Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 4

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

* Khám nghiệm

 

          Người tham học có ngộ, ắt phải trải qua bậc tông sư sáng mắt khám nghiệm thì mới được. Như một vị tăng thường nghỉ đêm trong lò đốt giấy nơi ṭa miếu thờ thần, có một vị sư khác ngầm núp trong lò đốt giấy, chờ vị ấy đến ngủ, bèn thộp ngực nắm lấy, hỏi: “Như thế nào là ý của tổ sư từ phương Tây đến?” Tăng đáp: “Cái khay đựng rượu trước tượng thần”. Lại có một vị Tăng nói chính mình đã đắc ngộ, ngài Huyền Sa[1] cố ư cùng đi với vị ấy, tới bên chỗ có nước, bỗng đẩy vị đó rơi tơm xuống nước, hỏi nhanh: “Lúc Ngưu Đầu[2] chưa gặp Tứ Tổ thì như thế nào?” Tăng đáp: “Duỗi chân nơi chân co v.v…” Hai vị tăng ấy nếu chẳng phải là tâm địa rỗng rang, ngàn điều đều hiểu rơ, trăm điều đều đích đáng, hễ hô liền ứng như hang trống vọng tiếng, hễ vật đến bèn hiện bóng như gương sáng đối trước vật, sao có thể trong lúc thảng thốt, chân tay quưnh quíu mà thốt lời, phun lẽ chẳng sai thời đích đáng như thế, tự tại như thế ư? Trong lúc b́nh thường, nếu dùng ý thức để dò lường, suy đoán, thuận theo cơ phong để làm kệ tụng, th́ không ǵ chẳng đẹp đẽ dễ nhìn, chứ trong hoàn cảnh sét đánh chẳng kịp bưng tai”, sao khỏi mờ mịt? Há chẳng nên thận trọng ư?

 

* Vị tu đạo ở chùa Bách Pháp

 

          Trong niên hiệu Gia Tĩnh, có người tu đạo X… ngụ tại chùa Bách Pháp ở Ngô Sơn, chẳng hề khất thực, hóa duyên. Một người đệ tử bán thuốc để châu cấp cho thầy. Vị ấy mỗi ngày ăn ba bữa, mỗi bữa là hai chén cháo, mấy cọng rau gửi nấu trong nồi cháo. Vị ấy suốt ngày ngồi trong một gian phòng, im lặng. Có người kết hội niệm Phật, thành lập xong, toan hỏi han, [vị tu đạo ấy] liền xua tay nói: “Chỉ cần tĩnh tọa, đừng nói năng”. [Người ấy] đã chẳng thể nói, liền băn khoăn, lui ra, đem bánh trái, rau quả dâng lên, [vị ấy] cự tuyệt chẳng nhận, bảo: “May là có cháo đặc để chữa đói, không duyên cớ mà đưa những thứ này vào bụng để làm ǵ?” Khi ấy, tuy chưa hỏi kỹ vị ấy tu đạo gì, nhưng [vị ấy] chuyên ròng, thong dong, chẳng nhiễm duyên đời. Nay thì rất ít người giống như vị ấy, đúng là tôi chẳng sánh bằng được! Do vậy, ghi lại.

 

* Đại hiếu xuất thế gian

 

          Phận làm con đối với cha mẹ, phục dịch, phụng dưỡng để cha mẹ được an ổn, đó là hiếu. Lập thân, hành đạo để cha mẹ được rạng mày nở mặt, đó là đại hiếu. Dùng pháp môn Niệm Phật để khuyên lơn, hòng cha mẹ được sanh về Tịnh Độ, đó là đại hiếu nhất trong các thứ đại hiếu. Tôi sanh muộn, vừa mới nghe Phật pháp, niềm đau “cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”[3] đã xảy đến, đau xót cùng cực suốt đời! Tuy muốn bù đắp, nhưng chẳng có cách nào! Kính thưa với mọi người, cha mẹ còn tại thế, hãy sớm khuyên họ niệm Phật. Ngày cha mẹ mất, hãy lập công khóa niệm Phật ba năm. Nếu chẳng thể thì hoặc là một năm tròn, hoặc bốn mươi chín ngày đều được! Con hiếu muốn báo ân cù lao, chẳng thể không biết điều này!

 

* Tâm chính là Phật

 

          Mã Tổ nói “tâm chính là Phật”, ngài Đại Mai[4] lãnh ngộ ý chỉ, bèn yên tâm trụ trong núi. Sau đó, lại nghe nói “chẳng tâm, chẳng Phật”, bèn bảo: “Mặc cho ông ta chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, ta chỉ là tâm chính là Phật”. Mã Tổ ấn chứng: “Quả mơ đã chín rồi!” Người đời tán thưởng sự diệu ngộ của ngài Đại Mai, nhưng [điều này] có hai ý, chẳng thể không biện định. Thẳng thừng khế ngộ cội nguồn, hễ tin bèn vĩnh viễn tin, lại chẳng bị chuyển dời bởi danh từ rườm rà, hay tướng khác lạ; đó là “quả mơ đã chín”. Nếu như lời được nghe trước tiên liền trở thành kiến giải chủ yếu, lại chấp chết cứng vào câu văn, gánh gai bỏ vàng, thì sự chín muồi ấy là chín rục, rữa nát, chẳng phải là chín muồi (thành thục). Người xưa gọi năm ngàn người rời khỏi giảng tịch [trong hội Pháp Hoa] là “mầm cháy, hạt lép”.

 

* Khuyết điểm của Thế Trí Biện Thông

 

          Người đời coi trọng thông minh, khoe khoang uyên bác, ganh đua lời lẽ bóng bẩy, nhưng [những thứ đó] chẳng đủ để trông cậy, do nó có khuyết điểm. Kẻ học cùng tận [văn từ, triết thuyết của] bách gia, văn chương trùm lấp một thời, có khi đời sau chẳng biết một chữ! Thậm chí như Thuần thiền sư do tài nghệ, bản lãnh nổi danh, nhưng sảy chân [vấp ngă rồi] đứng dậy, liền thành ngây ngốc, chẳng đợi tới đời sau! Thậm chí còn hóa thành dị loại (chẳng phải loài người), tức là chỉ nghĩ tới cỏ, nước, chẳng biết chi khác! Cái có thể trông cậy ở chỗ nào? Chỉ có chân trí Bát Nhã chứa đựng trong ruộng thức thứ tám, vĩnh hằng xưa nay, dẫu bị vùi dập chẳng nát, dẫu trong nẻo mê, hễ đụng đến vẫn ngộ. Người thế tục chẳng biết ý này, chẳng đáng lấy làm lạ, chứ kẻ xuất gia lại đem chuyện thuộc bổn phận bó lại, xếp trên gác cao, dốc sức nơi những thứ học vấn bên ngoài, đáng than khôn xiết!

 

* Hiếu kỳ

 

          Kẻ thông minh phần nhiều hiếu kỳ, kẻ hiếu kỳ phần nhiều bị mê hoặc. Bởi lẽ, cái danh xưng hiếu kỳ đã phô bày, thì những kẻ gọi là “hải thượng Yên Tề vu quái” (kẻ nói chuyện viễn vông, quái dị trên mặt biển nơi đất Yên, đất Tề)[5] sẽ đua nhau dâng lên những phương thuật giả mạo thần tiên, đáng ưa thích, đáng ngạc nhiên, [khiến cho kẻ hiếu kỳ] thâm nhập rồi tin khắng khít, đến nỗi bạc đầu chẳng thành, lâm chung chẳng ứng nghiệm, mới băn khoăn, hối hận, thì cũng muộn rồi! Tuy vậy, vẫn còn hơn kẻ đến chết trọn chẳng quay đầu! Hối hận trong hiện thời, có thể biết là trong tương lai chẳng bị mê hoặc!

 

* Tin tức vô thường

 

          Ngạn ngữ có câu chuyện cảnh tỉnh cõi đời, tức là một người già chết đi, gặp Diêm Vương, trách nhà vua sao chẳng đưa tin sớm. Vua nói: “Ta đã nhắn tin cho ông mấy lượt. Mắt ông mờ dần, đó là tin thứ nhất. Tai ông điếc dần, đó là tin thứ hai. Răng ông rụng dần, tức là tin thứ ba. Thân thể ông ngày càng suy, chẳng biết là mấy tin nữa?” Đấy chỉ là riêng nói với người già cả, nay tôi bèn nói tiếp thêm. Một thiếu niên cũng trách vua rằng: “Tôi mắt sáng, tai tỏ, răng sắc, thân thể khỏe mạnh, sao vua không nhắn tin cho tôi?” Vua nói: “Cũng có nhắn tin cho ngươi, nhưng ngươi chẳng suy xét! Xóm giềng bên Đông có người mới bốn, năm mươi tuổi đã chết đấy thôi? Xóm giềng bên Tây có người ba, hai mươi tuổi đă chết đấy thôi? Lại có đứa chưa tròn mười tuổi, cũng như đứa còn bú mớm đã chết đấy thôi? Chẳng phải là nhắn tin đó sao?” Ngựa hay thấy bóng roi bèn chạy, còn ắt phải chờ dùng dùi đâm vào da [mới chạy] thì là ngựa hèn, còn than nỗi gì?

 

* Tham Thiền chẳng phải là chuyện trong cõi đời

 

          Tiên đức có nói: “Tham Thiền chẳng phải là chuyện người trong cõi đời nói được!” Chắc là có người nghi: “Bùi thừa tướng[6] nói: ‘Trong lục đạo, có thể chỉnh đốn tâm tư, hướng về Bồ Đề, thì chỉ loài người có thể làm được’. Nếu đúng như lời trước đó, sẽ chẳng có chỗ nào để tham Thiền được! Đáp: - Ông Bùi luận định đúng lắm! Nay lời ấy thốt ra chính là vì kẻ ăn thịt đã no ứ, bèn đến tìm Tăng nói chuyện Thiền. Lại còn thốt ra vì những tăng sĩ nói suông Bát Nhã, thân ở A Lan Nhã mà tâm hướng về triều đình, phố thị. Hơn nữa, nếu ở yên trong chốn ngũ dục mà có thể chứng cái quả Nhất Thừa, trong cõi đời có chuyện đại tiện nghi ấy, ai mà chẳng làm? Há chẳng phải là cái mà thế gian nói “há có chuyện cưỡi hạc đến Dương Châu”[7] ư? Nguyện đừng do lời ấy mà tự chùn bước. Tham cứu Thiền Định là chuyện người trong cõi đời nói được, chỉ riêng lo kẻ không có chí. Nếu có chí, sẽ nhất định thành!

 

* Xuất gia (1)

 

          Tiên đức có nói: “Xuất gia là chuyện của bậc đại trượng phu, chẳng phải là thừa tướng hay tướng quân mà có thể làm được!” Tướng quân dùng võ công để dẹp yên họa loạn. Thừa tướng dùng văn học để hưng khởi thái b́nh. Chuyện lớn trong thiên hạ đều do một tay kẻ “xuất tướng nhập tướng” (ra ngoài làm tướng quân cầm binh, về triều làm thừa tướng) [thực hiện], mà nói là “chẳng thể xuất gia được”, vậy thì xuất gia há có phải là chuyện nhỏ nhặt ư? Nay kẻ cạo tóc, khoác y nhuộm, bèn gọi là “xuất gia”. Ôi! Bất quá là ra khỏi cái nhà có hai cánh cổng lớn, chẳng phải là ra khỏi cái nhà lửa trong tam giới! Đã thoát khỏi cái nhà tam giới thì mới gọi là đại trượng phu” ư? Vẫn chưa phải! Cùng với chúng sanh trong tam giới thoát khỏi tam giới thì sau đó mới gọi là đại trượng phu. Cổ tôn túc có câu ca rằng: “Tối thắng nhi, xuất gia hảo. Xuất gia lưỡng tự nhân tri thiểu” (Kẻ tối thắng xuất gia tốt đẹp. Hai chữ xuất gia” ít người hiểu!) Kẻ tối thắng chính là đại trượng phu. Đại trượng phu c̣n chẳng dễ đạt được, chẳng trách ít người biết hai chữ “xuất gia”!

 

* Xuất gia (2)

 

          Người mới xuất gia, tuy chí có lớn hay nhỏ, ai mà chẳng có một bầu hảo tâm. Lâu ngày, lại bị nhiễm bởi nhân duyên danh lợi, bèn lo xây dựng đền, đài, chưng diện quần áo, tậu ruộng nương, nuôi đồ chúng, chứa nhiều vàng, lụa, siêng làm chuyện thuộc gia duyên, chẳng khác thế tục. Kinh nói “nhất nhân xuất gia, Ba Tuần bố cụ” (một người xuất gia, ma Ba Tuần kinh sợ). Như trong hiện thời, Ba Tuần có thể rót rượu uống mừng! Kẻ hảo tâm xuất gia hãy mau nên chú ý thấy thấu suốt. Tôi từng thấy có vị tăng khổ hạnh trong núi sâu, vừa mới ra khỏi núi, được mấy chục nam nữ tín tâm quy y, cúng dường, bèn mai một cả đời, huống hồ [gặp phải] những chuyện lớn hơn? Cổ nhân nói “ắt phải coi trọng chuyện lìa khỏi cái nhà phiền não”; lại còn cắt đứt lưới trần lao, đó là xuất gia sau khi đă xuất gia. Thoát khỏi cái nhà trước dễ, thoát khỏi cái nhà sau khó lắm. Tôi vì vậy mà ngày đêm run sợ.

 

* Người đắc ngộ phải nên vãng sanh Tịnh Độ

 

          Nếu hỏi: “Tôi từng tu Tịnh Độ, có Thiền giả bảo: ‘Chỉ ngộ tự Phật là được rồi, cần gì cứ phải cầu ngoại Phật mà nguyện vãng sanh’, ý ấy như thế nào?”
Tôi nói: - Đấy quả thật là khai thị tối thượng, nhưng chấp vào đó th́ cũng có thể bị lầm lạc! Xin dùng thí dụ để nói rõ. Giả sử có người dĩnh ngộ giống như Nhan Tử (Nhan Uyên), nhưng ngoài trăm dặm,
hoặc ngàn dặm, có bậc thánh như phu tử (Khổng Tử) đề xướng đạo nơi ấy, bảy mươi tử, ba ngàn hiền[8] đều cùng trọn vẹn. Ông nghe danh tiếng của vị đó, đến gặp, chưa chắc chẳng phải là không có ưu điểm. Nếu cứ tự cậy mình dĩnh ngộ, cự tuyệt chẳng thân cận, yết kiến, có nên hay chăng? Tuy vậy, đắc ngộ mà chẳng nguyện vãng sanh, chắc chắn là lão huynh chưa ngộ! Vì sao? Ngài Thiên Như [Duy Tắc] đã nói: “Ông chỉ là chưa ngộ! Nếu ngộ, thì ông vãng sanh Tịnh Độ dẫu một vạn con trâu chẳng thể kéo lại được!” Lời ấy sâu sắc lắm thay!

 

* Tham Thiền

 

          [Hỏi]: - Tăng sĩ có người luôn nói rằng: “Nghi nhỏ, ngộ nhỏ. Nghi lớn, ngộ lớn. Chẳng nghi, chẳng ngộ. Nghi được gọi là tham (tham cứu)”, nhưng hai chữ tham Thiền bắt đầu vào lúc nào?” Hoặc nói: “Kinh chưa hề nói [tham Thiền]”.

Tôi thưa: - Có chứ! Kinh Lăng Nghiêm nói: “Đương tại thử trung, tinh nghiên diệu minh” (Hăy nên dốc ḷng tinh tế nghiên cứu cái sáng suốt mầu nhiệm trong ấy)[9]. Lại nói: “Nội ngoại nghiên cứu” (nghiên cứu trong ngoài). Lại nói: “Nghiên cứu tinh cực” (nghiên cứu tinh vi đến cùng cực), chẳng phải là “tham” đó ư? Sau đấy, tôn túc dạy người khác xem công án, khởi nghi tình, đều từ đó mà sanh khởi. Nhưng nói rõ ràng cặn kẽ nhất, không ai bằng thiền sư Nga Hồ Đại Nghĩa, Ngài nói: “Nếu người tĩnh tọa chẳng dụng công, năm nào đỗ đạt ngộ tâm không?” Lại nói: “Thẳng thừng nêu lợi thổi lông[10], phải chẻ Tây lai Đệ Nhất Nghĩa”. Ngài lại nói: “Nếu vẫn thinh lặng tợ như ngu, biết là ông chưa hiểu công phu”. Lại nói: “Khoét tṛng con mắt, dựng ngược mày, nhìn đi ngó lại ngươi là ai?” Nói như thế, chẳng phải một lần là đủ, người tham Thiền hãy nên viết vào đai lưng. Tuy vậy, nếu suy lường, dùi mài nơi câu nói, suy đoán dựa theo tình thức, thì lại là hiểu lầm ý nghĩa của cái được gọi là “dụng công”, cái gọi là “chia chẻ”, cái gọi là “nhìn đi ngó lại”, sẽ cùng với chuyện “tĩnh tọa lặng thinh” tuy là chuyện khác nhau, nhưng có cùng một căn bệnh, chẳng thể không biện định!

 

* Pháp sư Ấn Tông

 

          Lục Tổ đã thọ tâm ấn của ngài Hoàng Mai, ẩn thân trong bọn đồ tể, thợ săn, kẻ làm thuê thấp hèn suốt mười sáu năm. Về sau, Ngài tới giảng tịch của pháp sư Ấn Tông, nói lời phán định về phan và gió. Ấn Tông nghe thấy, bèn mời vào, làm lễ xuất gia cho Tổ, lễ thỉnh Ngài thăng tòa thuyết pháp. Người ta biết Lục Tổ do trời, rồng thúc đẩy mà xuất hiện, chẳng biết chỗ chẳng sánh bằng của Ấn Tông. Sư tự nói: “Tôi giảng kinh giống ngói, sỏi; nhân giả luận nghĩa giống như vàng ròng”. Ấn Tông giảng kinh luận đã lâu, nghiễm nhiên là bậc đại pháp sư tiền bối, nếu chẳng quên tình kiến ngã mạn, cái tâm hơn thua vẫn còn, sao có thể tôn hiền, trọng đạo, xả mình theo người đến mức như thế ư? Cố nhiên Lục Tổ gần bằng với cổ Phật, mà Ấn Tông cũng là hạng người giống như Lục Tổ. Thánh hiền tụ hội há ngẫu nhiên ư?

 

* Thân cận thầy

 

          Cổ nhân hễ tâm địa chưa thông, chẳng ngại xa xôi ngàn dặm cầu thầy, hỏi đạo. Đã tìm được một vị chân sư, liền bẻ gẫy gậy chống, treo cao bát, túi, thân cận bậc thái thượng lâu ngày, giống như ngài A Nan suốt đời hầu Phật. Kế tiếp [phong thái đó] là các vị hiền nhân trong các đời tham học tri thức lâu ngày, chẳng dễ nêu trọn hết được! Chỉ như hai vị tôn túc dưới tòa Từ Minh lão nhân[11], một vị là Dương Kỳ, phù tá suốt đời; vị kia là Thanh Tố, hầu hạ mười ba năm. Do vậy, sáng thăm, tối viếng, tai thấm đẫm lời dạy, tâm khế hợp đạo, cuối cùng đạt được đạo của thầy, trở thành pháp khí to lớn. Tôi xuất gia muộn màng, sắc lực lại suy yếu, khí chẳng giúp được chí. Tiên sư độ cho tôi xuất gia, liền từ biệt rời đi, hành cước phương xa, những chỗ tôi đến, hoặc là do gặp dịp ngăn trở, hoặc v́ mắc phải bệnh duyên, đều tạm trụ tại đó mà thôi. Cho đến ngày nay, đầu bạc vô tri, ôm ngu, giữ vụng. Than ôi! Tôi không thể làm đứa bé sai vặt trong số những kẻ sĩ nơi Hạnh đàn, Tứ Thủy, bèn làm thầy dạy trẻ học chữ trong thôn ba nhà[12], đáng than lắm thay!

 

* Hoa Nghiêm, Đại Tạng, một kinh

 

          Nếu hỏi: “Kinh chẳng sánh bằng Hoa Nghiêm, nghĩa là sao?”

Thưa: - Xưa kia, pháp sư Huyền Trang dịch kinh Bát Nhã sáu trăm quyển hoàn thành, dâng lên vua. Vua hỏi: “Bát Nhã mênh mông dường ấy, sao chẳng đứng trước Hoa Nghiêm?” Pháp sư nói: “Hoa Nghiêm trọn đủ vô lượng môn. Bát Nhã tuy nhiều, chỉ là một môn trong vô lượng môn của Hoa Nghiêm!” Có vị tăng làm khám thờ kinh có nhiều ngăn, thờ kinh Hoa Nghiêm nơi cao nhất. Một hôm, lấy kinh ra tụng xong, đặt kinh tại ngăn giữa, sáng ra kinh bỗng ở trên, vị tăng hết sức kinh dị. Đó là do oai thần của kinh mà ra, mà cũng là do lòng tinh thành của người trì kinh cảm vời! Hơn nữa, trong Tam Tạng thánh giáo, riêng Hoa Nghiêm như thiên vương cai quản hoàn vũ, còn chư hầu, công khanh, đại phu, trăm kẻ chấp sự, cho đến triệu dân, đều thuộc quyền thống ngự [của Hoa Nghiêm], ai sánh bằng được?

 

* Viên mẫu

 

          Mẹ của Viên cư sĩ là Trương Thị, từ bé đã quy y Phổ Môn đại sĩ hết sức nghiêm cẩn. Khi xuất giá, bà mang theo tượng Đại Sĩ đang thờ, mang thai cư sĩ mười tháng, chẳng sơ sót, lười nhác lễ kính một ngày nào. Vì thế, cư sĩ từ thuở còn bồng ẵm đã biết quy hướng Tam Bảo; đó gọi là “thai giáo” vậy. Phàm người làm vợ có thể dốc lòng thờ Phật, cơi đời cũng luôn có. Còn như người sắp làm cô dâu mới, chẳng gấp gáp ăn vận, trang điểm lộng lẫy, mà đặt tượng Đại Sĩ trong hộp trang điểm mang theo khi xuất giá, có thể nói là vượt xa phàm t́nh, chưa hề thấy nghe! Xưa kia, Tô Tử Chiêm (Tô Đông Pha) mang tượng vẽ đi về phương Nam, Cát đại phu bày tượng nơi công thự, chẳng ngại bị gièm chê, người hiểu biết khen ngợi. Nay Viên mẫu há chẳng phải là bậc đại trượng phu lỗi lạc ư?

 

* Nho và Phật phối hợp

 

          Thánh nhân trong hai giáo Nho và Phật xác lập sự giáo hóa đều có chỗ chú trọng chủ yếu riêng, cố nhiên là chẳng cần tách biệt thành hai, mà cũng chẳng cần phải gượng ép hợp lại. Vì sao? Nho chú trọng bình trị cõi đời, Phật chủ trương xuất thế. Bình trị cõi đời thì tự phải nên “cách vật (trừ khử ham muốn đối với muôn vật), trí tri (thấu đạt các nguyên lư của sự vật), thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” như trong sách Đại Học là đủ rồi. Chứ nếu quá cao sâu, cương thường luân lư sẽ chẳng thể thành lập vững vàng được! Xuất thế tự phải nên cùng tột cao sâu thì mới thành giải thoát, nhưng đối với quốc gia, thiên hạ không ǵ chẳng hơi chểnh mảng. Đó là lẽ tự nhiên, chẳng đáng gì là lạ? Nếu nói quyết định Nho tức là Phật thì các sách như Lục Kinh, Luận Ngữ và Mạnh Tử đã sáng ngời, trọn đủ, cần gì phải đợi Phật Thích Ca giáng sanh, Đạt Ma từ phương Tây sang nữa? Nói quyết định Phật chính là Nho thì sao không dùng Lăng Nghiêm, Pháp Hoa để cai trị thiên hạ, mà ắt phải cậy vào những quy củ do Phục Hy, Thần Nông, Nghiêu, Thuấn chế định ở trên, đạo sáng của Khổng, Mạnh, các hiền nhân thực hiện ở dưới? Vì thế, tách làm hai hay hợp lại, sẽ đều mắc khuyết điểm. Tuy vậy, đối với bậc căn cơ thuộc Viên Giáo, tách làm hai cũng được, gộp lại cũng được, hai đằng đều chẳng có khuyết điểm, lại chớ nên không biết [điều này]!

 

* Lập Thiền (Thiền đứng)

 

          Lập Thiền phát xuất từ kinh Ban Châu Tam Muội, ấy là vì tinh tấn cùng cực, sợ ngồi xuống sẽ dễ hôn trầm, chứ chẳng phải coi đứng là đạo. Kẻ chẳng hiểu ý này, có kẻ dùng đai sắt bó lưng để giúp cho thân hình thẳng tắp, cũng đáng nực cười thay! Gần đây có kẻ xếp gạch thành tường vây sát chặt quanh thân, đứng thẳng trong đó như gươm ở trong vỏ, lại còn nhờ vào đó làm phương cách quyên mộ. Kẻ ngu không hiểu biết, bèn kính trọng, phụng sự [kẻ ấy]; vì vậy, dần dần có người bắt chước làm theo! Kính khuyên bậc cao minh, hễ gặp kẻ như thế, hãy liền nên chỉ bảo, khuyên kẻ đó ra khỏi tường vậy, đừng khiến cho thời Mạt Pháp xuất hiện chuyện ma mãnh, lạ lùng ấy, gây tiếng xấu thêm cho Tăng môn!

 

* Luận sớ

 

          Như Lai nói kinh, Bồ Tát tạo luận, hậu hiền soạn sớ, đều nhằm khai thông ý nghĩa kinh để khai thị chúng sanh, khiến cho họ ngộ nhập, công ấy to lớn thay! Nếu có kẻ nói kinh do đức Phật đã nói vốn tự rõ ràng, cần gì phải mất công chú sớ, giảng giải, các bản chú giải, giải thích đâm ra [khiến cho ư nghĩa của kinh] trở thành tối tăm, trầm trệ. Do vậy, họ nhất loạt gạt bỏ, chẳng bàn hay, dở; bất luận [trước tác chú sớ của] phàm hay thánh, đều coi là chẳng đáng nhìn đến! Xét ra, cách nói ấy tưởng chừng đúng, nhưng sai bét! Vì sao? Chẳng tin truyện[13] mà tin kinh, đấy cũng là biết cái gốc, nhưng qua loa, lỗ mãng, do hiểu kinh sâu một cách nông cạn, sẽ phạm sai lầm chẳng nhỏ. Đại để, v́ có hai thứ tâm bệnh: Một là bệnh lười, hai là bệnh cuồng. Do lười bèn chê trách sự tham cứu rộng rãi, ngán suy nghĩ tinh tường, chỉ mong giản tiện, chẳng phải nhọc nhằm tâm lực. Cuồng thì trên là khinh rẻ cổ đức, dưới là miệt thị người đương thời, chỉ mặc sức ức đoán, tự cho là đúng, tự cậy! Kẻ mới học vô tri, vui vẻ ngả theo, tôi thật sự thương xót; vì thế, rát miệng!

 

* Chẳng thể nói “không có Tịnh Độ”

 

          Có người nói “duy tâm Tịnh Độ, chẳng c̣n có Cực Lạc Tịnh Độ ở ngoài mười vạn ức cõi”! Cách nói duy tâm ấy vốn phát xuất từ lời kinh, chân thật, chẳng sai, nhưng người viện dẫn [lời ấy] để làm căn cứ đã hiểu sai ý chỉ ấy. Tâm chính là cảnh, rốt cuộc chẳng có cảnh ở ngoài tâm. Cảnh chính là tâm, cũng chẳng có tâm ở ngoài cảnh. Cảnh đã hoàn toàn là tâm, cần gì phải chấp chặt tâm mà bài xích cảnh? Bỏ cảnh để nói tâm, tức là kẻ chưa thông đạt cái tâm! Hoặc lại có kẻ nói: “Cảnh Tịnh Độ được thấy khi lâm chung đều là tự tâm; do vậy, chẳng có Tịnh Độ!” Chẳng nghĩ người niệm Phật vãng sanh xưa nay, khi lâm chung, thánh chúng tới đón, và nhạc trời, hương lạ, tràng phan, lầu gác v.v… nếu chỉ một mình người ấy thấy thì có thể nói là “tự tâm”, nhưng đại chúng [khi ấy] cùng lúc đều trông thấy. Có trường hợp nghe thiên nhạc văng vẳng đi về Tây, có người ngửi thấy mùi hương lạ nhiều ngày chẳng tan nơi thất. Thiên nhạc chẳng hướng về phương khác, mà hướng về Tây để đi; người ấy đã mất, mùi hương ấy vẫn còn, sao nói là “không có Tịnh Độ” cho được? Có người thấy tên của thiền sư Viên Chiếu Tông Bổn được nêu danh nơi phẩm sen, há có thể nói tâm người khác là cái tâm của Viên Chiếu ư? Lại thử hỏi: “Ông lâm chung, tướng địa ngục hiện, chẳng phải là tâm ư?” Đáp: “Là tâm”. “Người ấy có đọa địa ngục hay không?” Đáp: “Đọa chứ!” Đã đọa địa ngục, tức là có địa ngục đã rõ rồi, sao riêng Tịnh Độ lại chẳng có? Người tâm hiện địa ngục, thật sự có đọa vào địa ngục. Người tâm hiện Tịnh Độ, chẳng sanh vào Tịnh Độ thật sự có ư? Thà nói Có như Tu Di, đừng nói Không chừng bằng hạt cải! Hãy răn dè, hãy dè chừng nhé!

 

* Tịnh Độ ở khắp mọi nơi

 

          Có người mói: “Chẳng phải là tôi không tin Tịnh Độ, cũng chẳng phải là coi thường Tịnh Độ không sanh về, nhưng tôi vãng sanh khác với mọi người! Phương Đông có Phật, tôi liền sang Đông. Phương Tây có Phật, tôi liền sang Tây. Bốn góc, trên, dưới, chỉ cần chỗ nào có Phật, tôi sẽ đến đó, chẳng như Thiên Thai, Vĩnh Minh mong cầu Tịnh Độ, ắt chuyên chú nơi Tây Phương Cực Lạc thế giới!” Cách nói ấy lời lẽ rất cao, ý chỉ rất sâu, nghĩa rất huyền, nhưng chẳng thể dùng làm giáo huấn được! Kinh dạy: “Thí như nhược vũ, chỉ khả triền chi” (ví như [chim non] lông vũ yếu ớt, chỉ có thể chuyền cành). Cho nên biết: Lông vũ đã mọc cứng cáp, thân mạnh, khí lực sung túc thì mới có thể chao lượn nơi trời thẳm, bay ngang dọc tám phương, chẳng phải chuyện kẻ vừa mới phát Bồ Đề tâm có thể thực hiện được! Đức Thế Tôn dạy bà Vi Đề Hy mười sáu pháp Quán, ắt trước hết dạy quán mặt trời lặn như cái trống treo để đặt vững chí nơi phương Tây, mà cổ đức có người ngồi nằm chẳng quên hướng về Tây, há chẳng biết phương nào cũng đều có cõi Phật ư? Bậc đại giải thoát mặc tình thực hiện. Nếu chẳng phải vậy, hãy nghiêm túc tuân theo lời đức Phật sắc truyền.

 

* Âm Dương

 

          Có người nói “vạn pháp khởi nguồn từ Âm Dương, chớ nên trước Âm Dương lại lập ra Thái Cực”. Vì thế nói: “Có trời, đất rồi mới có vạn vật, trời là Dương mà đất là Âm. Vợ chồng là cái gốc sanh ra con người, chồng là Dương mà vợ là Âm”. “Có trời đất rồi mới có vạn vật” là lời của Khổng Tử. “Dịch có Thái Cực, bèn sanh ra lưỡng nghi” cũng do Khổng Tử nói. Chấp nhận lời này, vứt bỏ lời kia, là vì lẽ nào vậy? Châu Liêm Khê (Châu Đôn Di) nói: “Vô cực mà Thái Cực”, còn đặt Vô Cực trước Thái Cực, huống hồ Âm Dương ư? Ngài Khuê Phong cho rằng nguyên nhân (原人, cội nguồn của con người) tức là vô cực, vẫn chưa cùng tận cội nguồn, nhưng luận Khởi Tín gọi “trước khi Chân Như sanh diệt” là nhất tâm. Có thể nói thuyết trên đây (vạn pháp khởi nguồn từ Âm Dương) rất nông cạn!

 

* Mê muội khi xuất thai cách ấm

 

          Cổ nhân nói: “Thanh Văn còn mê muội khi lọt lòng mẹ, Bồ Tát c̣n tối tăm do cách ấm”. Thoạt đầu, tôi nghi Thanh Văn đã trọn đủ Lục Thông, Bồ Tát song tu Định Huệ, do đâu mà tối tăm, mê muội đều chẳng thể tránh khỏi? Tới khi khảo nghiệm chính mình, suy xét người khác, [mới nhận ra] chuyện đêm trước mà đến sáng hôm sau bỗng dưng mờ mịt, huống hồ cách ấm ư? Mới chuyển sang nhà khác, ban đêm thức dậy chẳng biết Nam, Bắc, huống hồ xuất thai ư? Sự tối tăm, mê muội của các vị hiền thánh ấy chỉ là tạm thời tối tăm rồi liền sáng suốt, mê muội trong khoảnh khắc rồi lại giác ngộ. Còn bọn phàm phu chúng ta tối tăm, mê muội đến cùng mà chẳng tự biết. Xả thân, thọ thân, lợi hại như thế đó! Kế sách hiện thời đúng là cần phải lắng vững lòng, chánh tâm, đừng bỏ mất quán chiếu trong một sát-na nào, lại còn khẩn thiết, khổ công, kiền thành cầu sanh Tịnh Độ. Sanh về Tịnh Độ thì tối tăm, mê muội chẳng đáng lo! Đã buông lung cái tâm, lại còn bài bác Tịnh Độ, nguy ngập lắm thay!

 

* Lưu Đạo Nguyên chẳng tin Phật pháp

 

          Tư Mã Ôn công (Tư Mă Quang) nói Lưu Đạo Nguyên[14] chẳng tin Phật pháp nhất. Ông Lưu nói: “Đời người như đang ở quán trọ, các vật dụng trong quán trọ, lúc rời đi đều bỏ lại hết, sao có chuyện mang đi theo được?” Có thể nói là ông ta thấy rõ ràng, quyết đoán mạnh mẽ, vì đó là luận định “người chết thì thần thức diệt”. Quả thật vật dụng thuộc về chủ nhân quán trọ thì bỏ lại, nhưng hành lý của chính mình cũng vứt sạch, chẳng mang theo ư? Đó được gọi là “chỉ có nghiệp theo thân”. Cái mà Ôn công lấy được từ Đạo Nguyên là như thế nào? Lưu Nguyên Thành[15] nói “lão tiên sinh tột bậc thông hiểu chuyện này”, vậy thì cái mà Nguyên Thành lấy được từ Ôn công lại là như thế nào?

 

* Truyền tâm ấn của Phật

 

          Các vị tôn túc thuộc tông Thiên Thai nói truyền tâm ấn của Phật chỉ thuộc về Thiên Thai, gạt bỏ, chẳng chấp nhận tông Đạt Ma. Ngài Khuê Phong nói Hà Trạch (Thần Hội)[16] nối pháp ngài Tào Khê, truyền tâm ấn của Phật chỉ thuộc về Hà Trạch, nhưng gạt bỏ, chẳng chấp nhận hai tông Nam Nhạc và Thanh Nguyên[17]. Do vậy, thiền sư Minh Giáo Khế Tung soạn bộ Truyền Pháp Chánh Tông, chép từ Ca Diếp tới Tào Khê, hai mươi tám vị tổ tại Tây Thiên, sáu vị tổ tại Đông Độ, cho tới Nam Nhạc, Thanh Nguyên, hai thuyết của Thiên Thai và Khuê Phong đều cùng mất. Nay vẫn còn có người thuộc tông Thiên Thai, mà trọn chẳng có ai theo ngài Khuê Phong, tức là nối tiếp ngài Thiên Thai vẫn còn dằng dặc, mà môn hạ của Khuê Phong lác đác! Người theo tông Thiên Thai nói: “Do sư tử bị hại mà sự truyền thừa bèn chấm dứt”, nhưng người cao tột gặp hại sẽ như dạo chơi trong vườn, đền, há có lẽ nào pháp bị diệt theo thân ư? Sách Truyền Pháp Chánh Tông quả thật nêu cao lẽ chánh, làm khuôn mẫu cho muôn đời vậy!

 

* Truyền đăng

 

          Kể từ khi [đức Phật] giơ cành hoa, [ngài Ma Ha Ca Diếp] ngộ ý chỉ, cho tới giã gạo, truyền y,[18] Tây Vực và phương này từng ngọn đèn nối nhau chiếu sáng. Nhưng ngài Hoàng Mai căn dặn Tào Khê rằng: “Từ nay về sau, Phật pháp sẽ do ngươi mà được thịnh hành”. Cho tới Nam Nhạc, Thanh Nguyên, rạng rỡ năm tông, hết sức hưng thịnh vào đời Đường, tiếp tục tốt đẹp vào đời Tống, cho tới đời Nguyên vẫn còn nhiều người, nhưng cho tới nay thì ánh sáng le lói gần tắt. Vì lẽ nào vậy? Do chẳng gieo trồng! Tổ sư nói: “Ngươi học pháp môn tâm địa, giống như gieo hạt giống, ta nói pháp yếu giống như trời tưới đẫm”. Vậy thì đã không gieo, sao trời có thể tưới đẫm cho được? Nay người cạo tóc, đắp y nhuộm tuy trọn khắp trong nước, nhưng đều chú trọng chuyện bên ngoài, duyên theo chuyện hữu vi, kẻ gần với bề trong thì lại bất quá giữ luật để sửa mình, tụng kinh, lễ sám mà thôi. Có ai phát Vô Thượng Bồ Đề tâm, chỉ đề cao chuyện này, khăng khăng khít khít, tham cứu chính mình, chẳng phí uổng tấc bóng, ắt cầu chánh ngộ ư? Mong thâu hoạch thóc nơi ruộng trống, quở trách cây cột trơ trụi chẳng trổ hoa, chẳng có lẽ ấy!

 

* Kim đan

 

          Nếu hỏi: “Huyền tông (Đạo giáo) có nói: ‘Pháp kim đan khá giống với cách tọa Thiền của Nhị Thừa’, lời ấy có đúng hay chăng?” Tôi nói: - Đó là lời nói của Tử Dương[19]. Ông ta chẳng nói là “khác” mà nói là “đồng”, chẳng nói thẳng là “đồng” mà nói là “phả đồng” (khá giống), tức là chẳng thốt lời cẩu thả vậy. Tuy vậy, Thiền giả chớ nên vì vậy mà sanh dị kiến. Học Đại Thừa c̣n coi Nhị Thừa là điều cấm kỵ, cho nên kinh Phạm Võng quở trách Nhị Thừa là tà, là ác, huống hồ “đồng” hay “chẳng đồng” ư?

Nếu hỏi: “Có thể nghe chuyện luyện đan hay không?”, bèn khuyên nhủ như sau: “Luyện chì và thủy ngân thành đan dược, ví như do tu Định và Huệ mà thành đạo. Thần ngưng, khí kết, bèn thành đại đan. Chỉ tột cùng, Quán viên mãn, còn có Chân gì để đợi nữa? Xét ra tuy khác, nhưng sánh ví th́ có thể nêu tỏ lẫn nhau. Huyền tông còn coi tinh, khí, thần nơi thân mình là ngoại dược, dạy người học cầu nội dược nơi nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần. Kẻ theo đuổi nơi ngũ kim, bát thạch[20], tìm cỏ, đốt tranh, vẫn là lầm lạc. Thiền Tông còn coi Thập Địa kiến tánh như cách một bức màn the, ắt phải là vĩnh viễn đoạn vô minh thì mới gọi là Diệu Giác. Kẻ ngừng chân nơi hóa thành, trụ lại nơi đầu sào trăm thước, hăy còn cách biệt rất xa, huống hồ kẻ đầu tròn, áo vuông, được gọi là Thích Tử chẳng nghĩ nối tiếp hưng thịnh dòng giống Phật, lại đắm đuối tụng Đạo Đức Kinh, giảng Nam Hoa (sách Trang Tử), cũng chẳng điên đảo lắm ư?

 

* Kinh Tứ Thập Nhị Chương và kinh Di Giáo

 

          Hán Minh Đế đêm mộng thấy người vàng, sai sứ sang Thiên Trúc, thỉnh được kinh Tứ Thập Nhị Chương của nhà Phật. Đó là khởi đầu của thánh giáo truyền sang phương Đông, du nhập Chấn Đán (Trung Hoa). Nay do kinh ấy nói đơn giản, tăng chẳng tụng tŕ, pháp sư chẳng thăng tòa vì người khác giảng diễn. Kinh ấy chẳng chuyên nói những chuyện gần gũi mà có những điểm cao xa. Có khi nói gần gũi mà ý chỉ cao xa, nhưng mọi người chẳng tự suy xét. Lại như kinh Di Giáo chính là lời trọng yếu tối hậu của Như Lai trước khi nhập diệt, ví như người đời gọi là “di chúc”. Con cháu mờ mịt đối với cội nguồn khai sáng của tổ tông, tức là mất gốc. Con cháu trái nghịch di chúc của cha mẹ khi sắp mất, tức là bất hiếu. Kẻ làm tăng sao chẳng suy nghĩ? Ngu tôi cho rằng: Hai kinh ấy thật sự là thuốc tốt lành để cứu chữa bệnh tình trong thời Mạt Pháp, chẳng thể coi thường, chớ nên xem nhẹ!

 

* Đại ngộ, tiểu ngộ

 

          Tương truyền cụ Đại Huệ Tông Cảo đại ngộ mười tám lần, tiểu ngộ vô số. Ngu ý cho rằng: Người học đạo hễ có cảm nhận tiếp xúc [một chân lư nào đó], thì gọi là “có tỉnh”. Tuy chợt tỉnh, nhưng chưa đại triệt, bèn gọi là “tiểu ngộ”, có thể là nhiều lượt. Còn như đại ngộ, tức là như đức Thế Tôn đêm thấy sao Mai bèn hoát nhiên đại ngộ; đó là hễ ngộ, bèn ngộ trọn hết, chẳng đợi hai, ba lượt! Ngay như chư tổ, có vị mãi cho đến nay chẳng còn nghi nữa, có vị từ đấy giữ yên nước nhà, thiên hạ thái b́nh, có người vốn là Hoàng Bá “Phật pháp không có nhiều con”[21]. Tuy chưa đạt đến địa vị Phật, cũng đều là đại ngộ, nhưng [nếu nói đại ngộ] ắt phải trùng trùng điệp điệp như thế, tức là trước kia chẳng nghi thì nay sẽ khởi nghi, trước kia là thái bình, nay bèn biến thành loạn, trước kia không nhiều con nay lại chẳng thiếu, sao gọi là đại ngộ cho được? Nếu như vô minh tuy đoạn, vẫn mong đoạn tới vô minh tối hậu cùng vi cực tế, tuy thấu suốt công án, vẫn muốn thấu triệt công án cuối cùng về sự sai lầm, thì mấy phen đại ngộ chắc là có thể có, nhưng chẳng nên là nhiều đến mười tám lần!

 

* Thương xót kẻ dưới

 

          Sách Châu Thị Kỷ Ngôn chép: Tiên sanh Đường Nhất Am[22] cùng các bạn ban đêm tṛ chuyện, sắp đi ngủ, hỏi: “Lúc này còn có chuyện gì cần phải lo liệu hay không?” Mọi người đáp: “Không có!” Nhất Am nói: “Hôm nay rét buốt, bọn ta uống rượu rất vui, nhưng kẻ hầu vẫn chưa có chỗ ngủ”. Mọi người từ tạ chẳng nghĩ tới. Vì sao vậy? Do lúc ấy chỉ có ngáp, vươn mình, nghĩ đến ngủ nghê mà thôi, riêng Nhất Am suy xét chuyện mọi người chưa nghĩ tới; đó là lời của người thật sự có lòng nhân, là lòng từ bi của Phật, Bồ Tát. Do vậy, tôi nghĩ tới người xuất gia hiện thời ở trong Tăng đường, trăm chuyện chẳng bận lòng, mười ngón tay chẳng dính nước, lúc đi ngủ, cũng nghĩ các hành nhân (những người làm công quả hoặc lao dịch trong tự viện) có người chưa rảnh rang để ở yên hay không? Liệu cũng nghĩ tới các hành nhân vất vả chẳng yên, v́ sao đến nỗi như thế? Chính là v́ để chư Tăng [không bận ḷng rảnh rang] tu đạo. Cổ nhân có nói: “Đạo nghiệp chẳng thành, sao tiêu của tín thí cho được?” Há chẳng buốt lạnh cõi lòng ư?

 

* Bồ Tát

 

          Người ta thấy Như Lai quở trách kẻ thiên Tiểu, tán thán Đại Thừa, bèn biết phải nên hành Bồ Tát đạo. Nhưng chẳng xét theo thực chất của cái đạo ấy, chỉ mong nương vào cái danh đó, mối hại ấy càng nặng! Do vậy, chẳng thể tự độ, mà trước là có thể độ người”, đấy chính là Bồ Tát. Nếu chuyện của chính mình chưa hiểu rõ mà chuộng làm thầy người khác thì sai mất rồi! Lục Độ đều tu, vạn hạnh đều trọn, đấy là Bồ Tát. Nếu v́ đó mà chuyên chú trọng hữu vi, hoàn toàn vứt bỏ tâm địa, sai mất rồi! Chẳng sợ tiếng xấu, cho đến chẳng sợ oai đức của đại chúng, thản nhiên tự tại, đó là Bồ Tát. Nếu v́ đó (v́ tự cậy ḿnh hành đạo Bồ Tát), nghe vạch lỗi mà chẳng áy náy, khinh đời, ngạo vật, thì sai mất rồi. Dẫu giết chóc mà hành lòng từ, dẫu trộm cắp mà hành bố thí, thậm chí dẫu nói dối mà trở thành lời chân thật, đủ mọi thứ phương tiện quyền nghi, chẳng thể bị hạn cuộc trong thường tình, thì là Bồ Tát. Nếu v́ đó mà độc hại, cướp đoạt, lừa dối, cho đến phá diệt luật nghi, bài bác chẳng có nhân quả, như cổ nhân nói uống rượu và ăn thịt chẳng trở ngại Bồ Đề, trộm cắp, hành dâm chẳng ngăn ngại Bát Nhã” thì sai mất rồi. Đấy là chạy theo cái danh, đánh mất thực chất, chẳng khéo học theo Liễu Hạ Huệ, mà là học bước đi theo kiểu người Hàm Đan[23], đại đạo chẳng thành, nghiệp quả đến trước. Hãy cẩn thận, cẩn trọng nhé!

 

* Nguyện lực

 

          Lữ Văn Chánh công[24] mỗi sáng thức dậy, lễ Phật, chúc nguyện rằng: “Kẻ chẳng tin Tam Bảo, nguyện chẳng sanh vào nhà tôi. Nguyện con cháu đời đời ăn lộc, hộ tŕ Phật pháp”. Sau đấy, con cháu nhà họ Lữ hễ ra mặt trong cõi đời, dù công huân hiển hách, hoặc học vấn tốt đẹp, hoặc trung thành, đều quý hiển, thờ Phật. [Lời nguyện của] Văn Chánh cũng chỉ là thiện nguyện của người thế gian, mà rốt cuộc được thỏa lòng mong nhiều đời chẳng dứt, huống hồ cầu sanh Tịnh Độ là nguyện xuất thế gian to lớn ư? Nguyện của Văn Chánh chú trọng con cháu, có đạt được hay không, chưa thể biết, sao bằng cầu sanh Tịnh Độ ắt do chính ḿnh? Vì vậy biết: Tu Tịnh Độ chẳng thành là do lòng tinh thành chưa đạt đến. Xưa kia, có người sang quý cúng dường một vị Tăng, hỏi Tăng rằng: “Sau khi sư trăm tuổi, có chịu đến nhà tôi hay không?” Tăng cười, [sau khi mất] bèn sanh làm con nhà ấy. Cận đại, ông Tổng Nhung họ Phạm cũng là [hậu thân của] vị Tăng do cha ông đã từng cúng dường. Hai chuyện này tỏ rõ: Hễ nhất thời cười chấp thuận, bèn gá thai vào hào môn, há lẽ nào tinh thành tích tập đã lâu, chẳng gá thai nơi phẩm sen ư? Nhân quả tất nhiên, chẳng cần phải suy nghĩ, bàn luận chi nữa!

 

* Chẳng dấy niệm (1)

 

          Hàng rào vườn thuốc trước sân ông Lý Văn Tĩnh[25] bị hư hoại, ông làm như chẳng thấy, nghe. Kẻ hầu cận xin sửa sang, ông nói: “Sao có thể để chuyện này động một niệm của ta ư?” Ngưỡng Sơn[26] trụ viện, thần thổ địa muốn tham yết, thân cận, nhưng lâu ngày chẳng thể được. Một hôm, Sư ngẫu nhiên vào bếp, hành nhân có kẻ làm hư vỡ đồ đựng thức ăn, Sư bất giác khởi niệm rằng: “Của tín thí đáng tiếc!” Thần thổ địa liền được dịp lễ bái. Tức là thường nhật Sư chẳng dấy một niệm vậy. Vì thế nói: “Một niệm chưa dấy, quỷ thần chẳng biết”. Lại nói: “Lìa niệm tướng như cõi hư không”. Nhưng bọn ta từ sáng tới tối, suy nghĩ phập phều, tâm tưởng loạn động dấy khởi tầng tầng, chẳng biết mấy ngàn vạn ức, muốn siêu sanh tử, chứng Niết Bàn, há có được chăng?

 

* Chẳng dấy niệm (2)

 

          Xưa kia, có người tu đạo dựng am bên khe suối, ban đêm nghe ngoài cửa có tiếng nói rằng: “Ngày mai sẽ có người đội mũ sắt thay thế ta”. Người tu đạo biết là quỷ. Ngày hôm sau, lúc sắp tối, mưa to, nước suối dâng tràn, một nam nhân đầu đội nồi, xông mưa, toan vượt suối, người tu đạo vội ngăn lại. Đến đêm, ngoài cửa sổ lại có tiếng nói: “Ba năm mới chờ được một người, lại bị vị tiên sinh này cứu, ta ắt phải báo thù!” Người tu đạo ngồi ngay ngắn trong nhà, quỷ đi khắp trong nhà, chẳng tìm được người ấy, tức tối bỏ đi. Ấy là vì [người tu đạo ấy] chẳng dấy một niệm. Bởi lẽ, con người tìm kiếm thân hình, còn quỷ thần tìm kiếm tâm. Tâm không thì thân hình cũng là không, ai nói “hoàng quan (đạo sĩ) không có người tài” ư? Bọn chúng ta nên dùng điều này để tự gắng công.

 

* Chín phẩm vãng sanh

 

          Kẻ sĩ có người coi thường Tịnh Độ, chẳng tu, nói: “Ví như bọn ta hãy nên dùng khoa cử để làm quan, sao lại phải chờ được chọn làm Tuế Cống Sanh[27] để được bổ làm quan ư?” Một nho sĩ nói: “Thí dụ ấy sai lầm lớn. Đài sen tự chia thành chín phẩm, sao ông chẳng giữ lấy phẩm tối thượng mà cam lòng nơi hạ phẩm vậy? Nay đỗ tiến sĩ ba trăm người, cũng có thể chia thành chín phẩm thượng, trung, hạ, sao ông chẳng lấy khôi nguyên mà cam tâm đậu chót bảng vậy? Thượng phẩm thượng sanh tức là đỗ đầu bảng. Vì thế, có kệ tụng rằng: - Tam tâm cùng trọn phát. Đế lý hiểu sâu xa, mặc sức lên đài vàng, liền chứng ngộ Vô Sanh”. Điều này chính là đại triệt đại ngộ trong Tông môn, mà cũng chính là nói ‘tâm không, thi đậu trở về’ vậy”. Vị nho sĩ trước đó liền vui mừng nói: “Mối nghi của tôi đã tiêu tan!”

 

* Ngàn vị tăng chẳng được một nạp tử[28]

 

          Long Hưng Tĩnh công[29] được ấn chứng bởi Tuyết Phong đại sư. Ngài Tuyết Phong thọ ký cho ngài Long Hưng Tĩnh rằng: “Ông mai sau làm trụ trì, một ngàn vị tăng dưới tòa, không có ai là nạp tử”. Về sau, ngài Long Hưng Tĩnh nhận lời thỉnh của Tiền vương, trụ trì chùa Long Hưng, quả nhiên đại chúng hơn một ngàn người, đều là người đọc tụng Tam Tạng mà thôi, giống hệt như lời thọ ký của ngài Tuyết Phong. Xưa kia, Mã đại sư (Mă Tổ đạo nhất) có rất nhiều đồ đệ, nhưng trở thành đại khí chỉ tám mươi tám người. Long Hưng Tĩnh cách Mã đại sư chẳng xa lắm, nhưng trong một ngàn người, hiếm thấy được một nạp tử, huống hồ hiện thời? Trong nhân gian không có người hành Thập Thiện thì thiên chúng suy tàn. Trong Tăng không có nạp tử, thì Phật chủng đứt đoạn. Gần đây chẳng biết nạp tử là như thế nào nữa! Pháp đạo điêu linh, như sợi tơ sắp đứt, buồn thay!

 

* Tiếc tấc bóng

 

          Cổ nhân nói: Vua Đại Vũ là bậc thánh nhân tiếc nuối tấc bóng; mọi người hãy nên quý tiếc từng phân thời gian. Đức Phật dạy “mạng người trong hơi thở”, trong mỗi phân thời gian, có bao nhiêu hơi thở, tức là bọn ta sao chỉ tiếc nuối từng phân thời gian? Đối với thời gian trong mỗi sát-na, mỗi cái khảy ngón tay đều chẳng thể không quý tiếc. Xưa kia, thiền sư Y Am Hữu Quyền hễ đến chiều, ắt ứa nước mắt nói: “Ngày hôm nay lại chỉ luống qua như thế, chẳng biết công phu ngày mai sẽ ra sao?” Miệt mài, chuyên ròng dường ấy. Tôi thấy mặt trời buổi sớm vừa mọc, nhớ tới lời nói sau đây của ngài Y Am: “Nay lại đổi sang một ngày, ngày hôm qua đã thành luống uổng, chẳng biết công phu trong ngày hôm nay sẽ như thế nào?” Nhưng tôi chỉ than thở, chưa từng ứa lệ; do vậy biết đạo tâm thua xa cổ nhân, chẳng đáng thẹn lắm ư? Cũng chẳng gắng sức ư?

 

* Chùa Vạn Niên

 

          Chùa Vạn Niên thuộc núi Vạn Sơn của Thiên Thai. Trước điện là mười mấy cội cổ thụ giăng ngang thành chữ Nhất, hàng lối chỉnh tề, cành lá sum suê, tươi tốt, tạo vẻ mỹ quan cho sơn môn. Có người khắc bài ký trên đá như sau: “Những cây này do bậc thượng tiên trồng, hễ ai đẵn chặt, người ấy lập tức chết”. Chắc có kẻ nói: “Người soạn bài ký ấy ngu muội lắm thay! Ngày sau, có thể đảm bảo kẻ có thế lực chẳng trái lời mà đốn đi ư? Viết bài kư để làm ǵ?” Tôi cho rằng: - Chẳng phải vậy! Hễ hưng thì ắt có phế, chẳng phải là cổ nhân không biết, nhưng pháp chẳng thể không lập như thế. Người đời sau tin vào bài ký ấy mà ngưng dứt tà tâm và bất tín, c̣n [nếu họ chẳng tin, cứ đốn phá th́] tạo nghiệp tự thuộc về người ấy, chứ người lập pháp vô tâm, đành mặc cho [kẻ khác tạo nghiệp] mà thôi! Kẻ phá hòa hợp tăng sẽ đọa vào Vô Gián, đức Phật đă thọ ký như thế. Đức Phật chưa nhập diệt, mà Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa) đã dụ dỗ chừng đó vị tăng tại Kỳ Viên rời đi, đức Phật chẳng thể chế ngự Điều Đạt trái nghịch đem người đi, vậy thì Phật ngu ư?

 

* Phú quý khiến người lưu luyến

 

          Bậc cao hạnh trong tăng chúng thường ngày tự giữ bổn phận, chẳng để phú quý nhiễm tâm, nhưng có thể giữ ǵn trong đời này, chưa chắc đã chẳng bị mất trong đời khác. Một người bạn do văn chương đứng đầu trong nước, được bổ vào Sử Quán, tiếng tăm rất lớn. Ông ta ngẫu nhiên đến chơi núi Thiên Mục, bảo với tôi: “Trong thạch thất của núi này có một vị tăng ngồi qua đời, thân cũ của vị ấy hãy còn đó. Tôi muốn lễ bái, viếng thăm, nhưng tâm liền hoảng sợ, chẳng dám”. Tôi hỏi nguyên do, người ấy đáp rằng: “Xưa kia có người lễ vị Tăng trong thạch thất, vừa mới lạy xuống, liền ngã lăn ra đất chết mất, còn vị tăng trong khám thờ bèn ngáp và từ định khởi. Tôi sợ biết đâu sẽ giống như vậy, cho nên chẳng dám”. Do vậy, cùng tôi nh́n nhau, cười lớn. Ông này tài rộng đức to, trí sáng suốt rạng ngời, lại có nhã ý hướng theo Phật thừa, nhưng vẫn còn yêu đắm phú quý một thuở, gìn giữ cái thân trong mộng, chỉ sợ tỉnh giấc, còn nói chi người khác? Ông lăo nhà quê nhà rộng năm mẫu, vị lệnh sử thấp hèn giữ việc canh gác, ḥa thượng nghèo có ba mươi hoặc hai mươi gia đình đàn việt tín tâm cúng dường, là đă khăng khăng chẳng thể bỏ, chết rồi vẫn đem theo trong thức điền, huống hồ người đỗ đạt cao, nắm giữ địa vị trọng yếu, chiếm giữ địa vị vinh diệu trong thế gian, cũng chẳng trách họ yêu đắm được? Phú quý khiến cho con người lưu luyến, dẫu bậc hiền trí vẫn chưa tránh khỏi. Ôi! Đáng sợ thay!

 

* Đạo nhân ngỗng

 

          Người già trong núi gọi ngỗng là “nga đạo nhân” (đạo nhân ngỗng). Hỏi ra thì họ đáp: “Vịt vào ruộng, sẽ nuốt đỉa, sâu, rầy, giun v.v… chẳng sót. Do vậy, chỗ bầy vịt đi qua bèn gọi là “đại quân kéo qua”. Gà ở trên mặt đất, độc ác như rết, nhảy nhót như dế, không con gì trốn thoát mỏ gà, nhưng ngỗng chỉ ăn cỏ tươi và tấm cám. Nó ăn chay, chứ không ăn đồ tanh tưởi. Do vậy gọi là đạo nhân”. Tôi nghe chuyện, ḷng buồn rười rượi! Gà, vịt giết sanh vật, con người giết gà, vịt, báo đền tợ hồ thích đáng, sao lại hầm ngỗng để ăn thịt nó? Ngỗng được gọi là “đạo nhân”, con người cam tâm làm hạnh cọp dữ, đau đớn lắm thay! Tuy vậy, ngỗng chẳng ăn thứ tanh tưởi, giống như con Sô Ngu[30] chẳng giết chóc, chẳng phải do thầy, bạn dạy bảo, mà do bẩm tánh như vậy. Cái tánh ấy là do túc tập khiến thành ra như vậy. V́ thế, người học đạo chẳng thể không cẩn thận tập khí của chính mình!

 

* Sanh nhật

 

          Người đời hễ sanh nhật bèn tổ chức tiệc tùng, âm nhạc rộn rã, vẽ tranh, đua nhau làm ca từ, thơ phú, coi đó là vui. Riêng Đường Văn Tông[31] không làm như vậy, có thể nói là siêu việt thường t́nh. Có người nói: “Ngày hôm ấy chẳng vui chơi mà tụng kinh, lễ sám, tu các phước sự là vì lẽ nào?” Đáp: - Thật sự tốt lành. Muốn báo ân cha mẹ nhọc nhằn sanh nở, nuôi nấng, và diệt các nghiệp do chính mình đã tạo trong cuộc đời. Đối với những điều ấy, phải nên tận tâm. Nhưng đấy là ngọn, chưa phải là gốc. Tiên đức có nói: “Trước khi cha mẹ sanh ngươi ra, là bộ mặt sẵn có của ngươi?Ngày hôm ấy, có kẻ nào có thể chẳng vui chơi mà chánh niệm quan sát diện mục trước khi được sanh ra hay không? Nếu đối với điều ấy mà có thể hiểu rõ rỗng rang, thì không chỉ là báo đền cha mẹ của tấm thân này, mà ân của cha mẹ trong bao kiếp, không gì chẳng báo. Không chỉ diệt nghiệp trong đời này, mà túc chướng trong nhiều đời không gì chẳng diệt. Bỏ cái vui trong đời người để đạt được niềm vui Niết Bàn, hiếu lắm thay, có ai bằng được? Vĩ đại thay, có ai bằng được?

 

* Do bị bệnh mà ăn thịt

 

          Có người thọ giới của nhà Phật, dứt ăn thịt, nhưng bỗng vướng bệnh duyên, bị người thân, bạn bè cưỡng ép, khuyên nhủ, lại còn gặp thầy thuốc thế tục xúi giục, thậm chí có người ăn chay đã lâu, một hôm phá sạch. Chẳng nghĩ sức của thịt chỉ có thể khiến cho thân béo tốt, chẳng thể kéo dài mạng sống, người trí ắt hẳn chẳng làm. Lại nữa, huống chi con nhà phú quý, có đứa ốm o gầy mòn như kẻ đói, nhưng nông dân rau dưa, có kẻ mập mạp như gã lái buôn giàu có. Vậy thì chưa thể đảm bảo béo tốt cái thân, làm sao [bảo đảm] cái mạng cho được? Kẻ ăn chay bị bệnh bèn dạy họ ăn thịt; [vậy th́] kẻ ăn thịt bị bệnh, lại dạy ăn gì đây? Người đang bệnh dùng lý để tự gìn giữ mà thôi. Nếu thuộc địa vị hèn kém, lại có người tôn quý ở trên, gặp tình thế ép buộc, chẳng thể trái nghịch, thì ăn ba thứ tịnh nhục cũng được, chớ nên sát sanh để ăn!

 

* Người đời mắc tật chấp vào kiến giải của chính mình

 

          Phân tích lý chẳng thể không nghiêm ngặt biện định, nhập đạo chẳng thể không chú trọng một điều chuyên môn; nhưng chấp mình là đúng, nhất loạt coi người khác sai bét thì lại chớ nên! Chuyện này xưa kia đã là vậy, nay càng quá đáng! Chấp một nhà (giáo thuyết của một tông phái) là đúng, thì ngoài Thiên Thai ra, chẳng thể chấp nhận một ai cả! Kẻ chấp giản tiện lại chê trách Thiên Thai là đào khoét chi ly, chẳng phải là ý chỉ vốn có của đức Phật! Kẻ chấp lý tánh bèn chê trách niệm Phật là chấp tướng. Kẻ chấp tịnh nghiệp lại chỉ cần thấy kẻ chẳng niệm Phật, bèn gọi họ là ngoại đạo! Thậm chí chấp Phương Sơn (Lư Thông Huyền, Lư Trưởng Giả), bèn chê trách ngài Thanh Lương xé nát toàn thể bộ kinh [Hoa Nghiêm]. Kẻ chấp tŕ thần chú nghi Hiển giáo do người đời sau nói ra [chứ chẳng phải do đức Phật nói]. Những kiểu như thế, đủ loại chẳng dễ nêu trọn! Mâu thuẫn, như nước và lửa, đối địch lẫn nhau, giữ chặt [kiến chấp] như tường vách kiên cố chẳng thể lay chuyển, tôi cảm khái sâu xa! Kính khuyên các vị nhân giả ai nấy hãy bỏ chấp trước, ai nấy trống lòng, lại còn tự nghiên cứu tường tận lý tột cùng, lấy ngộ làm chuẩn tắc. Sau khi đại ngộ, sẽ thong thả mà bàn luận vẫn chưa muộn!

 

* Diêu thiếu sư (1)

 

          Khi đức Phật chưa xuất thế, mọi người đều coi trời là thầy. Đức Phật đã xuất thế, họ mới biết thờ Phật. Vì thế, Phật có hiệu là Nhân Thiên Sư (thầy của trời người), riêng làm vua trong tam giới, chẳng có ai sánh bằng. Diêu thiếu sư[32] viết Phật Pháp Bất Khả Diệt Luận, cho rằng hai giáo Nho và Đạo tuân theo luật trời mà đă chế định mà áp dụng, chẳng dám trái nghịch trời. Giáo pháp của Phật được chư thiên phụng hành, chẳng dám trái nghịch Phật. Đấy tuy là lời lẽ của Khám Trạch[33], nhưng nếu chẳng phải là là thiếu sư, sẽ chẳng thể xiển minh. Hơn nữa, thiếu sư địa vị tột bậc tam công[34], nhưng chỉ khoác một chiếc áo chằm, suốt đời chẳng thay đổi tăng tướng, há có thể dùng thường tình để dò lường ư? Riêng ông ta chẳng giống như ngài Phật Đồ Trừng[35] thị hiện thần thông, nhưng ngài Đồ Trừng trong lúc đời loạn, bèn nhờ vào thần thông để hiển thị sự giáo hóa, còn thiếu sư gặp chân chúa, chẳng đợi thần thông, biết đâu là chẳng phải không thể, mà là không thực hiện đó thôi? Hơn nữa, bài thơ U Cư có câu: “Xuân yến sô thành từ cựu lũy, ngọ kê đề bãi chủy âm giai” (Én xuân ra ràng ĺa lũy cũ, gà trưa gáy xong, mổ thềm tối), có thể nói [Diêu thiếu sư] là Lưu Hầu (Trương Lương) trong thuở đó. Cơi đời chưa có ai biết sự sâu xa của ông ta; do vậy, tôi nêu bày.

 

* Diêu thiếu sư (2)

 

          Chắc có người nói thiếu sư phù tá vua, sát nghiệp rất nhiều, sao có thể chấp nhận được? Nhưng thiếu sư có ba điều đáng trọng: Một là phú quý tột bậc trong các quan lại, nhưng chẳng thay đổi tăng tướng. Hai là công đã thành bèn thoái ẩn, sáng suốt giữ thân. Ba là tán thán Phật thừa, có chánh tri kiến. Sát nghiệp chẳng bàn tới. Tuy vậy, thiếu sư từng khải tấu trong thuở tĩnh nạn: “Phương Hiếu Nho[36] là người hiền, xin hãy thận trọng đừng làm hại”. Chỉ do một lời này, cũng đáng coi là công hơn lỗi vậy. Do vậy, tôi tán thán ông ta.

 

          Bồ Tát giới đệ tử Lưu Huệ Văn xướng suất con trai là Tánh Trạch quyên tiền kính khắc in, kính nguyện chánh pháp hưng thịnh, rạng ngời, tam căn đều được tiếp độ trọn khắp, tiêu trừ nghiệp chướng, chứng thẳng vào Bồ Đề.

          Tháng Năm mùa Hạ năm Quang Tự 24 (1898), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.

         

11. Trúc song tam bút (竹窗三筆)

Đời Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn

 

11.1. Lời tựa

 

          Cổ nhân có Dung Trai Tùy Bút[37], tôi phỏng theo, bên song cửa sổ bằng tre, có lúc có cảm nghĩ, bèn ghi lại; có lúc có những điều trông thấy, bèn ghi lại. Từ lần đầu tới lần thứ hai, đã thành hai quyển. Nay đang độ tám mươi, khá biết bảy mươi chín năm trước sai trái, tự nhận biết cái tâm chưa lặng yên. Hiềm rằng đã gieo mình vào Lạc Sanh Đường từ lâu, chẳng thể siêng năng nối gót cụ Triệu Châu [hành cước]. Do vậy, một chõng đi khắp ngàn non, trong khoảnh khắc thần thức dạo trăm đời. Những gì cảm nghĩ, trông thấy [được ghi lại] qua năm tháng tích lũy, bỗng dưng lại thành một quyển. Tuy là nói Đông, nói Tây, khách hỏi, chủ đáp, đủ loại khác nhau, chủ yếu quy vào chỉnh đốn hạnh môn, bình trị tâm địa mà thôi! Những chuyện khác như chuyện trong Thế Đế, chẳng liên quan tới pháp hóa, vô ích cho sự tấn tu, thì chẳng rảnh nhắc tới! Ôi! Tôi già rồi! Sao không giữ im lặng như cái túi thắt miệng, bình đậy nắp, mà cứ quang quác dường ấy? Ôi! Tôi già rồi, mặt trời xế, trăng tà, còn được mấy chốc? Chẳng nói lúc này, còn đợi khi nào nữa? Nếu có lợi cho dân, cho vật, bận tâm chi những điều khác? Do vậy, lại nâng bút.

          Ngày Xuân năm Ất Mão (1615) thời Vạn Lịch, hậu học Vân Thê Châu Hoằng kính ghi.

 

11.2. Trúc Song Tam Bút (chánh văn)

Đời Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn

         

* Sát sanh là tội ác lớn nhất trong cơi đời

 

          Nếu hỏi: “Con người tạo ác, điều gì là lớn nhất?” [Người được hỏi] đáp rằng: “Trộm cướp, hoặc ngỗ nghịch, hoặc xúi giục thưa kiện”.

Tôi nói: - Chẳng phải vậy! Có thứ còn to lớn hơn. Không gì lớn bằng sát sanh! Chắc có người nói: “Giết mổ để nấu ăn là chuyện thường ngày, há gọi là ác, lại còn lớn nhất nữa?” Ôi! Trộm cướp tuy ác, nhưng cốt ý có được tiền tài. Nếu vui vẻ trao cho chúng, chưa chắc chúng đã tổn hại tánh mạng của con người. Nhưng sát sanh thì mổ bụng, moi tim, gan, não phơi trong chảo, vạc. Ngỗ nghịch thì mặc kệ chẳng phụng dưỡng, khinh mạn, chẳng lễ kính [song thân], chưa chắc đã có những hành vi như A Xà Thế, Dương Quảng[38]. Huống chi A Xà Thế, Dương Quảng làm hại cha mẹ trong một đời, nhưng kinh dạy trong các loài có sanh mạng, chắc là cha mẹ trong đời trước. Sát sanh từ bé tới già, những con vật bị giết chẳng thể tính toán nổi, tức là làm hại cha mẹ nhiều đời! Kẻ xúi giục thưa kiện thì chuyện ác chồng chất, danh phơi bày, phần nhiều bị giết hoặc truy bắt, lọt lưới hiếm lắm, còn kẻ sát sanh ai sẽ tra xét hắn? Tức là xúi giục thưa kiện thì có ngằn hạn, mà cái hại của sát sanh thì chẳng có cùng tận. Do vậy, đức to lớn của trời đất là Sanh. Điều ác to lớn trong vòng trời đất là Sát Sanh.

 

* Ngày đêm niệm Di Đà mười vạn tiếng

 

          Cõi đời truyền tụng Vĩnh Minh đại sư ngày đêm niệm Di Đà mười vạn câu. Tôi từng thử làm, từ sơ nhật phần hôm nay cho đến sơ nhật phần ngày hôm sau, đủ mười hai thời một trăm khắc, vừa được mười vạn, nhưng chỉ là niệm bốn chữ danh hiệu. Nếu sáu chữ thì chẳng đủ số. Dẫu ăn uống, tiêu tiểu đều [niệm Phật] chẳng gián đoạn. Hễ gián đoạn đôi chút, sẽ chẳng đủ số. Ngủ nghê, nói năng thảy đều đoạn tuyệt. Hễ thong dong đôi chút, sẽ chẳng đủ số. Bận bịu, vội vã như người rảo bước, chẳng rảnh để có một niệm nhỏ nhặt nào. Hễ có niệm vi tế, sẽ không đủ số. Vì thế biết là nói mười vạn, đại khái là nói tột cùng trong khoảnh khắc chẳng lìa [Phật hiệu], chứ không nhất thiết hạn định là con số mười vạn. Tôi sợ người tín tâm niệm Phật có thể chấp trước thành bệnh; do vậy, nêu ra chuyện chính mình tự thử để thưa trình. Hoặc có người nói: “Đấy là chuyện thuộc Thiền Định của đại sư”, như thế thì tôi chẳng biết!

 

* Chuyện của mình đã hoàn tất thì mới có thể vì người khác

 

          Cổ nhân đại triệt đại ngộ, chuyện tham học đã xong xuôi mới ở ẩn bên nguồn nước hay trong rừng để trưởng dưỡng thánh thai, chẳng tiếc để miệng mốc thếch. Do trời, rồng thúc đẩy, mới vì người khác. Do vậy, từ giã pháp tịch, nguyện đời đời ở địa vị học nhân để tự rèn luyện. Khi tôi xuất gia, dốc lòng vâng giữ lời ấy, ghi trong tâm khảm. Về sau, do bệnh vào núi, lâu ngày bất giác [núi ấy] trở thành tùng lâm; nhưng cho đến nay, chẳng dám gọi chỗ ở là “phương trượng”, chẳng dám mở miệng lớn lối bàn xằng tông thừa, chỉ là đồng tu với đại chúng, chẳng phải là suất lãnh mọi người hành đạo. Hổ thẹn lớn tuổi hơn một chút, khích lệ, khuyên lơn lẫn nhau mà thôi! Các nhân giả dùng tình nghĩa bạn bè để quở trách tôi hòng được tốt lành hơn thì may mắn lắm thay!

 

* Hai điều lợi tự và tha

 

          Cổ nhân nói: “Chẳng thể tự lợi mà có thể lợi ích người khác thì là tâm Bồ Tát”. Lời ấy chính là cam lộ. Chẳng khéo dùng, sẽ trở thành thuốc độc! Thử xét lại chính mình để suy nghĩ, ta có phải là Bồ Tát hay không? Huống hồ nói “phát tâm” chẳng phải là thật sự có thể! Há chẳng nghe “tự giác đã trọn vẹn, lại hành giác tha, Như Lai ứng hiện trong cõi đời” đó ư? Chắc có người nói: “Ắt cứ phải đợi viên mãn rồi mới lợi tha, thì lợi tha sẽ trọn chẳng có lúc nào cả!” Nhưng bệnh của chính mình chẳng thể cứu, mà có thể cứu người khác, chẳng có lẽ ấy! Vì thế, phải nên phát tâm rộng lớn của Bồ Tát, nhưng lại phải vâng giữ đích xác giáo huấn chân thật, thiết tha của Như Lai. Nếu không, kẻ đui dẫn người mù, tự muốn ghé vào hàng Bồ Tát, mà người lẫn mình đều bị mất mát; đó gọi là ǵ vậy?

 

* Sát sanh chẳng phải là chuyện nên làm của con người

 

          Cọp, beo ăn các loài thú, chim ưng, chim cắt ăn các loài chim, cá chuối hoa[39], rái cá, chim cốc, c̣ ăn các thủy tộc, loài vật vô tri nên như thế. Mang hình tướng con người, bẩm thọ tánh người, mà giết các chúng sanh để ăn thịt th́ có nên hay chăng? [Ăn thịt chúng sanh] thì là cọp, beo, ưng, cắt, cá chuối hoa, rái cá, chim cốc, c̣, trong loài người. Tuy vậy, cọp chẳng làm hại loài bay trên không, cá chuối hoa chẳng hại đến loài chạy trên đất. Con người thì trên đến tận trời, dưới là đến tận vực, giữa thì tản mác, hoặc rừng, núi, ruộng nương, đều câu, bẫy, giăng lưới, trăm kế bắt lấy [các sanh vật] chẳng sót, tức là con người tàn hại loài vật quá đáng! Khổng Tử nói “Nhân giả, nhân dã” (Có ḷng nhân mới là người). Mạnh Tử nói: “Nhân giả, nhân dã” (Nhân từ th́ là người). Con người chẳng có lòng nhân, còn đáng gọi là người nữa chăng? Đã gọi là người, ắt chẳng lẽ nào sát sanh, ăn thịt!

 

* Trâu tế trời

 

          Thui trâu để tế trời, cõi đời lưu truyền chuyện này bắt nguồn từ thời thượng cổ, các đời noi theo. Ngay như Lương Vũ Đế thờ Phật, dùng mì thay cho các con vật [để cúng bái tổ tiên], nhưng chỉ thực hiện ở Thái Miếu, chẳng áp dụng cho tế Nam Giao[40]. Sử nói ngày Thượng Tân[41] trong tháng Giêng, riêng dùng trâu đực để tế Thiên Hoàng Đại Đế[42]. Phàm tế trời kết hợp tế tổ thì cũng dùng trâu trong đó, sao gọi là “dùng mì” cho được? Tôi chẳng rơ cách nói ấy! Xưa kia, Bái công (Lưu Bang) dùng thái lao (trâu, dê, lợn) tế Khổng Tử, tôi từng nói một cỗ thái lao chẳng đủ để báo ân thánh sư, như vậy thì chẳng đủ để báo ân Thượng Đế cũng đã rõ rồi. Nhưng từ xưa tới nay, do đã có đại điển của đất nước, ai theo đó mà ngăn trở? Buồn thay cho con trâu! Do nghiệp gì mà thành sâu nặng đến mức như thế!

 

* Lưới rập của Phục Hy Thị

 

          Tiên sinh Vương Hòe Đ́nh nói: Lưới rập được chế bởi Phục Hy là v́ loài thú gây tổn hại cho mùa màng. Lập ra lưới rập để ngăn ngừa, chẳng phải để vây bắt. Vì thế, dù điền (, làm ruộng) hay ngư (, đánh cá), đều có chữ Điền () ẩn tàng trong ấy. Thuyết này của ông Hòe Đình đă nêu tỏ điều ngàn đời chưa được nêu tỏ, có thể nói là rất hữu công đối với thế đạo. Nếu có ai nói: “Viêm Đế khởi đầu bằng trồng trọt, nên có hiệu là Thần Nông Thị. Thời Phục Hy chưa có canh tác, lưới rập dùng để làm gì?” Tôi dùng ngay ý trên đây để nói rộng ra: “Thời cổ tuy chưa có trồng cấy, nhưng do ăn hạt của thảo mộc, tức là vẫn có mùa màng. Huống hồ, cả người lẫn vật đều do mạnh mà thắng yếu. Lập ra lưới rập, khiến cho loài thú sợ hãi, tránh né, chỉ dạy dân tránh xa cái hại, chẳng phải là dạy dân ăn thịt chúng nó. Bắt lấy chúng để ăn chính thói tệ của đời sau, chẳng phải là ý của thánh nhân”.

 

* Nước tắm

 

          Thầy Biện Dung ở đất kinh kỳ từng nói: “Nước đã tắm rửa đem lắng trong có thể dùng để vo gạo, thổi cơm”. Chắc có người cho là Ngài nói đùa, hoặc bảo là nói quá khích. Tôi nghĩ chẳng phải là như vậy, bởi đó là lời thật. Xưa kia, tôi đi ké thuyền tải gạo đến Đan Dương, thuyền nối nhau suốt mười mấy dặm, đầu đuôi san sát nhau, nhưng sông hẹp, nước cạn, giặt áo cũng luôn tại đó, rửa chân cũng luôn tại đó, đại tiểu tiện cũng luôn ở đó, bẩn thỉu cùng cực. Nhưng nước dùng để đun nấu, thổi cơm cũng luôn dùng ngay tại đó. Chẳng phải là bậc đại phú quý, hiếm có ai lên bờ tìm giếng hay suối. Nước sông có khác chi nước tắm!

Cảnh Cung[43] bị vây, tuyệt nguồn nước, lọc nước từ phân ngựa để uống. Ngoài cửa ải [nơi ông trấn thủ], có Sao Mễ Điếm suốt bốn mươi dặm, đợi mưa xuống mà uống, đào giếng mấy chục trượng chẳng có nước. Than ôi! Trong cõi ngạ quỷ, bao kiếp chẳng nghe tên của nước. Người làm Tăng hiện thời ở chỗ khe trong, suối chảy, trà, nước nóng, tắm gội, giặt giũ, mọi chuyện như ý, lại còn một tháng tắm tám lần, vẫn cho là ít, hoặc một tháng tắm mười lăm lần vẫn cho là ít, sao chẳng biết hổ thẹn đến nỗi ấy?

 

* Tăng phải nên tiết kiệm

 

          Trương Tử Thiều[44] từ lúc là Tú Tài cho tới khi đỗ Trạng Nguyên, giữ địa vị cơ mật, trọng yếu, vẫn áo vải thô, ăn rau, chẳng có vật dụng trang hoàng đẹp đẽ, bút cũng dùng loại mòn, cùn. Hồ Khắc Nhân[45] làm quan mà ăn chay, suốt đời ngủ trong trướng giấy. Ông ta hiện thân tể quan mà hành hạnh tỳ-kheo, huống hồ kẻ bản thân là tỳ-kheo ư? Đức Phật chế đầu đà tỳ-kheo phải khất thực, đắp y phấn tảo, ngủ nơi mồ mả hay cội cây. Nay ở trong đại chúng, được đàn việt cúng tặng, áo đầy đủ, ăn uống đầy đủ, ở yên trong A Lan Nhã, còn cầu đẹp đẽ, hoa lệ nữa ư? Một bát bốn miếng vá, một đôi giày đi suốt ba mươi năm, phong thái cao cả của cổ đức chưa đọa. Vì vậy, tôi hổ thẹn tự trách, lại còn thưa với các bạn đồng tu vậy!

 

* Tăng lạy cha mẹ

 

          Đức Phật chế định tỳ-kheo xuất gia chẳng lạy cha mẹ, nhưng phép vua có luật quy định tăng nhân, đạo sĩ lạy cha mẹ. Chắc có người hỏi: “Vâng theo chế định của Phật thì trái nghịch phép vua. Tuân theo phép vua thì chẳng thuận chế định của Phật, hãy nên làm như thế nào?” Tôi nói chuyện này chẳng khó, có thể cùng hành mà chẳng mâu thuẫn. Người là tỳ-kheo gặp cha mẹ ắt lạy, nói: “Đây là cha mẹ ta, giống như Phật vậy”. Người làm cha mẹ, lúc con lạy, hoặc là tránh ra, hoặc đáp lễ nói: “Đây là đệ tử của Phật, chẳng phải là con ta”. Há chẳng phải là đôi đằng đều trọn đạo ư?

 

* Tuổi trẻ bế quan

 

          Thời cổ chưa có cách nói bế quan, đời sau mới có. Bởi lẽ, [bế quan] nhằm dưỡng đạo, chẳng phải là để tạo đạo! Hơn nữa, người đã phát đại Bồ Đề tâm, vẫn phải đáp thuyền vượt biển, trèo non, xông pha gió sương nơi trăm quận, chẳng khế ngộ một câu “tùy tha khứ” (theo cái khác đi)[46] bèn quẩy túi, đội nón trúc, dẫm bước mây nước nơi ngàn núi. [Triệu Châu Tùng Thẩm] tám mươi tuổi còn hành cước, đã già vẫn rong ruổi. [Ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn] chín lần lên [Động Sơn để tham yết ngài Động Sơn Lương Giới], ba lượt trèo [núi Đầu Tử để yết kiến ngài Đại Đồng], chẳng ngại siêng khổ. Ngươi là kẻ như thế nào mà ngồi yên trong một cái thất, người khác đến tham phỏng ta, ta chẳng cầu người khác ư? Xưa kia, ngài Cao Phong [Nguyên Diệu] tọa tử quan[47] trong động Trương Công, nhà dựa vào vách núi, lơ lửng nơi hư không, như chim ở trong tổ, ít người gặp được, nhưng đó là chuyện sau khi Ngài đại ngộ. Nếu chỉ mong an nhàn mà tự tiện bế quan, chắc chắn là chẳng thể!

 

* Tám mươi tuổi vẫn hành cước

 

          Cổ nhân có bài tụng rằng: “Triệu Châu bát thập do hành cước, chỉ vị tâm đầu vị tiêu nhiên. Cập chí quy gia vô nhất sự, thỉ tri hư phí thảo hài tiền” (Triệu Châu tám chục còn hành cước, chỉ bởi trong lòng chưa được yên. Cho tới về nhà không một chuyện, mới biết hài cỏ uổng phí tiền). Người hiện thời chẳng suy nghĩ hai câu đầu, mà chấp câu cuối, bảo là “đạo ở ngay trước mắt, hành cước uổng công sức!” Lại còn dẫn chuyện [ngài Huyền Sa Sư Bị] chẳng vượt Ngũ Lãnh, [ngài Bảo Phước Tùng Triển] chẳng ra ngoài quan ải để làm chứng. Ôi! Mong hãy tự xét lại chính ḿnh, đã về đến nhà hay chưa? Đã không có chuyện gì hay chưa? Nếu có chuyện vướng mắc giữa đường, lắm chuyện lăng xăng, há chỉ tám mươi, dẫu cho trăm tuổi, ngàn tuổi, thậm chí vạn tuổi, đúng là phải nên mua nhiều hài cỏ, đi khắp góc trời, chẳng thể dừng chân!

 

* Giảng Tông (giảng giải Thiền học)

 

          Tông môn suy hoại là do người giảng Tông (giảng Thiền) gây suy hoại. Chắc là có người hỏi: “Giảng nhằm nêu rõ Tông, sao lại nói là suy hoại?” Tôi thưa: - Kinh, luật, luận có đường nẻo nghĩa lư, chẳng giảng sẽ chẳng hiểu rõ. Nhưng Tông môn chẳng có đường nẻo nghĩa lư; giảng giải đâm ra tối mù, cần phải khiến cho [hành nhân] tham cứu mà tự đạt được! Do vậy nói: “Mặc cho biển xanh biến đổi, trọn chẳng vì ông giảng thông suốt”. Lại nói: “Nếu ta nói toạc ra cho ông, sau này ông sẽ chửi ta”. Nay giảng giải, sẽ biến thành lời lẽ khuôn sáo, chẳng hiểu rõ ý Tổ từ phương Tây đến, chính là v́ lẽ này!

 

* Dạy người khác tham Thiền

 

          Người tham Thiền bị lầm lẫn là do người dạy tham Thiền gây lầm lẫn! Chắc có kẻ hỏi: “Dạy người khác tham Thiền nhằm hưng khởi đạo Trực Chỉ trong thuở đèn tàn sắp tắt, sao lại nói là gây lầm lạc?” Tôi nói: “Đạo tuy ai nấy đều sẵn đủ, nhưng cũng là ai nấy đều gặp khó khăn. Nếu chẳng phải là bậc lợi căn thượng trí, sẽ rốt cuộc chẳng biết được ngằn hạn, sao lại nhất loạt ban phát cho mọi người được? Ví như chiêu mộ binh sĩ, nếu tuyển được bọn nhút nhát tầm thường, [những kẻ đó] chỉ có thể cầm cờ, gióng trống, chứ trao cho họ quả chùy của Châu Hợi, thanh đao của Vân Trường (Quan Công), ngọn kích của Điển Vi[48], họ chẳng lạng quạng, vấp ngă th́ cũng hiếm lắm, sao có thể mong mỏi họ lập công chém tướng, bắt tù, công thành, phá lũy cho được? Hoặc tự ḿnh cũng vừa mới nhận rơ các mặt chữ Thượng (), Đại (), Nhân (), Khâu (), Ất (), Kỷ (), bèn dạy văn tự khoa cử cho người khác th́ cũng sai mất rồi!” Nếu hỏi: “Còn ông thì sao?” Đáp rằng: “Lão tăng còn đang học các chữ Thượng, Đại, Nhân chưa thuộc!”

 

* Triệu Luận

 

          Không Ấn[49] chê bai bài Vật Bất Thiên Luận của Triệu Công, trước kia tôi đã từng giải thích; nay lại suy nghĩ do đâu mà Không Ấn chê trách như vậy? Nguyên do có hai lẽ: Một là không suy xét ý nghĩa do đâu mà có bộ luận ấy, hai là quá chấp vào thường pháp.

“Chẳng suy xét ý nghĩa do đâu mà có bộ luận ấy”: Nếu có người hỏi: “Vì sao vật chẳng đổi dời?”, hãy nên đáp rằng: “Do tánh Không”. Nay luận ấy mượn ý “vật xưa chẳng đến nay” là “vật đổi dời”, nhưng [Không Ấn] lại tùy tiện dùng tánh Không để bắt bẻ. Tánh Không tuy là thánh ngữ (lời dạy của thánh nhân, tức lời dạy của Phật, Bồ Tát), nhưng áp dụng vào đây, sẽ trở thành lời đàm luận mơ hồ, chẳng phải là lời đàm luận phù hợp thích ứng căn cơ; chẳng phải là giống như người viết văn, từ ngữ, câu văn tuy đẹp đẽ, nhưng chẳng phù hợp với đề bài đó ư?

“Quá chấp thường pháp”: Tăng hỏi ngài Đại Châu [Huệ Hải][50] “như thế nào là Niết Bàn?” Đại Châu nói: “Chẳng tạo nghiệp sanh tử”. Đó là thường pháp. Lại hỏi: “Thế nào là nghiệp sanh tử?” Đại Châu nói: “Cầu đại Niết Bàn là nghiệp sanh tử”. Trong thường pháp, ắt đáp “do hành theo vọng, nên là nghiệp sanh tử”, nay Ngài nói “cầu đại Niết Bàn là nghiệp sanh tử” chính là có cùng ý nghĩa với ngài Tăng Triệu coi “vật chẳng tồn tại đến hiện tại” là “bất thiên” (chẳng đổi dời). Vì thế, chẳng thể bắt bẻ được!

Lại nữa, Không Ấn nói “Khuê Phong chẳng nên coi Thiền Trực Chỉ của tổ Đạt Ma là một độ trong lục độ”, ngài Khuê Phong nói lời này ở chỗ nào vậy? Trong bộ Thiền Nguyên Thuyên do Khuê Phong soạn có nói: “Khi Đạt Ma chưa đến Trung Hoa, [Thiền] trong cách hiểu của các vị [cổ đức] đều là Thiền thuộc Tứ Thiền Bát Định. Giáo nghĩa do các ngài Nam Nhạc và Thiên Thai đã lập tuy viên diệu tột bậc, nhưng do tiến nhập môn hộ theo thứ tự, cũng chỉ là một trong các môn Thiền trên đây. Chỉ có Thiền do Đạt Ma truyền cùng một Thể với Phật, vượt xa các môn khác”.

Lời ấy đă nói rành rẽ như thế, vậy mà bảo là “coi Thiền trực chỉ là Thiền độ trong lục độ”, tôi chẳng hiểu được! Tuy vậy, Không Ấn bài bác Vật Bất Thiên Luận của Triệu công, quở trách ngài Khuê Phong bàn định Sơ Tổ, đúng là đã phạm lỗi. Còn như Sư nói Khuê Phong chẳng nên coi Hà Trạch là người duy nhất kế thừa Tào Khê, hoặc cho rằng những luận định của môn nhân tông Thiên Thai có lẽ phần nhiều chẳng do [Trí Giả] đại sư chính miệng nói ra. Hai thuyết này là luận định xác đáng.

 

* Hoa Nghiêm Luận Sớ

 

          Nếu hỏi: “Đã nghe lời chỉ giáo về Triệu Luận, lại có một cư sĩ tận lực chê trách ngài Thanh Lương thì sao?” Tôi nói: - Vị cư sĩ đó chỉ tôn sùng lời định luận của ngài Táo Bách (Lư trưởng giả Lư Thông Huyền). Ông ta chỉ trích ngài Thanh Lương, cho rằng chẳng nên dùng “tín, giải, hạnh, chứng” để xé lẻ toàn bộ bản kinh, đánh mất tông chỉ của kinh rất lớn. Chẳng nghĩ kinh mở ra Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa v.v… Đó là tách nhỏ lại càng tỉ mỉ hơn. Như vậy thì Phật cũng sai ư? Hơn nữa, Hàng Bố và Viên Dung[51], tuy một mà hai, tuy hai mà một! Cứ ắt muốn trừ khử Hàng Bố, thì Viên Dung là vật gì vậy? Nhân bao trùm biển quả, quả thấu triệt nguồn nhân, tức là trước sau đồng quy, đầu đuôi nhất quán, chẳng khâu lại, chẳng xé ra (ư nói không gom lại, hay tách ra), tìm thấy sự xé lẻ ở chỗ nào? Huống chi luận (Hoa Nghiêm Hợp Luận của ngài Táo Bách) thì có luận thể, sớ (Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao) có sớ thể. Nêu rõ đại ý, không gì bằng luận! Nêu tỏ cặn kẽ, tỉ mỉ, sâu tột cùng, vi tế tột bậc, công của [Hoa Nghiêm Kinh] Sớ Sao chẳng thể nghĩ bàn. Hai vị đại sĩ (Táo Bách và Thanh Lương) đều là bậc hiền thánh phù tá kinh Hoa Nghiêm, chẳng thể so sánh cao thấp! Tôi từng gửi thư cho cư sĩ, cư sĩ chẳng đáp, chẳng biết có chấp thuận hay không? Do vậy, ghi lại.

 

* Phê bình, luận định tiên hiền

 

          Tôi đã trần thuật hai chuyện Triệu Luận và Tạp Hoa (kinh Hoa Nghiêm). Có người nói: “Chớ nên phê bình, nghị luận tiên hiền!” Tôi thưa: - Chẳng phải vậy! “Người hiện thời chưa chắc chẳng bằng cổ nhân”, xưa kia đã có lời ấy, nhưng tôi từng nghĩ ba trăm thiên (ba trăm bài thơ ca trong kinh Thi) phần nhiều phát xuất từ những lời ca vịnh nơi rẫy bái, xóm làng, mà đời sau, kẻ tài hoa vang danh trong cõi đời chẳng thể bằng được. Lục quần tỳ-kheo dẫu thánh chúng chẳng nhắc tới, nhưng hiền hơn các vị Mã Minh, Long Thọ sau khi đức Phật diệt độ, vậy thì sao có thể coi thường cổ nhân cho được?

Lời phê bình của Không Ấn thái quá chỉ ở hai chỗ [nhận định về luận] Vật Bất Thiên và [bàn về] lời ngài Khuê Phong luận định Đạt Ma, chẳng thể sánh bằng lời gièm chê ngài Thanh Lương. Tôi thấy có người quát mắng, sỉ nhục ngài Ôn Lăng [Giới Hoàn], mạ lỵ ngài Trường Thủy[52], do tôn sùng ngài Thiên Thai mà hủy báng trọn hết các vị khác, chẳng vừa lòng một vị nào! Có kẻ soi mói ngài Diệu Hỷ là chưa ngộ, coi thường ngài Trung Phong là văn tự tri thức, lại còn quá đáng hơn là nói Lục Tổ chẳng bằng ngài Vĩnh Gia, nhưng đối với những người bị họ vùi dập như thế, sao có thể chẳng biện định cho được? Than ôi! Cổ nhân đã qua rồi, người thời nay [phê phán tiên hiền] còn đó, sao tôi phải rỗi hơi bênh vực cho người thuộc về quá khứ để rồi mất ḷng người đang c̣n? Xét theo lý th́ có những điều phải nói lời thích đáng, chẳng thể cứ im lặng suốt, c̣n những điều khác thì không màng tới.

 

* Dạo chơi danh sơn, chẳng nguyện sanh về Tây Phương

 

          Kẻ sang chơi Ngũ Đài, bảo là Văn Thù tại đó. Kẻ sang chơi Nga Mi, bảo Phổ Hiền tại đó. Kẻ sang chơi Phổ Đà, bảo Quán Thế Âm tại đó. Riêng chẳng nói Tây Phương Cực Lạc thế giới có Phật Di Đà tại đó! Lại chẳng nói: Đối với ba vị đại sĩ th́ chỉ ngưỡng mộ danh hiệu tốt lành, A Di Đà Phật nay đang thuyết pháp, thân cận quang minh tốt lành, càng hay hơn ư? Lại chẳng nói bôn ba nơi ba quả núi, trải bao năm tháng mới đến được, còn tín tâm niệm Phật, trong một cái khảy ngón tay bèn vãng sanh ư? Hết sức đáng than!

 

* Quyên mộ, hóa duyên phi lý

 

          Quy ước dành cho tăng chúng ở Vân Thê có nói: “Kẻ quyên mộ, hóa duyên phi lý, sẽ bị trục xuất khỏi chùa”. Một vị tăng nói: “Chuyện này chẳng đáng cấm. Hễ cấm thì sẽ khuyết phước điền của chúng sanh. Quyên mộ phi lý, tuy người ấy tự gánh chịu tội lỗi, nhưng chúng sanh được lợi ích phá trừ lòng keo tham, xả tài. Tăng trong cơi đời từng mượn danh nghĩa của Phật để kiếm sống, Phật chưa từng v́ bọn họ đặt ra cấm đoán”.

Tôi nói: - Ông nói đúng là hay lắm, nhưng chỉ biết một mà chẳng biết hai! Quyên mộ, khuyến hóa phi lư chính là mờ mịt nhân, mê muội quả. Người thí mà biết, sẽ do vậy mà thoái tâm, sau đấy chẳng bố thí nữa, há c̣n có thể phá keo kiệt ư? Thuở đức Phật tại thế, có các đệ tử từ xa trở về, đi qua các thôn xóm, thấy cửa nẻo đóng chặt, hỏi nguyên do th́ ra họ sợ Tăng quyên mộ, hóa duyên! Do vậy, tŕnh lên Phật, đức Phật bèn quở trách đủ mọi lẽ, sao nói là chẳng cấm đoán? Hăy thận trọng nhé!

 

* Hư vọng niêm tụng cơ duyên của cổ đức (1)

 

          Quy ước cho tăng chúng ở Vân Thê là nếu hư vọng niêm tụng cơ duyên cổ đức, sẽ bị trục xuất khỏi chùa. Một vị tăng nói: “Chẳng cần cấm chuyện ấy, hễ cấm sẽ đoạn duyên Bát Nhã. Kẻ phỉ báng Pháp Hoa, trả tội địa ngục xong, lại do phỉ báng mà gieo duyên với Pháp Hoa. Huống hồ hư vọng niêm tụng th́ chẳng phải là báng?”

Tôi nói: - Ông nói đúng là hay lắm, nhưng chỉ biết một mà chẳng biết hai! Kẻ báng Pháp Hoa ra khỏi địa ngục mà gieo thiện duyên, sao bằng người tin kính Pháp Hoa chẳng vào địa ngục, lập tức gieo thiện duyên ư? Lại nói hư vọng niêm tụng chẳng phải là phỉ báng, nhưng chẳng nghĩ: Vô tri đoán ṃ đàm luận, đều gọi “báng đại Bát Nhă”. V́ thế, kẻ tùy tiện trần thuật lời thầy, bị chỉ trích rằng “tiên sư không nói lời ấy, đừng báng tiên sư th́ hơn”. Người ấy tôn trọng thầy, chẳng phải là phỉ báng. Đáp lầm một câu chuyển ngữ, đọa làm thân chồn hoang. Đó là lầm lỗi, chẳng phải là phỉ báng. Cớ sao hai người đều thành tội lệ? V́ mỗi câu hỏi, mỗi câu đáp của cổ nhân đều từ chân thật liễu ngộ mà ra. Người hiện thời rong ruổi theo khẩu đầu tam-muội, đối trước người sáng mắt giống như bỏ thủy ngân vào ḷ lửa đỏ rực, yêu tà gặp phải Bạch Trạch[53]. Nếu chẳng cấm chỉ, Đông giơ một nắm tay, Tây buông một tiếng hét, kẻ này nói một bài kệ, kẻ kia nói một bài tụng như điên, như cuồng, như đùa, như bỡn, hư huyễn hừng hực mà đánh mất thực tiễn. Ông cho rằng đó lả phục hưng Tông môn, tôi nghĩ đó là đại phá hoại Phật pháp!

 

* Hư vọng nêu cơ duyên của cổ đức (2)

 

          Tăng không vui nói: “Nếu đúng là như thế, đối với cơ duyên của cổ đức chng thể mở miệng b́nh luận, đánh giá một phen ư?” Đáp: “Chỉ cấm hư vọng niêm tụng, chưa từng nói chẳng thể niêm tụng! Hai vị tăng cùng lúc cuốn rèm, cổ đức nói: ‘Một người được, một người mất’. Ông hăy thử b́nh luận, đánh giá xem, ai được, ai mất?” Tăng chẳng đáp được. Tôi nói: “Người xưa có nói: ‘Mười phen bị thầy hỏi, chín lượt đáp chẳng được’ vẫn không hại ǵ, chỉ kỵ vô tri nói bừa, sẽ trọn chẳng thăng tấn được! Hăy cẩn thận nhé!”

 

* Nói thẳng

 

          Vị tăng trên đây muốn bỏ hai điều cấm đoán là quyên mộ và hư vọng niêm tụng, tôi không đồng ư. Vị tăng ấy rời đi, lại có một vị Tăng nói: “Vân Thê nửa tháng nói thẳng, nói thẳng từng ngày, vừa khéo dấy lên đầu mối tranh căi. Trừ bỏ nói thẳng th́ mới đúng là cách nói thẳng”.

Tôi nói: - Ông chẳng phải là tăng ư? Tăng hăy nên vâng theo Phật. Đức Phật chế định kết hạ chín mươi ngày. Ngày măn hạ được gọi là Tăng Tự Tứ Nhật, Phật Hoan Hỷ Nhật (ngày tăng tự tứ, ngày Phật hoan hỷ), cho phép Tăng nêu lỗi chẳng ẩn giấu, kiêng kỵ ǵ. Do vậy, gọi là Tự Tứ (自恣). Vân Thê [quy định] mỗi nửa tháng nói thẳng chính là dựa theo đó. Phật vui mà riêng ông không vui, có nên hay chăng? Luật chép tăng có lỗi th́ những vị Tăng bên cạnh bạch với đức Phật, đức Phật gọi vị Tăng [phạm lỗi] ấy, quở trách đủ mọi lẽ. Do vậy, chế thành luật. Vân Thê nói thẳng hằng ngày chính v́ căn cứ theo đó. Đức Phật cho phép cử tội, riêng ông không cho phép, có nên hay chăng? Hơn nữa, pháp thế gian c̣n nói: “Vua có bầy tôi vạch lỗi, cha có con vạch lỗi, kẻ sĩ có bạn vạch lỗi”. Do vậy nói: “Vua đức sáng bèn ban thưởng bầy tôi can gián thẳng thừng, thánh chúa lập cột[54] để ghi bài báng”. Phu Tử cho rằng biết lỗi là may mắn, Trọng Do (Tử Lộ) nghe trách lỗi bèn mừng, huống hồ Tăng tu pháp xuất thế gian mà có thể chẳng cần bạn giúp thành tựu đức của ḿnh ư? Ông ghét nói thẳng, kẻ siểm nịnh, a dua, bợ đỡ sẽ kéo tới, cự tuyệt can gián, che đậy sai trái, sẽ tổn đức, bại nghiệp, chẳng phải là lỗi nhỏ đâu! Hăy cẩn thận nhé!

 

* H́nh tích của cái tâm

 

          Bao Hiếu Túc Công[55] suốt ngày nghiêm nghị, người ta ví nụ cười của ông giống như Hoàng Hà nước trong! Tần Cối cũng hiếm khi tươi cười, hễ mỉm cười giống như nước suối khô cạn! Vẻ ngoài tuy như nhau, nhưng nội tâm khác biệt một trời, một vực. Môn đ́nh của thiền sư Thần Đảnh Hồng Ân cao ngất, nạp tử nếu chẳng phải là bậc thượng sĩ tham học đă lâu, sẽ chẳng dám vào cửa. Về sau, cũng có bậc Thiền ḥa giống như vậy. Lâm Tế, Đức Sơn hễ động đến là phang gậy, hoặc quát to như gió, như sấm. Bậc Thiền ḥa về sau cũng có người giống như vậy. Hoàng Long, Diệu Hỷ thăng ṭa bèn chửi vung vít các phương. Bậc Thiền ḥa sau này cũng có người giống như vậy. Giống hay khác như thế nào vậy?

 

* Tăng chú trọng ngoại học

 

          Cái học của nhà Nho lấy lục kinh và các sách như Luận Ngữ, Mạnh Tử v.v… làm chuẩn đích, c̣n [sách vở của] Lăo, Trang, cho đến kinh Phật đều cấm đoán, chẳng học, dốc ḷng chuyên dụng công nơi chánh lư, chẳng đáng trách. Là tăng sĩ cũng thế, [vậy mà] chẳng đọc kinh Phật, cứ lo đọc sách Nho. Đọc sách Nho vẫn c̣n chấp nhận được, nhưng lại c̣n đến nỗi đọc Trang, Lăo. Kẻ hơi minh mẫn lại c̣n theo đuổi việc chú thích [các sách đó], lại c̣n học thơ, học văn, học thư pháp, học văn từ thế gian, các thứ ấy đều là tướng suy của pháp môn, chẳng thể văn hồi được!

 

* Tăng chú trọng tạp thuật (1)

 

          Tăng lại có kẻ làm thầy địa lư, làm thầy bói toán, làm thầy xem tướng, làm thầy chế thuốc, làm thầy thuốc phụ khoa, làm thầy phù thủy, luyện đan, đời Mạt Pháp thói tệ cùng cực! Chắc có kẻ nói: “Bách Trượng đại sư sai Tư Mă Đầu Đà chọn đất để có thể dựng đạo tràng chứa được năm trăm tăng chúng, [Tư Mă Đầu Đà] bèn chọn được Quy Sơn. Đó là chuyện của nhà địa lư. [Đại sư] lại sai chọn chủ nhân Quy Sơn, bèn chọn được thiền sư Đại Hựu. Đó là chuyện của nhà phong thủy. Vậy là như thế nào?” Ôi! Đấy là đại cơ duyên truyền pháp lợi sanh của cổ thánh hiền, người đời chẳng hiểu biết, suy lường được, nhưng nhân phẩm của Bách Trượng và Tư Mă [Đầu Đà] là như thế nào? Bọn thuật sĩ hiện thời há có thể viện cớ [đánh đồng với họ] được ư?

 

* Tăng chú trọng tạp thuật (2)

 

          Hoặc nói: “Tạp thuật cố nhiên chẳng phải là trách nhiệm của tăng. Y thuật nhằm toàn mạng cho chúng sanh, hăy nên coi là không trở ngại!” Tôi nói: - Tạp thuật loạn tâm, cố nhiên nên nhất loạt buông bỏ. Nếu như có hoài băo cứu tế, cũng là một đầu mối trong vạn hạnh. Nhưng nếu y thuật chẳng tinh tường, tuy nói là “toàn mạng cho chúng sanh”, đâm ra tổn thương chúng sanh, hết sức chẳng nên! Gần đây, có vị tăng dùng cách “cứu” (, đốt ngải cứu) [để chữa bệnh]. Cách ấy là trộn thuốc thành bánh, đặt ngải cứu lên trên [bánh thuốc ấy] để đốt, bảo là “trị vạn bệnh”. Cách ấy chẳng biết xuất phát từ sách nào, truyền từ người nào? [Cách đ châm cứu] là lần theo bắp thịt để ḍ huyệt, từ huyệt mà [châm hoặc cứu để dẫn kích thích] vào trong [kinh lạc]; đấy chính là cách thông thường để đốt ngải cứu. Cách một bánh thuốc mà “cứu”, khiến cho người bệnh đau đớn nhưng chẳng có công năng ǵ! Nhưng thầy làm như thế, tṛ nối tiếp theo, chẳng tự biết nghiệp của họ đă sâu lại nặng!

 

* Châu Liễu Ông

 

          Châu Liễu Ông bảo tôi: “Thích môn hiện thời cần phải chặt đầu ba người treo ngoài đường phố[56] th́ sau đấy Phật pháp mới chấn hưng được!” Khi đó, vị quan X… ngồi tại đó, hỏi ba người ấy là ai? Đáp thẳng rằng: “Thứ nhất là ông Y…, thứ hai là ông Z…” Hỏi tới người thứ ba, ông đáp thẳng: “Chính là lăo huynh”. Vị quan X… vốn thường nhật thân thiết với ông Châu, bèn hỏi nguyên do. Ông đáp: “Ông đội cái danh là A-luyện-nhă mà tâm tại điện Hàm Nguyên!” Vị quan X… không nổi sân mà nói: “Ông nói chí lư!” Ông này (Châu Liễu Ông) do cương trực, chẳng dung hợp với đương thời, đối với tăng sự, cũng [luận định] chánh khí lẫm liệt dường ấy. Đáng nể, đáng kính! Tăng sĩ hiện thời thật sự sống tại A-luyện-nhă mà có kẻ phát nguyện, nguyện đời sau làm ngự sử th́ đáng thẹn chết được!

 

* Dùng nước sôi để thí thực

 

          Có người tự xưng là sa-môn ở Tây Vực, làm pháp sư hành Diệm Khẩu Thí Thực. Sái tịnh chẳng dùng nước thường, mà đun nước sôi trong b́nh, dùng tay bưng lên để tưới rẩy, rơi vào mặt người khác cũng chẳng nóng. Mọi người lấy làm lạ, nườm nượp thỉnh ông ta thí thực. Tôi cho rằng tṛ này chẳng đáng coi là quư. Những người được gọi là Đoan Công Thái Bảo[57] trong cơi đời có thể dùng xiềng sắt nóng đỏ buộc chặt nơi chân tay, mũi đao nhọn sắc đâm vào cổ họng, huống hồ nước nóng ấy chỉ là tṛ vặt vănh! Đức Phật chế định thí thực vốn v́ ngạ quỷ, hễ thức ăn tới miệng họ bèn thành lửa, thành than. V́ thế, dùng chân ngôn Cam Lộ Thủy v.v… để diệt sự nhiệt năo ấy, khiến cho họ được thanh lương, sao lại dùng nước nóng? Điều này do vị Phật nào nói? Do kinh nào chép? Lừa đời, dối dân, không chi hơn được nữa! Chắc có người nói ông ta có thể biến nước sôi thành nước lạnh, cho nên chẳng cần dùng nước. Nếu đúng là như thế, ắt cũng có thể biến thứ thối nát thành trầm đàn; ắt chẳng cần dùng hương, hóa tối tăm thành quang minh; ắt chẳng cần dùng đèn, hóa ngói, sỏi thành táo, hạt dẻ; ắt chẳng cần dùng trái cây, hóa cỏ, rơm thành mẫu đơn, thược dược; ắt chẳng cần dùng hoa, hóa bùn đất thành lúa tẻ, lúa ḿ, kê, gạo; ắt chẳng cần dùng hộc thực (hộp đựng thức ăn). Nay v́ sao, hoa, hương, đèn, quả, hộc thực, mỗi mỗi đều sắm sửa đầy đủ như thường pháp, riêng một chuyện sái tịnh th́ dùng nước sôi vậy? Người hiểu rơ lư sẽ biện định [đúng, sai] ngay!

 

* Nhục h́nh (tra khảo, hành hạ xác thân)

 

          Nhục h́nh bắt đầu từ khi nào? Có phi thật sự là ư của thánh nhân hay không? Nếu bảo: “Sách Thượng Thư có nói”. Tuy nói, nhưng chưa tường tận! Chắc là đời sau muốn ra oai với dân mà làm vậy! Nung đỏ ống đồng bắt tội nhân ôm, cho nên vua Trụ của nhà Thương lâm nguy. Khoét mắt người, lột da mặt người, cho nên Tôn Hạo[58] nước Ngô mất nước. Lại c̣n có chuyện đun sôi dầu và muối trong vạc, chảo, bỏ người vào trong ấy mà nấu nhừ, các vua Tề, Sở v.v… rốt cuộc đến nỗi diệt vong, thế mà bảo là do thánh nhân làm ư? Chắc lại có kẻ nói: “Đục trán lại c̣n cắt mũi người đó, Châu Dịch cũng nói đó thôi!” Nhưng kinh Dịch chẳng phải là luật, mà là sách bói toán, chẳng phải là sách chép về h́nh phạt. Sở dĩ người xưa áp dụng [để hướng cát, tỵ hung], chẳng phải để trừng phạt tội của dân. Đục trán và cắt mũi là Tượng (biểu tượng, h́nh tượng của quẻ), chẳng phải là sự thật. Hơn nữa, nhục h́nh tới thời Hán Văn Đế mới trừ, muôn đời sau có cho Văn Đế là sai trái hay không? Hay coi Văn Đế là hiền? Nếu coi là hiền, có thể biết nhục h́nh là sai trái. Tuy nhiên, vua quả thật là hiền, nhưng vẫn có chuyện đáng hận, tức là chưa trừ “cung h́nh”[59]. Than ôi! Đau ḷng thay, khó nói nổi. Nghiệp báo tuần hoàn chẳng thể dứt, khi nào mới được thấy hội Long Hoa trong thế gian!

 

* Tâm ư thức

 

          Mấy vị giảng sư tranh luận tâm ư thức chẳng quyết đoán được. Tôi bèn v́ họ tra cứu các cổ thư. Kinh Văn Thù Vấn chép: “Tâm giả tụ nghĩa, ư giả ức nghĩa, thức giả hiện tri nghĩa” (tâm có nghĩa là tụ tập, ư có nghĩa là nhớ, thức có nghĩa là hiện đang biết). Câu Xá Luận chép: “Nhóm hợp rồi khởi lên là tâm, toan tính, suy lường là ư, hiểu rành rẽ khác biệt là thức”. Kinh Mật Nghiêm dạy: “Tạng thị tâm, chấp ngă danh ư, thủ chư cảnh giới vi thức” (Chứa đựng là tâm, chấp ngă là ư, giữ lấy các cảnh giới là thức). Các thuyết như thế đều là sai biệt nhỏ nhặt, nhưng đại để tương đồng. Ngài Vĩnh Gia nói: “Tổn pháp tài, diệt công đức, không ǵ chẳng do tâm, ư, thức”. Do vậy, trong giáo thừa, cần phải mỗi điều đều suy xét cùng tột, chẳng thể lẫn lộn được! Tông môn chỉ thẳng nguồn tâm, một niệm chẳng sanh, toàn thể hiện, cần ǵ phải khăng khăng phân biệt, tranh luận!

 

* Chế ngự cái tâm

 

          Chắc có người hỏi “tâm niệm tơi bời, nên hành phương tiện nào?” Tôi nói: “Đức Phật dạy: ‘Tâm giả, chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện (tâm là chế ngự tâm vào một chỗ, không ǵ chẳng hoàn thành)”. Nếu nói: “Chẳng phải là giống như Cáo Tử cưỡng chế khiến cho cái tâm bất động ư?” Chẳng phải vậy! Cái tâm bất động của Cáo Tử là niệm vừa dấy lên bèn đè nén, đè nén cho nó tĩnh. Nay chế ngự cái tâm chính là chế ngự khiến cho nó quy vào một chỗ, chẳng vận dụng tạp loạn cái tâm. Tức cái tâm của Cáo Tử chính là tâm nguội lạnh, chẳng dấy lên, c̣n ở đây là dụng tâm bất nhị. Cái tâm của Cáo Tử là cái không rỗng tuếch, c̣n ở đây là tư duy tu. Hai đằng chẳng cùng đường, chẳng thể cùng luận định được. Công phu chế ngự tâm vào một chỗ mà thành, liền thuận theo sự tu tập mà trăm ngàn tam-muội không ǵ chẳng đầy đủ. V́ thế nói là “vô sự bất biện” (không ǵ chẳng thực hiện xong xuôi). Tâm của Cáo Tử là cưỡng chế, chỉ đạt được Định một mực trơ trơ, sao có thể đạt được công đức ấy? Tuy vậy, đó vẫn là phương tiện dụng công ban đầu của người học, chẳng phải là rốt ráo! Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi bặm, có ǵ để nói là “chế ngự?” Lại há t́m được cái gọi là “xứ”? Nếu nói: “Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi bặm”, tức toàn là cảnh giới không tịch, đúng là giống như cái tâm bất động của Cáo Tử; tôi nói: Cáo Tử đè nén cái tâm, khiến cho nó bất động. Tào Khê vô tâm mà có thể động, chẳng cần đè nén, sao giống nhau cho được?

 

* Sự nhanh chậm giữa Thiền Tông và Tịnh Độ

 

          Một vị Tăng chuyên tu pháp môn Niệm Phật. Một vị tăng khác do tu Thiền mà tự phụ, bảo người niệm Phật rằng: “Ngươi niệm Phật ắt phải đợi sanh về Tây Phương, thấy A Di Đà Phật rồi mới đắc ngộ. Ta tham Thiền, sẽ đắc ngộ ngay trong đời hiện tại, so sánh th́ nhanh hay chậm rành rành. Ngươi hăy nên thôi niệm Phật mà tham Thiền đi!” Vị tăng [niệm Phật] chẳng thể quyết đoán, đem chuyện ấy hỏi tôi. Tôi nói: - Căn có lợi, độn, sức có siêng hay lười, do ngay nơi người đó. Như vậy th́ đối với pháp này hay pháp kia nhanh, chậm, chẳng thể nói nhất định là pháp này, chẳng phải là pháp kia được! Ví như hai người cùng hướng đến chỗ có của báu, một người cưỡi ngựa, một người đi thuyền, cùng lúc khởi hành, nhưng đến nơi nhanh hay chậm chưa thể định được, tức là nói theo lợi, động, siêng, lười vậy! Tham Thiền và niệm Phật cũng lại giống như thế. Nói chậm th́ người niệm Phật có trường hợp nhiều kiếp hoa sen mới nở, người tham Thiền cũng có người nhiều đời siêng khổ mà chẳng thể kiến tánh. Nói nhanh chóng th́ người tham Thiền có người ngay lập tức liễu ngộ, chẳng trải qua A-tăng-kỳ kiếp mà đạt được Pháp Thân, người niệm Phật cũng có người kiến tánh thấu triệt, lâm chung thượng thượng phẩm văng sanh! Cổ nhân nói: “Như người đi đường xa, cốt sao đến đích, chẳng cần đối với đường đi mà cưỡng chia khó hay dễ”.

 

* Lục Tổ Đàn Kinh

 

          Lục Tổ thị hiện không biết chữ, suốt đời chẳng theo đuổi nghiên, bút. Đàn Kinh toàn là do người khác ghi chép, cố nhiên có nhiều chỗ sai ngoa. Các cách nói như “phương Đông và phương Tây cách nhau mười vạn tám ngàn dặm” v.v… đă được biện minh từ lâu. Trong ấy lại nói: “Chỉ tu Thập Thiện, cần ǵ phải nguyện văng sanh”, phàm Thập Thiện là cái nhân sanh thiên. Khi chẳng có Phật xuất thế, Luân Vương dùng Thập Thiện hóa độ chúng sanh; lẽ đâu Lục Tổ chẳng dạy người khác sanh về Tây Phương thấy Phật mà chỉ dạy họ sanh thiên thôi ư? Điều này chẳng đáng tin đă rơ lắm rồi! Do vậy, kẻ chấp Đàn Kinh mà phủ nhận Tịnh Độ chính là lầm lẫn quá đỗi vậy!

 

* Sống trong núi

 

          Cổ nhân nói: “Đại ẩn cư triền, tiểu ẩn cư sơn” (đại ẩn nơi chợ búa, tiểu ẩn nơi núi non), bèn có người cam ḷng ch́m đắm trong trần tục. Chẳng biết “cư triền” tức là ḥa ḿnh vào cơi tục, ở trong chốn náo nhiệt mà đắc tĩnh, người có đạo th́ được, chẳng phải là điều kẻ sơ tâm nên làm! Có người nói: “Ngài Vĩnh Gia nói: ‘Chưa đắc đạo mà ở trong núi, chỉ thấy núi ấy, ắt sẽ quên đạo’, tức là chẳng chấp thuận sống trong núi!” Mỗi đằng có một lẽ! Tôi khen ngợi sống trong núi v́ răn dạy hạng người bị ch́m đắm trong trần tục. Lời ngài Vĩnh Gia nói đương nhiên là chánh lư. Xuất gia mà chưa hiểu rơ đại sự, phải ngàn dặm, vạn dặm t́m thầy hỏi đạo, thân cận tri thức, sáng tham, chiều thỉnh, há nên mông muội vô tri chỉ làm quỷ giữ núi ư? Do vậy biết: Hăy nên hành cước trước rồi sau đó sống trong núi, sẽ chẳng trái nghịch lời ngài Vĩnh Gia vậy!

 

* Phật tánh

 

          Kinh nói “xuẩn động hàm linh giai hữu Phật tánh” (loài ngọ ngoạy có linh thức th́ đều có Phật tánh). Mạnh Tử chê trách Cáo Tử rằng: “Nhiên tắc khuyển chi tánh do ngưu chi tánh, ngưu chi tánh do nhân chi tánh dư?” (Vậy th́ tánh của chó giống như tánh của trâu, tánh của trâu giống như của người ư?) Có người chấp lời kinh mà phủ định Mạnh Tử. Tôi cho rằng chẳng phải vậy! “Đều có Phật tánh” là lời nói cùng tận lư thuộc về xuất thế. “Người và súc sanh bất đồng” là luận định theo thế gian hiện tại, hai đằng chẳng trở ngại lẫn nhau. V́ thế, xét tột cùng cội nguồn, th́ dế, kiến, muỗi vằn đều thẳng thừng b́nh đẳng chẳng hai với tam thế chư Phật. Nếu xét theo hiện tại, con người thông hiểu muôn lẽ biến đổi, súc sanh chỉ có tri giác, sao coi là như nhau cho được?

Há chỉ con người và súc sanh khác biệt! Chó canh đêm, hễ có điều ǵ đáng ngờ bèn sủa. Nếu là trâu th́ [kẻ trộm] cậy then, đào hang, vượt tường, chém then, nó vẫn thản nhiên như chẳng thấy, nghe ǵ. Tánh của chó và trâu quả thật chẳng như nhau, huống hồ so với người ư? Muôn thứ vật liệu đều là gỗ, nhưng gỗ cây ngô đồng, gỗ cây giá, gỗ cây cam, gỗ cây gai tự khác biệt. Trăm sông đều là nước, nhưng sông, hồ, ng̣i, lạch, mỗi thứ mỗi khác; tuy đồng nhưng chưa từng chẳng khác, tuy khác mà chưa từng chẳng đồng! Nếu chấp nhặt, chẳng thông suốt, th́ khi đức Thế Tôn thành Chánh Giác, thấy trọn khắp hết thảy chúng sanh đều thành Chánh Giác, cớ sao hiện thời vẫn c̣n có chúng sanh?

 

* Tăng nuôi tôi tớ

         

          Tăng có người nuôi đầy tớ để sai khiến. Người xuất gia có đệ tử có thể phục dịch thầy, sao lại nuôi tôi tớ? Chắc có kẻ nói: “Đệ tử v́ cầu đạo mà đến, chẳng phải là người phục dịch!” Ôi! Phu Tử sang nước khác, một là Nhiễm Hữu làm người hầu, hai là Phàn Tŕ đánh xe. Đào Uyên Minh (Đào Tiềm) sang thăm bạn theo lời mời, một môn sanh và hai con khiêng kiệu. Người đời sau vẽ tranh miêu tả [cảnh đó], coi đấy là cao tột. Nay xuất gia làm Tăng, bèn nuông chiều đệ tử như con cái nhà phú quư, riêng dùng tiền để mua đứa hầu, thổi cơm, vác củi, căng lọng, cầm danh thiếp. Thói tệ thời Mạt Pháp đến mức như thế đó!

 

* Văn Văn Sơn

 

          Trong bài Lục Ca của Văn Văn Sơn[60] có câu: “Lai sanh nghiệp duyên tại, cốt nhục đương như cố” (đời sau duyên nghiệp c̣n, cốt nhục hệt như cũ), tức là tin có ba đời, nhưng chẳng biết do nhân duyên túc nghiệp xui khiến, bèn tụ họp thành một nhà. Túc nghiệp nhân duyên hoàn tất, bèn ly tán khác nẻo! Như chim ngủ đậu trong rừng, trời sáng bèn bay đi Đông, Tây, Nam, Bắc, sao bảo đảm giống như cũ cho được? Văn Sơn tiết nghĩa, học thức cao tài, nêu gương cho trăm đời, nhưng lời ấy giống như lời nói Trường Sanh Điện vào ngày Bảy tháng Bảy[61], tức là do chưa từng lưu tâm nội điển vậy! Tiếc thay!

 

* Xuất gia tứ liệu giản

 

          Có tại gia xuất gia, có xuất gia tại gia, có tại gia tại gia, và có xuất gia xuất gia. Ở trong gia đ́nh, có đủ cha mẹ, vợ con, nhưng tâm luôn đặt nơi đạo, chẳng nhuốm bụi trần trong cơi đời, th́ là tại gia xuất gia (tuy thân tại gia mà tâm đă xuất gia). Sống trong già-lam, chẳng phiền lụy bởi cha mẹ, vợ con, nhưng mưu toan danh lợi, chẳng khác kẻ tục th́ là xuất gia tại gia (tuy thân xuất gia mà tâm là tại gia). Sống trong nhà thế tục, suốt đời bị trói buộc, chẳng có một niệm giải thoát, th́ là tại gia tại gia (thân tại gia mà tâm cũng tại gia). Sống trong già-lam, suốt đời tinh tấn, chẳng có một niệm lui sụt, lười nhác; th́ là xuất gia xuất gia. Do vậy, cổ nhân có bốn câu “thân tâm xuất gia…” chính là có ư nghĩa như vậy. Tuy thế, xuất gia xuất gia là bậc thượng sĩ chẳng bàn tới; c̣n như kẻ xuất gia tại gia chẳng thà làm kẻ tại gia tại gia, v́ lẽ nào vậy? Dưới lớp áo ca-sa đánh mất thân người, đă kém lại càng tệ hơn!

 

* Đừng nên để thời gian luống qua (1)

 

          Đối với chỗ đắm đuối, người đời đêm ngày chẳng thể bỏ, nói: “Trú đoản khổ dạ trường, hà bất bỉnh chúc du” (Ngày ngắn, khổ đêm dài, sao chẳng cầm đuốc đi chơi), tức là tham đắm thưởng ngoạn. “Bách niên tam vạn lục thiên nhật, nhất nhật tu khuynh tam bách bôi” (trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày, mỗi ngày phải nghiêng rót ba trăm chén), tham đắm rượu chè. “Dă khách ngâm tàn bán dạ đăng” (khách lạ ngâm vịnh, đèn lụi nửa đêm), đắm đuối thơ phú. “Trường hạ duy tiêu nhất cục kỳ” (suốt mùa hạ trôi qua trong một ván cờ), đắm đuối cờ bạc. Cổ nhân có giáo huấn sáng suốt rằng: “Ngày hôm nay đă qua, mạng cũng giảm theo, hăy nên siêng tinh tấn, như cứu đầu cháy”. Nay là người xuất gia, kẻ đam mê chè chén cố nhiên ít ỏi, nhưng đối với ba chuyện trước đó, có lẽ chẳng tránh khỏi! Hăy nên đừng hờ hững để thời gian tốt đẹp luống qua, há chẳng hết sức đáng tiếc ư?

 

* Đừng nên để thời gian luống qua (2)

         

          Tiên đức dạy đại chúng rằng: “Các ngươi xuất gia, chưa từng đứng vững bước chân, bỗng chốc đă ba bốn mươi năm rồi!” Chúng ta nghe lời chân thật, khẩn khoản, thống thiết ấy, hăy nên tâm run sợ, rởn lông vậy. Thế mà có kẻ đang thuở thanh xuân, mạnh mẽ, lại siêng năng thực hiện sự nghiệp hữu vi, hoặc là bôn ba Nam, Bắc, nói là ta tham yết, lễ bái danh sơn, hoặc trang hoàng, đắp tạc, tu bổ, tạo dựng, bảo là ta sùng kính hưng khởi Tam Bảo. Hoặc tụ tập đại chúng lập hội, nói là ta giúp hoằng dương pháp hóa. Nhng chuyện danh sắc ấy, tuy cũng đều là chuyện tốt, chẳng giống như thưởng ngoạn, chè chén v.v… trên đây, nhưng lăng phí thời gian th́ vẫn y hệt! Một khi mạnh mẽ tỉnh ngộ lỗi sai trước đó, bỗng đă lọm khọm, suy sụp, hối chẳng kịp nữa. V́ thế nói: “Trẻ khỏe chẳng nỗ lực, già lụn luống bi thương!” Than ôi! Cũng có kẻ suốt đời nhởn nhơ, chẳng buồn thương chi cả!

 

* Cỗ chay đăi khách quư

 

          Một quư nhân tuổi cao, tước trọng, có khách quư tới, giữ lại dùng cơm. Khách nghĩ là cỗ bàn thịnh soạn, nhưng chỉ cơm tẻ với một bát canh rau mà thôi, chẳng thêm món ǵ khác. Khách hết sức thán phục. Nay nhà giàu đăi khách, hầm, quay, nấu, nướng đủ loại chúng sanh có lông, có vảy, có mai, hết sức sai trái. Chắc có kẻ cật vấn rằng: “Kinh Dịch nói ‘đại phanh dĩ dưỡng thánh hiền’ (nấu nướng thịnh soạn để nuôi thánh hiền) là sao?” Ôi! Sao chẳng nghe “nhị quỹ[62] khả dụng hưởng” (hai món là có thể cúng được), cũng là lời dạy rơ ràng trong kinh Dịch đấy thôi? Nhà chùa tuy chẳng giết mổ, nhưng nấu nhiều món chay cũng chẳng nên! Hoặc lại cật vấn rằng: “Vu Lan Bồn dùng hết các món ngon lành trong cơi đời để cúng các vị hiền thánh tăng là sao?” Ôi! Chẳng nghe bà cụ nghèo khó dùng nước gạo[63] để dâng cho vị Bích Chi Phật cảm phước sanh thiên cũng là chuyện được dạy rơ trong nội điển ư? Tại tâm, chẳng tại vật!

 

* Lư Trác Ngô (1)

 

          Nếu hỏi: “Lư Trác Ngô[64] bỏ vinh hoa, cạo tóc, trước thuật lưu truyền khắp nước, thầy nghĩ ông ta là người như thế nào?’ Đáp rằng: - Trác Ngô tài năng siêu dật, khí độ hào hùng, tôi kính trọng, nhưng chỗ đáng trọng cũng là chỗ đáng tiếc! Phàm là người có tài năng, khí độ như thế, chẳng dùng thánh ngôn làm chuẩn mực, dùng thường đạo làm bằng chứng, ǵn giữ đức dày, cẩn trọng dè dặt, mà cứ chuộng bàn luận uốn nắn cơi tục, khiến cho cơi đời kinh hăi để làm vui. Thử nêu một, hai điều: Trác Ngô cho rằng thế giới, người, vật, đều khởi đầu từ Âm Dương, nhưng cho rằng “Thái Cực sanh ra Âm Dương” là lời hư vọng. Bởi lẽ, căn cứ theo Dịch Truyện th́ “hữu thiên địa, nhiên hậu hữu vạn vật” (có trời đất rồi mới có vạn vật). Ông ta coi trời là Âm, đất là Dương, nam là Âm, nữ là Dương chính là cội nguồn tối sơ, chẳng có ǵ trước đó cả! Chẳng nghĩ Dịch hữu Thái Cực, thị sanh Lưỡng Nghi” (Dịch có Thái Cực, sanh ra Lưỡng Nghi) cùng phát xuất từ lời giải thích kinh Dịch của Phu Tử, mà một đằng là lời luận định chí lư, một đằng là vọng ngữ, v́ lẽ nào vậy?

Thậm chí ông ta coi Tần Thủy Hoàng bạo ngược là vị vua bậc nhất, coi Phùng Đạo[65] đánh mất khí tiết là đại hào kiệt, coi Kinh Kha, Nhiếp Chánh[66] tự sát chính là chết đúng chỗ nhất, đối với những bậc được thời cổ xưng tụng là hiền nhân quân tử, ông ta thường ngược ngạo bươi móc tỳ vết. Thậm chí nói về những tuồng tích được phô diễn, cũng lại cho rằng chuyện giữ nghĩa, vững tiết trong các vở Tỳ Bà Kư, Kinh Thoa Kư là miễn cưỡng, c̣n chuyện giao bái [hẹn ước ái t́nh] trong Tây Sương Kư và Bái Nguyệt Đ́nh là lẽ thường, thuận theo thiên tánh! Ôi! Sách Đại Học nói: “Háo nhân sở ố, ố nhân sở háo, tai tất đăi phu thân” (Ưa cái người ta ghét, ghét cái người ta chuộng, tai họa ắt giáng vào thân) là nói về Trác Ngô đấy! Tiếc thay!

 

* Lư Trác Ngô (2)

         

          Chắc có người bảo: “Thầy dùng thành bại để luận định nhân vật ư?” Đáp: - Chẳng phải vậy! Phu Tử dự đoán Tử Lộ chẳng được chết yên lành, chẳng phải là chê Tử Lộ không hiền, chẳng phải là không yêu mến Tử Lộ. Tánh cách ương ngạnh, háo thắng, đó là con đường tự chuốc lấy cái chết. Trác Ngô thua Tử Lộ về dũng! Ông ta lại chẳng giữ trai giới, chuộng giết mổ, chẳng ở trong núi rừng mà ngao du phố thị, chẳng lắng ḷng nơi nội điển mà trước thuật ngoại thư, dẫu được đưa về chôn cất ở cố hương (chết yên lành), tôi vẫn ắt cho là ông ta may mắn. Tuy vậy, ông ta lập di ước, giáo huấn đồ chúng dạy họ đều khổ hạnh, thanh tu, ở trong non sâu, ít xuất hiện. Đó là pháp phải nên hành của tăng sĩ. Tô Tử Chiêm (Tô Đông Pha) phê b́nh Phạm Tăng[67], nhưng cho rằng ông ta là người kiệt xuất, tôi đối với Trác Ngô cũng thế.

 

* Ư nghĩa của “tánh, đạo, giáo” trong sách Trung Dung

 

          Ngài Diệu Hỷ ghép “tánh, đạo, giáo” trong sách Trung Dung tương ứng với Pháp Thân, viên măn Báo Thân, và trăm ngàn ức Hóa Thân, phù hợp khít khao, có thể nói là hay khéo. Suy xét cặn kẽ, th́ đó là lời lẽ quyền biến nhằm so sánh trong một thời, chẳng phải là lời bàn luận quyết định muôn đời chẳng thay đổi! Nếu hiểu là thật pháp, sẽ chẳng thể được. V́ sao? Sách ấy coi “nhân, nghĩa, lễ, trí”Tánh, há chẳng thanh tịnh ư? Nhưng đó chẳng phải là sự thanh tịnh “mảy trần chẳng lập” của Pháp Thân. Sách ấy coi lư đương nhiên của sự vật là Đạo, há chẳng viên măn ư? Nhưng chẳng phải là sự viên măn dồi dào muôn đức của Báo Thân! Sách ấy coi sáng lập, chế định pháp tắc, dạy dân tạo thành phong tục là Giáo, há chẳng có trăm ngàn ức diệu dụng ư? Nhưng đó là diệu dụng nơi một thân, chẳng phải là diệu dụng của trăm ngàn ức phân thân! Đại đồng mà tiểu dị, chẳng thể không suy xét. Nếu nói: “Nhân, nghĩa, lễ, trí là lời của Mạnh Tử, sách Trung Dung chỉ nói thiên mạng mà thôi!” Tôi nói: “Chí thành có thể trọn hết tánh, nhưng kế đó dùng mười sáu chữ ‘khoan dũ ôn nhu[68], chẳng phải là nhân, nghĩa, lễ, trí ư? Do vậy nói: Mạnh Kha theo học với môn nhân của Tử Tư[69] (Khổng Cấp), chẳng thể không suy xét!”

 

* Triệu Thanh Hiến (Triệu Biện)

 

          Ông thường tự nói: “Đối với điều đă làm ban ngày, ban đêm ắt thắp hương thưa với trời. Chuyện chẳng dám thưa, sẽ chẳng làm!” Tôi cho rằng người như thế th́ mới có thể học đạo. Về sau, ông ta đắc pháp nơi thiền sư Tương Sơn Pháp Tuyền[70], có câu thơ: “Nhất thanh phích lịch đảnh môn khai, hoán khởi tùng tiền tự gia để” (một tiếng sét mở toang đầu óc, gọi tỉnh nếp nhà tự thuở xưa). Dùng tâm địa tinh thành như thế để tham cứu tự tâm, đắc ngộ chẳng phải là ngẫu nhiên vậy! Kẻ thân tuy quy Phật mà tâm chẳng hợp với trời th́ chỉ là đùa bỡn trong pháp môn mà thôi!

 

* Nợ kinh

 

          Chùa Lợi Tế ở Ô Trấn (thuộc tỉnh Chiết Giang) có thầy tṛ hai vị Tăng đều nổi tiếng là cẩn trọng, đôn hậu; người ta cậy làm kinh sám ngày càng đông; do vậy, trở thành giàu có, nhưng keo kiệt, chẳng tự hưởng dùng, mà cũng chẳng bố thí. Về sau bị bệnh, người trong ḍng họ đón về điều trị, bỗng chốc tạ thế, những thứ suốt đời tích trữ đều trở thành sở hữu của họ hàng. Mười năm sau, báo mộng cho thân quyến rằng: “Kinh sám chưa hoàn tất, âm phủ tra khảo rất gấp, khổ chẳng thể nói nổi!” Người đời đồn đại [người thiếu nợ kinh sám, đọa trong âm phủ phải từ] trong ánh chớp lóe mà nhận mặt chữ để đọc kinh trả nợ, tôi tin là chẳng hư dối. Ghi lại để răn dè người ứng duyên (người nhận lời thỉnh làm kinh sám cho người khác) vậy!

 

* Hết tuổi thọ trong cơi Tịnh Độ

 

          Nếu có người hỏi: “Nguyện thứ hai nói ‘trời người trong nước sau khi hết tuổi thọ, chẳng c̣n sanh trong ba ác đạo’, tức là có sanh, có tử, chỉ là không đọa lạc. Cớ sao nói sanh về cơi ấy đều là vô lượng thọ?” Đáp: Phần sau chẳng nói đó sao? “Trời, người trong nước đều thọ vô lượng, trừ phi do bổn nguyện, nguyện thoát ra độ sanh”. Thập Nghi Luận cũng nói “sanh về cơi nước ấy, sau khi đắc Vô Sanh Nhẫn, bèn trở lại đời này cứu khổ chúng sanh”, tức là do bi nguyện mà thực hiện giáo hóa, chẳng giống như tử sanh trong cơi này (thế giới Sa Bà)!

 

* Cư sĩ Vương Long Thư[71] văng sanh

 

          Chắc có người hỏi: “Cư sĩ lâm chung, đứng qua đời, điềm lành văng sanh tốt đẹp rạng ngời như thế, nhưng ông hội tập Đại Di Đà Kinh chẳng tránh khỏi sao chép phần trước ra phần sau, sao chép phần sau ra phần trước. Đó là một khuyết điểm. Hơn nữa, Tống Cảnh Liêm[72] nói cư sĩ đối với kinh Kim Cang cũng chẳng quan tâm đến cách chia kinh thành ba mươi hai phần của Chiêu Minh[73], chẳng bàn luận tới điều này, nhưng ông ta cũng chẳng dựa theo sự phán định của các vị Thiên Thân và Vô Trước, mà đặt riêng cách chia phẩm theo thứ tự. Đó là hai khuyết điểm. Dường như ông ta chẳng phù hợp với chánh nhân “đọc tụng Đại Thừa” trong Quán Kinh, thế mà đứng qua đời là v́ sao?”

Đáp: - Tuy ông ta có khuyết điểm ấy, nhưng thường ngày niệm Phật cầu sanh tột bậc chân thành, tột bậc tha thiết, chí thành, chuyên dốc tột bậc, tự lợi, lợi tha, công đức chẳng nhỏ. Tỳ vết nhỏ nhặt chẳng đủ che lấp điều thiện lớn lao. C̣n có kẻ mang theo nghiệp mà vãng sanh, sao lại ngờ vực Long Thư? Hoặc là phẩm vị của ông ta chưa thể là thượng thượng, cũng chưa thể biết được!

 

* Trực tiếp thọ Bồ Tát giới

 

          Tôi viết [Phạm Vơng Kinh Bồ Tát] Giới Sớ Phát Ẩn có nói ắt phải trước là thọ ngũ giới, thập giới, hai trăm năm mươi giới rồi mới thọ Bồ Tát mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh. Có giảng sư bực tức, bất b́nh nói: “V́ sao không dạy người ta trực tiếp thọ Bồ Tát giới mà quanh co như thế? Đức Phật thọ kư đời Mạt Pháp có ma vương xen lẫn vào pháp của ta để hoại pháp của ta, nay chính là gă này vậy!” Tôi chẳng đáp. Giảng sư mất, đồ đệ của ông ta quan tâm những lời lẽ trên đây, toan nhóm họp chư tăng, các vị tể quan, các cư sĩ lập đại hội để biện định, cật vấn. Tôi cũng chẳng đáp; có người đáp thay rằng: “Đừng làm vậy! Sao không xem ông ta dẫn kinh Bồ Tát Thiện Giới? Kinh dạy: ‘Thí như trùng lâu tứ cấp, tự hạ nhi thượng, thứ đệ lịch nhiên, bất khả lạp đẳng, thọ giới diệc nhiên’ (Ví như lầu cao bốn tầng, từ dưới lên trên thứ tự rành rành, chẳng thể nhảy cóc được! Thọ giới cũng thế). Kinh dạy như thế đó, đừng có làm như thế!” Kẻ đó mới thôi!

 

* H́nh giới (răn kiêng dùng nhục h́nh)

 

          Đại trưởng giả Lữ Thúc Giản[74] soạn sách H́nh Giới, tiên sinh Cao Trâu Nam khắc in, tôi ghi lời bạt. Nay nghe đồn một câu chuyện rất lạ. Vị quan X… vốn tàn khốc, hở ra là phạt đánh roi mấy chục cái, tiếng rên la đau xót rền cơi đất, mà ông ta [dửng dưng] dường như chẳng nghe thấy. Có đạo nhân tung cửa xông vào, đứng thẳng trong sảnh đường, trừng mắt chỉ quan. Viên quan ấy hết sức giận dữ, hét thuộc hạ cực lực đánh đập. Bỗng hậu đường có tiếng kêu to: “Công tử bị quỷ đánh gần chết”. Viên quan ấy hoảng hốt lui vào nhà trong, con ông ta tự nói: “Dường như có quỷ thần dùng chùy to đập con, rách da, nát thịt, hai đùi máu me đầm đ́a, đau đớn chẳng thể chịu nổi!” Quan vội sai người ra đại sảnh coi, th́ người bị đánh đă chẳng thấy đâu nữa, bèn gào to, khóc lớn, gieo ḿnh xuống đất, đầu mặt đều bị tổn thương. Ôi! Vị đạo nhân ấy là thiên thần đó chăng? Con người ai nấy đều có cha mẹ; con của người khác hay con của ḿnh đều là con, sao lại con ḿnh th́ như châu báu, con người khác như cỏ dại, tâm an được chăng? Lại c̣n một vị quan to yêu mến con thơ, hằng ngày sai đồ tể dâng một cái bao tử lợn. Hễ bao tử bé liền hết sức giận dữ, đánh phạt kẻ đồ tể trọng thương, điều trị hai tháng mới lành. Có kẻ ở nhà dùng h́nh phạt nghiêm khắc đối với tôi trai, tớ gái, cũng lại như thế. Ngu tôi cho rằng sách H́nh Giới nên lưu truyền bốn phương, truyền tụng trăm đời mới nên!

 

* Chẳng nguyện về Tây Phương (1)

 

          Có người hỏi một vị Tăng: “Ngài có nguyện sanh về Tây Phương hay không?” Đáp: “Ta chẳng nguyện, mà nguyện rằng đời sau mặc trường bào màu lục[75], một vợ, một thiếp ở trong nhà. Đấy chính là cơi Cực Lạc của ta”. Người hỏi câm lặng, kể lại với tôi. Tôi nói: - Ai nấy có chí riêng. Chí tại phú quư, sanh về Tây Phương để làm ǵ? Tuy vậy, dẫu phú quư chẳng phải là chuyện tốt lành cho người tu đạo, nhưng cũng cần phải có phước trơ trơ th́ mới đạt được. Nếu chẳng tu phước, chưa chắc đă thành một gă mặc áo bào xanh, mà có thể trở thành thằng hầu mặc áo chàm. Chưa chắc cưới được thục nữ con nhà danh giá, mà nạp sáu lễ cho người Tề (kẻ điêu ngoa, hèn kém) cũng không chừng! Nếu có nghiệp th́ c̣n chẳng được làm thằng hầu áo chàm, mà có thể là loài kim y công tử (chim vàng anh), chẳng thể nào biết được! Lại c̣n chẳng nạp sính lễ cho người Tề, không chừng c̣n có thể phải nương cậy kẻ trông nom ngựa, kẻ chăm sóc ngựa, kẻ nấu bếp, chẳng thể biết chắc! Nếu nghiệp nặng, kim y có thể biến thành xích điệp (lá đồng đỏ, ư nói đọa trong địa ngục) chưa biết chắc được! Kẻ trông nom ngựa, kẻ chăm sóc ngựa, kẻ nấu bếp có thể biến thành A Bàng, cũng chưa biết chắc được! Buồn thay!

 

* Chẳng nguyện về Tây Phương (2)

         

          Lại hỏi một vị tăng: “Ngài có nguyện sanh về Tây Phương hay không?” Đáp: “Tôi chẳng nguyện, cũng chẳng phải là không có nguyện. Phương Đông có Phật, tôi sang phương Đông. Phương Tây có Phật, tôi sang phương Tây. Nam, Bắc, trên, dưới, cũng lại như thế. Cớ ǵ tôi quyết định sanh về phương Tây?” Lại hỏi một vị tăng khác: “Ông có nguyện sanh về Tây Phương hay không?” Đáp: “Tám vị kim cang nâng tôi về phương Đông, tôi chẳng đến. Tứ thiên vương khiêng tôi qua phương Tây, tôi chẳng đi. Tôi nào có biết cái ǵ gọi là Đông hay Tây?” Gộp lại để xem, người trước ch́m đắm trong ngũ trược. Hai người ấy, một th́ tùy sanh, người kia là chẳng sanh. Tuy vậy, nói là “tùy sanh” chưa chắc đă thật sự có thể làm chủ, chẳng bị nghiệp lôi kéo. Nói là vô sanh, chưa chắc đă thật sự đạt được Vô Sanh Pháp Nhẫn, trụ trong Thường Tịch Quang. Nếu chưa thể, hư luận mà thôi! Lại nữa, chưa thể th́ chỉ là ăn nói lớn lối, chẳng biết thẹn đó thôi! Khó lắm thay!

 

* B́nh thị giả

 

          B́nh thị giả hầu ngài Thái Dương (tức thiền sư Minh An núi Thái Dương) đă lâu, nói là có ngộ nhập, hiềm rằng sau này lập ra điều dị nghị. Từ tháp của ngài Thái Dương, ông ta lôi di thể [của thầy] ra, làm chuyện phá năo thảm độc[76]. Sống thọ báo trong miệng cọp, chết đọa vào Nê Lê (địa ngục). Như vậy th́ biết ngộ xứ của ông ta bất quá là kiến giải ít ỏi, được một tí đă cho là đủ thôi. Há có người thật sự ngộ thấu triệt mà ngược ngạo làm chuyện đại nghịch bất đạo ấy ư? Coi hiểu biết nông cạn là ngộ, dẫn đến họa hại cùng cực, đáng răn dè vậy!

 

* Tứ Quả

 

          Tử Dương chân nhân (Trương Bá Đoan) nói bậc Tứ Quả đoạt xá[77] đầu thai, do thân có hư hoại, chẳng tránh khỏi bỏ một này để vào một khác. V́ thế, ông ta nói: “Nếu biết hàng phục rồng, chế ngự hổ, vàng ṛng dựng nhà bao giờ khô?” Sơ Quả bảy lần sanh tử, Nhị Quả gọi là Nhất Văng Lai, c̣n có thể luận định về thai sanh. Tam Quả đă được gọi là Bất Lai, c̣n Tứ Quả đă hết Kiến Tư Hoặc, chẳng thể có hậu hữu (thân đời sau), đắc tam minh, lục thông, hiệu là A La Hán, c̣n dùng đoạt xá để làm ǵ? Tử Dương học đạo tiên, vượt xa những người cùng hàng, các sách như Ngộ Chân phần nhiều bàn về lư tánh, nhưng ông ta nói như thế, dường như chưa nghiên cứu nội điển rất tinh tường! Ôi! Vàng ṛng dựng nhà đặc biệt chẳng khô, sao không nghĩ vàng chẳng chống được lửa vậy?

 

* Kinh Di Giáo

 

          Người đời lâm chung để lại lời dạy cho con cháu, gọi là di chúc, con cháu dựa vào đó làm bằng chứng, nhiều đời vâng giữ chẳng thay đổi. Huống hồ di chúc tối hậu của đấng tam giới đại sư, tứ sanh từ phụ, thuyết pháp bốn mươi chín năm ư? Kẻ làm tăng, hăy nên sáng tụng, chiều tu tập, thầy tṛ truyền dạy nhau, suốt đời vâng giữ, chớ nên bỏ phế hoặc quên mất một ngày nào. Nếu coi giống như sách vỡ ḷng của trẻ thơ, cất vào chỗ vắng, chẳng bàn luận, nghiên cứu nữa, há chẳng phải là nghịch tử của Như Lai, là dân ương bướng trong Phật pháp ư?

 

* Kinh Tứ Thập Nhị Chương (1)

 

          Kinh Tứ Thập Nhị Chương được dịch bởi hai vị Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, chẳng có bản dịch khác nữa! Trong cơi đời hiện thời, có hai bản lưu truyền, đại đồng mà tiểu dị. Những điều khác chẳng cần bàn tới, chỉ so sánh chuyện cúng dường hơn, kém. Xét theo bản trong Đại Tạng th́ khởi đầu từ phàm phu cho đến cuối cùng là giáo hóa song thân. Xét theo bản kinh được ghi trong tác phẩm giải thích của thầy Thủ Toại, th́ khởi đầu là kẻ ác, cuối cùng là người vô tu vô chứng. Xét theo văn nghĩa, bản trong Đại Tạng hơi chưa ổn, c̣n bản của thầy Thủ Toại[78] văn lẫn nghĩa đều thông thoáng. Bản trong Đại Tạng lại nói “dâng cơm cho Bích Chi Phật chẳng bằng giáo hóa song thân”, sao lại nói “dâng cơm cho người lành, công đức lớn nhất”? Đă là công đức lớn nhất, sao lại nói: “Dâng cơm cho người lành, chẳng bằng dâng cơm cho người giữ năm giới”? Văn nghĩa trước sau tự mâu thuẫn! Lại nói “thờ thiên địa, quỷ thần, chẳng bằng hiếu thảo đối với song thân”. Phàm Bích Chi Phật c̣n chẳng bằng song thân, huống hồ trời, đất, quỷ thần sao sánh bằng được? Bản của thầy Thủ Toại ắt chẳng lẽ nào tự biên soạn kinh Phật, bản ấy ắt có nguồn gốc. V́ thế biết là bản lưu truyền ngoài Đại Tạng, chưa chắc đă không có bản tốt nhất, chẳng cần phải hoàn toàn chấp vào bản trong Đại Tạng, mà phải chiết trung. Tôi soạn sách Phạm Vơng Phát Ẩn, cũng t́m được một bản trong chùa cổ, hoàn toàn phù hợp với lời Sớ của ngài Thiên Thai, so với bản trong Đại Tạng đâm ra có chỗ so le. Trong sách Phát Ẩn, nơi phần Phàm Lệ, tôi đă nêu rơ. Nay lại v́ người chuyên dựa vào bản trong Đại Tạng để thưa tŕnh.

 

* Kinh Tứ Thập Nhị Chương (2)

 

          Xưa có vị Tăng tên X… ở Nam Đô đem kinh Tứ Thập Nhị Chương đến Vũ Lâm (Hàng Châu), theo lệ xưa, xin các sĩ phu mỗi vị viết một điều để khắc vào đá. Anh tôi khi đó đang ở nhà phụng dưỡng mẹ, bèn viết một bản, giao cho [ông ta]. Một năm sau, có người mua được bản khắc ấy, đem tới Hàng Châu, [thấy đă] sửa tên [người viết] thành tên của một vị quan đang hiển đạt. Lại mấy năm sau nữa, anh tôi bỗng nhận lệnh làm quan Thông Chánh ở phương Nam, nơi sạp sách t́m thấy bản đó, lại đổi [tên người viết] thành tên anh tôi. Do vậy, anh cảm thán chuyện đó, làm thơ cho khắc ván in [tập sách ấy], có câu “sa lung sự phi mậu” (chuyện lồng the[79] chẳng sai). Tôi nói với anh: “Vị tăng ấy quả thật là bỉ lậu, riêng chẳng nghe chuyện Địch công[80] đề bảng ở cửa cự tuyệt khách ư? Khách cố nhiên chẳng đáng nói tới, nhưng Địch công cũng kém phần đôn hậu!” Anh tôi bảo tôi: “Lời em nói đúng lắm!” bèn gạt bỏ. Ôi! Tăng sao khổ sở chẳng gấp gáp lo liệu chuyện thuộc bổn phận của chính ḿnh, chỉ rong ruổi nơi cửa nhà quyền quư, làm chuyện thừa thăi, khiến cho người đương thời chê cười, đáng than thay!

 

* Y ngũ điều

 

          Khi tôi mới xuất gia, thấy y năm điều, đều được may theo cách giản tiện, khéo léo riêng, đại lược án định đại ư của y năm điều mà thôi! Bởi lẽ, y này vốn có tên là Tác Vụ Y (y mặc để làm việc), nay đều chiếu theo cách may y bảy điều, hoặc hai mươi lăm điều, tuy chẳng trái chế định thời cổ về phương bào[81], nhưng khá bất tiện. Đắp loại y này, chỉ có thể tọa Thiền, tụng kinh, lễ Phật, sao có thể kham chấp tác (làm lụng), làm việc nặng cho được? Tức là y năm điều dùng như y bảy điều. Phu Tử nói: “Ma miện, lễ dă. Kim dĩ thuần kiệm, ngô tùng chúng” (mũ miện bằng vải gai là lễ. Nay dùng tơ sẽ rẻ hơn, nên ta cũng theo mọi người). Cứ ắt chấp phải theo lối cổ là cao, th́ sau khi đă lập thành chữ viết, bèn trở lại cách thắt nút [dây thừng để ghi nhớ]. Sau khi đă có bàn ghế rồi, trở lại dùng chiếu trải trên mặt đất [để ngồi], bảo là “ta phục cổ”, há có được chăng? Cơi đời hiện thời có chén, đũa, nhưng [tăng sĩ] ăn cứ ắt phải dùng bát. Hơn nữa, th́a bất tiện, cần phải dùng thêm đũa, càng đáng nực cười hơn! Giữ lại bát nhằm chẳng quên chế định của Phật th́ được, ắt chẳng cần phải câu nệ sử dụng hằng ngày!

 

* Sách Thiền Môn Khẩu Quyết (1)

 

          Trong Đại Tạng có sách Thiền Môn Khẩu Quyết, những điều được nói trong ấy phần nhiều giống như pháp môn Sổ Tức, nhưng kèm thêm những lời như “nh́n xuống rốn” v.v… Ngoài b́a ghi [tác giả] là Trí Giả đại sư, nhưng phần kinh văn tiếp theo đó chẳng phải của đại sư, cũng chẳng phải là của chư hiền như Quán Đảnh, Chương An, Kinh Khê v.v… ghi chép, chẳng đáng tin! Hơn nữa, đại sư tự có Đại Tiểu Chỉ Quán chánh văn (tức Ma Ha Chỉ Quán và Đồng Mông Chỉ Quán), phần cuối nêu đại lược một môn trị bệnh, tương tự với sách này. Đại để, đó là pháp nhỏ để pḥng thân, chẳng phải là đại đạo để học Phật, mà đề tựa phô trương là “khẩu quyết”, lại c̣n đội tên đại sư. Bọn đạo sĩ bèn dựa vào đó để ấn chứng pháp của chính ḿnh, bèn nói là bí quyết do đại sư đích thân ngầm truyền miệng. Kẻ hiểu biết nông cạn bèn cho là Phật pháp đều ở hết trong ấy, cái hại cũng to lớn thay! Nào có biết Thiền môn vốn cũng chẳng có cách nói “khẩu quyết”! Chẳng thể không biện định!

 

* Sách Thiền Môn Khẩu Quyết (2)

 

Nếu hỏi: “Thiền môn thật sự không có khẩu quyết ư?” Đáp: - Phật pháp chánh đại quang minh. Một người diễn nói, trăm ngàn vạn ức trời, người cùng nghe, há có khẩu quyết ǵ? Bất quá có một điều. Hễ một, hai câu nói, từ ngữ đơn giản mà nghĩa tinh vi, bèn gọi là Quyết. Tràng giang đại hải, kéo cành, rườm nhánh, chẳng phải là Quyết! V́ thế, “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào đâu mà sanh tâm) chính là khẩu quyết của kinh Kim Cang. “Duy nhất thừa pháp, vô nhị, diệc vô tam” (chỉ có pháp nhất thừa, không hai, cũng chẳng ba) là khẩu quyết của kinh Pháp Hoa. “Thành tựu huệ thân, bất diêu tha ngộ” (thành tựu huệ thân, chẳng do ǵ khác mà ngộ) là khẩu quyết của kinh Hoa Nghiêm. “Chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn” là khẩu quyết của kinh Di Đà. “Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật” (tâm này là Phật, tâm này làm Phật) là khẩu quyết của Thập Lục Quán Kinh. Chẳng tin những khẩu quyết ấy, mà tin những thứ “khẩu quyết” khác, bỏ ngọc quư để chấp đá cuội vậy!

 

* Chẳng thấy người niệm Phật ngộ!

 

          Hoặc hỏi: “Tham Thiền đắc ngộ thấy ghi đầy trong sách, sao người niệm Phật đắc ngộ thưa thớt chưa nghe nói?” Ôi! Đại để là có chứ, ông chưa thấy đó thôi! Hơn nữa, người tham Thiền sau khi đắc lư, trọn chẳng huênh hoang tự khoe. Long, thiên thúc đẩy, sau đấy mới rền tiếng một thuở để lưu danh cho đời sau. Ngài Tào Khê lănh tâm ấn từ ngài Hoàng Mai, nếu chẳng lỡ miệng nói về gió và lá phan, th́ chỉ là một gă canh lưới cho bọn thợ săn thôi! Thanh Tố[82] nhận lănh lời thọ kư ngấm ngầm của ngài Từ Minh, nếu chẳng gặp gỡ [ngài Đâu Suất Tùng Duyệt mời] ăn quả vải, th́ chỉ là một cụ già nhàn nhă trong chốn tùng lâm thôi! Ông sẽ do đâu mà biết? Huống chi, người thật tâm niệm Phật, chí mong thoát Sa Bà, chuyên ṛng cầu sanh Tịnh Độ, mỗi niệm đều như cứu đầu cháy, tức là ngộ Di Đà nơi bổn tánh, liễu duy tâm Cực Lạc. Nếu suốt đời ẩn náu không ra mặt, ông cũng làm sao biết được? Phàm người thượng phẩm văng sanh đều là người đắc ngộ, chẳng thể không đọc Văng Sanh Truyện!

 

* Làm Tăng phải nên hiếu thảo với cha mẹ

 

          Có kẻ làm Tăng mà bất hiếu với cha mẹ, tôi trách móc sâu xa. Chắc có người nói: “Xuất gia là đă từ biệt cha mẹ, cắt ái, quở trách th́ đâm ra lại dấy động cái tâm ân ái của họ!” Đáp: - Ôi! Ăn nói kiểu ǵ vậy? Đức Thích Ca đại hiếu, bao kiếp báo ân sâu, do tích tập cái nhân mà thành Chánh Giác. Kinh Phạm Vơng nói: “Giới tuy vạn hạnh, dĩ hiếu vi Tông” (Giới tuy có vạn hạnh, dùng hiếu làm cốt lơi). Quán Kinh nói hiếu dưỡng cha mẹ là chánh nhân tịnh nghiệp. Cổ nhân có người dựng nhà để phụng dưỡng cha mẹ, hoặc gánh mẹ đi xin ăn, chưa hề bị phiền lụy bởi ân ái! Sao lại cắt tuyệt t́nh yêu mến cha mẹ, nhưng giao du thân thiết với thí chủ, chẳng tiếc của cải để nuôi nấng đệ tử c̣n hơn ruột thịt? Đấy là không có song thân mà có người thân, ra khỏi một ái này để vào một ái khác, sao mà điên đảo đến thế? Hơn nữa, đă tiếp nhận mười phương cúng dường, no ấm an cư, ngồi nh́n cha mẹ đói lạnh, lưu lạc, ngươi có yên dạ được chăng?

 

* Sấm sét

 

          Tô Minh Doăn[83] nói: “Trái nghịch cha mẹ, khinh nhờn thần minh, ắt sấm sét sẽ đánh xuống. Cố nhiên sấm sét chẳng thể đánh trọn bọn ấy, nhưng có khi cũng chẳng lường được!” Lời ấy của Minh Doăn muốn khiến cho bọn làm ác sợ hăi, nhưng kẻ lọt lưới sấm sét giáng xuống cũng đông lắm, trọn chẳng thể khiến cho chúng nó sợ hăi. Nhưng làm ác thọ báo, nói chung cũng có nhiều lối. Có kẻ sanh bệnh ngặt mà chết. Có kẻ phạm luật bị xử tử, có kẻ gặp cọp, sói mà chết, có kẻ chết nước nhấn ch́m, có kẻ chết v́ lửa thiêu. Có kẻ chết bởi đao, búa, có kẻ chết v́ tỳ sương, trấm độc, có k chết v́ tường sụp, đá đè. [Tuy chết khác nhau], nhưng thọ báo giống hệt như nhau. Giết người th́ dùng gậy hay gươm sắc đều [gây tử vong] như nhau, cần ǵ đều phải trọn dùng sấm sét đánh? Huống chi lại có kẻ thọ báo trong đời hiện tại, có kẻ đời sau mới thọ báo, có kẻ thân thọ báo trong dương gian, có kẻ thần hồn báo nơi âm ty, đừng nói “chẳng bị sấm sét đánh” liền bảo là bị bỏ sót!

 

* Bạn bè chân thật

 

          Trong bài cảnh sách của Trung Phong đại sư có nói “tham Thiền mà ắt phải đợi t́m thầy hỏi đạo, dám đảm bảo là công phu trong một đời đă hỏng mất rồi!” Lại nói: “Dẫu cho Thích Ca và Đạt Ma, toan thân cận th́ đă sớm thành khuôn sáo cũ”. Đấy là lời lẽ đề hồ tuyệt diệu, nhưng kẻ căn cơ bậc hạ chẳng thể nghe được! Chấp lời ấy, tự cho là đúng, tự làm theo ư ḿnh, chẳng c̣n biết lợi ích do có bè bạn, [lời ấy] sẽ trở thành thuốc độc! Có bạn bè chẳng khó, có bạn bè chân thật khó lắm! Tụ hội với nhau để truy cầu ăn uống, tiền tài th́ là bạn ác. Khuyên răn điều thiện, uốn nắn điều ác th́ là bạn tốt. Mở ra con đường tu hành chánh đáng cho ta, dạy cho chúng ta pháp tối thượng thừa, tức là đèn soi cho ta, là con mắt của ta, là đạo sư của ta, là y vương của ta, là bạn thiện tri thức chân thật, đừng nên xa ĺa một ngày nào!

 

* Học quư ở chỗ chuyên ṛng

 

          Cổ nhân v́ học tập, có người suốt ba năm không nh́n ra vườn, có người đóng cửa, không vượt khỏi bậu cửa, có người nhận được thư nhà, thấy hai chữ “b́nh an” liền ném xuống nước, chẳng mở ra xem, ngơ hầu chuyên ṛng, chẳng hai! Người làm Tăng học pháp xuất thế gian, ngược ngạo để chuyện đời làm loạn cái tâm ư? Bọn chúng ta thấy những chuyện ấy, phải nên toát mồ hôi, buốt xương, dè dặt trong tâm vậy!

 

* Truyền đăng

 

          [Cảnh Đức] Truyền Đăng Lục chép các vị sư như sáu đời nối tiếp nhau, các vị đại tôn túc chia lửa từ năm ngọn[84], đều là các nhân vật bậc nhất xưa nay. Đó gọi là “mới biết ngoài Châu, Khổng, riêng có bậc anh hào”,dễ dàng ư? Thế nhưng người hiện thời hoặc là thấy biết nửa vời, hoặc đạt được đôi chút khinh an, liền ngỡ đă đại triệt, đại ngộ, nhưng bậc trưởng lăo không có mắt lại dùng cái ấn bí đao để ấn chứng. Một gă đui, cả lũ mù, không chỉ là vô ích mà c̣n có hại, đau buồn khôn ngằn!

 

* Lưu Công thật sự là Bồ Tát

 

Lưu công[85] húy là Khoan, cai trị trong quận. Đối với kẻ có lỗi, ông dùng roi bằng cỏ bồ, khiến kẻ ấy chịu nhục [mà sửa đổi]. Phu nhân muốn thử coi ông giận ra sao, sai đứa tớ gái cố ư đổ canh làm bẩn triều phục. Ông chỉ nói: “Ngươi có bị canh làm bỏng tay hay không?” Trọn chẳng nổi giận! Do hai chuyện này, biết ông thật sự là Bồ Tát, chẳng thể sánh kịp! Hiện thời, kẻ trị dân dùng h́nh phạt nghiêm ngặt quá lố, mà c̣n chưa thể khiến cho các vụ án được giải quyết. [Như Lưu công] chỉ dùng cái roi bằng cỏ bồ mà dân tự cảm hóa, chẳng phải là sức oai thần to lớn, sao có thể đạt được như vậy? Nay kẻ cai trị người dưới, hễ có chuyện chẳng vừa ư nhỏ nhoi, hở ra liền trừng phạt, [c̣n Lưu công bị] canh làm bẩn triều phục, ngược lại thương xót [đứa tớ gái], chẳng quở trách. Chẳng phải là sức đại từ bi sao có thể đạt được như thế? Tuy gấp rút phải vào chầu, vẫn thong dong thay áo, tâm chẳng lay động, chẳng do sức đại Thiền Định, sao có thể đạt được như thế? Trong nhà lửa mà có bản lănh như thế, có khí lượng như thế, hơn hẳn công phu ba mươi năm trên bồ đoàn của kẻ xuất gia. Chúng ta nh́n vào chuyện này, có đáng xấu hổ hay không? Có chẳng gắng sức hay không?

 

* Tục Nguyên Giáo Luận

 

          Đầu đời Minh, cư sĩ Thẩm Sĩ Vinh làm quan Hàn Lâm Đăi Chiếu viết Tục Nguyên Giáo Luận [Biện Giải]. Thiên sách Tường Phẩm Danh Nho Học Phật (phẩm b́nh tường tận các vị Nho sĩ học Phật nổi tiếng) trong sách ấy đă nêu ra cặn kẽ các vị quân tử thời Đường - Tống, như Bạch Hương Sơn (Bạch Cư Dị), Tô Nội Hàn (Tô Đông Pha), cho đến các vị Bùi Thừa Tướng (Bùi Hưu), Dương Đại Niên (Dương Ức) v.v… Thiền học sâu cạn, khảo sát tột bậc tinh tường, xác đáng. Trong ấy có nói: “Ngay như các ông Bùi, Dương, chẳng nói là không có ngộ nhập, chỉ là đối với sự bảo dưỡng, thọ tŕ của họ đă chưa thể biết được. Há có ai thân ở trong tràng danh lợi, lại chưa phải là quả vị Bồ Tát, mà có thể không có Tế Hoặc tuôn rót ư? Kẻ đùa bỡn trong pháp môn cố nhiên chẳng cần bàn đến!” Lũ chúng ta là kẻ xuất gia, hăy thử lắng ḷng suy nghĩ đi!

 

* Ba hiền nữ

         

          Phụ nữ trong đạo mà được xưng là hiền, chính mắt tôi thấy ba người. Một là vị ni xuất gia họ Nghiêm, thanh tu, khổ hạnh, suốt đời chẳng dính líu nhà phú quư. Một là vị tại gia họ Triệu, chính tay chép kinh Hoa Nghiêm tám mươi mốt quyển. Một vị tại gia họ Châu để khuyên chồng bỏ nghề đánh cá, đă gieo ḿnh vào trong nước. Tăng ni thời Mạt Pháp phần nhiều la cà nơi nhà sang quư, chứ khổ hạnh suốt đời ai được như họ Nghiêm? Quyên mộ chép kinh, rất có thể bị mê muội nhân quả, chứ tự lực, tự chép, ai giống như họ Triệu? Để cứu chúng sanh, chẳng đoái hoài thân mạng, rốt cuộc hóa độ chồng, ai được như họ Châu? Ba vị nữ nhân ấy chính là ba vị trượng phu, là ba vị đại trượng phu vậy!

 

* Vị thầy thí thực

 

          Diệm Khẩu Thí Thực do ngài A Nan khải giáo, đại để thuộc vào Du Già bộ. Du Già hưng thịnh vào đời Đường bởi hai vị Kim Cang Trí và Quảng Đại Bất Không[86], có thể sai khiến quỷ thần, dời núi, đổi biển, sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn! Sau khi truyền được mấy đời, chẳng ai có thể kế tục, chỉ c̣n lại một pháp Thí Thực mà thôi. Tay kết ấn, miệng tụng chú, tâm tác quán, tam nghiệp tương ứng th́ gọi là Du Già. Chuyện này chẳng phải dễ dàng. Hiện thời, [người học Mật] ấn chú chưa chắc tinh tường, huống hồ quán lực ư? Do vậy, [tam nghiệp] chẳng tương ứng. Không tương ứng th́ không chỉ chẳng thể lợi sanh, mà cũng có thể đâm ra hại ngược lại ḿnh.

Vừa rồi, một vị phương ngoại tăng (tăng sĩ du phương) trong núi bị bệnh ngặt nghèo, chiều hôm ấy, đúng nhằm lúc đang thí thực ở bên ngoài. Vị ấy nói với người chăm sóc: “Có quỷ kéo tôi đến cùng ăn, tôi từ chối chẳng đi. Chốc lát lại nói: ‘Pháp sư chẳng chân thành, chúng tôi trở về tay không, ắt sẽ báo thù’. Do vậy, lôi tay tôi cùng đi. Họ cầm móc câu, tḥng lọng nói: ‘Muốn lôi vị pháp sư ấy (vị pháp sư đang chủ pháp Thí Thực) xuống đất’. Tôi hết sức hoảng sợ, thất thanh kêu cứu, họ nhất thời tan đi”. Được mấy hôm, vị Tăng ấy chết; đại để là trước khi chết, [vị tăng du phương ấy] đă nhập bọn với quỷ. Nếu trước đó, chẳng sợ hăi kêu lên th́ vị pháp sư trên đài đă nguy ngập rồi!

Không chỉ là như vậy! Một vị tăng chẳng chí thành, bị quỷ khiêng ra giữa sông toan d́m chết. Một vị Tăng bị mất ch́a khóa của rương đựng áo, [trong khi thí thực], tâm nghĩ tới ch́a khóa. Các quỷ thấy trên thức ăn toàn là những miếng sắt, bèn chẳng ăn được. Một vị tăng phơi áo lông thú chưa kịp cất, gặp lúc trời đổ mưa, tâm nghĩ tới cái áo ấy. Các quỷ thấy trên thức ăn đều là lông thú, bèn chẳng ăn được. Ai nấy đều thọ báo rành rành. Lại có một người vào cơi Âm, thấy trong pḥng tối có mấy trăm vị tăng, thân thể gầy ṃn, vẻ mặt tiều tụy, dáng vẻ tợ hồ khổ sở chẳng kham nổi! Hỏi ra đều là các thầy thí thực. Thí thực chẳng phải là chuyện dễ dàng, đúng như vậy đấy!

 

* Thầy giảng pháp

 

          Chắc có người nói: “Vị thầy giảng pháp có công giáo hóa chúng sanh, chẳng có trách nhiệm giao tiếp với quỷ thần, chắc là ít lỗi hơn?” Đáp: - Đôi khi c̣n quá hơn nữa! Đối với pháp TThực, một pháp c̣n dễ tinh tường, chứ kinh luận quá nhiều, muốn mỗi mỗi đều tinh tường cũng khó lắm. V́ thế, cổ nhân chú trọng chuyên dốc sức [nơi một bộ kinh] như các vị Cung Pháp Hoa, Thiện Hoa Nghiêm v.v… Nay th́ [các giảng sư] không kinh ǵ chẳng nói, không luận nào chẳng tuyên, thật sự siêu việt bậc tiên triết ư? Bèn có trường hợp chẳng có sư thừa mà tự suy đoán, tự vận dụng. Có kẻ ưa chuộng lập thuyết mới, hư vọng phê phán tin hiền. Có kẻ giải thích thêm rườm rà, nhưng hoàn toàn chẳng nêu tỏ được ǵ, đều chưa tránh khỏi phạm lỗi. [Giảng sư] ắt phải nghiên cứu tinh tường, trọn vẹn, học rộng chẳng có ngằn mé, chỉ mang hoài băo làm sáng tỏ đạo, chẳng mưu cầu lợi dưỡng mà thôi, ngơ hầu có công mà chẳng có lỗi!

Chắc lại có kẻ nói: “Ngài Trí Giả nói: ‘V́ lợi ích mà hoằng kinh th́ cũng luôn có danh xưng là Bồ Tát’ là như thế nào?” Ôi! Đấy là trọn đủ ḷng đại bi của Bồ Tát, nhằm nói với người có hạnh chân thật, nhưng chưa đạt đến địa vị Bồ Tát, chẳng phải là nói với kẻ tham lợi. Chẳng suy xét ư này th́ hầu như là sai lầm!

 

* Một điều lỡ làng th́ trăm điều đều lỡ làng

 

          Cổ nhân nói: “Đời này nếu chẳng tu, một điều lỡ làng, trăm điều đều lỡ làng”. Từ một cho tới một trăm điều, sao lắm nỗi lỡ làng vậy? Kinh dạy: “Ly ác đạo đắc nhân thân nan, đắc nhân thân phùng Phật pháp nan. Nhiên nhi phùng niệm Phật pháp môn, tín thọ vi vưu nan dă” (Ĺa khỏi đường ác, được thân người là khó. Có được thân người, gặp Phật pháp là khó. Nhưng gặp pháp môn niệm Phật mà tin nhận th́ càng khó hơn nữa). Như kinh có nói, con kiến từ thời thất Phật cho đến nay chưa thoát thân kiến, đâu biết khi nào sẽ được làm thân người? Lại c̣n ngày nào sẽ gặp Phật pháp? Ngày nào sẽ gặp pháp môn Niệm Phật mà tin nhận? Đâu chỉ là một trăm điều lỡ làng, đại để là ngàn điều lỡ làng, vạn điều lỡ làng cho đến vô cùng, xót thay!

 

* Cấm giết mổ

         

          Người đời rộng giết sanh mạng để làm thức ăn sáng chiều, sắp đặt yến tiệc, khao thưởng, dâng lên cúng tế, đều nói đó là “lẽ đương nhiên”. Nếu là lẽ đương nhiên, sao lúc hạn hán, ngập lụt, quan cấm giết mổ? Do đấy mới biết giết mổ là sai trái. Tuy vậy, hạn hán mà hơi có mưa, lụt lội mà mới hơi quang tạnh, th́ vai lợn, chân dê đă treo cao nơi ngơ chợ. Lại nữa, tục lệ ở đất Hàng là kỳ đảo Quán Âm đại sĩ, ắt thỉnh tới chùa Hải Hội, cả thành giết chóc, th́ thành ư ở chỗ nào? Đáng than trách sâu xa! Nếu luôn luôn kiêng giết, nhà nào cũng tŕ trai, ắt sẽ cảm vời thiên ḥa, mưa gió đúng thời, mùa màng sung túc, bốn biển thanh b́nh. Phong thái của thời Cát Thiên và Vô Hoài lại có thể thấy trong ngày nay, hiềm rằng tập tục lưu truyền lâu ngày, chẳng thể cứu chữa được. Buồn thay!

 

* Nuôi cá, hạc

 

          Thế tục nuôi tiểu kim ngư, cho chúng ăn bằng bọ nước, tép. Người nuôi hạc dùng cá nhỏ để cho hạc ăn. Nuôi hạc mỗi bữa tính đến cả trăm con. Nuôi kim ngư th́ mỗi bữa tính ra cả ngàn con, tích ngày thành tháng, tích tháng thành năm, sát nghiệp vô biên! Phàm nuôi tằm, nuôi nấng lục súc[87], v́ [chính ḿnh] no ấm mà tạo sát nghiệp ấy, c̣n cá và hạc để ngắm nh́n mà thôi. Than ôi! Đấy cũng là điều chẳng nên vậy!

 

* Ngày nay mới nhàn

 

          Đất Ngô Hàng có người họ Lỗ, đă quên mất tên, mọi người do ông ta mặt rỗ bèn gọi là Lỗ Ma Tử (魯痲子, ông Lỗ mặt rỗ). Tuổi trung niên, ông bảo con rằng: “Ta đă lo cưới gả xong xuôi, các ngươi cũng có thể tự lập, ta t́m an nhàn”. Do vậy, sắm sửa quan quách, phàm hồn kiệu, minh tinh[88], trống kèn, thảy đều lo liệu. Các con mặc áo sô, cầm gậy dẫn quan tài, tự ông ngồi kiệu theo sau, đến nhà riêng ở Tây Hồ, đặt quan tài ở trung đ́nh[89], bảo các con trở về, đề bảng ngoài cửa “ngày nay mới nhàn”, cho đến chết chẳng vào thành quách. Than ôi! Ông ta cũng là bậc thông đạt! Kẻ thế tục trọn đủ gia duyên, đúng là phải bận bịu. Thoát khỏi bận bịu bèn nói “ngày nay mới nhàn”. Người xuất gia vốn nhàn, thế mà nhọc thân, khổ chí, bươn bả theo danh lợi, suốt ngày lo toan chẳng biết nghỉ ngơi, hăy nên đề bảng là “ngày nay mới bận bịu” vậy!

 

* Nhập thai

 

          Kinh nói nhập thai đều vào mười tháng trước, nhưng trong thế gian có lời đồn rằng: Lúc sắp sanh, [thần thức của đứa trẻ ấy] chết nơi kia, sanh vào nơi đây. Có người cúng dường vị tăng trong núi, bỗng thấy vị tăng ấy bước thẳng vào trong buồng, liền nghe báo con vừa sanh ra, vội vào trong núi thăm ḍ, thấy vị tăng ấy đă nhập diệt, chẳng phù hợp lời kinh dạy là như thế nào? Đại để, nhập thai từ mười tháng trước là chuyện thường t́nh, c̣n sắp sanh mới nhập thai là một, hai trong ngàn vạn trường hợp. Người đời chỉ thấy một, hai trường hợp, mà chẳng thấy ngàn vạn! Nhưng đă sớm nhập thai chẳng thấy hiện h́nh là v́ sao? Chẳng lẽ là sắp sanh mà nhập thai th́ mới có thể hiện, c̣n sớm nhập thai th́ chẳng thể hiện? Chẳng có kinh văn nói rơ, tôi chẳng dám hư vọng nói năng. Chúng sanh nhập thai chẳng thể nghĩ bàn, đợi bậc thánh nhân có thiên nhăn quyết đoán vậy!

 

* Hộ pháp

 

Mọi người biết việc ngoại hộ Phật pháp giao phó cho vua, quan, nhưng chẳng biết Tăng cũng phải nên hộ pháp, chẳng thể không cẩn thận! Hộ pháp có ba thứ: Một là hưng khởi phạm sát (chùa chiền), hai là lưu thông đại giáo, ba là khen thưởng, khích lệ tăng sĩ, há chẳng nói năng thận trọng ư?

Hộ tŕ phạm sát: Nếu phạm sát quả thật vốn là tài sản của nhà chùa bị kẻ cường quyền chiếm đóng, bèn đoạt lại để khôi phục, đó là đúng lư. Nếu truy t́m trong các sổ sách, ngờ rằng tợ hồ chẳng rơ ràng, truyền thừa đă lâu ngày, trao đổi qua tay người này, người kia, cứ dùng oai thế để chiếm lấy, có nên hay chăng? [Người đang sống ở đó nếu] vui vẻ xả (trả đất cho chùa) [th́ cuộc đất ấy] sẽ cát tường địa”. Nếu do sức không chống nổi, họ đành phải cho, th́ gọi là rừng oan nghiệp. Nếu tăng chỉ khuyến hóa bậc đại nhân có sức làm đại công đức chủ ḥng khôi phục chùa cũ, chẳng nghĩ Phật cố nhiên nh́n chúng sanh b́nh đẳng như La Hầu La. Nếu làm khổ dân để dựng chùa, dẫu rộng hơn ngàn khoảnh, cao vượt trời thẳm, dùng chiên đàn làm vật liệu, dùng châu, ngọc trang hoàng, Phật sẽ buồn thương mà chẳng chẳng vui thích! Đó là có lỗi, chẳng có công ǵ, phải thận trọng! Đó là một.

Hộ giáo là nếu có trước thuật, thật sự xa là phù hợp Phật tâm, gần là đạt được ư chỉ của kinh, bèn tán thán, truyền bá, hoằng dương, đó là đúng lư. Có [tác phẩm] giống như ngoại đạo đàm luận quanh co, đoán ṃ, thiên kiến, mà cứ ca ngợi quá đáng, có nên hay chăng? Nếu Tăng chỉ xin những vị nổi danh đề tựa, viết lời bạt, chẳng suy nghĩ sẽ gây lầm lạc cho kẻ hậu học, đó là có lỗi, chẳng có công ǵ, chẳng thể không cẩn thận. Đó là hai.

Hộ tăng là nếu tăng sĩ thật sự là người chân tham, thật ngộ, có đại tri kiến, bèn tôn sùng, lễ kính, hoặc là người thật tâm, thật hạnh, tu tập vẹn toàn, đích xác, hăy tin tưởng, thân cận. Đó là đúng lư. C̣n như Thiền khách hư vọng, hoặc hạng tầm thường, kém cỏi, cũng nên tôn trọng, tin tưởng được chăng? Nếu Tăng chỉ lo thân cận, xu phụ kẻ quyền quư, mong được họ che chở, dùng vải vóc gấm thêu để bọc ung nhọt, chỉ càng thêm độc hại, sẽ là có lỗi, chẳng có công, chẳng thể không thận trọng! Đó là điều thứ ba. Vua, quan hộ pháp mà tăng sĩ hoại pháp, buồn thay!

 

* Nhà Nho chê trách Phật

 

          Nhà Nho chê trách Phật, xét theo dấu tích, h́nh tướng th́ tương tự, nhưng thật ra khác nhau, chẳng thể luận định nhất loạt như nhau được! Nho có ba loại: Có nhà Nho thành thật, có nhà Nho lệch lạc, thành kiến, có nhà Nho siêu thoát.

Nhà Nho thành thật đối với Phật vốn chẳng có ác tâm, nhưng do cái học của họ lấy cương thường, luân lư làm chủ, họ chú trọng cách vật, trí tri, thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ, tức là chánh đạo trong thế gian, cho nên chẳng ứng hợp với pháp xuất thế do đức Phật đă dạy. Chẳng phù hợp ắt tranh căi, tranh căi có thể dẫn tới báng bổ, chẳng lạ ǵ lẽ như thế! Giống như Y Xuyên (Tŕnh Di), Hối Am (Châu Hy) là hạng người ấy.

Nhà Nho lệch lạc, thiên kiến th́ bẩm tánh cuồng dại, cao ngạo, chấp chặt những điều được tiếp xúc đầu tiên, phô phang lời lẽ sai lầm, hủy báng cùng tột, chẳng biết đó là sai trái. Tức là hạng người như ông Trương Vô Tận đă nói là “nghe nói đến Phật tợ như cừu thù, thấy Tăng như thấy rắn, rết”.

Nhà Nho siêu thoát hiểu biết tinh tường, thấu rơ lư, không chỉ chẳng bài xích mà c̣n tin sâu. Không chỉ tin sâu, mà c̣n gắng sức thực hành. Đó gọi là bậc chân Nho! Tuy vậy, lại có kẻ đùa chơi trong pháp môn, thật sự chẳng quy kính. Bề ngoài là quy kính, nhưng bên trong là dị tâm, chẳng phải là chân Nho. Người sáng mắt sẽ biện định được!

 

* Cư sĩ đắp y

 

          Đầu tṛn, áo vuông, th́ biết là y phục của tăng gồm ba y. Đầu có tóc mà đắp y của tăng sĩ, chẳng đúng chế định! Cổ nhân nói “đâm ra mắc tội khiên”, đúng là giáo huấn chân thành. Người đời chẳng suy xét, tăng cũng chẳng nói ǵ, đáng than thay! Tôi thuở trẻ thấy tại giới đàn Chiêu Khánh, người thọ giới ưu-bà-tắc, ưu-bà-di đều đắp tam y, bởi lẽ theo thói quen đă thành tập tục, chẳng biết là sai trái. Đấy chẳng phải là lỗi của người tại gia, mà do xuất gia Tăng chẳng bảo rơ, chỉ thuận theo nhân t́nh mà đến nỗi ấy. V́ thế, tôi nêu ra.

 

* Túc mạng

 

          Cơi đời có người ngẫu nhiên biết Túc Mạng, chẳng nhất định phải là Túc Mạng Thông của người đắc đạo. Xưa nay nói chung có nhiều trường hợp. Ông Tổng Nhung họ Dương nói với tôi:

- Vong huynh lúc mười ba, mười bốn tuổi bỗng nói tiếng của người phương Bắc rằng: B́nh nhật chỉ nghe nói phương Nam đẹp đẽ, phương Nam đẹp lắm!” X̣e hai tay nói: “Nay sanh ở chỗ này tốt lắm, tốt lắm’. Hỏi tới th́ nói ta là vị Tăng thuộc Hồng miếu ở chỗ X… tại Sơn Đông. Lăo Tổng Nhung cho là yêu quái, muốn giết chết, bèn chẳng dám nói nữa. Một năm sau th́ chết”. Xưa kia, ngài Linh Thụ[90] đời đời làm Tăng chẳng mất thần thông. Vân Môn ba đời làm quốc vương do chẳng biết Túc Mạng, há Vân Môn chẳng hiền bằng người hiện thời ư? Do vậy nói: “Đôi khi chẳng mê muội, nhưng chẳng phải là [Túc Mạng] Thông”. Nay làm Tăng, niệm nào cũng nhập thai, xuất thai trong pháp thế gian, sao có thể ghi nhớ chuyện đời trước? Cầu sanh Tây Phương đúng là phải nên gấp gáp vậy!

 

* Quả long nhăn

 

          Ông Tông Bá[91] họ Lục thọ chín mươi bảy tuổi, nghiện ăn long nhăn, long nhăn bèn trở thành mắc nhất trong vùng. Quê tôi lại có một cụ già, thọ hơn Tông Bá sáu năm, nghiện ăn lợn hầm. Hai bà cụ, một cụ nghiện nước uống chế từ gạo, cụ kia mê ớt Tứ Xuyên, đều thọ hơn chín mươi, kẻ chung quanh trông thấy bắt chước làm theo. Lại có một cụ già, sáng sớm uống một chén mật pha nước sôi. Nếu như cụ trường thọ th́ các loài ong đều thiếu thức ăn! Than ôi! Tuy quân tử chẳng bỏ phế [chuyện duy tŕ sanh mạng], nhưng sanh tử có số mạng. Khuôn mẫu của thánh nhân mênh mông. Do vậy, Phu Tử chỉ sống gần tới bảy mươi, há có phải Ngài chẳng có vật ǵ để dưỡng sanh? Nhan Uyên ba mươi tuổi chết yểu, nếu cho rằng [do ông ta] không có giỏ cơm nên chết, thế mà có người già lụ khụ, phải gồng gánh buôn bán bên đường, từng chịu cảnh bữa đói, bữa no! Do vậy biết Tông Bá v́ tích đức mà sống thọ, ăn nhằm ǵ với long nhăn! Huống hồ phương thức trường sanh của Kim Tiên Thị (đức Phật)!

 

* Thiêu luyện (đốt ḷ luyện đan)

 

          Nếu hỏi “thiêu luyện lừa bịp không ai chẳng biết, nhưng luôn có người dính vào là v́ sao?” Tiên thánh có nói: “Người trí chẳng mê hoặc”. Kẻ mê muội đan thuật là do trí chẳng đủ. Tuy vậy, người đời [mê muội đan thuật] chẳng đáng trách, xuất gia Tăng mà có kẻ cũng bị mê hoặc, đáng than thay! Người đời coi của cải như tánh mạng, mà đan sa có thể biến thành vàng ṛng, dẫu đế vương cũng bị mê hoặc bởi lời lẽ của phương sĩ! V́ thế, kẻ tại gia đáng bị mê hoặc, nhưng người xuất gia chẳng nhớ lời Phật ư? Trong tướng bạch hào có tám vạn bốn ngàn quang minh, dùng một phần quang minh có thể châu cấp trọn khắp các đệ tử trong thời Mạt Pháp vẫn chẳng thể tận, sao lại chú trọng chuyện thiêu luyện?

Một vị lăo tăng ở thành Tô Châu v́ dựng điện đường, hằng ngày tụng kinh Pháp Hoa bảy quyển, niệm Phật hiệu một vạn tiếng để mong chuyện luyện đan sớm thành tựu! Nhiều lượt bị lừa bịp mà chẳng lui bước, hối cải, cứ bảo: “Lùi bước, hối cải th́ chân tiên chẳng thể tới!” Do vậy, giữ vững chí trước kia chẳng đổi, ḷng thành thuở đầu càng xác thực, nhưng rốt cuộc chẳng thành tựu chi hết! Phàm là dựng Phật điện, tuy thuộc về cái tâm tốt lành, nhưng ṭa điện ấy nếu chẳng có một hai vạn lượng, sẽ chẳng thể được, bèn mong luyện đan thành công để thực hiện, cũng thành tà rồi! Ôi! Dùng cái tâm cầu kim đan để cầu đạo, dùng chi phí nuôi người luyện đan để cúng dường, phụng sự bậc thiện tri thức trong thiên hạ, dùng ḷng tinh thành kiến tạo rạng rỡ Phật điện để phản chiếu vị Phật thiên chân từ bao kiếp đến nay, dùng bảy quyển Pháp Hoa, một vạn câu Phật hiệu để siêng khổ hồi hướng Tây Phương, th́ sẽ chẳng dựng một vỉ kèo mà cảnh chùa đă hoàn thành. Vậy mà cứ dụng tâm vào chuyện nhọc nhằn ắt chẳng thể thành, cứ dốc hết ḷng kính vào kẻ chẳng đáng tin tưởng, tiếc thay!

 

* Bài thệ nguyện văn của ngài Nam Nhạc

 

          Trong Đại Tạng có bài Thệ Nguyện Văn do thiền sư Nam Nhạc lập. Cuối bài có nói “nguyện đắc đan trước rồi mới đắc đạo”. Ấy là v́ muốn lưu thân trụ thế, trường sanh bất tử, ḥng ngay trong đời hiện tại sẽ được thành tựu cái quả, chẳng cần đợi đời khác! Ngài Nam Nhạc là bậc thánh hiền ứng hóa, nếu Ngài thật sự thốt ra lời ấy, ắt tự có nguyên cớ, những kẻ b́nh phàm, nông cạn sẽ chẳng ḍ lường được! Nếu là lời lẽ do người đời sau thêm thắt, ắt chẳng thể tin được! Kẻ căn cơ bậc hạ thấy vậy, chắc sẽ dấy lên dị kiến, tức là bài nguyện văn ấy gây ra lầm lạc. Ngài Thần Loan (Đàm Loan) đốt kinh đạo tiên để tu Quán Kinh, ngài Nam Nhạc tu đạo luyện đan để cầu Phật đạo, sao hai đằng chẳng phù hợp như thế ấy? Sách Chỉ Quán của ngài Nam Nhạc đối với lời trích dẫn từ Khởi Tín Luận bèn tăng thêm một chữ Ác, trở thành “trọn đủ hết thảy thiện, ác”, đấy chắc chắn chẳng phải là ư của ngài Nam Nhạc, mà do người đời sau làm ra. Chữ Ác có thể thêm vào th́ đối với bài văn trong hiện thời, có thể tin chắc ư? Điều này cũng giống như trường hợp sách Thiền Môn Khẩu Quyết vậy.

 

* Thiên Thai Truyền Phật Tâm Ấn

 

          Trong Đại Tạng lại có một quyển Trí Giả Đại Sư Truyền Phật Tâm Ấn. Tâm ấn của Phật bảo là do ngài Thiên Thai truyền th́ cũng được, nhưng nói Thiên Thai độc truyền, bảo Đạt Ma và các vị sư khác đều chẳng đạt được th́ không thể nào! Nói là “sư tử bị hại, sự truyền thừa chấm dứt”, cho nên chẳng có chuyện “sáu đời truyền y” th́ không thể được! [Bởi lẽ], có thể hại sắc thân của sư tử, chứ đạo chẳng thể hại. Sư tử thuyết pháp đă xong, nhưng truyền pháp chưa xong, đều là do người đời sau tôn sùng ngài Thiên Thai, nhưng chẳng biết nguyên do ngài đáng tôn sùng. Hơn nữa, người đời sau lại nói: “Pháp Hoa là căn bản, Hoa Nghiêm là cành nhánh”. Ngài Thiên Thai có bao giờ nói như vậy? Lại bảo “chỉ thú tánh cụ (tánh trọn đủ) chỉ riêng một nhà (tông Thiên Thai) có, các nhà khác đều chẳng thể bằng được!” Thuyết của một nhà th́ cũng làm sao có thể dạy mọi người, do chẳng rộng! Lư “tánh cụ” thấy trong các kinh, được nêu tỏ bởi chư tổ, chẳng biết là bao nhiêu, lại tự tiện bảo là của một nhà, chẳng phải là điều ngài Thiên Thai thích nghe! Ngài Thiên Thai là bậc thánh sư, mong mỏi đạo mà chưa được thấy. Đối với địa vị của chính ḿnh, Ngài nói: “Tổn ḿnh để lợi người, chỉ dự vào Ngũ Phẩm”. Người đời sau ca ngợi thái quá, đánh mất cái tâm “chẳng tự coi ḿnh là thánh” của ngài Thiên Thai. Gộp chung với chuyện trước đó để xem th́ đúng là như cổ nhân đă nói: “Tin trọn vào sách th́ chẳng thà không có sách!”

 

* Nghi thức Thủy Lục

 

Nghi thức Thủy Lục tương truyền do Lương Vũ Đế khởi đầu. Xưa kia, Bạch Khởi[92] chôn sống bốn mươi vạn người ở Trường B́nh, tội lớn cực ác, ch́m đắm trong địa ngục đă lâu, không do đâu thoát ĺa được. Ông ta báo mộng cho Vũ Đế, Vũ Đế bèn cùng với Chí Công, các vị sư thương nghị kế sách cứu bạt, biết trong Đại Tạng có nghi thức Thủy Lục, bèn cầu đảo, quang minh tràn ngập điện đường. Do vậy bèn cử hành, truyền cho hậu thế. Nhưng nay trong Đại Tạng trọn chẳng có nghi thức này! Văn bản ở chùa Kim Sơn cũng là trước sau sai lầm, xen tạp, chẳng thấy manh mối từ đầu đến cuối. Hành giả trong tăng sĩ hiện thời vẫn tùy ư thực hiện, mỗi mỗi đều khác biệt đôi chút. Các bức vẽ [của chư Phật, Bồ Tát, tôn thánh được sử dụng] trong thượng đường và hạ đường tại Nam Đô cũng tùy thuộc thợ vẽ truyền tụng mà kết thành quy định, chẳng đích đáng cho lắm. Nhưng kẻ tổ chức đạo tràng phải quyên mộ chi phí nhiều tháng, nhiều năm mới thành tựu được! Trần thiết rườm rà đến nỗi trai, gái, già, trẻ kéo tới nườm nượp, giống như thế tục đi xem cờ quạt, xem lễ hội Xuân, chen chân, kề vai, nam nữ hỗn loạn, mỗi ngày tính ra cả ngàn người, chẳng tránh khỏi khinh nhờn thánh hiền, va chạm quỷ thần, tốn kém nhiều, mà lỗi nặng nề, có ương họa, chẳng có công lao ǵ, phần nhiều dẫn đến t́nh trạng đạo tràng chẳng trọn vẹn, cảm lấy ác báo, rất đáng sợ.

Chỉ có nghi thức do pháp sư Tứ Minh Chí Bàn kết tập (tức bản Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ) tột bậc tinh tường, tột bậc cẩn mật, tột bậc đơn giản, tột bậc dễ dàng, tinh mật mà chẳng mắc khuyết điểm rườm rà, dài ḍng. Tuy giản dị mà chẳng phạm khuyết điểm thiếu sót. Bản ấy chỉ có tại Tứ Minh, các nơi khác đều chẳng thấy. Tôi đính chánh, cho khắc in lại, ḥng được lưu truyền rộng răi. Tuy vậy, [nghi thức này] vẫn chẳng thể cử hành dễ dàng, hoặc thực hiện nhiều lần. Dễ dàng th́ ắt dẫn đến t́nh trạng làm cho nhiều, làm nhiều th́ dễ sanh [ư niệm] quá dễ dàng. Do vậy, sẽ thiếu sót ḷng thành kính, mắc nhiều lỗi lầm, tội khiên, cầu phước mà đâm ra mắc họa. Mong hăy thận trọng!

 

* Thầy bạn

 

          Vị Tăng ở đất Việt là Định công trung niên xuất gia, áo chằm rách rưới khất thực, như mây trôi, chim bay, coi nhẹ danh lợi, khổ chí tận lực tham cứu bốn câu “thiên t́nh nhật xuất” (lúc trời quang, mặt trời vừa mọc), bỗng có tỉnh ngộ. Khi đó, không có vị đại tri thức nào để kèm cặp. Có vị ấn chứng cho, nhưng ông ta tâm chẳng phục, bực bội bỏ đi. Sư từng nói với tôi rằng: “Tăng sĩ trong đời này ai dám ấn chứng cho tôi?” Do vậy, dẫn Thích Ca Như Lai để ấn chứng. Bởi thế, bèn được chút ít cho là đủ, ngỡ thau là vàng, bèn sùng tín La Đạo[93], chú thích các sách ngũ bộ, lục thư v.v… do gă ấy trước tác, bị người đương thời quở trách. Nếu như ông ta có được vị thầy chân thật, bạn thù thắng, ắt có thành tựu to lớn. Do vậy biết nhiệm vụ trọng yếu của người học đạo là phải đổ công nơi t́m thầy, hỏi đạo; chứ [nếu không, sẽ là] có nhân mà không có quả, chôn vùi cái tâm ban đầu, thật đáng than tiếc!

 

* Triều bái ngoài biển

 

          Tăng tục dâng hương tại Nam Hải, có người chẳng theo đường chánh từ Tứ Minh, mà riêng từ biển cả và cửa Miết Tử (鱉子門) vượt qua hiểm trở bất trắc, băo lốc, bị lật thuyền chết ch́m mấy chục người, hoặc trăm người. Than ôi! Chẳng từ xa mấy trăm dặm, th́ cũng là mấy ngàn dặm, kiền thành đến tham yết, há chẳng phải là tâm tốt lành ư? Há chẳng phải là thiện sự ư? Đến nỗi mất mạng th́ chưa chắc lâm chung chánh niệm được! Kinh nói Bồ Tát không cơi nào chẳng hiện thân, tức là chẳng cần đi xa tới phương khác, do đại từ đại bi cho nên Bồ Tát là Bồ Tát. Chỉ cần giữ được tấm ḷng từ bi của Bồ Tát, học theo hạnh từ bi của Bồ Tát, chẳng cần ra khỏi cửa, khỏi sân, sẽ luôn luôn thường thân cận núi Phổ Đà, chẳng gặp mặt kim dung mà mỗi khắc đều đích thân thừa sự Quán Tự Tại. Cũng có người gieo ḿnh vào sóng cả, bảo là “xả thân”, mong Bồ Tát tiếp dẫn, cho tới khi chết đi, ắt nổi sân, khởi oán, đâm ra trở thành đọa lạc, há chẳng đáng buồn ư? Không chỉ là như thế, trên chót đỉnh của Thái Sơn cũng có Xả Thân Nhai (vách đá xả thân), hậu hiền cho xây tường vây, viết hai chữ to Căng Ngu (矜愚: thương xót kẻ ngu), cũng là vô lượng âm đức!

 

* Miệt thị Tây Phương

 

          Cư sĩ họ Băo hằng ngày tụng Pháp Hoa và Lăng Nghiêm, lâu ngày hiểu biết nhạy bén, bèn viết Tây Phương Luận Đáp Khách Vấn (luận định về Tây Phương để trả lời các câu hỏi của khách) gồm ba thiên. Thiên thứ nhất c̣n đàm luận chánh lư, nhưng đă hơi kèm theo lời lẽ cho rằng “Tây Phương chẳng đáng sanh về”. Hai thiên kế đó nói quá đáng: “Người nguyện sanh về Tây Phương là sai bét”. Có người khuyên tôi hăy đả phá. Tôi nhớ thiền sư Không Cốc nói lời lẽ của kẻ lầm lạc giống như câu ca của tiều phu, lời hát của mục đồng, chẳng cần phải tranh biện! Nay lời luận định của ông Băo đều là viện dẫn chánh lư trong Thiền môn dễ thu hút người khác; do vậy, khiến cho chúng sanh bị nghi lầm, thoái thất nguyện vãng sanh, gây hại chẳng nhỏ, chẳng thể im lặng được!

Trong thiên thứ nhất, ông ta chia thành ba loại Tây Phương: Một là Tây Phương để Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ, các vị Bồ Tát sanh về. Hai là Tây Phương để các vị tri thức như Viễn Công, Vĩnh Minh v.v… hoặc các hiền nhân như Tô Tử Chiêm, Dương Thứ Công[94] v.v… sanh về. Ba là Tây Phương do những kẻ tầm thường, kẻ ác, súc sanh v.v… sanh về. Cách nói ấy tợ hồ hữu lư, nhưng chín phẩm văng sanh, kinh văn đă nói rơ ràng, rạng ngời như mặt trời, mặt trăng giữa bầu trời. Cần ǵ phải đợi ông ta chia thành ba loại? Một vị vua sáng lập quy chế, muôn nước khâm phục, tôn sùng, kẻ thất phu nơi rừng núi lập riêng một quy ước, há có được chăng? Đó là sai lầm thứ nhất của ông ta.

Đức Phật nêu rơ chín phẩm, Tây Phương vốn chẳng có hai cơi, nhưng do căn cơ của mỗi người khác nhau, cho nên người văng sanh tự thành chín phẩm. Thuyết của ông Băo là Tây Phương vốn lập ra ba loại cơi để đợi ba loại người, chẳng phù hợp kinh văn. Đó là sai lầm thứ hai của ông ta.

Lại nói các bậc tri thức như Vĩnh Minh, Huệ Viễn, các hiền giả văng sanh thật sự chẳng do tự lợi mà thuần là lợi tha. Phàm cầu sanh về cơi ấy chính là thân cận Như Lai, mong cầu lợi ích thù thắng. Hăy gác các vị đại Bồ Tát lại, chẳng cần bàn. Chỉ các vị hiền nhân như Tô Tử Chiêm, Dương Thứ Công, há có phải đều đă trọn hết địa vị Bồ Tát, riêng văng sanh Cực Lạc để độ sanh, chẳng phải là tự lợi ư? Kệ tụng trong phẩm Hạnh Nguyện có nói: “Thân đổ Như Lai Vô Lượng Quang, hiện tiền thọ ngă Bồ Đề kư” (Tự thấy Như Lai Vô Lượng Quang, hiện tiền thọ kư tôi Bồ Đề). Cầu được thọ kư mà chẳng phải là tự lợi th́ là ǵ vậy? Đó là điều sai lầm thứ ba của ông ta.

Ông ta lại nói “thánh phàm đồng thể, do mê hay ngộ mà tạm chia thành hơn hay kém, phản chiếu hồi quang, lật bàn tay mà thánh phàm khác biệt vời vợi”. Đă nói là “phản chiếu”, cớ sao lại biến thành khác biệt vời vợi, c̣n có thể nói là “đồng thể” được chăng? Chính ḿnh lập luận mâu thuẫn. Đấy là điều sai lầm thứ tư.

Lại nói “đừng chấp ngă tướng mong sanh về cơi ấy”, nhưng đức Phật đă đinh ninh răn bảo, khuyên hăy phát nguyện cầu sanh, tức là đức Phật dạy chúng ta chấp ngă tướng đó ư? Đó là điều sai lầm thứ năm của ông ta.

C̣n như trong thiên thứ hai và thứ ba, càng hủy báng nhiều hơn, sai lầm càng quá đáng. Ông ta nói: “Nay người chủ pháp chỉ chú trọng Tịnh Độ, chỉ coi chuyện ấy là chân thật”, tức Tịnh Độ là giả trất ư? Đức Phật nói Tịnh Độ là lời gạt gẫm ư? Chẳng tin có thế giới kim sắc, liền bị kinh Lăng Nghiêm quở trách. Ông Băo hằng ngày tụng Lăng Nghiêm mà lập ra Đoạn Kiến ấy; đó là sai lầm thứ sáu.

Lại nói “nhất tâm bất loạn chẳng phải là nói chấp tŕ danh hiệu, mỗi niệm đều chuyên chú. Nếu nói về chấp tŕ th́ có khi như mây giăng, tôi đích thân thấy mấy người ngày đêm niệm Phật, lại từng được các vị lăo thiện tri thức ấn chứng, sau này đều vướng vào lưới ma, chẳng thể cứu bạt”. Chấp tŕ danh hiệu do đức Phật nói, tức là đức Phật khiến cho mấy người ấy lầm lạc, lọt vào lưới ma ư? Hiện tiền, tôi thấy người chẳng niệm Phật mà tham Thiền cũng có người bị ma dựa là v́ sao vậy? Kinh nói người niệm Phật văng sanh đắc bất thoái chuyển, ắt dự vào ḍng thánh. Phật đă hứa nhập vào ḍng thánh, mà ông Băo lại cho rằng lọt lưới ma. Đó là điều sai lầm thứ bảy của ông ta.

Lại nói: “Cái gọi là nhất tâm chính là cái tâm vốn sẵn có của người ấy, vốn tự linh diệu, vốn tự trọn đủ. Trừ điều ấy ra, chẳng có pháp nào khác!” Kinh văn nói rơ “chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn”, sao lại cắt bốn chữ trong câu trước đó để nói về nhất tâm? Nếu chẳng có kinh văn, cao luận bàn suông th́ nói tâm như thế cũng chẳng phải là không được. C̣n ở đây là chân ngữ, thật ngữ từ kim khẩu thốt ra, tức là đức Phật nói sai bét, ông Băo sửa đổi cho đúng ư? Kinh Pháp Hoa dạy “nhất tâm xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát” lại phải hiểu như thế nào? Đó là điều sai lầm thứ tám của ông ta.

Lại nói “nương theo pháp này để để tu, ắt vào tà đạo”, phần trước nói “lọt lưới ma”, nay nói “vào tà đạo”, niệm Phật gây hại như thế ư? Sao đức Phật chẳng cấm người niệm Phật mà phải đợi ông Băo cấm? Đó là điều sai lầm thứ chín của ông ta.

Lại nói: “Người thời thượng cổ trước là khuyên người khác đạt được cái gốc rồi mới khuyên văng sanh”. Niệm Phật văng sanh vốn là do hạ học mà đạt tới chuyện thuộc bậc thượng. Thượng đạt trước rồi mới hạ học, theo Lư có suông được chăng? Há có trạng nguyên trước rồi mới thi đậu? Đạt tới địa vị tể tướng rồi mới học tập sáu kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử, học tập văn tự cử nghiệp ư? Đấy là điều sai lầm thứ mười của ông ta.

Lại nói “nếu Phật pháp chỉ là pháp này, chỉ hiểu một quyển kinh Di Đà là đủ rồi. Chỉ dựa vào kinh này, ai chẳng thể làm Thiên Nhân Sư? Ai chẳng thể xưng là thiện tri thức?” Phàm các kinh Đại Thừa như Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Bát Nhã v.v… chẳng ngày nào không tụng, chẳng ngày nào không giảng, có ai chấp riêng một kinh Di Đà, quét sạch các kinh kia ư? Tuy vậy, do chỉ sợ chưa từng chân thật chuyên dựa vào một kinh mà thôi! Chuyên dựa vào một kinh, đắc Niệm Phật tam-muội, được gọi là thiện tri thức, cũng có ǵ đáng thẹn? Đấy là điều sai lầm thứ mười một.

Lại nói “cơi Phật vô tận, nếu chuyên dạy người cầu sanh một cơi, các cơi Phật khác chẳng lạnh lùng, vắng lặng ư?” Đâu có biết chúng sanh trọn hết vi trần số đều sanh về một cơi ấy, chẳng thấy [Cực Lạc] tăng nhiều. Trọn hết vi trần số chúng sanh không một ai sanh về cơi ấy, cũng chẳng giảm ít, có ǵ là lạnh, ǵ là ấm, có ǵ tĩnh, có ǵ là ồn? Sao lại có cái nh́n của trẻ nít, nói lời tà vạy, sai lệch? Đấy là điều sai lầm thứ mười hai.

Ngàn kinh vạn luận đều tán dương Tây Phương, ngàn thánh vạn hiền cầu sanh cơi đó, riêng một ḿnh ông Băo ra sức hủy báng, chê gièm, sao chẳng sợ khẩu nghiệp vậy? Cư sĩ thoạt đầu tín tâm kiền thành, chuyên dốc, tôi hết sức yêu mến; nay như thế này, tôi hết sức lo lắng.

 

* Tụng cổ, niêm cổ (1)

 

          Nếu có người hỏi “cổ nhân đều có tụng cổ, niêm cổ[95], riêng ḿnh ông chẳng có là v́ sao?” Đáp rằng: - Chẳng dám! Cổ nhân sau khi đại triệt đại ngộ, thốt nửa bài kệ hoặc nói mấy câu, đều từ tâm địa chân thật đại quang minh tạng mà tự nhiên lưu xuất, chẳng cần phải tư duy, chẳng phiền tạo tác. Người thời nay có thể như thế hay chăng? Đầu đời Minh, tôn túc nói công án có hai loại: Như “con chó có Phật tánh, vạn pháp quy nhất” v.v… là một loại. Lại có một loại nói tối hậu cực kỳ sai ngoa, tức là một cái vồ sau ót, tột bậc khó xuyên qua. Tôi đối với những câu trước như “con chó, vạn pháp” c̣n chưa thể chẳng nghi, huống hồ loại cuối cùng ư? Do đó, chẳng dám mặc sức đoán ṃ, hư vọng niêm tụng vậy!

 

* Tụng cổ, niêm cổ (2)

 

                Có người nói: “Ông khiêm tốn đấy chăng? Bởi lẽ, ông có thể [niêm cổ, tụng cổ, nhưng không làm], dùng ‘chẳng thể làm’ để dạy kẻ khác đấy chăng?” Đáp: - Chẳng phải là khiêm tốn, mà là lời thật t́nh, lời chân thật. Kinh Lăng Già dạy hai thứ thông là Tông Thông và Thuyết Thông, nhưng Giáo phần nhiều là hiển nghĩa, c̣n Tông đa số là mật nghĩa. V́ thế, [Tông môn] lại nói lời chẳng có nghĩa vị ǵ. Tôi đối với chỗ thâm huyền trong Giáo c̣n chưa thể thông suốt trọn vẹn, huống hồ lời lẽ trong Tông ư? Hơn nữa, cơ duyên vấn đáp trong Tông môn tuy nói là lời lẽ chẳng có nghĩa vị, nhưng vẫn có lúc có chút phần ư nghĩa có thể nghĩ bàn, có khi trọn chẳng có ư nghĩa, tợ hồ chẳng có lỗ hổng, dùi sắt chẳng thể xuyên thấu được! Có khi tợ hồ thái hư không chẳng thể nắm lấy, sờ mó được. Có khi giống như mũi chông bằng sắt chẳng thể nhai, cắn. Có khi giống như khối lửa lớn chẳng thể đến gần. Có khi như vầng mặt trời chói rực chẳng thể nh́n vào. Có khi giống như tỳ sương, hoặc lông vũ chim Trấm, chẳng thể dính môi, sao có thể hư vọng bàn bạc?

Nêu đại lược một hai vị cổ nhân: Đức Thế Tôn giơ cành hoa lên, ngài Ca Diếp lộ vẻ mỉm cười. Tôi nay đă có thể ngầm hiểu Phật tâm như ngài Ca Diếp hay chăng? Khách tụng kinh Kim Cang, Lục Tổ ngay lập tức khế ngộ; tôi nay đă có thể liễu giải nhanh chóng như Lục Tổ hay chăng? Ngài Lâm Tế gặp ngài Đại Ngu bèn nói “Phật pháp của Hoàng Bá chẳng có nhiều con”, tôi nay đă có thể thật sự thấy “chẳng có nhiều con” hay không? Triệu Châu tám mươi tuổi c̣n hành cước, bảo là “chỉ v́ trong tâm chưa lặng yên”, nay tôi đă thể trong ḷng lặng yên hay chăng? Hương Nham[96] gơ trúc vang ra tiếng, bèn nói “nhất kích vong sở tri” (vừa gơ quên sạch điều đă biết), tôi nay đă có thể vong tri hay chăng? Linh Vân[97] thấy hoa đào bèn nói “măi đến hiện thời bèn chẳng nghi”, tôi nay đă có thể đích xác đạt đến chẳng nghi hay không? Cao Phong bị Tuyết Nham hỏi “chủ nhân ngay trong lúc ngủ mà không mộng” chẳng thể đáp, tôi nay đă có thể đáp câu hỏi ấy hay không? Lại c̣n đối với chỗ “ba năm gối rơi xuống đất mà đại ngộ”[98], tôi đối với câu hỏi ấy đă có đại ngộ hay chăng? Những điều giống như thế, chẳng thể nêu trọn. Nếu có một điều chưa rơ, tức là những điều khác đều chẳng hiểu rơ như ngài Đâu Suất Tùng Duyệt đă bảo Trương Vô Tận vậy. Không chỉ là cổ nhân, dẫu đối với công án của người hiện thời, tôi cũng chẳng dám khinh thị b́nh luận đúng sai, hoặc ngạo mạn biếm nhẽ! V́ sao? Người ngồi trong điện đường mới có thể biện định người dưới điện đường là cong hay thẳng; [chính ḿnh] lại c̣n chưa từng thuộc vào hàng thánh hiền. Than ôi! Đáp lầm một câu chuyển ngữ, đọa làm thân chồn hoang năm trăm kiếp; cười cợt lời đáp của người sáng mắt, thổ tả ba mươi năm[99]. Vết xe đổ rành rành, dám chẳng thận trọng sao?

 

* Tiếp tục nhập tạng các trước thuật của các hiền nhân

 

          Từ cổ, các trước thuật ở phương này (Trung Hoa) hễ được nhập tạng (đưa vào Đại Tạng Kinh) đều tuân theo thể thức đă quy định về việc nhập tạng kinh, luận: Chừng đó vị Phạm tăng, chừng đó vị tăng người Hán, chừng đó vị tể quan tinh thông Phật pháp, cùng họp lại bàn định. Có trước thuật đáng được nhập tạng mà không được nhập như Thiên Mục Cao Phong Thiền Sư Ngữ Lục, Phạm Kỳ Sở Thạch Thiền Sư Ngữ Lục đầu thời Minh đều là những di cảo trân quư về chốn có của báu. Những năm gần đây, lại nhập tạng bốn mươi mấy hàm, nhưng ngữ lục của hai vị ấy vẫn bị bỏ sót. Có những trước thuật chẳng cần nhập mà lại được nhập, là do một hai vị tăng đương thời và một hai vị quư nhân xem xét qua loa rồi tự quyết định, c̣n bậc cao minh chắc không dự vào chuyện ấy. Than ôi! Các thứ trước thuật của Thiên Thai đại sư một trăm năm sau mới được nhập tạng, há cũng do thời tiết nhân duyên khiến thành như thế ư? Sau này lại có chuyện nhập tạng th́ ngữ lục của hai vị ấy cấp thiết nhất, tôi đặc biệt nêu rơ ra!

 

* Lời tự nói của các ngài Nam Nhạc và Thiên Thai

 

          Hai vị Nam Nhạc và Thiên Thai đều nói “ta do lănh chúng mà tổn ḿnh, lợi người”. Một vị chỉ chứng Thiết Luân[100], một vị chỉ dự vào Ngũ Phẩm. Đó là nói quyền biến ư? Hay là nói lời thật vậy? Ngu tôi cho rằng Quyền hay Thật th́ hậu học đều chẳng thể lường được, nhưng người hiện thời đừng hỏi Quyền, chỉ dùng Thật để luận. Bậc thánh sư mà c̣n như thế, huống phàm phu ư? Như thế th́ sẽ chuyển thành càng thêm tinh tấn! Không chỉ hai vị là như thế, cổ nhân đối với chỗ tu tập của chính ḿnh, cũng nói: “Tôi ĺa thầy quá sớm, chưa thể học trọn hết cái hay của thầy”. Hoặc nói: “Tôi trụ viện sớm (ra làm trụ tŕ), chưa thể đạt tới chỗ này”. Thận trọng như thế đó, huống hồ các vị thầy trong tông Thiên Thai c̣n chưa đạt đến Tín vị (các địa vị thuộc Thập Tín). Người thời nay nếu đại ngộ, hỏi về địa vị chứng ngộ, nếu thật sự dự vào Trụ Vị (từ Sơ Trụ trở lên), ắt sẽ có thể thị hiện tám tướng thành đạo hay không? Nếu không, sao lại tự chuốc lấy tội lớn “hư vọng khoe ḿnh đă chứng thánh”? Khổng Tử nói: “Ngă phi sanh nhi tri chi giả” (chẳng phải là ta sanh ra đă biết), lại nói “nhược thánh dữ nhân, tắc ngô khởi cảm?” (ta sao dám coi ḿnh là thánh hay bậc có ḷng nhân?) Lại nói “ngô hữu tri hồ tai? Vô tri dă” (Ta có biết ǵ chăng? Chẳng biết ǵ!) Đấy chính là ư của hai vị Nam Nhạc và Thiên Thai. Những kẻ huênh hoang chiếm cứ ngôi vị làm thầy cao ngất, ăn nói lớn lối chẳng thẹn, có hơn được hai vị ấy chăng? Đáng sợ lắm thay!

 

* Đạo chê gièm Thích (1)

         

          Có đạo sĩ bảo tôi: “Bọn ta đội măo, cài trâm, bọn ông cạo tóc. Phàm người cạo tóc phải nên ly thế tuyệt tục, sao lại chen gót trên đường dài? Kẻ rộng hành quyên mộ, hiếm gặp đạo sĩ, luôn thấyáo thâm! Có kẻ tay cầm sổ hóa duyên giống như phán quan trước thần thổ địa. Có kẻ gơ mơ nhịp nhàng, hát lớn, xướng họa, bàn nói nhân duyên như người mù tấu nhạc. Có kẻ khiêng cơng tượng Bồ Tát hoặc tượng thần, tấu nhạc huyên náo, tán thán khuyên lơn xả thí như gă hát mướn trong đám ma. Có kẻ cầm nửa cái chập chơa bằng đồng, dùng đũa tre gơ như trẻ nít đùa bỡn. Có kẻ lôi xiềng sắt mấy chục hoặc trăm cân như tội nhân. Có kẻ vác đá tự đập thân ḿnh giống như kẻ nuốt hận kêu oan. Có kẻ quần áo chỉnh tề cầm hương, đi dọc đường lễ bái, lần theo từng nhà, như lư giáp[101] kiểm tra hộ tịch. Pháp môn thanh tu chẳng bị điếm nhục hay sao?” Tôi chẳng đáp được, thong thả thưa rằng: “Quyên mộ cũng có sai khác. Có kẻ phi lư, có kẻ hợp lư. Có kẻ nhân chánh, quả chánh, có kẻ mê muội nhân quả, chớ nên nhất loạt chê bai, bài bác, nhưng kẻ chẳng chuyên tâm tu hành cứ chuyên cầu lợi dưỡng là đáng hận nhất!” Do vậy, tôi ghi lại chuyện này, mong răn nhắc lẫn nhau!

 

* Đạo chê gièm Thích (2)

 

          Đạo sĩ lại nói: “Các cung quán, đạo viện, các miếu thờ thần đều là chỗ chúng tôi ở, sao tăng chúng phần nhiều ở trong đó, hiếm thấy đạo sĩ sống trong chùa Phật. Hễ quy y Phật th́ ở trong chùa, quy y đạo th́ ở trong cung, quán, viện, miếu. Nay tăng sống trong những chỗ ấy là để quy y Tam Thanh[102], các vị thiên tôn, các vị chân tiên, các vị thần ư? Hay là muốn chiếm đoạt sản nghiệp của bọn tôi?” Lời ấy hữu lư, tôi không đáp được, thong thả thưa rằng: “Thao Quang, Cổ Linh Ẩn, sao đạo sĩ sống tại đó?" Đáp: “Đó là chỗ ngụ của người tại gia tu tập Toàn Chân Giáo, chẳng dính dáng ǵ đến các đạo sĩ. Huống hồ có một vị tăng cạo tóc làm chủ tại đó!” Lời ấy hữu lư, tôi lại chẳng đáp được! Ôi! Nay kẻ làm tăng hoặc nương náu tùng lâm, hoặc nơi Lan Nhă u cư, hoặc nương vào vách đá làm nhà, hoặc kết lều tranh dưới gốc cây, chỗ nào mà chẳng được? Cứ ắt phải bám vào đạo sĩ để làm chủ nhân của đ́nh viện”.

 

* Lợi ích do xuất gia

         

Cổ đức nói: “Kẻ tối thắng là người xuất gia tốt đẹp”. Có câu tục ngữ rằng: “Một người xuất gia, chín họ sanh lên trời”. Đấy là tán thán việc xuất gia, nhưng chưa nói rơ v́ sao xuất gia là lợi ích? Há có phải là nói tới lợi ích “không cày, không dệt, mà có cơm áo tự nhiên” ư? Há có phải là nói tới lợi ích “chẳng tậu nhà, chẳng thuê pḥng, mà tự nhiên được an cư” ư? Há có phải là nói tới lợi ích “được vua, quan hộ pháp, tín thí cung kính, trên th́ không phải làm lao dịch cho quan, dưới là chẳng bị quấy nhiễu bởi dân, mà tự nhiên thanh nhàn, vui sướng” ư? Cổ nhân có bài kệ rằng: “Một hạt gạo thí chủ, to như núi Tu Di. Nếu vẫn chẳng liễu đạo, mang lông, đội sừng đền”. Lại nói: “Ngày sau ông cụ Diêm vương tính tiền cơm của ngươi, coi ngươi ứng phó thế nào?” Đấy chính là họa hoạn to lớn ẩn tàng của người xuất gia, huống hồ lợi ích ư? Nói tới lợi ích của xuất gia chính là phá phiền năo, đoạn vô minh, đắc Vô Sanh Nhẫn, thoát khỏi nỗi khổ sanh tử. Đấy chính là điều tối thắng trong nhân gian và cơi trời, mà cha mẹ và ḍng họ được hưởng ân trạch ấy. Nếu không, dẫu giàu có chất đống ngàn rương, quư hiển làm thầy của bảy vua[103] có lợi ích chi đâu? Tôi hết sức lo lắng, sợ hăi, bèn dùng chuyện này thưa bày với những người cùng nghiệp vậy!

 

* Thế tục hứa nguyện

 

          Người đời khẩn cầu có con nối dơi, cầu kéo dài mạng sống, cầu tiêu tật bệnh, cầu giải trừ tai nạn, cầu đạt được công danh, cầu nhà cửa yên vui, cầu tăng thêm tài sản, đối với các chuyện như thế, điều thứ nhất là chớ nên hứa hẹn sẽ giết mổ các con vật. Đó gọi là ác nguyện, có nghiệp, chẳng có công hiệu ǵ! Dẫu được toại ư th́ chỉ tốt đẹp nhất thời, khổ báo sau này. Thậm chí hứa dâng áo bào, cúng phan, hứa tạo điện phủ, hứa dâng các đồ thờ, tuy khác với sự cúng kiếng bằng đồ mặn trên đây, nhưng đại bi b́nh đẳng gọi là Phật, chánh trực chẳng thiên vị th́ gọi là thần, há có lẽ nào do được hối lộ mà giáng phước ư? Dẫu được toại ư th́ cũng do trong mạng [của người hứa nguyện] vốn sẵn có mà đạt được, chẳng phải do sức hứa nguyện. Dựa trên lư để luận, chỉ do rộng làm các điều thiện mà thôi! Trung với vua, hiếu với cha mẹ, thương xót người nghèo, yêu mến người già, cứu người gặp tai ách, giúp kẻ khổ sở, kiêng giết, phóng sanh, đủ loại âm chất, đủ mọi phương tiện, tùy theo sức làm được, đều tận lực thực hiện. Do công năng của thiện sự cảm vời, theo đúng lẽ, ắt giáng cát tường. Nếu chẳng được toại ư, hăy nên quy vào thiên mạng, biết là túc duyên, đừng oán, đừng hờn, càng làm thêm thiện sự, chẳng lui sụt, hối hận!

 

* Đại hiếu xuất thế gian

 

          Hiếu thế gian có ba, hiếu xuất thế gian có một. Hiếu thế gian là quây quần bên cha mẹ, hầu hạ, chăm sóc, dùng đồ ăn ngon ngọt để nuôi song thân. Hai là đỗ đạt, làm quan, dùng tước lộc để cha mẹ vinh hiển. Ba là tu đức, tận tụy hành để thành thánh, thành hiền, ḥng rạng rỡ cha mẹ. Ba điều ấy được thế gian gọi là hiếu. Hiếu xuất thế gian là khuyên cha mẹ trai giới, phụng sự đạo, nhất tâm niệm Phật, cầu nguyện vãng sanh, giă biệt măi măi tứ sanh, từ biệt lâu dài sáu đường, gởi thân nơi thai sen, thân cận Phật Di Đà, được bất thoái chuyển. Phận làm con báo đáp cha mẹ như thế là to lớn. Tôi xưa kia vừa mới nhập đạo, song thân liền mất, viết bài Tự Thương Bất Hiếu Văn để giăi bày nỗi bi hận. Nay thấy hai chúng tại gia và xuất gia có người may mắn cha mẹ c̣n đủ; do vậy, càng thêm cảm khái, nước mắt đầm đ́a, dập đầu, cụng trán khuyên lơn!

 

* Kinh Phụ Mẫu Ân Trọng ngụy tạo

 

          Có hai kinh ngụy tạo, đề tựa là Phụ Mẫu Ân Trọng v.v… Nội dung chẳng hoàn toàn giống như nhau, nhưng đều giả mượn tên các vị dịch kinh thời cổ. Hai người bạn tôi mỗi vị khắc in một bản. Hai người bạn ấy đều là bậc trung hiếu, thuần chánh, thấy các kinh ấy khuyên hiếu, chẳng suy xét là ngụy tạo. Nếu nói: “Cốt sao khuyên hiếu thảo mà thôi, tợ hồ chẳng cần phải biện định chân hay ngụy”.

Tôi nói: - Ông chỉ biết một điều lợi, mà chẳng biết hai điều hại. Một điều lợi th́ đúng như ông đă nói: Khuyên mọi người thực hiện đạo hiếu, há chẳng phải là chuyện tốt đẹp ư? V́ thế nói là một điều lợi. Hai điều hại là ǵ? Một là người trọn chẳng tin Phật trông thấy [các kinh ấy], sẽ càng thêm báng bổ: “Lời Phật nói quê mùa dường ấy, các kinh khác [suy ra] cũng biết!” Bèn coi pháp bảo vô thượng rất sâu trong Đại Tạng cũng giống hệt như thế, càng tăng thêm tội khiên cho họ! Đấy là một điều hại. Hai là người trọn tin Phật, chỉ có tín tâm, chưa từng xem rộng nội điển, thấy lời đàm luận quê mùa trong đó, cũng sẽ khởi nghi. Do vậy, nói “kẻ báng Phật chưa chắc đă đều sai”, dấy động Hoặc chướng của họ. Đó là hai điều hại. Hại nhiều mà lợi ít! Huống hồ khuyên hiếu thảo đă có kinh Đại Phương Tiện Báo Ân và kinh Vu Lan Bồn, đủ mọi lời chân thật do đức Phật nói được lưu truyền trong thế gian, sao lại giữ lấy thứ ngụy tạo?

 

* Tu hành chẳng phải do xuất gia

 

          Xưa kia, tôi sắp xuất gia, có đạo sĩ bảo tôi: “Chẳng bắt buộc phải xuất gia, chỉ cốt sao có được một vị thầy tốt”. Khi đó, tâm tôi gấp gáp mong xuất gia, bỏ mặc lời ấy chẳng bàn đến. Sau khi xuất gia, nghĩ ông ta chú trọng kéo dài tuổi thọ, tu dưỡng sắc thân, được truyền dạy lưu lại thân h́nh sống lâu là đủ rồi, cần ǵ xuất gia? Kẻ làm tăng muốn phá Hoặc, chứng trí, trên là cầu Phật quả, dưới hóa độ chúng sanh, tức là cổ đức đều bỏ nhà, ĺa tục, làm sa-môn. Hơn nữa, kẻ có chí cầu kim đan đại đạo cũng cần phải xuất gia, tức là lời ông ta nói chưa đúng lư. Nay xem người hiện thời, có người trước khi xuất gia, khá có tín tâm, sau khi xuống tóc, khoác áo nhuộm, dần dần dính dáng duyên đời, trở thành thoái đọa, tức là đâm ra chẳng bằng tại gia phụng dưỡng cha mẹ, dạy dỗ con cháu, tôn một vị thầy tốt chỉ dạy, hướng dẫn chánh pháp, nương theo đó mà hành, làm đệ tử tại gia chân thật của Như Lai, cần ǵ giả danh A-luyện-nhă? Như vậy th́ lời ông ta nói cũng rất có lư, lại chớ nên không biết!

 

* Kế bất hủ

 

          Người đời đem thơ văn đă trước tác suốt một đời gom thành một tập, xin các vị nổi tiếng viết lời tựa và lời bạt, nói: “Lấy đó làm kế bất hủ”. Ôi! Cổ nhân ắt cũng là danh rền vũ trụ, rạng ngời nơi tai mắt mọi người th́ trước thuật của họ mới được truyền đến nay. Hạng kém hơn th́ sau khi đă mất, cùng cực là trong mấy chục năm, giấy mực có khi đem bịt ṿ, ván khắc có thể đem đốt ḷ, lẽ đâu bất hủ? Ắt cũng có kẻ khắc lên đỉnh, vạc, tạc trên bia đá, mấy trăm năm sau, chẳng thấy c̣n lại được mấy! Ngay như văn chương của Khổng Tử, điển mô huấn cáo của nhị đế, tam vương truyền tụng muôn đời chẳng bị khuất lấp, nhưng lúc tam tai dấy lên, đại địa, Tu Di, cung điện của chư thiên, thảy đều nát thành vi trần, trống rỗng như thái hư, c̣n đâu nữa mà bất hủ? Thật sự bất hủ là cái tâm bất sanh bất diệt đó chăng? Đấy chính là cái có trước trời đất, không có khởi đầu, sau trời đất mà không có kết thúc. Loan pháp sư (ngài Đàm Loan) nói: “Đấy chính là thuật trường sanh của đức Kim Tiên ta”. Tôi cũng nói: “Đấy là cái được gọi là bất hủ của đấng Đại Hùng”. Sao chẳng vứt bỏ những thứ đồ vật ắt hư nát trong cơi đời để cầu cái chánh tri kiến thật sự chẳng hư nát vậy? Chẳng dùng kế ấy, cứ nhọc nhằn cái tâm, th́ tức là tính kế cũng sơ sót quá!

 

* Con người chẳng nên ăn thịt chúng sanh

 

          Kinh dạy: Ngoa, cừu đẳng vật, giai bất ưng trước” (Các vật như giầy da, áo lông v.v… chớ nên dùng). Do hằng ngày khá gần gũi với các con vật nuôi. Đó là những thứ khoác bên ngoài, huống hồ ăn thịt bèn nhập vào trong thân ư? Người hiện thời coi chó, lợn, trâu, dê, ngỗng, vịt, cá, ba ba là thức ăn, trọn đời chẳng cảm thấy là sai, v́ sao? Thức ăn lọt vào dạ dày, tinh khí đầy tràn quy vào tỳ, chất cặn bă lọt vào ruột non, ruột già, mà chất tinh túy sẽ vun bồi tạng phủ, tăng trưởng gân, thịt. Do tích tụ lâu ngày, toàn thân đều là thân chó, lợn, trâu, dê, ngỗng, vịt, cá, ba ba. Cái thân do cha mẹ sanh ra nay biến thành loài khác rồi, đời sau sẽ như thế nào đây? Ngũ cốc[104] để dinh dưỡng, năm loại rau để bổ sung, năm loại quả để giúp, Nội Kinh[105] nói như thế đó. Con người ăn những thứ đó cũng đủ rồi, sao c̣n dùng thịt để ăn làm chi? Đó gọi là “con người chẳng nên ăn thịt”.

 

* Ba lượt cật vấn Tịnh Độ

 

          Một người hỏi: “Thích Ca Như Lai lấy ngón chân nhấn xuống đất, liền thành kim sắc thế giới. Đức Phật đă có thần lực như thế, sao không biến đổi cơi Sa Bà là chỗ đất, đá, các núi, dơ bẩn đầy dẫy lập tức thành cơi Cực Lạc trang nghiêm bằng bảy báu, mà cứ ắt phải dạy chúng sanh rong ruổi cơi Phật xa thẳm ngoài mười vạn ức?

Ôi! Phật chẳng thể độ kẻ vô duyên, ông có biết hay chăng? Tịnh duyên cảm Tịnh Độ; tâm chúng sanh bất tịnh, dẫu có Tịnh Độ, do đâu mà được sanh? Ví như do Thập Thiện mà sanh lên trời, tức là biến địa ngục thành thiên đường, c̣n chúng sanh thập ác, Như Lai duỗi cánh tay kim sắc lôi kéo, bọn họ trọn chẳng thể lên cơi ấy được! V́ vậy, thế giới kim sắc trong sát-na, đức Phật thâu nhiếp thần lực, vẫn là Sa Bà y hệt!

Lại có người hỏi: “Kinh dạy chí tâm niệm A Di Đà Phật một tiếng, diệt được trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử; đấy là luận theo Sự, hay luận theo Lư?” Ôi! Kinh dạy nhất xưng nam-mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo” (niệm nam-mô Phật một tiếng, đều đă thành Phật đạo). Lại nói “lễ Phật nhất bái, tùng kỳ túc chí kim cang tế, nhất trần nhất Chuyển Luân Vương vị” (lễ Phật một lạy, từ gót chân cho tới kim cang tế, cứ mỗi vi trần là một địa vị vua Chuyển Luân). Nay chẳng cần phải luận đó là Sự hay Lư, chỉ chú trọng hai chữ chí tâm”. Chỉ sợ tâm chẳng chí thành, đừng lo tội chẳng diệt! Sự như thế mà Lý cũng như thế. Lý như thế mà Sự cũng như thế, há đáng nghi ư?

Lại có một người hỏi: “Có một người suốt đời siêng ṛng niệm Phật, lâm chung một niệm lui sụt, hối hận, bèn chẳng được văng sanh. Có một người suốt đời tích chứa sự ác, lâm chung phát tâm niệm Phật, bèn được văng sanh. Sao người lành lại ngược ngạo chịu thiệt, c̣n kẻ ác đâm ra được lợi?” Ôi! Tích ác mà lâm chung chánh niệm, đó là một người trong ngàn vạn người. Nếu chẳng phải do thiện căn đời trước, lâm chung sẽ bị đau khổ bức bách, hôn mê, lầm loạn, sẽ do đâu mà có thể phát khởi chánh niệm? Người lành lâm chung thoái thất, hối hận, cũng là một người trong ngàn vạn người. Dẫu có đi nữa, ắt cũng là phường cả đời niệm Phật hời hợt, chẳng phải là siêng ṛng! Chuyên ṛng th́ tâm chẳng tạp loạn, siêng năng th́ tâm chẳng gián đoạn, sẽ do đâu mà sanh thoái thất, hối hận? Tức là kẻ ác hăy gấp nên tu tỉnh, đừng vọng tưởng lâm chung có sự may mắn ấy! Người chân tâm cầu Tịnh Độ chỉ tự càng thêm siêng ṛng, đừng lo lâm chung bị thoái thất, hối hận!

 

* Dùng hạt đậu để niệm Phật

 

          Tăng có người quyên mộ đậu nành từ thí chủ, cứ mỗi tiếng niệm Phật, là bốc ra một hạt đậu. Một người làm vậy, người khác bắt chước theo, gọi là “đậu nhi Phật sư phụ” (vị thầy dùng hạt đậu để niệm Phật). Đức Thế Tôn dạy người niệm Phật, chế ra xâu chuỗi, sao chẳng tuân theo chế định của Phật, chẳng làm chuyện đỡ tốn sức mà lại làm chuyện tốn sức này? Một trăm lẻ tám hạt, hết một ṿng lại khởi từ đầu, cho đến trăm, ngàn, vạn, ức vô tận. Nay dùng một hộp đậu, giáp ṿng trở lại từ đầu, cũng sẽ vô tận, cớ sao niệm qua một hạt đậu, bèn bỏ ra, chẳng dùng tới nữa, đổi sang một hạt mới? Người ấy nói: “Niệm từ đấu tới thạch[106], đưa sang các am, chùa để làm đậu phụ cúng đại chúngcũng là viễn vông. Hoặc nói: “Cổ nhân có người làm như thế, như trong Văng Sanh Tập đă chép”. Đáp: “Đấy chẳng phải là đếm đậu. Người bên cạnh tính đếm người ấy niệm Phật số nhiều chẳng thể tính, ước lượng sẽ đầy hai thuyền chở lương. Nay thuyền chở lương to có thể chở một ngàn thạch gạo. Hai thuyền tức là nói cực nhiều, chẳng phải là đếm đậu như người hiện thời thật sự đếm đậu. Dẫu thật sự đếm đậu, tâm họ cũng chẳng giống như người hiện thời”.

 

* Chân Cáo

 

          Đối với sách Chân Cáo[107], những điều khác chẳng luận, nhưng Tào Tháo mà được xếp cùng với các bậc thánh quân thời cổ như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang vào hàng thiên thần, tôi chẳng thể không nghi! Chắc có kẻ nói: Vua Diêm La vừa lên điện báu th́ thị vệ nghiêm ngặt đông đảo, vừa nuốt ḥn sắt th́ chi thể cháy tan, sao biết Tào Tháo chẳng sớm tại thiên đường mà tối trong địa ngục ư?” Chẳng phải vậy! Diêm vương lúc c̣n sống cũng tu phước, nhưng cũng tạo tội, cho nên quả báo như thế. Tào Tháo làm người toàn điều ác, chẳng có điều thiện, há có được tội phước song báo như Diêm vương? Hoặc c̣n có cách nói khác, nhưng ngu tôi không biết. Dựa theo lư để b́nh luận, nếu thật sự là như thế, sao có thể dùng ǵ để lạnh lẽo lá gan của lũ loạn thần tặc tử, cũng như răn nhắc lũ đại gian dối, hết sức giảo hoạt? [Người tin vào cách nói trong sách Chân Cáo] cũng thuộc loại trọn tin vào sách, chẳng bằng không có sách vậy!

 

* Hiện báo (1)

 

          Báo có ba loại: Một là đời này làm ác, thọ báo ngay trong đời này. Hai là đời này làm ác, thọ báo trong đời thứ hai (đời kế tiếp). Ba là đời này làm ác, đời thứ hai chưa báo, nhiều đời sau mới thọ báo. Làm lành cũng thế, báo nhanh hay chậm, mỗi việc đều có duyên và nhân; nhưng người đời thấy kẻ ác chẳng thọ báo, hoặc càng hưng thịnh hơn, bèn phẫn uất, bất b́nh, do chẳng biết tới cái thuyết ba đời.

Hai loại báo sau con người chẳng kịp thấy, chỉ coi trọng hiện báo. Nay tôi chỉ ghi lại chuyện hiện báo, chính mắt thấy, chứ không phải nghe kể. Một người hay đánh đập tôi tớ, hở ra là đập cả trăm roi. Một hôm, hắn cột cổ một đứa đầy tớ vào trụ bên Đông, cột chân vào trụ bên Tây, khiến cho kẻ đó không có cách nào giăy giụa, trừng phạt đau đớn chẳng ngừng. Cha hắn hết sức giận dữ, sấn đến tháo ra, căn dặn: “Ngươi đi nhanh đi, nếu nó tố cáo ngươi bỏ trốn, ta sẽ tố cáo nó ngỗ nghịch”. [Đầy tớ] liền được sống sót trở về. Về sau, hắn ta (gă đánh đập tôi tớ) cũng đem con ḿnh bán vào nhà người khác, c̣n tự ḿnh làm người giữ cửa cho bọn lư dịch.

Lại có một người b́nh sanh đánh đập người khác như quan phủ [tra khảo phạm nhân], về sau cũng bị quan phủ hành h́nh, chết trong tù ngục. Một người là vợ của một kẻ gia sản bậc trung, nhưng hoang phí khôn xiết. Về sau, con cái chết sạch, về già không ai nương cậy, phải đi may vá cho người khác để sống qua ngày. Một kẻ khác là con nhà quan quyền quư, kiêu ngạo, xa xỉ, buông lung, ăn chơi, phung phí chẳng biết hổ thẹn. Về sau, phải theo các du tăng khất thực, xin ăn khắp các phương. Một người hủy báng, chê trách thiên thần chẳng hề kiêng nể. Về sau, bị thôn dân đánh đập, mang bệnh mà chết. Một người rủa xả Như Lai và các vị hiền thánh, khiến cho mọi người đều chẳng nỡ nghe, bỗng chết rấp nơi đất khách, chẳng trở về được! Một kẻ giận mẹ chẳng giao lại tài sản, bẻ găy một cánh tay của tượng Quán Âm đại sĩ do mẹ đang thờ. Về sau, hắn cưỡi ngựa trên bờ hồ, ngă găy tay, gần chết. Lại có một người sanh được bảy gái, bảy trai. Hễ sanh con gái, con vừa lọt ḷng, mẹ liền nhấn nước giết chết. Bảy đứa con trai trước sau nối tiếp nhau cũng chết. Mười bốn đứa con vừa trai vừa gái, không đứa nào c̣n sống, chỉ có vợ chồng già đối diện nhau khóc ṛng mà thôi! Lại có mấy người xuất gia, ngă mạn tự cho là hiền, phàm người đương thời hễ có ngôn luận ǵ đều nhất loạt quở trách là sai bét, lại c̣n khinh miệt tiên triết, hư vọng hủy báng. Về sau, họ đều chẳng thọ, hoặc là bệnh ngặt mà chết. Chỉ ghi lại như thế để cảnh tỉnh kẻ cuồng ngạo.

 

* Hiện báo (2)

 

          Chắc là có người hỏi: “Như Lai thần lực chẳng thể nghĩ bàn, sao chẳng khiến cho kẻ ác hứng chịu ác báo trong hiện thời, khiến cho họ hằng ngày run sợ chẳng dám làm ác, người lành đều hưởng thiện báo trong hiện tại, hằng ngày sẽ càng gắng sức làm lành gấp bội. Như thế th́ không làm ǵ mà thiên hạ thái b́nh, lo ǵ chẳng đạt được?” Than ôi! Báo có nhanh hay chậm, do nghiệp báo của chúng sanh tự nhiên như thế, dẫu là bậc đại thánh cũng chẳng thể chuyển báo nhanh thành chậm, hoặc thúc chậm thành nhanh được. Chỉ đành ra rả răn bảo rằng “nhân quả chẳng hư huyễn, báo đền khó thay đổi được!” Kẻ nghe mà chẳng tin, cũng chẳng thể làm ǵ được. Hỏi: Ngài Vĩnh Gia nói: Liễu ngộ th́ nghiệp chướng vốn là không”, đă là không th́ nhân quả báo đền sao có?” Đáp: Nay ông đă liễu ngộ hay chưa? [Kẻ đó] trả lời: “Chưa liễu ngộ”. “Chưa liễu ngộ th́ phải đền trả nợ cũ”.

 

* Người niệm Phật chỉ cốt sao nhất tâm bất loạn

 

          Nếu hỏi: “Ngài Diệu Hỷ nói: ‘Kẻ ngu suốt ngày lần chuỗi cầu tịnh nghiệp’, niệm Phật quả thật là chuyện của kẻ ngu làm ư?” Ôi! Trước kia, tôi đă từng biện định rồi. Ngài Diệu Hỷ chỉ nói “người ngu suốt ngày lần chuỗi cầu Tịnh nghiệp”, chẳng nói “kẻ ngu suốt ngày nhất tâm bất loạn cầu tịnh nghiệp”! Lại hỏi: “Cổ đức có kệ rằng: ‘Thành Phật hiếm người niệm Phật nhiều, niệm đă lâu năm bèn thành ma. Ông nay muốn được dễ thành Phật, cái tâm vô niệm chẳng lo nhiều’. Cứ vô niệm mà niệm Phật, sao lại cứ dùng hữu niệm để niệm Phật?” Đáp: “Đấy là lời khuyên lơn, khơi gợi dành cho kẻ tán tâm niệm Phật mà chẳng quán tâm, chẳng nói nhất tâm bất loạn lâu năm bèn thành ma! Chưa từng niệm Phật mà đă lo trước hữu niệm, ví như kẻ đói muốn ăn, bèn lo trước bị no ph́nh bụng chẳng thể ăn nổi!”

Lại hỏi: “Lục Tổ nói: ‘Người phương Đông làm ác, niệm Phật cầu sanh phương Tây’. Ư chỉ như thế nào?” Đáp: “Lục Tổ nói người ác niệm Phật cầu sanh, chẳng nói thiện nhân niệm Phật nhất tâm bất loạn cầu sanh. Hơn nữa, kẻ ác ắt chẳng niệm Phật. Họ có niệm Phật th́ là hư ngụy, chẳng phải là thật sự niệm. Ví như [nói ví von] kẻ ác tu Thập Thiện cầu thiên đường, kẻ ác ắt chẳng tu Thập Thiện; có kẻ ác nào tu Thập Thiện th́ là hư ngụy, chẳng phải thật sự tu! Chưa từng có người lành nhất tâm niệm Phật mà chẳng sanh về Tây Phương”.

Lại hỏi: “Cổ đức nói ‘xả uế giữ tịnh là nghiệp sanh tử’, sao lại bỏ Sa Bà cầu Cực Lạc?” Đáp: “Họ nói xả uế giữ tịnh là nghiệp sanh tử, chẳng nói nhất tâm bất loạn giữ lấy Tịnh Độ là nghiệp sanh tử. Ông chưa bỏ uế, mà trước hết đă lo giữ lấy tịnh, giống hệt như kẻ trước đó đă lo hữu niệm vậy!”

Lại hỏi: “Thiền Tông nói ‘một chữ Phật, ta chẳng thích nghe’. Lại nói: ‘Phật đến cũng giết, ma đến cũng giết’, cớ ǵ niệm Phật?” Ôi! Họ nói “một chữ Phật ta chẳng thích nghe”, chẳng nói “nhất tâm bất loạn ta chẳng thích nghe”. Họ nói “Phật đến cũng giết, ma đến cũng giết”, chẳng nói “nhất tâm bất loạn đến cũng giết”. Quy về nguồn th́ chẳng hai, phương tiện có nhiều môn. Do vậy, về đến nhà th́ là một, thuyền và xe mỗi đằng mỗi đi. Dùng thuyền để cười xe, do xe mà cười thuyền, đều thành hư luận; lư ấy tự sáng tỏ, chẳng phiền rườm lời!

Lại hỏi: “Gần đây có người nói: Ta không niệm Phật, do trong là có cái tâm niệm, ngoài là có đức Phật được niệm, tức là Năng và Sở chưa mất, sao gọi là đạo cho được?” Ôi! Kẻ đó riêng coi giữ lấy sự trống vắng là đạo ư? Trong có cái tâm tĩnh, ngoài có cái cảnh bị tĩnh, cũng chẳng phải là Năng và Sở rành rành ư? Sao chẳng nói: Nhất tâm bất loạn th́ cái ǵ là Năng, cái ǵ là Sở, ǵ là trong, ǵ là ngoài? Tôi và ông đă tu Tịnh Độ, chỉ lo chẳng đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn. Nếu nhất tâm bất loạn, mặc kệ kẻ khác ngàn cách chê, vạn cách báng, sẽ ṿi vọi bất động như núi Thái, c̣n ngờ chi nữa?

 

* Tu phước

 

          Cổ nhân có nói kệ rằng: “Tu huệ, không tu phước. La Hán ứng cúng ít. Tu phước, không tu huệ; thân voi đeo anh lạc”. Có người chuyên chấp vào hai câu đầu, suốt ngày lo toan siêng năng quyên mộ, hóa duyên, nói “tôi tạo tượng Phật, tôi dựng điện thờ, tôi cúng trai tăng”. Đấy tuy đều là một môn trong vạn hạnh, nhưng có hai điều cần nói: Một là nhân quả chẳng thể không rơ ràng. Hai là chuyện của chính ḿnh chẳng thể không lo liệu trước! Chắc có người nói: “Nếu đúng như ông nói th́ tượng Phật hư nát, ai sẽ tu bổ? Tháp, chùa hư sụp, ai sẽ tạo lập? Tăng chết đói trên đường chẳng có ăn, ai sẽ cứu giúp? Ai nấy chỉ lo chuyện của ḿnh, Tam Bảo sẽ thành hoang vu!”

Đáp: - Chẳng phải vậy! Chỉ lo Nhất Thể Tam Bảo hoang vu thôi! Chứ thế gian Tam Bảo kể từ khi Phật pháp truyền nhập Trung Hoa tới nay, người tạo tượng Phật, dựng điện đường, trai tăng, không lúc nào ngớt, chỗ nào cũng đều mong ngóng, cần ǵ phiền ông riêng lo nghĩ quá mức? Tôi chỉ riêng cảm khái Tăng lo toan các chuyện mà mê muội nhân quả, chẳng sợ tội phước, ắt sẽ giảm bớt thường trụ, cất giấu của tín thí chẳng màng! Dẫu cho vị Tăng giữ phận, nhưng chưa am hiểu Luật học, chỉ biết ta chẳng lén nhập riêng [của thường trụ] thành của chính ḿnh là được rồi, bèn dời Đông sang Tây, lấy đằng này bù đắp đằng kia, hoặc là dùng để trả nợ gấp, hoặc đem biếu tặng kẻ tục gia. Chẳng biết [không thể] đem tiền mua gạch để mua ngói, đem tiền mua thực phẩm của Tăng để kiến tạo điện đường, oan uổng siêng khổ mà trở thành ác báo, tức là thiên đường chưa tới, địa ngục đă thành trước. Đó gọi là “chẳng có công mà mắc họa”. Trung Phong đại sư giáo huấn đại chúng rằng: “Nhất tâm vạn hạnh làm gốc, muôn hạnh có thể theo sau”, tức là nói chuyện của chính ḿnh phải lo liệu trước! Chuyện của chính ḿnh đă lo liệu xong, bèn làm phước, việc làm sẽ tự nhiên đạt được. Lời ấy chí lư thay! Người làm tăng hăy nên ghi tạc ḷng dạ vậy!

 

* Thử thách để xét nghiệm

 

          Cơi đời truyền tụng Chung Ly chân nhân (Chung Ly Quyền) tới chỗ Lữ Động Tân, thử thách mười lần rồi mới truyền dạy đạo tiên. Ghi đại lược mấy chuyện: Thoạt đầu dùng tài vật để thử, kế đó dùng sắc để thử, kế đó dùng thân mạng để thử. Đấy là những chuyện mà người thực hành pháp thế gian vẫn có thể làm được. Lại c̣n một chân nhân cần phải trải qua quá tŕnh luyện dược (tu luyện nội đan) [để đắc đạo], nhiều lượt biến hiện điều lạ, đích xác là kiên tŕ, tới khi đứa con thơ rơi xuống đất kêu thất thanh, [vị chân nhân ấy] bèn thất bại. Nhưng đấy vẫn là chuyện người vong t́nh trong thế gian có thể làm được!

Xưa kia, đức Thế Tôn làm Bồ Tát, có Bà-la-môn xin vợ chồng cả hai người làm nô bộc. Khi đó, đức Thế Tôn thân làm Thái Tử liền cùng với vương phi, nam th́ nhập vào bọn đầy tớ nam, nữ th́ nhập vào bọn đầy tớ nữ, tận tụy trung thành kiệt lực, đủ mọi nỗi nhọc nhằn, vất vả mà chẳng oán. Ngài lại c̣n cắt thịt nơi thân để đền cho chim ưng, khoét thân [thành nhiều lỗ để] thắp ngàn ngọn đèn ḥng cầu pháp, tức là không chỉ khó khăn đối với người trong thế gian, đấy cũng là những điều hàng sơ phát tâm Bồ Tát chẳng thể sánh kịp! Do vậy, ngài Xá Lợi Phất gặp kẻ xin mắt, liền thoái Đại trở về Tiểu. Bồ Tát đạo khó thành như thế đó.

Hiện thời, đối với các thử thách của Lữ Động Tân, mười trường hợp cả mười đều thua bại, huống hồ làm nô bộc, huống hồ cắt thịt, khoét mắt, các khổ hạnh ư? Than ôi! Đấy là cảnh giới của bậc đắc nhẫn đại sĩ, hạ phàm có thể mong ngóng ư? Chỉ là chẳng thể không dùng những chuyện ấy để khích lệ phàm tâm vậy!

 

* Lục quần tăng

 

          Lục quần tăng[108] bị Như Lai quở trách, bị các đại đệ tử xem thường, nhưng những vị được cổ nhân gọi là Lục Quần thời đức Phật, vẫn hiền hơn các vị Bồ Tát như Mă Minh, Long Thọ sau khi đức Phật nhập diệt, đó là như thế nào vậy? Than ôi! “Phu tử thường Trọng Do, công Nhiễm Hữu, tiểu nhân Phàn Tu, cụ thần Do chi dữ Cầu hỹ” (Khổng Tử từng chê Trọng Do (Tử Lộ) chẳng thông đạt quyền biến, chỉ trích Nhiễm Hữu [phù tá quyền thần Quư Khang tom góp tài sản], chê Phàn Tu chẳng có chí hướng to lớn [v́ chỉ thích học trồng trọt, không học đạo đức nhân nghĩa]. [Nhưng khi có người hỏi về tư cách và tài năng th́ Ngài nói] xứng đáng làm bầy tôi giỏi giang chỉ có Trọng Do và Nhiễm Cầu). Những người ấy trong hiện thời đều được coi là cầm đầu hiền đức trác tuyệt hiếm có trong cơi đời. Những vị tể phụ lừng danh thời cổ như Tiêu Hà, Tào Tham, Cung Toại, Hoàng Bá, Pḥng Nguyên Linh, Đỗ Như Hối, Diêu Sùng, Tống Lương, Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yêm, Phú Bật, Âu Dương Tu chưa chắc có thể sánh bằng! Sao lại ngờ Lục Quần? Do vậy biết: Năm trăm năm đầu tiên, năm trăm năm kế đó, lần lượt kế đó, sau năm trăm năm giải thoát cho đến đấu tránh lâu dần, ĺa xa dần, càng ngày càng đi xuống. [Sách Hoài Nam Tử viết]: “Vũ gia[109], phượng hoàng, rồi đến chim thường”, chẳng phải là lời hư dối, sao chẳng than thở ba lượt? Tuy vậy, Tử Dư Thị nói: Hào kiệt chi sĩ, tuy vô Văn Vương do hưng” (Bậc hào kiệt tuy chẳng có Văn Vương vẫn hưng khởi). Nếu đúng như lời ấy, chúng sanh hết sức may mắn, tôi cũng hằng ngày mong mỏi.

 

* Sự rèn luyện của tăng sĩ học kinh tạng

 

          Một Nho sĩ nói với tôi: “Chúng tôi ôm tráp theo học, ắt phải có thúc tu[110] dâng thầy, lại c̣n phải nộp gạo làm học phí để giúp đỡ chủ nhân. Nay tăng sĩ học kinh tạng đă được xem kinh điển của thường trụ, chẳng hề giúp đỡ thường trụ, ngồi yên hưởng cúng dường. Lại c̣n mỗi quư được biếu tặng năm đồng, chuyện này giải thích như thế nào?” Tôi cười đáp: - Ông vẫn chưa biết chuyện trong thời kỳ rèn luyện phải không? Trong kỳ hạn mùa Đông, trước tiên phải lo liệu một thạch gạo cho thường trụ, ngày đêm bị thúc ép niệm Phật, không lúc nào nghỉ ngơi. Mỗi ngày vẫn phải vác củi, có khi [phải đẵn củi] xa ngoài mười mấy dặm, [trừ phi] đả thất th́ mới được tạm miễn; sao chẳng dời sự cúng dường cho vị tăng học kinh tạng sang cúng dường những hành nhân khổ công tu đạo ấy? Tăng hiện thời điên đảo tới mức như thế đó, chỗ nào cũng đều là như vậy, tôi cũng chẳng biết nói như thế nào nữa!

 

* Mộng thế gian

 

          Cổ nhân nói “xử thế nhược đại mộng” (ở trong cơi đời như giấc mộng lớn), kinh dạy “khước lai quán thế gian, do như mộng trung sự” (trước nay nh́n thế gian, như chuyện trong giấc mộng). Dù nói là “nhược” hay “như”, đều là bất đắc dĩ nói thí dụ đó thôi. Xét cùng cực để nói, sẽ là giấc mộng thật sự, chẳng phải là thí dụ. Đời người từ trẻ đến tráng niên, từ tráng niên đến già, từ già đến chết, khoảnh khắc này vào một bào thai, khoảnh khắc sau lại thoát khỏi một bào thai, khoảnh khắc lại nhập rồi lại xuất, chẳng có cùng tận! Sanh chẳng biết từ đâu đến, chết chẳng biết đi về đâu, mờ mờ, mịt mịt, ngàn đời vạn kiếp mà chẳng tự biết. Chốc lát ch́m vào địa ngục, chốc lát làm quỷ, làm súc sanh, làm người, làm trời, thăng rồi trầm, trầm rồi thăng, lo sợ chẳng an ổn, hoảng hốt, vội vàng, ngàn đời vạn kiếp chẳng tự biết, chẳng phải là giấc mộng thật sự ư?

Cổ thi có câu: “Chẩm thượng phiến thời Xuân mộng trung, hành tận Giang Nam sổ thiên lư” (Một thoáng mộng Xuân trên chiếc gối, đi khắp Giang Nam mấy dặm ngàn). Nay những kẻ bị lợi danh lôi kéo, qua lại mấy vạn dặm, há chẳng giống như đang ngả đầu trên gối ư? Do vậy biết: Trang sanh (Trang Châu) mộng thấy hóa bướm, khi chưa mộng thấy bướm th́ cũng là mộng. Phu tử mộng thấy Châu Công, khi chưa mộng thấy Châu Công vẫn là mộng. Từ bao nhiêu đại kiếp đến nay, chẳng một thời, một khắc nào mà không ở trong mộng. Phá sạch vô minh, đại giác rạng ngời, nói: “Thiên thượng, thiên hạ duy ngă độc tôn” (trên trời, dưới trời, chỉ có Ngă (Phật Tánh Pháp Thân) là tôn quư nhất). Đó là nói về người đă tỉnh mộng.

 

* Tánh, tướng

 

          Tương truyền sau khi đức Phật diệt độ, người học thuộc hai tông Tánh và Tướng đều chấp kiến giải của chính ḿnh, đến nỗi chia sông uống nước. Tranh chấp như thế, ai đúng, ai sai vậy? Đáp: Chỉ cần chấp th́ đều là sai, không chấp th́ đều là đúng. Tánh là ǵ? Tánh của tướng. Tướng là ǵ? Tướng của tánh, chẳng phải rạch ṛi tách thành hai. Ví như trong một thân, thân là chủ, mà có tai, mắt, miệng, mũi, tạng phủ, trăm lóng xương đều là thân. Cái thân là thân của tai, mắt v.v… Tai, mắt v.v… là tai, mắt v.v… nơi thân! Ví như một căn nhà, nhà là chủ, mà có kèo, xà, rường, cột, tường vây, vách ngăn, cửa cái, cửa sổ v.v… đều là nhà. Cái nhà ấy là nhà của kèo, xà v.v… Kèo, xà v.v… là kèo, xà v.v… của cái nhà, há có thể tách rạch ṛi thành hai được chăng? Không chỉ chẳng nên tranh, mà cũng chẳng thể tranh được!

Nếu nói: “Ngài Vĩnh Gia nói ‘vào biển đếm cát tự khốn đốn’, lại nói ‘vặt lá t́m cành, ta chẳng thể!’ tợ hồ Tánh, chẳng phải là Tướng?” Đáp: Ngài Vĩnh Gia chẳng hề có đúng hay sai. Tánh là gốc, mà Tướng là ngọn. V́ thế nói: “Chỉ được cái gốc, chẳng lo cái ngọn”. Chưa hề nói “có thể bỏ ngọn!” Do đó, nói lệch về Tánh th́ không được, mà nói lệch về Tướng càng chẳng được. Nói lệch về Tánh th́ gấp nơi gốc mà hoăn nơi ngọn, vẫn là có thể trong cái chẳng thể”. Chú trọng cành lá mà đánh mất cội nguồn th́ là cái chẳng thể trong cái chẳng thể!

 

* Đại Giám, Đại Thông (1)

 

Thiền sư Đại Giám Huệ Năng được cơi đời gọi là Nam Tông, thiền sư Đại Thông Thần Tú được cơi đời gọi là Bắc Tông. Nhưng y bát của tổ Hoàng Mai không giao phó cho Đại Thông “luôn luôn siêng năng chùi”, mà riêng giao phó cho Đại Giám “vốn chẳng có một vật”, cớ sao sách Tông Kính Lục nói “Đại Giám chỉ có một mắt, c̣n Đại Thông hai mắt viên minh?” Nếu đúng là như thế, v́ sao chẳng được truyền y bát? Tào Khê đích thân kế tục Hoàng Mai, xa là thừa tiếp Đạt Ma, lại c̣n thừa tiếp xa hơn là Ca Diếp, lại c̣n thừa tiếp xa hơn nữa là Phật Thích Ca. Vĩnh Minh được truyền đạo bởi Thiên Thai Thiều quốc sư, nêu ra cách nói ấy là v́ lẽ nào? Chắc là cách nói tùy thời cứu chữa thói tệ.

Người xưa nói từ đời Tấn, Tống cho đến nay, đua nhau coi Thiền Quán là cao, chẳng c̣n biết tông chỉ “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. V́ thế, Sơ Tổ từ phương Tây sang [nêu rơ tông chỉ ấy]. Cho đến thời ngài Vĩnh Minh, [người tu Thiền] lại cho rằng “hễ ngộ là xong”. Do đó, sách Tông Kính Lục và Vạn Thiện Đồng Quy cực lực tán thán sự tu tŕ, tợ hồ Nam Tông chuyên nơi đốn ngộ, c̣n Bắc Tông đốn ngộ tiệm tu, trí hạnh cùng đủ. V́ thế, có thí dụ “một mắt” và “hai mắt”. Riêng Vạn Tùng lăo nhân[111] dũng mănh viết rằng: “Một con mắt ấy chính là nói khắp đại địa đều là sa-môn một mắt, tức là nói đă nắm vững con mắt càn khôn, chính là kim cang nhăn nơi đỉnh đầu”. Nếu là kẻ mới học, thấy nông cạn, chấp vào điều được nói trong Tông Kính Lục, hiểu đó là thật pháp, th́ Đại Giám chỉ là Không Đế, c̣n Đại Thông mới là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế, có được hay chăng?

Có người nói: “Tào Khê là sáu đời truyền y, cả cơi đời không ai chẳng biết, nhưng trong lúc ấy, cớ sao chỉ thấy [Thần Tú là] pháp chủ của hai kinh đô (Lạc Dương và Trường An), thầy dạy của hai vua (Đường Trung Tông và Duệ Tông). Bắc Tông lừng lẫy trong thiên hạ, chẳng nhắc đến Tào Khê lại là v́ sao?” Đáp: Tào Khê đă lănh ấn chứng, được thọ kư, giấu kín y bát làm người giữ lưới trong đám thợ săn, ẩn náu bản lănh suốt mười tám năm. Đạo của Đại Thông thịnh hành, tên tuổi của Tào Khê chưa hiển lộ. Đợi cho tới khi [ngài Tào Khê] đáp lời nghi vấn về gió và phan, sau đấy đạo mới lưu truyền muôn đời. Tào Khê là “tiềm long thâm uyên” (rồng ẩn trong vực sâu), chẳng tự khoe khoang. Đại Thông là “kiến long tại điền” (rồng hiện trong ruộng), chẳng tự coi là trọn đủ, mà nói: “Ông ta đích thân được truyền y bát của thầy tôi”. Đấy là thiện tri thức đối xử với nhau để có thành tựu như thế ấy.

 

* Đại Giám, Đại Thông (2)

 

          Tôi lại nghĩ Tông Môn thường xem xét chuyện hứa khả, đè nén hay đề cao, cho hay đoạt đều vượt khuôn khổ, siêu t́nh kiến, chẳng thể dùng lẽ đúng sai trong pháp thế gian để luận định. Thạch Củng[112] [sau khi] được truyền dạy, bèn nói: “Ba mươi năm giương cung, chỉ bắn được một nửa thánh nhân”. “Tào Khê một con mắt” là nói đến một nửa thánh nhân. Trung Phong miêu tả bài Chân Cầu Tán của Cao Phong bằng lời tán như sau: “Ngă tướng chẳng nghĩ bàn. Phật, tổ chẳng thể thấy. Riêng nhận kẻ bất tiếu, thấy được nửa bên mũi” “Tào Khê một mắt” tức là nói đến “nửa bên mũi” vậy. Phổ Hóa[113] đến chỗ Lâm Tế, nói: “Cô dâu mới Hà Dương. Thiền bà già Mộc Tháp. Thằng oắt con Lâm Tế, trọn chỉ có một mắt”. Một con mắt của Tào Khê chính là một con mắt của Lâm Tế vậy!

 

* Dùng tiền làm trai tăng để tạo tăng đường

 

          Có người nói rằng: “Lương thực của Tăng là thức ăn của Tăng, tăng đường là nơi tăng ở. Hai thứ chỗ ở và lương thực đều do Tăng thọ dụng, cớ sao dùng tiền làm trai tăng để kiến tạo tăng đường sẽ mắc báo đeo gông lửa?” Nghĩa này có hai: Một là gạo, thóc, rau, dưa được con người dùng để cứu đói; kèo, rường, tường, vách có cứu đói được hay không? Tức là vật loại chẳng tương ứng. Hai là thí chủ làm trai, nay ông [dùng tiền đó] làm nhà. Tiền để mua gạch đem mua ngói, trái nghịch tâm tín thí, tức là nhân quả chẳng tương ứng.

Nếu nói: “Dùng món tiền quyên mộ khác để làm trai tăng có thể sửa lỗi hay không?” “Người khác làm trai tăng, người đó tự có phước, liên quan ǵ tới người trước?” “Như vậy th́ làm như thế nào mới nên?” “Bớt tiền xây tăng đường đúng số để làm trai tăng. Nếu gông lửa diệt, ắt sẽ có điềm báo rơ ràng”. Lại hỏi: “Tiền để tạo tượng Phật đem làm Phật điện, có được hay không?” Đáp: “Chẳng thể! Rường đẹp như vẽ, cột chạm trổ có thể coi như là tướng hảo, quang minh của Như Lai hay không?” “Tiền tạo kinh đem làm tủ đựng kinh, nói chung đều là cúng dường kinh, có được hay không?” Đáp: “Chẳng thể! Túi gấm, tủ báu có thể coi là lời ngọc từ miệng vàng của Như Lai được hay chăng?” “Như thế cho đến tiền phóng sanh đem mua hồ, ao, nói chung là giúp vật, lợi sanh, có được hay không?” Đáp: “Chẳng thể! Ao trống, đầm hoang ngàn khoảnh mênh mông, có thể cứu trăm ngàn vạn ức sanh linh không được cứu vớt sắp vào chảo, vạc, sắp lên đao, thớt hay không? Huống hồ dời chuyển, biến đổi làm sai lạc nhân quả ư? Lại có người nói: Tạo tượng Phật mà dư tiền có thể dùng làm vật dụng để thờ phụng trước Phật hay không? Chuyện này trong luật có kinh văn cho phép rơ ràng, chứ những chuyện làm phước khác th́ chẳng có. Hăy cẩn thận, đừng buông lung theo ư ḿnh, đâm ra chuốc lấy nghiệp báo!

 

* Phép Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm

 

          Hỏi: Kinh Lăng Nghiêm chỉ chọn phép viên thông nơi nhĩ căn, pháp môn Niệm Phật chưa từng được chọn. Sao đời sau chẳng tuân theo thánh ngữ, khắp thiên hạ phần nhiều niệm Phật vậy?

Đáp rằng: Trong Di Đà Sớ Sao đă có biện định tường tận, nhưng mối nghi và câu hỏi này có quan hệ chẳng nhỏ, chẳng ngại phiền nhắc lại, sẽ v́ ông nói tường tận! Ông quả thật là người trong Sa Bà, chỉ biết có Sa Bà mà thôi, sao chẳng nghĩ ngoài Sa Bà, có vô lượng vô biên bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới? Nhĩ Căn là tương ứng với căn cơ của chúng sanh trong thế giới Sa Bà, c̣n Niệm Phật tương ứng với căn cơ của chúng sanh xuyên suốt bất khả thuyết bất khả thuyết thế giới. Nhĩ Căn Viên Thông là pháp viên thông của một phương thế giới, c̣n Niệm Phật Viên Thông là pháp viên thông của mười phương thế giới. Đức Phật xuất hiện trong Sa Bà, đành chỉ dạy giáo pháp thích đáng cho Sa Bà. Do vậy nói: “Thử phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn” (Chân giáo thể phương này, thanh tịnh nơi nghe tiếng), chẳng nói [đó là] chân giáo thể của mười phương.

Ví như hiện thời, trong trăm ngàn quận ấp khắp nước, sĩ tử học tập hoặc là tại một phương phần nhiều học kinh Dịch, hoặc tại một phương nhiều người học kinh Thi, hoặc một phương nhiều người học kinh Thư. Xuân Thu, Lễ Kư cũng giống như thế. Gộp chung lại để luận, trong cả nước, người học nhiều nhất là Châu Dịch. Châu Dịch là nói đến pháp môn Niệm Phật. Hơn nữa, trăm ngàn quận ấp, tùy theo đất đai thích hợp, khu rẫy bái ngoài thành phần nhiều trồng thóc lúa. Nơi núi rừng phần nhiều trồng cây ăn trái. Nơi sông biển, phần nhiều bán cá, muối, lụa, vải, châu ngọc, cũng lại như thế. Luận định chung, khắp nước nhiều nhất là trồng lúa tẻ, nếp, đậu nành, kê. Lúa tẻ, nếp, đậu nành, kê là nói tới pháp môn Niệm Phật. Ông sống trong Sa Bà, tự tu NCăn, ai ngăn cản được; nhưng đừng nên chấp nhận pháp này, phủ nhận pháp khác. Nếu như chấp Nhĩ Căn mà muốn quét sạch Niệm Phật, tức là giống như sĩ tử do học các kinh khác bèn muốn quét sạch Châu Dịch, thương nhân buôn bán các vật khác muốn quét sạch thóc, kê, có lẽ ấy hay chăng?

 

* Thiên thuyết (1)

 

          Một vị lăo túc nói: “Có người ở nước khác theo Thiên Chúa giáo, sao ông chẳng biện định?” Tôi cho rằng người theo giáo ấy kính trời, đó là thiện sự, sao lại phải biện định? Vị lăo túc nói: “Họ muốn dùng giáo ấy để thay đổi phong tục. Lại c̣n hủy Phật, báng pháp. Hiền sĩ, lương hữu nhiều người tuân phụng giáo ấy”. Do vậy, lấy sách ra cho tôi xem, tôi bèn biện định đại lược một hai điều:

Bọn họ tuy sùng tín, thờ phụng Thiên Chúa, nhưng cách nói về trời chưa am tường. Nay dùng kinh để làm chứng, Thiên Chúa như họ nói chính là Đao Lợi thiên vương. [Đao Lợi thiên vương] là chúa tể của Tam Thập Tam Thiên trong một tứ thiên hạ. Gom một ngàn tứ thiên hạ lại th́ gọi là tiểu thiên thế giới, tức là có một ngàn vị Thiên Chúa! Lại do một ngàn tiểu thiên thế giới mà gọi là một trung thiên thế giới, tức là có trăm vạn Thiên Chúa. Lại từ một trung thiên thế giới gom đủ một ngàn, bèn gọi là đại thiên thế giới, tức là có vạn ức Thiên Chúa. Người thống lănh tam thiên đại thiên thế giới là Đại Phạm Vương, ông ta được gọi là Thiên Chúa tối tôn vô thượng.

Xem ra, Phạm Vương đại lược giống như thiên tử nhà Châu cai quản một ngàn tám trăm chư hầu. Bọn họ chỉ biết một vị trong vạn ức vị Thiên Chúa, chứ chư thiên khác trong Dục Giới đều chẳng biết. Lại cao hơn nữa là chư thiên Sắc Giới, cao hơn nữa là chư thiên Vô Sắc Giới, họ đều chẳng biết. Họ lại nói Thiên Chúa vô h́nh, vô sắc, vô thanh, tức cái được gọi là Thiên chỉ là Lư mà thôi, dùng ǵ để thống ngự thần dân, thực thi chánh lệnh, ban thưởng, trừng phạt? Họ tuy thông huệ, nhưng chưa đọc kinh Phật, chẳng trách lập ngôn sai lầm! Các sĩ hữu tín phụng trong hiện tiền đều là bậc chánh nhân quân tử, gương mẫu một thuở, được mọi người ngưỡng mộ, ủng hộ hay phản đối, tôi há nên tránh né tỵ hiềm trái tai mà chẳng dốc hết ḷng trung thưa tŕnh ư? Chỉ mong bậc cao minh rủ ḷng chọn nghe lời quê kệch để xem xét tỏ tường!

 

* Thiên thuyết (2)

         

          Lại hỏi: “Họ nói kinh Phạm Vơng nói nhất thiết hữu sanh, giai túc sanh phụ mẫu, sát nhi thực chi, tức sát ngô phụ mẫu’ (hết thảy những ǵ có sanh mạng đều là cha mẹ trong đời trước, giết chúng để ăn tức là giết cha mẹ của ta). Như thế th́ con người cũng không được cưới gả, v́ thê thiếp đều là cha mẹ của ta. Con người cũng không được thuê tôi tớ, v́ đó là sai bảo cha mẹ của ta. Con người cũng không được cưỡi lừa, ngựa, v́ chính là cưỡi cha mẹ của ta. Kẻ sĩ, tăng nhân chẳng thể đáp, phải [đáp] như thế nào?”

Tôi nói: - Phạm Vơng chỉ răn kiêng sát sanh sâu xa, cho nên thốt lời luận định ấy. Ư là nói từ hằng hà sa kiếp đến nay, đời đời thọ sanh, đời đời ắt có cha mẹ, đâu biết [con vật] nào chẳng phải là cha mẹ trong đời trước? Đó là v́ sợ [con vật bị giết] có thể là cha mẹ của ḿnh, chẳng nhất quyết đấy ắt là cha mẹ của chính ḿnh. Nếu do từ mà hại ư, dùng một trường hợp để khái quát cả trăm, th́ Nho cũng có. Lễ Kư cấm cùng họ lấy nhau; do đó mua thiếp mà không biết họ, bèn coi bói. Sách ấy nói: “Bốc nhi phi đồng tánh dă, tắc hôn chi cố vô hại” (bói mà không cùng họ th́ hôn nhân cố nhiên vô hại). Ở đây cũng nói: “Cưới vợ mà không biết là cha mẹ hay chẳng phải là cha mẹ th́ coi bói. Coi bói thấy chẳng phải là cha mẹ th́ cưới cũng vô hại”.

Lễ Kư nói: “Bội niên dĩ trưởng, tắc phụ sự chi” (người lớn gấp đôi tuổi ḿnh th́ coi như cha để phụng sự). Nay người trẻ tuổi làm quan th́ có hạn chế ǵ? Kẻ khiêng kiệu, dẫn xe, căng lọng, cầm kích, ắt phải là lũ trẻ th́ mới được, chứ có người lớn tuổi trong số đó th́ tức là dùng cha mẹ làm lính hầu ư? Như những chuyện ấy có thể áp dụng chẳng trở ngại, sao riêng lời đức Phật nói lại chẳng thể áp dụng ư? Phàm nam nữ cưới gả, cho đến ngựa xe, tôi tớ, đều là thường pháp trong thế gian, chẳng thảm độc như sát sanh. V́ thế, kinh chỉ nói “chẳng được giết những thứ có sanh mạng”, chưa hề nói “đối với hết thảy những thứ có sanh mạng, chẳng được cưới hỏi, chẳng được sai khiến”. Lập ra lời vấn nạn như thế chính là bày ra tṛ khôn vặt để bàn luận cong vẹo, nhằm phá giáo huấn rơ ràng của đại đạo, há có được chăng?

Hơn nữa, sách ấy bịa đặt lời lẽ chẳng có căn cứ, chẳng dễ nêu trọn. Như nói linh hồn của người chết thường tồn tại, chẳng có luân hồi. Linh hồn đă thường tồn tại, sao vua Vũ, vua Thang, Văn Vương, Vũ Vương chẳng răn nhắc bọn Kiệt, Trụ, Châu U Vương, Châu Lệ Vương ư? Các vị vua thời Tiên Tần, hai nhà Hán, Đường, Tống sao không nhất trí trừng phạt bọn Lư Tư, Triệu Cao, Vương Măng, Tào Tháo, Lư Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, Tần Cối, Sái Kinh. Đă chẳng có luân hồi, cớ sao Thúc Tử[114] có thể biết đời trước thác sanh làm con của gia đ́nh nọ? Sao Tŕnh Minh Đạo (Tŕnh Di) có thể nhớ đời trước giấu cái thoa của mẹ? Công Ngưu Ai hóa cọp, Đặng Ngải làm trâu[115], những điều giống như thế được chép rơ ràng trong sách Nho, chẳng phải là trường hợp cá biệt. Bọn họ đều chưa biết, chẳng trách nói năng lầm loạn!

 

* Thiên thuyết (3)

         

          Hơn nữa, lễ Nam Giao nhằm tế Thượng Đế, là chế định của vua, tức là khâm kính trời thẳm, là sùng kính đạo trời, là cần mẫn phụng sự thượng đế, tức là thượng đế cùng tồn tại với ngươi. Sở dĩ nhị đế, tam vương do tuân theo phép trời mà đạt tới ngôi vị cao tột. Nói là “tri thiên, úy thiên, luật thiên, tắc thiên, phú quư tại thiên, tri ngă kỳ thiên, thiên sanh đức ư dư, hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dă” (biết trời, sợ trời, vâng theo luật trời, noi theo phép tắc của trời, phú quư bởi trời, nói trời biết ḷng ta, nói thiên sanh đức nơi ta, nói mắc tội với trời chẳng thể cầu đảo được). Người tuân thủ chế định của vua, tổng hợp hoàn bị [giáo huấn của] ngàn vị thánh chính là Phu Tử. Ngài nói sợ trời, vui theo mệnh trời, biết trời, thờ trời. Bậc thánh nhân kém hơn phu tử là Mạnh Tử. [Các vị ấy] nói về trời có ǵ chẳng trọn, cần ǵ phải đợi họ sáng lập thuyết mới. Những điều trần thuật trên đây, nếu cho là chẳng đúng, xin hăy thưa tŕnh lên Thiên Chúa. Nếu tôi mang ḷng đố kỵ, lập thuyết ngụy dị, ngăn trở, phá hoại vương giáo của họ, th́ Thiên Chúa oai linh chiếu soi thấu suốt, sẽ khiến cho thiên thần hung tợn giáng hạ trừng trị để tỏ rơ sức trừng phạt của trời!

 

* Triệu Định Vũ làm Diêm Vương

 

          Quan Thiếu Trủng Tể[116] Triệu Định Vũ cùng tuổi với tuần phủ Vân Nam là Trần Ngọc Đài. Ngày Rằm tháng Ba năm Bính Thân (1596) đời Vạn Lịch, ông từ trần; khi đó, Ngọc Đài c̣n đang tại chức. Do vợ [ông Ngọc Đài] bị bệnh, bèn cầu đồng thỉnh thần. Thần phán số [bà ta] phải chết, do vậy; [Ngọc Đài] khẩn cầu cứu giúp. Thần nói Ngũ Điện Diêm Quân vừa mới nhậm chức, là người cương trực, chánh đáng, chẳng thể tư túi, không cách nào làm ǵ được! Hỏi: “Vị mới nhậm chức là ai?” Đáp: “Là ông Triệu ở Thường Thục”. Chẳng mấy chốc, tin cáo phó truyền tới, nhiệm kỳ khớp với kỳ hạn trong cáo phó. Ông Trần hết sức kinh dị.

Có người nói: “Diêm Vương mang theo phước lẫn nghiệp mà làm. Định Vũ là bậc đức dày, cũng có nghiệp ư?” Ôi! Địa Tạng Bồ Tát nói: “Ngă quán Diêm Phù Đề chúng sanh, cử túc, động bộ, vô phi thị tội” (tôi thấy chúng sanh Diêm Phù Đề, giở chân, cất bước, không ǵ chẳng là tội), sao không có lỗi? Xưa kia, nghe nói có một vị tăng gặp lệnh phù cơi trời tuyên triệu làm Diêm Vương. Vị Tăng sợ hăi, khởi đại tinh tấn, nhất tâm nghĩ tới đạo, sứ giả cầm lệnh phù liền biến mất. Than ôi! Cổ nhân nói Hàn Cầm Hổ sống làm Thượng Trụ Quốc, chết làm vua Diêm La. Lại nữa, cận đại nghe nói quan tư khấu[117] Trịnh Đạm Tuyền chết làm Diêm Vương, ông Chu là Thái Thú đất Hàng chết làm thành hoàng. Đó là chuyện thường. Cổ đức có nói: “Tăng tuy có hạnh, nhưng chẳng liễu đạo, phần nhiều làm các thần trên mặt đất hay dưới nước”, há phải nói chơi ư?

 

* Đệ tử để tang cho thầy

 

          Nói về chuyện này, có ba thứ: Một là Lục Tổ Đàn Kinh, hai là sách Thích Thị Yếu Lăm[118], ba là Bách Trượng Thanh Quy. Ba sách sai khác, nay biện định như sau:

Một là Đàn Kinh nói: “[Lục Tổ căn dặn]: Sau khi ta diệt độ, đừng làm theo t́nh đời, buồn khóc, tuôn lệ, tiếp nhận người khác phúng điếu, hỏi han, thân mặc tang phục, [làm như thế] chẳng phải là đệ tử của ta, mà cũng chẳng phải là chánh pháp”.

Hai là sách Thích Thị Yếu Lăm nói: “Khảo cứu các kinh như Niết Bàn, trọn chẳng có chế định để tang. Chỉ có Tăng Huy Kư[119] trích dẫn ba loại tang phục theo Lễ Kư, loại thứ ba là giáng phục[120]. Sách Bạch Hổ Thông[121] nói ‘ân thầy giống như cha mẹ, phải nên mặc giáng phục’. Sách Thích Thị Tang Nghi nói: ‘Ân thầy giống như cha mẹ, nên để tang ba năm’. Ngũ Sam[122] nói: ‘Để tang cho thầy nên theo pháp phục, chỉ là vải hơi thô hơn, nhuộm thuần màu vàng sậm’. Huy Kư nói: - Chỉ nhuộm màu xanh đậm, hơi khác với lệ thường”.

Ba là sách Thanh Quy nói: “Tiểu sư mặc áo vải gai, người thuộc hai tự (đông tự và tây tự) mặc áo dệt bằng đay, những người như chủ tang mặc áo sồi không nhuộm. Đại chúng gào khóc ba tiếng, tiểu sư ở dưới màn buồn khóc”.

 Từ những điều như trên, theo Đàn Kinh th́ chẳng có tang phục, chẳng khóc. Theo các sách như Tăng Huy v.v... th́ có tang phục, chẳng khóc, nhưng tang phục chẳng dùng sô gai, chỉ dùng màu vàng hay xanh đậm mà thôi. Theo Thanh Quy th́ tang phục lẫn khóc đều có, giống hệt như thế tục. Phàm là tăng sĩ, tuy phải nên noi theo pháp của Lục Tổ, nhưng nay đệ tử đau ḷng v́ thầy mất, phần nhiều để tang, chính là trên th́ vâng theo tổ huấn, dưới là thuận theo t́nh người, khéo léo châm chước, vâng theo sách Tăng Huy mặc tang phục có màu xanh hay vàng th́ được. Cổ nhân nói: “Lễ nên khởi từ nghĩa”, đợi bậc cao minh đính chánh.

 

* Bách Trượng Thanh Quy

 

          Do vấn đề tang chế trên đây, biết sách Thanh Quy do người đời sau mở rộng, chẳng phải do ngài Bách Trượng đặt định như thế. Bách Trượng [Hoài Hải] là con cháu đích thực đời thứ tư của tổ Tào Khê (Lục Tổ), tang chế lẽ nào chẳng tuân hành quy chế của Tổ mà lại biến đổi pháp đă được thành lập ấy? Đại để là do kiến lập tùng lâm, ngài Bách Trượng khởi đầu đặt ra [Thanh Quy] để đại chúng có sự ước thúc mà thôi, c̣n những quy định rườm rà, những điều lệ vụn vặt, khiến cho mọi người bận bịu, tất bật, chẳng rảnh để lo liệu, sẽ do đâu mà giảm duyên bớt việc ḥng dốc ḷng nghiên cứu cùng tận đạo này? V́ thế nói: “Người đời sau háo sự bày ra, chẳng phải là ư của ngài Bách Trượng”.

 

* Cương Liệp[123] báo (quả báo làm lợn)

 

          Vị tăng X… là người chất phác, mộc mạc, nhưng ngu muội tự cho là đúng. Hễ thấy người khác khen ngợi điều lành, ắt cười nhạt, cho là chẳng đáng để ca ngợi. Lâu ngày, ông ta bỏ đạo về đời, sống cùng một bà già. Ông ta chết, báo mộng cho bà cụ: “Ngày mai ta sẽ về cái am bên cạnh”, [ngày hôm sau] liền có một con lợn được phóng sanh đưa về am. Bà cụ biết đó là ông X…. mấy lượt đến nh́n xem, khiến cho người khác nghe biết. Xa gần đều ngạc nhiên trước chuyện ấy, người đến xem nườm nượp. Bà lăo xấu hổ, đưa [con lợn ấy] sang chùa Vân Thê. Khi đó, nơi phóng sanh của chùa Vân Thê đă chật chội, [chẳng thể tiếp nhận], một ngôi chùa trên núi bằng ḷng nhận nuôi, chẳng mấy chốc, đồ đệ bán lại cho đồ tể, bị giết trong ruộng. Ôi! Thọ sanh làm súc sanh, lại chẳng tránh khỏi bị giết chóc, sao mà cùng cực đến nỗi ấy! Chúng ta hăy nên thống thiết khắc tận xương vậy!

 

* Nói thêm về thiên thuyết

 

          Vừa rồi tôi có bàn về trời, có người khách lại vặn hỏi rằng: “Xem bói vợ muốn cưới chẳng phải là cha mẹ ḿnh th́ có thể cưới, sao chẳng nói coi bói thấy sát sanh chẳng phải là cha mẹ ḿnh th́ cũng có thể giết ư? Chẳng cưới để sanh con th́ nhân loại tuyệt diệt, sao chẳng nói trừ khử sát sanh th́ tế tự theo lễ bị phế?” Người bị vặn hỏi nín lặng, kể lại với tôi. Tôi nói: “Cổ nhân có nói: ‘Bói để giải quyết nỗi nghi, không nghi bói làm ǵ?’ Cùng họ chẳng lấy nhau, đó là đại kinh đại pháp từ cổ trong thiên hạ tới nay. V́ thế, ngờ vực bèn bói. Sát sanh là lỗi ác to lớn trong thiên hạ từ cổ tới nay, nhất quyết chẳng thể làm, có nghi ǵ nữa mà đợi bói toán? Chẳng cưới gả th́ nhân loại tuyệt diệt, lư đúng là như thế; nhưng [vặn hỏi] ‘chẳng sát sanh th́ điển chương tế tự bị phế trừ’, sao chẳng nghe ‘nhị quỹ khả dụng hưởng, sát ngưu chi bất như dược tế’ (hai món ăn là có thể dùng để cúng tế rồi, giết trâu chẳng bằng cúng chay) ư? Tức là điển chương tế lễ vững vàng, chẳng bỏ phế. Dẫu có phế th́ là phế cái đáng nên phế, trừ bỏ những điều như nhục h́nh, cấm tuẫn táng, cai trị sẽ tốt đẹp.

Than ôi! Bói toán chỉ là mượn chuyện trước mắt để quyền biến so sánh, đại khái là nhờ đó để hiểu rơ thói tệ đó thôi; ông liền hiểu là thật pháp. Có thể nói đúng là chén rượu trợ hứng cho lời bàn bạc cong quẹo để cười vui, là lời bông đùa, hài hước để diễn tuồng! Nhưng nếu như ngu phu, ngu phụ nghe lọt vào tai, giữ trong dạ, sẽ có hại chẳng nhỏ! Chẳng thể không nói năng cẩn thận!” Khách lại vặn hỏi: “Sát sanh chỉ đoạn sắc thân, hành dâm trực tiếp đoạn huệ mạng”, ư cho rằng sát sanh c̣n nhẹ, chẳng biết đến sắc thân của kẻ bị giết! Mà kẻ giết chóc có một niệm thảm độc là đă đoạn huệ mạng của chính ḿnh, chẳng đáng buồn sao?

 

          Bồ Tát giới đệ tử Lưu Huệ Văn suất lănh con là Tánh Trạch thí tiền kính khắc in, kính nguyện chân tục viên dung, tự tha cùng lợi lạc, chán ĺa Nhẫn Giới (Sa Bà), về thẳng liên bang

          Tháng Sáu nhằm mùa Hạ năm Quang Tự 24 (1898), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.

          Vân Thê Pháp Vựng

Phần 4 hết

 



[1] Tức thiền sư Huyền Sa Sư Bị (835-908). Ngài là một vị thiền sư trứ danh thời Ngũ Đại Thập Quốc, sống tại nước Mân. Ngài quê ở Mân huyện thuộc tỉnh Phước Kiến, là môn hạ của thiền sư Thạch Đầu Hy Thiên, nối pháp ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Đồ tôn của Ngài là Thanh Lương Văn Ích sáng lập Pháp Nhăn Tông.

[2] Tức thiền sư Ngưu Đầu Pháp Dung (594-657), Tứ Tổ tức ngài Đạo Tín (tổ thứ tư của Thiền Tông, thầy của ngài Hoàng Mai Hoằng Nhẫn). Ngưu Đầu là tên ngọn núi ở Giang Ninh. Ngài Pháp Dung ẩn tu một ḿnh trong núi ấy, cảm hóa các loài thú đến cúng dường. Tứ Tổ Đạo Tín nh́n h́nh thế núi, biết trong núi ắt có dị nhân, liền đích thân lên núi gặp ngài Pháp Dung. Pháp Dung ngộ ư chỉ Thiền và nối pháp của tổ Đạo Tín, h́nh thành một phái thiền gọi là Ngưu Đầu Tông, tạo thành thế chân vạc với Nam Tông của tổ Huệ Năng và Bắc Tông của ngài Thần Tú. Đến thế kỷ thứ chín, tông này hoàn toàn thất truyền.

[3] Trong tập Hàn Thi Ngoại Truyện của Hàn Anh đời Hán có câu thơ: “Thụ dục tĩnh nhi phong bất chỉ, tử dục dưỡng nhi thân bất đăi” (Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, con muốn phụng dưỡng, mà mẹ cha chẳng đợi). Do vậy, “phong mộc chi bi” được dùng với ư nghĩa diễn tả nỗi niềm đau xót của con cái chưa báo hiếu cha mẹ.

[4] Mă Tổ là Mă Tổ Đạo Nhất (709-788), đệ tử của ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng, là đồ tôn của Lục Tổ Huệ Năng. Ngài được tôn là vị tổ thứ ba mươi lăm của Thiền Tông Trung Hoa. Ngài Đại Mai tức là Đại Mai Pháp Thường (752-839), đệ tử của tổ Đạo Nhất. Do ngài trụ tại núi Đại Mai (thuộc Cẩn huyện tỉnh Chiết Giang), nên gọi là Đại Mai Pháp Thường. Mai chính là quả mơ, nên tổ Đạo Nhất mới nói “quả mơ đă chín” để ấn chứng cho Đại Mai.

[5] Đây là một thành ngữ phát xuất từ sách Sử Kư của Tư Mă Thiên. Theo đó, do Hán Vũ Đế vào cuối đời thích chuyện huyền hoặc, muốn sống lâu, những kẻ gọi là phương sĩ (tức những kẻ tự xưng là tu tiên hay có pháp thuật) từ đất Yên, đất Tề (tức vùng duyên hải phía Đông Bắc Trung Hoa, từ Sơn Đông trở lên) đua nhau cầu kiến, kể lể những chuyện thần tiên ngoài biển như Bồng Lai, Phương Doanh là nơi tiên ở, có phương thuốc trường sanh bất tử v.v…

[6] Bùi thừa tướng là Bùi Hưu (791-864), tên tự là Công Mỹ, người huyện Tế Nguyên, Mạnh Châu. Ông học Phật từ bé, giỏi thư pháp, đức hạnh, từng được người đương thời gọi bằng mỹ hiệu là Hà Đông đại sĩ. Ông làm quan đến chức Đồng Trung Thư Môn Hạ B́nh Chương Sự (tức thừa tướng).

[7] Đây là một thành ngữ xuất phát từ một câu chuyện trong tác phẩm Tiểu Thuyết Ân Vân thời Nam Lương. Theo đó, có vài người tụ họp ăn uống tán gẫu, có người nói: “Tôi mong được làm Thứ Sử đất Dương Châu”. Người thứ hai nói “tôi mong có nhiều tiền của”. Người thứ ba nói “tôi mong cưỡi hạc bay lên trời”, tức là ước nguyện làm quan, phát tài và thành tiên. Người thứ tư nói: “Tôi mong lưng đeo mười vạn quan, cưỡi hạc bay tới Dương Châu”, tức là mong đạt được cả ba điều trên đây. Từ đó thành ngữ này được dùng để diễn tả ước nguyện cao vời, khó thành hiện thực.

[8] Khổng Tử có ba ngàn học tṛ, gọi là “tam thiên hiền” (ba ngàn vị hiền nhân). Trong ba ngàn người đó, có bảy mươi bảy người lỗi lạc, thường được gọi gọn là Thất Thập Hiền (bảy mươi người hiền, tức là chỉ tính số tṛn). Vị đứng đầu là Nhan Hồi (tự Tử Uyên), kế đó là Mẫn Tổn (tự Tử Khiên), Nhiễm Canh (tự Bá Ngưu), cho đến vị thứ bảy mươi lăm là Khổng Trung (tự Tử Miệt), vị thứ bảy mươi sáu là Công Tây Dư Như (tự Tử Thượng), vị thứ bảy mươi bảy là Công Tây Châm (cũng có tên tự là Tử Thượng). Từ bảy mươi bảy vị này, người đời sau lại chọn ra mười vị đứng đầu gọi là Thập Triết, gồm Nhan Hồi, Mẫn Tổn, Nhiễm Canh, Nhiễm Ung (tự Trọng Cung), Nhiễm Cầu (tự Tử Hữu), Trọng Do (tự Tử Lộ), Tể Dư (tự Tử Ngă), Đoan Mộc Tứ (tự Tử Cống), Ngôn Yển (tự Tử Du), và Bốc Thương (tự Tử Hạ).

[9] Theo pháp sư Viên Anh, “diệu minh” chỉ tánh Nghe sáng suốt, “tinh tâm nghiên cứu” là lắng ḷng, loại bỏ hết tạp niệm, chuyên chú cứu xét (tham cứu), nghiên cứu cái tánh Nghe sáng suốt ấy trọn khắp pháp giới, chưa từng bị chướng ngại; đó là Tịch và Chiếu song hành.

[10] Tức là điều lợi do thổi sợi lông trên vải. Theo Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, thiền sư Ô Khoa Đạo Lâm có thị giả tên là Hội Thông, bỗng một hôm Hội Thông muốn từ biệt thầy ra đi. Sư hỏi: “Nay ông đi đến đâu?” Thưa: “Hội Thông v́ pháp mà xuất gia, nhưng ḥa thượng chẳng rủ ḷng từ răn dạy, nay con muốn đi các nơi tham học Phật pháp”. Sư nói: “Nếu là Phật pháp, ở chỗ ta đây cũng có đôi chút”. Hỏi: “Thế nào là Phật pháp của ḥa thượng?” Sư rút lấy một sợi bông trên vải, khẽ thổi, Hội Thông liền lănh ngộ huyền chỉ.

[11] Từ Minh lăo nhân chính là ngài Thạch Sương Sở Viên (980-1052) thời Bắc Tống, cao tăng thuộc tông Lâm Tế thời Bắc Tống, pháp hiệu là Từ Minh, nối pháp của ngài Phần Dương Thiện Chiếu. Do trụ tại chùa Thạch Sương ở Đàm Châu, Ngài được gọi là Thạch Sương Sở Viên. Dương Kỳ tức là ngài Phương Hội (992-1049) đệ tử của ngài Sở Viên, do trụ tại núi Dương Kỳ, nên người đời gọi Ngài là Dương Kỳ Phương Hội. Về sau, đệ tử của ngài Dương Kỳ thành lập phái thiền Dương Kỳ trong tông Lâm Tế.

[12] Ư nói: Không thể có tài năng để sánh vai làm đệ tử của Khổng Tử (Hạnh đàn và Tứ Thủy là nơi Khổng Tử dạy học), chỉ đành làm thầy đồ quèn dạy chữ cho trẻ học vỡ ḷng ở vùng quê hẻo lánh, đơn sơ như cả thôn mà chỉ có ba gia đ́nh sống.

[13] Những lời chú giải kinh điển Nho gia được gọi là Truyện, như Dịch Truyện (chú giải kinh Dịch do Khổng Tử soạn), Công Dương Truyện (chú giải kinh Xuân Thu do Công Dương Cao soạn) v.v…

[14] Tư Mă Quang là tể tướng đời Bắc Tống, xin xem phần chú thích trong đoạn nói về Giải Thiền K. Lưu Đạo Nguyên tên thật là Lưu Thứ (1032-1078), tự là Đạo Nguyên, giỏi Sử, làm quan Bí Thư Thừa, từng tham dự biên soạn bộ Tư Trị Thông Giám. Ông được thăng làm Tá Lang, chuyên lo biên soạn sử liệu.

[15] Lưu Nguyên Thành (1048-1125) vốn có tên là Lưu An Thế, tên tự là Khí Chi, là một viên quan nổi tiếng thời Bắc Tống. Ông là học tṛ của Tư Mă Quang. Khi Tư Mă Quang làm tể tướng, đă đề cử Nguyên Thành vào Quốc Sử Quán. Ông tánh t́nh cương trực, nổi tiếng nói thẳng, khi làm Gián Nghị Đại Phu đă không e dè quyền thế, đến nỗi các đồng liêu gọi ông là “điện thượng hổ” (cọp trên điện chầu).

[16] Hà Trạch Thần Hội là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng. Sư thuở nhỏ học Nho và Lăo Trang, sau theo Phật. Sư đến chùa Bảo Lâm ở Tào Khê, yết kiến Lục Tổ, được điểm hóa, theo hầu Tổ đến khi Ngài thị tịch. Sau khi Tổ thị tịch, Sư họp các thiền sư danh tiếng ở miền Nam, tuyên bố Tổ là người nối pháp chân chánh của Ngũ Tổ và phủ nhận Thần Tú. Sư đến Lạc Dương, Trường An vận động ráo riết triều đ́nh công nhận Huệ Năng, thậm chí bị đi đày một thời gian. Về sau, Sư được xá tội, trụ tŕ chùa Hà Trạch, và thành công khiến cho mọi người công nhận ngài Huệ Năng là Lục Tổ.

[17] Nam Nhạc tức là ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng (677-744), đệ tử đắc pháp của tổ Huệ Năng. Sư thoạt đầu học Luật, về sau được pháp sư Tung Sơn Huệ An chỉ điểm, bèn đến học với tổ Huệ Năng, theo hầu tổ mười lăm năm rồi đến hoằng đạo tại Hành Nhạc. Đệ tử đắc pháp của ngài Hoài Nhượng là Mă Tổ Đạo Nhất. Đồ tôn của Ngài là Lâm Tế Nghĩa Huyền (đệ tử của Hoàng Bá Hy Vận, Hy Vận là đệ tử của Bách Trượng Hoài Hải, Hoài Hải là đệ tử của Đạo Nhất) khai sáng phái Thiền Lâm Tế. Một đồ tôn khác là Quy Sơn Linh Hựu (cũng là đệ tử của Bách Trượng Hoài Hải) cùng với đệ tử của ḿnh là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch thành lập tông Quy Ngưỡng. Tông Quy Ngưỡng chỉ tồn tại sáu, bảy đời rồi bị thất truyền.

Thanh Nguyên tức là ngài Thanh Nguyên Hành Tư (660-740) là môn đệ đắc pháp của tổ Huệ Năng. Đệ tử đắc pháp của Ngài là Thạch Đầu Hy Thiên. Các đồ tôn của Thạch Đầu như Động Sơn Lương Giới đă thành lập tông Tào Động (Lương Giới là đệ tử của Vân Nham Đàm Thịnh. Đàm Thịnh là đệ tử của Dược Sơn Duy Nghiễm, Duy Nghiễm là đệ tử của Thạch Đầu Hy Thiên), Vân Môn Văn Yển lập ra tông Vân Môn (Văn Yển là đệ tử của Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Nghĩa Tồn là đệ tử của Đức Sơn Tuyên Giám. Tuyên Giám là đệ tử của Long Đàm Sùng Tín. Sùng Tín là đệ tử của Thiên Hoàng Đạo Ngộ. Thiên Hoàng đắc pháp nơi ngài Thạch Đầu Hy Thiên), và Pháp Nhăn Văn Ích (Văn Ích là đệ tử của La Hán Quế Sâm, Quế Sâm là đệ tử của Huyền Sa Sư Bị, Sư Bị là đệ tử của Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Nghĩa Tồn là đệ tử của Đức Sơn Tuyên Giám…) Hiện thời, hai tông Pháp Nhăn và Vân Môn đă thất truyền. Pháp Nhăn tông c̣n tồn tại ở Đại Hàn; chỉ có tông Lâm Tế phát triển mạnh mẽ nhất. Tào Động khá phát triển ở Nhật Bản.

[18] Tổ Huệ Năng khi đến yết kiến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, được phân công giă gạo trong trù pḥng rồi sau đó được truyền dạy Kim Cang, ấn chứng tâm đắc và giao phó tổ y.

[19] Tử Dương là đạo hiệu của Trương Bá Đoan (987-1082). Bá Đoan có tên tự là B́nh Thúc, c̣n có tên là Dụng Thành, đạo hiệu Tử Dương Chân Nhân, c̣n gọi là Ngộ Chân tiên sinh. Do ông sáng lập cách tu luyện nội kim đan sau khi gặp Lưu Hải Thiềm tại Thành Đô, nên lập ra Toàn Chân Nam Phái,được coi là tổ thứ nhất của phái này. Trương Bá Đoan phản đối cách tu hành xuất gia ĺa tục, ẩn cư trong núi rừng, và chủ trương “đại ẩn nơi thành thị”. Ông viết tác phẩm Ngộ Chân Thiên được coi là kinh điển cơ sở cho việc luyện nội đan. Ông c̣n soạn Ngọc Thanh Kim Duẩn Thanh Hoa Bí Văn Kim Bảo Nội Đan Luyện Quyết, cũng được coi là một tác phẩm quan trọng trong luyện kim đan.

[20] “Ngũ kim bát thạch” là từ ngữ chỉ các vật liệu chủ yếu trong thuật luyện kim đan của Đạo Giáo, được thấy nêu ra trong tác phẩm Vân Cấp Thất Thiên do Trương Quân Pḥng biên soạn vào đời Bắc Tống. Ngũ Kim là năm kim loại được coi là tương ứng với ngũ hành, gồm vàng, bạc trắng, đồng đỏ, ch́, và sắt đen. Bát Thạch là tám loại khoáng chất tương ứng với bát quái, gồm châu sa (cinnabar, sulfide thủy ngân), hùng hoàng (realgar, As4S4 cực độc), lưu huỳnh, thư hoàng (orpiment, As₂S, đc không kém hùng hoàng), vân mẫu (mica), không thanh (malachite, tức carbonate đồng ngậm nước), nhung diêm (một loại đá kết tinh, được dùng làm thuốc trong Đông Y, thường khai thác từ đáy các hồ chứa muối), và tiêu thạch (salpeter, tức potassium nitrate, KNO3).

[21] Đây là một thành ngữ “Phật pháp vô đa tử”, xuất phát từ một câu nói của ngài Hoàng Bá Hy Vận, hàm ư: Người tu đạo rất nhiều, nhưng người thật sự khai ngộ rất ít.

[22] Đường Nhất Am tên thật là Đường Xu (1497-1574), tên tự là Duy Trung, hiệu là Nhất Am và Tử Nhất, là một quan chức, đồng thời là triết gia nổi tiếng đời Minh, tin tưởng học thuyết Lương Tri của Vương Dương Minh. Do dâng sớ hạch tội bè lũ gian thần mà bị cách chức, đuổi về làm dân. Ông dạy học và soạn sách suốt bốn mươi năm trước khi qua đời.

[23] Đây là một chuyện ngụ ngôn trong sách Trang Tử. Có người đến kinh đô Hàm Đan của nước Triệu, thấy họ đi lại dáng điệu rất đẹp, bèn bắt chước học theo, nhưng học chẳng thành công mà cách đi ban đầu của chính ḿnh cũng quên mất!

[24] Lữ Văn Chánh Công tức là Lữ Mông Chánh (946-1011), tự là Thánh Công, người Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, ông từng ba lần làm tể tướng (tức chức Đồng Trung Môn Hạ B́nh Chương Sự). Ông là người nổi tiếng cương trực, phân minh. Khi được vua Tống Chân Tông hỏi các con ông ai có thể làm quan, ông thưa là không ai đáng dùng, chỉ có cháu là Lữ Di Giản có thể dùng được. Ông có bài Lữ Mông Chánh Khuyến Thế Văn được người đời hết sức khen ngợi.

[25] Văn Tĩnh là thụy hiệu của Lư Hàng (947-1004), tự là Thái Sơ, người xứ Ph́ Hương, Hàng Châu, là một văn thần nổi tiếng thời Bắc Tống. Ông bẩm tánh hiền ḥa, nhưng cương trực, hành sự cẩn thận, nhưng cai trị theo quan điểm bảo thủ, đề cao cổ văn, có ư chí muốn tiếp nối Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên về mặt văn học. Khi nhận được tin cáo phó, Tống Chân Tông đă khóc, than thở: “Lư Hàng là người trung lương, thuần hậu, trước sau như một, sao chẳng hưởng thọ lâu dài?”

[26] Tức ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (807-883), là môn đồ nối pháp của ngài Quy Sơn Linh Hựu. Sư cùng thầy của ḿnh khai sáng tông Quy Ngưỡng trong nhà Thiền. Do sự giác ngộ thâm sâu, Sư có mỹ hiệu là Tiểu Thích Ca.

[27] Theo quy chế đời Minh - Thanh, hằng năm các quan địa phương mở khóa thi tuyển để chọn người vào học trường Quốc Tử Giám. Những người được chọn gọi là Tuế Cống Sanh (c̣n gọi là Tuế Tấn Sĩ). Có những người sau khi tốt nghiệp tại Quốc Tử Giám liền được chọn làm quan thẳng, không cần phải tham gia thi Hội, thi Đ́nh. Do vậy, gọi là “tuế cống thụ quan” (cống sĩ hằng năm được trao chức quan). Những người này tuy vẫn gọi là tiến sĩ, nhưng không được coi trọng bằng các tiến sĩ từ các khoa thi Đ́nh.

[28] Nạp tử (衲子) nghĩa là người mặc áo chằm, tức là đắp y do nhiều miếng vải ghép lại. Đây là từ ngữ chỉ tăng lữ nhà Phật, nhưng chữ Nạp Tử được dùng ở đây để chỉ tăng sĩ chân chánh tu hành, đắc ngộ.

[29] Tức là thiền sư Tông Tĩnh trụ tŕ chùa Long Hưng ở Hàng Châu vào đời Đường. Ngài thoạt đầu tham học với thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, giữ chức phạn đầu mười năm. Lời thọ kư trên đây được tổ Tuyết Phong Nghĩa Tồn nói trong giai đoạn này. Về sau, ngài Tông Tĩnh được vua nước Ngô Việt họ Tiền thỉnh trụ tŕ chùa Long Hưng.

[30] Sô Ngu (騶虞) c̣n gọi là Sơ Ngô (騶吾) hoặc Sô Nha (騶牙), là một con thú có ḷng nhân trong thần thoại của người Hán. Sô Ngu ḿnh hổ, đầu sư tử, lông trắng, vằn đen, đuôi dài, không bao giờ ăn động vật. Riêng Sơn Hải Kinh nói Sô Ngu thân đủ năm sắc, to như con hổ, đuôi dài hơn thân, mỗi ngày đi được ngàn dặm. Sô Ngu được nhắc đến sớm nhất trong thiên Chung Sư thuộc phần Xuân Quan của sách Châu Lễ.

[31] Đường Văn Tông tên thật là Lư Ngang (809-840), ở ngôi vua mười ba năm. Ông là con của Đường Mục Tông (Lư Hựu). Khi Mục Tông băng sau bốn năm cầm quyền, anh cả ông là Lư Đam nối ngôi, tức Đường Kính Tông. Sau đó, Kính Tông bị bọn hoạn quan Lưu Khắc Minh, Điền Vụ Trừng, Hứa Văn Đoan… sát hại. Kế đó, một nhóm hoạn quan khác là Vương Thủ Trừng, Lương Thủ Khiêm, Ngụy Tùng Giản… diệt bè lũ Lưu Khắc Minh, đưa Lư Hàm lên làm vua, đổi tên thành Lư Ngang, tức Đường Văn Tông. Vua là người hiếu thuận đối với tam cung (bà nội là Thái Hoàn Thái Hậu Quách Thị, mẹ ruột là Hoàng Thái Hậu Tiêu Thị, mẹ ruột của Đường Kính Tông là Hoàng Thái Hậu Vương Thị). Vua chủ trương tiết kiệm, cần mẫn, nhưng thiếu quyết đoán, nên bị các đại thần và bọn hoạn quan lũng đoạn triều chánh, hoàn toàn trở thành bù nh́n. Cuối cùng, vua chết trong u uất.

[32] Diêu thiếu sư tên là Diêu Quảng Hiếu (1335-1418), tên thuở bé là Thiên Hy, được vua ban tên là Quảng Hiếu, pháp danh là Đạo Diên, pháp tự là Tư Đạo. Ông ta c̣n có pháp tự khác là Độc Am. Do ông ta được Minh Thành Tổ (Châu Đệ) phong chức Thái Tử Thiếu Sư, nên thường gọi là Diêu thiếu sư. Diêu thiếu sư là tăng nhân thuộc tông Lâm Tế, vừa là chính trị gia, vừa là thi gia, là mưu sĩ đắc lực của Minh Thành Tổ, là người có công đắc lực giúp Minh Thành Tổ đoạt ngôi của cháu là Kiến Văn Đế (Châu Doăn Văn). Ông sinh trong gia đ́nh nhiều đời hành y, từng tôn đạo sĩ Tịch Ứng Chân làm thầy, học thuật Âm Dương, bói toán. Thầy tướng Viên Củng nh́n tướng mạo của ông Diêu đă kinh sợ kêu là tướng con hổ bị bệnh, mắt tam giác, ắt bạo ngược, thích giết chóc. Trong thời Hồng Vũ, Minh Thái Tổ (Châu Nguyên Chương) xuống chiếu tuyển tăng nhân và đạo sĩ vào bộ Lễ, ông ứng thí, nhưng không được trúng tuyển. Yên Vương Châu Đệ ưa thích ông, mời làm gia khách. Do vậy, ông lên Bắc B́nh, trụ tŕ chùa Khánh Thọ, trở thành mưu sĩ thân cận của Châu Đệ. Chính ông đă quyết đoán khuyên Châu Đệ soán ngôi khi Kiến Văn Đế toan triệt phiên (dẹp trừ các phiên vương có thế lực). Sau khi Châu Đệ lên ngôi, ông trở thành phụ tá đắc lực, nhưng vẫn mặc tăng phục, tham dự biên soạn các bộ Minh Thái Tổ Thực Lục và Vĩnh Lạc Đại Điển, đồng thời đảm nhiệm dạy học cho Thái Tử. Ông c̣n soạn bộ Đạo Dư Lục đả phá quan điểm của bọn Tống Nho.

[33] Khám Trạch (208-243), tự Đức Nhuận, người huyện Sơn Âm, Cối Kê, là một học giả thời Đông Hán. Tuy sanh trong gia đ́nh nông dân, nhưng ông hết sức hiếu học, đọc rộng các sách, tinh thông lịch pháp, nổi danh đương thời. Ông làm quan đến chức Trung Thư Lệnh, và làm Thị Trung thời Tôn Quyền nhà Đông Ngô, từng làm thầy dạy học cho thái tử Tôn Ḥa, được gia phong tước Thái Tử Thái Phó.

[34] Tam công là Thái Sư, Thái Phó, Thái Bảo theo quy chế nhà Châu. Đến đời Minh - Thanh, Tam Công chỉ c̣n là tước nhằm tôn vinh. Thấp hơn Tam Công là Tam Thiếu (Thiếu Sư, Thiếu Phó, Thiếu Bảo), nhưng do thời Diêu Quảng Hiếu, không ai được phong tước Tam Công, cho nên tước vị Thiếu Sư là cao nhất, chẳng khác Tam Công.

[35] Phật Đồ Trừng (Buddhacinga, 232-348) là người xứ Thiên Trúc, có thuyết nói là người xứ Quy Tư. Ngài nổi tiếng có thần thông, giỏi chú thuật, để lại các dự ngôn rất chánh xác. Ngài đến Lạc Duông năm Vĩnh Gia thứ tư (310) đời Tấn Hoài Đế. Lúc đó, Ngài đă bảy mươi chín tuổi. Bất nhẫn trước cảnh loạn lạc, Sư chống gậy vào trong quân của Thạch Lặc (người sáng lập nhà Hậu Triệu) để thuyết pháp, hiển hiện thần thông, khiến cho Thạch Lặc hết sức kính phục, bớt giết chóc, và cho phép người Hán xuất gia làm Tăng. Sư dựng gần chín trăm ngôi chùa, độ gần một vạn đệ tử. Các đệ tử nổi tiếng là Đạo An, Trúc Pháp Thủ, Trúc Pháp Thải, Trúc Pháp Nhă, Tăng Lăng v.v… Sư không để lại trước tác, nhưng giữ luật rất nghiêm. Đệ tử ngài là Thích Đạo An đă cống hiến rất lớn trong việc hệ thống hóa, thể chế hóa tăng đoàn tại Trung Hoa.

[36] Tĩnh Nạn là danh xưng của Châu Đệ dùng khi khởi binh chống lại sự tiêu diệt của Kiến Văn Đế đối với các phiên vương. Tĩnh Nạn có nghĩa là cứu vua khỏi sự thao túng của các quyền thần. Phương Hiếu Nho (có khi đọc trại thành Hiếu Nhụ), tên tự là Hy Cổ, hiệu là Tôn Chí. Ông là văn nhân tài giỏi, trung thành, phụng sự Kiến Văn Đế, quyết liệt chống đối hành động cướp ngôi của Châu Đệ, nên bị Châu Thành Tổ tống ngục rồi xử tử.

[37] Dung Trai Tùy Bút là tập bút kư của Hồng Mại thời Nam Tống, chứa đựng sử liệu phong phú, nên được đánh giá rất cao, và được coi là tác phẩm cần phải đọc khi nghiên cứu lịch sử đời Tống. Sách được chia thành năm phần Tùy Bút, Tục Bút, Tam Bút, Tứ Bút, Ngũ Bút, bao gồm những ghi chép ngắn, mỗi phần đó gọi là một Tắc. Tổ Liên Tŕ cũng theo h́nh thức này.

[38] Dương Quảng (569-618) là con thứ hai của Tùy Văn Đế (Dương Kiên). Khi Dương Kiên soán ngôi của Bắc Châu Tĩnh Đế (Vũ Văn Diễn), Dương Quảng được phong làm Tấn Vương. Năm 589, khi mới hai mươi mốt tuổi, Dương Quảng lập đại công khi tiêu diệt nhà Trần ở phương Nam, thống nhất Trung Hoa sau hai trăm năm mươi năm chia cắt. Sau đó, ông tích cực xây dựng thế lực, tận lực tranh thủ sự ủng hộ của mẹ là Độc Cô Hoàng Hậu (Độc Cô A Già La), khiến cho Thái Tử Dương Dũng bị phế, và Dương Quảng được phong làm Hoàng Thái Tử. Khi Văn Đế bệnh nặng vào năm 604, nằm bệnh tại cung Nhân Thọ, Dương Quảng nắm toàn quyền xử lư triều chánh. Dương Quảng vào thăm bệnh, thấy Tuyên Hoa phu nhân (con gái Trần Tuyên Đế, sủng phi của Tùy Văn Đế) xinh đẹp bèn cưỡng bức. Văn Đế nghe báo, tức giận, tính phế Dương Quảng. Dương Quảng bí mật đem quân vây kín nội cung, sai Trương Hành vào tẩm điện (cung điện nơi vua nằm) giết chết Tùy Văn Đế, để lên ngôi vua. Thoạt đầu, ông khá cần mẫn chánh sự, nhưng về sau càng ngày càng đắm sâu trong dục lạc, thích tiến hành chiến tranh như tấn công Lâm Ấp, Cao Câu Ly. Năm 616, ông rời cung cấm, du hành Giang Nam, ăn chơi xa xỉ. Năm 618, ông bị Hứa Quốc Công Vũ Văn Hóa Cập sát hại tại Giang Đô, mở ra thời loạn lạc mới khi các tướng lănh quân phiệt đứng lên chia cắt Trung Hoa như Đậu Kiến Đức, Lư Quỹ, Lư Uyên (Đường Cao Tổ), La Nghệ, Tiêu Tiển, Lư Mật, Vương Thế Sung v.v...

[39] Cá chuối hoa (lễ ngư (鱧魚), blotched snakehead fish) là một loại cá nước ngọt thuộc họ Cá Quả (cá lóc). Do thân có những đốm đen loang lổ, nên gọi tên như vậy. Nó c̣n được gọi bằng cách danh xưng như Ban Lễ (cá vằn), lôi ngư, đồng ngư, xà đầu ngư (cá đầu rắn), hoa lễ v.v…

[40] Nam Giao (南郊) là vùng đất ở phía Nam của ngoại ô kinh thành, nơi thiên tử lập đàn tế trời đầu năm. Lễ tế ấy cũng gọi là lễ Nam Giao.

[41] Ngày Thượng Tân là ngày đầu tiên trong tháng âm lịch có chữ Tân (như ngày Tân Sửu, Tân Măo v.v…) chẳng hạn.

[42] Thiên Hoàng Đại Đế chính là Câu Trần Thượng Cung Nam Cực Thiên Hoàng Đại Đế, một trong tứ ngự của Đạo giáo.

[43] Cảnh Cung, tự là Bá Tông, là tướng nhà Đông Hán, thuộc một gia tộc sang quư. Cha ông là Trung Lang Tướng Cảnh Quảng, ông nội là Cảnh Huống (thái thú quận Thượng Cốc). Năm Vĩnh B́nh 17(74) đời Hán Minh Đế, ông được phong làm Tư Mă cho Kỵ Đô Úy Lưu Trương để chinh phạt quân Xa Sư. Sau khi thắng trận, ông được phong làm Mậu Kỷ Hiệu Úy, nhiều lần đánh bại quân Hung Nô xâm chiếm Hán địa, cũng như trấn áp người Khương dấy loạn. Cuối cùng, do bị đàn hặc bởi Giám Doanh là Lư Đàm, ông bị bỏ tù, cuối cùng bị băi quan, đuổi về làm dân.

[44] Tử Thiều là tên tự của Trương Cửu Thành (1092-1159), ông c̣n có hiệu là Vô Cấu, và Hoành Phố cư sĩ, là quan viên thời Nam Tống, đồng thời là học giả. Ông quen thân với thiền sư Đại Huệ Tông Cảo, được Sư ấn chứng sự giác ngộ.

[45] Khắc Nhân là tên tự của Hồ Thọ An. Ông là người Y Huyện tỉnh An Huy, làm quan tri huyện của huyện Tân Phồn thuộc tỉnh Tứ Xuyên dưới đời Minh. Ông khí tiết thanh cao, liêm khiết. Ở chỗ làm quan, ông tự trồng một vườn rau để ăn, không dùng đến cá thịt. Người đương thời gọi ông là Thái tri huyện (quan huyện ăn rau).

[46] Theo Truy Môn Tông Hạnh Lục, đời Đường có vị Tăng đến hỏi thiền sư Đại Tùy: “Kiếp hỏa rỗng toang, đó là hoại hay bất hoại?” Sư nói: “Hoại”. Tăng thưa: “Như vậy th́ theo cái khác đi?”  Sư đáp: “Theo cái khác đi!” Vị tăng ấy nghi hoặc, liền đi tham học với thầy bạn, rong ruổi vạn dặm!

[47] Bế quan đến chết th́ gọi là Tử Quan.

[48] Châu Hợi là một du hiệp (kẻ hành hiệp lang thang trên giang hồ) ở nước Ngụy thời Chiến Quốc, có sức rất mạnh. Ông ta ẩn thân nơi chợ búa, làm đồ tể tại kinh đô Đại Lương. Năm 258 trước Công Nguyên, do được Hầu Doanh tiến cử, ông trở thành khách quư của Tín Lăng Quân (Ngụy Vô Kỵ), sử dụng quả chùy nặng bốn mươi cân đập chết Tấn Bỉ, đoạt binh quyền để giải cứu nước Triệu, giải trừ nguy cơ thôn tính lục quốc của nước Tần.

Vân Trường là tên tự của Quan Vũ (Quan Công).

Điển Vi là vũ tướng dưới trướng Tào Tháo, nổi danh dũng mănh, trung thành với Tào Tháo. Năm 197, Tào Tháo tấn công đất Uyển, tướng trấn giữ là Trương Tú đầu hàng. Mười ngày sau, bất ngờ Trương Tú làm phản, tấn công doanh trại của Tào Tháo. Tào Tháo bị động, không xoay chuyển t́nh thế được, phải lên ngựa chạy trốn. Điển Vi cầm kích trấn ở cửa, quân Trương Tú không vào được. Cho tới khi Điển Vi thế cùng lực kiệt, bị giết chết.

[49] Không Ấn là pháp sư Trấn Trừng Không Ấn thuộc tông Hoa Nghiêm, sống vào đời Minh, người xứ Uyển B́nh thuộc tỉnh Hà Bắc. Sư học tập kinh Hoa Nghiêm mười mấy năm, các trước tác nổi tiếng là Kim Cang Kinh Chánh Nhăn và Bát Nhă Chiếu Chân Luận.

[50] Thiền sư Huệ Hải Đại Châu sống vào đời Đường, theo học với pháp sư Đạo Trí chùa Đại Vân thuộc Việt Châu. Ngài đến Giang Tây tham yết Mă Tổ Đạo Nhất, sáu năm sau đại ngộ, trở về Việt Châu. Ngài có soạn Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn Luận, được Mă Tổ khen ngợi là Đại Châu Viên Minh.

[51] Đây là một khái niệm trong giáo nghĩa của tông Hoa Nghiêm. Từ sơ phát tâm Bồ Tát đến Phật quả, nếu luận theo thứ tự của các địa vị trước sau th́ gọi là Hàng Bố (行布, gọi đủ là Thứ Đệ Hàng Bố Môn), c̣n nếu thấy đầu và cuối chính là lẫn nhau, không hề tách rời th́ là Viên Dung (圓融, gọi đủ là Viên Dung Tương Nhiếp Môn). Nếu xét theo cấu trúc của kinh Hoa Nghiêm, từ hội thứ hai là Như Lai Danh Hiệu cho đến phẩm Quang Minh, gồm hai mươi tám phẩm nói về các địa vị Tín, Trụ, Hạnh, Hồi Hướng, Địa, và Phật quả, thứ tự sai biệt, nên gọi là Hàng Bố Môn. Nếu nói vừa mới phát tâm liền thành Chánh Giác th́ là Viên Dung Môn.

[52] Tức ngài Trường Thủy Tử Tuyền. Ngài sống vào đời Bắc Tống, tự là Trọng Vi, hiệu là Trường Thủy (do trụ tại chùa Trường Thủy). Sư đặc biệt hướng theo tông Hoa Nghiêm. Thoạt đầu Ngài y chỉ pháp sư Bổn Châu Hồng Mẫn học kinh Lăng Nghiêm. Sau đó, đến tham học với thiền sư Lang Da Sơn Huệ Giác, hoát nhiên đại ngộ, muốn nối pháp của thiền sư. Ngài Lang Da nói: “Tông của ông không được hưng thịnh, hăy nên dốc sức phù tŕ ḥng báo ân đức của Phật, đừng bận tâm đến tông khác. Sư bèn lạy tạ, vâng theo, nỗ lực trùng hưng tông Hoa Nghiêm. Về sau, Sư trụ tại chùa Trường Thủy thuộc Tú Châu, dùng giáo nghĩa của tông Thiên Thai để viết sớ giải các kinh như Lăng Nghiêm v.v… đều được lưu hành trong cơi đời. Sư từng được triều đ́nh ban hiệu là Trường Thủy Sớ Chủ Lăng Nghiêm đại sư.

[53] Bạch Trạch (白澤) là một thụy thú (con thú tốt lành, cát tường) trong thần thoại cổ; hễ trông thấy nó sẽ gặp chuyện tốt lành, tà mị tránh xa. Nó có thể nói tiếng người, biết rơ t́nh huống của vạn vật, quỷ thần trong thế gian. Tương truyền khi Hoàng Đế tuần thú, tại bờ Đông Hải đă gặp Bạch Trạch, liền thỉnh giáo Bạch Trạch về chuyện quỷ thần. Bạch Trạch đă nêu ra 11.520 loại chuyện quỷ thần. Hoàng Đế cho chép lại và vẽ h́nh cho dân chúng biết, tạo thành tập sách gọi là Bạch Trạch Đồ (hay Bạch Trạch Tinh Quái Đồ). Sách chép cặn kẽ danh hiệu, h́nh dáng và cách xua đuổi các loài quỷ quái ấy. Bạch Trạch được mô tả có h́nh dáng giống như con dê trắng, mặt người, có sừng ở trên vai, bốn chân đen, mỗi bên hông có ba mắt v.v…

[54] Sách Dịch Sử (繹史) chép: “Vua Nghiêu lập ra cái trống để người dám can gián đánh. Vua Thuấn lập cột treo biển gỗ để ghi chép lời bài báng, vua Thang có người chuyên can gián, vua Vũ có bài minh răn nhắc hăy cẩn trọng. Bốn vị quân tử ấy là bậc thánh nhân mà c̣n siêng năng [nghe lời can gián] dường ấy”.

[55] Tức là Bao Chửng (999-1062), tên tự là Hy Nhân, người xứ Hợp Ph́, Huy Châu (nay là thành phố Hợp Ph́, tỉnh An Huy), làm quan đến chức Xu Mật Sứ, Cấp Sự Trung, thụy hiệu là Hiếu Túc. Ông nổi danh là người thiết diện vô tư, chánh trực, nên người đương thời gọi ông bằng mỹ hiệu Bao Thanh Thiên, được tôn xưng là thần tư pháp của Trung Hoa. Do ông từng giữ chức Thiên Chương Các Đăi Chế, nên c̣n được gọi là Bao Đăi Chế. Về sau, ông được thăng lên làm Long Đồ Các Trực Học Sĩ, nên lại được gọi là Bao Long Đồ. Tương truyền, mặt ông đen x́, nên thường bị những người thù ghét gọi là Bao Hắc Tử, hay Bao Hắc Thán. Ông nổi tiếng hiếu thảo, v́ sau khi đỗ tiến sĩ năm Thiên Thánh thứ năm (1027) đời Tống Nhân Tông, do có cha mẹ già, dù được bổ làm Đại Lư B́nh Sự, ông không đi làm quan. Vua lại phong làm tri huyện Kiến Xương, ông cũng không đi. Về sau, ông lại được bổ làm quan trông coi thuế vụ ở Ḥa Châu, do cha mẹ vẫn c̣n, ông nhất quyết không ra làm quan. Khi cha mẹ mất, ông dựng lều tranh bên mộ, cư tang suốt ba năm rồi mới ra làm quan. Ông nổi tiếng cương trực, từng dâng sớ đàn hặc Chuyển Vận Sứ Giang Tây Vương Lục tham ô, cũng như đàn hặc Trương Nghiêu Tá là họ hàng của Trương hoàng hậu lộng quyền. Khi được bổ làm Long Đồ Các Trực Học Sĩ, kiêm tri Khai Phong Phủ, ông thẳng tay trừng trị bọn quyền quư gian tà, không cần biết chúng là hoàng thân quốc thích. Hoàng đế cũng phải kiêng sợ ông mấy phần. Do nước sông Hoàng Hà luôn đục ngầu v́ nước sông cuốn theo phù sa từ vùng hoàng thổ ở miền Bắc Trung Hoa, người ta ví von “Hoàng hà nước trong, sẽ có thánh nhân ra đời”.

[56] Nguyên văn Cảo Nhai (稿街) là một khu phố ở thành Trường An thường có đông người ngoại quốc cư ngụ. Trong lịch sử, nơi này thường treo thủ cấp những kẻ phạm tội. Chẳng hạn như thời Đông Hán, sau khi Trần Thang diệt được Chất Chi Thiền Vu, đă đem thủ cấp của hắn treo tại Cảo Nhai. Về sau, Cảo Nhai được dùng như thành ngữ chỉ nơi đông đúc ở kinh thành, thường bêu đầu tội phạm.

[57] Đoan Công Thái Bảo (端公太保) vốn là từ ngữ dùng để chỉ các vu sư (thầy đồng cốt) nam giới đất Thục. Về sau, từ ngữ này được gọi chung cho những thầy đồng cốt nam giới. Đại Minh Luật ghi rơ: “Những vu sư giả vờ được tà thần nhập, vẽ bùa, tụng chú vào nước, cầu đảo thánh, tự xưng là Đoan Công, Thái Bảo, Sư Bà, lừa dối xưng ḿnh là Di Lặc Phật, Bạch Liên Xă, Minh Tôn Giáo, Bạch Vân Tông v.v… sử dụng tà đạo gây rối lẽ chánh, hoặc ẩn giấu tranh ảnh, đốt hương tụ tập đại chúng, đêm tụ lại, sáng tan đi, lừa gạt nhân dân, kẻ cầm đầu sẽ bị thắt cổ, mỗi kẻ hùa theo bị đánh một trăm trượng, đày đi ba ngàn dặm”.

[58] Tôn Hạo (243-284) là vua cuối cùng của Đông Ngô thời Tam Quốc. Ông tên tự là Nguyên Tông và Hạo Tông, vốn là con của phế thái tử Tôn Ḥa, cháu nội của Ngô Đại Đế (Tôn Quyền). Sau khi Ngô Cảnh Đế (Tôn Hưu) mất lúc ba mươi tuổi, do thái tử Tôn Quân quá nhỏ, triều đ́nh đă đề nghị đưa Tôn Hạo lên làm vua. Tôn Hạo hoang dâm, xa xỉ, vô đạo, giết hại kẻ trung lương, tin dùng hoạn quan, chẳng quan tâm chánh sự, đối xử hà khắc với những kẻ ông ta nghi ngờ. Năm 280, Tấn Vũ Đế (Tư Mă Viêm) xua quân tấn công Đông Ngô, Tôn Hạo bị bắt giải về Lạc Dương, nhà Đông Ngô diệt vong.  

[59] Cung h́nh (宮刑) là một loại h́nh phạt tàn khốc thời cổ, nam th́ bị thiến, nữ th́ bị hành hạ cho đến mất khả năng sanh nở.

[60] Văn Sơn là biệt hiệu của Văn Thiên Tường (1236-1283), thoạt đầu ông có tên là Vân Tôn, tự là Thiên Tường và Tống Thụy, hiệu là Phù Hưu đạo nhân, thụy hiệu là Trung Liệt. Sau khi đỗ Tiến Sĩ, ông lấy Thiên Tường làm tên, đặt tự là Lư Thiện. Về sau, do ngụ tại núi Văn Sơn, nên lấy hiệu là Văn Sơn. Ông là quan viên, thi nhân và anh hùng lănh tụ chống quân Mông cuối đời Tống. Khi kháng chiến thất bại, nhà Tống diệt vong, ông bị bắt, thà chết chẳng đầu hàng. Hốt Tất Liệt đích thân dụ hàng, ông vẫn bất khuất, nên bị xử tử. Bài Chánh Khí Ca của ông khiến cho bao người đọc đến đều xúc động ứa lệ.

[61] Đây là một câu thơ trong bài Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị (bài thơ mô tả mối sầu hận của Đường Huyền Tông đối với Dương Quư Phi sau khi Dương Quư Phi bị ép thắt cổ chết ở Mă Ngôi trong loạn An Lộc Sơn): “Lâm biệt ân cần trùng kư ngữ, từ trung hữu thệ lưỡng tâm tri. Thất nguyệt, thất nhật, Trường Sanh điện, dạ bán vô nhân tư ngữ thời” (Tạm dịch: Giă biệt ân cần lại gởi lời, nhắn lời thề thốt thiếp chàng hay. Trường Sanh Điện ngày Bảy tháng Bảy, đêm thâu không người để giăi bày).

[62] Quỹ () là một thứ đồ đựng bằng đồng xanh, sâu ḷng, h́nh tṛn, có nắp hoặc không có nắp, không có quai, hai quai, hay bốn quai, chân uốn cong, dùng để đựng vật cúng. Quỹ xuất hiện từ đời Thương và dùng măi tới thời Chiến Quốc. Do vậy, “nhị quỹ” nghĩa là hai món ăn.

[63] Nước gạo ở đây chẳng phải là nước vo gạo mà là các thứ ăn thừa, đổ chung vào một chỗ, có thể thiu mốc, thường dùng để nuôi lợn. Bà cụ quá nghèo, cô đơn, không có ǵ ăn, phải xin nước gạo về ăn cầm hơi. Chuyện này trích từ kinh Phật Thuyết Ma Ha Ca Diếp Độ Bần Mẫu.

[64] Trác Ngô là hiệu của Lư Chí (1527-1602). Ông vốn có tên là Lâm Tải Chí. Về sau, đổi sang họ Lư, và rút gọn Tải Chí thành Chí, tự là Hoằng Phủ, hiệu là Trác Ngô, Ôn Lăng cư sĩ, Đốc Ngô, Bách Tuyền cư sĩ, Hoằng Phụ, Tư Trai, Long Hồ Tẩu, Ngốc Ông v.v… Lư Chí quê ở Tấn Giang, thuộc Phước Châu, tỉnh Phước Kiến, từng làm tri phủ của Diêu Giang tỉnh Vân Nam. Ông là một tư tưởng gia nổi tiếng trong thời Vạn Lịch nhà Minh. Gia đ́nh ông sống bằng kinh doanh đường biển, từng căng buồm sang tận eo biển Ba Tư, tổ tiên ông từng lấy vợ ngoại quốc. Do vậy, ông chịu ảnh hưởng rất sâu của đạo Hồi. Sau khi tang cha, ông xin làm giáo sư tại Quốc Tử Giám, cũng như mở trường tư thục dạy học. Ông được người đương thời coi là kẻ công khai loan truyền tư tưởng dị đoan, coi thường đạo Khổng, sống chung chạ với nhiều phụ nữ. Về sau, ông bị Cấp Sự Trương Vấn dâng sớ tố cáo, bị tống giam, phải tự vẫn trong ngục.

[65] Phùng Đạo (882-954), tự Khả Đạo, hiệu Trường Lạc Lăo, là một quan viên thời Ngũ Đại, từng làm tể tướng trải năm triều đại, tám họ, mười một vua khác nhau, “bao nhiêu triều đại chẳng ĺa ngôi Tể Tướng, chẳng ĺa địa vị tam công, nhị sư”. Trước sau, ông ta làm quan bốn mươi mấy năm. Dù triều đại thay đổi, luôn vững như con lật đật. Nho gia hết sức chê trách thái độ xun xoe, không hề có ḷng trung quân của ông ta.

[66] Nhiếp Chánh là thích khách nổi tiếng thời Xuân Thu. Theo Sử Kư, ông ta v́ Nghiêm Trọng Tử mà ám sát tướng quốc nước Hàn là Hiệp Lũy. Do Nghiêm Trọng Tử tâu tŕnh tội lỗi của Hiệp Lũy, sợ bị báo thù, toan tính tiên hạ thủ vi cường, t́m cầu thích khách khắp nơi. Đến đất Tề, nghe danh Nhiếp Chánh v́ lỡ tay giết người phải ẩn danh trong phường đồ tể, Nghiêm Trọng Tử bèn t́m đến biếu vàng, nhưng Nhiếp Chánh từ chối. Khi măn tang mẹ, Nhiếp Chánh t́m đến báo ơn Nghiêm Trọng Tử. Từ chối sự giúp đỡ của họ Nghiêm, Nhiếp Chánh một ḿnh xông vào phủ tướng quốc, đâm chết Hiệp Lũy, hạ thủ thêm mấy chục người rồi tự hủy da mặt, móc mắt trước khi móc ruột tự tử.

[67] Phạm Tăng là mưu sĩ kiệt xuất của Hạng Vũ (Tây Sở Bá Vương). Về sau, Hạng Vũ trúng kế phản gián của Trương Lương, nghi ngờ và xa lánh Phạm Tăng. Phạm Tăng uất ức thành bệnh mà chết.

[68] “Khoan dũ ôn nhu” thường được giải thích như sau: Tâm địa rộng răi, bao dung, không chấp nhân ngă là Khoan. Thuần thuận theo tự nhiên, trọn chẳng có ư niệm nóng vội là Dũ. Ôn ḥa, chí thiện, chân thật, chẳng hư vọng là Ôn. An lạc tự nhiên, trọn chẳng hung bạo là Nhu.

[69] Tử Tư là tên tự của Khổng Cấp (483-402 trước Công Nguyên), cháu nội của Khổng Tử, được tôn xưng là Thuật Thánh trong Nho gia, con trai của Khổng Lư. Do khi ông bốn tuổi, Khổng Tử đă mất, nên ông theo học với Tăng Sâm. Ông làm quan dưới đời Lỗ Mục Công (Cơ Hiển). Theo truyền thống, ông được coi là tác giả của sách Trung Dung. Ông c̣n viết một sách khác gọi là Tử Tư Tử, nhưng đă thất truyền. Mạnh Tử (Mạnh Kha) theo học với môn đệ của Khổng Cấp.

[70] Thiền sư Tương Sơn Pháp Tuyền, pháp danh là Đạo Ninh, là một vị cao tăng thuộc tông Tào Động, từng trụ tŕ chùa Khai Phước ở Đàm Châu. Thoạt đầu, Sư theo học với thiền sư Tuyết Đậu Lăo Lương, về sau thân cận thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn, đốn triệt nguồn pháp.

[71] Vương Nhật Hưu (1105-1173), tự Hư Trung, người xứ Long Thư thời Nam Tống (nay là Thư Thành, tỉnh An Huy). Ông chuyên tâm nghiên cứu Nho học. Vào thời Tống Cao Tông, từng thi đỗ Quốc Học Tấn Sĩ, nhưng không ra làm quan. Ông sáng tác Lục Kinh Huấn Truyền mấy vạn chữ. Về sau chuyên tu Tịnh Độ, viết Long Thư Tịnh Độ Văn để khuyên đời và hội tập kinh Vô Lượng Thọ (hoàn tất vào năm 1163).

[72] Tống Cảnh Liêm (1310-1381), tên thật là Tống Liêm, tự là Cảnh Liêm, hiệu Tiềm Khê, Vô Tướng Cư Sĩ, và Huyền Chân Tử. Ông là quan viên, văn gia và sử gia sống vào đời Minh. Ông là thầy của Phương Hiếu Nho, từng là thầy dạy cho thái tử, làm quan Hàn Lâm Học Sĩ Thừa Chỉ Tri Chế Cáo, tu chỉnh bộ Nguyên Sử, biên soạn Đại Minh Nhật Lịch, Hoàng Minh Bảo Huấn. Minh Thái Tổ thường triệu ông ta vào cung để thưa hỏi Phật pháp. Về sau, do bị vụ án Hồ Duy Dung liên lụy, Minh Thái Tổ xử ông tội chết. Do hoàng hậu và thái tử cực lực cầu xin, vua chỉ phạt đày sang Mậu Châu thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Ông chết tại đó. Liên Tŕ đại sư từng tập hợp các trước tác của ông ta, tạo thành bộ Hộ Pháp Lục, lại c̣n đích thân soạn bài minh trên tháp mộ của ông ta, coi ông ta như một vị sa-môn.

[73] Chiêu Minh thái tử tên thật là Chiêu Thống (501-531), tự là Đức Thi, là con cả của Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn), được phong làm Thái Tử khi chưa đầy một tuổi. Ông thông minh, hiếu thuận, sùng đạo. Ông mất sớm (khi chưa tṛn ba mươi tuổi). Ông để lại tác phẩm Văn Tập (tổng tập thi văn), gồm ba mươi tập, về sau đổi tên thành Chiêu Minh Văn Tuyển. Ngoài ra c̣n có các tác phẩm Cổ Kim Điển Cáo Văn Ngôn Chánh Tự (mười quyển), Anh Hoa Tập (hai mươi quyển) v.v… Ông đă chia kinh Kim Cang thành ba mươi hai đoạn và mỗi đoạn dùng bốn chữ để khái quát nội dung, chẳng hạn như Pháp Hội Nhân Do, Thiện Hiện Khải Thỉnh, Đại Thừa Chánh Tông v.v…

[74] Lữ Khôn (1536-1618), tự là Thúc Giản, hiệu là Tân Ngô, Tâm Ngô, và Băo Độc cư sĩ, là quan viên thời minh, đồng thời là một tư tưởng gia. Ông đỗ Tiến Sĩ thời Vạn Lịch, làm quan tới chức H́nh Bộ Thị Lang. Do bị vu cáo là a dua với Trịnh Quư Phi trong việc tranh thủ sách lập cho Phước Vương Châu Thường Duân làm Thái Tử, ông bất măn, từ quan hồi hương. Ông phản đối thuyết Lư Khí bất nhị của Châu Hy, chê bai Lư Học là hư ngụy, hủ bại, nông cạn, mong mỏi phục hồi Nho học thời Tiên Tần. Ông viết Thân Ngâm Ngữ, Khử Ngụy Trai Văn Tập, Thật Chánh Lục, Cận Khê Ẩn Quân Gia Huấn, Tứ Lễ Ước Ngôn v.v… để tŕnh bày quan điểm.

[75] Thời Minh, quan phục của quan lại thuộc bát phẩm hay cửu phẩm có màu lục, hoặc áo mặc của người đỗ Tiến Sĩ đều có màu lục, nên “lục bào” tượng trưng cho người có quan chức.

[76] Theo bài viết về B́nh thị giả đăng trên báo Minh Luân kỳ 491 của tác giả Hành Kiện, B́nh thị giả theo hầu thiền sư Cảnh Huyền Minh An tại Thái Dương Sơn Tự (nay thuộc huyện Thường Đức, tỉnh Hồ Nam), khoe là đạt được yếu chỉ của ngài Minh An, nhưng một dạ truy cầu pháp sanh diệt trong thế gian, mưu toan hăm hại đồng học, đố kỵ những ai giỏi giang hơn ông ta. Trước khi ngài Minh An viên tịch, lưu lại di chúc: “Nếu sau mười năm, toàn thân ta chẳng bị phá hoại, hăy lập hội cúng trai tăng tại Thái Dương sơn tự”. Khi nhập tháp, môn nhân sợ B́nh thị giả sẽ gây hại cho di thể của Minh An thiền sư, viết rơ trong bia tháp tất cả vàng, bạc, tài vật do đô úy Lư Văn Ḥa hiến cúng trước đó đều được chôn theo trong tháp”. Về sau, một hôm, B́nh thị giả nói: “Linh cốt của tiên sư gây bất lợi cho phong thủy của Thái Dương Sơn Tự, phải thiêu đi”. Trưởng lăo và bậc kỳ túc trong núi phản đối, hắn quả quyết “sẽ gây trở ngại cho tôi” rồi phá tháp, lôi di thể ra, thấy thiền sư dung mạo như khi c̣n sống, bèn chất củi đốt. Củi cháy hết, di thể vẫn trang nghiêm như cũ. Hắn liền dùng búa lớn đập vỡ năo của di thể thầy, đổ thật nhiều dầu vào rồi chất củi đốt thành tro tàn. Tăng chúng thưa lên quan, quan phán hắn âm mưu cướp vật dụng trong tháp, bất kính, bất hiếu đối với tiên sư, đuổi hắn hoàn tục. Hắn bèn tự xưng là Hoàng Tú Tài. Hắn lần lượt đến xin nương nhờ thiền sư Quảng Chiếu tại núi Lang Da và thiền sư Viên Giám núi Công An, nhưng đều bị các Ngài cự tuyệt, chỉ đành lưu lạc, cuối cùng bị cọp ăn tại nẻo đường Tam Xoa!

[77] Đoạt xá là từ ngữ của Đạo giáo, quan niệm rằng một người có thần thông, khi tuổi thọ sắp hết, có thể dời chuyển linh hồn chiếm đoạt xác thân của một người khác trẻ khỏe hơn.

[78] Ngài Tịnh Nghiêm Thủ Toại tu hành tại núi Đại Hồng thuộc Tùy Châu vào thời Bắc Tống. Sư xuất gia lúc hai mươi bảy tuổi, do đọc kinh Hoa Nghiêm có tâm đắc, coi kinh ấy như của chí bảo, thề suốt đời hoằng dương Hoa Nghiêm. Sư tham yết thiền sư Đại Hồng Báo Ân ở Tùy Châu, đắc pháp, kế thừa pháp của ngài Đại Hồng. Sư có bài Lễ Hoa Nghiêm Kinh Văn. Bài này được tổ Liên Tŕ đưa vào trong phần Chư Kinh Tập Yếu trong Vân Thê Pháp Vựng. viết chú giải cho Phật Tổ Tam Kinh (tức kinh Tứ Thập Nhị Chương, kinh Di Giáo, và Quy Sơn Cảnh Sách của ngài Quy Sơn Linh Hựu).

[79] “Sa lung” (紗籠) tức là dùng the làm thành cái màn che bụi để bảo vệ thơ văn của danh nhân viết trên vách; dựa theo câu chuyện một vị quan lớn khi bần hàn, sống nhờ một ngôi chùa, bị coi thường, khinh miệt. Đến khi ông đỗ đạt, tăng sĩ trong chùa dùng the bọc bài thơ ông đề trên vách để tỏ ḷng trân trọng. Anh của Tổ Liên Tŕ dùng điển tích này để châm biếm thói xu phụ người quyền quư của ông Tăng ấy.

[80] Địch công là một viên quan sống vào thời Hán Vũ Đế, giữ chức quan Đ́nh Úy, khách lui tới nườm nượp. Sau bị băi chức, trước sân vắng vẻ đến nỗi có thể giăng lưới bắt chim. Về sau, vua cho phục chức Đ́nh Úy, khách khứa lũ lượt kéo tới. Ông bực ḿnh đề bảng ở cửa rằng: “Một chết, một sống, mới biết giao t́nh. Một nghèo, một giàu, mới biết giao du trong thói đời. Một quư, một hèn, giao t́nh mới thấy”.

[81] Phương bào (方袍) nghĩa là áo vuông, tức y ca-sa của tăng nhân, do khi trải ra giống như một tấm chăn lớn, nên gọi tên như vậy.

[82] Theo bộ Thiền Hải Lăi Trắc của cụ Nam Hoài Cẩn, thiền sư Đâu Suất Tùng Duyệt thoạt đầu yết kiến ngài Chân Tịnh, có vị sư Thanh Tố đă tham học với ngài Từ Minh đă lâu, ở một cái thất gần đó, chưa từng qua lại với ai. Do ngài Tùng Duyệt đang ăn quả vải chấm mật, thấy Thanh Tố đi ngang, liền mời Thanh Tố ăn. Qua tṛ chuyện, Tùng Duyệt mới biết Thanh Tố theo hầu ngài Từ Minh đă lâu, làm việc nặng trong chùa suốt mười ba năm. Ngài Đâu Suất Tùng Duyệt khâm phục, hỏi đạo với ngài Thanh Tố. Thanh Tố cho biết đă được ngài Từ Minh thọ kư, nhưng bảo là phước bạc, [thầy dặn] không được nói cho người khác biết. Do vậy, Thanh Tố dùng thiền cơ khảo hạch, cuối cùng ấn khả cho Đâu Suất Tùng Duyệt.

[83] Tô Minh Doăn chính là Tô Tuân (1009-1066), tên tự là Minh Doăn, người huyện My Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, là một văn sĩ nổi tiếng thời Bắc Tống. Ông chính là cha của Tô Thức (Tô Đông Pha) và Tô Triệt. Cả ba cha con đều nổi tiếng về văn chương, nên được gọi gộp chung là Tam Tô.

[84] Ư nói: Từ một mạch Thiền của Tổ Bồ Đề Đạt Ma, tách ra thành năm phái là Lâm Tế, Vân Môn, Tào Động, Quy Ngưỡng, và Pháp Nhăn.

[85] Lưu Khoan (120-185), tự là Văn Nhiêu, người huyện Hoa Âm, quận Hoằng Nông thời Đông Hán. Ông làm đến chức Thái Úy thời Hán Linh Đế. Lúc mất, được phong làm Chiêu Liệt Hầu.

[86] Kim Cang Trí (Vajrabodhi, 669-741) là tổ sư của Hán Truyền Đông Mật. Sư là người xứ Ma Lại Da, Ấn Độ, thuộc chủng tánh Bà La Môn, thông minh, dĩnh ngộ từ nhỏ. Khi mười tuổi, xin xuất gia tại chùa Na Lan Đà, y chỉ pháp sư Tịch Tĩnh học Thanh Minh. Từ mười lăm tuổi, Sư dùng bốn năm học tập các trước tác của luận sư Pháp Xứng. Sau khi thọ giới lúc hai mươi tuổi, Sư dùng sáu năm học giới luật Đại, Tiểu Thừa, và các bộ luận Bát Nhă Đăng Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận v.v… Sau đó, theo ngài Thắng Hiền học Duy Thức như Du Già Luận, Duy Thức Luận, Biện Trung Biên Luận v.v… Lúc ba mươi mốt tuổi, Sư theo ngài Long Trí học Mật Tông, chuyên nghiên cứu giáo hệ Kim Cang Giới như các kinh Kim Cang Đảnh Du Già, Tỳ Lô Giá Na Tổng Tŕ Đà La Ni, thọ trọn Ngũ Bộ Quán Đảnh. Sau khi chiêm bái các thánh tích tại nước Sư Tử, Sư chuẩn bị sang Đông Độ. Sư ngồi thuyền theo đường biển đi qua hơn hai mươi nước như Sư Tử, Phật Thệ… đến Quảng Châu, được tiếp đăi rất trọng vọng. Sư kiến lập đàn tràng Đại Mạn Đà La tại đó. Năm sau, Sư đến Lạc Dương, bắt đầu truyền giáo tại Trường An và Lạc Dương. Trước sau, Sư trụ tại các chùa Từ Ân, Tiến Phước, Tư Thánh, Đại Tiến Phước v.v… Trước sau, Sư chủ tŕ dịch các bộ Kim Cang Đảnh Du Già Trung Lực Xuất Niệm Tụng Kinh, Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Nê Đại Minh Đà La Ni Kinh, Kim Cang Đảnh Kinh Mạn Thù Thất Lợi Bồ Tát Ngũ Tự Tâm Đà La Ni Phẩm, Quán Tự Tại Như Ư Luân Bồ Tát Du Già Pháp Yếu, Kim Cang Đảnh Du Già Tu Tập Tỳ Lô Giá Na Tam Ma Địa Pháp, Thiên Thủ Thiên Nhăn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên Măn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Chú Bổn v.v… Ngài c̣n giảng giải Kim Cang Đảnh Du Già Trung Lược Xuất Tụng Niệm Kinh, được các đệ tử ghi lại thành tác phẩm Kim Cang Đảnh Kinh Đại Du Già Bí Mật Tâm Địa Pháp Môn Nghĩa Quyết.

Bất Không Kim Cang (Amoghvajra, 705-774), đôi khi c̣n được dịch là Công Đức Bất Không, hoặc phiên âm là A Mô Già, A Mục Khư. Sư là học tṛ của ngài Kim Cang Trí. Sư vốn là người nước Sư Tử (Sri Lanka), theo học với Kim Cang Trí từ lúc mười bốn tuổi. Khi ngài Kim Cang Trí sang Trung Hoa, Sư cũng đi theo. Tới năm 724, Sư thọ Cụ Túc Giới tại chùa Quảng Phước. Khi ngài Kim Cang Trí dịch kinh, thường dùng ngài Bất Không làm công tác dịch ngữ. Do muốn học thêm Mật pháp, sau khi thầy mất, Sư đă dẫn các đệ tử như Hàm Quang, Huệ Biện v.v… trở về Ấn Độ, sau một năm mới đến nước Sư Tử. Sư bái yết Phổ Hiền A Xà Lê, học Đại Bi Thai Tạng, học Ngũ Bộ Quán Đảnh, Sư quên ăn bỏ ngủ để học pháp. Năm 746, Sư trở lại Trung Hoa, vâng chiếu trụ tại chùa Hồng Lô ở Trường An, rồi sang chùa Tịnh Ảnh để chuyên dịch kinh, truyền pháp. Sư phiên dịch khá nhiều, tổng cộng 142 quyển, chủ yếu là kinh Mật Tông và một số luận, sớ như Đại Thừa Duyên Sanh Luận, Kim Cang Đảnh Du Già Trung Phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm Luận, Kim Cang Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Phân Biệt Thánh Vị Pháp Môn, Bát Nhă Lư Thú Thích, Nhân Vương Bát Nhă Đà La Ni Thích.

[87] Lục súc: Sáu loại gia súc (ngựa, trâu hoặc ḅ, dê, lợn, chó, gà), nói rộng ra là các loại gia súc.

[88] Quách () là lớp bọc ngoài quan tài, thường là một cỗ quan tài lớn hơn. Hồn kiệu (魂轎) là một cái kiệu thường làm bằng tre dán giấy trang trí, bên trong đặt bài vị và các vật dụng thường dùng của người mất, khiêng trước quan tài khi đưa ma. Khi an táng xong bèn thiêu đi. Minh tinh (明旌) có nghĩa là “cờ hiệu để nêu rơ”, thường là một tấm vải dài, dựng thẳng, trên đó đề quê quán, tên tuổi, chức tước, tên hiệu, thụy hiệu được triều đ́nh phong tặng của người chết (nếu có).

[89] Phần đ́nh viện lộ thiên giữa một kiến trúc th́ gọi là Trung Đ́nh.

[90] Tức ngài Linh Thụ Như Mẫn (?-918) là cao tăng thời Ngũ Đại Thập Quốc, do trụ tại núi Linh Thụ thuộc Thiều Chân, nên thường gọi là thiền sư Linh Thụ. Sư được Nam Hán Cao Tổ (Lưu Yểm) rất kính trọng, sai người tới hỏi ư về cách hành binh. Sư biết trước, cho nên khi sứ giả đến, thấy Sư đă ngồi qua đời. Vân Môn tức Vân Môn Văn Yển là đệ tử của Ngài.

[91] Tông Bá (宗伯) vốn là một chức quan đă được thiết lập từ thời Tây Châu, thuộc vào Lục Khanh, chưởng quản việc lễ nghi của đất nước. Do vậy, đời sau quen gọi Thượng Thư bộ Lễ là Đại Tông Bá, gọi Lễ Bộ Thị Lang là Thiếu Tông Bá. Ông Tông Bá họ Lục ở đây chính là Lục Thụ Thanh, người xứ Hoa Đ́nh thuộc phủ Tùng Giang, sống vào đời Minh, làm quan Lễ Bộ Thượng Thư thời Vạn Lịch, thọ đến chín mươi bảy tuổi, được vua ban thụy hiệu là Văn Định.

[92] Bạch Khởi (332-257 trước Công Nguyên), vốn là con cháu của Sở Quốc Công, nên c̣n gọi là Công Tôn Khởi, là đại tướng nước Tần, nổi tiếng về tài dùng binh. Ông ta làm tướng nước Tần suốt ba mươi năm, được phong làm Vũ An Quân, đă công phá hơn bảy mươi ṭa thành, giết địch quân vô số. Trong các trận Y Khuyết, Yên Dĩnh, Hoa Dương, H́nh Thành, số lính địch bị ông ta hạ lệnh tàn sát không lần nào dưới mười vạn! Riêng trong trận Trường B́nh, do nước Triệu phái tướng Liêm Pha dẫn quân cứu viện nước Hàn đang bị Tần vây hăm, đôi bên giằng co tại Trường B́nh. Liêm Pha không chịu giao chiến, quân Tần sắp hết lương thảo. Tể tướng Phạm Thư của Tần lập kế ly gián, khiến vua Triệu ngờ vực Liêm Pha, sai Triệu Quát sang thay Liêm Pha. Triệu Quát hăng máu, lầm kế dụ địch của quân Tần, đại bại. Hơn hai mươi vạn quân Triệu phải ra hàng. Vũ An Quân Bạch Khởi giả vờ nói người khỏe mạnh sẽ đem về làm quân nước Tần, người già yếu cho về Triệu. Quân Triệu mừng rỡ. Bạch Khởi lại c̣n cho họ ăn uống chè chén say sưa. Đêm đến, Bạch Khởi sai quân Tần đầu bịt vải trắng để làm dấu nhận biết nhau, xông vào chém chết hàng quân. Trong một đêm, hai mươi vạn quân Triệu chết sạch. Tính cả những người bị giết trong khi giao chiến trước đó, toàn trận Trường B́nh có bốn mươi lăm vạn quân Triệu bị tàn sát.

[93] La đạo c̣n gọi là La giáo, La Tổ Giáo, Đại Thừa Giáo, Vô Vi Giáo do La Thanh (1442-1527) sáng lập. La Thanh là một quân nhân chuyên vận chuyển lương thực, quê ở huyện Tức Mặc thuộc tỉnh Sơn Đông. Sau khi giải ngũ, hắn “kh công học Phật” suốt mười ba năm. Tới khi sáu mươi bảy tuổi, bèn tự xưng đă giác ngộ, bắt đầu trước tác kinh sách, lại được các hoạn quan và tăng sĩ mê muội như Đại Ninh, Lan Phong v.v… tán trợ, nên lan truyền rất mạnh trong giới b́nh dân, chủ yếu là giới thủy thủ trên sông Hoàng Hà. Ông ta chủ trương tu hành tại gia, phản đối các nghi thức của Thiền Tông, chủ trương đạo của ông ta mới là Thiền Tông chân chánh. Trước tác của ông ta gồm năm bộ sách gọi là ngũ bộ, do chia thành sáu tập, nên gọi là Ngũ Bộ Lục Sách (thật ra, những sách này do đệ tử ông ta ghi lại và chỉnh lư những lời giảng truyền khẩu của họ La, bao gồm Khổ Công Ngộ Đạo Quyển một tập, Thán Thế Vô Vi một quyển, Phá Tà Hiển Chánh Thược Chủy Quyển hai tập, Chánh Tín Trừ Nghi Vô Tu Chánh Tự Tại Bảo Quyển một tập, Nguy Nguy Bất Động Thái Sơn Thâm Căn Kết Quả Bảo Quyển một tập). Các sách này phần nhiều trích dẫn kinh Phật, chủ yếu là kinh Kim Cang, nhưng giải thích xuyên tạc, pha trộn nhiều giáo nghĩa của Đạo giáo, nhấn mạnh Tịnh Độ tại tâm, t́m cầu tự tâm, không cần h́nh thức bên ngoài, cho đó là Vô Vi, không câu nệ giới luật, tuy vẫn ăn chay, tích đức, hành thiện. Về sau, tín đồ thêm thắt một vị thần tiên hư cấu là Vô Sanh Lăo Mẫu, đề cao tôn thờ Di Lặc Phật, h́nh thành các chi phái Trường Sanh Giáo, Thanh Liên Giáo, Chân Không Giáo, Trai Giáo, Nhất Quán Đạo, Hoàng Thiên Đạo v.v…

[94] Dương Thứ Công, tên thật Dương Kiệt (1023-1092), tự là Thứ Công, hoặc Vô Vi, người huyện Lô Giang, tỉnh An Huy. Ông làm quan thuộc bộ Lễ, sau được cử trấn thủ Nhuận Châu (nay là Trấn Giang thuộc Giang Tô) rồi giữ chức Đề Điểm H́nh Ngục tỉnh Giang Tô. Ông thích Phật học, nhiệt thành tin Tịnh Độ, chơi thân với thiền sư Thiên Y. Tuổi già, ông từng vẽ tượng Di Đà cao một trượng sáu thước, thường mang theo để quán tưởng, niệm tụng. Lúc lâm chung, cảm Phật đến đón, ngồi văng sanh. Di văn của ông được thâu thập thành Vô Vi Tập gồm mười lăm quyển.

[95] Tụng cổ: Dùng kệ tụng giản dị đ biểu thị ư nghĩa của một công án th́ gọi là Tụng Cổ, tức là dùng h́nh thức ngâm vịnh khiến cho người đọc lănh hội ư nghĩa đối đáp của cổ nhân trong một công án.

Niêm Cổ: Nêu ra một công án rồi viết lời phê b́nh hoặc chỉ nhận xét, c̣n gọi là Niêm Đề, hoặc Niêm Tắc.

[96] Tức ngài Hương Nam Trí Nhàn sống vào đời Đường, đệ tử nối pháp của ngài Quy Sơn Linh Hựu. Thoạt đầu, Sư tham yết Bách Trượng Hoài Hải chưa ngộ. Sau khi tổ Bách Trượng mất, Sư yết kiến Quy Sơn Linh Hựu, bị cật vấn, vẫn ngơ ngác không trả lời được, bèn lui về, vào núi Vũ Đang ở Nam Dương ẩn cư. Một hôm, Sư cuốc cỏ, quăng một viên đá va vào thân trúc vang ra tiếng lạch cạch, bèn đại ngộ.

[97] Tức ngài Linh Vân Chí Cần, sống vào đời Đường. Sư nối pháp của thiền sư Trường Khánh Đại An. Thoạt đầu, Sư trụ tại núi Đại Quy, do thấy hoa đào nở mà đại ngộ, có bài kệ rằng: “Suốt ba mươi năm t́m kiếm khách. Mấy độ lá rụng, lại níu cành. Từ khi trông thấy hoa đào nở, măi đến hiện thời bèn chẳng nghi!”

[98] Đây là một công án trong nhà Thiền: Ngài Tuyết Nham Tổ Khâm hỏi Cao Phong Nguyên Diệu: “Khi ngủ không có mộng, không có tưởng, chẳng thấy, chẳng nghe, làm chủ ở chỗ nào?” Cao Phong không trả lời được, lui về suốt ba năm khổ công tham cứu. Một hôm, do một người đồng tu ở cùng Thiền pḥng đẩy cái gối trúc rơi xuống đất, vang ra tiếng kêu, Sư nghe tiếng ấy bèn đại ngộ.

[99] Đây là một công án trong nhà Thiền: Cuối đời Đường, vị Tăng tên Sớ Sơn Nhân Khuông do ngạo mạn, ác kiến, bị sư huynh là Hương Nghiêm Trí Nhàn tiên đoán là sẽ bị thổ tả suốt ba mươi năm. Nguyên do là có một vị Tăng hỏi ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn: “Chẳng tôn trọng bản lai diện mục của chư thánh và chính ḿnh th́ sẽ ra sao?” Hương Nghiêm đáp: “Muôn cơ đều thôi dứt, ngàn thánh chẳng dắt d́u”. Khi đó, Sớ Sơn Khuông Nhân ngồi tại đó, bèn giả vờ ói để chế giễu. Hương Nghiêm thỉnh giáo, Sớ Sơn đ̣i sư huynh phải lễ bái ḿnh như thầy mới trả lời. Hương Nghiêm bèn xuống ṭa, lễ bái. Sớ Sơn nói: “Sao chẳng nói là chẳng chịu chấp nhận, sẽ chẳng được toàn vẹn”. Hương Nghiêm lại hỏi: “Chịu là chịu cái ǵ? Chấp nhận là chấp nhận ai?” Sớ Sơn đáp: “Chịu là chịu ngàn vị thánh khác, chấp nhận là chấp nhận tánh linh của của chính ḿnh!” Hương Nghiêm bèn nói lời tiên đoán: “Do ác kiến ấy, Sớ Sơn sẽ bị thổ tả suốt ba mươi năm, ở trong núi mà không có củi đốt, ở gần nước mà không có nước uống”. Quả nhiên về sau Sớ Sơn Khuông Nhân trụ tại Sớ Sơn thật sự bị bệnh như thế.

[100] Thiết Luân là một địa vị trong lục luân của Bồ Tát đạo (thiết luân, đồng luân, ngân luân, kim luân, lưu ly luân, ma ni luân). Thiết Luân tương ứng với địa vị Thập Tín, đă trọn đủ tín tâm, đoạn trừ Kiến Hoặc.

[101] Theo quy định thời đầu nhà Minh, cứ một trăm mười gia đ́nh là một Lư, lập lư trưởng cầm đầu. Mỗi lư trưởng có mười Giáp Thủ (người cầm đầu một Giáp, tức mười một nhà) phụ tá để đ̣i thuế (nhất là thuế đinh), phân công lao dịch, quản lư hộ tịch v.v… Giáp Thủ được chọn luân phiên từ mỗi chủ gia đ́nh trong một giáp.

[102] Tam Thanh tức là ba vị thần tối cao trong Đạo giáo, thường gọi là Tam Thanh Đạo Tổ, sáng tạo vạn vật, tức:

- Ngọc Thanh Nguyên Thỉ Thiên Tôn cai quản Ngọc Thanh Cảnh Thanh Vi Thiên.

- Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn, cai quản Thượng Thanh Cảnh Vũ Dư Thiên.

- Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn (Thái Thượng Lăo Quân, tức Lăo Tử), cai quản Thái Thanh Cảnh Đại Xích Thiên.

Thiên Tôn là danh xưng tôn kính trong Đạo Giáo đối với các vị thần tối cao của họ. Chẳng hạn như sách Thái Cổ Kinh Chú giảng: “Thiên Tôn là đấng thượng huyền chí cực, cao minh, tôn quư, chân thật, chủ của tam giới, thầy của trời người, là đức hiệu huyền diệu”. Thiên Tôn chỉ dùng để tôn xưng nam thần như Tam Thanh, Ngọc Hoàng, thần sấm (Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn), c̣n nữ thần tối cao sẽ được gọi là Nguyên Quân. Tuy vậy, về sau nam thần địa vị cao, nhưng chưa đến mức cùng tột, chỉ được gọi là Đạo Quân, c̣n nữ thần địa vị khá cao đều nhất loạt gọi là Nguyên Quân. Chẳng hạn, Thánh Mẫu Nguyên Quân (theo truyền thuyết là mẹ của Lăo Tử), Đẩu Mỗ Nguyên Quân (vị nữ thần sanh ra Bắc Đẩu), Bích Hà Nguyên Quân (thần nữ núi Thái)…

[103] Ngài Thanh Lương Trừng Quán được tôn làm Quốc Sư suốt bảy đời vua nhà Đường.

[104] Ngũ cốc là năm loại hạt lương thực, tức đạo (lúa tẻ), thử (nếp), tắc (hạt kê), mạch (lúa ḿ), thúc (đậu nành). Từ ngữ “ngũ cốc thường dùng để chỉ chung các loại hạt có thể dùng làm lương thực.

Ngũ thái là năm loại rau, tức quỳ (một loại rau thời cổ, lá xoay theo hướng mặt trời, nên gọi là Quỳ), cửu (hẹ), hoắc (một loại rau thời cổ), giới (củ kiệu), thông (hành củ). Về sau, từ ngữ này cũng dùng để phiếm chỉ các loại rau để ăn.

Ngũ quả là táo (quả táo Tàu), lư (mận), hạnh (mơ), lật (hạt dẻ) và đào. Đây cũng là từ ngữ chỉ chung các loại quả.

[105] Nội Kinh có tên gọi đầy đủ là Hoàng Đế Nội Kinh, là sách thuốc, được coi là cơ sở lư luận của Trung Y. Thật ra, sách gồm hai phần là Tố Vấn và Linh Xu, nhưng thường gộp chung thành một sách. Tương truyền, sách này chép lại cuộc trao đổi về y học giữa vua Hoàng Đế và y sư Kỳ Bá.

[106] Một đấu là mười hai cân (mỗi cân là nửa kư lô, tức sáu kư). Một thạch là một trăm hai mươi cân (sáu mươi kư).

[107] Chân Cáo (真誥) là trước tác của đạo sĩ Đào Hoằng Cảnh trong thời gian ẩn cư tại Mao Sơn, được coi là kinh điển chủ yếu của phái Thượng Thanh trong Đạo giáo. Chân Cáo có nghĩa là lời răn dạy của bậc chân nhân. Sách chép lịch sử của phái Thượng Thanh, truyện kư, và các phương thuật, cách luyện đan v.v…

[108] C̣n gọi là Lục Quần tỳ-kheo, tức sáu vị tăng kết đoàn với nhau làm ác, chẳng giữ oai nghi trong thời đức Phật tại thế, ḥng tạo duyên cho đức Phật chế giới. Kinh luận chép danh xưng của họ hơi khác, do phiên âm khác biệt, đại lược là:

1) Xiển Đà, c̣n phiên là Xiển Na, Xiển Nộ, hoặc Xa Nặc, hay sân hận, hoặc gọi là ác tánh tỳ-kheo. Sau khi đức Phật nhập diệt, vị này đắc đạo nơi ngài A Nan.

2) Ca Lưu Đà Di, c̣n phiên âm là Ô Đà Di, tánh đa dâm, về sau tuy đắc đạo nơi Phật, nhưng do túc trái, bị giặc cướp giết chết, vùi trong hầm phân.

3) Tam Văn Đạt Đa, c̣n phiên âm là Nan Đà, Nan Đồ.

4) Ma Hê Sa Nan Đà, c̣n phiên âm là Bạt Nan Đà.

5) Mă Sư, c̣n phiên âm là Mă Túc, A Thuyết Ca.

6) Măn Túc, c̣n phiên âm là Bộ Na Bà Tố Ca, hoặc Phất Na Bạt.

[109] Trong sách Hoài Nam Tử có nói Vũ Gia (羽嘉) là một loài thần điểu, sanh ra phi long, phi long sanh phượng hoàng, phượng hoàng sanh chim loan, chim loan sanh ra các loài chim thường.

[110] Thúc tu (束修) có nghĩa gốc là “mười lát thịt khô buộc thành xâu”. Đây là lễ vật cổ nhân dùng trong lễ bái sư. Về sau, “thúc tu” được dùng với ư nghĩa các phẩm vật dâng lên thầy khi mới gặp mặt để xin bái sư.

[111] Vạn Tùng lăo nhân là ngài Vạn Tùng Hành Tú (1166-1246), pháp tự Báo Ân, cao tăng thuộc tông Tào Động đời Kim, người xứ Thấm Dương, tỉnh Hà Nam. Vạn Tùng Dă Lăo là ngài tự xưng. Ngài xuất gia khi mười lăm tuổi. Sau khi thọ giới vân du thiên hạ, t́m thầy, học đạo, tận lực tham cứu Thiền Tông, đắc pháp nơi thiền sư Tuyết Nham Như Măn, Ngài dụng công nhiều nhất nơi kinh Hoa Nghiêm, làu thông học thuyết của bách gia chư tử. Vua Kim Chương Tông (Hoàn Nhan Cảnh) từng triệu kiến Sư để hỏi đạo. Tể tướng Mông Cổ là Da Luật Sở Tài cũng từng tham yết Sư để vấn đạo, thỉnh giáo đạo trị quốc. Sư chỉ đáp gọn: “Dùng Nho trị quốc, dùng Phật trị tâm”. Da Luật Sở Tài khen ngợi không ngớt, xin tôn Sư làm thầy. Cũng do Da Luật Sở Tài khải thỉnh, Sư viết bộ Thung Dung Lục gồm sáu quyển để nêu rơ tông phong Tào Động. Ngài c̣n soạn các bộ Thỉnh Ích Lục, Tổ Đăng Lục, Thích Thị Tân Văn, Minh Đạo Tập, Tứ Hội Ngữ Lục v.v….

[112] Ngài Thạch Củng Huệ Tạng là thiền sư sống vào đời Đường. Trước khi xuất gia, Ngài là thợ săn. Do đuổi theo một con nai mà gặp Mă Tổ Đạo Nhất, được điểm hóa, bèn đắc ngộ. Sư bèn bẻ găy cung tên, theo Mă Tổ xuất gia, được trao tâm ấn. Về sau, Sư vào núi Thạch Củng kết lều tranh tu hành, người đời gọi Ngài là Thạch Củng ḥa thượng.

[113] Phổ Hóa là một vị thiền sư sống vào đời Đường, theo hầu thiền sư Bàn Sơn Bảo Tích, được ngầm truyền chân quyết, thâm nhập chỗ thâm áo. Sau khi thiền sư Bảo Tích thị tịch, Sư liền du hóa các châu trấn tại Bắc Hà, nói lời như cuồng, hành vi không câu nệ, chỗ ở chẳng nhất định, thường la cà thành thị, chốn mồ mả, lúc th́ ca múa, lúc buồn khóc.

[114] Thúc Tử ở đây chính là Dương Hỗ, tên tự là Thúc Tử, ông là một viên quan lớn kiêm danh tướng thời Tây Tấn. Đời trước, Dương Hỗ là con nhà họ Lư. Theo Tấn Thư, phần Liệt Truyện quyển thứ tư, lúc Dương Hỗ năm tuổi, đ̣i nhũ mẫu đưa cho ḿnh chiếc ṿng vàng ông ta vẫn hay cầm chơi. Nhũ mẫu bảo: “Trước nay làm ǵ có vật ấy?” Dương Hỗ bèn chỉ lên cây dâu ở tường Đông nhà họ Lư hàng xóm, quả nhiên t́m được. Chủ nhà họ Lư kinh ngạc nói: “Đó là vật thất lạc của đứa con đă mất của tôi, sao lại lấy đi?” Nhũ mẫu thuật đầu đuôi, họ Lư than khóc khôn xiết.

[115] Theo sách Hoài Nam Tử, Công Ngưu Ai bị bệnh nặng, sau bảy ngày hóa thành cọp. Anh ông ta đóng chặt cửa, vào xem, bị hổ vồ chết. Theo Tùy Thư quyển bảy mươi bảy, chép các chuyện lạ như Bành Sanh làm lợn, Như Ư làm chó, Hoàng Mẫu làm con rùa biển, Tuyên Vũ làm rùa, Đặng Ngải làm trâu.

[116] Đại Trủng Tể hay c̣n gọi là Thái Tể là chức quan đứng đầu các quan, chưởng quản sáu loại điển tịch, phù tá quốc vương, gần tương đương với Thừa Tướng hoặc Tể Tướng sau này. Đến thời Tống Huy Tông, vua ra lệnh cải cách guồng máy hành pháp, đặt ra chức Thiếu Tể là người phù tá của Thái Tể. Thái Tể dưới đời Tống tức là chức Tả Bộc Xạ trước đó, kiêm Môn Hạ Thị Lang, c̣n Thiếu Tể (Thiếu Trủng Tể) tức là Hữu Bộc Xạ trước đó, kiêm chức Trung Thư Thị Lang. Ông Triệu Định Vũ được nói ở đây tên thật là Triệu Dụng Hiền (1535-1596), tự là Nhữ Sư, hiệu là Định Vũ, người xứ Thường Thục, phủ Tô Châu. Trong khi đang giữ chức Kiểm Thảo, ông dâng sớ phản đối chuyện Thủ Phụ Trương Cư Chánh tang cha, không chịu xin nghỉ để tang ba năm, mà vẫn làm quan. Do vậy, ông Triệu bị vua phạt trượng, đuổi về làm dân. Sau khi Trương Cư Chánh chết, ông lại được gọi ra làm quan. Trong thực tế, ông chỉ giữ chức Lại Bộ Thị Lang (tương đương thứ trưởng), khi mất, được phong tặng Thái Tử Thiếu Bảo, Lễ Bộ Thượng Thư, coi như phụ tá của Thủ Phụ, nên mới gọi là Thiếu Trủng Tể.

[117] Tư Khấu là chức quan đă có từ thời Tây Châu, chuyên quản trị việc h́nh phạt và tư pháp, là một trong lục khanh. Về sau, chức vụ này có khi gọi là Đ́nh Úy. Sau này, khi lục bộ thiết lập, H́nh Bộ Thượng Thư được gọi là Đại Tư Khấu, c̣n H́nh Bộ Thị Lang gọi là Thiếu Tư Khấu.

[118] Thích Thị Yếu Lăm là một loại tiểu bách khoa toàn thư Phật giáo, do tăng nhân Đạo Thành biên soạn trong niên hiệu Thiên Hy đời Bắc Tống. Sách gồm ba quyển, chia thành hai mươi bảy chương, gồm 680 mục, dài đến tám mươi mốt ngàn chữ, giải thích các danh từ thường gặp trong Phật giáo, trích dẫn khá nhiều kinh sách.

[119] Tăng Huy Kư có tên gọi đầy đủ là Hành Sự Sao Tăng Huy Kư gồm hai mươi quyển, do luật sư Hy Giác chùa Thiên Phật ở Tiền Đường biên soạn vào thời Ngũ Đại.  

[120] Trong cổ lễ, giáng phục tức là tang phục tùy thuộc địa vị hoặc t́nh huống của người sống mà giảm cấp, chẳng hạn con gái xuất giá, đối với cha mẹ ruột đáng lẽ phải để tang ba năm th́ chỉ c̣n để tang một năm, tang phục cũng giản tiện hơn so với tang phục khi thọ tang cha mẹ chồng. Nói giáng phục cho chư tăng tức là để tang, nhưng không bắt buộc phải xô gai, mũ rơm, gậy chống, áo xổ gấu như người thế tục.

[121] Bạch Hổ Thông c̣n gọi là Bạch Hổ Thông Nghĩa hoặc Bạch Hổ Thông Đức Luận, bốn quyển. Nguyên do là vào năm Kiến Sơ thứ tư (79) đời Hán Chương Đế, triều đ́nh mở hội nghị tại Bạch Hổ Quán triệu tập các quan Thái Thường, tướng quân, đại phu, bác sĩ, nghị lang, lang quan và các học tṛ thuộc Quốc Tử Giám trần thuật kiến giải về sự đồng dị của ngũ kinh. Chương Đế đích thân xem xét và quyết định, hội nghị tổng kết ư kiến thành một tác phẩm gọi là Bạch Hổ Nghị Tấu. Dựa theo đó, sử gia Ban Cố biên soạn thành tác phẩm Bạch Hổ Thông Nghĩa. Đời Thanh, Trần Lập viết chú giải, đặt tên là Bạch Hổ Thông Sớ Chứng.

[122] Ngũ Sam chính là vị tăng tên Ứng Chi thời Nam Đường. Do Sư kết am ẩn tu tại núi Ngũ Sam, có viết Ngũ Sam Tập để chép các quy định về lễ nghi cho tăng sĩ.

[123] Cương Liệp (剛鬣) là danh xưng thời cổ để gọi con lợn dùng trong tế thần. Danh xưng này được ghi chép đầu tiên trong thiên Khúc Lễ của Lễ Kư. Khổng Dĩnh Đạt chú giải: “Lợn béo th́ lông cứng tua tủa, nên gọi là Cương Liệp”.