Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 6

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

* Đề từ cho bộ Sát Sanh Quưnh Giới (殺生炯戒)[1]

a) Luận về loài chim

         

          [mẹ] nuôi gà con. Ưng, diều hâu từ trên không trung đáp xuống, [gà mẹ] liền vỗ cánh, kêu quang quác để bảo vệ con ḿnh. Người hiện thời thương yêu con cũng như thế, chờ ngày gà con béo tốt bèn giết để [cho con ḿnh] ăn, có được hay không? Gà do sức chẳng chống nổi người, [phải đành chịu], nhưng cũng biết là nó thù hận. Huống chi ăn gà chưa đủ, c̣n ăn ngỗng, vịt! Ăn ngỗng, vịt chưa đủ, lại c̣n ăn chim sẻ, bồ câu bay trên không trung. Đời người chỉ v́ ăn no một bữa, sao mà chẳng chán đến nỗi như thế đó? Buồn thay!

 

b) Luận về loài thú

 

          Cọp ăn các loài thú, con người đều ghét nó, bèn săn, giết; nhưng cọp có khi cả mười ngày hay một tháng chẳng ăn một con thú nào. Con người giết chóc, nấu nướng chẳng sót một ngày nào. Các loài trâu, dê, chó, lợn, cheo, nai, hoẵng, thỏ [bị giết, mổ] chẳng biết ngần nào, [con người] c̣n hơn cọp nữa! Buồn thay!

 

c) Luận về loài có vảy

 

          Người ta tự nói “phải nên ăn thịt”, chẳng biết đây kia ăn thịt lẫn nhau, đều là mạnh ăn hiếp yếu. V́ thế, cọp mạnh hơn người th́ ăn thịt người; nhưng cọp có lúc bị người ăn thịt. Lần lượt thắng, thua, ai có thể ăn rồng? Yếu là thịt, mạnh là kẻ ăn, há chẳng đúng như thế ư? Do vậy, chẳng thể lấn hiếp rồng, chứ cá th́ có thể lấn hiếp mà ăn nó. Cá nục, lươn, cá ch́nh, ốc, ṣ, tôm, cua, rùa, ba ba, [con người] đều có thể lấn hiếp mà ăn thịt chúng. Đại để là bọ ngựa ăn ve sầu, sẻ ăn bọ ngựa. Con người cũng cam tâm làm bọ ngựa, buồn thay!

 

d) Luận về loài trùng

 

          Chớ nên dễ dăi giết ong, kiến. Tằm bị lạm dụng quá nhiều, từ cổ đến nay không sao phế trừ được, biết làm sao đây? Ôi! Mùa Hạ có thể mặc áo vải mỏng, mùa Đông có thể mặc áo bông. Mũ miện có thể chế bằng gai, áo dài có thể may bằng vải thường, sao chẳng thể bỏ nuôi tằm được? Lượt là trang điểm cái thân, đại để chỉ cốt sao chưng diện choáng lộn! Chẳng có lượt, là, cố nhiên vô hại, nhưng quăng trăm ngàn vạn ức con tằm vào chảo nước sôi, rút ruột chúng ra để làm thứ chưng diện cho ḿnh, tàn nhẫn lắm thay! Chắc có kẻ lại nói: “Đừng giết ong, kiến th́ đúng, chứ muỗi, rệp, rận đốt, cắn ta th́ làm sao?” Ôi! Muỗi th́ có thể dùng màn chặn, rệp th́ có thể thả, sao muỗi, rệp ắt chẳng thể dung thứ ư? Buồn thay!

 

* Lời bạt cho sách H́nh Giới

 

          Có đại trưởng giả Lữ Thúc Giản Thị soạn Thệ Sĩ Yếu Quyết (筮仕要訣, bí quyết trọng yếu cho người làm quan), tiên sinh Trâu Nam Cao cho in thạch bản [sách ấy] để rộng lưu truyền. Tám chương H́nh Giới (刑戒, răn đừng dùng nhục h́nh) càng nêu tỏ những chỗ vi tế ẩn tàng, ra rả, thiết tha, khẩn khoản, khổ tâm [răn nhắc]. Tôi đọc ba lượt, chắp tay, khởi tâm cung kính, tán thán ba lượt mà chẳng thể thỏa. Bởi lẽ, tôi cố nhiên có cái tâm ấy, nhưng chẳng thể nói chuyện không thuộc phận vị của ḿnh. Nay may sao lại được nghe lời giáo huấn tột cùng ngàn đời chưa từng được nhắc đến của bậc chánh nhân quân tử? Há riêng kẻ mới làm quan cho đến kẻ đă nhậm chức lâu ngày, suốt đời cho tới khi làm tam công, đều chẳng thể một ngày nào không khăng khăng ghi nhớ [lời răn “đừng dùng nhục h́nh”] trong tâm! V́ sao? Người mới ra làm quan, chưa quen hành h́nh người khác, vừa mới tiếp xúc, ắt có t́nh tự kinh sợ, thương tâm, thảm năo. Nay đă quen nết, mai tập thành thói, đánh người như phang gỗ đá. Lại quen thuộc hơn, giết người như dẫy cỏ! Than ôi! Một mũi nhọn thọc vào rách toạc da. Nhổ chút tóc mà mặt biến sắc. Thân ḿnh, thân người, đau đớn, ngứa ngáy, há có hai ư? Thế mà mê muội tàn độc sao lại đến nỗi như thế? Người ta thường nói: “H́nh quan vô hậu” (kẻ làm quan chuyên xử phạt chẳng có hậu duệ). Người thật sự vâng giữ lời răn ấy, tôi biết ắt hậu duệ đông đảo, dài lâu. Xưa kia có kẻ làm h́nh quan, mẹ căn dặn: “Đạo trời sáng ngời, chớ nên giết bừa kẻ khác! Mẹ chẳng mong tuổi già thấy đứa con đang độ tuổi tráng niên bị xử tử đâu nhé”. Về sau, quả đúng như thế; đấy chính là ứng nghiệm rành rành cho kẻ chẳng tuân thủ lời răn này. Dựa theo đó mà suy rộng, trị nước, trị nhà, đăi người, đăi vật, đều như thế cả. Ḷng từ bi của Phật, Bồ Tát bất quá như thế mà thôi. Tôi bèn quên bẵng chẳng phải phận ḿnh mà cho khắc in lại [sách này].

 

* Đề từ cho [bộ sách tự chí] chùa Giai Thê do thầy Thanh Quang Dự [biên soạn]

 

          Sáng lập cơ nghiệp đă khó khăn, khéo léo kế thừa càng khó hơn. Kế thừa sao cho lưu truyền vĩnh viễn chẳng mất, càng khó hơn nữa! Giai Thê thuở đầu do thầy Cổ Đàm, người khôi phục hoằng dương là thiền sư Thanh Quang Dự. Xưa kia, tôi gặp gỡ thầy tại kinh đô, năm tháng càng lâu, giao t́nh càng thân, tuổi càng cao, đức càng tiến. [Thầy Thanh Quang Dự] đă khiến cho đời trước càng thêm rạng ngời, lại nghĩ mưu kế để lại cho đời sau. Do vậy, thầy gom góp đầu đuôi [lịch sử] của núi này, phân loại cặn kẽ, tạo thành sách để truyền lại cho các học tṛ. [Do đọc sách này], người đời sau c̣n nghĩ tới nỗi khổ tâm của Ngài, sẽ cẩn trọng giữ ǵn thế nghiệp, tu ṛng đạo nghiệp, mai sau sẽ thong dong nơi bậc thềm bảy báu, tiến bước nơi đầu thang cao ngàn nhận, ngơ hầu nguồn mạch của cụ Đàm nối tiếp chẳng cùng tận, quang minh chiếu rạng vô tận. Hăy gắng lên!

 

* Lời bạt cho Trường Khánh Tập Cảnh Ngộ Tuyển (tuyển chọn những bài thơ cảnh tỉnh giác ngộ từ Trường Khánh Tập)

 

          Hiện thời, Trường Khánh Tập của cư sĩ Hương Sơn (Bạch Cư Dị) được lưu truyền gồm bảy mươi mốt quyển. Trong ấy, có ba mươi tám quyển là thơ, phần lớn thanh nhă, khiêm tốn, chẳng cố ư mà đạt tới ư nghĩa độc đáo. Tôi bèn trích tuyển những bài mang ư nghĩa giải thoát rơ ràng đủ để cảnh tỉnh người đời lười nhác, ương bướng, giác ngộ kẻ đang say mê, soạn riêng thành một tập sách nhỏ, gọi là Cảnh Ngộ Tuyển (警悟選). Những bài như Tỳ Bà Hành, Trường Hận Ca v.v… tuy cảm khái, phúng dụ[2], chẳng kém phần phong nhă, nhưng do mô tả t́nh tứ tột bậc đẹp đẽ, sợ đánh mất ư chỉ [cảnh tỉnh người đời], đâm ra càng tăng trưởng cội dục, nên đành bỏ đó, chẳng sao lục. Chỉ có một trăm bài này, thử mở sách ra xem mà đọc, mà ngâm vịnh, lời thơ dằng dặc, ư vị vi tế, chưa chắc chẳng phải là “ngủ say mộng trước giường, hai bộ cùng trỗi nhạc”[3], lọt vào tai, động cái tâm, đột nhiên tỉnh ngủ. Dụi mắt sáng ngời dưới ánh mặt trời rực rỡ giữa trời quang, cũng chẳng sướng lắm ư? Cư sĩ đă tự nói: “Thông đạt thay! Thông đạt thay! Bạch Lạc Thiên[4]!” Đó gọi là chân ngữ, thật ngữ!

 

* Lời bạt khắc in lại bộ Nghĩ Cổ Nhạc Phủ của Tây Nhai tiên sinh

 

          Tôi lúc trẻ đọc sách tại Nguyệt Đường Am, bạn tôi là Châu Xuân Giang đưa cho tôi xem Nghĩ Cổ Nhạc Phủ (擬古樂府, phỏng theo lối thơ Nhạc Phủ thời cổ) của Tây Nhai tiên sinh[5], sách chỉ có một nửa. Tôi vừa ngâm vịnh, vừa than thở, cho rằng: “Đây là cổ kim tuyệt xướng”. Về sau, tôi ngẫu nhiên có được trọn quyển sách, trân quư, cất giữ nhiều năm, sợ sẽ bị mất đi, bèn sao lục lại để giao cho thợ khắc ván. Kinh Thi mất đi, bèn có Nhạc Phủ. Nhạc Phủ dần dần cũng biến đổi, bèn có ca khúc. Chẳng bàn tới ca khúc! Ngay như những thứ từ thời Ngụy, Hán, Tùy, Đường cho tới hiện thời được gọi là Nhạc Phủ, thậm chí những từ điệu của các danh gia Châu, Liễu, Tần, Tô (Châu Bang Ngạn, Liễu Vĩnh, Tần Quán, Tô Thức tức Tô Đông Pha), tuy mỗi thứ đều tột cùng đẹp đẽ, khéo léo, nổi tiếng đương thời, vang danh hậu thế, nhưng phần lớn đều mô tả t́nh tứ, duyên theo vật, vướng mắc cảnh. Những bài có thể nâng đỡ thế đạo, yên ḷng người, ngàn bài chỉ được một mà thôi. C̣n những bài trong tập sách này, mỗi mỗi đều phát xuất từ đại học vấn của tiên sinh tạo thành đại nghị luận, há chỉ hùng hồn trăm đời, đại để là thẳng thừng noi theo phong cách thanh nhă thuở trước, hiếm thấy trong ṿng trời đất! Người xem [những bài thơ ấy] sẽ nghĩ đến Nhạc Phủ, [như vậy th́] Cổ Nhạc Phủ được đặt vững bởi tiên sinh đấy chăng?

Chắc có kẻ nói: “Ông là người tu Thiền, tập sách này chẳng phải là kinh, luật, luận, chẳng phải là chú sớ, ngữ lục, văn tự của tôn túc, mà là ngôn ngữ thuộc về Thế Đế, sao lại khắc in để làm ǵ?” Ôi! Ông chẳng thấy tụng cổ của Tuyết Đậu lăo nhân ư? Người hiểu biết nhận định Ngài là bậc thánh về tụng cổ, nay riêng tiên sinh chẳng biết Thiền đạo tham cứu cái tâm hay sao? Giả sử tham Thiền có ngộ, có lúc thốt ra một bài niêm, một lời b́nh, một kệ, một câu, th́ kiến lực, bút lực, sức phán đoán bắt hay thả, sức giết chết hay cứu sống đều thần kỳ biến huyễn chẳng thể nghĩ bàn, ắt có thể sánh cao thấp với cụ Tuyết Đậu, há chẳng đáng truyền ư? Bèn sao lục lại, đem khắc in.

 

* Lời bạt cho Lật Trai Tiên Sinh Di Cảo

 

Thái Sử Trương Dương Ḥa viết Lật Trai Tiên Sinh[6] Truyện, những điều được ghi chép trong ấy, đa số là ca ngợi tiên sinh hiếu thảo, ḥa thuận với anh em, liêm khiết, có tiết tháo, tự lấy đạo học của cổ thánh hiền làm trách nhiệm của chính ḿnh, nhưng sáng tác văn tự chỉ là chuyện phụ. Những điều luận nghị, ca vịnh trong ấy, đa số là bàn về lư tánh, chưa từng chú trọng đua chen hoa mỹ, bóng bẩy, cũng chẳng chỉ buông lung t́nh cảm nơi núi, sông, trúc, mộc mà thôi! Đối với các thiên sách Thái Cực, Xuân Thu, Hà Đồ v.v… kể từ Khổng Tử trở xuống, Nhan Uyên, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử, cho tới các danh Nho như Liêm Khê, hai anh em họ Tŕnh (Tŕnh Di, Tŕnh Hạo), Hoành Cừ (Trương Tải), Hối Am (Châu Hy), [tiên sinh Lật Trai] đều có lời tán tụng, xiển phát chỗ u huyền, kín nhiệm, xen kèm thêm một hai lời đề tặng, ngay cả [thi văn sáng tác] khi du ngoạn, cũng không ǵ chẳng quy vào thân, tâm, trọn chẳng phải lời lẽ nhàn tản, vô vị. Ôi! Đấy có phải là bậc quân tử thuần chánh, sáng suốt, chuyên dốc, chân thật như cổ nhân đă nói đấy chăng?

Vị tăng là Trí Thụy cầm tiểu truyện của tiên sinh cùng với tạp trước, thi, từ bao nhiêu bài đó, đến chỗ tôi xin khắc in. Tôi chọn lấy một nửa cho khắc ván, đặt tựa đề là Lật Trai Tiên Sinh Di Cảo. Trí Thụy ngoài đời là cháu đích tôn của tiên sinh, đối với tôi th́ là pháp tôn, cũng là người bẩm tánh thuần ḥa, chuyên dốc, có phong thái của tiên sinh, có thể quyên ra tiền y bát để trang trải chi phí khắc ván nhằm xiển dương đẹp đẽ rực rỡ trong cơi đời. Thái Sử lại có t́nh giao du sâu đậm với tôi, lại c̣n chẳng phải là người nói dối. Do vậy, tôi bèn viết đôi lời vào cuối sách.

 

* Đọc những ghi chép về cách hành xử của Châu Cao Sĩ

 

          Năm trước, tôi qua B́nh Hồ, nghỉ tại chùa Vu Tháp ở Viên Châu, khi đó, cao sĩ trọ tại Ngũ Đài. Lục công nghe tôi đến, rất vui, trọn đủ oai nghi, đáp thuyền cung kính đến thăm. Sau đấy, tôi sang đất Việt, có lúc cùng với các vị quân tử đạo học cực lực đàm luận về huyền nghĩa của Chỉ Quán. Lại c̣n gặp gỡ [cao sĩ] khi nghỉ lại Năng Nhân Đường, trước sau nói chuyện rất hợp, tin tưởng càng bền vững. Tôi sang lễ núi Thanh Lương, qua Yên Kinh, t́m dấu vết cũ của liên xă nơi Khuông Lư, từ Bạch Hạ trở về Nam, cây bách nơi mộ cao sĩ đă to một ṿng tay! Cao sĩ dùng tâm địa của Trọng Ni, Nhan Tử để dốc chí cao nhă nơi nội điển, danh c̣n chưa thành, mà thọ đă chẳng trọn nửa trăm, lại c̣n chẳng có con nối dơi. Nh́n theo con mắt thế gian, có thể nói “Phật pháp chẳng linh nghiệm”. Phàm người học Phật, nếu thật sự dốc chí nơi danh vọng, sống thọ, con cháu, bảo là “chẳng có linh nghiệm” cũng được! Chứ cao sĩ cố nhiên đă thấy thành hay bại như nhau, sống thọ hay chết yểu như nhau, có con cháu nối dơi hay không đều như nhau, vậy th́ xem nhẹ báo thân trong một đoạn thời gian đúng là như bọt nước nổi, sanh ra rồi diệt mất trong biển xanh, há đáng nên xem trọng hay coi thường? Ôi! Tôi thấy một bậc cao sĩ há có phải là do tôn quư, vinh hiển, sống thọ, con cháu đông đúc trăm đời [mà được tôn xưng là cao sĩ] ư? Trong cơi mộng huyễn, chưa chắc đă chẳng phải là không có người ngộ vậy!

 

* V́ cư sĩ Lục Mộng mà viết trên cái quạt

 

          Sen là loài hoa do nước mà sanh, gặp lửa mà héo. Nay hoa từ lửa sanh, ai lại có thể khiến cho nó héo úa? Sen lấy nước làm mạng, mà nói là “sanh từ lửa”, ư chỉ ấy ở chỗ nào? Há chẳng phải là coi ḷ lửa hừng to lớn chính là cái ao trong mát? Pháp vốn sẵn là như thế, chẳng phải là do thần thông khiến thành như vậy. Chỉ có người vượt ngoài hạn lượng mới lănh hộichuyện hiếm có này! Tuy vậy, ngộ trong lửa có sen, hư huyễn rút bớt, hay hư huyễn thêm vào, công điều ḥa, bảo vệ chẳng phế, lửa ấy được gọi là “dương ḥa” (陽和, khí hậu ấm áp của mùa Xuân, hoặc khí hậu ôn nhuận dễ chịu). Nương vào sen mà lửa xuất hiện, tùy ư hừng hực, hoặc tùy ư diệt mất. Hễ cái tâm tăng thượng mạn vừa sanh, lửa ấy được gọi là lửa độc. Do vậy biết: Lửa được gọi là tăng trưởng sanh thành, nhưng cũng dẫn đến sự cháy khô, cùng với nước vốn nhuần thấm, giúp cho trưởng thành, lại kiêm hai thứ khuyết điểm là ngập lụt và vùi lấp, há chẳng nên thận trọng ư? Cư sĩ dùng cái tâm chí thành, t́m kiếm phương cách tăng trưởng “sen trong lửa” nơi núi rừng. Núi rừng chẳng phụ người đến hỏi, nói líu lo trong cơn mớ ngủ[7]. C̣n đối với câu “nước và lửa chẳng tương quan”, ắt cư sĩ đă tự ngộ.

 

14.3. Kư (được in rải rác các chỗ và trong di cảo, đều ghi thêm vào đây)

 

* Bài kư khôi phục chùa cổ Vân Thê

         

          Khi tôi mới vào chùa Vân Thê thuộc Phạm sơn, các vị phụ lăo bảo tôi: “Chùa này bị nước lụt cuốn trôi sạch, nay đă gần trăm năm. Khi ấy, chẳng có sức để xây dựng lại, dựng cái lều tranh ở giữa đường trong cuộc đất hoang phế ấy, gọi là Vân Thê Biệt Viện”. Tôi c̣n thấy một vị Tăng sống ở đó, nhưng Thê Chân (棲真, trụ trong lẽ chân thật) là tên ghi trong sổ sách, chứ dân trong núi hoặc tiều phu thường gọi nơi ấy là Vân Thê (雲棲, mây đậu lại). Tôi liền thuận theo, dùng Vân Thê để đặt tên am, am đă được dựng hơn ba mươi năm rồi. Cho tới khi đọc Lâm An Cựu Chí được soạn trong niên hiệu Hàm Thuần[8], [mới biết] chùa Vân Thê chính là do quốc vương họ Tiền xứ Ngô Việt kiến tạo vào năm Càn Đức thứ năm (967) đời Tống Nghệ Tổ (Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn), tới năm Trị B́nh thứ hai (1065) đời Tống Anh Tông, đổi thành Thê Chân, xem chi tiết nơi trang mười lăm thuộc phần “các chùa, quán ở Tiền Đường”. Tôi vẫn gọi là Vân Thê, ngầm phù hợp thời cổ, cố nhiên là chuyện thích đáng. Xưa kia, vào khoảng cuối thời Gia Tĩnh - Long Khánh, đầu thời Vạn Lịch, người tu chỉnh quận chí cứ viết theo thời gần đây, chẳng tra cứu thời cổ. Nay khôi phục tên cũ, há chẳng phải là do túc duyên khiến thành ra như thế ư? Tôi đă cảm khái v́ vô tâm mà hợp cổ, lại càng cảm khái trước chuyện xưa nay nối tiếp nhau thay đổi chẳng thường hằng. Dấu tích linh thiêng tịch mịch, ch́m đắm đă lâu, chẳng được nêu tỏ không biết ngần nào? Ngô Quận thời cổ là Hàng Châu, đă trở thành Lâm An. Về sau, lại trở thành đất Hàng, gọi là Cổ Hàng. Nay chùa cũng giống như thế; do vậy, đề biển ngạch là Cổ Vân Thê Tự, ngơ hầu [người khác nh́n vào tên gọi ấy sẽ] biết năm tháng vậy!

 

* Bài kư trùng tu Vân Thê Thiền Viện

 

Phủ trị đất Hàng phía Nam kề ngay đại giang (sông Tiền Đường), phía Tây tiếp nối hai hồ Minh Thánh nhị hồ, muôn ḥn núi vây quanh hồ san sát bến sông. Từ phía Tây của sông đi ngược lên hơn hai mươi dặm là quả núi có tên là Ngũ Vân. Trước kia, đỉnh núi có mây lành năm sắc quẩn quanh trên đó; do vậy, đặt tên núi [là Ngũ Vân]. Lại có mây năm sắc trôi về, tụ vào hang động nơi phía Tây của núi đă lâu chẳng tan; người đương thời lấy làm lạ, gọi nơi đó là Vân Thê Ổ (雲棲塢, hang mây đậu). Năm Càn Đức thứ năm (967) đời Tống, có vị Tăng kết am [tại đó] để ở. Trong Ổ có nhiều cọp, Tăng đến, cọp liền thuần phục, cơi đời gọi Sư là Phục Hổ thiền sư bởi lẽ đó. Ngô Việt Vương họ Tiền bèn v́ Sư lập chùa; do vậy, Vân Thê được sáng lập. Thiền sư c̣n có một hiệu là Đại Phiến ḥa thượng (大扇和尚, ḥa thượng quạt to), húy Chí Phùng (志逢). Thoạt đầu, Sư dựng thất trên đỉnh Ngũ Vân. Trong niên hiệu Thiên Hy (thời Tống Chân Tông), vua ban sắc chỉ đặt tên chùa là Chân Tế Viện (真濟院), đồng thời mở thêm hai viện Vân Thê và Thiên Tŕ thành ba cảnh chùa. Về sau, vào năm Trị B́nh thứ hai (1065), đổi tên thành Thê Chân. Nay gọi là Vân Thê là khôi phục tên cổ.

Vân Thê nằm ở phía Tây ngọn Ngũ Vân, đường ṃn ngoằn ngoèo, rừng cây u tĩnh, bốn quả núi vây kín xung quanh, cây phủ xanh ŕ. Rặng phía Đông có ngọn Bích Quán (壁觀), dưới ngọn núi có suối, gọi là Thanh Long Tuyền (青龍泉, suối rồng xanh). Kế tiếp, ở bên cạnh ngọn núi giữa, lại chảy ra một con suối, tên là Thánh Nghĩa Tuyền (聖義泉). Phía dưới đó, nơi chân núi thuộc vách núi phía Tây, lại chảy ra một con suối tên là Kim Dịch Tuyền (金液泉), dùng ống trúc dẫn nước suối chảy êm đềm, trong mát, thơm ngọt, lấy nước dùng hoặc tuôn tưới đều chẳng cạn kiệt. Chỉ có điều hoang vu, vắng vẻ, ít dấu chân người lui tới, chẳng phải là kẻ quên thân, tâm vắng lặng, sẽ chẳng thể ở được! Đầu niên hiệu Thiệu Hưng[9], có Từ Tri Các[10] theo chân triều đ́nh [lánh nạn giặc Kim], vượt Trường Giang về Nam, ở ẩn bên cạnh chùa. Về sau, ông xả nhà thành chùa. Năm Hoằng Trị thứ bảy (1494) thuộc thánh triều (nhà Minh), mưa dầm gây lụt lớn, nhà, điện, kinh, tượng nổi trôi theo nước. Tăng dần dần ly tán, những vị già yếu bèn thuê nhà sống trong thôn trang. V́ vậy, tự viện thành chốn cỏ hoang um tùm. Phụ lăo đi qua, thương cảm ứa lệ. Vệ tướng quân Dương Ngọc Khê và con trai là Niệm Đường mến chuộng Tam Bảo, quyên mộ Tăng trùng tu, nhưng nhiều lượt khổ sở v́ nạn hổ, không sống được, phải bỏ đi.

Năm Long Khánh thứ năm (1571), Châu Hoằng hành cước trở về Nam, ưa thích nơi này non cao vắng vẻ, thân đơn, bát lẻ, ngồi xếp bằng trong chỗ tường sụp. Thái học sinh[11] Trần Như Ngọc, Lư Tú v.v… dựng cho tôi ba gian tĩnh thất. Châu Hoằng ngày th́ bầu bạn với nai rừng, đêm th́ xướng họa cùng chim, suối, thong dong tưởng sẽ suốt đời. Thôn dân lấy làm lạ tôi có thể ở lâu như thế. Các thôn thuộc bốn mươi dặm chung quanh [núi Ngũ Vân], mỗi năm chẳng dưới hai mươi người bị thương v́ hổ. Gà, chó chẳng tính! Châu Hoằng phát ḷng bi khẩn thiết, phúng kinh một ngàn quyển, lập Du Già Thí Thực để tế độ. Từ đấy, hổ chẳng tổn thương người. Nhằm năm hạn hán, tôi cầu đảo trong núi, gặp mưa đúng thời tuôn xuống, dân trong thôn lại hết sức mừng rỡ, vui mừng được an cư, cùng nhau nườm nượp vác gỗ kéo tới, nói: “Những thứ này do tổ tiên tôi đă trồng”. Họ vác cuốc xẻng, phát quang, phủi bụi để lộ các tảng đá kê chân cột, chỉ vào đó, nói rằng: “Đây là vật cũ của chùa Vân Thê. Thiền sư tạo phước cho thôn chúng tôi. Tôi nguyện xây chùa mới trên nền cũ, ḥng giữ vĩnh viễn nơi hương đèn trong vùng chúng tôi!” Do vậy, chẳng mấy chốc mà thành Lan Nhă. Ngoài chẳng có cửa cao, giữa chẳng có đại điện, chỉ có Thiền đường để tăng ở, pháp đường để sùng phụng kinh luật mà thôi.

Châu Hoằng tự biết chính ḿnh viễn vông, thô hèn, chẳng có một tấc sở trường nào đáng khen ngợi, ôm bệnh vào núi, cam phận mục nát với cỏ cây. Bỗng chốc gặp huyễn duyên, hưng khởi chốn suy đồi, suy sụp này, há dung ăn không ngồi rồi, chẳng nghĩ trên là báo ân Phật, dưới là đền đáp đàn-na tín thí ư? Xét ra, tôi suốt đời chuộng chân thật, coi nhẹ chuyện phù phiếm, khoa trương, cam tâm trong cảnh khốn cùng, bó buộc, xấu hổ đối với danh lợi, cùng với một hai người cùng chí hướng cùng nhau dùi mài, nỗ lực thực hiện đạo xưa, ước hẹn với hàng hậu tấn: Hễ kẻ nào phạm [lỗi giới hạnh và quy ước cộng trụ của Vân Thê] ắt phải rời đi. Chủ yếu phần lớn là dùng Tịnh Độ [làm pháp chủ tu]. Mùa Đông chuyên tọa Thiền, ngoài ra kiêm giảng tụng. Hằng ngày có lịch tŕnh, mỗi tháng có kết toán, mỗi năm có sổ sách minh bạch, nghiêm ngặt, khiến cho kẻ vô lại chẳng thể chen lẫn vào đó. Tuy chẳng giúp ích to lớn cho pháp môn, chỉ mong cứu văn thói tệ của người học trong đời Mạt, ḥng đợi bậc tri thức trong mai sau. Châu Hoằng là con nhà họ Trầm, tự là Phật Huệ, hiệu Liên Tŕ, người xứ Nhân Ḥa ghi lại.

 

* Bài kư trùng tu chùa Thượng Phương, đào ao phóng sanh

 

          Vùng Vũ Lâm kể từ khi nhà Tống [lánh nạn giặc Kim] chạy về phương Nam, cư trụ quanh Hồ Sơn, các chùa thuộc Thiền, Giảng, Luật rực rỡ chen chúc san sát, trở thành có tiếng trong thành. Cho tới nay, quá nửa bị chìm đắm, đến nỗi chẳng thể khảo cứu các truyện kư hay địa phương chí [để biết về lịch sử của các chùa ấy]. Có chùa Thượng Phương dựa lưng vào tường thành, hai bên liền sát hai cửa Dũng Kim và Tiền Đường [của thành Hàng Châu], trước mặt thông với đường cái quan Tây Tỉnh. Chùa vốn được tạo dựng từ năm Trinh Minh thứ bảy (921) nhà Hậu Lương, nhưng trong năm Cảnh Thái thứ tư (1453) của quốc triều[12], Tăng cho là khó duy trì, bèn bỏ đi. Chùa bị bỏ hoang, dần dần bị dân cư xâm chiếm, chỉ còn lại một phần mười. Ưu-bà-tắc Trầm Thiện Năng kết lều tranh tại đó.

Tới năm Gia Tĩnh 23 (1534), quan Thượng Bảo Khanh[13] là Từ Lục Kiều xin phép triều đình cho thuê đất nơi đó làm vườn. Ông không có con trai, để lại cho con gái, dặn trả lại nhà chùa. Con gái có hiếu lại hiền thục, cầm khế ước về nhà họ Vương, tuân theo lời cha dặn, trao cho Vân Thê, [cuộc đất ấy] bèn trở lại là đất của Tăng như cũ. Chẳng lâu sau, họ Vương qua đời, cư sĩ Tống Hóa Khanh nghe nghĩa cử ấy, bèn đề cao. Hóa Khanh là con cháu của gia tộc nhiều đời ăn bổng lộc, tận lực dùi mài đạo đức, chuộng làm lành chẳng chán, bèn góp tiền đưa cho hai đứa con nhà họ Vương, lấy lại khế ước. Tôi cũng dốc hết tiền riêng, cùng thiện tín mua lại cuộc đất cũ được chừng đó. Hướng chánh điện về chỗ sáng sủa, lập riêng dăy nhà ngang, xoay hướng cửa chính của chùa đối diện tường thành nhằm đảm bảo sự u tịch, mong đời đời phụng sự Tam Bảo.

Do vậy, tôi bàn bạc cùng đại chúng: “Thượng Phương vừa mới trùng hưng, lênh đênh, suy vi, hãy tu tạo, lo liệu như thế nào để được lâu dài?” Có người bàn bạc đốn cây cối, mở rộng điện đường, tụ tập nhiều tăng sĩ, tăng đông thì sẽ thường trụ. Tôi nghĩ chẳng phải vậy! Đang thuở Mạt Pháp, tháp chùa chẳng kiên cố. Thử gập ngón tay tính toán. Cửa tam quan hướng ra chốn phố thị, lầu chuông gác trống chẳng trở thành chốn quăng bừa chén rượu há được mấy nơi? Tăng tuy nhiều mà hạnh thiếu, nhiều để làm gì? Xét ra, cuộc đất này gần thành, thành gần hồ, hồ phía ngoài cao, mà trong thành thì thấp, thuận theo đó mà đào thành kênh, gặp lúc hạn hán cũng chẳng thể khô cạn. Do vậy, rất tiện tạo thành ao phóng sanh. Đối với gian nhà cũ ở chỗ đất trống, sửa sang kèo rường đôi chút, chọn lấy hai ba vị tăng thành tín, sớm chiều Thiền tụng, ngõ hầu trên là chúc nguyện cơ đồ của hoàng thất, dưới là cứu vớt hàm thức, thì sẽ là hành động nhất cử lưỡng tiện vậy.

Có kẻ nói: “Loài vật nhiều như cát, bụi; ao như một cái muỗng, chứa đựng hữu hạn. Làm sao được?” Kẻ đó nào có biết: Đào ao chính là khởi đầu, là dẫn khởi, dẫn đến mở rộng ra, lại càng mở rộng hơn, sẽ mênh mông khắp cõi. Xưa kia, Tử Sản nuôi cá chỉ một chỗ nhỏ bé, giả sử người nước Trịnh dù đại phu, dù quan chức, hay dân chúng đều làm như thế, các lân quốc của nước Trịnh như Yên, Triệu, Tề, Sở cũng đều như thế thì ao vô lượng, nuôi nấng vô lượng. Nếu không, Tây Hồ là ao phóng sanh thời cổ, bảo là “bao dung trọn khắp muôn vật trong vòng trời đất, há có lẽ đó ư? Hóa Khanh thưa: “Vâng, đúng như vậy”. Bèn cùng với em ông ta là Trực Khanh, các vị sĩ phu hiền đức, các tỳ-kheo, tịnh nhân, có người xuất tiền, có người quyên lương thực, sửa sang cuộc đất, cuốc, vét, đào bới, nạo vét dòng suối khô, dẫn nước, đắp đập, đắp đê kiên cố phòng khi nước lũ bị sụp đổ, xây tường vây, vun đất, lèn đá để ngăn ngừa hải ly và rái cá phá hoại. Nhằm đề phòng kẻ ngoài xâm phạm, bèn đắp tường đất kiên cố. Lo cho [các loài vật] gặp phải nóng lạnh, bèn trên th́ trồng cây lấy bóng rợp, phía dưới thì đào ng̣i, bận bịu lo toan suốt ngày đêm, nhọc nhằn chẳng nghỉ, ra sức hơn tháng, ao được hoàn thành. Ngay khi đó, [các con vật] từ trong lồng được thả, đang ở trong nồi mà được phóng thích, thoải mái vùng vẫy, thoát ra thảnh thơi. Trong vòng [cái ao nhỏ như] cái muỗng ấy, đủ để cho chúng nó thong dong.

Tôi vừa mừng vừa sợ, đảnh lễ trình với mười phương Như Lai, thần chủ ao, thần chủ già-lam, nguyện do Phật lực, pháp lực, hiền thánh lực, thệ nguyện lực của chư thần, từ bi gia hộ, oai đức giáng lâm, khiến cho từ nay trở đi tới tột cùng vị lai, [ao phóng sanh này sẽ] thường là nơi an ổn cho các loài thủy tộc đội mai, mang vảy. Lại đảnh lễ thưa với các vị tăng đang trụ nơi đây và mai sau, nguyện dùng giới lực, bi trí lực, nghĩ tới nỗi khổ cứu vớt nhuần thấm [lũ cá đang bị] khô cạn của [trưởng giả] Lưu Thủy, ngài Thiên Thai dâng biểu dùng lời lẽ thẳng thừng để dứt đăng, đó; ngài Trí Giác (tổ Vĩnh Minh) lãnh tội hòng thành tựu lòng nhân, hứng chịu đao sắc mà chẳng hối, vẫn giữ mãi chẳng để hư hoại [ḷng từ], hòng tạo thành phong hóa cho bốn phương.

Những ai dám trái nghịch lời kết minh khi trước, học theo Đào Châu (Phạm Lãi) kiếm lợi bằng lưới, rập, hoặc hùa theo mọi người bán [những sanh mạng trong ao phóng sanh] cho hàng bạch y, thì gọi là trái nghịch Phật luật, phạm Ba La Di. Những người được gọi là Thích tử sẽ triệu tập tăng chúng làm yết-ma để tẫn xuất kẻ đó, chẳng cho cộng trụ! Tức là do kẻ đó cấu kết với ác thần, ắt thần sẽ ngầm trói buộc hồn họ, rành rành hủy hoại thân họ, chẳng thể trốn tránh. Nếu họ thoát được, khi báo thân đã tận, sẽ đọa trong Nê Lê (địa ngục), hứng chịu muôn điều khổ sở chẳng cùng tận. Vì lẽ nào vậy? “Ưa sống, ghét chết” là đạo trời, là lẽ thường tình của con người. Người xưa bỏ ra tiền tài khó bỏ, nhọc nhằn thân xác đáng mến, lập ra nghĩa cử thù thắng chẳng thường thấy trong đời ngũ trược, khiến cho [các con vật] mạng ắt phải chết mà được sống, đặt chúng nơi an toàn. Người đời sau nỡ lòng chẳng suy nghĩ sâu xa, chỉ cốt thỏa lòng riêng tư, trái đạo trời, nghịch tình người, bất tường là do trái nghịch, hung ác, hễ bất tường thì tai ương đưa đến. Dùi đánh xuống, trống vang rền, bóng theo hình, cảm ứng tự nhiên, chẳng phải là nói dối để dọa dẫm.

Hóa Khanh và các đại chúng hớn hở, hoan hỷ, than là “chưa từng có”, thưa rằng: “Lành thay! Đấy là khuôn mẫu cho tăng tục vậy, chớ nên khiến cho đời Mạt Pháp chẳng được nghe”. Bèn lập bia tại Thượng Phương. Tụng rằng:

          - Trùng hưng chốn đã diệt, lại kiêm được phóng sanh. Há chỉ diệt chẳng diệt, sanh cũng tướng vô sanh. Sanh diệt đều diệt rồi. Tịch diệt há trở ngại? Đã siêu hẳn các phương, không phương để nói Thượng. Không phương nói Tây Phương, ý cũng giống như vậy. Người xây chùa, đào ao, nguyện cùng hiểu ý này!

          Ghi vào ngày Phổ Môn Thị Hiện năm Vạn Lịch 28 (1600).

 

* Bài kư về ao phóng sanh của am Trường Thọ ở cửa Bắc

 

Tây Hồ là ao phóng sanh thời cổ. Pháp lâu ngày biến thành tệ, thực chất mất đi, chỉ còn danh suông! Thói tệ lâu ngày thành quen. Hồ luôn sanh ra thủy tộc, danh xưng [ao phóng sanh] cũng bị mê mất, dường như chẳng được nghe nhắc đến nữa. Năm Ất Mùi (1595), tôi giảng diễn kinh Viên Giác tại Nam Bình thuộc núi Phật Quốc. Nam Bình vốn có một cái ao ở cửa tam quan. Khi đó, các vị có danh vọng làm chủ hội, quyên tiền mua đứt cái ao để trồng sen trong đó, dứt hẳn ngư nghiệp. Nhờ vậy, mọi người biết ao phóng sanh là chuyện cũ của vùng Vũ Lâm; tôi lại đào ao ở Thượng Phương. Do nơi cửa Bắc có vườn, trong vườn có ao, lại mua lấy. Vườn cách Thượng Phương theo trục Nam Bắc nửa câu-lô-xá[14], cho nên trong thành có hai ao phóng sanh.

Tôi vừa lập bia tại Thượng Phương, cho rằng đó là khởi đầu, từ khởi đầu sẽ dẫn đến lan tràn rộng ra. Xét ra, tôi đức mỏng, tuổi già lụm cụm, chẳng đủ để tạo thành phong thái, chẳng biết người kế tục hưng khởi chuyện này sẽ được mấy cái ao? Thượng Phương khổ vì chật hẹp, chỉ có thể làm ao; ngoài ra, chỉ có chút rừng trúc. Loài chim có thể ẩn náu, nương cậy trong đó. Ở đây (am Trường Thọ) khá rộng rãi, từ chỗ tiếp giáp ao, mở rộng ra, nước đọng nhiều thành chằm, đối với chỗ đất lộ ra trong vùng nước đọng bèn đắp cao thành lũy, cao ngất như núi, dựa theo đó tạo thành ranh giới, tạo thành lối đi sâu kín. Hãy nên trồng tre hoặc cây tại đó, chúng sẽ mọc rậm rạp thành rừng, khiến cho [loài chim] ríu rít, [thủy tộc] tung tăng, vui sướng quên sầu. Tuy chưa thể bằng một phần vạn Phi Vịnh Đ́nh[15], nhưng cứ tưởng tượng quang cảnh ấy, thì Thượng Phương chẳng thể sánh bằng được!

Phía Đông của vườn là thiền viện Hưng Phước. Xoay sang phía Nam là Dưỡng Tế Viện. Lại xoay sang phía Tây là Đắc Nhất đạo viện. Dưỡng Tế xưa kia có hiệu là Bi Điền. Thánh chúa, hiền thần do thương xót nỗi khổ lênh đênh của dân chúng cô quạnh, không nơi nương tựa, bèn lập ra [viện ấy]. Nay thì loài vật khốn đốn vì cung tên hay mồi câu, rũ rượi nơi đao, thớt, ắt chẳng thể trốn tránh, đành đợi bị nấu nướng, không nơi kêu cầu càng quá đáng. Mua lấy [những con vật ấy] đặt vào ao nuôi, thả trong rừng, ngõ hầu chúng được trọn hết mạng tàn, lòng bi còn chi hơn được nữa? Đức Phật dạy tam phước, có nói “từ tâm chẳng giết”, nhưng trong ngũ phước thuộc cửu trù[16] của Cơ Tử, Thọ cũng là điều quan trọng nhất. Gần bị giết mà lại được tròn tuổi thọ, phước nào hơn được nữa? Đức lớn trong trời đất là sanh, đức của vua Thuấn là hiếu sanh, đức là một mà thôi! Trên trong lành, dưới yên ổn, vua chúa sở dĩ có thể phối ứng dài lâu trong vòng trời đất là do giữ vững thọ mạng của muôn vật, luôn thuận theo đạo ấy mà đạt được, còn chi hơn được nữa? Dấu tích lớn lao của ba vị thánh nhân Nho, Đạo, Thích như thế chân vạc ở ba phương, giống như giáp vòng bao lấy, vườn nằm gọn trong đó. Nơi ở của người có lòng nhân thuộc Khúc Phụ[17], cái thất từ bi của xứ Ma Kiệt Đà (Maghada), nhà thiêng của Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân[18] do trời ứng hợp mà ngầm gần nhau, há có phải là chuyện ngẫu nhiên ư?

Cứu sanh vật sắp bị diệt bèn là có sanh, cầu cho chúng được sống mà chưa từng sanh nên là vô sanh. Sau khi đã vô sanh thì vô bất sanh, tức là sanh và diệt là một. Sanh và diệt là một thì phước hưng khởi mà vô tướng, lòng bi cứu tế vô duyên. Phước chẳng thể được, bi chẳng thể được, một cũng chẳng thể được, chỉ có pháp tánh thường trụ, chẳng đoạn, chẳng tiếp nối, giống như hư không. Kinh Phạm Vơng coi phóng sanh là pháp thường trụ, mà thường trụ là kim cang thân vô lượng thọ. Vườn nơi am có tên là Trường Thọ, trong vườn có mấy căn nhà tranh bỏ hoang, bèn sửa chữa để thờ tượng Tiếp Dẫn Đạo Sư và Đương Lai Từ Thị, hòng đặt ra chốn cầu bến để trước là hết thảy hàm linh đă được phóng sanh sẽ đều sanh về An Dưỡng, dứt nỗi khổ luân hồi. Sau là sẽ được thọ ký trong hội Long Hoa. Số lều tranh chỉ giữ như thế, chẳng tăng thêm, phần nhiều chọn vị tăng có giới hạnh thanh tịnh trông coi. Phương cách trông nom như đã nói trong bài ký chùa Thượng Phương. Khi đó, bậc phụ lão trong làng nghe lời tôi nói, tiến đến nắm tay tôi, xót xa than thở: “Chúng tôi chẳng biết cội nguồn của vườn, chúng tôi còn kịp được thấy hai vị thiền nhân sống tại đó. Xưa kia là chốn già-lam, nhưng rồi biến thành vườn rau, không cách nào trở lại như xưa, chúng tôi nào mong được thấy quang cảnh như hiện thời?” Trong chuyện này, người khởi xướng là tôi và ông Tống Hóa Khanh, nhưng do các vị thượng thiện nhân vui vẻ giúp sức mà được hoàn thành lợi lạc tốt đẹp như thế, bèn viết vào văn bia như vậy đó.

          Ghi vào ngày Phật Đản năm Canh Tý, tức năm Vạn Lịch 28 (1600).

         

* Bài kư về ao phóng sanh của ông Trầm Định Phàm tại Gia Thiện

 

          Tôi đă đào hai ao phóng sanh nơi quận thành, chưa có người nối bước, nhưng các vị thượng thiện nhân tại Diêm Quan, Tú Thủy, Hồ Châu, Tùng Châu, Châu, Thường Châu đă theo bước, ứng tiếng làm theo khá đông. Nay ông Trầm Dự Xương tại Gia Thiện tới bảo tôi rằng:

- Nhà của Xương tích thiện, phụng sự Tam Bảo từ đời Tống tới Nguyên, có một trăm lẻ năm vị phủ quân[19] chuộng bố thí, buổi sáng tới ngă tư đường, [bố thí] người lạnh có áo mặc, người đói có cái ăn, luôn lấy đó làm chuyện thường chẳng biết mệt. Kế đó, có cụ Nam Tông bỏ tục xuất gia, kết lều tranh gần hồ, cảm đất bằng sanh hoa sen, bèn đặt tên am là Tịnh Liên. Am tới nay vẫn c̣n, tức là chỗ để một trăm lẻ năm vị phủ quân hành bố thí. Tiên tỷ[20] là Lục Nhụ Nhân tu hạnh Tịnh Độ, cũng chuộng bố thí. Xương kế thừa tổ đức, vâng theo khuôn phép của mẹ, chỉ dốc sức làm lành. Vào ngày Trường Chí[21] năm Nhâm Dần, [ông] thỉnh các kinh như Lăng Nghiêm, chở đầy thuyền quay về. Qua Lô Châu, vừa đi vừa tụng. Châu ấy bốn mặt đều là nước, là chỗ giao tiếp của đăng, đó. Khi ấy, các ngư dân đă dựng đăng giáp ṿng, mong cắt ngang ḍng chảy để bắt trọn. Nửa đêm, kẻ giữ đăng thấy quang minh đỏ dấy lên từ trong đăng, tới sáng kéo lưới, một cái vảy cá cũng chẳng bắt được. Bởi lẽ, cá nghe kinh văn đă chết hết. Anh em của kẻ ngu tôi thấy chuyện thần dị ấy; do vậy, khắp quanh châu là ao phóng sanh, dựng am trong đó. Chủ am thỉnh vị tăng có giới hạnh [trụ tại đó]. Đổng Thái Sử viết biển ngạch là Thủy Nguyệt Thiền Cư.

Tôi nghe lời ấy, nghĩ bạn cùng chí hướng chưa có được ở nơi gần mà tại nơi xa đă có trước, đă xa lại càng xa hơn, công đức vô lượng. Do vậy, viết bài kư.

 

* Bài kư về chuyện Hương Quang Thất cung kính an vị thánh tượng Di Đà

 

          Vân Thê thờ một bức tượng đứng Di Đà tiếp dẫn chúng sanh. Cư sĩ Bổn Như thấy tượng ấy đoan chánh, trang nghiêm, đẹp đẽ, căn dặn tôi sai thợ khắc một bức giống hệt như thế. Tượng vừa khắc xong, con trai thứ của ông ta từ Đồng Thành đến nghênh thỉnh. Tôi cho rằng lớp sơn và thiếp vàng chưa chắc chắn, khiêng lên thuyền lo sẽ bị tổn hoại. Do vậy, đổi tượng đang thờ của chùa đem đi, c̣n tượng mới giữ lại trong núi. Con trai thứ của ông ta nâng tượng đến Bắc Quan, tính mua thuyền; nhà thuyền đêm mộng thấy một vị trượng phu kim sắc xin chở đi, tỉnh giấc, cho rằng người cần đến thuyền ắt là một vị đại quư nhân. Ai đến hỏi [thuê thuyền] cũng đều bị từ chối, ngay cả con ông Bổn Như cũng bị từ chối. Khi đă biết ông có thánh tượng, lại hỏi kỹ biết là tượng đứng, bèn hết sức mừng rỡ, bảo là phù hợp với giấc mộng. Tới Kinh Khẩu (nay là Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), khi sắp đổi thuyền để vào Trường Giang, nhà thuyền [ở đó] lại mộng thấy giống như trước. Chẳng mấy chốc, tượng về đến nhà, kính thờ trong Hương Quang Thất. Ông đang lo không có vị tăng hiền đức trông nom, khéo sao vị tăng Đại Hải vừa đến đó. Cố nhiên, Đại Hải nghiêm tịnh Tỳ Ni, chân không bước khỏi ngạch cửa. Sư sống tại đó bảy năm, biết trước lúc mất, mời cư sĩ đến từ biệt, ngồi qua đời vào ngày mồng Một tháng Bảy. V́ thế, xa gần người được cảm hóa rất đông. Sư Đại Hải đă mất, [Bổn Như] lại lo chẳng có người kế tục, lại có sư Huệ Quang. Huệ Quang hiền đức như Đại Hải vậy.

Ôi! Cảm mộng người chèo thuyền, lạ thay! Nhập mộng liên tiếp, càng chẳng lạ lắm thay? Thoạt đầu có được Đại Hải, khó lắm! Tiếp đó, có được Huệ Quang, chẳng càng khó có hơn ư? Đều có đủ cả, đạt được điều chưa từng có! Do vậy, cảm được oai thần của Phật Di Đà, nhưng sở dĩ cảm vời oai thần của Phật Di Đà là ḷng tinh thành của cư sĩ. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất định thấy Phật). Lại nói: “Như nhiễm hương nhân, thân hữu hương khí, thử tắc danh viết Hương Quang Trang Nghiêm” (Như người nhuốm hương, thân có mùi thơm. Đó gọi là Hương Quang Trang Nghiêm). Nay có thể nói là “thấy Phật chẳng đợi tới tương lai”, mà Hương Quang đă thành trang nghiêm rồi! Do vậy, tôi gom góp những chuyện trước sau để ghi thành bài kư.

 

* Bài kư về ác báo do trái nghịch lời thề

 

          Giáo pháp Du Già sau thời Kim Cang Trí và Bất Không chẳng được lưu truyền; được lưu thông trong đời Mạt chỉ có một pháp Thí Thực, nhưng thực hành lâu ngày, thói tệ nẩy sanh, đánh mất bổn ư thời cổ. V́ vậy, tôi giảo chánh. Tỳ-kheo X… đến theo học với tôi, tôi nói: “Ông theo học th́ nên tự thề ba điều: Chẳng thay đổi sư thừa, chẳng nhận cúng dường, chẳng lui sụt tâm đại cung kính. V́ lẽ nào vậy? Tam nghiệp tương ứng, nên gọi là Du Già. Nay văn tự thừa thăi xen tạp, giống như ca hát, mồm mép tép nhảy, khác nào hát tuồng. Bịa ra ba mươi lăm ấn, tra cứu phát xuất từ kinh nào? Đại để chỉ chú trọng khiến cho người khác vui sướng, chẳng biết trái nghịch đạo! Đối với mật ư của chân ngôn, huyền cơ nơi chữ chủng tử, vận tâm tác quán, trọn chẳng suy xét. Tương ứng ở chỗ nào? Hăy cẩn thận nhé!” Ông ta vâng dạ, đứng dậy hướng về Tam Bảo lập lời thề.

Chẳng bao lâu, ông ta luôn làm trái ngược, tùy tiện triệu thỉnh, chẳng nề hà ngày đêm, đi ngồi kết ấn, nói cười xen tạp! Một tối, [ông ta] bỗng hôn mê, chẳng biết ai nữa, ngày càng nặng hơn, bèn chẳng thể nói, kêu líu lo như chim chóc, tự cắn nát ngón tay mà ăn. Hễ thấy đồ ăn bèn chạy vội đến đoạt lấy, nuốt liên tiếp như ngạ quỷ. Người bên cạnh trông thấy đều tuôn nước mắt, nhưng ông ta vẫn tỉnh rụi. Được một tháng th́ mất. Ông X… trái nghịch cái tâm ban sơ, ba lượt thề, ba lượt phạm, quả báo trong hiện thời há có phải là nói suông ư? Do vậy, tôi ghi lại để cảnh tỉnh người mai sau!

 

* Bài kư về di hạnh của cha mẹ đă khuất (có lời tựa)

 

          Khi bất hiếu hai mươi bảy tuổi, tiên phủ quân ĺa bỏ, con trai tôi là Tổ Thực chết sớm, vợ tôi là Trương Thị cũng mất, nên tôi tục huyền với Thang Thị. Thế rồi tiên tỷ là Châu Nhụ Nhân cũng bỏ tôi, bất hiếu bèn xuất gia. Khi đó, ba mươi hai tuổi. Nay tính ra đă bảy mươi ba tuổi, tức là đă xuất gia bốn mươi năm rồi. Hai em trai đều mất. Hỏi các cháu về chuyện của tiên phủ quân, họ đều thưa: “Chẳng biết!” Hỏi: “Mộ chí và bài minh c̣n không?” Đều thưa: “Chưa thấy!” Bởi tiên phủ quân tuổi già mới có con, bất hiếu xuất gia, hai em trai lại sớm ĺa đời. Bất hiếu tự nghĩ thân tuy xuất gia, nhưng đức đẹp, khuôn phép thơm thảo của song thân há chẳng nên khiến cho con cháu biết đến ư? Do vậy, ghi lại như sau:

          Kư rằng: Tiên phủ quân họ Trầm, húy là Đức Giám, tự là Dụng Chiêu, biệt hiệu là Minh Trai. [Gia tộc] nhiều đời là người ở Nhân Ḥa, quê ở Tân Đường ngoài cửa Khánh Xuân. Trong niên hiệu Vĩnh Lạc, dời vào thành, dựng nhà tại làng Trung Thanh thuộc vùng B́nh An. Cao tổ (ông sơ) là cụ X… Cao tổ mẫu họ Từ. Tằng tổ (ông cố) là Y… tằng tổ mẫu họ Vương. Ông nội tên là Lâm, bà nội là Châu Thị. Cha [của tiên phủ quân] tên là Trí, do có đức cao nên được ban mũ và đai; đấy là Tùng Hiên Ông, mẹ [của tiên phủ quân] là Kim Thị. Tùng Hiên Ông có hai người con, trưởng là Nguyệt Nham Công, thứ là tiên phủ quân, một người con gái gả cho Úc Hữu Mai Công. Bất hiếu sanh muộn, chẳng kịp thấy mặt Tùng Hiên Ông, chỉ gặp mặt Kim Nhụ Nhân; nhưng tôi nghe tiên phủ quân nói Tùng Hiên Ông đúng là người dân thời Vô Hoài, Cát Thiên. Có kẻ trộm giữa ban ngày vào nhà, cởi áo để bọc đồ trộm được. Tùng Hiên Ông vừa bước ra, kẻ trộm bỏ áo chạy trốn. Tùng Hiên Ông đuổi theo, gọi lại, trả áo cho hắn, bảo: “Ta chẳng nỡ ḷng để ngươi không được ǵ mà ngược lại c̣n bị mất”. Kẻ khác cười cợt, cho ông là si dại. Những chuyện thuần hậu, rộng lượng của cụ đại để như vậy đó.

Tùng Hiên Ông mất, tiên phủ quân và Nguyệt Nham Công buôn bán tại kinh đô. Chẳng lâu sau, nhà bị hỏa hoạn. Khi đó, cháy lan nơi hai cầu Diêm và Thái trên dưới hơn một ngàn nhà. Vật dụng trong nhà họ Trầm cháy sạch, chẳng c̣n sót ǵ, chỉ c̣n lại cái nền. Tiên phủ quân dốc cạn vốn liếng dựng một ngôi nhà mới, xây tường vây quanh, cửa đá, kiên cố, kín kẽ để ngừa hỏa hoạn. Xây dựng hoàn tất, để trống ṭa lầu chính để phụng dưỡng Kim Nhụ Nhân, c̣n Nguyệt Nham Công và Tam Châu Công, anh em trai, chị em gái tự ở trong các pḥng bên cạnh; [sau đó], ba anh em bất hiếu mới sanh vào nhà tiên phủ quân. Cụ bẩm tánh hiếu thảo, ḥa thuận, không chỉ dốc cạn sức lực phụng sự cha mẹ, mà c̣n phụng sự anh như cha, phụng sự chị dâu như mẹ, đối xử với cháu nồng hậu như con ruột, cùng ở với Nguyệt Nham Công, cho tới thuở bạc đầu chẳng hề có lời lẽ xích mích, sớm tối trọn hết ngọt bùi. Tam Châu Công[22] an tâm học hành, đỗ Tiến Sĩ, mang gia thuộc đi làm quan ở miền Bắc. Tiên phủ quân buôn bán gạo, muối, rượu, thịt khô v.v… theo đúng dịp mà nhập hàng, chuyên chở một mực cẩn trọng.

Về sau, anh em của bất hiếu dần dần khôn lớn, chỗ ở chật hẹp chẳng thể chứa hết được, bèn ra riêng, mua nhà ở phía Tây cầu Thái Thị, cách nhà tổ mấy trăm bước. Khi đó, bất hiếu mười bảy tuổi. Tiên phủ quân tuy chẳng làm quan, nhưng nghe rộng, nhớ dai, giỏi viết lối chân thư (khải thư) và thảo thư, kèm thêm biết Âm Dương, y thuật, bói toán, các thuật mọn, không ǵ chẳng thông hiểu. Cụ thường dùng những câu cách ngôn trong ngạn ngữ để giáo huấn khi bất hiếu c̣n thơ dại. Như răn dạy về tự măn, cụ nói: “Học đáo lăo, bất hội đáo lăo” (học đến già, chẳng bao giờ cảm thấy ḿnh đă già [để khỏi học]). Đề cao sự khoan dung, đại lượng, cụ nói: “Nhẫn nan nhẫn sự, thứ bất minh nhân” (Nhẫn chuyện khó nhẫn, dung thứ người chẳng hiểu biết). Dạy về sự thâu liễm, cụ nói: “Đới nhất quan tự giả, thận bất vi” ([chuyện ǵ] dính dáng đến một chữ Quan th́ cẩn thận đừng làm), tức là nhận tiền của quan, dệt the, lụa cho quan, bảo chứng cho người khác nơi quan phủ, cho đến vào làm việc cho quan phủ, làm thư lại, giao kết với người làm quan, nhận lời phó thác làm việc cho quan v.v... Bất hiếu tin nhận, vâng hành, cho đến hiện thời, biết chính ḿnh có chỗ vẫn chưa trọn, tận lực thực hiện ḷng từ và nhẫn, chẳng dám thân cận vua chúa, quan lại. Tuy đó là chế định của đức Phật, nhưng cũng là giáo huấn trong gia đ́nh. Sống trong nhà từ bé tới già, chỉ cung kính, khiêm tốn, chưa từng tranh căi với ai một lời nào, hoặc dấy lên kiện tụng. Đầy tớ hung hăn đánh nhau, [bị kẻ khác đánh] gần chết, có kẻ khuyên cụ khiêng [nạn nhân] tới nhà kẻ đó, bắt hắn chịu trách nhiệm. Cụ chẳng đồng ư, bảo: “Một động chẳng bằng một tĩnh, dẫu chết cũng là do số mạng”. Bác gái [của cha tôi] là Vương Thị, chị dâu là Tiêu Thị đều ở góa, bà Vương không có con, bà Tiêu có con, nhưng hết sức nghèo túng, cụ đều đón về, sống nuôi, chết chôn đúng như lễ. Tam Châu Công có em trai tên là Ḥa Thúc, có t́nh nghĩa hết sức sâu đậm với bất hiếu. Nguyệt Nham Công theo [Tam Châu Công] phó nhậm, Ḥa Thúc trơ trọi, bị bệnh lao, sống ở nhà cũ, tiên phủ quân ngày đêm bươn bả, trăm cách trị liệu, rốt cuộc chẳng chữa khỏi, cụ buồn thương khôn cùng.

Suốt đời, cụ dạy bất hiếu học tập hết sức ân cần, nhưng tiến thủ, thành, bại, mặc cho bất hiếu tự lo liệu, cụ chẳng lo lót, chẳng gởi gắm kẻ sang quư, chẳng biếu xén nơi cửa ngơ kẻ có chức trách. Bất hiếu c̣n nhớ lúc mười sáu tuổi, phát phẫn đọc sách tại điền xá ở Hoàng Nê Phản, tiên phủ quân cảm thấy tôi siêng khổ, gởi thư đến bảo: “Công danh phú quư cũng có mạng trời, đừng nên cố chấp quá!” Bất hiếu nâng thư đọc, ứa lệ, trả lời thư rằng: “Con mang hành lư đi xa, quả thật muôn phần chẳng bằng người khác, c̣n như chuyện dốc sức tinh thông văn chương trọn chẳng khốn khó, mong đại nhân đừng lo”. Than ôi! Lời ấy vẫn như văng vẳng bên tai! Tam Châu Công đă quư hiển, thưa với tiên phủ quân, muốn xin theo lệ ân phong ban quan chức [cho tiên phủ quân] giống như Tùng Hiên Ông, cụ kiên quyết chối từ: “Ta tuổi tác lẫn đức hạnh đều chẳng hơn được người trong làng. Do vậy, suốt đời áo vải!”

Tiên tỷ Châu Nhụ Nhân và tiên phủ quân sanh cùng năm, cùng tháng. Tiên phủ quân sanh ngày Mười Bốn tháng Bảy, tiên tỷ sanh ngày Mười Bảy. Khi mất, tiên phủ quân hưởng thọ bảy mươi mốt năm, nhằm năm Tân Dậu (1561) thời Gia Tĩnh. Tiên tỷ mất lúc bảy mươi lăm tuổi, cách nhau khoảng bốn năm, nhưng cùng mất vào ngày Hai Mươi Mốt tháng Sáu, cũng là chuyện lạ. Tiên tỷ tánh mềm mỏng, chất phác, thật thà, giúp đỡ tiên phủ quân, tùy thuận chẳng hai, phụng sự Nghê Cung Nhân[23] như thờ mẹ chồng. Bà Nghê tánh cương trực, có chuyện ǵ chẳng vừa ư, lộ ngay ra vẻ mặt và lời nói, tiên tỷ vẫn vui vẻ vâng theo. Do vậy, chị em dâu trở thành yêu thương nhau hết mực, tới khi mất, thân thiết như chị em ruột. Nghê Cung Nhân có con thơ, chẳng thể nuôi xuể, Tam Châu Công được nuôi bởi tiên tỷ. Khi Tam Châu Công nhược quan (hai mươi tuổi), bất hiếu c̣n thơ, chải gỡ đều do Nghê Cung Nhân chăm sóc, đại để là nuôi nấng con cho lẫn nhau. [Tiên tỷ] phụng sự bá tỷ[24] Vương Thị, ban ngày [bà Vương] không uống rượu, chỉ có lúc sắp ngủ, ôm mền ngồi trên giường. Tiên tỷ dâng một ly rượu to, cụ uống xong bèn vui sướng nằm ngủ, lấy đó làm lệ thường. Nếu [tiên tỷ] bận việc nhà, hơi chậm trễ, cụ bèn nhỏ tiếng gọi “nhị nương tử!”, tiên tỷ vội dâng chén rượu. Cụ lộ vẻ vui mừng, nói: “Ta sao có thể báo đáp nhị nương tử”. Như thế đó, ba mươi sáu năm như một ngày. Những điều khác cũng có thể suy ra mà biết.

Tiên tỷ b́nh nhật áo xoàng, cơm thừa, áo tốt để lâu hư nát trong tráp, đồ ăn ngon dâng lên bố mẹ chồng và dành cho các con, chứ chính ḿnh chưa từng ăn. Đầy tớ nấu nướng, giặt giũ, phục dịch xung quanh, cụ đều không ngớt cám ơn họ. Bất hiếu hầu bên trướng mẹ, từ lúc bắt đầu hiểu chuyện cho tới khi cụ mất, suốt hai mươi năm, chưa từng nghe tiếng mẹ chửi mắng kẻ hầu. Khi cụ bảy mươi hai tuổi, bị bệnh. Bất hiếu khuyên cụ niệm Phật, thoạt đầu cụ thoái thác chẳng thể, về sau, vào trong Phật đường, cụ mừng rỡ, tán thán. Do vậy, lớn tiếng niệm Phật không ngừng. Bệnh lâu ngày, cụ mơ màng như bị mê đi, chẳng bị đau đớn, hằng ngày đứng, ngồi, ăn uống chẳng ngưng. Bỗng một bữa sáng, cụ buông th́a, đũa, rũ tay chẳng nói, vội xốc nách đưa cụ vào giường. Đổ thuốc vào miệng, cụ chẳng nuốt, cát tường qua đời. Bèn mở mộ của tiên phủ quân, hợp táng bên cạnh Tùng Hiên Ông tại Tiên Chi Lănh.

Trước kia, tiên phủ quân có nhiều con trai, nhưng không nuôi lớn được, chỉ c̣n ba anh em của bất hiếu: Con đầu là bất hiếu, em kế là Tùng, em cuối là Lan. Hai em đều do mẹ kế sanh ra. Hai người con gái: Con gái đầu lấy Hứa Mạnh Trinh do bà Châu đẻ ra. Em kế lấy Tôn Văn Học Bội, do bà Tôn đẻ ra. Bất hiếu lấy vợ đầu họ Trương, vợ kế họ Thang. Tùng lấy vợ đầu họ Cảnh, vợ kế họ Trương. Lan lấy vợ đầu họ Dương, vợ kế họ Chung. Bất hiếu một con trai, tức Tổ Thực, do bà Trương sanh ra. Tùng hiếu thảo, ḥa thuận, bẩm tánh tốt lành, cũng mất sớm, không có con. Lan đậu Hương Tiến (tức khoa thi Hương) năm Kỷ Măo (1579), chưa ra làm quan đă chết, có năm đứa con trai, tức là Tổ Mô, Thế Giai, Văn Bân, Lương Đống, và Lương Xu. Cháu trai bốn đứa là Đại Thụ, Đại Ỷ (là con của Văn Bân), Quư (con của Lương Đống), Hoán (con của Lương Xu). Vợ bất hiếu là Thang Thị. Lúc mười chín tuổi giữ chí, nay đă sáu mươi, cũng xuống tóc làm ni tăng, không con. Đại để là chắt trai hiện thời chỉ có bốn người mà thôi. Kinh Dịch chép: “Tích thiện dư khánh” (chất chứa điều thiện th́ điều tốt lành có thừa), theo Lư ấy, có lẽ hậu đại sẽ c̣n kéo dài! Bất hiếu xuất gia đă lâu, già suy, nằm bệnh, phủ phục trên gối bảo người hầu viết lại, rất nhiều chuyện cũ đă quên bẵng, đây chỉ là nói đại lược đó thôi!

Ngày Rằm đầu Đông năm Vạn Lịch 35 (1607), tức năm Đinh Mùi, Châu Hoằng nói: “Tôi sanh muộn, từ tằng tổ (ông cố) trở lên không thể khảo chứng. Đối với tổ phụ th́ biết rành, khiến cho con cháu nhiều đời vâng giữ. Nghèo cũng thế mà hèn cũng thế, cốt sao chẳng thẹn thụt lùi sau người khác, khiến cho người trong làng mong được [thành tựu phẩm hạnh] như vậy, không ḍm ngó, chê bai là được rồi! Chẳng vướng vào luật lệnh quan phủ là được rồi, nhờ đó cả nhà đều là thiện nhân. Tôi vâng giữ giới chẳng vọng ngữ, b́nh sanh lại hổ thẹn, chẳng dua nịnh, bợ đỡ, huống hồ dám miệt thị bậc tôn trưởng ư? Những điều ghi chép trần thuật chân thật chẳng dối, người đời sau hăy [nh́n vào đó mà] gắng lên!”

 

* Phụ lục

* Bài văn tự thương ḿnh bất hiếu   

 

Khi rảnh rỗi ngoài buổi tọa Thiền, ngẫu nhiên đọc Lỗ Luận (sách Luận Ngữ) tới đoạn “phụ mẫu chi niên bất khả bất tri dă, nhất tắc dĩ hỷ, nhất tắc dĩ cụ” (chẳng thể không biết tuổi tác của cha mẹ, một mặt là vui mừng, một mặt là lo sợ)[25], bất giác hết sức hổ thẹn, lại c̣n kinh hăi mồ hôi đẫm lưng. Nhớ lại lúc hai vị song thân tuổi đă sáu mươi, kẻ chẳng ra ǵ này mờ mịt chẳng có ḷng mừng, ḷng sợ! Thoáng chốc [hai cụ đă] bảy mươi, có hỷ tâm, nhưng chẳng có tâm e sợ, liền suốt ba ngày đêm chẳng ngủ. Tự nghĩ chính ḿnh suốt đời chẳng phải là kẻ bất hiếu, lời ấy của phu tử lại chẳng phải là lời nói về hạnh rất cao, khó thực hiện, sao lại đến nỗi ấy! Suy đi nghĩ lại, bèn hiểu được lời ấy. Bởi lẽ, song thân đều đă bốn mươi lăm tuổi mới sanh kẻ chẳng ra ǵ này, những đứa con sanh trước đó đều chẳng nuôi được, [cha mẹ] dồn hết t́nh yêu thương tột bậc vào kẻ chẳng ra ǵ này chẳng c̣n phải bàn nữa! Trước khi năm, sáu tuổi, suốt ngày mê ăn, mê chơi, chẳng biết thế nào là hiếu. Bảy tuổi vào tiểu học, hằng ngày chuyên chú nơi mấy ḍng mực, liễn đối, tuy học sách, chẳng biết ǵ là hiếu. Chín tuổi dần dần thông hiểu kinh nghĩa, tuy đă biết hiếu mà chẳng biết v́ sao phải hiếu. Mười bảy tuổi dự vào hàng chư sanh, hằng ngày chú trọng khoa cử, sáng chiều chăm chú nơi “hiếu, đễ, trung, tín”, đối với văn từ không ǵ chẳng biện định, phân tích, tuy biết v́ sao phải hành hiếu, nhưng chẳng thể hành. Hai mươi bảy tuổi, tiên phụ ĺa đời. Nhưng từ thuở c̣n thơ bé, bất hiếu đă tự ước hẹn: Đến tuổi trưởng thành mà chẳng đậu kỳ thi Hương, tuổi bất hoặc (bốn mươi) chẳng đỗ kỳ thi Hội, sẽ chỉ an vui nơi rừng núi đó thôi! Do vậy, cái tâm mong làm quan nhanh chóng nhẹ bớt, tận lực hành hiếu đạo. Đọc sách bên màn của cha mẹ, đặt bút dưới đầu gối, lấy ba năm làm kỳ hạn, hễ thỏa nguyện (đỗ đạt làm quan) th́ dùng bổng lộc để phụng dưỡng, chẳng thỏa th́ xét theo nguyện trước (nguyện quy ẩn trong rừng núi). Ba mươi tuổi, rốt cuộc chẳng thành danh. Năm sau, tang mẹ; do vậy, quyết chí xuống tóc, bèn biết suốt hai mươi năm lao tâm khổ tứ, chỉ quanh quẩn lấy chuyện [áo bào] xanh hay tía (làm quan) để cha mẹ vinh quư là hiếu, chứ chẳng biết, chẳng hành chân hiếu. Dẫu hành chẳng dốc sức, vừa mới tận lực hành th́ chẳng kịp nữa!

Con người sống trong thế gian đại lược giống như thế đó. Có kẻ đỗ đạt làm quan, lại hằng ngày dốc sức nơi chức quan, cho tới khi tháo đai ấn, quy điền (về hưu), mối hận cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng cũng đại lược giống như kẻ chẳng ra ǵ này! Há chẳng quá đáng buồn ư? V́ thế, kẻ chẳng ra ǵ này nào dám đem bản thân nêu gương cho người có ḷng nhân, con hiếu cho thiên hạ! Chỉ đành v́ vậy mà tự trách, khiến cho người đọc đến rúng động trong tâm, sẽ kịp thời hành hiếu, chẳng để lại hối hận về sau! Cái tâm chân thành khẩn thiết khổ sở của kẻ chẳng ra ǵ này chỉ có trời đất, thần minh soi xét! Chỉ có phu tử ở trên trời soi thấu mà thôi!

 

* Bài minh nơi mộ chí của Trương nội nhân

 

          Thạc nhân[26] họ Trương, người xứ Nhân Ḥa. Ông cố là Tín, ông nội là Trấn, cha là Phong Tuyền Công [Trương] Văn Tán. Họ Trương là nhà lâu đời trong ấp, nhiều đời có đức hạnh tinh thuần. Phong Tuyền Công đơn giản, thẳng thắn, chất phác, hồn hậu, do có phẩm đức của cổ nhân nên được xóm làng coi trọng. Thạc nhân là con gái thứ ba của cụ. Từ bé, bà dĩnh ngộ, khác lạ, chẳng cười đùa bừa băi. Lúc mười bốn tuổi, đau buồn v́ chịu tang mẹ, ngày đêm khóc lóc, chua xót cùng cực, người nghe chuyện đều thương xót. Bà đứng ra thay mẹ trông nom mọi việc trong nhà, sắp xếp mọi việc như người đă trưởng thành, trong ngoài ngăn nắp. Do vậy, Phong Tuyền Công đặc biệt dốc ḷng yêu thương, bảo: “Đứa con gái này đức tánh, tài năng đều chẳng tầm thường, ta ắt gả nó cho bậc tuấn kiệt”. Mười chín tuổi, bà về với cư sĩ Liên Tŕ. Sau năm năm, sanh được một con là Tổ Thực, bị chết yểu. Năm năm sau, bà bị bệnh mất. Bà phụng sự cư sĩ cả mười năm, cư sĩ nhớ lại chuyện trong suốt mười năm ấy rành rành như một giấc mộng! Nh́n lại mọi chuyện trong mộng, phần lớn đắc lực bởi thạc nhân. Nay tuy đă chuông khua canh tàn, mộng cảnh c̣n trọn đó, sao chẳng trần thuật ư?

Nghĩ cư sĩ lúc trẻ hẹp ḥi, cố chấp, khá buông lung vô minh; thạc nhân khéo chu toàn, khéo có thể xứng ư cư sĩ, cũng lại nh́n vẻ mặt cư sĩ, đúng lúc nhắc nhở, có công khéo uốn nắn. Cư sĩ vốn lười nhác, bỏ mặc thế sự chẳng nh́n tới, thạc nhân đích thân gánh vác mệt nhọc, không để trăm chuyện lớn nhỏ nào khiến cư sĩ phải bận tâm. Cư sĩ bèn được tứ đại nhẹ nhàng, an vui, cùng môn sanh, bạn cũ ngồi yên đàm luận lẽ thanh cao, tham học, cầu thỉnh huân tu, tùy tâm tự tại, chẳng biết đến nỗi lo cho gia đ́nh trong nhân gian. Cư sĩ thường ngày lễ Phật, thạc nhân đích thân may tràng phan, bỏ tư trang để sắm vật cúng dường, chẳng tiếc nuối. Cư sĩ vốn ăn chay, thạc nhân mỗi bữa ăn ắt lưu tâm nơi món chay, chẳng bận tâm chính ḿnh ăn ǵ! Cư sĩ thường nhật chuộng mua sắm nội điển, hễ có người cầm [kinh Phật] tới, chẳng chờ cư sĩ biết, bà đă mua lấy, dâng lên, bảo: “Tôi biết ông coi trọng thứ này”. Than ôi! Cư sĩ chẳng thể thiếu thạc nhân được!

C̣n như gặp lúc thiếu tiền chi tiêu, bà tháo trâm, bông tai, cởi áo, chẳng lộ chút [buồn phiền] nào nơi sắc mặt. Thu chi thiếu đủ, bà tự lo toan, chưa từng mảy may buộc cư sĩ phải bận tâm cầu cạnh mẹ, càng là người khó có. Điều đáng tiếc nuối là cư sĩ muốn vong t́nh thuận nghịch, thấy thấu suốt các huyễn, hành hạnh nhẫn nhục, nhưng đối với xấu, tốt, trắng, đen, thạc nhân cứ dựa theo lư mà chiết trung, chẳng thể không có lúc [cư sĩ] nẩy sanh bất b́nh [với bà]! Cư sĩ muốn siêng hành từ nhẫn, xóa bỏ các quy củ trói buộc, nhưng thạc nhân gia pháp nghiêm minh, hiếm có khi nào chịu dễ dăi. Do vậy, bà lộ vẻ khoan dung và nghiêm ngặt đối lập, người khác phần nhiều oán trách. Cư sĩ thường bất măn, nay mới biết bà gánh nỗi oán cho cư sĩ, oán quy về ḿnh, ân quy về cư sĩ. Tuy thạc nhân đạo nhăn chưa sáng tỏ, có thể nói là bậc hiền thê trong nhà! Thoạt đầu, cư sĩ quy mạng đấng Giác Vương, thạc nhân hăy c̣n, bà nghi lẫn tin lâu ngày, [về sau] phát nguyện thí kinh, lại phát nguyện lễ Đại Bi, lại phát nguyện tu tập Đại Bi Phổ Môn Phẩm. Lại c̣n phát nguyện nhẫn nhục hành từ, thề bằng với cư sĩ. Chẳng ngờ ôm nguyện chưa trọn mà đă đi xa rồi! Buồn thay!

Bà vừa bị bệnh ngặt, liền mỗi mỗi căn dặn hậu sự, phần lớn hết sức thương xót cư sĩ cô độc. Cư sĩ bùi ngùi nói: “Bà lầm to, lầm to rồi!” Thạc nhân lănh ngộ, do vậy, ứa mấy hàng lệ. Từ đó, chẳng c̣n nhắc tới nữa. Trước hôm bà mất một ngày, không nói chi khác, chỉ căn dặn người trông bệnh tụng thánh hiệu Đại Bi. Khi đă quá mệt, thiêm thiếp gần như đă chết, bỗng bà ngồi dậy, xoay cổ tay để chắp tay, miệng tụng Đại Bi, run rẩy dường như chẳng kiềm chế được. Bà nỗ lực ngoảnh mặt về Tây, vừa xưng danh, vừa làm lễ. Cư sĩ hỏi: “Có thể ngưng [làm như vậy] hay không?” Đáp: “Tôi đă nguyện điều này, chẳng mệt nhọc”, [tiếp tục] lễ tụng không thôi. Trong chốc lát, mê man chẳng biết ǵ. Tới đêm, [bà lại] lễ tụng giống như lúc trước. Lại nói: “Ta đă ăn chay, hăy cẩn thận đừng đem thứ tanh tưởi tới gần ta”. Tới b́nh minh, bà lặng lẽ qua đời. Nhất thời, người trông thấy kinh ngạc, buồn than. Có người từ đấy niệm [thánh hiệu] Tây Phương không ngớt miệng. Có người từ đấy vĩnh viễn đoạn huyết nhục.

Ôi! Thạc nhân tín tâm chẳng nhiều, nhưng có trọn đủ thao lược như thế. Do vậy biết “mười niệm thành công” chẳng phải là lời hư dối vậy! Tiếc là tuổi trời mất sớm, chẳng thể hiểu rơ đại sự, cư sĩ thật sự đau xót. Nhưng nếu như bà chẳng quên điều đă nguyện, chủng tử Bát Nhă sẽ có thuở phát sanh! Huống hồ bản thân bà mất đi, lại có thể khiến cho người khác hưng khởi [hướng thiện], dẫu tôi chết cũng yên ḷng! Thọ và yểu chỉ là nghiệp báo trong một đoạn thời gian, sao có thể [dùng đó để] bàn luận chuyện có người nối dơi hay không ư? Thạc nhân sanh nhằm ngày Hai Mươi Bốn tháng Tư năm Bính Thân (1536) đời Gia Tĩnh, kém cư sĩ một tuổi đă là chuyện lạ. Ngày mất là ngày mồng Sáu tháng Tư năm Quư Hợi (1563) đời Gia Tĩnh, hưởng thọ hai mươi tám tuổi. Nay sẽ chọn ngày… tháng… năm… để chôn nơi đất trống ở núi… Do vậy, khóc lóc mà soạn bài minh. Minh rằng:

          Đức Phật Thế Tôn, chỉ quy Tịnh Độ, miệng vàng ra rả, thật sự chẳng lầm, Ôi chao đại bi, khai nhiếp, dẫn đường. Từ thệ rộng sâu, phổ độ hết thảy. Xót thay thạc nhân. Trần duyên vương vấn, bỗng chốc hồi quang, cũng đạt khá lắm. Mang thân người nữ, làm chuyện đại nhân, [khiến cho kẻ khác] táng đảm, kinh hồn. Một bước cuối cùng, chỉ nguyện vương này, chớ nên ĺa bỏ. Trăm kiếp ngàn đời, tột mé vị lai. Núi xanh vắng vẻ, xương khô chôn vùi, áo vải xuềnh xoàng, chẳng nhọc khoác mặc!

 

14.4. Sớ (đều thuộc trong di cảo, nay bổ sung thêm)

* Thủy Lục sớ

 

          Do kiến lập hội Thủy Lục thù thắng, ḥng làm chuyện tế độ trọn khắp chúng sanh; Châu Hoằng nghĩ xưa kia nương vào Phật lực, gieo thiện căn nhỏ bé, sanh trong loài người, được sanh trong cơi nước có lễ nghĩa. May sao tuổi trung niên xuất tục, nghe chánh pháp mà khoác áo thâm, vui buồn khôn ngằn, mừng lo chen lẫn. Do phước nhẹ, nghiệp nặng, trí cạn, Hoặc sâu, đau xót v́ hữu lậu khó trừ, than vô minh chẳng đoạn, tứ ân chẳng báo đền, có bao giờ giúp được [chúng sanh trong] tam hữu? Xấu hổ xưng hai chữ tam y, hổ thẹn cô phụ mười phương chư Phật. Lại c̣n nạn đói nhiều năm liên tiếp, dịch bệnh xảy ra khắp các thành. Bóng chiều tà trên đồng hoang, xác người vắt ngang trăm dặm mênh mông. Mây đen phủ nẻo xưa, quỷ khóc rền rĩ suốt ba canh. Chưa thể cứu giúp, thương xót than thở chẳng biết ngăn dứt thế nào! Đă mong che chở tứ sanh, chí càng thêm khẩn thiết.

Do thương xót chính ḿnh, lại c̣n xót thương kẻ khác, phát tâm rộng lớn vô biên, khởi nguyện lợi ích cả âm lẫn dương. Bắt đầu từ sáng ngày Hai Mươi tháng Chín, vừa đúng ngày Giáp Tư nguyên thần, hoàn thành vào đêm Rằm đầu Đông, đúng ngay dịp Hạ Nguyên Giải Ách[27]. Huống hồ đại chúng thanh tịnh đều dốc ḷng thành chuyên ṛng; lại c̣n đàn na tín thí vui thích giúp sức. Dung hợp chín hội, tụng hùng văn[28] sáu mươi vạn chữ, trao nhận ngàn hoa, phúng tụng năm mươi tám đại giới [của kinh Phạm Vơng], chỉ thú bí mật trong mười sáu diệu quán lại được phô bày; chương sách vàng bốn mươi tám nguyện vương lại rạng ngời. Nhanh chóng rỗng không muôn pháp, xiển dương oai thần Kim Cang Bát Nhă. Chỉ có Nhất Thừa, diễn công đức của Diệu Pháp Liên Hoa. Cho tới khi đạo tràng viên măn, bèn phát khởi sám hối. Dốc cạn sức trong bảy ngày, năm vóc tột ân cần. Trọn mười quyển kinh văn, các tội khiên diệt sạch.

Lại nữa, trong một kỳ hạn [pháp hội], vào lúc chiều tối, dựa theo kinh Du Già Diệm Khẩu, thí một hộc Ma Kiệt cam lộ[29]. Lại nguyện từ người thân cho đến kẻ sơ, đă sơ lại càng sơ hơn, dù ân hay oán, đều được giải thoát. Từ nay cho tới xưa, cho đến đă xưa lại càng xưa hơn, bất luận đă lâu hay gần đây, không ai chẳng siêu thăng. Kẻ vừa mới ch́m vào ác đạo, liền vượt khỏi ṿng khổ. Người đă sanh vào đường lành, càng tăng nhuận cội đức. Nhỏ th́ gồm trọn các loài trùng bọ, lớn th́ đến chư thiên, phàm th́ gồm hết lợn, cá, thánh th́ cho đến Tứ Quả, ai nấy đều thành Đẳng Chánh Giác, người người ngộ đại Bồ Đề. Lại nguyện năm Nghiêu lâu dài măi, ngày Thuấn sáng hoài, âm dương điều ḥa, mưa gió đúng thời. Vui mừng v́ ngũ cốc trúng mùa, nóng lạnh ôn ḥa, vận khí ḥa hợp, muôn dân chẳng có nỗi lo chết yểu. Lại nguyện nước sanh trung thần, nhà sanh con hiếu, xóm làng dứt kẻ gian dối, nhân nghĩa tràn đầy hoàn vũ. Nhà nhà giữ Ngũ Giới, loài người hưng vượng. Mỗi hộ tu Thập Thiện, thiên chúng đông đầy. Lại nguyện kẻ ác tâm sẽ sửa lỗi ác, hưng khởi tâm lành; lũ tà kiến bỏ tà, theo về chánh kiến. Kẻ tu si Thiền bỏ si, nhập Na Già đại định. Kẻ chấp cuồng huệ hết cuồng, phát khởi sự thông hiểu chân thật đối với Thật Tướng. Kẻ báng Đại Thừa hổ thẹn v́ đạo nhỏ, tiến hướng Đại Thừa. Kẻ coi thường Tịnh Độ, sẽ nhận biết khổ mà tu Tịnh Độ.

Châu Hoằng cũng tự xét chính ḿnh tầm thường, há dám đức mỏng mà cầu phước, [chỉ mong] chẳng quên tinh tấn, chỉ mong nhập đạo chẳng bị ma chướng, tu hành chẳng bị đ́nh đốn giữa đường, tham học trọn thành đại ngộ. Trong đời hiện tại niệm Phật đến chết, chẳng loạn nhất tâm; lâm chung thấy Phật văng sanh, cao đăng chín phẩm. Sau đấy, mười thân[30] hiển lộ trọn vẹn, hóa độ trọn khắp quần sanh, trọn khắp các cơi nhiều như cát, tạo cầu bến thấu triệt ba đời. Hư không có cùng tận, nguyện của con vô cùng, t́nh và vô t́nh cùng viên thành Chủng Trí.

 

* Sớ lập thệ

 

Nghĩ tưởng tha thiết: Thế đạo thuần chân, vua thời cổ rủ xiêm áo mà đạt đến b́nh trị. [Thời sau] phong hóa của dân tạp ngụy, vua đời sau bèn dùng thệ nguyện ước thúc mà thành công. Huống hồ hiện thời Phật pháp suy vi, tùng lâm như buổi chiều Thu, những người có phận sự trong Tăng chúng chỉ mong an nhàn, thoải mái, chẳng c̣n siêng ṛng nữa, gây lầm lỡ cho sự tu hành của đại chúng, cô phụ ân đức của Phật! Nếu chẳng dốc ḷng noi theo [các vị Phật, Bồ Tát có phẩm đức] thần thánh, sẽ do đâu mà sách tấn thân tâm họ? Bọn chúng con là… nhận lănh chức trách trong chùa này, kính cẩn dùng lời thề để tự trói buộc:

- Một là thề nguyện phát tâm tốt lành chân thật, chuyên v́ đại chúng trong tùng lâm mà tu hành, chẳng v́ tham cầu lợi dưỡng cho bản thân. Nếu chẳng vậy, mặc cho thiên thần tra khảo, trừng trị.

- Hai là thệ nguyện phát tâm chí công vô tư, chẳng ưa thích riêng tư, chẳng v́ giận dữ riêng tư, chẳng đối xử trọng hậu hay đơn bạc riêng tư, chẳng sợ người chê trách, chỉ sợ trời trách, chẳng cầu hợp ḷng người, chỉ cầu hợp ḷng trời. Nếu chẳng vậy, mặc cho thiên thần tra khảo, trừng trị.

- Ba là thệ nguyện phát tâm siêng nhọc tinh tấn. Phàm là chuyện tu hành có lợi ích mà nay phế trừ, hoặc bỏ mất, ắt sẽ đều thực hiện. Phàm những chuyện chẳng lợi ích cho tu hành, nay đă tập thành thói, ắt đều trừ khử. Mười loại quy ước đều chân thành, nghiêm ngặt tuân thủ, chẳng làm chuyện hư huyễn, màu mè, ứng phó hư dối, hoặc cẩu thả qua ngày đến nỗi bại hoại, đọa lạc. Nếu chẳng phải vậy, mặc cho thiên thần tra khảo, trừng trị.

- Bốn là thệ nguyện phát tâm từ bi để suy xét tâm của mọi người, khiến cho người già được an vui, dạy dỗ trẻ nhỏ, người nhọc nhằn được vỗ về, người bệnh được chăm sóc, người chết được an táng, đủ mọi thứ yêu thương sâu dày, đối xử với mọi người bằng ḷng nhân từ như nhau. Nếu chẳng phải vậy, mặc cho thiên thần tra khảo, trừng trị. Chỉ mong chư thần xét soi.

 

* Sớ cầu dứt nạn hổ

 

          Tháng Mười năm Vạn Lịch 24 (1606), tại Ngũ Đồ, Định Bắc, thuộc huyện Tiền Đường của bổn phủ, cho tới các hương thôn, loài cọp gây tai họa, tổn thương con người và gia súc rất nhiều. Những vị như X… trong làng đến xin làm lễ hóa giải. Châu Hoằng nghĩ người và cọp có cùng một tánh, cọp gây hại là do túc oán. Vây bắt th́ đôi bên đều tổn thương, xua đuổi th́ tự tha nào khác. Ắt cần phải sắm sửa trai diên, làm phước, ngơ hầu ngầm chuyển hóa, ngầm tiêu trừ. Do vậy, vân tập Tăng-già tại chùa Diệu Tịnh thuộc Hoàng sơn tại địa phương, thiết lập đạo tràng cầu an năm ngày đêm cho tới ngày… th́ viên măn. Trong đạo tràng ấy, cẩn trọng chuẩn bị hương, đèn, trà, quả theo nghi lễ, cậy tăng chúng dốc ḷng siêng năng đảnh lễ Lương Hoàng Sám Pháp mười hai bộ, đêm kết thúc bèn làm lễ Du Già Diệm Khẩu. Do công đức này sẽ…[31] Lại c̣n cầu nguyện các bậc thánh hiền phục hổ từ cổ, cho tới sơn thần, thổ địa các phương, nương vào lợi ích tốt lành này, kính nguyện kẻ phụ bạc cọp trong đời trước thảy đều cởi gỡ oán sân, chẳng báo thù lẫn nhau. Những người bị cọp ăn hiện thời đều được sớm sanh vào đường lành, chẳng đọa trong thương vong. Người không có tâm hại cọp, phát ḷng từ bi vĩnh viễn trừ sát nghiệp. Hổ trọn chẳng có ư thương tổn người, hết báo thân ấy sẽ nhanh chóng thoát khỏi khổ luân, cho tới các hàm linh nhỏ nhặt, đều được che chở, hộ tŕ, xa là tới trệ phách nhiều đời đều được siêu thăng. Ai nấy gieo nhân Bồ Đề, chốn chốn thành cơi An Lạc.

 

* Sớ cầu tiêu tai thay cho Dư Thái Thú

 

          1) Các vị như Dư Lương Xu v.v… đoan nghiêm, kính cẩn, kiền thành, cung kính, bẩm báo Sa Bà thế giới Thích Ca Như Lai, xin rủ ḷng thương xót, nguyện ban ân chứng minh ư nguyện của chúng con. Kể từ năm Vạn Lịch X… tới nay, gặp phải bệnh dịch lan tràn, dân chúng tử vong quá nửa, gặp phải năm đói kém, chúng sanh toàn gặp tai ách khốn khó, y thuật cơi đời khó trị liệu thiên tai, thiếu lương thực châu cấp cho chúng sanh. Chẳng phải là Thượng Đế thiếu ḷng từ, mà là do dân hèn chẳng lành, không ǵ chẳng phải do Thập Ác, Ngũ Nghịch dẫn đến bát nạn, tam tai. Chẳng nhờ vào ḷng từ bi của Tam Bảo, sao có thể cứu nỗi khổ năo của dân chúng? Các vị như Lương Xu v.v… đă có chức trách làm cha mẹ của dân, phải nên cứu vớt tai ương cho con cái. Do vậy, đặc biệt phát tâm kiền thành, kính cẩn thỉnh hai mươi bốn vị tăng-già của Vân Thê, cung kính tụ tập tại chùa Linh Chi trong thành, cử hành đạo tràng Diệm Khẩu để cầu giải trừ tai hoạn, tạo phước cho đất nước, lợi ích trọn khắp muôn dân. Khóa tu kéo dài bảy ngày, bảy đêm, chọn ngày Hai Mươi Lăm tháng Năm này để khởi đầu, sắp đặt trọn đủ hương hoa, vật cúng, vân tập tăng-già, vào đàn xem niệm kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật, phẩm Bồ Tát Giới Tâm Địa của kinh Phạm Vơng, kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, lại c̣n phúng tụng các chương thần chú để tích tập công đức. Kính nguyện Phật từ bi gia bị trọn khắp, [khiến cho] mưa hay tạnh đúng thời, ngũ cốc dư dật, pháp lực ngầm giúp đỡ, khí vận điều ḥa, tam tai nhanh chóng chấm dứt. Trăm quan chức hoằng dương nền cai trị thái b́nh, muôn dân mừng năm an lạc, chất chứa điều thiện để đáp ơn trời, hành trung hiếu để chuyên cầu cho vận nước hưng thịnh.

          2) Từ năm Vạn Lịch mười mấy đến nay, gặp phải vận trời hạn hán, mưa gió chẳng đúng thời, nhân dân gặp dịch bệnh, giá gạo thóc tăng cao, vẻ mặt đói khát đầy thành, xác người chết đói chật đồng. Đau đáu nghĩ [chính ḿnh là] kẻ làm cha mẹ của dân, há dám ngồi yên rơi lệ nh́n suông? Lo cho bổn phủ và các châu khác trong hiện thời, tiếng kêu gào đói khát suốt ngày đêm chẳng ngớt. Người sống bị ôn dịch được chữa lành quá ít, kẻ chết th́ vương văi khắp mặt đất, ḍng nước. Mong cho kẻ mất lẫn người c̣n đều được lợi ích, ắt phải thiết trai, làm phước, kính gieo thân nơi Phật lực, ḥng cứu độ dân đen… Lại nguyện cơ đồ của hoàng thất vững bền, mưa thuận, gió ḥa, Phật nhật càng thêm sáng, dân yên, vật chất sung túc.

 

* Sớ cầu siêu cho những người đă mất

 

          Nhất Thừa viên đốn quét sạch tội chướng hoàn toàn rỗng không. Tam nghiệp sám-ma, giải trừ oan vưu đều sạch. Nêu lên mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh to lớn trong Bồ Tát giới, tuyên ḷng từ rộng lớn thuộc chín phẩm và bốn mươi tám nguyện của Như Lai. Trai tăng nhằm nhóm họp oai thần của mười phương đại đức, thí thực ḥng cứu giúp lục đạo hàm linh đang ch́m đắm. Lợi ích như thế, khiến cho tiên linh đoạn diệt sân hận, những người bị sân hận sẽ vĩnh viễn dứt bặt báo đền. Sát nghiệp ngầm tiêu, khiến cho kẻ bị giết đều được giải thoát. Từ nhiều đời cho tới nay, lỗi to lớn và lỗi nhỏ nhặt đều cậy Tam Bảo vun quén, huân tập, sớm đạt được sáu căn thanh tịnh, văng sanh cơi lạc, thân cận từ tôn. Sen nở hoa thượng phẩm, Phật thọ kư trong một đời. Báo chung bốn ân, giúp khắp ba cơi. Chúng sanh trong pháp giới đều cùng viên thành Chủng Trí.

 

* Sớ hóa duyên trùng tu Châu Kiều

 

          Châu Kiều gần th́ là một con đường trọng yếu trong thủy lộ của Huy, Hàng. Nghiêm, Cù[32]; xa th́ là đường cái quan nối liền mấy tỉnh Giang, Trực, Mân, Quảng (Giang Tây, Trực Lệ (tức Nam Kinh), Phước Kiến và Quảng Đông); ngoài th́ là chỗ then chốt liên quan đến sóng biển và suối nước hai ḍng thường tuôn vỗ, dâng trào, rút đi; trong th́ là chỗ h́nh thế thù thắng liên quan đến an nguy của muôn nhà lô nhô nương cạnh vách đá bên vực sâu. Kể từ khi thánh thiền sư khởi công kiến lập, trải qua nhiều năm, cầu bỗng nghiêng ngả, được các vị thiện tín sửa sang, dựng mới, nhưng chỉ được tám năm lại bị hủy hoại. Vị đại nhân chủ quận trước kia là ông Dư phát ḷng từ bi trọn khắp, dốc sức ân cần sửa sang, nhưng gặp đúng dịp sóng dữ ngập trời, sóng cuộn rung núi, chưa hoàn thành công nghiệp dựng cầu, chỉ hoàn thành công tŕnh bắc cầu đơn giản tạm thời, chẳng thỏa điều ấp ủ. Ông từng để lại lời căn dặn, chờ khi sóng dữ vừa ngưng, sẽ tiếp tục hưng khởi sự nghiệp cũ.

Nay các vị phụ lăo như cụ X… đến núi này, trần thuật cặn kẽ chuyện trên đây, nhưng tôi là một ông tăng bệnh tật, chẳng có mảy may sở trường, trăm chuyện đều vô dụng, đâu phải là chẳng có tâm cứu giúp, nhưng quả thật thiếu sức lo liệu! Tạ từ càng gắng, thỉnh vời càng bền, họ bảo: “Người lữ hành gặp khó khăn do đường sá hiểm trở, quanh co, người vác nặng, xe, ngựa chuyên chở trên đường luôn than văn đủ điều. Cư dân do t́nh thế mà bị tổn thương trong miệng rồng, trôi giạt, tử vong, suốt năm mắc họa cả ngàn người”. Do vậy, trên là nhằm hợp với mưu tính của thần, dưới là cộng thêm lời bàn bạc của mọi người, [khuyến hóa mọi người] ai nấy đóng góp mỗi suất là tám xu, [như thế th́ sẽ] tích thành trọn đủ con số vạn. Hoặc một người kiêm góp phần cho nhiều người, công lớn riêng chiếm, hoặc trong nhiều phần chỉ đóng góp một phần, được phước đều như nhau. Đại để là “cho mượn xe để vượt sông Trăn, sông Vị”[33], được thời cổ gọi là “ḷng yêu thương hăy c̣n thiếu sót”. Để cứu kiến vượt lũ mà bện cầu tre, về sau đỗ cao. Từ Tông Nhân do vậy sống thêm ba kỷ[34], Tŕnh Di Bá do vậy đạt đến quư hiển năm đời. Phật chẳng nói dối, thánh nhân có giáo huấn rơ ràng, nguyện khắp các vị thượng thiện nhân, cùng sanh về cơi Vô Lượng Thọ.

          Ông tăng bệnh tật khổ sở từ tạ chẳng được, đành thuận theo tâm mọi người, nay chỉ dốc cạn ḷng thành, tùy duyên nghe theo mệnh lệnh. Số tiền quyên mộ được sẽ do vị tăng đứng ra quyên mộ trao cho các vị thiện nhân đứng đầu trong địa phương cùng giám sát, thu giữ, Tăng chẳng giữ riêng một đồng nào, tục chẳng thể giảm bớt, sơ sót mảy may. Hễ có chút dối lừa nào, quả báo sẽ chẳng hư dối. Thần Già Lam suy xét, thần sông rạch xét soi, tám bộ trời rồng thưởng thiện, phạt ác, hết thảy các thần minh cùng xét rơ.

 

14.5. Thuyết (khắc rải rác và in trong di cảo đều thu thập vào đây)

* Do Lộ An Thẩm Vương cầu con trai, bèn v́ ông ta nói chuyện làm lành sanh con trai

 

          Kinh Duy Ma Cật dạy “thiện tâm thành thật nam”, nêu ra cái Thể của con trai. Phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa nói “cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện sanh phước đức, trí huệ chi nam” (cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ Tát liền sanh con trai phước đức, trí huệ), biểu thị cái nhân sanh ra con trai. Nhưng Bồ Tát chỉ muốn con người làm lành, tức là hai kinh có cùng một ư. Chỉ mong rộng phát tâm lành, lại c̣n lễ kính Bồ Tát, ắt trời giáng xuống điều tốt lành. Lại thêm oai thần của Bồ Tát ngầm gia hộ, ắt có đứa con đại thiện, đại phước, đại huệ, cát tường sanh trong vương cung vậy. Tôi đặt sẵn pháp danh cho nó là Quảng Thiện.

[Viết thêm]: Lại nữa, trên đây đă nói chuyện tích chứa điều thiện để sanh con trai, nay lại nghe nói ông lập linh đàn thanh tịnh, nhóm họp các vị tăng có đức hạnh, tụng kinh văn bí mật chân thật, ngơ hầu [tạo nền tảng] lâu dài, chân thật, bền vững, lập kỳ hạn một ngàn ngày, giăi bày ḷng tinh thành ấy ḥng cảm thông đại sĩ sẽ bế tặng lân tường[35], há [niềm mong cầu ấy] xa xôi ư? Lại c̣n mong tu kính điền và bi điền song hành một ngàn ngày, tức là kiêng giết, phóng sanh, giúp nghèo, cứu khổ, đủ mọi phương tiện, không ǵ chẳng hưng khởi rộng lớn, ắt bi sâu, lợi ích do ḷng kính sẽ rộng răi, điều lành tích tập, niềm vui sướng có thừa, vun bồi công đức, quyết sanh được đứa con hiền nối dơi, không chỉ là nó trọn đủ phước dày, mà ắt c̣n thuần ḥa, sống thọ. Nhân quả chẳng dối, chẳng đáng ngờ chi! Do vậy, lại viết thêm.

 

* Khô lâu đồ thuyết

 

          Phó đại sĩ nói: “Dần dần da gà, tóc bạc. Nh́n xem cất bước lung lay. Dẫu cho vàng ngọc đầy nhà. Khó tránh sanh, lăo, bệnh, tử. Mặc cho ngươi sung sướng muôn ngàn. Rốt cuộc vô thường đưa đến. Chỉ có nẻo tắt tu hành, chỉ niệm A Di Đà Phật”. Lời này của đại sĩ chính là nói “muôn thứ chẳng mang được, chỉ có nghiệp theo thân”. Như thế nào là “muôn thứ chẳng mang theo được?” Trong đời người, tất cả quan tước, vàng bạc, của báu, nhà cửa, ruộng vườn, thức ăn, quần áo, đồ cổ ngoạn, cho đến vợ đẹp, con yêu, hễ vô thường xảy đến, mang thứ theo nào đi được? Như thế nào là “chỉ có nghiệp theo thân?” Trong đời người, tất cả các nghiệp tham, sân, si, phi lễ, gian dâm, giết chóc bừa băi đă tạo, làm con trái nghịch cha, làm bầy tôi dối vua, tàn hại người khác để tạo thành cơ nghiệp cho chính ḿnh, âm độc hại chúng sanh, đủ loại ác nghiệp, hễ vô thường xảy đến, [các ác nghiệp ấy] đều theo ngươi chặt chẽ. Đă là như thế, nếu chẳng dũng mănh tỉnh ngộ, quay đầu, sửa ác theo thiện, gột ḷng niệm Phật, há chẳng phải là oan uổng làm thân người, sống uổng chết phí ư? Khổ thay! Khổ thay! Tôi thấy người đời ai nấy đều nên khéo niệm Phật. Nay xếp thành ba loại như sau:

- Một là người cực nhàn, hăy nên chẳng kể ngày đêm, nhất tâm niệm Phật.

- Hai là người nửa nhàn nửa bận, hăy nên lo liệu việc đă xong liền niệm Phật.

- Ba là người cực bận, hăy nên t́m lúc nhàn trong khi bận để mười niệm niệm Phật.

Lại c̣n người phú quư, áo cơm, bổng lộc sung túc, rất hợp niệm Phật. Người bần cùng giữ yên phận nghèo, rất nên niệm Phật. Người có con cháu, được kẻ khác dốc sức làm thay, rất nên niệm Phật. Người không có con cháu, tâm không vướng mắc, rất nên niệm Phật. Người không bệnh tật, sức lực mạnh khỏe, rất nên niệm Phật. Người có bệnh, biết không lâu sẽ chết, rất nên niệm Phật. Người thông minh thông kinh thấu lư, rất nên niệm Phật. Kẻ ngu độn, tri kiến chẳng xen tạp, rất nên niệm Phật.

Nói tóm lại, trên trời, trong nhân gian, tứ sanh cửu hữu, đều nên niệm Phật. Kính khuyên người đời, sao chẳng thừa dịp tứ đại chưa biến hành xương khô, hăy sớm niệm Phật, chứ chờ đến khi “muôn thứ không mang theo được, chỉ có nghiệp theo thân”, áo năo, hối hận chẳng kịp!

 

* Khuyến tu tác phước niệm Phật đồ thuyết[36] (thuyết minh kèm theo đồ họa nhằm khuyên tu, làm phước, niệm Phật)

 

          Trên nẻo trời người, làm phước đứng đầu, trong biển sanh tử, niệm Phật bậc nhất.

 

          Nhân gian, cơi trời, vui sướng tiêu dao, đều do rộng làm các điều phước. [Điều ấy] tối khẩn, tối yếu, nên nói là “đứng đầu”. Nếu muốn cao trội hơn trời người, nhanh chóng vượt thoát sanh tử, lên thẳng bất thoái, th́ có một môn Niệm Phật văng sanh tối tôn, tối thắng, nên nói là “bậc nhất”. Kệ rằng:

- Làm phước chẳng niệm Phật. Phước hết vẫn trầm luân. Niệm Phật chẳng làm phước. Nhập đạo lắm đắng cay. Vô phước, chẳng niệm Phật. Địa ngục, quỷ, súc sanh! Niệm Phật kiêm làm phước, sau chứng Lưỡng Túc Tôn.

 

          Làm phước, chỉ cần làm phước, gieo một chút phước, bất luận lớn, nhỏ, nhiều, ít.

 

          Hiếu thuận cha mẹ, trung báo quân vương. Tạo tác, trang hoàng tượng Phật, in tạo kinh điển. Trai cúng tăng-già, tôn kính, phụng sự sư trưởng, kiến tạo chùa chiền, lưu thông pháp lành. Cấm tuyệt giết mổ, mua thả sanh mạng, nuôi ăn dân đói, đông rét giúp áo. Đào giếng t́nh nghĩa, tu bổ cầu cống. Sửa sang đường sá. Thí khắp trà nước. Chăm sóc người bệnh. Ban phát thuốc men. Rửa oan kẻ tội. Thoát, giảm h́nh phạt. Nuôi người già yếu, chăm bẵm cô nhi. Chôn vùi hài cốt, ban tặng quan tài. Tha miễn nợ nần, nghĩa nhượng tài sản. Trả lại đồ mất. Cứu giúp hoạn nạn. Cầu tiêu tai nạn, siêu độ vong hồn. Ḥa giải kiện thưa, giúp người toàn mạng.

 

          Niệm Phật ngàn tiếng chấm một ṿng. Trắng, đỏ, xanh, vàng, đen có thể điền năm lượt.

 

          Kẻ thân vô sự nhàn rỗi, luôn luôn siêng niệm. Người có việc quấn thân, sớm tối khóa niệm. Chí tâm phát nguyện, cầu sanh Tịnh Độ. Thường nhật, hễ gặp phước liền làm, làm xong lại niệm, liền đem phước đă làm hồi hướng Tịnh Độ, cầu nguyện văng sanh. Thiện nhân… (tự xưng tên) thọ tŕ.

 

* Quy giới đồ thuyết

 

          Quy y Phật, chẳng đọa địa ngục, con nay quy y Phật.

          Quy y Pháp, chẳng đọa ngạ quỷ, con nay quy y Pháp.

          Quy y Tăng, chẳng đọa bàng sanh, con nay quy y Tăng.

          Một, chẳng sát sanh: Hễ có sanh mạng, đều chẳng được giết.

          Hai, chẳng trộm cắp: Một cây kim, một nhánh cỏ, chẳng hỏi th́ không được lấy.

          Ba, chẳng tà dâm: Lễ pháp giữ ḿnh, chẳng phạm ngoại sắc.

          Bốn, chẳng nói dối: Nói hư vọng, nói thêu dệt, nói thô ác, nói đôi chiều, thảy đều cấm tuyệt, chẳng kể lỗi của người khác.

          Năm, không uống rượu: Rượu gọi là thuốc gây cuồng, loạn tánh, mê hồn, cấm tuyệt chẳng lọt vào miệng.

          Đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. “Các điều ác” tức là bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa. Các điều ác như thế chẳng thể nêu trọn, chỉ cần là chuyện dối trời, tâm mê muội vv… đều chớ nên làm. “Các điều thiện” tức là trung, hiếu, nhân, nghĩa; các điều thiện như thế chẳng thể nêu trọn. Chỉ cần những chuyện trên thuận lẽ trời, dưới hợp ḷng người v.v… đều phải nên tận lực thực hiện. Niệm Phật tức là nhất tâm tŕ niệm vạn đức hồng danh của A Di Đà Phật. Mỗi ngày hoặc niệm một ngàn, hai ngàn, ba ngàn, năm ngàn, bảy ngàn, hoặc là đến một vạn câu, tùy ư nhiều ít. Cứ một ngàn câu niệm, liền chấm một khuyên, trước là trắng, sau là vàng, kế đến là đỏ rồi xanh, bốn lần chấm qua, đủ bốn mươi tám vạn, cầm đối trước Phật, cầu chứng minh, dụng tâm vi tế, dự vào huyền cảnh, đệ tử… thọ tŕ.

 

* Lục trai, nguyệt trai đồ thuyết

 

          Lục trai: Sáu ngày là mồng Tám, Mười Bốn, Rằm, Hai Mươi Ba, Hai Mươi Chín, Ba Mươi. Nếu gặp tháng thiếu, hăy nên ăn chay trong ngày Hai Mươi Tám, Hai Mươi Chín.

          Nguyệt trai: Mỗi năm trong ba tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, hăy nên ăn chay suốt tháng. Nếu chẳng thể ăn chay ba tháng, ắt phải kiêng giết trong ba tháng.

          Kinh dạy: “Tứ thiên vương mỗi nguyệt lục nhật tuần hành Nam Thiệm Bộ Châu. Sơ bát, nhập tam, sứ giả tuần. Thập tứ, nhập cửu, thái tử tuần. Thập ngũ, tam thập, thiên vương thân tuần, khảo sát nhân gian, hà nhân hiếu thuận phụ mẫu, hà nhân trung báo quân vương, hà nhân chánh trực công b́nh, hà nhân từ bi phương tiện, hà nhân quy y Tam Bảo, giới sát, tŕ trai, quảng tu chúng thiện, như thị đẳng nhân gia phước tăng thọ. Hà nhân ngỗ nghịch phụ mẫu, hà nhân bội phản quân vương, hà nhân khi trá, gian xảo, hà nhân cương hận, bạo ngược, hà nhân bất tín Tam Bảo, tể sát sanh mạng, quảng tạo chư ác, như thị đẳng nhân, tiêu phước giảm thọ. Hựu chánh, ngũ, cửu nguyệt, thiên vương phân trấn Nam Châu, khảo sát tội phước” (Tứ thiên vương mỗi tháng sáu ngày tuần hành Nam Thiệm Bộ Châu. Ngày Mồng Tám, Hai Mươi Ba, sứ giả tuần hành. Mười Bốn, Hai Chín thái tử tuần hành. Mười Lăm, Ba Mươi, thiên vương đích thân tuần hành, khảo sát nhân gian, người nào hiếu thuận cha mẹ, người nào trung thành báo đáp quân vương, người nào chánh trực công b́nh, người nào từ bi phương tiện, người nào quy y Tam Bảo, kiêng giết, tŕ trai, rộng tu các điều thiện, những người như thế thêm phước, tăng thọ. Kẻ nào ngỗ nghịch cha mẹ, kẻ nào bội phản quân vương, kẻ nào lừa dối, gian xảo, kẻ nào cứng cỏi, bạo ngược, kẻ nào chẳng tin Tam Bảo, giết chóc sanh mạng, rộng tạo các điều ác, những kẻ như thế tiêu phước giảm thọ. Lại nữa, tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, thiên vương chia nhau trấn Nam Châu khảo sát tội phước).      

Lại nữa, Ngọc Hoàng thiên đế (Đế Thích), trong tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, dùng đại bảo kính chiếu thẳng xuống Nam Châu khảo sát tội phước, cũng chẳng đáng sợ ư? Cũng chẳng cẩn thận ư? Trong sáu ngày, ba tháng ấy, hăy nên trai giới niệm Phật, sám hối, tu tỉnh. Những ngày ấy niệm Phật, hoặc sáu trăm câu, hoặc sáu ngàn, bèn chấm một ṿng. Mỗi tháng sáu ṿng, có thể dùng hai năm. Nếu chẳng thể ăn chay cả tháng, ắt phải giữ lục trai. Nếu mỗi ngày tŕ trai, mỗi ngày niệm Phật, mỗi ngày tu đức, tốt lành to lớn, tốt lành to lớn!

 

* Niệm Phật truy tiến vong linh văng sanh đồ thuyết

 

          Thất đầu, niệm Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.

          Thất thứ hai, niệm Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.

          Thất thứ ba, niệm Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.

          Thất thứ tư, niệm Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.

          Thất thứ năm, niệm Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.

          Thất thứ sáu, niệm Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.

          Thất thứ bảy, niệm Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.

Cộng chung niệm Phật mấy chục vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.

          Phàm ai khi người chí thân mất đi, đều bi thương chẳng thôi; nhưng [bi thương như thế] vô ích cho người mất, người sống bị tổn hại, chẳng bằng ngưng bi thương, suy nghĩ siêu độ, cứu giúp. Kinh dạy: “Nhân tử giai vu thất thất nhật nội thác sanh, đương tức thử thời, tác chư công đức” (Người đă chết sẽ đều thác sanh trong ṿng bốn mươi chín ngày. Ngay trong lúc ấy, hăy nên làm các công đức). Nay khuyên ngoài việc thỉnh Tăng tụng kinh trong bốn mươi chín ngày, hăy thêm tự ḿnh niệm Phật, mỗi ngày tŕ niệm một ngàn câu, hay năm trăm câu. Hễ có sức th́ niệm tới hai, ba, bốn, ngàn câu. Cứ bảy ngày niệm được bao nhiêu câu, bèn ghi xuống dưới bảy ngày đó. Bốn mươi chín ngày viên măn, hồi hướng đem đốt, có thể khiến cho người mất tội chướng tiêu diệt, cởi gỡ oan khiên, sớm sanh vào đường lành, chẳng vướng mắc trong đường tối tăm. Hiếu tử nghĩ đến cha mẹ, cha mẹ từ ái nhớ đến con, anh em trai, chị em gái, vợ chồng quyến thuộc, thầy, tṛ, bạn bè nghĩ tới ân đức, muốn báo đáp, đều có thể hành theo. Nếu lúc mới tang ma, chưa kịp thấy đồ thuyết này, cũng có thể niệm bù mười vạn câu, hoặc tám ngàn câu, hoặc càng nhiều, tùy ư giúp phước cho người chết, công đức chẳng thể nghĩ bàn!

          Tín sĩ… (tín nữ….) v́ siêu độ thân nhân đă mất là… mà tŕ niệm.

 

* Nói về chuyện kiêng sát sanh để tế thần

         

Kinh Dược Sư dạy: “Sát bỉ chúng sanh, hô chư vơng lượng, thỉnh khất phước hựu, chung bất khả đắc” (giết các chúng sanh, kêu cầu các loài tinh linh, quỷ quái, cầu xin ban phước, trọn chẳng thể được). Kinh nói minh bạch như thế, nhưng người đời bị đồng cốt mê hoặc, khi cầu lành bệnh, hoặc cầu giải trừ tai nạn, hoặc cầu tài, hoặc cầu quan, hoặc cầu con, lớn th́ dùng lợn, chó, trâu, dê, nhỏ th́ dùng thịt gà, vịt, cá để hiến tế quỷ thần, mong cầu cảm ứng, chẳng biết [số mạng] định sẵn bởi trời, quỷ thần chẳng thể thay đổi. Kẻ cầu lành bệnh mà bệnh được lành v́ mạng chưa tuyệt. Kẻ cầu giải trừ tai nạn, tai nạn tiêu diệt là do sám hối mà tự thoát. Cầu tài, cầu quan, cầu con, ắt cũng đều như thế, chẳng phải do sức của quỷ thần! Nhưng giết mạng kẻ khác để kéo dài cuộc sống của chính ḿnh, mổ, chặt, nấu nướng thân chúng nó nhằm mong ta được phú quư, mạnh khỏe, lẽ trời há dung, luật cơi âm chẳng xá, đời hiện tại giảm tuổi thọ, chết rồi sẽ đọa vào địa ngục, đời sau chịu quả báo đền bồi. Chẳng có công mà mắc họa, thật sự đáng buồn lắm thay! Kính khuyên người đời sao không dùng chi phí hiến tế thần để làm việc thiện, hoặc hưng khởi cao vời Tam Bảo, hoặc là mua sanh mạng để phóng sanh, hoặc giúp nghèo, cứu khổ, hoặc lát đường, sửa cầu? Đối với các thiện sự, đều tùy sức mà thực hiện. Làm lành kéo dài tuổi thọ, làm lành sẽ tiêu tai, làm lành muôn sự b́nh an, làm lành con cháu hưng thịnh. Bậc quân tử tri âm, bậc cao hiền hiểu lư, xin hăy thử suy nghĩ. Nếu lời lẽ quê kệch có thể chấp nhận, lại xin rủ ḷng nghe theo, mong mỏi lắm thay!

 

* Điếu dặc thuyết

 

          Luận Ngữ chép: “Tử điếu nhi bất cương, dặc[37] bất xạ túc” (Khổng Tử thả câu, nhưng không chài lưới, đi săn chẳng bắn con đang đậu). Tôi nghi là có sai sót, vì sao? Thánh nhân là bậc nhân từ tột bậc. Vì thế, vua Nghiêu lòng nhân như trời. Đã câu hay bắn, dẫu chẳng quăng lưới, chẳng bắn con chim đang đậu, đều chính là lòng nhân chưa đạt tới cùng tột. Có người nói: “Vua Thuấn có đức hiếu sanh, chẳng bỏ việc tru sát tứ hung[38]. Câu, bắn, há có khuyết điểm gì?” Chẳng biết tứ hung là kẻ có tội, chứ chim, cá có tội gì? Văn Vương ân trạch thấm đến xương khô. Xương khô vô tri, chim, cá có tri giác, không lẽ Khổng Tử chẳng am hiểu tình cảm của muôn vật đến mức ấy ư?

Người khác tặng cá, Tử Sản nuôi trong ao. Tử Sản nuôi nấng trong ao, Khổng Tử đi câu! Tử Sản ban ân huệ cho người, Khổng Tử tàn nhẫn với con người ư? “Được ban tặng gà bèn nuôi chung với chim trĩ, chẳng ăn”, nhân đức, ân trạch, ân huệ của Khổng Tử ắt chẳng kém Nghiêu, Thuấn, Văn Vương, Tử Sản càng rõ. Do vậy biết: “Đạt tới cảnh giới trung hòa thì vạn vật được sanh trưởng yên vui”. Thánh nhân bình trị cõi đời, khiến cho chim, thú, cá, rùa đều sống yên vui. Chẳng nuôi nấng, chẳng giúp cho muôn vật sống yên vui, thì sao là Khổng Tử cho được? Như vậy thì người nước Lỗ săn bắn, Khổng Tử cũng săn bắn, có khác gì đâu? Đáp: Khổng Tử làm quan, có quan chức thì phải thuận theo mạng vua, bất đắc dĩ vậy! Nếu “câu, bắn” là do Khổng Tử tự làm, đối với chuyện có thể ngưng dứt mà Ngài chẳng ngưng dứt[39], thì không đáng tin! Ý tôi cho rằng: Sau chữ Tử, chắc là có chữ Viết: “Tử viết: - Điếu nhi bất cương, dặc bất xạ túc” (Khổng Tử nói: “Câu mà không thả lưới, chẳng bắn con chim đang đậu”). Tập tục chưa dễ cứu văn, đành thuận theo thói tục, vì đời Mạt mà dạy phương cách nhân từ; đó chính là lời nói của Khổng Tử, chẳng phải là việc làm của Khổng Tử vậy!

 

* Nói về cách tiêu trừ tội trộm cắp

 

          Ngày Rằm tháng Chín, chư Tăng thuyết giới, có vị ra khỏi đại chúng, quỳ thẳng, trần thuật lỗi ḿnh như sau: “Con phạm tội trộm cắp”. Nh́n ra th́ ra là cư sĩ Hàm Hư. Tôi nói: “Cư sĩ vốn là người tuân thủ quy củ, cẩn trọng, vâng giữ pháp, sao lại có chuyện ấy?” Cư sĩ nói: “Chẳng phải vậy! Mắt trộm sắc, tai trộm tiếng, cho đến ư trộm pháp, đều là trộm cái ḿnh chẳng có, há chẳng phải là trộm cắp ư? Một cây kim, một nhánh cỏ, phải gấp sám hối. Giặc tâm lẫy lừng, suốt đời chẳng biết sám hối, là bỏ qua kẻ đầu sỏ tấn công thành, chiếm cứ ấp, chỉ lo xét tội thằng trộm khoét vách vậy. Nguyện thầy rủ ḷng từ to lớn, gột rửa tội lỗi cho con”.

Tôi nói: “Nói đến kẻ trộm cắp trong thiên hạ, có hai thứ. Ta qua chỗ người khác để lấy. Đó là thiết đạo (竊盜, lén trộm). Hai là vật tự đưa đến mà [tự tiện] lấy th́ là nhương đạo (攘盜, trộm bằng cách đoạt lấy). Cư sĩ hăy tự nghĩ xem, mắt trộm sắc, mắt đến chỗ sắc rồi mắt lấy sắc trở về ư?” Thưa: “Mắt chưa từng đến sắc”. “Hay là sắc đến mắt, mắt bèn lấy sắc ư?” Thưa: “Sắc chưa từng đến mắt”. “Như vậy th́ chẳng phải lén trộm, chẳng phải đoạt, sao là trộm cắp cho được?” Cư sĩ thưa: “Mắt không tới sắc, sắc chẳng tới mắt, nhưng ngầm thông trong đó là thức. Như xanh, vàng v.v… gặp mắt, nhập vào thức điền. Do vậy, đó là thức trộm cắp”. Tôi nói: “Để chứng minh tội trộm cắp, th́ phải nêu ra tang chứng. Là xanh, vàng… ư? Hăy thử lôi ra đi”. Cư sĩ nói: “Xanh, vàng rạng rỡ, sáng ngời trong tâm mục con. Đó là tang chứng. V́ vậy, thức là kẻ trộm”. Tôi nói: “Có tang chứng th́ sẽ trị tội kẻ ăn cắp. Sắc có xanh, vàng, mà kẻ trộm xanh, vàng là xanh ư? Là vàng ư?” Cư sĩ thưa: “Thức vốn tự chẳng có, từ duyên mà có, thể tánh không tịch, ai thấy xanh, vàng?” Tôi nói: “Kẻ có thể trộm cắp đă không có, sao có vật bị trộm? Hai đằng đều hư huyễn, cái quả của trộm cắp ở đâu? Lật đi lật lại để xét tới cùng; trộm chẳng thể được, ông lấy ǵ để sám?’ Cư sĩ ngơ ngác: “Lạ thay! Luận về chân sám chẳng sám, bậc thượng th́ làm được, chứ kẻ trung hạ làm như thế nào được?” Tôi nói: “Kẻ trộm vào nhà người khác, ắt phải canh cho họ ngủ đă. Cảnh nhập ḷng người, ắt phải thừa dịp họ tối tăm. Chưa có chuyện chủ nhà tỉnh táo mà kẻ trộm được thỏa chí. Chưa có chuyện tâm vương vằng vặc mà cảnh thừa dịp nhập tâm”. Cư sĩ hết sức vui mừng, khen tốt lành.

Tôi nói: “Chưa tốt lành, chỉ là vừa đủ mà thôi. Chủ nhà chẳng có ngày nào nghỉ ngơi, phải đề pḥng địch quốc suốt đời. Kế tạm an tuy đạt được, sách lược để vĩnh viễn bền vững chưa tốt đẹp! Ắt phải tru diệt kẻ chủ mưu gây ác, khiến cho lũ phản loạn quy hàng, một người vô vi, triệu dân an b́nh, kẻ trộm cắp chấm dứt, kẻ bắt trộm mất đi. Tuy lập cửa ngoài, nhưng chẳng đóng, kê cao gối mà nằm, có ǵ phải đề pḥng?” Cư sĩ lại đảnh lễ, thưa: “Nay con mới biết phương sách tốt lành để chữa trộm cắp”.

 

* Cởi gỡ nỗi tức giận của khách

 

          Khách có kẻ đến chơi Vân Thê, đă từ biệt trở về, chưa được nửa đường đă quay trở lại, mờ mịt nói:

- Tôi bực quá, tức quá! Đang trở về, gặp Nho sĩ trên đường, hỏi: “Nghe nói Vân Thê dựng Thiền thất, đại chúng an trụ trong đó mà tu tịnh nghiệp. Có chuyện ấy hay chăng?” Tôi đáp: “Có chứ!” Nho sĩ nói: “Xưa kia Vân Thê là trời đất là nhà của ta’, nay sao chẳng ở trong trời đất mà lại ở trong điện đường?” Tôi chẳng đáp được, do vậy bực tức mà quay lại!

Vân Thê bảo: “Ông ta dùng ngôn từ để hỏi, ông dùng im lặng để đáp, sao lại bảo là chẳng đáp?” Khách cố thỉnh, tôi bèn bảo: “Đối với gă Nho sĩ ấy, sao chẳng dùng Nho để khuyên dụ? ‘Phù vân phú quư’ (phú quư như mây trôi), Trọng Ni nói như vậy đó. ‘Lạc đạo quyến mẫu’ (vui theo đạo mà cày cấy), Y Doăn nói như thế đó. Chẳng xét Khổng Tử từng làm tướng quốc nước Lỗ, Y Doăn phù tá nhà Ân ư? Cái chẳng thường hằng là cảnh ngộ. Cái có chủ tể là tâm. Thánh nhân chẳng thể đổi thời, chỉ có thể chẳng đổi tâm mà thôi! Cái tâm khi [Khổng Tử] làm tướng quốc nước Lỗ chính là cái tâm [khi Khổng Tử dạy học nơi] bến sông Tứ, cái tâm khi [Y Doăn] phù tá nhà Ân chính là cái tâm [khi Y Doăn cày ruộng] nơi cánh đồng Sân. Do vậy mà các vị ấy hơn hẳn người khác, há có phải là khoác triều phục suốt đời, hay vác cày cuốc trọn kiếp th́ sau đấy mới là Trọng Ni hay Y Doăn ư?

Hiểu được nghĩa này, th́ ở riêng trên ngọn núi trơ trọi, dùng hang hốc làm nhà, chẳng phải là cô quạnh! Quần cư muôn người, lấy hải chúng làm nhà, chẳng hỗn độn. Chiếu chẳng ấm chỗ, lấy mây nước làm nhà, nhưng chẳng phiêu đăng. Chân chẳng bước khỏi cửa, lấy b́nh phong và chơng làm nhà, chẳng phải là cố chấp. Làm bầu bạn với ngàn đời trước, lấy bao kiếp lâu xa làm nhà, chẳng cao. Thuận theo hiện thời, lấy những thứ trước mắt làm nhà, chẳng thấp hèn. Bởi lẽ, bậc chí nhân hiểu rơ muôn điều cảnh ngộ là mộng huyễn, nhất tâm b́nh đẳng như hư không, dùng cái tâm hư không ứng với cảnh ngộ mộng huyễn, chuyện đă qua chẳng truy cầu, chuyện đưa đến chẳng cự tuyệt, tùy ư mà thôi! Trời đất là nhà của ta, ư vốn là như thế. Há có phải thật sự là đem mảnh ngói sánh với trời thẳm, coi đại địa là bậc thềm ư? Lại nữa, người biết đạo sẽ lo [chính ḿnh] thiếu sót sự phản tỉnh trong nội tâm, chẳng lo những lời đàm luận bên ngoài lấn lướt! Cầu sao hợp với trời, chẳng cần phải cầu người khác không bàn tán về ta! V́ thế, người tự tin sẽ chẳng bị nhăng chí bởi khen chê. Kẻ biết uốn nắn chính ḿnh, sẽ chẳng động tâm bởi an nguy. Nỗi bực bội của ông cũng là do chưa thấy rơ lư đấy chăng?” Do vậy, ư niệm của khách liền được ngay lập tức cởi gỡ!

 

* Ghi chép về ḷng hiếu

 

          Lư cư sĩ từ Lan Khê tới, nói có người bạn là Triệu Vỹ v́ mẹ mà cắt thịt đùi [làm thuốc dâng mẹ], mạng mẹ được toàn vẹn, xin tôi một lời để tặng [cho ông Triệu]. Khi đó, có người khách ở bên cạnh hỏi: “Làm phận con, cha mẹ có bệnh, cắt thịt đùi để dâng là hiếu ư?” Đáp: “Đúng vậy!” “Tóc, da nơi thân thể nhận từ cha mẹ, chẳng dám hủy hoại hay tổn thương là hiếu ư?” Đáp: “Đúng vậy!” Khách ngạc nhiên hỏi: “Thầy nói trước sau rối loạn, tôi càng hết sức nghi hoặc!

Đáp: - Tôi nói rơ với ông, hủy hoại, tổn thương v.v… tức là chẳng tu thân, mắc phải h́nh phạt, tru lục, và chẳng thận trọng cái thân khiến cho chân tay hư găy, mặt bị hủy hoại, chẳng phải là nói đến chuyện cắt thịt đùi! Nếu không, do móng tay dài mà cắt, do lưng đau mà đấm, do ung nhọt mà châm cứu th́ đều gọi là bất hiếu! Thân đă là di thể của cha mẹ, chẳng bị hành h́nh, chẳng bị tru lục, chẳng làm hư găy, chẳng bại hoại khiến cho cha mẹ xấu hổ, c̣n như xẻo thịt đùi để kéo dài tuổi thọ cho mẹ, kẻ bất hiếu làm được như thế ư? Tuy vậy, biết xẻo thịt đùi là hiếu th́ được, chứ ắt phải cắt thịt đùi rồi mới tính là tận hiếu th́ không được. V́ sao? Tứ Đại chẳng có, Ngũ Uẩn vốn là không. V́ thế, cái bị cắt giống như đất, gỗ v.v… Người có thể cắt như hư không. Ân t́nh mẹ con như chuyện trong mộng, hủy thương và chẳng hủy thương như bọt nước sanh diệt. Như thế th́ chẳng tổn một mảy lông mà gọi là “đại hiếu”. Vị cư sĩ ấy đă quy tâm nơi nội giáo, mong hăy suy nghĩ lời tôi nói.

 

* Nói về tên tự của cư sĩ Trần Quảng Tấn ở đất Mân

 

          Chức quan cửu phẩm là hàng tấn thân[40] trong thế gian. Chín phẩm đài sen chính là tấn thân trong Tịnh Độ. [Trong triều đ́nh], kẻ sĩ đông đảo; [nơi Cực Lạc], các vị thượng thiện nhân, ư nghĩa [“tấn thân”] hệt như nhau. Nhưng sanh Tịnh Độ cũng có chuyện cầu danh ư? Chúng sanh chấp trước, lưu luyến Sa Bà, Như Lai nêu dạy Tịnh Độ; dạy họ bỏ cái kém cỏi, chọn lấy thù thắng cũng là do t́nh thế mà hướng dẫn tạo lợi ích đó thôi. Không cơi mà là cơi, vô sanh mà sanh, chẳng có phẩm mà là phẩm; đó gọi là cực phẩm!

 

* Nói về tên tự của cư sĩ Giang Quảng Ưu

 

          Ưu () là “không”, phải nên có hiệu là Không Hữu cư sĩ. Cụ Bàng nói: “Chỉ nguyện rỗng không các sở hữu. Cẩn thận đừng coi cái chẳng có ǵ là thật sự có”. Muôn sự trong thế gian đều hư huyễn, vốn sẵn là vô; do vậy, nguyện là Không. Cẩn thận đừng thật sự chẳng có ǵ hết! Biết “hữu chẳng phải là hữu”, vọng tưởng tự tiêu. Các vọng đă tiêu, chẳng có ǵ là Chân để đối đăi!

 

* Nói về “Tự Văn” (v́ Vương Vạn Cơ Quảng Quyển ở Giang Hữu)

 

          Quyển () nghĩa là “nh́n lại”, hồi quang xem ngược lại. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tương văn tŕ Phật Phật, hà bất tự văn văn?” (Ngươi đă có thể dùng tánh Nghe nơi nhĩ căn để nghe pháp thành Phật của mười phương chư Phật, v́ sao chẳng dùng nó để quay lại nghe nơi tánh Nghe)[41]. V́ thế, đặt tên tự là Tự Văn (自聞, tự nghe). Lại nói: “Toàn nhữ đảo văn cơ” (Hăy xoay ngược lại cái cơ cấu (hoặc thói quen) nghe [âm thanh từ bên ngoài] lại). Lại nói: “Phản văn văn tự tánh” (xoay lại để nghe nơi tự tánh) đều là ư này. Do vậy, tôi soạn nửa bài kệ rằng: “Tương niệm niệm Di Đà, tùy ưng tự niệm niệm” (hăy đem ư niệm đang niệm Di Đà trong mỗi niệm để biến thành tâm niệm tự phản tỉnh của chính ḿnh).

 

* Nói về tên tự của ba đứa con ông Trương

 

Tiên sinh Trương Thanh Khê có ba đứa con trai. Ông đặt tên cho con trưởng là Tỉnh (), nói: “Đứa con này mù mắt, Tỉnh là do Thiếu () và Mục () hợp thành”. Đứa con kế đặt tên là Liệt (), bảo: “Do đứa con này lùn chủn, Liệt là Thiếu () và Lực () hợp thành”. Đứa con út được đặt tên là Bộ (), bảo: “Đứa con này các tướng mới đầy đủ. Bộ là so với chữ Thiếu [nhiều nét hơn][42], từ đó bèn thôi [không sanh thêm nữa]”. Do vậy, ông ta gặp tôi nói: “Ba đứa con của tôi được đặt tên như thế, mong thầy hăy v́ tôi đặt tên tự cho chúng”. Tôi bèn đặt tên tự cho Tỉnh là Nhữ Minh (汝明). Phàm kẻ chẳng thấy được ǵ sẽ có thể phát khởi chân kiến trong thiên hạ. Tỉnh chẳng có mắt mà có mắt. V́ thế, nhận lấy chữ Minh. C̣n Liệt có tên tự là Nhữ Thắng (汝勝). Phàm người khiếp nhược mà có thể vun bồi ḷng dũng cảm, sẽ có thể thành bậc đại dũng trong thiên hạ, Liệt tuy chẳng có sức mà có sức vậy. V́ thế, nhận lấy chữ Thắng. Đối với Bộ, có tên tự là Nhữ Tấn (汝進). Phàm có mắt th́ có thể chiếu soi, có sức th́ có thể hành. Có thể chiếu sẽ tiến, chẳng mê. Có thể đi sẽ tiến, không bị trở ngại, thực hiện to lớn, chẳng phải là đứa con này th́ là ai đây? V́ thế, nhận lấy tên là Tấn. Ông Thanh Khê học rộng, chuộng lễ, nỗ lực thực hiện đạo xưa, có hạnh hiếu, từ, liêm khiết, được xóm làng b́nh luận coi trọng; tôi biết hậu duệ của ông ắt hưng vượng. Ba đứa con tuy bẩm thọ h́nh thể khác nhau, dẫu tầm thường, há có tổn hại chi? Do vậy, bèn v́ họ nói.

 

14.6. Kệ tụng (ghép thêm vào di cảo)

 

* Từ Thánh hoàng thái hậu[43] sai nội thị hỏi pháp yếu, kính dùng kệ để đáp

 

          Tôn vinh hào quư giả, diêu túc thực thiện nhân. Nhân thắng, quả tất long. Kim thành đại phước tụ. Thâm đạt tội phước tướng. Quả trung cánh thực nhân. Dụ như cẩm thượng hoa, trùng trùng mỹ vô tận. Như thị tu phước dĩ, phục ưng thận quan sát. Tu phước, bất tu huệ. Chung phi giải thoát nhân. Phước huệ nhị câu tu. Thế, xuất thế đệ nhất. Chúng sanh chân huệ tánh, giai dĩ tạp niệm hôn. Tu huệ chi yếu môn, đản nhất tâm niệm Phật. Niệm cực, tâm thanh tịnh. Tâm tịnh, độ diệc tịnh. Liên đài tối thượng phẩm, ư trung nhi thọ sanh. Kiến Phật, ngộ Vô Sanh. Cứu cánh thành Phật đạo, tam giới vô luân thất. Thị danh đại tôn quư.

(Kẻ tôn, vinh, hào, quư, do xưa gieo nhân lành. Nhân tốt, quả ắt thịnh. Nay thành khối phước lớn. Hiểu sâu tướng tội phước, trong quả lại gieo nhân. Ví như hoa trên gấm. Trùng trùng đẹp vô tận. Đă tu phước như thế, lại quan sát cẩn thận. Tu phước chẳng tu huệ, chẳng phải nhân giải thoát. Phước lẫn huệ đều tu; thế, xuất thế bậc nhất. Chúng sanh chân huệ tánh, đều mờ bởi tạp niệm. Môn trọng yếu tu huệ, chỉ nhất tâm niệm Phật. Niệm cực, tâm thanh tịnh. Tâm tịnh, cơi cũng tịnh. Đài sen tối thượng phẩm, bèn thọ sanh trong đó. Thấy Phật, ngộ Vô Sanh. Rốt ráo thành Phật đạo. Tam giới chẳng sánh bằng, gọi là đại tôn quư).

 

* Kệ Pháp Hoa Sớ

 

          Duy Diệu Pháp Hoa, thịnh truyền Chấn Đán. Hữu tín tỳ-kheo, dục trùng tử chi. Nghệ bỉ đào danh, đại cư sĩ sở, cầu ư sớ văn, mộ hóa tứ chúng. Cư sĩ tác kệ, dĩ văn chúc ngă. Ngă diệc vô văn, nhi tác kệ viết: - Thử Pháp Hoa kinh, bản bách nhị thập, kế nhất bản trị, chánh thập nhị thù. Tích lục thập kim, bản tắc thành tựu. Ngă kiến cự thất, phục ngoạn yến nhạc, thiểu phần chi phí, túc cấu toàn kinh. Vân hà thế nhân, vị bỉ phất tích, vị thử tắc lận. Nhi ư kỳ trung, điên đảo hành sự? Tích Phật minh hối, năng ư mạt pháp, diễn thuyết thử kinh, tận thế nan sự, nan trung chi nan, sở bất năng cập. Ngă vị Mạt Pháp, năng khắc thử kinh, diệc phục như thị. Ta hồ thử kinh, thư giả danh bút, mô giả danh mộc, lũ giả danh nhẫn, thành giả vi tự. Nhi kim thử kinh, đương tại hà xứ?Minh tinh huỳnh huỳnh, sở bất năng chứng. Song Lâm liêu liêu, sở bất năng diệt. Trượng lục xích thân, sở bất năng súc. Thiên trượng biến giới, sở bất năng thư. Dược Vương phần thân, sở bất năng cúng. Đại ngưu chi xa, sở bất năng tải. Hỏa trạch xí diễm, sở bất năng thiêu. Quán Âm thiên nhăn, sở bất năng đổ. Ác ma chúng loại, sở bất năng thương. Chư đà la ni, sở bất năng hộ. Cửu tŕ Pháp Đạt, sở bất năng tụng. Vong cú Tào Khê, sở bất năng mẫn. Ta hồ thử kinh, nhược vị khắc chi? Thị cố ngă thuyết, năng khắc thử kinh, thị vi thậm nan. Nguyện văn nan giả, cộng thành sở nan.

 (Kinh Diệu Pháp Hoa, truyền rộng Chấn Đán. Có tỳ-kheo tin, muốn khắc in lại, đến đại cư sĩ, là bậc trốn danh, cầu soạn sớ văn, quyên mộ tứ chúng. Cư sĩ soạn kệ, giao văn cho tôi. Tôi cũng chẳng soạn, bèn viết kệ rằng: - Kinh Pháp Hoa này, bản khắc sẽ gồm, trăm hai mươi ván. Tính ra mỗi ván, giá hai mươi thù, cộng sáu mươi lạng, đủ khắc toàn bộ. Tôi thấy nhà giàu, ăn, chơi, tiệc tùng, bớt chút chi phí, đủ thỉnh cả kinh. Cớ sao người đời, ăn dùng chẳng tiếc, sao với chuyện này, ôm ḷng keo tiếc, hành sự điên đảo, đối với chuyện này? Xưa Phật dạy rơ, trong đời Mạt Pháp, diễn nói kinh này, khó nhất trong đời. Chuyện khó khăn nhất, chẳng thể sánh bằng. Tôi nói Mạt Pháp, khắc in kinh này, cũng lại như thế. Than ôi kinh này, để viết là bút, làm khuôn là gỗ, khắc là dao bén, khắc thành những chữ. Nhưng nay kinh này, đang ở nơi đâu? Sao Mai vằng vặc, chẳng thể chứng được. Song Lâm vắng vẻ, chẳng thể diệt được. Thân một trượng sáu, chẳng thể rút ngắn. Ngàn trượng khắp cơi, chẳng thể vươn dài. Dược Vương đốt thân, chẳng thể cúng dường. Xe trâu to lớn, chẳng thể chuyên chở. Nhà lửa hừng hực, chẳng thiêu đốt được. Quán Âm ngàn mắt, chẳng thể thấy được. Các loại ác ma, chẳng thương tổn được. Các đà la ni, chẳng thể bảo vệ. Pháp Đạt tŕ lâu, chẳng thể tụng được. Tào Khê quên câu, chẳng thể mất được. Than ôi kinh này, v́ sao lại khắc? Do vậy, tôi nói: Khắc in kinh này, quả là rất khó. Nguyện người nghe khó, cùng thành điều khó!)

 

* Tứ Liệu Giản khuyên tu

 

          Tác phước, bất niệm Phật. Phước tận, hoàn trầm luân. Niệm Phật, bất tác phước. Nhập đạo đa khổ tân. Vô phước, bất niệm Phật. Địa ngục, quỷ, súc quần. Niệm Phật kiêm tác phước, hậu chứng Lưỡng Túc Tôn.

(Làm phước, chẳng niệm Phật. Phước hết, vẫn trầm luân. Niệm Phật, chẳng làm phước, nhập đạo lắm cay đắng. Chẳng phước, chẳng niệm Phật, địa ngục, quỷ, súc sanh. Niệm Phật kiêm làm phước, sau chứng Lưỡng Túc Tôn.

 

* Tự vịnh bước vào tuổi năm mươi (sáu bài kệ)

 

          1) Ngă kiến thế nhân tác sanh nhật. Tăng, đạo thiết trai, tục thiết tịch. Thiết trai, ngă diệc úy bôn ba. Nhất tháp tiêu nhiên tọa hư thất. Niệm niệm hồi quang bất bối ân. Thị tắc danh vi tác sanh nhật.

(Ta thấy người đời làm sinh nhật. Tăng, đạo thiết trai, tục bày tiệc. Thiết trai ta cũng sợ bôn ba. Một chơng ngồi lặng nơi pḥng trống. Niệm niệm hồi quang chẳng phụ ân. Đấy chính gọi là làm sinh nhật).

2) Ngă kiến thế nhân hạ sanh nhật. Tửu bô, kim, châu, tịnh ỷ hộc. Cánh nhiêu cẩm tự măn hoa đường. Nạp tăng phận thượng hào vô ích. Hàng ma cao thụ thái b́nh kỳ. Thị tắc danh vi hạ sanh nhật.

(Ta thấy người đời mừng sinh nhật. Rượu, thịt, vàng, châu, và lụa là. Lại c̣n chữ gấm đầy nhà đẹp. Trọn vô ích cho kẻ xuất gia. Hàng ma giơ cao cờ thái b́nh. Đó chính gọi là mừng sinh nhật).

          3) Ngă kiến thế nhân tỵ sanh nhật, khỏa lương tiềm h́nh nhập sơn cốc. Quái ngă phiên tùng sơn cốc lai. Lục nhai tam thị vô nhân thức. Mịch y sanh xứ liễu nhiên vô. Thị tắc danh vi tỵ sanh nhật.

(Ta thấy người đời tránh sinh nhật. Bọc lương, giấu h́nh vào hang núi. Trách ta lại từ hang núi ra. Sáu phố, ba chợ, chẳng ai biết. T́m chỗ nương sống, trọn chẳng có. Đó chính gọi là tránh sinh nhật).

          4) Ngă kiến thế nhân nhận sanh nhật. H́nh hài sơ hướng bào thai xuất. Tiện đạo thân tâm tự thử thành. Muội khước minh châu môn ảnh tích. Hoát nhiên phụ mẫu vị sanh tiền. Thị tắc danh vi nhận sanh nhật.

(Ta thấy người đời nhận sanh nhật, h́nh hài vừa thoát khỏi bào thai. Liền nói thân tâm từ đấy thành. Mê mất minh châu, ṃ bóng dáng. Rỗng rang trước khi cha mẹ sanh. Đó chính gọi là nhận sinh nhật).

          5) Ngă kiến thế nhân sổ sanh nhật. Nhất, nhị, tam tuế, năi chí bách. Tùng đầu Giáp Kỷ hựu Canh, Nhâm. Khước thị không trung luận điểu tích. Liễu tri tứ thập cửu niên phi. Thị tắc danh vi sổ sanh nhật.

(Ta thấy người đời đếm sinh nhật: Một, hai, ba tuổi, cho tới trăm. Từ đầu Giáp, Kỷ đến Canh, Nhâm. Toàn luận dấu chim bay trên không. Biết bốn chín năm toàn sai trái. Đó chính gọi là đếm sinh nhật).

          6) Ngă kiến thế nhân phạ sanh nhật. Nhất niên, niên lăo vô thường bức. Sấn thời tác lạc hà thái si? Luyện h́nh vĩnh thế chung vô thật. Thỉnh quân nỗ lực ngộ Vô Sanh. Thị tắc danh vi phạ sanh nhật.

(Ta thấy người đời sợ sinh nhật. Mỗi năm tuổi già vô thường bức. Chụp giật t́m vui sao quá si? Luyện thân sống măi, trọn chẳng thật! Xin ông nỗ lực ng Vô Sanh, đó chính gọi làsợ sinh nhật).

 

* Dạy Quảng Vị   

 

          Bệnh tùng thân sanh, thân tùng nghiệp sanh. Bất tạo chư nghiệp, họa tiêu, phước tăng. Sa Bà niệm Phật, Cực Lạc tiêu danh. Nhất tâm bất loạn, thượng phẩm vị đăng.

(Bệnh từ thân sanh, thân từ nghiệp sanh. Chẳng tạo các nghiệp, họa tiêu, phước tăng. Sa Bà niệm Phật, Cực Lạc nêu danh. Nhất tâm bất loạn, đạt lên thượng phẩm).

 

* Dạy Quảng Chiếu

 

          Bất tu sách kệ, kệ diệc tánh Không. Chân chiếu bất diệt. Thị nhữ kỷ cung.

(Chẳng cần t́m kệ, kệ cũng tánh Không. Chân chiếu chẳng diệt. Chính bản thân ông!)

 

* Dạy Đại Văn

 

          Tŕ giới niệm Phật. Khất thực chi mạng. Như thị tố khứ, pháp ngữ dĩ cánh.

          (Tŕ giới niệm Phật, khất thực nuôi thân. Cứ hành như thế, pháp ngữ đă xong).

 

* Do Tánh Linh mà dạy đại chúng

 

          Lung á si tăng, danh viết Tánh Linh. Thế gian hảo ác, hà túc b́nh luận? Thị, phi, trường, đoản, hà tất cưỡng phân? Dĩ thử bất thuyết, tức đỗ họa môn. Dĩ thử vật thính, tức tắc báng môn. Dĩ thử bất nghi, thành tựu tín môn. Nhân năng học ngă, vạn họa vô xâm. Tái hoặc tinh tấn, thánh đạo khả thành.

          (Tăng si điếc câm, tên là Tánh Linh. Thế gian tốt xấu, há đáng b́nh luận? Đúng, sai, ưu, khuyết, cớ ǵ cưỡng phân? Do vậy chẳng nói, liền lấp cửa họa. Do vậy đừng nghe, liền bít cửa báng. Do vậy chẳng nghi, thành tựu tín môn. Người học theo ta, muôn họa chẳng xâm. Nếu c̣n tinh tấn, thánh đạo chắc thành!)

 

* Vị tăng Đại Văn cầu kệ, ban cho pháp tự là Vô Ngoại, hiệu là Hàm Không

 

          Vạn tượng chi trung, duy Không vi đại. Không tại ngă tâm, miểu như nhất giới. Đại tai tâm hồ, thùy dữ đối đăi? Vô đối đăi cố, thị dĩ vô ngoại.

(Trong muôn h́nh tượng, chỉ Không là lớn. Không trong tâm ta, bé như hạt cải. Lớn thay cái tâm, đối đăi với ai? Do chẳng đối đăi, cho nên chẳng ngoài!)

 

* Dạy Đại Trác

 

          Hữu sanh tất hữu tử. Trường đoản an túc luận? Kim đắc viên tăng tướng, b́nh sanh nguyện dĩ măn. Đương sanh đại hoan hỷ. Thiết vật hoài ưu năo. Vạn duyên câu phóng hạ. Đản nhất tâm niệm Phật. Chú tưởng Cực Lạc quốc. Thượng phẩm liên hoa sanh. Kiến Phật ngộ Vô Sanh. Hoàn lai độ nhất thiết.

(Có sanh ắt có tử; dài, ngắn há đáng luận? Đắc tăng tướng viên măn, nguyện b́nh sanh đă thỏa. Nên sanh đại hoan hỷ, chớ ôm ḷng ưu năo. Muôn duyên đều buông xuống, chỉ nhất tâm niệm Phật. Chú tâm tưởng Cực Lạc, sanh trong sen thượng phẩm. Thấy Phật, ngộ Vô Sanh. Trở lại độ hết thảy).

 

* Kệ trong ngày Tăng Tự Tứ

 

          Hữu quá như bệnh nhân. Cử quá như y vương. Húy bệnh, nhi ố y. Thị danh đại ngu si.

(Có lỗi như người bệnh. Nêu lỗi như y vương. Kiêng bệnh, ghét y sĩ; gọi là đại ngu si).

 

* V́ tỳ-kheo ác khẩu mà sám hối tội lỗi

 

          Khẩu xuất uế ngữ, như lưu thư trùng. Nhĩ thân như xí, thỉ niệu sở tùng. Tử tại địa ngục, hiệu viết Dương Đồng. Lê canh bạt thiệt, thống triệt tâm hung. Báo măn vi nhân. Hạ tiện, bần cùng. Thanh á, khẩu xú. Vô cô chiêu hung. Ngôn túng hữu lư, nhân bất thính tùng. Ô hô, ai tai! Minh khắc ư trung.

(Miệng thốt lời thô uế, như tuôn ra trùng, gịi. Thân ngươi như nhà xí, phân tiểu chất chứa đầy. Chết đọa trong địa ngục, có tên Nước Đồng Sôi. Rút lưỡi ra cày bừa. Đau thấu tận tâm can. Báo hết, lại làm người. Hạ tiện, c̣n nghèo túng. Tiếng ậm ọe, miệng thối. Vô tội, chuốc họa hung. Dẫu nói năng hợp lư, chẳng ai thèm nghe theo. Than ôi, buồn bă thay! Hăy ghi tạc nơi ḷng!)

 

* Tánh Tường và Tánh Thường cầu được dạy bảo

 

          Tác thiện trí tường. Thiện diệt, tường diệt. Hữu vật vĩnh tồn. Miên bỉ khoáng kiếp. Phi thiện, phi ác. Phi tường, phi ương. Thị cố xả huyễn. Trụ ư chân thường.

(Làm thiện, lành đưa tới. Thiện diệt, lành diệt theo. Có vật tồn tại măi, kéo dài bao kiếp số. Chẳng thiện, cũng chẳng ác. Chẳng lành, chẳng ương hại. Do vậy, hăy bỏ huyễn. Trụ ở trong chân thường).

 

* Ngày Tân Xuân dạy đại chúng

 

          Kim nhật hạ tân Xuân. Tuế thời trùng hoán khước. Tạc nhật thậm ma sanh? Thập nhị nguyệt nhập bát.

          (Hôm nay mừng Xuân mới. Tháng, năm lại đổi khác. Hôm qua như thế nào? Ngày Hăm Tám tháng Chạp!)

 

* Nghỉ tại viện Địa Tạng

 

          Tế Ninh thành, Địa Tạng viện, ẩn ẩn do văn phát hoằng nguyện. Xảo Thiền ḥa không bát hoàn gia. Si đạo nhân mại y măi miến. Khiết miến nhân hưu loạn yết. Chiếu quản hung trung thạch đầu phiến.

(Thành Tế Ninh, viện Địa Tạng, loáng thoáng c̣n nghe phát hoằng nguyện. Thiền nhân giỏi, bát rỗng về nhà. Si đạo nhân bán y mua ḿ. Người ăn ḿ, ngừng nuốt x́ xụp! Xét soi tảng đá ngay trong ngực!)

 

* Vị tăng hoàn tục lại xuống tóc vào Linh Ẩn

 

          Sổ niên Phật điện mạn diên, nhất thuấn ma cung chấn túc. Tức phi tân khởi quy mô. Nguyên thị bổn lai diện mục.

(Mấy năm điện Phật lan man; chớp mắt, cung ma rung chuyển. Chẳng phải quy mô mới dựng, vốn là bộ mặt sẵn có.

 

* Đáp Thị Lang Vương Kính Sở ở Thai Châu

 

          Hỏi: “Đêm đến, đầu giường chuột rúc rích, nói trọn hết một bộ kinh Hoa Nghiêm”. Sư nói: “Khi mèo xông ra th́ như thế nào?” Ông Vương không đáp được. Sư tự đáp thay: “Pháp sư bỏ chạy, lưu lại bàn giảng kinh”. Do vậy, viết bài tụng rằng:

          - Lăo thử tức tức, Hoa Nghiêm lịch lịch. Kỳ tai Vương thị lang, khước bị súc sanh hoặc. Miêu nhi đột xuất họa đường tiền. Sàng đầu thuyết pháp vô tiêu tức. Vô tiêu tức, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Thế Chủ Diệu Nghiêm phẩm đệ nhất.

(Chuột kêu rúc rích, Hoa Nghiêm rành rành. Lạ thay Vương thị lang, bị súc sanh mê hoặc. Mèo xông ra trước nhà vẽ. Đầu giường thuyết pháp không tin tức. Không tin tức, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Thế Chủ Diệu Nghiêm phẩm đệ nhất).

 

* Thải quyết thán (than thở về chuyện hái rau quyết)

 

          Vân Thê chủ nhân ái thực quyết. Nạp tử sơn tiền quần thải chiết. Thải quy, thực dĩ, tẩy túc tọa. Đao đao hoán ngă đàm tâm quyết. Tâm quyết hà tu đăi ngă đàm? Tha quá sơn tiền hảo thời tiết. Quyết quyết, thụ khởi quyền đầu hướng nhữ thuyết!

(Vân Thê chủ nhân thích ăn rau quyết[44], nạp tử xúm nhau hái bẻ trước núi. Hái về, ăn xong, rửa chân ngồi. Lao xao kêu tôi bàn tâm quyết. Tâm quyết cần ǵ đợi tôi bàn? Lần khân trước núi, thời tiết đẹp. Rau quyết, dựng đứng nắm đấm nói với ngươi!)

 

* Đêm thất tịch[45]

 

          Cựu niên kim nhật khất xảo, sanh thiết lê đầu tiếu đảo. Nhất quyền đả phá tử sanh quan. Lộ xuất đường đường sư tử mạo.

(Ngày này năm xưa cầu khéo léo, được lưỡi cuốc sắt, cười lăn chiêng. Một đấm đánh vỡ ải tử sanh. Lộ ra ngạo nghễ dáng sư tử).

 

* Thả ốc có cảm xúc

 

          Bàn bàn khúc khúc, thâm thâm mật mật. Xuất môn tắc đới thủy, tha nê. Bế hộ tác mẫn tung tuyệt tích. Hiểm tao ngọc đảnh điều ḥa. Ky bị kim châm khiêu dị. Kim lai phục nhập ba đào, đản nguyện vĩnh ly la chức. Hưu hiềm chi thể liêm tiêm. Mạc quái lang pḥng trách tắc. Nhược tri viên giác tác già-lam, nhăn tiền tiện thị kim cang quật.

(Quanh co, ngoằn ngoèo, sâu sâu, kín kín. Ra cửa bèn vấy nước, lôi bùn; đóng cửa, ắt bặt tăm tung tích. Gặp hiểm: Vạc ngọc nấu đun; sắp bị kim vàng khêu chọc. Nay lại được vào trong sóng nước, chỉ mong vĩnh viễn ĺa lưới rập. Đừng ngại chi thể mảnh mai, chớ trách hành lang chật hẹp. Nếu biết Viên Giác làm già-lam, trước mắt chính là hang kim cang).

 

* Đèn kéo quân

 

          Nhân duyên động noăn thấp kiên. Ḥa hợp thanh hoàng xích bạch. Linh minh nhất điểm vô khuy. Luân chuyển thiên hồi bất hiết. Viên dung thủ vĩ giao tham. Hàng bố hậu tiên mạc việt. Thả đạo kiếp kiếp ba ba. Thùy thị đáo gia thời tiết? Di! Nhất hồi hỏa diệt yên tiêu, quản thủ an nhàn tịch mặc. Thị tc thị, khủng nhữ mặc ám lư tọa. Thứ phá hướng thượng cơ quan. Nhậm thủ quang huy đỗng triệt.

(Do nhân duyên: nóng, động, ướt, cứng[46]. Ḥa hợp sắc đỏ, trắng, xanh, vàng. Một điểm linh minh chẳng khuyết chút nào. Xoay vần dẫu ngàn lượt chẳng ngừng. Viên dung: Đầu đuôi nối tiếp nhau. Xếp thứ tự: Trước, sau chẳng vượt. Lại nói kiếp này, kiếp nọ, bao giờ sẽ về đến nhà? Ôi! Một phen lửa tắt, khói tiêu, chắc chắn an nhàn, thinh lặng. Đó chính là sợ ngươi ngồi trong hắc ám, nh́n thấu suốt mấu chốt hướng thượng, mặc cho ánh sáng chiếu thấu triệt).

 

* Dạy Tỉnh Ngô

 

          Tăng Tử ngô tỉnh ngô, Trang Sinh ngô táng ngă. Trang nhược phạm dị đoan. Phu tử diệc nan đóa. Ư tất cố ngă tứ giai vô. Vô ngă táng ngă đồng nhất khỏa.

(Tăng Tử: Ta phản tỉnh chính ta. Trang Sinh: Ta tự mai táng ta. Trang Sinh nếu phạm dị đoan, phu tử cũng khó ḷng ẩn náu. Ư chắc, ta tứ đại đều không. Vô ngă chôn ta cùng một lối).

 

* Gởi cư sĩ Trầm Kiến Hành

         

          Ngũ thập niên tiền vịnh Kiến Hành. Nhất tự miêu h́nh, bất thức diện. Yếu tương vô kiến đương huyền tu. Dă hồ ngụy tác kim mao hiện. Nguyện y phu tử chân thật ngôn. Niệm niệm tồn thành, tâm bất biến. Nhất triêu ngộ thủ Thủ Lăng Nghiêm. Kiến kiến chi thời phi thị kiến.

          (Năm mươi năm trước vịnh Kiến Hành. Tợ như tả h́nh, chẳng biết mặt! Hăy coi “chẳng thấy” là huyền tu. Chồn hoang vờ làm lông vàng hiện. Nguyện nương phu tử lời chân thật. Niệm niệm chân thành, tâm chẳng biến. Một mai ngộ hiểu Thủ Lăng Nghiêm. Lúc thấy Kiến sẽ chẳng phải là thấy).

 

* Ghép thêm vào bài kệ trước để răn đừng nói hư vọng

 

          Khóa thượng bạch ngưu xa. Xích mộc hoành đương diện. Đảnh môn nhăn viên tĩnh. Chánh kiến thời thời hiện. Thiên tŕnh phục vạn tŕnh. Vĩnh kiếp hà tằng biến? Tất cánh thị thậm ma lai? Hắc kiểm hồ tăng tọa bích biên. Nhất vật bất tồn như thị kiến.

          (Ngự trên xe trâu trắng. Thước gỗ đặt ngang mặt. Đỉnh đầu trợn tṛn mắt. Chánh kiến luôn luôn hiện. Ngàn tŕnh lại vạn tŕnh. Bao kiếp chẳng hề biến. Rốt cuộc cái ǵ đến? Hồ tăng mặt đen ngồi bên vách. Một vật chẳng c̣n, thấy như thế!)

 

* Bốn bài tụng về lời lẽ của cổ nhân

 

1) Đại âm hy thanh (lớn tiếng mong có tiếng vọng)

 

          Hang trống sâu thẳm. Vừa hô, tiếng vọng mười phương. Sấm sét vắng lặng, một tiếng trống kinh động trăm dặm. Dường như chim mùa Xuân hót suốt ngày. Trùng mùa Thu kêu ri rỉ suốt đêm. Âm thanh rền rĩ, chỉ nhỏ tiếng mà thôi. Do vậy, đức Thế Tôn im lặng hồi lâu, ngoại đạo nói “[đức Phật] vẹt mây mê cho tôi”. Không Sanh (Tu Bồ Đề) ngồi im chẳng nói, mà Đế Thích bảo ‘khéo nói Bát Nhă”. Tiếng lớn mong tiếng vọng chẳng phải là nói về chuyện này ư? Tụng rằng:

          - Bất âm chi âm, danh viết Chí Âm. Trầm trầm tịch tịch, hống động càn khôn. Vô khấu nhi minh, cổ nhân sở châm. Học đạo chi sĩ, mặc dĩ dưỡng chân.

(Âm thanh chẳng phải âm thanh, gọi là Chí Âm. Trầm trầm vắng lặng, rống động càn khôn. Không gơ mà kêu, cổ nhân đă răn. Hỡi người học đạo, thầm dùng dưỡng chân).

 

2) Đại khí văn thành (căn khí to lớn phải thành tựu trễ)

 

          Cây tiện, cây tử[47] ở trên núi, gỗ to ngàn năm dựng thành nhà. Can Tương đúc luyện [bảo kiếm] chín năm, thần quang rực trời. Nếu như hoa cẩn sớm nở, sẽ héo tàn, chẳng [tồn tại] trọn cả ngày. Con phù du dễ sanh, thọ chẳng đến tối. Nhanh chóng thành tựu, tiểu khí mà thôi! V́ thế, ngài Trường Khánh[48] [tĩnh tọa] rách bảy cái bồ đoàn, khi cuốn rèm bèn đại ngộ. Ngài Triệu Châu tám chục vẫn hành cước, kiệt xuất tùng lâm. Đại khí thành tựu muộn, chẳng phải là nói về chuyện này hay chăng? Tụng rằng:

          - Bất khí chi vật, danh viết thượng khí. Tích hậu, dưỡng thâm. Nhất xuất danh thế, dục tốc bất đạt. Cổ nhân sở thứ. Học đạo chi sĩ, tĩnh dĩ sĩ thế.

(Vật chẳng thành khí cụ; đó gọi là thượng khí. Tích chứa dày, dưỡng sâu. Vừa ra, danh rúng đời. Muốn nhanh, sẽ chẳng đạt. Cổ nhân đă quở răn. Hỡi này người học đạo, tĩnh lặng đợi thời thế).

 

3) Đại trí mà như ngu

 

          Ngọc bích giá trị liên thành, ẩn trong đá tảng, giấu ánh sáng. Chiếu thừa châu[49] ẩn trong vực sâu, giấu kín vẻ rực rỡ. Giống như voi do ngà mà bị đốt thân, chim trả (chim bói cá, chim phỉ thúy) do lông mà tổn mạng. Kẻ phô phang trí huệ, tiểu trí mà thôi. V́ vậy, Tào Khê đă khế hợp đạo mầu của Ngũ Tổ, vẫn làm lụng nhọc nhằn, vác củi ḥng ẩn giấu tài năng. Từ Minh đích thân gặp Phần Dương, mà nhịn nhục chê bai để ẩn giấu tung tích. “Đại trí như ngu” chẳng phải là nói về những vị ấy ư? Tụng rằng:

          - Bất trí chi trí, danh viết chân trí. Xuẩn nhiên kỳ dung, linh huy nội . Dụng sát kỳ minh, cổ nhân sở kỵ. Học đạo chi sĩ, hối dĩ hỗn thế.

(Cái trí bất trí, gọi là chân trí. Dáng vẻ ngu xuẩn, linh thông sáng rực trong tâm. Xét soi để hiểu, cổ nhân rất kỵ. Hỡi người học đạo, ẩn tàng né đời!)

 

4) Đại xảo nhược chuyết (cực khéo giống như vụng)

 

          Ngựa kỳ, ngựa kư chở xa ngàn dặm, mà dấu chân giống như ngựa hèn. Chiên đàn trị giá bằng đại thiên, h́nh dạng như củi khô. Khác nào bọ ngựa vung càng chống bánh xe, lừa khoe tài nghệ trước hổ đất Kiềm! Phô trương tài khéo, tiểu xảo mà thôi! V́ thế, Mă Tổ có đại cơ, đại dụng, thoạt đầu giữ sự vụng về nơi cối xay. Hương Nham có thể đáp trăm, đáp ngàn, rốt cuộc cam tâm học trồng trọt. “Cực khéo giống như vụng” chẳng phải là nói về chuyện này hay sao? Tụng rằng:

          - Bất xảo chi xảo, danh viết cực xảo. Nhất sự vô năng, vạn pháp câu liễu. Lộ tài dương kỷ, cổ nhân sở thiểu. Học đạo chi sĩ, phác dĩ tự bảo.

          (Cái khéo chẳng khéo, gọi là cực khéo. Chẳng thể làm chuyện ǵ, vạn pháp đều hiểu rơ. Lộ tài khoe ḿnh, cổ nhân ít thấy. Hỡi người học đạo, chất phác tự bảo vệ ḿnh).

 

14.7. Tán Minh (được khắc rải rác trong di cảo, đều bổ sung ở đây)

* Đa Bảo Như Lai tán

 

          Phi ngọc, phi kim ngân. Phi châu, tê, mă năo. Y Đốn[50] thất kỳ phú. Hải tạng tàm phạp thiểu. Phổ ứng chúng sanh cầu, thị danh viết Đa Bảo.

(Chẳng ngọc, chẳng vàng, bạc. Chẳng châu, tê, mă năo. Y Đốn chẳng c̣n giàu, hải tạng[51] thẹn khuyết thiếu. Ứng khắp chúng sanh cầu, đó gọi là Đa Bảo).

 

* Ca ngợi Bao Thị thêu kinh Pháp Hoa

 

          Tứ thập cửu niên gian, khai thị Phật tri kiến. Đắc thử nhất hào đoan, nhất thiết trần trung hiện. Nhân giai dụng bút mặc. Nhĩ tắc châm ḥa tuyến. Diệp diệp liên hoa sanh. Tự tự quang minh biến. Tâm tướng bổn vô h́nh, tức cảnh năng thông biến. Ngă dĩ bút vi thiệt, kim dụng tư vi tiến. Cộng kết Bồ Đề nhân, vĩnh chuyển Không Vương điện.

          (Trong bốn mươi chín năm, khai thị tri kiến Phật. Được một mảy lông này, hiện trong hết thảy trần. Người đều dùng bút mực, bà dùng kim và chỉ, từng cánh hoa sen sanh. Mỗi chữ quang minh khắp. Tâm tướng vốn vô h́nh, tức cảnh thông trọn khắp. Ta dùng bút làm lưỡi, nay dùng để đề cao, cùng kết nhân Bồ Đề, chuyển măi điện Không Vương).

 

* Tán dương tượng sư Hư Cốc

 

          Phủ tùng, huề cầm, du nhiên tự thích. Ngoại nghi đường đường, nội tâm tịch tịch. Tịch nhi năng ứng, thị danh Hư Cốc.

(Vỗ tùng, ôm đàn, thanh thản, tự vui. Vẻ ngoài đường đường, nội tâm vắng lặng. Tịch mà hay ứng, gọi là Hư Cốc).

 

* Tán dương tượng Quảng Truyền Giám Tự Ban Châu Tâm Đăng

 

          Lưu động hề như châu. Lượng đạt hề như đăng. Lăo nhi bất quyện hề, như châu trường hành, đăng trưng minh. Thị chi vị truyền pháp độ chúng sanh.

(Lưu động dường như thuyền. Lượng đạt tựa như đèn. Già mà chẳng mỏi mệt, như thuyền bơi đường dài. Đèn sáng măi. Đấy chính là truyền pháp độ chúng sanh).

 

* Tán dương Thiền tượng của cư sĩ Đại Tư Thành[52] Phùng Chân Thật

 

          Cổ hữu Phùng công, đạn tâm Phạm giáp. Tục Khánh Hỷ phong, khinh tài hộ pháp. Kim hữu Phùng công, triều thị, lâm tuyền, bị Đạt Ma y, già phu nhập Thiền. Tiên hậu nhị công, thù hành nhất quỹ, tự không hợp không, như thủy đầu thủy. Thị chi vị duy hữu chân thật, phục hà luận hồ b́, tủy?

(Xưa kia có Phùng công, dốc ḷng nơi kinh Phật, nối phong cách Khánh Hỷ, khinh tài hộ pháp. Nay có Phùng công, phố thị suối rừng, đắp y Đạt Ma, xếp bằng nhập Thiền. Trước sau hai vị, khác hạnh nhưng một lối, dường như không hợp không, như nước ḥa vào nước. Đó gọi chỉ có chân thật, luận da hay tủy?)

 

* Tán dương tượng cư sĩ Phương Bá[53] Ngô Bổn Như

 

          Kỳ trực tâm, kỳ dung du, kỳ nguyện quảng, kỳ hoài hư. Ân gian phiên niết, công bị Thích, Nho. Khiết tâm Dương công chi thái, Lễ hiền trú Văn Hầu chi xa. Giải thoát ngạn Đông Pha chi trách. Viên minh ác Long Thư chi châu. Hộ pháp dă bất phương chánh giáo. An Thiền dă thời thân bạ thư. Bổn lai diện mục tự như như.

(Tâm ông thẳng, dung mạo vui, nguyện ông rộng, tâm ông rỗng rang. Ân hưởng chức Phiên, Niết[54]. Công trọn Thích và Nho. Tâm thanh khiết, đầy ứ rau Dương Công[55]. Cỗ xe Văn Hầu[56] giữ lễ đối với chỗ ở của bậc hiền đức. Mũ Đông Pha nơi bờ giải thoát. Viên minh nắm châu Long Thư[57]. Hộ pháp cũng chẳng trở ngại cai trị, giáo hóa. An thiền cũng luôn chẳng ĺa sổ sách. Bản lai diện mục tự như như).

 

* Tán dương tượng quan Đô Khổn Hứa Nguyên Chân

 

          Tướng quân thân, Bồ Tát tâm. Kiếm kích trường, chiên đàn lâm. Bất ly huyễn ngă, đắc tự tánh chi nguyên chân.

(Thân tướng quân, tâm Bồ Tát. Chốn gươm, kích: Rừng chiên đàn. Chẳng ĺa huyễn ngă, đắc nguyên chân tự tánh).

 

* Tán dương tượng cư sĩ Trần Dưỡng Nguyên

 

          Hiếu đễ cung tu, ôn lương thế thủ. Thỉnh ngạch giả tắc viết nghiễm Thái Khâu, Vạn Thạch chi phong. Nghị thụy giả tắc viết kiêm Trọng Ni đức dung chi hữu. Nhi phục quy tâm giác lộ, tích hành đàn môn, thượng chí hồ Tịnh Danh, Bàng tẩu, thị vị thánh đại chi thuần Nho, Lạc bang chi thin hữu.

(Hiếu đễ kính tu, ôn, lương giữ nhiều đời. Người thỉnh ghi biển ngạch bèn nói ông nghiễm nhiên có phong cách của Thái Khâu Vạn Thạch[58]. Người bàn đặt thụy hiệu liền bảo ông c̣n có dung mạo lẫn đức hạnh như Trọng Ni. Ông lại quy tâm nơi nẻo giác, hành bố thí sâu dày. Chí tôn sùng Tịnh Danh và cụ Bàng, đáng gọi là bậc thuần Nho nơi cửa thánh, là bạn lành nơi Lạc Bang).

 

* Tán dương tượng cư sĩ Lư Tố Ngô Trọng Hư

 

          Mẫn nhi vô kiêu, tích nhi năng thí, học ưu nhi quyện ư sĩ. Sanh tồn thủ đạo nhi sức cung. Lâm hành dĩ lư nhi chánh chí. Thành tai! Tố bất nhiễm trần, hư bất lưu tể. Phù thị chi vị hoàn trung khai sĩ.

(Mẫn tiệp, chẳng kiêu, tích chứa hay bố thí. Học giỏi, chán làm quan. Suốt đời tận lực giữ đạo để trau thân. Sắp mất, dùng lư uốn nắn ư chí. Chân thành thay! Trong sạch chẳng nhuốm trần, rỗng rang chẳng thừa cặn. Đấy đúng là bậc khai sĩ trong cơi trần).

 

* Đọc tác phẩm Lưu Mẫu Trinh Thọ Biên

 

          Trinh dĩ tiết xưng, thọ dĩ nhân thực. Dự bá hương b́nh, vinh lai đế tích. Hiếu tai lệnh tử, quang dương mẫu đức.

(Trinh do tiết hạnh đáng ngợi ca, thọ bởi vun ḷng nhân sâu xa. Tiếng thơm truyền khắp, làng nước ngợi. Vinh dự, vua ban sắc chỉ khen. Con hiếu tuyệt vời trong cơi nước, khiến cho đức mẹ rạng lưu truyền).

 

* Tán dương tượng Phùng cư sĩ ở Giang Âm

 

          Mạo cổ nhi tâm diệc cổ, học ưu nhi lộc vị ưu. Văn vinh chương phục, lăo bí viên khâu. Phi thanh sắc hóa lợi năng di chí. Duy cầm thư trúc thạch dĩ tiêu ưu. Thị tắc đôn Nho đạo năi sĩ lâm chi dật phẩm. Tu tịnh nghiệp thật liên thổ chi cao lưu.

(Dáng cổ, tâm cũng cổ. Học ưu, lộc chưa ưu[59]. Xế bóng được áo mũ vinh hiển. Tuổi già chú tâm nơi nông tang. Thanh, sắc, tài lợi chẳng dời chí. Chỉ đàn, sách, trúc, đá tiêu sầu. Chính là bậc giữ vẹn Nho đạo, là bậc cao dật trong rừng Nho. Là bậc cao cả tu tịnh nghiệp, xứng danh thật sự trong cơi sen.)

 

* Tán dương tượng cư sĩ Úc Lan Cốc

         

Kỳ tâm chân, kỳ hạnh đốc, kỳ niệm Phật duy nhật bất túc, tiềm đức tự sanh huy. Lan hương tại u cốc.

(Tâm chân thật, hạnh chuyên dốc, niệm Phật chỉ lo ngày chẳng đủ. Đức ngầm tự tỏa sáng, lan hương ngát hang thẳm).

 

* Tự ca ngợi tượng vẽ [của chính ḿnh]

 

          1) Sấu nhược khô sài, suy như lạc diệp, ngai tỷ manh quy. Chuyết đồng bả miết. Vô đạo khả tôn, vô pháp khả thuyết. Vấn cừ phu tọa hà vi? Đản niệm A Di Đà Phật.

(Gầy như que củi khô, suy như lá rơi rụng. Đần như con rùa mù, vụng như ba ba thọt. Chẳng có đạo đáng kính, không pháp để nói năng. Hỏi ngươi xếp bằng làm chi đó? Chỉ niệm A Di Đà Phật).

          2) (Liễu Toản Pháp Tràng thượng nhân thỉnh ghi) Y nhục tượng, xuất chỉ tượng. Chỉ tượng cố bất chân. Nhục tượng hoàn thành vọng. Na cá thị Vân Thê ḥa thượng?

          (Nương h́nh tượng xác thịt, vẽ thành h́nh trên giấy. Tượng giấy cố nhiên chẳng thật, tượng thịt vẫn thành vọng. Cái nào là ḥa thượng Vân Thê?)

          3) (Nguyện thiền nhân thỉnh đề) Thập họa cửu bất tượng. Năo sát đan thanh tượng. Thứ cơ thử cận chi. Quyền lưu tác cúng dường. Nhược đạo giá tiện thị, y nhiên thành lưỡng dạng. Bất lưỡng dạng, tam thập bổng!        

          (Mười lượt vẽ, chín chẳng giống. Thợ vẽ bực gần chết, ngơ hầu lần này gần tương tự. Tạm lưu lại cúng dường. Nếu nói tượng ấy là thật, nghiễm nhiên thành hai thứ. Chẳng hai thứ, ba mươi hèo!)

 

* Tự tán dương tượng đá

 

          Giá lăo hán, ngoan như thạch. Lột ngột hề cù dung. Lang kháng hề sấu cốt. Thủ si ngai, khốt khốt hề cô nguy một kỹ lưỡng. Khanh khanh hồ cố chấp kiên dĩ thật. Thuyên bất đắc, đả mô nhân, đồ bạch hắc.

(Ông già này, trơ như đá. Dung mạo c̣m cơi cao sừng sững. Xương xẩu va lộc cộc. Giữ si ngốc, nhọc nhằn trơ trọi, chẳng tài cán. Ương ngạnh cố chấp cho là thật. Dùi chẳng thủng, chế tạo giống như người, nhưng chỉ là đen với trắng).

          Các bài minh được chép đủ trong Cộng Trụ Quy Ước Tập.

 

14.8. Thi ca ([các bài thơ] khắc rải rác trong các tác phẩm và di cảo đều được thâu thập thêm vào đây)

 

* Cảnh tỉnh giác ngộ (bốn bài, có lời tựa)

 

          [Bài thơ] “nhà che được mưa, gió” do thiền sư Từ Thọ Thâm soạn. Tôi dùng ba thứ áo, cơm, vật dụng [viết thành thơ, thêm vào] hợp thành bốn, dán vào bên cạnh chỗ ngồi để tự cảnh tỉnh, chẳng dám để người hiền nghe tới.

          1) (nguyên tác) Ốc khả tế phong vũ, hà khổ đấu hoa lệ? Nghiêu, Thuấn cổ thánh quân. Quang trạch thiên hạ bị. Mao tỳ vĩ thường tiễn, thổ giai diệc bất thiết. Bất tri nhĩ hà nhân, lân lân cư đại đệ?

(Nhà che được mưa, gió, sao khổ đua xa hoa? Nghiêu, Thuấn vua thánh xưa, ân trạch trọn thiên hạ. Mái tranh chưa từng xén, thềm đất chẳng xếp đá. Chẳng biết ngươi người nào? Nhà viện lớn san sát!)

Nay tôi nghĩ [thêm các bài như sau]:

2) Thực khả sung cơ tràng. Hà khổ thượng du mỵ? Khổng, Nhan cổ thánh sư, duyệt tâm băo nghĩa lư. Nhất đan, phục nhất biều. Phạn sơ thực, ẩm thủy. Bất tri nhĩ hà nhân, ph́ cam măn châm kỷ?

(Ăn để no bụng đói, tội ǵ chuộng béo, ngon? Khổng, Nhan, cổ thánh sư, ḷng vui no nghĩa lư. Một giỏ cơm, bầu nước. Ăn cơm rau, uống nước. Chẳng biết ngươi người nào, béo, ngon đầy bàn, thớt?)

3) Khí khả túc sử lệnh, hà khổ tác dâm xảo? Thích Ca tam giới sư, vạn đức bị thiên tảo. Nhất tŕ bát-đa-la, tứ chuế do vị liễu. Bất tri nhĩ hà nhân, bôi trợ nghiêm tứ bảo?

(Vật dùng được, đủ rồi; tội ǵ quá tinh xảo? Thích Ca thầy ba cơi, muôn đức trùm vũ trụ. Ôm một bát-đa-la, vá bốn miếng chưa bỏ. Chẳng biết ngươi là ai, chén, đũa toàn bảy báu!)

          4) Y khả cái h́nh thể, hà khổ cạnh văn sức? Ca Diếp thủ truyền đăng, văn dự thiên cổ dật. Đầu đà bách kết thuần. Lăo tử chung phất dịch. Bất tri nhĩ hà nhân, biến thân giai ỷ hộc.

(Áo che thân là đủ, tội ǵ đua hoa mỹ? Ca Diếp khởi truyền đăng, tiếng tăm rền muôn thuở. Áo đầu-đà trăm mảnh; già, chết trọn chẳng đổi. Chẳng biết ngươi thế nào? Khắp thân đều the lụa!)

 

* Trai tăng

 

          Trai tăng bổn thiện duyên, nhân quả phi tế sự. Hoặc xâm, hoặc na di. Ác báo diêu thử trí. Bất kiến hỏa già thiêu, tiêu hạm thùy hậu thế!

          (Trai tăng vốn duyên lành. Nhân quả chẳng chuyện nhỏ. Xâm phạm, hoặc chuyển dời, ác báo do vậy lănh. Chẳng thấy gông lửa đốt, cạm lửa tận đời sau?)

 

* Lập hội

 

          Khởi hội bổn thiện duyên, thận vật đồ lợi kỷ! Đồ lợi nhi khởi hội. Hội khởi, ương diệc khởi. Bảo tŕ chư thượng nhân, thử hội giai vô tỷ!  

(Lập hội vốn duyên lành. Cẩn thận chớ tư lợi. Mong lợi mà lập hội. Hội lập, họa cũng dấy. Các thượng nhân ao báu, hội ấy tuyệt khôn sánh!)

 

* Tu bổ và kiến tạo

 

          Tu tạo bổn thiện duyên, tội phước ư trung phục. Tức thử tạo thiên đường, tức thử tạo địa ngục. Tạm thời khoa tráng quán, hậu hối bất năng thục!

          (Tu, tạo vốn duyên lành. Tội, phước ngầm ẩn trong. Do vậy, tạo thiên đường. Do vậy, tạo địa ngục. Tạm thời khoe tráng lệ, sau hối chẳng thể chuộc!)

 

* Trang hoàng và đắp tạc

 

          Trang sóc bổn thiện duyên, mạc dĩ Phật vi hóa. Khắc thủ Phật thân tiền, nhất quá thị bách quá. Tự kỷ hảo Phật đường, lănh lạc vô nhân tọa.

(Trang hoàng, đắp: Duyên lành. Hăy đừng nên coi Phật, giống như là hàng hóa. Khắc thân Phật đổi tiền. Một lầm là trăm lỗi. Chính ḿnh là Phật đường, vắng tanh, chẳng ai ngồi!)

 

* Thuyết giới

 

          Thuyết giới bổn thiện duyên. Tu kỷ giới minh bị. Như cổ dẫn chư manh, bỉ thử cộng điên trụy. Huống phục vương chế nghiêm, vi chế tiên đắc tội.

(Thuyết giới vốn duyên lành, giới chính ḿnh phải trọn. Như mù dẫn lũ đui, đây kia cùng sụp té. Huống chi luật vua nghiêm, trái luật đắc tội trước).

 

* Giảng kinh

 

          Giảng kinh bổn thiện duyên, ưng quán niên dữ giải. Niên thiếu giải vị tinh. Uẩn quỹ thời hữu đăi. Tốc thành bất kiên lao. Tảo phát hoàn tiên bại.

          (Giảng kinh vốn duyên lành. Hăy xét tuổi và hiểu. Tuổi nhỏ, giải chưa tinh. Un đúc phải đợi thời. Chóng thành, chẳng vững chắc. Sớm phát, sẽ bại trước).

 

* Tức sự (mười bài)

 

          1) Vị chúng tư Lan Nhă, điệu đầu xuất tam môn. Ứng mộ điển trù cục, dũng dược như tiêu bôn. Trú phanh kiêm dạ bào, bộc bộc cam lao tân, ta lai phục ta lai, tịnh uế hồ bất phân.

(V́ chúng trông Lan Nhă. Lắc đầu ra tam quan. Nhận lời mời, trông bếp, hớn hở như gió cuốn. Ngày nấu kiêm đêm nướng, quần quật cam nhọc nhằn. Chao ôi lại chao ôi! Tịnh uế chẳng phân biệt!)

          2) Tham phỏng hương ấp gian, động dĩ lộ dao từ. Ứng duyên cương vực ngoại. Thúc trang tật khu tŕ. Sơn thủy kỷ đăng thiệp. Cơ khát hồn vong thời. Ta tai phục ta tai, khinh trọng chân phất tư.

(Thăm hỏi trong làng, ấp. Lập tức, chối đường xa. Ứng duyên ngoài cương vực. Sắp hành lư, vội đi. Trèo non cùng vượt suối. Đói lẫn khát đều quên. Chao ôi lại chao ôi! Nặng, nhẹ thật chẳng nghĩ!)

3) Đông lân hữu gia sĩ, thân hằng xử già-lam. Tây lân xuất gia nhi, tâm duy luyến trần hoàn. Xả ly thanh tịnh chúng, thiện hữu hô bất hoàn. Ta tai phục ta tai! Hiền ngu cách thiên đàm.

(Xóm Đông có người đời, thân luôn ở già-lam. Kẻ xuất gia xóm Tây, tâm chỉ luyến cơi trần. Ĺa bỏ chúng thanh tịnh, thiện hữu gọi chẳng về. Chao ôi lại chao ôi! Hiền, ngu khác trời, vực!)

4) Tiên thời xuất hỏa trạch, thê tử như cừu thù. Thiếu thời, phản hỏa trạch. Ân ái nhưng trù mâu. Vong thất tối sơ tâm, hoàng kim biến thành thâu. Ta tai phục ta tai! Thăng đọa thùy chi vưu?

(Khi trước, thoát nhà lửa. Vợ con như cừu thù. Thuở trẻ, về nhà lửa, ân ái vẫn dày đặc. Quên mất tâm ban đầu, vàng ṛng biến thành thau. Chao ôi lại chao ôi! Thăng, đọa ai lo nghĩ?)

          5) Cổ văn cửu tích đức. Hạo thủ do lục trầm. Kim kiến tiểu hữu tài, niên thiếu nhi tự tôn. Đường đường cứ cao vị, như sồ cưỡng lăng vân. Ta tai phục ta tai! Chỉ, tấn diêu nhân tâm.

(Xưa nghe tích đức lâu, đầu bạc vẫn lặng trầm. Nay thấy trẻ có tài, tuổi nhỏ mà tự tôn. Nghênh ngang ngôi cao chiếm, chim non cưỡng vượt mây. Chao ôi lại chao ôi! Tiến, dừng do ḷng người).

          6) Đại thánh thùy kim khẩu, vị độ chư hữu t́nh. Si tăng tập cổ giáo, tư chi dĩ doanh sanh. Sở đắc cực vi tiển, sở thất như khâu lăng. Ta tai phục ta tai! Quư tiện hào kỳ b́nh!

(Đại thánh thốt lời vàng, v́ độ các hữu t́nh. Si tăng học cổ giáo, dùng đó để mưu sinh. Sở đắc cực ít ỏi, mất mát như đống, g̣. Chao ôi lại chao ôi! Quư, hèn bàn lẫn lộn).

7) Tập thính Vô Sanh pháp, như ngao mộc trát canh. Nhất văn trường sanh thuật, khốc thị nỗ lực hành. Khí bỉ phệ lưu ly, kiên tŕ chiểu trung băng. Ta tai phục ta tai! Thủ xả nan vi t́nh!

(Nghe, tu pháp Vô Sanh, như nếm canh th́a gỗ. Vừa nghe thuật trường sanh, hào hứng nỗ lực hành. Vứt bỏ phệ lưu ly, giữ kỹ băng trong ao. Chao ôi lại chao ôi! Lấy, bỏ, đều băn khoăn).

8) Tích nhân mẫn hậu học, chú sớ thông mông cầu. Kim nhân bối cổ đức. Tiếu xích đồng dao âu. Thiên hiền tận thành phi, duy kỷ dữ Phật trù. Ta tai phục ta tai! Nghiên xú tằng vô tu!

(Người xưa thương hậu học, chú sớ để khơi thông, cho kẻ mong t́m cầu. Người nay trái cổ đức, chê cười như lời đồn. Ngàn hiền sai bét cả, riêng ta ngang ngửa Phật! Chao ôi lại chao ôi! Đẹp, xấu chưa từng thẹn!)

          9) Xuân khai giảng diễn hội, quải bát thanh tương minh. Thu kết Thiền Na kỳ, cô tồn nhị tam tăng! Chung thân phi dư đồ, tằng bất cử túc hành. Ta tai phục ta tai, chân nhạn hà thời minh?

(Xuân mở hội giảng diễn, tiếng treo bát rộn ràng. Thu kết Thiền Na kỳ, chỉ có hai, ba tăng. Suốt đời giở bản đồ, chưa từng cất chân bước. Chao ôi lại chao ôi! Chân, giả khi nào rơ?)

          10) Đường đường viên lô khách, lâm chung nhi nữ nhan. Niệu niệu nga mi lưu, tọa thoát như nhập Thiền. Cổ lai tăng hóa tục, kim tục vi tăng tiên. Ta tai phục ta tai! Chủ tân thành đảo điên.

(Đường đường khách đầu tṛn, lâm chung hệt phụ nữ. Phường mày ngài yểu điệu, ngồi mất như nhập Thiền. Xưa kia tăng dạy tục, nay tục lại hơn tăng. Chao ôi lại chao ôi! Chủ khách thật điên đảo).

 

* Nghĩa chẳng thể trái

         

          Lưỡng t́nh th tương hoan, kết nghĩa trọng kim thạch. Nhất triêu biến cố sanh. Bối khí dĩ như trịch. Ta tai! Cầm thú tâm, quỷ thần khám kỳ trắc. Bất kiến Hán tằng tôn, cố kiếm ân cần mịch. Vô dĩ tân t́nh khiên, đốn linh cựu t́nh thất. Tân cựu tổng quy Không, đại mộng hà thời cực? Nguyện ngôn tận thử thân, đồng sanh Cực Lạc quốc.

          (Đôi bên thoạt ưa thích, kết nghĩa nặng đá vàng. Một mai ḷng biến đổi, vứt bỏ như ném quăng. Than ôi! Tâm cầm thú! Quỷ thần một bên trông. Chẳng thấy chắt vua Hán, gươm cũ ân cần t́m[60]. Đừng để t́nh mới lôi, khiến t́nh cũ bị mất. Mới, cũ đều là Không, mộng lớn lúc nào dứt? Nguyện khi hết thân này, cùng sanh cơi Cực Lạc).

 

* Ân chẳng thể quên

 

          Tráng sĩ hữu liệt tâm, bất vong báo nhất phạn. Huống phục tri đạo giả, nhẫn tác mạn tâm hán! Điên nguy lại phù tŕ. Quá nhăn bất tương khán. Thí ư tĩnh dạ tư, ninh bất quư lưu hăn? B́nh sanh thị nam nhi, phương thốn thường tự khám. Tất cánh liễu thử ân, đồng đăng Cực Lạc ngạn.

(Tráng sĩ tâm hùng tráng, chẳng quên báo một bữa[61]. Huống chi người hiểu biết, nỡ làm kẻ mê tâm? Được giúp lúc nguy ngập, xong việc chẳng ngó ngàng! Trong đêm thanh thử nghĩ, chẳng thẹn toát mồ hôi? B́nh sanh là nam nhi, tấc ḷng thường tự xét. Rốt cuộc xong ân này, cùng lên bờ Cực Lạc).

 

* T́nh chẳng thể trói buộc

 

          Cổ xưng quân tử giao, uông uông đạm như thủy. Phi bỉ t́nh độc sơ, kiến đạo giả như thử. Minh Hoàng đắc Thái Chân, tất giao thùy năng tỷ? Thương tâm Mă Ngôi dịch, nhất biệt thiên niên hỹ! Ân ái cánh hà tồn, không hoa nhăn tiền mỹ. Thống tai vô thỉ lai, tứ hải biệt ly lệ. Đại khổ vĩnh khí quyên, đồng quy Cực Lạc hội.

(Cổ nhân nói quân tử, trong t́nh nghĩa kết giao, mênh mông nhạt như nước. T́nh ấy chẳng riêng sơ, người kiến đạo như thế. Minh Hoàng được Thái Chân[62], keo sơn ai sánh được? Trạm Mă Ngôi đau ḷng, giă biệt liền ngàn năm. Ân ái há tồn tại? Hoa đốm đẹp trước mắt! Đau thay từ vô thỉ, lệ biệt ly bốn biển. Măi vứt bỏ khổ lớn, cùng về hội Cực Lạc).

 

* Oán chẳng thể giấu

 

          Viên Áng sát Triều Thố, toại thành thiên cổ oan. Thoát linh vô Áng kế, Thố khởi chung trường niên? Đại mạng phi nhân vi, minh minh sử chi nhiên. Tứ Đại tự sanh tử, ư ngă hà dữ yên? Thánh tai hoàng diện tẩu, đàm tiếu chùy đao tiền. Oán thân bổn b́nh đẳng, đồng du Cực Lạc thiên.

          (Viên Áng giết Triều Thố, thành nỗi oan ngàn đời. Nếu Áng chẳng lập mưu, há Thố chẳng sống thọ? Mạng chẳng do người tạo, âm thầm khiến thành vậy. Tứ Đại tự sanh tử, liên quan ǵ đến ta? Thánh thay, cụ mặt vàng[63], cười nói trước đao, chùy. Oán thân vốn b́nh đẳng, cùng dạo trời Cực Lạc).

 

* Dạy cư sĩ Tôn Vô Cao

 

          Nhân khổ, danh phàm phu. Siêu chi dục, nhập thánh. Tháo thử thượng nhân tâm, cùng cao bất tri bệnh. Ngă quán thánh dữ phàm, vô khiếm diệc vô thặng. Khuếch nhiên b́nh đẳng môn, cao hạ hà túc cạnh? Ức chi hựu ức chi, năi kiến Chân Như tánh.

          (Người khổ, gọi phàm phu. Vượt thoát dục, nhập thánh. Vận tâm bậc thượng nhân, tột cao chẳng biết bệnh. Ta quán thánh với phàm, chẳng thiếu cũng không thừa. Cửa b́nh đẳng rộng toang. Cao, thấp há tranh chấp? Đè nén, lại đè nén; bèn thấy tánh Chân Như).

 

* Đọc thơ Uyên Minh xúc cảm bèn làm thơ

 

          Thơ Uyên Minh trách con như sau: “Bạch phát bị song mấn, cơ phu bất phục thật. Tuy hữu ngũ nam nhi, tổng bất hảo chỉ bút. A Thư niên thập lục, lăn nọa cố vô thất. A Tuyên hành chí học, nhi bất ái văn thuật. Ung, Đoan niên thập tam, bất thức lục dữ thất. Thông tử thùy cửu linh, đản mịch lê dữ lật. Thiên vận cẩu như thử, thả tấn bôi trung vật” (Đôi bên tóc mai bạc, da thịt thôi săn chắc. Tuy có năm con trai, văn chương đều chẳng khá. A Thư mười sáu tuổi, lười nhác chẳng ai bằng. A Tuyên dốc chí học, nhưng chẳng thích luyện văn. Ung, Đoan tuổi mười ba, chẳng biết sáu và bảy[64]. Bé Thông sắp chín tuổi, chỉ kiếm lê, hạt dẻ. Nếu vận trời như thế, đành là vật trong chén).

          [Tổ Liên Tŕ họa thơ]:

          Phát phu nhật suy hủy. Sở tao nhưng cánh kỳ. Thái y hà phiên phiên, bất thù ngũ nam nhi. Trung niên cường lực giả, năi chí mao dữ nghê. Thông minh phụ nhĩ mục, Linh Lâm lưỡng tương tề (Tánh Linh bệnh lung, Đại Lâm bệnh cổ). Không sơn phạp chỉ bút, hạnh hỷ đa lật, lê, sảo tri lục dữ thất. Ngạo nhiên siêu đẳng di. Nhất băo vô phục sự. Niệm thử kham thế di. Đạt tai Đào Bành Trạch, vong ưu thả hàm bôi. Ngă diệc xảo tác dụ, như bệnh ninh phế y? Cao hoang bất khả trị, cưỡng trị đồ lao b́! Hà dĩ đại bôi tửu, cao ca liêu tự di!

(Tóc da ngày suy dần. Gặp gỡ càng lạ lùng! Áo màu sao phất phới? Năm con trai khác ǵ? Từ trung niên sức mạnh, trẻ nít lẫn người già. Thông minh, tai mắt kém. Linh, Lâm hệt như nhau (Tánh Linh bị điếc, Đại Lâm bị mù). Núi trống thiếu giấy bút, may mừng nhiều dẻ, lê. Hơi biết sáu và bảy, ngạo nghễ hơn đồng bạn. Ăn no, không chuyện khác! Nghĩ tới lệ tuôn tràn. Đào Bành Trạch[65] thông đạt, nhấc chén để quên buồn. Ta cũng khéo thí dụ, như bệnh há bỏ thầy? Bệnh lậm chẳng thể trị, cưỡng trị luống nhọc nhằn. Dùng ǵ thay chén rượu? Hát vang tự giải khuây!)

 

* Thân ăn mày

 

          Nhất nhật thập nhị thời, thập nhất tại sàng ngọa. Bán thời sách xúc hành. Bán thời tôn cứ tọa. H́nh hài cửu uông luy, tâm thần phục tồi tỏa. Như Xuân băng dục phán, như tàn nguyệt tương đọa. Trí ngă vô hà hương, khẩn kỳ chư thượng tọa.

(Một ngày mười hai thời, mười một giờ nằm bẹp. Nửa giờ đi lẫm chẫm, nửa giờ chỉ ngồi xổm. H́nh hài lâu c̣m cơi, tâm thần lại suy sụp. Như băng Xuân sắp tan, như trăng tàn sắp rụng. Sẽ đặt tôi vào đâu, khẩn cầu các thượng tọa).

 

* Cảm tác

 

          Chung nhật ngă cầu khứ. Chung nhật nhân cầu lai. Lai giả, lư nhược thị. Khứ giả hà vi tai? Khứ giả lư nhược thị, lai giả chân si ngai. Pháp thực Tứ Liệu Giản, tường thẩm vật trương quai!

(Suốt ngày ta cầu đi. Suốt ngày, người cầu đến. Người đến nếu đúng lư, người đi để làm ǵ? Người đi nếu đúng lư, người đến thật ngốc ngây. Pháp thực Tứ Liệu Giản, xét kỹ chẳng trái ngang).

 

* Dạy các con trùng nơi răng

         

          Ức tích phủ ấu xung, tư xỉ vi nhĩ thực. Công như tượng tạc sơn. Giảo như hồ xử quật. Mịch chi bất khả kiến. Khu chi bất khả xuất. Tàn khuyết ngă môn hộ, băng đồi ngă viên bích. Tỷ lân thất sở lữ, phối ngẫu vong kỳ thất. Kỷ niên bách chi bán, dĩ lạc tam chi nhất. Hoặc trần kích thứ phương, hoặc hiến hỏa công sách. Khách liên nhi giáo ngă, ngă tiếu nhi tạ khách. Chỉ nhân thư tước ngại, sở dĩ thảo trị cấp. Đoạn thực khí như thóa, thủy ẩm cam như mật. Thử lạc thường hữu dư, bỉ hại hề túc thích? Ân cần báo nhĩ trùng, an ổn ngụ ngô thất. Phật thượng xả toàn thân, ngô hà lận tiêm cốt? Ngô cốt cập nhĩ cung, nhị câu thị huyễn sắc.

(Nhớ xưa mới non nớt, răng này để ngươi ăn. Khéo như thợ đục núi, gian tợ cáo núp hang. T́m th́ chẳng thể thấy, đuổi ra chẳng thể được. Tàn khuyết cửa nẻo ta, hư sụp tường vách ta. Như hàng xóm mất bạn, phối ngẫu mất bạn đời. Mới gần năm mươi tuổi, răng rụng một phần ba. Người đề nghị xeo nạy, hoặc dùng lửa trị chữa. Khách xót thương dạy ta; ta cười, từ tạ khách. Chỉ v́ cắn nuốt khó, cho nên t́m trị gấp. Nhai thức ăn như răi. Uống nước, ngọt như mật. Niềm vui thường có thừa, nỗi hại sao đủ sầu? Ân cần báo đáp trùng, an ổn ngụ nhà ta. Phật c̣n xả toàn thân, sao ta tiếc chút xương? Xương ta, cung điện ngươi. Cả hai đều huyễn sắc).

 

* Lời than đuổi quạ

 

          Vạn thụ huyên đề ô, hảo điểu tuyệt âm hưởng. Độc trác sở tàn hại, thảm khốc thậm la vơng. Thân tại ca sa hạ, năng vô từ bi tưởng? Ta thử trược ác lâm, ngă nguyện sanh An Dưỡng.

          (Muôn cây quạ huyên náo, chim lành bặt tiếng ca. Mổ dữ gây tàn hại, thảm khốc quá lưới rập. Thân đang khoác ca-sa, há chẳng nghĩ từ bi? Than ôi, rừng trược ác, ta nguyện sanh An Dưỡng).

 

* Bài ca hành cước

 

          Đi qua trạm An Sơn, gặp mưa, nghỉ lại Thiên Phật Các, nghe tiếng cười của đại chúng, bèn viết bài này để cảnh tỉnh:

          Khiêu bao, đảnh lạp, từ hương khúc. Tài xuất môn thời hựu sầu túc. Trường thân lưỡng cước lữ tà miên. Mộng tỉnh duy tư nhất âu chúc. Chúc băi, trừu đơn, vấn lộ hành. Ngọ trai niệm niệm sanh cơ phúc. Tùng triêu chí mộ chỉ như tư, bất tri thân thị sa-môn thuộc. An sơn phong vũ trở chinh đồ. Thiên Phật Lâu tiền khế lao túc. Băo phạn hy nhiên bách bất ưu. Thời văn ngữ tiếu thanh tương tục. Vấn c hành cước sự như hà? Diện diện tương khan, khẩu như mộc. Sanh tử đại sự phi đẳng nhàn. Hạt tẩu cuồng du, khủng phi phước! Mạc đạo b́nh sanh chỉ tự tri, Diêm gia lăo nhăn minh như chúc. Nhất triêu đả toán thảo hài tiền, chỉ khủng tiếu thanh phiên tác khốc!

          (Khoác bao, đội nón, ĺa quê hương. Khi mới ra cửa, lo chỗ nghỉ. Duỗi thẳng hai chân, ngủ lữ hành. Tỉnh mộng, chỉ lo một âu cháo. Ăn xong, gác đơn, hỏi đường đi. Ngọ trai niệm niệm nghĩ bụng đói. Từ sáng tới tối chỉ như vậy, chẳng biết thân vốn thuộc hàng tăng. Gió mưa trong núi, đường ngăn trở. Trước Thiên Phật Lâu, mỏi chân nghỉ. Cơm no, vui sướng, không lo âu. Nghe tiếng cười nói luôn liên tục. Hỏi ông hành cước chuyện ra sao?” Người người nh́n nhau, im như thóc! Sanh tử đại sự chẳng chuyện đùa! Mù quáng rong chơi, sợ chẳng phước. Đừng nói b́nh sanh chỉ tự biết, mắt cụ Diêm La sáng như đuốc. Một mai tính tiền mua hài cỏ, chỉ sợ tiếng cười thành tiếng khóc!)

 

* Người mù ở thôn Kiều

 

Qua thôn Kiều, thọ trai tại nhà thôn dân X… Mọi người vừa mới ngồi thành hàng thọ thực, có một người ăn mày mù chống gậy thong thả tới, thong dong nói: “Chẳng dám mong được cho cơm, chỉ xin chút canh uống”. Lời lẽ, dáng vẻ có phong thái cao cả của cổ nhân, chắc là bậc ẩn dật. Do vậy, tôi xúc cảm vịnh bài này.

Kiều thôn cổ, hà kỳ hiền? Bách kết linh đinh hề. Ư khí nhàn nhàn. Từ đa thọ thiểu hề, tâm tuyệt phan viện. Thùy vân vô mục hề? Song mâu chúc thiên! Bỉ tŕ bát nhi đăng lũng hề. Hồ bất vi hăn nhan? Khiết kỳ danh, nhi ô kỳ hạnh giả hữu hỹ. Minh ư mục nhi manh ư tâm giả giai nhiên. Hu ta hồ! Kiều thôn cổ, hà kỳ hiền?

(Người mù thôn Kiều, hiền cỡ nào! Trăm nỗi lênh đênh ràng buộc thân, ư khí vẫn thanh nhàn. Nói nhiều mà hưởng ít, tâm dứt bặt nắm níu. Ai nói ông không có mắt? Hai ngươi chiếu rạng trời! Kẻ ôm bát độc chiếm lợi lạc, há chẳng xấu hổ ư? Có kẻ danh tiếng thanh khiết mà hạnh ô uế; kẻ mắt sáng mà tâm mù cũng đều như thế! Ôi chao ơi! Người mù thôn Kiều, hiền cỡ nào!)

 

* Bài ca tự giễu pháp sư què chân

 

          Bả cước pháp sư hồ dĩ danh, lương diêu năng thuyết bất năng hành. Ngă kim hành thuyết lưỡng câu chuyết. Bất ưng vô thật đương tư xưng! Xuân vương, chánh nguyệt tài quá thập. Ngọ gian tùy lệ nhập dục thất. Thất túc nga trầm bách phí thang. Bất khởi sàng phu ngũ thập nhật. Sang di phủ b́nh, cân lực b́. Tả trường, hữu đoản hành sâm si. Đông hành giáp phụ nhị đồng tử. Tây hành giao ỷ song cùng chi. Thị cố thử sư danh bả cước. Bả khứ bả lai nhân tiếu sát. Tiếu sát b́nh sanh hiếu phóng sanh. Thiện ác nhân quả lư nan hợp. Phả hữu thị tứ Chiên Đà La, khuê dương, kích ngưu, phanh phù nga. Miết, thiện, giải, cáp sát vô số. Nhi phản khang dự vô tiêm kha. Phóng sanh thành hữu trường thọ lư. Nhân quả vô sai hưu loạn nghĩ. Ngă tích sát nghiệp kim tu thường. Thân thống, tâm sanh đại hoan hỷ. Bàng nhân vấn ngă hỷ giả hà? Ngă dĩ thử cước thành tha đà. Xu bôn vô thỉ chí kim nhật. Bộ bộ sấn nhập vô minh khỏa. Hoặc xu danh hề cứ cao vị, xung hàn đạp biến kim giai địa. Hoặc xu lợi hề tẩu thiên nhai. Lịch tận Yên, Tần, tịnh Sở, Ngụy. Hoặc xu hào thế hầu môn tường. Bất giảm lập tuyết nhi du dương. Hoặc xu nữ sắc việt viên khổn. Diêu thử mộ dạ tao thương vong. Hoặc xu đàn thí cầu vô dĩ, bồ bặc nê đồ một kỳ chỉ. Hoặc xu bằng hữu thời văng lai, phá hạ tiễn vẫn chư trùng nghĩ. Hoặc xu ngũ nhạc cập tam sơn, Nam tŕ Bắc vụ mang hài xuyên. Sở dĩ Như Lai khổ ha trách. Cử túc, động túc giai oan khiên. Hạnh tai kim bả tổn thành ích. Tư dục nhàn hành, hành bất đắc. Tiềm h́nh liễm tích thủ lâm loan. Đa chủng cuồng tâm nhất triêu tức. Khách lai thứ ngă bất khởi diên. Ngột ngột tự nhập ma chuyên Thiền. Bế môn vô sự thả cao chẩm, dục học thúy sắc yên lam miên. Chỉ sầu thử cước bất chung tật, xu bôn vạn cảnh nhưng như tích. Nguyện quân bất bả như bả nhân, thắng bỉ trường niên yểm quan khách!

(Pháp sư sao mang tên “què chân?” Là do nói được, chẳng làm được! Tôi nay nói, hành đều vụng thiếu. Chẳng nên không thật mà lạm xưng. Đầu Xuân, tháng Giêng mới mồng Mười. Giữa trưa theo lệ, vào pḥng tắm. Sảy chân té vào nước sôi sục. Nằm bẹp chẳng dậy năm mươi ngày. Vết loét mới lành, sức gân mỏi. Trái dài, phải ngắn, đi tập tễnh. Sang Đông kẹp đỡ hai đồng tử, qua Tây dựa dẫm hai gậy chống. Do vậy, sư gọi là què chân. Tập tà tập tễnh cười chết người. Cười chết cả đời chuộng phóng sanh. Nhân lành, quả ác, lư khó hợp. Có lắm Chiên Đà La ngoài chợ, mổ dê, đập trâu, nấu le, ngỗng. Rùa, lươn, cua, ṣ, giết vô số. Ngược lại, mạnh khỏe, chẳng mảy bệnh! Phóng sanh thật có lư trường thọ; nhân quả chẳng sai, đừng ngờ loạn! Sát nghiệp xưa kia, nay phải đền. Thân đau, tâm sanh đại hoan hỷ. Người khác hỏi tôi mừng chuyện ǵ? Tôi do chân này thành trễ tràng. Bươn bả từ vô thỉ tới nay. Từng bước xông vào ổ vô minh. Ruổi theo danh vọng, địa vị cao. Xông pha giẫm bước khắp thềm vàng. Hoặc đuổi theo lợi ruổi góc trời, đi khắp Yên, Tần, hoặc Sở, Ngụy. Lân la tường vách nhà sang quư. Chẳng kém Du, Dương[66] đứng trong tuyết. Hoặc theo nữ sắc vượt khuê khổn. Do vậy, tối đêm bị thương vong. Hoặc theo thí chủ cầu không ngớt. Lê lết đường lầy, ch́m gót chân. Hoặc theo bầu bạn luôn qua lại, giẫm chết, đạp nát các trùng, kiến. Hoặc ruổi ngũ nhạc và tam sơn. Ruổi Nam, rong Bắc, xỏ hài cỏ. Do vậy, Như Lai khổ quở trách: “Giở chân, cất bước đều oan khiên”. May nay què quặt, tổn thành ích. Nghĩ muốn đi rong, đi chẳng được! Ẩn giấu tung tích, ẩn núi rừng. Nhiều thứ cuồng tâm, một hôm dứt. Khách đến, thứ lỗi chẳng dậy tiếp. Trơ trơ như nhập Thiền mài gương[67]. Đóng cửa vô sự nằm gối cao. Muốn học sắc biếc, khói lam ngủ. Chỉ sầu chân này chẳng què măi, bôn ba muôn cảnh vẫn như cũ. Nguyện người chẳng què như người què, hơn hẳn người bế quan nhiều năm!)

 

* Cảm tác nhân ngày Tự Tứ

 

          Cổ TTứ, hiệp kim lan. Kim tự tứ, sanh cức thích. Khẩu đàm địa ngục, phẫn khởi tranh. Mục đối Tỳ Ni, manh bất thị. Hà quái hồ chánh pháp suy, ma quân xí! Vân Thê chủ nhân phát trường thán, nhất tắc thương ngă tâm. Nhất tắc ủy ngă chí. Quân bất kiến, ái lễ cố tồn dương, Tuyên Ni tằng cáo Đoan Mộc Tứ.

(Tự Tứ xưa, kim lan xum vầy. Tự Tứ nay, gai góc nẩy sanh. Miệng bàn địa ngục, giận dữ tranh. Mắt nh́n Tỳ Ni, mù chẳng thấy. Chẳng trách chánh pháp suy, ma quân thịnh. Chủ nhân Vân Thê phải thở dài! Một là thương tâm ta, hai là an ủi chí ta. Ông chẳng thấy, do chuộng lễ nên giữ dê[68], Tuyên Ni (Khổng Tử) từng bảo Đoan Mộc Tứ).

 

* Cảm tác đêm Nguyên Tiêu tại Vạn Trúc Lâm ở Hoa Đ́nh

 

          Đ́nh tiền bộc trúc thanh sơ hiết, hựu thị Thượng Nguyên đăng hỏa tiết. Đàn chỉ lưu quang khứ bất đ́nh. Nạp y hạ sự hà thời quyết? Tế tầm tư, kham thống thiết. Các các giá hồi tu mănh liệt, đề khởi trần niên cựu thoại đầu. Trực giao đả phá nghi đoàn triệt.

          (Tiếng pháo trước sân vừa dứt bặt, hoa đăng Nguyên Tiêu lại đến rồi. Khảy tay, thời gian trôi chẳng ngừng. Chuyện của tăng sĩ khi nào xong? Suy nghĩ kỹ, kham đớn đau. Ai nấy dịp này phải mạnh mẽ, dấy lên thoại đầu đă bao năm, thẳng thừng thấu triệt phá khối nghi!)

 

* Bức tranh Quỷ Tử Mẫu nâng bát

 

          Quỷ mẫu thất nhi t́nh thái thích, thiên thượng nhân gian cầu vị đắc! Bát vu chỉ thị không đổ h́nh. Tận kỳ thần lực bất năng xuất. Hồi quang tỉnh quá, đại quy y. Sát-na mẫu tử trùng tương thức. Trùng tương thức, tŕ bát khắc, tự gia hoài lư băo anh nhi, hà tất hướng Như Lai tất hạ ân cần mịch?

          (Quỷ mẫu mất con, tâm sầu muộn. T́m khắp trời, người chẳng thấy đâu! Bát rỗng tuếch, chẳng thấy h́nh hài. Trọn hết thần lực, chẳng t́m được! Hồi quang hối lỗi, đại quy y. Sát-na mẹ con lại biết nhau. Lại biết nhau, chậm tám khắc, ngay trong ḷng ḿnh ôm con thơ. Cần ǵ ân cần t́m dưới gối Như Lai?)

 

* Đáp đầu-đà Viên Hy Hiền

 

          Tu tri hữu niệm chung vô niệm. Thiên trượng ỷ la vô nhất tuyến. Thùy thức vô t́nh khước hữu t́nh. Đ́nh tiền thiết thụ phát tân anh. Vô diệc phi, hữu diệc phi. Thiên Nam ỷ Bắc mạc tương cơ. Vô diệc thị, hữu diệc thị, Đông hành Tây khứ tùy ngă ư. Quân bất kiến, hư không bổn tự tuyệt trung biên. Đông, Tây, Nam, Bắc hà tằng dị?

(Cần biết: Hữu niệm, rốt vô niệm. Lụa là ngàn trượng chẳng sợi nào! Ai biết vô t́nh trọn hữu t́nh. Trước sân, cây sắt nẩy chồi mới. Không cũng chẳng phải, Có cũng chẳng phải. Lệch Nam, dựa Bắc, đừng chê gièm. Không cũng đúng, mà Có cũng đúng. Sang Đông, về Tây, tùy ư ta. Ông chẳng thấy, hư không vốn tự dứt chính giữa và ngoài ŕa. Đông, Tây, Nam, Bắc chưa từng khác).

 

* Quán ṭ ṿ (hai bài)

 

          1) Minh linh, minh linh, hà kỳ linh? Đắc chủng quy lai hề hô dinh dinh, phi kỷ sở sanh hề tiếu kỷ h́nh, xảo hề hồ! Nhân bất như minh linh.

(Ṭ ṿ, ṭ ṿ, thông huệ cỡ nào? T́m được trứng đem về kêu vo ve. Chẳng do chính ḿnh sanh mà lại giống ḿnh, khéo lắm thay! Người chẳng bằng ṭ ṿ!)

2) Minh linh, minh linh, hà kỳ minh? Bất đạn cù lao hề dục nhi anh. Vũ dực kư thành hề khứ bất đ́nh. Bi hỹ hồ! Nhân diệc như minh linh.

(Ṭ ṿ, ṭ ṿ, tối tăm cỡ nào? Chẳng ngại nhọc nhằn nuôi con thơ. Lông cánh đă thành nó bỏ đi mất. Buồn lắm thay! Người cũng như con ṭ ṿ!)

 

* Tẫn xuất tăng

 

          Tẫn chi xuất, khiên chi nhập, bất giải thử ư kham thái tức! Bổn nhân băo hận, bàng nhân cơ. Cơ nghị Vân Thê đa thị phi. Thị phi lưỡng vong, khởi bất hảo? Nhiếp chiết môn trung hồ khả thiểu? Quân bất kiến, Kỳ Viên đ́nh vô trường tư tung, Hạnh đàn minh cổ do đông đông.

(Đuổi ra, dẫn vào, chẳng hiểu ư này quá đáng than! Người ấy ôm hận, người khác chê cười. Gièm chê Vân Thê lắm thị phi! Thị phi đều quên, há chẳng tốt? Trong môn chiết, nhiếp há thiếu được? Ông chẳng thấy, sân Kỳ Viên chẳng có cánh tay vươn dài. Đàn hạnh trống c̣n vang thùng thùng).

 

* Lời than trực đêm

 

          Đường nội thân, đường ngoại thân, bạc b́ khỏa huyết thống dương quân. Đường nội văn, đường ngoại văn, phùng nhân tắc sáp vô sơ thân. Hu ta hề! Đường nội chi thân trướng phục trướng, tố phu xước ước như thiên thượng. Đường ngoại chi thân xích lịch niên, chi thể ban bác san hô tiên. Tần nhân ca, Triệu nhân khốc. Pháp môn b́nh đẳng hề, hà bất tổn hữu dư bổ bất túc. Kư ngữ chấp sự tăng, cổ nhân tằng hữu chúc. Ngă nguyện quân vương tâm, hóa tác quang minh chúc.

          (Thân trong nhà, thân ngoài nhà, da mỏng bọc máu, đau ngứa đều như nhau. Muỗi trong nhà, muỗi ngoài nhà, gặp người liền chích, chẳng sơ, thân. Ôi chao ơi! Thân trong nhà, màn buông nhiều lớp. Da dẻ mịn màng như trên trời. Thân ngoài nhà ngủ trụi lủi, chân tay vằn vện như san hô. Người Tần ca, người Triệu khóc. Pháp môn b́nh đẳng, sao chẳng bớt chỗ dư bù chỗ thiếu? Nhắn với vị tăng chấp sự, cổ nhân từng căn dặn: Ta nguyện tâm quân vương, hóa thành đuốc quang minh).

 

* Chùa Thượng Phương đào ao phóng sanh

 

          Tự phóng sanh nhân sở cư, tŕ phóng sanh ngư sở lư. Hoài ngô cư, ái ngô lư. Tăng sanh t́nh bất thù. Nại chi hà, tạo tự bất đạn lao dữ cù! Khai tŕ thiểu nhiên my bất thư. An tri ngư chi bất vi nhân, nhân chi bất vi ngư? Nhi đản tri cư chi khả hoài hề, hà thái ngu?

          (Chùa là nơi người phóng sanh ở. Ao là nơi cá được phóng sanh sống. Nhớ nơi ta ở, mến chỗ ta ở. Tăng và chúng sanh t́nh cảm chẳng khác. Cớ sao tạo chùa không nài nhọc nhằn? Đào ao sầu muộn, mày nhăn tít? Nào có biết cá chẳng biến thành người, người chẳng biến thành cá? Chỉ biết tưởng nhớ chỗ ở, sao ngu quá vậy?)

 

* Tức sự

 

          Trầm kha đạn ứng thù, đồi linh quyện xu bộ. Bồng môn thâm cốc trung, cao xa hốt tương cố. Phi cảm ngạo vương hầu, bất dục vi thiếp phụ. Tri ngă tất kiến nguyên, tội ngă tắc sanh nộ. Tri ngă dữ tội ngă, như điện, diệc như lộ. Lao tha giới thiệu nhân, thiết thiết hoài ưu bố. Quân bất kiến, hàm hoa nham hạ lăo cổ chùy, vô hạ đài đầu thức thế thổ.

(Bệnh nặng sợ thù tiếp, già suy ngại bôn ba. Trong hang sâu, cửa tranh; xe cao bỗng nh́n ngó. Nào dám ngạo vương hầu, chẳng muốn làm nô tỳ. Biết tôi, ắt dung thứ. Trách tôi, ắt nổi giận. Biết tôi, trách tội tôi; như chớp cũng như sương. Nhọc người khác giới thiệu, khăng khăng ôm lo sợ. Ông chẳng thấy, dưới vách Hàm Hoa, chẳng rảnh ngẩng đầu lau mũi răi).

 

* Cảm tác

 

          Sĩ tục bất khả y, chỉ vị cư vô trúc. Chủng trúc nhược thành can. Tục sĩ ưng bất tục. Duy nhân hiệu viết ngai. Ngai độc tùng thai lai. Phong kết thậm lao cố, thiên thánh vô năng khai. Thế gian thảng hữu y ngai thuật, hà diêu bại gia dữ vong quốc?

          (Thói tục chẳng thể chữa. Do chỗ ở thiếu trúc, bèn trồng bao nhiêu bụi! Tục nho chẳng nên tục, chỉ bị gọi là ngây! Si ngây từ lọt ḷng, kết chặt thật kiên cố, ngàn thánh chẳng thể giải. Thế gian có cách chữa bệnh si, há có tan nhà hay mất nước?)

 

* Vân Thê tuyết đọng (có lời tựa)

 

          Vân Thê bốn phía đều là núi. Sau khi tuyết đọng, đúng là thế giới Ngân Sắc. Có Thiền giả nói: “Nay sống trong uế độ cầu tịnh bang, vẫn được phép thốt uế vận để cầu tịnh kệ hay chăng?” Tôi chấp thuận, bèn ra kệ với các vần như sau: “Cẩu xú cửu tửu sửu” (狗醜韭酒紐). Viết kệ xong, Thiền giả hết sức vui mừng, bảo: “Lành thay! Đúng là như vậy. Chẳng vượt Sa Bà, mà gọi là An Dưỡng!”

          Vạn sơn vô nhân túng ưng cẩu, ngoan thạch cao đê tận giá . Tảm biến đài ngân bạch tự chiên, áp phiên bồ diệp thanh như cửu. Hàn cao thời chử trúc lô trà. Khiết thể bất bồi kim trướng tửu. Thủy tinh thành ngoại nhất thanh bang, ngọc quan đốn địa khai ngân sửu.

          (Muôn núi không người thả ưng, chó. Tảng đá lô nhô che xấu xa. Rải khắp ngấn rêu, trắng dường len. Lá bồ chen phủ, xanh như hẹ. Rét buốt, đun trà nơi bếp trúc. Thân sạch chẳng bồi rượu trướng vàng[69]. Ngoài thành thủy tinh, tiếng mơ buông. Ải ngọc khắp đất phủ xiềng bạc).

 

* Than thở v́ chất bă đậu

 

          Thủy nịch kỳ thể hề, ma toái kỳ cốt. Bạt kỳ tinh hoa hề, thặng kỳ tể chất. Lao nhân lực nhi thành hề. Nhân phục yếm chi nhi bất thực. Bộc điễn thiên vật hề, thị thùy chi trách? Bất như sao tác đậu thị hề, vật bất tổn nhi nhân ích!

(Nước nhấn ch́m h́nh thể, mài nát cả xương xẩu. Lọc sạch hết tinh hoa, chỉ chừa lại cặn bă. Nhọc sức người hoàn thành, người lại ghê tởm, chẳng nuốt. Phí uổng vật của trời, là lỗi của ai vậy? Chẳng bằng chiên làm đậu thị[70], vật chẳng hao tổn, lợi ích người).

 

* Tặng Phương Bá Ngô Uẩn Am nhận chức Thái Thường[71]

 

          Ngô ông dữ Chiết hà đa duyên? Hoàng đường phiên, niết ân miên liên. Chiết nhân thất ông như thất mẫu. Ông độc đăng tỷ như đăng tiên. Tiên phàm lộ yểu hề túc hận? Hội kiến nhật nguyệt dương trung thiên. Cam đường di ái bị tuyền thạch. Tử vi hoa cộng Ưu Đàm tiên.

          (Ông cùng đất Chiết sao nhiều duyên? Hoàng đường, phiên, niết[72] ân liên miên. Người Chiết mất ông như mất mẹ, riêng ông thăng tấn như lên tiên. Tiên phàm nẻo thẳm, há đáng hận? Sẽ thấy nhật, nguyện rạng giữa trời. Cam đường[73] yêu mến nhuần đá, suối. Tử vi, ưu đàm cùng thắm tươi).

 

* Cư sĩ Trầm Quảng San tám mươi tuổi

 

          Ngă thích niên sanh bát thập nhất, quân phùng sơ độ tề bát thập. Ngă sanh chánh nguyệt nhị thập nhị. Quân sanh tiên ngă tài nhất nhật. Diên tiền la ỷ xán như hoa. Môn ngoại tân bằng mật như chức. Thế gian chúc thọ tỷ cương lăng, ngă chúc duy kỳ An Lạc quốc. Quốc trung giáo chủ A Di Đà. Siêu xuất nhân thiên thọ vô cực. Nguyện quân ức niệm tự từ thân, lăo khứ quang âm mạc hư trịch.

          (Tuổi tôi vừa đúng tám mươi mốt, ông mới bước vào tuổi tám mươi. Tôi sanh ngày Hăm Hai tháng Giêng, ông sanh trước tôi đúng một ngày. Trước tiệc, lụa là phô choáng lộn. Ngoài cửa, khách khứa chật như nêm. Thế gian chúc thọ so non núi, tôi chúc chỉ mong cơi An Lạc. Giáo chủ cơi ấy: A Di Đà, thọ mạng vô cực vượt trời người. Mong ông nghĩ tưởng như mẹ hiền. Tuổi già, thời gian đừng luống uổng!)

 

* Tượng Di Lặc phủ tuyết (kết vần bằng chữ Hồng)

 

          Xảo tố thiên hoa tiết, thuân tuần xuất thánh cung. Tằng văn Đâu Suất viện, kim kiến thủy tinh cung. Ngọc dịch tư bàn phúc, ngân quang dật tiếu dung. Dĩ không phàm thế hắc, hà tất thái dương hồng.

(Khéo tạc vảy ngàn hoa, thong dong lộ thánh dung. Từng nghe viện Đâu Suất, nay thấy thủy tinh cung. Dịch ngọc cuộn quanh bụng, ánh bạc rạng mặt cười. Đă xóa tan đời tối, cần chi vầng dương hồng).

 

* Đồng tiền Vạn Lịch

 

          Ngoan đồng sơ xuất dă, đại bảo dĩ thành văn. Ngoại thị đoàn viên tướng, trung tồn phương chánh tâm. Kiến phùng tam cửu vận, cánh chúc thập thiên xuân. Độc hữu lâm gian tử, vô khanh diệc bất bần.

          (Đồng cứng ra khỏi ḷ, thành đồng tiền quư thay. Ngoài phô tướng tṛn trặn, vuông vắn ở giữa tâm. Gặp vận hạn tam cửu[74], lại chúc mười ngàn Xuân. Riêng kẻ trong rừng rú, không ngươi cũng chẳng nghèo!)

 

* Họa thơ đáp lời Trương cư sĩ

 

          Chân thành học đạo nhân, duy đồ đạo nhăn thân. Tại địa ly tiêm thổ, cư triền tuyệt tứ lân. Không hoa phi hữu chất, minh kính bổn vô trần. Đản tự tâm thành Phật, hà phương tích thị dân!

          (Người chân thành học đạo, chỉ mong đạo nhăn rành. Nơi đất ĺa bụi bặm, ở chợ chẳng giao du. Hoa đốm vô h́nh chất, gương sáng chẳng bụi trần. Chỉ tự tâm thành Phật, nào ngại chỉ là dân).

 

* Họa thơ đáp Chiêm Tuất B sang ải Đồng Quan lo việc binh (đính kèm bài xướng)

 

          (Xướng) Ức vấn Lăng Già nhật, tha đà hựu lục niên. Đàm tương thiên lư cách, ảnh cộng nhất đăng huyền. Dă sắc thông giang đảo, thu thanh nhập mộ thiền. Dao dao trần dịch giả, kỷ độ pháp đường tiền.

          (Nhớ hỏi trời Lăng Già, chần chừ lại sáu năm. Đàm luận xa ngàn dặm, cùng soi bóng đèn treo. Cù lao vẻ hoang dă, chiều Thu rộn tiếng ve. Thăm thẳm vướng trần cấu, mấy thuở trước pháp đường?)

          (Họa) Tâm thị căng h́nh nhật, thân đương thảo tặc niên. Từ oai cơ điệt vận, văn vũ sự phi huyền, kiếm khí sơ xâm đẩu. Cầm thanh dục đọa thiền. Trữ khán biên thiêu tức, trùng thoại lục la tiền.  

          (Tâm sáng thương tội phạm, tân trừ giặc nhiều năm. Từ, oai khéo đắp đổi. Văn, vũ chẳng ngại nhau. Kiếm khí xông tinh đẩu. Tiếng đàn khiến ve rơi. Mong thấy biên giới ổn. Hàn huyên trước lá trầu).

 

* Đề Niết Bàn Đường (có lời tựa)

 

          Thiền sư Chân Hiết Liễu có một bài Đường luật về Niết Bàn Đường, thê lương, ai oán, cảnh tỉnh sâu sắc, khiến cho kẻ khác dấy lên niềm bi cảm. Tôi bèn nối đuôi thành bốn bài Đường luật, đặt trong Niết Bàn Đường, chưa chắc đă chẳng phải là dược thạch cho những vị tăng bị bệnh.

          (Nguyên tác) Phỏng cựu luận hoài thật khả thương, kinh niên độc ngọa Niết Bàn Đường. Môn vô quá khách, song vô chỉ. Lô hữu hàn hôi, tịch hữu sương. Bệnh hậu thỉ tri thân thị khổ. Kiện thời đa bán vị nhân mang. Lăo tăng tự hữu an nhàn pháp, bát khổ giao tiên tổng bất phương.

          (Tâm sự hỏi bàn thật đáng thương, cả năm nằm rụi Niết Bàn đường. Cửa không người tới, song không giấy[75]. Tro lạnh phủ ḷ, chiếu đẫm sương. Bệnh rồi mới biết thân là khổ. Lúc khỏe, nửa đời bận chuyện người. An nhàn lăo tăng tự có cách, tám khổ nung xen chẳng ngại ǵ!)

          (Nay họa như sau) 1) Huyễn chất ninh tri hữu bại thương, cử đầu kinh đáo Niết Bàn Đường. Nhất sanh tận dă tàn canh mộng. Vạn lự hôi lai kiểu nhật sương. Quá khứ nghiệp đa, tâm chủ loạn. Tiền xu lộ hiểm, cước ngấn mang. Nhi kim dục vấn an nhàn pháp. Lâm khát khai tŕ sự dĩ phương.

          (Huyễn chất nào hay có bại suy, ngẩng đầu sợ đến Niết Bàn đường. Một đời đă hết, tàn canh mộng. Muôn lo tro lạnh, phủ mờ sương. Nghiệp quá khứ nhiều, tâm rối loạn. Tiền tŕnh nẻo hiểm, bước chân run. An nhàn nay mới toan hỏi cách; khát mới đào ao, lắm nhọc nhằn).

          2) Đồ nhập không môn tối khả thương, Niết Bàn kim thị thí tăng đường. Viêm thiêu ngũ nội ngư du phủ. Thống thiết chư căn thảo bị sương. Độc băo si Thiền thành để sự, bàng tu ngoại thuật uổng can mang. Nhân nhân đạo hữu an nhàn pháp. Tranh nại lâm hành nhất cú phương.

          (Uổng nhập Không môn, thật đáng thương. Thử thách tâm tăng: Niết Bàn đường. Lửa thiêu ngũ tạng: Nồi nung cá. Đau buốt các căn: Cỏ héo sương. Riêng ôm si thiền mong thành tựu, kiêm tu ngoại thuật, uổng công lao. Người người bàn cách an nhàn hưởng, lâm chung nghe nói mới hoang mang).

          4) Thoát thể vô y tuyệt hủy thương. Trầm kha chung nhật tự đường đường. Tâm đăng phá ám minh như nguyệt. Huệ kiếm hàng ma lẫm tự sương. Dược bệnh lưỡng phi hà túc biện. Tử sanh song huyễn bất tu mang. Tùng thùy cánh mịch an nhàn pháp. Tài thuyết an nhàn tiện hữu phương.

          (Thoát xác, không nương, dứt hủy thương. Suốt ngày bệnh ngặt vẫn ung dung. Đèn tâm phá tối như trăng sáng. Gươm huệ hàng ma bén tợ sương. Thuốc, bệnh đều sai, bàn chi nữa. Tử, sanh cùng huyễn, bận tâm ǵ? Từ ai t́m được an nhàn pháp, mới nói an nhàn, sẵn cách đây!)

 

* Tịnh nhân Tông Thừa xuống tóc

 

          Niên thiếu tiệm nhiên viễn lợi danh, xuất gia hà hạnh đắc thành tăng? Đan đài đốn đoạn thiên ty lũ. Phật điện tân trừ thảo vạn hành. Vô kiến đảnh ninh toàn hiển lộ. Bổn lai diện mục bội phân minh. Tông môn chánh khải la anh kiệt, cập đệ tu đăng tối thượng thừa.

          (Tuổi trẻ nghiễm nhiên xa lợi danh, may sao xuất gia được thành tăng. Đài son nhanh cắt tơ ngàn sợi, Phật điện mới trừ cỏ vạn nhành. Vô kiến đảnh tướng trọn hiển lộ. Diện mạo sẵn có càng phân minh. Tông môn mở nẻo người anh kiệt, thi đậu phải cậy tối thượng thừa).

 

* Họa bài thơ của Thái Sử Trương Dương Ḥa thuộc Hưng Phổ Am ở Sơn Âm

 

          Ngọc điện truyền lư đệ nhất nhân, trượng lê kim đáo nạp tăng môn, Diệm Khê hưng tại liên tiêu túc, liên xă t́nh đa tận nhật luận. Định thủy tịnh trừ tâm địa cấu, huệ đăng cao thước tánh thiên hôn, nhất triêu khám phá Hương Nham bát, song báo quân ân dữ Phật ân.

          (Điện ngọc vang danh đệ nhất nhân, chống trượng t́m đến cửa nạp tăng. Diệm Khê cao hứng, nhiều hôm ngụ. Liên xă thắm t́nh, suốt ngày bàn. Nước định sạch trừ tâm cấu bẩn. Đèn huệ chiếu tỏ trời tánh mờ. Một mai hiểu rơ Hương Nham[76] bát, cùng báo ân vua lẫn Phật ân).

 

* Trương Thái Sử dựng sơn pḥng, đề thơ, lại dùng nguyên vận để đáp tạ

         

Thất xích hành măo bách kết thuần, an bần vô sự yết hầu môn. Nhân quá cổ tự thù tiên ước, khước hà tiên châu tiếp tố luận. Xuất tụ nhàn vân nan trụ tích, mai trần bảo kính dục ma hôn. Thanh sơn thả tịch Duy Ma thất. Tha nhật tùng lai tạ thử ân.

          (Nhà tranh bảy thước, vá trăm bề. An bần, vô sự, lụy công hầu. Do về chùa cổ tṛn ước cũ. Lại vác thuyền tiên đón luận trong. Mây vờn đỉnh núi khôn t́m dấu. Gương báu bụi lấp, mài thêm mờ! Núi xanh trơ trọi Duy Ma thất, sẽ có một ngày đến tạ ân).

 

* Nói chuyện ban đêm tại Hưng Phổ Am, dùng đúng vần trong bài trước để gởi cho Trương Đại Hoa

 

          Kim đại y quan thái cổ tâm, thận ngôn thường tỏa thị phi môn. Tham Thiền chí dĩ tề Trương Chuyết. Hiếu học danh kham nhập Lỗ luận. Liên trạo lưỡng di lai bạch xă. Thằng sàng kỷ độ tọa hoàng hôn. Tha niên định huệ công thành nhật. Tu niệm tùng tiền Chỉ Quán ân.

          (Áo mũ thời nay, tâm thái cổ. Nói năng cẩn trọng, dứt thị phi. Tham Thiền chí đă bằng Trương Chuyết, hiếu học danh kham dự Khổng môn. Chèo sen hai lượt vào bạch xă. Ghế dây mấy bận ngắm hoàng hôn. Năm nào Định Huệ thành công trọn, cần nhớ ân xưa Chỉ Quán môn).

 

* Nói chuyện ban đêm tại Hưng Phổ Am, dùng đúng vần trong bài trước để gởi cho quan Vũ Bộ Vương Long Khê

 

          Đạo học quyền hành chánh thuộc quân. Giáng duy phong động mă dung môn. Tam gia cổ giáo tùy duyên thuyết. Nhị tự Lương Tri cực khẩu luận. Tĩnh lực thiên tùng mang lư đắc. Tráng hoài bất vị lăo lai hôn. Dương Minh động thủy kim phương hạc. Lâm vũ thương sanh mạc phụ ân.

          (Đạo học tự ḿnh cân nhắc lấy. Gió động màn hồng cửa Mă Dung[77]. Cổ giáo ba nhà tùy duyên nói, hai chữ Lương Tri cực luận đàm. Sức tịnh riêng t́m trong bận rộn, hùng tâm chẳng bị tuổi già suy. Nước động Dương Minh nay mới cạn, mưa đẫm quần sanh chớ phụ ân).

 

* Nói chuyện ban đêm tại Hưng Phổ Am, dùng đúng vần trong bài trước để gởi cho Vương Tứ Nguyên

 

          Tảo kết tiên du xuất thế trần, hựu tùng đ́nh huấn nhập huỳnh môn. Dương Châu mộng đoạn quỳnh hoa hứng. Hải phố t́nh khiên bối diệp luận. Nhiếp niệm cẩn năng thu điệu cử, thể tâm phương khả phá mê hôn. Hưu tương Chỉ Quán man han ngữ, cô phụ Thiên Thai giáo chủ ân.

          (Sớm theo tiên đạo vượt trần gian, lại do gia giáo, thạo văn chương. Dương Châu tàn mộng, hoa quỳnh nở. Phố biển nặng t́nh với Phật kinh. Nhiếp niệm chỉ dằn tâm náo động. Hiểu tâm mới thật phá hôn mê. Thôi đừng bàn loạn lời Chỉ Quán, cô phụ ân sâu tổ Thiên Thai).

 

* Giảng kinh Viên Giác tại Tịnh Từ, trong tuyết tiễn Phương Bá Lưu Cảnh Mạnh thuộc Hoàn Thành

 

          Vi viên thụy thái động Nam B́nh. Phật quốc trùng khai liễu nghĩa kinh. Thiên chỉ băo phân Hương Tích giới. Nhất quan thanh thấm ngọc vi thành. Hiện thân uyển thị sơ huyền độ. Hoằng đạo tàm phi cựu Vĩnh Minh. Ca bái măn đồ hưu hận biệt. Hành khan lâm vũ y thương sanh.

          (Vi viên[78] lộng lẫy rộn Nam B́nh. Phật quốc lại khai liễu nghĩa kinh. Ngàn người no nê cơi Hương Tích. Quan liêm như ngọc nhuận toàn thành. Hiện thân Ngài nhập nơi huyền lư. Hoằng đạo thẹn tôi kém Vĩnh Minh. Xướng tụng trọn đường đừng tiếc hận. Mong Ngài nhuận trạch khắp quần sanh)

 

* Họa vận đáp thái thú Châu Xuân Thành (đính kèm bài xướng)

 

          (Xướng) Phỏng đạo Đông quy tự ngộ chân. Hựu từ hỏa trạch xuất hồng trần. Tuyết hồng đáo địa tuy lưu tích. Thiên nữ phi hoa bất trước thân. Diện bích cửu niên tâm thượng quưnh. Phóng sanh nhất sớ, vật giai xuân. Độc liên thịnh thế vô tri kỷ, vị tất kim đan ngộ Động Tân.

          (Hỏi đạo về Đông tự ngộ chân. Giă từ nhà lửa, thoát hồng trần. Tuyết rơi xuống đất c̣n in dấu. Thiên nữ rải hoa, chẳng dính thân. Nh́n vách chín năm, tâm ngời sáng. Phóng sanh một sớ, mọi vật sanh. Riêng thương đời thịnh không tri kỷ, kim đan chưa chắc Động Tân lầm!)

          (Họa) Khổng Lăo y hy vị thức chân. Thiên gia dị kế đẳng vi trần. Nhất Thừa đường áo mê tâm nhăn. Tam giới linh ngữ tỏa huyễn thân. Kim tử quang trung hoang bạch nghiệp. Tạm duyên tùng lư thất thanh xuân. Thập niên tiền đắc phùng tri kỷ. Tảo tác Không Vương mạc hạ tân.

          (Khổng, Lăo dường như chưa biết Chân. Ngàn nhà kiến giải tợ vi trần. Nhất Thừa sâu thẳm, mê tâm nhăn. Nhà ngục ba cơi giam huyễn thân. Vinh hoa quên bẵng tu bạch nghiệp. Sách vở dùi mài mất tuổi Xuân. Mười năm trước đă gặp tri kỷ. Sớm làm tân khách của Không Vương).

 

* Họa vận đáp cư sĩ Vương Bách Cốc (đính kèm nguyên xướng)

 

          (Xướng) Lục thập cao tăng tuyết măn điên. Nê đồ lăo tẩu diệc tề niên. Khả dung phàm lữ vi Thiền lữ. Dĩ băi trần duyên kết tịnh duyên. Thí thực mỗi phân Hương Tích phạn, phóng sanh hà tích hạc lâm tiền? Đ́nh tiền nhất mẫu thương lăng thủy. Dă học Đông Lâm chủng bạch liên.

          (Cao tăng sáu chục đầu phơ bạc, ông lăo đường bùn tuổi cũng ngang. Bạn tục há dung làm Thiền lữ? Đă bỏ trần duyên, kết tịnh duyên. Thí thực thường chia cơm Hương Tích, phóng sanh rừng hạc há tiếc tiền[79]? Trước sân một mẫu nước xanh biếc. Cũng học Đông Lâm trồng bạch liên).

          (Họa) Nhân thế chân ta sự đảo điên. Bành thương đồ tự các luận niên. Phồn hoa lănh đạm đăng tiền hư. Hội hợp phân ly mộng lư duyên. Tử yến t́nh đa bi cựu lũy. Thanh phù ân trọng thác phi tiền. Tri quân dĩ thích tỳ bà hận, cẩm tự tân đề thất bảo liên.

          (Than dài nhân sự đảo điên thay. Bành, Thương[80] luận thọ uổng công rồi. Phồn hoa, hoang vắng như bóng rối[81]. Hội hợp, chia ĺa mộng duyên thôi. Én biếc đa t́nh buồn lũy cũ. Thanh phù ái nặng theo tiền bay[82]. Biết ông bỏ được Tỳ Bà hận[83], bảy báu sen đề chữ gấm hoa).

 

* Ở trong núi

 

          B́nh sanh mạng tọa thái cô tinh. Tiễu tự cao phong lănh tự băng. Tự chủ, tự tân, hoàn tự bộc. Không am, không tháp, phục không đang. Đằng la nhập hộ vô nhân tiễn. Đăng hỏa tiêu yên tá nguyệt minh. Độc hữu tiêm hào cô vị tận. Bạch vân thời chí bạn u thanh.

          (Cả đời mạng định sẵn đơn côi. Trơ tựa non cao, lạnh tợ băng. Làm chủ, làm khách, làm đầy tớ. Chỉ có ḿnh ta đảm nhận thôi. Am trống, chơng suông, nồi cũng rỗng. Chẳng ai xén cắt mặc dây leo. Đèn tắt ngóm rồi, trăng sáng rọi. Riêng chút đơn côi chưa hết sạch, bạch vân bỗng đến bạn u thanh).

 

* Tặng Đông Thự thượng nhân

 

          Càn khôn đại dạ chánh mang mang. Vân ủng kim luân khởi Chấn phương. Vạn lư sạ kinh thiên nhăn khoát. Thiên sơn sơ hiện Phật đầu thương. Phồn tinh lệ nguyệt nan tŕnh thái. Độc vụ kiên băng cảm thị cường. Trữ khán thăng đằng đương Ngọ vận. Phổ châu quần hữu mộc ân quang.

(Đêm thẳm đất trời mờ tối tăm. Mây nâng vầng nhật mọc phương Đông. Muôn dặm bỗng như thiên nhăn mở. Ngàn non thoạt hiện Phật xanh đầu[84]. Trăng sáng, muôn sao khôn hiện tỏ. Sương độc, băng dày dám cậy cường? Hồi lâu trời đă vào chánh Ngọ, khắp trọn muôn vật hưởng ân quang).

 

* Thơ thủ vĩ ngâm (bốn bài)

 

          1) Liên Tŕ phi thị ái tài liên? Liên thị hoa trung đại giác tiên. Hoa phát liên sanh nhân đới quả. Liên thành hoa lạc thật tồi quyền. Triển khai thiên diệp toàn cơ hiện. Nhiếp nhập cô pḥng chúng đức viên. Tỉnh tận Trường An hồng tử mộng. Liên Tŕ phi thị ái tài liên?

          (Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen? Sen vốn muôn hoa đại giác tiên. Hoa nở, hạt sanh: Nhân kèm quả. Hạt chín, cánh rụng: Thật thay Quyền. Nở x̣e ngàn cánh, lẽ chân hiện. Gom vào một gương, các đức tṛn. Tỉnh hẳn Trường An hào nhoáng mộng, Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen?)

          2) Liên Tŕ phi thị ái tài liên? Liên thị hoa trung hỗn tục tiên. Nội hiệp ngư long thành tịnh lữ. Ngoại liên b́nh tảo kết lương duyên. Họa thuyền tiêu cổ lương phong dạ. Thanh lạp ty luân tế vũ thiên. Thân tại ô nê hồn bất nhiễm. Liên Tŕ phi thị ái tài liên

          (Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen? Sen tiên trong tục giữa muôn hoa. Trong cùng rồng, cá thành tịnh lữ. Ngoài với bèo rong kết thiện duyên. Thuyền hoa trống, sáo, đêm thanh mát. Mưa bụi, nón trúc, khẽ buông cần. Thân tại bùn lầy, trọn chẳng nhiễm. Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen?)

3) Liên Tŕ phi thị ái tài liên. Liên thị hoa trung nhẫn nhục tiên. Hạnh tự thâm căn mai trược thổ. Tùng tha danh hủy chiếm cao nguyên. Nhan khai hách nhật hồng thiên diễm. Thật trụy thu sương lẫm bội kiên. Nhất điểm thúy tâm hàm tạo hóa. Liên Tŕ phi thị ái tài liên.

(Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen. Sen: Tiên nhẫn nhục giữa muôn hoa. May có rễ sâu vùi đất bẩn, mặc hoa quư khác chiếm cao nguyên. Nắng rực, sen hồng phô lộng lẫy. Sương thu đẫm hạt, chắc bền thêm. Một điểm tâm biếc: Công tạo hóa. Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen?)

          4) Liên Tŕ phi thị ái tài liên. Liên thị hoa trung giải thoát tiên. Khiết thể huưnh ly hồng phấn tấn. Thanh hương bất luyến ỷ la diên. Mật thông thiên khổng trừ chư ngại. Tú xuất cô tiêu tuyệt chúng triền. Bích thủy thanh thiên trường tự tại. Liên Tŕ phi thị ái tài liên

          (Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen? Sen: Tiên giải thoát giữa muôn hoa. Thân tịnh hơn xa son phấn đắp. Hương thanh há luyến tiệc xa hoa. Ngầm thông ngàn lỗ không chướng ngại. Đẹp trội thanh cao, thoát trói phiền. Nước biếc, trời xanh, tự tại măi. Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen?)

 

* Bốn bài thơ mô phỏng lối cổ

 

          1) Úy hàn thời dục hạ, khổ nhiệt phục tư Đông. Vọng tưởng năng tiêu diệt, an thân xứ xứ đồng.

          (Lúc sợ lạnh, mong Hạ. Nóng bức, lại tưởng Đông. Tiêu diệt được vọng tưởng. Chốn chốn thảy an thân).

          2) Thổn đắc phiên thành thất. Tư Đông nhưng phục Tây. Vị lai yểu vô định. Hà tất dự lao tư?

          (Nghĩ được, hóa ra mất. Tưởng Đông, vẫn thành Tây. Vị lai luôn mờ mịt, khổ chi phải sẵn lo?)

          3) Tàm xuất tang trừu diệp, phong ngạ thụ cấp hoa. Hữu nhân tư hữu lộc. Bần giả bất tu ta.

(Tằm sanh, dâu trổ lá. Ong đói, cây cấp hoa. Có người bèn có lộc. Kẻ nghèo chẳng cần than).

4) Thảo thực thắng không phúc. Măo đường quá lộ cư. Nhân sanh giải tri túc. Phiền năo nhất thời trừ!

          (Nhai cỏ hơn bụng rỗng. Nhà tranh hơn ngoài trời. Đời người hễ biết đủ, phiền năo trừ sạch ngay).

 

* Tặng thơ giă biệt vị Tăng đất Sở là Chân Ngu

 

          Thế nhân trọng như ngu. Chân ngu thế sở khí. Chỉ khủng ngu bất chân. Ngu chân đạo thành dị.

(Người đời coi trọng thứ nên ngu. Thật ngu lại bị đời hững hờ. Chỉ sợ chẳng hề ngu chân thật. Thật ngu, đạo lại dễ thành công).

 

* Cảm tác khi nghỉ lại nhà cư sĩ Tạ Đông Xương (Hám Sơn đại sư soạn kệ niệm tụng ngộ đạo)

 

          Nhị thập niên tiền sự khả nghi. Tam thiên lư ngoại ngộ hà kỳ. Phần hương trịch kích hồn như mộng. Ma Phật không tranh thị dữ phi.

          (Hai mươi năm trước chuyện đáng nghi. Ba ngàn dặm gặp có lạ ǵ? Đốt hương, quăng kích, dường như mộng. Ma, Phật tranh suông đúng với sai!)

 

* Sáu bài hoài cổ

         

          1) Đào Châu (Phạm Lăi)

         

          Chiến băi Hoàng Tŕ tấn dĩ bà. Lục thoa thanh nhược nhậm yên ba. Công thành mạc vị trường an lạc. An lạc tu tri hoạn cánh đa.

          (Xong trận Hoàng Tŕ bạc tóc mai. Áo tơi, nón trúc dạo giang hà. Công thành đừng bảo an lạc măi! An lạc phải hay họa lại nhiều!)

 

          2) Lưu Hầu (Trương Lương)

 

          Hồn kinh Bác Lăng mạng như ty. Thùy liệu chung thành đế giả sư? Vạn hộ măn tâm phương giải tổ. Xích Tùng hiềm ngă dĩ quy tŕ.

          (Kinh hồn Bác Lăng[85] mạng như tơ, nào biết rốt thành thầy đế vương? Vạn H[86] thỏa tâm, liền từ chức. Xích Tùng[87] vẫn chê ta chậm về!)

 

          3) Mục sanh[88]

 

          Ḱnh trường yển phúc lượng nan b́nh. Thường cảm quân vương thiết lễ t́nh. Cố cốc tiểu khê xuân lưu bích. Dục phanh tân mính địch dư tŕnh.

          (Ruột ḱnh, bụng chuột khó so bằng. Thường cảm t́nh vua đăi tiệc tùng. Hang cũ, suối con, Xuân sắc biếc. Toan pha trà mới gột cơn say).

 

          4) Lưỡng sớ

 

          Thập niên liên duệ sự xuân cung. Chiếm tất kinh sanh kỹ dĩ cùng. Kim nhật cửu thiên vân vũ cận. Hà tu lâu dẫn bạn thần long?

          (Mười năm chung tay pḥ Thái Tử. Nho sinh giảng học hết tài rồi. Nay chín ngày trời mưa dầm suốt, há cần giun đất hầu rồng thần?)

 

          5) Tử Lăng[89]

 

          Bất thoát mang hài nhập đế hôn. Nhất khâm xuân mộng quyến hoài thâm. Tinh đài chỉ khủng chương tần thượng. Vị tất thời thời niệm cố nhân.

          (Chẳng cởi hài cỏ vào cung vua. Ôm chăn xuân mộng luyến lưu sâu. Đài sao chỉ sợ nhiều sớ tấu. Chưa chắc luôn luôn nhớ cố nhân)

         

          6) Uyên Minh (Đào Tiềm)

 

          Trần vơng y y tam thập Xuân. Tạc phi kim thị bất tu luận. Tức giao khởi độc vong tri kỷ. Vị ái ngô lư hạ mộc âm.

          (Lưới trần chằng néo ba mươi Xuân. Xưa sai, nay đúng chẳng cần bàn. Tuyệt giao nào phải quên tri kỷ? V́ chuộng bóng râm nơi nhà ta).

 

* Tuyết sư tử

 

          Tảo tụ thành h́nh thế tiện hùng. Thông thân kiểu khiết ngọc quang nùng. Huyễn trang dă giải kinh quần thú. Bất thị tầm thường nhất sắc công.

          (Gom quét thành h́nh, thế càng hùng. Khắp thân trong trẻo, ánh ngọc hừng. Giả trang đă khiến muôn thú hăi, chẳng phải tầm thường thủ đoạn đâu!)

 

* Khiếm thật (tên thông tục là Kê Đầu)

 

          Lăn hướng nhân gian báo ngũ canh. Ngang tàng dă thủy túc b́nh sanh. Bất tu vơng tượng thâm thâm mịch. Đột xuất minh châu bổn kiến thành.

          (Lười hướng nhân gian báo canh năm. Nghênh ngang nước bẩn thỏa b́nh sanh. Chẳng cần vơng tượng[90] sâu t́m kiếm, riêng lộ minh châu vốn đă thành).

 

* Hoa khiên ngưu

 

          Triêu trước thanh sam ngọ trước phi. Tịch dương vô phục ngọ thời y. Vinh quang quá nhăn chân thành mộng. Sào Phụ tùng lai bất ẩm khê.

          (Sáng khoác áo xanh, chiều áo hồng. Chiều tà khoác áo khác khi trưa. Vinh quang qua mắt, thật thành mộng. Sào Phụ chưa hề uống nước khe).

 

* Biệt hiệu của Cựu Khê Đinh tiên sinh

 

          Khê thủy bổn vô tân dữ cựu, cửu cư phương biểu cựu khê danh. Tự tùng nhận đắc khê biên chủ, bất sấn đào hoa nhập Vũ Lăng.

          (Nước suối vốn chưa hề cũ, mới. Ở lâu, mới chọn hiệu Cựu Khê. Kể từ khi biết chủ bên suối. Chẳng vượt hoa đào vào Vũ Lăng).

 

* Sáu cảnh ở Vân Thê (được chép trong Vân Thê Kỷ Sự)

 

1) Ngọn Hồi Diệu

 

          Đông phương sơ xuất tiệm đương dương, sử đắc nhân gian vạn sự mang. Chuyển trục Tây lai sơn dục mộ. Bảo quang y cựu ánh sa song.

          (Phương Đông vừa mọc dần ngời rạng, khắp cơi nhân gian bận tít mù. Chuyển hướng về Tây, non ngả tối. Ánh báu như cũ ửng song the)

 

2) Bảo Đao Lung

 

          Tùng lai lợi nhận hiệu xuy mao. Vạn thụ tùng ty hệ độc lao. Mạc vị độn căn, khuy đoạn đức. Thử trung nguyên thị hoạt nhân đao.

          (Trước nay đao bén gọi “thổi lông”[91], muôn sợi tơ tùng cột chặt thay! Đừng bảo độn căn thiếu đoạn đức. Đấy vốn là đao cứu sống người).

 

3) Ngọn Bích Quán

 

          Cửu niên Thiếu Thất tọa sầm ngâm. Thử địa hà nhân cánh hiệu tần, phất tụ tiện quy thiên chướng ngoại. Bất lai tùng nhĩ vấn an tâm.

          (Chín năm Thiếu Thất ngồi non cao. Nơi này rồi ai sẽ phỏng theo? Phất tay áo về ngoài ngàn rặng, chẳng tới hỏi ngươi cách an tâm!)

 

4) Suối Thanh Long

 

          Bách can thanh kiển xuất lưu tuyền. Phi vũ Đông Tây khởi phục miên. Ngọc nhũ bất tri lai xứ viễn. Chỉ nghi Hương Tích hữu long diên.

          (Trăm ống tre xanh vang tiếng suối, róc rách Đông Tây uốn lượn quanh. Sữa ngọc chẳng hay từ đâu đến, chỉ ngờ Hương Tích có dăi rồng).

 

5) Suối Thánh Nghĩa

 

          Bất y song tụ bất trung loan. Trạm xuất đương ương đệ nhất tuyền. Chỉ khủng lăo hồ do bất khẳng. Tùng giao thiên lư tự quyên quyên.

          (Chẳng nương hai ngọn, chẳng giữa non. Ḍng suối bậc nhất giữa bạt ngàn. Chỉ sợ lăo hồ c̣n chẳng chịu, mặc cho ngàn dặm tự tuôn trào).

 

6) Suối Kim Dịch

 

          An Dưỡng tŕ trung bảo tự miên. Ngọc hồi châu lưu chánh sạn hoàn, hà niên phân đắc kim cang chủng, lai tác Vân Thê nhất phái tuyền.

          (Trong ao An Dưỡng, báu như tơ. Xoáy ngọc, ḍng châu đang cuộn vờn. Năm nào mới được kim cang chủng, chảy đến Vân Thê mạch suối nguồn).

 

* Bia đá đề thơ (được chép trong Vân Thê Kỷ Sự)

 

          Đào đất t́m được một tấm bia găy đề là Tùy Long đời Tống, tôi biết sát những phiến đá nát gần ranh giới nơi ở lờ mờ có khắc thơ. Có lẽ từ thời nhà Tống chạy về phương Nam, nên [có người] làm nhà ở nơi đây, sau đó, xả nhà thành chùa, chắc người ấy là bậc cao sĩ. [Do các bài thơ không hoàn chỉnh], tôi bèn dùng ư riêng để bổ sung, chép lại thơ tạc trên đá như sau:

          1) Kỷ niên hồn nhiễu Chiết thành Tây. Thập lư hà hoa dạng cẩm pha. Đạp biến lưỡng phong tam trúc lộ, hựu tùy thanh chướng nhập Vân Thê.

          (Bao năm quanh quẩn Tây thành Chiết. Mười dặm hoa sen, bến gấm phơi. Đi khắp hai non, ba nẻo trúc, lại theo đỉnh biếc vào Vân Thê).

          2) Thiên lư tinh kỳ ủng lục phi, đầu trâm dục thượng điếu ngư ky. Vô đoan hốt bị nhàn vân dẫn. Hồi Diệu Phong tiền yểm trúc phi.

          (Quạt cờ ngàn dặm rước xe vua, từ chức ẩn cư chốn thả câu, bỗng dưng vô c mây nhàn cuốn, quay lại Diệu Phong đóng cửa tre).

          3) Lạc ấp danh viên ca vũ trầm. Loạn nha đề phá kỷ hoàng hôn. Hà nhân học đắc Hương Sơn lăo? Thiên tải tinh lư hữu phạm âm.

          (Lạc Dương vườn quư, ca vũ lặng. Quạ kêu đă rộn mấy hoàng hôn. Ai người học được Hương Sơn lăo? Ngàn năm lều cỏ Phạm âm rền).

 

* Dạy người cưỡi lừa

 

          Song nhĩ phi phong lăo tệ lư, trường đồ lực quyện bộ hành từ. Đê thanh thuyết dữ dương tiên giả, nhất niệm sai lai nhĩ tức cừ.

          (Lừa già gió thổi lệch hai tai. Sức mỏi đường dài lững thững đi. Khẽ khàng bảo kẻ giương roi đập, một niệm sai lầm, nó ngươi).

 

* Khích lệ Trí Thanh

 

          Bệnh sân ngải hỏa ân thành oán. Dăng nhập song linh, ám tác minh. Kư dữ Vân Thê Thanh thị giả. Hảo tùng nhàn dạ tự b́nh luận.

          (Bệnh nhân giận lửa ngải[92], ân t́nh thành oán thù. Ruồi bay vào khung cửa, tối tăm hóa sáng ngời. Nhắn cùng Thanh thị giả, ở nơi chùa Vân Thê. Khéo trong đêm thanh nhàn, tự ḿnh bàn xét ḿnh).

 

* Tặng Nhược Ngu

 

          Nhăn động thu hào khán cánh chuyết. Nhĩ linh đấu nghị thính hoàn tŕ. Bất nhân mễ giá thám tiêu tức, tranh thức Vương Chuyên bất thị si.

          (Mắt thấy mảy tơ vẫn là vụng, tai nghe kiến căi vẫn tŕ độn. Chẳng do giá gạo ḍ tin tức, sao biết Vương Chuyên chẳng phải si?)

 

* Tặng Tiệp Đường Thắng thượng nhân

 

          Cầm khước ma vương đắc thắng hồi. Phổ thiên tề thụ nạp hàng kỳ. Thiên môn vạn hộ hoan thanh dật. Chánh thị tướng quân báo tiệp thời.

          (Bắt được ma vương, đắc thắng về. Cờ quạt dâng hàng dựng rợp trời. Ngàn môn muôn hộ vang vui sướng. Chính lúc tướng quân báo tiệp thôi!)

 

* Đề nơi am ở núi Ngưu Đầu

 

          Tranh vanh đầu giác nhập thanh vân. Vĩ kích Đông Nam đại hải hồn. Bối thượng vô nhân xuy mục địch. Lăo tăng liêu tá tác bồ nhân.

          (Chênh vênh đầu dốc tót tầng mây. Đuôi chạm Đông Nam biển cả trào. Không trẻ chăn trâu ngồi thổi sáo, lăo tăng đành bện chiếc bồ đoàn).

 

* Tự thuật ngày Mồng Chín lên chỗ cao

 

          Hung trung nhất điểm vân câu tận. Đầu thượng thiên hành tuyết vị tiêu. Lăo bộ chỉ nghi b́nh trực khứ. Bất tri hà ư hựu đăng cao?

          (Trong tâm vẩn mây đều sạch hết. Đầu ngàn sợi tuyết vẫn chưa tiêu. Chân già chỉ nên thủng thẳng bước, chẳng hiểu v́ sao lại lên cao?)

 

* Dạy Thiền giả tại am Hưng Phổ và gởi thái sử Trương Dương Ḥa

 

          Tuyết sơn đại sĩ luân vương tử, ma mạch chi thân lạc hữu dư. Hà sự bát vu tam độ thấp? Cánh giao học sĩ giải kim ngư.

          (Tuyết Sơn đại sĩ: Đấng Luân Vương. Mè, mạch nuôi thân vui thừa! Do đâu b́nh bát ba lượt ướt, lại dạy người học thả cá vàng?)

 

* Gởi hiếu liêm Tiền Chánh Phong

 

          Tri quân mịch cú vị đào t́nh. Biệt hữu tiên phương dược cánh linh. Thùy tín tỵ đoan tiêm điểm bạch. Diệu quá giang thượng sổ phong thanh.

          (Biết ông luyện văn, hun đúc t́nh. Riêng toa tiên dược lại càng linh. Ai tin điểm sáng nơi chót mũi, hơn vài ngọn gió lướt qua sông).

 

* Mười bài ngẫu thành

 

          1) Cô phong thiên nhận lập giang tâm. Bát diện hồng đào sầu sát nhân. Nại thị căn thâm tự kiên cố, kỷ hồi kinh cổ hựu phùng kim?

          (Non côi ngàn thước giữa ḍng sông. Tám mặt sóng bủa sầu chết người. Chắc do cội sâu, tự vững chắc. Bao phen năm tháng đến bây giờ?)

          2) Tố lư nan khi tự phản tầm. Tử sanh họa phước đẳng phù trần. Liễu tri tâm dữ thiên tâm hợp. Tiếu thính can qua bức nhĩ căn.

(Chất phác khó dối, tự xét suy. Tử, sanh, họa, phước: Bụi lăng xăng. Biết rành tâm ḿnh, tâm trời hợp; vũ khí khua rền vẫn cứ cười).

          3) Kiếm kích lâm trung thụ pháp tràng. Đại nhân cảnh giới bất tầm thường. Phiên tư Nam Nhạc điên nguy nhật. Thiên tải ân thâm hận vị thường.

          (Trong rừng gươm, giáo dựng pháp tràng. Đại nhân cảnh giới chẳng tầm thường. Hồi tưởng non Nam ngày nghiêng ngửa. Ân sâu ngàn năm, hận chửa đền).

          4) Diệp diệp hoàng kim thụy thổ hoa. Kiềm chùy lô thán nhậm giao gia. Lâm cơ hà sự hồn vô khiếp, thể bạch thuần chân bất tạp sa.

          (Vàng ṛng rực rỡ tỏa quang minh. Mặc t́nh nung đập, nướng ḷ than. Lên đe trọn chẳng hề kinh khiếp. Thể sạch, tinh thuần, cát chẳng pha).

          5) Chiêu đại tùng lâm biến bức viên, bách thiên long tượng chánh liên phiên. B́nh nguyên mạch địa sanh ba giả. Khước thị cừ nông nhăn vị khoan.

          (Thời thịnh, chùa chiền khắp nước nhà. Trăm ngàn đại đức hiện liên miên. Đất bằng sóng cả bỗng dưng nổi, chính v́ tầm mắt quá hẹp ḥi).

          6) Tự, Nịch đương niên tiếu Trọng Ni. Trọng Ni diệc khủng giải u thê. Ưng liên cổ đức hào ngoa xứ, vị hứa bàng nhân thủ thứ tri.

          (Tự, Nịch[93] thuở ấy cười Khổng Tử, sợ Ngài cũng chẳng hiểu u cư. Cổ đức sai lầm nên thương xót, chẳng để kẻ khác tùy tiện chê).

          7) Lạc phách b́nh sanh quyện ỷ phan, xích điều điều địa nhậm cô hàn. Hưu nhân la mạn y tha hoạt. Thiên xích kiều tùng nhất lệ khan.

          (Vỡ mật cả đời chán dựa nương. Trơ trụi mặc t́nh rét đơn côi, đừng bám víu người mong sống sót. Tùng cao ngàn thước hăy noi theo).

          8) Diêu lai trực đạo thế nan hành. Uổng đạo cầu dung ngă bất năng. Vạn lư thao thao đại giang thủy. Tùng giao bách chiết dă đông khuynh.

          (Chánh đạo từ xưa đời khó hành. Nghịch đạo dung thân, ta chẳng kham! Sông to cuồn cuộn ngàn dặm nước. Dẫu uốn trăm khúc vẫn về Đông).

          9) Mộc thạch nham cư lăo thử thân. Chiêu-đề hốt tựu bổn vô tâm. Như hà thủy nguyệt không hoa cảnh. Năo đắc thời nhân nhăn bất cấm.

          (Gỗ, đá, sườn non gởi thân già. Chùa viện bỗng thành, vốn vô tâm. Ḱa trăng trong nước, cảnh hoa đốm, quấy nhiễu người đời khôn giữ ḿnh).

          10) Nhị thập niên lai phá nạp y. Chung triêu tương bạn bất tương ly. Hội đương khất thực vương thành dă. Kư dữ thời nhân cánh mạc nghi.

          (Áo chằm rách rưới hai chục năm, suốt ngày xúm xít, chẳng rời ĺa. Thành vua khất thực ta sẽ đến, nhắn gởi người đời chớ hoài nghi).

 

* Hai bài Hữu Cảm (có lời tựa)

 

          Trong núi có một con nhồng, ban ngày th́ bay lượn, ăn uống tự tại. Đêm th́ về ngủ. Do nó có thể tụng danh hiệu Phật, người ta bèn nhốt trong lồng [đem về]. Khi Trung Sứ tới, nó ngậm miệng chẳng nói, lại thả nó về núi. Vừa khéo có pháp sư X… muốn đem nó lên kinh đô, bèn cảm xúc ngâm vịnh chuyện này.

          1) Năng ngôn hảo điểu bồi điêu liễn. Nhạo thuyết cao tăng trục họa thuyền. Thâm cốc vô nhân vấn Linh ách (trong chùa có vị sa-di bị câm, tên là Tánh Linh). Nhất khám nhàn ngọa bất tri niên.

          (Chim biết nói bồi theo xe đẹp. Cao tăng ưa nói ruổi thuyền hoa. Linh câm, hang thẳm không ai hỏi. Nằm khểnh trong khám, chẳng biết năm).

          2) Hảo điểu tri cơ đốn tuyệt ngôn, bất tài nhưng đắc phản lâm tuyền, bằng thùy kư ngữ thuyền trung khách, thử sự lao quân nhập giảng diên.

          (Chim khôn biết thời liền câm bặt; bất tài, trở lại chốn lâm tuyền. Khách ngồi thuyền nhờ ai nhắn gởi, chuyện này nhọc ông vào giảng ṭa).

 

* Cư sĩ Quảng Tuyên Vương Kiệu Hải tháo đai bạc để chuộc, dùng cái ḷ bằng đồng để đáp tạ

 

          Ngọc đới tuy trân, thể bất kiên. Châu Đề bách luyện, sắc di tiên. Đầu đà vị xả vân sơn nạp, duy hữu lư phân kiếp ngoại yên.

          (Đai ngọc tuy quư, thể chẳng bền. Châu Đề[94] trăm luyện, sắc càng tươi. Đầu đà chưa bỏ tăng trong núi, chỉ có kiếp ngoại lư khói tuôn).

 

* Bài thơ tuyệt cú tặng Nam Quan La Chủ khi nghỉ lại Thạch Viên

 

          Trng Hoa đế tử cư thành lữ. Ngũ Liễu tiên sinh[95] túy tác nhân. Kim nhật sứ quân vô mễ phích. Tức cơ liêu nhĩ kư nhàn thân.

          (Con vua Đế Thuấn chung bầu bạn. Tiên sinh Ngũ Liễu say nằm lăn. Nay sứ quân chẳng cuồng trữ gạo, dứt nỗi lo toan, hưởng thanh nhàn).

 

* Dạy Trí Âm tới núi Phục Ngưu

 

          Phục ngưu thử khứ tam thiên lư. Chung nhật kỵ ngưu khước ngoại tầm. Đoản địch nhất thanh Xuân chánh hảo. Tri âm do khủng vị tri âm.

          (Phục Ngưu cách đây ba ngàn dặm. Suốt buổi cưỡi trâu, t́m bên ngoài. Một tiếng sáo ngắn âm hay tuyệt. Tri âm vẫn ngại chẳng tri âm).

 

* Khách có người báng bổ, do thương xót kẻ ấy ngu muội, bèn dùng ba bài kệ để dạy

 

          1) B́ mao thoát tận, nhục tiêu ma. Thể lộ đường đường bạch tự kha. Khô khao dĩ phi trần thế tướng. Tùng tha xưng dự dữ cơ ha.

          (Da lông tuột sạch, thịt tiêu tan. Thể lộ rành rành, ngọc trắng ngần. Khô khan chẳng phải tướng trần thế. Mặc người ca ngợi với chê bai).

          2) Khô cốt quần hàm mạc tiếu si. Đạm trung tư vị thiểu nhân tri. Nhất hồi giảo triệt kim cang tủy. Hà tất ph́ cam thỉ liệu cơ.

          (Muôn miệng đừng cười xương khô si[96], tư vị b́nh đạm ít người hay! Một phen cắn thấu kim cang tủy, ngon béo cần chi chữa đói ḷng?)

          3) Vương cung thái tử, Tuyết Sơn tăng. Tôn quư diêu lai tập tự thành. Thiên nhị bách nhân tùy tả hữu. Dă ưng đô thị vị hư danh.

(Thái tử cung vua: tăng Tuyết sơn. Tôn quư do tu mà tự thành. Ngàn hai trăm người vây sau trước, cũng nên coi đó chỉ hư danh).

 

* Đêm trừ tịch Thượng Đường, đọc hai bài kệ dùng ba vần Đa Sa Bà

 

          1) Lục tự chân kinh nhiếp nghĩa đa, tổng tŕ nhất tự xướng dă-sa, tự tùng mạch trực Tây phương khứ. Nhàn sát Đài sơn chỉ lộ .

          (Chân kinh sáu chữ nghĩa muôn trùng, tổng tŕ giống hệt xướng dă-sa[97]. Từ đây về thẳng Tây Phương nhé, nhàn xem bà cụ chỉ non Đài).

          2) Khổ hạnh vô năng học đỗ-đa, nạp y chung tuế thượng sa sa. Minh triêu hựu thị tân niên dă. Tá đắc bà sam khước bái .

          (Khổ hạnh chẳng thể học đầu-đà, suốt năm tăng y rách tả tơi. Sáng mai lại là ngày năm mới. Mượn áo của bà mặc lạy bà).

         

* Trong tuyết bế quan, dạy kẻ khất giới

 

          Lục hoa trang tựu ngọc càn khôn. Thất hữu Duy Ma thị tật thân. Nhất dạ Tỳ Ni đàm vị liễu. Độc liên cô phụ lăo bà tâm.

          (Bông tuyết sáu cánh rực càn khôn. Trong thất, Duy Ma hiện thân bệnh. Một đêm, Tỳ Ni bàn chửa xong. Chỉ thương cô phụ tâm tha thiết).

 

* Điếu tỳ-kheo Tâm Đăng Quảng Truyền

 

          Lục thập dư niên chiếu thế lai. Chú tàn cao tận mộng sơ hồi. Thùy ngôn nhập diệt quang trầm một, chước địa huy thiên chánh bất mai.

          (Hơn sáu mươi năm chiếu cơi đời. Bấc tàn, sáp hết, tỉnh mộng rồi. Ai nói nhập diệt, quang ch́m mất. Rực chiếu đất trời, chẳng lấp vùi).

 

* Bài thơ nhỏ ngỏ ư với anh Tam Châu Công về chuyện thuê ruộng của Hoàng Long Am ở Vô Môn Động, nhưng chẳng nhận, giao trả lại cho thường trụ

 

          Liên hoa tùy thủy tiện vi tŕ, bất nhiễm hoàng long động khẩu nê. Uất uất hương lâm chân chủng tại. Y nhiên cựu quả phát tân chi (thường trụ sư hiệu Hương Lâm, danh Chân Quả).

          (Hoa sen bên nước liền thành ao, chẳng nhuốm bùn nơi động Hoàng Long. Rừng hương ngào ngạt, gieo trồng thật. Quả cũ rành rành phát nhánh non (vị sư thường trụ hiệu là Hương Lâm, pháp danh là Chân Quả).

 

* Phụ lục (dưới đây là những bài thơ do đại sư làm khi chưa xuất gia, tại gia đệ tử là Trần Như Ngọc bút kư)

 

1) Buổi chiều vượt Tây Hồ

 

          Măi trạo nhập b́nh hoàng, phiến phiến vạn liễu bàng. Loạn yên mê dă sắc. Tàn chiếu ánh hồ quang. Hăi lộc hô quần thiết. Hàn nha trạch thụ mang. Thi thành thiên dục minh, tân nguyệt hạ Tiền Đường.

          (Thuê thuyền chèo quanh dưới hào thành, muôn liễu vây quanh gió khẽ lùa. Khắp đồng sương khói mờ mịt phủ, ánh tà phản chiếu mặt hồ gương. Nai sợ kêu bầy thảm thiết tiếng. Cây đầy bọn quạ đậu lăng xăng. Thơ xong, trời đă gần mờ tối, một vầng trăng non in Tiền Đường).

 

2) Họa hai bài theo vần của Cao Thụy Nam

 

          a) Nhục thân bổn truyền xá. Mê nhân tự nan hiểu. Chướng duyên khổ oanh khiên. Phiền năo hà thời liễu? Tri quân khởi đại huệ. Tâm tự mộc dĩ cảo. Khiêu xuất túy mộng quan. Tây phương thục vân yểu. Tá vấn hà năng nhiên, đăng hoa phát khô thảo.

          (Thân thể: Trạm nghỉ tạm. Người mê tự khó hiểu. Chướng duyên khổ trói chằng. Phiền năo thuở nào hết? Biết ông dấy đại huệ, tâm tợ như cây khô. Nhảy thoát ải say mộng, Tây phương há xa vời? Thử hỏi sao như thế, hoa đèn rải cỏ khô).

          b) Nhân sanh tự Xuân tiêu. Phồn hoa nại tương hiểu. Quân tùng náo lư đào, nhất tiếu đại sự liễu. Luyện h́nh thả đa kỳ. Châu nhan cự năng cảo. Ngă dục truyền cấm phương. Thiên cơ khủng thâm yểu. Liêu tương nguyện học tâm, ân cần phó thi thảo.

          (Đời người như đêm Xuân, phồn hoa thật chóng qua. Ông trốn nơi ồn náo, cười vang đại sự xong. Tu thân nhiều chỗ lạ, mặt tươi sao héo hon? Ta muốn truyền thuật lạ, thiên cơ ngại thẳm sâu! Đành đem tâm mong học, ân cần gởi vào thơ).

 

3) Họa bài thơ vịnh thời sự của Cao Thụy Nam (nhằm năm Ất Măo (1555) thời Gia Tĩnh)

 

          Hải thượng yêu phần vạn lư phù. Niên lai lư hạng tận qua mâu. Can thành vũ sĩ hồn vô sách. Đầu bút thư sinh cạnh mịch hầu. Lạc thổ ta kim dân lực bại. Chiến trường hà nhật lệ ngân thâu? Cùng diêm cố hữu khuông thời thủ. Tánh tự bằng thùy đạt đế châu.

          (Mặt biển hơi mù vạn dặm phủ. Ngơ ngách gần đây vũ khí đầy. Vũ sĩ hộ thành đành thúc thủ. Quăng bút thư sinh mưu tước hầu. Cơi lạc thương dân sức lực kiệt. Chiến trường lệ đẫm thuở nào ngơi? Xóm nghèo vốn có người tài tuấn. Ai gởi họ tên đến đế kinh?)

 

4) Đề cội tùng già chùa Linh Ẩn

 

          Bắc hải thương long cựu hữu khiên. Trích lai trần thế bất tri niên. Vạn trùng vân khỏa di tung tại. Thiên nhận khê biên vũ trảo huyền. Hào khí tự năng bàn vũ trụ. Linh thai khởi đắc lăo lâm tuyền. Tha triêu hấp thủ thanh lưu khứ. Tán tác cam lâm biến cửu thiên.

          (Bắc hải rồng xanh xưa phạm lỗi, đọa xuống trần gian chẳng biết năm. Muôn trùng mây cuộn c̣n tung tích. Ngàn nhận bên khe giương vuốt đùa. Hào khí tự che rợp vũ trụ. Thai thiêng già cỗi tại lâm tuyền. Ngày nào hấp thụ ḍng trong mát, rải trọn mưa ngọt khắp đất trời).

 

5) Bài ca về tiết phụ họ Điền

         

          Cựu thời song hạ thanh loan phẫu. Mẫu vị hồng nhan nhi cưỡng băo. Cao đường kim nhật la ỷ diên. Mẫu vi bạch đầu, nhi tráng niên. Thiết thạch tâm, tứ thập tải, hư không hữu tận, t́nh vô cải! Phủ di anh, hiện đầu giác, vị báo u minh dĩ như ước. Hu ta hồ! Nhất sanh thân thế chân tân khổ. Hoán đắc phương danh chiếu thiên cổ. Nhăn trung tự mẫu năng kỷ nhân? Địch bút hùng hoàn truyền lư tầm.

          (Thuở trước dưới song mổ loan xanh, mẹ đang thanh xuân, con ẵm ngửa. Nhà to nay đă the lụa trải; mẹ đă bạc đầu, con tráng niên. Tâm sắt đá, bốn mươi năm, hư không có thể tận, tâm t́nh chẳng đổi dời. Nuôi con côi đă thành tài, báo đền ước cũ chốn u minh. Ôi chao ơi! Thân thế một đời thật cay đắng, đổi lấy danh thơm soi muôn đời. Thấy đời mấy kẻ được như mẹ. Bút lau, Hùng Hoàn[98] há kém ai?)

 

6) Âm vang tơ đồng

 

          Đạo nhân cổ cầm bất hội án. B́nh đạm, b́nh đạm, phục b́nh đạm. B́nh b́nh đạm đạm tín thủ đàn. Tự giác tâm đầu thoát ky bạn. Khúc chung, triển quyển tả tân thi. Đới đắc dư âm bút đoan tán. Mạn thuyết ty đồng giải nhiễu lương. Khước tiếu kim triêu tại thư án.

          (Đạo nhân đánh đàn chẳng rành ngón, b́nh đạm, b́nh đạm, lại b́nh đạm. B́nh b́nh đạm đạm thuận tay đàn. Chỉ biết trong ḷng thoát trói buộc. Đàn xong, mở sách đề thơ mới. Dư âm bỗng theo ng̣i bút tan. Đừng nói tơ đồng quyện thánh thót, hôm nay án sách đành tự trào).

 

7) Đề bức tranh tam giáo

 

          Hồ tu tú tài thư nhất quyển. Bạch đầu lăo tử đan nhất phiến. Bích nhăn hồ tăng đản nhất kiên. Tương khán tương tụ hoàn tương luyến. Bất tri thuyết thậm đích, vạn cổ thường bất yếm. Tưởng thị đồng căn sanh. Huyết mạch nguyên vô gián. Hậu đại nhi tôn t́nh tiệm ly. Các phân môn hộ sanh cừu oán. Đản thỉnh cao minh ngoạn thử đồ. Tầm thủ đương niên tông tổ diện.

          (Tú tài rậm râu, sách một quyển. Ông cụ đầu bạc, một viên thuốc. Hồ tăng mắt biếc trật vai áo. Xem chừng tụ tập cùng quyến luyến. Chẳng biết họ đang đàm luận ǵ, muôn thuở chưa hề chán. Cho rằng cùng cội sanh, huyết mạch chưa hề cách. Con cháu đời sau dần tách ĺa, chia cách môn hộ sanh cừu oán. Mong bậc cao minh ngắm tranh này, t́m mặt tổ tông trong thuở ấy).

 

8) Lam Điền

 

          Ái ái b́nh huề thụy khởi yên. Sơn ông hoài ngọc chánh cao miên. Xuân thâm mạc nhạ lê sừ tĩnh. Bất thị nhân gian đạo thử điền.

          (Hơi lành lờ lững vờn quanh ruộng, dân núi ôm ngọc ngủ say sưa. Xuân sâu đừng sợ không cày cuốc. Chẳng phải nhân gian ruộng lúa đâu).

          Bài này tôi viết v́ một người bạn của cha tôi Trần tiên sinh ở Lam Điền. Con của tiên sinh tên là Như Ngọc, vào ngày Ngọ năm Tân Hợi (1611) đời Vạn Lịch, cầm bài thơ này yêu cầu tôi viết lại. Nhớ lại th́ đă bốn mươi tám năm rồi. Tiên sinh dùng ruộng nhân từ đă sâu dày, gieo trồng đức như ngọc. Khi làm thơ, ruộng c̣n chưa thục, phẩm đức như ngọc vừa mới lập. Nay ngọc đă thuận theo tâm, tuổi thọ kiên cường như đá lại vượt quá hàng bảy, ruộng ở chỗ nào? Thời đổi, vật dời, ngơ ngẩn như giấc mộng đă qua mà thôi! Đêm dài đằng đẵng, lúc nào sẽ tỉnh mộng; do vậy, ghi lại cảm xúc.

 

9) Từ một chữ tới bảy chữ, cùng trưởng huynh Tam Châu góp phần vịnh gió, hoa, tuyết, trăng

         

          a) Hoa: Thiên chi, vạn ba. Hồng xán cẩm, thái phô hà. Bồi la ỷ tịch, luyến vương tôn gia. Hiểu lộ tân trang thấp, xuân phong vũ tụ tà. Thanh đế nga quy huyễn hóa. Ngọc dung dĩ phó trần sa. Lạc Dương viên thượng vô nhan sắc. Tây Thổ tŕ trung hữu vật hoa.

          (Hoa: Ngàn cành, vạn đóa. Đỏ tươi như gấm, rực rỡ khoe sắc màu. Bầu bạn bên tiệc phù hoa, lưu luyến hàng vương tôn. Sương sớm ướt vẻ điểm trang, gió xuân đùa tay áo phấp phới. Ngày Xuân bỗng thành huyễn hóa, vẻ ngọc hóa cát lầm! Trong vườn Lạc Dương thôi rực rỡ, nơi ao Tịnh Độ hăy c̣n hoa).

          b) Nguyệt: Thời viên, thời khuyết. Ngọc câu huyền, ngân kính triệt. Nhiên hôn cù đăng sanh hư thất bạch. Tà xuyên hạc quán sào, trực thấu giao long huyệt. Vô đoan vân vụ bàn toàn. Đốn bả bổn lai ma diệt. Tảo khai vạn lư hắc mông lung. Y cựu nhất thiên quang kiểu khiết.

          (Trăng: Lúc tṛn, lúc khuyết. Móc câu ngọc treo cao, mảnh gương bạc thấu triệt. Soi đường tối, làm đèn sáng nơi nhà trống. Chiếu ngang ổ hạc, c̣. Soi thẳng vực giao long. Vô cớ mây mù quẩn quanh. Nhanh chóng khiến trăng sáng phủ lấp. Quét sạch tối tăm muôn dặm. Vẫn như cũ thấy rạng ngời giữa trời).

 

* Xuất gia, nấu canh giă biệt người nhà

 

          Quân bất kiến, Đông gia phụ, kiện như hổ, phúc dựng thường tương niên sổ nguyệt. Tạc tiêu do tự ỷ môn lư, kim triêu mạng dĩ quy hoàng thổ. Hựu bất kiến, Tây gia tử, mănh như long, hoàng hôn băo phạn, thụy chánh nùng. Du hồn nhất khứ bất phục phản, ngũ canh mạng dĩ thuộc Diêm ông. Mục tiền nhân, thượng như thử, viễn địa tha phương na khả chỉ. Nhàn tương thân hữu tế thôi tầm. Niên khứ nguyệt lai đa thiểu tử. Phương tín đắc, Tử Dương thi, ngữ đích ngôn chân bất khả khi. Tạc nhật nhai đầu do tẩu mă. Kim triêu quan lư dĩ miên thi. Linh lợi nhân, hưu khái thụy. Biệt nhân dữ ngă đồng nhất loại. Hồ thố tương khan bất giảo đa. Kiến tiền phóng trước bàng châu lệ. Toản mă phúc, nhập ngưu thai. Địa ngục tâm toan thật khả ai. Nhược hoàn yếu đắc nhân thân phục. Đông hải lao châm mạn đả ai. Ngă tác ca, chân khổ thiết. Nhăn trung trích trích lưu tiên huyết. Nhất thế giao t́nh sổ cú ngôn. Tùng dữ bất tùng quân tự quyết.

          (Ông chẳng thấy, người đàn bà bên Đông mạnh như hổ, mỗi năm thường mang bụng chửa mấy tháng. Tối qua c̣n tựa cửa, sáng nay mạng đă về suối vàng. Lại chẳng thấy, nam tử bên nhà Tây, dũng mănh như rồng, hoàng hôn cơm no, ngủ say nồng. Hồn đă ĺa đi chẳng trở lại, canh Năm mạng đă thuộc Diêm vương. Người trước mắt c̣n như thế đó. Người chốn xa phương khác sao nêu ra cho cùng? Nhàn hạ truy t́m các thân hữu, năm qua tháng lại chết bao người? Mới tin tưởng lời lẽ trong thơ Tử Dương chẳng thể coi thường! Hôm qua c̣n phóng ngựa trên đường phố, sáng nay xác lạnh trong quan tài. Kẻ linh lợi, đừng mê ngủ nữa, người khác và ta cùng một loại. Cáo, thỏ so sánh chẳng khác nhiều. Nh́n rơ lệ trước đă rành rành. Vào bụng ngựa, lọt thai trâu. Địa ngục cay đắng, thật đáng buồn! Mong được thân người một lần nữa, khó tựa ṃ kim nơi biển Đông. Tôi soạn bài ca, thật ḷng khổ sở, thiết tha. Mắt nhỏ từng giọt huyết lệ hồng. Một đời giao t́nh, trao mấy lời. Nghe hay chẳng nghe, ông tự quyết!)

 

          Bồ Tát giới đệ tử Lưu Huệ Văn suất lănh con là Tánh Trạch thí tiền kính in. Tháng Ba thuộc mùa Xuân năm Quang Tự 25 (1899), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.

Vân Thê Pháp Vựng

Phần 6 hết

 

 

 

 

 



[1] Quưnh () có nghĩa là sáng ngời, chói ḷa. Như vậy, Sát Sanh Quưnh Giới có thể tạm hiểu là những lời răn nhắc rạng ngời về chuyện sát sanh.

[2] Phúng dụ (諷諭): Đây là một cách biểu đạt trong văn chương, vận dụng cách nói uyển chuyển, hoặc những biểu tượng văn học để khuyên can, phê b́nh những hiện tượng bất hợp lư. Cách này thường dùng trong thi ca để phê phán những kẻ thống trị hoặc diễn tả nỗi khổ của quần chúng.

[3]Ngủ say mộng trước giường” là dựa theo câu thơ “sàng tiền minh nguyệt ảnh, nghi thị địa thượng sương” (trước giường bóng trăng sáng, ngỡ đất tỏa hơi sương) của Lư Bạch, diễn tả nỗi niềm bồi hồi nhớ quê. “Lưỡng bộ cổ xúy” vốn có nghĩa gốc là đội nhạc nghi trượng thời cổ dùng hai loại nhạc khí ḥa tấu. Về sau, từ ngữ này được chỉ tiếng ếch nhái kêu, do Khổng Trĩ Khuê thời Nam Tề đă ví tiếng ếch nhái kêu inh ỏi quanh nhà là “lưỡng bộ cổ xúy”. Ở đây, Tổ dùng thành ngữ này để nói các bài thơ đă tuyển chọn đều chẳng phải là những bài diễn tả nỗi niềm nhớ nhung, sầu muộn riêng tư, hay những bài thơ ngôn từ réo rắt, bóng bẩy, nhưng sáo rỗng.

[4] Lạc Thiên là tên tự của Bạch Cư Dị.

[5] Tây Nhai là biệt hiệu của Lư Đông Dương (1477-1516), tên tự là Tần Chi, quê ở huyện Trà Lăng tỉnh Hồ Quảng (nay thuộc tỉnh Hồ Nam). Ông Lư là một vị quan văn nổi tiếng, đồng thời là văn học gia, thư pháp gia thời Minh, sáng lập Trà Lăng Thi Phái. Ông từng làm đến chức Lễ Bộ Thượng Thư, rồi thăng làm Văn Uyên Các Đại Học Sĩ, cuối cùng là Nội Các Thủ Phụ (tức Tể Tướng).

[6] Lật Trai tiên sinh là La Khí (1447-1519), tự Cảnh Minh, người xứ Nam Thành (nay là huyện Nam Thành tỉnh Giang Tây). Ông c̣n có hiệu là Khuê Phong, là một viên quan và học giả đời Minh. Ông làm quan đến chức Lại Bộ Hữu Thị Lang. Ông thông minh, hiếu học từ nhỏ, đọc rộng, nghe nhiều. Khi vào học Quốc Tử Giám, quan Tế Tửu Khâu Tuấn thử tài văn chương của ông đă tấm tắc khen lạ. Tuy vậy, ông đỗ đạt khá muộn. Tới năm Thành Hóa 22 (1486), tức lúc ông ba mươi chín tuổi mới đỗ Giải Nguyên trong khoa thi Hương, năm sau đỗ Tiến Sĩ. Ông đặc biệt ưa thích nghiên cứu cổ văn, nhưng rất siêng năng việc quan, xử sự nghiêm cẩn, can gián rất thẳng, khiến người khác kính sợ. Do Minh Vũ Tông tin tưởng bọn hoạn quan, không nghe lời can gián, ông chán nản, từ quan, về ở ẩn.

[7] Ở đây, Tổ nói tự khiêm: Cư sĩ Lục Mộng t́m đến hỏi lẽ giải thoát nơi Tổ, mà Tổ tự thấy ḿnh là một người quê mùa, chưa giác ngộ. Ngài tự coi những lời giải đáp của ḿnh khác nào kẻ đang ngủ mê, nói ú ớ những lời không đầu, không đuôi.

[8] Hàm Thuần là niên hiệu của Tống Độ Tông (Triệu Kỳ) từ năm 1265 đến năm 1274.

[9] Thiệu Hưng là niên hiệu của Tống Cao Tông (Triệu Cấu) từ năm 1130 đến năm 1162.

[10] Tri Các là gọi tắt của chức Tri Các Môn Sự. Đây là chức quan chủ quản của Tri Các Môn Ty, có trách nhiệm lo liệu việc hướng dẫn lễ nghi trong triều chánh, lo liệu các dịp khánh điển, tiếp đăi sứ đoàn, cũng như kiểm tra chéo các sự vụ thuộc lễ nghi trong bộ Lễ, đồng thời giám sát việc điều hành các cơ cấu thuộc ngoại giao như Khách Tỉnh, Tứ Phương Quán v.v…

[11] Thái Học Sinh c̣n gọi là Giám Sinh, hoặc Bác Sĩ Đệ Tử Viên, là những người được tuyển vào học tại Quốc Tử Giám (nhà Thái Học). Sau khi được công nhận tốt nghiệp tại Quốc Tử Giám, họ thường được bổ làm quan. Thời Minh - Thanh, giám sinh được chia thành bốn loại:

- Cử Giám: Những cử nhân không đỗ kỳ thi Hội, nhưng được Hàn Lâm Viện tuyển chọn vào học Quốc Tử Giám.

- Cống Giám tức là Cống Sanh (người đă đỗ Tú Tài) xuất thân, được chọn vào Quốc Tử Giám.

- Lệ Giám: Do triều đ́nh hữu sự, tài chánh chẳng đủ, con em của quan viên có thể quyên nạp tiền bạc vào quốc khố, bèn được tuyển vào học tại Quốc Tử Giám.

- Ấm Giám (c̣n gọi là Ấm Sanh), tức con cháu của quan viên, đại thần được vua ban ân sủng vào học (gọi là Ấm Giám), hoặc do thừa hưởng quan tước của cha (tập ấm) mà được vào học tại Quốc Tử Giám.

[12] Cổ nhân gọi triều đại mình đang sống là “quốc triều”. Do Tổ sống vào đời Minh, nên “quốc triều” chính là nhà Minh. Cảnh Thái là niên hiệu từ năm 1450 đến năm 1457 của Minh Cảnh Tông (Châu Kỳ Ngọc), còn Trinh Minh là niên hiệu của Lương Mạt Đế (Châu Hữu Trinh) thời Ngũ Đại Thập Quốc từ năm 915 đến 921.

[13] Thượng Bảo Khanh gọi đủ là Thượng Bảo Ty Khanh, là chức quan được đặt ra vào thời Minh, chuyên quản thủ ấn báu, tín bài, ấn chương trong triều đình. Thoạt đầu, chức quan này được Minh Thái Tổ (Châu Nguyên Chương) gọi là Phù Tỷ Lang, về sau mới đổi thành Thượng Bảo Ty Khanh.

[14] Câu-lô-xá (Krośa), còn phiên âm là Câu Lũ Xa, là đơn vị đo độ dài của cổ Ấn Độ, nghĩa đen là “tiếng trâu rống”, ý nói: Trong phạm vi còn nghe được tiếng trâu rống của thôn làng gần nhất. Câu-lô-xá có hai cách hiểu: Một phần tám của một do-tuần, hoặc một phần tư của do-tuần. Như vậy, một câu-lô-xá là khoảng bốn cây số, nhưng Câu Xá Luận lại cho rằng một câu-lô-xá chỉ bằng hai dặm Tàu (khoảng một cây số rưỡi).

[15] Phi Vịnh Đ́nh vốn là nơi phóng sanh do thái thú Triệu Sư Cao kiến lập vào năm Khánh Nguyên thứ tư (1198) đời Bắc Tống tại Tây Hồ ở Hàng Châu, về sau, trở thành phế tích.

[16] Cửu Trù (九畴) là chín cương lãnh để cai trị thiên hạ bằng lòng nhân do Đế Thuấn truyền cho Hạ Vũ (Đại Vũ). Những điều này được chép trong thiên Hồng Phạm (洪范) của Thượng Thư. Hồng Phạm có nghĩa là khuôn phép to lớn. Do thiên sách này được chia làm chín tiểu loại, nên gọi là Hồng Phạm Cửu Trù. Chín tiểu loại ấy là:

1) Ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ).

2) Ngũ sự (diện mạo, lời nói, cách nh́n, cách nghe, tư duy), tức là năm phạm vi cần tu dưỡng trong ứng xử của bậc quân tử.

3) Bát chánh (tám thứ chuyên trách về hành chánh trong sự cai trị đất nước) gồm thực phẩm, hàng hóa, tế bái v.v…

4) Ngũ kỷ (năm, tháng, ngày, tinh tú, lịch số), tức cơ sở để phù hợp với thiên thời.

5) Hoàng cực: Nguyên tắc cai trị đúng ḷng nhân của bậc quân vương, thường gọi là đạo “đại trung chí chánh”.

6) Tam đức: Trực chánh (thẳng thắn, công chánh), cang khắc (cương quyết), nhu khắc (khéo léo mềm mỏng để đối trị), tức là cách vận dụng khéo léo các biện pháp cai trị.

7) Kê nghi: Các phương pháp để giải quyết nếu có nghi hoặc phát sanh trong lúc cai trị.

8) Thứ trưng (mưa, tạnh, nóng, lạnh, gió), tức dựa trên các hiện tượng tự nhiên để xem lại cách cai trị có đúng đường lối, hợp ḷng trời, ḷng người hay không.

9) Ngũ phước, lục cực: Các ư niệm khuyến thiện trừng ác.

Theo Thượng Thư, thiên sách này do Cơ Tử giảng cho Châu Vũ Vương (Cơ Phát) về đại pháp của thiên địa, nói đó là lời dạy của Đế Thuấn truyền cho Hạ Vũ về đạo trị quốc. Cơ Tử tên thật là Tử Tư Dư, là con của Đế Văn Đinh, là chú của Trụ Vương, từng làm quan Thái Sư dưới đời vua Trụ (Đế Ất). Do ông được phong ở đất Cơ, nên Sử thường gọi ông là Cơ Tử. Ông từng khuyên lơn vua Trụ đừng say mê sắc dục, nhưng bị vua Trụ tống giam. Chán ngán, ông xõa tóc giả điên để tránh nạn. Sau khi nhà Châu diệt Trụ, ông được thả. Châu Vũ Vương từng nhiều lần tới hỏi ông về đạo trị quốc.

[17] Khúc Phụ chính là quốc đô của nước Lỗ thời Xuân Thu, nay thuộc thành phố Tế Ninh của tỉnh Sơn Đông. Theo sử chép, ở phía Đông của thành này có một cái gò ngoằn ngoèo dài bảy tám dặm, nên gọi là Khúc Phụ. Đây cũng chính là quê nhà của Khổng Tử.

[18] Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân là những khái niệm tu tập trong Đạo giáo, nên “nhà thiêng của Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân” là nói đến đạo quán (miếu đạo sĩ), tức đạo viện Đắc Nhất.

[19] Phủ Quân (府君) vốn là kính ngữ để gọi quan Thái Thú hoặc Quận Thú thời Hán. Về sau, từ ngữ này trở thành kính ngữ để con cháu gọi bậc trưởng bối nam giới và thần linh. Nhất là trong các mộ chí, từ thời Đường trở đi, con cái gọi cha đă khuất là “tiên phủ quân” cũng như các vị tổ tiên thuộc nam giới. Và nam thần linh cũng được gọi là Phủ Quân như Đông Nhạc Đại Đế c̣n được gọi là Thái Sơn Phủ Quân.

[20] Tiên tỷ (先妣) là kính ngữ để gọi mẹ đă khuất.

[21] Tức ngày Hạ Chí. Gọi là Trường Chí v́ trong ngày ấy, mặt trời chiếu thẳng xuống xích đạo, ngày sẽ dài nhất.

[22] Tam Châu Công là con trai của Nguyệt Nham Công, tức anh họ của Tổ Liên Tŕ.

[23] Nghê Cung Nhân là vợ của Tuyết Nham Công, tức bác dâu của Tổ. Cung Nhân (恭人) có nghĩa là “người khoan dung, mềm mỏng”. Đây là phong hiệu để dành cho người phối ngẫu của quan viên từ tứ phẩm trở lên. Thời Minh - Thanh, mẹ của quan ngũ phẩm được phong hiệu là Thái Cung Nhân. Như vậy, Tam Châu Công (anh họ của Tổ) phải làm quan tối thiểu từ ngũ phẩm trở lên. Trong khi đó, Nhụ Nhân là tiếng để gọi vợ của quan thuộc thất phẩm. Về sau, Nhụ Nhân chỉ là danh xưng để gọi vợ hoặc mẹ của người khác một cách tôn kính.

[24] Bá tỷ (伯妣) là kính ngữ để gọi vợ đă mất của anh trai cha ḿnh. Bà Vương Thị ở đây chính là bác dâu của cha Tổ, tức thuộc về hàng bà của Tổ, nên Tổ gọi Bá Tỷ chính là nói theo phía cha ḿnh, chứ đúng ra, Tổ phải gọi bà Vương là Bá Tổ Tỷ (v́ vợ của anh trai cha tổ (Nguyệt Nham Công) là Nghê Cung Nhân).

[25] Ư nói: Mừng v́ cha mẹ trường thọ, khỏe mạnh, có thể vui hưởng tuổi già. Sợ là sợ cha mẹ càng ngày càng già suy, chẳng c̣n được nhiều thời gian để tận hiếu.

[26] Đây là (碩人) là mỹ từ để xưng tụng người hiền đức. Thạc Nhân cũng là phong hiệu của vợ quan Thị Lang trở lên. Ở đây, do Tổ chưa hề làm quan, nên chỉ có thể hiểu theo nghĩa thứ nhất.

[27] Hạ Nguyên Giải Ách chính là ngày Rằm tháng Mười âm lịch. Theo Đạo Giáo, trong một năm, có ba lần Tam Quan Đại Đế cứu độ nhân gian. Rằm tháng Giêng là Thiên Quan Đại Đế giáng hạ ban phước (tức tiết Nguyên Tiêu, hay c̣n gọi là Thượng Nguyên), rằm tháng Bảy là Địa Quan Xá Tội (Trung Nguyên Phổ Độ), rằm tháng Mười là Thủy Quan Giải Ách (Hạ Nguyên Giải Ách). Đối với mỗi Nguyên, Đạo Giáo đều gọi bằng một tên rất dài, Hạ Nguyên nếu nói đầy đủ sẽ là ngày khánh đản của Hạ Nguyên Tam Phẩm Giải Ách Thủy Quan Động Âm Đại Đế

[28] “Hùng văn” là mỹ từ để gọi kinh văn trong khoa Thủy Lục, do kinh văn ấy có công đức siêu độ rất lớn nên gọi là “hùng văn”; mà cũng có nghĩa là nói đến kinh Hoa Nghiêm, v́ trước đó có câu “dung hợp chín hội”. “Ngàn hoa” là nói đến Lô Xá Na (Báo Thân Phật) v́ Ngài ngự trên hoa sen ngàn cánh. “Trao nhận ngàn hoa” tức là truyền trao giáo pháp bí mật như Phạm Vơng chẳng hạn. “Năm mươi tám đại giới” chính là Phạm Vơng Bồ Tát Giới v́ bao gồm mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh.

[29] Ma Kiệt chính là xứ Ma Kiệt Đà (Maghada), một trong mười sáu nước lớn thời đức Phật tại thế. Ma Kiệt Đà có nghĩa là Tŕ Cam Lộ, Thiện Thắng, Vô Năo, Vô Hại v.v… Do đây là một nước lớn, sản vật phong phú, cho nên cái hộc (dụng cụ đong lường) của họ cũng khá to. Do vậy, đức Phật dạy dùng cái hộc của nước Ma Kiệt Đà để thí thực cho quỷ thần.

[30] Mười thân do Như Lai đă chứng đắc sau khi thành đạo: Bồ Đề thân, nguyện thân, hóa thân, trụ tŕ thân, tướng hảo trang nghiêm thân, thế lực thân, như ư thân, phước đức thân, trí thân và Pháp Thân.

[31] Câu này bị bỏ lửng trong nguyên bản. Nguyên văn “dĩ thử công đức (vân vân)”.

[32] Huy, Hàng, Nghiêm, Cù là bốn khu vực hành chánh trọng yếu ở Giang Nam vào thời Minh - Thanh, tức Huy Châu Phủ (nay là vùng Hoàn Nam, Cám Bắc, bao gồm sáu huyện như Hấp, Y, Tích, Vụ Nguyên…), Hàng Châu Phủ (nay là khu vực thành phố Hàng Châu), Nghiêm Châu Phủ (nay là vùng Kiến Đức tỉnh Chiết Giang, bao gồm các huyện Tân An, Tam Giang, Phú Xuân…), và Cù Châu Phủ (tức Cù Châu thuộc tỉnh Chiết Giang hiện thời).

[33] Nguyên văn “tá Trăn, Vị dĩ thừa dư”. “Thừa dư” (乘輿) là cỗ xe chuyên dùng của thiên tử hoặc chư hầu, hoặc các quan thượng đại phu thời Xuân Thu. Trăn và Vị là hai con sông chính của nước Trịnh. Điển tích này được nhắc đến trong thiên sách Ly Lâu Hạ của sách Mạnh Tử. Theo đó, vào mùa Đông, Tử Sản đang là quan lệnh doăn nước Trịnh (giống như thừa tướng), sai người hầu dùng xe của chính ḿnh để chở dân vượt sông Trăn, sông Vị đang bị đóng băng. Mạnh Tử b́nh luận đó là hành động xuất phát từ ḷng nhân, nhưng không phải là cách cai trị đúng đắn. Lẽ ra, Tử Sản nên cho xây cầu để dân chúng tự vượt sông thay v́ phải tốn công sức sai người hầu chở dân qua sông.

[34] Một kỷ là mười hai năm.

[35] Lân tường (麟祥): Điềm lành kỳ lân giáng hiện. Dựa theo truyền thuyết, khi Khổng Tử sắp được sanh ra, cha mẹ mộng thấy kỳ lân giáng xuống nhả ngọc. Do vậy, “lân tường” nghĩa là đứa con trai phẩm đức cao quư, tốt lành.

[36] Đồ thuyết (圖說) là lời giải thích có kèm theo h́nh vẽ hoặc biểu đồ để góp phần minh họa ư nghĩa đang được giải thích.

[37] Dặc () là một loại cung tên thời cổ, mũi tên có dây buộc vào cánh cung, dùng để bắn chim, vừa đỡ mất tên, vừa thuận tiện lôi con mồi bị trúng tên về.

[38] Tứ hung có hai cách hiểu:

1) Theo chương Thuấn Điển sách Thượng Thư, Tứ Hung là bốn kẻ phạm tội nặng nề:

- Cộng Công (còn gọi là Khang Hồi), thường được coi là thủy thần. Cộng Công tranh ngôi vua với Chuyên Húc, giận dữ húc đổ núi Bất Châu, làm gãy cột trời, khiến trời nghiêng về phía Tây Bắc. Do vậy, bà Nữ Oa phải luyện đá ngũ sắc vá trời. Ông ta còn tiếp tục tranh giành ngôi vua, đến thời vua Nghiêu còn gây ra nước lũ to lớn.

- Hoan Đâu: Thủ lãnh của tộc Tam Miêu, thường dẫn quân xâm phạm Trung Nguyên, khiến vua Nghiêu phải nhiều lần đánh dẹp.

- Cổn (cha của Đại Vũ): Thất bại trong việc trị lũ nên bị giết.

- Sắc dân Tam Miêu (còn gọi là Hữu Miêu) sống ở lưu vực Trường Giang, chủ yếu quanh vùng hồ Động Đình và Bà Dương, thường khởi loạn đánh phá Trung Nguyên.

2) Theo Tả Truyện thì Tứ Hung là bốn con quái vật tức Hỗn Độn, Cùng Kỳ, Đào Ngột và Thao Thiết.

[39] Câu này hơi khó hiểu, chúng tôi mạn phép diễn giải như sau: Ý Tổ cho rằng Khổng Tử bản tánh nhân từ, như trong câu trên có nói, theo Luận Ngữ, vua ban tặng gà, Khổng Tử không ăn mà nuôi chung với chim trĩ. Do Khổng Tử làm quan, phải theo hầu vua, vua đi săn bắn thì quan cũng phải đi theo, nên nếu nói “Khổng Tử câu cá, săn bắn” thì chỉ là chuyện bất đắc dĩ, làm theo mạng vua mà thôi. Chứ nếu nói Khổng Tử tự mình câu cá, săn bắn thì do tự có thể làm chủ, lẽ nào có thể không giết hại mà Ngài lại làm chuyện giết hại hay sao?

[40] Tấn thân (縉紳) nghĩa đen là “nhét cái hốt vào đai thắt lưng”. Hốt () là một phiến gỗ dài, mỏng, hẹp, thường làm bằng gỗ hoặc ngà, vốn dùng để ghi chép những điều muốn tâu bày với vua. Về sau, trở thành vật trang sức nhằm biểu thị sự trịnh trọng khi cung kính tâu bày. V́ thế, khi làm pháp sự, các đạo sĩ chủ pháp cũng cầm hốt khi tế bái. Do vậy, “tấn thân” được dùng với ư nghĩa chỉ chung các quan lại. Ở đây, vị cư sĩ này có tên tự là Quảng Tấn (廣縉).

[41] Chúng tôi dịch câu này theo cách diễn giải của pháp sư Tịnh Giới.

[42] Chữ Bộ () gồm chữ Thiếu () và Chỉ (: thôi, dứt) ghép lại.

[43] Từ Thánh hoàng thái hậu chính là tôn xưng của Hiếu Định Thái Hậu (1546-1614). Bà là hoàng quư phi của Minh Mục Tông (Châu Tải Kỵ), mẹ ruột của Minh Thần Tông (Châu Dực Quân, tức vua Vạn Lịch). Bà họ Lư, không rơ tên, là người huyện Hoặc thuộc Thông Châu. Do bà dốc ḷng tin tưởng Phật, nên c̣n có hiệu là Cửu Liên Bồ Tát. Thoạt đầu, bà chỉ là cung nhân trong vương phủ của Dũ Vương Châu Tải Kỵ lúc mười lăm tuổi. Do xinh đẹp, thông minh, bà được Dũ Vương coi trọng, nạp vào hàng thiếp thất. Con thứ ba của Dũ Vương (tức là Minh Thần Tông sau này) do bà sanh ra. Khi Dũ Vương lên làm vua, bà sanh thêm một người con gái là Châu Hiểu Anh. Tháng Ba năm ấy, bà được phong làm Hoàng Quư Phi. Bà là người sanh nhiều con nhất trong các thê thiếp của Minh Mục Tông. Trần Hoàng Hậu chỉ sanh được một gái lại chết yểu, bệnh tật quanh năm, nên hầu như vua không ngó ngàng tới; do đó, Lư hoàng quư phi được sủng ái tột bậc. Tuy vậy, bà không kiêu ngạo, một mực tôn kính giữ đúng lễ với Trần hoàng hậu. Khi Minh Mục Tông qua đời, Minh Thần Tông tức vị, đă tôn xưng bà là Từ Thánh Hoàng Thái Hậu. Do Minh Thần Tông c̣n thơ ấu, bà đă đích thân trông nom việc triều chánh. Bà đối xử khoan dung với triều thần, nghiêm khắc uốn nắn hoàng đế đừng ham chơi, lười nhác. Tiểu hoàng đế phạm lỗi vẫn bị bà phạt quỳ.

[44] Quyết () chính là một loại dương xỉ, c̣n gọi là Quyền Đầu Thái, Long Đầu Thái, tên khoa học là Pteridium aquilinum subsp Japonicum. Phần ăn được là lá non của nó, rễ cũng có thể nghiền thành bột, dùng làm gia vị.

[45] Thất Tịch (ngày Mồng Bảy tháng Bảy âm lịch) c̣n gọi là Khất Xảo Tiết, Thất Xảo Tiết, Thất Thư Đản, Thất Nương Sanh, Thất Nương Hội, Thất Thư Tiết, hoặc Ngư Công Ngưu Bà Nhật. Người Hoa đă kỷ niệm ngày này từ thời Tây Châu. Nhằm ngày hôm ấy, hai ngôi sao Chức Nữ và Ngưu Lang cao nhất và chiếu sáng nhất trên bầu trời. Theo diễn biến thời gian, đă h́nh thành truyền thuyết hôm ấy là ngày Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau sau một năm cách biệt. Phụ nữ người Hoa thời cổ thường vào tối hôm ấy bày cỗ cúng sao và ước nguyện được khéo léo trong may vá cũng như các nghề khéo nữ công khác.

[46] Hàm ư: Tứ Đại do nhân duyên sanh khởi. Nóng là lửa, động là gió, ướt là nước, cứng là đất. Do Tứ Đại ḥa hợp mà có sắc tướng xanh, vàng, đỏ, trắng, nhưng một điểm linh minh (linh diệu sáng suốt) tức chân tâm chẳng bị thiếu khuyết v́ các tướng sanh khởi.

[47] Tiện () là một loại gỗ quư được nói trong sách cổ. Sách Ngọc Thiên giảng: “Tiện giống như cây Dự Chương”, c̣n Nhan Sư Cổ nói: “Tiện chính là hoàng tiện mộc hiện thời”. Nói chung, không có chi tiết mô tả thế nào là cây hoàng tiện mộc. Tử () là một loại cây to, thân gỗ, tức yellow catalpa, là một loại cây hầu như chỉ t́m thấy tại Trung Hoa và Nhật Bản. Cây cao từ khoảng 6 đến 9 m, hoa mọc thành chùm trắng có những vệt phớt vàng. Cánh hoa thường có nhiều chấm nâu ở phần loe ra gần nhị hoa. Mỗi hoa to chừng 25 mm, nở hoa vào tháng Sáu tháng Bảy. Lá cây có ba thùy, xanh đậm. Lá non có thể dùng để ăn. Vỏ cây dùng làm thuốc, gọi là Tử Bạch B́. Thân gỗ mềm nhuyễn, chủ yếu dùng để làm thân. Cây này thường được trồng trong sân để lấy bóng mát và làm củi đun do tốc độ sinh trưởng khá nhanh. Tang (cây dâu tằm) và Tử là hai loại cây thường trồng trong sân nhà để lấy bóng mát, nên từ ngữ Tang Tử thường được dùng để chỉ cố hương. V́ thế, khi tả tâm trạng nhớ nhà của Thúy Kiều, Nguyễn Du đă viết: “Sân Lai cách mấy nắng mưa. Có khi gốc tử đă vừa người ôm”.

[48] Tức ngài Trường Khánh Huệ Lăng (854-932), đệ tử của thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư từng tham học ngài Huyền Sa Sư Bị. Sư tinh tấn, khắc khổ, ngồi Thiền đă rách bảy cái bồ đoàn, vẫn không triệt ngộ, than thở: “Ngồi rách bảy cái bồ đoàn, chẳng hiểu chuyện này”. Về sau, Sư ở trong Thiền đường, cuộn rèm trúc lên cho sáng, nh́n ra cảnh tượng bên ngoài, bỗng triệt ngộ.

[49] Chiếu thừa châu là một viên châu của Ngụy Huệ Vương thời Chiến Quốc. Theo truyền thuyết, viên châu ấy có thể chiếu sáng cả một cỗ xe, nên gọi là Chiếu Thừa Châu.

[50] Y Đốn là một thương gia giàu có của nước Lỗ trong thời Chiến Quốc. Thoạt đầu, ông rất nghèo khó, lận đận. Do học bí quyết làm giàu từ Đào Châu Công (Phạm Lăi) trở thành giàu có lớn.

[51] Hải tạng: Kho tàng trong biển cả.

[52] Đại Tư Thành là chức quan đă có từ đời Châu, là thuộc quan của Đại Tư Đồ, chuyên đảm trách việc dạy dỗ thế tử, là vị quan quản lư việc học hành thời ấy. Về sau, Đường Cao Tông gọi hiệu trưởng Quốc Tử Giám là Đại Tư Thành. Từ đó trở đi, tuy danh xưng hiệu trưởng của Quốc Tử Giám khôi phục lại tên cũ là Tế Tửu trong các triều đại sau, mọi người vẫn quen gọi Tế Tửu là Đại Tư Thành.

[53] Phương Bá (方伯) vốn là danh xưng để gọi vua chư hầu thời Chiến Quốc. Sang thời Hán, chữ Phương Bá chỉ có nghĩa là chức quan Thứ Sử. Tới thời Minh - Thanh, chức quan Bố Chánh Sứ (c̣n gọi là Phiên Ty, quan văn đứng đầu một tỉnh) được gọi là Phương Bá.

[54] Phiên tức là chức quan Bố Chánh, Niết là chức Án Sát.

[55] Rau Dương công tức là Dương Thê Thái, một loại rong biển màu nâu, thường dùng để ăn thay rau.

[56] Văn Hầu tức là Ngụy Văn Hầu (Ngụy Tư). Xe của Văn Hầu tức là cỗ xe ngựa của Ngụy Văn Hầu. Để biểu hiện ḷng tôn kính bậc hiền sĩ, mỗi khi xe đi qua chỗ ở của hiền sĩ Đoàn Can Mộc, vua đứng thẳng dậy, nâng một thanh gỗ đặt ngang trước xe. Ở đây, Tổ dùng điển tích này để ca ngợi cư sĩ Ngô Bổn Như khiêm cung, tôn hiền đăi sĩ.

[57] Ư nói: Ông tuy nhà Nho mà siêng năng học Phật giống như Tô Đông Pha, tuy hiểu rơ các pháp môn nhưng chuyên tu tŕ Tịnh Độ giống như ông Vương Long Thư.

[58] Thái Khâu ở đây là Trần Thật (tự Trọng Cung), người huyện Hứa thuộc Dĩnh Xuyên. Ông là một danh sĩ nổi tiếng, từng làm Ấp Lệnh của huyện Thái Khâu, nên thường gọi là Trần Thái Khâu. Ông là người cẩn trọng, đức hạnh cao thượng, thanh liêm, được coi là tấm gương sáng cho các nho sĩ. Vạn Thạch là Thạch Phấn. Ông này làm đến chức Thái Tử Thái Phó thời Hán Cảnh Đế, có đức hạnh đáng trọng nể, hai con ông cũng làm quan đồng triều, địa vị rất cao, nhận bổng lộc hai vạn thạch giống như cha, nên ông được gọi là Vạn Thạch Quân. Thạch là đơn vị đo lường thời cổ, một thạch thời Hán là một trăm hai mươi cân. Cả hai ông được dùng nhắc đến ở đây với dụng ư ca ngợi Trần Dưỡng Nguyên tuy làm quan to, nhưng giữ vững đức độ, liêm khiết, thương dân.

[59] Ư nói: Phùng cư sĩ học rộng tài cao, nhưng quan chức không cao.

[60] Chắt của vua Hán tức là Lưu Tuân (chắt của Hán Vũ Đế Lưu Triệt). Ông vốn có tên là Lưu Bệnh Dĩ, tự là Thứ Khanh. Lưu Tuân là tên ông đổi sau khi đă lên ngôi. Ông có thụy hiệu là Hiếu Tuyên Hoàng Đế. Ông là con trưởng của Lưu Tấn (con trai của Lệ Thái Tử Lưu Cứ của Hán Vũ Đế). Vào năm Chinh Ḥa thứ hai (91 trước Công Nguyên), xảy ra vụ án Vu Cổ. Tức là trong năm đó, bọn quyền thần Giang Sung, Tô Văn v.v… cấu kết vu hăm thái tử Lưu Cứ dùng vu thuật và cổ độc toan sát hại phụ thân để sớm lên ngôi. Không có cách nào biện bạch, thái tử Lưu Cứ dùng thân phận giám quốc để phát binh trử khử bọn Giang Sung. Bọn chúng sàm tấu, khiến cho Hán Vũ Đế tưởng con trai làm loạn, bèn phát binh trấn áp. Thái tử bại trận phải đào vong, đường cùng, tự thắt cổ chết. Vụ án liên lụy khiến cho mẹ của Lưu Cứ là Vệ Tử Phu, vợ Lưu Cứ là Sử Lương Đệ, con trai thái tử là Lưu Tấn, vợ Lưu Tấn là Vương Ông Tu đều bị xử tử, Lưu Tuân bị tống vào ngục. Khi đó, Lưu Tuân c̣n bé, nên được miễn tội chết. Về sau, ông bị đuổi về làm dân thường lúc mới bốn tuổi, lưu lạc trong dân gian. Số người bị liên can, bị tống ngục hay xử tử trong vụ vu hăm này nhiều đến mấy vạn người. Trong khi lưu lạc, Lưu Tuân cưới Hứa B́nh Quân là con gái của Hứa Quảng Hán làm vợ. Sau khi Hán Chiêu Đế (Lưu Phất Lăng, con trai út của Hán Vũ Đế) băng hà, triều thần lập Lưu Hạ (Hán Phế Đế) là con của Chiêu Đế lên làm vua, nhưng ông này chỉ ăn chơi, hoang dâm, vô đạo, tể tướng Hoắc Quang chủ trương phế lập Lưu Hạ, tôn Lưu Tuân lên làm vua. Sau khi Lưu Tuân làm vua, triều đ́nh dưới sự lèo lái của Hoắc Quang, ép vua lấy Hoắc Thành Quân (con gái út của Hoắc Quang) làm Hoàng Hậu, nhưng vua kiên quyết lập Hứa B́nh Quân làm hoàng hậu, và dùng câu nói “cố kiếm tầm mịch, bần tiện chi giao” (t́m kiếm gươm xưa, giao t́nh trong lúc nghèo hèn), ngụ ư: Không phụ nghĩa kết tóc xe tơ trong khi nghèo khó.

[61] Hàn Tín khi nghèo khổ, không có cơm ăn, được một bà thợ giặt cho ăn một bữa cơm. Khi trở thành nguyên soái của Hán Vương Lưu Bang, ông đă mời bà đến, biếu tặng vàng báo ân.

[62] Dương Thái Chân (tức Dương quư phi) là phi tần sủng ái của Đường Huyền Tông (Đường Minh Hoàng). Không rơ bà tên thật là ǵ, chỉ biết tiểu tự là Ngọc Hoàn (có sách ghi là Ngọc Nô). Bà là con gái của quan Tư Hộ Dương Huyền Diễm đất Thục. Khi lên mười, cha mẹ đều mất, bà lên Lạc Dương, nương náu chú là Dương Huyền Diễn. Thoạt đầu, bà được tuyển làm vương phi của Thọ Vương Lư Mạo (con trai của Đường Huyền Tông). Vua say mê nhan sắc của Dương Ngọc Hoàn, để tránh tiếng chê gièm loạn luân, vua truyền bà dùng thân phận đạo cô (lấy đạo hiệu là Thái Chân) vào cung để cầu phúc cho Đậu Thái Hậu. Sau một thời gian, vua ra lệnh cho bà hoàn tục, phong làm Quư Phi, sủng ái đến nỗi xao lăng triều chánh, trao nhiều quyền lực cho họ Dương. Chị em gái của Dương Quư Phi cũng được ban tước trọng hậu đến nỗi công chúa (con gái của Đường Huyền Tông) lỡ đắc tội với chị của Dương Quư Phi, liền bị tước đoạt phong hiệu. Khi An Lộc Sơn làm phản, đánh vào kinh đô, quân triều đ́nh đại bại. Vua hoảng sợ, toan thoái vị, nhường ngôi cho thái tử Lư Hanh. Khi quân An Lộc Sơn chiếm Trường An, vua hoảng sợ đem Dương Quư Phi và gia quyến họ Dương chạy vào đất Thục. Đến Mă Ngôi Dịch, Long Vũ đại tướng Trần Huyền Lễ không chịu đi nữa, v́ lương thực đă hết, quân sĩ đói rách mà nhà họ Dương vẫn no đủ, sung sướng. Họ nổi loạn giết chết Dương Quốc Trung và nhà họ Dương, nhưng vẫn chưa nguôi, ép buộc vua ban chết cho Dương Quư Phi. Thế chẳng đặng đừng, vua ban lụa trắng cho Dương Quư Phi thắt cổ. Năm đó, Dương Quư Phi mới ba mươi tám tuổi.

[63] Cụ mặt vàng (黃面叟, hoàng diện tẩu) tức là đức Phật.

[64] Ư nói: Chẳng phân biệt được chữ Lục và Thất, tức nhận mặt chữ không nên thân. Chữ đơn giản nhất cũng chẳng biết!

[65] Đào Bành Trạch tức là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh). Do ông từng làm huyện lệnh Bành Trạch, nên đôi khi được gọi là Đào Bành Trạch.

[66] Vào thời Bắc Tống, Dương Thời và Du Tạc tới cầu học với Tŕnh Di, nhằm lúc thầy đang ngủ trưa, hai người liền cung kính đứng chờ ngoài cửa. Khi thầy tỉnh giấc th́ tuyết đă dày một thước.

[67] Đây là một công án trong nhà Thiền. Mă Tổ Đạo Nhất suốt ngày ngồi Thiền, không màng chuyện ǵ khác. Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng muốn hóa độ Đạo Nhất, bèn hỏi: “Thầy suốt ngày Thiền Định để làm ǵ?” “V́ muốn thành Phật”. Do vậy, ngài Hoài Nhượng bèn dùng một tấm ngói mài lên đá trước cửa pḥng của Đạo Nhất không ngừng. Tiếng mài khiến cho Đạo Nhất chẳng thể ngồi Thiền được, bèn hỏi: “Ḥa thượng, Ngài làm ǵ thế?” “Ta đang mài ngói làm gương”. Đạo Nhất nói: “Mài ngói sao thành gương cho được?” Ngài Hoài Nhượng hỏi ngược lại: “Vậy thầy ngồi Thiền sao thành Phật cho được?” Đạo Nhất nghe nói liền khai ngộ.

[68] Theo thiên Bát Dật trong sách Luận Ngữ, Tử Cống (tên thật là Đoan Mộc Tứ) cho rằng ngày mồng Một mỗi tháng giết dê tế ở Thế Miếu chỉ là h́nh thức, không có thực chất, toan phế trừ. Khổng Tử nói: “Tứ dă, nhĩ ái kỳ dương, ngă ái kỳ lễ” (này anh Tứ, anh yêu thương con dê, c̣n ta yêu thương lễ). Do vậy, thành ngữ “ái lễ tồn dương” bao hàm ư nghĩa nhằm bảo tồn văn hóa truyền thống căn bản mà chấp nhận bảo tồn những nghi tiết và h́nh thức liên quan.

[69] Ư nói: Giữ thân thanh khiết, chẳng tham dự tiệc tùng nơi trướng vàng (tức chẳng lân la, bợ đỡ kẻ quyền quư).

[70] Đậu Thị (荳豉) thường được biết phổ biến hơn với tên gọi là Tu X́, tức bă đậu c̣n lại sau khi làm tương (thường là đậu đen hoặc đậu nành). Do nó có vị mặn và vẫn c̣n mùi thơm của đậu lên men, nên thường được dùng để làm gia vị nấu các món có mùi tanh như nghêu xào tu x́ chẳng hạn. Loại tu x́ nhạt hơn c̣n được dùng làm thuốc trong Đông Y.

[71] Phương Bá (方伯) trong nghĩa gốc là trưởng quan được thiên tử sai trấn nhậm một phương. Sang thời Chiến Quốc, Phương Bá là lănh tụ của chư hầu, như Tề Hoàn Công chẳng hạn. Về sau, chức quan đứng đầu địa phương được gọi là Phương Bá. Dưới thời Minh - Thanh, Phương Bá là nhă từ để gọi quan Bố Chánh. Thái Thường (太常) là chức quan thời cổ, chưởng quản việc tế lễ, tổ chức tang ma, chăm sóc lăng mộ, điện thờ của triều đ́nh, cai quản lễ nhạc và giáo dục văn hóa. Đến đời Hán, quy mô của chức này mở rộng thành các chức vụ Thái Nhạc, Thái Chúc, Thái Tể, Thái Sử, Thái Bốc, Thái Y v.v...

[72] Hoàng đường (黃堂) là danh xưng để gọi ṭa nhà chánh trong phủ Thái Thú. Do vậy, “hoàng đường” cũng được dùng để chỉ chức vụ Thái Thú (quận thủ). Phiên () là Phiên Ty tức chức quan Bố Chánh, c̣n Niết () là chức quan Án Sát.

[73] Cam đường (甘棠) c̣n gọi là Đường Lê (birchleaf pear) là một loại lê rất ngọt chỉ thấy ở miền Bắc Trung Hoa và vùng Tây Tạng. Cây cao đến mười mét, có nhiều gai nhọn, hoa trắng, nhụy đỏ rất đẹp. Trái lê nhỏ nhưng ngọt, thường được dùng để chế rượu ngọt và sake. Dùng chữ cam đường ở đây để ca ngợi sự cai trị bằng ḷng nhân từ, ưu ái, thương dân của ông Ngô.

[74] Tam cửu là nói tắt của tam công, cửu khanh, tức là nói đến các địa vị quan cao trong triều đ́nh. “Vận tam cửu” tức là vận mạng đạt được công danh cao tột.

[75] Thời cổ, cửa sổ dán giấy để lọc ánh sáng và che nắng, gió.

[76] Tức ngài Hương Nham Trí Nhàn (?-898), một vị Thiền sư đời Đường. Sư theo ngài Bách Trượng Hoài Hải xuất gia, trụ tại Hương Nham Sơn ở Đăng Châu, nối pháp của ngài Quy Sơn Linh Hựu. Sư hóa độ hơn một ngàn vị tăng. Theo Ngũ Đăng Hội Nguyên, Sư dạy đồ chúng bằng lời lẽ giản dị, để lại hơn hai trăm bài kệ. Những lời kệ của Sư đều là tùy cơ đối duyên, chẳng chú trọng vần điệu bóng by, được phổ biến rất rộng vào thời đó.

[77] Mă Dung (79-166), tự Quư Trường, là một nhà kinh học (chuyên nghiên cứu kinh điển Nho gia) nổi tiếng thời Đông Hán. Ông từng giữ các chức quan Giảo Thư Lang, Lang Trung, Nghị Lang, thái thú các quận Vũ Đô và Nam Quận. Ông nổi tiếng hiếu học từ bé. Ngoài việc chú thích các kinh sách Nho gia như Thượng Thư, Châu Dịch v.v… ông c̣n chú giải Lăo Tử, Hoài Nam Tử, Ly Tao, Liệt Nữ Truyện v.v… Các trước tác ấy gần như đă thất truyền, chỉ c̣n một vài phần được trích dẫn trong các bộ Hán Học Đường Tùng Thư (do Hoàng Thích soạn), Ngọc Hàm Sơn Pḥng Tập Dật Thư (của Mă Quốc Hàn), và Mă Quư Trường Tập (do Trương Phổ soạn). Khi ông dạy học thường căng màn đỏ, nên từ ngữ “giáng duy” (màn đỏ) được dùng như kính ngữ để nói về giảng ṭa của Mă Dung.

[78] Vi Viên là nói tắt của Tử Vi Viên (紫微垣), chính là Trung Thư Tỉnh đời Đường, đời Nguyên gọi là Hành Trung Thư Tỉnh, đời Minh gọi là Thừa Tuyên Bố Chánh Ty. Sao Tử Vi có vị trí ở ngay chính giữa phương Bắc của bầu trời, là trung tâm của Bắc Cực, tượng trưng cho chỗ ở của thiên tử. Trung Thư Tỉnh tương ứng với cơ quan lập pháp, phản ánh mệnh lệnh của vua, quyết định các chánh sách đối nội lẫn đối ngoại của quốc gia. Các chiếu chỉ của vua thường do Trung Thư Xá Nhân thuộc Trung Thư Tỉnh soạn thảo. Có lẽ nhằm nhấn mạnh tánh cách trực thuộc hoàng đế, nên đời Đường, trong niên hiệu Khai Nguyên, vua đă xuống chiếu đổi tên Trung Thư Tỉnh thành Tử Vi Viên.

[79] Ư nói: Khi cúng trai tăng luôn bố thí rộng răi, những vật ngon quư nhất, nhưng sao đối với chuyện phóng sanh (nói ẩn dụ bằng “hạc lâm” tức cánh rừng nuôi hạc), lại tiếc tiền chẳng thí xả?

[80] Bành Tổ tên thật là Bành Khang, theo truyền thuyết sống lâu đến tám trăm tuổi. Thương là người chết yểu. Câu này có ư nói bàn suông thọ mạng ngắn dài của Bành Tổ và kẻ chết yểu có ích ǵ đâu?

[81] Bóng rối (đăng tiền hư): Nghệ thuật diễn tuồng tích bằng cách dùng những con rối phẳng được điều khiển bằng gậy để sau một tấm màn mỏng, dùng đèn chiếu sáng lên màn. Người điều khiển con rối sẽ di chuyển con rối làm các điệu bộ theo điệu hát, câu ca.

[82] Thanh phù (青蚨) là một loài bọ sống trên mặt nước. Theo sách Hoài Nam Vạn Tất Thuật, ấu trùng và trùng trưởng thành của loài Thanh Phù này rất khăng khít. Dùng máu của chúng bôi trên hai tờ tiền, bất luận tiền được tiêu xài xa xôi như thế nào, hai tờ tiền ấy sẽ t́m đến nhau.

[83] Tức nỗi hận của Bạch Cư Dị khi bị lưu đày, nghe một nữ nghệ nhân đă già nua gảy đàn tỳ bà. Nghe nàng kể chuyện đời nàng lưu lạc, Bạch Cư Dị thương cảm và chạnh nghĩ bản thân ḿnh cũng do triều thần đố kỵ mà bị đày đi làm tư mă ở Cửu Giang.

[84] Ánh mặt trời chiếu các ngọn núi sắc xanh biếc, khiến người ta liên tưởng màu xanh thẫm nơi tóc trên đỉnh đầu đức Phật.

[85] Vào năm 218 trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng tuần hành đến Bác Lăng Sa (thuộc huyện Nguyên Dương, thành phố Tân Hương tỉnh Hà Nam hiện thời) th́ bị mưu sát bởi một quả chùy nặng một trăm hai mươi cân ném vào xa giá, nhưng do quả chùy ném hụt vào chiếc xe khác, nên Thủy Hoàng thoát chết. Thủy Hoàng hạ lệnh truy bắt chủ mưu, nhưng không bắt được. Kẻ chủ mưu chính là Trương Lương. Gia tộc Trương Lương suốt năm đời làm tướng quốc nước Hàn. Do muốn báo thù Tần Thủy Hoàng tận diệt nước Hàn, Trương Lương đă bỏ sạch gia sản để chiêu mộ tử sĩ, lên kế hoạch ám sát. Sau khi việc mưu sát thất bại, Trương Lương trốn sang Hạ B́, gặp được Hoàng Thạch Công truyền dạy binh pháp; sau đó, trở thành mưu sĩ luôn được Lưu Bang tin cậy.

[86] Khi Hán Cao Tổ (Lưu Bang) đánh thắng Hạng Vũ và chư hầu, lập ra nhà Hán, đă phong Trương Lương làm Vạn HHầu. Nhưng ông đă kiếm cớ muốn tu tiên để xin từ chức, ẩn cư. Nhờ vậy, ông không bị Hán Cao Tổ sát hại như các công thần khác.

[87] Xích Tùng ở đây chính là Xích Tùng Tử, một vị tiên theo truyền thuyết đă có từ thời thượng cổ, được Đạo Giáo xưng tụng là Tả Thánh Nam Cực Nam Nhạc Chân Nhân, hoặc Tả Tiên Thái Hư Chân Nhân. Theo Liệt Tiên Truyện của Lưu Hướng, ông sinh vào thời Thần Nông, là vị tế tư quản lư các trận mưa, từng làm thầy của Đế Khốc. Ông được coi là người dạy thuật trường sinh cho các đệ tử. Cuối đời, Trương Lương tu tiên, nên mới nói là “Xích Tùng chê Trương Lương chậm quay về”.

[88] Mục Sanh sống vào đời Hán, là học tṛ của Thân Công, cùng với Khổng An Quốc, Châu Bá v.v… giữ chức Quận Thủ. Ông được Sở Nguyên Vương Lưu Giao tôn kính, thỉnh làm khách khanh. Lưu Giao thường bày tiệc rượu thết đăi Mục Sanh. Ông giúp Lưu Giao chấn hưng Nho học tại nước Sở. Khi Lưu Giao mất, cháu là Lưu Mậu kế vị, Mục Sanh bị đối đăi lợt lạt. Ông biết ư, bèn từ chức, ra đi. Thân Công chính là Thân Bội (219-135 trước Công Nguyên), là nhà kinh học nổi tiếng thời Tây Hán, thành lập Lỗ Thi học phái (trường phái nghiên cứu kinh Thi tại nước Lỗ), làm quan đến chức Thái Trung Đại Phu. Ông chuyên nghiên cứu kinh Thi và Xuân Thu Lương Cốc Truyện.

[89] Tử Lăng là tên tự của Nghiêm Quang (39 trước Công Nguyên-41). Ông là người thuộc huyện Dư Diêu quận Cối Kê. Ông được coi là bậc cao sĩ cuối thời Tây Hán, là bạn đồng học của Hán Quang Vũ Đế (Lưu Tú). Khi Lưu Tú lên ngôi, ông ẩn danh, biệt tích. Vua cho người t́m được, mời vào cung tṛ chuyện một đêm. Ông ngủ say, gác chân lên bụng vua. Sáng hôm sau, quan Thái Sử vào tâu: “Tối qua khách tinh phạm đế tinh rất gấp”. Do chuyện này, Tổ Liên Tŕ mới viết là “tinh đài chỉ khủng, chương tần thượng” (chỉ sợ là quan trông coi đài chiêm tinh (Thái Sử) nhiều lần dâng sớ tâu tŕnh).

[90] Vơng tượng (罔象) là một loài thủy quái trong truyền thuyết, thường được mô tả như đứa trẻ ba tuổi đen thui, tay dài, tai to, móng tay đỏ rực, thích ăn gan và óc người. Chúng chỉ sợ gỗ tùng, bách và cọp đá.

[91] Đao, kiếm được mô tả bén đến nỗi đặt một sợi lông hay tóc lên đó, nó sẽ bị cắt đứt ngay lập tức. Tuy vậy, đao dẫu bén như thế, nhưng nếu bị các sợi tơ từ vạn cây tùng buộc th́ vẫn bị bó chặt.

[92] Do đốt ngải cứu để chữa bệnh, bị hơi nóng làm khó chịu, người chữa bệnh có thể bị bệnh nhân oán hận.

[93] Trường Tự và Kiệt Nịch là hai ẩn sĩ thời Chiến Quốc, chủ trương đời loạn nên ẩn cư. Họ chê cách thức Khổng Tử dấn thân làm quan nhằm thực hiện cách cai trị bằng ḷng nhân là không thích hợp.

[94] Châu Đề là một quận thuộc đất Thục xưa, nổi tiếng về giàu có. Châu Đề nói ở đây chính là bạc được lưu hành tại Châu Đề.

[95] Ngũ Liễu Tiên Sinh Truyện là một bài văn do Đào Uyên Minh viết tự thuật ba điều ưa thích nhất suốt đời ḿnh: đọc sách, uống rượu, và viết văn. Trong bài văn ấy, tác giả hư cấu một nhân vật là Ngũ Liễu tiên sinh (vị tiên sinh này không rơ họ tên, quê quán, do cạnh nhà có năm cây liễu, nên được gọi thành Ngũ Liễu tiên sinh), trần thuật ba điều ưa thích của ông ta (nhưng thật ra là ba thứ đam mê của tác giả).

[96] Ư nói: Những kẻ b́nh phàm đừng thấy người chân thật tu hành khô khan như xương khô mà cười cợt họ là kẻ si ngốc.

[97] Dă-sa (ySa) là một trong bốn mươi hai chữ Phạn (theo văn tự Tất Đàm – Siddham), chữ này c̣n được phiên âm là Dật-sa, duệ-sa, di-sa, xa, sa. Kinh Hoa Nghiêm có một chương thuyết minh các pháp giải thoát tương ưng với mỗi chữ trong bốn mươi hai tự mẫu ấy.

[98] Đây là hai điển tích ca ngợi người mẹ trong hoàn cảnh cực nghèo khó, thủ tiết, vẫn nuôi con học hành thành tài. “Bút lau” là chuyện Âu Dương Tu đời Bắc Tống cha mất sớm, nhà rất nghèo, mẹ là Trịnh Thị đă t́m thân cây lau cứng, vót nhọn làm bút vạch chữ trên cát để dạy con học. “Hùng hoàn” là chuyện mẹ của Liễu Trọng Dĩnh đời Bắc Tống là Hàn Thị dùng mật gấu chế thành thuốc viên để giúp con tỉnh táo thức đêm học hành.