Vân Thê Pháp
Vựng
雲棲法彙
Phần 6
Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng
đại sư trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển
ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa
(theo bản
điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh
của CBETA)
Giảo
duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
* Đề từ cho bộ Sát Sanh Quưnh
Giới (殺生炯戒)[1]
a) Luận về loài chim
Gà [mẹ] nuôi gà con. Ưng, diều
hâu từ trên không trung đáp xuống, [gà mẹ] liền vỗ
cánh, kêu quang quác để bảo vệ con ḿnh. Người
hiện thời thương yêu con cũng như thế, chờ
ngày gà con béo tốt bèn giết để [cho con ḿnh] ăn, có
được hay không? Gà do sức chẳng chống nổi
người, [phải
đành chịu], nhưng cũng biết là nó thù hận.
Huống chi ăn gà chưa đủ, c̣n ăn ngỗng, vịt!
Ăn ngỗng, vịt chưa đủ, lại c̣n ăn
chim sẻ, bồ câu bay trên không trung. Đời người
chỉ v́ ăn no một bữa, sao mà chẳng chán đến
nỗi như thế đó? Buồn thay!
b) Luận về loài thú
Cọp ăn các loài
thú, con người đều ghét nó, bèn săn, giết;
nhưng cọp có khi cả mười ngày hay một tháng
chẳng ăn một con thú nào. Con người giết
chóc, nấu nướng chẳng sót một ngày nào. Các
loài trâu, dê, chó, lợn, cheo, nai, hoẵng, thỏ [bị giết,
mổ] chẳng biết ngần nào, [con người] c̣n
hơn cọp nữa! Buồn thay!
c) Luận về loài có vảy
Người ta tự nói “phải
nên ăn thịt”, chẳng biết đây kia ăn thịt
lẫn nhau, đều là mạnh ăn hiếp yếu. V́
thế, cọp mạnh hơn người th́ ăn thịt
người; nhưng cọp có lúc bị người ăn
thịt. Lần lượt thắng, thua, ai có thể
ăn rồng? Yếu là thịt, mạnh là kẻ ăn, há
chẳng đúng như thế ư? Do vậy, chẳng thể
lấn hiếp rồng, chứ cá th́ có thể lấn hiếp
mà ăn nó. Cá nục, lươn, cá ch́nh, ốc, ṣ, tôm, cua,
rùa, ba ba, [con người] đều có thể lấn hiếp
mà ăn thịt chúng. Đại để là “bọ ngựa
ăn ve sầu, sẻ ăn bọ ngựa”. Con người
cũng cam tâm làm bọ ngựa, buồn thay!
d) Luận về loài trùng
Chớ nên dễ dăi
giết ong, kiến. Tằm bị lạm dụng quá nhiều,
từ cổ đến nay không sao phế trừ được,
biết làm sao đây? Ôi! Mùa Hạ có thể mặc áo vải mỏng, mùa Đông
có thể mặc áo bông. Mũ miện có thể chế bằng
gai, áo dài có thể may bằng vải thường, sao chẳng thể bỏ nuôi tằm
được? Lượt là trang điểm cái thân, đại
để chỉ cốt sao chưng diện choáng lộn!
Chẳng có lượt, là, cố nhiên vô hại, nhưng
quăng trăm ngàn vạn ức con tằm vào chảo
nước sôi, rút ruột chúng ra để làm thứ
chưng diện cho ḿnh, tàn nhẫn lắm thay! Chắc có kẻ
lại nói: “Đừng giết ong, kiến th́ đúng, chứ
muỗi, rệp, rận đốt, cắn ta th́ làm sao?” Ôi!
Muỗi th́ có thể dùng màn chặn, rệp th́ có thể thả,
sao muỗi, rệp ắt chẳng thể dung thứ ư?
Buồn thay!
* Lời bạt cho sách H́nh Giới
Có đại trưởng
giả Lữ Thúc Giản Thị soạn Thệ Sĩ Yếu
Quyết (筮仕要訣, bí quyết trọng
yếu cho người làm quan), tiên sinh Trâu Nam Cao cho in thạch
bản [sách ấy] để rộng lưu truyền. Tám
chương H́nh Giới (刑戒, răn đừng
dùng nhục h́nh) càng nêu tỏ những chỗ vi tế ẩn
tàng, ra rả, thiết tha, khẩn khoản, khổ tâm
[răn nhắc]. Tôi đọc ba lượt, chắp tay,
khởi tâm cung kính, tán thán ba lượt mà chẳng thể
thỏa. Bởi lẽ, tôi cố nhiên có cái tâm ấy,
nhưng chẳng thể nói chuyện không thuộc phận
vị của ḿnh. Nay may sao lại được nghe lời
giáo huấn tột cùng ngàn đời chưa từng
được nhắc đến của bậc chánh nhân
quân tử? Há riêng kẻ mới làm quan cho đến kẻ
đă nhậm chức lâu ngày, suốt đời cho tới khi làm tam công, đều
chẳng thể một ngày nào không khăng khăng ghi nhớ [lời răn “đừng
dùng nhục h́nh”] trong tâm! V́ sao?
Người mới ra làm quan, chưa quen hành h́nh người
khác, vừa mới tiếp xúc, ắt có t́nh tự kinh sợ,
thương tâm, thảm năo. Nay đă quen nết, mai tập thành thói, đánh
người như phang gỗ đá. Lại quen thuộc hơn, giết người
như dẫy cỏ! Than ôi! Một mũi nhọn thọc
vào rách toạc da. Nhổ chút tóc mà mặt biến sắc.
Thân ḿnh, thân người, đau đớn, ngứa ngáy, há
có hai ư? Thế mà mê muội tàn độc sao lại
đến nỗi như thế? Người ta thường
nói: “H́nh quan vô hậu” (kẻ làm quan chuyên xử phạt
chẳng có hậu duệ). Người thật sự vâng giữ lời
răn ấy, tôi biết ắt có hậu duệ đông đảo,
dài lâu. Xưa kia có kẻ làm h́nh quan, mẹ căn dặn: “Đạo
trời sáng ngời, chớ nên giết bừa kẻ khác! Mẹ chẳng
mong tuổi già
thấy đứa con đang độ tuổi tráng niên
bị xử tử đâu nhé”. Về sau, quả
đúng như thế; đấy chính là ứng nghiệm
rành rành cho kẻ chẳng tuân thủ lời răn này. Dựa
theo đó mà suy rộng, trị nước, trị nhà,
đăi người, đăi vật, đều như thế
cả. Ḷng từ bi của Phật, Bồ Tát bất quá
như thế mà thôi. Tôi bèn quên bẵng chẳng phải phận
ḿnh mà cho khắc in lại [sách này].
* Đề từ cho [bộ sách tự chí]
chùa Giai Thê do thầy Thanh Quang Dự [biên soạn]
Sáng lập cơ nghiệp
đă khó khăn, khéo léo kế thừa càng khó hơn. Kế
thừa sao cho lưu truyền vĩnh viễn chẳng mất, càng khó hơn nữa! Giai Thê thuở
đầu do thầy Cổ Đàm, người khôi phục hoằng
dương là thiền sư Thanh Quang Dự. Xưa kia, tôi
gặp gỡ thầy tại kinh đô, năm tháng càng lâu,
giao t́nh càng thân, tuổi càng cao, đức càng tiến. [Thầy Thanh Quang Dự]
đă khiến cho đời trước càng thêm rạng ngời,
lại nghĩ mưu kế để lại cho đời
sau. Do vậy, thầy gom góp đầu đuôi [lịch sử]
của núi này, phân loại cặn kẽ, tạo thành sách
để truyền lại cho các học tṛ. [Do đọc
sách này], người đời sau c̣n nghĩ tới nỗi
khổ tâm của Ngài, sẽ cẩn trọng giữ ǵn thế
nghiệp, tu ṛng đạo nghiệp, mai sau sẽ thong dong
nơi bậc thềm bảy
báu, tiến bước nơi đầu thang cao ngàn nhận,
ngơ hầu nguồn mạch của cụ Đàm nối tiếp chẳng cùng
tận, quang minh chiếu rạng vô tận. Hăy gắng lên!
* Lời bạt cho Trường Khánh Tập
Cảnh Ngộ Tuyển (tuyển chọn
những bài thơ cảnh tỉnh giác ngộ từ Trường
Khánh Tập)
Hiện thời, Trường
Khánh Tập của cư sĩ Hương Sơn (Bạch
Cư Dị) được lưu truyền gồm bảy
mươi mốt quyển. Trong ấy, có ba
mươi tám quyển là thơ, phần lớn thanh nhă,
khiêm tốn, chẳng cố ư mà đạt tới ư
nghĩa độc đáo. Tôi bèn trích tuyển những bài
mang ư nghĩa giải thoát rơ ràng đủ để cảnh
tỉnh người đời lười nhác, ương
bướng, giác ngộ
kẻ đang say mê, soạn riêng thành một tập
sách nhỏ, gọi là Cảnh Ngộ Tuyển (警悟選). Những bài như Tỳ Bà Hành, Trường Hận Ca
v.v… tuy cảm khái, phúng dụ[2],
chẳng kém phần phong nhă, nhưng do mô tả t́nh tứ tột
bậc đẹp đẽ, sợ đánh mất ư chỉ
[cảnh tỉnh người đời], đâm ra càng
tăng trưởng cội dục, nên đành bỏ
đó, chẳng sao lục. Chỉ có một trăm bài này,
thử mở sách ra xem mà đọc, mà ngâm vịnh, lời
thơ dằng dặc, ư vị vi tế, chưa chắc chẳng
phải là “ngủ say mộng trước giường,
hai bộ cùng trỗi nhạc”[3], lọt vào
tai, động cái tâm, đột nhiên tỉnh ngủ. Dụi mắt
sáng ngời dưới ánh mặt trời rực rỡ giữa
trời quang, cũng chẳng sướng lắm ư?
Cư sĩ đă tự nói: “Thông đạt thay! Thông
đạt thay! Bạch Lạc Thiên[4]!” Đó gọi
là chân ngữ, thật ngữ!
* Lời bạt khắc in lại bộ
Nghĩ Cổ Nhạc Phủ của Tây Nhai tiên sinh
Tôi lúc trẻ đọc
sách tại Nguyệt Đường Am, bạn tôi là Châu
Xuân Giang đưa cho tôi xem Nghĩ Cổ Nhạc Phủ (擬古樂府, phỏng theo lối
thơ Nhạc Phủ thời cổ) của Tây
Nhai tiên sinh[5], sách chỉ có một
nửa. Tôi vừa ngâm vịnh, vừa than thở, cho rằng:
“Đây là cổ kim tuyệt xướng”. Về sau, tôi ngẫu
nhiên có được trọn quyển sách, trân quư, cất
giữ nhiều năm, sợ sẽ bị mất đi,
bèn sao lục lại để giao cho thợ khắc ván.
Kinh Thi mất đi, bèn có Nhạc Phủ. Nhạc Phủ dần
dần cũng biến đổi, bèn có ca khúc. Chẳng bàn tới ca khúc! Ngay như những
thứ từ thời Ngụy, Hán, Tùy, Đường cho tới
hiện thời được gọi là Nhạc Phủ,
thậm chí những từ điệu của các danh gia
Châu, Liễu, Tần, Tô (Châu Bang Ngạn, Liễu Vĩnh, Tần
Quán, Tô Thức tức Tô Đông Pha), tuy mỗi thứ đều
tột cùng
đẹp đẽ, khéo léo, nổi tiếng
đương thời, vang danh hậu thế, nhưng phần
lớn đều mô tả t́nh tứ, duyên theo vật,
vướng mắc cảnh. Những bài có thể nâng đỡ
thế đạo, yên ḷng người, ngàn bài chỉ
được một mà thôi. C̣n những bài trong tập
sách này, mỗi mỗi đều phát xuất từ đại
học vấn của tiên sinh tạo thành đại nghị
luận, há chỉ hùng hồn trăm đời, đại
để là thẳng thừng
noi theo phong cách thanh nhă thuở trước, hiếm thấy
trong ṿng trời đất! Người xem [những bài thơ ấy] sẽ nghĩ đến Nhạc
Phủ, [như vậy
th́] Cổ Nhạc Phủ được đặt vững
bởi tiên sinh đấy chăng?
Chắc có kẻ nói: “Ông là người
tu Thiền, tập sách này chẳng phải là kinh, luật,
luận, chẳng phải là chú sớ, ngữ lục,
văn tự của tôn túc, mà là ngôn ngữ thuộc về
Thế Đế, sao lại khắc in để làm ǵ?” Ôi!
Ông chẳng thấy tụng cổ của Tuyết Đậu
lăo nhân ư? Người hiểu biết nhận định
Ngài là bậc thánh về tụng cổ, nay riêng tiên sinh chẳng
biết Thiền đạo tham cứu cái tâm hay sao? Giả
sử tham Thiền có ngộ, có lúc thốt ra một bài niêm, một lời
b́nh, một kệ, một câu, th́ kiến lực, bút lực,
sức phán đoán bắt hay thả, sức giết chết
hay cứu sống đều thần kỳ biến huyễn
chẳng thể nghĩ bàn, ắt có thể sánh cao thấp
với cụ Tuyết Đậu, há chẳng đáng truyền
ư? Bèn sao lục lại, đem khắc in.
* Lời bạt cho Lật Trai Tiên Sinh Di
Cảo
Thái Sử Trương Dương Ḥa viết
Lật Trai Tiên Sinh[6]
Truyện, những điều được ghi chép trong ấy,
đa số là ca ngợi tiên sinh hiếu thảo, ḥa thuận
với anh em, liêm khiết, có tiết tháo, tự lấy
đạo học của cổ thánh hiền làm trách nhiệm
của chính ḿnh, nhưng
sáng tác văn tự chỉ là chuyện phụ. Những
điều luận nghị, ca vịnh trong ấy, đa số
là bàn về lư tánh, chưa từng chú trọng đua chen hoa
mỹ, bóng bẩy, cũng chẳng chỉ buông lung t́nh cảm
nơi núi, sông, trúc, mộc mà thôi! Đối với các thiên
sách Thái Cực, Xuân Thu, Hà Đồ v.v… kể từ Khổng
Tử trở xuống, Nhan Uyên, Tăng Tử, Tử
Tư, Mạnh Tử, cho tới các danh Nho như Liêm Khê, hai
anh em họ Tŕnh (Tŕnh Di,
Tŕnh Hạo), Hoành Cừ
(Trương Tải), Hối Am (Châu Hy), [tiên sinh Lật Trai] đều
có lời tán tụng, xiển phát chỗ u huyền, kín nhiệm,
xen kèm thêm một hai lời đề tặng, ngay cả [thi văn sáng tác]
khi du ngoạn, cũng không ǵ chẳng quy vào thân, tâm, trọn
chẳng phải là lời lẽ nhàn tản, vô vị. Ôi! Đấy
có phải là bậc “quân tử thuần chánh, sáng suốt, chuyên dốc, chân thật” như cổ
nhân đă nói đấy chăng?
Vị tăng là Trí Thụy cầm tiểu
truyện của tiên sinh cùng với tạp trước,
thi, từ bao nhiêu bài đó, đến chỗ tôi xin khắc
in. Tôi chọn lấy một nửa cho khắc ván, đặt
tựa đề là Lật Trai Tiên Sinh Di Cảo. Trí Thụy
ngoài đời là cháu đích tôn của tiên sinh, đối với tôi
th́ là pháp tôn, cũng
là người bẩm tánh thuần ḥa, chuyên dốc, có phong thái của tiên
sinh, có thể quyên ra tiền y bát để trang trải chi
phí khắc ván nhằm xiển dương đẹp đẽ
rực rỡ trong cơi đời. Thái Sử lại có t́nh
giao du sâu đậm với tôi, lại c̣n chẳng phải
là người nói dối. Do vậy, tôi bèn viết đôi lời
vào cuối sách.
* Đọc những ghi chép về cách
hành xử của Châu Cao Sĩ
Năm trước, tôi qua B́nh Hồ,
nghỉ tại chùa Vu Tháp ở Viên Châu, khi đó, cao sĩ
trọ tại Ngũ Đài. Lục công nghe tôi đến,
rất vui, trọn đủ oai nghi, đáp thuyền cung
kính đến thăm. Sau đấy, tôi sang đất Việt,
có lúc cùng với các vị quân tử đạo học cực lực
đàm luận về huyền nghĩa của Chỉ Quán. Lại
c̣n gặp gỡ [cao sĩ] khi nghỉ lại Năng Nhân
Đường, trước sau nói chuyện rất hợp,
tin tưởng càng bền vững. Tôi sang lễ núi Thanh
Lương, qua Yên Kinh, t́m dấu vết cũ của liên
xă nơi Khuông Lư, từ Bạch Hạ trở về
Nam, cây bách
nơi mộ cao sĩ đă to một ṿng tay! Cao sĩ dùng
tâm địa của Trọng Ni, Nhan Tử để dốc
chí cao nhă nơi nội điển, danh c̣n chưa thành, mà thọ
đă chẳng trọn nửa trăm, lại c̣n chẳng
có con nối dơi. Nh́n theo con mắt thế gian, có thể nói
“Phật pháp chẳng linh nghiệm”. Phàm là người
học Phật, nếu thật sự dốc chí nơi danh
vọng, sống thọ, con cháu, bảo là “chẳng có linh
nghiệm” cũng được! Chứ cao sĩ cố
nhiên đă thấy thành hay bại như nhau, sống thọ
hay chết yểu như nhau, có con cháu nối dơi hay không
đều như nhau, vậy th́ xem nhẹ báo thân trong một
đoạn thời gian đúng là như bọt nước
nổi, sanh ra rồi diệt mất trong biển xanh, há
đáng nên xem trọng hay coi thường? Ôi! Tôi thấy một
bậc cao sĩ há có phải là do tôn quư, vinh hiển, sống
thọ, con cháu đông đúc trăm đời [mà
được tôn xưng là cao sĩ] ư? Trong cơi mộng
huyễn, chưa chắc đă chẳng phải là không có
người ngộ vậy!
* V́ cư sĩ Lục Mộng mà viết
trên cái quạt
Sen là loài hoa do nước
mà sanh, gặp lửa
mà héo. Nay hoa từ lửa sanh, ai lại có thể khiến
cho nó héo úa? Sen lấy nước làm mạng, mà nói là “sanh từ
lửa”, ư chỉ ấy ở chỗ nào? Há chẳng phải
là coi ḷ lửa hừng to lớn chính là cái ao trong mát? Pháp vốn
sẵn là như thế, chẳng phải là do thần thông
khiến thành như vậy. Chỉ có người vượt
ngoài hạn lượng mới lănh hộichuyện hiếm
có này! Tuy vậy, ngộ “trong lửa có sen”, hư huyễn rút bớt, hay hư huyễn
thêm vào, công điều ḥa, bảo vệ chẳng phế, lửa
ấy được gọi là “dương ḥa” (陽和, khí hậu ấm
áp của mùa Xuân, hoặc khí hậu ôn nhuận dễ chịu).
Nương vào sen mà lửa xuất hiện, tùy ư hừng hực,
hoặc tùy ư diệt mất. Hễ cái tâm tăng thượng
mạn vừa sanh, lửa ấy được gọi là “lửa độc”. Do vậy biết:
Lửa được gọi là tăng trưởng sanh
thành, nhưng cũng dẫn đến sự cháy khô, cùng với
nước vốn nhuần thấm,
giúp cho trưởng thành, lại kiêm hai thứ khuyết
điểm là ngập
lụt và vùi lấp, há chẳng nên thận trọng ư? Cư
sĩ dùng cái tâm chí thành, t́m kiếm phương cách tăng
trưởng “sen trong lửa” nơi núi rừng. Núi rừng
chẳng phụ người đến hỏi, nói líu lo
trong cơn mớ ngủ[7].
C̣n đối với câu “nước và lửa chẳng
tương quan”, ắt cư sĩ
đă tự ngộ.
14.3. Kư (được
in rải rác các chỗ và trong di cảo, đều ghi thêm
vào đây)
* Bài kư khôi phục chùa cổ Vân Thê
Khi tôi mới vào chùa Vân Thê thuộc
Phạm sơn, các vị phụ lăo bảo
tôi: “Chùa này bị nước lụt cuốn trôi sạch,
nay đă gần trăm năm. Khi ấy, chẳng có sức
để xây dựng lại, dựng cái lều tranh ở giữa
đường trong cuộc đất hoang phế ấy, gọi là Vân
Thê Biệt Viện”. Tôi c̣n thấy một vị Tăng sống
ở đó, nhưng Thê Chân (棲真, trụ trong lẽ chân thật) là tên ghi trong
sổ sách, chứ dân trong núi hoặc tiều phu thường
gọi nơi ấy là Vân Thê (雲棲, mây đậu lại). Tôi liền
thuận theo, dùng Vân Thê để đặt tên am, am đă
được dựng hơn ba mươi năm rồi. Cho tới khi đọc
Lâm An Cựu Chí được soạn trong niên hiệu Hàm
Thuần[8], [mới biết]
chùa Vân Thê chính là do quốc vương họ Tiền xứ
Ngô Việt kiến tạo vào năm Càn Đức thứ
năm (967) đời Tống Nghệ Tổ (Tống Thái Tổ
Triệu Khuông Dẫn), tới năm Trị B́nh thứ hai
(1065) đời Tống Anh Tông, đổi thành Thê Chân, xem
chi tiết nơi trang mười lăm thuộc phần “các
chùa, quán ở Tiền Đường”. Tôi vẫn gọi
là Vân Thê, ngầm phù hợp
thời cổ, cố nhiên là chuyện thích đáng. Xưa
kia, vào khoảng cuối thời Gia Tĩnh - Long Khánh, đầu
thời Vạn Lịch, người tu chỉnh quận chí
cứ viết theo thời gần đây, chẳng tra cứu
thời cổ. Nay khôi phục tên cũ, há chẳng phải
là do túc duyên khiến thành ra như thế ư? Tôi đă cảm
khái v́ vô tâm mà hợp cổ, lại càng cảm khái trước
chuyện xưa nay nối tiếp nhau thay đổi chẳng
thường hằng. Dấu tích linh thiêng tịch mịch,
ch́m đắm đă lâu, chẳng được nêu tỏ không biết ngần
nào? Ngô Quận thời cổ là Hàng Châu, đă trở thành
Lâm An. Về sau, lại trở thành đất Hàng, gọi
là Cổ Hàng. Nay chùa cũng giống như thế; do vậy,
đề biển ngạch là Cổ Vân Thê Tự, ngơ hầu
[người khác nh́n vào tên gọi ấy sẽ] biết
năm tháng vậy!
* Bài kư trùng tu Vân Thê Thiền Viện
Phủ trị đất Hàng phía Nam kề
ngay đại giang (sông Tiền
Đường), phía Tây tiếp nối hai hồ
Minh Thánh nhị hồ, muôn ḥn núi
vây quanh hồ san sát bến sông. Từ phía Tây của sông đi ngược
lên hơn hai mươi dặm là quả núi có tên là Ngũ
Vân. Trước kia, đỉnh
núi có mây lành năm sắc quẩn quanh trên đó; do vậy, đặt
tên núi [là Ngũ Vân]. Lại có mây năm sắc trôi về, tụ vào
hang động
nơi phía Tây của núi đă lâu
chẳng tan; người
đương thời lấy làm lạ, gọi nơi
đó là Vân Thê Ổ
(雲棲塢, hang mây đậu).
Năm Càn Đức thứ năm (967) đời Tống,
có vị Tăng kết am [tại đó] để ở.
Trong Ổ có nhiều cọp, Tăng đến, cọp liền thuần
phục, cơi đời gọi Sư là Phục Hổ thiền
sư bởi lẽ đó. Ngô Việt Vương họ Tiền bèn
v́ Sư lập chùa; do vậy, Vân Thê được sáng lập.
Thiền sư c̣n có một hiệu là Đại Phiến
ḥa thượng (大扇和尚, ḥa thượng
quạt to), húy Chí Phùng (志逢). Thoạt đầu,
Sư dựng thất trên đỉnh Ngũ Vân. Trong niên hiệu
Thiên Hy (thời Tống Chân Tông), vua ban sắc chỉ
đặt tên chùa là Chân Tế
Viện (真濟院), đồng thời mở
thêm hai viện
Vân Thê và Thiên Tŕ thành ba cảnh chùa. Về sau, vào năm Trị
B́nh thứ hai (1065), đổi
tên thành Thê Chân. Nay gọi là Vân Thê là khôi phục tên cổ.
Vân Thê nằm ở phía Tây ngọn
Ngũ Vân, đường ṃn ngoằn ngoèo, rừng cây u tĩnh, bốn quả
núi vây kín xung quanh, cây phủ xanh ŕ. Rặng phía Đông có ngọn Bích Quán (壁觀), dưới
ngọn núi có suối, gọi là Thanh Long Tuyền (青龍泉, suối rồng
xanh). Kế tiếp, ở bên cạnh ngọn núi giữa, lại
chảy ra một con suối, tên là Thánh Nghĩa Tuyền (聖義泉). Phía dưới đó, nơi chân núi thuộc vách núi phía
Tây, lại chảy ra một con suối tên là Kim Dịch Tuyền (金液泉), dùng ống trúc dẫn nước suối chảy êm đềm,
trong mát, thơm ngọt, lấy nước dùng hoặc tuôn tưới đều chẳng cạn
kiệt. Chỉ có điều hoang vu, vắng vẻ, ít dấu
chân người lui tới, chẳng phải là kẻ quên
thân, tâm vắng lặng, sẽ chẳng thể ở
được! Đầu niên hiệu Thiệu Hưng[9],
có Từ Tri Các[10]
theo chân triều đ́nh [lánh nạn giặc Kim], vượt
Trường Giang về Nam, ở ẩn bên cạnh chùa. Về
sau, ông xả nhà thành chùa. Năm Hoằng Trị thứ bảy
(1494) thuộc thánh triều (nhà Minh), mưa dầm gây lụt
lớn, nhà, điện, kinh, tượng nổi trôi theo
nước. Tăng dần dần ly tán, những vị già yếu bèn thuê nhà sống trong
thôn trang. V́ vậy, tự viện thành chốn cỏ hoang
um tùm. Phụ lăo đi qua, thương cảm ứa lệ.
Vệ tướng quân Dương Ngọc Khê và con trai là Niệm
Đường mến chuộng Tam Bảo, quyên mộ
Tăng trùng tu, nhưng nhiều lượt khổ sở
v́ nạn hổ, không sống được, phải bỏ
đi.
Năm Long Khánh thứ năm (1571), Châu
Hoằng hành cước trở về Nam, ưa thích nơi
này non cao vắng vẻ, thân đơn, bát lẻ, ngồi xếp
bằng trong chỗ tường sụp. Thái học sinh[11]
Trần Như Ngọc, Lư Tú v.v… dựng cho tôi ba gian tĩnh
thất. Châu Hoằng ngày th́ bầu bạn với nai rừng,
đêm th́ xướng
họa cùng chim, suối, thong dong
tưởng sẽ suốt đời. Thôn dân lấy làm lạ
tôi có thể ở lâu như thế. Các thôn thuộc bốn
mươi dặm chung quanh [núi Ngũ Vân], mỗi năm chẳng
dưới hai mươi người bị thương v́ hổ. Gà,
chó chẳng tính! Châu Hoằng phát ḷng bi khẩn thiết,
phúng kinh một ngàn quyển, lập Du Già Thí Thực để
tế độ. Từ
đấy, hổ chẳng tổn thương người.
Nhằm năm hạn hán, tôi cầu đảo trong núi,
gặp mưa đúng thời tuôn xuống, dân trong thôn lại hết sức
mừng rỡ, vui mừng được an cư, cùng nhau
nườm nượp vác gỗ kéo tới, nói: “Những thứ này do tổ tiên tôi đă trồng”. Họ vác cuốc xẻng,
phát quang, phủi bụi để lộ các tảng đá
kê chân cột, chỉ vào đó, nói rằng: “Đây là vật cũ của
chùa Vân Thê. Thiền sư tạo phước cho thôn chúng tôi.
Tôi nguyện xây chùa mới trên nền
cũ, ḥng giữ vĩnh viễn nơi hương đèn trong vùng chúng tôi!” Do vậy,
chẳng mấy chốc mà thành Lan Nhă. Ngoài chẳng có cửa
cao, giữa chẳng có đại điện, chỉ có Thiền
đường để tăng ở, pháp đường
để sùng phụng kinh luật mà thôi.
Châu Hoằng tự biết chính ḿnh viễn vông, thô hèn, chẳng
có một tấc sở trường nào đáng khen ngợi,
ôm bệnh vào núi, cam phận mục nát với cỏ cây. Bỗng chốc gặp
huyễn duyên, hưng khởi chốn suy đồi, suy sụp
này, há dung ăn không ngồi rồi, chẳng nghĩ trên là
báo ân Phật, dưới là đền đáp đàn-na tín
thí ư? Xét ra, tôi suốt đời chuộng chân thật,
coi nhẹ chuyện phù phiếm, khoa trương, cam tâm
trong cảnh khốn cùng, bó buộc, xấu hổ đối với danh lợi,
cùng với một hai người có cùng chí hướng
cùng nhau dùi mài, nỗ lực thực hiện đạo
xưa, ước hẹn với hàng hậu tấn: Hễ
kẻ nào phạm [lỗi giới hạnh và quy ước
cộng trụ của Vân Thê] ắt phải rời đi.
Chủ yếu phần lớn là dùng Tịnh Độ [làm
pháp chủ tu]. Mùa Đông chuyên tọa Thiền, ngoài ra kiêm
giảng tụng. Hằng ngày có lịch tŕnh, mỗi tháng có
kết toán, mỗi năm có sổ sách minh bạch, nghiêm ngặt, khiến cho
kẻ vô lại chẳng thể chen lẫn vào đó. Tuy chẳng
giúp ích to lớn cho pháp môn, chỉ mong cứu văn thói tệ
của người học trong đời Mạt, ḥng đợi
bậc tri thức trong mai sau. Châu Hoằng là con nhà họ Trầm, tự là Phật
Huệ, hiệu Liên Tŕ, người xứ Nhân Ḥa ghi lại.
* Bài kư trùng tu chùa Thượng
Phương, đào ao phóng sanh
Vùng
Vũ Lâm kể từ khi nhà Tống [lánh
nạn giặc Kim] chạy về
phương Nam, cư trụ quanh Hồ Sơn, các
chùa thuộc Thiền, Giảng, Luật rực
rỡ chen chúc san sát,
trở thành có tiếng trong thành. Cho
tới nay, quá nửa bị chìm
đắm, đến nỗi chẳng thể
khảo cứu các truyện kư hay địa
phương chí [để biết
về lịch sử của các chùa ấy]. Có chùa
Thượng Phương dựa lưng vào
tường thành, hai bên liền sát hai
cửa Dũng Kim và Tiền Đường [của
thành Hàng Châu], trước mặt thông với
đường cái quan Tây Tỉnh. Chùa vốn
được tạo dựng từ năm
Trinh Minh thứ bảy (921) nhà Hậu Lương,
nhưng trong năm Cảnh Thái thứ tư (1453)
của quốc triều[12], Tăng sĩ cho là khó duy trì, bèn
bỏ đi. Chùa bị bỏ hoang, dần dần
bị dân cư xâm chiếm, chỉ còn lại một
phần mười. Ưu-bà-tắc Trầm Thiện
Năng kết lều tranh tại đó.
Tới năm Gia
Tĩnh 23 (1534), quan Thượng Bảo Khanh[13] là Từ Lục Kiều xin
phép triều đình cho thuê đất nơi
đó làm vườn. Ông không có con trai,
để lại cho con gái, dặn trả lại
nhà chùa. Con gái có hiếu lại hiền
thục, cầm khế ước về nhà họ
Vương, tuân theo lời cha dặn, trao cho Vân Thê,
[cuộc đất ấy] bèn trở lại
là đất của Tăng như cũ.
Chẳng lâu sau, họ Vương qua
đời, cư sĩ Tống Hóa Khanh nghe nghĩa
cử ấy, bèn
đề cao. Hóa Khanh là con cháu của gia
tộc nhiều đời ăn bổng lộc,
tận lực dùi mài đạo đức,
chuộng làm lành
chẳng chán, bèn góp tiền đưa cho
hai đứa con nhà họ
Vương, lấy lại khế ước. Tôi
cũng dốc hết tiền riêng, cùng thiện
tín mua lại cuộc đất cũ
được chừng đó. Hướng
chánh điện về chỗ sáng sủa, lập riêng dăy
nhà ngang, xoay hướng cửa
chính của chùa đối
diện tường thành nhằm đảm bảo
sự u tịch, mong đời đời
phụng sự Tam Bảo.
Do vậy, tôi bàn
bạc cùng đại chúng: “Thượng
Phương vừa mới trùng hưng, lênh
đênh, suy vi, hãy tu tạo, lo liệu như thế nào
để được lâu dài?” Có
người bàn bạc đốn cây cối,
mở rộng điện đường, tụ
tập nhiều tăng sĩ, tăng đông thì
sẽ thường trụ. Tôi nghĩ chẳng
phải vậy! Đang thuở Mạt Pháp,
tháp chùa chẳng kiên cố. Thử gập
ngón tay tính toán. Cửa tam quan
hướng ra chốn phố thị, lầu chuông
gác trống chẳng trở thành chốn
quăng bừa chén rượu há được mấy
nơi? Tăng tuy nhiều mà
hạnh thiếu, nhiều để làm gì? Xét
ra, cuộc đất này gần thành, thành
gần hồ, hồ phía ngoài cao, mà trong
thành thì thấp, thuận theo đó mà
đào thành kênh, gặp lúc hạn hán
cũng chẳng thể khô cạn. Do vậy, rất
tiện tạo thành ao
phóng sanh. Đối
với gian nhà cũ ở chỗ đất
trống, sửa sang kèo rường đôi
chút, chọn lấy hai ba vị tăng thành tín,
sớm chiều Thiền tụng, ngõ hầu trên
là chúc nguyện cơ đồ của hoàng
thất, dưới là cứu vớt
hàm thức, thì sẽ là hành động nhất
cử lưỡng tiện
vậy.
Có kẻ nói:
“Loài vật nhiều như cát, bụi; ao như
một cái muỗng, chứa đựng
hữu hạn. Làm sao được?” Kẻ đó
nào có biết: Đào ao chính là khởi đầu, là
dẫn khởi, dẫn đến mở rộng
ra, lại càng mở rộng hơn, sẽ mênh mông
khắp cõi. Xưa kia, Tử Sản nuôi cá
chỉ một chỗ nhỏ bé, giả
sử người
nước Trịnh dù đại phu, dù quan
chức, hay dân chúng đều làm như
thế, các lân quốc của nước Trịnh như
Yên, Triệu, Tề,
Sở cũng đều như thế thì ao vô
lượng, nuôi nấng vô lượng. Nếu
không, Tây Hồ là ao phóng sanh thời cổ,
bảo là “bao dung trọn
khắp muôn vật trong vòng trời đất”, há có lẽ đó ư?
Hóa Khanh thưa: “Vâng, đúng như vậy”.
Bèn cùng với em ông ta là Trực Khanh,
các vị sĩ phu hiền đức, các
tỳ-kheo, tịnh nhân, có người xuất tiền,
có người quyên lương thực,
sửa sang cuộc đất, cuốc, vét,
đào bới, nạo vét dòng suối khô,
dẫn nước, đắp đập,
đắp đê kiên cố phòng khi nước
lũ bị sụp đổ, xây tường vây, vun
đất, lèn đá để ngăn ngừa
hải ly và rái cá phá hoại. Nhằm
đề phòng kẻ ngoài xâm phạm, bèn
đắp tường đất kiên cố. Lo cho [các loài vật] gặp
phải nóng lạnh, bèn trên th́ trồng cây lấy
bóng rợp, phía dưới thì đào ng̣i, bận bịu
lo toan suốt ngày đêm, nhọc nhằn chẳng
nghỉ, ra sức hơn tháng, ao
được hoàn thành. Ngay khi đó,
[các con vật] từ trong lồng
được thả, đang ở trong nồi
mà được phóng thích, thoải
mái vùng vẫy, thoát ra thảnh thơi. Trong
vòng [cái ao nhỏ như] cái muỗng ấy, đủ
để cho chúng nó thong dong.
Tôi
vừa mừng vừa sợ, đảnh
lễ trình với mười phương
Như Lai, thần chủ ao, thần chủ già-lam, nguyện
do Phật lực, pháp lực, hiền thánh lực,
thệ nguyện lực của chư thần,
từ bi gia hộ, oai đức giáng lâm,
khiến cho từ nay trở đi tới
tột cùng vị lai, [ao phóng sanh này sẽ]
thường là nơi an ổn cho các loài
thủy tộc đội mai, mang vảy. Lại
đảnh lễ thưa với các vị tăng
đang trụ nơi đây và mai sau, nguyện dùng
giới lực, bi trí lực, nghĩ tới
nỗi khổ cứu vớt nhuần thấm
[lũ cá đang bị] khô cạn của
[trưởng giả] Lưu Thủy, ngài Thiên Thai
dâng biểu dùng lời lẽ thẳng
thừng để dứt đăng, đó; ngài Trí Giác (tổ Vĩnh
Minh) lãnh tội hòng thành tựu lòng
nhân, hứng chịu đao sắc mà
chẳng hối, vẫn giữ mãi chẳng
để hư hoại [ḷng từ], hòng tạo
thành phong hóa cho bốn phương.
Những ai dám
trái nghịch lời kết minh khi
trước, học theo Đào Châu (Phạm
Lãi) kiếm lợi bằng lưới,
rập, hoặc hùa theo mọi người
bán [những sanh mạng trong ao phóng sanh] cho
hàng bạch y, thì gọi là trái nghịch
Phật luật, phạm Ba La Di. Những
người được gọi là Thích
tử sẽ triệu tập tăng chúng làm
yết-ma để tẫn xuất kẻ đó,
chẳng cho cộng trụ! Tức là do kẻ
đó cấu kết với ác thần,
ắt thần sẽ ngầm trói buộc hồn
họ, rành rành hủy hoại thân họ, chẳng
thể trốn tránh. Nếu họ thoát
được, khi báo thân đã tận, sẽ
đọa trong Nê Lê (địa ngục), hứng
chịu muôn điều khổ sở chẳng cùng tận. Vì
lẽ nào vậy? “Ưa sống, ghét chết”
là đạo trời, là lẽ
thường tình của con người.
Người xưa bỏ ra tiền tài khó
bỏ, nhọc nhằn thân xác đáng mến,
lập ra nghĩa cử thù thắng
chẳng thường thấy trong đời
ngũ trược, khiến cho [các con vật] mạng
ắt phải chết mà được sống,
đặt chúng nơi an toàn. Người
đời sau nỡ lòng chẳng suy
nghĩ sâu xa, chỉ cốt thỏa lòng riêng tư,
trái đạo trời, nghịch tình
người, bất tường là do trái
nghịch, hung ác, hễ bất tường thì
tai ương đưa đến. Dùi đánh
xuống, trống vang rền, bóng theo hình, cảm
ứng tự nhiên, chẳng phải là nói
dối để dọa dẫm.
Hóa Khanh và
các đại chúng hớn hở, hoan
hỷ, than là “chưa từng có”, thưa
rằng: “Lành thay! Đấy là khuôn mẫu cho
tăng tục vậy, chớ nên
khiến cho đời Mạt Pháp chẳng
được nghe”. Bèn lập bia tại
Thượng Phương. Tụng rằng:
- Trùng hưng chốn đã
diệt, lại kiêm được phóng sanh. Há
chỉ diệt chẳng diệt, sanh cũng
tướng vô sanh. Sanh diệt đều diệt
rồi. Tịch diệt há trở ngại?
Đã siêu hẳn các phương, không
phương để nói Thượng. Không
phương nói Tây Phương, ý cũng giống
như vậy. Người xây chùa, đào ao,
nguyện cùng hiểu ý này!
Ghi vào ngày Phổ Môn Thị
Hiện năm Vạn Lịch 28 (1600).
* Bài kư về ao phóng sanh của am Trường
Thọ ở cửa Bắc
Tây Hồ là ao phóng sanh thời
cổ. Pháp lâu ngày biến thành tệ,
thực chất mất đi, chỉ còn danh suông!
Thói tệ lâu ngày thành quen. Hồ luôn sanh ra
thủy tộc, danh xưng [ao phóng sanh] cũng bị
mê mất, dường như chẳng
được nghe nhắc đến nữa.
Năm Ất Mùi (1595), tôi giảng diễn kinh Viên
Giác tại Nam Bình thuộc núi Phật
Quốc. Nam Bình vốn có một cái ao
ở cửa tam quan. Khi đó, các vị
có danh vọng làm chủ hội, quyên tiền mua
đứt cái ao để trồng sen trong đó,
dứt hẳn ngư nghiệp. Nhờ vậy,
mọi người biết ao phóng sanh là
chuyện cũ của vùng Vũ Lâm; tôi lại
đào ao ở Thượng Phương. Do
nơi cửa Bắc có vườn, trong
vườn có ao, lại mua lấy. Vườn
cách Thượng Phương theo trục Nam
Bắc nửa câu-lô-xá[14],
cho nên trong thành có hai ao phóng sanh.
Tôi vừa lập bia tại
Thượng Phương, cho rằng đó
là khởi đầu, từ khởi
đầu sẽ dẫn đến lan tràn rộng ra.
Xét ra, tôi đức mỏng, tuổi già
lụm cụm, chẳng đủ để tạo
thành phong thái, chẳng biết người
kế tục hưng khởi chuyện này sẽ
được mấy cái ao?
Thượng Phương khổ vì chật
hẹp, chỉ có thể làm ao; ngoài ra, chỉ
có chút rừng trúc. Loài chim có
thể ẩn náu, nương cậy trong đó.
Ở đây (am Trường Thọ) khá rộng
rãi, từ chỗ tiếp
giáp ao, mở rộng ra, nước đọng
nhiều thành chằm, đối với chỗ đất lộ ra trong vùng nước
đọng bèn đắp
cao
thành lũy, cao ngất như núi, dựa theo đó tạo thành ranh
giới, tạo thành lối đi sâu kín. Hãy nên trồng tre
hoặc cây tại đó, chúng sẽ mọc
rậm rạp thành rừng, khiến cho [loài
chim] ríu rít, [thủy tộc]
tung tăng, vui
sướng quên sầu. Tuy chưa thể bằng một phần vạn Phi Vịnh
Đ́nh[15], nhưng cứ
tưởng tượng quang cảnh ấy,
thì Thượng Phương chẳng thể
sánh bằng được!
Phía Đông của vườn
là thiền viện Hưng Phước. Xoay sang
phía Nam là Dưỡng Tế Viện. Lại
xoay sang phía Tây là Đắc Nhất đạo
viện. Dưỡng Tế xưa kia có hiệu
là Bi Điền. Thánh chúa, hiền thần do
thương xót nỗi khổ lênh đênh của dân
chúng cô quạnh, không nơi nương tựa,
bèn lập ra [viện ấy]. Nay thì loài
vật khốn đốn vì cung tên hay mồi câu,
rũ rượi nơi đao, thớt, ắt chẳng thể
trốn tránh, đành đợi bị
nấu nướng, không nơi kêu cầu càng
quá đáng. Mua lấy [những con vật ấy]
đặt vào ao nuôi, thả trong rừng,
ngõ hầu chúng được trọn hết
mạng tàn, lòng bi còn chi hơn
được nữa? Đức Phật
dạy tam phước, có nói “từ tâm
chẳng giết”, nhưng trong ngũ
phước thuộc cửu trù[16]
của Cơ Tử, Thọ cũng là điều
quan trọng nhất. Gần bị giết mà lại
được tròn tuổi thọ,
phước nào hơn được
nữa? Đức lớn trong trời
đất là sanh, đức của vua Thuấn
là hiếu sanh, đức là một mà thôi!
Trên trong lành, dưới yên ổn, vua chúa
sở dĩ có thể phối ứng dài
lâu trong vòng trời đất là do giữ
vững thọ mạng của muôn vật, luôn thuận
theo đạo ấy mà đạt được,
còn chi hơn được nữa? Dấu
tích lớn lao của ba vị thánh nhân Nho,
Đạo, Thích như thế chân vạc ở ba
phương, giống như giáp vòng bao lấy,
vườn nằm gọn trong đó. Nơi
ở của người có lòng nhân
thuộc Khúc Phụ[17],
cái thất từ bi của xứ Ma Kiệt
Đà (Maghada), nhà thiêng của Tây Hoa,
Trường Sanh, Bảo Chân[18]
do trời ứng hợp mà ngầm gần
nhau, há có phải là chuyện ngẫu nhiên
ư?
Cứu sanh vật sắp bị
diệt bèn là có sanh, cầu cho chúng
được sống mà chưa từng sanh
nên là vô sanh. Sau khi đã vô sanh thì vô bất
sanh, tức là sanh và diệt là một. Sanh
và diệt là một thì phước
hưng khởi mà vô tướng, lòng bi cứu
tế vô duyên. Phước chẳng thể
được, bi chẳng thể
được, một cũng chẳng thể
được, chỉ có pháp tánh thường
trụ, chẳng đoạn, chẳng tiếp
nối, giống như hư không. Kinh Phạm Vơng coi
phóng sanh là pháp thường trụ, mà
“thường trụ” là kim cang thân vô lượng thọ.
Vườn nơi am có tên là Trường
Thọ, trong vườn có mấy căn nhà
tranh bỏ hoang, bèn sửa chữa để
thờ tượng Tiếp Dẫn Đạo
Sư và Đương Lai Từ Thị, hòng
đặt ra chốn cầu bến để
trước là hết thảy hàm linh đă được phóng sanh sẽ đều sanh về
An Dưỡng, dứt nỗi khổ luân hồi.
Sau là sẽ được thọ ký trong
hội Long Hoa. Số lều tranh chỉ giữ như
thế, chẳng tăng thêm, phần nhiều chọn
vị tăng có giới hạnh thanh tịnh trông coi.
Phương cách trông nom như đã nói trong
bài ký chùa Thượng Phương. Khi
đó, bậc phụ lão trong làng nghe lời tôi
nói, tiến đến nắm tay tôi, xót xa than
thở: “Chúng tôi chẳng biết cội
nguồn của vườn, chúng tôi còn kịp
được thấy hai vị thiền nhân sống
tại đó. Xưa kia là chốn già-lam, nhưng rồi biến
thành vườn rau, không cách nào trở
lại như xưa, chúng tôi nào mong
được thấy quang cảnh như hiện thời?” Trong chuyện
này, người khởi xướng là
tôi và ông Tống Hóa Khanh, nhưng do các vị
thượng thiện nhân vui vẻ giúp sức
mà được hoàn thành lợi
lạc tốt đẹp như thế, bèn viết
vào văn bia như vậy đó.
Ghi vào ngày Phật
Đản năm Canh Tý, tức năm Vạn
Lịch 28 (1600).
* Bài kư về ao phóng sanh của ông Trầm
Định Phàm tại Gia Thiện
Tôi đă đào hai ao
phóng sanh nơi quận thành, chưa có người nối
bước, nhưng các vị thượng thiện nhân tại
Diêm Quan, Tú Thủy, Hồ Châu, Tùng Châu, Tô Châu, Thường Châu đă theo bước, ứng tiếng làm theo khá đông.
Nay ông Trầm Dự Xương tại Gia Thiện tới
bảo tôi rằng:
- Nhà của
Xương tích thiện, phụng sự Tam Bảo từ
đời Tống tới Nguyên, có một trăm lẻ
năm vị phủ quân[19]
chuộng bố thí, buổi sáng tới ngă tư đường, [bố thí] người
lạnh có áo mặc, người đói có cái ăn, luôn lấy
đó làm chuyện thường chẳng biết mệt. Kế
đó, có cụ Nam Tông bỏ
tục xuất gia, kết lều tranh gần hồ, cảm
đất bằng sanh hoa sen, bèn đặt tên am là Tịnh
Liên. Am tới nay vẫn c̣n, tức là chỗ để một
trăm lẻ năm vị phủ quân hành bố thí. Tiên tỷ[20]
là Lục Nhụ Nhân tu hạnh Tịnh Độ, cũng
chuộng bố thí. Xương kế thừa tổ đức,
vâng theo khuôn phép của mẹ, chỉ dốc sức làm
lành. Vào ngày Trường Chí[21]
năm Nhâm Dần, [ông] thỉnh các kinh như Lăng Nghiêm, chở đầy thuyền
quay về. Qua Lô Châu, vừa đi vừa tụng. Châu ấy bốn
mặt đều là nước, là chỗ giao tiếp của
đăng, đó. Khi ấy, các ngư dân đă dựng
đăng giáp ṿng, mong cắt ngang ḍng chảy để bắt
trọn. Nửa đêm, kẻ giữ đăng thấy
quang minh đỏ dấy lên từ trong đăng, tới
sáng kéo lưới, một cái vảy cá cũng chẳng bắt
được. Bởi lẽ, cá nghe kinh văn đă chết
hết. Anh em của kẻ ngu tôi thấy chuyện thần
dị ấy; do vậy, khắp quanh châu là ao phóng sanh, dựng
am trong đó. Chủ am thỉnh vị tăng có giới hạnh
[trụ tại đó]. Đổng Thái Sử viết biển
ngạch là Thủy Nguyệt Thiền Cư.
Tôi nghe lời ấy, nghĩ bạn cùng
chí hướng chưa có được ở nơi gần mà tại nơi xa đă có
trước, đă xa lại càng xa hơn, công đức vô
lượng. Do vậy, viết bài kư.
* Bài kư về chuyện Hương Quang
Thất cung kính an vị thánh tượng
Di Đà
Vân Thê thờ một
bức tượng đứng Di Đà tiếp dẫn
chúng sanh. Cư sĩ Bổn Như thấy tượng ấy
đoan chánh, trang nghiêm, đẹp đẽ, căn dặn
tôi sai thợ khắc một bức giống hệt như thế.
Tượng vừa khắc xong, con trai thứ của ông ta từ
Đồng Thành đến nghênh thỉnh. Tôi cho rằng lớp
sơn và thiếp vàng chưa chắc chắn, khiêng lên thuyền
lo sẽ bị tổn hoại. Do vậy, đổi tượng
đang thờ của chùa đem đi, c̣n tượng mới
giữ lại trong núi. Con trai thứ của ông ta nâng tượng đến
Bắc Quan, tính mua thuyền; nhà thuyền đêm mộng thấy
một vị trượng phu kim sắc xin chở đi, tỉnh
giấc, cho rằng người cần đến thuyền
ắt là một vị đại quư nhân. Ai đến hỏi
[thuê thuyền] cũng đều bị từ chối,
ngay cả con ông Bổn
Như cũng bị từ chối. Khi đă biết ông có
thánh tượng, lại hỏi kỹ biết là tượng
đứng, bèn hết sức mừng rỡ, bảo là phù
hợp với giấc mộng. Tới Kinh Khẩu (nay là Trấn
Giang, tỉnh Giang Tô), khi sắp đổi thuyền
để vào Trường
Giang, nhà thuyền [ở đó] lại mộng thấy giống
như trước. Chẳng mấy chốc, tượng về
đến nhà, kính thờ trong Hương Quang Thất. Ông
đang lo không có vị tăng hiền đức trông nom,
khéo sao vị tăng Đại Hải vừa đến
đó. Cố nhiên, Đại Hải nghiêm tịnh Tỳ
Ni, chân không bước khỏi ngạch cửa. Sư sống tại
đó bảy năm, biết trước lúc mất, mời
cư sĩ đến từ biệt, ngồi qua đời
vào ngày mồng Một tháng Bảy. V́ thế, xa gần
người được cảm hóa rất đông.
Sư Đại Hải đă mất, [Bổn Như] lại
lo chẳng có người kế tục, lại có sư Huệ
Quang. Huệ Quang hiền đức như Đại Hải
vậy.
Ôi! Cảm mộng người chèo thuyền,
lạ thay! Nhập mộng liên tiếp, càng chẳng lạ
lắm thay? Thoạt đầu có được Đại
Hải, khó lắm! Tiếp đó, có được Huệ
Quang, chẳng càng khó có hơn ư? Đều có đủ
cả, đạt được điều chưa từng
có! Do vậy, cảm
được oai thần của Phật Di Đà, nhưng sở dĩ cảm vời oai
thần của Phật
Di Đà là ḷng tinh thành của cư sĩ. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Ức
Phật, niệm Phật, hiện tiền đương
lai, tất định kiến Phật” (Nhớ Phật,
niệm Phật, hiện tiền, tương lai, nhất
định thấy Phật). Lại nói: “Như nhiễm
hương nhân, thân hữu hương khí, thử tắc
danh viết Hương Quang Trang Nghiêm” (Như người
nhuốm hương, thân có mùi thơm. Đó gọi là
Hương Quang Trang Nghiêm). Nay có thể nói là “thấy Phật
chẳng đợi tới tương lai”, mà
Hương Quang đă thành trang nghiêm rồi! Do vậy, tôi gom góp những
chuyện trước sau để ghi thành bài kư.
* Bài kư về ác báo do trái nghịch lời
thề
Giáo pháp Du Già sau thời
Kim Cang Trí và Bất Không chẳng được lưu truyền;
được lưu thông trong đời Mạt chỉ có
một pháp Thí Thực, nhưng thực hành lâu ngày, thói tệ
nẩy sanh, đánh mất bổn ư thời cổ. V́ vậy,
tôi giảo chánh. Tỳ-kheo X… đến theo học với
tôi, tôi nói: “Ông theo học th́ nên tự thề ba điều:
Chẳng thay đổi sư thừa, chẳng nhận cúng
dường, chẳng lui sụt tâm đại cung kính. V́ lẽ
nào vậy? Tam nghiệp tương ứng, nên gọi là Du
Già. Nay văn tự thừa thăi xen tạp, giống như
ca hát, mồm mép tép nhảy, khác nào hát tuồng. Bịa ra ba
mươi lăm ấn, tra cứu phát xuất từ kinh
nào? Đại để chỉ chú trọng khiến cho
người khác vui sướng, chẳng biết trái nghịch
đạo! Đối với mật ư của chân ngôn, huyền
cơ nơi chữ chủng tử, vận tâm tác quán, trọn
chẳng suy xét. Tương ứng ở chỗ nào? Hăy cẩn
thận nhé!” Ông ta vâng dạ, đứng dậy hướng
về Tam Bảo lập lời thề.
Chẳng bao lâu, ông ta luôn làm trái ngược, tùy tiện
triệu thỉnh, chẳng nề hà ngày đêm, đi ngồi
kết ấn, nói cười xen tạp! Một tối,
[ông ta] bỗng hôn mê, chẳng biết ai nữa, ngày càng nặng
hơn, bèn chẳng thể nói, kêu líu lo như chim chóc, tự
cắn nát ngón tay mà ăn. Hễ thấy
đồ ăn bèn chạy vội đến đoạt lấy,
nuốt liên tiếp như ngạ quỷ. Người bên cạnh
trông thấy đều tuôn nước mắt, nhưng ông
ta vẫn tỉnh rụi. Được một tháng th́ mất.
Ông X… trái nghịch cái tâm ban sơ, ba lượt thề, ba
lượt phạm, quả báo trong hiện thời há có phải
là nói suông ư? Do vậy, tôi ghi lại để cảnh tỉnh
người mai sau!
* Bài kư về di hạnh của cha mẹ
đă khuất (có lời tựa)
Khi bất hiếu hai
mươi bảy tuổi, tiên phủ quân ĺa bỏ, con trai tôi là Tổ Thực
chết sớm, vợ tôi là Trương Thị
cũng mất, nên tôi tục huyền với Thang Thị.
Thế rồi tiên tỷ là Châu Nhụ Nhân cũng bỏ
tôi, bất hiếu bèn xuất gia. Khi đó, ba mươi
hai tuổi. Nay tính ra đă bảy mươi ba tuổi, tức
là đă xuất gia bốn mươi năm rồi. Hai em
trai đều mất. Hỏi các cháu về chuyện của
tiên phủ quân, họ đều thưa: “Chẳng biết!”
Hỏi: “Mộ chí và bài minh c̣n không?” Đều thưa:
“Chưa thấy!” Bởi tiên
phủ quân tuổi già
mới có con, bất hiếu xuất gia, hai em trai lại sớm ĺa đời.
Bất hiếu tự nghĩ thân tuy xuất gia, nhưng
đức đẹp, khuôn phép thơm thảo của song
thân há chẳng nên khiến cho con cháu biết đến
ư? Do vậy, ghi lại như sau:
Kư rằng: Tiên phủ
quân họ Trầm, húy là Đức Giám, tự là Dụng
Chiêu, biệt hiệu là Minh Trai. [Gia tộc] nhiều đời
là người ở Nhân Ḥa, quê ở Tân Đường
ngoài cửa Khánh Xuân. Trong niên hiệu Vĩnh Lạc, dời
vào thành, dựng nhà tại làng Trung Thanh thuộc vùng B́nh An. Cao tổ
(ông sơ) là cụ X…
Cao tổ mẫu họ Từ. Tằng tổ (ông cố) là Y… tằng tổ
mẫu họ Vương. Ông nội tên là Lâm, bà nội
là Châu Thị. Cha [của tiên phủ quân] tên là Trí, do có đức
cao nên được ban mũ và đai; đấy là Tùng
Hiên Ông, mẹ [của tiên phủ quân] là Kim Thị. Tùng Hiên
Ông có hai người con, trưởng là Nguyệt Nham Công,
thứ là tiên phủ quân, một người con gái gả
cho Úc Hữu Mai Công. Bất hiếu sanh muộn, chẳng kịp
thấy mặt Tùng Hiên Ông, chỉ gặp mặt Kim Nhụ
Nhân; nhưng tôi
nghe tiên phủ quân nói Tùng Hiên Ông đúng là người dân thời
Vô Hoài, Cát Thiên. Có kẻ trộm giữa ban ngày vào nhà, cởi
áo để bọc đồ trộm được. Tùng
Hiên Ông vừa bước ra, kẻ trộm bỏ áo chạy trốn. Tùng Hiên Ông đuổi theo, gọi lại,
trả áo cho hắn, bảo: “Ta chẳng nỡ ḷng để
ngươi không
được ǵ mà ngược lại c̣n bị mất”. Kẻ khác
cười cợt, cho ông là si dại. Những chuyện
thuần hậu, rộng lượng của cụ đại
để như vậy đó.
Tùng Hiên Ông mất, tiên phủ quân và Nguyệt
Nham Công buôn bán tại kinh đô. Chẳng lâu sau, nhà bị hỏa
hoạn. Khi đó, cháy lan nơi hai cầu Diêm và Thái trên
dưới hơn một ngàn nhà. Vật dụng trong nhà họ
Trầm cháy sạch, chẳng c̣n sót ǵ, chỉ c̣n lại cái
nền. Tiên phủ quân dốc cạn vốn liếng dựng
một ngôi nhà mới, xây tường vây quanh, cửa
đá, kiên cố, kín kẽ để ngừa hỏa hoạn.
Xây dựng hoàn tất, để trống ṭa lầu chính
để phụng
dưỡng Kim Nhụ Nhân, c̣n Nguyệt Nham Công và Tam Châu Công, anh em
trai, chị em gái tự ở trong các pḥng bên cạnh; [sau đó], ba anh em bất
hiếu mới sanh vào nhà tiên phủ quân. Cụ bẩm tánh
hiếu thảo, ḥa thuận, không chỉ dốc cạn sức
lực phụng sự cha mẹ, mà c̣n phụng sự anh
như cha, phụng sự chị dâu như mẹ, đối
xử với cháu nồng hậu như con ruột, cùng ở
với Nguyệt Nham Công, cho tới thuở bạc đầu
chẳng hề có lời lẽ xích mích, sớm tối trọn
hết ngọt bùi. Tam Châu Công[22]
an tâm học hành, đỗ Tiến Sĩ, mang gia thuộc
đi làm quan ở miền Bắc. Tiên phủ quân buôn bán gạo,
muối, rượu, thịt khô v.v… theo đúng dịp mà nhập hàng, chuyên chở
một mực cẩn trọng.
Về sau, anh em của bất hiếu dần
dần khôn lớn, chỗ ở chật hẹp chẳng thể
chứa hết
được, bèn ra riêng, mua nhà ở phía Tây cầu Thái Thị,
cách nhà tổ mấy trăm bước. Khi đó, bất
hiếu mười bảy tuổi. Tiên phủ quân tuy chẳng
làm quan, nhưng nghe rộng, nhớ dai, giỏi viết lối
chân thư (khải
thư) và thảo thư, kèm thêm biết
Âm Dương, y thuật, bói toán, các thuật mọn, không
ǵ chẳng thông hiểu. Cụ thường dùng những
câu cách ngôn trong ngạn ngữ để giáo huấn khi bất
hiếu c̣n thơ dại. Như răn dạy về tự
măn, cụ nói: “Học đáo lăo, bất hội đáo
lăo” (học đến già, chẳng bao giờ cảm thấy
ḿnh đă già [để khỏi học]). Đề cao sự
khoan dung, đại lượng, cụ nói: “Nhẫn nan
nhẫn sự, thứ bất minh nhân” (Nhẫn chuyện
khó nhẫn, dung thứ người chẳng hiểu biết).
Dạy về sự thâu liễm, cụ nói: “Đới
nhất quan tự giả, thận bất vi” ([chuyện
ǵ] dính dáng đến một chữ Quan th́ cẩn thận
đừng làm), tức là nhận tiền của quan, dệt
the, lụa cho quan, bảo chứng cho người khác
nơi quan phủ, cho đến vào làm việc cho quan phủ,
làm thư lại, giao kết với người làm quan, nhận
lời phó thác làm việc cho quan v.v... Bất hiếu tin nhận,
vâng hành, cho đến hiện thời, biết chính ḿnh có chỗ vẫn
chưa trọn, tận lực thực hiện ḷng từ
và nhẫn, chẳng dám thân cận vua chúa, quan lại. Tuy
đó là chế định của đức Phật,
nhưng cũng là giáo huấn trong gia đ́nh. Sống trong
nhà từ bé tới già, chỉ cung kính, khiêm tốn, chưa
từng tranh căi với ai một lời nào, hoặc dấy
lên kiện tụng. Đầy tớ hung hăn đánh nhau, [bị kẻ khác đánh] gần chết,
có kẻ
khuyên cụ khiêng [nạn nhân] tới nhà kẻ đó, bắt
hắn chịu trách nhiệm. Cụ chẳng đồng ư,
bảo: “Một động chẳng bằng một
tĩnh, dẫu chết cũng là do số mạng”. Bác gái [của
cha tôi] là Vương Thị, chị dâu là Tiêu Thị đều
ở góa, bà
Vương không có con, bà Tiêu có con, nhưng hết sức
nghèo túng, cụ đều đón về, sống nuôi, chết
chôn đúng như lễ. Tam Châu Công có em trai tên là Ḥa Thúc, có t́nh nghĩa hết sức
sâu đậm với bất hiếu. Nguyệt Nham Công theo
[Tam Châu Công] phó nhậm, Ḥa Thúc trơ trọi, bị bệnh
lao, sống ở nhà cũ, tiên phủ quân ngày đêm
bươn bả, trăm cách trị liệu, rốt cuộc
chẳng chữa khỏi, cụ buồn thương khôn
cùng.
Suốt đời, cụ dạy bất
hiếu học tập hết sức ân cần, nhưng tiến
thủ, thành, bại, mặc cho bất hiếu tự lo liệu,
cụ chẳng lo lót, chẳng gởi gắm kẻ sang quư,
chẳng biếu xén nơi cửa ngơ kẻ có chức
trách. Bất hiếu c̣n nhớ lúc mười sáu tuổi,
phát phẫn đọc sách tại điền xá ở Hoàng
Nê Phản, tiên phủ quân cảm thấy tôi siêng khổ, gởi
thư đến bảo: “Công danh phú quư cũng có mạng
trời, đừng nên cố chấp quá!” Bất hiếu
nâng thư đọc, ứa lệ, trả lời thư rằng:
“Con mang hành lư đi xa, quả thật muôn phần chẳng
bằng người khác, c̣n như chuyện dốc sức
tinh thông văn chương trọn chẳng khốn khó,
mong đại nhân đừng lo”. Than ôi! Lời ấy vẫn
như văng vẳng bên tai! Tam Châu Công đă quư hiển,
thưa với tiên phủ quân, muốn xin theo lệ ân phong
ban quan chức [cho tiên phủ
quân] giống như Tùng
Hiên Ông, cụ kiên quyết chối từ: “Ta tuổi tác lẫn
đức hạnh đều chẳng hơn được
người trong làng. Do vậy, suốt đời áo vải!”
Tiên tỷ Châu Nhụ Nhân và tiên phủ
quân sanh cùng năm, cùng tháng. Tiên phủ quân sanh ngày Mười
Bốn tháng Bảy, tiên tỷ sanh ngày Mười Bảy.
Khi mất, tiên phủ quân hưởng thọ bảy
mươi mốt năm, nhằm năm Tân Dậu (1561) thời
Gia Tĩnh. Tiên tỷ mất
lúc bảy mươi lăm tuổi, cách nhau khoảng bốn
năm, nhưng cùng mất vào ngày Hai Mươi Mốt tháng
Sáu, cũng là chuyện lạ. Tiên tỷ tánh mềm mỏng,
chất phác, thật thà, giúp đỡ tiên phủ quân, tùy
thuận chẳng hai, phụng sự Nghê Cung Nhân[23]
như thờ mẹ chồng. Bà Nghê tánh cương trực,
có chuyện ǵ chẳng vừa ư, lộ ngay ra vẻ mặt
và lời nói, tiên tỷ vẫn vui vẻ vâng theo. Do vậy,
chị em dâu trở thành yêu thương nhau hết mực,
tới khi mất, thân thiết như chị em ruột.
Nghê Cung Nhân có con thơ, chẳng thể nuôi xuể, Tam Châu
Công được nuôi bởi tiên tỷ. Khi Tam Châu Công
nhược quan (hai
mươi tuổi), bất hiếu c̣n thơ,
chải gỡ đều do Nghê Cung Nhân chăm sóc, đại
để là nuôi nấng con cho lẫn nhau. [Tiên tỷ] phụng
sự bá tỷ[24]
Vương Thị, ban ngày [bà Vương] không uống
rượu, chỉ có lúc sắp ngủ, ôm mền ngồi
trên giường. Tiên tỷ dâng một ly rượu to, cụ
uống xong bèn vui sướng nằm ngủ, lấy đó
làm lệ thường. Nếu [tiên tỷ] bận việc
nhà, hơi chậm trễ, cụ bèn nhỏ tiếng gọi
“nhị nương tử!”, tiên tỷ vội dâng chén
rượu. Cụ lộ vẻ vui mừng, nói: “Ta sao có thể
báo đáp nhị nương tử”. Như thế đó,
ba mươi sáu năm như một ngày. Những điều
khác cũng có thể suy ra mà biết.
Tiên tỷ b́nh nhật áo xoàng, cơm thừa,
áo tốt để lâu hư nát trong tráp, đồ ăn
ngon dâng lên bố mẹ chồng và dành cho các con, chứ
chính ḿnh chưa từng ăn. Đầy tớ nấu
nướng, giặt giũ, phục dịch xung quanh, cụ đều không ngớt
cám ơn họ. Bất hiếu hầu bên trướng
mẹ, từ lúc bắt
đầu hiểu chuyện cho tới khi cụ mất,
suốt hai mươi năm, chưa từng nghe tiếng mẹ
chửi mắng kẻ hầu. Khi cụ bảy mươi
hai tuổi, bị bệnh. Bất hiếu khuyên cụ niệm
Phật, thoạt đầu cụ thoái thác chẳng thể,
về sau, vào trong Phật đường, cụ mừng rỡ,
tán thán. Do vậy, lớn tiếng niệm Phật không ngừng.
Bệnh lâu ngày, cụ mơ màng như bị mê đi, chẳng
bị đau đớn, hằng ngày đứng, ngồi, ăn uống
chẳng ngưng. Bỗng một
bữa sáng, cụ buông th́a, đũa, rũ tay chẳng
nói, vội xốc nách đưa cụ vào giường.
Đổ thuốc vào miệng, cụ chẳng nuốt, cát
tường qua đời. Bèn mở mộ của tiên phủ
quân, hợp táng bên cạnh Tùng Hiên Ông tại Tiên Chi Lănh.
Trước kia, tiên phủ quân có nhiều
con trai, nhưng không nuôi lớn được, chỉ c̣n
ba anh em của bất hiếu: Con đầu là bất hiếu,
em kế là Tùng, em cuối là Lan. Hai em đều do mẹ kế
sanh ra. Hai người con gái: Con gái đầu lấy Hứa
Mạnh Trinh do bà Châu đẻ ra. Em kế lấy Tôn
Văn Học Bội, do bà Tôn đẻ ra. Bất hiếu
lấy vợ đầu họ Trương, vợ kế
họ Thang. Tùng lấy vợ đầu họ Cảnh, vợ
kế họ Trương. Lan lấy vợ đầu họ
Dương, vợ kế họ Chung. Bất hiếu một
con trai, tức Tổ Thực, do bà Trương sanh ra. Tùng
hiếu thảo, ḥa thuận, bẩm tánh tốt lành,
cũng mất sớm, không có con. Lan đậu Hương
Tiến (tức khoa thi Hương) năm Kỷ Măo (1579),
chưa ra làm quan đă chết, có năm đứa con trai,
tức là Tổ Mô, Thế Giai, Văn Bân, Lương Đống,
và Lương Xu. Cháu trai bốn đứa là Đại Thụ,
Đại Ỷ (là con của Văn Bân), Quư (con của
Lương Đống), Hoán (con của Lương Xu). Vợ bất
hiếu là Thang Thị. Lúc mười chín tuổi giữ
chí, nay đă sáu mươi, cũng xuống tóc làm ni
tăng, không con. Đại để là chắt trai hiện
thời chỉ có bốn người mà thôi. Kinh Dịch
chép: “Tích thiện dư khánh” (chất chứa điều
thiện th́ điều tốt lành có thừa), theo Lư ấy, có lẽ hậu
đại sẽ c̣n kéo dài! Bất hiếu xuất
gia đă lâu, già suy, nằm bệnh, phủ phục trên gối
bảo
người hầu viết lại, rất nhiều
chuyện cũ
đă quên bẵng, đây chỉ là nói đại lược
đó thôi!
Ngày Rằm đầu Đông năm Vạn
Lịch 35 (1607), tức năm Đinh Mùi, Châu Hoằng nói:
“Tôi sanh muộn, từ tằng tổ (ông cố) trở lên
không thể khảo chứng. Đối với tổ phụ
th́ biết rành, khiến cho
con cháu nhiều đời vâng giữ. Nghèo cũng thế
mà hèn cũng thế, cốt sao chẳng thẹn thụt lùi
sau người khác, khiến cho người trong làng mong
được [thành tựu phẩm hạnh] như vậy,
không ḍm ngó, chê bai là được rồi! Chẳng vướng
vào luật lệnh quan phủ là được rồi, nhờ đó cả nhà
đều là thiện nhân.
Tôi vâng giữ
giới chẳng vọng ngữ, b́nh sanh lại hổ thẹn, chẳng dua
nịnh, bợ đỡ,
huống hồ dám miệt thị
bậc tôn trưởng ư? Những điều
ghi chép trần thuật chân thật chẳng dối, người
đời sau hăy [nh́n vào
đó mà] gắng lên!”
* Phụ lục
* Bài văn tự thương ḿnh bất
hiếu
Khi rảnh rỗi ngoài buổi tọa
Thiền, ngẫu nhiên đọc Lỗ Luận (sách Luận
Ngữ) tới đoạn “phụ mẫu chi niên bất
khả bất tri dă, nhất tắc dĩ hỷ, nhất tắc
dĩ cụ” (chẳng thể không biết tuổi tác của
cha mẹ, một mặt là vui mừng, một mặt là lo
sợ)[25], bất giác hết
sức hổ thẹn, lại c̣n kinh hăi mồ hôi
đẫm lưng. Nhớ lại lúc hai vị song thân tuổi
đă sáu mươi, kẻ chẳng ra ǵ này mờ mịt
chẳng có ḷng mừng, ḷng sợ! Thoáng chốc [hai cụ đă] bảy
mươi, có hỷ tâm, nhưng chẳng có tâm e sợ, liền
suốt ba ngày đêm chẳng ngủ. Tự nghĩ chính ḿnh suốt đời
chẳng phải là kẻ bất hiếu, lời ấy của
phu tử lại chẳng phải là lời nói về hạnh
rất cao, khó thực hiện, sao lại đến nỗi
ấy! Suy đi nghĩ lại, bèn hiểu được
lời ấy. Bởi lẽ, song thân đều đă bốn
mươi lăm tuổi mới sanh kẻ chẳng ra ǵ
này, những đứa con sanh trước đó đều
chẳng nuôi được, [cha mẹ] dồn hết t́nh
yêu thương tột bậc vào kẻ chẳng ra ǵ này chẳng
c̣n phải bàn nữa! Trước khi năm, sáu tuổi, suốt
ngày mê ăn, mê
chơi, chẳng biết thế nào là hiếu. Bảy tuổi
vào tiểu học, hằng ngày chuyên chú nơi mấy ḍng mực,
liễn đối, tuy học sách, chẳng biết ǵ là hiếu. Chín tuổi dần
dần thông hiểu kinh nghĩa, tuy đă biết hiếu
mà chẳng biết v́ sao phải hiếu. Mười bảy
tuổi dự vào hàng chư sanh, hằng ngày chú trọng
khoa cử, sáng chiều chăm chú nơi “hiếu, đễ,
trung, tín”, đối với văn từ không ǵ chẳng biện
định, phân tích, tuy biết
v́ sao phải hành hiếu, nhưng chẳng thể hành. Hai
mươi bảy tuổi, tiên phụ ĺa đời.
Nhưng từ thuở c̣n thơ bé, bất hiếu đă tự
ước
hẹn: Đến tuổi trưởng thành mà chẳng đậu
kỳ thi Hương, tuổi bất hoặc (bốn
mươi) chẳng đỗ kỳ thi Hội, sẽ chỉ
an vui nơi rừng núi đó thôi! Do vậy, cái tâm mong làm
quan nhanh chóng nhẹ bớt, tận lực hành hiếu
đạo. Đọc sách bên màn của cha mẹ, đặt
bút dưới đầu gối, lấy ba năm làm kỳ
hạn, hễ thỏa nguyện (đỗ đạt làm
quan) th́ dùng bổng lộc để phụng dưỡng,
chẳng thỏa th́ xét theo nguyện trước (nguyện quy ẩn trong rừng
núi). Ba mươi tuổi, rốt cuộc chẳng thành
danh. Năm sau, tang mẹ; do vậy, quyết chí xuống tóc, bèn
biết suốt hai mươi năm lao tâm khổ tứ,
chỉ quanh quẩn lấy chuyện [áo bào] xanh hay tía (làm
quan) để cha mẹ vinh quư là hiếu, chứ chẳng
biết, chẳng hành chân hiếu. Dẫu hành chẳng dốc
sức, vừa mới tận lực hành th́ chẳng kịp
nữa!
Con người sống trong thế gian
đại lược giống như thế đó. Có kẻ
đỗ đạt làm quan, lại hằng ngày dốc sức
nơi chức quan, cho tới khi tháo đai ấn, quy điền
(về hưu), mối hận “cây muốn lặng mà gió chẳng
ngừng” cũng đại
lược giống như kẻ chẳng ra ǵ này! Há chẳng
quá đáng buồn ư? V́ thế, kẻ chẳng ra ǵ này
nào dám đem bản thân nêu gương cho người có
ḷng nhân, con hiếu cho thiên hạ! Chỉ đành v́ vậy
mà tự trách, khiến cho người đọc đến
rúng động trong tâm, sẽ kịp thời hành hiếu,
chẳng để lại hối hận về sau! Cái tâm
chân thành khẩn thiết khổ sở của kẻ chẳng
ra ǵ này chỉ có trời
đất, thần minh soi xét! Chỉ có phu tử ở trên trời
soi thấu mà thôi!
* Bài minh nơi mộ chí của
Trương nội nhân
Thạc nhân[26]
họ Trương, người xứ Nhân Ḥa. Ông cố là
Tín, ông nội là Trấn, cha là Phong Tuyền Công
[Trương] Văn Tán. Họ Trương là nhà lâu đời
trong ấp, nhiều đời có đức hạnh tinh
thuần. Phong Tuyền Công đơn giản, thẳng thắn,
chất phác, hồn hậu, do có phẩm đức của
cổ nhân nên
được xóm làng coi trọng. Thạc nhân là con
gái thứ ba của cụ. Từ bé, bà dĩnh ngộ, khác lạ, chẳng cười
đùa bừa băi. Lúc mười bốn tuổi, đau buồn
v́ chịu tang mẹ, ngày đêm khóc lóc, chua xót cùng cực,
người nghe chuyện đều thương xót. Bà
đứng ra thay mẹ trông nom mọi việc trong nhà, sắp
xếp mọi việc như người đă trưởng
thành, trong ngoài ngăn nắp. Do vậy, Phong Tuyền Công
đặc biệt dốc ḷng yêu thương, bảo:
“Đứa con gái này đức tánh, tài năng đều
chẳng tầm thường, ta ắt gả nó cho bậc
tuấn kiệt”. Mười chín tuổi, bà về với
cư sĩ Liên Tŕ. Sau năm năm, sanh được một
con là Tổ Thực, bị
chết yểu. Năm năm sau, bà bị bệnh mất.
Bà phụng sự cư sĩ cả mười năm,
cư sĩ nhớ lại chuyện trong suốt mười
năm ấy rành rành như một giấc mộng! Nh́n lại
mọi chuyện trong mộng, phần lớn đắc lực
bởi thạc nhân. Nay tuy đă chuông khua canh tàn, mộng cảnh
c̣n trọn đó, sao chẳng trần thuật ư?
Nghĩ cư sĩ lúc trẻ hẹp ḥi, cố chấp, khá buông lung vô
minh; thạc nhân khéo chu toàn, khéo có thể xứng ư cư
sĩ, cũng lại nh́n vẻ mặt cư sĩ, đúng
lúc nhắc nhở, có công khéo uốn nắn. Cư sĩ vốn
lười nhác, bỏ mặc thế sự chẳng nh́n tới,
thạc nhân đích thân gánh vác mệt nhọc, không để
trăm chuyện lớn nhỏ nào khiến cư sĩ phải
bận tâm. Cư sĩ bèn được tứ đại
nhẹ nhàng, an vui, cùng môn sanh, bạn cũ ngồi yên
đàm luận lẽ thanh cao, tham học, cầu thỉnh
huân tu, tùy tâm tự tại, chẳng biết đến nỗi
lo cho gia đ́nh trong nhân gian. Cư sĩ thường ngày lễ
Phật, thạc nhân đích thân may tràng phan, bỏ tư
trang để sắm vật cúng dường, chẳng tiếc
nuối. Cư sĩ vốn ăn chay, thạc nhân mỗi bữa
ăn ắt lưu tâm nơi món chay, chẳng bận tâm
chính ḿnh ăn ǵ! Cư sĩ thường nhật chuộng
mua sắm nội điển, hễ có người cầm [kinh Phật] tới, chẳng
chờ cư sĩ biết, bà đă mua lấy, dâng lên, bảo:
“Tôi biết ông coi trọng thứ này”. Than ôi! Cư sĩ chẳng
thể thiếu thạc nhân được!
C̣n như gặp lúc thiếu tiền chi
tiêu, bà tháo trâm, bông tai, cởi áo, chẳng lộ chút [buồn
phiền] nào nơi sắc mặt. Thu chi thiếu đủ,
bà tự lo toan, chưa từng mảy may buộc cư sĩ phải bận
tâm cầu cạnh mẹ, càng là người khó có.
Điều đáng tiếc nuối là cư sĩ muốn
vong t́nh thuận nghịch, thấy thấu suốt các huyễn,
hành hạnh nhẫn nhục, nhưng đối với xấu,
tốt, trắng, đen, thạc nhân cứ dựa theo lư mà
chiết trung, chẳng thể không có lúc [cư sĩ] nẩy sanh bất
b́nh [với bà]! Cư sĩ muốn siêng hành từ nhẫn,
xóa bỏ các quy củ
trói buộc, nhưng thạc nhân gia pháp nghiêm minh, hiếm có khi nào chịu dễ dăi. Do vậy, bà lộ vẻ khoan dung và nghiêm ngặt đối lập, người
khác phần nhiều oán trách. Cư sĩ thường bất măn, nay mới biết bà gánh nỗi
oán cho cư sĩ, oán quy về ḿnh, ân quy về cư
sĩ. Tuy thạc nhân đạo nhăn chưa sáng tỏ, có thể
nói là bậc hiền thê trong nhà! Thoạt đầu, cư
sĩ quy mạng đấng Giác Vương, thạc nhân
hăy c̣n, bà nghi lẫn tin lâu ngày, [về sau] phát nguyện thí kinh, lại
phát nguyện lễ Đại Bi, lại phát nguyện tu tập
Đại Bi Phổ Môn Phẩm. Lại c̣n phát nguyện nhẫn
nhục hành từ, thề bằng với cư sĩ. Chẳng
ngờ ôm nguyện chưa trọn mà đă đi xa rồi! Buồn
thay!
Bà vừa bị bệnh ngặt, liền
mỗi mỗi căn dặn hậu sự, phần lớn
hết sức thương
xót cư sĩ cô độc. Cư sĩ bùi ngùi nói: “Bà lầm to, lầm
to rồi!” Thạc nhân lănh ngộ, do vậy, ứa mấy hàng lệ. Từ
đó, chẳng c̣n nhắc tới nữa. Trước hôm
bà mất một ngày, không nói chi khác, chỉ căn dặn
người trông bệnh tụng
thánh hiệu Đại Bi. Khi đă quá mệt, thiêm thiếp gần
như đă chết, bỗng bà ngồi dậy, xoay cổ tay để chắp
tay, miệng tụng Đại Bi, run rẩy dường
như chẳng kiềm chế được. Bà nỗ lực
ngoảnh mặt về Tây, vừa xưng danh, vừa làm lễ.
Cư sĩ hỏi: “Có thể ngưng [làm như vậy] hay không?”
Đáp: “Tôi đă nguyện điều này, chẳng mệt
nhọc”, [tiếp
tục] lễ tụng không thôi. Trong chốc lát, mê man chẳng biết
ǵ. Tới đêm, [bà lại]
lễ tụng giống như lúc trước. Lại
nói: “Ta đă ăn chay, hăy cẩn thận đừng
đem thứ tanh tưởi tới gần ta”. Tới b́nh
minh, bà lặng lẽ qua đời. Nhất thời,
người trông thấy kinh ngạc, buồn than. Có người
từ đấy niệm [thánh hiệu] Tây Phương
không ngớt miệng. Có người từ đấy
vĩnh viễn đoạn huyết nhục.
Ôi! Thạc nhân tín tâm chẳng nhiều,
nhưng có trọn đủ thao lược như thế.
Do vậy biết “mười niệm thành công” chẳng
phải là lời hư dối vậy! Tiếc là tuổi
trời mất sớm, chẳng thể hiểu rơ đại
sự, cư sĩ thật sự đau xót. Nhưng nếu
như bà chẳng quên điều đă nguyện, chủng
tử Bát Nhă sẽ có thuở phát sanh! Huống hồ bản
thân bà mất
đi, lại có thể khiến cho người khác
hưng khởi [hướng
thiện], dẫu tôi
chết cũng yên ḷng! Thọ và yểu chỉ là nghiệp
báo trong một đoạn thời gian, sao có thể [dùng
đó để] bàn luận chuyện có người nối
dơi hay không ư? Thạc nhân sanh nhằm ngày Hai Mươi Bốn
tháng Tư năm Bính Thân (1536) đời Gia Tĩnh, kém
cư sĩ một tuổi đă là chuyện lạ. Ngày mất
là ngày mồng Sáu tháng Tư năm Quư Hợi (1563) đời
Gia Tĩnh, hưởng thọ hai mươi tám tuổi.
Nay sẽ chọn ngày… tháng… năm… để chôn nơi đất trống ở núi… Do vậy,
khóc lóc mà soạn bài minh. Minh rằng:
Đức Phật
Thế Tôn, chỉ quy Tịnh Độ, miệng vàng ra rả,
thật sự chẳng lầm, Ôi chao đại bi, khai nhiếp,
dẫn đường. Từ thệ rộng sâu, phổ
độ hết thảy. Xót thay thạc nhân. Trần duyên vương vấn, bỗng chốc
hồi quang, cũng đạt khá lắm. Mang thân người
nữ, làm chuyện đại nhân, [khiến cho kẻ khác] táng đảm,
kinh hồn. Một bước cuối cùng, chỉ nguyện
vương này, chớ nên ĺa bỏ. Trăm kiếp ngàn
đời, tột mé vị lai. Núi xanh vắng vẻ,
xương khô chôn vùi, áo vải xuềnh xoàng,
chẳng nhọc khoác mặc!
14.4. Sớ (đều
thuộc trong di cảo, nay bổ sung thêm)
* Thủy Lục sớ
Do kiến lập
hội Thủy Lục thù thắng, ḥng làm chuyện tế độ trọn khắp chúng sanh; Châu Hoằng
nghĩ xưa kia nương vào Phật lực, gieo thiện
căn nhỏ bé, sanh trong loài người, được
sanh trong cơi nước
có lễ nghĩa. May sao tuổi trung niên xuất tục,
nghe chánh pháp mà khoác áo thâm, vui buồn khôn ngằn, mừng lo
chen lẫn. Do phước nhẹ, nghiệp nặng, trí cạn,
Hoặc sâu, đau xót v́ hữu lậu khó trừ, than vô minh
chẳng đoạn, tứ ân chẳng báo đền, có bao giờ giúp
được [chúng sanh
trong] tam hữu? Xấu hổ xưng hai chữ “tam y”, hổ thẹn cô phụ
mười phương chư Phật. Lại c̣n nạn
đói nhiều năm liên tiếp, dịch bệnh xảy
ra khắp các thành. Bóng chiều tà trên đồng hoang, xác
người vắt
ngang trăm dặm mênh mông. Mây đen phủ nẻo
xưa, quỷ khóc rền rĩ suốt ba canh. Chưa thể
cứu giúp, thương xót than thở chẳng biết ngăn dứt thế nào!
Đă mong che chở tứ sanh, chí càng thêm khẩn thiết.
Do thương xót chính ḿnh, lại c̣n xót
thương kẻ khác, phát tâm rộng lớn vô biên, khởi
nguyện lợi ích cả âm lẫn dương. Bắt
đầu từ sáng ngày Hai Mươi tháng Chín, vừa
đúng ngày Giáp Tư nguyên thần, hoàn thành vào đêm Rằm
đầu Đông, đúng ngay dịp Hạ Nguyên Giải
Ách[27].
Huống hồ đại chúng thanh tịnh đều dốc
ḷng thành chuyên ṛng; lại c̣n
đàn na tín thí vui thích giúp sức. Dung hợp chín hội, tụng
hùng văn[28] sáu mươi vạn
chữ, trao nhận ngàn hoa, phúng tụng năm mươi
tám đại
giới [của kinh Phạm Vơng], chỉ thú bí mật trong
mười sáu diệu quán lại được phô bày;
chương sách vàng bốn mươi tám nguyện
vương lại rạng ngời. Nhanh chóng rỗng không muôn
pháp, xiển dương oai thần Kim Cang Bát Nhă. Chỉ có
Nhất Thừa, diễn công đức của Diệu Pháp
Liên Hoa. Cho tới khi đạo tràng viên măn, bèn phát khởi sám hối. Dốc cạn sức trong bảy
ngày, năm vóc tột ân cần. Trọn mười quyển
kinh văn, các tội khiên diệt sạch.
Lại nữa, trong một kỳ hạn
[pháp hội], vào lúc chiều
tối, dựa theo kinh Du Già Diệm Khẩu, thí một hộc
Ma Kiệt cam lộ[29].
Lại nguyện từ người thân cho đến kẻ
sơ, đă sơ lại càng sơ hơn, dù ân hay oán, đều
được giải thoát. Từ nay cho tới xưa, cho
đến đă xưa lại càng xưa hơn, bất luận đă lâu hay gần
đây, không ai chẳng siêu thăng. Kẻ vừa mới ch́m
vào ác đạo, liền vượt khỏi ṿng khổ.
Người đă sanh vào đường lành, càng tăng
nhuận cội đức. Nhỏ th́ gồm trọn các
loài trùng bọ, lớn th́ đến chư thiên, phàm th́ gồm hết lợn,
cá, thánh th́ cho đến
Tứ Quả, ai nấy đều thành Đẳng Chánh
Giác, người người ngộ đại Bồ
Đề. Lại nguyện năm Nghiêu lâu dài măi, ngày Thuấn
sáng hoài, âm dương điều ḥa, mưa gió đúng thời.
Vui mừng v́ ngũ cốc trúng mùa, nóng lạnh ôn ḥa, vận
khí ḥa hợp, muôn
dân chẳng có nỗi lo chết yểu. Lại nguyện
nước sanh trung thần, nhà sanh con hiếu, xóm làng dứt
kẻ gian dối, nhân nghĩa tràn đầy hoàn vũ. Nhà
nhà giữ Ngũ Giới, loài người hưng vượng.
Mỗi hộ tu Thập Thiện, thiên chúng đông đầy.
Lại nguyện kẻ ác tâm sẽ sửa lỗi ác,
hưng khởi tâm lành; lũ tà kiến bỏ tà, theo về chánh kiến. Kẻ
tu si Thiền bỏ si, nhập Na Già đại định. Kẻ chấp cuồng
huệ hết cuồng, phát khởi sự thông hiểu chân
thật đối với Thật Tướng. Kẻ báng
Đại Thừa hổ thẹn v́ đạo nhỏ, tiến
hướng Đại Thừa. Kẻ coi thường Tịnh
Độ, sẽ nhận biết khổ mà tu Tịnh Độ.
Châu Hoằng cũng tự xét chính ḿnh tầm
thường, há dám đức mỏng mà cầu phước,
[chỉ
mong] chẳng quên tinh tấn, chỉ mong nhập đạo
chẳng bị ma chướng, tu hành chẳng bị
đ́nh đốn giữa đường, tham học trọn
thành đại ngộ. Trong đời hiện tại niệm
Phật đến chết, chẳng loạn nhất tâm; lâm chung thấy
Phật văng sanh, cao đăng chín phẩm. Sau đấy,
mười thân[30]
hiển lộ trọn vẹn, hóa độ trọn khắp
quần sanh, trọn khắp các cơi nhiều như cát, tạo
cầu bến thấu triệt ba đời. Hư không có
cùng tận, nguyện của con vô cùng, t́nh và vô t́nh cùng viên
thành Chủng Trí.
* Sớ lập thệ
Nghĩ
tưởng tha thiết: Thế đạo thuần
chân, vua thời cổ rủ xiêm áo mà đạt đến
b́nh trị. [Thời sau]
phong hóa của dân tạp ngụy, vua đời sau bèn dùng thệ
nguyện ước thúc mà thành công. Huống hồ hiện
thời Phật pháp suy vi, tùng lâm như buổi chiều
Thu, những
người có phận sự trong Tăng chúng chỉ mong
an nhàn, thoải
mái, chẳng c̣n siêng ṛng nữa, gây lầm lỡ cho sự tu hành của đại
chúng, cô phụ ân
đức của Phật! Nếu chẳng dốc ḷng noi theo [các vị
Phật, Bồ Tát có phẩm đức] thần
thánh, sẽ do đâu mà sách tấn thân tâm họ? Bọn chúng con là… nhận
lănh chức trách trong chùa này, kính cẩn dùng lời thề
để tự trói buộc:
- Một là thề nguyện phát tâm tốt
lành chân thật, chuyên v́ đại chúng trong tùng lâm mà tu hành,
chẳng v́ tham cầu lợi dưỡng cho bản thân. Nếu
chẳng vậy, mặc cho thiên thần tra khảo, trừng
trị.
- Hai là thệ nguyện phát tâm chí công vô
tư, chẳng ưa thích riêng tư, chẳng v́ giận dữ
riêng tư, chẳng đối xử trọng hậu hay
đơn bạc riêng tư, chẳng sợ người
chê trách, chỉ sợ trời trách, chẳng cầu hợp
ḷng người, chỉ cầu hợp ḷng trời. Nếu
chẳng vậy, mặc cho thiên thần tra khảo, trừng
trị.
- Ba là thệ nguyện phát tâm siêng nhọc
tinh tấn. Phàm là chuyện tu hành có lợi ích mà nay phế
trừ, hoặc bỏ mất, ắt sẽ đều thực
hiện. Phàm những chuyện chẳng lợi ích cho tu
hành, nay đă tập thành thói, ắt đều trừ khử.
Mười loại quy ước đều chân thành, nghiêm ngặt tuân thủ,
chẳng làm chuyện hư huyễn, màu mè, ứng phó hư
dối, hoặc cẩu thả
qua ngày đến nỗi bại hoại, đọa lạc.
Nếu chẳng phải vậy, mặc cho thiên thần tra
khảo, trừng trị.
- Bốn là thệ nguyện phát tâm từ
bi để suy xét tâm của
mọi người, khiến cho người già được
an vui, dạy dỗ trẻ nhỏ, người nhọc nhằn
được vỗ về, người bệnh
được chăm sóc, người chết được
an táng, đủ mọi thứ yêu thương sâu dày, đối
xử với mọi người bằng ḷng nhân từ
như nhau. Nếu chẳng phải vậy, mặc cho thiên
thần tra khảo, trừng trị. Chỉ mong chư thần
xét soi.
* Sớ cầu dứt nạn hổ
Tháng Mười
năm Vạn Lịch 24 (1606), tại Ngũ Đồ,
Định Bắc, thuộc huyện Tiền Đường
của bổn phủ, cho tới các hương thôn, loài cọp
gây tai họa, tổn thương con người và gia súc rất nhiều. Những vị
như X… trong làng đến xin làm lễ hóa giải. Châu Hoằng
nghĩ người và cọp có cùng một tánh, cọp gây hại
là do túc oán. Vây bắt th́ đôi bên đều tổn
thương, xua đuổi th́ tự tha
nào khác. Ắt cần phải sắm sửa trai diên, làm
phước, ngơ hầu ngầm chuyển hóa, ngầm tiêu trừ.
Do vậy, vân tập Tăng-già tại chùa Diệu Tịnh
thuộc Hoàng sơn tại địa phương, thiết
lập đạo tràng cầu an năm ngày đêm cho tới
ngày… th́ viên măn. Trong đạo tràng ấy, cẩn trọng
chuẩn bị hương, đèn, trà, quả theo nghi lễ,
cậy tăng chúng dốc ḷng siêng năng đảnh lễ
Lương Hoàng Sám Pháp mười hai bộ, đêm kết
thúc bèn làm lễ Du Già Diệm Khẩu. Do công đức này
sẽ…[31] Lại c̣n cầu
nguyện các bậc thánh hiền phục hổ từ cổ,
cho tới sơn thần, thổ địa các
phương, nương vào lợi ích tốt lành này, kính nguyện kẻ
phụ bạc cọp trong đời trước thảy
đều cởi gỡ oán sân, chẳng báo thù lẫn nhau.
Những người bị cọp ăn hiện thời
đều được sớm sanh vào đường
lành, chẳng đọa trong thương vong. Người
không có tâm hại cọp, phát ḷng từ bi vĩnh viễn trừ
sát nghiệp. Hổ trọn chẳng có ư thương tổn
người, hết báo thân ấy sẽ nhanh chóng thoát khỏi
khổ luân, cho tới các hàm linh nhỏ nhặt, đều
được che chở, hộ tŕ, xa là tới trệ
phách nhiều đời đều được siêu
thăng. Ai nấy gieo nhân Bồ Đề, chốn chốn
thành cơi An Lạc.
* Sớ cầu tiêu tai thay cho Dư Thái
Thú
1) Các vị
như Dư Lương Xu v.v… đoan nghiêm, kính cẩn, kiền
thành, cung kính, bẩm báo Sa Bà thế
giới Thích Ca Như Lai, xin rủ ḷng thương xót, nguyện
ban ân chứng minh ư nguyện của
chúng con. Kể từ năm Vạn Lịch X… tới nay, gặp
phải bệnh dịch lan tràn, dân chúng tử vong quá nửa,
gặp phải năm đói kém, chúng sanh toàn gặp tai ách
khốn khó, y thuật cơi đời khó trị liệu thiên
tai, thiếu lương thực châu cấp cho chúng sanh. Chẳng
phải là Thượng Đế thiếu ḷng từ, mà là
do dân hèn chẳng lành, không ǵ chẳng phải do Thập Ác,
Ngũ Nghịch dẫn đến bát nạn, tam tai. Chẳng
nhờ vào ḷng từ bi của Tam Bảo, sao có thể cứu
nỗi khổ năo của dân chúng? Các vị như
Lương Xu v.v… đă có chức trách làm cha mẹ của
dân, phải nên cứu vớt tai ương cho con cái. Do vậy,
đặc biệt phát tâm kiền thành, kính cẩn thỉnh
hai mươi bốn vị tăng-già của Vân Thê, cung kính tụ tập
tại chùa Linh Chi trong thành, cử hành đạo tràng Diệm
Khẩu để
cầu giải trừ tai hoạn, tạo phước cho đất
nước, lợi ích trọn khắp muôn dân. Khóa tu kéo dài
bảy ngày, bảy đêm, chọn ngày Hai Mươi Lăm
tháng Năm này để khởi đầu, sắp đặt
trọn đủ hương hoa, vật cúng, vân tập
tăng-già, vào đàn xem niệm kinh Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật,
phẩm Bồ Tát Giới Tâm Địa của kinh Phạm
Vơng, kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn
Nguyện Công Đức, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phổ
Hiền Hạnh Nguyện, lại c̣n phúng tụng các
chương thần chú để
tích tập công đức. Kính nguyện Phật từ bi gia bị trọn
khắp, [khiến cho] mưa hay tạnh đúng thời,
ngũ cốc dư dật, pháp lực ngầm giúp đỡ,
khí vận điều ḥa, tam tai nhanh chóng chấm dứt.
Trăm quan chức hoằng dương nền cai trị
thái b́nh, muôn dân mừng năm an lạc, chất chứa
điều thiện để đáp ơn trời, hành
trung hiếu để chuyên cầu cho vận nước hưng thịnh.
2) Từ năm Vạn
Lịch mười mấy đến nay, gặp phải vận trời
hạn hán, mưa gió chẳng đúng thời, nhân dân gặp
dịch bệnh, giá gạo thóc tăng cao, vẻ mặt
đói khát đầy thành, xác người chết đói chật
đồng. Đau đáu nghĩ [chính ḿnh là] kẻ làm cha
mẹ của dân, há dám ngồi yên rơi lệ nh́n suông? Lo
cho bổn phủ và các châu khác trong hiện thời, tiếng
kêu gào đói khát suốt ngày đêm chẳng ngớt. Người
sống bị ôn dịch được chữa lành quá ít,
kẻ chết th́ vương văi khắp mặt đất,
ḍng nước. Mong cho kẻ mất lẫn người
c̣n đều được lợi ích, ắt phải thiết
trai, làm phước, kính gieo thân nơi Phật lực, ḥng
cứu độ dân đen… Lại nguyện cơ đồ
của hoàng thất vững bền, mưa thuận, gió ḥa,
Phật nhật càng thêm sáng, dân yên, vật chất sung túc.
* Sớ cầu siêu cho những người
đă mất
Nhất Thừa viên
đốn quét sạch tội chướng hoàn toàn rỗng không.
Tam nghiệp sám-ma, giải trừ
oan vưu đều sạch. Nêu lên mười giới trọng,
bốn mươi tám giới khinh to lớn trong Bồ Tát
giới, tuyên ḷng từ rộng lớn thuộc chín phẩm
và bốn mươi tám nguyện của Như Lai. Trai
tăng nhằm nhóm họp oai thần của mười
phương đại đức, thí thực ḥng cứu
giúp lục đạo hàm linh đang ch́m đắm. Lợi
ích như thế, khiến cho tiên linh đoạn diệt
sân hận, những người bị sân hận sẽ
vĩnh viễn dứt bặt báo đền. Sát nghiệp
ngầm tiêu, khiến cho kẻ bị giết đều
được giải thoát. Từ nhiều đời cho
tới nay, lỗi to lớn và lỗi
nhỏ nhặt đều cậy Tam Bảo vun quén, huân tập,
sớm đạt được sáu căn thanh tịnh,
văng sanh cơi lạc, thân cận từ tôn. Sen nở hoa thượng
phẩm, Phật thọ kư trong một đời. Báo chung bốn
ân, giúp khắp ba cơi. Chúng sanh trong pháp giới đều
cùng viên thành Chủng Trí.
* Sớ hóa duyên trùng tu Châu Kiều
Châu Kiều gần
th́ là một con đường trọng yếu trong thủy
lộ của Huy, Hàng. Nghiêm, Cù[32]; xa th́ là
đường cái quan nối liền mấy tỉnh Giang,
Trực, Mân, Quảng (Giang Tây, Trực Lệ (tức Nam
Kinh), Phước Kiến và Quảng Đông); ngoài th́ là chỗ
then chốt liên quan đến sóng biển và suối nước
hai ḍng thường tuôn vỗ, dâng trào, rút đi; trong th́ là chỗ
h́nh thế thù thắng liên quan đến an nguy của muôn
nhà lô nhô
nương cạnh vách đá bên vực sâu. Kể từ
khi thánh thiền sư khởi công kiến lập, trải
qua nhiều năm, cầu bỗng nghiêng ngả, được
các vị thiện tín sửa sang, dựng mới, nhưng
chỉ được tám năm lại bị hủy hoại.
Vị đại nhân chủ quận trước kia là ông
Dư phát ḷng từ bi trọn khắp, dốc sức ân cần sửa sang, nhưng gặp
đúng dịp sóng dữ ngập trời, sóng cuộn rung
núi, chưa hoàn thành công nghiệp dựng cầu, chỉ hoàn thành công tŕnh bắc cầu
đơn giản tạm thời, chẳng thỏa
điều ấp ủ. Ông từng để lại lời
căn dặn, chờ khi sóng dữ vừa ngưng, sẽ
tiếp tục hưng khởi sự nghiệp cũ.
Nay các vị phụ lăo như cụ X… đến
núi này, trần thuật cặn kẽ chuyện trên đây,
nhưng tôi là một ông tăng bệnh tật, chẳng có
mảy may sở trường, trăm chuyện đều
vô dụng, đâu phải là chẳng có tâm cứu giúp,
nhưng quả thật thiếu sức lo liệu! Tạ từ
càng gắng, thỉnh vời càng bền, họ bảo:
“Người lữ hành gặp khó khăn do đường
sá hiểm trở, quanh co, người vác nặng, xe, ngựa
chuyên chở
trên đường luôn than văn đủ điều. Cư dân do
t́nh thế mà bị tổn thương trong miệng rồng,
trôi giạt, tử vong, suốt năm mắc họa cả ngàn người”. Do vậy,
trên là nhằm hợp với mưu tính của thần, dưới
là cộng thêm lời bàn bạc của mọi người,
[khuyến hóa mọi người] ai nấy đóng góp mỗi
suất là tám xu, [như thế th́ sẽ] tích thành trọn
đủ con số vạn. Hoặc một người kiêm góp phần
cho nhiều người, công lớn riêng chiếm, hoặc
trong nhiều phần chỉ đóng góp một phần,
được phước đều như nhau. Đại
để là “cho mượn xe để vượt sông
Trăn, sông Vị”[33],
được thời cổ gọi là “ḷng yêu
thương hăy c̣n thiếu
sót”. Để cứu kiến vượt lũ mà bện cầu
tre, về sau đỗ cao. Từ Tông Nhân do vậy sống
thêm ba kỷ[34], Tŕnh Di Bá do vậy
đạt đến quư hiển năm đời. Phật
chẳng nói dối, thánh nhân có giáo huấn rơ ràng, nguyện
khắp các vị thượng thiện nhân, cùng sanh về
cơi Vô Lượng Thọ.
Ông tăng bệnh tật
khổ sở từ tạ chẳng được,
đành thuận theo tâm mọi người, nay chỉ dốc
cạn ḷng thành, tùy duyên nghe theo mệnh lệnh. Số tiền
quyên mộ được sẽ do vị tăng đứng ra quyên mộ
trao cho các vị thiện nhân đứng đầu trong
địa phương cùng giám sát, thu giữ, Tăng chẳng
giữ riêng một đồng nào, tục chẳng thể
giảm bớt, sơ sót mảy may. Hễ có chút dối lừa
nào, quả báo sẽ chẳng hư dối. Thần Già Lam
suy xét, thần sông rạch xét soi, tám bộ trời rồng
thưởng thiện, phạt ác, hết thảy các thần
minh cùng xét rơ.
14.5. Thuyết (khắc rải rác và in trong di cảo
đều thu thập vào đây)
* Do Lộ An Thẩm Vương cầu con trai, bèn v́ ông ta nói chuyện “làm lành
sanh con trai”
Kinh Duy Ma Cật dạy
“thiện tâm thành thật nam”, nêu ra cái Thể của
con trai. Phẩm Phổ Môn kinh Pháp Hoa nói “cung kính lễ bái
Quán Thế Âm Bồ Tát, tiện sanh phước đức,
trí huệ chi nam” (cung kính lễ bái Quán Thế Âm Bồ
Tát liền sanh con trai phước đức, trí huệ),
biểu thị cái nhân sanh ra con trai. Nhưng Bồ Tát chỉ
muốn con người làm lành, tức là hai kinh có cùng một
ư. Chỉ mong rộng phát tâm lành, lại c̣n lễ kính Bồ
Tát, ắt trời giáng xuống điều tốt lành. Lại thêm oai thần của Bồ
Tát ngầm gia hộ, ắt có đứa con đại thiện,
đại phước, đại huệ, cát tường
sanh trong vương cung vậy. Tôi đặt sẵn pháp
danh cho nó là Quảng Thiện.
[Viết thêm]: Lại nữa, trên đây
đă nói chuyện tích chứa điều thiện để
sanh con trai, nay lại nghe nói ông lập linh đàn thanh tịnh,
nhóm họp các vị tăng có đức hạnh, tụng
kinh văn bí mật chân thật, ngơ hầu [tạo nền tảng] lâu dài, chân thật, bền vững, lập
kỳ hạn một ngàn ngày, giăi bày ḷng tinh thành ấy ḥng
cảm thông đại sĩ sẽ bế tặng lân tường[35],
há [niềm mong cầu ấy] xa xôi ư? Lại c̣n mong tu
kính điền và bi điền song hành một ngàn ngày, tức
là kiêng giết, phóng sanh, giúp nghèo, cứu khổ, đủ
mọi phương tiện, không ǵ chẳng hưng khởi
rộng lớn, ắt bi sâu, lợi ích do ḷng kính sẽ rộng răi, điều
lành tích tập, niềm vui sướng có thừa, vun bồi
công đức, quyết sanh được đứa con
hiền nối dơi, không chỉ là nó trọn đủ
phước dày, mà ắt c̣n thuần ḥa, sống thọ.
Nhân quả chẳng dối, chẳng đáng ngờ chi! Do vậy,
lại viết thêm.
* Khô lâu đồ thuyết
Phó đại sĩ nói: “Dần
dần da gà, tóc bạc. Nh́n xem cất bước lung lay. Dẫu
cho vàng ngọc đầy nhà. Khó tránh sanh, lăo, bệnh, tử.
Mặc cho ngươi sung sướng muôn ngàn. Rốt cuộc
vô thường đưa đến. Chỉ có nẻo tắt
tu hành, chỉ niệm A Di Đà Phật”. Lời này của
đại sĩ chính là nói “muôn thứ chẳng mang
được, chỉ có nghiệp theo thân”. Như thế
nào là “muôn thứ chẳng mang theo được?”
Trong đời người, tất cả quan tước,
vàng bạc, của báu, nhà cửa, ruộng
vườn, thức ăn, quần áo, đồ cổ ngoạn,
cho đến vợ đẹp, con yêu, hễ vô thường
xảy đến, mang thứ theo nào đi được?
Như thế nào là “chỉ có nghiệp theo thân?” Trong
đời người, tất cả các nghiệp tham, sân,
si, phi lễ, gian dâm, giết chóc bừa băi đă tạo,
làm con trái nghịch cha, làm bầy tôi dối vua, tàn hại
người khác để tạo thành cơ nghiệp cho
chính ḿnh, âm độc hại chúng sanh, đủ loại ác
nghiệp, hễ vô thường xảy đến, [các ác
nghiệp ấy] đều theo ngươi chặt chẽ.
Đă là như thế, nếu chẳng dũng mănh tỉnh
ngộ, quay đầu, sửa ác theo thiện, gột ḷng
niệm Phật, há chẳng phải là oan uổng làm thân người,
sống uổng chết phí ư? Khổ thay! Khổ thay!
Tôi thấy người đời ai nấy đều nên
khéo niệm Phật. Nay xếp thành ba loại như sau:
- Một là người cực nhàn, hăy nên
chẳng kể ngày đêm, nhất tâm niệm Phật.
- Hai là người nửa nhàn nửa bận,
hăy nên lo liệu việc đă xong liền niệm Phật.
- Ba là người cực
bận, hăy nên t́m lúc nhàn trong khi bận để mười
niệm niệm Phật.
Lại c̣n người phú quư, áo cơm, bổng
lộc sung túc, rất hợp niệm Phật. Người
bần cùng giữ yên phận nghèo, rất nên niệm Phật.
Người có con cháu, được kẻ khác dốc sức
làm thay, rất nên niệm Phật. Người không có con
cháu, tâm không vướng mắc, rất nên niệm Phật.
Người không bệnh tật, sức lực mạnh khỏe,
rất nên niệm Phật. Người có bệnh, biết
không lâu sẽ chết, rất nên niệm Phật. Người
thông minh thông kinh thấu lư, rất nên niệm Phật. Kẻ
ngu độn, tri kiến chẳng xen tạp, rất nên niệm
Phật.
Nói tóm lại, trên trời, trong nhân gian, tứ
sanh cửu hữu, đều nên niệm Phật. Kính khuyên
người đời, sao chẳng thừa dịp tứ
đại chưa biến hành xương khô, hăy sớm niệm
Phật, chứ chờ đến khi “muôn thứ không
mang theo được, chỉ có nghiệp theo thân”, áo năo, hối hận chẳng kịp!
* Khuyến tu tác phước niệm Phật
đồ thuyết[36] (thuyết minh kèm
theo đồ họa nhằm khuyên tu, làm phước, niệm
Phật)
Trên nẻo trời
người, làm phước đứng đầu, trong biển
sanh tử, niệm Phật bậc nhất.
Nhân gian, cơi trời, vui sướng
tiêu dao, đều do rộng làm các điều phước. [Điều ấy] tối khẩn, tối
yếu, nên nói là “đứng đầu”. Nếu muốn
cao trội hơn trời người, nhanh chóng vượt
thoát sanh tử, lên thẳng bất thoái, th́ có một môn Niệm Phật văng sanh tối tôn, tối
thắng, nên nói là “bậc nhất”. Kệ rằng:
- Làm phước chẳng niệm Phật.
Phước hết vẫn trầm luân. Niệm Phật chẳng làm phước. Nhập
đạo lắm đắng cay. Vô phước, chẳng
niệm Phật. Địa ngục, quỷ, súc sanh! Niệm
Phật kiêm làm phước, sau chứng Lưỡng Túc Tôn.
Làm phước, chỉ
cần làm phước, gieo một chút phước, bất
luận lớn, nhỏ, nhiều, ít.
Hiếu thuận cha mẹ,
trung báo quân vương. Tạo tác, trang hoàng tượng Phật, in tạo kinh
điển. Trai cúng tăng-già, tôn kính, phụng sự sư trưởng, kiến
tạo chùa chiền, lưu thông pháp lành. Cấm tuyệt giết
mổ, mua thả sanh mạng, nuôi ăn dân đói, đông
rét giúp áo. Đào giếng t́nh nghĩa, tu bổ cầu cống.
Sửa sang đường sá. Thí khắp trà nước.
Chăm sóc người bệnh. Ban phát thuốc men. Rửa
oan kẻ tội. Thoát, giảm h́nh phạt. Nuôi người
già yếu, chăm bẵm cô nhi.
Chôn vùi hài cốt, ban tặng quan tài. Tha miễn nợ nần,
nghĩa nhượng tài sản. Trả lại đồ mất.
Cứu giúp hoạn nạn. Cầu tiêu tai nạn, siêu độ
vong hồn. Ḥa giải kiện thưa, giúp người toàn
mạng.
Niệm Phật ngàn tiếng
chấm một ṿng. Trắng, đỏ, xanh, vàng, đen có
thể điền năm lượt.
Kẻ thân vô sự nhàn rỗi,
luôn luôn siêng niệm. Người có việc quấn thân, sớm
tối khóa niệm. Chí tâm phát nguyện, cầu sanh Tịnh
Độ. Thường nhật, hễ gặp phước
liền làm, làm xong lại niệm, liền đem phước
đă làm hồi hướng Tịnh Độ, cầu nguyện
văng sanh. Thiện nhân… (tự xưng tên) thọ tŕ.
* Quy giới đồ thuyết
Quy y Phật, chẳng đọa
địa ngục, con nay quy y Phật.
Quy y Pháp, chẳng đọa
ngạ quỷ, con nay quy y Pháp.
Quy y Tăng, chẳng đọa
bàng sanh, con nay quy y Tăng.
Một, chẳng sát sanh: Hễ
có sanh mạng, đều chẳng được giết.
Hai, chẳng trộm cắp:
Một cây kim, một nhánh cỏ, chẳng hỏi th́ không
được lấy.
Ba, chẳng tà dâm: Lễ pháp
giữ ḿnh, chẳng phạm ngoại sắc.
Bốn, chẳng nói dối:
Nói hư vọng, nói thêu dệt, nói thô ác, nói đôi chiều,
thảy đều cấm tuyệt, chẳng kể lỗi của người
khác.
Năm, không uống rượu:
Rượu gọi là thuốc gây cuồng, loạn tánh, mê hồn,
cấm tuyệt chẳng lọt vào miệng.
Đă thọ Tam Quy, Ngũ Giới,
đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện,
nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ.
“Các điều ác” tức là bất trung, bất hiếu, bất
nhân, bất nghĩa. Các điều ác như thế chẳng
thể nêu trọn, chỉ cần là chuyện dối trời,
tâm mê muội vv… đều chớ nên
làm. “Các điều thiện” tức là trung, hiếu, nhân,
nghĩa; các điều thiện
như thế chẳng thể nêu trọn. Chỉ cần những chuyện trên thuận
lẽ trời, dưới hợp ḷng người v.v… đều phải nên tận lực thực
hiện. Niệm Phật tức là nhất tâm tŕ niệm vạn
đức hồng danh của A Di Đà Phật. Mỗi
ngày hoặc niệm một ngàn, hai
ngàn, ba ngàn, năm ngàn, bảy ngàn, hoặc là đến một
vạn câu, tùy ư nhiều ít. Cứ một ngàn câu niệm, liền
chấm một khuyên, trước là trắng, sau là vàng, kế
đến là đỏ rồi xanh, bốn lần chấm
qua, đủ bốn mươi tám vạn, cầm đối
trước Phật, cầu chứng minh, dụng tâm vi tế, dự vào huyền
cảnh, đệ tử… thọ tŕ.
* Lục trai, nguyệt trai đồ thuyết
Lục trai: Sáu ngày là mồng
Tám, Mười Bốn, Rằm, Hai Mươi Ba, Hai
Mươi Chín, Ba Mươi. Nếu gặp tháng thiếu,
hăy nên ăn chay trong ngày Hai Mươi Tám, Hai Mươi
Chín.
Nguyệt trai: Mỗi năm
trong ba tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, hăy nên ăn chay suốt
tháng. Nếu chẳng thể ăn chay ba tháng, ắt phải kiêng giết trong ba
tháng.
Kinh dạy: “Tứ thiên
vương mỗi nguyệt lục nhật tuần hành Nam
Thiệm Bộ Châu. Sơ bát, nhập tam, sứ giả tuần.
Thập tứ, nhập cửu, thái tử tuần. Thập
ngũ, tam thập, thiên vương thân tuần, khảo sát
nhân gian, hà nhân hiếu thuận phụ mẫu, hà nhân trung
báo quân vương, hà nhân chánh trực công b́nh, hà nhân từ
bi phương tiện, hà nhân quy y Tam Bảo, giới sát,
tŕ trai, quảng tu chúng thiện, như thị đẳng
nhân gia phước tăng thọ. Hà nhân ngỗ nghịch
phụ mẫu, hà nhân bội phản quân vương, hà nhân
khi trá, gian xảo, hà nhân cương hận, bạo ngược,
hà nhân bất tín Tam Bảo, tể sát sanh mạng, quảng
tạo chư ác, như thị đẳng nhân, tiêu phước
giảm thọ. Hựu chánh, ngũ, cửu nguyệt, thiên
vương phân trấn Nam Châu, khảo sát tội phước”
(Tứ thiên vương mỗi tháng sáu ngày tuần hành Nam
Thiệm Bộ Châu. Ngày Mồng Tám, Hai Mươi Ba, sứ
giả tuần hành. Mười Bốn, Hai Chín thái tử tuần
hành. Mười Lăm, Ba Mươi, thiên vương
đích thân tuần hành, khảo sát nhân gian, người nào
hiếu thuận cha mẹ, người nào trung thành báo
đáp quân vương, người nào chánh trực công b́nh,
người nào từ bi phương tiện, người
nào quy y Tam Bảo, kiêng giết, tŕ trai, rộng tu các điều
thiện, những người như thế thêm phước,
tăng thọ. Kẻ nào ngỗ nghịch cha mẹ, kẻ
nào bội phản quân vương, kẻ nào lừa dối,
gian xảo, kẻ nào cứng cỏi, bạo ngược,
kẻ nào chẳng tin Tam Bảo, giết chóc sanh mạng, rộng
tạo các điều ác, những kẻ như thế tiêu
phước giảm thọ. Lại nữa, tháng Giêng, tháng
Năm, tháng Chín, thiên vương chia nhau trấn Nam Châu khảo
sát tội phước).
Lại nữa, Ngọc Hoàng thiên đế
(Đế Thích), trong tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín, dùng
đại bảo kính chiếu thẳng xuống Nam Châu khảo
sát tội phước, cũng chẳng đáng sợ
ư? Cũng chẳng cẩn thận ư? Trong sáu ngày, ba
tháng ấy, hăy nên trai giới niệm Phật, sám hối, tu tỉnh. Những ngày ấy niệm
Phật, hoặc sáu trăm câu, hoặc sáu ngàn, bèn chấm một
ṿng. Mỗi tháng sáu ṿng, có thể dùng hai năm. Nếu chẳng
thể ăn chay cả tháng, ắt phải giữ lục
trai. Nếu mỗi ngày tŕ trai, mỗi ngày niệm Phật,
mỗi ngày tu đức, tốt lành to lớn, tốt lành
to lớn!
* Niệm Phật truy tiến vong linh văng
sanh đồ thuyết
Thất đầu, niệm
Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.
Thất thứ hai, niệm
Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.
Thất thứ ba, niệm Phật
mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.
Thất thứ tư, niệm
Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.
Thất thứ năm, niệm
Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.
Thất thứ sáu, niệm
Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.
Thất thứ bảy, niệm
Phật mấy vạn, mấy ngàn, mấy trăm câu.
Cộng chung niệm Phật mấy chục vạn, mấy ngàn, mấy
trăm câu.
Phàm ai khi người chí thân
mất đi, đều bi thương chẳng thôi; nhưng [bi thương như thế] vô
ích cho người mất, người sống bị tổn
hại, chẳng bằng ngưng bi thương, suy nghĩ
siêu độ, cứu giúp. Kinh dạy:
“Nhân tử giai vu thất thất nhật nội thác sanh,
đương tức thử thời, tác chư công đức”
(Người đă chết sẽ đều thác sanh trong
ṿng bốn mươi chín ngày. Ngay trong lúc ấy, hăy nên làm
các công đức). Nay khuyên ngoài việc thỉnh Tăng tụng
kinh trong bốn mươi chín ngày, hăy thêm tự ḿnh niệm
Phật, mỗi ngày tŕ niệm một ngàn câu, hay năm
trăm câu. Hễ có sức th́ niệm tới hai, ba, bốn,
ngàn câu. Cứ bảy ngày niệm được bao nhiêu
câu, bèn ghi xuống dưới bảy ngày đó. Bốn
mươi chín ngày viên măn, hồi hướng đem đốt,
có thể khiến cho người mất tội chướng
tiêu diệt, cởi gỡ oan khiên, sớm sanh vào đường
lành, chẳng vướng mắc trong đường tối
tăm. Hiếu tử nghĩ đến cha mẹ, cha mẹ
từ ái nhớ đến con, anh em trai, chị em gái, vợ
chồng quyến thuộc, thầy, tṛ, bạn bè nghĩ tới
ân đức, muốn báo đáp, đều có thể hành
theo. Nếu lúc mới tang ma, chưa kịp thấy đồ
thuyết này, cũng có thể niệm bù mười vạn
câu, hoặc tám ngàn câu, hoặc càng nhiều, tùy ư giúp phước
cho người chết, công đức chẳng thể
nghĩ bàn!
Tín sĩ… (tín nữ….) v́ siêu
độ thân nhân đă mất là… mà tŕ niệm.
* Nói về chuyện kiêng sát sanh để
tế thần
Kinh Dược Sư dạy: “Sát bỉ
chúng sanh, hô chư vơng lượng, thỉnh khất phước
hựu, chung bất khả đắc” (giết các chúng
sanh, kêu cầu các loài tinh
linh, quỷ quái, cầu xin ban phước, trọn chẳng
thể được). Kinh nói minh bạch như thế,
nhưng người đời bị đồng cốt
mê hoặc, khi cầu lành bệnh, hoặc cầu giải
trừ tai nạn, hoặc cầu tài, hoặc cầu quan,
hoặc cầu con, lớn th́ dùng lợn,
chó, trâu, dê, nhỏ th́ dùng thịt gà, vịt, cá để hiến
tế quỷ thần, mong cầu cảm ứng, chẳng
biết [số mạng]
định sẵn bởi trời, quỷ thần chẳng
thể thay đổi. Kẻ cầu lành bệnh mà bệnh
được lành v́ mạng chưa tuyệt. Kẻ cầu
giải trừ tai nạn, tai nạn tiêu diệt là do sám hối
mà tự thoát. Cầu tài, cầu quan, cầu con, ắt
cũng đều như thế, chẳng phải do sức
của quỷ thần! Nhưng giết mạng kẻ khác
để kéo dài cuộc sống của chính ḿnh, mổ, chặt, nấu nướng
thân chúng nó nhằm mong ta được phú quư, mạnh khỏe,
lẽ trời há dung, luật cơi âm chẳng xá, đời
hiện tại giảm tuổi thọ, chết rồi sẽ
đọa vào địa ngục, đời sau chịu quả
báo đền bồi. Chẳng có công mà mắc họa, thật
sự đáng buồn lắm thay! Kính khuyên người
đời sao không dùng chi phí hiến tế
thần để làm việc thiện, hoặc hưng khởi
cao vời Tam Bảo, hoặc là mua sanh mạng để
phóng sanh, hoặc giúp nghèo, cứu khổ, hoặc lát
đường, sửa cầu?
Đối với các thiện sự, đều tùy sức
mà thực hiện. Làm lành kéo dài tuổi thọ, làm lành sẽ
tiêu tai, làm lành muôn sự b́nh an, làm lành con cháu hưng thịnh.
Bậc quân tử tri âm, bậc cao hiền hiểu lư, xin hăy
thử suy nghĩ. Nếu lời lẽ quê kệch có thể
chấp nhận, lại xin rủ ḷng nghe theo, mong mỏi lắm
thay!
* Điếu dặc thuyết
Luận Ngữ chép: “Tử
điếu nhi bất cương, dặc[37]
bất xạ túc” (Khổng Tử thả câu,
nhưng không chài lưới, đi săn
chẳng bắn con đang đậu). Tôi nghi
là có sai sót, vì sao? Thánh nhân là
bậc nhân từ tột bậc. Vì thế, vua
Nghiêu lòng nhân như trời. Đã câu hay
bắn, dẫu chẳng quăng lưới,
chẳng bắn con chim đang đậu, đều
chính là lòng nhân chưa đạt tới cùng tột. Có người
nói: “Vua Thuấn có đức hiếu sanh,
chẳng bỏ việc tru sát tứ hung[38].
Câu, bắn, há có
khuyết điểm gì?” Chẳng biết
tứ hung là kẻ có tội, chứ chim,
cá có tội gì? Văn Vương ân trạch
thấm đến xương khô. Xương khô vô tri,
chim, cá có tri giác, không lẽ Khổng
Tử chẳng am hiểu tình cảm của
muôn vật đến mức ấy ư?
Người khác tặng
cá, Tử Sản nuôi trong ao. Tử Sản nuôi
nấng trong ao, Khổng Tử
đi câu! Tử Sản ban ân huệ cho
người, Khổng Tử tàn nhẫn
với con người ư? “Được
ban tặng gà bèn nuôi chung với chim
trĩ, chẳng ăn”, nhân đức, ân
trạch, ân huệ của Khổng
Tử ắt chẳng kém Nghiêu, Thuấn,
Văn Vương, Tử Sản càng rõ. Do
vậy biết: “Đạt tới cảnh
giới trung hòa thì vạn vật
được sanh trưởng yên vui”. Thánh
nhân bình trị cõi đời, khiến cho chim,
thú, cá, rùa đều sống yên vui.
Chẳng nuôi nấng, chẳng giúp cho muôn
vật sống yên vui, thì sao là Khổng Tử
cho được? Như vậy thì
người nước Lỗ săn bắn,
Khổng Tử cũng săn bắn, có
khác gì đâu? Đáp: Khổng Tử
làm quan, có quan chức thì phải thuận
theo mạng vua, bất đắc dĩ vậy! Nếu
“câu, bắn” là do Khổng Tử tự
làm, đối với chuyện có thể ngưng dứt mà Ngài
chẳng ngưng dứt[39], thì không
đáng tin! Ý tôi cho rằng: Sau chữ Tử, chắc là có chữ
Viết: “Tử viết: - Điếu nhi bất
cương, dặc bất xạ túc” (Khổng
Tử nói: “Câu mà không thả lưới,
chẳng bắn con chim đang đậu”).
Tập tục chưa dễ cứu văn, đành thuận theo thói tục,
vì đời Mạt mà dạy phương
cách nhân từ; đó chính là
lời nói của Khổng Tử, chẳng
phải là việc làm của Khổng Tử
vậy!
* Nói về cách tiêu trừ tội trộm cắp
Ngày Rằm tháng Chín, chư
Tăng thuyết giới, có vị ra khỏi đại
chúng, quỳ thẳng, trần thuật lỗi ḿnh như
sau: “Con phạm tội trộm cắp”. Nh́n ra th́ ra là cư
sĩ Hàm Hư. Tôi nói: “Cư sĩ vốn là người tuân thủ quy củ, cẩn trọng, vâng
giữ pháp, sao lại có chuyện ấy?” Cư sĩ nói:
“Chẳng phải vậy! Mắt trộm sắc, tai trộm
tiếng, cho đến ư trộm pháp, đều
là trộm cái ḿnh chẳng có, há chẳng phải là trộm
cắp ư? Một cây kim, một nhánh cỏ, phải gấp
sám hối. Giặc tâm lẫy lừng, suốt đời
chẳng biết sám hối, là bỏ qua kẻ đầu sỏ
tấn công thành, chiếm cứ ấp, chỉ lo xét tội
thằng trộm khoét vách vậy.
Nguyện thầy rủ ḷng từ to lớn, gột rửa
tội lỗi cho con”.
Tôi nói: “Nói đến kẻ trộm
cắp trong thiên hạ, có hai thứ. Ta qua chỗ người
khác để lấy. Đó là thiết đạo (竊盜, lén trộm). Hai là vật
tự đưa đến mà [tự tiện] lấy th́ là
nhương đạo (攘盜, trộm bằng
cách đoạt lấy). Cư sĩ hăy tự
nghĩ xem, mắt trộm sắc, mắt đến chỗ
sắc rồi mắt lấy sắc trở về ư?”
Thưa: “Mắt chưa từng đến sắc”. “Hay là sắc
đến mắt, mắt bèn lấy sắc ư?” Thưa:
“Sắc chưa từng đến mắt”. “Như vậy
th́ chẳng phải lén trộm, chẳng phải đoạt,
sao là trộm cắp cho được?” Cư sĩ
thưa: “Mắt không tới sắc, sắc chẳng tới
mắt, nhưng ngầm thông trong đó là thức. Như
xanh, vàng v.v… gặp mắt, nhập vào thức điền.
Do vậy, đó là thức trộm cắp”. Tôi nói: “Để
chứng minh tội trộm cắp, th́ phải nêu ra tang chứng.
Là xanh, vàng… ư? Hăy thử lôi ra đi”. Cư sĩ nói:
“Xanh, vàng rạng rỡ, sáng ngời trong tâm mục con.
Đó là tang chứng. V́ vậy, thức là kẻ trộm”.
Tôi nói: “Có tang chứng th́ sẽ trị tội kẻ ăn cắp. Sắc có
xanh, vàng, mà kẻ trộm xanh, vàng là xanh ư? Là vàng ư?”
Cư sĩ thưa: “Thức vốn tự chẳng có, từ
duyên mà có, thể tánh không tịch, ai thấy xanh, vàng?” Tôi
nói: “Kẻ có thể trộm cắp đă không có, sao có vật
bị trộm? Hai đằng đều hư huyễn,
cái quả của trộm cắp ở đâu? Lật
đi lật lại để xét tới cùng; trộm chẳng
thể được, ông lấy ǵ để sám?’ Cư
sĩ ngơ ngác: “Lạ thay! Luận về chân sám chẳng sám, bậc thượng th́ làm được,
chứ kẻ trung hạ làm như thế nào được?”
Tôi nói: “Kẻ trộm vào nhà người khác, ắt phải
canh cho họ ngủ đă. Cảnh nhập ḷng người,
ắt phải thừa dịp họ tối
tăm. Chưa có chuyện chủ nhà tỉnh táo mà kẻ trộm
được thỏa chí. Chưa có chuyện tâm
vương vằng vặc mà cảnh thừa dịp nhập
tâm”. Cư sĩ hết sức vui mừng, khen tốt lành.
Tôi nói: “Chưa tốt lành, chỉ là vừa
đủ mà thôi. Chủ nhà chẳng có ngày nào nghỉ
ngơi, phải đề pḥng địch quốc suốt
đời. Kế tạm an tuy đạt được,
sách lược để vĩnh viễn bền
vững chưa tốt đẹp! Ắt phải
tru diệt kẻ chủ mưu gây ác,
khiến cho lũ phản loạn quy hàng, một người
vô vi, triệu dân an b́nh, kẻ trộm cắp chấm dứt,
kẻ bắt trộm mất đi. Tuy lập cửa ngoài, nhưng chẳng đóng, kê cao gối
mà nằm, có ǵ phải đề pḥng?” Cư sĩ lại
đảnh lễ, thưa: “Nay con mới biết
phương sách tốt lành để chữa trộm cắp”.
* Cởi gỡ nỗi tức giận của
khách
Khách có kẻ đến
chơi Vân Thê, đă từ biệt trở về, chưa
được nửa đường đă quay trở lại,
mờ mịt nói:
- Tôi bực quá, tức quá! Đang trở về,
gặp Nho sĩ trên đường, hỏi: “Nghe nói Vân Thê
dựng Thiền thất, đại chúng an trụ trong
đó mà tu tịnh nghiệp. Có chuyện ấy hay
chăng?” Tôi đáp: “Có chứ!” Nho sĩ nói: “Xưa kia Vân
Thê là ‘trời đất là
nhà của ta’, nay sao chẳng ở
trong trời đất mà lại ở trong điện
đường?” Tôi chẳng đáp được, do vậy
bực tức mà quay lại!
Vân Thê bảo: “Ông ta dùng ngôn từ để
hỏi, ông dùng im lặng để đáp, sao lại bảo
là chẳng đáp?” Khách cố thỉnh, tôi bèn bảo:
“Đối với gă Nho sĩ ấy, sao chẳng dùng Nho
để khuyên dụ? ‘Phù vân phú quư’ (phú quư như mây
trôi), Trọng Ni nói như vậy đó. ‘Lạc đạo
quyến mẫu’ (vui theo đạo mà cày cấy), Y Doăn
nói như thế đó. Chẳng xét Khổng Tử từng
làm tướng quốc nước Lỗ, Y Doăn phù tá nhà Ân
ư? Cái chẳng thường hằng là cảnh ngộ.
Cái có chủ tể là tâm. Thánh nhân chẳng
thể đổi thời, chỉ có thể chẳng đổi tâm mà thôi! Cái tâm
khi [Khổng Tử] làm tướng quốc
nước Lỗ chính
là cái tâm [khi Khổng Tử dạy học nơi]
bến sông Tứ, cái tâm khi [Y Doăn] phù
tá nhà Ân chính là cái tâm [khi Y Doăn cày ruộng] nơi cánh
đồng Sân. Do vậy mà các vị ấy hơn hẳn
người khác, há có phải là khoác triều phục suốt
đời, hay vác cày cuốc trọn kiếp th́ sau đấy
mới là Trọng Ni hay Y Doăn ư?
Hiểu được nghĩa này, th́ ở
riêng trên ngọn núi trơ trọi, dùng hang hốc làm nhà, chẳng
phải là cô quạnh! Quần cư muôn người, lấy
hải chúng làm nhà, chẳng hỗn độn. Chiếu chẳng
ấm chỗ, lấy mây nước làm nhà, nhưng chẳng phiêu đăng. Chân chẳng
bước khỏi cửa, lấy b́nh phong và chơng làm nhà, chẳng
phải là cố chấp. Làm bầu bạn với
ngàn đời trước, lấy bao kiếp lâu xa làm nhà,
chẳng cao. Thuận theo hiện thời, lấy những
thứ trước mắt làm nhà, chẳng thấp hèn. Bởi
lẽ, bậc chí nhân hiểu rơ muôn điều cảnh ngộ
là mộng huyễn, nhất tâm b́nh đẳng như hư
không, dùng cái tâm hư không ứng với cảnh ngộ mộng huyễn, chuyện đă qua chẳng
truy cầu, chuyện đưa đến chẳng cự
tuyệt, tùy ư mà thôi! “Trời đất là
nhà của ta”, ư vốn là như thế.
Há có phải thật sự là đem mảnh ngói sánh với trời thẳm, coi đại địa là bậc
thềm ư?
Lại nữa, người biết đạo sẽ lo [chính ḿnh] thiếu sót sự phản tỉnh trong
nội tâm, chẳng lo những lời đàm luận bên
ngoài lấn lướt! Cầu sao hợp với trời,
chẳng cần phải cầu người
khác không bàn tán về ta! V́ thế, người tự tin sẽ
chẳng bị nhăng chí bởi khen chê. Kẻ biết uốn
nắn chính ḿnh, sẽ chẳng động tâm bởi an
nguy. Nỗi bực bội của ông cũng là do chưa thấy
rơ lư đấy chăng?” Do vậy, ư niệm của khách liền
được ngay lập tức cởi gỡ!
* Ghi chép về ḷng hiếu
Lư cư sĩ từ Lan Khê tới,
nói có người bạn là Triệu Vỹ v́ mẹ mà cắt
thịt đùi [làm thuốc dâng mẹ], mạng mẹ
được toàn vẹn, xin tôi một lời
để tặng [cho ông Triệu]. Khi đó, có người
khách ở bên cạnh hỏi: “Làm phận con, cha mẹ có bệnh,
cắt thịt đùi để dâng là hiếu ư?”
Đáp: “Đúng vậy!” “Tóc, da nơi thân thể nhận từ
cha mẹ, chẳng dám hủy hoại hay tổn
thương là hiếu ư?” Đáp: “Đúng vậy!” Khách
ngạc nhiên hỏi: “Thầy nói trước sau rối loạn,
tôi càng hết sức nghi hoặc!”
Đáp: - Tôi nói rơ với ông, hủy hoại,
tổn thương v.v… tức là chẳng tu thân, mắc phải
h́nh phạt, tru lục, và chẳng thận trọng cái thân khiến cho chân tay hư
găy, mặt bị hủy hoại, chẳng phải là nói
đến chuyện cắt thịt đùi! Nếu không, do
móng tay dài mà cắt, do lưng đau mà đấm, do ung nhọt mà châm cứu th́ đều
gọi là bất hiếu! Thân đă là di thể của cha mẹ,
chẳng bị hành h́nh, chẳng bị tru lục, chẳng
làm hư găy, chẳng bại hoại khiến cho cha mẹ
xấu hổ, c̣n như xẻo thịt đùi để kéo dài tuổi thọ cho mẹ, kẻ bất
hiếu làm được như thế ư? Tuy vậy,
biết xẻo thịt đùi là hiếu th́ được,
chứ ắt phải cắt thịt đùi rồi mới tính là tận hiếu th́ không
được. V́ sao? Tứ Đại chẳng có, Ngũ
Uẩn vốn là không. V́ thế, cái bị cắt giống
như đất, gỗ v.v… Người có thể cắt
như hư không. Ân t́nh mẹ con như chuyện trong mộng,
hủy thương và chẳng hủy thương như bọt
nước sanh diệt. Như thế th́ chẳng tổn một
mảy lông mà gọi là “đại hiếu”. Vị cư
sĩ ấy đă quy tâm nơi nội giáo, mong hăy suy
nghĩ lời tôi nói.
* Nói về tên tự của cư sĩ Trần
Quảng Tấn ở đất Mân
Chức quan cửu phẩm
là hàng tấn thân[40]
trong thế gian. Chín phẩm đài sen chính là tấn thân
trong Tịnh Độ. [Trong triều đ́nh], kẻ sĩ đông đảo; [nơi Cực Lạc], các vị thượng
thiện nhân, ư nghĩa [“tấn
thân”] hệt như nhau. Nhưng sanh Tịnh Độ cũng có
chuyện cầu danh ư? Chúng sanh chấp trước, lưu luyến Sa Bà, Như
Lai nêu dạy Tịnh Độ; dạy họ bỏ cái kém cỏi, chọn lấy thù
thắng cũng là do t́nh thế mà hướng dẫn tạo
lợi ích đó thôi. Không cơi mà là cơi, vô sanh mà sanh, chẳng
có phẩm mà là phẩm; đó gọi là cực phẩm!
* Nói về tên tự của cư sĩ
Giang Quảng Ưu
Ưu (䆜) là “không”, phải nên
có hiệu là Không Hữu cư sĩ. Cụ Bàng nói: “Chỉ
nguyện rỗng không các sở hữu. Cẩn thận
đừng coi cái chẳng có ǵ
là thật sự có”. Muôn sự trong thế gian đều
hư huyễn, vốn sẵn là vô; do vậy, nguyện là
Không. Cẩn thận đừng thật sự chẳng có
ǵ hết! Biết “hữu chẳng phải là hữu”, vọng
tưởng tự tiêu. Các vọng đă tiêu, chẳng có ǵ
là Chân để đối
đăi!
* Nói về “Tự Văn” (v́ Vương Vạn
Cơ Quảng Quyển ở Giang Hữu)
Quyển (慻) nghĩa là “nh́n lại”, hồi quang
xem ngược lại. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Tương
văn tŕ Phật Phật, hà bất tự văn văn?”
(Ngươi đă có thể dùng tánh Nghe nơi nhĩ căn
để nghe pháp thành Phật của mười
phương chư Phật, v́ sao chẳng dùng nó để
quay lại nghe nơi tánh Nghe)[41].
V́ thế, đặt tên tự là Tự Văn (自聞, tự nghe). Lại nói: “Toàn nhữ đảo văn
cơ” (Hăy
xoay ngược lại cái cơ cấu (hoặc thói quen)
nghe [âm thanh từ bên ngoài] lại). Lại nói: “Phản
văn văn tự tánh” (xoay lại để nghe
nơi tự tánh) đều là ư này. Do vậy, tôi soạn nửa bài kệ rằng: “Tương
niệm niệm Di Đà, tùy ưng tự niệm niệm”
(hăy đem ư niệm đang niệm Di Đà trong mỗi niệm để biến
thành tâm niệm tự phản tỉnh
của
chính ḿnh).
* Nói về tên tự của ba đứa
con ông Trương
Tiên sinh Trương Thanh Khê
có ba đứa con trai. Ông đặt tên cho con trưởng
là Tỉnh (省), nói: “Đứa
con này mù mắt, Tỉnh là do Thiếu (少) và Mục (目) hợp thành”. Đứa
con kế đặt tên là Liệt (劣), bảo:
“Do đứa con này lùn chủn, Liệt là Thiếu (少) và Lực (力) hợp thành”. Đứa
con út được đặt tên là Bộ (步), bảo:
“Đứa con này các tướng
mới đầy đủ. Bộ là so với chữ Thiếu
[nhiều nét hơn][42],
từ đó bèn thôi [không sanh thêm nữa]”. Do vậy,
ông ta gặp tôi nói: “Ba đứa con của tôi được
đặt tên như thế, mong thầy
hăy v́ tôi đặt tên tự cho chúng”. Tôi bèn đặt tên tự
cho Tỉnh là Nhữ Minh (汝明). Phàm kẻ
chẳng thấy được ǵ sẽ có thể
phát khởi chân kiến trong thiên hạ. Tỉnh chẳng
có mắt mà có mắt. V́ thế, nhận lấy chữ
Minh. C̣n Liệt có tên tự là Nhữ Thắng (汝勝). Phàm người khiếp
nhược mà có thể vun bồi ḷng dũng cảm, sẽ
có thể thành bậc đại dũng trong thiên hạ, Liệt
tuy chẳng có sức mà có sức vậy. V́ thế, nhận lấy chữ
Thắng.
Đối với Bộ, có tên tự là Nhữ Tấn (汝進). Phàm có mắt th́ có thể
chiếu soi, có sức th́ có thể hành. Có thể chiếu sẽ tiến,
chẳng mê. Có thể đi sẽ tiến, không bị trở
ngại, thực hiện to lớn, chẳng phải là
đứa con này th́ là ai đây? V́ thế, nhận lấy
tên là Tấn. Ông Thanh Khê học rộng, chuộng lễ, nỗ
lực thực hiện đạo xưa, có hạnh hiếu,
từ, liêm khiết, được xóm làng b́nh luận coi
trọng; tôi biết hậu
duệ của ông ắt hưng vượng. Ba đứa con tuy bẩm
thọ h́nh thể khác nhau, dẫu tầm thường, há
có tổn hại chi? Do vậy, bèn v́ họ nói.
14.6. Kệ tụng (ghép thêm vào di cảo)
* Từ Thánh hoàng thái hậu[43] sai
nội thị hỏi pháp yếu, kính dùng kệ để
đáp
Tôn vinh hào quư giả, diêu
túc thực thiện nhân. Nhân thắng, quả tất long.
Kim thành đại phước tụ. Thâm đạt tội
phước tướng. Quả trung cánh thực nhân. Dụ
như cẩm thượng hoa, trùng trùng mỹ vô tận.
Như thị tu phước dĩ, phục ưng thận
quan sát. Tu phước, bất tu huệ. Chung phi giải
thoát nhân. Phước huệ nhị câu tu. Thế, xuất
thế đệ nhất. Chúng sanh chân huệ tánh, giai
dĩ tạp niệm hôn. Tu huệ chi yếu môn, đản
nhất tâm niệm Phật. Niệm cực, tâm thanh tịnh. Tâm tịnh, độ diệc
tịnh. Liên đài tối thượng phẩm, ư trung
nhi thọ sanh. Kiến Phật, ngộ Vô Sanh. Cứu cánh
thành Phật đạo, tam giới vô luân thất. Thị
danh đại tôn quư.
(Kẻ tôn, vinh, hào, quư, do xưa gieo nhân
lành. Nhân tốt, quả ắt thịnh. Nay thành khối
phước lớn. Hiểu sâu tướng tội phước,
trong quả lại gieo nhân. Ví như hoa trên gấm. Trùng
trùng đẹp vô tận. Đă tu phước như thế,
lại quan sát cẩn thận. Tu phước chẳng tu huệ,
chẳng phải nhân giải thoát. Phước lẫn huệ
đều tu; thế, xuất thế
bậc nhất. Chúng sanh chân huệ tánh, đều mờ bởi
tạp niệm. Môn trọng yếu tu huệ, chỉ nhất
tâm niệm Phật. Niệm cực, tâm thanh tịnh. Tâm tịnh,
cơi cũng tịnh. Đài sen tối thượng phẩm, bèn thọ sanh trong đó. Thấy Phật,
ngộ Vô Sanh. Rốt ráo thành Phật đạo. Tam giới
chẳng sánh bằng, gọi là đại tôn quư).
* Kệ Pháp Hoa Sớ
Duy Diệu Pháp Hoa, thịnh
truyền Chấn Đán. Hữu tín tỳ-kheo, dục trùng
tử chi. Nghệ bỉ đào danh, đại cư sĩ
sở, cầu ư sớ văn, mộ hóa tứ chúng.
Cư sĩ tác kệ, dĩ văn chúc ngă. Ngă diệc vô
văn, nhi tác kệ viết: - Thử Pháp Hoa kinh, bản
bách nhị thập, kế nhất bản trị, chánh thập
nhị thù. Tích lục thập kim, bản tắc thành tựu.
Ngă kiến cự thất, phục ngoạn yến nhạc, thiểu
phần chi phí, túc cấu toàn kinh. Vân hà thế nhân, vị bỉ
phất tích, vị thử tắc lận. Nhi ư kỳ
trung, điên đảo hành sự? Tích Phật minh hối,
năng ư mạt pháp, diễn thuyết thử kinh, tận
thế nan sự, nan trung chi nan, sở bất năng cập.
Ngă vị Mạt Pháp, năng khắc thử kinh, diệc phục
như thị. Ta hồ thử kinh, thư giả danh bút, mô
giả danh mộc, lũ giả danh nhẫn, thành giả vi
tự. Nhi kim thử kinh, đương tại hà xứ?Minh tinh huỳnh huỳnh, sở
bất năng chứng. Song Lâm liêu liêu, sở bất
năng diệt. Trượng lục xích thân, sở bất
năng súc. Thiên trượng biến giới, sở bất
năng thư. Dược Vương phần thân, sở bất
năng cúng. Đại ngưu chi xa, sở bất năng tải.
Hỏa trạch xí diễm, sở bất năng thiêu. Quán
Âm thiên nhăn, sở bất năng đổ. Ác ma chúng loại,
sở bất năng thương. Chư đà la ni, sở
bất năng hộ. Cửu tŕ Pháp Đạt, sở bất
năng tụng. Vong cú Tào Khê, sở bất năng mẫn.
Ta hồ thử kinh, nhược vị khắc
chi? Thị cố
ngă thuyết,
năng khắc thử kinh, thị vi thậm nan. Nguyện
văn nan giả, cộng thành sở nan.
(Kinh Diệu Pháp Hoa,
truyền rộng Chấn Đán. Có tỳ-kheo tin, muốn
khắc in lại, đến đại cư sĩ, là bậc
trốn danh, cầu soạn sớ văn, quyên mộ tứ
chúng. Cư sĩ soạn kệ, giao văn cho tôi. Tôi
cũng chẳng soạn, bèn viết kệ rằng: - Kinh
Pháp Hoa này, bản khắc sẽ gồm, trăm hai
mươi ván. Tính ra mỗi ván, giá hai mươi thù, cộng sáu
mươi lạng, đủ khắc toàn bộ. Tôi thấy
nhà giàu, ăn, chơi, tiệc tùng, bớt chút chi phí, đủ
thỉnh cả kinh. Cớ sao người đời,
ăn dùng chẳng tiếc, sao với chuyện này, ôm ḷng
keo tiếc, hành sự điên đảo, đối với
chuyện này? Xưa Phật dạy rơ, trong đời Mạt
Pháp, diễn nói kinh này, khó nhất trong đời. Chuyện
khó khăn nhất, chẳng thể sánh bằng. Tôi nói Mạt
Pháp, khắc in kinh này, cũng lại như thế. Than ôi
kinh này, để viết là bút, làm khuôn là gỗ, khắc là
dao bén, khắc thành những chữ. Nhưng nay kinh này,
đang ở nơi đâu? Sao Mai vằng vặc, chẳng
thể chứng được. Song Lâm vắng vẻ, chẳng
thể diệt được. Thân một trượng
sáu, chẳng thể rút ngắn. Ngàn trượng khắp
cơi, chẳng thể vươn dài. Dược Vương
đốt thân, chẳng thể cúng dường. Xe trâu to lớn,
chẳng thể chuyên chở. Nhà lửa hừng hực, chẳng
thiêu đốt được. Quán Âm ngàn mắt, chẳng
thể thấy được. Các loại ác ma, chẳng
thương tổn được. Các đà la ni, chẳng
thể bảo vệ. Pháp Đạt tŕ lâu, chẳng thể
tụng được. Tào Khê quên câu, chẳng thể mất
được. Than ôi kinh này, v́ sao lại khắc? Do vậy,
tôi nói: “Khắc in kinh này, quả
là rất khó. Nguyện người nghe khó, cùng thành điều
khó!”)
* Tứ Liệu Giản khuyên tu
Tác phước, bất niệm
Phật. Phước tận, hoàn trầm luân. Niệm Phật,
bất tác phước. Nhập đạo đa khổ
tân. Vô phước, bất niệm Phật. Địa ngục,
quỷ, súc quần. Niệm Phật kiêm tác phước, hậu
chứng Lưỡng Túc Tôn.
(Làm phước, chẳng niệm Phật.
Phước hết, vẫn trầm luân. Niệm Phật,
chẳng làm phước, nhập đạo lắm cay
đắng. Chẳng phước, chẳng niệm Phật,
địa ngục, quỷ, súc sanh. Niệm Phật kiêm làm
phước, sau chứng Lưỡng Túc Tôn.
* Tự vịnh bước vào tuổi
năm mươi (sáu bài kệ)
1) Ngă kiến thế nhân
tác sanh nhật. Tăng, đạo thiết trai, tục thiết
tịch. Thiết trai, ngă diệc úy bôn ba. Nhất tháp tiêu
nhiên tọa hư thất. Niệm niệm hồi quang bất
bối ân. Thị tắc danh vi tác sanh nhật.
(Ta thấy người đời làm sinh
nhật. Tăng, đạo thiết trai, tục bày tiệc.
Thiết trai ta cũng sợ bôn ba. Một chơng ngồi lặng
nơi pḥng trống. Niệm niệm hồi quang chẳng
phụ ân. Đấy chính gọi là “làm sinh nhật”).
2) Ngă kiến thế nhân hạ sanh nhật.
Tửu bô, kim, châu, tịnh ỷ hộc.
Cánh nhiêu cẩm tự măn hoa đường. Nạp
tăng phận thượng hào vô ích. Hàng ma cao thụ thái
b́nh kỳ. Thị tắc danh vi hạ sanh nhật.
(Ta thấy người đời mừng
sinh nhật. Rượu, thịt, vàng, châu, và lụa là. Lại c̣n chữ gấm
đầy nhà đẹp. Trọn vô ích cho kẻ xuất
gia. Hàng ma giơ cao cờ thái b́nh. Đó chính gọi là “mừng sinh nhật”).
3) Ngă kiến thế nhân tỵ
sanh nhật, khỏa lương tiềm h́nh nhập sơn
cốc. Quái ngă phiên tùng sơn cốc lai. Lục nhai tam thị
vô nhân thức. Mịch y sanh xứ liễu nhiên vô. Thị tắc
danh vi tỵ sanh nhật.
(Ta thấy người đời tránh sinh
nhật. Bọc lương, giấu h́nh vào hang núi. Trách ta lại
từ hang núi ra. Sáu phố, ba chợ, chẳng ai biết.
T́m chỗ nương sống, trọn
chẳng có. Đó chính gọi là “tránh
sinh nhật”).
4) Ngă kiến thế nhân nhận
sanh nhật. H́nh hài sơ hướng bào thai xuất. Tiện
đạo thân tâm tự thử thành. Muội khước
minh châu môn ảnh tích. Hoát nhiên phụ mẫu vị sanh tiền.
Thị tắc danh vi nhận sanh nhật.
(Ta thấy người đời nhận
sanh nhật, h́nh hài vừa thoát khỏi bào thai. Liền nói
thân tâm từ đấy thành. Mê mất minh châu, ṃ bóng dáng. Rỗng
rang trước khi cha mẹ sanh. Đó chính gọi là “nhận sinh nhật”).
5) Ngă kiến thế nhân sổ
sanh nhật. Nhất, nhị, tam tuế, năi chí bách. Tùng
đầu Giáp Kỷ hựu Canh, Nhâm. Khước thị
không trung luận điểu tích. Liễu tri tứ thập
cửu niên phi. Thị tắc danh vi sổ sanh nhật.
(Ta thấy người đời đếm
sinh nhật: Một, hai, ba tuổi, cho tới trăm. Từ
đầu Giáp, Kỷ đến Canh, Nhâm. Toàn luận dấu
chim bay trên không. Biết bốn
chín năm toàn sai trái. Đó chính gọi là “đếm sinh nhật”).
6) Ngă kiến thế nhân phạ
sanh nhật. Nhất niên, niên
lăo vô thường bức. Sấn thời tác lạc hà thái
si? Luyện h́nh vĩnh thế chung vô thật. Thỉnh quân
nỗ lực ngộ Vô Sanh. Thị tắc danh vi phạ
sanh nhật.
(Ta thấy người đời sợ
sinh nhật. Mỗi năm tuổi già vô thường bức.
Chụp giật t́m vui sao quá si? Luyện thân sống măi, trọn
chẳng thật! Xin ông nỗ lực ngộ Vô Sanh, đó chính gọi là “sợ sinh nhật”).
* Dạy Quảng Vị
Bệnh tùng thân sanh, thân
tùng nghiệp sanh. Bất tạo chư nghiệp, họa
tiêu, phước tăng. Sa Bà niệm Phật, Cực Lạc
tiêu danh. Nhất tâm bất loạn, thượng phẩm vị
đăng.
(Bệnh từ thân sanh, thân từ nghiệp
sanh. Chẳng tạo các nghiệp, họa tiêu, phước
tăng. Sa Bà niệm Phật, Cực Lạc nêu danh. Nhất
tâm bất loạn, đạt lên thượng phẩm).
* Dạy Quảng Chiếu
Bất tu sách kệ, kệ
diệc tánh Không. Chân chiếu bất diệt. Thị nhữ
kỷ cung.
(Chẳng cần t́m kệ, kệ cũng
tánh Không. Chân chiếu chẳng diệt. Chính bản thân ông!)
* Dạy Đại Văn
Tŕ giới niệm Phật.
Khất thực chi mạng. Như thị tố khứ,
pháp ngữ dĩ cánh.
(Tŕ giới niệm Phật,
khất thực nuôi thân. Cứ hành như thế, pháp ngữ
đă xong).
* Do Tánh Linh mà dạy đại chúng
Lung á si tăng, danh viết
Tánh Linh. Thế gian hảo ác, hà túc b́nh luận? Thị, phi,
trường, đoản, hà tất cưỡng phân? Dĩ
thử bất thuyết, tức đỗ họa môn.
Dĩ thử vật thính, tức tắc báng môn. Dĩ thử bất
nghi, thành tựu tín môn. Nhân năng học ngă, vạn họa
vô xâm. Tái hoặc tinh tấn, thánh đạo khả thành.
(Tăng si điếc câm, tên
là Tánh Linh. Thế gian tốt xấu, há đáng b́nh luận?
Đúng, sai, ưu, khuyết, cớ ǵ cưỡng phân? Do vậy
chẳng nói, liền lấp cửa họa. Do vậy đừng
nghe, liền bít cửa báng. Do vậy chẳng nghi, thành tựu
tín môn. Người học
theo ta,
muôn họa chẳng xâm. Nếu c̣n tinh tấn, thánh đạo
chắc thành!)
* Vị tăng Đại Văn cầu kệ,
ban cho pháp tự là Vô Ngoại, hiệu là Hàm Không
Vạn tượng chi
trung, duy Không vi đại. Không tại ngă tâm, miểu
như nhất giới. Đại tai tâm hồ, thùy dữ
đối đăi? Vô đối đăi cố, thị dĩ
vô ngoại.
(Trong muôn h́nh tượng, chỉ Không là lớn.
Không trong tâm ta, bé như hạt cải. Lớn thay cái tâm,
đối đăi với ai? Do chẳng đối đăi,
cho nên chẳng ngoài!)
* Dạy Đại Trác
Hữu sanh tất hữu
tử. Trường đoản an túc luận? Kim đắc
viên tăng tướng, b́nh sanh nguyện dĩ măn.
Đương sanh đại hoan hỷ. Thiết vật
hoài ưu năo. Vạn duyên câu phóng hạ. Đản nhất
tâm niệm Phật. Chú tưởng Cực Lạc quốc.
Thượng phẩm liên hoa sanh. Kiến Phật ngộ Vô
Sanh. Hoàn lai độ nhất thiết.
(Có sanh ắt có tử; dài, ngắn há đáng luận? Đắc
tăng tướng viên măn, nguyện b́nh sanh đă thỏa.
Nên sanh đại hoan hỷ, chớ ôm ḷng ưu năo. Muôn
duyên đều buông xuống, chỉ nhất tâm niệm Phật.
Chú tâm tưởng Cực Lạc, sanh trong sen thượng
phẩm. Thấy Phật, ngộ Vô Sanh. Trở lại độ hết thảy).
* Kệ trong ngày Tăng Tự Tứ
Hữu quá như bệnh
nhân. Cử quá như y vương. Húy bệnh, nhi ố y.
Thị danh đại ngu si.
(Có lỗi như người bệnh. Nêu lỗi như y vương. Kiêng bệnh,
ghét y sĩ; gọi là đại
ngu si).
* V́ tỳ-kheo ác khẩu mà sám hối tội
lỗi
Khẩu xuất uế ngữ,
như lưu thư trùng. Nhĩ thân như xí, thỉ niệu
sở tùng. Tử tại địa ngục, hiệu viết
Dương Đồng. Lê canh bạt thiệt, thống triệt
tâm hung. Báo măn vi nhân. Hạ tiện, bần cùng. Thanh á, khẩu xú. Vô cô chiêu hung.
Ngôn túng hữu lư, nhân bất thính tùng. Ô hô, ai tai! Minh khắc ư
trung.
(Miệng thốt lời thô uế, như
tuôn ra trùng, gịi. Thân ngươi như nhà xí, phân tiểu chất
chứa đầy. Chết đọa trong địa ngục,
có tên Nước Đồng Sôi. Rút lưỡi ra cày bừa.
Đau thấu tận tâm can. Báo hết, lại làm người.
Hạ tiện, c̣n nghèo túng. Tiếng ậm ọe, miệng
thối. Vô tội, chuốc họa hung.
Dẫu nói năng hợp lư, chẳng ai thèm nghe theo. Than ôi,
buồn bă thay! Hăy ghi tạc nơi ḷng!)
* Tánh Tường và Tánh Thường cầu
được dạy bảo
Tác thiện trí tường.
Thiện diệt, tường diệt. Hữu vật
vĩnh tồn. Miên bỉ khoáng kiếp. Phi thiện, phi ác.
Phi tường, phi ương. Thị cố xả huyễn.
Trụ ư chân thường.
(Làm thiện, lành đưa tới. Thiện
diệt, lành diệt theo. Có vật tồn tại măi, kéo dài
bao kiếp số. Chẳng thiện, cũng chẳng ác. Chẳng
lành, chẳng ương hại. Do vậy, hăy bỏ huyễn.
Trụ ở trong chân thường).
* Ngày Tân Xuân dạy đại chúng
Kim nhật hạ tân Xuân.
Tuế thời trùng hoán khước. Tạc nhật thậm
ma sanh? Thập nhị nguyệt nhập bát.
(Hôm nay mừng Xuân mới. Tháng, năm lại đổi khác. Hôm qua như thế
nào? Ngày Hăm Tám tháng Chạp!)
* Nghỉ tại viện Địa Tạng
Tế
Ninh thành, Địa Tạng viện, ẩn ẩn do văn
phát hoằng nguyện. Xảo Thiền ḥa không bát hoàn gia. Si
đạo nhân mại y măi miến. Khiết miến nhân
hưu loạn yết. Chiếu quản hung trung thạch
đầu phiến.
(Thành Tế
Ninh, viện Địa Tạng, loáng thoáng c̣n nghe phát hoằng
nguyện. Thiền nhân giỏi, bát rỗng về
nhà. Si đạo nhân bán y mua ḿ. Người ăn ḿ, ngừng nuốt x́ xụp!
Xét soi tảng đá ngay trong ngực!)
* Vị tăng hoàn tục lại xuống
tóc vào Linh Ẩn
Sổ niên Phật điện
mạn diên, nhất thuấn ma
cung chấn túc. Tức phi tân khởi quy mô. Nguyên thị bổn
lai diện mục.
(Mấy năm điện Phật lan man; chớp mắt, cung ma rung chuyển. Chẳng phải quy
mô mới dựng, vốn là bộ mặt sẵn có.
* Đáp Thị Lang Vương Kính Sở ở
Thai Châu
Hỏi: “Đêm đến,
đầu giường chuột rúc rích, nói trọn hết
một bộ kinh Hoa Nghiêm”. Sư nói: “Khi mèo xông ra th́ như thế nào?” Ông
Vương không đáp được. Sư tự đáp
thay: “Pháp sư bỏ chạy, lưu lại bàn giảng kinh”. Do vậy, viết
bài tụng rằng:
- Lăo thử tức tức,
Hoa Nghiêm lịch lịch. Kỳ tai Vương thị lang,
khước bị súc sanh hoặc. Miêu nhi đột xuất
họa đường tiền. Sàng đầu thuyết
pháp vô tiêu tức. Vô
tiêu tức, Đại Phương Quảng Phật Hoa
Nghiêm Kinh, Thế Chủ Diệu Nghiêm phẩm đệ nhất.
(Chuột kêu rúc rích, Hoa Nghiêm rành rành. Lạ
thay Vương thị lang, bị súc sanh mê hoặc. Mèo xông
ra trước nhà vẽ. Đầu giường
thuyết pháp không tin tức. Không tin tức, Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Thế Chủ Diệu Nghiêm phẩm
đệ nhất).
* Thải quyết thán (than thở về chuyện
hái rau quyết)
Vân Thê chủ nhân ái thực
quyết. Nạp tử sơn tiền quần thải chiết.
Thải quy, thực dĩ, tẩy túc tọa. Đao đao
hoán ngă đàm tâm quyết. Tâm quyết hà tu đăi ngă đàm?
Tha quá sơn tiền hảo thời tiết. Quyết quyết,
thụ khởi quyền đầu hướng nhữ thuyết!
(Vân Thê chủ nhân thích ăn rau quyết[44],
nạp tử xúm nhau hái bẻ trước núi. Hái về,
ăn xong, rửa chân ngồi.
Lao xao kêu tôi bàn tâm quyết. Tâm quyết cần ǵ đợi
tôi bàn? Lần khân trước núi, thời tiết đẹp.
Rau quyết, dựng đứng nắm đấm nói với
ngươi!)
* Đêm thất tịch[45]
Cựu niên kim nhật khất
xảo, sanh thiết lê đầu tiếu đảo. Nhất
quyền đả phá tử sanh quan. Lộ xuất
đường đường sư tử mạo.
(Ngày này năm xưa cầu khéo léo,
được lưỡi cuốc sắt, cười
lăn chiêng. Một đấm đánh vỡ ải tử
sanh. Lộ ra ngạo nghễ dáng sư tử).
* Thả ốc có cảm xúc
Bàn bàn khúc khúc, thâm thâm mật
mật. Xuất môn tắc đới thủy, tha nê. Bế
hộ tác mẫn tung tuyệt tích. Hiểm tao ngọc đảnh
điều ḥa. Ky bị kim châm khiêu dị. Kim lai phục nhập ba đào,
đản nguyện vĩnh ly la chức. Hưu hiềm chi
thể liêm tiêm. Mạc quái lang pḥng trách tắc. Nhược
tri viên giác tác già-lam, nhăn tiền tiện thị kim cang quật.
(Quanh co, ngoằn
ngoèo, sâu sâu, kín kín. Ra cửa
bèn vấy nước, lôi bùn; đóng cửa,
ắt bặt tăm tung tích. Gặp hiểm:
Vạc ngọc nấu đun; sắp bị
kim vàng khêu chọc. Nay lại được vào trong sóng
nước, chỉ mong vĩnh viễn ĺa lưới rập.
Đừng ngại chi thể mảnh mai, chớ trách hành
lang chật hẹp. Nếu biết Viên Giác làm già-lam, trước
mắt chính là hang kim cang).
* Đèn kéo quân
Nhân duyên động noăn thấp
kiên. Ḥa hợp thanh hoàng xích bạch. Linh minh nhất điểm
vô khuy. Luân chuyển thiên hồi bất hiết. Viên dung thủ
vĩ giao tham. Hàng bố hậu tiên mạc việt. Thả
đạo kiếp kiếp ba ba. Thùy thị đáo gia thời tiết?
Di! Nhất hồi hỏa diệt yên tiêu, quản thủ an
nhàn tịch mặc. Thị tắc thị, khủng nhữ mặc ám lư tọa.
Thứ phá hướng thượng cơ quan. Nhậm thủ
quang huy đỗng triệt.
(Do nhân duyên: nóng,
động, ướt, cứng[46].
Ḥa hợp sắc đỏ, trắng, xanh, vàng. Một điểm linh minh chẳng
khuyết chút nào. Xoay vần dẫu ngàn lượt chẳng
ngừng. Viên dung: Đầu đuôi nối
tiếp nhau. Xếp thứ tự: Trước, sau
chẳng vượt. Lại nói kiếp này, kiếp nọ,
bao giờ sẽ về đến nhà? Ôi! Một phen lửa
tắt, khói tiêu, chắc chắn an nhàn, thinh lặng.
Đó chính là sợ ngươi ngồi trong hắc ám, nh́n
thấu suốt mấu chốt hướng
thượng, mặc cho ánh sáng chiếu thấu triệt).
* Dạy Tỉnh Ngô
Tăng Tử ngô tỉnh
ngô, Trang Sinh ngô táng ngă. Trang nhược phạm dị
đoan. Phu tử diệc nan đóa. Ư tất cố ngă tứ
giai vô. Vô ngă táng ngă đồng nhất khỏa.
(Tăng Tử: Ta phản tỉnh chính ta.
Trang Sinh: Ta tự mai táng ta. Trang Sinh nếu phạm dị
đoan, phu tử cũng khó ḷng ẩn náu. Ư chắc, ta tứ
đại đều không. Vô ngă chôn ta cùng một lối).
* Gởi cư sĩ Trầm Kiến Hành
Ngũ thập niên tiền
vịnh Kiến Hành. Nhất tự miêu h́nh, bất thức
diện. Yếu tương vô kiến đương huyền
tu. Dă hồ ngụy tác kim mao hiện. Nguyện y phu tử
chân thật ngôn. Niệm niệm tồn thành, tâm bất biến.
Nhất triêu ngộ thủ Thủ Lăng Nghiêm. Kiến kiến
chi thời phi thị kiến.
(Năm mươi năm
trước vịnh Kiến Hành. Tợ như tả h́nh,
chẳng biết mặt! Hăy coi “chẳng thấy” là huyền
tu. Chồn hoang vờ làm lông vàng hiện. Nguyện
nương phu tử lời chân thật. Niệm niệm
chân thành, tâm chẳng biến. Một mai ngộ hiểu Thủ
Lăng Nghiêm. Lúc thấy Kiến sẽ chẳng phải là
thấy).
* Ghép thêm vào bài kệ trước để
răn đừng nói hư vọng
Khóa thượng bạch
ngưu xa. Xích mộc hoành đương diện. Đảnh
môn nhăn viên tĩnh. Chánh kiến thời thời hiện.
Thiên tŕnh phục vạn tŕnh. Vĩnh kiếp hà tằng biến?
Tất cánh thị thậm ma lai? Hắc kiểm hồ
tăng tọa bích biên. Nhất vật bất tồn
như thị kiến.
(Ngự trên xe trâu trắng.
Thước gỗ đặt ngang mặt. Đỉnh
đầu trợn tṛn mắt. Chánh kiến luôn luôn
hiện. Ngàn tŕnh lại vạn tŕnh. Bao kiếp chẳng hề biến. Rốt cuộc
cái ǵ đến? Hồ tăng mặt đen ngồi bên
vách. Một vật chẳng c̣n, thấy như thế!)
* Bốn bài tụng về lời lẽ của
cổ nhân
1) Đại âm hy thanh (lớn tiếng mong
có tiếng vọng)
Hang trống sâu thẳm. Vừa
hô, tiếng vọng mười phương. Sấm sét vắng
lặng, một tiếng trống kinh động trăm dặm.
Dường như chim mùa Xuân hót suốt ngày. Trùng mùa Thu kêu ri rỉ suốt đêm. Âm thanh rền
rĩ, chỉ nhỏ tiếng mà thôi.
Do vậy, đức Thế Tôn im lặng hồi lâu, ngoại
đạo nói “[đức Phật] vẹt mây mê cho tôi”.
Không Sanh (Tu Bồ Đề) ngồi im chẳng
nói, mà Đế Thích bảo ‘khéo nói Bát Nhă”. Tiếng lớn
mong tiếng vọng chẳng phải là nói về chuyện
này ư? Tụng rằng:
- Bất âm chi âm, danh viết
Chí Âm. Trầm trầm tịch tịch, hống động
càn khôn. Vô khấu nhi minh, cổ nhân sở châm. Học đạo
chi sĩ, mặc dĩ dưỡng chân.
(Âm thanh chẳng phải âm thanh, gọi là
Chí Âm. Trầm trầm vắng lặng, rống động càn khôn. Không gơ
mà kêu, cổ nhân đă răn. Hỡi người học
đạo, thầm dùng dưỡng chân).
2) Đại khí văn thành (căn khí to lớn phải
thành tựu trễ)
Cây tiện, cây tử[47]
ở trên núi, gỗ to ngàn năm dựng thành nhà. Can
Tương đúc luyện [bảo kiếm] chín năm, thần
quang rực trời. Nếu như hoa cẩn sớm nở,
sẽ héo tàn, chẳng [tồn tại] trọn cả ngày.
Con phù du dễ sanh, thọ chẳng đến tối. Nhanh
chóng thành tựu, tiểu khí mà thôi! V́ thế, ngài Trường
Khánh[48]
[tĩnh tọa] rách bảy cái bồ đoàn, khi cuốn rèm
bèn đại ngộ. Ngài Triệu Châu tám chục vẫn
hành cước, kiệt xuất tùng lâm. Đại khí thành
tựu muộn, chẳng phải là nói về chuyện này
hay chăng? Tụng rằng:
- Bất khí chi vật, danh
viết thượng khí. Tích hậu, dưỡng thâm. Nhất
xuất danh thế, dục tốc bất đạt. Cổ
nhân sở thứ. Học đạo chi sĩ, tĩnh
dĩ sĩ thế.
(Vật chẳng thành khí cụ; đó gọi là thượng
khí. Tích chứa dày, dưỡng sâu. Vừa ra, danh rúng đời. Muốn nhanh, sẽ chẳng đạt. Cổ
nhân đă quở răn. Hỡi này người học đạo, tĩnh
lặng đợi thời thế).
3) Đại trí mà như ngu
Ngọc bích giá trị liên
thành, ẩn trong đá tảng, giấu ánh sáng. Chiếu thừa
châu[49]
ẩn trong vực sâu, giấu kín vẻ rực rỡ. Giống
như voi do ngà mà bị đốt thân, chim trả (chim bói
cá, chim phỉ thúy) do lông mà tổn mạng.
Kẻ phô phang trí huệ, tiểu trí mà thôi. V́
vậy, Tào Khê đă khế hợp đạo mầu của
Ngũ Tổ, vẫn làm lụng nhọc nhằn,
vác củi ḥng ẩn giấu tài
năng. Từ Minh đích thân gặp Phần Dương,
mà nhịn nhục chê bai để ẩn giấu tung tích. “Đại
trí như ngu” chẳng phải là nói về những vị
ấy ư? Tụng rằng:
- Bất trí chi trí, danh viết
chân trí. Xuẩn nhiên kỳ dung, linh huy nội xí. Dụng sát kỳ minh, cổ
nhân sở kỵ. Học đạo chi sĩ, hối dĩ
hỗn thế.
(Cái trí bất trí, gọi là chân trí. Dáng vẻ
ngu xuẩn, linh thông sáng rực trong tâm. Xét soi để hiểu, cổ nhân rất kỵ.
Hỡi người học đạo, ẩn tàng né đời!)
4) Đại xảo nhược chuyết
(cực
khéo giống như vụng)
Ngựa kỳ, ngựa kư chở
xa ngàn dặm, mà dấu
chân giống như ngựa hèn. Chiên đàn trị giá bằng
đại thiên, h́nh dạng như củi khô. Khác nào bọ
ngựa vung càng chống bánh xe, lừa khoe tài nghệ
trước hổ đất
Kiềm! Phô
trương tài khéo, tiểu xảo mà thôi! V́ thế, Mă Tổ có đại cơ, đại
dụng, thoạt đầu giữ sự vụng về
nơi cối xay. Hương Nham có thể đáp trăm,
đáp ngàn, rốt cuộc cam tâm học trồng trọt. “Cực khéo giống
như vụng” chẳng phải là nói về chuyện
này hay sao? Tụng rằng:
- Bất xảo chi xảo,
danh viết cực xảo. Nhất sự vô năng, vạn
pháp câu liễu. Lộ tài dương kỷ, cổ nhân sở
thiểu. Học đạo chi sĩ, phác dĩ tự bảo.
(Cái khéo chẳng khéo, gọi
là cực khéo. Chẳng thể làm chuyện ǵ, vạn pháp
đều hiểu rơ. Lộ tài khoe ḿnh, cổ nhân ít thấy.
Hỡi người học đạo, chất phác tự bảo
vệ ḿnh).
14.7. Tán Minh (được khắc
rải rác trong di cảo, đều bổ sung ở
đây)
* Đa Bảo Như Lai tán
Phi ngọc, phi kim ngân. Phi
châu, tê, mă năo. Y Đốn[50]
thất kỳ phú. Hải tạng tàm phạp thiểu. Phổ
ứng chúng sanh cầu, thị danh viết Đa Bảo.
(Chẳng ngọc, chẳng vàng, bạc. Chẳng
châu, tê, mă năo. Y Đốn chẳng c̣n giàu, hải tạng[51]
thẹn khuyết thiếu. Ứng khắp chúng sanh cầu,
đó gọi là Đa Bảo).
* Ca ngợi Bao Thị thêu kinh Pháp Hoa
Tứ thập cửu niên
gian, khai thị Phật tri kiến. Đắc thử nhất
hào đoan, nhất thiết trần trung hiện. Nhân giai dụng
bút mặc. Nhĩ tắc châm ḥa tuyến. Diệp diệp
liên hoa sanh. Tự tự quang minh biến. Tâm tướng bổn
vô h́nh, tức cảnh năng thông biến. Ngă dĩ bút vi
thiệt, kim dụng tư vi tiến. Cộng kết Bồ
Đề nhân, vĩnh chuyển Không Vương điện.
(Trong bốn mươi chín
năm, khai thị tri kiến Phật. Được một
mảy lông này, hiện trong hết thảy trần. Người
đều dùng bút mực, bà dùng kim và chỉ, từng cánh
hoa sen sanh. Mỗi chữ quang minh khắp. Tâm tướng vốn
vô h́nh, tức cảnh thông
trọn
khắp. Ta dùng bút làm lưỡi, nay dùng để đề
cao, cùng kết nhân Bồ Đề, chuyển măi điện
Không Vương).
* Tán dương tượng sư Hư Cốc
Phủ tùng, huề cầm,
du nhiên tự thích. Ngoại nghi đường đường,
nội tâm tịch tịch. Tịch nhi năng ứng, thị
danh Hư Cốc.
(Vỗ tùng, ôm đàn, thanh thản, tự vui. Vẻ ngoài
đường đường, nội tâm vắng lặng.
Tịch mà hay ứng, gọi là Hư Cốc).
* Tán dương tượng Quảng Truyền
Giám Tự Ban Châu Tâm Đăng
Lưu động hề
như châu. Lượng đạt hề như
đăng. Lăo nhi bất quyện hề, như châu trường
hành, đăng trường minh. Thị chi vị truyền pháp độ
chúng sanh.
(Lưu động dường như thuyền.
Lượng đạt tựa như đèn. Già mà chẳng
mỏi mệt, như thuyền bơi đường dài.
Đèn sáng măi. Đấy chính là truyền pháp độ
chúng sanh).
* Tán dương Thiền tượng của
cư sĩ Đại Tư Thành[52]
Phùng Chân Thật
Cổ hữu Phùng công,
đạn tâm Phạm giáp. Tục Khánh Hỷ phong, khinh tài hộ
pháp. Kim hữu Phùng công, triều thị, lâm tuyền, bị
Đạt Ma y, già phu nhập Thiền. Tiên hậu nhị
công, thù hành nhất quỹ, tự không hợp không, như
thủy đầu thủy. Thị chi vị duy hữu chân
thật, phục hà luận hồ b́, tủy?
(Xưa kia có
Phùng công, dốc ḷng nơi
kinh
Phật, nối phong cách Khánh Hỷ, khinh tài hộ pháp. Nay
có Phùng công, phố thị suối rừng, đắp y
Đạt Ma, xếp bằng nhập Thiền. Trước
sau hai vị, khác hạnh nhưng một lối, dường
như không hợp không, như nước ḥa vào nước.
Đó gọi “chỉ có chân thật”, há
luận
da hay tủy?)
* Tán dương tượng cư sĩ
Phương Bá[53]
Ngô Bổn Như
Kỳ trực tâm, kỳ
dung du, kỳ nguyện quảng, kỳ hoài hư. Ân gian
phiên niết, công bị Thích, Nho. Khiết tâm ứ Dương công chi
thái, Lễ hiền trú Văn
Hầu chi xa. Giải
thoát ngạn Đông Pha chi trách. Viên minh ác Long Thư chi châu.
Hộ pháp dă bất phương chánh giáo. An Thiền dă thời
thân bạ thư. Bổn lai diện mục tự như
như.
(Tâm ông thẳng, dung mạo vui, nguyện
ông rộng, tâm ông rỗng rang. Ân hưởng chức Phiên,
Niết[54].
Công trọn Thích và Nho. Tâm thanh khiết, đầy ứ rau
Dương Công[55].
Cỗ xe Văn Hầu[56]
giữ lễ đối với chỗ ở của bậc hiền đức. Mũ
Đông Pha nơi bờ giải thoát. Viên minh nắm châu Long
Thư[57].
Hộ pháp cũng chẳng trở ngại cai trị, giáo
hóa. An thiền cũng luôn chẳng ĺa sổ sách. Bản lai
diện mục tự như như).
* Tán dương tượng quan Đô Khổn Hứa Nguyên Chân
Tướng quân thân, Bồ
Tát tâm. Kiếm kích trường, chiên đàn lâm. Bất ly
huyễn ngă, đắc tự tánh chi nguyên chân.
(Thân tướng quân, tâm Bồ Tát. Chốn
gươm, kích: Rừng chiên đàn. Chẳng ĺa huyễn
ngă, đắc nguyên chân tự tánh).
* Tán dương tượng cư sĩ Trần
Dưỡng Nguyên
Hiếu đễ cung tu,
ôn lương thế thủ. Thỉnh ngạch giả tắc viết nghiễm
Thái Khâu, Vạn Thạch chi phong. Nghị
thụy giả tắc viết kiêm Trọng Ni đức
dung chi hữu. Nhi phục quy tâm giác lộ, tích hành đàn môn, thượng
chí hồ Tịnh Danh, Bàng tẩu, thị vị thánh đại
chi thuần Nho, Lạc
bang chi thiện hữu.
(Hiếu đễ kính tu, ôn, lương giữ
nhiều đời. Người thỉnh ghi biển ngạch
bèn nói ông nghiễm nhiên có phong cách của Thái Khâu và Vạn Thạch[58].
Người bàn đặt thụy hiệu liền
bảo ông c̣n có dung mạo lẫn đức
hạnh như Trọng Ni. Ông lại
quy tâm nơi nẻo giác, hành bố thí sâu dày. Chí tôn sùng Tịnh
Danh và cụ Bàng, đáng gọi là
bậc thuần Nho nơi cửa thánh,
là bạn lành nơi Lạc Bang).
* Tán dương tượng cư sĩ Lư
Tố Ngô Trọng Hư
Mẫn nhi vô kiêu, tích nhi
năng thí, học ưu nhi quyện ư sĩ. Sanh tồn thủ đạo
nhi sức cung. Lâm hành dĩ lư nhi chánh chí. Thành tai! Tố bất
nhiễm trần, hư bất lưu tể. Phù thị chi
vị hoàn trung khai sĩ.
(Mẫn tiệp, chẳng kiêu, tích chứa
hay bố thí. Học giỏi, chán làm quan. Suốt đời tận lực
giữ đạo để trau thân. Sắp mất, dùng lư
uốn nắn ư chí. Chân thành thay! Trong sạch chẳng nhuốm
trần, rỗng rang chẳng thừa cặn. Đấy
đúng là bậc khai sĩ trong cơi trần).
* Đọc tác phẩm Lưu Mẫu Trinh
Thọ Biên
Trinh dĩ tiết xưng,
thọ dĩ nhân thực. Dự bá hương b́nh, vinh lai
đế tích. Hiếu tai lệnh tử, quang dương mẫu
đức.
(Trinh do tiết hạnh đáng ngợi ca,
thọ bởi vun ḷng nhân sâu xa. Tiếng
thơm truyền khắp, làng nước ngợi. Vinh dự,
vua ban sắc chỉ khen. Con hiếu tuyệt vời trong
cơi nước, khiến cho đức mẹ rạng
lưu truyền).
* Tán dương tượng Phùng cư
sĩ ở Giang Âm
Mạo cổ nhi tâm diệc
cổ, học ưu nhi lộc vị ưu. Văn vinh
chương phục, lăo bí viên khâu. Phi thanh sắc hóa lợi
năng di chí. Duy cầm thư trúc thạch dĩ tiêu ưu.
Thị tắc đôn Nho đạo năi sĩ lâm chi dật
phẩm. Tu tịnh nghiệp thật liên thổ chi cao
lưu.
(Dáng cổ, tâm cũng cổ. Học
ưu, lộc chưa ưu[59].
Xế bóng được
áo mũ vinh
hiển. Tuổi già chú tâm
nơi nông tang. Thanh, sắc, tài lợi chẳng dời chí. Chỉ đàn, sách, trúc, đá tiêu sầu.
Chính là bậc giữ vẹn Nho đạo, là bậc cao dật
trong rừng Nho. Là bậc cao cả
tu tịnh nghiệp,
xứng danh thật
sự trong cơi sen.)
* Tán dương tượng cư sĩ Úc
Lan Cốc
Kỳ tâm chân, kỳ hạnh đốc, kỳ
niệm Phật duy nhật bất túc, tiềm đức tự
sanh huy. Lan hương tại u cốc.
(Tâm chân thật, hạnh chuyên dốc, niệm
Phật chỉ lo ngày chẳng đủ. Đức ngầm
tự tỏa sáng, lan hương ngát hang thẳm).
* Tự ca ngợi tượng vẽ [của
chính ḿnh]
1) Sấu nhược
khô sài, suy như lạc diệp, ngai tỷ manh quy. Chuyết
đồng bả miết. Vô đạo khả tôn, vô pháp
khả thuyết. Vấn cừ phu tọa hà vi? Đản
niệm A Di Đà Phật.
(Gầy như que củi khô, suy như
lá rơi rụng. Đần như con rùa mù, vụng
như ba ba thọt. Chẳng
có đạo đáng kính, không pháp để nói năng. Hỏi
ngươi xếp bằng làm chi đó? Chỉ niệm A Di
Đà Phật).
2) (Liễu Toản
Pháp Tràng thượng nhân thỉnh ghi) Y nhục tượng,
xuất chỉ tượng. Chỉ tượng cố bất
chân. Nhục tượng hoàn thành vọng. Na cá thị Vân
Thê ḥa thượng?
(Nương h́nh
tượng xác thịt, vẽ thành h́nh trên giấy. Tượng
giấy cố nhiên chẳng thật, tượng thịt vẫn
thành vọng. Cái nào là ḥa thượng Vân Thê?)
3) (Nguyện thiền
nhân thỉnh đề) Thập họa cửu bất
tượng. Năo sát đan thanh tượng. Thứ cơ thử cận
chi. Quyền lưu tác cúng dường. Nhược đạo
giá tiện thị, y nhiên thành lưỡng dạng. Bất
lưỡng dạng, tam thập bổng!
(Mười lượt vẽ, chín chẳng giống.
Thợ vẽ bực gần chết, ngơ hầu lần này gần tương tự.
Tạm lưu lại cúng dường. Nếu nói tượng
ấy là thật, nghiễm nhiên thành hai thứ. Chẳng hai
thứ, ba mươi hèo!)
* Tự tán dương tượng đá
Giá lăo hán, ngoan như thạch.
Lột ngột hề cù dung. Lang kháng hề sấu cốt.
Thủ si ngai, khốt khốt hề cô nguy một kỹ
lưỡng. Khanh khanh hồ cố chấp kiên dĩ thật.
Thuyên bất đắc, đả mô nhân, đồ bạch
hắc.
(Ông già này, trơ như đá. Dung mạo
c̣m cơi cao sừng sững. Xương xẩu va lộc cộc. Giữ si ngốc, nhọc
nhằn trơ trọi, chẳng tài cán. Ương ngạnh
cố chấp cho là thật. Dùi chẳng thủng, chế tạo
giống như người, nhưng chỉ là đen với
trắng).
Các bài minh được chép
đủ trong Cộng Trụ Quy Ước Tập.
14.8. Thi ca ([các bài thơ] khắc
rải rác trong các tác phẩm và di cảo đều
được thâu thập thêm vào đây)
* Cảnh tỉnh giác ngộ (bốn bài, có lời
tựa)
[Bài thơ] “nhà che
được mưa, gió” do thiền sư Từ Thọ
Thâm soạn. Tôi dùng ba thứ áo, cơm, vật dụng [viết
thành thơ, thêm vào] hợp thành bốn, dán vào bên cạnh chỗ
ngồi để tự cảnh tỉnh, chẳng dám để người hiền nghe
tới.
1) (nguyên tác) Ốc khả
tế phong vũ, hà khổ đấu hoa lệ? Nghiêu, Thuấn
cổ thánh quân. Quang trạch thiên hạ bị. Mao tỳ
vĩ thường tiễn, thổ giai diệc bất thiết.
Bất tri nhĩ hà nhân, lân lân cư đại đệ?
(Nhà che được mưa, gió, sao khổ
đua xa hoa? Nghiêu, Thuấn vua thánh xưa, ân trạch trọn thiên hạ. Mái tranh
chưa từng xén, thềm đất chẳng xếp đá. Chẳng biết
ngươi người nào? Nhà viện lớn san sát!)
Nay tôi nghĩ [thêm các bài như sau]:
2) Thực khả sung cơ tràng. Hà khổ
thượng du mỵ? Khổng, Nhan cổ thánh sư, duyệt
tâm băo nghĩa lư. Nhất đan, phục nhất biều.
Phạn sơ thực, ẩm thủy. Bất tri nhĩ hà
nhân, ph́ cam măn châm kỷ?
(Ăn để no bụng đói, tội
ǵ chuộng béo, ngon? Khổng, Nhan, cổ thánh sư, ḷng vui
no nghĩa lư. Một giỏ cơm, bầu nước.
Ăn cơm rau, uống nước. Chẳng biết
ngươi người nào, béo, ngon đầy bàn, thớt?)
3) Khí khả túc sử lệnh, hà khổ
tác dâm xảo? Thích Ca tam giới sư, vạn đức bị
thiên tảo. Nhất tŕ bát-đa-la, tứ chuế do vị
liễu. Bất tri nhĩ hà nhân, bôi trợ nghiêm tứ bảo?
(Vật dùng được, đủ rồi;
tội ǵ quá tinh xảo? Thích Ca thầy ba cơi, muôn đức
trùm vũ trụ. Ôm một bát-đa-la, vá bốn miếng chưa bỏ. Chẳng biết
ngươi là ai, chén, đũa toàn bảy báu!)
4) Y khả cái h́nh thể, hà khổ
cạnh văn sức? Ca Diếp thủ truyền
đăng, văn dự thiên cổ dật. Đầu
đà bách kết thuần. Lăo tử chung phất dịch. Bất
tri nhĩ hà nhân, biến thân giai ỷ hộc.
(Áo che thân là đủ, tội ǵ đua hoa
mỹ? Ca Diếp khởi truyền đăng, tiếng
tăm rền muôn thuở. Áo đầu-đà trăm mảnh; già, chết trọn chẳng đổi.
Chẳng biết ngươi thế nào? Khắp thân đều
the lụa!)
* Trai tăng
Trai tăng bổn thiện
duyên, nhân quả phi tế sự. Hoặc xâm, hoặc na di.
Ác báo diêu thử trí. Bất kiến hỏa già thiêu, tiêu hạm
thùy hậu thế!
(Trai tăng vốn duyên lành.
Nhân quả chẳng chuyện nhỏ. Xâm phạm, hoặc
chuyển dời, ác báo do vậy lănh. Chẳng thấy gông lửa
đốt, cạm lửa tận đời sau?)
* Lập hội
Khởi hội bổn thiện
duyên, thận vật đồ lợi kỷ! Đồ lợi
nhi khởi hội. Hội khởi, ương diệc khởi. Bảo tŕ
chư thượng nhân, thử hội giai vô tỷ!
(Lập hội vốn duyên lành. Cẩn thận
chớ tư lợi. Mong lợi mà lập hội. Hội lập,
họa cũng dấy. Các thượng nhân ao báu, hội ấy
tuyệt khôn sánh!)
* Tu bổ và kiến tạo
Tu tạo bổn thiện
duyên, tội phước ư trung phục. Tức thử
tạo thiên đường, tức thử tạo địa
ngục. Tạm thời khoa tráng quán, hậu hối bất
năng thục!
(Tu, tạo vốn duyên lành. Tội,
phước ngầm ẩn trong. Do vậy, tạo thiên
đường. Do vậy, tạo địa ngục. Tạm
thời khoe tráng lệ, sau hối chẳng thể chuộc!)
* Trang hoàng và đắp tạc
Trang sóc bổn thiện
duyên, mạc dĩ Phật vi hóa. Khắc thủ Phật
thân tiền, nhất quá thị bách quá. Tự kỷ hảo
Phật đường, lănh lạc vô nhân tọa.
(Trang hoàng, đắp: Duyên lành. Hăy đừng
nên coi Phật, giống như là hàng hóa. Khắc thân Phật
đổi tiền. Một lầm là trăm lỗi. Chính
ḿnh là Phật đường, vắng tanh, chẳng ai ngồi!)
* Thuyết giới
Thuyết giới bổn
thiện duyên. Tu kỷ giới minh bị. Như cổ dẫn
chư manh, bỉ thử cộng điên trụy. Huống
phục vương chế nghiêm, vi chế tiên đắc tội.
(Thuyết giới vốn duyên lành, giới
chính ḿnh phải trọn. Như mù dẫn lũ đui,
đây kia cùng sụp té. Huống chi luật vua nghiêm, trái luật
đắc tội trước).
* Giảng kinh
Giảng kinh bổn thiện
duyên, ưng quán niên dữ giải. Niên thiếu giải vị
tinh. Uẩn quỹ thời hữu đăi. Tốc thành bất
kiên lao. Tảo phát hoàn tiên bại.
(Giảng kinh vốn duyên
lành. Hăy xét tuổi và hiểu. Tuổi nhỏ, giải
chưa tinh. Un đúc phải đợi thời. Chóng thành,
chẳng vững chắc. Sớm phát, sẽ bại trước).
* Tức sự (mười bài)
1) Vị chúng tư Lan Nhă,
điệu đầu xuất tam môn. Ứng mộ điển trù cục, dũng
dược như tiêu bôn. Trú phanh kiêm dạ bào, bộc bộc
cam lao tân, ta lai phục ta lai, tịnh uế hồ bất
phân.
(V́ chúng trông Lan Nhă. Lắc đầu ra tam
quan. Nhận lời mời, trông bếp, hớn hở
như gió cuốn. Ngày nấu kiêm đêm nướng, quần
quật cam nhọc nhằn. Chao ôi lại chao ôi! Tịnh uế
chẳng phân biệt!)
2) Tham phỏng hương
ấp gian, động dĩ lộ dao từ. Ứng duyên
cương vực ngoại. Thúc trang tật khu tŕ. Sơn
thủy kỷ đăng thiệp. Cơ khát hồn vong thời.
Ta tai phục ta tai, khinh trọng chân phất tư.
(Thăm hỏi trong làng, ấp. Lập tức, chối đường
xa. Ứng duyên ngoài cương vực. Sắp hành lư, vội
đi. Trèo non cùng vượt suối. Đói lẫn khát
đều quên. Chao ôi lại chao ôi! Nặng, nhẹ thật
chẳng nghĩ!)
3) Đông lân hữu gia sĩ, thân hằng xử
già-lam. Tây lân xuất gia nhi, tâm duy luyến trần hoàn. Xả
ly thanh tịnh chúng, thiện hữu hô bất hoàn. Ta tai phục
ta tai! Hiền ngu cách thiên đàm.
(Xóm Đông có người đời, thân
luôn ở già-lam. Kẻ xuất gia xóm Tây, tâm chỉ luyến
cơi trần. Ĺa bỏ chúng thanh tịnh, thiện hữu gọi
chẳng về. Chao ôi lại chao ôi! Hiền, ngu khác trời,
vực!)
4) Tiên thời xuất hỏa trạch, thê tử
như cừu thù. Thiếu thời, phản hỏa trạch.
Ân ái nhưng trù mâu. Vong thất tối sơ tâm, hoàng kim biến
thành thâu. Ta tai phục ta tai! Thăng đọa thùy chi
vưu?
(Khi trước, thoát nhà lửa. Vợ con
như cừu thù. Thuở trẻ, về nhà lửa, ân ái vẫn
dày đặc. Quên mất tâm ban đầu, vàng ṛng biến
thành thau. Chao ôi lại chao ôi! Thăng, đọa ai lo
nghĩ?)
5) Cổ văn cửu tích
đức. Hạo thủ do lục trầm. Kim kiến tiểu
hữu tài, niên thiếu nhi tự tôn. Đường
đường cứ cao vị, như sồ cưỡng
lăng vân. Ta tai phục ta tai! Chỉ, tấn diêu nhân tâm.
(Xưa nghe tích đức lâu, đầu bạc
vẫn lặng trầm. Nay thấy trẻ có
tài, tuổi nhỏ mà tự tôn. Nghênh ngang ngôi cao chiếm,
chim non cưỡng vượt mây. Chao ôi lại chao ôi! Tiến,
dừng do ḷng người).
6) Đại thánh thùy kim khẩu,
vị độ chư hữu t́nh. Si tăng tập cổ
giáo, tư chi dĩ doanh sanh. Sở đắc cực vi tiển,
sở thất như khâu lăng. Ta tai phục ta tai! Quư tiện
hào kỳ b́nh!
(Đại thánh thốt lời vàng, v́
độ các hữu t́nh. Si tăng học cổ giáo, dùng đó để mưu sinh. Sở đắc cực
ít ỏi, mất mát như đống, g̣. Chao ôi lại chao
ôi! Quư, hèn bàn lẫn lộn).
7) Tập thính Vô Sanh pháp, như ngao mộc
trát canh. Nhất văn trường sanh thuật, khốc
thị nỗ lực hành. Khí bỉ phệ lưu ly, kiên tŕ
chiểu trung băng. Ta tai phục ta tai! Thủ xả nan
vi t́nh!
(Nghe, tu pháp Vô Sanh, như nếm canh th́a gỗ.
Vừa nghe thuật trường sanh, hào hứng nỗ lực
hành. Vứt bỏ phệ lưu ly, giữ kỹ băng
trong ao. Chao ôi lại chao ôi! Lấy, bỏ, đều băn khoăn).
8) Tích nhân mẫn hậu học, chú sớ
thông mông cầu. Kim nhân bối cổ đức. Tiếu
xích đồng dao âu. Thiên hiền tận thành phi, duy kỷ
dữ Phật trù. Ta tai phục ta tai! Nghiên xú tằng vô tu!
(Người xưa thương hậu học,
chú sớ để khơi thông, cho kẻ mong t́m cầu.
Người nay trái cổ đức, chê cười như
lời đồn. Ngàn hiền sai bét cả, riêng ta ngang ngửa
Phật! Chao ôi lại chao ôi! Đẹp, xấu chưa từng
thẹn!)
9) Xuân khai giảng diễn
hội, quải bát thanh tương minh. Thu kết Thiền
Na kỳ, cô tồn nhị tam tăng! Chung thân phi dư
đồ, tằng bất cử túc hành. Ta tai phục ta
tai, chân nhạn hà thời minh?
(Xuân mở hội giảng diễn, tiếng
treo bát rộn ràng. Thu kết Thiền Na kỳ, chỉ có
hai, ba tăng. Suốt đời giở bản đồ,
chưa từng cất chân bước. Chao ôi lại chao ôi!
Chân, giả khi nào rơ?)
10) Đường
đường viên lô khách, lâm chung nhi nữ nhan. Niệu niệu
nga mi lưu, tọa thoát như nhập Thiền. Cổ lai
tăng hóa tục, kim tục vi tăng tiên. Ta tai phục ta
tai! Chủ tân thành đảo điên.
(Đường đường khách đầu
tṛn, lâm chung hệt phụ nữ. Phường mày ngài yểu
điệu, ngồi mất như nhập Thiền. Xưa
kia tăng dạy tục, nay tục lại
hơn tăng. Chao ôi lại chao ôi! Chủ khách thật điên đảo).
* Nghĩa chẳng thể trái
Lưỡng t́nh thỉ tương hoan, kết
nghĩa trọng kim thạch. Nhất triêu biến cố
sanh. Bối khí dĩ như trịch. Ta tai! Cầm thú tâm, quỷ
thần khám kỳ trắc. Bất kiến Hán tằng tôn, cố
kiếm ân cần mịch. Vô
dĩ tân t́nh khiên, đốn linh cựu t́nh thất. Tân cựu
tổng quy Không, đại mộng
hà thời cực? Nguyện ngôn tận thử thân, đồng
sanh Cực Lạc quốc.
(Đôi bên thoạt ưa
thích, kết nghĩa nặng đá vàng. Một mai ḷng biến
đổi, vứt bỏ như ném quăng. Than ôi! Tâm cầm
thú! Quỷ thần một
bên trông. Chẳng thấy chắt vua Hán, gươm cũ ân
cần t́m[60]. Đừng để
t́nh mới lôi, khiến t́nh cũ bị mất. Mới,
cũ đều là Không, mộng lớn lúc nào dứt? Nguyện
khi hết thân này, cùng sanh cơi Cực Lạc).
* Ân chẳng thể quên
Tráng sĩ hữu liệt
tâm, bất vong báo nhất phạn. Huống phục tri
đạo giả, nhẫn tác mạn tâm hán! Điên nguy lại
phù tŕ. Quá nhăn bất tương khán. Thí ư tĩnh dạ
tư, ninh bất quư lưu hăn? B́nh sanh thị nam nhi,
phương thốn thường tự khám. Tất cánh liễu
thử ân, đồng đăng Cực Lạc ngạn.
(Tráng sĩ tâm hùng tráng, chẳng quên báo một
bữa[61].
Huống chi người hiểu biết, nỡ làm kẻ
mê tâm? Được giúp lúc nguy ngập, xong việc chẳng
ngó ngàng! Trong đêm thanh thử
nghĩ, chẳng thẹn toát mồ hôi? B́nh sanh là nam nhi, tấc
ḷng thường tự xét. Rốt cuộc xong ân này, cùng lên
bờ Cực Lạc).
* T́nh chẳng thể trói buộc
Cổ xưng quân tử
giao, uông uông đạm như thủy. Phi bỉ t́nh độc
sơ, kiến đạo giả như thử. Minh Hoàng
đắc Thái Chân, tất giao thùy năng tỷ?
Thương tâm Mă Ngôi dịch, nhất biệt thiên niên hỹ!
Ân ái cánh hà tồn, không hoa nhăn tiền mỹ. Thống tai vô
thỉ lai, tứ hải biệt ly lệ. Đại khổ
vĩnh khí quyên, đồng quy Cực Lạc hội.
(Cổ nhân nói quân tử, trong t́nh nghĩa kết
giao, mênh mông nhạt như nước. T́nh ấy chẳng
riêng sơ, người kiến đạo như thế.
Minh Hoàng được Thái Chân[62],
keo sơn ai sánh được? Trạm Mă Ngôi đau ḷng,
giă biệt liền ngàn năm. Ân ái há tồn tại? Hoa
đốm đẹp trước mắt! Đau thay từ
vô thỉ, lệ biệt ly bốn biển. Măi vứt bỏ
khổ lớn, cùng về hội Cực Lạc).
* Oán chẳng thể giấu
Viên Áng sát Triều Thố,
toại thành thiên cổ oan. Thoát linh vô Áng kế, Thố khởi
chung trường niên?
Đại mạng phi nhân vi, minh minh sử chi nhiên. Tứ
Đại tự sanh tử, ư ngă hà dữ yên? Thánh tai
hoàng diện tẩu, đàm tiếu chùy đao tiền. Oán
thân bổn b́nh đẳng, đồng du Cực Lạc
thiên.
(Viên Áng giết Triều Thố,
thành nỗi oan ngàn đời. Nếu Áng chẳng lập
mưu, há Thố chẳng sống thọ? Mạng chẳng
do người tạo, âm thầm khiến thành vậy. Tứ
Đại tự sanh tử, liên quan ǵ đến ta? Thánh
thay, cụ mặt vàng[63],
cười nói trước đao, chùy. Oán thân vốn b́nh
đẳng, cùng dạo trời Cực Lạc).
* Dạy cư sĩ Tôn Vô Cao
Nhân khổ, danh phàm phu. Siêu
chi dục, nhập thánh. Tháo thử
thượng nhân tâm, cùng cao bất tri bệnh. Ngă quán thánh dữ
phàm, vô khiếm diệc vô thặng. Khuếch nhiên b́nh đẳng
môn, cao hạ hà túc cạnh? Ức chi hựu ức chi, năi
kiến Chân Như tánh.
(Người khổ, gọi
phàm phu. Vượt thoát dục, nhập thánh. Vận tâm bậc
thượng nhân, tột cao chẳng biết bệnh. Ta
quán thánh với phàm, chẳng thiếu cũng không thừa.
Cửa b́nh đẳng rộng toang. Cao, thấp há tranh chấp?
Đè nén, lại đè nén; bèn thấy tánh Chân Như).
* Đọc thơ Uyên Minh xúc cảm bèn làm
thơ
Thơ Uyên Minh trách con như
sau: “Bạch phát bị song mấn, cơ phu bất phục
thật. Tuy hữu ngũ nam nhi, tổng bất hảo chỉ bút. A Thư
niên thập lục, lăn nọa cố vô thất. A Tuyên hành
chí học, nhi bất ái văn thuật. Ung, Đoan niên thập tam, bất
thức lục dữ thất. Thông tử thùy cửu linh,
đản mịch lê dữ lật. Thiên vận cẩu như
thử, thả tấn bôi trung vật” (Đôi bên tóc mai bạc, da thịt thôi săn chắc. Tuy có
năm con trai, văn chương đều chẳng khá. A
Thư mười sáu tuổi, lười nhác chẳng ai bằng.
A Tuyên dốc chí học, nhưng chẳng thích luyện
văn. Ung, Đoan tuổi mười ba, chẳng biết sáu và bảy[64].
Bé Thông sắp chín tuổi, chỉ
kiếm lê, hạt dẻ. Nếu vận trời như thế,
đành là vật trong chén).
[Tổ Liên Tŕ họa
thơ]:
Phát phu nhật suy hủy.
Sở tao nhưng cánh kỳ. Thái y hà phiên phiên, bất thù
ngũ nam nhi. Trung niên cường lực giả, năi chí mao
dữ nghê. Thông minh phụ nhĩ mục, Linh Lâm lưỡng
tương tề (Tánh Linh bệnh lung, Đại Lâm bệnh cổ). Không
sơn phạp chỉ bút, hạnh hỷ đa lật, lê, sảo
tri lục dữ thất. Ngạo nhiên siêu đẳng di. Nhất
băo vô phục sự. Niệm thử kham thế di. Đạt
tai Đào Bành Trạch, vong ưu thả hàm bôi. Ngă diệc xảo
tác dụ, như bệnh ninh phế y? Cao hoang bất khả
trị, cưỡng trị đồ lao b́! Hà dĩ đại
bôi tửu, cao ca liêu tự di!
(Tóc da ngày suy dần. Gặp gỡ càng lạ
lùng! Áo màu sao phất phới? Năm con trai khác ǵ? Từ
trung niên sức mạnh, trẻ nít lẫn người già. Thông minh, tai mắt
kém. Linh,
Lâm hệt như nhau (Tánh Linh bị điếc, Đại
Lâm bị mù). Núi trống thiếu giấy bút, may mừng
nhiều dẻ, lê. Hơi biết sáu và bảy, ngạo nghễ
hơn đồng bạn. Ăn no, không chuyện khác! Nghĩ tới lệ
tuôn tràn. Đào Bành Trạch[65]
thông đạt, nhấc chén để quên buồn. Ta
cũng khéo thí dụ, như bệnh há bỏ thầy? Bệnh
lậm chẳng thể trị, cưỡng trị luống
nhọc nhằn. Dùng ǵ thay chén rượu? Hát vang tự giải khuây!)
* Thân ăn mày
Nhất nhật thập nhị
thời, thập nhất tại sàng ngọa. Bán thời
sách xúc hành. Bán thời tôn cứ tọa. H́nh hài cửu uông
luy, tâm thần phục tồi tỏa. Như Xuân băng dục
phán, như tàn nguyệt tương đọa. Trí ngă vô hà
hương, khẩn kỳ chư thượng tọa.
(Một ngày mười hai thời, mười
một giờ nằm bẹp. Nửa giờ đi lẫm
chẫm, nửa giờ chỉ ngồi xổm. H́nh hài lâu
c̣m cơi, tâm thần lại suy sụp. Như băng Xuân sắp
tan, như trăng tàn sắp rụng. Sẽ đặt tôi
vào đâu, khẩn cầu các thượng tọa).
* Cảm tác
Chung nhật ngă cầu khứ.
Chung nhật nhân cầu lai. Lai giả, lư nhược thị.
Khứ giả hà vi tai? Khứ giả lư nhược thị,
lai giả chân si ngai. Pháp thực Tứ Liệu Giản,
tường thẩm vật trương quai!
(Suốt ngày ta cầu đi. Suốt ngày,
người cầu đến. Người đến nếu đúng lư, người đi
để làm ǵ? Người đi nếu đúng lư, người đến
thật ngốc ngây. Pháp thực Tứ Liệu Giản, xét
kỹ chẳng trái ngang).
* Dạy các con trùng nơi răng
Ức tích phủ ấu
xung, tư xỉ vi nhĩ thực. Công như tượng tạc
sơn. Giảo như hồ xử quật. Mịch chi bất
khả kiến. Khu chi bất khả xuất. Tàn khuyết
ngă môn hộ, băng đồi ngă viên bích. Tỷ lân thất
sở lữ, phối ngẫu vong kỳ thất. Kỷ
niên bách chi bán, dĩ lạc tam chi nhất. Hoặc trần
kích thứ phương, hoặc hiến hỏa công sách.
Khách liên nhi giáo ngă, ngă tiếu nhi tạ khách. Chỉ nhân
thư tước ngại, sở dĩ thảo trị cấp.
Đoạn thực khí như thóa, thủy ẩm cam như
mật. Thử lạc thường hữu dư, bỉ hại
hề túc thích? Ân cần báo nhĩ trùng, an ổn ngụ ngô
thất. Phật thượng xả toàn thân, ngô hà lận
tiêm cốt? Ngô cốt cập nhĩ cung, nhị câu thị huyễn sắc.
(Nhớ xưa mới non nớt, răng
này để ngươi ăn. Khéo
như thợ đục núi, gian tợ cáo núp hang. T́m th́ chẳng
thể thấy, đuổi ra chẳng thể được.
Tàn khuyết cửa nẻo ta, hư sụp tường
vách ta. Như hàng xóm mất bạn, phối ngẫu mất
bạn đời. Mới gần năm mươi tuổi,
răng rụng một phần ba. Người đề nghị xeo nạy,
hoặc dùng lửa trị chữa. Khách xót thương dạy ta; ta cười, từ tạ khách. Chỉ v́ cắn nuốt
khó, cho nên t́m trị gấp. Nhai thức ăn như răi. Uống nước, ngọt như mật. Niềm vui
thường có thừa, nỗi hại sao đủ sầu?
Ân cần báo đáp trùng, an ổn ngụ nhà ta. Phật c̣n xả
toàn thân, sao ta tiếc chút xương? Xương ta, cung
điện ngươi. Cả hai đều huyễn sắc).
* Lời than đuổi quạ
Vạn thụ huyên đề
ô, hảo điểu tuyệt âm hưởng. Độc
trác sở tàn hại, thảm khốc thậm la vơng. Thân tại
ca sa hạ, năng vô từ bi tưởng? Ta thử
trược ác lâm, ngă nguyện sanh An Dưỡng.
(Muôn cây quạ huyên náo, chim
lành bặt tiếng ca. Mổ dữ gây tàn hại, thảm
khốc quá lưới rập. Thân đang khoác ca-sa, há chẳng
nghĩ từ bi? Than ôi, rừng trược ác, ta nguyện
sanh An Dưỡng).
* Bài ca hành cước
Đi qua trạm An Sơn, gặp
mưa, nghỉ lại Thiên Phật Các, nghe tiếng cười
của đại chúng, bèn viết bài này để cảnh
tỉnh:
Khiêu bao, đảnh lạp,
từ hương khúc. Tài xuất môn thời hựu sầu
túc. Trường thân lưỡng cước lữ tà miên.
Mộng tỉnh duy tư nhất âu chúc. Chúc băi, trừu
đơn, vấn lộ hành. Ngọ
trai niệm niệm sanh cơ phúc. Tùng triêu chí mộ chỉ
như tư, bất tri thân thị sa-môn thuộc. An sơn
phong vũ trở chinh đồ. Thiên Phật Lâu tiền khế
lao túc. Băo phạn hy nhiên bách bất ưu. Thời văn ngữ
tiếu thanh tương tục. Vấn cừ hành cước sự
như hà? Diện diện tương khan, khẩu như mộc.
Sanh tử đại sự phi đẳng nhàn. Hạt tẩu
cuồng du, khủng phi phước!
Mạc đạo b́nh sanh chỉ tự tri, Diêm gia lăo nhăn
minh như chúc. Nhất triêu đả toán thảo hài tiền,
chỉ khủng tiếu thanh phiên tác khốc!
(Khoác bao,
đội nón, ĺa quê hương. Khi mới ra cửa, lo chỗ
nghỉ. Duỗi thẳng hai chân, ngủ lữ hành. Tỉnh
mộng, chỉ lo một âu cháo. Ăn xong, gác đơn, hỏi
đường đi. Ngọ trai niệm niệm nghĩ bụng
đói. Từ sáng tới tối chỉ như vậy, chẳng
biết thân vốn thuộc hàng tăng. Gió mưa trong núi,
đường ngăn trở. Trước Thiên Phật
Lâu, mỏi chân nghỉ. Cơm no, vui sướng, không lo âu.
Nghe tiếng cười nói luôn liên tục. Hỏi ông “hành cước chuyện ra sao?” Người người nh́n nhau, im như thóc! Sanh tử đại sự
chẳng chuyện đùa! Mù quáng rong chơi, sợ chẳng
phước. Đừng nói b́nh sanh chỉ tự biết,
mắt cụ Diêm La sáng như đuốc. Một mai tính tiền
mua hài cỏ, chỉ sợ tiếng cười thành tiếng
khóc!)
* Người mù ở thôn Kiều
Qua thôn Kiều, thọ trai tại nhà thôn
dân X… Mọi người vừa mới ngồi thành hàng thọ
thực, có một người ăn mày mù chống gậy
thong thả tới, thong dong nói: “Chẳng dám mong được
cho cơm, chỉ xin chút canh uống”. Lời lẽ, dáng vẻ
có phong thái cao cả của cổ nhân, chắc là bậc ẩn
dật. Do vậy, tôi xúc cảm vịnh bài này.
Kiều thôn cổ, hà kỳ hiền? Bách kết
linh đinh hề. Ư khí nhàn nhàn. Từ đa thọ thiểu
hề, tâm tuyệt phan viện. Thùy vân vô mục hề? Song
mâu chúc thiên! Bỉ tŕ bát nhi đăng lũng hề. Hồ
bất vi hăn nhan? Khiết kỳ danh, nhi ô kỳ hạnh giả
hữu hỹ. Minh ư mục nhi manh ư tâm giả giai
nhiên. Hu ta hồ! Kiều thôn cổ,
hà kỳ hiền?
(Người mù thôn Kiều, hiền cỡ
nào! Trăm nỗi lênh đênh ràng buộc thân, ư khí vẫn
thanh nhàn. Nói nhiều mà hưởng ít, tâm dứt bặt nắm
níu. Ai nói ông không có mắt? Hai ngươi chiếu rạng
trời! Kẻ ôm bát độc chiếm lợi lạc, há
chẳng xấu hổ ư? Có kẻ danh tiếng thanh khiết
mà hạnh ô uế; kẻ mắt sáng mà tâm mù cũng đều
như thế! Ôi chao ơi! Người mù thôn Kiều, hiền
cỡ nào!)
* Bài ca tự giễu pháp sư què chân
Bả cước pháp
sư hồ dĩ danh, lương diêu năng thuyết bất
năng hành. Ngă kim hành thuyết lưỡng câu chuyết. Bất
ưng vô thật đương tư xưng! Xuân
vương, chánh nguyệt tài quá thập. Ngọ gian tùy lệ
nhập dục thất. Thất túc nga trầm bách phí thang.
Bất khởi sàng phu ngũ thập nhật. Sang di phủ
b́nh, cân lực b́. Tả trường, hữu đoản
hành sâm si. Đông hành giáp phụ nhị đồng tử. Tây hành
giao ỷ song cùng chi. Thị cố thử sư danh bả
cước. Bả khứ bả lai nhân tiếu sát. Tiếu
sát b́nh sanh hiếu phóng sanh. Thiện ác nhân quả lư nan hợp.
Phả hữu thị tứ Chiên Đà La, khuê dương,
kích ngưu, phanh phù nga. Miết, thiện, giải, cáp sát vô
số. Nhi phản khang dự vô tiêm kha. Phóng sanh thành hữu
trường thọ lư. Nhân
quả vô sai hưu loạn nghĩ. Ngă tích sát nghiệp kim
tu thường. Thân thống, tâm sanh
đại hoan hỷ. Bàng nhân vấn ngă hỷ giả hà?
Ngă dĩ thử cước thành tha đà. Xu bôn vô thỉ
chí kim nhật. Bộ bộ sấn nhập vô minh khỏa.
Hoặc xu danh hề cứ cao vị, xung hàn đạp biến
kim giai địa. Hoặc xu lợi hề tẩu thiên nhai.
Lịch tận Yên, Tần, tịnh Sở, Ngụy. Hoặc
xu hào thế hầu môn tường. Bất giảm lập
tuyết nhi du dương. Hoặc xu nữ sắc việt
viên khổn. Diêu thử mộ dạ tao thương vong. Hoặc
xu đàn thí cầu vô dĩ, bồ bặc nê đồ một
kỳ chỉ. Hoặc xu bằng hữu thời văng lai, phá
hạ tiễn vẫn chư trùng nghĩ. Hoặc xu ngũ
nhạc cập tam sơn, Nam tŕ Bắc vụ mang hài xuyên. Sở
dĩ Như Lai khổ ha trách. Cử túc, động túc giai
oan khiên. Hạnh tai kim bả tổn thành ích. Tư dục
nhàn hành, hành bất đắc. Tiềm h́nh liễm tích thủ
lâm loan. Đa chủng cuồng tâm nhất triêu tức. Khách
lai thứ ngă bất khởi diên. Ngột ngột tự nhập
ma chuyên Thiền. Bế môn vô sự thả cao chẩm, dục
học thúy sắc yên lam miên. Chỉ sầu thử cước
bất chung tật, xu bôn vạn cảnh nhưng như
tích. Nguyện quân bất bả như bả nhân, thắng
bỉ trường niên yểm quan khách!
(Pháp sư sao mang tên “què chân?” Là do nói được, chẳng làm
được! Tôi nay nói, hành đều vụng thiếu. Chẳng nên không thật
mà lạm xưng. Đầu Xuân, tháng Giêng mới mồng Mười. Giữa
trưa theo lệ, vào pḥng tắm. Sảy chân té vào nước
sôi sục. Nằm bẹp chẳng dậy năm
mươi ngày. Vết loét mới lành, sức gân mỏi.
Trái dài, phải ngắn, đi tập tễnh. Sang Đông kẹp đỡ hai đồng
tử, qua Tây dựa dẫm hai gậy chống. Do vậy,
sư gọi là “què chân”. Tập tà tập tễnh cười
chết người. Cười chết cả đời
chuộng phóng sanh. Nhân lành, quả ác, lư khó hợp. Có lắm
Chiên Đà La ngoài chợ, mổ dê, đập trâu, nấu
le, ngỗng. Rùa, lươn, cua, ṣ, giết vô số. Ngược
lại, mạnh khỏe, chẳng mảy bệnh! Phóng sanh
thật có lư trường thọ; nhân quả chẳng sai,
đừng ngờ loạn! Sát nghiệp xưa kia, nay phải
đền. Thân đau, tâm sanh đại hoan hỷ. Người
khác hỏi tôi mừng chuyện ǵ? Tôi do chân này thành trễ
tràng. Bươn bả từ vô thỉ tới nay. Từng
bước xông vào ổ vô minh. Ruổi theo danh vọng,
địa vị cao. Xông pha giẫm bước khắp thềm
vàng. Hoặc đuổi theo lợi ruổi góc trời,
đi khắp Yên, Tần, hoặc Sở, Ngụy. Lân la
tường vách nhà sang quư. Chẳng kém Du, Dương[66]
đứng trong tuyết. Hoặc theo nữ sắc vượt
khuê khổn. Do vậy, tối đêm bị thương
vong. Hoặc theo thí chủ cầu không ngớt. Lê lết
đường lầy, ch́m gót chân. Hoặc theo bầu bạn
luôn qua lại, giẫm chết, đạp nát các trùng, kiến.
Hoặc ruổi ngũ nhạc và tam sơn. Ruổi Nam, rong
Bắc, xỏ hài cỏ. Do vậy, Như Lai khổ quở
trách: “Giở chân, cất bước đều oan khiên”.
May nay què quặt, tổn thành ích. Nghĩ muốn đi rong,
đi chẳng được! Ẩn giấu tung tích, ẩn
núi rừng. Nhiều thứ cuồng tâm, một hôm dứt.
Khách đến, thứ lỗi chẳng dậy tiếp.
Trơ trơ như nhập Thiền mài gương[67].
Đóng cửa vô sự nằm gối cao. Muốn học sắc
biếc, khói lam ngủ. Chỉ sầu chân này chẳng què
măi, bôn ba muôn cảnh vẫn như cũ. Nguyện người
chẳng què như người què, hơn hẳn người
bế quan nhiều năm!)
* Cảm tác nhân ngày Tự Tứ
Cổ Tự Tứ, hiệp kim lan. Kim tự
tứ, sanh cức thích. Khẩu
đàm địa ngục, phẫn khởi tranh. Mục
đối Tỳ Ni, manh
bất thị. Hà quái hồ chánh pháp suy, ma quân xí! Vân Thê chủ
nhân phát trường thán, nhất tắc thương ngă
tâm. Nhất tắc ủy ngă chí. Quân bất kiến, ái lễ
cố tồn dương, Tuyên Ni tằng cáo Đoan Mộc
Tứ.
(Tự Tứ
xưa, kim lan xum vầy. Tự Tứ
nay, gai góc nẩy sanh. Miệng bàn địa ngục, giận
dữ tranh. Mắt nh́n Tỳ Ni, mù chẳng thấy. Chẳng
trách chánh pháp suy, ma quân thịnh. Chủ nhân Vân Thê phải thở dài! Một là
thương tâm ta, hai là an ủi chí ta. Ông chẳng thấy,
do chuộng lễ nên giữ dê[68],
Tuyên Ni (Khổng Tử) từng bảo
Đoan Mộc Tứ).
* Cảm tác đêm Nguyên Tiêu tại Vạn
Trúc Lâm ở Hoa Đ́nh
Đ́nh tiền bộc trúc
thanh sơ hiết, hựu thị
Thượng Nguyên đăng hỏa tiết. Đàn chỉ
lưu quang khứ bất đ́nh. Nạp y hạ sự hà
thời quyết? Tế tầm tư, kham thống thiết.
Các các giá hồi tu mănh liệt, đề khởi trần
niên cựu thoại đầu. Trực giao đả phá
nghi đoàn triệt.
(Tiếng pháo trước sân
vừa dứt bặt, hoa đăng Nguyên Tiêu lại đến
rồi. Khảy tay, thời gian trôi chẳng ngừng. Chuyện
của tăng sĩ khi nào xong? Suy nghĩ kỹ, kham đớn
đau. Ai nấy dịp này phải mạnh mẽ, dấy
lên thoại đầu đă bao năm, thẳng thừng thấu
triệt phá khối nghi!)
* Bức tranh Quỷ Tử Mẫu nâng bát
Quỷ mẫu thất nhi
t́nh thái thích, thiên thượng nhân gian cầu vị đắc!
Bát vu chỉ thị không đổ h́nh. Tận kỳ thần
lực bất năng xuất. Hồi quang tỉnh quá,
đại quy y. Sát-na mẫu tử trùng tương thức.
Trùng tương thức, tŕ bát khắc, tự gia hoài lư băo
anh nhi, hà tất hướng Như Lai tất hạ ân cần
mịch?
(Quỷ mẫu mất con,
tâm sầu muộn. T́m khắp trời, người chẳng
thấy đâu! Bát rỗng tuếch, chẳng thấy h́nh hài. Trọn hết thần
lực, chẳng t́m được!
Hồi quang hối lỗi, đại quy y. Sát-na mẹ con
lại biết nhau. Lại biết nhau, chậm tám khắc,
ngay trong ḷng ḿnh ôm con thơ. Cần ǵ ân cần t́m dưới
gối Như Lai?)
* Đáp đầu-đà Viên Hy Hiền
Tu tri hữu niệm chung
vô niệm. Thiên trượng ỷ la vô nhất tuyến.
Thùy thức vô t́nh khước hữu t́nh. Đ́nh tiền
thiết thụ phát tân anh. Vô diệc phi, hữu diệc
phi. Thiên Nam ỷ Bắc mạc tương cơ. Vô diệc
thị, hữu diệc thị, Đông hành Tây khứ tùy ngă
ư. Quân bất kiến, hư không bổn tự tuyệt
trung biên. Đông, Tây, Nam, Bắc hà tằng dị?
(Cần biết: Hữu niệm, rốt vô
niệm. Lụa là ngàn trượng chẳng sợi nào! Ai
biết vô t́nh trọn hữu t́nh. Trước sân, cây sắt
nẩy chồi mới. Không cũng chẳng phải, Có cũng chẳng phải. Lệch Nam, dựa
Bắc, đừng chê gièm. Không cũng đúng, mà Có cũng đúng. Sang Đông, về Tây,
tùy ư ta. Ông chẳng thấy, hư không vốn tự dứt
chính giữa và ngoài ŕa. Đông, Tây, Nam, Bắc chưa từng
khác).
* Quán ṭ ṿ (hai bài)
1) Minh linh, minh linh, hà kỳ
linh? Đắc chủng quy lai hề hô dinh dinh, phi kỷ sở
sanh hề tiếu kỷ h́nh, xảo hề hồ! Nhân bất
như minh linh.
(Ṭ ṿ, ṭ ṿ, thông huệ cỡ nào? T́m
được trứng đem về kêu vo ve. Chẳng do
chính ḿnh sanh mà lại giống ḿnh, khéo lắm thay! Người
chẳng bằng ṭ ṿ!)
2) Minh linh, minh linh, hà kỳ minh? Bất
đạn cù lao hề dục nhi anh. Vũ dực kư thành hề
khứ bất đ́nh. Bi hỹ hồ! Nhân diệc như
minh linh.
(Ṭ ṿ, ṭ ṿ, tối tăm cỡ nào? Chẳng
ngại nhọc nhằn nuôi con thơ. Lông cánh đă thành nó
bỏ đi mất. Buồn lắm thay! Người
cũng như con ṭ ṿ!)
* Tẫn xuất tăng
Tẫn chi xuất, khiên chi
nhập, bất giải thử ư kham thái tức! Bổn
nhân băo hận, bàng nhân cơ. Cơ
nghị Vân Thê đa thị phi. Thị phi lưỡng vong, khởi bất
hảo? Nhiếp chiết môn trung hồ khả thiểu?
Quân bất kiến, Kỳ Viên đ́nh vô trường tư
tung, Hạnh đàn minh cổ do đông đông.
(Đuổi ra, dẫn vào, chẳng hiểu
ư này quá đáng than! Người ấy ôm hận, người
khác chê cười. Gièm chê Vân Thê lắm thị phi! Thị
phi đều quên, há chẳng tốt? Trong môn “chiết, nhiếp” há thiếu được? Ông chẳng
thấy, sân Kỳ Viên chẳng có cánh tay vươn dài.
Đàn hạnh trống c̣n vang thùng thùng).
* Lời than trực đêm
Đường nội
thân, đường ngoại thân, bạc b́ khỏa huyết
thống dương quân. Đường nội văn,
đường ngoại văn, phùng nhân tắc sáp vô sơ
thân. Hu ta hề! Đường nội
chi thân trướng phục trướng, tố phu xước
ước như thiên thượng. Đường
ngoại chi thân xích lịch niên, chi thể ban bác san hô tiên. Tần
nhân ca, Triệu nhân khốc. Pháp môn b́nh đẳng hề,
hà bất tổn hữu dư bổ bất túc. Kư ngữ
chấp sự tăng, cổ nhân tằng hữu chúc. Ngă
nguyện quân vương tâm, hóa tác quang minh chúc.
(Thân trong nhà, thân ngoài nhà, da mỏng
bọc máu, đau ngứa đều như nhau. Muỗi
trong nhà, muỗi ngoài nhà, gặp người liền chích,
chẳng sơ, thân. Ôi chao ơi! Thân trong nhà, màn buông nhiều
lớp. Da dẻ mịn màng như trên trời. Thân ngoài nhà
ngủ trụi lủi, chân tay vằn vện như san hô.
Người Tần ca, người Triệu khóc. Pháp môn b́nh
đẳng, sao chẳng bớt chỗ dư bù chỗ thiếu?
Nhắn với vị tăng chấp sự, cổ nhân từng
căn dặn: “Ta nguyện tâm quân
vương, hóa thành đuốc quang minh”).
* Chùa Thượng Phương đào ao
phóng sanh
Tự phóng sanh nhân sở
cư, tŕ phóng sanh ngư sở lư. Hoài ngô cư, ái ngô
lư. Tăng sanh t́nh bất thù. Nại chi hà, tạo tự
bất đạn lao dữ cù! Khai tŕ thiểu nhiên my bất
thư. An tri ngư chi bất vi nhân, nhân chi bất vi
ngư? Nhi đản tri cư
chi khả hoài hề, hà thái ngu?
(Chùa là nơi người
phóng sanh ở. Ao là nơi cá được phóng sanh sống.
Nhớ nơi ta ở, mến chỗ ta ở. Tăng và chúng sanh t́nh cảm chẳng
khác. Cớ sao tạo chùa không nài nhọc nhằn? Đào ao
sầu muộn, mày nhăn tít? Nào có biết
cá chẳng biến thành người, người
chẳng biến thành cá? Chỉ biết
tưởng nhớ chỗ ở, sao ngu quá vậy?)
* Tức sự
Trầm kha đạn ứng
thù, đồi linh quyện xu bộ. Bồng môn thâm cốc
trung, cao xa hốt tương cố. Phi cảm ngạo
vương hầu, bất dục vi thiếp phụ. Tri
ngă tất kiến nguyên, tội ngă tắc sanh nộ. Tri ngă
dữ tội ngă, như điện, diệc như lộ.
Lao tha giới thiệu nhân, thiết thiết hoài ưu bố. Quân bất kiến,
hàm hoa nham hạ lăo cổ chùy, vô hạ đài đầu thức
thế thổ.
(Bệnh nặng sợ thù tiếp, già suy ngại bôn ba. Trong hang sâu, cửa
tranh; xe cao bỗng nh́n ngó.
Nào dám ngạo vương hầu, chẳng muốn làm nô tỳ.
Biết tôi, ắt dung thứ. Trách tôi, ắt nổi giận.
Biết tôi, trách tội tôi;
như chớp cũng như sương. Nhọc người
khác giới thiệu, khăng
khăng ôm
lo sợ. Ông chẳng thấy, dưới vách Hàm Hoa, chẳng
rảnh ngẩng đầu lau mũi răi).
* Cảm tác
Sĩ tục bất khả
y, chỉ vị cư vô trúc. Chủng trúc nhược thành
can. Tục sĩ ưng bất tục. Duy nhân hiệu viết
ngai. Ngai độc tùng thai lai. Phong kết thậm lao cố,
thiên thánh vô năng khai. Thế gian thảng hữu y ngai thuật,
hà diêu bại gia dữ vong quốc?
(Thói tục chẳng thể
chữa. Do chỗ ở thiếu trúc, bèn trồng bao nhiêu bụi!
Tục nho chẳng
nên tục,
chỉ bị gọi là ngây! Si ngây từ lọt ḷng, kết
chặt thật kiên cố, ngàn thánh chẳng thể giải.
Thế gian có cách chữa bệnh si, há có tan nhà hay mất
nước?)
* Vân Thê tuyết đọng (có lời tựa)
Vân Thê bốn phía đều
là núi. Sau khi tuyết đọng, đúng là thế giới
Ngân Sắc. Có Thiền giả nói: “Nay sống trong uế
độ cầu tịnh bang, vẫn được phép thốt
uế vận để cầu tịnh kệ hay chăng?”
Tôi chấp thuận, bèn ra kệ với các vần như
sau: “Cẩu xú cửu tửu sửu” (狗醜韭酒紐). Viết kệ xong, Thiền giả hết
sức vui mừng, bảo: “Lành thay! Đúng là như vậy.
Chẳng vượt Sa Bà, mà gọi là An Dưỡng!”
Vạn sơn vô nhân túng
ưng cẩu, ngoan thạch cao đê tận giá xú.
Tảm biến đài ngân bạch tự chiên, áp phiên bồ
diệp thanh như cửu. Hàn cao thời chử trúc
lô trà. Khiết thể bất bồi kim trướng tửu.
Thủy tinh thành ngoại nhất thanh bang, ngọc quan đốn
địa khai ngân sửu.
(Muôn núi không người thả
ưng, chó. Tảng đá lô nhô che
xấu xa. Rải khắp ngấn rêu, trắng dường
len. Lá bồ chen phủ, xanh như hẹ. Rét buốt, đun trà nơi bếp
trúc. Thân sạch chẳng bồi rượu trướng vàng[69].
Ngoài thành thủy tinh, tiếng mơ buông. Ải ngọc khắp
đất phủ xiềng
bạc).
* Than thở v́ chất bă đậu
Thủy nịch kỳ
thể hề, ma toái kỳ cốt. Bạt kỳ tinh hoa hề,
thặng kỳ tể chất. Lao nhân lực nhi thành hề.
Nhân phục yếm chi nhi bất thực. Bộc điễn
thiên vật hề, thị thùy chi trách? Bất như sao tác
đậu thị hề, vật bất tổn nhi nhân ích!
(Nước nhấn ch́m h́nh thể, mài
nát cả xương xẩu. Lọc sạch hết tinh hoa, chỉ
chừa lại cặn bă. Nhọc sức người hoàn
thành, người lại ghê tởm, chẳng nuốt. Phí uổng
vật của trời, là lỗi của ai vậy? Chẳng
bằng chiên làm đậu thị[70],
vật chẳng hao tổn, lợi ích người).
* Tặng Phương Bá Ngô Uẩn Am nhận chức
Thái Thường[71]
Ngô ông dữ Chiết hà
đa duyên? Hoàng đường phiên, niết ân miên liên. Chiết
nhân thất ông như thất mẫu. Ông độc
đăng tỷ như đăng tiên. Tiên phàm lộ yểu
hề túc hận? Hội kiến nhật nguyệt
dương trung thiên. Cam đường di ái bị tuyền
thạch. Tử vi hoa cộng Ưu Đàm tiên.
(Ông cùng đất Chiết
sao nhiều duyên? Hoàng đường, phiên, niết[72]
ân liên miên. Người Chiết mất ông như mất mẹ,
riêng ông thăng tấn như lên tiên. Tiên phàm nẻo thẳm,
há đáng hận? Sẽ thấy nhật, nguyện rạng
giữa trời. Cam đường[73]
yêu mến nhuần đá, suối. Tử vi,
ưu đàm cùng thắm tươi).
* Cư sĩ Trầm Quảng San tám
mươi tuổi
Ngă thích niên sanh bát thập
nhất, quân phùng sơ độ tề bát thập. Ngă sanh
chánh nguyệt nhị thập nhị. Quân sanh tiên ngă tài nhất
nhật. Diên tiền la ỷ xán như hoa. Môn ngoại tân bằng
mật như chức. Thế gian chúc thọ tỷ
cương lăng, ngă chúc duy kỳ An Lạc quốc. Quốc
trung giáo chủ A Di Đà. Siêu xuất nhân thiên thọ vô cực.
Nguyện quân ức niệm tự từ thân, lăo khứ
quang âm mạc hư trịch.
(Tuổi tôi vừa đúng
tám mươi mốt, ông mới bước vào tuổi tám mươi.
Tôi sanh ngày Hăm Hai tháng Giêng, ông sanh trước tôi đúng
một ngày. Trước tiệc, lụa là phô choáng lộn.
Ngoài cửa, khách khứa chật như nêm. Thế gian chúc
thọ so non núi, tôi chúc chỉ mong cơi An Lạc. Giáo chủ
cơi ấy: A Di Đà, thọ mạng vô cực vượt
trời người. Mong ông nghĩ tưởng như mẹ
hiền. Tuổi già, thời gian đừng luống uổng!)
* Tượng Di Lặc phủ tuyết (kết vần bằng
chữ Hồng)
Xảo tố thiên hoa tiết,
thuân tuần xuất thánh cung. Tằng văn Đâu Suất
viện, kim kiến thủy tinh cung. Ngọc dịch tư
bàn phúc, ngân quang dật tiếu dung. Dĩ không phàm thế hắc,
hà tất thái dương hồng.
(Khéo tạc vảy ngàn hoa, thong dong lộ thánh dung. Từng
nghe viện Đâu Suất, nay thấy thủy tinh cung. Dịch
ngọc cuộn quanh bụng, ánh bạc rạng mặt
cười. Đă xóa tan đời tối, cần chi vầng
dương hồng).
* Đồng tiền Vạn Lịch
Ngoan đồng sơ xuất
dă, đại bảo dĩ thành văn. Ngoại thị
đoàn viên tướng, trung tồn phương chánh tâm. Kiến
phùng tam cửu vận, cánh chúc thập thiên xuân. Độc
hữu lâm gian tử, vô khanh diệc bất bần.
(Đồng cứng ra khỏi
ḷ, thành đồng tiền quư thay. Ngoài phô tướng tṛn
trặn, vuông vắn ở giữa tâm. Gặp vận hạn tam cửu[74], lại chúc mười
ngàn Xuân. Riêng kẻ trong rừng rú, không ngươi cũng
chẳng nghèo!)
* Họa thơ đáp lời Trương
cư sĩ
Chân thành học đạo
nhân, duy đồ đạo nhăn thân. Tại địa ly
tiêm thổ, cư triền tuyệt tứ lân. Không hoa phi hữu
chất, minh kính bổn vô trần. Đản tự tâm
thành Phật, hà phương tích thị dân!
(Người chân thành học
đạo, chỉ mong đạo nhăn rành. Nơi đất
ĺa bụi bặm, ở chợ chẳng giao du. Hoa đốm
vô h́nh chất, gương sáng chẳng bụi trần. Chỉ
tự tâm thành Phật, nào ngại chỉ là dân).
* Họa thơ đáp Chiêm Tuất Bộ sang ải Đồng
Quan lo việc binh (đính kèm bài xướng)
(Xướng) Ức vấn
Lăng Già nhật, tha đà hựu lục niên. Đàm
tương thiên lư cách, ảnh cộng nhất đăng
huyền. Dă sắc thông giang đảo, thu thanh nhập mộ
thiền. Dao dao trần dịch giả, kỷ độ
pháp đường tiền.
(Nhớ hỏi trời
Lăng Già, chần chừ lại sáu năm. Đàm luận
xa ngàn dặm, cùng soi bóng đèn treo. Cù lao vẻ hoang dă, chiều
Thu rộn tiếng ve. Thăm thẳm vướng trần
cấu, mấy thuở trước pháp
đường?)
(Họa) Tâm thị căng
h́nh nhật, thân đương thảo tặc niên. Từ
oai cơ điệt vận, văn vũ sự phi huyền,
kiếm khí sơ xâm đẩu. Cầm thanh dục đọa
thiền. Trữ khán biên thiêu tức, trùng thoại lục
la tiền.
(Tâm sáng thương tội
phạm, tân trừ giặc nhiều năm. Từ, oai khéo
đắp đổi. Văn, vũ chẳng ngại nhau.
Kiếm khí xông tinh đẩu. Tiếng đàn khiến ve rơi. Mong thấy biên giới ổn. Hàn huyên
trước lá trầu).
* Đề Niết Bàn Đường (có lời tựa)
Thiền sư Chân Hiết Liễu
có một bài Đường luật về Niết Bàn
Đường, thê lương, ai oán, cảnh tỉnh
sâu sắc, khiến cho
kẻ
khác dấy lên niềm bi cảm. Tôi bèn nối đuôi thành bốn
bài Đường luật, đặt trong Niết Bàn
Đường, chưa chắc đă chẳng phải là
dược thạch cho những vị tăng bị bệnh.
(Nguyên tác) Phỏng cựu
luận hoài thật khả thương, kinh niên độc
ngọa Niết Bàn Đường. Môn vô quá khách, song vô chỉ.
Lô hữu hàn hôi, tịch hữu
sương. Bệnh hậu thỉ tri thân thị khổ.
Kiện thời đa bán vị nhân mang. Lăo tăng tự hữu
an nhàn pháp, bát khổ giao tiên tổng bất phương.
(Tâm sự hỏi bàn thật
đáng thương, cả năm nằm rụi
Niết Bàn đường. Cửa không người tới,
song không giấy[75]. Tro lạnh phủ ḷ, chiếu đẫm
sương. Bệnh rồi mới biết thân là khổ.
Lúc khỏe, nửa đời bận chuyện người.
An nhàn lăo tăng tự có cách, tám khổ nung xen chẳng ngại
ǵ!)
(Nay họa như sau) 1) Huyễn
chất ninh tri hữu bại thương, cử đầu
kinh đáo Niết Bàn Đường. Nhất sanh tận
dă tàn canh mộng. Vạn lự hôi lai kiểu nhật
sương. Quá khứ nghiệp đa, tâm chủ loạn.
Tiền xu lộ hiểm, cước ngấn mang. Nhi kim dục
vấn an nhàn pháp. Lâm khát khai tŕ sự dĩ phương.
(Huyễn chất nào hay có bại
suy, ngẩng đầu sợ đến Niết Bàn
đường. Một đời đă hết, tàn canh mộng.
Muôn lo tro lạnh, phủ mờ sương. Nghiệp quá khứ
nhiều, tâm rối loạn. Tiền tŕnh nẻo hiểm,
bước chân run. An nhàn nay mới toan hỏi cách; khát mới đào ao, lắm nhọc nhằn).
2) Đồ nhập không
môn tối khả thương, Niết Bàn kim thị thí
tăng đường. Viêm thiêu ngũ nội ngư du phủ.
Thống thiết chư căn thảo bị sương.
Độc băo si Thiền thành để sự, bàng tu ngoại
thuật uổng can mang. Nhân nhân đạo hữu an nhàn
pháp. Tranh nại lâm hành nhất cú phương.
(Uổng nhập Không môn, thật
đáng thương. Thử thách tâm tăng: Niết Bàn
đường. Lửa thiêu ngũ tạng: Nồi nung cá. Đau buốt các căn: Cỏ
héo sương. Riêng ôm si thiền mong thành tựu, kiêm tu ngoại
thuật, uổng công lao. Người người bàn cách an
nhàn hưởng, lâm chung nghe nói mới hoang mang).
4) Thoát thể vô y tuyệt
hủy thương. Trầm
kha chung nhật tự đường đường. Tâm
đăng phá ám minh như nguyệt. Huệ kiếm hàng ma
lẫm tự sương. Dược bệnh lưỡng
phi hà túc biện. Tử sanh song huyễn bất tu mang. Tùng
thùy cánh mịch an nhàn pháp. Tài thuyết an nhàn tiện hữu
phương.
(Thoát xác, không nương, dứt
hủy thương. Suốt ngày bệnh ngặt vẫn ung
dung. Đèn tâm phá tối như trăng sáng. Gươm huệ
hàng ma bén tợ sương. Thuốc, bệnh đều
sai, bàn chi nữa. Tử, sanh cùng huyễn, bận tâm ǵ? Từ
ai t́m được an nhàn pháp, mới nói an nhàn, sẵn cách
đây!)
* Tịnh nhân Tông Thừa xuống tóc
Niên thiếu tiệm nhiên
viễn lợi danh, xuất gia hà hạnh đắc thành
tăng? Đan đài đốn đoạn thiên ty lũ.
Phật điện tân trừ thảo vạn hành. Vô kiến
đảnh ninh toàn hiển lộ. Bổn lai diện mục
bội phân minh. Tông môn chánh khải la anh kiệt, cập
đệ tu đăng tối thượng thừa.
(Tuổi trẻ nghiễm
nhiên xa lợi danh, may sao xuất gia được thành
tăng. Đài son nhanh cắt tơ ngàn sợi, Phật
điện mới trừ cỏ vạn nhành. Vô kiến
đảnh tướng trọn hiển lộ. Diện mạo
sẵn có càng phân minh. Tông môn mở nẻo người anh
kiệt, thi đậu phải cậy tối thượng
thừa).
* Họa bài thơ của Thái Sử
Trương Dương Ḥa thuộc Hưng Phổ Am ở
Sơn Âm
Ngọc điện truyền
lư đệ nhất nhân, trượng lê kim đáo nạp
tăng môn, Diệm Khê hưng tại liên tiêu túc, liên xă t́nh
đa tận nhật luận. Định thủy tịnh
trừ tâm địa cấu, huệ đăng cao thước
tánh thiên hôn, nhất triêu khám phá Hương Nham bát, song báo
quân ân dữ Phật ân.
(Điện ngọc vang danh đệ nhất nhân, chống
trượng t́m đến cửa nạp tăng. Diệm
Khê cao hứng, nhiều hôm ngụ. Liên xă thắm t́nh, suốt
ngày bàn. Nước định
sạch trừ tâm cấu bẩn. Đèn huệ chiếu tỏ
trời tánh mờ. Một mai hiểu rơ Hương Nham[76]
bát, cùng báo ân vua lẫn Phật ân).
* Trương Thái Sử dựng sơn
pḥng, đề thơ, lại dùng nguyên vận để
đáp tạ
Thất xích hành măo bách kết thuần, an bần
vô sự yết hầu môn. Nhân quá cổ tự thù tiên ước,
khước hà tiên châu tiếp tố luận. Xuất tụ
nhàn vân nan trụ tích, mai trần bảo kính dục ma hôn.
Thanh sơn thả tịch Duy Ma thất. Tha nhật tùng lai
tạ thử ân.
(Nhà tranh bảy thước, vá trăm bề. An bần, vô sự, lụy công hầu. Do về chùa cổ tṛn
ước cũ. Lại vác thuyền tiên đón luận
trong. Mây vờn đỉnh núi khôn t́m dấu. Gương
báu bụi lấp, mài thêm mờ! Núi xanh trơ trọi Duy Ma thất, sẽ
có một ngày đến tạ ân).
* Nói chuyện ban đêm tại Hưng Phổ
Am, dùng đúng vần trong bài trước để gởi
cho Trương Đại Hoa
Kim đại y quan thái cổ
tâm, thận ngôn thường tỏa thị phi môn. Tham Thiền
chí dĩ tề Trương Chuyết. Hiếu học danh
kham nhập Lỗ luận. Liên trạo lưỡng di lai bạch
xă. Thằng sàng kỷ độ tọa hoàng hôn. Tha niên
định huệ công thành nhật. Tu niệm tùng tiền
Chỉ Quán ân.
(Áo mũ thời nay, tâm thái cổ.
Nói năng cẩn trọng, dứt thị phi. Tham Thiền
chí đă bằng Trương Chuyết, hiếu học danh
kham dự Khổng môn. Chèo sen hai lượt vào bạch xă.
Ghế dây mấy bận ngắm hoàng hôn. Năm nào Định
Huệ thành công trọn, cần nhớ ân xưa Chỉ Quán
môn).
* Nói chuyện ban đêm tại Hưng Phổ
Am, dùng đúng vần trong bài trước để gởi
cho quan Vũ Bộ
Vương Long Khê
Đạo học quyền
hành chánh thuộc quân. Giáng duy phong động mă dung môn. Tam
gia cổ giáo tùy duyên thuyết. Nhị tự Lương
Tri cực khẩu luận. Tĩnh lực thiên tùng mang lư
đắc. Tráng hoài bất vị lăo lai hôn. Dương Minh
động thủy kim phương hạc. Lâm vũ
thương sanh mạc phụ ân.
(Đạo học tự
ḿnh cân nhắc lấy. Gió động màn hồng cửa Mă
Dung[77].
Cổ giáo ba nhà tùy duyên nói, hai chữ Lương Tri cực
luận đàm. Sức tịnh riêng t́m trong bận rộn,
hùng tâm chẳng bị tuổi già suy. Nước động
Dương Minh nay mới cạn, mưa đẫm quần
sanh chớ phụ ân).
* Nói chuyện ban đêm tại Hưng Phổ
Am, dùng đúng vần trong bài trước để gởi
cho Vương Tứ
Nguyên
Tảo kết tiên du xuất
thế trần, hựu tùng đ́nh huấn nhập huỳnh
môn. Dương Châu mộng đoạn quỳnh hoa hứng.
Hải phố t́nh khiên bối diệp luận. Nhiếp niệm
cẩn năng thu điệu cử, thể tâm
phương khả phá mê hôn. Hưu tương Chỉ Quán man han ngữ,
cô phụ Thiên Thai giáo chủ ân.
(Sớm theo tiên đạo vượt trần gian,
lại do gia giáo, thạo văn chương.
Dương Châu tàn mộng, hoa quỳnh nở. Phố biển
nặng t́nh với Phật kinh. Nhiếp niệm chỉ dằn
tâm náo động. Hiểu tâm mới thật
phá hôn mê. Thôi đừng bàn loạn lời Chỉ Quán, cô phụ
ân sâu tổ Thiên Thai).
* Giảng kinh Viên Giác tại Tịnh Từ,
trong tuyết tiễn Phương Bá Lưu Cảnh Mạnh
thuộc Hoàn Thành
Vi viên thụy thái động
Nam B́nh. Phật quốc trùng khai liễu nghĩa kinh. Thiên chỉ
băo phân Hương Tích giới. Nhất quan thanh thấm ngọc
vi thành. Hiện thân uyển thị sơ huyền độ.
Hoằng đạo tàm phi cựu Vĩnh Minh. Ca bái măn đồ
hưu hận biệt. Hành khan lâm vũ ủy thương sanh.
(Vi viên[78]
lộng lẫy rộn Nam B́nh. Phật quốc lại khai
liễu nghĩa kinh. Ngàn người no nê cơi Hương Tích. Quan liêm như ngọc nhuận toàn thành. Hiện thân Ngài
nhập nơi huyền lư. Hoằng đạo thẹn tôi kém Vĩnh Minh. Xướng tụng trọn
đường đừng tiếc hận. Mong Ngài nhuận
trạch khắp quần sanh)
* Họa vận đáp thái thú Châu Xuân Thành (đính kèm bài xướng)
(Xướng) Phỏng
đạo Đông quy tự ngộ chân. Hựu từ hỏa
trạch xuất hồng trần. Tuyết hồng đáo
địa tuy lưu tích. Thiên nữ phi hoa bất trước
thân. Diện bích cửu niên tâm thượng quưnh. Phóng sanh nhất
sớ, vật giai xuân. Độc
liên thịnh thế vô tri kỷ, vị tất kim đan ngộ
Động Tân.
(Hỏi đạo về
Đông tự ngộ chân. Giă từ
nhà lửa, thoát hồng trần.
Tuyết rơi xuống đất c̣n in dấu. Thiên nữ
rải hoa, chẳng dính thân. Nh́n
vách chín năm, tâm ngời sáng. Phóng sanh một sớ, mọi
vật sanh. Riêng thương đời thịnh không tri kỷ,
kim đan chưa chắc Động Tân lầm!)
(Họa) Khổng Lăo y hy vị thức chân. Thiên gia dị kế
đẳng vi trần. Nhất
Thừa đường áo mê tâm nhăn. Tam giới linh ngữ
tỏa huyễn thân. Kim tử quang trung hoang bạch nghiệp.
Tạm duyên tùng lư thất thanh xuân. Thập niên tiền
đắc phùng tri kỷ. Tảo tác Không Vương mạc
hạ tân.
(Khổng, Lăo dường như chưa biết
Chân. Ngàn nhà kiến giải tợ vi trần. Nhất
Thừa sâu thẳm, mê tâm nhăn. Nhà ngục ba cơi giam huyễn
thân. Vinh hoa quên bẵng tu bạch nghiệp. Sách vở dùi
mài mất tuổi Xuân. Mười năm trước
đă gặp tri kỷ. Sớm làm tân khách của Không
Vương).
* Họa vận đáp cư sĩ
Vương Bách Cốc (đính kèm nguyên xướng)
(Xướng) Lục thập
cao tăng tuyết măn điên. Nê đồ lăo tẩu diệc
tề niên. Khả dung phàm lữ vi Thiền lữ. Dĩ
băi trần duyên kết tịnh duyên. Thí thực mỗi phân
Hương Tích phạn, phóng sanh hà tích hạc lâm tiền? Đ́nh tiền nhất mẫu
thương lăng thủy. Dă học Đông Lâm chủng bạch
liên.
(Cao tăng sáu chục đầu
phơ bạc, ông lăo đường bùn tuổi cũng
ngang. Bạn tục há dung làm Thiền lữ? Đă bỏ
trần duyên, kết tịnh duyên. Thí thực thường
chia cơm Hương Tích, phóng sanh rừng hạc há tiếc
tiền[79]?
Trước sân một mẫu nước xanh biếc.
Cũng học Đông Lâm trồng bạch liên).
(Họa) Nhân thế chân ta
sự đảo điên. Bành thương đồ tự
các luận niên. Phồn hoa lănh đạm đăng tiền
hư. Hội hợp phân ly mộng lư duyên. Tử yến t́nh
đa bi cựu lũy. Thanh phù ân trọng thác phi tiền.
Tri quân dĩ thích tỳ bà hận, cẩm tự tân đề
thất bảo liên.
(Than dài nhân sự đảo
điên thay. Bành, Thương[80]
luận thọ uổng công rồi. Phồn hoa, hoang vắng
như bóng rối[81].
Hội hợp, chia ĺa mộng duyên thôi. Én biếc đa t́nh
buồn lũy cũ. Thanh phù ái nặng theo tiền bay[82].
Biết ông bỏ được Tỳ Bà hận[83],
bảy báu sen đề chữ gấm hoa).
* Ở trong núi
B́nh sanh mạng tọa thái
cô tinh. Tiễu tự cao phong
lănh tự băng. Tự chủ, tự tân, hoàn tự bộc. Không am,
không tháp, phục không đang. Đằng la nhập hộ
vô nhân tiễn. Đăng hỏa tiêu yên tá nguyệt minh.
Độc hữu tiêm hào cô vị tận. Bạch vân thời
chí bạn u thanh.
(Cả đời mạng
định sẵn đơn côi. Trơ tựa non cao, lạnh
tợ băng. Làm chủ, làm khách, làm đầy tớ. Chỉ
có ḿnh ta đảm nhận thôi. Am trống, chơng suông, nồi
cũng rỗng. Chẳng ai xén cắt mặc dây leo. Đèn
tắt ngóm rồi, trăng
sáng rọi. Riêng
chút đơn côi chưa hết sạch, bạch vân bỗng
đến bạn u thanh).
* Tặng Đông Thự thượng nhân
Càn khôn đại dạ
chánh mang mang. Vân ủng kim luân khởi Chấn phương.
Vạn lư sạ kinh thiên nhăn khoát. Thiên sơn sơ hiện
Phật đầu thương. Phồn tinh lệ nguyệt
nan tŕnh thái. Độc vụ kiên băng cảm thị
cường. Trữ khán thăng đằng
đương Ngọ vận. Phổ châu quần hữu mộc
ân quang.
(Đêm thẳm đất trời mờ tối
tăm. Mây nâng vầng nhật mọc phương Đông.
Muôn dặm bỗng như thiên nhăn mở. Ngàn non thoạt hiện
Phật xanh đầu[84].
Trăng sáng, muôn sao khôn hiện tỏ.
Sương độc, băng dày dám cậy cường? Hồi
lâu trời đă vào chánh Ngọ, khắp trọn muôn vật
hưởng ân quang).
* Thơ thủ vĩ ngâm (bốn bài)
1) Liên Tŕ phi thị ái tài
liên? Liên thị hoa trung
đại giác tiên. Hoa phát liên sanh nhân đới quả.
Liên thành hoa lạc thật tồi quyền. Triển khai
thiên diệp toàn cơ hiện. Nhiếp nhập cô pḥng chúng
đức viên. Tỉnh tận Trường An hồng tử
mộng. Liên Tŕ phi thị ái tài liên?
(Liên Tŕ há phải chuộng
trồng sen? Sen vốn muôn hoa
đại giác tiên. Hoa nở, hạt
sanh: Nhân kèm quả. Hạt chín, cánh rụng: Thật thay Quyền. Nở x̣e ngàn cánh,
lẽ chân hiện. Gom vào một gương, các đức
tṛn. Tỉnh hẳn Trường An hào nhoáng mộng, Liên Tŕ
há phải chuộng trồng sen?)
2) Liên Tŕ phi thị ái tài
liên? Liên thị hoa trung hỗn
tục tiên. Nội hiệp ngư long thành tịnh lữ.
Ngoại liên b́nh tảo kết lương duyên. Họa thuyền
tiêu cổ lương phong dạ. Thanh lạp ty luân tế
vũ thiên. Thân tại ô nê hồn bất nhiễm. Liên Tŕ
phi thị ái tài liên
(Liên Tŕ há phải chuộng
trồng sen? Sen tiên trong tục giữa
muôn hoa. Trong cùng rồng, cá thành tịnh lữ. Ngoài với
bèo rong kết thiện duyên. Thuyền hoa trống, sáo, đêm thanh mát. Mưa bụi, nón trúc, khẽ
buông cần. Thân tại bùn lầy, trọn chẳng nhiễm.
Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen?)
3) Liên Tŕ phi thị ái tài liên. Liên thị hoa
trung nhẫn nhục tiên. Hạnh tự thâm căn mai
trược thổ. Tùng tha danh hủy chiếm cao nguyên.
Nhan khai hách nhật hồng thiên diễm. Thật trụy
thu sương lẫm bội kiên. Nhất điểm thúy
tâm hàm tạo hóa. Liên Tŕ phi thị ái tài liên.
(Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen.
Sen: Tiên nhẫn nhục giữa muôn hoa. May có rễ sâu vùi
đất bẩn, mặc hoa quư khác chiếm cao nguyên. Nắng
rực, sen hồng phô lộng
lẫy. Sương thu đẫm hạt, chắc bền
thêm. Một điểm tâm biếc: Công tạo hóa. Liên Tŕ há
phải chuộng trồng sen?)
4) Liên Tŕ phi thị ái tài
liên. Liên thị hoa trung giải thoát tiên. Khiết thể
huưnh ly hồng phấn tấn. Thanh hương bất luyến
ỷ la diên. Mật thông thiên khổng trừ chư ngại.
Tú xuất cô tiêu tuyệt chúng triền. Bích thủy thanh
thiên trường tự tại. Liên Tŕ phi thị ái tài liên
(Liên Tŕ há phải chuộng
trồng sen? Sen: Tiên giải thoát giữa
muôn hoa. Thân tịnh hơn xa son phấn đắp.
Hương thanh há luyến tiệc xa hoa. Ngầm thông ngàn lỗ
không chướng ngại. Đẹp trội thanh cao, thoát
trói phiền. Nước biếc, trời xanh, tự tại
măi. Liên Tŕ há phải chuộng trồng sen?)
* Bốn bài thơ mô phỏng lối cổ
1) Úy hàn thời dục hạ,
khổ nhiệt phục tư Đông. Vọng tưởng
năng tiêu diệt, an thân xứ xứ đồng.
(Lúc sợ lạnh, mong Hạ. Nóng bức, lại tưởng Đông. Tiêu diệt
được vọng tưởng. Chốn chốn thảy
an thân).
2) Thổn đắc phiên
thành thất. Tư Đông nhưng phục Tây. Vị lai yểu
vô định. Hà tất dự lao tư?
(Nghĩ được, hóa
ra mất. Tưởng Đông, vẫn
thành Tây. Vị lai luôn mờ mịt, khổ chi phải sẵn
lo?)
3) Tàm xuất tang trừu
diệp, phong ngạ thụ cấp hoa. Hữu nhân tư hữu
lộc. Bần giả bất tu ta.
(Tằm sanh, dâu trổ lá. Ong đói, cây cấp
hoa. Có người bèn có lộc. Kẻ nghèo chẳng cần
than).
4) Thảo thực thắng không phúc. Măo đường quá lộ
cư. Nhân sanh giải tri túc. Phiền năo nhất thời trừ!
(Nhai cỏ hơn bụng rỗng.
Nhà tranh hơn ngoài trời. Đời người
hễ biết đủ, phiền năo trừ sạch ngay).
* Tặng thơ giă biệt vị Tăng đất Sở là Chân Ngu
Thế nhân trọng như
ngu. Chân ngu thế sở khí. Chỉ khủng ngu bất chân.
Ngu chân đạo thành dị.
(Người đời coi trọng thứ
nên ngu. Thật ngu lại bị đời hững hờ.
Chỉ sợ chẳng hề ngu chân thật. Thật ngu,
đạo lại dễ thành công).
* Cảm tác khi nghỉ lại nhà cư
sĩ Tạ Đông Xương (Hám Sơn đại
sư soạn kệ niệm tụng ngộ đạo)
Nhị thập niên tiền
sự khả nghi. Tam thiên lư ngoại ngộ hà kỳ. Phần
hương trịch kích hồn như mộng. Ma Phật
không tranh thị dữ phi.
(Hai mươi năm trước
chuyện đáng nghi. Ba
ngàn dặm gặp có lạ ǵ? Đốt hương,
quăng kích, dường như mộng. Ma, Phật tranh
suông đúng với sai!)
* Sáu bài hoài cổ
1)
Đào Châu (Phạm Lăi)
Chiến băi Hoàng Tŕ tấn
dĩ bà. Lục thoa thanh nhược nhậm yên ba. Công thành
mạc vị trường an lạc. An lạc tu tri hoạn
cánh đa.
(Xong trận Hoàng Tŕ bạc
tóc mai. Áo tơi, nón trúc dạo giang hà.
Công thành đừng bảo an lạc măi! An lạc phải
hay họa lại nhiều!)
2) Lưu Hầu (Trương
Lương)
Hồn kinh Bác Lăng mạng
như ty. Thùy liệu chung thành đế giả sư? Vạn
hộ măn tâm phương giải tổ. Xích Tùng hiềm ngă
dĩ quy tŕ.
(Kinh hồn Bác Lăng[85]
mạng như tơ, nào biết rốt thành thầy đế
vương? Vạn Hộ[86]
thỏa tâm, liền từ chức. Xích Tùng[87]
vẫn chê ta chậm về!)
3) Mục sanh[88]
Ḱnh trường yển
phúc lượng nan b́nh. Thường cảm quân
vương thiết lễ t́nh. Cố cốc tiểu khê
xuân lưu bích. Dục phanh tân mính địch dư tŕnh.
(Ruột ḱnh, bụng chuột
khó so bằng. Thường cảm t́nh vua đăi tiệc
tùng. Hang cũ, suối con, Xuân sắc
biếc. Toan pha trà mới gột
cơn say).
4) Lưỡng sớ
Thập niên liên duệ sự
xuân cung. Chiếm tất kinh sanh kỹ dĩ cùng. Kim nhật
cửu thiên vân vũ cận. Hà tu lâu dẫn bạn thần
long?
(Mười năm chung tay
pḥ Thái Tử. Nho sinh giảng học hết tài rồi. Nay
chín ngày trời mưa dầm suốt,
há cần giun đất hầu rồng thần?)
5) Tử Lăng[89]
Bất thoát mang hài nhập
đế hôn. Nhất khâm xuân mộng quyến hoài thâm. Tinh
đài chỉ khủng chương tần thượng. Vị
tất thời thời niệm cố nhân.
(Chẳng cởi hài cỏ
vào cung vua. Ôm chăn xuân mộng luyến lưu sâu. Đài
sao chỉ sợ nhiều sớ tấu. Chưa chắc luôn luôn nhớ cố
nhân)
6) Uyên Minh (Đào Tiềm)
Trần vơng y y tam thập
Xuân. Tạc phi kim thị bất tu luận. Tức giao khởi
độc vong tri kỷ. Vị ái ngô lư hạ mộc
âm.
(Lưới trần chằng
néo ba mươi Xuân. Xưa sai, nay đúng chẳng cần bàn. Tuyệt giao nào phải quên tri kỷ? V́ chuộng bóng râm nơi nhà ta).
* Tuyết
sư tử
Tảo tụ thành h́nh thế
tiện hùng. Thông thân kiểu khiết ngọc quang nùng. Huyễn
trang dă giải kinh quần thú. Bất thị tầm thường
nhất sắc công.
(Gom quét thành h́nh, thế càng
hùng. Khắp thân trong trẻo, ánh ngọc hừng. Giả
trang đă khiến muôn thú hăi, chẳng phải tầm
thường thủ đoạn đâu!)
* Khiếm thật (tên thông tục là Kê
Đầu)
Lăn hướng nhân gian báo
ngũ canh. Ngang tàng dă thủy túc b́nh sanh. Bất tu vơng
tượng thâm thâm mịch. Đột xuất minh châu bổn
kiến thành.
(Lười hướng nhân
gian báo canh năm. Nghênh ngang nước bẩn thỏa b́nh
sanh. Chẳng cần vơng tượng[90]
sâu t́m kiếm, riêng lộ minh châu vốn đă thành).
* Hoa khiên ngưu
Triêu trước thanh sam ngọ
trước phi. Tịch dương vô phục ngọ thời
y. Vinh quang quá nhăn chân thành mộng. Sào
Phụ tùng lai bất ẩm khê.
(Sáng khoác áo xanh, chiều áo hồng.
Chiều tà khoác áo khác khi trưa. Vinh quang qua mắt, thật
thành mộng. Sào Phụ chưa hề uống nước
khe).
* Biệt hiệu của Cựu Khê Đinh
tiên sinh
Khê thủy bổn vô tân dữ
cựu, cửu cư phương biểu cựu khê danh. Tự
tùng nhận đắc khê biên chủ, bất sấn đào
hoa nhập Vũ Lăng.
(Nước suối vốn
chưa hề cũ, mới. Ở lâu, mới chọn hiệu
Cựu Khê. Kể từ khi biết chủ bên suối. Chẳng
vượt hoa đào vào Vũ Lăng).
* Sáu cảnh ở Vân Thê (được chép
trong Vân Thê Kỷ Sự)
1) Ngọn Hồi Diệu
Đông phương sơ
xuất tiệm đương dương, sử đắc
nhân gian vạn sự mang. Chuyển trục Tây lai sơn dục
mộ. Bảo quang y cựu ánh sa song.
(Phương Đông vừa
mọc dần ngời rạng, khắp cơi nhân gian bận
tít mù. Chuyển hướng
về Tây, non ngả tối. Ánh báu như cũ ửng song the)
2) Bảo Đao Lung
(Trước nay đao bén gọi “thổi
lông”[91], muôn sợi tơ tùng cột chặt
thay! Đừng bảo độn căn thiếu đoạn
đức. Đấy vốn là đao cứu sống
người).
3) Ngọn Bích Quán
(Chín năm Thiếu Thất ngồi non cao.
Nơi này rồi ai sẽ phỏng theo? Phất tay áo về
ngoài ngàn rặng, chẳng tới hỏi ngươi cách an tâm!)
Bách can thanh kiển xuất lưu tuyền.
Phi vũ Đông Tây khởi phục miên. Ngọc nhũ bất
tri lai xứ viễn. Chỉ nghi Hương Tích hữu long
diên.
(Trăm ống tre xanh vang tiếng suối,
róc rách Đông Tây uốn lượn quanh. Sữa ngọc chẳng
hay từ đâu đến, chỉ ngờ Hương Tích
có dăi rồng).
5) Suối Thánh
Nghĩa
Bất y song tụ bất trung loan. Trạm
xuất đương ương đệ nhất tuyền.
Chỉ khủng lăo hồ do bất khẳng. Tùng giao thiên lư
tự quyên quyên.
(Chẳng nương hai ngọn, chẳng giữa
non. Ḍng suối bậc nhất giữa bạt ngàn. Chỉ
sợ lăo hồ c̣n chẳng chịu, mặc cho ngàn dặm
tự tuôn trào).
6) Suối Kim Dịch
An Dưỡng tŕ trung bảo tự miên.
Ngọc hồi châu lưu chánh sạn hoàn, hà niên phân đắc
kim cang chủng, lai tác Vân Thê nhất phái tuyền.
(Trong ao An Dưỡng, báu như tơ. Xoáy
ngọc, ḍng châu đang cuộn vờn. Năm nào mới
được kim cang chủng, chảy đến Vân Thê mạch
suối nguồn).
* Bia đá đề thơ (được chép
trong Vân Thê Kỷ Sự)
Đào đất t́m được
một tấm bia găy đề là Tùy Long đời Tống,
tôi biết sát những phiến đá nát gần ranh giới
nơi ở lờ mờ có khắc thơ. Có lẽ từ
thời nhà Tống chạy về phương Nam, nên [có
người] làm nhà ở nơi đây, sau đó, xả nhà
thành chùa, chắc người ấy là bậc cao sĩ. [Do
các bài thơ không hoàn chỉnh], tôi bèn dùng ư riêng để bổ
sung, chép lại thơ tạc trên đá như sau:
1) Kỷ
niên hồn nhiễu Chiết thành Tây.
Thập lư hà hoa dạng
cẩm pha. Đạp biến lưỡng phong tam trúc lộ,
hựu tùy thanh chướng nhập Vân Thê.
(Bao năm quanh quẩn Tây thành Chiết.
Mười dặm hoa
sen, bến gấm
phơi. Đi khắp hai non, ba
nẻo trúc, lại
theo đỉnh biếc vào Vân Thê).
2) Thiên lư tinh kỳ ủng lục phi,
đầu trâm dục thượng điếu ngư ky. Vô
đoan hốt bị nhàn vân dẫn. Hồi Diệu Phong tiền
yểm trúc phi.
(Quạt cờ ngàn dặm
rước xe vua, từ chức ẩn cư chốn thả
câu, bỗng dưng vô cớ mây
nhàn cuốn, quay lại Diệu Phong đóng cửa tre).
(Lạc Dương vườn quư, ca vũ lặng. Quạ kêu đă
rộn mấy hoàng hôn. Ai người
học được Hương Sơn lăo? Ngàn
năm lều cỏ Phạm âm rền).
* Dạy người cưỡi lừa
Song nhĩ phi phong lăo tệ
lư, trường đồ lực quyện bộ hành từ.
Đê thanh thuyết dữ
dương tiên giả, nhất niệm sai lai nhĩ tức
cừ.
(Lừa già gió thổi
lệch hai tai. Sức mỏi
đường dài lững thững đi. Khẽ khàng bảo
kẻ giương roi đập, một niệm sai lầm,
nó là ngươi).
* Khích lệ Trí Thanh
Bệnh sân ngải hỏa
ân thành oán. Dăng nhập song linh, ám tác minh. Kư dữ Vân Thê
Thanh thị giả. Hảo tùng nhàn dạ tự b́nh luận.
(Bệnh nhân giận lửa
ngải[92],
ân t́nh thành oán thù. Ruồi bay vào khung cửa, tối tăm
hóa sáng ngời. Nhắn cùng Thanh thị giả, ở
nơi chùa Vân Thê. Khéo trong đêm thanh nhàn, tự ḿnh bàn xét
ḿnh).
* Tặng Nhược Ngu
Nhăn động thu hào khán
cánh chuyết. Nhĩ linh đấu nghị thính hoàn tŕ. Bất
nhân mễ giá thám tiêu tức, tranh thức Vương Chuyên bất thị si.
(Mắt thấy mảy
tơ vẫn là vụng, tai nghe kiến căi vẫn tŕ độn.
Chẳng do giá gạo ḍ tin tức, sao biết Vương
Chuyên chẳng phải si?)
* Tặng Tiệp Đường Thắng
thượng nhân
Cầm khước ma
vương đắc thắng hồi. Phổ thiên tề
thụ nạp hàng kỳ. Thiên môn vạn hộ hoan thanh dật.
Chánh thị tướng quân báo tiệp thời.
(Bắt được
ma vương, đắc thắng về. Cờ quạt
dâng hàng dựng rợp trời. Ngàn môn muôn hộ
vang vui sướng. Chính lúc tướng quân báo tiệp
thôi!)
* Đề nơi am ở núi Ngưu Đầu
Tranh vanh đầu giác nhập
thanh vân. Vĩ kích Đông Nam đại hải hồn. Bối
thượng vô nhân xuy mục địch. Lăo tăng liêu tá
tác bồ nhân.
(Chênh vênh đầu dốc tót tầng mây. Đuôi
chạm Đông Nam biển cả trào. Không trẻ chăn
trâu ngồi thổi sáo, lăo tăng đành bện chiếc bồ
đoàn).
* Tự thuật ngày Mồng Chín lên chỗ
cao
Hung trung nhất điểm
vân câu tận. Đầu thượng thiên hành tuyết vị
tiêu. Lăo bộ chỉ nghi b́nh trực khứ. Bất tri hà ư
hựu đăng cao?
(Trong tâm vẩn mây đều
sạch hết.
Đầu
ngàn sợi tuyết vẫn chưa tiêu. Chân già chỉ nên thủng
thẳng bước, chẳng hiểu v́ sao lại lên cao?)
* Dạy Thiền giả tại am Hưng
Phổ và gởi thái sử Trương Dương Ḥa
Tuyết sơn đại
sĩ luân vương tử, ma mạch chi thân lạc hữu
dư. Hà sự bát vu tam độ thấp? Cánh giao học
sĩ giải kim ngư.
(Tuyết Sơn đại
sĩ: Đấng Luân Vương. Mè, mạch nuôi thân vui có thừa! Do
đâu b́nh bát ba lượt ướt, lại dạy người học thả
cá vàng?)
* Gởi hiếu liêm Tiền Chánh Phong
Tri quân mịch cú vị
đào t́nh. Biệt hữu tiên phương dược cánh
linh. Thùy tín tỵ đoan tiêm điểm bạch. Diệu
quá giang thượng sổ phong thanh.
(Biết ông luyện văn, hun đúc t́nh. Riêng
toa tiên dược lại càng linh. Ai tin
điểm sáng nơi chót mũi, hơn vài ngọn gió lướt qua sông).
* Mười bài ngẫu thành
1) Cô phong thiên nhận lập
giang tâm. Bát diện hồng đào sầu sát nhân. Nại thị
căn thâm tự kiên cố, kỷ hồi kinh cổ hựu
phùng kim?
(Non côi ngàn thước giữa
ḍng sông. Tám mặt sóng bủa sầu chết người. Chắc do cội sâu, tự vững chắc.
Bao phen năm tháng đến bây giờ?)
2) Tố lư nan khi tự phản
tầm. Tử sanh họa phước đẳng phù trần.
Liễu tri tâm dữ thiên tâm hợp. Tiếu thính can qua bức
nhĩ căn.
(Chất phác khó dối, tự xét suy. Tử,
sanh, họa, phước: Bụi lăng xăng. Biết
rành tâm ḿnh, tâm trời hợp; vũ khí khua rền vẫn cứ cười).
3) Kiếm kích lâm trung thụ
pháp tràng. Đại nhân cảnh giới bất tầm
thường. Phiên tư Nam Nhạc điên nguy nhật.
Thiên tải ân thâm hận vị thường.
(Trong rừng gươm, giáo
dựng pháp tràng. Đại nhân cảnh giới chẳng tầm
thường. Hồi tưởng non Nam ngày nghiêng ngửa. Ân sâu ngàn năm, hận
chửa đền).
4) Diệp diệp hoàng kim
thụy thổ hoa.
Kiềm
chùy lô thán nhậm giao gia. Lâm cơ hà sự hồn vô khiếp,
thể bạch thuần chân bất tạp sa.
(Vàng ṛng rực rỡ tỏa
quang minh. Mặc t́nh nung đập, nướng ḷ than. Lên
đe trọn chẳng hề kinh khiếp. Thể sạch,
tinh thuần, cát chẳng pha).
5) Chiêu đại tùng lâm biến
bức viên, bách thiên long
tượng chánh liên phiên. B́nh nguyên mạch địa sanh
ba giả. Khước thị cừ nông nhăn vị khoan.
(Thời thịnh, chùa chiền
khắp nước nhà. Trăm ngàn đại đức hiện
liên miên. Đất bằng sóng cả bỗng dưng nổi,
chính v́ tầm mắt quá hẹp ḥi).
6) Tự, Nịch đương niên
tiếu Trọng Ni. Trọng Ni diệc khủng giải u
thê. Ưng liên cổ đức hào ngoa xứ, vị hứa
bàng nhân thủ thứ tri.
(Tự, Nịch[93]
thuở ấy cười Khổng Tử, sợ Ngài
cũng chẳng hiểu u cư. Cổ đức sai lầm
nên thương xót, chẳng để kẻ khác tùy tiện
chê).
7) Lạc phách b́nh sanh quyện
ỷ phan, xích điều điều địa nhậm cô
hàn. Hưu nhân la mạn y tha hoạt. Thiên xích kiều tùng nhất
lệ khan.
(Vỡ mật cả đời
chán dựa nương. Trơ trụi mặc t́nh rét
đơn côi, đừng bám víu người mong sống sót. Tùng cao ngàn thước hăy noi theo).
8) Diêu lai trực đạo
thế nan hành. Uổng đạo cầu dung ngă bất
năng. Vạn lư thao thao đại giang thủy. Tùng giao
bách chiết dă đông khuynh.
(Chánh đạo từ
xưa đời khó hành. Nghịch đạo dung thân, ta chẳng kham! Sông to cuồn cuộn
ngàn dặm nước. Dẫu uốn
trăm khúc vẫn về Đông).
9) Mộc thạch nham
cư lăo thử thân. Chiêu-đề
hốt tựu bổn vô tâm. Như hà thủy nguyệt không
hoa cảnh. Năo đắc thời nhân nhăn bất cấm.
(Gỗ, đá, sườn
non gởi thân già. Chùa viện bỗng thành, vốn vô tâm. Ḱa trăng trong nước, cảnh hoa đốm, quấy nhiễu
người đời khôn giữ ḿnh).
10) Nhị thập niên lai
phá nạp y. Chung triêu tương bạn bất
tương ly. Hội đương khất thực
vương thành dă. Kư dữ thời nhân cánh mạc nghi.
(Áo chằm rách rưới hai chục năm, suốt ngày xúm xít, chẳng rời ĺa. Thành vua khất thực
ta sẽ đến, nhắn gởi người đời
chớ hoài nghi).
* Hai bài Hữu Cảm (có lời tựa)
Trong núi có một con nhồng,
ban ngày th́ bay lượn, ăn uống tự tại.
Đêm th́ về ngủ. Do nó
có thể tụng danh hiệu Phật, người ta bèn nhốt trong lồng
[đem về]. Khi Trung Sứ tới, nó ngậm miệng
chẳng nói, lại thả nó về núi. Vừa khéo có pháp
sư X… muốn đem nó lên kinh đô, bèn cảm xúc ngâm vịnh
chuyện này.
1) Năng ngôn hảo điểu
bồi điêu liễn. Nhạo
thuyết cao tăng trục họa thuyền. Thâm cốc vô
nhân vấn Linh ách (trong chùa có vị sa-di bị câm, tên là Tánh
Linh). Nhất khám nhàn ngọa bất tri niên.
(Chim biết nói bồi
theo xe đẹp. Cao tăng ưa nói ruổi thuyền hoa.
Linh câm, hang thẳm không ai hỏi. Nằm khểnh trong khám,
chẳng biết năm).
2) Hảo điểu tri
cơ đốn tuyệt ngôn, bất tài nhưng đắc
phản lâm tuyền, bằng thùy kư ngữ thuyền trung
khách, thử sự lao quân nhập giảng diên.
(Chim khôn biết thời liền
câm bặt; bất tài, trở lại
chốn lâm tuyền. Khách ngồi thuyền nhờ ai nhắn
gởi, chuyện này nhọc ông vào giảng ṭa).
* Cư
sĩ Quảng Tuyên Vương Kiệu Hải tháo đai bạc
để chuộc, dùng cái ḷ bằng đồng để
đáp tạ
Ngọc đới tuy trân, thể bất kiên. Châu Đề bách luyện, sắc di tiên. Đầu
đà vị xả vân sơn nạp, duy hữu lư phân kiếp
ngoại yên.
(Đai ngọc tuy quư, thể
chẳng bền. Châu Đề[94]
trăm luyện, sắc càng
tươi. Đầu đà chưa bỏ tăng trong núi,
chỉ có kiếp ngoại lư khói tuôn).
* Bài thơ tuyệt cú tặng Nam Quan La Chủ
khi nghỉ lại Thạch Viên
Trọng Hoa đế tử
cư thành lữ. Ngũ Liễu tiên sinh[95]
túy tác nhân. Kim nhật sứ quân vô mễ phích. Tức cơ
liêu nhĩ kư nhàn thân.
(Con vua Đế Thuấn
chung bầu bạn. Tiên sinh Ngũ Liễu say nằm
lăn. Nay sứ quân chẳng cuồng trữ gạo, dứt
nỗi lo toan, hưởng thanh nhàn).
* Dạy Trí Âm tới núi Phục Ngưu
Phục ngưu thử khứ
tam thiên lư. Chung nhật kỵ ngưu khước ngoại
tầm. Đoản địch nhất thanh Xuân chánh hảo.
Tri âm do khủng vị tri âm.
(Phục Ngưu cách đây ba
ngàn dặm. Suốt buổi cưỡi
trâu, t́m bên ngoài. Một tiếng
sáo ngắn âm hay tuyệt. Tri âm vẫn ngại
chẳng tri âm).
* Khách có người báng bổ, do
thương xót kẻ ấy ngu muội, bèn dùng ba bài kệ
để dạy
1) B́ mao thoát tận, nhục tiêu ma. Thể lộ đường
đường bạch tự kha. Khô khao dĩ phi trần
thế tướng. Tùng tha xưng dự dữ cơ ha.
(Da lông tuột sạch,
thịt tiêu tan. Thể lộ rành rành, ngọc trắng ngần. Khô khan chẳng phải
tướng trần thế. Mặc người ca ngợi
với chê bai).
2) Khô cốt quần hàm mạc
tiếu si. Đạm trung tư vị thiểu nhân tri. Nhất
hồi giảo triệt kim cang tủy. Hà tất ph́ cam thỉ
liệu cơ.
(Muôn miệng đừng
cười xương khô si[96],
tư vị b́nh đạm ít người hay! Một phen cắn thấu kim cang tủy, ngon béo cần chi chữa
đói ḷng?)
3) Vương cung thái tử, Tuyết Sơn tăng. Tôn
quư diêu lai tập tự thành. Thiên nhị bách nhân tùy tả hữu.
Dă ưng đô thị vị hư danh.
(Thái tử cung vua: tăng Tuyết sơn.
Tôn quư do tu mà tự thành. Ngàn hai trăm người vây sau
trước, cũng nên coi đó chỉ hư danh).
* Đêm trừ tịch Thượng
Đường, đọc hai bài kệ dùng ba vần
Đa Sa Bà
1) Lục tự chân kinh nhiếp
nghĩa đa, tổng tŕ nhất tự xướng
dă-sa, tự tùng mạch trực Tây phương khứ.
Nhàn sát Đài sơn chỉ lộ bà.
(Chân kinh sáu chữ
nghĩa muôn trùng, tổng tŕ giống hệt xướng
dă-sa[97].
Từ đây về thẳng Tây Phương nhé, nhàn xem bà cụ
chỉ non Đài).
2) Khổ hạnh vô năng học
đỗ-đa, nạp y chung tuế thượng sa sa.
Minh triêu hựu thị tân niên dă. Tá đắc bà sam khước
bái bà.
(Khổ hạnh chẳng thể
học đầu-đà, suốt năm tăng y rách tả
tơi. Sáng mai lại là ngày năm mới. Mượn áo của
bà mặc lạy bà).
* Trong tuyết bế quan, dạy kẻ
khất giới
Lục hoa trang tựu
ngọc càn khôn. Thất hữu
Duy Ma thị tật thân. Nhất dạ Tỳ Ni đàm vị
liễu. Độc liên cô phụ lăo bà tâm.
(Bông tuyết
sáu cánh rực càn khôn. Trong thất, Duy Ma hiện thân bệnh.
Một đêm, Tỳ Ni bàn chửa xong. Chỉ thương
cô phụ tâm tha thiết).
* Điếu tỳ-kheo Tâm Đăng Quảng
Truyền
Lục thập
dư niên chiếu thế lai. Chú tàn cao tận mộng
sơ hồi. Thùy ngôn nhập diệt quang trầm một,
chước địa huy thiên chánh bất mai.
(Hơn sáu
mươi năm chiếu cơi đời. Bấc tàn, sáp hết,
tỉnh mộng rồi. Ai nói nhập diệt, quang ch́m mất.
Rực chiếu đất trời, chẳng lấp vùi).
* Bài thơ nhỏ ngỏ ư với anh Tam
Châu Công về chuyện thuê ruộng của Hoàng Long Am ở
Vô Môn Động, nhưng chẳng nhận, giao trả lại
cho thường trụ
Liên hoa tùy thủy tiện
vi tŕ, bất nhiễm hoàng long động khẩu nê. Uất uất hương
lâm chân chủng tại. Y nhiên cựu quả phát tân chi
(thường trụ sư hiệu Hương Lâm, danh Chân
Quả).
(Hoa sen bên nước liền
thành ao, chẳng nhuốm bùn nơi động Hoàng Long. Rừng
hương ngào ngạt, gieo trồng thật. Quả cũ
rành rành phát nhánh non (vị sư thường trụ hiệu
là Hương Lâm, pháp danh là Chân Quả).
* Phụ lục (dưới đây là
những bài thơ do đại sư làm khi chưa xuất
gia, tại gia đệ tử là Trần Như Ngọc bút
kư)
1) Buổi chiều vượt Tây Hồ
Măi trạo nhập b́nh
hoàng, phiến phiến vạn liễu bàng. Loạn yên mê dă
sắc. Tàn chiếu ánh hồ quang. Hăi lộc hô quần thiết.
Hàn nha trạch thụ mang. Thi thành thiên dục minh, tân nguyệt
hạ Tiền Đường.
(Thuê thuyền chèo quanh
dưới hào thành, muôn liễu vây
quanh gió khẽ lùa. Khắp đồng
sương
khói mờ mịt phủ,
ánh tà
phản chiếu mặt hồ gương. Nai sợ kêu bầy thảm thiết tiếng.
Cây đầy bọn quạ đậu lăng xăng.
Thơ xong, trời đă gần mờ tối, một vầng
trăng non in Tiền Đường).
2) Họa hai bài theo vần của Cao Thụy
Nam
a) Nhục thân bổn truyền
xá. Mê nhân tự nan hiểu. Chướng duyên khổ oanh
khiên. Phiền năo hà thời liễu? Tri quân khởi đại
huệ. Tâm tự mộc dĩ cảo. Khiêu xuất túy mộng
quan. Tây phương thục vân yểu. Tá vấn hà năng
nhiên, đăng hoa phát khô thảo.
(Thân thể: Trạm
nghỉ tạm. Người mê tự khó hiểu. Chướng
duyên khổ trói chằng. Phiền năo thuở nào hết? Biết
ông dấy đại huệ, tâm tợ như cây khô. Nhảy
thoát ải say mộng, Tây phương há xa vời? Thử
hỏi sao như thế, hoa đèn rải cỏ khô).
b) Nhân sanh tự Xuân tiêu. Phồn
hoa nại tương hiểu. Quân tùng náo lư đào, nhất
tiếu đại sự liễu. Luyện h́nh thả
đa kỳ. Châu nhan cự năng cảo. Ngă dục truyền
cấm phương. Thiên cơ khủng thâm yểu. Liêu
tương nguyện học tâm, ân cần phó thi thảo.
(Đời người
như đêm Xuân, phồn hoa thật chóng qua. Ông trốn
nơi ồn náo, cười vang đại sự xong. Tu
thân nhiều chỗ lạ, mặt tươi sao héo hon? Ta
muốn truyền thuật lạ, thiên cơ ngại thẳm
sâu! Đành đem tâm mong học, ân cần gởi vào
thơ).
3) Họa bài thơ vịnh thời sự
của Cao Thụy Nam (nhằm năm Ất Măo (1555) thời Gia Tĩnh)
Hải thượng yêu phần
vạn lư phù. Niên lai lư hạng tận qua mâu. Can thành
vũ sĩ hồn vô sách. Đầu bút thư sinh cạnh
mịch hầu. Lạc thổ ta kim dân lực bại. Chiến
trường hà nhật lệ ngân thâu? Cùng diêm cố hữu
khuông thời thủ. Tánh tự bằng thùy đạt
đế châu.
(Mặt biển hơi mù vạn
dặm phủ. Ngơ ngách gần đây
vũ khí đầy. Vũ sĩ hộ thành đành thúc thủ. Quăng bút thư sinh mưu tước
hầu. Cơi lạc thương dân sức lực kiệt.
Chiến trường lệ đẫm thuở nào ngơi?
Xóm nghèo vốn có người tài tuấn. Ai gởi họ
tên đến đế kinh?)
4) Đề cội tùng già chùa Linh Ẩn
Bắc hải
thương long cựu hữu khiên. Trích lai trần thế
bất tri niên. Vạn trùng vân khỏa di tung tại. Thiên nhận
khê biên vũ trảo huyền. Hào khí tự năng bàn vũ
trụ. Linh thai khởi đắc lăo lâm tuyền. Tha triêu hấp
thủ thanh lưu khứ. Tán tác cam lâm biến cửu thiên.
(Bắc hải rồng xanh
xưa phạm lỗi, đọa xuống trần gian chẳng biết năm. Muôn trùng mây cuộn
c̣n tung tích. Ngàn nhận bên khe giương vuốt đùa.
Hào khí tự che rợp vũ trụ. Thai thiêng già cỗi tại
lâm tuyền. Ngày nào hấp thụ ḍng trong mát, rải trọn
mưa ngọt khắp đất trời).
5) Bài ca về tiết phụ họ Điền
Cựu thời song hạ
thanh loan phẫu. Mẫu vị hồng nhan nhi cưỡng
băo. Cao đường kim nhật la ỷ diên. Mẫu vi bạch
đầu, nhi tráng niên. Thiết
thạch tâm, tứ thập tải, hư
không hữu tận, t́nh vô cải! Phủ di anh, hiện
đầu giác, vị báo u minh dĩ như ước. Hu ta
hồ! Nhất sanh thân thế chân tân khổ. Hoán đắc
phương danh chiếu thiên cổ. Nhăn trung tự mẫu
năng kỷ nhân? Địch bút hùng hoàn truyền lư tầm.
(Thuở trước dưới
song mổ loan xanh, mẹ đang thanh xuân, con ẵm ngửa. Nhà to nay đă the lụa
trải; mẹ đă bạc
đầu, con tráng niên. Tâm sắt
đá, bốn mươi năm, hư không có
thể tận, tâm t́nh chẳng đổi dời. Nuôi con
côi đă thành tài, báo đền ước cũ chốn u
minh. Ôi chao ơi! Thân thế một đời thật cay
đắng, đổi lấy danh thơm soi muôn đời.
Thấy đời mấy kẻ được như mẹ. Bút lau, Hùng Hoàn[98]
há kém ai?)
6) Âm vang tơ đồng
Đạo nhân cổ cầm
bất hội án. B́nh đạm, b́nh đạm, phục b́nh đạm.
B́nh b́nh đạm đạm tín thủ đàn. Tự giác
tâm đầu thoát ky bạn. Khúc chung, triển quyển tả
tân thi. Đới đắc dư âm bút đoan tán. Mạn
thuyết ty đồng giải nhiễu lương.
Khước tiếu kim triêu tại thư án.
(Đạo nhân đánh
đàn chẳng rành ngón, b́nh đạm, b́nh
đạm, lại b́nh đạm. B́nh b́nh đạm đạm
thuận tay đàn. Chỉ biết trong ḷng thoát trói buộc.
Đàn xong, mở sách đề thơ mới. Dư âm bỗng
theo ng̣i bút tan. Đừng nói tơ đồng quyện thánh thót, hôm nay án sách
đành tự trào).
7) Đề bức tranh tam giáo
Hồ tu tú tài thư nhất
quyển. Bạch đầu lăo
tử đan nhất phiến. Bích nhăn hồ tăng đản
nhất kiên. Tương khán tương tụ hoàn
tương luyến. Bất tri thuyết thậm đích, vạn
cổ thường bất yếm. Tưởng thị
đồng căn sanh. Huyết mạch nguyên vô gián. Hậu
đại nhi tôn t́nh tiệm ly. Các phân môn hộ sanh cừu
oán. Đản thỉnh cao minh ngoạn thử đồ. Tầm
thủ đương niên tông tổ diện.
(Tú tài rậm râu, sách một quyển. Ông cụ đầu bạc, một viên thuốc. Hồ tăng mắt
biếc trật vai áo. Xem chừng tụ tập cùng quyến
luyến. Chẳng biết họ đang đàm luận ǵ,
muôn thuở chưa hề chán. Cho rằng cùng cội sanh,
huyết mạch chưa hề cách. Con cháu đời sau dần
tách ĺa, chia cách môn hộ sanh cừu oán. Mong bậc cao minh ngắm
tranh này, t́m mặt tổ tông trong thuở ấy).
8) Lam Điền
Ái ái b́nh huề thụy khởi
yên. Sơn ông hoài ngọc chánh cao miên. Xuân thâm mạc nhạ
lê sừ tĩnh. Bất thị nhân gian đạo thử
điền.
(Hơi lành lờ lững
vờn quanh ruộng, dân núi ôm ngọc ngủ say sưa. Xuân
sâu đừng sợ không cày cuốc. Chẳng phải nhân
gian ruộng lúa đâu).
Bài này tôi viết v́ một
người bạn của cha tôi là Trần tiên sinh ở Lam Điền. Con
của tiên sinh tên là Như Ngọc, vào ngày Ngọ năm Tân
Hợi (1611) đời Vạn Lịch,
cầm bài thơ này yêu cầu tôi viết lại. Nhớ lại
th́ đă bốn mươi tám năm rồi. Tiên sinh dùng ruộng
nhân từ đă sâu dày, gieo trồng đức như ngọc.
Khi làm thơ, ruộng c̣n chưa thục, phẩm đức
như ngọc vừa mới lập. Nay ngọc đă thuận
theo tâm, tuổi thọ kiên cường như đá lại
vượt quá hàng bảy, ruộng ở chỗ nào? Thời
đổi, vật dời, ngơ ngẩn như giấc mộng
đă qua mà thôi! Đêm dài đằng đẵng, lúc nào sẽ
tỉnh mộng; do vậy, ghi lại
cảm xúc.
9) Từ một chữ tới bảy chữ,
cùng trưởng huynh Tam Châu góp phần vịnh gió, hoa, tuyết,
trăng
a) Hoa:
Thiên chi, vạn ba. Hồng xán cẩm, thái phô hà. Bồi la ỷ
tịch, luyến vương tôn gia. Hiểu lộ tân
trang thấp, xuân phong vũ tụ tà. Thanh đế nga quy
huyễn hóa. Ngọc dung dĩ phó trần sa. Lạc
Dương viên thượng vô nhan sắc. Tây Thổ tŕ
trung hữu vật hoa.
(Hoa: Ngàn cành, vạn
đóa. Đỏ tươi như gấm, rực rỡ
khoe sắc màu. Bầu bạn bên tiệc phù hoa, lưu luyến
hàng vương tôn. Sương sớm ướt vẻ
điểm trang, gió xuân đùa tay áo phấp phới. Ngày
Xuân bỗng thành huyễn hóa, vẻ ngọc hóa cát lầm!
Trong vườn Lạc Dương thôi rực rỡ,
nơi ao Tịnh Độ hăy c̣n hoa).
b) Nguyệt: Thời viên, thời
khuyết. Ngọc câu huyền, ngân kính triệt. Nhiên hôn cù
đăng sanh hư thất bạch. Tà xuyên hạc quán sào,
trực thấu giao long huyệt. Vô đoan vân vụ bàn
toàn. Đốn bả bổn lai ma diệt. Tảo khai vạn
lư hắc mông lung. Y cựu nhất thiên quang kiểu khiết.
(Trăng: Lúc tṛn, lúc khuyết.
Móc câu ngọc treo cao, mảnh gương bạc thấu
triệt. Soi đường tối, làm đèn sáng nơi
nhà trống. Chiếu ngang ổ hạc, c̣. Soi thẳng vực
giao long. Vô cớ mây mù quẩn quanh. Nhanh chóng khiến
trăng sáng phủ lấp. Quét sạch tối tăm muôn dặm.
Vẫn như cũ thấy rạng ngời giữa trời).
* Xuất gia, nấu canh giă biệt người
nhà
Quân bất kiến,
Đông gia phụ, kiện như hổ, phúc dựng thường
tương niên sổ nguyệt. Tạc tiêu do tự ỷ
môn lư, kim triêu mạng dĩ quy hoàng thổ. Hựu bất
kiến, Tây gia tử, mănh như long, hoàng hôn băo phạn, thụy chánh nùng. Du hồn
nhất khứ bất phục phản, ngũ canh mạng
dĩ thuộc Diêm ông. Mục tiền nhân, thượng
như thử, viễn địa tha phương na khả
chỉ. Nhàn tương thân hữu tế thôi tầm. Niên khứ
nguyệt lai đa thiểu tử. Phương tín đắc,
Tử Dương thi, ngữ đích ngôn chân bất khả
khi. Tạc nhật nhai đầu do tẩu mă. Kim triêu quan
lư dĩ miên thi. Linh lợi nhân, hưu khái thụy. Biệt
nhân dữ ngă đồng nhất loại. Hồ thố
tương khan bất giảo đa. Kiến tiền phóng
trước bàng châu lệ. Toản mă phúc, nhập ngưu
thai. Địa ngục tâm toan thật khả ai. Nhược
hoàn yếu đắc nhân thân phục. Đông hải lao
châm mạn đả ai. Ngă tác ca, chân khổ thiết. Nhăn
trung trích trích lưu tiên huyết. Nhất thế giao t́nh sổ
cú ngôn. Tùng dữ bất tùng quân tự quyết.
(Ông chẳng thấy, người
đàn bà bên Đông mạnh như hổ, mỗi năm
thường mang bụng chửa mấy tháng. Tối qua c̣n
tựa cửa, sáng nay mạng đă về suối vàng. Lại
chẳng thấy, nam tử bên nhà Tây, dũng mănh như rồng,
hoàng hôn cơm no, ngủ say nồng. Hồn đă ĺa đi
chẳng trở lại, canh Năm mạng đă thuộc
Diêm vương. Người trước mắt c̣n như
thế đó. Người chốn xa phương khác sao nêu
ra cho cùng? Nhàn hạ truy t́m các thân hữu, năm qua tháng lại
chết bao người? Mới tin tưởng lời lẽ
trong thơ Tử Dương chẳng thể coi thường!
Hôm qua c̣n phóng ngựa trên đường phố, sáng nay xác
lạnh trong quan tài. Kẻ linh lợi, đừng mê ngủ
nữa, người khác và ta cùng một loại. Cáo, thỏ so sánh chẳng khác nhiều.
Nh́n rơ lệ trước đă rành rành. Vào bụng ngựa,
lọt thai trâu. Địa ngục cay đắng, thật
đáng buồn! Mong được thân người một
lần nữa, khó tựa ṃ kim nơi biển Đông. Tôi soạn
bài ca, thật ḷng khổ sở, thiết tha. Mắt nhỏ
từng giọt huyết lệ hồng. Một đời
giao t́nh, trao mấy lời. Nghe hay chẳng nghe, ông tự
quyết!)
Bồ Tát giới đệ
tử Lưu Huệ Văn suất lănh con là Tánh Trạch
thí tiền kính in. Tháng Ba thuộc mùa Xuân năm Quang Tự
25 (1899), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.
Vân Thê Pháp Vựng
Phần 6 hết
[1] Quưnh (炯) có nghĩa là sáng ngời,
chói ḷa. Như vậy, Sát Sanh Quưnh Giới có thể tạm
hiểu là những lời răn nhắc rạng ngời về
chuyện sát sanh.
[2] Phúng dụ (諷諭): Đây là một cách biểu
đạt trong văn chương, vận dụng cách nói
uyển chuyển, hoặc những biểu
tượng văn học để khuyên can, phê b́nh những
hiện tượng bất hợp lư. Cách này thường dùng trong thi ca để
phê phán những kẻ thống trị hoặc diễn tả
nỗi khổ của quần chúng.
[3] “Ngủ say mộng
trước giường” là dựa theo câu thơ “sàng
tiền minh nguyệt ảnh, nghi thị địa thượng
sương” (trước giường bóng trăng sáng,
ngỡ đất tỏa hơi sương) của Lư Bạch,
diễn tả nỗi niềm bồi hồi nhớ quê. “Lưỡng
bộ cổ xúy” vốn có nghĩa gốc là đội
nhạc nghi trượng thời cổ dùng hai loại nhạc
khí ḥa tấu. Về sau, từ ngữ này được chỉ
tiếng ếch nhái kêu, do Khổng Trĩ Khuê thời Nam Tề
đă ví tiếng ếch nhái kêu inh ỏi quanh nhà là “lưỡng
bộ cổ xúy”. Ở đây, Tổ dùng thành ngữ này
để nói các bài thơ đă tuyển chọn đều
chẳng phải là những bài diễn tả nỗi niềm
nhớ nhung, sầu muộn riêng tư, hay những bài thơ ngôn từ réo rắt, bóng bẩy, nhưng
sáo rỗng.
[4] Lạc Thiên là tên tự của
Bạch Cư Dị.
[5] Tây Nhai là biệt
hiệu của Lư Đông Dương (1477-1516), tên tự là
Tần Chi, quê ở huyện Trà Lăng tỉnh Hồ Quảng
(nay thuộc tỉnh Hồ Nam). Ông Lư là một vị quan
văn nổi tiếng, đồng thời là văn học
gia, thư pháp gia thời Minh, sáng lập Trà Lăng Thi Phái.
Ông từng làm đến chức Lễ Bộ Thượng
Thư, rồi thăng làm Văn Uyên Các Đại Học
Sĩ, cuối cùng là Nội Các Thủ Phụ (tức Tể
Tướng).
[6] Lật Trai
tiên sinh là La Khí (1447-1519), tự Cảnh Minh, người xứ
Nam Thành (nay là huyện Nam Thành tỉnh Giang Tây). Ông c̣n có hiệu
là Khuê Phong, là một viên quan và học giả đời
Minh. Ông làm quan đến chức Lại Bộ Hữu Thị
Lang. Ông thông minh, hiếu học từ nhỏ, đọc rộng,
nghe nhiều. Khi vào học Quốc Tử Giám, quan Tế Tửu
Khâu Tuấn thử tài văn chương của ông đă tấm
tắc khen lạ. Tuy vậy, ông đỗ đạt khá muộn.
Tới năm Thành Hóa 22 (1486), tức lúc ông ba mươi
chín tuổi mới đỗ Giải Nguyên trong khoa thi
Hương, năm sau đỗ Tiến Sĩ. Ông đặc
biệt ưa thích nghiên cứu cổ văn, nhưng rất
siêng năng việc quan, xử sự nghiêm cẩn, can gián rất
thẳng, khiến người khác kính sợ. Do Minh Vũ
Tông tin tưởng bọn hoạn quan, không nghe lời can
gián, ông chán nản, từ quan, về ở ẩn.
[7] Ở đây, Tổ nói tự
khiêm: Cư sĩ Lục Mộng t́m đến hỏi lẽ
giải thoát nơi Tổ, mà Tổ tự thấy ḿnh là một
người quê mùa, chưa giác ngộ. Ngài tự coi những
lời giải đáp của ḿnh khác nào kẻ đang ngủ
mê, nói ú ớ những lời không đầu, không đuôi.
[8] Hàm Thuần là niên hiệu
của Tống Độ Tông (Triệu Kỳ) từ
năm 1265 đến năm 1274.
[9] Thiệu Hưng là niên hiệu
của Tống Cao Tông (Triệu Cấu) từ năm 1130
đến năm 1162.
[10] Tri Các là gọi tắt của
chức Tri Các Môn Sự. Đây là chức quan chủ quản
của Tri Các Môn Ty, có trách nhiệm lo liệu
việc hướng
dẫn lễ nghi trong triều chánh, lo liệu các dịp khánh điển, tiếp
đăi sứ đoàn, cũng như kiểm tra chéo các sự
vụ thuộc lễ nghi trong bộ Lễ, đồng thời
giám sát việc điều hành các cơ cấu thuộc ngoại
giao như Khách Tỉnh, Tứ Phương Quán v.v…
[11] Thái Học Sinh c̣n gọi
là Giám Sinh, hoặc Bác Sĩ Đệ Tử Viên, là những người được tuyển
vào học tại Quốc Tử Giám (nhà Thái Học). Sau khi được công nhận
tốt nghiệp tại Quốc Tử Giám, họ thường
được bổ làm quan. Thời Minh - Thanh, giám sinh
được chia thành bốn loại:
- Cử Giám: Những cử
nhân không đỗ kỳ thi Hội,
nhưng được Hàn Lâm Viện tuyển chọn vào học
Quốc Tử Giám.
- Cống Giám tức là Cống
Sanh (người đă đỗ Tú Tài) xuất thân,
được chọn vào Quốc Tử Giám.
- Lệ Giám: Do triều
đ́nh hữu sự, tài chánh chẳng đủ, con em của
quan viên có thể quyên nạp tiền bạc vào quốc khố,
bèn được tuyển vào học tại Quốc Tử
Giám.
- Ấm Giám (c̣n gọi là Ấm
Sanh), tức con cháu của quan viên, đại thần
được vua ban ân sủng vào học (gọi là Ấm Giám), hoặc do thừa hưởng
quan tước của cha (tập ấm) mà được
vào học tại Quốc Tử Giám.
[12] Cổ nhân gọi triều
đại mình đang sống là “quốc
triều”. Do Tổ sống vào đời Minh,
nên “quốc triều” chính là nhà Minh.
Cảnh Thái là niên hiệu từ năm 1450
đến năm 1457 của Minh Cảnh Tông (Châu Kỳ
Ngọc), còn Trinh Minh là niên hiệu của
Lương Mạt Đế (Châu Hữu Trinh) thời
Ngũ Đại Thập Quốc từ năm 915
đến 921.
[13] Thượng Bảo
Khanh gọi đủ là Thượng Bảo Ty
Khanh, là chức quan được
đặt ra vào thời Minh, chuyên quản
thủ ấn báu, tín bài, ấn chương
trong triều đình. Thoạt đầu, chức
quan này được Minh Thái Tổ (Châu Nguyên
Chương) gọi là Phù Tỷ Lang, về sau
mới đổi thành Thượng Bảo Ty
Khanh.
[14] Câu-lô-xá (Krośa), còn phiên âm là Câu Lũ
Xa, là đơn vị đo độ dài của
cổ Ấn Độ, nghĩa đen là “tiếng
trâu rống”, ý nói: Trong phạm vi còn nghe
được tiếng trâu rống của thôn làng
gần nhất. Câu-lô-xá có hai cách hiểu:
Một phần tám của một do-tuần, hoặc
một phần tư của do-tuần. Như vậy, một câu-lô-xá
là khoảng bốn cây số, nhưng Câu Xá
Luận lại cho rằng một câu-lô-xá chỉ
bằng hai dặm Tàu (khoảng một cây số
rưỡi).
[15] Phi Vịnh
Đ́nh vốn là nơi phóng sanh do thái thú Triệu Sư Cao
kiến lập vào năm Khánh Nguyên thứ tư (1198) đời
Bắc Tống tại Tây Hồ ở Hàng Châu, về sau, trở
thành phế tích.
[16] Cửu Trù (九畴) là
chín cương lãnh để cai trị thiên
hạ bằng lòng nhân do Đế Thuấn
truyền cho Hạ Vũ (Đại Vũ). Những điều này
được chép trong thiên Hồng Phạm (洪范) của
Thượng Thư. Hồng Phạm có nghĩa
là khuôn phép to lớn. Do thiên sách này
được chia làm chín tiểu loại, nên
gọi là Hồng Phạm Cửu Trù. Chín tiểu
loại ấy là:
1) Ngũ hành (kim, mộc, thủy,
hỏa, thổ).
2) Ngũ sự (diện mạo,
lời nói, cách nh́n, cách nghe, tư duy), tức là năm phạm
vi cần tu dưỡng trong ứng xử của bậc
quân tử.
3) Bát chánh (tám thứ chuyên
trách về hành chánh trong sự cai trị đất nước)
gồm thực phẩm, hàng hóa, tế bái v.v…
4) Ngũ kỷ (năm,
tháng, ngày, tinh tú, lịch số), tức cơ sở để
phù hợp với thiên thời.
5) Hoàng cực: Nguyên tắc
cai trị đúng ḷng nhân của bậc quân vương,
thường gọi là đạo “đại trung chí
chánh”.
6) Tam đức: Trực
chánh (thẳng thắn, công chánh), cang khắc (cương
quyết), nhu khắc (khéo léo mềm mỏng để
đối trị), tức là cách vận dụng khéo léo các
biện pháp cai trị.
7) Kê nghi: Các phương
pháp để giải quyết nếu có nghi hoặc phát
sanh trong lúc cai trị.
8) Thứ trưng (mưa, tạnh,
nóng, lạnh, gió), tức dựa trên các hiện tượng
tự nhiên để xem lại cách cai trị có đúng
đường lối, hợp ḷng trời, ḷng người
hay không.
9) Ngũ phước, lục
cực: Các ư niệm khuyến thiện trừng ác.
Theo Thượng
Thư, thiên sách này do Cơ Tử giảng cho
Châu Vũ Vương (Cơ Phát) về đại
pháp của thiên địa, nói đó là
lời dạy của Đế Thuấn truyền cho
Hạ Vũ về đạo trị quốc. Cơ
Tử tên thật là Tử Tư Dư, là
con của Đế Văn Đinh, là chú của
Trụ Vương, từng làm quan Thái Sư
dưới đời vua Trụ (Đế
Ất). Do ông được phong ở đất
Cơ, nên Sử thường gọi ông là
Cơ Tử. Ông từng khuyên lơn vua Trụ
đừng say mê sắc dục, nhưng bị vua
Trụ tống giam. Chán ngán, ông xõa tóc
giả điên để tránh nạn. Sau khi nhà Châu
diệt Trụ, ông được thả. Châu Vũ
Vương từng nhiều lần tới hỏi ông về đạo
trị quốc.
[17] Khúc Phụ chính
là quốc đô của nước Lỗ
thời Xuân Thu, nay thuộc thành phố Tế Ninh
của tỉnh Sơn Đông. Theo sử chép, ở
phía Đông của thành này có một
cái gò ngoằn ngoèo dài bảy tám
dặm, nên gọi là Khúc Phụ. Đây
cũng chính là quê nhà của Khổng
Tử.
[18] Tây Hoa, Trường
Sanh, Bảo Chân là những khái niệm tu
tập trong Đạo giáo, nên “nhà thiêng của
Tây Hoa, Trường Sanh, Bảo Chân” là nói
đến đạo quán (miếu đạo sĩ),
tức đạo viện Đắc Nhất.
[19] Phủ Quân (府君) vốn là kính ngữ
để gọi quan Thái Thú hoặc Quận Thú thời Hán.
Về sau, từ ngữ
này trở thành kính ngữ để con cháu gọi bậc trưởng bối
nam giới
và thần linh. Nhất là trong các mộ chí, từ thời
Đường trở đi, con cái gọi cha đă khuất
là “tiên phủ quân” cũng như các vị tổ tiên
thuộc nam giới. Và nam thần linh cũng được
gọi là Phủ Quân như Đông Nhạc Đại Đế
c̣n được gọi là Thái Sơn Phủ Quân.
[20] Tiên tỷ (先妣) là kính ngữ để gọi mẹ
đă khuất.
[21] Tức ngày Hạ Chí. Gọi
là Trường Chí v́ trong ngày ấy, mặt trời chiếu
thẳng xuống xích đạo, ngày sẽ dài nhất.
[22] Tam Châu Công là con trai của Nguyệt Nham
Công, tức anh họ của Tổ Liên Tŕ.
[23] Nghê Cung Nhân là vợ của Tuyết Nham
Công, tức bác dâu của Tổ. Cung Nhân (恭人) có nghĩa là “người
khoan dung, mềm mỏng”. Đây là phong hiệu để
dành cho người phối ngẫu của quan viên từ tứ
phẩm trở lên. Thời Minh - Thanh, mẹ của quan
ngũ phẩm được phong hiệu là Thái Cung Nhân.
Như vậy, Tam Châu Công (anh họ của Tổ) phải
làm quan tối thiểu từ ngũ phẩm trở lên.
Trong khi đó, Nhụ Nhân là tiếng để gọi vợ
của quan thuộc thất phẩm. Về sau, Nhụ Nhân
chỉ là danh xưng để gọi vợ hoặc mẹ
của người khác một cách tôn kính.
[24] Bá tỷ (伯妣) là kính ngữ để gọi vợ
đă mất của anh trai cha ḿnh. Bà Vương Thị ở đây chính là
bác dâu của cha Tổ, tức thuộc về hàng bà của
Tổ, nên Tổ gọi Bá Tỷ chính là nói theo phía cha ḿnh, chứ đúng
ra, Tổ phải gọi bà Vương là Bá Tổ Tỷ
(v́ vợ của anh trai cha tổ (Nguyệt Nham Công) là Nghê Cung
Nhân).
[25] Ư nói: Mừng v́ cha mẹ
trường thọ, khỏe mạnh, có thể vui hưởng
tuổi già. Sợ là sợ cha mẹ càng ngày càng già suy, chẳng
c̣n được nhiều thời gian để tận hiếu.
[26] Đây là (碩人) là mỹ từ để
xưng tụng người hiền đức. Thạc
Nhân cũng là phong hiệu của vợ quan Thị Lang trở
lên. Ở đây, do Tổ chưa hề làm quan, nên chỉ có thể hiểu theo nghĩa thứ
nhất.
[27] Hạ Nguyên Giải Ách
chính là ngày Rằm tháng Mười âm lịch. Theo Đạo
Giáo, trong một năm, có ba lần Tam Quan Đại Đế
cứu độ nhân gian. Rằm tháng Giêng là Thiên Quan Đại
Đế giáng hạ ban phước (tức tiết Nguyên
Tiêu, hay c̣n gọi là Thượng Nguyên), rằm tháng Bảy
là Địa Quan Xá Tội (Trung Nguyên Phổ Độ), rằm
tháng Mười là Thủy Quan Giải Ách (Hạ Nguyên Giải
Ách). Đối với mỗi Nguyên, Đạo Giáo đều
gọi bằng một tên rất dài, Hạ Nguyên nếu nói
đầy đủ sẽ là ngày khánh đản của Hạ
Nguyên Tam Phẩm Giải Ách Thủy Quan Động Âm Đại
Đế
[28] “Hùng văn” là mỹ từ
để gọi kinh văn trong khoa Thủy Lục, do kinh
văn ấy có công đức siêu độ rất lớn
nên gọi là “hùng văn”; mà cũng có nghĩa là nói đến kinh Hoa
Nghiêm, v́ trước đó có câu “dung hợp chín hội”. “Ngàn hoa” là nói đến
Lô Xá Na (Báo Thân Phật) v́ Ngài ngự trên hoa sen ngàn cánh. “Trao
nhận ngàn hoa” tức là truyền trao giáo pháp bí mật
như Phạm Vơng chẳng hạn. “Năm mươi tám
đại giới” chính là Phạm Vơng Bồ Tát Giới v́
bao gồm mười giới trọng và bốn
mươi tám giới khinh.
[29] Ma Kiệt chính là xứ Ma
Kiệt Đà (Maghada), một trong mười sáu nước
lớn thời đức Phật tại thế. Ma Kiệt
Đà có nghĩa là Tŕ Cam Lộ, Thiện Thắng, Vô Năo, Vô
Hại v.v… Do đây là một nước lớn, sản vật
phong phú, cho nên cái hộc (dụng cụ
đong lường) của họ cũng khá to. Do vậy, đức Phật dạy dùng
cái hộc của nước Ma Kiệt Đà để thí
thực cho quỷ thần.
[30] Mười thân do Như
Lai đă chứng đắc sau khi thành đạo: Bồ Đề thân, nguyện thân, hóa thân, trụ
tŕ thân, tướng hảo trang nghiêm thân, thế lực
thân, như ư thân, phước đức thân, trí thân và Pháp
Thân.
[31] Câu này bị bỏ lửng trong nguyên bản. Nguyên văn “dĩ
thử công đức (vân vân)”.
[32] Huy, Hàng, Nghiêm, Cù là bốn
khu vực hành chánh trọng yếu ở Giang Nam vào thời
Minh - Thanh, tức Huy Châu Phủ (nay là vùng Hoàn Nam, Cám Bắc,
bao gồm sáu huyện như Hấp, Y, Tích, Vụ Nguyên…),
Hàng Châu Phủ (nay là khu vực thành phố Hàng Châu), Nghiêm
Châu Phủ (nay là vùng Kiến Đức tỉnh Chiết
Giang, bao gồm các huyện Tân An, Tam Giang, Phú Xuân…), và Cù Châu
Phủ (tức Cù Châu thuộc tỉnh Chiết Giang hiện thời).
[33] Nguyên văn “tá Trăn, Vị dĩ thừa
dư”. “Thừa dư” (乘輿) là cỗ xe chuyên dùng của
thiên tử hoặc chư hầu, hoặc các quan thượng
đại phu thời Xuân Thu. Trăn và Vị là hai con sông
chính của nước Trịnh. Điển tích này được nhắc đến trong
thiên sách Ly Lâu Hạ của sách Mạnh Tử. Theo
đó, vào mùa Đông, Tử Sản đang là quan lệnh
doăn nước Trịnh (giống như thừa tướng),
sai người hầu dùng xe của chính ḿnh để
chở dân vượt sông Trăn, sông Vị đang bị
đóng băng. Mạnh Tử b́nh luận đó là hành động
xuất phát từ ḷng nhân, nhưng không phải là cách cai trị
đúng đắn. Lẽ ra, Tử Sản nên cho xây cầu
để dân chúng tự vượt sông thay v́ phải tốn
công sức sai người hầu chở dân qua sông.
[34] Một kỷ là mười
hai năm.
[35] Lân tường (麟祥): Điềm
lành kỳ lân giáng hiện. Dựa theo truyền thuyết,
khi Khổng Tử sắp được sanh ra, cha mẹ mộng
thấy kỳ lân giáng xuống nhả ngọc. Do vậy, “lân
tường” nghĩa là đứa con trai phẩm đức
cao quư, tốt lành.
[36] Đồ thuyết (圖說) là lời giải
thích có kèm theo h́nh vẽ hoặc biểu đồ để
góp phần minh họa ư nghĩa đang được giải
thích.
[37] Dặc (弋) là một
loại cung tên thời cổ, mũi tên có dây
buộc vào cánh cung, dùng để bắn
chim, vừa đỡ mất tên, vừa
thuận tiện lôi con mồi bị trúng tên về.
[38] Tứ hung có hai
cách hiểu:
1) Theo chương Thuấn
Điển sách Thượng Thư, Tứ Hung
là bốn kẻ phạm tội nặng nề:
- Cộng Công (còn
gọi là Khang Hồi), thường
được coi là thủy thần. Cộng Công
tranh ngôi vua với Chuyên Húc, giận dữ
húc đổ núi Bất Châu, làm gãy cột
trời, khiến trời nghiêng về phía Tây
Bắc. Do vậy, bà Nữ Oa phải
luyện đá ngũ sắc vá trời.
Ông ta còn tiếp tục tranh giành ngôi vua,
đến thời vua Nghiêu còn gây ra nước
lũ to lớn.
- Hoan Đâu: Thủ
lãnh của tộc Tam Miêu, thường dẫn quân
xâm phạm Trung Nguyên, khiến vua Nghiêu phải nhiều
lần đánh dẹp.
- Cổn (cha của
Đại Vũ): Thất bại trong việc trị
lũ nên bị giết.
- Sắc dân Tam Miêu
(còn gọi là Hữu Miêu) sống ở
lưu vực Trường Giang, chủ yếu quanh
vùng hồ Động Đình và Bà
Dương, thường khởi loạn
đánh phá Trung Nguyên.
2) Theo Tả Truyện
thì Tứ Hung là bốn con quái vật
tức Hỗn Độn, Cùng Kỳ, Đào
Ngột và Thao Thiết.
[39] Câu này hơi khó
hiểu, chúng tôi mạn phép diễn giải như
sau: Ý Tổ cho rằng Khổng Tử bản
tánh nhân từ, như trong câu trên có nói, theo
Luận Ngữ, vua ban tặng gà, Khổng
Tử không ăn mà nuôi chung với chim trĩ.
Do Khổng Tử làm quan, phải theo hầu vua, vua
đi săn bắn thì quan cũng phải đi
theo, nên nếu nói “Khổng Tử câu cá, săn
bắn” thì chỉ là chuyện bất
đắc dĩ, làm theo mạng vua mà thôi.
Chứ nếu nói Khổng Tử tự
mình câu cá, săn bắn thì do tự
có thể làm chủ, lẽ nào có thể
không giết hại mà Ngài lại làm chuyện
giết hại hay sao?
[40] Tấn thân (縉紳) nghĩa đen là
“nhét cái hốt vào đai thắt lưng”. Hốt (笏) là một phiến gỗ
dài, mỏng, hẹp, thường làm bằng gỗ hoặc
ngà, vốn dùng để ghi chép những điều muốn
tâu bày với vua. Về sau, trở thành vật trang sức
nhằm biểu thị sự trịnh trọng khi cung kính
tâu bày. V́ thế,
khi làm pháp sự, các đạo sĩ chủ pháp cũng cầm
hốt khi tế bái. Do vậy, “tấn
thân” được dùng với ư nghĩa chỉ chung các
quan lại. Ở đây, vị cư sĩ này có tên tự
là Quảng Tấn (廣縉).
[41] Chúng tôi dịch câu này theo
cách diễn giải của pháp sư Tịnh Giới.
[42] Chữ Bộ (步) gồm chữ Thiếu (少) và Chỉ (止: thôi, dứt) ghép lại.
[43] Từ Thánh
hoàng thái hậu chính là tôn xưng của Hiếu Định
Thái Hậu (1546-1614). Bà là hoàng quư phi của Minh Mục Tông
(Châu Tải Kỵ), mẹ ruột của Minh Thần Tông
(Châu Dực Quân, tức vua Vạn Lịch). Bà họ Lư,
không rơ tên, là người huyện Hoặc thuộc Thông
Châu. Do bà dốc ḷng tin tưởng Phật, nên c̣n có hiệu
là Cửu Liên Bồ Tát. Thoạt đầu, bà chỉ là
cung nhân trong vương phủ của Dũ Vương
Châu Tải Kỵ lúc mười lăm tuổi. Do xinh đẹp,
thông minh, bà được Dũ Vương coi trọng, nạp
vào hàng thiếp thất. Con thứ ba của Dũ Vương
(tức là Minh Thần Tông sau này) do bà sanh ra. Khi Dũ
Vương lên làm vua, bà sanh thêm một người con gái là
Châu Hiểu Anh. Tháng Ba năm ấy, bà được phong
làm Hoàng Quư Phi. Bà là người sanh nhiều con nhất trong
các thê thiếp của Minh Mục Tông. Trần Hoàng Hậu
chỉ sanh được một gái lại chết yểu,
bệnh tật quanh năm, nên hầu như vua không ngó ngàng
tới; do đó, Lư hoàng quư phi được sủng ái tột
bậc. Tuy vậy, bà không kiêu ngạo, một mực tôn
kính giữ đúng lễ với Trần hoàng hậu. Khi
Minh Mục Tông qua đời, Minh Thần Tông tức vị,
đă tôn xưng bà là Từ Thánh Hoàng Thái Hậu. Do Minh Thần
Tông c̣n thơ ấu, bà đă đích thân trông nom việc triều
chánh. Bà đối xử khoan dung với triều thần,
nghiêm khắc uốn nắn hoàng đế đừng ham
chơi, lười nhác. Tiểu hoàng đế phạm lỗi
vẫn bị bà phạt quỳ.
[44] Quyết (蕨) chính là một loại
dương xỉ, c̣n gọi là Quyền Đầu Thái,
Long Đầu Thái, tên khoa học là Pteridium
aquilinum subsp Japonicum. Phần ăn được
là lá non của nó, rễ cũng có thể
nghiền thành bột, dùng làm gia vị.
[45] Thất Tịch (ngày Mồng
Bảy tháng Bảy âm lịch) c̣n gọi là Khất Xảo
Tiết, Thất Xảo Tiết, Thất Thư Đản,
Thất Nương Sanh, Thất Nương Hội, Thất
Thư Tiết, hoặc Ngư Công Ngưu Bà Nhật.
Người Hoa đă kỷ niệm ngày này từ thời
Tây Châu. Nhằm ngày hôm ấy, hai ngôi sao Chức Nữ và
Ngưu Lang cao nhất và chiếu sáng nhất trên bầu trời.
Theo diễn biến thời gian, đă h́nh thành truyền thuyết hôm
ấy là ngày Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau sau một
năm cách biệt. Phụ nữ người Hoa thời cổ
thường vào tối hôm ấy bày cỗ cúng sao và ước
nguyện được khéo léo trong may vá cũng như các
nghề khéo nữ công khác.
[46] Hàm ư: Tứ
Đại do nhân duyên sanh khởi. Nóng là lửa, động
là gió, ướt là nước, cứng là đất. Do Tứ
Đại ḥa hợp mà có sắc tướng xanh, vàng,
đỏ, trắng, nhưng một điểm linh minh
(linh diệu sáng suốt) tức chân tâm chẳng bị thiếu
khuyết v́ các tướng sanh khởi.
[47] Tiện (楩) là một loại gỗ
quư được nói trong sách cổ. Sách Ngọc Thiên giảng:
“Tiện giống như cây Dự Chương”, c̣n
Nhan Sư Cổ nói: “Tiện chính là hoàng tiện mộc
hiện thời”. Nói chung, không có chi tiết mô tả thế
nào là cây hoàng tiện mộc. Tử (梓) là một loại
cây to, thân gỗ, tức yellow catalpa, là một loại cây hầu
như chỉ t́m thấy tại Trung Hoa và Nhật Bản.
Cây cao từ khoảng 6 đến 9 m, hoa mọc thành chùm trắng
có những vệt phớt vàng.
Cánh hoa thường có nhiều chấm nâu ở phần loe
ra gần nhị hoa. Mỗi hoa to chừng 25 mm, nở hoa
vào tháng Sáu tháng Bảy. Lá cây có ba thùy, xanh đậm. Lá non
có thể dùng để ăn. Vỏ cây dùng làm thuốc, gọi
là Tử Bạch B́. Thân gỗ mềm nhuyễn, chủ yếu
dùng để làm thân. Cây này thường được trồng
trong sân để lấy bóng mát và làm củi đun do tốc
độ sinh trưởng khá nhanh. Tang (cây dâu tằm) và Tử là hai
loại cây thường trồng trong sân nhà để lấy bóng mát, nên từ ngữ
Tang Tử thường
được dùng để chỉ cố hương.
V́ thế, khi tả tâm trạng nhớ nhà của Thúy Kiều,
Nguyễn Du đă viết: “Sân Lai cách mấy nắng
mưa. Có khi gốc tử đă vừa người ôm”.
[48] Tức ngài
Trường Khánh Huệ Lăng (854-932), đệ tử của
thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư từng
tham học ngài Huyền Sa Sư Bị. Sư tinh tấn, khắc
khổ, ngồi Thiền đă rách bảy cái bồ
đoàn, vẫn không triệt ngộ, than thở: “Ngồi
rách bảy cái bồ đoàn, chẳng hiểu chuyện này”.
Về sau, Sư ở trong Thiền đường, cuộn
rèm trúc lên cho sáng, nh́n ra cảnh tượng bên ngoài, bỗng
triệt ngộ.
[49] Chiếu thừa châu là một
viên châu của Ngụy Huệ Vương thời Chiến
Quốc. Theo truyền thuyết, viên
châu ấy có thể chiếu sáng cả một cỗ xe, nên
gọi là Chiếu Thừa Châu.
[50] Y Đốn là một
thương gia giàu có của nước Lỗ trong thời
Chiến Quốc. Thoạt đầu, ông rất nghèo khó, lận
đận. Do học bí quyết làm giàu từ Đào Châu
Công (Phạm Lăi) mà trở thành giàu có lớn.
[51] Hải tạng: Kho tàng
trong biển cả.
[52] Đại
Tư Thành là chức quan đă có từ đời Châu, là
thuộc quan của Đại Tư Đồ, chuyên đảm
trách việc dạy dỗ thế tử, là vị quan quản
lư việc học hành thời ấy. Về sau, Đường
Cao Tông gọi hiệu trưởng Quốc Tử Giám là
Đại Tư Thành. Từ đó trở đi, tuy danh
xưng hiệu trưởng của Quốc Tử Giám khôi
phục lại tên cũ là Tế Tửu trong các triều
đại sau, mọi người vẫn quen gọi Tế
Tửu là Đại Tư Thành.
[53] Phương Bá (方伯) vốn là danh xưng để gọi
vua chư hầu thời Chiến Quốc. Sang thời Hán,
chữ Phương Bá chỉ có nghĩa là chức quan Thứ
Sử. Tới thời Minh - Thanh, chức quan Bố Chánh Sứ
(c̣n gọi là Phiên Ty, quan văn đứng đầu một
tỉnh) được gọi là Phương Bá.
[54] Phiên tức là chức quan
Bố Chánh, Niết là chức Án Sát.
[55] Rau Dương công tức
là Dương Thê Thái, một loại rong biển
màu nâu, thường dùng để ăn thay rau.
[56] Văn Hầu tức là Ngụy
Văn Hầu (Ngụy Tư). “Xe của Văn Hầu” tức là cỗ xe ngựa của
Ngụy Văn Hầu. Để biểu hiện ḷng tôn
kính bậc hiền sĩ, mỗi khi xe đi qua chỗ ở
của hiền sĩ Đoàn Can Mộc, vua đứng thẳng
dậy, nâng một thanh gỗ đặt ngang trước
xe. Ở đây, Tổ dùng điển tích
này để ca ngợi cư sĩ Ngô Bổn Như khiêm
cung, tôn hiền đăi sĩ.
[57] Ư nói: Ông tuy nhà Nho mà siêng
năng học Phật giống như Tô Đông Pha, tuy hiểu
rơ các pháp môn nhưng chuyên tu tŕ Tịnh Độ giống
như ông Vương Long Thư.
[58] Thái Khâu ở đây là Trần Thật (tự
Trọng Cung), người huyện Hứa thuộc Dĩnh
Xuyên. Ông là một danh sĩ nổi tiếng, từng làm Ấp
Lệnh của huyện Thái Khâu, nên thường gọi là
Trần Thái Khâu. Ông là người cẩn trọng, đức
hạnh cao thượng, thanh liêm, được coi là tấm
gương sáng cho các nho sĩ. Vạn Thạch là Thạch
Phấn. Ông này làm đến chức Thái Tử Thái Phó thời
Hán Cảnh Đế, có đức hạnh đáng trọng
nể, hai con ông cũng làm quan đồng triều, địa
vị rất cao, nhận bổng lộc hai vạn thạch
giống như cha, nên ông được gọi là Vạn Thạch
Quân. Thạch là đơn vị đo lường thời
cổ, một thạch thời Hán là một trăm hai
mươi cân. Cả hai ông được dùng nhắc
đến ở đây với dụng ư ca ngợi Trần
Dưỡng Nguyên tuy làm quan to, nhưng giữ vững đức
độ, liêm khiết, thương dân.
[59] Ư nói: Phùng cư sĩ học
rộng tài cao, nhưng quan chức
không cao.
[60] Chắt của vua Hán tức
là Lưu Tuân (chắt của Hán Vũ Đế Lưu Triệt).
Ông vốn có tên là Lưu Bệnh Dĩ, tự là Thứ
Khanh. Lưu Tuân là tên ông đổi sau khi đă lên ngôi. Ông có
thụy hiệu là Hiếu Tuyên Hoàng Đế. Ông là con
trưởng của Lưu Tấn (con trai của Lệ
Thái Tử Lưu Cứ của Hán Vũ Đế). Vào
năm Chinh Ḥa thứ hai (91 trước Công Nguyên), xảy
ra vụ án Vu Cổ. Tức
là trong
năm đó, bọn quyền thần Giang Sung, Tô Văn v.v…
cấu kết vu hăm thái tử Lưu Cứ dùng vu thuật
và cổ độc toan sát hại phụ thân để sớm
lên ngôi. Không có cách nào biện bạch, thái tử Lưu Cứ
dùng thân phận giám quốc để phát binh trử khử
bọn Giang Sung. Bọn chúng sàm tấu, khiến cho Hán Vũ
Đế tưởng con trai làm loạn, bèn phát binh trấn
áp. Thái tử bại trận phải đào vong, đường
cùng, tự thắt cổ chết.
Vụ án liên lụy khiến cho mẹ của Lưu Cứ
là Vệ Tử Phu, vợ Lưu Cứ là Sử
Lương Đệ, con trai thái tử là Lưu Tấn, vợ
Lưu Tấn là Vương Ông Tu đều bị xử tử,
Lưu Tuân bị tống vào ngục. Khi đó, Lưu Tuân
c̣n bé, nên được miễn tội chết. Về sau,
ông bị đuổi về làm dân thường lúc mới bốn
tuổi, lưu lạc trong dân gian. Số người bị
liên can, bị tống ngục hay xử tử trong vụ vu hăm này nhiều đến mấy vạn
người. Trong khi lưu lạc,
Lưu Tuân cưới
Hứa B́nh Quân là con gái của Hứa Quảng Hán làm vợ.
Sau khi Hán Chiêu Đế (Lưu Phất Lăng, con trai út của
Hán Vũ Đế) băng hà, triều thần lập
Lưu Hạ (Hán Phế Đế) là con của Chiêu Đế
lên làm vua, nhưng ông này chỉ ăn chơi, hoang dâm, vô
đạo, tể tướng Hoắc Quang chủ
trương phế lập Lưu Hạ, tôn Lưu Tuân lên
làm vua. Sau khi Lưu Tuân làm vua, triều đ́nh
dưới sự lèo lái của Hoắc Quang, ép vua lấy Hoắc Thành Quân (con gái
út của Hoắc Quang) làm Hoàng Hậu, nhưng vua kiên quyết
lập Hứa B́nh Quân làm hoàng hậu, và dùng câu
nói “cố kiếm tầm mịch, bần tiện chi
giao” (t́m kiếm gươm xưa, giao t́nh trong lúc nghèo
hèn), ngụ ư: Không phụ nghĩa kết tóc xe tơ trong
khi nghèo khó.
[61] Hàn Tín khi nghèo khổ, không
có cơm ăn, được một bà thợ giặt cho
ăn một bữa cơm. Khi trở thành nguyên soái của
Hán Vương Lưu Bang, ông đă mời bà đến, biếu
tặng vàng báo ân.
[62] Dương Thái Chân (tức
Dương quư phi) là phi tần sủng ái của Đường
Huyền Tông (Đường Minh Hoàng). Không rơ bà tên thật
là ǵ, chỉ biết tiểu tự là Ngọc Hoàn (có sách ghi
là Ngọc Nô). Bà là con gái của quan Tư Hộ
Dương Huyền Diễm đất Thục. Khi lên
mười, cha mẹ đều mất, bà lên Lạc
Dương, nương náu chú là Dương Huyền Diễn.
Thoạt đầu, bà được tuyển làm
vương phi của Thọ Vương Lư Mạo (con trai
của Đường Huyền Tông). Vua say mê nhan sắc của
Dương Ngọc Hoàn, để tránh tiếng chê gièm loạn
luân, vua truyền bà dùng thân phận đạo cô (lấy
đạo hiệu là Thái Chân) vào cung để cầu phúc
cho Đậu Thái Hậu. Sau một thời gian, vua ra lệnh
cho bà hoàn tục, phong làm Quư Phi, sủng ái đến nỗi
xao lăng triều chánh, trao nhiều quyền lực cho họ
Dương. Chị em gái của Dương Quư Phi cũng
được ban tước trọng hậu đến nỗi
công chúa (con gái của Đường Huyền Tông) lỡ
đắc tội với chị của Dương Quư Phi, liền bị tước đoạt
phong hiệu. Khi An Lộc Sơn làm phản, đánh vào kinh đô, quân triều đ́nh đại bại.
Vua hoảng sợ, toan thoái vị, nhường
ngôi cho thái tử Lư Hanh. Khi quân An Lộc Sơn chiếm
Trường An, vua hoảng sợ đem Dương Quư Phi
và gia quyến họ Dương chạy vào đất Thục.
Đến Mă Ngôi Dịch, Long Vũ đại tướng
Trần Huyền Lễ không chịu đi nữa, v́
lương thực đă hết, quân sĩ đói rách mà nhà
họ Dương vẫn no đủ, sung sướng.
Họ nổi loạn giết chết Dương Quốc Trung và nhà họ
Dương, nhưng vẫn chưa nguôi, ép buộc vua ban chết cho Dương Quư
Phi. Thế chẳng đặng đừng, vua ban lụa
trắng cho Dương Quư Phi thắt cổ. Năm đó,
Dương Quư Phi mới ba mươi tám tuổi.
[63] Cụ mặt vàng (黃面叟, hoàng diện
tẩu) tức
là đức Phật.
[64] Ư nói: Chẳng phân biệt
được chữ Lục và Thất, tức nhận mặt
chữ không nên thân. Chữ đơn giản nhất
cũng chẳng biết!
[65] Đào Bành Trạch tức
là Đào Tiềm (Đào Uyên Minh). Do ông từng làm huyện
lệnh Bành Trạch, nên đôi khi được gọi là
Đào Bành Trạch.
[66] Vào thời Bắc Tống,
Dương Thời và Du Tạc tới cầu học với
Tŕnh Di, nhằm lúc thầy đang ngủ trưa, hai người
liền cung kính đứng chờ ngoài cửa. Khi thầy
tỉnh giấc th́ tuyết đă dày một thước.
[67] Đây là một công án trong
nhà Thiền. Mă Tổ Đạo Nhất suốt ngày ngồi
Thiền, không màng chuyện ǵ khác. Thiền sư Nam Nhạc
Hoài Nhượng muốn hóa độ Đạo Nhất,
bèn hỏi: “Thầy suốt ngày Thiền Định để
làm ǵ?” “V́ muốn thành Phật”. Do vậy, ngài Hoài Nhượng
bèn dùng một tấm ngói mài lên đá trước cửa
pḥng của Đạo Nhất không ngừng. Tiếng mài
khiến cho Đạo Nhất chẳng
thể ngồi Thiền được,
bèn hỏi: “Ḥa thượng, Ngài làm ǵ thế?” “Ta đang
mài ngói làm gương”. Đạo Nhất nói: “Mài ngói sao
thành gương cho được?” Ngài Hoài Nhượng hỏi
ngược lại: “Vậy thầy ngồi Thiền sao
thành Phật cho được?” Đạo Nhất nghe nói
liền khai ngộ.
[68] Theo thiên Bát Dật trong sách
Luận Ngữ, Tử Cống (tên thật là Đoan Mộc
Tứ) cho rằng ngày mồng Một mỗi tháng giết dê tế ở Thế Miếu
chỉ là h́nh thức, không có thực chất, toan phế trừ.
Khổng Tử nói: “Tứ dă, nhĩ ái kỳ
dương, ngă ái kỳ lễ” (này anh Tứ, anh yêu
thương con dê, c̣n ta yêu thương lễ). Do vậy,
thành ngữ “ái lễ tồn dương” bao hàm ư
nghĩa nhằm bảo tồn văn hóa truyền thống
căn bản mà chấp nhận bảo tồn những
nghi tiết và h́nh thức liên quan.
[69] Ư nói: Giữ thân thanh khiết, chẳng tham dự
tiệc tùng nơi trướng vàng (tức chẳng lân la,
bợ đỡ kẻ quyền quư).
[70] Đậu Thị (荳豉) thường
được biết phổ biến hơn với tên gọi
là Tầu X́, tức bă
đậu c̣n lại sau khi làm tương (thường là
đậu đen hoặc đậu nành). Do nó có vị mặn
và vẫn c̣n mùi thơm của đậu lên men, nên thường
được dùng để làm gia vị nấu các món có
mùi tanh như nghêu xào tầu x́ chẳng hạn. Loại tầu x́ nhạt
hơn c̣n được dùng làm thuốc trong Đông Y.
[71] Phương Bá (方伯) trong nghĩa gốc
là trưởng quan được thiên tử sai trấn nhậm
một phương. Sang thời Chiến Quốc,
Phương Bá là lănh tụ của chư hầu, như Tề
Hoàn Công chẳng hạn. Về sau, chức quan đứng
đầu địa phương được gọi
là Phương Bá. Dưới thời Minh - Thanh,
Phương Bá là nhă từ để gọi quan Bố
Chánh. Thái Thường (太常) là chức
quan thời cổ, chưởng quản việc tế lễ,
tổ chức
tang ma, chăm sóc lăng mộ,
điện thờ của triều đ́nh, cai quản lễ nhạc
và giáo dục văn hóa. Đến đời Hán, quy mô của
chức này mở rộng thành các chức vụ Thái Nhạc,
Thái Chúc, Thái Tể, Thái Sử, Thái Bốc, Thái Y v.v...
[72] Hoàng đường
(黃堂) là danh
xưng để gọi ṭa nhà chánh trong phủ Thái Thú. Do vậy,
“hoàng đường” cũng được dùng để
chỉ chức vụ Thái Thú (quận thủ). Phiên (藩) là Phiên Ty tức chức
quan Bố Chánh, c̣n Niết (臬) là chức quan Án Sát.
[73] Cam đường (甘棠) c̣n gọi là
Đường Lê (birchleaf pear) là một loại lê rất
ngọt chỉ thấy ở miền Bắc Trung Hoa và vùng
Tây Tạng. Cây cao đến mười mét, có nhiều gai
nhọn, hoa trắng, nhụy đỏ rất đẹp.
Trái lê nhỏ nhưng ngọt, thường được
dùng để chế rượu ngọt và sake. Dùng chữ cam đường
ở đây để ca ngợi sự cai trị bằng
ḷng nhân từ, ưu ái, thương dân của ông Ngô.
[74] Tam cửu là
nói tắt của tam công, cửu khanh, tức là nói đến
các địa vị quan cao trong triều đ́nh. “Vận
tam cửu” tức là vận mạng đạt
được công danh cao tột.
[75] Thời cổ, cửa sổ dán giấy
để lọc ánh sáng và che nắng, gió.
[76] Tức ngài Hương Nham Trí Nhàn
(?-898), một vị Thiền sư đời Đường.
Sư theo ngài Bách Trượng Hoài Hải xuất gia, trụ
tại Hương Nham Sơn ở Đăng Châu, nối
pháp của ngài Quy Sơn Linh Hựu. Sư hóa độ
hơn một ngàn vị tăng. Theo Ngũ Đăng Hội
Nguyên, Sư dạy đồ chúng bằng lời lẽ giản
dị, để lại hơn hai trăm bài kệ. Những
lời kệ của Sư đều là tùy cơ đối
duyên, chẳng chú trọng vần điệu bóng bẩy, được
phổ biến rất rộng vào thời đó.
[77] Mă Dung (79-166), tự
Quư Trường, là một nhà kinh học (chuyên nghiên cứu
kinh điển Nho gia) nổi tiếng thời Đông Hán.
Ông từng giữ các chức quan Giảo Thư Lang, Lang
Trung, Nghị Lang, thái thú các quận Vũ Đô và Nam Quận.
Ông nổi tiếng hiếu học từ bé. Ngoài việc
chú thích các kinh sách Nho gia như Thượng Thư,
Châu Dịch v.v… ông c̣n chú giải Lăo Tử, Hoài Nam Tử, Ly
Tao, Liệt Nữ Truyện v.v… Các trước tác ấy gần
như đă thất truyền, chỉ c̣n một vài phần
được trích dẫn trong các bộ Hán Học
Đường Tùng Thư (do Hoàng Thích soạn), Ngọc Hàm
Sơn Pḥng Tập Dật Thư (của Mă Quốc Hàn), và
Mă Quư Trường Tập (do Trương Phổ soạn).
Khi ông dạy học thường căng màn đỏ, nên
từ ngữ “giáng duy” (màn đỏ) được
dùng như kính ngữ để nói về giảng ṭa của Mă Dung.
[78] Vi Viên là nói tắt của Tử Vi
Viên (紫微垣), chính là
Trung Thư Tỉnh đời Đường, đời Nguyên gọi là Hành Trung
Thư Tỉnh, đời
Minh gọi là Thừa Tuyên Bố Chánh Ty. Sao
Tử Vi có vị trí ở ngay chính giữa
phương Bắc của bầu trời, là trung tâm của
Bắc Cực, tượng trưng cho chỗ ở của
thiên tử. Trung Thư Tỉnh tương ứng với
cơ quan lập pháp, phản ánh mệnh lệnh của
vua, quyết định các chánh sách đối nội lẫn
đối ngoại của quốc gia. Các chiếu chỉ
của vua thường do Trung Thư Xá Nhân thuộc Trung
Thư Tỉnh soạn thảo. Có lẽ nhằm nhấn mạnh
tánh cách trực thuộc hoàng đế, nên đời
Đường, trong niên hiệu Khai Nguyên, vua đă xuống
chiếu đổi tên Trung Thư Tỉnh thành Tử Vi
Viên.
[79] Ư nói: Khi cúng trai tăng luôn bố thí rộng răi, những
vật ngon quư nhất, nhưng sao đối với chuyện
phóng sanh (nói ẩn dụ bằng “hạc lâm” tức cánh rừng nuôi hạc), lại tiếc tiền chẳng
thí xả?
[80] Bành Tổ tên thật là Bành Khang, theo truyền thuyết
sống lâu đến tám trăm tuổi. Thương là
người chết yểu. Câu này có ư nói bàn suông thọ mạng
ngắn dài của Bành Tổ và kẻ chết yểu có ích
ǵ đâu?
[81] Bóng rối
(đăng tiền hư): Nghệ thuật diễn tuồng
tích bằng cách dùng những con rối phẳng được
điều khiển bằng gậy để sau một tấm
màn mỏng, dùng đèn chiếu sáng lên màn. Người
điều khiển con rối sẽ di chuyển con rối
làm các điệu bộ theo điệu hát, câu ca.
[82] Thanh phù (青蚨) là một loài bọ sống trên mặt nước. Theo
sách Hoài Nam Vạn Tất Thuật, ấu trùng và trùng trưởng
thành
của loài Thanh Phù này rất khăng
khít. Dùng máu của chúng bôi trên hai tờ tiền, bất luận
tiền
được tiêu xài xa xôi như thế nào, hai tờ tiền ấy sẽ t́m đến nhau.
[83] Tức nỗi hận của Bạch Cư Dị khi bị
lưu đày, nghe một nữ nghệ nhân đă già nua gảy đàn
tỳ bà. Nghe nàng kể chuyện đời nàng lưu lạc, Bạch Cư Dị thương cảm
và chạnh nghĩ bản thân ḿnh cũng do triều thần
đố kỵ mà bị đày đi làm tư mă ở Cửu
Giang.
[84] Ánh mặt trời chiếu các ngọn núi sắc xanh biếc, khiến người ta liên tưởng màu xanh thẫm
nơi tóc trên đỉnh đầu đức Phật.
[85] Vào năm 218
trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng tuần hành đến
Bác Lăng Sa (thuộc huyện Nguyên Dương, thành phố
Tân Hương tỉnh Hà Nam hiện thời) th́ bị
mưu sát bởi một quả chùy nặng một trăm
hai mươi cân ném vào xa giá, nhưng do quả chùy ném hụt
vào chiếc xe khác, nên Thủy Hoàng thoát chết. Thủy
Hoàng hạ lệnh truy bắt chủ mưu, nhưng không bắt
được. Kẻ chủ mưu chính là Trương
Lương. Gia tộc Trương Lương suốt
năm đời làm tướng quốc nước Hàn. Do
muốn báo thù Tần Thủy Hoàng tận diệt nước
Hàn, Trương Lương đă bỏ sạch gia sản
để chiêu mộ tử sĩ, lên kế hoạch ám sát.
Sau khi việc mưu sát thất bại, Trương
Lương trốn sang Hạ B́, gặp được
Hoàng Thạch Công truyền dạy binh pháp; sau đó, trở
thành mưu sĩ luôn được Lưu Bang tin cậy.
[86] Khi Hán Cao Tổ (Lưu Bang) đánh thắng Hạng
Vũ và chư hầu, lập ra nhà Hán, đă phong
Trương Lương làm Vạn Hộ Hầu. Nhưng ông đă kiếm cớ muốn tu tiên
để xin từ chức, ẩn cư. Nhờ vậy,
ông không bị Hán Cao Tổ sát hại như
các công thần khác.
[87] Xích Tùng ở
đây chính là Xích Tùng Tử, một vị tiên theo truyền
thuyết đă có từ thời thượng cổ,
được Đạo Giáo xưng tụng là Tả Thánh
Nam Cực Nam Nhạc Chân Nhân, hoặc Tả Tiên Thái Hư
Chân Nhân. Theo Liệt Tiên Truyện của Lưu Hướng,
ông sinh vào thời Thần Nông, là vị tế tư quản
lư các trận mưa, từng làm thầy của Đế
Khốc. Ông được coi là người dạy thuật
trường sinh cho các đệ tử. Cuối đời,
Trương Lương tu tiên, nên mới nói là “Xích Tùng
chê Trương Lương chậm quay về”.
[88] Mục Sanh sống
vào đời Hán, là học tṛ của Thân Công, cùng với Khổng
An Quốc, Châu Bá v.v… giữ chức Quận Thủ. Ông
được Sở Nguyên Vương Lưu Giao tôn kính, thỉnh
làm khách khanh. Lưu Giao thường bày tiệc rượu
thết đăi Mục Sanh. Ông giúp Lưu Giao chấn hưng
Nho học tại nước Sở. Khi Lưu Giao mất,
cháu là Lưu Mậu kế vị, Mục Sanh bị đối
đăi lợt lạt. Ông biết ư, bèn từ chức, ra
đi. Thân Công chính là Thân Bội (219-135 trước Công
Nguyên), là nhà kinh học nổi tiếng thời Tây Hán, thành
lập Lỗ Thi học phái (trường phái nghiên cứu
kinh Thi tại nước Lỗ), làm quan đến chức
Thái Trung Đại Phu. Ông chuyên nghiên cứu kinh Thi và Xuân Thu
Lương Cốc Truyện.
[89] Tử
Lăng là tên tự của Nghiêm Quang (39 trước Công
Nguyên-41). Ông là người thuộc huyện Dư Diêu quận
Cối Kê. Ông được coi là bậc cao sĩ cuối
thời Tây Hán, là bạn đồng học của Hán Quang
Vũ Đế (Lưu Tú). Khi Lưu Tú lên ngôi, ông ẩn
danh, biệt tích. Vua cho người t́m được, mời
vào cung tṛ chuyện một đêm. Ông ngủ say, gác chân lên bụng
vua. Sáng hôm sau, quan Thái Sử vào tâu: “Tối qua khách tinh phạm
đế tinh rất gấp”. Do chuyện này, Tổ Liên Tŕ
mới viết là “tinh đài chỉ khủng,
chương tần thượng” (chỉ sợ là quan
trông coi đài chiêm tinh (Thái Sử) nhiều lần dâng sớ
tâu tŕnh).
[90] Vơng tượng (罔象) là một
loài thủy quái trong truyền thuyết, thường
được mô tả như đứa trẻ ba tuổi
đen thui, tay dài, tai to, móng tay đỏ rực, thích ăn
gan và óc người. Chúng chỉ sợ gỗ tùng, bách và cọp
đá.
[91] Đao, kiếm được mô tả bén đến nỗi
đặt một sợi lông hay tóc lên đó, nó sẽ bị
cắt đứt ngay lập tức. Tuy vậy, đao dẫu
bén như thế, nhưng nếu bị các sợi tơ từ
vạn cây tùng buộc th́ vẫn bị bó chặt.
[92] Do đốt ngải cứu để chữa bệnh,
bị hơi nóng làm khó chịu, người chữa bệnh có thể bị bệnh nhân oán hận.
[93] Trường Tự và Kiệt Nịch là hai ẩn
sĩ thời Chiến Quốc, chủ trương đời
loạn nên ẩn cư. Họ chê cách thức Khổng Tử dấn thân làm quan nhằm thực hiện
cách cai trị bằng ḷng nhân là không thích hợp.
[94] Châu Đề là một quận thuộc đất Thục
xưa, nổi tiếng về giàu có. Châu Đề nói ở
đây chính là bạc được lưu hành tại Châu
Đề.
[95] Ngũ Liễu
Tiên Sinh Truyện là một bài văn do Đào Uyên Minh viết
tự thuật ba điều ưa thích nhất suốt
đời ḿnh: đọc sách, uống rượu, và viết
văn. Trong bài văn ấy, tác giả hư cấu một
nhân vật là Ngũ Liễu tiên sinh (vị tiên sinh này không
rơ họ tên, quê quán, do cạnh nhà có năm cây liễu, nên
được gọi thành Ngũ Liễu tiên sinh), trần
thuật ba điều ưa thích của ông ta (nhưng thật
ra là ba thứ đam mê của tác giả).
[96] Ư nói: Những kẻ b́nh phàm đừng thấy người
chân thật tu hành khô khan như xương khô mà cười
cợt họ là kẻ si ngốc.
[97] Dă-sa (ySa) là một trong bốn mươi hai chữ Phạn
(theo văn tự Tất Đàm – Siddham), chữ này c̣n
được phiên âm là Dật-sa, duệ-sa, di-sa, xa, sa.
Kinh Hoa Nghiêm có một chương thuyết minh các pháp giải
thoát tương ưng với mỗi chữ trong bốn
mươi hai tự mẫu ấy.
[98] Đây là hai điển tích ca ngợi người mẹ
trong hoàn cảnh cực nghèo khó, thủ tiết, vẫn nuôi con học hành thành tài. “Bút lau” là chuyện Âu
Dương Tu đời Bắc Tống cha mất sớm,
nhà rất nghèo, mẹ là Trịnh Thị đă t́m thân cây lau
cứng, vót nhọn làm bút vạch chữ trên cát để
dạy con học. “Hùng hoàn” là chuyện mẹ của Liễu
Trọng Dĩnh đời Bắc Tống là Hàn Thị dùng
mật gấu chế thành thuốc viên để giúp con tỉnh
táo thức đêm học hành.