Vân Thê Pháp
Vựng
雲棲法彙
Phần
5
Cổ
Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư
trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự
đệ tử Như Ḥa
(theo bản điện tử Gia Hưng
Đại Tạng Kinh của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và
Huệ Trang
12. Chánh Ngoa Tập (正訛集 – uốn nắn những điều
sai ngoa)
Đời
Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê ở Cổ Hàng soạn
* Thiên Phật Y
Trong đời gần đây, trên y ca-sa thêu trọn khắp
h́nh chư Phật, gọi là Thiên Phật Y (千佛衣, y ngàn đức Phật); đấy là điều sai ngoa.
Tượng Phật chỉ nên vâng đội trên đầu,
gánh vác trên vai mà thôi. Treo, giắt trên ngực hay bụng
đă phạm lỗi khinh nhờn, huống là thêu kín khắp
thân, từ eo và đầu gối trở xuống đều
là [h́nh tượng] Phật! Lỗi ấy chẳng thể
nào kể xiết! “Bậc Luân Vương phước
trùm thiên hạ”, chắc chẳng phải là lời nói
suông. Do đă trở thành thói quen từ lâu, nên [Tăng
sĩ cứ khinh nhờn đắp Thiên Phật Y] chẳng
tự hay biết. Xin bậc cao minh rủ ḷng xét soi lời
lẽ của kẻ quê mùa, hăy thận trọng đừng
mặc y ấy!
Nếu hỏi: - Như vậy th́ thật
sự chẳng có Thiên Phật Y hay sao?
Thưa: - Có chứ! Chính là y hai mươi lăm
điều hiện thời, đấy chính là y được
truyền bởi một ngàn đức Phật. Đức
Phật dạy tỳ-kheo: ‘Y tăng-già-lê[1]
này của ta, quá khứ, vị lai chư Phật đều
do mặc y này mà được giải thoát’. Đấy
chính là bằng chứng vậy.
* Ngũ Tổ[2]
chẳng phụng dưỡng mẹ
Cơi đời truyền tụng Ngũ Tổ cự
tuyệt không cho mẹ ăn, thậm chí chẳng chịu tốn
cho mẹ dẫu chỉ một chút nước; đấy là ngoa truyền.
Giới tuy có vạn hạnh, nhưng đều lấy Hiếu
làm gốc. [Tăng sĩ] phạm giới cấm để
nuôi cha mẹ, đức Phật c̣n xót thương chấp
thuận, há có lẽ nào [Ngũ Tổ] chẳng cho mẹ
ăn? Hơn nữa, chúng sanh đói khát đến chùa
Tăng, ngay cả cầm thú cũng c̣n được cho
ăn, huống hồ cha mẹ ư? Ngôi nhà phụng dưỡng
mẹ của tổ Hoàng Mai c̣n được chép trong các
sách vở. Thốt lời thô tháo ấy, há chẳng phải
là báng bổ thánh nhân ư?
* Cha mẹ lạy ngược lại đứa con
xuất gia
Cơi đời truyền tụng khi con xuất gia, cha mẹ
lạy ngược lại đứa con ấy. Đấy
là điều ngoa truyền. Hạng ngu tăng không hiểu
biết bèn để cho cha mẹ lạy, hoặc ngồi
chánh giữa để cha mẹ chầu hầu bên cạnh,
hoặc ngồi ở giữa để cho cha mẹ vái
chào. [Làm như vậy], xa là trái nghịch ư chỉ của
Phật, gần là trái nghịch luân thường, chuốc
lấy sự chê bai, khinh ghét của người đời,
tạo ra thói kiêu mạn cho con người. Đấy chính
là lỗi của Tăng, chứ không phải lỗi của
Phật! Chẳng biết rằng: Cha mẹ lạy trả
lại là v́ hễ con xuất gia th́ là con của Phật,
không c̣n là con của cha mẹ nữa. Cho nên nếu con lạy
[cha mẹ] th́ cha mẹ lạy đáp lại. Lạy trả
lại chính là đáp lễ, hoàn lễ, chứ không phải
là lạy trả trái lẽ thường.
* Phạm Vương hầu Phật
Thế tục đồn rằng người đứng
hầu hai bên Phật là cha mẹ của Phật; do vậy bèn chê trách Phật. Đấy
là điều ngoa truyền. Phàm đức Phật thuyết
pháp, chư thiên nhóm họp, Phạm Vương ở bên
trái, Đế Thích ở bên phải. Quy củ nghe pháp thông
thường là như vậy. V́ người đời
tưởng lầm chữ Phạm (梵) [trong danh hiệu Phạm
Vương] là Phạn (飯), bèn nghi [Phạm
Vương chính] là quốc vương Tịnh Phạn (淨 飯) rồi bảo đấy
là cha của đức Phật. Lại chẳng biết
tướng trang nghiêm của Đế Thích, bèn tưởng
đấy là nữ, liền bảo đó là mẹ đức
Phật. Tuy Phật là đấng cao quư nhất không ai
hơn được trong ba cơi, nhưng Ngài quyết chẳng
để cho cha mẹ làm người hầu. Kẻ tục
chẳng biết, cần phải giảng giải cho họ
hiểu.
* Phật pháp vốn phát xuất từ Lăo Trang
Tống Nho nói “kinh Phật vốn phát xuất từ
Lăo Trang, người đời không biết, kinh ngạc
cho rằng đấy là lời nói lạ lùng; ví như
đă bị kẻ giặc cướp mất của báu
trong nhà, lại ngược ngạo theo kẻ giặc
mượn dùng”. Đấy là điều ngoa truyền.
Sách của Lăo Trang vẫn c̣n đủ cả, hăy thử mở
ra đọc xem! Bọn họ chỉ nói về “hư vô tự nhiên” mà thôi. Bọn họ bảo
hư vô tự nhiên là sâu xa nhất, [nhưng điều sâu
xa ấy] vẫn chưa bằng được những chỗ
hết sức nông cạn trong Phật pháp. Nói “Phật pháp
xuất phát từ Lăo Trang” th́ có khác ǵ bảo “cha do con sanh
ra” hay chăng? Thanh Lương đại sư dùng hai khoa
là tà nhân và vô nhân để phán định Lăo Tử thuộc
về ngoại đạo; huống chi Trang Tử lại
c̣n thua Lăo Tử! Tống Nho thấy biết hời hợt
như thế, đáng nực cười thay! Hoặc có kẻ
nói: “Người giảng giải kinh Phật, phần nhiều
trích dẫn [những câu nói từ] lục kinh và chư tử[3]
là như thế nào vậy?” Ôi! Văn tự ở
phương này, chỉ có Khổng và Lăo là tột bực mà
thôi, chẳng dẫn những câu của họ th́ dẫn lời
ai đây? Nhưng mượn lời họ, chứ không
dùng ư của họ, người có bản lănh sâu xa sẽ tự
hiểu rơ!
* Hủy hoại, công kích tượng thần, và đắp,
tạo tượng thần
Có tăng sĩ hủy hoại, công kích thiên thần, tự
cho là “đề cao điều chánh, quở trách tà vạy”.
Đấy là sai! Đức Như Lai thuyết pháp, ắt
có tám bộ quỷ thần[4]
đến nghe]. Kinh Hoa Nghiêm kể tên những vị thần
cai quản núi, nước, đất đai, cây cối,
cai quản ngày, cai quản đêm, số đến vô
lượng, chẳng lẽ họ đều sai trái cả
ư? Hễ có người, ắt có quỷ;
có quan cơi Dương, ắt có lại[5]
cơi Âm; có vua người, ắt có vua trời. Đấy chính là đúng lư vậy. Hễ
không có quỷ thần th́ trời cũng chẳng có. Hễ
trời đă không có th́ Phật cũng không có. Những kẻ
hủy báng, công kích đáng gọi là kẻ đọa vào chỗ
tự phụ.
Nếu bảo: “Sao kinh dạy quy y Phật, chẳng
được quy y hết thảy thiên ma, quỷ thần?”
Thưa rằng: “Dạy ông đừng quy y, chứ đâu
bảo ông hủy hoại, công kích. Ví như phận làm con
th́ phải nương theo cha mẹ của chính ḿnh, chẳng
được nương theo cha mẹ của người
khác, coi [cha mẹ của người khác] như cha mẹ
của chính ông. Đâu có dạy ông hăy hủy báng, công kích
người khác! Kinh chép: ‘Do có tỳ-kheo thờ
phụng thiên thần, nên đức Phật răn cấm
không được [làm như thế]’. Tỳ-kheo bèn khinh mạn thiên thần,
đức Phật răn rằng: ‘Khinh thường
cũng không được!’ Thánh nhân đă có những giáo huấn
khuôn mẫu, là gương sáng cho muôn đời, sao người
đời nay chẳng nh́n vào đấy?”
Hoặc có kẻ hỏi: “Có tăng sĩ tu bổ miếu
thờ thần, đắp tượng
thần, tụng
niệm trước tượng thần, hướng về
tượng thần lễ bái, lại tự phụ là
[người tu tập hạnh của ngài] Thường Bất
Khinh lễ bái tứ chúng, đúng hay sai?” Đáp: Cũng sai
luôn! So với kẻ hủy báng, công kích, phạm lỗi
càng nặng hơn. V́ sao vậy? Kẻ hủy báng, công kích
c̣n biết có tà - chánh, chỉ là phân biệt quá đáng. Kẻ đắp,
tạo thần tượng để thờ phụng chẳng
biết có tà và chánh. Kẻ phạm lỗi hủy báng, công
kích gọi là cuồng; kẻ phạm lỗi đắp, tạo
[tượng thần] gọi là ngu, là tà. “Chẳng khinh mạn,
chẳng thờ phụng thần” là điều Phật
dạy; người đời nay sao chẳng suy xét?
* Bước đi cuối cùng
Có kẻ cho rằng lúc lâm chung chính là “bước
đi cuối cùng”, đấy là sai. “Bước
đi cuối cùng” vốn là thuật ngữ dùng trong cờ
vây[6].
Ư nói: Thông thường người ta tính toán đến mức
ấy, [tưởng là] đă là cạn sạch nước
đi rồi, không c̣n ǵ nữa, chẳng ngờ vẫn c̣n
có nước đi không ngờ đến. Giống như
người tu hành tuy bản lănh đă vừa cao lại vừa
sâu, chẳng biết vẫn c̣n có chuyện tối hậu,
huyền vi tột cùng. Hiểu được điều
mấu chốt ấy th́ sau đó mới hoàn tất
được chuyện tham học. Nếu chưa
được như vậy, vẫn chỉ là mới có một
mắt. Lại c̣n nói “bách xích can đầu nhất bộ”
(đầu sào trăm thước, tiến thêm một
bước nữa) cũng nhằm diễn tả ư này. Nếu
chẳng hiểu ư này, sẽ đến nỗi giống
như ngoại đạo tưởng từ ngữ này
dùng để chỉ lúc lâm chung. Tự lầm, lầm
người! Kẻ sáng suốt đừng tin!
* Linh Chiếu độ Đơn Hà
Cơi đời đồn đại thiền sư
Đơn Hà Thiên Nhiên[7]
do được con gái của Bàng cư sĩ là cô Linh Chiếu
chỉ điểm, khích lệ, mới bắt đầu
tu hành, ngộ đạo. Đấy là ngoa truyền.
Trước đó, ngài Đơn Hà đă ngộ đạo
nơi ngài Thạch Đầu[8]; về sau, được Mă Tổ
[Đạo Nhất] ban pháp hiệu. Lúc gặp gỡ cụ
Bàng, Sư đă nghiễm nhiên là một vị đại
thiện tri thức, há lẽ nào có chuyện ấy? Lời
nói vô căn cứ vu báng thánh hiền, tội không chi lớn
bằng, hăy kiêng tránh sâu xa!
* Ngồi thọ giới, đứng dậy liền
phá giới
Có kẻ bảo: Kinh khen ngợi Bồ Tát Giới: “Lúc
ngồi thọ giới, đứng lên liền phá giới,
vẫn được công đức vô lượng”; do
vậy, có kẻ sau khi thọ
giới liền phóng túng không vâng giữ. Đấy là sai ngoa. Ư kinh
nhằm cực lực diễn tả: “Hăy nên thọ giới
Đại Thừa. Dẫu thọ rồi liền phá ngay,
tuy nay không có công lao ǵ, nhưng một phen vừa lọt qua
tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo,
sao lại chẳng thọ?” Há nên tưởng là “được
phép phá giới” ư? Do hiểu lầm từ ngữ đến
nỗi hiểu sai ư tới mức như thế, gây họa
chẳng nhỏ!
* Phật có hiệu là Tiên Nhân
Kinh dạy: Trong thuở xa xưa, Phật làm một vị
tiên nhân nhẫn nhục. Hơn nữa, Phật xưng là
Đại Giác Kim Tiên, người đời bèn cho rằng
Phật chính là tiên, tiên và Phật không hai! Đấy là sai! “Tiên”
là danh từ để gọi chung những người tu
hành thời cổ. Đời sau mới chuyên dùng danh
xưng ấy để phân biệt người tu hành theo
Phật giáo hay Đạo giáo. Hơn nữa, trong cơi đời
có Nho, Thích, Đạo là tam giáo, nhưng chữ Đạo
thật sự chỉ chung cho tam giáo, nên người có
đạo đều được gọi là “đạo
nhân”, há chuyên chỉ kẻ đội mũ vàng (đạo
sĩ) mới là đạo nhân ư? Nay đă có sự
chuyên xưng th́ Phật là Phật, tiên là tiên, địa vị
cách biệt nhau như trời thẳm với đất bằng
vậy. Hăy cẩn thận, đừng coi là ngang nhau, kẻo
mất chánh tri kiến.
* Không ai vào lầm địa ngục
Nho gia nói: “Đức Phật dạy kẻ ác chết
rồi sẽ vào địa ngục, nhưng trước
khi Phật pháp truyền tới Trung Quốc, cố nhiên
đă có kẻ chết rồi sống lại; sao trọn
chẳng có một ai vào lầm địa ngục, thấy
cái được gọi là mười vua[9]
[Diêm La] vậy?” Do đó, họ quyết đoán “địa
ngục chẳng đáng tin”. Đấy là sai lầm!
Phàm những chuyện xảy ra trước mắt, sau này
mới có thể biết. Trước
khi Phật pháp được truyền tới, dẫu có
người vào địa ngục rồi sống lại,
vẫn hoảng hốt suy lường, ngờ vực,
tưởng như một giấc mộng kỳ lạ.
Khi Phật pháp đă truyền tới [Trung Hoa], đủ mọi
thứ chỉ bảo về sự báo ứng trong sáu đường, cho nên sau đấy mới biết đó
chính là địa ngục. Lư cố nhiên phải là như vậy,
có chi là lạ?
* Kinh Phật phần nhiều do kẻ có tài biên soạn
Trong đời có kẻ ngu cho rằng kinh Phật
đều do kẻ tài giỏi đời sau soạn ra, chẳng phải thật sự do đức
Phật nói. Điều ấy là sai! Nếu bảo là kẻ
có tài năng th́ chẳng biết là hạng người
như thế nào có thể nói ra những lời lẽ ấy,
nói ra những đạo lư ấy. Nếu có khả năng
như thế th́ ta gọi người ấy chính là Phật.
Hơn nữa, xưa nay người tài giỏi tột bậc,
có ai hơn được Khổng, Mạnh hay chăng?
Nhưng [học thuyết của] Khổng Mạnh đều
chẳng thể sánh bằng những điều đă nói
trong kinh Phật th́ tôi biết ngay lời ấy rất tệ,
chẳng đáng để bàn luận nhiều!
* Tánh mạng song tu
Bọn Đạo sĩ thường rêu rao họ tánh
mạng song tu, chê kẻ học Phật tu tánh, chứ không
tu mạng. Đấy là sai ngoa vậy. Ấy là v́ bọn họ
tưởng Thần là tánh, tưởng Khí là mạng. Nếu
Thần chế ngự được Khí, Thần ngưng,
Khí kết, bèn thành Đan, liền gọi là “tánh mạng
song tu”. Do Phật chỉ nói đến “kiến Tánh”, chẳng
nói tới Khí, họ liền tưởng rằng “tu tánh,
thiếu mạng”, cho là nhà Phật lệch lạc, chẳng
biết đă tự hiểu lầm chữ Tánh. Đức
Phật nói đến Tánh cực rộng, cực lớn, rất
sâu, rất huyền, đâu có thể coi là giống như
Khí được? Khí ở trong Tánh giống như một
lượn sóng trong biển xanh. Người thấy
được Phật Tánh th́ tận cùng hư không, pháp giới,
không ǵ chẳng trọn đủ, huống chi Khí là thứ
chỉ ở trong một thân lại chẳng thể nhiếp
trọn hay sao? Do vậy, nói: “Hễ đạt được
cái gốc th́ không lo cái ngọn nữa! Hễ tu một thứ
th́ tu hết thảy”; chứ nào phải chỉ có hai sự
song tu ấy mà thôi!
Học đạo tiên hăy như chân nhân Trương Tử
Dương (Trương Bá Đoan) luận về tánh mạng
tột bậc rành rẽ, hết sức tôn sùng Phật
pháp. Ông ta nói trước hết đức Phật giảng
về tánh rất hay, đáng gọi là bậc có kiến giải
sáng suốt. Lại nữa, chân nhân Lư Thanh Am[10]
luận về nội dược và ngoại dược,
coi Tinh, Khí, Thần là ngoại dược, gọi nguyên
tinh, nguyên khí, nguyên thần là nội dược. Lại nói
bậc cao thượng chẳng luyện ngoại dược,
chỉ luyện nội dược, đấy cũng là
coi thuyết “luận về tánh trước hết”
là thù thắng vậy! Người học đạo tiên
trong cơi đời th́ đông, nhưng hiểu biết
như hai vị này đă vừa ít lại vừa hiếm;
do vậy, tôi đề cao họ.
* Tịch diệt là vui
Người đời thấy nhà Phật gọi lâm
chung là Niết Bàn, do vậy bèn tưởng Phật coi chết
là vui, bèn dẫn câu “tử phản ngô chân”[11]
trong sách Nho để chứng minh ư chỉ “tịch diệt
là vui” của nhà Phật. Hiểu như vậy là sai. “Niết
Bàn” trong tiếng Phạn, được cơi này dịch là Tịch
Diệt. Tịch Diệt là “sanh diệt đă hết, tịch
diệt hiện tiền”, đấy là không sanh, không diệt,
không đến, không đi, xưa, trước, nay, sau chẳng
thể đắp đổi, Thành kiếp,
Hoại kiếp chẳng thể đổi dời, riêng
chân thường hiển lộ, khổ lẫn vui cùng mất.
V́ thế, gọi là Lạc. Lục Tổ nói: “Vô thượng
đại Niết Bàn, viên minh thường tịch chiếu”.
Đối với sự chiếu sáng đến tột bậc, lại tưởng lầm
là chết ư? Nếu nghĩ chết là vui, hăy nên mau chết
đi để xoay trở lại ngộ được
cái chân thật của ta, chẳng thể sống thêm một
bữa nào nữa! Diệt kiểu đó là đoạn diệt,
khô diệt, tuyệt diệt, hôi diệt (diệt hết
như tro nguội) vậy! Sao lại nói bừa là sự tịch
diệt của Phật cho được?
* Nước Tào Khê, trà Triệu Châu
Trong nhà Thiền có câu “nước Tào Khê, trà Triệu
Châu”. Kẻ ngu gán ghép câu ấy nói với chuyện nuốt
nước miếng trong cổ họng gọi là “hoa tŕ,
thần thủy” (ao hoa, nước thần) v.v… của
những kẻ tu dưỡng[12]; đấy là sai! Vị
Tăng hỏi: “Như thế nào là một giọt nước
Tào Khê?” Cổ đức dạy: “Là một giọt nước
Tào Khê!” Ngài Triệu Châu hỏi ông Tăng: “Ông đă từng
đến chỗ này hay chưa? Đến hay chẳng
đến đều bảo uống trà”. Đấy chính
là lời bàn luận tột bậc khai thị tối
thượng về Tâm tông (Thiền tông), há có thể hiểu
là sự hít thở trong sắc thân hay sao? Thậm chí, họ
tưởng huyệt Giáp Tích[13]
là Triệu Châu Kiều (cầu Triệu Châu). Những thứ
giống như vậy chẳng ít, người hiểu rơ
lư đều nhất loạt quở trách.
* Ba cỗ xe trong kinh Pháp Hoa
Kinh Pháp Hoa có thí dụ ba loại xe (tam xa): xe dê, xe nai
và xe trâu. Những kẻ tu dưỡng bèn giảng [ba xe] là [ba
huyệt] Vĩ Lư (尾閭), Giáp Tích (夾脊), và Nê
Hoàn (泥丸)[14]. Đấy
là sai. “Xa” có nghĩa là “chuyên chở”. Dê, nai, trâu là ví dụ Đại Thừa
và Tiểu Thừa, mượn h́nh ảnh ấy để
thí dụ công đức hơn kém giữa Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát. Kẻ tưởng lầm là sắc thân, hăy
nên sám hối, hiểu ra.
* Kim Cang Toản
Thế tục khắc các kinh, có cuốn Kim Cang Kinh Toản,
tự khen ngợi công đức, cho là tụng một biến
Kim Cang Kinh Toản hơn tụng một vạn biến
kinh khác. Đấy là nói ngoa. Sở dĩ, kinh Kim Cang có công
đức chẳng thể nghĩ bàn là v́ kinh ấy giảng
tột cùng về lư Không, chẳng c̣n một pháp nào; Bát Nhă
oai thần, là hướng dẫn cho muôn loài vậy. Há nên bảo
tính đếm có bao nhiêu chữ Phật, bao nhiêu chữ Tu Bồ
Đề, bao nhiêu chữ “hà dĩ cố?” (v́ sao vậy)
trong kinh văn rồi coi tính số chữ bao nhiêu như vậy
là công đức ư? Thói tệ ấy đă phổ biến, cho nên có tăng sĩ ngu muội hễ
được người khác bố thí bèn chẳng tụng
trọn bộ kinh, chỉ dùng một cuốn Kim Cang Kinh Toản
để tụng, chuốc lấy nỗi khổ vô cùng
trong địa ngục đều do bị sách ấy gây lầm
lẫn vậy! Biên tập sách tà vạy gây hại như thế
đó! Trong cơi đời lại có cuốn Đại Thừa
Kim Cang Luận cũng là ngụy tạo, cho đến những
kinh như Diệu Sa, Phân Châu, Huyết Bồn v.v… đủ
loại tà ngụy, rối ren chẳng đáng biện định!
* Cao Vương Quán Thế Âm Kinh
Lại có Cao Vương Quán Thế Âm Kinh[15].
Trong cơi đời truyền tụng: Cao Vương do tụng
kinh này mà được thoát nạn, đấy là ngoa truyền.
Kinh ấy quê mùa, kém cỏi, chẳng thành văn nghĩa, chẳng
biết dịch vào thời nào. Dùng lư để đoán
định th́ chính là nhờ vào phẩm Phổ Môn trong kinh
Pháp Hoa mà Cao Vương được thoát nạn; do vậy
mới nói như thế. Người đời sau chẳng
biết bèn riêng bịa đặt lời dối trá, đặt
tên là Cao Vương Kinh do không hiểu ư nghĩa cái tên,
nhưng cả cơi tục chẳng biết.
* Quán Âm Hương Sơn Quyển
Trong quyển sách ấy nói đức Quán Âm là con gái
vua Diệu Trang, xuất gia thành đạo, hiệu là Quán
Âm. Đấy là ngoa truyền. Quán Âm là vị cổ Phật
trong quá khứ, ứng hiện ba mươi hai thân, tùy loại
độ sanh, hoặc hiện thân nữ, chứ chẳng
phải là do mang thân nữ rồi mới tu thành đạo.
Sách đă chẳng nói rơ Diệu Trang kia là quốc
vương thuộc thời đại nào, lại chẳng
nói thuộc quốc độ phương nào? Tuy sách ấy
có tác dụng giúp khuyên dạy nữ nhân không nhỏ,
nhưng v́ tăng sĩ trong cơi đời có kẻ tin là
kinh điển mầu nhiệm để tu hành, cho nên tôi phải nêu ra.
* Tu sẵn
Người đời chưa chết đă làm kinh
sám đạo tràng cho các lễ Thất Thất, Tiểu
Tường, Đại Tường[16]
trước, gọi là “tu sẵn”. Đấy là sai. Nói “tu sẵn”
nghĩa là nhằm dạy người hăy thừa dịp vẫn
c̣n sắc thân để sớm tu tŕ, đừng đợi
tới lúc khát mới đào giếng, bị cơn đói bức
bách mới đốt đồng làm rẫy. Hơn nữa,
thỉnh người khác tụng niệm, làm sao hơn
được chính ḿnh tu tập? Nhưng đă chịu mở
túi keo kiết để làm Phật sự th́ vẫn tốt
hơn kẻ chẳng làm. Nếu hiểu như vậy th́
cũng được, nhưng bậc cao minh quyết chẳng
nên hiểu như thế.
* Gởi kho
Người đời đốt nhiều giấy tiền,
vàng mă, gởi điệp xuống Âm Phủ, mong sẽ
được hưởng dùng trong đời sau, gọi
đó là “gởi kho”. Đấy là sai. Nếu giấy
tiền, vàng mă có thể đưa đến sự giàu có
trong đời sau, th́ nhà giàu sẽ đời đời
giàu có, kẻ nghèo sẽ chẳng có thuở nào giàu; thuyết
thiện ác, báo ứng trở thành rỗng tuếch ư?
Nói “gởi kho” là v́ con người quen thói tích trữ tài vật
trong kho tàng, xây tường, dựng nhà kiên cố, chặt
chẽ, tự cho là nước, lửa, đạo tặc
chẳng thể phá hoại được, nhưng [tài vật]
thường bị nước, lửa, đạo tặc
phá hoại. Dẫu thoát khỏi ba thứ ấy, chắc lại
bị phá hoại bởi nạn vua, há c̣n kiên cố
được chăng? Nếu có thể bỏ tài sản
ra để bố thí, làm các thiện sự th́ phước
đức vô tận, không ai phá hoại được. Nói “gởi
kho” là gởi vào cái kho ấy đấy! Người
đời sao chẳng tỉnh ngộ?
* Tây Phương Thập Vạn Bát Thiên
[Lục Tổ] Đàn Kinh ví “thập ác, bát tà”[17]
là “thập vạn bát thiên” (mười vạn tám
ngàn). Người ta bèn cho rằng Tây Phương Cực Lạc
thế giới cách đây mười vạn tám ngàn [dặm].
Đấy là sai. Mười vạn tám ngàn chính là cơi Tây
Phương ở năm xứ Thiên Trúc. Cực Lạc cách
đây mười vạn ức cơi Phật, lấy một
đại thiên thế giới làm một cơi Phật. Mười
vạn ức cơi Phật th́ sức con người chẳng
thể đến được, chẳng phải do sức
của quỷ thần hay sức của trời mà có thể
đến được! Chỉ có người niệm
Phật nhất tâm bất loạn cảm ứng đạo
giao th́ sẽ như trong khoảng khảy ngón tay liền
đến được mà thôi! Há có phải giống
như lộ tŕnh từ Chấn Đán (Trung Hoa) đến
Thiên Trúc trong Nam Thiệm Bộ Châu ư?
Nếu như vậy th́ Lục Tổ không biết tới
Tây Phương hay sao? Thưa: Đàn Kinh là do đại
chúng ghi chép, chứ không phải do Lục Tổ viết.
Ngay như lục
kinh, tứ tử (tứ thư, tức Luận Ngữ,
Đại Học, Trung Dung và Mạnh Tử) cũng phần nhiều
là do Nho sĩ người Hán thêm vào, há nên tin tưởng
tuyệt đối ư? Nếu không phải như vậy
th́ là do Tổ nêu cái gần để h́nh dung cái xa, xét về
Lư th́ cũng không trở
ngại ǵ. Như ở ngay giữa chợ bèn ví vùng phía Bắc
ngoài thành là Yên Kinh (Bắc Kinh), ví phía Nam ngoài thành như Bạch
Hạ[18],
tức là mượn năm xứ Thiên Trúc ở gần
để ví Cực Lạc nơi xa, nhằm muốn cho
người thời ấy dễ hiểu, đâu có trở
ngại ǵ?
* Thừa cấp giới hoăn
Thuở xưa có bốn
cách biện định về thừa và giới gấp gáp
hay hoăn đăi, giải thích như sau: “Thừa cấp giới
hoăn, thắng giới cấp thừa hoăn” (Thừa gấp,
giới thong thả, sẽ hơn giới gấp gáp mà thừa
thong thả). Kẻ cuồng bèn cho rằng giới chẳng
đáng giữ, đấy là sai! Phàm muốn nêu bật sự
thù thắng th́ lời lẽ ắt phải ngả theo
khuynh hướng đề cao [chuyện này], hạ thấp
[chuyện kia], giống
như tổ Vĩnh Minh đă nói “không Thiền, có Tịnh
Độ” vậy, chứ không phải là Ngài bảo:
“Thiền đáng khinh!” Hơn nữa, kẻ ấy hiểu
như thế nào là Thừa? Thế nào là Giới? Có nên
nghĩ thông đạt giáo lư là Thừa, nghiêm cẩn giữ
luật nghi là Giới hay chăng? Nếu hiểu như vậy
tức là chưa hiểu được nghĩa của Thừa!
Nói “Thừa gấp gáp” là niệm niệm hoàn toàn
tu nơi chân trí Bát Nhă, chứ không phải là chẳng tŕ giới.
[Nói như vậy] nhằm chuyên chú trọng nơi cội gốc,
nói sơ lược cành nhánh. Hễ tâm
địa thấu triệt, trong sát-na sẽ trọn đủ
Lục Độ, vạn hạnh. Kẻ chỉ chấp
vào giới tướng, chẳng thấu hiểu tâm địa,
chỉ hưởng phước báo trời người mà
thôi! Thừa gấp gáp vượt trỗi hơn giữ giới
nghiêm ngặt là ở chỗ này. Nếu Thừa chưa
tương ứng mà sanh tử đă xảy tới th́ hoàn
toàn cần phải có giới lực; muốn hoăn đăi th́
nguy lắm thay!
* Danh tự La Hán
Kinh Pháp Hoa có câu: “Phá giới tỳ-kheo, danh tự La
Hán” (Tỳ-kheo phá giới chỉ có cái tên là La Hán), kẻ
ngu bèn tưởng tỳ-kheo phá giới vẫn gọi là La
Hán, cho là muốn phá giới sẽ chẳng trở ngại
ǵ! Đấy là sai. Ư kinh có nghĩa là “tỳ-kheo phá giới
chẳng thành tỳ-kheo, chỉ mang cái danh suông La Hán mà thôi!” “Danh tự” nghĩa là “chỉ có
cái tên suông”, không chân thật. Dựa theo văn tự mà suy
nghĩ ư nghĩa, sẽ tự hiểu được!
* Trai tăng có công đức vô lậu
Có Tăng sĩ khuyên dụ thí chủ, bảo làm
phước các thứ đều có lúc bại hoại; v́
đấy là hữu lậu, chỉ có trai tăng là công
đức vô lậu. Đấy là nói ngoa. Tổ Đạt
Ma bảo [Lương] Vũ Đế: “Những chuyện
như xây chùa, chép kinh v.v… là cái nhân hữu lậu của quả
báo nhỏ nhoi trong trời người”. Trai tăng
cũng nằm trong số ấy, sao lại bảo là chỉ
có trai tăng là vô lậu ư? Ư kẻ đó cho rằng xây
chùa, hễ chùa hư nát th́ phước cũng hư nát, c̣n
chép kinh th́ khi kinh diệt, phước cũng diệt, chỉ
có trai tăng là không như vậy. Ôi! Sao chẳng nói trai
tăng mà tăng chết th́ phước cũng mất
ư? Luận rốt ráo tột cùng, hễ trụ vào
tướng để làm phước, đều gọi
là hữu lậu. Nếu chẳng trụ tướng, ắt
trở thành vô lậu, há lẽ đâu riêng ḿnh trai tăng
[là vô lậu]?
* Vô lậu
Lại có kẻ cho rằng
giữ trọn được Tinh - Khí, chẳng để
rỉ mất sẽ thành quả La Hán Vô Lậu. Đấy
là ngoa truyền. Khi đă hết vọng tưởng th́ mới
gọi là Vô Lậu. Tinh, Khí sao đáng coi là Vô Lậu để
rồi dạy giữ vẹn Tinh, vẹn Khí, vẹn Thần?
Như nói “các lậu đă hết” tức là chẳng
c̣n phiền năo tồn tại. Dạy kẻ ngu coi nuốt
xuống, hít vào, vận động là đạo th́ không chỉ
tổn hại chánh kiến mà c̣n tổn hại sắc thân
nữa. Buồn thay!
* Ngũ đại bộ kinh (năm bộ kinh lớn)
Người đời truyền rằng tụng
năm bộ kinh lớn, tức là năm bộ kinh Hoa
Nghiêm, Niết Bàn, Tâm Địa Quán[19],
Báo Ân, và Kim Quang Minh. Đấy là ngoa truyền! “Ngũ
đại bộ” chính là tên gọi chung của cả
Đại Tạng, tức là Bát Nhă Bộ, Hoa Nghiêm Bộ,
Bảo Tích Bộ, Đại Tập Bộ, và Niết Bàn Bộ,
năm bộ loại này bao trùm các kinh. Giống như Lục
Tào[20]
là tổng, thống nhiếp các chức trách trực thuộc.
Nếu nói “từ trong năm bộ, đều chọn lấy
một kinh trong mỗi bộ” th́ lại chẳng lấy
kinh nào thuộc về Bát Nhă cả, làm sao gọi là “năm
bộ” cho được!
* Thanh trai
Có người cứ đến cuối tuần bèn
không ăn, gọi đó là Giữ Thanh Trai. Đấy là
sai! Thanh Trai nghĩa là “ăn chay, giữ giới thanh tịnh”,
chứ chẳng phải là không ăn th́ mới thanh tịnh.
Miễn cưỡng tuyệt thực, ḷng luôn cảm thấy
đói khát, chỉ tăng thêm nghiệp khổ! Hơn nữa,
đối với chữ Trai được nói trong kinh Dịch,
các vị giảng giải c̣n bảo “lặng trong, thuần
nhất th́ gọi là Trai”, huống hồ là chữ Trai
do đức Phật đă nói ư? Nếu chỉ có
nghĩa là “không ăn” th́ chữ Trai ấy cũng nhỏ
nhoi lắm! Nếu vậy th́ “không ăn quá ngọ” như
thế nào? Đáp: Đấy là điều dạy đúng
đắn. “Nhất trai” nghĩa là sao? Giữa
trưa ăn một bữa, cũng là điều
được dạy trong giáo pháp; rốt cuộc không
ăn quá ngọ là điều chánh yếu.
* Luyện ma (luyện tập, mài giũa)
Gần đây, pháp tắc thực hành lâu ngày trong các
nơi luyện tập, mài giũa[21]
đă phát sanh thói tệ; chuyên lẩn quẩn, ḥ hét, chú trọng
luyện tập để trừ khử con ma buồn ngủ.
Ấy là sai! Luyện (練) là nung
luyện cái thô tạp ngơ hầu biến chúng thành tinh thuần.
Ma (磨) là khử
tỳ vết, cấu
nhơ để trở thành sáng ngời, khiết tịnh.
Cổ nhân nói: “Luyện ma chân tánh nhược hư không,
tự nhiên chiến thoái ma quân trận” (Luyện tập,
rèn giũa sao cho chân tánh như hư không, tự nhiên
đánh lùi trận ma quân), chính là nhằm diễn tả ư
này, chứ không phải là rèn giũa để trừ khử
con ma buồn ngủ là đă xong việc! Những nơi
rèn luyện chẳng thể không biết điều này!
* Giảng Thiền
Gần đây, người ta giảng diễn những
lời b́nh luận, đối đáp của các vị
như Vạn Tùng[22],
cứ y theo sách Thiền mà giảng lại, bảo như
thế là “đạt được
ư chỉ”. Đấy là sai!
Đối với những cơ duyên vấn đáp do cổ
đức để lại, người đời sau do
vậy bèn khởi nghi rồi tận lực tham cứu
đến tột cùng, lấy ngộ làm kỳ hạn. Nếu
giảng diễn th́ làm sao c̣n có nghi nữa? Dẫu giảng
mỗi một điều đều đúng, vẫn chẳng
ăn nhập ǵ đến ḿnh. Rốt cuộc chỉ thành
hư luận. Do vậy, biết [giảng diễn công án Thiền]
chính là lấp mất lối ngộ của chúng sanh. Giảng
diễn Thiền tạo thành sai lầm như vậy đấy.
Người có chí bèn chọn một công án rồi suốt
đời chỉ dựa vào đấy để tham cứu,
quyết chẳng bị gạt!
* Ở trong ba ngọn núi thánh địa sẽ không bị
nạn tam tai
Có kẻ nói: “Khi kiếp hoại, ba dăy núi Ngũ
Đài, Nga Mi, và Phổ Đà không bị hoại. Đến
sống ở đó, sẽ tránh được tam tai”.
Đấy là ngoa truyền. Hễ tam tai khởi lên, cả
đại thiên đều bị hoại, làm sao ba rặng
núi ấy thoát được? Nếu đến sống ở
những nơi ấy, sẽ thoát khỏi tai ương
đó, th́ những kẻ mắt mù, chân teo không thể lên
đường được, dẫu có tu công đức
thù thắng, rốt cuộc vẫn đọa lạc, c̣n kẻ
sống gần ba ngọn núi ấy, dẫu là ngu phu đều
thành giải thoát cả
ư? Hăy nên biết rằng: Không tham sẽ chẳng bị
thủy tai, không sân sẽ chẳng bị hỏa tai, không si
sẽ không bị phong tai; đến ba rặng núi ấy
hay không, chẳng liên quan ǵ! Nguyện niệm nào cũng
đều khai Văn Thù trí, hành Phổ Hiền hạnh, mở
rộng ḷng bi Quán Âm, th́ chính là luôn luôn triều bái ba rặng
núi ấy, thân cận các vị Đại Sĩ. Chẳng
thấu hiểu ư chỉ này, cứ chuyên trọng viễn
du, dẫu có lên [núi do] bảy thứ kim loại báu [hợp
thành], vượt [biển] nước thơm[23],
có ích ǵ đâu!
* Bốn quyển kinh Lăng Già của tổ Đạt
Ma
Sơ Tổ chẳng lập văn tự, lại nói:
“Ngô hữu Lăng Già tứ quyển” (Ta có bốn quyển
kinh Lăng Già). Kẻ chỉ biết học theo nghĩa [của
văn tự], bèn cho rằng tổ Đạt Ma cũng lập
văn tự, muốn bác bỏ sự truyền thừa trực
chỉ. Đấy là sai! Kinh Lăng Già được dịch
từ đời Tấn, chứ không phải đến thời
Sơ Tổ mới xuất hiện. Chẳng được
nói là “ta có”. Tôi ngờ chữ “ngô” (ta) là sai, chắc
là chữ “thử” (này), bởi lẽ kinh ấy đoạn
trừ hết thảy, có thể chứng được
diệu tâm đốn ngộ. Đấy cũng là lời
nói nhất thời với ngụ ư “nhờ vào kinh ấy mà
hiển lộ [diệu tâm]”. Nếu cho rằng pháp Thiền của
Sơ Tổ đă được diễn tả trọn hết
trong [câu nói] ấy th́ cái gọi là “giáo ngoại biệt
truyền” sẽ đặt ở đâu vậy?
* Ba quyển cuối của kinh Pháp Hoa
Có tà nhân cho rằng ba quyển cuối của kinh Pháp
Hoa chẳng được lưu truyền trong cơi đời,
kẻ nào có được liền coi như của báu, cất
giấu kín đáo. Đấy là sai. Một kinh Pháp Hoa có ba bản
dịch[24],
có bản gồm bảy quyển, có bản gồm tám quyển,
và có bản gồm mười quyển. Bản được
lưu thông hiện thời là bản dịch bảy quyển
của ngài Cưu Ma La Thập. Số quyển tuy có nhiều
hay ít, nhưng ư nghĩa kinh văn giống hệt như
nhau. Giống như kinh Hoa Nghiêm bản dịch đời
Tấn gồm sáu mươi quyển, bản dịch đời
Đường gồm tám mươi quyển. Lư này rơ rệt,
tợ hồ chẳng đáng để biện luận,
nhưng tôi đích thân thấy người đời vẫn
có kẻ tin [thuyết hư vọng ấy]. Đời Mạt
Pháp tối tăm, ngu muội đến cùng cực như
thế đấy!
* Tam giáo một nhà
Có kẻ thường nói
“Tam Giáo là một nhà”, đến nỗi tràn lan không phân biệt; đấy là sai vậy.
Tam Giáo thật sự là một nhà, nhưng trong một nhà,
há chẳng có lớn, nhỏ, tôn, ty, thân, sơ hay chăng?
Đức Phật dạy về thời gian trước
Không kiếp dài nhất. Nho và Đạo nói rất gần.
Đức Phật là vị trời trong các vị trời,
là bậc thánh của các thánh, tôn quư nhất; Nho, Đạo
c̣n thuộc địa vị phàm phu. Đức Phật
đă tự chứng được cái “chính ḿnh” mà hết
thảy chúng sanh vốn sẵn có, cho nên thân thiết nhất.
Nho và Đạo vẫn c̣n ở ṿng ngoài. Do vậy biết:
Quy về Lư th́ chẳng hai,
nhưng mức độ sâu hay cạn đă rành rành. Tuy sâu
hay cạn khác nhau, nhưng cùng quy về một Lư. Do vậy nói “tam
giáo một nhà” chẳng phải là nói tràn lan không phân biệt
vậy.
* Cao sa-di chẳng thọ giới
Cơi đời tương truyền: Vị “Cao sa-di
không thọ giới” chính là thiền sư Cao Phong Nguyên
Diệu núi Thiên Mục. Đấy là ngoa truyền. Sư sống
trong am Thiên Trượng tại Thiên Mục, cho nên có hiệu
là Cao Phong. Sư là người đời Nguyên. C̣n vị
Cao Sa-di kia có họ là Cao, do chẳng thọ giới Cụ
Túc, nên suốt đời xưng là Sa-di, sống cùng thời
với ngài Dược Sơn [Duy Nghiễm], là người
đời Đường. Ngài chính là người đă
nói câu: “Trường An tuy chộn rộn, nước ta
vẫn yên lặng”. Hai vị trước sau (Cao Phong
Nguyên Diệu và Cao sa-di) thời đại khác nhau, đâu
ăn nhập ǵ đến nhau? Ngài Cao Phong đặc biệt
coi trọng Tỳ Ni (giới luật), Tăng, tục xin
thọ giới với Sư hơn ngàn người, sao lại
ngoa truyền [Sư chẳng thọ giới Cụ Túc] quá
đáng như thế?
* Tam Bảo
Tam Bảo Đạo gia
gọi Tinh, Khí, Thần là Tam Bảo, người đời
bèn đem Phật, Pháp, Tăng phối hợp vào; đấy là sai! Tự
tánh mở mang giác ngộ là Phật, khuôn phép trong tự tánh
là Pháp, tự tánh thanh tịnh ḥa hợp là Tăng. Tinh, Khí,
Thần của bọn họ làm sao có thể gán vào đây
cho được? Dẫu có đem tiên thiên nguyên tinh, nguyên
khí, nguyên thần để biện bác th́ há cũng chẳng
biết nguyên thần vẫn thuộc về Thức Ấm?
Phật pháp sâu xa, huyền diệu, chẳng dễ ǵ nhập
nhằng được đâu!
* Vị tăng Đạo Quang thành tiên
Cơi đời truyền tụng vị tăng tên Đạo
Quang thành tiên ở Thạch Hạnh Lâm, trở thành người
nối pháp đời thứ ba của Tử Dương
Chân Nhân[25],
họ bèn cho rằng do Phật pháp chẳng bằng đạo
Tiên nên Đạo Quang bỏ Phật, học Tiên. Đấy
là ngoa truyền. Dựa theo bản chú giải sách Ngộ
Chân Thiên th́ Đạo Quang trước kia đă do nhân duyên
tham cứu câu “trước lúc gà vàng chưa gáy” mà có chỗ
ngộ; nhưng tra cứu trong các sách như Truyền Đăng
Lục v.v… chẳng thấy nói đến Đạo Quang!
Tất nhiên ông ta là hạng tham Thiền lạc lối,
không ngộ được ǵ, cho nên mới lầm lạc
học theo ngoại đạo. Nếu ngộ thật sự,
lẽ đâu lại không có kiến giải kiên định
đến mức như thế ấy? Là tăng nhân, hăy
nên nhất tâm cầu Phật, đừng lạc vào ngă khác
th́ may mắn lắm thay!
* Thiêu sống
Có
gă ma tưới dầu, chất củi, đốt sống
thân thể, người khác trông thấy kinh ngạc, than thở,
cho là bậc đắc đạo. Đấy là sai. Phàm
người mang tâm niệm chấp trước th́ ma sự
sẽ phát sanh. Một dạ hâm mộ, cho thiêu sống là lạ
lùng, thù thắng, hâm mộ không ngơi, ma sẽ nhập vào
tâm kẻ ấy mà chẳng tự biết, ngồi ngay ngắn
trong lửa tợ hồ chẳng khổ sở ǵ, chẳng
biết là do ma lực duy tŕ, nên tạm thời được
như thế. Đến khi đứt hơi, ma bỏ
đi, sẽ thê thảm, đau khổ chẳng thể nào
ví dụ được. Trăm kiếp ngàn đời
thường ở trong lửa, gào khóc chạy quàng, làm loài
quỷ chết ngang trái, thật đáng đau
thương. Nếu có kẻ gạn: “Trong kinh [Pháp Hoa] nói
ngài Dược Vương đốt thân là như thế
nào?” Ôi! Nhặng xanh sao lại tính bắt chước
chim cánh vàng (Kim Xí Điểu: Garuda) cho được?
Dược Vương Bồ Tát thiêu thân, quang minh chiếu
trong nhiều kiếp trọn khắp mười
phương. Kẻ tự thiêu kia ánh sáng chiếu được
cỡ nào? Đệ tử của ngài Khuê Phong thiêu cánh tay
để tỏ ư mừng pháp, ngài Thanh Lương c̣n
răn cấm không được làm, huống là đốt
thân ư? Ngài Ôn Lăng (pháp sư Giới Hoàn) bảo: “Do
khổ nhân vẫn chuốc lấy khổ quả”,
đúng lắm thay!
* Coi thần thông là đắc đạo
Người đời nay
ham lạ, thấy có kẻ tỏ lộ những sự lạ
kỳ để mê hoặc đại chúng, liền bảo
kẻ ấy đắc đạo. Đấy là sai. Đắc
đạo và có thần thông [là hai chuyện] khác nhau. Mắt
thấy thấu suốt, tai nghe thông suốt là Thần
Thông; c̣n vào Sắc Giới mắt chẳng bị Sắc mê
hoặc, vào Thanh Giới tai chẳng bị âm thanh mê hoặc,
đấy là đắc đạo. Nếu chỉ xét đến
thần thông th́ thần cũng có thần thông, quỷ
cũng có thần thông, yêu ma cũng có thần thông, chẳng
dính dáng ǵ đến đạo hết! Ngỡ có thần
thông là đắc đạo, ắt sẽ đọa trong
cảnh lưới rập của ma, sanh vào ḍng giống
ngoại đạo, há nên không cẩn thận!
* Chim làm tổ trên đỉnh đầu, cỏ mọc
xuyên gối
Cơi đời tương truyền khi đức Phật
tu khổ hạnh, chim sẻ làm tổ trên đỉnh đầu,
cỏ lau mọc xuyên gối, những nhà tu dưỡng bèn
cho đấy là thuật vận khí. Hiểu như vậy
là sai! Thâm nhập Thiền Định, cho nên chim sẻ làm tổ
trên đầu cũng chẳng biết, cỏ lau mọc
xuyên qua [gối] cũng chẳng hay, sự thật chỉ
như vậy mà thôi! Chứ không phải là thuật vận
khí thông trên thấu dưới, thậm chí “chín tầng
trống sắt”[26]
bị hiểu lầm là hai cái ải thuộc vị trí huyệt
Giáp Tích. “Dạo chơi bốn cửa thành” bèn bị
giảng bậy là mắt, tai, mũi, lưỡi, đều
là tà thuyết, chẳng thể không quở trách!
* Nê Hoàn
Chữ Nê Hoàn phát xuất từ kinh Phật, có kẻ
lẫn lộn Nê Hoàn chính là cung Nê Hoàn trên đỉnh thóp.
Đấy là hiểu sai. Nê Hoàn (Nirvāna) trong tiếng Phạn
được cơi này dịch là Vô Vi, tức là đại
đạo Vô Thượng Niết Bàn. C̣n Nê Hoàn Cung của
bọn họ (các đạo sĩ) chính là đỉnh đầu nơi sắc
thân. Dẫu có thể vận khí xung phá được Nê
Hoàn Cung th́ chẳng qua chỉ là thuật luyện cho thân thể
nhẹ nhàng, sống lâu mà thôi, sao có thể nói là giống với
đạo Vô Vi Niết Bàn cho được?
* Phép Chỉ Quán của ngài Thiên Thai
Trong sách Chỉ Quán Thiền Yếu của Thiên Thai
đại sư có nói tới sáu chữ “khí”, người
ta bèn ngờ rằng đấy chính là thuật Đạo
Dẫn[27] rồi
muốn gom Phật pháp vào Đạo giáo; đấy là sai!
Sáu chữ Khí ấy nhằm để giảng giải về
một phương cách trị bệnh, chứ không phải
là ư tưởng chánh yếu trong phép Chỉ Quán. [Chỉ là]
dứt loạn, [Quán là] quán [thấu suốt sự] hôn trầm,
Định và Huệ hiển lộ trọn vẹn, vào thẳng
cảnh Phật; đấy chính là bổn ư của đại
sư. Ngài lại sợ có những kẻ chẳng khéo dụng
tâm, chắc sẽ đổ bệnh, bèn dạy kèm cách
đối trị. Đấy cũng là phép Chỉ Quán rộng
lớn, không ǵ chẳng bao gồm, chứ không giống
như bọn Đạo sĩ chuyên coi hít thở, vận
động là Đạo. Kẻ đọc kinh văn hăy
nên lănh hội ư này.
* Lâm chung biết trước lúc mất
Kẻ tà vạy bịa
ra cuốn Quy Không Kư, nhằm dự đoán kỳ hạn mất,
bảo là do tổ Đạt Ma biên soạn. Đấy là
ngoa truyền. Kẻ ấy cho rằng để ước
định kỳ hạn chết, hễ búng vào sọ mà
không nghe có tiếng vang th́ gọi là “trống đầu
lâu bặt tiếng”, mấy hôm sau sẽ chết, hoặc
giơ thẳng cánh tay lên để thử xem mắt
[ngước lên có nh́n thấy được chót bàn tay nữa
hay không], gọi là “đèn vàng không sáng”, mấy hôm sau sẽ
chết. Đủ mọi thứ như thế, đều
là xem xét nơi sắc thân, huyết khí tinh thần suy bại,
sắp tan ĺa. Đấy là kiến thức của một
thầy thuốc, nhưng lại giả danh thánh, giả
danh Tổ, ḥng thần bí hóa thuyết ấy, nhằm dối
gạt, mê hoặc kẻ ngu tục. Cái tội vu báng, dối
gạt ngập trời! Phàm cổ nhân biết trước
lúc mất là v́ chấp trước đă hết, t́nh niệm
rỗng rang, sẽ tự biết; hoặc do cảnh Tịnh
Độ hiện ra, liền tự biết chỗ sẽ
sanh về, cũng chẳng coi đó là chuyện kỳ lạ.
Bậc cổ đức v́ muốn phá chấp nên mới có
câu: “Tử thời hà khổ dục tiên tri” (Sao lại
khổ sở muốn biết trước lúc chết?) Lời
nói ấy đầy ư vị thay!
* Vu Lan Bồn
Người đời cho rằng thí thực cho quỷ
thần trong ngày Rằm tháng Bảy chính là hội đại
trai Vu Lan Bồn. Đấy là sai. Vu Lan Bồn có duyên khởi
từ ngài Mục Liên, nghĩa là ngày Rằm tháng Bảy là
ngày chúng Tăng giải hạ, tự tứ[28]
sau chín mươi ngày tham học, người đắc
đạo đông đảo. Sắp đặt cúng dường
trong hôm ấy phước gấp trăm lần, chứ
không phải là thí thực cho quỷ thần. Thí thực có
duyên khởi từ ngài A Nan, chẳng chỉ giới hạn
trong ngày Rằm tháng Bảy. Vật dùng để đựng
đồ thí là cái hộc [của người] nước
Ma Kiệt (Magadha) [thường dùng], chứ cũng chẳng
phải là Lan Bồn. Ấy là v́ [trong ngày Vu Lan], trên cúng
dường thánh hiền, dưới cứu giúp ngạ quỷ,
Bi điền và Kính điền[29]
khác nhau, chớ nên lẫn lộn!
* Vô Vi Quyển
Có gă họ La[30]
soạn ra năm bộ sáu quyển, đặt tên là Vô Vi
Quyển, kẻ ngu phần nhiều tin theo. Đấy là
sai trái. Vô Vi như hắn nói chẳng qua là phế sạch muôn hạnh môn, chẳng biết vạn
hạnh chính là Không, suốt ngày làm, nhưng chưa từng
[thấy chính ḿnh] làm ǵ th́ mới chính là vô vi thật sự.
Gă đó miệng bàn về lẽ thanh hư, nhưng tâm mong
lợi dưỡng, mang tiếng là vô vi, nhưng thật sự
là hữu vi. Người ta thấy hắn dẫn kinh Phật
xen vào đó, bèn cho rằng đấy cũng là chánh đạo,
chẳng biết hắn giả chánh để giúp tà, dối
gạt kẻ đui điếc. Chúng ta là con nhà Phật,
hăy nên tận lực trừ bỏ sách ấy đi.
* Bát Nhă Tâm Kinh
Có người nói kinh Phật
chỉ có bài Tâm Kinh do ngài Huyền Trang dịch là được
đem từ Tây Thiên tới, những thứ khác đều
do người đời sau soạn ra. Đấy là ngoa
truyền. Người dịch kinh này đầu tiên là ngài
La Thập[31],
c̣n ngài Huyền Trang cầm kinh ấy [trên đường
đi] sang phương Tây, đâu phải do Ngài đem [kinh ấy]
về [rồi Trung Hoa mới có]. Trong Tây Vực Kư[32]
từng chép trên đường đi, ngài Huyền Trang nhiều
lần gặp yêu ma, tŕ thánh hiệu Quán Âm, chúng chẳng chịu
lui, Sư bèn tụng Tâm Kinh th́ chúng liền lui mất.
Như vậy là trước khi ngài Huyền Trang đem về,
kinh này đă có ở Trung Quốc, ngài Huyền Trang chỉ
dịch lại thành bản mới mà thôi, sao lại ăn
nói ngược ngạo đến thế?
* Lương Vũ Đế
Sử chép Vũ Đế chuộng Phật giáo, chết
đói ở Đài Thành mà Phật chẳng cứu, do vậy
bèn công kích Phật. Đấy là ngoa truyền. Vũ Đế
ưa thích đạo đến nỗi quên ăn, thường
giữ trai giới mỗi ngày ăn một bữa. Nếu
gặp phải lúc chánh sự bận bịu [không kịp
ăn], vua súc miệng cho xong. Lúc lâm chung, vua không ăn chính
là điều hằng ngày thường vâng giữ. Hơn nữa,
vua cai trị năm mươi năm, sống trên đời
tám mươi năm, công vẹn, ư thỏa, ngồi yên
đợi đến lúc mạng chung, coi chết như trở
về, đâu phải là chết đói. Khi Hầu Cảnh[33]
gặp vua, toát mồ hôi, câm bặt, là v́ khiếp phục
khôn cùng trước oai thần của vua, th́ làm sao Vũ
Đế có thể chết [đói] như thế
được? Người đời sau có kẻ biện
bác rằng “vua chết đói là do túc nghiệp”. Lời bàn
luận ấy tuy đúng, nhưng chẳng biết rằng
hai chữ “chết đói” là do kẻ ghét Phật bịa
ra, muốn nhờ vào đó để ngăn trở nẻo
tiến lên của người khác. Nay ở đây tôi nói rơ
vua không chết đói, đủ để phá sự sai lầm
trong ngàn năm.
* Hoàng Long và Động Tân[34]
Bọn đạo sĩ nói Lă Động Tân dùng phi kiếm
để hàng phục thiền sư Hoàng Long[35].
Đấy là ngoa truyền. Sư một bữa lên ṭa,
Động Tân trà trộn trong thính chúng. Do thiên nhăn, Sư thấy
rơ, bèn bảo: “Trong hội có kẻ trộm pháp”. Động
Tân bèn bước ra tự xưng là “vân thủy đạo
nhân” (đạo sĩ vân du), Sư hỏi: “Khi mây tan
nước cạn th́ sẽ ra sao?” Động Tân không
đáp được. Sư bèn trả lời thay: “Hoàng
long xuất hiện”. Động Tân tức giận, đêm
đến phóng phi kiếm toan uy hiếp Sư. Sư chỉ
tay, kiếm cắm phập xuống đất, chẳng
lay động được. Sáng ra, Động Tân rút kiếm
không được, vấn đáp mấy câu, chợt có chỗ
tỉnh ngộ, bèn nối pháp của Hoàng Long. Truyện này
được chép trong Truyền Đăng Lục, khác với
lời lưu truyền trong cơi tục. Người hiểu
biết hăy xét suy.
* Phật nhập Niết Bàn
Đức Phật thị hiện nhập diệt, gọi
là Niết Bàn. Con người bèn cho rằng thần tiên
trường sanh, chứ Phật cũng phải chết.
Đấy là sai ngoa. Tiên thọ đến cùng cực chỉ
bằng trời. Trời cũng có lúc tự hoại th́ tiên
làm sao c̣n được? Lời của họ Bạch nói rất
hay: “Nói dài là đối với ngắn, như đem
tùng, bách sánh với bông dâm bụt. Đặc biệt nói hậu
diệt, chứ không nói bất diệt. Nay nói Niết Bàn là
đại đạo bất sanh bất diệt. Sanh lẫn
tử đều là Không, chứ chẳng phải chỉ bất
tử mà thôi!” Nhưng người nói [lời ngoa truyền
trên đây], cứ tưởng rằng thần tiên bất
tử. Nhà Phật nói “vô sanh”; họ chẳng biết là nếu
đă không có sanh, th́ sẽ do đâu mà có tử? Chỉ là
hóa duyên đă xong, bèn thị hiện giống như cơi phàm
nhập diệt, nhằm cảnh tỉnh, giác ngộ chúng
sanh, khiến cho họ biết vạn vật vô thường,
đừng sanh tham chấp. Nhưng [tục nhân] lại dựa
vào đó để cho rằng Phật thật sự chết,
cũng chẳng sai lầm lắm ư? Sông sanh tử, bờ
Niết Bàn, chỉ là nói một cách đối đăi, xin
hăy suy nghĩ thử xem!
* Năng Nhân Tổ
Trong cơi đời có tà sư truyền dạy tà pháp rộng
răi. Hỏi học pháp ấy từ đâu, bèn nói: “Tổ của
ta là Năng Nhân, c̣n Thích Ca, Lăo Đam, Trọng Ni[36]
đều là đệ tử”. Đấy là nói ngoa. Thánh
nhân Tam giáo chẳng sống cùng một thời, làm sao có cùng
thầy được! Hơn nữa, danh hiệu Thích Ca
trong tiếng Phạn được cơi này dịch là
Năng Nhân. Gă đó hèn tệ, nông cạn, thất học,
nghe nói có danh hiệu Năng Nhân, chẳng biết đầu
mối, bèn lấy danh hiệu đó để đề
cao vị tổ của đạo ḿnh, chẳng biết
Năng Nhân chính là Phật. Sao mà nực cười đến
thế?
* Ngọc Hoàng Kinh
Kinh này chép Thiên Đế thuyết pháp, mười
phương chư Phật đều đến nghe. Đấy
là nói ngoa. Chư thiên thuộc địa vị phàm phu, Thanh
Văn là bậc tiểu thánh mà chư thiên c̣n phải kính phụng,
lẽ đâu bậc trời của các trời, là thánh của
các thánh lại phải ngược ngạo nghe nhận pháp
của phàm phu ư? Lời nói của lũ Tề Đông[37],
kẻ nghe đừng điên đảo [tin theo] nữa, chẳng
phải vậy! Nếu như chư thiên giảng diễn
thiện pháp, chư Phật hoan hỷ hóa thân gia bị, là
do chư thiên chí thành nên cảm được Phật, Phật
bèn v́ họ chứng minh. Chắc là có lẽ ấy, chứ
bảo là chư Phật tín tâm nghe nhận th́ thật là dối
trá đến cùng cực!
* Tăng nhân mất
Người đời thấy tăng sĩ lâm chung bị
bệnh khổ, liền dị nghị vị ấy
chưa đắc đạo. Đấy là sai. Bệnh liên
quan đến nghiệp trong đời trước, bậc
cổ thánh c̣n chưa tránh khỏi. Đức Phật
cũng thị hiện bị nhức đầu, huống
hồ những kẻ khác ư? Tuy bệnh, nhưng chẳng
bị bệnh gây phiền lụy th́ gọi là “đắc
đạo”, như nói “lăo tăng tự có cách để
được an nhàn, tám nỗi khổ xen nhau nung nấu
trọn chẳng gây trở ngại ǵ” là nhằm diễn
tả ư ấy. Đối với chuyện ngồi, đứng
qua đời tốt lành, cũng chẳng đủ để
b́nh phẩm hơn kém. Cổ nhân nói: “Tọa thoát lập
vong tắc bất vô, tiên sư ư vị mộng kiến tại”
(Ngồi mất, đứng chết chẳng phải là
không có, tiên sư cho rằng chưa hề mộng thấy),
há là lời nói suông ư? Người tu hành chỉ nên chú trọng
thấu triệt đại sự sanh tử, đừng
vương vấn h́nh dáng bên ngoài, để rồi nẩy
sanh những ư kiến khác lạ!
* Tam Giáo cùng nói chữ Nhất
Có kẻ nói nhà Phật bảo “vạn pháp quy nhất”,
Đạo giáo dạy “băo nguyên thủ nhất”[38],
đạo Nho nói “dĩ nhất quán chi”[39],
nên cả ba đạo đều là một, chẳng khác
nhau! Đấy là nói ngoa. V́ nếu chẳng giữ Vạn
mà chỉ giữ lấy Nhất (một), dùng cái Nhất của
ta để quán thông vạn sự th́ Vạn và Nhất vẫn
là hai thứ; c̣n “vạn pháp quy nhất” th́ chỉ có một,
chẳng c̣n có Vạn, tức là Vạn và Nhất không hai.
Hơn nữa, hai giáo kia chỉ nói đến Nhất, nay
[nhà Phật] lại nói “nhất quy hà xứ?” (nhất
về chỗ nào) th́ hai giáo kia chỉ coi Nhất là cùng cực,
c̣n Phật lại vượt thoát ra ngoài Nhất. Ôi chao,
huyền diệu thay!
* Nghi t́nh
Trong cơi đời, có kẻ
đọc đến những câu như “nhất quy hà xứ,
nhân thậm đạo vô” (một đi về đâu, do
vậy hết sức nói đến Không), bèn hoặc liên tiếp
đọc lên thật nhanh, hoặc gắng kéo hơi đọc
cho lâu để đánh động nghi t́nh. Đấy là
sai. “Nghi” có nghĩa là tham cứu, quán sát nhằm thấu
hiểu, quyết định phải sao cho thấy
được cái cảnh Một ấy rốt ráo đi về
đâu, rốt ráo phải thấy được v́ sao ông cụ
ấy (tức vị thiền sư nói ra lời ấy) nói
chữ Vô? Do nay có nghi, mai sau sẽ có ngộ. Nếu niệm
thẳng vào câu đó th́ không có nghi; đă không nghi sẽ
không ngộ. Dùng niệm thẳng để nghi, há có
được chăng? Câu “người niệm Phật
là ai?” cũng mang ư nghĩa giống như vậy! Lại
có kẻ ngu vận khí ép chữ “Ai” xuống Đan Điền,
để mong nó sẽ xông ngược lên đỉnh đầu,
ngơ hầu mạch Nhâm và Đốc được thông suốt,
coi đó là “tham thấu” (tham cứu đến khi thấu
hiểu được công án), gọi đó là “truy cứu
niệm Phật”. Chẳng biết Truy có nghĩa là “truy
xét, truy vấn”, há phải đâu là truy đuổi cho tới
Đan Điền ư? Đă sai lại càng sai hơn,
đúng là đáng thương xót quá! Người thông đạt
hễ gặp kẻ như thế, hăy đừng tiếc
lời bảo ban mọi điều cho kẻ ấy vỡ
lẽ.
* Công án
Lại có tà sư ngầm dạy công phu tà vạy, học
tṛ được dạy bèn bảo là “được nhận
công án hay truyền thoại đầu”. Đấy là nói
ngoa. Công Án có nghĩa là án từ (hồ sơ vụ án)
nơi công đường. Do vậy, phải phân tích, phán
đoán đúng sai. Đối với cơ duyên hỏi
đáp của chư Tổ, cũng phải phân tích, quyết
đoán lẽ sanh tử, cho nên gọi là Công Án. Nói chung là
trong lời vấn đáp, có một câu khẩn yếu th́ gọi
câu ấy là Thoại Đầu, giống như những
câu “một quy về đâu, do vậy hết sức nói
đến Không” hoặc “người niệm Phật
là ai?” Một ngàn bảy trăm công án, cho đến có
nhiều loại, đều giống như thế. Lũ
tà sư trộm dùng lời cổ nhân, nhưng mê muội
nơi thực chất, những ǵ bọn hắn dạy nếu
không phải là cách ép khí th́ cũng rơi vào trống không! Tự
lầm, lầm người, gây hại cũng lâu dài,
đáng xót thay!
* Cây khô, tro lạnh
Tống Nho bảo nhà Phật chỉ cầu tâm giống
như cây khô, tro lạnh, rồi bèn bài xích Phật pháp là
giáo pháp dị đoan, hư vô, tịch diệt. Đấy
là nói ngoa. Kẻ lập ra thuyết ấy chưa từng
đọc rộng răi kinh Phật, chỉ thấy
được Khô Định của Tiểu Thừa,
chưa thấy được Định Huệ Song Tu của
Đại Thừa, Đệ Nhất Nghĩa Đế của
Trung Đạo, chỉ thấy được Không Như
Lai Tạng, chưa thấy được Bất Không
Như Lai Tạng, huống là “Trung Đạo chẳng ở
trong Không và Bất Không Như Lai Tạng” ư? Bọn họ
cho là cây khô, ta cho là muôn vàn cây cối đều thắm sắc
Xuân. Bọn họ cho là tro lạnh, ta cho là thái dương
giữa trưa. Người hiểu biết hăy nên giữ
cho tâm lượng b́nh đẳng, đừng coi những
lời được nghe đầu tiên là đúng, kẻo
bị Tống Nho làm hỏng đại sự.
* Đàm kinh Khổng Tước
Thời gần đây, người ta dùng linh, trống,
thanh la, năo bạt để tụng Khổng Tước
Minh Vương Kinh[40],
gọi là “đàm Khổng Tước”. Đấy là
sai. “Đàm” (談) có nghĩa là
“luận định ư nghĩa”. Nay chỉ tụng kinh văn, sao gọi
là “luận định ư nghĩa” cho được? Nếu
nói [“đàm” chính là] chữ “đàn” (彈: đánh, hay gảy) trong “xuy đàn”
(吹彈: thổi, đánh) th́
linh và năo bạt đâu phải là tơ đồng[41]
(đàn)! Huống hồ đem kinh văn phổ thành ca
khúc, cắt xén chương kinh,
xé lẻ câu kinh, khinh nhờn
không chi hơn được nữa! Hễ tụng kinh ấy,
hăy nên chiếu theo cách thức tụng kinh thông thường,
tận lực quay về quy củ xưa, đừng chạy
theo thói thời thượng.
* Lễ Quán Âm Văn
Xưa kia có người lễ Quán Âm Văn, kẻ
độn căn bắt chước theo để chuyên cầu
được thông minh, trí huệ. Đấy là sai ngoa. Từ
sơ phát tâm cho đến khi chứng quả, thảy đều trọn đủ
trong bài văn ấy, nhưng dùng kinh văn ấy để
chuyên cầu thông minh, trí huệ th́ ra thể thống ǵ? Hăy
biện định về thông minh và trí huệ! Nói tới
“thông minh” chẳng qua là nghe rộng, thấy nhiều, lắm
tài năng mà thôi. C̣n “trí huệ” th́ có nghĩa là giác tâm chẳng
mê, chánh kiến rạng ngời, chế ngự được
phiền năo, phá vô minh. Do vậy, thông minh là điều tốt
đẹp nhỏ nhoi trong thế gian, chấp vào đấy
thường bị chướng lấp Chân Trí. Trí Huệ
là cái nhân lớn lao để xuất thế gian, hễ
đạt được rồi th́ sự thông minh trong thế
gian đâu c̣n ǵ đáng quư nữa! Lễ bài văn ấy (tức
lễ bái Quán Âm Văn) để chuyên cầu thông minh th́ có
khác ǵ cắt cổ gà lại dùng đến dao mổ trâu?
Hạnh trẻ nít vô tri, nhưng chẳng ngại ǵ nêu ra. Bậc
tu hành đă lâu hăy nên đặc biệt khuyên răn người
khác về chuyện này.
* Phật chẳng phải là người
Thế tục nói chữ Phật (佛) là từ hai chữ Nhân (人) và Phất (弗) ghép lại; cho nên Phật không phải
là người, bởi đă bỏ nước nên không thấy
có vua, bỏ người thân nên không c̣n thấy có cha, chẳng
cưới vợ sanh con, tuy giữ cho thân ḿnh trong sạch
nhưng rối loạn luân thường. Cái đạo
không tṛn bổn phận làm người ấy chớ nên thực
thi ở Trung Quốc! Đấy là nói ngoa. “Phất nhân”
(không phải là người) th́ quả thật không phải
là người, nhưng v́ sao lại “phất” (không)
th́ chẳng phải như ông đă nói! Đoạn
được phiền hoặc mà người khác chẳng
thể đoạn được, chứng được
trí người khác chẳng thể chứng, hành được
hạnh người khác chẳng thể hành. V́ thế,
Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng là các bậc thánh trong loài
người, c̣n Phật chính là thánh của các vị thánh.
Chữ Thánh vẫn chưa đủ để xưng tụng
Ngài, huống là có thể gọi Ngài là người ư? Nhật,
Nguyệt, bốn thiên vương cho đến cơi trời
Vô Sắc do sánh với con người mà xưng là Thiên. C̣n
Phật là đối với chư thiên mà xưng là Thiên vậy.
Chữ Thiên c̣n chưa đủ để gọi Phật,
huống hồ đáng gọi Ngài là Người ư? Phật
chẳng phải là người, nghĩa như vậy
đó!
Hăy luận chung về
Tam Giáo. Chữ Nho (儒) ghép từ
chữ Nhu (需) và Nhân
(人). Chẳng
bộp chộp, hư vọng là Nhu, như vậy Nho là
người thong dong tuân theo lễ pháp. Tiên (仙) là từ
Sơn (山) và Nhân
(人) ghép lại.
Ĺa chốn chợ búa th́ gọi là Sơn. Do vậy, Tiên là
người tiêu dao ngoại vật, chẳng thể gọi
là Phất (弗). Hai
giáo tuy cao, nhưng vẫn c̣n có thể gọi là Người,
c̣n Phật đă thoát khỏi tứ sanh, vượt
ba cơi, chẳng thể gọi Ngài là người. Lấy những
điều trên đây để tạm đáp lời ông gạn
hỏi, chứ thật ra Phật (Buddha) là tiếng Phạn,
cơi này dịch là Giác, sao lại giảng là “phất nhân”
(không phải là người)!
* Nam vô Phật (南無佛)
Có kẻ nói phương Nam thuộc
Hỏa, lửa tắt chính là Phật, cho nên nói “Nam vô Phật”
(phía Nam không có Phật), hoặc “phương Nam không có Phật,
chỉ Tây Phương là có Phật” mà thôi! Cho nên nói “Nam
vô Phật”. Đấy là sai ngoa. Nam-mô[42]
(Namo) là tiếng Phạn, cơi này dịch là “quy mạng”,
đọc là Nẵng Mồ, hoặc Na Ma đều
được, đấy là dựa theo âm, chứ không theo
dựa theo ư nghĩa của mặt chữ vậy. Có kẻ
c̣n quá đáng cho rằng Nam là tánh, Vô là mạng, Nam là trời,
Vô là đất, Nam là cha, Vô là mẹ. Thậm chí bốn chữ
A Di Đà Phật, mỗi chữ đều bị giảng
giải sai lầm. Sự hiểu biết tà vạy như
thế chẳng thể nêu trọn, xin hăy lần lượt
lưu truyền để sửa cho đúng những sai
ngoa ấy, ḥng uốn nắn cái tà, khiến cho nó được
trở thành chánh. Đấy gọi là báo ân đức của
Phật trong đời Mạt vậy.
* Bất sanh bất diệt
Người đời sát sanh, nại cớ kinh Phật
dạy “bất sanh bất diệt” để lập
luận: “Chẳng sanh th́ chẳng diệt, có sanh th́ có diệt”,
cho nên sát sanh không trở ngại ǵ! Đấy là nói ngoa.
Kinh dạy: Tâm này vốn tự chẳng sanh, cũng chẳng
diệt. Do bất sanh nên tịch, do bất diệt nên chiếu.
Thường tịch, thường chiếu, gọi là
Thường Tịch Quang. Đấy chính là diệu tâm của
đương nhân, sao lại biến lời giảng chí
lư thành tṛ hư luận? Kẻ ngu ăn nói sai
quấy đến mức như thế đó, đáng buồn
thay!
* Trái nghịch cội gốc, tôn sùng đạo Thích
Người ta thấy có kẻ từ đạo Nho
theo đạo Thích, cực lực khen ngợi Phật, bảo
Khổng Tử không bằng Phật; do vậy bèn dị nghị
kẻ ấy trái nghịch cội gốc. Đấy là nói
ngoa. Bậc tiên đức nói: “Khổng Tử là thánh nhân
trong loài người, c̣n Phật là thánh nhân của các thánh
nhân”. Đấy chính là lời luận định công bằng
xét tới tột cùng lẽ trời, t́nh người, chẳng
thể gọi là trái nghịch! Nay có lời hỏi rằng:
“Cha ông với Nghiêu, Thuấn, ai là người hiền?” Ắt
ông sẽ nói: “Cha tôi làm sao dám sánh với bậc đại
thánh?” Như vậy là ông đă trái nghịch cội gốc
hay sao? Ắt cứ phải dối trời lừa người
để nói “cha tôi hiền như Nghiêu, Thuấn” th́ mới
là chẳng trái nghịch cội gốc ư?
Hơn nữa, không phải là Khổng Tử chẳng
biết tới Phật, nhưng Nho giáo luận về pháp
thế gian, chỉ dừng ở những điều nào hợp
với pháp thế gian. Nếu nói vượt quá, sẽ trở
thành pháp xuất thế gian. Hai pháp thế gian và xuất thế
gian duy tŕ lẫn nhau, nhưng môn đ́nh mỗi đằng
mỗi khác. Nếu không như vậy, tăng lữ học
Thiền, sao chẳng dựa theo sách Đại Học, Luận
Ngữ? Thí sinh đi thi, sao không dùng tới Pháp Hoa, Lăng
Nghiêm? Huống chi Khổng Tử tuy không tin Phật,
nhưng đă thốt ra những lời nói có ngụ ư
như: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ!”
(Sáng nghe đạo, tối chết cũng được).
Đấy là đạo nào vậy? “Tây phương hữu
thánh nhân” (Phương Tây có thánh nhân), đấy là vị
thánh nào vậy? Ư tôn sùng Phật thật rơ ràng. Nay nói “đạo Thích sâu xa
hơn đạo Nho” nhằm làm sáng tỏ rạng ngời
ư sâu nhiệm của Khổng Tử, đấy gọi là
báo ân, sao lại gọi là “trái nghịch cội gốc”?
* Danh xưng của tăng sĩ
Người đời thường dùng chữ “trưởng
lăo” để gọi Tăng; nếu gọi dễ dăi
th́ gọi là “ḥa thượng”. Đấy là sai ngoa. Vị
tri thức thời cổ chủ trương đạo
tràng một phương, nêu gương cho tăng chúng là
Trưởng Lăo, cũng gọi là Đường Đầu
Đại Ḥa Thượng. Đệ tử cũng gọi
thầy là Ḥa Thượng. Danh xưng ấy dễ đảm
đương ư? Người đời vốn chỉ
biết tới danh xưng, không hiểu nghĩa. Nay tăng
chúng cũng coi nhẹ danh xưng “trưởng lăo, ḥa
thượng”. Do vậy bèn có kẻ xưng hô là lăo gia! “Lăo
gia” là danh hiệu của quan phủ, tăng sĩ chớ
nên dùng. Phàm các bậc A La Hán như Xá Lợi, Mục Liên,
Không Sanh (Tu Bồ Đề), Ca Diếp đều là đệ
tử thượng thủ của đức Như Lai, nên
mới được xưng là Trưởng Lăo; nhưng
Thích Ca, Di Đà là những vị Thế Tôn trọn đủ
Thập Lực, được muôn đời xưng là Bổn
Sư Ḥa Thượng. Tăng nhận lănh cái danh ấy, [lẽ
ra phải cảm thấy] hổ thẹn không chốn dung
thân, nhưng lại ngược ngạo coi rẻ, cũng
lạ lắm thay!
* Đầu Đà
Đă có kẻ chẳng xuống tóc, lại chẳng
đội măo, cài trâm[43],
cạo sạch đôi lông mày, xưng là Đầu Đà.
Đấy là sai. Đầu Đà (Dhuta) là tiếng Phạn,
tiếng Hán dịch là Đẩu Tẩu (抖擻, phấn chấn tinh thần, rũ sạch), có đủ
mười hai khổ hạnh, thoát trừ trần cấu,
thanh tịnh vô nhiễm. Thời cổ gọi [Đầu
Đà] là Đẩu Tẩu. Đức Phật dạy: “Có
hạnh Đầu Đà th́ pháp ta được tồn tại
lâu dài. Không có hạnh Đầu Đà th́ pháp ta bị diệt!”
Đầu Đà có quan hệ đến sự thịnh suy
của Phật pháp, há để kẻ làm ra vẻ khác
người lạm xưng ư? Nếu như đang ở
trong tử quan (bế quan cho đến khi chết), để
tóc dài không cạo như đại sư Cao Phong ở Thiên
Mục th́ thật sự là bậc Đầu Đà.
* Ba y
Có kẻ cho rằng: Trong ba y, y năm điều là y
của Sa Di, y bảy điều là y của tỳ-kheo, y
hai mươi lăm điều là y của Bồ Tát. Đấy
là sai. “Phàm lúc c̣n là Sa Di, liền
nhận lănh đủ ba y, chẳng thể thiếu một
loại nào”. Đấy chính là lời nói của
tăng nhân chẳng thông hiểu văn nghĩa. V́ thế
chẳng có ǵ là lạ! Nhưng kẻ chỉ nghe giáo pháp mà
không thông hiểu, bèn chỉ nhận lănh y bảy điều,
c̣n y năm điều và y hai mươi lăm điều
suốt đời không nhận lănh! Tướng trạng
Phật pháp suy tàn đă thấy rồi đấy!
* Cạo đầu, không cạo râu
Có kẻ cạo đầu chẳng cạo râu, viện
cớ “cạo tóc nhằm trừ phiền năo, để
râu nhằm biểu hiện chí trượng phu”. Đấy
là sai! Nếu bảo tóc là phiền năo th́ râu c̣n là phiền
năo nặng hơn. Biểu lộ chí trượng phu th́ bậc
có tư cách đại trượng phu giống như Mạnh
Tử đă nói chính là người tận tụy thực
hiện nhân nghĩa, giữ vững khí tiết trong lúc cùng
quẫn cũng như khi hiển đạt suốt một
đời mà thôi! [Để râu nhằm] phô bày dáng mạo
xinh đẹp giống như đàn bà, con gái [làm điệu]!
Bậc tâm hùng hơn muôn người, cần ǵ phải lấy
râu để biểu thị? Làm như vậy trái nghịch
điều đức Phật đă rành rành ngăn cấm,
phô bày vẻ lạ nhằm mê hoặc mọi người,
đáng bị tẫn xuất, quở trách, đừng cho
xen lẫn vào trong cửa Phật mới đúng!
Bồ Tát Giới đệ tử Lưu Huệ
Văn suất lănh con là Tánh Trạch quyên tiền kính khắc
in.
Tháng Mười Một mùa Đông năm Quang Tự 24
(1898), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.
13. Trực đạo
lục (直道錄)
Đời Minh, sa-môn Châu Hoằng
chùa Vân Thê thuộc Cổ Hàng soạn
13.1. Lời tựa của
Trực Đạo Lục
Luận Ngữ nói: “Tư dân dă, tam
đại chi sở dĩ trực đạo nhi hành dă”
(Dân chúng trong thời tam đại (Hạ, Thương,
Châu) được như thế là do họ
hành theo đạo công chánh, thẳng thắn). Lại nói: “Nhân
chi sanh dă trực” (Con người phải nên sống
chánh trực). Lại nói: “Cổ chi ngu dă trực” (thời
cổ, kẻ ngu cũng chánh trực). Lẽ sống vốn
thẳng thắn, tức là bất luận kẻ hiểu
biết hay ngu muội, đều được soi rạng
bởi điều ấy. Đó là cái tâm của người
dân thời Tam Đại, là đạo chánh trực, mà
cũng là cái tâm của dân thời Vô Hoài và Cát Thiên Thị[44]
thời thái cổ, là trực đạo.
Đó cũng là cái tâm của người dân nơi trời
Quang Âm từ thuở thái cổ kiếp
sơ cho đến nay. Dẫu muốn cong vẹo, cũng
chẳng thể được! Đối với những
chuyện thượng, hạ, xưa, nay, phàm những
điều được ghi chép trong sử, truyện, hoặc
mắt thấy, tai nghe, từ trong trăm ngàn điều,
tôi trích lục một, hai điều. Hoặc là đối
với những điều cùng được mọi
người ca ngợi, tán thưởng mà chẳng biết
là sai, tôi bèn hạ thấp. Hoặc là những điều
cùng bị thiên hạ đả kích, chê gièm, mà chẳng biết
là đúng, tôi sẽ đề cao. Đối với điều
được đề cao, chẳng dám nịnh bợ;
c̣n đối với điều được chèn ép, chẳng
dám t́m lỗi từ chỗ không có lỗi để bắt
bẻ. Tâm của người dân là trực đạo
(đạo chánh trực, thẳng thắn), đại
để là từ ngàn xưa đă như thế đó. Nếu
coi [những điều được nêu bày trong tập
sách này] là đúng, chỉ có bậc hữu đạo ấn
chứng. Nếu chẳng đúng, mong sẽ có người
chỉ bảo cho tôi!
Ngày trai giới
thuộc nửa tháng đầu trong dịp cuối Đông
năm Giáp Dần (1614) thời Vạn Lịch, Vân Thê Châu Hoằng
viết.
13.2. Trực đạo lục (chánh
văn)
* Tập tục
Tập tục
đổi dời con người, dẫu bậc hiền
nhân nhận biết, nhưng không tránh khỏi, tôi từng
ngờ vực chuyện này. Nay nh́n vào chuyện hiện thời,
đúng là như thế đó. Thử nêu một, hai điều: Chữ Điệt (姪) trong Thúc Điệt (叔姪, chú cháu) do Nữ (女) và Chí (至) ghép lại, nay bỗng dưng dùng chữ Nhân (人) thay cho Nữ thành chữ Chất (侄). Xét theo Ngọc Thiên và Quảng Vận[45],
chữ Chất tuy đồng âm với chữ Điệt
(tức cùng đọc là Zhí), nhưng Chất có nghĩa là
“cứng, chắc”, chẳng hề liên quan đến chữ
Điệt trong Thúc Điệt. Kể từ khi có sách vở
đến nay, thậm chí các sách Hồng Vũ Chánh Vận,
Luật Lệnh v.v… của thánh
triều hoàn toàn không có chữ [Chất] này, nhưng nó bỗng
xuất hiện ngày nay, xa gần đều dùng, chẳng cảm
thấy là sai. Đó là một điều đáng than.
Dùng “pháo trướng” (炮𤊞) thay cho “bộc trúc” (爆竹)[46], nổ
một tiếng chẳng c̣n ǵ, lại c̣n dùng giấy trang
kim trang hoàng, trên dưới đều như thế, chẳng
cảm thấy là sai. Đó là hai điều đáng than.
Tiệc tùng đăi bạn bè, khách khứa, các món ăn
quư lạ từ dưới nước và trên mặt đất,
nhiều đến trăm món, xa xỉ, hoang phí vô ích, sát
nghiệp phải gánh. Trên dưới đều
như thế, chẳng cảm thấy là sai. Đó là ba
điều đáng than.
Trẻ trai búi tóc, [thuở
xưa] trên búi tóc có cái khăn nhỏ, nay đều bỏ
đi, đến nỗi chủ nhân và đầy tớ lẫn
lộn chẳng phân biệt được, trên dưới
đều như thế, chẳng cảm
thấy là sai. Đó là bốn điều đáng than. Những
điều khác khó thể nêu trọn được!
* Vần trong thơ
Trong
sách Vận Thư của Thẩm Ước[47],
[quy định] các chữ Đông (東) và Đông (冬), Tống (送) và Tống (宋) đồng âm nhưng khác bộ, Văn (文) và Nguyên (元) hoàn toàn khác nhau, đâm ra
cùng một vần, nhưng xưa nay sử dụng như
tuân phụng sắc chỉ của vua, như tuân theo kinh
điển của thánh nhân, chẳng dám trái vượt mảy
may! Họ nói: “Các vị danh gia Lư Bạch, Đỗ Phủ
đời Đường viết Luật Thi (tức
thơ Đường Luật), ắt dùng các vần ấy.
Hễ có sai sót, sẽ bị người khác chỉ trích!”
Ôi! Thẩm Ước chẳng phải là
Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Vũ Vương, các vị
Lư, Đỗ chẳng phải là “tổ thuật, hiến
chương” (tôn sùng, phỏng theo đạo thống của
tiền nhân; tuân thủ pháp tắc và chế độ do
thánh nhân đă lập) như phu tử (Khổng Tử), thế
mà được tuân thủ, tín phụng dường ấy.
Hơn nữa, chẳng
phải là thiên tử không khảo cứu văn
chương, nay theo sách Hồng Vũ Chánh Vận, th́ chữ
Đông thứ nhất (東) và chữ Đông thứ hai (冬) đều hợp thành một vần,
nhưng [trong] thánh chỉ truyền bảo thị
thần [của Minh Thái Tổ], có nói vận học bị hủy hoại vào thời
Lục Triều, chỉ rơ Thẩm Ước [là kẻ gây
rối cho các quy ước về thanh vận]. Chẳng
tuân theo quy tắc đă thành lập vạn đời của
vị vua đương thời, mà tuân theo kiến giải
thấp kém của một gă đời trước, tôi chẳng
biết nói như thế nào nữa!
* Phá hủy dâm từ[48]
Quan
Học Sứ[49]
X… nhiều lượt truyền hịch tra xét, hủy phá
dâm từ. Trong địa phận của phường B́nh
An, có miếu
Lưu Lư Nhị Vương, tức là Thổ Cốc Thần
Từ ở làng quê tôi vậy. Hai vị ấy đều
là người đời Tống. Lưu vương tên húy
là Cấp (韐). Khi quân Kim phá thành, ông
tuẫn tiết, Sử ca ngợi ông là người báo quốc
tự ải (tự thắt cổ chết). Lư vương
húy là Nhược Thủy, Sử chép “người Kim nói:
- Khi nhà Liêu mất nước, người chết v́ trung
nghĩa rất đông, riêng Nam Triều (nhà Nam Tống) chỉ
có ḿnh Lư Thị Lang”. Do bọn cường hào trong làng có
hiềm khích với vị Tăng giữ miếu, bèn khai
báo lờ mờ, Học Sứ chẳng biết rơ, [ra lệnh]
hủy phá. Khi ấy, tôi ở bên ngoài, chẳng biết.
Trong làng, có vị tiên sinh tấn thân (có quan chức) cũng
chẳng ngó ngàng tới. V́ thế biết: Từ thời cổ,
dâm từ bị phá hủy chưa chắc đều là dâm
từ, mà ngược lại dâm từ có thể chẳng ở
trong số các đền thờ bị phá hủy cũng chẳng
có ngằn hạn. Nay hai vị trung thần được
thờ ké trong miếu Tam Thánh, ở sát vệ đường,
chỉ dung được tấm thân, giống như kẻ
thuê pḥng, người trong làng chẳng phát tâm khôi phục
[miếu thờ hai vị]. Tiếc thay!
* Bàn về y thuật
(1)
Cổ
nhân nói: “Chẳng thành một tể tướng hiền
lương, bèn thành một thầy thuốc sáng suốt”.
Đúng lắm thay! Y sĩ khó thể sáng suốt được!
Nêu đại lược mấy chuyện:
Một là lầm lẫn
trong việc điều trị do dùng thuốc có tánh mát [không đúng cách], gây tổn
hại. Tại Đan Khê, thịnh hành một thuyết cho
rằng trong thân người, Dương thường có thừa,
chứ Âm thường chẳng đủ, bèn dùng Tri Mẫu,
Hoàng Bá v.v… bảo là bổ Âm. Tới nay, kẻ trị chứng hư lao, cứ
tuân theo đó mà dùng. Lúc mới uống, bao tử c̣n mạnh
mẽ, dùng lâu ngày, [bệnh nhân] ắt trúng hàn, tiêu hóa kém. Âm
chưa được bồi bổ mà Dương đă cạn
kiệt! Hoặc nói: “Tả[50] phương Nam,
bổ phương Bắc. Y kinh (sách thuốc truyền thống)
dạy như thế”, nhưng chẳng biết kinh dạy:
“Phương Đông thật, phương Tây hư”,
bèn chẳng trị Đông, Tây, chỉ tả Nam, bổ Bắc.
Thận là mẹ của gan, thủy vượng th́ kim chẳng
được nung nóng để khắc chế mộc; do
vậy nói “mẹ có thể khiến cho con hư”. Lo
toan cho Kim và Mộc th́ đúng, nhưng chẳng thể nhất
loạt trị chứng hư lao. Như Vương Tiết
Trai[51]
cao minh, nhưng cũng do vậy mà chẳng biết, há có phải
là sai lầm nhất thời ư?
Hai là lầm lẫn
do bào chế không thỏa đáng. Người hiện thời
dùng nước tiểu của bé trai để tẩm sâm, bảo là [nếu không làm
như thế, sâm sẽ làm cho] phổi nóng, khiến phổi bị tổn thương. Nhưng sách Bản Thảo[52]
nói “sâm kỵ lỗ sửu”. Lỗ (滷) chính là muối, sửu (溲) chính là nước tiểu, sao ngược ngạo
dùng chất kỵ [để điều chế?] Lại như đối với Phụ Tử
(rễ cây Ô Đầu, Aconitum Carmichaeli), nhằm sử dụng
dược tánh mạnh mẽ của nó, cũng dùng nước
tiểu của bé trai để chưng Phụ Tử
dăm ba ngày. Ví như dùng mănh tướng để chế
ngự kẻ ḱnh địch, tuy chú trọng sự mạnh
mẽ của kẻ đó, nhưng khiến cho tay chân của kẻ đó bị thương tổn,
khiến thân thể hắn đói khát rồi sai ra trận,
có được hay chăng? Phàm là người dùng thuốc,
phải xem xét có nên dùng hay không. Nếu chẳng thích hợp
dùng, sao bằng thôi đi (chẳng dùng)?
Ba là lỗi lầm
do nhận biết thuốc sai lầm. Lầm lẫn thanh
b́[53]
với hạt cam, lẫn lộn chỉ cốc (cam đắng)
với hương viên (turbina aguta), lẫn lộn thạch
cao với phương giải thạch (calcite, CaCO3) Lại c̣n đặt ra kiểu nói “nhuyễn thạch cao, nhuyễn sài hồ” không chừng! Coi
ngũ bội tử[54]
là văn cáp (文蛤, con ngao mật), coi tua hoa sen là nhụy hoa sen, coi sơn la bặc (scabiosa, lam bồn hoa) là sa
sâm (ladybells), đều là sai lầm. Thanh b́ đi vào Túc Quyết
Âm kinh, cho nên trần b́ trị cao, thanh b́ trị thấp. Hạt
cam là thuốc trị nơi ngực, sao có thể đi vào Túc Quyết
Âm cho được? Những điều khác có thể suy
ra tương tự. Lại nữa, hạt cẩu kỷ,
địa cốt b́ (vỏ rễ cây cẩu kỷ), rễ
và hạt từ cùng một cây, Vương Tiết Trai chia
thành hai bộ thảo mộc, đều sai.
Bốn là lầm lẫn
do kê toa không cẩn thận. Cổ nhân kê toa, thận trọng,
chẳng cẩu thả. Tất cả các toa thuốc đă
h́nh thành như tứ quân, tứ vật, nhị trần,
b́nh vị v.v… được gọi là Ngọc Cấp Tam
Thập Lục Phương (ba mươi sáu toa
thuốc trong tráp ngọc), do chân
nhân Tôn Tư Mạc được truyền từ cung rồng,
được chép rải rác trong các sách kê đơn thuốc,
mỗi mỗi đều có thâm ư. Người đời
sau hễ thấy thích hợp bèn sử dụng, hơi có
tăng, giảm, sửa đổi, không ǵ chẳng thích
đáng. Nhưng kê toa trong hiện thời, hoặc là tản mạn không lớp
lang, hoặc tùy tiện sử dụng, hoặc quen chế
thuốc b́nh đạm, tác dụng ḥa hoăn, chẳng có lợi
ích to lớn, mà cũng chẳng gây tổn hại to lớn,
cho rằng hễ thành (có công hiệu) th́ kể công, bại
th́ không bị đổ lỗi, chẳng biết đối
với căn bệnh khẩn yếu, [làm như thế sẽ]
trở thành gây tổn hại. Lại như các toa thuốc
của họ Vương tinh mật nhất, nhưng đối
với tứ quân tử[55],
lại thay cam thảo bằng hoàng kỳ. Tùy theo chứng bệnh
mà kê toa, vốn chẳng có cách nào chết cứng, nhưng
nếu sao chép, khắc in toa thuốc cổ, chớ nên thay
đổi! Nếu như từ cổ đă có người
thay đổi th́ được, nếu từ thời cổ chưa có th́ vẫn giữ nguyên
như cũ mới nên.
* Bàn về y thuật
(2)
Cổ
nhân có nói: “Uống thuốc thích đáng th́ là thượng
trị, chẳng đúng lẽ th́ là hạ trị. Chẳng
uống thuốc, cứ giữ bệnh, th́ là trung trị”. Nay thử nêu lên một khoa Thương Hàn, khó biện
định th́: Một là lúc ban đầu mới
phát sốt, khó biện định là ngoại thương
hay nội thương. Kế đó là khó biện định [bệnh] lan truyền theo kinh mạch nào, hoặc truyền theo
thứ tự, hoặc chẳng truyền theo thứ tự,
hoặc truyền lung tung, hoặc từ đầu đến
cuối chỉ truyền trong một kinh, hoặc
chẳng truyền. Hoặc
đang trong lúc toát mồ hôi, thượng thổ hạ tả,
hoặc là chẳng nghiêm trọng, hoặc bệnh t́nh nguy cấp,
hoặc bệnh t́nh ḥa hoăn, hoặc biến chứng
trăm kiểu khó biện định. Sai chừng hào ly,
đă liên quan đến sanh tử. Do vậy, chẳng uống
thuốc là trung trị.
Hơn nữa, hai
thang Ma Hoàng và Quế Chi của Đào Trọng Cảnh,
người đời sau chẳng dám dùng. Dịch lăo dùng Cửu
Vị Khương Hoạt Thang để thay thế, trong ấy
có hoàng liên, sanh địa, người đời sau lại
ngờ vực, bỏ đi, chẳng biết Ma Hoàng và Quế
Chi chuyên trị chứng thương hàn vào tiết Đông,
c̣n Cửu Vị th́ trị chung bốn thời. Đại
để, mùa Đông phát bệnh th́ là thương hàn, c̣n
Xuân phát bệnh th́ là ôn, mùa Hạ phát bệnh th́ là nhiệt.
Lại c̣n có đại sài hồ, tiểu sài hồ, đại
thanh long, tiểu thanh long, đại thừa khí, tiểu thừa
khí v.v… đều có thâm ư, chẳng thể dùng loạn. Do vậy,
chẳng uống thuốc là trung trị, nói đúng lắm
thay!
Suy rộng thành
đủ thứ bịa đặt, chẳng phải chỉ
một thứ! Có kẻ đem thuốc làm thành bánh, đặt
ngải cứu lên trên đó để thay cho cách Cứu
thông thường. Có kẻ làm ống thuốc nung nóng để áp [vào thân
người bệnh] nhằm
thay cho châm. Có kẻ chế Hy Đậu Đan cho trẻ
nhỏ uống để khỏi lên đậu. Có kẻ
chế Sanh Tử Hoàn bảo là bà bầu uống vào sẽ
sanh song thai. Sai lầm, hư vọng đến nỗi
như thế ấy! Có kẻ chế tạo Đoạt Mạng Diên Niên Hồng
Diên Thu Thạch Đan, nhưng chia thành ba liều: Một
liều nhỏ vào mũi, một liều trút vào miệng, một
liều tra vào đường tiểu tiện, quái dị
đến mức như thế đó, đều là những
thứ chớ nên dùng, gạt đời, dối dân, chẳng thể không nêu
ra, chỉ có bậc trí biện định.
* Quan vương hội
Người đất
Hàng thích mở hội tế thần. Mấy năm gần
đây có hội vía Vân Trường Công (Quan Công), bày biện
đội ngũ rước xách hết sức long trọng,
bày rộng các đội nghi trượng, tám cỗ kiệu
thần, trăm thứ nhạc cùng ḥa tấu, nha dịch,
thủ vệ, kỵ binh, lính cầm cờ, đao phủ
đều do người dân hay kẻ đang làm quan phát tâm
phục dịch. Trên đường đi, hễ gặp
thần miếu, một người bước đi mạnh
mẽ, đóng làm phù quan[56]
cầm thiếp bái khách. Ông từ giữ miếu quỳ bẩm:
“Bổn thần ra ngoài, lỡ dịp đón tiếp”.
Đấy vẫn chưa phải là chuyện gây hại sâu
đậm. Hoặc có lúc kẻ khiêng kiệu tự nói “thân
chính ḿnh chẳng kiềm chế” được, [khênh
kiệu] xông thẳng vào nhà giàu, [đặt kiệu] ngồi
ngay ngắn nơi chánh sảnh, nhiều người chẳng
thể khiêng lên được. Chủ nhân lại lạy lục,
hứa sẽ thí đủ loại cúng dường th́ mới
có thể dời đi được. Lại có một
người làm lính lệ, hứa sẽ phục dịch một
suất. Đến kỳ hạn, do bị bệnh, chẳng
thể đến hội, bèn thốt lời điên cuồng,
dập đầu xin tha mạng, mới được thần
cho lành bệnh.
Than ôi! Vân Trường
Công coi rẻ của cải đút lót hết sức trọng
hậu của họ Tào (Tào Tháo), mà đối với những kẻ Ngài thống ngự
lại có ân nhiều nhất, há chịu động tâm v́ sự cúng
dường của một hộ nhà giàu nhỏ nhoi? V́ một
người lỡ dịp phục dịch mà quở trách
sâu xa ư? Dẫu có đi nữa, chính là yêu tà mạo danh
Ngài để tác quái vậy. Lừa đời, dối dân,
chớ nên để cho tăng trưởng. Nay thượng
quan biết tới, hăy nên ngăn cấm!
* Quách Cự
Cơi
đời truyền tụng Quách Cự v́ mẹ mà chôn con,
được trời ban cho vàng; nhưng trẻ thơ ăn
được bao nhiêu? Vợ chồng bớt một muỗng
cơm là đủ để nuôi con thơ rồi, v́ sao phải
đem chôn? Mẹ biết cháu bị chôn, há chẳng gần
như buồn bă, nghẹn ngào đến chết ư?
Như thế th́ chẳng phải là chôn con, mà là chôn mẹ.
Dẫu Quách Cự cực si dại, chẳng nên đến
mức ấy! Nếu bảo là vợ chồng nghèo túng,
không có cách nào xoay sở được nữa,
bàn bạc muốn bỏ con, th́ trên đường sẽ
bỗng được vàng, chứ chẳng phải là phải
cuốc đất mới ḥng có được!
* Phương Tốn
Chí (Phương Hiếu Nho)[57]
Phương
công trung liệt, khí tiết to lớn, lấp trời đất,
trùm nhật nguyệt, chiếu rạng xưa nay, tôi hết
sức kính yêu, nhưng chẳng mong người đời
bắt chước ông. V́ sao? Giết tông tộc, thân thích,
những người quen biết đến mấy trăm
mạng người để thành cái danh trung liệt ấy!
Người có ḷng nhân sẽ chẳng nỡ, người
trí sẽ chẳng làm; nhưng trung liệt có thể phế hay chăng?
Thưa: Đại nghĩa của kẻ làm bầy tôi, sao
có thể phế được? Chẳng có cổ nhân trung
liệt đó ư? Như Cung Thắng[58]
tuyệt thực mà chết th́ được, như
Trương Vĩ[59]
uống thuốc độc th́ được, như Lư
Quân[60]
gieo ḿnh vào lửa th́ được. Nếu không, hái rau vi ở
Thủ Dương[61]
cũng được, nhă nhặn
từ chối lui về Ky
Sơn cũng được. Huống chi những vị
đồng thời tử tiết [với ông Phương]
như mấy vị Tăng Phượng Thiều,
Vương Thúc Anh, Châu Thị Tu đều chẳng đánh mất khí tiết là trung thần của Kiến
Văn Đế (Châu
Doăn Văn), sao [ông Phương] lại đến
nỗi quyết liệt như thế! Do vậy, tôi tiếc
nuối sâu đậm. Tuy vậy, trăm năm sau, vẫn
đáng khiến cho kẻ làm bầy tôi mà thờ hai chúa phải
xấu hổ!
* Hành h́nh khốc liệt
Tăng
Tử bảo người làm quan tư pháp rằng: “Như
đắc kỳ t́nh, tắc ai căng, nhi vật hỷ”
(Nếu đă hiểu rơ [t́nh huống trong mỗi vụ
án], hăy xót thương [tội nhân], đừng vui sướng
[v́ đă giải quyết xong vụ
án])[62].
Người hiện thời đă hiểu rơ t́nh tiết trong mỗi vụ
án, liền coi đó là phán đoán sáng suốt. Nhưng để
thấu hiểu t́nh huống, không chỉ do dọa nạt,
mà c̣n do dùng cực h́nh ra oai, nên lại chẳng thể thấu
hiểu t́nh huống chân thật. Tôi thấy kẻ làm quan
cai trị, có kẻ ghép mạt sắt vào kẹp gỗ[63],
có kẻ ngâm tre tươi [làm roi] để đánh đ̣n,
có kẻ sai đánh roi [nghi
phạm] tới bốn năm chục roi chẳng
ngừng, có kẻ nung nóng ống sắt dí vào da tội
nhân, có kẻ đun sôi rượu rót vào lỗ mũi, khổ
độc khôn kham, ép họ phải nhận tội oan. V́
thế nói “biết t́nh tiết trong vụ án, chưa chắc
đă là thật”. Phàm những hạng người ấy
đa số thọ báo ngay trong đời hiện tại.
Nếu chưa thọ báo, sẽ hứng chịu cái quả trong địa ngục!
Than ôi! Tôi từng nói hăy nên lưu truyền sách H́nh Giới
(răn kiêng sử dụng h́nh cụ) của ông Lữ tới
ngàn phương, truyền tới vạn đời vậy!
* Tinh mạng (vận mạng do tinh tú chi phối)
Từ
Tử B́nh[64] đoán mạng của
người khác, lấy nhật can (thiên can của ngày sanh) làm chủ, dùng ngũ hành sanh, khắc, xung, hợp,
h́nh, hại trong bảy chữ kia[65]
để phụ trợ. Người đời sau chẳng
thể dùng lư ngũ hành thuần túy để đoán mạng,
bèn kiêm dùng thêm các tinh số[66],
đấy chẳng phải là bổn ư của Tử B́nh vậy.
Dẫu cho người tinh thông thuật Tử B́nh, cũng
chưa chắc đều trúng. V́ lẽ nào vậy? Trong thế
gian này, người sanh cùng một bát tự, chẳng biết
là bao nhiêu! Ngay như chia mỗi thời thành khắc[67],
th́ trong tám khắc, người cùng sanh đúng một khắc
lại chẳng biết là bao nhiêu! Ngay như ba trăm vị
đỗ Tiến Sĩ mỗi khoa thi, [nếu theo Tử
B́nh] phải đều là cùng một bát tự mới
được. Nếu không, sẽ chẳng có số đậu
Tiến Sĩ! Nhưng [trong số các vị Tiến Sĩ ấy],
người có cùng bát tự chỉ thỉnh thoảng thấy
một hai người đỗ cùng một khoa! Do vậy,
cái thuyết số mạng do các tinh tú chi phối bị mâu
thuẫn!
Hơn nữa, phu tử
nói: “Tử sanh hữu mạng” (sống chết có mạng).
Lại nói: “Ngũ thập nhi tri thiên mạng” (năm
mươi tuổi biết mạng trời). Lại nói: “Bất
tri mạng, vô dĩ vi quân tử dă” (chẳng biết mạng,
chẳng coi là quân tử được). Chữ Mạng ấy
chẳng phải là mạng theo kiểu Tử B́nh Bát Tự.
Nếu không, người hiện thời đều là quân
tử, đều là thánh nhân cả rồi! Buồn thay!
* Phong Thủy (1)
Người
đời tin tưởng Phong Thủy c̣n hơn đoán mạng,
v́ lẽ nào vậy? Mạng đă được ấn
định từ lúc mới sanh, c̣n Phong Thủy th́ hiện
thời có thể sắp xếp. Do đó, tin tưởng hết sức thiết tha, cầu cạnh hết sức siêng gắng,
hiếm hoi mới có người
có thể phá trừ sự mê hoặc ấy!
Đến bảo họ rằng: “Nhà nghèo khó chẳng có sức
t́m đất, chứ trong ḍng họ thịnh
vượng, đỗ đạt
cao, vinh hiển, nhiều đời ăn lộc, trăm
cách lo toan phần mộ, thế mà có khi con cháu nghèo nàn, túng
quẫn, có kẻ chật vật chẳng thể nói nổi
là v́ lẽ nào?” Lư ấy quá rơ, nhưng rốt cuộc chẳng
giải trừ nỗi mê hoặc được. Họ cứ
nói: “Đấy ắt là do Phong Thủy lâu xa từ đời
trước khiến thành ra như thế”.
Lại đến bảo
họ: “Hán Cao Đế, Đường Thần Nghiêu, Tống
Nghệ Tổ[68],
đời trước dù ông hay cha, ai sẽ v́ họ chọn
cuộc đất tối thắng hiếm có đệ nhất
trong thiên hạ, mà con cháu nhiều đời được làm đế vương?”
Lư này quá rơ, nhưng rốt cuộc chẳng giải trừ
nỗi mê hoặc được, họ cứ nói: “Tổ
tiên những vị đó tuy chẳng mong làm đế
vương, nhưng do ngẫu nhiên mà có được cuộc
đất đế vương”. Lại đến bảo
họ rằng: “Thiên văn dễ nghiệm, địa lư
khó rơ. Lại như một pháp nhật thực, sai bằng
hào ly[69],
cả nước đều thấy. Chứ trong địa
lư, mạch từ đâu ra? Huyệt từ ǵ mà kết?
Đất chẳng thể nói, chỉ dựa vào miệng của
thầy địa lư, có thật sự đáng tin hay không?
Hơn nữa, ứng nghiệm th́ xa là nhiều năm,
chưa thấy sáng an táng quan tài, tối liền hiện cát
hung. Làm thế nào khảo nghiệm lời thầy địa
lư nói là đúng hay sai?” Lư này quá rơ, nhưng rốt cuộc chẳng
giải trừ nỗi mê hoặc được, họ cứ
nói: “Ông thầy đó do ông X… đề cử, học
thuật tinh tường, cao minh, từng đặt mộ
cho cha ông X…, chôn mẹ cho ông Y… đều rành rành ứng
nghiệm!” Rốt cuộc là như thế nào?
Hơn nữa, Giáp
đặt mộ, Ất chê sai. Ất thay đổi, Bính lại
chê sai, bèn có chuyện t́m đất chẳng được,
khiến cho trải bao năm tháng cha mẹ cứ phơi
thây ra đó. Người có nhiều anh em, [thầy địa
lư] nói: “Huyệt này chẳng lợi cho con trưởng, huyệt
kia chẳng lợi cho con giữa, huyệt nọ chẳng
lợi cho con út”. Ai nấy bèn mưu toan có lợi cho riêng
ḿnh, ai nấy hối lộ thầy địa lư, đến
nỗi cạnh tranh bất ḥa. Có khi cuộc đất gần
nhà người khác, hoặc là mộ họ Trương bên
trái, mộ họ Lư bên phải, hoặc trước hoặc
sau. Kẻ này nói “phạm ta”, kẻ kia nói “tổn
thương ta”, đến nỗi thành ra kiện tụng,
đều do thầy địa lư làm ra. Dẫu là bậc
cao minh, hiền năng, vẫn vướng vào đó, chẳng
thể thoát ra.
Than ôi! Huyệt ở
nơi ḷng người, chẳng ở nơi núi. Đàn bà,
trẻ nít không ai chẳng biết [điều đó], mà cứ
như chẳng hề nghe thấy, tôi chẳng biết v́
sao như thế! Nếu có người nói: “Quả thật
chẳng có Phong Thủy ư?” Thưa: - Từ xưa đă
có lời nói rơ ràng, chân thật, thiết tha. Vốn chẳng
có đá, không có nước, chẳng có gió [ảnh hưởng
đến phần mộ], vốn mai sau không có nỗi lo bị
kẻ quyền thế xâm đoạt, an ổn, b́nh yên, thỏa
đáng, nhưng tâm của con người giảo hoạt khiến thành ra như thế. C̣n
như do mong cầu phú quư, lợi lộc, hiển đạt,
mà toan tính, t́m cầu quá mức đến nỗi bị thầy
bà lừa gạt, chẳng phải là điều tôi biết
được!
* Phong Thủy (2)
Như
những điều đă nói trên đây, vẫn c̣n có điều
chưa trọn hết. Tần Thủy Hoàng thôn tính sáu vua,
khắp bốn biển, mỗi thước đất, mỗi
tấc cát, không ǵ chẳng thuộc quyền sở hữu của ông ta, tùy ư chọn lựa, ai có
thể ngăn trở được? Lại c̣n đem sáu
kinh, trước tác của chư tử, sử sách, thảy
đều thiêu sạch, chỉ riêng giữ lại các sách
bói toán, trồng trọt, tạp thuật, há chẳng có kẻ
tinh thông địa lư lo toan [chọn cuộc đất báu
theo phong thủy để đặt mộ cho hắn], thế mà [nhà Tần] mới hai đời liền diệt
vong, là v́ lẽ nào? Thánh Tổ triều ta (Minh Thái Tổ) tự
nói xưa kia thiếu đất chôn [cha mẹ], cảm kích
hàng xóm thí đất làm mộ, sau khi lên ngôi vua, liền
phong hầu cho con cháu người ấy để báo đức,
để lại nghiệp lớn cho muôn vạn đời
lại là như thế nào?
Hơn nữa, Phong Thủy của dương trạch (nhà ở)
càng khó thông hơn! Chỗ ở [của một cá nhân] th́ có
thể dời, có thể đổi, c̣n như bộ viện,
nha môn, công thự thuộc ty đạo, quận, huyện,
vĩnh cửu như thế, nhưng quan lại sống
nơi đó, hoặc thăng chức, hoặc bị giáng cấp,
hoặc bị băi chức, hoặc an ổn, hoặc bệnh
tật, hoặc chết chóc, mỗi mỗi khác biệt, vậy
th́ cái thuyết Phong Thủy áp dụng vào đâu? Con cháu của
ḍng họ to lớn do nghèo mà bán nhà, sẽ quy lỗi “nhà ở chẳng thuận lợi”. Có kẻ phú quư mua lấy, càng tăng thêm phú quư. Vậy
th́ cái thuyết Phong Thủy đặt nơi đâu? Chỗ
ở của kẻ tuyệt tự, có người sống
trong đó mà hậu duệ đông đảo. Chỗ ở
của bà góa, có người sống nơi đó vợ chồng
đằm thắm, sống thọ. Chỗ ở của
Nho sinh già, có kẻ sống ở đó tuổi trẻ
đă đỗ đạt, vậy th́ cái thuyết Phong Thủy
áp dụng vào đâu? Lời cuồng trái tai, chỉ có bậc
trí suy xét.
* Đừng buông
lung cơn giận
Quan
học sứ X… ưa chuộng tài năng của một học
tṛ, không theo thứ tự[70]
chọn nó làm Cống Sanh. Có bốn đứa học tṛ ở
trước mặt, dựa theo quy cách mà tận lực tranh căi: “Đấy là quy chế
tổ tông, sao có thể thay đổi loạn xạ
được?” Học sứ hết sức giận dữ,
bèn ngưng không phát học bổng cho họ. Bốn đứa
học tṛ tranh luận là tranh căi theo lư, [học sứ] khéo
dùng lời an ủi là được rồi, thế mà
ngược ngạo phán tội, cái tâm sao yên được?
Lại có học sứ
Y… bảo chư sanh (các cống sanh) rằng: “Con người
khổ v́ chẳng biết chính ḿnh có lỗi, các tṛ cứ
nói thẳng, đừng giấu diếm”. Một học
tṛ bèn nêu ra mười hai lỗi [của ông ta], tŕnh lên. Học
sứ hết sức giận
dữ, đuổi thẳng. Gă học tṛ ấy suốt
đời lưu lạc. Chính học sứ đă nói
như thế, chẳng nghe lọt tai th́ thôi, lại c̣n
ngược ngạo bắt tội, tâm yên được
chăng? Hai ông do giận dữ nhất thời, lầm lẫn
đến mức như thế ấy. Tiên đức có dạy:
“Con người khi giận, hăy quên mối giận để
xét theo lư là đúng hay sai”. Nói chí lư thay!
* Lập lời thề
hư dối
Người
đời bị vu cáo, thường ngửa mặt lên trời,
chỉ thần minh mà tự thề. Thật t́nh th́
được, chứ chẳng thật th́ đừng nói:
“Trời chưa chắc thấy, thần chưa chắc biết!”
Vị quan nọ giữ chức vị trọng yếu, thề
rằng: “Ta có ḷng riêng tư th́ thần sẽ giết chết”,
nhưng chưa khỏi có ḷng riêng tư, v́ sau bị bắt
tù, thoát khỏi bị thần giết chết. Một gă hủy
báng bậc tiền bối, thề rằng: “Ta mà có ác tâm th́
sẽ hộc máu”. Về sau, tiểu ra máu mà chết, riêng
thoát khỏi nạn thổ huyết. Ôi! Há có nên khinh thị thốt lời thề ư?
* Tô Tử (Tô Đông Pha)
Tô
Tử nói: “Vũ Vương chẳng phải là thánh
nhân”, nói chí lư lắm! Chắc
có người nói: “Ba vua đều được xưng
tụng là bậc vua thánh, phu tử ca ngợi họ là “hiến chương” (憲章, tuân thủ, thực hiện trọn
vẹn quy chế của tổ tông), sao Tô Tử lại nói như vậy?” Ôi! Sao chẳng
nói “Vũ Vương vị tận thiện” (Vũ
Vương chưa hoàn toàn tốt lành) cũng là lời của
phu tử? “Hiến chương” là chế định
theo vương đạo một thuở, “vị tận
thiện” là giềng mối to lớn muôn đời.
Thành Thang phế Kiệt, thả Kiệt đi, đă thả
mà c̣n hổ thẹn, chứ Vũ Vương dùng búa vàng
chém đầu vua Trụ chẳng hổ thẹn, sao
được như vua Thang? Tử Chiêm Thị[71]
viết lời mà ngàn đời chẳng dám nói, bèn nói “Vũ
Vương chẳng phải là thánh nhân”, đó là lời
chí lư. Có thuyết nói Vũ Vương chưa từng chém
Trụ Vương, đó là lời đồn sai lầm!
* Hán Cao Đế
(1)
Hán
Cao Đế dùng những người như Hoài Âm (Hoài Tín)
v.v… giết Tần, diệt Hạng (Hạng Vũ), mà có
thiên hạ, lo ngại những bầy tôi ấy sẽ là nỗi
lo cho con cháu đời sau, bèn dùng kế của Lữ Thị[72]
để diệt trừ họ, nhẫn tâm hết sức!
Không chỉ là bất nhân mà c̣n là bất trí, v́ sao? Sau này, gần như gây nguy hại cho họ Lưu là những
đứa họ Lữ, chứ chẳng phải là các
tướng! Tống Nghệ Tổ bảo toàn công thần,
chưa hề nghe các công thần là mối họa cho nhà Tống.
Cao Đế cớ sao riêng lo họa mà tính toán quá lố vậy?
* Hán Cao Đế
(2)
Tô
Tử nói: “Cao Đế không trừ khử Lữ Thị
v́ tính toán cho Huệ Đế. Nhà có chủ mẫu th́ bọn
tôi tớ mạnh mẽ, hung hăn chẳng dám hiếp đáp
đứa con yếu ớt”. Tôi nghĩ chẳng phải
là như vậy. Huệ Đế hiền đức, chẳng
cần Cao Đế phải lo lắng. Rốt cuộc v́
thấy thảm cảnh của lợn người mà [Huệ Đế] thương tâm, chết
sớm. Vậy th́ kẻ giết Huệ Đế chẳng
phải là lũ tôi tớ mạnh mẽ, hung tàn, mà do một mụ đàn bà ghen tuông! Cao Đế
chẳng phế Lữ Thị là v́ chẳng thể phế,
như người đời nói là “sợ vợ”. Tô Tử
b́nh luận Vũ Vương đúng lắm, nhưng b́nh luận
Cao Đế th́ chưa!
* Từ cư sĩ
Cư
sĩ chẳng ra làm quan, chẳng có học vấn, mà có nhiều
câu nói đáng làm cách ngôn. Tuổi cụ đă cao, người
làng đề cử lên quan, trao cho mũ và đai của bậc
cao tuổi có đức hạnh, cụ đành phải đội mũ,
đeo đai. Một hôm, cụ liền từ tạ, trả
lại, chẳng c̣n đeo, đội nữa.
Cụ đă nằm bệnh, các con hỏi: “Nhập liệm
có đội mũ, đeo đai hay không? Hay là dùng áo thâm?” Cụ
nhắm mắt chẳng đáp, hồi lâu mới nói: “Có thể
vùng vẫy trong quan tài hay không?” Lời ấy tuy nhỏ,
nhưng có thể sánh ví chuyện to lớn. Mũ miện rực
rỡ trong hiện thời vẫn là vẫy vùng trên sân khấu,
cụ hiền đức thay!
* Hai vị
Trương và Hải
Mấy
chục năm trước, quan Trực Chỉ[73]
đất Chiết là ông Trương, mặt có sắc
vàng, mọi người là Trương Hoàng Tử (ông
Trương mặt vàng). Mỗi lần ra ngoài, tùy tùng bất
quá là mười mấy người, c̣n chẳng bằng Bạ
Điển (簿典, quan quản lư hồ sơ) trong ấp. Ông nhận cáo
trạng trên đường đi, người đến
xem kín mít. Ông nói: “Dân làng cô đơn, đói lạnh, hoặc
bị kẻ cường hào ngăn trở, chẳng thể
mỗi mỗi đều đến công thự của ta”.
Ông xét xử công minh, chẳng để người phạm
tội nằm chờ lâu ngày trong ngục, được mọi
người gọi là “thần
minh”.
Lại c̣n hơn hai
mươi mấy năm trước, ông Hải
Cương Phong do đỗ kỳ thi Hương mà làm quan
cai trị nơi một huyện thuộc
Nghiêm Châu. Khi đó, ông Hồ Mai Lâm cai quản
chung ba tỉnh Chiết Giang, Trực, Phước Kiến,
oai thế lừng lẫy, đối với các huyện
quan [trực thuộc] có thể xử sự theo quân pháp. Con ông ta vào đất
Hàng, những chỗ nó đi qua, được [các quan lại địa
phương] cung phụng, biếu xén rất hậu,
riêng ông theo lệ tiếp đăi b́nh thường, nói: “Dân
ta khốn khó, ta chẳng thể bóc lột xương máu của
dân để xu nịnh kẻ quyền thế trọng yếu”.
Họ Hồ hết sức tức giận, nhưng rốt
cuộc chẳng làm ǵ được! Ông về sau
được bổ làm quan trông nom Thế Miếu,
được ban tặng Tiến Sĩ, làm quan đến
Cửu Khanh[74], có công đức rất
dày đối với dân. Than ôi! Như hai ông, há chẳng phải
là bậc trượng phu hào kiệt chân thật, là bầy tôi
tích cực của đất nước, là cha mẹ của
dân ư?
* Miếu Nhạc
Vương
Trước
mộ Nhạc Vũ Mục Vương (Nhạc Phi), có
đúc ba tượng đồng của vợ chồng Tần
Cối và Mặc Kỳ Tiết[75], bị trói giật khủy, quỳ thẳng, ḥng biểu
thị chúng nó bị tru lục, làm nhục. Nay bỗng chẳng
thấy nữa. Tần Cối ngạo ngược theo phe
cừu địch, lại chủ ḥa, hăm hại bậc trung lương, gây hại cho đất
nước, ngàn đời hăy c̣n để lại mối
hận, nhưng người ta thấy có kẻ dẹp cái
tượng xấu xa ấy, có phải là do quả báo trong
cơi âm [của chúng nó] đă hết mà thành ra như thế
đó chăng? Lúc tôi c̣n bé, thấy có kẻ họ Cừu lớn
lối nói: “Trong thuở ấy, t́nh thế khiến cho chẳng
thể không ḥa, Tần Cối vô tội”. Ngột Truật[76]
sợ Vũ Mục như thiên thần, mưu toan trốn
về phương Bắc để tránh mũi tấn công
của Ngài (Nhạc Phi), sao lại bảo “chẳng thể không ḥa?” Gă đó đúng là cùng một loại với Tần Cối.
Tôi tuy c̣n trẻ, tâm hết sức ghét [hạng người
như thế]. Ôi! Nếu quả báo trong cơi âm đă hết,
chẳng cần phải nói. Nếu quả báo ấy
chưa tận, ắt sẽ lại có người đúc
tượng bọn họ!
* Nhà Nho mê mất nhiệm
vụ cần làm của chính ḿnh
Đức
Tuyên Thánh (Khổng Tử) là tông chủ đạo Nho. Kẻ áo dài xanh (Nho sĩ) phải nên sớm chiều
lễ bái, cúng dường, thế mà bỏ đó đi thờ
Văn Xương trọn hết ḷng cung kính. Tuy thờ
Văn Xương chẳng phải là không tốt, nhưng
cái tâm họ ngả theo phú quư. Đối với sáu kinh, Luận
Ngữ, Mạnh Tử, phải nên sớm chiều tin nhận,
vâng giữ, bèn bỏ đó mà tŕ chú Chuẩn Đề dốc
cạn ḷng thành kính. Chẳng phải là tŕ chú Chuẩn Đề
không tốt, nhưng cái tâm ngả theo phú quư. Phú quư là do trời,
thánh nhân đă có lời giáo huấn khuôn phép, Văn
Xương và Chuẩn Đề liên quan chi?
* Hai vị có ḷng
trung ở Tuy Dương
Hai
vị Trương và Hứa tận lực giữ thành
trong cơn biến loạn. Thành bị vây hăm, tử trận,
muôn đời sau ca ngợi hai ông là Song Trung (雙忠, hai vị có ḷng
trung). Riêng tiếc nuối là hai ông giết thiếp, giết
đầy tớ để nuôi quân, lại bắt hết
phụ nữ trong thành để ăn. Phụ nữ hết,
bèn bắt người già yếu trong thành để ăn.
Chỉ c̣n sót lại bốn mươi người th́ thành
bị phá. Phàm thịt của một người thiếp,
một đầy tớ, sao đủ cung cấp một bữa
cho cả trăm người, chính ḿnh lại bị thành
hoàng ghi tội! Thành bị công hăm th́ cả nhà ḿnh
chết cũng được, cả thành chết cũng
được, sao lại đến nỗi bắt phụ nữ và người già yếu trong
thành để ăn thịt? Nếu bảo chẳng giết
để ăn th́ họ cũng chết trong tay kẻ
địch, c̣n giết để ăn th́ ngoài những
người bị giết, chỉ c̣n sót lại bốn
mươi người? Hạng Vũ tàn sát dân trong thành, Bạch
Khởi giết kẻ đầu hàng, chưa chắc
đă giết sạch bá tánh trong thành. Nay [hai ông] chỉ c̣n
lại bốn mươi người, thế mà lại giết
trước để ăn có được hay chăng?
Than ôi! Ḷng trung có thừa, nhưng trí chẳng đủ,
đó là v́ dụng công nơi học vấn chưa đến
mức. Do vậy, tôi hết sức tiếc nuối!
* Phùng Đạo (1)
Phùng
Đạo làm quan suốt thời Ngũ Quư, người
này phẩm đức hèn xấu, kém cỏi, bị người
xưa nay b́nh phẩm rành rẽ đă lâu rồi. Hiện thời,
hai ông Lư và Tăng lại tán thưởng. Tán thưởng
thái quá th́ sai mất rồi! Ví như một cô gái đổi
nhiều chồng, có thể coi là hiền nữ được
hay chăng? Nhưng cũng có thể chấp nhận, nếu
cô ta trông nom gia đ́nh cần kiệm, phụng sự
người trên cũng cung kính, đối đăi người
dưới cũng nhân từ, tuy cái xấu chẳng thể
che giấu được, nhưng điều thiện vẫn
chẳng thể mất. Đó gọi là kẻ tuy ác
nhưng biết cái tốt đẹp vậy. Ông ta thờ
hai vua th́ phải nói là đă đánh mất khí tiết
nơi đạo, thiếu sót to lớn trong nghĩa làm bầy
tôi, chẳng cần phải bàn nữa! Nhưng cũng có
điều đáng chấp nhận là người đánh mất
khí tiết ắt tham lam chẳng chán, nhưng Phùng Đạo liêm khiết. Kẻ đánh mất khí tiết ắt
xa xỉ vô độ, nhưng Phùng Đạo tiết
kiệm. Kẻ đánh mất khí tiết ắt trên dua nịnh
vua, dưới làm cho dân chúng ngu muội, nhưng Phùng Đạo cũng có lời nói tốt lành để khiến
người trên giác ngộ, kẻ dưới được
an. Hành vi xét về đại thể tuy có tỳ vết,
nhưng có những ưu điểm nhỏ nhặt
đáng để ca ngợi, chẳng thể coi là bầy
tôi có tiết nghĩa, nhưng
vẫn có thể coi là người
thiện lương. Đó là lời bàn định với
cái tâm công bằng, là lời luận định chẳng
thay đổi, sao lại đến mức coi ông ta thuộc
về hàng Bồ Tát, xếp vào bậc hào kiệt xưa
nay? Đấy chính là điều khiến cho trung thần
nghĩa sĩ xoắn tay bất b́nh. V́ thế, quân tử
b́nh phẩm nhân vật, ắt phải hợp lẽ trời,
phù hợp t́nh người, chẳng thuận theo thế tục
để nói lời ba phải, chẳng cong vạy oan uổng
lẽ chánh!
* Phùng Đạo (2)
Nếu
hỏi: “Ông không chấp nhận Phùng Đạo, nhưng
Lương công (Địch Nhân Kiệt)[77]
phụng sự Vũ Hậu, gần như chẳng khác
Phùng Đạo đấy thôi!” Đáp: Lương công
(Địch Nhân Kiệt) rốt cuộc phản Châu v́ nhà
Đường. Ông ta làm bầy tôi của họ Vũ
(Vũ Tắc Thiên) là quyền biến, công lao đủ
để chuộc lỗi ấy. Phùng Đạo phụng
sự suốt thời Ngũ Quư, Giáp mất bèn theo Ất, Ất
mất bèn nương theo Bính, hễ theo bèn tùy thuận suốt
cả đời. Chưa hề nghe ông ta phản Bính v́ Ất,
phản Ất v́ Giáp.
Hoặc nói: “Quản
Trọng chẳng chết theo khi Tử Củ gặp nạn,
mà làm tướng quốc cho Tề Hoàn Công, sao phu tử lại
coi [Quản Trọng] là người có ḷng nhân?” Đáp: Quản
Trọng cửu hợp nhất khuông[78],
ân trạch thấm nhuần thuở ấy cho đến
đời sau, cũng như công lao phản Châu theo
Đường [của Lương công] có thừa để
chuộc lỗi. Phùng Đạo th́ có công ǵ? Dẫu có công
lao nhỏ nhặt, th́ lỗi to, công bé, chẳng thể luận
định giống như hai vị Địch Nhân Kiệt
và Quản Trọng được!
* Dạy trẻ trai
ba chuyện
Một
là học tập cử nghiệp, chẳng phải chỉ
mong đỗ đạt. Đọc sách thánh hiền, cần
phải học làm thánh hiền. Mạnh Tử nói: “Đạt
tắc kiêm thiện thiên hạ, cùng tắc độc thiện
kỳ thân” (Hiển đạt th́ khiến cho thiên hạ
đều tốt lành, cùng quẫn th́ riêng giữ cho thân
ḿnh tốt lành). Chẳng hâm mộ ngươi thành đạt,
chẳng nổi nóng v́ ngươi nghèo cùng. Chỉ mong
ngươi chẳng thẹn với hai chữ Thiện
[trong câu nói của Mạnh Tử].
Hai là viết lách,
không phải chỉ đẹp ḷng quan chấm thi, mong
được cất nhắc! Văn tự chính là tinh thần
và tâm thuật của chính người
viết. Gian hiểm, quái lạ, đó là văn
chương của tiểu nhân. Chánh đại quang minh th́
là văn của quân tử. Được hay mất tự
có số mạng, chớ nên do thấy có kẻ gian hiểm,
quái dị mà thành đạt bèn bắt chước.
Ba là theo thầy,
không chỉ cần học văn chương, tài nghệ,
phải lấy đức hạnh làm gốc. Người
chỉ dạy ta văn chương, tài nghệ, chẳng
dùng đức hạnh để dạy ta, chẳng phải
là thầy hiền. Nếu gặp thầy hiền, cần
phải thân thiết như cha mẹ, kính như thần
minh, suốt đời nương cậy th́ mới nên!
* Văn
chương thời cổ, văn chương hiện thời
Có
khi điên đảo trong danh xưng mà không ai nhận biết,
tức là coi cổ văn là văn hiện thời, coi
văn hiện thời là cổ văn. V́ sao? Nay sĩ tử
viết lách, soạn văn chương cử nghiệp
đều lấy chủ đề từ các sách Đại
Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, kinh Dịch,
kinh Thư, kinh Thi, kinh Xuân Thu, Lễ Kư, tức là dựa
theo lời lẽ của nhị đế, tam vương,
Châu Công, Khổng Tử, Nhan Hồi, Mạnh Tử, các vị
thánh hiền. Sĩ tử viết văn như thợ vẽ
vẽ tranh truyền thần, nếu mỗi mỗi đều
từ chính miệng của các vị thánh hiền thốt
ra, há chẳng gọi là cổ văn ư? Nhưng gọi
ngược ngạo là văn hiện thời. Nay cổ
văn th́ dù truyện, dù kư, dù từ, dù phú, đủ loại
trước tác, tùy theo từng thời đại khác nhau,
tùy người mà khác biệt, nhưng đều là chuyện
trước mắt [của tác giả], há chẳng phải
là văn hiện thời ư? Thế mà lại gọi
ngược ngạo là cổ văn!
Than ôi! Văn
cũng có ǵ là cổ hay hiện thời? Chỉ cần chẳng
trái nghịch lư, có lợi cho mọi người, chánh đại
quang minh, trang trọng, cao nhă, súc tích, truyền đạt
cho thiên hạ không ai có thể dị nghị, truyền xuống
muôn đời chẳng thể thay đổi, th́ đều
là cổ. Rút vàng đối trắng, đua khéo, tranh lạ,
chẳng phù hợp lư, vô ích cho mọi người, gian hiểm,
quỷ dị, đọc đến chẳng thể chấp
nhận được th́ đều là văn hiện thời.
Thơ cũng vậy, há cứ ắt phải phù hợp với
cung cách tuyển chọn thơ th́ mới gọi là cổ
thể, c̣n theo luật ngũ ngôn, thất ngôn liền gọi
là Cận Thể ư? Hai điều luận định
này ắt chẳng hết sức hợp ư mọi người,
nhưng tôi cũng chẳng bận ḷng!
* Tài năng kiệt
xuất
Kẻ
sĩ chẳng chuộng hữu danh, huống hồ nổi
tiếng liên tiếp, vang dội trong làng nước,
được đề cao trọng vọng trong thiên hạ,
càng chẳng phải là điều kẻ sĩ nên có. Có tiếng
là tài năng kiệt xuất, người hiện thời
hâm mộ, nhưng kẻ hiểu biết lo âu. Phạm Bàng
Thị nói như thế này: “Tôi muốn cho mỗi điều
thiện đều có cùng một sự trong sạch, mỗi
điều ác đều cùng là ô trược”. Điều
thiện đều có cùng một sự trong sạch th́
được, chứ điều ác đều cùng ô
trược, sao có thể phân biệt điều ác nào là quá đáng? [Do vậy], sẽ chỉ dạy người
khác chẳng rộng! Sao chẳng nói “điều thiện nào cũng đều
có cùng một sự trong sạch”, khiến cho kẻ ác đều cùng quay về với
thiện? Nếu nói: “Bát nguyên, bát khải, cho đến
đời Châu có bát sĩ[79],
xưa nay ca ngợi, sao riêng tài năng kiệt xuất th́
chẳng nên?” Nhưng ba hạng “bát” trên đây là từ một
nhà sanh được tám con, lại c̣n tám con đều hiền,
mọi người cho là hiếm thấy nên ca ngợi, có hại
ǵ đâu? Nay tứ bát[80]
là kẻ sĩ khác họ, khác nơi, tụ tập mà nổi
danh một thời, thiện ghét ác mà ác cũng ghét thiện,
bè phái do đó nẩy sanh, là duyên cớ nẩy sanh đại họa. V́ thế, bậc
thượng vô danh, bậc trung né danh, bậc hạ cầu
danh!
* Văn thời
Đường
Thế
tục luôn nói “Đường
thi, Tấn tự, Hán văn chương” (thơ đời Đường, chữ đời Tấn, văn
chương đời Hán), gần đúng, nhưng chưa
chánh xác. Chữ chẳng liên quan đến thế đạo.
Cổ nhân nói: “Tâm chánh th́ ng̣i bút cũng đủ chánh
đáng, sao phải dụng công?” Hăy để lại
đó, chẳng bàn tới. Phu tử nói: “Thi khả dĩ
hưng” (Kinh Thi có thể kích phát t́nh cảm). Thơ hiện
thời cách biệt ba trăm thiên [trong kinh Thi] rất xa, sao có thể
mong chi hưng khởi t́nh cảm cho được? Vương Yểm Châu[81]
(Vương Thế Trinh) nói: “Thơ đúng là vô ích cho cơi
đời!”, khoan bàn tới! C̣n như văn
chương th́ đời Hán gần thời cổ nhất,
văn thuở ấy hồn hậu, chất phác, đôn hậu,
đúng là như vậy; nhưng
văn chương quư ở chỗ có lời nghị luận
to lớn, tung hoành trên dưới, đủ để cật
vấn, chiết phục bách gia, biện định, bác bỏ
đúng, sai, sướng tai vui mắt th́ văn
chương đời Đường vượt trội.
Văn quư ở chỗ đạt tới lư lẽ to lớn,
tôn sùng lẽ chánh, đả phá lẽ tà, có thể kế tục
bậc thánh thuở trước, mở lối cho người
học đời sau. Suy nghĩ hai đằng, đời
Hán chẳng sánh bằng, sao lại nói riêng đời Hán nổi
trội về văn chương?
Tử Chiêm chê bai rằng:
“Văn chương suy từ tám đời”[82],
đó là lời luận định xác đáng, thông suốt
trăm đời chẳng thay đổi được!
Hối Am (Châu Hy) tán thán tác phẩm Tây Minh[83]
rằng: “Tôi có ư này, nhưng chẳng có bút lực sâu dày như ông”’; đó là lời luận định xác đáng, ứng
hợp với thánh nhân thuở trước, chẳng hư
dối vậy. Văn hiện thời th́ sao? Đáp: Văn
hiện thời giống
như những thứ bày ra cho trẻ
chọn lựa khi đầy năm, có bài đáng giá mấy
đồng, có bài đáng giá trăm ngàn lạng vàng, chẳng
nhất định! Cũng gác lại đó chẳng bàn!
* Thắp
hương cầu nguyện
Khi
tôi chưa xuất gia, ngày Thượng Nguyên theo mọi
người dâng hương nơi miếu Tam Quan ở Ngô
Sơn. Khi ấy, trai gái chen chúc, tiếng cầu khẩn
như sấm, nghe ra th́ là cầu tài, cầu quan, cầu
con, cầu thọ. Tôi lễ hai lạy, quỳ thẳng, cầu
chúc: “Hôm nay là ngày Thượng Nguyên Thiên Quan Tứ Phước,
ngu tôi có đức ǵ mà dám mong phước? Nguyện Ngài
ban phước cho người có đức, c̣n bần cùng
th́ tôi cố nhiên an phận”. Do vậy, quay về chép một bài cổ thi nơi trung đường.
Thơ rằng: “Mỗi nhật thanh thần nhất chú
hương, tạ thiên tạ địa tạ tam quang. Vị
cầu xứ xứ điền ḥa thục, duy nguyện
nhân nhân phước thọ trường. Quốc hữu
trung thần phù xă tắc. Gia vô nghịch tử năo da nương. Tứ
phương b́nh định, can qua tức. Ngă nhược
bần thời dă bất phương” (Mỗi ngày sáng sớm một nén nhang, tạ trời,
tạ đất, tạ tam quang. Cầu cho chốn chốn
mùa màng chín, chỉ nguyện người người
phước thọ dài. Nước có trung thần pḥ xă tắc.
Nhà không nghịch tử khổ song thân. Bốn phương
b́nh định, chinh chiến dứt. Tôi dẫu nghèo nàn chẳng
ngại ngần!) Tương truyền bài thơ ấy do Thiệu
Nghiêu Phu[84] viết, chẳng
biết đúng hay không! Than ôi! Ai nấy đều có tâm
như thế, chẳng cần quan phủ cai trị mà thiên
hạ thái b́nh!
* Bỏ nhà làm chùa
Bạch
Thị Lang (Bạch Cư Dị) đời Đường
xả nhà làm già-lam, đặt hiệu là Hương Sơn
Tự. Trương pḥ mă đời Tống xả chỗ ở
làm già-lam, đặt hiệu là Trương Gia Tự.
Chư sanh[85] Châu Kế Thật ở
huyện Cận Thừa, nhà tổ vốn là tài sản của
chùa X… Do vậy, bèn trả lại cho chùa, tự dời sang ở chỗ khác, chuyện này bị người khác cật
vấn nhất. Bởi lẽ, hai ông (Bạch Cư Dị
và Trương pḥ mă) là quan chức quư hiển, c̣n ông Châu là
nhà Nho nghèo. Kẻ chiếm chùa làm nhà, là cái tâm ǵ vậy? Tuy
nhiên, chiếm chùa là tội, chẳng cần phải bàn nữa.
Người có thế lực lớn, do vậy, khôi phục,
đoạt lại nhà làm chùa, thật sự là chuyện tốt
đẹp, nhưng c̣n có chuyện phải nói: Nếu
xưa kia, người từng chiếm chùa thuộc vào
trăm năm trước, mà nay người bị đoạt
nhà thuộc trăm năm sau, tức là kẻ tạo nghiệp
may mắn thoát khỏi, mà kẻ vô tội gặp tai
ương, [trả lại cho chùa] khiến cho tăng vui vẻ
[nhưng người bị mất nhà phải khốn khó]
sẽ trái nghịch ḷng từ của Phật. Như vậy
th́ sao bằng xét theo thực tế, tăng giá gấp bội
[để bồi thường phần nào cho người
bị đoạt nhà], dùng lời lẽ khéo an ủi th́ mới
nên.
* Gia phả
Lục
đạo tuy cùng trọn đủ tứ sanh, nhưng người hóa sanh th́ từ thuở nhị đế, tam
vương cho tới nay hiếm thấy, vậy th́ ai chẳng
phải do cha mẹ sanh ra trong thời nhị đế,
tam vương? Suy rộng đến cùng cực th́ từ
kiếp sơ đến nay, [nhân loại] đều phát xuất
từ cùng một nguồn, việc ǵ cứ phải dùng gia
phả để xác định thế gia[86]?
Càng đáng nực cười hơn là những nhà họ
Vương, họ Tào, ai chịu nhận Vương Măng,
Tào Tháo là tổ tiên? Họ Lư, họ Dương, họ Thái, họ Trần, ai chịu nhận [những tên gian
thần] Lư Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, Thái Kinh, Tần Cối là tổ tiên? Tức là do đức
chứ không phải do là thế gia cũng đă rơ rồi! Địch tướng
quân (Địch Thanh) chẳng nhận Lương công
(Địch Nhân Kiệt) [là tổ tiên], ai nói trong kẻ
vũ biền không có hiền nhân, quân tử vậy?
* Tây Bá[87] ngầm làm việc
thiện
Sử
nói vua Trụ nhà Thương giam cầm Văn Vương ở
Dũ Lư, Tán Nghi Sanh[88]
dâng mỹ nữ thuộc bộ tộc Hữu Sân và hai vật
hiếm lạ cho vua Trụ, Văn Vương được
thả về. Đấy là việc làm của bầy tôi,
chẳng liên quan đến Văn Vương, chẳng
đáng bàn luận. C̣n như nói “Tây Bá âm hành thiện”
(Tây Bá ngầm làm lành), chữ Âm (陰) gần như vu
cáo bậc thánh nhân đấy chăng? Phu tử ca ngợi
nhà Châu là “chí
đức”
(đức cùng tột), mà ngầm hành thiện, tức là bề
ngoài phục tùng, chứ ngấm ngầm mang ḷng tru diệt [nhà Thương] ư?
* Gia Cát Vũ Hầu
(Khổng Minh)
Nếu
nói: “Vũ Hầu[89]
tài vượt Hoài Âm, nhưng đến nỗi chẳng
thành công, là do Hoài Âm thường ngày danh tiếng quá nhỏ,
c̣n Vũ Hầu thường ngày danh tiếng quá rạng rỡ”.
Đúng là như vậy, nhưng dùng chuyện ấy để
nhận định hai ông th́ chưa được.
Hưng vong tự có đại số, chẳng có lẽ nào
chuyên cậy vào trí lực được! Tư Mă Ư tài chẳng
sánh bằng Hoài Âm, nhưng thôn tín cả ba nước (Ngụy, Thục, Ngô), tạo thành nghiệp thống nhất của nhà Tấn,
đều là do trời, chẳng phải do con người
tạo thành. Hơn nữa, Hán Chiêu Liệt (Lưu Bị) sắp
mất, bảo Vũ Hầu rằng: “Đứa con kế
nghiệp ta nếu có thể phù tá th́ phù tá, nếu chẳng
thể th́ ông nên tự chọn lựa, đừng để
ḍng họ khác đoạt được”. Có kẻ cho rằng
Hán Chiêu Liệt nói khích Vũ Hầu, Vũ Hầu không thể
chẳng ra sức. Nói kiểu ấy chẳng đúng! Hán
Chiêu Liệt biết rơ đứa con nối nghiệp ḿnh
ngu muội, bèn bảo Vũ Hầu tự chọn lựa
[để phù tá hay chọn lựa người khác trong họ
Lưu làm vua], đó là lời thật. Ḷng tinh trung của
Vũ Hầu ḷa nhật, nguyệt, bèn thưa: “Thần
chẳng dám không cúc cung tận lực đến chết mới
thôi” cũng là lời thật. Đừng nên dùng t́nh kiến
của người tầm thường để suy
đoán, nghị luận xằng bậy cổ nhân.
* Tử
Trương[90]
Các
bạn thuộc Khổng môn luận định Tử
Trương, có người nói “nan dữ vi nhân” (khó
cùng ông ta thực hiện ḷng nhân), có người nói ông ta
chưa phải là người có ḷng nhân, há Tử
Trương cố nhiên là kẻ bất nhân ư? Chẳng
phải vậy! Nhân là đức nơi tâm, chèn ép Tử
Trương tài cao, chí rộng, chỉ trích khá sơ sài, đại để là châm biếm nhẹ
nhàng, chẳng phải là chỉ trích nặng nề. Xem lời
ông ta luận định về giao du: “Quân tử tôn hiền
nhi dung chúng, gia thiện nhi căng bất năng” (quân tử
tôn kính người hiền năng, bao dung đại chúng,
khen ngợi người có thiện hạnh, lại c̣n
thương xót người chẳng thể [làm như vậy])”. Ta là
đại hiền ư, sao chẳng dung nổi người
khác? Ta là kẻ chẳng hiền, mọi người sẽ
cự tuyệt ta, vậy th́ sao lại cự tuyệt
người khác cho được?
Những người
bàn định chê ông ta quá tự cao, nhưng đấy là
đức lượng từ bi của bậc chánh nhân
trưởng giả. Nếu bảo “ông ta tuy nói vậy,
chưa chắc đă có thể làm được như vậy”
th́ được, chứ chê bai “ông ta ăn nói quá lố”
th́ không được! Ông ta c̣n nói: “Sĩ kiến nguy thọ
mạng, kiến đắc tư nghĩa” (kẻ sĩ
thấy người khác lâm vào cảnh nguy hiểm sẽ có thể trao hết tánh mạng của ḿnh để
cứu giúp; thấy những thứ lợi lạc
dụ hoặc, sẽ suy nghĩ nó có phù hợp
đạo nghĩa hay không). Giữ ǵn đức rộng lớn,
tin đạo chuyên dốc, chẳng thuận theo thói tục,
cương trực, cứng cỏi, nghiêm chánh dường
như có sự quả cảm của Tử Lộ, sự
liêm khiết của Nguyên Tư (Nguyên Hiến, tức Tử Tư), cẩn trọng của Mẫn Tử. Ông từng nói
“ngoại sức dung nghi, nhi trung vô tháo thủ” (bề ngoài chú trọng dung mạo, nhưng trong tâm
chẳng bận ḷng), há [kẻ khác] có làm được
như thế ư? V́ thế, đối với người
hiền nơi cửa thánh, chớ nên khinh thị bàn luận!
* Giảng đạo
học
Nếu
hỏi: “Đối với đạo học trong cơi đời
hiện thời, có kẻ kính
tin như thần minh, có kẻ phỉ báng như rơm, cỏ,
ai đúng, ai sai?” Đáp: Đều chẳng phải. Phu tử
nói: “Học chi bất giảng, thị ngô ưu dă” (học
mà chẳng giảng là điều ta lo âu). Thánh nhân lo âu “học
mà chẳng giảng”, mà người hiện thời phủ định,
có được hay không? Nhưng hăy nên xem xét chỗ chân thật
là như thế nào? Miệng như thế, tâm cũng
như thế, toàn thể là thánh hiền, hằng ngày thân cận
mà vẫn lo có thể bị tụt hậu! Những ǵ miệng
nói ra, cùng với điều nghĩ trong tâm và điều thân thực hiện trọn chẳng
tương tự; đó là bọn lái buôn, lánh xa chỉ sợ
chẳng kịp, sao có thể xem như nhau được?
Có người bảo tiên sinh Hối Am: “Cái thuyết chánh
tâm thành ư, người trên chán nghe”. Tiên sinh nói: “Sở học
cả đời tôi chỉ là bốn chữ ấy”.
Lại nữa, Thái
Quư Thông[91] bị biếm trích
nhưng chí chẳng bị hao tổn chút nào. Lại như
Doăn Ḥa Tĩnh vào thi, thấy đề thi coi chánh sĩ là
ngụy học, chẳng làm đối sách[92]
mà bỏ ra. Lại có một người hiền nói: “Thuở
bé, học hành theo di thư của hai gă họ Tŕnh, chưa
hiểu tường tận là ngụy hay chẳng phải
ngụy. Nếu cho là ngụy, sẽ chẳng muốn t́m hiểu.
Giảng học đúng như mấy vị quân tử th́
chính là đạo học thật sự”. Tôi chỉ sợ
giảng đường chẳng rộng, người giảng
chẳng đông, lúc giảng chẳng lâu dài, nên bàn bạc
điều sai trái vậy!
* Tiên giáng đàn
Người
đời lấy gỗ đào làm con cơ để cầu
tiên giáng xuống, nhưng phần nhiều [“tiên” giáng đàn] là quỷ thuộc loại tinh linh chẳng tan. Chúng nó có thể làm thơ, viết văn, tức là khi c̣n sống
là người thông huệ, [nay] bị vướng trong quỷ đạo,
chưa được thọ sanh, hễ dùng phù
chú để thỉnh bèn đến, chẳng phải là tiên thật sự. Đôi khi là thật!
Lúc tôi c̣n bé, từng nghe cha tôi kể Tĩnh Am Hồ
Đoan Mẫn Công tuổi c̣n thơ, gặp tiên giáng xuống,
có người hỏi: “Đứa bé này có học hành
được hay không?” Đáp: “Học được!” “Có làm quan hay
không?” Đáp: “Làm được!” “Làm quan tới bậc
nào?” Đáp: “Quan tới H́nh Bộ Thượng Thư”. Về
sau, quả đúng như vậy. Phán định quan chức
trong lúc ông ta c̣n là đứa trẻ, chẳng sai một mảy,
đó là tiên thật sự. Lại c̣n khi tôi chưa xuất
gia, đọc sách tại Nguyệt Đường Am, có
Châu Xuân Giang cầu tiên giáng đàn, tiên ban thơ cao dật,
mọi sự đă nói đều ứng nghiệm, tuy
chưa được kỳ
diệu như lời đoán đối với
ông Đoan Mẫn, nhưng cũng chẳng càn rỡ như
trong thời gần đây.
Một người
bạn cầu tiên giáng xuống trong vườn. “Tiên” có thể
làm thơ, có thơ tám câu cùng vần, đều là những
lời lẽ xu phụ kẻ quyền thế. Ngẫu
nhiên hỏi đến chuyện xuất gia của tôi, [“tiên”] vẫn dùng cùng một vần như trước để
châm biếm. Tôi liền dùng ngay vần của hắn để
chỉ trích lại, c̣n nói: “Ngươi là tiên thật sự,
sẽ lại đáp được”. Rốt cuộc hắn
chẳng đáp, nhưng những chuyện hắn tiên
đoán về đỗ đạt, quan tước, đều
chẳng ứng nghiệm. Có thể biết hắn chẳng
phải là tiên. Phàm cầu cơ dùng gỗ đào do đào
là tinh của năm loại gỗ, quỷ kiêng sợ, quỷ
bị gỗ đào chế ngự. Đă nói là tiên, lẽ
đâu như quỷ bị gỗ đào chế ngự
ư? Mà tinh linh dựa vào gỗ đào cũng ắt phải
dựa vào tinh khí của người sống, cầu cơ
lâu ngày sẽ tổn hại cho con người. Kinh Dịch
là sách bói toán; bậc quân tử trong kẻ sĩ sao không hỏi
tốt xấu từ kinh Dịch? Kinh Dịch c̣n nói: “Tích
thiện dư khánh, tích bất thiện dư ương”
(Chất chứa điều thiện, sự mừng vui có
thừa. Chất chứa điều bất thiện, họa
ương có thừa), sao lại theo đuổi chuyện dùng gỗ
đào cầu cơ? Bỏ kinh điển của thánh nhân
để tôn sùng quỷ đạo, cũng là quá đỗi
mê hoặc vậy!
* Tin đồng cốt,
chẳng tin thầy thuốc
Nội
Kinh xếp chuyện “tin đồng cốt, chẳng tin
thầy thuốc” vào năm trường hợp chẳng
chữa trị, nhưng người ở đất Hàng
chuộng đồng cốt, vùng thôn quê càng quá đáng! Hễ
có bệnh th́ xin xăm, hoặc xủ quẻ, hoặc xem
bói, hoặc bói Dịch, hoặc xem bói bằng chén, ắt phải
thăm ḍ xem có bị quỷ quấy phá gây họa hay không?
Những gă đồng cốt thuận theo sự đoán ṃ
của họ, hoặc là nói phạm thần này, hoặc va
chạm quỷ nọ, hoặc là nói thân thuộc đă mất
đ̣i ăn, hoặc là vướng phải kẻ huyết
âm gây tai ương. Người bệnh suy nghĩ, hễ
hơi dính dáng tương tự, liền tin nhận, nhất
loạt vâng theo lời dạy [của đồng cốt]
mà cúng bái, cầu khẩn. Kinh Dược Sư dạy: “Tể
sát chúng sanh, hô chư vơng lượng, thỉnh khất
phước hựu. Bệnh giả vô ích, sát nghiệp cụ
tồn” (Giết hại chúng sanh kêu cầu quỷ mị
để cầu xin ban phước, vô ích cho người bệnh,
sát nghiệp trọn đủ). Ngẫu nhiên khỏi bệnh,
sự mê hoặc ấy càng thêm vững chắc. Thậm chí
sanh nở, lên sởi, liên quan ǵ đến quỷ? Cũng
vẫn tin tưởng.
Nhà tôi ở gần
Thái Thị Kiều, phía Đông cầu bị hỏa hoạn,
người đứng trên cầu xem đông ngh́n nghịt.
Quan cứu hỏa tới, nhất thời xua đuổi,
lan can trên cầu bị găy, bị chết ch́m hoặc
đá đè mà chết tới mấy chục người!
Hồn những người bị chết oan chẳng tan,
biến thành quỷ quấy phá. Tôi và các vị thiện
sĩ v́ họ tụng kinh, lễ sám, làm lễ Du Già thí thực
để siêu độ, dần dần được b́nh
yên. Nhưng kẻ ăn mày vào lúc đêm sâu, ngầm núp
dưới vệ cầu, lơa thể, xơa tóc, đợi
người đi đường một ḿnh đi qua bèn
giả tiếng quỷ gào đuổi theo. Người bị
đuổi hoảng hốt rảo chạy, có thể
đánh rơi hành lư, chúng nó vội chụp lấy. Người
ấy về nhà, do kinh sợ mà ngă bệnh, hỏi đồng
cốt, họ bèn bảo “bị quỷ trên cầu dựa!”,
chẳng nực cười ư?
* Khổng Tử xin
vua thảo phạt Trần Hằng[93]
Họ
Hồ của Tống Nho nói như thế này: “Loạn thần
tặc tử, ai nấy đều nên tru diệt. Hành động
này của Trọng Ni cứ làm trước rồi xin mạng
vua sau th́ cũng được”. Họ Hồ nghĩ
cong quẹo quá mức! Họ Hồ chẳng đáng bàn tới,
nay thuyết của ông ta hăy c̣n thấy trong sách Tập Chú,
đáng tiếc thay! Thuở ấy, phu tử đă cáo lăo [hồi
hưu]; đạo c̣n, nhưng quyền chẳng c̣n. Đối
với chuyện to lớn liên quan đến quân đội
nước nhà, sao có chuyện chẳng tâu lên vua mà dấy
động chiến tranh với nước láng giềng
cho được? Lại há chẳng có chuyện vua bảo
[Khổng Tử] hăy báo với tam tử[94],
lẽ nào [Khổng Tử] trái lệnh vua chẳng tâu tŕnh
ư? Quyền hành nước Lỗ riêng nằm trong tay tam
tử. Tam tử chẳng chấp thuận, phu tử tuy là
thánh nhân cũng chẳng làm như thế nào được!
Tôi lúc nhỏ ở tại chùa Ngộ Không thấy có vị tiên giáng cơ
là ngài Nhạc Vũ Mục. Một học tṛ nói: “Ngài khi ấy
cũng thất sách. Tướng ở
trong quân, có thể chẳng tuân theo mạng vua, chẳng vâng
theo mười hai đạo kim bài vời về chầu
cũng được!” Ngài chấn động con cơ ba
lượt, viết chữ rằng: “Các ông đúng là bọn
thư sinh mặt trắng, ta không tuân lệnh vua, tướng
sĩ ai sẽ nghe theo lệnh của ta?” Đấy
chính là điều tột cùng trong lẽ trời, t́nh người vậy.
Họ Hồ nghĩ cong quẹo lắm thay! Có kẻ nói:
“Chẳng cong quẹo! Sách của họ Hồ có toàn bộ
văn bản, chỉ v́ Hối Am cắt câu xén nghĩa vậy!”
* Chớ nên dễ
dăi thốt lời châm biếm
Một học sứ chấm thi các nho sĩ, thấy
trong bài văn có dùng ba chữ “dă dữ tai” (也與哉, chẳng phải ư), hết sức giận dữ
bảo: “Sao lại có cách hành văn như thế?”, bèn
phê rớt. Một học sinh ở bên cạnh thưa: “Chẳng
thể đánh trượt. Lễ Kư nói: ‘Ngă điếu
dă dữ tai?’ (chẳng phải là ta đang chia buồn
ư?)[95] Luận Ngữ
chép: ‘Bỉ phu khả dữ sư quân dă dữ tai’ (chẳng
thể cùng với kẻ tư cách hèn kém phụng sự vua
ư?), tức là cổ văn đă có văn từ rơ rệt
vậy!” Học sứ lặng thinh. Do vậy, nghĩ
xưa kia có người nói Khổng Tử chẳng có anh
em, một đứa trẻ thưa rằng: “Sao lại nói
‘kỳ huynh chi tử thê chi’[96]
(đem con của anh ḿnh gả cho ngươi làm vợ)”.
Người nói câm bặt.
Lại có một
người bạn ở trong vườn soạn khúc nhạc
Thủy Lưu Thương (chén rượu trôi theo nước),
đề biển nơi cái đ́nh là Sướng Tự U T́nh (暢敘幽情, trần thuật thông suốt nỗi
niềm u uẩn). Có mấy học tṛ
vào vườn, trông thấy bèn nói: “Sao lại chọn
nghĩa thô thiển như thế? Có thể viết là Phi
Thương (飛觴, chuyền chén rượu), hoặc viết là
Lưu Bôi (流杯, chuyền chén rượu)
cũng được!” Người bạn ấy khéo sao
đang ở trong vườn, bước
đến nói: “Nhất thương, nhất vịnh, diệc
túc dĩ sướng tự u t́nh (Một chén rượu,
một bài vịnh cũng đủ để trần thuật
trọn hết nỗi niềm u uẩn)[97],
đó là lời lẽ của ai vậy?” Mấy gă học
tṛ nín lặng. V́ thế biết là dễ dăi thốt lời
chê gièm chẳng thể không thận trọng!
* Phương thuốc
giả hại người
Có
vị cư sĩ bị đi tả, chữa trị
đă lâu không lành. Một vị Tăng nói: “Ta có phương thuốc,
nhưng cần có một thưng gạo lâu năm đă ngả
vàng”. Cư sĩ đưa gạo, Tăng chế thành thuốc, vừa uống
liền lành. Thuốc c̣n dư, tặng cho mấy người
cũng bị bệnh, đều lành cả. Xét ra toa thuốc
này chỉ có một thưng gạo trộn chung với một
trăm hạt ba đậu cùng sao lên, bỏ đậu,
dùng gạo làm thành viên, là xong. Ngoài ra chẳng có vị thuốc
nào khác. Tôi chẳng dám tin. Về sau, cháu trai tôi cũng bị
tả lâu ngày, hỏi kiếm toa thuốc cặn kẽ từ
chỗ cư sĩ. Cư sĩ lại ḍ hỏi, vị Tăng ấy
đáp y như trước, bèn theo đúng toa mà chế thuốc.
[Cháu tôi] vừa uống vào, bụng đau, tiêu chảy dữ dội gần chết. Đại khái, vị tăng ấy sợ
người khác có được phương thuốc ấy,
nên dùng toa giả để chỉ cho người khác, chẳng
biết gây hại đến nỗi như thế, buồn
thay!
* Tỵ hiềm
Người
chú giải Luận Ngữ nói: “Chuyện tỵ hiềm
(tránh né hiềm nghi) người hiền c̣n chẳng làm, huống
hồ thánh nhân ư?” Hai chữ “người hiền”
chẳng ổn, phải nên nói là “đại hiền c̣n
chẳng làm” th́ được! Nơi ruộng dưa chẳng
xỏ dép, dưới cây mận chẳng chỉnh mũ, thậm
chí em chồng và chị dâu trao đồ vật chẳng chạm
tay. Đó là lễ, chẳng phải chuyên v́ kẻ chẳng
hiền mà lập ra. Do vậy, người đàn ông nước
Lỗ chẳng đoái hoài người đàn bà hàng xóm,
xưa nay ca ngợi ông ta khéo học theo Liễu Hạ Huệ,
chưa nghe ai chê bai ông ta chẳng hiền. Do vậy biết
chẳng tỵ hiềm có hai trường hợp: Nếu
chẳng phải là cảnh giới của bậc đại
nhân siêu t́nh ly kiến, sẽ là phường tiểu nhân
vượt lễ, trái phận, chẳng kiêng dè! Do đó
nói: “Có chí như Y Doăn th́ được, chẳng có chí
như Y Doăn th́ là soán đoạt”. Đuổi vua là chuyện
to lớn khác thường, thường nhân sao có thể
làm được mà nói “ta là người hiền chẳng
cần phải tránh né hiềm nghi!”
* H́nh phạt nấu
chín
Than
ôi! Hành h́nh bằng cách nấu chín chẳng biết bắt
đầu từ thuở nào? Ly Sanh (Ly Thực Kỳ) [vâng lệnh
Hán Cao Tổ đến] thuyết phục Tề
Vương (Điền Quảng) đ́nh chiến, nhưng
Hoài Âm (Hàn Tín) vẫn dẫn binh tấn công [nước Tề].
Tề Vương tức giận đem nấu Ly Sanh. Hàn
Sanh[98]
chê Hạng Vương (Hạng Vũ) là “vượn
đội mũ người”, Hạng Vương giận dữ, nấu chín Hàn Sanh. Hành h́nh đến
nỗi chết cùng cực, c̣n nỗi thảm độc do
bị nấu c̣n quá chém đầu, cũng như bị nát
thân tột bậc! Tề và Hạng rốt cuộc bị
diệt vong, đó là hoa báo, chứ quả báo là trong địa
ngục! Cố nhiên, chẳng đáng luận
định. Điều đáng tiếc, đáng buồn chẳng
phải là Ly Sanh ư? Sao không ở trong hang núi, bảo toàn
tánh mạng trong thời loạn, lại múa ba tấc lưỡi
ḥng đổi chác công danh? Buồn thay Hàn Sanh! Sao chẳng
ăn nói cẩn trọng, giữ phận, tự bảo vệ thân ḿnh, lại ngang ngược
châm biếm mà chuốc lấy nạn ấy? Cái sai “Đông
môn hoàng khuyển”[99],
tôi chẳng ngại than thở, di hận hơn một ngàn
năm. Than ôi! Đau xót thay!
* Tiếc phước
Đầu
đời Vạn Lịch, các vị quân tử thuộc
đạo học lập giảng ṭa tại núi Cô Công. Lúc
dùng cơm, ông Trương Dương Ḥa và Châu Hiếu Tử
Tiệm Quỳ được xếp ngồi cùng một
mâm cỗ. Dương Ḥa chỉ ăn mấy miếng thịt
lợn, họ Châu lại khuyên ông ăn cá, lại khuyên mời
xơi thịt gà. Dương Ḥa nói: “Hai món thịt và cá là
đủ rồi, chứ thịt gà chẳng dám tuân mạng”.
Than ôi! Dương Ḥa là con thế gia vọng tộc, đă
đỗ trạng nguyên mà tiếc phước như thế
đấy, bảo rằng “chí hướng chẳng
đặt nơi no ấm”, chẳng đúng ư? Có kẻ
làm chức quan nhỏ mà tột cùng xa xỉ, tột bậc
thỏa dục, bày mười hai bàn tiệc, có mười
hai đứa bé cầm cái nhạo rượu bằng vàng
đứng hầu một bên. [Kẻ đó] chẳng tránh
khỏi tàn bại là đúng lắm thay! Chẳng nên răn
dè ư?
* Mạnh Tử
Nếu
hỏi một học tṛ: “Thời Mạnh Tử, vua Châu
c̣n là cộng chủ[100],
ông ta (Mạnh Tử) yết kiến các vua Tề, vua
Lương, hoặc nói là ‘v́ bảo vệ dân mà làm vua’, hoặc
nói ‘nơi vua có ǵ?’, hoặc nói ‘tâm ấy đáng làm vua’, hoặc
nói ‘vua như lật bàn tay’, hoặc nói ‘khiến cho dân chúng
an cư lạc nghiệp mà chẳng thể kiến lập
vương đạo th́ xưa nay chưa hề có’, [vậy
th́] các quân vương đặt thiên tử nhà Châu ở chỗ
nào? Phu tử nói “ngô tùng Châu” (ta theo nhà Châu), cực lực
ca ngợi Quản Trọng tôn Châu, sao Mạnh Tử lại
chẳng vậy?” Học tṛ chẳng đáp được.
Tôi nói: - Thời
thế lúc ấy khiến thành ra như vậy. Dẫu là
thánh hiền, cũng chẳng thể trái thời, nghịch
thế! Phu tử
sanh nhằm lúc nhà Châu suy đồi, mà Mạnh Tử lại
sống nhằm lúc [nhà Châu] suy bại hết mức, các
nước tiếm phận xưng vương đă quá nửa,
nhà Châu chỉ c̣n có danh suông, [cơ nghiệp] mong manh chưa dứt mà thôi! Ư của Mạnh Tử có hai
điều: Một là xiển dương đại đạo
của kẻ làm vua thiên hạ từ xưa đến nay,
hai là ngăn dứt cuồng tâm của kẻ vô đạo
mong làm vua. Ân trạch của Văn Vương, Vũ
Vương, Thành Vương, Khang Vương[101]
gần như đă hết sạch, giống như ngọn
đèn sắp tàn, như ngày sắp tối, phu tử ở
trong cảnh ấy cũng không làm thế nào khác được!
Do vậy, chẳng thể chê trách Mạnh Tử được!
* Mao Dung
Khách
đến thăm Mao Dung, ngồi trên lầu, nghe nhà trong có
tiếng cắt tiết gà, cho rằng ắt đăi đằng
ḿnh. Tới khi dọn cơm, chỉ có cơm xoàng và canh
rau, [Mao Dung] giết gà để nấu dâng mẹ, chẳng phải
là để đăi khách. Khách hết sức cảm thán Mao
Dung hiền đức, coi ông ta cao hơn một bậc nữa.
Hết sức tương phản với Mao Dung, tôi thấy
có hai hạng người: Một là kẻ thô tục vét hết
thức ăn ngon lành để biếu cho mẹ vợ, c̣n đối với
mẹ ruột th́ tiếc nuối ngay cả một búp
măng. Đằng khác là tăng nhân dùng trọn hết
đồ đẹp đẽ cho đồ đệ nhỏ,
c̣n mẹ đẻ th́ phải ăn chực ở nơi
khác! Tôi chẳng biết đó là cái tâm ǵ nữa? Buồn
thay!
Bồ Tát giới
đệ tử Lưu Huệ Văn suất lănh con trai là
Tánh Trạch quyên tiền khắc in.
Tháng
Mười Một trong mùa Đông năm Quang Tự 24
(1898), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.
14. Sơn Pḥng Tạp
Lục (山房雜錄 – những
ghi chép đủ loại nơi pḥng ốc trong núi)
14.1. Các lời tựa (vốn
được khắc rải rác trong các bản in, nay gom lại
thêm vào đây)
* Lời tựa nêu rơ chỗ ẩn
tàng trong bộ Phạm Vơng Kinh Tâm Địa Phẩm Bồ
Tát Giới Nghĩa Sớ
Từng nghe “tâm,
Phật, chúng sanh là một” mà thôi! Chúng sanh vốn chính là
Phật, Phật vốn chính là tâm. Tâm tự chẳng sanh,
giới luật sẽ dùng vào đâu? Do mê tâm mà dấy lên biển
Hoặc mênh mông khó thể cùng tận. Do tâm mà lập ra pháp
môn, bát ngát vô lượng; nhưng pháp ắt có giềng
mối, mọi sự tuân theo đó. Do vậy, tuy vô lượng
mà nói giản ước thành hằng sa, hằng sa nói ước
lượng thành tám vạn. Lại giản ước nữa,
bèn từ vạn thành ngàn. Lại giản ước từ
trăm thành mười. Lại giản ước nữa,
thành Lục Độ nêu bày cương mục chánh yếu.
Lại giản ước nữa bèn thành
Tam Học gồm chung các đầu mối to lớn. Lại
dung hội ba điều ấy, rút gọn thành hai điều
phối ứng với nhau th́ nói là Định Huệ, chỉ
nêu riêng th́ gọi là Tỳ Ni. Ấy là v́ truy ngược
ḍng đến tận nguồn, hoàn toàn quy vào giới này,
nương theo cái Danh để t́m cái Thể, chỉ là nhất
tâm! Tâm thâu nhiếp, các niệm tán loạn được
thâu liễm mà sanh ra sự trạm tịch. Tâm đă tịch
th́ định lực sâu mà huệ quang phát sanh. Tam Học
đă trọn, Lục Độ tự tu, vô lượng
pháp môn đều được nêu ra. Giới to lớn
thay, là cốt lơi của hết thảy các pháp.
Xét theo từng loại th́ có Tiểu
Thừa và Đại Thừa, phân biệt các giới th́ là nói là Thanh
Văn và Bồ Tát. Một đằng là thanh tu, thận trọng
bên ngoài, thân trọn chẳng làm chuyện sái quấy. Một
đằng là siêng năng chánh quán bên trong, tâm chẳng ẩn
giấu niệm. Một đằng giữ ǵn chính ḿnh, gọi là “chẳng phạm”, chẳng kèm theo tạo ân trạch cho người
khác. Một đằng là lợi tha th́ mới là biểu
thị sự tŕ giới, đạo chẳng có Ngă. Một
đằng th́ thuận theo Sự mà lập ra quy chế
để nâng đỡ, duy tŕ [đạo tâm], dần dần
đạt tới khuôn mẫu tốt lành. Một đằng
là theo thời mà vạch ra một quy củ, nhanh chóng trọn
đủ các thiện pháp. Một đằng phân định
rạch ṛi, tinh vi, hạn cuộc trong tăng ni; một
đằng là chẻ phá rào giậu, bao trùm cả tăng lẫn
tục. Một đằng là tuân theo quy chế cấm
ngăn mà gọi là “chế chỉ”, tuân theo đường
lối cũ để tỏ rơ công phu gần. Một
đằng chính là luật nghi mà siêu việt luật nghi, vận
dụng cơ duyên thần diệu để dựng lập
công tích to lớn.
Thể đă là như thế, há Dụng
chẳng phải vậy? Dụng là diệt ác, như mặt
trời mọc bèn tan băng, nhưng băng đông
cứng đă lâu ngày sẽ bất động. Hoặc
như mảy tuyết rơi vào ḷ lửa hừng, trong
sát-na, bóng dáng lẫn dấu vết chẳng c̣n. Dụng là
sanh thiện, hoặc như trẻ nít học nói, có vài câu
mà lắp bắp suốt buổi, hoặc như vũ trụ
lúc Xuân về, muôn cỏ cây nẩy mầm trong một buổi.
Dụng là độ sanh, hoặc như đom đóm tung
tăng soi sáng đất, ánh sáng sanh theo mỗi bước
chân, chỉ giúp soi đường cho nẻo kiến. Hoặc
như vầng mặt trời rạng rỡ giữa trời,
chiếu rạng hư không, lợi ích trọn khắp nhân
gian. Trời và đất chẳng đủ để b́nh
luận sự hơn, kém, ngày và kiếp chẳng sánh nổi
cao và hèn [giữa Dụng của giới Tiểu Thừa và
Đại Thừa]! V́ thế biết: Muốn nhập
Như Lai Thừa, ắt phải nên thọ giới Bồ
Tát trước! Do giới ấy mà mở rộng thành vạn
hạnh, tức là Phổ Hiền Nguyện Vương. Do
giới ấy mà thấu triệt rộng khắp sự
sáng suốt đơn lẻ, tức là trí mẫu của
Văn Thù! Đó là ngọn cờ chư Phật cùng nêu cao,
là con đường khang trang ngàn hiền cùng dẫm bước.
Lớn lao thay Bồ Tát giới, là cốt lơi của hết
thảy các giới.
Do vậy, Lô Xá Na Phật đích thân
trao truyền, Diệu Hải đích thân nghe. Đức từ
tôn trên ngàn hoa, từng nhánh trổ vẻ tươi xinh, thất
Phật đến làm dịch chủ, truyền dạy âm
đọc từng chữ. Tiếc là tuy đă có đủ
bản kinh, nhưng chưa có lời sớ mầu nhiệm
nêu tỏ. Trước kia, chỉ có ngài Trí Giả mới
giảng giải đôi chút, cho tới tôi là kẻ ngu muội
lại phơi bày ư nghĩa ẩn tàng. Kinh điển bí mật
nơi linh đài
từ bao nhiêu kiếp lâu xa, may sao được đích thân gặp gỡ, đếm
bụi thơm bên lề đường của thánh nhân, hổ
thẹn sâu xa mà nối gót. Chỉ mong được
lưu thông, truyền dạy, lau gương xưa để
lại được mới mẻ, lần lượt
trao truyền, nối tiếp đèn của người
xưa càng rộng chiếu. Ai nấy ngộ vị Phật
duy tâm, luôn dùng giới để nhiếp tâm. Ai nấy liễu
ngộ chúng sanh là Phật,
rốt ráo do chúng sanh mà thành Phật. Dù tăng hay tục,
là người hay thần, chẳng cần biết ác đạo
hay u đồ, bất luận khác h́nh, khác loài, chỉ cần biết
nghe pháp, đều chứng pháp môn Phạm Vơng. Phàm những
ai có tâm đều trọn nhập Tâm Địa của
đức Lô Xá Na.
* Lời tựa cho Bảo Tích Nhị
Hội
Bảo Tích Nhị Hội là hai hội trong nhiều hội
của kinh Bảo Tích. Hai phẩm kinh thứ tự cách biệt,
từ ngữ khác biệt, sao lại gộp chung thành một
quyển [để in] là v́ lẽ nào? Do [cả hai hội ấy
đều] xiển dương ư chỉ u huyền của
Tịnh Độ. Bởi lẽ, một môn Tịnh Độ
có Sự và Lư, nhưng ngoài Sự chẳng có Lư, ngoài Lư chẳng
có Sự. Sự và Lư là một, cho nên ngoài tâm chẳng có cơi,
ngoài cơi chẳng có tâm. Tách thành hai, hay chấp lẫn nhau, chẳng
dung hội th́ đều sai. Một hội là Vô Lượng
Thọ Phật Hội, xả uế,
giữ tịnh, tức là Sự, mà cũng chính là Sự
ngay nơi Lư. Hội kia là Văn Thù Bát Nhă Hội, chẳng
tịnh, chẳng uế, là Lư, tức là Lư từ ngay nơi
Sự. Do chính là Lư, nên cơi nước là nhất tâm, các báu
trang nghiêm mà chẳng vướng mắc nơi tướng.
Do chính là Sự, nên tâm là một cơi, Nhất Chân ngưng lặng
chẳng ch́m đắm trong hư không. Do tâm chẳng có tịnh
hay uế để lấy hay bỏ, dẫu hăng hái lấy
bỏ mà vắng lặng chẳng có ǵ để lấy hay
bỏ. Sanh Tịnh Độ là sanh về Tịnh Độ
trong tự tâm. Ngộ tự tâm là ngộ tự tâm nơi Tịnh
Độ. Biết điều này th́ gọi là “chánh giải”, nương theo điều này mà tu
th́ gọi là “chánh hạnh”.
Hội trước
(hội Vô Lượng Thọ) chú trọng Hành, hội sau (hội Văn Thù Bát Nhă) chú trọng Giải. Đó là so sánh đại lược. Dung thông
th́ hội trước do liễu giải pháp vô ngă mà sanh về
Lạc Bang, hội sau do tùy thuận Thật Tướng mà
trụ trong Phật quốc, cùng một giải như nhau.
Hội trước dùng hệ niệm đức Phật ấy
làm chánh nhân văng sanh. Hội sau coi chuyên xưng danh là Nhất
Hạnh tam-muội, đấy là hạnh bằng như
nhau. Từ giải khởi hạnh, hạnh khởi giải
tuyệt, giải chính là hạnh, cũng là tuy hai mà chẳng
hai. Huống hồ Di Đà hiệu là Vô Lượng Thọ,
Văn Thù được gọi là Bất Động Trí.
Do vô lượng, tuy đă lâu mà luôn Như, bèn gọi là “bất động”.
Do bất động, Tịch mà có thể dài lâu, bèn nói là “vô
lượng”. Chẳng có Như ở ngoài Trí, chẳng
có Trí ở ngoài Như. Trí tức là Như, cũng là hai mà
chẳng hai! Nguyện các nhân giả tụng kinh văn này,
đừng sanh ư tưởng cao thấp, hăy thấu
hiểu ư vị ḥng lănh hội
ư chỉ ở ngoài lời. Sau đấy mới biết “Tịnh
Độ duy tâm, duy tâm Tịnh Độ”, suy nghĩ ư
nghĩa của Bảo Tích, suy nghĩ ư niệm ghép hai hội
Bảo Tích của cư sĩ Tánh Hải.
* Dẫn giải bộ
Lăng Nghiêm Mô Tượng[102] Kư
Như
kinh đă nói, có những người mù tụ lại giơ tay sờ voi. Kẻ ṃ trúng cái ṿi, nói voi giống như
cái ky. Kẻ sờ đùi, nói voi như cây cột. Kẻ sờ đuôi, nói voi
như cây chổi. Kẻ sờ bụng, nói voi như
đá. Cho tới kẻ sờ mắt, nói voi như ống
bễ thổi ḷ. Kẻ sờ tai, nói voi như cái lá đảo
ngược. Kẻ sờ móng, nói voi như cái chén úp xuống
đất. Ai nấy chấp chỗ ḿnh sờ, cho ḿnh là
đúng, chê kẻ khác là sai. Người xem ôm bụng cười.
Hiện thời đàm luận kinh, có khác chi đâu? Đức
Phật đă nhập Niết Bàn, chẳng có cách nào hỏi han được, dùng tay t́nh thức
để suy tưởng như đang sờ voi. Đôi
bên chống đối nhau, như kẻ mù chê gă đui, tôi
thật sự cảm khái! Biết ḿnh cũng mù ḷa, do cấp
bách cứu vớt thói tệ, bèn vào trong lũ mù, cùng mọi
người sờ soạng. Trong các kinh, chỉ có Thủ
Lăng Nghiêm càng có nhiều nghĩa gây ngờ vực. Do vậy,
những kẻ mù tranh nhau ồn ào, chen vai chỉ trỏ,
chẳng thể biết ai như thế nào! Bèn chọn từ
kinh này hơn một trăm đoạn phân tích đại
lược để đại diện cho toàn kinh. Lại
c̣n từ các kinh khác, đôi khi trích kèm theo một, hai điều,
chẳng nêu lên quá rườm rà.
Xưa kia, đệ
tử đức Phật mỗi vị trần thuật kiến
giải của chính ḿnh, đức Phật bảo đại
chúng rằng: “Nhữ đẳng sở thuyết, giai phi
ngă ư, nhiên các đương lư, túc dĩ lợi vật”
(Lời các ông nói đều chẳng phải là ư của ta,
nhưng mỗi điều đều có lư, đủ để
lợi ích chúng sanh). Tức là trong những người sờ
soạng ấy, trừ kẻ biện định trái lư, nếu
dùng lư để sờ, tuy chưa biết được
voi, nhưng chưa hề chẳng phải là voi. V́ thế,
chẳng ngại sờ soạng, chỉ lo [vướng vào] chấp trước. Nếu trống ḷng nơi
đó, chẳng chấp chặt điều được
hay biết trước tiên, hiểu văn khít khao lư, lư phù hợp, văn thông thuận, chỉ thú của kinh sẽ tự được
nêu tỏ. Voi là voi, mạnh mẽ, vượt trội, chẳng
ngoài sờ soạng mà riêng nhận biết voi. Nếu chấp
vào sự sờ soạng, giữ chặt như vách tường,
càng siêng sờ soạng, sai lạc càng xa, chỉ tăng
thêm hư luận, tạo thành lỗi báng pháp, có lợi ích chi
đâu? Đó là nói riêng chuyện thuộc về Giáo. Chứ
kẻ bàn Thiền sờ soạng càng quá hơn nữa. Hoặc
là có kẻ sờ ngựa mà bảo là voi. Hoặc có kẻ
sờ không trung mà bảo là voi. Hoặc có kẻ cùng sờ,
bảo hết thảy mọi chỗ đều là voi. Hoặc
có kẻ chẳng sờ hết thảy được, bảo
là không có voi! Đủ loại dị kiến, chưa dễ
nói trọn. Nguyện các nhân giả, hăy sờ ngược
mắt ḿnh; đă có đủ con mắt th́ sẽ chẳng
cần sờ voi nữa!
* Lời tựa khắc
in lần nữa Chư Kinh Nhật Tụng
Ông Hạng
ở Gia Hòa trước kia đã đem
một trăm lẻ tám loại kinh của
phường bổn[103] đến Vân Thê, bảo
đấy là các kinh do tăng, ni,
đạo, tục sáng tối trì tụng,
nhưng [ông ta xét thấy các bản ấy] chân, ngụy
xen tạp, khiến cho người hiểu biết chê
cười, mong tôi hãy phân định chánh
xác để làm khuôn mẫu cho hàng sơ
học. Tôi dựa theo bản ấy, cân nhắc,
sắp xếp, loại trừ, bỏ ngụy
giữ lấy chân. Lại còn giở xem kinh
luật và các trước tác của
các vị xưa nay, chọn lấy một, hai
điều gần gũi nhất để thêm vào.
Vừa hoàn thành bản thảo, chưa
giảo duyệt, đã giao cho ông Hạng. Ông Hạng
liền đem giao cho thợ khắc, mà ông
Hứa ở cùng ấp liền cho ấn
hành. Gần đây, tôi xem lại, thấy khá
nhiều chỗ sai lầm, bèn giảo chánh,
sửa chữa lần nữa, cho khắc
riêng theo lối phương sách[104]. Mộc bản cất trong
núi Vân Thê, ngõ hầu bản hoàn thiện
được lưu truyền, rốt cuộc
thành tựu điều tốt đẹp cho hai
ông. Những người xem hai bản
khắc trước đó của hai ông,
hãy nên lấy bản dưới đây để
làm căn cứ.
* Lời tựa cho quy ước lưu thông pháp bảo
được cất giữ tại Vân Thê
Lưu thông Phật pháp chẳng phải là chuyện nhỏ
nhặt. Kể từ khi đổi phạm giáp (梵夾, kinh in theo lối một mảnh giấy dài cuộn lại)
thành phương sách (方冊) để tiện lưu thông, thế là Song Kính,
Lăng Nghiêm, Lậu Trạch, Cô Tô, Tân An, các chùa nổi danh
nơi những cuộc đất thù thắng đều
đồng ḷng cùng làm; mỗi nơi đều có điều
lệ để tiến hành, nhưng chưa đặt ra
quy tắc tường tận về thâu, chi, thỉnh, phát.
Phàm là “thâu, chi, thỉnh, phát” chính là chuyện trọng yếu
trong lưu thông. Nếu chẳng đề pḥng nghiêm ngặt,
lâu ngày sẽ nẩy sanh thói tệ, nỗi hại sẽ kết
thành to lớn. Tức là pháp chưa lưu thông, mà người
lưu thông pháp đă trầm luân, sao có thể thờ ơ
không quan tâm đến?
Hơn nữa,
lưu thông có hai loại: Một là chân thật lưu thông,
hai là lưu thông theo kiểu buôn bán. Lưu thông theo kiểu
buôn bán là tụ tập kinh điển làm hàng hóa, bán hàng hóa kiếm lời, tích tụ tiền
lời làm giàu, giống như các tiệm sách trong hiện
thời. Đấy là cách buôn bán hàng hóa. Chân thật lưu
thông là tâm nghĩ ngợi: Chẳng truyền pháp sẽ không
có cách nào độ sanh; chẳng truyền pháp độ
sanh sẽ chẳng có cách nào báo ân Phật. Chỉ mong Phật
pháp xoay vần hoằng dương trong vô lượng cơi,
vô lượng đời; ngoài ra, chẳng mong chi khác.
Đó gọi là chân thật lưu thông. Chân thật th́ mới
gọi là công đức. Buôn bán chỉ càng tăng thêm tội
lỗi. Hai đằng tợ hồ giống nhau nhưng
khác biệt, há chẳng thận trọng ư? Bèn ước
định sáu chương, riêng ra rả về chuyện
thâu, chi, thỉnh, phát. Người đảm nhiệm chuyện
này mong đừng nghĩ lời tôi là sai, lại
c̣n giữ măi không bỏ qua để
lưu lại cho mai sau, ngơ hầu chẳng phụ đàn việt
tạo pháp, chẳng phụ vua quan hộ pháp, chẳng phụ
Phật Thế Tôn và các vị thầy hiền thánh xưa
nay thuyết pháp, diễn pháp. Do vậy, viết lời tựa.
* Lời tựa cho
Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ
Pháp
Du Già Thí Thực trong Đại Tạng có nhiều bản. Thoạt đầu, chỉ có một chương
đức Phật dạy đà-la-ni cho ngài A Nan mà thôi, sắc truyền tụng hai mươi mốt lượt, tức
là Biến Thực chân ngôn trong hiện thời. Tiếp
đó, dần dần tăng thêm, tăng cho tới bản
được các nơi in kinh gọi là Du Già Tập Yếu,
tường tận, trọn hết, chẳng c̣n tăng
thêm được nữa. Hiện thời, các thầy lại
tăng thêm những thứ gom góp bên ngoài, rườm rà, rậm rạp,
đánh mất ư của cổ nhân. Nêu lên những chỗ
quá đáng, như Phạm ngũ cúng dường, do bố-tư-tất
(pushpe, hoa cúng dường), độ-tất (dhupye,
hương cúng dường) v.v… đă đều là tiếng
Phạn, sao lại tiếng Phạn chồng thêm tiếng
Phạn? Như ba mươi lăm ấn, hễ là ấn
th́ ắt phải được truyền dạy. Năm
mươi ba vị Phật, mỗi vị Phật một ấn,
chẳng rơ phát xuất từ kinh nào? Khiến cho quá nửa
thời gian xen tạp ngâm vịnh, chỗ thiết yếu
lại lướt qua thật nhanh như nước tuôn,
há chẳng phải là tốn sức mà chẳng có công lao ǵ
chăng?
Huống hồ ván
khắc do lâu năm bị nḥe nhoẹt, các chữ chủng
tử [trong chân ngôn] của Phật hầu như chẳng
thể nhận rơ, nhưng bỏ khắc th́ sẽ phải
chép. Lại c̣n những chú thích của vị hiền nhân
thuở trước gần như bị lược bỏ
sạch. Nếu chữ chủng tử bị mất th́ quán sẽ do đâu mà sanh? Chú thích bị
gạt bỏ th́ quán tuy c̣n, chẳng biết sử dụng
như thế nào? Gần đây có những người
đề xướng sửa cho đúng, nhưng thứ tự
trước sau vẫn c̣n lộn xộn, nhă hay vụng vẫn
c̣n chưa thỏa đáng, bị người hiểu biết
chê trách. Do vậy, cư sĩ Bao Tâm Huyền phát tâm rộng
lớn, tụ tập các thợ khắc ván, dùng trọn khắp
các kinh, luật, luận tạng đă được khắc
để bổ cứu những chỗ chưa hoàn vẹn
của người xưa. V́ thế, đem bản ấy giao cho tôi. Tôi lại dựa theo
Tập Yếu mà tham khảo, đính chánh thêm lần nữa
để tạo thành bản hoàn chỉnh, ngơ hầu
người đăng đàn biết “tam nghiệp
tương ứng th́ gọi là Du Già”. Tay kết ấn ắt
đoan nghiêm, đừng chụp bắt, múa may giống
như đùa bỡn, miệng tụng niệm ắt chân thật,
ắt chánh đáng, đừng liến láu, lúng búng, khiến
mật ngữ bị lẫn lộn, ư tác quán ắt ṛng, ắt
chuyên, đừng tán tâm loạn tưởng khiến chánh
quán bị thiếu sót. Sau đấy, thân phù hợp miệng,
miệng khế hợp ư, ư ḥa hội với thân, dùng đó
để độ sanh, mà cũng để tự độ,
công đức chẳng thể nghĩ bàn. Nguyện hành nhân
Du Già cùng suy xét kỹ để nỗ lực thực hiện!
* Lời tựa cho
Du Già Tập Yếu Du Già Tập Yếu Đồ Tượng
Diệm Khẩu Thí Thực
Giáo
pháp Du Già thần biến, oai linh chẳng thể nghĩ
bàn, do hai sư Kim Cang Trí và Quảng Đại Bất Không
truyền dạy, không ai có thể nối gót. Do vậy, giáo pháp ẩn kín trong Long Tạng (Càn Long
Đại Tạng Kinh), mờ mịt chẳng truyền,
chỉ có một pháp Thí Thực được lưu hành
trong cơi đời. Nhưng bản kinh này thuở đầu
được dịch ra, ngoài Biến Thực chân ngôn, chẳng
nghe [dạy bảo] chi khác. Bản dịch lần thứ
hai, lần thứ ba, tăng thêm nhiều, rộng thêm nhiều,
cho tới bản do ngài Bất Động truyền dạy
đă hoàn bị tột cùng. Kẻ hiếu sự vẫn
chưa cho là đủ, vẫn thêm vào những thứ từ
bản khác, khiến cho sự chuyên tinh [của nghi thức]
bị che lấp bởi những văn từ thừa thăi,
nhưng ấn chú c̣n bị sơ lược, huống hồ
quán môn ư?
Du Già có nghĩa là “tương ứng”, tức là miệng tụng chú, tay kết
ấn, tâm tác quán, tam nghiệp đều tu, thực hiện
Phật sự; đó gọi là “tương ứng” vậy!
Tam nghiệp chú trọng nơi nhất tâm, nếu tâm chẳng
quán, lấy ǵ để tương ứng? Lửa Định cháy sáng rực nơi ngọn núi lẻ, tâm tưởng
kiên cố phủ trùm ngàn hạt, quán có mối quan hệ
đúng là chẳng dễ dàng! Hai bức vẽ khéo léo của
thầy Thạch Cơ Thường vẽ chèn h́nh tượng
vào kinh văn, khiến cho người xem kinh văn sẽ
thấy h́nh tượng, chẳng đăng đàn mà quán
đă rành, khá có công đối với Du Già vậy. Tôi mong
người hành pháp sẽ chuyên chú quán tâm, vận tâm nơi
tay, tay hợp với miệng, miệng dựa trên tâm, tế
độ vạn linh, công đức như thế cũng
chẳng thể nghĩ bàn!
* Lời tựa cho
sách Thiền Quan Sách Tấn
Thiền
há có cửa ải ư? Đạo chẳng có trong, ngoài, chẳng
xuất nhập, nhưng người tu đạo cũng
có mê và ngộ. Do vậy, bậc đại tri thức làm
người canh ải, chẳng thể không đúng thời
đóng hay mở, cẩn thận ch́a khóa, khám xét nghiêm ngặt,
ngơ hầu kẻ thốt lời quái lạ, ngả theo lẽ
riêng tư, trái vượt pháp độ sẽ không có cách
nào lan truyền sự gian trá của hắn được,
ngăn chặn khiến cho [những thứ đó] chẳng
dễ lọt qua cũng đă lâu rồi. Tôi khi mới xuất
gia, t́m được một quyển sách nơi xưởng in, tên là Thiền Môn Phật Tổ Cương Mục.
Trong ấy chép nhiều lời tự thuật của bậc
cổ tôn túc [về quá tŕnh] trong khi tham học, thoạt
đầu là khó tiến nhập, đoạn giữa là thứ
tự nhọc nhằn đă từng trải khi dụng
công, và cuối cùng là tâm thần rộng mở, ngộ nhập
thần diệu. Tâm tôi ái mộ, nguyện học theo.
Nhưng sách ấy ở nơi khác chẳng thấy nữa,
tôi tiếp tục xem các phần ngữ lực, tạp truyện
trong sách Ngũ Đăng Hội Nguyên, bất luận
tăng hay tục, chỉ cần là người thật
tham, thật ngộ, bèn gom vào quyển sách trên đây, lược
bỏ điều rườm rà, giữ lấy điều
trọng yếu, biên tập lại, đổi tên thành Thiền
Quan Sách Tấn (禪關策進). Ở một chỗ th́ đặt trên bàn, đi th́
đặt trong đăy; hễ mở xem th́ tâm chí được
khích lệ, thần thái sáng suốt, tự thúc bách chính ḿnh
tiến lên. Chắc có người nói: “Sách này v́ người
chưa vượt ải mà soạn ra. Người đă
vượt ải, đă đi lâu rồi, sao c̣n dùng
được nữa?” Tuy thế, ngoài cửa ải lại
có cửa ải khác, giả tiếng gà gáy[105],
tạm ĺa nơi miệng cọp. Được chút ít
đă cho là đủ, đó là kẻ tăng thượng mạn.
Nước chưa cùng, núi chưa tận, Cảnh Sách cầm
nơi tay, thân bệnh tật rong ruổi đường
trường, phá cái ải ẩn kín cuối cùng, thong thả
làm cỗ chay đăi đại chúng tham thiền xong vẫn
chưa muộn!
* Lời tựa cho
Cao Phong Đại Sư Ngữ Lục
Tôi
lúc mới vừa đọc nội điển, có
được kinh luận và mấy quyển tạp
trước xưa nay, trong ấy có ngữ lục của đại
sư, kinh ngạc, vui mừng tin nhận
như trong tối tăm gặp đuốc, đến nay
vẫn như vậy. Bởi lẽ, kể từ khi tham cứu
chuyện này, tinh nhuệ tột bậc, không ai hơn
được Sư; đúng là giống như do thép thuần đúc thành. Mỗi lượt mở ra
đọc là mỗi lượt khích phát ư chí của con
người, khiến cho hớn hở, dùi mài quên mệt.
Tuy vậy, Ngài ngộ xứ sâu sắc, tôi chẳng dám dùng phàm t́nh
đoán ṃ, ḍ lường, chỉ cảm thấy Sư nói
thẳng vào cội nguồn, tách rời khuôn sáo, gần th́ có phong cách của Từ
Minh, Diệu Hỷ, xa th́ [Sư] chẳng kém các cụ Đức Sơn,
Lâm Tế! Hùng vĩ thay! Ṿi vọi thay! Có thể nói Sư
là tràng quang minh chiếu sáng thuở Mạt Pháp. Chỉ tiếc
ngữ lục của Sư chưa được
đưa vào Đại Tạng, các xưởng in ít khắc
ván, [nỗi tiếc nuối ấy] canh cánh trong ḷng suốt
ba mươi năm.
Nay đem bản
cũ giao cho thợ khắc ván, nhưng hành nhân trong liên xă
có người thấy nghe chuyện này, nói tôi
vừa xoay chuyển muôn ḍng chỉ quy Tịnh Độ,
sao lại ân cần khen ngợi tác phẩm này? Ư người
ấy là niệm A Di Đà Phật, chẳng thấy vạn
pháp quy về một ư? Bèn ào ạt dao động. Than
ôi! Chỉ hiểu rơ “người niệm Phật là ai”,
không cần hỏi “quy về một ở chỗ nào?”
Giống như có kẻ biết cha sanh ra ta, lại tự
nghi thân thể từ đâu mà có, người nghe chẳng
ngă ngửa chết ngất ư? Cổ tôn túc nói: “Như
người đi xa, mong sao đến nơi, chẳng quản
cưỡng chia đường đi khó hay dễ”. Các
vị nhân giả! Phương tiện có nhiều môn, về
nguồn vốn là một đường. Xin đừng hồ
nghi, kẻo lỡ làng năm tháng. Hăy nên thẳng tiến,
mau về, chỉ lo về đến nhà. Đă về đến
nhà, vách đá ngàn trượng, ao bảy báu, chủ nhân có
trí, hai đằng đều chẳng nhận!
* Lời tựa cho
Mục Ngưu Đồ (tranh chăn trâu)
Kinh
Di Giáo nói: “Thí như mục ngưu, chấp trượng
thị chi, bất linh túng dật, phạm nhân miêu giá” (Ví
như chăn trâu, cầm gậy trông chừng, chẳng cho
nó buông lung xâm phạm mùa màng của người khác). Đấy
chính là khởi nguồn của cách nói chăn trâu. Kế tiếp
là Mă Tổ hỏi Thạch Củng: “Ngươi đang làm
chuyện ǵ?” Đáp: “Chăn trâu”. Lại hỏi: “Trâu
chăn như thế nào?” Đáp: “Có lúc đi vào đồng
cỏ, nắm mũi kéo lại”, tức là người khéo
chăn. Lại ngài Đại Quy An tới chỗ ngài Quy
Sơn nói: “Tôi nương vào Quy Sơn để trụ,
chẳng học Quy Sơn Thiền, chỉ chăn một
con trâu đực”. Lại c̣n ngài Bạch Vân Đoan tới
chỗ Quách Công Phụ cật vấn rằng: “Trâu thuần
chưa?” Dù là tự chăn, hay dạy người khác
chăn, từng thấy xuất hiện nhiều lượt,
xưa nay càng rơ rệt vậy!
Về sau, có người
vẽ thành tranh, thoạt đầu là chưa chăn, cuối
cùng là cả hai (trâu lẫn người chăn) đều
mất, theo thứ tự xếp thành mười bức.
Trâu như thế này: Thoạt đầu là đen, kế
đó trắng dần cho đến chẳng c̣n, rành rành
như thế. Phổ Minh lại c̣n đối với mỗi
bức tranh, viết một bài tụng, chưa rơ Phổ
Minh là người như thế nào? Tranh vẽ ghi bài tụng
cũng chẳng biết do ai làm ra? Nay chẳng bàn tới,
chỉ có tranh vẽ ấy, h́nh ảnh đơn giản,
nhưng ư nghĩa sâu xa. Lời tụng cũng là ngôn từ
giản dị, nhưng ư chỉ sâu xa. Người học
dùng đó làm bằng khoán; do vậy, xét đức, so nghiệp,
suy xét những ǵ chính ḿnh đă đạt được,
mong mỏi điều chưa đạt tới, sẽ
tránh khỏi “được chút ít, đă cho là đủ”, chẳng đọa vào chỗ tăng thượng mạn th́ lợi
ích càng nhiều. Do vậy, tôi sao lục lại, cho khắc in.
Bên ngoài cũng có loại
tranh từ “t́m trâu” cho đến “vào chợ”, cũng gồm mười bức tranh, đại
đồng tiểu dị với bức hiện thời,
cũng nhằm phân biệt thứ tự tấn tu trong Giáo, có thể so sánh mà biết, đều ghép thêm vào cuối
sách để tiện tham khảo. Nếu là bậc nhất
siêu trực nhập, chẳng nhọc dùng roi hay lôi kéo mà trâu
trắng tự nhiên ở nơi đất trống, chẳng
rơi vào từng tầng cấp mà trong sát-na năng lẫn
sở cùng mất, th́ các bức vẽ này trở thành hàng
hóa ế ẩm, lời tụng trở thành lời thừa
thăi, xem thấy sẽ bật cười, tôi chẳng dám
gượng [phô phang] ǵ!
* Lời tựa cho
Truy Môn Sùng Hạnh Lục
Tăng
hỏi: “Sa-môn phụng sự ǵ?” Đáp: “Phụng sự
đạo”. “Phụng sự đạo th́ cái ǵ là gốc?
Đáp: “Đức hạnh làm gốc”. Tăng nói: “Thầy
cố chấp quá! Lợi căn dùng huệ để nhập,
độn căn dùng phước để tu. Sa-môn giữ
lấy huệ là đủ rồi, đức hạnh
để làm ǵ?” Tôi nói: “Người xưa có nói ‘đức
hạnh là gốc’, lại nói ‘người muốn
thành tựu cao xa, trước hết phải biết tự
rèn luyện’. Huống hồ diệu đạo vô
thượng Bồ Đề mà kẻ chẳng phải
căn khí có thể tiếp nhận ư? Sữa sư tử
mà chẳng dùng b́nh lưu ly để đựng [th́ b́nh] sẽ bị nứt vỡ. Nâng cái đỉnh nặng vạn quân[106],
sao có thể dùng chiếc thuyền làm bằng lá sen, chẳng
lật nhào rồi ch́m lỉm th́ hiếm hoi lắm! Nay
sa-môn hơi có tài năng, nhạy bén, bèn dụng công nơi giải thích, dốc sức nơi viết lách giống như Nho
sinh. Kẻ cao hơn nữa bèn góp nhặt vụn vặt
cơ duyên của cổ đức, đuổi theo tiếng
vọng, chụp bắt dấu tích
nơi h́nh bóng, khiến cho kẻ sáng mắt bật cười. Nghe lời họ
nói, vượt xa Phật, Tổ; xét hành vi của họ, thua xa
kẻ tầm thường, ngu dốt! Đại để
là thói tệ cùng cực thời Mạt Pháp. Tôi do vậy sợ
hăi, gom góp thiện hạnh của cổ đức, sao lục
những điều trọng yếu, tạo thành mười
môn để gồm thâu.
V́ sao? Ĺa tục nhiễm
th́ gọi là Tăng, cho nên xếp những vị thanh cao,
thuần phác đứng đầu. Thanh mà chẳng nghiêm,
th́ là sự thanh cao của kẻ cuồng. Thâu nhiếp
“thân, miệng, ư” là giáo huấn của chư Phật. V́ thế,
kế đó là môn nghiêm cẩn, chánh đáng. Nghiêm cẩn,
chánh đáng là do thầy dạy bảo mà thành. Thầy là
khuôn mẫu cho người khác; v́ thế, tiếp đó là
tôn sư. Đă được cha mẹ sanh ra, sau
đó theo thầy mà quên bẵng người thân, tức là
mất gốc. Giới tuy có vạn hạnh, lấy hiếu
làm cốt lơi. V́ thế, tiếp đó là môn hiếu thảo
với cha mẹ. Trung và hiếu chẳng hai lư, biết có
cha mẹ mà chẳng biết đến vua và thầy, tức
là riêng tư. Một người có sự vui sướng,
ta sẽ được thong dong nơi suối rừng,
ơn vua lớn lao thay! V́ thế, kế đó là môn trung
quân. Tận trung với bề trên, mà thiếu nhân từ với
người dưới, tức là đạo cứu giúp
người khác bị thiếu sót. V́ thế, kế đó
là môn ḷng từ. Nhân từ với muôn vật gần với
ḷng yêu thương; sanh chấp trước với ḷng yêu
thương sẽ gây trở ngại cho xuất thế. V́
thế, kế đó là môn cao thượng (vượt thoát
khỏi chấp trước phàm t́nh). Cao thượng chẳng
phải là luôn giữ cho thân thanh khiết mà bỏ mặc
chúng sanh, mà phải mong sao chất chứa sâu dày ḥng lưu
lại gương sáng. V́ thế, môn kế tiếp là tŕ trọng
(遲重, nhẫn
nại, cẩn trọng). Tŕ trọng mà ở yên trong vô vi
th́ chẳng thể được, cho nên kế tiếp là
môn gian khổ. Nhọc nhằn mà chẳng có công dụng ǵ, sẽ
do khổ nạn mà thoái thất, nhân quả chẳng hư huyễn, cho nên kế tiếp
dùng cảm ứng làm môn kết thúc.
Tu mười hạnh
mà đức trọn, chính là pháp khí có thể đảm nhiệm pháp. Cuộc
đất đă tốt đẹp rồi, sau đó gieo hạt
giống tốt xuống. Tâm đă thuần rồi, sau
đó lời chí lư mới thấm vào. Vô thượng Bồ
Đề sẽ có thể mong đạt được. Nếu
không, một kẻ thô lậu chưa vẹn nhân đạo,
sao biết được Phật đạo? Dẫu lợi
căn đa huệ, huệ càng nhiều, chướng càng
nặng, có ích chi đâu? Tăng nói: “Pháp của ta mảy trần
chẳng lập, mười hạnh để làm ǵ?” Tôi
nói: “Ngũ Uẩn lăng xăng, Tứ Đại chen
chúc, sao bảo là chẳng có trần?” Tăng nói: “Tứ
Đại vốn là Không, Ngũ Uẩn chẳng có”. Tôi bạt
tai ông ta, bảo: “Phường học vẹt, coi hạt
gai giống như hạt thóc, chưa nói ǵ được!”
Tăng chẳng đáp được, hầm hầm đứng
dậy. Tôi cười bảo: “Mặt phủ đầy bụi,
sao ông không lau? Hăy cẩn thận nhé! Đừng cao ngạo,
chớ tự ty. Đừng hư vọng bàn Bát Nhă, tự
chuốc lấy ương hại, lầm lỗi. Đừng
say sưa nơi hư danh. Hăy tu đức ḿnh, nỗ lực
chuyên ṛng, thành thật dốc sức nơi đạo, dốc
tận cùng sức th́ tâm sẽ thông. Sau đấy biết
chẳng bài bác vạn hạnh, chẳng nhận mảy trần,
suốt ngày chẳng không, suốt ngày chẳng có, đấy
gọi là Chân Huệ. Mong ông hăy một mực tham cứu
cái tâm”. Tôi chưa nghe đạo, lại c̣n đức kém;
nay viết sách này, chỉ mong cứu văn thói tệ trong
đương thời ḥng đền ân Phật. Người
thông đạt, sáng suốt nếu chẳng do [tôi là] kẻ
tệ hại mà vứt bỏ lời nói của tôi, mong sẽ
xoay vần bảo ban các Thiền giả!
* Lời tựa cho
Văng Sanh Tập
Đức
Thế Tôn mới thành Chánh Giác, v́ các hữu t́nh diễn giảng
trọn khắp Phật thừa. Do khó thể thích ứng
trọn khắp các căn cơ, bèn từ trong pháp Nhất
Thừa, dạy pháp tam thừa; lại c̣n từ trong tam thừa,
nêu ra một môn Tịnh Độ. Nay cách Phật ngày càng
xa, t́nh trần ngày càng thịnh. Tiến lên th́ chẳng thể phát khởi sự giải
ngộ thần diệu, vượt
lên bậc thánh. Lui xuống sẽ quẩn
quanh trong hiểm nạn đọa lạc. Nếu chẳng
cậy vào môn [Tịnh Độ] này, sẽ nhờ vào
đâu mà nhanh chóng thoát khỏi sanh tử? To lớn thay! Có
thể nói là thuốc linh nghiệm ắt có công hiệu chữa
được chứng bệnh trầm kha trong thời Mạt.
V́ thế, thời cổ khá nhiều, thời nay khá ít, lỗi
ở chỗ nào? Chính v́ miệng cũng Tịnh Độ,
nhưng tâm nơi Sa Bà, lại c̣n kiên cường, dũng mănh, giải ngộ sáng suốt
chẳng bằng tiền bối.
Nghe nói xưa kia có
người văng sanh, nhưng tháng năm lâu ngày, [sự
tích] bị diệt mất, chẳng thể thấy nữa;
chỉ c̣n những dấu vết được chép rời
rạc, rải rác trong các sách trong, ngoài của trăm nhà.
Tôi thuận theo những ǵ ḿnh thấy được, liền
ghi chép lại, vẫn trích lấy những vị nhân quả
rơ rệt, lâu ngày tích lại thành sách, nhưng chỉ là giữ
được một phần mười trong trăm ngàn
mà thôi. Giáp Thân năm nay, do trộm đua đ̣i ngài Trung
Phong bế quan tại Thượng Phương, bèn lấy
sách ra, sắp xếp theo từng loại trước sau, lại
chứng minh bằng chuyện chư thánh cũng cùng quay về
[Cực Lạc], bổ túc bằng chuyện cảm ứng ngay trong khi
c̣n sống, tính ra là hơn một trăm sáu
mươi điều, thêm lời tán thán để nêu tỏ
nghĩa ẩn tàng, đặt tựa đề là Văng Sanh Tập. Những
mong tăng, tục xem sách này, sẽ chỉ ra rằng: “Ta
cũng do giải thoát như thế mà văng sanh. Ta cũng do
thuần nhất như thế mà văng sanh. Ta cũng do ḷng
tinh thành tột bậc cảm vời như thế mà văng
sanh. Ta cũng do đại bi đại nguyện như thế
mà văng sanh. Ta cũng sửa lỗi, chẳng keo kiệt,
chuyển nghiệp sắp bị đọa như thế mà văng sanh. Ta thượng
sanh như thế, ta trung sanh, hoặc hạ sanh như thế”,
ngơ hầu xét xưa, nghiệm nay, làm bằng khoán cho Tịnh nghiệp.
Nhưng có người
khách đến chỗ tôi, đọc chưa được
mấy truyện, đă vội vàng nói: “Tịnh Độ
duy tâm, ngoài tâm chẳng có cơi. Văng sanh Tịnh Độ là ngụ
ngôn! Ông cho là thật sự sanh về Tịnh Độ
ư? Há chẳng trái nghịch tông chỉ vô sanh hay sao?” Tôi
đợi cho ông đằm xuống, thong thả bảo:
“Nói dễ dàng lắm! Nếu cho là Vô Sanh mà thôi th́ hết thảy
đoạn diệt, chẳng nên c̣n có duy tâm. Nếu thật
sự ngộ Vô Sanh, sanh cũng có trở
ngại ǵ đâu? Sanh đă vốn là không, cho nên suốt
ngày sanh mà chưa từng sanh. Hơn nữa, tâm ông đă hết
lậu hoặc hay chưa?” Đáp: “Chưa thể!” Ôi! Lậu
tâm chưa hết, sanh duyên sẽ chưa thôi, ắt sẽ
có chỗ thác chất! Mờ mịt trong biển khổ to
lớn nơi tam giới, chẳng sanh Tịnh Độ
th́ sanh về cơi nào? Quằn quại trong lục đạo,
tiêu dao nơi chín phẩm, lợi và hại một trời,
một vực, sao chưa từng nghĩ? Bàn luận bóng bẩy để tranh cao, tôi cũng có thể làm chứ! Sở dĩ chẳng làm, cũng là do sợ sanh trong
thức pháp. Được thôi! Ông thật sự chẳng
cho lời tôi là sai, sẽ từ ngay nơi Tịnh Độ
mà là Phật thừa, bởi chưa từng cách ngăn mảy
may, há có chống trái ǵ?” Khách sợ hăi từ chỗ ngồi đứng phắt dậy, ngơ
ngác, sững sờ, bất giác nước mắt ràn rụa,
khóc nghẹn, chỉnh y phục, trang trọng đọc hết
quyển, vội lạy xin bản in. Đă khắc in xong,
bèn thuật đầu đuôi như thế đó.
* Lời tựa in lại
bộ Tịnh Độ Thiện Nhân Vịnh
Trước
kia, tôi soạn Văng Sanh Tập, chuyên v́ thiện nhân Tịnh
Độ mà ghi chép sự việc. Sách này ngâm vịnh thiện
nhân Tịnh Độ, nhờ vào chuyện của họ mà
tán thưởng, ca tụng. Phàm người được
gọi là “thiện nhân”, chẳng phải là đối với kẻ ác mà gọi
là thiện, chẳng phải là thiện trong Thập Thiện
sanh thiên. Tâm tịnh, cơi nước tịnh, tại Sa Bà th́
hoa sen sánh như đức, sanh về Cực Lạc th́ gởi
thân trong hoa sen, siêu việt tam giới, ngộ Vô sanh, cho
đến thành Đẳng Chánh Giác, đó là điều
thiện nhất trong những điều
thiện. Do vậy kinh nói là “chư thượng thiện
nhân”. Nhưng cứ ắt phải tán thán là v́ sao? Đấy
là trên th́ dùng âm thanh làm Phật sự, đó là vịnh. Giản
ước mà gồm khắp, chất phác, nhưng chẳng quê mùa. Ca ngợi nhưng suy xét, ôn
nhu, hồn hậu, ḥa b́nh, thong dong có phong cách như người
làm thơ Quốc Phong[107].
Ca tụng có thể khiến cho người khác hưng khởi.
Xưa kia, Lư Tế
phỏng theo Hồ Tăng và Châu Đàm vịnh sử, mới
trần thuật hai mươi mốt người, quá
đại lược. Lại có người vịnh mà chẳng
trần thuật, người xem chẳng biết t́m hiểu
sự việc ra sao. Trước kia, tôi có được
tác phẩm này từ một người bạn, đă bị rách nát, mọt đục, gần
như rữa nát hết, cất trong tráp hai mươi
năm rồi lại cho khắc in lại, sợ sẽ bị
mất đi. Ôi! Đă có bài phú Thần Thê An Dưỡng
(thần thức gởi nơi An Dưỡng) phỏng theo
bài từ Quy Khứ Lai (về đi thôi), các vị Trung
Phong và Tây Trai có thơ cảm hoài Tịnh Độ, và Lư Tế có thơ vịnh sử, gộp chung lại để
xem th́ càng tốt đẹp. Độc Am (Diêu Quảng Hiếu)
cũng có thơ vịnh thiện nhân vậy!
* Lời tựa cho
sách Tịnh Độ Thi của thiền sư Trung Phong
Giáo
pháp Tịnh Độ lớn lao thay! Nêu rạng trong các
kinh, hoằng dương rộng răi trong các luận, tinh vi
tột cùng, sâu thẳm tột bậc. Sớ, truyện biện
định, nghị luận [pháp môn này] của các vị thầy nhan nhản. Lại
từ đó mà soạn phú, viết từ, làm kệ tụng,
làm thơ. Thơ lại ḥa thanh, hợp vần, hay hơn kệ
tụng, uyển chuyển, du dương, khiến cho
người ta ưa thích, thưởng ngoạn, cảm
xúc, cảm khái bi ca, bất giác tâm t́nh từ tạ cơi trần,
thần thức nương nơi cơi báu. Thơ hữu ích
cho Tịnh Độ cũng lớn lao thay!
Xưa nay, thơ cảm
hoài Tịnh Độ, xét trước sau, chỉ có một
trăm bài vịnh của ngài Trung Phong là Lư lẫn Sự
đều đủ, tánh và tướng viên thông, chấm dứt
sự tranh căi ồn ào giữa Thiền và niệm Phật,
xác định chuẩn mực “cơi nước chính là tâm,
tâm chính là cơi nước”. Thoảng nghe tiếng trống
bôi thuốc độc, ngũ nội (ngũ tạng) vỡ
tan. Thức ăn ngon xen lẫn thuốc độc, ăn
vào mạng căn sẽ đoạn. Đẹp đẽ
thay! Mênh mông thay! Một khúc dương xuân vang vọng
trăm đời đó chăng? Quan Đại Trung Thừa[108]
Kim Tỉnh Ngô tạc dạ nơi Tịnh Độ, cho khắc
in lại để rộng lưu thông, sai tôi viết lời
tựa đặt trước các bài thơ. Tôi đă già rồi!
Bệnh liệt giường nơi gối, chiếu, gác
nghiên bút đă lâu, bỗng có duyên thù thắng này, tuy sanh ḷng
hoan hỷ, hớn hở, nhưng sức chẳng thể
viết nổi một lời, đành sai đồng tử
chép lại những lời thường đàm luận hằng
ngày để ứng phó!
* Lời tựa cho
sách Đáp Tứ Thập Bát Vấn (giải đáp bốn mươi tám câu hỏi)
Giáo
pháp Tịnh Độ có nhân địa là ngài Pháp Tạng,
được mở ra đầu mối bởi bà Vi
Đề Hy, trần thuật từ kim ngôn của đức
Linh Thứu giáo chủ, lưu
truyền bởi liên xă của Khuông Lư đại sĩ (tổ
Huệ Viễn), tâm chuyên nhất
hướng đến văng sanh, dùng hoành siêu để
vượt tam giới; đúng là bờ bến trọng yếu
trong thời Mạt Pháp. Nhưng bậc thượng
căn liền từ Sự mà khế Lư, cố nhiên tin chắc chắn, chẳng thoái lui. Kẻ hạ căn có người
nghe pháp này bèn tuân theo, cũng chẳng do vậy mà dấy Hoặc.
Chỉ có kẻ chẳng thượng, chẳng hạ, thuộc
địa vị nửa vời, bèn nửa
muốn ngả theo, nửa chống trái, chí hướng vô định. Do vậy, ngài Trí Giả dùng Thập Nghi
Luận để đả thông, ngài [Thiên Như] Duy Tắc
dùng Tịnh Độ Hoặc Vấn để khơi gợi.
Trống trời rền vang liên hồi, tâm tha thiết quyến
luyến, há bảo là “lắm miệng” ư? Nói năng là
v́ bất đắc dĩ [chẳng thể không nói], lại
c̣n suốt ngày sáng đêm, do bệnh nặng, thuốc
tăng thêm. Sau hai bộ sách ấy, há c̣n có thể trước
thuật thêm nữa ư?
Có cư sĩ Đức
Viên nương theo nguyện lực xưa, dấy ḷng
đại bi, thay cho trăm ngàn chúng sanh, giăi bày cặn kẽ
bốn mươi tám câu vấn nạn. Sơn tăng chẳng
tránh khỏi cứ theo từng điều mà quyết
đoán, dựa theo từng bản chất của vấn
đề mà giải quyết, khiến cho kẻ vượt
sông phiền năo thẳng thừng quyết đoán nỗi hồ
nghi, thoát khỏi huyệt sanh tử, nhanh chóng ĺa khỏi nỗi
khiếp sợ của loài chuột, noi dấu bậc triết
nhân thuở trước, cùng giúp cho tông trước đó
thôi. Nếu ngộ “ngoài tâm chẳng có
cơi”, th́ Nhất Chân lặng trong mà vạn pháp mất, ǵ là
Tây Phương? Liễu ngộ “ngoài cơi chẳng có tâm”, bảy
báu trang hoàng, chín phẩm sen nở, nào trở ngại cái vốn
sẵn tịch nhiên? Tức là cư sĩ ở chốn quê
mênh mông vô ngại, giả huyễn nêu ra đầu
mối nghi vấn, tợ gió lùa trên
mặt nước. Sơn tăng ở nơi lặng thinh
không hỏi, như trong mộng đáp lời, như hang vọng
tiếng suối. Tuy mây đùn, b́nh trút[109],
chưa dám sánh bằng quy mô rộng lớn của bậc cổ
thánh, nhưng riêng chiếu chỗ tối tăm, những
mong bóc màng mộng nơi mắt của người
đương thời. Nếu như họ mang tâm Xiển
Đề, vẫn quật cường như cũ, chắc
chắn sẽ coi rẻ Tịnh Độ chẳng tu, tự
giữ lấy Thiên Không cho là đủ, tôi cũng chẳng
biết làm sao được nữa! Buồn thay!
* Lời tựa cho
Từ Vô Lượng Tập
“Từ,
bi, hỷ, xả” được gọi là Tứ Vô Lượng
Tâm của Bồ Tát, mà Từ thật sự đứng
đầu bốn tâm. Phần Văn Ngôn của kinh Dịch
nói: “Nguyên giả, thiện chi trưởng dă” (Nguyên (元) là tăng trưởng điều
thiện). Đối với con người, Nguyên là ḷng
nhân. Nhân do nhà Nho đă nói cùng với
ḷng Từ do đức Phật đă nói là một. V́ vậy,
thế gian và xuất thế gian không ǵ hơn được
Từ. Nói “vô lượng” tức là nêu tỏ ḷng Từ
rộng lớn. Nay giết người th́ phải chết,
ai nấy đều biết, nhưng giết cầm súc th́
chẳng bị tử h́nh, bèn thỏa ư giết chóc, chẳng
biết ngầm bị giảm thọ, ngầm bị
đoạt bớt lộc, đọa vào Nê Lê (địa
ngục) sau khi chết, đền bồi đỉnh, vạc
trong tương lai[110],
bị hành h́nh tàn khốc như thế đó. Kẻ giết
người sẽ bị xử tử, ai nấy đều
biết, nhưng kẻ giết con thơ mới sanh của chính ḿnh chẳng
bị tử h́nh, bèn thỏa sức giết chóc, chẳng
biết giết trẻ thơ vô tội cùng một tội với
giết người! Đó
là giáo huấn của Thượng Đế: Tội chẳng
thể trốn, h́nh phạt càng nặng cũng rơ rành rành!
Lành thay quyển sách
của ông Vương Cẩn Phu. Chỉ lấy thánh nhân làm
chuẩn mực, dùng kinh điển của thánh nhân để
so lường th́ gọi là Huấn Từ (訓慈, giáo huấn về ḷng Từ). Bậc
hiền giả đă trước thuật, giúp cho nghị
luận của các vị hiền nhân, th́ gọi là Tuyên Từ
(宣慈, tuyên dương ḷng từ). Không chứng cớ sẽ chẳng tin, dân chẳng tin sẽ chẳng tuân theo. Dùng nhân quả
rành rành để chứng nghiệm, gọi là Chứng Từ
(證慈, chứng minh ḷng từ). Loài vật c̣n nên
thương yêu, há chẳng có ḷng nhân đối với dân?
Nối tiếp dài lâu đạo sanh trưởng, răn nhắc
nghiêm trọng kẻ trấn nước con hay phá thai, gọi
là Bổn Từ (本慈). Bốn điều đều được sao lục
trọn, nhưng tác dụng của Từ rộng lớn.
Do ông ta hỏi “nên đặt tựa đề là ǵ?”, tôi bèn đặt tên cho sách này là Từ
Vô Lượng Tập.
* Lời tựa cho
Sát Sanh Quưnh Giới
Xưa
kia, tôi có Giới Sát Phóng Sanh Văn lưu hành trong cơi đời,
nhất thời các vị quân tử tôn sùng điều thiện
ưa thích lưu truyền, vui vẻ hành theo. Ông Châu Tây Tông
cầm sách Sát Sanh Quưnh Giới (殺生炯戒,
lời răn dạy rạng ngời về sát sanh) do chính ḿnh soạn đến yết kiến tôi, xin viết lời mào
đầu, mà sách rành rành toàn là những điều nhân quả rạng ngời từ các truyện kư
xưa nay, vừa răn dè, vừa khuyên lơn. Đối
với mỗi chuyện, lại c̣n vẽ thành tranh. Hơn
nữa, bài văn tôi viết chỉ là văn, chẳng có
h́nh tượng. Bài viết của tôi có thể khuyên dụ
người biết chữ, chẳng thể khuyên dụ kẻ
không biết chữ. C̣n tác phẩm của ông ta có cả
hai, kẻ trong buồng thêu lẫn đứa trẻ nít mắt nh́n vào, tâm hoảng sợ.
Xưa kia, Trịnh Công Hiệp dâng bức Lưu Dân Đồ
(tranh vẽ dân chúng lưu lạc v́ chiến tranh hay
thiên tai), nói: “Hễ nh́n vào, đủ để
rơi nước mắt”. Nh́n vào sách Quưnh Giới này, nếu
chẳng phải là gỗ đá, ai mà chẳng phát tâm đại
từ bi? Do vậy, sách này giúp cho văn tôi được
lưu truyền, ngơ hầu đến tay nhiều người
hơn. Công đức của Tây Tông vượt xa tôi lắm!
Dập đầu lễ trời, rồng, viết vào đầu
sách!
* Lời tựa cho
sách Tự Tri Lục
Tôi thuở
nhỏ xem Công Quá Cách[111]
của Thái Vi tiên quân, hết sức vui thích, bèn
cho khắc in để thí tặng. Nay
đã ra khỏi cõi tục, hành
cước, lại còn lê la tham học, thỉnh
pháp. Đã quy ẩn nơi hang sâu, mới
chú trọng Thiền tư, chẳng rảnh
chú ý đến chuyện này. Nay đã
già rồi, lại tìm được trong
đống sách lộn xộn, vẫn vui mừng
như cũ, bèn san định
đôi chút, tăng thêm những chỗ chưa
đầy đủ để khắc in lần
nữa. Xưa kia, tiên quân nói “phàm nhân nên
đặt sách này nơi giường
nằm, mỗi tối trước khi ngủ ghi
lại công hay lỗi trong một ngày. Tích ngày
thành tháng, tích tháng thành năm,
hoặc dùng công để đánh giá
lỗi, hoặc dùng lỗi để đánh
giá công, nhiều hay ít đắp đổi cho
nhau, tự biết tội phước, chẳng
cần phải bận tâm cát hay hung”. Nói hết
sức có lý! Người xưa đã
nói: “Con người khổ mà chẳng
tự biết, chỉ biết điều ác
bèn sợ mà thâu liễm. Biết điều
thiện bèn vui mừng, càng gắng
sức. Chẳng biết thì sẽ mặc
tình thỏa chí, luân hãm như cầm thú,
mà cũng chẳng biết [chính mình]
là cầm thú vậy!”
Nay tôi vận tâm nâng bút, khó
dối gạt linh đài[112],
tà chánh khó giấu, khác nào gương
sáng soi hình, chẳng có thầy mà
tự nghiêm, chẳng có bạn mà tự trách,
chẳng thưởng phạt mà khuyên răn,
chẳng bói toán mà biết hướng
theo [điều lành] hay né tránh [hung hiểm],
chẳng do thiên đường hay địa
ngục mà thăng trầm, do noi theo sách đó
mà tự đạt được đạo
ấy khó chi! Do vậy, đổi tên thành
Tự Tri Lục. Sách này kẻ bậc hạ
có được, sẽ cười to, [mong kẻ
đó] xem còn chẳng thể, mong chi họ sẽ
ghi chép [công và lỗi của chính mình]!
Kẻ bậc trung có được, ắt
siêng năng ghi chép. Người bậc
thượng có được, do họ
tự chẳng làm các điều ác,
vâng làm các điều thiện, cho nên ghi cũng
được, mà chẳng ghi cũng
được. Vì lẽ nào vậy? Họ
vốn hành điều thiện, chẳng phải
là mong cầu phước. Vốn
chẳng làm ác, chẳng phải vì
sợ tội. Suốt ngày dứt ác,
suốt ngày tu thiện, ngoài thì chẳng
thấy tướng thiện ác, trong chẳng
thấy cái tâm “có thể dứt, có thể
tu”. Phước còn chẳng nhận, tội
cũng là tánh Không, cần gì phải ghi
chép nữa?
Ngoài ra, nhị bộ
đồng tử, lục trai chư thiên, và vị
được cõi đời gọi là Thai
Bành Tư Mạng, nhật du, dạ du, dữ
tư, đoạt tư, nguyên hội tiết lạp[113]
v.v… la liệt rạng ngời, ở
trước ta, sau ta, bên phải, bên trái ta,
mắt sáng ngời nhìn chòng chọc ta,
nếu như ta chẳng ghi, họ sẽ ghi. Cố
nhiên [những điều họ ghi chép sẽ
tỉ mỉ] như kén tơ dày đặc,
chia chẻ từng điều mảy may. Tuy vậy,
thiên hạ chẳng phải đều là bậc
thượng. Dẫu đều là bậc
thượng, nếu tự biết mà
chẳng ghi, vẫn chẳng đánh mất
tư cách quân tử; kẻ chẳng tự
biết mà chẳng ghi thì nếu chẳng
phải do tối tăm, ương bướng,
chẳng sáng suốt, thì sẽ là vì
cố chấp vậy! Xét theo đó, nhân gian có
thể chẳng ghi chép ư?
Vì thế, nơi
Nho là tứ đoan bách hạnh, nơi Thích là Lục Độ vạn hạnh,
nơi Đạo là “ba ngàn công, tám
trăm hạnh”, đều là nói về
chuyện “tích thiện”. Bọn tự hành xử theo kiểu “bỏ mặc
duyên, tâm niệm như tro tàn” thì chẳng
bàn đến! Nếu như viện cớ
“thiện, ác đều chẳng suy
lường được”, thấy
người siêng năng ghi chép [công, tội của
chính mình], bèn ngạo mạn quở
trách rằng: “Sao lại nhọc nhằn lo
nghĩ về điều ác để làm gì?”
sẽ phạm lỗi chẳng nhỏ! Chao ôi!
Người đời siêng gắng trong
vòng ngũ dục, nhọc nhằn tinh thần suy
tính suốt cả đời chẳng ngại
phiền, nhưng lại riêng thấy phiền phức
trong khoảnh khắc trước khi ngủ,
chẳng uốn nắn tâm tánh, cũng mê
hoặc lắm thay! Siêng năng ghi chép, ba
lượt phản tỉnh, đêm ắt trình
cáo với trời, cho đến dùng
đậu đen, đậu trắng [để ghi
lại lầm lỗi hay điều thiện], bậc
hiền trí thực hiện chẳng bỏ,
viết lại thì há có lỗi gì vậy?
* Lời tựa khắc
in sách Tục Pháp Hỷ Chí của cư sĩ Băng Liên
Phàm
phu coi dục là vui, dục nhiều bèn sanh chán. V́ sao? Vui
sướng trong cơi đời vô thường, khó thể
liên tục. Người trí lấy pháp làm vui, pháp càng rộng,
vui càng sâu, v́ sao? Niềm vui chân thường, do có cơ sở
là tánh phận liên tục, chẳng có cùng tận! Cư
sĩ Băng Liên thoạt đầu đưa bốn quyển
Pháp Hỷ cho tôi xem, tôi cho khắc in lại. Sau đó, ông lại
có bốn quyển nối tiếp, xin tôi để lời
răn, tôi tùy hỷ chẳng mệt mỏi mà viết rằng:
“Chí ấy há chỉ nối tiếp bốn quyển trong hiện
thời mà thôi. Trăm ngàn đời sau, trong thuở ấy
sẽ chẳng thể thiếu người nghe pháp, tâm vui
sướng, tích tụ thành trăm ngàn quyển, sao có thể
tính số lượng được?” Như cư sĩ
gởi thân trong cơi Dục, thần thức vui sướng
nơi hang pháp, chẳng v́ một thân vui sướng, hay vui
sướng một thuở, mà v́ thiên hạ đời sau
cùng vui sướng. Dụng tâm ấy cũng trọn khắp
vậy! V́ thế, pháp vô tận, hỷ vô tận, tiếp nối
vô tận, công đức của cư sĩ cũng vô tận.
* Lời tựa cho
Vô Huyễn Thiền Sư Ngữ Lục
Cố
nhiên tôi chẳng phải là kẻ biết Thiền, nhưng
đối với các thứ như thăng đường,
nhập thất, dạy chúng, tiểu tham, cho đến
niêm đề, tán tụng, đủ loại trước
thuật, phân loại biên tập thành sách, tôi chưa từng
chẳng trang nghiêm đọc tụng, vui thích nghiền ngẫm.
C̣n như ư chỉ uyên áo, cơ duyên tinh vi, thông huyền nhập
yếu, chủ khách đổi vai tṛ cho nhau, người và
cảnh đoạt lẫn nhau, sáng tối xen nhau, giết,
sống tự tại, vượt ngoài nẻo nghĩa, siêu
việt t́nh kiến suy lường, tôi là kẻ trí hèn tệ
chẳng thể suy lường, hiểu biết được,
chẳng dám hư vọng nói leo. Do thiền sư Vô Huyễn
Cổ Trạm tạ thế, môn nhân sao lục lời thầy
tạo thành sách, sắp đem khắc in để lưu
truyền, xin tôi viết lời tựa. Tôi chưa biết
mặt thiền sư, nhưng may mắn được thấy
di ngôn của thiền sư cũng giống như đă gặp
mặt. Chắp tay dâng hương, viết lời này để
đặt ở đầu sách.
* Lời tựa cho
hai bộ sách Nhàn Đàm và Văn Thoại của thiền
sư Huyễn Hữu
Xưa
kia, tôi tham yết ḥa thượng Tiếu Nham ở kinh
đô, huynh Huyễn Hữu hầu bên cạnh thầy. Hiềm
rằng tôi do bệnh phải đi ké thuyền chở
lương về Nam, nhưng huynh Huyễn Hữu hầu
ḥa thượng lâu nhất, đă trải trọn khắp
các phương, về dưỡng lăo tại Long Tŕ. Xét tôi
suy yếu, già nua, nằm bệnh trong hang sâu, tự thoi thóp
dưỡng thân c̣n chẳng xong, huynh Huyễn Hữu mới
cảm khái, lấy chuyện “dựng pháp tràng, lập
tông chỉ” làm trách nhiệm của chính ḿnh, bươn
bả ngàn dặm, để lại cho tôi hai bộ sách Nhàn
Đàm và Văn Thoại, căn dặn viết lời tựa.
Người xưa nói “dẹp trừ lời lẽ tạp
loạn”, nhưng hai bộ sách này ra rả những lời
thiết yếu, há những lời lẽ thừa thăi
được như thế ư? Đấy chẳng phải
là do ḷng từ bi mà có lời đàm luận chẳng theo
khuôn khổ như thế ư? Ngài Đức Sơn lại
nói: “Tối nay chẳng trả lời, kẻ thưa hỏi
bị phang ba mươi gậy”. Đấy là suốt
đêm phẩy phất trần vùn vụt,
đối đáp quên mệt, chẳng khác biệt Đức
Sơn cho mấy? Tức là nói lời đáp của Đức
Sơn như sấm, mà Huyễn Hữu chẳng nói một
chữ cũng được. Thầy Tiếu Nham đă
đi rồi, môn đ́nh có người, tôi do may mắn ǵ
mà được thấy sự hưng thịnh ấy!
* Lời tựa cho
Trực Đạo Lục
Luận Ngữ nói: “Tư dân dă, tam
đại chi sở dĩ trực đạo nhi hành dă”
(Dân chúng trong thời tam đại (Hạ, Thương,
Châu) được như thế là do họ
hành theo đạo công chánh, thẳng thắn). Lại nói: “Nhân
chi sanh dă trực” (Con người phải nên sống
chánh trực). Lại nói: “Cổ chi ngu dă trực” (thời
cổ, kẻ ngu cũng chánh trực). Lẽ sống vốn
thẳng thắn, tức là bất luận kẻ hiểu
biết hay ngu muội, đều được soi rạng
bởi điều ấy. Đó là cái tâm của người
dân thời Tam Đại, là đạo chánh trực, mà
cũng là cái tâm của dân thời Vô Hoài và Cát Thiên Thị thời
thái cổ, là trực đạo, đó cũng là cái tâm của
người dân từ trời Quang Âm [giáng xuống nhân gian] kể từ
thuở kiếp sơ cho đến nay. Dẫu muốn cong
vẹo, cũng chẳng thể được! Đối
với những chuyện thượng, hạ, xưa, nay,
những điều được ghi chép trong sử, truyện,
hoặc mắt thấy, tai nghe, từ trong trăm ngàn
điều, tôi trích lục một, hai điều. Hoặc
là đối với những điều cùng được
mọi người ca ngợi, tán thưởng mà chẳng
biết là sai, tôi bèn hạ thấp. Hoặc là những
điều cùng bị thiên hạ đả kích, chê gièm, mà
chẳng biết là đúng, tôi sẽ đề cao. Đối
với điều được đề cao, chẳng
dám nịnh bợ; c̣n đối với điều
được chèn ép, chẳng dám t́m lỗi từ chỗ
không có lỗi để bắt bẻ. Tâm của người
dân là trực đạo (đạo chánh trực, thẳng
thắn), đại để là từ ngàn xưa đă
như thế đó. Nếu coi [những điều
được nêu bày trong tập sách này] là đúng, chỉ
có bậc hữu đạo ấn chứng. Nếu chẳng
đúng, mong sẽ có người chỉ bảo cho tôi!
* Lời tựa cho
Trúc Song Tam Bút
Cổ nhân có
Dung Trai Tùy Bút[114],
tôi phỏng theo, bên song cửa sổ bằng tre, những
lúc có
cảm nghĩ, bèn ghi lại; có lúc có
những điều trông thấy, bèn ghi lại.
Từ lần đầu tới lần thứ
hai, đã thành hai quyển. Nay đang độ
tám mươi, khá biết bảy mươi
chín năm trước sai trái, tự
nhận biết cái tâm chưa lặng yên. Hiềm
rằng đã gieo mình vào Lạc Sanh
Đường từ lâu, chẳng thể siêng
năng nối gót cụ Triệu Châu. Do vậy, một
chõng đi khắp ngàn non, trong khoảnh
khắc thần thức dạo trăm
đời. Những gì cảm nghĩ, trông
thấy [được ghi lại] qua năm tháng
tích lũy, bỗng dưng lại thành một
quyển. Tuy là nói Đông, nói Tây, khách
hỏi, chủ đáp, đủ loại khác nhau,
chủ yếu quy vào chỉnh đốn hạnh môn,
bình trị tâm địa mà thôi! Những chuyện
khác như chuyện trong Thế Đế,
chẳng liên quan tới pháp hóa, vô ích
cho sự tấn tu, thì chẳng rảnh
nhắc tới! Ôi! Tôi già rồi! Sao không
giữ im lặng như cái túi thắt
miệng, bình đậy nắp, mà cứ quang
quác dường ấy? Ôi! Tôi già rồi,
mặt trời xế, trăng tà, còn
được mấy chốc? Chẳng nói
lúc này, còn đợi khi nào nữa?
Nếu có lợi cho dân, cho vật, bận tâm chi
những điều khác? Do vậy, lại nâng
bút.
* Lời tựa cho
Ngạn Mô Khúc Điển
Lời
nói thuộc Thế Đế hễ phù hợp Thật
Tướng, dẫu là lời lẽ của kẻ cắt
cỏ hay tiều phu, đều được thánh nhân chọn
lấy. V́ thế, vua Vũ lạy khi nghe lời nói tốt
lành, vua Thuấn suy xét những lời dẫu thiển cận,
thông tục. Lạy v́ được nghe lời nói tốt
lành th́ dễ, chứ suy xét những lời thiển cận,
thông tục sẽ khó hơn! Những điều bị
người khác coi thường, vua Thuấn đều xem
xét. Do vậy, vua được gọi là “bậc
hiểu biết rộng lớn”. Bầy tôi mưu trí sau khi t́m
được trâu bèn gặp
chủ nhân, nạp tăng do đăy cơm mà hiểu
cái tâm. Chẳng bắt buộc phải là kinh điển của
thánh nhân, truyện kư của hiền nhân, chữ gấm sách
ngọc [mới là đáng quư. Dẫu là những lời thô
lẽ cạn], cốt sao lợi ích người khác mà thôi!
C̣n như diễn xướng tuồng tích, dư âm của
cổ thi, cổ nhạc phủ[115]
thịnh hành vào đời Nguyên, lưu thông cho đến
ngày nay, văn nhân trí huệ cũng như kẻ tầm
thường hoặc đứa trẻ đều cùng ngâm
ngợi, ngầm xúc cảm. Hiềm rằng những từ
ngữ dâm đăng, bỉ
ổi xen tạp vào đó, người ta chỉ dùng đó để
nâng bầu chuốc chén, cùng nhau cười đùa, chẳng biết suy xét ngược lại
để đạt tới sự ḥa hợp, bị vây hăm
mà gảy đàn, ngày khóc lóc sẽ chẳng ca[116].
Ca hát cố nhiên là chuyện thường nhật chẳng
phế bỏ của Tuyên Ni (Khổng Tử). Tôi bèn trích lấy những thứ giúp ích cho phong hóa, chia
đại lược thành ba khoa: Một là trung hiếu tiết
nghĩa, hai là cảm khái bi ca, ba là cảnh tỉnh, cảnh ngộ giải thoát, ngơ hầu gián tiếp tác động,
cũng là “dùng âm thanh làm Phật sự” trong thế giới
Sa Bà, là một trong các đầu mối nhằm “trước
hết dùng dục để lôi kéo, sau là khiến cho nhập
Phật trí”. Ôi! Kẻ ôm bệnh trầm kha suốt bảy
năm, chờ ngưu hoàng nơi họng ḅ, cắt gan nơi bụng trăn, nhặt vân mẫu
(mica) nơi hang thẳm Quảng Liên, đào không thanh[117]
nơi mỏ đồng Việt Tuy, để đạt
được [những thứ ấy] sẽ khó khăn
khôn cùng, nhưng chữa bệnh thấy ngay rành rành trước
mắt. Đối với người được gọi
là “chữa bệnh giỏi” thời cổ, khắp cơi
đất đều là thuốc tốt lành. Lời giáo huấn
quư báu hằng ngày được thuật nơi chợ ồn
ào, kim cáo (金誥, cáo thị của triều đ́nh) lúc nào cũng
được truyền bá tại lê viên (rạp tuồng),
ǵ là thô thiển? Ǵ là thanh nhă? Do vậy, tôi coi những lời lẽ đó như kinh điển.
14.1. Các lời bạt (được
khắc in rải rác đều thâu thập thêm vào di cảo)
* Lời bạt cho
Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh
Bản Đại Di
Đà Kinh được lưu truyền trong
cõi đời do cư sĩ Vương Long Thư
(Vương Nhật Hưu) dung hội kinh văn từ
bốn bản dịch mà tạo thành. Bốn
bản dịch là:
1) Bản dịch của
ngài Ca Lâu Chi Sấm đời Hán, tên là Vô
Lượng Bình Đẳng Thanh Tịnh
Giác Kinh.
2) Bản dịch của
ngài Khang Tăng Khải đời Tào Ngụy,
tên là Vô Lượng Thọ Kinh.
3) Bản dịch
của ngài Chi Khiêm đời Ngô tên là A Di
Đà Kinh.
4) Bản dịch
của ngài Pháp Hiền đời Tống tên
là Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh.
Còn bản dịch
kèm thêm của ngài Bồ Đề Lưu Chí
trong kinh Bảo Tích có tựa đề là
Vô Lượng Thọ Như Lai Hội thì cư
sĩ chưa dùng đến. Cư sĩ hội
tập bốn bản dịch, lời lẽ đơn
giản, nghĩa chu đáo, từ ngữ thông
thuận, lý hiển lộ,
quả thật rất hữu công đối
với Tịnh Độ. Tiếc là trong ấy
có những chỗ chưa ổn. Chẳng
hạn như bốn mươi tám nguyện, chẳng
thể không một phen chỉnh đốn. Bởi lẽ,
bản dịch đời Hán chỉ nêu ra hai
mươi bốn nguyện. Bốn mươi tám
nguyện khởi đầu từ bản dịch
đời Ngụy, hai vị Pháp Hiền và
[Bồ Đề] Lưu Chí cũng dịch
giống như thế. Bản
dịch đời Ngô giống như bản
đời Hán, cũng là hai mươi bốn
nguyện. Nhưng bốn mươi tám nguyện
xưa nay được lưu thông, đương
nhiên là nên noi theo bản dịch đời
Ngụy. Hiềm rằng cư sĩ trần thuật
lời nguyện, đem so với bản dịch
đời Ngụy, [thì cư sĩ] hoặc
đem nguyện trước xếp ra nguyện sau,
hoặc đem nguyện sau xếp ra trước,
thứ tự rối ren. Nếu đem so
với ba bản dịch kia, cũng đều
chẳng ứng hợp! Phàm dịch kinh,
ắt phải dựa theo bản tiếng Phạn,
cư sĩ dựa vào bản tiếng Phạn
nào mà đổi thứ tự khác
đi? Theo Lý thì tuy dường như
chẳng trở ngại gì, nhưng đối
với pháp tắc dịch thuật, hết
sức chẳng phù hợp. [Do vậy, tôi]
dùng bản dịch đời Ngụy sao lại
để đem khắc in, ngõ hầu
người đời sau biết có cổ
văn tồn tại. Hơn nữa, trong bản
dịch đời Ngụy, đối với ba
bậc vãng sanh đều nói là “phát
Bồ Đề tâm”, cư sĩ lại chỉ ghi trong
bậc trung là có [phát Bồ Đề tâm],
bậc hạ bảo “chẳng phát”, bậc
thượng lại chẳng có lời
văn [nhắc đến chuyện ấy], hoàn
toàn thiếu sót, sai khác, chẳng rõ do
ý gì? Cư sĩ thần thức ngao du cơi báu,
thân đã nhập dòng thánh, ắt là
tâm đã quên, lòng rỗng rang chẳng ngại,
kẻ hèn này do lòng trung khẩn thiết, mong
hãy xét cho!
* Lời bạt cho
bản kinh Pháp Hoa do Đổng Huyền Tể chép
Đổng
Thái Sử[118] v́ cha mẹ mà chính
tay chép Diệu Pháp Liên Hoa Kinh bảy quyển, đưa cho
tôi xem. Tôi nhớ sách khuyến thiện nói: “Có người
vào cơi âm, thấy các vua và hàng quan lại nơi minh phủ
coi trọng nhất là hai kinh Kim Cang Bát Nhă và Diệu Pháp Liên
Hoa”. Phàm giáo pháp suốt một đời của Như
Lai, cho tới thời Bát Nhă quét sạch các tướng, sau
đấy mới quy hội vào Thật Tướng của
Nhất Thừa Pháp Hoa. V́ thế, Pháp Hoa là chỗ chung cục
hoàn thành của thánh đạo. Thái Sử trước
đó đă chép Kim Cang Bát Nhă, nay lại chép kinh này, dựa
vào sức công đức to lớn ấy, để truy tiến
người đă khuất trước, há chỉ chẳng
trầm trệ nơi đường âm, mà c̣n ắt sẽ
vượt lên cơi tịnh. Huống hồ vận dụng
tinh hoa nơi ng̣i bút thần diệu, hiển lộ Phật
trí rất sâu, căn bản là ḷng hiếu thảo đau
xót suốt đời đối với ân lồng lộng;
đó là ba điều tuyệt diệu, là của báu bí mật
xưa nay!
* Lời bạt cho
bức thêu kinh Pháp Hoa (ông Hiếu Liêm họ Bao xin ghi lời bạt)
Người
xưa nói “kim cang nhăn chuẩn mực, lăo luyện nơi
ng̣i bút”, nào ngờ ngày nay chánh pháp nhăn tàng Nhất Thừa
Thật Tướng lại ở trên mũi kim chốn khuê
pḥng. Cư sĩ dùng chuyện này để trang hoàng đại
đạo của bậc thánh nhân, ḷng hiếu cũng to lớn
thay! Dùng cỏ cây để vẽ tượng, kinh c̣n bảo đó là cái nhân cội rễ để
thành Phật, huống hồ thêu thùa thành kinh văn, há chẳng
phải là pháp cúng dường chân thật ư? Cư
sĩ hăy coi đó là của báu nhé!
* Lời bạt cho
Phật Di Giáo Kinh Luận Sớ Tiết Yếu
Đức
Phật nói: “Ngô ngôn như mật, trung biên giai điềm”
(lời ta nói như mật, ở chính giữa hay ngoài ŕa
đều ngọt). Lại nói: “Trị thế ngữ
ngôn, giai tức Thật Tướng” (lời lẽ b́nh
trị cơi đời đều chính là Thật Tướng).
Do vậy, Tam Tổ (Tăng Xán) nói “đạo tột cùng chẳng
khó khăn, chỉ hiềm chúng sanh dấy phân biệt, chấp
trước mà lấy hay bỏ”. Người hiện thời
chuộng huyền diệu, đối với giáo pháp trong
Đại Tạng, hễ kinh nào đàm luận sâu về
Lư, sẽ tranh nhau truyền tụng, c̣n đối với
chỗ b́nh dị, gần gũi, hoặc là coi thường,
khác nào chọn lựa mật ở chính giữa hay ngoài ŕa,
chẳng phải là thấy Thật Tướng chẳng trọn
khắp ư? Than ôi! Lời căn dặn tối hậu
dường như c̣n vẳng bên tai, khắc cốt tạc
dạ ḥng cùng báo ân. Do vậy, bèn khắc in Di Giáo.
* Lời bạt cho bản kinh
Địa Tạng dịch vào đời Đường
(tỳ-kheo Tánh An xin ghi lời bạt)
Kinh
Địa Tạng do ngài Thật Xoa Nan Đà[119]
dịch vào đời Đường, c̣n bản hiện
thời th́ người dịch là ngài Pháp Đăng và Pháp
Cự, nhưng chẳng ghi thời đại, chẳng ghi
quê quán [của dịch giả], chẳng thể khảo sát
trong Đại Tạng được. Tuy sai khác chi tiết,
nhưng đại thể tương đồng, đối
với lư cố nhiên chẳng tổn thương ǵ, mà
được khảo sát, lưu truyền, tin tưởng,
ắt có căn cứ. Tỳ-kheo Tánh An vâng theo chí của
người trước bèn khắc in bản dịch đời
Đường
để thay thế, tường
tận, đầy đủ như [đă ghi trong] lời
tựa của quan trủng tể họ Lục vậy. Chắc
có người nói kinh này ra rả nêu nhân quả của chúng sanh và danh
tướng địa ngục, chẳng có huyền luận,
chẳng đáng làm tai mắt mới mẻ cho cơi đời,
việc ǵ phải tốn công giảo định? Ôi! Vải
thô, lúa, bắp,
lúc b́nh thời chẳng bằng minh châu, nhưng năm mất
mùa sẽ thành chí bảo. Cứu năm đói kém trong thời
Mạt Pháp, có thể thiếu kinh này được ư?
Nếu như chúng sanh đắc độ hết th́ mới
chứng Bồ Đề; địa ngục chưa trống
thề chẳng thành Phật. Người căn cơ bậc
thượng thăm ḍ lẽ huyền, hăy thử suốt
đời nếm trải thử xem.
* Lời bạt khắc
chung phẩm Hạnh Nguyện và kinh Di Đà
Khắc
gộp chung hai kinh là v́ lẽ nào? Ấy là v́ phẩm Hạnh
Nguyện có thể đại diện cho toàn bộ đại
kinh Hoa Nghiêm, trong ấy nói: “Nguyện mạng chung thời,
ư An Lạc quốc, liên hoa hóa sanh, diện kiến Di
Đà, thọ kư tác Phật” (Nguyện lúc mạng chấm
dứt, sẽ hóa sanh trong hoa sen nơi cơi An Lạc, tận
mặt thấy Phật Di Đà, được thọ kư
làm Phật). V́ thế, đặc biệt kết hợp
thành một quyển; nguyện khắp pháp giới chúng sanh
tin nhận, phụng hành, sanh trong ao sen báu thuộc duy tâm Hoa
Tạng, thấy vô lượng thọ nơi bổn tánh Xá
Na, tu Tu Đa La viên măn tứ tự (Tín, Giải, Hành, Chứng),
thập huyền, chứng Vô Thượng Đẳng Chánh
Giác nơi chín phẩm Nhất Thừa.
* Lời bạt giảo
chánh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Đa
Bản hiện thời
của kinh Kim Cang Bát Nhă có ba mươi hai phần, chứ
bản trong Đại Tạng chẳng có [phân khoa thành ba
mươi hai phần như vậy]. Những người khắc
in trong thời gần đây phần nhiều bỏ cách
chia thành từng phần. Chắc có người nói: “Ba
mươi hai phần đă quen tuân theo lâu ngày, ngài Trung Phong
giải thích đại lược cho Triệu Tùng Tuyết,
cũng vẫn theo cách chia đoạn ấy”. Có người
bảo: “Hai vị Bồ Tát Thiên Thân và Vô Trước có thuyết
mười tám trụ, hai mươi bảy nghi, đại
để chọn theo ư của hai vị ấy để sử
dụng”. Ngu ư cho rằng người giảng giải hăy
nên tuân theo ư của hai vị Bồ Tát đă định,
c̣n như thọ tŕ, đọc tụng, th́ do đă bỏ
cách chia phần, sao bằng trụ và nghi cũng đều
gác lại chẳng dùng, chỉ giữ nguyên chánh văn là
được! Lại c̣n trong các kinh bổn, câu, chữ cũng có so le, chẳng
phải là vạch cùng một lối, người học
chê trách. Các vị Tưởng Mậu Chiết và Tưởng
Mậu Hiến in lại kinh này nhằm báo ân vơng cực,
nhiều lượt xin tôi giảo chánh, do đó bèn ghi vào cuối
sách.
* Lời bạt cho
kinh Phạm Vơng (cư
sĩ Tiền Ngưỡng Sơn xin ghi lời bạt)
Cổ
nhân nói toàn thể kinh Phạm Vơng có một trăm mười
hai quyển, gồm sáu mươi mốt phẩm. Nay chỉ
c̣n một phẩm Tâm Địa chia thành thượng và hạ,
phần hạ trần thuật cặn kẽ giới tướng.
Trước là mười giới trọng, kế đến
là bốn mươi tám giới khinh, gọi là Bồ Tát giới.
Do giới ấy chung cho tăng lẫn tục, vua tôi, phàm
thánh chúng sanh đều cùng bẩm thọ. Nay Khai Nguyên trùng tu giới đàn
xưa, đổi mới rạng ngời, sắp khắc
kinh này đặt trước giới đàn, ḥng làm khuôn mẫu
vĩnh viễn cho hậu học. Các vị như Ngưỡng
Sơn cư sĩ Tiền Quảng Chiếu v.v… đến
xin tôi viết mấy lời. Tôi cho rằng quan Bí Các[120]
Trương Tư đă từng trần thuật tường
tận ở đầu kinh, từ ngữ khéo léo, mà ư hết
sức thiết tha. Tôi c̣n ǵ để nói nữa. Hăy nên khắc
lại bài văn ấy, c̣n lời của tôi th́ để ghi năm tháng ở cuối sách.
* Đề từ
cho Long Thư Tịnh Độ Văn
Con
trưởng của cư sĩ Nghiêm Thiên Tŕ ở Hải
Ngu là Phác, từ bé đă sẵn có bẩm tánh cẩn trọng,
sốt sắng, giữ vẹn luân thường, chuộng
điều lành, kiêng giết, phóng sanh, tu các thứ hạnh
tốt đẹp, mất vào lúc hai mươi lăm tuổi.
Trước hôm Phác mất một ngày, cư sĩ nói: “Con
trong lúc này đừng suy nghĩ xen tạp, chỉ nhất
tâm niệm Phật”. Phác đáp lời: “Vâng ạ!” Ông lại
bảo: “Con nhớ chuyện ba người sanh về
Đâu Suất hay không? Nếu sanh về An Dưỡng, xin
hăy báo cho ta biết”. Phác thưa vâng. Ông lại nói: “Từ
nay ta cũng nhất tâm niệm Phật”. Phác hoan hỷ nói:
“Đúng như thế th́ nay con chẳng lo lắng nữa!”,
vẻ mặt đoan nghiêm, chắp tay qua đời. Ông xem
lại rương di vật của con, t́m được
một bản khắc Long Thư Tịnh Độ, bèn
đem in để thí tặng, ḥng giúp cho con văng sanh. Châu Hoằng
nói: “Phác đă qua đời, có hai nỗi nghi: Đáng phải
thọ mà chẳng thọ, đó là điều thứ nhất.
Đáng nên báo mà chẳng báo tin, đó là điều thứ
hai. Thọ hay yểu thuộc về duyên trước.
Người có ḷng nhân sẽ thọ. Không ai có ḷng nhân
như Nhan Hồi, nhưng Nhan Hồi lại chết yểu.
Lại c̣n đối với chuyện văng sanh, chẳng báo
tin, há có hại ǵ? Cứ khăng khăng đ̣i báo chính là
phương cách ứng xử của quỷ thần vậy.
Chỉ tin vào lời Long Thư, c̣n nghi chi nữa?”
* Lời bạt cho
bộ Vân Thê Lan Nhă Chí của cư sĩ Chân Thật
Đại
Tư Thành[121] Phùng công soạn tự
chí cho Vân Thê, chưa hoàn tất, con trưởng là Quyền
Kỳ viết sau sách: “Đây là bản thảo của
tiên quân, muốn hoàn tất nhưng chưa xong, những
điều đáng nói chưa nói, may được các vị
đại đức trong nước châm chước mà
c̣n”. Ngu tôi cho rằng dẫu chưa xong cố nhiên chẳng
có hại ǵ, ví như kinh Hoa Nghiêm chỉ có tám mươi
quyển, văn chưa đủ mà ư đă trọn.
Nhưng hai câu “ngờ rằng Sư có lẽ chẳng tiếp
nối Tông từ phương Tây đến, chỉ hoằng
dương giáo pháp về Tây”, ông đă cất bút nêu ra, nhưng chẳng nói rộng thêm, sống động
lắm! Nay chẳng cần phải nối đuôi, chỉ
thỉnh các phương và nơi này buông một câu chuyển
ngữ.
* Viết sau bộ
Tịnh Độ Hội Ngữ (Tô Quận đem hai lá thư trả lời
ông Tào Lỗ Xuyên gộp chung lại để in, gọi là
Tịnh Độ Hội Ngữ)
Lỗ
Xuyên sùng thượng kinh Hoa Nghiêm, tâm rất nhiệt thành,
tôi vốn chẳng muốn biện luận, nhưng do
đề cao Hoa Nghiêm mà chèn ép Tịnh Độ, đă chèn
ép lại chèn ép hơn, chèn ép ngặt nghèo chẳng ít, chẳng
thể không biện định! Lô Xá Na, Thích Ca, Di Đà,
đồng mà khác, khác mà đồng. Lỗ Xuyên đă biết đối với đồng và dị chẳng thể
thiên chấp, nhưng lại khăng khăng chấp là
khác, lại c̣n coi thường, rẻ rúng. Tự gánh vác Hoa
Nghiêm, chẳng nên như thế; đó là một điều đáng
nghi.
Phổ Hiền là
trưởng tử trong hội Hoa Nghiêm. Phẩm Hạnh Nguyện có mười
đại nguyện vương hướng dẫn về
Cực Lạc, mà [Lỗ Xuyên] lại
nói “Hoa
Nghiêm chưa từng nhắc đến Tây Phương”, có
được hay chăng? Tự gánh vác Hoa Nghiêm, chẳng
nên như thế; đó là hai điều đáng nghi.
Nhập Hoa Nghiêm pháp
giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, ắt
đối với cô Bà Tu Mật Đa và vua Vô Yếm Túc thảy
đều tham yết, thỉnh pháp, thế mà chẳng thân
cận Di Đà vạn đức. Âm thanh của đồng
tử Chúng Nghệ không ǵ chẳng diễn xướng, mà
lại xấu hổ v́ xưng niệm bốn chữ danh
hiệu cao đẹp. Tự gánh vác Hoa Nghiêm, chẳng nên
như thế; đó là ba điều đáng nghi.
Nghi ǵ vậy? Nghi Lỗ
Xuyên thông Hoa Nghiêm, nhưng dường như chẳng thông
suốt cho lắm, cho nên chẳng thể không biện định!
Huống hồ Phật do ḷng đại từ, nghĩ
thương xót thời Mạt, nói pháp môn Tịnh Độ
này. Lỗ Xuyên tận lực bài bác, chỉ sợ ông ta chẳng
ngộ nhập Hoa Nghiêm, mà cũng chẳng được
sanh về Tịnh Độ. Hai đằng đều mất,
khiến cho người khác bị lầm lạc chẳng nhỏ,
cũng chẳng thể không biện định.
* Lời bạt cho
Tịnh Độ Nghi Biện
Cư
sĩ Vi Hưu giảng đạo học tại Tĩnh
Giang, có phong thái của Vũ Thành Huyền Ca[122].
Ông đă cáo quan, dùi mài tinh ṛng nơi Hoa Nghiêm, cho khắc phạn
bổn thành phương sách để đọc và học,
lại c̣n tán dương rộng răi Tịnh Độ, khắc
in sách Tịnh Độ Nghi Biện do tôi soạn ḥng
lưu thông rộng răi. Cụ đă dốc chí nơi mười
huyền môn, thần thức gởi nơi tịnh vực,
có thể nói là khế nhập sâu xa Phổ Hiền nguyện
vương, khéo nhập biển tánh Tỳ Lô. Tiếc là cụ
mất sớm, chẳng để Tào Lỗ Xuyên gặp gỡ.
* Viết sau Phóng
Sanh Quyển
Ba
mươi lăm năm trước, tôi đã
viết: “Sanh nhật chớ nên sát sanh”.
Tuổi năm mươi, soạn kệ nói: “Sanh
nhật chớ nên ăn mừng”. Nay đã
mười phen nóng lạnh đắp
đổi, tròn sáu mươi rồi. Các
vị quân tử biết tôi, lại hết sức
yêu mến tôi, chẳng xếp đặt lễ
lạc mà dùng phóng sanh để mừng
sanh nhật. Chắc có người nói:
“Không sát sanh thì được rồi, sao
chẳng mừng sanh nhật?” Ôi, mừng sanh
nhật như thế tức là mừng vạn
vật được sanh thành. Tôi chỉ
sợ rằng người khác chẳng
mừng vạn vật được sanh thành!
Chắc có người nói: “Chim chưa
duỗi cánh, người bắn đợi
sẵn trong rừng. Cá chưa dương vây,
kẻ đánh cá đã đầy bãi. Tuy
nói là giúp cho nó sống, thật ra là hại
cho nó chết! Kẻ ác còn đó, sao
có thể phóng sanh?” Ôi! [Chim] bay liệng trên không,
[cá] vào trong vực, được sống
sót chẳng biết là bao nhiêu. Lại
vướng vào lưỡi câu hay mũi tên,
trăm phần chưa được một,
mới rơi vào tay thợ săn,
đợi đầu bếp nấu nướng,
đoan chắc sẽ vào bụng của kẻ tham
ăn. [Nay những con vật bị bắt]
đành chịu nép mình nơi cửa chết,
bỗng được giải cứu, tuy chưa bảo
đảm kết cục [tốt lành] cho chúng,
nhưng thoát khỏi dao, búa, trốn khỏi
chảo, vạc, ví như sắp bị hành
hình mà được xá tội, nỗi
niềm vui sướng ấy là như thế
nào?
Hơn nữa, ca
múa nơi Tây Hồ, suốt năm chẳng có
lúc nào ngơi. Giả sử các vị quân
tử Xuân hoa, Thu nguyệt, sáng tiệc tùng,
chiều tụ họp, hễ nâng đũa là vạn
đồng, nếm thức
ăn là cả ngàn mạng, nay
đổi thứ tanh tưởi thành rau
dưa, chuyển giết thành sống, so sánh
lẽ được mất, khác nào
trời với đất? Chẳng nói
đó là hành vi thù thắng, tôi
chẳng tin! Do vậy, bèn ngâm vịnh, ghép
vào sau Phóng Sanh Quyển. Có bài từ
rằng:
- Thượng
đế hiếu sanh, dân hèn tổn hại sanh
vật. Bỏ tiền phóng sanh. Tham tiền bắt
sanh vật. Do hai niệm sanh, nên có chúng sanh. Sanh vô
sở sanh, cũng chẳng năng sanh, vô sanh
bất sanh, gọi là phóng sanh.
Vân Thê Pháp Vựng
Phần 5 hết
[1] Tăng-già-lê
(Samghāti), c̣n gọi là Đại Y, Trùng Y, Tạp Toái Y,
Cao Thắng Y, tối thiểu là chín điều, nhiều
nhất là hai mươi lăm điều (Điều là từng
miếng vải cắt rời, khâu chằm lại). Phổ
biến nhất là loại Tăng-già-lê hai mươi
lăm điều, cho nên hễ nói tới Tăng-già-lê th́
người ta thường chỉ nghĩ đến y hai
mươi lăm điều. Tăng sĩ thường
đắp y Tăng-già-lê khi vào thành khất thực, khi thuyết
pháp, hoặc vâng chiếu vào cung vua, hoặc khi làm những
pháp sự quan trọng.
[2] Ngũ Tổ Hoằng
Nhẫn (602-675) là tổ thứ năm của Thiền Tông
Trung Hoa. Sư là người ở xứ Hoàng Mai, huyện
Tầm Dương (nay là huyện Cửu Giang, tỉnh Giang
Tây). Có thuyết nói Sư là người Kỳ Châu (nay là huyện
Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc). Khi lên bảy tuổi,
Sư theo xuất gia với Tứ Tổ Đạo Tín tại
chùa Đông Sơn núi Hoàng Mai Song Phong thuộc Kỳ Châu,
nghiên cứu tột cùng ư chỉ Đốn và Tiệm,
được truyền tâm ấn. Khi ngài Đạo Tín nhập
diệt vào năm Vĩnh Huy thứ hai (651) đời
Đường, Sư bèn kế thừa y bát, được
cơi đời xưng tụng là Hoàng Mai Ngũ Tổ.
Năm Hàm Thuần thứ hai (671), Tổ truyền y bát cho
ngài Huệ Năng. Theo thiền phổ, từ Sơ Tổ
cho đến Ngũ Tổ, kinh điển căn bản
để truyền thừa Tâm Tông là kinh Lăng Già, từ
Lục Tổ Huệ Năng trở đi, do Lục Tổ
đắc ngộ bởi kinh Kim Cang, và được
Ngũ Tổ truyền tâm ấn bởi kinh Kim Cang, mới
dùng kinh Kim Cang làm kinh điển căn bản để ấn
chứng của Thiền Tông. Sau khi Ngũ Tổ mất,
Đường Đại Tông truy tặng thụy hiệu
cho Ngũ Tổ là Đại Măn
Thiền Sư. Hiện thời c̣n lưu truyền cuốn
Tối Thượng Thừa Luận được coi là
trước tác của Ngũ Tổ, nhưng nhiều học
giả nghi ngờ đây là tác phẩm của người
khác mạo danh Tổ.
[3] Lục kinh: Sáu kinh
chánh yếu của Nho giáo, tức Thi, Thư, Lễ, Dịch,
Xuân Thu, Nhạc. “Chư tử” chỉ các triết gia
thời Tiên Tần (thời kỳ trước khi Tần
Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, thống nhất
Trung Nguyên), tức Lăo Tử, Khổng Tử, Trang Tử, Mặc
Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Quản Tử, Cáo Tử
v.v…
[4] Bát bộ quỷ thần,
c̣n gọi là Thiên Long Bát Bộ, Long Thần Bát Bộ, hoặc
chỉ gọi gọn là Bát Bộ, là từ ngữ chỉ
chung các vị thần hộ pháp, gồm tám loại lớn:
Thiên (Deva), Long (Nāga: rồng), Dạ Xoa (Yaksa), Càn Thát Bà
(Gandharva: Hương thần hoặc Nhạc Thần), A Tu
La (Asura), Khẩn Na La (Kimnara: Ca Thần), Ca Lâu La (Garuda: Kim
Xí Điểu), và Ma Hầu La Già (Mahoraga: Đại Măng Thần).
“Bát bộ quỷ thần” c̣n được hiểu
theo một nghĩa ít phổ biến hơn là tám bộ
chúng quỷ thần thuộc quyền cai quản của Tứ
Thiên Vương tức Càn Thát Bà, Tỳ Xá Xà, Cưu Bàn Trà,
Bệ Lệ Đa, Long (rồng), Phú Đan Na, Dạ Xoa, và
La Sát.
[5] Lại (吏): Tiếng chỉ chung
các quan chức thừa hành công việc, ta thường gộp
chung là Quan Lại.
[6] Nguyên văn là “Dịch”
(弈), c̣n gọi là Vi Kỳ
(圍棋; do vậy ta thường
gọi là “cờ vây”), Kỳ (碁), hoặc Thủ Đàm (手谈), là một h́nh thức
cờ phổ biến nhất ở Trung Hoa. Hễ nói đến
“cầm kỳ thi họa” th́ chữ Kỳ chỉ cho
Vi Kỳ. Theo truyền thuyết, do con vua Nghiêu là Đan Châu
quá tối tăm, vua Nghiêu bèn sáng chế ra cờ vây để
tập luyện cho con trí phán đoán. Cờ vây phức tạp
hơn Cờ Tướng (Tượng Kỳ) rất nhiều,
nó gồm 181 con cờ đen và 180 con cờ trắng. Con cờ
làm h́nh tṛn có mặt phẳng, một mặt gồ lên. Bàn cờ
được chia thành 19 vạch ngang và 19 vạch dọc,
con cờ luôn phải đặt ở những chỗ các vạch
giao nhau. Có những vị trí quy định không được
đặt con cờ. Quy tắc chơi cờ Vây rất phức
tạp. Loại cờ này được truyền sang Nhật
với tên gọi là Go (hay Igo), c̣n người Đại
Hàn gọi loại cờ này là Baduk.
[7] Ngài Đơn Hà Thiên
Nhiên (739-824) là một thiền sư nổi tiếng đời
Đường, đệ tử của ngài Thạch Đầu
Hy Thiên. Sư vốn học Nho, sau gặp Thiền tăng,
ngộ đạo, bèn xin xuất gia với Thạch Đầu.
Ngài từng sang Giang Tây tham yết Mă Tổ Đạo Nhất,
được đặt pháp hiệu là Thiên Nhiên. Sư
cũng từng tham yết thiền sư Quốc Nhất ở
Kính Sơn. Về sau, Sư xiển dương Tông phong lớn
lao tại núi Đơn Hà thuộc huyện Nam Dương.
Khi mất, Sư được triều đ́nh sắc
phong thụy hiệu là Trí Thông Thiền Sư,
mộ tháp được đặt tên là Diệu Giác.
Sư rất nổi tiếng với công án “Đơn Hà
thiêu mộc Phật”. Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên
quyển năm th́: “Về sau, Sư ở tại chùa Huệ
Lâm, ngẫu nhiên gặp tiết trời cực kỳ rét buốt,
bèn đem tượng Phật bằng gỗ ra đốt.
Viện chủ quở trách: ‘Sao lại thiêu vị Phật
gỗ của tôi?’ Sư bèn dùng gậy khêu tro bảo: ‘Tôi
thiêu tượng để t́m xá-lợi” Viện chủ bảo:
‘Tượng gỗ làm sao có xá-lợi được?’
Sư nói: ‘Đă không có xá-lợi, th́ thiêu luôn cả hai bức”.
[8] Thạch Đầu Hy
Thiên (700-790) là một vị cao tăng Thiền Tông đời
Đường, c̣n được gọi là Vô Tế đại
sư. Ngài là người huyện Cao Yếu, Đoan Châu
(nay là huyện Cao Yếu, tỉnh Quảng Đông), tánh cực thông minh, mẫn tiệp. Do
thấy dân làng thường giết trâu, nấu rượu
để tế thần, gây nên nhiều tệ đoan,
Sư liền phá hủy đền thần, cướp
trâu tế, bỏ đi. Ngài từng lễ các vị Lục
Tổ Huệ Năng và Thanh Nguyên Hành Tư làm
thầy, được ngài Thanh Nguyên Hành Tư ấn khả.
Trong niên hiệu Thiên Bảo (742-755), Sư kết thảo
am tọa thiền trên gộp đá phía Đông của Hành
Sơn Nam Tự, xiển dương tông phong mạnh mẽ.
Do vậy, cơi đời gọi là Thạch Đầu ḥa
thượng. Khi ấy, người đời luận rằng:
“Ở Giang Tây, Mă Tổ
là bậc nhất, c̣n ở Hồ Nam, ngài Thạch Đầu
bậc nhất”. Sư c̣n để lại tác phẩm
Tham Đồng Khế và Thảo Am Ca, cả hai đều
được lưu truyền rộng răi trong Thiền môn
Trung Hoa.
[9] Thập Vương tức
Thập Điện Diêm Vương là tín ngưỡng theo
Phật môn Trung Hoa (khởi đầu từ thời
Ngũ Đại), cho rằng trong Âm Phủ có mười
vị vua Diêm La cai quản phán xử tội nhân. Sau khi tội
nhân chết đi, tuần thứ nhất bị định
tội nơi Tần Quảng Vương, tuần thứ
hai tại Sơ Giang Vương, tuần thứ ba đến
chỗ Tống Đế Vương, tuần thứ
tư đến chỗ Ngũ Quan Vương, tuần thứ
năm đến chỗ Diêm La Vương, tuần thứ
sáu đến chỗ Biến Thành Vương, tuần thứ
bảy đến chỗ Thái Sơn Vương, một
trăm ngày đến chỗ B́nh Đẳng Vương,
tṛn một năm đến chỗ Đô Thị
Vương, tṛn ba năm đến chỗ Ngũ Đạo
Chuyển Luân Vương.
[10] Lư Thanh Am tên
thật là Lư Đạo Thuần, tự Nguyên Tố, hiệu
Thanh Am, biệt hiệu là Bảo Thiềm Tử, người
xứ Đô Lương (tỉnh Hồ Nam), là một đạo
sĩ sống vào thời Tống - Nguyên, tinh thông học
thuyết Nội Đan. Thanh Am dung thông học thuyết nội
đan của hai phái Nam, Bắc thời đó, chủ
trương thuyết Trung Ḥa, trước tác rất nhiều
sách chú giải về Nội Đan.
[11] Câu này vốn phát xuất
từ thiên Dương Vương Tôn Truyện trong Hán
Thư: “Dương Vương Tôn cập bệnh thả
chung, tiên lệnh kỳ tử: - Ngô dục lơa táng, dĩ phản
ngô chân, tất vong dịch ngô ư. Tử tắc vi bố nang
thịnh thi, nhập địa thất xích”
(Dương Vương Tôn bị bệnh sắp chết,
bèn bảo trước với con: “Ta muốn được
chôn trần truồng để trở về cái chân thật
của ta, đừng sửa đổi ư ta. Hễ chết
rồi chỉ dùng bao vải bọc xác, chôn dưới
đất bảy thước”).
[12] Chỉ những kẻ
tu tiên cầu trường sanh bất tử. Có những
phái trong Đạo gia không dám nhổ nước miếng
hay ho khạc, sợ hao tổn nguyên khí.
[13] Giáp Tích: Theo từ
điển Bách Độ, tính từ đốt thứ nhất
của xương sống ở dưới ót đến
đốt thứ năm nơi lưng, từ mỗi chỗ
đốt xương sống gồ lên, đo ra hai bên xuống
phía dưới chừng 0,5 tấc Tàu là huyệt Giáp Tích (夾脊). Do vậy, có tất
cả ba mươi bốn huyệt Giáp Tích như thế.
[14] Vĩ Lư là huyệt
nằm ở khoảng giữa xương cùng và hậu
môn, được Đạo gia coi là huyệt tiếp nối
giữa hai mạch Nhâm và Đốc. Nê Hoàn là một huyệt
được Đạo Giáo coi là tối trọng yếu.
Họ chia đầu người thành chín cung, từ giữa
hai mày tính vào ba tấc chính là Nê Hoàn Cung, hoặc Thiên Năo,
Hoàng Đ́nh (thường đọc trại thành Huỳnh
Đ́nh), Côn Luân, Thiên Cốc v.v… tới hơn chín
mươi danh xưng khác nhau. Họ tin rằng có các vị
tôn thần sống trong chín cung ấy. Kinh Huỳnh Đ́nh
(Hoàng Đ́nh) của Đạo gia cho rằng trong Nê Hoàn
Cung có một vị chân thần tên là Thượng Nguyên Chân
Quân (tức Thái Ất Đế Quân) cư ngụ. Đạo
gia tận dụng mọi cách diễn giải xuyên tạc
kinh Phật để chứng minh pháp luyện đan.
[15] Cao Vương Quán Thế
Âm Kinh c̣n có tên là Cao Vương Bạch Y Quán Âm Kinh, thường
gọi tắt là Cao Vương Kinh. Tương truyền,
trong niên hiệu Thiên B́nh (534-537) đời Đông Ngụy,
ở Định Châu, Tôn Kính Đức quyên mộ tạo
tượng Quán Âm, tự ḿnh lễ kính, sau bị giặc
bắt dẫn đi, đánh đập khổ sở, ép họ
Tôn phải nhận tội. Đêm hôm trước ngày bị
đưa ra pháp trường chặt đầu, họ Tôn
mộng thấy một vị sa-môn dạy tụng Cứu
Sanh Quán Thế Âm Kinh một ngàn biến sẽ được
thoát nạn. Sáng hôm, bị quan coi ngục trói lại dẫn
ra chợ, Tôn Kính Đức vừa đi vừa tụng,
đến khi bị lôi ra chém đă tụng đủ ngàn
biến. Đao chém xuống liền mẻ, da thịt không
bị thương tích ǵ. Ba lượt thay đao vẫn
như vậy, thấy rành rành trên cổ c̣n ba vết
đao. Quan giám trảm tâu lên. Thừa tướng Cao Hoan
xin vua tha tội chết cho họ Tôn, sắc truyền biên
chép kinh này lưu truyền rộng răi, do đó gọi là Cao
Vương Quán Thế Âm Kinh. Có truyền thuyết lại
nói có một vị quốc vương tên là Cao Hoan làm chúa
quận Tương Châu. Do những truyền thuyết mâu
thuẫn lẫn nhau, kinh văn của kinh này lộn xộn,
gán ghép, lại nói là được truyền trong mộng,
nên bị cổ đức coi là kinh ngụy tạo.
[16] Thất Thất: Lễ
cầu siêu trong ṿng bốn mươi chín ngày, cứ mỗi
bảy ngày lại làm trai, thỉnh Tăng cầu siêu, ta
thường gọi là Cúng Thất. Tiểu Tường và
Đại Tường là hai lễ trong tang sự theo cổ
lễ. Theo thiên Gián Truyện sách Lễ Kư, sau khi người
chết mất được một trăm ngày, bèn làm lễ
Tốt Khốc (thôi khóc) cúng bái vong linh, con cháu chỉ
được ăn cơm đạm bạc, gạo xấu,
uống nước lạnh, tuyệt đối không
được uống rượu. Khi người chết
được một năm th́ làm giỗ đầu, gọi
là Tiểu Tường. Khi người chết đă mất
ba năm th́ làm lễ Xả Tang, gọi là Đại Tường.
Trong lễ Đại Tường, con cháu sẽ làm cỗ
cáo tế với tổ tiên, xin đem thần chủ (bài vị
của người chết thờ chung trong miếu thờ
của ḍng họ (tức từ đường, hoặc
tông miếu), cũng như dẹp bỏ linh sàng và bàn thờ
riêng của người chết để thờ chung với
bàn thờ tổ tiên tại tư gia.
[17] Bát tà là tám
điều tương phản với bát chánh đạo,
gồm tà kiến, tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng,
tà phương tiện, tà niệm và tà định.
[18] Bạch Hạ là một
khu vực thuộc Nam Kinh.
[19] Tâm Địa Quán Kinh
có tên gọi đầy đủ là Đại Thừa Bổn
Sanh Tâm Địa Quán Kinh, c̣n gọi tắt là Bổn Sanh
Tâm Địa Quán Kinh, do ngài Bát Nhă dịch vào đời
Đường. Trong kinh ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật ở
trong núi Kỳ Xà Quật v́ các vị Bồ Tát như Văn
Thù Sư Lợi, Di Lặc v.v… giảng thuyết: Người
xuất gia, trụ trong A Lan Nhă, hăy nên quán tâm địa, diệt
vọng tưởng, tu các hạnh như thế nào để
thành Phật đạo. Kinh có mười ba phẩm,
được chia thành tám quyển. Theo lời tựa, kinh
này được quốc vương nước Sư Tử
dâng lên Đường Cao Tông trong niên hiệu Nguyên Ḥa. Kinh
được các vị tăng nhân như Bát Nhă v.v… gồm
tám người hợp sức dịch. Kinh dịch xong lại
được bốn vị quan như Gián Nghị Đại
Phu Mạnh Lan v.v… nhuận văn. C̣n kinh Báo Ân chính là kinh
Đại Phương Tiện Phật Báo Ân.
[20] Lục Tào (六曹) là cơ cấu hành chánh ở cấp địa
phương, có chức trách giống như cơ cấu Lục
Bộ trong triều đ́nh. Lục Tào được thiết
lập từ đời Đường, trực thuộc
các châu, gồm công tào, hộ tào, sĩ tào, binh tào, pháp tào và
thương tào (quản lư kho tàng, kho thóc công để cứu
đói v.v…) Viên quan đứng đầu mỗi tào
được gọi là Tham Quân. Đối với cấp
trung ương, thời Tùy, guồng máy chánh quyền trung
ương bao gồm ngũ tỉnh là nội sứ tỉnh (tức trung thư tỉnh về
sau), môn hạ tỉnh, thượng
thư tỉnh, bí thư tỉnh, và nội thị tỉnh. Dưới Thượng
Thư Tỉnh, đặt ra lục tào là lại bộ,
độ chi, lễ bộ, binh bộ, đô quan, và công bộ. Sau
đấy, đổi danh xưng lục tào
thành lục bộ cho cấp trung ương, đổi
độ chi thành hộ bộ, đổi đô quan thành
h́nh bộ.
[21] Nguyên văn “luyện
ma trường”, vốn là chữ để gọi các
đạo tràng tu tập Thiền Quán.
[22] Vạn Tùng Hành Tú
(1166-1246) là một vị cao Tăng thuộc tông Tào Động,
sống vào thời Nam Tống. Sư là người Hà Nội
(nay là huyện Thấm Dương, tỉnh Hà Nam), pháp tự
là Báo Ân. Sư xuất gia từ nhỏ với ngài Uẩn
Doăn chùa Tịnh Độ ở H́nh Châu (nay là H́nh Đài, tỉnh
Hà Bắc). Sau khi thọ Cụ Túc Giới, Sư đến
chùa Khánh Thọ, tham yết ngài Thắng Mặc, ngộ
được đôi chút, rồi lại tới tham yết ngài Nham Măn
chùa Đại Minh ở Từ Châu, chưa đầy một
tháng đă triệt ngộ, bèn lưu lại hầu hạ
suốt hai năm, hết sức khiêm tốn. Sau đấy,
Sư quay về H́nh Châu, dựng Vạn Tùng Hiên để ở,
ngầm dưỡng chí tu tập, được cơi đời
gọi là Vạn Tùng Lăo Nhân, hoặc Báo Ân Lăo Nhân. Năm Minh
Xương thứ tư (1193) đời Kim Chương
Tông, Sư được vua ban ghế bọc gấm và
đại tăng y, rồi xuống chiếu phong Sư làm
Trụ Tŕ chùa Thê Ẩn ở Ngưỡng Sơn (tỉnh
Sơn Tây). Sư lần lượt trụ tŕ các chùa nổi
tiếng như Vạn Thọ ở Trung Đô, chùa Báo Ân ở
Yên Kinh (Bắc Kinh). Được một thời gian ngắn,
Sư xin về hưu để ẩn tu nơi Thung Dung Am.
Nhận lời thỉnh của tể tướng Gia Luật
Sở Tài, Sư viết lời tụng để b́nh luận
một trăm đoạn công án của ngài Hoằng Trí
Chánh Giác, soạn bộ Thung Dung Lục nhằm xiển dương,
truyền thừa tông phong Tào Động. Sư lại viết
Thỉnh Ích Lục. Hai bộ sách này măi cho tới hiện
thời vẫn được Thiền môn Trung Hoa đánh
giá cao, giảng diễn và nghiên cứu rất nhiều.
Sư c̣n soạn các tác phẩm giá trị khác như Tổ
Đăng Lục, Thích Thị Tân Văn, Minh Đạo Tập,
Tứ Hội Ngữ Lục v.v…
[23] Núi bảy báu chính là
núi Tu Di, c̣n biển nước thơm chính là các
hương thủy hải bao quanh thế giới như
đă được miêu tả trong phẩm thứ hai của
kinh Hoa Nghiêm. Ư nói: Dù có vượt đến tận ngoài
ŕa của đại thiên thế giới, cũng không tránh
được kiếp nạn.
[24] Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
(Saddharma-pundarīka Sūtra), hiện c̣n giữ được
ba bản dịch:
1. Bản dịch cổ
nhất mang tựa đề Chánh Pháp Hoa Kinh gồm mười
quyển, hai mươi bảy phẩm, được dịch
vào năm Thái Khang thứ bảy (286) nhà Tây Tấn, dưới
sự chủ tŕ của ngài Trúc Pháp Hộ. Bản này do ngài
Nhiếp Thừa Viễn truyền dịch từ Phạn
sang Hán, các vị Trương Sĩ Minh, Trương Trọng
Chính làm Bút Thọ, Trúc Lực, Bạch Nguyên Tín làm người
giảo duyệt, Trúc Pháp Hộ làm Tổng Toản Tu.
2. Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh gồm bảy quyển, hai mươi tám phẩm, do
ngài Cưu Ma La Thập dịch vào năm Hoằng Thỉ thứ
tám (406) đời Diêu Tần.
3. Thiêm Phẩm Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh tám quyển do ngài Xà Na Quật Đa và Đạt
Ma Cấp Đa dịch tại chùa Đại Hưng Thiện
ở Trường An vào năm Nhân Thọ nguyên niên (601) nhà
Tùy.
Trong ba bản dịch
này, bản Chánh Pháp Hoa được coi là đầy đủ
nhất, nhưng văn tự rườm rà, nhiều chỗ
không lưu loát, tối nghĩa, bản Diệu Pháp Liên Hoa của
ngài Cưu Ma La Thập hay nhất, gọn nhất, văn từ
mỹ lệ, âm điệu du dương, tuy gọn nhất,
nhưng vẫn chứa đựng đầy đủ những
điểm trọng yếu của Phạn bản, nên
được lưu truyền rất rộng. Phần lớn
các bản chú giải kinh Pháp Hoa đều dựa trên bản
dịch của ngài La Thập. Ngay cả các bản dịch
kinh Pháp Hoa sang ngôn ngữ Âu Tây, nếu dựa theo Hán Tạng,
đa phần lấy bản của ngài La Thập làm chuẩn.
Do bản của ngài La Thập chỉ có bảy quyển,
so với bản Chánh Pháp Hoa gồm mười quyển, cho nên mới có tà thuyết “ba quyển
cuối của kinh Pháp Hoa bị ẩn kín, không được
lưu truyền”.
[25] Tử Dương Chân
Nhân là đạo hiệu của Trương Bá Đoan, tự
B́nh Thục, sau đổi tên thành Dụng Thành, vốn là một
đạo sĩ ở núi Thiên Thai, c̣n được
xưng là Ngộ Chân tiên sinh. Ông ta học tràn lan kinh sách của
Tam Giáo, đặc biệt ưa thích các môn h́nh pháp, tính toán,
bói toán, bài binh bố trận, thiên văn, địa lư. Do
không đỗ đạt, ông càng ưa thích tu tiên.
Tương truyền trong niên hiệu Trị B́nh, ông
được Lục Sân truyền cho cách tu Đạo Dẫn,
bèn tu tập, sau lại học được phép Kim
Đan, luyện tập đắc đạo, liền soạn
sách Ngộ Chân Thiên, trở thành một bậc tông sư
trong Đạo gia.
[26] Khi c̣n làm Thái Tử Tất
Đạt Đa, trong cuộc thi vơ nghệ giữa các anh
em trong hoàng tộc, đức Phật đă giương
cung bắn thủng chín tầng trống sắt chồng
lên nhau. “Dạo chơi bốn cửa thành” là khi Thái Tử
Tất Đạt Đa ra ngoài chơi, lần lượt
từ nơi bốn cửa thành, trông thấy cảnh
tượng sanh, già, bệnh, chết, liền sanh ḷng chán
ĺa cơi đời vô thường, khởi tâm xuất gia.
[27] Đạo Dẫn là một
phương cách luyện tập thân thể đă có từ
thời cổ, được giới Đạo sĩ cải
biến và đưa thêm vào nhiều cách diễn giải huyền
hoặc. Đạo Dẫn (導引, đôi khi c̣n viết
thành 道引) có nghĩa là hướng
dẫn Khí cho được điều ḥa, khiến cho
thân thể được mềm mại, mạnh khỏe,
bao gồm các động tác hít thở, tưởng tượng
khí luân lưu theo những kinh mạch (gọi là “thổ nạp”,
hoặc “vận khí theo Tiểu Châu Thiên, Đại Châu
Thiên” v.v…), các động tác vận động phối hợp
với cách hít thở (ngoại công), ém hơi thở (phục
khí), nuốt nước miếng, dùng lưỡi gơ vào
răng, xoa bóp (án ma) v.v…
[28] Tự Tứ
(Pravāranā), dịch âm là Bát Lợi Bà Lạt Noa, hoặc
Bát Ḥa La, c̣n được dịch ư là Măn Túc, Hỷ Duyệt,
Tùy Ư Sự. Những từ ngữ này đều nhằm diễn
tả ư hoan hỷ nghe người khác nêu lên những sai lầm
do chính ta đă phạm trong thời gian an cư. Trong ngày
hoàn tất an cư mùa Hạ, đại chúng nêu lên những
lỗi lầm của người khác do chính ḿnh đă thấy
nghe trong suốt ba tháng an cư với mục đích nhắc
nhở nhau chú trọng sửa đổi, thúc liễm thân
tâm, giữ vững giới hạnh. Người được
phê b́nh hoan hỷ tiếp nhận lời cử tội, phát
tâm tri ân sâu xa người đă giúp ḿnh nhận thức những
lỗi lầm chính ḿnh đă phạm mà chính ḿnh không hay,
không biết.
[29] Thí thực cho ngạ
quỷ phát xuất từ ḷng Bi nên gọi là Bi Điền,
dâng cúng cho hiền thánh nhằm tỏ ḷng kính trọng nên gọi
là Kính Điền.
[30] Tức La Thanh, sáng tổ
của tà phái La Giáo, vốn là một chi nhánh của tà đạo
Bạch Liên Giáo
[31] Trong Đại Tạng
Kinh, Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh
(Prajñāpāramitā-hrdayasūtra) ngoài bản dịch của
ngài Huyền Trang ra, c̣n có bảy bản dịch khác
như sau:
1. Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật
Đại Minh Chú Kinh (do ngài Cưu Ma La Thập dịch).
2. Bát Nhă Ba La Mật Na
Kinh (do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch, đă thất truyền).
3. Bát Nhă Ba La Mật
Đa Tâm Kinh (do hai vị Bát Nhă và Lợi Ngôn cùng dịch).
4. Phổ Biến Trí Tạng
Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (do ngài Pháp Nguyệt dịch).
5. Bát Nhă Ba La Mật
Đa Tâm Kinh (do ngài Trí Huệ Luân dịch).
6. Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (do ngài Pháp Thành dịch
vào đời Đường).
6. Thánh Phật Mẫu
Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh (do ngài Thi Hộ dịch).
[32] Tác phẩm này có tên gọi
đầy đủ là Đại Đường Tây Vực
Kư, do ngài Huyền Trang ghi chép về ngôn ngữ, địa
h́nh, sản vật, phong cảnh, địa danh, tập
quán, dân t́nh v.v… của hơn một trăm mười
nước tại Tây Trúc mà Ngài đă đi qua trong suốt
mười sáu năm tham học. Theo truyền thuyết, do
vua Đường Thái Tông thường ngự giá đến
hỏi chuyện này chuyện nọ về Tây Vực thay v́
thật sự vấn pháp, khiến Sư phải mất công thù
tiếp rất nhiều, không đủ thời gian để
dịch kinh, nên Sư bèn biên soạn bộ sách này dâng lên
để vua bớt hỏi han chuyện thế gian.
[33] Hầu Cảnh (?-552),
tự là Vạn Cảnh, người huyện Sóc
Phương (có thuyết nói hắn là người xứ Nhạn
Môn), vốn là người thuộc rợ Yết.
Thoạt đầu, hắn là đầu mục của
quân khởi nghĩa Cát Vinh trong lănh thổ Đông Ngụy,
tánh t́nh quỷ quyệt, tàn nhẫn. Khi gă quân phiệt
Nhĩ Châu Vinh nắm binh quyền Đông Ngụy, Hầu Cảnh
bèn đem lâu la quy phục, được phong làm Tiên Phong.
Khi Nhĩ Châu Vinh và Cát Vinh giao tranh, Hầu Cảnh lập
công bắt sống được Cát Vinh. Do vậy, hắn
được phong làm Thứ Sử Định Châu. Khi ấy,
Thừa Tướng Cao Hoan lập mưu giết được
Nhĩ Châu Vinh, Hầu Cảnh bèn về hàng Cao Hoan,
được Cao Hoan trọng dụng, phong làm Tư Đồ,
kiêm Thứ Sử Định Châu nắm đến mười
vạn binh, thống trị cả một giải Hà Nam. Khi
Cao Hoan mất, Hầu Cảnh lập tức làm loạn,
liên kết với kẻ thù của Đông Ngụy là Vũ
Văn Thái, nhưng Vũ Văn Thái không tin tưởng Cao
Hoan. Không chống cự nổi với quân của Cao Trừng
(con Cao Hoan), Hầu Cảnh bèn dẫn quân chạy sang đầu
hàng Lương Vũ Đế vào năm Thái Thanh nguyên niên
(547). Khi Cao Trừng nhà Đông Ngụy sai Mộ Dung Thiệu
Tông vây đánh Hầu Cảnh, nhà Lương sai Tiêu Uyên Minh
đem quân bảo vệ Hầu Cảnh, nhưng đại
bại, Uyên Minh bị Thiệu Tông bắt sống.
Lương triều chỉ mong ḥa giải để cứu
Uyên Minh về. Hầu Cảnh bèn thừa dịp Vũ
Đế thiếu pḥng bị, tấn công kinh đô Kiến
Khang (Nam Kinh), bắt giam Lương Vũ Đế tại
Đài Thành, tự xưng là Đại
Đô Đốc, thao túng triều đ́nh, làm nhiều chuyện
bạc ác. Cuối cùng, Hầu Cảnh bị Trần Bá Tiên
và Vương Tăng Biện đánh bại, bị bộ
hạ giết chết trên đường đào vong
[34] Lă Động Tân (c̣n
đọc là Lữ Động Tân) tên thật là Lă Nham, là một
vị đạo sĩ nổi tiếng sống vào cuối
đời Đường, đầu thời Ngũ Đại,
được xếp vào Bát Tiên, hiệu là Thuần
Dương Tử, tên tự là Động Tân. Tương
truyền, ông Lă sanh vào cuối đời Đường,
từng đi thi nhiều lần, nhưng không đậu.
Trong quán trọ, ông Lă gặp được ẩn sĩ
Chung Ly Quyền điểm hóa bằng cách cho một cái gối,
bảo kê đầu nằm ngủ. Lă Nham nằm ngủ,
mơ thấy ḿnh đậu Trạng Nguyên, làm quan đến
tột phẩm, nắm quyền Tể Tướng. Về
sau, bị gian thần gièm pha, bị lôi ra pháp trường
chém đầu. Lă Nham sợ quá tỉnh dậy, mới thấy
chủ quán đang nấu nồi cháo kê vàng (hoàng
lương) vẫn
chưa chín. Bao nhiêu chuyện xảy ra trong năm
mươi năm, chỉ là một giấc mộng trong mấy
phút (do truyền thuyết này mà có điển tích văn học
“hoàng lương mộng”). Ông Lă tỉnh ngộ, theo
Chung Ly Quyền tu tiên. Lă Đồng Tân đề xướng
nhiều biện pháp tu Nội Đan quan trọng, nên rất
được Đạo gia đề cao. Đến
đời Nguyên, năm 1269, Nguyên Thế Tổ sắc phong
cho Lă Đồng Tân đạo hiệu là Thuần Dương Diễn Chánh Cảnh
Hóa Chân Quân, sau đó gia phong là Thuần Dương Diễn Chánh Phù Hựu
Đế Quân. Do Vương Triết (tức Vương
Trùng Dương), sáng tổ Toàn Chân Giáo, tự xưng
đă được chính Lă Động Tân đích thân truyền
đạo, cho nên tất cả môn nhân Toàn Chân Giáo đều
xưng tụng họ Lă là Tổ Sư khai đạo. V́ vậy,
Lă Động Tân thường được gọi bằng
danh xưng Lă Tổ hay Thuần Dương Tổ Sư.
[35] Hoàng Long Huệ Nam
(1002-1069) vốn là một vị cao tăng thuộc tông Lâm
Tế sống vào đời Tống, là khai tổ của
phái Hoàng Long tông Lâm Tế. Sư là người huyện Ngọc
Sơn, Tín Châu (nay là Thượng Nhiêu tỉnh Giang Tây), thuở
nhỏ học Nho, làu thông kinh sử. Lúc mười một tuổi,
Sư xin xuống tóc với ngài Trí Loan chùa Định Thủy,
mười chín tuổi thọ Cụ Túc Giới, tham học
các vị Thê Hiền Trừng Thị, Vân Phong Văn Duyệt,
Thạch Sương Sở Viên v.v… đều được
các vị ấy rất coi trọng. Về sau, Sư mở
giảng ṭa tại Đồng An Viện, tứ chúng nhóm về.
Không lâu sau, Sư dời sang chùa Quy Tông. Do chùa bị hỏa
hoạn, điện đường cháy sạch, kẻ
ghen ghét liền thừa dịp gièm xiểm, vu oan, khiến
Sư bị hạ ngục. Dẫu bị trăm điều
xỉ vả, bôi nhọ, Sư vẫn an nhiên như thường.
Về sau, Sư được phóng thích, bèn ẩn cư tại
Hoàng Bá, dựng Tích Thúy Am trên ngọn suối, bốn
phương lại lũ lượt kéo về. Sư nhận
lời cầu thỉnh về trụ tại Sùng Ân Viện
núi Hoàng Long, chấn hưng tông phong mạnh mẽ, lừng
danh khắp Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Mân Việt. Do
vậy, mới tạo thành Hoàng Long Phái của tông Lâm Tế.
Sơ Tổ Vinh Tây (Eisai) của tông Lâm Tế Nhật Bản
cũng học Thiền từ phái Hoàng Long. Ngài c̣n để
lại những tác phẩm Hoàng Long Huệ Nam Thiền
Sư Ngữ Lục, Ngữ Yếu, Thư Xích Tập v.v…
Học tṛ của Ngài như Hối
Đường Tổ Tâm, Bảo Phong Khắc Văn, Lặc
Đàm Hồng Anh v.v… đều là những bậc long
tượng trong nhà Thiền.
[36] Lăo Tử tên thật
là Lư Đam, nên c̣n gọi là Lăo Đam. Trọng Ni là tên tự
của Khổng Tử.
[37] Tề Đông chính là
phía Đông nước Tề (tỉnh Sơn Đông hiện thời), vùng này nổi tiếng
hay nói khoác, nói bịa đặt thiếu căn cứ, nên
đă có thành ngữ “Tề Đông dă ngữ” (lời
nói quê mùa ở Tề Đông).
[38] “Băo nguyên thủ nhất”
là một thuật ngữ chỉ phương cách tu luyện
của Đạo gia, chú trọng tại luyện Thần
(trong Tinh, Khí, Thần), trừ khử những tạp niệm
trong tâm, khiến cho tinh thần thanh tịnh (băo nguyên), khiến
cho Tinh - Khí - Thần hợp thành một (quy nhất), chẳng
hao hụt. Họ tin tưởng rằng với cách tu luyện
này, sẽ đạt được trường thọ.
Như vậy, “băo nguyên quy nhất” chẳng ăn nhập
ǵ với câu “vạn pháp quy nhất” của nhà Phật
là lời giảng về chân tánh của vạn pháp.
[39] Trong Luận Ngữ,
Khổng Tử đă hai lần nhắc đến từ
ngữ “nhất dĩ quán chi”. Lần thứ nhất
là trong thiên Lư Nhân: “Tử viết: ‘Sâm hồ! Ngô đạo
dĩ nhất quán chi’. Tăng Tử viết: ‘Duy!’ Tử xuất,
môn nhân vấn viết: ‘Vị hà dă?’ Tăng Tử viết:
‘Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ” (Khổng
Tử bảo: ‘Này Tăng Sâm! Đạo của ta chỉ
do một ư tưởng căn bản xuyên suốt từ
đầu đến cuối’. Tăng Tử thưa: ‘Vâng,
đúng thế’. Khổng Tử đi ra, môn nhân hỏi: ‘Thầy
nói vậy nghĩa là sao?’ Tăng Tử giảng: “Đạo
của phu tử chỉ là trung hậu và khoan dung mà thôi!). Lần
thứ hai là trong thiên Vệ Linh Công: “Tử viết: ‘Tứ
dă! Nhữ dĩ dư vị đa học, nhi thức chi giả
dư?’ Đối viết: ‘Nhiên! Phi dư?’ Viết: ‘Phi dă!
Dư dĩ nhất quán chi!” (Này anh Tứ! (Tứ (tức
Đoan Mộc Tứ) là tên tục của Tử Cống).
Anh cho rằng ta học rộng nên mới biết nhiều
đấy chăng?’ Tử Cống thưa: ‘Đúng vậy,
không phải như thế ư?’ Khổng Tử bảo:
‘Sai rồi! Ta dùng một điều để quán thông hết
thảy’). Chúng tôi dịch những câu này theo cách diễn giảng
của sách Tứ Thư Bạch
Thoại Giải.
[40] Khổng Tước
Minh Vương Kinh
(Mahāmayūrī-vidyārājñī), có tên gọi đầy
đủ là Phật Mẫu Đại Kim Diệu Khổng
Tước Minh Vương Kinh do ngài Bất Không dịch
vào đời Đường. Kinh kể chuyện ngài A Nan
Đà trông thấy tỳ-kheo Xoa Để (Svati) bị rắn
đen cắn, mê man gần chết, bèn cầu cứu đức
Phật. Đức Phật bèn dạy A Nan tụng Phật
Mẫu Khổng Tước Minh Vương Đại
Đà La Ni để trừ hết thảy khổ nạn,
đồng thời dạy các Mật Pháp để trừ
tai nạn, tăng phước v.v... Kinh này c̣n có hai bản
dịch khác, tức Khổng Tước Minh Vương
Kinh (do ngài Tăng Già Bà La dịch vào đời
Lương) và Đại Khổng Tước Chú
Vương Kinh (do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời
Đường).
[41] Do thời cổ
thường dùng tơ bện làm dây đàn, lấy gỗ
ngô đồng làm thân đàn, nên tiếng đàn thường
được gọi là “tiếng tơ đồng”.
[42] Do trong
quá khứ, trong Hoa ngữ cho đến tận đầu
đời Đường, chữ Vô (無) vẫn c̣n
đọc với vận mẫu M (những phương
ngôn Hoa Nam như tiếng Quảng Đông, hay tiếng
Phước Kiến c̣n giữ cách đọc này, chẳng
hạn tiếng Quảng Đông đọc chữ Vô gần
giống âm Mậu), cho nên chữ Vô được dùng
để phiên âm chữ Mo trong tiếng Nam Mô. Cho đến
giữa đời Đường, khi vận mẫu M của
chữ được chuyển thành vận mẫu W (tức
là 無 đọc
thành wú), các nhà phiên kinh bèn dùng chữ Nẵng Mô (曩 謨: âm Quan
Thoại là nǎng mó) hoặc Na Ma (那 摩: âm Quan
Thoại là nǎ-mó)
để mô phỏng âm Namo trong tiếng Phạn. Do quá chấp
vào mặt chữ, không chú ư tới âm tiếng Phạn, nên mới
có những kiểu diễn giải chữ
Nam-mô kỳ lạ như vậy.
[43] Thuở
ấy, đạo sĩ để tóc dài nhưng không
được xơa tóc (chỉ trừ khi làm phép, hô thần
nhập quỷ bèn xơa tóc), lúc b́nh thường phải búi
tóc lên, cài trâm để giữ cho măo đạo sĩ khỏi
tuột.
[44] Cát Thiên và Vô Hoài là hai vị
đế vương thời cổ trong huyền sử
Trung Hoa. Dân chúng sống trong thời ấy thuần phác,
chân chất. Vô Hoài Thị thuộc bộ lạc của Toại
Nhân (một trong Tam Hoàng). Điểm đặc biệt là
Vô Hoài Thị là nữ cộng chủ. Bà có tên là Phong
Thương Mang, hiệu là Vô Hoài Thị (do sanh tại Hoài
Thành, nay là Tây Đào Trấn thuộc huyện Vũ Trắc,
thành phố Tiêu Tác, tỉnh Hà Nam), đóng đô tại
Tượng Thành (nay thuộc huyện Vũ Dương
thành phố Lũy Tháp, tỉnh Hà Nam). Bà được coi
là vị vua thứ bảy mươi hai thuộc chánh quyền
do Phục Hy sáng lập, cai trị suốt hai mươi
lăm năm. Cát Thiên là thủ lănh của bộ tộc Cát
Thiên, lănh thổ của ông được gọi là Cát Quốc,
thuộc địa phận các huyện Ninh Lăng và
Trường Cát thuộc tỉnh Hà Nam hiện thời. Ông
được coi là thỉ tổ của những người
mang họ Cát về sau này. Cát Thiên cũng được
coi là thỉ tổ văn hóa và âm nhạc của cổ
Trung Hoa.
[45] Ngọc Thiên (玉篇) là sách phân tích âm
đọc và giải thích ư nghĩa các từ ngữ trong tiếng
Hán do Cố Dă Vương biên soạn vào đời
Lương, thể loại gần giống như Thuyết
Văn Giải Tự của Hứa Thận đời Hán.
Sách giải thích 16.917 chữ, chia thành 542 bộ thủ.
Về sau, sách được những
người như Tôn Cường, Ngô Nhuệ, Trần Bành
Niên, Khâu Ung tăng
đính, thành ra 22.256 chữ, đổi tựa
thành Đại Quảng Ích Hội Ngọc Thiên. Quảng Vận (廣韻) là sách giải thích về
cách gieo vần, có tên gọi đầy đủ là Đại
Tống Trùng Tu Quảng Vận. Tuy chú trọng cách ḥa âm,
gieo vần, nhưng sách cũng giải thích ư nghĩa của
các chữ Hán. Sách do Trần Bành Niên vâng chiếu biên soạn dựa
trên các sách Thiết Vận và Đường Vận trước
đó. Sách chia các chữ theo cách phát âm thời đó, tức
là bốn thanh b́nh, thượng, khứ, nhập. Sách thống
kê 206 vần, bao gồm:
B́nh thanh 57 vần, thượng thanh 55 vần, khứ thanh
60 vần, nhập thanh 34 vần. Đối với từ
ngữ, đều ghi chú cách đọc và giải thích ư
nghĩa đơn giản.
[46] Cả hai từ ngữ
này có nghĩa là Pháo, nhưng nếu xét nguyên gốc, Bộc
Trúc là pháo bằng các ống tre ném vào lửa, tre bịt nứt
sẽ phát ra tiếng. C̣n Pháo Trướng tức là loại
pháo dùng giấy cuộn chất nổ, hễ đốt chỉ
nổ một tiếng vang mà thôi.
[47] Thẩm Ước
(414-513), tự là Hưu Văn, là một văn học gia, kiêm sử gia thời Nam Lương.
[48] Dâm từ (淫祠) là các đền miếu
do dân chúng tự động thiết lập, không được
triều đ́nh công nhận. “Dâm” ở đây có
nghĩa là thừa thăi, như thiên Khúc Lễ trong sách Lễ
Kư định nghĩa: “Phi kỳ sở tế nhi tế
chi, danh viết dâm tự, dâm tự vô phước” (chẳng đáng cúng tế
mà cúng tế th́ gọi là cúng bái thừa thăi. Cúng bái thừa thăi th́ chẳng
có phước). Nói cách khác, dâm từ là những đền, miếu xuất phát từ
ḷng mê tín, thờ phụng những vị thần lai lịch
bất minh hay tà vạy. Chẳng hạn, kẻ đi ăn trộm
bị dân làng bắt được đánh chết, bọn đồng cốt nói
người ấy chết nhằm giờ thiêng, đă thành
thần. Thế là dân chúng lập đền thờ.
[49] Học Sứ là tên gọi khác của chức vụ
Đề Đốc Học Chánh. Chức vụ này c̣n
được gọi tắt là Học Chánh, Học
Đài, Phiên Niết Học, thường do các vị trực
thuộc Hàn Lâm Học Sĩ hoặc đă đỗ Tiến
Sĩ đảm nhiệm. Chức quan này trông coi các trường học, sự học
tập của các sĩ tử, cũng như đảm
bảo chánh lệnh về giáo dục trong một tỉnh.
Đồng thời, Học Sứ chủ tŕ các khoa thi,
cũng như là người cầm đầu các học
quan tại các địa phương, có địa vị
thấp hơn các chức quan Tổng Đốc và Tuần
Phủ, ngang cấp với Bố Chánh Sứ (Phiên Sứ)
và Án Sát Sứ (Niết Ty).
[50] Đây là thuật ngữ
trong Đông Y. Tả có
nghĩa là giảm bớt, Bổ là tăng cường. Bốn
phương ở đây chỉ cho các tạng phủ:
Phương Nam là tim (thuộc Hỏa), phương Bắc
là thận (thuộc Thủy), phương Đông là gan (thuộc
Mộc), phương Tây là phổi (thuộc Kim). Nói “tả
phương Nam, bổ phương Bắc” có nghĩa là
tâm hỏa vượng, tức là do mộc sinh quá nhiều
hỏa (chứng gan Thật), phải
t́m cách giảm bớt tâm hỏa để khống chế
mộc nơi gan tăng trưởng quá mạnh. “Bổ
phương Bắc” tức là tâm hỏa quá vượng,
khiến thận thủy chẳng đủ. Cách chữa trị là tăng cường Thận
Thủy để âm được bồi bổ, hỏa
khí hạ xuống, tâm và thận sẽ
thông suốt.
[51] Tiết Trai
là biệt hiệu của Vương Luân (?-1510).
Vương Luân có tên tự là Nhữ Ngôn, người huyện
Từ Khê, tỉnh Chiết Giang, làm quan đến chức
Hồ Quảng Tuần Phủ, kiêm Tán Lư Quân Vụ. Ông tinh
thông y thuật, có các tác phẩm Bản Thảo Tập Yếu
và Minh Y Tạp Trước để tŕnh bày quan điểm
y học của chính ḿnh. Thuyết “dương thiếu, âm
thừa” do ông đề xướng.
[52] Tức bộ sách Bản
Thảo Cương Mục (本草綱目) của
Lư Thời Trân bỏ công biên soạn trong suốt hai mươi bảy
năm. Đây là toàn thư của tất cả các dược
thảo cũng như các vị thuốc trong Đông Y cho đến thời đó. Sách được
hoàn thành vào năm Vạn Lịch thứ sáu (1578), nhưng chỉ được chính thức khắc in
vào năm Vạn Lịch 23 (1596). Nguyên do là ông viết xong,
không ai giúp in. Lư Thời Trân phải bôn ba nhiều nơi, măi về sau mới
được Hồ Thừa Long là một nhà xuất bản
sách tài trợ ấn hành. Sách chưa in xong, ông đă mất.
Năm 1765, Triệu Học Mẫn đă viết Bản Thảo
Cương Mục Thập Di để bổ sung thêm 716 loại
cây thuốc, 161 đơn thuốc, và chỉnh sửa
34 lỗi trong bản khắc in sách của Lư Thời Trân.
[53] Thanh b́ là trái quưt c̣n non
hoặc quưt chưa chín, đem phơi khô. C̣n trần b́ là vỏ
của trái cam hoặc quưt đă chín.
[54] Ngũ bội tử
chính là cây sơn muối (tên khoa học là Rhus Chinensis), c̣n có
các tên gọi là diêm phu mộc, muối, dă sơn, ô đào diệp,
sơn ngô đồng, ngũ bội sài, ô diêm bào, ô toan
đào v.v… Do thành phần dùng để làm thuốc là quả
của nó, có vỏ cứng và sắc nâu, nếu không chú ư, sẽ tưởng đó là vỏ của loài ngao
mật.
[55] Tứ Quân Tử Thang
là bài thuốc truyền thống gồm bốn vị thuốc
là nhân sâm, bạch truật, phục linh, và cam thảo. Toa thuốc này được
coi là bổ dưỡng bao tử và tỳ tạng, khiến cho tỳ tạng khỏe
mạnh, bổ dương, ích khí, chủ yếu dùng để trị liệu các chứng
bệnh về bao tử, thiếu máu v.v…
[56] Phù quan (符官) là thuật ngữ
trong Đạo giáo, chỉ thần tướng có trách nhiệm
thủ hộ bùa, trừ tà, đồng thời truyền
đạt chỉ thị trong lá bùa để thông tri với
quỷ thần.
[57] Phương Hiếu
Nho (1357-1402), tự Hy Trực và Hy Cổ, hiệu là Tốn
Chí. Ông làm trọng thần thời Kiến Văn Đế
(Châu Doăn Văn), đảm nhiệm chức Hàn Lâm Thị
Giảng và Hàn Lâm Học Sĩ, là cố vấn quan trọng
của nhà vua. Ông là một vị đại Nho được
người đương thời tôn trọng. Khi Yên
vương Châu Đệ tấn công kinh
đô, đoạt ngôi của Kiến Văn Đế,
đă nhiều lượt chiêu hàng ông, định lợi dụng
ông viết chiếu thư để yên ḷng dân, nhưng ông
kiên quyết không đầu hàng, cuối cùng Châu Đệ đành phải chém
ông.
[58] Cung Thắng
(68-11 trước Công Nguyên), tự Quân Tân, là người
đất Sở (nay là thành phố Từ Châu, tỉnh Giang
Tô). Nổi tiếng hiếu học từ bé, thông hiểu
kinh điển Nho gia. Ông làm quan đến chức Thừa
Tướng Tư Trực, Quang Lộc đại phu. Ông
chuộng giản dị, tiết kiệm, nhiều lần
dâng sớ can gián triều đ́nh đừng xa xỉ, phung
phí công quỹ. Chán nản trước triều chánh hủ
bại, ông cáo bệnh, từ quan. Khi Vương Măng cướp
ngôi nhà Hán, y phái người vời ông ra làm Thái Tử
Sư Hữu Tế Tửu, ông bèn tuyệt thực đến
chết.
[59] Trương
Vĩ sống vào đời Đông Tấn, từ bé đă
được ca ngợi là người có tiết tháo,
cương trực. Ông từng làm quan đến chức
Lang Trung Lệnh dưới thời Tấn Cung Đế
(Tư Mă Đức Văn). Khi Lưu Dụ cướp
ngôi nhà Tấn, đă sai ông đem thuốc độc ép Tấn
Cung Đế uống. Ông than thở: “Độc chết
vua để cầu được sống, ta có mặt
mũi nào để sống trong cơi đời nữa!” Bèn
tự uống thuốc độc mà chết.
[60] Lư Quân (?-906)
là danh tướng thời Ngũ Đại. Ông vốn có
tên là Lư Vinh, về sau v́ tránh tên húy của Châu Thế Tông
(Sài Vinh), nên đổi tên thành Lư Quân. Ông giỏi dùng kỵ
binh, vũ dũng, là khai quốc công thần của nhà Hậu
Châu, được phong làm Chiêu Nghĩa Tiết Độ
Sứ, Kiểm Hiệu Thái Phó, Đồng B́nh Chương
Sự, nhiều lần chống lại quân Khiết Đan
giành thắng lợi. Khi Triệu Khuông Dẫn lập ra nhà
Tống, diệt Hậu Châu, sai sứ ủy dụ và phong
cho ông làm Trung Thư Lệnh, ông kiên quyết từ chối,
tận trung với nhà Hậu Châu. Ông liên kết với quân
Bắc Hán và Lư Trọng Tấn đánh Tống. Khi thất
bại, ông gieo ḿnh vào lửa, tự sát.
[61] Tức Bá Di, Thúc Tề
không đầu hàng nhà Châu, không ăn thóc gạo của nhà
Châu, bèn hái rau vi để ăn đỡ ḷng. Vua Nghiêu muốn
phong tước cho Hứa Do, Hứa Do trốn sang Ky
Sơn để tránh né.
[62] Đây là một câu nói
trong thiên Tử Trương của sách Luận Ngữ: “Mạnh
Thị sử Dương Phu vi sĩ sư, vấn ư
Tăng Tử. Tăng Tử viết: - Thượng thất
kỳ đạo, dân tán cửu hỹ. Như đắc kỳ
t́nh, tắc ai căng nhi vật hỷ” (Mạnh Thị
sai Dương Phu làm quan trông nom về h́nh pháp, Dương
Phu hỏi ư Tăng Tử. Tăng Tử nói: - Người
trên đánh mất đạo nghĩa, ḷng dân tản mác
đă lâu. Nếu hiểu rơ chân tướng của vụ
án th́ hăy nên thương xót tội nhân. Đừng do đă
hiểu rơ vụ án, bèn cảm thấy sung sướng).
[63] Nguyên văn “giáp côn”
(夾棍). Đây là một dụng
cụ để tra khảo gồm hai thanh gỗ to có xỏ
lỗ để buộc thừng. Khi tra khảo, nha dịch
kẹp đùi tội nhân vào rồi siết chặt thừng,
khiến cho tội nhân đau đớn, phải cung khai hoặc
nhận tội.
[64] Từ Tử B́nh tên thật
là Từ Cư Dịch, tên tự là Tử B́nh, người
xứ Đông Hải, biệt hiệu là Sa Địch tiên
sinh và Bồng Lai Tẩu. Theo truyền thuyết, ông ẩn
cư tại động đá trên ngọn Tây Phượng
núi Thái Hoa, sống vào đời Bắc Tống, là một
nhà chiêm tinh và mạng lư gia nổi tiếng, tinh thông âm
dương ngũ hành, có công hoàn thiện cách đoán mạng
dựa trên Bát Tự, được người đời
gọi là Tử B́nh Bát Tự.
[65] Phép đoán mạng thường
dựa trên
năm, tháng, ngày, giờ sanh. Năm, tháng, ngày, giờ theo Âm
Lịch đều có thiên can (Giáp, Ất, Bính…) và địa
chi (Tư, Sửu, Dần, Mẹo…) riêng. Nhật Can là thiên can của
ngày hôm đó. Năm, tháng, ngày giờ xét theo ngũ hành (chẳng
hạn Giáp là dương mộc, Ất là âm mộc…, Tư là hỏa,
Sửu là thổ….) lại có xung khắc hoặc sanh trưởng
như Thổ sanh Kim, Kim sanh Thủy. Kim khắc Mộc, Mộc
khắc Thổ v.v… Xung là không hợp nhau, xung đột, biến
động, chia ĺa. Chẳng hạn, Tư và Ngọ là
tương xung. Tứ Hành Xung là Dần, Thân, Tỵ, Hợi
v.v… Hợp là ḥa hợp như Tam Hợp (Dần, Ngọ,
Tuất). H́nh là xung khắc gây hại đến sức khỏe,
hoặc có thị phi, kiện tụng nếu hai cặp
địa chi ấy đi đôi với nhau, chẳng hạn
như Dần, Tỵ, Thân là tam h́nh. Hại là dễ gây bất lợi,
chẳng ḥa thuận, phản bội… như Tư và Mùi là hại.
[66] Dựa trên năm tháng
ngày giờ để quy định lá số của một
người nào đó có những ngôi sao nào chiếu mạng
tương ứng trong một cung nào đó, giống
như trong lá số tử vi.
[67] Một khắc
bằng mười lăm phút hiện thời. Do một thời
thần (Tư, Sửu, Dần, Mẹo…) thời cổ bằng
hai tiếng đồng hồ hiện thời, nên mới
nói một thời là tám khắc.
[68] Gọi Đường
Cao Tổ (Lư Uyên) là Đường Nghiêu Thần v́ khi ông chết,
quần thần dâng thụy hiệu là Thái Vũ Hoàng Đế,
Đường Cao Tông (cháu nội
của Lư Uyên) đổi thụy hiệu của ông nội thành Thần
Nghiêu Hoàng Đế. Gọi Tống Thái Tổ (Triệu
Khuông Dẫn) là Tống Nghệ Tổ nhằm ca ngợi
tài đức của vị vua khai sáng triều đại.
[69] Ư nói: Nhật thực
chỉ thay đổi một chút trên bầu trời, mọi
người đều thấy rơ.
[70] Tức là không dựa
theo điểm số, cứ tự tiện cho đứa học
điểm thấp hơn các tṛ khác được hưởng
hạn ngạch Cống Sanh, được hưởng học
bổng.
[71] Tô Thức,
tên tự là Tử Chiêm, biệt hiệu là Đông Pha, do vậy,
đôi khi ông được gọi là Tử Chiêm Thị.
[72] Lữ Thị tên thật
Lữ Trĩ, vợ cả của Lưu Bang, là người
được phong danh hiệu Hoàng Hậu duy nhất của
Lưu Bang, và cũng là hoàng hậu chính thức đầu
tiên trong lịch sử Trung Hoa. Khi Lưu Bang chết, tuy bà không lâm triều,
nhưng trực tiếp can dự triều chánh rất nhiều
lần dưới thời Hán Huệ Đế (Lưu
Doanh). Sau khi Lữ Hậu chặt chân tay, khoét mắt, đốt
tai Thích Cơ (sủng thiếp của Lưu Bang), vứt
vào nhà xí gọi là “nhân trệ” (lợn người),
Huệ Đế kinh sợ, bệnh tật liên miên, hết sức sợ sệt mẹ,
bà thừa cơ nắm hết triều chánh, kéo phe cánh anh
em, họ hàng của ḿnh (như Lữ Tu, Lữ Thái, Lữ
Sản v.v…) gây nên mối họa về sau, khiến cho nhà Hán suưt sụp đổ. Khi Huệ
Đế chết, hai thiếu đế là Lưu Cung và
Lưu Hồng được bà ta lần lượt đưa lên làm vua, quyền hành
hoàn toàn nằm trong tay bà ta cho đến khi bà ta chết.
Sau khi bà ta chết, thừa tướng Trần B́nh và Giáng
Hầu Châu Bột lập mưu đảo chánh diệt
chư hầu và phe cánh họ Lữ, đưa con thứ của
Cao Đế là Lưu Hằng (con trai của Hán Cao Đế
và Bạc Cơ) lên làm vua, tức Hán Văn Đế. Chính
bà ta đă lập mưu cho Hán Cao Tổ giết hại công
thần của nhà Hán như Hàn Tín, Bành Việt,
Trương Ngao v.v…
[73] Trực Chỉ (直指) là một chức quan được
đặt ra từ thời Hán Vũ Đế, có trách nhiệm
phụng mạng hoàng đế tuần tra và xử lư các sự
việc quản trị tại vùng đất tới điều
tra. Do khi xuất tuần, thường mặc áo thêu, viên
quan này c̣n được gọi là Tú Y Trực Chỉ, hay
Trực Chỉ Tú Y Sứ Giả.
[74] Cửu Khanh có hai cách
hiểu: Hiểu theo nghĩa rộng là danh xưng để
chỉ chung các vị quan to đứng đầu trong triều
đ́nh. Hiểu theo nghĩa hẹp, Cửu Khanh là chín chức
quan được lập từ thời Tần - Hán bao gồm:
- Phụng
Thường (về sau đổi thành Thái Thường,
chuyên lo cúng tế Thế Miếu, kiêm nhiệm việc
văn hóa giáo dục, c̣n gọi là Tông Bá, Tông Khanh, hoặc Xuân Quan Khanh, tức Lễ Bộ Thượng
Thư sau này).
- Lang Trung Lệnh
(c̣n gọi là Quang Lộc Huân, chưởng quản việc
túc trực, quản trị người hầu của vua, trông nom chủ yếu về
công tác hành chánh, tức tiền thân của Lại Bộ Thượng Thư).
- Vệ Úy
(chưởng quản việc trị an trong cung, cai quản
thị vệ v.v…).
- Thái Bộc
(chưởng quản việc xe ngựa, các thú nuôi của
vua v.v…).
- Đ́nh Úy (quản
trị h́nh pháp).
- Tông Chánh (quản
trị sự vụ trong hoàng tộc, hoàng thân quốc thích).
- Điển
Khách (tức Đại Hồng Lô sau này, chuyên tiếp
đăi các sứ thần đến chầu).
- Trị Túc Nội
Sử (về sau gọi là Đại Tư Nông, quản trị
kho lương, chuyển vận lương thực v.v…).
- Thiếu Phủ
(chưởng quản các ngành nghề nông nghiệp và nông trang riêng
của vua).
Đến đời
Minh, do Lục Bộ đă h́nh thành, Cửu Khanh bao gồm Lục
Bộ Thượng Thư, Đô Sát Viện Đô Ngự Sử
(cơ quan giám sát tư pháp ngoài bộ H́nh), Đại Lư Tự
Khanh, và Thông Chánh Sứ gọi
là Đại Cửu Khanh. Ngoài
ra, các chức quan
Thái Thường Tự Khanh, Thái Bộc Tự Khanh, Quang Lộc
Tự Khanh, Chiêm Sự, Hàn Lâm Học Sĩ, Hồng Lô Tự
Khanh, Quốc Tử Giám Tế Tửu (hiệu trưởng
của Quốc Tử Giám), Thượng Lâm Uyển Khanh, và Thượng Bảo Tư Khanh hợp
Tiểu Cửu Khanh.
[75] Mặc Kỳ
Tiết, tự là Nguyên Trung, là kẻ xu phụ Tần Cối,
được Tần Cối cất nhắc làm Giám Sát Ngự
Sử đời Tống Cao Tông. Chỉ trong ṿng ba tháng, do
khéo nịnh hót, hắn được thăng lên làm Ngự
Sử Trung Thừa. Cùng với Tần Cối, hắn liên tục
ton hót với vua, vu vạ, đàn hặc Nhạc Phi “ỷ
ḿnh công cao, mưu toan lấn vua”, khiến cho Nhạc Phi cuối
cùng bị Cao Tông xử tử. Về sau, hắn c̣n
được thăng lên làm Thượng Thư Hữu Bộc
Xạ Đồng B́nh Chương Sự (phó thừa tướng).
Vua Tống u mê không nhận ra tội phản quốc của
hắn, khi hắn chết, c̣n ban thụy
hiệu là Trung Tĩnh, ban thưởng vàng bạc rất hậu
để lo tang sự, c̣n cho mười hai đứa con
của hắn đều được làm quan!
[76] Ngột Truật tên
đầy đủ Hoàn Nhan Tông Bật Oát Chuyết
(1090-1148). Ngột Truật là cách phiên âm khác của Oát Chuyết (đôi khi c̣n phiên âm thành Oát Xuất hoặc
Ô Châu), thuộc bộ
tộc Nữ Chân (Jurchen), thuộc ḍng dơi hoàng thất nhà
Kim (ông là con thứ tư của Kim Thái Tổ Hoàn Nhan A Cốt
Đả), thống soái của quân Kim, năm lần tấn công Nam Tống,
mở rộng lănh thổ nước Kim bao gồm toàn bộ
Bắc Trung Hoa cho đến sông Hoài, buộc vua Tống phải
xưng thần với nhà Kim.
[77] Địch Nhân Kiệt
(630-704), tên tự là Hoài Anh, người huyện Thái Nguyên
thuộc Tinh Châu, làm tể tướng của nhà Đường
và nhà Châu (của Vũ Tắc Thiên). Trước sau, ông tiến
cử những vị hiền thần như Trương
Giản Chi, Hoàn Ngạn Phạm, Kính Huy, Đậu Hoài Trung, Diêu Sùng v.v… Về sau, họ
thành bậc lương đống pḥ tá nhà Đường.
Ông từng giữ chức Đại Lư Tự Thừa, xử
án cánh trực, liêm minh, chấp pháp không thiên vị, giải
quyết hết những án tồn đọng, không xử
oan cho ai. Khi Vũ Hậu chiếm ngôi nhà Đường, lập
ra nhà Châu, rất nể trọng ông. Tuy phục vụ
Vũ Hậu, nhưng ông khéo léo giữ yên đất nước,
khiến cho đất nước phồn thịnh, bọn
gian nịnh hoặc họ hàng của Vũ Hậu hết
sức sợ ông. Lương Quốc Công là tước hiệu
truy tặng sau khi ông đă qua đời.
[78] “Cửu hợp nhất
khuông” (九合一匡) là nói gọn của “cửu hợp chư hầu,
nhất khuông thiên hạ”, là từ ngữ ca ngợi tài
năng cai trị quốc gia. Dưới sự phù tá của
Quản Trọng, nước Tề hùng mạnh, Tề Hoàn
Công trở thành bá chủ của chư hầu, đă chín lần
hội chư hầu kết minh, giữ yên chư hầu, ổn
định thời cục rối loạn thời Chiến
Quốc, khiến các nước không dám ho he, gây chiến với
nhau.
[79] Bát
nguyên (八元) là tám vị
tài tử trọn vẹn trung nghĩa, cung kính, đức
đẹp, nhân từ, ḥa thuận thời Đế Khốc:
Bá Phấn, Trọng Kham, Thúc Hiến, Quư Trọng, Bá Hổ,
Trọng Hùng, Thúc Báo, và Quư Ly.
Bát khải
(八愷) là tám
người tài thời Hắc Đế Chuyên Húc, họ nổi tiếng
về đức hạnh, chân thành, tức Thương
Thư, Đồi Khải, Đảo Diễn, Đại
Lâm, Mang Giáng, Đ́nh Kiên, Trọng Dung và Thúc Đạt.
Bát
sĩ (八士) là tám
người hiền năng đời Châu: Bá Đạt,
Bá Quát, Trọng Đột, Trọng Hốt, Thúc Dạ, Thúc
Hạ, Quư Tùy, Quư Oa.
[80] Tức
“bát cố, bát trù, bát tuấn, bát cập” là những
danh xưng ca ngợi kẻ sĩ. Theo đó, Cố (顧)
nghĩa là do đức hạnh có thể hướng dẫn
người khác, Cập (及): Đức hạnh khiến cho người
khác ngưỡng mộ, noi theo. Trù (廚): Tài
năng có thể dạy người khác. Tuấn (俊): Tài
năng vượt trội người khác.
[81] Vương
Thế Trinh (1526-1590), tự Nguyên Mỹ, hiệu Phượng
Châu, biệt hiệu là Yểm Châu Sơn Nhân. Ông là một
nhà văn và sử gia nổi tiếng đời Minh, làm
quan tới chức H́nh Bộ Thượng Thư. Văn
thơ của ông trang nhă, được coi là kế thừa
phong cách của Tô Đông Pha, phảng phất cung cách
thơ văn thời Lục Triều. Ông trước tác
khá nhiều: Quốc Triều Kỷ Yếu (mười quyển),
Yểm Sơn Đường Biệt Tập (một
trăm quyển), Minh Dă Sử Hội (một trăm quyển),
Yểm Châu Sơn Nhân Tục Cảo (hai trăm mười
tám quyển), Nghệ Uyển Chi Ngôn (mười hai quyển),
Thiên Ngôn Hội Lục (mười quyển) v.v…
[82] Đây là lời phê
phán đối với lối văn chương biền ngẫu
(viết văn đối vần, đối ư từng cặp,
chú trọng vần điệu sao cho lời văn réo rắt,
du dương, dễ đi vào con đường sáo ṃn, rỗng
tuếch, không có thực chất). Tám đời tức là
các triều đại Đông Hán, Ngụy, Tấn, Tống,
Lương, Tề, Trần, Tùy.
[83] Tây Minh (西銘) c̣n gọi là
Đính Ngoan (訂頑) là một bài văn
trong tác phẩm Chánh Mông của Trương Tải.
Trương Tải viết bài này chỉ có 253 chữ, ghi
lên cửa. Tŕnh Di sửa tên bài này thành Tây Minh. Nội dung chủ
yếu có thể tóm gọn thành “dân bào vật dữ, vật
ngô dữ dă” (Toàn thể mọi người đều
là anh em, loài vật cũng có linh tánh, tri giác giống hệt
như ta, chúng ta phải đối xử b́nh đẳng với
loài vật như bạn bè).
[84] Thiệu Ung (1012-1077),
tên tự là Nghiêu Phu, biệt hiệu là An Lạc tiên sinh,
được người đời xưng tụng là
Bách Nguyên tiên sinh, thụy hiệu là Khang Tiết. Ông
được xếp vào Bắc Tống Ngũ Tử
(năm người được thờ phối hưởng
trong Văn Miếu). Ông là một nhà Nho nổi tiếng
đồng thời là một nhà Dịch học lỗi
lạc. Ông viết bộ Hoàng Cực Kinh Thế được
coi là tác phẩm đại tập thành của học thuyết
Tiên Thiên Dịch Số.
[85] Chư sanh (諸生) là người đă
thông qua khảo thí được vào học tại trường
ở kinh đô (Thái Học, tức Quốc Tử Giám sau
này) và các trường địa phương do chánh quyền
quản lư. Thời Minh, Chư Sanh thường có nghĩa
là người đă đỗ Tú Tài.
[86] Thế gia là từ ngữ
chỉ gia tộc hiển hách, nhiều đời thịnh
vượng, có quan chức, quyền thế, quư hiển, hoặc
tiếng thơm đáng ca ngợi. Riêng trong Sử Kư Tư
Mă Thiên, chữ “thế gia” được dùng
để chỉ ḍng dơi các chư hầu,
[87] Cơ Xương (Châu
Văn Vương) là vua một nước nhỏ thuộc
vương triều Thương. Do cha ông là Cơ Quư Lịch
dẫn bộ tộc Châu xuống xây thành Cư Ấp ở
Châu Nguyên, thuộc phía Tây Nam Kỳ Sơn, nên Cơ Quư Lịch được nhà
Thương phong làm Tây Bá. Khi Quư Lịch bị vua
Thương giết hại, Cơ Xương nối ngôi,
cũng được thừa hưởng tước
phong Tây Bá. Do đó, Tây Bá nói trong bài này chính là nói về Châu
Văn Vương Cơ Xương.
[88] Tán Nghi Sanh là bầy
tôi trung thành, đồng thời là mưu thần của
Châu Văn Vương. Ông cùng với Hoằng Yểu và Thái
Điên tích cực phù tá Châu Văn Vương.
[89] Gia Cát Lượng,
có tên tự là Khổng Minh, hiệu là Ngọa Long. Ông
được phong tước Vũ Vương Hầu
dưới thời Lưu Thiện (con trai Lưu Bị);
khi mất, lại được tặng thụy hiệu
là Trung Vũ. Do vậy, ông thường được gọi
là Gia Cát Vũ Hầu.
[90] Tử Trương là
tên tự của Chuyên Tôn Sư (530-447 trước Công
Nguyên), người Dương Thành nước Trần (nay
là huyện Đăng Phong thuộc tỉnh Hà Nam). Chuyên Tôn
Sư nhỏ hơn Khổng Tử bốn mươi tám tuổi,
dung mạo đẹp đẽ. Do quá chú ư đến dung mạo, nên Tử
Trương thiếu phần
chất phác, chân thành. Khổng Tử chê Tử Trương
tánh cuồng ngạo, khó giữ ḷng nhân.
[91] Quư Thông là tên tự của
Thái Nguyên Định (1135-1198), hiệu là Tây Sơn, người
xứ Ma Sa, huyện Kiến Ninh, tỉnh Phước Kiến,
là học tṛ của Châu Hy, và là một nhà Phong Thủy nổi
tiếng. Khi Hàn Thác Trụ, thừa tướng thời Tống
Ninh Tông, ra sức đả phá Lư Học, học thuyết
của Châu Hy bị coi là ngụy học, Thái Nguyên Định
do là môn đệ thân thiết cũng bị đày đi
Đạo Châu (nay thuộc Hồ Nam). Hai năm sau ông chết
tại nơi lưu đày.
[92] Đối sách: Viết
văn biện luận giải thích, tŕnh bày kiến giải
theo đề thi trong khoa cử gọi là đối sách.
[93] Tề Giản Công
(Khương Nhiệm) là con trai của Tề Điệu
Công (Khương Dương Sanh). Khi ông nội của Tề
Giản Công là Tề Cảnh Công (Khương
Chử Cữu) mất, người chú là Khương Đồ
được lập làm vua, Khương Dương Sanh thất thế, phải
mang con chạy sang nước Lỗ. Năm 489 trước
công nguyên, Điền Khất giết Khương Đồ,
đón Khương Dương Sanh về
làm vua, tức Tề Điệu
Công. Năm 485
trước Công Nguyên, Ngô Phù Sai liên minh với các nước Lỗ, Châu và Đàm tấn
công Tề. Họ Băo vốn có thù từ trước, bèn giết
Tề Điệu Công, rồi trốn sang Ngô. Điền
Khất lập Khương Nhiệm lên ngôi, tức Tề Giản Công. Điền Khất
chết, Điền Hằng (Điền Thành Tử) lên
thay. Do lúc lưu vong nhờ ơn Hám Chỉ giúp đỡ,
Tề Giản Công trọng dụng Hám Chỉ. Điền
Hằng đố kỵ. Năm 481 trước Công Nguyên,
Điền Hằng dẫn quân vây cung vua. Hám Chỉ mang quân
cứu vua,
nhưng thua trận, lạc
đường, chạy nhằm sang Phong Khâu là đất
của họ Điền, bị người Phong Khâu giết
chết. Tháng Sáu, Giản Công dẫn vợ trốn sang
đất Yên, bị Điền Hằng đuổi theo giết
chết tại Thư Châu (nay là huyện Đại Thành thuộc
tỉnh Hà Bắc). Điền Hằng
đưa Khương Ngao (em của Tề Giản Công) lên
ngôi, tức Tề B́nh Công. Khổng Tử nghe chuyện này hết
sức phẫn nộ, tắm gội, thay áo, đội
mũ ngay ngắn, vào cung xin vua Lỗ Ai Công (Cơ Tương) phát quân thảo phạt
Điền Hằng. Do thời cổ, chữ Điền (田) và Trần (陳) đọc cùng một
âm, nên cổ thư vẫn dùng hai chữ Trần và Điền
thay thế lẫn nhau. Cho đến năm 391 trước
Công Nguyên, hậu duệ của Điền Hằng là
Điền Ḥa (c̣n gọi Điền Tề Thái Công) đuổi
Tề Khang Công (Khương Thải,
cháu nội của Tề B́nh Công) ra hải đảo,
cho ăn lộc một thành, c̣n hắn tự xưng làm vua
nước Tề. Sử gọi giai đoạn này là
Điền Tề.
[94] Tam tử chính là ba
khanh đại phu chuyên quyền thao túng nước Lỗ,
Sử gọi là Tam Hoàn. Nguyên do Lỗ Hoàn Công có con trưởng
là Khánh Phủ do người thiếp sanh ra (v́ thế, Khánh Phủ không thể
được chọn làm Thế Tử). Sau đó, Lỗ Hoàn
Công lấy Văn Khương (con gái Tề Hy Công), sanh ra
Cơ Đồng (tức Lỗ Trang Công) và hai em trai là
Cơ Nha và Cơ Hữu. Sau khi Lỗ Trang Công lên ngôi, đều phong cho họ làm khanh
đại phu. Họ thao túng triều chánh, h́nh thành ba gia tộc
đấu đá lẫn nhau, sử gọi là Mạnh Tôn Thị
(con cháu của Cơ Khánh Phụ), Thúc Tôn Thị (con cháu của
Cơ Nha), và Quư Tôn Thị (con cháu của Quư Hữu). Thời
Lỗ Ai Công (Cơ Tương), Tam Hoàn thế lực rất lớn. Lỗ Ai Công
toan dẹp Tam Hoàn, bị họ đánh bại, phải
lưu vong sang nước Vệ, nước Trâu rồi chết
ở nước
Việt.
[95] Đây là câu nói của
Tăng Sâm trả lời kẻ bắt bẻ ông đang
cư tang mẹ, mặc tang phục đến viếng
tang người bạn là Tử Trương, cho là không hợp
lễ.
[96] Đây là một câu
trích từ thiên Tiên Tấn sách Luận Ngữ, Khổng Tử
tán thưởng Nam Cung Quát là người ngôn hạnh thận
trọng, có phẩm đức, bèn gả cháu gái (con gái của
Mạnh B́, tức Khổng B́) cho Nam Cung Quát. Cha Khổng Tử
là Thúc Lương Hột (ông này tên là Khổng Hột, tự
là Thúc Lương, nên Sử hay gọi là Thúc Lương Hột)
lấy Thí Thị, sanh được chín gái, không có con trai.
Ông lấy thiếp sanh ra Khổng B́, nhưng Khổng B́ có
tật ở chân, không thể tế tổ tiên. Về sau,
Thúc Lương Hột lấy bà Nhan Trưng Tại mới
sanh ra Khổng Tử. Do Khổng B́ là anh, nên mới gọi là Mạnh
B́, hoặc Bá B́.
[97] Đây là một câu
văn của Vương Hy Chi trong bài Lan Đ́nh Tập Tự.
[98] Sau khi Hạng
Vũ diệt nhà Tần, Hàn Sanh khuyên Hạng Vũ nên
đóng đô tại Quan Trung, v́ nơi đó hiểm yếu,
đất đai ph́ nhiêu, có thể xưng vương lâu
dài, nhưng Hạng Vũ thấy cung điện nhà Tần
bị tàn phá, hoang tàn, muốn trở lại vùng Giang
Đông, bèn nói: “Phú quư mà chẳng về cố hương,
như áo gấm đi đêm, ai biết đến?” Hàn Sanh
lui ra, nói: “Người ta bảo người nước Sở
như con vượn đội mũ, quả nhiên là
như vậy”. Hạng Vũ nghe báo lại, ngay lập tức
đem luộc Hàn Sanh.
[99] Đây là lời than thở
của Lư Tư khi bị hành h́nh. Xin xem lại chú thích trong
bài “chó vàng ở Đông Môn” trong Trúc Song Tùy Bút.
[100] Cộng chủ là thủ
lănh của liên minh các bộ lạc. Vị cộng chủ
được các bộ lạc và thị tộc tôn kính,
công nhận là lănh tụ, nhưng không có quyền uy tuyệt
đối, tập trung quyền hành như chánh quyền trung
ương sau này. Cộng chủ tồn tại vào thời
các vương triều Hạ, Thương, Châu.
[101] Châu Khang Vương
(1040-996 trước Công Nguyên) là vua thứ ba của nhà Châu,
tên là Cơ Chiêu, con của Châu Thành Vương (Cơ Tụng).
Ông được Thiệu công Thích và Tất công Cao pḥ tá.
Thời ông cai trị, thiên hạ thái b́nh, chủ
trương tiết kiệm, không dùng h́nh phạt. Sử gọi
giai đoạn cai trị của ông và Châu Thành Vương
là “Thành Khang chi trị”.
[102] Mô Tượng (摸象) là “sờ voi”. Đây
là cách nói khiêm hư, ngụ ư những kiến giải về
kinh Lăng Nghiêm này là nông cạn, cục bộ, hạn hẹp
như người mù sờ voi vậy.
[103] Phường
bổn (坊本) là từ
ngữ chỉ các sách vở
được ấn hành bởi các
xưởng in trong dân gian, nhằm phân
biệt với quan bổn (bản in do quốc gia
đứng ra chủ trì ấn loát) và
tư thục khắc bổn (bản in của một
cá nhân hoặc một dòng họ).
[104] Phương sách (方冊) có
nghĩa gốc là Cổ Thư, chỉ một
kiểu in sách truyền thống của Trung Hoa.
Sách được chia thành trang, in trên một
mặt của một tờ giấy dài.
Sách in xong sẽ được gấp thành
trang, khâu gáy, gắn bìa tạo thành một
quyển sách thường có từ bốn
mươi đến năm mươi trang.
Trước thời Minh, kinh Phật
thường in trên giấy dài, cuộn thành
trục, hoặc theo lối Điệp Tử
tức là xếp
thành trang, nhưng không khâu gáy.
[105] Đây là một câu
chuyện liên quan đến Mạnh Thường Quân (Điền Văn). Năm 298
trước Công Nguyên, Điền Văn đi sứ sang nước Tần. Tần Chiêu
Tương Vương (Doanh
Tắc) nghe tiếng Mạnh
Thường Quân là người hiền, có năng lực,
muốn giữ ông lại làm tướng quốc. Nhưng
có người nói: “Điền Văn là quư tộc nước
Tề, nếu làm tướng quốc của Tần, ắt
sẽ ưu tiên cho Tề, Tần sẽ lâm nguy”. Tần
vương nghe vậy, muốn giết Điều Văn.
Điền Văn sai người đút lót cầu cứu
với một sủng phi của vua Tần. Do bà ta thổi
gió bên tai, vua Tần đồng
ư thả Điền Văn. Không lâu sau, vua Tần hối hận,
sai người đuổi bắt. Đến ải Hàm Cốc,
cửa ải đóng chặt, quy định mặt trời
mọc mới mở. May sao, trong đám môn khách của
Điền Văn có người giả tiếng gà gáy, khiến cho gà trong ải đều gáy theo. Quân giữ
ải cho là trời đă sáng, mở cửa ải, Điền
Văn vượt ải trốn về Tề.
[106] Quân (鈞) là đơn vị
đo lường thời cổ. Một quân là ba
mươi cân. Như vậy, một Quân khoảng 15kg.
[107] Quốc Phong
chính là một trong ba phần của kinh Thi (Phong, Nhă, Tụng).
Quốc là các nước chư hầu. Phong có nghĩa là ca
khúc, tức là làn điệu riêng của mỗi nước.
Quốc Phong gồm một trăm sáu mươi bài, bao gồm
các bài hát của mười lăm nước (Châu Nam, Thiệu
Nam, Bội, Dung, Vệ, Vương, Trịnh, Cối, Tề,
Ngụy, Đường, Tần, Bân, Trần, Tào) từ thời
Tây Châu tới thời Xuân Thu được tuyển chọn
để diễn xướng trong cung đ́nh. Theo các nhà
nghiên cứu, có một số bài do các quư tộc soạn ra
lấy cảm hứng từ các bài quốc phong trước
đó. Nội dung ca khúc (đa số là dân ca) phản ánh tâm
t́nh, cuộc sống của người thời ấy. Từ
ngữ hồn hậu, có độ mỹ cảm cao.
[108] Đại
Trung Thừa là danh xưng để gọi Tả, Hữu
Đô Ngự Sử thuộc Đô Sát Viện đời
Minh. Đô Sát Viện chính là cơ quan giám sát và đàn hặc
quan lại được thiết lập từ đời
Đường, là một viện trong ba viện của Ngự
Sử Đài (Đài Viện, Điện Viện, và Đô
Sát Viện). Tả Đô Ngự Sử là trưởng quan
của Đô Sát Viện. Thời Minh, Đô Ngự Sử
c̣n là hàm gia phong cho các quan Tổng Đốc, Đề
Đốc, Tuần Phủ, Kinh Lược, Tổng Lư, Tán
Lư, Tuần Thị, và Phủ Đài. Khi có những vụ trọng
án, Đô Sát Viện sẽ tham dự cùng với Đại
Lư Tự và H́nh Bộ (thường gọi là Tam Đại
Pháp Ty đồng thẩm) để bảo đảm quá
tŕnh thẩm án, điều tra, kết tội và thi hành án
chí công, vô tư.
[109] Nguyên văn “vân
hưng, b́nh tả” (雲興瓶瀉),
c̣n nói là “vân thăng b́nh tả” hoặc “vân đằng
b́nh đảo”. Đây là thuật ngữ thường
dùng trong nhà Thiền để h́nh dung hết thảy đều
thuận theo tự nhiên, như mây luôn tự nhiên bốc lên
cao, dốc ngược cái b́nh th́ nước chứa trong ấy
tự nhiên tuôn ra.
[110] Tức là đọa
làm thân súc sanh bị giết, mổ, nấu nướng
trong tương lai sau khi thoát khỏi địa ngục.
[111] Tác phẩm
này do đạo sĩ Hựu Huyền Tử
biên soạn vào năm Đại Định 11 (1171)
nhà Kim. Do ông ta viết là trong mộng
được Thái Vi Tiên Quân truyền dạy, nên
tác phẩm này thường được
gọi là Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách. Do sách có tác dụng
khuyến thiện sửa lỗi rất hữu
ích, nên tác phẩm này rất
được Phật môn Trung Hoa coi trọng.
[112] Linh đài là
chân tâm của chính mình. Linh đài (靈臺) trong nghĩa gốc
vốn là cái đài cao để quan sát
tinh tú và các hiện tượng thiên
văn để dự đoán cát hung của
đế vương thời cổ. Do vậy,
từ ngữ “linh đài”
được mượn dùng để
chỉ tâm linh, chân tâm sáng suốt của mỗi
người.
[113] Nhị bộ
đồng tử có hai cách hiểu:
- Theo Phật giáo,
khi con người sanh ra, sẽ có hai vị
trời thường đi theo, một là
Đồng Danh, hai là Đồng Sanh. Hai vị trời
này giám sát và ghi chép hành vi
thiện, ác của cá nhân ấy.
- Theo Thái
Thượng Cảm Ứng Thiên, có hai vị
trời thường giám sát hành vi, ghi
chép thiện ác của mỗi cá nhân, gọi là
Thiện Ác Nhị Bộ Đồng Tử.
Theo Tứ Thiên
Vương Kinh, Tứ
Thiên Vương và thuộc hạ giáng lâm nhân gian
trong sáu ngày trai để tuần tra thiện
ác của nhân gian. Do vậy, họ được
gọi là Lục Trai Chư Thiên.
Thai Bành Tư
Mạng là các vị thần trông coi thiện
ác của mỗi cá nhân theo quan điểm
Đạo Giáo. Theo đó, Tam Thai chính là
sáu tinh tú trong tinh tòa Bắc Đẩu,
được thần cách hóa thành tinh
quân, chia thành ba cặp là Thượng Thai,
Trung Thai và Hạ Thai. Thượng Thai chủ
thọ và mạng vận, Trung Thai chủ về công
đức, Hạ Thai chủ về tài lộc.
Bành tức là Tam Bành, còn gọi là
Tam Thi, tức ba vị thần ẩn sâu trong cơ
thể con người, sai khiến con người
làm những điều sai trái. Theo Động
Thần Quyết, Thượng Thi Bành Cứ
khiến con người ham thích vị ngon, si mê theo
những điều ham muốn, Trung Thi Bành
Chất khiến con người tham đắm
của cải, thích hỷ nộ, Hạ Thi Bành
Kiểu khiến con người ham y phục đẹp,
đam mê dâm dục.
Nhật du và
dạ du là những vị thần du hành trong
nhân gian vào ban ngày (nhật du) và ban đêm
(dạ du) để xem xét công hay tội của con người.
Dữ Tư là
thần chủ trì ban thưởng khi con
người làm thiện, Đoạt Tư là
vị thần chủ trì trừng phạt như giảm
thọ, giảm phước khi con người
tạo tội.
Nguyên hội tiết
lạp là những ngày lễ quan trọng trong
năm theo quan điểm Đạo giáo, như Tam
Nguyên (Thượng Nguyên tức Rằm tháng
Giêng, Trung Nguyên tức Rằm tháng Bảy,
Hạ Nguyên tức Rằm tháng
Mười). Đạo Giáo quy định
ngoài Tam Nguyên còn có Ngũ Lạp là Thiên
Lạp (Mồng Một Tết), Địa Lạp
(mồng Năm tháng Năm), Đạo Đức
Lạp (mồng Bảy tháng Bảy), Dân Tuế Lạp
(mồng Một tháng Mười), Vương
Hầu Lạp (mồng Tám tháng Chạp). Có
thuyết cho rằng Nguyên là ngày Nguyên Tiêu
(Rằm tháng Giêng), Hội là Trung Nguyên, Tiết
là ngày Đoan Ngọ, Lạp là ngày
mồng Tám tháng Chạp.
[114] Dung
Trai Tùy Bút là tập bút kư của Hồng Mại thời Nam
Tống, nội dung chứa đựng sử liệu phong
phú, nên được đánh giá rất cao, và được
coi là tác phẩm cần phải đọc khi nghiên cứu
lịch sử đời Tống. Sách được chia
thành năm phần Tùy Bút, Tục Bút, Tam Bút, Tứ Bút,
Ngũ Bút, bao gồm những ghi chép ngắn, gọi là Tắc.
Tổ Liên Tŕ cũng theo h́nh thức này. Nói
chung, bộ Dung Trai Tùy Bút gồm bảy mươi bốn
quyển, tổng cộng 1.220 tắc. Hồng Mại
(1123-1202), tự là Cảnh Lô, hiệu Dung Trai, người
huyện Bà Dương, Nhiêu Châu (nay là huyện Bà
Dương tỉnh Giang Tây), là một quan văn nổi tiếng
thời Nam Tống, ông từng giữ các chức Hàn Lâm Học
Sĩ, Long Đồ Các Học Sĩ, và Đoan Minh Điện
Học Sĩ. Ngoài Dung Trai Tùy Bút, tác phẩm Di Kiên Chí của
ông cũng rất nổi tiếng. Những tác phẩm ít nổi
tiếng hơn là Tứ Triều Quốc Sử Kư, Khâm Tông
Kư, Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú (một vạn
bài thơ tuyệt cú của người đời
Đường), Kinh Nghĩa Khảo…
[115] Nhạc Phủ (樂府) là
một thể loại thơ cổ. Nhạc Phủ
có nghĩa gốc là cơ quan quản lư âm nhạc vào thời
Tần. Vào đời Hán, Hán Huệ Đế thiết lập
Nhạc Phủ Lệnh để chưởng quản âm
nhạc trong thế tục, thâu thập những ca khúc dân
gian đă được phổ nhạc. Nói cách khác, những
loại thơ viết theo phong cách có thể ca xướng
th́ gọi là Nhạc Phủ.
[116] Đây là ca ngợi
đức tánh điềm tĩnh của nho gia, như Khổng
Tử bị vây hăm tại đất Trần, học tṛ lo
sợ, Ngài vẫn thong dong gảy đàn cầm. Khi nghe tin
có thân hữu mất, Ngài đau buồn tuôn lệ, chẳng ca
hát hoặc tấu nhạc.
[117] Không Thanh c̣n gọi là Thanh Du
Vũ, Thanh Thần Vũ, Dương Mai Thanh, Thanh Yếu Nữ,
công thức hóa học Cu2[CO3][OH]2. Chất
này được dùng trong Đông Y, họ cho rằng Không
Thanh vị chua, tánh hàn, hơi độc, dùng làm thuốc trị
bệnh mắt có màng mộng.
[118] Thái Sử (太史) là chức quan có trách nhiệm chép sử
và quản trị lịch pháp. Về sau, chức vụ này
dần dần bị hạ thấp, chỉ c̣n trông nom lịch pháp và
thiên văn (chiêm nghiệm tinh tú để suy đoán cát
hung). Từ thời Ngụy - Tấn trở đi, Thái Sử chỉ trông coi lịch pháp, c̣n thiên văn do cơ quan Khâm Thiên Giám phụ trách. Đến đời Minh - Thanh, v́ việc biên soạn sử do Hàn Lâm
Viện phụ trách, dân chúng vẫn thường quen gọi
các quan chức thuộc Hàn Lâm là Thái Sử.
[119] Thật Xoa Nan Đà (Śikṣānanda, 652-710) là vị Tăng dịch kinh đến
từ xứ Vu Điền, tinh thông Đại Thừa lẫn
Tiểu Thừa, sống vào đời Đường. Vào
năm Chứng Thánh nguyên niên (695), do thấy kinh Hoa Nghiêm bản
dịch đời Tấn chưa hoàn chỉnh, Ngài khởi
sự dịch kinh Hoa Nghiêm tại Đại Biến Không Tự
ở Lạc Dương cho tới năm Thánh Lịch thứ
hai (699) mới hoàn thành, gồm tám mươi quyển. Do vậy,
bản dịch này được gọi là Bát Thập Hoa
Nghiêm. Bộ kinh này có sự cộng tác của các vị Bồ
Đề Lưu Chi, Nghĩa Tịnh giúp phiên dịch, các vị
Hoằng Cảnh, Viên Trắc, Thần Anh, Pháp Bảo, Pháp Tạng
chứng nghĩa, lại được ngài Phục Lễ
nhuận văn. Vũ Tắc Thiên đọc bản dịch,
hết sức tán thưởng, đích thân soạn lời
tựa. Ngoài ra, Ngài c̣n dịch Đại Thừa Nhập
Lăng Già Kinh, Văn Thù Sư Lợi Thọ Kư Kinh, Nhập
Như Lai Trí Đức Bất Tư Nghị Kinh, Như Lai
Bất Tư Nghị Cảnh Giới Kinh, Phổ Hiền Bồ
Tát Sở Thuyết Kinh, Quán Thế Âm Bồ Tát Bí Mật Tạng
Thần Chú Kinh.
[120] Bí Các vốn
là chỗ cất giữ sách vở của triều đ́nh.
Cơ cấu này đă được thành lập từ
đời Tấn. Đến đời Tống, do điển
tịch quá nhiều, bèn lập ra tam quán là Chiêu Văn Quán, Tập
Hiền Quán và Sử Quán, gọi chung là Sùng Văn Viện
hoặc Quán Các. Đến năm Đoan Củng nguyên niên
(988), lại lập riêng Bí Các thuộc Sùng Văn Viện,
đặt ra các chức quan Trực Bí Các, Bí Các Giảo Lư
v.v… để trông coi sự vụ thuộc Bí Các.
[121] Đại Tư Thành (大司成) là chức quan trông coi các sự vụ thuộc về
giáo dục, chịu trách nhiệm tổ chức khảo hạch
và bồi dưỡng đức hạnh của học
tṛ. Chức quan này đă có từ đời Châu, dùng để
gọi chung các thuộc hạ của quan Tư Đồ.
Thời Đường Cao Tông, triều đ́nh đổi
Quốc Tử Giám thành Tư Thành Quán, và đổi chức Tế Tửu (hiệu trưởng Quốc Tử
Giám) thành Đại Tư Thành (ngoài nhiệm vụ làm
hiệu trưởng Quốc Tử Giám, Đại Tư Thành
c̣n quản trị chế định và chánh sách thi cử
toàn quốc, cũng như chủ tŕ các sự vụ liên
quan đến khoa cử), đổi chức Tư Nghiệp
thành Thiếu Tư Thành. Đến năm Hàm Nguyên nguyên niên
(607) lại gọi như cũ, nhưng dân chúng vẫn quen
gọi chức Tế Tửu là Đại Tư Thành.
[122] Đệ tử của Khổng Tử
là Tử Du (tên thật là Ngôn Yển) ra làm ấp lệnh ở
Vũ Thành, dùng lễ nhạc để giáo hóa dân chúng. Khổng
Tử đến Vũ Thành, nghe một khúc nhạc và tiếng
ca, mỉm cười nói: “Cắt cổ gà sao lại dùng
dao mổ trâu?” Tử Du thưa: “Xưa kia, Yển cũng từng
nghe phu tử bảo: - Quân tử học đạo th́ yêu
thương mọi người, tiểu nhân học đạo
th́ dễ sai khiến”. Khổng Tử bảo các học tṛ
nói như vậy là đúng, chính ḿnh vừa mới nói
đùa thôi. Từ đó, từ ngữ Vũ Thành Huyền
Ca được dùng để biểu thị sự coi trọng
dùng lễ nhạc để giáo hóa.