Vân Thê Pháp Vựng
雲棲法彙
Phần 4
Cổ
Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư
trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo bản điện tử Gia Hưng
Đại Tạng Kinh của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ
Trang
* Khám nghiệm
Người
tham học có ngộ, ắt phải trải qua bậc tông
sư sáng mắt khám nghiệm thì mới
được. Như một vị tăng
thường nghỉ đêm trong lò đốt giấy nơi ṭa miếu
thờ thần, có một vị sư khác
ngầm núp trong lò đốt giấy, chờ
vị ấy đến ngủ, bèn thộp ngực nắm
lấy, hỏi:
“Như thế nào là ý của tổ sư
từ phương Tây đến?” Tăng đáp: “Cái
khay đựng rượu trước
tượng thần”. Lại có một vị
Tăng nói chính mình đã đắc
ngộ, ngài Huyền Sa[1]
cố ư cùng đi với vị ấy, tới
bên chỗ có nước, bỗng đẩy vị
đó rơi tơm xuống
nước, hỏi nhanh: “Lúc Ngưu Đầu[2]
chưa gặp Tứ Tổ thì như thế
nào?” Tăng đáp: “Duỗi chân nơi chân co v.v…”
Hai vị tăng ấy nếu chẳng phải là tâm
địa rỗng rang, ngàn điều đều hiểu
rơ, trăm điều đều đích đáng, hễ hô
liền ứng như hang trống vọng tiếng,
hễ vật đến bèn hiện bóng như gương
sáng đối trước vật, sao có
thể trong lúc thảng thốt, chân tay quưnh
quíu mà thốt lời, phun lẽ chẳng
sai thời đích đáng như thế,
tự tại như thế ư? Trong lúc b́nh thường,
nếu dùng ý thức để dò
lường, suy đoán, thuận theo cơ phong
để làm kệ tụng, th́ không ǵ chẳng đẹp
đẽ dễ nhìn, chứ trong hoàn cảnh “sét
đánh chẳng kịp bưng tai”, sao khỏi
mờ mịt? Há
chẳng nên thận trọng ư?
* Vị tu đạo
ở chùa Bách Pháp
Trong niên
hiệu Gia Tĩnh, có người tu đạo X…
ngụ tại chùa Bách Pháp ở Ngô Sơn,
chẳng hề khất thực, hóa duyên. Một
người đệ tử bán thuốc
để châu cấp cho thầy. Vị ấy mỗi ngày
ăn ba bữa, mỗi bữa là hai chén
cháo, mấy cọng rau gửi nấu trong nồi
cháo. Vị ấy suốt ngày ngồi trong một
gian phòng, im lặng. Có người kết
hội niệm Phật, thành lập xong, toan hỏi
han, [vị tu đạo ấy] liền xua tay nói: “Chỉ cần tĩnh
tọa, đừng nói năng”. [Người ấy]
đã chẳng thể nói, liền băn
khoăn, lui ra, đem bánh trái, rau quả dâng lên, [vị
ấy] cự tuyệt chẳng nhận, bảo:
“May là có cháo đặc để chữa
đói, không duyên cớ mà đưa những thứ này
vào bụng để làm ǵ?” Khi ấy, tuy chưa hỏi kỹ
vị ấy tu đạo gì, nhưng [vị ấy] chuyên
ròng, thong dong, chẳng nhiễm duyên đời.
Nay thì rất ít người giống như
vị ấy, đúng là tôi chẳng sánh
bằng được! Do vậy, ghi lại.
* Đại hiếu xuất
thế gian
Phận
làm con đối với cha mẹ, phục
dịch, phụng dưỡng để cha mẹ
được an ổn, đó là hiếu.
Lập thân, hành đạo để cha mẹ
được rạng mày nở mặt,
đó là đại hiếu. Dùng pháp môn Niệm
Phật để khuyên lơn, hòng cha mẹ
được sanh về Tịnh Độ, đó
là đại hiếu nhất trong các thứ đại
hiếu. Tôi sanh muộn, vừa mới nghe Phật
pháp, niềm đau “cây muốn lặng mà gió chẳng
ngừng”[3] đã
xảy đến, đau xót cùng cực suốt
đời! Tuy muốn bù đắp, nhưng
chẳng có cách nào! Kính thưa
với mọi người, cha mẹ còn
tại thế, hãy sớm khuyên họ niệm Phật.
Ngày cha mẹ mất, hãy lập công khóa
niệm Phật ba năm. Nếu chẳng thể
thì hoặc là một năm tròn,
hoặc bốn mươi chín ngày đều
được! Con hiếu muốn báo ân cù lao,
chẳng thể không biết điều này!
* Tâm chính là Phật
Mã
Tổ nói “tâm chính là Phật”, ngài Đại
Mai[4]
lãnh ngộ ý chỉ, bèn yên tâm trụ trong
núi. Sau đó, lại nghe nói “chẳng
tâm, chẳng Phật”, bèn bảo: “Mặc
cho ông ta chẳng phải tâm, chẳng phải
Phật, ta chỉ là tâm chính là Phật”.
Mã Tổ ấn chứng: “Quả mơ
đã chín rồi!” Người
đời tán thưởng sự diệu
ngộ của ngài Đại Mai, nhưng [điều này] có
hai ý, chẳng thể không biện định.
Thẳng thừng khế ngộ cội nguồn,
hễ tin bèn vĩnh viễn tin, lại chẳng
bị chuyển dời bởi danh từ
rườm rà, hay tướng khác lạ; đó
là “quả mơ đã chín”. Nếu
như lời được nghe trước tiên liền trở thành kiến giải chủ
yếu, lại chấp chết cứng vào câu
văn, gánh gai bỏ vàng, thì
sự chín muồi ấy là chín rục,
rữa nát, chẳng phải là chín
muồi (thành thục). Người xưa gọi năm
ngàn người rời khỏi giảng tịch
[trong hội Pháp Hoa] là “mầm
cháy, hạt lép”.
* Khuyết điểm của
Thế Trí Biện Thông
Người
đời coi trọng thông minh, khoe khoang uyên bác, ganh
đua lời lẽ bóng bẩy, nhưng [những
thứ đó] chẳng đủ để trông
cậy, do nó có khuyết điểm. Kẻ
học cùng tận [văn từ, triết thuyết của]
bách gia, văn chương trùm lấp một thời,
có khi đời sau chẳng biết một
chữ! Thậm chí như Thuần thiền sư do
tài nghệ, bản lãnh mà nổi danh, nhưng sảy
chân [vấp
ngă rồi] đứng dậy, liền thành ngây
ngốc, chẳng đợi tới
đời sau! Thậm chí còn hóa thành dị
loại (chẳng phải loài người), tức
là chỉ nghĩ tới cỏ, nước,
chẳng biết chi khác! Cái có thể trông
cậy ở chỗ nào? Chỉ có chân trí
Bát Nhã chứa đựng trong ruộng thức
thứ tám, vĩnh hằng xưa nay, dẫu
bị vùi dập chẳng nát, dẫu trong
nẻo mê, hễ đụng đến vẫn ngộ.
Người thế tục
chẳng biết ý này, chẳng đáng
lấy làm lạ, chứ kẻ xuất gia lại
đem chuyện thuộc bổn phận bó lại,
xếp trên gác cao, dốc sức nơi
những thứ học vấn bên ngoài, đáng than khôn
xiết!
* Hiếu kỳ
Kẻ thông
minh phần nhiều hiếu kỳ, kẻ hiếu kỳ
phần nhiều bị mê hoặc. Bởi lẽ,
cái danh xưng hiếu kỳ đã phô bày,
thì những kẻ gọi là “hải thượng
Yên Tề vu quái” (kẻ nói chuyện viễn vông,
quái dị trên mặt biển nơi đất Yên, đất
Tề)[5]
sẽ đua nhau dâng lên những phương thuật giả
mạo thần tiên, đáng ưa thích, đáng
ngạc nhiên, [khiến cho kẻ hiếu kỳ] thâm
nhập rồi tin khắng khít, đến nỗi
bạc đầu chẳng thành, lâm chung chẳng
ứng nghiệm, mới băn khoăn, hối
hận, thì
cũng muộn rồi! Tuy vậy, vẫn còn hơn
kẻ đến chết trọn chẳng quay
đầu! Hối hận trong hiện thời, có
thể biết là trong tương lai chẳng
bị mê hoặc!
* Tin tức vô thường
Ngạn ngữ có câu chuyện
cảnh tỉnh cõi đời, tức là
một người già chết đi, gặp
Diêm Vương, trách nhà vua sao chẳng
đưa tin sớm. Vua nói: “Ta đã
nhắn tin cho ông mấy lượt. Mắt ông
mờ dần, đó là tin thứ nhất.
Tai ông điếc dần, đó là tin thứ
hai. Răng ông rụng dần, tức là tin
thứ ba. Thân thể ông ngày càng suy,
chẳng biết là mấy tin nữa?”
Đấy chỉ là riêng nói với
người già cả, nay tôi bèn nói tiếp
thêm. Một thiếu niên cũng trách vua rằng:
“Tôi mắt sáng, tai tỏ, răng sắc, thân
thể khỏe mạnh, sao vua không nhắn tin cho tôi?”
Vua nói: “Cũng có nhắn tin cho ngươi,
nhưng ngươi chẳng suy xét! Xóm
giềng bên Đông có người mới
bốn, năm mươi tuổi đã chết
đấy thôi? Xóm giềng bên Tây có người ba, hai
mươi tuổi đă chết đấy thôi? Lại có
đứa chưa tròn mười tuổi,
cũng như đứa còn bú mớm
đã chết đấy thôi? Chẳng phải
là nhắn tin đó sao?” Ngựa hay thấy
bóng roi bèn chạy, còn ắt phải
chờ dùng dùi đâm vào da [mới chạy]
thì là ngựa hèn, còn than nỗi
gì?
* Tham Thiền chẳng
phải là chuyện trong cõi đời
Tiên
đức có nói: “Tham Thiền chẳng
phải là chuyện người trong cõi
đời nói được!” Chắc
là có người nghi: “Bùi thừa
tướng[6]
nói: ‘Trong lục đạo, có thể chỉnh
đốn tâm tư, hướng về Bồ Đề,
thì chỉ loài người có thể làm
được’. Nếu đúng như
lời trước đó, sẽ chẳng
có chỗ nào để tham Thiền
được! Đáp: - Ông Bùi luận định
đúng lắm! Nay lời ấy thốt ra chính là vì
kẻ ăn thịt đã no ứ, bèn đến
tìm Tăng nói chuyện Thiền. Lại còn
thốt ra vì những tăng sĩ nói suông
Bát Nhã, thân ở A Lan Nhã mà tâm
hướng về triều đình, phố
thị. Hơn nữa, nếu ở yên trong chốn
ngũ dục mà có thể chứng cái
quả Nhất Thừa, trong cõi đời
có chuyện đại tiện nghi ấy, ai mà
chẳng làm? Há chẳng phải là
cái mà thế gian nói “há có chuyện
cưỡi hạc đến Dương Châu”[7]
ư? Nguyện đừng do lời ấy mà tự
chùn bước. Tham cứu Thiền Định là
chuyện người trong cõi đời
nói được, chỉ riêng lo kẻ không có
chí. Nếu có chí, sẽ nhất định thành!
* Xuất gia (1)
Tiên
đức có nói: “Xuất gia là chuyện
của bậc đại trượng phu, chẳng
phải là thừa tướng hay
tướng quân mà có thể làm được!”
Tướng quân dùng võ công để dẹp yên
họa loạn. Thừa tướng dùng văn
học để hưng khởi thái b́nh. Chuyện
lớn trong thiên hạ đều do một tay kẻ “xuất
tướng nhập tướng” (ra ngoài làm
tướng quân cầm binh, về triều làm thừa
tướng) [thực
hiện], mà nói là “chẳng thể
xuất gia được”, vậy thì xuất gia
há có phải là chuyện nhỏ nhặt
ư? Nay kẻ cạo tóc, khoác y nhuộm, bèn
gọi là “xuất gia”. Ôi! Bất quá là ra
khỏi cái nhà có hai cánh cổng lớn,
chẳng phải là ra khỏi cái nhà
lửa trong tam giới! Đã thoát khỏi cái nhà tam
giới thì mới gọi là “đại
trượng phu” ư? Vẫn
chưa phải! Cùng với chúng sanh trong tam giới
thoát khỏi tam giới thì sau đó
mới gọi là “đại trượng phu”. Cổ
tôn túc có câu ca rằng: “Tối thắng
nhi, xuất gia hảo. Xuất gia lưỡng
tự nhân tri thiểu” (Kẻ tối thắng
xuất gia tốt đẹp. Hai chữ “xuất gia” ít
người hiểu!) “Kẻ
tối thắng” chính là đại
trượng phu. Đại trượng phu c̣n chẳng
dễ đạt được, chẳng trách
ít người biết hai chữ “xuất gia”!
* Xuất gia (2)
Người
mới xuất gia, tuy chí có lớn hay nhỏ, ai mà
chẳng có một bầu hảo tâm. Lâu
ngày, lại bị nhiễm bởi nhân duyên danh lợi,
bèn lo xây dựng đền, đài, chưng
diện quần áo, tậu ruộng nương, nuôi
đồ chúng, chứa nhiều vàng, lụa,
siêng làm chuyện thuộc gia duyên, chẳng khác
thế tục. Kinh nói “nhất nhân xuất gia, Ba
Tuần bố cụ” (một người xuất
gia, ma Ba Tuần kinh sợ). Như trong hiện thời,
Ba Tuần có thể rót rượu uống
mừng! Kẻ hảo tâm xuất gia hãy mau nên
chú ý thấy thấu suốt. Tôi từng
thấy có vị tăng khổ hạnh trong núi sâu,
vừa mới ra khỏi núi,
được mấy chục nam nữ tín tâm
quy y, cúng dường, bèn mai một cả
đời, huống hồ [gặp phải] những
chuyện lớn hơn? Cổ nhân nói “ắt
phải coi trọng chuyện lìa khỏi cái
nhà phiền não”; lại còn cắt
đứt lưới trần lao, đó là
xuất gia sau khi đă xuất gia. Thoát khỏi cái
nhà trước dễ, thoát khỏi cái
nhà sau khó lắm. Tôi vì vậy mà
ngày đêm run sợ.
* Người
đắc ngộ phải nên vãng sanh Tịnh
Độ
Nếu
hỏi: “Tôi từng tu Tịnh Độ, có Thiền
giả bảo: ‘Chỉ ngộ tự Phật là
được rồi, cần gì cứ
phải cầu ngoại Phật mà nguyện vãng
sanh’, ý ấy như thế nào?”
Tôi nói: - Đấy quả thật là khai thị
tối thượng, nhưng chấp vào đó
th́ cũng có thể bị lầm lạc! Xin dùng
thí dụ để nói rõ. Giả sử có
người dĩnh ngộ giống như Nhan Tử
(Nhan Uyên), nhưng ngoài trăm dặm, hoặc ngàn
dặm, có
bậc thánh như phu tử (Khổng Tử)
đề xướng đạo nơi ấy, bảy
mươi tử, ba ngàn hiền[8]
đều cùng trọn vẹn. Ông nghe danh tiếng của
vị đó, đến gặp, chưa
chắc chẳng phải là không có ưu
điểm. Nếu cứ tự cậy mình
dĩnh ngộ, cự tuyệt chẳng thân
cận, yết kiến, có nên hay chăng? Tuy vậy,
đắc ngộ mà chẳng nguyện vãng
sanh, chắc chắn là lão huynh chưa ngộ!
Vì sao? Ngài Thiên Như [Duy Tắc] đã
nói: “Ông chỉ là chưa
ngộ! Nếu ngộ, thì ông vãng sanh Tịnh
Độ dẫu
một vạn con trâu chẳng thể
kéo lại được!”
Lời ấy sâu sắc lắm thay!
* Tham Thiền
[Hỏi]: -
Tăng sĩ có
người luôn nói rằng: “Nghi nhỏ, ngộ
nhỏ. Nghi lớn, ngộ lớn. Chẳng
nghi, chẳng ngộ. Nghi được gọi
là tham (tham cứu)”, nhưng
hai chữ tham Thiền bắt đầu vào
lúc nào?” Hoặc nói: “Kinh chưa hề
nói [tham Thiền]”.
Tôi thưa: - Có
chứ! Kinh Lăng Nghiêm nói: “Đương
tại thử trung, tinh nghiên diệu minh” (Hăy nên dốc
ḷng tinh tế nghiên cứu cái sáng suốt mầu nhiệm trong ấy)[9].
Lại nói: “Nội ngoại nghiên cứu”
(nghiên cứu trong ngoài). Lại nói: “Nghiên cứu tinh
cực” (nghiên cứu tinh vi đến cùng cực),
chẳng phải là “tham” đó ư? Sau
đấy, tôn túc dạy người khác xem
công án, khởi nghi tình, đều từ
đó mà sanh khởi. Nhưng nói rõ
ràng cặn kẽ nhất, không ai bằng
thiền sư Nga Hồ Đại Nghĩa, Ngài
nói: “Nếu người tĩnh tọa
chẳng dụng công, năm nào đỗ
đạt ngộ tâm không?” Lại nói: “Thẳng
thừng nêu lợi thổi lông[10],
phải chẻ Tây lai Đệ Nhất Nghĩa”.
Ngài lại nói: “Nếu vẫn thinh lặng tợ
như ngu, biết là ông chưa hiểu công phu”.
Lại nói: “Khoét tṛng con mắt, dựng
ngược mày, nhìn đi ngó lại
ngươi là ai?” Nói như thế,
chẳng phải một lần là đủ,
người tham Thiền hãy nên viết vào đai
lưng. Tuy vậy, nếu suy lường, dùi
mài nơi câu nói, suy đoán dựa theo tình
thức, thì lại là hiểu lầm ý
nghĩa của cái được gọi là “dụng
công”, cái gọi là “chia chẻ”, cái gọi
là “nhìn đi ngó lại”, sẽ cùng
với chuyện “tĩnh tọa lặng thinh” tuy là
chuyện khác nhau, nhưng có cùng một căn
bệnh, chẳng thể không biện định!
* Pháp sư Ấn Tông
Lục
Tổ đã thọ tâm ấn của ngài Hoàng
Mai, ẩn thân trong bọn đồ tể, thợ
săn, kẻ làm thuê thấp hèn suốt mười sáu
năm. Về sau, Ngài tới giảng tịch
của pháp sư Ấn Tông, nói lời phán
định về phan và gió. Ấn Tông nghe thấy,
bèn mời vào, làm lễ xuất gia cho Tổ,
lễ thỉnh Ngài thăng tòa thuyết pháp. Người
ta biết Lục Tổ do trời, rồng thúc
đẩy mà xuất hiện, chẳng biết
chỗ chẳng sánh bằng của Ấn Tông.
Sư tự nói: “Tôi giảng kinh giống
ngói, sỏi; nhân giả luận nghĩa giống
như vàng ròng”. Ấn Tông giảng kinh luận
đã lâu, nghiễm nhiên là bậc đại
pháp sư tiền bối, nếu chẳng quên
tình kiến ngã mạn, cái tâm hơn thua
vẫn còn, sao có thể tôn hiền, trọng đạo,
xả mình theo người đến mức
như thế ư? Cố nhiên Lục Tổ gần
bằng với cổ Phật, mà Ấn Tông
cũng là hạng người giống như
Lục Tổ. Thánh hiền tụ hội há ngẫu
nhiên ư?
* Thân cận thầy
Cổ nhân
hễ tâm địa chưa thông, chẳng ngại xa xôi
ngàn dặm cầu thầy, hỏi đạo.
Đã tìm được một vị chân
sư, liền bẻ gẫy gậy chống, treo cao bát,
túi, thân cận bậc thái thượng lâu
ngày, giống như ngài A Nan suốt đời
hầu Phật. Kế tiếp [phong thái đó] là các
vị hiền nhân trong các đời tham học tri
thức lâu ngày, chẳng dễ nêu trọn
hết được! Chỉ như hai vị tôn
túc dưới tòa Từ Minh lão nhân[11],
một vị là Dương Kỳ, phù tá
suốt đời; vị kia là Thanh Tố, hầu
hạ mười ba năm. Do vậy, sáng thăm, tối
viếng, tai thấm đẫm lời dạy, tâm khế hợp
đạo, cuối cùng đạt được
đạo của thầy, trở thành pháp
khí to lớn. Tôi xuất gia muộn màng,
sắc lực lại suy yếu, khí
chẳng giúp được chí. Tiên sư
độ cho tôi xuất gia, liền từ biệt rời
đi, hành cước phương xa, những
chỗ tôi đến, hoặc là do gặp dịp
ngăn trở, hoặc v́ mắc phải
bệnh duyên, đều tạm trụ tại đó
mà thôi. Cho đến ngày nay, đầu bạc vô
tri, ôm ngu,
giữ vụng. Than ôi! Tôi không thể làm đứa bé
sai vặt trong số những kẻ sĩ nơi Hạnh
đàn, Tứ Thủy, bèn làm thầy
dạy trẻ học chữ trong thôn ba nhà[12],
đáng than lắm thay!
* Hoa Nghiêm, Đại Tạng,
một kinh
Nếu
hỏi: “Kinh chẳng sánh bằng Hoa Nghiêm,
nghĩa là sao?”
Thưa: - Xưa kia, pháp
sư Huyền Trang dịch kinh Bát Nhã sáu
trăm quyển hoàn thành, dâng lên vua. Vua hỏi:
“Bát Nhã mênh mông dường ấy, sao
chẳng đứng trước Hoa Nghiêm?” Pháp
sư nói: “Hoa Nghiêm trọn đủ vô
lượng môn. Bát Nhã tuy nhiều, chỉ
là một môn trong vô lượng môn của Hoa
Nghiêm!” Có vị tăng làm khám
thờ kinh có nhiều ngăn, thờ kinh Hoa Nghiêm
nơi cao nhất. Một hôm, lấy kinh ra tụng xong,
đặt kinh tại ngăn giữa, sáng ra
kinh bỗng ở trên, vị tăng hết sức
kinh dị. Đó là do oai thần của kinh mà
ra, mà cũng là do lòng tinh thành của
người trì kinh cảm vời! Hơn
nữa, trong Tam Tạng thánh giáo, riêng Hoa Nghiêm như
thiên vương cai quản hoàn vũ, còn chư
hầu, công khanh, đại phu, trăm kẻ chấp
sự, cho
đến triệu dân, đều thuộc quyền
thống ngự [của Hoa Nghiêm], ai sánh
bằng được?
* Viên mẫu
Mẹ
của Viên cư sĩ là Trương Thị,
từ bé đã quy y Phổ Môn đại
sĩ hết sức nghiêm cẩn. Khi xuất giá,
bà mang theo tượng Đại Sĩ đang
thờ, mang thai cư sĩ mười tháng, chẳng
sơ sót, lười nhác lễ kính
một ngày nào. Vì thế, cư sĩ
từ thuở còn bồng ẵm đã
biết quy hướng Tam Bảo; đó gọi
là “thai giáo” vậy. Phàm người
làm vợ có thể dốc lòng thờ
Phật, cơi đời cũng luôn có. Còn
như người sắp làm cô dâu mới,
chẳng gấp gáp ăn vận, trang điểm lộng
lẫy, mà đặt tượng Đại Sĩ
trong hộp trang điểm mang theo khi xuất giá, có
thể nói là vượt xa phàm t́nh, chưa
hề thấy nghe! Xưa
kia, Tô Tử Chiêm (Tô Đông Pha) mang
tượng vẽ đi về phương Nam, Cát
đại phu bày tượng nơi công
thự, chẳng ngại bị gièm chê,
người hiểu biết khen ngợi. Nay Viên
mẫu há chẳng phải là bậc đại
trượng phu lỗi lạc ư?
* Nho và Phật phối
hợp
Thánh
nhân trong hai giáo Nho và Phật xác lập
sự giáo hóa đều có chỗ chú
trọng chủ yếu riêng, cố nhiên là chẳng
cần tách biệt thành hai, mà cũng
chẳng cần phải gượng ép hợp
lại. Vì sao? Nho chú trọng bình trị
cõi đời, Phật chủ trương xuất
thế. Bình trị cõi đời thì
tự phải nên “cách vật (trừ khử
ham muốn đối với muôn vật), trí tri
(thấu đạt các nguyên lư của sự vật), thành
ư, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình
thiên hạ” như trong sách Đại
Học là đủ rồi. Chứ nếu quá
cao sâu, cương thường luân lư sẽ chẳng thể
thành lập vững vàng được! Xuất thế
tự phải nên cùng tột cao sâu thì
mới thành giải thoát, nhưng đối
với quốc gia, thiên hạ không ǵ chẳng hơi chểnh
mảng. Đó là lẽ tự nhiên,
chẳng đáng gì là lạ? Nếu
nói quyết định “Nho tức là Phật” thì các
sách như Lục Kinh, Luận Ngữ và Mạnh
Tử đã sáng ngời, trọn
đủ, cần gì phải đợi Phật
Thích Ca giáng sanh, Đạt Ma từ phương Tây sang nữa?
Nói quyết định “Phật chính là Nho” thì
sao không dùng Lăng Nghiêm, Pháp Hoa để cai
trị thiên hạ, mà ắt phải cậy vào
những quy củ do Phục Hy, Thần Nông, Nghiêu,
Thuấn chế định ở trên, đạo sáng của
Khổng, Mạnh, các hiền nhân thực hiện ở
dưới? Vì thế, tách làm hai hay hợp lại, sẽ đều mắc khuyết điểm. Tuy vậy,
đối với bậc căn cơ thuộc Viên
Giáo, tách làm hai cũng được,
gộp lại cũng được, hai
đằng đều chẳng có khuyết
điểm, lại chớ nên không biết [điều
này]!
* Lập Thiền (Thiền
đứng)
Lập Thiền
phát xuất từ kinh Ban Châu Tam Muội, ấy
là vì tinh tấn cùng cực, sợ
ngồi xuống sẽ dễ hôn trầm, chứ chẳng
phải coi đứng là đạo. Kẻ
chẳng hiểu ý này, có kẻ dùng
đai sắt bó lưng để giúp cho thân
hình thẳng tắp, cũng đáng
nực cười thay! Gần đây có kẻ
xếp gạch thành tường vây sát chặt quanh
thân, đứng thẳng trong đó như
gươm ở trong vỏ, lại còn nhờ
vào đó làm phương cách quyên mộ.
Kẻ ngu không hiểu biết, bèn kính trọng,
phụng sự [kẻ ấy]; vì vậy, dần
dần có người
bắt chước làm theo! Kính khuyên
bậc cao minh, hễ gặp kẻ như thế,
hãy liền nên chỉ bảo, khuyên kẻ đó ra
khỏi tường vậy, đừng khiến
cho thời Mạt Pháp xuất hiện chuyện ma
mãnh, lạ lùng ấy, gây tiếng xấu thêm cho
Tăng môn!
* Luận sớ
Như Lai
nói kinh, Bồ Tát tạo luận, hậu hiền soạn
sớ, đều nhằm khai thông ý nghĩa
kinh để khai thị chúng sanh, khiến cho
họ ngộ nhập, công ấy to lớn thay! Nếu
có kẻ nói kinh do đức Phật
đã nói vốn tự rõ ràng, cần
gì phải mất công chú sớ, giảng giải,
v́ các
bản chú giải, giải thích đâm ra [khiến
cho ư nghĩa của kinh] trở thành tối tăm,
trầm trệ. Do vậy, họ nhất
loạt gạt bỏ, chẳng bàn hay, dở; bất
luận [trước tác chú sớ của] phàm hay thánh,
đều coi là chẳng đáng nhìn
đến! Xét ra, cách nói ấy
tưởng chừng đúng, nhưng sai
bét! Vì sao? Chẳng tin truyện[13]
mà tin kinh, đấy cũng là biết cái
gốc, nhưng qua loa, lỗ mãng, do hiểu kinh sâu
một cách nông cạn, sẽ phạm sai lầm
chẳng nhỏ. Đại để, v́ có
hai thứ tâm bệnh: Một là bệnh
lười, hai là bệnh cuồng. Do lười
bèn chê trách sự tham cứu rộng
rãi, ngán suy nghĩ tinh tường, chỉ mong
giản tiện, chẳng phải nhọc nhằm tâm
lực. Cuồng thì trên là khinh rẻ cổ
đức, dưới là miệt thị
người đương thời, chỉ
mặc sức
ức đoán, tự cho là đúng,
tự cậy! Kẻ mới học vô tri, vui vẻ
ngả theo, tôi thật sự thương xót; vì
thế, rát miệng!
* Chẳng thể nói “không
có Tịnh Độ”
Có
người nói “duy tâm Tịnh Độ,
chẳng c̣n có Cực Lạc Tịnh Độ
ở ngoài mười vạn ức cõi”!
Cách nói “duy tâm” ấy
vốn phát xuất từ lời kinh, chân
thật, chẳng sai, nhưng người viện
dẫn [lời ấy] để làm căn
cứ đã hiểu sai ý chỉ ấy. Tâm
chính là cảnh, rốt cuộc chẳng có
cảnh ở ngoài tâm. Cảnh chính là tâm,
cũng chẳng có tâm ở ngoài cảnh.
Cảnh đã hoàn toàn là tâm, cần gì
phải chấp chặt tâm mà bài xích
cảnh? Bỏ cảnh để nói tâm, tức
là kẻ chưa thông đạt cái tâm! Hoặc
lại có kẻ nói: “Cảnh Tịnh Độ
được thấy khi lâm chung đều là
tự tâm; do vậy, chẳng có Tịnh
Độ!” Chẳng nghĩ người niệm
Phật vãng sanh xưa nay, khi lâm chung, thánh chúng
tới đón, và nhạc trời,
hương lạ, tràng phan, lầu gác v.v… nếu chỉ
một mình người ấy thấy thì
có thể nói là “tự tâm”, nhưng
đại chúng [khi ấy] cùng lúc đều
trông thấy. Có trường hợp nghe thiên
nhạc văng vẳng đi về Tây, có
người ngửi thấy mùi hương
lạ nhiều ngày chẳng tan nơi thất. Thiên
nhạc chẳng hướng về phương
khác, mà hướng về Tây để đi;
người ấy đã mất, mùi
hương ấy vẫn còn, sao nói là “không
có Tịnh Độ” cho được? Có người
thấy tên của thiền sư Viên Chiếu Tông Bổn được
nêu danh nơi phẩm sen, há có thể nói tâm
người khác là cái tâm của Viên
Chiếu ư? Lại thử hỏi: “Ông lâm chung,
tướng địa ngục hiện, chẳng
phải là tâm ư?” Đáp: “Là tâm”.
“Người ấy có đọa địa
ngục hay không?” Đáp: “Đọa chứ!”
Đã đọa địa ngục, tức là
có địa ngục đã rõ rồi, sao riêng
Tịnh Độ lại chẳng có?
Người tâm hiện địa ngục, thật sự
có đọa vào địa ngục. Người
tâm hiện Tịnh Độ, chẳng sanh vào
Tịnh Độ thật sự có ư? Thà
nói Có như Tu Di, đừng nói Không
chừng bằng hạt cải! Hãy răn
dè, hãy dè chừng nhé!
* Tịnh Độ ở
khắp mọi nơi
Có
người mói: “Chẳng phải là tôi
không tin Tịnh Độ, cũng chẳng phải
là coi thường Tịnh Độ không sanh
về, nhưng tôi vãng sanh khác với mọi
người! Phương Đông có Phật, tôi
liền sang Đông. Phương Tây có Phật, tôi
liền sang Tây. Bốn góc, trên, dưới, chỉ
cần chỗ nào có Phật, tôi sẽ đến
đó, chẳng như Thiên Thai, Vĩnh Minh mong
cầu Tịnh Độ, ắt chuyên chú nơi Tây
Phương Cực Lạc thế giới!”
Cách nói ấy lời lẽ rất cao, ý
chỉ rất sâu, nghĩa rất huyền, nhưng chẳng
thể dùng làm giáo huấn được!
Kinh dạy: “Thí như nhược vũ, chỉ khả
triền chi” (ví như [chim non] lông vũ yếu
ớt, chỉ có thể chuyền cành). Cho nên
biết: Lông vũ đã mọc cứng cáp,
thân mạnh, khí lực sung túc thì mới
có thể chao lượn nơi trời
thẳm, bay ngang dọc tám phương,
chẳng phải là chuyện kẻ vừa
mới phát Bồ Đề tâm có thể
thực hiện được!
Đức Thế Tôn dạy bà Vi Đề Hy
mười sáu pháp Quán, ắt
trước hết dạy “quán mặt
trời lặn như cái trống treo”
để đặt vững chí nơi
phương Tây, mà cổ đức có
người ngồi nằm chẳng quên
hướng về Tây, há chẳng biết
phương nào cũng đều có cõi
Phật ư? Bậc đại giải thoát
mặc tình thực hiện. Nếu
chẳng phải vậy, hãy nghiêm túc tuân theo
lời đức Phật sắc truyền.
* Âm Dương
Có người
nói “vạn pháp khởi nguồn từ Âm
Dương, chớ nên trước Âm Dương
lại lập ra Thái Cực”. Vì thế nói:
“Có trời, đất rồi mới có vạn vật,
trời là Dương mà đất là Âm.
Vợ chồng là cái gốc sanh ra con
người, chồng là Dương mà
vợ là Âm”. “Có trời đất
rồi mới có vạn vật” là
lời của Khổng Tử. “Dịch có
Thái Cực, bèn sanh ra lưỡng nghi”
cũng do Khổng Tử nói. Chấp nhận
lời này, vứt bỏ lời kia, là
vì lẽ nào vậy? Châu Liêm Khê (Châu Đôn Di) nói:
“Vô cực mà Thái Cực”, còn
đặt Vô Cực
trước Thái Cực, huống hồ Âm
Dương ư? Ngài Khuê Phong cho
rằng nguyên nhân (原人, cội nguồn của
con người) tức là vô
cực, vẫn chưa cùng tận cội nguồn,
nhưng luận Khởi Tín gọi “trước
khi Chân Như sanh diệt” là nhất tâm. Có
thể nói thuyết trên đây (vạn pháp khởi nguồn
từ Âm Dương) rất nông cạn!
* Mê muội khi xuất thai
cách ấm
Cổ nhân
nói: “Thanh Văn còn mê muội khi lọt lòng
mẹ, Bồ Tát c̣n tối tăm do cách
ấm”. Thoạt đầu, tôi nghi Thanh Văn
đã trọn đủ Lục Thông, Bồ
Tát song tu Định Huệ, do
đâu mà tối tăm, mê muội đều
chẳng thể tránh khỏi? Tới khi khảo
nghiệm chính mình, suy xét người
khác, [mới nhận ra] chuyện đêm
trước mà đến sáng hôm sau bỗng
dưng mờ mịt, huống hồ cách ấm
ư? Mới chuyển sang nhà khác, ban đêm
thức dậy chẳng biết Nam, Bắc,
huống hồ xuất thai ư? Sự tối tăm,
mê muội của các vị hiền thánh ấy
chỉ là tạm thời tối tăm rồi
liền sáng suốt, mê muội trong khoảnh
khắc rồi lại giác ngộ. Còn
bọn phàm phu chúng ta tối tăm, mê muội đến
cùng mà chẳng tự biết. Xả thân,
thọ thân, lợi hại như thế đó!
Kế sách hiện thời đúng là cần
phải lắng vững lòng, chánh tâm,
đừng bỏ mất quán chiếu trong một
sát-na nào, lại còn khẩn thiết, khổ
công, kiền thành cầu sanh Tịnh Độ. Sanh về
Tịnh Độ thì tối tăm, mê muội
chẳng đáng lo! Đã buông lung cái tâm,
lại còn bài bác Tịnh Độ, nguy
ngập lắm thay!
* Lưu Đạo Nguyên chẳng
tin Phật pháp
Tư
Mã Ôn công (Tư Mă Quang) nói Lưu Đạo Nguyên[14]
chẳng tin Phật pháp nhất. Ông Lưu nói: “Đời
người như đang ở quán trọ,
các vật dụng trong quán trọ, lúc
rời đi đều bỏ lại hết, sao
có chuyện mang đi theo được?”
Có thể nói là ông ta thấy rõ ràng,
quyết đoán mạnh mẽ, vì đó
là luận định “người chết
thì thần thức diệt”. Quả thật
vật dụng thuộc về chủ nhân quán trọ
thì bỏ lại, nhưng hành lý của
chính mình cũng vứt sạch,
chẳng mang theo ư? Đó được
gọi là “chỉ có nghiệp theo thân”. Cái mà Ôn
công lấy được từ Đạo Nguyên là
như thế nào? Lưu Nguyên Thành[15]
nói “lão tiên sinh tột bậc thông hiểu
chuyện này”, vậy thì cái mà Nguyên Thành lấy
được từ Ôn công lại là như thế
nào?
* Truyền tâm ấn của Phật
Các
vị tôn túc thuộc tông Thiên Thai nói truyền tâm
ấn của Phật chỉ thuộc về Thiên Thai, gạt
bỏ, chẳng chấp nhận tông Đạt Ma. Ngài
Khuê Phong nói Hà Trạch (Thần Hội)[16]
nối pháp ngài Tào Khê, truyền tâm ấn
của Phật chỉ thuộc về Hà Trạch, nhưng gạt bỏ,
chẳng chấp nhận hai tông Nam Nhạc và Thanh Nguyên[17].
Do vậy, thiền sư Minh Giáo Khế Tung soạn
bộ Truyền Pháp Chánh Tông, chép từ Ca
Diếp tới Tào Khê, hai mươi tám vị
tổ tại Tây Thiên, sáu vị tổ tại Đông
Độ, cho tới Nam Nhạc, Thanh Nguyên, hai
thuyết của Thiên Thai và Khuê Phong đều cùng
mất. Nay vẫn còn có người thuộc
tông Thiên Thai, mà trọn chẳng có ai theo
ngài Khuê Phong, tức là nối tiếp ngài
Thiên Thai vẫn còn dằng dặc, mà môn
hạ của Khuê Phong lác đác! Người
theo tông Thiên Thai nói: “Do sư tử bị hại
mà sự truyền thừa bèn chấm
dứt”, nhưng người cao tột gặp
hại sẽ như dạo chơi trong vườn, đền,
há có lẽ nào pháp bị diệt theo thân
ư? Sách Truyền Pháp Chánh Tông quả thật nêu
cao lẽ chánh, làm khuôn mẫu cho muôn
đời vậy!
* Truyền đăng
Kể
từ khi [đức Phật] giơ cành hoa, [ngài Ma Ha Ca Diếp] ngộ
ý chỉ, cho tới giã gạo, truyền y,[18]
Tây Vực và phương này từng
ngọn đèn nối nhau chiếu sáng. Nhưng
ngài Hoàng Mai căn dặn Tào Khê
rằng: “Từ nay về sau, Phật pháp sẽ
do ngươi mà được thịnh hành”.
Cho tới Nam Nhạc, Thanh Nguyên, rạng
rỡ năm tông, hết sức hưng thịnh
vào đời Đường, tiếp tục
tốt đẹp vào đời Tống, cho
tới đời Nguyên vẫn còn nhiều
người, nhưng cho tới nay thì ánh sáng
le lói gần tắt. Vì lẽ nào vậy?
Do chẳng gieo trồng! Tổ sư nói: “Ngươi
học pháp môn tâm địa, giống như gieo
hạt giống, ta nói pháp yếu giống như
trời tưới đẫm”. Vậy thì
đã không gieo, sao trời có thể
tưới đẫm cho được? Nay
người cạo tóc, đắp y nhuộm
tuy trọn khắp trong nước, nhưng
đều chú trọng chuyện bên ngoài, duyên theo
chuyện hữu vi, kẻ gần với bề
trong thì lại bất quá giữ luật
để sửa mình, tụng kinh, lễ sám mà thôi. Có
ai phát Vô Thượng Bồ Đề tâm, chỉ
đề cao chuyện này, khăng khăng khít
khít, tham cứu chính mình, chẳng
phí uổng tấc bóng, ắt cầu chánh
ngộ ư? Mong thâu hoạch thóc nơi ruộng
trống, quở trách cây cột trơ trụi
chẳng trổ hoa, chẳng có lẽ ấy!
* Kim đan
Nếu
hỏi: “Huyền tông (Đạo giáo) có nói: ‘Pháp
kim đan khá giống với cách tọa
Thiền của Nhị Thừa’, lời ấy
có đúng hay chăng?” Tôi nói: - Đó
là lời nói của Tử Dương[19].
Ông ta chẳng nói là “khác” mà nói
là “đồng”, chẳng nói thẳng
là “đồng” mà nói là “phả
đồng” (khá giống), tức là chẳng thốt
lời cẩu thả vậy. Tuy vậy, Thiền giả
chớ nên vì vậy mà sanh dị kiến.
Học Đại Thừa c̣n coi Nhị Thừa
là điều cấm kỵ, cho nên kinh Phạm Võng
quở trách Nhị Thừa là tà,
là ác, huống hồ “đồng” hay “chẳng
đồng” ư?
Nếu hỏi: “Có thể
nghe chuyện luyện đan hay không?”, bèn khuyên nhủ
như sau: “Luyện chì và thủy ngân thành
đan dược, ví như do tu Định và
Huệ mà thành đạo. Thần ngưng, khí
kết, bèn thành đại đan. Chỉ tột
cùng, Quán viên mãn, còn có Chân gì
để đợi nữa? Xét ra tuy khác,
nhưng sánh ví th́ có thể nêu tỏ lẫn
nhau. Huyền tông còn coi tinh, khí, thần nơi thân
mình là ngoại dược, dạy
người học cầu nội dược
nơi nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần. Kẻ theo đuổi
nơi ngũ kim, bát thạch[20],
tìm cỏ, đốt tranh, vẫn là lầm lạc.
Thiền Tông
còn coi Thập Địa kiến tánh như
cách một bức màn the, ắt phải là
vĩnh viễn đoạn vô minh thì mới
gọi là Diệu Giác. Kẻ ngừng chân
nơi hóa thành, trụ lại nơi đầu
sào trăm thước, hăy còn cách biệt
rất xa, huống hồ kẻ đầu tròn, áo
vuông, được gọi là Thích Tử
chẳng nghĩ nối tiếp hưng thịnh
dòng giống Phật, lại đắm
đuối tụng Đạo Đức Kinh, giảng
Nam Hoa (sách Trang Tử), cũng chẳng điên
đảo lắm ư?
* Kinh Tứ Thập
Nhị Chương và kinh Di Giáo
Hán Minh Đế
đêm mộng thấy người vàng, sai
sứ sang Thiên Trúc, thỉnh được kinh
Tứ Thập Nhị Chương của nhà
Phật. Đó là khởi đầu của
thánh giáo truyền sang phương Đông, du
nhập Chấn Đán (Trung Hoa). Nay do kinh ấy
nói đơn giản, tăng chẳng tụng tŕ,
pháp sư chẳng thăng tòa vì
người khác giảng diễn. Kinh ấy
chẳng chuyên nói những chuyện gần
gũi mà có những điểm cao xa. Có
khi nói gần gũi mà ý chỉ cao xa, nhưng
mọi
người chẳng tự suy xét. Lại
như kinh Di Giáo chính là lời trọng
yếu tối hậu của Như Lai trước khi
nhập diệt, ví như người
đời gọi là “di chúc”. Con cháu
mờ mịt đối với cội nguồn
khai sáng của tổ tông, tức là mất gốc. Con
cháu trái nghịch di chúc của cha mẹ khi
sắp mất, tức là bất hiếu.
Kẻ làm tăng sao chẳng suy nghĩ? Ngu tôi cho
rằng: Hai kinh ấy thật sự là
thuốc tốt lành để cứu chữa
bệnh tình trong thời Mạt Pháp,
chẳng thể coi thường, chớ nên xem nhẹ!
* Đại ngộ, tiểu
ngộ
Tương
truyền cụ Đại Huệ Tông Cảo đại
ngộ mười tám lần, tiểu ngộ vô số.
Ngu ý cho rằng: Người học đạo
hễ có cảm nhận tiếp xúc [một chân lư nào
đó], thì
gọi là “có tỉnh”. Tuy chợt tỉnh, nhưng
chưa đại triệt, bèn gọi là “tiểu
ngộ”, có thể là nhiều lượt.
Còn như đại ngộ, tức là như
đức Thế Tôn đêm thấy sao Mai bèn
hoát nhiên đại ngộ; đó là hễ
ngộ, bèn
ngộ trọn hết, chẳng đợi hai, ba
lượt! Ngay như chư tổ, có vị mãi
cho đến nay chẳng còn nghi nữa, có
vị từ đấy giữ yên nước nhà, thiên
hạ thái b́nh, có người vốn là
Hoàng Bá “Phật pháp không có nhiều con”[21]. Tuy
chưa đạt đến địa vị Phật,
cũng đều là đại ngộ, nhưng [nếu nói đại ngộ]
ắt phải trùng trùng
điệp điệp như thế, tức là
trước kia chẳng nghi thì nay sẽ
khởi nghi, trước kia là thái bình, nay bèn
biến thành loạn, trước kia không nhiều con
nay lại chẳng
thiếu, sao gọi là đại ngộ cho
được? Nếu như vô minh tuy đoạn, vẫn
mong đoạn tới vô minh tối hậu cùng vi
cực tế, tuy thấu suốt công án, vẫn
muốn thấu triệt công án cuối cùng về sự
sai lầm, thì mấy phen đại ngộ
chắc là có thể có, nhưng
chẳng nên là nhiều đến mười
tám lần!
* Thương xót kẻ
dưới
Sách
Châu Thị Kỷ Ngôn chép: Tiên sanh Đường
Nhất Am[22] cùng
các bạn ban đêm tṛ chuyện, sắp đi
ngủ, hỏi: “Lúc này còn có chuyện
gì cần phải lo liệu hay không?” Mọi
người đáp: “Không có!” Nhất Am nói:
“Hôm nay rét buốt, bọn ta uống rượu
rất vui, nhưng kẻ hầu vẫn chưa có
chỗ ngủ”. Mọi người từ tạ
chẳng nghĩ tới. Vì sao vậy? Do
lúc ấy chỉ có ngáp, vươn mình,
nghĩ đến ngủ nghê mà thôi, riêng Nhất Am suy
xét chuyện mọi người chưa nghĩ
tới;
đó là lời của người
thật sự có lòng nhân, là lòng
từ bi của Phật, Bồ Tát. Do vậy, tôi
nghĩ tới người xuất gia hiện
thời ở trong Tăng đường, trăm
chuyện chẳng bận lòng, mười
ngón tay chẳng dính nước, lúc
đi ngủ, cũng nghĩ các hành nhân (những
người làm công quả hoặc lao dịch trong tự viện)
có người chưa rảnh rang để ở
yên hay không? Liệu cũng nghĩ tới các
hành nhân vất vả chẳng yên, v́ sao đến
nỗi như thế? Chính
là v́ để chư Tăng [không bận ḷng rảnh rang] tu
đạo. Cổ nhân có nói: “Đạo
nghiệp chẳng thành, sao tiêu của tín
thí cho được?” Há
chẳng buốt lạnh cõi lòng ư?
* Bồ Tát
Người
ta thấy Như Lai quở trách kẻ thiên
Tiểu, tán thán Đại Thừa, bèn biết phải
nên hành Bồ Tát đạo. Nhưng chẳng
xét theo thực chất của cái đạo ấy,
chỉ mong nương vào cái danh đó, mối
hại ấy càng nặng! Do vậy, “chẳng
thể tự độ, mà trước là có
thể độ người”, đấy
chính là Bồ Tát. Nếu chuyện của
chính mình chưa hiểu rõ mà chuộng
làm thầy người khác thì sai mất
rồi! Lục Độ đều
tu, vạn hạnh đều trọn, đấy là
Bồ Tát. Nếu v́ đó mà chuyên chú trọng
hữu vi, hoàn toàn vứt bỏ tâm địa, sai
mất rồi! Chẳng sợ tiếng xấu, cho
đến chẳng sợ oai đức của
đại chúng, thản nhiên tự tại, đó là Bồ
Tát. Nếu v́ đó (v́ tự cậy ḿnh hành đạo
Bồ Tát), nghe vạch lỗi mà chẳng áy
náy, khinh đời, ngạo vật, thì
sai mất rồi. Dẫu giết chóc mà hành lòng
từ, dẫu trộm cắp mà hành bố
thí, thậm chí dẫu nói dối mà trở thành lời
chân thật, đủ mọi thứ phương
tiện quyền nghi, chẳng thể bị hạn
cuộc trong thường tình, thì là Bồ
Tát. Nếu v́ đó mà độc hại,
cướp đoạt, lừa dối, cho
đến phá diệt luật nghi, bài bác
chẳng có nhân quả, như cổ nhân nói “uống
rượu và ăn thịt chẳng
trở ngại Bồ Đề, trộm cắp,
hành dâm chẳng ngăn ngại Bát Nhã” thì
sai mất rồi. Đấy là chạy theo cái danh,
đánh mất thực chất, chẳng
khéo học theo Liễu Hạ Huệ, mà là học
bước đi theo kiểu người Hàm
Đan[23],
đại đạo chẳng thành, nghiệp
quả đến trước. Hãy cẩn thận,
cẩn trọng nhé!
* Nguyện lực
Lữ Văn
Chánh công[24] mỗi
sáng thức dậy, lễ Phật, chúc nguyện
rằng: “Kẻ chẳng tin Tam Bảo, nguyện
chẳng sanh vào nhà tôi. Nguyện con cháu
đời đời ăn lộc, hộ tŕ Phật
pháp”. Sau đấy, con cháu nhà họ
Lữ hễ ra mặt trong cõi đời,
dù công huân hiển hách, hoặc học vấn
tốt đẹp, hoặc trung thành, đều
quý hiển, thờ Phật. [Lời nguyện của] Văn
Chánh cũng chỉ là thiện nguyện của
người thế gian, mà rốt cuộc
được thỏa lòng mong nhiều
đời chẳng dứt, huống hồ
cầu sanh Tịnh Độ là nguyện xuất
thế gian to lớn ư? Nguyện của Văn
Chánh chú trọng con cháu, có đạt
được hay không, chưa thể biết, sao
bằng cầu sanh Tịnh Độ ắt do chính ḿnh?
Vì vậy biết: Tu Tịnh Độ chẳng
thành là do lòng tinh thành chưa đạt
đến. Xưa kia, có người sang quý
cúng dường một vị Tăng, hỏi
Tăng rằng: “Sau khi sư trăm tuổi, có
chịu đến nhà tôi hay không?” Tăng
cười, [sau khi
mất] bèn sanh làm con nhà ấy. Cận
đại, ông Tổng Nhung họ Phạm cũng là [hậu
thân của] vị Tăng do cha ông đã từng
cúng dường. Hai chuyện này tỏ rõ: Hễ
nhất thời cười chấp thuận,
bèn gá thai vào hào môn, há lẽ nào
tinh thành tích tập đã lâu, chẳng
gá thai nơi phẩm sen ư? Nhân quả tất nhiên,
chẳng cần phải suy nghĩ, bàn luận chi
nữa!
* Chẳng dấy niệm
(1)
Hàng
rào vườn thuốc trước sân ông
Lý Văn Tĩnh[25]
bị hư hoại, ông làm như chẳng
thấy, nghe. Kẻ hầu cận xin sửa sang, ông
nói: “Sao có thể để chuyện này
động một niệm của ta ư?”
Ngưỡng Sơn[26]
trụ viện, thần thổ địa muốn tham
yết, thân cận, nhưng lâu ngày chẳng thể
được. Một hôm, Sư ngẫu nhiên vào
bếp, hành nhân có kẻ làm hư vỡ
đồ đựng thức ăn, Sư bất giác
khởi niệm rằng: “Của tín thí
đáng tiếc!” Thần thổ địa liền
được dịp lễ bái. Tức là
thường nhật Sư chẳng dấy một
niệm vậy. Vì thế nói: “Một niệm
chưa dấy, quỷ thần chẳng biết”.
Lại nói: “Lìa niệm tướng như
cõi hư không”. Nhưng bọn ta từ sáng
tới tối, suy nghĩ phập phều, tâm tưởng
loạn động dấy khởi tầng tầng,
chẳng biết mấy ngàn vạn ức,
muốn siêu sanh tử, chứng Niết Bàn, há
có được chăng?
* Chẳng dấy niệm
(2)
Xưa kia, có người tu đạo dựng
am bên khe suối, ban đêm
nghe ngoài cửa có tiếng nói rằng:
“Ngày mai sẽ có người đội mũ
sắt thay thế ta”. Người tu đạo biết là quỷ. Ngày hôm sau, lúc
sắp tối, mưa to, nước suối dâng
tràn, một nam nhân đầu đội nồi, xông
mưa, toan
vượt suối, người tu đạo vội ngăn lại. Đến đêm, ngoài
cửa sổ lại có tiếng nói: “Ba năm
mới chờ được một
người, lại bị vị tiên sinh này
cứu, ta ắt phải báo thù!” Người tu đạo ngồi ngay ngắn trong nhà, quỷ đi
khắp trong nhà, chẳng tìm
được người ấy, tức tối bỏ
đi. Ấy là vì [người tu đạo
ấy] chẳng dấy một niệm. Bởi
lẽ, con người tìm kiếm thân hình,
còn quỷ thần tìm kiếm tâm. Tâm không thì
thân hình cũng là không, ai nói “hoàng quan
(đạo sĩ) không có người tài” ư?
Bọn chúng ta nên dùng điều này để
tự gắng công.
* Chín phẩm vãng sanh
Kẻ
sĩ có người coi thường Tịnh
Độ, chẳng tu, nói: “Ví như bọn ta
hãy nên dùng khoa cử để làm quan, sao lại
phải chờ được chọn làm Tuế Cống
Sanh[27]
để được bổ làm quan ư?” Một nho
sĩ nói: “Thí dụ ấy sai lầm lớn.
Đài sen tự chia thành chín phẩm, sao
ông chẳng giữ lấy phẩm tối
thượng mà cam lòng nơi hạ phẩm
vậy? Nay đỗ tiến sĩ ba trăm
người, cũng có thể chia thành
chín phẩm thượng, trung, hạ, sao ông
chẳng lấy khôi nguyên mà cam tâm đậu
chót bảng vậy? Thượng phẩm thượng
sanh tức là đỗ đầu bảng. Vì
thế, có kệ tụng rằng: - Tam tâm cùng trọn
phát. Đế lý hiểu sâu xa,
mặc sức lên đài vàng,
liền chứng ngộ Vô Sanh”.
Điều này chính là đại triệt
đại ngộ trong Tông môn, mà cũng chính
là nói ‘tâm không, thi đậu trở về’
vậy”. Vị nho sĩ trước đó liền
vui mừng nói: “Mối nghi của tôi đã tiêu
tan!”
* Ngàn vị tăng
chẳng được một nạp tử[28]
Long Hưng
Tĩnh công[29]
được ấn chứng bởi Tuyết
Phong đại sư. Ngài Tuyết Phong thọ ký
cho ngài Long Hưng Tĩnh rằng: “Ông mai sau
làm trụ trì, một ngàn vị tăng
dưới tòa, không có ai là
nạp tử”. Về sau, ngài Long
Hưng Tĩnh nhận lời thỉnh của Tiền
vương, trụ trì chùa Long Hưng, quả nhiên
đại chúng hơn một ngàn người,
đều là
người đọc tụng Tam Tạng
mà thôi, giống hệt như lời thọ ký
của ngài Tuyết Phong. Xưa kia, Mã đại
sư (Mă Tổ đạo nhất) có rất nhiều
đồ đệ, nhưng trở thành
đại khí chỉ có tám mươi tám
người. Long Hưng Tĩnh cách Mã
đại sư chẳng xa lắm, nhưng trong
một ngàn người, hiếm thấy
được một nạp tử, huống
hồ hiện thời? Trong nhân gian không có
người hành Thập Thiện thì thiên
chúng suy tàn. Trong
Tăng không có nạp tử, thì
Phật chủng đứt đoạn. Gần
đây chẳng biết nạp tử là như
thế nào nữa! Pháp đạo điêu linh,
như sợi tơ sắp đứt, buồn
thay!
* Tiếc tấc bóng
Cổ nhân
nói: Vua Đại Vũ là bậc thánh nhân
tiếc nuối tấc bóng; mọi người
hãy nên quý tiếc từng phân thời gian. Đức Phật
dạy “mạng người trong hơi thở”, trong
mỗi phân thời gian, có bao nhiêu hơi
thở, tức là bọn ta sao chỉ tiếc
nuối từng phân thời gian? Đối với
thời gian trong mỗi sát-na, mỗi cái
khảy ngón tay đều chẳng thể không
quý tiếc. Xưa kia, thiền sư Y Am Hữu Quyền
hễ đến chiều, ắt ứa
nước mắt nói: “Ngày hôm nay lại
chỉ luống qua như thế, chẳng biết công
phu ngày mai sẽ ra sao?” Miệt mài, chuyên
ròng dường ấy. Tôi thấy mặt
trời buổi sớm vừa mọc,
nhớ tới lời nói sau đây của
ngài Y Am: “Nay lại đổi sang một ngày,
ngày hôm qua đã thành luống uổng,
chẳng biết công phu trong ngày hôm nay sẽ như
thế nào?” Nhưng tôi chỉ than thở,
chưa từng ứa lệ; do vậy
biết đạo tâm thua xa cổ nhân, chẳng
đáng thẹn lắm ư? Cũng chẳng
gắng sức ư?
* Chùa Vạn Niên
Chùa
Vạn Niên thuộc núi Vạn Sơn của Thiên Thai.
Trước điện là mười mấy
cội cổ thụ giăng ngang thành chữ
Nhất, hàng lối chỉnh tề, cành lá sum
suê, tươi tốt, tạo vẻ mỹ quan cho sơn
môn. Có người khắc bài ký trên
đá như sau: “Những cây này do bậc
thượng tiên trồng, hễ ai đẵn
chặt, người ấy lập tức
chết”. Chắc có kẻ nói:
“Người soạn bài ký ấy ngu muội
lắm thay! Ngày sau, có thể đảm bảo kẻ
có thế lực chẳng trái lời mà đốn đi
ư? Viết bài kư để làm ǵ?” Tôi cho rằng: - Chẳng
phải vậy! Hễ hưng thì ắt có
phế, chẳng phải là cổ nhân không biết,
nhưng pháp chẳng thể không lập như
thế. Người đời sau tin vào
bài ký ấy mà ngưng dứt tà tâm và
bất tín, c̣n [nếu họ chẳng tin, cứ đốn
phá th́] tạo nghiệp tự thuộc về
người ấy, chứ người lập
pháp vô tâm, đành mặc cho [kẻ khác tạo nghiệp]
mà thôi! Kẻ phá hòa hợp tăng sẽ đọa
vào Vô Gián, đức Phật đă thọ ký
như thế. Đức
Phật chưa nhập diệt, mà
Điều Đạt (Đề Bà Đạt Đa) đã
dụ dỗ chừng đó vị tăng tại
Kỳ Viên rời đi, đức Phật
chẳng thể chế ngự Điều
Đạt trái nghịch đem người đi, vậy
thì Phật ngu ư?
* Phú quý khiến
người lưu luyến
Bậc cao
hạnh trong tăng chúng thường ngày
tự giữ bổn phận, chẳng để phú
quý nhiễm tâm, nhưng có thể giữ ǵn
trong đời này, chưa chắc đã
chẳng bị mất trong đời khác.
Một người bạn do văn chương
đứng đầu trong nước, được
bổ vào Sử Quán, tiếng tăm rất
lớn. Ông ta ngẫu nhiên đến chơi núi
Thiên Mục, bảo với tôi: “Trong thạch thất
của núi này có một vị tăng ngồi
qua đời, thân cũ của vị ấy hãy
còn đó. Tôi muốn lễ bái, viếng
thăm, nhưng tâm liền hoảng sợ,
chẳng dám”. Tôi hỏi nguyên do, người
ấy đáp rằng: “Xưa kia có
người lễ vị Tăng trong thạch thất,
vừa mới lạy xuống, liền ngã
lăn ra đất chết mất, còn vị tăng
trong khám thờ bèn ngáp và từ
định khởi. Tôi sợ biết đâu sẽ
giống như vậy, cho nên chẳng dám”. Do
vậy, cùng tôi nh́n nhau, cười lớn. Ông
này tài rộng đức to, trí sáng
suốt rạng ngời, lại có nhã ý hướng
theo Phật thừa, nhưng vẫn còn yêu
đắm phú quý một thuở, gìn
giữ cái thân trong mộng, chỉ sợ
tỉnh giấc, còn nói chi người khác? Ông lăo
nhà quê nhà rộng năm mẫu, vị lệnh sử
thấp hèn giữ việc canh gác, ḥa thượng
nghèo có ba mươi hoặc hai mươi gia
đình đàn việt tín tâm cúng
dường, là đă khăng khăng chẳng
thể bỏ, chết rồi vẫn đem theo trong
thức điền, huống hồ người
đỗ đạt cao, nắm giữ địa
vị trọng yếu, chiếm giữ địa
vị vinh diệu trong thế gian, cũng chẳng
trách họ yêu đắm được?
Phú quý khiến cho con người lưu
luyến, dẫu bậc hiền trí vẫn chưa
tránh khỏi. Ôi! Đáng sợ thay!
* Đạo nhân ngỗng
Người
già trong núi gọi ngỗng là “nga đạo
nhân” (đạo nhân ngỗng). Hỏi ra thì họ
đáp: “Vịt vào ruộng, sẽ nuốt đỉa,
sâu, rầy, giun v.v… chẳng sót. Do vậy, chỗ
bầy vịt đi qua bèn gọi là “đại
quân kéo qua”. Gà ở trên mặt
đất, độc ác như rết, nhảy
nhót như dế, không con
gì trốn thoát mỏ gà, nhưng ngỗng
chỉ ăn cỏ tươi và tấm cám. Nó ăn
chay, chứ không ăn đồ tanh tưởi. Do
vậy gọi là “đạo nhân”. Tôi nghe chuyện, ḷng buồn
rười rượi! Gà, vịt giết sanh vật,
con người giết gà, vịt, báo
đền tợ hồ thích đáng, sao lại hầm ngỗng
để ăn thịt nó? Ngỗng
được gọi là “đạo nhân”, con
người cam tâm làm hạnh cọp dữ, đau
đớn lắm thay! Tuy vậy, ngỗng
chẳng ăn thứ tanh tưởi, giống
như con Sô Ngu[30]
chẳng giết chóc, chẳng phải do
thầy, bạn dạy bảo, mà do bẩm tánh như
vậy. Cái tánh ấy là do túc tập khiến
thành ra như vậy. V́ thế, người
học đạo chẳng thể không cẩn thận
tập khí của chính mình!
* Sanh nhật
Người
đời hễ sanh nhật bèn tổ chức
tiệc tùng, âm nhạc rộn rã, vẽ tranh, đua
nhau làm ca từ, thơ phú, coi đó là
vui. Riêng Đường Văn Tông[31]
không làm như vậy, có thể nói là siêu
việt thường t́nh. Có người nói:
“Ngày hôm ấy chẳng vui chơi mà tụng
kinh, lễ sám, tu các phước sự là
vì lẽ nào?” Đáp: - Thật sự
tốt lành. Muốn báo ân cha mẹ nhọc
nhằn sanh nở, nuôi nấng, và
diệt các nghiệp do chính mình đã
tạo trong cuộc đời. Đối với
những điều ấy, phải nên tận tâm.
Nhưng đấy là ngọn, chưa phải là
gốc. Tiên đức có nói: “Trước
khi cha mẹ sanh ngươi ra, ǵ là
bộ mặt sẵn có của ngươi?” Ngày
hôm ấy, có kẻ nào có thể chẳng
vui chơi mà chánh niệm quan sát diện
mục trước khi được sanh ra hay
không? Nếu đối với điều ấy
mà có thể hiểu rõ rỗng rang, thì
không chỉ là báo đền cha mẹ của tấm
thân này, mà ân của cha mẹ trong bao kiếp, không
gì chẳng báo. Không chỉ diệt nghiệp
trong đời này, mà túc chướng
trong nhiều đời không gì chẳng
diệt. Bỏ cái vui trong đời
người để đạt được
niềm vui Niết Bàn, hiếu lắm thay,
có ai bằng được? Vĩ đại
thay, có ai bằng được?
* Do bị bệnh mà ăn
thịt
Có
người thọ giới của nhà Phật,
dứt ăn thịt, nhưng bỗng vướng
bệnh duyên, bị người thân, bạn bè
cưỡng ép, khuyên nhủ, lại còn
gặp thầy thuốc thế tục xúi giục, thậm
chí có người ăn chay đã lâu,
một hôm phá sạch. Chẳng nghĩ sức
của thịt chỉ có thể khiến cho thân
béo tốt, chẳng thể kéo dài mạng
sống, người trí ắt hẳn
chẳng làm. Lại nữa, huống chi con nhà
phú quý, có đứa ốm o gầy mòn
như kẻ đói, nhưng nông dân rau dưa, có
kẻ mập mạp như gã lái buôn giàu
có. Vậy thì chưa thể đảm bảo
béo tốt cái thân, làm sao [bảo đảm]
cái mạng cho được?
Kẻ ăn chay bị bệnh bèn dạy họ ăn
thịt; [vậy th́] kẻ ăn thịt bị bệnh,
lại dạy ăn gì đây? Người đang
bệnh dùng lý để tự gìn
giữ mà thôi. Nếu thuộc địa vị
hèn kém, lại có người tôn quý
ở trên, gặp tình thế ép buộc,
chẳng thể trái nghịch, thì ăn ba
thứ tịnh nhục cũng được,
chớ nên sát sanh để ăn!
* Người
đời mắc tật chấp vào kiến
giải của chính mình
Phân
tích lý chẳng thể không nghiêm ngặt biện
định, nhập đạo chẳng thể không
chú trọng một điều chuyên môn; nhưng chấp
mình là đúng, nhất loạt coi
người khác sai bét thì lại
chớ nên! Chuyện này xưa kia đã là
vậy, nay càng quá đáng! Chấp một
nhà (giáo thuyết của một tông phái) là
đúng, thì ngoài Thiên Thai ra, chẳng
thể chấp nhận một ai cả! Kẻ chấp
giản tiện lại chê trách Thiên Thai là
đào khoét chi ly, chẳng phải là ý
chỉ vốn có của đức Phật! Kẻ
chấp lý tánh bèn chê trách niệm Phật
là chấp tướng. Kẻ chấp tịnh
nghiệp lại chỉ cần thấy kẻ chẳng
niệm Phật, bèn gọi họ là ngoại
đạo! Thậm chí chấp Phương Sơn (Lư
Thông Huyền, Lư Trưởng Giả), bèn chê trách ngài
Thanh Lương xé nát toàn thể bộ kinh
[Hoa Nghiêm]. Kẻ chấp tŕ thần chú nghi Hiển giáo
do người đời sau nói ra [chứ chẳng phải
do đức Phật
nói]. Những kiểu như thế, đủ loại
chẳng dễ nêu trọn! Mâu thuẫn, như nước và lửa,
đối địch lẫn nhau, giữ chặt
[kiến chấp] như tường vách kiên cố
chẳng thể lay chuyển, tôi cảm khái sâu xa!
Kính khuyên các vị nhân giả ai nấy hãy bỏ
chấp trước, ai nấy trống lòng,
lại còn tự nghiên cứu tường tận
lý tột cùng, lấy ngộ làm chuẩn
tắc. Sau khi đại ngộ, sẽ thong thả
mà bàn luận vẫn chưa muộn!
* Diêu thiếu sư (1)
Khi
đức Phật chưa xuất thế, mọi
người đều coi trời là thầy. Đức
Phật đã xuất thế, họ mới
biết thờ Phật. Vì thế, Phật có
hiệu là Nhân Thiên Sư (thầy của trời
người), riêng làm vua trong tam giới,
chẳng có ai sánh bằng. Diêu thiếu
sư[32]
viết Phật Pháp Bất Khả Diệt Luận, cho
rằng hai giáo Nho và Đạo tuân theo luật
trời mà đă chế định mà áp dụng,
chẳng dám trái nghịch trời. Giáo
pháp của Phật được chư thiên phụng
hành, chẳng dám trái nghịch Phật.
Đấy tuy là lời lẽ của Khám Trạch[33],
nhưng nếu chẳng phải là là thiếu
sư, sẽ chẳng thể xiển minh. Hơn
nữa, thiếu sư địa vị tột bậc
tam công[34], nhưng chỉ
khoác một chiếc áo chằm, suốt
đời chẳng thay đổi tăng
tướng, há có thể dùng
thường tình để dò lường
ư? Riêng ông ta chẳng
giống như ngài Phật Đồ Trừng[35]
thị hiện thần thông, nhưng ngài Đồ
Trừng trong lúc đời loạn, bèn nhờ
vào thần thông để hiển thị sự
giáo hóa, còn thiếu sư gặp chân
chúa, chẳng đợi thần thông, biết
đâu là chẳng phải không thể, mà
là không thực hiện đó thôi? Hơn
nữa, bài thơ U Cư có câu: “Xuân yến
sô thành từ cựu lũy, ngọ kê
đề bãi chủy âm giai” (Én xuân ra ràng ĺa lũy
cũ, gà trưa gáy xong, mổ thềm tối), có
thể nói [Diêu thiếu
sư] là Lưu Hầu (Trương
Lương) trong thuở đó. Cơi đời
chưa có ai biết sự sâu xa của ông ta; do
vậy, tôi nêu bày.
* Diêu thiếu sư (2)
Chắc
có người nói thiếu sư phù tá vua,
sát nghiệp rất nhiều, sao có thể chấp
nhận được? Nhưng thiếu sư có
ba điều đáng trọng: Một là phú
quý tột bậc trong các quan lại, nhưng
chẳng thay đổi tăng tướng. Hai
là công đã thành bèn thoái ẩn,
sáng suốt giữ thân. Ba là tán thán
Phật thừa, có chánh tri kiến. Sát nghiệp
chẳng bàn tới. Tuy vậy, thiếu sư
từng khải tấu trong thuở tĩnh nạn: “Phương
Hiếu Nho[36]
là người hiền, xin hãy thận trọng
đừng làm hại”. Chỉ do một
lời này, cũng đáng coi là công hơn
lỗi vậy. Do vậy, tôi tán thán ông ta.
Bồ
Tát giới đệ tử Lưu Huệ Văn
xướng suất con trai là Tánh Trạch quyên
tiền kính khắc in, kính nguyện chánh
pháp hưng thịnh, rạng ngời, tam căn
đều được tiếp độ trọn
khắp, tiêu trừ nghiệp chướng,
chứng thẳng vào Bồ Đề.
Tháng
Năm mùa Hạ năm Quang Tự 24 (1898), viết
tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.
11. Trúc song tam bút (竹窗三筆)
Đời
Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn
11.1. Lời tựa
Cổ nhân có Dung Trai
Tùy Bút[37],
tôi phỏng theo, bên song cửa sổ bằng tre, có lúc
có cảm nghĩ, bèn ghi lại; có lúc
có những điều trông thấy, bèn ghi
lại. Từ lần đầu tới lần
thứ hai, đã thành hai quyển. Nay đang
độ tám mươi, khá biết bảy
mươi chín năm trước sai trái,
tự nhận biết cái tâm chưa lặng
yên. Hiềm rằng đã gieo mình vào
Lạc Sanh Đường từ lâu, chẳng
thể siêng năng nối gót cụ Triệu Châu [hành cước]. Do vậy, một
chõng đi khắp ngàn non, trong khoảnh
khắc thần thức dạo trăm
đời. Những gì cảm nghĩ, trông
thấy [được ghi lại] qua năm tháng
tích lũy, bỗng dưng lại thành một
quyển. Tuy là nói Đông, nói Tây, khách
hỏi, chủ đáp, đủ loại khác nhau,
chủ yếu quy vào chỉnh đốn hạnh môn,
bình trị tâm địa mà thôi! Những
chuyện khác như chuyện trong Thế Đế,
chẳng liên quan tới pháp hóa, vô ích
cho sự tấn tu, thì chẳng rảnh
nhắc tới! Ôi! Tôi già rồi! Sao không giữ
im lặng như cái túi thắt miệng, bình đậy nắp, mà cứ
quang quác dường ấy? Ôi! Tôi già rồi,
mặt trời xế, trăng tà, còn
được mấy chốc? Chẳng nói
lúc này, còn đợi khi nào
nữa? Nếu có lợi cho dân, cho vật,
bận tâm chi những điều khác? Do vậy,
lại nâng bút.
Ngày Xuân năm Ất
Mão (1615) thời Vạn Lịch, hậu học Vân
Thê Châu Hoằng kính ghi.
11.2. Trúc Song Tam Bút (chánh văn)
Đời
Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê soạn
* Sát sanh là tội ác lớn
nhất trong cơi đời
Nếu
hỏi: “Con người tạo ác, điều gì
là lớn nhất?” [Người
được hỏi] đáp rằng: “Trộm
cướp, hoặc ngỗ nghịch, hoặc
xúi giục thưa kiện”.
Tôi nói: - Chẳng
phải vậy! Có thứ còn to lớn
hơn. Không gì lớn bằng sát sanh!
Chắc có người nói: “Giết mổ
để nấu ăn là chuyện thường
ngày, há gọi là ác, lại còn
lớn nhất nữa?” Ôi! Trộm cướp
tuy ác, nhưng cốt ý có được
tiền tài. Nếu vui vẻ trao cho chúng, chưa
chắc chúng đã tổn hại tánh mạng
của con người. Nhưng sát sanh thì
mổ bụng, moi tim, gan, não phơi trong chảo,
vạc. Ngỗ nghịch thì mặc kệ
chẳng phụng dưỡng, khinh mạn,
chẳng lễ kính [song thân], chưa chắc
đã có những hành vi như A Xà
Thế, Dương Quảng[38].
Huống chi A Xà Thế, Dương Quảng làm
hại cha mẹ trong một đời, nhưng kinh dạy trong các loài có sanh mạng,
chắc là có cha mẹ trong đời
trước. Sát sanh từ bé tới
già, những con vật bị giết chẳng
thể tính toán nổi, tức là làm hại
cha mẹ nhiều đời! Kẻ xúi giục
thưa kiện thì chuyện ác chồng chất,
danh phơi bày, phần nhiều bị giết
hoặc truy bắt, lọt lưới hiếm
lắm, còn kẻ sát sanh ai sẽ tra xét
hắn? Tức là xúi giục thưa
kiện thì có ngằn hạn, mà cái
hại của sát sanh thì chẳng có
cùng tận. Do vậy, đức to lớn
của trời đất là Sanh. Điều
ác to lớn trong vòng trời đất
là Sát Sanh.
* Ngày đêm niệm Di
Đà mười vạn tiếng
Cõi
đời truyền tụng Vĩnh Minh đại
sư ngày đêm niệm Di Đà mười
vạn câu. Tôi từng
thử làm, từ sơ nhật
phần hôm nay cho đến sơ nhật phần ngày
hôm sau, đủ mười hai thời một
trăm khắc, vừa được
mười vạn, nhưng chỉ là niệm
bốn chữ danh hiệu. Nếu sáu chữ
thì chẳng đủ số. Dẫu ăn
uống, tiêu tiểu đều [niệm Phật]
chẳng gián đoạn. Hễ gián
đoạn đôi chút, sẽ chẳng đủ
số. Ngủ nghê, nói năng thảy đều
đoạn tuyệt. Hễ thong dong đôi chút, sẽ
chẳng đủ số. Bận bịu, vội
vã như người rảo bước,
chẳng rảnh để có một niệm nhỏ
nhặt nào. Hễ có niệm vi tế, sẽ không
đủ số. Vì thế biết là nói “mười
vạn”,
đại khái là nói tột cùng trong
khoảnh khắc chẳng lìa [Phật
hiệu], chứ không nhất thiết hạn
định là con số mười vạn. Tôi
sợ người tín tâm niệm Phật
có thể chấp trước thành bệnh; do
vậy, nêu ra chuyện chính mình tự
thử để thưa trình. Hoặc có
người nói: “Đấy là chuyện
thuộc Thiền Định của đại sư”, như
thế thì tôi chẳng biết!
* Chuyện của mình
đã hoàn tất thì mới có thể
vì người khác
Cổ nhân đại
triệt đại ngộ, chuyện tham học đã
xong xuôi mới ở ẩn bên nguồn
nước hay trong rừng để
trưởng dưỡng thánh thai, chẳng
tiếc để miệng mốc thếch. Do trời,
rồng thúc đẩy, mới vì
người khác. Do vậy, từ giã
pháp tịch, nguyện đời đời ở
địa vị học nhân để tự rèn
luyện. Khi tôi xuất gia, dốc lòng vâng giữ
lời ấy, ghi trong tâm khảm. Về sau, do bệnh
vào núi, lâu ngày bất giác [núi ấy] trở
thành tùng lâm; nhưng cho đến nay, chẳng
dám gọi chỗ ở là “phương
trượng”, chẳng dám mở miệng
lớn lối bàn xằng tông thừa, v́ chỉ
là đồng tu với đại chúng,
chẳng phải là suất lãnh mọi
người hành đạo. Hổ thẹn lớn
tuổi hơn một chút, khích lệ, khuyên lơn
lẫn nhau mà thôi! Các nhân giả dùng tình
nghĩa bạn bè để quở trách tôi
hòng được tốt lành hơn thì
may mắn lắm thay!
* Hai điều lợi
tự và tha
Cổ nhân
nói: “Chẳng thể tự lợi mà
có thể lợi ích người khác
thì là tâm Bồ Tát”. Lời ấy
chính là cam lộ. Chẳng khéo dùng,
sẽ trở thành thuốc độc! Thử
xét lại chính mình để suy nghĩ, ta
có phải là Bồ Tát hay không? Huống hồ
nói “phát tâm” chẳng phải là
thật sự có thể! Há chẳng nghe “tự
giác đã trọn vẹn, lại hành giác
tha, Như Lai ứng hiện trong cõi
đời” đó ư? Chắc có
người nói: “Ắt cứ phải
đợi viên mãn rồi mới lợi tha,
thì lợi tha sẽ trọn chẳng có
lúc nào cả!” Nhưng bệnh của chính
mình chẳng thể cứu, mà có
thể cứu người khác, chẳng
có lẽ ấy! Vì thế, phải nên phát tâm
rộng lớn của Bồ Tát, nhưng lại
phải vâng giữ đích xác giáo huấn
chân thật, thiết tha của Như Lai. Nếu không,
kẻ đui dẫn người mù, tự
muốn ghé vào hàng Bồ Tát, mà
người lẫn mình đều bị mất
mát; đó gọi là ǵ vậy?
* Sát sanh chẳng
phải là chuyện nên làm của con
người
Cọp, beo
ăn các loài thú, chim ưng, chim cắt
ăn các loài chim, cá chuối hoa[39],
rái cá, chim cốc, c̣ ăn các thủy tộc, loài
vật vô tri nên như thế. Mang hình tướng
con người, bẩm thọ tánh người, mà
giết các chúng sanh để ăn thịt th́
có nên hay chăng? [Ăn thịt chúng sanh] thì
là cọp, beo,
ưng, cắt, cá chuối hoa, rái cá, chim cốc,
c̣, trong loài người. Tuy vậy, cọp
chẳng làm hại loài bay trên không, cá chuối
hoa chẳng hại đến loài chạy trên
đất. Con người thì trên đến
tận trời, dưới là đến
tận vực, giữa thì tản mác, hoặc
rừng, núi, ruộng nương, đều câu,
bẫy, giăng lưới, trăm kế bắt
lấy [các sanh
vật] chẳng sót, tức là con
người tàn hại loài vật quá
đáng! Khổng Tử nói “Nhân giả, nhân
dã” (Có ḷng nhân mới là người). Mạnh
Tử nói: “Nhân giả, nhân dã” (Nhân từ th́ là người).
Con người chẳng có lòng nhân, còn
đáng gọi là “người”
nữa chăng? Đã gọi là “người”,
ắt chẳng lẽ nào sát sanh, ăn
thịt!
* Trâu tế trời
Thui trâu
để tế trời, cõi đời lưu
truyền chuyện này bắt nguồn từ
thời thượng cổ, các đời
noi theo. Ngay như Lương Vũ Đế thờ
Phật, dùng mì thay cho các con vật [để
cúng bái tổ tiên], nhưng chỉ thực hiện
ở Thái Miếu, chẳng áp dụng cho
tế Nam Giao[40].
Sử nói ngày Thượng Tân[41]
trong tháng Giêng, riêng dùng trâu đực
để tế Thiên Hoàng Đại Đế[42].
Phàm tế trời kết hợp tế tổ
thì cũng dùng trâu trong đó, sao gọi
là “dùng mì” cho được? Tôi chẳng rơ
cách nói ấy! Xưa
kia, Bái công (Lưu Bang) dùng thái lao (trâu, dê,
lợn) tế Khổng Tử, tôi từng nói “một
cỗ thái lao chẳng đủ để báo
ân thánh sư”, như
vậy thì chẳng đủ để báo ân
Thượng Đế cũng đã rõ
rồi. Nhưng từ xưa tới nay, do
đã có đại điển của đất
nước, ai theo đó mà ngăn trở? Buồn
thay cho con trâu! Do nghiệp gì mà thành sâu
nặng đến mức như thế!
* Lưới rập
của Phục Hy Thị
Tiên sinh
Vương Hòe Đ́nh
nói: “Lưới
rập được chế bởi Phục Hy là v́
loài thú gây tổn hại cho mùa màng.
Lập ra lưới rập để ngăn
ngừa, chẳng phải để vây bắt.
Vì thế, dù điền (佃, làm ruộng) hay
ngư (漁,
đánh cá),
đều có chữ Điền (田) ẩn
tàng trong ấy”. Thuyết này của
ông Hòe Đình đă nêu tỏ điều ngàn
đời chưa được nêu tỏ, có
thể nói là rất hữu công đối
với thế đạo. Nếu có ai nói: “Viêm
Đế khởi đầu bằng trồng
trọt, nên có hiệu là Thần Nông Thị.
Thời Phục Hy chưa có canh tác,
lưới rập dùng để làm gì?”
Tôi dùng ngay ý trên đây để nói rộng
ra: “Thời cổ tuy chưa có trồng cấy,
nhưng do ăn hạt của thảo mộc, tức
là vẫn có mùa màng. Huống hồ,
cả người lẫn vật đều do mạnh
mà thắng yếu. Lập ra lưới rập,
khiến cho loài thú sợ hãi, tránh
né, chỉ dạy dân tránh xa cái hại,
chẳng phải là dạy dân ăn thịt
chúng nó. Bắt lấy chúng để
ăn chính là thói
tệ của đời sau, chẳng phải
là ý của thánh nhân”.
* Nước tắm
Thầy
Biện Dung ở đất kinh kỳ từng
nói: “Nước đã tắm rửa
đem lắng
trong có thể dùng để vo gạo, thổi cơm”.
Chắc có người cho là
Ngài nói đùa, hoặc bảo là nói quá khích.
Tôi nghĩ chẳng phải là như vậy,
bởi đó là lời thật. Xưa kia,
tôi đi ké thuyền tải gạo đến Đan
Dương, thuyền nối nhau suốt mười
mấy dặm, đầu đuôi san sát nhau,
nhưng sông hẹp, nước cạn, giặt
áo cũng luôn tại đó, rửa chân
cũng luôn tại đó, đại tiểu tiện
cũng luôn ở đó, bẩn thỉu cùng
cực. Nhưng nước dùng để
đun nấu, thổi cơm cũng luôn dùng ngay
tại đó. Chẳng phải là bậc
đại phú quý, hiếm có ai lên bờ
tìm giếng hay suối. Nước sông có
khác chi nước tắm!
Cảnh Cung[43]
bị vây, tuyệt nguồn nước, lọc
nước từ phân ngựa để
uống. Ngoài cửa ải [nơi ông trấn thủ],
có Sao Mễ Điếm suốt bốn mươi
dặm, đợi mưa xuống mà uống,
đào giếng mấy chục trượng
chẳng có nước. Than ôi! Trong cõi
ngạ quỷ, bao kiếp chẳng nghe tên của
nước. Người làm Tăng
hiện thời ở chỗ khe trong, suối
chảy, trà, nước nóng, tắm
gội, giặt giũ, mọi chuyện như ý,
lại còn một tháng tắm tám lần,
vẫn cho là ít, hoặc một tháng
tắm mười lăm lần vẫn cho là
ít, sao chẳng biết hổ thẹn đến
nỗi ấy?
* Tăng phải nên tiết
kiệm
Trương
Tử Thiều[44]
từ lúc là Tú Tài cho tới khi
đỗ Trạng Nguyên, giữ địa vị
cơ mật, trọng yếu, vẫn áo vải thô,
ăn rau, chẳng có vật dụng trang hoàng đẹp
đẽ, bút cũng dùng loại mòn, cùn.
Hồ Khắc Nhân[45]
làm quan mà ăn chay, suốt đời ngủ
trong trướng giấy. Ông ta hiện thân tể quan
mà hành hạnh tỳ-kheo, huống hồ kẻ bản
thân là tỳ-kheo ư? Đức Phật chế
đầu đà tỳ-kheo phải khất
thực, đắp y phấn tảo, ngủ nơi
mồ mả hay cội cây. Nay ở trong đại
chúng, được đàn việt cúng
tặng, áo đầy đủ, ăn uống
đầy đủ, ở yên trong A Lan Nhã, còn
cầu đẹp đẽ, hoa lệ nữa ư?
Một bát bốn miếng vá, một đôi
giày đi suốt ba mươi năm, phong thái cao cả
của cổ đức chưa đọa. Vì
vậy, tôi hổ thẹn tự trách, lại
còn thưa với các bạn đồng tu vậy!
* Tăng lạy cha mẹ
Đức
Phật chế định tỳ-kheo xuất gia
chẳng lạy cha mẹ, nhưng phép vua có
luật quy định tăng nhân, đạo sĩ
lạy cha mẹ. Chắc có người
hỏi: “Vâng theo chế định của Phật thì
trái nghịch phép vua. Tuân theo phép vua thì
chẳng thuận chế định của Phật,
hãy nên làm như thế nào?” Tôi nói
chuyện này chẳng khó, có thể cùng
hành mà chẳng mâu thuẫn. Người
là tỳ-kheo gặp cha mẹ ắt lạy,
nói: “Đây là cha mẹ ta, giống như Phật
vậy”. Người làm cha mẹ, lúc con lạy,
hoặc là tránh ra, hoặc đáp
lễ nói: “Đây là đệ tử của
Phật, chẳng phải là con ta”. Há
chẳng phải là đôi đằng
đều trọn đạo ư?
* Tuổi trẻ bế quan
Thời
cổ chưa có cách nói “bế quan”,
đời sau mới có.
Bởi lẽ, [bế quan] nhằm dưỡng
đạo, chẳng phải là để tạo
đạo! Hơn nữa, người đã
phát đại Bồ Đề tâm, vẫn
phải đáp thuyền vượt biển,
trèo non, xông pha gió sương nơi trăm
quận, chẳng khế ngộ một câu “tùy tha khứ” (theo cái khác đi)[46] bèn
quẩy túi, đội nón trúc, dẫm
bước mây nước nơi ngàn núi. [Triệu
Châu Tùng Thẩm] tám
mươi tuổi còn hành cước, đã
già vẫn rong ruổi. [Ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn] chín
lần lên [Động Sơn để tham yết ngài
Động Sơn Lương Giới], ba lượt
trèo [núi Đầu Tử để yết kiến ngài
Đại Đồng], chẳng ngại siêng khổ.
Ngươi là kẻ như thế nào mà
ngồi yên trong một cái thất, người
khác đến tham phỏng ta, ta chẳng cầu
người khác ư? Xưa kia, ngài Cao Phong [Nguyên Diệu] tọa
tử quan[47]
trong động Trương Công, gá nhà
dựa vào vách núi, lơ lửng nơi
hư không, như chim ở trong tổ, ít
người gặp được, nhưng
đó là chuyện sau khi Ngài đại
ngộ. Nếu chỉ mong an nhàn mà tự
tiện bế quan,
chắc chắn là chẳng thể!
* Tám mươi tuổi
vẫn hành cước
Cổ nhân
có bài tụng rằng: “Triệu Châu bát
thập do hành cước, chỉ vị tâm
đầu vị tiêu nhiên. Cập chí quy gia vô nhất
sự, thỉ tri hư phí thảo hài tiền”
(Triệu Châu tám chục còn hành cước,
chỉ bởi trong lòng chưa được
yên. Cho tới về nhà không một chuyện,
mới biết hài cỏ uổng phí tiền).
Người hiện thời chẳng suy
nghĩ hai câu đầu, mà chấp câu cuối,
bảo là “đạo ở ngay trước mắt,
hành cước uổng công sức!” Lại
còn dẫn chuyện [ngài Huyền Sa Sư Bị] chẳng
vượt Ngũ Lãnh, [ngài Bảo Phước Tùng Triển] chẳng
ra ngoài quan ải để làm chứng. Ôi! Mong
hãy tự xét lại chính ḿnh, đã về
đến nhà hay chưa? Đã không có
chuyện gì hay chưa? Nếu có chuyện
vướng mắc giữa
đường, lắm chuyện lăng xăng,
há chỉ tám mươi, dẫu cho trăm
tuổi, ngàn tuổi, thậm chí vạn tuổi,
đúng là phải nên mua nhiều hài cỏ,
đi khắp góc trời, chẳng thể
dừng chân!
* Giảng Tông (giảng
giải Thiền học)
Tông môn suy
hoại là do người giảng Tông (giảng
Thiền) gây suy hoại. Chắc là có
người hỏi: “Giảng nhằm nêu rõ
Tông, sao lại nói là suy hoại?” Tôi thưa: - Kinh,
luật, luận có đường nẻo nghĩa lư,
chẳng giảng sẽ chẳng hiểu rõ.
Nhưng Tông môn chẳng có đường nẻo
nghĩa lư; giảng giải đâm ra tối mù, cần
phải khiến cho [hành nhân] tham cứu mà
tự đạt được! Do vậy nói:
“Mặc cho biển xanh biến
đổi, trọn chẳng vì ông giảng thông suốt”. Lại
nói: “Nếu ta nói toạc ra cho ông, sau này ông
sẽ chửi ta”. Nay giảng giải, sẽ
biến thành lời lẽ khuôn sáo,
chẳng hiểu rõ ý Tổ từ
phương Tây đến, chính là v́ lẽ này!
* Dạy người
khác tham Thiền
Người
tham Thiền bị lầm lẫn là do người
dạy tham Thiền gây lầm lẫn! Chắc có
kẻ hỏi: “Dạy người khác tham
Thiền nhằm hưng khởi đạo Trực
Chỉ
trong thuở đèn tàn sắp tắt,
sao lại nói là gây lầm lạc?” Tôi nói: “Đạo
tuy ai nấy đều sẵn đủ, nhưng
cũng là ai nấy đều gặp khó
khăn. Nếu chẳng phải là bậc
lợi căn thượng trí, sẽ rốt cuộc chẳng
biết
được ngằn hạn, sao lại nhất loạt ban
phát cho mọi người được? Ví như chiêu
mộ binh sĩ, nếu tuyển được bọn
nhút nhát tầm thường, [những kẻ đó] chỉ
có thể cầm cờ, gióng trống,
chứ trao cho họ quả chùy của Châu Hợi,
thanh đao của Vân Trường (Quan Công), ngọn
kích của Điển Vi[48],
họ chẳng lạng quạng, vấp ngă th́ cũng hiếm
lắm, sao có thể mong mỏi họ lập công
chém tướng, bắt tù, công thành, phá
lũy cho được? Hoặc tự ḿnh cũng
vừa mới nhận rơ các mặt chữ Thượng
(上), Đại
(大), Nhân (人), Khâu (丘),
Ất (乙), Kỷ
(己),
bèn dạy văn tự khoa cử cho người
khác th́ cũng sai mất rồi!” Nếu hỏi: “Còn
ông thì sao?” Đáp rằng: “Lão
tăng còn đang học các chữ Thượng,
Đại, Nhân chưa thuộc!”
* Triệu Luận
Không Ấn[49]
chê bai bài Vật Bất Thiên Luận của Triệu
Công, trước kia tôi đã từng giải
thích; nay lại suy nghĩ do đâu mà Không Ấn
chê trách như vậy? Nguyên do có hai lẽ: Một
là không suy xét ý nghĩa do đâu mà có
bộ luận ấy, hai là quá chấp vào
thường pháp.
“Chẳng suy xét ý
nghĩa do đâu mà có bộ luận ấy”: Nếu
có người hỏi: “Vì sao vật
chẳng đổi dời?”, hãy nên đáp
rằng: “Do tánh Không”. Nay luận ấy
mượn ý “vật xưa chẳng
đến nay” là “vật đổi dời”, nhưng
[Không Ấn]
lại tùy tiện dùng tánh Không để bắt
bẻ. Tánh Không tuy là thánh ngữ (lời dạy của
thánh nhân, tức lời dạy của Phật, Bồ Tát), nhưng
áp dụng vào đây, sẽ trở thành
lời đàm luận mơ hồ, chẳng
phải là lời đàm luận phù hợp thích ứng căn cơ; chẳng
phải là giống như người viết
văn, từ ngữ, câu văn tuy đẹp
đẽ, nhưng chẳng phù hợp
với đề bài đó ư?
“Quá chấp
thường pháp”: Tăng
hỏi ngài Đại Châu [Huệ Hải][50]
“như thế nào là Niết Bàn?”
Đại Châu nói: “Chẳng tạo nghiệp sanh
tử”. Đó là thường pháp.
Lại hỏi: “Thế nào là nghiệp sanh
tử?” Đại Châu nói: “Cầu đại
Niết Bàn là nghiệp sanh tử”. Trong thường
pháp, ắt đáp “do hành theo vọng, nên
là nghiệp sanh tử”, nay Ngài nói “cầu
đại Niết Bàn là nghiệp sanh tử”
chính là có cùng ý nghĩa với
ngài Tăng Triệu coi “vật chẳng tồn
tại đến hiện tại” là “bất thiên”
(chẳng đổi dời). Vì thế,
chẳng thể bắt bẻ được!
Lại nữa, Không Ấn
nói “Khuê Phong chẳng nên coi Thiền Trực
Chỉ
của tổ Đạt Ma là một độ trong
lục độ”, ngài Khuê Phong
nói lời này ở chỗ nào vậy?
Trong bộ Thiền Nguyên Thuyên do Khuê Phong soạn có
nói: “Khi Đạt Ma chưa đến Trung Hoa,
[Thiền] trong cách hiểu của các vị [cổ
đức] đều là Thiền thuộc Tứ
Thiền Bát Định. Giáo nghĩa do các ngài
Nam Nhạc và Thiên Thai đã lập tuy viên diệu
tột bậc, nhưng do tiến nhập môn hộ theo
thứ tự, cũng chỉ là một trong
các môn Thiền trên đây. Chỉ có Thiền do
Đạt Ma truyền là có cùng một
Thể với
Phật, vượt xa các môn khác”.
Lời ấy đă
nói rành rẽ như thế, vậy mà bảo
là “coi Thiền trực chỉ là Thiền độ
trong lục độ”, tôi chẳng hiểu
được! Tuy vậy, Không Ấn bài bác
Vật Bất Thiên Luận của Triệu công, quở
trách ngài Khuê Phong bàn định Sơ Tổ,
đúng là đã phạm lỗi. Còn như
Sư nói Khuê Phong chẳng nên coi Hà Trạch
là người duy nhất kế thừa
Tào Khê, hoặc cho rằng những luận định
của môn nhân tông Thiên Thai có lẽ phần nhiều chẳng
do [Trí Giả] đại sư chính miệng nói ra. Hai
thuyết này là luận định xác
đáng.
* Hoa Nghiêm Luận Sớ
Nếu
hỏi: “Đã nghe lời chỉ giáo về
Triệu Luận, lại có một cư sĩ tận
lực chê trách ngài Thanh Lương thì sao?”
Tôi nói: - Vị cư sĩ đó chỉ tôn sùng
lời định luận của ngài Táo
Bách (Lư trưởng giả Lư Thông Huyền). Ông ta
chỉ trích ngài Thanh Lương, cho rằng
chẳng nên dùng “tín, giải, hạnh,
chứng” để xé lẻ toàn bộ bản kinh,
đánh mất tông chỉ của kinh rất
lớn. Chẳng nghĩ kinh mở ra Thập
Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi
Hướng, Thập Địa v.v… Đó là
tách nhỏ lại càng tỉ mỉ hơn. Như
vậy thì Phật cũng sai ư? Hơn nữa,
Hàng Bố và Viên Dung[51],
tuy một mà hai, tuy hai mà một! Cứ
ắt muốn trừ khử Hàng Bố,
thì Viên Dung là vật gì vậy? Nhân bao trùm
biển quả, quả thấu triệt nguồn nhân,
tức là trước sau đồng quy,
đầu đuôi nhất quán, chẳng khâu lại, chẳng
xé ra (ư nói không gom lại, hay tách ra), tìm thấy
sự xé lẻ ở chỗ nào? Huống
chi luận (Hoa Nghiêm Hợp Luận của ngài Táo Bách)
thì có luận thể, sớ (Hoa Nghiêm Kinh Sớ
Sao) có sớ thể. Nêu rõ đại ý,
không gì bằng luận! Nêu tỏ cặn
kẽ, tỉ mỉ, sâu tột cùng, vi tế tột
bậc, công của [Hoa Nghiêm Kinh] Sớ Sao chẳng
thể nghĩ bàn. Hai vị đại sĩ (Táo Bách
và Thanh Lương) đều là bậc hiền
thánh phù tá kinh Hoa Nghiêm, chẳng thể so
sánh cao thấp! Tôi từng gửi thư cho
cư sĩ, cư sĩ chẳng đáp,
chẳng biết có chấp thuận hay không? Do
vậy, ghi lại.
* Phê bình, luận
định tiên hiền
Tôi
đã trần thuật hai chuyện Triệu Luận
và Tạp Hoa (kinh Hoa Nghiêm). Có người
nói: “Chớ nên phê bình, nghị luận tiên
hiền!” Tôi thưa: - Chẳng phải vậy! “Người
hiện thời chưa chắc chẳng
bằng cổ nhân”, xưa kia đã có
lời ấy, nhưng tôi từng nghĩ ba trăm
thiên (ba trăm bài thơ ca trong kinh Thi) phần nhiều
phát xuất từ những lời ca
vịnh nơi rẫy bái, xóm làng, mà
đời sau, kẻ tài hoa vang danh trong cõi đời
chẳng thể bằng được. Lục
quần tỳ-kheo dẫu thánh chúng chẳng
nhắc tới, nhưng hiền hơn các
vị Mã Minh, Long Thọ sau khi đức Phật
diệt độ, vậy thì sao có thể coi thường
cổ nhân cho được?
Lời phê bình của
Không Ấn thái quá chỉ ở hai chỗ [nhận
định về luận] Vật Bất Thiên và [bàn về]
lời ngài Khuê Phong luận định Đạt
Ma, chẳng thể sánh bằng lời
gièm chê ngài Thanh Lương. Tôi thấy có người
quát mắng, sỉ nhục ngài Ôn Lăng [Giới Hoàn],
mạ lỵ ngài Trường Thủy[52],
do tôn sùng ngài Thiên Thai mà hủy báng
trọn hết các vị khác, chẳng
vừa lòng một vị nào! Có kẻ soi mói ngài Diệu
Hỷ là chưa ngộ, coi thường
ngài Trung Phong là văn tự tri thức,
lại còn quá đáng hơn là nói “Lục
Tổ chẳng bằng ngài Vĩnh Gia”, nhưng
đối
với những người bị họ vùi dập
như
thế, sao có thể chẳng biện
định cho được? Than ôi! Cổ nhân
đã qua rồi, người thời nay [phê phán tiên hiền] còn
đó, sao tôi phải rỗi hơi bênh vực cho người
thuộc về quá khứ để rồi mất
ḷng người đang c̣n? Xét theo lý th́ có những
điều phải nói lời thích đáng,
chẳng thể cứ im lặng suốt, c̣n những
điều khác thì không màng tới.
* Dạo chơi danh sơn,
chẳng nguyện sanh về Tây Phương
Kẻ sang chơi
Ngũ Đài, bảo là Văn Thù tại
đó. Kẻ sang chơi Nga Mi, bảo Phổ Hiền
tại đó. Kẻ sang chơi Phổ Đà,
bảo Quán Thế Âm tại đó. Riêng
chẳng nói Tây Phương Cực Lạc
thế giới có Phật Di Đà tại
đó! Lại chẳng nói: Đối với ba
vị đại sĩ th́ chỉ ngưỡng mộ
danh hiệu tốt lành, A Di Đà Phật nay
đang thuyết pháp, thân cận quang minh tốt lành,
càng hay hơn ư? Lại chẳng nói bôn ba
nơi ba quả núi, trải bao năm tháng
mới đến được, còn tín
tâm niệm Phật, trong một cái khảy ngón tay
bèn vãng sanh ư? Hết sức đáng
than!
* Quyên mộ, hóa duyên phi
lý
Quy
ước dành cho tăng chúng ở Vân Thê
có nói: “Kẻ quyên mộ, hóa duyên phi lý,
sẽ bị trục xuất khỏi chùa”. Một
vị tăng nói: “Chuyện này chẳng
đáng cấm. Hễ cấm thì sẽ khuyết
phước điền của chúng sanh. Quyên
mộ phi lý, tuy người ấy tự
gánh chịu tội lỗi, nhưng chúng sanh
được lợi ích phá trừ
lòng keo tham, xả tài. Tăng trong cơi đời từng
mượn danh nghĩa của Phật để kiếm sống,
Phật chưa từng v́ bọn họ đặt ra cấm
đoán”.
Tôi nói: - Ông nói đúng là hay lắm,
nhưng chỉ biết một mà chẳng biết hai! Quyên
mộ, khuyến hóa phi lư chính là mờ mịt nhân, mê muội
quả. Người thí mà biết, sẽ do vậy mà thoái
tâm, sau đấy chẳng bố thí nữa, há c̣n có thể
phá keo kiệt ư? Thuở đức Phật tại thế,
có các đệ tử từ xa trở về, đi qua các
thôn xóm, thấy cửa nẻo đóng chặt, hỏi nguyên
do th́ ra họ sợ Tăng quyên mộ, hóa duyên! Do vậy,
tŕnh lên Phật, đức Phật bèn quở trách đủ
mọi lẽ, sao nói là chẳng cấm đoán? Hăy thận
trọng nhé!
* Hư vọng niêm tụng
cơ duyên của cổ đức (1)
Quy ước
cho tăng chúng ở Vân Thê là nếu hư vọng niêm tụng
cơ duyên cổ đức, sẽ bị trục xuất
khỏi chùa. Một vị tăng nói: “Chẳng cần cấm
chuyện ấy, hễ cấm sẽ đoạn duyên Bát
Nhã. Kẻ phỉ báng Pháp Hoa, trả tội địa
ngục xong, lại do phỉ báng mà gieo duyên với Pháp Hoa.
Huống hồ hư vọng niêm tụng th́ chẳng phải
là báng?”
Tôi nói: - Ông nói đúng là hay lắm,
nhưng chỉ biết một mà chẳng biết hai! Kẻ
báng Pháp Hoa ra khỏi địa ngục mà gieo thiện
duyên, sao bằng người tin kính Pháp Hoa chẳng vào địa
ngục, lập
tức gieo thiện duyên ư? Lại nói hư vọng
niêm tụng chẳng phải là phỉ báng, nhưng chẳng
nghĩ: Vô tri đoán ṃ đàm luận, đều gọi “báng
đại Bát Nhă”. V́ thế, kẻ tùy tiện trần
thuật lời thầy, bị chỉ trích rằng “tiên sư
không nói lời ấy, đừng báng tiên sư th́ hơn”.
Người ấy tôn trọng thầy, chẳng phải là
phỉ báng. Đáp lầm một câu chuyển ngữ, đọa
làm thân chồn hoang. Đó là lầm lỗi, chẳng phải
là phỉ báng. Cớ sao hai người đều thành tội
lệ? V́ mỗi câu hỏi, mỗi câu đáp của cổ
nhân đều từ chân thật liễu ngộ mà ra.
Người hiện thời rong ruổi theo khẩu đầu
tam-muội, đối trước người sáng mắt
giống như bỏ thủy ngân vào ḷ lửa đỏ rực,
yêu tà gặp phải Bạch Trạch[53].
Nếu chẳng cấm chỉ, Đông giơ một nắm
tay, Tây buông một tiếng hét, kẻ này nói một bài kệ,
kẻ kia nói một bài tụng như điên, như cuồng,
như đùa, như bỡn, hư huyễn hừng hực
mà đánh mất thực tiễn. Ông cho rằng đó lả
phục hưng Tông môn, tôi nghĩ đó là đại phá hoại
Phật pháp!
* Hư vọng nêu cơ duyên của
cổ đức (2)
Tăng không
vui nói: “Nếu đúng là như thế, đối với
cơ duyên của cổ đức chẳng thể
mở miệng b́nh luận, đánh giá một phen ư?”
Đáp: “Chỉ cấm hư vọng niêm tụng, chưa từng
nói chẳng thể niêm tụng! Hai vị tăng cùng lúc cuốn
rèm, cổ đức nói: ‘Một người được,
một người mất’. Ông hăy thử b́nh luận,
đánh giá xem, ai được, ai mất?” Tăng chẳng
đáp được. Tôi nói: “Người xưa có nói: ‘Mười
phen bị thầy hỏi, chín lượt đáp chẳng
được’ vẫn không hại ǵ, chỉ kỵ vô
tri nói bừa, sẽ trọn chẳng thăng tấn
được! Hăy cẩn thận nhé!”
* Nói thẳng
Vị
tăng trên đây muốn bỏ hai điều cấm
đoán là quyên mộ và hư vọng niêm tụng, tôi không
đồng ư. Vị tăng ấy rời đi, lại có
một vị Tăng nói: “Vân Thê nửa tháng nói thẳng, nói
thẳng từng ngày, vừa khéo dấy lên đầu mối
tranh căi. Trừ bỏ nói thẳng th́ mới đúng là cách nói
thẳng”.
Tôi nói: - Ông chẳng phải là
tăng ư? Tăng hăy nên vâng theo Phật. Đức Phật
chế định kết hạ chín mươi ngày. Ngày măn
hạ được
gọi là Tăng Tự Tứ Nhật, Phật
Hoan Hỷ Nhật (ngày tăng tự tứ, ngày Phật
hoan hỷ), cho phép Tăng nêu lỗi chẳng ẩn giấu,
kiêng kỵ ǵ. Do vậy, gọi là Tự Tứ (自恣). Vân Thê
[quy định] mỗi nửa tháng nói thẳng chính là dựa
theo đó. Phật vui mà riêng ông không vui, có nên hay chăng? Luật
chép tăng có lỗi th́ những vị Tăng bên cạnh bạch
với đức Phật, đức Phật gọi
vị Tăng [phạm lỗi] ấy, quở trách đủ
mọi lẽ. Do vậy, chế thành luật. Vân Thê nói thẳng
hằng ngày chính v́ căn cứ theo đó. Đức Phật
cho phép cử tội, riêng ông không cho phép, có nên hay chăng?
Hơn nữa, pháp thế gian c̣n nói: “Vua có bầy tôi vạch
lỗi, cha có con vạch lỗi, kẻ sĩ có bạn vạch
lỗi”. Do vậy nói: “Vua đức sáng bèn ban thưởng
bầy tôi can gián thẳng thừng, thánh chúa lập cột[54] để
ghi bài báng”. Phu Tử cho rằng biết lỗi là may mắn,
Trọng Do (Tử Lộ) nghe trách lỗi bèn mừng, huống
hồ Tăng tu pháp xuất thế gian mà có thể chẳng
cần bạn giúp thành tựu đức của ḿnh ư?
Ông ghét nói thẳng, kẻ siểm nịnh, a dua, bợ
đỡ sẽ kéo tới, cự tuyệt can gián, che đậy sai trái, sẽ
tổn đức, bại nghiệp, chẳng phải là lỗi
nhỏ đâu! Hăy cẩn thận nhé!
* H́nh tích của cái tâm
Bao Hiếu
Túc Công[55] suốt
ngày nghiêm nghị, người ta ví nụ cười của
ông giống như Hoàng Hà nước trong! Tần Cối
cũng hiếm khi tươi cười, hễ mỉm
cười giống như nước suối khô cạn!
Vẻ ngoài tuy như nhau, nhưng nội tâm khác biệt một
trời, một vực. Môn đ́nh của thiền sư Thần
Đảnh Hồng Ân cao ngất, nạp tử nếu chẳng
phải là bậc thượng sĩ tham học đă lâu, sẽ
chẳng dám vào cửa. Về sau, cũng có bậc Thiền
ḥa giống như vậy. Lâm Tế, Đức Sơn hễ
động đến là phang gậy, hoặc quát to như
gió, như sấm. Bậc Thiền ḥa về sau cũng có
người giống như vậy. Hoàng Long, Diệu
Hỷ thăng ṭa bèn chửi vung vít các phương. Bậc
Thiền ḥa sau này cũng có người giống như vậy.
Giống hay khác như thế nào vậy?
* Tăng chú trọng ngoại
học
Cái học
của nhà Nho lấy lục kinh và các sách như Luận Ngữ, Mạnh
Tử v.v… làm chuẩn đích, c̣n [sách vở của] Lăo,
Trang, cho đến kinh Phật đều cấm đoán,
chẳng học, dốc ḷng chuyên dụng công nơi chánh lư,
chẳng đáng trách. Là tăng sĩ cũng thế, [vậy
mà] chẳng đọc kinh Phật, cứ lo đọc
sách Nho. Đọc
sách Nho vẫn c̣n chấp nhận được, nhưng lại
c̣n đến nỗi đọc Trang, Lăo. Kẻ hơi minh
mẫn lại c̣n theo đuổi việc chú thích [các sách
đó], lại c̣n học thơ, học văn, học
thư pháp, học văn từ thế gian, các thứ ấy
đều là tướng suy của pháp môn, chẳng thể
văn hồi được!
* Tăng chú trọng tạp
thuật (1)
Tăng lại
có kẻ làm thầy địa lư, làm thầy bói toán, làm thầy
xem tướng, làm thầy
chế thuốc, làm thầy thuốc phụ khoa, làm thầy
phù thủy, luyện đan, đời Mạt Pháp thói tệ
cùng cực! Chắc có kẻ nói: “Bách Trượng đại
sư sai Tư Mă Đầu Đà chọn đất để
có thể dựng đạo tràng chứa được năm
trăm tăng chúng, [Tư Mă Đầu Đà] bèn chọn
được Quy Sơn. Đó là chuyện của nhà địa
lư. [Đại sư] lại sai chọn chủ nhân Quy
Sơn, bèn chọn được thiền sư Đại
Hựu. Đó là chuyện của nhà phong thủy. Vậy là
như thế nào?” Ôi! Đấy là đại cơ duyên
truyền pháp lợi sanh của cổ thánh hiền, người
đời chẳng hiểu biết, suy lường
được, nhưng nhân phẩm của Bách Trượng
và Tư Mă [Đầu Đà] là như thế nào? Bọn thuật
sĩ hiện thời há có thể viện cớ [đánh
đồng với họ] được ư?
* Tăng chú trọng tạp
thuật (2)
Hoặc
nói: “Tạp thuật cố nhiên chẳng phải là trách nhiệm
của tăng. Y thuật nhằm toàn mạng cho chúng sanh,
hăy nên coi là không trở ngại!” Tôi nói: - Tạp thuật loạn
tâm, cố
nhiên nên nhất loạt buông bỏ. Nếu như có hoài băo
cứu tế, cũng là một
đầu mối trong vạn hạnh. Nhưng nếu y thuật
chẳng tinh tường, tuy nói là “toàn mạng cho chúng sanh”,
đâm ra tổn thương chúng sanh, hết sức chẳng
nên! Gần đây, có vị tăng dùng cách “cứu” (灸, đốt
ngải cứu) [để chữa bệnh]. Cách ấy là
trộn thuốc thành bánh, đặt ngải cứu lên trên
[bánh thuốc ấy] để đốt, bảo là “trị
vạn bệnh”. Cách ấy chẳng biết xuất phát từ
sách nào, truyền từ người nào? [Cách để châm cứu]
là lần theo bắp thịt để ḍ huyệt, từ
huyệt mà [châm hoặc cứu để dẫn kích thích] vào
trong [kinh lạc]; đấy chính là cách thông thường
để đốt ngải cứu. Cách một bánh thuốc
mà “cứu”, khiến cho người bệnh đau
đớn nhưng
chẳng có công năng ǵ! Nhưng thầy làm
như thế, tṛ nối tiếp theo, chẳng tự biết
nghiệp của họ đă sâu lại nặng!
* Châu Liễu Ông
Châu Liễu
Ông bảo tôi: “Thích môn hiện thời cần phải chặt
đầu ba người treo ngoài đường phố[56]
th́ sau đấy Phật pháp mới chấn hưng
được!” Khi đó, vị quan X… ngồi tại
đó, hỏi ba người ấy là ai? Đáp thẳng rằng:
“Thứ nhất là ông Y…, thứ hai là ông Z…” Hỏi tới
người thứ ba, ông đáp thẳng: “Chính là lăo huynh”.
Vị quan X… vốn thường nhật thân thiết
với ông Châu, bèn hỏi
nguyên do. Ông đáp: “Ông đội cái danh là A-luyện-nhă mà tâm tại
điện Hàm Nguyên!” Vị quan X… không nổi sân mà nói: “Ông
nói chí lư!” Ông này (Châu Liễu
Ông) do cương trực, chẳng dung hợp
với đương thời, đối với tăng sự, cũng [luận định] chánh khí lẫm
liệt dường ấy. Đáng nể, đáng kính! Tăng
sĩ hiện thời thật sự sống tại A-luyện-nhă
mà có kẻ phát nguyện, nguyện đời sau làm ngự
sử th́ đáng thẹn chết được!
* Dùng nước sôi để
thí thực
Có người
tự xưng là sa-môn ở Tây Vực, làm pháp sư hành Diệm
Khẩu Thí Thực. Sái tịnh chẳng dùng nước
thường, mà đun nước sôi trong b́nh, dùng tay bưng
lên để tưới rẩy, rơi vào mặt người
khác cũng chẳng nóng. Mọi người lấy làm lạ,
nườm nượp thỉnh ông ta thí thực. Tôi cho rằng tṛ
này chẳng đáng coi là quư. Những người được
gọi là Đoan Công Thái Bảo[57]
trong cơi đời có thể dùng xiềng sắt nóng đỏ
buộc chặt nơi chân tay, mũi đao nhọn sắc
đâm vào cổ họng, huống hồ nước nóng ấy
chỉ là tṛ vặt vănh! Đức Phật chế định
thí thực vốn v́ ngạ quỷ, hễ thức ăn tới
miệng họ bèn thành lửa, thành than. V́ thế, dùng chân
ngôn Cam Lộ Thủy v.v… để diệt sự nhiệt
năo ấy, khiến cho họ được thanh
lương, sao lại dùng nước nóng? Điều này
do vị Phật nào nói? Do kinh nào chép? Lừa đời, dối
dân, không chi hơn được nữa! Chắc có người
nói ông ta có thể biến nước sôi thành nước lạnh,
cho nên chẳng cần dùng nước. Nếu đúng là
như thế, ắt cũng có thể biến thứ thối
nát thành trầm đàn; ắt chẳng cần dùng
hương, hóa tối tăm thành quang minh; ắt
chẳng cần dùng đèn, hóa ngói, sỏi thành táo, hạt dẻ; ắt
chẳng cần dùng trái cây, hóa cỏ, rơm thành mẫu
đơn, thược dược; ắt
chẳng cần dùng hoa, hóa bùn đất thành lúa tẻ, lúa
ḿ, kê, gạo; ắt chẳng cần dùng hộc thực (hộp
đựng thức ăn). Nay v́ sao, hoa, hương,
đèn, quả, hộc thực, mỗi mỗi đều sắm
sửa đầy đủ như thường pháp, riêng một
chuyện sái tịnh th́ dùng nước sôi vậy? Người
hiểu rơ lư sẽ biện định [đúng, sai] ngay!
* Nhục h́nh (tra khảo,
hành hạ xác thân)
Nhục
h́nh bắt đầu từ khi nào? Có phải thật
sự là ư của thánh nhân hay không? Nếu bảo: “Sách
Thượng Thư có nói”. Tuy nói, nhưng chưa tường
tận! Chắc là đời sau muốn ra oai với dân mà
làm vậy! Nung đỏ ống đồng bắt tội
nhân ôm, cho nên vua Trụ của nhà Thương lâm nguy. Khoét mắt
người, lột da mặt người, cho nên Tôn Hạo[58]
nước Ngô mất nước. Lại c̣n có chuyện
đun sôi dầu và muối trong vạc, chảo, bỏ
người vào trong ấy mà nấu nhừ, các vua Tề, Sở
v.v… rốt cuộc đến nỗi diệt vong, thế
mà bảo là do thánh nhân làm ư? Chắc lại có kẻ nói:
“Đục trán lại c̣n cắt mũi người đó,
Châu Dịch cũng nói đó thôi!” Nhưng kinh Dịch chẳng
phải là luật, mà là sách bói toán, chẳng phải là sách
chép về h́nh phạt. Sở dĩ người xưa áp dụng
[để
hướng cát, tỵ hung], chẳng phải
để trừng phạt tội của dân. Đục
trán và cắt mũi là Tượng (biểu tượng,
h́nh tượng của quẻ), chẳng phải là sự
thật. Hơn nữa, nhục h́nh tới thời Hán
Văn Đế mới trừ, muôn đời sau có cho
Văn Đế là sai trái hay không? Hay coi Văn Đế là
hiền? Nếu coi là hiền, có thể biết nhục
h́nh là sai trái. Tuy nhiên, vua quả thật là hiền, nhưng
vẫn có chuyện đáng hận, tức là chưa trừ
“cung h́nh”[59].
Than ôi! Đau ḷng thay, khó nói nổi. Nghiệp báo tuần
hoàn chẳng thể dứt, khi nào mới được thấy
hội Long Hoa trong thế gian!
* Tâm ư thức
Mấy vị
giảng sư tranh luận tâm ư thức chẳng quyết
đoán được. Tôi bèn v́ họ tra cứu các cổ
thư. Kinh Văn Thù Vấn chép: “Tâm giả tụ
nghĩa, ư giả ức nghĩa, thức giả hiện
tri nghĩa” (tâm có nghĩa là tụ tập, ư có nghĩa
là nhớ, thức có nghĩa là hiện đang biết). Câu
Xá Luận chép: “Nhóm hợp
rồi khởi lên là tâm, toan tính, suy lường là ư, hiểu
rành rẽ khác biệt là thức”. Kinh Mật
Nghiêm dạy: “Tạng thị tâm, chấp ngă danh ư,
thủ chư cảnh giới vi thức” (Chứa đựng
là tâm, chấp ngă là ư, giữ lấy các cảnh giới là
thức). Các thuyết như thế đều là sai biệt
nhỏ nhặt, nhưng đại để tương
đồng. Ngài Vĩnh Gia nói: “Tổn pháp tài, diệt công
đức, không ǵ chẳng do tâm, ư, thức”. Do vậy,
trong giáo thừa, cần phải mỗi điều đều
suy xét cùng tột, chẳng thể lẫn lộn được!
Tông môn chỉ thẳng nguồn tâm, một niệm chẳng
sanh, toàn thể hiện, cần ǵ phải khăng khăng
phân biệt, tranh luận!
* Chế ngự cái tâm
Chắc có
người hỏi “tâm niệm tơi bời, nên hành
phương tiện nào?” Tôi nói: “Đức Phật dạy:
‘Tâm giả, chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện’ (tâm là chế
ngự tâm vào một chỗ, không ǵ chẳng hoàn thành)”. Nếu
nói: “Chẳng phải là giống như Cáo Tử cưỡng
chế khiến cho cái tâm bất động ư?” Chẳng
phải vậy! Cái tâm bất động của Cáo Tử
là niệm vừa dấy lên bèn đè nén, đè nén cho nó
tĩnh. Nay chế ngự cái tâm chính là chế ngự khiến
cho nó quy vào một chỗ, chẳng vận dụng tạp
loạn cái tâm. Tức cái tâm của Cáo Tử chính là tâm nguội
lạnh, chẳng dấy lên, c̣n ở đây là dụng tâm bất
nhị. Cái tâm của Cáo Tử là cái không rỗng tuếch,
c̣n ở đây là tư duy tu. Hai đằng chẳng cùng
đường, chẳng thể cùng luận định
được. Công phu chế ngự tâm vào một chỗ
mà thành, liền thuận theo sự tu tập mà trăm ngàn
tam-muội không ǵ chẳng đầy đủ. V́ thế
nói là “vô sự bất biện” (không ǵ chẳng thực
hiện xong xuôi). Tâm của Cáo Tử là cưỡng chế,
chỉ đạt được Định một
mực trơ trơ, sao có thể đạt được
công đức ấy? Tuy vậy, đó vẫn là
phương tiện dụng công ban đầu của người
học, chẳng
phải là rốt ráo! Vốn chẳng có một vật, chỗ
nào nhuốm bụi bặm, có ǵ để nói là “chế ngự?”
Lại há t́m được cái gọi là “xứ”? Nếu
nói: “Vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm
bụi bặm”, tức toàn là cảnh giới không tịch,
đúng là giống như cái tâm bất động của Cáo
Tử; tôi nói: Cáo Tử đè nén cái tâm, khiến cho nó bất
động. Tào Khê vô tâm mà có thể động, chẳng cần
đè nén, sao giống nhau cho được?
* Sự nhanh chậm giữa
Thiền Tông và Tịnh Độ
Một vị
Tăng chuyên tu pháp môn Niệm Phật. Một vị
tăng khác do tu Thiền mà tự phụ, bảo người
niệm Phật rằng: “Ngươi niệm Phật ắt
phải đợi sanh về Tây Phương, thấy A Di
Đà Phật rồi mới đắc ngộ. Ta tham
Thiền, sẽ đắc ngộ ngay trong đời hiện
tại, so sánh th́ nhanh hay chậm rành rành. Ngươi hăy nên
thôi niệm Phật mà tham Thiền đi!” Vị tăng [niệm
Phật] chẳng thể quyết đoán, đem chuyện ấy
hỏi tôi. Tôi nói: - Căn có lợi, độn, sức có
siêng hay lười, do ngay nơi người đó. Như
vậy th́ đối với pháp này hay pháp kia nhanh, chậm,
chẳng thể nói nhất định là pháp này, chẳng phải
là pháp kia
được! Ví như
hai người cùng hướng đến chỗ
có của báu, một người cưỡi ngựa, một
người đi thuyền, cùng lúc khởi hành, nhưng
đến nơi nhanh hay chậm chưa thể định
được, tức là nói theo lợi, động, siêng,
lười vậy! Tham Thiền và niệm Phật cũng
lại giống như thế. Nói chậm th́ người
niệm Phật có trường hợp nhiều kiếp hoa
sen mới nở, người tham Thiền cũng có người
nhiều đời siêng khổ mà chẳng thể kiến
tánh. Nói nhanh chóng th́ người tham Thiền có người
ngay lập tức liễu ngộ, chẳng trải qua
A-tăng-kỳ kiếp mà đạt được Pháp
Thân, người niệm Phật cũng có người kiến
tánh thấu triệt, lâm chung thượng thượng phẩm
văng sanh! Cổ nhân nói: “Như người đi
đường xa, cốt sao đến đích, chẳng cần
đối với đường đi mà cưỡng chia
khó hay dễ”.
* Lục Tổ Đàn Kinh
Lục Tổ
thị hiện không biết chữ, suốt đời chẳng
theo đuổi nghiên, bút. Đàn Kinh toàn là do người
khác ghi chép, cố nhiên có nhiều chỗ sai ngoa. Các cách nói
như “phương Đông và phương Tây cách nhau
mười vạn tám ngàn dặm” v.v… đă được
biện minh từ lâu. Trong ấy lại nói: “Chỉ tu Thập
Thiện, cần ǵ phải nguyện văng sanh”, phàm Thập
Thiện là cái nhân sanh thiên. Khi chẳng có Phật xuất thế,
Luân Vương dùng Thập Thiện hóa độ chúng sanh; lẽ
đâu Lục Tổ chẳng dạy người khác sanh về
Tây Phương thấy Phật mà chỉ dạy họ sanh
thiên mà thôi ư?
Điều này chẳng đáng tin đă rơ lắm rồi!
Do vậy, kẻ chấp Đàn Kinh mà phủ nhận Tịnh
Độ chính là lầm lẫn quá đỗi vậy!
* Sống trong núi
Cổ nhân
nói: “Đại ẩn cư triền, tiểu ẩn
cư sơn” (đại ẩn nơi chợ búa, tiểu
ẩn nơi núi non), bèn có người cam ḷng ch́m đắm
trong trần tục. Chẳng biết “cư triền” tức
là ḥa ḿnh vào cơi tục, ở trong chốn náo nhiệt mà
đắc tĩnh, người có đạo th́ được,
chẳng phải là điều kẻ sơ tâm nên làm! Có
người nói: “Ngài Vĩnh Gia nói: ‘Chưa đắc
đạo mà ở trong núi, chỉ thấy núi ấy, ắt
sẽ quên đạo’, tức là chẳng chấp thuận
sống trong núi!” Mỗi đằng có một lẽ! Tôi
khen ngợi sống trong núi v́ răn dạy hạng người
bị ch́m đắm trong trần tục. Lời ngài
Vĩnh Gia nói đương nhiên là chánh lư. Xuất gia mà
chưa hiểu rơ đại sự, phải ngàn dặm, vạn
dặm t́m thầy hỏi đạo, thân cận tri thức,
sáng tham, chiều thỉnh, há nên mông muội vô tri chỉ làm
quỷ giữ núi ư? Do vậy biết: Hăy nên hành cước
trước rồi sau đó sống trong núi, sẽ chẳng
trái nghịch lời ngài Vĩnh Gia vậy!
* Phật tánh
Kinh nói “xuẩn
động hàm linh giai hữu Phật tánh” (loài ngọ
ngoạy có linh thức th́ đều có Phật tánh). Mạnh
Tử chê trách Cáo Tử rằng: “Nhiên tắc khuyển
chi tánh do ngưu chi tánh, ngưu chi tánh do nhân chi tánh dư?” (Vậy
th́ tánh của chó giống như tánh của trâu, tánh của
trâu giống như của người ư?) Có người
chấp lời kinh mà phủ định Mạnh Tử. Tôi
cho rằng chẳng phải vậy! “Đều có Phật
tánh” là lời nói cùng tận lư thuộc về xuất thế.
“Người và súc sanh bất đồng” là luận
định theo thế gian hiện tại, hai đằng
chẳng trở ngại lẫn nhau. V́ thế, xét tột
cùng cội nguồn, th́ dế, kiến, muỗi vằn đều thẳng thừng b́nh đẳng chẳng
hai với tam thế chư Phật. Nếu xét theo hiện
tại, con người thông hiểu muôn lẽ biến
đổi, súc sanh chỉ có tri giác, sao coi là như nhau cho
được?
Há chỉ con người và súc
sanh khác biệt! Chó canh
đêm, hễ có điều ǵ đáng ngờ bèn sủa. Nếu
là trâu th́ [kẻ trộm] cậy then, đào hang, vượt
tường, chém then, nó vẫn
thản nhiên như chẳng thấy, nghe ǵ. Tánh của chó
và trâu quả thật chẳng như nhau, huống hồ so
với người ư? Muôn thứ vật liệu đều
là gỗ, nhưng gỗ cây ngô đồng, gỗ cây giá, gỗ
cây cam, gỗ cây gai tự khác biệt. Trăm sông đều
là nước, nhưng sông, hồ, ng̣i, lạch, mỗi thứ
mỗi khác; tuy đồng
nhưng chưa từng chẳng khác, tuy khác mà chưa từng
chẳng đồng! Nếu chấp nhặt, chẳng thông
suốt, th́ khi đức Thế Tôn thành Chánh Giác, thấy
trọn khắp hết thảy chúng sanh đều thành
Chánh Giác, cớ sao hiện thời vẫn c̣n có chúng sanh?
* Tăng nuôi tôi tớ
Tăng có
người nuôi đầy tớ để sai khiến.
Người xuất gia có đệ tử có thể phục
dịch thầy, sao lại nuôi tôi tớ? Chắc có kẻ
nói: “Đệ tử v́ cầu đạo mà đến, chẳng
phải là người phục dịch!” Ôi! Phu Tử sang
nước khác, một là Nhiễm Hữu làm người hầu,
hai là Phàn Tŕ đánh xe. Đào Uyên Minh (Đào Tiềm) sang
thăm bạn theo lời mời, một môn sanh và hai con khiêng kiệu. Người
đời sau vẽ tranh miêu tả [cảnh đó], coi
đấy là cao tột. Nay xuất gia làm Tăng, bèn nuông
chiều đệ tử như con cái nhà phú quư, riêng dùng tiền
để mua đứa hầu, thổi cơm, vác củi,
căng lọng, cầm danh thiếp. Thói tệ thời Mạt
Pháp đến mức như thế đó!
* Văn Văn Sơn
Trong bài Lục
Ca của Văn Văn Sơn[60]
có câu: “Lai sanh nghiệp duyên tại, cốt nhục
đương như cố” (đời sau duyên nghiệp
c̣n, cốt nhục hệt như cũ), tức là tin có ba
đời, nhưng chẳng biết do nhân duyên túc nghiệp
xui khiến, bèn tụ họp thành một nhà. Túc nghiệp
nhân duyên hoàn tất, bèn ly tán khác nẻo! Như chim ngủ đậu
trong rừng, trời sáng bèn bay đi Đông, Tây, Nam, Bắc,
sao bảo đảm giống như cũ cho được? Văn Sơn tiết nghĩa, học thức cao tài,
nêu gương cho trăm đời, nhưng lời ấy
giống như lời nói “Trường Sanh Điện
vào ngày Bảy tháng Bảy”[61], tức
là do chưa từng lưu tâm nội điển vậy! Tiếc
thay!
* Xuất gia tứ liệu giản
Có tại
gia xuất gia, có xuất gia tại gia, có tại gia tại
gia, và có xuất gia xuất gia. Ở trong gia đ́nh, có
đủ cha mẹ, vợ con, nhưng tâm luôn đặt
nơi đạo, chẳng nhuốm bụi trần trong cơi đời, th́ là tại
gia xuất gia (tuy thân tại gia mà tâm đă xuất gia). Sống
trong già-lam, chẳng phiền lụy bởi cha mẹ, vợ
con, nhưng mưu toan danh lợi, chẳng khác kẻ tục
th́ là xuất gia tại gia (tuy thân xuất gia mà tâm là tại
gia). Sống trong nhà thế tục, suốt đời bị
trói buộc, chẳng có một niệm giải thoát, th́ là tại
gia tại
gia (thân tại gia mà tâm cũng tại gia). Sống
trong già-lam, suốt đời tinh tấn, chẳng có một
niệm lui sụt, lười nhác; th́ là xuất gia xuất
gia. Do vậy, cổ nhân có bốn câu “thân tâm xuất gia…”
chính là có ư nghĩa như vậy. Tuy thế, xuất gia xuất
gia là bậc thượng sĩ chẳng bàn tới; c̣n
như kẻ xuất gia tại gia chẳng thà làm kẻ tại
gia tại gia, v́ lẽ nào vậy? Dưới lớp áo
ca-sa đánh mất thân người, đă kém lại càng tệ
hơn!
* Đừng nên để thời
gian luống qua (1)
Đối
với chỗ đắm đuối, người đời
đêm ngày chẳng thể bỏ, nói: “Trú đoản khổ
dạ trường, hà bất bỉnh chúc du” (Ngày ngắn,
khổ đêm dài, sao chẳng cầm đuốc đi
chơi), tức là tham đắm thưởng ngoạn. “Bách
niên tam vạn lục thiên nhật, nhất nhật tu khuynh
tam bách bôi” (trăm năm ba vạn sáu ngàn ngày, mỗi ngày
phải nghiêng rót ba trăm chén), tham đắm rượu
chè. “Dă khách ngâm tàn bán dạ đăng” (khách lạ
ngâm vịnh, đèn lụi nửa đêm), đắm đuối
thơ phú. “Trường hạ duy tiêu nhất cục kỳ”
(suốt mùa hạ trôi qua trong một ván cờ), đắm
đuối cờ bạc. Cổ nhân có giáo huấn sáng suốt
rằng: “Ngày hôm nay đă qua, mạng cũng giảm theo,
hăy nên siêng tinh tấn, như cứu đầu cháy”. Nay
là người xuất gia, kẻ đam mê chè chén cố
nhiên ít ỏi, nhưng đối với ba chuyện trước
đó, có lẽ chẳng tránh khỏi! Hăy nên đừng hờ
hững để thời gian tốt đẹp luống qua,
há chẳng hết sức đáng tiếc ư?
* Đừng nên để thời
gian luống qua (2)
Tiên
đức dạy đại chúng rằng: “Các
ngươi xuất gia, chưa từng đứng vững
bước chân, bỗng chốc đă ba bốn mươi
năm rồi!” Chúng ta nghe lời chân thật, khẩn
khoản, thống thiết ấy, hăy nên tâm run sợ, rởn
lông vậy. Thế mà có kẻ đang thuở thanh xuân, mạnh
mẽ, lại siêng năng thực hiện sự nghiệp
hữu vi, hoặc là bôn ba Nam, Bắc, nói là “ta tham yết,
lễ bái danh sơn”, hoặc trang hoàng, đắp
tạc, tu bổ, tạo dựng, bảo là “ta sùng kính
hưng khởi Tam Bảo”. Hoặc tụ tập đại
chúng lập hội, nói là “ta giúp hoằng dương pháp
hóa”. Những chuyện
danh sắc ấy, tuy cũng đều là chuyện tốt,
chẳng giống như thưởng ngoạn, chè chén v.v…
trên đây, nhưng lăng phí
thời gian th́ vẫn y hệt! Một khi mạnh mẽ tỉnh
ngộ lỗi sai trước đó, bỗng đă lọm
khọm, suy sụp, hối chẳng kịp nữa. V́ thế
nói: “Trẻ khỏe chẳng nỗ lực, già lụn luống
bi thương!” Than ôi! Cũng có kẻ suốt đời
nhởn nhơ, chẳng buồn thương chi cả!
* Cỗ chay đăi khách quư
Một quư
nhân tuổi cao, tước trọng, có khách quư tới, giữ
lại dùng cơm. Khách nghĩ là cỗ bàn thịnh soạn,
nhưng chỉ là cơm tẻ
với một bát canh rau mà thôi, chẳng thêm món ǵ khác. Khách hết
sức thán phục. Nay nhà giàu đăi khách, hầm, quay, nấu, nướng
đủ loại chúng sanh có lông, có vảy, có mai, hết sức
sai trái. Chắc có kẻ cật vấn rằng: “Kinh Dịch
nói ‘đại phanh dĩ dưỡng thánh hiền’ (nấu
nướng thịnh soạn để nuôi thánh hiền) là
sao?” Ôi! Sao chẳng nghe “nhị quỹ[62] khả
dụng hưởng” (hai món là có thể cúng được),
cũng là lời dạy rơ ràng trong kinh Dịch đấy thôi? Nhà chùa
tuy chẳng giết mổ, nhưng nấu nhiều món chay
cũng chẳng nên! Hoặc lại cật vấn rằng:
“Vu Lan Bồn dùng hết các món ngon lành trong cơi đời
để cúng các vị
hiền thánh tăng là sao?” Ôi! Chẳng nghe bà cụ
nghèo khó dùng nước gạo[63]
để dâng cho vị Bích Chi Phật cảm phước
sanh thiên cũng là chuyện được dạy rơ trong nội
điển ư? Tại tâm,
chẳng tại vật!
* Lư Trác Ngô (1)
Nếu hỏi:
“Lư Trác Ngô[64] bỏ vinh
hoa, cạo tóc, trước thuật lưu truyền khắp
nước, thầy nghĩ
ông ta là người như thế nào?’ Đáp rằng: - Trác
Ngô tài năng siêu dật, khí độ hào hùng, tôi kính trọng,
nhưng chỗ đáng trọng cũng là chỗ đáng tiếc!
Phàm là người có tài năng, khí độ như thế,
chẳng dùng thánh ngôn làm chuẩn mực, dùng thường
đạo làm bằng chứng, ǵn giữ đức dày, cẩn
trọng dè dặt, mà cứ chuộng bàn luận uốn nắn cơi tục,
khiến cho cơi đời kinh hăi để
làm vui. Thử nêu một, hai điều: Trác Ngô cho rằng
thế giới, người, vật, đều khởi
đầu từ Âm Dương, nhưng cho rằng “Thái
Cực sanh ra Âm Dương” là lời hư vọng. Bởi
lẽ, căn cứ theo Dịch Truyện th́ “hữu
thiên địa, nhiên hậu hữu vạn
vật” (có trời đất rồi mới có vạn
vật). Ông ta coi trời là Âm, đất là Dương, nam
là Âm, nữ là Dương chính là cội nguồn tối
sơ, chẳng có ǵ trước đó cả! Chẳng
nghĩ “Dịch
hữu Thái Cực, thị sanh Lưỡng
Nghi” (Dịch
có Thái Cực, sanh ra Lưỡng Nghi) cùng phát xuất
từ lời giải thích kinh Dịch của Phu Tử, mà
một đằng là lời luận định chí lư, một
đằng là vọng ngữ, v́ lẽ nào vậy?
Thậm chí ông ta coi Tần Thủy
Hoàng bạo ngược là vị vua bậc nhất, coi
Phùng Đạo[65]
đánh mất khí tiết là đại hào kiệt, coi Kinh
Kha, Nhiếp Chánh[66]
tự sát chính là chết đúng chỗ nhất, đối
với những bậc được thời cổ
xưng tụng là hiền nhân quân tử, ông ta thường
ngược ngạo bươi móc tỳ vết. Thậm
chí nói về những tuồng tích được phô diễn,
cũng lại cho rằng chuyện giữ nghĩa, vững
tiết trong các vở Tỳ Bà Kư, Kinh Thoa Kư là miễn
cưỡng, c̣n chuyện giao bái [hẹn ước ái t́nh]
trong Tây Sương Kư và Bái Nguyệt Đ́nh là lẽ
thường, thuận
theo thiên tánh! Ôi! Sách Đại Học nói: “Háo nhân sở ố,
ố nhân sở háo, tai tất đăi phu thân” (Ưa cái
người ta ghét, ghét cái người ta chuộng, tai họa
ắt giáng vào thân) là nói về Trác Ngô đấy! Tiếc
thay!
* Lư Trác Ngô (2)
Chắc có người bảo:
“Thầy dùng thành bại để
luận định nhân vật ư?” Đáp: - Chẳng phải vậy! Phu Tử dự
đoán Tử Lộ chẳng được chết yên
lành, chẳng phải là chê Tử Lộ không hiền, chẳng
phải là không yêu mến Tử Lộ. Tánh cách ương ngạnh, háo thắng, đó là con đường
tự chuốc lấy cái chết. Trác Ngô thua Tử Lộ
về dũng! Ông ta lại chẳng giữ trai giới, chuộng
giết mổ, chẳng ở trong núi rừng mà ngao du phố
thị, chẳng lắng ḷng nơi nội điển mà
trước thuật ngoại thư, dẫu được đưa về chôn cất
ở cố hương (chết yên lành), tôi vẫn ắt
cho là ông ta may mắn. Tuy vậy, ông ta lập di
ước, giáo huấn đồ chúng dạy họ
đều khổ hạnh, thanh tu, ở trong non sâu, ít xuất
hiện. Đó là pháp phải nên hành của
tăng sĩ. Tô Tử Chiêm (Tô Đông Pha) phê b́nh Phạm
Tăng[67], nhưng cho rằng ông ta là người kiệt xuất,
tôi đối với Trác Ngô cũng thế.
* Ư nghĩa của “tánh, đạo, giáo” trong sách Trung Dung
Ngài Diệu Hỷ ghép “tánh,
đạo, giáo” trong sách Trung Dung tương ứng với
Pháp Thân, viên măn Báo Thân, và trăm ngàn ức Hóa Thân, phù hợp
khít khao, có thể nói là hay khéo. Suy xét cặn kẽ, th́
đó là lời lẽ quyền biến nhằm so sánh trong một
thời, chẳng phải là lời bàn luận quyết
định muôn đời chẳng thay đổi! Nếu
hiểu là thật pháp, sẽ chẳng thể được.
V́ sao? Sách ấy coi “nhân, nghĩa, lễ, trí” là Tánh, há chẳng thanh tịnh ư? Nhưng đó chẳng
phải là sự thanh tịnh “mảy trần chẳng lập”
của Pháp Thân. Sách ấy coi lư đương nhiên của
sự vật là Đạo, há chẳng viên măn
ư? Nhưng chẳng phải là sự viên măn dồi dào
muôn đức của Báo Thân! Sách ấy coi sáng lập, chế
định pháp tắc, dạy dân tạo thành phong tục
là Giáo, há chẳng có trăm ngàn ức diệu
dụng ư? Nhưng đó là diệu dụng nơi một
thân, chẳng phải là diệu dụng của trăm ngàn ức
phân thân! Đại đồng mà tiểu dị, chẳng
thể không suy xét. Nếu nói: “Nhân, nghĩa, lễ, trí là lời
của Mạnh Tử, sách Trung Dung chỉ nói thiên mạng
mà thôi!” Tôi nói: “Chí thành có thể trọn hết tánh,
nhưng kế đó dùng mười sáu chữ ‘khoan
dũ ôn nhu…’[68], chẳng phải là nhân,
nghĩa, lễ, trí ư? Do vậy nói: “Mạnh Kha theo học với môn nhân của Tử
Tư[69]
(Khổng Cấp), chẳng thể không suy xét!”
* Triệu Thanh Hiến (Triệu Biện)
Ông thường tự nói: “Đối
với điều đă làm ban ngày, ban đêm ắt thắp
hương thưa với trời. Chuyện chẳng dám
thưa, sẽ chẳng làm!” Tôi cho rằng người
như thế th́ mới có thể học đạo. Về
sau, ông ta đắc pháp nơi thiền sư Tương
Sơn Pháp Tuyền[70],
có câu thơ: “Nhất thanh phích lịch đảnh môn
khai, hoán khởi tùng tiền tự gia để” (một
tiếng sét mở toang đầu óc, gọi tỉnh nếp
nhà tự thuở xưa). Dùng tâm địa tinh thành như
thế để tham cứu tự tâm, đắc ngộ chẳng
phải là ngẫu nhiên vậy! Kẻ thân tuy quy Phật mà
tâm chẳng hợp với trời th́ chỉ là đùa bỡn
trong pháp môn mà thôi!
* Nợ kinh
Chùa Lợi Tế ở Ô Trấn (thuộc tỉnh Chiết Giang) có thầy tṛ hai vị
Tăng đều nổi tiếng là cẩn trọng,
đôn hậu; người ta cậy làm kinh sám ngày càng
đông; do vậy, trở thành giàu có, nhưng keo kiệt, chẳng
tự hưởng dùng, mà cũng chẳng bố thí. Về
sau bị bệnh, người trong ḍng họ đón về
điều trị, bỗng chốc tạ thế, những
thứ suốt đời tích trữ đều trở thành
sở hữu của họ hàng. Mười năm sau, báo
mộng cho thân quyến rằng: “Kinh sám chưa hoàn tất,
âm phủ tra khảo rất gấp, khổ chẳng thể
nói nổi!” Người đời đồn đại [người
thiếu nợ kinh sám, đọa trong âm phủ phải từ]
trong ánh chớp lóe mà nhận mặt chữ để đọc
kinh trả nợ, tôi tin là chẳng hư dối. Ghi lại
để răn dè người ứng duyên (người nhận
lời thỉnh làm kinh sám cho người khác) vậy!
* Hết tuổi thọ trong cơi Tịnh Độ
Nếu có người hỏi:
“Nguyện thứ hai nói ‘trời người trong nước
sau khi hết tuổi thọ, chẳng c̣n sanh trong ba ác đạo’,
tức là có sanh, có tử, chỉ là không đọa lạc.
Cớ sao nói sanh về cơi ấy đều là vô lượng
thọ?” Đáp: Phần sau chẳng nói đó sao? “Trời,
người trong nước đều thọ vô lượng,
trừ phi do bổn nguyện, nguyện thoát ra độ
sanh”. Thập Nghi Luận cũng nói “sanh về cơi
nước ấy, sau khi đắc Vô Sanh Nhẫn, bèn trở
lại đời này cứu khổ chúng sanh”, tức là
do bi nguyện mà thực hiện giáo hóa, chẳng giống
như tử sanh trong cơi này (thế giới Sa Bà)!
* Cư sĩ Vương Long Thư[71] văng sanh
Chắc có người hỏi:
“Cư sĩ lâm chung, đứng qua đời, điềm
lành văng sanh tốt đẹp rạng ngời như thế,
nhưng ông hội tập Đại Di Đà Kinh chẳng
tránh khỏi sao chép phần trước ra phần sau, sao
chép phần sau ra phần trước. Đó là một khuyết điểm. Hơn nữa,
Tống Cảnh Liêm[72]
nói cư sĩ đối với kinh Kim Cang cũng chẳng
quan tâm đến cách chia kinh thành ba mươi hai phần của
Chiêu Minh[73], chẳng
bàn luận tới điều này, nhưng ông ta cũng chẳng
dựa theo sự phán định của các vị Thiên Thân
và Vô Trước, mà đặt riêng cách chia phẩm theo thứ
tự. Đó là hai khuyết điểm. Dường
như ông ta chẳng phù hợp với chánh nhân “đọc
tụng Đại Thừa” trong Quán Kinh, thế mà đứng
qua đời là v́ sao?”
Đáp: - Tuy ông ta có khuyết điểm ấy, nhưng thường ngày
niệm Phật cầu sanh tột bậc chân thành, tột
bậc tha thiết, chí thành, chuyên dốc tột bậc, tự
lợi, lợi tha, công đức chẳng nhỏ. Tỳ vết
nhỏ nhặt chẳng đủ che lấp điều
thiện lớn lao. C̣n có kẻ mang theo nghiệp mà vãng
sanh, sao lại ngờ vực Long Thư? Hoặc là phẩm
vị của ông ta chưa thể là thượng
thượng, cũng chưa thể biết được!
* Trực tiếp thọ Bồ Tát giới
Tôi viết [Phạm Vơng Kinh Bồ Tát] Giới Sớ Phát Ẩn có
nói “ắt phải trước
là thọ ngũ giới, thập giới, hai trăm năm
mươi giới rồi mới thọ Bồ Tát mười
giới trọng và bốn mươi tám giới khinh”. Có giảng sư bực tức, bất
b́nh nói: “V́ sao không dạy người ta trực tiếp thọ
Bồ Tát giới mà quanh co như thế? Đức Phật
thọ kư đời Mạt Pháp có ma vương xen lẫn
vào pháp của ta để hoại pháp của ta, nay chính là
gă này vậy!” Tôi chẳng đáp. Giảng sư mất,
đồ đệ của ông ta quan tâm những lời
lẽ trên đây, toan nhóm họp chư tăng, các vị tể
quan, và các cư sĩ lập đại
hội để biện định, cật vấn. Tôi
cũng chẳng đáp; có người đáp thay rằng:
“Đừng làm vậy! Sao không xem ông ta dẫn kinh Bồ
Tát Thiện Giới? Kinh dạy: ‘Thí như
trùng lâu tứ cấp, tự hạ nhi thượng, thứ
đệ lịch nhiên, bất khả lạp đẳng,
thọ giới diệc nhiên’ (Ví như lầu cao bốn
tầng, từ dưới lên trên thứ tự rành rành, chẳng
thể nhảy cóc được! Thọ giới cũng
thế). Kinh dạy như thế đó, đừng có làm
như thế!” Kẻ đó mới thôi!
* H́nh giới (răn kiêng dùng nhục h́nh)
Đại trưởng giả
Lữ Thúc Giản[74]
soạn sách H́nh Giới, tiên sinh Cao Trâu Nam khắc in, tôi ghi
lời bạt. Nay nghe đồn một câu chuyện rất
lạ. Vị quan X… vốn tàn khốc, hở ra là phạt
đánh roi mấy chục cái, tiếng rên la đau xót rền cơi đất, mà ông ta [dửng dưng] dường
như chẳng nghe thấy. Có đạo nhân tung cửa xông vào, đứng
thẳng trong sảnh đường, trừng mắt chỉ
quan. Viên quan ấy hết sức giận dữ, hét thuộc
hạ cực lực đánh đập. Bỗng hậu
đường có tiếng kêu to: “Công tử bị quỷ
đánh gần chết”. Viên quan ấy hoảng hốt lui vào
nhà trong, con ông ta tự nói: “Dường như có quỷ thần
dùng chùy to đập con, rách da, nát
thịt, hai đùi máu me đầm đ́a, đau đớn
chẳng thể chịu nổi!” Quan vội sai người
ra đại sảnh coi, th́ người bị đánh
đă chẳng thấy đâu nữa, bèn gào to, khóc lớn,
gieo ḿnh xuống đất, đầu mặt đều bị
tổn thương. Ôi! Vị đạo nhân ấy là thiên
thần đó chăng? Con người ai nấy đều
có cha mẹ; con của người khác hay con của ḿnh
đều là con, sao lại con ḿnh th́ như châu báu, con
người khác như cỏ dại, tâm an được
chăng? Lại c̣n một vị quan to yêu mến con thơ,
hằng ngày sai đồ tể dâng một cái bao tử lợn.
Hễ bao tử bé liền hết sức giận dữ,
đánh phạt kẻ đồ tể trọng
thương, điều trị hai tháng mới lành. Có kẻ
ở nhà dùng h́nh phạt nghiêm khắc đối với tôi
trai, tớ gái, cũng lại như thế. Ngu tôi cho rằng
sách H́nh Giới nên lưu truyền bốn phương, truyền
tụng trăm đời mới nên!
* Chẳng nguyện về Tây Phương (1)
Có người hỏi một
vị Tăng: “Ngài có nguyện sanh về Tây Phương
hay không?” Đáp: “Ta chẳng nguyện, mà nguyện rằng
đời sau mặc trường bào màu lục[75],
một vợ, một thiếp ở trong nhà. Đấy chính
là cơi Cực Lạc của ta”. Người hỏi câm lặng,
kể lại với tôi. Tôi nói: - Ai nấy có chí riêng. Chí tại
phú quư, sanh về Tây Phương để làm ǵ? Tuy vậy,
dẫu phú quư chẳng phải là chuyện tốt lành cho
người tu đạo, nhưng cũng cần phải
có phước trơ trơ th́ mới đạt được.
Nếu chẳng tu phước, chưa chắc đă thành một
gă mặc áo bào xanh, mà có thể trở thành thằng hầu
mặc áo chàm. Chưa chắc cưới
được thục nữ con nhà danh giá, mà nạp sáu lễ
cho người Tề (kẻ điêu ngoa, hèn kém) cũng
không chừng! Nếu có nghiệp th́ c̣n chẳng được
làm thằng hầu áo chàm, mà có thể là loài kim y công tử
(chim vàng anh), chẳng thể nào biết được! Lại
c̣n chẳng nạp sính lễ cho người Tề, không chừng
c̣n có thể phải nương cậy kẻ trông nom ngựa,
kẻ chăm sóc ngựa, kẻ nấu bếp, chẳng thể
biết chắc! Nếu nghiệp nặng, kim y có thể biến
thành xích điệp (lá đồng đỏ, ư nói đọa
trong địa ngục) chưa biết chắc được!
Kẻ trông nom ngựa, kẻ chăm sóc ngựa, kẻ nấu
bếp có thể biến thành A Bàng, cũng chưa biết
chắc được! Buồn thay!
* Chẳng nguyện về Tây Phương (2)
Lại hỏi một vị
tăng: “Ngài có nguyện sanh về Tây Phương hay không?”
Đáp: “Tôi chẳng nguyện, cũng chẳng phải là
không có nguyện. Phương Đông có Phật, tôi sang
phương Đông. Phương Tây có Phật, tôi sang
phương Tây. Nam, Bắc, trên, dưới, cũng lại
như thế. Cớ ǵ tôi quyết định sanh về
phương Tây?” Lại hỏi một vị tăng khác:
“Ông có nguyện sanh về Tây Phương hay không?” Đáp:
“Tám vị kim cang nâng tôi về phương Đông, tôi chẳng
đến. Tứ thiên vương khiêng tôi qua phương
Tây, tôi chẳng đi. Tôi nào có biết cái ǵ gọi là
Đông hay Tây?” Gộp lại để xem, người
trước ch́m đắm trong ngũ trược. Hai
người ấy, một th́ tùy sanh, người kia là chẳng
sanh. Tuy vậy, nói là “tùy sanh” chưa chắc đă thật
sự có thể làm chủ, chẳng bị nghiệp
lôi kéo. Nói là “vô sanh”, chưa chắc đă thật sự đạt
được Vô Sanh Pháp Nhẫn, trụ trong Thường
Tịch Quang. Nếu chưa thể, hư luận mà thôi! Lại
nữa, chưa thể th́ chỉ là ăn nói lớn lối, chẳng biết thẹn đó thôi! Khó lắm
thay!
* B́nh thị giả
B́nh thị giả hầu ngài
Thái Dương (tức thiền sư Minh An núi Thái
Dương) đă lâu, nói là có ngộ nhập, hiềm rằng
sau này lập ra điều dị nghị. Từ tháp của
ngài Thái Dương, ông ta lôi di thể [của thầy] ra, làm chuyện phá năo thảm
độc[76]. Sống thọ
báo trong miệng cọp, chết đọa vào Nê Lê (địa
ngục). Như vậy th́ biết ngộ xứ của ông
ta bất quá là kiến giải ít ỏi, được một
tí đă cho là đủ thôi. Há có người thật sự
ngộ thấu triệt mà ngược ngạo làm chuyện
đại nghịch bất đạo ấy ư? Coi hiểu
biết nông cạn là ngộ, dẫn đến họa hại
cùng cực, đáng răn dè vậy!
* Tứ Quả
Tử Dương chân nhân
(Trương Bá Đoan) nói bậc Tứ Quả đoạt
xá[77]
đầu thai, do thân có hư hoại, chẳng tránh khỏi
bỏ một “xá” này để vào một “xá” khác. V́ thế, ông ta nói: “Nếu biết
hàng phục rồng, chế ngự hổ, vàng ṛng dựng
nhà bao giờ khô?” Sơ Quả bảy lần sanh tử,
Nhị Quả gọi là Nhất Văng Lai, c̣n có thể luận định về thai sanh. Tam Quả đă được gọi là
Bất Lai, c̣n Tứ Quả đă hết Kiến Tư Hoặc, chẳng
thể có hậu hữu (thân đời sau), đắc tam
minh, lục thông, hiệu là A La Hán, c̣n dùng đoạt xá
để làm ǵ? Tử Dương học đạo tiên,
vượt xa những người cùng hàng, các sách như Ngộ Chân phần nhiều bàn về
lư tánh, nhưng ông ta nói như thế, dường
như chưa nghiên cứu nội điển rất tinh
tường! Ôi! Vàng ṛng dựng nhà đặc biệt chẳng
khô, sao không nghĩ vàng chẳng chống được lửa
vậy?
* Kinh Di Giáo
Người đời lâm
chung để lại lời dạy cho con cháu, gọi là “di chúc”, con cháu dựa vào đó làm bằng chứng,
nhiều đời vâng giữ chẳng thay đổi. Huống
hồ di chúc tối hậu của đấng tam giới đại sư, tứ sanh từ phụ, thuyết
pháp bốn mươi chín năm ư? Kẻ làm tăng, hăy
nên sáng tụng, chiều tu tập, thầy tṛ truyền dạy
nhau, suốt đời vâng giữ, chớ nên bỏ phế
hoặc quên mất một ngày nào. Nếu coi giống
như sách vỡ ḷng của trẻ thơ, cất vào chỗ
vắng, chẳng bàn luận, nghiên cứu nữa, há chẳng
phải là nghịch tử của Như Lai, là dân
ương bướng trong Phật pháp ư?
* Kinh Tứ Thập Nhị Chương (1)
Kinh Tứ Thập Nhị
Chương được dịch bởi hai vị Ca Diếp
Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, chẳng có bản dịch khác nữa!
Trong cơi đời hiện thời, có hai bản lưu truyền,
đại đồng mà tiểu dị. Những điều
khác chẳng cần bàn tới, chỉ so sánh chuyện
cúng dường hơn, kém. Xét theo bản trong Đại Tạng
th́ khởi đầu từ phàm phu cho đến cuối
cùng là giáo hóa song thân. Xét theo bản kinh được ghi
trong tác phẩm giải thích của thầy Thủ Toại,
th́ khởi đầu là kẻ ác, cuối cùng là người
vô tu vô chứng. Xét theo văn nghĩa, bản trong Đại
Tạng hơi chưa ổn, c̣n bản của thầy Thủ
Toại[78] văn lẫn
nghĩa đều thông thoáng. Bản trong Đại Tạng
lại nói “dâng cơm cho Bích Chi Phật chẳng bằng
giáo hóa song thân”, sao lại nói “dâng cơm cho người
lành, công đức lớn nhất”? Đă là công đức lớn nhất, sao
lại nói: “Dâng cơm cho người lành, chẳng bằng
dâng cơm cho người giữ năm giới”? Văn nghĩa trước sau tự mâu thuẫn!
Lại nói “thờ thiên địa, quỷ thần, chẳng
bằng hiếu thảo đối với song thân”. Phàm
Bích Chi Phật c̣n chẳng bằng song thân, huống hồ
trời, đất, quỷ thần sao sánh bằng
được? Bản của thầy Thủ Toại ắt
chẳng lẽ nào tự biên soạn kinh Phật, bản ấy
ắt có nguồn gốc. V́ thế biết là bản
lưu truyền ngoài Đại Tạng, chưa chắc
đă không có bản tốt nhất, chẳng cần phải
hoàn toàn chấp vào bản trong Đại Tạng, mà phải
chiết trung. Tôi soạn sách Phạm Vơng Phát Ẩn, cũng t́m được một bản trong chùa cổ,
hoàn toàn phù hợp với lời Sớ của ngài Thiên Thai,
so với bản trong Đại Tạng đâm ra có chỗ
so le. Trong sách Phát Ẩn, nơi phần Phàm Lệ, tôi đă
nêu rơ. Nay lại v́ người chuyên dựa vào bản trong
Đại Tạng để thưa tŕnh.
* Kinh Tứ Thập Nhị Chương (2)
Xưa có vị Tăng tên X… ở
Nam Đô đem kinh Tứ Thập Nhị Chương đến
Vũ Lâm (Hàng Châu), theo lệ xưa, xin các sĩ
phu mỗi vị viết một điều để khắc
vào đá. Anh tôi khi đó
đang ở
nhà phụng dưỡng mẹ, bèn viết một
bản, giao cho [ông ta]. Một năm sau, có người mua được bản khắc ấy, đem tới Hàng Châu, [thấy đă] sửa tên
[người viết] thành tên của một vị quan
đang hiển đạt. Lại mấy năm sau nữa,
anh tôi bỗng nhận lệnh làm quan Thông Chánh ở phương Nam, nơi sạp sách t́m thấy
bản đó, lại đổi [tên
người viết] thành tên anh tôi. Do vậy, anh cảm thán chuyện
đó, làm thơ cho khắc ván in [tập sách ấy], có câu “sa
lung sự phi mậu” (chuyện lồng the[79]
chẳng sai). Tôi nói với anh: “Vị tăng ấy quả
thật là bỉ lậu, riêng chẳng nghe chuyện Địch
công[80]
đề bảng ở cửa cự tuyệt khách ư?
Khách cố nhiên chẳng đáng nói tới, nhưng Địch
công cũng kém phần đôn hậu!” Anh tôi bảo tôi: “Lời
em nói đúng lắm!” bèn gạt bỏ. Ôi! Tăng sao khổ
sở chẳng gấp gáp lo liệu chuyện thuộc bổn
phận của chính ḿnh, chỉ rong ruổi nơi
cửa nhà quyền quư, làm chuyện thừa thăi, khiến cho
người đương thời chê cười, đáng
than thay!
* Y ngũ điều
Khi tôi mới xuất gia, thấy
y năm điều, đều được may theo cách
giản tiện, khéo léo riêng, đại lược án định
đại ư của y năm điều mà thôi! Bởi lẽ,
y này vốn có tên là Tác Vụ Y (y mặc để làm việc),
nay đều chiếu theo cách may y bảy điều, hoặc
hai mươi lăm điều, tuy chẳng trái chế
định thời cổ về phương bào[81],
nhưng khá bất tiện. Đắp loại y này, chỉ có thể tọa
Thiền, tụng kinh, lễ Phật, sao có thể kham chấp
tác (làm lụng), làm việc nặng cho được?
Tức là y năm điều dùng như y bảy điều.
Phu Tử nói: “Ma miện, lễ dă. Kim dĩ thuần kiệm,
ngô tùng chúng” (mũ miện bằng vải gai là lễ.
Nay dùng tơ sẽ rẻ hơn, nên ta cũng theo mọi
người). Cứ ắt chấp phải theo lối cổ
là cao, th́ sau khi đă lập thành chữ
viết, bèn trở lại cách thắt nút [dây thừng để
ghi nhớ]. Sau khi đă có bàn ghế rồi, trở lại
dùng chiếu trải trên mặt đất [để ngồi],
bảo là “ta phục cổ”, há có được
chăng? Cơi đời hiện thời có chén, đũa,
nhưng [tăng sĩ] ăn cứ ắt phải
dùng bát. Hơn nữa, th́a bất tiện, cần phải
dùng thêm đũa, càng đáng nực cười hơn! Giữ lại bát nhằm chẳng quên chế
định của Phật th́ được, ắt chẳng
cần phải câu nệ sử dụng hằng ngày!
* Sách Thiền Môn Khẩu Quyết (1)
Trong Đại Tạng có
sách Thiền Môn Khẩu Quyết, những điều
được nói trong ấy phần nhiều giống
như pháp môn Sổ Tức, nhưng kèm thêm những lời
như “nh́n xuống rốn” v.v… Ngoài b́a ghi [tác giả]
là Trí Giả đại sư, nhưng phần kinh văn tiếp
theo đó chẳng phải của đại sư, cũng
chẳng phải là của chư hiền như Quán Đảnh,
Chương An, Kinh Khê v.v… ghi chép, chẳng đáng tin!
Hơn nữa, đại sư tự có Đại Tiểu
Chỉ Quán chánh văn (tức Ma
Ha Chỉ Quán và Đồng Mông Chỉ Quán), phần cuối nêu đại
lược một môn trị bệnh, tương tự với
sách này. Đại để, đó là pháp nhỏ để
pḥng thân, chẳng phải là đại đạo để
học Phật, mà đề tựa phô trương là “khẩu
quyết”, lại c̣n đội tên đại sư. Bọn
đạo sĩ bèn dựa vào đó để ấn chứng
pháp của chính ḿnh, bèn nói là bí
quyết do đại
sư đích thân ngầm truyền miệng. Kẻ
hiểu biết nông cạn bèn cho là Phật pháp đều ở
hết trong ấy, cái hại cũng to lớn thay! Nào có biết
Thiền môn vốn cũng chẳng có cách nói “khẩu quyết”!
Chẳng thể không biện định!
* Sách Thiền Môn Khẩu Quyết (2)
Nếu hỏi: “Thiền môn thật sự không có khẩu
quyết ư?” Đáp: - Phật pháp chánh đại
quang minh. Một người diễn nói, trăm ngàn vạn
ức trời, người cùng nghe, há có khẩu quyết
ǵ? Bất quá có một điều. Hễ một, hai câu
nói, từ ngữ đơn giản mà nghĩa tinh vi, bèn gọi
là Quyết. Tràng giang đại hải, kéo cành, rườm
nhánh, chẳng phải là Quyết! V́ thế, “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm” (hăy nên chẳng trụ vào
đâu mà sanh tâm) chính là khẩu quyết của kinh Kim Cang.
“Duy nhất thừa pháp, vô nhị, diệc vô tam” (chỉ có pháp nhất thừa, không hai,
cũng chẳng ba) là khẩu quyết của kinh Pháp
Hoa. “Thành tựu huệ thân, bất diêu tha ngộ”
(thành tựu huệ thân, chẳng do ǵ khác mà ngộ) là khẩu
quyết của kinh Hoa Nghiêm. “Chấp tŕ danh hiệu, nhất
tâm bất loạn” là khẩu quyết của kinh Di
Đà. “Thị tâm tác Phật, thị tâm thị Phật”
(tâm này là Phật, tâm này làm Phật) là khẩu quyết của
Thập Lục Quán Kinh. Chẳng tin những khẩu quyết
ấy, mà tin những thứ “khẩu quyết” khác, bỏ
ngọc quư để chấp đá cuội vậy!
* Chẳng thấy người
niệm Phật
ngộ!
Hoặc hỏi: “Tham
Thiền đắc ngộ thấy ghi đầy trong sách,
sao người niệm Phật đắc ngộ thưa
thớt chưa nghe nói?” Ôi! Đại để là có chứ,
ông chưa thấy đó thôi! Hơn nữa, người
tham Thiền sau khi đắc lư, trọn chẳng huênh hoang
tự khoe. Long, thiên thúc đẩy, sau đấy mới rền
tiếng một thuở để lưu danh cho đời
sau. Ngài Tào Khê lănh tâm ấn từ ngài Hoàng Mai, nếu chẳng
lỡ miệng nói về gió và lá phan, th́ chỉ là một gă
canh lưới cho bọn thợ săn thôi! Thanh Tố[82]
nhận lănh lời thọ kư ngấm ngầm của ngài Từ
Minh, nếu chẳng gặp gỡ [ngài Đâu Suất Tùng Duyệt mời] ăn quả vải, th́ chỉ
là một cụ già nhàn nhă trong chốn tùng lâm thôi! Ông sẽ
do đâu mà biết? Huống chi, người thật tâm niệm
Phật, chí mong thoát Sa Bà, chuyên ṛng cầu sanh Tịnh Độ,
mỗi niệm đều như cứu đầu cháy, tức
là ngộ Di Đà nơi bổn tánh, liễu duy tâm Cực Lạc.
Nếu suốt đời ẩn náu không ra mặt, ông
cũng làm sao biết được? Phàm người
thượng phẩm văng sanh đều là người
đắc ngộ, chẳng thể không đọc Văng Sanh
Truyện!
* Làm Tăng phải nên hiếu thảo với cha mẹ
Có kẻ làm Tăng mà bất
hiếu với cha mẹ, tôi trách móc sâu xa. Chắc có người
nói: “Xuất gia là đă từ biệt cha mẹ, cắt ái,
quở trách th́ đâm ra lại dấy động cái tâm ân
ái của họ!” Đáp: - Ôi! Ăn nói kiểu ǵ vậy?
Đức Thích Ca đại hiếu, bao kiếp báo ân sâu, do
tích tập cái nhân mà thành Chánh Giác. Kinh Phạm Vơng nói: “Giới
tuy vạn hạnh, dĩ hiếu vi Tông” (Giới tuy có vạn
hạnh, dùng hiếu làm cốt lơi). Quán Kinh nói hiếu
dưỡng cha mẹ là chánh nhân tịnh nghiệp. Cổ
nhân có người dựng nhà để phụng dưỡng
cha mẹ, hoặc gánh mẹ đi xin ăn, chưa hề
bị phiền lụy bởi ân ái! Sao lại cắt tuyệt
t́nh yêu mến cha mẹ, nhưng giao du thân thiết với
thí chủ, chẳng tiếc của cải để nuôi nấng
đệ tử c̣n hơn ruột thịt? Đấy là không có song thân mà có người
thân, ra khỏi một ái này để vào một ái khác, sao
mà điên đảo đến thế? Hơn nữa,
đă tiếp nhận mười phương cúng dường,
no ấm an cư, ngồi nh́n cha mẹ đói lạnh, lưu
lạc, ngươi có yên dạ được chăng?
* Sấm sét
Tô Minh Doăn[83]
nói: “Trái nghịch cha mẹ, khinh nhờn thần minh, ắt
sấm sét sẽ đánh xuống. Cố nhiên sấm sét chẳng
thể đánh trọn bọn ấy, nhưng có khi cũng
chẳng lường được!” Lời ấy của
Minh Doăn muốn khiến cho bọn làm ác sợ hăi, nhưng
kẻ lọt lưới sấm sét giáng xuống cũng
đông lắm, trọn chẳng thể khiến cho chúng nó
sợ hăi. Nhưng làm ác thọ báo, nói chung cũng
có nhiều lối. Có kẻ sanh bệnh ngặt mà chết.
Có kẻ phạm luật bị xử tử, có kẻ gặp
cọp, sói mà chết, có kẻ chết v́ nước nhấn ch́m, có kẻ chết v́
lửa thiêu. Có kẻ chết bởi đao, búa, có kẻ chết
v́ tỳ sương, trấm độc, có kẻ chết v́ tường sụp, đá đè.
[Tuy chết khác nhau], nhưng thọ báo giống hệt như nhau. Giết người th́
dùng gậy hay gươm sắc đều [gây tử vong]
như nhau, cần ǵ đều phải trọn dùng sấm
sét đánh? Huống chi lại có kẻ thọ báo trong đời
hiện tại, có kẻ đời sau mới thọ báo,
có kẻ thân thọ báo trong dương gian, có kẻ thần
hồn báo nơi âm ty, đừng nói “chẳng bị sấm
sét đánh” liền bảo là bị bỏ sót!
* Bạn bè chân thật
Trong bài cảnh sách của
Trung Phong đại sư có nói “tham Thiền mà ắt phải
đợi t́m thầy hỏi đạo, dám đảm bảo
là công phu trong một đời đă hỏng mất rồi!”
Lại nói: “Dẫu cho Thích Ca và Đạt Ma, toan thân cận
th́ đă sớm thành khuôn sáo cũ”. Đấy là lời
lẽ đề hồ tuyệt diệu, nhưng kẻ
căn cơ bậc hạ chẳng thể nghe được!
Chấp lời ấy, tự cho là đúng, tự làm theo ư
ḿnh, chẳng c̣n biết lợi ích do có bè bạn, [lời ấy]
sẽ trở thành thuốc độc! Có bạn bè chẳng
khó, có bạn bè chân thật khó lắm! Tụ hội với
nhau để truy cầu ăn uống, tiền tài th́ là bạn
ác. Khuyên răn điều thiện, uốn nắn điều
ác th́ là bạn tốt. Mở ra con đường tu hành
chánh đáng cho ta, dạy cho chúng ta pháp tối thượng
thừa, tức là đèn soi cho ta, là con mắt của ta, là
đạo sư của ta, là y vương của ta, là bạn
thiện tri thức chân thật, đừng nên xa ĺa một
ngày nào!
* Học quư ở chỗ chuyên ṛng
Cổ nhân v́ học tập,
có người suốt ba năm không nh́n ra vườn, có người đóng cửa, không vượt
khỏi bậu cửa, có người nhận
được thư nhà, thấy hai chữ “b́nh an”
liền ném xuống nước, chẳng mở ra xem, ngơ hầu
chuyên ṛng, chẳng hai! Người làm Tăng học pháp xuất thế gian, ngược ngạo
để chuyện đời làm loạn cái tâm ư? Bọn
chúng ta thấy những chuyện ấy, phải nên toát mồ
hôi, buốt xương, dè dặt trong tâm vậy!
* Truyền đăng
[Cảnh
Đức] Truyền
Đăng Lục chép các vị sư như sáu đời
nối tiếp nhau, các vị đại tôn túc chia lửa từ
năm ngọn[84], đều là các nhân vật bậc nhất xưa nay.
Đó gọi là “mới biết ngoài Châu, Khổng, riêng có
bậc anh hào”, há dễ dàng ư? Thế nhưng người hiện thời hoặc
là thấy biết nửa vời, hoặc đạt
được đôi chút khinh an, liền ngỡ đă
đại triệt, đại ngộ, nhưng bậc
trưởng lăo không có mắt lại dùng cái ấn bí
đao để ấn chứng. Một gă đui, cả lũ
mù, không chỉ là vô ích mà c̣n có hại, đau buồn khôn ngằn!
* Lưu Công thật sự là Bồ Tát
Lưu công[85]
húy là Khoan, cai trị trong quận. Đối với kẻ có lỗi, ông dùng roi bằng cỏ bồ, khiến
kẻ ấy chịu nhục [mà sửa đổi]. Phu nhân
muốn thử coi ông giận ra sao, sai đứa tớ gái
cố ư đổ canh làm bẩn triều phục. Ông chỉ
nói: “Ngươi có bị canh làm bỏng tay hay không?” Trọn
chẳng nổi giận! Do hai chuyện này, biết ông thật
sự là Bồ Tát, chẳng thể sánh kịp! Hiện thời,
kẻ trị dân dùng h́nh phạt nghiêm ngặt quá lố, mà c̣n chưa thể khiến cho các vụ
án được giải quyết. [Như Lưu công] chỉ dùng cái roi bằng cỏ bồ mà dân tự cảm
hóa, chẳng phải là sức oai thần to lớn, sao có thể
đạt được như vậy? Nay kẻ cai trị
người dưới, hễ có chuyện chẳng vừa
ư nhỏ nhoi, hở ra liền trừng phạt, [c̣n Lưu
công bị] canh làm bẩn triều phục, ngược lại
thương xót [đứa tớ gái], chẳng
quở trách. Chẳng phải là sức đại từ bi
sao có thể đạt được như thế? Tuy gấp
rút phải vào chầu, vẫn thong dong thay áo, tâm chẳng
lay động, chẳng do sức đại Thiền Định, sao có thể đạt được như thế?
Trong nhà lửa mà có bản lănh như thế, có khí lượng
như thế, hơn hẳn công phu ba mươi năm trên
bồ đoàn của kẻ xuất gia. Chúng ta nh́n vào chuyện
này, có đáng xấu hổ hay không? Có chẳng gắng sức
hay không?
* Tục Nguyên Giáo Luận
Đầu đời Minh,
cư sĩ Thẩm Sĩ Vinh làm quan Hàn Lâm Đăi Chiếu
viết Tục Nguyên Giáo Luận [Biện
Giải]. Thiên sách
Tường Phẩm Danh Nho Học Phật (phẩm b́nh
tường tận các vị Nho sĩ học Phật nổi
tiếng) trong sách ấy đă nêu ra cặn kẽ các vị
quân tử thời Đường - Tống, như Bạch
Hương Sơn (Bạch Cư Dị), Tô Nội Hàn (Tô
Đông Pha), cho đến các vị Bùi Thừa Tướng
(Bùi Hưu), Dương Đại Niên (Dương Ức)
v.v… Thiền học sâu cạn, khảo sát tột bậc
tinh tường, xác đáng. Trong ấy có nói: “Ngay như
các ông Bùi, Dương, chẳng nói là không có ngộ nhập,
chỉ là đối với sự bảo dưỡng, thọ
tŕ của họ đă chưa thể biết được.
Há có ai thân ở trong tràng danh lợi, lại chưa phải
là quả vị Bồ Tát, mà có thể không có Tế Hoặc tuôn rót ư? Kẻ đùa bỡn
trong pháp môn cố nhiên chẳng cần bàn đến!” Lũ chúng ta là kẻ xuất
gia, hăy thử lắng ḷng suy nghĩ đi!
* Ba hiền nữ
Phụ nữ trong đạo
mà được xưng là hiền, chính mắt tôi thấy
ba người. Một là vị ni xuất gia họ Nghiêm, thanh
tu, khổ hạnh, suốt đời chẳng
dính líu nhà phú quư. Một là vị tại gia họ Triệu,
chính tay chép kinh Hoa Nghiêm tám mươi mốt quyển. Một
vị tại gia họ Châu để khuyên chồng bỏ
nghề đánh cá, đă gieo ḿnh vào trong nước. Tăng
ni thời Mạt Pháp phần nhiều la cà nơi nhà sang
quư, chứ khổ hạnh suốt đời ai được
như họ Nghiêm? Quyên mộ chép kinh, rất có thể bị
mê muội nhân quả, chứ tự lực, tự chép, ai
giống như họ Triệu? Để cứu chúng sanh,
chẳng đoái hoài thân mạng, rốt cuộc hóa độ
chồng, ai được như họ Châu? Ba vị nữ
nhân ấy chính là ba vị trượng phu, là ba vị đại
trượng phu vậy!
* Vị thầy thí thực
Diệm Khẩu Thí Thực
do ngài A Nan khải giáo, đại để thuộc vào Du
Già bộ. Du Già hưng thịnh vào đời Đường
bởi hai vị Kim Cang Trí và Quảng Đại Bất
Không[86],
có thể sai khiến quỷ thần, dời núi, đổi
biển, sức oai thần chẳng thể nghĩ bàn! Sau khi truyền được mấy đời, chẳng
ai có thể kế tục, chỉ c̣n lại một pháp Thí Thực
mà thôi. Tay kết ấn, miệng tụng chú, tâm tác quán, tam
nghiệp tương ứng th́ gọi là Du Già. Chuyện
này chẳng phải dễ dàng. Hiện thời, [người học Mật] ấn chú chưa chắc
tinh tường, huống hồ quán lực ư? Do vậy,
[tam nghiệp] chẳng tương ứng.
Không tương ứng th́ không chỉ chẳng thể lợi
sanh, mà cũng có thể đâm ra hại ngược lại
ḿnh.
Vừa rồi, một vị phương ngoại
tăng (tăng sĩ du phương) trong núi bị bệnh ngặt
nghèo, chiều hôm ấy, đúng nhằm lúc đang thí thực
ở bên ngoài. Vị ấy nói với người chăm
sóc: “Có quỷ kéo tôi đến cùng ăn, tôi từ chối
chẳng đi. Chốc lát lại nói: ‘Pháp
sư chẳng chân thành, chúng tôi trở về tay không, ắt
sẽ báo thù’. Do vậy, lôi tay tôi cùng đi. Họ cầm
móc câu, tḥng lọng nói: ‘Muốn lôi vị pháp sư ấy (vị pháp sư đang chủ pháp
Thí Thực) xuống đất’.
Tôi hết sức hoảng sợ, thất thanh kêu cứu, họ
nhất thời tan đi”. Được mấy hôm, vị
Tăng ấy chết; đại để là trước
khi chết, [vị tăng du phương ấy]
đă nhập
bọn với quỷ. Nếu trước đó, chẳng
sợ hăi kêu lên th́ vị pháp sư trên đài đă nguy ngập
rồi!
Không chỉ là như vậy! Một vị tăng chẳng
chí thành, bị quỷ khiêng ra giữa sông toan d́m chết. Một
vị Tăng bị mất ch́a khóa của rương
đựng áo, [trong khi thí thực], tâm nghĩ tới ch́a khóa. Các
quỷ thấy trên thức ăn toàn là những miếng sắt,
bèn chẳng ăn được. Một vị tăng
phơi áo lông thú chưa kịp cất, gặp lúc trời
đổ mưa, tâm nghĩ tới cái áo ấy. Các quỷ
thấy trên thức ăn đều là lông thú, bèn chẳng
ăn được. Ai nấy đều thọ báo rành
rành. Lại có một người vào cơi Âm, thấy trong
pḥng tối có mấy trăm vị tăng, thân thể gầy
ṃn, vẻ mặt tiều tụy, dáng vẻ tợ hồ
khổ sở chẳng kham nổi! Hỏi ra đều là
các thầy thí thực. Thí thực chẳng phải là chuyện
dễ dàng, đúng như vậy đấy!
* Thầy giảng pháp
Chắc có người nói: “Vị
thầy giảng pháp có công giáo hóa chúng sanh, chẳng có trách
nhiệm giao tiếp với quỷ thần, chắc là ít lỗi
hơn?” Đáp: - Đôi khi c̣n quá hơn nữa! Đối với
pháp Thí Thực, một pháp c̣n dễ tinh tường,
chứ kinh luận quá nhiều, muốn mỗi mỗi
đều tinh tường cũng khó lắm. V́ thế, cổ
nhân chú trọng chuyên dốc sức [nơi một bộ
kinh] như các vị Cung Pháp Hoa, Thiện Hoa Nghiêm v.v… Nay th́ [các
giảng sư] không kinh ǵ chẳng nói, không luận nào chẳng
tuyên, thật sự siêu việt bậc tiên triết ư?
Bèn có trường hợp chẳng có sư thừa mà tự
suy đoán, tự vận dụng. Có kẻ ưa chuộng lập
thuyết mới, hư vọng phê phán tiền hiền. Có kẻ giải thích thêm rườm
rà, nhưng hoàn toàn chẳng nêu tỏ được ǵ,
đều chưa tránh khỏi phạm lỗi. [Giảng
sư] ắt phải nghiên cứu tinh tường, trọn
vẹn, học rộng chẳng có ngằn mé, chỉ mang
hoài băo làm sáng tỏ đạo, chẳng mưu cầu lợi
dưỡng mà thôi, ngơ hầu
có công mà chẳng có lỗi!
Chắc lại có kẻ nói: “Ngài Trí Giả nói: ‘V́ lợi
ích mà hoằng kinh th́ cũng luôn có danh xưng là Bồ Tát’
là như thế nào?” Ôi! Đấy là trọn đủ ḷng
đại bi của Bồ Tát, nhằm nói với người
có hạnh chân thật, nhưng chưa đạt đến
địa vị Bồ Tát, chẳng phải là nói với kẻ
tham lợi. Chẳng suy xét ư này th́ hầu như là sai lầm!
* Một điều lỡ làng th́ trăm điều
đều lỡ làng
Cổ nhân nói: “Đời
này nếu chẳng tu, một điều lỡ làng,
trăm điều đều lỡ làng”. Từ một
cho tới một trăm điều, sao lắm nỗi lỡ
làng vậy? Kinh dạy: “Ly ác đạo đắc nhân
thân nan, đắc nhân thân phùng Phật pháp nan. Nhiên nhi phùng niệm
Phật pháp môn, tín thọ vi vưu nan dă” (Ĺa khỏi
đường ác, được thân người là khó. Có
được thân người, gặp Phật pháp là khó.
Nhưng gặp pháp môn niệm Phật mà tin nhận th́ càng
khó hơn nữa). Như kinh có nói, con kiến từ thời
thất Phật cho đến nay chưa thoát thân kiến,
đâu biết khi nào sẽ được làm thân người?
Lại c̣n ngày nào sẽ gặp Phật pháp? Ngày nào sẽ gặp
pháp môn Niệm Phật mà tin nhận? Đâu chỉ là một
trăm điều lỡ làng, đại để là ngàn
điều lỡ làng, vạn điều lỡ làng cho
đến vô cùng, xót thay!
* Cấm giết mổ
Người đời rộng
giết sanh mạng để làm thức ăn sáng chiều,
sắp đặt yến tiệc, khao thưởng, dâng lên
cúng tế, đều nói đó là “lẽ đương
nhiên”. Nếu là lẽ đương nhiên, sao lúc hạn
hán, ngập lụt, quan cấm giết mổ? Do
đấy mới biết giết mổ là sai trái. Tuy vậy,
hạn hán mà hơi có mưa, lụt lội mà mới
hơi quang tạnh, th́ vai lợn, chân dê đă treo cao nơi
ngơ chợ. Lại nữa, tục lệ ở đất
Hàng là kỳ đảo Quán Âm đại sĩ, ắt thỉnh
tới chùa Hải Hội, cả thành giết chóc, th́ thành ư
ở chỗ nào? Đáng than trách sâu xa! Nếu luôn luôn kiêng giết, nhà nào cũng tŕ trai, ắt
sẽ cảm vời thiên ḥa, mưa gió đúng thời, mùa
màng sung túc, bốn biển thanh b́nh. Phong thái của thời
Cát Thiên và Vô Hoài lại có thể thấy trong ngày nay, hiềm
rằng tập tục lưu truyền lâu ngày, chẳng thể
cứu chữa được. Buồn thay!
* Nuôi cá, hạc
Thế tục nuôi tiểu
kim ngư, cho chúng ăn bằng bọ nước, tép.
Người nuôi hạc dùng cá nhỏ để cho hạc
ăn. Nuôi hạc mỗi bữa tính đến
cả trăm con. Nuôi kim ngư th́ mỗi bữa tính ra cả ngàn con, tích ngày thành tháng, tích tháng
thành năm, sát nghiệp vô biên! Phàm nuôi tằm, nuôi nấng
lục súc[87], v́ [chính ḿnh] no ấm mà tạo sát nghiệp ấy, c̣n cá và hạc để ngắm nh́n mà thôi. Than
ôi! Đấy cũng là điều chẳng nên vậy!
* Ngày nay mới nhàn
Đất Ngô Hàng có người
họ Lỗ, đă quên mất tên, mọi người do
ông ta mặt rỗ bèn gọi là Lỗ Ma Tử (魯痲子, ông Lỗ mặt rỗ).
Tuổi trung niên, ông bảo con rằng: “Ta đă lo cưới
gả xong xuôi, các ngươi cũng có thể tự lập,
ta t́m an nhàn”. Do vậy, sắm sửa quan quách, phàm hồn
kiệu, minh tinh[88],
trống kèn, thảy đều lo liệu. Các con mặc áo
sô, cầm gậy dẫn quan tài, tự
ông ngồi kiệu
theo sau, đến nhà riêng ở Tây Hồ, đặt quan
tài ở trung đ́nh[89],
bảo các con trở về, đề bảng ngoài cửa “ngày
nay mới nhàn”, cho đến chết chẳng vào thành
quách. Than ôi! Ông ta cũng là bậc thông đạt! Kẻ thế
tục trọn đủ gia duyên, đúng là phải bận
bịu. Thoát khỏi bận bịu bèn nói “ngày nay mới
nhàn”. Người xuất gia vốn nhàn, thế mà nhọc
thân, khổ chí, bươn bả theo danh lợi, suốt
ngày lo toan chẳng biết nghỉ ngơi, hăy nên đề
bảng là “ngày nay mới bận bịu” vậy!
* Nhập thai
Kinh nói nhập
thai đều vào mười tháng trước, nhưng
trong thế gian có lời đồn rằng: Lúc sắp
sanh, [thần thức của đứa trẻ ấy] chết
nơi kia, sanh vào
nơi đây. Có người cúng dường vị tăng
trong núi, bỗng thấy vị tăng ấy bước
thẳng vào trong buồng, liền nghe báo con vừa sanh ra, vội
vào trong núi thăm ḍ, thấy vị tăng ấy đă nhập
diệt, chẳng phù hợp lời kinh dạy là như thế
nào? Đại để, nhập thai từ mười
tháng trước là chuyện thường t́nh, c̣n sắp
sanh mới nhập thai là một, hai trong ngàn vạn trường
hợp. Người đời chỉ thấy một, hai
trường hợp, mà chẳng thấy ngàn vạn!
Nhưng đă sớm nhập thai mà chẳng
thấy hiện h́nh là v́ sao? Chẳng lẽ là sắp sanh mà nhập thai th́ mới
có thể hiện, c̣n sớm nhập thai th́ chẳng thể
hiện? Chẳng có kinh văn nói rơ, tôi chẳng dám hư vọng
nói năng. Chúng sanh nhập thai chẳng thể nghĩ bàn,
đợi bậc thánh nhân có thiên nhăn quyết đoán vậy!
* Hộ pháp
Mọi người biết việc
ngoại hộ Phật pháp giao phó cho vua, quan, nhưng chẳng
biết Tăng cũng
phải nên hộ pháp, chẳng thể không cẩn thận! Hộ
pháp có ba thứ: Một là hưng khởi phạm sát (chùa
chiền), hai là lưu thông đại giáo, ba là khen thưởng,
khích lệ tăng sĩ, há chẳng nói năng thận trọng
ư?
Hộ tŕ phạm sát: Nếu phạm
sát quả thật vốn là tài sản của nhà chùa bị
kẻ cường quyền chiếm đóng, bèn đoạt
lại để khôi phục, đó là đúng lư. Nếu
truy t́m trong các sổ sách, ngờ rằng tợ hồ chẳng
rơ ràng, truyền thừa đă lâu ngày, trao đổi qua tay
người này, người kia, cứ dùng oai thế để chiếm
lấy, có nên hay chăng? [Người đang sống ở đó nếu]
vui vẻ xả (trả đất cho chùa) [th́ cuộc
đất ấy] sẽ là “cát tường
địa”. Nếu
do sức không chống nổi, họ đành phải cho, th́ gọi là “rừng
oan nghiệp”. Nếu
tăng chỉ khuyến hóa bậc đại nhân có sức
làm đại công đức chủ ḥng khôi phục chùa
cũ, chẳng nghĩ Phật cố nhiên nh́n chúng sanh b́nh
đẳng như La Hầu La. Nếu làm khổ dân để
dựng chùa, dẫu rộng hơn ngàn khoảnh, cao vượt
trời thẳm, dùng chiên đàn làm vật liệu, dùng châu,
ngọc trang hoàng, Phật sẽ buồn thương mà chẳng
chẳng vui thích! Đó là có lỗi, chẳng có công ǵ, phải
thận trọng! Đó là
một.
Hộ giáo là nếu có trước
thuật, thật sự xa là phù hợp Phật tâm, gần
là đạt được ư chỉ của kinh, bèn tán
thán, truyền bá, hoằng dương, đó là đúng lư. Có [tác
phẩm] giống như ngoại đạo đàm luận
quanh co, đoán ṃ, thiên kiến, mà cứ ca ngợi quá
đáng, có nên hay
chăng? Nếu Tăng chỉ xin những vị nổi
danh đề tựa, viết lời bạt, chẳng suy
nghĩ sẽ gây lầm
lạc cho kẻ hậu học, đó là có lỗi, chẳng có
công ǵ, chẳng thể không cẩn thận. Đó là hai.
Hộ tăng là nếu
tăng sĩ thật sự là người chân tham, thật
ngộ, có đại tri kiến, bèn tôn sùng, lễ kính, hoặc
là người thật tâm, thật hạnh, tu tập vẹn
toàn, đích xác, hăy tin tưởng, thân cận. Đó là đúng lư. C̣n
như Thiền khách hư vọng, hoặc hạng tầm
thường, kém cỏi, cũng nên tôn trọng, tin tưởng
được
chăng? Nếu Tăng chỉ lo thân cận, xu
phụ kẻ quyền quư, mong được họ che chở,
dùng vải vóc gấm thêu để bọc ung nhọt, chỉ
càng thêm độc hại, sẽ là có lỗi, chẳng có
công, chẳng thể không thận trọng! Đó là điều
thứ ba. Vua, quan hộ pháp mà tăng sĩ hoại pháp, buồn
thay!
* Nhà Nho chê trách Phật
Nhà Nho chê
trách Phật, xét theo dấu tích, h́nh tướng th́ tương
tự, nhưng thật ra khác nhau, chẳng thể luận
định nhất loạt như nhau được! Nho
có ba loại: Có nhà Nho thành thật, có nhà Nho lệch lạc,
thành kiến, có nhà Nho siêu thoát.
Nhà Nho thành thật đối
với Phật vốn chẳng có ác tâm, nhưng do cái học của họ lấy “cương
thường, luân lư” làm
chủ, họ chú trọng cách vật, trí tri, thành ư, chánh
tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, b́nh thiên hạ, tức
là chánh đạo trong thế gian, cho nên chẳng ứng hợp
với pháp xuất thế do đức Phật đă dạy.
Chẳng phù hợp ắt tranh căi, tranh căi có thể dẫn
tới báng bổ, chẳng lạ ǵ lẽ như thế!
Giống như Y Xuyên (Tŕnh Di), Hối Am (Châu Hy) là hạng
người ấy.
Nhà Nho lệch lạc, thiên kiến
th́ bẩm tánh cuồng dại, cao ngạo, chấp chặt
những điều được tiếp xúc đầu
tiên, phô phang lời lẽ sai lầm, hủy báng cùng tột,
chẳng biết đó là sai trái. Tức là hạng người
như ông Trương Vô Tận đă nói là “nghe nói đến Phật tợ như cừu thù, thấy
Tăng như thấy rắn, rết”.
Nhà Nho siêu thoát hiểu biết
tinh tường, thấu rơ lư, không chỉ chẳng bài xích
mà c̣n tin sâu. Không chỉ tin sâu, mà c̣n gắng sức thực
hành. Đó gọi là bậc chân Nho! Tuy vậy, lại có kẻ
đùa chơi trong pháp môn, thật sự chẳng quy kính. Bề
ngoài là quy kính, nhưng bên trong là dị tâm, chẳng phải
là chân Nho. Người sáng mắt sẽ biện định
được!
* Cư sĩ đắp y
Đầu
tṛn, áo vuông, th́ biết là y phục của tăng gồm ba
y. Đầu có tóc mà đắp y của tăng sĩ, chẳng
đúng chế định! Cổ nhân nói “đâm ra mắc
tội khiên”, đúng là giáo huấn chân thành. Người
đời chẳng suy xét, tăng cũng chẳng nói ǵ,
đáng than thay! Tôi thuở trẻ thấy tại giới
đàn Chiêu Khánh, người thọ giới ưu-bà-tắc,
ưu-bà-di đều đắp tam y, bởi lẽ theo thói
quen đă thành tập tục, chẳng biết là sai trái.
Đấy chẳng phải là lỗi của người tại
gia, mà do xuất gia Tăng chẳng bảo rơ, chỉ thuận
theo nhân t́nh mà đến nỗi ấy. V́ thế, tôi nêu ra.
* Túc mạng
Cơi đời
có người ngẫu nhiên biết Túc Mạng, chẳng nhất
định phải là Túc Mạng Thông của người
đắc đạo. Xưa nay nói chung có nhiều trường
hợp. Ông Tổng Nhung họ Dương nói với tôi:
- Vong huynh
lúc mười ba, mười bốn tuổi bỗng nói tiếng
của người phương Bắc rằng: “B́nh nhật
chỉ nghe nói phương Nam đẹp đẽ,
phương Nam đẹp lắm!” X̣e hai tay nói: “Nay
sanh ở chỗ này tốt lắm, tốt lắm’. Hỏi
tới th́ nói “ta là vị
Tăng thuộc Hồng miếu ở chỗ X… tại
Sơn Đông”. Lăo Tổng
Nhung cho là yêu quái, muốn giết chết, bèn chẳng dám
nói nữa. Một năm sau th́ chết”. Xưa kia, ngài Linh
Thụ[90] đời
đời làm Tăng chẳng mất thần thông. Vân Môn ba
đời làm quốc vương do chẳng biết Túc Mạng,
há Vân Môn chẳng hiền bằng người hiện thời
ư? Do vậy nói: “Đôi khi chẳng mê muội, nhưng chẳng
phải là [Túc Mạng] Thông”. Nay làm Tăng, niệm nào
cũng nhập thai, xuất thai trong pháp thế gian, sao có thể
ghi nhớ chuyện đời trước? Cầu sanh Tây
Phương đúng là phải nên gấp gáp vậy!
* Quả long nhăn
Ông Tông Bá[91]
họ Lục thọ chín mươi bảy tuổi, nghiện
ăn long nhăn, long nhăn bèn trở thành mắc nhất trong
vùng. Quê tôi lại có một cụ già, thọ hơn Tông Bá
sáu năm, nghiện ăn lợn hầm. Hai bà cụ, một
cụ nghiện
nước uống chế từ gạo, cụ kia mê ớt Tứ Xuyên, đều thọ hơn chín
mươi, kẻ chung quanh trông thấy bắt chước
làm theo. Lại có một cụ già, sáng sớm uống một
chén mật pha nước sôi. Nếu như cụ trường
thọ th́ các loài ong đều thiếu thức ăn! Than
ôi! Tuy quân tử chẳng bỏ phế [chuyện
duy tŕ sanh mạng], nhưng
sanh tử có số mạng. Khuôn mẫu của thánh nhân mênh
mông. Do vậy, Phu Tử chỉ sống gần tới bảy
mươi, há có phải Ngài chẳng có vật ǵ để
dưỡng sanh? Nhan Uyên ba mươi tuổi chết yểu,
nếu cho rằng [do ông ta] không có giỏ cơm nên chết,
thế mà có người già lụ khụ, phải gồng
gánh buôn bán bên đường, từng chịu cảnh bữa
đói, bữa no! Do vậy biết Tông Bá v́ tích đức
mà sống thọ, ăn nhằm ǵ với long nhăn! Huống
hồ phương thức trường sanh của Kim Tiên
Thị (đức
Phật)!
* Thiêu luyện (đốt
ḷ luyện đan)
Nếu hỏi
“thiêu luyện lừa bịp không ai chẳng biết,
nhưng luôn có người dính vào là v́ sao?” Tiên thánh có nói:
“Người trí chẳng mê hoặc”. Kẻ mê muội
đan thuật là do trí chẳng đủ. Tuy vậy,
người đời [mê muội đan thuật] chẳng
đáng trách, xuất gia Tăng mà có kẻ cũng bị mê
hoặc, đáng than thay! Người đời coi của
cải như tánh mạng, mà đan sa có thể biến
thành vàng ṛng, dẫu đế vương cũng bị mê
hoặc bởi lời lẽ của phương sĩ! V́
thế, kẻ tại gia đáng bị mê hoặc, nhưng
người xuất gia chẳng nhớ lời Phật
ư? “Trong
tướng bạch hào có tám vạn bốn ngàn quang minh,
dùng một phần quang minh có thể châu cấp trọn khắp
các đệ tử trong thời Mạt Pháp vẫn chẳng
thể tận”, sao lại chú trọng chuyện
thiêu luyện?
Một vị lăo tăng ở
thành Tô Châu v́ dựng điện đường, hằng
ngày tụng kinh Pháp Hoa bảy quyển, niệm Phật hiệu
một vạn tiếng để mong chuyện luyện
đan sớm thành tựu! Nhiều lượt bị lừa
bịp mà chẳng lui bước, hối cải, cứ bảo:
“Lùi bước, hối cải th́ chân tiên chẳng thể tới!”
Do vậy,
giữ vững chí trước kia chẳng
đổi, ḷng thành thuở đầu càng xác thực,
nhưng rốt cuộc chẳng thành tựu chi hết! Phàm
là dựng Phật điện, tuy thuộc về cái tâm tốt
lành, nhưng ṭa điện ấy nếu chẳng có một
hai vạn lượng, sẽ chẳng thể được,
bèn mong luyện đan thành công để thực hiện,
cũng thành tà rồi! Ôi! Dùng cái tâm cầu kim đan để
cầu đạo, dùng chi phí nuôi người luyện
đan để cúng dường, phụng sự bậc thiện
tri thức trong thiên hạ, dùng ḷng tinh thành kiến tạo
rạng rỡ Phật điện để phản chiếu
vị Phật thiên chân từ bao kiếp đến nay, dùng
bảy quyển Pháp Hoa, một vạn câu Phật hiệu
để siêng khổ hồi hướng Tây Phương,
th́ sẽ chẳng dựng một vỉ kèo mà cảnh
chùa đă hoàn thành. Vậy mà cứ dụng tâm vào chuyện
nhọc nhằn ắt chẳng thể thành, cứ dốc
hết ḷng kính vào kẻ chẳng đáng tin tưởng, tiếc
thay!
* Bài thệ nguyện văn của
ngài Nam Nhạc
Trong Đại
Tạng có bài Thệ Nguyện Văn do thiền
sư Nam Nhạc lập. Cuối
bài có nói “nguyện đắc đan trước rồi
mới đắc đạo”. Ấy là v́ muốn
lưu thân trụ thế, trường sanh bất tử,
ḥng ngay trong đời hiện tại sẽ được
thành tựu cái quả, chẳng cần đợi đời
khác! Ngài Nam Nhạc là bậc thánh hiền ứng hóa, nếu
Ngài thật sự thốt ra lời ấy, ắt tự có
nguyên cớ, những kẻ b́nh phàm, nông cạn sẽ chẳng
ḍ lường được! Nếu là lời lẽ do
người đời sau thêm thắt, ắt chẳng thể
tin được! Kẻ căn cơ bậc hạ thấy
vậy, chắc sẽ dấy lên dị kiến, tức là bài
nguyện văn ấy gây ra lầm lạc. Ngài Thần Loan
(Đàm Loan) đốt kinh đạo tiên để tu Quán
Kinh, ngài Nam Nhạc tu đạo luyện đan để
cầu Phật đạo, sao hai đằng chẳng phù hợp
như thế ấy? Sách Chỉ Quán của ngài Nam Nhạc
đối với lời trích dẫn từ Khởi Tín Luận
bèn tăng thêm một chữ Ác, trở thành “trọn
đủ hết thảy thiện, ác”, đấy chắc
chắn chẳng phải là ư của ngài Nam Nhạc, mà do
người đời sau làm ra. Chữ Ác có thể thêm vào
th́ đối với bài văn trong hiện thời, có thể
tin chắc ư? Điều này cũng giống như
trường hợp sách Thiền Môn Khẩu Quyết vậy.
* Thiên Thai Truyền Phật Tâm
Ấn
Trong Đại
Tạng lại có một quyển Trí Giả Đại
Sư Truyền Phật Tâm Ấn. Tâm ấn của Phật
bảo là do ngài Thiên Thai truyền th́ cũng được,
nhưng nói Thiên Thai độc truyền, bảo Đạt
Ma và các vị sư khác đều chẳng đạt
được th́ không thể nào! Nói là “sư tử bị
hại, sự truyền thừa chấm dứt”, cho nên
chẳng có chuyện “sáu đời truyền y” th́
không thể được! [Bởi lẽ], có thể hại
sắc thân của sư tử, chứ đạo chẳng
thể hại. Sư tử thuyết pháp đă xong,
nhưng truyền pháp chưa xong, đều là do người
đời sau tôn sùng ngài Thiên Thai, nhưng chẳng biết
nguyên do ngài đáng tôn sùng. Hơn nữa, người đời
sau lại nói: “Pháp Hoa là căn bản, Hoa Nghiêm là cành
nhánh”. Ngài Thiên Thai có bao giờ nói như vậy? Lại bảo
“chỉ thú tánh cụ (tánh trọn đủ) chỉ riêng
một nhà (tông Thiên Thai) có, các nhà khác đều chẳng thể
bằng được!” Thuyết của một nhà th́ cũng
làm sao có thể dạy mọi người, do chẳng rộng!
Lư “tánh cụ” thấy trong các kinh, được nêu tỏ
bởi chư tổ, chẳng biết là bao nhiêu, lại tự
tiện bảo là của một nhà, chẳng phải là
điều ngài Thiên Thai thích nghe! Ngài Thiên Thai là bậc thánh
sư, mong mỏi đạo mà chưa được thấy.
Đối với địa vị của chính ḿnh, Ngài
nói: “Tổn ḿnh để lợi người, chỉ dự
vào Ngũ Phẩm”. Người đời sau ca ngợi
thái quá, đánh mất cái tâm “chẳng tự coi ḿnh là thánh”
của ngài Thiên Thai. Gộp chung với chuyện trước
đó để xem th́ đúng là như cổ nhân đă nói: “Tin
trọn vào sách th́ chẳng thà không có sách!”
* Nghi thức Thủy Lục
Nghi thức Thủy Lục
tương truyền do Lương Vũ Đế khởi
đầu. Xưa kia, Bạch Khởi[92]
chôn sống bốn mươi vạn người ở
Trường B́nh, tội lớn cực ác, ch́m đắm
trong địa ngục đă lâu, không do đâu thoát ĺa
được. Ông ta báo mộng cho Vũ Đế, Vũ
Đế bèn cùng với Chí Công, các vị sư
thương nghị kế sách cứu bạt, biết trong
Đại Tạng có nghi thức Thủy Lục, bèn cầu
đảo, quang minh tràn ngập điện đường.
Do vậy bèn cử hành, truyền cho hậu thế.
Nhưng nay trong Đại
Tạng trọn chẳng có nghi thức này! Văn bản ở
chùa Kim Sơn cũng là trước sau sai lầm, xen tạp,
chẳng thấy manh mối từ đầu đến cuối.
Hành giả trong tăng sĩ hiện thời vẫn tùy ư thực
hiện, mỗi mỗi đều khác biệt đôi chút.
Các bức vẽ [của chư Phật, Bồ Tát, tôn thánh
được sử dụng] trong thượng đường
và hạ đường tại Nam Đô cũng tùy thuộc
thợ vẽ truyền tụng mà kết thành quy định,
chẳng đích đáng cho lắm. Nhưng kẻ tổ chức
đạo tràng phải quyên mộ chi phí nhiều tháng, nhiều
năm mới thành tựu được! Trần thiết
rườm rà đến nỗi trai, gái, già, trẻ kéo tới
nườm nượp, giống như thế tục
đi xem cờ quạt, xem lễ hội Xuân, chen chân, kề
vai, nam nữ hỗn loạn, mỗi ngày tính ra cả ngàn
người, chẳng tránh khỏi khinh nhờn thánh hiền,
va chạm quỷ thần, tốn kém nhiều, mà lỗi nặng
nề, có ương họa, chẳng có công lao ǵ, phần
nhiều dẫn đến t́nh trạng đạo tràng chẳng
trọn vẹn, cảm lấy ác báo, rất đáng sợ.
Chỉ có nghi thức do pháp
sư Tứ Minh Chí Bàn kết tập (tức bản Pháp Giới
Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quỹ) tột bậc
tinh tường, tột bậc cẩn mật, tột bậc
đơn giản, tột bậc dễ dàng, tinh mật mà chẳng
mắc khuyết điểm rườm rà, dài ḍng. Tuy giản
dị mà chẳng phạm khuyết điểm thiếu
sót. Bản ấy chỉ có tại Tứ Minh, các nơi khác
đều chẳng thấy. Tôi đính chánh, cho khắc in lại,
ḥng được lưu truyền rộng răi. Tuy vậy, [nghi
thức này] vẫn chẳng thể cử hành dễ dàng, hoặc
thực hiện nhiều lần. Dễ dàng th́ ắt dẫn
đến t́nh trạng làm cho nhiều, làm nhiều th́ dễ
sanh [ư niệm] quá dễ dàng. Do vậy, sẽ thiếu sót
ḷng thành kính, mắc nhiều lỗi lầm, tội khiên, cầu
phước mà đâm ra mắc họa. Mong hăy thận trọng!
* Thầy bạn
Vị
Tăng ở đất Việt là Định công trung niên
xuất gia, áo chằm rách rưới khất thực,
như mây trôi, chim bay, coi nhẹ danh lợi, khổ chí tận
lực tham cứu bốn câu “thiên t́nh nhật xuất”
(lúc trời quang, mặt trời vừa mọc), bỗng có
tỉnh ngộ. Khi đó, không có vị đại tri thức
nào để kèm cặp. Có vị ấn chứng cho,
nhưng ông ta tâm chẳng phục, bực bội bỏ
đi. Sư từng nói với tôi rằng: “Tăng sĩ
trong đời này ai dám ấn chứng cho tôi?” Do vậy, dẫn
Thích Ca Như Lai để ấn chứng. Bởi thế,
bèn được chút ít cho là đủ, ngỡ thau là vàng,
bèn sùng tín La Đạo[93],
chú thích các sách ngũ bộ, lục thư v.v… do gă ấy
trước tác, bị người đương thời
quở trách. Nếu như ông ta có được vị thầy
chân thật, bạn thù thắng, ắt có thành tựu to lớn.
Do vậy biết nhiệm vụ trọng yếu của
người học đạo là phải đổ công
nơi t́m thầy, hỏi đạo; chứ [nếu không,
sẽ là] có nhân mà không có quả, chôn vùi cái tâm ban đầu,
thật đáng than tiếc!
* Triều bái ngoài biển
Tăng tục
dâng hương tại Nam Hải, có người chẳng
theo đường chánh từ Tứ Minh, mà riêng từ biển
cả và cửa Miết Tử (鱉子門) vượt
qua hiểm trở bất trắc, băo lốc, bị lật
thuyền chết ch́m mấy chục người, hoặc trăm
người. Than ôi! Chẳng từ xa mấy trăm dặm,
th́ cũng là mấy ngàn dặm, kiền thành đến tham
yết, há chẳng phải là tâm tốt lành ư? Há chẳng
phải là thiện sự ư? Đến nỗi mất mạng
th́ chưa chắc lâm chung chánh niệm được! Kinh
nói “Bồ Tát
không cơi nào chẳng hiện thân”, tức
là chẳng cần đi xa tới phương khác, do đại
từ đại bi cho nên Bồ Tát là Bồ Tát. Chỉ cần
giữ được tấm ḷng từ bi của Bồ
Tát, học theo hạnh từ bi của Bồ Tát, chẳng
cần ra khỏi cửa, khỏi sân, sẽ luôn luôn thường
thân cận núi Phổ Đà, chẳng gặp mặt kim dung
mà mỗi khắc đều đích thân thừa sự Quán
Tự Tại. Cũng có người gieo ḿnh vào sóng cả,
bảo là “xả thân”, mong Bồ Tát tiếp dẫn, cho tới
khi chết đi, ắt nổi sân, khởi oán, đâm ra trở
thành đọa lạc, há chẳng đáng buồn ư?
Không chỉ là như thế, trên chót đỉnh của Thái
Sơn cũng có Xả Thân Nhai (vách đá xả thân), hậu
hiền cho xây tường vây, viết hai chữ to Căng
Ngu (矜愚: thương xót kẻ ngu),
cũng là vô lượng âm đức!
* Miệt thị Tây
Phương
Cư
sĩ họ Băo hằng
ngày tụng Pháp Hoa và Lăng Nghiêm, lâu ngày hiểu biết nhạy
bén, bèn viết Tây Phương Luận Đáp Khách Vấn
(luận định về Tây Phương để trả
lời các câu hỏi của khách) gồm ba thiên. Thiên thứ
nhất c̣n đàm luận chánh lư, nhưng đă hơi kèm
theo lời lẽ cho rằng “Tây Phương chẳng
đáng sanh về”. Hai thiên kế đó nói quá đáng:
“Người nguyện sanh về Tây Phương là sai bét”.
Có người khuyên tôi hăy đả phá. Tôi nhớ thiền
sư Không Cốc nói “lời lẽ của kẻ
lầm lạc giống như câu ca của tiều phu, lời
hát của mục đồng, chẳng cần phải tranh
biện!” Nay lời
luận định của ông Băo đều là viện dẫn
chánh lư trong Thiền môn dễ thu hút người khác; do vậy,
khiến cho chúng sanh bị nghi lầm, thoái thất nguyện
vãng sanh, gây hại chẳng nhỏ, chẳng thể im
lặng được!
Trong thiên thứ nhất, ông ta
chia thành ba loại Tây Phương: Một là Tây
Phương để Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh,
Long Thọ, các vị Bồ Tát sanh về. Hai là Tây
Phương để các vị tri thức như Viễn
Công, Vĩnh Minh v.v… hoặc các hiền nhân như Tô Tử
Chiêm, Dương Thứ Công[94]
v.v… sanh về. Ba là Tây Phương do những kẻ tầm
thường, kẻ ác, súc sanh v.v… sanh về. Cách nói ấy
tợ hồ hữu lư, nhưng chín phẩm văng sanh, kinh
văn đă nói rơ ràng, rạng ngời như mặt trời,
mặt trăng giữa bầu trời. Cần ǵ phải
đợi ông ta chia thành ba loại? Một vị vua sáng lập
quy chế, muôn nước khâm phục, tôn sùng, kẻ thất
phu nơi rừng núi lập riêng một quy ước, há có
được chăng? Đó là sai lầm thứ nhất
của ông ta.
Đức Phật nêu rơ chín phẩm,
Tây Phương vốn chẳng có hai cơi, nhưng do căn
cơ của mỗi người khác nhau, cho nên người văng sanh tự
thành chín phẩm. Thuyết của ông Băo là Tây Phương vốn
lập ra ba loại cơi để đợi ba loại
người, chẳng phù hợp kinh văn. Đó là sai lầm
thứ hai của ông ta.
Lại nói các bậc tri thức
như Vĩnh Minh, Huệ Viễn, các hiền giả văng
sanh thật sự chẳng do tự lợi mà thuần là lợi
tha. Phàm cầu sanh về cơi ấy chính là thân cận Như
Lai, mong cầu lợi ích thù thắng. Hăy gác các vị
đại Bồ Tát lại, chẳng cần bàn. Chỉ các
vị hiền
nhân như Tô Tử
Chiêm, Dương Thứ Công, há có phải đều đă
trọn hết địa vị Bồ Tát, riêng văng sanh Cực
Lạc để độ sanh, chẳng phải là tự
lợi ư? Kệ tụng trong phẩm Hạnh Nguyện
có nói: “Thân đổ Như Lai Vô Lượng Quang, hiện
tiền thọ ngă Bồ Đề kư” (Tự thấy
Như Lai Vô Lượng Quang, hiện tiền thọ kư tôi
Bồ Đề). Cầu được thọ kư mà chẳng
phải là tự lợi th́ là ǵ vậy? Đó là điều
sai lầm thứ ba của ông ta.
Ông ta lại nói “thánh phàm
đồng thể, do mê hay ngộ mà tạm chia thành hơn
hay kém, phản chiếu hồi quang, lật bàn tay mà thánh
phàm khác biệt vời vợi”. Đă nói là “phản chiếu”,
cớ sao lại biến thành khác biệt vời vợi,
c̣n có thể nói là “đồng thể” được
chăng? Chính ḿnh lập luận mâu thuẫn. Đấy là
điều sai lầm thứ tư.
Lại nói “đừng chấp
ngă tướng mong sanh về cơi ấy”, nhưng đức
Phật đă đinh ninh răn bảo, khuyên hăy phát nguyện
cầu sanh, tức là đức Phật dạy chúng ta chấp
ngă tướng đó ư? Đó là điều sai lầm
thứ năm của ông ta.
C̣n như trong thiên thứ hai
và thứ ba, càng hủy báng nhiều hơn, sai lầm càng
quá đáng. Ông ta nói: “Nay người chủ pháp chỉ
chú trọng Tịnh Độ, chỉ coi chuyện ấy
là chân thật”, tức Tịnh Độ là giả trất
ư? Đức Phật nói Tịnh Độ là lời gạt
gẫm ư? Chẳng tin có thế giới kim sắc, liền
bị kinh Lăng Nghiêm quở trách. Ông Băo hằng ngày tụng
Lăng Nghiêm mà lập ra Đoạn Kiến ấy; đó là
sai lầm thứ sáu.
Lại nói “nhất tâm bất
loạn chẳng phải là nói chấp tŕ danh hiệu, mỗi
niệm đều chuyên chú. Nếu nói về chấp tŕ th́
có khi như mây giăng, tôi đích thân thấy mấy
người ngày đêm niệm Phật, lại từng
được các vị lăo thiện tri thức ấn chứng,
sau này đều vướng vào lưới ma, chẳng thể
cứu bạt”. Chấp tŕ danh hiệu do đức Phật
nói, tức là đức Phật khiến cho mấy người
ấy lầm lạc, lọt vào lưới ma ư? Hiện
tiền, tôi thấy người chẳng niệm Phật
mà tham Thiền cũng có người bị ma dựa là v́
sao vậy? Kinh nói người niệm Phật văng sanh đắc
bất thoái chuyển, ắt dự vào ḍng thánh. Phật
đă hứa nhập vào ḍng thánh, mà ông Băo lại cho rằng
lọt lưới ma. Đó là điều sai lầm thứ
bảy của ông ta.
Lại nói: “Cái gọi là nhất
tâm chính là cái tâm vốn sẵn có của người ấy,
vốn tự linh diệu, vốn tự trọn đủ.
Trừ điều ấy ra, chẳng có pháp nào khác!” Kinh
văn nói rơ “chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn”,
sao lại cắt bốn chữ trong câu trước đó
để nói về nhất tâm? Nếu chẳng có kinh
văn, cao luận bàn suông th́ nói tâm như thế cũng chẳng
phải là không được. C̣n ở đây là chân ngữ,
thật ngữ từ kim khẩu thốt ra, tức là đức Phật
nói sai bét, ông Băo sửa đổi cho đúng ư? Kinh Pháp
Hoa dạy “nhất tâm xưng danh Quán Thế Âm Bồ Tát”
lại phải hiểu như thế nào? Đó là điều
sai lầm thứ tám của ông ta.
Lại nói “nương theo
pháp này để để tu, ắt vào tà đạo”,
phần trước nói “lọt lưới ma”, nay nói “vào tà
đạo”, niệm Phật gây hại như thế ư?
Sao đức Phật chẳng cấm người niệm
Phật mà phải đợi ông Băo cấm? Đó là điều
sai lầm thứ chín của ông ta.
Lại nói: “Người thời
thượng cổ trước là khuyên người khác
đạt được cái gốc rồi mới khuyên
văng sanh”. Niệm Phật văng sanh vốn là do hạ học
mà đạt tới chuyện thuộc bậc thượng.
Thượng đạt trước rồi mới hạ
học, theo Lư có suông được chăng? Há có trạng
nguyên trước rồi mới thi đậu? Đạt
tới địa vị tể tướng rồi mới
học tập sáu kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử, học
tập văn tự cử nghiệp ư? Đấy là
điều sai lầm thứ mười của ông ta.
Lại nói “nếu Phật
pháp chỉ là pháp này, chỉ hiểu một quyển kinh Di
Đà là đủ rồi. Chỉ dựa vào kinh này, ai chẳng
thể làm Thiên Nhân Sư? Ai chẳng thể xưng là thiện
tri thức?” Phàm các kinh Đại Thừa như Pháp
Hoa, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Bát Nhã v.v… chẳng ngày
nào không tụng, chẳng ngày nào không giảng, có ai chấp
riêng một kinh Di Đà, quét sạch các kinh kia ư? Tuy vậy,
do chỉ sợ chưa từng chân thật chuyên dựa vào
một kinh mà thôi! Chuyên dựa vào một kinh, đắc Niệm
Phật tam-muội, được gọi là thiện tri thức,
cũng có ǵ đáng thẹn? Đấy là điều sai lầm
thứ mười một.
Lại nói “cơi Phật vô tận,
nếu chuyên dạy người cầu sanh một cơi, các
cơi Phật khác chẳng
lạnh lùng, vắng lặng ư?” Đâu có
biết chúng sanh trọn hết vi trần số đều
sanh về một cơi ấy, chẳng thấy [Cực Lạc]
tăng nhiều. Trọn hết vi trần số chúng sanh
không một ai sanh về cơi ấy, cũng chẳng giảm
ít, có ǵ là lạnh, có ǵ là ấm,
có ǵ là tĩnh,
có ǵ là ồn? Sao lại
có cái nh́n của trẻ nít, nói lời tà vạy, sai lệch?
Đấy là điều sai lầm thứ mười hai.
Ngàn kinh vạn luận đều
tán dương Tây Phương, ngàn thánh vạn hiền cầu
sanh cơi đó, riêng một ḿnh ông Băo ra sức hủy báng, chê
gièm, sao chẳng sợ khẩu nghiệp vậy? Cư
sĩ thoạt đầu tín tâm kiền thành, chuyên dốc,
tôi hết sức yêu mến; nay như thế này, tôi hết
sức lo lắng.
* Tụng cổ, niêm cổ (1)
Nếu có
người hỏi “cổ nhân đều có tụng cổ,
niêm cổ[95], riêng ḿnh
ông chẳng có là v́ sao?” Đáp rằng: - Chẳng
dám! Cổ nhân sau khi đại triệt đại ngộ,
thốt nửa bài kệ hoặc nói mấy câu, đều
từ tâm địa chân thật đại quang minh tạng
mà tự
nhiên lưu xuất, chẳng cần phải tư
duy, chẳng phiền tạo tác. Người thời nay có
thể như thế hay chăng? Đầu đời
Minh, tôn túc nói công án có hai loại: Như “con chó có Phật
tánh, vạn pháp quy nhất” v.v… là một loại. Lại
có một loại nói tối hậu cực kỳ sai ngoa, tức
là “một
cái vồ sau ót, tột bậc khó xuyên qua”. Tôi đối
với những câu trước như “con chó, vạn pháp”
c̣n chưa thể chẳng nghi, huống hồ loại cuối
cùng ư? Do đó, chẳng dám mặc sức đoán ṃ,
hư vọng niêm tụng vậy!
* Tụng cổ, niêm cổ (2)
Có người nói: “Ông khiêm tốn đấy
chăng? Bởi lẽ, ông có thể [niêm cổ, tụng cổ,
nhưng không làm], dùng ‘chẳng thể làm’ để dạy
kẻ khác đấy chăng?” Đáp: -
Chẳng phải là khiêm tốn, mà là lời thật t́nh, lời
chân thật. Kinh Lăng Già dạy hai thứ thông là Tông Thông
và Thuyết Thông, nhưng Giáo phần nhiều là hiển
nghĩa, c̣n Tông đa số là mật nghĩa. V́ thế,
[Tông môn] lại nói lời chẳng có
nghĩa vị ǵ. Tôi đối với chỗ thâm huyền
trong Giáo c̣n chưa thể thông suốt trọn vẹn, huống
hồ lời lẽ trong Tông ư? Hơn nữa, cơ duyên
vấn đáp trong Tông môn tuy nói là “lời lẽ chẳng có nghĩa vị”, nhưng vẫn có lúc có chút phần ư
nghĩa có thể nghĩ bàn, có khi trọn chẳng có ư
nghĩa, tợ hồ chẳng có lỗ hổng, dùi sắt
chẳng thể xuyên thấu được! Có khi tợ hồ
thái hư không chẳng thể nắm lấy, sờ mó
được. Có khi giống như mũi chông bằng sắt
chẳng thể nhai, cắn. Có khi giống như khối lửa
lớn chẳng thể đến gần. Có khi như vầng
mặt trời chói rực chẳng thể nh́n vào. Có khi giống
như tỳ sương, hoặc lông vũ chim Trấm, chẳng
thể dính môi, sao có thể hư vọng bàn bạc?
Nêu đại lược một
hai vị cổ nhân: Đức Thế Tôn giơ cành hoa lên,
ngài Ca Diếp lộ vẻ mỉm cười. Tôi nay đă
có thể ngầm hiểu Phật tâm như ngài Ca Diếp
hay chăng? Khách tụng kinh Kim Cang, Lục Tổ ngay lập
tức khế ngộ; tôi nay đă có thể liễu giải
nhanh chóng như Lục Tổ hay chăng? Ngài Lâm Tế gặp
ngài Đại Ngu bèn nói “Phật pháp của Hoàng Bá chẳng
có nhiều con”, tôi nay đă có thể thật sự thấy
“chẳng có nhiều con” hay không? Triệu Châu tám
mươi tuổi c̣n hành cước, bảo là “chỉ
v́ trong tâm chưa lặng yên”, nay tôi đă có thể
trong ḷng lặng yên hay chăng? Hương Nham[96]
gơ trúc vang ra tiếng, bèn nói “nhất kích vong sở tri”
(vừa gơ quên sạch điều đă biết), tôi nay đă
có thể vong tri hay chăng? Linh Vân[97]
thấy hoa đào bèn nói “măi đến hiện thời
bèn chẳng nghi”, tôi nay đă có thể đích xác đạt
đến “chẳng
nghi” hay không? Cao
Phong bị Tuyết Nham hỏi “chủ nhân ngay trong lúc ngủ
mà không mộng” mà chẳng
thể đáp, tôi nay đă có thể đáp câu hỏi ấy
hay không? Lại c̣n đối với chỗ “ba năm gối
rơi xuống đất mà đại ngộ”[98],
tôi đối với câu hỏi ấy đă có đại
ngộ hay chăng? Những điều giống như thế,
chẳng thể nêu trọn. “Nếu có một điều
chưa rơ, tức là những điều khác đều chẳng
hiểu rơ” như ngài
Đâu Suất Tùng Duyệt đă
bảo Trương Vô Tận vậy. Không chỉ là cổ
nhân, dẫu đối với công án của người hiện
thời, tôi cũng chẳng dám khinh thị b́nh luận
đúng sai, hoặc ngạo mạn biếm nhẽ! V́ sao?
Người ngồi trong điện đường mới
có thể biện định người dưới
điện đường là cong hay thẳng; [chính ḿnh] lại c̣n
chưa từng thuộc vào hàng thánh hiền. Than ôi! Đáp lầm
một câu chuyển ngữ, đọa làm thân chồn hoang
năm trăm kiếp; cười cợt lời
đáp của người sáng mắt, thổ tả ba
mươi năm[99].
Vết xe đổ rành rành, dám chẳng thận trọng
sao?
* Tiếp tục nhập tạng
các trước thuật của các hiền nhân
Từ cổ,
các trước thuật ở phương này (Trung Hoa) hễ
được
nhập tạng (đưa vào Đại Tạng
Kinh) đều tuân theo thể thức đă quy định
về việc nhập tạng kinh, luận: Chừng đó
vị Phạm tăng, chừng đó vị tăng người
Hán, chừng đó vị tể quan tinh thông Phật pháp,
cùng họp lại bàn định. Có trước thuật
đáng được nhập tạng mà không được
nhập như Thiên Mục Cao Phong Thiền Sư Ngữ Lục,
Phạm Kỳ Sở Thạch Thiền Sư Ngữ Lục
đầu thời Minh đều là những di cảo trân
quư về chốn có của báu. Những năm gần
đây, lại
nhập tạng bốn mươi mấy hàm, nhưng ngữ
lục của hai vị ấy vẫn bị bỏ sót. Có
những trước thuật chẳng cần nhập mà lại
được nhập, là do một hai vị tăng
đương thời và một hai vị quư nhân xem xét qua
loa rồi tự quyết định, c̣n bậc cao minh chắc
không dự vào chuyện ấy. Than ôi! Các thứ trước
thuật của Thiên Thai
đại sư một trăm năm sau mới được
nhập tạng, há cũng do thời tiết nhân duyên khiến
thành như thế ư? Sau này lại có chuyện nhập tạng
th́ ngữ lục của hai vị ấy cấp thiết
nhất, tôi đặc biệt nêu rơ ra!
* Lời tự nói của các
ngài Nam Nhạc và Thiên Thai
Hai vị
Nam Nhạc và Thiên Thai đều nói “ta do lănh chúng mà tổn
ḿnh, lợi người”. Một vị chỉ chứng
Thiết Luân[100],
một vị chỉ dự vào Ngũ Phẩm. Đó là nói
quyền biến ư? Hay là nói lời thật vậy? Ngu
tôi cho rằng Quyền
hay Thật
th́ hậu học đều chẳng thể lường
được, nhưng người hiện thời đừng
hỏi Quyền,
chỉ dùng Thật
để luận. Bậc thánh sư mà c̣n như thế, huống
phàm phu ư? Như thế th́ sẽ chuyển thành càng thêm
tinh tấn! Không chỉ hai vị là như thế, cổ
nhân đối với chỗ tu tập của chính ḿnh,
cũng nói: “Tôi ĺa thầy quá sớm, chưa thể học
trọn hết cái hay của thầy”. Hoặc nói: “Tôi
trụ viện sớm (ra làm trụ tŕ), chưa thể
đạt tới chỗ này”. Thận trọng như thế
đó, huống hồ các vị thầy trong tông Thiên Thai c̣n
chưa đạt đến Tín vị (các địa vị thuộc
Thập Tín). Người thời nay nếu đại ngộ,
hỏi về địa vị chứng ngộ, nếu thật
sự dự vào Trụ Vị (từ Sơ Trụ trở
lên), ắt sẽ có thể thị hiện tám tướng
thành đạo hay
không? Nếu không, sao lại tự chuốc lấy
tội lớn “hư vọng khoe ḿnh đă chứng thánh”? Khổng
Tử nói: “Ngă phi sanh nhi tri chi giả” (chẳng phải
là ta sanh ra đă biết), lại nói “nhược thánh dữ
nhân, tắc ngô khởi cảm?” (ta sao dám coi ḿnh là thánh
hay bậc có ḷng nhân?) Lại nói “ngô hữu tri hồ tai?
Vô tri dă” (Ta có biết ǵ chăng? Chẳng biết ǵ!) Đấy chính là ư
của hai vị Nam Nhạc và Thiên Thai. Những kẻ huênh
hoang chiếm cứ ngôi vị làm thầy cao ngất, ăn
nói lớn lối chẳng thẹn, có hơn được
hai vị ấy chăng? Đáng sợ lắm thay!
* Đạo chê gièm Thích (1)
Có đạo
sĩ bảo tôi: “Bọn ta đội măo, cài trâm, bọn
ông cạo tóc. Phàm người cạo tóc phải nên ly thế
tuyệt tục, sao lại chen gót trên đường dài? Kẻ rộng
hành quyên mộ, hiếm gặp đạo sĩ, luôn thấy lũ áo thâm! Có
kẻ tay cầm sổ hóa duyên giống như phán quan
trước thần thổ địa. Có kẻ gơ mơ nhịp
nhàng, hát lớn, xướng họa, bàn nói nhân duyên như người
mù tấu nhạc.
Có kẻ khiêng cơng tượng Bồ Tát hoặc tượng
thần, tấu nhạc huyên náo, tán thán khuyên lơn xả
thí như gă hát mướn trong đám ma. Có kẻ cầm nửa
cái chập chơa bằng đồng, dùng đũa tre gơ
như trẻ nít đùa bỡn. Có kẻ lôi xiềng sắt
mấy chục hoặc trăm cân như tội nhân. Có kẻ
vác đá tự đập thân ḿnh giống như kẻ nuốt
hận kêu oan. Có kẻ quần áo chỉnh tề cầm
hương, đi dọc đường lễ bái, lần
theo từng nhà, như lư giáp[101]
kiểm tra hộ tịch. Pháp môn thanh tu chẳng bị
điếm nhục hay sao?” Tôi chẳng đáp được,
thong thả thưa rằng: “Quyên mộ cũng có sai khác. Có
kẻ phi lư, có kẻ hợp lư. Có kẻ nhân chánh, quả
chánh, có kẻ mê muội
nhân quả, chớ nên nhất loạt chê bai, bài bác,
nhưng kẻ chẳng chuyên tâm tu hành cứ chuyên cầu lợi
dưỡng là đáng hận nhất!” Do vậy, tôi ghi lại
chuyện này, mong răn nhắc lẫn nhau!
* Đạo chê gièm Thích (2)
Đạo
sĩ lại nói: “Các cung quán, đạo viện, các miếu
thờ thần đều là chỗ chúng tôi ở, sao
tăng chúng phần nhiều ở trong đó, hiếm thấy
đạo sĩ sống trong chùa Phật. Hễ
quy y Phật th́ ở trong chùa, quy y đạo th́ ở trong
cung, quán, viện, miếu. Nay tăng sống trong những
chỗ ấy là để quy y Tam Thanh[102],
các vị thiên tôn, các vị chân tiên, các vị thần ư?
Hay là muốn chiếm đoạt sản nghiệp của
bọn tôi?” Lời ấy hữu lư, tôi không đáp
được, thong thả thưa rằng: “Thao Quang, Cổ
Linh Ẩn, sao đạo sĩ sống tại đó?"
Đáp: “Đó là chỗ ngụ của người tại
gia tu tập Toàn Chân Giáo, chẳng dính dáng ǵ đến các
đạo sĩ. Huống hồ có một vị tăng cạo
tóc làm chủ tại đó!” Lời ấy hữu lư, tôi lại
chẳng đáp được! Ôi! Nay kẻ làm tăng hoặc
nương náu tùng lâm, hoặc nơi Lan Nhă u cư, hoặc
nương vào vách đá làm nhà, hoặc kết lều tranh
dưới gốc cây, chỗ nào mà chẳng được?
Cứ ắt phải bám vào đạo sĩ để làm
chủ nhân của đ́nh viện”.
* Lợi ích do xuất gia
Cổ đức nói: “Kẻ
tối thắng là người xuất gia tốt đẹp”.
Có câu tục ngữ rằng: “Một người xuất
gia, chín họ sanh lên trời”. Đấy là tán thán việc
xuất gia, nhưng chưa nói rơ v́ sao xuất gia là lợi
ích? Há có phải
là nói tới lợi ích “không cày, không dệt, mà có cơm áo tự
nhiên” ư? Há có phải là nói tới lợi ích “chẳng tậu
nhà, chẳng thuê pḥng, mà tự nhiên được an cư”
ư? Há có phải là nói tới lợi ích “được
vua, quan hộ pháp, tín thí cung kính, trên th́ không phải làm lao dịch
cho quan, dưới là chẳng bị quấy nhiễu bởi
dân, mà tự nhiên thanh nhàn, vui sướng” ư? Cổ nhân
có bài kệ rằng: “Một hạt gạo thí chủ, to
như núi Tu Di. Nếu vẫn chẳng liễu đạo,
mang lông, đội sừng đền”. Lại nói: “Ngày
sau ông cụ Diêm vương tính tiền cơm của
ngươi, coi ngươi ứng phó thế nào?” Đấy
chính là họa hoạn to lớn ẩn tàng của người
xuất gia, huống hồ lợi ích ư? Nói tới lợi
ích của xuất gia chính là phá phiền năo, đoạn vô
minh, đắc Vô Sanh Nhẫn, thoát khỏi nỗi khổ
sanh tử. Đấy chính là điều tối thắng
trong nhân gian và cơi trời, mà cha mẹ và ḍng họ
được hưởng ân trạch ấy. Nếu không,
dẫu giàu có chất đống ngàn rương, quư hiển
làm thầy của bảy vua[103]
có lợi ích chi đâu? Tôi hết sức lo lắng, sợ
hăi, bèn dùng chuyện này thưa bày với những người
cùng nghiệp vậy!
* Thế tục hứa nguyện
Người
đời khẩn cầu có con nối dơi, cầu kéo dài mạng
sống, cầu tiêu tật bệnh, cầu giải trừ
tai nạn, cầu đạt được công danh, cầu
nhà cửa yên vui, cầu tăng thêm tài sản, đối với
các chuyện như thế, điều thứ nhất là chớ
nên hứa hẹn sẽ giết mổ các con vật. Đó
gọi là ác nguyện, có nghiệp, chẳng có công hiệu
ǵ! Dẫu
được toại ư th́ chỉ là tốt
đẹp nhất thời, khổ báo sau này. Thậm chí hứa
dâng áo bào, cúng phan, hứa tạo điện phủ, hứa
dâng các đồ thờ, tuy khác với sự cúng kiếng
bằng đồ mặn trên đây, nhưng đại bi
b́nh đẳng gọi là Phật, chánh trực chẳng
thiên vị th́ gọi là thần, há có lẽ nào do được
hối lộ mà giáng phước ư? Dẫu được
toại ư th́ cũng do trong mạng [của người hứa
nguyện] vốn
sẵn có mà đạt được, chẳng
phải do sức hứa nguyện. Dựa trên lư để
luận, chỉ do rộng làm các điều thiện mà
thôi! Trung với vua, hiếu với cha mẹ, thương
xót người nghèo, yêu mến người già, cứu
người gặp tai ách, giúp kẻ khổ sở, kiêng giết,
phóng sanh, đủ loại âm chất, đủ mọi phương
tiện, tùy theo sức làm được, đều tận
lực thực hiện. Do công năng của thiện sự
cảm vời, theo đúng lẽ, ắt giáng cát tường. Nếu
chẳng được toại ư, hăy nên quy vào thiên mạng,
biết là túc duyên, đừng oán, đừng hờn, càng
làm thêm thiện sự, chẳng lui sụt, hối hận!
* Đại hiếu xuất
thế gian
Hiếu thế
gian có ba, hiếu xuất thế gian có một. Hiếu thế
gian là quây quần bên cha mẹ, hầu hạ, chăm sóc,
dùng đồ ăn ngon ngọt để nuôi song thân. Hai là
đỗ đạt, làm quan, dùng tước lộc để
cha mẹ vinh hiển. Ba là tu đức, tận tụy hành
để thành thánh, thành hiền, ḥng rạng rỡ cha mẹ.
Ba điều ấy được thế gian gọi là hiếu.
Hiếu xuất thế gian là khuyên cha mẹ trai giới, phụng
sự đạo, nhất tâm niệm Phật, cầu nguyện
vãng sanh, giă biệt măi măi tứ sanh, từ biệt lâu
dài sáu đường, gởi thân nơi thai sen, thân cận
Phật Di Đà, được bất thoái chuyển. Phận
làm con báo đáp cha mẹ như thế là to lớn. Tôi
xưa kia vừa mới nhập đạo, song thân liền
mất, viết bài Tự Thương Bất Hiếu Văn để
giăi bày nỗi bi hận. Nay thấy hai chúng tại gia và xuất
gia có người may mắn cha mẹ c̣n đủ; do vậy,
càng thêm cảm khái, nước mắt đầm đ́a, dập
đầu, cụng trán khuyên lơn!
* Kinh Phụ Mẫu Ân Trọng
ngụy tạo
Có hai kinh ngụy
tạo, đề tựa là Phụ Mẫu Ân Trọng v.v… Nội
dung chẳng hoàn toàn giống như nhau, nhưng đều
giả mượn tên các vị dịch kinh thời cổ.
Hai người bạn tôi mỗi vị khắc in một bản.
Hai người bạn ấy đều là bậc trung hiếu,
thuần chánh, thấy các kinh ấy khuyên hiếu, chẳng
suy xét là ngụy tạo. Nếu nói: “Cốt sao khuyên hiếu
thảo mà thôi, tợ hồ chẳng cần phải biện
định chân hay ngụy”.
Tôi nói: - Ông chỉ biết một
điều lợi, mà chẳng biết hai điều hại.
Một điều lợi th́ đúng như ông đă nói:
Khuyên mọi người thực hiện đạo hiếu,
há chẳng phải là chuyện tốt đẹp ư? V́
thế nói là một điều lợi. Hai điều hại
là ǵ? Một là người trọn chẳng tin Phật
trông thấy [các kinh ấy], sẽ càng thêm báng bổ: “Lời
Phật nói quê mùa dường ấy, các kinh khác [suy ra]
cũng biết!” Bèn coi pháp bảo vô thượng rất
sâu trong Đại Tạng cũng giống hệt như thế,
càng tăng thêm tội khiên cho họ! Đấy là một
điều hại. Hai là người trọn tin Phật,
chỉ có tín tâm, chưa từng xem rộng nội điển,
thấy lời đàm luận quê mùa trong đó, cũng sẽ
khởi nghi. Do vậy, nói “kẻ báng Phật chưa chắc
đă đều sai”, dấy động Hoặc chướng
của họ. Đó là hai điều hại. Hại nhiều
mà lợi ít! Huống hồ khuyên hiếu thảo đă có
kinh Đại Phương Tiện Báo Ân và kinh Vu Lan Bồn,
đủ mọi lời chân thật do đức Phật
nói được lưu truyền trong thế gian, sao lại
giữ lấy thứ ngụy tạo?
* Tu hành chẳng phải do xuất
gia
Xưa kia,
tôi sắp xuất gia, có đạo sĩ bảo tôi: “Chẳng
bắt buộc phải xuất gia, chỉ cốt sao có
được một vị thầy tốt”. Khi đó,
tâm tôi gấp gáp mong xuất gia, bỏ mặc lời ấy
chẳng bàn đến. Sau khi xuất gia, nghĩ ông ta chú trọng
kéo dài tuổi thọ, tu dưỡng sắc thân, được
truyền dạy lưu lại thân h́nh sống lâu là đủ
rồi, cần ǵ xuất gia? Kẻ làm tăng muốn phá
Hoặc, chứng trí, trên là cầu Phật quả, dưới
hóa độ chúng sanh, tức là cổ đức đều
bỏ nhà, ĺa tục, làm sa-môn. Hơn nữa, kẻ có chí cầu
kim đan đại đạo cũng cần phải xuất
gia, tức là lời ông ta nói chưa đúng lư. Nay xem người
hiện thời, có người trước khi xuất gia,
khá có tín tâm, sau khi xuống tóc, khoác áo nhuộm, dần dần
dính dáng duyên đời, trở thành thoái đọa, tức
là đâm ra chẳng bằng tại gia phụng dưỡng
cha mẹ, dạy dỗ con cháu, tôn một vị thầy tốt
chỉ dạy, hướng dẫn chánh pháp, nương
theo đó mà hành, làm đệ tử tại gia chân thật của
Như Lai, cần ǵ giả danh A-luyện-nhă? Như vậy
th́ lời ông ta nói cũng rất có lư, lại chớ nên
không biết!
* Kế bất hủ
Người
đời đem thơ văn đă trước
tác suốt một đời gom thành một tập, xin các
vị nổi tiếng viết lời tựa và lời bạt,
nói: “Lấy đó làm kế bất hủ”. Ôi! Cổ nhân ắt
cũng là danh rền vũ trụ, rạng ngời nơi
tai mắt mọi người th́ trước thuật của
họ mới được truyền đến nay. Hạng
kém hơn th́ sau khi đă mất, cùng cực là trong mấy
chục năm, giấy mực có khi đem bịt ṿ, ván khắc
có thể đem đốt ḷ, lẽ đâu bất hủ? Ắt
cũng
có kẻ khắc lên đỉnh, vạc, tạc trên
bia đá, mấy trăm năm sau, chẳng thấy c̣n lại
được mấy! Ngay như văn chương của
Khổng Tử, điển mô huấn cáo của nhị
đế, tam vương truyền tụng muôn đời
chẳng bị khuất lấp, nhưng lúc tam tai dấy
lên, đại địa, Tu Di, cung điện của
chư thiên, thảy đều nát thành vi trần, trống
rỗng như thái hư, c̣n đâu nữa mà bất hủ?
Thật sự bất hủ là cái tâm bất sanh bất diệt
đó chăng? Đấy chính là cái có trước trời
đất, không có khởi đầu, sau trời đất
mà không có kết thúc. Loan pháp sư (ngài Đàm Loan) nói: “Đấy
chính là thuật trường sanh của đức Kim Tiên ta”. Tôi
cũng nói: “Đấy là cái được gọi là bất
hủ của đấng Đại Hùng”. Sao chẳng vứt
bỏ những thứ đồ vật ắt hư nát
trong cơi đời để cầu cái chánh tri kiến thật
sự chẳng hư nát vậy? Chẳng dùng kế ấy,
cứ nhọc nhằn cái tâm, th́ tức là tính kế
cũng sơ sót quá!
* Con người chẳng nên
ăn thịt chúng sanh
Kinh dạy:
“Ngoa, cừu
đẳng vật, giai bất ưng trước” (Các vật
như giầy da, áo lông v.v… chớ nên dùng). Do hằng
ngày khá gần gũi với các con vật nuôi. Đó là những
thứ khoác bên ngoài, huống hồ ăn thịt bèn nhập
vào trong thân ư? Người hiện thời coi chó, lợn,
trâu, dê, ngỗng, vịt, cá, ba ba là thức ăn, trọn
đời chẳng cảm thấy là sai, v́ sao? Thức
ăn lọt vào dạ dày, tinh khí đầy tràn quy vào tỳ,
chất cặn bă lọt vào ruột non, ruột già, mà chất
tinh túy sẽ vun bồi tạng phủ, tăng trưởng
gân, thịt.
Do tích tụ lâu ngày, toàn thân đều là thân chó, lợn,
trâu, dê, ngỗng, vịt, cá, ba ba. Cái thân do cha mẹ sanh ra
nay biến thành loài khác rồi, đời sau sẽ như
thế nào đây? Ngũ cốc[104]
để dinh dưỡng, năm loại rau để bổ sung, năm loại quả để giúp, Nội
Kinh[105]
nói như thế đó. Con người ăn những thứ
đó cũng đủ rồi, sao c̣n dùng thịt để
ăn làm chi? Đó gọi là “con người chẳng nên
ăn thịt”.
* Ba lượt cật vấn
Tịnh Độ
Một
người hỏi: “Thích Ca Như Lai lấy ngón chân nhấn
xuống đất, liền thành kim sắc thế giới.
Đức Phật đă có thần lực như thế,
sao không biến đổi cơi Sa Bà là chỗ đất,
đá, các núi, dơ bẩn đầy dẫy lập tức
thành cơi Cực Lạc trang nghiêm bằng bảy báu, mà cứ
ắt phải dạy chúng sanh rong ruổi cơi Phật xa thẳm
ngoài mười vạn ức?”
Ôi! Phật chẳng thể
độ kẻ vô duyên, ông có biết hay chăng? Tịnh
duyên cảm Tịnh Độ; tâm chúng sanh bất tịnh,
dẫu có Tịnh Độ, do đâu mà được
sanh? Ví như do Thập Thiện mà sanh lên trời, tức
là biến địa ngục thành thiên đường, c̣n
chúng sanh thập ác, Như Lai duỗi cánh tay kim sắc lôi
kéo, bọn họ trọn chẳng thể lên cơi ấy
được! V́ vậy, thế giới kim sắc trong sát-na,
đức Phật thâu nhiếp thần lực, vẫn là
Sa Bà y hệt!
Lại có người hỏi:
“Kinh dạy chí tâm niệm A Di Đà Phật một tiếng,
diệt được trọng tội trong tám mươi ức
kiếp sanh tử; đấy là luận theo Sự, hay luận
theo Lư?” Ôi! Kinh
dạy “nhất
xưng nam-mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo” (niệm nam-mô Phật một tiếng,
đều đă thành Phật đạo). Lại
nói “lễ Phật nhất bái, tùng kỳ túc chí kim cang tế,
nhất trần nhất Chuyển Luân Vương vị” (lễ Phật một lạy,
từ gót chân cho tới kim cang tế, cứ mỗi vi
trần là một địa vị vua Chuyển Luân). Nay chẳng
cần phải luận đó là Sự hay Lư, chỉ chú trọng
hai chữ “chí tâm”. Chỉ sợ
tâm chẳng chí thành, đừng lo tội chẳng diệt!
Sự như thế mà Lý cũng như thế. Lý
như thế mà Sự cũng như thế, há đáng nghi
ư?
Lại có một người
hỏi: “Có một người suốt đời siêng ṛng
niệm Phật, lâm chung một niệm lui sụt, hối
hận, bèn chẳng được văng sanh. Có một
người suốt đời tích chứa sự ác, lâm
chung phát tâm niệm Phật, bèn được văng sanh. Sao người
lành lại ngược ngạo chịu thiệt, c̣n kẻ
ác đâm ra được lợi?” Ôi! Tích ác mà lâm chung chánh
niệm, đó là một
người trong ngàn vạn người. Nếu chẳng
phải do thiện căn đời trước, lâm chung sẽ
bị đau khổ bức bách, hôn mê, lầm loạn, sẽ
do đâu mà có thể
phát khởi chánh niệm? Người lành lâm
chung thoái thất, hối hận, cũng là một người
trong ngàn vạn người. Dẫu có đi nữa, ắt
cũng là phường cả đời niệm Phật hời
hợt, chẳng phải là siêng ṛng! Chuyên ṛng th́ tâm chẳng
tạp loạn, siêng năng th́ tâm chẳng gián đoạn,
sẽ do đâu mà sanh thoái thất, hối hận? Tức
là kẻ ác hăy gấp nên tu tỉnh, đừng vọng
tưởng lâm chung có sự may mắn ấy! Người
chân tâm cầu Tịnh Độ chỉ tự càng thêm siêng
ṛng, đừng lo lâm chung bị thoái thất, hối hận!
* Dùng hạt đậu để
niệm Phật
Tăng có
người quyên mộ đậu nành từ thí chủ, cứ
mỗi tiếng niệm Phật, là bốc ra một hạt
đậu. Một người làm vậy, người khác
bắt chước theo, gọi là “đậu nhi Phật
sư phụ” (vị thầy dùng hạt đậu
để niệm Phật). Đức Thế Tôn dạy
người niệm Phật, chế ra xâu chuỗi, sao chẳng
tuân theo chế định của Phật, chẳng làm chuyện
đỡ tốn sức mà lại làm chuyện tốn sức
này? Một trăm lẻ tám hạt, hết một ṿng lại
khởi từ đầu, cho đến trăm, ngàn, vạn,
ức vô tận. Nay dùng một hộp đậu,
giáp ṿng trở lại từ đầu, cũng sẽ vô tận,
cớ sao niệm qua một hạt đậu, bèn bỏ ra, chẳng
dùng tới nữa, đổi sang một hạt mới?
Người ấy nói: “Niệm từ đấu tới
thạch[106],
đưa sang các am, chùa để làm đậu phụ cúng đại chúng” cũng
là viễn vông. Hoặc nói: “Cổ nhân có người làm
như thế, như trong Văng Sanh Tập đă chép”. Đáp:
“Đấy chẳng phải là đếm đậu.
Người bên cạnh tính đếm người ấy
niệm Phật số nhiều chẳng thể tính, ước
lượng sẽ đầy hai thuyền chở
lương. Nay thuyền chở lương to có thể chở
một ngàn thạch gạo. ‘Hai thuyền’ tức
là nói cực nhiều, chẳng phải là đếm đậu
như người hiện thời thật sự đếm
đậu. Dẫu thật sự đếm đậu,
tâm họ cũng chẳng giống như người hiện
thời”.
* Chân Cáo
Đối với sách Chân Cáo[107], những
điều khác chẳng luận, nhưng Tào Tháo mà
được xếp cùng với các bậc thánh quân thời
cổ như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang vào hàng thiên thần,
tôi chẳng thể không nghi! Chắc có kẻ nói: “Vua Diêm La
vừa lên điện báu th́ thị vệ nghiêm ngặt
đông đảo, vừa nuốt ḥn sắt th́ chi thể cháy
tan, sao biết Tào Tháo chẳng sớm tại thiên đường
mà tối trong địa ngục ư?” Chẳng phải vậy!
Diêm vương lúc c̣n sống cũng tu phước, nhưng cũng tạo
tội, cho nên quả báo như thế. Tào Tháo làm người
toàn điều ác, chẳng có điều thiện, há có
được tội phước song báo như Diêm
vương? Hoặc c̣n có cách
nói khác, nhưng ngu tôi không biết. Dựa theo lư để
b́nh luận, nếu
thật sự là như thế, sao có thể dùng ǵ để
lạnh lẽo lá gan của lũ loạn thần tặc tử,
cũng như răn nhắc lũ đại gian dối,
hết
sức giảo hoạt? [Người tin vào cách nói trong sách Chân Cáo] cũng thuộc
loại trọn tin vào sách, chẳng bằng không có sách vậy!
* Hiện báo (1)
Báo có ba loại:
Một là đời này làm ác, thọ báo ngay trong đời
này. Hai là đời này làm ác, thọ báo trong đời thứ
hai (đời kế tiếp). Ba là đời này làm ác,
đời thứ hai chưa báo, nhiều đời sau mới
thọ báo. Làm lành cũng thế, báo nhanh hay chậm, mỗi
việc đều có duyên và nhân; nhưng người đời
thấy kẻ ác chẳng thọ báo, hoặc càng hưng thịnh
hơn, bèn phẫn uất, bất b́nh, do chẳng biết tới
cái thuyết ba đời.
Hai loại báo sau con người
chẳng kịp thấy, chỉ coi trọng hiện báo. Nay
tôi chỉ ghi lại chuyện hiện báo, chính mắt thấy,
chứ không phải nghe kể. Một người hay
đánh đập tôi tớ, hở ra là đập cả
trăm roi. Một hôm, hắn cột cổ một đứa
đầy tớ vào trụ bên Đông, cột chân vào trụ
bên Tây, khiến cho kẻ đó không có cách nào giăy giụa, trừng phạt đau đớn chẳng
ngừng. Cha hắn hết sức giận dữ, sấn
đến tháo ra, căn dặn: “Ngươi đi nhanh
đi, nếu nó tố cáo ngươi bỏ trốn, ta sẽ
tố cáo nó ngỗ nghịch”. [Đầy tớ] liền
được sống sót trở về. Về sau, hắn
ta (gă
đánh đập tôi tớ) cũng đem
con ḿnh bán vào nhà người khác, c̣n tự ḿnh làm người
giữ cửa cho bọn lư dịch.
Lại có một người
b́nh sanh đánh đập người khác như quan phủ [tra khảo phạm nhân], về
sau cũng bị quan phủ hành h́nh, chết trong tù ngục.
Một người là vợ của một kẻ gia sản
bậc trung, nhưng hoang phí khôn xiết. Về sau, con cái chết
sạch, về già không ai nương cậy, phải đi
may vá cho
người khác để sống qua ngày. Một kẻ
khác là con nhà quan quyền quư, kiêu ngạo, xa xỉ, buông lung,
ăn chơi, phung phí chẳng biết hổ thẹn. Về
sau, phải theo các du tăng khất thực, xin ăn khắp
các phương. Một người hủy báng, chê trách
thiên thần chẳng hề kiêng nể. Về sau, bị
thôn dân đánh đập, mang bệnh mà chết. Một người
rủa xả Như Lai và các vị hiền thánh, khiến
cho mọi người đều chẳng nỡ nghe, bỗng
chết rấp nơi đất khách, chẳng trở về
được! Một kẻ giận mẹ chẳng giao lại
tài sản, bẻ găy một cánh tay của tượng Quán
Âm đại sĩ do mẹ đang thờ. Về sau, hắn
cưỡi ngựa trên bờ hồ, ngă găy tay, gần
chết. Lại có một người sanh được bảy
gái, bảy trai. Hễ sanh con gái, con vừa lọt ḷng, mẹ liền
nhấn nước giết chết. Bảy đứa con
trai trước sau nối tiếp nhau cũng chết. Mười
bốn đứa con vừa trai vừa gái, không đứa
nào c̣n sống, chỉ có vợ chồng già đối diện
nhau khóc ṛng mà thôi! Lại
có mấy người xuất gia, ngă mạn tự cho là hiền,
phàm người đương thời hễ có ngôn luận
ǵ đều nhất loạt quở trách là sai bét, lại
c̣n khinh miệt tiên triết, hư vọng hủy báng. Về sau, họ đều
chẳng thọ, hoặc là bệnh ngặt mà chết. Chỉ
ghi lại như thế để cảnh tỉnh kẻ
cuồng ngạo.
* Hiện báo (2)
Chắc là
có người hỏi: “Như Lai thần lực chẳng
thể nghĩ bàn, sao chẳng khiến cho kẻ ác hứng
chịu ác báo trong hiện thời, khiến cho họ hằng ngày run sợ
chẳng dám làm ác, người lành đều hưởng
thiện báo trong hiện tại, hằng ngày sẽ càng gắng
sức làm lành gấp bội. Như thế th́ không làm ǵ
mà thiên hạ thái b́nh, lo ǵ chẳng đạt được?”
Than ôi! Báo có nhanh hay chậm, do nghiệp báo của chúng sanh
tự nhiên như thế, dẫu là bậc đại thánh cũng chẳng
thể chuyển báo nhanh thành chậm, hoặc thúc chậm
thành nhanh được. Chỉ đành ra rả răn bảo
rằng “nhân quả chẳng hư huyễn, báo đền
khó thay đổi được!” Kẻ nghe mà chẳng
tin, cũng chẳng thể làm ǵ được. Hỏi:
Ngài Vĩnh Gia nói: “Liễu ngộ th́ nghiệp
chướng vốn là không”, đă là
không th́ nhân quả báo đền sao có?” Đáp: Nay ông đă liễu ngộ hay
chưa? [Kẻ đó] trả lời: “Chưa liễu ngộ”.
“Chưa liễu ngộ th́ phải đền trả nợ
cũ”.
* Người niệm Phật
chỉ cốt sao nhất tâm bất loạn
Nếu hỏi:
“Ngài Diệu Hỷ nói: ‘Kẻ ngu suốt ngày lần chuỗi
cầu tịnh nghiệp’, niệm Phật quả thật
là chuyện của kẻ ngu làm ư?” Ôi! Trước kia,
tôi đă từng biện định rồi. Ngài Diệu
Hỷ chỉ nói “người ngu suốt ngày lần chuỗi
cầu Tịnh nghiệp”, chẳng nói “kẻ ngu suốt
ngày nhất tâm bất loạn cầu tịnh nghiệp”!
Lại hỏi: “Cổ đức có kệ rằng: ‘Thành
Phật hiếm người niệm Phật nhiều, niệm
đă lâu năm bèn thành ma. Ông nay muốn được dễ
thành Phật, cái tâm vô niệm chẳng lo nhiều’. Cứ
vô niệm mà niệm Phật, sao lại cứ dùng hữu
niệm để niệm Phật?” Đáp: “Đấy là lời
khuyên lơn, khơi gợi dành cho kẻ tán tâm niệm Phật
mà chẳng quán tâm, chẳng nói nhất tâm bất loạn
lâu năm bèn thành ma! Chưa từng niệm Phật mà
đă lo trước hữu niệm, ví như kẻ đói
muốn ăn, bèn lo trước bị no ph́nh bụng chẳng
thể ăn nổi!”
Lại hỏi: “Lục Tổ
nói: ‘Người phương Đông làm ác, niệm Phật
cầu sanh phương Tây’. Ư chỉ như thế nào?”
Đáp: “Lục Tổ nói người ác niệm Phật cầu
sanh, chẳng nói thiện nhân niệm Phật nhất tâm bất
loạn cầu sanh. Hơn nữa, kẻ ác ắt chẳng
niệm Phật. Họ có niệm Phật th́ là hư ngụy,
chẳng phải là thật sự niệm. Ví như [nói ví
von] kẻ ác tu Thập Thiện cầu thiên đường,
kẻ ác ắt chẳng tu Thập Thiện; có kẻ
ác nào tu Thập Thiện th́ là hư ngụy, chẳng phải
thật sự tu! Chưa từng
có người lành nhất tâm niệm Phật mà chẳng
sanh về Tây Phương”.
Lại hỏi: “Cổ đức
nói ‘xả uế giữ tịnh là nghiệp
sanh tử’, sao lại bỏ Sa Bà cầu
Cực Lạc?” Đáp: “Họ nói xả uế giữ tịnh
là nghiệp sanh tử, chẳng nói nhất tâm bất loạn
giữ lấy Tịnh Độ là nghiệp sanh tử. Ông
chưa bỏ uế, mà trước hết đă lo giữ
lấy tịnh, giống hệt như kẻ trước
đó đă lo hữu niệm vậy!”
Lại hỏi: “Thiền Tông
nói ‘một chữ Phật, ta chẳng thích nghe’. Lại
nói: ‘Phật đến cũng giết, ma đến
cũng giết’, cớ ǵ niệm Phật?” Ôi! Họ nói
“một chữ Phật ta chẳng thích nghe”, chẳng nói “nhất
tâm bất loạn ta chẳng thích nghe”. Họ nói “Phật
đến cũng giết, ma đến cũng giết”,
chẳng nói “nhất tâm bất loạn đến cũng
giết”. Quy về nguồn th́ chẳng hai, phương tiện
có nhiều môn. Do vậy, về đến nhà th́ là một,
thuyền và xe mỗi đằng mỗi đi. Dùng thuyền
để cười xe, do xe mà cười thuyền, đều
thành hư luận; lư ấy tự sáng tỏ, chẳng phiền
rườm lời!
Lại hỏi: “Gần đây
có người nói: Ta không niệm Phật, do trong là có cái tâm
niệm, ngoài là có đức Phật được niệm,
tức là Năng và Sở chưa mất, sao gọi là đạo
cho được?” Ôi! Kẻ đó riêng coi giữ lấy sự
trống vắng là đạo ư? Trong có cái tâm tĩnh,
ngoài có cái cảnh bị tĩnh, cũng chẳng phải là
Năng và Sở rành rành ư? Sao chẳng nói: Nhất tâm bất
loạn th́ cái ǵ là Năng,
cái ǵ là Sở, ǵ
là trong, ǵ là ngoài? Tôi và ông đă tu Tịnh Độ, chỉ
lo chẳng đạt đến cảnh giới nhất
tâm bất loạn. Nếu nhất tâm bất loạn, mặc
kệ kẻ khác ngàn cách chê, vạn cách báng, sẽ ṿi vọi
bất động như núi Thái, c̣n ngờ chi nữa?
* Tu phước
Cổ nhân
có nói kệ rằng: “Tu huệ, không tu phước. La Hán
ứng cúng ít. Tu phước, không tu huệ; thân voi đeo
anh lạc”. Có người chuyên chấp vào hai câu đầu,
suốt ngày lo toan siêng năng quyên mộ, hóa duyên, nói “tôi tạo
tượng Phật, tôi dựng điện thờ, tôi cúng
trai tăng”. Đấy tuy đều là một môn trong vạn
hạnh, nhưng có hai điều cần nói: Một là nhân
quả chẳng thể không rơ ràng. Hai là chuyện của
chính ḿnh chẳng thể không lo liệu trước! Chắc
có người nói: “Nếu đúng như ông nói th́ tượng
Phật hư nát, ai sẽ tu bổ? Tháp, chùa hư sụp,
ai sẽ tạo lập? Tăng chết đói trên
đường chẳng có ăn, ai sẽ cứu giúp? Ai nấy
chỉ lo chuyện của ḿnh, Tam Bảo sẽ thành hoang
vu!”
Đáp: - Chẳng phải
vậy! Chỉ lo Nhất Thể Tam
Bảo hoang vu thôi! Chứ thế gian Tam Bảo kể từ
khi Phật pháp truyền nhập Trung Hoa tới nay, người
tạo tượng Phật, dựng điện đường,
trai tăng, không lúc nào ngớt, chỗ nào cũng đều
mong ngóng, cần ǵ phiền ông riêng lo nghĩ quá mức? Tôi
chỉ riêng cảm khái Tăng lo toan các chuyện mà mê muội
nhân quả, chẳng sợ tội phước, ắt sẽ
giảm bớt thường trụ, cất giấu của
tín thí chẳng màng! Dẫu cho vị Tăng giữ phận, nhưng chưa
am hiểu Luật học, chỉ biết ta chẳng lén nhập
riêng [của thường trụ] thành của chính ḿnh là
được rồi, bèn dời Đông sang Tây, lấy
đằng này bù đắp đằng kia, hoặc là dùng để
trả nợ gấp, hoặc đem biếu tặng kẻ
tục gia. Chẳng biết [không thể] đem tiền mua
gạch để mua ngói, đem tiền mua thực phẩm
của Tăng để kiến tạo điện
đường, oan uổng siêng khổ mà trở thành ác
báo, tức là thiên đường chưa tới, địa
ngục đă thành trước. Đó gọi là “chẳng có
công mà mắc họa”. Trung Phong đại sư giáo huấn
đại chúng rằng: “Nhất tâm vạn hạnh làm gốc,
muôn hạnh có thể theo sau”, tức là nói chuyện của
chính ḿnh phải lo liệu trước! Chuyện của
chính ḿnh đă lo liệu xong, bèn làm phước, việc làm
sẽ tự nhiên đạt được. Lời ấy
chí lư thay! Người làm tăng hăy nên ghi tạc ḷng dạ
vậy!
* Thử thách để xét nghiệm
Cơi đời
truyền tụng Chung Ly chân nhân (Chung Ly Quyền) tới chỗ
Lữ Động Tân, thử thách mười lần rồi
mới truyền dạy đạo tiên. Ghi đại
lược mấy chuyện: Thoạt đầu dùng tài vật
để thử, kế đó dùng sắc để thử,
kế đó dùng thân mạng để thử. Đấy
là những chuyện mà người thực hành pháp thế
gian vẫn có thể làm được. Lại c̣n một
chân nhân cần phải trải qua quá tŕnh luyện dược
(tu luyện nội đan) [để đắc đạo],
nhiều lượt biến hiện điều lạ,
đích xác là kiên tŕ, tới khi đứa con thơ rơi
xuống đất kêu thất thanh, [vị chân nhân ấy]
bèn thất bại. Nhưng đấy vẫn là chuyện
người vong t́nh trong thế gian có thể làm được!
Xưa kia, đức Thế
Tôn làm Bồ Tát, có Bà-la-môn xin vợ chồng cả hai người
làm nô bộc. Khi đó, đức Thế Tôn thân làm Thái Tử
liền cùng với vương phi, nam th́ nhập vào bọn
đầy tớ nam, nữ th́ nhập vào bọn đầy
tớ nữ, tận tụy trung thành kiệt lực, đủ
mọi nỗi nhọc nhằn, vất vả mà chẳng
oán. Ngài lại c̣n cắt thịt nơi thân để đền
cho chim ưng, khoét thân [thành nhiều lỗ để] thắp
ngàn ngọn đèn ḥng cầu pháp, tức là không chỉ khó
khăn đối
với người trong thế gian, đấy cũng là những
điều hàng sơ phát tâm Bồ Tát chẳng thể sánh kịp! Do vậy,
ngài Xá Lợi Phất gặp kẻ xin mắt, liền
thoái Đại trở về Tiểu. Bồ Tát đạo
khó thành như thế đó.
Hiện thời, đối với
các thử thách của Lữ Động Tân, mười
trường hợp cả mười đều thua bại,
huống hồ làm nô bộc, huống hồ cắt thịt,
khoét mắt, các khổ hạnh ư? Than ôi! Đấy là cảnh
giới của bậc đắc nhẫn đại
sĩ, hạ phàm có thể mong ngóng ư? Chỉ là chẳng thể
không dùng những chuyện ấy để khích lệ phàm
tâm vậy!
* Lục quần tăng
Lục quần
tăng[108] bị
Như Lai quở trách, bị các đại đệ tử
xem thường, nhưng những vị được cổ
nhân gọi là Lục Quần thời đức Phật, vẫn
hiền hơn các vị Bồ Tát như Mă Minh, Long Thọ
sau khi đức Phật nhập diệt, đó là như
thế nào vậy? Than ôi! “Phu tử thường dă Trọng
Do, công Nhiễm
Hữu, tiểu
nhân Phàn Tu, cụ thần Do chi dữ Cầu hỹ” (Khổng
Tử từng chê Trọng
Do (Tử Lộ) chẳng thông đạt quyền biến,
chỉ trích Nhiễm Hữu [phù tá quyền thần Quư Khang tom góp tài sản],
chê Phàn Tu chẳng
có chí hướng to lớn [v́ chỉ thích học trồng
trọt, không học đạo đức nhân nghĩa].
[Nhưng khi có người hỏi về tư cách và tài
năng th́ Ngài nói] xứng đáng làm bầy tôi giỏi giang
chỉ có Trọng Do và Nhiễm Cầu). Những người ấy trong hiện
thời đều được coi là cầm đầu hiền
đức trác tuyệt hiếm có trong cơi đời. Những
vị tể phụ lừng danh thời cổ như Tiêu
Hà, Tào Tham, Cung Toại, Hoàng Bá,
Pḥng Nguyên Linh, Đỗ Như Hối, Diêu Sùng, Tống
Lương, Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yêm, Phú Bật, Âu
Dương Tu chưa chắc có thể sánh bằng! Sao lại
ngờ Lục Quần? Do vậy biết: Năm trăm
năm đầu tiên, năm trăm năm kế đó, lần
lượt kế đó, sau năm trăm năm giải
thoát cho đến đấu tránh lâu dần, ĺa xa dần,
càng ngày càng đi xuống. [Sách Hoài Nam Tử viết]: “Vũ gia[109], phượng
hoàng, rồi đến chim thường”, chẳng
phải là lời hư dối, sao chẳng than thở ba
lượt? Tuy vậy, Tử Dư Thị nói: “Hào kiệt chi sĩ, tuy
vô Văn Vương do hưng” (Bậc hào kiệt
tuy chẳng có Văn Vương vẫn hưng khởi). Nếu
đúng như lời ấy, chúng sanh hết sức may mắn,
tôi cũng hằng ngày mong mỏi.
* Sự rèn luyện của
tăng sĩ học kinh tạng
Một Nho
sĩ nói với tôi: “Chúng tôi ôm tráp theo học, ắt phải
có thúc tu[110] dâng thầy,
lại c̣n phải nộp gạo làm học phí để
giúp đỡ chủ nhân. Nay tăng sĩ học kinh tạng
đă được xem kinh điển của thường
trụ, chẳng hề giúp đỡ thường trụ,
mà ngồi
yên hưởng cúng dường. Lại
c̣n mỗi quư được biếu tặng năm đồng,
chuyện này giải thích như thế nào?” Tôi cười
đáp: - Ông vẫn chưa biết chuyện trong thời kỳ
rèn luyện phải không? Trong kỳ hạn mùa Đông, trước
tiên phải lo liệu một thạch gạo cho thường
trụ, ngày đêm bị thúc ép niệm Phật, không lúc
nào nghỉ ngơi. Mỗi ngày vẫn phải vác củi, có khi [phải đẵn
củi] xa ngoài mười mấy dặm, [trừ phi] đả
thất th́ mới được tạm miễn; sao
chẳng dời sự cúng dường cho vị tăng học
kinh tạng sang cúng dường những hành nhân khổ công
tu đạo ấy? Tăng hiện thời điên đảo
tới mức như thế đó, chỗ nào cũng đều
là như vậy, tôi cũng chẳng biết nói như thế
nào nữa!
* Mộng thế gian
Cổ nhân
nói “xử thế nhược đại mộng” (ở
trong cơi đời như giấc mộng lớn), kinh dạy
“khước lai quán thế gian, do như mộng trung sự”
(trước nay nh́n thế gian, như chuyện trong giấc
mộng). Dù nói là “nhược” hay “như”, đều
là bất đắc dĩ nói thí dụ đó thôi. Xét cùng cực
để nói, sẽ là giấc mộng thật sự, chẳng
phải là thí dụ. Đời người từ trẻ đến
tráng niên, từ tráng niên đến già, từ già đến
chết, khoảnh khắc này vào một bào thai, khoảnh khắc
sau lại thoát khỏi một bào thai, khoảnh khắc lại
nhập rồi lại
xuất, chẳng có cùng tận! Sanh chẳng
biết từ đâu đến, chết chẳng biết
đi về đâu, mờ mờ, mịt mịt, ngàn đời
vạn kiếp mà chẳng tự biết. Chốc lát ch́m
vào địa ngục, chốc lát làm quỷ, làm súc sanh, làm
người, làm trời, thăng rồi trầm, trầm rồi
thăng, lo sợ chẳng an ổn, hoảng hốt, vội
vàng, ngàn đời vạn kiếp chẳng tự biết,
chẳng phải là giấc mộng thật sự ư?
Cổ thi có câu: “Chẩm
thượng phiến thời Xuân mộng trung, hành tận
Giang Nam sổ thiên lư” (Một thoáng mộng Xuân trên chiếc gối,
đi khắp Giang Nam mấy dặm ngàn). Nay những kẻ
bị lợi danh lôi kéo, qua lại mấy vạn dặm,
há chẳng giống như đang ngả đầu trên gối
ư? Do vậy biết: Trang sanh (Trang Châu) mộng thấy
hóa bướm, khi chưa mộng thấy bướm th́
cũng là mộng. Phu tử mộng thấy Châu Công, khi
chưa mộng thấy Châu Công vẫn là mộng. Từ bao
nhiêu đại kiếp đến nay, chẳng một thời,
một khắc nào mà không ở trong mộng. Phá sạch vô
minh, đại giác rạng ngời, nói: “Thiên thượng,
thiên hạ duy ngă độc tôn” (trên trời, dưới
trời, chỉ có Ngă (Phật Tánh Pháp Thân) là tôn quư nhất). Đó là
nói về người đă tỉnh mộng.
* Tánh, tướng
Tương
truyền sau khi đức Phật diệt độ,
người học thuộc hai tông Tánh và Tướng
đều chấp kiến giải của chính ḿnh, đến
nỗi chia sông uống nước. Tranh chấp như thế,
ai đúng, ai sai vậy? Đáp: Chỉ cần chấp th́
đều là sai, không chấp th́ đều là đúng. Tánh
là ǵ? Tánh của tướng. Tướng là ǵ? Tướng
của tánh, chẳng phải rạch ṛi tách thành hai. Ví
như trong một thân, thân là chủ, mà có tai, mắt, miệng,
mũi, tạng phủ, trăm lóng xương đều
là thân. Cái thân là thân của tai, mắt v.v… Tai, mắt v.v… là
tai, mắt v.v… nơi thân! Ví như một căn nhà, nhà là
chủ, mà có kèo, xà, rường, cột, tường vây,
vách ngăn, cửa cái, cửa sổ v.v… đều là nhà.
Cái nhà ấy là nhà của kèo, xà v.v… Kèo, xà v.v… là kèo, xà v.v… của
cái nhà, há có thể tách rạch ṛi thành hai được
chăng? Không chỉ chẳng nên tranh, mà cũng chẳng thể
tranh được!
Nếu nói: “Ngài Vĩnh Gia nói ‘vào
biển đếm cát tự khốn đốn’, lại
nói ‘vặt lá t́m cành, ta chẳng thể!’ tợ hồ là Tánh, chẳng
phải là Tướng?”
Đáp: Ngài Vĩnh Gia chẳng hề có đúng hay sai. Tánh là
gốc, mà Tướng
là ngọn. V́ thế nói: “Chỉ được cái gốc,
chẳng lo cái ngọn”. Chưa hề nói “có thể bỏ
ngọn!” Do đó, nói lệch về Tánh th́ không
được, mà nói lệch về Tướng
càng chẳng được. Nói lệch về Tánh th́ gấp
nơi gốc mà hoăn nơi ngọn, vẫn là “có thể” trong cái “chẳng
thể”. Chú trọng
cành lá mà đánh mất cội nguồn th́ là cái “chẳng
thể” trong cái “chẳng
thể!”
* Đại Giám, Đại
Thông (1)
Thiền sư Đại Giám
Huệ Năng được cơi đời gọi là Nam
Tông, thiền sư Đại Thông Thần Tú được
cơi đời gọi là Bắc Tông. Nhưng y bát của tổ
Hoàng Mai không giao phó cho Đại Thông “luôn luôn siêng năng
chùi”, mà riêng giao phó cho Đại Giám “vốn chẳng
có một vật”, cớ sao sách Tông Kính Lục nói “Đại
Giám chỉ có một mắt, c̣n Đại Thông hai mắt
viên minh?” Nếu đúng là như thế, v́ sao chẳng
được truyền y bát? Tào Khê đích thân kế tục
Hoàng Mai, xa là thừa tiếp Đạt Ma, lại c̣n thừa
tiếp xa hơn là Ca Diếp, lại c̣n thừa tiếp xa
hơn nữa là Phật Thích Ca. Vĩnh Minh được
truyền đạo bởi Thiên Thai Thiều quốc
sư, nêu ra cách nói ấy là v́ lẽ nào? Chắc là cách nói
tùy thời cứu chữa thói tệ.
Người xưa nói từ
đời Tấn, Tống cho đến nay, đua nhau coi
Thiền Quán là cao, chẳng c̣n biết tông chỉ “chỉ
thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. V́ thế,
Sơ Tổ từ phương Tây sang [nêu rơ tông chỉ ấy].
Cho đến thời ngài Vĩnh Minh, [người tu Thiền]
lại cho rằng “hễ ngộ là xong”. Do đó, sách Tông
Kính Lục và Vạn Thiện Đồng Quy cực lực
tán thán sự tu tŕ, tợ hồ Nam Tông chuyên nơi đốn
ngộ, c̣n Bắc Tông đốn ngộ tiệm tu, trí và hạnh
cùng đủ. V́ thế, có thí dụ “một mắt” và “hai
mắt”. Riêng Vạn Tùng lăo nhân[111]
dũng mănh viết rằng: “Một con mắt ấy
chính là nói khắp đại địa đều là sa-môn
một mắt, tức là nói đă nắm vững con mắt
càn khôn, chính là kim cang nhăn nơi đỉnh đầu”. Nếu
là kẻ mới học, thấy nông cạn, chấp vào
điều được nói trong Tông Kính Lục, hiểu
đó là thật pháp, th́ Đại Giám chỉ là Không Đế,
c̣n Đại Thông mới là Trung Đạo Đệ Nhất
Nghĩa Đế, có được hay chăng?
Có người nói: “Tào Khê là sáu
đời truyền y, cả cơi đời không ai chẳng
biết, nhưng trong lúc ấy, cớ sao chỉ thấy
[Thần Tú là] pháp chủ của hai kinh đô (Lạc
Dương và Trường An), thầy dạy của hai
vua (Đường Trung Tông và Duệ Tông). Bắc Tông lừng
lẫy trong thiên hạ, chẳng nhắc đến Tào Khê lại
là v́ sao?” Đáp: Tào Khê đă lănh ấn chứng, được
thọ kư, giấu kín y bát làm người giữ lưới
trong đám thợ săn, ẩn náu bản lănh suốt
mười tám năm. Đạo của Đại Thông thịnh
hành, tên tuổi của Tào Khê chưa hiển lộ. Đợi
cho tới khi [ngài Tào Khê] đáp lời nghi vấn về gió
và phan, sau đấy đạo mới lưu truyền muôn
đời. Tào Khê là “tiềm long thâm uyên” (rồng ẩn
trong vực sâu), chẳng tự khoe khoang. Đại Thông là
“kiến long tại điền” (rồng hiện trong
ruộng), chẳng tự coi là trọn đủ, mà nói:
“Ông ta đích
thân được truyền y bát của thầy
tôi”. Đấy là
thiện tri thức đối xử với nhau để
có thành tựu như thế ấy.
* Đại Giám, Đại
Thông (2)
Tôi lại
nghĩ Tông Môn thường xem xét chuyện hứa khả,
đè nén hay đề cao, cho hay đoạt đều
vượt khuôn khổ, siêu t́nh kiến, chẳng thể
dùng lẽ đúng sai trong pháp thế gian để luận
định. Thạch Củng[112]
[sau khi]
được truyền dạy, bèn nói: “Ba
mươi năm giương cung, chỉ bắn được
một nửa thánh nhân”. “Tào Khê một con mắt” là
nói đến một nửa thánh nhân. Trung Phong miêu tả bài Chân Cầu
Tán của Cao Phong bằng
lời tán như sau: “Ngă tướng chẳng
nghĩ bàn. Phật,
tổ chẳng thể thấy. Riêng nhận kẻ bất
tiếu, thấy được nửa bên mũi” “Tào Khê một
mắt” tức là nói đến “nửa bên mũi” vậy.
Phổ Hóa[113] đến
chỗ Lâm Tế, nói: “Cô dâu mới Hà Dương. Thiền
bà già Mộc Tháp. Thằng oắt con Lâm Tế, trọn chỉ
có một mắt”. Một con mắt của Tào Khê chính là
một con mắt của Lâm Tế vậy!
* Dùng tiền
làm trai tăng để tạo
tăng đường
Có người
nói rằng: “Lương thực của Tăng là thức
ăn của Tăng, tăng đường là nơi
tăng ở. Hai thứ chỗ ở và lương thực
đều do Tăng thọ dụng, cớ sao dùng tiền
làm trai tăng để kiến tạo tăng đường
sẽ mắc báo đeo gông lửa?” Nghĩa này có hai: Một
là gạo, thóc, rau, dưa được con người
dùng để cứu đói; kèo, rường, tường,
vách có cứu đói được hay không? Tức là vật
loại chẳng tương ứng. Hai là thí chủ làm
trai, nay ông [dùng tiền
đó] làm nhà. Tiền
để mua gạch đem mua ngói, trái nghịch tâm tín thí,
tức là nhân quả chẳng tương ứng.
Nếu nói: “Dùng món tiền quyên mộ khác để
làm trai tăng có thể sửa lỗi hay không?” “Người
khác làm trai tăng, người đó tự có phước,
liên quan ǵ tới người trước?” “Như vậy
th́ làm như thế nào mới nên?” “Bớt tiền xây
tăng đường đúng số để làm trai
tăng. Nếu gông lửa diệt, ắt sẽ có điềm
báo rơ ràng”. Lại hỏi: “Tiền để tạo tượng
Phật đem làm Phật điện, có được hay
không?” Đáp: “Chẳng thể! Rường đẹp
như vẽ, cột chạm trổ có thể coi như là
tướng hảo, quang minh của Như Lai hay không?” “Tiền
tạo kinh đem làm tủ đựng kinh, nói chung đều
là cúng dường kinh, có được hay không?” Đáp:
“Chẳng thể! Túi gấm, tủ báu có thể coi là lời
ngọc từ miệng vàng của Như Lai được
hay chăng?” “Như thế cho đến tiền phóng sanh
đem mua hồ, ao, nói chung là giúp vật, lợi sanh, có
được hay không?” Đáp: “Chẳng thể! Ao trống,
đầm hoang ngàn khoảnh mênh mông, có thể cứu
trăm ngàn vạn ức sanh linh không được cứu
vớt sắp vào chảo, vạc, sắp lên đao, thớt
hay không? Huống hồ dời chuyển, biến đổi
làm sai lạc nhân quả ư? Lại có người nói: “Tạo
tượng Phật mà dư tiền có thể dùng làm vật
dụng để thờ phụng trước Phật hay
không?” Chuyện
này trong luật có kinh văn cho phép rơ ràng, chứ những
chuyện làm phước khác th́ chẳng có. Hăy cẩn thận,
đừng buông lung theo ư ḿnh, đâm ra chuốc lấy nghiệp
báo!
* Phép Viên Thông trong kinh Lăng
Nghiêm
Hỏi: “Kinh
Lăng Nghiêm chỉ chọn phép viên thông nơi nhĩ
căn, pháp môn Niệm Phật
chưa từng được chọn. Sao đời sau chẳng
tuân theo thánh ngữ, khắp thiên hạ phần nhiều niệm
Phật vậy?”
Đáp rằng: Trong Di Đà Sớ
Sao đă có biện định tường tận,
nhưng mối nghi và câu hỏi này có quan hệ chẳng nhỏ,
chẳng ngại phiền nhắc lại, sẽ v́ ông nói
tường tận! Ông quả thật là người trong
Sa Bà, chỉ biết có Sa Bà mà thôi, sao chẳng nghĩ ngoài
Sa Bà, có vô lượng vô biên bất khả thuyết bất
khả thuyết thế giới? Nhĩ Căn là tương ứng
với căn cơ của chúng sanh trong thế giới Sa
Bà, c̣n Niệm Phật
tương ứng với căn cơ của chúng sanh xuyên
suốt bất khả thuyết bất khả thuyết thế
giới. Nhĩ Căn Viên Thông là pháp viên thông của một
phương thế giới, c̣n Niệm Phật Viên Thông là pháp
viên thông của mười phương thế giới.
Đức Phật xuất hiện trong Sa Bà, đành chỉ
dạy giáo pháp thích đáng cho Sa Bà. Do vậy nói: “Thử
phương chân giáo thể, thanh tịnh tại âm văn”
(Chân giáo thể phương này, thanh tịnh nơi nghe tiếng),
chẳng nói [đó
là] chân giáo thể của mười
phương.
Ví như hiện thời, trong
trăm ngàn quận ấp khắp nước, sĩ tử
học tập hoặc là tại một phương phần
nhiều học kinh Dịch, hoặc tại một
phương nhiều người học kinh Thi, hoặc một
phương nhiều người học kinh Thư. Xuân
Thu, Lễ Kư cũng giống như thế. Gộp chung lại
để luận, trong cả nước, người học
nhiều nhất là Châu Dịch. Châu Dịch là nói đến
pháp môn Niệm Phật.
Hơn nữa, trăm ngàn quận ấp, tùy theo đất
đai thích hợp, khu rẫy bái ngoài thành phần nhiều
trồng thóc lúa. Nơi núi rừng phần nhiều trồng
cây ăn trái. Nơi sông biển, phần nhiều bán cá, muối,
lụa, vải, châu ngọc, cũng lại như thế.
Luận định chung, khắp nước nhiều nhất
là trồng lúa tẻ, nếp, đậu nành, kê. “Lúa tẻ,
nếp, đậu nành, kê” là nói tới pháp môn Niệm Phật.
Ông sống trong Sa Bà, tự tu Nhĩ Căn, ai
ngăn cản được; nhưng đừng nên chấp
nhận pháp này, phủ nhận pháp khác. Nếu như chấp
Nhĩ Căn mà muốn quét sạch Niệm Phật, tức
là giống như sĩ tử do học các kinh khác bèn muốn
quét sạch Châu Dịch, thương nhân buôn bán các vật
khác muốn quét sạch thóc, kê, có lẽ ấy hay chăng?
* Thiên thuyết (1)
Một vị
lăo túc nói: “Có người ở nước khác theo Thiên Chúa
giáo, sao ông chẳng biện định?” Tôi cho rằng
người theo giáo ấy kính trời, đó là thiện sự,
sao lại phải biện định? Vị lăo túc nói: “Họ
muốn dùng giáo ấy để thay đổi phong tục. Lại c̣n
hủy Phật, báng pháp. Hiền sĩ, lương hữu
nhiều người tuân phụng giáo ấy”. Do vậy, lấy
sách ra cho tôi xem, tôi bèn biện định đại lược
một hai điều:
Bọn họ tuy sùng tín, thờ
phụng Thiên Chúa, nhưng cách nói về trời chưa am
tường. Nay dùng kinh để làm chứng, Thiên Chúa
như họ nói chính là Đao Lợi thiên vương.
[Đao Lợi thiên vương] là chúa tể của Tam Thập
Tam Thiên trong một tứ thiên hạ. Gom một ngàn tứ
thiên hạ lại th́ gọi là tiểu thiên thế giới,
tức là có một ngàn vị Thiên Chúa! Lại do một ngàn
tiểu thiên thế giới mà gọi là một trung thiên thế
giới, tức là có trăm vạn Thiên Chúa. Lại từ
một trung thiên thế giới gom đủ một ngàn, bèn gọi
là đại thiên thế giới, tức là có vạn ức
Thiên Chúa. Người thống lănh tam thiên đại thiên thế
giới là Đại Phạm Vương, ông ta được
gọi là Thiên Chúa tối tôn vô thượng.
Xem ra, Phạm Vương
đại lược giống như thiên tử nhà Châu cai
quản một ngàn tám trăm chư hầu. Bọn họ
chỉ biết một vị trong vạn ức vị Thiên
Chúa, chứ
chư thiên khác trong Dục Giới đều chẳng biết.
Lại cao hơn nữa là chư thiên Sắc Giới, cao
hơn nữa là chư thiên Vô Sắc Giới, họ đều
chẳng biết. Họ lại nói “Thiên Chúa
vô h́nh, vô sắc, vô thanh”, tức cái được
gọi là Thiên chỉ là Lư mà thôi, dùng ǵ để thống
ngự thần dân, thực thi chánh lệnh, ban thưởng,
trừng phạt? Họ tuy thông huệ, nhưng chưa
đọc kinh Phật, chẳng trách lập ngôn sai lầm!
Các sĩ hữu tín phụng trong hiện tiền đều
là bậc chánh nhân quân tử, gương mẫu một thuở,
được mọi người ngưỡng mộ, ủng
hộ hay phản đối, tôi há nên tránh né tỵ hiềm
trái tai mà chẳng dốc hết ḷng trung thưa tŕnh ư?
Chỉ mong bậc cao minh rủ ḷng chọn nghe lời quê kệch
để xem xét tỏ tường!
* Thiên thuyết (2)
Lại hỏi:
“Họ nói kinh Phạm Vơng nói ‘nhất thiết hữu
sanh, giai túc sanh phụ mẫu, sát nhi thực chi, tức sát
ngô phụ mẫu’ (hết thảy những ǵ có
sanh mạng đều là cha mẹ trong đời trước,
giết chúng để ăn tức là giết cha mẹ của
ta). Như
thế th́ con người cũng không được cưới
gả, v́ thê thiếp đều là cha mẹ của ta. Con
người cũng không được thuê tôi tớ, v́
đó là sai bảo cha mẹ của ta. Con người
cũng không được cưỡi
lừa, ngựa, v́ chính là cưỡi cha mẹ của ta. Kẻ
sĩ, tăng nhân chẳng thể đáp, phải [đáp]
như thế nào?”
Tôi nói: - Phạm Vơng chỉ
răn kiêng sát sanh sâu xa, cho nên thốt lời luận định
ấy. Ư là nói từ hằng hà sa kiếp đến nay,
đời đời thọ sanh, đời đời ắt
có cha mẹ, đâu biết [con vật] nào chẳng phải
là cha mẹ trong đời trước? Đó là v́ sợ
[con vật bị giết] có thể là cha mẹ của
ḿnh, chẳng nhất quyết đấy ắt là cha mẹ
của chính
ḿnh. Nếu do từ mà hại ư, dùng một
trường hợp để khái quát cả trăm, th́ Nho
cũng có. Lễ Kư cấm cùng họ lấy nhau; do đó
mua thiếp mà không biết họ, bèn coi bói. Sách ấy nói: “Bốc nhi phi đồng
tánh dă, tắc hôn chi cố vô hại” (bói mà không
cùng họ th́ hôn nhân cố nhiên vô hại). Ở
đây cũng nói: “Cưới vợ mà không biết là cha mẹ
hay chẳng phải là cha mẹ th́ coi bói. Coi bói thấy chẳng
phải là cha mẹ th́ cưới cũng vô hại”.
Lễ Kư nói: “Bội niên
dĩ trưởng, tắc phụ sự chi” (người
lớn gấp đôi tuổi ḿnh th́ coi như cha để
phụng sự). Nay người trẻ tuổi làm quan th́ có
hạn chế ǵ? Kẻ khiêng kiệu, dẫn xe, căng lọng,
cầm kích, ắt phải là lũ trẻ th́ mới
được, chứ có người lớn tuổi trong
số đó th́ tức là dùng cha mẹ làm lính hầu ư? Như những chuyện
ấy có thể áp dụng chẳng trở ngại, sao riêng lời đức Phật
nói lại
chẳng thể áp dụng ư? Phàm nam nữ
cưới gả, cho đến ngựa xe, tôi tớ,
đều là thường pháp trong thế gian, chẳng thảm
độc như sát sanh. V́ thế, kinh chỉ nói “chẳng
được giết những thứ có sanh mạng”,
chưa hề nói “đối với hết thảy những
thứ có sanh mạng, chẳng được cưới
hỏi, chẳng được sai khiến”. Lập ra lời
vấn nạn như thế chính là bày ra tṛ khôn vặt
để bàn luận cong vẹo, nhằm phá giáo huấn rơ
ràng của đại đạo, há có được
chăng?
Hơn nữa, sách ấy bịa
đặt lời lẽ chẳng có căn cứ, chẳng
dễ nêu trọn. Như nói linh hồn của người
chết thường tồn tại, chẳng có luân hồi.
Linh hồn đă thường tồn tại, sao vua Vũ, vua Thang,
Văn Vương, Vũ Vương chẳng răn nhắc
bọn Kiệt, Trụ, Châu U Vương, Châu Lệ Vương
ư? Các vị vua thời Tiên Tần, hai nhà Hán, Đường,
Tống sao không nhất trí trừng phạt bọn Lư
Tư, Triệu Cao, Vương Măng, Tào Tháo, Lư
Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, Tần Cối, Sái Kinh.
Đă chẳng có luân hồi, cớ sao Thúc Tử[114]
có thể biết đời
trước thác sanh làm con của gia đ́nh nọ? Sao Tŕnh Minh Đạo
(Tŕnh
Di) có thể nhớ đời trước giấu
cái thoa của mẹ? Công Ngưu Ai hóa cọp, Đặng
Ngải làm trâu[115],
những điều giống như thế được
chép rơ ràng trong sách Nho, chẳng phải là trường hợp
cá biệt. Bọn họ đều chưa biết, chẳng
trách nói năng lầm loạn!
* Thiên thuyết (3)
Hơn nữa,
lễ Nam Giao nhằm tế Thượng Đế, là chế
định của vua, tức là khâm kính trời thẳm, là
sùng kính đạo trời, là cần mẫn phụng sự
thượng đế, tức là thượng đế
cùng tồn tại với ngươi. Sở dĩ nhị
đế, tam vương do tuân theo phép trời mà đạt
tới ngôi vị cao tột. Nói là “tri thiên, úy thiên, luật thiên,
tắc thiên, phú quư tại thiên, tri ngă kỳ thiên, thiên sanh
đức ư dư, hoạch tội ư thiên, vô sở
đảo dă” (biết
trời, sợ trời, vâng theo luật trời, noi theo phép
tắc của trời, phú quư bởi trời, nói trời biết
ḷng ta, nói thiên sanh đức nơi ta, nói mắc tội với
trời chẳng thể cầu đảo được). Người
tuân thủ chế định của vua, tổng hợp
hoàn bị [giáo huấn của] ngàn vị thánh chính là Phu Tử.
Ngài nói sợ trời, vui theo mệnh trời, biết trời,
thờ trời. Bậc thánh nhân kém hơn phu tử là Mạnh
Tử. [Các vị ấy] nói về trời có ǵ chẳng trọn,
cần ǵ phải đợi họ sáng lập thuyết mới.
Những điều trần thuật trên đây, nếu cho
là chẳng đúng, xin hăy thưa tŕnh lên Thiên Chúa. Nếu tôi
mang ḷng đố kỵ, lập thuyết ngụy dị,
ngăn trở, phá hoại vương giáo của họ,
th́ Thiên Chúa oai linh chiếu soi thấu suốt, sẽ khiến
cho thiên thần hung tợn giáng hạ trừng trị để
tỏ rơ sức trừng phạt của trời!
* Triệu Định Vũ
làm Diêm Vương
Quan Thiếu
Trủng Tể[116]
Triệu Định Vũ cùng tuổi với tuần phủ
Vân Nam là Trần Ngọc Đài. Ngày Rằm tháng Ba năm
Bính Thân (1596) đời Vạn Lịch, ông từ
trần; khi
đó, Ngọc Đài c̣n đang tại chức. Do vợ
[ông Ngọc Đài] bị bệnh, bèn cầu đồng thỉnh
thần. Thần phán số [bà ta] phải chết, do vậy;
[Ngọc
Đài] khẩn cầu cứu giúp. Thần nói
Ngũ Điện Diêm Quân vừa mới nhậm chức,
là người cương trực, chánh đáng, chẳng thể
tư túi, không cách nào làm ǵ được! Hỏi: “Vị mới
nhậm chức là ai?” Đáp: “Là ông Triệu ở Thường
Thục”. Chẳng mấy chốc, tin cáo phó truyền tới,
nhiệm kỳ khớp với kỳ hạn trong cáo phó. Ông
Trần hết sức kinh dị.
Có người nói: “Diêm
Vương mang theo phước lẫn nghiệp mà làm. Định
Vũ là bậc đức dày, cũng có nghiệp ư?” Ôi!
Địa Tạng Bồ Tát nói: “Ngă quán Diêm Phù Đề
chúng sanh, cử túc, động bộ, vô phi thị
tội” (tôi thấy chúng sanh Diêm Phù Đề, giở
chân, cất bước, không ǵ chẳng là tội), sao không
có lỗi? Xưa kia, nghe nói có một vị tăng gặp
lệnh phù cơi trời tuyên triệu Sư làm Diêm
Vương. Vị Tăng sợ hăi, khởi đại
tinh tấn, nhất tâm nghĩ tới đạo, sứ giả
cầm lệnh phù liền biến mất. Than ôi! Cổ
nhân nói Hàn Cầm Hổ sống làm Thượng Trụ Quốc,
chết làm vua Diêm La. Lại nữa, cận đại nghe
nói quan tư khấu[117]
Trịnh Đạm Tuyền chết làm Diêm Vương, ông
Chu là Thái Thú đất Hàng chết làm thành hoàng. Đó là chuyện
thường. Cổ đức có nói: “Tăng tuy có hạnh, nhưng chẳng
liễu đạo, phần nhiều làm các thần trên mặt
đất hay dưới nước”, há phải
nói chơi ư?
* Đệ tử để
tang cho thầy
Nói về
chuyện này, có ba thứ: Một là Lục Tổ Đàn
Kinh, hai là sách Thích Thị Yếu Lăm[118],
ba là Bách Trượng Thanh Quy. Ba sách sai khác, nay biện định
như sau:
Một là Đàn Kinh nói: “[Lục
Tổ căn dặn]: Sau khi ta diệt độ, đừng
làm theo t́nh đời, buồn khóc, tuôn lệ, tiếp
nhận người khác phúng điếu, hỏi han, thân mặc
tang phục, [làm như thế] chẳng phải là đệ
tử của ta, mà cũng chẳng phải là chánh pháp”.
Hai là sách Thích Thị Yếu
Lăm nói: “Khảo cứu các kinh như Niết Bàn, trọn
chẳng có chế định để tang. Chỉ có
Tăng Huy Kư[119] trích dẫn
ba loại tang phục theo Lễ Kư, loại thứ ba là
giáng phục[120]. Sách Bạch
Hổ Thông[121] nói ‘ân
thầy giống như cha mẹ, phải nên mặc giáng phục’.
Sách Thích Thị Tang Nghi nói: ‘Ân thầy giống như cha mẹ,
nên để tang ba năm’. Ngũ Sam[122] nói:
‘Để tang cho thầy nên theo pháp phục, chỉ là vải
hơi thô hơn, nhuộm thuần màu vàng sậm’. Huy Kư nói:
- Chỉ nhuộm màu xanh đậm, hơi khác với lệ
thường”.
Ba là sách Thanh Quy nói: “Tiểu
sư mặc áo vải gai, người thuộc hai tự
(đông tự và tây tự) mặc áo dệt bằng
đay, những người như chủ tang mặc áo sồi không nhuộm. Đại chúng gào khóc ba tiếng,
tiểu sư ở dưới màn buồn khóc”.
Từ những
điều như trên, theo Đàn Kinh th́ chẳng có tang phục,
chẳng khóc. Theo các sách như Tăng Huy v.v... th́ có tang phục,
chẳng khóc, nhưng tang phục chẳng dùng sô gai, chỉ
dùng màu vàng hay
xanh đậm mà thôi. Theo Thanh Quy th́ tang phục lẫn khóc
đều có, giống hệt như thế tục. Phàm là
tăng sĩ, tuy phải nên noi theo pháp của Lục Tổ,
nhưng nay đệ tử đau ḷng v́ thầy mất, phần
nhiều để tang, chính là trên th́ vâng theo tổ huấn,
dưới là thuận theo t́nh người, khéo léo châm
chước, vâng theo sách Tăng Huy mặc tang phục có màu
xanh hay vàng th́ được. Cổ nhân nói: “Lễ nên khởi
từ nghĩa”, đợi bậc cao minh đính chánh.
* Bách Trượng Thanh Quy
Do vấn
đề tang chế trên đây, biết sách Thanh Quy do
người đời sau mở rộng, chẳng phải
do ngài Bách Trượng đặt định như thế.
Bách Trượng [Hoài Hải] là con cháu đích thực đời
thứ tư của tổ Tào Khê (Lục Tổ), tang chế
lẽ nào chẳng tuân hành quy chế của Tổ mà lại
biến đổi pháp đă được thành lập ấy?
Đại để là do kiến lập tùng lâm, ngài Bách
Trượng khởi đầu đặt ra [Thanh Quy]
để đại chúng có sự ước thúc mà thôi, c̣n
những quy định rườm rà, những điều
lệ vụn vặt, khiến cho mọi người bận
bịu, tất bật, chẳng rảnh để lo liệu,
sẽ do đâu mà giảm duyên bớt việc ḥng dốc
ḷng nghiên cứu cùng tận đạo này? V́ thế nói: “Người
đời sau háo sự bày ra, chẳng phải là ư của
ngài Bách Trượng”.
* Cương Liệp[123] báo (quả
báo làm lợn)
Vị
tăng X… là người chất phác, mộc mạc,
nhưng ngu muội tự cho là đúng. Hễ thấy
người khác khen ngợi điều lành, ắt cười
nhạt, cho là chẳng đáng để ca ngợi. Lâu
ngày, ông ta bỏ
đạo về đời, sống cùng một bà già. Ông
ta chết, báo mộng cho bà cụ: “Ngày mai ta sẽ về cái
am bên cạnh”, [ngày hôm sau] liền có một con lợn
được phóng sanh đưa về am. Bà cụ biết
đó là ông X…. mấy lượt đến nh́n xem, khiến
cho người khác nghe biết. Xa gần đều ngạc
nhiên trước chuyện ấy, người đến
xem nườm nượp. Bà lăo xấu hổ, đưa
[con lợn ấy] sang chùa Vân Thê. Khi đó, nơi phóng sanh của
chùa Vân Thê đă chật chội, [chẳng thể tiếp
nhận], một ngôi chùa trên núi bằng ḷng nhận nuôi, chẳng
mấy chốc, đồ đệ bán lại cho đồ
tể, bị giết trong ruộng. Ôi! Thọ sanh làm súc
sanh, lại chẳng tránh khỏi bị giết chóc, sao mà
cùng cực đến nỗi ấy! Chúng ta hăy nên thống
thiết khắc tận xương vậy!
* Nói thêm về thiên thuyết
Vừa rồi
tôi có bàn về trời, có người khách lại vặn hỏi
rằng: “Xem bói vợ muốn cưới chẳng phải
là cha mẹ ḿnh th́ có thể cưới, sao chẳng nói coi
bói thấy sát sanh chẳng phải là cha mẹ ḿnh th́
cũng có thể giết ư? Chẳng cưới để
sanh con th́ nhân loại tuyệt diệt, sao chẳng nói trừ
khử sát sanh th́ tế tự theo lễ bị phế?”
Người bị vặn hỏi nín lặng, kể lại
với tôi. Tôi nói: “Cổ nhân có nói: ‘Bói để giải
quyết nỗi nghi, không nghi bói làm ǵ?’ Cùng họ chẳng
lấy nhau, đó là đại kinh đại pháp từ cổ
trong thiên hạ tới nay. V́ thế, ngờ vực bèn bói.
Sát sanh là lỗi ác to lớn trong thiên hạ từ cổ tới
nay, nhất quyết chẳng thể làm, có nghi ǵ nữa mà
đợi bói toán? Chẳng cưới gả th́ nhân loại
tuyệt diệt, lư đúng là như thế; nhưng [vặn
hỏi] ‘chẳng sát sanh th́ điển chương tế
tự bị phế trừ’, sao chẳng nghe ‘nhị quỹ
khả dụng hưởng, sát ngưu chi bất như
dược tế’ (hai món ăn là có thể dùng để
cúng tế rồi, giết trâu chẳng bằng cúng chay) ư?
Tức là điển chương tế lễ vững
vàng, chẳng bỏ phế. Dẫu có phế th́ là phế
cái đáng nên phế, trừ bỏ những điều
như nhục h́nh, cấm tuẫn táng, cai trị sẽ tốt
đẹp.
Than ôi! Bói toán chỉ là mượn
chuyện trước mắt để quyền biến so
sánh, đại khái là nhờ đó để hiểu rơ thói
tệ đó thôi; ông liền hiểu là thật pháp. Có thể nói đúng là chén
rượu trợ hứng cho lời bàn bạc cong quẹo
để cười vui, là lời bông đùa, hài hước
để diễn tuồng! Nhưng nếu như ngu phu,
ngu phụ nghe lọt vào tai, giữ trong dạ, sẽ có hại
chẳng nhỏ! Chẳng thể không nói năng cẩn thận!”
Khách lại vặn hỏi: “Sát sanh chỉ đoạn sắc
thân, hành dâm trực tiếp đoạn huệ mạng”, ư
cho rằng sát sanh c̣n nhẹ, chẳng biết đến sắc
thân của kẻ bị giết! Mà kẻ giết chóc có một
niệm thảm độc là đă đoạn huệ mạng
của chính ḿnh, chẳng đáng buồn sao?
Bồ
Tát giới đệ tử Lưu Huệ Văn suất
lănh con là Tánh Trạch thí tiền kính khắc in, kính nguyện
chân tục viên dung, tự tha cùng lợi lạc, chán ĺa Nhẫn
Giới (Sa Bà), về
thẳng liên bang
Tháng Sáu nhằm
mùa Hạ năm Quang Tự 24 (1898), viết tại Kim
Lăng Khắc Kinh Xứ.
Vân Thê Pháp Vựng
Phần 4 hết
[1] Tức thiền sư
Huyền Sa Sư Bị (835-908). Ngài là một vị thiền
sư trứ danh thời Ngũ Đại Thập Quốc,
sống tại nước Mân. Ngài quê ở Mân huyện thuộc tỉnh Phước Kiến,
là môn hạ của thiền sư Thạch Đầu Hy
Thiên, nối pháp ngài Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Đồ
tôn của Ngài là Thanh Lương Văn Ích sáng lập Pháp
Nhăn Tông.
[2] Tức thiền sư
Ngưu Đầu Pháp Dung (594-657), Tứ Tổ tức là ngài Đạo Tín (tổ thứ
tư của Thiền Tông, thầy của ngài Hoàng Mai Hoằng
Nhẫn). Ngưu Đầu là tên ngọn núi ở Giang Ninh.
Ngài Pháp Dung ẩn tu một ḿnh trong núi ấy, cảm hóa các
loài thú đến cúng dường. Tứ Tổ Đạo
Tín nh́n h́nh thế núi, biết trong núi ắt có dị nhân, liền đích thân lên núi gặp
ngài Pháp Dung. Pháp Dung ngộ ư chỉ Thiền
và nối pháp của tổ Đạo Tín, h́nh thành một phái thiền gọi là Ngưu
Đầu Tông, tạo thành thế chân vạc
với Nam Tông của tổ Huệ Năng và Bắc Tông của
ngài Thần Tú. Đến thế kỷ thứ chín, tông này
hoàn toàn thất truyền.
[3] Trong tập Hàn Thi Ngoại
Truyện của Hàn Anh đời Hán có câu thơ: “Thụ
dục tĩnh nhi phong bất chỉ, tử dục dưỡng
nhi thân bất đăi” (Cây muốn lặng mà gió chẳng
ngừng, con muốn phụng dưỡng, mà mẹ cha chẳng
đợi). Do vậy, “phong mộc chi bi” được
dùng với ư nghĩa diễn tả nỗi niềm đau
xót của con cái chưa báo hiếu cha mẹ.
[4] Mă Tổ là Mă Tổ
Đạo Nhất (709-788), đệ tử của ngài Nam
Nhạc Hoài Nhượng, là đồ tôn của Lục Tổ
Huệ Năng. Ngài được tôn là vị tổ thứ
ba mươi lăm của Thiền Tông Trung Hoa. Ngài Đại
Mai tức là Đại Mai Pháp Thường (752-839), đệ
tử của tổ Đạo Nhất. Do ngài trụ tại
núi Đại Mai (thuộc Cẩn huyện tỉnh Chiết
Giang), nên gọi là Đại
Mai Pháp Thường. Mai chính là quả mơ, nên tổ Đạo
Nhất mới nói “quả mơ đă chín” để ấn
chứng cho Đại Mai.
[5] Đây là một thành ngữ
phát xuất từ sách Sử Kư của Tư Mă Thiên. Theo
đó, do Hán Vũ Đế vào
cuối đời thích chuyện huyền hoặc, muốn
sống lâu, những kẻ gọi là phương sĩ (tức
những kẻ tự xưng là tu tiên hay có pháp thuật) từ
đất Yên, đất Tề (tức vùng duyên hải
phía Đông Bắc Trung Hoa, từ Sơn Đông trở lên)
đua nhau cầu kiến, kể lể
những
chuyện thần tiên ngoài biển như Bồng Lai,
Phương Doanh là nơi tiên ở, có phương thuốc
trường sanh bất tử v.v…
[6] Bùi thừa tướng
là Bùi Hưu (791-864), tên tự là Công Mỹ, người huyện
Tế Nguyên, Mạnh Châu. Ông học Phật từ bé, giỏi
thư pháp, có đức hạnh, từng
được người đương thời gọi
bằng mỹ hiệu là Hà Đông đại sĩ. Ông làm
quan đến chức Đồng Trung Thư Môn Hạ B́nh
Chương Sự (tức thừa tướng).
[7] Đây là một thành ngữ xuất phát từ
một câu chuyện trong tác phẩm Tiểu Thuyết Ân Vân
thời Nam Lương. Theo đó, có vài người tụ
họp ăn uống tán gẫu, có người nói: “Tôi mong
được làm Thứ Sử đất Dương
Châu”. Người
thứ hai nói “tôi mong có nhiều tiền của”. Người thứ ba nói “tôi mong cưỡi hạc
bay lên trời”, tức là ước nguyện làm quan, phát
tài và thành tiên. Người thứ tư nói: “Tôi mong lưng
đeo mười vạn quan, cưỡi hạc bay tới
Dương Châu”, tức là mong đạt được cả
ba điều trên đây. Từ đó thành ngữ này
được dùng để diễn tả ước nguyện
cao vời, khó thành hiện thực.
[8] Khổng Tử có ba
ngàn học tṛ, gọi là “tam thiên hiền”
(ba ngàn vị hiền nhân). Trong ba ngàn người đó, có bảy mươi bảy
người lỗi lạc, thường được gọi
gọn là Thất Thập Hiền (bảy mươi
người hiền, tức là chỉ tính số tṛn). Vị
đứng đầu là Nhan Hồi (tự Tử Uyên), kế
đó là Mẫn Tổn (tự Tử Khiên), Nhiễm Canh (tự
Bá Ngưu), cho đến vị thứ bảy mươi
lăm là Khổng Trung (tự Tử Miệt), vị thứ
bảy mươi sáu là Công Tây Dư Như (tự Tử
Thượng), vị thứ bảy mươi bảy là
Công Tây Châm (cũng có tên tự là Tử Thượng). Từ
bảy mươi bảy vị này, người đời
sau lại chọn ra mười vị đứng đầu gọi là Thập
Triết, gồm Nhan Hồi, Mẫn
Tổn, Nhiễm Canh, Nhiễm Ung (tự Trọng Cung), Nhiễm
Cầu (tự Tử Hữu), Trọng Do (tự Tử Lộ),
Tể Dư (tự Tử Ngă), Đoan Mộc Tứ (tự
Tử Cống), Ngôn Yển (tự Tử Du), và Bốc
Thương (tự Tử Hạ).
[9] Theo pháp sư Viên Anh, “diệu
minh” chỉ tánh Nghe sáng suốt, “tinh tâm nghiên cứu”
là lắng ḷng, loại bỏ
hết
tạp niệm, chuyên chú cứu xét (tham cứu), nghiên cứu
cái tánh Nghe sáng suốt ấy trọn khắp pháp giới,
chưa từng bị chướng ngại; đó là Tịch và Chiếu song hành.
[10] Tức là điều lợi
do thổi sợi lông trên vải. Theo
Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, thiền
sư Ô Khoa Đạo Lâm có thị giả tên là Hội
Thông, bỗng một hôm Hội Thông muốn từ biệt
thầy ra đi. Sư hỏi: “Nay ông đi đến
đâu?” Thưa: “Hội Thông v́ pháp mà xuất gia, nhưng
ḥa thượng chẳng rủ ḷng từ răn dạy,
nay con muốn đi các nơi tham học Phật pháp”.
Sư nói: “Nếu là Phật pháp, ở chỗ ta đây
cũng có đôi chút”. Hỏi: “Thế nào là Phật pháp của
ḥa thượng?” Sư rút lấy một sợi bông trên vải,
khẽ thổi, Hội Thông liền lănh ngộ huyền chỉ.
[11] Từ Minh lăo nhân chính
là ngài Thạch Sương Sở Viên (980-1052) thời Bắc
Tống, cao tăng thuộc
tông
Lâm Tế thời Bắc Tống, pháp hiệu là Từ Minh,
nối pháp của ngài Phần Dương Thiện Chiếu. Do trụ tại chùa Thạch
Sương ở Đàm Châu, Ngài được gọi là Thạch
Sương Sở Viên. Dương Kỳ tức là ngài Phương Hội (992-1049)
đệ tử của ngài Sở Viên, do trụ tại núi
Dương Kỳ, nên người
đời gọi
Ngài là Dương Kỳ
Phương Hội. Về sau, đệ tử của ngài
Dương Kỳ thành lập phái thiền Dương Kỳ
trong tông Lâm Tế.
[12] Ư nói: Không thể có tài
năng để sánh vai làm đệ tử của Khổng
Tử (Hạnh đàn và Tứ Thủy là nơi Khổng Tử
dạy học), chỉ đành làm thầy đồ quèn dạy
chữ cho trẻ học vỡ ḷng ở vùng quê hẻo
lánh, đơn sơ như cả thôn mà chỉ có ba gia
đ́nh sống.
[13] Những lời chú giải
kinh điển Nho gia được gọi là Truyện,
như Dịch Truyện (chú giải kinh Dịch do Khổng
Tử soạn), Công Dương Truyện (chú giải kinh
Xuân Thu do Công Dương Cao soạn) v.v…
[14] Tư Mă Quang là tể
tướng đời Bắc Tống, xin xem phần chú
thích trong đoạn nói về Giải Thiền Kệ. Lưu Đạo Nguyên tên thật
là Lưu Thứ (1032-1078), tự là Đạo Nguyên, giỏi
Sử, làm quan Bí Thư Thừa, từng tham dự biên soạn bộ
Tư Trị Thông Giám. Ông được thăng làm Tá Lang,
chuyên lo biên soạn sử liệu.
[15] Lưu Nguyên Thành
(1048-1125) vốn có tên là Lưu An Thế, tên tự là Khí Chi,
là một viên quan nổi tiếng thời Bắc Tống.
Ông là học tṛ của Tư Mă Quang. Khi Tư Mă Quang làm tể
tướng, đă đề cử Nguyên Thành vào Quốc Sử
Quán. Ông tánh t́nh cương trực, nổi tiếng nói thẳng,
khi làm Gián Nghị Đại Phu đă không e dè quyền thế,
đến nỗi các đồng liêu gọi ông là “điện
thượng hổ” (cọp trên điện chầu).
[16] Hà Trạch Thần Hội
là đệ tử của Lục Tổ Huệ Năng. Sư thuở nhỏ học Nho và
Lăo Trang, sau theo Phật. Sư đến chùa Bảo Lâm ở
Tào Khê, yết kiến Lục Tổ, được điểm
hóa, theo hầu Tổ đến khi Ngài thị tịch. Sau khi Tổ thị tịch,
Sư họp các thiền sư danh tiếng ở miền
Nam, tuyên bố Tổ là người nối pháp chân chánh của
Ngũ Tổ và phủ nhận Thần Tú. Sư đến
Lạc Dương, Trường An vận động ráo
riết triều đ́nh công nhận Huệ Năng, thậm
chí bị đi đày một thời gian. Về sau, Sư
được xá tội, trụ tŕ chùa Hà Trạch, và thành
công khiến cho mọi người
công nhận ngài Huệ Năng là Lục Tổ.
[17] Nam Nhạc tức là
ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng (677-744), đệ tử
đắc pháp của tổ Huệ Năng. Sư thoạt
đầu học Luật, về sau được pháp sư
Tung Sơn Huệ An chỉ điểm, bèn đến học
với tổ Huệ Năng, theo hầu tổ mười
lăm năm rồi đến hoằng đạo tại
Hành Nhạc. Đệ tử đắc pháp của ngài Hoài
Nhượng là Mă Tổ Đạo Nhất. Đồ tôn của
Ngài là Lâm Tế Nghĩa Huyền (đệ tử của
Hoàng Bá Hy Vận, Hy Vận là đệ tử của Bách
Trượng Hoài Hải, Hoài Hải là đệ tử của
Đạo Nhất) khai sáng phái Thiền Lâm Tế. Một
đồ tôn khác là Quy Sơn Linh Hựu (cũng là đệ
tử của Bách Trượng Hoài Hải) cùng với đệ
tử của ḿnh là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch
thành lập tông Quy Ngưỡng. Tông Quy Ngưỡng chỉ tồn tại sáu, bảy
đời rồi bị thất truyền.
Thanh Nguyên tức là ngài
Thanh Nguyên Hành Tư (660-740) là môn đệ đắc pháp của
tổ Huệ Năng. Đệ tử đắc pháp của
Ngài là Thạch Đầu
Hy Thiên. Các đồ tôn của Thạch Đầu như
Động Sơn Lương Giới đă thành lập
tông Tào Động (Lương Giới là đệ tử
của Vân Nham Đàm Thịnh. Đàm Thịnh là đệ
tử của Dược Sơn Duy Nghiễm, Duy Nghiễm
là đệ tử của Thạch Đầu Hy Thiên), Vân
Môn Văn Yển lập ra tông Vân Môn (Văn Yển là đệ
tử của Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Nghĩa Tồn
là đệ tử của Đức Sơn Tuyên Giám. Tuyên
Giám là đệ tử của Long Đàm Sùng Tín. Sùng Tín là
đệ tử của Thiên Hoàng Đạo Ngộ. Thiên
Hoàng đắc pháp nơi ngài Thạch Đầu Hy Thiên),
và Pháp Nhăn Văn Ích (Văn Ích là đệ tử của La
Hán Quế Sâm, Quế Sâm là đệ tử của Huyền
Sa Sư Bị, Sư Bị là đệ tử của Tuyết
Phong Nghĩa Tồn, Nghĩa Tồn là đệ tử của
Đức Sơn Tuyên Giám…) Hiện thời, hai tông Pháp Nhăn và Vân Môn đă thất
truyền. Pháp Nhăn tông c̣n tồn tại
ở Đại Hàn; chỉ có tông Lâm Tế phát triển mạnh
mẽ nhất. Tào Động khá phát triển ở Nhật
Bản.
[18] Tổ Huệ Năng
khi đến yết kiến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn,
được phân công giă gạo trong trù pḥng rồi sau
đó được truyền dạy Kim Cang, ấn chứng
tâm đắc và giao phó tổ y.
[19] Tử Dương là
đạo hiệu của Trương Bá Đoan (987-1082). Bá Đoan có tên tự là B́nh Thúc, c̣n
có tên là Dụng Thành, đạo hiệu Tử Dương
Chân Nhân, c̣n gọi là Ngộ Chân tiên sinh. Do ông sáng lập
cách tu luyện nội kim đan sau khi gặp Lưu Hải
Thiềm tại Thành Đô, nên lập ra Toàn Chân Nam Phái, và được
coi là tổ thứ nhất của phái này. Trương Bá
Đoan phản đối cách tu hành “xuất gia ĺa tục,
ẩn cư trong núi rừng”, và chủ
trương “đại ẩn nơi thành thị”. Ông
viết tác phẩm Ngộ Chân
Thiên được coi là kinh điển cơ sở cho việc
luyện nội đan. Ông c̣n soạn Ngọc Thanh Kim Duẩn
Thanh Hoa Bí Văn Kim Bảo Nội Đan Luyện Quyết, cũng được
coi là một tác phẩm quan trọng trong luyện kim
đan.
[20] “Ngũ kim
bát thạch” là từ ngữ chỉ các vật liệu
chủ yếu trong thuật luyện kim đan của Đạo
Giáo, được thấy nêu ra trong tác phẩm Vân Cấp
Thất Thiên do Trương
Quân Pḥng biên soạn vào đời Bắc Tống. Ngũ Kim là năm kim loại
được coi là tương ứng với ngũ hành,
gồm vàng, bạc trắng, đồng đỏ, ch́, và sắt
đen. Bát Thạch là tám loại khoáng
chất tương ứng với bát quái, gồm châu sa (cinnabar, sulfide thủy
ngân), hùng hoàng (realgar, As4S4
cực độc), lưu huỳnh, thư hoàng
(orpiment, As₂S, độc
không kém hùng hoàng), vân mẫu (mica), không thanh
(malachite, tức carbonate đồng ngậm nước),
nhung diêm (một loại đá kết tinh, được
dùng làm thuốc trong Đông Y, thường khai thác từ
đáy các hồ chứa muối), và tiêu thạch (salpeter, tức
potassium nitrate, KNO3).
[21] Đây là một thành ngữ
“Phật pháp vô đa tử”, xuất phát từ một
câu nói của ngài Hoàng Bá Hy Vận, hàm ư: Người tu đạo
rất nhiều, nhưng người thật sự khai ngộ
rất ít.
[22] Đường Nhất
Am tên thật là Đường Xu (1497-1574), tên tự là Duy
Trung, hiệu là Nhất Am và Tử Nhất, là một quan chức, đồng thời là triết
gia nổi tiếng đời Minh, tin tưởng học
thuyết Lương Tri của Vương
Dương Minh. Do dâng sớ hạch tội bè lũ gian thần
mà bị cách chức, đuổi về làm
dân. Ông dạy học và soạn sách suốt bốn
mươi năm trước khi qua đời.
[23] Đây là một chuyện
ngụ ngôn trong sách Trang Tử. Có người đến
kinh đô Hàm Đan của nước Triệu, thấy họ
đi lại dáng điệu rất đẹp, bèn bắt
chước học theo, nhưng học chẳng thành công mà cách
đi ban đầu của chính ḿnh cũng quên mất!
[24] Lữ Văn Chánh Công tức
là Lữ Mông Chánh (946-1011), tự là Thánh Công,
người Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, ông từng
ba lần làm tể tướng (tức chức Đồng
Trung Môn Hạ B́nh Chương Sự). Ông là người nổi
tiếng cương trực, phân minh. Khi được vua
Tống Chân Tông hỏi các con ông ai có thể làm
quan, ông thưa là không ai đáng dùng, chỉ có cháu là Lữ
Di Giản có thể dùng được. Ông có bài Lữ Mông
Chánh Khuyến Thế Văn được người
đời hết sức khen ngợi.
[25] Văn Tĩnh là thụy hiệu của
Lư Hàng (947-1004), tự là Thái Sơ, người xứ Ph́
Hương, Hàng Châu, là một văn thần nổi tiếng
thời Bắc Tống. Ông bẩm tánh hiền ḥa, nhưng
cương trực, hành sự cẩn thận, nhưng cai
trị theo quan điểm bảo thủ, đề cao cổ
văn, có ư chí muốn tiếp nối Hàn Dũ, Liễu Tông
Nguyên về mặt văn học. Khi nhận được
tin cáo phó, Tống Chân Tông đă khóc, than thở: “Lư Hàng là
người trung lương, thuần hậu, trước
sau như một, sao chẳng hưởng thọ lâu dài?”
[26] Tức ngài Ngưỡng
Sơn Huệ Tịch (807-883), là môn đồ nối pháp của
ngài Quy Sơn Linh Hựu. Sư cùng thầy của ḿnh khai sáng tông Quy Ngưỡng
trong nhà Thiền. Do sự giác ngộ thâm sâu, Sư có mỹ
hiệu là Tiểu Thích Ca.
[27] Theo quy chế đời
Minh - Thanh, hằng năm các quan địa phương mở khóa thi tuyển
để chọn người vào học trường Quốc
Tử Giám. Những người
được chọn gọi là Tuế Cống Sanh (c̣n gọi
là Tuế Tấn Sĩ). Có những người sau khi tốt
nghiệp tại Quốc Tử Giám liền được chọn làm quan
thẳng, không cần phải tham gia thi Hội, thi Đ́nh. Do vậy, gọi là “tuế
cống thụ quan” (cống sĩ hằng năm
được trao chức quan). Những người này
tuy vẫn gọi là tiến sĩ, nhưng không được
coi trọng bằng các tiến sĩ từ các
khoa thi Đ́nh.
[28] Nạp tử (衲子) nghĩa là người mặc áo chằm, tức
là đắp y do nhiều miếng vải ghép lại. Đây là từ ngữ chỉ
tăng lữ nhà Phật, nhưng chữ Nạp Tử được
dùng ở đây để chỉ tăng sĩ chân chánh tu hành, đắc ngộ.
[29] Tức là thiền
sư Tông Tĩnh trụ tŕ chùa Long Hưng ở Hàng Châu vào
đời Đường. Ngài thoạt đầu tham học
với thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn, giữ
chức phạn đầu mười năm. Lời thọ
kư trên đây được tổ Tuyết Phong Nghĩa Tồn
nói trong giai đoạn này. Về sau, ngài Tông Tĩnh
được vua nước Ngô Việt
họ Tiền thỉnh trụ tŕ chùa Long Hưng.
[30] Sô Ngu (騶虞) c̣n gọi là Sơ Ngô
(騶吾) hoặc Sô Nha (騶牙), là một con thú có ḷng nhân trong thần thoại
của người Hán. Sô Ngu ḿnh hổ, đầu sư tử,
lông trắng, vằn đen, đuôi dài, không bao giờ
ăn động vật. Riêng Sơn Hải Kinh nói Sô Ngu
thân đủ năm sắc, to như con hổ, đuôi dài
hơn thân, mỗi ngày đi được ngàn dặm. Sô
Ngu được nhắc đến sớm nhất trong
thiên Chung Sư thuộc phần Xuân Quan của
sách Châu Lễ.
[31] Đường Văn
Tông tên thật là Lư Ngang (809-840), ở ngôi vua mười ba
năm. Ông là con của Đường Mục Tông (Lư Hựu).
Khi Mục Tông băng hà sau bốn năm cầm
quyền, anh cả ông là Lư Đam nối ngôi, tức
Đường Kính Tông. Sau đó, Kính Tông bị bọn hoạn
quan Lưu Khắc Minh, Điền Vụ Trừng, Hứa
Văn Đoan… sát hại. Kế đó, một nhóm hoạn quan
khác là Vương Thủ Trừng, Lương Thủ Khiêm,
Ngụy Tùng Giản… diệt bè lũ Lưu Khắc Minh,
đưa Lư Hàm lên làm vua, đổi tên thành Lư Ngang, tức
Đường Văn Tông. Vua là người hiếu thuận
đối với tam cung (bà nội là Thái Hoàn Thái Hậu
Quách Thị, mẹ ruột là Hoàng Thái Hậu Tiêu Thị, mẹ
ruột của Đường Kính Tông là Hoàng Thái Hậu
Vương Thị). Vua chủ trương tiết kiệm,
cần mẫn, nhưng thiếu quyết đoán, nên bị các đại thần
và bọn hoạn quan lũng đoạn triều chánh, hoàn toàn trở thành bù
nh́n. Cuối cùng, vua chết trong u uất.
[32] Diêu thiếu sư tên
là Diêu Quảng Hiếu (1335-1418), tên thuở bé là Thiên Hy,
được vua ban tên là Quảng Hiếu, pháp danh là Đạo
Diên, pháp tự là Tư Đạo. Ông ta c̣n có pháp tự khác là Độc
Am. Do ông ta được Minh Thành
Tổ (Châu Đệ) phong chức Thái
Tử Thiếu Sư, nên thường gọi là Diêu thiếu
sư. Diêu thiếu sư là tăng nhân thuộc
tông Lâm Tế, vừa là chính trị gia, vừa là thi gia, là
mưu sĩ đắc lực của Minh Thành Tổ, là
người có công đắc lực giúp Minh Thành Tổ
đoạt ngôi của cháu là Kiến Văn Đế (Châu
Doăn Văn). Ông sinh trong gia đ́nh nhiều đời hành y,
từng tôn đạo sĩ Tịch Ứng Chân làm thầy,
học thuật Âm Dương, bói toán. Thầy tướng
Viên Củng nh́n tướng mạo của ông Diêu đă kinh sợ kêu là “tướng con hổ bị bệnh,
mắt tam giác, ắt bạo ngược, thích giết chóc”. Trong thời Hồng
Vũ, Minh Thái Tổ (Châu Nguyên Chương) xuống chiếu tuyển tăng nhân và đạo
sĩ vào bộ Lễ, ông ứng thí, nhưng không được
trúng tuyển. Yên Vương Châu Đệ ưa thích ông, mời làm
gia khách. Do vậy, ông lên Bắc B́nh, trụ tŕ chùa Khánh Thọ,
trở thành mưu sĩ thân cận của Châu Đệ. Chính ông đă quyết
đoán khuyên Châu Đệ soán ngôi khi Kiến
Văn Đế toan triệt phiên (dẹp trừ các phiên
vương có thế lực). Sau khi Châu Đệ lên ngôi, ông trở thành phụ
tá đắc lực, nhưng vẫn mặc tăng phục,
tham dự biên soạn các bộ Minh Thái Tổ Thực Lục
và Vĩnh Lạc Đại Điển, đồng thời
đảm nhiệm dạy học cho Thái Tử. Ông c̣n soạn
bộ Đạo Dư Lục đả phá quan điểm
của bọn Tống Nho.
[33] Khám Trạch (208-243), tự
Đức Nhuận, người huyện Sơn Âm, Cối
Kê, là một học giả thời Đông Hán. Tuy sanh trong
gia đ́nh nông dân, nhưng ông hết sức hiếu học,
đọc rộng các sách, tinh thông lịch pháp, nổi danh
đương thời. Ông làm quan đến chức Trung
Thư Lệnh, và làm Thị Trung thời Tôn
Quyền nhà Đông Ngô, từng làm thầy dạy học
cho thái tử Tôn Ḥa, được
gia
phong tước Thái Tử Thái Phó.
[34] Tam công là Thái Sư, Thái
Phó, Thái Bảo theo quy chế nhà Châu. Đến đời
Minh - Thanh, Tam Công chỉ c̣n
là hư tước nhằm tôn
vinh. Thấp hơn Tam Công là Tam Thiếu (Thiếu Sư, Thiếu
Phó, Thiếu Bảo), nhưng do thời Diêu Quảng Hiếu,
không ai được phong tước Tam Công, cho nên tước vị Thiếu
Sư là cao nhất, chẳng khác Tam Công.
[35] Phật Đồ Trừng
(Buddhacinga, 232-348) là
người xứ Thiên Trúc, có thuyết nói là người xứ
Quy Tư. Ngài nổi tiếng có thần thông, giỏi chú thuật,
để lại các dự ngôn rất chánh xác. Ngài đến
Lạc Duông năm Vĩnh Gia thứ tư (310) đời Tấn
Hoài Đế. Lúc đó, Ngài đă bảy mươi chín tuổi.
Bất nhẫn trước cảnh loạn lạc, Sư
chống gậy vào trong quân của Thạch Lặc (người
sáng lập nhà Hậu Triệu) để thuyết pháp, hiển
hiện thần thông, khiến cho Thạch Lặc hết sức kính phục,
bớt giết chóc, và cho phép người Hán xuất gia làm
Tăng. Sư dựng gần chín trăm ngôi chùa, độ
gần một vạn đệ tử. Các đệ tử
nổi tiếng là Đạo An, Trúc Pháp Thủ, Trúc Pháp Thải,
Trúc Pháp Nhă, Tăng Lăng v.v… Sư không để lại
trước tác, nhưng giữ luật rất nghiêm. Đệ
tử ngài là Thích Đạo An đă cống hiến rất
lớn trong việc hệ thống hóa, thể chế hóa
tăng đoàn tại Trung Hoa.
[36] Tĩnh Nạn là danh xưng của
Châu Đệ dùng khi khởi
binh chống lại sự tiêu diệt của Kiến
Văn Đế đối với
các phiên vương. Tĩnh Nạn có nghĩa là “cứu vua khỏi sự thao
túng của các quyền thần”. Phương Hiếu Nho (có khi đọc
trại thành Hiếu Nhụ), tên tự là Hy Cổ, hiệu
là Tôn Chí. Ông là văn nhân tài giỏi, trung thành, phụng sự
Kiến Văn Đế, quyết liệt chống đối
hành động cướp ngôi của Châu Đệ, nên bị Châu Thành Tổ tống ngục rồi
xử tử.
[37] Dung Trai Tùy Bút là tập
bút kư của Hồng Mại thời Nam Tống, chứa
đựng sử liệu phong phú, nên được
đánh giá rất cao, và được coi là tác phẩm cần
phải đọc khi nghiên cứu lịch sử đời
Tống. Sách được chia thành năm phần là Tùy Bút, Tục Bút, Tam Bút, Tứ
Bút, Ngũ Bút, bao gồm những ghi chép ngắn, mỗi phần đó gọi là một Tắc. Tổ Liên Tŕ cũng
theo h́nh thức này.
[38] Dương Quảng
(569-618) là con thứ hai của Tùy Văn Đế
(Dương Kiên). Khi Dương Kiên soán ngôi của Bắc
Châu Tĩnh Đế (Vũ Văn Diễn), Dương Quảng
được phong làm Tấn Vương. Năm 589, khi mới
hai mươi mốt tuổi, Dương Quảng lập đại công
khi tiêu diệt nhà Trần ở phương Nam, thống nhất
Trung Hoa sau hai trăm năm mươi năm chia cắt.
Sau đó, ông tích cực xây dựng thế lực, tận lực
tranh thủ sự ủng hộ của mẹ là Độc
Cô Hoàng Hậu (Độc Cô A Già La), khiến cho Thái Tử
Dương Dũng bị phế, và Dương Quảng
được phong làm Hoàng Thái Tử. Khi Văn Đế
bệnh nặng vào năm 604, nằm bệnh tại cung
Nhân Thọ, Dương Quảng nắm toàn quyền xử
lư triều chánh. Dương Quảng vào thăm bệnh, thấy
Tuyên Hoa phu nhân (con gái Trần Tuyên Đế, sủng phi của
Tùy Văn Đế) xinh đẹp bèn cưỡng bức.
Văn Đế nghe báo, tức giận, tính phế
Dương Quảng. Dương Quảng bí mật đem
quân vây kín nội cung, sai Trương Hành vào tẩm điện
(cung điện nơi vua nằm) giết chết Tùy
Văn Đế, để lên ngôi vua. Thoạt đầu,
ông khá cần mẫn chánh sự, nhưng về sau càng ngày càng đắm sâu trong dục
lạc, thích tiến hành chiến tranh như tấn công Lâm Ấp,
Cao Câu Ly. Năm 616, ông
rời cung cấm, du hành Giang Nam, ăn chơi xa
xỉ. Năm 618, ông bị Hứa Quốc Công Vũ Văn
Hóa Cập sát hại tại Giang Đô, mở ra thời
loạn lạc mới khi các tướng lănh quân phiệt đứng lên
chia cắt Trung Hoa như Đậu Kiến Đức, Lư
Quỹ, Lư Uyên (Đường Cao Tổ), La Nghệ, Tiêu Tiển,
Lư Mật, Vương Thế Sung v.v...
[39] Cá chuối hoa (lễ
ngư (鱧魚), blotched snakehead fish) là
một loại cá nước ngọt thuộc họ Cá Quả
(cá lóc). Do thân cá có những đốm
đen loang lổ, nên gọi tên như vậy.
Nó c̣n được gọi bằng cách danh xưng như
Ban Lễ (cá vằn), lôi ngư, đồng ngư, xà đầu
ngư (cá đầu rắn), hoa lễ v.v…
[40] Nam Giao (南郊) là vùng đất ở
phía Nam của ngoại ô kinh thành, nơi thiên tử lập
đàn tế trời đầu năm. Lễ tế ấy
cũng gọi là lễ Nam Giao.
[41] Ngày Thượng Tân là
ngày đầu tiên trong tháng âm lịch có chữ Tân (như
ngày Tân Sửu, Tân Măo v.v…) chẳng hạn.
[42] Thiên Hoàng Đại Đế chính là
Câu Trần Thượng Cung Nam Cực Thiên Hoàng Đại
Đế, một trong tứ ngự của Đạo
giáo.
[43] Cảnh Cung, tự là
Bá Tông, là tướng nhà Đông Hán, thuộc một gia tộc
sang quư. Cha ông là Trung Lang Tướng Cảnh Quảng, ông nội
là Cảnh Huống (thái thú quận Thượng Cốc).
Năm Vĩnh B́nh 17(74) đời Hán Minh Đế, ông
được phong làm Tư Mă cho Kỵ Đô Úy Lưu
Trương để chinh phạt quân Xa Sư. Sau khi thắng trận, ông
được phong làm Mậu Kỷ Hiệu Úy, nhiều lần
đánh bại quân Hung Nô xâm chiếm Hán địa, cũng
như trấn áp người Khương dấy loạn.
Cuối cùng, do bị đàn hặc bởi Giám Doanh là Lư
Đàm, ông bị bỏ tù, cuối cùng bị băi quan, đuổi về làm dân.
[44] Tử Thiều
là tên tự của Trương Cửu Thành (1092-1159), ông c̣n
có hiệu là Vô Cấu, và Hoành Phố cư sĩ, là quan viên
thời Nam Tống, đồng thời là học giả.
Ông quen thân với thiền sư Đại Huệ Tông Cảo,
được Sư ấn chứng sự giác ngộ.
[45] Khắc Nhân
là tên tự của Hồ Thọ An. Ông là người Y Huyện
tỉnh An Huy, làm quan tri huyện của huyện Tân Phồn
thuộc tỉnh Tứ Xuyên dưới đời Minh. Ông
khí tiết thanh cao, liêm khiết. Ở chỗ làm quan, ông tự
trồng một vườn rau để ăn, không dùng
đến cá thịt. Người đương thời
gọi ông là Thái tri huyện (quan huyện ăn rau).
[46] Theo Truy Môn
Tông Hạnh Lục, đời Đường có vị
Tăng đến hỏi thiền sư Đại Tùy: “Kiếp
hỏa rỗng toang, đó là hoại hay bất hoại?”
Sư nói: “Hoại”. Tăng thưa: “Như vậy th́ theo
cái khác đi?” Sư đáp:
“Theo cái khác đi!” Vị tăng ấy nghi hoặc, liền
đi tham học với thầy bạn, rong ruổi vạn
dặm!
[47] Bế quan đến
chết th́ gọi là Tử Quan.
[48] Châu Hợi là một du
hiệp (kẻ hành hiệp lang thang trên giang hồ) ở
nước Ngụy thời Chiến Quốc, có sức rất
mạnh. Ông ta ẩn thân nơi chợ búa, làm đồ tể
tại kinh đô Đại Lương. Năm 258 trước
Công Nguyên, do được Hầu Doanh tiến cử, ông
trở thành khách quư của Tín Lăng Quân (Ngụy Vô Kỵ),
sử dụng quả chùy nặng bốn mươi cân
đập chết Tấn Bỉ, đoạt binh quyền
để giải cứu nước Triệu, giải trừ
nguy cơ thôn tính lục quốc của nước Tần.
Vân Trường là tên tự
của Quan Vũ (Quan Công).
Điển Vi là vũ
tướng dưới trướng Tào Tháo, nổi danh
dũng mănh, trung thành với Tào Tháo. Năm 197, Tào Tháo tấn
công đất Uyển, tướng trấn giữ là Trương Tú đầu
hàng. Mười ngày sau, bất ngờ Trương Tú làm phản,
tấn công doanh trại của Tào Tháo. Tào Tháo bị động, không xoay chuyển
t́nh thế được, phải lên ngựa chạy trốn.
Điển Vi cầm kích trấn ở cửa, quân
Trương Tú không vào được. Cho tới khi Điển Vi thế cùng lực kiệt,
bị giết chết.
[49] Không Ấn là pháp sư Trấn Trừng
Không Ấn thuộc tông Hoa Nghiêm, sống vào đời Minh,
người xứ Uyển B́nh thuộc tỉnh Hà Bắc.
Sư học tập kinh Hoa Nghiêm mười mấy năm,
các trước tác nổi tiếng là Kim Cang Kinh Chánh Nhăn và
Bát Nhă Chiếu Chân Luận.
[50] Thiền sư Huệ Hải Đại
Châu sống vào đời Đường, theo học với
pháp sư Đạo Trí chùa Đại Vân thuộc Việt
Châu. Ngài đến Giang Tây tham yết Mă Tổ Đạo
Nhất, sáu năm sau đại ngộ, trở về Việt
Châu. Ngài có soạn Đốn Ngộ Nhập Đạo Yếu
Môn Luận, được Mă Tổ khen ngợi là Đại
Châu Viên Minh.
[51] Đây là một khái niệm
trong giáo nghĩa của tông Hoa Nghiêm. Từ sơ phát tâm Bồ
Tát đến Phật quả, nếu luận theo thứ tự
của các địa vị trước sau th́ gọi là
Hàng Bố (行布,
gọi đủ là Thứ Đệ Hàng Bố Môn), c̣n nếu
thấy đầu và cuối chính là lẫn nhau,
không hề tách rời th́ là Viên Dung (圓融, gọi
đủ là Viên Dung Tương Nhiếp Môn). Nếu xét theo
cấu trúc của kinh Hoa Nghiêm, từ hội thứ hai là
Như Lai Danh Hiệu cho đến phẩm Quang Minh, gồm
hai mươi tám phẩm nói về các địa vị Tín,
Trụ, Hạnh, Hồi Hướng, Địa, và Phật
quả, thứ tự sai biệt, nên gọi là Hàng Bố
Môn. Nếu nói vừa mới phát tâm liền thành Chánh Giác th́
là Viên Dung Môn.
[52] Tức ngài Trường
Thủy Tử Tuyền. Ngài sống vào đời Bắc Tống, tự là Trọng Vi,
hiệu là Trường Thủy (do trụ tại chùa Trường Thủy).
Sư đặc
biệt hướng theo tông Hoa Nghiêm. Thoạt đầu
Ngài y chỉ pháp sư Bổn Châu Hồng Mẫn học
kinh Lăng Nghiêm. Sau đó,
đến
tham học với thiền sư Lang Da Sơn Huệ Giác,
hoát nhiên đại ngộ, muốn nối pháp của thiền
sư. Ngài Lang Da nói: “Tông của ông không được
hưng thịnh, hăy nên dốc sức phù tŕ ḥng báo ân đức
của Phật, đừng bận tâm đến tông khác”. Sư bèn lạy tạ,
vâng theo, nỗ lực trùng
hưng tông Hoa Nghiêm. Về sau, Sư trụ tại chùa Trường Thủy thuộc
Tú Châu, dùng giáo nghĩa của
tông
Thiên Thai để viết sớ giải các kinh như
Lăng Nghiêm v.v… đều được lưu hành trong
cơi đời. Sư từng
được triều đ́nh ban hiệu là Trường
Thủy Sớ Chủ Lăng Nghiêm đại sư.
[53] Bạch Trạch (白澤)
là một thụy thú (con thú tốt lành, cát tường)
trong thần thoại cổ; hễ
trông thấy nó sẽ gặp chuyện tốt
lành, tà mị tránh xa. Nó có thể nói tiếng người,
biết rơ t́nh huống của vạn vật, quỷ thần
trong thế gian. Tương truyền khi Hoàng Đế tuần
thú, tại bờ Đông Hải đă gặp Bạch Trạch, liền
thỉnh giáo Bạch Trạch về chuyện
quỷ thần. Bạch Trạch đă nêu ra 11.520 loại
chuyện quỷ thần. Hoàng Đế cho chép lại và vẽ
h́nh cho dân chúng biết, tạo thành tập sách gọi là Bạch
Trạch Đồ (hay Bạch Trạch Tinh Quái Đồ).
Sách chép cặn kẽ danh hiệu, h́nh dáng và cách xua đuổi
các loài quỷ quái ấy. Bạch Trạch được
mô tả có h́nh dáng giống như con dê trắng, mặt
người, có sừng ở trên vai, bốn chân đen, mỗi
bên hông có ba mắt v.v…
[54] Sách Dịch Sử (繹史) chép: “Vua Nghiêu lập
ra cái trống để người dám can gián đánh. Vua
Thuấn lập cột treo biển gỗ để ghi chép
lời bài báng, vua Thang có người chuyên can gián, vua Vũ
có bài minh răn nhắc hăy cẩn trọng. Bốn vị
quân tử ấy là bậc thánh nhân mà c̣n siêng năng [nghe lời
can gián] dường ấy”.
[55] Tức là Bao Chửng
(999-1062), tên tự là Hy Nhân,
người xứ Hợp Ph́, Huy Châu (nay là thành phố Hợp
Ph́, tỉnh An Huy), làm quan đến chức Xu Mật Sứ,
Cấp Sự Trung, thụy hiệu là Hiếu Túc. Ông nổi
danh là người thiết diện vô tư, chánh trực,
nên người đương thời gọi ông bằng mỹ
hiệu Bao Thanh Thiên, được tôn xưng là thần
tư pháp của Trung Hoa. Do ông từng giữ chức Thiên
Chương Các Đăi Chế, nên c̣n được gọi
là Bao Đăi Chế. Về
sau, ông được thăng lên làm Long Đồ Các Trực
Học Sĩ, nên lại được gọi là Bao Long
Đồ. Tương truyền, mặt ông đen x́, nên thường bị những
người thù ghét gọi là Bao Hắc Tử, hay Bao Hắc
Thán. Ông nổi tiếng hiếu thảo, v́ sau khi đỗ
tiến sĩ năm Thiên Thánh thứ năm (1027) đời
Tống Nhân Tông, do có cha mẹ già, dù được bổ
làm Đại Lư B́nh Sự, ông không đi làm quan. Vua lại
phong làm tri huyện Kiến Xương, ông cũng không
đi. Về sau, ông lại được bổ
làm quan trông coi thuế vụ ở Ḥa Châu, do cha mẹ vẫn
c̣n, ông nhất quyết
không ra làm quan. Khi cha mẹ mất, ông dựng lều tranh
bên mộ, cư tang suốt ba năm rồi mới ra làm
quan. Ông nổi tiếng cương trực, từng dâng sớ
đàn hặc Chuyển Vận Sứ Giang Tây Vương Lục
tham ô, cũng như đàn hặc Trương Nghiêu Tá là họ
hàng của Trương hoàng hậu lộng quyền. Khi
được bổ làm Long Đồ Các Trực
Học Sĩ, kiêm tri Khai Phong Phủ, ông thẳng tay trừng
trị bọn quyền quư gian tà, không cần biết chúng là hoàng thân quốc
thích. Hoàng
đế cũng phải kiêng sợ ông mấy phần. Do nước
sông Hoàng Hà luôn đục ngầu v́ nước sông cuốn theo phù sa từ vùng hoàng thổ
ở miền Bắc Trung Hoa, người ta ví von “Hoàng hà
nước trong, sẽ có thánh nhân ra đời”.
[56] Nguyên văn Cảo Nhai
(稿街) là một khu phố ở
thành Trường An thường có đông người ngoại
quốc cư ngụ. Trong lịch sử, nơi này thường
treo thủ cấp những kẻ phạm tội. Chẳng
hạn như thời Đông Hán, sau khi Trần Thang diệt
được Chất Chi Thiền Vu, đă đem thủ
cấp của hắn treo tại Cảo Nhai. Về sau, Cảo
Nhai được dùng như thành ngữ chỉ nơi
đông đúc ở kinh thành, thường bêu đầu tội
phạm.
[57] Đoan Công
Thái Bảo (端公太保) vốn
là từ ngữ dùng để chỉ các vu sư (thầy
đồng cốt) nam giới đất Thục. Về
sau, từ ngữ này được gọi chung cho những
thầy đồng cốt nam giới. Đại Minh Luật
ghi rơ: “Những vu sư giả vờ được tà
thần nhập, vẽ bùa, tụng chú vào nước, cầu
đảo thánh, tự xưng là Đoan Công, Thái Bảo,
Sư Bà, lừa dối xưng ḿnh là Di Lặc Phật, Bạch
Liên Xă, Minh Tôn Giáo, Bạch Vân Tông v.v… sử dụng tà đạo
gây rối lẽ chánh, hoặc ẩn giấu tranh ảnh,
đốt hương tụ tập đại chúng,
đêm tụ lại, sáng tan đi, lừa gạt nhân dân, kẻ
cầm đầu sẽ bị thắt cổ, mỗi kẻ
hùa theo bị đánh một trăm trượng, đày
đi ba ngàn dặm”.
[58] Tôn Hạo (243-284) là vua cuối cùng của
Đông Ngô thời Tam Quốc. Ông tên tự là Nguyên Tông và Hạo
Tông, vốn là con của phế thái tử Tôn Ḥa, cháu nội
của Ngô Đại Đế (Tôn Quyền). Sau khi Ngô Cảnh
Đế (Tôn Hưu) mất lúc ba mươi tuổi, do
thái tử Tôn Quân quá nhỏ, triều đ́nh đă đề
nghị đưa Tôn Hạo lên làm vua. Tôn Hạo hoang dâm, xa
xỉ, vô đạo, giết hại kẻ trung
lương, tin dùng hoạn quan, chẳng quan tâm chánh sự,
đối xử hà khắc với những kẻ ông ta
nghi ngờ. Năm 280, Tấn Vũ Đế (Tư Mă Viêm)
xua quân tấn công Đông Ngô, Tôn Hạo bị bắt giải
về Lạc Dương, nhà Đông Ngô diệt vong.
[59] Cung h́nh (宮刑) là một loại h́nh
phạt tàn khốc thời cổ, nam th́ bị thiến, nữ
th́ bị hành hạ cho đến mất khả năng
sanh nở.
[60] Văn Sơn là biệt
hiệu của Văn Thiên Tường (1236-1283), thoạt
đầu ông có tên là Vân Tôn, tự là
Thiên Tường và Tống Thụy, hiệu là Phù Hưu
đạo nhân, thụy hiệu là
Trung Liệt. Sau
khi đỗ Tiến Sĩ, ông lấy Thiên Tường làm
tên, đặt tự là Lư Thiện. Về sau, do ngụ tại núi Văn Sơn, nên lấy hiệu là Văn
Sơn. Ông là quan viên, thi nhân và anh hùng lănh tụ chống quân
Mông cuối đời Tống. Khi kháng chiến thất bại,
nhà Tống diệt vong, ông bị bắt, thà chết chẳng
đầu hàng. Hốt Tất Liệt đích thân dụ
hàng, ông vẫn bất khuất, nên bị xử tử. Bài
Chánh Khí Ca của ông khiến cho bao người đọc đến đều
xúc động ứa lệ.
[61] Đây là một câu thơ trong bài
Trường Hận Ca của Bạch Cư Dị (bài
thơ mô tả mối sầu hận của Đường
Huyền Tông đối với Dương Quư Phi sau khi
Dương Quư Phi bị ép thắt cổ chết ở Mă
Ngôi trong loạn An Lộc Sơn): “Lâm biệt ân cần
trùng kư ngữ, từ trung hữu thệ lưỡng tâm
tri. Thất nguyệt, thất nhật, Trường Sanh
điện, dạ bán vô nhân tư ngữ thời” (Tạm
dịch: Giă biệt ân cần lại gởi lời, nhắn
lời thề thốt thiếp chàng hay. Trường Sanh
Điện ngày Bảy tháng Bảy, đêm thâu không người
để giăi bày).
[62] Quỹ (簋) là một thứ đồ
đựng bằng đồng xanh, sâu ḷng, h́nh tṛn, có nắp
hoặc không có nắp, không có quai, hai quai, hay bốn quai, chân uốn cong, dùng để
đựng vật cúng. Quỹ xuất hiện từ đời
Thương và dùng măi tới thời Chiến Quốc. Do vậy,
“nhị quỹ” nghĩa là hai món ăn.
[63] Nước gạo ở
đây chẳng phải là nước vo gạo mà là các thứ
ăn thừa, đổ chung vào một chỗ, có thể
thiu mốc, thường dùng để nuôi lợn. Bà cụ
quá nghèo, cô đơn, không có ǵ ăn, phải xin nước
gạo về ăn cầm hơi. Chuyện này trích từ kinh Phật Thuyết
Ma Ha Ca Diếp Độ Bần Mẫu.
[64] Trác Ngô là hiệu của
Lư Chí (1527-1602). Ông vốn có tên là Lâm Tải Chí. Về sau, đổi sang họ Lư, và rút
gọn Tải Chí thành Chí, tự là Hoằng Phủ, hiệu
là Trác Ngô, Ôn Lăng cư sĩ, Đốc Ngô, Bách Tuyền
cư sĩ, Hoằng Phụ, Tư Trai, Long Hồ Tẩu,
Ngốc Ông v.v… Lư Chí quê ở Tấn Giang, thuộc
Phước Châu, tỉnh Phước Kiến, từng làm tri phủ của Diêu Giang tỉnh
Vân Nam. Ông là một
tư tưởng gia nổi tiếng trong thời Vạn Lịch
nhà Minh. Gia đ́nh ông sống bằng kinh doanh đường
biển, từng căng buồm sang tận eo biển Ba
Tư, tổ tiên ông từng lấy vợ ngoại quốc.
Do vậy, ông chịu ảnh hưởng rất sâu của
đạo Hồi. Sau khi tang cha, ông xin làm giáo sư tại
Quốc Tử Giám, cũng như mở
trường tư thục dạy học. Ông được người
đương thời coi là kẻ công khai loan truyền
tư tưởng dị đoan, coi thường đạo
Khổng, sống chung chạ với nhiều phụ nữ.
Về sau, ông bị Cấp Sự Trương Vấn dâng sớ
tố cáo, bị tống giam, phải tự vẫn trong ngục.
[65] Phùng Đạo
(882-954), tự Khả Đạo, hiệu Trường Lạc
Lăo, là một quan viên thời Ngũ Đại, từng làm
tể tướng trải năm triều đại, tám họ,
mười một vua khác nhau, “bao nhiêu triều đại
chẳng ĺa ngôi Tể Tướng, chẳng ĺa địa
vị tam công, nhị sư”. Trước sau, ông ta làm quan bốn mươi mấy
năm. Dù triều đại thay đổi, luôn vững
như con lật đật. Nho gia hết sức chê trách
thái độ xun xoe, không hề có ḷng trung quân của ông ta.
[66] Nhiếp Chánh là thích
khách nổi tiếng thời Xuân Thu. Theo Sử Kư, ông ta v́
Nghiêm Trọng Tử mà ám sát tướng quốc nước
Hàn là Hiệp Lũy. Do Nghiêm Trọng Tử tâu tŕnh tội
lỗi của Hiệp Lũy, sợ bị báo thù, toan tính “tiên hạ thủ vi cường”, t́m cầu thích khách khắp
nơi. Đến đất Tề, nghe danh Nhiếp Chánh
v́ lỡ tay giết người mà phải ẩn danh trong phường đồ
tể, Nghiêm Trọng Tử
bèn t́m đến biếu vàng, nhưng Nhiếp Chánh từ
chối. Khi măn tang mẹ, Nhiếp Chánh t́m đến báo
ơn Nghiêm Trọng Tử. Từ chối sự giúp đỡ
của họ Nghiêm, Nhiếp Chánh một ḿnh xông vào phủ
tướng quốc, đâm chết Hiệp Lũy, hạ
thủ thêm mấy chục người rồi tự hủy
da mặt, móc mắt trước khi móc ruột tự tử.
[67] Phạm Tăng là
mưu sĩ kiệt xuất của Hạng Vũ (Tây Sở
Bá Vương). Về sau, Hạng Vũ
trúng kế phản gián của Trương Lương, nghi
ngờ và xa lánh Phạm Tăng. Phạm Tăng uất ức
thành bệnh mà chết.
[68] “Khoan dũ ôn nhu”
thường được giải thích như sau: Tâm
địa rộng răi, bao dung, không chấp nhân ngă là Khoan.
Thuần thuận theo tự nhiên, trọn chẳng có ư niệm
nóng vội là Dũ. Ôn ḥa, chí thiện, chân thật, chẳng
hư vọng là Ôn. An lạc tự nhiên, trọn chẳng
hung bạo là Nhu.
[69] Tử Tư là tên tự
của Khổng Cấp (483-402 trước Công Nguyên), cháu nội
của Khổng Tử, được tôn xưng là Thuật
Thánh trong Nho gia, con trai của Khổng Lư. Do khi ông bốn tuổi,
Khổng Tử đă mất, nên ông theo học với
Tăng Sâm. Ông làm quan dưới đời Lỗ Mục
Công (Cơ Hiển). Theo truyền thống, ông được
coi là tác giả của sách Trung Dung. Ông c̣n viết một
sách khác gọi là Tử Tư Tử, nhưng đă thất
truyền. Mạnh Tử (Mạnh Kha) theo học với môn
đệ của Khổng Cấp.
[70] Thiền sư
Tương Sơn Pháp Tuyền, pháp danh là
Đạo Ninh, là một vị cao tăng thuộc tông Tào
Động, từng trụ tŕ chùa Khai Phước ở
Đàm Châu. Thoạt đầu, Sư theo học với thiền
sư Tuyết Đậu Lăo Lương, về sau thân cận
thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn, đốn triệt
nguồn pháp.
[71] Vương Nhật
Hưu (1105-1173), tự Hư Trung, người xứ Long
Thư thời Nam Tống (nay là Thư Thành, tỉnh An Huy).
Ông chuyên tâm nghiên cứu Nho học. Vào thời Tống Cao
Tông, từng thi đỗ Quốc Học Tấn Sĩ,
nhưng không ra làm quan. Ông sáng tác Lục Kinh Huấn Truyền
mấy vạn chữ. Về sau chuyên tu Tịnh Độ,
viết Long Thư Tịnh Độ Văn để khuyên
đời và hội tập kinh Vô Lượng Thọ (hoàn
tất vào năm 1163).
[72] Tống Cảnh Liêm
(1310-1381), tên thật là Tống Liêm, tự là Cảnh Liêm, hiệu
Tiềm Khê, Vô Tướng
Cư Sĩ, và Huyền
Chân Tử. Ông là quan viên, văn gia và sử
gia sống vào đời Minh. Ông là thầy của
Phương Hiếu Nho, từng là thầy dạy cho thái tử,
làm quan Hàn Lâm Học Sĩ Thừa Chỉ Tri Chế Cáo, tu
chỉnh bộ Nguyên Sử, biên soạn Đại Minh Nhật
Lịch, Hoàng Minh Bảo Huấn. Minh Thái Tổ thường triệu ông ta vào
cung để thưa hỏi Phật pháp. Về sau, do bị vụ án Hồ Duy
Dung liên lụy, Minh Thái Tổ xử ông tội chết. Do
hoàng hậu và thái tử cực lực cầu xin, vua chỉ
phạt đày sang Mậu Châu thuộc
tỉnh Tứ Xuyên. Ông chết tại đó. Liên Tŕ đại sư từng tập
hợp các trước tác của ông ta, tạo thành bộ Hộ
Pháp Lục, lại c̣n đích thân soạn bài minh trên tháp mộ
của ông ta, coi ông ta như một vị sa-môn.
[73] Chiêu Minh thái tử tên
thật là Chiêu Thống (501-531), tự là Đức Thi, là
con cả của Lương Vũ Đế (Tiêu Diễn),
được phong làm Thái Tử khi chưa đầy một
tuổi. Ông thông minh, hiếu thuận, sùng đạo. Ông mất
sớm (khi chưa tṛn ba mươi tuổi). Ông để
lại tác phẩm Văn Tập (tổng tập thi
văn), gồm ba mươi
tập, về
sau đổi tên thành Chiêu Minh Văn Tuyển. Ngoài ra c̣n có các tác phẩm Cổ Kim
Điển Cáo Văn Ngôn Chánh Tự (mười quyển),
Anh Hoa Tập (hai mươi quyển) v.v… Ông đă chia kinh Kim Cang
thành ba mươi hai đoạn và mỗi đoạn dùng bốn
chữ để khái quát nội dung, chẳng hạn
như Pháp Hội Nhân Do, Thiện Hiện Khải Thỉnh,
Đại Thừa Chánh Tông v.v…
[74] Lữ Khôn (1536-1618), tự
là Thúc Giản, hiệu là Tân Ngô, Tâm Ngô, và Băo Độc
cư sĩ, là quan viên thời minh, đồng thời là một
tư tưởng gia. Ông đỗ Tiến Sĩ thời Vạn
Lịch, làm quan tới chức H́nh Bộ Thị Lang. Do bị
vu cáo là a dua với Trịnh Quư Phi trong việc tranh thủ
sách lập cho Phước Vương Châu Thường Duân
làm Thái Tử, ông bất măn, từ quan hồi hương.
Ông phản đối thuyết Lư Khí bất nhị của
Châu Hy, chê bai Lư Học là hư ngụy, hủ bại, nông cạn,
mong mỏi phục hồi Nho học thời Tiên Tần.
Ông viết Thân Ngâm Ngữ, Khử Ngụy Trai
Văn Tập, Thật Chánh Lục, Cận Khê Ẩn Quân Gia
Huấn, Tứ Lễ Ước
Ngôn v.v…
để tŕnh bày quan điểm.
[75] Thời Minh, quan phục
của quan lại thuộc bát phẩm hay cửu phẩm có
màu lục, hoặc áo mặc của người đỗ
Tiến Sĩ đều có màu lục, nên “lục bào”
tượng trưng cho người có quan chức.
[76] Theo bài viết về
B́nh thị giả đăng trên báo Minh Luân kỳ 491 của
tác giả Hành Kiện, B́nh thị giả theo hầu thiền
sư Cảnh Huyền Minh An tại Thái
Dương Sơn Tự (nay thuộc huyện Thường
Đức, tỉnh Hồ Nam), khoe là đạt được
yếu chỉ của ngài Minh An, nhưng một dạ truy
cầu pháp sanh diệt trong thế gian, mưu toan hăm hại
đồng học, đố kỵ những ai giỏi
giang hơn ông ta. Trước khi ngài Minh An viên tịch,
lưu lại di chúc: “Nếu sau mười năm, toàn thân ta chẳng bị phá
hoại, hăy lập hội cúng trai tăng tại Thái
Dương sơn tự”. Khi nhập tháp, môn nhân sợ
B́nh thị giả sẽ gây hại cho di thể của Minh
An thiền sư, viết rơ trong bia tháp “tất cả vàng, bạc, tài
vật do đô úy Lư Văn Ḥa hiến cúng trước
đó đều được
chôn theo trong tháp”. Về sau, một hôm, B́nh thị giả
nói: “Linh cốt của tiên sư gây bất lợi cho phong
thủy của Thái Dương Sơn Tự, phải thiêu
đi”. Trưởng lăo và bậc kỳ túc trong núi phản
đối, hắn quả quyết “sẽ gây trở ngại
cho tôi” rồi phá tháp, lôi di thể ra, thấy thiền
sư dung mạo như khi c̣n sống, bèn chất củi đốt.
Củi cháy hết, di thể vẫn trang nghiêm như cũ.
Hắn liền dùng búa lớn đập vỡ năo của
di thể thầy, đổ thật nhiều dầu vào rồi
chất củi đốt thành tro tàn. Tăng chúng thưa
lên quan, quan phán hắn âm mưu cướp vật dụng
trong tháp, bất kính, bất hiếu đối với tiên
sư, đuổi hắn hoàn tục. Hắn bèn tự
xưng là Hoàng Tú Tài. Hắn lần lượt đến
xin nương nhờ thiền sư Quảng Chiếu tại
núi Lang Da và thiền sư Viên Giám núi Công An, nhưng đều
bị các Ngài cự tuyệt, chỉ đành lưu lạc,
cuối cùng bị cọp ăn tại nẻo đường
Tam Xoa!
[77] Đoạt xá là từ
ngữ của Đạo giáo, quan niệm rằng một
người có thần thông, khi tuổi thọ sắp hết,
có thể dời chuyển linh hồn chiếm đoạt
xác thân của một người khác trẻ khỏe
hơn.
[78] Ngài Tịnh Nghiêm Thủ
Toại tu hành tại núi Đại Hồng thuộc Tùy Châu
vào thời Bắc Tống. Sư xuất gia lúc hai mươi bảy tuổi,
do
đọc kinh Hoa Nghiêm có tâm đắc, coi kinh ấy như của chí bảo, thề
suốt đời hoằng dương Hoa Nghiêm. Sư tham yết thiền sư Đại
Hồng Báo Ân ở Tùy Châu, đắc pháp, kế thừa
pháp của ngài Đại Hồng. Sư có bài Lễ Hoa Nghiêm Kinh
Văn. Bài này được tổ Liên Tŕ đưa vào
trong phần Chư Kinh Tập Yếu trong Vân Thê Pháp Vựng.
Sư viết chú giải cho
Phật Tổ Tam Kinh (tức kinh Tứ Thập Nhị
Chương, kinh Di Giáo, và Quy Sơn Cảnh
Sách của ngài Quy Sơn Linh Hựu).
[79] “Sa lung” (紗籠) tức là dùng the làm thành cái màn che bụi để bảo vệ thơ văn của danh nhân viết trên
vách; dựa theo câu chuyện một vị quan lớn khi bần
hàn, sống nhờ một ngôi chùa, bị coi thường,
khinh miệt. Đến khi ông đỗ đạt,
tăng sĩ trong chùa dùng the bọc bài thơ ông đề
trên vách để tỏ ḷng trân trọng. Anh của Tổ Liên Tŕ dùng điển tích này để
châm biếm thói xu phụ người quyền quư của
ông Tăng ấy.
[80] Địch công là một
viên quan sống vào thời Hán Vũ Đế, giữ chức
quan Đ́nh Úy, khách lui tới nườm nượp. Sau bị
băi chức, trước sân vắng vẻ đến nỗi
có thể giăng lưới bắt chim. Về sau, vua cho
phục chức Đ́nh Úy, khách khứa lũ lượt
kéo tới. Ông bực ḿnh đề bảng ở cửa rằng:
“Một chết, một sống, mới biết giao t́nh.
Một nghèo, một giàu, mới biết giao du trong thói đời.
Một quư, một hèn, giao t́nh mới thấy”.
[81] Phương bào (方袍) nghĩa là áo vuông, tức
y ca-sa của tăng nhân, do khi trải ra giống như một
tấm chăn lớn, nên gọi
tên như vậy.
[82] Theo bộ Thiền Hải Lăi Trắc của
cụ Nam Hoài Cẩn, thiền sư Đâu Suất Tùng Duyệt thoạt đầu yết
kiến ngài Chân Tịnh, có vị sư Thanh Tố đă
tham học với ngài Từ Minh đă lâu, ở một cái
thất gần đó, chưa từng qua lại với ai.
Do ngài Tùng Duyệt đang ăn quả vải chấm mật,
thấy Thanh Tố đi ngang, liền mời Thanh Tố ăn. Qua tṛ chuyện, Tùng Duyệt mới biết Thanh Tố
theo hầu ngài Từ Minh đă lâu, làm việc nặng trong
chùa suốt mười ba năm. Ngài Đâu Suất Tùng Duyệt khâm phục, hỏi
đạo với ngài Thanh Tố. Thanh Tố
cho biết đă được ngài Từ Minh thọ kư,
nhưng bảo là “phước bạc, [thầy dặn] không được nói
cho người khác biết”. Do vậy, Thanh Tố dùng thiền cơ khảo
hạch, cuối cùng ấn khả cho Đâu Suất Tùng Duyệt.
[83] Tô Minh Doăn chính là Tô Tuân
(1009-1066), tên tự là Minh Doăn, người
huyện My Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, là một văn
sĩ nổi tiếng thời Bắc Tống. Ông chính là cha
của Tô Thức (Tô Đông Pha) và Tô Triệt. Cả ba cha
con đều nổi tiếng về văn chương,
nên được gọi gộp chung là Tam Tô.
[84] Ư nói: Từ một
mạch Thiền của Tổ Bồ Đề Đạt
Ma, tách ra thành năm phái là Lâm Tế, Vân Môn, Tào Động,
Quy Ngưỡng, và Pháp Nhăn.
[85] Lưu Khoan (120-185), tự
là Văn Nhiêu, người huyện Hoa Âm, quận Hoằng
Nông thời Đông Hán. Ông làm đến chức Thái Úy thời
Hán Linh Đế. Lúc mất, được
phong làm Chiêu Liệt Hầu.
[86] Kim Cang Trí (Vajrabodhi, 669-741) là tổ
sư của Hán Truyền Đông Mật. Sư là người
xứ Ma Lại Da, Ấn Độ, thuộc chủng tánh
Bà La Môn, thông minh, dĩnh ngộ từ nhỏ. Khi mười
tuổi, xin xuất gia tại chùa Na Lan Đà, y chỉ pháp
sư Tịch Tĩnh học Thanh Minh. Từ mười
lăm tuổi, Sư dùng bốn năm học tập các
trước tác của luận sư Pháp Xứng. Sau khi thọ
giới lúc hai mươi tuổi, Sư dùng sáu năm học
giới luật Đại, Tiểu Thừa, và các bộ luận
Bát Nhă Đăng Luận, Bách Luận, Thập Nhị Môn Luận
v.v… Sau đó, theo ngài Thắng Hiền học Duy Thức
như Du Già Luận, Duy Thức Luận, Biện Trung Biên Luận
v.v… Lúc ba mươi mốt tuổi, Sư theo ngài Long Trí học
Mật Tông, chuyên nghiên cứu giáo hệ Kim Cang Giới
như các kinh Kim Cang Đảnh Du Già, Tỳ Lô Giá Na Tổng
Tŕ Đà La Ni, thọ trọn Ngũ Bộ Quán Đảnh.
Sau khi chiêm bái các thánh tích tại nước Sư Tử,
Sư chuẩn bị sang Đông Độ. Sư ngồi
thuyền theo đường biển đi qua hơn hai
mươi nước như Sư Tử, Phật Thệ…
đến Quảng Châu, được tiếp đăi rất
trọng vọng. Sư kiến lập đàn tràng Đại
Mạn Đà La tại đó. Năm sau, Sư đến Lạc
Dương, bắt đầu truyền giáo tại Trường
An và Lạc Dương. Trước sau, Sư trụ tại
các chùa Từ Ân, Tiến Phước, Tư Thánh, Đại
Tiến Phước v.v… Trước sau, Sư chủ tŕ dịch
các bộ Kim Cang Đảnh Du Già Trung Lực Xuất Niệm
Tụng Kinh, Thất Câu Chi Phật Mẫu Chuẩn Nê Đại
Minh Đà La Ni Kinh, Kim Cang Đảnh Kinh Mạn Thù Thất
Lợi Bồ Tát Ngũ Tự Tâm Đà La Ni Phẩm, Quán Tự
Tại Như Ư Luân Bồ Tát Du Già Pháp Yếu, Kim Cang Đảnh
Du Già Tu Tập Tỳ Lô Giá Na Tam Ma Địa Pháp, Thiên Thủ
Thiên Nhăn Quán Tự Tại Bồ Tát Quảng Đại Viên
Măn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Chú Bổn v.v… Ngài
c̣n giảng giải Kim Cang Đảnh Du Già Trung Lược
Xuất Tụng Niệm Kinh, được các đệ tử
ghi lại thành tác phẩm Kim Cang Đảnh Kinh Đại
Du Già Bí Mật Tâm Địa Pháp Môn Nghĩa Quyết.
Bất Không Kim Cang (Amoghvajra, 705-774), đôi khi
c̣n được dịch là Công Đức Bất Không, hoặc
phiên âm là A Mô Già, A Mục Khư. Sư là học tṛ của
ngài Kim Cang Trí. Sư vốn là người nước
Sư Tử (Sri Lanka), theo học với Kim Cang Trí từ
lúc mười bốn tuổi. Khi ngài Kim Cang Trí sang Trung Hoa,
Sư cũng đi theo. Tới năm 724, Sư thọ Cụ
Túc Giới tại chùa Quảng Phước. Khi ngài Kim Cang
Trí dịch kinh, thường dùng ngài Bất Không làm công tác dịch
ngữ. Do muốn học thêm Mật pháp, sau khi thầy mất,
Sư đă dẫn các đệ tử như Hàm Quang, Huệ
Biện v.v… trở về Ấn Độ, sau một
năm mới đến nước Sư Tử. Sư bái
yết Phổ Hiền A Xà Lê, học Đại Bi Thai Tạng,
học Ngũ Bộ Quán Đảnh, Sư quên ăn bỏ
ngủ để học pháp. Năm 746, Sư trở lại
Trung Hoa, vâng chiếu trụ tại chùa Hồng Lô ở
Trường An, rồi sang chùa Tịnh Ảnh để
chuyên dịch kinh, truyền pháp. Sư phiên dịch khá nhiều,
tổng cộng 142 quyển, chủ yếu là kinh Mật
Tông và một số luận, sớ như Đại Thừa
Duyên Sanh Luận, Kim Cang Đảnh Du Già Trung Phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm Luận, Kim Cang
Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Phân Biệt Thánh Vị
Pháp Môn, Bát Nhă Lư Thú Thích, Nhân Vương Bát Nhă Đà La Ni
Thích.
[87] Lục súc: Sáu loại
gia súc (ngựa, trâu hoặc ḅ, dê, lợn, chó, gà), nói rộng
ra là các loại gia súc.
[88] Quách
(槨) là lớp bọc
ngoài quan tài, thường là
một cỗ quan tài lớn hơn. Hồn kiệu (魂轎)
là một cái kiệu thường làm bằng tre dán giấy
trang trí, bên trong đặt bài vị và các vật dụng
thường dùng của người mất, khiêng trước
quan tài khi đưa ma. Khi an táng xong bèn thiêu đi. Minh tinh
(明旌)
có nghĩa là “cờ hiệu để nêu rơ”, thường
là một tấm vải dài, dựng thẳng, trên đó
đề quê quán, tên tuổi, chức tước, tên hiệu,
thụy hiệu được triều đ́nh phong tặng
của người chết (nếu có).
[89] Phần đ́nh viện lộ thiên giữa
một kiến trúc th́ gọi là Trung Đ́nh.
[90] Tức ngài Linh Thụ Như Mẫn (?-918) là
cao tăng thời Ngũ Đại Thập Quốc, do trụ
tại núi Linh Thụ thuộc Thiều Chân, nên thường
gọi là thiền sư Linh Thụ. Sư được
Nam Hán Cao Tổ (Lưu Yểm) rất kính trọng, sai
người tới hỏi ư về cách hành binh. Sư biết
trước, cho nên khi sứ giả đến, thấy
Sư đă ngồi qua đời. Vân Môn tức Vân Môn
Văn Yển là đệ tử của Ngài.
[91] Tông Bá (宗伯) vốn là một chức quan đă
được thiết lập từ thời Tây Châu, thuộc
vào Lục Khanh, chưởng quản việc lễ nghi của
đất nước. Do vậy, đời sau quen
gọi Thượng Thư bộ
Lễ là Đại Tông
Bá, gọi Lễ Bộ Thị Lang là Thiếu
Tông Bá. Ông Tông Bá họ Lục
ở đây chính là Lục Thụ Thanh, người xứ
Hoa Đ́nh thuộc phủ Tùng Giang, sống vào đời
Minh, làm quan Lễ Bộ Thượng Thư thời Vạn
Lịch, thọ đến chín mươi bảy tuổi,
được vua ban thụy hiệu là Văn Định.
[92] Bạch Khởi (332-257 trước Công Nguyên), vốn là con cháu
của Sở Quốc Công, nên c̣n gọi là Công Tôn Khởi,
là đại tướng nước Tần, nổi tiếng
về tài dùng binh. Ông ta làm tướng nước Tần
suốt ba mươi năm, được phong làm Vũ
An Quân, đă công phá hơn bảy mươi ṭa thành, giết
địch quân vô số. Trong các trận Y Khuyết, Yên
Dĩnh, Hoa Dương, H́nh Thành, số lính địch bị
ông ta hạ lệnh tàn sát không lần nào dưới mười
vạn! Riêng trong trận Trường B́nh, do nước
Triệu phái tướng Liêm Pha dẫn quân cứu viện
nước Hàn đang bị Tần vây hăm, đôi bên giằng
co tại Trường B́nh. Liêm Pha không chịu giao chiến,
quân Tần sắp hết lương thảo. Tể tướng
Phạm Thư của Tần lập kế ly gián, khiến
vua Triệu ngờ vực Liêm Pha, sai Triệu Quát sang thay
Liêm Pha. Triệu Quát hăng máu, lầm kế dụ địch
của quân Tần, đại bại. Hơn hai mươi
vạn quân Triệu phải ra hàng. Vũ An Quân Bạch Khởi
giả vờ nói người khỏe mạnh sẽ đem
về làm quân nước Tần, người già yếu cho
về Triệu. Quân Triệu mừng rỡ.
Bạch Khởi lại c̣n cho họ ăn uống chè chén say sưa. Đêm đến, Bạch Khởi sai quân
Tần đầu bịt vải trắng để làm dấu
nhận biết nhau, xông vào chém chết hàng quân. Trong một
đêm, hai mươi vạn quân Triệu chết sạch.
Tính cả những người bị giết trong khi giao
chiến trước đó, toàn trận Trường B́nh có
bốn mươi lăm vạn quân Triệu bị tàn sát.
[93] La đạo c̣n gọi là La giáo, La Tổ
Giáo, Đại Thừa Giáo, Vô Vi Giáo do La Thanh (1442-1527) sáng lập.
La Thanh là một quân nhân chuyên vận chuyển lương
thực, quê ở huyện Tức Mặc thuộc tỉnh
Sơn Đông. Sau khi giải
ngũ, hắn “khổ
công học Phật” suốt mười ba năm. Tới
khi sáu mươi bảy tuổi, bèn tự xưng đă giác ngộ,
bắt đầu trước tác kinh sách, lại được
các hoạn quan và tăng sĩ mê muội như Đại
Ninh, Lan Phong v.v… tán trợ, nên lan truyền rất mạnh trong giới
b́nh dân, chủ yếu là giới thủy thủ trên sông
Hoàng Hà. Ông ta chủ trương tu hành tại gia, phản
đối các nghi thức của Thiền Tông, chủ
trương đạo của ông ta mới là Thiền Tông chân chánh. Trước
tác của ông ta gồm năm bộ sách gọi là ngũ bộ,
do chia thành sáu tập, nên gọi là Ngũ Bộ Lục Sách
(thật ra, những sách này do đệ tử ông ta ghi lại
và chỉnh lư những lời giảng truyền khẩu của
họ La, bao gồm Khổ Công Ngộ Đạo Quyển
một tập, Thán Thế Vô Vi một quyển, Phá Tà Hiển
Chánh Thược Chủy Quyển hai tập, Chánh Tín Trừ
Nghi Vô Tu Chánh Tự Tại Bảo Quyển một tập,
Nguy Nguy Bất Động Thái Sơn Thâm Căn Kết Quả
Bảo Quyển một tập). Các sách này phần nhiều trích dẫn kinh Phật,
chủ yếu là kinh Kim Cang, nhưng giải thích xuyên tạc,
pha trộn nhiều giáo nghĩa của Đạo giáo, nhấn
mạnh Tịnh Độ tại tâm, t́m cầu tự tâm,
không cần h́nh thức bên ngoài, cho đó là Vô Vi, không câu nệ
giới luật, tuy vẫn ăn chay, tích đức, hành
thiện. Về sau, tín đồ thêm thắt
một vị thần tiên hư cấu là Vô Sanh Lăo Mẫu, đề cao tôn thờ Di
Lặc Phật, h́nh thành các chi phái Trường Sanh Giáo,
Thanh Liên Giáo, Chân Không Giáo, Trai Giáo, Nhất Quán Đạo,
Hoàng Thiên Đạo v.v…
[94] Dương Thứ Công, tên thật
Dương Kiệt (1023-1092), tự là Thứ Công, hoặc
Vô Vi, người huyện Lô Giang, tỉnh An Huy. Ông làm quan
thuộc bộ Lễ, sau được cử trấn thủ
Nhuận Châu (nay là Trấn Giang thuộc Giang Tô) rồi giữ
chức Đề Điểm H́nh Ngục tỉnh Giang Tô.
Ông thích Phật học, nhiệt thành tin Tịnh Độ,
chơi thân với thiền sư Thiên Y. Tuổi già, ông
từng vẽ tượng Di
Đà cao một trượng sáu thước, thường
mang theo để quán tưởng, niệm tụng. Lúc lâm
chung, cảm Phật đến đón, ngồi văng sanh. Di
văn của ông được thâu thập thành Vô Vi Tập
gồm mười lăm quyển.
[95] Tụng cổ: Dùng kệ tụng giản
dị để biểu
thị ư nghĩa của một công án th́ gọi là Tụng
Cổ, tức là dùng h́nh thức ngâm vịnh khiến cho người
đọc lănh hội ư nghĩa đối
đáp của cổ nhân trong một công án.
Niêm Cổ: Nêu ra một công án rồi viết
lời phê b́nh hoặc chỉ nhận xét, c̣n gọi là Niêm
Đề, hoặc Niêm Tắc.
[96] Tức ngài Hương Nam Trí Nhàn sống
vào đời Đường, đệ tử nối pháp
của ngài Quy Sơn Linh Hựu. Thoạt đầu, Sư
tham yết Bách Trượng Hoài Hải chưa ngộ. Sau
khi tổ Bách Trượng mất, Sư yết kiến Quy
Sơn Linh Hựu, bị cật vấn, vẫn ngơ ngác
không trả lời được, bèn lui về, vào núi
Vũ Đang ở Nam Dương ẩn cư. Một hôm,
Sư cuốc cỏ, quăng một viên đá va vào thân trúc
vang ra tiếng lạch cạch, bèn đại ngộ.
[97] Tức ngài Linh Vân Chí Cần, sống vào
đời Đường. Sư nối pháp của thiền
sư Trường Khánh Đại An. Thoạt đầu,
Sư trụ tại núi Đại Quy, do thấy hoa đào
nở mà đại ngộ, có bài kệ rằng: “Suốt
ba mươi năm t́m kiếm khách. Mấy độ lá rụng,
lại níu cành. Từ khi trông thấy hoa đào nở, măi
đến hiện thời bèn chẳng nghi!”
[98] Đây là một công án trong nhà Thiền: Ngài
Tuyết Nham Tổ Khâm hỏi Cao Phong Nguyên Diệu: “Khi
ngủ không có mộng, không có tưởng, chẳng thấy,
chẳng nghe, làm chủ ở chỗ nào?” Cao Phong không trả
lời được, lui về suốt ba năm khổ
công tham cứu. Một hôm, do một người đồng
tu ở cùng Thiền pḥng đẩy cái gối trúc rơi xuống
đất, vang ra tiếng kêu, Sư nghe tiếng ấy bèn
đại ngộ.
[99] Đây là một công án trong nhà Thiền: Cuối
đời Đường, vị Tăng tên Sớ Sơn
Nhân Khuông do ngạo mạn, ác kiến, bị sư huynh là
Hương Nghiêm Trí Nhàn tiên đoán là sẽ bị thổ tả
suốt ba mươi năm. Nguyên do là có một vị
Tăng hỏi ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn: “Chẳng tôn trọng
bản lai diện mục của chư thánh và chính ḿnh th́ sẽ
ra sao?” Hương Nghiêm đáp: “Muôn cơ đều thôi dứt,
ngàn thánh chẳng dắt d́u”. Khi đó, Sớ Sơn Khuông Nhân
ngồi tại đó, bèn giả vờ ói để chế
giễu. Hương Nghiêm thỉnh giáo, Sớ Sơn đ̣i
sư huynh phải lễ bái ḿnh như thầy mới trả
lời. Hương Nghiêm bèn xuống ṭa, lễ bái. Sớ
Sơn nói: “Sao chẳng nói là chẳng chịu
chấp nhận, sẽ chẳng
được toàn vẹn”. Hương Nghiêm lại
hỏi: “Chịu là chịu cái ǵ? Chấp nhận là chấp
nhận ai?” Sớ Sơn đáp: “Chịu là chịu ngàn vị
thánh khác, chấp nhận là chấp nhận tánh linh của
của chính ḿnh!” Hương
Nghiêm bèn nói lời tiên đoán: “Do ác kiến ấy, Sớ
Sơn sẽ bị thổ tả suốt ba mươi
năm, ở trong núi mà không có củi đốt, ở gần
nước mà không có nước uống”. Quả nhiên về
sau Sớ Sơn Khuông Nhân trụ tại Sớ Sơn thật
sự bị bệnh như
thế.
[100] Thiết Luân là một địa vị
trong lục luân của Bồ Tát đạo (thiết luân,
đồng luân, ngân luân, kim luân, lưu ly luân, ma ni luân). Thiết
Luân tương ứng với địa vị Thập
Tín, đă trọn đủ tín tâm, đoạn trừ Kiến
Hoặc.
[101] Theo quy định thời đầu nhà
Minh, cứ một trăm mười gia đ́nh là một Lư, lập lư trưởng cầm đầu.
Mỗi lư trưởng có mười Giáp Thủ (người
cầm đầu một Giáp, tức mười một nhà) phụ tá
để đ̣i thuế (nhất là thuế đinh), phân
công lao dịch, quản lư hộ tịch v.v… Giáp Thủ được chọn luân phiên từ
mỗi chủ gia đ́nh trong một giáp.
[102] Tam Thanh tức là ba vị thần tối
cao trong Đạo giáo, thường gọi là Tam Thanh Đạo
Tổ, sáng tạo vạn vật, tức:
- Ngọc Thanh Nguyên Thỉ Thiên Tôn cai quản
Ngọc Thanh Cảnh Thanh Vi Thiên.
- Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn, cai quản
Thượng Thanh Cảnh Vũ Dư Thiên.
- Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn (Thái
Thượng Lăo Quân, tức Lăo Tử), cai quản Thái Thanh
Cảnh Đại Xích Thiên.
Thiên Tôn là danh xưng tôn kính trong Đạo
Giáo đối với các vị thần tối cao của họ.
Chẳng hạn như sách Thái Cổ Kinh Chú giảng: “Thiên
Tôn là đấng thượng huyền chí cực, cao minh,
tôn quư, chân thật, chủ của tam giới, thầy của
trời người, là đức hiệu huyền diệu”.
Thiên Tôn chỉ dùng để tôn xưng nam thần như
Tam Thanh, Ngọc Hoàng, thần sấm (Lôi Thanh Phổ Hóa
Thiên Tôn), c̣n nữ thần tối cao sẽ được
gọi là Nguyên Quân. Tuy vậy, về sau nam thần địa
vị cao, nhưng
chưa đến mức cùng tột, chỉ được gọi là Đạo Quân, c̣n nữ thần
địa vị khá cao đều nhất loạt gọi
là Nguyên Quân. Chẳng hạn, Thánh Mẫu Nguyên Quân (theo truyền
thuyết là mẹ của Lăo Tử), Đẩu Mỗ
Nguyên Quân (vị nữ thần sanh ra Bắc Đẩu), Bích Hà Nguyên Quân (thần
nữ núi Thái)…
[103] Ngài Thanh Lương Trừng Quán được
tôn làm Quốc Sư suốt bảy đời vua nhà
Đường.
[104] Ngũ cốc là năm loại hạt
lương thực, tức đạo (lúa tẻ), thử
(nếp), tắc (hạt
kê), mạch (lúa ḿ), thúc (đậu nành). Từ ngữ “ngũ
cốc”
thường dùng để chỉ chung các loại hạt
có thể dùng làm lương thực.
“Ngũ
thái” là năm loại rau, tức quỳ
(một loại rau thời cổ, lá xoay theo hướng mặt
trời, nên gọi là Quỳ), cửu (hẹ), hoắc (một
loại rau thời cổ), giới (củ kiệu), thông
(hành củ). Về sau, từ ngữ này
cũng dùng để phiếm
chỉ các loại rau để ăn.
Ngũ
quả là táo (quả táo Tàu), lư (mận), hạnh (mơ), lật
(hạt dẻ) và đào. Đây cũng là từ ngữ chỉ
chung các loại quả.
[105] Nội Kinh có tên gọi đầy đủ
là Hoàng Đế Nội Kinh, là sách thuốc, được
coi là cơ sở lư luận của Trung Y. Thật ra, sách gồm hai phần là Tố Vấn và
Linh Xu, nhưng thường gộp chung thành một sách.
Tương truyền, sách này chép lại cuộc trao đổi
về y học giữa vua Hoàng Đế và y sư Kỳ
Bá.
[106] Một đấu là mười hai cân (mỗi
cân là nửa kư lô, tức sáu kư). Một thạch là một
trăm hai mươi cân (sáu mươi kư).
[107] Chân Cáo (真誥) là
trước tác của đạo sĩ Đào Hoằng Cảnh
trong thời gian ẩn cư tại Mao Sơn, được
coi là kinh điển chủ yếu của phái Thượng
Thanh trong Đạo giáo. Chân Cáo có nghĩa là “lời răn dạy của bậc chân nhân”. Sách chép lịch sử của phái Thượng
Thanh, truyện kư, và các
phương thuật, cách luyện đan v.v…
[108] C̣n gọi là Lục Quần tỳ-kheo, tức
sáu vị tăng kết đoàn với nhau làm ác, chẳng
giữ oai nghi trong thời đức Phật tại thế,
ḥng tạo duyên cho đức Phật chế giới. Kinh
luận chép danh xưng của họ hơi khác, do phiên âm
khác biệt, đại lược là:
1) Xiển Đà, c̣n phiên là Xiển Na, Xiển
Nộ, hoặc Xa Nặc, hay sân hận, hoặc gọi là
ác tánh tỳ-kheo. Sau khi đức Phật nhập diệt,
vị này đắc đạo nơi ngài A Nan.
2) Ca Lưu Đà Di, c̣n phiên âm là Ô Đà Di,
tánh đa dâm, về sau tuy đắc đạo nơi Phật,
nhưng do túc trái, bị giặc
cướp giết chết, vùi trong hầm phân.
3) Tam Văn Đạt Đa, c̣n phiên âm là
Nan Đà, Nan Đồ.
4) Ma Hê Sa Nan Đà, c̣n phiên âm là Bạt Nan
Đà.
5) Mă Sư, c̣n phiên âm là Mă Túc, A Thuyết Ca.
6) Măn Túc, c̣n phiên âm là Bộ Na Bà Tố Ca, hoặc
Phất Na Bạt.
[109] Trong sách Hoài Nam Tử có nói Vũ Gia (羽嘉)
là một loài thần điểu,
sanh ra phi long, phi long sanh phượng hoàng, phượng
hoàng sanh chim loan, chim loan sanh ra các loài chim thường.
[110] Thúc tu (束修)
có nghĩa gốc là “mười lát thịt khô buộc thành
xâu”. Đây là lễ vật cổ nhân dùng trong lễ bái
sư. Về sau, “thúc tu” được dùng với ư
nghĩa các phẩm vật dâng lên thầy khi mới gặp
mặt để xin bái sư.
[111] Vạn Tùng
lăo nhân là ngài Vạn Tùng Hành Tú (1166-1246), pháp tự Báo Ân, cao
tăng thuộc tông Tào Động đời Kim, người
xứ Thấm Dương, tỉnh Hà Nam. Vạn Tùng Dă Lăo
là ngài tự xưng. Ngài xuất gia khi mười lăm tuổi.
Sau khi thọ giới vân du thiên hạ, t́m thầy, học
đạo, tận lực tham cứu Thiền Tông, đắc
pháp nơi thiền sư Tuyết Nham Như Măn, Ngài dụng
công nhiều nhất nơi kinh Hoa Nghiêm, làu thông học thuyết
của bách gia chư tử. Vua Kim Chương Tông (Hoàn Nhan
Cảnh) từng triệu kiến Sư để hỏi
đạo. Tể tướng Mông Cổ là Da Luật Sở
Tài cũng từng tham yết Sư để vấn đạo,
thỉnh giáo đạo trị quốc. Sư chỉ
đáp gọn: “Dùng Nho trị quốc, dùng Phật trị
tâm”. Da Luật Sở Tài khen ngợi không ngớt, xin tôn
Sư làm thầy. Cũng do Da Luật Sở Tài khải thỉnh,
Sư viết bộ Thung Dung Lục gồm sáu quyển
để nêu rơ tông phong Tào Động. Ngài c̣n soạn các bộ
Thỉnh Ích Lục, Tổ Đăng Lục, Thích Thị
Tân Văn, Minh Đạo Tập, Tứ Hội Ngữ Lục
v.v….
[112] Ngài Thạch
Củng Huệ Tạng là thiền sư sống vào đời
Đường. Trước khi xuất gia, Ngài là thợ
săn. Do đuổi theo một con nai mà gặp Mă Tổ
Đạo Nhất, được điểm hóa, bèn đắc
ngộ. Sư bèn bẻ găy cung tên, theo Mă Tổ xuất gia,
được trao tâm ấn. Về sau, Sư vào núi Thạch
Củng kết lều tranh tu hành, người đời gọi
Ngài là Thạch Củng ḥa thượng.
[113] Phổ Hóa là
một vị thiền sư sống vào đời
Đường, theo hầu thiền sư Bàn Sơn Bảo
Tích, được ngầm truyền chân quyết, thâm nhập
chỗ thâm áo. Sau khi thiền sư Bảo Tích thị tịch,
Sư liền du hóa các châu trấn tại Bắc Hà, nói lời
như cuồng, hành vi không câu nệ, chỗ ở chẳng
nhất định, thường la cà thành thị, chốn
mồ mả, lúc th́ ca múa, lúc buồn khóc.
[114] Thúc Tử ở đây chính là
Dương Hỗ, tên tự là Thúc Tử, ông là một viên
quan lớn kiêm danh tướng thời Tây Tấn. Đời
trước, Dương Hỗ là con nhà họ Lư. Theo Tấn
Thư, phần Liệt Truyện quyển thứ tư, lúc
Dương Hỗ năm tuổi, đ̣i nhũ mẫu
đưa cho ḿnh chiếc ṿng vàng ông ta vẫn hay cầm
chơi. Nhũ mẫu bảo: “Trước nay làm ǵ có vật
ấy?” Dương Hỗ bèn chỉ lên cây dâu ở tường
Đông nhà họ Lư hàng xóm, quả nhiên t́m được.
Chủ nhà họ Lư kinh ngạc nói: “Đó là vật thất
lạc của đứa con đă mất của tôi, sao lại
lấy đi?” Nhũ mẫu thuật đầu đuôi, họ
Lư than khóc khôn xiết.
[115] Theo sách Hoài Nam Tử, Công Ngưu Ai bị
bệnh nặng, sau bảy ngày hóa thành cọp. Anh ông ta
đóng chặt cửa, vào xem, bị hổ vồ chết.
Theo Tùy Thư quyển bảy mươi bảy, chép các chuyện
lạ như Bành Sanh làm lợn, Như Ư làm chó, Hoàng Mẫu
làm con rùa biển, Tuyên Vũ làm rùa, Đặng Ngải làm
trâu.
[116] Đại Trủng Tể hay c̣n gọi là
Thái Tể là chức quan đứng đầu các quan,
chưởng quản sáu loại điển tịch, phù tá
quốc vương, gần tương đương với
Thừa Tướng hoặc Tể Tướng sau này.
Đến thời Tống Huy Tông, vua ra lệnh cải cách
guồng máy hành pháp, đặt ra chức Thiếu Tể là
người phù tá của Thái Tể. Thái Tể dưới
đời Tống tức là chức Tả Bộc Xạ
trước đó, kiêm Môn Hạ Thị Lang,
c̣n Thiếu Tể (Thiếu Trủng
Tể) tức là Hữu Bộc Xạ trước đó,
kiêm chức Trung Thư Thị Lang. Ông Triệu Định
Vũ được nói ở đây tên thật là Triệu
Dụng Hiền (1535-1596), tự là Nhữ Sư, hiệu là
Định Vũ, người xứ Thường Thục,
phủ Tô Châu. Trong khi đang giữ chức Kiểm Thảo,
ông dâng sớ phản đối chuyện Thủ Phụ
Trương Cư Chánh tang cha, không chịu xin nghỉ để
tang ba năm, mà vẫn làm quan. Do vậy, ông Triệu bị vua phạt trượng, đuổi
về làm dân. Sau khi Trương Cư Chánh chết, ông lại
được gọi ra làm quan. Trong thực tế, ông chỉ
giữ chức Lại Bộ Thị Lang (tương
đương thứ trưởng), khi mất, được
phong tặng Thái Tử Thiếu Bảo, Lễ Bộ
Thượng Thư, coi như phụ tá của Thủ Phụ, nên mới gọi là Thiếu Trủng Tể.
[117] Tư Khấu
là chức quan đă có từ thời Tây Châu, chuyên quản
trị việc h́nh phạt và tư pháp, là một trong lục
khanh. Về sau, chức vụ này có khi gọi là Đ́nh Úy.
Sau này, khi lục bộ thiết lập, H́nh Bộ Thượng
Thư được gọi là Đại Tư Khấu,
c̣n H́nh Bộ Thị Lang gọi là Thiếu Tư Khấu.
[118] Thích Thị Yếu Lăm là một loại tiểu bách khoa toàn thư Phật giáo, do tăng nhân Đạo Thành biên soạn trong niên hiệu Thiên Hy đời Bắc Tống. Sách gồm ba quyển, chia thành hai mươi bảy chương, gồm 680 mục, dài đến tám mươi mốt ngàn chữ, giải thích các danh từ thường gặp trong Phật giáo, trích dẫn khá nhiều kinh sách.
[119] Tăng Huy Kư có tên gọi đầy đủ là Hành Sự Sao Tăng Huy Kư gồm hai mươi quyển, do luật sư Hy Giác chùa Thiên Phật ở Tiền Đường biên soạn vào thời Ngũ Đại.
[120] Trong cổ lễ, giáng phục tức là
tang phục tùy thuộc địa vị hoặc t́nh huống
của người sống mà giảm cấp, chẳng hạn
con gái xuất giá, đối với cha mẹ ruột
đáng lẽ phải để tang ba năm th́ chỉ c̣n
để tang một năm, tang phục cũng giản tiện
hơn so với tang phục khi thọ tang cha mẹ chồng.
Nói giáng phục cho chư tăng tức là để tang,
nhưng không bắt buộc phải xô gai, mũ rơm, gậy
chống, áo xổ gấu
như người thế tục.
[121] Bạch Hổ Thông c̣n gọi là Bạch Hổ Thông Nghĩa hoặc Bạch Hổ Thông Đức Luận, bốn quyển. Nguyên do là vào năm Kiến Sơ thứ tư (79) đời Hán Chương Đế, triều đ́nh mở hội nghị tại Bạch Hổ Quán triệu tập các quan Thái Thường, tướng quân, đại phu, bác sĩ, nghị lang, lang quan và các học tṛ thuộc Quốc Tử Giám trần thuật kiến giải về sự đồng dị của ngũ kinh. Chương Đế đích thân xem xét và quyết định, hội nghị tổng kết ư kiến thành một tác phẩm gọi là Bạch Hổ Nghị Tấu. Dựa theo đó, sử gia Ban Cố biên soạn thành tác phẩm Bạch Hổ Thông Nghĩa. Đời Thanh, Trần Lập viết chú giải, đặt tên là Bạch Hổ Thông Sớ Chứng.
[122] Ngũ Sam chính là vị tăng tên Ứng Chi thời Nam Đường. Do Sư kết am ẩn tu tại núi Ngũ Sam, có viết Ngũ Sam Tập để chép các quy định về lễ nghi cho tăng sĩ.
[123] Cương Liệp (剛鬣) là danh xưng thời cổ để gọi
con lợn dùng trong tế thần. Danh xưng này được
ghi chép đầu tiên trong thiên Khúc Lễ của Lễ Kư.
Khổng Dĩnh Đạt chú giải: “Lợn béo th́ lông
cứng tua tủa, nên gọi là Cương Liệp”.