Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 5

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

 

12. Chánh Ngoa Tập (正訛集uốn nắn những điều sai ngoa)

Đời Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê ở Cổ Hàng soạn

 

* Thiên Phật Y

 

Trong đời gần đây, trên y ca-sa thêu trọn khắp h́nh chư Phật, gọi là Thiên Phật Y (千佛衣, y ngàn đức Phật); đấy là điều sai ngoa. Tượng Phật chỉ nên vâng đội trên đầu, gánh vác trên vai mà thôi. Treo, giắt trên ngực hay bụng đă phạm lỗi khinh nhờn, huống là thêu kín khắp thân, từ eo và đầu gối trở xuống đều là [h́nh tượng] Phật! Lỗi ấy chẳng thể nào kể xiết! “Bậc Luân Vương phước trùm thiên hạ”, chắc chẳng phải là lời nói suông. Do đă trở thành thói quen từ lâu, nên [Tăng sĩ cứ khinh nhờn đắp Thiên Phật Y] chẳng tự hay biết. Xin bậc cao minh rủ ḷng xét soi lời lẽ của kẻ quê mùa, hăy thận trọng đừng mặc y ấy!

Nếu hỏi: - Như vậy th́ thật sự chẳng có Thiên Phật Y hay sao?

Thưa: - Có chứ! Chính là y hai mươi lăm điều hiện thời, đấy chính là y được truyền bởi một ngàn đức Phật. Đức Phật dạy tỳ-kheo: ‘Y tăng-già-lê[1] này của ta, quá khứ, vị lai chư Phật đều do mặc y này mà được giải thoát’. Đấy chính là bằng chứng vậy.

 

* Ngũ Tổ[2] chẳng phụng dưỡng mẹ

 

Cơi đời truyền tụng Ngũ Tổ cự tuyệt không cho mẹ ăn, thậm chí chẳng chịu tốn cho mẹ dẫu chỉ một chút nước; đấy là ngoa truyền. Giới tuy có vạn hạnh, nhưng đều lấy Hiếu làm gốc. [Tăng sĩ] phạm giới cấm để nuôi cha mẹ, đức Phật c̣n xót thương chấp thuận, há có lẽ nào [Ngũ Tổ] chẳng cho mẹ ăn? Hơn nữa, chúng sanh đói khát đến chùa Tăng, ngay cả cầm thú cũng c̣n được cho ăn, huống hồ cha mẹ ư? Ngôi nhà phụng dưỡng mẹ của tổ Hoàng Mai c̣n được chép trong các sách vở. Thốt lời thô tháo ấy, há chẳng phải là báng bổ thánh nhân ư?

 

* Cha mẹ lạy ngược lại đứa con xuất gia

 

Cơi đời truyền tụng khi con xuất gia, cha mẹ lạy ngược lại đứa con ấy. Đấy là điều ngoa truyền. Hạng ngu tăng không hiểu biết bèn để cho cha mẹ lạy, hoặc ngồi chánh giữa để cha mẹ chầu hầu bên cạnh, hoặc ngồi ở giữa để cho cha mẹ vái chào. [Làm như vậy], xa là trái nghịch ư chỉ của Phật, gần là trái nghịch luân thường, chuốc lấy sự chê bai, khinh ghét của người đời, tạo ra thói kiêu mạn cho con người. Đấy chính là lỗi của Tăng, chứ không phải lỗi của Phật! Chẳng biết rằng: Cha mẹ lạy trả lại là v́ hễ con xuất gia th́ là con của Phật, không c̣n là con của cha mẹ nữa. Cho nên nếu con lạy [cha mẹ] th́ cha mẹ lạy đáp lại. Lạy trả lại chính là đáp lễ, hoàn lễ, chứ không phải là lạy trả trái lẽ thường.

 

* Phạm Vương hầu Phật

 

Thế tục đồn rằng người đứng hầu hai bên Phật là cha mẹ của Phật; do vậy bèn chê trách Phật. Đấy là điều ngoa truyền. Phàm đức Phật thuyết pháp, chư thiên nhóm họp, Phạm Vương ở bên trái, Đế Thích ở bên phải. Quy củ nghe pháp thông thường là như vậy. V́ người đời tưởng lầm chữ Phạm () [trong danh hiệu Phạm Vương] là Phạn (), bèn nghi [Phạm Vương chính] là quốc vương Tịnh Phạn (淨 飯) rồi bảo đấy là cha của đức Phật. Lại chẳng biết tướng trang nghiêm của Đế Thích, bèn tưởng đấy là nữ, liền bảo đó là mẹ đức Phật. Tuy Phật là đấng cao quư nhất không ai hơn được trong ba cơi, nhưng Ngài quyết chẳng để cho cha mẹ làm người hầu. Kẻ tục chẳng biết, cần phải giảng giải cho họ hiểu.

 

* Phật pháp vốn phát xuất từ Lăo Trang

 

Tống Nho nói “kinh Phật vốn phát xuất từ Lăo Trang, người đời không biết, kinh ngạc cho rằng đấy là lời nói lạ lùng; ví như đă bị kẻ giặc cướp mất của báu trong nhà, lại ngược ngạo theo kẻ giặc mượn dùng”. Đấy là điều ngoa truyền. Sách của Lăo Trang vẫn c̣n đủ cả, hăy thử mở ra đọc xem! Bọn họ chỉ nói về hư vô tự nhiên mà thôi. Bọn họ bảo hư vô tự nhiên là sâu xa nhất, [nhưng điều sâu xa ấy] vẫn chưa bằng được những chỗ hết sức nông cạn trong Phật pháp. Nói “Phật pháp xuất phát từ Lăo Trang” th́ có khác ǵ bảo “cha do con sanh ra” hay chăng? Thanh Lương đại sư dùng hai khoa là tà nhân và vô nhân để phán định Lăo Tử thuộc về ngoại đạo; huống chi Trang Tử lại c̣n thua Lăo Tử! Tống Nho thấy biết hời hợt như thế, đáng nực cười thay! Hoặc có kẻ nói: “Người giảng giải kinh Phật, phần nhiều trích dẫn [những câu nói từ] lục kinh và chư tử[3] là như thế nào vậy?” Ôi! Văn tự ở phương này, chỉ có Khổng và Lăo là tột bực mà thôi, chẳng dẫn những câu của họ th́ dẫn lời ai đây? Nhưng mượn lời họ, chứ không dùng ư của họ, người có bản lănh sâu xa sẽ tự hiểu rơ!

 

* Hủy hoại, công kích tượng thần, và đắp, tạo tượng thần

 

Có tăng sĩ hủy hoại, công kích thiên thần, tự cho là “đề cao điều chánh, quở trách tà vạy”. Đấy là sai! Đức Như Lai thuyết pháp, ắt có tám bộ quỷ thần[4] đến nghe]. Kinh Hoa Nghiêm kể tên những vị thần cai quản núi, nước, đất đai, cây cối, cai quản ngày, cai quản đêm, số đến vô lượng, chẳng lẽ họ đều sai trái cả ư? Hễ có người, ắt có quỷ; có quan cơi Dương, ắt có lại[5] cơi Âm; có vua người, ắt có vua trời. Đấy chính là đúng lư vậy. Hễ không có quỷ thần th́ trời cũng chẳng có. Hễ trời đă không có th́ Phật cũng không có. Những kẻ hủy báng, công kích đáng gọi là kẻ đọa vào chỗ tự phụ.

Nếu bảo: “Sao kinh dạy quy y Phật, chẳng được quy y hết thảy thiên ma, quỷ thần?” Thưa rằng: “Dạy ông đừng quy y, chứ đâu bảo ông hủy hoại, công kích. Ví như phận làm con th́ phải nương theo cha mẹ của chính ḿnh, chẳng được nương theo cha mẹ của người khác, coi [cha mẹ của người khác] như cha mẹ của chính ông. Đâu có dạy ông hăy hủy báng, công kích người khác! Kinh chép: Do có tỳ-kheo thờ phụng thiên thần, nên đức Phật răn cấm không được [làm như thế]. Tỳ-kheo bèn khinh mạn thiên thần, đức Phật răn rằng: Khinh thường cũng không được! Thánh nhân đă có những giáo huấn khuôn mẫu, là gương sáng cho muôn đời, sao người đời nay chẳng nh́n vào đấy?

Hoặc có kẻ hỏi: “Có tăng sĩ tu bổ miếu thờ thần, đắp tượng thần, tụng niệm trước tượng thần, hướng về tượng thần lễ bái, lại tự phụ là [người tu tập hạnh của ngài] Thường Bất Khinh lễ bái tứ chúng, đúng hay sai?” Đáp: Cũng sai luôn! So với kẻ hủy báng, công kích, phạm lỗi càng nặng hơn. V́ sao vậy? Kẻ hủy báng, công kích c̣n biết có tà - chánh, chỉ là phân biệt quá đáng. Kẻ đắp, tạo thần tượng để thờ phụng chẳng biết có tà và chánh. Kẻ phạm lỗi hủy báng, công kích gọi là cuồng; kẻ phạm lỗi đắp, tạo [tượng thần] gọi là ngu, là tà. “Chẳng khinh mạn, chẳng thờ phụng thần” là điều Phật dạy; người đời nay sao chẳng suy xét?

 

* Bước đi cuối cùng

 

Có kẻ cho rằng lúc lâm chung chính là “bước đi cuối cùng”, đấy là sai. “Bước đi cuối cùng” vốn là thuật ngữ dùng trong cờ vây[6]. Ư nói: Thông thường người ta tính toán đến mức ấy, [tưởng là] đă là cạn sạch nước đi rồi, không c̣n ǵ nữa, chẳng ngờ vẫn c̣n có nước đi không ngờ đến. Giống như người tu hành tuy bản lănh đă vừa cao lại vừa sâu, chẳng biết vẫn c̣n có chuyện tối hậu, huyền vi tột cùng. Hiểu được điều mấu chốt ấy th́ sau đó mới hoàn tất được chuyện tham học. Nếu chưa được như vậy, vẫn chỉ là mới có một mắt. Lại c̣n nói “bách xích can đầu nhất bộ” (đầu sào trăm thước, tiến thêm một bước nữa) cũng nhằm diễn tả ư này. Nếu chẳng hiểu ư này, sẽ đến nỗi giống như ngoại đạo tưởng từ ngữ này dùng để chỉ lúc lâm chung. Tự lầm, lầm người! Kẻ sáng suốt đừng tin!

 

* Linh Chiếu độ Đơn Hà

 

Cơi đời đồn đại thiền sư Đơn Hà Thiên Nhiên[7] do được con gái của Bàng cư sĩ là cô Linh Chiếu chỉ điểm, khích lệ, mới bắt đầu tu hành, ngộ đạo. Đấy là ngoa truyền. Trước đó, ngài Đơn Hà đă ngộ đạo nơi ngài Thạch Đầu[8]; về sau, được Mă Tổ [Đạo Nhất] ban pháp hiệu. Lúc gặp gỡ cụ Bàng, Sư đă nghiễm nhiên là một vị đại thiện tri thức, há lẽ nào có chuyện ấy? Lời nói vô căn cứ vu báng thánh hiền, tội không chi lớn bằng, hăy kiêng tránh sâu xa!

 

* Ngồi thọ giới, đứng dậy liền phá giới

 

Có kẻ bảo: Kinh khen ngợi Bồ Tát Giới: “Lúc ngồi thọ giới, đứng lên liền phá giới, vẫn được công đức vô lượng”; do vậy, có kẻ sau khi thọ giới liền phóng túng không vâng giữ. Đấy là sai ngoa. Ư kinh nhằm cực lực diễn tả: “Hăy nên thọ giới Đại Thừa. Dẫu thọ rồi liền phá ngay, tuy nay không có công lao ǵ, nhưng một phen vừa lọt qua tai, vĩnh viễn trở thành hạt giống đạo, sao lại chẳng thọ?” Há nên tưởng là “được phép phá giới” ư? Do hiểu lầm từ ngữ đến nỗi hiểu sai ư tới mức như thế, gây họa chẳng nhỏ!

 

* Phật có hiệu là Tiên Nhân

 

Kinh dạy: Trong thuở xa xưa, Phật làm một vị tiên nhân nhẫn nhục. Hơn nữa, Phật xưng là Đại Giác Kim Tiên, người đời bèn cho rằng Phật chính là tiên, tiên và Phật không hai! Đấy là sai! “Tiên” là danh từ để gọi chung những người tu hành thời cổ. Đời sau mới chuyên dùng danh xưng ấy để phân biệt người tu hành theo Phật giáo hay Đạo giáo. Hơn nữa, trong cơi đời có Nho, Thích, Đạo là tam giáo, nhưng chữ Đạo thật sự chỉ chung cho tam giáo, nên người có đạo đều được gọi là “đạo nhân”, há chuyên chỉ kẻ đội mũ vàng (đạo sĩ) mới là đạo nhân ư? Nay đă có sự chuyên xưng th́ Phật là Phật, tiên là tiên, địa vị cách biệt nhau như trời thẳm với đất bằng vậy. Hăy cẩn thận, đừng coi là ngang nhau, kẻo mất chánh tri kiến.

 

* Không ai vào lầm địa ngục

 

Nho gia nói: “Đức Phật dạy kẻ ác chết rồi sẽ vào địa ngục, nhưng trước khi Phật pháp truyền tới Trung Quốc, cố nhiên đă có kẻ chết rồi sống lại; sao trọn chẳng có một ai vào lầm địa ngục, thấy cái được gọi là mười vua[9] [Diêm La] vậy?” Do đó, họ quyết đoán “địa ngục chẳng đáng tin”. Đấy là sai lầm! Phàm những chuyện xảy ra trước mắt, sau này mới có thể biết. Trước khi Phật pháp được truyền tới, dẫu có người vào địa ngục rồi sống lại, vẫn hoảng hốt suy lường, ngờ vực, tưởng như một giấc mộng kỳ lạ. Khi Phật pháp đă truyền tới [Trung Hoa], đủ mọi thứ chỉ bảo về sự báo ứng trong sáu đường, cho nên sau đấy mới biết đó chính là địa ngục. Lư cố nhiên phải là như vậy, có chi là lạ?

 

* Kinh Phật phần nhiều do kẻ có tài biên soạn

 

Trong đời có kẻ ngu cho rằng kinh Phật đều do kẻ tài giỏi đời sau soạn ra, chẳng phải thật sự do đức Phật nói. Điều ấy là sai! Nếu bảo là kẻ có tài năng th́ chẳng biết là hạng người như thế nào có thể nói ra những lời lẽ ấy, nói ra những đạo lư ấy. Nếu có khả năng như thế th́ ta gọi người ấy chính là Phật. Hơn nữa, xưa nay người tài giỏi tột bậc, có ai hơn được Khổng, Mạnh hay chăng? Nhưng [học thuyết của] Khổng Mạnh đều chẳng thể sánh bằng những điều đă nói trong kinh Phật th́ tôi biết ngay lời ấy rất tệ, chẳng đáng để bàn luận nhiều!

 

* Tánh mạng song tu

 

Bọn Đạo sĩ thường rêu rao họ tánh mạng song tu, chê kẻ học Phật tu tánh, chứ không tu mạng. Đấy là sai ngoa vậy. Ấy là v́ bọn họ tưởng Thần là tánh, tưởng Khí là mạng. Nếu Thần chế ngự được Khí, Thần ngưng, Khí kết, bèn thành Đan, liền gọi là “tánh mạng song tu”. Do Phật chỉ nói đến “kiến Tánh”, chẳng nói tới Khí, họ liền tưởng rằng “tu tánh, thiếu mạng”, cho là nhà Phật lệch lạc, chẳng biết đă tự hiểu lầm chữ Tánh. Đức Phật nói đến Tánh cực rộng, cực lớn, rất sâu, rất huyền, đâu có thể coi là giống như Khí được? Khí ở trong Tánh giống như một lượn sóng trong biển xanh. Người thấy được Phật Tánh th́ tận cùng hư không, pháp giới, không ǵ chẳng trọn đủ, huống chi Khí là thứ chỉ ở trong một thân lại chẳng thể nhiếp trọn hay sao? Do vậy, nói: “Hễ đạt được cái gốc th́ không lo cái ngọn nữa! Hễ tu một thứ th́ tu hết thảy”; chứ nào phải chỉ có hai sự song tu ấy mà thôi!

Học đạo tiên hăy như chân nhân Trương Tử Dương (Trương Bá Đoan) luận về tánh mạng tột bậc rành rẽ, hết sức tôn sùng Phật pháp. Ông ta nói trước hết đức Phật giảng về tánh rất hay, đáng gọi là bậc có kiến giải sáng suốt. Lại nữa, chân nhân Lư Thanh Am[10] luận về nội dược và ngoại dược, coi Tinh, Khí, Thần là ngoại dược, gọi nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần là nội dược. Lại nói bậc cao thượng chẳng luyện ngoại dược, chỉ luyện nội dược, đấy cũng là coi thuyết “luận về tánh trước hết” là thù thắng vậy! Người học đạo tiên trong cơi đời th́ đông, nhưng hiểu biết như hai vị này đă vừa ít lại vừa hiếm; do vậy, tôi đề cao họ.

 

* Tịch diệt là vui

 

Người đời thấy nhà Phật gọi lâm chung là Niết Bàn, do vậy bèn tưởng Phật coi chết là vui, bèn dẫn câu “tử phản ngô chân”[11] trong sách Nho để chứng minh ư chỉ “tịch diệt là vui” của nhà Phật. Hiểu như vậy là sai. “Niết Bàn” trong tiếng Phạn, được cơi này dịch là Tịch Diệt. Tịch Diệt là “sanh diệt đă hết, tịch diệt hiện tiền”, đấy là không sanh, không diệt, không đến, không đi, xưa, trước, nay, sau chẳng thể đắp đổi, Thành kiếp, Hoại kiếp chẳng thể đổi dời, riêng chân thường hiển lộ, khổ lẫn vui cùng mất. V́ thế, gọi là Lạc. Lục Tổ nói: “Vô thượng đại Niết Bàn, viên minh thường tịch chiếu”. Đối với sự chiếu sáng đến tột bậc, lại tưởng lầm là chết ư? Nếu nghĩ chết là vui, hăy nên mau chết đi để xoay trở lại ngộ được cái chân thật của ta, chẳng thể sống thêm một bữa nào nữa! Diệt kiểu đó là đoạn diệt, khô diệt, tuyệt diệt, hôi diệt (diệt hết như tro nguội) vậy! Sao lại nói bừa là sự tịch diệt của Phật cho được?

 

* Nước Tào Khê, trà Triệu Châu

 

Trong nhà Thiền có câu “nước Tào Khê, trà Triệu Châu”. Kẻ ngu gán ghép câu ấy nói với chuyện nuốt nước miếng trong cổ họng gọi là “hoa tŕ, thần thủy” (ao hoa, nước thần) v.v… của những kẻ tu dưỡng[12]; đấy là sai! Vị Tăng hỏi: “Như thế nào là một giọt nước Tào Khê?” Cổ đức dạy: “Là một giọt nước Tào Khê!” Ngài Triệu Châu hỏi ông Tăng: “Ông đă từng đến chỗ này hay chưa? Đến hay chẳng đến đều bảo uống trà”. Đấy chính là lời bàn luận tột bậc khai thị tối thượng về Tâm tông (Thiền tông), há có thể hiểu là sự hít thở trong sắc thân hay sao? Thậm chí, họ tưởng huyệt Giáp Tích[13] là Triệu Châu Kiều (cầu Triệu Châu). Những thứ giống như vậy chẳng ít, người hiểu rơ lư đều nhất loạt quở trách.

 

* Ba cỗ xe trong kinh Pháp Hoa

 

Kinh Pháp Hoa có thí dụ ba loại xe (tam xa): xe dê, xe nai và xe trâu. Những kẻ tu dưỡng bèn giảng [ba xe] là [ba huyệt] Vĩ Lư (尾閭), Giáp Tích (夾脊), và Nê Hoàn (泥丸)[14]. Đấy là sai. “Xa” có nghĩa là “chuyên chở”. Dê, nai, trâu là ví dụ Đại Thừa và Tiểu Thừa, mượn h́nh ảnh ấy để thí dụ công đức hơn kém giữa Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Kẻ tưởng lầm là sắc thân, hăy nên sám hối, hiểu ra.

 

* Kim Cang Toản

 

Thế tục khắc các kinh, có cuốn Kim Cang Kinh Toản, tự khen ngợi công đức, cho là tụng một biến Kim Cang Kinh Toản hơn tụng một vạn biến kinh khác. Đấy là nói ngoa. Sở dĩ, kinh Kim Cang có công đức chẳng thể nghĩ bàn là v́ kinh ấy giảng tột cùng về lư Không, chẳng c̣n một pháp nào; Bát Nhă oai thần, là hướng dẫn cho muôn loài vậy. Há nên bảo tính đếm có bao nhiêu chữ Phật, bao nhiêu chữ Tu Bồ Đề, bao nhiêu chữ “hà dĩ cố?” (v́ sao vậy) trong kinh văn rồi coi tính số chữ bao nhiêu như vậy là công đức ư? Thói tệ ấy đă phổ biến, cho nên có tăng sĩ ngu muội hễ được người khác bố thí bèn chẳng tụng trọn bộ kinh, chỉ dùng một cuốn Kim Cang Kinh Toản để tụng, chuốc lấy nỗi khổ vô cùng trong địa ngục đều do bị sách ấy gây lầm lẫn vậy! Biên tập sách tà vạy gây hại như thế đó! Trong cơi đời lại có cuốn Đại Thừa Kim Cang Luận cũng là ngụy tạo, cho đến những kinh như Diệu Sa, Phân Châu, Huyết Bồn v.v… đủ loại tà ngụy, rối ren chẳng đáng biện định!

 

* Cao Vương Quán Thế Âm Kinh

 

Lại có Cao Vương Quán Thế Âm Kinh[15]. Trong cơi đời truyền tụng: Cao Vương do tụng kinh này mà được thoát nạn, đấy là ngoa truyền. Kinh ấy quê mùa, kém cỏi, chẳng thành văn nghĩa, chẳng biết dịch vào thời nào. Dùng lư để đoán định th́ chính là nhờ vào phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa mà Cao Vương được thoát nạn; do vậy mới nói như thế. Người đời sau chẳng biết bèn riêng bịa đặt lời dối trá, đặt tên là Cao Vương Kinh do không hiểu ư nghĩa cái tên, nhưng cả cơi tục chẳng biết.

 

* Quán Âm Hương Sơn Quyển

 

Trong quyển sách ấy nói đức Quán Âm là con gái vua Diệu Trang, xuất gia thành đạo, hiệu là Quán Âm. Đấy là ngoa truyền. Quán Âm là vị cổ Phật trong quá khứ, ứng hiện ba mươi hai thân, tùy loại độ sanh, hoặc hiện thân nữ, chứ chẳng phải là do mang thân nữ rồi mới tu thành đạo. Sách đă chẳng nói rơ Diệu Trang kia là quốc vương thuộc thời đại nào, lại chẳng nói thuộc quốc độ phương nào? Tuy sách ấy có tác dụng giúp khuyên dạy nữ nhân không nhỏ, nhưng v́ tăng sĩ trong cơi đời có kẻ tin là kinh điển mầu nhiệm để tu hành, cho nên tôi phải nêu ra.

 

* Tu sẵn

 

Người đời chưa chết đă làm kinh sám đạo tràng cho các lễ Thất Thất, Tiểu Tường, Đại Tường[16] trước, gọi là “tu sẵn”. Đấy là sai. Nói “tu sẵn” nghĩa là nhằm dạy người hăy thừa dịp vẫn c̣n sắc thân để sớm tu tŕ, đừng đợi tới lúc khát mới đào giếng, bị cơn đói bức bách mới đốt đồng làm rẫy. Hơn nữa, thỉnh người khác tụng niệm, làm sao hơn được chính ḿnh tu tập? Nhưng đă chịu mở túi keo kiết để làm Phật sự th́ vẫn tốt hơn kẻ chẳng làm. Nếu hiểu như vậy th́ cũng được, nhưng bậc cao minh quyết chẳng nên hiểu như thế.

 

* Gởi kho

 

Người đời đốt nhiều giấy tiền, vàng mă, gởi điệp xuống Âm Phủ, mong sẽ được hưởng dùng trong đời sau, gọi đó là “gởi kho”. Đấy là sai. Nếu giấy tiền, vàng mă có thể đưa đến sự giàu có trong đời sau, th́ nhà giàu sẽ đời đời giàu có, kẻ nghèo sẽ chẳng có thuở nào giàu; thuyết thiện ác, báo ứng trở thành rỗng tuếch ư? Nói “gởi kho” là v́ con người quen thói tích trữ tài vật trong kho tàng, xây tường, dựng nhà kiên cố, chặt chẽ, tự cho là nước, lửa, đạo tặc chẳng thể phá hoại được, nhưng [tài vật] thường bị nước, lửa, đạo tặc phá hoại. Dẫu thoát khỏi ba thứ ấy, chắc lại bị phá hoại bởi nạn vua, há c̣n kiên cố được chăng? Nếu có thể bỏ tài sản ra để bố thí, làm các thiện sự th́ phước đức vô tận, không ai phá hoại được. Nói “gởi kho” là gởi vào cái kho ấy đấy! Người đời sao chẳng tỉnh ngộ?

 

* Tây Phương Thập Vạn Bát Thiên

 

[Lục Tổ] Đàn Kinh ví “thập ác, bát tà”[17]“thập vạn bát thiên” (mười vạn tám ngàn). Người ta bèn cho rằng Tây Phương Cực Lạc thế giới cách đây mười vạn tám ngàn [dặm]. Đấy là sai. Mười vạn tám ngàn chính là cơi Tây Phương ở năm xứ Thiên Trúc. Cực Lạc cách đây mười vạn ức cơi Phật, lấy một đại thiên thế giới làm một cơi Phật. Mười vạn ức cơi Phật th́ sức con người chẳng thể đến được, chẳng phải do sức của quỷ thần hay sức của trời mà có thể đến được! Chỉ có người niệm Phật nhất tâm bất loạn cảm ứng đạo giao th́ sẽ như trong khoảng khảy ngón tay liền đến được mà thôi! Há có phải giống như lộ tŕnh từ Chấn Đán (Trung Hoa) đến Thiên Trúc trong Nam Thiệm Bộ Châu ư?

Nếu như vậy th́ Lục Tổ không biết tới Tây Phương hay sao? Thưa: Đàn Kinh là do đại chúng ghi chép, chứ không phải do Lục Tổ viết. Ngay như lục kinh, tứ tử (tứ thư, tức Luận Ngữ, Đại Học, Trung Dung và Mạnh Tử) cũng phần nhiều là do Nho sĩ người Hán thêm vào, há nên tin tưởng tuyệt đối ư? Nếu không phải như vậy th́ là do Tổ nêu cái gần để h́nh dung cái xa, xét về Lư th́ cũng không trở ngại ǵ. Như ở ngay giữa chợ bèn ví vùng phía Bắc ngoài thành là Yên Kinh (Bắc Kinh), ví phía Nam ngoài thành như Bạch Hạ[18], tức là mượn năm xứ Thiên Trúc ở gần để ví Cực Lạc nơi xa, nhằm muốn cho người thời ấy dễ hiểu, đâu có trở ngại ǵ?

 

* Thừa cấp giới hoăn

 

 Thuở xưa có bốn cách biện định về thừa và giới gấp gáp hay hoăn đăi, giải thích như sau: “Thừa cấp giới hoăn, thắng giới cấp thừa hoăn” (Thừa gấp, giới thong thả, sẽ hơn giới gấp gáp mà thừa thong thả). Kẻ cuồng bèn cho rằng giới chẳng đáng giữ, đấy là sai! Phàm muốn nêu bật sự thù thắng th́ lời lẽ ắt phải ngả theo khuynh hướng đề cao [chuyện này], hạ thấp [chuyện kia], giống như tổ Vĩnh Minh đă nói “không Thiền, có Tịnh Độ” vậy, chứ không phải là Ngài bảo: “Thiền đáng khinh!” Hơn nữa, kẻ ấy hiểu như thế nào là Thừa? Thế nào là Giới? Có nên nghĩ thông đạt giáo lư là Thừa, nghiêm cẩn giữ luật nghi là Giới hay chăng? Nếu hiểu như vậy tức là chưa hiểu được nghĩa của Thừa!

Nói “Thừa gấp gáp” là niệm niệm hoàn toàn tu nơi chân trí Bát Nhă, chứ không phải là chẳng tŕ giới. [Nói như vậy] nhằm chuyên chú trọng nơi cội gốc, nói sơ lược cành nhánh. Hễ tâm địa thấu triệt, trong sát-na sẽ trọn đủ Lục Độ, vạn hạnh. Kẻ chỉ chấp vào giới tướng, chẳng thấu hiểu tâm địa, chỉ hưởng phước báo trời người mà thôi! Thừa gấp gáp vượt trỗi hơn giữ giới nghiêm ngặt là ở chỗ này. Nếu Thừa chưa tương ứng mà sanh tử đă xảy tới th́ hoàn toàn cần phải có giới lực; muốn hoăn đăi th́ nguy lắm thay!

 

* Danh tự La Hán

 

Kinh Pháp Hoa có câu: “Phá giới tỳ-kheo, danh tự La Hán” (Tỳ-kheo phá giới chỉ có cái tên là La Hán), kẻ ngu bèn tưởng tỳ-kheo phá giới vẫn gọi là La Hán, cho là muốn phá giới sẽ chẳng trở ngại ǵ! Đấy là sai. Ư kinh có nghĩa là tỳ-kheo phá giới chẳng thành tỳ-kheo, chỉ mang cái danh suông La Hán mà thôi!” “Danh tự” nghĩa là “chỉ có cái tên suông”, không chân thật. Dựa theo văn tự mà suy nghĩ ư nghĩa, sẽ tự hiểu được!

 

* Trai tăng có công đức vô lậu

 

Có Tăng sĩ khuyên dụ thí chủ, bảo làm phước các thứ đều có lúc bại hoại; v́ đấy là hữu lậu, chỉ có trai tăng là công đức vô lậu. Đấy là nói ngoa. Tổ Đạt Ma bảo [Lương] Vũ Đế: “Những chuyện như xây chùa, chép kinh v.v… là cái nhân hữu lậu của quả báo nhỏ nhoi trong trời người”. Trai tăng cũng nằm trong số ấy, sao lại bảo là chỉ có trai tăng là vô lậu ư? Ư kẻ đó cho rằng xây chùa, hễ chùa hư nát th́ phước cũng hư nát, c̣n chép kinh th́ khi kinh diệt, phước cũng diệt, chỉ có trai tăng là không như vậy. Ôi! Sao chẳng nói trai tăng mà tăng chết th́ phước cũng mất ư? Luận rốt ráo tột cùng, hễ trụ vào tướng để làm phước, đều gọi là hữu lậu. Nếu chẳng trụ tướng, ắt trở thành vô lậu, há lẽ đâu riêng ḿnh trai tăng [là vô lậu]?

 

* Vô lậu

 

 Lại có kẻ cho rằng giữ trọn được Tinh - Khí, chẳng để rỉ mất sẽ thành quả La Hán Vô Lậu. Đấy là ngoa truyền. Khi đă hết vọng tưởng th́ mới gọi là Vô Lậu. Tinh, Khí sao đáng coi là Vô Lậu để rồi dạy giữ vẹn Tinh, vẹn Khí, vẹn Thần? Như nói “các lậu đă hết” tức là chẳng c̣n phiền năo tồn tại. Dạy kẻ ngu coi nuốt xuống, hít vào, vận động là đạo th́ không chỉ tổn hại chánh kiến mà c̣n tổn hại sắc thân nữa. Buồn thay!

 

* Ngũ đại bộ kinh (năm bộ kinh lớn)

 

Người đời truyền rằng tụng năm bộ kinh lớn, tức là năm bộ kinh Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Tâm Địa Quán[19], Báo Ân, và Kim Quang Minh. Đấy là ngoa truyền! “Ngũ đại bộ” chính là tên gọi chung của cả Đại Tạng, tức là Bát Nhă Bộ, Hoa Nghiêm Bộ, Bảo Tích Bộ, Đại Tập Bộ, và Niết Bàn Bộ, năm bộ loại này bao trùm các kinh. Giống như Lục Tào[20] là tổng, thống nhiếp các chức trách trực thuộc. Nếu nói “từ trong năm bộ, đều chọn lấy một kinh trong mỗi bộ” th́ lại chẳng lấy kinh nào thuộc về Bát Nhă cả, làm sao gọi là “năm bộ” cho được!

 

* Thanh trai

 

Có người cứ đến cuối tuần bèn không ăn, gọi đó là Giữ Thanh Trai. Đấy là sai! Thanh Trai nghĩa là “ăn chay, giữ giới thanh tịnh”, chứ chẳng phải là không ăn th́ mới thanh tịnh. Miễn cưỡng tuyệt thực, ḷng luôn cảm thấy đói khát, chỉ tăng thêm nghiệp khổ! Hơn nữa, đối với chữ Trai được nói trong kinh Dịch, các vị giảng giải c̣n bảo “lặng trong, thuần nhất th́ gọi là Trai”, huống hồ là chữ Trai do đức Phật đă nói ư? Nếu chỉ có nghĩa là “không ăn” th́ chữ Trai ấy cũng nhỏ nhoi lắm! Nếu vậy th́ “không ăn quá ngọ” như thế nào? Đáp: Đấy là điều dạy đúng đắn. “Nhất trai” nghĩa là sao? Giữa trưa ăn một bữa, cũng là điều được dạy trong giáo pháp; rốt cuộc không ăn quá ngọ là điều chánh yếu.

 

* Luyện ma (luyện tập, mài giũa)

 

Gần đây, pháp tắc thực hành lâu ngày trong các nơi luyện tập, mài giũa[21] đă phát sanh thói tệ; chuyên lẩn quẩn, ḥ hét, chú trọng luyện tập để trừ khử con ma buồn ngủ. Ấy là sai! Luyện () là nung luyện cái thô tạp ngơ hầu biến chúng thành tinh thuần. Ma () là khử tỳ vết, cấu nhơ để trở thành sáng ngời, khiết tịnh. Cổ nhân nói: “Luyện ma chân tánh nhược hư không, tự nhiên chiến thoái ma quân trận” (Luyện tập, rèn giũa sao cho chân tánh như hư không, tự nhiên đánh lùi trận ma quân), chính là nhằm diễn tả ư này, chứ không phải là rèn giũa để trừ khử con ma buồn ngủ là đă xong việc! Những nơi rèn luyện chẳng thể không biết điều này!

 

* Giảng Thiền

 

Gần đây, người ta giảng diễn những lời b́nh luận, đối đáp của các vị như Vạn Tùng[22], cứ y theo sách Thiền mà giảng lại, bảo như thế là đạt được ư chỉ. Đấy là sai! Đối với những cơ duyên vấn đáp do cổ đức để lại, người đời sau do vậy bèn khởi nghi rồi tận lực tham cứu đến tột cùng, lấy ngộ làm kỳ hạn. Nếu giảng diễn th́ làm sao c̣n có nghi nữa? Dẫu giảng mỗi một điều đều đúng, vẫn chẳng ăn nhập ǵ đến ḿnh. Rốt cuộc chỉ thành hư luận. Do vậy, biết [giảng diễn công án Thiền] chính là lấp mất lối ngộ của chúng sanh. Giảng diễn Thiền tạo thành sai lầm như vậy đấy. Người có chí bèn chọn một công án rồi suốt đời chỉ dựa vào đấy để tham cứu, quyết chẳng bị gạt!

 

* Ở trong ba ngọn núi thánh địa sẽ không bị nạn tam tai

 

Có kẻ nói: “Khi kiếp hoại, ba dăy núi Ngũ Đài, Nga Mi, và Phổ Đà không bị hoại. Đến sống ở đó, sẽ tránh được tam tai”. Đấy là ngoa truyền. Hễ tam tai khởi lên, cả đại thiên đều bị hoại, làm sao ba rặng núi ấy thoát được? Nếu đến sống ở những nơi ấy, sẽ thoát khỏi tai ương đó, th́ những kẻ mắt mù, chân teo không thể lên đường được, dẫu có tu công đức thù thắng, rốt cuộc vẫn đọa lạc, c̣n kẻ sống gần ba ngọn núi ấy, dẫu là ngu phu đều thành giải thoát cả ư? Hăy nên biết rằng: Không tham sẽ chẳng bị thủy tai, không sân sẽ chẳng bị hỏa tai, không si sẽ không bị phong tai; đến ba rặng núi ấy hay không, chẳng liên quan ǵ! Nguyện niệm nào cũng đều khai Văn Thù trí, hành Phổ Hiền hạnh, mở rộng ḷng bi Quán Âm, th́ chính là luôn luôn triều bái ba rặng núi ấy, thân cận các vị Đại Sĩ. Chẳng thấu hiểu ư chỉ này, cứ chuyên trọng viễn du, dẫu có lên [núi do] bảy thứ kim loại báu [hợp thành], vượt [biển] nước thơm[23], có ích ǵ đâu!

 

* Bốn quyển kinh Lăng Già của tổ Đạt Ma

 

Sơ Tổ chẳng lập văn tự, lại nói: “Ngô hữu Lăng Già tứ quyển” (Ta có bốn quyển kinh Lăng Già). Kẻ chỉ biết học theo nghĩa [của văn tự], bèn cho rằng tổ Đạt Ma cũng lập văn tự, muốn bác bỏ sự truyền thừa trực chỉ. Đấy là sai! Kinh Lăng Già được dịch từ đời Tấn, chứ không phải đến thời Sơ Tổ mới xuất hiện. Chẳng được nói là “ta có”. Tôi ngờ chữ “ngô” (ta) là sai, chắc là chữ “thử” (này), bởi lẽ kinh ấy đoạn trừ hết thảy, có thể chứng được diệu tâm đốn ngộ. Đấy cũng là lời nói nhất thời với ngụ ư nhờ vào kinh ấy mà hiển lộ [diệu tâm]. Nếu cho rằng pháp Thiền của Sơ Tổ đă được diễn tả trọn hết trong [câu nói] ấy th́ cái gọi là “giáo ngoại biệt truyền” sẽ đặt ở đâu vậy?

 

* Ba quyển cuối của kinh Pháp Hoa

 

Có tà nhân cho rằng ba quyển cuối của kinh Pháp Hoa chẳng được lưu truyền trong cơi đời, kẻ nào có được liền coi như của báu, cất giấu kín đáo. Đấy là sai. Một kinh Pháp Hoa có ba bản dịch[24], có bản gồm bảy quyển, có bản gồm tám quyển, và có bản gồm mười quyển. Bản được lưu thông hiện thời là bản dịch bảy quyển của ngài Cưu Ma La Thập. Số quyển tuy có nhiều hay ít, nhưng ư nghĩa kinh văn giống hệt như nhau. Giống như kinh Hoa Nghiêm bản dịch đời Tấn gồm sáu mươi quyển, bản dịch đời Đường gồm tám mươi quyển. Lư này rơ rệt, tợ hồ chẳng đáng để biện luận, nhưng tôi đích thân thấy người đời vẫn có kẻ tin [thuyết hư vọng ấy]. Đời Mạt Pháp tối tăm, ngu muội đến cùng cực như thế đấy!

 

* Tam giáo một nhà

 

 Có kẻ thường nói “Tam Giáo là một nhà”, đến nỗi tràn lan không phân biệt; đấy là sai vậy. Tam Giáo thật sự là một nhà, nhưng trong một nhà, há chẳng có lớn, nhỏ, tôn, ty, thân, sơ hay chăng? Đức Phật dạy về thời gian trước Không kiếp dài nhất. Nho và Đạo nói rất gần. Đức Phật là vị trời trong các vị trời, là bậc thánh của các thánh, tôn quư nhất; Nho, Đạo c̣n thuộc địa vị phàm phu. Đức Phật đă tự chứng được cái “chính ḿnh” mà hết thảy chúng sanh vốn sẵn có, cho nên thân thiết nhất. Nho và Đạo vẫn c̣n ở ṿng ngoài. Do vậy biết: Quy về Lư th́ chẳng hai, nhưng mức độ sâu hay cạn đă rành rành. Tuy sâu hay cạn khác nhau, nhưng cùng quy về một Lư. Do vậy nói “tam giáo một nhà” chẳng phải là nói tràn lan không phân biệt vậy.

 

* Cao sa-di chẳng thọ giới

 

Cơi đời tương truyền: Vị “Cao sa-di không thọ giới” chính là thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu núi Thiên Mục. Đấy là ngoa truyền. Sư sống trong am Thiên Trượng tại Thiên Mục, cho nên có hiệu là Cao Phong. Sư là người đời Nguyên. C̣n vị Cao Sa-di kia có họ là Cao, do chẳng thọ giới Cụ Túc, nên suốt đời xưng là Sa-di, sống cùng thời với ngài Dược Sơn [Duy Nghiễm], là người đời Đường. Ngài chính là người đă nói câu: “Trường An tuy chộn rộn, nước ta vẫn yên lặng”. Hai vị trước sau (Cao Phong Nguyên Diệu và Cao sa-di) thời đại khác nhau, đâu ăn nhập ǵ đến nhau? Ngài Cao Phong đặc biệt coi trọng Tỳ Ni (giới luật), Tăng, tục xin thọ giới với Sư hơn ngàn người, sao lại ngoa truyền [Sư chẳng thọ giới Cụ Túc] quá đáng như thế?

 

* Tam Bảo

 

 Tam Bảo Đạo gia gọi Tinh, Khí, Thần là Tam Bảo, người đời bèn đem Phật, Pháp, Tăng phối hợp vào; đấy là sai! Tự tánh mở mang giác ngộ là Phật, khuôn phép trong tự tánh là Pháp, tự tánh thanh tịnh ḥa hợp là Tăng. Tinh, Khí, Thần của bọn họ làm sao có thể gán vào đây cho được? Dẫu có đem tiên thiên nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần để biện bác th́ há cũng chẳng biết nguyên thần vẫn thuộc về Thức Ấm? Phật pháp sâu xa, huyền diệu, chẳng dễ ǵ nhập nhằng được đâu!

 

* Vị tăng Đạo Quang thành tiên

 

Cơi đời truyền tụng vị tăng tên Đạo Quang thành tiên ở Thạch Hạnh Lâm, trở thành người nối pháp đời thứ ba của Tử Dương Chân Nhân[25], họ bèn cho rằng do Phật pháp chẳng bằng đạo Tiên nên Đạo Quang bỏ Phật, học Tiên. Đấy là ngoa truyền. Dựa theo bản chú giải sách Ngộ Chân Thiên th́ Đạo Quang trước kia đă do nhân duyên tham cứu câu “trước lúc gà vàng chưa gáy” mà có chỗ ngộ; nhưng tra cứu trong các sách như Truyền Đăng Lục v.v… chẳng thấy nói đến Đạo Quang! Tất nhiên ông ta là hạng tham Thiền lạc lối, không ngộ được ǵ, cho nên mới lầm lạc học theo ngoại đạo. Nếu ngộ thật sự, lẽ đâu lại không có kiến giải kiên định đến mức như thế ấy? Là tăng nhân, hăy nên nhất tâm cầu Phật, đừng lạc vào ngă khác th́ may mắn lắm thay!

 

* Thiêu sống

 

          Có gă ma tưới dầu, chất củi, đốt sống thân thể, người khác trông thấy kinh ngạc, than thở, cho là bậc đắc đạo. Đấy là sai. Phàm người mang tâm niệm chấp trước th́ ma sự sẽ phát sanh. Một dạ hâm mộ, cho thiêu sống là lạ lùng, thù thắng, hâm mộ không ngơi, ma sẽ nhập vào tâm kẻ ấy mà chẳng tự biết, ngồi ngay ngắn trong lửa tợ hồ chẳng khổ sở ǵ, chẳng biết là do ma lực duy tŕ, nên tạm thời được như thế. Đến khi đứt hơi, ma bỏ đi, sẽ thê thảm, đau khổ chẳng thể nào ví dụ được. Trăm kiếp ngàn đời thường ở trong lửa, gào khóc chạy quàng, làm loài quỷ chết ngang trái, thật đáng đau thương. Nếu có kẻ gạn: “Trong kinh [Pháp Hoa] nói ngài Dược Vương đốt thân là như thế nào?” Ôi! Nhặng xanh sao lại tính bắt chước chim cánh vàng (Kim Xí Điểu: Garuda) cho được? Dược Vương Bồ Tát thiêu thân, quang minh chiếu trong nhiều kiếp trọn khắp mười phương. Kẻ tự thiêu kia ánh sáng chiếu được cỡ nào? Đệ tử của ngài Khuê Phong thiêu cánh tay để tỏ ư mừng pháp, ngài Thanh Lương c̣n răn cấm không được làm, huống là đốt thân ư? Ngài Ôn Lăng (pháp sư Giới Hoàn) bảo: “Do khổ nhân vẫn chuốc lấy khổ quả”, đúng lắm thay!

 

* Coi thần thông là đắc đạo

 

          Người đời nay ham lạ, thấy có kẻ tỏ lộ những sự lạ kỳ để mê hoặc đại chúng, liền bảo kẻ ấy đắc đạo. Đấy là sai. Đắc đạo và có thần thông [là hai chuyện] khác nhau. Mắt thấy thấu suốt, tai nghe thông suốt là Thần Thông; c̣n vào Sắc Giới mắt chẳng bị Sắc mê hoặc, vào Thanh Giới tai chẳng bị âm thanh mê hoặc, đấy là đắc đạo. Nếu chỉ xét đến thần thông th́ thần cũng có thần thông, quỷ cũng có thần thông, yêu ma cũng có thần thông, chẳng dính dáng ǵ đến đạo hết! Ngỡ có thần thông là đắc đạo, ắt sẽ đọa trong cảnh lưới rập của ma, sanh vào ḍng giống ngoại đạo, há nên không cẩn thận!

 

* Chim làm tổ trên đỉnh đầu, cỏ mọc xuyên gối

 

Cơi đời tương truyền khi đức Phật tu khổ hạnh, chim sẻ làm tổ trên đỉnh đầu, cỏ lau mọc xuyên gối, những nhà tu dưỡng bèn cho đấy là thuật vận khí. Hiểu như vậy là sai! Thâm nhập Thiền Định, cho nên chim sẻ làm tổ trên đầu cũng chẳng biết, cỏ lau mọc xuyên qua [gối] cũng chẳng hay, sự thật chỉ như vậy mà thôi! Chứ không phải là thuật vận khí thông trên thấu dưới, thậm chí “chín tầng trống sắt”[26] bị hiểu lầm là hai cái ải thuộc vị trí huyệt Giáp Tích. “Dạo chơi bốn cửa thành” bèn bị giảng bậy là mắt, tai, mũi, lưỡi, đều là tà thuyết, chẳng thể không quở trách!

 

* Nê Hoàn

 

Chữ Nê Hoàn phát xuất từ kinh Phật, có kẻ lẫn lộn Nê Hoàn chính là cung Nê Hoàn trên đỉnh thóp. Đấy là hiểu sai. Nê Hoàn (Nirvāna) trong tiếng Phạn được cơi này dịch là Vô Vi, tức là đại đạo Vô Thượng Niết Bàn. C̣n Nê Hoàn Cung của bọn họ (các đạo sĩ) chính là đỉnh đầu nơi sắc thân. Dẫu có thể vận khí xung phá được Nê Hoàn Cung th́ chẳng qua chỉ là thuật luyện cho thân thể nhẹ nhàng, sống lâu mà thôi, sao có thể nói là giống với đạo Vô Vi Niết Bàn cho được?

 

* Phép Chỉ Quán của ngài Thiên Thai

 

Trong sách Chỉ Quán Thiền Yếu của Thiên Thai đại sư có nói tới sáu chữ “khí”, người ta bèn ngờ rằng đấy chính là thuật Đạo Dẫn[27] rồi muốn gom Phật pháp vào Đạo giáo; đấy là sai! Sáu chữ Khí ấy nhằm để giảng giải về một phương cách trị bệnh, chứ không phải là ư tưởng chánh yếu trong phép Chỉ Quán. [Chỉ là] dứt loạn, [Quán là] quán [thấu suốt sự] hôn trầm, Định và Huệ hiển lộ trọn vẹn, vào thẳng cảnh Phật; đấy chính là bổn ư của đại sư. Ngài lại sợ có những kẻ chẳng khéo dụng tâm, chắc sẽ đổ bệnh, bèn dạy kèm cách đối trị. Đấy cũng là phép Chỉ Quán rộng lớn, không ǵ chẳng bao gồm, chứ không giống như bọn Đạo sĩ chuyên coi hít thở, vận động là Đạo. Kẻ đọc kinh văn hăy nên lănh hội ư này.

 

* Lâm chung biết trước lúc mất

 

 Kẻ tà vạy bịa ra cuốn Quy Không Kư, nhằm dự đoán kỳ hạn mất, bảo là do tổ Đạt Ma biên soạn. Đấy là ngoa truyền. Kẻ ấy cho rằng để ước định kỳ hạn chết, hễ búng vào sọ mà không nghe có tiếng vang th́ gọi là “trống đầu lâu bặt tiếng”, mấy hôm sau sẽ chết, hoặc giơ thẳng cánh tay lên để thử xem mắt [ngước lên có nh́n thấy được chót bàn tay nữa hay không], gọi là “đèn vàng không sáng”, mấy hôm sau sẽ chết. Đủ mọi thứ như thế, đều là xem xét nơi sắc thân, huyết khí tinh thần suy bại, sắp tan ĺa. Đấy là kiến thức của một thầy thuốc, nhưng lại giả danh thánh, giả danh Tổ, ḥng thần bí hóa thuyết ấy, nhằm dối gạt, mê hoặc kẻ ngu tục. Cái tội vu báng, dối gạt ngập trời! Phàm cổ nhân biết trước lúc mất là v́ chấp trước đă hết, t́nh niệm rỗng rang, sẽ tự biết; hoặc do cảnh Tịnh Độ hiện ra, liền tự biết chỗ sẽ sanh về, cũng chẳng coi đó là chuyện kỳ lạ. Bậc cổ đức v́ muốn phá chấp nên mới có câu: “Tử thời hà khổ dục tiên tri” (Sao lại khổ sở muốn biết trước lúc chết?) Lời nói ấy đầy ư vị thay!

 

* Vu Lan Bồn

 

Người đời cho rằng thí thực cho quỷ thần trong ngày Rằm tháng Bảy chính là hội đại trai Vu Lan Bồn. Đấy là sai. Vu Lan Bồn có duyên khởi từ ngài Mục Liên, nghĩa là ngày Rằm tháng Bảy là ngày chúng Tăng giải hạ, tự tứ[28] sau chín mươi ngày tham học, người đắc đạo đông đảo. Sắp đặt cúng dường trong hôm ấy phước gấp trăm lần, chứ không phải là thí thực cho quỷ thần. Thí thực có duyên khởi từ ngài A Nan, chẳng chỉ giới hạn trong ngày Rằm tháng Bảy. Vật dùng để đựng đồ thí là cái hộc [của người] nước Ma Kiệt (Magadha) [thường dùng], chứ cũng chẳng phải là Lan Bồn. Ấy là v́ [trong ngày Vu Lan], trên cúng dường thánh hiền, dưới cứu giúp ngạ quỷ, Bi điền và Kính điền[29] khác nhau, chớ nên lẫn lộn!

 

* Vô Vi Quyển

 

Có gă họ La[30] soạn ra năm bộ sáu quyển, đặt tên là Vô Vi Quyển, kẻ ngu phần nhiều tin theo. Đấy là sai trái. Vô Vi như hắn nói chẳng qua là phế sạch muôn hạnh môn, chẳng biết vạn hạnh chính là Không, suốt ngày làm, nhưng chưa từng [thấy chính ḿnh] làm ǵ th́ mới chính là vô vi thật sự. Gă đó miệng bàn về lẽ thanh hư, nhưng tâm mong lợi dưỡng, mang tiếng là vô vi, nhưng thật sự là hữu vi. Người ta thấy hắn dẫn kinh Phật xen vào đó, bèn cho rằng đấy cũng là chánh đạo, chẳng biết hắn giả chánh để giúp tà, dối gạt kẻ đui điếc. Chúng ta là con nhà Phật, hăy nên tận lực trừ bỏ sách ấy đi.

 

* Bát Nhă Tâm Kinh

 

 Có người nói kinh Phật chỉ có bài Tâm Kinh do ngài Huyền Trang dịch là được đem từ Tây Thiên tới, những thứ khác đều do người đời sau soạn ra. Đấy là ngoa truyền. Người dịch kinh này đầu tiên là ngài La Thập[31], c̣n ngài Huyền Trang cầm kinh ấy [trên đường đi] sang phương Tây, đâu phải do Ngài đem [kinh ấy] về [rồi Trung Hoa mới có]. Trong Tây Vực Kư[32] từng chép trên đường đi, ngài Huyền Trang nhiều lần gặp yêu ma, tŕ thánh hiệu Quán Âm, chúng chẳng chịu lui, Sư bèn tụng Tâm Kinh th́ chúng liền lui mất. Như vậy là trước khi ngài Huyền Trang đem về, kinh này đă có ở Trung Quốc, ngài Huyền Trang chỉ dịch lại thành bản mới mà thôi, sao lại ăn nói ngược ngạo đến thế?

 

* Lương Vũ Đế

 

Sử chép Vũ Đế chuộng Phật giáo, chết đói ở Đài Thành mà Phật chẳng cứu, do vậy bèn công kích Phật. Đấy là ngoa truyền. Vũ Đế ưa thích đạo đến nỗi quên ăn, thường giữ trai giới mỗi ngày ăn một bữa. Nếu gặp phải lúc chánh sự bận bịu [không kịp ăn], vua súc miệng cho xong. Lúc lâm chung, vua không ăn chính là điều hằng ngày thường vâng giữ. Hơn nữa, vua cai trị năm mươi năm, sống trên đời tám mươi năm, công vẹn, ư thỏa, ngồi yên đợi đến lúc mạng chung, coi chết như trở về, đâu phải là chết đói. Khi Hầu Cảnh[33] gặp vua, toát mồ hôi, câm bặt, là v́ khiếp phục khôn cùng trước oai thần của vua, th́ làm sao Vũ Đế có thể chết [đói] như thế được? Người đời sau có kẻ biện bác rằng “vua chết đói là do túc nghiệp”. Lời bàn luận ấy tuy đúng, nhưng chẳng biết rằng hai chữ “chết đói” là do kẻ ghét Phật bịa ra, muốn nhờ vào đó để ngăn trở nẻo tiến lên của người khác. Nay ở đây tôi nói rơ vua không chết đói, đủ để phá sự sai lầm trong ngàn năm.

 

* Hoàng Long và Động Tân[34]

 

Bọn đạo sĩ nói Lă Động Tân dùng phi kiếm để hàng phục thiền sư Hoàng Long[35]. Đấy là ngoa truyền. Sư một bữa lên ṭa, Động Tân trà trộn trong thính chúng. Do thiên nhăn, Sư thấy rơ, bèn bảo: “Trong hội có kẻ trộm pháp”. Động Tân bèn bước ra tự xưng là “vân thủy đạo nhân” (đạo sĩ vân du), Sư hỏi: “Khi mây tan nước cạn th́ sẽ ra sao?” Động Tân không đáp được. Sư bèn trả lời thay: “Hoàng long xuất hiện”. Động Tân tức giận, đêm đến phóng phi kiếm toan uy hiếp Sư. Sư chỉ tay, kiếm cắm phập xuống đất, chẳng lay động được. Sáng ra, Động Tân rút kiếm không được, vấn đáp mấy câu, chợt có chỗ tỉnh ngộ, bèn nối pháp của Hoàng Long. Truyện này được chép trong Truyền Đăng Lục, khác với lời lưu truyền trong cơi tục. Người hiểu biết hăy xét suy.

 

* Phật nhập Niết Bàn

 

Đức Phật thị hiện nhập diệt, gọi là Niết Bàn. Con người bèn cho rằng thần tiên trường sanh, chứ Phật cũng phải chết. Đấy là sai ngoa. Tiên thọ đến cùng cực chỉ bằng trời. Trời cũng có lúc tự hoại th́ tiên làm sao c̣n được? Lời của họ Bạch nói rất hay: “Nói dài là đối với ngắn, như đem tùng, bách sánh với bông dâm bụt. Đặc biệt nói hậu diệt, chứ không nói bất diệt. Nay nói Niết Bàn là đại đạo bất sanh bất diệt. Sanh lẫn tử đều là Không, chứ chẳng phải chỉ bất tử mà thôi!” Nhưng người nói [lời ngoa truyền trên đây], cứ tưởng rằng thần tiên bất tử. Nhà Phật nói “vô sanh”; họ chẳng biết là nếu đă không có sanh, th́ sẽ do đâu mà có tử? Chỉ là hóa duyên đă xong, bèn thị hiện giống như cơi phàm nhập diệt, nhằm cảnh tỉnh, giác ngộ chúng sanh, khiến cho họ biết vạn vật vô thường, đừng sanh tham chấp. Nhưng [tục nhân] lại dựa vào đó để cho rằng Phật thật sự chết, cũng chẳng sai lầm lắm ư? Sông sanh tử, bờ Niết Bàn, chỉ là nói một cách đối đăi, xin hăy suy nghĩ thử xem!

 

* Năng Nhân Tổ

 

Trong cơi đời có tà sư truyền dạy tà pháp rộng răi. Hỏi học pháp ấy từ đâu, bèn nói: “Tổ của ta là Năng Nhân, c̣n Thích Ca, Lăo Đam, Trọng Ni[36] đều là đệ tử”. Đấy là nói ngoa. Thánh nhân Tam giáo chẳng sống cùng một thời, làm sao có cùng thầy được! Hơn nữa, danh hiệu Thích Ca trong tiếng Phạn được cơi này dịch là Năng Nhân. Gă đó hèn tệ, nông cạn, thất học, nghe nói có danh hiệu Năng Nhân, chẳng biết đầu mối, bèn lấy danh hiệu đó để đề cao vị tổ của đạo ḿnh, chẳng biết Năng Nhân chính là Phật. Sao mà nực cười đến thế?

 

* Ngọc Hoàng Kinh

 

Kinh này chép Thiên Đế thuyết pháp, mười phương chư Phật đều đến nghe. Đấy là nói ngoa. Chư thiên thuộc địa vị phàm phu, Thanh Văn là bậc tiểu thánh mà chư thiên c̣n phải kính phụng, lẽ đâu bậc trời của các trời, là thánh của các thánh lại phải ngược ngạo nghe nhận pháp của phàm phu ư? Lời nói của lũ Tề Đông[37], kẻ nghe đừng điên đảo [tin theo] nữa, chẳng phải vậy! Nếu như chư thiên giảng diễn thiện pháp, chư Phật hoan hỷ hóa thân gia bị, là do chư thiên chí thành nên cảm được Phật, Phật bèn v́ họ chứng minh. Chắc là có lẽ ấy, chứ bảo là chư Phật tín tâm nghe nhận th́ thật là dối trá đến cùng cực!

 

* Tăng nhân mất

 

Người đời thấy tăng sĩ lâm chung bị bệnh khổ, liền dị nghị vị ấy chưa đắc đạo. Đấy là sai. Bệnh liên quan đến nghiệp trong đời trước, bậc cổ thánh c̣n chưa tránh khỏi. Đức Phật cũng thị hiện bị nhức đầu, huống hồ những kẻ khác ư? Tuy bệnh, nhưng chẳng bị bệnh gây phiền lụy th́ gọi là “đắc đạo”, như nói “lăo tăng tự có cách để được an nhàn, tám nỗi khổ xen nhau nung nấu trọn chẳng gây trở ngại ǵ” là nhằm diễn tả ư ấy. Đối với chuyện ngồi, đứng qua đời tốt lành, cũng chẳng đủ để b́nh phẩm hơn kém. Cổ nhân nói: “Tọa thoát lập vong tắc bất vô, tiên sư ư vị mộng kiến tại” (Ngồi mất, đứng chết chẳng phải là không có, tiên sư cho rằng chưa hề mộng thấy), há là lời nói suông ư? Người tu hành chỉ nên chú trọng thấu triệt đại sự sanh tử, đừng vương vấn h́nh dáng bên ngoài, để rồi nẩy sanh những ư kiến khác lạ!

 

* Tam Giáo cùng nói chữ Nhất

 

Có kẻ nói nhà Phật bảo “vạn pháp quy nhất”, Đạo giáo dạy “băo nguyên thủ nhất”[38], đạo Nho nói “dĩ nhất quán chi”[39], nên cả ba đạo đều là một, chẳng khác nhau! Đấy là nói ngoa. V́ nếu chẳng giữ Vạn mà chỉ giữ lấy Nhất (một), dùng cái Nhất của ta để quán thông vạn sự th́ Vạn và Nhất vẫn là hai thứ; c̣n “vạn pháp quy nhất” th́ chỉ có một, chẳng c̣n có Vạn, tức là Vạn và Nhất không hai. Hơn nữa, hai giáo kia chỉ nói đến Nhất, nay [nhà Phật] lại nói “nhất quy hà xứ?” (nhất về chỗ nào) th́ hai giáo kia chỉ coi Nhất là cùng cực, c̣n Phật lại vượt thoát ra ngoài Nhất. Ôi chao, huyền diệu thay!

 

* Nghi t́nh

 

 Trong cơi đời, có kẻ đọc đến những câu như “nhất quy hà xứ, nhân thậm đạo vô” (một đi về đâu, do vậy hết sức nói đến Không), bèn hoặc liên tiếp đọc lên thật nhanh, hoặc gắng kéo hơi đọc cho lâu để đánh động nghi t́nh. Đấy là sai. “Nghi” có nghĩa là tham cứu, quán sát nhằm thấu hiểu, quyết định phải sao cho thấy được cái cảnh Một ấy rốt ráo đi về đâu, rốt ráo phải thấy được v́ sao ông cụ ấy (tức vị thiền sư nói ra lời ấy) nói chữ Vô? Do nay có nghi, mai sau sẽ có ngộ. Nếu niệm thẳng vào câu đó th́ không có nghi; đă không nghi sẽ không ngộ. Dùng niệm thẳng để nghi, há có được chăng? Câu “người niệm Phật là ai?” cũng mang ư nghĩa giống như vậy! Lại có kẻ ngu vận khí ép chữ “Ai” xuống Đan Điền, để mong nó sẽ xông ngược lên đỉnh đầu, ngơ hầu mạch Nhâm và Đốc được thông suốt, coi đó là “tham thấu” (tham cứu đến khi thấu hiểu được công án), gọi đó là “truy cứu niệm Phật”. Chẳng biết Truy có nghĩa là “truy xét, truy vấn”, há phải đâu là truy đuổi cho tới Đan Điền ư? Đă sai lại càng sai hơn, đúng là đáng thương xót quá! Người thông đạt hễ gặp kẻ như thế, hăy đừng tiếc lời bảo ban mọi điều cho kẻ ấy vỡ lẽ.

 

* Công án

 

Lại có tà sư ngầm dạy công phu tà vạy, học tṛ được dạy bèn bảo là “được nhận công án hay truyền thoại đầu”. Đấy là nói ngoa. Công Án có nghĩa là án từ (hồ sơ vụ án) nơi công đường. Do vậy, phải phân tích, phán đoán đúng sai. Đối với cơ duyên hỏi đáp của chư Tổ, cũng phải phân tích, quyết đoán lẽ sanh tử, cho nên gọi là Công Án. Nói chung là trong lời vấn đáp, có một câu khẩn yếu th́ gọi câu ấy là Thoại Đầu, giống như những câu “một quy về đâu, do vậy hết sức nói đến Không” hoặc “người niệm Phật là ai?” Một ngàn bảy trăm công án, cho đến có nhiều loại, đều giống như thế. Lũ tà sư trộm dùng lời cổ nhân, nhưng mê muội nơi thực chất, những ǵ bọn hắn dạy nếu không phải là cách ép khí th́ cũng rơi vào trống không! Tự lầm, lầm người, gây hại cũng lâu dài, đáng xót thay!

 

* Cây khô, tro lạnh

 

Tống Nho bảo nhà Phật chỉ cầu tâm giống như cây khô, tro lạnh, rồi bèn bài xích Phật pháp là giáo pháp dị đoan, hư vô, tịch diệt. Đấy là nói ngoa. Kẻ lập ra thuyết ấy chưa từng đọc rộng răi kinh Phật, chỉ thấy được Khô Định của Tiểu Thừa, chưa thấy được Định Huệ Song Tu của Đại Thừa, Đệ Nhất Nghĩa Đế của Trung Đạo, chỉ thấy được Không Như Lai Tạng, chưa thấy được Bất Không Như Lai Tạng, huống là “Trung Đạo chẳng ở trong Không và Bất Không Như Lai Tạng” ư? Bọn họ cho là cây khô, ta cho là muôn vàn cây cối đều thắm sắc Xuân. Bọn họ cho là tro lạnh, ta cho là thái dương giữa trưa. Người hiểu biết hăy nên giữ cho tâm lượng b́nh đẳng, đừng coi những lời được nghe đầu tiên là đúng, kẻo bị Tống Nho làm hỏng đại sự.

 

* Đàm kinh Khổng Tước

 

Thời gần đây, người ta dùng linh, trống, thanh la, năo bạt để tụng Khổng Tước Minh Vương Kinh[40], gọi là “đàm Khổng Tước”. Đấy là sai. “Đàm” () có nghĩa là luận định ư nghĩa. Nay chỉ tụng kinh văn, sao gọi là “luận định ư nghĩa” cho được? Nếu nói [“đàm” chính là] chữ “đàn” (: đánh, hay gảy) trong “xuy đàn” (吹彈: thổi, đánh) th́ linh và năo bạt đâu phải là tơ đồng[41] (đàn)! Huống hồ đem kinh văn phổ thành ca khúc, cắt xén chương kinh, xé lẻ câu kinh, khinh nhờn không chi hơn được nữa! Hễ tụng kinh ấy, hăy nên chiếu theo cách thức tụng kinh thông thường, tận lực quay về quy củ xưa, đừng chạy theo thói thời thượng.

 

* Lễ Quán Âm Văn

 

Xưa kia có người lễ Quán Âm Văn, kẻ độn căn bắt chước theo để chuyên cầu được thông minh, trí huệ. Đấy là sai ngoa. Từ sơ phát tâm cho đến khi chứng quả, thảy đều trọn đủ trong bài văn ấy, nhưng dùng kinh văn ấy để chuyên cầu thông minh, trí huệ th́ ra thể thống ǵ? Hăy biện định về thông minh và trí huệ! Nói tới “thông minh” chẳng qua là nghe rộng, thấy nhiều, lắm tài năng mà thôi. C̣n “trí huệ” th́ có nghĩa là giác tâm chẳng mê, chánh kiến rạng ngời, chế ngự được phiền năo, phá vô minh. Do vậy, thông minh là điều tốt đẹp nhỏ nhoi trong thế gian, chấp vào đấy thường bị chướng lấp Chân Trí. Trí Huệ là cái nhân lớn lao để xuất thế gian, hễ đạt được rồi th́ sự thông minh trong thế gian đâu c̣n ǵ đáng quư nữa! Lễ bài văn ấy (tức lễ bái Quán Âm Văn) để chuyên cầu thông minh th́ có khác ǵ cắt cổ gà lại dùng đến dao mổ trâu? Hạnh trẻ nít vô tri, nhưng chẳng ngại ǵ nêu ra. Bậc tu hành đă lâu hăy nên đặc biệt khuyên răn người khác về chuyện này.

 

* Phật chẳng phải là người

 

Thế tục nói chữ Phật () là từ hai chữ Nhân () và Phất () ghép lại; cho nên Phật không phải là người, bởi đă bỏ nước nên không thấy có vua, bỏ người thân nên không c̣n thấy có cha, chẳng cưới vợ sanh con, tuy giữ cho thân ḿnh trong sạch nhưng rối loạn luân thường. Cái đạo không tṛn bổn phận làm người ấy chớ nên thực thi ở Trung Quốc! Đấy là nói ngoa. “Phất nhân” (không phải là người) th́ quả thật không phải là người, nhưng v́ sao lại “phất” (không) th́ chẳng phải như ông đă nói! Đoạn được phiền hoặc người khác chẳng thể đoạn được, chứng được trí người khác chẳng thể chứng, hành được hạnh người khác chẳng thể hành. V́ thế, Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng là các bậc thánh trong loài người, c̣n Phật chính là thánh của các vị thánh. Chữ Thánh vẫn chưa đủ để xưng tụng Ngài, huống là có thể gọi Ngài là người ư? Nhật, Nguyệt, bốn thiên vương cho đến cơi trời Vô Sắc do sánh với con người mà xưng là Thiên. C̣n Phật là đối với chư thiên mà xưng là Thiên vậy. Chữ Thiên c̣n chưa đủ để gọi Phật, huống hồ đáng gọi Ngài là Người ư? Phật chẳng phải là người, nghĩa như vậy đó!

Hăy luận chung về Tam Giáo. Chữ Nho () ghép từ chữ Nhu () và Nhân (). Chẳng bộp chộp, hư vọng là Nhu, như vậy Nho là người thong dong tuân theo lễ pháp. Tiên () là từ Sơn () và Nhân () ghép lại. Ĺa chốn chợ búa th́ gọi là Sơn. Do vậy, Tiên là người tiêu dao ngoại vật, chẳng thể gọi là Phất (). Hai giáo tuy cao, nhưng vẫn c̣n có thể gọi là Người, c̣n Phật đă thoát khỏi tứ sanh, vượt ba cơi, chẳng thể gọi Ngài là người. Lấy những điều trên đây để tạm đáp lời ông gạn hỏi, chứ thật ra Phật (Buddha) là tiếng Phạn, cơi này dịch là Giác, sao lại giảng là “phất nhân” (không phải là người)!

 

* Nam vô Phật (南無佛)

 

Có kẻ nói phương Nam thuộc Hỏa, lửa tắt chính là Phật, cho nên nói “Nam vô Phật” (phía Nam không có Phật), hoặc “phương Nam không có Phật, chỉ Tây Phương là có Phật” mà thôi! Cho nên nói “Nam vô Phật”. Đấy là sai ngoa. Nam-mô[42] (Namo) là tiếng Phạn, cơi này dịch là “quy mạng”, đọc là Nẵng Mồ, hoặc Na Ma đều được, đấy là dựa theo âm, chứ không theo dựa theo ư nghĩa của mặt chữ vậy. Có kẻ c̣n quá đáng cho rằng Nam là tánh, Vô là mạng, Nam là trời, Vô là đất, Nam là cha, Vô là mẹ. Thậm chí bốn chữ A Di Đà Phật, mỗi chữ đều bị giảng giải sai lầm. Sự hiểu biết tà vạy như thế chẳng thể nêu trọn, xin hăy lần lượt lưu truyền để sửa cho đúng những sai ngoa ấy, ḥng uốn nắn cái tà, khiến cho nó được trở thành chánh. Đấy gọi là báo ân đức của Phật trong đời Mạt vậy.

 

* Bất sanh bất diệt

 

Người đời sát sanh, nại cớ kinh Phật dạy “bất sanh bất diệt” để lập luận: “Chẳng sanh th́ chẳng diệt, có sanh th́ có diệt”, cho nên sát sanh không trở ngại ǵ! Đấy là nói ngoa. Kinh dạy: Tâm này vốn tự chẳng sanh, cũng chẳng diệt. Do bất sanh nên tịch, do bất diệt nên chiếu. Thường tịch, thường chiếu, gọi là Thường Tịch Quang. Đấy chính là diệu tâm của đương nhân, sao lại biến lời giảng chí lư thành tṛ hư luận? Kẻ ngu ăn nói sai quấy đến mức như thế đó, đáng buồn thay!

 

* Trái nghịch cội gốc, tôn sùng đạo Thích

 

Người ta thấy có kẻ từ đạo Nho theo đạo Thích, cực lực khen ngợi Phật, bảo Khổng Tử không bằng Phật; do vậy bèn dị nghị kẻ ấy trái nghịch cội gốc. Đấy là nói ngoa. Bậc tiên đức nói: “Khổng Tử là thánh nhân trong loài người, c̣n Phật là thánh nhân của các thánh nhân”. Đấy chính là lời luận định công bằng xét tới tột cùng lẽ trời, t́nh người, chẳng thể gọi là trái nghịch! Nay có lời hỏi rằng: “Cha ông với Nghiêu, Thuấn, ai là người hiền?” Ắt ông sẽ nói: “Cha tôi làm sao dám sánh với bậc đại thánh?” Như vậy là ông đă trái nghịch cội gốc hay sao? Ắt cứ phải dối trời lừa người để nói “cha tôi hiền như Nghiêu, Thuấn” th́ mới là chẳng trái nghịch cội gốc ư?

Hơn nữa, không phải là Khổng Tử chẳng biết tới Phật, nhưng Nho giáo luận về pháp thế gian, chỉ dừng ở những điều nào hợp với pháp thế gian. Nếu nói vượt quá, sẽ trở thành pháp xuất thế gian. Hai pháp thế gian và xuất thế gian duy tŕ lẫn nhau, nhưng môn đ́nh mỗi đằng mỗi khác. Nếu không như vậy, tăng lữ học Thiền, sao chẳng dựa theo sách Đại Học, Luận Ngữ? Thí sinh đi thi, sao không dùng tới Pháp Hoa, Lăng Nghiêm? Huống chi Khổng Tử tuy không tin Phật, nhưng đă thốt ra những lời nói có ngụ ư như: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ!” (Sáng nghe đạo, tối chết cũng được). Đấy là đạo nào vậy? “Tây phương hữu thánh nhân” (Phương Tây có thánh nhân), đấy là vị thánh nào vậy? Ư tôn sùng Phật thật rơ ràng. Nay nói đạo Thích sâu xa hơn đạo Nho nhằm làm sáng tỏ rạng ngời ư sâu nhiệm của Khổng Tử, đấy gọi là báo ân, sao lại gọi là “trái nghịch cội gốc”?

 

* Danh xưng của tăng sĩ

 

Người đời thường dùng chữ “trưởng lăo” để gọi Tăng; nếu gọi dễ dăi th́ gọi là “ḥa thượng”. Đấy là sai ngoa. Vị tri thức thời cổ chủ trương đạo tràng một phương, nêu gương cho tăng chúng là Trưởng Lăo, cũng gọi là Đường Đầu Đại Ḥa Thượng. Đệ tử cũng gọi thầy là Ḥa Thượng. Danh xưng ấy dễ đảm đương ư? Người đời vốn chỉ biết tới danh xưng, không hiểu nghĩa. Nay tăng chúng cũng coi nhẹ danh xưng “trưởng lăo, ḥa thượng”. Do vậy bèn có kẻ xưng hô là lăo gia! “Lăo gia” là danh hiệu của quan phủ, tăng sĩ chớ nên dùng. Phàm các bậc A La Hán như Xá Lợi, Mục Liên, Không Sanh (Tu Bồ Đề), Ca Diếp đều là đệ tử thượng thủ của đức Như Lai, nên mới được xưng là Trưởng Lăo; nhưng Thích Ca, Di Đà là những vị Thế Tôn trọn đủ Thập Lực, được muôn đời xưng là Bổn Sư Ḥa Thượng. Tăng nhận lănh cái danh ấy, [lẽ ra phải cảm thấy] hổ thẹn không chốn dung thân, nhưng lại ngược ngạo coi rẻ, cũng lạ lắm thay!

 

* Đầu Đà

 

Đă có kẻ chẳng xuống tóc, lại chẳng đội măo, cài trâm[43], cạo sạch đôi lông mày, xưng là Đầu Đà. Đấy là sai. Đầu Đà (Dhuta) là tiếng Phạn, tiếng Hán dịch là Đẩu Tẩu (抖擻, phấn chấn tinh thần, rũ sạch), có đủ mười hai khổ hạnh, thoát trừ trần cấu, thanh tịnh vô nhiễm. Thời cổ gọi [Đầu Đà] là Đẩu Tẩu. Đức Phật dạy: “Có hạnh Đầu Đà th́ pháp ta được tồn tại lâu dài. Không có hạnh Đầu Đà th́ pháp ta bị diệt!” Đầu Đà có quan hệ đến sự thịnh suy của Phật pháp, há để kẻ làm ra vẻ khác người lạm xưng ư? Nếu như đang ở trong tử quan (bế quan cho đến khi chết), để tóc dài không cạo như đại sư Cao Phong ở Thiên Mục th́ thật sự là bậc Đầu Đà.

 

* Ba y

 

Có kẻ cho rằng: Trong ba y, y năm điều là y của Sa Di, y bảy điều là y của tỳ-kheo, y hai mươi lăm điều là y của Bồ Tát. Đấy là sai. Phàm lúc c̣n là Sa Di, liền nhận lănh đủ ba y, chẳng thể thiếu một loại nào. Đấy chính là lời nói của tăng nhân chẳng thông hiểu văn nghĩa. V́ thế chẳng có ǵ là lạ! Nhưng kẻ chỉ nghe giáo pháp mà không thông hiểu, bèn chỉ nhận lănh y bảy điều, c̣n y năm điều và y hai mươi lăm điều suốt đời không nhận lănh! Tướng trạng Phật pháp suy tàn đă thấy rồi đấy!

 

* Cạo đầu, không cạo râu

 

Có kẻ cạo đầu chẳng cạo râu, viện cớ “cạo tóc nhằm trừ phiền năo, để râu nhằm biểu hiện chí trượng phu”. Đấy là sai! Nếu bảo tóc là phiền năo th́ râu c̣n là phiền năo nặng hơn. Biểu lộ chí trượng phu th́ bậc có tư cách đại trượng phu giống như Mạnh Tử đă nói chính là người tận tụy thực hiện nhân nghĩa, giữ vững khí tiết trong lúc cùng quẫn cũng như khi hiển đạt suốt một đời mà thôi! [Để râu nhằm] phô bày dáng mạo xinh đẹp giống như đàn bà, con gái [làm điệu]! Bậc tâm hùng hơn muôn người, cần ǵ phải lấy râu để biểu thị? Làm như vậy trái nghịch điều đức Phật đă rành rành ngăn cấm, phô bày vẻ lạ nhằm mê hoặc mọi người, đáng bị tẫn xuất, quở trách, đừng cho xen lẫn vào trong cửa Phật mới đúng!

Bồ Tát Giới đệ tử Lưu Huệ Văn suất lănh con là Tánh Trạch quyên tiền kính khắc in.

Tháng Mười Một mùa Đông năm Quang Tự 24 (1898), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.

 

13. Trực đạo lục (直道錄)

Đời Minh, sa-môn Châu Hoằng chùa Vân Thê thuộc Cổ Hàng soạn

 

13.1. Lời tựa của Trực Đạo Lục

         

Luận Ngữ nói: “Tư dân dă, tam đại chi sở dĩ trực đạo nhi hành dă” (Dân chúng trong thời tam đại (Hạ, Thương, Châu) được như thế là do họ hành theo đạo công chánh, thẳng thắn). Lại nói: “Nhân chi sanh dă trực” (Con người phải nên sống chánh trực). Lại nói: “Cổ chi ngu dă trực” (thời cổ, kẻ ngu cũng chánh trực). Lẽ sống vốn thẳng thắn, tức là bất luận kẻ hiểu biết hay ngu muội, đều được soi rạng bởi điều ấy. Đó là cái tâm của người dân thời Tam Đại, là đạo chánh trực, mà cũng là cái tâm của dân thời Vô Hoài và Cát Thiên Thị[44] thời thái cổ, là trực đạo. Đó cũng là cái tâm của người dân nơi trời Quang Âm từ thuở thái cổ kiếp sơ cho đến nay. Dẫu muốn cong vẹo, cũng chẳng thể được! Đối với những chuyện thượng, hạ, xưa, nay, phàm những điều được ghi chép trong sử, truyện, hoặc mắt thấy, tai nghe, từ trong trăm ngàn điều, tôi trích lục một, hai điều. Hoặc là đối với những điều cùng được mọi người ca ngợi, tán thưởng mà chẳng biết là sai, tôi bèn hạ thấp. Hoặc là những điều cùng bị thiên hạ đả kích, chê gièm, mà chẳng biết là đúng, tôi sẽ đề cao. Đối với điều được đề cao, chẳng dám nịnh bợ; c̣n đối với điều được chèn ép, chẳng dám t́m lỗi từ chỗ không có lỗi để bắt bẻ. Tâm của người dân là trực đạo (đạo chánh trực, thẳng thắn), đại để là từ ngàn xưa đă như thế đó. Nếu coi [những điều được nêu bày trong tập sách này] là đúng, chỉ có bậc hữu đạo ấn chứng. Nếu chẳng đúng, mong sẽ có người chỉ bảo cho tôi!

          Ngày trai giới thuộc nửa tháng đầu trong dịp cuối Đông năm Giáp Dần (1614) thời Vạn Lịch, Vân Thê Châu Hoằng viết.

 

13.2. Trực đạo lục (chánh văn)

* Tập tục

 

          Tập tục đổi dời con người, dẫu bậc hiền nhân nhận biết, nhưng không tránh khỏi, tôi từng ngờ vực chuyện này. Nay nh́n vào chuyện hiện thời, đúng là như thế đó. Thử nêu một, hai điều: Chữ Điệt () trong Thúc Điệt (叔姪, chú cháu) do Nữ () và Chí () ghép lại, nay bỗng dưng dùng chữ Nhân () thay cho Nữ thành chữ Chất (). Xét theo Ngọc Thiên và Quảng Vận[45], chữ Chất tuy đồng âm với chữ Điệt (tức cùng đọc là Zhí), nhưng Chất có nghĩa là “cứng, chắc”, chẳng hề liên quan đến chữ Điệt trong Thúc Điệt. Kể từ khi có sách vở đến nay, thậm chí các sách Hồng Vũ Chánh Vận, Luật Lệnh v.v… của thánh triều hoàn toàn không có chữ [Chất] này, nhưng nó bỗng xuất hiện ngày nay, xa gần đều dùng, chẳng cảm thấy là sai. Đó là một điều đáng than.

Dùng “pháo trướng” (𤊞) thay cho bộc trúc (爆竹)[46], nổ một tiếng chẳng c̣n ǵ, lại c̣n dùng giấy trang kim trang hoàng, trên dưới đều như thế, chẳng cảm thấy là sai. Đó là hai điều đáng than.

Tiệc tùng đăi bạn bè, khách khứa, các món ăn quư lạ từ dưới nước và trên mặt đất, nhiều đến trăm món, xa xỉ, hoang phí vô ích, sát nghiệp phải gánh. Trên dưới đều như thế, chẳng cảm thấy là sai. Đó là ba điều đáng than.

Trẻ trai búi tóc, [thuở xưa] trên búi tóc có cái khăn nhỏ, nay đều bỏ đi, đến nỗi chủ nhân và đầy tớ lẫn lộn chẳng phân biệt được, trên dưới đều như thế, chẳng cảm thấy là sai. Đó là bốn điều đáng than. Những điều khác khó thể nêu trọn được!

 

* Vần trong thơ

 

          Trong sách Vận Thư của Thẩm Ước[47], [quy định] các chữ Đông () và Đông (), Tống () và Tống () đồng âm nhưng khác bộ, Văn () và Nguyên () hoàn toàn khác nhau, đâm ra cùng một vần, nhưng xưa nay sử dụng như tuân phụng sắc chỉ của vua, như tuân theo kinh điển của thánh nhân, chẳng dám trái vượt mảy may! Họ nói: “Các vị danh gia Lư Bạch, Đỗ Phủ đời Đường viết Luật Thi (tức thơ Đường Luật), ắt dùng các vần ấy. Hễ có sai sót, sẽ bị người khác chỉ trích!” Ôi! Thẩm Ước chẳng phải là Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Vũ Vương, các vị Lư, Đỗ chẳng phải là “tổ thuật, hiến chương” (tôn sùng, phỏng theo đạo thống của tiền nhân; tuân thủ pháp tắc và chế độ do thánh nhân đă lập) như phu tử (Khổng Tử), thế mà được tuân thủ, tín phụng dường ấy.

Hơn nữa, chẳng phải là thiên tử không khảo cứu văn chương, nay theo sách Hồng Vũ Chánh Vận, th́ chữ Đông thứ nhất () và chữ Đông thứ hai () đều hợp thành một vần, nhưng [trong] thánh chỉ truyền bảo thị thần [của Minh Thái Tổ], có nói vận học bị hủy hoại vào thời Lục Triều, chỉ rơ Thẩm Ước [là kẻ gây rối cho các quy ước về thanh vận]. Chẳng tuân theo quy tắc đă thành lập vạn đời của vị vua đương thời, mà tuân theo kiến giải thấp kém của một gă đời trước, tôi chẳng biết nói như thế nào nữa!

 

* Phá hủy dâm từ[48]

 

          Quan Học Sứ[49] X… nhiều lượt truyền hịch tra xét, hủy phá dâm từ. Trong địa phận của phường B́nh An, có miếu Lưu Lư Nhị Vương, tức là Thổ Cốc Thần Từ ở làng quê tôi vậy. Hai vị ấy đều là người đời Tống. Lưu vương tên húy là Cấp (). Khi quân Kim phá thành, ông tuẫn tiết, Sử ca ngợi ông là người báo quốc tự ải (tự thắt cổ chết). Lư vương húy là Nhược Thủy, Sử chép “người Kim nói: - Khi nhà Liêu mất nước, người chết v́ trung nghĩa rất đông, riêng Nam Triều (nhà Nam Tống) chỉ có ḿnh Lư Thị Lang”. Do bọn cường hào trong làng có hiềm khích với vị Tăng giữ miếu, bèn khai báo lờ mờ, Học Sứ chẳng biết rơ, [ra lệnh] hủy phá. Khi ấy, tôi ở bên ngoài, chẳng biết. Trong làng, có vị tiên sinh tấn thân (có quan chức) cũng chẳng ngó ngàng tới. V́ thế biết: Từ thời cổ, dâm từ bị phá hủy chưa chắc đều là dâm từ, mà ngược lại dâm từ có thể chẳng ở trong số các đền thờ bị phá hủy cũng chẳng có ngằn hạn. Nay hai vị trung thần được thờ ké trong miếu Tam Thánh, ở sát vệ đường, chỉ dung được tấm thân, giống như kẻ thuê pḥng, người trong làng chẳng phát tâm khôi phục [miếu thờ hai vị]. Tiếc thay!

 

* Bàn về y thuật (1)

 

          Cổ nhân nói: “Chẳng thành một tể tướng hiền lương, bèn thành một thầy thuốc sáng suốt”. Đúng lắm thay! Y sĩ khó thể sáng suốt được! Nêu đại lược mấy chuyện:

Một là lầm lẫn trong việc điều trị do dùng thuốc có tánh mát [không đúng cách], gây tổn hại. Tại Đan Khê, thịnh hành một thuyết cho rằng trong thân người, Dương thường có thừa, chứ Âm thường chẳng đủ, bèn dùng Tri Mẫu, Hoàng Bá v.v… bảo là bổ Âm. Tới nay, kẻ trị chứng hư lao, cứ tuân theo đó mà dùng. Lúc mới uống, bao tử c̣n mạnh mẽ, dùng lâu ngày, [bệnh nhân] ắt trúng hàn, tiêu hóa kém. Âm chưa được bồi bổ mà Dương đă cạn kiệt! Hoặc nói: “Tả[50] phương Nam, bổ phương Bắc. Y kinh (sách thuốc truyền thống) dạy như thế”, nhưng chẳng biết kinh dạy: “Phương Đông thật, phương Tây hư”, bèn chẳng trị Đông, Tây, chỉ tả Nam, bổ Bắc. Thận là mẹ của gan, thủy vượng th́ kim chẳng được nung nóng để khắc chế mộc; do vậy nói “mẹ có thể khiến cho con hư”. Lo toan cho Kim và Mộc th́ đúng, nhưng chẳng thể nhất loạt trị chứng hư lao. Như Vương Tiết Trai[51] cao minh, nhưng cũng do vậy mà chẳng biết, há có phải là sai lầm nhất thời ư?

Hai là lầm lẫn do bào chế không thỏa đáng. Người hiện thời dùng nước tiểu của bé trai để tẩm sâm, bảo là [nếu không làm như thế, sâm sẽ làm cho] phổi nóng, khiến phổi bị tổn thương. Nhưng sách Bản Thảo[52] nói “sâm kỵ lỗ sửu”. Lỗ () chính là muối, sửu () chính là nước tiểu, sao ngược ngạo dùng chất kỵ [để điều chế?] Lại như đối với Phụ Tử (rễ cây Ô Đầu, Aconitum Carmichaeli), nhằm sử dụng dược tánh mạnh mẽ của nó, cũng dùng nước tiểu của bé trai để chưng Phụ Tử dăm ba ngày. Ví như dùng mănh tướng để chế ngự kẻ ḱnh địch, tuy chú trọng sự mạnh mẽ của kẻ đó, nhưng khiến cho tay chân của kẻ đó bị thương tổn, khiến thân thể hắn đói khát rồi sai ra trận, có được hay chăng? Phàm là người dùng thuốc, phải xem xét có nên dùng hay không. Nếu chẳng thích hợp dùng, sao bằng thôi đi (chẳng dùng)?

Ba là lỗi lầm do nhận biết thuốc sai lầm. Lầm lẫn thanh b́[53] với hạt cam, lẫn lộn chỉ cốc (cam đắng) với hương viên (turbina aguta), lẫn lộn thạch cao với phương giải thạch (calcite, CaCO3) Lại c̣n đặt ra kiểu nói nhuyễn thạch cao, nhuyễn sài hồ không chừng! Coi ngũ bội tử[54] là văn cáp (文蛤, con ngao mật), coi tua hoa sen là nhụy hoa sen, coi sơn la bặc (scabiosa, lam bồn hoa) là sa sâm (ladybells), đều là sai lầm. Thanh b́ đi vào Túc Quyết Âm kinh, cho nên trần b́ trị cao, thanh b́ trị thấp. Hạt cam là thuốc trị nơi ngực, sao có thể đi vào Túc Quyết Âm cho được? Những điều khác có thể suy ra tương tự. Lại nữa, hạt cẩu kỷ, địa cốt b́ (vỏ rễ cây cẩu kỷ), rễ và hạt từ cùng một cây, Vương Tiết Trai chia thành hai bộ thảo mộc, đều sai.

Bốn là lầm lẫn do kê toa không cẩn thận. Cổ nhân kê toa, thận trọng, chẳng cẩu thả. Tất cả các toa thuốc đă h́nh thành như tứ quân, tứ vật, nhị trần, b́nh vị v.v… được gọi là Ngọc Cấp Tam Thập Lục Phương (ba mươi sáu toa thuốc trong tráp ngọc), do chân nhân Tôn Tư Mạc được truyền từ cung rồng, được chép rải rác trong các sách kê đơn thuốc, mỗi mỗi đều có thâm ư. Người đời sau hễ thấy thích hợp bèn sử dụng, hơi có tăng, giảm, sửa đổi, không ǵ chẳng thích đáng. Nhưng kê toa trong hiện thời, hoặc là tản mạn không lớp lang, hoặc tùy tiện sử dụng, hoặc quen chế thuốc b́nh đạm, tác dụng ḥa hoăn, chẳng có lợi ích to lớn, mà cũng chẳng gây tổn hại to lớn, cho rằng hễ thành (có công hiệu) th́ kể công, bại th́ không bị đổ lỗi, chẳng biết đối với căn bệnh khẩn yếu, [làm như thế sẽ] trở thành gây tổn hại. Lại như các toa thuốc của họ Vương tinh mật nhất, nhưng đối với tứ quân tử[55], lại thay cam thảo bằng hoàng kỳ. Tùy theo chứng bệnh mà kê toa, vốn chẳng có cách nào chết cứng, nhưng nếu sao chép, khắc in toa thuốc cổ, chớ nên thay đổi! Nếu như từ cổ đă có người thay đổi th́ được, nếu từ thời cổ chưa có th́ vẫn giữ nguyên như cũ mới nên.

 

* Bàn về y thuật (2)

 

          Cổ nhân có nói: “Uống thuốc thích đáng th́ là thượng trị, chẳng đúng lẽ th́ là hạ trị. Chẳng uống thuốc, cứ giữ bệnh, th́ là trung trị”. Nay thử nêu lên một khoa Thương Hàn, khó biện định th́: Một là lúc ban đầu mới phát sốt, khó biện định là ngoại thương hay nội thương. Kế đó là khó biện định [bệnh] lan truyền theo kinh mạch nào, hoặc truyền theo thứ tự, hoặc chẳng truyền theo thứ tự, hoặc truyền lung tung, hoặc từ đầu đến cuối chỉ truyền trong một kinh, hoặc chẳng truyền. Hoặc đang trong lúc toát mồ hôi, thượng thổ hạ tả, hoặc là chẳng nghiêm trọng, hoặc bệnh t́nh nguy cấp, hoặc bệnh t́nh ḥa hoăn, hoặc biến chứng trăm kiểu khó biện định. Sai chừng hào ly, đă liên quan đến sanh tử. Do vậy, chẳng uống thuốc là trung trị.

Hơn nữa, hai thang Ma Hoàng và Quế Chi của Đào Trọng Cảnh, người đời sau chẳng dám dùng. Dịch lăo dùng Cửu Vị Khương Hoạt Thang để thay thế, trong ấy có hoàng liên, sanh địa, người đời sau lại ngờ vực, bỏ đi, chẳng biết Ma Hoàng và Quế Chi chuyên trị chứng thương hàn vào tiết Đông, c̣n Cửu Vị th́ trị chung bốn thời. Đại để, mùa Đông phát bệnh th́ là thương hàn, c̣n Xuân phát bệnh th́ là ôn, mùa Hạ phát bệnh th́ là nhiệt. Lại c̣n có đại sài hồ, tiểu sài hồ, đại thanh long, tiểu thanh long, đại thừa khí, tiểu thừa khí v.v… đều có thâm ư, chẳng thể dùng loạn. Do vậy, chẳng uống thuốc là trung trị, nói đúng lắm thay!

Suy rộng thành đủ thứ bịa đặt, chẳng phải chỉ một thứ! Có kẻ đem thuốc làm thành bánh, đặt ngải cứu lên trên đó để thay cho cách Cứu thông thường. Có kẻ làm ống thuốc nung nóng để áp [vào thân người bệnh] nhằm thay cho châm. Có kẻ chế Hy Đậu Đan cho trẻ nhỏ uống để khỏi lên đậu. Có kẻ chế Sanh Tử Hoàn bảo là bà bầu uống vào sẽ sanh song thai. Sai lầm, hư vọng đến nỗi như thế ấy! Có kẻ chế tạo Đoạt Mạng Diên Niên Hồng Diên Thu Thạch Đan, nhưng chia thành ba liều: Một liều nhỏ vào mũi, một liều trút vào miệng, một liều tra vào đường tiểu tiện, quái dị đến mức như thế đó, đều là những thứ chớ nên dùng, gạt đời, dối dân, chẳng thể không nêu ra, chỉ có bậc trí biện định.

 

* Quan vương hội

 

Người đất Hàng thích mở hội tế thần. Mấy năm gần đây có hội vía Vân Trường Công (Quan Công), bày biện đội ngũ rước xách hết sức long trọng, bày rộng các đội nghi trượng, tám cỗ kiệu thần, trăm thứ nhạc cùng ḥa tấu, nha dịch, thủ vệ, kỵ binh, lính cầm cờ, đao phủ đều do người dân hay kẻ đang làm quan phát tâm phục dịch. Trên đường đi, hễ gặp thần miếu, một người bước đi mạnh mẽ, đóng làm phù quan[56] cầm thiếp bái khách. Ông từ giữ miếu quỳ bẩm: “Bổn thần ra ngoài, lỡ dịp đón tiếp”. Đấy vẫn chưa phải là chuyện gây hại sâu đậm. Hoặc có lúc kẻ khiêng kiệu tự nói “thân chính ḿnh chẳng kiềm chế” được, [khênh kiệu] xông thẳng vào nhà giàu, [đặt kiệu] ngồi ngay ngắn nơi chánh sảnh, nhiều người chẳng thể khiêng lên được. Chủ nhân lại lạy lục, hứa sẽ thí đủ loại cúng dường th́ mới có thể dời đi được. Lại có một người làm lính lệ, hứa sẽ phục dịch một suất. Đến kỳ hạn, do bị bệnh, chẳng thể đến hội, bèn thốt lời điên cuồng, dập đầu xin tha mạng, mới được thần cho lành bệnh.

Than ôi! Vân Trường Công coi rẻ của cải đút lót hết sức trọng hậu của họ Tào (Tào Tháo), mà đối với những kẻ Ngài thống ngự lại có ân nhiều nhất, chịu động tâm v́ sự cúng dường của một hộ nhà giàu nhỏ nhoi? V́ một người lỡ dịp phục dịch mà quở trách sâu xa ư? Dẫu có đi nữa, chính là yêu tà mạo danh Ngài để tác quái vậy. Lừa đời, dối dân, chớ nên để cho tăng trưởng. Nay thượng quan biết tới, hăy nên ngăn cấm!

 

* Quách Cự

         

          Cơi đời truyền tụng Quách Cự v́ mẹ mà chôn con, được trời ban cho vàng; nhưng trẻ thơ ăn được bao nhiêu? Vợ chồng bớt một muỗng cơm là đủ để nuôi con thơ rồi, v́ sao phải đem chôn? Mẹ biết cháu bị chôn, há chẳng gần như buồn bă, nghẹn ngào đến chết ư? Như thế th́ chẳng phải là chôn con, mà là chôn mẹ. Dẫu Quách Cự cực si dại, chẳng nên đến mức ấy! Nếu bảo là vợ chồng nghèo túng, không cách nào xoay sở được nữa, bàn bạc muốn bỏ con, th́ trên đường sẽ bỗng được vàng, chứ chẳng phải là phải cuốc đất mới ḥng có được!

 

* Phương Tốn Chí (Phương Hiếu Nho)[57]

 

          Phương công trung liệt, khí tiết to lớn, lấp trời đất, trùm nhật nguyệt, chiếu rạng xưa nay, tôi hết sức kính yêu, nhưng chẳng mong người đời bắt chước ông. V́ sao? Giết tông tộc, thân thích, những người quen biết đến mấy trăm mạng người để thành cái danh trung liệt ấy! Người có ḷng nhân sẽ chẳng nỡ, người trí sẽ chẳng làm; nhưng trung liệt có thể phế hay chăng? Thưa: Đại nghĩa của kẻ làm bầy tôi, sao có thể phế được? Chẳng có cổ nhân trung liệt đó ư? Như Cung Thắng[58] tuyệt thực mà chết th́ được, như Trương Vĩ[59] uống thuốc độc th́ được, như Lư Quân[60] gieo ḿnh vào lửa th́ được. Nếu không, hái rau vi ở Thủ Dương[61] cũng được, nhă nhặn từ chối lui về Ky Sơn cũng được. Huống chi những vị đồng thời tử tiết [với ông Phương] như mấy vị Tăng Phượng Thiều, Vương Thúc Anh, Châu Thị Tu đều chẳng đánh mất khí tiết là trung thần của Kiến Văn Đế (Châu Doăn Văn), sao [ông Phương] lại đến nỗi quyết liệt như thế! Do vậy, tôi tiếc nuối sâu đậm. Tuy vậy, trăm năm sau, vẫn đáng khiến cho kẻ làm bầy tôi mà thờ hai chúa phải xấu hổ!

 

* Hành h́nh khốc liệt

 

          Tăng Tử bảo người làm quan tư pháp rằng: “Như đắc kỳ t́nh, tắc ai căng, nhi vật hỷ” (Nếu đă hiểu rơ [t́nh huống trong mỗi vụ án], hăy xót thương [tội nhân], đừng vui sướng [v́ đă giải quyết xong vụ án])[62]. Người hiện thời đă hiểu rơ t́nh tiết trong mỗi vụ án, liền coi đó là phán đoán sáng suốt. Nhưng để thấu hiểu t́nh huống, không chỉ do dọa nạt, mà c̣n do dùng cực h́nh ra oai, nên lại chẳng thể thấu hiểu t́nh huống chân thật. Tôi thấy kẻ làm quan cai trị, có kẻ ghép mạt sắt vào kẹp gỗ[63], có kẻ ngâm tre tươi [làm roi] để đánh đ̣n, có kẻ sai đánh roi [nghi phạm] tới bốn năm chục roi chẳng ngừng, có kẻ nung nóng ống sắt dí vào da tội nhân, có kẻ đun sôi rượu rót vào lỗ mũi, khổ độc khôn kham, ép họ phải nhận tội oan. V́ thế nói “biết t́nh tiết trong vụ án, chưa chắc đă là thật”. Phàm những hạng người ấy đa số thọ báo ngay trong đời hiện tại. Nếu chưa thọ báo, sẽ hứng chịu cái quả trong địa ngục! Than ôi! Tôi từng nói hăy nên lưu truyền sách H́nh Giới (răn kiêng sử dụng h́nh cụ) của ông Lữ tới ngàn phương, truyền tới vạn đời vậy!

 

* Tinh mạng (vận mạng do tinh tú chi phối)

 

          Từ Tử B́nh[64] đoán mạng của người khác, lấy nhật can (thiên can của ngày sanh) làm chủ, dùng ngũ hành sanh, khắc, xung, hợp, h́nh, hại trong bảy chữ kia[65] để phụ trợ. Người đời sau chẳng thể dùng lư ngũ hành thuần túy để đoán mạng, bèn kiêm dùng thêm các tinh số[66], đấy chẳng phải là bổn ư của Tử B́nh vậy. Dẫu cho người tinh thông thuật Tử B́nh, cũng chưa chắc đều trúng. V́ lẽ nào vậy? Trong thế gian này, người sanh cùng một bát tự, chẳng biết là bao nhiêu! Ngay như chia mỗi thời thành khắc[67], th́ trong tám khắc, người cùng sanh đúng một khắc lại chẳng biết là bao nhiêu! Ngay như ba trăm vị đỗ Tiến Sĩ mỗi khoa thi, [nếu theo Tử B́nh] phải đều là cùng một bát tự mới được. Nếu không, sẽ chẳng có số đậu Tiến Sĩ! Nhưng [trong số các vị Tiến Sĩ ấy], người có cùng bát tự chỉ thỉnh thoảng thấy một hai người đỗ cùng một khoa! Do vậy, cái thuyết số mạng do các tinh tú chi phối bị mâu thuẫn!

Hơn nữa, phu tử nói: “Tử sanh hữu mạng” (sống chết có mạng). Lại nói: “Ngũ thập nhi tri thiên mạng” (năm mươi tuổi biết mạng trời). Lại nói: “Bất tri mạng, vô dĩ vi quân tử dă” (chẳng biết mạng, chẳng coi là quân tử được). Chữ Mạng ấy chẳng phải là mạng theo kiểu Tử B́nh Bát Tự. Nếu không, người hiện thời đều là quân tử, đều là thánh nhân cả rồi! Buồn thay!

 

* Phong Thủy (1)

 

          Người đời tin tưởng Phong Thủy c̣n hơn đoán mạng, v́ lẽ nào vậy? Mạng đă được ấn định từ lúc mới sanh, c̣n Phong Thủy th́ hiện thời có thể sắp xếp. Do đó, tin tưởng hết sức thiết tha, cầu cạnh hết sức siêng gắng, hiếm hoi mới có người có thể phá trừ sự mê hoặc ấy! Đến bảo họ rằng: “Nhà nghèo khó chẳng có sức t́m đất, chứ trong ḍng họ thịnh vượng, đỗ đạt cao, vinh hiển, nhiều đời ăn lộc, trăm cách lo toan phần mộ, thế mà có khi con cháu nghèo nàn, túng quẫn, có kẻ chật vật chẳng thể nói nổi là v́ lẽ nào?” Lư ấy quá rơ, nhưng rốt cuộc chẳng giải trừ nỗi mê hoặc được. Họ cứ nói: “Đấy ắt là do Phong Thủy lâu xa từ đời trước khiến thành ra như thế”.

Lại đến bảo họ: “Hán Cao Đế, Đường Thần Nghiêu, Tống Nghệ Tổ[68], đời trước dù ông hay cha, ai sẽ v́ họ chọn cuộc đất tối thắng hiếm có đệ nhất trong thiên hạ, mà con cháu nhiều đời được làm đế vương?” Lư này quá rơ, nhưng rốt cuộc chẳng giải trừ nỗi mê hoặc được, họ cứ nói: “Tổ tiên những vị đó tuy chẳng mong làm đế vương, nhưng do ngẫu nhiên mà có được cuộc đất đế vương”. Lại đến bảo họ rằng: “Thiên văn dễ nghiệm, địa lư khó rơ. Lại như một pháp nhật thực, sai bằng hào ly[69], cả nước đều thấy. Chứ trong địa lư, mạch từ đâu ra? Huyệt từ ǵ mà kết? Đất chẳng thể nói, chỉ dựa vào miệng của thầy địa lư, có thật sự đáng tin hay không? Hơn nữa, ứng nghiệm th́ xa là nhiều năm, chưa thấy sáng an táng quan tài, tối liền hiện cát hung. Làm thế nào khảo nghiệm lời thầy địa lư nói là đúng hay sai?” Lư này quá rơ, nhưng rốt cuộc chẳng giải trừ nỗi mê hoặc được, họ cứ nói: “Ông thầy đó do ông X… đề cử, học thuật tinh tường, cao minh, từng đặt mộ cho cha ông X…, chôn mẹ cho ông Y… đều rành rành ứng nghiệm!” Rốt cuộc là như thế nào?

Hơn nữa, Giáp đặt mộ, Ất chê sai. Ất thay đổi, Bính lại chê sai, bèn có chuyện t́m đất chẳng được, khiến cho trải bao năm tháng cha mẹ cứ phơi thây ra đó. Người có nhiều anh em, [thầy địa lư] nói: “Huyệt này chẳng lợi cho con trưởng, huyệt kia chẳng lợi cho con giữa, huyệt nọ chẳng lợi cho con út”. Ai nấy bèn mưu toan có lợi cho riêng ḿnh, ai nấy hối lộ thầy địa lư, đến nỗi cạnh tranh bất ḥa. Có khi cuộc đất gần nhà người khác, hoặc là mộ họ Trương bên trái, mộ họ Lư bên phải, hoặc trước hoặc sau. Kẻ này nói “phạm ta”, kẻ kia nói “tổn thương ta”, đến nỗi thành ra kiện tụng, đều do thầy địa lư làm ra. Dẫu là bậc cao minh, hiền năng, vẫn vướng vào đó, chẳng thể thoát ra.

Than ôi! Huyệt ở nơi ḷng người, chẳng ở nơi núi. Đàn bà, trẻ nít không ai chẳng biết [điều đó], mà cứ như chẳng hề nghe thấy, tôi chẳng biết v́ sao như thế! Nếu có người nói: “Quả thật chẳng có Phong Thủy ư?” Thưa: - Từ xưa đă có lời nói rơ ràng, chân thật, thiết tha. Vốn chẳng có đá, không có nước, chẳng có gió [ảnh hưởng đến phần mộ], vốn mai sau không có nỗi lo bị kẻ quyền thế xâm đoạt, an ổn, b́nh yên, thỏa đáng, nhưng tâm của con người giảo hoạt khiến thành ra như thế. C̣n như do mong cầu phú quư, lợi lộc, hiển đạt, mà toan tính, t́m cầu quá mức đến nỗi bị thầy bà lừa gạt, chẳng phải là điều tôi biết được!

 

* Phong Thủy (2)

 

          Như những điều đă nói trên đây, vẫn c̣n có điều chưa trọn hết. Tần Thủy Hoàng thôn tính sáu vua, khắp bốn biển, mỗi thước đất, mỗi tấc cát, không ǵ chẳng thuộc quyền sở hữu của ông ta, tùy ư chọn lựa, ai có thể ngăn trở được? Lại c̣n đem sáu kinh, trước tác của chư tử, sử sách, thảy đều thiêu sạch, chỉ riêng giữ lại các sách bói toán, trồng trọt, tạp thuật, há chẳng có kẻ tinh thông địa lư lo toan [chọn cuộc đất báu theo phong thủy để đặt mộ cho hắn], thế mà [nhà Tần] mới hai đời liền diệt vong, là v́ lẽ nào? Thánh Tổ triều ta (Minh Thái Tổ) tự nói xưa kia thiếu đất chôn [cha mẹ], cảm kích hàng xóm thí đất làm mộ, sau khi lên ngôi vua, liền phong hầu cho con cháu người ấy để báo đức, để lại nghiệp lớn cho muôn vạn đời lại là như thế nào?

Hơn nữa, Phong Thủy của dương trạch (nhà ở) càng khó thông hơn! Chỗ ở [của một cá nhân] th́ có thể dời, có thể đổi, c̣n như bộ viện, nha môn, công thự thuộc ty đạo, quận, huyện, vĩnh cửu như thế, nhưng quan lại sống nơi đó, hoặc thăng chức, hoặc bị giáng cấp, hoặc bị băi chức, hoặc an ổn, hoặc bệnh tật, hoặc chết chóc, mỗi mỗi khác biệt, vậy th́ cái thuyết Phong Thủy áp dụng vào đâu? Con cháu của ḍng họ to lớn do nghèo mà bán nhà, sẽ quy lỗi nhà ở chẳng thuận lợi. Có kẻ phú quư mua lấy, càng tăng thêm phú quư. Vậy th́ cái thuyết Phong Thủy đặt nơi đâu? Chỗ ở của kẻ tuyệt tự, có người sống trong đó mà hậu duệ đông đảo. Chỗ ở của bà góa, có người sống nơi đó vợ chồng đằm thắm, sống thọ. Chỗ ở của Nho sinh già, có kẻ sống ở đó tuổi trẻ đă đỗ đạt, vậy th́ cái thuyết Phong Thủy áp dụng vào đâu? Lời cuồng trái tai, chỉ có bậc trí suy xét.

 

* Đừng buông lung cơn giận

 

          Quan học sứ X… ưa chuộng tài năng của một học tṛ, không theo thứ tự[70] chọn nó làm Cống Sanh. Có bốn đứa học tṛ ở trước mặt, dựa theo quy cách mà tận lực tranh căi: “Đấy là quy chế tổ tông, sao có thể thay đổi loạn xạ được?” Học sứ hết sức giận dữ, bèn ngưng không phát học bổng cho họ. Bốn đứa học tṛ tranh luận là tranh căi theo lư, [học sứ] khéo dùng lời an ủi là được rồi, thế mà ngược ngạo phán tội, cái tâm sao yên được?

Lại có học sứ Y… bảo chư sanh (các cống sanh) rằng: “Con người khổ v́ chẳng biết chính ḿnh có lỗi, các tṛ cứ nói thẳng, đừng giấu diếm”. Một học tṛ bèn nêu ra mười hai lỗi [của ông ta], tŕnh lên. Học sứ hết sức giận dữ, đuổi thẳng. Gă học tṛ ấy suốt đời lưu lạc. Chính học sứ đă nói như thế, chẳng nghe lọt tai th́ thôi, lại c̣n ngược ngạo bắt tội, tâm yên được chăng? Hai ông do giận dữ nhất thời, lầm lẫn đến mức như thế ấy. Tiên đức có dạy: “Con người khi giận, hăy quên mối giận để xét theo lư là đúng hay sai”. Nói chí lư thay!

 

* Lập lời thề hư dối

         

          Người đời bị vu cáo, thường ngửa mặt lên trời, chỉ thần minh mà tự thề. Thật t́nh th́ được, chứ chẳng thật th́ đừng nói: “Trời chưa chắc thấy, thần chưa chắc biết!” Vị quan nọ giữ chức vị trọng yếu, thề rằng: “Ta có ḷng riêng tư th́ thần sẽ giết chết”, nhưng chưa khỏi có ḷng riêng tư, v́ sau bị bắt tù, thoát khỏi bị thần giết chết. Một gă hủy báng bậc tiền bối, thề rằng: “Ta mà có ác tâm th́ sẽ hộc máu”. Về sau, tiểu ra máu mà chết, riêng thoát khỏi nạn thổ huyết. Ôi! Há nên khinh thị thốt lời thề ư?

 

* Tô Tử (Tô Đông Pha)

 

          Tô Tử nói: “Vũ Vương chẳng phải là thánh nhân”, nói chí lư lắm! Chắc có người nói: “Ba vua đều được xưng tụng là bậc vua thánh, phu tử ca ngợi họ là hiến chương (憲章, tuân thủ, thực hiện trọn vẹn quy chế của tổ tông), sao Tô Tử lại nói như vậy?” Ôi! Sao chẳng nói “Vũ Vương vị tận thiện” (Vũ Vương chưa hoàn toàn tốt lành) cũng là lời của phu tử? “Hiến chương” là chế định theo vương đạo một thuở, “vị tận thiện” là giềng mối to lớn muôn đời. Thành Thang phế Kiệt, thả Kiệt đi, đă thả mà c̣n hổ thẹn, chứ Vũ Vương dùng búa vàng chém đầu vua Trụ chẳng hổ thẹn, sao được như vua Thang? Tử Chiêm Thị[71] viết lời mà ngàn đời chẳng dám nói, bèn nói “Vũ Vương chẳng phải là thánh nhân”, đó là lời chí lư. Có thuyết nói Vũ Vương chưa từng chém Trụ Vương, đó là lời đồn sai lầm!

 

* Hán Cao Đế (1)

 

          Hán Cao Đế dùng những người như Hoài Âm (Hoài Tín) v.v… giết Tần, diệt Hạng (Hạng Vũ), mà có thiên hạ, lo ngại những bầy tôi ấy sẽ là nỗi lo cho con cháu đời sau, bèn dùng kế của Lữ Thị[72] để diệt trừ họ, nhẫn tâm hết sức! Không chỉ là bất nhân mà c̣n là bất trí, v́ sao? Sau này, gần như gây nguy hại cho họ Lưu là những đứa họ Lữ, chứ chẳng phải là các tướng! Tống Nghệ Tổ bảo toàn công thần, chưa hề nghe các công thần là mối họa cho nhà Tống. Cao Đế cớ sao riêng lo họa mà tính toán quá lố vậy?

 

* Hán Cao Đế (2)

 

          Tô Tử nói: “Cao Đế không trừ khử Lữ Thị v́ tính toán cho Huệ Đế. Nhà có chủ mẫu th́ bọn tôi tớ mạnh mẽ, hung hăn chẳng dám hiếp đáp đứa con yếu ớt”. Tôi nghĩ chẳng phải là như vậy. Huệ Đế hiền đức, chẳng cần Cao Đế phải lo lắng. Rốt cuộc v́ thấy thảm cảnh của lợn người mà [Huệ Đế] thương tâm, chết sớm. Vậy th́ kẻ giết Huệ Đế chẳng phải là tôi tớ mạnh mẽ, hung tàn, mà do một mụ đàn bà ghen tuông! Cao Đế chẳng phế Lữ Thị là v́ chẳng thể phế, như người đời nói là “sợ vợ”. Tô Tử b́nh luận Vũ Vương đúng lắm, nhưng b́nh luận Cao Đế th́ chưa!

 

* Từ cư sĩ

 

          Cư sĩ chẳng ra làm quan, chẳng có học vấn, mà có nhiều câu nói đáng làm cách ngôn. Tuổi cụ đă cao, người làng đề cử lên quan, trao cho mũ và đai của bậc cao tuổi có đức hạnh, cụ đành phải đội mũ, đeo đai. Một hôm, cụ liền từ tạ, trả lại, chẳng c̣n đeo, đội nữa. Cụ đă nằm bệnh, các con hỏi: “Nhập liệm có đội mũ, đeo đai hay không? Hay là dùng áo thâm?” Cụ nhắm mắt chẳng đáp, hồi lâu mới nói: “Có thể vùng vẫy trong quan tài hay không?” Lời ấy tuy nhỏ, nhưng có thể sánh ví chuyện to lớn. Mũ miện rực rỡ trong hiện thời vẫn là vẫy vùng trên sân khấu, cụ hiền đức thay!

 

* Hai vị Trương và Hải

 

          Mấy chục năm trước, quan Trực Chỉ[73] đất Chiết là ông Trương, mặt có sắc vàng, mọi người là Trương Hoàng Tử (ông Trương mặt vàng). Mỗi lần ra ngoài, tùy tùng bất quá là mười mấy người, c̣n chẳng bằng Bạ Điển (簿典, quan quản lư hồ sơ) trong ấp. Ông nhận cáo trạng trên đường đi, người đến xem kín mít. Ông nói: “Dân làng cô đơn, đói lạnh, hoặc bị kẻ cường hào ngăn trở, chẳng thể mỗi mỗi đều đến công thự của ta”. Ông xét xử công minh, chẳng để người phạm tội nằm chờ lâu ngày trong ngục, được mọi người gọi là thần minh.

Lại c̣n hơn hai mươi mấy năm trước, ông Hải Cương Phong do đỗ kỳ thi Hương mà làm quan cai trị nơi một huyện thuộc Nghiêm Châu. Khi đó, ông Hồ Mai Lâm cai quản chung ba tỉnh Chiết Giang, Trực, Phước Kiến, oai thế lừng lẫy, đối với các huyện quan [trực thuộc] có thể xử sự theo quân pháp. Con ông ta vào đất Hàng, những chỗ nó đi qua, được [các quan lại địa phương] cung phụng, biếu xén rất hậu, riêng ông theo lệ tiếp đăi b́nh thường, nói: “Dân ta khốn khó, ta chẳng thể bóc lột xương máu của dân để xu nịnh kẻ quyền thế trọng yếu”. Họ Hồ hết sức tức giận, nhưng rốt cuộc chẳng làm ǵ được! Ông về sau được bổ làm quan trông nom Thế Miếu, được ban tặng Tiến Sĩ, làm quan đến Cửu Khanh[74], có công đức rất dày đối với dân. Than ôi! Như hai ông, há chẳng phải là bậc trượng phu hào kiệt chân thật, là bầy tôi tích cực của đất nước, là cha mẹ của dân ư?

 

* Miếu Nhạc Vương

 

          Trước mộ Nhạc Vũ Mục Vương (Nhạc Phi), có đúc ba tượng đồng của vợ chồng Tần Cối và Mặc Kỳ Tiết[75], bị trói giật khủy, quỳ thẳng, ḥng biểu thị chúng nó bị tru lục, làm nhục. Nay bỗng chẳng thấy nữa. Tần Cối ngạo ngược theo phe cừu địch, lại chủ ḥa, hăm hại bậc trung lương, gây hại cho đất nước, ngàn đời hăy c̣n để lại mối hận, nhưng người ta thấy có kẻ dẹp cái tượng xấu xa ấy, có phải là do quả báo trong cơi âm [của chúng nó] đă hết mà thành ra như thế đó chăng? Lúc tôi c̣n bé, thấy có kẻ họ Cừu lớn lối nói: “Trong thuở ấy, t́nh thế khiến cho chẳng thể không ḥa, Tần Cối vô tội”. Ngột Truật[76] sợ Vũ Mục như thiên thần, mưu toan trốn về phương Bắc để tránh mũi tấn công của Ngài (Nhạc Phi), sao lại bảo chẳng thể không ḥa? Gă đó đúng là cùng một loại với Tần Cối. Tôi tuy c̣n trẻ, tâm hết sức ghét [hạng người như thế]. Ôi! Nếu quả báo trong cơi âm đă hết, chẳng cần phải nói. Nếu quả báo ấy chưa tận, ắt sẽ lại có người đúc tượng bọn họ!

 

* Nhà Nho mê mất nhiệm vụ cần làm của chính ḿnh

 

          Đức Tuyên Thánh (Khổng Tử) là tông chủ đạo Nho. Kẻ áo dài xanh (Nho sĩ) phải nên sớm chiều lễ bái, cúng dường, thế mà bỏ đó đi thờ Văn Xương trọn hết ḷng cung kính. Tuy thờ Văn Xương chẳng phải là không tốt, nhưng cái tâm họ ngả theo phú quư. Đối với sáu kinh, Luận Ngữ, Mạnh Tử, phải nên sớm chiều tin nhận, vâng giữ, bèn bỏ đó mà tŕ chú Chuẩn Đề dốc cạn ḷng thành kính. Chẳng phải là tŕ chú Chuẩn Đề không tốt, nhưng cái tâm ngả theo phú quư. Phú quư là do trời, thánh nhân đă có lời giáo huấn khuôn phép, Văn Xương và Chuẩn Đề liên quan chi?

 

* Hai vị có ḷng trung ở Tuy Dương

 

          Hai vị Trương và Hứa tận lực giữ thành trong cơn biến loạn. Thành bị vây hăm, tử trận, muôn đời sau ca ngợi hai ông là Song Trung (雙忠, hai vị có ḷng trung). Riêng tiếc nuối là hai ông giết thiếp, giết đầy tớ để nuôi quân, lại bắt hết phụ nữ trong thành để ăn. Phụ nữ hết, bèn bắt người già yếu trong thành để ăn. Chỉ c̣n sót lại bốn mươi người th́ thành bị phá. Phàm thịt của một người thiếp, một đầy tớ, sao đủ cung cấp một bữa cho cả trăm người, chính ḿnh lại bị thành hoàng ghi tội! Thành bị công hăm th́ cả nhà ḿnh chết cũng được, cả thành chết cũng được, sao lại đến nỗi bắt phụ nữ và người già yếu trong thành để ăn thịt? Nếu bảo chẳng giết để ăn th́ họ cũng chết trong tay kẻ địch, c̣n giết để ăn th́ ngoài những người bị giết, chỉ c̣n sót lại bốn mươi người? Hạng Vũ tàn sát dân trong thành, Bạch Khởi giết kẻ đầu hàng, chưa chắc đă giết sạch bá tánh trong thành. Nay [hai ông] chỉ c̣n lại bốn mươi người, thế mà lại giết trước để ăn có được hay chăng? Than ôi! Ḷng trung có thừa, nhưng trí chẳng đủ, đó là v́ dụng công nơi học vấn chưa đến mức. Do vậy, tôi hết sức tiếc nuối!

 

* Phùng Đạo (1)

 

          Phùng Đạo làm quan suốt thời Ngũ Quư, người này phẩm đức hèn xấu, kém cỏi, bị người xưa nay b́nh phẩm rành rẽ đă lâu rồi. Hiện thời, hai ông Lư và Tăng lại tán thưởng. Tán thưởng thái quá th́ sai mất rồi! Ví như một cô gái đổi nhiều chồng, có thể coi là hiền nữ được hay chăng? Nhưng cũng có thể chấp nhận, nếu cô ta trông nom gia đ́nh cần kiệm, phụng sự người trên cũng cung kính, đối đăi người dưới cũng nhân từ, tuy cái xấu chẳng thể che giấu được, nhưng điều thiện vẫn chẳng thể mất. Đó gọi là kẻ tuy ác nhưng biết cái tốt đẹp vậy. Ông ta thờ hai vua th́ phải nói là đă đánh mất khí tiết nơi đạo, thiếu sót to lớn trong nghĩa làm bầy tôi, chẳng cần phải bàn nữa! Nhưng cũng có điều đáng chấp nhận là người đánh mất khí tiết ắt tham lam chẳng chán, nhưng Phùng Đạo liêm khiết. Kẻ đánh mất khí tiết ắt xa xỉ vô độ, nhưng Phùng Đạo tiết kiệm. Kẻ đánh mất khí tiết ắt trên dua nịnh vua, dưới làm cho dân chúng ngu muội, nhưng Phùng Đạo cũng có lời nói tốt lành để khiến người trên giác ngộ, kẻ dưới được an. Hành vi xét về đại thể tuy có tỳ vết, nhưng có những ưu điểm nhỏ nhặt đáng để ca ngợi, chẳng thể coi là bầy tôi có tiết nghĩa, nhưng vẫn có thể coi là người thiện lương. Đó là lời bàn định với cái tâm công bằng, là lời luận định chẳng thay đổi, sao lại đến mức coi ông ta thuộc về hàng Bồ Tát, xếp vào bậc hào kiệt xưa nay? Đấy chính là điều khiến cho trung thần nghĩa sĩ xoắn tay bất b́nh. V́ thế, quân tử b́nh phẩm nhân vật, ắt phải hợp lẽ trời, phù hợp t́nh người, chẳng thuận theo thế tục để nói lời ba phải, chẳng cong vạy oan uổng lẽ chánh!

 

* Phùng Đạo (2)

 

          Nếu hỏi: “Ông không chấp nhận Phùng Đạo, nhưng Lương công (Địch Nhân Kiệt)[77] phụng sự Vũ Hậu, gần như chẳng khác Phùng Đạo đấy thôi!” Đáp: Lương công (Địch Nhân Kiệt) rốt cuộc phản Châu v́ nhà Đường. Ông ta làm bầy tôi của họ Vũ (Vũ Tắc Thiên) là quyền biến, công lao đủ để chuộc lỗi ấy. Phùng Đạo phụng sự suốt thời Ngũ Quư, Giáp mất bèn theo Ất, Ất mất bèn nương theo Bính, hễ theo bèn tùy thuận suốt cả đời. Chưa hề nghe ông ta phản Bính v́ Ất, phản Ất v́ Giáp.

Hoặc nói: “Quản Trọng chẳng chết theo khi Tử Củ gặp nạn, mà làm tướng quốc cho Tề Hoàn Công, sao phu tử lại coi [Quản Trọng] là người có ḷng nhân?” Đáp: Quản Trọng cửu hợp nhất khuông[78], ân trạch thấm nhuần thuở ấy cho đến đời sau, cũng như công lao phản Châu theo Đường [của Lương công] có thừa để chuộc lỗi. Phùng Đạo th́ có công ǵ? Dẫu có công lao nhỏ nhặt, th́ lỗi to, công bé, chẳng thể luận định giống như hai vị Địch Nhân Kiệt và Quản Trọng được!

 

* Dạy trẻ trai ba chuyện

 

          Một là học tập cử nghiệp, chẳng phải chỉ mong đỗ đạt. Đọc sách thánh hiền, cần phải học làm thánh hiền. Mạnh Tử nói: “Đạt tắc kiêm thiện thiên hạ, cùng tắc độc thiện kỳ thân” (Hiển đạt th́ khiến cho thiên hạ đều tốt lành, cùng quẫn th́ riêng giữ cho thân ḿnh tốt lành). Chẳng hâm mộ ngươi thành đạt, chẳng nổi nóng v́ ngươi nghèo cùng. Chỉ mong ngươi chẳng thẹn với hai chữ Thiện [trong câu nói của Mạnh Tử].

Hai là viết lách, không phải chỉ đẹp ḷng quan chấm thi, mong được cất nhắc! Văn tự chính là tinh thần và tâm thuật của chính người viết. Gian hiểm, quái lạ, đó là văn chương của tiểu nhân. Chánh đại quang minh th́ là văn của quân tử. Được hay mất tự có số mạng, chớ nên do thấy có kẻ gian hiểm, quái dị mà thành đạt bèn bắt chước.

Ba là theo thầy, không chỉ cần học văn chương, tài nghệ, phải lấy đức hạnh làm gốc. Người chỉ dạy ta văn chương, tài nghệ, chẳng dùng đức hạnh để dạy ta, chẳng phải là thầy hiền. Nếu gặp thầy hiền, cần phải thân thiết như cha mẹ, kính như thần minh, suốt đời nương cậy th́ mới nên!

 

* Văn chương thời cổ, văn chương hiện thời

 

          Có khi điên đảo trong danh xưng mà không ai nhận biết, tức là coi cổ văn là văn hiện thời, coi văn hiện thời là cổ văn. V́ sao? Nay sĩ tử viết lách, soạn văn chương cử nghiệp đều lấy chủ đề từ các sách Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử, kinh Dịch, kinh Thư, kinh Thi, kinh Xuân Thu, Lễ Kư, tức là dựa theo lời lẽ của nhị đế, tam vương, Châu Công, Khổng Tử, Nhan Hồi, Mạnh Tử, các vị thánh hiền. Sĩ tử viết văn như thợ vẽ vẽ tranh truyền thần, nếu mỗi mỗi đều từ chính miệng của các vị thánh hiền thốt ra, há chẳng gọi là cổ văn ư? Nhưng gọi ngược ngạo là văn hiện thời. Nay cổ văn th́ dù truyện, dù kư, dù từ, dù phú, đủ loại trước tác, tùy theo từng thời đại khác nhau, tùy người mà khác biệt, nhưng đều là chuyện trước mắt [của tác giả], há chẳng phải là văn hiện thời ư? Thế mà lại gọi ngược ngạo là cổ văn!

Than ôi! Văn cũng có ǵ là cổ hay hiện thời? Chỉ cần chẳng trái nghịch lư, có lợi cho mọi người, chánh đại quang minh, trang trọng, cao nhă, súc tích, truyền đạt cho thiên hạ không ai có thể dị nghị, truyền xuống muôn đời chẳng thể thay đổi, th́ đều là cổ. Rút vàng đối trắng, đua khéo, tranh lạ, chẳng phù hợp lư, vô ích cho mọi người, gian hiểm, quỷ dị, đọc đến chẳng thể chấp nhận được th́ đều là văn hiện thời. Thơ cũng vậy, há cứ ắt phải phù hợp với cung cách tuyển chọn thơ th́ mới gọi là cổ thể, c̣n theo luật ngũ ngôn, thất ngôn liền gọi là Cận Thể ư? Hai điều luận định này ắt chẳng hết sức hợp ư mọi người, nhưng tôi cũng chẳng bận ḷng!

 

* Tài năng kiệt xuất

 

          Kẻ sĩ chẳng chuộng hữu danh, huống hồ nổi tiếng liên tiếp, vang dội trong làng nước, được đề cao trọng vọng trong thiên hạ, càng chẳng phải là điều kẻ sĩ nên có. Có tiếng là tài năng kiệt xuất, người hiện thời hâm mộ, nhưng kẻ hiểu biết lo âu. Phạm Bàng Thị nói như thế này: “Tôi muốn cho mỗi điều thiện đều có cùng một sự trong sạch, mỗi điều ác đều cùng là ô trược”. Điều thiện đều có cùng một sự trong sạch th́ được, chứ điều ác đều cùng ô trược, sao có thể phân biệt điều ác nào quá đáng? [Do vậy], sẽ chỉ dạy người khác chẳng rộng! Sao chẳng nói điều thiện nào cũng đều có cùng một sự trong sạch, khiến cho kẻ ác đều cùng quay về với thiện? Nếu nói: “Bát nguyên, bát khải, cho đến đời Châu có bát sĩ[79], xưa nay ca ngợi, sao riêng tài năng kiệt xuất th́ chẳng nên?” Nhưng ba hạng “bát” trên đây là từ một nhà sanh được tám con, lại c̣n tám con đều hiền, mọi người cho là hiếm thấy nên ca ngợi, có hại ǵ đâu? Nay tứ bát[80] là kẻ sĩ khác họ, khác nơi, tụ tập mà nổi danh một thời, thiện ghét ác mà ác cũng ghét thiện, bè phái do đó nẩy sanh, là duyên cớ nẩy sanh đại họa. V́ thế, bậc thượng vô danh, bậc trung né danh, bậc hạ cầu danh!

 

* Văn thời Đường

 

          Thế tục luôn nói “Đường thi, Tấn tự, Hán văn chương” (thơ đời Đường, chữ đời Tấn, văn chương đời Hán), gần đúng, nhưng chưa chánh xác. Chữ chẳng liên quan đến thế đạo. Cổ nhân nói: “Tâm chánh th́ ng̣i bút cũng đủ chánh đáng, sao phải dụng công?” Hăy để lại đó, chẳng bàn tới. Phu tử nói: “Thi khả dĩ hưng” (Kinh Thi có thể kích phát t́nh cảm). Thơ hiện thời cách biệt ba trăm thiên [trong kinh Thi] rất xa, sao có thể mong chi hưng khởi t́nh cảm cho được? Vương Yểm Châu[81] (Vương Thế Trinh) nói: “Thơ đúng là vô ích cho cơi đời!”, khoan bàn tới! C̣n như văn chương th́ đời Hán gần thời cổ nhất, văn thuở ấy hồn hậu, chất phác, đôn hậu, đúng là như vậy; nhưng văn chương quư ở chỗ có lời nghị luận to lớn, tung hoành trên dưới, đủ để cật vấn, chiết phục bách gia, biện định, bác bỏ đúng, sai, sướng tai vui mắt th́ văn chương đời Đường vượt trội. Văn quư ở chỗ đạt tới lư lẽ to lớn, tôn sùng lẽ chánh, đả phá lẽ tà, có thể kế tục bậc thánh thuở trước, mở lối cho người học đời sau. Suy nghĩ hai đằng, đời Hán chẳng sánh bằng, sao lại nói riêng đời Hán nổi trội về văn chương?

Tử Chiêm chê bai rằng: “Văn chương suy từ tám đời”[82], đó là lời luận định xác đáng, thông suốt trăm đời chẳng thay đổi được! Hối Am (Châu Hy) tán thán tác phẩm Tây Minh[83] rằng: “Tôi có ư này, nhưng chẳng bút lực sâu dày như ông”’; đó là lời luận định xác đáng, ứng hợp với thánh nhân thuở trước, chẳng hư dối vậy. Văn hiện thời th́ sao? Đáp: Văn hiện thời giống như những thứ bày ra cho trẻ chọn lựa khi đầy năm, có bài đáng giá mấy đồng, có bài đáng giá trăm ngàn lạng vàng, chẳng nhất định! Cũng gác lại đó chẳng bàn!

 

* Thắp hương cầu nguyện

 

          Khi tôi chưa xuất gia, ngày Thượng Nguyên theo mọi người dâng hương nơi miếu Tam Quan ở Ngô Sơn. Khi ấy, trai gái chen chúc, tiếng cầu khẩn như sấm, nghe ra th́ là cầu tài, cầu quan, cầu con, cầu thọ. Tôi lễ hai lạy, quỳ thẳng, cầu chúc: “Hôm nay là ngày Thượng Nguyên Thiên Quan Tứ Phước, ngu tôi có đức ǵ mà dám mong phước? Nguyện Ngài ban phước cho người có đức, c̣n bần cùng th́ tôi cố nhiên an phận”. Do vậy, quay về chép một bài cổ thi nơi trung đường. Thơ rằng: “Mỗi nhật thanh thần nhất chú hương, tạ thiên tạ địa tạ tam quang. Vị cầu xứ xứ điền ḥa thục, duy nguyện nhân nhân phước thọ trường. Quốc hữu trung thần phù xă tắc. Gia vô nghịch tử năo da nương. Tứ phương b́nh định, can qua tức. Ngă nhược bần thời dă bất phương” (Mỗi ngày sáng sớm một nén nhang, tạ trời, tạ đất, tạ tam quang. Cầu cho chốn chốn mùa màng chín, chỉ nguyện người người phước thọ dài. Nước có trung thần pḥ xă tắc. Nhà không nghịch tử khổ song thân. Bốn phương b́nh định, chinh chiến dứt. Tôi dẫu nghèo nàn chẳng ngại ngần!) Tương truyền bài thơ ấy do Thiệu Nghiêu Phu[84] viết, chẳng biết đúng hay không! Than ôi! Ai nấy đều có tâm như thế, chẳng cần quan phủ cai trị mà thiên hạ thái b́nh!

 

* Bỏ nhà làm chùa

 

          Bạch Thị Lang (Bạch Cư Dị) đời Đường xả nhà làm già-lam, đặt hiệu là Hương Sơn Tự. Trương pḥ mă đời Tống xả chỗ ở làm già-lam, đặt hiệu là Trương Gia Tự. Chư sanh[85] Châu Kế Thật ở huyện Cận Thừa, nhà tổ vốn là tài sản của chùa X… Do vậy, bèn trả lại cho chùa, tự dời sang chỗ khác, chuyện này bị người khác cật vấn nhất. Bởi lẽ, hai ông (Bạch Cư Dị và Trương pḥ mă) là quan chức quư hiển, c̣n ông Châu là nhà Nho nghèo. Kẻ chiếm chùa làm nhà, là cái tâm ǵ vậy? Tuy nhiên, chiếm chùa là tội, chẳng cần phải bàn nữa. Người có thế lực lớn, do vậy, khôi phục, đoạt lại nhà làm chùa, thật sự là chuyện tốt đẹp, nhưng c̣n có chuyện phải nói: Nếu xưa kia, người từng chiếm chùa thuộc vào trăm năm trước, mà nay người bị đoạt nhà thuộc trăm năm sau, tức là kẻ tạo nghiệp may mắn thoát khỏi, mà kẻ vô tội gặp tai ương, [trả lại cho chùa] khiến cho tăng vui vẻ [nhưng người bị mất nhà phải khốn khó] sẽ trái nghịch ḷng từ của Phật. Như vậy th́ sao bằng xét theo thực tế, tăng giá gấp bội [để bồi thường phần nào cho người bị đoạt nhà], dùng lời lẽ khéo an ủi th́ mới nên.

 

* Gia phả

 

          Lục đạo tuy cùng trọn đủ tứ sanh, nhưng người hóa sanh th́ từ thuở nhị đế, tam vương cho tới nay hiếm thấy, vậy th́ ai chẳng phải do cha mẹ sanh ra trong thời nhị đế, tam vương? Suy rộng đến cùng cực th́ từ kiếp sơ đến nay, [nhân loại] đều phát xuất từ cùng một nguồn, việc ǵ cứ phải dùng gia phả để xác định thế gia[86]? Càng đáng nực cười hơn là những nhà họ Vương, họ Tào, ai chịu nhận Vương Măng, Tào Tháo là tổ tiên? Họ Lư, họ Dương, họ Thái, họ Trần, ai chịu nhận [những tên gian thần] Lư Lâm Phủ, Dương Quốc Trung, Thái Kinh, Tần Cối là tổ tiên? Tức là do đức chứ không phải do là thế gia cũng đă rơ rồi! Địch tướng quân (Địch Thanh) chẳng nhận Lương công (Địch Nhân Kiệt) [là tổ tiên], ai nói trong kẻ vũ biền không có hiền nhân, quân tử vậy?

 

* Tây Bá[87] ngầm làm việc thiện

 

          Sử nói vua Trụ nhà Thương giam cầm Văn Vương ở Dũ Lư, Tán Nghi Sanh[88] dâng mỹ nữ thuộc bộ tộc Hữu Sân và hai vật hiếm lạ cho vua Trụ, Văn Vương được thả về. Đấy là việc làm của bầy tôi, chẳng liên quan đến Văn Vương, chẳng đáng bàn luận. C̣n như nói “Tây Bá âm hành thiện” (Tây Bá ngầm làm lành), chữ Âm () gần như vu cáo bậc thánh nhân đấy chăng? Phu tử ca ngợi nhà Châu là chí đức (đức cùng tột), mà ngầm hành thiện, tức là bề ngoài phục tùng, chứ ngấm ngầm mang ḷng tru diệt [nhà Thương] ư?

 

* Gia Cát Vũ Hầu (Khổng Minh)

 

          Nếu nói: “Vũ Hầu[89] tài vượt Hoài Âm, nhưng đến nỗi chẳng thành công, là do Hoài Âm thường ngày danh tiếng quá nhỏ, c̣n Vũ Hầu thường ngày danh tiếng quá rạng rỡ”. Đúng là như vậy, nhưng dùng chuyện ấy để nhận định hai ông th́ chưa được. Hưng vong tự có đại số, chẳng có lẽ nào chuyên cậy vào trí lực được! Tư Mă Ư tài chẳng sánh bằng Hoài Âm, nhưng thôn tín cả ba nước (Ngụy, Thục, Ngô), tạo thành nghiệp thống nhất của nhà Tấn, đều là do trời, chẳng phải do con người tạo thành. Hơn nữa, Hán Chiêu Liệt (Lưu Bị) sắp mất, bảo Vũ Hầu rằng: “Đứa con kế nghiệp ta nếu có thể phù tá th́ phù tá, nếu chẳng thể th́ ông nên tự chọn lựa, đừng để ḍng họ khác đoạt được”. Có kẻ cho rằng Hán Chiêu Liệt nói khích Vũ Hầu, Vũ Hầu không thể chẳng ra sức. Nói kiểu ấy chẳng đúng! Hán Chiêu Liệt biết rơ đứa con nối nghiệp ḿnh ngu muội, bèn bảo Vũ Hầu tự chọn lựa [để phù tá hay chọn lựa người khác trong họ Lưu làm vua], đó là lời thật. Ḷng tinh trung của Vũ Hầu ḷa nhật, nguyệt, bèn thưa: “Thần chẳng dám không cúc cung tận lực đến chết mới thôi” cũng là lời thật. Đừng nên dùng t́nh kiến của người tầm thường để suy đoán, nghị luận xằng bậy cổ nhân.

 

* Tử Trương[90]     

 

          Các bạn thuộc Khổng môn luận định Tử Trương, có người nói “nan dữ vi nhân” (khó cùng ông ta thực hiện ḷng nhân), có người nói ông ta chưa phải là người có ḷng nhân, há Tử Trương cố nhiên là kẻ bất nhân ư? Chẳng phải vậy! Nhân là đức nơi tâm, chèn ép Tử Trương tài cao, chí rộng, chỉ trích khá sơ sài, đại để là châm biếm nhẹ nhàng, chẳng phải là chỉ trích nặng nề. Xem lời ông ta luận định về giao du: “Quân tử tôn hiền nhi dung chúng, gia thiện nhi căng bất năng” (quân tử tôn kính người hiền năng, bao dung đại chúng, khen ngợi người có thiện hạnh, lại c̣n thương xót người chẳng thể [làm như vậy]). Ta là đại hiền ư, sao chẳng dung nổi người khác? Ta là kẻ chẳng hiền, mọi người sẽ cự tuyệt ta, vậy th́ sao lại cự tuyệt người khác cho được?

Những người bàn định chê ông ta quá tự cao, nhưng đấy là đức lượng từ bi của bậc chánh nhân trưởng giả. Nếu bảo “ông ta tuy nói vậy, chưa chắc đă có thể làm được như vậy” th́ được, chứ chê bai “ông ta ăn nói quá lố” th́ không được! Ông ta c̣n nói: “Sĩ kiến nguy thọ mạng, kiến đắc tư nghĩa” (kẻ sĩ thấy người khác lâm vào cảnh nguy hiểm sẽ có thể trao hết tánh mạng của ḿnh để cứu giúp; thấy những thứ lợi lạc dụ hoặc, sẽ suy nghĩ nó có phù hợp đạo nghĩa hay không). Giữ ǵn đức rộng lớn, tin đạo chuyên dốc, chẳng thuận theo thói tục, cương trực, cứng cỏi, nghiêm chánh dường như có sự quả cảm của Tử Lộ, sự liêm khiết của Nguyên Tư (Nguyên Hiến, tức Tử Tư), cẩn trọng của Mẫn Tử. Ông từng nói “ngoại sức dung nghi, nhi trung vô tháo thủ” (bề ngoài chú trọng dung mạo, nhưng trong tâm chẳng bận ḷng), há [kẻ khác] có làm được như thế ư? V́ thế, đối với người hiền nơi cửa thánh, chớ nên khinh thị bàn luận!

 

* Giảng đạo học

 

          Nếu hỏi: “Đối với đạo học trong cơi đời hiện thời, có kẻ kính tin như thần minh, có kẻ phỉ báng như rơm, cỏ, ai đúng, ai sai?” Đáp: Đều chẳng phải. Phu tử nói: “Học chi bất giảng, thị ngô ưu dă” (học mà chẳng giảng là điều ta lo âu). Thánh nhân lo âu học mà chẳng giảng, mà người hiện thời phủ định, có được hay không? Nhưng hăy nên xem xét chỗ chân thật là như thế nào? Miệng như thế, tâm cũng như thế, toàn thể là thánh hiền, hằng ngày thân cận mà vẫn lo có thể bị tụt hậu! Những ǵ miệng nói ra, cùng với điều nghĩ trong tâm điều thân thực hiện trọn chẳng tương tự; đó là bọn lái buôn, lánh xa chỉ sợ chẳng kịp, sao có thể xem như nhau được? Có người bảo tiên sinh Hối Am: “Cái thuyết chánh tâm thành ư, người trên chán nghe”. Tiên sinh nói: “Sở học cả đời tôi chỉ là bốn chữ ấy”.

Lại nữa, Thái Quư Thông[91] bị biếm trích nhưng chí chẳng bị hao tổn chút nào. Lại như Doăn Ḥa Tĩnh vào thi, thấy đề thi coi chánh sĩ là ngụy học, chẳng làm đối sách[92] mà bỏ ra. Lại có một người hiền nói: “Thuở bé, học hành theo di thư của hai gă họ Tŕnh, chưa hiểu tường tận là ngụy hay chẳng phải ngụy. Nếu cho là ngụy, sẽ chẳng muốn t́m hiểu. Giảng học đúng như mấy vị quân tử th́ chính là đạo học thật sự”. Tôi chỉ sợ giảng đường chẳng rộng, người giảng chẳng đông, lúc giảng chẳng lâu dài, nên bàn bạc điều sai trái vậy!

 

* Tiên giáng đàn

 

          Người đời lấy gỗ đào làm con cơ để cầu tiên giáng xuống, nhưng phần nhiều [“tiên” giáng đàn] là quỷ thuộc loại tinh linh chẳng tan. Chúng nó thể làm thơ, viết văn, tức là khi c̣n sống là người thông huệ, [nay] bị vướng trong quỷ đạo, chưa được thọ sanh, hễ dùng phù chú để thỉnh bèn đến, chẳng phải là tiên thật sự. Đôi khi là thật! Lúc tôi c̣n bé, từng nghe cha tôi kể Tĩnh Am Hồ Đoan Mẫn Công tuổi c̣n thơ, gặp tiên giáng xuống, có người hỏi: “Đứa bé này có học hành được hay không?” Đáp: “Học được!” “Có làm quan hay không?” Đáp: “Làm được!” “Làm quan tới bậc nào?” Đáp: “Quan tới H́nh Bộ Thượng Thư”. Về sau, quả đúng như vậy. Phán định quan chức trong lúc ông ta c̣n là đứa trẻ, chẳng sai một mảy, đó là tiên thật sự. Lại c̣n khi tôi chưa xuất gia, đọc sách tại Nguyệt Đường Am, có Châu Xuân Giang cầu tiên giáng đàn, tiên ban thơ cao dật, mọi sự đă nói đều ứng nghiệm, tuy chưa được kỳ diệu như lời đoán đối với ông Đoan Mẫn, nhưng cũng chẳng càn rỡ như trong thời gần đây.

Một người bạn cầu tiên giáng xuống trong vườn. “Tiên” có thể làm thơ, có thơ tám câu cùng vần, đều là những lời lẽ xu phụ kẻ quyền thế. Ngẫu nhiên hỏi đến chuyện xuất gia của tôi, [“tiên”] vẫn dùng cùng một vần như trước để châm biếm. Tôi liền dùng ngay vần của hắn để chỉ trích lại, c̣n nói: “Ngươi là tiên thật sự, sẽ lại đáp được”. Rốt cuộc hắn chẳng đáp, nhưng những chuyện hắn tiên đoán về đỗ đạt, quan tước, đều chẳng ứng nghiệm. Có thể biết hắn chẳng phải là tiên. Phàm cầu cơ dùng gỗ đào do đào là tinh của năm loại gỗ, quỷ kiêng sợ, quỷ bị gỗ đào chế ngự. Đă nói là tiên, lẽ đâu như quỷ bị gỗ đào chế ngự ư? Mà tinh linh dựa vào gỗ đào cũng ắt phải dựa vào tinh khí của người sống, cầu cơ lâu ngày sẽ tổn hại cho con người. Kinh Dịch là sách bói toán; bậc quân tử trong kẻ sĩ sao không hỏi tốt xấu từ kinh Dịch? Kinh Dịch c̣n nói: “Tích thiện dư khánh, tích bất thiện dư ương” (Chất chứa điều thiện, sự mừng vui có thừa. Chất chứa điều bất thiện, họa ương có thừa), sao lại theo đuổi chuyện dùng gỗ đào cầu cơ? Bỏ kinh điển của thánh nhân để tôn sùng quỷ đạo, cũng là quá đỗi mê hoặc vậy!

 

* Tin đồng cốt, chẳng tin thầy thuốc

 

          Nội Kinh xếp chuyện “tin đồng cốt, chẳng tin thầy thuốc” vào năm trường hợp chẳng chữa trị, nhưng người ở đất Hàng chuộng đồng cốt, vùng thôn quê càng quá đáng! Hễ có bệnh th́ xin xăm, hoặc xủ quẻ, hoặc xem bói, hoặc bói Dịch, hoặc xem bói bằng chén, ắt phải thăm ḍ xem có bị quỷ quấy phá gây họa hay không? Những gă đồng cốt thuận theo sự đoán ṃ của họ, hoặc là nói phạm thần này, hoặc va chạm quỷ nọ, hoặc là nói thân thuộc đă mất đ̣i ăn, hoặc là vướng phải kẻ huyết âm gây tai ương. Người bệnh suy nghĩ, hễ hơi dính dáng tương tự, liền tin nhận, nhất loạt vâng theo lời dạy [của đồng cốt] mà cúng bái, cầu khẩn. Kinh Dược Sư dạy: “Tể sát chúng sanh, hô chư vơng lượng, thỉnh khất phước hựu. Bệnh giả vô ích, sát nghiệp cụ tồn” (Giết hại chúng sanh kêu cầu quỷ mị để cầu xin ban phước, vô ích cho người bệnh, sát nghiệp trọn đủ). Ngẫu nhiên khỏi bệnh, sự mê hoặc ấy càng thêm vững chắc. Thậm chí sanh nở, lên sởi, liên quan ǵ đến quỷ? Cũng vẫn tin tưởng.

Nhà tôi ở gần Thái Thị Kiều, phía Đông cầu bị hỏa hoạn, người đứng trên cầu xem đông ngh́n nghịt. Quan cứu hỏa tới, nhất thời xua đuổi, lan can trên cầu bị găy, bị chết ch́m hoặc đá đè mà chết tới mấy chục người! Hồn những người bị chết oan chẳng tan, biến thành quỷ quấy phá. Tôi và các vị thiện sĩ v́ họ tụng kinh, lễ sám, làm lễ Du Già thí thực để siêu độ, dần dần được b́nh yên. Nhưng kẻ ăn mày vào lúc đêm sâu, ngầm núp dưới vệ cầu, lơa thể, xơa tóc, đợi người đi đường một ḿnh đi qua bèn giả tiếng quỷ gào đuổi theo. Người bị đuổi hoảng hốt rảo chạy, có thể đánh rơi hành lư, chúng nó vội chụp lấy. Người ấy về nhà, do kinh sợ mà ngă bệnh, hỏi đồng cốt, họ bèn bảo “bị quỷ trên cầu dựa!”, chẳng nực cười ư?

 

* Khổng Tử xin vua thảo phạt Trần Hằng[93]

 

          Họ Hồ của Tống Nho nói như thế này: “Loạn thần tặc tử, ai nấy đều nên tru diệt. Hành động này của Trọng Ni cứ làm trước rồi xin mạng vua sau th́ cũng được”. Họ Hồ nghĩ cong quẹo quá mức! Họ Hồ chẳng đáng bàn tới, nay thuyết của ông ta hăy c̣n thấy trong sách Tập Chú, đáng tiếc thay! Thuở ấy, phu tử đă cáo lăo [hồi hưu]; đạo c̣n, nhưng quyền chẳng c̣n. Đối với chuyện to lớn liên quan đến quân đội nước nhà, sao có chuyện chẳng tâu lên vua mà dấy động chiến tranh với nước láng giềng cho được? Lại há chẳng có chuyện vua bảo [Khổng Tử] hăy báo với tam tử[94], lẽ nào [Khổng Tử] trái lệnh vua chẳng tâu tŕnh ư? Quyền hành nước Lỗ riêng nằm trong tay tam tử. Tam tử chẳng chấp thuận, phu tử tuy là thánh nhân cũng chẳng làm như thế nào được!

Tôi lúc nhỏ tại chùa Ngộ Không thấy có vị tiên giáng cơ là ngài Nhạc Vũ Mục. Một học tṛ nói: “Ngài khi ấy cũng thất sách. Tướng ở trong quân, có thể chẳng tuân theo mạng vua, chẳng vâng theo mười hai đạo kim bài vời về chầu cũng được!” Ngài chấn động con cơ ba lượt, viết chữ rằng: “Các ông đúng là bọn thư sinh mặt trắng, ta không tuân lệnh vua, tướng sĩ ai sẽ nghe theo lệnh của ta?” Đấy chính là điều tột cùng trong lẽ trời, t́nh người vậy. Họ Hồ nghĩ cong quẹo lắm thay! Có kẻ nói: “Chẳng cong quẹo! Sách của họ Hồ có toàn bộ văn bản, chỉ v́ Hối Am cắt câu xén nghĩa vậy!”

 

* Chớ nên dễ dăi thốt lời châm biếm

 

          Một học sứ chấm thi các nho sĩ, thấy trong bài văn có dùng ba chữ “dă dữ tai” (也與哉, chẳng phải ư), hết sức giận dữ bảo: “Sao lại có cách hành văn như thế?”, bèn phê rớt. Một học sinh ở bên cạnh thưa: “Chẳng thể đánh trượt. Lễ Kư nói: ‘Ngă điếu dă dữ tai?’ (chẳng phải là ta đang chia buồn ư?)[95] Luận Ngữ chép: ‘Bỉ phu khả dữ sư quân dă dữ tai’ (chẳng thể cùng với kẻ tư cách hèn kém phụng sự vua ư?), tức là cổ văn đă có văn từ rơ rệt vậy!” Học sứ lặng thinh. Do vậy, nghĩ xưa kia có người nói Khổng Tử chẳng có anh em, một đứa trẻ thưa rằng: “Sao lại nói ‘kỳ huynh chi tử thê chi[96] (đem con của anh ḿnh gả cho ngươi làm vợ)”. Người nói câm bặt.

Lại có một người bạn ở trong vườn soạn khúc nhạc Thủy Lưu Thương (chén rượu trôi theo nước), đề biển nơi cái đ́nh Sướng Tự U T́nh (暢敘幽情, trần thuật thông suốt nỗi niềm u uẩn). Có mấy học tṛ vào vườn, trông thấy bèn nói: “Sao lại chọn nghĩa thô thiển như thế? Có thể viết là Phi Thương (飛觴, chuyền chén rượu), hoặc viết là Lưu Bôi (流杯, chuyền chén rượu) cũng được!” Người bạn ấy khéo sao đang ở trong vườn, bước đến nói: “Nhất thương, nhất vịnh, diệc túc dĩ sướng tự u t́nh (Một chén rượu, một bài vịnh cũng đủ để trần thuật trọn hết nỗi niềm u uẩn)[97], đó là lời lẽ của ai vậy?” Mấy gă học tṛ nín lặng. V́ thế biết là dễ dăi thốt lời chê gièm chẳng thể không thận trọng!

 

* Phương thuốc giả hại người

 

          Có vị cư sĩ bị đi tả, chữa trị đă lâu không lành. Một vị Tăng nói: “Ta có phương thuốc, nhưng cần có một thưng gạo lâu năm đă ngả vàng”. Cư sĩ đưa gạo, Tăng chế thành thuốc, vừa uống liền lành. Thuốc c̣n dư, tặng cho mấy người cũng bị bệnh, đều lành cả. Xét ra toa thuốc này chỉ có một thưng gạo trộn chung với một trăm hạt ba đậu cùng sao lên, bỏ đậu, dùng gạo làm thành viên, là xong. Ngoài ra chẳng có vị thuốc nào khác. Tôi chẳng dám tin. Về sau, cháu trai tôi cũng bị tả lâu ngày, hỏi kiếm toa thuốc cặn kẽ từ chỗ cư sĩ. Cư sĩ lại ḍ hỏi, vị Tăng ấy đáp y như trước, bèn theo đúng toa mà chế thuốc. [Cháu tôi] vừa uống vào, bụng đau, tiêu chảy dữ dội gần chết. Đại khái, vị tăng ấy sợ người khác có được phương thuốc ấy, nên dùng toa giả để chỉ cho người khác, chẳng biết gây hại đến nỗi như thế, buồn thay!

 

* Tỵ hiềm

 

          Người chú giải Luận Ngữ nói: “Chuyện tỵ hiềm (tránh né hiềm nghi) người hiền c̣n chẳng làm, huống hồ thánh nhân ư?” Hai chữ “người hiền” chẳng ổn, phải nên nói là “đại hiền c̣n chẳng làm” th́ được! Nơi ruộng dưa chẳng xỏ dép, dưới cây mận chẳng chỉnh mũ, thậm chí em chồng và chị dâu trao đồ vật chẳng chạm tay. Đó là lễ, chẳng phải chuyên v́ kẻ chẳng hiền mà lập ra. Do vậy, người đàn ông nước Lỗ chẳng đoái hoài người đàn bà hàng xóm, xưa nay ca ngợi ông ta khéo học theo Liễu Hạ Huệ, chưa nghe ai chê bai ông ta chẳng hiền. Do vậy biết chẳng tỵ hiềm có hai trường hợp: Nếu chẳng phải là cảnh giới của bậc đại nhân siêu t́nh ly kiến, sẽ là phường tiểu nhân vượt lễ, trái phận, chẳng kiêng dè! Do đó nói: “Có chí như Y Doăn th́ được, chẳng có chí như Y Doăn th́ là soán đoạt”. Đuổi vua là chuyện to lớn khác thường, thường nhân sao có thể làm được mà nói “ta là người hiền chẳng cần phải tránh né hiềm nghi!”

 

* H́nh phạt nấu chín

 

          Than ôi! Hành h́nh bằng cách nấu chín chẳng biết bắt đầu từ thuở nào? Ly Sanh (Ly Thực Kỳ) [vâng lệnh Hán Cao Tổ đến] thuyết phục Tề Vương (Điền Quảng) đ́nh chiến, nhưng Hoài Âm (Hàn Tín) vẫn dẫn binh tấn công [nước Tề]. Tề Vương tức giận đem nấu Ly Sanh. Hàn Sanh[98] chê Hạng Vương (Hạng Vũ) là “vượn đội mũ người”, Hạng Vương giận dữ, nấu chín Hàn Sanh. Hành h́nh đến nỗi chết cùng cực, c̣n nỗi thảm độc do bị nấu c̣n quá chém đầu, cũng như bị nát thân tột bậc! Tề và Hạng rốt cuộc bị diệt vong, đó là hoa báo, chứ quả báo là trong địa ngục! Cố nhiên, chẳng đáng luận định. Điều đáng tiếc, đáng buồn chẳng phải là Ly Sanh ư? Sao không ở trong hang núi, bảo toàn tánh mạng trong thời loạn, lại múa ba tấc lưỡi ḥng đổi chác công danh? Buồn thay Hàn Sanh! Sao chẳng ăn nói cẩn trọng, giữ phận, tự bảo vệ thân ḿnh, lại ngang ngược châm biếm mà chuốc lấy nạn ấy? Cái sai “Đông môn hoàng khuyển”[99], tôi chẳng ngại than thở, di hận hơn một ngàn năm. Than ôi! Đau xót thay!

 

* Tiếc phước

 

          Đầu đời Vạn Lịch, các vị quân tử thuộc đạo học lập giảng ṭa tại núi Cô Công. Lúc dùng cơm, ông Trương Dương Ḥa và Châu Hiếu Tử Tiệm Quỳ được xếp ngồi cùng một mâm cỗ. Dương Ḥa chỉ ăn mấy miếng thịt lợn, họ Châu lại khuyên ông ăn cá, lại khuyên mời xơi thịt gà. Dương Ḥa nói: “Hai món thịt và cá là đủ rồi, chứ thịt gà chẳng dám tuân mạng”. Than ôi! Dương Ḥa là con thế gia vọng tộc, đă đỗ trạng nguyên mà tiếc phước như thế đấy, bảo rằng “chí hướng chẳng đặt nơi no ấm”, chẳng đúng ư? Có kẻ làm chức quan nhỏ mà tột cùng xa xỉ, tột bậc thỏa dục, bày mười hai bàn tiệc, có mười hai đứa bé cầm cái nhạo rượu bằng vàng đứng hầu một bên. [Kẻ đó] chẳng tránh khỏi tàn bại là đúng lắm thay! Chẳng nên răn dè ư?

 

* Mạnh Tử

 

          Nếu hỏi một học tṛ: “Thời Mạnh Tử, vua Châu c̣n là cộng chủ[100], ông ta (Mạnh Tử) yết kiến các vua Tề, vua Lương, hoặc nói là ‘v́ bảo vệ dân mà làm vua’, hoặc nói ‘nơi vua có ǵ?’, hoặc nói ‘tâm ấy đáng làm vua’, hoặc nói ‘vua như lật bàn tay’, hoặc nói ‘khiến cho dân chúng an cư lạc nghiệp mà chẳng thể kiến lập vương đạo th́ xưa nay chưa hề có’, [vậy th́] các quân vương đặt thiên tử nhà Châu ở chỗ nào? Phu tử nói “ngô tùng Châu” (ta theo nhà Châu), cực lực ca ngợi Quản Trọng tôn Châu, sao Mạnh Tử lại chẳng vậy?” Học tṛ chẳng đáp được.

Tôi nói: - Thời thế lúc ấy khiến thành ra như vậy. Dẫu là thánh hiền, cũng chẳng thể trái thời, nghịch thế! Phu tử sanh nhằm lúc nhà Châu suy đồi, mà Mạnh Tử lại sống nhằm lúc [nhà Châu] suy bại hết mức, các nước tiếm phận xưng vương đă quá nửa, nhà Châu chỉ c̣n có danh suông, [cơ nghiệp] mong manh chưa dứt mà thôi! Ư của Mạnh Tử có hai điều: Một là xiển dương đại đạo của kẻ làm vua thiên hạ từ xưa đến nay, hai là ngăn dứt cuồng tâm của kẻ vô đạo mong làm vua. Ân trạch của Văn Vương, Vũ Vương, Thành Vương, Khang Vương[101] gần như đă hết sạch, giống như ngọn đèn sắp tàn, như ngày sắp tối, phu tử ở trong cảnh ấy cũng không làm thế nào khác được! Do vậy, chẳng thể chê trách Mạnh Tử được!

 

* Mao Dung

 

          Khách đến thăm Mao Dung, ngồi trên lầu, nghe nhà trong có tiếng cắt tiết gà, cho rằng ắt đăi đằng ḿnh. Tới khi dọn cơm, chỉ có cơm xoàng và canh rau, [Mao Dung] giết gà để nấu dâng mẹ, chẳng phải là để đăi khách. Khách hết sức cảm thán Mao Dung hiền đức, coi ông ta cao hơn một bậc nữa. Hết sức tương phản với Mao Dung, tôi thấy có hai hạng người: Một là kẻ thô tục vét hết thức ăn ngon lành để biếu cho mẹ vợ, c̣n đối với mẹ ruột th́ tiếc nuối ngay cả một búp măng. Đằng khác là tăng nhân dùng trọn hết đồ đẹp đẽ cho đồ đệ nhỏ, c̣n mẹ đẻ th́ phải ăn chực ở nơi khác! Tôi chẳng biết đó là cái tâm ǵ nữa? Buồn thay!

         

Bồ Tát giới đệ tử Lưu Huệ Văn suất lănh con trai là Tánh Trạch quyên tiền khắc in.

          Tháng Mười Một trong mùa Đông năm Quang Tự 24 (1898), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.

 

14. Sơn Pḥng Tạp Lục (山房雜錄 những ghi chép đủ loại nơi pḥng ốc trong núi)

14.1. Các lời tựa (vốn được khắc rải rác trong các bản in, nay gom lại thêm vào đây)

 

* Lời tựa nêu rơ chỗ ẩn tàng trong bộ Phạm Vơng Kinh Tâm Địa Phẩm Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ

 

          Từng nghe “tâm, Phật, chúng sanh là một” mà thôi! Chúng sanh vốn chính là Phật, Phật vốn chính là tâm. Tâm tự chẳng sanh, giới luật sẽ dùng vào đâu? Do mê tâm mà dấy lên biển Hoặc mênh mông khó thể cùng tận. Do tâm mà lập ra pháp môn, bát ngát vô lượng; nhưng pháp ắt có giềng mối, mọi sự tuân theo đó. Do vậy, tuy vô lượng mà nói giản ước thành hằng sa, hằng sa nói ước lượng thành tám vạn. Lại giản ước nữa, bèn từ vạn thành ngàn. Lại giản ước từ trăm thành mười. Lại giản ước nữa, thành Lục Độ nêu bày cương mục chánh yếu. Lại giản ước nữa bèn thành Tam Học gồm chung các đầu mối to lớn. Lại dung hội ba điều ấy, rút gọn thành hai điều phối ứng với nhau th́ nói là Định Huệ, chỉ nêu riêng th́ gọi là Tỳ Ni. Ấy là v́ truy ngược ḍng đến tận nguồn, hoàn toàn quy vào giới này, nương theo cái Danh để t́m cái Thể, chỉ là nhất tâm! Tâm thâu nhiếp, các niệm tán loạn được thâu liễm mà sanh ra sự trạm tịch. Tâm đă tịch th́ định lực sâu mà huệ quang phát sanh. Tam Học đă trọn, Lục Độ tự tu, vô lượng pháp môn đều được nêu ra. Giới to lớn thay, là cốt lơi của hết thảy các pháp.

Xét theo từng loại th́ có Tiểu Thừa và Đại Thừa, phân biệt các giới th́ là nói là Thanh Văn và Bồ Tát. Một đằng là thanh tu, thận trọng bên ngoài, thân trọn chẳng làm chuyện sái quấy. Một đằng là siêng năng chánh quán bên trong, tâm chẳng ẩn giấu niệm. Một đằng giữ ǵn chính ḿnh, gọi là chẳng phạm, chẳng kèm theo tạo ân trạch cho người khác. Một đằng là lợi tha th́ mới là biểu thị sự tŕ giới, đạo chẳng có Ngă. Một đằng th́ thuận theo Sự mà lập ra quy chế để nâng đỡ, duy tŕ [đạo tâm], dần dần đạt tới khuôn mẫu tốt lành. Một đằng là theo thời mà vạch ra một quy củ, nhanh chóng trọn đủ các thiện pháp. Một đằng phân định rạch ṛi, tinh vi, hạn cuộc trong tăng ni; một đằng là chẻ phá rào giậu, bao trùm cả tăng lẫn tục. Một đằng là tuân theo quy chế cấm ngăn mà gọi là “chế chỉ”, tuân theo đường lối cũ để tỏ rơ công phu gần. Một đằng chính là luật nghi mà siêu việt luật nghi, vận dụng cơ duyên thần diệu để dựng lập công tích to lớn.

Thể đă là như thế, há Dụng chẳng phải vậy? Dụng là diệt ác, như mặt trời mọc bèn tan băng, nhưng băng đông cứng đă lâu ngày sẽ bất động. Hoặc như mảy tuyết rơi vào ḷ lửa hừng, trong sát-na, bóng dáng lẫn dấu vết chẳng c̣n. Dụng là sanh thiện, hoặc như trẻ nít học nói, có vài câu mà lắp bắp suốt buổi, hoặc như vũ trụ lúc Xuân về, muôn cỏ cây nẩy mầm trong một buổi. Dụng là độ sanh, hoặc như đom đóm tung tăng soi sáng đất, ánh sáng sanh theo mỗi bước chân, chỉ giúp soi đường cho nẻo kiến. Hoặc như vầng mặt trời rạng rỡ giữa trời, chiếu rạng hư không, lợi ích trọn khắp nhân gian. Trời và đất chẳng đủ để b́nh luận sự hơn, kém, ngày và kiếp chẳng sánh nổi cao và hèn [giữa Dụng của giới Tiểu Thừa và Đại Thừa]! V́ thế biết: Muốn nhập Như Lai Thừa, ắt phải nên thọ giới Bồ Tát trước! Do giới ấy mà mở rộng thành vạn hạnh, tức là Phổ Hiền Nguyện Vương. Do giới ấy mà thấu triệt rộng khắp sự sáng suốt đơn lẻ, tức là trí mẫu của Văn Thù! Đó là ngọn cờ chư Phật cùng nêu cao, là con đường khang trang ngàn hiền cùng dẫm bước. Lớn lao thay Bồ Tát giới, là cốt lơi của hết thảy các giới.

Do vậy, Lô Xá Na Phật đích thân trao truyền, Diệu Hải đích thân nghe. Đức từ tôn trên ngàn hoa, từng nhánh trổ vẻ tươi xinh, thất Phật đến làm dịch chủ, truyền dạy âm đọc từng chữ. Tiếc là tuy đă có đủ bản kinh, nhưng chưa có lời sớ mầu nhiệm nêu tỏ. Trước kia, chỉ có ngài Trí Giả mới giảng giải đôi chút, cho tới tôi là kẻ ngu muội lại phơi bày ư nghĩa ẩn tàng. Kinh điển bí mật nơi linh đài từ bao nhiêu kiếp lâu xa, may sao được đích thân gặp gỡ, đếm bụi thơm bên lề đường của thánh nhân, hổ thẹn sâu xa mà nối gót. Chỉ mong được lưu thông, truyền dạy, lau gương xưa để lại được mới mẻ, lần lượt trao truyền, nối tiếp đèn của người xưa càng rộng chiếu. Ai nấy ngộ vị Phật duy tâm, luôn dùng giới để nhiếp tâm. Ai nấy liễu ngộ chúng sanh là Phật, rốt ráo do chúng sanh mà thành Phật. Dù tăng hay tục, là người hay thần, chẳng cần biết ác đạo hay u đồ, bất luận khác h́nh, khác loài, chỉ cần biết nghe pháp, đều chứng pháp môn Phạm Vơng. Phàm những ai có tâm đều trọn nhập Tâm Địa của đức Lô Xá Na.

 

* Lời tựa cho Bảo Tích Nhị Hội

         

          Bảo Tích Nhị Hội là hai hội trong nhiều hội của kinh Bảo Tích. Hai phẩm kinh thứ tự cách biệt, từ ngữ khác biệt, sao lại gộp chung thành một quyển [để in] là v́ lẽ nào? Do [cả hai hội ấy đều] xiển dương ư chỉ u huyền của Tịnh Độ. Bởi lẽ, một môn Tịnh Độ có Sự và Lư, nhưng ngoài Sự chẳng có Lư, ngoài Lư chẳng có Sự. Sự và Lư là một, cho nên ngoài tâm chẳng có cơi, ngoài cơi chẳng có tâm. Tách thành hai, hay chấp lẫn nhau, chẳng dung hội th́ đều sai. Một hội là Vô Lượng Thọ Phật Hội, xả uế, giữ tịnh, tức là Sự, mà cũng chính là Sự ngay nơi Lư. Hội kia là Văn Thù Bát Nhă Hội, chẳng tịnh, chẳng uế, là Lư, tức là Lư từ ngay nơi Sự. Do chính là Lư, nên cơi nước là nhất tâm, các báu trang nghiêm mà chẳng vướng mắc nơi tướng. Do chính là Sự, nên tâm là một cơi, Nhất Chân ngưng lặng chẳng ch́m đắm trong hư không. Do tâm chẳng có tịnh hay uế để lấy hay bỏ, dẫu hăng hái lấy bỏ mà vắng lặng chẳng có ǵ để lấy hay bỏ. Sanh Tịnh Độ là sanh về Tịnh Độ trong tự tâm. Ngộ tự tâm là ngộ tự tâm nơi Tịnh Độ. Biết điều này th́ gọi là chánh giải, nương theo điều này mà tu th́ gọi là chánh hạnh.

Hội trước (hội Vô Lượng Thọ) chú trọng Hành, hội sau (hội Văn Thù Bát Nhă) chú trọng Giải. Đó là so sánh đại lược. Dung thông th́ hội trước do liễu giải pháp vô ngă mà sanh về Lạc Bang, hội sau do tùy thuận Thật Tướng mà trụ trong Phật quốc, cùng một giải như nhau. Hội trước dùng hệ niệm đức Phật ấy làm chánh nhân văng sanh. Hội sau coi chuyên xưng danh là Nhất Hạnh tam-muội, đấy là hạnh bằng như nhau. Từ giải khởi hạnh, hạnh khởi giải tuyệt, giải chính là hạnh, cũng là tuy hai mà chẳng hai. Huống hồ Di Đà hiệu là Vô Lượng Thọ, Văn Thù được gọi là Bất Động Trí. Do vô lượng, tuy đă lâu mà luôn Như, bèn gọi là “bất động”. Do bất động, Tịch mà có thể dài lâu, bèn nói là “vô lượng”. Chẳng có Như ở ngoài Trí, chẳng có Trí ở ngoài Như. Trí tức là Như, cũng là hai mà chẳng hai! Nguyện các nhân giả tụng kinh văn này, đừng sanh ư tưởng cao thấp, hăy thấu hiểu ư vị ḥng lănh hội ư chỉ ở ngoài lời. Sau đấy mới biết “Tịnh Độ duy tâm, duy tâm Tịnh Độ”, suy nghĩ ư nghĩa của Bảo Tích, suy nghĩ ư niệm ghép hai hội Bảo Tích của cư sĩ Tánh Hải.

 

* Dẫn giải bộ Lăng Nghiêm Mô Tượng[102]

 

          Như kinh đă nói, có những người mù tụ lại giơ tay sờ voi. Kẻ ṃ trúng cái ṿi, nói voi giống như cái ky. Kẻ sờ đùi, nói voi như cây cột. Kẻ sờ đuôi, nói voi như cây chổi. Kẻ sờ bụng, nói voi như đá. Cho tới kẻ sờ mắt, nói voi như ống bễ thổi ḷ. Kẻ sờ tai, nói voi như cái lá đảo ngược. Kẻ sờ móng, nói voi như cái chén úp xuống đất. Ai nấy chấp chỗ ḿnh sờ, cho ḿnh là đúng, chê kẻ khác là sai. Người xem ôm bụng cười. Hiện thời đàm luận kinh, có khác chi đâu? Đức Phật đă nhập Niết Bàn, chẳng có cách nào hỏi han được, dùng tay t́nh thức để suy tưởng như đang sờ voi. Đôi bên chống đối nhau, như kẻ mù chê gă đui, tôi thật sự cảm khái! Biết ḿnh cũng mù ḷa, do cấp bách cứu vớt thói tệ, bèn vào trong lũ mù, cùng mọi người sờ soạng. Trong các kinh, chỉ có Thủ Lăng Nghiêm càng có nhiều nghĩa gây ngờ vực. Do vậy, những kẻ mù tranh nhau ồn ào, chen vai chỉ trỏ, chẳng thể biết ai như thế nào! Bèn chọn từ kinh này hơn một trăm đoạn phân tích đại lược để đại diện cho toàn kinh. Lại c̣n từ các kinh khác, đôi khi trích kèm theo một, hai điều, chẳng nêu lên quá rườm rà.

Xưa kia, đệ tử đức Phật mỗi vị trần thuật kiến giải của chính ḿnh, đức Phật bảo đại chúng rằng: “Nhữ đẳng sở thuyết, giai phi ngă ư, nhiên các đương lư, túc dĩ lợi vật” (Lời các ông nói đều chẳng phải là ư của ta, nhưng mỗi điều đều có lư, đủ để lợi ích chúng sanh). Tức là trong những người sờ soạng ấy, trừ kẻ biện định trái lư, nếu dùng lư để sờ, tuy chưa biết được voi, nhưng chưa hề chẳng phải là voi. V́ thế, chẳng ngại sờ soạng, chỉ lo [vướng vào] chấp trước. Nếu trống ḷng nơi đó, chẳng chấp chặt điều được hay biết trước tiên, hiểu văn khít khao lư, lư phù hợp, văn thông thuận, chỉ thú của kinh sẽ tự được nêu tỏ. Voi là voi, mạnh mẽ, vượt trội, chẳng ngoài sờ soạng mà riêng nhận biết voi. Nếu chấp vào sự sờ soạng, giữ chặt như vách tường, càng siêng sờ soạng, sai lạc càng xa, chỉ tăng thêm hư luận, tạo thành lỗi báng pháp, có lợi ích chi đâu? Đó là nói riêng chuyện thuộc về Giáo. Chứ kẻ bàn Thiền sờ soạng càng quá hơn nữa. Hoặc là có kẻ sờ ngựa mà bảo là voi. Hoặc có kẻ sờ không trung mà bảo là voi. Hoặc có kẻ cùng sờ, bảo hết thảy mọi chỗ đều là voi. Hoặc có kẻ chẳng sờ hết thảy được, bảo là không có voi! Đủ loại dị kiến, chưa dễ nói trọn. Nguyện các nhân giả, hăy sờ ngược mắt ḿnh; đă có đủ con mắt th́ sẽ chẳng cần sờ voi nữa!

 

* Lời tựa khắc in lần nữa Chư Kinh Nhật Tụng

 

           Ông Hạng ở Gia Hòa trước kia đã đem một trăm lẻ tám loại kinh của phường bổn[103] đến Vân Thê, bảo đấy là các kinh do tăng, ni, đạo, tục sáng tối trì tụng, nhưng [ông ta xét thấy các bản ấy] chân, ngụy xen tạp, khiến cho người hiểu biết chê cười, mong tôi hãy phân định chánh xác để làm khuôn mẫu cho hàng sơ học. Tôi dựa theo bản ấy, cân nhắc, sắp xếp, loại trừ, bỏ ngụy giữ lấy chân. Lại còn giở xem kinh luật và các trước tác của các vị xưa nay, chọn lấy một, hai điều gần gũi nhất để thêm vào. Vừa hoàn thành bản thảo, chưa giảo duyệt, đã giao cho ông Hạng. Ông Hạng liền đem giao cho thợ khắc, mà ông Hứa ở cùng ấp liền cho ấn hành. Gần đây, tôi xem lại, thấy khá nhiều chỗ sai lầm, bèn giảo chánh, sửa chữa lần nữa, cho khắc riêng theo lối phương sách[104]. Mộc bản cất trong núi Vân Thê, ngõ hầu bản hoàn thiện được lưu truyền, rốt cuộc thành tựu điều tốt đẹp cho hai ông. Những người xem hai bản khắc trước đó của hai ông, hãy nên lấy bản dưới đây để làm căn cứ.

 

* Lời tựa cho quy ước lưu thông pháp bảo được cất giữ tại Vân Thê

 

          Lưu thông Phật pháp chẳng phải là chuyện nhỏ nhặt. Kể từ khi đổi phạm giáp (梵夾, kinh in theo lối một mảnh giấy dài cuộn lại) thành phương sách (方冊) để tiện lưu thông, thế là Song Kính, Lăng Nghiêm, Lậu Trạch, Cô Tô, Tân An, các chùa nổi danh nơi những cuộc đất thù thắng đều đồng ḷng cùng làm; mỗi nơi đều có điều lệ để tiến hành, nhưng chưa đặt ra quy tắc tường tận về thâu, chi, thỉnh, phát. Phàm là “thâu, chi, thỉnh, phát” chính là chuyện trọng yếu trong lưu thông. Nếu chẳng đề pḥng nghiêm ngặt, lâu ngày sẽ nẩy sanh thói tệ, nỗi hại sẽ kết thành to lớn. Tức là pháp chưa lưu thông, mà người lưu thông pháp đă trầm luân, sao có thể thờ ơ không quan tâm đến?

Hơn nữa, lưu thông có hai loại: Một là chân thật lưu thông, hai là lưu thông theo kiểu buôn bán. Lưu thông theo kiểu buôn bán là tụ tập kinh điển làm hàng hóa, bán hàng hóa kiếm lời, tích tụ tiền lời làm giàu, giống như các tiệm sách trong hiện thời. Đấy là cách buôn bán hàng hóa. Chân thật lưu thông là tâm nghĩ ngợi: Chẳng truyền pháp sẽ không có cách nào độ sanh; chẳng truyền pháp độ sanh sẽ chẳng có cách nào báo ân Phật. Chỉ mong Phật pháp xoay vần hoằng dương trong vô lượng cơi, vô lượng đời; ngoài ra, chẳng mong chi khác. Đó gọi là chân thật lưu thông. Chân thật th́ mới gọi là công đức. Buôn bán chỉ càng tăng thêm tội lỗi. Hai đằng tợ hồ giống nhau nhưng khác biệt, há chẳng thận trọng ư? Bèn ước định sáu chương, riêng ra rả về chuyện thâu, chi, thỉnh, phát. Người đảm nhiệm chuyện này mong đừng nghĩ lời tôi là sai, lại c̣n giữ măi không bỏ qua để lưu lại cho mai sau, ngơ hầu chẳng phụ đàn việt tạo pháp, chẳng phụ vua quan hộ pháp, chẳng phụ Phật Thế Tôn và các vị thầy hiền thánh xưa nay thuyết pháp, diễn pháp. Do vậy, viết lời tựa.

 

* Lời tựa cho Du Già Tập Yếu Thí Thực Nghi Quỹ

 

          Pháp Du Già Thí Thực trong Đại Tạng có nhiều bản. Thoạt đầu, chỉ có một chương đức Phật dạy đà-la-ni cho ngài A Nan mà thôi, sắc truyền tụng hai mươi mốt lượt, tức là Biến Thực chân ngôn trong hiện thời. Tiếp đó, dần dần tăng thêm, tăng cho tới bản được các nơi in kinh gọi là Du Già Tập Yếu, tường tận, trọn hết, chẳng c̣n tăng thêm được nữa. Hiện thời, các thầy lại tăng thêm những thứ gom góp bên ngoài, rườm rà, rậm rạp, đánh mất ư của cổ nhân. Nêu lên những chỗ quá đáng, như Phạm ngũ cúng dường, do bố-tư-tất (pushpe, hoa cúng dường), độ-tất (dhupye, hương cúng dường) v.v… đă đều là tiếng Phạn, sao lại tiếng Phạn chồng thêm tiếng Phạn? Như ba mươi lăm ấn, hễ là ấn th́ ắt phải được truyền dạy. Năm mươi ba vị Phật, mỗi vị Phật một ấn, chẳng rơ phát xuất từ kinh nào? Khiến cho quá nửa thời gian xen tạp ngâm vịnh, chỗ thiết yếu lại lướt qua thật nhanh như nước tuôn, há chẳng phải là tốn sức mà chẳng có công lao ǵ chăng?

Huống hồ ván khắc do lâu năm bị nḥe nhoẹt, các chữ chủng tử [trong chân ngôn] của Phật hầu như chẳng thể nhận rơ, nhưng bỏ khắc th́ sẽ phải chép. Lại c̣n những chú thích của vị hiền nhân thuở trước gần như bị lược bỏ sạch. Nếu chữ chủng t bị mất th́ quán sẽ do đâu mà sanh? Chú thích bị gạt bỏ th́ quán tuy c̣n, chẳng biết sử dụng như thế nào? Gần đây có những người đề xướng sửa cho đúng, nhưng thứ tự trước sau vẫn c̣n lộn xộn, nhă hay vụng vẫn c̣n chưa thỏa đáng, bị người hiểu biết chê trách. Do vậy, cư sĩ Bao Tâm Huyền phát tâm rộng lớn, tụ tập các thợ khắc ván, dùng trọn khắp các kinh, luật, luận tạng đă được khắc để bổ cứu những chỗ chưa hoàn vẹn của người xưa. V́ thế, đem bản ấy giao cho tôi. Tôi lại dựa theo Tập Yếu mà tham khảo, đính chánh thêm lần nữa để tạo thành bản hoàn chỉnh, ngơ hầu người đăng đàn biết “tam nghiệp tương ứng th́ gọi là Du Già”. Tay kết ấn ắt đoan nghiêm, đừng chụp bắt, múa may giống như đùa bỡn, miệng tụng niệm ắt chân thật, ắt chánh đáng, đừng liến láu, lúng búng, khiến mật ngữ bị lẫn lộn, ư tác quán ắt ṛng, ắt chuyên, đừng tán tâm loạn tưởng khiến chánh quán bị thiếu sót. Sau đấy, thân phù hợp miệng, miệng khế hợp ư, ư ḥa hội với thân, dùng đó để độ sanh, mà cũng để tự độ, công đức chẳng thể nghĩ bàn. Nguyện hành nhân Du Già cùng suy xét kỹ để nỗ lực thực hiện!

 

* Lời tựa cho Du Già Tập Yếu Du Già Tập Yếu Đồ Tượng Diệm Khẩu Thí Thực

 

          Giáo pháp Du Già thần biến, oai linh chẳng thể nghĩ bàn, do hai sư Kim Cang Trí và Quảng Đại Bất Không truyền dạy, không ai có thể nối gót. Do vậy, giáo pháp ẩn kín trong Long Tạng (Càn Long Đại Tạng Kinh), mờ mịt chẳng truyền, chỉ có một pháp Thí Thực được lưu hành trong cơi đời. Nhưng bản kinh này thuở đầu được dịch ra, ngoài Biến Thực chân ngôn, chẳng nghe [dạy bảo] chi khác. Bản dịch lần thứ hai, lần thứ ba, tăng thêm nhiều, rộng thêm nhiều, cho tới bản do ngài Bất Động truyền dạy đă hoàn bị tột cùng. Kẻ hiếu sự vẫn chưa cho là đủ, vẫn thêm vào những thứ từ bản khác, khiến cho sự chuyên tinh [của nghi thức] bị che lấp bởi những văn từ thừa thăi, nhưng ấn chú c̣n bị sơ lược, huống hồ quán môn ư?

Du Già có nghĩa là tương ứng, tức là miệng tụng chú, tay kết ấn, tâm tác quán, tam nghiệp đều tu, thực hiện Phật sự; đó gọi là “tương ứng” vậy! Tam nghiệp chú trọng nơi nhất tâm, nếu tâm chẳng quán, lấy ǵ để tương ứng? Lửa Định cháy sáng rực nơi ngọn núi lẻ, tâm tưởng kiên cố phủ trùm ngàn hạt, quán có mối quan hệ đúng là chẳng dễ dàng! Hai bức vẽ khéo léo của thầy Thạch Cơ Thường vẽ chèn h́nh tượng vào kinh văn, khiến cho người xem kinh văn sẽ thấy h́nh tượng, chẳng đăng đàn mà quán đă rành, khá có công đối với Du Già vậy. Tôi mong người hành pháp sẽ chuyên chú quán tâm, vận tâm nơi tay, tay hợp với miệng, miệng dựa trên tâm, tế độ vạn linh, công đức như thế cũng chẳng thể nghĩ bàn!

 

* Lời tựa cho sách Thiền Quan Sách Tấn

 

          Thiền há có cửa ải ư? Đạo chẳng có trong, ngoài, chẳng xuất nhập, nhưng người tu đạo cũng có mê và ngộ. Do vậy, bậc đại tri thức làm người canh ải, chẳng thể không đúng thời đóng hay mở, cẩn thận ch́a khóa, khám xét nghiêm ngặt, ngơ hầu kẻ thốt lời quái lạ, ngả theo lẽ riêng tư, trái vượt pháp độ sẽ không có cách nào lan truyền sự gian trá của hắn được, ngăn chặn khiến cho [những thứ đó] chẳng dễ lọt qua cũng đă lâu rồi. Tôi khi mới xuất gia, t́m được một quyển sách nơi xưởng in, tên là Thiền Môn Phật Tổ Cương Mục. Trong ấy chép nhiều lời tự thuật của bậc cổ tôn túc [về quá tŕnh] trong khi tham học, thoạt đầu là khó tiến nhập, đoạn giữa là thứ tự nhọc nhằn đă từng trải khi dụng công, và cuối cùng là tâm thần rộng mở, ngộ nhập thần diệu. Tâm tôi ái mộ, nguyện học theo. Nhưng sách ấy ở nơi khác chẳng thấy nữa, tôi tiếp tục xem các phần ngữ lực, tạp truyện trong sách Ngũ Đăng Hội Nguyên, bất luận tăng hay tục, chỉ cần là người thật tham, thật ngộ, bèn gom vào quyển sách trên đây, lược bỏ điều rườm rà, giữ lấy điều trọng yếu, biên tập lại, đổi tên thành Thiền Quan Sách Tấn (禪關策進). Ở một chỗ th́ đặt trên bàn, đi th́ đặt trong đăy; hễ mở xem th́ tâm chí được khích lệ, thần thái sáng suốt, tự thúc bách chính ḿnh tiến lên. Chắc có người nói: “Sách này v́ người chưa vượt ải mà soạn ra. Người đă vượt ải, đă đi lâu rồi, sao c̣n dùng được nữa?” Tuy thế, ngoài cửa ải lại có cửa ải khác, giả tiếng gà gáy[105], tạm ĺa nơi miệng cọp. Được chút ít đă cho là đủ, đó là kẻ tăng thượng mạn. Nước chưa cùng, núi chưa tận, Cảnh Sách cầm nơi tay, thân bệnh tật rong ruổi đường trường, phá cái ải ẩn kín cuối cùng, thong thả làm cỗ chay đăi đại chúng tham thiền xong vẫn chưa muộn!

 

* Lời tựa cho Cao Phong Đại Sư Ngữ Lục

 

          Tôi lúc mới vừa đọc nội điển, có được kinh luận và mấy quyển tạp trước xưa nay, trong ấy có ngữ lục của đại sư, kinh ngạc, vui mừng tin nhận như trong tối tăm gặp đuốc, đến nay vẫn như vậy. Bởi lẽ, kể từ khi tham cứu chuyện này, tinh nhuệ tột bậc, không ai hơn được Sư; đúng là giống như do thép thuần đúc thành. Mỗi lượt mở ra đọc là mỗi lượt khích phát ư chí của con người, khiến cho hớn hở, dùi mài quên mệt. Tuy vậy, Ngài ngộ xứ sâu sắc, tôi chẳng dám dùng phàm t́nh đoán ṃ, ḍ lường, chỉ cảm thấy Sư nói thẳng vào cội nguồn, tách rời khuôn sáo, gần th́ có phong cách của Từ Minh, Diệu Hỷ, xa th́ [Sư] chẳng kém các cụ Đức Sơn, Lâm Tế! Hùng vĩ thay! Ṿi vọi thay! Có thể nói Sư là tràng quang minh chiếu sáng thuở Mạt Pháp. Chỉ tiếc ngữ lục của Sư chưa được đưa vào Đại Tạng, các xưởng in ít khắc ván, [nỗi tiếc nuối ấy] canh cánh trong ḷng suốt ba mươi năm.

Nay đem bản cũ giao cho thợ khắc ván, nhưng hành nhân trong liên xă có người thấy nghe chuyện này, nói tôi vừa xoay chuyển muôn ḍng chỉ quy Tịnh Độ, sao lại ân cần khen ngợi tác phẩm này? Ư người ấy là niệm A Di Đà Phật, chẳng thấy vạn pháp quy về một ư? Bèn ào ạt dao động. Than ôi! Chỉ hiểu rơ “người niệm Phật là ai”, không cần hỏi “quy về một ở chỗ nào?” Giống như có kẻ biết cha sanh ra ta, lại tự nghi thân thể từ đâu mà có, người nghe chẳng ngă ngửa chết ngất ư? Cổ tôn túc nói: “Như người đi xa, mong sao đến nơi, chẳng quản cưỡng chia đường đi khó hay dễ”. Các vị nhân giả! Phương tiện có nhiều môn, về nguồn vốn là một đường. Xin đừng hồ nghi, kẻo lỡ làng năm tháng. Hăy nên thẳng tiến, mau về, chỉ lo về đến nhà. Đă về đến nhà, vách đá ngàn trượng, ao bảy báu, chủ nhân có trí, hai đằng đều chẳng nhận!

 

* Lời tựa cho Mục Ngưu Đồ (tranh chăn trâu)

         

          Kinh Di Giáo nói: “Thí như mục ngưu, chấp trượng thị chi, bất linh túng dật, phạm nhân miêu giá” (Ví như chăn trâu, cầm gậy trông chừng, chẳng cho nó buông lung xâm phạm mùa màng của người khác). Đấy chính là khởi nguồn của cách nói chăn trâu. Kế tiếp là Mă Tổ hỏi Thạch Củng: “Ngươi đang làm chuyện ǵ?” Đáp: “Chăn trâu”. Lại hỏi: “Trâu chăn như thế nào?” Đáp: “Có lúc đi vào đồng cỏ, nắm mũi kéo lại”, tức là người khéo chăn. Lại ngài Đại Quy An tới chỗ ngài Quy Sơn nói: “Tôi nương vào Quy Sơn để trụ, chẳng học Quy Sơn Thiền, chỉ chăn một con trâu đực”. Lại c̣n ngài Bạch Vân Đoan tới chỗ Quách Công Phụ cật vấn rằng: “Trâu thuần chưa?” Dù là tự chăn, hay dạy người khác chăn, từng thấy xuất hiện nhiều lượt, xưa nay càng rơ rệt vậy!

Về sau, có người vẽ thành tranh, thoạt đầu là chưa chăn, cuối cùng là cả hai (trâu lẫn người chăn) đều mất, theo thứ tự xếp thành mười bức. Trâu như thế này: Thoạt đầu là đen, kế đó trắng dần cho đến chẳng c̣n, rành rành như thế. Phổ Minh lại c̣n đối với mỗi bức tranh, viết một bài tụng, chưa rơ Phổ Minh là người như thế nào? Tranh vẽ ghi bài tụng cũng chẳng biết do ai làm ra? Nay chẳng bàn tới, chỉ có tranh vẽ ấy, h́nh ảnh đơn giản, nhưng ư nghĩa sâu xa. Lời tụng cũng là ngôn từ giản dị, nhưng ư chỉ sâu xa. Người học dùng đó làm bằng khoán; do vậy, xét đức, so nghiệp, suy xét những ǵ chính ḿnh đă đạt được, mong mỏi điều chưa đạt tới, sẽ tránh khỏi “được chút ít, đă cho là đủ”, chẳng đọa vào chỗ tăng thượng mạn th́ lợi ích càng nhiều. Do vậy, tôi sao lục lại, cho khắc in.

Bên ngoài cũng có loại tranh từ t́m trâu cho đến vào chợ”, cũng gồm mười bức tranh, đại đồng tiểu dị với bức hiện thời, cũng nhằm phân biệt thứ tự tấn tu trong Giáo, có thể so sánh mà biết, đều ghép thêm vào cuối sách để tiện tham khảo. Nếu là bậc nhất siêu trực nhập, chẳng nhọc dùng roi hay lôi kéo mà trâu trắng tự nhiên ở nơi đất trống, chẳng rơi vào từng tầng cấp mà trong sát-na năng lẫn sở cùng mất, th́ các bức vẽ này trở thành hàng hóa ế ẩm, lời tụng trở thành lời thừa thăi, xem thấy sẽ bật cười, tôi chẳng dám gượng [phô phang] ǵ!

 

* Lời tựa cho Truy Môn Sùng Hạnh Lục

 

          Tăng hỏi: “Sa-môn phụng sự ǵ?” Đáp: “Phụng sự đạo”. “Phụng sự đạo th́ cái ǵ là gốc? Đáp: “Đức hạnh làm gốc”. Tăng nói: “Thầy cố chấp quá! Lợi căn dùng huệ để nhập, độn căn dùng phước để tu. Sa-môn giữ lấy huệ là đủ rồi, đức hạnh để làm ǵ?” Tôi nói: “Người xưa có nói ‘đức hạnh là gốc’, lại nói ‘người muốn thành tựu cao xa, trước hết phải biết tự rèn luyện’. Huống hồ diệu đạo vô thượng Bồ Đề mà kẻ chẳng phải căn khí có thể tiếp nhận ư? Sữa sư tử chẳng dùng b́nh lưu ly để đựng [th́ b́nh] sẽ bị nứt vỡ. Nâng cái đỉnh nặng vạn quân[106], sao có thể dùng chiếc thuyền làm bằng lá sen, chẳng lật nhào rồi ch́m lỉm th́ hiếm hoi lắm! Nay sa-môn hơi có tài năng, nhạy bén, bèn dụng công nơi giải thích, dốc sức nơi viết lách giống như Nho sinh. Kẻ cao hơn nữa bèn góp nhặt vụn vặt cơ duyên của cổ đức, đuổi theo tiếng vọng, chụp bắt dấu tích nơi h́nh bóng, khiến cho kẻ sáng mắt bật cười. Nghe lời họ nói, vượt xa Phật, Tổ; xét hành vi của họ, thua xa kẻ tầm thường, ngu dốt! Đại để là thói tệ cùng cực thời Mạt Pháp. Tôi do vậy sợ hăi, gom góp thiện hạnh của cổ đức, sao lục những điều trọng yếu, tạo thành mười môn để gồm thâu.

V́ sao? Ĺa tục nhiễm th́ gọi là Tăng, cho nên xếp những vị thanh cao, thuần phác đứng đầu. Thanh mà chẳng nghiêm, th́ là sự thanh cao của kẻ cuồng. Thâu nhiếp “thân, miệng, ư” là giáo huấn của chư Phật. V́ thế, kế đó là môn nghiêm cẩn, chánh đáng. Nghiêm cẩn, chánh đáng là do thầy dạy bảo mà thành. Thầy là khuôn mẫu cho người khác; v́ thế, tiếp đó là tôn sư. Đă được cha mẹ sanh ra, sau đó theo thầy mà quên bẵng người thân, tức là mất gốc. Giới tuy có vạn hạnh, lấy hiếu làm cốt lơi. V́ thế, tiếp đó là môn hiếu thảo với cha mẹ. Trung và hiếu chẳng hai lư, biết có cha mẹ mà chẳng biết đến vua và thầy, tức là riêng tư. Một người có sự vui sướng, ta sẽ được thong dong nơi suối rừng, ơn vua lớn lao thay! V́ thế, kế đó là môn trung quân. Tận trung với bề trên, mà thiếu nhân từ với người dưới, tức là đạo cứu giúp người khác bị thiếu sót. V́ thế, kế đó là môn ḷng từ. Nhân từ với muôn vật gần với ḷng yêu thương; sanh chấp trước với ḷng yêu thương sẽ gây trở ngại cho xuất thế. V́ thế, kế đó là môn cao thượng (vượt thoát khỏi chấp trước phàm t́nh). Cao thượng chẳng phải là luôn giữ cho thân thanh khiết mà bỏ mặc chúng sanh, mà phải mong sao chất chứa sâu dày ḥng lưu lại gương sáng. V́ thế, môn kế tiếp là tŕ trọng (遲重, nhẫn nại, cẩn trọng). Tŕ trọng mà ở yên trong vô vi th́ chẳng thể được, cho nên kế tiếp là môn gian khổ. Nhọc nhằn mà chẳng có công dụng ǵ, sẽ do khổ nạn mà thoái thất, nhân quả chẳng hư huyễn, cho nên kế tiếp dùng cảm ứng làm môn kết thúc.

Tu mười hạnh mà đức trọn, chính là pháp khí có thể đảm nhiệm pháp. Cuộc đất đă tốt đẹp rồi, sau đó gieo hạt giống tốt xuống. Tâm đă thuần rồi, sau đó lời chí lư mới thấm vào. Vô thượng Bồ Đề sẽ có thể mong đạt được. Nếu không, một kẻ thô lậu chưa vẹn nhân đạo, sao biết được Phật đạo? Dẫu lợi căn đa huệ, huệ càng nhiều, chướng càng nặng, có ích chi đâu? Tăng nói: “Pháp của ta mảy trần chẳng lập, mười hạnh để làm ǵ?” Tôi nói: “Ngũ Uẩn lăng xăng, Tứ Đại chen chúc, sao bảo là chẳng có trần?” Tăng nói: “Tứ Đại vốn là Không, Ngũ Uẩn chẳng có”. Tôi bạt tai ông ta, bảo: “Phường học vẹt, coi hạt gai giống như hạt thóc, chưa nói ǵ được!” Tăng chẳng đáp được, hầm hầm đứng dậy. Tôi cười bảo: “Mặt phủ đầy bụi, sao ông không lau? Hăy cẩn thận nhé! Đừng cao ngạo, chớ tự ty. Đừng hư vọng bàn Bát Nhă, tự chuốc lấy ương hại, lầm lỗi. Đừng say sưa nơi hư danh. Hăy tu đức ḿnh, nỗ lực chuyên ṛng, thành thật dốc sức nơi đạo, dốc tận cùng sức th́ tâm sẽ thông. Sau đấy biết chẳng bài bác vạn hạnh, chẳng nhận mảy trần, suốt ngày chẳng không, suốt ngày chẳng có, đấy gọi là Chân Huệ. Mong ông hăy một mực tham cứu cái tâm”. Tôi chưa nghe đạo, lại c̣n đức kém; nay viết sách này, chỉ mong cứu văn thói tệ trong đương thời ḥng đền ân Phật. Người thông đạt, sáng suốt nếu chẳng do [tôi là] kẻ tệ hại mà vứt bỏ lời nói của tôi, mong sẽ xoay vần bảo ban các Thiền giả!

 

* Lời tựa cho Văng Sanh Tập

 

          Đức Thế Tôn mới thành Chánh Giác, v́ các hữu t́nh diễn giảng trọn khắp Phật thừa. Do khó thể thích ứng trọn khắp các căn cơ, bèn từ trong pháp Nhất Thừa, dạy pháp tam thừa; lại c̣n từ trong tam thừa, nêu ra một môn Tịnh Độ. Nay cách Phật ngày càng xa, t́nh trần ngày càng thịnh. Tiến lên th́ chẳng thể phát khởi sự giải ngộ thần diệu, vượt lên bậc thánh. Lui xuống sẽ quẩn quanh trong hiểm nạn đọa lạc. Nếu chẳng cậy vào môn [Tịnh Độ] này, sẽ nhờ vào đâu mà nhanh chóng thoát khỏi sanh tử? To lớn thay! Có thể nói là thuốc linh nghiệm ắt có công hiệu chữa được chứng bệnh trầm kha trong thời Mạt. V́ thế, thời cổ khá nhiều, thời nay khá ít, lỗi ở chỗ nào? Chính v́ miệng cũng Tịnh Độ, nhưng tâm nơi Sa Bà, lại c̣n kiên cường, dũng mănh, giải ngộ sáng suốt chẳng bằng tiền bối.

Nghe nói xưa kia có người văng sanh, nhưng tháng năm lâu ngày, [sự tích] bị diệt mất, chẳng thể thấy nữa; chỉ c̣n những dấu vết được chép rời rạc, rải rác trong các sách trong, ngoài của trăm nhà. Tôi thuận theo những ǵ ḿnh thấy được, liền ghi chép lại, vẫn trích lấy những vị nhân quả rơ rệt, lâu ngày tích lại thành sách, nhưng chỉ là giữ được một phần mười trong trăm ngàn mà thôi. Giáp Thân năm nay, do trộm đua đ̣i ngài Trung Phong bế quan tại Thượng Phương, bèn lấy sách ra, sắp xếp theo từng loại trước sau, lại chứng minh bằng chuyện chư thánh cũng cùng quay về [Cực Lạc], bổ túc bằng chuyện cảm ứng ngay trong khi c̣n sống, tính ra là hơn một trăm sáu mươi điều, thêm lời tán thán để nêu tỏ nghĩa ẩn tàng, đặt tựa đề là Văng Sanh Tập. Những mong tăng, tục xem sách này, sẽ chỉ ra rằng: “Ta cũng do giải thoát như thế mà văng sanh. Ta cũng do thuần nhất như thế mà văng sanh. Ta cũng do ḷng tinh thành tột bậc cảm vời như thế mà văng sanh. Ta cũng do đại bi đại nguyện như thế mà văng sanh. Ta cũng sửa lỗi, chẳng keo kiệt, chuyển nghiệp sắp bị đọa như thế mà văng sanh. Ta thượng sanh như thế, ta trung sanh, hoặc hạ sanh như thế”, ngơ hầu xét xưa, nghiệm nay, làm bằng khoán cho Tịnh nghiệp.

Nhưng có người khách đến chỗ tôi, đọc chưa được mấy truyện, đă vội vàng nói: “Tịnh Độ duy tâm, ngoài tâm chẳng có cơi. Văng sanh Tịnh Độ là ngụ ngôn! Ông cho là thật sự sanh về Tịnh Độ ư? Há chẳng trái nghịch tông chỉ vô sanh hay sao?” Tôi đợi cho ông đằm xuống, thong thả bảo: “Nói dễ dàng lắm! Nếu cho là Vô Sanh mà thôi th́ hết thảy đoạn diệt, chẳng nên c̣n có duy tâm. Nếu thật sự ngộ Vô Sanh, sanh cũng có trở ngại ǵ đâu? Sanh đă vốn là không, cho nên suốt ngày sanh mà chưa từng sanh. Hơn nữa, tâm ông đă hết lậu hoặc hay chưa?” Đáp: “Chưa thể!” Ôi! Lậu tâm chưa hết, sanh duyên sẽ chưa thôi, ắt sẽ có chỗ thác chất! Mờ mịt trong biển khổ to lớn nơi tam giới, chẳng sanh Tịnh Độ th́ sanh về cơi nào? Quằn quại trong lục đạo, tiêu dao nơi chín phẩm, lợi và hại một trời, một vực, sao chưa từng nghĩ? Bàn luận bóng by để tranh cao, tôi cũng có thể làm chứ! Sở dĩ chẳng làm, cũng là do sợ sanh trong thức pháp. Được thôi! Ông thật sự chẳng cho lời tôi là sai, sẽ từ ngay nơi Tịnh Độ mà là Phật thừa, bởi chưa từng cách ngăn mảy may, há có chống trái ǵ?” Khách sợ hăi từ chỗ ngồi đứng phắt dậy, ngơ ngác, sững sờ, bất giác nước mắt ràn rụa, khóc nghẹn, chỉnh y phục, trang trọng đọc hết quyển, vội lạy xin bản in. Đă khắc in xong, bèn thuật đầu đuôi như thế đó.

 

* Lời tựa in lại bộ Tịnh Độ Thiện Nhân Vịnh

 

          Trước kia, tôi soạn Văng Sanh Tập, chuyên v́ thiện nhân Tịnh Độ mà ghi chép sự việc. Sách này ngâm vịnh thiện nhân Tịnh Độ, nhờ vào chuyện của họ mà tán thưởng, ca tụng. Phàm người được gọi là “thiện nhân”, chẳng phải là đối với kẻ ác mà gọi là thiện, chẳng phải là thiện trong Thập Thiện sanh thiên. Tâm tịnh, cơi nước tịnh, tại Sa Bà th́ hoa sen sánh như đức, sanh về Cực Lạc th́ gởi thân trong hoa sen, siêu việt tam giới, ngộ Vô sanh, cho đến thành Đẳng Chánh Giác, đó là điều thiện nhất trong những điều thiện. Do vậy kinh nói là “chư thượng thiện nhân”. Nhưng cứ ắt phải tán thán là v́ sao? Đấy là trên th́ dùng âm thanh làm Phật sự, đó là vịnh. Giản ước mà gồm khắp, chất phác, nhưng chẳng quê mùa. Ca ngợi nhưng suy xét, ôn nhu, hồn hậu, ḥa b́nh, thong dong có phong cách như người làm thơ Quốc Phong[107]. Ca tụng có thể khiến cho người khác hưng khởi.

Xưa kia, Lư Tế phỏng theo Hồ Tăng và Châu Đàm vịnh sử, mới trần thuật hai mươi mốt người, quá đại lược. Lại có người vịnh mà chẳng trần thuật, người xem chẳng biết t́m hiểu sự việc ra sao. Trước kia, tôi có được tác phẩm này từ một người bạn, đă bị rách nát, mọt đục, gần như rữa nát hết, cất trong tráp hai mươi năm rồi lại cho khắc in lại, sợ sẽ bị mất đi. Ôi! Đă có bài phú Thần Thê An Dưỡng (thần thức gởi nơi An Dưỡng) phỏng theo bài từ Quy Khứ Lai (về đi thôi), các vị Trung Phong và Tây Trai có thơ cảm hoài Tịnh Độ, và Lư Tế có thơ vịnh sử, gộp chung lại để xem th́ càng tốt đẹp. Độc Am (Diêu Quảng Hiếu) cũng có thơ vịnh thiện nhân vậy!

 

* Lời tựa cho sách Tịnh Độ Thi của thiền sư Trung Phong

 

          Giáo pháp Tịnh Độ lớn lao thay! Nêu rạng trong các kinh, hoằng dương rộng răi trong các luận, tinh vi tột cùng, sâu thẳm tột bậc. Sớ, truyện biện định, nghị luận [pháp môn này] của các vị thầy nhan nhản. Lại từ đó mà soạn phú, viết từ, làm kệ tụng, làm thơ. Thơ lại ḥa thanh, hợp vần, hay hơn kệ tụng, uyển chuyển, du dương, khiến cho người ta ưa thích, thưởng ngoạn, cảm xúc, cảm khái bi ca, bất giác tâm t́nh từ tạ cơi trần, thần thức nương nơi cơi báu. Thơ hữu ích cho Tịnh Độ cũng lớn lao thay!

Xưa nay, thơ cảm hoài Tịnh Độ, xét trước sau, chỉ có một trăm bài vịnh của ngài Trung Phong là Lư lẫn Sự đều đủ, tánh và tướng viên thông, chấm dứt sự tranh căi ồn ào giữa Thiền và niệm Phật, xác định chuẩn mực “cơi nước chính là tâm, tâm chính là cơi nước”. Thoảng nghe tiếng trống bôi thuốc độc, ngũ nội (ngũ tạng) vỡ tan. Thức ăn ngon xen lẫn thuốc độc, ăn vào mạng căn sẽ đoạn. Đẹp đẽ thay! Mênh mông thay! Một khúc dương xuân vang vọng trăm đời đó chăng? Quan Đại Trung Thừa[108] Kim Tỉnh Ngô tạc dạ nơi Tịnh Độ, cho khắc in lại để rộng lưu thông, sai tôi viết lời tựa đặt trước các bài thơ. Tôi đă già rồi! Bệnh liệt giường nơi gối, chiếu, gác nghiên bút đă lâu, bỗng có duyên thù thắng này, tuy sanh ḷng hoan hỷ, hớn hở, nhưng sức chẳng thể viết nổi một lời, đành sai đồng tử chép lại những lời thường đàm luận hằng ngày để ứng phó!

 

* Lời tựa cho sách Đáp Tứ Thập Bát Vấn (giải đáp bốn mươi tám câu hỏi)

         

          Giáo pháp Tịnh Độ có nhân địa là ngài Pháp Tạng, được mở ra đầu mối bởi bà Vi Đề Hy, trần thuật từ kim ngôn của đức Linh Thứu giáo chủ, lưu truyền bởi liên xă của Khuông Lư đại sĩ (tổ Huệ Viễn), tâm chuyên nhất hướng đến văng sanh, dùng hoành siêu để vượt tam giới; đúng là bờ bến trọng yếu trong thời Mạt Pháp. Nhưng bậc thượng căn liền từ Sự mà khế Lư, cố nhiên tin chắc chắn, chẳng thoái lui. Kẻ hạ căn có người nghe pháp này bèn tuân theo, cũng chẳng do vậy mà dấy Hoặc. Chỉ có kẻ chẳng thượng, chẳng hạ, thuộc địa vị nửa vời, bèn nửa muốn ngả theo, nửa chống trái, chí hướng định. Do vậy, ngài Trí Giả dùng Thập Nghi Luận để đả thông, ngài [Thiên Như] Duy Tắc dùng Tịnh Độ Hoặc Vấn để khơi gợi. Trống trời rền vang liên hồi, tâm tha thiết quyến luyến, há bảo là “lắm miệng” ư? Nói năng là v́ bất đắc dĩ [chẳng thể không nói], lại c̣n suốt ngày sáng đêm, do bệnh nặng, thuốc tăng thêm. Sau hai bộ sách ấy, há c̣n có thể trước thuật thêm nữa ư?

Có cư sĩ Đức Viên nương theo nguyện lực xưa, dấy ḷng đại bi, thay cho trăm ngàn chúng sanh, giăi bày cặn kẽ bốn mươi tám câu vấn nạn. Sơn tăng chẳng tránh khỏi cứ theo từng điều mà quyết đoán, dựa theo từng bản chất của vấn đề mà giải quyết, khiến cho kẻ vượt sông phiền năo thẳng thừng quyết đoán nỗi hồ nghi, thoát khỏi huyệt sanh tử, nhanh chóng ĺa khỏi nỗi khiếp sợ của loài chuột, noi dấu bậc triết nhân thuở trước, cùng giúp cho tông trước đó thôi. Nếu ngộ “ngoài tâm chẳng có cơi”, th́ Nhất Chân lặng trong mà vạn pháp mất, ǵ là Tây Phương? Liễu ngộ “ngoài cơi chẳng có tâm”, bảy báu trang hoàng, chín phẩm sen nở, nào trở ngại cái vốn sẵn tịch nhiên? Tức là cư sĩ ở chốn quê mênh mông vô ngại, giả huyễn nêu ra đầu mối nghi vấn, tợ gió lùa trên mặt nước. Sơn tăng ở nơi lặng thinh không hỏi, như trong mộng đáp lời, như hang vọng tiếng suối. Tuy mây đùn, b́nh trút[109], chưa dám sánh bằng quy mô rộng lớn của bậc cổ thánh, nhưng riêng chiếu chỗ tối tăm, những mong bóc màng mộng nơi mắt của người đương thời. Nếu như họ mang tâm Xiển Đề, vẫn quật cường như cũ, chắc chắn sẽ coi rẻ Tịnh Độ chẳng tu, tự giữ lấy Thiên Không cho là đủ, tôi cũng chẳng biết làm sao được nữa! Buồn thay!

 

* Lời tựa cho Từ Vô Lượng Tập

 

          “Từ, bi, hỷ, xả” được gọi là Tứ Vô Lượng Tâm của Bồ Tát, mà Từ thật sự đứng đầu bốn tâm. Phần Văn Ngôn của kinh Dịch nói: “Nguyên giả, thiện chi trưởng dă” (Nguyên () là tăng trưởng điều thiện). Đối với con người, Nguyên là ḷng nhân. Nhân do nhà Nho đă nói cùng với ḷng Từ do đức Phật đă nói là một. V́ vậy, thế gian và xuất thế gian không ǵ hơn được Từ. Nói “vô lượng” tức là nêu tỏ ḷng Từ rộng lớn. Nay giết người th́ phải chết, ai nấy đều biết, nhưng giết cầm súc th́ chẳng bị tử h́nh, bèn thỏa ư giết chóc, chẳng biết ngầm bị giảm thọ, ngầm bị đoạt bớt lộc, đọa vào Nê Lê (địa ngục) sau khi chết, đền bồi đỉnh, vạc trong tương lai[110], bị hành h́nh tàn khốc như thế đó. Kẻ giết người sẽ bị xử tử, ai nấy đều biết, nhưng kẻ giết con thơ mới sanh của chính ḿnh chẳng bị tử h́nh, bèn thỏa sức giết chóc, chẳng biết giết trẻ thơ vô tội cùng một tội với giết người! Đó là giáo huấn của Thượng Đế: Tội chẳng thể trốn, h́nh phạt càng nặng cũng rơ rành rành!

Lành thay quyển sách của ông Vương Cẩn Phu. Chỉ lấy thánh nhân làm chuẩn mực, dùng kinh điển của thánh nhân để so lường th́ gọi là Huấn Từ (訓慈, giáo huấn về ḷng Từ). Bậc hiền giả đă trước thuật, giúp cho nghị luận của các vị hiền nhân, th́ gọi là Tuyên Từ (宣慈, tuyên dương ḷng từ). Không chứng cớ sẽ chẳng tin, dân chẳng tin sẽ chẳng tuân theo. Dùng nhân quả rành rành để chứng nghiệm, gọi là Chứng Từ (證慈, chứng minh ḷng từ). Loài vật c̣n nên thương yêu, há chẳng có ḷng nhân đối với dân? Nối tiếp dài lâu đạo sanh trưởng, răn nhắc nghiêm trọng kẻ trấn nước con hay phá thai, gọi là Bổn Từ (本慈). Bốn điều đều được sao lục trọn, nhưng tác dụng của Từ rộng lớn. Do ông ta hỏi nên đặt tựa đề là ǵ?”, tôi bèn đặt tên cho sách này là Từ Vô Lượng Tập.

 

* Lời tựa cho Sát Sanh Quưnh Giới

 

          Xưa kia, tôi có Giới Sát Phóng Sanh Văn lưu hành trong cơi đời, nhất thời các vị quân tử tôn sùng điều thiện ưa thích lưu truyền, vui vẻ hành theo. Ông Châu Tây Tông cầm sách Sát Sanh Quưnh Giới (殺生炯戒, lời răn dạy rạng ngời về sát sanh) do chính ḿnh soạn đến yết kiến tôi, xin viết lời mào đầu, mà sách rành rành toàn là những điều nhân quả rạng ngời từ các truyện kư xưa nay, vừa răn dè, vừa khuyên lơn. Đối với mỗi chuyện, lại c̣n vẽ thành tranh. Hơn nữa, bài văn tôi viết chỉ là văn, chẳng có h́nh tượng. Bài viết của tôi có thể khuyên dụ người biết chữ, chẳng thể khuyên dụ kẻ không biết chữ. C̣n tác phẩm của ông ta có cả hai, kẻ trong buồng thêu lẫn đứa trẻ nít mắt nh́n vào, tâm hoảng sợ. Xưa kia, Trịnh Công Hiệp dâng bức Lưu Dân Đồ (tranh vẽ dân chúng lưu lạc v́ chiến tranh hay thiên tai), nói: “Hễ nh́n vào, đủ để rơi nước mắt”. Nh́n vào sách Quưnh Giới này, nếu chẳng phải là gỗ đá, ai mà chẳng phát tâm đại từ bi? Do vậy, sách này giúp cho văn tôi được lưu truyền, ngơ hầu đến tay nhiều người hơn. Công đức của Tây Tông vượt xa tôi lắm! Dập đầu lễ trời, rồng, viết vào đầu sách!

 

* Lời tựa cho sách Tự Tri Lục

 

          Tôi thuở nhỏ xem Công Quá Cách[111] của Thái Vi tiên quân, hết sức vui thích, bèn cho khắc in để thí tặng. Nay đã ra khỏi cõi tục, hành cước, lại còn lê la tham học, thỉnh pháp. Đã quy ẩn nơi hang sâu, mới chú trọng Thiền tư, chẳng rảnh chú ý đến chuyện này. Nay đã già rồi, lại tìm được trong đống sách lộn xộn, vẫn vui mừng như cũ, bèn san định đôi chút, tăng thêm những chỗ chưa đầy đủ để khắc in lần nữa. Xưa kia, tiên quân nói “phàm nhân nên đặt sách này nơi giường nằm, mỗi tối trước khi ngủ ghi lại công hay lỗi trong một ngày. Tích ngày thành tháng, tích tháng thành năm, hoặc dùng công để đánh giá lỗi, hoặc dùng lỗi để đánh giá công, nhiều hay ít đắp đổi cho nhau, tự biết tội phước, chẳng cần phải bận tâm cát hay hung”. Nói hết sức có lý! Người xưa đã nói: “Con người khổ mà chẳng tự biết, chỉ biết điều ác bèn sợ mà thâu liễm. Biết điều thiện bèn vui mừng, càng gắng sức. Chẳng biết thì sẽ mặc tình thỏa chí, luân hãm như cầm thú, mà cũng chẳng biết [chính mình] là cầm thú vậy!”

Nay tôi vận tâm nâng bút, khó dối gạt linh đài[112], tà chánh khó giấu, khác nào gương sáng soi hình, chẳng có thầy mà tự nghiêm, chẳng có bạn mà tự trách, chẳng thưởng phạt mà khuyên răn, chẳng bói toán mà biết hướng theo [điều lành] hay né tránh [hung hiểm], chẳng do thiên đường hay địa ngục mà thăng trầm, do noi theo sách đó mà tự đạt được đạo ấy khó chi! Do vậy, đổi tên thành Tự Tri Lục. Sách này kẻ bậc hạ có được, sẽ cười to, [mong kẻ đó] xem còn chẳng thể, mong chi họ sẽ ghi chép [công và lỗi của chính mình]! Kẻ bậc trung có được, ắt siêng năng ghi chép. Người bậc thượng có được, do họ tự chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, cho nên ghi cũng được, mà chẳng ghi cũng được. Vì lẽ nào vậy? Họ vốn hành điều thiện, chẳng phải là mong cầu phước. Vốn chẳng làm ác, chẳng phải vì sợ tội. Suốt ngày dứt ác, suốt ngày tu thiện, ngoài thì chẳng thấy tướng thiện ác, trong chẳng thấy cái tâm “có thể dứt, có thể tu”. Phước còn chẳng nhận, tội cũng là tánh Không, cần gì phải ghi chép nữa?

Ngoài ra, nhị bộ đồng tử, lục trai chư thiên, và vị được cõi đời gọi là Thai Bành Tư Mạng, nhật du, dạ du, dữ tư, đoạt tư, nguyên hội tiết lạp[113] v.v… la liệt rạng ngời, ở trước ta, sau ta, bên phải, bên trái ta, mắt sáng ngời nhìn chòng chọc ta, nếu như ta chẳng ghi, họ sẽ ghi. Cố nhiên [những điều họ ghi chép sẽ tỉ mỉ] như kén tơ dày đặc, chia chẻ từng điều mảy may. Tuy vậy, thiên hạ chẳng phải đều là bậc thượng. Dẫu đều là bậc thượng, nếu tự biết mà chẳng ghi, vẫn chẳng đánh mất tư cách quân tử; kẻ chẳng tự biết mà chẳng ghi thì nếu chẳng phải do tối tăm, ương bướng, chẳng sáng suốt, thì sẽ là vì cố chấp vậy! Xét theo đó, nhân gian có thể chẳng ghi chép ư?

Vì thế, nơi Nho là tứ đoan bách hạnh, nơi Thích là Lục Độ vạn hạnh, nơi Đạo là “ba ngàn công, tám trăm hạnh”, đều là nói về chuyện “tích thiện”. Bọn tự hành xử theo kiểu “bỏ mặc duyên, tâm niệm như tro tàn” thì chẳng bàn đến! Nếu như viện cớ “thiện, ác đều chẳng suy lường được”, thấy người siêng năng ghi chép [công, tội của chính mình], bèn ngạo mạn quở trách rằng: “Sao lại nhọc nhằn lo nghĩ về điều ác để làm gì?” sẽ phạm lỗi chẳng nhỏ! Chao ôi! Người đời siêng gắng trong vòng ngũ dục, nhọc nhằn tinh thần suy tính suốt cả đời chẳng ngại phiền, nhưng lại riêng thấy phiền phức trong khoảnh khắc trước khi ngủ, chẳng uốn nắn tâm tánh, cũng mê hoặc lắm thay! Siêng năng ghi chép, ba lượt phản tỉnh, đêm ắt trình cáo với trời, cho đến dùng đậu đen, đậu trắng [để ghi lại lầm lỗi hay điều thiện], bậc hiền trí thực hiện chẳng bỏ, viết lại thì há có lỗi gì vậy?

 

* Lời tựa khắc in sách Tục Pháp Hỷ Chí của cư sĩ Băng Liên

 

          Phàm phu coi dục là vui, dục nhiều bèn sanh chán. V́ sao? Vui sướng trong cơi đời vô thường, khó thể liên tục. Người trí lấy pháp làm vui, pháp càng rộng, vui càng sâu, v́ sao? Niềm vui chân thường, do có cơ sở là tánh phận liên tục, chẳng có cùng tận! Cư sĩ Băng Liên thoạt đầu đưa bốn quyển Pháp Hỷ cho tôi xem, tôi cho khắc in lại. Sau đó, ông lại có bốn quyển nối tiếp, xin tôi để lời răn, tôi tùy hỷ chẳng mệt mỏi mà viết rằng: “Chí ấy há chỉ nối tiếp bốn quyển trong hiện thời mà thôi. Trăm ngàn đời sau, trong thuở ấy sẽ chẳng thể thiếu người nghe pháp, tâm vui sướng, tích tụ thành trăm ngàn quyển, sao có thể tính số lượng được?” Như cư sĩ gởi thân trong cơi Dục, thần thức vui sướng nơi hang pháp, chẳng v́ một thân vui sướng, hay vui sướng một thuở, mà v́ thiên hạ đời sau cùng vui sướng. Dụng tâm ấy cũng trọn khắp vậy! V́ thế, pháp vô tận, hỷ vô tận, tiếp nối vô tận, công đức của cư sĩ cũng vô tận.

 

* Lời tựa cho Vô Huyễn Thiền Sư Ngữ Lục

 

          Cố nhiên tôi chẳng phải là kẻ biết Thiền, nhưng đối với các thứ như thăng đường, nhập thất, dạy chúng, tiểu tham, cho đến niêm đề, tán tụng, đủ loại trước thuật, phân loại biên tập thành sách, tôi chưa từng chẳng trang nghiêm đọc tụng, vui thích nghiền ngẫm. C̣n như ư chỉ uyên áo, cơ duyên tinh vi, thông huyền nhập yếu, chủ khách đổi vai tṛ cho nhau, người và cảnh đoạt lẫn nhau, sáng tối xen nhau, giết, sống tự tại, vượt ngoài nẻo nghĩa, siêu việt t́nh kiến suy lường, tôi là kẻ trí hèn tệ chẳng thể suy lường, hiểu biết được, chẳng dám hư vọng nói leo. Do thiền sư Vô Huyễn Cổ Trạm tạ thế, môn nhân sao lục lời thầy tạo thành sách, sắp đem khắc in để lưu truyền, xin tôi viết lời tựa. Tôi chưa biết mặt thiền sư, nhưng may mắn được thấy di ngôn của thiền sư cũng giống như đă gặp mặt. Chắp tay dâng hương, viết lời này để đặt ở đầu sách.

 

* Lời tựa cho hai bộ sách Nhàn Đàm và Văn Thoại của thiền sư Huyễn Hữu

 

          Xưa kia, tôi tham yết ḥa thượng Tiếu Nham ở kinh đô, huynh Huyễn Hữu hầu bên cạnh thầy. Hiềm rằng tôi do bệnh phải đi ké thuyền chở lương về Nam, nhưng huynh Huyễn Hữu hầu ḥa thượng lâu nhất, đă trải trọn khắp các phương, về dưỡng lăo tại Long Tŕ. Xét tôi suy yếu, già nua, nằm bệnh trong hang sâu, tự thoi thóp dưỡng thân c̣n chẳng xong, huynh Huyễn Hữu mới cảm khái, lấy chuyện “dựng pháp tràng, lập tông chỉ” làm trách nhiệm của chính ḿnh, bươn bả ngàn dặm, để lại cho tôi hai bộ sách Nhàn Đàm và Văn Thoại, căn dặn viết lời tựa. Người xưa nói “dẹp trừ lời lẽ tạp loạn”, nhưng hai bộ sách này ra rả những lời thiết yếu, há những lời lẽ thừa thăi được như thế ư? Đấy chẳng phải là do ḷng từ bi mà có lời đàm luận chẳng theo khuôn khổ như thế ư? Ngài Đức Sơn lại nói: “Tối nay chẳng trả lời, kẻ thưa hỏi bị phang ba mươi gậy”. Đấy là suốt đêm phẩy phất trần vùn vụt, đối đáp quên mệt, chẳng khác biệt Đức Sơn cho mấy? Tức là nói lời đáp của Đức Sơn như sấm, mà Huyễn Hữu chẳng nói một chữ cũng được. Thầy Tiếu Nham đă đi rồi, môn đ́nh có người, tôi do may mắn ǵ mà được thấy sự hưng thịnh ấy!

 

* Lời tựa cho Trực Đạo Lục

 

Luận Ngữ nói: “Tư dân dă, tam đại chi sở dĩ trực đạo nhi hành dă” (Dân chúng trong thời tam đại (Hạ, Thương, Châu) được như thế là do họ hành theo đạo công chánh, thẳng thắn). Lại nói: “Nhân chi sanh dă trực” (Con người phải nên sống chánh trực). Lại nói: “Cổ chi ngu dă trực” (thời cổ, kẻ ngu cũng chánh trực). Lẽ sống vốn thẳng thắn, tức là bất luận kẻ hiểu biết hay ngu muội, đều được soi rạng bởi điều ấy. Đó là cái tâm của người dân thời Tam Đại, là đạo chánh trực, mà cũng là cái tâm của dân thời Vô Hoài và Cát Thiên Thị thời thái cổ, là trực đạo, đó cũng là cái tâm của người dân từ trời Quang Âm [giáng xuống nhân gian] kể từ thuở kiếp sơ cho đến nay. Dẫu muốn cong vẹo, cũng chẳng thể được! Đối với những chuyện thượng, hạ, xưa, nay, những điều được ghi chép trong sử, truyện, hoặc mắt thấy, tai nghe, từ trong trăm ngàn điều, tôi trích lục một, hai điều. Hoặc là đối với những điều cùng được mọi người ca ngợi, tán thưởng mà chẳng biết là sai, tôi bèn hạ thấp. Hoặc là những điều cùng bị thiên hạ đả kích, chê gièm, mà chẳng biết là đúng, tôi sẽ đề cao. Đối với điều được đề cao, chẳng dám nịnh bợ; c̣n đối với điều được chèn ép, chẳng dám t́m lỗi từ chỗ không có lỗi để bắt bẻ. Tâm của người dân là trực đạo (đạo chánh trực, thẳng thắn), đại để là từ ngàn xưa đă như thế đó. Nếu coi [những điều được nêu bày trong tập sách này] là đúng, chỉ có bậc hữu đạo ấn chứng. Nếu chẳng đúng, mong sẽ có người chỉ bảo cho tôi!

 

* Lời tựa cho Trúc Song Tam Bút

 

          Cổ nhân có Dung Trai Tùy Bút[114], tôi phỏng theo, bên song cửa sổ bằng tre, những lúc có cảm nghĩ, bèn ghi lại; có lúc có những điều trông thấy, bèn ghi lại. Từ lần đầu tới lần thứ hai, đã thành hai quyển. Nay đang độ tám mươi, khá biết bảy mươi chín năm trước sai trái, tự nhận biết cái tâm chưa lặng yên. Hiềm rằng đã gieo mình vào Lạc Sanh Đường từ lâu, chẳng thể siêng năng nối gót cụ Triệu Châu. Do vậy, một chõng đi khắp ngàn non, trong khoảnh khắc thần thức dạo trăm đời. Những gì cảm nghĩ, trông thấy [được ghi lại] qua năm tháng tích lũy, bỗng dưng lại thành một quyển. Tuy là nói Đông, nói Tây, khách hỏi, chủ đáp, đủ loại khác nhau, chủ yếu quy vào chỉnh đốn hạnh môn, bình trị tâm địa mà thôi! Những chuyện khác như chuyện trong Thế Đế, chẳng liên quan tới pháp hóa, vô ích cho sự tấn tu, thì chẳng rảnh nhắc tới! Ôi! Tôi già rồi! Sao không giữ im lặng như cái túi thắt miệng, bình đậy nắp, mà cứ quang quác dường ấy? Ôi! Tôi già rồi, mặt trời xế, trăng tà, còn được mấy chốc? Chẳng nói lúc này, còn đợi khi nào nữa? Nếu có lợi cho dân, cho vật, bận tâm chi những điều khác? Do vậy, lại nâng bút.

 

* Lời tựa cho Ngạn Mô Khúc Điển

 

          Lời nói thuộc Thế Đế hễ phù hợp Thật Tướng, dẫu là lời lẽ của kẻ cắt cỏ hay tiều phu, đều được thánh nhân chọn lấy. V́ thế, vua Vũ lạy khi nghe lời nói tốt lành, vua Thuấn suy xét những lời dẫu thiển cận, thông tục. Lạy v́ được nghe lời nói tốt lành th́ dễ, chứ suy xét những lời thiển cận, thông tục sẽ khó hơn! Những điều bị người khác coi thường, vua Thuấn đều xem xét. Do vậy, vua được gọi là bậc hiểu biết rộng lớn. Bầy tôi mưu trí sau khi t́m được trâu bèn gặp chủ nhân, nạp tăng do đăy cơm mà hiểu cái tâm. Chẳng bắt buộc phải là kinh điển của thánh nhân, truyện kư của hiền nhân, chữ gấm sách ngọc [mới là đáng quư. Dẫu là những lời thô lẽ cạn], cốt sao lợi ích người khác mà thôi! C̣n như diễn xướng tuồng tích, dư âm của cổ thi, cổ nhạc phủ[115] thịnh hành vào đời Nguyên, lưu thông cho đến ngày nay, văn nhân trí huệ cũng như kẻ tầm thường hoặc đứa trẻ đều cùng ngâm ngợi, ngầm xúc cảm. Hiềm rằng những từ ngữ dâm đăng, bỉ ổi xen tạp vào đó, người ta chỉ dùng đó để nâng bầu chuốc chén, cùng nhau cười đùa, chẳng biết suy xét ngược lại để đạt tới sự ḥa hợp, bị vây hăm mà gảy đàn, ngày khóc lóc sẽ chẳng ca[116]. Ca hát cố nhiên là chuyện thường nhật chẳng phế bỏ của Tuyên Ni (Khổng Tử). Tôi bèn trích lấy những thứ giúp ích cho phong hóa, chia đại lược thành ba khoa: Một là trung hiếu tiết nghĩa, hai là cảm khái bi ca, ba là cảnh tỉnh, cảnh ngộ giải thoát, ngơ hầu gián tiếp tác động, cũng là “dùng âm thanh làm Phật sự” trong thế giới Sa Bà, là một trong các đầu mối nhằm “trước hết dùng dục để lôi kéo, sau là khiến cho nhập Phật trí”. Ôi! Kẻ ôm bệnh trầm kha suốt bảy năm, chờ ngưu hoàng nơi họng ḅ, cắt gan nơi bụng trăn, nhặt vân mẫu (mica) nơi hang thẳm Quảng Liên, đào không thanh[117] nơi mỏ đồng Việt Tuy, để đạt được [những thứ ấy] sẽ khó khăn khôn cùng, nhưng chữa bệnh thấy ngay rành rành trước mắt. Đối với người được gọi là “chữa bệnh giỏi” thời cổ, khắp cơi đất đều là thuốc tốt lành. Lời giáo huấn quư báu hằng ngày được thuật nơi chợ ồn ào, kim cáo (金誥, cáo thị của triều đ́nh) lúc nào cũng được truyền bá tại lê viên (rạp tuồng), ǵ là thô thiển? Ǵ là thanh nhă? Do vậy, tôi coi những lời lẽ đó như kinh điển.

 

14.1. Các lời bạt (được khắc in rải rác đều thâu thập thêm vào di cảo)

 

* Lời bạt cho Phật Thuyết Vô Lượng Thọ Kinh

 

Bản Đại Di Đà Kinh được lưu truyền trong cõi đời do cư sĩ Vương Long Thư (Vương Nhật Hưu) dung hội kinh văn từ bốn bản dịch mà tạo thành. Bốn bản dịch là:

          1) Bản dịch của ngài Ca Lâu Chi Sấm đời Hán, tên là Vô Lượng Bình Đẳng Thanh Tịnh Giác Kinh.

          2) Bản dịch của ngài Khang Tăng Khải đời Tào Ngụy, tên là Vô Lượng Thọ Kinh.

3) Bản dịch của ngài Chi Khiêm đời Ngô tên là A Di Đà Kinh.

4) Bản dịch của ngài Pháp Hiền đời Tống tên là Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh.

Còn bản dịch kèm thêm của ngài Bồ Đề Lưu Chí trong kinh Bảo Tích có tựa đề là Vô Lượng Thọ Như Lai Hội thì cư sĩ chưa dùng đến. Cư sĩ hội tập bốn bản dịch, lời lẽ đơn giản, nghĩa chu đáo, từ ngữ thông thuận, lý hiển lộ, quả thật rất hữu công đối với Tịnh Độ. Tiếc là trong ấy có những chỗ chưa ổn. Chẳng hạn như bốn mươi tám nguyện, chẳng thể không một phen chỉnh đốn. Bởi lẽ, bản dịch đời Hán chỉ nêu ra hai mươi bốn nguyện. Bốn mươi tám nguyện khởi đầu từ bản dịch đời Ngụy, hai vị Pháp Hiền và [Bồ Đề] Lưu Chí cũng dịch giống như thế. Bản dịch đời Ngô giống như bản đời Hán, cũng là hai mươi bốn nguyện. Nhưng bốn mươi tám nguyện xưa nay được lưu thông, đương nhiên là nên noi theo bản dịch đời Ngụy. Hiềm rằng cư sĩ trần thuật lời nguyện, đem so với bản dịch đời Ngụy, [thì cư sĩ] hoặc đem nguyện trước xếp ra nguyện sau, hoặc đem nguyện sau xếp ra trước, thứ tự rối ren. Nếu đem so với ba bản dịch kia, cũng đều chẳng ứng hợp! Phàm dịch kinh, ắt phải dựa theo bản tiếng Phạn, cư sĩ dựa vào bản tiếng Phạn nào mà đổi thứ tự khác đi? Theo Lý thì tuy dường như chẳng trở ngại gì, nhưng đối với pháp tắc dịch thuật, hết sức chẳng phù hợp. [Do vậy, tôi] dùng bản dịch đời Ngụy sao lại để đem khắc in, ngõ hầu người đời sau biết có cổ văn tồn tại. Hơn nữa, trong bản dịch đời Ngụy, đối với ba bậc vãng sanh đều nói là “phát Bồ Đề tâm”, cư sĩ lại chỉ ghi trong bậc trung là có [phát Bồ Đề tâm], bậc hạ bảo “chẳng phát”, bậc thượng lại chẳng có lời văn [nhắc đến chuyện ấy], hoàn toàn thiếu sót, sai khác, chẳng rõ do ý gì? Cư sĩ thần thức ngao du cơi báu, thân đã nhập dòng thánh, ắt là tâm đã quên, lòng rỗng rang chẳng ngại, kẻ hèn này do lòng trung khẩn thiết, mong hãy xét cho!

 

* Lời bạt cho bản kinh Pháp Hoa do Đổng Huyền Tể chép

 

          Đổng Thái Sử[118] v́ cha mẹ mà chính tay chép Diệu Pháp Liên Hoa Kinh bảy quyển, đưa cho tôi xem. Tôi nhớ sách khuyến thiện nói: “Có người vào cơi âm, thấy các vua và hàng quan lại nơi minh phủ coi trọng nhất là hai kinh Kim Cang Bát Nhă và Diệu Pháp Liên Hoa”. Phàm giáo pháp suốt một đời của Như Lai, cho tới thời Bát Nhă quét sạch các tướng, sau đấy mới quy hội vào Thật Tướng của Nhất Thừa Pháp Hoa. V́ thế, Pháp Hoa là chỗ chung cục hoàn thành của thánh đạo. Thái Sử trước đó đă chép Kim Cang Bát Nhă, nay lại chép kinh này, dựa vào sức công đức to lớn ấy, để truy tiến người đă khuất trước, há chỉ chẳng trầm trệ nơi đường âm, mà c̣n ắt sẽ vượt lên cơi tịnh. Huống hồ vận dụng tinh hoa nơi ng̣i bút thần diệu, hiển lộ Phật trí rất sâu, căn bản là ḷng hiếu thảo đau xót suốt đời đối với ân lồng lộng; đó là ba điều tuyệt diệu, là của báu bí mật xưa nay!

 

* Lời bạt cho bức thêu kinh Pháp Hoa (ông Hiếu Liêm họ Bao xin ghi lời bạt)

 

          Người xưa nói “kim cang nhăn chuẩn mực, lăo luyện nơi ng̣i bút”, nào ngờ ngày nay chánh pháp nhăn tàng Nhất Thừa Thật Tướng lại ở trên mũi kim chốn khuê pḥng. Cư sĩ dùng chuyện này để trang hoàng đại đạo của bậc thánh nhân, ḷng hiếu cũng to lớn thay! Dùng cỏ cây để vẽ tượng, kinh c̣n bảo đó là cái nhân cội rễ để thành Phật, huống hồ thêu thùa thành kinh văn, há chẳng phải là pháp cúng dường chân thật ư? Cư sĩ hăy coi đó là của báu nhé!

 

* Lời bạt cho Phật Di Giáo Kinh Luận Sớ Tiết Yếu

 

          Đức Phật nói: “Ngô ngôn như mật, trung biên giai điềm” (lời ta nói như mật, ở chính giữa hay ngoài ŕa đều ngọt). Lại nói: “Trị thế ngữ ngôn, giai tức Thật Tướng” (lời lẽ b́nh trị cơi đời đều chính là Thật Tướng). Do vậy, Tam Tổ (Tăng Xán) nói “đạo tột cùng chẳng khó khăn, chỉ hiềm chúng sanh dấy phân biệt, chấp trước mà lấy hay bỏ”. Người hiện thời chuộng huyền diệu, đối với giáo pháp trong Đại Tạng, hễ kinh nào đàm luận sâu về Lư, sẽ tranh nhau truyền tụng, c̣n đối với chỗ b́nh dị, gần gũi, hoặc là coi thường, khác nào chọn lựa mật ở chính giữa hay ngoài ŕa, chẳng phải là thấy Thật Tướng chẳng trọn khắp ư? Than ôi! Lời căn dặn tối hậu dường như c̣n vẳng bên tai, khắc cốt tạc dạ ḥng cùng báo ân. Do vậy, bèn khắc in Di Giáo.

 

* Lời bạt cho bản kinh Địa Tạng dịch vào đời Đường (tỳ-kheo Tánh An xin ghi lời bạt)

 

          Kinh Địa Tạng do ngài Thật Xoa Nan Đà[119] dịch vào đời Đường, c̣n bản hiện thời th́ người dịch là ngài Pháp Đăng và Pháp Cự, nhưng chẳng ghi thời đại, chẳng ghi quê quán [của dịch giả], chẳng thể khảo sát trong Đại Tạng được. Tuy sai khác chi tiết, nhưng đại thể tương đồng, đối với lư cố nhiên chẳng tổn thương ǵ, mà được khảo sát, lưu truyền, tin tưởng, ắt có căn cứ. Tỳ-kheo Tánh An vâng theo chí của người trước bèn khắc in bản dịch đời Đường để thay thế, tường tận, đầy đủ như [đă ghi trong] lời tựa của quan trủng tể họ Lục vậy. Chắc có người nói kinh này ra rả nêu nhân quả của chúng sanh và danh tướng địa ngục, chẳng có huyền luận, chẳng đáng làm tai mắt mới mẻ cho cơi đời, việc ǵ phải tốn công giảo định? Ôi! Vải thô, lúa, bắp, lúc b́nh thời chẳng bằng minh châu, nhưng năm mất mùa sẽ thành chí bảo. Cứu năm đói kém trong thời Mạt Pháp, có thể thiếu kinh này được ư? Nếu như chúng sanh đắc độ hết th́ mới chứng Bồ Đề; địa ngục chưa trống thề chẳng thành Phật. Người căn cơ bậc thượng thăm ḍ lẽ huyền, hăy thử suốt đời nếm trải thử xem.

 

* Lời bạt khắc chung phẩm Hạnh Nguyện và kinh Di Đà

 

          Khắc gộp chung hai kinh là v́ lẽ nào? Ấy là v́ phẩm Hạnh Nguyện có thể đại diện cho toàn bộ đại kinh Hoa Nghiêm, trong ấy nói: “Nguyện mạng chung thời, ư An Lạc quốc, liên hoa hóa sanh, diện kiến Di Đà, thọ kư tác Phật” (Nguyện lúc mạng chấm dứt, sẽ hóa sanh trong hoa sen nơi cơi An Lạc, tận mặt thấy Phật Di Đà, được thọ kư làm Phật). V́ thế, đặc biệt kết hợp thành một quyển; nguyện khắp pháp giới chúng sanh tin nhận, phụng hành, sanh trong ao sen báu thuộc duy tâm Hoa Tạng, thấy vô lượng thọ nơi bổn tánh Xá Na, tu Tu Đa La viên măn tứ tự (Tín, Giải, Hành, Chứng), thập huyền, chứng Vô Thượng Đẳng Chánh Giác nơi chín phẩm Nhất Thừa.

 

* Lời bạt giảo chánh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật Đa

 

Bản hiện thời của kinh Kim Cang Bát Nhă có ba mươi hai phần, chứ bản trong Đại Tạng chẳng có [phân khoa thành ba mươi hai phần như vậy]. Những người khắc in trong thời gần đây phần nhiều bỏ cách chia thành từng phần. Chắc có người nói: “Ba mươi hai phần đă quen tuân theo lâu ngày, ngài Trung Phong giải thích đại lược cho Triệu Tùng Tuyết, cũng vẫn theo cách chia đoạn ấy”. Có người bảo: “Hai vị Bồ Tát Thiên Thân và Vô Trước có thuyết mười tám trụ, hai mươi bảy nghi, đại để chọn theo ư của hai vị ấy để sử dụng”. Ngu ư cho rằng người giảng giải hăy nên tuân theo ư của hai vị Bồ Tát đă định, c̣n như thọ tŕ, đọc tụng, th́ do đă bỏ cách chia phần, sao bằng trụ và nghi cũng đều gác lại chẳng dùng, chỉ giữ nguyên chánh văn là được! Lại c̣n trong các kinh bổn, câu, chữ cũng có so le, chẳng phải là vạch cùng một lối, người học chê trách. Các vị Tưởng Mậu Chiết và Tưởng Mậu Hiến in lại kinh này nhằm báo ân vơng cực, nhiều lượt xin tôi giảo chánh, do đó bèn ghi vào cuối sách.

 

* Lời bạt cho kinh Phạm Vơng (cư sĩ Tiền Ngưỡng Sơn xin ghi lời bạt)

 

          Cổ nhân nói toàn thể kinh Phạm Vơng có một trăm mười hai quyển, gồm sáu mươi mốt phẩm. Nay chỉ c̣n một phẩm Tâm Địa chia thành thượng và hạ, phần hạ trần thuật cặn kẽ giới tướng. Trước là mười giới trọng, kế đến là bốn mươi tám giới khinh, gọi là Bồ Tát giới. Do giới ấy chung cho tăng lẫn tục, vua tôi, phàm thánh chúng sanh đều cùng bẩm thọ. Nay Khai Nguyên trùng tu giới đàn xưa, đổi mới rạng ngời, sắp khắc kinh này đặt trước giới đàn, ḥng làm khuôn mẫu vĩnh viễn cho hậu học. Các vị như Ngưỡng Sơn cư sĩ Tiền Quảng Chiếu v.v… đến xin tôi viết mấy lời. Tôi cho rằng quan Bí Các[120] Trương Tư đă từng trần thuật tường tận ở đầu kinh, từ ngữ khéo léo, mà ư hết sức thiết tha. Tôi c̣n ǵ để nói nữa. Hăy nên khắc lại bài văn ấy, c̣n lời của tôi th́ để ghi năm tháng ở cuối sách.

 

* Đề từ cho Long Thư Tịnh Độ Văn

 

          Con trưởng của cư sĩ Nghiêm Thiên Tŕ ở Hải Ngu là Phác, từ bé đă sẵn có bẩm tánh cẩn trọng, sốt sắng, giữ vẹn luân thường, chuộng điều lành, kiêng giết, phóng sanh, tu các thứ hạnh tốt đẹp, mất vào lúc hai mươi lăm tuổi. Trước hôm Phác mất một ngày, cư sĩ nói: “Con trong lúc này đừng suy nghĩ xen tạp, chỉ nhất tâm niệm Phật”. Phác đáp lời: “Vâng ạ!” Ông lại bảo: “Con nhớ chuyện ba người sanh về Đâu Suất hay không? Nếu sanh về An Dưỡng, xin hăy báo cho ta biết”. Phác thưa vâng. Ông lại nói: “Từ nay ta cũng nhất tâm niệm Phật”. Phác hoan hỷ nói: “Đúng như thế th́ nay con chẳng lo lắng nữa!”, vẻ mặt đoan nghiêm, chắp tay qua đời. Ông xem lại rương di vật của con, t́m được một bản khắc Long Thư Tịnh Độ, bèn đem in để thí tặng, ḥng giúp cho con văng sanh. Châu Hoằng nói: “Phác đă qua đời, có hai nỗi nghi: Đáng phải thọ mà chẳng thọ, đó là điều thứ nhất. Đáng nên báo mà chẳng báo tin, đó là điều thứ hai. Thọ hay yểu thuộc về duyên trước. Người có ḷng nhân sẽ thọ. Không ai có ḷng nhân như Nhan Hồi, nhưng Nhan Hồi lại chết yểu. Lại c̣n đối với chuyện văng sanh, chẳng báo tin, há có hại ǵ? Cứ khăng khăng đ̣i báo chính là phương cách ứng xử của quỷ thần vậy. Chỉ tin vào lời Long Thư, c̣n nghi chi nữa?”

 

* Lời bạt cho bộ Vân Thê Lan Nhă Chí của cư sĩ Chân Thật

 

          Đại Tư Thành[121] Phùng công soạn tự chí cho Vân Thê, chưa hoàn tất, con trưởng là Quyền Kỳ viết sau sách: “Đây là bản thảo của tiên quân, muốn hoàn tất nhưng chưa xong, những điều đáng nói chưa nói, may được các vị đại đức trong nước châm chước mà c̣n”. Ngu tôi cho rằng dẫu chưa xong cố nhiên chẳng có hại ǵ, ví như kinh Hoa Nghiêm chỉ có tám mươi quyển, văn chưa đủ mà ư đă trọn. Nhưng hai câu “ngờ rằng Sư có lẽ chẳng tiếp nối Tông từ phương Tây đến, chỉ hoằng dương giáo pháp về Tây”, ông đă cất bút nêu ra, nhưng chẳng nói rộng thêm, sống động lắm! Nay chẳng cần phải nối đuôi, chỉ thỉnh các phương và nơi này buông một câu chuyển ngữ.

 

* Viết sau bộ Tịnh Độ Hội Ngữ (Tô Quận đem hai lá thư trả lời ông Tào Lỗ Xuyên gộp chung lại để in, gọi là Tịnh Độ Hội Ngữ)

 

          Lỗ Xuyên sùng thượng kinh Hoa Nghiêm, tâm rất nhiệt thành, tôi vốn chẳng muốn biện luận, nhưng do đề cao Hoa Nghiêm mà chèn ép Tịnh Độ, đă chèn ép lại chèn ép hơn, chèn ép ngặt nghèo chẳng ít, chẳng thể không biện định! Lô Xá Na, Thích Ca, Di Đà, đồng mà khác, khác mà đồng. Lỗ Xuyên đă biết đối với đồng và dị chẳng thể thiên chấp, nhưng lại khăng khăng chấp là khác, lại c̣n coi thường, rẻ rúng. Tự gánh vác Hoa Nghiêm, chẳng nên như thế; đó là một điều đáng nghi.

Phổ Hiền là trưởng tử trong hội Hoa Nghiêm. Phẩm Hạnh Nguyện có mười đại nguyện vương hướng dẫn về Cực Lạc, mà [Lỗ Xuyên] lại nói Hoa Nghiêm chưa từng nhắc đến Tây Phương, có được hay chăng? Tự gánh vác Hoa Nghiêm, chẳng nên như thế; đó là hai điều đáng nghi.

Nhập Hoa Nghiêm pháp giới giải thoát chẳng thể nghĩ bàn, ắt đối với cô Bà Tu Mật Đa và vua Vô Yếm Túc thảy đều tham yết, thỉnh pháp, thế mà chẳng thân cận Di Đà vạn đức. Âm thanh của đồng tử Chúng Nghệ không ǵ chẳng diễn xướng, mà lại xấu hổ v́ xưng niệm bốn chữ danh hiệu cao đẹp. Tự gánh vác Hoa Nghiêm, chẳng nên như thế; đó là ba điều đáng nghi.

Nghi ǵ vậy? Nghi Lỗ Xuyên thông Hoa Nghiêm, nhưng dường như chẳng thông suốt cho lắm, cho nên chẳng thể không biện định! Huống hồ Phật do ḷng đại từ, nghĩ thương xót thời Mạt, nói pháp môn Tịnh Độ này. Lỗ Xuyên tận lực bài bác, chỉ sợ ông ta chẳng ngộ nhập Hoa Nghiêm, mà cũng chẳng được sanh về Tịnh Độ. Hai đằng đều mất, khiến cho người khác bị lầm lạc chẳng nhỏ, cũng chẳng thể không biện định.

 

* Lời bạt cho Tịnh Độ Nghi Biện

 

          Cư sĩ Vi Hưu giảng đạo học tại Tĩnh Giang, có phong thái của Vũ Thành Huyền Ca[122]. Ông đă cáo quan, dùi mài tinh ṛng nơi Hoa Nghiêm, cho khắc phạn bổn thành phương sách để đọc và học, lại c̣n tán dương rộng răi Tịnh Độ, khắc in sách Tịnh Độ Nghi Biện do tôi soạn ḥng lưu thông rộng răi. Cụ đă dốc chí nơi mười huyền môn, thần thức gởi nơi tịnh vực, có thể nói là khế nhập sâu xa Phổ Hiền nguyện vương, khéo nhập biển tánh Tỳ Lô. Tiếc là cụ mất sớm, chẳng để Tào Lỗ Xuyên gặp gỡ.

 

* Viết sau Phóng Sanh Quyển

 

          Ba mươi lăm năm trước, tôi đã viết: “Sanh nhật chớ nên sát sanh”. Tuổi năm mươi, soạn kệ nói: “Sanh nhật chớ nên ăn mừng”. Nay đã mười phen nóng lạnh đắp đổi, tròn sáu mươi rồi. Các vị quân tử biết tôi, lại hết sức yêu mến tôi, chẳng xếp đặt lễ lạc mà dùng phóng sanh để mừng sanh nhật. Chắc có người nói: “Không sát sanh thì được rồi, sao chẳng mừng sanh nhật?” Ôi, mừng sanh nhật như thế tức là mừng vạn vật được sanh thành. Tôi chỉ sợ rằng người khác chẳng mừng vạn vật được sanh thành! Chắc có người nói: “Chim chưa duỗi cánh, người bắn đợi sẵn trong rừng. Cá chưa dương vây, kẻ đánh cá đã đầy bãi. Tuy nói là giúp cho nó sống, thật ra là hại cho nó chết! Kẻ ác còn đó, sao có thể phóng sanh?” Ôi! [Chim] bay liệng trên không, [cá] vào trong vực, được sống sót chẳng biết là bao nhiêu. Lại vướng vào lưỡi câu hay mũi tên, trăm phần chưa được một, mới rơi vào tay thợ săn, đợi đầu bếp nấu nướng, đoan chắc sẽ vào bụng của kẻ tham ăn. [Nay những con vật bị bắt] đành chịu nép mình nơi cửa chết, bỗng được giải cứu, tuy chưa bảo đảm kết cục [tốt lành] cho chúng, nhưng thoát khỏi dao, búa, trốn khỏi chảo, vạc, ví như sắp bị hành hình mà được xá tội, nỗi niềm vui sướng ấy là như thế nào?

Hơn nữa, ca múa nơi Tây Hồ, suốt năm chẳng có lúc nào ngơi. Giả sử các vị quân tử Xuân hoa, Thu nguyệt, sáng tiệc tùng, chiều tụ họp, hễ nâng đũa là vạn đồng, nếm thức ăn là cả ngàn mạng, nay đổi thứ tanh tưởi thành rau dưa, chuyển giết thành sống, so sánh lẽ được mất, khác nào trời với đất? Chẳng nói đó là hành vi thù thắng, tôi chẳng tin! Do vậy, bèn ngâm vịnh, ghép vào sau Phóng Sanh Quyển. Có bài từ rằng:

          - Thượng đế hiếu sanh, dân hèn tổn hại sanh vật. Bỏ tiền phóng sanh. Tham tiền bắt sanh vật. Do hai niệm sanh, nên có chúng sanh. Sanh vô sở sanh, cũng chẳng năng sanh, vô sanh bất sanh, gọi là phóng sanh.

Vân Thê Pháp Vựng

Phần 5 hết

 



[1] Tăng-già-lê (Samghāti), c̣n gọi là Đại Y, Trùng Y, Tạp Toái Y, Cao Thắng Y, tối thiểu là chín điều, nhiều nhất là hai mươi lăm điều (Điều là từng miếng vải cắt rời, khâu chằm lại). Phổ biến nhất là loại Tăng-già-lê hai mươi lăm điều, cho nên hễ nói tới Tăng-già-lê th́ người ta thường chỉ nghĩ đến y hai mươi lăm điều. Tăng sĩ thường đắp y Tăng-già-lê khi vào thành khất thực, khi thuyết pháp, hoặc vâng chiếu vào cung vua, hoặc khi làm những pháp sự quan trọng.

[2] Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (602-675) là tổ thứ năm của Thiền Tông Trung Hoa. Sư là người ở xứ Hoàng Mai, huyện Tầm Dương (nay là huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây). Có thuyết nói Sư là người Kỳ Châu (nay là huyện Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc). Khi lên bảy tuổi, Sư theo xuất gia với Tứ Tổ Đạo Tín tại chùa Đông Sơn núi Hoàng Mai Song Phong thuộc Kỳ Châu, nghiên cứu tột cùng ư chỉ Đốn và Tiệm, được truyền tâm ấn. Khi ngài Đạo Tín nhập diệt vào năm Vĩnh Huy thứ hai (651) đời Đường, Sư bèn kế thừa y bát, được cơi đời xưng tụng là Hoàng Mai Ngũ Tổ. Năm Hàm Thuần thứ hai (671), Tổ truyền y bát cho ngài Huệ Năng. Theo thiền phổ, từ Sơ Tổ cho đến Ngũ Tổ, kinh điển căn bản để truyền thừa Tâm Tông là kinh Lăng Già, từ Lục Tổ Huệ Năng trở đi, do Lục Tổ đắc ngộ bởi kinh Kim Cang, và được Ngũ Tổ truyền tâm ấn bởi kinh Kim Cang, mới dùng kinh Kim Cang làm kinh điển căn bản để ấn chứng của Thiền Tông. Sau khi Ngũ Tổ mất, Đường Đại Tông truy tặng thụy hiệu cho Ngũ Tổ là Đại Măn Thiền Sư. Hiện thời c̣n lưu truyền cuốn Tối Thượng Thừa Luận được coi là trước tác của Ngũ Tổ, nhưng nhiều học giả nghi ngờ đây là tác phẩm của người khác mạo danh Tổ.

[3] Lục kinh: Sáu kinh chánh yếu của Nho giáo, tức Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu, Nhạc. “Chư tử” chỉ các triết gia thời Tiên Tần (thời kỳ trước khi Tần Thủy Hoàng gồm thâu lục quốc, thống nhất Trung Nguyên), tức Lăo Tử, Khổng Tử, Trang Tử, Mặc Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử, Quản Tử, Cáo Tử v.v…

[4] Bát bộ quỷ thần, c̣n gọi là Thiên Long Bát Bộ, Long Thần Bát Bộ, hoặc chỉ gọi gọn là Bát Bộ, là từ ngữ chỉ chung các vị thần hộ pháp, gồm tám loại lớn: Thiên (Deva), Long (Nāga: rồng), Dạ Xoa (Yaksa), Càn Thát Bà (Gandharva: Hương thần hoặc Nhạc Thần), A Tu La (Asura), Khẩn Na La (Kimnara: Ca Thần), Ca Lâu La (Garuda: Kim Xí Điểu), và Ma Hầu La Già (Mahoraga: Đại Măng Thần). “Bát bộ quỷ thần” c̣n được hiểu theo một nghĩa ít phổ biến hơn là tám bộ chúng quỷ thần thuộc quyền cai quản của Tứ Thiên Vương tức Càn Thát Bà, Tỳ Xá Xà, Cưu Bàn Trà, Bệ Lệ Đa, Long (rồng), Phú Đan Na, Dạ Xoa, và La Sát.

[5] Lại (): Tiếng chỉ chung các quan chức thừa hành công việc, ta thường gộp chung là Quan Lại.

[6] Nguyên văn là “Dịch” (), c̣n gọi là Vi Kỳ (圍棋; do vậy ta thường gọi là “cờ vây”), Kỳ (), hoặc Thủ Đàm (手谈), là một h́nh thức cờ phổ biến nhất ở Trung Hoa. Hễ nói đến “cầm kỳ thi họa” th́ chữ Kỳ chỉ cho Vi Kỳ. Theo truyền thuyết, do con vua Nghiêu là Đan Châu quá tối tăm, vua Nghiêu bèn sáng chế ra cờ vây để tập luyện cho con trí phán đoán. Cờ vây phức tạp hơn Cờ Tướng (Tượng Kỳ) rất nhiều, nó gồm 181 con cờ đen và 180 con cờ trắng. Con cờ làm h́nh tṛn có mặt phẳng, một mặt gồ lên. Bàn cờ được chia thành 19 vạch ngang và 19 vạch dọc, con cờ luôn phải đặt ở những chỗ các vạch giao nhau. Có những vị trí quy định không được đặt con cờ. Quy tắc chơi cờ Vây rất phức tạp. Loại cờ này được truyền sang Nhật với tên gọi là Go (hay Igo), c̣n người Đại Hàn gọi loại cờ này là Baduk.

[7] Ngài Đơn Hà Thiên Nhiên (739-824) là một thiền sư nổi tiếng đời Đường, đệ tử của ngài Thạch Đầu Hy Thiên. Sư vốn học Nho, sau gặp Thiền tăng, ngộ đạo, bèn xin xuất gia với Thạch Đầu. Ngài từng sang Giang Tây tham yết Mă Tổ Đạo Nhất, được đặt pháp hiệu là Thiên Nhiên. Sư cũng từng tham yết thiền sư Quốc Nhất ở Kính Sơn. Về sau, Sư xiển dương Tông phong lớn lao tại núi Đơn Hà thuộc huyện Nam Dương. Khi mất, Sư được triều đ́nh sắc phong thụy hiệu Trí Thông Thiền Sư, mộ tháp được đặt tên là Diệu Giác. Sư rất nổi tiếng với công án “Đơn Hà thiêu mộc Phật”. Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên quyển năm th́: “Về sau, Sư ở tại chùa Huệ Lâm, ngẫu nhiên gặp tiết trời cực kỳ rét buốt, bèn đem tượng Phật bằng gỗ ra đốt. Viện chủ quở trách: ‘Sao lại thiêu vị Phật gỗ của tôi?’ Sư bèn dùng gậy khêu tro bảo: ‘Tôi thiêu tượng để t́m xá-lợi” Viện chủ bảo: ‘Tượng gỗ làm sao có xá-lợi được?’ Sư nói: ‘Đă không có xá-lợi, th́ thiêu luôn cả hai bức”.

[8] Thạch Đầu Hy Thiên (700-790) là một vị cao tăng Thiền Tông đời Đường, c̣n được gọi là Vô Tế đại sư. Ngài là người huyện Cao Yếu, Đoan Châu (nay là huyện Cao Yếu, tỉnh Quảng Đông), tánh cực thông minh, mẫn tiệp. Do thấy dân làng thường giết trâu, nấu rượu để tế thần, gây nên nhiều tệ đoan, Sư liền phá hủy đền thần, cướp trâu tế, bỏ đi. Ngài từng lễ các vị Lục Tổ Huệ Năng Thanh Nguyên Hành Tư làm thầy, được ngài Thanh Nguyên Hành Tư ấn khả. Trong niên hiệu Thiên Bảo (742-755), Sư kết thảo am tọa thiền trên gộp đá phía Đông của Hành Sơn Nam Tự, xiển dương tông phong mạnh mẽ. Do vậy, cơi đời gọi là Thạch Đầu ḥa thượng. Khi ấy, người đời luận rằng: Ở Giang Tây, Mă Tổ là bậc nhất, c̣n ở Hồ Nam, ngài Thạch Đầu bậc nhất”. Sư c̣n để lại tác phẩm Tham Đồng Khế và Thảo Am Ca, cả hai đều được lưu truyền rộng răi trong Thiền môn Trung Hoa.

[9] Thập Vương tức Thập Điện Diêm Vương là tín ngưỡng theo Phật môn Trung Hoa (khởi đầu từ thời Ngũ Đại), cho rằng trong Âm Phủ có mười vị vua Diêm La cai quản phán xử tội nhân. Sau khi tội nhân chết đi, tuần thứ nhất bị định tội nơi Tần Quảng Vương, tuần thứ hai tại Sơ Giang Vương, tuần thứ ba đến chỗ Tống Đế Vương, tuần thứ tư đến chỗ Ngũ Quan Vương, tuần thứ năm đến chỗ Diêm La Vương, tuần thứ sáu đến chỗ Biến Thành Vương, tuần thứ bảy đến chỗ Thái Sơn Vương, một trăm ngày đến chỗ B́nh Đẳng Vương, tṛn một năm đến chỗ Đô Thị Vương, tṛn ba năm đến chỗ Ngũ Đạo Chuyển Luân Vương.

[10] Lư Thanh Am tên thật là Lư Đạo Thuần, tự Nguyên Tố, hiệu Thanh Am, biệt hiệu là Bảo Thiềm Tử, người xứ Đô Lương (tỉnh Hồ Nam), là một đạo sĩ sống vào thời Tống - Nguyên, tinh thông học thuyết Nội Đan. Thanh Am dung thông học thuyết nội đan của hai phái Nam, Bắc thời đó, chủ trương thuyết Trung Ḥa, trước tác rất nhiều sách chú giải về Nội Đan.

[11] Câu này vốn phát xuất từ thiên Dương Vương Tôn Truyện trong Hán Thư: “Dương Vương Tôn cập bệnh thả chung, tiên lệnh kỳ tử: - Ngô dục lơa táng, dĩ phản ngô chân, tất vong dịch ngô ư. Tử tắc vi bố nang thịnh thi, nhập địa thất xích” (Dương Vương Tôn bị bệnh sắp chết, bèn bảo trước với con: “Ta muốn được chôn trần truồng để trở về cái chân thật của ta, đừng sửa đổi ư ta. Hễ chết rồi chỉ dùng bao vải bọc xác, chôn dưới đất bảy thước”).

[12] Chỉ những kẻ tu tiên cầu trường sanh bất tử. Có những phái trong Đạo gia không dám nhổ nước miếng hay ho khạc, sợ hao tổn nguyên khí.

[13] Giáp Tích: Theo từ điển Bách Độ, tính từ đốt thứ nhất của xương sống ở dưới ót đến đốt thứ năm nơi lưng, từ mỗi chỗ đốt xương sống gồ lên, đo ra hai bên xuống phía dưới chừng 0,5 tấc Tàu là huyệt Giáp Tích (夾脊). Do vậy, có tất cả ba mươi bốn huyệt Giáp Tích như thế.

[14] Vĩ Lư là huyệt nằm ở khoảng giữa xương cùng và hậu môn, được Đạo gia coi là huyệt tiếp nối giữa hai mạch Nhâm và Đốc. Nê Hoàn là một huyệt được Đạo Giáo coi là tối trọng yếu. Họ chia đầu người thành chín cung, từ giữa hai mày tính vào ba tấc chính là Nê Hoàn Cung, hoặc Thiên Năo, Hoàng Đ́nh (thường đọc trại thành Huỳnh Đ́nh), Côn Luân, Thiên Cốc v.v… tới hơn chín mươi danh xưng khác nhau. Họ tin rằng có các vị tôn thần sống trong chín cung ấy. Kinh Huỳnh Đ́nh (Hoàng Đ́nh) của Đạo gia cho rằng trong Nê Hoàn Cung có một vị chân thần tên là Thượng Nguyên Chân Quân (tức Thái Ất Đế Quân) cư ngụ. Đạo gia tận dụng mọi cách diễn giải xuyên tạc kinh Phật để chứng minh pháp luyện đan.

[15] Cao Vương Quán Thế Âm Kinh c̣n có tên là Cao Vương Bạch Y Quán Âm Kinh, thường gọi tắt là Cao Vương Kinh. Tương truyền, trong niên hiệu Thiên B́nh (534-537) đời Đông Ngụy, ở Định Châu, Tôn Kính Đức quyên mộ tạo tượng Quán Âm, tự ḿnh lễ kính, sau bị giặc bắt dẫn đi, đánh đập khổ sở, ép họ Tôn phải nhận tội. Đêm hôm trước ngày bị đưa ra pháp trường chặt đầu, họ Tôn mộng thấy một vị sa-môn dạy tụng Cứu Sanh Quán Thế Âm Kinh một ngàn biến sẽ được thoát nạn. Sáng hôm, bị quan coi ngục trói lại dẫn ra chợ, Tôn Kính Đức vừa đi vừa tụng, đến khi bị lôi ra chém đă tụng đủ ngàn biến. Đao chém xuống liền mẻ, da thịt không bị thương tích ǵ. Ba lượt thay đao vẫn như vậy, thấy rành rành trên cổ c̣n ba vết đao. Quan giám trảm tâu lên. Thừa tướng Cao Hoan xin vua tha tội chết cho họ Tôn, sắc truyền biên chép kinh này lưu truyền rộng răi, do đó gọi là Cao Vương Quán Thế Âm Kinh. Có truyền thuyết lại nói có một vị quốc vương tên là Cao Hoan làm chúa quận Tương Châu. Do những truyền thuyết mâu thuẫn lẫn nhau, kinh văn của kinh này lộn xộn, gán ghép, lại nói là được truyền trong mộng, nên bị cổ đức coi là kinh ngụy tạo.

 

[16] Thất Thất: Lễ cầu siêu trong ṿng bốn mươi chín ngày, cứ mỗi bảy ngày lại làm trai, thỉnh Tăng cầu siêu, ta thường gọi là Cúng Thất. Tiểu Tường và Đại Tường là hai lễ trong tang sự theo cổ lễ. Theo thiên Gián Truyện sách Lễ Kư, sau khi người chết mất được một trăm ngày, bèn làm lễ Tốt Khốc (thôi khóc) cúng bái vong linh, con cháu chỉ được ăn cơm đạm bạc, gạo xấu, uống nước lạnh, tuyệt đối không được uống rượu. Khi người chết được một năm th́ làm giỗ đầu, gọi là Tiểu Tường. Khi người chết đă mất ba năm th́ làm lễ Xả Tang, gọi là Đại Tường. Trong lễ Đại Tường, con cháu sẽ làm cỗ cáo tế với tổ tiên, xin đem thần chủ (bài vị của người chết thờ chung trong miếu thờ của ḍng họ (tức từ đường, hoặc tông miếu), cũng như dẹp bỏ linh sàng và bàn thờ riêng của người chết để thờ chung với bàn thờ tổ tiên tại tư gia.

[17] Bát tà là tám điều tương phản với bát chánh đạo, gồm tà kiến, tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm và tà định.

[18] Bạch Hạ là một khu vực thuộc Nam Kinh.

[19] Tâm Địa Quán Kinh có tên gọi đầy đủ là Đại Thừa Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh, c̣n gọi tắt là Bổn Sanh Tâm Địa Quán Kinh, do ngài Bát Nhă dịch vào đời Đường. Trong kinh ấy, Thích Ca Mâu Ni Phật ở trong núi Kỳ Xà Quật v́ các vị Bồ Tát như Văn Thù Sư Lợi, Di Lặc v.v… giảng thuyết: Người xuất gia, trụ trong A Lan Nhă, hăy nên quán tâm địa, diệt vọng tưởng, tu các hạnh như thế nào để thành Phật đạo. Kinh có mười ba phẩm, được chia thành tám quyển. Theo lời tựa, kinh này được quốc vương nước Sư Tử dâng lên Đường Cao Tông trong niên hiệu Nguyên Ḥa. Kinh được các vị tăng nhân như Bát Nhă v.v… gồm tám người hợp sức dịch. Kinh dịch xong lại được bốn vị quan như Gián Nghị Đại Phu Mạnh Lan v.v… nhuận văn. C̣n kinh Báo Ân chính là kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân.

[20] Lục Tào (六曹) là cơ cấu hành chánh ở cấp địa phương, có chức trách giống như cơ cấu Lục Bộ trong triều đ́nh. Lục Tào được thiết lập từ đời Đường, trực thuộc các châu, gồm công tào, hộ tào, sĩ tào, binh tào, pháp tào và thương tào (quản lư kho tàng, kho thóc công để cứu đói v.v…) Viên quan đứng đầu mỗi tào được gọi là Tham Quân. Đối với cấp trung ương, thời Tùy, guồng máy chánh quyền trung ương bao gồm ngũ tỉnh là nội sứ tỉnh (tức trung thư tỉnh về sau), môn hạ tỉnh, thượng thư tỉnh, bí thư tỉnh, và nội thị tỉnh. Dưới Thượng Thư Tỉnh, đặt ra lục tào là lại bộ, độ chi, lễ bộ, binh bộ, đô quan, và công bộ. Sau đấy, đổi danh xưng lục tào thành lục bộ cho cấp trung ương, đổi độ chi thành hộ bộ, đổi đô quan thành h́nh bộ.

[21] Nguyên văn “luyện ma trường”, vốn là chữ để gọi các đạo tràng tu tập Thiền Quán.

[22] Vạn Tùng Hành Tú (1166-1246) là một vị cao Tăng thuộc tông Tào Động, sống vào thời Nam Tống. Sư là người Hà Nội (nay là huyện Thấm Dương, tỉnh Hà Nam), pháp tự là Báo Ân. Sư xuất gia từ nhỏ với ngài Uẩn Doăn chùa Tịnh Độ ở H́nh Châu (nay là H́nh Đài, tỉnh Hà Bắc). Sau khi thọ Cụ Túc Giới, Sư đến chùa Khánh Thọ, tham yết ngài Thắng Mặc, ngộ được đôi chút, rồi lại tới tham yết ngài Nham Măn chùa Đại Minh ở Từ Châu, chưa đầy một tháng đă triệt ngộ, bèn lưu lại hầu hạ suốt hai năm, hết sức khiêm tốn. Sau đấy, Sư quay về H́nh Châu, dựng Vạn Tùng Hiên để ở, ngầm dưỡng chí tu tập, được cơi đời gọi là Vạn Tùng Lăo Nhân, hoặc Báo Ân Lăo Nhân. Năm Minh Xương thứ tư (1193) đời Kim Chương Tông, Sư được vua ban ghế bọc gấm và đại tăng y, rồi xuống chiếu phong Sư làm Trụ Tŕ chùa Thê Ẩn ở Ngưỡng Sơn (tỉnh Sơn Tây). Sư lần lượt trụ tŕ các chùa nổi tiếng như Vạn Thọ ở Trung Đô, chùa Báo Ân ở Yên Kinh (Bắc Kinh). Được một thời gian ngắn, Sư xin về hưu để ẩn tu nơi Thung Dung Am. Nhận lời thỉnh của tể tướng Gia Luật Sở Tài, Sư viết lời tụng để b́nh luận một trăm đoạn công án của ngài Hoằng Trí Chánh Giác, soạn bộ Thung Dung Lục nhằm xiển dương, truyền thừa tông phong Tào Động. Sư lại viết Thỉnh Ích Lục. Hai bộ sách này măi cho tới hiện thời vẫn được Thiền môn Trung Hoa đánh giá cao, giảng diễn và nghiên cứu rất nhiều. Sư c̣n soạn các tác phẩm giá trị khác như Tổ Đăng Lục, Thích Thị Tân Văn, Minh Đạo Tập, Tứ Hội Ngữ Lục v.v…

[23] Núi bảy báu chính là núi Tu Di, c̣n biển nước thơm chính là các hương thủy hải bao quanh thế giới như đă được miêu tả trong phẩm thứ hai của kinh Hoa Nghiêm. Ư nói: Dù có vượt đến tận ngoài ŕa của đại thiên thế giới, cũng không tránh được kiếp nạn.

[24] Diệu Pháp Liên Hoa Kinh (Saddharma-pundarīka Sūtra), hiện c̣n giữ được ba bản dịch:

1. Bản dịch cổ nhất mang tựa đề Chánh Pháp Hoa Kinh gồm mười quyển, hai mươi bảy phẩm, được dịch vào năm Thái Khang thứ bảy (286) nhà Tây Tấn, dưới sự chủ tŕ của ngài Trúc Pháp Hộ. Bản này do ngài Nhiếp Thừa Viễn truyền dịch từ Phạn sang Hán, các vị Trương Sĩ Minh, Trương Trọng Chính làm Bút Thọ, Trúc Lực, Bạch Nguyên Tín làm người giảo duyệt, Trúc Pháp Hộ làm Tổng Toản Tu.

2. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh gồm bảy quyển, hai mươi tám phẩm, do ngài Cưu Ma La Thập dịch vào năm Hoằng Thỉ thứ tám (406) đời Diêu Tần.

3. Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh tám quyển do ngài Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa dịch tại chùa Đại Hưng Thiện ở Trường An vào năm Nhân Thọ nguyên niên (601) nhà Tùy.

Trong ba bản dịch này, bản Chánh Pháp Hoa được coi là đầy đủ nhất, nhưng văn tự rườm rà, nhiều chỗ không lưu loát, tối nghĩa, bản Diệu Pháp Liên Hoa của ngài Cưu Ma La Thập hay nhất, gọn nhất, văn từ mỹ lệ, âm điệu du dương, tuy gọn nhất, nhưng vẫn chứa đựng đầy đủ những điểm trọng yếu của Phạn bản, nên được lưu truyền rất rộng. Phần lớn các bản chú giải kinh Pháp Hoa đều dựa trên bản dịch của ngài La Thập. Ngay cả các bản dịch kinh Pháp Hoa sang ngôn ngữ Âu Tây, nếu dựa theo Hán Tạng, đa phần lấy bản của ngài La Thập làm chuẩn. Do bản của ngài La Thập chỉ có bảy quyển, so với bản Chánh Pháp Hoa gồm mười quyển, cho nên mới có tà thuyết “ba quyển cuối của kinh Pháp Hoa bị ẩn kín, không được lưu truyền”.

[25] Tử Dương Chân Nhân là đạo hiệu của Trương Bá Đoan, tự B́nh Thục, sau đổi tên thành Dụng Thành, vốn là một đạo sĩ ở núi Thiên Thai, c̣n được xưng là Ngộ Chân tiên sinh. Ông ta học tràn lan kinh sách của Tam Giáo, đặc biệt ưa thích các môn h́nh pháp, tính toán, bói toán, bài binh bố trận, thiên văn, địa lư. Do không đỗ đạt, ông càng ưa thích tu tiên. Tương truyền trong niên hiệu Trị B́nh, ông được Lục Sân truyền cho cách tu Đạo Dẫn, bèn tu tập, sau lại học được phép Kim Đan, luyện tập đắc đạo, liền soạn sách Ngộ Chân Thiên, trở thành một bậc tông sư trong Đạo gia.

[26] Khi c̣n làm Thái Tử Tất Đạt Đa, trong cuộc thi vơ nghệ giữa các anh em trong hoàng tộc, đức Phật đă giương cung bắn thủng chín tầng trống sắt chồng lên nhau. “Dạo chơi bốn cửa thành” là khi Thái Tử Tất Đạt Đa ra ngoài chơi, lần lượt từ nơi bốn cửa thành, trông thấy cảnh tượng sanh, già, bệnh, chết, liền sanh ḷng chán ĺa cơi đời vô thường, khởi tâm xuất gia.

[27] Đạo Dẫn là một phương cách luyện tập thân thể đă có từ thời cổ, được giới Đạo sĩ cải biến và đưa thêm vào nhiều cách diễn giải huyền hoặc. Đạo Dẫn (導引, đôi khi c̣n viết thành 道引) có nghĩa là hướng dẫn Khí cho được điều ḥa, khiến cho thân thể được mềm mại, mạnh khỏe, bao gồm các động tác hít thở, tưởng tượng khí luân lưu theo những kinh mạch (gọi là “thổ nạp”, hoặc “vận khí theo Tiểu Châu Thiên, Đại Châu Thiên” v.v…), các động tác vận động phối hợp với cách hít thở (ngoại công), ém hơi thở (phục khí), nuốt nước miếng, dùng lưỡi gơ vào răng, xoa bóp (án ma) v.v…

[28] Tự Tứ (Pravāranā), dịch âm là Bát Lợi Bà Lạt Noa, hoặc Bát Ḥa La, c̣n được dịch ư là Măn Túc, Hỷ Duyệt, Tùy Ư Sự. Những từ ngữ này đều nhằm diễn tả ư hoan hỷ nghe người khác nêu lên những sai lầm do chính ta đă phạm trong thời gian an cư. Trong ngày hoàn tất an cư mùa Hạ, đại chúng nêu lên những lỗi lầm của người khác do chính ḿnh đă thấy nghe trong suốt ba tháng an cư với mục đích nhắc nhở nhau chú trọng sửa đổi, thúc liễm thân tâm, giữ vững giới hạnh. Người được phê b́nh hoan hỷ tiếp nhận lời cử tội, phát tâm tri ân sâu xa người đă giúp ḿnh nhận thức những lỗi lầm chính ḿnh đă phạm mà chính ḿnh không hay, không biết.

[29] Thí thực cho ngạ quỷ phát xuất từ ḷng Bi nên gọi là Bi Điền, dâng cúng cho hiền thánh nhằm tỏ ḷng kính trọng nên gọi là Kính Điền.

[30] Tức La Thanh, sáng tổ của tà phái La Giáo, vốn là một chi nhánh của tà đạo Bạch Liên Giáo

[31] Trong Đại Tạng Kinh, Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (Prajñāpāramitā-hrdayasūtra) ngoài bản dịch của ngài Huyền Trang ra, c̣n có bảy bản dịch khác như sau:

1. Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật Đại Minh Chú Kinh (do ngài Cưu Ma La Thập dịch).

2. Bát Nhă Ba La Mật Na Kinh (do ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch, đă thất truyền).

3. Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (do hai vị Bát Nhă và Lợi Ngôn cùng dịch).

4. Phổ Biến Trí Tạng Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (do ngài Pháp Nguyệt dịch).

5. Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (do ngài Trí Huệ Luân dịch).

6. Bát Nhă Ba La Mật Đa Tâm Kinh (do ngài Pháp Thành dịch vào đời Đường).

6. Thánh Phật Mẫu Bát Nhă Ba La Mật Đa Kinh (do ngài Thi Hộ dịch).

[32] Tác phẩm này có tên gọi đầy đủ là Đại Đường Tây Vực Kư, do ngài Huyền Trang ghi chép về ngôn ngữ, địa h́nh, sản vật, phong cảnh, địa danh, tập quán, dân t́nh v.v… của hơn một trăm mười nước tại Tây Trúc mà Ngài đă đi qua trong suốt mười sáu năm tham học. Theo truyền thuyết, do vua Đường Thái Tông thường ngự giá đến hỏi chuyện này chuyện nọ về Tây Vực thay v́ thật sự vấn pháp, khiến Sư phải mất công thù tiếp rất nhiều, không đủ thời gian để dịch kinh, nên Sư bèn biên soạn bộ sách này dâng lên để vua bớt hỏi han chuyện thế gian.

[33] Hầu Cảnh (?-552), tự là Vạn Cảnh, người huyện Sóc Phương (có thuyết nói hắn là người xứ Nhạn Môn), vốn là người thuộc rợ Yết. Thoạt đầu, hắn là đầu mục của quân khởi nghĩa Cát Vinh trong lănh thổ Đông Ngụy, tánh t́nh quỷ quyệt, tàn nhẫn. Khi gă quân phiệt Nhĩ Châu Vinh nắm binh quyền Đông Ngụy, Hầu Cảnh bèn đem lâu la quy phục, được phong làm Tiên Phong. Khi Nhĩ Châu Vinh và Cát Vinh giao tranh, Hầu Cảnh lập công bắt sống được Cát Vinh. Do vậy, hắn được phong làm Thứ Sử Định Châu. Khi ấy, Thừa Tướng Cao Hoan lập mưu giết được Nhĩ Châu Vinh, Hầu Cảnh bèn về hàng Cao Hoan, được Cao Hoan trọng dụng, phong làm Tư Đồ, kiêm Thứ Sử Định Châu nắm đến mười vạn binh, thống trị cả một giải Hà Nam. Khi Cao Hoan mất, Hầu Cảnh lập tức làm loạn, liên kết với kẻ thù của Đông Ngụy là Vũ Văn Thái, nhưng Vũ Văn Thái không tin tưởng Cao Hoan. Không chống cự nổi với quân của Cao Trừng (con Cao Hoan), Hầu Cảnh bèn dẫn quân chạy sang đầu hàng Lương Vũ Đế vào năm Thái Thanh nguyên niên (547). Khi Cao Trừng nhà Đông Ngụy sai Mộ Dung Thiệu Tông vây đánh Hầu Cảnh, nhà Lương sai Tiêu Uyên Minh đem quân bảo vệ Hầu Cảnh, nhưng đại bại, Uyên Minh bị Thiệu Tông bắt sống. Lương triều chỉ mong ḥa giải để cứu Uyên Minh về. Hầu Cảnh bèn thừa dịp Vũ Đế thiếu pḥng bị, tấn công kinh đô Kiến Khang (Nam Kinh), bắt giam Lương Vũ Đế tại Đài Thành, tự xưng là Đại Đô Đốc, thao túng triều đ́nh, làm nhiều chuyện bạc ác. Cuối cùng, Hầu Cảnh bị Trần Bá Tiên và Vương Tăng Biện đánh bại, bị bộ hạ giết chết trên đường đào vong

[34] Lă Động Tân (c̣n đọc là Lữ Động Tân) tên thật là Lă Nham, là một vị đạo sĩ nổi tiếng sống vào cuối đời Đường, đầu thời Ngũ Đại, được xếp vào Bát Tiên, hiệu là Thuần Dương Tử, tên tự là Động Tân. Tương truyền, ông Lă sanh vào cuối đời Đường, từng đi thi nhiều lần, nhưng không đậu. Trong quán trọ, ông Lă gặp được ẩn sĩ Chung Ly Quyền điểm hóa bằng cách cho một cái gối, bảo kê đầu nằm ngủ. Lă Nham nằm ngủ, mơ thấy ḿnh đậu Trạng Nguyên, làm quan đến tột phẩm, nắm quyền Tể Tướng. Về sau, bị gian thần gièm pha, bị lôi ra pháp trường chém đầu. Lă Nham sợ quá tỉnh dậy, mới thấy chủ quán đang nấu nồi cháo kê vàng (hoàng lương) vẫn chưa chín. Bao nhiêu chuyện xảy ra trong năm mươi năm, chỉ là một giấc mộng trong mấy phút (do truyền thuyết này mà có điển tích văn học “hoàng lương mộng”). Ông Lă tỉnh ngộ, theo Chung Ly Quyền tu tiên. Lă Đồng Tân đề xướng nhiều biện pháp tu Nội Đan quan trọng, nên rất được Đạo gia đề cao. Đến đời Nguyên, năm 1269, Nguyên Thế Tổ sắc phong cho Lă Đồng Tân đạo hiệu Thuần Dương Diễn Chánh Cảnh Hóa Chân Quân, sau đó gia phong là Thuần Dương Diễn Chánh Phù Hựu Đế Quân. Do Vương Triết (tức Vương Trùng Dương), sáng tổ Toàn Chân Giáo, tự xưng đă được chính Lă Động Tân đích thân truyền đạo, cho nên tất cả môn nhân Toàn Chân Giáo đều xưng tụng họ Lă là Tổ Sư khai đạo. V́ vậy, Lă Động Tân thường được gọi bằng danh xưng Lă Tổ hay Thuần Dương Tổ Sư.

[35] Hoàng Long Huệ Nam (1002-1069) vốn là một vị cao tăng thuộc tông Lâm Tế sống vào đời Tống, là khai tổ của phái Hoàng Long tông Lâm Tế. Sư là người huyện Ngọc Sơn, Tín Châu (nay là Thượng Nhiêu tỉnh Giang Tây), thuở nhỏ học Nho, làu thông kinh sử. Lúc mười một tuổi, Sư xin xuống tóc với ngài Trí Loan chùa Định Thủy, mười chín tuổi thọ Cụ Túc Giới, tham học các vị Thê Hiền Trừng Thị, Vân Phong Văn Duyệt, Thạch Sương Sở Viên v.v… đều được các vị ấy rất coi trọng. Về sau, Sư mở giảng ṭa tại Đồng An Viện, tứ chúng nhóm về. Không lâu sau, Sư dời sang chùa Quy Tông. Do chùa bị hỏa hoạn, điện đường cháy sạch, kẻ ghen ghét liền thừa dịp gièm xiểm, vu oan, khiến Sư bị hạ ngục. Dẫu bị trăm điều xỉ vả, bôi nhọ, Sư vẫn an nhiên như thường. Về sau, Sư được phóng thích, bèn ẩn cư tại Hoàng Bá, dựng Tích Thúy Am trên ngọn suối, bốn phương lại lũ lượt kéo về. Sư nhận lời cầu thỉnh về trụ tại Sùng Ân Viện núi Hoàng Long, chấn hưng tông phong mạnh mẽ, lừng danh khắp Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Mân Việt. Do vậy, mới tạo thành Hoàng Long Phái của tông Lâm Tế. Sơ Tổ Vinh Tây (Eisai) của tông Lâm Tế Nhật Bản cũng học Thiền từ phái Hoàng Long. Ngài c̣n để lại những tác phẩm Hoàng Long Huệ Nam Thiền Sư Ngữ Lục, Ngữ Yếu, Thư Xích Tập v.v… Học tṛ của Ngài như Hối Đường Tổ Tâm, Bảo Phong Khắc Văn, Lặc Đàm Hồng Anh v.v… đều là những bậc long tượng trong nhà Thiền.

[36] Lăo Tử tên thật là Lư Đam, nên c̣n gọi là Lăo Đam. Trọng Ni là tên tự của Khổng Tử.

[37] Tề Đông chính là phía Đông nước Tề (tỉnh Sơn Đông hiện thời), vùng này nổi tiếng hay nói khoác, nói bịa đặt thiếu căn cứ, nên đă có thành ngữ “Tề Đông dă ngữ” (lời nói quê mùa ở Tề Đông).

[38] “Băo nguyên thủ nhất” là một thuật ngữ chỉ phương cách tu luyện của Đạo gia, chú trọng tại luyện Thần (trong Tinh, Khí, Thần), trừ khử những tạp niệm trong tâm, khiến cho tinh thần thanh tịnh (băo nguyên), khiến cho Tinh - Khí - Thần hợp thành một (quy nhất), chẳng hao hụt. Họ tin tưởng rằng với cách tu luyện này, sẽ đạt được trường thọ. Như vậy, “băo nguyên quy nhất” chẳng ăn nhập ǵ với câu “vạn pháp quy nhất” của nhà Phật là lời giảng về chân tánh của vạn pháp.

[39] Trong Luận Ngữ, Khổng Tử đă hai lần nhắc đến từ ngữ “nhất dĩ quán chi”. Lần thứ nhất là trong thiên Lư Nhân: “Tử viết: ‘Sâm hồ! Ngô đạo dĩ nhất quán chi’. Tăng Tử viết: ‘Duy!’ Tử xuất, môn nhân vấn viết: ‘Vị hà dă?’ Tăng Tử viết: ‘Phu tử chi đạo, trung thứ nhi dĩ” (Khổng Tử bảo: ‘Này Tăng Sâm! Đạo của ta chỉ do một ư tưởng căn bản xuyên suốt từ đầu đến cuối’. Tăng Tử thưa: ‘Vâng, đúng thế’. Khổng Tử đi ra, môn nhân hỏi: ‘Thầy nói vậy nghĩa là sao?’ Tăng Tử giảng: “Đạo của phu tử chỉ là trung hậu và khoan dung mà thôi!). Lần thứ hai là trong thiên Vệ Linh Công: “Tử viết: ‘Tứ dă! Nhữ dĩ dư vị đa học, nhi thức chi giả dư?’ Đối viết: ‘Nhiên! Phi dư?’ Viết: ‘Phi dă! Dư dĩ nhất quán chi!” (Này anh Tứ! (Tứ (tức Đoan Mộc Tứ) là tên tục của Tử Cống). Anh cho rằng ta học rộng nên mới biết nhiều đấy chăng?’ Tử Cống thưa: ‘Đúng vậy, không phải như thế ư?’ Khổng Tử bảo: ‘Sai rồi! Ta dùng một điều để quán thông hết thảy’). Chúng tôi dịch những câu này theo cách diễn giảng của sách Tứ Thư Bạch Thoại Giải.

[40] Khổng Tước Minh Vương Kinh (Mahāmayūrī-vidyārājñī), có tên gọi đầy đủ là Phật Mẫu Đại Kim Diệu Khổng Tước Minh Vương Kinh do ngài Bất Không dịch vào đời Đường. Kinh kể chuyện ngài A Nan Đà trông thấy tỳ-kheo Xoa Để (Svati) bị rắn đen cắn, mê man gần chết, bèn cầu cứu đức Phật. Đức Phật bèn dạy A Nan tụng Phật Mẫu Khổng Tước Minh Vương Đại Đà La Ni để trừ hết thảy khổ nạn, đồng thời dạy các Mật Pháp để trừ tai nạn, tăng phước v.v... Kinh này c̣n có hai bản dịch khác, tức Khổng Tước Minh Vương Kinh (do ngài Tăng Già Bà La dịch vào đời Lương) và Đại Khổng Tước Chú Vương Kinh (do ngài Nghĩa Tịnh dịch vào đời Đường).

[41] Do thời cổ thường dùng tơ bện làm dây đàn, lấy gỗ ngô đồng làm thân đàn, nên tiếng đàn thường được gọi là “tiếng tơ đồng”.

[42] Do trong quá khứ, trong Hoa ngữ cho đến tận đầu đời Đường, chữ Vô () vẫn c̣n đọc với vận mẫu M (những phương ngôn Hoa Nam như tiếng Quảng Đông, hay tiếng Phước Kiến c̣n giữ cách đọc này, chẳng hạn tiếng Quảng Đông đọc chữ Vô gần giống âm Mậu), cho nên chữ Vô được dùng để phiên âm chữ Mo trong tiếng Nam Mô. Cho đến giữa đời Đường, khi vận mẫu M của chữ được chuyển thành vận mẫu W (tức là đọc thành wú), các nhà phiên kinh bèn dùng chữ Nẵng Mô ( : âm Quan Thoại là nǎng mó) hoặc Na Ma ( : âm Quan Thoại là nǎ-mó) để mô phỏng âm Namo trong tiếng Phạn. Do quá chấp vào mặt chữ, không chú ư tới âm tiếng Phạn, nên mới có những kiểu diễn giải chữ Nam-mô kỳ lạ như vậy.

[43] Thuở ấy, đạo sĩ để tóc dài nhưng không được xơa tóc (chỉ trừ khi làm phép, hô thần nhập quỷ bèn xơa tóc), lúc b́nh thường phải búi tóc lên, cài trâm để giữ cho măo đạo sĩ khỏi tuột.

[44] Cát Thiên và Vô Hoài là hai vị đế vương thời cổ trong huyền sử Trung Hoa. Dân chúng sống trong thời ấy thuần phác, chân chất. Vô Hoài Thị thuộc bộ lạc của Toại Nhân (một trong Tam Hoàng). Điểm đặc biệt là Vô Hoài Thị là nữ cộng chủ. Bà có tên là Phong Thương Mang, hiệu là Vô Hoài Thị (do sanh tại Hoài Thành, nay là Tây Đào Trấn thuộc huyện Vũ Trắc, thành phố Tiêu Tác, tỉnh Hà Nam), đóng đô tại Tượng Thành (nay thuộc huyện Vũ Dương thành phố Lũy Tháp, tỉnh Hà Nam). Bà được coi là vị vua thứ bảy mươi hai thuộc chánh quyền do Phục Hy sáng lập, cai trị suốt hai mươi lăm năm. Cát Thiên là thủ lănh của bộ tộc Cát Thiên, lănh thổ của ông được gọi là Cát Quốc, thuộc địa phận các huyện Ninh Lăng và Trường Cát thuộc tỉnh Hà Nam hiện thời. Ông được coi là thỉ tổ của những người mang họ Cát về sau này. Cát Thiên cũng được coi là thỉ tổ văn hóa và âm nhạc của cổ Trung Hoa.

[45] Ngọc Thiên (玉篇) là sách phân tích âm đọc và giải thích ư nghĩa các từ ngữ trong tiếng Hán do Cố Dă Vương biên soạn vào đời Lương, thể loại gần giống như Thuyết Văn Giải T của Hứa Thận đời Hán. Sách giải thích 16.917 chữ, chia thành 542 bộ thủ. Về sau, sách được những người như Tôn Cường, Ngô Nhuệ, Trần Bành Niên, Khâu Ung tăng đính, thành ra 22.256 chữ, đổi tựa thành Đại Quảng Ích Hội Ngọc Thiên. Quảng Vận (廣韻) là sách giải thích về cách gieo vần, có tên gọi đầy đủ là Đại Tống Trùng Tu Quảng Vận. Tuy chú trọng cách ḥa âm, gieo vần, nhưng sách cũng giải thích ư nghĩa của các chữ Hán. Sách do Trần Bành Niên vâng chiếu biên soạn dựa trên các sách Thiết Vận và Đường Vận trước đó. Sách chia các chữ theo cách phát âm thời đó, tức là bốn thanh b́nh, thượng, khứ, nhập. Sách thống kê 206 vần, bao gồm: B́nh thanh 57 vần, thượng thanh 55 vần, khứ thanh 60 vần, nhập thanh 34 vần. Đối với từ ngữ, đều ghi chú cách đọc và giải thích ư nghĩa đơn giản.

[46] Cả hai từ ngữ này có nghĩa là Pháo, nhưng nếu xét nguyên gốc, Bộc Trúc là pháo bằng các ống tre ném vào lửa, tre bịt nứt sẽ phát ra tiếng. C̣n Pháo Trướng tức là loại pháo dùng giấy cuộn chất nổ, hễ đốt chỉ nổ một tiếng vang mà thôi.

[47] Thẩm Ước (414-513), tự là Hưu Văn, là một văn học gia, kiêm sử gia thời Nam Lương.

[48] Dâm từ (淫祠) là các đền miếu do dân chúng tự động thiết lập, không được triều đ́nh công nhận. “Dâm” ở đây có nghĩa là thừa thăi, như thiên Khúc Lễ trong sách Lễ Kư định nghĩa: “Phi kỳ sở tế nhi tế chi, danh viết dâm tự, dâm tự vô phước” (chẳng đáng cúng tế mà cúng tế th́ gọi là cúng bái thừa thăi. Cúng bái thừa thăi th́ chẳng có phước). Nói cách khác, dâm từ là những đền, miếu xuất phát từ ḷng mê tín, thờ phụng những vị thần lai lịch bất minh hay tà vạy. Chẳng hạn, kẻ đi ăn trộm bị dân làng bắt được đánh chết, bọn đồng cốt nói người ấy chết nhằm giờ thiêng, đă thành thần. Thế là dân chúng lập đền thờ.

[49] Học Sứ là tên gọi khác của chức vụ Đề Đốc Học Chánh. Chức vụ này c̣n được gọi tắt là Học Chánh, Học Đài, Phiên Niết Học, thường do các vị trực thuộc Hàn Lâm Học Sĩ hoặc đă đỗ Tiến Sĩ đảm nhiệm. Chức quan này trông coi các trường học, sự học tập của các sĩ tử, cũng như đảm bảo chánh lệnh về giáo dục trong một tỉnh. Đồng thời, Học Sứ chủ tŕ các khoa thi, cũng như là người cầm đầu các học quan tại các địa phương, có địa vị thấp hơn các chức quan Tổng Đốc và Tuần Phủ, ngang cấp với Bố Chánh Sứ (Phiên Sứ) và Án Sát Sứ (Niết Ty).

[50] Đây là thuật ngữ trong Đông Y. Tả có nghĩa là giảm bớt, Bổ là tăng cường. Bốn phương ở đây chỉ cho các tạng phủ: Phương Nam là tim (thuộc Hỏa), phương Bắc là thận (thuộc Thủy), phương Đông là gan (thuộc Mộc), phương Tây là phổi (thuộc Kim). Nói “tả phương Nam, bổ phương Bắc” có nghĩa là tâm hỏa vượng, tức là do mộc sinh quá nhiều hỏa (chứng gan Thật), phải t́m cách giảm bớt tâm hỏa để khống chế mộc nơi gan tăng trưởng quá mạnh. “Bổ phương Bắc” tức là tâm hỏa quá vượng, khiến thận thủy chẳng đủ. Cách chữa trị là tăng cường Thận Thủy để âm được bồi bổ, hỏa khí hạ xuống, tâm và thận sẽ thông suốt.

[51] Tiết Trai là biệt hiệu của Vương Luân (?-1510). Vương Luân có tên tự là Nhữ Ngôn, người huyện Từ Khê, tỉnh Chiết Giang, làm quan đến chức Hồ Quảng Tuần Phủ, kiêm Tán Lư Quân Vụ. Ông tinh thông y thuật, có các tác phẩm Bản Thảo Tập Yếu và Minh Y Tạp Trước để tŕnh bày quan điểm y học của chính ḿnh. Thuyết “dương thiếu, âm thừa” do ông đề xướng.

[52] Tức bộ sách Bản Thảo Cương Mục (本草綱目) của Lư Thời Trân bỏ công biên soạn trong suốt hai mươi bảy năm. Đây là toàn thư của tất cả các dược thảo cũng như các vị thuốc trong Đông Y cho đến thời đó. Sách được hoàn thành vào năm Vạn Lịch thứ sáu (1578), nhưng chỉ được chính thức khắc in vào năm Vạn Lịch 23 (1596). Nguyên do là ông viết xong, không ai giúp in. Lư Thời Trân phải bôn ba nhiều nơi, măi về sau mới được Hồ Thừa Long là một nhà xuất bản sách tài trợ ấn hành. Sách chưa in xong, ông đă mất. Năm 1765, Triệu Học Mẫn đă viết Bản Thảo Cương Mục Thập Di để bổ sung thêm 716 loại cây thuốc, 161 đơn thuốc, và chỉnh sửa 34 lỗi trong bản khắc in sách của Lư Thời Trân.

[53] Thanh b́ là trái quưt c̣n non hoặc quưt chưa chín, đem phơi khô. C̣n trần b́ là vỏ của trái cam hoặc quưt đă chín.

[54] Ngũ bội tử chính là cây sơn muối (tên khoa học là Rhus Chinensis), c̣n có các tên gọi là diêm phu mộc, muối, dă sơn, ô đào diệp, sơn ngô đồng, ngũ bội sài, ô diêm bào, ô toan đào v.v… Do thành phần dùng để làm thuốc là quả của nó, có vỏ cứng và sắc nâu, nếu không chú ư, sẽ tưởng đó là vỏ của loài ngao mật.

[55] Tứ Quân Tử Thang là bài thuốc truyền thống gồm bốn vị thuốc là nhân sâm, bạch truật, phục linh, và cam thảo. Toa thuốc này được coi là bổ dưỡng bao tử và tỳ tạng, khiến cho tỳ tạng khỏe mạnh, bổ dương, ích khí, chủ yếu dùng để trị liệu các chứng bệnh về bao tử, thiếu máu v.v…

[56] Phù quan (符官) là thuật ngữ trong Đạo giáo, chỉ thần tướng có trách nhiệm thủ hộ bùa, trừ tà, đồng thời truyền đạt chỉ thị trong lá bùa để thông tri với quỷ thần.

[57] Phương Hiếu Nho (1357-1402), tự Hy Trực và Hy Cổ, hiệu là Tốn Chí. Ông làm trọng thần thời Kiến Văn Đế (Châu Doăn Văn), đảm nhiệm chức Hàn Lâm Thị Giảng và Hàn Lâm Học Sĩ, là cố vấn quan trọng của nhà vua. Ông là một vị đại Nho được người đương thời tôn trọng. Khi Yên vương Châu Đệ tấn công kinh đô, đoạt ngôi của Kiến Văn Đế, đă nhiều lượt chiêu hàng ông, định lợi dụng ông viết chiếu thư để yên ḷng dân, nhưng ông kiên quyết không đầu hàng, cuối cùng Châu Đệ đành phải chém ông.

[58] Cung Thắng (68-11 trước Công Nguyên), tự Quân Tân, là người đất Sở (nay là thành phố Từ Châu, tỉnh Giang Tô). Nổi tiếng hiếu học từ bé, thông hiểu kinh điển Nho gia. Ông làm quan đến chức Thừa Tướng Tư Trực, Quang Lộc đại phu. Ông chuộng giản dị, tiết kiệm, nhiều lần dâng sớ can gián triều đ́nh đừng xa xỉ, phung phí công quỹ. Chán nản trước triều chánh hủ bại, ông cáo bệnh, từ quan. Khi Vương Măng cướp ngôi nhà Hán, y phái người vời ông ra làm Thái Tử Sư Hữu Tế Tửu, ông bèn tuyệt thực đến chết.

[59] Trương Vĩ sống vào đời Đông Tấn, từ bé đă được ca ngợi là người có tiết tháo, cương trực. Ông từng làm quan đến chức Lang Trung Lệnh dưới thời Tấn Cung Đế (Tư Mă Đức Văn). Khi Lưu Dụ cướp ngôi nhà Tấn, đă sai ông đem thuốc độc ép Tấn Cung Đế uống. Ông than thở: “Độc chết vua để cầu được sống, ta có mặt mũi nào để sống trong cơi đời nữa!” Bèn tự uống thuốc độc mà chết.

[60] Lư Quân (?-906) là danh tướng thời Ngũ Đại. Ông vốn có tên là Lư Vinh, về sau v́ tránh tên húy của Châu Thế Tông (Sài Vinh), nên đổi tên thành Lư Quân. Ông giỏi dùng kỵ binh, vũ dũng, là khai quốc công thần của nhà Hậu Châu, được phong làm Chiêu Nghĩa Tiết Độ Sứ, Kiểm Hiệu Thái Phó, Đồng B́nh Chương Sự, nhiều lần chống lại quân Khiết Đan giành thắng lợi. Khi Triệu Khuông Dẫn lập ra nhà Tống, diệt Hậu Châu, sai sứ ủy dụ và phong cho ông làm Trung Thư Lệnh, ông kiên quyết từ chối, tận trung với nhà Hậu Châu. Ông liên kết với quân Bắc Hán và Lư Trọng Tấn đánh Tống. Khi thất bại, ông gieo ḿnh vào lửa, tự sát.

[61] Tức Bá Di, Thúc Tề không đầu hàng nhà Châu, không ăn thóc gạo của nhà Châu, bèn hái rau vi để ăn đỡ ḷng. Vua Nghiêu muốn phong tước cho Hứa Do, Hứa Do trốn sang Ky Sơn để tránh né.

[62] Đây là một câu nói trong thiên Tử Trương của sách Luận Ngữ: “Mạnh Thị sử Dương Phu vi sĩ sư, vấn ư Tăng Tử. Tăng Tử viết: - Thượng thất kỳ đạo, dân tán cửu hỹ. Như đắc kỳ t́nh, tắc ai căng nhi vật hỷ” (Mạnh Thị sai Dương Phu làm quan trông nom về h́nh pháp, Dương Phu hỏi ư Tăng Tử. Tăng Tử nói: - Người trên đánh mất đạo nghĩa, ḷng dân tản mác đă lâu. Nếu hiểu rơ chân tướng của vụ án th́ hăy nên thương xót tội nhân. Đừng do đă hiểu rơ vụ án, bèn cảm thấy sung sướng).

[63] Nguyên văn “giáp côn” (夾棍). Đây là một dụng cụ để tra khảo gồm hai thanh gỗ to có xỏ lỗ để buộc thừng. Khi tra khảo, nha dịch kẹp đùi tội nhân vào rồi siết chặt thừng, khiến cho tội nhân đau đớn, phải cung khai hoặc nhận tội.

[64] Từ Tử B́nh tên thật là Từ Cư Dịch, tên tự là Tử B́nh, người xứ Đông Hải, biệt hiệu là Sa Địch tiên sinh và Bồng Lai Tẩu. Theo truyền thuyết, ông ẩn cư tại động đá trên ngọn Tây Phượng núi Thái Hoa, sống vào đời Bắc Tống, là một nhà chiêm tinh và mạng lư gia nổi tiếng, tinh thông âm dương ngũ hành, có công hoàn thiện cách đoán mạng dựa trên Bát Tự, được người đời gọi là Tử B́nh Bát Tự.

[65] Phép đoán mạng thường dựa trên năm, tháng, ngày, giờ sanh. Năm, tháng, ngày, giờ theo Âm Lịch đều có thiên can (Giáp, Ất, Bính…) và địa chi (Tư, Sửu, Dần, Mẹo…) riêng. Nhật Can là thiên can của ngày hôm đó. Năm, tháng, ngày giờ xét theo ngũ hành (chẳng hạn Giáp là dương mộc, Ất là âm mộc…, Tư là hỏa, Sửu là thổ….) lại có xung khắc hoặc sanh trưởng như Thổ sanh Kim, Kim sanh Thủy. Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ v.v… Xung là không hợp nhau, xung đột, biến động, chia ĺa. Chẳng hạn, Tư và Ngọ là tương xung. Tứ Hành Xung là Dần, Thân, Tỵ, Hợi v.v… Hợp là ḥa hợp như Tam Hợp (Dần, Ngọ, Tuất). H́nh là xung khắc gây hại đến sức khỏe, hoặc có thị phi, kiện tụng nếu hai cặp địa chi ấy đi đôi với nhau, chẳng hạn như Dần, Tỵ, Thân là tam h́nh. Hại là dễ gây bất lợi, chẳng ḥa thuận, phản bội… như Tư và Mùi là hại.

[66] Dựa trên năm tháng ngày giờ để quy định lá số của một người nào đó có những ngôi sao nào chiếu mạng tương ứng trong một cung nào đó, giống như trong lá số tử vi.

[67] Một khắc bằng mười lăm phút hiện thời. Do một thời thần (Tư, Sửu, Dần, Mẹo…) thời cổ bằng hai tiếng đồng hồ hiện thời, nên mới nói một thời là tám khắc.

[68] Gọi Đường Cao Tổ (Lư Uyên) là Đường Nghiêu Thần v́ khi ông chết, quần thần dâng thụy hiệu là Thái Vũ Hoàng Đế, Đường Cao Tông (cháu nội của Lư Uyên) đổi thụy hiệu của ông nội thành Thần Nghiêu Hoàng Đế. Gọi Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn) là Tống Nghệ Tổ nhằm ca ngợi tài đức của vị vua khai sáng triều đại.

[69] Ư nói: Nhật thực chỉ thay đổi một chút trên bầu trời, mọi người đều thấy rơ.

[70] Tức là không dựa theo điểm số, cứ tự tiện cho đứa học điểm thấp hơn các tṛ khác được hưởng hạn ngạch Cống Sanh, được hưởng học bổng.

[71] Tô Thức, tên tự là Tử Chiêm, biệt hiệu là Đông Pha, do vậy, đôi khi ông được gọi là Tử Chiêm Thị.

[72] Lữ Thị tên thật Lữ Trĩ, vợ cả của Lưu Bang, là người được phong danh hiệu Hoàng Hậu duy nhất của Lưu Bang, và cũng là hoàng hậu chính thức đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Khi Lưu Bang chết, tuy không lâm triều, nhưng trực tiếp can dự triều chánh rất nhiều lần dưới thời Hán Huệ Đế (Lưu Doanh). Sau khi Lữ Hậu chặt chân tay, khoét mắt, đốt tai Thích Cơ (sủng thiếp của Lưu Bang), vứt vào nhà xí gọi là “nhân trệ” (lợn người), Huệ Đế kinh sợ, bệnh tật liên miên, hết sức sợ sệt mẹ, bà thừa cơ nắm hết triều chánh, kéo phe cánh anh em, họ hàng của ḿnh (như Lữ Tu, Lữ Thái, Lữ Sản v.v…) gây nên mối họa về sau, khiến cho nhà Hán suưt sụp đổ. Khi Huệ Đế chết, hai thiếu đế là Lưu Cung và Lưu Hồng được bà ta lần lượt đưa lên làm vua, quyền hành hoàn toàn nằm trong tay bà ta cho đến khi bà ta chết. Sau khi bà ta chết, thừa tướng Trần B́nh và Giáng Hầu Châu Bột lập mưu đảo chánh diệt chư hầu và phe cánh họ Lữ, đưa con thứ của Cao Đế là Lưu Hằng (con trai của Hán Cao Đế và Bạc Cơ) lên làm vua, tức Hán Văn Đế. Chính bà ta đă lập mưu cho Hán Cao Tổ giết hại công thần của nhà Hán như Hàn Tín, Bành Việt, Trương Ngao v.v…

[73] Trực Chỉ (直指) là một chức quan được đặt ra từ thời Hán Vũ Đế, có trách nhiệm phụng mạng hoàng đế tuần tra và xử lư các sự việc quản trị tại vùng đất tới điều tra. Do khi xuất tuần, thường mặc áo thêu, viên quan này c̣n được gọi là Tú Y Trực Chỉ, hay Trực Chỉ Tú Y Sứ Giả.

[74] Cửu Khanh có hai cách hiểu: Hiểu theo nghĩa rộng là danh xưng để chỉ chung các vị quan to đứng đầu trong triều đ́nh. Hiểu theo nghĩa hẹp, Cửu Khanh là chín chức quan được lập từ thời Tần - Hán bao gồm:

- Phụng Thường (về sau đổi thành Thái Thường, chuyên lo cúng tế Thế Miếu, kiêm nhiệm việc văn hóa giáo dục, c̣n gọi là Tông Bá, Tông Khanh, hoặc Xuân Quan Khanh, tức Lễ Bộ Thượng Thư sau này).

- Lang Trung Lệnh (c̣n gọi là Quang Lộc Huân, chưởng quản việc túc trực, quản trị người hầu của vua, trông nom chủ yếu về công tác hành chánh, tức tiền thân của Lại Bộ Thượng Thư).

- Vệ Úy (chưởng quản việc trị an trong cung, cai quản thị vệ v.v…).

- Thái Bộc (chưởng quản việc xe ngựa, các thú nuôi của vua v.v…).

- Đ́nh Úy (quản trị h́nh pháp).

- Tông Chánh (quản trị sự vụ trong hoàng tộc, hoàng thân quốc thích).

- Điển Khách (tức Đại Hồng Lô sau này, chuyên tiếp đăi các sứ thần đến chầu).

- Trị Túc Nội Sử (về sau gọi là Đại Tư Nông, quản trị kho lương, chuyển vận lương thực v.v…).

- Thiếu Phủ (chưởng quản các ngành nghề nông nghiệp và nông trang riêng của vua).

Đến đời Minh, do Lục Bộ đă h́nh thành, Cửu Khanh bao gồm Lục Bộ Thượng Thư, Đô Sát Viện Đô Ngự Sử (cơ quan giám sát tư pháp ngoài bộ H́nh), Đại Lư Tự Khanh, Thông Chánh Sứ gọi là Đại Cửu Khanh. Ngoài ra, các chức quan Thái Thường Tự Khanh, Thái Bộc Tự Khanh, Quang Lộc Tự Khanh, Chiêm Sự, Hàn Lâm Học Sĩ, Hồng Lô Tự Khanh, Quốc Tử Giám Tế Tửu (hiệu trưởng của Quốc Tử Giám), Thượng Lâm Uyển Khanh, Thượng Bảo Tư Khanh hợp Tiểu Cửu Khanh.

[75] Mặc Kỳ Tiết, tự là Nguyên Trung, là kẻ xu phụ Tần Cối, được Tần Cối cất nhắc làm Giám Sát Ngự Sử đời Tống Cao Tông. Chỉ trong ṿng ba tháng, do khéo nịnh hót, hắn được thăng lên làm Ngự Sử Trung Thừa. Cùng với Tần Cối, hắn liên tục ton hót với vua, vu vạ, đàn hặc Nhạc Phi “ỷ ḿnh công cao, mưu toan lấn vua”, khiến cho Nhạc Phi cuối cùng bị Cao Tông xử tử. Về sau, hắn c̣n được thăng lên làm Thượng Thư Hữu Bộc Xạ Đồng B́nh Chương Sự (phó thừa tướng). Vua Tống u mê không nhận ra tội phản quốc của hắn, khi hắn chết, c̣n ban thụy hiệu là Trung Tĩnh, ban thưởng vàng bạc rất hậu để lo tang sự, c̣n cho mười hai đứa con của hắn đều được làm quan!

[76] Ngột Truật tên đầy đủ Hoàn Nhan Tông Bật Oát Chuyết (1090-1148). Ngột Truật là cách phiên âm khác của Oát Chuyết (đôi khi c̣n phiên âm thành Oát Xuất hoặc Ô Châu), thuộc bộ tộc Nữ Chân (Jurchen), thuộc ḍng dơi hoàng thất nhà Kim (ông là con thứ tư của Kim Thái Tổ Hoàn Nhan A Cốt Đả), thống soái của quân Kim, năm lần tấn công Nam Tống, mở rộng lănh thổ nước Kim bao gồm toàn bộ Bắc Trung Hoa cho đến sông Hoài, buộc vua Tống phải xưng thần với nhà Kim.

[77] Địch Nhân Kiệt (630-704), tên tự là Hoài Anh, người huyện Thái Nguyên thuộc Tinh Châu, làm tể tướng của nhà Đường và nhà Châu (của Vũ Tắc Thiên). Trước sau, ông tiến cử những vị hiền thần như Trương Giản Chi, Hoàn Ngạn Phạm, Kính Huy, Đậu Hoài Trung, Diêu Sùng v.v… Về sau, họ thành bậc lương đống pḥ tá nhà Đường. Ông từng giữ chức Đại Lư Tự Thừa, xử án cánh trực, liêm minh, chấp pháp không thiên vị, giải quyết hết những án tồn đọng, không xử oan cho ai. Khi Vũ Hậu chiếm ngôi nhà Đường, lập ra nhà Châu, rất nể trọng ông. Tuy phục vụ Vũ Hậu, nhưng ông khéo léo giữ yên đất nước, khiến cho đất nước phồn thịnh, bọn gian nịnh hoặc họ hàng của Vũ Hậu hết sức sợ ông. Lương Quốc Công là tước hiệu truy tặng sau khi ông đă qua đời.

[78] “Cửu hợp nhất khuông” (九合一匡) là nói gọn của “cửu hợp chư hầu, nhất khuông thiên hạ”, là từ ngữ ca ngợi tài năng cai trị quốc gia. Dưới sự phù tá của Quản Trọng, nước Tề hùng mạnh, Tề Hoàn Công trở thành bá chủ của chư hầu, đă chín lần hội chư hầu kết minh, giữ yên chư hầu, ổn định thời cục rối loạn thời Chiến Quốc, khiến các nước không dám ho he, gây chiến với nhau.

[79] Bát nguyên (八元) là tám vị tài tử trọn vẹn trung nghĩa, cung kính, đức đẹp, nhân từ, ḥa thuận thời Đế Khốc: Bá Phấn, Trọng Kham, Thúc Hiến, Quư Trọng, Bá Hổ, Trọng Hùng, Thúc Báo, Quư Ly.

Bát khải (八愷) là tám người tài thời Hắc Đế Chuyên Húc, họ nổi tiếng về đức hạnh, chân thành, tức Thương Thư, Đồi Khải, Đảo Diễn, Đại Lâm, Mang Giáng, Đ́nh Kiên, Trọng Dung và Thúc Đạt.

Bát sĩ (八士) là tám người hiền năng đời Châu: Bá Đạt, Bá Quát, Trọng Đột, Trọng Hốt, Thúc Dạ, Thúc Hạ, Quư Tùy, Quư Oa.

[80] Tức “bát cố, bát trù, bát tuấn, bát cập” là những danh xưng ca ngợi kẻ sĩ. Theo đó, Cố () nghĩa là do đức hạnh có thể hướng dẫn người khác, Cập (): Đức hạnh khiến cho người khác ngưỡng mộ, noi theo. Trù (): Tài năng có thể dạy người khác. Tuấn (): Tài năng vượt trội người khác.

[81] Vương Thế Trinh (1526-1590), tự Nguyên Mỹ, hiệu Phượng Châu, biệt hiệu là Yểm Châu Sơn Nhân. Ông là một nhà văn và sử gia nổi tiếng đời Minh, làm quan tới chức H́nh Bộ Thượng Thư. Văn thơ của ông trang nhă, được coi là kế thừa phong cách của Tô Đông Pha, phảng phất cung cách thơ văn thời Lục Triều. Ông trước tác khá nhiều: Quốc Triều Kỷ Yếu (mười quyển), Yểm Sơn Đường Biệt Tập (một trăm quyển), Minh Dă Sử Hội (một trăm quyển), Yểm Châu Sơn Nhân Tục Cảo (hai trăm mười tám quyển), Nghệ Uyển Chi Ngôn (mười hai quyển), Thiên Ngôn Hội Lục (mười quyển) v.v…

[82] Đây là lời phê phán đối với lối văn chương biền ngẫu (viết văn đối vần, đối ư từng cặp, chú trọng vần điệu sao cho lời văn réo rắt, du dương, dễ đi vào con đường sáo ṃn, rỗng tuếch, không có thực chất). Tám đời tức là các triều đại Đông Hán, Ngụy, Tấn, Tống, Lương, Tề, Trần, Tùy.

[83] Tây Minh (西銘) c̣n gọi là Đính Ngoan (訂頑) là một bài văn trong tác phẩm Chánh Mông của Trương Tải. Trương Tải viết bài này chỉ có 253 chữ, ghi lên cửa. Tŕnh Di sửa tên bài này thành Tây Minh. Nội dung chủ yếu có thể tóm gọn thành “dân bào vật dữ, vật ngô dữ dă” (Toàn thể mọi người đều là anh em, loài vật cũng có linh tánh, tri giác giống hệt như ta, chúng ta phải đối xử b́nh đẳng với loài vật như bạn bè).

[84] Thiệu Ung (1012-1077), tên tự là Nghiêu Phu, biệt hiệu là An Lạc tiên sinh, được người đời xưng tụng là Bách Nguyên tiên sinh, thụy hiệu là Khang Tiết. Ông được xếp vào Bắc Tống Ngũ Tử (năm người được thờ phối hưởng trong Văn Miếu). Ông là một nhà Nho nổi tiếng đồng thời là một nhà Dịch học lỗi lạc. Ông viết bộ Hoàng Cực Kinh Thế được coi là tác phẩm đại tập thành của học thuyết Tiên Thiên Dịch Số.

[85] Chư sanh (諸生) là người đă thông qua khảo thí được vào học tại trường ở kinh đô (Thái Học, tức Quốc Tử Giám sau này) và các trường địa phương do chánh quyền quản lư. Thời Minh, Chư Sanh thường có nghĩa là người đă đỗ Tú Tài.

[86] Thế gia là từ ngữ chỉ gia tộc hiển hách, nhiều đời thịnh vượng, có quan chức, quyền thế, quư hiển, hoặc tiếng thơm đáng ca ngợi. Riêng trong Sử Kư Tư Mă Thiên, chữ thế giađược dùng để chỉ ḍng dơi các chư hầu,

[87] Cơ Xương (Châu Văn Vương) là vua một nước nhỏ thuộc vương triều Thương. Do cha ông là Cơ Quư Lịch dẫn bộ tộc Châu xuống xây thành Cư Ấp ở Châu Nguyên, thuộc phía Tây Nam Kỳ Sơn, nên Cơ Quư Lịch được nhà Thương phong làm Tây Bá. Khi Quư Lịch bị vua Thương giết hại, Cơ Xương nối ngôi, cũng được thừa hưởng tước phong Tây Bá. Do đó, Tây Bá nói trong bài này chính là nói về Châu Văn Vương Cơ Xương.

[88] Tán Nghi Sanh là bầy tôi trung thành, đồng thời là mưu thần của Châu Văn Vương. Ông cùng với Hoằng Yểu và Thái Điên tích cực phù tá Châu Văn Vương.

[89] Gia Cát Lượng, có tên tự là Khổng Minh, hiệu là Ngọa Long. Ông được phong tước Vũ Vương Hầu dưới thời Lưu Thiện (con trai Lưu Bị); khi mất, lại được tặng thụy hiệu là Trung Vũ. Do vậy, ông thường được gọi là Gia Cát Vũ Hầu.

[90] Tử Trương là tên tự của Chuyên Tôn Sư (530-447 trước Công Nguyên), người Dương Thành nước Trần (nay là huyện Đăng Phong thuộc tỉnh Hà Nam). Chuyên Tôn Sư nhỏ hơn Khổng Tử bốn mươi tám tuổi, dung mạo đẹp đẽ. Do quá chú ư đến dung mạo, nên Tử Trương thiếu phần chất phác, chân thành. Khổng Tử chê Tử Trương tánh cuồng ngạo, khó giữ ḷng nhân.

[91] Quư Thông là tên tự của Thái Nguyên Định (1135-1198), hiệu là Tây Sơn, người xứ Ma Sa, huyện Kiến Ninh, tỉnh Phước Kiến, là học tṛ của Châu Hy, và là một nhà Phong Thủy nổi tiếng. Khi Hàn Thác Trụ, thừa tướng thời Tống Ninh Tông, ra sức đả phá Lư Học, học thuyết của Châu Hy bị coi là ngụy học, Thái Nguyên Định do là môn đệ thân thiết cũng bị đày đi Đạo Châu (nay thuộc Hồ Nam). Hai năm sau ông chết tại nơi lưu đày.

[92] Đối sách: Viết văn biện luận giải thích, tŕnh bày kiến giải theo đề thi trong khoa cử gọi là đối sách.

[93] Tề Giản Công (Khương Nhiệm) là con trai của Tề Điệu Công (Khương Dương Sanh). Khi ông nội của Tề Giản Công là Tề Cảnh Công (Khương Chử Cữu) mất, người chú là Khương Đồ được lập làm vua, Khương Dương Sanh thất thế, phải mang con chạy sang nước Lỗ. Năm 489 trước công nguyên, Điền Khất giết Khương Đồ, đón Khương Dương Sanh về làm vua, tức Tề Điệu Công. Năm 485 trước Công Nguyên, Ngô Phù Sai liên minh với các nước Lỗ, Châu và Đàm tấn công Tề. Họ Băo vốn có thù từ trước, bèn giết Tề Điệu Công, rồi trốn sang Ngô. Điền Khất lập Khương Nhiệm lên ngôi, tức Tề Giản Công. Điền Khất chết, Điền Hằng (Điền Thành Tử) lên thay. Do lúc lưu vong nhờ ơn Hám Chỉ giúp đỡ, Tề Giản Công trọng dụng Hám Chỉ. Điền Hằng đố kỵ. Năm 481 trước Công Nguyên, Điền Hằng dẫn quân vây cung vua. Hám Chỉ mang quân cứu vua, nhưng thua trận, lạc đường, chạy nhằm sang Phong Khâu là đất của họ Điền, bị người Phong Khâu giết chết. Tháng Sáu, Giản Công dẫn vợ trốn sang đất Yên, bị Điền Hằng đuổi theo giết chết tại Thư Châu (nay là huyện Đại Thành thuộc tỉnh Hà Bắc). Điền Hằng đưa Khương Ngao (em của Tề Giản Công) lên ngôi, tức Tề B́nh Công. Khổng Tử nghe chuyện này hết sức phẫn nộ, tắm gội, thay áo, đội mũ ngay ngắn, vào cung xin vua Lỗ Ai Công (Cơ Tương) phát quân thảo phạt Điền Hằng. Do thời cổ, chữ Điền () và Trần () đọc cùng một âm, nên cổ thư vẫn dùng hai chữ Trần và Điền thay thế lẫn nhau. Cho đến năm 391 trước Công Nguyên, hậu duệ của Điền Hằng là Điền Ḥa (c̣n gọi Điền Tề Thái Công) đuổi Tề Khang Công (Khương Thải, cháu nội của Tề B́nh Công) ra hải đảo, cho ăn lộc một thành, c̣n hắn tự xưng làm vua nước Tề. Sử gọi giai đoạn này là Điền Tề.

[94] Tam tử chính là ba khanh đại phu chuyên quyền thao túng nước Lỗ, Sử gọi là Tam Hoàn. Nguyên do Lỗ Hoàn Công có con trưởng là Khánh Phủ do người thiếp sanh ra (v́ thế, Khánh Phủ không thể được chọn làm Thế Tử). Sau đó, Lỗ Hoàn Công lấy Văn Khương (con gái Tề Hy Công), sanh ra Cơ Đồng (tức Lỗ Trang Công) và hai em trai là Cơ Nha và Cơ Hữu. Sau khi Lỗ Trang Công lên ngôi, đều phong cho họ làm khanh đại phu. Họ thao túng triều chánh, h́nh thành ba gia tộc đấu đá lẫn nhau, sử gọi là Mạnh Tôn Thị (con cháu của Cơ Khánh Phụ), Thúc Tôn Thị (con cháu của Cơ Nha), và Quư Tôn Thị (con cháu của Quư Hữu). Thời Lỗ Ai Công (Cơ Tương), Tam Hoàn thế lực rất lớn. Lỗ Ai Công toan dẹp Tam Hoàn, bị họ đánh bại, phải lưu vong sang nước Vệ, nước Trâu rồi chết ở nước Việt.

[95] Đây là câu nói của Tăng Sâm trả lời kẻ bắt bẻ ông đang cư tang mẹ, mặc tang phục đến viếng tang người bạn là Tử Trương, cho là không hợp lễ.

[96] Đây là một câu trích từ thiên Tiên Tấn sách Luận Ngữ, Khổng Tử tán thưởng Nam Cung Quát là người ngôn hạnh thận trọng, có phẩm đức, bèn gả cháu gái (con gái của Mạnh B́, tức Khổng B́) cho Nam Cung Quát. Cha Khổng Tử là Thúc Lương Hột (ông này tên là Khổng Hột, tự là Thúc Lương, nên Sử hay gọi là Thúc Lương Hột) lấy Thí Thị, sanh được chín gái, không có con trai. Ông lấy thiếp sanh ra Khổng B́, nhưng Khổng B́ có tật ở chân, không thể tế tổ tiên. Về sau, Thúc Lương Hột lấy bà Nhan Trưng Tại mới sanh ra Khổng Tử. Do Khổng B́ là anh, nên mới gọi là Mạnh B́, hoặc Bá B́.

[97] Đây là một câu văn của Vương Hy Chi trong bài Lan Đ́nh Tập Tự.

[98] Sau khi Hạng Vũ diệt nhà Tần, Hàn Sanh khuyên Hạng Vũ nên đóng đô tại Quan Trung, v́ nơi đó hiểm yếu, đất đai ph́ nhiêu, có thể xưng vương lâu dài, nhưng Hạng Vũ thấy cung điện nhà Tần bị tàn phá, hoang tàn, muốn trở lại vùng Giang Đông, bèn nói: “Phú quư mà chẳng về cố hương, như áo gấm đi đêm, ai biết đến?” Hàn Sanh lui ra, nói: “Người ta bảo người nước Sở như con vượn đội mũ, quả nhiên là như vậy”. Hạng Vũ nghe báo lại, ngay lập tức đem luộc Hàn Sanh.

[99] Đây là lời than thở của Lư Tư khi bị hành h́nh. Xin xem lại chú thích trong bài “chó vàng ở Đông Môn” trong Trúc Song Tùy Bút.

[100] Cộng chủ là thủ lănh của liên minh các bộ lạc. Vị cộng chủ được các bộ lạc thị tộc tôn kính, công nhận là lănh tụ, nhưng không có quyền uy tuyệt đối, tập trung quyền hành như chánh quyền trung ương sau này. Cộng chủ tồn tại vào thời các vương triều Hạ, Thương, Châu.

[101] Châu Khang Vương (1040-996 trước Công Nguyên) là vua thứ ba của nhà Châu, tên là Cơ Chiêu, con của Châu Thành Vương (Cơ Tụng). Ông được Thiệu công Thích và Tất công Cao pḥ tá. Thời ông cai trị, thiên hạ thái b́nh, chủ trương tiết kiệm, không dùng h́nh phạt. Sử gọi giai đoạn cai trị của ông và Châu Thành Vương là “Thành Khang chi trị”.

[102] Mô Tượng (摸象) là “sờ voi”. Đây là cách nói khiêm hư, ngụ ư những kiến giải về kinh Lăng Nghiêm này là nông cạn, cục bộ, hạn hẹp như người mù sờ voi vậy.

[103] Phường bổn (坊本) là từ ngữ chỉ các sách vở được ấn hành bởi các xưởng in trong dân gian, nhằm phân biệt với quan bổn (bản in do quốc gia đứng ra chủ trì ấn loát) và tư thục khắc bổn (bản in của một cá nhân hoặc một dòng họ).

[104] Phương sách (方冊) có nghĩa gốc là Cổ Thư, chỉ một kiểu in sách truyền thống của Trung Hoa. Sách được chia thành trang, in trên một mặt của một tờ giấy dài. Sách in xong sẽ được gấp thành trang, khâu gáy, gắn bìa tạo thành một quyển sách thường có từ bốn mươi đến năm mươi trang. Trước thời Minh, kinh Phật thường in trên giấy dài, cuộn thành trục, hoặc theo lối Điệp Tử tức xếp thành trang, nhưng không khâu gáy.

[105] Đây là một câu chuyện liên quan đến Mạnh Thường Quân (Điền Văn). Năm 298 trước Công Nguyên, Điền Văn đi sứ sang nước Tần. Tần Chiêu Tương Vương (Doanh Tắc) nghe tiếng Mạnh Thường Quân là người hiền, có năng lực, muốn giữ ông lại làm tướng quốc. Nhưng có người nói: “Điền Văn là quư tộc nước Tề, nếu làm tướng quốc của Tần, ắt sẽ ưu tiên cho Tề, Tần sẽ lâm nguy”. Tần vương nghe vậy, muốn giết Điều Văn. Điền Văn sai người đút lót cầu cứu với một sủng phi của vua Tần. Do bà ta thổi gió bên tai, vua Tần đồng ư thả Điền Văn. Không lâu sau, vua Tần hối hận, sai người đuổi bắt. Đến ải Hàm Cốc, cửa ải đóng chặt, quy định mặt trời mọc mới mở. May sao, trong đám môn khách của Điền Văn có người giả tiếng gà gáy, khiến cho gà trong ải đều gáy theo. Quân giữ ải cho là trời đă sáng, mở cửa ải, Điền Văn vượt ải trốn về Tề.

[106] Quân () là đơn vị đo lường thời cổ. Một quân là ba mươi cân. Như vậy, một Quân khoảng 15kg.

[107] Quốc Phong chính là một trong ba phần của kinh Thi (Phong, Nhă, Tụng). Quốc là các nước chư hầu. Phong có nghĩa là ca khúc, tức là làn điệu riêng của mỗi nước. Quốc Phong gồm một trăm sáu mươi bài, bao gồm các bài hát của mười lăm nước (Châu Nam, Thiệu Nam, Bội, Dung, Vệ, Vương, Trịnh, Cối, Tề, Ngụy, Đường, Tần, Bân, Trần, Tào) từ thời Tây Châu tới thời Xuân Thu được tuyển chọn để diễn xướng trong cung đ́nh. Theo các nhà nghiên cứu, có một số bài do các quư tộc soạn ra lấy cảm hứng từ các bài quốc phong trước đó. Nội dung ca khúc (đa số là dân ca) phản ánh tâm t́nh, cuộc sống của người thời ấy. Từ ngữ hồn hậu, có độ mỹ cảm cao.

[108] Đại Trung Thừa là danh xưng để gọi Tả, Hữu Đô Ngự Sử thuộc Đô Sát Viện đời Minh. Đô Sát Viện chính là cơ quan giám sát và đàn hặc quan lại được thiết lập từ đời Đường, là một viện trong ba viện của Ngự Sử Đài (Đài Viện, Điện Viện, và Đô Sát Viện). Tả Đô Ngự Sử là trưởng quan của Đô Sát Viện. Thời Minh, Đô Ngự Sử c̣n là hàm gia phong cho các quan Tổng Đốc, Đề Đốc, Tuần Phủ, Kinh Lược, Tổng Lư, Tán Lư, Tuần Thị, và Phủ Đài. Khi có những vụ trọng án, Đô Sát Viện sẽ tham dự cùng với Đại Lư Tự và H́nh Bộ (thường gọi là Tam Đại Pháp Ty đồng thẩm) để bảo đảm quá tŕnh thẩm án, điều tra, kết tội và thi hành án chí công, vô tư.

[109] Nguyên văn “vân hưng, b́nh tả” (雲興瓶瀉), c̣n nói là “vân thăng b́nh tả” hoặc “vân đằng b́nh đảo”. Đây là thuật ngữ thường dùng trong nhà Thiền để h́nh dung hết thảy đều thuận theo tự nhiên, như mây luôn tự nhiên bốc lên cao, dốc ngược cái b́nh th́ nước chứa trong ấy tự nhiên tuôn ra.

[110] Tức là đọa làm thân súc sanh bị giết, mổ, nấu nướng trong tương lai sau khi thoát khỏi địa ngục.

[111] Tác phẩm này do đạo sĩ Hựu Huyền Tử biên soạn vào năm Đại Định 11 (1171) nhà Kim. Do ông ta viết là trong mộng được Thái Vi Tiên Quân truyền dạy, nên tác phẩm này thường được gọi là Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách. Do sách có tác dụng khuyến thiện sửa lỗi rất hữu ích, nên tác phẩm này rất được Phật môn Trung Hoa coi trọng.

[112] Linh đài là chân tâm của chính mình. Linh đài (靈臺) trong nghĩa gốc vốn là cái đài cao để quan sát tinh tú và các hiện tượng thiên văn để dự đoán cát hung của đế vương thời cổ. Do vậy, từ ngữ “linh đài” được mượn dùng để chỉ tâm linh, chân tâm sáng suốt của mỗi người.

[113] Nhị bộ đồng tử có hai cách hiểu:

- Theo Phật giáo, khi con người sanh ra, sẽ có hai vị trời thường đi theo, một là Đồng Danh, hai là Đồng Sanh. Hai vị trời này giám sát và ghi chép hành vi thiện, ác của cá nhân ấy.

- Theo Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, có hai vị trời thường giám sát hành vi, ghi chép thiện ác của mỗi cá nhân, gọi là Thiện Ác Nhị Bộ Đồng Tử.

Theo Tứ Thiên Vương Kinh, Tứ Thiên Vương và thuộc hạ giáng lâm nhân gian trong sáu ngày trai để tuần tra thiện ác của nhân gian. Do vậy, họ được gọi là Lục Trai Chư Thiên.

Thai Bành Tư Mạng là các vị thần trông coi thiện ác của mỗi cá nhân theo quan điểm Đạo Giáo. Theo đó, Tam Thai chính là sáu tinh tú trong tinh tòa Bắc Đẩu, được thần cách hóa thành tinh quân, chia thành ba cặp là Thượng Thai, Trung Thai và Hạ Thai. Thượng Thai chủ thọ và mạng vận, Trung Thai chủ về công đức, Hạ Thai chủ về tài lộc. Bành tức là Tam Bành, còn gọi là Tam Thi, tức ba vị thần ẩn sâu trong cơ thể con người, sai khiến con người làm những điều sai trái. Theo Động Thần Quyết, Thượng Thi Bành Cứ khiến con người ham thích vị ngon, si mê theo những điều ham muốn, Trung Thi Bành Chất khiến con người tham đắm của cải, thích hỷ nộ, Hạ Thi Bành Kiểu khiến con người ham y phục đẹp, đam mê dâm dục.

Nhật du và dạ du là những vị thần du hành trong nhân gian vào ban ngày (nhật du) và ban đêm (dạ du) để xem xét công hay tội của con người.

Dữ Tư là thần chủ trì ban thưởng khi con người làm thiện, Đoạt Tư là vị thần chủ trì trừng phạt như giảm thọ, giảm phước khi con người tạo tội.

Nguyên hội tiết lạp là những ngày lễ quan trọng trong năm theo quan điểm Đạo giáo, như Tam Nguyên (Thượng Nguyên tức Rằm tháng Giêng, Trung Nguyên tức Rằm tháng Bảy, Hạ Nguyên tức Rằm tháng Mười). Đạo Giáo quy định ngoài Tam Nguyên còn có Ngũ Lạp là Thiên Lạp (Mồng Một Tết), Địa Lạp (mồng Năm tháng Năm), Đạo Đức Lạp (mồng Bảy tháng Bảy), Dân Tuế Lạp (mồng Một tháng Mười), Vương Hầu Lạp (mồng Tám tháng Chạp). Có thuyết cho rằng Nguyên là ngày Nguyên Tiêu (Rằm tháng Giêng), Hội là Trung Nguyên, Tiết là ngày Đoan Ngọ, Lạp là ngày mồng Tám tháng Chạp.

[114] Dung Trai Tùy Bút là tập bút kư của Hồng Mại thời Nam Tống, nội dung chứa đựng sử liệu phong phú, nên được đánh giá rất cao, và được coi là tác phẩm cần phải đọc khi nghiên cứu lịch sử đời Tống. Sách được chia thành năm phần Tùy Bút, Tục Bút, Tam Bút, Tứ Bút, Ngũ Bút, bao gồm những ghi chép ngắn, gọi là Tắc. Tổ Liên Tŕ cũng theo h́nh thức này. Nói chung, bộ Dung Trai Tùy Bút gồm bảy mươi bốn quyển, tổng cộng 1.220 tắc. Hồng Mại (1123-1202), tự là Cảnh Lô, hiệu Dung Trai, người huyện Bà Dương, Nhiêu Châu (nay là huyện Bà Dương tỉnh Giang Tây), là một quan văn nổi tiếng thời Nam Tống, ông từng giữ các chức Hàn Lâm Học Sĩ, Long Đồ Các Học Sĩ, và Đoan Minh Điện Học Sĩ. Ngoài Dung Trai Tùy Bút, tác phẩm Di Kiên Chí của ông cũng rất nổi tiếng. Những tác phẩm ít nổi tiếng hơn là Tứ Triều Quốc Sử Kư, Khâm Tông Kư, Vạn Thủ Đường Nhân Tuyệt Cú (một vạn bài thơ tuyệt cú của người đời Đường), Kinh Nghĩa Khảo…

[115] Nhạc Phủ (樂府) là một thể loại thơ cổ. Nhạc Phủ có nghĩa gốc là cơ quan quản lư âm nhạc vào thời Tần. Vào đời Hán, Hán Huệ Đế thiết lập Nhạc Phủ Lệnh để chưởng quản âm nhạc trong thế tục, thâu thập những ca khúc dân gian đă được phổ nhạc. Nói cách khác, những loại thơ viết theo phong cách có thể ca xướng th́ gọi là Nhạc Phủ.

[116] Đây là ca ngợi đức tánh điềm tĩnh của nho gia, như Khổng Tử bị vây hăm tại đất Trần, học tṛ lo sợ, Ngài vẫn thong dong gảy đàn cầm. Khi nghe tin có thân hữu mất, Ngài đau buồn tuôn lệ, chẳng ca hát hoặc tấu nhạc.

[117] Không Thanh c̣n gọi là Thanh Du Vũ, Thanh Thần Vũ, Dương Mai Thanh, Thanh Yếu Nữ, công thức hóa học Cu2[CO3][OH]2. Chất này được dùng trong Đông Y, họ cho rằng Không Thanh vị chua, tánh hàn, hơi độc, dùng làm thuốc trị bệnh mắt có màng mộng.

[118] Thái Sử (太史) là chức quan có trách nhiệm chép sử và quản trị lịch pháp. Về sau, chức vụ này dần dần bị hạ thấp, chỉ c̣n trông nom lịch pháp và thiên văn (chiêm nghiệm tinh tú để suy đoán cát hung). Từ thời Ngụy - Tấn trở đi, Thái Sử chỉ trông coi lịch pháp, c̣n thiên văn do cơ quan Khâm Thiên Giám phụ trách. Đến đời Minh - Thanh, việc biên soạn sử do Hàn Lâm Viện phụ trách, dân chúng vẫn thường quen gọi các quan chức thuộc Hàn Lâm là Thái Sử.

[119] Thật Xoa Nan Đà (Śikṣānanda, 652-710) là vị Tăng dịch kinh đến từ xứ Vu Điền, tinh thông Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa, sống vào đời Đường. Vào năm Chứng Thánh nguyên niên (695), do thấy kinh Hoa Nghiêm bản dịch đời Tấn chưa hoàn chỉnh, Ngài khởi sự dịch kinh Hoa Nghiêm tại Đại Biến Không Tự ở Lạc Dương cho tới năm Thánh Lịch thứ hai (699) mới hoàn thành, gồm tám mươi quyển. Do vậy, bản dịch này được gọi là Bát Thập Hoa Nghiêm. Bộ kinh này có sự cộng tác của các vị Bồ Đề Lưu Chi, Nghĩa Tịnh giúp phiên dịch, các vị Hoằng Cảnh, Viên Trắc, Thần Anh, Pháp Bảo, Pháp Tạng chứng nghĩa, lại được ngài Phục Lễ nhuận văn. Vũ Tắc Thiên đọc bản dịch, hết sức tán thưởng, đích thân soạn lời tựa. Ngoài ra, Ngài c̣n dịch Đại Thừa Nhập Lăng Già Kinh, Văn Thù Sư Lợi Thọ Kư Kinh, Nhập Như Lai Trí Đức Bất Tư Nghị Kinh, Như Lai Bất Tư Nghị Cảnh Giới Kinh, Phổ Hiền Bồ Tát Sở Thuyết Kinh, Quán Thế Âm Bồ Tát Bí Mật Tạng Thần Chú Kinh.

[120] Bí Các vốn là chỗ cất giữ sách vở của triều đ́nh. Cơ cấu này đă được thành lập từ đời Tấn. Đến đời Tống, do điển tịch quá nhiều, bèn lập ra tam quán là Chiêu Văn Quán, Tập Hiền Quán và Sử Quán, gọi chung là Sùng Văn Viện hoặc Quán Các. Đến năm Đoan Củng nguyên niên (988), lại lập riêng Bí Các thuộc Sùng Văn Viện, đặt ra các chức quan Trực Bí Các, Bí Các Giảo Lư v.v… để trông coi sự vụ thuộc Bí Các.

[121] Đại Tư Thành (大司成) là chức quan trông coi các sự vụ thuộc về giáo dục, chịu trách nhiệm tổ chức khảo hạch và bồi dưỡng đức hạnh của học tṛ. Chức quan này đă có từ đời Châu, dùng để gọi chung các thuộc hạ của quan Tư Đồ. Thời Đường Cao Tông, triều đ́nh đổi Quốc Tử Giám thành Tư Thành Quán, và đổi chức Tế Tửu (hiệu trưởng Quốc Tử Giám) thành Đại Tư Thành (ngoài nhiệm vụ làm hiệu trưởng Quốc Tử Giám, Đại Tư Thành c̣n quản trị chế định và chánh sách thi cử toàn quốc, cũng như chủ tŕ các sự vụ liên quan đến khoa cử), đổi chức Tư Nghiệp thành Thiếu Tư Thành. Đến năm Hàm Nguyên nguyên niên (607) lại gọi như cũ, nhưng dân chúng vẫn quen gọi chức Tế Tửu là Đại Tư Thành.

[122] Đệ tử của Khổng Tử là Tử Du (tên thật là Ngôn Yển) ra làm ấp lệnh ở Vũ Thành, dùng lễ nhạc để giáo hóa dân chúng. Khổng Tử đến Vũ Thành, nghe một khúc nhạc và tiếng ca, mỉm cười nói: “Cắt cổ gà sao lại dùng dao mổ trâu?” Tử Du thưa: “Xưa kia, Yển cũng từng nghe phu tử bảo: - Quân tử học đạo th́ yêu thương mọi người, tiểu nhân học đạo th́ dễ sai khiến”. Khổng Tử bảo các học tṛ nói như vậy là đúng, chính ḿnh vừa mới nói đùa thôi. Từ đó, từ ngữ Vũ Thành Huyền Ca được dùng để biểu thị sự coi trọng dùng lễ nhạc để giáo hóa.