đãi như kẻ tầm thường, nhưng Tiêu tướng quốc (Tiêu Hà) coi Hàn Tín là bậc kỳ tài. Sau này, [Hàn Tín] xin được làm giả vương[84], nhưng vua không cho, gần như đến hỏng chuyện, nhưng nhờ Lưu Hầu (Trương Lương) mà thành. Như vậy thì bổ cứu những chỗ lệch lạc, khuyết điểm [của nhà vua], ngầm chuyển biến để ngầm duy tŕ là do sức của bầy tôi có trí. Học đạo không gì hơn được trí cũng lại giống như thế.

 

* Đạo tràng phóng xá

 

          Sự phóng xá (xá tội) trong đạo tràng, hai môn Tăng và Đạo đều luôn có. Đạo giáo tôn sùng thiên đế, chẳng biết chuyện xá tội là do ai? Cung trời Đao Lợi thống lãnh người dưới thế gian, nay kẻ mặc áo lông (đạo sĩ) tự làm, chẳng khác ngụy truyền thánh chỉ ư? Tăng thờ Phật, mà Phật ngự trong Thường Tịch Quang, rốt cuộc Phật làm vua cõi nào? Đóng đô tại thành ấp nào? Thống lãnh thần dân nào? Chiếu sắc chế cáo quan liêu nào? Thế mà [tăng sĩ] cũng phỏng theo bọn đạo sĩ làm thư ân xá, hết sức nực cười! Tăng hiện thời chẳng cảm thấy là sai, trai chủ cũng chẳng biết là sai, là như thế nào vậy? Không chi khác, có một lẽ mà thôi. [Tăng sĩ hay đạo sĩ viết thư thỉnh xá tội], tấu thỉnh lên trời, xin ban ân xá tội, được chấp thuận hay không, chỉ có chúa tể cõi trời biết! Còn như Phật thì từ bi phủ khắp, dường như hư không, không một chúng sanh nào chẳng độ, há có chuyện xá tội ư?

 

* Kinh văn trong nghi thức Thủy Lục

 

          Thủy Lục Trai là một lễ phổ độ long trọng. Nghi thức Thủy Lục ở chùa Kim Sơn tương truyền xưa kia từ trong Đại Tạng phóng quang, nhưng nay trong Đại Tạng không có văn từ ấy. Đời đã cách xa, chẳng thể khảo cứu, không biết có hoàn toàn là do Hữu luật sư[85] của Lương Vũ Đế soạn ra hay không? Nhưng nếu xét văn bản từ đầu đến cuối mạch lạc, tường tận đúng lề lối, phàm lẫn thánh đều cùng bao gồm, tuy giản ước mà trọn hết, từ ngữ lẫn Lý đều đắc thể, thì bản văn gồm sáu quyển do ngài Tứ Minh Chí Bàn biên tập sẽ là ổn thỏa nhất. Huống hồ [nghi thức theo] bản Kim Sơn tốn phí nhiều, khó cử hành; bản Tứ Minh chi phí ít, dễ thực hiện, đúng là phải nên lưu thông vô tận, nhưng cả cõi đời chẳng làm theo. Các quận tại vùng Chiết Giang cũng chẳng hành theo, chỉ có nơi đây là làm theo, nhưng lại chẳng thẳng thừng tuân theo nguyên bản, tăng thêm những văn từ thừa thãi, xen tạp trầm cử, đâm ra sơ lược những chỗ khẩn yếu, đáng than thở thay! Nhưng chỗ thuyết pháp khai đạo trong quyển thứ năm trần thuật cn kẽ ý chỉ Tam Quán dường như hơi quá rườm rà. Nếu như đơn giản, thẳng thừng, dễ hiểu, thì kẻ ngu lẫn người trí trong cõi âm và dương gian sẽ cùng được lợi ích, chẳng sót. Đấy sẽ là tận mỹ, lại còn tận thiện!

 

* Thấy lỗi của tăng

 

          Cõi đời có nói: “Mọi người đừng nên thấy lỗi của tăng, thấy lỗi của tăng sẽ mắc tội”. Nhưng Khổng Tử là bậc thánh nhân, mừng vì người khác biết lỗi của Ngài. Quý Lộ[86] là hiền nhân, mừng vì được nghe vạch lỗi. Sao Tăng lại sợ người khác biết mà chẳng muốn nghe? Đại để, chẳng thấy lỗi của Tăng” là nói với hàng bạch y, chẳng phải là nói với Tăng! Nếu Tăng dựa vào đó, làm xằng không cấm kỵ, thì lời này tuy là thuốc tốt lành cho kẻ bạch y, lại là tỳ sương, rượu trấm độc[87] cho tăng sĩ, buồn thay!

 

* Tâm không ở bên trong

 

          Kinh Lăng Nghiêm gạn hỏi cái tâm, nói “tâm chẳng ở bên trong”, đó là nói về chân tâm. Nếu là cái tâm vọng tưởng thì cũng có thể nói là ở bên trong. Ư này vi diệu, chẳng dễ nói với kẻ không biết. Sách thế tục chép: “Tâm tàng thần”. Thần tức là tên gọi khác của vọng tưởng. Cái được gọi là Tâm [trong câu nói trên đây] chính là nói về quả tim thịt. Có kẻ nghĩa học[88] nghe tôi nói bèn lắc đầu chẳng tin. Nay xin dùng Sự để nói rõ: Người ngủ say, đùa bỡn dùng vật đè lên tim, sẽ bị bóng đè, hoặc tay của chính mình lỡ đè lên tim th́ cũng bị bóng đè. Lại còn đùa bỡn vẽ mặt người đang ngủ, có khi người đó mê mệt đến chết. Đó là bằng chứng rõ rệt tâm ở bên trong vậy.

Nghĩa học nói: “Như thế thì chân và vọng trở thành hai vật?” Đáp: Ông chỉ biết chân và vọng chẳng hai, chẳng biết chân và vọng tuy là một mà thường hai, tuy hai mà thường một. Chẳng thấy nước và băng đó sao? Nước và băng chẳng hai, ai không biết? Nhưng nước trở thành băng th́ nước lưu động không có nơi chốn nhất định, c̣n nước đông cứng [thành băng] thì có nơi chốn thường hằng. Chân chẳng có nơi chốn, vọng thì có, cũng giống như vậy đó. Từ chân dấy vọng, ngoài vọng chẳng có chân, giống như nước kết thành băng, ngoài băng chẳng có nước. Vì thế, cái Thể của nó thường một, mà Dụng thường hai.

Kẻ nghĩa học nói: “Đó là sự suy đoán của ông, hoàn toàn trái nghịch kinh Lăng Nghiêm, hễ có chứng cứ thì chấp nhận được!” Đáp: Có chứng cứ! Chứng cứ ở ngay trong kinh Lăng Nghiêm, nhưng chính các ông chẳng suy xét. Kinh dạy: “Nhất mê vi tâm, quyết định Hoặc vi sắc thân chi nội. Tuy tại sắc thân chi nội, bất phương Thể biến thập phương. Chánh biến thập phương chi thời, bất phương hiện tại thân nội” (Hễ mê thì là tâm, quyết định lầm tưởng là [tâm] ở trong sắc thân. Tuy ở trong sắc thân, chẳng trở ngại cái Thể trọn khắp mười phương. Ngay trong lúc trọn khắp mười phương, chẳng trở ngại hiện ở trong thân). Điều này có nghĩa là phá hết vọng tưởng thì mới có thể chứng. Tôi và ông vẫn còn trong vọng tưởng, chỉ là nói quẩn quanh mà thôi!

 

* Căn bản của sanh tử

 

          Hoàng Lỗ Trực[89] nói: “Tìm cầu Thiền duyệt sâu xa, soi tan cội rễ sanh tử, thì lo, sợ, dâm, giận chẳng có chỗ đặt chân. Chỉ cần cái rễ bị khô thì cành, lá tự héo úa”. Đấy là luận định chí lý, nhưng chưa nói rõ điều gì là cội rễ của sanh tử. Hơn nữa, Thiền duyệt yếu khẩn tại chữ Chiếu Phá. Nếu đạt được Thiền duyệt, liền nói là trọn đủ tột bậc, giữ lấy sự u nhàn bên trong; đó chính là cội rễ của sanh tử. Cần phải dốc sức tham cứu cùng tận, thấy rõ rành rành bổn tánh của chính mình thì sanh tử chẳng có chỗ đặt chân. Sanh tử còn chẳng có chỗ để đặt chân thì lo, sợ, dâm, giận sẽ do đâu mà sanh?

 

* Người nước Tề

 

          Tử Dư Thị (Tăng Sâm) lập ra thí dụ về người nước Tề, phân minh tựa một quyển tranh, lại giống như trong một tòa nhà lập sân khấu diễn tuồng. Nó mô tả, hình dung trọn đủ các thói xấu. Đọc đến thí dụ này mà chẳng kinh hãi, hối hận, tỉnh ngộ, thì là gỗ, đá vậy! Tuy vậy, danh lợi cố nhiên là lẽ thường tình của người đời, nhưng nơi kẻ tại gia thì chưa đáng để quở trách sâu xa, chứ kẻ áo nhuộm (người xuất gia) mà giữ thói của người đất Tề, tôi chẳng biết cái tâm kẻ ấy như thế nào nữa? Ôi chao, thảm thương thay!

 

* Chí thành cảm động người khác

 

          Dương Hộ[90] gởi tặng rượu cho chủ soái của quân địch, chủ soái uống rượu chẳng nghi, bảo: “Há có chuyện Dương Thúc Tử (Dương Hộ) dùng rượu đầu độc kẻ khác ư?” Chẳng do một niềm chân thành đáng tin phục, sao có thể cảm động người khác đến mức ấy! Nay kẻ xưng là Thích tử, ắt phải giữ chữ tín với lục đạo chúng sanh như thế thì mới được. Lại còn như vua Đường Văn Tông tha tử tù, ước định ngày trở lại, người ấy quay lại chẳng lỡ hẹn. Tuy người đời sau bàn luận chê trách, nhưng cử chỉ ấy của Đường Văn Tông quả thật là ngàn đời hiếm có, sao có thể chê bai? Chẳng do một niềm chân thành đáng tin phục, sao có thể cảm động người khác đến mức ấy! Nay kẻ được gọi là Thích Tử, chẳng ngờ vực lục đạo chúng sanh, ắt cũng phải như thế đó thì mới được. Kinh Dịch nói: “Trung phu, đồn ngư cát” (sự đáng tin cậy phát xuất từ lòng trung thực thì lợn, cá đều bị cảm động; đó là điều tốt lành). Tôi thấy hai chuyện ấy, rất tin tưởng [câu nói này].

 

* Thân cận thiện tri thức

 

          Tiên đức nói: “Ví như người hèn tệ cầm đuốc, chẳng do người ấy hèn tệ mà chẳng dùng [ánh sáng từ ngọn đuốc ấy] để chiếu soi”, ư nói Khổng Tử chẳng do con người [hèn tệ] mà bỏ lời [chánh đáng] của kẻ ấy. Kẻ viện cớ bèn nói “chẳng cần phải chọn thầy là người hiền, chỉ cậy vào ngôn luận và học thức của người ấy là đủ rồi! Kẻ ấy chẳng có đức, ăn nhằm gì đến ta?” Rồi nương theo [vị thầy ấy], chẳng trái nghịch, nào biết chi lan hay bào ngư[91] dần dần nhiễm thành tánh ư? Luận Ngữ nói: “Bất dĩ nhân phế ngôn” (Chẳng do tư cách của con người mà vứt bỏ lời nói chánh đáng của người ấy). Lại nói: “Nhân bất thất kỳ thân, diệc khả tông dã”[92] (Do chẳng bỏ lỡ người đáng thân cận (hiền nhân), chính mình cũng có đức hạnh đáng để noi theo), sao chẳng gộp lại để suy xét?

 

* Niệm Phật không chuyên nhất

 

          Xưa kia, khi tôi ở trong chốn rèn luyện, vị phương trượng bảo đại chúng rằng: “Trong ngày Trung Nguyên, hãy nên cử hành Vu Lan Bồn Trai”. Tôi bèn sắp đặt đồ cúng. Chốc sau, chẳng cử hành trai hội, chỉ niệm Phật ba ngày mà thôi. Lại nghe nói xưa kia có vị viện chủ bị quan phủ bắt giam. Vị tọa chủ thứ nhất trong chùa nhóm họp đại chúng tìm cách cứu giúp. Đại chúng trì tụng cũng chỉ là lớn tiếng niệm Phật mà thôi. Hai chuyện này vượt xa lẽ thường t́nh, có bản lãnh của bậc đại nhân, thật sự đáng để noi theo.

Kẻ niệm Phật hiện thời, tuy gọi là “chuyên tu, nhưng đến khi cầu đảo thọ mạng bèn tụng kinh Dược Sư, để giải tội bèn niệm Lương Hoàng Sám, để cứu ách nạn bèn dùng chú Tiêu Tai, để cầu trí huệ thì dùng Quán Âm Văn, c̣n niệm Phật th́ bó chặt, cất lên gác cao, coi như chuyện vô bổ. Chẳng nghĩ đức Phật ấy thọ mạng vô lượng, huống gì thọ mạng trăm năm ư? Chẳng nghĩ niệm đức Phật ấy có thể diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử, huống hồ tội cấu, nạn ách trước mắt ư? Chẳng nghĩ đức Phật ấy nói: “Ta dùng ánh sáng trí huệ chiếu rộng vô ương thế giới”, huống hồ cái gọi là trí huệ của người đương thời ư? Thuốc A Già Đà trị chung vạn bệnh, nhưng tâm hai ba ngả, chẳng chịu tin tưởng để uống lấy, công khéo thần thánh cũng đành chẳng biết làm sao được!

 

* Kỹ nhạc[93]

 

          Có người nói rằng: - Chẳng tấu kỹ nhạc và cũng chẳng đi xem, nghe. Đó là luật Sa Di, chẳng phải là đạo Bồ Tát. Thời cổ có quốc vương, đại thần dùng trăm ngàn loại kỹ nhạc cúng Phật, đức Phật chẳng cự tuyệt, nghĩa là chuyện như thế nào?

Ngu tôi cho rằng chuyện y có ba nghĩa:

- Một là thánh phàm chẳng thể luận định nhất loạt như nhau được.      

- Hai là tà chánh chẳng thể luận định nhất loạt được.

- Ba là tự tha chẳng thể luận định nhất loạt được.

“Ta” là pháp vương, tự tại trong các pháp, nghịch hành, thuận hành, trời c̣n chẳng thể lường được. Đó là hành vi của bậc đại thánh nhân, phàm phu chẳng thể bắt chước được. Đó là một.

Biên soạn những chuyện xưa nay thành tuồng tích, thì trên là Hương Sơn, Mục Liên, hoặc Đàm Hoa v.v… trong thời gần đây, dùng chánh pháp xuất thế gian để cảm ngộ người đương thời. Kém hơn là [chuyện của] trung thần, hiếu tử, nghĩa sĩ, trinh nữ v.v… dùng chánh pháp thế gian để cảm ngộ người đương thời. Những loại như thế, cố nhiên là có xem vẫn vô hại. Vì sao vậy? Nếu những loại như thế ấy chẳng thể xem thì sách, sử, truyện ký cũng chẳng thể xem. Do sách vở dùng ngôn từ để ghi chép sự, còn [tuồng tích] dùng người để hiển sự, có cùng một ý. Còn như [những thứ ca hát, tuồng tích] hoa nguyệt tung hô, can qua đấu đá, xui dâm, gợi sát, khêu dục, tăng buồn, tuy tợ hồ trào phúng sự tối tăm, nhưng thật ra là trưởng dưỡng sự phóng dật, người bạch y còn nên kiêng dè, huống hồ Tăng ni ư? Đó là hai.

Ngẫu nhiên tự xem còn được, chứ ắt phải dạy người khác xem thì chẳng được! Đó là ba. Hãy thận trọng!

 

* Thân là di thể của cha mẹ

 

          Trong mộng, tôi bỗng nhớ tới bệnh của song thân nguy ngập, hết sức buồn bã. Lại nói “hãy còn tạm được” để tự an ủi đôi chút. Đang trong lúc suy tính cực lực điều trị, bỗng mộng thấy, lại hết sức buồn bã. Lại tự an ủi: “Hãy còn được!” Nay thân này của ta là di thể của cha mẹ. Khi ta còn tấm thân, hãy dùng di thể của cha mẹ để tận lực làm các thiện sự. Đó là cha mẹ diệt mà bất diệt vậy, huống hồ tận lực học vô sanh ư? Đánh mất thân thể hiện thời, chẳng tự gắng sức, sẽ là chuyện đáng hận to lớn! Lớn lao thay! Sao ngươi có thể điềm nhiên cho được?

 

* Thí dụ ra khỏi hang (1)

 

          Kinh Thi vịnh chim, nói chim từ hang sâu thoát ra, dời sang cây cao. Đó là luận định “tránh thị phi, thận trọng đối với lấy, bỏ”. Xưa kia, ngài Đức Sơn soạn Thanh Long Sao, thoạt đầu cho rằng: “Tu luyện ba A-tăng-kỳ mới được thành Phật, còn gã ma ở phương Nam nói ‘hễ ngộ là xong’, ta sẽ đến diệt giống loài ấy hòng báo ơn Phật”. Ngay trong khi ấy, một bầu hảo tâm chân thật canh cánh trong tâm khảm, hoàn toàn chẳng biết kiến giải của chính mình sai lầm. Cho tới khi được một bà cụ giáo huấn, đích thân gặp ngài Long Đàm, bèn vứt bỏ những gì mình quý báu, trân trọng bao năm như cỏ mục. Do vậy, Sư có thể rốt cuộc trở thành đại khí, rạng ngời trong thời Mạt Pháp. Nếu như Ngài bị trầm trệ, phong kín trong sự suy đoán, ngã mạn tự cho mình là hiền, ví như kẻ nghèo túng trân trọng, giấu kín đá núi Yên[94], ngược ngạo báng bổ thương lái người Hồ ghen ghét báu vật của mình, dẫu có trăm bà cụ, ngàn ngài Long Đàm, cũng chẳng làm như thế nào được!

 

* Thí dụ ra khỏi hang (2)

 

          Các vị La Hán như ba vị Ca Diếp[95], Mục Kiền Liên trước kia học theo ngoại đạo, đã có thành tựu, chứng nghiệm, tự phụ chẳng cạn. Nhưng vừa nghe đức Phật dạy, vừa thấy Phật, lập tức thay đổi, vứt bỏ những gì mình đã tôn sùng bao năm như lông hồng. Do vậy, các Ngài có thể nối tiếp huệ mạng của Phật, là bậc thầy gương mẫu cho muôn đời! Giả sử đối với những lời được nghe trước đó cứ giữ chặt trong lòng, ương ngạnh giữ chủ kiến, tự vững chắc như tường vách, ví như người bệnh giữ chết cứng cách chữa trị cũ, dẫu có phương thuốc mới, vẫn lắc đầu chẳng ngó ngàng, dẫu ngàn vị Phật xuất thế, cũng chẳng thể làm như thế nào được?

 

* Dùng viên bánh gạo gạt trẻ

 

          Tôi nhớ thuở tại gia, một đứa trẻ ban đêm đòi vằn thắn[96], khi đó, cửa chợ đã đóng, người nhà không làm cách nào được, đem hoàn mễ phấn[97] cho nó, nó khóc lóc, không nhìn tới, mẹ nó rất giận. Tôi nói: “Chuyện dễ mà!” Bèn lấy viên bột gạo ép dẹp, đứa trẻ cầm lấy, im bặt rồi cười. Khi đó, tôi nói: “Trẻ dễ bị lừa như thế đó!” Do vậy, biết người đời nay khinh Tịnh Độ, trọng Thiền Tông cũng giống như thế đó. Nói dùng Tịnh Độ như canh bột viên tròn thì khóc, đổi thành viên bột gạo dẹp là Thiền Tông bèn cười; điều này thật sự có khác gì đứa trẻ đâu? Buồn thay!

 

* Lo, vui

 

          Người nghèo lo không có tiền tài, hâm mộ người giàu vui sướng, chẳng biết người giàu có nỗi lo của người giàu. Kẻ hèn lo không có chức quan, hâm mộ niềm vui của bậc quý nhân, chẳng biết quý nhân có nỗi lo của quý nhân. Kẻ nghèo, kẻ hèn, kẻ giàu, quý nhân, ai nấy đều lo chẳng đủ, hâm mộ người làm vua thiên hạ, coi đó là niềm vui tột cùng của người đời, chẳng biết người làm vua thiên hạ bèn có nỗi lo của người làm vua thiên hạ, lại còn chẳng biết nỗi lo ấy hết sức nặng nề, mà cũng không biết vua ngược lại hâm mộ niềm vui của quần thần, dân chúng! Than ôi! Đều là vọng. Chỉ riêng người trí là có thể hai đằng đều không lo, mừng, trụ trong chẳng lo, mừng; đó cũng là vọng, chẳng phải là bậc đại triệt đại ngộ sẽ chẳng có phần!

 

* Cội nguồn và cành nhánh

 

          Người thời Mạt Pháp học tập kinh luận, phần nhiều chuộng nơi danh tướng rườm rà, khó ghi nhớ, nghĩa lý u huyền khó thể phân tích, văn ẩn tàng, câu trúc trắc khó thể thấu hiểu, dùng đó để khoe tài biện bác, khoe khoang mới lạ, nhưng “tăng sĩ phải đặt vững chân nơi đại sự nhân duyên” thì bỏ mặc chẳng nghe nói tới! Lại có biết danh tướng, nghĩa lý, câu chữ đều từ đó (từ đại sự nhân duyên) lưu xuất hay chăng? Do vậy, dốc sức nơi cành lá, mê mờ nguồn cội. Vì thế, ngài Vĩnh Gia than dài, cho nên nói: “Chỉ đạt được cái gốc, chẳng lo cái ngọn”. Chỉ sợ người hiện thời chẳng tin nổi điều này, chẳng buông xuống được mà thôi!

 

* Mong thấy Côn Luân

 

          Đời Hán, Trang Bá Vi mỗi khi mặt trời lặn, đều ngoảnh mặt về phía Tây Bắc, nghĩ tưởng núi Côn Luân[98]. Lâu ngày, thấy tiên nhân ở Côn Luân truyền pháp, đắc độ. Cách này hơi tương tự với pháp nhật quán ở phương Tây [trong Quán Kinh], nhưng thuộc vào vọng tưởng, chẳng phải là tu chánh quán. Vọng tưởng tích tập lâu ngày, do lòng tinh thành cùng cực, còn được toại nguyện trông thấy, huống hồ nhất tâm chánh quán, tam-muội thành tựu mà chẳng vãng sanh ư?

 

* Biện định sự hư ngụy của sách Thiền Dư Không Đế

 

          Ngô quận khắc in một quyển sách có tựa đề là Thiền Dư Không Đế, ghi tên của kẻ chẳng ra gì này, tức là Vân Thê Châu Hoằng soạn. Người khắc sách này vốn vì kiếm lợi, vốn chẳng có ác tâm, tợ hồ chẳng cần phải biện định. Nhưng sợ rằng những vị tăng mới học tin rằng sách ấy do kẻ không ra gì này soạn; do vậy, bị trôi giạt thì mối hại chẳng nhỏ, chẳng thể không biện định. Trong sách liệt kê sự thưởng ngoạn u nhã bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông gồm ba mươi ba điều. Tôi chỉ trích lấy một hai điều để đại diện cho những điều khác.

Điều thứ nhất là tại Cô Sơn, ngắm hoa mai dưới ánh trăng. Trong ấy nói dưới trăng vào buổi hoàng hôn, nâng chén ngâm nga, thưởng ngoạn. Phàm người xuất gia chẳng tọa Thiền trong đêm thanh, mà nếm rượu thưởng thức hoa thì là tao nhân hiệp khách. Kẻ chẳng ra gì này là một ông Tăng giữ bổn phận từng chút, há có phong vị đại giải thoát ấy? Đó là một điều nực cười.

Điều khác là nơi Đông Thành xem lúa mạch. Kẻ chẳng ra gì này sống trong núi thẳm vùng Tây Nam, đến Đông Thành cực xa, chẳng xem tùng, trúc nơi núi ấy, lại đến đó để ngắm lúa mạch ư? Đó là một điều nực cười!

Điều khác là nói xem cỏ Xuân tại Tam Tháp Cơ. Tôi cả đời chẳng biết Tam Tháp Cơ ở chỗ nào? Đó là một điều nực cười.

Điều khác nói xem liễu tại lầu Sơn Mãn. Trong ấy còn nói lầu do kẻ chẳng ra gì này dựng. Trước nay, tôi không có tấc đất, mảnh ngói tại Tây Hồ, do duyên gì mà có sản nghiệp riêng ấy? Đó là một điều nực cười.

Điều khác nói ngắm hoa đào ở Tô Đê, trong ấy, sánh ví hoa đào với mỹ nhân. Những lời dâm diễm ấy há kẻ đã xuống tóc, y nhuộm có nên thốt ra hay chăng? Dẫu kẻ chẳng ra gì này lúc còn chưa xuất gia, cũng chưa từng nói. Đó là một điều nực cười.

Điều nữa thì nói xem liễu ở Tô Đê, trong ấy có trích dẫn nếu làm thơ chẳng thành, sẽ phạt uống rượu theo lệ của Kim Cốc[99]. Kẻ chẳng ra gì này là người xuất gia, chưa hề làm câu đối, làm thơ với người khác, huống chi đấu rượu! Đó là một điều nực cười.

Một điều nữa nói đêm có tuyết, nướng khoai bàn chuyện Thiền; những lời đàm luận được trích dẫn trong ấy đều là lời thô lậu, ai sẽ bị những lời ấy lay tỉnh? Đó là một điều nực cười.

Những người hảo tâm xuất gia sẽ biết chắc chắn kẻ chẳng ra gì này không nói những lời đó. Đã làm tăng, ắt cần phải giữ gìn Thanh Quy, dốc sức tu hành, đừng lầm tưởng phong lưu phóng khoáng là cao Tăng. Châu Hoằng kính bạch.

 

* Các loại pháp môn

 

          Ví như quân nhà vua thảo phạt, đối trận giao chiến, coi giết giặc là toàn thắng; nhưng giết giặc thì dùng gươm hoặc giáo, hoặc chùy, hoặc kích, cho đến tên, đạn, tùy ý dùng đủ thứ, chỉ cốt sao tinh thông một kỹ năng mà thôi! Dùng điều này để sánh ví người học th́ vô minh Hoặc chướng giống như kẻ giặc, các loại pháp môn như gươm, giáo v.v… phá diệt Hoặc chướng, giống như đạt được toàn thắng. Do vậy biết: Chẳng bàn đến dụng cụ để giết, chỉ cần giết được giặc. Giặc đă bị giết thì đại sự đã hoàn tất. Những dụng cụ để giết như đã nói đều là chiếc bè để vượt sông, chẳng nhất quyết phải to lớn, cứ khăng khăng bảo gươm có thể giết người, chứ giáo chẳng thể giết được, há có lẽ ấy hay chăng? Người tham Thiền chê bai người niệm Phật chấp tướng, người chăm tu tập quở trách người tu Định là rơi vào rỗng không, cũng giống như thế đó. Do vậy, kinh dạy: “Quy nguyên vô nhị đạo, phương tiện hữu đa môn” (Về nguồn chẳng hai đạo, phương tiện có nhiều môn). Tiên đức nói: “Như người đi xa, mong sao đến nơi, chứ chẳng cưỡng chia trên đường đi là khó hay dễ”.

 

          Bồ Tát giới đệ tử Lưu Huệ Văn suất lãnh con là Tánh Trạch quyên tiền khắc in. Nguyện khắp những những người thấy nghe sẽ phá trừ tà chấp, khai phát chánh kiến, trực tâm niệm Phật, vãng sanh tịnh vực.

          Tháng Tư mùa Hạ năm Quang Tự 24 (1898), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.

 

10. Trúc song nhị bút (竹窗二筆)

Đời Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn

         

* Chú Bát Nhã

 

           Bát Nhã Tâm Kinh chép: “Bát Nhã Ba La Mật Đa là đại thần chú, là đại minh chú, là vô thượng chú, là chú không gì sánh bằng”, tức là nói Bát Nhã là chú, chẳng phải nói về bốn câu “yết đế, yết đế”. Người hiện thời chỉ biết chú thuộc về Mật Bộ, nhưng Bát Nhã Tâm Kinh thuộc về Hiển Bộ, mà Hiển Bộ cũng là chú! Người trì chú thường sơ sót, chẳng suy xét điều này. Hơn nữa, bốn chữ A Di Đà Phật đều là tiếng Phạn, nếu người đời trước chẳng chú thích thì có khác gì Đại Minh[100], Chuẩn Đề, Mật Bộ? Người hiện thời chỉ biết Đại Minh, Chuẩn Đề là chú, nhưng đối với danh hiệu Phật Di Đà thì danh hiệu Phật cũng là chú. Đấy là điều người trì chú sơ sót, chẳng suy xét tới!

 

* Nho Đồng Bồ Tát

 

          Tương truyền Khổng Tử có hiệu là Nho Đồng Bồ Tát. Có người nói rằng: “Phu tử của ta là tổ của tư văn[101] muôn đời mà gọi là Đồng (, bé trai). Đồng là ấu, mà ấu là nhỏ. Họ cho thầy của ta là thơ dại, lạ gì nhà Nho chê trách Phật? Lại nữa, tăng còn gọi là tỳ-kheo (比丘, tỷ khưu). Mà Khưu (, Khâu) mà tên húy của Phu Tử. T () là sánh bằng. Tăng là đệ tử của Phật, mà cùng hàng với phu tử. Họ còn cho thầy ta là đệ tử, trách sao nhà Nho chê trách Phật?”

Chẳng phải vậy! Đồng () là từ ngữ ca ngợi sự thuần nhất, chẳng dối trá. Văn Thù là thầy của bảy vị Phật, mà được gọi là Văn Thù Sư Lợi Đồng Tử. Thiện Tài đắc Vô Thượng Bồ Đề ngay trong một đời, mà gọi là Thiện Tài Đồng Tử. Cho đến trong bốn mươi hai địa vị hiền thánh có Đồng Chân Trụ (童真住, tức địa vị thứ tám trong Thập Trụ), đều nhằm tán thán đức cùng cực. Do vậy nói: “Đại nhân là người chẳng đánh mất tấm lòng của trẻ thơ”, chẳng phải là “thơ dại”. Còn như tỷ-khưu (tỳ-kheo) là tiếng Phạn. Tỳ-kheo (Bhikṣu) trong tiếng Phạn có nghĩa là Khất Sĩ, cũng gọi là Phá Ác, cũng gọi là Bố Ma (怖魔, làm cho ma kinh sợ). T chẳng có nghĩa là “sánh bằng”, do chỉ mượn âm, chẳng giữ lấy [ý nghĩa của] chữ.

 Ví như, tiếng Phạn nói “nam-mô” (南無, nam vô), phương này dịch là Quy Mạng. Nam chẳng phải là Nam trong Nam Bắc. Vô chẳng phải là Vô trong Hữu Vô. Ôi! Nếu phu tử sanh tại Thiên Trúc, ắt sẽ diễn dương Phật pháp để độ chúng sanh. Nếu Thích Ca thị hiện tại nước Lỗ, ắt sẽ nêu tỏ Nho giáo để dạy muôn đời. Ấy là vì đổi chỗ thì sẽ đều là như thế. Việc làm của bậc đại thánh nhân, cố nhiên phàm tình chẳng thể biết được! Nhà Nho chẳng thể hủy báng Phật, riêng người theo Phật có thể hủy Nho ư?

 

* Lâm Tế

 

          Tiên đức có nói: “Nếu Lâm Tế không xuất gia, ắt sẽ cừ khôi giống như Tôn Quyền, Tào Tháo”, sao lại sánh ví Lâm Tế như Tôn, Tào? Đó là sánh về trí, chẳng phải xét theo đức. Viên Thiệu[102] nói “sanh con thì phải nên như Tôn Trọng Mưu[103]”, mà Khổng Minh cũng nói Tào Tháo dụng binh gần như Tôn Ngô[104], có thể biết [Tào Tháo] là bậc trí. Nếu chẳng dùng cái trí ấy nhọc nhằn bên ngoài, mà dùng trí ấy để xoay chuyển bên trong, vận dụng trọn hết diệu toán thần cơ vào Bát Nhã, có gì mà chẳng đắc đạo? Cổ đức lại nói: “Tất Đạt (thái tử Tất Đạt Đa) nếu chẳng xuất gia, ắt làm Chuyển Luân Thánh Vương”. Đó luận định cả trí lẫn đức, tuy lớn nhỏ khác nhau, nhưng có cùng một ý.

 

* Núi Nhạn Đãng

 

          Thiên Thai và Nhạn Đãng được gọi là danh sơn của vùng Lưỡng Chiết, nhưng Nhạn Đãng càng kỳ lạ, có người coi thường ngàn dặm, mang lương thực đến du ngoạn. Trước kia, tôi nhận lời thỉnh sang Thái Bình, cách Nhạn Đãng chỉ một do-tuần. Kỳ hạn đã mãn, viện chủ mời tôi đến Nhạn Đãng chơi. Tôi sắp đi, những người vui thích theo tôi đi chơi hơn một trăm người. Do suy xét núi ấy đã lâu không tiếp đãi, nếu tôi quẩn quanh dạo xem khắp, đi về chẳng dưới nửa tháng, tốn đến mấy thạch[105] gạo. Tự viện nghèo chẳng thể chi nổi, bèn kiên quyết ngăn lại. Đại chúng không vui, tôi bèn an ủi rằng: “So với sự thù thắng của Nhạn Đãng, trong Chấn Đán còn có những nơi trội hơn. Dẫu là chỗ tối thắng trong Chấn Đán, chẳng thể bằng cung trời. Cung trời lần lượt [càng lên cao] càng thù thắng hơn, vẫn chẳng bằng Tây Phương Cực Lạc thế giới. Các ông chẳng hâm mộ Cực Lạc mà cứ khăng khăng hâm mộ Nhạn Đãng là vì sao vậy?” Rốt cuộc chẳng đi!

 

* Hối hận chẳng làm tăng

 

          Tể tướng đời Đường là Đỗ Hoàng Thường[106], lúc lâm chung tự hối chẳng được làm Tăng, dặn [người nhà] cạo tóc, cho ông mặc y nhuộm để khâm liệm. Lại còn đời Tống, có quan chấp chánh nổi tiếng là X… cũng để lại di mạng như thế. Đấy chẳng phải là do giữ vững chánh nhân đời trước, sao có thể có thể ở trong địa vị lớn mà tỉnh ngộ chẳng mê muội? Khi Phong, Hỏa ly tán, có bản lãnh sáng ngời như thế. Nhưng có hai cách nói: Hoặc là do một niệm mê, đến chết mới trở lại cội gốc. Hoặc là do thị hiện hòng cảnh tỉnh, giác ngộ những kẻ đồng hàng cũng chưa thể biết được!

 

* Biến Phật pháp thành tình cảm thông tục

 

          Ngài Diệu Hỷ tự nói: “Xưa kia, được trưởng lão Vô Nhãn ấn chứng bừa bãi, về sau gặp lão nhân Viên Ngộ thì mới đại triệt, bèn tự lập thệ ràng buộc: Nhất định chẳng biến Phật pháp thành tình cảm thông tục”. Có thể nói là ngài Diệu Hỷ đại từ đại bi, đúng là con mắt chân thật muôn đời cho trời, người. Tiếc là tôi sanh sau đẻ muộn, chẳng được đích thân phụng sự, đáng tiếc hận lắm! Nhưng ngài Diệu Hỷ nói trưởng lão Vô Nhãn dùng cái ấn bí đao[107] để ấn chứng cho người học, nay người học phần nhiều dùng ấn bí đao để ấn chứng chính mình, ngài Diệu Hỷ mà trông thấy sẽ lại như thế nào nữa?

 

* Y bát của ngài Hoàng Mai

 

          Cổ đức dạy đại chúng rằng: “Y bát của Hoàng Mai chẳng phải chỉ là hạng ‘luôn luôn siêng lau chùi’ chẳng đạt được, ngay cả bọn ‘chỗ nào bám bụi bặm?’ cũng chẳng đạt được! Hãy nói xem rốt cuộc là như thế nào mới đáng được y bát?” Một vị tăng nêu ra chín mươi chín câu chuyển ngữ, đều chẳng khế hội, cuối cùng nói: “Nhất định phải muốn y bát của người khác để làm gì?” Cổ đức bèn hoan hỷ chấp nhận. Ôi! Thầy có thể nói là “giết người thấy máu”, có thể nói đệ tử là thẳng thừng đến cùng tận đáy vậy!

 

* Nhĩ Căn Viên Thông

 

          Kinh Lăng Nghiêm chọn lựa pháp viên thông, chỉ chọn lấy Nhĩ Căn. Nhưng đức Thế Tôn là vị chủ của sự giáo hóa, hướng dẫn trong một thời, do thấy sao Mai mà ngộ. Ngài Ẩm Quang (Ca Diếp) là vị tổ truyền đăng muôn đời, do thấy [đức Thế Tôn] giơ cành hoa mà ngộ, đều là thuộc về Nhãn Căn, đó là như thế nào vậy? Điều này có hai nghĩa: Một là nghĩa tùy thuận chúng sanh, do giáo thể chân thật của phương này thanh tịnh do nghe tiếng. Hai là nghĩa trừ khử chấp trước. Chúng sanh đâu đâu cũng chấp vào Văn Viên Thông, chỉ đề cao Nhĩ Căn, cho rằng các căn khác chẳng thể nhập đạo. Vì vậy, đối với bậc hào kiệt, căn nào cũng viên thông, như người đại phước đức dẫu cầm đá cũng thành chất báu. Người khéo đọc Lăng Nghiêm sẽ hiểu tường tận.

 

* Thế giới Cực Lạc

 

          Chắc là có kẻ nghi kinh Hoa Nghiêm nói Cực Lạc chỉ hơn Sa Bà, mà kinh Đại Bổn Di Đà nói [Cực Lạc] hơn hẳn mười phương, là vì sao? Có kẻ bảo: Hơn hẳn mười phương tức chỉ là mười phương gần Sa Bà, chẳng phải là mười phương trong thế giới Hoa Tạng. Nói kiểu ấy cũng đúng, nhưng chưa trọn hết. Ấy là vì nói “chỉ hơn” tức là dùng ngày đêm để so sánh, cho nên nói “một kiếp trong Sa Bà là một ngày đêm trong cõi Cực Lạc. Một kiếp trong cõi Cực Lạc là một ngày đêm trong cõi Ca Sa Tràng”, lần lượt trải qua hằng sa thế giới cho tới cõi Thắng Liên Hoa, tức là chuyên xét theo phương diện thời gian dài hay ngắn, chẳng phải là so sánh hơn kém nơi toàn thể. Nếu không, do ngàn vạn năm trong nhân gian là một ngày đêm trong địa ngục, sẽ coi địa ngục thù thắng hơn nhân gian ư? Lại phỏng theo đó, nếu cứ chấp chặt vào thân lượng cao, thấp để so sánh hơn kém thì do Lô Xá Na Phật chỉ cao một ngàn trượng, mà Tu La cao tám vạn bốn ngàn do-tuần, sẽ coi Tu La hơn hẳn đức Lô Xá Na ư? Do vậy, nói “Cực Lạc hơn hẳn mười phương” chính là nói về sự xa rộng th́ cũng chẳng ngăn ngại!

 

* Một lời chuyển ngữ

 

          Tiên đức khai thị học nhân, nói: “Ta nay chẳng bàn đến Thiền Định, trí huệ, thần thông, biện tài của ngươi, chỉ cần ngươi nói một câu chuyển ngữ đích đáng”. Người học nghe câu ấy, liền ngày đêm học chuyển ngữ, sai mất rồi! Một lời chuyển ngữ đã tôn quý như thế, kỳ lạ, đặc biệt như thế, ắt biết chắc chắn chẳng phải là do tình thức suy đoán, hoặc do kiến giải nương vào những điều học tập thông thường để đạt được, mà phải từ đại triệt đại ngộ chân thật tự nhiên lưu xuất. Nếu hướng theo kinh giáo, hướng theo cơ duyên vấn đáp của cổ nhân, dùng thông minh tiểu trí để mô phỏng, dùi mài, hòng biện bác đằng miệng, không gì chẳng phải là lời lẽ sắc bén, mới mẻ, thật ra là gãi ngứa ngoài giày. Giả sử trong một sát-na, thốt ra hằng hà sa số chuyển ngữ, có gì dính dáng đến chính mình? Nay đừng quản chuyển ngữ có đích đáng hay không, hãy ném nó ra ngoài bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới, chỉ giữ chặt sự tham cứu của chính mình, miên mật dụng tâm, chẳng lúc nào bỏ lìa, thì khi đã ngộ thấu triệt, há lo chẳng có lời lẽ nào? Tôi tuy độn căn, chẳng dám không cố gắng!

 

* Pháp Hoa Yếu Giải (1)

 

          Đối với kinh Pháp Hoa, ngài Thiên Thai soạn [Diệu Pháp Liên Hoa Kinh] Huyền Nghĩa và [Pháp Hoa] Văn Cú to lớn, tường tận, ngài Ôn Lăng[108] soạn Yếu Giải thì tinh vi, giản ước. [Sớ giải] của ngài Thiên Thai đáng trọng, mà [lời giảng giải của ngài] Ôn Lăng cũng chẳng thể coi thường. Có người nói rằng: “Trước hết đọc Yếu Giải, sau đó tham cứu Huyền Nghĩa và Văn Cú, [sẽ thấy] hơn kém cách biệt rất xa, nói chẳng thể coi thường [tác phẩm của] ngài Ôn Lăng nghĩa là sao?” Ngài Ôn Lăng sanh sau ngài Thiên Thai, các sách như Huyền Nghĩa, Văn Cú v.v… đều đã xem qua, đối với những chỗ phân tích biện định chi ly [trong các sách ấy] chẳng phải là [ngài Ôn Lăng] không biết, nhưng Ngài đặt tên [bản chú giải của chính mình] là Yếu Giải, chính là chọn lấy những chỗ thẳng, chóng, ngắn gọn, nếu lại giải thích rườm rà, cặn kẽ cùng tận sâu xa, thì sẽ là bác giải (博解, giải thích rộng rãi), chứ chẳng phải là yếu giải! Huống h, Ngài phân khoa phần nhiều dùng những từ ngữ của ngài Thiên Thai, những chỗ chẳng dùng cũng là do có ý nghĩa riêng. Những chỗ giải văn, giảng nghĩa trong sách ấy (sách Pháp Hoa Yếu Giải) có ưu, có khuyết, người học hãy nên trống lòng, bình tâm mà nghiền ngẫm thì mới nên.

 

* Pháp Hoa Yếu Giải (2)

 

          Trong phần trước, đã nói về ưu, khuyết, tôi thử nêu khuyết điểm. Kinh dạy “ngũ chúng chi sanh diệt”, Yếu Giải giảng [ngũ chúng] là năm đường, nhưng ngũ chúng chính là tên gọi khác của ngũ uẩn. Đại Trí Độ Luận đã nói rõ nhiều lượt, thế mà giảng là năm đường, tức là chẳng khảo chứng. Thử nêu ưu điểm, như đối với chuyện ngài Dược Vương đốt thân, Yếu Giải nói là “do diệu giác viên chiếu, lìa Thân Kiến, hiểu Uẩn là Không, cho nên có thể như thế. Nếu chẳng thấu đạt sự phát khởi cái hạnh ấy, cứ hâm mộ suông dấu tích ấy, chỉ tăng thêm nghiệp khổ”. Đấy là nêu rõ chỗ ngài Thiên Thai chưa nêu tỏ, hữu ích rất sâu cho hậu học.

 

* Châu Học Dụ

 

          Ông Châu Mậu Chánh ở Gia Hòa nói:

- Cụ bác[109] ông ta là ngài Học Dụ đã hưu trí, dùng bổng lộc nhận được để dựng một gian nhà nhỏ ở ngoại thành, đọc sách trong ấy, đóng cửa không tiếp khách, dẫu con, cháu, thân thích, cho đến ấp lệnh trưởng, hiếm khi được thấy mặt cụ. Riêng có một ông bạn già, mỗi chiều sẽ đến, cùng chơi mấy ván cờ vây, ca vang mấy chương, đến tối bèn nghỉ ngơi, lấy đó làm thường lệ, cách tuyệt với cõi đời như ở trong hang cùng, non sâu. Lúc cụ tám mươi, đêm tháng Chín, bước lên cầu, trượt chân, bị bệnh nhẹ, hai con đón về. Đến khi cụ sắp mất, cầm bút đinh ninh răn nhắc đạo nghĩa, chẳng nhắc tới những chuyện vụn vặt trong nhà. Viết xong, cụ nhắm mắt, qua đời. Chốc sau, cụ mở mắt nói: “Còn muốn căn dặn Gia Định”. Gia Định là cháu nội của cụ, mới đỗ Tiến Sĩ, làm quan trấn nhậm Gia Định. Do vậy, cụ lại viết thư, dặn dò từ đầu đến cuối [cháu mình phải] giữ gìn sự thanh bạch, đừng do làm quan mà thay đổi tiết tháo lúc cuối đời. Do đấy, cụ quăng bút qua đời.

Ôi! Cụ chưa nghe Phật pháp, mà ra đi lỗi lạc, tiêu sái, người tu đã lâu chẳng thể sánh kịp. Vì sao vậy? Ấy là do tâm chẳng có vướng mắc, Phật pháp đã suy tưởng quá nửa! Những kẻ suốt ngày râm ran tụng kinh, thuyết pháp, nhưng tâm bất tịnh, lúc cuối cùng hoảng hốt, cuống quýt, đâm ra chẳng bằng kẻ tục, cũng có gì lạ đâu? Do vậy, tôi bèn cảm khái. Nếu như cụ được nghe Phật pháp, đem hết sức ngấm ngầm tu tập của cụ dốc lòng nơi Bát Nhã, lo chi chẳng thấu hiểu đại sự? Do vậy, tôi lại càng cảm khái.

 

* Lô Xá Na nơi bản thân

 

          Tăng hỏi cổ đức: “Như thế nào là Lô Xá Na nơi bản thân?” Đáp rằng: “Đưa phất trần cho ta”. Chốc sau lại nói: “Đặt vào chỗ cũ”. Tăng lý giải câu hỏi trước, nói: “Cổ Phật đã qua lâu rồi!” Sư lại nói: “Kẻ chưa hiểu hãy nghe một lời, chỉ như lúc này ai mở miệng?” Người đời sau do vậy bèn cho rằng giơ tay, nhấc chân, mở miệng phát ra tiếng là chân Phật. Đúng thì đúng thật đấy, nhưng thật ra chẳng đúng, đáng gọi là “nhận giặc làm con”. Thế rồi nhất loạt cho rằng [những cơ phong chuyển ngữ như] “cây bách, ba cân gai, trúc biếc, hoa vàng, chim ngậm, vượn ôm” v.v… [là chân Phật], há chẳng lầm lạc ư? Ngài Câu Chi[110] hễ được hỏi, liền giơ một ngón tay. Lỗ Tổ[111] gặp tăng, xoay thân nhìn vào vách. Người xưa nói: “Nếu ta xem thấy, bẻ gãy ngón tay”. Tôi cũng nói: “Chờ hắn xoay mình, ta sẽ thộp ngực, đạp ngã lăn chiêng”.

 

* Mặc áo lụa, ăn thịt

 

          Tiên sinh Hối Am (Châu Hy) bài bác Phật, ngài Không Cốc tận lực biện bác. Tuy vậy, Hối Am cũng có chỗ giúp cho Phật pháp được hoằng dương, giáo hóa, chớ nên không biết! Ông ta giải thích sách Mạnh Tử, nói: “Tuổi đã năm mươi, nếu chẳng phải là lụa thì sẽ không ấm, kẻ chưa năm mươi tuổi không được mặc. Bảy mươi tuổi thì chẳng ăn thịt sẽ không no. Kẻ chưa đủ bảy mươi tuổi chẳng được ăn”. Lông thú, kén tằm, hại vật, tổn hại lòng từ, nên đức Phật chế định [cấm dùng]. Ắt phải năm mươi tuổi mới được mặc lụa, tức là kẻ mặc lụa sẽ ít ỏi. Ăn thịt là đoạn chủng tử đại từ bi, nên đức Phật ngăn cấm. Ắt phải bảy mươi tuổi mới ăn thịt, tức là người ăn thịt ít ỏi. Nay những đứa trẻ tuổi còn ẵm bồng đã khoác nhiều lớp áo lông, lụa là, nấu mổ những thứ tươi béo đẫy miệng, chẳng đợi đến lúc trưởng thành, huống là tuổi già ư? Nếu lời Hối Am đã nói được thực hiện, há chẳng giúp chút phần cho Phật pháp ư? Người trách lỗi Hối Am chẳng xem xét [điều này]; do vậy, tôi nêu rõ ra!

 

* Chấp trước

 

          Con người luôn mắc bệnh chấp trước, nhưng cũng chẳng thể luận định nhất loạt được! Ấy là vì học tập là do ưa thích mà thành, ưa thích đến cùng cực thì gọi là Chấp. Hậu Nghệ[112] ham chấp bắn tên, Nghi Liêu[113] ham bắn đạn, Thành Liên[114] ham đàn, người ham đánh cờ vây đến mức bình phong, màn, tường vây, cửa sổ, đều chi chít quân đen, quân trắng bày thành thế cờ. Người ham thư pháp thì đến nỗi gỗ, đá trong núi đều đen thui. Kẻ học vẽ ngựa đến nỗi ngựa hiện nơi giường, chõng. Sau đấy, họ do tài nghệ ấy mà nổi danh trong thiện hạ và để tiếng cho đời sau, sao lại riêng ngờ đối với chuyện học đạo?

Do đó, người tham Thiền đến nỗi uống trà chẳng biết vị trà, ăn cơm chẳng biết là cơm, đi mà chẳng biết là đi, ngồi chẳng biết là ngồi, mở tráp quên khóa, ra khỏi nhà xí mà quên mặc áo. Người niệm Phật đến nỗi nhắm mắt, mở mắt đều thấy [Phật] trước mặt, nhiếp tâm hay tán tâm mà niệm luôn là một, chẳng nêu mà tự nêu, chẳng nghi mà tự nghi, đều là chấp. Ấy là vì tình tột bậc, chí chuyên ròng, công sâu bèn đắc lực, bất giác, bất tri, bỗng nhập tam-muội. Cũng ví như người dùi lửa, dùi không nghỉ, [gỗ] sẽ bốc lửa. Luyện sắt mà luyện không ngừng, sẽ thành thép. Điều đáng ghét đối với chấp trước là chẳng biết vạn pháp đều là huyễn, nhưng cái tâm mong đắc quả gấp gáp, chẳng biết hết thảy duy thức”, ý chấp giữ tướng sâu đậm, đó là bị ngăn chướng. Cứ nhất loạt lo ngại chấp trước, bèn ơ hờ, phè phỡn, như nước ngâm đá, dẫu trải bao năm, cùng tận kiếp số, có ích chi đâu? Do vậy, chớ nên chấp cứng vào sự ham thích, nhưng ham chấp trì thì chớ nên chẳng có.

 

* Chuộng cổ (1)

 

          Có mấy kẻ chuộng cổ, sống chung một nhà, ai nấy đem đồ cổ ra so sánh. Có người lấy ra các vật từ đời Nguyên, Tống, Ngũ Quý (Ngũ Đại), mọi người nhìn nhau cười. Thế rồi, [đưa ra các cổ vật] đời Đường, Tấn, Hán, Tần, Tam Đại, hận chẳng thể có được cái xanh của Cao Tân[115], cái dùi của Toại Nhân[116], đàn cầm của Thần Nông[117], đàn sắt của Thái Hạo[118], đá ngũ sắc do Nữ Oa Thị[119] luyện còn sót lại. Một người nói: “Những thứ các ông tích chứa đúng là cổ, nhưng chẳng phải là thái cổ, chẳng phải là thái cổ của thái cổ”. Mọi người nói: “Là mặt trời, mặt trăng ư?” Đáp: “Chưa cổ! Có trời đất rồi mới có mặt trời, mặt trăng”. “Như vậy thì là trời, đất ư?” Đáp: “Chưa cổ! Có hư không rồi mới trời, đất”. “Như vậy thì là hư không ư?” Đáp: “Chưa cổ! Tôi tích chứa vật lúc mặt trời, mặt trăng chưa sanh, trời đất chưa lập, trước lúc có không kiếp. Các ông chẳng tiếc ngàn vàng để đổi lấy một cái lò, một cái bình, một quyển sách, một bức họa, mà chẳng biết của báu thật sự cổ, cũng là mê hoặc lắm vậy!” Mọi người nhìn nhau, im lặng!

 

* Chuộng cổ (2)

 

          Chốc lát, họ bèn nói: “Đồ cổ của ông, mọi người đều có, chẳng phải chỉ riêng ông, sao quý cho được?” Đáp: “Cùng có, nhưng đều cùng mê, mê thì chẳng khác gì không có. Tuy nói là riêng tôi có, cũng chẳng sai!” Đáp: “Đồ cổ của bọn tôi trông thấy rành rành, đồ cổ của ông ở chỗ nào?” Người ấy giang hai tay chỉ, mọi người lại nhìn nhau, nín lặng!

 

* Lập nghĩa khó lắm

 

          Xưa kia, Lưu Hâm[120] lúc mới san định bản cổ văn của các sách Xuân Thu, Tả Thị, Mao Thi, Thượng Thư v.v… Khi ấy, Nho gia ghen ghét, dấy lên nghị luận như ong. Hối Am (Châu Hy) soạn Liêm Khê Thái Cực Đồ Giải, sách vừa ra đời, cả đống kẻ chõ miệng vào. Cho đến ngài Nam Nhạc vừa lập chỉ thú Bát Nhã, Sơ Tổ khai Thiền trực chỉ, [những người theo] nghĩa học chẳng chấp các thuyết ấy, gán tiếng độc hại, huống hồ người hiện thời ư? Những người bàn về lễ gọi đó là “họp nhau tranh cãi”. Lập nghĩa khó khăn lắm thay! Chẳng thể không thận trọng!

 

* Chẳng làm Phật sự

 

          Chắc có kẻ nói: “Đối với việc tang ma cho cha mẹ, chẳng làm Phật sự. Đấy là gia lễ của Hối Am”. Than ôi! Trong cõi đời có kẻ sanh con làm đến chức vụ trọng yếu, cơ mật, tiền của dư dả, nhưng chẳng được con cái vì chính mình lễ một vị Phật, tụng một bài kệ bốn câu, đãi cơm một vị sa-môn, lại còn trong bốn mươi chín ngày mổ trâu bò để biếu thịt cho họ hàng và những kẻ quen biết, coi đó là tôn sùng chánh đạo, đả phá tà thuyết! Chẳng biết đấy chỉ là tăng nghiệp thêm cho cha mẹ, giúp họ trầm luân! Nếu người chết hay biết, ắt sẽ đấm ngực, khóc than dưới suối vàng, đâm ra chẳng bằng con của kẻ nghèo báo đáp cha mẹ, há chẳng hết sức đáng thương ư? Sách Nhan Thị Gia Huấn[121] được xưa nay tán thán, nhưng trong ấy riêng nói “ắt làm Phật sự”. Họ Nhan và họ Châu đều là người hiền, hãy gộp chung lại mà xem!

 

* Bảo Miễn

 

          Sách Chân Cáo[122] nói: “Bảo Miễn chẳng biết đạo, chỉ sáng tối gõ răng[123] không ngớt, quỷ sứ chẳng thể bắt được”. Bởi lẽ, gõ răng chính là nhóm họp thần ở trong thân, thần chẳng lìa, cho nên quỷ chẳng thể đến gần được. Giả sử dùng sức gõ răng để tu chân, có chân nào mà chẳng thành? Tôi cho rằng: Há riêng gì tu chân, dùng sức gõ răng để mỗi niệm đều tham cứu chính mình, có Phật nào chẳng thành ư? Thần trong thân chỉ là một loại tinh hồn (精魂), còn có sức chế phục quỷ, huống hồ kinh nói: “Thọ trì nhất Phật danh giả, hữu bách thiên đại lực thiên thần vị chi ủng hộ” (Thọ trì danh hiệu một vị Phật, sẽ có trăm ngàn đại lực thiên thần ủng hộ). Lại nói: “Niệm Phật chi nhân, Phật trụ kỳ đảnh” (Người niệm Phật, Phật đứng trên đỉnh đầu người đó). Nay lại siêng năng gõ răng là chuyện nhỏ nhặt, cam tâm bỏ đại đạo niệm Phật, tiếc thay!

 

* Môn đình cao ngất

 

          Thời cổ, được gọi là “môn đình cao ngất” là như ngài Tịnh Danh (Duy Ma Cật) th hiện bị bệnh, các vị A La Hán đều nói: “Tôi chẳng thể kham đến chỗ ông ta thăm bệnh”. Ngài Văn Thù cũng nói: “Vị thượng nhân ấy khó lòng ứng đối”. Về sau, các vị đại lão trong Tông Môn hoặc dùng gậy, hoặc hét, hoặt dựng ngón tay, hoặc giương cung, hoặc buông một lời, như canh nấu bằng thẻ gỗ chẳng thể có mùi vị, như gươm Thái A chẳng thể chạm vào, như mặt trăng trong nước chẳng thể cầm nắm, chẳng phải là bậc thượng sĩ tham cứu đã lâu, sẽ chẳng dám vào cửa của họ. Đó gọi là “môn đình cao ngất”, há có phải là ra vẻ tôn nghiêm, thị uy, quát lớn, tạo vẻ mặt giận dữ ư?

 

* Ma dựa

 

          Ma đại lược có hai loại: Một là thiên ma, hai là tâm ma. Thiên ma dễ biết, hãy gác lại chẳng luận. Tâm ma chẳng cần phải là nổi khùng, phát điên, thậm chí khinh nhờn bậc tôn trưởng, khinh mạn người trên, chẳng hề cố kỵ, bịt đầu, cởi áo, chẳng sợ chê cười rồi mới là ma. Hễ có chấp trước, như đam mê tiền tài, đam mê sắc, đắm đuối thơ ca, đam mê rượu, đam mê thư pháp, tham đắm vẽ vời v.v… thì cũng là ma. Há chỉ có vậy mà thôi, ý vọng tưởng muốn công trùm một thuở, danh lưu trăm đời, cũng là ma! Không chỉ là như thế, dẫu tu đủ loại các thiện pháp môn, nhưng ý vọng tưởng mong mỏi thành Phật thì cũng là ma! Há chỉ phải là như thế, các loại ma như đã nói trên đây thảy đều chẳng có, mà nói “nay một mình ta tránh khỏi ma” thì cũng là ma. Vi tế lắm thay! Ma sự khó quan sát lắm!

 

* Tham học các phương cần phải có mắt

 

          Làm tăng trong thời chánh pháp chỉ sợ phân biệt người khác. Làm tăng trong đời mạt, chỉ sợ chẳng phân biệt được người khác! Vì sao? Đời Mạt bạc bẽo, cỏ thơm, cỏ thối lẫn lộn. Nếu chẳng suy xét cẩn thận, chọn lựa sai lệch, coi đúng là sai, ngỡ tà là chánh, đáng nên thân thiết mà lại lợt lạt, đáng nên tránh xa mà lại gần gũi, sẽ bị hun đúc, đắm nhiễm bởi kẻ xấu, lâu ngày sẽ hóa thành giống như họ, đời đời kiếp kiếp thường làm bạn bè của ma. Tham học các phương há chẳng cần có con mắt ư?

 

* Thân người khó được

 

          Hễ đánh mất thân người, muôn kiếp chẳng có lại được! Lời này có ai chẳng biết? Tuy biết, nhưng coi thường, chẳng chú ý, giống như chẳng biết vậy! Xưa kia, ông Tu Đạt vì đức Phật tạo thất, đức Phật chỉ con kiến trên mặt đất bảo ông Tu Đạt rằng: “Con kiến này từ thời Tỳ Bà Thi Phật tới nay, đã trải qua bảy vị Phật mà vẫn mang thân kiến”. Một vị Phật xuất thế trải qua thời gian rất dài, huống hồ bảy đức Phật ư? Sau đức Phật Thích Ca, phải qua hơn năm trăm vạn năm, Từ Thị (Di Lặc) mới xuất thế, được gọi là đức Phật thứ tám, chẳng biết con kiến ấy có thoát khỏi thân cũ hay không? Dẫu thoát khỏi thân kiến, chẳng biết ngày nào sẽ được làm thân người? Nay chỉ thấy nhan nhản người đời, chen vai thích cánh, chẳng biết được làm thân người khó lắm thay! Đã được làm thân người, điềm nhiên để luống qua, thật đáng đau tiếc lắm! Tôi giải đãi, luống uổng, chẳng thể không tự đau tiếc sâu đậm, lại thưa với người có cùng chí hướng!

 

* Sự việc sợ người hữu tâm

         

          Ngài Cao Phong tự trần thuật nguyên do đắc ngộ như sau: “Chẳng tin có chuyện lạ lùng, đặc biệt như thế đó, do sự sợ người có tâm”. Lời ấy nói về sự tự chứng của ngài, chân thật chẳng dối, người học đạo hãy nên tin chắc. Thế nào là hữu tâm? Một tài khéo, một nghề trong thế gian, lúc mới học khó khăn khôn xiết, dường như muôn phần chẳng thể thành tựu được; do vậy, bèn gác lại, chẳng học, sẽ trọn chẳng thể thành. Vì thế, lúc ban đầu cốt sao có cái tâm quyết định chẳng nghi. Tuy đã quyết định, nhưng nhởn nhơ, trì hoãn, thì cũng chẳng thành. Vì vậy, tiếp đó, cốt sao có tâm tinh tấn dũng mănh. Tuy đã tinh tấn, nhưng hoặc là được chút ít đã cho là đủ, hoặc thời gian lâu dài bèn mệt mỏi, hoặc gặp thuận cảnh bèn mê, hoặc gặp nghịch cảnh mà đọa, thì cũng chẳng thành. Do vậy, kế đó, cốt sao phải có tâm thường hằng, bền bỉ, kiên cố, thề chẳng lui sụt. Ngài Cao Phong dốc sức suốt một đời làm một gã ngây ngốc, chắc chắn phải thấy minh bạch phương thức này, đó gọi là vị trượng phu thật sự hữu tâm. Cổ nhân lại nói: “Tam-muội chẳng thành, giả sử gân đứt, xương khô, trọn chẳng ngưng nghỉ”. Lại nói: “Đạo chẳng hơn Tuyết Đậu, chẳng lại lên núi này nữa”. Lại nói: “Chẳng phá khối nghi, thề chẳng nghỉ”. Có tâm như thế, có chuyện gì chẳng làm xong? Tôi hết sức hổ thẹn, chẳng dám không gắng sức!

 

* Lão thành rồi mới lộ mặt trong cõi đời

 

          Cổ nhân sau khi đã thấu hiểu được ý, bèn ở trong hang sâu núi thẳm, nấu cái xanh gãy chân[124], náu mình bảo dưỡng, bị trời rồng thôi thúc, sau đấy mới bất đắc dĩ mà lộ mặt trong cõi đời. Người đời sau dần dần chẳng được như xưa, nhưng tôi vẫn còn thấy các pháp sư giảng kinh luận, các pháp sư thực hiện pháp Du Già thí thực, tuy đã học thành mà tuổi chưa đủ cao, họ bèn từ từ chờ đợi. Gần đây, kẻ thiếu niên đã lên pháp tòa đông lúc nhúc. Phật pháp suy dần, há cũng chẳng đúng lý ư?

 

* Nối tiếp tổ truyền đăng

 

          Cõi đời thường nói: “Hễ đại triệt đại ngộ, tiếp nối đèn tổ, nối huệ mạng của Phật, cần phải là người có phước làm thiên tử ba đời, hoặc làm trạng nguyên bảy đời thì mới được”. Lời ấy tợ hồ quá đáng, nhưng lý đúng là như vậy. Xưa kia, Trung Phong lão nhân nói: “Vô lượng kiếp sanh tử đến nay, ngày nay muốn xoay chuyển trọn hết, há có phải là chuyện dễ dàng ư?” Vì vậy, do Thập Thiện mới được sanh lên cõi trời, do Nhân Không thì mới chứng tiểu quả. Bậc Bồ Tát tích tập vạn hạnh đã lâu còn chẳng khỏi mẻ đầu sứt trán nơi Long Môn, tức là ba đời hay bảy đời vẫn là nói rất nông cạn vậy. Làm chủ trong thế gian, đứng đầu nhiều nho sĩ, vẫn là thí dụ nhỏ nhặt. Nói tột cùng, sẽ là thành tựu bởi công đức và trí huệ chẳng thể nghĩ bàn! Tuy vậy, cũng đừng nên tự nhủ khó khăn rồi gieo mình vào tuyệt vọng! Chỉ nên quyết tâm tinh tấn, gặp ma chẳng lùi, gặp nạn càng kiên quyết, nghiên cứu cùng tột chí lý, lấy ngộ làm mục tiêu, chẳng lo không có lúc tương ứng. Vì sao vậy? Do thiện căn đời trước khó lường được!

 

* Tội giết chóc

 

          Trong việc đánh thắng quân Đằng Giáp[125], Khổng Minh đã thiêu người Man ở các động thành tro, ông ta nói: “Ta tuy có công với nước, nhưng bị tổn thọ”. Người đời đều biết giết người là có tội, nhưng đối với bò, dê, chó, lợn v.v…. hằng ngày mổ nấu thì lại điềm nhiên chẳng thấy lạ, chẳng phải là coi nhẹ chuyện ấy, há vô tội ư? Lễ Ký nói: “Quân vô cố bất sát ngưu, đại phu vô cố bất sát dương, sĩ vô cố bất sát khuyển, thỉ” (Vua không duyên cớ chẳng giết trâu, đại phu không duyên cớ chẳng giết dê, kẻ sĩ không duyên cớ chẳng giết chó, lợn). Người đời đều biết giết con vật to lớn là có tội, nhưng đối với tôm, hến, ốc, sò v.v… hễ hạ đũa là tính cả trăm ngàn con, vẫn điềm nhiên chẳng lấy làm lạ, há chẳng phải là coi nhẹ chuyện ấy, lẽ nào vô tội?

Ôi! Xét ra hàm linh đều có Phật tánh, cho nên kiến và người như một, sao đáng để coi trọng hay xem nhẹ? Như kẻ quý hiển khinh miệt người hèn, mạnh lấn hiếp yếu, vậy thì con người cũng có thể giết để ăn thịt, cũng có gì là xem trọng hay coi nhẹ đáng để nói đâu? Kinh Phạm Võng dạy “phàm hữu mạng giả, bất đắc cố sát” (hễ có sanh mạng, đều chẳng được cố ý giết), ý chỉ ấy sâu thẳm thay!

 

* Chẳng thể suy đoán loạn xạ lời lẽ trong Tông Môn

 

Cổ nhân sau khi đại ngộ, nói ngang, nói dọc, nói xuôi, nói ngược, nói hiển, nói mật, mỗi mỗi đều khế hợp tâm ấn của Phật, đều là chân ngữ, thật ngữ, chẳng phải lời ngụ ngôn của Trang sinh (Trang Châu). Người hiện thời tâm chưa diệu ngộ, nhưng bẩm tánh thông lợi, ăn nói lưu loát, lén xem những lời cơ duyên vấn đáp trong các bộ ngữ lục, liền có thể mô phỏng. Chỉ cốt sao điên đảo, dị thường, đáng mừng, đáng ngạc nhiên nhằm dối gạt mắt thế tục. Như “canh ba giữa Ngọ, nửa đêm mặt trời mọc, sóng vỗ đầu non, đáy biển sanh bụi”, đủ mọi lời chẳng có nghĩa vị gì, cứ thuận miệng thốt bừa. Những kẻ không hiểu biết chẳng thể kiểm giảo, khám nghiệm, đồng thanh tán dương. Kẻ đó giả vờ lâu ngày chẳng hối cải, cũng tự cho là thật sự đắc, thậm chí “một gậy đập chết cho chó ăn”, “ở đây có tổ sư hay không? Gọi đến rửa chân cho ta”. Đối với những chỗ ấy, cũng chẳng hề kiêng dè, thường thường bắt chước. Ôi! Bàn xằng Bát Nhã, tội chẳng thể tha, đáng sợ thay!

 

* Xem ngữ lục cần tìm ra chỗ dụng tâm của cổ nhân

 

          Hễ xem văn tự trong ngữ lục của cổ nhân, chớ nên chuyên dựa theo một câu hỏi, một lời đáp, một bài niêm, một bài tụng, hoặc những chỗ cơ phong cao ngất, sắc bén, ngôn ngữ hay lạ, hòng sảng khoái tâm mục ta, giúp cho ta có cái để đàm luận. Cần phải tham cứu cùng tột người ấy vì đâu mà đạt tới chỗ đại triệt đại ngộ ấy. Trong đó, vị ấy đã tự thuật chỗ đổ công dốc sức, chỗ khắc khổ dụng tâm, hãy tuân theo đó mà hành, tức là cớ sao chẳng nương theo khuôn mẫu của vị ấy để tu? Nếu chỉ lén lút cắt xén, mô phỏng, dẫu cho lâu ngày chày tháng, mồm mép trơn bóng, nghiễm nhiên đã rối loạn sự chân thật của cổ nhân, cũng chỉ là cắt hoa đẹp, vẽ bánh trên giấy, thành ra chuyện thuộc phía nào đây?

 

* Khí ban đêm

 

          Tô Tử Chiêm (Tô Thức, Tô Đông Pha) nói ông X… chẳng học Thiền, lâm chung tự biết đã đến lúc. Các con hỏi han, bèn dạy điều thứ nhất là “canh năm bèn dậy sớm”. Các con chẳng ngộ, cho là siêng năng việc nhà. Ông bảo: “Chẳng phải vậy! Việc làm vào lúc canh năm sẽ mang theo được lúc lâm chung. Người xưa nói: ‘Muôn thứ chẳng mang được, chỉ có nghiệp theo thân’. Cái nghiệp theo thân sẽ mang đi được. Nhưng nghiệp có hai loại: Một là sự nghiệp, hai là đạo nghiệp. Sự nghiệp có thiện, có ác; hãy gác ác nghiệp lại đó. Thiện nghiệp chính là phước đã tu. Đạo nghiệp chính là huệ đã tu, nhưng ắt dùng canh năm [để sánh ví], Mạnh Tử gọi là “dạ khí”. Tuy vậy, chẳng có gì để đem đến, chẳng có gì để mang đi. Đấy chính là không chỉ canh năm, mà phải nên là thực hiện trong mỗi niệm, chẳng thể lìa trong khoảnh khắc nào!

 

* Phật Ấn

 

          Thơ của Tô Đông Pha có câu “Viễn công cô tửu diên Đào lệnh, Phật Ấn thiêu trư đãi Tử Chiêm” (Viễn công mua rượu mời Đào lệnh[126], Phật Ấn quay heo đãi Tử Chiêm). Tôi cho rằng người đại giải thoát chẳng ngại đối xử vượt ngoài khuôn khổ, nhưng mua rượu thì còn được, chứ quay heo thì quá đáng ư? Giả sử hiệp khách dùng Tử Chiêm (Tô Đông Pha) để viện cớ, cuồng tăng bắt chước Phật Ấn, khởi sự làm xằng, ai sẽ chịu tội ấy? Do vậy, chuyện này chẳng thể đáng tin! Cổ nhân nói “thi nhân mượn sự để so sánh, ngâm vịnh, chớ nên cho là thật”, đúng lắm! Nếu là có, thì Tử Chiêm chẳng bàn tới, chứ Phật Ấn sẽ bị dựa theo luật mà đuổi khỏi chùa!

 

* Học quý ở chỗ chuyên ròng

 

          Mễ Nguyên Chương[127] nói: “Học sách cần phải chuyên nhất; do vậy, không còn ham thích chi khác thì mới có thể thành công”. Nhưng tôi nghe người giỏi đánh đàn thời cổ cũng bảo là chuyên dốc sức nơi hai, ba khúc thì mới đạt được hay khéo. Lời ấy tuy nhỏ, có thể sánh ví chuyện lớn lao. Đức Phật dạy: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện” (chế ngự cho cái tâm chuyên nhất một chỗ, không chuyện gì chẳng hoàn thành). Do vậy, tâm chia thành hai nẻo, sự chẳng quy nhất; t́nh chuyên, chí dốc, tam-muội chóng thành! Người tham Thiền hay niệm Phật chớ nên không biết.

 

* Lòng Từ của Bồ Tát hơn hẳn Thanh Văn

         

          Kinh dạy: “Thanh Văn nhân ư mạ giả, hại giả, hoặc mặc nhiên, hoặc viễn ly. Bồ Tát tắc bất nhiên, cánh gia từ tâm, ái chi như tử, phương tiện tế độ. Cố viễn thắng Thanh Văn, bất khả vi tỷ” (Hàng Thanh Văn đối với kẻ chửi bới, làm hại thì hoặc là im lặng, hoặc xa lìa. Bồ Tát chẳng phải vậy, càng tăng thêm lòng từ, yêu mến như con, phương tiện tế độ. Do vậy, vượt xa Thanh Văn, [Thanh Văn] chẳng thể sánh bằng). Tôi thấy người đời đối với khổ nhục còn luôn khó chịu đựng, huống hồ không chỉ nhẫn nhục mà còn từ ái hơn ư? Kinh lại dạy: “Chúng sanh vô ân vu Bồ Tát, nhi Bồ Tát thường dục lợi ích chúng sanh” (Chúng sanh chẳng có ân với Bồ Tát, mà Bồ Tát thường muốn lợi ích chúng sanh). Tôi chỉ thấy người đời chịu ân mà còn chẳng báo, huống hồ đối với kẻ không có ân mà có thể tạo lợi ích ư? Người hiểu biết ý chỉ ấy, thiên hạ không một ai chẳng thể giao du được, thiên hạ không một ai chẳng thể cảm hóa được!

 

* Tông thừa chẳng hòa hợp với giáo

 

          Học sĩ Tăng Tông Nguyên[128] dùng các sách Trung Dung và Đại Học tham cứu kinh Lăng Nghiêm, dùng câu nói hòa hợp trong Tông Môn để chất vấn thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển. Ngài Tuyết Đậu Trùng Hiển nói: “Chuyện này c̣n chẳng hợp với giáo thừa, huống hồ Trung Dung ư? Học sĩ hãy nên thẳng thừng thấu hiểu”. Bèn khảy ngón tay, bảo: “Chỉ nên lãnh hội như thế”. Tông Nguyên từ ngay lời ấy mà có sự tỉnh ngộ. Người tu hành lấy giáo pháp trong một đời đức Phật làm chuẩn mực, nếu chẳng phù hợp Giáo thì là ma thuyết! Nhưng [ngài Tuyết Đậu] nói như thế, chính là [nói theo] ý chỉ “truyền riêng ngoài giáo”. Truyền ngoài giáo, thì những điều được đàm luận trong giáo là chuyện gì vậy? Đó cũng là lìa ngón tay để thấy mặt trăng, hiểu ý được biểu thị qua ngôn ngữ, văn tự. Hơn nữa, đức Thế Tôn giơ cành hoa lên, ngài Ca Diếp mỉm cười, khởi đầu của sự truyền pháp muôn đời trong Tông Môn. Nay nói ngược lại rằng: “Điều ấy chẳng hợp với giơ cành hoa, ngoài hoa có sự truyền riêng là như thế nào?” Cổ nhân nói chỗ ngộ của ngài Câu Chi chẳng ở trên đầu ngón tay; nay ngài Tuyết Đậu khảy ngón tay, Tông Nguyên có sự tỉnh ngộ, lại nói ngược rằng: “Chuyện ấy còn chẳng hợp với cái khảy ngón tay, ngoài ngón tay có sự truyền riêng là như thế nào vậy?”

 

* Phóng tham phạn (Cơm ăn sau khi xả Thiền)

 

Ở đất Việt (các vùng Phước Kiến, Quảng Đông), sau thời khóa tham Thiền, nấu cơm chay vào ban đêm, gọi là “phóng tham phạn” (cơm ăn sau khi xả tham cứu), đua nhau nấu xa xỉ, ngon lành hơn hẳn cơm buổi trưa, bắt chước nhau thành tập tục đã lâu. Xưa kia có vị tôn túc nghe vị tăng ở phòng bên cạnh nấu cơm sau Ngọ, bất giác khóc òa, buồn cho Phật pháp suy bại. Do vậy, cấm Tăng ăn quá Ngọ, huống hồ ăn ban đêm ư? Luật dạy: “Nhân gian oản bát tác thanh, ngạ quỷ yết trung khởi hỏa” (nhân gian khua chén bát ra tiếng, trong họng ngạ quỷ bốc lửa). Trong lúc đêm khua, người im lặng, khua khoắng thớt, khay, mâm, bát, tiếng vang thấu vào nhĩ căn. Lại còn nấu, đun, hầm, nướng, mùi hương sực nức kích động tỵ thức, quên bẵng lời giáo huấn từ bi, thỏa thích ham muốn nơi miệng bụng, há an tâm được chăng? Có người nói: “Nửa đêm đói thì làm như thế nào?” Có thể thay bằng các thứ hạt, bánh, lương khô, chẳng phiền động nồi, chén thì cũng được. Huống chi người giữ giới không ăn quá Ngọ, từ sau giờ Ngọ đến sáng, chẳng ăn chút thứ gì, chúng ta buổi tối có dược thạch[129], sao chẳng biết đủ quá đáng vậy?

 

* Tăng đường

 

          Cổ tôn túc mở tăng đường để đại chúng được an cư, hoặc ba trăm hoặc năm trăm người, thậm chí ở Hoàng Mai là bảy trăm, tại Tuyết Phong trọn cả ngàn, Kính Sơn một ngàn bảy trăm. Tôi thoạt đầu hâm mộ, tự buồn sanh sau, đẻ muộn, chẳng được dự vào chốn tụ hội của bậc long tượng ấy. Nay đã già rồi, mới biết Chánh, Tượng, Mạt Pháp, đúng là lời chẳng hư dối! Trong chỗ hội tụ đông đảo ấy, tìm một, hai người chân thật tu đạo còn chẳng thể được! Vì thế, tôn giả Kim Xí La cùng ba người làm bạn khất thực, thiền sư Từ Minh Viên (tức ngài Thạch Sương Sở Viên) sáu người kết bạn tham yết ngài Phần Dương [Thiện Chiêu][130], mà ba người chứng La Hán, sáu người thành đại khí. Nếu chỉ cốt cho đông, mà người chứng ít ỏi, người thành tựu hiếm hoi, dẫu nhiều để làm gì? Tôi dựng tăng đường, chỉ dung nạp bốn mươi tám đơn, chẳng bằng một phần mười cổ nhân, vẫn cảm thấy là nhiều, vẫn mong hẹp, bé hơn nữa. Chẳng phải là không có tâm phổ độ, mà là trong thời Mạt Pháp, theo đúng lẽ phải nên như thế!

 

* Kết xã, kết hội

 

          Kết xã niệm Phật bắt nguồn từ ngài Lư Sơn Huệ Viễn; nay người chủ liên xã có được như ngài Huệ Viễn hay chăng? Người dự vào liên xã có được như mười tám vị hiền nhân không? Do vậy, hãy nên ít, chớ nên nhiều, do người chân thật tu Tịnh Độ cũng giống như người trong Tăng đường vậy. Còn như nam nữ xen tạp trong cùng một liên xã, thì Lư Sơn chưa từng có. Nữ nhân hãy nên niệm Phật tại nhà, đừng dự vào bọn nam giới để xa lìa tiếng chê cười của người đời. Hộ trì chánh pháp của Phật, không gì trọng yếu hơn điều này! Nguyện người tham dự cùng vâng theo gìn giữ. Còn như phóng sanh xã, cũng nên ít, chớ nên nhiều. Do người có lòng từ chân thật thả các sanh linh cũng giống như người trong Phật hội (hội niệm Phật), ngu ý cho rằng mỗi mỗi đều nên thuận theo những điều mắt thấy, tùy theo khả năng, mà mua [các con vật] để thả. Hoặc là cuối mỗi quý (ba tháng), hoặc đến cuối năm, cùng đến một chỗ, tính toán để phóng sanh, khảo đức, luận nghiệp trong chốc lát rồi giải tán, đừng tốn phí cúng bái, trai soạn tốn kém, đừng ham chơi phí uổng thời gian thì hơn! Nguyện những người tham dự cùng vâng theo, cùng nhau giữ gìn!

 

* Liên xă

 

          Trong cõi đời, có phường xấu ác, vô lại, giả cậy danh xưng nhà Phật, tụ họp đại chúng hết sức đông đảo, mưu toan làm điều sái quấy. Nhưng bọn chúng giả dối, đều nói Phật Thích Ca đã suy, Di Lặc Phật sẽ cai trị cõi đời”; đó chẳng phải là liên xã của ngài Lư Sơn Huệ Viễn. Ngài Huệ Viễn khuyên mọi người xả Sa Bà, cầu Tịnh Độ. Ngài dạy coi vàng, bạc là uế vật khiến tâm đắm nhiễm, coi tước lộc là dụng cụ tra tấn ràng buộc thân, coi nữ sắc là búa rìu hại mạng, coi áo đẹp, thức ăn ngon, ruộng vườn, nhà cửa là hầm hố khiến đọa lạc tam giới, chỉ mong thoát cõi đời mà gởi thân nơi chín phẩm sen, đáng hâm mộ, tốt đẹp chi bằng? Còn lũ giả danh đức Di Lặc dùng ngay vàng, bạc, tước lộc, nữ sắc, áo cơm, ruộng vườn để dụ dỗ lũ ngu dân, khiến họ vui thích, hùa theo. Tức là hai đằng tương phản như băng và than, chẳng thể không biện định. Nhưng người trong liên xã, cũng tự nên tránh tỵ hiềm, xa lìa họa, hướng theo lời tha thiết “hãy nên ít, đừng nên nhiều”.

Tôi từng có bài viết Tại Gia Chân Thật Tu Hành Văn để khuyên đời, đại ý như sau: Phàm là người thật tu, chẳng cần tụ họp, lập hội. Trong nhà có gian phòng thanh tĩnh, đóng cửa niệm Phật là được rồi, chẳng cần phải cung phụng tà sư. Trong nhà có cha mẹ, hiếu thuận niệm Phật là được, chẳng cần phải rong ruổi nghe giảng bên ngoài. Trong nhà có kinh sách, y giáo niệm Phật là được rồi, chẳng cần phải chú trọng lân la Không môn. Trong nhà có thân thích hoặc xóm giềng, người quen biết nghèo túng, hoạn nạn, hãy nên giúp đỡ họ mà niệm Phật là được rồi. Vì sao vậy? Chú trọng thực chất, đừng chú trọng bề ngoài. Nguyện người làm Tăng, mong hãy đem điều này bảo ban khắp các vị cư sĩ.

 

* Tâm và gan

 

          Cổ nhân có nói: “Gan phải to, mà tâm phải nhỏ”. “Gan to” tức là có gan gánh vác. “Tâm nhỏ” tức là phải biết cân nhắc. Do gánh vác, nên ngàn vạn người đến chỗ ta. Do biết cân nhắc nên gặp chuyện bèn e dè, mưu tính kỹ hòng thành tựu. Đấy là lời luận định chánh đáng. Còn như Tăng thì ngược lại. Tôi nói là “tâm phải lớn mà gan phải nhỏ”. Do tâm lớn nên bao trùm mười pháp giới, gánh vác muôn vàn sanh linh, hoằng dương, hóa độ vô tận. Gan nhỏ nên ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh đều vâng giữ, chẳng dám khinh mạn. Nay kẻ sơ học hễ hơi có chút sáng suốt, mẫn tiệp, gần thì khinh miệt người đương thời, xa thì coi thường người xưa, coi rẻ Thanh Quy, rẻ rúng Tịnh Độ. Gan thì to đấy, nhưng xét đến chỗ chân thật, thì chỉ biết có chính mình, chẳng biết có kẻ khác, chỉ biết gìn giữ, vun bồi, chăm lo, yêu mến cái thân máu thịt bé tẹo, chẳng biết khôi phục sung mãn lượng pháp giới rộng lớn! Tâm nhỏ tí mà! Hoặc là nói: “Hoàng Bá có hiệu là Thô Hạnh Sa-môn, chẳng phải là nói Ngài gan to đấy ư?” Ôi! Vẽ hổ vụng về, chẳng thành hổ, mà giống như chó! Nói là gan to, tôi chỉ sợ chẳng thành Thô Hạnh Sa-môn, mà thành gã tăng vô lại đấy thôi, há chẳng cẩn thận ư?

 

* Dùng cỗ Thái Lao tế Khổng Tử

 

          Hán Cao Đế (Lưu Bang) đi qua đất Lỗ, bèn dùng Thái Lao[131] để tế Khổng Tử, sử quan chép lại [chuyện này] và khen ngợi. Điều này có hai ý: Một là sau khi vua Tần hung bạo đốt sách, chôn Nho sĩ, [vua Hán] bèn có cử chỉ ấy. Hai là Cao Đế cố nhiên là kẻ làm chúa, nhưng đâu có chuộng Thi, Thư, lại từng hủy mũ Nho, làm nhục Nho sĩ, mà có cử chỉ ấy; cho nên đặc biệt khen ngợi chuyện ấy (chuyện tế Khổng Tử). Xét theo đạo đức của Khổng Tử, thì Ngài hiền như vua Nghiêu, vua Thuấn, xứng với trời, đất, còn hơn cha mẹ, dẫu nấu rồng, quay phượng, hầm voi, nướng cá kình, vẫn chẳng đủ để để đáp đền một phần vạn ân đức, huống hồ [cúng bằng] một con vật có sừng, lông hoe ư? “Đông lân sát ngưu, bất như Tây lân chi dược tế” (láng giềng bên Đông giết trâu, chẳng bằng láng giềng bên Tây cúng cỗ chay), kinh Dịch đã giáo huấn rõ ràng. Lễ nghi mà chẳng sử dụng đúng vật, thần sẽ nhổ ra, huống hồ thánh nhân ư? Vận dụng theo lệ ấy để suy ra, sẽ biết được những điều khác. Tiếc là từ xưa đến nay, cứ noi theo đã lâu, chẳng thể vãn hồi được!

 

* Phật và Nho chê bai lẫn nhau

 

          Từ xưa, nhà Nho chê bai Phật, người theo Phật cũng chê bai Nho. Tôi cho rằng: Khi Phật pháp mới truyền vào Trung Quốc, người sùng Phật đông đảo, nhà Nho lo cho thế đạo, chê bai Phật cũng chưa quá đáng. Do nhà Nho đã chê Phật, người ngờ đạo Phật đông đảo, người theo Phật lo cho đạo xuất thế, chê ngược lại [đạo Nho] cũng chưa đến nỗi quá đáng. Cho tới sau khi Phó Duyệt, Hàn Dũ bài bác Phật, kẻ đời sau lại bắt chước theo bài bác, bèn thành quá đáng. Vì sao vậy? Mây đã che mặt trời, chẳng cần phải tạo thêm khói, sương mù. Cho tới sau khi Minh Giáo, Không Cốc bài bác Nho, người đời sau lại bắt chước bài bác, bèn thành quá đáng. Vì sao vậy? Mặt trời đã phá tan tối tăm, cần gì phải tạo thêm đèn, đuốc?

Cứ xét theo sự thật để luận thì Nho và Phật chẳng hại lẫn nhau mà là giúp đỡ lẫn nhau. Thử nêu đại lược: Phàm kẻ làm ác, có khi trốn tránh khỏi pháp luật lúc còn sống, vẫn sợ đọa địa ngục nơi thân sau, bèn sửa ác, tu thiện. Đó là Phật ngầm giúp cho chỗ chưa thấu đến trong sự giáo hóa của vương đạo. Tăng thì nếu chẳng thể dùng Thanh Quy để bó buộc, do sợ hình phạt [trong pháp thế gian] mà chẳng dám luông tuồng, đó là Nho đã rành rành giúp chỗ chẳng thấu đến trong Phật pháp. Nay Tăng chỉ lo Phật pháp chẳng thịnh, chẳng biết Phật pháp quá thịnh thì chẳng phải là phước của Tăng, bèn đè nén đôi chút, thì Phật pháp sẽ được tồn tại lâu dài trong cõi đời, chính là vì lý do này. Biết điều này thì hai đằng sẽ chẳng chê trách nhau, mà ngược lại sẽ tán thán lẫn nhau!

 

* Háo danh

 

          Con người biết cái hại do ham lợi, nhưng chẳng biết cái hại do háo danh càng quá đáng hơn! Sở dĩ chẳng biết là vì cái hại do ham lợi thô thiển, dễ thấy, còn cái hại do danh thì vi tế, khó biết. Vì thế, kẻ hơi biết là mình ham lợi, sẽ dễ coi thường lợi. Còn đối với danh, chẳng phải là bậc đại hiền, đại trí, sẽ chẳng thể tránh khỏi. Nghĩ đến lập danh, sẽ cố làm những chuyện quỷ dị. Muốn giữ gìn danh tiếng, sẽ gian dối tính toán che đậy. Suốt đời nhọc nhằn vì danh chẳng ngơi, há rảnh để đối trị thân tâm ư? Xưa kia, có một vị lão túc bảo: “Cả cõi đời chẳng có ai không háo danh”. Do vậy, thở dài sườn sượt. Trong những người hiện diện, có một người nói: “Đúng như lời Ngài dạy, kẻ chẳng háo danh chỉ có một mình Ngài mà thôi!” Vị lão túc vui sướng, hết sức hoan hỷ, hớn hở, chẳng biết đã bị kẻ đó chơi khăm! Cái ải danh vọng khó phá như thế đó!

 

* Lương Vũ Đế

 

          Trong Chánh Ngoa Tập, tôi đã biện minh lời vu vạ về chuyện Vũ Đế chết đói, nhưng vẫn chưa nhắc đến các chuyện khác, như dứt ăn thịt, ăn chay, bị mọi người cười cợt: “Ngay cả như ông lão nơi rẫy bái dốc sức cấy cày trở nên giàu có, còn có thể hưởng thụ thỏa thích bụng miệng, sao nhà vua chẳng biết tự mình ăn những thứ ngon quý muôn phương?” Vua dùng sợi mì thay cho các con vật để cúng, mọi người chê cười: “Kẻ sĩ đỗ hạng nhất còn muốn [mổ trâu bò cúng tế] để xin tổ tiên ban ơn, coi đó là vinh sủng (được ân vua sủng ái vẻ vang), sao nhà vua chẳng biết chính mình là thiên tử cao quý? Phán [kẻ có tội lãnh] án tử hình, vua ắt ứa lệ, mọi người cười cợt: Nhà vua xuống xe khóc trước kẻ có tội một người có tội là do ta hãm hại, sao nhà vua chẳng biết [toàn quyền] sanh sát theo lòng mong muốn? Riêng chuyện vua xả thân làm tăng ở chùa, đã đánh mất cái Thể của người làm vua, bởi vua có tín mà chẳng có huệ, kiến giải chẳng sáng suốt. Do vậy, khinh thân trọng pháp, câu nệ thái quá!

Hơn nữa, từ đời Tấn, Tống đến nay, đua nhau coi Thiền Quán là cao, chẳng biết có chuyện hướng thượng. Vì thế, vua gặp đại pháp của Đạt Ma mà chẳng khế hội, đó là điều đáng tiếc. Nếu vì vua mất nước mà chê trách vua thì không được! Lỗi của Vũ Đế là lỗi do nhân từ. Vũ Đế có ḷng từ, nhưng do ḷng từ mà phạm lỗi. Há nên luận định nhà vua giống như Trần Hậu Chủ, Châu Thiên Nguyên[132]? Nếu do vua thờ Phật mà chê gièm thì đó là điều tôi chẳng biết được!

 

* Hoa vương sở

 

          Trong núi có loài hoa, cùng gốc, cùng cành, mà hoa chia thành lớn, nhỏ. Lớn thì như hoa mơ, hoa mận, mọc giáp vòng ở phía ngoài. Nhỏ thì như hoa quất, hoa quế, chen chúc ở trong. Ở bên ngoài thì chừng tám hoa, ở bên trong thì hơn trăm đóa. Dân trong núi không ai cho là lạ, cũng chẳng biết tên hoa này.

Tôi trông thấy, lấy làm lạ. Vì cùng là hoa mà có lớn, nhỏ sai khác, nên là lạ. Lớn ở bên ngoài, nhỏ tụ tập ở bên trong, lại càng lạ hơn. Do vậy, đặt tên là Vương Sở. Lớn là tâm vương, nhỏ là tâm sở. Tâm vương có tám, hoa ở bên ngoài trổ theo số đó. Tâm sở có năm mươi mốt món, hoa bên trong theo số đó. Con số tám hoa ở bên ngoài có thể tăng, giảm, nhưng thông thường là tám hoa. Hoa bên trong thì luôn gấp bội con số gốc (số lượng các tâm sở). Tâm sở tuy có năm mươi mốt món, nhưng chia nhỏ ra, sẽ là vô tận. Tâm vương ở bên ngoài, tâm sở ở bên trong. Vương có thể nhiếp Sở, Sở chẳng thể nhiếp Vương. Vương trổ năm tua, mà Sở cũng trổ năm tua, nhưng đối với năm tua ấy, Vương là tua đơn, còn Sở là tua kép. Hoa bên ngoài nở trước, hoa bên trong nở muộn hơn, [giống như] Tâm Vương là gốc, Tâm Sở là ngọn. Ẩn tàng đã lâu, nay mới hiển lộ, nói chung là do thời tiết nhân duyên.

Chắc có kẻ nói: “Hoa ấy chẳng đẹp đẽ, đốt lên thì mùi khói làm người khác khó chịu, tiều phu chê chẳng đẵn củi, có gì là lạ?” Than ôi! Đấy chính là lý do khiến cho nó lạ. Trang Tử quý cây Xư[133] vì chẳng thể dùng gỗ nó để làm vật dụng. Tuy chẳng dùng làm vật dụng, người ta lấy gỗ Xư làm củi. Nay thân loại hoa này chẳng thể làm củi, tức là thứ tột bậc vô dụng trong thiên hạ! Kinh Dịch nói “phì độn” (肥遯, ẩn cư lánh đời, cơm no áo ấm, tự hưởng lạc thú) là nói về điều này đấy chăng?

 

* Đạo này

 

          Xưa kia có người nói: “Tuy có xe bốn ngựa kéo trước rồi hai tay ôm ngọc bích, chẳng bằng tăng tấn nơi đạo này”. Do vậy, tôi suy rộng ra rằng: Há chỉ là xe bốn ngựa kéo, ôm ngọc bích, dẫu làm vua thiên hạ, vẫn chẳng bằng tăng tấn nơi đạo này! Há chỉ làm vua một thiên hạ, dẫu là kim luân thánh vương vua cả tứ thiên hạ, vẫn chẳng bằng tăng tấn nơi đạo này. Há chỉ là vua tứ thiên hạ, dẫu làm vua trời Đao Lợi, Dạ Ma, cho đến làm vua cả đại thiên thế giới, cũng chẳng bằng tăng tấn nơi đạo này. Nhưng xưa kia nói “đạo này”, tức là nói đến đạo trường sanh cửu thị (vĩnh viễn trường sanh chẳng già). Nay đầu tròn, áo vuông, được gọi là Thích Tử, phải nên tăng tấn nơi đại đạo Vô Thượng Bồ Đề, chứ ngược ngạo hâm mộ phú quý trong nhân gian, tôi chẳng biết đó là cái tâm như thế nào nữa?

 

* Thân kim sắc

 

          Tán thán thân Phật kim sắc, chính là chọn lấy ý nghĩa gần giống, chẳng phải thật sự là vàng như người đời đã nói. Vàng cõi trời, bạc cõi trời so với vàng thế gian và bạc thế gian giống như mỹ ngọc so với đá cuội, hơn kém tự rành rành. Nhưng vàng cõi trời còn chưa đủ để sánh ví Phật, huống hồ vàng thế gian ư? Thân Phật tinh túy, vi diệu, rạng rỡ, trong suốt, mắt phàm phu chẳng thể thấy được, chớ nên không biết! Như nay dùng đất, gỗ tạc tượng, trang hoàng bằng các miếng vàng, nếu cho rằng thật sự sắc tướng của Phật cũng chỉ là như thế thì sai mất rồi!

 

* Xuất gia, tâm thôi mong muốn khó lắm

 

          Đời người lạnh thì nghĩ tưởng áo, đói thì nghĩ tới ăn, đối với chỗ ở thì mong ở yên, đối với vật dụng thì mong đầy đủ, có con trai thì mong cưới vợ, có con gái thì mong gả chồng, đọc sách thì mong tước lộc, kinh doanh thì mong đạt tới giàu có, luôn luôn chẳng buông xuống được. Người dũng mãnh xuất gia là vì không có những hệ lụy ấy, nhưng vẫn có y hệt đủ loại ý niệm chẳng quên thì xuất gia quý ở chỗ nào? Đức Phật dạy: “Thường tự ma đảnh, dĩ xả sức hảo” (Thường tự xoa đầu để bỏ các thứ trang sức đẹp đẽ). Há chỉ trang sức đẹp đẽ, hãy thường tự xoa đỉnh đầu nhủ “ta là tăng”, nhanh chóng bỏ muôn duyên, nhất tâm nghĩ tới đạo.

 

* Tơ tằm (1)

         

          Sát hại tánh mạng của tằm đã nhiều lại tàn khốc, cõi đời chẳng ngăn cấm, cứ nói trên là thiên tử, trăm quan còn dùng [tơ lụa] làm triều phục, dưới là người dân quê dựa vào đó làm kế sanh nhai. Thế nhưng, từ thời cổ chẳng có tằm, ắt sẽ đành dùng vải mà thôi. Nếu là kế sanh nhai, dân chẳng nuôi tằm chiếm chín phần mười, dân nuôi tằm là một phần mười, chưa thấy người chẳng nuôi tằm đều chết đói. Nếu nói: “Phu tử vì sao bỏ gai để dùng lụa?” Ấy là vì trong thời phu tử, lụa được sử dụng đã lâu, đỡ tốn công hơn dùng gai, phu tử đành thuận theo, vì biết tập tục khó lòng thay đổi! Hơn nữa, vua Vũ áo quần rách rưới mà mũ miện đẹp đẽ. Mũ miện dùng lụa, các thứ khác ắt đều chẳng dùng, có thể biết ý Ngài vậy!

 

 * Tơ tằm (2)

         

          Kinh Dịch chép: “Phục Hy tác kết thằng nhi vi võng cổ, dĩ điền, dĩ ngư” (Phục Hy thắt dây làm lưới rập, làm ruộng, đánh cá). Sao thánh nhân nêu gương cho kẻ sát sanh? Từ cổ không có ai biện định [chuyện này]. Gần đây, ông Vương Hòe Đình[134] quả quyết: “Đời hồng hoang, chim, thú, cá, rùa tổn hại mùa màng của dân. Lưới rập nhằm trừ những con vật gây hại cho dân, chẳng phải là bắt chúng để ăn”. Cách hiểu ấy không chỉ bảo toàn sanh mạng của loài vật, lay tỉnh cõi đời mê muội, mà cũng có công đối với các bậc cổ thánh. Nhưng sử nói nguyên phi của Hoàng Đế là Tây Lăng Thị[135] dạy dân nuôi tằm, vậy thì cách ấy nói sao cho suông? Tôi nghe nói có loài tằm hoang, có thể nhả tơ trên cành cây, gỡ lấy sẽ chẳng phiền luộc kén. Tôi cho rằng cách Tây Lăng Thị dạy dân có phải là nói về tằm hoang đấy chăng? Tằm nuôi trong nhà có thể là do người đời sau tự sáng chế ra, chứ chẳng phải xuất phát từ Tây Lăng Thị? Nếu không, Thành Thang mở ba mặt lưới để mở đường sống cho các con vật, còn Hoàng Đế bỏ hết vào vạc chẳng bỏ sót. Tức là Thành Thang mở lưới, Hoàng Đế một lưới bắt trọn hết. Hoặc là nói: “Tô Đông Pha bảo: - Đợi con ngài chui ra khỏi kén rồi mới kéo tơ thì chẳng có nghiệp giết nhộng”. Chẳng biết con ngài chui ra khỏi kén thì sợi kén chỗ đứt, chỗ liền, chẳng thể dùng làm tơ được, chưa chắc là Đông Pha đã nói lời ấy.

 

* Ông Lã Văn Chánh

 

          Ông Lã Văn Chánh[136] đã quý hiển, làm thừa tướng. Khi được chúa thượng ban thưởng, đều phong kín chẳng dùng. Vua biết, hỏi nguyên do, ông thưa: “Thần có ơn riêng chưa đền đáp”. Ấy là vì thuở hàn vi, ông chịu ơn của một ngôi chùa. Nay đồn rằng lúc trẻ ông nghèo rớt, đọc sách trong một ngôi chùa, đợi chư tăng thọ trai thỉnh chuông, sẽ đến ăn ké. Tăng chán ngán, ăn xong mới thỉnh chuông. Ông đến, hết sức cùng quẫn, đề trên vách rằng: “Mười lần ăn ké, chín lượt không, xà-lê ăn xong mới thỉnh chuông”. Ông thi đỗ, chư tăng dùng vải sa bọc bài thơ ấy. Ông đến chùa, viết tiếp: “Hai mươi năm trước mặt lem bụi, nay mới trông thấy vách bọc sa”. Nếu theo thuyết trước thì tăng hiền cỡ nào, nếu theo thuyết sau thì tăng chẳng ra gì cỡ nào? Nếu vu hãm, oan uổng người hiền, sẽ thành khẩu nghiệp, nhưng lời đồn đại trong cõi đời phát xuất từ dã sử, rạp tuồng, sợ là chẳng đáng tin!

 

* Học đạo chẳng có cầu may hay khuất lấp

 

           Kẻ cầu danh trong thế gian, có kẻ học chưa thành mà danh đã thành; đó gọi là “may mắn”, vì chẳng đáng đạt được mà đạt được. Có người học thành mà danh chẳng thành, đó gọi là “khuất lấp”, do đáng đạt được mà chẳng đạt được. Vì thế nói bọn ta thi đỗ, Lưu Phần[137] thi trượt, đó gọi là “may mắn” và “khuất lấp”. Học đạo chẳng phải vậy, chưa hề có danh treo ở rừng núi, thân đã rong ruổi nơi triều đình, phố thị, nhởn nhơ, tung tăng, một nóng mười lạnh, mà thành đạo nghiệp; cũng chưa hề có trường hợp khổ chí, tận lực hành, dốc cạn tinh thần, chẳng lùi, chẳng nghỉ, lấy ngộ làm chuẩn, nhưng đạo nghiệp chẳng thành! Bởi lẽ, cầu danh ở nơi người, cầu đạo tại nơi mình. Người học đạo chỉ nên quyết tâm tinh tấn mà thôi, đừng ôm lòng cầu may, đừng lo bị oan uổng, khuất lấp!

 

* Trước thuật hãy nên thực hiện vào lúc tuổi già

 

          Người tu đạo trước thuật, chẳng giống như [trước tác] từ chương, truyện ký trong thế gian! Trên là xiển dương tâm pháp của cổ Phật, dưới là mở cửa ngộ cho hậu học, mối quan hệ ấy chẳng nhỏ. Nếu học vấn chưa tinh, kiến giải chưa vững, có thể phạm sai lầm, sẽ gần như là cô phụ cổ Phật, khiến cho hậu học bị lầm lạc. Trọng Ni (Khổng Tử) ba lượt đứt dây buộc sách, Thập Dực[138] mới thành. Hối Am (Châu Hy) lâm chung vẫn sửa đổi ý chỉ “thành ý” của sách Đại Học. Cổ nhân thường là thận trọng như thế, huống hồ luận định lời lẽ xuất thế, há dễ dàng ư? Thanh Long Sao khi [ngài Đức Sơn Tuyên Giám] chưa gặp Long Đàm [Sùng Tín], được gọi là “sách chẳng thể sửa đổi được”, rốt cuộc phó cho ngọn đuốc! Diệu Hỷ lúc mới được ấn chứng, nếu Ngài tự cho là trọn đủ, sao có chuyện như ngày sau? Tuổi trẻ trước thuật, cố nhiên là hãy nên từ từ đã!

 

* Cơ duyên

 

          Thạch Đầu bái yết Lục Tổ, Tổ biết cơ duyên của Thạch Đầu chẳng tại nơi Ngài, chỉ bảo Thạch Đầu gặp Thanh Nguyên, [Thạch Đầu] bèn đại ngộ. Đơn Hà bái yết Mã Tổ, cũng lại do [Mã Tổ] biết cơ duyên [của Đơn Hà] chẳng ở chỗ Ngài, chỉ bảo Đơn Hà đến gặp Thạch Đầu mà [Đơn Hà] được đại ngộ. Cho đến Lâm Tế bái yết Hoàng Bá mà [được chỉ dạy đến] gặp Đại Ngu, Huệ Minh từ chỗ Hoàng Mai (Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn) mà gặp Tào Khê (Lục Tổ Huệ Năng), đều là như thế. Lại còn chẳng riêng như vậy, người mà đức Phật chẳng thể độ, lại đắc độ bởi ngài Mục Liên, cũng do cơ duyên khiến thành ra như vậy. Vì thế, người học gặp gỡ chân thiện tri thức, cần phải nên dấy lòng kính tin to lớn. Đời này, đời mai sau đều lấy đó làm cầu, bến, chớ nên khinh mạn để luống qua thì mới được!

 

* Bát Nhã (1)

 

          Đất có thể làm mục nát vật, nước có thể làm rữa vật, ắt có tàn chất lưu lại, cho đến khi bị chôn vùi, ngâm đẫm rồi mới bị tiêu diệt. Như lửa đốt vật, khoảnh khắc bèn thành tro tàn. Do vậy, ta biết trí Bát Nhã như đống lửa lớn, các dòng nước tham ái bị ép bức liền khô cạn, các củi phiền não chạm đến đều bị đốt, các hòn đá ngu si rơi vào đều bị tiêu tan, các rừng rậm tà kiến, các nhà cửa chướng ngại, đủ loại tạp vật như các vọng tưởng tình thức đều cháy hừng hực, chẳng còn thừa sót. Cổ nhân nói thái mạt trùng[139] chỗ nào cũng đều đậu được, chỉ chẳng thể đậu vào ngọn lửa, nhằm sánh ví cái tâm chúng sanh chỗ nào cũng đều có thể duyên, chỉ chẳng thể duyên nơi Bát Nhã. Vì thế, người học đạo chớ nên đánh mất trí Bát Nhã trong một sát-na.

 

* Bát Nhã (2)

 

          Tôi bị bệnh ở chân, đi lại ắt phải nhờ vào kiệu. Một chiều, trời vừa sụp tối, người khiêng kiệu say rượu, trượt chân, kiệu đổ nhào, liền có mấy gã đàn ông giơ tay giặt lấy mũ của tôi, chắc họ cho rằng người ngồi bên trong chắc có tiền bạc hay của báu trang sức trên đầu. Giật được rồi, họ hết sức hổ thẹn, chạy lẹ. Tôi do vậy biết trí Bát Nhã như vầng mặt trời to lớn. Mặt trời vừa mới lặn thì đạo tặc, kẻ gian xuất hiện; s chiếu sáng chân thật vừa mới thưa thớt thì vô minh phiền não bèn trỗi dậy. Tiên đức nói: “Tạm thời chẳng tồn tại giống như người chết”. Vì thế, người học đạo chớ nên đánh mất trí Bát Nhã trong một sát-na.

 

* Bát Nhã (3)

           

          Kinh dạy: “Thử nguyệt trữ thủy tại khí, nhất túc tức hữu trùng sanh, đản cực vi tế, phi phàm mục sở năng đổ. Cố lự thủy nhi hậu dụng. Nhược thủy tại hỏa thượng, hỏa bất tức, thủy bất lãnh, tắc trùng bất sanh” (Tháng nóng chứa nước trong đồ đựng, qua một đêm liền có trùng sanh ra, nhưng cực vi tế, mắt phàm phu chẳng thể trông thấy. Do vậy, phải lọc nước rồi mới dùng. Nếu đặt nước trên lửa, lửa chẳng tắt, nước chẳng lạnh, trùng sẽ chẳng sanh). Do vậy, tôi biết trí Bát Nhã như lửa đun nước, quán chiếu hừng hực chẳng ngơi, ôn dưỡng miên mật chẳng gián đoạn, những cái tâm mong ngóng, xen tạp phiền não sẽ từ đâu mà sanh cho được? Do vậy, người học đạo chẳng thể đánh mất trí Bát Nhã trong một sát-na!

 

* Thiên Thai Chỉ Quán

 

          Trong môn Trị Bệnh của sách Chỉ Quán, có nói những câu “lục tự khí, chú tâm, nhìn xuống”[140] v.v… Bởi lẽ, đạo Chỉ Quán rộng rãi không gì chẳng bao trùm, tức là cách trị bệnh cũng được bao gồm trong ấy, phần lớn có cùng ý nghĩa như uống thuốc, tức là dùng Chỉ Quán để thay cho thuốc. Những đầu mối khác trong sách Chỉ Quán chẳng phải là ý chỉ chánh yếu của Chỉ Quán. Người đời sau chẳng biết ý này, những nhà dưỡng sanh bèn viện dẫn [những điều ấy] làm căn cứ. Do vậy, có chuyện đặt tên hoa mỹ bên ngoài là Thiền, nhưng bên trong là tu Đạo thuật. Hỏi ra, họ viện cớ là phát xuất từ ngài Thiên Thai, cho nên tôi phải biện định.

 

* Nhìn cảnh bận rộn

 

          Cõi đời có người gia nghiệp đã lo liệu xong, vào ngày cuối năm, ngồi yên thấy người nghèo tất bật vì cơm áo, gọi là “khán mang” (看忙, xem cảnh bận rộn). Đời có người đã đỗ đạt, trong ngày đại tỷ (大比, chỉ khoa thi Hương), ngồi yên thấy kẻ sĩ tất bật thi cử, cũng gọi là “khán mang”. Riêng chẳng nói tới cõi đời có người đã phá Hoặc, trí thành tựu, việc làm đã xong, ngồi yên thấy chúng sanh trong sáu đường tất bật luân hồi sanh tử, chẳng gọi là “khán mang” ư? Ôi! Cả cõi đời đang bận rộn, ai là người xem cảnh bận rộn? Cổ nhân nói: “Lão tăng tự có cách an nhàn”. Cách an nhàn ấy há dễ dàng ư? Tuy vậy, người đời do nhàn mà xem cảnh bận rộn, có cái tâm tự mình kiêu căng, chẳng có tâm thương xót người khác. Bồ Tát thấy kẻ khác bận rộn, khởi tâm đại từ bi, giác ngộ trọn khắp quần mê, mong cho họ cùng được giải thoát. Hai cái tâm khác hẳn nhau; do vậy, phàm, thánh, lớn, nhỏ khác biệt.

 

* Biện Dung

 

          Tôi lên kinh đô, có hơn hai mươi người cùng đi, đến chỗ thầy Biện Dung[141] tham lễ, thỉnh ích (請益, thưa hỏi pháp yếu). Ngài Biện Dung dạy môn “dùng không tham lợi, không cầu danh, chẳng nắm níu kẻ sang quý, yếu nhân; chỉ nhất tâm tu đạo”. Lúc rời đi, có mấy kẻ trẻ tuổi cười nói: “Tôi cho là sẽ nghe được điều khác lạ, hóa ra chỉ là lời lẽ chung chung!” Tôi nói: “Chẳng phải vậy! Đấy chính là chỗ đáng kính của ông cụ này. Dù cụ ăn nói lắp bắp, há chẳng thể nhặt nhạnh một hai cơ duyên vấn đáp của tiên đức để che lấp cửa nẻo (ý nói giấu diếm khuyết điểm)? Nhưng cụ chẳng làm vậy, cụ nói những điều chính mình đã thực hiện, nêu ra sự thực hành của chính mình để dạy người khác. Đấy chính là bậc thiền hòa[142] chân thật, chớ nên coi thường!”

 

* Thiền, Giảng, Luật

 

          Cổ nhân gọi Thiền, Giảng, Luật là Tam Tông. Chùa của người học [mỗi tông ấy], áo người ấy mặc, cũng đều khác biệt. Như tại quận của tôi thì Tịnh Từ, Hổ Bão, Thiết Phật v.v… là Thiền tự. Tam Thiên Trúc, Linh Ẩn, Phổ Phước v.v… là Giảng tự. Chiêu Khánh, Linh Chi, Bồ Đề, Lục Thông v.v… là Luật tự. Áo thì người học Thiền màu nâu, người học Giảng màu lam, người học Luật màu đen. Lúc tôi mới xuất gia, vẫn thấy y gồm ba sắc, nay thì đều thành màu đen. Các chùa Thiền và Luật đều thành Giảng. Than ôi! Tôi chẳng biết rốt cuộc như thế nào!

 

* Đồ cổ lọt vào tay tôi

 

          Người hiện thời một cái “di” (, lọ đựng rượu bằng đồng xanh để tế lễ), một cái “anh” (, cái vò nhỏ bụng to, miệng thót lại), một quyển sách, một bức họa xa xưa từ thời thượng cổ, hoặc phát xuất từ các danh gia, suốt đời hâm mộ mà chẳng thể có được. Một khi có được, sẽ mừng rỡ quá lòng mong mỏi, vui vẻ, tự nhủ: “Thứ này vốn là do nơi này nơi kia thay nhau cất giấu, trân quý, nay may sao lọt vào tay ta!” Chưa từng nghĩ tới thứ chí bảo từ bao đời lâu xa trước khi nào sẽ lọt vào tay ta? Huống hồ đồ cổ ngoạn trong cõi đời ở bên ngoài, có cầu chưa chắc đạt được, còn của chí bảo tại nơi ta, hễ cầu bèn được, mà cũng chẳng hề nghĩ đến!

 

* Ngộ đạo khó, hành thiện dễ

 

          Đang trong đời ác ngũ trược này, kèm thêm túc tập nhiều đời, muốn đoạn vô minh Hoặc, ngộ bổn tâm của chính mình, thì trong ngàn vạn người, hiếm được một hai người, cũng không có gì là lạ! Còn như chẳng làm ác mà làm lành, đấy cũng là chuyện dễ, nhưng kẻ cam tâm bất thiện, tôi chẳng biết là cái tâm như thế nào? Lại như ba nghiệp thân, khẩu, ý, muốn khiến cho nhiếp ý bất động, xuất nhập không có lúc nhất định, dấy lên hay diệt mất vô hình, định lực khó thành, cũng chẳng có gì là lạ! Còn như chế phục cái thân chẳng làm ác, chế phục cái miệng chẳng thốt lời ác, đấy vẫn là chuyện dễ, chứ cam đành để thân, miệng ác, tôi chẳng biết là cái tâm như thế nào!

 

* Coi trọng sự hứa khả

 

          Cổ nhân chẳng dễ dãi hứa khả, ắt phải suy xét lẽ chân, vạch trần lẽ ngụy rồi mới thốt lời, như người tán thán Viên Giác Sớ đã nói: “Là một trong tứ y đấy chăng? Hoặc là đích thân nghe Tịnh Độ đó chăng? Sao có thể trọn hết nghĩa vị như thế ấy?” Cho đến tán thán Viễn công (tổ Huệ Viễn) là “Đông phương hộ pháp Bồ Tát”. Ngài Triệu Châu tán thán ngài Nam Tuyền là “cổ Phật”, tán thán ngài Ngưỡng Sơn là “tiểu Thích Ca”, tán thán ngài Thanh Lương là “hậu thân của Văn Thù”, ngàn đời sau chẳng có ai dị nghị. Vì sao? Lời chân thật, chẳng phải là những lời sáo rỗng siểm nịnh khi chúc thọ, hoặc a dua trên bia mộ, hoặc lời chúc mừng khi [quan viên] được thăng chức, tô vẽ cho đẹp mặt như người hiện thời: Chép vào trong sách, khắc lên kim loại hay đá, hòng tạo niềm tin cho người đương thời, lưu truyền cho hậu thế, khen ngợi rỗng tuếch [người được khen phẩm hạnh] bằng Phật, bằng tổ! Ôi! Tuy chẳng thể dối gạt huệ nhật được, nhưng đối với kẻ học chưa thông hiểu thì chưa chắc đã không bị lầm lẫn!

 

* Ao phóng sanh

 

          Tôi làm ao phóng sanh, có kẻ ngờ vực cho rằng cá bị hạn cuộc trong ao, chen chúc, chật chội, chẳng có lạc thú được vùng vẫy, chẳng bằng thả chúng trong hồ, hoặc hộ trì một đoạn sông thuộc quyền quản trị của nhà cầm quyền, cấm ngặt đánh cá, cũng là “chẳng phóng mà là phóng”. Tôi nói:

- Cách nói ấy cũng hay, nhưng so sánh sự lợi hại giữa ao, hồ và sông, đại lược cũng tương đương. Ao tuy chật hẹp, nhưng người giăng lưới quăng chài chẳng vào được. Hồ tuy rộng, ngày đêm đánh bắt. Ngõ hèn tuy nghèo nhưng vui sướng, vườn Kim Cốc tuy giàu nhưng lo âu[143]; cho nên lợi hại như nhau. Hơn nữa, sông thuộc quyền quản lý của chánh quyền ngăn cấm hữu hạn, các loài cá ra vào không nhất định: Có khi từ bên ngoài vào vùng cấm, có khi từ trong vùng cấm lọt ra ngoài, vượt khỏi vùng cấm sẽ gặp nguy, chẳng bằng ở trong ao vĩnh viễn chẳng thoát khỏi vùng ngăn cấm. Vì thế, lợi hại bằng nhau. Lại còn ngờ [cá nhốt trong ao] chẳng có lạc thú được vùng vẫy, thì có một thí dụ: Vị tăng bế quan ở trong một căn phòng, kinh hành xoay vòng trong đó, tùy ư trăm ngàn dặm chẳng cùng, tự được thong dong, há có phải là chẳng hoạt bát ư?

Lại có một thí dụ: Nay may mắn được sống trong thuở thanh bình, dân chúng trong thành coi cửa thành đóng mở là trở ngại. Một mai giặc cướp ép sát vùng ấy, có thành thì sẽ yên ổn, hay chẳng có thành là yên ổn? Kẻ đánh cá ví như giặc, ao ví như thành, người dùng thành để bảo vệ, há hạn cuộc chi? Đối với cá, cứ suy ra là có thể biết vậy!

 

* Thôi Thận cầu con

 

          Xưa kia, Thôi Thận không có con. Có vị tăng dạy ông đưa vợ đã trang điểm thật đẹp đẽ vào chùa cúng trai tăng, tìm vị tăng nào hoan hỷ tiếp nhận, kiền thành phụng cúng trọng hậu, mong [vị Tăng ấy sẽ xả thân] sanh vào nhà ông ta. Phàm người xuất gia sẽ vượt thoát tam giới, thành đạo, độ sanh, [thế mà ông Thôi] lại tạo lồng cạm ấy để lôi kéo. Kẻ chẳng có tâm xuất thế thì còn được, chứ nếu khiến cho một người chân thật tu đạo đọa lạc, cái hại sẽ khôn kể xiết! Thôi Thận và vị Tăng ấy đều mắc tội, mà tội của vị tăng [xúi giục ông ta] càng nặng hơn. Khổ thân cho vị tăng đó, sao chẳng dùng lời thuộc về đường lối cầu con chánh đáng để bảo ban?

 

* Không con chẳng đáng lo

 

          Người đời lo rầu vì không có con, người phú quý càng hết sức lo rầu. Chắc có kẻ nói: “Không gì bất hiếu lớn bằng chẳng có người nối dõi, sao không lo rầu cho được?” Tôi nói:

- Đúng lắm! Ý nghĩa trong lời nói của cổ nhân rõ ràng là nói chẳng cưới, chẳng có con, chẳng phải là nói cưới vợ mà không có con. Cưới vợ mà không có con, có tội gì đâu? Ngay như đế vương thống trị cả ức triệu người, chẳng phải là không có sức cưới thê, nạp thiếp, chẳng phải là không có phương sĩ, kỳ nhân dâng thuốc men, nhưng rốt cuộc có vị trọn chẳng có người nối dõi. Đó là mạng, cho nên chẳng đáng lo rầu! Có chuyện đáng để lo là làm nhiều chuyện bất nghĩa, đoạt những thứ sở hữu của người khác, dứt tuyệt con cháu của người khác, chia lìa cốt nhục của người ta, ngược đãi, ép buộc con cái của người khác làm tôi tớ cho mình, đủ loại âm hiểm, thảm độc, đều là cái nhân không con. Đó là điều đáng lo. Chẳng tạo những cái nhân ấy mà không có con, tức là mạng, chẳng phải lỗi của ta, cho nên chẳng đáng lo!

 

* Hậu thân (1)

 

          Sách Tán Tây Phương có chép hậu thân của Giới thiền sư là Tô Tử Chiêm (Tô Đông Pha), hậu thân của Thanh Thảo Đường là Tăng Lỗ Công, hậu thân của Tôn Trưởng Lão là Lý Thị Lang, hậu thân của Nam Am Chủ là Trần Trung Tú, hậu thân của vị Tri Tạng X… là Trương Văn Định, hậu thân của Nghiêm Thủ Tọa là Vương Quy Linh. Kém hơn thì Thừa thiền sư làm con nhà họ Hàn, vị tăng ở chùa Kính làm con nhà họ Vương ở đất Kỳ. Lại còn kém hơn nữa thì Thiện Mân làm con gái của quan Tư Hộ[144] họ Đổng, Hải Ấn làm con gái của quan Phòng Ngự họ Châu. Lại còn quá đáng hơn nữa là vị Tăng ở Nhạn Đãng làm Tần Cối, nắm trọng quyền, tạo các ác nghiệp. Mấy vị ấy nếu chuyên ròng cầu Tịnh Độ, sao đến nỗi ấy? Tôi cho rằng đại nguyện đại lực như ngài Linh Thụ đời đời làm tăng, còn Vân Môn ba lượt làm quốc vương, bèn đánh mất thần thông. Trăm đời sau, như Vân Môn đã hiếm, huống hồ Linh Thụ ư? Là người thường, là nữ nhân, là kẻ ác, sẽ lần lượt càng thấp hèn hơn. Dẫu cho là các quan đại thần nổi tiếng, cũng chẳng thể tính kể được! Thật vậy! Chẳng thể không sanh về Tây Phương.

 

* Hậu thân (2)

 

          Hoặc nói hậu thân của các sư là những vị quan nổi tiếng, ví như đề hồ hóa ngược thành tô còn được, là thường nhân thì là lạc, là nữ nhân thì là sữa, cho đến là kẻ ác thì như độc dược! Tu tập cả đời, quả thật chẳng đủ để trông cậy ư? Vậy thì tu có quý báu chi? Đó là nói quá thô lược!

Phàm người tu hành có hai lực: Một là phước lực, giữ vững giới hạnh, tạo đủ loại công đức hữu vi. Hai là đạo lực, giữ vững chánh quán, niệm nào cũng trụ trong Bát Nhã. Thuần là đạo lực như ngài Linh Thụ thì hãy gác lại đó, chẳng bàn tới. Đạo lực hơn phước lực thì ở trong cảnh phú quý mà chẳng mê. Phước lực hơn đạo lực, sẽ mê bởi phú quý, cố nhiên chẳng thể giữ vững được. Trong số đó, kẻ tham dục nặng sẽ là nữ nhân, kẻ tham, sân đều nặng sẽ thành kẻ ác. Tức là do chỉ tu phước lực, đạo lực sẽ chuyển thành nhẹ. Người làm Tăng dốc tâm nơi đạo lực, phải nên làm như thế nào? Tuy vậy, nếu siêng tu đạo lực, lại còn được nguyện lực giúp, sẽ được theo sau các vị thượng thiện nhân. Há không chỉ là ác nhân, ngay cả là những vị đại thần nổi tiếng cũng chẳng làm! Đúng lắm thay! Chẳng thể không sanh về Tây Phương!

 

* Hậu thân (3)

 

          Hàn Cầm Hổ[145] nói: “Sống làm bậc thượng trụ quốc[146], chết làm vua Diêm La, đó là vinh”. Chẳng biết Diêm Vương tuy hưởng sự vui của vua, nhưng cũng hai thời chịu khổ, bởi lẽ thuộc địa vị tội phước đều có, chẳng phải là chuyện tốt đẹp. Xưa kia, có một vị Tăng, thấy quỷ sứ đến, bèn hỏi, quỷ đáp: “Đón thầy làm Diêm Vương”. Vị tăng hoảng sợ, dốc sức chánh niệm chuyên ròng, quỷ sứ chẳng đến nữa. Xưa kia có người nói làm tăng mà chẳng thông sáng tâm địa, phần nhiều làm linh kỳ (thần linh) trong nước hay trên đất, tuy chưa ắt hoàn toàn đúng như thế, nhưng phần nào có lẽ ấy. Vãng sanh bậc hạ còn hơn thiên cung, trời còn chẳng làm, huống hồ quỷ thần ư? Đúng lắm thay! Chẳng thể không sanh về Tây Phương!

 

* Vương Giới Phủ

 

          Giới Phủ[147] phỏng theo Hàn Sơn làm thơ rằng: “Ta từng làm trâu ngựa, thấy cỏ đậu vui mừng. Lại từng làm nữ nhân, thấy đàn ông hoan hỷ. Ta nếu thật là ta, chỉ nên thường như thế. Lẩn quẩn nơi biến đổi, chớ nhận vật là mình”. Lời này của Giới Phủ đúng là có kiến giải, nhưng sao chẳng nói: “Ta từng nghe lời nịnh, vào tai bèn hoan hỷ. Lại từng nghe lời chê trách, mất vui, sân nổi lên. Nếu ta thật là ta, chỉ nên thường như thế. Lẩn quẩn nơi biến đổi, đừng nhận vật là mình”. Vậy thì ưa thích lời dua nịnh, ghét lời chê bai, vẫn là “nhận vật là chính mình” y như cũ ư? Vì thế, biết người thông minh nói Thiền chẳng khó, đắc Thiền mới khó.

 

* Mừng, giận, buồn, vui chưa phát ra (1)

 

          Tôi mới nhập đạo, nhớ Tử Tư (Khổng Cấp, cháu nội Khổng Tử) coi lúc mừng, giận, buồn, vui chưa phát là Trung, ngỡ cái Trung ấy chính là chính mình trước lúc không kiếp. Về sau, tham cứu kinh Lăng Nghiêm, thấy kinh nói: “Túng diệt nhất thiết kiến, văn, giác, tri, nội thủ u nhàn, do vi pháp trần phân biệt ảnh sự” (dẫu diệt hết thảy thấy, nghe, hay biết, giữ sự u nhàn bên trong, vẫn là chuyện thuộc phân biệt bóng dáng ca pháp trần). Phàm thấy, nghe diệt, sự hay biết chấm dứt, tợ hồ mừng, giận, buồn, vui chưa phát, mà bảo là “pháp trần phân biệt” là vì sao? Ý là căn, pháp là trần. Căn đối ứng với trần, thuận cảnh sẽ cảm phát mừng và vui, nghịch cảnh sẽ cảm phát giận và buồn. Đó là ý căn phân biệt pháp trần. “Chưa phát” tức là trần chưa giao tiếp bên ngoài, căn chưa khởi bên trong, vắng lặng, yên tĩnh, phải nên là bản thể. Chẳng biết trước kia là theo duyên động cảnh, nay thì duyên theo tĩnh cảnh. Trước kia cố nhiên là thô phân biệt đối với pháp trần, nay vẫn là tế phân biệt đối với pháp trần, đều là “ảnh sự” (chuyện thuộc hình bóng), chẳng chân thật. Nói “u nhàn” là đặc biệt nói u vượt hơn hiển, nhàn vượt trội ồn náo, vẫn còn cách biệt với “chính mình trước không kiếp” ở chỗ này. Hãy nên xét kỹ, quan sát tinh tường, đã nghiên cứu lại càng thêm nghiên cứu, đã cùng tột lại càng thêm cùng tột, chớ nên qua loa!

 

* Mừng, giận, buồn, vui chưa phát ra (2)

 

          Dương Từ Hồ (Dương Giản) nói “thấy rõ bệnh của Tử Tư và Mạnh Tử có cùng một nguồn gốc”. Nhưng Từ Hồ tự trần thuật điều chính mình đã chứng trong khi tĩnh là “rỗng rang, vắng lặng, rộng xa chẳng ngằn mé”; đấy chính là cái được Tử Tư gọi là “khí tượng khi mừng, giận, buồn, vui chưa phát”. Lời này của Tử Tư do đã trải qua sự tham cứu sâu xa, vi tế tột cùng, cho nên nói “vẫn chưa phải là chính mình trước Không kiếp”. Nếu trong Nho Tông thì có thể nói là [Tử Tư] khéo đạt được tâm pháp của họ Khổng. Lời ấy tột bậc tinh vi, tột bậc thích đáng, lầm lẫn ở chỗ nào mà Từ Hồ chê trách? T Hồ đã tôn sùng họ Khổng, chủ trương đạo học, nhưng lại chê Tử Tư, tức là [đối với ông ta], phu tử (Khổng Tử) cũng chẳng đáng để noi theo, sẽ nương theo ai? Nếu THồ khéo ngộ Phật lý, hãy nên thẳng thừng luận định chỗ giống nhau và khác nhau giữa Nho và Phật, mà cũng chớ nên nói lời lẫn lộn này, tợ hồ tiến thoái không có chứng cứ!

 

* Ngài Trung Phong dạy đại chúng

 

          Hòa thượng Thiên Mục Trung Phong dạy đại chúng rằng: “Nếu ngươi không có sức to lớn, chẳng bằng gởi thân nơi nửa gian nhà tranh, áo quần rách rưới xin ăn, cũng tránh khỏi xâm phạm mùa màng của người khác”. Đó là lời định luận chí lý! Nay người xuất gia phần nhiều tạo công đức hữu vi, bươn bả cả đời, đối với chuyện đại sự sanh tử ở ngay dưới gót chân của chính mình bèn bỏ qua, chẳng nghe nói tới, há cũng chẳng lầm lạc ư? Chắc có người nói rằng: “Mỗi thứ đều là như ông nói, như vậy thì tượng nát, điện sụp, tăng sẽ ở nơi đất trống mà đói lả!” Đáp: Chẳng phải vậy! Nếu ông có sức lớn, cứ tùy ý làm. Lời này của cổ nhân nhằm dạy nhiệm vụ cấp bách phải làm trước tiên cho những kẻ không có sức như chúng ta. Một là đại sự chưa hiểu rơ, hãy [gấp rút dụng công] như chôn cha mẹ, sẽ chẳng rảnh mà [tạo tác công đức hữu vi]. Hai là thấy lý chưa thấu triệt, nhân quả sai lệch, đối với những cái gọi là công đức hữu vi, phần nhiều sai phạm, thiên đường chưa đến, địa ngục đã thành trước, bèn chẳng dám làm. Ngài Trung Phong lại nói: “Nhất tâm làm gốc, muôn hạnh có thể xếp ra sau”. Đó là lời luận định chí lý. Ngưu Đầu tới Hàm Hoa Nham, Mã Tổ tới Truyền Pháp Viện. Ôi! Phong thái cao cả xa thẳm, chẳng thể thấy lần nữa.

 

* Sát sanh khi tạ tướng[148] trong pháp sự của Đạo giáo  

 

          Các đạo sĩ làm pháp sự xong, ắt tạ tướng. Lớn thì giết dê, lợn; nhỏ thì mua thịt làm sẵn, luôn có tam sanh (dê, lợn, trâu hoặc ḅ). Họ nói: “Đáp tạ chư tướng thủ hộ đàn tràng. Nếu chẳng vậy, sẽ mắc tội!” Than ôi! Ngày hôm qua làm một đàn chay, sáng nay giết lục súc[149]. Một lượt tạo thiên đường, trăm lượt tạo địa ngục, nghĩa là sao vậy? Đối với chư tướng, những vị khác tôi không thể biết, chỉ như ngài Vân Trường (Quan Công) bẩm tánh đại nghĩa, Vương nguyên soái (Vương Linh Quan) lòng son trung lương, há các Ngài để ý chuyện dùng các con vật to lớn để cảm tạ ư? Xét nay lẫn xưa, trong Đạo gia, chẳng có vị cao hạnh nào ngăn cấm, thật đáng buồn tiếc! Nếu sợ đắc tội với chư tướng, thì gần đây có một kẻ giang hồ vô lại, để cầu mưa bèn xiềng trói thân [của tượng] chư tướng, nhưng chư tướng chẳng giáng họa, đó là vì [các Ngài] chẳng so đo với kẻ tiểu nhân. Nhưng cứ vì chuyện ăn uống tẹp nhẹp mà ngược ngạo tăng thêm họa cho trai chủ tu công đức, có lý ấy hay chăng? Dám xin thưa với kẻ sĩ và bậc quân tử hiểu rõ lý vậy!

 

* Kiêng giết trong tháng chay

 

          Đời Đường chế định: Tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, quan chẳng tới nhận nhiệm sở, do tới nhiệm sở, ắt phải tiệc tùng nhiều. Tiệc tùng ắt phải giết sanh vật. Chẳng đến nhận nhiệm sở nhằm kiêng giết. Người đời ngoa truyền, coi ba tháng ấy là ác nguyệt (tháng xấu ác), kiêng làm các chuyện tốt lành bởi mê mất nguyên do. Hiện thời cũng kiêng tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín và mười ngày trai, không được hành hình. Yêu thương muôn vật, nhân từ với dân, tâm hiếu sanh của thánh vương giống hệt như nhau. Riêng tiếc nuối là đối với chuyện cầu tạnh hay cầu mưa, quan phủ ắt cấm giết mổ, do biết rõ sát sanh là bất thiện, sao trong tháng chay, ngày chay, chẳng tuân theo thời cổ kiêng giết, mà cứ ắt phải đợi tai nạn nẩy sanh rồi mới cấm? Than ôi! Nạn phát sanh rồi mới cấm, nạn chưa yên mà đã bỏ lệnh cấm, đáng than thở lắm thay!

 

* Kiêng giết tăng tuổi thọ

 

          Ông Triệu X… ở Hoa Đình tới Thanh Phổ thăm người thân. Thuyền đậu lại, bỗng thấy một người đứng trên thuyền, nhìn kỹ thì ra người đầy tớ đã mất. Ông ngạc nhiên, hỏi han, người ấy đáp: “Tôi đang phục dịch trong âm ty, nay sắp truy bắt ba người”. Hỏi ba người ấy là ai, bèn đáp: “Một người ở Hồ Quảng, người nữa là người ông sắp đến thăm”. Còn người thứ ba chẳng đáp. Ông lại hỏi: “Có phải là Triệu mỗ hay không?” Đáp: “Đúng vậy”. Ông Triệu hết sức kinh hãi, đến thăm người thân, đã nghe trong nhà vang tiếng khóc. Ông càng hết sức sợ hãi, vội giục chèo nhanh về nhà. Người đầy tớ nói: “Ông chẳng phải sợ, đến đêm mà tôi không tới thì được miễn rồi”. Ông Triệu hỏi nguyên cớ, người ấy đáp: “Trên đường, tôi thấy có người đã biện giải cho ông, vì cả nhà ông đều kiêng giết”. Sau đó, ban đêm quả nhiên [quỷ sứ] không tới. Ông Triệu rốt cuộc vô sự, nay hãy còn sống. Chuyện đã mười năm rồi! Ghi lại trong tháng Bảy năm Bính Ngọ (1606) đời Vạn Lịch.

 

* Cư sĩ ngộ đạo thời Tống - Nguyên

 

          Từ đời Tống đến đời Nguyên, cư sĩ có người ngộ nhập chẳng phải là trường hợp cá biệt. Cư sĩ Lưu Hưng Triều đời Tống có Ngộ Đạo Tập tự trần thuật ngộ xứ rất tường tận, bởi ông thật sự đạt được. Đời Nguyên, cư sĩ Phóng Ngưu ngộ nhập câu “bất thị, bất thị” (chẳng phải, chẳng phải) của Vô Môn lăo nhân. Tác phẩm Phi Thị Quan (cái ải đúng sai) của ông ta nói ngang, nói dọc, chẳng phải là bậc có đại tri kiến sẽ chẳng thể nói! Tung tích của hai vị này chẳng được tường tận cho lắm. Hưng Triều còn được chép vào sách Truyền Đăng Lục, chứ Phóng Ngưu thì ít người biết. Do vậy, tôi nêu ra!

 

* Lời nói chẳng có nghĩa vị

 

          Đối với những câu đáp trong Tông Môn, có người bảo là chẳng có ý nghĩa gì, vì chẳng thể dùng đạo lý để hiểu, chẳng thể dùng tư duy để thấu suốt. Người đời sau dùng cái tâm tư duy để cưỡng nói đạo lý, cho nên càng nói càng xa. Không chỉ là nói sai, dẫu cho nói tột bậc đúng, vẫn chỉ là con két học tiếng người mà thôi! Viên Ngộ lăo nhân nói: “Chỉ cần người hiểu được tình thức, hết thảy vọng tưởng đều hết sạch, tự nhiên sẽ thấu hiểu trong ấy”. Đấy là phương cách đã chứng nghiệm của tiên đức, trọn chẳng phải là nói suông, chúng ta phải nên tin sâu, tận lực hành!

 

* Của tín thí khó tiêu

 

          Đặng Khoát Cừ[150] tự trách tội rằng: “Làm tăng thực hiện chuyện của mình, gây lụy tín chủ cả mười phương, quả thật sợ khó tiêu hết được”. Nói đúng lắm thay! Tăng nhân vì sanh tử của chính mình, giống như kẻ sĩ vì khoa cử cầu công danh của chính họ. V́ khoa cử gây lụy cho xóm giềng, thân thích phải cung cấp những thứ cần thiết. Hễ thành danh bèn đủ để báo đền; danh chẳng thành sẽ mắc nợ họ rất nhiều! Chẳng hiểu nghĩa này, chỉ hiềm tín thí chẳng rộng, há chẳng lầm lẫn to lớn ư?

 

* Biết mà chẳng thể làm

 

          Cư sĩ Ngũ Đài nói với tôi: “Tôi biết có đạo này mà chẳng thể tận lực, suốt đời chẳng vui. Nay kẻ sĩ chẳng biết có đạo này, hễ đỗ đạt, tâm bèn thỏa thích trong ngũ dục, ngỡ đó là vui. Tôi đã biết, chẳng dám buông lung theo lòng ham muốn, nhưng lại bận bịu vì việc vua, việc nhà, lầm lỡ thời gian. Nay đã già rồi, đã đánh mất niềm vui trong đời người, lại còn chưa đạt được niềm vui xuất thế. Cho nên suốt đời u uất”. Đấy là lời thật của cư sĩ, nhưng người tự mê muội thì đông, người tự giác ít ỏi, ai nhắc đến chuyện này? Cư sĩ quả thật là người hiền! Nay kẻ xuất gia chẳng có chuyện vua, chuyện nhà, thế mà cũng phí uổng một đời, lắng lòng suy nghĩ, nội tâm kinh hoàng, run rẩy!

 

* Tránh xa một chữ Quan

 

          Cha tôi tuy không làm quan, nhưng học rộng, siêng hành, có nhiều câu nói đáng làm khuôn phép, từng bảo kẻ bất hiếu này rằng: “Hãy cẩn thận chớ mang lấy một chữ Quan”. Do vậy, tôi hỏi: “Mang một chữ Quan là sao ạ?” Cha tôi nói: “Những chuyện như nhận tiền cấp phát của quan lại, dệt the đoạn cho quan chức, làm trung gian buôn bán muối cho quan lại, làm người đảm bảo cho người khác nơi quan phủ, cho đến vào quan phủ làm nha lại hoặc thư ký, kết giao với người làm quan, nhờ cậy chuyện công v.v… đều là [mang lấy một chữ Quan]”. Tôi lại lạy, vâng giữ. Về sau, nhìn vào những người quen biết, hễ vướng vào đó thì thua bại bảy, tám phần mười. Do vậy, suy rộng ra, ngay cả làm quan cũng chẳng muốn! Sau khi xuất gia, lại suy rộng hơn, chẳng dám hư vọng dính líu người có chức tước lớn, lại còn răn đồ chúng chẳng được do hóa duyên mà ra vào nhà quan, chẳng được dựa dẫm thế lực của quan lại để kiện tụng người khác, hãy an bần thủ phận (yên phận nghèo, vâng giữ bổn phận) thì may ra tránh được tội khiên to lớn. Dẫu tuân giữ lời sắc truyền của đức Phật, đó cũng là lời giáo huấn từ trong gia đình. Ơn dạy bảo chẳng quên, khôn ngăn buồn thương!

 

* Sách Niệm Phật Kính

 

          Hai vị tăng Đạo Kính và Thiện Đạo soạn Niệm Phật Kính (gương niệm Phật), so sánh niệm Phật với các thứ pháp môn, đều phán định rằng: “Nếu đem so với công đức niệm Phật thì chẳng bằng được một phần trong trăm ngàn vạn ức phần”. Có thể nói lòng tin chuyên dốc, biện định rành rẽ, rất có công đối với Tịnh Độ. Riêng chương so sánh với Thiền Tông, nói quán tâm, quán vô sanh đem so với công đức niệm Phật chẳng bằng một phần trong trăm ngàn vạn ức phần, người học nghi ngờ. Tôi cho rằng: Ngay trong Tứ Liệu Giản, đấy là “hữu Thiền, hữu Tịnh Độ”. Nếu chỉ chấp quán tâm, chẳng tin có Cực Lạc Tịnh Độ, hoặc chỉ chấp Vô Sanh, chẳng tin có vãng sanh Tịnh Độ, tức là chưa thông đạt “tâm chính là cõi”, chẳng biết “sanh chính là vô sanh”, đó là kiến giải Thiên Không, chẳng phải là Viên Đốn Thiền! Đâm ra chẳng bằng người tuy chưa hiểu thật rõ lý tánh, nhưng niệm Phật đã thành tam-muội, có gì lạ đâu? Phàm quán tâm mà diệu ngộ tự tâm, quán vô sanh mà đắc Vô Sanh Nhẫn, đấy chính là cùng một khoa mục với người niệm Phật thượng phẩm thượng sanh, há có gì là cao hay thấp?

 

* Tham cứu niệm Phật

 

          Quốc triều (nhà Minh) trong các niên hiệu Hồng Vũ và Vĩnh Lạc có ba vị đại lão là Không Cốc, Thiên Kỳ, Độc Phong luận định niệm Phật. Hai vị Thiên Kỳ và Độc Phong dạy người ta khán câu “người niệm Phật là ai?” Chỉ có ngài Không Cốc bảo “chỉ thẳng thừng niệm cũng có ngộ môn”. Hai đường lối mỗi đằng tùy thuận cơ nghi đều đúng, nhưng ngài Không Cốc nói “chỉ thẳng thừng niệm cũng được”, chứ chẳng nói “tham cứu là sai”. Trong Sớ Sao (A Di Đà Kinh Sớ Sao), tôi đã trần thuật đại lược, nhưng vẫn có người nghi, cho rằng tham cứu chú trọng kiến tánh, chỉ trì danh mới là phù hợp khít khao vãng sanh, muốn phế bỏ tham cứu để chỉ chuyên trì danh. Họ nói rằng trong kinh chỉ nói “chấp tŕ danh hiệu”, chưa từng có cách nói tham cứu! Lời bàn luận này cũng rất hữu lư, nương theo đó mà hành, chắc chắn vãng sanh, nhưng muốn giữ điều này, phế điều kia thì không được! Bởi lẽ, người niệm Phật kiến tánh chính là chuyện thuộc vào thượng phẩm thượng sanh, lại ngược ngạo lo chẳng vãng sanh ư? Do vậy, trong Sớ Sao đều giữ cả hai đằng để đợi [người tu hành tự] chọn lựa, xin đừng ngờ vực! Nếu do chữ Ai mang khí thế bức bách mà hành, cho rằng đó là “truy cứu người niệm Phật” thì đấy là tà vạy, sai lầm hại người, sẽ mắc tội vô lượng.

 

* Gấp tham, gấp ngộ

 

          Cư sĩ Phóng Ngưu là người Cổ Hàng, con nhà họ Dư, tham yết Vô Môn lão nhân, đắc ngộ trong niên hiệu Thuần Hựu[151] đời Tống. Ông ta nói: “Người đại thông minh vừa mới nghe việc này, liền dùng tâm ý thức để tiếp nhận, thông hiểu, cho nên ngỡ ảnh là thật. Đến ngày Ba Mươi tháng Chạp, khi ánh mắt sắp lạc thần, hướng về ông cụ Diêm vương nói: ‘Đợi tôi lắng lòng nhiếp niệm, sẽ đi cùng Ngài’. Chắc chắn là không thể được, hãy nên gấp tham, gấp ngộ!” Có thể nói lời này của Phóng Ngưu là khẩn thiết làm người. Nếu là kẻ chân thật triệt ngộ, hằng ngày sẽ đặt chân vững chắc, ổn thỏa, thích đáng, chẳng dấy can qua mà có thể tám mặt đối địch, vô thường xảy đến sẽ an nhàn, điềm tĩnh, chẳng hoảng hốt, chẳng hoảng sợ, rối loạn, há còn đợi phải lắng lòng nhiếp tâm, miễn cưỡng lắp bắp chống chọi ư? “Gấp tham, gấp ngộ” như ông ta đã nói, chúng ta phải nên tận lực thực hiện.

 

* Giải Thiền Kệ

 

          Ôn Công (Tư Mã Quang)[152] soạn Giải Thiền Kệ quả thật là khuôn mẫu cho người học Phật mà chưa hiểu lý, nhưng ông ta cho rằng “lời nói và hành vi đáng để noi theo” là thân bất hoại (Pháp Thân), “nhân nghĩa chẳng thiếu” là quang minh tạng, lại chỉ là lời nói để chữa bệnh cho một thuở, chẳng phải là lời luận định khít khao sự thật, không thay đổi được! Ngôn từ và hành vi cẩn trọng, tu tập nhân nghĩa, đúng là đáng quý trọng trong thế gian, nhưng đâu phải là thân kim cang bất hoại, thần thông đại quang minh tạng? Sao lại dễ dãi nhận định như thế!

Ông ta lại coi quân tử thường thanh thản là thiên đường, tiểu nhân mãi lo lắng là địa ngục, xét theo lý thì đúng, nhưng cũng có khuyết điểm “chấp Lý, đánh mất Sự”! Há có nên nói “ngu si chính là trâu, dê, hung bạo tức là hổ, báo”, ngoài lẽ đó ra, chẳng thật sự có trâu, dê khoác lông, đội sừng, chẳng có hổ báo nanh bén, móng nhọn ư? Tôi sợ người đời thấy lời lẽ của Ôn công đạt tới chỗ tinh diệu, trọng yếu, ắt sẽ hết sức vui thích mà tin sâu thói tệ ấy, bài bác chẳng có nhân quả, cho đến tự coi “hành thiện trong thế gian” là đủ, chẳng còn biết có chuyện hướng thượng, tức là bài kệ này vốn để giác ngộ người đời, đâm ra khiến cho người đời lầm lạc, chẳng thể không vạch rõ!

 

* Phạm Cảnh Nhân

 

          Cảnh Nhân[153] tự nói “ta hai mươi năm chưa từng dấy lên một tư lự”. Cảnh Nhân đúng là người hiền, nhưng suốt hai mươi năm dài, chẳng sanh một niệm, chắc chẳng dễ đạt đến điều ấy! Nhan Tử (Nhan Uyên) mà chỉ “ba tháng chẳng trái nghịch”, tức là ngoài ba tháng, chắc có ý niệm sanh khởi. Triệu Châu còn phải mất bốn mươi năm mới thành một phiến, tức là khi chưa thành một phiến thì sẽ có ý niệm sanh khởi. Như Cảnh Nhân đạt được chẳng có thô niệm, tuy vậy, [thật sự] chẳng có tư lự vi tế ngấm ngầm phát khởi, há ông ta có tự nhận biết hay chăng? Chẳng phải là tôi coi thường Cảnh Nhân, chỉ sợ là “được chút ít đã cho là đủ”, [bàn định chuyện này là] để răn nhắc sẵn chính mình đó thôi!

 

* Tập tục

         

Người xưa nói: “Tập tục đổi dời con người, bậc hiền trí chẳng tránh được”. Nay một tấm áo, một cái mũ, một vật, một chữ, một lời, đủ loại việc làm, hành vi, đều do một người xướng suất, nhiều người hùa theo mà thành, gọi đó là “thời thượng”[154]. Như có người chuộng bế quan một khoảng thời gian, mọi người đua nhau bế quan. Hoặc có người chuộng lễ sám, mọi người đua nhau lễ sám, đua nhau học thuộc kinh, đua nhau trì chú Chuẩn Đề, đua nhau nghiên cứu cách phát âm và gieo vần, đua nhau gạt bỏ chú sớ, chuyên học chánh văn, đua nhau trai tăng mười vạn tám ngàn vị, đua nhau học thư pháp, học làm thơ, học theo lời lẽ văn chương bóng bẩy của sĩ phu, không gì chẳng thành phong trào, chẳng ước hẹn mà hợp. Riêng đối với chuyện chế phục cái tâm, dốc chí, chân thật tham Thiền, niệm Phật, dẫu có người đề xướng mà chẳng có ai theo, đó là như thế nào vậy?

 

* Chán ồn, cầu tĩnh

 

          Có người tập tu tĩnh, ở riêng một nhà, hễ hơi có tiếng người, liền cho là trở ngại. Tiếng người có thể cấm, nhưng tiếng sẻ hót quạ kêu trong sân, làm như thế nào đây? Sẻ, quạ có thể xua đuổi, nhưng hổ, báo gầm rú trong rừng, làm như thế nào đây? Hổ, báo vẫn có thể sai thợ săn bắt đi, nhưng tiếng gió lùa, nước chảy, sấm rền, mưa rào, làm như thế nào đây? Do vậy nói: “Kẻ ngu trừ cảnh, chẳng trừ tâm; người trí trừ tâm, chẳng trừ cảnh”. Muốn trừ cảnh mà cảnh rốt cuộc chẳng thể trừ, nên đạo rốt cuộc chẳng thể học! Hoặc nói: “Đức Thế Tôn chẳng biết tiếng của năm trăm cỗ xe”. Đấy là chuyện trong Thiền Định, phàm phu chẳng thể làm được. Nhưng như Cao Phượng[155] đọc sách, chẳng biết mưa rào trôi lúa, ngay trong khí ấy, Cao Phượng nhập Định gì? Chẳng trách chí không vững, lại chê cảnh chẳng vắng lặng, cũng lầm lẫn lắm thay!

 

* Trừ nhật

 

          Cổ nhân coi trừ nhật (除日, ngày Ba Mươi tháng Chạp) là tử nhật, bởi một năm đã hết giống như lúc một đời đã tận. Vì thế, ngài Hoàng Bá dạy như sau: “Nếu trước hết chẳng thấu triệt, ngày Ba Mươi tháng Chạp đưa đến, chắc chắn ngươi sẽ như kiến bò trên chảo nóng”. Như vậy thì ngày mồng Một tháng Giêng đã lo chuyện thuộc ngày Ba Mươi tháng Chạp vẫn chẳng là sớm, lúc mới sanh rơi xuống đất đã lo chuyện thuộc ngày chết cũng chẳng sớm; sao mặc cho thời gian dần trôi, cứ nhởn nhơ, nhàn nhã, bất giác trẻ dại đã tráng niên, tráng niên rồi già khọm, già khọm rồi chết đi? Huống hồ cũng có kẻ chẳng kịp tráng niên hay già cả! Há chẳng càng đáng buồn ư?

Đêm nay là đã hết năm, hãy nên tự e sợ, tự ước hẹn, chớ để năm sau vẫn lần khân y như cũ. Tuy vậy, hai chữ “đả triệt” (打徹, giác ngộ thấu triệt) chớ nên dễ dãi xem lướt qua, chẳng phải là thông qua mấy bản kinh luận thì sẽ thấu triệt, chẳng phải là ngồi bất động, chẳng lắc lư mấy nén hương thì sẽ thấu triệt, chẳng phải do hiểu mấy đoạn cơ duyên vấn đáp của cổ đức rồi viết mấy câu tụng cổ hoặc niêm cổ thì sẽ thấu triệt, chẳng phải là ứng đối mấy câu khẩu đầu tam-muội lưu loát thì sẽ được thấu triệt. Cổ nhân nói: “Đối với chuyện này, hiểu rỗng rang như cái thùng bị tụt đáy, rành rẽ như mộng sâu được tỉnh, trọn chẳng có chỗ mảy may ngờ vực thì sau đấy mới được!” Than ôi! Dám chẳng nỗ lực ư?

 

* Tịnh Độ là pháp khó tin (1)

 

          Kẻ coi rẻ Tịnh Độ, cho đó là đạo để hàng ngu phu, ngu phụ hành trì, bị ngài Thiên Như quở trách, bảo đấy chẳng phải là coi thường hạng ngu phu ngụ ấy, mà là coi rẻ Mă Minh, Long Thọ, Văn Thù, Phổ Hiền. Vì thế, tôi soạn Di Đà Kinh Sớ Sao nêu rõ chỉ thú rất sâu này, họ lại cho rằng giảng giải kinh này chớ nên quá sâu vì kinh ấy rốt cuộc là đạo để ngu phu ngu phụ hành trì. Đức Phật nói kinh này là pháp khó tin chẳng đúng lắm ư?

 

* Tịnh Độ là pháp khó tin (2)

 

          Hoặc là có kẻ nói chớ nên giảng giải quá sâu, vì kinh này vốn nông cạn, [sao thầy cứ] dùi mài khiến cho nó thành sâu, do vậy chớ nên. Ôi! Pháp Hoa coi lời lẽ bình trị cõi đời đều là Thật Tướng, mà kinh này cắt ngang sang tử, tiến thẳng lên Bất Thoái, há chẳng bằng lời lẽ bình trị cõi đời ư? Hoặc lại nói kinh này thuộc Phương Đẳng, lời Sớ lại cho là Viên thì chẳng được! Ôi! Quán Kinh cũng thuộc về Phương Đẳng, ngài Trí Giả phán định là Viên. Viên Giác cũng thuộc Phương Đẳng, ngài Khuê Phong phán định là Viên. Đối với kinh Di Đà, tôi đặc biệt phán định là Phần Viên, có gì là chẳng được? Đức Phật nói đây là pháp khó tin chẳng đúng lắm ư?

 

* Tịnh Độ là pháp khó tin (3)

 

          Trong kinh Hoa Nghiêm quyển mười, Chủ Dược Thần đạt được môn giải thoát “niệm Phật diệt hết thảy bệnh cho chúng sanh”, Thanh Lương Sớ giảng “hướng về xưng niệm một vị Phật, tam-muội dễ thành, nhất tâm kính trọng nồng hậu, các điều khác đều trọn hết”. Huống hồ lắng lòng nơi nẻo giác, ngầm hành phương tiện lớn lao ư? Mấy câu trước rộng tán dương chuyên niệm, hai câu sau đàm luận nhập lý sâu xa, ai nói Tịnh Độ là nông cạn? Phẩm Hạnh Nguyện bàn rộng bất khả thuyết thế giới hải, bất khả thuyết công đức của Phật, Bồ Tát, mà lâm chung chẳng cầu sanh Hoa Tạng, lại cầu sanh Cực Lạc, ai nói Tịnh Độ là nông cạn? Thánh hiền để lại lời giáo hóa như thế, mà con người tự coi là nông cạn. Đức Phật nói đây là pháp khó tin chẳng đúng lắm ư?

 

* Niệm Phật chẳng trở ngại tham Thiền

 

          Cổ nhân nói “tham Thiền chẳng trở ngại niệm Phật, niệm Phật chẳng trở ngại tham Thiền”. Lại nói: “Chẳng được tu kèm lẫn nhau”. Nhưng cũng có vị tu Thiền kiêm Tịnh Độ, như các vị Viên Chiếu Tông Bổn, Chân Hiết Thanh Liễu, Vĩnh Minh Diên Thọ, Hoàng Long Ngộ Tân, Từ Thọ Hoài Thâm v.v… đều là bậc đại tông tượng của Thiền Môn, nhưng lưu tâm nơi Tịnh Độ, chẳng trở ngại Thiền! Do vậy biết: Người tham Thiền tuy niệm nào cũng tham cứu bổn tâm của chính mình, nhưng chẳng trở ngại phát nguyện, nguyện khi mạng chung vãng sanh Cực Lạc. Vì lẽ nào vậy? Tham Thiền tuy đạt được ngộ xứ, nếu chẳng thể như chư Phật trụ trong Thường Tịch Quang, lại chẳng thể như A La Hán chẳng thọ hậu hữu (thân sau), thì khi hết một báo thân này, ắt có sanh xứ. So với việc sanh trong nhân gian thân cận minh sư, sao tốt đẹp hơn sanh trong hoa sen, thân cận Phật Di Đà? Do vậy, niệm Phật chẳng chỉ không trở ngại tham Thiền, mà thật sự còn hữu ích cho tham Thiền.

 

* Răn thầy thuốc đừng sát sanh

 

          Đào Ẩn Quân[156] dùng các con vật sống làm thuốc, [do sát nghiệp] bèn bị vướng mắc, chẳng thể thăng thiên! Sát sanh để thỏa thích bụng miệng, đúng là chẳng nên. Tổn hại mạng của con vật để bảo toàn tánh mạng của con người, lẽ đâu vô tội? Chẳng biết quý người mà coi rẻ con vật, xem đó là lẽ thường tình, chẳng phải là cái tâm bình đẳng của chư Phật, Bồ Tát. Giết một mạng để cứu sống một mạng khác, người có lòng nhân chẳng làm, huống hồ sống chết có phần định sẵn, chưa chắc đã có thể cứu sống được? Chỉ càng tăng thêm oan nghiệt, báo ứng mà thôi! Người bị bệnh hãy nghĩ kỹ, người theo nghề y hãy nên nghĩ kỹ!

Vân Thê Pháp Vựng

Phần 3 hết

 



[1] Đổng Vân tự Tử Đào, hiệu La Thạch, là một thi nhân nổi tiếng đời Minh, sống ở vùng Chiết Giang. Lúc sáu mươi tám tuổi, ông sang chơi vùng Cối Kê, nghe Vương Dương Minh giảng giải trong núi, bèn đến nghe. Ông có dịp đàm luận cùng Vương Dương Minh suốt ngày đêm, bèn cầu xin làm đệ tử. Vương Dương Minh từ chối, viện cớ “có bao giờ đệ tử lớn tuổi hơn thầy”. La Thạch cầu khẩn ba lượt, Dương Minh mới nhận lời. Do Vương Dương Minh có công dẹp cuộc phản loạn của Ninh Vương (Châu Thần Hào) trong ṿng bốn mươi hai ngày, ông được phong làm Tân Kiến Bá, nên Tổ thường gọi Vương Dương Minh là Tân Kiến.

[2] “Chư tử bách gia” là từ ngữ chỉ chung trước thuật, học thuyết của các tư tưởng gia từ thời Tiên Tần (trước khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, thống nhất Trung Hoa) cho đến đầu đời Hán, như Khổng Tử, Lão Tử, Mặc Tử, Hàn Phi Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Mạnh Tử, Liệt Tử, Tôn Tử, Thân Tử, Cáo Tử, Quỷ Cốc Tử v.v… Bách gia không có nghĩa là trăm nhà mà chỉ là từ ngữ chỉ chung các trường phái học thuyết khác nhau, bao gồm Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia, Danh gia, Binh gia, Âm Dương gia, Nông gia, Tung Hoành gia, Tạp gia v.v…

[3] Cao Hoan (496-547) là người Tiên Ty, tên lúc nhỏ là Hạ Lục Hồn, là quyền thần giữ chức Tướng Quốc (Thượng Trụ Quốc) thời Bắc Ngụy. Sau khi Hiếu Trang Đế (Nguyên Tử Du) nhà Ngụy giết chết bè lũ quyền thần Nhĩ Châu Vinh, bộ tộc Nhĩ Châu do Nhĩ Châu Trọng Viễn, Nhĩ Châu Độ Luật v.v… dẫn quân đến đánh, bắt được Hiếu Trang Đế, giết chết vua, rồi lập Trường Quảng Vương Nguyên Diệp lên làm vua. Sau đó, bè lũ họ Nhĩ Châu lại phế Nguyên Diệp, đưa Nguyên Cung lên làm vua (tức Ngụy Tiết Mẫn Đế). Năm 531, khi thế lực lớn mạnh, Cao Hoan khởi binh, tôn Nguyên Lãng lên ngôi, xóa sổ họ Nhĩ Châu. Sau đó, ông ta phế Nguyên Cung, tôn Nguyên Tu thuộc dòng đích lên làm vua, tức Ngụy Hiếu Vũ Đế. Do vậy, ông ta được phong là Bột Hải Vương, chức Thượng Trụ Quốc, gả con gái cho vua làm hoàng hậu. Sau đó, Hiếu Vũ Đế e ngại thế lực của Cao Hoan, bèn dựa dẫm một quân phiệt khác là Vũ Văn Thái, dời đô sang Trường An. Cao Hoan liền lập Nguyên Thiện Kiến lên ngôi tại Lạc Dương, tức Ngụy Hiếu Tĩnh Đế, và dời đô từ Lạc Dương về Nghiệp Thành, sử gọi đó là nhà Đông Ngụy. Về sau, con ông ta là Cao Dương phế trừ Ngụy Hiếu Tĩnh Đế, tự lập làm vua, lập ra nhà Tề, Sử gọi triều đại ấy là nhà Cao Tề, hoặc Bắc Tề. Gọi là Lục Triều hay thời Nam Bắc Triều (220-589) là do khi nhà Ngụy suy yếu, các quân phiệt tự lập làm vua, chia Trung Hoa thành hai hệ thống triều đình riêng biệt: Bắc Trung Hoa có các triều đại Tây Tấn, Ngũ Hồ Thập Lục Quốc, Bắc Ngụy, Đông Ngụy - Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Châu, còn Nam Trung Hoa có các triều đại: Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần. Giai đoạn này chấm dứt khi Dương Kiên thống nhất Trung Hoa, lập ra nhà Tùy.

[4] Hộc thực (斛食) là một cái hộp vuông bằng gỗ, dùng để đựng cơm cúng cho các vong linh trong tam giới. Đấy là dựa theo ý trong kinh Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni, đức Phật dạy dùng cái hộc của nước Ma Già Đà để thí cơm cho ngạ quỷ.

[5] Hà Dận (446-531), tự Tử Quư, c̣n có tên tự khác nữa là Dận Thúc, người huyện Tiềm, quận Lô Giang (tỉnh An Huy), là nhà kinh học (chuyên nghiên cứu kinh điển Nho gia) sống vào đời Nam Tề và Nam Lương. Ông ta tinh thông kinh Dịch, Lễ Kư, Mao Thi và c̣n học kinh Phật.

[6] Lý Tư là thừa tướng thời Tần Thủy Hoàng và Tần Nhị Thế. Ông là người nước Sở, học trò của Tuân Tử. Thoạt đầu, Lý Tư xin làm môn hạ của Lã Bất Vi (thừa tướng nước Tần). Sau đó, nhờ tài ăn nói và văn chương, Lý Tư trở thành nổi bật trong đám môn khách. Khi Tần Thủy Hoàng bắt giam Lã Bất Vi, do là môn khách của họ Lã, Lý Tư bị xua đuổi, ông ta liền viết Gián Trục Khách Thư dâng lên vua Tần. Vua Tần bị thuyết phục, đồng ý sử dụng ông ta. Dùng âm mưu quỷ kế, ông ta ngoi dần lên thành thừa tướng. Chính ông ta xúi vua Tần đốt sách vở của bách gia chư tử, chế định luật pháp, thống nhất văn tự. Dưới thời Tần Nhị Thế, ông ta bị Triệu Cao dần dần đoạt quyền, cuối cùng bị kết tội tử hình (chém ngang lưng). Thượng Thái là quê hương của Lý Tư (nay là huyện Thượng Thái, tỉnh Hà Nam).

[7] Trần Hậu Sơn (1053-1101), tên thật là Trần Sư Đạo, tự Lý Thường, và Vô Kỷ, biệt hiệu là Hậu Sơn cư sĩ, là thi nhân nổi tiếng thời Bắc Tống.

[8] Sau khi đã ngộ, trong thức thứ tám vẫn còn lưu lại vô lượng chủng tử ác nghiệp từ vô lượng đời quá khứ, đó gọi là lưu thức. Do lưu thức mà sẽ sanh khởi các nghiệp trong hiện tiền, đó gọi là hiện nghiệp.

[9] Tức là Ma Cốc Bảo Triệt, đệ tử đắc pháp của Mă Tổ Đạo Nhất. Do sau khi đắc pháp nơi Mă Tổ, Sư trụ tại núi Ma Cốc ở Bồ Châu (tỉnh Sơn Tây) để hoằng dương tông phong, nên được gọi là Ma Cốc Bảo Triệt.

[10] Diệu Hỷ là hiệu của ngài Đại Huệ Tông Cảo (1089-1163), một vị cao tăng thuộc phái Dương Kỵ trong tông Lâm Tế đời Tống. Ngài có pháp tự là Đàm Hối, lại còn có hiệu là Vân Môn. Ngài xuất gia năm mười bảy tuổi, tham học với các vị Động Sơn Vi, Trạm Đường Văn Chuẩn, Viên Ngộ Khắc Cần v.v… Về sau, nối pháp của ngài Viên Ngộ.

[11] Nguyên văn “càn thỉ quyết” (乾屎橛) là một công án trong Thiền gia. Thỉ quyết còn gọi là xí trù, tịnh trù, tịnh mộc, xí giản tử v.v… là một dụng cụ để gạt phân trong nhà xí (vì xưa kia, chưa có hầm vệ sinh như hiện thời, phân phải chứa vào thùng rồi đem đổ. Dụng cụ này dùng để gạt phân khi quá đầy để khi khiêng đổ đi, không vương vãi ra đất). Sách Chỉ Nguyệt Lục ghi: “Lâm Tế nói: ‘Trong khối thịt đỏ hỏn này có một vị chân nhân chẳng có địa vị, người chưa có chứng cứ hãy xem đi’. Có một vị tăng bước ra hỏi, Lâm Tế đáp: ‘Đó là que cứt khô’. Lại có một vị tăng hỏi: ‘Như thế nào là người trong đạo?’ Đáp: - Que cứt khô”. Các câu kế tiếp như ba cân gai, cưa đứt quả cân v.v… đều là các công án trong Thiền Tông.

[12] Trong thiên Ung Dã sách Luận Ngữ, Khổng Tử nói: “Chất thắng văn tắc dã, văn thắng chất tắc sử, văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử”. Theo các nhà chú giải, Chất là sự thật, còn Văn là những lời đẹp đẽ, bóng by. Do vậy, câu trên đây phải hiểu là: “Sự thật vượt hơn văn chương bóng by thì thành quê kệch, chỉ chú trọng bóng bẩy hơn sự thật thì gọi là Sử. Văn chương và bản chất phải cân bằng tương xứng, thì mới thành bậc quân tử.

[13] Nam Hoa nói ở đây tức là Nam Hoa Kinh, chính là tên gọi khác của sách Trang Tử. Sách Trang Tử là tác phẩm tập hợp các giai thoại, ngụ ngôn, những câu nói của Trang Châu (Trang Tử). Do tương truyền ông ẩn cư tại núi Nam Hoa ở Tào Châu, cho nên đạo sĩ trong các đời thường gọi ông là Nam Hoa tiên nhân. Vì thế, Đường Huyền Tông ban phong hiệu cho ông là Nam Hoa Chân Nhân, và bắt dân chúng gọi sách Trang Tử là Nam Hoa Kinh.

[14] Tứ tử ở đây là nói tới Tứ Thư, tức Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung, và Mạnh Tử.

[15] Trong thiên Công Tôn Dã sách Luận Ngữ, khi được Tử Lộ hỏi về chí nguyện của chính Ngài, Khổng Tử nói: “Lão giả an chi, bằng hữu tín chi, thiếu giả hoài chi”. Các nhà chú giải giảng câu này phải hiểu là “khiến cho người già được sống an ổn, giao du với bạn bè luôn giữ chữ tín, quan tâm đến những người ít tuổi.

[16] Nguyên văn là Sanh () tức các con vật lớn dùng để giết mổ trong các cuộc lễ cúng tế như trâu, bò, dê, lợn, cừu.

[17] Ngài Huệ Hồng Giác Phạm (1071-1128), pháp danh Đức Hồng, pháp tự Giác Phạm, hiệu là Tịch Âm tôn giả, Cam Lộ Diệt v.v… Sau khi cha mẹ mất lúc Ngài mười bốn tuổi, phải nương nhờ chùa Bảo Vân thuộc núi Tam Phong, huyện Tân Xương. Sau đó, Ngài theo học với thiền sư Khắc Văn. Ngài có thi tài, được các bậc văn nhân nổi tiếng thời đó như Trần Quán, Hoàng Đ́nh Kiên, Trương Thương Anh hết sức tán thưởng. Năm Đại Quán thứ ba (1109), Ngài trụ tại chùa Thanh Lương ở phủ Giang Ninh, bị một tăng nhân vu cáo ngụy tạo tăng tịch, cho nên bị tù một năm, tước mất tăng tịch. May nhờ cựu tể tướng Trương Thương Anh tấu tŕnh mới được phục hồi tăng tịch. Hai năm sau, do Trương Thương Anh mắc tội, Ngài bị liên lụy. Triều đ́nh hạ lệnh phạt hai mươi trượng và sung quân, ba năm sau mới được tha. Năm Chánh Ḥa thứ tám (1118), Ngài lại bị một đạo sĩ vu cáo, bị tù một lần nữa hết một trăm ngày. Khi đó, bè lũ gian nịnh của Sái Kinh thất thế, triều đ́nh phục hồi quan tước cho Trương Thương Anh, Trần Quán v.v… Ngài Giác Phạm phải nhiều lượt kêu cầu phục hồi tăng tịch cho chính ḿnh.

[18] Tô Đông Pha tên thật là Tô Thức, tên tự là Tử Chiêm và Hòa Trọng. Do ông làm nhà ở sườn núi, lấy hiệu là Đông Pha cư sĩ, nên thường được gọi là Tô Đông Pha.

[19] Hàn Tín là người xứ Hoài Âm, là khai quốc công thần của nhà Hán. Ông xuất thân bình dân, giỏi dụng binh, có mỹ hiệu là Binh Tiên. Ông được Tiêu Hà ca ngợi là Quốc Sĩ Vô Song. Sau khi giúp Lưu Bang diệt Sở, thống nhất Trung Hoa, ông bị Hán Cao Tổ (Lưu Bang) nghi kỵ, dần dần tước đoạt binh quyền, chỉ phong cho một tước hữu danh vô thực là Hoài Âm Hầu. Cuối cùng, chính Tiêu Hà ngầm mưu với Lữ Hậu (vợ Lưu Bang) dùng ngũ hình phanh thây giết chết Hàn Tín tại cung Trường Lạc. Lúc hàn vi, Hàn Tín thường đói ăn, được một người đàn bà làm nghề giặt giũ ở bên sông (phiếu mẫu) cho ăn, nên khi hiển đạt bèn mời bà ta đến biếu tặng ngàn lượng vàng. Hàn Tín từng bị một gã bán thịt vô lại ở Hoài Âm bắt nạt, bắt luồn qua háng hắn. Khi thành danh, Hàn Tín vẫn mời hắn đến tặng vàng, cảm ơn hắn đã khiến mình quyết chí tiến lên.

[20] Tổng Nhung hay Đại Tổng Nhung là tên gọi khác của chức quan Tổng Binh, còn gọi là Trấn Hiến. Chức quan này được thiết lập từ đời Minh, cùng cấp với chức Tổng Đốc bên văn quan, nhưng thấp hơn chức Đề Đốc một cấp. Tổng Nhung coi về quân sự trong một tỉnh, là hạ quan của Tuần Phủ (quan văn coi một tỉnh).

Thích Kế Quang (1528-1588), tự Nguyên Kính, hiệu là Nam Đường và Mạnh Chư, là võ tướng nổi tiếng thời Minh. Ông từng có công phòng ngự cướp biển Oa Khấu miền Đông Trung Hoa. Ông giỏi võ, khéo dụng binh, nổi tiếng về quyền pháp, chuyên sử dụng côn và thương. Ông viết nhiều sách võ học, nổi tiếng là hai bộ Kỷ Hiệu Tân Thư và Luyện Binh Thật Ký.

[21] Vương Linh Quan còn gọi là Vương Thiên Quân, Long Ân Chân Quân, Thái Ất Lôi Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn, Ngọc Xu Hỏa Phủ Thiên Tướng v.v… là thần trấn thủ sơn môn của Đạo giáo, kiêm chủ trì hỏa bộ và lôi bộ, cũng như là thần hộ pháp. Vị này là thần hộ pháp được sùng bái nhất trong Đạo giáo, thường được tạc tượng thờ có ba mắt, con mắt tròn xoe phẫn nộ, mặt đỏ, khoác giáp đỏ, chân đạp trên phong hỏa luân, một tay cầm roi kim cang, tay kia kết ấn Linh Quan (còn gọi là Thông Thiên Chỉ).

[22] Cờ vây (dịch kỳ, ), còn gọi là Vi Kỳ (圍棋), hoặc Thủ Đàm (手談) hoặc Kỳ (), là một loại cờ truyền thống của Trung Hoa, vẫn còn được chơi cho tới hiện thời. Khi nói “cầm kỳ thi họa” th́ Kỳ chính là nói loại cờ này. Loại cờ này cũng được chơi khá phổ biến tại Nhật Bản và Đại Hàn. Tương truyền loại cờ này do Hoàng Đế phát minh. Do Thái Tử Đan Châu ngạo mạn, tự mãn, nên vua chế ra loại cờ này để uốn nắn tâm tánh của con mình. Bàn cờ có mười chín vạch mỗi phía, gồm hai quân cờ đen và trắng. Các con cờ sẽ đặt trên giao điểm của các đường kẻ này. Đúng như tên gọi, người chơi cờ dùng con cờ bao vây đối thủ cho đến khi đối thủ không thể di chuyển được nữa.

[23] Tức nhạc đám ma.

[24] Cách nói này dựa trên thành ngữ “ải nhân khán kịch” (người lùn xem tuồng), xuất phát từ một câu chuyện ngụ ngôn: Gã lùn đi xem tuồng, do quá lùn, chỉ thấy bóng lưng của người khác, chẳng thấy sân khấu đang diễn gì. Gã nghe người khác vỗ tay khen, cũng hò hét khen hay, nghe chê dở cũng gào thét chê dở. Thành ngữ này được dùng để chê trách kẻ chẳng hiểu biết, chỉ biết hùa theo đám đông, không phân biệt hay dở, không có chánh kiến. Tổ dùng thành ngữ này tự giễu: Thuở trẻ chính ḿnh chưa biết Phật pháp là ǵ, chưa hề đọc kinh Phật, chỉ nghe bọn Tống Nho bác Phật cũng hùa theo đả kích Phật, giống như gă lùn xem tuồng vậy!

[25] Lợn người (nhân trệ, 人彘) là hình thức trả thù thảm khốc do Lữ Hậu (vợ của Hán Cao Tổ Lưu Bang) nghĩ ra để trừng trị Thích phu nhân (sủng phi của Hán Cao Tổ). Khi Hán Cao Tổ trở thành hoàng đế, Lữ Hậu tuổi đã cao, nhan sắc tàn tạ, Hán Cao Tổ chán ngán, thường sủng ái Thích phu nhân (còn gọi là Thích Cơ). Mỗi khi vua xuất chinh, tuần du, đều dẫn Thích Cơ theo. Do Thích phu nhân trẻ đẹp, vua rất sủng ái. Nàng có một người con tên là Lưu Như Ý, được phong làm Triệu Vương. Thích phu nhân thổi gió bên tai vua, mong con nàng được phong làm Thái Tử. Vua nghe ton hót, toan phế thái tử Lưu Doanh (con trai của Lữ Hậu), may nhờ Trương Lương hiến kế, Lữ Hậu mới bảo toàn được địa vị thái tử cho con trai. Sẵn lòng ghen tức, khi vua chết, Lữ Hậu sai người bắt Thích phu nhân cạo trọc đầu, cho mặc quần áo rách rưới, bắt giã gạo từ sáng đến tối. Sau đó, sai người giết chết Lưu Như Ý, chặt chân tay, khoét mắt, chọc tai của Thích phu nhân, rạch mặt, ném vào nhà xí cho sống trong đó, gọi là “nhân trệ” (lợn người).

Tiêu phi chính là vợ lẽ của thái tử Lý Trị (Đường Cao Tông sau này). Bà là hậu duệ của nhà Lương (con cháu Lương Vũ Đế). Khi Lý Trị lên ngôi, bà được phong làm Thục Phi, chỉ kém Vương hoàng hậu một chút. Tiêu phi từng ỏn thót mong vua phong cho con mình làm Thái Tử. Do ghen tức, Vương hoàng hậu lại nghe lời ngon ngọt của Vũ Chiếu (tên thật của Vũ Tắc Thiên) lúc đó đang bị đưa đi làm ni cô canh lăng mộ của Đường Thái Tông, xin vua đón Vũ Chiếu về cung để vua bớt sủng ái Tiêu phi. Do trước đó, Lý Trị đã tằng tịu với Vũ Chiếu, nên khi Vương hoàng hậu ton hót, vua bèn đồng ý đón Vũ Chiếu về cung. Vũ Chiếu dùng mọi âm mưu hạ bệ Vương hoàng hậu lẫn Tiêu phi, trở thành hoàng hậu, hoàn toàn khống chế Đường Cao Tông. Bà ta cũng bắt chước Lữ Hậu dùng thảm hình “nhân trệ” để hành hạ Tiêu phi và Vương hoàng hậu.

[26] Ngài Thạch Sương Sở Viên tự là Từ Minh, thuộc tông Lâm Tế, trụ tại núi Thạch Sương ở Đàm Châu, nên thường gọi là Thạch Sương. Sư thoạt đầu học Nho, hai mươi hai tuổi xuất gia, nối pháp của ngài Phần Dương Thiện Chiêu. Từ đệ tử của ngài mà tông Lâm Tế tách ra thành hai phái là Hoàng Long và Dương Kỵ.

[27] Năm Hàm Thông thứ mười (869), vào ngày Hai Mươi Mốt tháng Ba, ngài Động Sơn Lương Giới (tổ sư của tông Tào Động) sai đệ tử cạo tóc, đắp y cho mình, nói pháp ngữ khai thị xong, Ngài ngồi xếp bằng an nhiên ra đi. Đệ tử khóc than dữ dội. Ngài Động Sơn lại mở mắt ra, bảo đại chúng: “Đều là người xuất gia, tâm ắt phải thuần tịnh, chẳng tạp, mới là chân chánh tu hành, sao lại buồn khóc quá người thế tục như vậy?” Đại chúng thỉnh cầu quá tha thiết, Ngài dời ngày viên tịch thêm bảy ngày nữa. Đến ngày thứ bảy, Ngài sai tăng chuẩn bị cơm chay đãi đại chúng. Khi thọ trai, Ngài chỉ vào các món chay, bảo: “Những món chay này gọi là chay ngu si”. Ngụ ý chê trách đại chúng tu hành chẳng hướng theo trí huệ Bát Nhã, chẳng ngộ nhập sâu xa sanh tử chẳng đến, chẳng đi, cứ chấp trước vào hình tướng sanh diệt. Tới ngày thứ tám, Ngài thay áo mới, an nhiên tọa thoát.

[28] Vị này là cao tăng thuộc phái Dương Kỳ của tông Lâm Tế, sống vào đời Tống, người xứ Vụ Châu (tỉnh Chiết Giang), pháp hiệu là Tổ Khâm, hiệu là Tuyết Nham. Sư lúc năm tuổi xuất gia làm sa-di, mười sáu tuổi đắc độ. Sư từng tham học các vị Thiền túc nổi tiếng thời bấy giờ như Song Lâm Tự Đoản Bồng Viễn, Diệu Phong Chi Thiện, Diệt Ông Văn Chuẩn, Kính Sơn Vô Chuẩn Sư Phạm, về sau nối pháp của ngài Sư Phạm. Sư còn để lại tác phẩm Tuyết Nham Hòa Thượng Ngữ Lục gồm bốn quyển.

[29] Khi một triều đại mới thành lập thì gọi là Quốc Sơ, ở đây là nói lúc nhà Minh mới thành lập.

[30] Không Cốc Ảnh Long, pháp tự Tổ Đ́nh, pháp hiệu Không Cốc, là tăng nhân thuộc tông Lâm Tế, sống vào đầu đời Minh. Sư là người Động Đ́nh, Tô Châu, hai mươi tuổi xuất gia, ba mươi lăm tuổi thọ Cụ Túc tại chùa Chiêu Khánh. Sư chủ trương dùng Niệm Phật Thiền làm pháp yếu tu hành, đề xướng “một môn niệm Phật là cốt yếu để tu hành nhanh chóng”, phản đối phương thức tham công án. Trong năm Chánh Thống thứ năm (1440), Sư soạn Thượng Trực Biên để phản đối những lư luận báng Phật của Châu Hy. Lại c̣n soạn Thượng Lư Biên để chê trách những sai lầm trong cách tu hành Phật pháp của người đương thời.

[31] Tức địa vị Thập Tín.

[32] Trong cách lập luận của Nhân Minh Học thường gồm có ba phần: Phần nêu ra một luận điểm, hay một điều khẳng định th́ được gọi là Tông. Phần thứ hai nêu ra nguyên nhân hay lời giải thích v́ sao có sự khẳng định ấy. Điều này gọi là Nhân. Phần thứ ba là Dụ, tức dùng thí dụ để giải thích rơ hơn.

[33] Khổng Tùng Tử (孔叢子) là một bộ sách cổ ghi chép ngôn hạnh của Khổng Tử và các môn đệ hoặc hậu duệ như Tử Tư, Tử Thượng, Tử Cao, Tử Thuận, Khổng Phụ v.v… Sách ấy ghi tác giả là Khổng Phụ. Sách được chia thành sáu quyển, gồm hai mươi mốt thiên. Tác phẩm này được nhắc đến lần đầu tiên trong bộ Chứng Thánh Luận của Vương Túc thời Tào Ngụy. So sánh văn phong và cách sử dụng từ ngữ giữa bộ Khổng Tùng Tử và bộ Khổng Tử Gia Ngữ, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng sách Khổng Tùng Tử cũng do chính Vương Túc soạn rồi gán cho Khổng Phụ.

[34] Dương Giản (1141-1226), tự là Kính Trọng, được cõi đời gọi là Từ Hồ tiên sinh, là một nhà Lý học thời Nam Tống, chú trọng phát triển thuyết Tâm Học.

[35] Theo các nhà chú giải, câu nói này có ý dạy người học phải biết tập trung tinh thần. “Ra, vào” (xuất nhập) trong câu nói trên đây chính là khi chú ý nắm vững sự vật thì gọi là nhập, quên bẵng không chú ý tới nó là xuất. Để tập trung tinh thần, phải luôn chú ý, chứ nếu hời hợt, không chú ý, những điều đã học sẽ bị quên mất, tinh thần không có chỗ chú ý tập trung nhất định thì gọi là “xuất nhập vô thời”. Khi tinh thần không tập trung, nó sẽ không có phương hướng nhất định, nên nói là “mạc tri kỳ hương” (không biết sẽ đi về đâu, hoặc không biết quy vào đâu). Nhưng ở đây, tổ Liên Trì hiểu câu này theo phương hướng nhà Thiền, “xuất nhập” tức là không chấp trước sự vật, sự đến hay sự đi đều chẳng bận lòng, tâm trí nhập vào cảnh tịch tĩnh, chẳng thể dùng tư duy thông tục để suy lường, nên nói là “mạc tri kỳ hương” (chẳng biết nó quy vào đâu).

[36] Bích Nham Tập còn gọi là Bích Nham Lục, do ngài Viên Ngộ Khắc Cần soạn vào đời Tống. Sách này vốn do ngài Tuyết Đậu Trùng Hiển chọn ra một trăm công án từ một ngàn bảy trăm công án trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, viết thêm lời tụng cho mỗi công án. Về sau, ngài Viên Ngộ đối với các công án bèn thêm lời giải thích, bình luận, nhận định. Tức là đối với mỗi công án, ngài viết lời dẫn nhập giới thiệu, ghi sơ lược hoàn cảnh vì sao có đoạn công án ấy, bình luận về ý nghĩa của cơ phong, tự soạn kệ tụng, và nhận định chung. Gọi là Bích Nham Tập là do dựa theo chữ đề trên phương trượng thất tại chùa Linh Tuyền ở Giáp Sơn thuộc Lễ Châu.

[37] Tụng Cổ là một thể loại kệ tụng dùng trong nhà Thiền. Tụng Cổ tức là dùng lời lẽ đơn giản viết thành kệ tụng để chrõ ý nghĩa được biểu thị trong lời dạy của cổ nhân (thường áp dụng cho công án).

[38] Bình Xướng (評唱): Bình luận, nhận định để đề cao một ý kiến của cổ nhân.

[39] Đâu Suất Tùng Duyệt (1044-1091) là cao tăng thuộc tông Lâm Tế, sống vào đời Tống - Nguyên. Ngài quê ở Cám Châu, tỉnh Giang Tây, mười lăm tuổi xuất gia với thiền sư Y Đức Tung, về sau kế thừa pháp mạch của thiền sư Bảo Phong Khắc Văn, trở thành pháp duệ của tổ Hoàng Long Huệ Nam. Trương Vô Tận tức là Trương Thương Anh. Ông này làm Hữu Thừa Tướng thời Tống Huy Tông. Do Trương Thương Anh lấy hiệu là Vô Tận cư sĩ, nên gọi là Trương Vô Tận. Do Trương Thương Anh đắc ngộ nơi ngài Tùng Duyệt khiến cho giới sĩ phu thời ấy hâm mộ Phật pháp, lưu tâm nghiên cứu Thiền Tông.

[40] Thoái viện có nghĩa gốc là rời khỏi tự viện, được dùng ở đây với ý nghĩa từ bỏ hoặc bị tước hết ngôi vị trong chùa như tọa chủ, phương trượng, trụ trì, giám viện… chẳng hạn.

[41] Lão Tử Thanh Tĩnh Kinh có tên gọi đầy đủ là Thái Thượng Thanh Tĩnh Kinh, còn gọi là Thường Thanh Tĩnh Kinh, là một bản kinh của Đạo giáo do người đời sau soạn ra, gán cho Lão Tử nói. Các đạo sĩ tương truyền bản kinh này do Lão Tử khi viếng thăm núi Côn Luân đã giảng cho Tây Vương Mẫu nghe. Các tiên nhân truyền tụng, cuối cùng dạy cho Cát Hồng ghi lại. Các học giả cho rằng bản kinh này ra đời vào thời Lục Triều hoặc nhà Đường. Những nhân vật truyền thừa kinh này như Cát Tiên Ông (Cát Hồng), Tả Huyền Chân Nhân và Chánh Nhất Chân Nhân đều là do người đời sau thêm vào nhằm tạo tính khả tín cho bộ kinh này. Kinh này chưa đến bốn trăm chữ, nội dung có phần nào vay mượn khái niệm tịch tĩnh của kinh Phật kết hợp với tư tưởng của Đạo Đức Kinh.

[42] Tất Lăng Già Bà Tha (Pilinda-vatsa), còn phiên âm là Tất Lăng Già Phạt Tha, Tất Lân Đà Bà Tha, Tất Lan Đà Phạt Tha, Tỷ Lợi Đà Bà Giá, dịch nghĩa là Trừ Tập, Ác Khẩu. Ngài thuộc chủng tánh Bà La Môn, quê ở thành Xá Vệ, thoạt đầu học chú ẩn thân, thành tựu rất có tiếng tăm. Khi gặp đức Phật, chú lực hoàn toàn vô tác dụng, bèn xuất gia làm đệ tử đức Phật. Ngài có tập khí là ăn nói thô thiển, hay thích mắng người khác. Khi vượt sông Hằng, Ngài kêu: “Hằng hà tiện tỳ! Mau tách nước ra”. Nữ thần do tuân phục bậc La Hán, vẫn tách nước sông ra, nhưng ấm ức, bèn đến mách với đức Phật. Đức Phật dạy Ngài xin lỗi nữ thần. Ngài nói: “Hằng hà thần tiện tỳ! Ta sám hối với ngươi. Đại chúng bật cười, vì sám hối kiểu đó khác gì chửi người ta. Đức Phật nói đó là tập khí do năm trăm đời làm Bà La Môn, tạo thành thói quen ngạo mạn. Theo kinh Lăng Nghiêm, Ngài trần thuật pháp Thân Căn Viên Thông: Trong khi đi khất thực, đạp phải gai, toàn thân đau đớn. Do quán niệm cái đau, Ngài ngộ ra: Tâm niệm biết sự đau đớn ấy, nhưng cái tâm thanh tịnh không có đau và cái biết đau, như vậy thì một thân lại có hai cái biết ư? Ngài nhiếp tâm quán niệm. Chẳng lâu sau, thân tâm rỗng không, trong khoảng hai mươi mốt ngày, các lậu tiêu hết, thành quả A La Hán, được đức Phật ấn chứng.

[43] Nguyên văn là Thiên Vận (篇韻) tức là gọi gộp chung hai bộ sách Ngọc Thiên và Quảng Vận. Sách Ngọc Thiên do Cố Dã Vương biên soạn vào đời Nam Lương, Quảng Vận do Trần Bành Niên biên soạn vào đời Bắc Tống. Cả hai sách đều chú trọng cách gieo vần trong văn từ và thơ ca Hán ngữ. Do đó, khi nói Thiên Vận có nghĩa là nói tới âm đọc, gieo vần cho câu văn bóng by, nhịp nhàng.

[44] Đây là dựa theo thành ngữ “học phú ngũ xa” hoặc “độc thư ngũ xa” trích từ sách Trang Tử. Theo đó, thời Chiến Quốc, Huệ Thí nổi tiếng học rộng, sách vở của ông phải tốn năm cỗ xe mới chở hết nổi. Do vậy, hai thành ngữ trên đây nhằm ca ngợi người kiến thức rộng rãi, đọc nhiều, hiểu biết nhiều.

[45] Phụ tử (附子) là một vị thuốc trích từ một loại thảo mộc gọi là Ô Đầu (Aconitum Carmichaelli). Loại thảo mộc này còn được biết dưới tên gọi Thổ Phụ Tử, Đoạn Tràng, Khổ Ô Uế, Hề Độc, Kê Độc, Độc Công, Độc Bạch Thảo. Cây này có củ, hoa tím như cánh bướm lớn, phần thân cây có thể cao đến một mét hai, lá có hình trái xoan, nhiều lông. Cây này kịch độc, cho nên chế biến phải hết sức cẩn thận. Nếu hái lá bằng tay trần, sẽ dễ bị trúng độc, dẫn đến tim ngừng đập.

[46] Phòng Huyền Linh (579-648) tên thật là Phòng Kiều, Huyền Linh là tên tự. Ông là mưu sĩ nổi tiếng, là người phù tá Lý Thế Dân (Đường Thái Tông). Về sau, ông từng giữ các chức Tư Mã, Trung Thư Lệnh (Tể Tướng), Tư Không, Tể Phụ dưới triều Đường Thái Tông, và cũng là một trong hai mươi bốn vị khai quốc công thần được vẽ hình trong Lăng Yên Các, cũng như được phong làm Lương Quốc Công.

Đỗ Như Hối (585-630), tự Khắc Minh, cũng là một trong mưu thần chủ yếu của Lý Thế Dân. Ông làm binh tào tham quân trong phủ của Tần Vương Lý Thế Dân. Thái tử Kiến Thành rất e ngại ông ta, nói: “Người đáng sợ trong phủ Tần Vương chỉ có Đỗ Như Hối và Phòng Huyền Linh”. Ông từng làm đến chức Thượng Thư Hữu Bộc Xạ (phó thừa tướng).

[47] Nguyên văn “từ lục đảm hán” (徐六擔板), xuất phát từ ngạn ngữ “đảm bản hán, đản kiến nhất phương”, tức là kẻ vác tấm gỗ to, chỉ có thể thấy đằng trước, không thấy hai bên được, vì tấm gỗ che khuất tầm nhìn. Thành ngữ này được nhà Thiền dùng để sánh ví kẻ thiên chấp, kiến giải hẹp hòi.

[48] Vũ Di là một quả núi nổi tiếng thuộc tỉnh Phước Kiến, nơi này sản xuất một loại trà nổi tiếng là trà Vũ Di. Phong cảnh nên thơ, cực đẹp, được coi là thắng cảnh trong vùng Nam Hoa. Cửu Khúc chính là sông Cửu Khúc Khê. Sông bắt nguồn từ núi Vũ Di, quanh co uốn lượn dài 58.500 mét, là chi lưu của sông Sùng Dương. Sông và núi hợp thành một cảnh đẹp lung linh, được tán thưởng là hành lang tranh thủy mặc”.

[49] Võng Xuyên chính là Võng Xuyên Trấn thuộc huyện Lam Điền tỉnh Thiểm Tây, rất nhiều cảnh đẹp. Đây là nơi ẩn cư của thi nhân Vương Duy đời Đường. Vương Duy tức là Ma Cật cư sĩ, thơ của ông mang đậm ảnh hưởng Phật giáo, siêu thoát, nên được xưng tụng là Thi Phật.

[50] Kê Đầu Ma (Kukkuṭārāma) còn gọi là Kê Đầu Mạt Tự, Kê Viên, Kê Tước Tự, Kê Tự v.v… thuộc thành Ba Trá Ly Tử (Pāṭaliputta, tức thành phố Patna hiện thời) nước Ma Kiệt Đà, là ngôi chùa do vua Ưu Điền (tức vua A Dục) kiến lập. Theo Tây Vực Ký, lúc hưng thịnh, nơi đây có hơn một ngàn vị tăng trụ. Tu viện này bị phá hủy bởi vua Puṣpamitra Śuṅga. Sau khi lật đổ Khổng Tước vương triều (Maurya), nhà vua đă nỗ lực tiêu diệt Phật giáo, phá chùa (hơn năm trăm ngôi chùa), đốt kinh, giết sư.

[51] Sách này do pháp sư Tri Lễ (Tứ Minh tôn giả) soạn vào đời Tống, nhằm chú thích (sao) lời chú giải (sớ) Quán Kinh của tổ Thiên Thai Trí Giả đại sư. Ngài Tri Lễ nói “trên là vâng theo tông chỉ mầu nhiệm, giải nghĩa đại lược lời Sớ” nên đặt tên sách là Diệu Tông Sao, tức nêu rơ lư luận và phương hướng dùng Thiên Thai giáo quán để tu pháp môn Niệm Phật.

[52] Nguyên văn “du tư” (油糍 hoặc 油餈) là một loại bánh rán, thường dùng như một món ăn vặt ở Hoa Nam. Bánh làm bằng bột nếp (hoặc bột mì) trộn lẫn với bột khoai, bọc nhân bằng củ cải thái sợi, sợi khoai môn, tôm băm nhuyễn, các loại rau bằm, hành băm, nấm hương, thịt heo bằm, hay các loại rau trộn thịt rồi đem chiên giòn. Bánh chia làm hai loại nhân ngọt (không có thịt) và nhân mặn. Nếu nhân mặn thì ăn với tương ngọt hoặc tương ớt. Nếu là nhân ngọt, nhiều khi phủ một lớp keo đường bên ngoài giống như bánh cam của Việt Nam. Loại bánh này không chỉ ăn vặt, mà còn dùng trong ngày Tết, mang ý nghĩa đoàn viên.

[53] Nguyên văn “sô hoạn” (芻豢): Sô là những con vật ăn cỏ, Hoạn là những con vật ăn ngũ cốc. Do vậy, Sô Hoạn là từ ngữ chỉ chung các con vật như trâu, bò, dê, chó, lợn v.v…

[54] Mạnh Bôn và Hạ Dục là những dũng sĩ nổi tiếng thời Chiến Quốc. Mạnh Bôn có thể tách đôi hai con trâu đang húc nhau bằng tay không, Hạ Dục có thể nâng một ngàn quân dễ dàng (một quân là ba mươi cân, tức mỗi quân là mười lăm kilogram).

[55] Trương Lương và Trần Bình là hai mưu sĩ nổi tiếng thời Tây Hán, được coi là khai quốc công thần của nhà Hán.

[56] Ly Lâu là người được coi là có mắt sáng rất sáng, có thể thấy được mảy lông bé tí trong không trung. Theo thiên Ly Lâu sách Mạnh Tử, Ly Lâu sống vào thời Hoàng Đế. Hoàng Đế đánh mất huyền châu, sai Ly Lâu tìm kiếm. Công Thâu chính là Lỗ Ban. Lỗ Ban họ Công Thâu, tên là Ban, do ông là người nước Lỗ nên thường gọi là Lỗ Ban. Lỗ Ban có tài khéo về chế tác, thiết kế, kiến trúc. Ông được tôn là tổ của thợ mộc, thợ hồ, thợ rèn, thợ khắc đá v.v…

[57] Thẩn () là một loài ṣ lớn ngoài biển, theo truyền thuyết, hơi thở của nó tạo thành huyễn ảnh như thành thị trên mặt biển, nên mới có thành ngữ “hải thị thẩn lâu” (phố biển, lầu thẩn).

[58] Đây là những thí dụ thường được lưu truyền theo quan niệm của người xưa, Tổ chỉ mượn dùng để nói lên ư nghĩa h́nh chất chuyển biến không nhất định.

[59] Bộ sách này có tên gọi đầy đủ là Cổ Kim Thuyết Hải, gồm một trăm bốn mươi hai quyển, do Lục Tiếp và Hoàng Tiêu biên soạn vào đời Minh với sự góp sức của Khương Nam, Cố Định Phương, Cù Học Thiệu, Đường Nỗ, Cố Danh Thế v.v… Sách thâu thập các chuyện dã sử, ghi chép trong dân gian bao gồm nhiều lãnh vực, kể cả các chuyện thần dị. Sách tiếp thu rất nhiều tư liệu từ bộ Thái Bình Quảng Ký và Thuyết Phù, chép các chuyện từ đời Đường cho đến niên hiệu Chánh Đức đời Minh.

[60] Mao Thi là kinh Thi theo trường phái Mao Hanh người nước Lỗ thời Tây Hán phục tạo và hiệu đính. Do Tần Thủy Hoàng đốt sách, kinh điển Nho gia bị thất lạc. Đời Hán, các Nho sĩ tìm cách phục hồi các bản cổ văn dựa theo các bản chép tay do tư nhân cất giấu. Kinh Thi được phục hồi chia thành bốn phiên bản: Tề Thi (do Viên Cố người nước Tề hiệu đính, bản này đã bị thất truyền vào thời Tào Ngụy), Lỗ Thi (do Thân Bồi người nước Lỗ hiệu đính, bản này cũng bị tàn khuyết dưới thời Tây Tấn), Hàn Thi (do Hàn Anh người nước Yên hiệu đính. Bản này bị thất truyền vào thời Bắc Tống), và Mao Thi còn nguyên vẹn đến hiện thời. Do vậy, Thi Kinh hiện thời được lưu truyền chính là bản Mao Thi.

Sở Tao gồm hai ý nghĩa: Một là tác phẩm Ly Tao do Khuất Nguyên nước Sở sáng tác, hai là một thể loại thơ văn của nước Sở, thường gọi là Sở Từ. Các bài văn chương theo thể thức này được Lưu Hướng, Tống Ngọc v.v… sưu tập, hợp thành một bộ sách đặt tên là Sở Từ. Từ thể loại Sở Từ này hình thành các loại phú hoặc từ phú về sau.

 

[61] Phòng Dung làm tể tướng thời Vũ Tắc Thiên, tức là giữ chức Chánh Gián Đại Phu Đồng Phượng Cách Loan Đài Bình Chương Sự. Đến đời Đường Trung Tông, ông bị cách chức, đày đi Khâm Châu (thuộc Quảng Tây), có thuyết nói là Cao Châu (thuộc Quảng Đông). Về sau, chết tại nơi đi đày.

[62] Tức Liễu Tông Nguyên, Hàn Dũ, Nguyên Chấn, Bạch Cư Dị, bốn đại văn học gia thời Đường.

[63] Tái Ông là một câu chuyện trích từ thiên Nhân Gian Huấn trong sách Hoài Nam Tử. Theo đó, Tái Ông là một ông già sống ở biên ải, giỏi nuôi ngựa. Một hôm, con ngựa của ông vô cớ chạy vào vùng người Hồ, thế là ông mất ngựa. Hàng xóm chia buồn, ông đáp: “Biết đâu là chuyện tốt thì sao?” Không lâu sau, con ngựa chạy mất trở lại, dẫn theo một bầy ngựa. Hàng xóm chúc mừng, ông nói: “Biết đâu biến thành chuyện xấu thì sao?” Quả nhiên, không lâu sau, con trai ông cưỡi con ngựa khỏe nhất trong đó, bị té gãy chân, biến thành què quặt. Mọi người an ủi, ông nói: “Biết đâu biến thành chuyện tốt thì sao?” Một năm sau, người Hồ tấn công quan ải, mọi tráng niên đều phải tòng quân. Kết quả là thanh niên trai tráng chết chín phần mười, riêng con ông do què quặt được miễn lính.

[64] Đây là câu chuyện Quản Trọng bắn trúng cái móc giữ đai lưng của Tề Hoàn Công. Năm 686 trước Công nguyên, Tề Tương Công (Khương Chư Nhi) bị đại phu Liên Xưng và Quản Chí Phụ gây binh biến giết chết. Công Tôn Vô Tri thừa cơ chiếm ngôi. Năm sau, đại phu Ung Lẫm giết chết Công Tôn Vô Tri, đưa Tiểu Bạch lên ngôi, nhưng đồng thời, Khước Chi nước Lỗ lại ủng hộ một người anh khác của Tiểu Bạch là Tử Củ lên ngôi. Do vậy, nước Lỗ xua quân tấn công Tề. Quản Trọng khi đó là thuộc hạ của Tử Củ đã giương cung toan sát hại Tiểu Bạch, nhưng chỉ bắn trúng cái móc nơi đai lưng của Tiểu Bạch. Về sau, quân Tề chiến thắng. Bão Thúc Nha đòi Lỗ Trang Công xử tử Tử Củ và giao nạp Quản Trọng. Ai cũng nghĩ Quản Trọng phải chết, nhưng do sự tiến cử nồng nhiệt của Bão Thúc Nha, Tề Hoàn Công (Khương Tiểu Bạch) trọng dụng Quản Trọng làm tướng quốc. Quảng Trọng đưa nước Tề thành bá chủ của chư hầu thuở ấy.

[65] Ý nói: Ngài Nam Nhạc Huệ Tư chỉ nêu ra những cương lãnh chánh yếu của giáo nghĩa trong Pháp Hoa, nhờ đó, đặt cơ sở cho tông Pháp Hoa, nhưng ngài Thiên Thai Trí Giả mới là người hoàn bị giáo thuyết Pháp Hoa.

[66] Ngọc Hành (玉衡) là một ống nhòm dài, có gắn một miếng ngọc ở đầu kia gọi là Tuyền Cơ (璿璣). Trên tuyền cơ, khắc các vạch và vị trí một số ngôi sao để khi xem thiên văn, người ta sẽ xoay miếng ngọc ấy cho phù hợp phương vị mà tính toán vị trí các tinh tú.

[67] Hoàn thiện, hệ thống hóa giáo nghĩa trong một học thuyết thì gọi là tập đại thành. Chẳng hạn như Lục Kinh đã có trước thời Khổng Tử, nhưng ông san định, chỉnh lý, nên gọi là Khổng Tử tập đại thành lục kinh. Trước ngài Thiên Thai Trí Giả đã có những giáo nghĩa về Pháp Hoa của các vị Bắc Tề Huệ Văn, Nam Nhạc Huệ Tư v.v… nhưng tổ Thiên Thai Trí Giả đã hoàn thiện, hệ thống hóa, đặt cơ sở vững vàng cho những khái niệm như Bổn, Tích, nhất niệm tam thiên v.v… khiến cho giáo nghĩa Thiên Thai trở thành hoàn bị, chặt chẽ, nhất quán, nên gọi là “tập đại thành”.

[68] Tức là lẽ ra phải gọi là tông Thiên Thai và tông Thanh Lương (thay v́ gọi là tông Hiền Thủ).

[69] Vị này có tên đầy đủ là Úc Đường Văn Ích, trụ tại chùa Nhạc Lâm, thuộc Khánh Nguyên huyện Phụng Hóa, là pháp tôn đời thứ tư của ngài Đại Huệ Tông Cảo, đắc pháp với ngài Tịnh Từ Ẩn Công.

[70] Mặc Chiếu là cách Thiền do thiền sư Hoằng Trí Chánh Giác của tông Tào Động đề xướng. Nói Mặc tức là nhấn mạnh sự tịch tĩnh, buông xuống chấp trước tự ngă, chẳng bị ngoại cảnh dao động, trong tâm ǵn giữ sự tịch tĩnh. Chiếu tức là tuy tịch tĩnh vẫn nhận biết vạn sự vạn vật rơ ràng, tâm như gương sáng. Mặc Chiếu bị quở trách là Tà Thiền do người đời sau không hiểu ư của Mặc Chiếu, biến thành cách ngồi lặng thinh, không quán chiếu, giống như cỏ cây vô tri, thậm chí bị chê trách là “lănh thủy bào thạch đầu” (nước lạnh ngâm đá).

[71] Đây là phần Hào Từ trong kinh Dịch nhằm giải thích ý nghĩa của hào thứ hai trong quẻ Lý (Thiên Trạch Lý).

[72] Câu này trích từ thiên Thái Giáp Hạ sách Thượng Thư: “Hữu ngôn nghịch ư nhữ tâm, tất cầu chư đạo. Hữu ngôn tốn ư nhữ ý, tất cầu chư phi đạo”. Các vị chú giải giảng rằng: Hễ có điều gì trái nghịch với tâm ý của ngươi, nhất định phải suy xét xem nó phù hợp đạo đức hay không. Nếu có lời lẽ tùy thuận, đẹp dạ ngươi, ắt phải suy xét xem nó có trái nghịch đạo nghĩa hay không?

[73] Đây là hai câu thơ trong bài Đại Đông thuộc phần Tiểu Nhã của kinh Thi: “Châu đạo như thỉ, kỳ trực như thỉ” (đạo cai trị của nhà Châu như đá mài dao, thẳng như mũi tên), mang ý nghĩa ca ngợi: Chánh quyền nhà Châu cai trị dân bằng đường lối sáng suốt, nhân ái, bình thản vững vàng như hòn đá mài dao, gọt giũa những thói hư tật xấu của dân, lại luôn công chánh, thẳng thắn như mũi tên vậy.

[74] Nguyên văn “nhược lân thứ nhiên” (若鱗次然) là cách nói khác của thành ngữ “lân thứ tiết tỷ” (鱗次櫛比: Vảy cá, răng lược), hàm nghĩa san sát, chật kín.

[75] Nguyên văn “xuy lê” (吹藜). Đây là một điển tích. Theo chương Hậu Hán trong bộ Thập Di Ký của Vương Gia đời Tấn, thời Hán Thành Đế (Lưu Ngao), Lưu Hướng (một học giả thuộc hoàng thất nhà Hán) giảo chánh, hiệu đính sách cổ tại Thiên Lộc Các. Lúc Lưu Hướng đang đọc sách ban đêm, bỗng thấy một cụ già mặc áo vàng, cầm một cành lê đốt cháy, thổi lửa soi sáng cho Lưu Hướng đọc sách dễ dàng hơn. Do đó, “xuy lê” được dùng với hai nghĩa: Quyết chí thực hiện việc gì phù hợp với đạo nghĩa th́ sẽ có người giúp đỡ cho thành tựu. Nghĩa thứ hai là ca ngợi sự học tập khắc khổ, cần cù.

[76] Dật () là đơn vị đo trọng lượng thời cổ. Một dật là mười hai lượng hoặc hai mươi bốn lượng.

[77] Tâm số là tên gọi khác của tâm sở, tức các thuộc tánh của tâm vương phát khởi.

[78] Theo Lục Tổ Đàn Kinh, do có một vị tăng đọc bài kệ của Ngọa Luân thiền sư: “Ngọa Luân có tài cán, hay đoạn trăm tư tưởng, đối cảnh, tâm chẳng khởi. Bồ Đề ngày tăng trưởng”, Lục Tổ liền đọc bài kệ trên đây để đối trị.

[79] Ư nói: Người hiện thời toan tính chẳng đoạn suy tưởng, sẽ giống như lụa trắng kháng cự các màu nhuộm vậy! (Lụa trắng chẳng thể nào không nhuốm màu nhuộm!)

[80] Bá Khởi là tên tự của Dương Chấn (59-124). Dương Chấn còn có hiệu là Quan Tây Phu Tử hoặc Tứ Tri Tiên Sinh. Ông là người xứ Hoa Dương (nay thuộc thành phố Hoa Dương, tỉnh Thiểm Tây), là một vị đại thần nổi danh thời Tây Hán, là con trai của ẩn sĩ Dương Bảo. Dương Chấn nổi tiếng học rộng, phẩm đức thanh cao. Ông từng làm đến chức Thái Úy, nổi tiếng cương trực, hạch tội bọn ngoại thích (họ hàng bên vợ vua) lộng quyền không kiêng dè. Trong một chuyến công cán, ông đi qua Xương Ấp, Vương Mật làm ấp lệnh tại đó vốn là người được Dương Chấn đề cử, nên Vương Mật ban đêm tìm tới công quán biếu Dương Chấn mười cân vàng ḥng tạ ơn cất nhắc. Dương Chấn kiên quyết từ chối. Vương Mật kèo nài: “Đêm khuya thanh vắng, chẳng có ai biết, xin Ngài nhận cho”. Ông quát: “Trời biết, đất biết, ta biết, ông biết, sao lại nói là không ai biết?”

[81] Thiên kinh: Kinh có nghĩa là tuân theo quy luật thường hằng. Do đó, thiên kinh chỉ các tinh tú luôn vận hành trên bầu trời theo quy luật, có quỹ đạo riêng biệt. Địa vĩ là những vĩ tuyến trên trái đất, nói rộng ra là các quy luật ứng xử của con người trên mặt đất. Do vậy, “thiên kinh địa vĩ” là từ ngữ chỉ chung những quy luật thường hằng trong thiên nhiên cũng như trong xã hội.

[82] Sơn Hải Kinh là một quyển sách cổ đã có từ thời Tiên Tần, gồm mười tám thiên, không rõ ai là tác giả, chép những truyền thuyết lạ lùng, thuộc loại sách địa lý kiêm thần thoại. Nội dung bao gồm tình hình địa lý, thực vật, động vật, khoáng vật, vu thuật, lịch sử, y dược, tập tục của từng địa phương, và nhất là đặc điểm của các loài yêu quái.

[83] Sách này có tên gọi đầy đủ là Hoàng Cực Kinh Thế Thư do Thiệu Ung (Thiệu Khang Tiết) soạn vào đời Bắc Tống, viết về Hà Lạc thuật số, gồm mười hai quyển, chia thành sáu mươi bốn thiên. Dựa theo Tiên Thiên Dịch Số của Phục Hy, Thiệu Ung hệ thống hóa các quy luật trong tự nhiên và con người, hình thành cơ sở triết học dựa trên Dịch lý. Khái niệm Nguyên được ông đưa ra trong phần Nguyên Hội Vận Thế theo quan niệm mọi việc đều có chu kỳ. Điều này ảnh hưởng đến quan niệm đời Hạ Nguyên (thường đọc trại thành Hạ Nguơn) trong Đạo giáo và các “tôn giáo” mạo danh Phật giáo chánh truyền như Bạch Liên, Nhất Quán Đạo v.v…

[84] Khi đánh xong nước Tề của Điền Quảng, Hàn Tín sai người xin Lưu Bang phong cho mình làm Giả Tề Vương (vua tạm thời của nước Tề). Lưu Bang tức giận vì đang bị quân Sở vây rất gấp ở Huỳnh Dương, nhưng do Trương Lương, Trần Bình can ngăn, vua đành thuận theo phong vương cho Hàn Tín để ông ta khỏi phản nghịch, và thừa dịp trưng dụng quân của Hàn Tín để đánh Sở.

[85] Hựu luật sư chính là ngài Tăng Hựu (415-518). Sư là một vị cao tăng nổi tiếng về Luật Học, đồng thời là một sử gia kiệt xuất về Phật giáo sử. Sư quê ở quận Hạ B́, Từ Châu (nay là Hạ B́ Châu thuộc tỉnh Giang Tô). Thuở bé, Sư theo cha mẹ đến chùa Kiến Sơ (nay thuộc Nam Kinh) dâng hương, lễ Phật xong, nhất định không chịu về nhà. Cha mẹ đành cho Sư xuất gia với ngài Tăng Phạm. Tới lúc mười bốn tuổi, Sư theo học với ngài Pháp Đạt chùa Định Lâm, chuyên học Luật. Đồng thời, ngài Pháp Hiến cũng đang hoằng hóa tại Định Lâm, Tăng Hựu cần mẫn phụng sự hai vị. Sau khi thọ Cụ Túc, Sư lại c̣n học Luật với ngài Pháp Dĩnh, lắng ḷng nghiên cứu Luật Học suốt hai mươi mấy năm. Sau khi ngài Pháp Dĩnh qua đời, Cánh Lăng Vương Tiêu Tử Lương thường thỉnh ngài Tăng Hựu giảng luật. Mỗi lần giảng, có bảy, tám trăm người nghe. Sư lại tuân lệnh Tề Vũ Vương qua vùng Tam Ngô (Hồ Châu, Tô Châu và Thiệu Hưng) để khảo hạch tăng chúng về giới luật, chuyên giảng Thập Tụng Luật. Hễ được cúng dường, Sư đều chuyển cúng cho hai chùa Kiến Sơ và Định Lâm, và kiến lập Kinh Tạng cho hai ngôi chùa này. Trước sau, Sư giảng luật bảy mươi lần. Một công tŕnh được đánh giá rất cao của Sư là bộ Xuất Tam Tạng Kư Tập, tức là mục lục các kinh Phật cổ nhất mà hiện thời c̣n giữ được. Tác phẩm này chính là công tŕnh hiệu đính, tăng bổ, chỉnh lư bộ Tổng Lư Chúng Kinh Mục Lục của ngài Đạo An. Ngoài ra, Sư c̣n trước tác Tát Bà Đa Bộ Tương Thừa Truyện, Thập Tụng Nghĩa Kư, Thích Ca Phổ, Thế Giới Kư, Pháp Uyển Tập, Hoằng Minh Tập, Pháp Tập Tạp Kư Truyện Minh đều là những sử liệu Phật giáo quan trọng.

[86] Quý Lộ chính là Tử Lộ, môn đệ của Khổng Tử. Ông tên thật là Trọng Do, tự là Tử Lộ, được xếp vào hàng Thập Triết (mười đệ tử đứng đầu của Khổng Tử). Ông do nhà nghèo, thường đi xa đội gạo về phụng dưỡng cha mẹ, được coi là một tấm gương hiếu thảo trong Nhị Thập Tứ Hiếu. Về sau, ông theo Khổng Lý nước Vệ. Khi Vệ Hậu Trang Công phát động binh biến, ông do cứu Khổng Lý mà bị giết chết. Vệ Hậu Trang Công còn sai người băm nát di thể của ông.

[87] Tỳ Sương chính là oxide arsenic (As₂O₃) là một chất kịch độc, sắc trắng, không mùi, không vị, thường dùng để đầu độc người khác thời cổ. Trấm () là một loại rượu cực độc ngâm từ lông chim trấm (). Theo truyền thuyết, chim Trấm là một loại chim kịch độc. Người ta lấy lông của nó ngâm rượu, sẽ tạo thành rượu độc.

[88] Nghĩa học tức là kiểu học chú trọng tìm hiểu ý nghĩa, số lượng của các danh tướng trong nhà Phật, tức là chú trọng đến phần lý luận, ý nghĩa của danh từ Phật học, ít chú ý phương diện thực hành.

[89] Lỗ Trực là tên tự của Hoàng Đình Kiên (1045-1105). Ông còn có hiệu là Sơn Cốc Đạo Nhân và Dự Chương tiên sinh. Ông là người Phần Ninh thuộc Hồng Châu (nay là huyện Tu Thủy, tỉnh Giang Tây). Hoàng Đình Kiên là thi nhân, đồng thời là một thư pháp gia nổi tiếng thời Bắc Tống, được coi là tổ sư của Giang Tây Thi Phái. Ông sùng mộ Phật giáo, nổi tiếng là hiếu thảo, dẫu làm quan lớn vẫn đích thân đổ bô cho cha mẹ. Ông cùng với Trương Lỗi, Triều Bổ Chi, Tần Quán Đô từng theo học với Tô Thức (Tô Đông Pha), người đương thời gọi bốn người này là Tô Môn Tứ Học Sĩ. Do chống đối bè phái của tể tướng Vương An Thạch, ông từng bị đi đày.

[90] Dương Hộ (221-178), tên tự là Thúc Tử, người huyện Nam Thành, quận Thái Sơn (nay là thành phố Thái Sơn tỉnh Sơn Tây). Ông này là đại thần cuối trào Tào Ngụy và Tây Tấn, đồng thời là một danh tướng. Ông xuất thân từ một gia tộc hiển hách. Ông nội là Dương Tục từng làm Thái Thú của Nam Dương, cha là Dương Đào làm Thái Thú Thượng Đảng, chị ông là Dương Huy Du là hoàng hậu của Tấn Cảnh Đế (Tư Mã Sư).

[91] Ý nói: Do huân nhiễm lâu ngày sẽ trở thành giống hệt như vậy. Ví như ở lâu nơi trồng cỏ chi, hoặc hoa lan, sẽ không ngửi thấy mùi thơm, nhưng mùi thơm sẽ nhuốm thân. Ở trong chỗ bán cá hoặc hải sản đã lâu sẽ không thấy mùi tanh nữa, nhưng thân thể bị nhuốm mùi tanh mà chẳng biết.

[92] Đây là một câu nói trong thiên Học Nhi sách Luận Ngữ.

[93] Kỹ nhạc có nghĩa là âm nhạc được diễn tấu bởi những người có kỹ năng điêu luyện, chuyên nghiệp. Về sau, trong tự viện, kỹ nhạc được dùng với ý nghĩa là các loại nhạc tấu lên để tán tụng, hoặc cúng dường Tam Bảo.

[94] Yên Sơn là một rặng núi nằm giữa thành phố Bắc Kinh và tỉnh Hà Bắc. Mạch núi phát xuất từ Trương Gia Khẩu của tỉnh Hà Bắc đến tận Sơn Hải Quan thuộc tỉnh Liêu Ninh. Núi này sanh ra một loại đá thoạt nhìn giống như ngọc, nhưng chẳng phải là ngọc. Do vậy, nếu không kinh nghiệm, dễ mua lầm đá núi Yên mà tưởng là ngọc quý. Thương nhân người Hồ chuyên buôn ngọc, nhìn biết ngay là ngọc hay đá.

[95] Ba vị Ca Diếp tức là ba anh em họ Ca Diếp: Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, và Già Da Ca Diếp. Các ngài thoạt đầu thờ lửa, đồ chúng đông đảo. Về sau, do được đức Phật hóa độ bèn quy hướng Phật.

[96] Nguyên văn “thang bính” (湯餅). Đây là từ ngữ chỉ chung các loại thức ăn chế bằng bột mì được nấu trong nước lèo (nước dùng), như miến phiến (bột mì cắt thành miếng ép dẹp, luộc chín rồi thả trong nước lèo), mì sợi to bản, hoặc hồn đồn (餛飩, tức vằn thắn (hoành thánh, wonton) trong tiếng Quảng Đông) v.v… Do ở đây nói đem viên bột của hoàn mễ phấn ép bẹp, thì chắc là nói tới vằn thắn. Do vằn thắn phổ biến hơn, chúng tôi tạm dùng chữ Vằn Thắn cho dễ hiểu.

[97] Hoàn mễ phấn là bánh làm bằng bột gạo, vo tròn, bọc thịt heo bằm, thả trong nước lèo.

[98] Côn Luân là một rặng núi nổi tiếng của Trung Hoa (được gọi là Qurum Teghi trong tiếng Uighur, c̣n người Tây Tạng gọi là Kuni Ri’gyü). Mạch núi này dài hơn ba ngàn cây số, chạy từ Tây sang Đông, khởi nguồn từ phía Đông cao nguyên Pamir tới thượng nguồn sông Sài Đạt Mộc (Qaidam) thuộc tỉnh Thanh Hải, tiếp giáp mạch núi Ba Nhan Khách Lạp (Bayankhar uul) và mạch núi A Ni Mă Khanh (Amyé Machen). Đây cũng là mạch núi cao nhất của Trung Hoa. Ngọn núi cao nhất là ngọn Công Cách Nhĩ (K̂ongur Taĝ) cao 7.649 mét. Mạch núi này có nhiều nguồn sông, Hoàng Hà cũng bắt nguồn từ núi này. Núi Côn Luân được coi là nơi thần tiên cư ngụ, Đạo giáo tin cung điện của Tây Vương Mẫu cũng ở trên núi này.

[99] Đây là thể lệ uống rượu trong tiệc tùng tại vườn Kim Cốc của Thạch Sùng đời Tấn. Trong tiệc, nếu khách làm phú hoặc thơ không thành, sẽ bị phạt uống ba chén rượu. Về sau, thể lệ phạt rượu trong tiệc tùng như vậy cũng được gọi chung là Kim Cốc Tửu Số.

[100] Tức chú Lục Tự Đại Minh “Án, ma ni bát di hồng” (Oṃ maṇi padme hūm̐).

[101] Tư văn (斯文) có các nghĩa: Văn chương, văn nhân, người ôn hòa, nhã nhặn.

[102] Viên Thiệu có tên tự là Bổn Sơ, người huyện Nhữ Dương quận Nhữ Nam (nay là huyện Thương Thủy, tỉnh Hà Nam), là quân phiệt cát cứ cuối đời Hán. Viên Thiệu xuất thân từ dòng họ bốn đời làm Tam Công. Viên Thiệu từng hợp binh với Tào Tháo đánh vào hoàng cung giết các hoạn quan. Về sau, ông ta được các lộ chư hầu tôn làm minh chủ nhằm chống lại quyền thần Đổng Trác. Sau đó, ông ta là đối thủ lớn nhất của Tào Tháo, nhưng cuối cùng thất bại dưới tay Tào Tháo. Không lâu sau, ông ta bị bệnh chết.

[103] Trọng Mưu là tên tự của Tôn Quyền.

[104] Tôn Ngô là gọi tắt của Tôn Vũ và Ngô Khởi, hai đại tướng thời Chiến Quốc nổi tiếng về tài dùng binh. Tôn Vũ còn để lại một quyển binh pháp nổi tiếng là Tôn Tử Binh Pháp được đánh giá rất cao. Ít nổi tiếng hơn là bộ Ngô Tử Binh Pháp của Ngô Khởi.

[105] Thạch là đơn vị đo lường (đúng ra, khi nói về đơn vị đo lường, chữ này phải đọc là đạn, nhưng ta quen đọc là Thạch trong mọi trường hợp). Nếu là dung lượng thì một Thạch là mười đấu, tức 100 lít. Nếu là đơn vị đo trọng lượng thì một thạch là 120 cân, gần bằng 60 kg.

[106] Đỗ Hoàng Thường (738-808), tự là Tuân Tố, người xứ Đỗ Lăng thuộc Kinh Triệu, ông từng làm Đồng Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự (tể tướng) thời Đường Hiến Tông.

[107] Ấn bí đao (Đông qua ấn tử) là một từ ngữ dùng trong Thiền Tông để sánh ví sự ấn chứng bừa bãi dựa theo tình cảm riêng, chẳng dựa trên thực chất. Ví như quả bí đem cắt ngang thì mặt cắt có hình dạng giống như cái ấn tròn, nhưng hư ngụy, chẳng thật. Từ ngữ này có ý châm biếm thầy dạy không nghiêm túc. Khi người học đến cầu ấn chứng, thầy chẳng nghiêm túc suy xét căn cơ, cứ ấn khả bừa bãi giống như dùng con dấu khắc từ quả bí đao đóng bừa bãi lên công văn vậy.

[108] Ngài Ôn Lăng chính là ngài Giới Hoàn, sống vào đời Bắc Tống. Do Sư trụ tại chùa Khai Nguyên thuộc Ôn Lăng, nên thường được gọi là Ôn Lăng đại sư, hoặc Ôn Lăng Giới Hoàn. Sư soạn Pháp Hoa Kinh Yếu Giải hai mươi quyển, lại còn thông đạt sâu xa ý chỉ của kinh Hoa Nghiêm.

[109] Cụ bác: Nguyên văn “tằng đại phụ” (曾大父). Đại phụ là từ ngữ chỉ anh của cha. Tằng tức là thuộc vào vai vế tằng tổ (cụ cố). Như vậy tằng đại phụ chính là cụ tổ thuộc vào hàng anh của cụ (ông cố), nên gọi là “cụ bác”.

[110] Câu Chi là một vị Tăng sống vào đời Đường, không rõ năm sanh, năm mất, quê quán. Chỉ biết Ngài thuộc thiền phái của ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng. Do Sư thường tụng chú Câu Chi Quán Âm (chú Chuẩn Đề), nên người đời gọi Sư là Câu Chi hòa thượng. Sư từng trụ tại chùa Kim Hoa ở Vụ Châu thuộc tỉnh Chiết Giang, do chẳng đáp được lời cật vấn của ni sư Thật Tế, nên khởi tâm dũng mãnh tinh tấn. Chẳng lâu sau, thiền sư Thiên Long nối pháp của ngài Đại Mai Pháp Thường đến am, ngài Câu Chi đem chuyện ấy ra hỏi. Ngài Thiên Long chỉ giơ một ngón tay lên, Câu Chi liền đại ngộ. Sau đấy, hễ ai đến hỏi pháp, Sư đều giơ một ngón tay lên, nên cõi đời gọi Sư là Câu Chi Nhất Chỉ, hoặc Nhất Chỉ Thiền. Trước khi viên tịch, Sư nói: “Ta được một ngón tay của ngài Thiên Long, dùng cả đời chẳng hết”.

[111] Lỗ Tổ chính là ngài Bảo Vân, do trụ tại núi Lỗ Tổ thuộc Ba Châu, tỉnh Tứ Xuyên nên gọi là Lỗ Tổ Bảo Vân, hoặc Lỗ Tổ thiền sư. Mỗi khi có người tới hỏi pháp, Sư quay mặt vào vách, không nói lời nào.

[112] Hậu Nghệ còn gọi là Đại Nghệ, hay chỉ gọi là Nghệ, là một xạ thủ truyền thuyết của Trung Hoa thời cổ. Tương truyền, mười đứa con trai của Ngọc Hoàng biến thành mười mặt trời khiến cho dân chúng điêu linh. Hậu Nghệ bèn bắn rớt chín mặt trời. Ngọc Hoàng tức giận, đày vợ chồng Hậu Nghệ xuống cõi trần. Về sau, do được Tây Vương Mẫu cho một viên thuốc bất tử, Hậu Nghệ cất trong hộp. Vợ Hậu Nghệ là Hằng Nga (Thường Nga) tò mò, mở hộp, nuốt chửng viên thuốc và bay lên mặt trăng. Đó là điển tích “Hằng Nga bôn nguyệt”.

[113] Nghi Liêu vốn có tên là Hùng Nghi Liêu, là một dũng sĩ của nước Sở thời Chiến Quốc, do sống ở Thị Nam, nên còn có tên gọi là Thị Nam Tử, nổi tiếng với tài bắn đạn (hòn sỏi, hòn đá, hòn đồng) bách phát bách trúng. Tả Truyện từng chép khi Bạch Công Thắng mưu toan phản loạn, đã mua chuộc Nghi Liêu ám sát quan Lệnh Doãn nước Sở là Tử Tây, nhưng ông không nghe theo.

[114] Thành Liên là người nổi tiếng về tài nghệ đánh cổ cầm (dao cầm) thời Xuân Thu. Tương truyền, Bá Nha theo ông học đàn suốt ba năm mới có thể tùy tâm đối trước hoàn cảnh tự nhiên mà sáng tạo cầm khúc.

[115] Cao Tân là tên gọi khác của Đế Khốc. Do ông sanh tại Cao Tân, nên thường gọi là Đế Khốc Cao Tân. Ông là chắt của Hoàng Đế, con của Kiều Cực. Kiều Cực là con của Huyền Hiêu, Huyền Hiêu là con của Hoàng Đế. Huyền Hiêu lẫn Kiều Cực đều không làm vua, chỉ có Đế Khốc làm vua. Ông chính là cha của Y Kỳ Phóng Huân (vua Nghiêu). Một người con khác của ông là Cơ Khí tức Hậu Tắc. Cái xanh (đang, ) là một dụng cụ nấu ăn thời xưa, có hình dạng như chiếc chảo trũng, có ba chân (để có thể đốt than, củi nấu trực tiếp, không cần dùng bếp).

[116] Toại Nhân là một vị vua thời thượng cổ theo huyền thoại Trung Hoa, đứng đầu trong Tam Hoàng, còn gọi là Thiên Hoàng hoặc Toại Hoàng. Ông là người phát minh ra cách dùi gỗ để lấy lửa, dạy dân dùng lửa nấu chín thức ăn, kết thúc thời đại ăn sống nuốt tươi. Do vậy, ông còn được hậu thế tôn xưng là Hỏa Tổ.

[117] Thần Nông c̣n được gọi là Liệt Sơn Thị, Liên Sơn Thị, Khôi Ngỗi Thị, hoặc Viêm Đế, được coi là vị tổ dạy nông nghiệp, y dược, tự ḿnh nếm cỏ thuốc để t́m ra thuốc cứu dân. Do vậy, ông c̣n được tôn xưng là Dược Vương, Ngũ Cốc Vương, Ngũ Cốc Tiên Đế, Tắc Vương, Ngũ Cốc Da, Ngũ Cốc Tiên Sư, Khai Thiên Viêm Đế, Điền Chủ, Điền Tổ, Thần Nông Đại Đế v.v… Theo các nhà nghiên cứu, Thần Nông Thị không phải là một nhân vật, mà là tên gọi chung của cả một thị tộc, từng là người thống trị vùng Trung Nguyên. Bộ tộc Thần Nông về sau bị bộ tộc của Hoàng Đế (Hiên Viên Thị) đánh bại, thay thế làm cộng chủ. Thần Nông Đại Đế chính là thủ lănh của thị tộc Thần Nông Thị. Theo truyền thuyết, bụng ông trong suốt như gương, khi nếm thuốc có thể thấy rơ thuốc có tác dụng như thế nào đối với nội tạng của con người. Về sau, do nếm quá nhiều độc dược, ông chết khi nếm Đoạn Trường Thảo (có thuyết nói là trùng trăm chân). Theo huyền thoại, ông cũng là người phát minh ra phương pháp canh tác, gieo trồng ngũ cốc để làm lương thực, sáng tạo lưỡi cày, cũng như là người phát hiện ra trà và phương pháp thu hoạch trà. Nhiều người cho rằng sau khi Hiên Viên Thị đánh bại lănh tụ Xi Vưu của Thần Nông Thị, một số hậu duệ của Thần Nông Thị rời khỏi Trung Nguyên, trở thành Miêu tộc ở vùng Hồ Nam, Hồ Bắc, Quư Châu hiện thời. Kinh Dương Vương (Lộc Tục) và Lạc Long Quân (Sùng Lăm) của Việt Nam theo cổ sử (như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư chẳng hạn) cũng thuộc ḍng dơi của Thần Nông Thị (con cháu của Đế Minh).

[118] Thái Hạo được coi là tổ tiên của các thị tộc Đông Di và Hoa Hạ, đóng đô tại Văn Thượng (nay là Tế Ninh tỉnh Sơn Đông), sau dời sang Uyển Khâu (nay là Hoài Dương tỉnh Hà Nam). Ông còn được gọi là Nhân Hoàng. Có thuyết lại cho rằng Thái Hạo chính là Phục Hy.

[119] Nữ Oa c̣n được gọi là Oa Hoàng, Nữ Hy Thị, được coi là thỉ tổ của nhân loại, em gái của Phục Hy. Theo thần thoại, bà đầu người, thân rắn, nặn đất hà hơi tạo ra con người, luyện đá ngũ sắc vá trời khi thủy thần Cộng Công bị Chúc Dung đánh bại, đă húc đổ núi Bất Châu, khiến trời bị lệch, bà đă chặt chân con rùa lớn để làm cội chống trời, phát minh ra sênh (một loại nhạc khí), lập điển lễ hôn nhân v.v… Oa Hoàng Lăng (tương truyền là phần mộ của bà) được các đời vua đều cúng tế rất thịnh. Đạo giáo tôn xưng bà là Huyền Nguyên Động Phủ Luyện Thạch Bổ Thiên Oa Hoàng Đại Thánh Nguyên Quân, thậm chí có những phái Đạo giáo coi các vị nữ thần nổi tiếng như Cửu Thiên Huyền Nữ, Địa Mẫu Nương Nương, Lê Sơn Lăo Mẫu đều là hóa thân của Nữ Oa.

[120] Lưu Hâm (50-23 trước Công Nguyên), tên tự là Tử Tuấn, về sau đổi tên thành Lưu Tú, thuộc tông thất nhà Hán. Ông được phong là Quốc Sư thời nhà Tân của Vương Mãng. Lưu Hâm thông thạo kinh sử, tinh thông kinh học (nghiên cứu kinh điển Nho gia), đề xướng Cổ Văn Kinh Học, tức là chủ trương bảo tồn các trước tác của kinh điển Nho gia theo đúng văn bản cổ, nghiên cứu văn bản theo chữ Khoa Đẩu (được dùng trước thời Tiên Tần) để phục hồi diện mạo cổ thư. Cùng với cha là Lưu Hướng, Lưu Hâm đã biên soạn thành các trước tác như Thất Lược và Biệt Lục, hình thành ngành học hệ thống, phân loại sách vở thường được biết với tên gọi là Mục Lục Học.

[121] Đây là bộ sách do Nhan Chi Thôi biên soạn khởi đầu từ thời Bắc Tề cho đến đời Tùy mới hoàn tất, gồm bảy quyển, chia thành hai mươi thiên. Sách lấy tư tưởng Nho gia làm trung tâm, bao gồm những lời răn dạy về tu thân, dưỡng đức, xử thế, trị gia, học vấn v.v… Thiên Quy Tâm trong ấy hoàn toàn vâng theo tư tưởng Phật giáo.

[122] Chân Cáo là tác phẩm gồm bảy quyển do đạo sĩ Đào Hoằng Cảnh biên soạn vào thời Nam Lương trong thời gian ông ẩn cư tại Mao Sơn, được coi là kinh điển chủ yếu của phái Thượng Thanh trong Đạo giáo. Chân Cáo có nghĩa là lời răn truyền của bậc chân nhân. Sách này do Đào Hoằng Cảnh biên tập, chú giải những lời dạy thông linh (tức tương truyền là do thần tiên dạy qua giáng cơ, hay nhập định) từ những đạo sĩ trước đó như Dương Hy, Hứa Mật, Hứa Hội, Cố Hoan v.v… Sách chủ yếu ghi lại sự truyền thừa của Thượng Thanh Phái, truyện ký, phương thuật v.v…

[123] Gõ răng (khấu xỉ, 扣齒) là một phương pháp bảo dưỡng răng theo quan điểm của Trung Y, tức là dùng hai hàm răng va nhẹ vào nhau. Họ tin rằng làm như vậy sẽ tăng cường sức khỏe của hàm răng, kiên cố thận, bổ tinh, tăng tuần hoàn máu cho vùng mặt v.v

[124] Nguyên văn “chiết cước đang” (折腳鐺, cái xanh bị gãy chân): Như trên đã nói, xanh là một loại chảo nhỏ có quai để có thể bưng, xách, có ba chân để có thể đốt lửa nấu mà không dùng bếp. Nói “cái xanh đã bị gãy chân mà vẫn dùng để mô tả cuộc sống đạm bạc, khắc khổ. Cảnh Đức Truyền Đăng Lục chép quốc sư Vô Nghiệp dùng cái xanh gãy chân suốt ba mươi năm. Hoàng Đình Kiên có câu thơ: “Chiết cước đang biên ổi đạm chúc, khúc chi tang hạ ẩm ly bôi” (bên xanh chân gãy, nấu cháo loãng; dưới cành dâu vẹo, uống chia tay).

[125] Đằng Giáp là đội quân chiến đấu dũng mãnh của quốc vương Ngột Đột Cốt nước Ô Qua thuộc Nam Man. Theo Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa, Khổng Minh bảy lượt tấn công người Nam Man, bảy lần bắt, bảy lần tha vua Nam Man là Mạnh Hoạch. Gọi là quân Đằng Giáp vì họ dùng dây mây chắc dẻo chế thành áo giáp hộ thân, tẩm dầu phơi nắng mười mấy lượt, cho nên rất bền chắc, tên bắn không lủng, đao chém không đứt, rất khó đối phó. Quân Đằng Giáp dưới sự lãnh đạo của Thổ An và Hề Nê Tốt đánh bại quân Thục Hán của Ngụy Diên dễ dàng. Khổng Minh bày kế giả vờ thua trận, dụ họ vào trong Bàn Xà Cốc, dùng địa lôi tấn công quân Đằng Giáp. Giáp mây trên người họ cháy bừng bừng không cách nào cởi ra kịp, đành phải tử trận. Ba vạn quân Đằng Giáp chết rụi, không sót một ai.

[126] Tức Đào Tiềm (tên tự là Uyên Minh), một thi nhân nổi tiếng đời Tấn, rất thích uống rượu. Ông có bài Đào Nguyên Ký rất nổi tiếng.

[127] Nguyên Chương là tên tự của Mễ Phất (1051-1107, có chỗ phiên âm tên ông này là Mễ Phế), hiệu là Tương Dương Mạn Sĩ, Hải Nhạc Ngoại Sứ, Lộc Môn Cư Sĩ. Ông là một nhà thư pháp, họa sĩ, giám định gia, và người sưu tập nổi tiếng thời Bắc Tống.

[128] Tông Nguyên là tên tự của Tăng Hội (952-1033), người xứ Tấn Giang, Tuyền Châu, là một vị quan văn thời Bắc Tống. Ông từng giữ các chức quan Hình Bộ Lang Trung, Tập Hiền Điện Tu Soạn, Thái Sư Trung Thư Kiêm Thượng Thư Lệnh, tước phong Sở Quốc Công. Do ông nắm giữ địa vị cao tột như các vị đại học sĩ sau này, nên cũng được gọi là Học Sĩ.

[129] Dược thạch (藥石) có nghĩa gốc là thuốc men; về sau được dùng để chỉ bữa ăn tối nhẹ trong nhà chùa để đỡ đói (thường chỉ là cháo loãng). Gọi là Dược Thạch hay Dược Thực nhằm nói rõ ý nghĩa coi đó như là phương thuốc để tạm trị bệnh đói.

[130] Phần Dương Thiện Chiêu (947-1024) là một vị đại sư thuộc tông Lâm Tế sống vào đời Tống. Sau khi xuất gia, Ngài tham phỏng bảy mươi mốt vị đại sư để mong khai ngộ. Về sau, Ngài tham phỏng Nhữ Châu Thủ Sơn và Thủ Sơn Tỉnh Niệm, được tiếp dẫn ngộ đạo. Sau đấy, Sư vân du tại vùng Hồ Quảng, được các quan lại tranh nhau mời mọc, nhưng Ngài đều cự tuyệt, tiếp tục vân du. Về sau, do nhận lời thỉnh của thiền sư Khế Thông, mới trụ lại Thái Tử Viện ở Phần Dương. Ngài Thạch Sương Sở Viên đắc ngộ nơi ngài Phần Dương Thiện Chiêu.

[131] Thái Lao (太牢) là cỗ cúng của thiên tử và chư hầu dùng để cúng trời, hoặc tổ tiên. Thái là to lớn, Lao có nghĩa là chỗ nuôi nhốt gia súc. Về sau diễn biến thành ý nghĩa các con vật để cúng tế sau khi bị giết phải để nguyên con, xếp cho nằm phủ phục trên mâm cúng. Thái Lao thường dùng trâu, dê, lợn ba loại, gọi là Tam Sanh. Đến đời Thanh quy định nghiêm ngặt, Thái Lao phải dùng trâu đen, ngựa trắng và lợn đen. Nhưng theo Lễ Ký, hễ dùng trâu hay bò thì gọi là Thái Lao, dùng dê để tế thì gọi là Thiếu Lao (nếu không có trâu, bò, dẫu thêm lợn vào, vẫn gọi là Thiếu Lao).

[132] Trần Hậu Chủ (553-664), tên thật là Trần Thúc Bảo, tự là Nguyên Tú, là vua cuối cùng của nhà Trần, làm vua chỉ có bảy năm. Ông này tánh tình xa xỉ, chẳng quan tâm triều chánh, thích hưởng lạc, thích thơ ca, đàn hát, xây dựng điện đài lộng lẫy, đặc biệt sủng ái quý phi Dương Lệ Hoa đến nỗi khi lâm triều vẫn ôm ấp Dương Lệ Hoa nghe các quan tấu trình. Triều đại của ông bị nhà Tùy diệt vong. Khi bị bắt, ông đã kinh hoảng phủ phục trước tướng nhà Tùy là Hạ Nhược Bật, khiến người này hết sức coi thườngTrần Hậu Chủ.

Châu Thiên Nguyên chính là Châu Tuyên Đế (Vũ Văn Uân), tự là Càn Bá, chỉ làm vua 283 ngày. Ông là con trưởng của Châu Vũ Đế (Vũ Văn Ung). Ông này tánh tình hoang đường, khi còn làm Thái Tử thường bị vua cha đánh đập vì tội bừa bãi. Khi cha chết, ông chẳng hề thương tiếc, sờ vết thương ở chân mình, hướng về quan tài, kêu ầm lên: “Sao mà ông chết muộn quá vậy?” Vũ Văn Uân tự xưng là Thiên Nguyên Hoàng Đế, ra sức trang hoàng, sửa sang cung điện, nghi kỵ đại thần, lạm dụng hình phạt. Sau đó, thấy làm vua phiền phức quá, chưa đầy một năm, ông nhường ngôi cho con là Vũ Văn Xiển tức Châu Tĩnh Đế, lên làm Thái Thượng Hoàng, nhưng vẫn khống chế triều chánh, lập thêm bốn người thiếp ngoài chánh hậu Dương Lệ Hoa (con Dương Kiên) làm hoàng hậu, trở thành vị vua có đến năm hoàng hậu trong lịch sử Trung Hoa. Khi ông ta chết vào năm 580 (mới 21 tuổi), Dương Kiên cướp ngôi của Tĩnh Đế, lập ra nhà Tùy.

[133] Xư (), tên khoa học là Ailanthus Attissima, còn gọi là Xú Xư, hoặc Xú Xuân, Xú Đồng, Đại Nhãn Đồng, thuộc họ Khổ Mộc, là một loại cây rụng lá, vốn sanh trưởng tại vùng Đông Bắc châu Á. Cây có thể cao đến mười lăm mét, rất to. Toàn bộ thân, cành, lá cây này tỏa ra mùi hôi như đậu phộng bị mục nát; do vậy, gọi là Xú Xư (cây Xư thối). Cây sinh trưởng rất nhanh, được coi là một giống cây có hại cho môi trường, đặc biệt cây này là chỗ sanh trưởng lý tưởng cho một loài bọ gọi là spotted lanternfly (có hình dáng như con ve lớn, cánh có chấm đen to) chuyên gây hại cho đậu nành, nho v.v… vì chúng hút nhựa khiến cho cây bị khô héo, phân của chúng khiến các loài thảo mộc bị cháy xém lá.

[134] Hòe Đình là biệt hiệu của Vương Hiên (1546-không rõ năm mất), tự là Lâm Khanh, người huyện Thanh Uyển, phủ Bảo Định, thuộc Trực Lệ. Ông đỗ Tiến Sĩ năm Gia Tĩnh 40 (1561) đời Minh lúc mười bảy tuổi. Ông từng làm Hình Bộ Lang Trung rồi được cử đi làm Tri Phủ hoặc phó sứ các nơi.

[135] Bà này có tên là Luy Tổ, phát xuất từ gia tộc Phương Lôi Thị ở Tây Lăng Quốc, nên thường gọi là Tây Lăng Thị. Theo Sử Ký, bà là người dạy dân nuôi tằm, nên mới có thành ngữ “Luy Tổ thỉ tàm” (Luy Tổ khởi xướng việc nuôi tằm). Bà du hành khắp nơi, dạy dân trồng dâu nuôi tằm, được tôn xưng bằng các mỹ hiệu Đạo Thần, Hành Thần, Tổ Thần. Bà sanh ra hai con là Huyền Hiêu (ông nội của Đế Khốc, ông cố của vua Nghiêu) và Xương Ý. Con Xương Ý là Cao Dương, tức Chuyên Húc Đế. Cháu chín đời của Cao Dương là Trùng Hoa (tức vua Thuấn).

[136] Lã Văn Chánh Công chính là Lã Mông Chánh (946-1011), tự là Thánh Công, người Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, từng ba lượt làm Tể Tướng (tức chức Đồng Trung Thư Môn Hạ Bình Chương Sự).

[137] Lưu Phần tự là Khứ Hoa, người huyện Xương B́nh, U Châu, tánh trầm tĩnh, thông hiểu kinh sự, thường ôm ḷng cứu đời. Trong thời Đường Văn Tông, ông đi thi, trong bài thi Đ́nh, khi được hỏi về chánh sách cai trị tốt lành, ông đă cực lực khuyên vua tru sát gian thần, trừ bỏ tất cả chức tước của bọn thái giám, không cho chúng can dự triều chánh, các khảo quan như Phùng Túc, Giả Tốc, Bàng Nghiêm v.v… đều ca ngợi, nhưng sợ thế lực của bọn thái giám, không dám chấm ông thi đậu.

[138] Thập Dực còn gọi là Dịch Truyện là phần chú giải kinh Dịch, tương truyền do Khổng Tử biên soạn. Do chia thành mười phần, nên gọi là Thập Dực, hiện thời chỉ còn Hệ Từ, Thuyết Quái, Tự Quái và Tạp Quái. Người đời sau đem các phần Văn Ngôn, Thoán Từ ghép vào, chia thành mười chương, vẫn gọi là Thập Dực:

1. Thoán Từ: Giải thích ý nghĩa của sáu mươi tư quẻ trong kinh Dịch.

2. Tượng Truyện, luận chung hình tượng của mỗi quẻ. Mỗi quẻ gồm sáu hào, phần giải thích hình tượng của mỗi hào, gọi là Tiểu Tượng.

3. Hệ Từ Truyện: Tổng luận về kinh Dịch.

4. Thuyết Quái Truyện: Thuyết minh ý nghĩa tượng trưng của Bát Quái.

5.Tự Quái Truyện: Giải thích thứ tự của sáu mươi bốn quẻ.

6. Tạp Quái Truyện: Giải thích ý nghĩa tên gọi của sáu mươi bốn quẻ.

7. Văn Ngôn Truyện: Giải thích tường tận hai quẻ Càn và Khôn.

Tuy có bảy loại, nhưng chia thành mười thiên nên gọi là Thập Dực.

[139] Thái mạt trùng là vi sinh vật cực nhỏ được nói trong kinh Phật.

[140] Lục tự khí: Sách Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu ghi: “Kế đó nói về cách quán để trị bệnh, có vị sư nói: Chỉ quán tâm tưởng, dùng sáu loại khí để trị bệnh, tức là quán có thể trị bệnh? Thế nào là sáu loại khí? Một là thổi ra, hai là hít vào, ba là thở nhẹ thành tiếng Hy, bốn là thở mạnh thành tiếng Ha, năm là thở hơi dài, sáu là thở chậm rãi. Sáu loại hơi thở ấy đều tưởng nơi môi và miệng, phương tiện xoay chuyển sao cho miên mật”.

“Chú tâm nhìn xuống”: Sách ấy cũng nói: “Thế nào là dùng Chỉ Quán để trị bệnh? Chỉ chú tâm nơi chỗ bị bệnh, liền có thể trị bệnh. Vì sao vậy? Tâm là chủ của cái thân quả báo trong một đời. Ví như vua đi đến đâu, lũ giặc đều tan chạy. Kế đó, có vị sư nói: - Dưới rốn một tấc gọi là Ưu Đà Na, phương này dịch là Đan Điền. Nếu có thể chú tâm chẳng tán loạn nơi đó, lâu ngày sẽ trị được nhiều bệnh…”

[141] Ngài Biện Dung (辯融), tên gọi đầy đủ là Biến Dung Chân Viên (遍融真圆, tuy đôi khi ghi là Biện Dung), Ngài là cao tăng tông Lâm Tế, đời thứ ba mươi mốt, đệ tử của thiền sư Phật Nham Bất Nhị Chân Tế, thuộc dòng dõi thư hương. Sư xuất gia lúc ba mươi hai tuổi. Khi đến kinh đô, do nghe Thông Tú đại sư giảng Hoa Nghiêm khế ngộ, bèn lui về tu hành tại động Mã Tổ trong núi Thiên Trụ thuộc tỉnh An Huy suốt bảy năm. Về già, Ngài an trụ tại Bách Lâm thiền viện, người đương thời nghi Ngài là Di Lặc tái thế. Sư chứng Hoa Nghiêm tam-muội, chỉ dạy đại chúng lắng lòng trì danh niệm Phật, chẳng cầu danh lợi.

[142] Thiền hòa (禪和) là từ ngữ gọi người chân thật tu hành Thiền Tông.

[143] Đây là so sánh niềm vui của Nhan Hồi và Thạch Sùng. Nhan Hồi ở trong ngõ nghèo hèn, nghèo đến nỗi chỉ có giỏ cơm, bầu nước, co tay làm gối để ngủ, nhưng vui thú khôn sánh. Thạch Sùng sống trong vườn Kim Cốc, giàu nứt đố đổ vách, nhưng luôn phải lo âu, đối phó với kẻ quyền quý luôn nhắm vào tài sản của ông ta.

[144] Tư Hộ (司戶) là một chức quan có tên gọi đầy đủ là Tư Hộ Tham Quân, c̣n gọi là Hộ Tào Tham Quân, Hộ Tào Duyện, Hộ Tào Sứ, đôi khi c̣n được gọi tắt là Hộ Tào. Chức vụ chủ yếu là quản lư hộ tịch, sổ sách ghi chép các sự vụ trong địa phương, sửa sang đường sá, ruộng đất, thuế khóa, cấp giấy hôn thú, ly hôn, thâu nhập vào kho chứa thóc tại các châu huyện, cũng như cấp giấy miễn thuế, phán xử các tranh chấp về tài sản tư nhân…

[145] Hàn Cầm Hổ (538-592), tự Tử Thông, người huyện Đông Hoàn, quận Hà Nam (nay là huyện Tân An, tỉnh Hà Nam), là khai quốc công thần của nhà Tùy. Hàn Cầm Hổ thân hình to lớn, dũng mãnh, có mưu trí, học rộng, từng làm đến chức Xa Kỵ Đại Tướng Quân rồi Khai Phủ Đồng Tam Ty nhà Bắc Tề. Nhà Bắc Tề diệt, ông ta tiếp tục làm quan to dưới nhà Bắc Châu. Về sau, làm đến chức Thượng Trụ Quốc dưới triều Tùy Văn Đế Dương Kiên.

[146] Thượng Trụ Quốc là chức quan đã có từ thời Chiến Quốc, dành cho các đại tướng có công lao hiển hách.

[147] Giới Phủ là tên tự của Vương An Thạch (1021-1086). Ông này từng làm tể tướng dưới hai thời Tống Nhân Tông và Anh Tông, đề xướng tân pháp cải cách kinh tế, nhưng không thành công. Chính ông ta đề ra kế hoạch xâm chiếm Đại Việt, nhưng bị Lý Thường Kiệt đánh bại. Lý Thường Kiệt còn thừa cơ tấn công ba châu Khâu, Liêm, Ung, khiến cả triều đình nhà Tống náo động. Cuộc xâm lăng Đại Việt chỉ gây hao binh, tổn tướng, tốn kém công quỹ, khiến uy tín của An Thạch xuống dốc. Ông đề xướng Tân Pháp một lần nữa để cải cách kinh tế, nhưng những biện pháp của ông bị các sĩ phu và dân chúng chống đối quyết liệt.

[148] Tạ tướng tức là cúng bái các vị thiên thần, thiên tướng nhằm cảm tạ họ đã hộ trì pháp sự của Đạo giáo viên mãn.

[149] Lục súc là từ ngữ chỉ chung sáu loại gia súc thường được nuôi: ngựa, trâu hay bò, dê, lợn, chó và gà.

[150] Đặng Khoát Cừ, hiệu Thái Hồ, người huyện Nội Giang thuộc Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên, đã đỗ Tiến Sĩ. Lúc hai mươi tuổi được dị nhân dạy đạo Vô Vi, bèn bỏ vào núi Thanh Thành xuất gia. Về sau, ông có viết bộ Nam Tuân Lục để trần thuật kinh nghiệm tu chứng.

[151] Thuần Hựu là niên hiệu của Tống Lý Tông (Triệu Quân) từ năm 1241 cho dến năm 1252.

[152] Tư Mã Quang tên tự là Quân Thật, hiệu là Vu Tẩu, còn được gọi là Thúc Thủy Tiên Sinh vì quê ở làng Thúc Thủy. Ông làm quan trải các triều vua Tống Nhân Tông, Anh Tông, Thần Tông và Triết Tông. Ông chủ trì công cuộc biên soạn một bộ sử rất có giá trị là Tư Trị Thông Giám. Ông cực lực phản đối chính sách cải cách kinh tế của Vương An Thạch. Khi ông mất, được vua phong thụy hiệu là Văn Chánh, và phong tặng tước Ôn Quốc Công, nên Tư Mã Quang thường được gọi là Ôn Công.

[153] Cảnh Nhân là tên tự của Phạm Trấn (1009-1089), ông là người xứ Hoa Dương, là một nhà văn học, đồng thời là một sử gia sống vào đời Bắc Tống. Ông chơi thân với Tư Mã Quang, có tài văn chương, rất được Tô Đông Pha tán thưởng. Ông từng tham dự biên soạn bộ Tân Đường Thư, và trước tác rất nhiều tác phẩm có giá trị như Nhạc Thư, Quốc Triều Vận Đối, Quốc Triều Sự Thỉ v.v…

[154] Thời thượng: Còn gọi là thời mao, trào lưu, tức là sự ưa thích của đại đa số quần chúng trong một giai đoạn nhất định, đặc biệt là đối với quan niệm về cái đẹp, cách ăn mặc, cách ứng xử, ta thường gọi là “cái gu” trong một giai đoạn nào đó. Chẳng hạn khi một nghệ sĩ để một kiểu tóc lạ, hay ăn mặc khác lạ, rất nhiều người, đặc biệt là giới trẻ bắt chước theo. Hoặc do một “lãnh tụ” nào thay vì nói “anh ăn nói rất hợp lý”, bèn nói cầu kỳ nửa Tây nửa ta là “ăn nói hợp logique”, thế là cả xã hội bắt chước theo nói “ăn nói hợp nô rích” tuy chẳng hiểu logique là gì!

[155] Cao Phượng là người thời Đông Hán, tên tự là Văn Thông. Từ bé, ông đã chuyên ròng đọc sách, ngày đêm chẳng nghỉ. Nhà theo nghề nông, vợ ra đồng làm việc, bảo ông trông lúa phơi trong sân. Ông cầm gậy để xua gà, nhưng đọc sách mê mải đến nỗi gậy rơi khỏi tay mà chẳng biết, mưa cuốn trôi sạch lúa vẫn chẳng biết.

[156] Ẩn Quân là mỹ hiệu của Đào Hoằng Cảnh, do ông tự xưng là Hoa Dương Ẩn Cư (người ẩn dật ở núi Hoa Dương). Đào Hoằng Cảnh (456-536) sống vào thời Lưu Tống cho đến nhà Nam Lương. Ông có tên tự là Thông Minh, được vua ban hiệu là Trinh Bạch Tiên Sinh. Ông là đạo sĩ, y sĩ, văn học gia, và thư pháp gia, kiêm tu Phật và Đạo giáo. Ông đặc biệt tôn sùng Thượng Thanh Kinh, trở thành nhân vật đại biểu cho Thượng Thanh Phái của Đạo giáo. Ông say mê luyện đan, các trước tác nổi tiếng của ông là Chân Cáo, Đăng Chân Ẩn Quyết, Bổn Thảo Kinh Tập Chú (sách y học). Ông được phái Mao Sơn Tông của Đạo Giáo tôn là tổ thứ chín.