Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 7

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

15. Vân Thê Đại Sư Di Cảo (雲棲大師遺稿)

15.1. Thư

 

* Thư trả lời Kinh Vương

 

          (Nguyên thư của Kinh Vương) Con bị trói buộc trong lồng cạm, chẳng thể đến viếng cảnh danh sơn thù thắng, bèn sắm sửa hương, kính sai vị tăng trông coi nhang đèn là Tánh Khả đến triều lễ Vân Thê, xin thầy ban pháp danh để gieo cái nhân cho tương lai. Con mong xin ban pháp danh cho Kinh vương, Kinh phi họ Lư, thứ phi họ Châu, Kinh thế tử, con thứ tư là Trường Dương, con thứ năm là Bảo Dương, con thứ sáu là Phục Dương. Ba người hầu là Trường, Lư, Trân.

          (Tổ hồi đáp) Pháp danh đúng như lời truyền mà dâng lên. Ở nơi tôn vinh, chẳng mê muội túc nhân, gieo ḷng thành nơi nội giáo, lại c̣n tu ṛng Tịnh Độ, cầu nguyện văng sanh, lồng cạm sẽ trở thành cảnh giới đại giải thoát.

 

* Thư trả lời Phàn Sơn Vương[1]

 

          (Nguyên thư của Phàn Sơn Vương) Con ẩn cư tại vùng Giang Hán, sớm nghe Ngài vốn có đức hạnh trọng vọng, muốn nhiều lượt giăi bày nỗi niềm chất chứa trong ḷng, lại sợ giống như chuyện xưa của Thạch Đầu thiền sư[2], phí uổng thời gian vô ích, nếu vẫn ơ hờ qua ngày, sẽ chỉ tăng thêm nghiệp cho người khác. Đại sư một thân thông suốt chánh pháp và quyền nghi của Tam Tạng, hiện bày phương tiện khéo léo, lợi ích trọn khắp trời, người, [khiến cho] hết thảy hữu t́nh lần lượt quay về nẻo chánh. Trên là giúp cho phong thái tinh thâm, huyền diệu của hoàng triều, trong là khế hợp tông chỉ Nê Hoàn (Niết Bàn) của Phật, Tổ, hiện bày mật hạnh sâu diệu, cố nhiên là đệ tử đă sớm nhận biết điều ấy. Chỉ v́ duyên đời chưa xong, đối với đạo cao tột c̣n phải đợi thời, h́nh tích chen lẫn trong đám tiểu vương, tạm thời gởi thân nơi chuyện ứng cơ hoằng pháp để mong chẳng cô phụ Phật, Tổ.

Nếu có thể giúp cho Thiền môn chuyển sanh về cơi Cực Lạc, ắt sẽ ĺa thai sanh trong cơi ngũ trược, lại khởi đầu sự chuyển sanh trong ba đời; đấy quả thật là phương tiện của đệ tử, mà cũng là ư chỉ nhỏ nhiệm ẩn ḿnh trong cơi tục vậy. Trong pháp giới, bất luận công đức lớn hay nhỏ, đại sư đều thành tựu, trọn đủ Phật nhăn đă lâu, dùng trí huệ huyền diệu để ngầm lănh hội, ắt biết chắc chắn lời của Phó đại sĩ chẳng dối, [kiến giải] của ngài Trí Giả đời Trần là có căn cứ. [Chẳng biết] những điều đệ tử vừa trần thuật trên đây có phải là tận mắt thấy được chỗ tồn tại của đạo lư hay không? Ngẫu nhiên có thiền nhân Định Hư từ Lư Sơn vào đất Chiết, con bèn nghĩ dâng thư kèm theo. Định Hư và đệ tử xưa kia đă có duyên “kim vàng gieo vào bát”[3], đối với những chuyện đệ tử xử sự, và những chuyện ngưỡng mộ phẩm đức từ bi [của đại sư] trong thường nhật, Định Hư sẽ tự có thể thưa tŕnh, nên con chẳng rườm lời ở đây. Cúi ḿnh xin thầy xét soi. Ngày mồng Năm cuối Thu, đệ tử tự tay kính tŕnh.

          (Tổ hồi đáp): Nhận được lời lẽ đức hạnh cùng bản khắc in đẹp đẽ từ xa, tôi kính cẩn đọc những lời tán tụng đầu sách, đại để là “xưa nay thở cùng một hơi, thấy chúng sanh và Phật b́nh đẳng”. Tuy chưa hoàn toàn đọc xong, nhưng đă đại khái thấy được kiến giải lỗi lạc. Lại c̣n từ chỗ thầy Định Hư, tôi đă được nghe khuôn mẫu cao cả, hạnh tốt lành, dẫu cách xa ngàn dặm mà như đă từng gặp mặt, khôn ngăn vui mừng! Há chẳng phải là Ngài nương theo sức túc nguyện, thị hiện h́nh tích trong nhà đế vương để hoằng dương hóa độ trong thời Mạt Pháp đó chăng? Định Hư rời đi quá nhanh, chẳng kịp thưa tŕnh cặn kẽ, đành dâng lên mấy bản kinh sách được khắc trong núi để Ngài xem rơ.

 

* Trả lời thiền sư Long Tŕ Nhất Tâm

 

          (Nguyên thư của ngài Long Tŕ) Đệ ngụ tại chùa Phổ Chiếu ở kinh đô, tính chờ tới lúc nhắm mắt đó thôi! Từ mùa Xuân năm Mậu Thân bị các đồ đệ hối thúc trở lại Long Tŕ, vừa đến cuối Đông, khí lực đă suy nhược, họ cứ buộc đệ phải nói năng loạn xạ, gọi là thượng đường, tiểu tham v.v… Nói ǵ bèn ghi nấy. Tới mùa Đông năm Canh Tuất, do bị bệnh mà xem lại [những ghi chép ấy], thấy đă chất chứa thành sách, chia thành hai phần, tức nhàn đàm và văn thoại (những lời đàm luận vào buổi tối). Do v́ một chuyện nhỏ, lếch thếch vào thành, gặp các vị như Ngô Chi Củ… t́m kiếm văn tự [của đệ], bèn đưa cho họ xem [những ghi chép ấy]; do vậy, miễn cưỡng khắc in để chia sẻ với các phương. Nhưng đệ thẹn vô phước, nói lời này, các phương chưa chắc có thể tin hay không? Nghĩ trong cơi đời này khó gặp người có kim cang chánh nhăn, lại c̣n một điều hiếm có là quên bẵng tánh mạng ra mặt ấn chứng cho đệ, thốt lời hướng dẫn, tăng thêm tín tâm cho các phương, đệ tiếc nuối sâu xa. May được sư huynh là người đồng tham, cho nên sai đồ đệ đến cầu huynh ban một lời hướng dẫn, ngơ hầu nguồn Tào đă khô cạn lại được tràn trề, cây giác đă khô lại được sum suê. Mong huynh đừng tiếc lời dạy dỗ, đệ cảm kích vô tận, tột bậc cảm kích!

(Tổ hồi đáp)

1) Nhớ thuở huynh cùng đệ tham học ḥa thượng Tiếu Nham tại ngơ Liễu ở kinh đô tới nay đă ba mươi năm rồi, nhưng sư huynh đă nắm giữ ấn đơn truyền, xướng suất, hướng dẫn trùng hưng Phật pháp đă suy đồi, hoang phế ở phương Đông Nam. C̣n đệ nằm bệnh trong chốn rừng sâu như ở dưới đáy giếng, vẳng nghe tiếng sấm rền từ phương xa mà thôi, hổ thẹn khôn xiết! Trước đó, đệ đă nhận được thư huynh cùng các sách đă được khắc in, vui sướng được thỏa thích niềm mong ước từ xưa. Do thiếu duyên t́m được người đưa tin, thưa thớt thăm hỏi đă lâu, ngẫu nhiên do có người từ quư ấp đến đây, đệ gởi tạm một phong thư ngắn để thay lời vấn an, xin huynh dung thứ.       

2) Tấm thân tàn già bệnh, suốt ngày nằm bẹp nơi giường, chiếu, bỗng nhận được lời thăm hỏi, như nhận được sức mạnh từ xa, mở xem một phần [các sách đă in], nỗi niềm ấp ủ thô lậu của đệ được thỏa thích rỗng rang. Tiếc là đệ khốn khó quá mức, chưa thể xem trọn hết, đă lâu chẳng động đến bút nghiên, chẳng thể vâng mạng viết lời tựa dẫn khởi. Chỉ v́ đèn Phật lờ mờ đă lâu, gần như sắp tắt, sư huynh lấy việc chấn hưng tông phong làm trách nhiệm của chính ḿnh, sao đệ dám từ chối? Nay do bệnh ngặt, chỉ đành tŕ hoăn mà thôi!

 

* Thư trả lời pháp sư Giao Quang ở Lộ An

 

          1) (Thư thứ nhất của pháp sư Giao Quang) Từ lâu đă nghe thầy con thuộc ḍng dơi Nho gia danh tiếng, nhiều đời đỗ đạt, nhưng có thể nhanh chóng phá tan lồng cạm, cao bước vượt ngoài thế tục, ắt có kiến giải trác tuyệt. Đối với việc thấu triệt sanh tử, trọn hết tánh năng, chỉ kham nương cậy Phật pháp. Do vậy, thầy xuống tóc ở trong núi, thanh tu để hóa độ cơi đời. Lại nghe tăng tục, kẻ quyền quư suốt một phương, không ai chẳng tôn sùng, ngưỡng mộ thầy. Do con vẫn chưa kiến Đế tường tận là như thế nào, thường mong phát tâm tham phỏng, hiềm rằng duyên nghiệp bó buộc, thường tiếc nuối v́ phước bạc, chướng sâu. Năm năm trước, bỗng ở nơi điện hạ Sơn Âm thuộc Bồ Sơn, con được đọc Di Đà Sớ Sao của thầy, thấy mỗi chữ đều thông trên (thông suốt Phật lư) thấu dưới (thấu triệt Phật sự), cùng tột [mọi khía cạnh] trong, ngoài, tinh, thô. So ra, những vị chú giải xưa kia hoặc lệch về bên Sự, hoặc thiên về Lư, sẽ đều phải cam chịu lép vế vậy.

Hơn nữa, văn tự [trong Sớ Sao] cố nhiên do kinh mà đơn giản, đại lược, nhưng nghĩa lư mênh mông, bát ngát, chẳng thể thấu đạt ngằn mé, gần như gồm trọn tổng tŕ của pháp tạng. Như vậy th́ thầy của con là người đă đạt được tủy[4] nơi cửa ải của Tổ, thấu tột cùng cội nguồn của biển giáo đó chăng? Hay thầy là bậc Pháp Thân đại sĩ ứng hiện để chỉ dạy kẻ mê? [Nếu chẳng phải vậy], sao có thể thấu triệt cùng tận ư vị như thế đó? Do vậy, con suất lănh Sơn Âm, hướng về Nam lễ bái đôi lượt. Ngay hôm ấy, con sai thợ khắc in lại để thí rộng răi. Gặp dịp Lăng Nghiêm Sớ của Giám[5] đă được khắc xong, do người ở Lộ An thúc giục, con vội vă lên miền Bắc, chẳng kịp thưa tŕnh đầu đuôi. Chẳng lâu sau, Di Đà Sớ Sao ở Bồ Sơn cũng khắc xong, con gởi một trăm bộ sang đất Lộ (Lộ An) để biếu tặng Thẩm thiên tuế. Thiên tuế[6] giở xem, ca ngợi tột bậc, liền thí tặng cho bạn tri âm tăng, tục, vương công đại nhân, quan chức, thiện tín, không ai chẳng hoan hỷ vâng nhận, cũng là chuyện thù thắng chưa từng có tại đất Lộ vậy! Do vậy, ḷng kính ngưỡng của Giám đối với thầy con càng sâu, dốc hết tinh thần khát ngưỡng, mong ngóng, chẳng thể nào sánh ví được!

Trước đây không lâu, con bỗng gặp dịp thầy Vô Ngoại nhận lời ủy thác mà triều bái Phổ Đà, nghe thiên tuế cũng có lễ tiết thưa hỏi với thầy con; do vậy, bèn gởi kèm một lá thư ngắn để thay cho việc đích thân đến tham phỏng trước ṭa, c̣n kèm dâng lên bản in Lăng Nghiêm Sớ con đă tiếm lạm biên soạn gồm mười hai tập, trăm lạy cầu xin thầy hải ấn chiếu soi, đừng tiếc chỉ dạy chỗ đúng, sai. Lại mong thầy chẳng tiếc công hồi âm, chỉ dạy từ xa, ngơ hầu con chẳng cất bước vượt khỏi trăm thành[7], mà vạn dặm như được hầu hạ trước mặt vậy. Mong mỏi lắm thay! Con nâng bút viết thư mà ḷng kính ngưỡng tột bậc khôn xiết, luôn mong thầy xét soi những chỗ con chưa thấu tỏ trọn hết.

(Tổ hồi đáp) Được ban tặng bản in tốt đẹp từ xa, vừa giở xem một đôi điều, đă cảm nhận [lời Sớ] tinh túy, tinh vi, châu đáo như đạt được của báu lạ lùng, cảm kích hân hoan khôn xiết! Do vị Tăng đến đây trở về quá nhanh, tôi chưa kịp xem trọn hết, vẫn cần phải chờ trống ḷng đọc trọn hết để tuyên dương sự pháp thí. Kẻ chẳng ra ǵ này tuổi già, huống hồ núi sông xa xôi, tuy chưa thể đích thân gặp gỡ, mà giao t́nh bằng thần thức đă vượt ngoài ngàn dặm!

2) (Thư thứ hai của pháp sư Giao Quang) Lần trước khi thầy Vô Ngoại trở về phương Bắc, con nhận được thư thầy như được diện kiến từ nhan, đích thân nhận lănh pháp ngữ. Thầy nói “do chưa đọc xong, cho nên chẳng có ấn chứng”, chẳng đáng than thở ba lượt ư? Bậc chí nhân trân trọng, chẳng dễ dăi ức đoán cũng như thế. Nhưng con ngày đêm tâm mong ngóng phương Nam, chưa được nghe tin tức, chắc là do chẳng thuận tiện nên thành ra như thế. Thầy Vô Ngoại lại c̣n giao cho con các bản in tốt đẹp do thầy con khắc, người được khai phát cái tâm thô lậu, tối tăm cực nhiều, khôn ngăn cảm tạ tha thiết.

Riêng đối với chuyện luận định kinh Lăng Nghiêm, có một đôi chỗ có thể thưa hỏi ḥng cầu được lợi ích, con đă thưa tŕnh riêng kèm theo thư này, xin thầy rảnh rang xem xong, ắt sẽ hồi âm chỉ dạy, con hết sức mong mỏi! Bộ Di Đà Sớ Sao của thầy con có lợi ích to lớn khế hợp thời cơ tột bậc, con đă cực lực cổ vũ Tưởng Nguyên Phong ở Sơn Âm in lại một trăm bộ để dâng lên Thẩm quốc chúa, hễ gặp gỡ những học nhân và cư sĩ tri âm, đều tột bậc khen ngợi để họ đọc kỹ ḥng gieo chủng tử tạo duyên về Tây. Trong tháng Tám mùa Thu này, các vị sĩ phu, tông thất và dân chúng một phương khẩn thỉnh con là Chân Giám rủ ḷng thăng ṭa một trăm lẻ tám ngày trong mùa Đông năm nay để giảng kỹ bộ Sớ Sao của thầy con. Chỉ sợ thầy con bác đại tinh thâm, chỉ thú vi diệu, sâu thẳm, e rằng con chẳng đảm đương nổi, miễn cưỡng nhận lănh gánh vác, nay đă hoàn thành. Con tính vào giữa tháng Chín sẽ dâng hương chúc nguyện thầy, cầu xin thầy con gia bị từ xa, muôn điều thưa tŕnh bất tận!

          Con kính cẩn đọc Trung Luận do thầy con khắc in, đối với chỗ gạn hi về cái tâm trong kinh Lăng Nghiêm, có nói: “Nếu luận về vọng tâm, nó thật sự ở trong thân”. Con ngạc nhiên, kinh hoảng! Nếu lời ấy là đúng, vậy th́ lời chú giải của Giám đă hoàn toàn sai rồi! Giở xem, nghiền ngẫm ư kinh nhiều lượt, [mới vỡ lẽ] điều được gạn hỏi đầu tiên vốn là gạn hỏi vọng tâm, chẳng phải là gạn hỏi chân tâm. Những lời lẽ như “chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa” v.v… chính là nói về vọng tâm, chẳng phải nói về chân tâm. Nhưng nhiều người dễ bị mê muội đối với nghĩa này, chính v́ chân tâm cũng có ba nghĩa “chẳng ở” (tức chẳng ở trong, ngoài, hay chặng giữa), vọng tâm có một nghĩa riêng, tức là tông chỉ th́ giống nhau, nhưng cái nhân khác nhau”.

Vọng tâm lấy Vô Thể làm nhân, chân tâm lấy cái Thể trọn khắp làm nhân. Thử lập lượng[8] để nói: Vọng tâm là hữu pháp, “chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa”; đó là Tông; do vậy nói “nó chẳng có Thể”. Lại suy lường mà nói: “Chân tâm là hữu pháp, chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa”; đó là Tông. Do vậy nói “cái Thể trọn khắp”. Đó chính là Tông dường như giống nhau, nhưng cái nhân [của chân tâm và vọng tâm] quả thật [khác biệt] một trời, một vực. Bởi đó, kinh này phá vọng tâm, bèn nói “vô xứ, vô thể”, gọi là “tất cánh phá” (triệt để phá trừ). Các kinh khác đối với chân tâm tuy chẳng lập nơi chốn, nhưng thật sự chẳng phá trừ cái Thể, do cái Thể thật sự tồn tại, chẳng thể phá trừ rốt ráo được! Kinh Viên Giác dạy “chư huyễn diệt tận, phi huyễn bất diệt” (các huyễn đều diệt hết, cái chẳng phải là huyễn sẽ chẳng diệt) chính là ư này. Chú giải của mười vị [luận sư trước đó] cố nhiên có rất nhiều chỗ sai, nhưng đối với điều gạn hỏi đầu tiên về cái tâm, đều biết là gạn hỏi để phá vọng tâm mà thôi! Chỉ riêng chỗ sai lầm trong sách Hoặc Vấn là có cùng cách nh́n với thầy; tuy sách ấy đă được đưa vào Đại Tạng, chẳng thể tin theo [cách nh́n ấy] được!

C̣n như [quan điểm cho rằng] “vọng tâm thật sự ở trong”, chỉ trong nhân thiên giáo là riêng sự chấp trước này, toàn là cội rễ sanh tử sâu xa. Tiểu Thừa hữu học chỉ c̣n giữ mối nghi này, chứ trong địa vị Vô Học, hoàn toàn chứng Ngă Không, đă triệt ngộ “vọng tâm chẳng có Thể”, chẳng ở bên trong. Nếu nói “thật sự tồn tại” tức là có cái Thể; lại nói “ở trong” cũng chính là có nơi chốn. Thể và nơi chốn đều có, v́ sao gọi là vọng tâm? Kinh dạy: “Nhất mê vi tâm, quyết định hoặc vi sắc thân chi nội” (hễ mê, ngỡ vọng tâm là chân tâm, chắc chắn sẽ lầm lẫn tưởng rằng tâm ở trong sắc thân). Phàm đă nói là “hoặc” (, mê hoặc) nhằm biểu thị nó vốn chẳng ở trong thân, mà lầm lẫn chấp nó ở bên trong. Nếu thật sự ở bên trong, v́ sao bảo là “hoặc”? Do chúng sanh chấp trước vọng tâm ở trong, tâm ta (vọng tâm) như lông rùa, sừng thỏ, rốt cuộc chẳng có Thể. Do vậy, gọi là Ngă Không. Đấy là chỗ chứng ngộ tột cùng của Tiểu Thừa, là Đại Thừa sơ môn. V́ vậy kinh Niết Bàn gọi điều này là Bán Tự Giáo.

Nhưng chắc là tâm thầy thấy trong giáo có cách nói “khứ hậu, lai tiên” (đi sau, đến trước)[9], bèn nói thức thứ tám là chủ tể trong quả báo thuộc một đời, quy kết mạng ở trong thân, cho nên nói “thật sự ở trong” đó chăng? Đấy là trong tông Pháp Tướng, Như Lai nói thuận theo tướng trạng của pháp thế gian, đến thời Bát Nhă liền phá sạch, huống hồ Đốn giáo và Viên giáo ư? Do vậy, Bát Nhă nói “thọ giả tướng” chính là nói đến điều này. Hăy nên biết: Trong thức thứ tám, có một phần chân, một phần vọng. “Chân” chính là chân tâm trọn khắp pháp giới, “vọng” chính là tánh mạng làm chủ thể trong thân. Đă nói là “vọng”, há thật sự có ư? Bởi lẽ, tánh mạng tồn tại trong thân như bóng trăng trong nước, hoàn toàn tương tự như thoát ĺa bản thể, nhưng rốt ráo thật sự chẳng có chánh nhân. Chính v́ trá ngụy như thế, cho nên nhân thừa, tiên thừa,thiên thừa đều trầm mê trong ấy, chẳng thấu đạt nó hoàn toàn là không, uổng phí khá nhiều công sức, vẫn chẳng thể thoát khỏi tam giới được, há dám mong mỏi Phật đạo ư? Đúng là đáng thương xót quá!

Lại hăy nên biết: Chúng sanh trọn đủ chân tâm, nhưng cũng trọn đủ vô minh, như vàng c̣n trong quặng. V́ thế, hiện tiền chẳng có cái tâm thuần chân; bởi lẽ, thuần chân sẽ liền mất danh xưng “chúng sanh”. Nói cùng cực, chỉ trừ địa vị Như Lai, như vàng ra khỏi quặng, chứ từ Đẳng Giác trở xuống, vẫn thuộc vào hàng chúng sanh, do c̣n có chút phần vô minh chưa hoàn toàn đoạn sạch! Do vậy, cái tâm của chúng sanh được gọi là Như Lai Tạng Tâm, tức là một danh xưng khác của thức thứ tám. Bởi lẽ, hai chữ Như Lai là trọn đủ Chân, c̣n một chữ Tạng tức trọn đủ Vọng. V́ thế, rốt cuộc là trong các kinh, đức Phật thật sự đều nói kiểu này. Nhưng Ngài chỉ nói sơ qua để nêu bày thâm ư, chẳng từng nói toạc cái tâm hiện tiền ấy của chúng sanh chính là ǵ. Chỉ có kinh Lăng Nghiêm nói toạc phân minh, [cái tâm hiện tiền ấy] chính là sự thấy, nghe, hay, biết chẳng phân biệt nơi sáu căn. Nếu thấy, nghe, hay, biết có phân biệt, sẽ chính là cái tâm thuộc sáu thức trước. Do vậy, kẻ ngu sẽ khó thể tách bạch Thức và Căn.

Lại hăy nên biết: Trong tông Pháp Tướng, Bồ Tát tuy biết có tâm A Lại Da thù thắng, nhưng hoàn toàn chẳng biết Như Lai Tạng tâm vốn sẵn có trong sáu căn chính là thật thể của A Lại Da thức, do giáo ấy gọi sáu căn là sắc pháp, coi chúng [là đối tượng] để duy thức duyên vào, chẳng xem đó là duy thức tối thắng. Kinh Lăng Nghiêm thoạt đầu dùng việc gạn hỏi cái tâm để quở trách [kiến giải] sai trái, và những đoạn văn đề cao, xiển minh vô thể, hoàn toàn phá trừ cái tâm thuộc sáu thức trước. Kế đó, chỉ ra tánh Thấy nơi mắt chính là tâm, mười phen hiển lộ sự thù thắng, cho tới mở rộng thành “bốn khoa, bảy đại” đều nhằm nêu tỏ Như Lai Tạng tâm mà thôi! Đấy chính là tông chỉ trước nay chưa từng nói trong kinh Lăng Nghiêm. Do vậy, kinh dạy: “Chân phi chân khủng mê, ngă thường bất khai diễn” (do sợ [chúng sanh] mê muội đối với chân và chẳng chân, ta thường chẳng khai diễn) là v́ lẽ này; nhưng chẳng phải là không nói đến Như Lai Tạng tâm, chỉ là trước nay chưa từng nói sáu căn chính là tạng tâm. Đấy là chỗ riêng khác biệt với các kinh khác của kinh Lăng Nghiêm. Sau khi yếu chỉ ấy được tiết lộ, không chỉ là trong Giáo chẳng có bí mật, ngay cả Tông cũng lại chẳng c̣n chỗ ẩn giấu. Do vậy, các vị đại lăo kiêng dè bản Lăng Nghiêm Tiên Chú là do ư này! V́ vậy, kinh văn tuy nhiều tới mười quyển, nhưng từ đầu đến cuối chỉ có là bốn chữ “phá Thức, chỉ Căn” mà thôi.

V́ thế, trước tiên dạy ngộ từ nơi nhăn căn; một thứ ngộ, hết thảy đều ngộ. Cuối cùng là dạy nhập nơi nhĩ căn, một thứ nhập th́ hết thảy đều nhập. Bởi đó, quyển năm [kinh Lăng Nghiêm] nói: “Nhữ kim dục tri câu sanh vô minh, sanh tử kết căn, duy nhữ lục căn, cánh phi tha vật” (nay ông muốn biết vô minh bẩm sanh [của chúng sanh] và căn bản của sanh tử, th́ chỉ t́m nơi sáu căn của ông, chẳng có vật nào khác!) Đấy chính là do trong A Lại Da Thức có một phần vọng. Kinh lại nói: “Nhữ phục dục chứng Bồ Đề, Niết Bàn, an lạc giải thoát, tịch tĩnh diệu thường, diệc nhữ lục căn, cánh phi tha vật” (Ông lại muốn chứng Bồ Đề, Niết Bàn, an lạc giải thoát, tịch tĩnh diệu thường th́ cũng do sáu căn của ông, chẳng có vật ǵ khác!) Đấy chính là do A Lại Da Thức trọn đủ Chân toàn vẹn. V́ thế, chư tổ đa phần nói “chẳng ĺa trong thân, chẳng ĺa ngay nơi đây”, cho tới “ra vào nơi vẻ mặt” đều là nói tới sáu căn, chẳng phải là nói tới ngũ tạng trong sắc thân. C̣n đối với cái chẳng dung suy lường, bàn luận, chẳng thể phỏng đoán, đều nhằm bác bỏ sáu thức, há c̣n có ư chỉ nào khác nữa ư? Đấy là biện định, phân biệt đại lược; tường tận th́ như trong lời Sớ [đă biện luận], chẳng biết cao kiến của thầy con là như thế nào? Chân Giám từng hướng về phương Nam, ngưỡng mộ tôn sư như Phật, chẳng dám ngă mạn tranh biện, chỉ nghĩ điều này có mối quan hệ chẳng nhẹ với sanh tử, khó gặp bậc chí nhân, cho nên chẳng dám bỏ lỡ. Những điều con nói đúng hay sai, mong thầy quyết đoán rạch ṛi, đừng ngần ngại, mong mỏi lắm thay!

(Tổ trả lời) Thư thầy gởi đến chỉ dạy về vọng tâm chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa, hết sức tinh tường, xác đáng. Lại c̣n trong bộ [Lăng Nghiêm Kinh] Chánh Mạch Sớ của thầy, luận định về vọng tâm, cũng không ǵ chẳng tinh tường, xác đáng. Nhưng theo cái thấy thô lậu của tôi, nói “vọng cũng có thể ở bên trong” là nói trong khi đang mê, chẳng phải là luận về tâm thể. Do đó nói “cũng được”. Ư nghĩa của chữ “cũng” tự rơ ràng rồi! Trong đó, lại dẫn nước và băng làm thí dụ, tuy chúng vốn tự chẳng có Thể, nhưng khi là băng, há chẳng đông cứng một chỗ, mất đi tánh chất lưu động ư? Có thể nói “vọng ở bên trong” cũng vẫn đúng, do chẳng phải là thật sự coi nó là ở bên trong.

Thử dùng một chuyện để nghiệm chứng: Khi người đang ngủ say, muốn đánh thức người ấy, ắt phải dùng tay vỗ vào thân người ấy th́ người ấy mới tỉnh, hay là dùng tay vỗ vào hư không th́ mới có thể khiến cho người ấy tỉnh giấc? Ắt phải gần cái thân người ấy th́ mới tỉnh, hay là ở cách xa thân người ấy mà gọi sẽ có thể khiến cho người ấy tỉnh giấc? Lư ấy tự rơ rệt! Kinh dạy: “Nhất mê vi tâm, quyết định Hoặc vi sắc thân chi nội” (hễ mê chân tâm là vọng tâm, chắc chắn sẽ lầm lẫn cho là cái tâm ấy ở trong sắc thân). Tuy là Hoặc, nhưng trong khi đang mê hoặc, há chẳng rành rành ở bên trong ư?

Huống chi ngay sau đó, kinh lại dạy: “Tuy tại sắc thân chi nội, bất phương Thể biến thập phương, chánh biến thập phương, bất phương hiện tại thân nội” (Dẫu ở trong sắc thân, chẳng trở ngại cái Thể trọn khắp mười phương. Ngay trong khi trọn khắp mười phương, chẳng trở ngại hiện tại trong thân). Ư nghĩa đă rơ ràng rồi! Sớ giải của thầy vốn là ư chỉ chánh yếu của kinh, tôi chỉ nêu kèm kiến giải thô lậu, xin đừng ngờ vực. Nếu chẳng nêu kèm ư này, khi nho sĩ ngoại đạo cật vấn, thầy sẽ không có ǵ để ứng đối. Thầy cho rằng “vọng tâm chẳng ở trong” là Tông, do vậy bảo nó chẳng có Thể. Nay tôi nói “vọng tâm cũng ở trong” là Tông, chính là v́ đang mê. “Băng cũng đông cứng” là Tông, chính là v́ nó đang ở trạng thái ngưng đọng. Khi đang ngưng đọng, rành rành là nó đông cứng, chẳng trở ngại “đông cứng chẳng có Thể, toàn thể là nước”. Như thế th́ hai ư thành lập lẫn nhau, chẳng hề mâu thuẫn!

 

* Thư trả lời ấp lệnh[10] Tào Lỗ Xuyên ở Tô Châu

         

          1) (Nguyên thư thứ nhất của Tào Lỗ Xuyên) Đă lâu tôi chẳng được gặp mặt lắng nghe lời thầy dạy, xin thầy thứ lỗi. Tôi thường giở xem những lời dạy do thầy đă khắc in, được khơi gợi rất nhiều, cảm tạ sâu xa, biết ơn sâu đậm. Tôi hướng về phương Nam mong ngóng mây pháp, thiết tha ngưỡng vọng được nương cậy sâu xa. Khéo sao thượng nhân Đoạn Phàm Ngộ thuộc chốn quận hèn của tôi đến dưới pháp đàn [của thầy] để cầu pháp, bèn gởi kèm thơ này để vấn an thầy. Kẻ bất tài vụng về này, gần là giữ đạo Đông Lỗ (Nho học), xa là tôn sùng Tây Trúc (Phật giáo), chính là một con mọt sách nơi đạo Nho và Thích, tới nay đă bốn mươi năm rồi! Tôi cũng từng thỉnh giáo nơi những vị thông đạt, tích lũy những điều tâm đắc, mong được bậc đại thiện tri thức chỉ bảo cho đúng. Nay do Đoạn Phàm đến đó, tôi thừa dịp biểu lộ [tâm nguyện ấy]. Đức Thích Tôn có Tam Tạng mười hai bộ giáo, giống như trong biển cả rộng lớn bủa giăng nhiều tấm lưới, lại c̣n giống như những cái kho trữ lương thực lớn, nhỏ, chỉ nên đàm luận điều to lớn mà bao gồm những điều nhỏ nhặt, há có nên nêu ra một mà phế nhiều ư?

Gần đây, trong vùng tôi, có kẻ xướng suất thuyết “trải qua nhiều kiếp mới thành thánh, ắt phải là Tiệm, chẳng có Đốn”. Tiệm tu cũng do thánh giáo dạy, chưa từng chẳng chánh xác, nhưng dùng Tiệm để phủ định Đốn, sai mất rồi! Tôn giả trong tâm ngầm tinh thông Đốn, Viên, bề ngoài hiển dương pháp môn Tịnh Độ. Chư Phật cũng là như thế, chẳng có ǵ đáng để ngờ vực cả. Hiềm rằng gần đây trong thính chúng chẳng ít người giống như kinh Pháp Hoa đă nói “vừa nghe Phật pháp, lập tức tin nhận”, tư duy mong chứng đắc, thẳng thừng muốn do một vị thánh là Di Đà mà phế sạch mười lăm vị vương tử, do một kinh Tịnh Độ mà phế sạch Tam Tạng mười hai bộ. Đấy chính là điều kẻ bất tài này chẳng muốn nghe. Tuy là thời Mạt Pháp, căn cơ của những người ấy há chẳng có xảo hay độn ư? Có khi giống như đức Thích Tôn v́ Ca Diếp, v́ Kiều Trần Như mà nói như thế này, v́ Thiện Tài, v́ long nữ mà nói như thế kia. Hai mươi lăm vị thánh, mỗi vị chứng Viên Thông, ngài Văn Thù lại xưng tán một cảnh giới khác. Chính là như thường nói: “Hôm qua xác định, hôm nay bất định”. Lại c̣n nói: “Đă nói Ngă là Không, lại chẳng phải là Không. Nói Ngă là Hữu, lại chẳng phải là Hữu”. Đấy là v́ làm lành không có nguyên tắc cố định, mà là sống động, giống như trên mặt nước đè cái hồ lô xuống, chẳng phải là pháp chết cứng. Nếu khăng khăng chấp chặt một bề, sao có thể lợi ích trời, người? Kính mong tôn giả v́ đại chúng diễn nói, tuyên dương giáo pháp Tịnh Độ, hễ gặp người lợi căn bèn chỉ bày pháp thượng thừa, viên dung thông đạt, chẳng tŕ trệ nơi một góc, một cạnh, khiến cho chim bằng lẫn chim bé đều được thích nghi, cũng chẳng phải là tận thiện tận mỹ ư?

Hơn nữa, kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm chính là Nhất Thừa Viên Giáo vô thượng, là lời xứng tánh cực đàm của Như Lai, chẳng phải Giáo, chẳng phải Tông, mà chính là Tông, chính là Giáo, chẳng phải Không, chẳng phải Hữu, mà vô cấu, vô tịnh, c̣n hơn hẳn kinh Pháp Hoa một bậc, các giáo thừa khác dường như khó thể so sánh ưu khuyết được nổi! Tôn giả ca ngợi kinh Di Đà sánh bằng Hoa Nghiêm, tợ hồ chưa ổn thỏa; do vậy, bèn viết luận để tán dương, coi Tịnh Độ c̣n cao hơn Hoa Nghiêm. Đấy chẳng phải là lẫn lộn màu son với màu tía ư? Nai và ngựa chỉ lẫn cho nhau[11], lại nói như thế nào được nữa? Nếu không có ai nói ra điều này, ắt thiên hạ đời sau sẽ cười chê nước Tần chẳng có người vậy! Cũng mong tôn giả v́ người căn cơ Tịnh Độ mà nói Tịnh Độ, v́ người căn cơ Hoa Nghiêm mà nói Hoa Nghiêm, đừng chê gièm lẫn nhau, mà cũng đừng tiếm lạm, ngơ hầu lưu thông Phật thừa, cùng phô bày cả năm giáo, cùng nhiếp trọn ba căn, cớ sao lại khắc thuyền để t́m gươm[12], bắn chim sẻ mà bỏ qua diều hâu?

Như kinh Hoa Nghiêm có bốn pháp “tín, giải, hạnh, chứng”, khéo nói pháp này chắc chẳng ai bằng Phương Sơn (Lư Thông Huyền). Nay ngôn luận của Ngài vẫn c̣n trọn đó, có thể kiểm chứng được! C̣n như Thanh Lương, tuy được mọi người gọi là Hoa Nghiêm Bồ Tát, nhưng thật ra chẳng hiểu giáo nghĩa và tông chỉ của Hoa Nghiêm, cẩu thả đem kinh xé lẻ thành bốn phần để đối ứng với bốn pháp, khiến cho diệu nghĩa của Phật Lô Xá Na bị vùi lấp trong cỏ hoang! Cũng nguyện tôn giả biện định trắng đen, tách bạch sông Kinh và sông Vị[13], nêu cao mặt trời rực rỡ nơi bầu trời chân nghĩa. Chao ôi! Trong hiện thời, người căn tánh bậc trung hoặc cao ngày càng thưa thớt, kẻ bất tài này ngưỡng mộ, kính trọng tôn giả như Thái Sơn, Tung Sơn vậy. V́ thế, chẳng dùng lời lẽ ca ngợi đẹp đẽ mà dùng lời lẽ khuyên nhủ. Biết tôn giả là bậc vô ngă, mà kẻ bất tài này cũng chẳng v́ tâm riêng tư; do vậy mới lải nhải, chỉ mong tôn giả thấu tỏ.

(Tổ trả lời) Từ lâu tôi đă nghe cư sĩ dốc ư chuyên ṛng nơi Hoa Nghiêm, tôi ôm ḷng kính ngưỡng tột bậc. Nay nhận được thư dạy bảo ân cần [của cư sĩ], thẳng thừng muốn nạp chúng sanh trọn hết pháp giới vào biển tánh Nhất Thừa; đó là đại nguyện Phổ Hiền. Nhưng kẻ không ra ǵ này, tuy tôn sùng Tịnh Độ, thật ra là sùng trọng Hoa Nghiêm chẳng khác cư sĩ. Do Hoa Nghiêm trọn đủ vô lượng môn, cầu sanh Tịnh Độ là một môn trong vô lượng môn của Hoa Nghiêm. Đối với căn cơ hiện thời, chẳng phải nêu ra một môn này để phế Hoa Nghiêm! Trong thư, cư sĩ lại nói kẻ chẳng ra ǵ này luận định kinh Di Đà ngang ngửa Hoa Nghiêm, do vậy mà có chuyện soạn luận tôn xưng Tịnh Độ cao hơn Hoa Nghiêm, luận ấy do ai soạn vậy? Hoa Nghiêm như thiên tử, có ai lại nâng các vua chư hầu, đại thần, trăm quan cao hơn thiên tử ư? Nhưng kẻ chẳng ra ǵ này cũng chưa từng đề cao [hai kinh ngang nhau]. Trong [A Di Đà Kinh] Sớ Sao, tôi đặc biệt nói Hoa Nghiêm viên măn tột bậc, kinh Di Đà được chút phần Viên, thuộc loại quyến thuộc của kinh Hoa Nghiêm, hoàn toàn chẳng ngang bằng. Cổ nhân xưng tụng Hoa Nghiêm so với các kinh khác, ví như vầng mặt trời chói lọi rạng ngời giữa trời, đoạt mất ánh sáng của các ngôi sao, [lại như] núi Tu Di vắt ngang giữa biển, cao vượt trội các ngọn núi khác, có ǵ sánh bằng được? Điều này há c̣n đợi bàn luận nữa ư?

Trong thư, cư sĩ lại bảo tôi hăy nên tùy cơ nghi mà diễn giáo, tức là nên v́ người [thuộc căn cơ] Tịnh Độ mà nói Tịnh Độ, v́ người [thuộc căn cơ] Hoa Nghiêm mà nói Hoa Nghiêm. Ư này hết sức hay, nhưng trong ấy có hai nghĩa:

- Một là cùng dưỡng dục ngàn loại căn cơ, đấy là chuyện xuất thế của Như Lai, kẻ chẳng ra ǵ này chẳng thể làm được! V́ thế, ngài Tào Khê truyền Trực Chỉ Thiền, há có phải là Ngài chẳng thông hiểu các giáo khác ư? Viễn công chuyên chủ tŕ Đông Lâm Liên Xă, cũng chẳng phải chỉ tiếp độ kẻ độn căn. C̣n như Vân Môn, Pháp Nhăn, Tào Động, Quy Ngưỡng, Lâm Tế, tuy năm tông cùng phát xuất từ một nguồn, nhưng cũng truyền trao hơi khác biệt. Lập bày môn đ́nh, theo đúng lẽ phải nên như thế, chẳng có ǵ là lạ, huống hồ kẻ chẳng ra ǵ này thuộc địa vị phàm phu ư? Nếu hư vọng bắt chước cổ nhân, hôm qua định, hôm nay bất định, tràn lan chẳng có sư thừa, biến loạn bất nhất, tuy gọi là “lợi người”, thật sự là khiến cho người khác lầm lạc. V́ lẽ nào vậy? [Hư vọng tự xưng] “ta là pháp vương, tự tại trong các pháp”. Kẻ b́nh dân tự xưng là quốc vương, chẳng thể không thận trọng ư?

- Hai là nói Hoa Nghiêm sẽ bao gồm Tịnh Độ, mà nói Tịnh Độ cũng thông Hoa Nghiêm. Do vậy, người nói Hoa Nghiêm tự nói Hoa Nghiêm, người nói Tịnh Độ tự nói Tịnh Độ, cố nhiên là cùng tiến hành, chẳng trái nghịch nhau! Người hiện thời chỉ biết Hoa Nghiêm rộng hơn Cực Lạc, nhưng chẳng biết Di Đà tức là [Tỳ Lô] Giá Na. Thư gởi tới c̣n nói “ngài Thanh Lương chẳng hiểu giáo nghĩa và tông chỉ của kinh Hoa Nghiêm, xé lẻ bản kinh thành bốn phần nhằm thuộc bốn pháp”. Tín, giải, hành, chứng tuy xuyên suốt toàn bản kinh, nhưng kinh văn từ đầu đến cuối cũng tự nhiên có thứ tự, chẳng phải là ngài Thanh Lương cưỡng chia chẻ. Sự xuyên suốt ấy được gọi là Viên Dung. Theo thứ tự th́ gọi là Hàng Bố. Hàng Bố chính là Viên Dung, bốn phần há có hại ǵ? Nếu chẳng có Hàng Bố, Viên Dung là vật ǵ? Ắt phải trừ bỏ Hàng Bố mới coi là Viên Dung, th́ chẳng phải là viên dung!

Hơn nữa, Tín, Trụ, Hạnh, Hồi Hướng, Địa cho đến Đẳng Giác, Diệu Giác Phật, cũng chẳng phải là tự tách toàn thể bản kinh thành năm mươi hai đoạn ư? Sao chẳng dùng một câu để nói trọn năm mươi hai đoạn, mà lại tạo thành kinh văn nhiều quyển ngần ấy? Nhân bao trùm biển quả, quả thấu triệt nguồn nhân. Nhân và quả chưa hề chẳng đồng thời, mà cũng chưa từng nhân tự là nhân, quả tự là quả! Sao cứ phải chấp chặt tám mươi quyển bó lại thành một khối, khăng khăng là quả chùy sắt chẳng có lỗ hổng, sau đó mới bảo đấy là Viên Dung ư? Chấp chặt một khối, chẳng cho phép tách rời, tức là pháp bị giết chết cứng, là đóng chặt cột chèo, là khăng khăng giữ hang, sao có thể coi là sống động cho được?

Bộ luận của ngài Phương Sơn vốn là lời đàm luận hùng hồn ngàn đời, nhưng luận có luận thể, sớ có sớ thể. Nói rơ chung những ư nghĩa chánh yếu, Phương Sơn chuyên hưởng tiếng thơm cao hơn. Phân tích, suy khảo cực sâu, thấu đạt tận cùng lẽ vi tế, huyền diệu, th́ [các lập luận của] Phương Sơn được Thanh Lương b sung mới tột bực hoàn bị. Há riêng ǵ Phương Sơn, ngay như các vị tổ [của tông Hoa Nghiêm] từ Đỗ Thuận cho tới Hiền Thủ cũng nhờ có ngài Thanh Lương [mà giáo nghĩa Hoa Nghiêm] mới được hoàn bị to tát. Há riêng chư tổ của tông Hoa Nghiêm, ngay như luận sớ của trăm nhà đối với Tam Tạng mười hai bộ loại cũng nhờ có ngài Thanh Lương mà hết sức hoàn bị. Ngài Ôn Lăng [Giới Hoàn] giải kinh Hoa Nghiêm, lấy ư của ngài Phương Sơn làm chủ yếu, dùng ư của ngài Thanh Lương phụ trợ đă là chẳng thỏa đáng, mà nay cư sĩ chỉ trích [ngài Thanh Lương]; đó là chỗ kẻ chẳng ra ǵ này chưa hiểu được.          

Hơn nữa, ngài Long Thọ từ cung rồng đọc được kinh Hoa Nghiêm, bèn nguyện sanh Cực Lạc. Phổ Hiền là trưởng tử của Hoa Nghiêm mà nguyện sanh Cực Lạc. Văn Thù và Phổ Hiền cùng phù tá đức Giá Na (Tỳ Lô Giá Na), được gọi là Hoa Nghiêm Tam Thánh, lại nguyện sanh Cực Lạc, đều có chứng cứ rơ ràng, rạng ngời như mặt trời, tinh tú. Cư sĩ muốn đề xướng Hoa Nghiêm để tạo thành phong khí cho bốn phương mà lại trái nghịch Văn Thù, Phổ Hiền, Long Thọ, đấy lại là chỗ kẻ chẳng ra ǵ này chưa hiểu được!

Huống chi Phương Sơn nêu ra mười loại Tịnh Độ, đối với Cực Lạc, tuy nói là Quyền, nhưng Hoa Nghiêm Quyền Thật dung thông, Lư Sự vô ngại, Sự Sự vô ngại. V́ thế, dâm pḥng, nơi giết chóc, không ǵ chẳng phải là đạo tràng thanh tịnh, huống hồ Cực Lạc bảy báu trang nghiêm ư? Bà Tu Mật Đa Vô Yếm Túc đều là cổ Phật quyền xảo thị hiện, huống hồ Di Đà trọn đủ vạn đức ư? Cư sĩ dạo chơi trong môn Hoa Nghiêm vô ngại, mà ngại Tịnh Độ; đấy lại là chỗ kẻ không ra ǵ này chưa hiểu được!

Kẻ chẳng ra ǵ này và cư sĩ cùng là bạn bè tốt lành chẳng trái nghịch nơi Hoa Tạng, nhưng cư sĩ chẳng soi xét cái tâm của kẻ kém cỏi này, tôi vẫn muốn lôi kéo cư sĩ làm huynh đệ ruột thịt nơi thai sen, mong cư sĩ chẳng coi tôi là người ngoài. Cư sĩ yêu mến tôi, chẳng khen ngợi mà uốn nắn tôi, nay tôi mạo muội khuyên nhủ, cũng giống như cư sĩ yêu mến tôi vậy. Ôm bệnh thưa tŕnh sơ sài đại khái, trọn chẳng hết ư được, chỉ mong cư sĩ soi thấu mà rộng dung!

2) (Thư thứ hai của Tào Lỗ Xuyên) Do Đoạn Phàm thượng nhân ở cái quận hèn tệ của tôi dâng thư bái yết, tôi gởi kèm thơ theo nhằm biểu đạt tâm ư chân thành. Do vậy, nhận được thư khuyên nhắc của thầy tha thiết tột bậc, ân cần tột cùng, tôi cảm tạ sâu xa. Trong thư thầy gởi đến có nói: “Hoa Nghiêm trọn đủ vô lượng môn, cầu sanh Tịnh Độ chỉ là một môn trong vô lượng môn của Hoa Nghiêm. Đối với căn cơ hiện thời, do một môn này mà nhập Hoa Nghiêm, chẳng phải là nêu ra một môn để phế trừ Hoa Nghiêm”. Thầy lại nói “Hoa Nghiêm viên măn cùng cực, chẳng thể đặt pháp nào cao hơn được nữa” đều là những luận định xác đáng. Bởi lẽ, Hoa Nghiêm do Pháp Thân Phật nói, là diệu nghĩa Nhất Thừa, khác xa các kinh, nhưng nhiều người cứ coi kinh này là kinh do Phật Thích Ca nói. V́ thế, người sớ giải kinh này, ngài Hiền Thủ là người đặt cơ sở khởi đầu, Phương Sơn khế hợp sâu xa tông chỉ ấy, c̣n Thanh Lương [khi chú giải đă] chọn lựa chẳng tinh tường, Ôn Lăng chẳng nói tường tận, c̣n có người soạn [tổng hợp các ư nghĩa của kinh] thành Luân Quán th́ là cành nhánh.

Ngài Ôn Lăng nói: “Phương Sơn là chánh, Thanh Lương là phụ trợ”, cách nh́n ấy trác tuyệt nhất, nhưng tôn giả cho là chẳng thỏa đáng, dường như chẳng hiểu Ôn Lăng, mà cũng chẳng thông hiểu Phương Sơn! C̣n như các kinh luận chẳng liễu nghĩa, phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện được lưu hành riêng, và các luận như Khởi Tín đều xưng nói Tịnh Độ, điều này há chẳng có nguyên nhân? Nhưng trong kinh Hoa Nghiêm chưa từng nhắc đến, tức là loại Tịnh Độ thứ mười của Phương Sơn càng rơ rệt. Kinh Pháp Hoa liệt kê mười sáu vị vương tử, trong ấy có Phật Di Đà, nhưng chưa từng xác quyết vị vương tử nào là [Phật Di Đà]. Kinh ấy tán thán công đức tŕ kinh, nói kèm thêm An Lạc Tịnh Độ, thật ra là nói về nhân quả của nữ nhân!

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, hai mươi lăm vị thánh chứng Viên Thông, Văn Thù chẳng thiên trọng pháp nào, chỉ nói “phương tiện có nhiều môn”, lại nói “thuận hay nghịch đều là phương tiện”, nhưng kế đó, do luận định [các pháp môn] nhanh hay chậm khác nhau, bèn từ trong các pháp chẳng có cao hay thấp, lại chưa hề chẳng chỉ bảo quy hướng một môn vậy. V́ thế, Ngài phải quy kết chung cực nơi Phổ Môn, chẳng đề cao [pháp môn của ngài] Thế Chí, lại c̣n chê trách là vô thường, là sanh diệt. Nếu đức Thích Tôn chỉ nói Đại, Tiểu Di Đà Kinh hệt như đă đủ rồi, cần ǵ phải [nói] Tam Tạng mười hai bộ rườm rà chi nữa? Các vị như Hiền Thủ, Thanh Lương nhiều lượt nêu ra năm giáo Tiểu, Thỉ, Chung, Đốn, Viên, đều được mọi người công nhận [cách phán giáo ấy là thỏa đáng], nhưng chưa từng b́nh phẩm Tịnh Độ, c̣n nhà Thiền lại càng quét sạch. Ngôn luận của Đại Giám (tổ Huệ Năng) khoan bàn tới, chỉ nêu ra một hai điều. Như ngài Chí Công nói: “Người trí biết tâm là Phật, kẻ ngu thích về Tây Phương”. Như thiền sư Tề Kỷ nói: “Chỉ có nẻo tắt để tu hành, vẫn là đi đường ṿng y như cũ. Chỉ niệm A Di Đà Phật, niệm rồi chẳng giúp được chuyện ǵ!” Lại nói: “Mọi người các vị sáng tối qua lại trên đường tắt, cớ sao ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ A Di Đà Phật”. Lại nói: “Hoặc là giống như trên, bỏ cha trốn đi, lưu lạc nơi làng khác. Đông lôi, Tây đụng, khổ thay A Di Đà Phật!” Đối với ba câu nói ấy, có người cho là quá hà khắc, nhưng há có phải là không có ư nghĩa ǵ! Các vị ấy nói như thế ắt đều có đạo lư.

Cổ đức bảo: “Hết thảy chúng sanh tự ḿnh mê hay ngộ khác nhau, do mê tâm mà hướng ra ngoài, tu hành t́m kiếm Phật, chưa ngộ tự tánh; đấy chính là Tiểu Thừa”. Lại có người nói: “Thẳng thừng đốn ngộ cái tâm này vốn sẵn là Phật, không có một pháp để có thể đạt được. Đấy là vô thượng đạo. Đấy là Chân Như Phật. Người học đạo chỉ sợ có một niệm, cách biệt với đạo”. Lại có người nói: “Trước mắt chẳng có pháp, ư ở ngay trước mắt, nhưng nó (tức ư nghĩa chân thật) chẳng phải là pháp ở ngay trước mắt. Nếu hướng theo Phật, Tổ mà học, người ấy chưa đủ mắt, sao chẳng hướng đến sanh tử cho chắc chắn, thỏa đáng, sẽ đến nơi đâu để mong làm Phật, mong làm Tổ? [Nếu chỉ mong Phật, Tổ] thay thế ngươi siêu thoát sanh tử, sẽ khiến cho người có trí cười nhạo ngươi!” Do vậy, người thông đạt luôn nói “trải A-tăng-kỳ kiếp siêng khổ tu hành, chẳng bằng một niệm đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”. Lại nói: “Một niệm duyên khởi Vô Sanh, siêu xuất cái học của Quyền Giáo trong tam thừa, huống hồ chẳng luận tam thừa hay nhất thừa, điều cốt yếu là chẳng có ngă và ngă sở”. Nay văng sanh Tịnh Độ, ta là người có thể sanh, cơi nước là chỗ để sanh về, tự và tha rành rành, sanh diệt rơ rệt, ưa chán lăng xăng, [tức là đối với các đạo lư trên đây] đều chưa thấu triệt. Xét ra, người trước nay bàn luận liên thừa (tu pháp môn Tịnh Độ), ắt nói: “Hoa nở thấy Phật, ngộ Vô Sanh”, đại để là ắt phải đợi văng sanh để thấy Di Đà rồi mới từ Quán Âm hoặc từ Thế Chí, hay được Phật Di Đà dạy bảo Vô Sanh, tới khi đó mới ngộ, chẳng phải là thượng phẩm cực ít, trung và hạ phẩm đông đảo, [khiến cho người tu hành] tợ hồ bị trầm trệ trong A-tăng-kỳ kiếp ư? [Cách tu hành ấy] dường như quanh quẩn, chậm trễ! Huống chi muốn tu Tịnh Độ, cũng cần phải tu trước bốn lần bốn thành mười sáu Quán môn hữu vô. Thử hỏi điều được quán là theo khuôn khổ, nguyên tắc nào? Người có thể quán c̣n được mấy người? V́ thế, người niệm Phật nhiều như lông ḅ, người văng sanh như sừng lân, sao chẳng cầu ngược lại nơi chính ḿnh, nơi ḿnh sẵn có Phật ư?

Hàn Sơn khích lệ Phong Can, bảo Sư sang Ngũ Đài lễ Văn Thù, chẳng phải là người cùng hàng với tôi. Đấy là điểm khác biệt do người thông đạt Phật đạo thốt ra. Hơn nữa, hết thảy Phật đạo dùng Kim Cang Bát Nhă để nhập môn, coi Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm là rốt ráo. Kinh Kim Cang th́ nói: “Thật vô thiểu pháp khả đắc” (thật sự chẳng có chút pháp nào để có thể đạt được). Nhưng kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm nói có hai thứ ngu nơi Phật địa: Một là cái ngu do biết vi tế, hai là cái ngu do biết cực vi tế. Do vậy, ngài A Nan tự nói “chẳng trải qua A-tăng-kỳ kiếp mà đạt được Pháp Thân”, người hiểu biết c̣n quở trách. V́ thế nói là “Phật sang” (ghẻ nơi Phật), hoặc nói là “Phật ma”. Văn Thù vừa hơi khởi lên cái thấy có Phật, chưa khỏi bị biếm trích vào giữa hai núi Thiết Vi.

Than ôi! Thấy sông có thể cuốn trôi hương tượng, trí chủ chẳng tiếp nhận công đức, tâm người tu đạo chẳng có chỗ trụ, tung tích chẳng thể t́m kiếm. V́ thế, chẳng trải qua Quyền Thừa, riêng nắm giữ Nhất Thừa. Đấy chính là chỗ kẻ bất tài này khăng khăng. Chư Phật, chư Tổ v́ một phần chúng sanh kém hèn chấp trước ngă thức, cũng như do các đệ tử Tiểu Thừa chỉ so đo nương vào ư thức, dùng các thứ như sắc, tâm v.v... trong hiện tại để làm chỗ nương cậy nhiễm hay tịnh, v́ thương xót họ sau khi Tứ Đại chia ĺa, linh thức không có chỗ hướng về, như cá thiếu nước, lẩn quẩn mà chết, cho nên chẳng thể không nương theo sự lầm lỗi của họ mà xếp đặt họ trong Tịnh Độ. Đấy cũng là một thứ hóa thành vậy. Có lời truyền rằng: “Nếu có thể ngộ thân pháp tánh cơi pháp tánh, nếu quy vào chỗ chẳng có vật; đó là Tịnh Độ chân thật”. Như do biển tánh Hoa Nghiêm hiển hiện toàn thân [của đức Phật], như nơi thân người có tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông, Đông Dược Sư, Tây Di Đà, mỗi vị đều ở trong một lỗ chân lông để thuyết pháp độ sanh. Nếu ai có thể thấu triệt lỗ chân lông, quán triệt toàn thân, chưa hề chẳng thể được! Nếu vứt phăng toàn thân, vào trong một lỗ chân lông, không chỉ là đảo ngược vị trí của biển và bọt nước, mà c̣n như con nhặng húc đầu vào giấy dán cửa sổ; đó là ǵ vậy?

Trong lá thư thưa tŕnh lần trước của kẻ bất tài này, đă thưa: “Hăy nên v́ kẻ Tịnh Độ mà nói Tịnh Độ, hăy nên v́ người Hoa Nghiêm mà nói Hoa Nghiêm”, tôi tự cho là chẳng trái nghịch pháp môn của chư Phật, mà cũng là một phiến tâm sắt son v́ tôn giả. Tôn giả bèn muốn dẫn tôi vào thai sen, tức là như người xưa đă nói: “Nếu mang vật vào bến mê, tức là giống như bỏ vàng gánh cỏ vậy!” Xét ra, cổ nhân c̣n nói: “Nếu muốn rốt ráo chuyện này, cần phải hướng đến đỉnh núi cao ngất mà đứng, phải đi nơi đáy biển sâu thẳm, chứ giống như vật mềm mại, ấm áp trong chốn khuê các, chẳng nỡ bỏ th́ có tác dụng ǵ?” Lại c̣n nói: “Các kinh đều nói hạnh chẳng sân hận”. Sự sân hận ấy, phàm t́nh chẳng thể sánh bằng được! “Hận” là hận hết thảy chúng sanh đều có trí huệ và phước tướng của Như Lai mà chẳng tự hay biết. “Sân” là sân v́ chính ḿnh độ thoát chưa đến mức cùng cực! Do vậy, tự giác, giác tha, có trí thế gian, có trí xuất thế gian, có thượng thượng trí thế gian xuất thế gian. Nói những điều ấy với người khác sẽ chẳng bị chống trái, cự tuyệt, ngơ hầu có thể lợi ích người khác.

Truy lại xưa kia, thánh nhân tam giáo xuất hiện trong thế gian, không vị nào chẳng v́ một đại sự. Lại c̣n xem xét thời tiết nhân duyên, hễ lệch lạc th́ bù đắp, hễ tệ bạc th́ cứu chữa, ẩn tàng nhỏ nhặt th́ hiển lộ, cốt yếu là khai thị tâm tánh cho người khác mà thôi! Do trong thiên hạ hiện thời, Nho sĩ câu nệ chấp chặt vào chú thích của kinh truyện, bậc khoáng đạt th́ tâm ch́m đắm trong chuyện hư vô, huyền diệu, những kẻ khác tay lần xâu chuỗi, miệng niệm Di Đà, từ đường cái, chốn thành thị lớn cho đến thôn nghèo, hẻm vắng, nh́n quanh chỗ ở đều thấy [người như vậy] chen vai san sát. Tôn giả lại hùa theo, phụ họa, chẳng đáng gọi là “thuận theo giáo pháp của t́nh đời, sóng tùy theo gió mà bủa vỗ” đó chăng? Do vậy, kẻ bất tài này chẳng thể không nghi.

Trong thư gởi đến, Ngài lại nói: “Tuy tôn sùng Tịnh Độ, thật sự đề cao Hoa Nghiêm”. Ngài c̣n nói: “Do một môn Tịnh Độ này mà nhập Hoa Nghiêm”. Điều này giống như cổ đức đă nói: “Chỉ v́ hoằng truyền sự thật, nhưng chúng sanh chẳng tin, cần phải v́ Thật mà hành Quyền, dùng cạn để giúp cho sâu”. Lại nói: “Sử dụng đúng lúc, miệng tuy nói Quyền, trong tâm chẳng trái Thật, chỉ cốt sao khiến cho hàm linh đều đạt được các lợi ích Quyền và Thật”. Đó chính là điều kẻ bất tài này thật sự khế ngộ, cung kính tiếp nhận, cảm mộ, vui mừng. Thính chúng trong hội luôn có người từ Hàng Châu đến đất Tô, không ai chẳng phải đều nhất loạt ưa chuộng cửu phẩm [văng sanh]. Đôi khi thầy bàn luận với họ, dính dáng đôi chút thượng thừa, họ sẽ kinh hăi trợn mắt, thậm chí cười cợt, lỗi ấy ở nơi đệ tử ư? Hay là do thầy? Đại trượng phu khí độ xông trời thẳm, độ sanh là chuyện cấp bách. Như người xuất thế [làm tăng], mở giảng đường, đăng ṭa thuyết pháp, chẳng trọn đủ bản lănh của bậc đại nhân, chỉ làm theo cử chỉ của ông già bà cả ăn chay nơi ngơ hẻm, bỗng bị người lanh lợi hỏi đến, toan hướng đến Bắc Đẩu náu ḿnh ư? Hay là ẩn thân trong núi Thiết Vi ư? Chẳng thấy nói: “Nếu là chim đại bằng cánh vàng (Ca Lâu La), tung cánh vượt qua trăm ngàn do-tuần, như ngựa thần chỉ thấy bóng rong ruổi khắp bốn phương tám hướng, trọn chẳng tùy tiện ăn mổ, cũng chẳng tùy tiện vùi thân?” Nói chung, chẳng nương cậy Phật pháp, đại sự chẳng thể xem nhẹ được, nguyện tôn giả hăy đặc biệt lưu ư.

Thư Ngài gởi đến lại nói: “Di Đà chẳng khác Giá Na, chỉ v́ hóa cảnh (cảnh để giáo hóa) và hóa nghi (phương pháp giáo hóa) mà mỗi mỗi sai khác”. Bởi lẽ, điều cốt lơi chung trong giáo nghĩa của chư Phật là nhân duyên. Đă rơi vào nhân duyên, há chẳng có Đại hay Tiểu, chắc chắn có sâu hay cạn. V́ thế nói “chư Phật là khác nhau”, th́ ngàn vị Phật [xét theo Pháp Thân] là một vị Phật, chẳng thể nói là khác. Nói “chư Phật là đồng”, hai vị Biến Chiếu (Tỳ Lô Giá Na Phật) và Năng Nhân (Thích Ca Mâu Ni) cũng tự bất đồng! Cổ nhân cho rằng “hết thảy các pháp, đồng hay khác trùng trùng”. Chẳng thể một mực đều là đồng, chẳng thể một mực đều là khác. Chẳng thể coi toàn đồng là toàn khác, chẳng thể coi toàn khác là toàn đồng. Mê nơi hai môn “đồng, khác”, trí sẽ chẳng tự tại. Nếu nói: “Cho rằng có thể hướng về chỗ tuyết trắng t́m hoa lau, chẳng lẽ dùng vỏ quưt của Ôn Châu để làm ra lửa được ư? Ngài Thủ Sơ Tỉnh Niệm có nói: “Làm bậc tông sư, cần phải có con mắt chọn lựa pháp th́ mới được!” V́ thế, từ xưa đă có niêm cổ, tụng cổ, lại có biệt cổ (別古, nêu ra cách nói khác biệt cổ nhân), miết cổ (憋古, đè nén cổ nhân). Như nói: “Đạo tột cùng chẳng khó, chỉ kỵ nhất là chọn lựa”. Lại nói: “Đạo tột cùng khó nhất, cần phải chọn lựa”. Do vậy, phần Đệ Bát Địa trong kinh Hoa Nghiêm có nói: “Tịch diệt chân cảnh hiện tiền”, c̣n nói: “Hăy nên dấy lên trí sai biệt vô lượng”. Lại nói: “Quán sát phân biệt các pháp môn”. Đấy là chẳng phải do tạo tác mà thấu đạt t́nh huống vậy. Ta chiếu soi, nhận biết tự tánh vốn tự viên minh như gương báu lớn, tuy gương chẳng phân biệt Hồ hay Hán, mà [h́nh bóng của người Hồ hay Hán hiện trong gương] tự phân biệt. Như châu như ư, tuy xanh, vàng chẳng khác, [nhưng đem vật có màu xanh hay vàng đến gần châu, châu sẽ có màu] khác nhau. Nếu là người đối với các pháp chẳng sanh kiến giải nhị nguyên, có bao giờ ĺa khỏi chọn lựa mà riêng cầu hiểu rơ. Những đạo lư ấy chính là chẳng chọn lựa mà chọn lựa. Đó chẳng phải gọi là “trí thanh tịnh thiện xảo phân biệt” ư?

Phương Sơn soạn luận, Thanh Lương soạn sớ, đều là tổng hợp Phật thừa, cùng xiển dương viên tông. Tuy luận có luận thể, sớ có sớ thể, nhưng cái quan trọng là nghĩa, chứ văn chẳng quan trọng. Văn có thể sai khác, nhưng nghĩa là một. Nếu xét theo nghĩa th́ kiến địa khác biệt vời vợi. Thanh Lương diễn nói các kinh, thật sự là thiện tri thức, nhưng chỉ riêng đối với kinh Hoa Nghiêm, Ngài chỉ chú trọng giải thích theo từng câu, giảng giải theo từng chữ, há chẳng vô bổ đối với đức Xá Na ư? Xét theo cương lănh chánh yếu dẫn khởi toàn thể giềng mối, quả thật [Thanh Lương] chẳng sánh bằng Táo Bách (Lư Trưởng Giả)! Chẳng hiểu rơ sự khác biệt giữa Thanh Lương và Táo Bách, tông chỉ và yếu nghĩa của kinh Lô Xá Na rốt cuộc sẽ bị ẩn tối. Nói tới bốn pháp “tín, giải, hành, chứng” để xé rách toàn bộ bản kinh như chẻ vụn hạt đậu, đó là vấn đề lớn nhất, những điều khác lại càng nhiều! Kẻ bất tài này cho là [Thanh Lương] chọn lựa chẳng tinh tường, chẳng phải không có nguyên nhân. Nếu chẳng cho là đúng, xin lại chất vấn Táo Bách đại sĩ (Lư Phương Sơn)!

          (Tổ trả lời) Được ông rộng ḷng viết thư nhiều lượt, tính ra tới hai ngàn chữ, ngôn từ huyền diệu, biện bác tinh diệu, tầng tầng lớp sâu rộng, thật đáng ngưỡng mộ. Tôi trộm cho rằng ông yêu mến tôi sâu xa, nhưng quá tốn văn từ. Nếu thật sự muốn xiển dương Thiền Tông, chèn ép Tịnh Độ, chẳng cần phải tốn nhiều lời, sao không nói: “Tam thế chư Phật bị ta một ngụm nuốt sạch! Đă là một Phật chẳng lập, ai sẽ là A Di Đà?” Sao lại chẳng nói: “Nếu ai thấu hiểu tâm, đại địa không tấc đất”. Tấc đất đă đều chẳng có, phương nào bèn có cơi Cực Lạc? Chỉ dùng hai lời ấy để ví dụ hai ngàn chữ, sẽ đều gồm trọn chẳng sót. Tôi tính mỗi mỗi đều đáp lại, nhưng sợ phạm vào đấu tranh. Chẳng đáp lại th́ chuyện này đối với đại đạo quan trọng lắm, chẳng thể trọn một bề im lặng. Do vậy, dám xin trần thuật đại lược.

Thư gởi đến nói “ngài Thanh Lương chọn lựa chưa tinh tường”, ngu ư chẳng hiểu cư sĩ chê ngài Thanh Lương chọn lựa Hoa Nghiêm là chẳng tinh tường ư? Hay cũng là cư sĩ đối với ngài Thanh Lương chọn lựa chưa tinh tường vậy? Thư ông lại bảo “chỉ có kinh bất liễu nghĩa mới bàn về Tịnh Độ”, lại c̣n kể ra phẩm Hạnh Nguyện và Khởi Tín Luận. Hăy gác Khởi Tín lại đó, một phẩm Hạnh Nguyện đă gồm trọn tám mươi quyển của toàn bộ kinh, từ xưa đến nay, ai dám bàn định phẩm ấy là bất liễu nghĩa vậy? Cư sĩ riêng tôn sùng Hoa Nghiêm mà phủ nhận phẩm Hạnh Nguyện, nếu phẩm Hạnh Nguyện là bất liễu nghĩa th́ Hoa Nghiêm cũng là bất liễu nghĩa! Thư ông lại nói “Pháp Hoa thọ kư văng sanh Tịnh Độ là nhân quả của nữ nhân”, vậy th́ long nữ thành Phật cũng chỉ là nhân quả của nữ nhân ư? Nói Phật Di Đà là một trong mười sáu vị vương tử, tức là Tỳ Lô Giá Na cũng chỉ là vị Phật thuộc tầng thứ mười ba trong hai mươi tầng của Hoa Tạng ư? Cư sĩ chỉ tôn sùng Phật Tỳ Lô, sao chẳng biết Tỳ Lô và Di Đà b́nh đẳng như nhau?

Thư ông lại nói “Lăng Nghiêm chọn [pháp Viên Thông của] Quán Âm, bỏ ngài Thế Chí”, lại c̣n chê bai [pháp Viên Thông của ngài Thế Chí] là vô thường sanh diệt. Vậy th́ ngài Kiều Trần Như ngộ hai chữ “khách trần”, có thể nói là thấu đạt vô thường, khế nhập chẳng sanh diệt, sao chẳng được chọn lựa là pháp Viên Thông? Nếu nói “Quán Âm thi đỗ, Thế Chí thi trượt”, chẳng lẽ ông không nghe tỷ dụ “cá vượt long môn sứt trán” là lời lẽ bịa đặt ư? Thư ông gởi đến c̣n nói: Thiền sư Tề Kỷ phê phán câu “chỉ có đường tắt tu hành” trong kệ niệm Phật của cổ nhân rằng “vẫn ṿng vèo y như cũ”, đối với câu “chỉ niệm A Di Đà Phật” bèn phê là “niệm mà chẳng giúp được chuyện ǵ”. Cư sĩ thấu đạt Thiền Tông, sao chẳng biết đấy là các thầy bên Thiền Tông thẳng thừng tháo niêm cởi trói cho người khác để họ thấu hiểu thật pháp, sao lại chấp chết cứng vào câu văn vậy? Nếu thật sự là như vậy th́ cổ nhân có nói “đạp lên đảnh Tỳ Lô để đi”, tức là không chỉ Di Đà chẳng giúp được việc ǵ, mà Tỳ Lô cũng chẳng giúp được việc ǵ ư? Những lời lẽ như vậy trong ngữ lục truyện kư có trăm ngàn vạn ức câu. Bốn mươi bốn năm trước, lăo hủ cũng từng nói cho sướng mồm khoái mép, khoe tài hùng biện trong viết lách, về sau mới biết hổ thẹn, chẳng c̣n dám như thế nữa, tới nay vẫn c̣n rát mặt!

Tề Kỷ lại c̣n nói “người cầu Tây Phương là kẻ bỏ cha trốn đi, lưu lạc quê người, Đông đụng, Tây va, khổ thay A Di Đà Phật!” Tôi từng đáp rằng: “Như nay chính là như con nhớ mẹ, trở về quê ḿnh, bỏ Đông, được Tây, vui thay A Di Đà Phật!” Hăy nói xem lời này cùng với lời Tề Kỷ nói sai khác nhiều hay ít? Thư ông gởi đến lại nói: “Nhiều kiếp tu hành, chẳng bằng một niệm đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”. Cư sĩ đă đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn hay chưa? Nếu đă đắc, chẳng nên coi ta là người có thể sanh, coi cơi nước là chỗ để sanh về! V́ sao? Tâm chính là cơi, ai là người có thể sanh (năng sanh)? Cơi chính là tâm, ǵ là cái để sanh về (sở sanh)? Chẳng thấy có năng sanh và sở sanh mà văng sanh, cho nên suốt ngày sanh mà chưa hề sanh! Do vậy, thật sự là Vô Sanh. Ắt chẳng thể chấp nhận sanh rồi sau đó mới gọi là vô sanh; [nếu hiểu vô sanh như vậy] th́ chính là Đoạn Diệt Không, chẳng phải là tông chỉ Vô Sanh!

Thư ông lại viết rằng “ắt phải đợi hoa nở thấy Phật th́ mới ngộ Vô Sanh, tức là quanh co, chậm chạp”. Cư sĩ thấu đạt Thiền Tông, há chẳng biết từ mê mà ngộ, như tỉnh giấc mộng, như hoa sen nở? Người niệm Phật có người kiến tánh ngay trong hiện đời, tức là hoa nở trong khoảnh khắc. Có người văng sanh rồi mới kiến tánh, tức là hoa nở lâu xa. Căn cơ có lợi hay độn, công có siêng hay lười, cho nên hoa nở có chậm hay nhanh, há có nên nhất loạt bảo là quanh co, chậm trễ ư? Thư ông lại viết rằng “Giá Na khác với Di Đà”, sánh ví Hoa Tạng như toàn thân, ví von Tây Phương như lỗ chân lông. Người sanh về Tây Phương như tóm toàn thân nhét vào lỗ chân lông, đảo ngược biển cả và bọt nước. Ví dụ sự lớn nhỏ th́ đúng như vậy, nhưng cư sĩ thông đạt Hoa Nghiêm Tông, sao lại chỉ chấp nhận nhỏ vào lớn, chẳng chấp nhận lớn vào nhỏ? Mà lớn và nhỏ nhập vào lẫn nhau, chính là một huyền trong mười huyền môn của Hoa Nghiêm! Nêu ra bất khả thuyết bất khả thuyết vô tận thế giới trong Hoa Tạng vào trong cơi Cực Lạc, dẫu cho trong một hoa sen vẫn chưa đầy một cánh sen, hoặc chỗ đất chừng bằng hạt cải trong cánh sen. Vậy th́ toàn thân vào trong một lỗ chân lông có trở ngại ǵ?

Thư gởi đến lại nói: Đối với vị Tăng trong núi hoang, chỉ dùng thượng thừa để hỏi, [người được hỏi] tâm bèn kinh hăi, trố mắt. Cư sĩ từng bảo “đối với người Hoa Nghiêm hăy nên dùng Hoa Nghiêm để nói, đối với người Tịnh Độ, hăy nên dùng Tịnh Độ để nói”, cớ sao chẳng cho thuốc đúng bệnh mà cứ cưỡng ép vậy? Thư gởi đến lại nói: Lăo hủ đă xuất thế, mở pháp đường, chẳng có bản lănh của bậc đại nhân, mà lại thực hiện ngôn hạnh, cử chỉ của mấy ông già bà cả ăn chay ngoài ngơ chợ, nếu bị người lanh lợi đến hỏi, hoặc bị người sáng mắt thúc ép, đành phải náu ḿnh trong Bắc Đẩu ư? Hoặc ẩn núp trong Thiết Vi ư? Lăo hủ chưa từng dám nhận cái danh “xuất thế”, tự nhiên chẳng có bản lănh của bậc đại nhân, đành gác lại đó chẳng bàn; nhưng dùng chuyện tu Tịnh Độ để biếm nhẽ những ông già bà cả ăn chay, cổ nhân nói “chẳng phải là chê bai những kẻ ngu phu ngu phụ đó, mà chính là bôi bác Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ!” Há chỉ riêng Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ, phàm các vị Huệ Viễn, Thiện Đạo, Thiên Thai, Vĩnh Minh, Thanh Lương, Khuê Phong, Viên Chiếu, Chân Hiết, Hoàng Long, Từ Thọ, Trung Phong, Thiên Như v.v… Các vị Bồ Tát, các vị thiện tri thức đều là hạng ông già bà cả ăn chay ư? Lưu Di Dân, Bạch Thiếu Phó (Bạch Cư Dị), Liễu Liễu Châu (Liễu Tông Nguyên), Văn Lộ Công (Văn Ngạn Bác), Tô Trường Công (Tô Đông Pha), Dương Vô Vi (Dương Kiệt, Dương Thứ Công), Trần Oánh Trung (Trần Quán) v.v… các vị đại quân tử đều là hạng ông già bà cả ăn chay ư? Dẫu họ chỉ là hạng ông già bà cả ăn chay, chỉ cần niệm Phật văng sanh th́ liền đạt được địa vị bất thoái chuyển, há có thể coi rẻ được chăng? Hơn nữa, ông già bà cả ăn chay tầm thường, kém cỏi, nhưng cẩn thận ǵn giữ quy củ, tuy hành đúng, nhưng [bị coi] là ngu muội cũng được đi; chứ kẻ thông minh, biện tài, hư vọng bàn luận Bát Nhă, ăn thịt no phè rồi đến t́m Tăng bàn chuyện Thiền, th́ là ma đấy!

Kẻ ngu quư ở chỗ yên phận ngu, tôi xác thật đă xét ḿnh [là kẻ ngu muội], thà làm ông già bà cả ăn chay, chẳng làm lăo ma dân, lăo ma nữ! C̣n như bị người xưng là lanh lợi, người sáng mắt đến hỏi han, căn vặn, ông già bà cả ăn chay chẳng cần vượt cao lên Bắc Đẩu, t́m kiếm Thiết Vi xa xôi, chỉ cần đặt tấm đơn nơi yết hầu của người lanh lợi, trải ṭa ngồi nơi tṛng mắt của người sáng mắt. V́ lẽ nào vậy? Hăy dạy họ tạm ngưng khẩu đầu tam-muội để hồi quang phản chiếu. Nhưng cư sĩ đề cao Hoa Nghiêm, tận lực công kích Tịnh Độ, lăo hủ tu tập Tịnh Độ mà cực lực tán dương Hoa Nghiêm; cư sĩ hăy lắng ḷng thử suy nghĩ xem, rốt cuộc là như thế nào vậy?

Thư ông gởi đến lại bảo: “Tôi khuyên ông cầu sanh Tịnh Độ ví như bỏ vàng gánh gai, là hành sự điên đảo, là chuyện khuất nhục to tát!” Nhưng thí dụ ấy vẫn chưa thân thiết, nay tôi thay ông lập một thí dụ: Như nông dân đến trước cửa nhà vị đại trưởng giả giàu to đưa danh thiếp, đ̣i ông ta đến căn nhà quê mùa của ḿnh, người nghe đều cười ngất. Gă nông dân chẳng biết tiến thoái, lại quét dọn ngơ hẻm, mưu tính thỉnh lần nữa. Người cười nhạo bảo hắn: “Trước kia, chủ nhân chẳng quở trách ngươi là may lắm rồi, ngươi c̣n muốn làm bà Phùng[14] nữa ư?” Gă nông dân nói: “Tôi thấy các nhà giàu, có kẻ giàu mà bất nhân, có kẻ ngoài giàu mà trong nghèo, có kẻ chưa giàu mà đă kiêu căng trước, có kẻ trông kho cho nhà người giàu mà ngỡ chính ḿnh giàu có. Hơn nữa, Kim Cốc và Mỵ Ổ[15] nay ở chỗ nào vậy? C̣n tôi là gă nhà quê hưởng niềm vui thái b́nh, quên mất chính ḿnh nghèo hèn, do ḷng thương xót mới thành ra như thế! Nay đă biết lỗi rồi! Nay đă biết lỗi rồi!” Do vậy, cùng nhau cười to, rời đi!

 

* Đáp thái sử Hoàng Thận Hiên ở Tứ Xuyên

 

          1) (Nguyên thư) Ngày mồng Một tháng Tám, đệ tử Tịnh Độ là Hoàng Huy dập đầu dâng thư lên thị giả của Liên Tŕ ḥa thượng đại đạo sư. Thầy là hậu thân của Viễn công (tổ Huệ Viễn) ư? Hay là Bồ Tát từ cơi Tịnh Độ nương sức bổn nguyện thị hiện nhiếp hóa ư? Huy con hướng đến chuyện văng sanh đă lâu, [thầy] như cầu bến để về Tây, may là con được sống cùng thời [với thầy]. Hận v́ ḿnh túc nghiệp trầm trệ, ngu độn, chẳng thể ngưỡng tiếp nguyện của A Di Đà Phật. Những năm gần đây tín lực hơi sâu hơn, mới biết đường tắt để tham học chỉ có một cách này, mỗi lời nơi kim khẩu của Như Lai đều nhắm vào đó. Chỉ v́ bị việc quan bó buộc, chẳng thể nhanh chóng buông bỏ, sao có thể tạm đến Vũ Lâm để dâng một nén hương ư? Có Quư tỳ-kheo từ nơi ấp hèn của con đến kinh đô, nói thường được hầu dưới pháp ṭa [của thầy], [cho biết thầy] thể lực hết sức mạnh mẽ, sáng chiều dẫn dắt chưa từng chán mệt, khiến cho con hết sức vui mừng. Thầy của Quư tỳ-kheo là sư Minh Hải, [Minh Hải] chính là cha ruột của ông ta, có đúc một bức tượng Bạch Y Đại Sĩ, nói muốn rước về ấp của con. Huy bèn nói: “Tịnh cảnh Vân Thê chính là Di Lặc nội viện, c̣n chỗ nào thù thắng hơn? Chỉ cần phát tâm rước về đó, khiến cho đại chúng đảnh lễ, sẽ ngay lập tức phóng vô lượng ánh sáng báu, tiếp dẫn Hải công (thầy Minh Hải) ắt được văng sanh”. Quư tỳ-kheo liền vui vẻ, giúp sức cho thầy nhanh chóng hoàn thành ư nguyện. Con liền thừa dịp này, viết một bức thư giăi bày những nỗi niềm ấp ủ dâng lên thầy con:

Đệ tử đối với con đường làm quan hết sức lănh đạm, chỉ v́ đất Thục trọn chẳng có thầy bạn, những người giao du quen biết tại kinh đô phần nhiều hơn hẳn con. Họ thường cảnh tỉnh, khơi gợi con, [khiến cho con] hằng ngày có sự giảm thiểu [phiền trược], thêm phần tỉnh ngộ, vẫn tạm đeo ấn, thắt đai, nhưng thật ra khác nào tạm ngụ! Năm trước vợ con đă mất, con chẳng tục huyền nữa, có một đứa con th́ nó đă sanh được một cháu, giữ họ trong nhà để phụng dưỡng cha con. Nay con đơn thân phiêu bạt nơi đây, sống rày đây mai đó, giống như ở nơi am, viện. Tuy trần lao vướng vít bộn bề, chẳng dám tạm quên một đại sự nhân duyên này.

Con vẫn nhớ mùa Thu năm Kỷ Sửu, mộng thấy ḿnh lên một ṭa tháp báu, người bạn cùng tuổi là Tiêu Nhược Hầu tay cầm một quyển sách, đưa cho con xem. Đó chính là bản Giới Sát Phóng Sanh Văn của thầy con. Trong mộng, con xin và được tặng cho. Kể từ ngày hôm ấy bèn thôi sát sanh. Hễ thấy sanh vật, bèn chuộc lấy đem thả; hoặc nếu thừa sức hơn, sẽ mua ngay các con vật đem thả. Lại c̣n khắc in lại bài văn ấy nơi quê nhà để thí tặng cho mọi người. Do chuyện này, duyên của con với thầy chẳng cạn mỏng, nhưng con chưa được gặp thầy. Ông Đào Châu Vọng bằng tuổi con, cũng cùng phát tâm với Huy, nghe nói gần đây càng thêm tinh tấn. Tuy chưa tham cứu thấu triệt ngay, nhưng căn khí của ông ta chắc chắn có thể đạt được thượng phẩm văng sanh. Đệ tử vẫn do vậy, hễ nhắc tới đều hổ thẹn. Nguyện thầy con rủ ḷng tiếp dẫn, phàm tuyên đọc sớ văn đảnh lễ sáng tối, mong được kèm thêm tên Hoàng Huy, hoặc xưng là Huyễn Như, tức pháp danh con tự đặt. Lại mong đối trước Vô Lượng Thọ Như Lai, và hai vị đại sĩ Quán Âm, Thế Chí, v́ đệ tử chứng biết tín tâm này, do được ḥa thượng từ bi chúc nguyện, từ quang sẽ gia bị, sẽ vĩnh viễn đoạn phiền năo si mê, sẽ làm chúng sanh đại tâm (Bồ Tát) chẳng thoái chuyển đến cùng tột đời vị lai, làm quyến thuộc Tịnh Độ. Đệ tử dẫu chẳng thể chính tai nghe, vẫn có thể dùng tâm để nghe.

Cha con Hải công nơi cái ấp hèn của con cũng hiếm có, mong thầy hăy v́ tỳ-kheo Quư mà dắt d́u, chỉ dạy. Huy đă nói với thầy ấy “cho đến hết thọ mạng, đừng rời khỏi Vân Thê”. Nhưng do Hải công đă tạo một bộ Đại Tạng pháp bảo, bổn ư là muốn đưa về tặng cho vùng con, thầy ấy muốn hoàn tất việc ấy rồi mới ở yên nơi Vân Thê. Con muốn gởi một phần lương bổng đạm bạc để làm một bữa cơm chay, nhưng Quư tỳ-kheo trơ trọi, bất tiện, đành đợi thư sau sẽ gởi. Người Hàng Châu lên miền Bắc liên tục, xin thầy hăy tùy thời ban pháp ngữ, ḥng trưởng dưỡng mầm tín. Đối với những điều khác th́ thầy hăy v́ Phật, v́ pháp, v́ chúng sanh mà tự bảo trọng [thân thể]. Đệ tử Hoàng Huy dập đầu ḥa-nam.

          Ngày mồng Một tháng Giêng, đệ tử Hoàng Huy dập đầu ḥa-nam. Con vừa nhận được mấy loại trước tác của thầy, và từ chỗ người bạn thấy Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ, nêu tỏ nghĩa lư ẩn tàng của Chân Như, giống như đích thân nhận lănh âm thanh giáo huấn của thầy. Trong mười hai thời, đệ tử chẳng dám không cố gắng, đề bên cạnh chỗ ngồi: “Tâm tịnh th́ cơi Phật tịnh. Chẳng tịnh th́ thân khẩu ư tam nghiệp và tấc ḷng đều uế ác, do đâu mà văng sanh? Chưa hề có chuyện ĺa tâm mà giữ lấy Tịnh Độ được!” Tham Thiền đă chưa được thấu triệt, nếu chẳng thường xuyên giác chiếu, thống thiết một đao chặt đứt đôi, sẽ do đâu mà thanh tịnh tam nghiệp? Đấy là công phu thường nhật, chẳng biết bậc tông tượng sâu thẳm nghĩ như thế nào? Trong lúc thuận tiện, con đă cho người khắc mới một bộ kinh Tư Ích dâng lên thầy xem. Đệ tử rất muốn thọ đại giới, nhưng chưa thể, chính là như câu nói “người biết pháp sẽ sợ hăi”. Ngô Bổn Như nói thầy mạnh khỏe, [tin tức ấy] an ủi tấm ḷng tưởng nhớ của kẻ phương xa. Lại cúi lạy, mong thầy v́ pháp, v́ chúng sanh, mà tự giữ ǵn thân thể.

          (Tổ trả lời) Qua thư gởi tới, biết ông v́ đạo thật sự khẩn thiết, tháng ngày vun bồi, tăng tấn, tôi mừng rỡ, cảm thấy an ủi lắm. Lại thấy mấy câu ông ghi bên chỗ ngồi, càng là cảnh tỉnh thiết tha. Nguyện ông hăy thường vận dụng cái tâm như thế, đă tịnh lại tịnh hơn, tịnh hóa sáng suốt đến cùng tột, sẽ thông đạt tự tánh, chẳng cầu Di Đà mà tự đạt được, c̣n lo chi tham cứu chẳng thấu triệt! Tôi đă nhận được kinh Tư Ích do ông gởi tới. Kinh Di Đà viết bằng chữ vàng gởi tới trước đó cũng đă nhận được, bèn viết qua loa để phúc đáp. Những chuyện vụn vặt khác chẳng nói tới.       

Lại nữa, trước kia, ông Từ từ kinh đô tới đây, có gởi tặng hai chiếc quạt, có đề một chương Hoài Tịnh Độ Thi (thơ mong tưởng Tịnh Độ) do ông soạn, tôi đă nhận được rồi. Vừa rồi, ông Xuân Nguyên Tạ Thanh Liên có thuật lại ư thắc mắc của ông đối với mấy câu tiếp theo câu “chuyên tŕ danh hiệu” trong kinh A Di Đà, tôi có trả lời với Thanh Liên, chẳng biết đă chuyển đạt cho ông hay chưa? Bản kinh tạng này do ngài La Thập dịch đầu tiên, ngài Huyền Trang dịch lại một lần nữa, cũng như trong Hải Đông Sớ đều không có những câu ấy, chớ nên nghi! Ngoài ra, tôi gởi kèm hai bản Thiền Quan Sách Tấn và Trúc Song vừa mới khắc để ông xem. Thư chẳng nói hết ư được!

          2) (Nguyên thư) Ngày Hai Mươi Lăm tháng Giêng, đệ tử Hoàng Huy dập đầu ḥa-nam kính hầu thầy con là Liên Tŕ đại ḥa thượng. Trước đây, con được thầy gởi cho các loại pháp thí đă khắc in gần đây, trộm thấy thầy phước huệ nhị nghiêm, tinh tấn vô lượng. Chuyện thầy sảy chân té vào nồi nước nóng, chắc là báo nặng [chuyển thành] thọ nhẹ, hoặc là thầy thị hiện sự răn nhắc từ hư không đó chăng? Từ chuyện này, thầy con đạt được chẳng ít. Sách Thiền Quan Sách Tấn càng khiến người khác phát tâm mạnh mẽ. Đệ tử thường ôm ư niệm ấy, nào ngờ thầy biết trước mà ban cho con được đọc tụng. [Nhận được sách], con hớn hở chẳng thể kiềm chế được. Đào Châu Vọng bằng tuổi con, thân thiết như anh em, nay lại trở thành bạn đáng kính trong pháp môn, cách biệt mấy năm, một mai gặp gỡ, dốc cạn tấm ḷng, lại được nghe những ngôn luận răn nhắc, cổ vũ, hoan hỷ khôn xiết. Điều bất đồng là ông ta ngầm gần hóa thành, đích thân được thọ tŕ Bồ Tát đại giới nơi chỗ có của báu, c̣n đệ tử bị một chức quan ràng buộc, chẳng thể chắp cánh tạm thời t́m đến.

Con trang trọng đọc tụng tác phẩm Phát Ẩn do thầy biên soạn, thầy quả thật là công thần của Trí Giả đại sư. Hiện thời, cách thánh đă xa, căn cơ chúng sanh nông cạn, chẳng c̣n biết Mộc Xoa (giới luật) là vật ǵ? Khi đức Phật nhập diệt, cố nhiên Ngài đă sắc truyền đệ tử nương vào giới để trụ, huống hồ [t́nh đời] thời Mạt Pháp bạc bẽo, dối trá, tập khí ác nghiệp sâu dầy, phước mỏng như cánh ve, tội cao dường Tu Di ư? Con trộm cho rằng: Phật, Bồ Tát chẳng bỏ chúng sanh, thị hiện phương thuốc đối ứng đúng bệnh. Hiện thời, không ǵ cấp thiết bằng giới luật được! Thầy con nương nguyện lực mà đến, dùng Tịnh Độ để nhiếp trọn các căn, dùng Thiền pháp để sách tấn, dùng giới luật để ngăn ngừa vi phạm, có thể nói là từ bi vô lượng, rộng lớn đều trọn. Đệ tử đă thọ ngũ giới của cư sĩ trong ngày Rằm tháng Giêng năm hai mươi tám, nay lại muốn thọ tŕ Bồ Tát đại giới, nhưng khổ v́ cách xa thầy, muốn được bẩm thừa từ xa, chẳng biết có được hay không?

Đối trước kinh tượng thọ giới, tuy có kinh văn rơ ràng, nhưng khó cầu tướng hảo, sợ rằng kẻ hèn mọn, kém cỏi [như con] sẽ chẳng thể đạt được! Thầy con tuy ở ngoài ngàn dặm, nhưng một niệm tịnh tín, Lạc bang chỉ trong một thước. Do vậy, con đặc biệt thỉnh cầu, ngưỡng mong ḥa thượng quyết đoán. Nếu thầy đoái thương ḷng thành ân cần, rộng ḷng thương xót, chấp thuận cho con thọ tŕ Bồ Tát đại giới, nguyện thầy sớm ban lời khẳng định để đệ tử vội dâng sớ thượng tấu. Vào dịp được thầy chấp thuận cho phép dâng sớ, đệ tử sẽ lễ ḥa thượng từ xa, sẽ kính cẩn suốt đời phụng tŕ. Nếu thầy nói giới bổn không có kinh văn rơ rệt, khó thể dễ dăi chấp thuận, đệ tử sẽ thống thiết sám hối túc chướng lẫn tội khiên trong hiện thời, sẽ đợi thời tiết nhân duyên, tuy chẳng dám thọ ngay, cũng nguyện vâng theo [giới bổn để] hành tŕ, cốt sao trọn hết tấm ḷng này. Nay con có mười lượng tiền lương tính dùng để dâng một bữa cơm chay cho A-xà-lê và đại chúng dưới ṭa, kính mong thầy đại từ xét soi, thâu nhận. Viết thư này, đệ tử không có cách nào diễn đạt tấm ḷng quy y khẩn thiết cùng cực. Đệ tử Hoàng Huy dập đầu ḥa-nam.

           A Di Đà Kinh Sớ Sao do cố cư sĩ Tŕnh Khang Bá phát nguyện khắc in Giới Sớ Phát Ẩn đồng thời được khắc in hoàn tất, Khang Bá bèn qua đời. Khi ông ta mới khắc, đệ tử thật sự cực lực khuyên lơn ông ta, mong mỏi những sách ấy sẽ được lưu thông tại kinh đô. Nay có người muốn mang những bản ấy về phương Nam, nói là ư muốn của Khang Bá. Chẳng biết khi Khang Bá lâm chung [đă quyết định như thế nào], cho nên con nói các bản khắc ấy nên để cùng chỗ với tượng Phật. V́ ông ta đă từng quyên mộ đúc tượng Phật giống như tượng Chiên Đàn. Thoạt đầu, ông ta muốn rước tượng ấy về phương Nam, nay đă giữ tại chùa Từ Huệ, tức là chỗ đúc tượng ban đầu. Ván khắc cũng giữ tại nơi đó hay không, c̣n chưa quyết định. Nếu chẳng lưu lại nơi đây, con tính sẽ khắc lại bản mới, cũng chẳng khó. Đối với sách Phát Ẩn, con nghe nói thầy lại có bản tu đính mới, con sẽ [khắc in] dựa theo bản đă hoàn thành.

Đệ tử một niềm hộ pháp chí thành, chẳng dám không chân thành. Trước kia, được thầy phó chúc con phải trở thành cột trụ trong pháp môn; do vậy, con tự nhắc đi nhắc lại điều này. Trong quá khứ, con chuyên tâm nơi Tịnh Độ, mong nhất tướng thâm nhập. Mùa Xuân năm trước, con mới tham cứu thoại đầu. Tuy nhiều lượt khai giải, rốt cuộc là ư thức chuyển đổi, chẳng phải là thẳng thừng gánh vác! Nhưng đệ tử cũng trọn chẳng dám thoái khuất chút nào, chụm đầu cùng Thạch Quỹ [để tham cứu thảo luận], mang lại lợi ích chẳng ít. Nhưng trần lao vô cùng, thân lẫn danh phiền lụy, ắt là do cái nhân đời trước tạp loạn, nghiệp chướng sâu dày đấy chăng? Tuy biết chẳng chọn lựa tĩnh hay ồn, chỗ nào cũng đều có thể dụng công được, rốt cuộc công phu gián đoạn, chẳng thể thuần nhất. Chính v́ vậy mà con hổ thẹn, sám hối. Do vậy, một niệm tŕ giới càng cảm thấy khẩn thiết, sâu nặng. Thầy dùng cách nào để khơi mở cho con, khiến con mau thoát khỏi đường mê?

Đối với chuyện tu hành của con ở nơi đây, cư sĩ Cát Kỷ Chiêm sẽ có thể nói rơ. Ông Cát tin tưởng, hướng về [Phật pháp], đúng là khó có! Trở về lần này, ông ta sẽ lại lănh nhận những lợi ích mới mẻ, có thể nói là “duyên thù thắng trong nhiều đời, đệ tử hết sức hâm mộ, nhưng chẳng thể theo cùng. Nhưng muốn được bẩm thọ, há chỉ do tai miệng nơi h́nh mạo ư? Mùa Thu trước, có con nhện nghe danh hiệu Phật mà đứng mất, cũng là chuyện hết sức lạ! Con đă v́ nó dựng một ngôi tháp nhỏ, viết bài văn ghi lại. Sau khi khắc in xong, con sẽ gởi trong thư sau. Phạm Tử Kiều rời khỏi kinh đô, từng tự tay chép một quyển Giới Sát Phóng Sanh Văn, nhưng ông ta bị kẻ tùy tùng trộm mất tài vật, vứt quyển sách tại Long Tưu thuộc Vũ Đương. Rốt cuộc được rùa thần dẫn đường, t́m lại được, quyển sách trọn chẳng bị thấm ướt, ai cũng lấy làm lạ. Tử Kiều trở về đất Hàng, chắc có nhân duyên đảnh lễ, nhất định sẽ tự kể tường tận chuyện này. Đấy đều là do sức từ thiện của thầy con gia bị, há dám quên đại ân, nhưng chẳng biết báo đền [bằng cách nào]? V́ pháp, v́ chúng sanh, mong thầy cẩn trọng giữ ǵn thân thể. Ngày Hai Mươi Lăm tháng Giêng, đệ tử Hoàng Huy lại dập đầu ḥa-nam.

          (Tổ hồi đáp) Nguyện thọ Bồ Tát đại giới từ xa, ư ấy hết sức chánh đáng, không có ǵ chẳng thể được! Dẫu chẳng đạt được tướng hảo, cũng chẳng có hại, cái khó là [giữ vững lâu dài] cái tâm tốt lành. Thời Mạt, hảo tướng khó đạt được, có tâm mong chấp tướng, mong cầu ắt phải đạt được, đâm ra sẽ phát sanh ma sự. Chỉ ǵn giữ cái tâm tốt đẹp, đừng sanh ḷng ngờ vực, bất luận lấy ngày Rằm tháng nào để làm ngày thọ giới cũng được. Ông lại nói trần lao tạp loạn, hăy tùy duyên vừa ứng phó, vừa ǵn giữ. Cư sĩ thiện căn sâu dày, sẽ có ngày được thỏa ư lớn lao, đừng lo sầu!

 

* Thư gởi các vị cư sĩ Thái Sử Hoàng Thận Hiên và Chủ Chánh[16] Vương Mặc Tŕ

         

          Do ông Dương Chí ở Hàng Châu sẽ được tập ấm chức Hữu Vệ[17], vào kinh nhận chức, tôi gởi kèm một phong thư. Phụ thân quá cố của ông Chí là Quư Châu Đô Khổn[18] Dương Quốc Trụ. Ông ta tuy là dân vơ biền, nhưng hạnh vượt trội các vị sĩ phu quân tử, thanh liêm, nhân từ, rộng răi, người cùng thời khó bằng được! Ông ta trung nghĩa, khảng khái, vốn là phẩm cách mà tôi mong mỏi. V́ thế, kẻ chẳng ra ǵ này giao du với ông ta rất lâu, càng đặc biệt kính trọng sâu xa. Trước kia, ông qua đời trong chiến dịch thảo phạt Dương Ứng Long[19], kẻ chẳng ra ǵ này đau thương khôn nguôi, nhưng lại nghe báo tin: “Ông ta bị bắt”. Nếu chẳng phải trời diệt bọn di địch xấu ác, quét sạch sào huyệt của chúng, Quốc Trụ c̣n hay mất chẳng xác quyết được, ông ta phải mang nỗi oan khuất đến ngày nào mới gột rửa được? Nay th́ tung tích đă rơ ràng, công luận đă định, chỉ sợ c̣n có người chưa biết tường tận, tôi chẳng tiếc công nói cặn kẽ một phen. Ngoài ra, tôi gởi kèm một số sách được khắc in trong núi, chẳng nói trọn hết được!

 

* Đính kèm thư trả lời của Hoàng Thái Sử (tức Hoàng Thận Hiên)

 

          Dương sanh cầm thư tới, con tiếp nhận lời dạy [của thầy] như [đích thân] gặp mặt. Con côi của bậc trung thần phải nên được ưu đăi, bổ dụng, người phụ trách việc ấy đă lập riêng một mục rồi. C̣n đối với mấy câu [trong kinh Di Đà, được ghi là chép theo] bản Tương Dương, tra cứu bản dịch của ngài Huyền Trang và Hải Đông Sớ đều không có, con mới tin lời thầy nói trước đó chẳng phải là qua loa, rất hổ thẹn trước kia đă nói năng sai lầm. Sớ Sao khắc đă sắp xong, từ nay lưu thông, trọn pháp giới đều thành hoa sen xanh, há chẳng là chuyện hết sức thỏa ư ư?

Đối với Đông Triều (Đông cung), con đă có lời tâu xin ĺa chức, do đại điển sẽ hoàn thành trong sáng tối, con sẽ có thể dâng sớ xin về an dưỡng, nhưng sẽ cách biệt thầy càng xa, chẳng thể luôn được nghe dạy, chỉ có tấm ḷng này tới lui quanh quẩn bên thầy mà thôi! Cha già của con giữ Thập Trai đă lâu, gần đây nghe nói cụ đă thôi ăn mặn hai tháng. Nếu cụ ăn chay trường được, đều là do bị cảm động bởi lời khuyên bảo, cảm kích, bội phục khôn nguôi! Người làng nói: “Gă đồ tể mua một con lợn từ chợ. Ngày hôm sau chuẩn bị giết nó, lợn quỳ trước kẻ đó xin tha mạng, lệ tuôn như mưa. Nhân đó, nó chạy núp trong đáy kho, đánh cách mấy cũng không chui ra! Cha già nghe chuyện, bèn vội đem tiền chuộc lấy, lợn bèn tự chui ra, theo gă hầu trở về, ai nấy đều than lạ! Nguyên nhân ăn chay là như thế đó, cũng lạ lùng thay! Thư nhà chưa gởi đến, nhưng người làng chẳng phải là kẻ nói dối. Cha già bẩm tánh nhân từ, do được chuyện này giúp phát khởi, cũng chẳng phải là ngẫu nhiên! Nếu thuận tiện, trong thư thầy ban cho con một, hai câu pháp ngữ để Huy được đem về chúc thọ cho cha, c̣n có vật nào trên đời sánh bằng được nữa? Về thẳng nhà, con hết sức mệt mỏi, Dương sanh hối thúc thư trả lời cấp bách, con vội viết qua quít, tâm t́nh bối rối, chẳng thể nêu trọn được một phần ngàn. Ngày Hai Mươi Bảy tháng Chín, đệ tử Hoàng Huy dập đầu ḥa-nam.

 

* Thư đáp quan Thái Sử Quảng Thược[20] Ngô Quán Ngă ở Đồng Thành

 

          (Nguyên thư) Cuối năm, từ chỗ xá điệt[21] là Dụng Tiên, ḍ t́m biết được bậc “cây thuốc của trời người”, trải qua sương gió càng tươi tốt, là vầng mặt trời trí huệ trong đường tối, con chần chừ đôi lượt, cung kính chắp tay, v́ trọn khắp chúng sanh, than là chưa từng có. Trong pḥng bệnh, con nhận được pháp thí của ḥa thượng, lọt vào tai, huân tập cái tâm, khác nào được thấm nhuần chín dặm[22], hận Quảng Thược dưới da chẳng có máu (ư nói: Học lực nông cạn), chẳng thể từ ngoài ngàn dặm mà tận mặt thọ lănh giáo huấn. Qua tác phẩm Hoàng Minh Hộ Pháp Lục, con kính thấy thầy tâm từ bi nhiếp thọ sâu xa, b́nh đẳng trọn khắp, mà ba thiên chú giải của Dương Tông Bá lại có thể nêu cao bờ bến đạo, có thể soi sáng cho bọn nho sĩ mù tối, có thể nói là “đối trị đúng bệnh, cứu văn thói tệ đương thời trong thuở Mạt Pháp”. Quảng Thược chẳng nài ngu muội, thô lậu, gọt giũa văn tự trong phần chú giải, cho khắc in, khiến cho kẻ Nhất Xiển Đề trong cơi này hơi biết hổ thẹn, may ra cũng coi như là một giọt trong biển pháp của đại sư. Nay do cậu của con là Quảng Ngụ đến thăm viếng thầy, con viết bốn lá thư kính vấn an thầy, ngoài ra c̣n có tịnh tài để phóng sanh. Chắc là đại sư đă chứng Đệ Bát Địa, trong lúc vô công dụng, tạo chút tùy hỷ, muôn phần mong ḥa thượng nhận lấy vật cúng của trẻ thơ, ngơ hầu con được nhẹ bớt tội khiên trong mai sau. Quảng Thược chẳng thể biểu đạt nỗi niềm ngưỡng vọng, quyến luyến, xót xa, kính ngưỡng cùng cực.

(Tổ trả lời) Ngày mồng Mười tháng Giêng, tôi bị ói dữ dội, gần như suy sụp. Mấy hôm sau, ban đêm thức dậy lại bị trượt chân, tới nay vẫn phải vịn tường mà đi. Tinh thần mệt mỏi, sức lực suy sụp, đầu váng, mắt ḷa, mặt trời đă xế núi, chắc chẳng bao lâu sẽ chết. Tôi đă nhận được phóng sanh từ phương xa gởi đến, cám ơn lắm. Bản chú giải Hộ Pháp Lục của Dương Tông Bá đúng như ông đă luận định trong thư gởi đến, có công dụng to lớn trong thời Mạt Pháp, nhưng lời bạt tóm gọn chỉ thú của ba thiên sách dung thông, xuyên suốt, lại càng sâu mầu. Lại nghe chuyện tậu ruộng để làm chi phí phóng sanh, tôi vốn có mười lạng tính làm phước sự, ngẫu nhiên gặp duyên lành này, kính trao cho Kính Ngô dâng lên ông.

Thêm nữa, Kính Ngô đến nói ông nghĩ rằng giới do chính ḿnh đă thọ có thể thiếu khuyết nên sám hối. Thời cổ đă có thừa, giới, hoăn, cấp bốn thứ liệu giản, thừa cấp giới hoăn hơn hẳn giới cấp thừa hoăn. Tôi trộm lấy làm lạ mắt của ông không thể xem đọc, sao có thể viết văn? Không chỉ là kiến thức trác tuyệt, mà c̣n thông hiểu sách vở rộng khắp, cao tột, cổ phác, sâu thẳm, tợ hồ tay chẳng ngừng lật xem các trước tác của bách gia, người khác chẳng thể sánh bằng được! Mong ông có thể xoay sự linh minh giác chiếu hơn người ấy để chiếu liễu tự tâm, ắt sẽ có ngộ nhập, tức là đại thông minh trong hiện thời sẽ chuyển thành chân trí huệ, c̣n lo chi giới bị thiếu khuyết nữa?

          2) (Nguyên thư) Quảng Thược mỗi lần từ xá điệt hỏi thăm, biết thầy phước vận tốt đẹp, mọi sự hanh thông, pháp nhuần thấm rộng khắp, con v́ chúng sanh chắp tay hớn hở, than là chưa từng có. Quảng Thược chưa chết, tấm ḷng son vẫn chưa thể dùng để răn đe, uốn nắn thói tật của chính ḿnh, ngược ngạo dùng chó rơm, lôi kéo dây leo[23], gánh tội khá dày! Ḥa thượng chẳng quở trách nghiêm ngặt, lại c̣n khen ngợi quá mức. Đại khái là mẹ hiền nuôi nấng con thơ, vừa nghe con ọ ẹ liền vỗ về; Quảng Thược há dám tham cầu thầy dắt d́u, khích lệ, hư vọng tự nghĩ chính ḿnh có ǵ xứng đáng ư? Chỉ v́ thư thầy c̣n có chỗ chưa chấp thuận hoàn toàn, khiến cho con như người khát mong mỏi cam lộ, lại chẳng khác nào thấy mỗi ngày như cả năm vậy! Nay em con là Ưng Sủng được đảnh lễ, yết kiến dưới pháp ṭa, con kính gởi kèm một lá thư ngắn để được hướng dẫn về cách hầu hạ thầy của người đệ tử, lại thỉnh cầu thầy khai thị về phần Thanh Tịnh Minh Hối (giáo huấn rơ ràng thanh tịnh), ngơ hầu trong đêm dài sanh tử vị lai, vĩnh viễn vâng giữ trí quang, đúng là chuyện chẳng nghĩ bàn trong bao kiếp lâu xa. Nhờ mảnh giấy biểu đạt ḷng thành tha thiết, năm vóc gieo sát đất.

          (Tổ trả lời) Thư ông gởi đến nói muốn thấu hiểu triệt để chuyện chưa cùng tận, nhưng [nội dung] những sách vở [do ông] đă trước tác trước đó đă trọn đủ rộng lớn, cũng chẳng có ǵ không cùng tận. Điều chưa cùng tận không ở trong các sách ấy, mà ở nơi nhất tâm. Quả thật là do biện tài [cuồn cuộn] như sông treo, ngôn từ ngập trời, không ǵ chẳng lưu xuất từ chân tâm mầu nhiệm sáng suốt vậy. Kim Cang Sao Thanh Long mênh mông, bát ngát mấy vạn chữ, nhưng rốt cuộc [ngài Đức Sơn Tuyên Giám] đắc ngộ chính là khoảnh khắc ngài Long Đàm thổi tắt một ngọn đèn. V́ thế nói: “Điều chưa cùng tận là ở nơi nhất tâm”. Hiểu rốt ráo cái tâm này, sẽ chẳng có ǵ không thấu hiểu rốt ráo. Nếu chẳng tương ứng, hăy nhất tâm niệm Phật, hết sức trọng yếu, hết sức quan trọng đấy nhé!

3) Thư ông gởi đến, có nói: “Dè dặt thận trọng v́ chưa thể liễu ngộ đại sự này”. Đấy là ông lo lắng, hay hết sức lo lắng? Đó chính là cái như người đời thường nói “chuyện chẳng đáng lo” vậy! Điều ấy chính là chánh nhân để nhập đạo, xin hăy nhất tâm tham cứu cái vốn cần phải tham mà thôi! Ngoài ra, các vị nổi tiếng được kể trong Phù Sơn Sách[24] đều ca ngợi, truyền thuật những lời nói khi xem đánh cờ quân cờ đen trắng, [coi đó] là những lời đàm luận thượng diệu. Những lời lẽ ấy tuy được truyền tụng ngàn đời, nhưng chỗ sâu thẳm của cụ Viễn (thiền sư Pháp Viễn) không ở tại đó. Những lời lẽ ấy kẻ thông minh trong hiện thời cũng có thể nói, c̣n những điều vụn vặt chẳng cần phải đào khoét để mong thấu hiểu, chỉ cần thực hành công phu an lạc của cụ Viễn mà thôi! Có công phu như thế th́ mới có chứng ngộ như thế. Cổ đức nói: “Chỉ sầu chẳng thành Phật, chẳng sầu Phật không giải ngộ”. Lời ấy chí lư thay! Mong ông hăy lưu ư!

4) Giới tại gia có thiếu khuyết, xen tạp, cũng chẳng đáng trách. Hăy nên biết giới hoăn thừa cấp, từ xưa đă có luận định rơ ràng. Chỉ mong trong mười hai thời, mỗi khắc đều tham cứu chuyện này, đoạn hết các duyên, chế tâm một chỗ, ắt sẽ có lúc thấu triệt vậy!

          4) Chẳng có nghiệp mà bệnh, bệnh thuộc về nghiệp trước, đời này phải đền trả nghiệp ấy, cũng như đền trả nghiệp trong nhiều đời, thường gọi là “báo nặng, thọ nhẹ”. Phải nên sanh ḷng hoan hỷ, chớ phiền năo. Chuyện đời do bệnh tật mà bỏ phế; do phế chuyện đời mà được dịp tu đạo nghiệp; đó lại gọi là “do họa mà được phước”. Cũng phải nên sanh ḷng hoan hỷ, chớ phiền năo. Chỉ nên buông xuống muôn duyên, nhất tâm nội chiếu.

 

* Thư đáp Phương Bá[25] Ngô Bổn Như

 

(Nguyên thư) Mùa Đông năm Quư Sửu, con mới rời khỏi Vũ Lâm, vẫn mong sau khi lên kinh đô chầu vua xong, c̣n có thể đến hầu dưới pháp ṭa. Chẳng ngờ con bất xứng mà được vua sai làm tuần phủ đất Thục (Tứ Xuyên). Lúc đó, con đă dâng sớ xin về hưu, nhưng chẳng được toại ư. Do đất Thục có người Quả Di[26] phản loạn, thánh chỉ nghiêm ngặt đốc thúc, con đi suốt ngày đêm đến chỗ trấn nhậm. Chiến sự dồn dập suốt cả năm mới thắng được quân địch. Gần đây, do gă đầu sỏ đă bị chém đầu, những kẻ hùa theo hắn được đối xử khoan dung, chẳng bị giết sạch, địa phương đă được an ổn; đấy cũng đều là do sức gia bị của Tam Bảo. Chờ cho đến sau khi cuốn giáp, cho lính nghỉ ngơi, con sẽ lại dâng sớ xin hồi hưu, ḥng thỏa nguyện riêng. Con sẽ chống gậy trúc đến thăm hỏi dưới ṭa sen.

Gần đây, thầy hành đạo chắc là càng thanh tịnh, an hảo, chỉ mong thầy thường trụ tại thế, vĩnh viễn làm tṛng mắt cho trời, người. Xa xôi vạn dặm, khôn ngăn tưởng nhớ, kính thảo một bức thư ngắn [để bày tỏ] nỗi hoảng sợ trong tâm. Ngoài ra, con sắp sẵn một khúc vải tử hoa, một đôi vớ dùng cho mùa hè, tạm để biểu đạt ḷng nghĩ nhớ từ xa, mong thầy xét soi [ḷng con tưởng nhớ thầy] bất tận. Đứa con nhỏ của con là Đại Thành cậy con dâng lời đảnh lễ mong làm đệ tử, cầu thầy ban cho nó pháp danh, tột bậc khẩn thiết xin thầy chỉ dạy. Những lời trên đây kính bạch dưới pháp ṭa của Liên Tŕ đại sư, ngày Mười Một tháng Giêng, đệ tử Ngô Dụng Tiên ḥa-nam.

          (Tổ trả lời) Ân trạch của ông suốt mấy năm đă trọn khắp cả tăng lẫn tục. Do vậy, sau khi ông rời đi, [mọi người] vẫn thường nghĩ nhớ. Hơn nữa, lệnh lang khí độ khoát đạt, chẳng phải là hạng tầm thường, càng phải nên dạy cháu nó uẩn tàng sự cao minh, thâu liễm sâu xa, dưỡng thành ḷng nhân từ, nhẫn nại, nhưng cương quyết, rộng răi th́ sự thành tựu trong mai sau sẽ chẳng thể lường được!

 

* Thư trả lời hiếu liêm Bao Tâm Huyền ở Gia Hưng

 

          (Nguyên thư) Mỗi ngày đọc lại lá thư của thầy con, thầy dùng chuyện đốt thuyền để dạy bảo, bi và trí cùng hành, thật sự là đại pháp thí, dám chẳng bội phục ư? Con chỉ nghĩ tới bậc tiền bối như thiền sư Vĩnh Minh, khi lấy tiền đem mua con vật để phóng sanh, há chẳng biết phép vua ư? Cho đến khi sắp bị hành h́nh, Ngài vẫn cười nói, há chẳng biết thế pháp ư? Chém sạch hết thảy dây leo, bèn đạt được Tông Kính treo cao, cho tới nay vẫn chiếu soi, thâu nhiếp bên trong [Phật pháp]. Đối với hai chữ “sanh tử”, đệ tử h́nh như đă khám phá rơ ràng, huống hồ đối với lợi, suy, chê, khen ư? Bởi lẽ, chúng sanh đang say sưa trong giấc mộng, nếu chẳng kiệt lực lay tỉnh, họ há chịu quay đầu?

Như đối với chuyện phóng sanh, cứu được một mạng cũng chỉ nhằm trọn vẹn một niệm từ bi, nhưng kẻ đánh cá quăng lưới kiếm lợi, chẳng biết nghiệp báo, thầy con nói họ đọa địa ngục hay chẳng đọa địa ngục? [So với chuyện] cứu bạt họ trong đường ác, sao không dùng phương tiện thiện xảo ép buộc họ để cứu bạt khi họ c̣n đang làm người vậy? Đốt một chiếc thuyền là thật, vốn chỉ v́ một kẻ trông vườn nhỏ nhoi. Hơn nữa, chiếc thuyền ấy hư nát khôn kham, cho nên mượn chuyện này để khiến cho người khác thấy nghe mà kinh sợ, chẳng ngờ mọi người truyền tụng, truyền tới tai thầy. Thầy nói “có ḷng bi, chẳng thể không có trí”, đệ tử cho rằng “có trí th́ phải là có cái trí giống như ngu”. Chẳng có trí, sẽ chẳng thể vận dụng bi; chẳng ngu, sẽ chẳng thể thành trí. Như mọi người sợ thị phi, chỉ quản chính ḿnh, rốt cuộc cái tâm độ chúng sanh chưa khẩn thiết, chưa rộng lớn. Ư thầy nghĩ thế nào?

          (Tổ trả lời) Đọc thư ông gởi đến, biết ông có đại tâm nguyện và sức mạnh to lớn của Bồ Tát, đáng kính, đáng hâm mộ. Nhưng người được gọi là Bồ Tát chẳng câu nệ thường pháp, chỉ cốt sao lợi sanh; cũng chưa từng chẳng xem xét cơ nghi, châm chước thời thế, cho nên nói “có bi, có trí”, chẳng phải là một mực quả cảm ắt làm, chẳng hề cố kỵ! Như Khổng Tử thuở tại thế, chẳng phải là Bồ Tát trong nhà Nho ư? C̣n như Y Doăn đuổi vua, Liễu Hạ Huệ chẳng xấu hổ v́ phụng sự hôn quân. Kính trọng vua, chẳng ngạo mạn, chọn vua rồi sau đó mới thờ vua. Đó là thường pháp. Y Doăn và Liễu Hạ Huệ chẳng câu nệ thường pháp, có thể nói họ là bậc Bồ Tát. Nhưng v́ sao Lỗ Ai Công tối tăm mà Khổng Tử chẳng xua đuổi vua? Lại c̣n nói sự quân tận lễ” (thờ vua trọn hết lễ)? Hỏi xem: Vua nước Trần là vị vua nhận lấy nữ nhạc, sao [Khổng Tử] chẳng phụng sự vị vua ấy mà lại phơi phới rời đi? Há Khổng Tử chẳng phải là Bồ Tát ư?

Thư ông gởi đến có hỏi: Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ dùng tiền công quỹ để phóng sanh, nay cư sĩ có thể lấy tiền của thường trụ chùa Lăng Nghiêm để phóng sanh hay chăng? Lại nói: Thiền sư Vĩnh Minh khi sắp bị hành h́nh, cười nói thảnh thơi. Sanh tử cũng là chuyện lớn, chuyện cười nói khi sắp bị hành h́nh chẳng phải là chuyện dễ. Bồ Tát xả đầu, mắt, tủy, năo như vứt chiếc dép rách; nay có người xin đầu, mắt, tủy, năo của cư sĩ, cư sĩ có thể mặc t́nh [kẻ tới xin] cắt, chặt, chém, đâm mà vẫn an lạc tự tại, chẳng hề dao động trong khi đó hay không? Ông lại nói: “Trừng trị trong loài người hơn hẳn cứu bạt trong địa ngục”, nhưng chúng sanh tạo địa ngục chẳng phải chỉ là kẻ đánh cá! Ngay như trong một làng thôn, con cháu ngỗ nghịch cha mẹ, kẻ cường hào lấn hiếp dân đen, kẻ gian tà tạo đủ loại chuyện ác hại người, quan phủ chưa bắt được, h́nh luật chưa được thi hành, cư sĩ có thể bắt được chúng để tru lục ḥng giúp chúng tránh khỏi địa ngục hay chăng?

Ông lại nói: “Có trí th́ giống như trí của kẻ ngu”. Đă nói “giống như trí của kẻ ngu, th́ rốt cuộc là trí, chẳng phải ngu”, sao không thấy “giống như ngu mà thật sự là ngu” ư? Nay có tăng sĩ kéo xiềng sắt nặng cả trăm cân để đi quyên mộ, hóa duyên, có kẻ gơ mơ một tiếng, hóa duyên năm ngàn lượng bạc, đều có thể nói là “kẻ trí giống như ngu” ư? Ông lại nói: “Người đốt thuyền là kẻ coi vườn, dùng danh tiếng đẹp đẽ để ngầm lay động cái tâm kẻ ấy”, sao biết [kẻ ấy] chẳng thừa dịp mà sanh sự? So với chuyện [Thương Ưởng] thưởng vàng cho kẻ dời gỗ[27], khiến cho nước nhà hưng thịnh, mà cũng là lư do khiến cho đất nước suy bại. Do thiên hậu (Vũ Tắc Thiên) ban chức tước cho kẻ tố cáo người khác ngầm phạm tội mà triều chánh hưng thịnh, nhưng cũng bởi đó mà suy bại. V́ sao? Những cách ấy tạm bợ, chẳng thể dài lâu! Ông lại nói thuyền đánh cá rách nát, đốt đi để nhờ vào đó mà cảnh tỉnh mọi người, như vậy th́ người đánh cá già nua, bệnh tật cũng có thể giết phứt đi để cảnh tỉnh đại chúng đó chăng? Khổng Tử nói: “Quân tử tri vi, tri chương, tri nhu, tri cương” (quân tử biết sự mở đầu vi tế, mà cũng biết kết quả hiển lộ, biết mềm mỏng, biết cứng rắn). Như trong cao kiến của ông chính là “tri chương, tri cương”, chẳng biết “tri vi, tri nhu” vậy! Khổng Tử nói: “Lâm sự nhi cụ” (gặp chuyện phải biết sợ). Như cao kiến của ông, tức là coi “Bắc Cung chẳng sợ hăi”[28] là chánh yếu, Khổng Tử xử sự chẳng có quy tắc cứng ngắc nhất định, c̣n như cao kiến của ông th́ Thiếu Chánh Măo[29] đáng giết, nhưng kẻ đáng bị giết c̣n rất nhiều, sao Khổng Tử chẳng nhất loạt xử tử và tru diệt tam gia (Tam Hoàn nước Lỗ)? Cư sĩ là người có tâm chân thật muốn hành Bồ Tát đạo, tôi hết sức yêu mến, do sợ ông quá chấp trước nên mới lắm lời, mong bậc cao minh xét soi cặn kẽ!

 

* Thư trả lời Trung Thừa[30] Uông Tĩnh Phong ở Hồ Quảng

 

          (Nguyên thư) Thầy có thể tiếp nhận con là kẻ thô lậu ở Tương Đàm (thuộc tỉnh Hồ Nam), là một viên quan trông coi văn thư trong cơi tục, chẳng biết do duyên đời trước như thế nào mà hơi biết quy y Tam Bảo. Con thuở trẻ làm huyện lệnh tại Kim Hoa, qua lại vùng ven sông Nghiêm Lăng, tuy khá gần với nơi tiệc pháp của thầy, nhưng chẳng biết đến thưa hỏi. Đợi tới khi toan hỏi han, núi sông đă cách trở, nay lại c̣n rong ruổi gió bụi, đă già khọm rồi! Tuy sanh trong cùng một thế giới với bậc chí nhân, v́ sao rốt cuộc chẳng được ngóng thấy môn tường của Ngài? Đêm vắng, lắng ḷng suy nghĩ, đáng thẹn với h́nh bóng của chính ḿnh. Nay có người bạn trong xă là Nguyên Văn H́nh Tam kính cẩn phát tâm tới tham học, thỉnh pháp [dưới pháp ṭa của thầy], con kính cẩn thông báo họ tên với vị chấp sự. Nếu được quang minh rủ ḷng chiếu xuống; đấy cũng là ngoài ngàn dặm mà như được tận mặt gặp gỡ. Con có một bộ kinh Kim Cang khắc theo lối chữ Triện, kính dâng thầy xem xét. [Lại c̣n] một bộ Lăng Nghiêm Y Thích để xin thầy chỉ dạy, ngưỡng vọng chốn mây biển, năm vóc gieo sát đất.

          (Tổ trả lời) Bộ Lăng Nghiêm Y Thích đă từng được Viên cư sĩ ở Cô Tô gởi tặng. Sách ấy xiển dương tông chỉ của kinh, dung thông, quán triệt thông suốt. Nay lại được ông từ xa ban tặng, lại được thấy của báu hiếm lạ, khôn ngăn vui mừng, cảm thấy may mắn. Lại được bộ kinh Kim Cang khắc theo lối chữ Triện, cũng xin cảm tạ. Lại tŕnh cùng ông, Châu Hoằng do tuổi già bệnh tật vây bủa nặng nề, đă đóng cửa, kín miệng, nhưng do đại cư sĩ đem bản chú thích tinh diệu từ xa gởi đến, quả thật chẳng thể nào im lặng được! Ngu ư cho rằng bản [chú thích] này chưa cần đem in, v́ ông chưa đến tuổi “tri thiên mạng” (năm mươi) mà đă có kiến giải như thế. Cứ thong thả, ắt sẽ có tâm đắc mới mẻ. Phu tử bảy mươi tuổi mới có thể thuận theo ḷng muốn, Triệu Châu tám mươi vẫn c̣n hành cước. Lời lẽ của kẻ cuồng vọng, vô tri như vậy đó, cúi mong ông thấu hiểu, dung thứ.

 

* Thư trả lời quan Kinh Triệu Vương Mặc Tŕ ở Thiệu Hưng

 

          (Nguyên thư) Chốn Ngũ Vân sâu thẳm, đạo lữ tụ tập, chính là thế giới Cực Lạc ở phương này. Hận con là kẻ thô lậu, nghiệp nặng, đọa lạc trong tràng phú quư, chẳng có duyên để luôn được nghe giáo huấn răn nhắc nơi pháp ṭa của thầy. Chuyện này tuy chẳng chia thành nhàn, bận, tĩnh, ồn, nhưng thù tạc quá phiền, liền bất tri bất giác ở ngay trước mắt mà bỏ lỡ. Con ở ngay nơi cuộc đất Phổ Hiền thị hiện, nhưng chưa thể hành Phổ Hiền hạnh. Nói chung, mạng căn khó đoạn, đại sự chưa thấu triệt, đủ loại tu tŕ đều là nghiệp nhân. Tuổi đă ngoài năm mươi, ngày lại qua ngày, do ngu độn mà thành như thế, khôn ngăn đau buồn; đại sư dùng cách ǵ để sách tấn con? Những kẻ sĩ và bạn bè cùng chí hướng trong nước đă rơi rụng quá nửa, người ngầm tu tập trong làng chỉ c̣n huynh Thạch Quỹ, mà nay lại qua đời mất rồi! Trong các vị cao túc dưới ṭa của đại sư, vị nào kiệt xuất? Mưa pháp đầy trời, con cháu ắp đất, tự chẳng thiếu người, nhưng ắt mong có người trí huệ vượt trội thầy gánh vác chuyện này, sợ rằng cũng chưa chắc có thể có nhiều, biết làm thế nào? Gần đây, trong hàng cư sĩ bốn phương tới tham lễ sư môn, có người nào có thể kham nói chuyện này hay chăng? Xin thầy chỉ dạy cho con tiện tham phỏng. Đệ tử ngu xuẩn, kém cỏi, chẳng đáng nhắc tới, nhưng ngày đêm chỉ khăng khăng một niềm khát vọng hiểu rơ bổn địa, và thân cận, lễ bái thiện tri thức, nguyện thầy ban lời dạy!

          (Tổ trả lời) Nhận được thư, biết ông ngày đêm đề khởi, tham cứu chuyện này, tôi ở phương xa cảm thấy rất vui mừng. Thời gần đây, khá có nhiều kẻ lưu tâm chuyện này, nhưng kẻ bàn suông th́ đông, người thật sự tu tập ít ỏi, đáng than lắm thay! Cổ nhân cũng có vị ngộ đạo trong bận rộn, do căn khí khó thể ḍ lường, mong ông hăy càng lưu tâm chẳng để lui sụt.

 

* Thư trả lời quan Tư Mă[31] Giang Tây là Quách Thanh Loa

 

          (Nguyên thư) Con thoạt đầu tin sâu Tây Phương Tịnh Độ mầu nhiệm sáng suốt như thế, mà cũng đơn giản, dễ hành như thế. Cuối cùng, đọc Di Đà Kinh Sớ Sao do thầy trước tác, lại biết chỗ mầu nhiệm sáng suốt chẳng rơi vào ngoan không (cái không trơ trơ). Trong cái đơn giản, dễ hành, lại chẳng rơi vào thế tục nông cạn. Kể từ Viễn sư (tổ Huệ Viễn) tới nay, chỉ có một ḿnh thầy mà thôi! Gần đây, con lưu lại miền biên cương xa xôi để chinh phạt Dạ Lang, trong chốn can qua, phần nhiều cậy vào Phật lực, trọn chẳng có cách thoát khỏi Trần Sa, trở về noi gương sáng Vân Thê. Kính sai một người hầu đến dâng lời vấn an, kèm dâng lễ mọn, ḥng cúng chay cho những vị theo thầy. Gần đây, ba bốn đứa trẻ vào Lưu Đô (Nam Kinh), trên đường ngang qua Tiền Đường liền nghiêm túc, thành kính đảnh lễ [đại sư], may mắn được thầy dạy bảo, họ liền đem những lời ấy dạy lại con.

          (Tổ trả lời) Âm thanh đức hạnh bỗng từ vạn dặm truyền đến thấm nhuần kẻ khô mục này, cảm kích, mừng rỡ khôn xiết! Nếu hiền công tử đến chỗ ngụ hoang tàn [của tôi], tâm kẻ hèn này toan dùng Phật đạo và nhân luân để khuyên lơn, chẳng ngại giao phó trọn hết. Bất luận h́nh tướng là tăng hay tục, cốt sao hiểu rơ tâm địa mà thôi! Chẳng rơ tôn ư có chấp thuận hay không?

 

* Thư trả lời quan Nghi Bộ[32] Tăng Kim Giản ở Hồ Quảng

 

          (Nguyên thư) Trong mấy năm, con được hai lượt chiêm bái pháp ṭa, được thầy ấn khả, chẳng khác dạo Lạc bang, đích thân được đạo sư thọ kư, cảm kích khôn xiết! Trước kia, con chẳng tự suy xét sức ḿnh, lầm lạc đem tông chỉ của ba kinh Lăng Già, Lăng Nghiêm, Kim Cang để thỉnh giáo bậc thông hiểu sâu xa, mong may mắn được vị tông sư sáng mắt kềm cặp con. Nếu con được thầy ban một lời hoặc nửa câu để dùi mài lẫn nhau, há chỉ là kẻ chẳng ra ǵ này may mắn, mà thật ra là vô lượng chúng sanh may mắn! Kẻ chẳng ra ǵ này là phường bạch y, há nên hư vọng bàn luận giáo điển? Lục Tổ từng nói: “Phật tánh vốn chẳng có Nam, Bắc, mọi rợ sai khác!” Trước kia, con từng bái yết các vị Nguyệt Xuyên[33], Hám Sơn, họ thường dẫn ngữ lục trong Tông môn để ấn chứng kinh, trong ấy có khi phù hợp, có khi chẳng phù hợp, con trộm chẳng cho là đúng. Năm Kỷ Hợi, con tĩnh tọa tại Thiếu Lâm hơn bốn mươi ngày, ngẫu nhiên nghe tiếng chuông, chợt có tỉnh nhập, mới tin “hết thảy ngôn ngữ thuộc Thế Đế đều chẳng trái nghịch Thật Tướng”, sao lại riêng đối với Phật ngữ mà tách thành hai? Con bèn coi Quyền là Thật, coi Thật là Quyền, không ǵ chẳng thể được! Nếu đem Tông và Giáo tách thành hai nẻo sừng sững, đối với lời Phật dạy, tự chia sâu cạn, sẽ khó thể thông suốt được! V́ thế, hễ tách rời Tông và Giáo th́ thành tranh chấp. Hễ dung thông th́ chẳng tranh chấp. Kẻ chẳng ra ǵ này cũng muốn cùng quy vào “chẳng tranh chấp”, ư đại sư như thế nào? Ngoài ra, con có hai bài tựa để kết duyên với cao đồ Thiệu Giác, trong âm thầm, mong được thầy phê b́nh, chỉ dạy có được hay chăng? [Nếu được như thế], con hết sức cảm kích!

          Mùa Xuân năm trước, con đến bái phỏng nơi môn đ́nh, vừa khéo nhận được sự giáo huấn to lớn. Vừa đúng lúc chân thầy có tật, ngồi nằm bất tiện, nhưng đă kết duyên thù thắng. Tiếp đó, tṛ chuyện mấy lời, khác nào dạo Cực Lạc nghe pháp âm, cảm kích khôn xiết. Ban đêm, con cùng cao túc là Huệ Văn luận kinh, tâm mục được mở mang rỗng rang, đủ biết trong hàng môn hạ, bậc long tượng chen vai sát cánh, chẳng dễ kể trọn! Từ biệt pháp tịch, con qua chơi Tịnh Từ, khéo sao gặp Xuân Nguyên Đào Thạch Lương đem hai bản chú giải Nhân Minh Luận và Thành Duy Thức Luận do lệnh đồ là Thiệu Giác biên soạn bảo con viết lời tựa, con chẳng nề hà chính ḿnh nông cạn, thô lậu, tiếm lạm ghi lời tựa ở đầu sách, lại cậy Thạch Lương thỉnh môn hạ sửa đổi cho đúng rồi mới đem in, chẳng biết ông ta có tŕnh rơ ư ấy hay chưa?

Nếu có chỗ chưa thỏa đáng, mong thầy hăy sửa chữa giùm. Như học tṛ hiểu biết lầm lạc, thô thiển, đơn giản, đại lược với Tông thông của ba kinh Lăng Nghiêm, Lăng Già và Kim Cang, biết là sẽ bị bậc thông hiểu cười nhạo. Chỉ là muốn nhờ vào đấy để gieo cái nhân Bát Nhă, tích tụ đôi chút Tịnh Độ tư lương, cho nên chẳng tự biết xấu hổ. Chỉ mong đại sư là bậc có đủ huệ nhăn, biết chỗ kém cỏi của con, khẩn khoản xin thầy chỉ dạy để con được sửa đổi. Lại nguyện thầy viết lời tựa đầu sách để chỉ ra nẻo mê cho người học mai sau, há chỉ là tạo lợi ích cho riêng một kẻ học tṛ là con. Hết sức mong mỏi! Nay con gởi Lăng Già, Tâm Kinh, Đông Du Thảo để tŕnh thầy xem qua. Trong [bản chú giải kinh] Kim Cang có chỗ chưa hoàn thiện, con đă sửa đổi, cho khắc in, lại tiếp tục cậy ông Châu Trượng gởi cho thầy, những điều khác chẳng nói nữa!

          (Tổ trả lời) Ông Châu gởi đến ba bản in Lăng Già, Tâm Học, Đông Du, do tôi bệnh tật quấn trói, đi lại khó khăn, vừa mới xem qua, đă biết có ư vị sâu xa. Lại được ông trống ḷng sai viết tựa, xin cho phép tôi xem đọc cặn kẽ. Nếu có ngu kiến ǵ, mai sau sẽ lại tŕnh lên. Xem lời tựa cho Quán Duyên và Nhân Minh đă nêu tỏ chỉ thú của hai bộ luận, lời lẽ đơn giản mà ư trọn hết, đáng gọi là “diệu giải”. Vị Tăng ấy đọc rộng, nhớ dai, cũng quả thật là đáng khen ngợi, lời tựa hết sức đắc thể vậy!

 

* Thư trả lời Gia Hưng Quận Bá[34] là ông Thái Ḥe Đ́nh

 

          (Nguyên thư) Chỉ có đại sư của con từ bi cứu người, gột sạch tập khí cuồng dại, phóng đăng, thẳng thừng quay về An Dưỡng, quả thật là hóa thân của A Di Đà. Đệ tử tín tâm khá thiết tha, nhưng tịnh nghiệp khó thuần, dốc trọn một đời này để báo ân thầy, như Hàn Tín lập trận quay lưng vào chỗ có nước, [quân lính] muốn lùi mà chẳng thể được! Kính mong trong cơi Thường Tịch Quang ngầm ban ân gia hộ, che chở, thiết tha mong cầu! Ngoài ra, con xin thầy chỉ điểm đối với bản kinh đă khắc. Quyển cuối của Thiên Phật Danh Kinh vốn bị đảo lộn, bản trong Đại Tạng cũng có chỗ sai lầm, chẳng biết khi nào nhân duyên mới hội hợp?

          (Tổ trả lời) Ông để lại ân trạch rộng khắp, người người đều thiết tha tưởng nhớ. Bỗng nhận được thư ông, tôi khôn ngăn hoan hỷ. Được ông cho biết Thiên Phật Kinh Danh giữa bản trong Đại Tạng và bản ở Tô Châu có sai khác đôi chút, nhưng danh hiệu Phật trọn chẳng có ǵ bất đồng, những điều sai biệt nhỏ nhặt khác chẳng đáng biện luận! Tôi đă tám mươi tuổi, già suy, mạng như đèn trước gió, chẳng biết có lại được thấy nghi dung sáng láng của ông nữa hay chăng?

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Việt Vương Mạnh Túc ở Côn Sơn

 

          (Nguyên thư) Đệ tử Vương Quảng Việt trăm lạy dưới pháp ṭa của đại sư: Đệ tử làm quan bốn năm, chưa gởi một lá thư đến pháp ṭa, do huyện con đang trông coi nghèo khổ, sau khi tai ương liên tiếp xảy ra, suốt ngày chỉ chú trọng cứu đói. Không gạo sẽ khó thổi cơm, cuộc sống khá khổ sở. Hơn nữa, con nghĩ rằng thay v́ chú trọng viết thư thăm hỏi suông, sao bằng tuân hành lời dạy của đại sư? Do vậy, con xin lương thực để phát chẩn, nấu cháo để cứu sống dân đói chẳng tiếc sức thừa. Đôi khi có những vụ án oan đă thành án, khó thể xoay chuyển, đệ tử đốt hương tŕnh với trời, nhất định rửa oan cho họ, quan trên cũng thường thấu hiểu mà thuận theo. Trong bốn năm, bổng lộc chẳng thể nuôi sống người nhà; đó là t́nh h́nh làm quan đại lược của đệ tử.

Khi tới nhậm chức, vốn chẳng mang theo vợ con, từng dẫn theo một người thiếp. Năm ngoái, do cô ta tánh hung hăn, nên con đă khéo sắp xếp cho cô ta rời đi. Con cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, được chiêm lễ đại sĩ, hằng ngày ngoài việc tụng một quyển kinh Di Đà ra, hễ kiếm được lúc nhàn rỗi bèn đọc Lăng Nghiêm, ngữ lục của Bàng cư sĩ v.v… Đại khái, đệ tử tuy có chí, nhưng tập khí nhiều đời vẫn chưa trừ. Do vậy, luôn luôn tự nhắc nhở, chỉ e thoái đọa, thường nghĩ từ quan để chuyên tâm nơi tịnh nghiệp, nhưng chuyện cưới hỏi [của con cái] c̣n chưa xong, lại sợ khi tĩnh tọa cũng có lúc chưa yên, chỉ đành đợi ngày tháng trôi qua. Cuộc đời này cùng quẫn hay thông đạt, ngộ đạo sớm hay trễ, nghe theo cơ duyên, xin đại sư dạy cho một lời. [Con được tin] pháp thể thầy khỏe mạnh từ chỗ các vị Lư Trường Hành, Vương Nhược Sanh, hết sức vui mừng. Đối với lời căn dặn về tranh chăn trâu th́ đệ tử đă có. Nếu có bản khắc in gần đây, xin ban cho con để tiện cung kính đọc tụng. Con kính dâng hai lượng bạc từ tiền lương bổng để đại sư may thiền y, mong thầy xét soi ḷng thành mà tiếp nhận. Con viết thư khôn ngằn chiêm ngưỡng tột bậc!

          (Tổ trả lời) Giữ đạo làm quan như thế, yêu dân dưng ấy, giải oan cứu khổ ngần ấy, đáng xưng là bậc Bồ Tát trong giới quan viên. Trong thư, ông có nói “cuộc đời này cùng quẫn hay thông đạt, phó cho thời, mạng. Ngộ đạo trễ hay sớm, nghe theo cơ duyên”, có thể nói là luận định đích xác! Nay tuy sự đời chưa xong, nhưng hễ được lúc nào rảnh rỗi, chớ để luống qua, hăy liền dấy khởi sự tham cứu của chính ḿnh. Lâu ngày sẽ tự có chỗ ngộ nhập.

 

* Thư trả lời quan Giá Bộ[35] Quảng Nghiêu Vương Nhược Sanh ở Thái Thương

 

          (Nguyên thư) Trước kia, con được thầy chỉ dẫn, đề khởi câu thoại đầu “người niệm Phật là ai?” Trong lúc bận bịu với cơi trần, con chẳng thể thiết thực phụng hành, nhưng hễ ngẫu nhiên dấy khởi, liền cảm thấy bị quấy nhiễu bởi một loại quang cảnh (cảnh giới) tương tự với những ǵ đă xem từ sách vở thường ngày hoặc do nghe thiện tri thức nói. Nếu quét sạch những điều ấy, th́ lại như núi đồng, vách sắt, mờ mịt chẳng biết chỗ nào có phương tiện để tiến nhập! Mong thầy từ mẫn, chỉ dạy một lời để vẹt mây mê!

          (Tổ trả lời) Ông đă có chức quan, hăy nên coi sự vụ của vua là nhiệm vụ cấp bách, đạo niệm chưa thể mười phần tương ứng; đó là lẽ tự nhiên, chẳng có chi là lạ, nhưng hễ rảnh rỗi liền đề khởi. Ông nói những ǵ mắt thấy, tai nghe đều quét trừ sạch, lại mờ mịt chẳng có chỗ để thực hiện, nhưng vạn duyên tuy đều trừ sạch, mà thoại đầu vẫn riêng tồn tại, sao không có chỗ để thực hiện? C̣n như thật sự chẳng có chỗ để thực hiện; đấy chính là chỗ để thực hiện!

          2) Trong thư, ông có nói về thư và chế nghĩa[36] (văn bát cổ), hai điều ấy đều rất hay đẹp. Những bài ông viết thâm nhập nghiên cứu đạo lư nơi sự vật là những chuyện thiết yếu, đúng là đuốc báu trong đường tối, là kim vàng để tách bỏ màng mộng nơi mắt. Lại c̣n những chuyện thuộc về Tịnh Độ như ông đă hỏi, đại để là nhập đạo có nhiều môn, chẳng khuyên tu Tịnh Độ cũng chẳng trở ngại ǵ, nhưng trong hiện thời, rất nên phải nói. Người thời cổ nếu chẳng chú trọng Tịnh Độ, bèn thật sự dụng tâm nơi Thiền. Thiền thành tựu th́ Tịnh Độ cũng thành tựu! Người hiện thời chẳng chú trọng Tịnh Độ, cũng chẳng thật sự dụng tâm tu Thiền, miệng bàn Thiền để ra vẻ cao minh, nhưng Thiền lẫn Tịnh Độ hai đằng đều chẳng thành! Tịnh Độ do chính miệng vàng của Thích Ca Như Lai đích thân khuyên bảo, mười phương hằng sa Như Lai cùng dùng tướng lưỡi rộng dài để cùng khuyên lơn, Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ, Thiên Thai, Thanh Lương, Vĩnh Minh v.v… vô lượng vị đại thánh, đại hiền cùng khuyên nhủ. Chỉ kể từ sau khi tổ Đạt Ma sáng lập Thiền Tông, chẳng khuyên tu Tịnh Độ, chính v́ muốn nâng đỡ đạo “đơn truyền trực chỉ”. Nếu lại nói Tịnh Độ, đạo ấy (đơn truyền trực chỉ) sẽ chẳng tỏ rơ được! Bởi lẽ, lập bày môn đ́nh, đúng lư nên như thế. Lại do thời tiết nhân duyên, cũng phải nên như thế.

C̣n như các vị giảng sư, không vị nào chẳng khuyên lơn; đó là v́ trong Giáo hoặc chuyên nói Tịnh Độ, hoặc nói kèm Tịnh Độ, kinh, luận, ngữ lục vằng vặc như vầng nhật nguyệt giữa trời. Giảng sư chuyên nghiên cứu, học tập giáo, cho nên diễn nói thông suốt nghĩa này, nhằm bảo khắp người đời. Đấy chính là chuyện phải nên làm thuộc về chức phận. Giảng sư chẳng khuyên Tịnh Độ, trong trăm ngàn người chỉ có một hai kẻ! Làng tôi trước kia có vị pháp sư đắc pháp, tới nay chỉ có vị ấy và môn nhân của vị ấy mà thôi, chứ những vị khác [chẳng khuyên Tịnh Độ] không thấy nhiều! Hơn nữa, đối với chuyện nói phẩm Thế Chí Niệm Phật trong kinh Lăng Nghiêm chẳng được dự vào pháp Viên Thông, nỗi nghi hoặc này chẳng thể không nói rơ, có hai đoạn đă được in từ trước xin gởi kèm cho ông xem.

          3) Thư ông gởi tới có nói thế tục lắm nỗi phiền lụy, chẳng thể triệt để gột sạch phàm tục, nhưng cơi đời chưa đáng gọi là phiền lụy! Pháp thế gian như làm con phụng sự cha mẹ là hiếu, làm bầy tôi phụng sự vua là trung, cho đến trọn vẹn nhân luân, đối đăi sự vật, mỗi mỗi đều chẳng trở ngại đạo. Cốt sao tuân theo lư mà tùy duyên, vô tâm thuận ứng mà thôi. Khoa thi gần tới, hăy nên một ḷng nơi cử nghiệp. Khi đỗ đạt, phát đại thệ nguyện “ắt chẳng v́ phú quư, lợi lộc, hiển đạt mà cô phụ sở học, mong được như những vị bầy tôi nổi tiếng thời cổ”; đó gọi là “tế thế” (giúp đời). Ắt chẳng v́ phú quư, lợi lộc, hiển đạt mà mê mất chánh niệm. Cốt sao hiểu rơ đại sự nhân duyên này, đó gọi là “xuất thế”. Như vậy th́ sĩ phu sẽ có thể đang làm quan mà tham Thiền, chẳng ĺa tục mà nhập đạo! Mong hăy lưu tâm vậy!

 

* Thư đáp châu thủ[37] Quảng Triêm Tiền Dưỡng Thuần

 

          (Nguyên thư) Đệ tử Tiền Quảng Triêm khấu bái trước pháp ṭa của đại sư. Đệ từ ngu tối, tập khí nồng đậm, sâu dày, đêm thanh phản tỉnh, [nhận thấy] tội khiên thật nhiều! Nếu như tu ṛng tịnh nghiệp, ắt phải nhờ vào giảm bớt ngoại duyên, nhưng bị chèo kéo bởi các mối quan hệ giữa con người với nhau, chẳng cắt đứt được. Tuy có khi tạm thời gác bớt được, nhưng xong chuyện lại trở thành nỗi hối hận, đâm ra cảm thấy bất an. Ư con muốn t́m một tĩnh thất, kiếm một người có đạo hạnh hướng dẫn, tận lực vứt bỏ chuyện thế tục, chuyên tâm niệm tụng, nhưng những điều vốn mong mỏi chưa xong! Không chỉ bị trói buộc bởi cái nợ con cái, mà tâm t́nh ư niệm cũng bị buộc ràng, [dẫu ở nơi] hẻo lánh mà tâm vẫn ruổi rong, [như vậy th́] tuy xa ĺa [trần thế] mà có ích chi đâu? Chờ chúng nó cưới hỏi xong xuôi, ắt phải mất thời gian năm sáu năm, sông trong khó đợi, hai cuộc chiến chưa yên, sẽ do duyên nào đắc thắng? Xin thầy chỉ dạy. Lại v́ đứa con c̣n bé, cứng đầu, kém cỏi, thầy dạy chữ không uốn nắn nổi, nay phải tự dạy bảo lấy, lại tăng thêm một mối lụy! Nếu bỏ lỡ dịp này chẳng dạy, sẽ có thể dẫn đến [t́nh trạng] nó chẳng thành tựu được ǵ, há chẳng phải là nỗi hối hận to lớn ư? Đấy là điều khó khắc phục!

Gần đây con đọc kinh sớ, tuy đại lược nương theo kinh văn để hiểu ư, nhưng tâm địa chẳng dung thông, như nh́n mặt đất chẳng rơ, rốt cuộc nghi ngại khi đặt chân. Con ngẫu nhiên xem Quán Tâm Luận Sớ của tổ Thiên Thai, [thấy sách ấy] hoàn toàn nói về Chỉ Quán, đă nêu rơ được đại cương, các điều mục chi ly đều trọn, như uống nước sông tự no, chẳng phiền t́m chi khác! Bậc thượng căn có thể viên quán, mà kẻ trung hạ cũng có thể kiêm tu, thật sự phù hợp Lăng Nghiêm, nhưng người học lại càng dễ hiểu hơn, tợ hồ là chỗ thiết thực nhất để tu tập, con tính sẽ thiết thực tuân theo. Như trong phần trên [đă nói], con bị tục duyên ràng buộc, chẳng thể thuận tiện tùy ḷng mong muốn mà hành theo, chuyện này nên làm như thế nào? Xin thầy chỉ dạy.

Con lại đọc pháp môn Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm, [nhận thấy tác phẩm ấy] rất khơi mở sự hiểu biết, đối với chuyện có người nương cậy để giúp răn nhắc, con hận chẳng có người cùng chí hướng giúp cho. Nay trong hội Phóng Sanh, chỉ niệm một bài chú nhỏ là chú Văng Sanh, trịnh trọng tụ tập mà trọn chẳng có một mảy hữu ích cho chính ḿnh, há chẳng đáng tiếc ư? Nay con liền nương theo pháp này để hành, nhưng ở trong thuyền trên mặt hồ th́ chẳng thuận tiện. Nếu kiến lập hội này ở cái am nhỏ trong ao th́ hết sức may mắn vậy! Một hội nhuốm vào thần thức, sẽ gieo chủng tử trong ngàn kiếp. Nhưng cần phải chọn người giới hạnh tinh khiết, phát âm trong trẻo, thông hiểu thấu triệt văn nghĩa làm pháp sư, ḥng có thể dấy lên ḷng tin tưởng, ngưỡng mộ, có thể khiến cho người nghe nghiêm túc kính cẩn. Nếu để kẻ tầm thường chủ tŕ, sẽ chỉ tăng thêm tṛ cười, chẳng thể làm [như vậy] được! Nếu chỉ quyên tiền để mua con vật, tuy là thực hiện điều thiện, chắc chỉ dẫn đến cái quả nhỏ nhoi trong cơi trời, người, huống hồ cách làm chưa chắc đă là tốt lành ư? Ngu kiến là như thế, nếu có thể chấp nhận được, con sẽ làm theo lời thầy dạy, ắt sẽ dấy khởi, cảm nhiều người phát tâm vậy! Do người làm chủ hội phụ trách nhiều việc lặt vặt, ắt cần phải châm chước. Do theo lệ cũ qua loa, tợ hồ sẽ có trở ngại nhỏ.

Con lại thấy Trung Phong Quảng Lục khuyên mọi người trừ khử vọng niệm, chuyên tâm tĩnh tọa, lấy ngộ làm kỳ hạn. Cố nhiên con biết vị này dụng tâm khẩn thiết v́ người khác, nhưng xem tác phẩm của Ngài phong nhă, lại biết Ngài chẳng phải là kẻ chỉ biết tĩnh tọa si ngốc. Há chẳng phải là trước hết dùng Định để lay động, sau là dùng Huệ để dẹp trừ ư? Ngu ư cho rằng ắt phải là trước ngộ, sau tu, hạnh khởi, giải tuyệt th́ mới thỏa đáng. Chắc là có người do Thiền mà đắc đạo, ắt phải do túc huệ khiến thành ra như thế. Như người trong lúc tĩnh lặng, có thể nhớ lại chuyện cũ, chứ lúc quá mức bận bịu sẽ chẳng thể. Nếu trong ruộng thức chẳng có chủng tử ấy, dẫu muốn do một lượt tĩnh tọa mà thành công, sẽ là như gă nông phu vụng về lấy một khoảnh ruộng ngập mặn mà mong mùa màng tươi tốt tự sanh trưởng, tự thâu hoạch, dẫu siêng năng, há có được ǵ?

Hơn nữa, phương tiện thiện xảo phần nhiều ở trong Giáo, dụng binh ắt phải đọc [binh thư của] Tôn, Ngô, viết văn ắt phải cậy vào kinh, truyện. Đó gọi là kư đắc cổ thi thiên bách thủ, bất hội ngâm lai dă hội ngâm” (nhớ trăm ngàn bài thơ cổ, dẫu chẳng biết ngâm thơ cũng ngâm được!) Thiền nhân thời cổ chưa chắc đă thông suốt trọn Tam Tạng, nhưng cũng có vị do t́m cầu nơi công án mà đắc ngộ. Ngộ rồi chẳng hạn cuộc trong công án, mà cũng chẳng ra ngoài công án, chính là v́ [công án và cảnh ngộ] kích phát lẫn nhau, khiến thành ra như thế. Chẳng biết [con hiểu như thế] có đúng hay không, xin thầy chỉ dạy!

          (Tổ trả lời) Thư ông gởi đến nói ư niệm tu đạo và gia duyên, vật lộn nơi hai cuộc chiến ấy, chưa yên được. Nay chỉ nên đối với những chuyện như cưới hỏi v.v… cứ tùy sức, tùy phần, chẳng hề cưỡng làm một chuyện nào, sẽ chẳng trở ngại đạo niệm, chẳng tạo thành hai mặt trận. Nếu khế hợp quán tâm, hăy nên lập tức tu tập, cứ ắt đợi xong xuôi tục duyên, sẽ chẳng có lúc nào giải quyết xong!

          Lại c̣n chỉ nên giữ vững sự tham cứu của chính ḿnh, chẳng cần phải cầu gấp giải ngộ. Ví như người đi đường, cứ đi không ngừng, sẽ tự có lúc về đến nhà. Đối với việc đời, t́nh thế cũng là chẳng thể cưỡng đoạn được! Chỉ thấy thấu suốt chúng là hư huyễn, tùy duyên mà ứng theo, một mực ứng tiếp, tâm sẽ tự nhàn, công sẽ tự tiến!

 

* Thư trả lời Đại Tham[38] Quảng Bân Ông Châu Dă

         

(Nguyên thư) Cách biệt thầy mười bốn tháng, con đă nhậm chức mười một tháng rồi. Từ thời cổ, Ngô Châu được coi là nơi dành cho kẻ lưu đày. Tương truyền nơi đây có chướng khí sanh khởi bệnh dịch, [nhưng t́nh huống thật sự] chẳng quá đáng như thế. Chỉ là thoắt lạnh, thoắt nóng, thường luôn có sương mù âm u, khó thể thích ứng. Những người cùng đến thường răn nhắc nhau, may là con cẩn trọng, chẳng ngă bệnh. Dân Quả Di không khuấy động, phong tục của dân chúng khá hèn tệ, mọi chuyện khoan hậu, b́nh ổn, h́nh phạt bỏ xó chẳng dùng đến, hoàn toàn có thể vun bồi cái tâm từ bi. Con thường nghĩ chính ḿnh học tập ngôn luận của Nho gia đă lâu mà chẳng hiểu lư trong đạo Nho. Luận Ngữ có câu: “Vị tri sanh, yên tri tử?” (Chẳng biết sống, sao biết rơ chết?) Nay con nên biết “sanh” bằng cách nào? Lập thân, cư xử trong gia đ́nh, làm quan xử sự, không ǵ chẳng công minh, b́nh đẳng, khoan dung, khắc chế chính ḿnh, yêu thương người khác, chỉ sợ là sự tu tŕ nhỏ nhặt ḥng ứng phó chuyện đời đó thôi, đêm Ba Mươi tháng Chạp sẽ vô dụng, mịt mờ trầm luân, làm sao được nữa? Mong thầy từ bi chỉ dạy. Con chuẩn bị hai loại đàn hương và tốc hương[39] để cúng Phật, dâng thầy, cúi mong thầy tiếp nhận. Ngày Rằm tháng Chín, Ông Nhữ Tấn Quảng Bân kính lạy.

          (Tổ trả lời) Trong thư gởi đến, đề cập sanh tử. Nhà Nho nói “tri sanh” [tức là] nói về “sanh tử”. Phật nói “vô sanh” là xuất sanh tử. Có kẻ hiểu rơ mà chẳng thoát ra được, chứ chẳng có người nào đă xuất sanh tử mà chẳng hiểu rơ! Pháp xuất sanh tử được trần thuật trong kinh luận cố nhiên là có nhiều môn. Nói giản ước th́ là hai loại pháp môn Tham Thiền và Niệm Phật mà thôi! Nay kính dâng một quyển sách, xin ông hăy chọn lựa trong hai pháp ấy.

 

* Thư trả lời quan Trung Hàn[40] Quảng Ngụ Doăn Đạm Như ở Giang Âm

 

          (Nguyên thư) Đệ tử kể từ lúc thọ giới tới nay, như kẻ lạc đường ṃ mẫm trong tăm tối, bỗng có được đèn sáng chiếu tỏ nẻo đường trước mặt, khiến chẳng đến nỗi đọa lạc. Chỉ có điều trần lao chưa dứt, nghiệp chướng chưa trừ, chẳng thể thẳng thừng tiến hướng Chánh Giác, ḥng chẳng phụ ḷng đại từ của thầy con. Đối với dục vọng thế tục, đệ tử vốn nhạt nhẽo, coi chức quan như chiếc dép rách. Chỉ v́ lưới ái quấn trói, chẳng có thuở giải thoát. Nếu là người thượng căn thật sự, sẽ có thể chẳng ĺa mà lập tức chứng Chân Như. Cũng là do con phát nguyện chẳng chân thật, cho nên lênh đênh nơi bờ sanh tử, hứng chịu nỗi sợ hăi và phiền năo ấy! Mong thầy chẳng tiếc công phê b́nh, chỉ dạy, khiến cho con thoát cơn bệnh nguy kịch. Vô thường vùn vụt, nghĩ tới điều này, ngũ tạng nứt toạc, đau nhói. Chăm chăm ngóng về Đông, mong mỏi lời dạy từ bi. Những điều khác con không nói nữa!

(Tổ trả lời) Người sống trong cơi trần, sẽ chẳng tránh khỏi trần lao. Đă lạnh nhạt với t́nh đời, hờ hững chức quan để chánh niệm phân minh; đấy chính là từ ngay trong trần lao mà làm Phật sự!

 

* Thư trả lời quan Ấp Lệnh[41] xứ Gia Hưng là Đại Duật Bao Nghi Phủ     

 

          1) Ông đă nhậm chức, hăy nên coi đối xử nhân ái đối với dân là chuyện bậc nhất. Khi mọi chuyện cần phải xử trí thường ngày hoàn tất, liền tham cứu; đối với công văn, án từ, không ǵ chẳng phải là đạo tràng!

          2) (Nguyên thư) Đệ tử tài năng yếu kém, bẩm tánh viễn vông, nơi này từ xưa đă có tiếng là “khó cai trị”. Sáng tối dè dặt như đi trên băng mỏng, may ra mới khỏi đọa xuống vực sâu; nhưng con phước đức cạn mỏng, lũ lụt, hạn hán nhiều lượt xảy ra, dưới là dân chúng chẳng kham bị vắt kiệt mỡ màng, trên là có hạn ngạch thuế khóa chẳng khoan dung, vừa vỗ về dân chúng vừa thúc giục thuế má tới nỗi ấy, đủ mọi nỗi tỏ rơ sự vụng về của con. Chỉ là trong chẳng đánh mất chính ḿnh, ngoài chẳng phụ bạc dân chúng, là do tự thề nương vào quang minh tạng của thầy con rủ ḷng bi nhiếp thọ. Lần trước, con nhận được thư chỉ dạy, lúc rảnh rang ngoài công vụ liền tiếp tục sự tham cứu của chính ḿnh; đúng là tông chỉ [tu hành] thẳng thừng thỏa đáng. Điều đáng thẹn là con căn cơ kém cỏi, trong mười hai thời, thường bị sơ sót, vẫn mong đại từ ngầm gia bị, khiến cho con chẳng đến nỗi đọa lạc trong hầm hố, hào rănh!

          (Tổ trả lời) “Trong chẳng đánh mất chính ḿnh, ngoài chẳng phụ bạc dân”, chỉ hai lời này đă bao gồm trọn hết chẳng sót cái đạo phải tuân theo của kẻ làm quan lại. Vừa xử lư sự vụ, vừa chú trọng tu Thiền, đối với người b́nh thường chuyện này khó khăn lắm, huống hồ người mang chức quan, [công vụ] bề bộn cùng cực ư? Nhưng thoạt đầu cảm thấy khó khăn, về sau sẽ chứng dễ dàng. Tôi nằm bẹp, khốn khó v́ bệnh tật, chẳng thể nói đến những chuyện khác, mong ông rộng dung.

         

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Phất Lâu Tử Nhu ở Gia Định

 

          (Nguyên thư) Ngày Mồng Tám tháng Tám, đệ tử thọ giới là Lâu Kiên Quảng Phất dập đầu kính lễ dưới pháp ṭa của bổn sư ḥa thượng đạo sư. Từ lâu, Quảng Phất đă thiết tha ngưỡng vọng, may mắn được đảnh lễ, tham yết thầy vào cuối Xuân, tâm thoạt đầu chỉ muốn thọ Y Bồ Giới[42] mà thôi! Được thầy nâng đỡ, khen ngợi, v́ con nói đại giới. Lúc sắp giă biệt, lại được nhận đủ loại pháp thí, chắc đời này chẳng đến nỗi đọa lạc, dám quên ḷng từ của thầy ư? Con từng buồn rầu duyên đời chướng nặng, đă khổ v́ anh em ít ỏi, lại khó có con nối dơi, mẹ hiền quyến luyến, chưa bằng ḷng cho con buông bỏ. Hai tháng trước, con sanh được một trai; nay con chẳng lo toan sau này nó sẽ trưởng thành; do vậy, chấm dứt ăn nằm, nhất ư [tŕ giới] thanh tịnh nghiêm ngặt, ngơ hầu chẳng phụ sự tiếp dẫn [của thầy]. Chỉ hận bẩm tánh con tuy luôn hướng về nhân từ, nhưng riêng ghét điều ác sâu xa, tuy cũng biết đấy là phân biệt điên đảo, nhưng vướng mắc chẳng nhẹ. Tuy con thống thiết tự trách, nhưng hễ gặp chuyện bất b́nh, liền trái nghịch cái tâm giác ngộ ngay, thẹn thùng, run sợ xiết kể! Khéo sao có người bạn vào núi, con nhờ chuyển thư thăm hỏi thầy, bất giác tâm này đă ruổi đến sườn núi Vân Thê rồi. Tiết Thu trời lạnh dần, con cúi mong thầy v́ pháp, v́ chúng sanh mà vạn phần trân trọng [thân thể].

          (Tổ trả lời) Chuộng thiện ghét ác là lẽ thường t́nh của con người. Chẳng ghét điều ác tức là giống như ác vậy! Nay ông nói do một chuyện ghét ác mà chia thành hai cái tâm, sợ rằng chính ḿnh cũng có sự ác ấy nên mới ghét. Chán ghét điều ác, dùng đó để răn nhắc th́ được, nhưng thấy điều ác của người khác bèn căm ghét, lại c̣n căm ghét quá đáng th́ chẳng được! Nhưng so giữa làm quan trong triều đ́nh và cai trị dân th́ có chút khác biệt. Nắm giữ chức trách thăng giáng quan viên, hoặc nắm quyền thưởng phạt, chẳng lẽ mặc kệ ác hạnh của họ mà chẳng biếm truất, chẳng trừng phạt ư? Hăy nên dùng tâm hạnh chánh trực để xét theo [bản chất, t́nh huống của] sự vật để xử trí, dẫu suốt ngày ghét ác, nhưng chính ḿnh chẳng vướng mắc vào đó. Hăy châm chước cặn kẽ!

 

* Thư trả lời quận thủ Nghiêm Thiên Tŕ ở Thường Thục

 

          1) (Nguyên thư) Tiểu nhi Nghiêm Lăng là một đứa ngu độn, đắm ch́m trong lạc thú thế tục, trọn chẳng có ư nguyện siêu thoát; may mà gần đây do mắc phải hoạn nạn trong gia đ́nh, nó hơi động tâm. Con thừa dịp bảo nó thân cận bậc hữu đạo, c̣n được rưới cam lộ, sẽ tỉnh ngộ đối với trần lao đấy chăng? Vẫn mong nó lưu lại nơi đó mười ngày hay một tháng để nhiễm đậm pháp hương, dẫu thầy chẳng nói một lời nào, mà đă rền tiếng như sấm. Người thân của con là Vương Quư Ḥa, là người hết sức hiền, mong được làm môn đồ của thầy; đấy là điều may mắn nhất trong khi bất hạnh. Trong cái nh́n nông cạn của con, dường như huynh trưởng dùng thân phận tể quan để làm cho cơi đời tốt đẹp hơn, chẳng rơ pháp nhăn thấy như thế nào? Mong là thầy sẽ ứng theo căn cơ mà dạy bảo, khiến cho [anh con] lúc đến th́ trống rỗng, lúc về liền đầy ắp.

(Tổ trả lời) Lệnh lang[43] trầm ổn, đôn hậu, ít nói, chắc là do duyên đời biến đổi, đúng là như thường nói “tâm chí bị xúc động khiến tánh t́nh kiên nhẫn”, tăng trưởng những điều trước đó chẳng thể. Vương Quư Ḥa bị hai anh và các bạn cưỡng ép rời đi rồi. Kính cẩn trả lời như thế!

2) Đời người nhàn rỗi hay bận rộn, cũng có định số, cứ phải đợi tột bậc nhàn rỗi rồi mới tu đạo, rốt cuộc sẽ chẳng có ngày nào cả! T́m rảnh rỗi trong lúc bận bịu! Hễ rảnh lúc nào, bèn thâu nhiếp cái tâm tán loạn khi đó, nhiếp nó về chánh niệm, lâu ngày sẽ tự nhiên có sở đắc.

         

* Thư trả lời Trị Trung[44] Quảng Án Viên Thương Nhụ

 

          (Nguyên thư) Con luôn nghĩ tưởng pháp môn Niệm Phật chính là công phu thông trên, thấu dưới, chẳng ngại nhiếp tâm thường niệm, cũng chẳng ngại đọc tụng, nghiên cứu đến cùng tột lư. Đệ tử ưa thích sâu xa Huyền Nghĩa Chỉ Quán của tông Thiên Thai, do nó rốt cuộc cũng chỉ là niệm Phật. V́ thế, Trí Giả đại sư đem mười sáu phép Quán quy nạp thành Tam Quán, ư chỉ ấy rất sâu, lư ấy rất diệu. Mong thầy ngoài lúc Thiền Quán, sẽ dùng mấy hàng pháp ngữ để chỉ dạy cho con chỗ trọng yếu trong dụng công. Như Lai Thế Tôn siêng năng, khẩn thiết suốt một đời chỉ v́ mong cho chúng sanh khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật. Dụng tâm của thầy và Phật chẳng hai, như đệ tử là kẻ tầm thường, tối tăm, chưa biết có thể nhập đạo ấy hay chăng? Nguyện thầy dùng từ thệ nhiếp thọ con, khiến cho con sớm khai ngộ. Con sẽ đời đời kiếp kiếp làm pháp quyến đệ tử.

          (Tổ trả lời) Thiền Tông và Tịnh Độ khác đường, nhưng cùng về [một mục tiêu]. Đó gọi là “tham Thiền chỉ hiểu rơ sanh tử, niệm Phật chỉ mong liễu sanh tử”, nhưng cần phải một môn thâm nhập. Thời gần đây, người bẩm tánh mẫn tiệp chuộng bàn Thiền, chỉ mong nói cho sướng miệng, c̣n người căn cơ chậm lụt niệm Phật th́ lại niệm hời hợt, chẳng quán tâm nữa, thường là đôi đằng đều mất mát! Cao kiến [của ông] rành rành chẳng sai, nay chỉ nên giữ lấy Định, luôn luôn thiết tha niệm, đừng quên bẵng!

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Tấn Trần Giới Phu ở Phước Kiến

         

          1) (Nguyên thư) Quảng Tấn cho rằng quán pháp sanh Tây tột bậc đơn giản, dễ hành, cho tới khi xem Di Đà Sớ Sao, mới ngộ trăm lối, ngàn môn, vốn chẳng chứng ngộ khác biệt! [Chỉ là do bị] trần cảnh lăng xăng tước đoạt mà lại trở thành khó khăn! Nghĩ tưởng xương chó như núi, Trá Ba[45] không xa, lại run sợ, dựng cả tóc, mắt quáng, tâm kinh hăi, phiêu dạt, không nơi nương tựa, chủ khách đánh nhau loạn xạ. Kẻ giống như đệ tử đáng thương xót nhất, bị xỏ mũi lôi đi chẳng trở lại được, lắm phen buồn rầu v́ hăm nhập khốn cảnh, chưa thể [thơng tay] vào chợ, ngày nào sẽ quên trâu? Cúi mong ḥa thượng từ bi thẳng thừng dẹp trừ gốc bệnh, thống thiết răn dạy, sách tấn.

          (Tổ trả lời) Trong thư, ông nhắc đến chuyện “vào chợ, thơng tay”; đó là chuyện sau khi đă đắc đạo. Đúng là xa xôi quá! Chính là như cổ nhân nói “nhất hồi nhập thảo khứ, mạch tỵ duệ tương lai” (hễ trâu xông vào đám cỏ, nắm mũi lôi trở lại). Đó chính là chuyện trong hiện thời, chẳng thể thoái thác là khó khăn được! Khi đọc sách, viết văn, hầu hạ cha mẹ, nuôi nấng con cái, khi làm chủ hay làm khách, cho đến khi đỗ đạt ra làm quan, trên là thờ vua, dưới là trị dân, mỗi khi lạc vào đám cỏ phải lôi trở lại, những khi đó đều là lúc phải dốc sức, tận lực thực hiện.

2) Từ các trước tác, thấy rơ là ông tài năng lỗi lạc hơn đời, nay hồi tâm nơi môn này, chẳng phải là do có cội rễ sâu xa từ trước, sao có thể đạt tới như vậy được? Hăy nên luôn luôn phản chiếu: Một bầu tinh hoa ấy từ nơi nào lưu xuất? Như thế th́ sẽ chẳng phụ b́nh sanh vậy!

         

* Đính kèm thư hồi đáp của Trần cư sĩ

 

          Kể từ khi được tham học, được thầy truyền dạy tới nay, bỗng chốc đă trải qua năm năm, [thế mà] con cứ mơ màng, tản mạn qua ngày, lăng phí thời gian. Lại đọc lời răn dạy từ ái của thầy rằng: “Chỉ xem một bầu tinh hoa ấy từ nơi nào lưu xuất?” Chỉ nửa lời kệ ấy đă đủ để nghiệm chứng cái tâm, truy đi cầu lại, chẳng biết đầu mối, vùi đầu, thiếu năo, ch́m đắm đáng buồn, vẫn mong từ ân ra rả chỉ dạy.

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Vũ Tôn Kính Ngô ở Đồng Thành

         

1) (Nguyên thư) Trong phẩm Phổ Môn, đức Phật nói “đáng nên dùng thân tỳ-kheo để đắc độ, liền hiện thân tỳ-kheo để thuyết pháp”. Thầy là bậc đại bi Bồ Tát hiện thân tái lai, nương thuyền đại nguyện phiêu du trong biển sanh tử, chẳng chấp bờ này, chẳng lưu bờ kia, chẳng trụ giữa ḍng, chỉ chú trọng chuyện độ sanh, khiến cho chúng sanh thuở Mạt Pháp chỉ cần mở miệng [niệm Phật] liền văng sanh, tùy theo căn khí mà nhiếp thọ tiến nhập. Công đức của thầy tán dương chẳng thể tận! Gần đây, thầy lại viết Sớ Sao cho kinh Di Đà, lại tạo phương tiện tối thắng trong các phương tiện. Chỉ bốn chữ ấy đă xoay chuyển càn khôn; đó gọi là “mười đời xưa nay, từ đầu đến cuối chẳng ĺa một niệm hiện thời”. Con khát khao muốn tiếp nhận lời dạy, nhưng không có cách nào được tiến dẫn. Con nay đă tạo tượng Phật bốn mươi tám nguyện, muốn rước về Tịnh Độ ở phương khác để thờ phụng. Bàn bạc chưa quyết định, gần đây, con gặp thầy Tam Đức nói: “Vân Thê trong mười hai thời thường lễ bốn mươi tám nguyện. Nếu có được tượng này để thờ phụng, sẽ là hay khéo nhất”. Con liền bảo khắp với tể quan và tứ chúng, không ai chẳng vui mừng, cổ vũ, đồng thanh tán thán rằng: “Nhân quả tương ứng, Tam Bảo tương xứng”. Há chẳng phải là do thiện tri thức cảm vời, hay là đệ tử có túc duyên với thầy đó chăng? Chẳng biết thầy có chịu dung nạp hay không? Con một dạ mong chờ pháp âm. Nếu thầy chẳng vứt bỏ [lời thỉnh cầu của con] th́ đệ tử may mắn lắm thay! Chúng sanh cơi này cũng may mắn lắm thay!

          (Tổ trả lời) Thời Mạt Pháp bàn Thiền, lại chán nghe Tịnh Độ. Cư sĩ nghiên cứu sâu xa ư Tổ, lại c̣n gởi tâm nơi Lạc Bang, có thể nói là Sự Lư dung thông, kiến xứ viên dung thấu triệt vậy. Đối với thánh tượng được nói trong thư, mọi người đều hoan hỷ, nếu quang lâm tệ cảnh, mong hăy sai người đến chỉ dạy trước để tiện nghênh đón.

2) Chúng sanh vô thỉ vô chung mà cũng vô tận, tức là chúng sanh trong thế giới thành Phật như các hạt mưa, mà chúng sanh trọn chẳng thấy giảm, chư Phật trọn chẳng thấy tăng. Đấy chính là lời nói chân thật! Con số “vô thỉ, vô chung, vô tận” cực diệu. Đấy là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn. Xứng Lư th́ chúng sanh chính là Phật, Phật chính là chúng sanh.

3) Tam giáo một nhà, chẳng thể nói là bất đồng. Tuy nói là “một nhà”, nhưng trong một nhà có ông, cháu, cha, con, cũng chẳng thể nói là hoàn toàn như nhau! Cứ ắt cưỡng thành giống nhau, sao cho chẳng sai khác chừng bằng sợi tóc, sẽ hoại tướng thế gian, gây hại chẳng cạn! Như một cội cây, có rễ, có cành, có lá, trọn chẳng thể coi cành, lá là rễ được!

 

* Thư trả lời Thuyên Bộ[46] Ngu Đức Viên

 

          Thư trả lời của Lợi Mă Đậu[47] rơ ràng là do một vị sĩ phu ở kinh thành viết thay, chứ hai lá thư Thật Nghĩa và Ky Nhân trước đó, từ ngữ nặng nề, trúc trắc. C̣n lá thư này lư lẽ rành rẽ, minh bạch, lưu loát, chẳng giống các lá thư trước, biết là tà thuyết đă thâm nhập ḷng người, có kẻ tin tưởng sâu xa, tận lực giúp đỡ ông ta. Nhưng suy xét đạo lư, [những điều ông ta lập luận] quả thật nông cạn, thô lậu nực cười, văn từ cũng quá dài ḍng, đáng chán. Đại để, kẻ tin theo gă ma ấy ắt chẳng phải là người có trí. Hơn nữa, biện tài của Hàn Dũ, Âu Dương Tu, đạo học của anh em họ Tŕnh (Tŕnh Di, Tŕnh Hạo), Châu Hy c̣n chẳng thể xô đổ Phật, huống hồ gă ma nhỏ mọn ngu xuẩn ư? Những thứ tà ma vặt vănh ấy sao đáng biện định, thế mà [có kẻ] riêng cam tâm phù tá, đáng than thay! Nếu những thuyết ấy ngày càng lừng lẫy, thậm chí những vị nổi tiếng đều bị mê hoặc, tôi tuy già nua, hủ lậu cũng chẳng tiếc thân bệnh tật, chẳng nề hà khẩu nghiệp, đứng lên cứu văn. Nay chỉ đành coi những lời lẽ [tà thuyết của Lợi Mă Đậu] như câu ca tiếng hát của ngư phủ, mục đồng, hoặc muỗi vo ve, ếch ộp oạp mà thôi!

          2) Được ông thăm hỏi, tôi cảm kích lắm, nhưng trước kia đă từng dùng đôi nạng cho xong đời, nay có thể đi lại vững vàng mấy năm, an trụ [một chỗ] cũng là đúng lẽ. Nằm chờ tuổi thọ hết, quả thật cam ḷng! Tuy Việt Nhân có thể giúp người chết sống lại[48], chẳng dám mong mỏi. Ao [phóng sanh] sắp được hoàn thành, công đức vô lượng!

 

* Thư trả lời Thái Sử Đào Thạch Quỹ ở Cối Kê

 

          1) Đă xem công án “vạn pháp quy vào đâu?”“người niệm Phật là ai?”, [phải hiểu hai công án ấy] chẳng có hai ư! Hễ thấu hiểu một công án th́ cả hai đều thấu hiểu. Mong ông hăy chuyên tâm. Bài văn bia ở chùa này để trống bên trái ḥng đợi bậc danh bút đă lâu. Nếu ông chấp thuận [cất bút], sơn môn sẽ vô tận quang minh, may mắn chi xiết! Gặp mặt sẽ có nhiều điều muốn giăi bày.

          2) Tôi nghe chuyện phóng sanh tại Qua Sơn trong dịp Xuân mới, các vị thượng thiện nhân vân tập vượt xa hội [phóng sanh] tại Tây Hồ. Đối với chuyện của ông Vương Vân Lai ở Nam Đô trước kia, tâm ông ta vốn v́ Phật pháp, chứ chẳng có ư ǵ khác, ngẫu nhiên tạo thành vấn nạn, khiến cho dư luận xôn xao tại đất Việt, ông Vương hết sức khốn đốn. Cư sĩ được mọi người trọng vọng, nếu có thể dùng một lời để hóa giải, những lời báng bổ sẽ dần dần lắng xuống, ngơ hầu Vân Lai sẽ chẳng thoái chuyển đối với công đức tu bổ và kiến tạo tại chùa Dung Quang. V́ thế, khẩn cầu ông lưu tâm, mong mỏi lắm thay!

          3) Tâm vốn chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa, nay tạm nhờ vào cái thân để nhiếp niệm là được rồi, chẳng cần phải nhất định quán dưới rốn. Thêm nữa, tham cứu câu thoại đầu chữ Tử rất tốt. “Chẳng sống, chẳng chết”, sợ là người đương thời chưa tin tưởng. Lại nghĩ đến pháp môn, dẫn chuyện của cổ nhân để an ủi, thẹn [chính ḿnh] chẳng thể đảm đương, nhưng đối với cư sĩ, t́nh hộ pháp tột bậc khẩn thiết khôn xiết.

          4) Lệnh đệ trở về, tôi đă cậy [anh ta] truyền đạt ư, không lâu sau sẽ lại sai người chuyên trách phúc đáp lần nữa, chẳng cần phải nhọc công gặp gỡ. Kẻ chẳng ra ǵ này cũng chẳng thể tiễn biệt theo kiểu thế tục. Kính dâng mấy loại sách được in từ trong núi, mong ông nhận lấy th́ may lắm thay. [Những điều được chép trong bộ] Thiền Quan Sách Tấn đều là công phu ổn thỏa do cổ nhân thật sự nhọc nhằn thực hiện nhằm nêu gương cho hậu hiền. Nay tôi mong ông giữ chắc sự tham cứu của chính ḿnh ḥng đạt được sự giác ngộ chánh đáng. Trung Phong quốc sư nói: “Câu thoại đầu một chữ Tử hễ ngộ được th́ mới là vui mừng, sung sướng”. Nói chí lư thay! Mong hăy lưu tâm!

          5) Vừa khéo có một vị tăng đến thăm, chắc là đi nhầm đường. Núi hoang chẳng có vật ǵ để làm lễ vật đơn bạc ḥng biểu lộ ḷng tôn kính, thế mà lại nhận được nhiều món tặng vật quư báu, sao dám nhận lấy? Tiết trời lạnh hơn, ngàn vạn phần hăy cẩn trọng. Cư sĩ trước đó đă nhận lời phó thác của đức Phật và vua quan để cai quản. Do vội vàng phong tỏa núi, bỏ sót một bản Trúc Song Tùy Bút đă khắc, nay bổ sung hai quyển. Sách này tuy là nhất thời tùy ư viết thành, chẳng có cao luận huyền ngữ ǵ, nhưng đều là những điều thực tế liên quan mật thiết với thân tâm và tánh mạng. Hăy luôn mở xem để làm dược vật trong ḥm thuốc. Bản in mới vừa được giảo chánh, chưa thể gởi nhiều được! Tôi gởi người chuyển tin đem kèm theo, [thư viết] chẳng diễn tả trọn những điều muốn nói.

          6) Qua thư của Cát Thủy Giám gởi đến, biết quư thể vào kinh đô b́nh an, mạnh khỏe, tôi vui mừng lắm. Tham thoại đầu là phương pháp hữu hiệu đă được cổ nhân nghiệm chứng. Nếu nhất thời chưa đạt được sự tỏ ngộ, mong hăy kiên tŕ, nhẫn nại, đừng dùng cái tâm muốn nhanh chóng thành công để tu tập.

 

* Thư trả lời Thiêm Hiến[49] Quản Đông Minh ở Tô Châu

 

          1) Một vị tăng ở Chiết Giang từ giảng ṭa Thiên Tŕ trở về, nói cư sĩ kích phát [đạo tâm] của tứ chúng, t́nh khẩn thiết, lời lẽ châu đáo, đại thể đều là chú trọng sự tu chứng chân thật. Nhưng ông đổi cách giảng, do người theo Thiền chỉ được một phần mười, ông đă bỏ sót chín phần mười [thính chúng] không quan tâm đến. Bởi lẽ, người ở chốn núi non, rẫy bái thường trộm than thở chánh pháp hoang vu, đèn Tổ sắp tắt ngóm, tôi chẳng lượng đức, chẳng lượng sức, vội làm con muỗi đội núi, ngă quỵ chẳng dậy nổi. Ngóng nh́n chung quanh, lại đ́u hiu, hiếm có kẻ ngoại hộ, há được như cư sĩ nương theo túc nguyện, mạnh mẽ đứng dậy duy tŕ, chẳng cô phụ lời phó chúc nơi Linh Sơn ư? Những điều tôi muốn nói chỉ nhằm uốn nắn thói tệ tích tụ đă lâu, ắt trái nghịch thói tục, dễ sanh oán. Nguyện bậc cao minh rộng dung, thong thả xem xét để thực hiện th́ pháp môn may mắn lắm thay!

          2) Có hai vị tăng sinh tới đây, cầm theo thư của ông và hai phần chánh, phụ của tác phẩm Lăi Trắc (蠡測) cho tôi xem. Xem qua một hai trang, tôi biết lời vấn đáp ắt bàn luận cùng cực huyền lư, nhưng do bệnh vừa đổ ra, chưa thể xem trọn hết. Có người bạn trông thấy, kinh ngạc khen là hy hữu, cầm đi chưa trả lại. Do hai vị tăng sinh sẽ trở về đất Ngô quá gấp, tôi đành viết thư này để tỏ ḷng cảm tạ khẩn thiết, vẫn mong ông rộng dung để mai sau sẽ thưa tŕnh cặn kẽ.

 

* Thư trả lời Đại Hạnh Quảng Du Vương Tánh Hải ở Giang Tây

 

          1) Vương Mặc Tŕ gởi thư đến. Trong thư, kể cặn kẽ những chuyện không hay trong lúc này, hăy nên giữ kín. Tôi biết ông yêu mến tôi tột bậc, cũng lại hiểu tôi sâu đậm; đại để là đôi bên có cùng ư tưởng. Cách biệt đă lâu, tôi luôn thiết tha nghĩ tưởng, nhưng các bạn trong núi không ai chẳng khăng khăng quyến luyến, chẳng biết khi nào ông đến đây để được an ủi một phen. Gần đây, Châu Mậu Chánh bị ma quấy nhiễu, nhưng “ma” như đă nói chẳng phải là dân thường mà là người thuộc giới áo mũ (sĩ phu), đáng than lắm thay! Riêng may mắn là có một hai vị nắm giữ quyền thế thương xót, giúp đỡ; đấy là thiện nhân trong thế gian vẫn chưa hết sạch. Đó lại là một chuyện đáng mừng vậy.

          2) Cách biệt đă lâu, chẳng có thư từ thăm hỏi. Tăng sĩ đến đây cho biết ông đă được điều đi làm quan ở kinh kỳ, hoặc nói ông vẫn làm quan ở các nơi, chưa biết t́nh h́nh thật sự, chẳng dám gởi thư. Ư niệm sâu đậm, ng̣i bút chẳng thể diễn tả trọn. Nay v́ Minh Tông nhận lời thỉnh của ông Lưu, chắc là c̣n nấn ná chưa trở lại, có lẽ sẽ gặp gỡ. Do vậy, [thừa dịp này] biểu đạt nỗi ḷng chất chứa. Một tấm ḷng chân thật chẳng lừa dối nhỏ nhoi, ắt ông sẽ xét soi, bao dung chẳng ngờ vực. Tôi gởi tặng ba bản sách được khắc ngoài núi, những điều khác chẳng nói nữa.

 

* Thư trả lời Hiếu Liêm Quảng Trân Tạ Thanh Liên ở Giang Tây

 

          1) Dấy khởi thoại đầu là công phu để khai ngộ khẩn thiết nhất trong Tông Môn. Người tu Tịnh Độ liền dùng một tiếng Phật hiệu để làm thoại đầu, đấy là diệu pháp; nhưng tâm thô thiển, hời hợt, xao động, sẽ chẳng thể tương ứng. Cần phải lắng ḷng phản chiếu, tới khi lực cùng thế kiệt, sẽ có tin tức, hoát nhiên khai ngộ!

          2) Qua thư gởi đến, biết ông buông bỏ hết thảy tri giải trước kia, chỉ lẳng lặng tham cứu thoại đầu, hết sức tốt lành! Chỉ sợ chưa thấu triệt thoại đầu, tri giải lại sanh, cần phải đề pḥng!

 

* Thư trả lời Tư Lư[50] Quảng Tuyên Vương Kiệu Hải ở Phước Kiến

 

          Nghe ông thực hiện Phật sự to lớn, biến nhà thành am, đúng là chẳng thẹn Bồ Tát hạnh môn, có những điểm mà người xuất gia chẳng thể sánh bằng được, nhưng ông nói khiêm tốn là “khuyến hóa người thế tục, đối với Tông Môn trọn chẳng đạt được ǵ!” Nay cũng chẳng cần cầu Tông Môn chi khác, xin hăy vâng theo lời ngài Thiên Như đă nói trong sách [Tịnh Độ] Hoặc Vấn: Chỉ dùng một câu A Di Đà Phật làm thoại đầu. Nếu có thể chuyên chí, chẳng phân biệt, th́ đối với Thiền Tông lẫn Tịnh Độ, sẽ là một đá chọi hai chim.

 

* Thư trả lời ông Hà thuộc Nghiêm Đạo Vũ ở Hàng Châu

 

          Được ông giao giảo chánh kinh Tư Ích đă xong, lại nhận được thư nói về chuyện liên quan tới Thiên Trúc, kính xin tŕnh bày như sau: Cụ nội của ông nương theo sức túc nguyện, hiện thân tể quan, do tâm đại từ bi, nghĩ thương xót tăng chúng thuở Mạt Pháp ít giữ giới hạnh, bèn dùng cách bắt giữ những kẻ phạm lỗi trong số ấy, khiến cho những kẻ có tội biết sửa đổi, kẻ vô tội càng thêm gắng sức. Do vậy, giữ yên tăng đoàn, chẳng phải là tổn hại tăng chúng. Nay ông phơi bày kẻ gian tà, bộc lộc điều chúng nó giấu diếm, muôn miệng đều vui sướng khen ngợi, oai hạnh truyền khắp vùng. Tôi vâng theo lời ông căn dặn, xiển minh quy chế của đức Phật để hướng dẫn [tín chúng] ḥng dần dần cải hóa họ. Đó là sau trận tuyết sương, khí lành ấm áp. Sau khi đă thực hiện sự sát phạt, bèn uốn nắn bằng đức hạnh mềm mỏng, nghĩa đă cùng tận, ḷng nhân đă tột bậc. Công hộ pháp không chi hơn được nữa! Chỉ v́ Châu Hoằng tôi già suy, bệnh tật, lênh đênh, sống tạm bợ trong hang núi, lại thêm chân què, đi lại cần phải có người nâng đỡ, sao có thể phấn chấn tinh thần ra sức ứng với ư đẹp tột bậc ủy thác trách nhiệm cho được? Huống chi nay hàng xử sĩ[51] do nghị luận ngang ngược mà bị bắt bớ, tăng chúng hiện thời do khinh đời mà bị mắc nạn, xét theo t́nh thế, cũng nên tránh né. Do vậy, xin ông hăy nghĩ cách khác ḥng xứng với ư chỉ vậy.

Nhớ thuở trước Đường Văn Hoàng (vua Văn Tông nhà Đường) thí kinh Di Giáo trọn khắp các châu quận trong thiên hạ, nay kinh này vốn là bản được in lại trong núi này, lại c̣n được bổ sung chú thích bằng ư kiến thô lậu của tôi. Ngu ư cho rằng chẳng bằng lưu thông kinh này trọn khắp các tự viện, am đường trong ngoài thành thuộc hai vùng núi Nam, Bắc, nơi lớn th́ mười quyển, nơi vừa th́ năm quyển, nơi nhỏ th́ một quyển để ai nấy đều thọ tŕ, chẳng vi phạm, chắc là sẽ có thể giúp ích trong muôn một!

 

* Thư trả lời ấp lệnh Tô Châu là Quảng Dịch Triệu Niệm Nga

 

          Đọc thư gởi đến, thấy ông v́ dân, v́ đạo, hai đằng đều trọn hết tấm ḷng, một niệm ấy chính là hạnh nguyện của Bồ Tát, tôi vui mừng lắm. Lư thế gian và xuất thế gian vốn chẳng chia cách, nhưng Sự ắt có trở ngại nhỏ. Phải là sau khi đại ngộ th́ mới thể ḥa thành một khối! Nay chỉ tùy duyên thuận theo thế tục, chẳng quên giác chiếu mà thôi. Cai trị dân, xử án, đă biết ông nắm giữ sâu xa ḷng đại từ, chẳng cần phải hỏi nữa! Đối với các loại [sanh vật] bị giết mổ trong đại điển cúng tế, nếu sức chẳng thể cứu th́ hăy tŕ chú, niệm Phật để làm phương tiện cứu tế. Kinh có chấp nhận [cách làm ấy], không ǵ chẳng thể! Chú thích những lời dạy của thánh nhân có khá nhiều loại, riêng sách Diễn Nghĩa là tinh tường nhất, đúng là gần th́ có thể làm lợi một phương, xa là lưu truyền trăm đời.

 

* Thư trả lời Phương Bá Trần Kính Đ́nh

 

          Bậc trưởng giả gởi thư ngày Hai Mươi Hai, thư của Long Điền công cũng nói gởi thư ngay hôm ấy, nhưng chiều tối ngày Hai Mươi Sáu thư mới đến núi hoang, là do người cầm thư chậm trễ như thế. Kẻ trong núi hoang gần đây có cái tâm ấy, nhưng xét ra chẳng dễ thực hiện, giữa chừng bèn ngưng. Ngày hôm qua, tôi nghe lời căn dặn, suốt tối băn khoăn, chẳng thể tṛn giấc. Lại lo dân đói đông đảo, nhưng chỗ thí cháo chẳng rộng, lại chẳng có phương cách phân phát, [dân đói] sẽ chen lấn, giẫm đạp, hết sức bất tiện! Bốn, năm chỗ c̣n ít, cần phải ấn định làm mười chỗ ở mười cửa thành, do mười người làm chủ. Kẻ trong núi hoang chỉ có thể đảm nhận một chỗ, có vị tăng có đạo hạnh [để trông coi], chẳng có tư tâm, c̣n phải có tám, chín người [như thế] cùng hoàn thành th́ mới tốt đẹp. Xin ông quyết định, mưa vừa hơi dứt, tôi liền vào thành để lại xin ông dạy bảo. Tạm phúc đáp sơ sài, chẳng nói cặn kẽ!

         

* Thư trả lời quan Trung Thừa Ngô Kim Tỉnh

 

          Thư hôm qua nhắc đến Yến Sào Đồ (tranh chim yến làm tổ); đấy là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn trong khi Thiền Định của bậc thánh sư thời cổ, hết sức tương tự với chuyện chim sẻ làm tổ trên đỉnh đầu Như Lai. Quên sạch cơ xảo, đoạn tận nhận thức, tâm như gỗ, đá, sau đấy mới đạt tới cảnh này. Há kẻ chẳng ra ǵ này là một ông tăng phàm phu mà có thể suy lường nổi ư? Do chưa đạt tới cảnh ấy, chẳng dám bàn xằng!

 

* Thư trả lời cư sĩ Tống Hóa Khanh

 

          1) Trong Y Lục, đa phần dùng bốn toa thuốc Bổ Trung Ích Khí Thang, Thập Toàn Đại Bổ Thang, Lục Vị Địa Hoàng Hoàn, và Bát Vị Địa Hoàng Hoàn, nay tôi đang dùng theo toa Thập Toàn Đại Bổ[52] có gia giảm. Châu Đan Khê[53] cho rằng Âm thường chẳng đủ, mà Dương thường có dư, bèn sáng chế Bổ Âm Hoàn, người hiện thời thường dùng bài thuốc ấy để trị chứng hư tổn, gây tổn hại tánh mạng khá nhiều. V́ thế tôi nói kiến thức trong Y Lục hơn hẳn Châu Đan Khê!

          2) Tối hôm qua, lại nhận được thư, biết sai dịch và tăng chúng ở chùa Vân Cư đều bị trách phạt. Chuyện này chỉ cần biện định rơ là hiểu lầm, khiến cho kẻ sai dịch biết sợ, quan viên áy náy là đủ rồi. Thế gian luôn có chuyện lầm lẫn, ngay như âm phủ cũng có khi bắt lầm, đừng nên trách phạt th́ mới nên. Nhọc công ông hộ tŕ Phật pháp tột bậc sâu đậm, thiết tha! Chuyện của Vĩ Chân đang bán tín, bán nghi, nay nghe nói mới biết là đích xác, khôn ngăn thương cảm! Mấy năm liền, ông ta nói sẽ thọ Bồ Tát Giới, rốt cuộc là nói suông. Chần chừ gây hại như thế đó, đáng than lắm thay!

 

* Thư trả lời quan Đô Khổn là Quảng Tĩnh Hứa Nguyên Chân ở Phước Kiến    

 

          Nghe nói ông ở Bạch Vân Động đúng như pháp mà tịnh trụ, hết sức vui mừng, hết sức an ủi. Bất luận đạo nghiệp thành tựu hay không, đấy chính là người đă ở trong cơi Cực Lạc vậy. Nguyện ông một dạ thanh tu, lại đừng khởi mảy may ư niệm làm quan. Quang âm hữu hạn, dẫu phong hầu vạn dặm, vẫn chẳng bằng tăng tấn nơi đạo này. Trương Minh vừa mới xuống tóc xuất gia, đúng là phong thái giải thoát cao cả. Trước hết, cần phải lo liệu chuyện nhà cho thỏa đáng, nhưng do xử sự bộp chộp, dẫn đến phải bươn chải nơi cửa công. Tuy đối với đạo lư to lớn th́ chẳng ngại ǵ, nhưng gây bất măn cho miệng đời bàn luận!

Gác chuyện này lại đó, tính theo hiện thời, nay ông ta (Trương Minh) đă là người xuống tóc, cốt sao thận trọng từ đầu đến cuối như nhau. Kẻ chẳng xuống tóc th́ quư ở chỗ ở ngay trong cơi tục, vẫn giữ được chân tánh, ai nấy một dạ tinh tấn, chú trọng phá Hoặc, chứng trí, ngộ rơ tự tâm, nhằm giải quyết xong xuôi chuyện này mà thôi! Có tóc hay không chẳng cần phải bàn luận!

 

* Thư trả lời Tông Bá Châu Đổng Tầm ở Hồ Châu

 

          Tâm vốn bất sanh, do duyên hợp mà sanh. Tâm vốn bất tử, do duyên tan mà chết, dường như có sanh tử, nhưng vốn chẳng đến, đi! Hiểu được điều này, sẽ sanh thuận, tử an, thường tịch, thường chiếu. Nếu như chẳng thể, hăy nên buông xuống toàn thân, miên mật tŕ niệm một câu A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Giả sử các duyên chưa tận, thọ mạng chưa chấm dứt, càng nên niệm Phật, sẽ có lợi ích to tát. Cổ nhân nói: “Pháp môn Niệm Phật là thuật trường sanh của đấng Kim Tiên vậy!”

 

* Thư trả lời Trịnh cư sĩ và Bạch cư sĩ ở Tô Châu

 

          Những bài văn hết sức hay, nhưng ai nấy đều chấp vào kiến giải của chính ḿnh, chẳng dễ dùng miệng lưỡi để tranh biện được! Hễ tranh biện càng cấp thiết th́ chấp trước càng thêm cứng chắc, có lợi ích chi đâu? Chẳng thà bỏ mặc chẳng hỏi đến, dùng tâm lực ấy để thực hiện công phu thuộc bổn phận của chính ḿnh sẽ hay hơn!

 

* Thư trả lời Binh Bộ Ngô Thủy Quang ở An Khánh

 

          Được ông từ xa gởi thư hỏi thăm, hết sức cảm kích. Ngày Rằm tháng Giêng chân tôi bị bỏng nước sôi, nay tuy đă lành hoàn toàn, nhưng chân bước chẳng có sức, chỉ có thể đi lại trong pḥng. Hai sách Trúc Song và Thiền Quan vừa mới khắc, mỗi loại kính dâng hai bản. Trúc Song chẳng phải là thuộc loại đàm luận nhàn rỗi trong hiện thời, trong ấy đều là những lời thiết yếu liên quan thân, tâm, tánh mạng. Thiền Quan Sách Tấn chính là công phu thực hiện chân thật và nhân duyên chứng nghiệm của cổ nhân, không ǵ chẳng nhằm ra rả dạy mọi người tham cứu thoại đầu để mong chánh ngộ, mong ông hăy xem tường tận. Ngoài ra, lại c̣n các sách Thiền Hải, Sơn Pḥng, Phóng Sanh Văn, mỗi thứ một bản, bảy bức kinh tượng khắc mực để ông tặng cho những người quen biết. Lại c̣n có một đôi đũa gỗ từ Ngũ Đài, nguyện lúc ông nâng đũa, sẽ thấy ngài Văn Thù nơi Thanh Lương. Do đang bị bệnh nên viết qua loa, chẳng thể nói trọn.

         

* Thư trả lời cư sĩ Tôn Đại Hành ở Dư Diêu (nay đă xuất gia, hiệu là Tử Tâm)

 

          1) Nếu sanh khởi tín tâm đối với Tịnh Độ, xem Giáo th́ nên chuyên tâm xem Sớ Sao của kinh này, những kinh khác sẽ xem sau. Xem Sớ Sao th́ đừng đọc một mạch, mỗi lần đọc một ít để nhiều ngày mới đọc xong. V́ nghiền ngẫm cặn kẽ ư nghĩa, sau đấy sẽ tin sâu Tịnh Độ; đấy chính là môn tột bậc trọng yếu để tu hành. Cổ nhân nói “trong biển sanh tử, niệm Phật bậc nhất”, chẳng phải là lời hư vọng!

          2) Nếu niệm lớn tiếng, niệm thầm, kim cang tŕ đều vô ích mà đâm ra bị tổn hại, th́ hiện thời trong lúc vọng tưởng tơi bời, chỉ nên nhè nhẹ khởi tiếng niệm Phật để chế ngự [vọng niệm], xem người niệm Phật là ai? Lâu sau niệm khởi, lại khởi [Phật hiệu] như thế, khán như thế. Nếu niệm chẳng dấy lên, chỉ có khán. Các thứ văn tự cử nghiệp đều ngưng dứt, dẫu ngưng dứt cũng chẳng ảnh hưởng ǵ đến cử nghiệp.

 

* Thư trả lời quận thủ Quảng Quy Từ Cảnh Am ở Tùng Giang

 

          Các triệu chứng đă hơn ba mươi ngày, ngu ư cho rằng từ nay không nên uống thuốc quá nhiều, chớ nên uống thuốc quá tạp. Hăy nên uống đôi chút thuốc có công dụng b́nh ḥa. Ngoài việc giảm bớt ăn uống, thận trọng trong ăn ở ra, hăy nên trống ḷng, buông xuống vạn duyên, đừng tư lự, chớ ưu sầu, chớ nóng giận, chớ bức bối, hăy an tĩnh để dưỡng thân th́ mới nên!

 

* Thư trả lời Chủ Chánh Quan Trương ở Hử Thự

 

          Nhận được thư, thẹn chẳng dám nhận [những lời khen ngợi], nhưng mỗi mỗi đều dùng ḷng chân thành để bảo ban, há lại dám chối từ! Pháp danh ông xin đặt sẽ là Quảng Nguyên. Giới th́ chính là đối với Ngũ Giới, tŕ trọn vẹn, tŕ một nửa, tŕ chút ít, tùy sức thực hiện. Gọi là Quảng Nguyên là do bệnh từ thân sanh, thân từ nghiệp sanh, nghiệp từ tâm sanh. Tâm do ǵ sanh? Nguyện trong khi rảnh rỗi ngoài lúc thù tạc hoặc xử lư công vụ, hăy hồi quang quán chiếu nội tâm, t́m ṭi cội gốc, lâu ngày ắt sẽ có sở đắc.

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Trí Mao Hiếu Nhược ở Hồ Châu

 

          Đối với biến cố của lệnh tôn, kẻ chẳng ra ǵ này tự phải nên dốc cạn ḷng ngu thành, dùng Phật sự để phúng điếu, an ủi, nhưng tấm thân suy bệnh, lại c̣n bị bỏng v́ nước sôi, lênh đênh gian nguy, may là thoát chết. Tôi vừa viết bài ca pháp sư chân què, lập thệ ngưng đi lại, tính đóng cửa không ra ngoài, chỉ trừ khi phóng sanh trong hội phóng sanh bên hồ là ra ngoài thôi. Đối với nỗi ḷng tột bậc của người con hiếu, tôi chẳng phải là không biết, nhưng quả thật chẳng thể vâng mạng được. Nhưng tôn quân[54] chẳng có lỗi lầm to lớn, chuyện sát sanh cũng chẳng phải phát xuất từ ư cụ, xin ông hăy tự bớt buồn khổ. Nếu chẳng thể, bèn có một cách: Hăy chính tay chép một quyển kinh Kim Cang, công đức chẳng thể nghĩ bàn! Kẻ chẳng ra ǵ này không đến [viếng tang] cũng chẳng hại ǵ, có tới cũng vô ích. Kẻ chẳng ra ǵ này và Hiếu Nhược biết nhau, quư ở chỗ hiểu ḷng nhau!

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Duẫn Cù Nguyên Sơ ở Thường Thục

 

          Nếu thời gian cấp bách, chẳng kịp làm đủ số một ngàn điều thiện, hăy nên chí tâm phát nguyện: “Nguyện khi đỗ đạt, ra làm quan, sẽ rộng hành các điều thiện gấp bội. Quyết chẳng v́ giữ vững chức quan của chính ḿnh mà nghe theo một lời sai bảo chẳng hợp lẽ trời. Quyết chẳng v́ giữ vững chức quan của chính ḿnh mà làm một chuyện bất nghĩa. Quyết chẳng v́ giữ vững chức quan của chính ḿnh mà gây tai ương cho một người dân vô tội. Quyết chẳng v́ giữ vững chức quan của chính ḿnh, dẫu biết [kẻ khác] oan uổng mà không minh oan. Quyết chẳng v́ giữ vững chức quan của chính ḿnh mà ngưng dứt chẳng làm công đức thỏa đáng có lợi ích to lớn!” Có thể như thế th́ đấy chính là một ngàn điều thiện, chính là một vạn điều thiện, chính là vạn vạn điều thiện!

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Việt Hứa Khuếch Như ở Đức Thanh

 

          Thư ông gởi đến hỏi “để nhiếp tâm th́ dùng cách quán tưởng, tưởng tượng ngồi, đứng” v.v… Những điều ấy đều tùy theo mỗi người, chẳng nhất định, nhưng phải thường quán chẳng gián đoạn, kẻ chưa sạch hết trần duyên sẽ chẳng thể làm được! Tuy chưa thể thường quán, vẫn là công phu, chẳng cần phải ưu lự. Hơn nữa, trong trần duyên, quán pháp khó thành. Chẳng bằng những khi rảnh rỗi ngoài lúc [bận bịu v́] học nghiệp và gia nghiệp, hăy lặng lẽ chấp tŕ danh hiệu. Chỉ quư từng chữ rơ ràng, từng câu thân thiết, tâm sẽ tự nhiếp. Nếu [tu tập] lâu ngày, chẳng thoái thất, tam-muội thành tựu; đấy chính là Quán!

 

* Thư trả lời Viên Hiếu Liêm ở Phước Kiến

 

          Trẻ nhỏ vốn chẳng thiếu khuyết cái thể viên minh tịch chiếu, chỉ v́ mê hoặc mà chẳng phát ra. Há chỉ trẻ con, con người từ thơ ấu đến tráng niên, từ tráng niên đến già, từ già đến chết, không ai chẳng đang mê, cái Thể viên minh tịch chiếu ấy tuy có mà chẳng hiện, chẳng phải là không có. C̣n như nước Tào Khê, trà Triệu Châu, chẳng cần phải dùng suy đoán để gượng hiểu, chỉ quan tâm nơi sự tham cứu của chính ḿnh để cầu chánh ngộ. Thế nào là sự tham cứu của chính ḿnh? Nếu đối với pháp môn Niệm Phật tin đến nơi, chỉ tham cứu “ai là người niệm Phật?”, đó gọi là sự tham cứu của chính ḿnh.

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Thự Lưu Thủ Phục tại Hồ Quảng

 

          1) Nhận được thư, biết ông bế quan, tạ tuyệt mọi chuyện, lắng ḷng nghĩ tới đạo, tôi cảm thấy hết sức an ủi. Cái hẹn của Tây Hồ trong mùa Xuân năm tới có thể nói “Triệu Châu tám mươi c̣n hành cước” trong hiện thời. Tuy vậy, nếu quư thể mệt mỏi chẳng thể đi nổi, chẳng cần phải chấp trước. Chỉ nên thiết tha dụng tâm là nhiệm vụ trọng yếu vậy!  

          2) Phàm phu tâm buông lung, trước hết là học nhiếp tâm, sau đấy mới đắc tâm (chứng ngộ chân tâm). Để nhiếp tâm, chẳng phải chỉ có một pháp. Công cao, dễ tiến, niệm Phật đứng đầu! Cổ nhân nói: “Dư môn học đạo, như nghĩ tử thượng ư cao sơn. Niệm Phật văng sanh, tự phong phàm hành ư thuận thủy” (Học đạo trong các môn khác như con kiến trèo lên núi cao. Niệm Phật văng sanh như thuận gió căng buồm xuôi ḍng). Khi tưởng dấy lên, chẳng cần thực hiện cách trừ diệt nào khác, chỉ khởi lên bốn chữ A Di Đà Phật, tận lực chuyên chú; đó là công phu nhiếp tâm. Bỗng dưng liễu ngộ th́ gọi là “đắc tâm”. Xưa kia, có một người bạn bảo tôi “người hiện thời thấy Lục Tổ nói ‘vốn chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi bặm’, bèn coi câu ‘luôn luôn siêng lau chùi’ của Thần Tú như nhánh cỏ, chẳng biết ‘luôn luôn lau chùi’ chính là chuyện của người học trong hiện thời!” Tôi tán đồng sâu xa cách nói ấy. Hôm qua, được nghe lời cao luận ấy, đúng là phù hợp với chuyện này; do vậy bèn nhắc tới!

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Thụ Viên Tâm Viễn ở Tô Châu      

         

          Kẻ sợ chết do chưa ngộ vốn sẵn vô sanh; vốn tự vô sanh, há có tử? Có ǵ mà sợ? Nhưng Vô Sanh chẳng dễ ǵ ngộ ngay được, nay chỉ nên chuyên tâm chí thành niệm Phật. Lâu ngày niệm tới nhất tâm bất loạn, nhất định sẽ khai ngộ, ắt được khai ngộ. Dẫu chẳng ngộ, do niệm lực một đời, lâm chung tự biết chết rồi ắt sẽ sanh về Tịnh Độ, như lưu lạc quê người được trở về quê cũ. A Di Đà Phật x̣e tay tiếp dẫn văng sanh, hoan hỷ vô lượng, có chi mà sợ?

 

* Thư trả lời cư sĩ Vương Trung Tuyền ở Dư Hàng

 

          Đọc thư gởi đến, hết sức kinh hăi, hết sức bi thương, than thở chẳng ngừng, cớ sao thiện nhân mà bị báo như vậy? Tôi nghĩ chắc là trong mạng của ông chỉ nên có một đứa con, đứa con thứ hai ấy ắt có túc nhân. Nó đến để đ̣i nợ, chẳng phải là thừa kế gia nghiệp. V́ thế, đời này nuôi nấng khôn lớn, dạy bảo thành tài, v́ nó cưới hỏi lập gia đ́nh, mọi việc hoàn bị. Nó đ̣i nợ đă xong, liền phơi phới ra đi. T́nh cha con đă khô cạn chẳng sót, đúng là chẳng cần phải khổ sở tưởng nhớ, buồn nghĩ nữa! Nhưng lư tuy biết rơ, t́nh vẫn so đo, há có thể ngay lập tức hoàn toàn thoát khỏi? Cần phải luôn luôn được bạn lành, người trí bầu bạn chỉ bảo, an ủi, khuyên giải, và thường xem nội điển nói “thế giới như hoa đốm trên không, đời người là một giấc mộng, quyến thuộc tạm thời nương nhau, bỗng chốc ly tán”. Dùng đó để phá Hoặc, khiến cho cái tâm buông xuống. Hăy thận trọng, chớ một ḿnh ở trong cảnh vắng vẻ, vật vă buồn thương mà tự thân bị tổn hại!

 

* Thư trả lời Quảng Trúc Phạm Bang

 

          Người sắp tám mươi tuổi như mặt trời buổi chiều xế về Tây, thời gian c̣n được mấy? Nay hăy ngưng dứt hết thảy. Những bài tán thán tượng nếu lưu xuất từ cái tâm chẳng nghĩ bàn th́ được. Nếu nâng bút, suy nghĩ rồi sau đó mới soạn thành th́ sẽ phiền lụy thêm nhiều! Xin hăy thấu hiểu! Sanh tử là chuyện lớn, những điều khác chẳng cần phải nói nữa!

 

* Thư trả lời hiếu liêm Châu Quân Thăng ở Gia Hưng

 

          Được ông nghĩ tới, tôi cảm kích sâu xa. Trong lúc già suy lại bệnh tật, có lúc được an khang đôi chút, bóng nắng tàn đă xế về Tây, rốt cuộc quang cảnh sót lại chẳng nhiều! Muôn sự trong thế gian đều thuộc tiền duyên, như mộng, như huyễn, chỉ tùy duyên thuận chịu. Đấy chính là môn giải thoát trong cơi trần vậy!

 

* Thư trả lời Trương cư sĩ ở Thiệu Hưng

 

          Kiến tạo tĩnh thất để cùng tu tịnh nghiệp; đấy là chuyện tối thượng trong thế gian, nhưng cái thất ấy chẳng cần phải toàn mỹ, [chỉ cần] đủ để thờ Phật, kinh hành, tĩnh tọa, lễ bái là được rồi! Cũng chẳng cần phải đợi tới khi việc nhà đều sắp đặt xong xuôi! Mỗi ngày đều có chuyện phát sanh; muốn xong chuyện, cố nhiên chẳng có ngày nào xong! Dẫu lập tức tu tập, đă thấy là chậm trễ rồi! Trong biển sanh tử, pháp môn Niệm Phật đúng là bậc nhất, hăy nên dốc trọn tấm ḷng!

 

* Thư trả lời cư sĩ Ngô Bá Dương ở Hưu Ninh (nay đă xuất gia, hiệu là Quảng An)

 

          Kinh Lăng Nghiêm phân biệt chỗ chân và vọng, chưa từng nói đến chuyện quán tưởng Tây Phương, chấp tŕ danh hiệu v.v… V́ sao hoàn toàn chẳng dính dáng mà không có gió, cứ cuộn sóng, chê bai kẻ khác là vọng? Nếu bảo là vọng th́ tọa Thiền cũng là vọng, tŕ giới cũng là vọng, giảng kinh cũng là vọng; thậm chí đắc Bồ Đề, nhập Niết Bàn cũng là vọng! Hăy nên tự nhất tâm niệm Phật, đừng sanh nghi!

 

* Thư trả lời cư sĩ Tôn Quảng Lượng ở Thông Châu

         

          Thư gởi đến hỏi về Chân Đế xuất thế. Thế tức xuất thế, chẳng cần cầu xuất! Chân chẳng ở ngoài vọng, t́m chân để làm ǵ? Chưa hiểu ư ấy, sao bằng nhất tâm niệm Phật. Niệm đến cùng cực sẽ ngộ. Ngộ th́ chẳng bàn nữa, dẫu chẳng đại ngộ, nhưng ĺa cơi Sa Bà này, sanh về Tịnh Độ kia, tức là xuất thế. Tiêu diệt tạp niệm, thuần nhất chánh niệm, tức là Chân Đế. Nay cũng chẳng quản là xuất hay chẳng xuất, chân hay chẳng chân, chỉ cần công phu đạt đến nhất tâm, tự nhiên sẽ ổn thỏa, thích đáng!

 

* Thư trả lời cư sĩ Ngô Đại Túc ở Huy Châu

 

          Nay ông đang theo cử nghiệp, sao lại than trách công phu chẳng thành phiến? Thời gian rảnh rỗi ngoài việc học cử nghiệp, liền nhiếp tâm quy vào chánh niệm. Khi đă dứt cử nghiệp th́ mới có thể thuần nhất dụng tâm, chẳng cần đan xen hai niệm. Hơn nữa, khi đang theo cử nghiệp th́ đừng bận tâm được mất, coi như mộng, huyễn, bọt, bóng là được!

 

* Thư trả lời cư sĩ Ngô Đại Triệt

 

          Niệm Phật tức là tŕ chú. Sau khi niệm Phật đắc lực, sẽ đối cảnh tự tại. Khởi tưởng chán ĺa tức là môn đầu tiên trong giải thoát. Chỉ cần trước mắt làm thế nào để đạt được tự tại, giữ ǵn lâu ngày chẳng lui sụt, sẽ tự có lúc tương ứng!

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Kinh Trương Hạnh Uyển

         

          Đối với lời nói của ngài Vân Môn như ông đă hỏi, chẳng cần tham cứu những lời nói về giáo ngoại biệt truyền. Chỉ cần xem những lời Ngài nói th́ cần phải lui lại, từ ngay dưới gót chân của chính ḿnh t́m ṭi, tham cứu, xem đó là đạo lư ǵ. Sự t́m ṭi, tham cứu ấy cũng chẳng khó. Đă tin vào niệm Phật, chỉ cần nội tâm xét xem “người niệm Phật là ai?” sẽ là t́m ṭi, tham cứu ngay dưới gót chân. Lâu ngày, sẽ chính là như trong Chánh Ngoa Tập đă nói: Chẳng lo không đạt được chuyện huyền vi tột bậc cuối cùng!

 

* Thư trả lời cư sĩ Kim Quảng Chương ở Huy Châu

 

          Chẳng phải do túc nghiệp gây chướng th́ cũng là do túc tập (tập khí trong đời quá khứ) khiến thành ra như vậy. Túc tập đă tồn tại nhiều đời, đạo niệm mới sanh trong hiện thời; quân trơ trọi chẳng thắng nổi kẻ ḱnh địch là lẽ tự nhiên! Lâu xa chẳng lui sụt, sự việc ắt hoàn tất. Luận định thẳng thừng th́ bất luận tại gia hay xuất gia, ngộ tâm là xong! Luận theo thế gian, người tại gia hết thảy mọi chuyện phải thuận theo lẽ trời để hành xử, c̣n tươi, khô, được, mấtphó mặc duyên trước, như mộng, như huyễn, như bọt, như bóng, chớ dấy động ư niệm. Đó là chân hạnh!

 

* Thư trả lời ấp lệnh Trương Tâm Ngu ở Thiểm Tây

 

          Đọc thiên sách Trí Khúc, đủ thấy học vấn của ông ngay thẳng, nhạy bén sáng sủa, trọng yếu. Nói đến chân thành và ḷng nhân, hoàn toàn dụng công nơi tâm địa, lại có thể thực hiện công phu từ ngay nơi bản thể, càng là sự thực hiện chân thật, chẳng phải là kẻ làm suông nói giả! Chủ tŕ đạo học, có ǵ c̣n cao hơn được nữa? Đối với mối nghi giữa Nho và Thích như ông đă nói, nay tôi dâng lên hai sách Tam Giáo B́nh Tâm Luận[55] của Lưu học sĩ đời Tống và Tục Nguyên Giáo Luận của Trầm đăi chiếu (Trầm Sĩ Vinh) thuộc bổn triều (đời Minh). Các sách này luận định về Nho và Thích khá minh bạch, tường tận. Lại dâng lên một bộ kinh Lăng Nghiêm, kinh này nói những điều sợ rằng Thù, Tứ, Liêm, Lạc (Nho giáo và Tống Nho) chưa nói đến, cũng chẳng phải là học thuyết Lăo Trang có thể cùng bàn luận được. Xin ông hăy dùng cái tâm b́nh đẳng, tâm tinh tế, tâm lâu dài để xem đọc. Tuy ông quyết chí kế thừa Nho Tông, nhưng rủ ḷng hỏi đến kẻ tài sơ học cạn như tôi, cảm ḷng chân thành của ông, nên tôi chẳng dám ẩn giấu.

 

* Thư trả lời cư sĩ Kim Quảng Tụ

 

          Thư gởi đến hỏi về những sự như “cái ải khẩn yếu cuối cùng”, “ư chỉ rất sâu”, “bổn địa tương ứng”,“thẳng thừng đề ra, chỉ bày”. Khẩn thiết, sâu thẳm, căn bản, thẳng thừng, đều là những câu hỏi thiết yếu, nhưng chỉ cần suy xét nông cạn là được rồi. Trừ sự giác tri linh thông vời vợi ra, [những thứ khác] đều là hoăn đăi, nông cạn, là ngọn, là cong vạy. Thật sự dấy lên một niệm niệm Phật, thấy thấu suốt, nhất định sẽ hoàn tất đại sự. Lại chớ nên do thấy tôi nói như vậy liền tư duy, suy đoán, đào bới để cầu thông suốt, đâm ra sẽ bị mất mát. Chỉ có niệm nào cũng thấu hiểu, tham cứu, thật sự tích tụ công sức lâu ngày th́ mới chứng ngộ!

 

* Thư trả lời Đàn Lâm Quảng Huyền

 

          Bậc kỳ túc chưa thấy rơ ràng, chẳng đáng để sợ hăi! Đại để là người ấy chưa từng thật sự vận dụng trọn hết tâm lực. Nay đă mắc bệnh, cũng chẳng cần phải miễn cưỡng dũng mănh thực hiện, chỉ nên vâng theo kinh mà chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn, một mực giảm bớt các duyên, điều ǵ có thể giảm liền giảm ngay. Bất đắc dĩ mới thù tạc cùng người khác, tự nhiên công phu sẽ đắc lực!

 

* Thư trả lời cư sĩ Ngô Quảng Kính

 

          Trong núi Vũ Di đúng là chỗ để tu đạo. Đă tin niệm Phật, chỉ cần trong tâm khán “người niệm Phật là ai?” Đó chính là t́m ṭi, tham cứu ở ngay dưới gót chân. Hơn nữa, tôn đường[56] tuổi xế bóng, chẳng rơ ông có anh em để phụng sự mẹ hay không? Nếu chẳng có người, ông chớ nên xa ĺa dưới gối. Nhưng ngoài việc phụng sự mẹ ra, muôn sự đều bó lại, xếp trên gác cao, nơi đ́nh vi[57] sẽ chính là chốn suối, đá!

 

* Thư đáp cư sĩ Quảng Phạm Hàn Thanh Thái ở Dư Diêu

 

          Thư gởi đến hỏi về ư chỉ “thâm nhập một môn”, điều ấy đại để v́ môn đ́nh mỗi đằng mỗi khác mà nói. Nay người niệm Phật chính là tham cứu nơi niệm Phật. Vẫn như cũ là cùng một môn, chẳng phải là hai sự. Nếu tham cứu chẳng tiện, liền thẳng thừng niệm cũng được. Lại lập một thí dụ, giống như học tập cử nghiệp. Kinh Dịch và kinh Thi là hai môn, đúng là chẳng thể kiêm [cả hai kinh], v́ chẳng thể dùng cả hai kinh để đi thi. Chỉ có kinh Dịch, có người nghiên cứu kinh văn, hoặc giảng giải nghĩa lư, có thể nói là hai môn ư? Chưa từng nghe nói giải thích ư nghĩa nghiên cứu kinh văn mâu thuẫn nhau [đến nỗi] chẳng thể kiêm cả hai được!

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Nhuận Tiền Thúc Đạt ở Hồ Châu (về sau xuất gia, hiệu là Cụ Mông)

         

          Thư của lệnh lang tôi đă để nguyên gởi lại. Dẫu gặp ách nạn, hăy nhanh chóng dứt bặt các duyên, một dạ nghĩ tới đạo, sẽ là do họa mà được phước! Kinh Dịch nói “đảnh điên chỉ, lợi xuất phủ?” (Cái đỉnh bị nghiêng chân, có ai nhanh nhẹn đổ ngược những thứ cặn bă trong đỉnh ra ngoài hay không?), chính là nói về điều này!

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Ức Tôn Vô Cao ở Gia Hưng

 

          1) Nhận được thư, biết ông lưu tâm nơi Giới học, vui mừng, cảm thấy an ủi lắm! Trong đường đời, há có thể hoàn toàn tránh khỏi hư luận? Lâu ngày, sẽ tự dần dần hóa giải. Ỷ ngữ như ông hỏi chính là [những lời lẽ] hoa mỹ, bóng bẩy, nhưng thiếu chân t́nh, và những ca từ, khúc hát dâm mỵ, diễm t́nh, khiến cho tâm t́nh của con người phóng đăng. Vọng ngữ như trong kinh đă nói chính là chỉ kẻ phàm phu mà xằng bậy xưng là “thánh nhân”. Những điều khác đều là “tiểu vọng”, được gọi là “giới chẳng tinh chuyên”, chẳng gọi là “phá giới”. Pháp môn vô lượng, nói tóm lại chẳng ngoài ba thứ Giới, Định, Huệ. Hăy nên tuân theo kinh Lăng Nghiêm dạy “dùng nhiếp tâm làm Giới”; do Giới sanh Định, do Định phát Huệ. Ba câu nói ấy có thể phụng hành suốt đời!

          2) Tôi ôm bệnh trong núi nghèo. Tuy nghĩ nhớ, chẳng tiện gởi thư thăm hỏi. Tôi nghe trước đây không lâu ông đă kết mối lương duyên; nhận được thư hết sức vui mừng. [Đọc thư] lại biết ông tuy ở trong duyên đời mà chẳng quên tín lực, càng khiến cho tôi ôm niềm vui mừng từ xa. Bởi lẽ, sống trong đời, cần phải tùy duyên, chẳng cần phải đoạn sạch duyên đời rồi mới tu đạo được. Chỉ cần ngoài là thuận theo t́nh người, trong giữ trí nhăn, lâu ngày sẽ tự có sở đắc.

          3) Được ông điếu tang cẩn thận, trước hết xin cảm tạ. Phàm những kẻ xưng là thuộc núi này, nhưng tham cầu tài vật ở các nơi, sẽ chẳng phải là kẻ tốt lành trong hàng tăng sĩ. Nếu có [người như vậy], mong ông hăy suy xét kỹ!

          4) Cách biệt đă lâu, trong khi nghĩ nhớ th́ người giữ núi chuyển tới thư ông, mới biết ông đă ngồi dạy học tại nhà họ Châu, khoa thi mới lại gần đến, chẳng có thừa sức để tham cứu đạo này; chỉ giữ sao cho tâm chẳng quên, chí chẳng lùi là được rồi!

          5) Nhật khóa được chú giải đại lược trong thiếp kèm theo. Do ông nay c̣n có cử nghiệp, sự tịnh tu quư ở chỗ giản ước, thẳng chóng, chẳng thể rườm rà! Như Quán Âm Văn, kinh Kim Cang, nếu chẳng rảnh rỗi để tụng tŕ, cứ một mực niệm Phật th́ công đức của chính ḿnh chẳng ít!

 

* Thư trả lời cư sĩ Tưởng Quảng Trật ở Dư Diêu

 

          Người mất lúc c̣n sống đă có tín căn, lâm chung chẳng mất chánh niệm, chư thiên đến thỉnh vời, nếu chẳng phải là túc thiện, há được như thế ư? Huống hồ lại được [con cháu] lễ sám giúp cho! Chẳng cần phải bi thương, hăy nên sanh ḷng vui mừng. Con số tụng kinh mười vạn biến tuy chưa có cách bù cho đủ, nhưng cũng chẳng gây hại ǵ cho người mất. Tụng bù th́ người c̣n lẫn kẻ mất hai đằng đều được lợi!

 

* Thư trả lời Bách Hộ[58] Trương Quảng Điềm

         

          Vọng niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc. Bệnh lâu ngày, một viên thuốc chẳng thể chữa lành được. Vọng chất chứa, niệm tạm thời chẳng thể trừ sạch được! Có cùng một lư vậy! Bất luận vọng niệm tơi bời, chỉ cốt sao niệm Phật chuyên ṛng, thiết tha, từng chữ rơ ràng, từng câu nối tiếp, cực lực chấp tŕ th́ mới có phần tiến hướng. Đó gọi là sức thật sự chất chứa lâu ngày, sẽ có ngày rỗng rang, ví như mài chày thành kim, luyện sắt thành thép, chắc chắn chẳng dối! Nhập đạo có nhiều môn, chỉ có một môn này thẳng tắt nhất, chớ nên coi thường, chớ nên xem rẻ!

 

* Thư trả lời cư sĩ Quảng Đ́nh Thịnh Như Lâm ở Ngô Giang

 

          Niệm Phật ví như thuốc men, xem Giáo ví như sách thuốc. Niệm Phật là trọng yếu, nhưng cũng cần phải hiểu rơ Giáo. Nay trong mười hai thời, dùng tám chín phần để niệm Phật, một, hai phần để xem Giáo th́ mới nên!

 

* Thư trả lời vị Tăng pháp danh Nhược Vô ở đất Sở

 

          Tuổi già lắm bệnh, chẳng thể xem tường tận. Đối với các thứ nghị luận [do thầy gởi tới], xem đại lược một hai phần, [tôi nhận thấy] phần lớn đều sáng tỏ, thiết tha, thông thoáng. Tuy vậy, chẳng bằng hăy gác lại đó, tận tâm tận lực thực hiện công phu chân thật th́ mới nên!

 

* Thư trả lời cư sĩ Đại Châu Ngô Quư Lập ở Huy Châu

 

          Chẳng cần buồn tội nghiệp sâu đậm, chẳng cần ngờ vực căn tánh chậm lụt. Kinh dạy “chí tâm niệm A Di Đà Phật một tiếng, diệt tội nặng trong tám vạn ức kiếp sanh tử”, sao lại ngờ nghiệp sâu? Hơn nữa, cổ thánh nói “chỉ có đường tắt tu hành, chỉ niệm A Di Đà Phật”, lo chi căn độn? Ông gặp người bạn họ Phương, hăy nên bảo với ông ta điều này!

 

* Thư trả lời cư sĩ Đại Thịnh Văn Tử Dữ

 

          Thiền và Giáo như chân và mắt giúp đỡ lẫn nhau, nhưng cần lấy tu Thiền làm chủ, lấy hiểu Giáo để giúp sức th́ mới nên!

 

* Thư gởi tiến sĩ Vương Long Khê ở Thiệu Hưng

 

          Cư sĩ đă sớm vượt Vũ Môn, phá toang ngàn tầng sóng dữ, kho tàng trong biển nay đă mở toang, thủ hộ vạn quyển kinh Thiên Trúc. Thuyết pháp th́ miệng thí mưa ngọt, tham cứu huyền lư th́ miệng chứa châu thiêng, đại để là đă sớm tỏ lộ trong tông ta vậy. Nay muốn dùng cái móc câu của Nhậm công[59] để câu cư sĩ, sợ cư sĩ giương vây ra oai, khuấy đục ngầu chốn biển xanh. Tiếng cười nơi Hổ Khê[60] xưa kia vang rền hoàn vũ, nay đến Long Khê lại đành chịu lép! Nhưng tuy là như vậy, có một con suối, sáng sớm có cọp dữ la cà, tối lại có rồng, rắn ẩn náu, hăy nói xem: Đó gọi là ǵ vậy? Như thế th́ mới được cụ Duy Ma chẳng keo tiếc biện tài, dạy một câu chuyển ngữ!

 

* Thư gởi cư sĩ Lưu La Dương ở Tô Châu

 

          Trong thư trước kia, tôi đă kính khuyên ông chuyên dùng niệm Phật để cầu sanh Tịnh Độ; nhưng đạo này chí huyền, chí diệu, cũng lại tột bậc đơn giản, tột bậc dễ dàng! [Thế mà] người cao minh coi thường! Sanh tử chẳng ĺa một niệm; cho đến muôn pháp thế gian hay xuất thế gian đều chẳng ĺa một niệm. Nay liền dùng niệm này để niệm Phật, gần gũi, chuyên ṛng, chân thật chi bằng? Nếu thấy thấu suốt chỗ dấy khởi của ư niệm ấy, đó chính là tự tánh Di Đà, là ư của tổ sư từ phương Tây qua. Nếu chẳng ngộ được, sẽ nương niệm lực ấy mà văng sanh Cực Lạc; lại c̣n cắt ngang sanh tử, chẳng bị luân hồi, rốt cuộc sẽ đại ngộ. Nguyện ông buông xuống muôn duyên, trong mười hai thời, niệm nào cũng luôn dũng mănh phát khởi. Đó là điều tôi tột bậc mong mỏi.

 

* Thư gởi cư sĩ Phùng Quân Cư ở Giang Âm

 

          1) [Những điều ông nói] trong thư gởi đến khá hữu lư! Bởi lẽ, nơi nha môn mà thanh liêm, trong sạch, sẽ chẳng tổn hại ḷng từ bi, tạo phước cho dân, không ǵ chẳng phải là Phật pháp! Kẻ không ra ǵ này dùng ư ấy để khuyên lệnh lang hăy nghe theo lệnh của song thân, cậu ta dùng cớ “bệnh tật chẳng kham lo liệu sự việc, muốn điều dưỡng thọ mạng để thừa hoan lâu ngày dưới gối của cha mẹ” để từ tạ. Nói như thế cũng hữu lư, lại chẳng dám khăng khăng ép buộc nữa! Vẫn mong bậc cao minh tự phán đoán.

          2) Bảy mươi tuổi xưa nay hiếm, trăm tuổi được mấy ai? Nay trong cảnh xế chiều, đúng là nên buông xuống hoài băo, thấy thấu suốt thế gian rơ ràng như một tấn tuồng, có ǵ là chân thật? Chỉ dùng một câu A Di Đà Phật để tiêu khiển tháng ngày, chỉ lấy Tây Phương Cực Lạc thế giới làm nhà cửa của chính ḿnh. Ta nay niệm Phật, mai sau sẽ sanh về Tây Phương, may mắn chi bằng? Hăy phát sanh ḷng hoan hỷ to lớn, đừng sanh phiền năo. Nếu gặp chuyện chẳng như ư, liền chuyển biến ư niệm, một tiếng Phật hiệu gấp gáp dấy lên để hồi quang phản chiếu. Ta là người trong thế giới của A Di Đà Phật, sao lại có sự hiểu biết giống hệt người trong thế gian ư? Chuyển sân thành hỷ, nhất tâm niệm Phật; đấy là pháp môn đại an lạc, đại giải thoát của người có trí huệ vậy!

 

* Thư gửi hiếu liêm Quảng Tịch Phùng Thái Cù ở Giang Âm (nay đă xuất gia, hiệu là Thường Tỉnh)

 

          1) Nghe nói tôn ông[61] thân thể có chút bất an, lúc này đúng là nên hầu hạ bên cạnh. Hơn nữa, đối với chuyện ra ngoài tĩnh tu, cũng chẳng cần phải hạn định số năm cụ thể, chắc là nên kịp thời trở về nhà thăm hỏi cha mẹ, không ǵ là chẳng được! Cổ nhân nói “chống gậy chẳng trở ngại thường qua lại” chính là nói đến chuyện này: Chỉ cần trong tâm buông xuống, qua lại sẽ giống hệt như chẳng qua lại. Nếu hạn định thời gian [tĩnh tu bên ngoài], sẽ đâm ra trở thành vướng mắc, trở ngại! Hai bộ sách Sớ Sao và Pháp Hỷ tôi đều nhận được. Lưu thông giáo pháp cùng tột, công đức vô lượng. Thiên Vương Bổ Tâm Hoàn [là loại] âm dược, phần nhiều lạnh mát, nếu người dạ dày khỏe th́ uống được, người yếu dạ dày chớ nên dùng.

          2) Lần trước tôi đă có lời can gián: Chớ nên chấp chặt [phải xa ĺa người nhà để tĩnh tu], chắc là ông đă nghe lọt tai rồi. Kinh dạy: “Nội tu Bồ Tát hạnh, ngoại hiện Thanh Văn thân” (trong tu hạnh Bồ Tát, ngoài hiện thân Thanh Văn). Nay trong th́ ǵn giữ tâm xuất thế, ngoài hiện pháp thế gian mới nên. Như thế th́ gia đ́nh an tâm, tự ḿnh cũng được ra vào tự tại, chẳng tác ư giải thoát mà do vậy đă là giải thoát. Tôi gởi kèm theo một bản Lạc Bang Văn Loại[62] vừa mới khắc, và một quyển Thị Phi Quan.

          3) Nhận được thư cho biết ông mong truyền đạt chí hướng của cổ nhân, chuyện ấy không ǵ là chẳng thể được! Nhưng cũng chẳng cần phải dứt bặt nói năng để tu hành, v́ đôi bên cần phải nghị luận cùng tột lư. Do bệnh tật, tôi chẳng thể phúc đáp tường tận được!

          4) Nghe tin ông đạo thể khinh an, đạo niệm kiên cố, nhưng cụ nhà bị bệnh nhẹ; đấy là chuyện thường có nơi người già. Hăy nên thường khiến cho cụ vui ḷng, đó là chuyện trọng yếu. Tôi lại đúng như lời ông dạy, dâng lên một con dao cạo tóc. Ư ấy cũng rất hay. Phật đạo và nhân đạo trọn vẹn đôi đằng chẳng mất, cổ nhân đă có người làm như thế. Đỗ thừa tướng đời Đường chính là người như thế đó. Lại c̣n gần đây ông khá chuộng tham Thiền, tuy đáng mừng, nhưng cũng hết sức đáng lo! Lại có kẻ chấp Thiền phủ nhận Tịnh Độ, chỉ mong ông dốc ḷng tin, chẳng bị dao động th́ mới thành công!

 

* Thư gởi Thường Tinh Quảng Tịch

 

          1) Thư ông gởi đến có nhắc tới chuyện thọ giới th́:

- Một là thân tôi suy bệnh, chẳng có sức kham nổi.

- Hai là vốn thuận theo tâm của cổ nhân, nhưng do t́nh thế [hiện thời], ắt chẳng thể được! Đă không thể nào được, chỉ nên đối trước Phật lễ bái tự thọ mà thôi.

Nếu nghi giới Bồ Tát có kinh văn dạy về tự thọ, c̣n tỳ-kheo giới chẳng có; nay tôi giải thích như sau: B́nh thường, giới đàn chẳng bị ngăn cấm, đàn [truyền giới] mở ra mà cố ư chẳng đến thọ, cứ tự thọ, sẽ đúng là có lỗi. Nay đất nước có chuyện cấm đoán rơ ràng, đối trước Phật tự thọ theo đúng lẽ phải nên như thế, chẳng cần nghi! Chuyện này tôi chắc chắn không làm; do vậy, trả lời riêng cho ông.

          2) Từ Phương Thượng nhắn tin nói Thường Tỉnh chẳng xuống tóc, chắc sẽ bỏ đạo. Tôi phản đối, [nói như thế] không đúng, ông ta tự có nguyên cớ tôi biết mà. Một là lệnh tử mới mười hai hoặc mười ba tuổi, chính là lúc giáo dục khẩn yếu. Hai là c̣n một con gái chưa gả chồng. Chẳng thể dựa vào bề ngoài mà sanh báng bổ được! Nghe chuyện này, tôi mong báo cho ông biết gấp, nhưng khổ v́ không có người thuận tiện [để chuyển lời], nay may mắn có Đại Vọng đến đây, ngu ư cho rằng: Lệnh ái hăy sớm hoàn hôn, do lệnh lang và thầy dẫn cô ta đến trong núi, cứ cách đôi ba tháng trở về nhà thăm mẹ một lần, và đích thân trở về coi sóc gia nghiệp, ngơ hầu chuyện đời chẳng phế bỏ, mà lời báng bổ cũng chẳng do đâu dấy lên được! Mong bậc cao minh tự quyết định!

         

* Thư gởi cư sĩ Quảng Chấn Châu Tây Tông ở Gia Hưng

 

          1) Người sống trong cơi đời, gặp thuận cảnh, tâm t́nh vui sướng, an ổn, gặp nghịch cảnh, tâm t́nh lo lắng, bồn chồn; nhưng thuận chưa đáng để coi là may mắn, nghịch chưa đáng coi là chẳng may! Ch́m đắm trong cảnh thuận ư, cái tâm xuất thế chẳng sanh. Do lo sợ, chẳng thỏa chí, sau đấy sẽ chán ngán gông cùm nơi thân, nơi đời mà cầu xuất thế. Do vậy, đối trước muôn nỗi khổ chen nhau, chỉ dùng chánh trí để quan sát khổ từ đâu mà sanh? Từ thân sanh. Thân từ đâu sanh? Từ nghiệp sanh. Nghiệp do ǵ sanh? Từ Hoặc sanh. Do Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp thành thân, do thân chịu khổ; nhưng có thể phá Hoặc th́ hết thảy không tịch. Dám hỏi phương pháp để phá Hoặc là ǵ? Chỉ cần thấu hiểu câu thoại đầu ḿnh đang tham cứu “người niệm Phật là ai?” Đánh bại nỗi nghi hoặc ấy, các Hoặc sẽ đều phá, hăy suy nghĩ, đừng coi thường!

          2) Vào trường thi [làm văn], đừng nên cố ư [viết lách] kỳ lạ, cổ lỗ, cũng đừng cố ư viết giản dị, mộc mạc, chỉ dựa theo lư mà nêu tỏ cho cùng tận Lư mà thôi! Dựa trên năng lực mà hết sức thi thố, tận hết sức mà thôi, khiến cho kẻ chuộng kỳ lạ, cổ kính chẳng thể chê ta dung tục, người chuộng b́nh đạm, mộc mạc cũng chẳng thể chê ta quái lạ. Đọc lên sướng miệng, xem đến đă mắt. Dẫu muốn bỏ mà chẳng thể bỏ, sẽ giống như “vạn tuyển thanh tiền”[63], ắt là bài văn sách thù thắng, mong ông hăy lưu tâm.

          3) Sau khi cách biệt, tâm t́nh nghĩ nhớ hết sức sâu đậm, nhận được thư an ủi lắm! Chỉ mong ông càng thêm tinh tấn tu hành. Chuyện khiến tâm khốn khó, lo nghĩ đều là cơ duyên giúp phát khởi giác ngộ, chớ bị vướng mắc, chớ trầm trệ, giữ sao cho nội tâm thư thái, sẽ thấy lực dụng của học vấn. Bản khắc in trong núi vừa mới xong, chẳng có kỳ hạn mở khóa giảng, tôi gởi kèm [bản in ấy] theo thư!

          4) Nhận được thư, biết ông từ Kim Lăng trở về, vui mừng, an ủi lắm! Nhưng chẳng biết bệnh cũ đă hoàn toàn khỏi hẳn hay chưa? Ông nói đến chuyện phỉ báng dẫn khởi mối họa. Đó là do ông X… học vấn chưa trọn, đức chưa tu, cứ gấp gáp muốn làm pháp sư, kẻ hèn này do hảo tâm mà phương tiện giúp thành cho, giữ ông ta ở trong núi này giảng kinh, muốn cho ông ta vừa giảng, vừa học, kiêm tu đức hạnh. Ông ta coi thường, vội vă cùng với người có cùng chí hướng mưu toan, tự ở chỗ ḿnh th́nh ĺnh khai giảng, khua khoắng hóa duyên, lại rêu rao kẻ hèn này đích thân đến đó giảng kinh. Bất đắc dĩ, tôi đến quở trách, ông ta khởi ác tâm v.v… Người nghe bất b́nh, kéo nhau thưa lên quan, quả thật chẳng phải ư của kẻ hèn này. Trong lúc tôi đang tận lực cứu chữa, giải quyết, bọn họ bèn hướng đến người chẳng hiểu rơ sự t́nh phao tin đồn trăm mối! Sự báng bổ do vậy mà sanh khởi. vậy, kẻ hèn này than thở: B́nh sanh một trăm chuyện, chín mươi chín chuyện gom về nhẫn nhục. Hễ một chuyện chẳng nhẫn, liền thành phiền năo, cũng do nhất thời chấp trước. Thầy phải nên giáo huấn tṛ, chẳng ngại tṛ ương ngạnh, trái nghịch. Tôi mong v́ Phật môn chỉnh đốn Thanh Quy, nhưng trong đời ác ngũ trược, đúng là chẳng thể thực hiện được! Như kẻ hèn này có thể nói là chẳng tự lượng sức, chẳng hổ thẹn, khôn ngăn đau xót! Đành hướng về người tri kỷ nói rơ một phen, những điều khác đợi gặp mặt sẽ nói tường tận!

5) Nhận được thư, tâm tôi buồn bực. Kẻ chẳng ra ǵ này cũng lại hoàn toàn chẳng có người giúp đỡ, chứ người công kích th́ luôn có. Tôi nghĩ t́nh thế gian nguy của ḿnh cũng giống như ông vậy. Cảnh giới thế gian đại lược là như thế. Hăy nên sớm quy vào tiền duyên, dùng lư để tự trừ, càng thêm phần cung kính, cẩn thận, chớ nên v́ vậy mà tính xa ĺa!

6) Cụ thân sinh của ông chẳng dùng tài sản, mà dùng khí tiết thanh cao lưu lại cho con cháu. Đúng là chuyện tốt đẹp! Nhưng điều cấp bách trước mắt ai sẽ đảm đương? Những chuyện của ông Trần, ông Phùng, hai chuyện ấy chẳng biết rốt cuộc là như thế nào? Do có người tiện dịp, bèn gởi lễ bạc là năm đồng, cảm phiền ông đối trước mộ phần của cụ tế điện[64] một chén nước, thêm một viên bùn, nhằm biểu lộ khí tiết thanh cao đó thôi! Muôn phần đừng từ khước, từ khước tức là coi tôi quá xa lạ vậy!

7) Nghe ông bị bệnh, hết sức lo lắng! Đă mắc bệnh, hăy nên coi chuyện điều dưỡng thân mạng là ư nghĩa to lớn bậc nhất. Mọi chuyện trong nhân gian đều nên chấp nhận, hăy nên chuyện qua rồi bèn thôi! Cứ ắt muốn chuyện ǵ cũng trọn hết lễ số, sẽ bị nhọc nhằn, thương tổn, bệnh tật ắt sẽ đổ ra. Hăy nên buông xuống muôn duyên, nhất tâm quán sát nội tâm th́ mới nên!

8) Nghe nói ông mắc bệnh, nay đề ra ba pháp:

- Một là đối trị. Bệnh đă do mệt nhọc, u uất sanh ra, hăy nên dùng an dật để trị mệt nhọc, dùng thư thái để trị u uất. An dật chẳng phải là lười biếng, chẳng phải là qua quít, phế sạch vạn duyên. Như đứa trẻ mới sanh, sáu thức chẳng chưa hoạt động, đó gọi là “an dật”. “Thư thái” chẳng phải là tán loạn, buông lung, chẳng kiêng dè. Biết thân thế như huyễn mộng, tùy duyên thuận chịu, chẳng bị cảnh gây khó; tức là nay có lành bệnh hay không, lẽ sống chết nơi thân, nhất loạt buông xuống. Đó gọi là “thư thái”.

- Hai là điều nhiếp (điều ḥa, thâu nhiếp). Điều nhiếp bằng cách ăn uống có chừng mực, thận trọng thuốc thang. Ăn uống chẳng cần phải bàn nữa. Thuốc men không nên dùng nhiều. Tôi biết những loại thuốc đắng có tánh hàn như hoàng bách, hoàng cầm, hoàng liên v.v… khiến cho kim hàn thủy lănh (tức phổi và thận bị lạnh), chẳng thể bổ âm, chưa thể giáng hỏa, mà vị khí (công năng của bao tử) bị tổn hoại trước, [dẫn đến] chẳng nuốt thức ăn xuống được, có thể dẫn đến đi tả nguy ngập! Hăy nên bàn bạc với bậc cao minh.

- Ba là chánh niệm, tức là như đă nói trong phần trước: Khổ từ thân sanh, thân từ nghiệp sanh v.v… Bệnh chính là một trong các nỗi khổ. Chúng xoay vần làm cái nhân cho nhau, cũng giống như thế đó. Hăy nên gắng gỏi, miên mật, sớm tối thấu hiểu, tham cứu. Tham cứu chẳng được th́ chỉ cần dấy lên một thoại đầu niệm Phật mà chính ḿnh đang tham cứu để hồi quang tự xem xét. Biết buông xuống một niệm ấy, Hoặc sẽ tự phá. Hoặc đă phá, sẽ lần lượt tiêu diệt, cũng lại giống như thế. Chỉ nên nỗ lực thực hiện ba chuyện ấy!

9) Cần phải tin vạn sự đều là túc duyên. Không chỉ thuận, nghịch, cùng quẫn, hanh thông, cho đến sanh tử, đều ném ra biển cả, đừng dấy ḷng lo âu, sợ sệt. Hăy thâu thập thân, tâm, phản quán nội chiếu câu thoại đầu ḿnh đang tham cứu. Hăy nhớ kỹ nhé, hăy ghi nhớ chặt chẽ nhé!

          10) Niệm Phật không chỉ minh tâm mà c̣n không bệnh nào chẳng trị. Nếu có ai khuyên ông theo học đạo thuật (các phương pháp tu luyện của Đạo giáo), chớ nên tin nhận, sợ đánh mất chánh tri kiến! Tôi đặc biệt trần thuật sẵn!

11) Bệnh t́nh của ông tới mức ấy cũng hết sức nguy hiểm. Hăy nên viết ra những điều ông muốn căn dặn, giao cho lệnh lang và tôn đường, khiến cho bụng dạ trọn chẳng có ǵ vướng mắc, nhất tâm chánh niệm. Nếu thường ngày tin tưởng pháp môn Niệm Phật, có thể dùng tâm mục để nội chiếu bốn chữ danh hiệu Phật sao cho rành rẽ, phân minh chẳng gián đoạn. Dẫu cho hôm nay hay ngày mai ĺa đời cũng đều được! Nếu như chưa đi, sống đến một trăm hai mươi tuổi cũng được. Đấy là lời khẩn yếu, bạn bè b́nh sanh giao du với nhau là ở chỗ này. Những chuyện khác đều là chuyện nhỏ nhặt, chẳng rảnh để lo tới, chớ nên tham sống sợ chết, lầm lẫn đại sự!

 

* Thư gởi cư sĩ Đại Thăng Châu Nguyên Hậu ở Gia Hưng

 

          Gặp nhau hồi tháng Bảy, [thấy] cụ thân sinh của ông nghẹn tiếng, thân h́nh c̣m cơi, biết bệnh cụ đă ngặt. Hôm qua nghe tin cáo phó, buồn tiếc chẳng thể nói nổi. Hăy mau chóng trong ṿng bốn mươi chín ngày, tạo công đức tốt lành cho cụ. Chẳng cần [thỉnh] tăng cho nhiều, dẫu chỉ một vị mà chí tâm tụng kinh th́ cũng được!

 

* Thư gởi cư sĩ Quảng Thọ Trịnh Bạch Sanh ở Tô Châu

 

          1) Do Thánh Sơ đến đây, tôi mới biết lệnh huynh đă mất, các thiện hữu có ai bị ngă ḷng hay chăng? Nếu ở trong núi ăn chay mà chết yểu, người ta sẽ nói “ăn chay có thể khiến người chết yểu, mọi người chớ nên tŕ trai vậy!” Thế nhưng do Nhan Tử có ḷng nhân mà chết yểu, cũng sẽ nói “ḷng nhân có thể khiến cho người ta chết yểu, con người chớ nên có ḷng nhân” ư? Lên núi vào tháng Bảy, nửa quả núi c̣n hoang vu, tháng Chín bỗng ĺa đời, mạng người vô thường như thế đó! Ngay trong lúc đáng cảm thán, càng nên tinh tấn bội phần. Lại nữa, ăn thịt hay ăn chay th́ mập hay gầy chắc là có, nhưng chẳng dính dáng đến thọ hay yểu. Mong ông nói lại với các bạn, mong lắm thay!

          2) Thư trả lời Tào Lỗ Xuyên lần nữa để ở chỗ Thánh Sơ, chẳng biết ông có từng xem chưa? E rằng lời lẽ trong ấy quá nghiêm khắc, v́ Tào Lỗ Xuyên là người thấu hiểu sâu xa chỉ thú kinh Hoa Nghiêm, ắt sẽ vui ḷng nghe những luận định thẳng thắn!

 

* Thư gởi cư sĩ Vương Đại Trác       

         

          Đối với bệnh t́nh của ông, hăy nên đem những chuyện ngoài thân, ngay cả tứ chi, trăm lóng xương nơi thân đều tận t́nh buông xuống, khiến cho rỗng không, chẳng có một vật. Nếu ắt chẳng thể ngưng dứt được, hăy tạm thời ngưng dứt, đợi sau này xử trí. Vọng tưởng lừng lẫy chẳng thể chế ngự, hăy nên niệm Phật mấy tiếng để đè nén. Phú quư, vinh hoa trong thế gian cũng bất quá là chuyện trong một khoảng thời gian, ách nạn khổ năo cũng bất quá là chuyện trong một khoảng thời gian, bỗng dưng chẳng có. Hơn nữa, muôn sự đều thuộc tiền duyên, năng lực của con người chẳng thể làm thế nào được! Hăy tận t́nh buông xuống, nhất tâm niệm Phật. Tột bậc căn dặn!

 

* Thư gởi anh em ông Hứa Thái Vi ở Gia Hưng

 

          Hiếu tử khi cha mẹ mất, dẫu cùng chết theo, vẫn chưa trọn hết cái tâm vô cùng được! Nhưng cổ nhân dẫu đau thương, chẳng hủy hoại thân thể, gắng gượng trong lúc buồn bă cùng cực mà tiết chế đau thương, v́ sao? Do thân hiện tại của ta chính là thân do cha mẹ [sanh thành], dùng thân này để tu đức, lập hạnh; đó chính là cha mẹ ta thường c̣n, chẳng mất. Chẳng yêu mến thân này, quá buồn rầu thành bệnh, nếu cha mẹ ta hay biết, sẽ đâm ra thêm lo âu. Đấy là bi có thừa mà trí chẳng đủ! Hiếu tử là người trong cuộc, tôi dùng ngu kiến quan sát bên cạnh, nguyện đừng ghét bỏ lời nông cạn của tôi mà hăy suy nghĩ sâu xa. Gia đ́nh ông cả nhà hiếu thảo, anh em ḥa thuận, hiếm thấy trong cơi đời. Kẻ tàn phế, hủ lậu [như tôi] kính trọng, yêu mến; do vậy, cuồng vọng nói đến chuyện này!

 

* Thư gởi Cấp Gián[65] Quảng Am Hồng Thanh Viễn

 

          Đại lang (con trai cả) ở trong núi, ư muốn lưu lại tiêu khiển mấy hôm, sợ song thân mong nhớ. Lại nghe nói cậu hai sanh bệnh nhọt, chẳng hoàn thành kỳ thi. Đó gọi là “chẳng tính làm mà lại làm” vậy. Hai vị lang quân đều là nhân tài tốt đẹp, mong ông hăy đừng v́ chuyện đă qua mà than thở vô ích, chỉ mong phấn chấn tinh thần, tương lai ắt có sách lược đắc thắng!

 

* Thư gởi cư sĩ Đại Tuân Văn Đàn Am

 

          Cổ đức đem lời [tốt lành] tặng người khác. Lần này ông ra làm quan cai trị đă là chuyện trong sáng tối, tôi thử trần thuật đại lược chuyện hộ pháp. Nghe nói ngoại hộ Phật pháp giao cho vua, quan, nhưng hộ pháp hiện thời đă có t́nh trạng uốn cong lẽ chánh, xử trí không thích đáng, đến nỗi tăng sĩ vui sướng ở trong am, mà dân đen khóc ṛng nơi đồng hoang. Thích tử coi cân đai là vênh vang, Nho sĩ bị họ đoạt mũ áo, há chẳng hết sức đáng thương ư? Chỉ có cư sĩ như ông giữ trọn ḷng nhân, nay sẽ coi trung quân yêu dân là nhiệm vụ chánh yếu của kẻ làm quan, kế đó mới dính dáng chuyện hộ pháp, giữ ǵn lư, chẳng ch́m đắm trong h́nh tích, giữ ǵn lẽ chánh, chẳng bị lôi kéo bởi t́nh cảm. Che chở người hiền, chẳng thủ hộ kẻ không ra ǵ; đó gọi là “thật sự hộ pháp”, vẫn mong ông hăy lưu ư.

 

* Thư gởi cư sĩ Tần Minh Trung

 

          Pháp môn vô lượng, cốt yếu là minh tâm. Môn trọng yếu để minh tâm không ǵ bằng Niệm Phật. Những lúc rảnh rỗi ngoài việc đọc sách và trước tác, hoặc khi tâm phiền năo, hăy tĩnh tọa niệm Phật, sẽ rất có lợi ích. Một niệm tại Phật, tạp niệm sẽ ngưng lui, tâm không, cảnh vắng, mầu nhiệm cỡ nào? Nguyện đừng dễ dăi coi thường.

         

* Thư gởi cư sĩ Quảng Lương Tần Nhậm Nam ở Ngô Giang

 

          1) Ông nói “mở mang u ám, tháo trói buộc bởi nghiệp”, nếu thấu hiểu th́ u ám chính là quang minh, nghiệp trói buộc không ǵ chẳng phải là giải thoát. Nếu chẳng hiểu, chỉ luôn nhiếp tâm niệm Phật, lâu dần tĩnh định, sẽ tự có thể phát huệ.

          2) Tu hành cũng chẳng ắt phải nhọc nhằn, điều yếu khẩn là thấu hiểu bổn tâm mà thôi; nhưng chớ nên thấy nói như thế ấy, liền toan khoanh tay [bàng quan để] ngồi hưởng thành tựu. Đối với chuyện “nhiếp niệm thể cứu”, chớ nên xem nhẹ. Nhiếp niệm và thể cứu cũng chẳng phải là hai pháp. Nhiếp niệm chẳng thôi, tâm sẽ tự sáng suốt. Ngay trong lúc đang thể cứu chính là lúc thâu nhiếp, chỉ chịu tin tưởng hành theo, sẽ đều đạt được lợi ích to lớn.

 

* Thư gởi các con trai của ông Tần Nhậm Nam

 

          1) Người xưa nói: “Đức hạnh là gốc, văn nghệ là ngọn”. Gốc ngay th́ ngọn sẽ chánh; đức hạnh lại là căn cơ của văn nghệ. Ba vị bản tánh đều thuần lương, chỉ v́ tập tục hiện thời bạc bẽo, dễ khiến cho con người chuyển dời, bậc có chí sẽ làm cột đá chống chọi giữa ḍng, chẳng bị đoạt mất. Mai sau, tuy làm chuyện hữu vi mà ắt là nhân vật quang minh, tuấn vĩ, chẳng đọa thành hạng tầm thường!

          2) Tham, sân, si được gọi là Tam Độc, nhưng sân là thứ độc nghiêm trọng nhất. Một vị tăng do nỗ lực cần kiệm, tích cóp hai mươi năm có được sản nghiệp ngàn vàng. Ngẫu nhiên v́ một chuyện nhỏ nhặt với vị tăng gần đó mà tranh chấp, thưa kiện. Trong ṿng mười ngày, tài sản ngàn vàng toàn bộ mất sạch! Tích cóp hai mươi năm, mất sạch trong mười ngày; giận dữ một buổi, quên bẵng thân ḿnh và người thân, há chẳng đúng như thế ư? Một niệm sân tâm dấy, tám vạn cửa chướng mở. V́ thế nói là Nhẫn Nhục Ba La Mật.

 

* Thư gởi cư sĩ Đại Khí Thái Thản Như ở Tô Châu

 

          Học hành, cai quản gia nghiệp, cầu con đều là những chuyện chánh đáng trong đời người, nhưng cần phải đừng bị lụy bởi đó; nhưng ba chuyện ấy chẳng thể gây lụy cho người, mà con người tự lụy đó thôi! V́ sao? Học hành tuy để thi cử, nhưng thành công hay không, phó cho tiền duyên, chẳng sanh vui, buồn, sao nó gây lụy cho được? Lo liệu gia nghiệp tuy là để mưu sinh, nhưng tùy duyên, tùy phần, xong việc liền thôi, tâm chẳng cầu giàu sang, chẳng có tâm háo thắng, sao gây lụy cho được? Cầu con tuy không có người nối dơi là chuyện lớn, nhưng người chẳng cưới vợ mới là bất hiếu, đế vương cũng có người không con, [dùng con cái của những người] chẳng phải ḍng chính để kế thừa đại thống (ngôi vua), há [hoàng đế] chẳng có tiền tài để lấy vợ ư? Có con hay không chẳng bị động tâm, sao gây lụy cho được? Lại c̣n nên biết ba chuyện này tuy nói là “chánh sự”, thật ra cũng là hư huyễn, như trăng trong nước, như cảnh trong mộng, tức là cũng giành được nhàn rỗi trong bận rộn, luôn luôn tỉnh giác, hướng về chánh niệm. Một mai Hoặc phá, [nội tâm] mới an nhiên.

 

* Thư gởi cư sĩ Đại Côn Tiền Nhụ Nguyện ở Hồ Châu (khi đó, ông ta phát nguyện thực hiện ba ngàn điều thiện)

 

          Cổ nhân nói: “Người có thiện nguyện, trời ắt thuận theo”. Lại nói: “Nhân định cũng có thể thắng trời”. Trả lại đai ngọc, chức quan tới Tam Công; cứu kiến bị lụt, danh ghi đầu bảng vàng; chỉ quyết chí hành thiện mà thôi!

 

* Thư gởi Tổng Nhung Quảng Chú Lư Cảnh Sơn

 

          Ngày hôm qua, tại Tây Hồ đưa tiền phóng sanh chẳng gặp, nay có một lời khuyên nhủ: Đối với chuyện của cháu nội ông, ngàn vạn lần hăy dứt trừ nỗi buồn khổ, hăy buông xuống, buông xuống! V́ sao vậy? Đấy chính là cháu ông đến đ̣i nợ. Nay nếu ông buồn khổ, ắt sẽ trở lại, vẫn như cũ chẳng nuôi được, phơi phới rời đi, càng tăng thêm buồn rầu, áo năo. Nếu buông xuống, dứt khổ, nó sẽ tuyệt vọng, chẳng đến nữa, sẽ có con thật, cháu thật sanh đến. Ngàn vạn phần hăy dứt khổ, buông xuống, buông xuống; đó là điều tôi thiết tha căn dặn. Chỉ cần chẳng ngă ḷng, tận lực hành âm đức, sẽ tự được thiện báo.

 

* Thư gởi cư sĩ Tiền Quảng Vân

 

          Bị người khác nói ra nói vào là chuyện nhỏ, dốc cạn t́nh thiên luân với người thân yêu nhất mới là đại sự. V́ quyến luyến t́nh thủ túc, dẫn đến chậm trễ nơi đường công danh. Đó chính là tâm địa của thánh hiền. Trăm miệng khó vu vạ tấc ḷng chân thật, một điều nhẫn có thể tiêu ngàn loại chướng. Đô quân[66] (vua Thuấn) chẳng nhớ nỗi oán [do đứa em cùng cha khác mẹ là Tượng] lấp giếng, Hoằng công chẳng hỏi chuyện bắn trâu[67], cao vượt những kẻ tầm thường vạn vạn lần. Hăy nhớ nhé!

 

* Thư gởi cư sĩ Ngô Đại Chiêm ở Huy Châu

 

          Nhà tích chứa điều lành, ắt niềm vui có thừa. Người ấp ủ thiện nguyện, trời ắt thuận theo, ắt phước tăng cao, ắt tuổi thọ dài lâu, ắt toại thanh danh, ắt con cháu đông đảo, chỉ cần chính ḿnh siêng tu công lao tốt lành, chẳng bận tâm là cát hay hung!

 

* Thư gởi cư sĩ Trần Xuân Dương

 

          Niệm Phật chỉ dính dáng nơi sự tướng; đó là cách nói đoán ṃ của kẻ sai lầm, chẳng đáng tin tưởng! Có sách Tịnh Độ Nghi Biện, đă gởi tặng cho ông xem hay chưa? Nay lại dâng một quyển sách. Hơn nữa, chương Thế Chí Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “Bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai” (chẳng nhờ vào phương tiện mà tâm được tự mở mang), chẳng lẽ không có duyên do mà được sáng tỏ ư? Mong ông hăy xem một lượt. Hôm qua, lại bàn về sách Thiền Môn Khẩu Quyết, tôi đă sao lục lá thư “trả lời ông Tống Hóa Khanh” về chuyện lệnh thân t́m cầu sách Khẩu Quyết để tŕnh lên ông. Sách ấy quả thật chẳng phải là ư chỉ chánh yếu của tổ Thiên Thai hay đại đạo trong Thiền môn, chớ nên v́ hai chữ Khẩu Quyết mà tưởng sách ấy là lạ lùng, đặc biệt! Tông Thiên Thai có kinh văn nói rơ cách tu hành chánh đáng, Thiền môn tự có ư chân thật của tổ sư, sao lại bỏ vàng mà quư chuộng đồng, sắt, chẳng ưa thi Tiến Sĩ mà chuộng đi thi ba lần? Nghe nói trong thuyền phóng sanh cũng có bàn luận chuyện này, có kẻ khuyên tôi hành tŕ, tuy là hảo tâm, yêu mến tôi, nhưng đấy chẳng phải là điều tôi mong mỏi. Mong ông hăy chuyển đạt tới lệnh thân.

 

* Thư gởi quận thừa[68] Thang Lân Sơ

 

          Nhớ giao t́nh từ thuở thơ ấu rành rành như mới hôm qua, nhưng đôi bên đều bạc đầu cả rồi! Phù sanh như mộng, huyễn, thật đáng than dài sườn sượt! Do hai vị tăng từ Giang Hữu đến yết kiến, nhân tiện tôi gởi lời giăi bày nỗi cảm khái cách biệt lâu ngày!

 

* Thư gởi Đại Tham[69] Tra Ngu Cao

 

          Anh em họ Tăng là những người lạ lùng. Họ gặp nỗi hoạn nạn cũng đặc biệt lạ lùng. Nạn nẩy sanh bèn thoát thân, [trong cảnh ngộ] trăm phần chết mà được một phần sống, hiên ngang giữ vững ư chí của chính ḿnh, điều đó lại càng kỳ lạ hơn. Nhưng họ chẳng tự nhận biết sự lạ lùng quá mức, do quá khích động đến nỗi bị tổn thương, bị người đương thời ghét bỏ, cái tâm ấy đáng dung thứ, đáng thương xót. Giả sử họ chẳng suy sụp ư chí, sau khi vấp ngă, lại dấn thân vào con đường làm quan, ắt sẽ có sự nghiệp rạng rỡ, chẳng cô phụ sự tri ngộ nhận làm môn hạ của Ngài. Hôm qua, họ đến núi, tính [cùng sang] bái yết Ngài, nhưng do mưa ngăn trở, chậm trễ tới hôm nay. Kẻ chẳng ra ǵ này lại do thân thể bệnh tật, chẳng thể cùng đi với họ, xin tạ lỗi. Có hai loại sách được khắc ở ngoài núi, xin gởi kèm theo, [những điều khác] chẳng thể trần thuật hết.

 

* Thư gởi cư sĩ Quảng Dực Ngô Niệm Từ ở Nam Thành

 

          Nhập đạo có nhiều môn, nhưng thẳng, chóng, giản dị, trọng yếu, không ǵ bằng niệm Phật. Một môn Niệm Phật trên là độ hàng lợi căn tối thắng, dưới là thấu đến kẻ cực ngu, cực độn. Bởi lẽ, đối với đạo thông trên, thấu dưới, đừng bị lay động, mê hoặc bởi cách nh́n thế tục. Các vị tôn túc từ xưa dạy người khác khán thoại đầu, dấy nghi t́nh để mong họ sẽ đại ngộ. Hoặc là khán chữ Vô, hoặc khán vạn pháp v.v… chẳng phải chỉ một cách. Nay thử so sánh, “nếu như vạn pháp quy vào một, một quy vào chỗ nào” hết sức tương tự câu “người niệm Phật là ai?” Nếu tham cứu thấu triệt “là ai?” th́ “một quy vào đâu?” sẽ chẳng cần hỏi ai khác mà tự rỗng rang! Cổ nhân nói “người niệm Phật muốn tham Thiền, chẳng cần phải nêu lên câu thoại đầu nào khác” chính là ư này. Niệm Phật mấy câu, hồi quang tự khán xem câu niệm Phật ấy là ǵ? Dụng tâm như thế, đừng quên, đừng giúp[70], lâu ngày sẽ tự tỉnh ngộ. Nếu chẳng thể thẳng thừng niệm, cũng có thể giữ cho niệm ấy chẳng ĺa Phật, Phật chẳng ĺa niệm, niệm tột cùng, tâm rỗng không, cảm ứng đạo giao, hiện tiền thấy Phật; đó là lẽ tất nhiên!

 

* Thư gởi quan Tư Lư[71] Hoàng Bành Tŕ ở Giang Tây

 

          Bệnh từ thân sanh, thân từ nghiệp sanh, nghiệp từ tâm sanh; tâm không th́ nghiệp không, nghiệp không th́ thân không. Thân đă không, bệnh do đâu mà sanh? Xin hăy rỗng không cái tâm, tức là gặp chuyện hết sức trái ư, vẫn coi như mộng, như huyễn, như bọt, như bóng, an nhiên, thản nhiên, chẳng bận tâm mảy may, chỉ hồi quang nội chiếu, không chỉ trừ bệnh, mà đạo sẽ từ đó mà nhập.

 

* Thư gởi Hiếu Liêm Trí Đệ Vương Tử Ngung ở Thái Thương

 

          Nhà ông nhiều đời tu đức dày, v́ sao thân thể ông mắc phải bệnh ngặt ấy? Chẳng phải là do túc nghiệp khiến thành ra như thế ư? Căn nguyên của bệnh tật phần nhiều do sát sanh mà ra. V́ thế, riêng coi trọng phóng sanh. Nay c̣n có những điều cần trần thuật: Đó là v́ thỉnh vị tăng bên ngoài thay ḿnh sám hối, so với nội tâm tự sám, công đức khác biệt rất xa. Xin ông hăy trống ḷng, tận lực bỏ hết thảy các duyên, từ trong cái tâm rỗng không ấy, chỉ niệm một câu A Di Đà Phật. “Niệm” như vừa mới nói, chẳng cần phải mở miệng, động lưỡi, cứ lặng lẽ dùng tâm nhăn phản chiếu, từng chữ từng chữ một phân minh, từng câu từng câu tiếp nối, từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, tâm tâm chẳng gián đoạn. Nếu có đau khổ, hăy nhẫn nại, nhất tâm chú ư niệm. Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một tiếng, diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử!” V́ thế, công đức khác biệt vời vợi!

 

* Thư gởi cư sĩ Cố Quảng Tá ở Hồ Châu

 

          Ba chuyện của người già:

          - Một, đức Phật dạy “mạng người tồn tại trong hơi thở” là nói với hết thảy mọi người, huống hồ người tám mươi tuổi ư? Chuyện nhà cần phải xử trí, hăy đều nên xử trí xong xuôi. [Chuyện ǵ] cần phải căn dặn, đều nên căn dặn, thường khiến cho cái tâm chẳng có một chuyện ǵ.

          - Hai, ngoài chuyện lớn ra, những chuyện vụn vặt khác cũng đều vứt bỏ.

          - Ba, ngoài các chuyện lớn nhỏ ra, lại có phù du loạn tưởng quá khứ, hiện tại, tương lai, diệt rồi lại sanh, càng xua đuổi chúng càng kéo đến. Ngay trong lúc ấy, hăy nên dũng mănh dấy lên chánh niệm, chiến đấu với nó. Dẫu tạm thời chẳng thắng, chớ nên ngă ḷng, hành tŕ lâu ngày, tự nhiên lũ ma diệt sạch, thiên hạ thái b́nh.

          Trên đây, tuy chia thành ba hạng mục, nhưng nói chung đều thuộc về vọng tưởng, như chuyện trong mộng, như h́nh bóng trong gương, như trăng trong nước, hoàn toàn là rỗng không, chẳng thật, nhưng chúng mê hoặc người đời, cần phải dùng chánh trí để phá Hoặc!

 

* Thư gởi cư sĩ Tiền Quảng Nghệ

 

          Bệnh từ thân sanh, thân từ nghiệp sanh, nghiệp từ tâm sanh, tâm không th́ nghiệp không, nghiệp không th́ thân không, thân không th́ bệnh không. Buông xuống muôn duyên, nhất tâm chánh niệm. “Nhất tâm chánh niệm” là chỉ đặt một câu Phật hiệu trong cái tâm thanh tịnh.

 

* Thư gởi cư sĩ Hồng Đại Mậu

 

          Lời Sớ viết: “Tuy có mười sáu phép Quán, hễ nói Phật là trọn đủ. Chỉ quán một vị Phật, đă thành văng sanh thượng thượng phẩm”. Chỉ trong lúc này, do hăy c̣n một mực đặt tâm nơi cử nghiệp, đợi khi đoạt được áo gấm trở về, lại gom góp nguyện trước vẫn chưa muộn.

 

* Thư gởi cư sĩ Tạ Quảng Dự

                  

          Ông cụ thân sinh của ông tuy qua đời, thân thể của con chính là di thể của cha mẹ. Dùng di thể ấy để nhất tâm niệm Phật, đó là đại phương tiện để báo ân cha mẹ, mà cũng chính là đại phương tiện tối thượng để chính ḿnh siêu sanh tử.

 

* Thư gởi thị giả Trí Chân

 

          Tôi đặc biệt căn dặn Lư Nhị Đạo tháp tùng ông cùng đi, v́ sao đùn đẩy ông ta đi trước, tự ḿnh th́ chần chừ chuyện xuất gia? Hăy nên xa ĺa ân ái, chỉ trừ thăm viếng cha mẹ đôi chút mà thôi; ngoài ra, thăm viếng thân quyến, bái phỏng, kết giao bạn bè, đều chẳng nên làm! Nay tôi đă già lụn, chẳng c̣n ở đời được mấy chốc, ông tuy thơ dại, nhưng chẳng phải là kẻ trường thọ, cũng chẳng ở trên đời được bao lâu, nếu chẳng kịp thời tiến thêm một bước, phí uổng thời gian, sau này hối hận chẳng kịp! Hăy nên suy nghĩ cặn kẽ, mau chóng trở về, chớ nên lần khân nữa!

 

* Thư gởi cháu trai là Hứa Đông Hồ

 

          Gần đây uống thuốc như thế nào? Ngày hôm qua, tôi nghĩ đời người vô thường, thời gian vùn vụt, trong cốt nhục chí thân, người trung hậu chí thành chỉ có ḿnh Đông Hồ mà thôi. Hăy nên tỉnh ngộ ư ấy, giác ngộ đời người như mộng huyễn, muôn sự đều giả, cùng quẫn, hanh thông, được, mất phó mặc cho túc duyên! Hăy mở rộng tấm ḷng, giải trừ ưu sầu, tự đạt được thong dong. Giao phó nhà cửa cho các con, t́m nhàn trong bận, t́m vui trong bực tức, niệm Phật tiêu khiển cho trọn hết tuổi trời. Đó gọi là người trí, đừng uổng công tự khổ, rốt cuộc chẳng lợi ích ǵ!

 

* Cùng với ba vị văn học gia luận định văn chương

 

          Tác phẩm hay đẹp của ba vị nói chung đều là dụng ư tinh thâm, nhưng cách dùng chữ c̣n thô ráp, chưa đạt được ngữ ư viên dung, khiến cho người đọc chẳng thể không tốn công suy lường, [chẳng thể khiến cho người đọc] vừa lọt vào mắt liền gơ nhịp tán thưởng, không ǵ chẳng là do khi sáng tác đă cố ư quá sức mà ra đó ư? Ngu ư cho rằng: Chẳng cần phải cố ư dấy tâm săn đón sao cho phù hợp phong cách được ưa chuộng trong hiện thời, chỉ cốt sao lắng ḷng xem sách, khiến cho kiến địa rành rẽ, đọc nhiều để bồi đắp thêm, luyện tập nhiều cho thuần thục. Một mai bỗng dưng thông suốt, khi hạ bút sẽ tung hoành lưu loát, cuồn cuộn chẳng cùng tận, tự nhiên thành chương, chẳng có dáng vẻ gian nan, nhọc nhằn, chẳng toan hợp thời mà tự hợp thời. Châu của Tùy Đế, ngọc bích của Biện Ḥa, của báu chân thật tự nhiên, cũng lo ǵ chẳng được người khác thưởng thức?         

Vân Thê Pháp Vựng

Phần 8



[1] Phàn Sơn Vương là tước hiệu phiên vương được ban cho Châu Chiêm Cương (con trai của Minh Nhân Tông), và con của ông ta được tập ấm tước hiệu này. Vị Phàn Sơn Vương được nhắc tới ở đây là đời thứ năm, tên là Châu Dực Xí (1568-1626), tự là Khuông Đảnh, hiệu là Ẩn Chân Tử. Châu Dực Xí c̣n có tên tự là Mạnh Thường và Chấn Nhạc, vốn là một thi nhân nổi tiếng trong hoàng tộc nhà Minh. Các tác phẩm tiêu biểu của ông ta là Chấn Nhạc Thi Thoại và Quảng Yên Đường Tập.

[2] Thạch Đầu Hy Thiên là một vị thiền sư lỗi lạc trong Thiền Tông. Lúc mười hai tuổi, gặp Lục Tổ thuyết pháp, Sư cảm mộ đức hạnh bèn theo Tổ xuất gia. Khi Thạch Đầu mười lăm tuổi, Tổ viên tịch. Trước lúc mất, Thạch Đầu hỏi:Ḥa thượng mất rồi, con sẽ nương tựa vào ai?” Tổ trả lời: “Tầm tư khứ”. Thạch Đầu hiểu lầm Tổ dạy hăy suy nghĩ, tư lường để thể ngộ chân tâm, nên suốt ngày lặng lẽ tọa Thiền. Về sau, gặp một vị lăo tăng bảo ư Tổ là hăy đi t́m Thanh Nguyên Hành Tư (một đại đệ tử của Lục Tổ). V́ “tầm tư khứ” thật sự nghĩa là “hăy đi t́m Hành Tư”, Thạch Đầu lại hiểu là “hăy t́m ṭi, suy tưởng”. Thạch Đầu vâng lời, đến học với Thanh Nguyên Hành Tư và đắc ngộ. Phàn Sơn Vương dùng chuyện này để diễn tả ư sợ ḿnh ngu độn, hiểu sai lời dạy của tổ Liên Tŕ đến nỗi phí uổng thời gian, ơ hờ tu tŕ, không chỉ tạo chướng ngại cho chính ḿnh, mà c̣n tăng thêm nghiệp cho Tổ.

[3] Đây là một điển cố trong Thiền Tông. Theo sách Phó Pháp Tạng, vị tổ thứ mười lăm của Thiền Tông Ấn Độ là Ca Na Đề Bà thoạt đầu là ngoại đạo. Nghe danh tiếng của tổ Long Thọ, Ca Na Đề Bà từ nước Sư Tử lặn lội đến nước Kiều Tát La đ̣i tranh luận. Long Thọ sai đệ tử đem một bát nước đầy ắp đặt trước Ca Na Đề Bà. Đề Bà liền thả một cây kim ch́m xuống tận đáy bát. Long Thọ tán thán Đề Bà là bậc trí huệ dũng mănh, liền tiếp chuyện và cuối cùng điểm hóa Ca Na Đề Bà quy hướng Phật pháp. Theo các vị chú giải, bát nước đầy biểu thị Long Thọ trí huệ sung măn, không thiếu khuyết. Đề Bà thả kim ngụ ư: Trí huệ của chính ḿnh cũng sắc bén có thể thấu tột cùng nguồn cội của sự vật. Ở đây, Phàn Sơn Vương dùng điển tích này để biểu đạt chính ḿnh và Định Hư có sự thấu hiểu thấu triệt tâm tánh lẫn nhau.

[4] Đây là một câu chuyện trong Thiền Tông. Tổ Đạt Ma muốn truyền trao y bát cho đệ tử, bèn bảo các đệ tử nêu ra sự thấu hiểu đối với Phật pháp. Thiền sư Đạo Phó thưa: “Chẳng chấp vào văn tự, chẳng ĺa văn tự, đó là tác dụng của đạo”. Tổ bảo: “Ông đạt được phần da của ta”. Tỳ-kheo-ni Tổng Tŕ thưa: “Hễ thấy th́ chẳng c̣n thấy nữa”. Tổ bảo: “Bà đạt được phần thịt của ta”. Thiền sư Đạo Dục thưa: “Tứ Đại vốn không, Ngũ Ấm chẳng có, không có một pháp nào để có thể đạt được”. Tổ khen: “Ông đạt được phần xương của ta”. Hỏi đến ngài Huệ Khả, chẳng thưa thốt ǵ, chỉ lễ bái Tổ ba lượt, sau đó đứng im lặng. Tổ khen: “Ông đạt được phần tủy của ta” rồi phó chúc y bát cho Huệ Khả.

[5] Pháp sư Giao Quang có pháp danh là Chân Giám.

[6] Thiên tuế (ngàn năm) là danh xưng dành cho các thân vương (người được phong tước vương trong hoàng tộc), ngụ ư thấp hơn vạn tuế (danh xưng dành cho hoàng đế). Nhưng có khi quyền thần lạm dụng, như Ngụy Trung Hiền bắt mọi người gọi hắn là cửu thiên tuế (chỉ kém vua một chút). Nguỵ Trung Hiền vốn là hoạn quan, do vua Minh Hy Tông u mê, tin tưởng hắn (cũng như do sự trợ giúp của vú nuôi nhà vua là Khách Thị) khiến hắn thừa cơ lũng đoạn triều chánh, nắm quyền hành ngang ngửa với tể tướng (thủ phụ).

[7] Thiện Tài đồng tử vâng lời dạy của Văn Thù Bồ Tát lần lượt đi qua một trăm ṭa thành để tham học với năm mươi ba vị thiện tri thức, nên “bách thành yên thủy” được dùng với ư nghĩa “đi tham học khắp các thiện tri thức”. Ở đây, sư Giao Quang nói “bách thành bất cử túc” (chẳng giở chân đi qua trăm thành) với hàm ư: Được nhận lời dạy bảo của Tổ Liên Tŕ, sẽ đại triệt đại ngộ, chẳng cần phải khổ công đi tham học nữa.

[8] Lập lượng (立量) là một thuật ngữ trong Nhân Minh Học, xác lập ba yếu tố là tông, nhân, dụ để so sánh ḥng lập luận th́ gọi là Lập Lượng.

[9] Khi con người đầu thai, thần thức (cụ thể là thức thứ tám) nhập thai trước, nên gọi là “lai tiên”. Khi chết đi, thức thứ tám rời đi sau cùng, nên gọi là “khứ hậu”.

[10] Ấp lệnh (邑令) là cách gọi khác của chức vụ huyện lệnh (tri huyện).

[11] Triệu Cao là quyền thần dưới thời Tần Nhị Thế (Doanh Hồ Hợi, con trai thứ của Tần Thủy Hoàng). Có lần hắn sai người hầu dẫn một con nai vào triều, bảo Tần Nhị Thế đó là con ngựa. Nhị Thế không tin, hỏi triều thần đó là nai hay ngựa. Các quan sợ oai hoặc nịnh bợ Triệu Cao, đa số bảo đó là con ngựa. Những kẻ khảng khái, bảo đó là con nai, đều bị Triệu Cao ghi tên lại, t́m cơ hội trừ khử. Do đó, thành ngữ “chỉ nai bảo ngựa” hàm ư phê phán kẻ có mưu đồ bất chánh, đổi trắng thay đen.

[12] Đây là một câu chuyện ngụ ngôn trích từ chương Sát Lệnh của sách Lữ Thị Xuân Thu với dụng ư chê bai kẻ ngu độn, cố chấp, không thông hiểu quyền biến. Theo đó, có người nước Sở khi vượt sông, đánh rơi gươm xuống sông, bèn khắc kư hiệu lên mạn thuyền, đợi thuyền ngừng chèo mới nhảy xuống nước ṃ t́m gươm.

[13] Sông Kinh và sông Vị cùng bắt nguồn từ địa vực Lục Bàn Sơn, hai sông chảy đến vùng Cao Lăng thuộc thành phố Tây An (Trường An) của Thiểm Tây th́ hợp lưu, nhưng do lượng phù sa khác nhau, nước sông chia thành hai ḍng trong đục phân minh trong cùng một sông.

[14] Đây là một nhân vật được nhắc tới trong thiên Tận Tâm Hạ trong sách Mạnh Tử: Nước Tấn có một người nữ họ Phùng là một người đàn bà hung hăn, là thợ săn thích bắt hổ. Về sau, bà đổi nghề. Về sau, dân chúng đuổi hổ, hổ chạy vào núp trong chỗ núi hiểm, không ai dám xông vào. Họ thỉnh cầu bà Phùng, bà liền xắn tay xông vào, bắt được hổ, mọi người đều vui mừng. Điển tích này được dùng với ngụ ư: Lại làm chuyện đă quen làm. Ở đây, Tổ dùng từ ngữ này với ngụ ư, gă nông phu ấy vẫn cứ noi theo vết xe đổ, bị từ chối rồi mà vẫn cứ cố ư mời mọc.

[15] Kim Cốc là khu vườn của Thạch Sùng thời Tây Tấn, trong ấy có biệt thự xa hoa, cảnh sắc ưu nhă, vàng, bạc, của báu chất đống, đông đảo mỹ nữ, xa xỉ cùng cực. Mỵ Ổ là thành lũy kiên cố (sử chép vách thành dày đến bảy trượng) do Đổng Trác xây dựng tại thái ấp của chính ḿnh (cách Trường An 250 dặm) vào cuối thời Đông Hán, tự xưng là Vạn Tuế Ổ. Trong ấy chứa đựng lương thực đủ ăn ba mươi năm, vô số của báu, mỹ nữ, pḥng thủ cực nghiêm. Nhưng cả hai nơi này đều bị cướp phá tan hoang khi Thạch Sùng và Đổng Trác thất thế.

[16] Chủ Chánh tức là cách gọi khác của chức quan Chủ Sự. Vào đời Minh, chức quan này thuộc Tùng Lục Phẩm, chưởng quản việc truyền đạt công văn và xử lư các sự vụ thường nhật thuộc Lục Bộ.

[17] Hữu Vệ ở đây là chức quan chỉ huy Cấm Vệ Quân (quân bảo vệ hoàng thành và hoàng thất). Chức quan này được thiết lập t đời Ngụy - Tấn, thuộc Chánh Tam Phẩm. Thời Đường, quân cấm vệ được chia thành mười hai vệ. Đến thời Nguyên, Cấm Vệ Quân chỉ chia thành ba vệ là Tả Vệ, Hữu Vệ, và Trung Vệ. Quan đứng đầu của mỗi Vệ là Đô Chỉ Huy Sứ, phụ tá có Đô Chỉ Huy, Kiểm Sự, Kinh Lịch, Tri Sự, Chiếu Ma. “Tập ấm” (襲蔭) là con cháu được thừa hưởng chức vị hoặc tước vị của cha ông.

[18] Đô Khổn (都閫) là tên gọi khác của chức quan Đô Ty (都司). Chức quan này được thiết lập từ thời Minh, thuộc Tứ Phẩm, ngang cấp với Tri Phủ, chuyên quản trị quân sự. Thời Minh, theo hệ thống quân giai, các chức quan vơ theo thứ tự là Tổng Binh (c̣n gọi là Tổng Nhung), Phó Tổng Binh, Tham Tướng, Du Kích, Đô Ty, Thủ Bị, Đề Điều, Thiên Tổng, Bả Tổng, Bách Tổng. Từ Tổng Binh đến Du Kích được gọi chung là tướng quân, từ Đô Ty trở xuống là các chức quan trong doanh trại quân đội.

[19] Dương Ứng Long (1551-1600) là thổ ty đời thứ ba mươi của Bá Châu. Khi cha ông ta là Dương Liệt mất, Ứng Long được kế thừa chức thổ ty, mang tước hiệu Bá Châu Tuyên Úy Ty Xá Nhân, và được thăng lên thành Bá Châu Tuyên Úy Sứ. Thoạt đầu, Ứng Long tỏ ra mẫn cán và trung thành với triều đ́nh. Sau đó, do ông ta mang tham vọng mở rộng quyền lực, các ḍng họ có thế lực tại Bá Châu than phiền ông ta hống hách, truy ép cấp dưới tiến cống, nên dâng sớ tố cáo Ứng Long mưu phản. Năm 1586, do sự xúi giục của người thiếp, Dương Ứng Long giết chết chánh thất Trương Thị và mẹ bà ta. Do Trương Thị là cáo mạng phu nhân, tuần phủ Tứ Xuyên là Vương Kế Quang ra lệnh bắt giữ Ứng Long. Ứng Long xin nộp hai mươi ngàn lạng bạc để chuộc tội. Sau khi trở về Bá Châu, Ứng Long tiếp tục vơ vét, khiến cho dân chúng tố cáo lần nữa. Tuần phủ Vương Kế Quang dẫn quân chinh phạt, bị Ứng Long đánh bại. Sau đó, triều đ́nh dùng cách dụ hàng. Dương Ứng Long bèn giao nộp mười hai người đồng đảng, và cho con là Dương Khả Đống làm con tin, xin nộp bốn mươi ngàn lạng vàng dần dần để chuộc tội. Khi Khả Đống chết bất thường tại Trùng Khánh, Ứng Long xin nhận thi hài con, bị triều đ́nh rúng ép, thúc giục Ứng Long nộp hết tiền chuộc. Ứng Long bèn quyết chí làm phản. Quân Ứng Long tập kích, chiếm đóng bốn mươi tám bản trại thuộc Hồ Quảng, tiêu diệt toàn quân của tuần phủ Quư Châu, măi cho đến năm 1600, quân Ứng Long bị quân Minh (dưới sự lănh đạo của Bộ Binh Thị Lang Lư Hóa Long) trang bị đại bác tấn công, quân Ứng Long đại bại. Ngày Mười Bốn tháng Bảy năm ấy, thành lũy cuối cùng là Hải Long Đồn bị phá, Dương Ứng Long cùng hai ái thiếp treo cổ tự tử. Tuy vậy, quan quân nhà Minh cũng bị thiệt hại khá nặng trong chiến dịch chinh phạt này.

[20] Trong thư này cũng như trong thư sau, pháp danh được đặt trước tên thật của người nhận thư, sau chức quan.

[21] Xá điệt (舍姪): Cách gọi khiêm xưng đối với cháu trai (con của anh hay em trai của chính ḿnh).

[22] Dựa theo ư câu nói: “Hà nhuận cửu lư, trạch cập tam tộc” (Sông Hoàng Hà thấm nhuần trọn khắp chín dặm, ân trạch thấu tận ba họ) trong thiên Liệt Ngự Khấu của sách Trang Tử. Từ ngữ này dùng với dụng ư ca ngợi ân trạch dồi dào như nước Hoàng Hà có thể tưới tắm trọn khắp chín dặm hai bên bờ.

[23] Chó rơm là con chó bện bằng rơm, cổ nhân dùng để cúng tế (thay cho việc thật sự giết chó), cúng xong th́ vứt đi, nên “chó rơm” thường được dùng để sánh ví vật vô giá trị. “Dây leo” ở đây phiếm chỉ những thứ rườm rà, lằng nhằng, lan man. Cả câu có ư nói: Do tập khí, ông Quảng Thược Ngô Quán Ngă cứ bận bịu những chuyện không quan trọng (giống như chăm chú coi trọng chó rơm), dẫn đến những chuyện phiền toái, vụn vặt không dứt (giống như lôi kéo dây leo).

[24] Tức ngữ lục của thiền sư Phù Sơn Pháp Viễn.

[25] Vào thời Ân và Châu, chữ Phương Bá dùng để chỉ trưởng quan của các vua chư hầu. Về sau, từ ngữ này được dùng để chỉ chung các quan đứng đầu việc hành chánh tại các địa phương. Riêng vào thời Minh - Thanh, quan Bố Chánh Sứ tại mỗi tỉnh thường được gọi là Phương Bá. Nhưng ở đây, do ông Ngô được sai làm Tuần Phủ là cấp trên của Bố Chánh (Bố Chánh chỉ là trưởng quan hành chánh, trong khi Tuần Phủ quản trị dân sự, hành chánh, quân đội lẫn lương hướng của cả tỉnh), cho nên phải hiểu Phương Bá được dùng theo ư nghĩa phiếm chỉ chức quan đứng đầu một tỉnh.

[26] Quả Di (猓夷, hoặc c̣n đọc là Lơa Di) là một dân tộc thiểu số ở Trung Hoa, đứng hàng thứ bảy trong năm mươi lăm sắc dân thiểu số được công nhận tại Trung Quốc. Họ c̣n được gọi là người Di (), c̣n gọi là Nặc Tô (諾蘇), Lạp Tô, Ni Bộc, Hắc Di, Bạch Di, Hồng Di, Cam Di, Hoa Yêu, Mật Xóa, La La, Bộc v.v… thường sống ở vùng núi thuộc phía Tây Nam Trung Hoa (Vân Nam, Quư Châu, Tứ Xuyên, Quảng Tây). Dân tộc này tự xưng là Lô Lô khi sống tại miền Bắc Việt Nam (họ sống chủ yếu tại các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng và Lào Cai). Có một bộ phận nhỏ sống tại Lào, Thái và Miến Điện. Tiếng Quả Di gần giống tiếng Miến Điện, họ có văn tự riêng.

[27] Đời Tần Hiếu Công, Thương Ưởng làm tướng quốc. Ông ta muốn thi hành chánh sách mới để biến nước Tần thành cường thịnh, nhưng sợ chánh sách mới quá hà khắc, dân chúng sẽ chẳng tin tưởng chánh quyền, bèn lập ra một kế: Tại kinh đô Hàm Dương, Thương Ưởng cho dựng một khối gỗ cao ba trượng tại cửa Nam kinh thành, hạ lệnh ai dời được khối gỗ ấy sang cửa Bắc sẽ được thưởng mười lạng vàng, không ai tin tưởng làm theo. Ông ta lại truyền lệnh, ai dời được, sẽ thưởng năm mươi lạng. Có một người làm thử, liền được thưởng ngay năm mươi lạng. Do vậy, dân chúng tin chánh quyền nói là làm, cho nên chánh sách mới được tiến hành thuận lợi.

[28] Bắc Cung là một họ kép thời cổ. Bắc Cung ở đây là nói đến Bắc Cung Ảo, dũng sĩ nước Tề thời Chiến Quốc. Ông ta truy cầu cảnh giới dũng cảm bằng cách cho người đâm kim vào thân mà bắp thịt chẳng co rút, sắp bị vật nhọn đâm vào mắt mà chẳng nháy, quan niệm chẳng nhịn bất cứ sự khinh rẻ nào, đối diện với vua các nước chẳng hề lộ vẻ sợ hăi.

[29] Thiếu Chánh Măo làm đại phu nước Lỗ thời Xuân Thu, làm quan tới chức Thiếu Chánh, khéo ăn nói khiến kẻ khác mê hoặc. Khổng Tử làm Đại Tư Khấu nước Lỗ, kiêm quyền tể tướng dưới thời Lỗ Định Công. Sau khi nhậm chức bảy ngày, Khổng Tử đă giết Thiếu Chánh Măo, phơi thây ba ngày. Khi học tṛ hỏi nguyên do, Khổng Tử cho biết: “Thiếu Chánh Măo tâm hiểm trá, hành vi lệch lạc nhưng cứng đầu, ngôn từ trá ngụy khéo biện bác che lấp, ngả theo điều sai trái…”

[30] Trung Thừa là một chức quan được thiết lập từ thời Hán. Thoạt đầu, Trung Thừa là thuộc hạ của quan Ngự Sử Đại Phu, chịu trách nhiệm quản thủ thư tịch, và xem xét tấu chương của các quan, cũng như kiểm tra các án từ. Từ thời Đông Hán trở đi, do Ngự Sử Đại Phu chuyển làm Đại Tư Không, Trung Thừa được nâng lên làm trưởng quan của Ngự Sử Đài. Đến đời Minh, thành lập Đô Sát Viện, chức quan Phó Đô Ngự Sử tương đương với Ngự Sử Trung Thừa, nên Phó Đô Ngự Sử của Đô Sát Viện thường được gọi là Trung Thừa. Đồng thời, giữa thời Minh, các quan Tuần Phủ đứng đầu các tỉnh đều được kiêm hàm Ngự Sử Trung Thừa, nên Tuần Phủ thường được gọi là Trung Thừa hoặc Phủ Đài. Như vậy ông Uông Tĩnh Phong ở đây chính là quan Tuần Phủ tỉnh Hồ Quảng thời Minh.

[31] Tư Mă là một chức quan đă có từ thời Tây Châu, chưởng quản việc binh bị. Về sau, danh xưng này thường được dùng để gọi Binh Bộ Thượng Thư. Từ thời Đường trở đi, tại các châu, cũng thiết lập chức quan Tư Mă với danh nghĩa phù tá cho Thứ Sử (người đứng đầu một châu), nhưng đây là một chức quan hữu danh vô thực, đa phần dùng cho các quan bị biếm chức. Thời Minh - Thanh, chức Đồng Tri thường được gọi là Tư Mă, Phân Phủ hoặc Nhị Mă. Đồng Tri chính là quan phụ tá của vị quan đứng đầu một cơ cấu hành chánh. Chẳng hạn như quan phụ tá của Tri Châu cũng gọi là Đồng Tri. Nói cách khác, quan phụ tá thứ nhất th́ gọi là Đồng Tri, người kém hơn ông ta một bậc th́ gọi là Thông Phán.

[32] Nghi Bộ là một cơ quan trực thuộc bộ Lễ, có tên gọi đầy đủ là Nghi Chế Thanh Sứ Ty (thường được gọi tắt là Nghi Chế Ty hoặc Nghi Bộ), chịu trách nhiệm quản lư các dịp lễ nhỏ trong triều đ́nh, lễ nghi trong quân đội, phong tước, các sự vụ thuộc giáo dục và khảo thí. Người đứng đầu cơ quan này là Nghi Bộ Lang Trung (thuộc Chánh Ngũ Phẩm), phụ tá là Nghi Bộ Viên Ngoại Lang (thuộc Tùng Ngũ Phẩm), dưới Viên Ngoại Lang là ba vị Chủ Sự.

[33] Nguyệt Xuyên là ngài Nguyệt Xuyên Trấn Trừng (1547-1617), pháp tự là Không Ấn, pháp hiệu Nguyệt Xuyên. Sư là một vị đại sư trong tông Hoa Nghiêm thuộc pháp hệ Bảo Thông. Sư được xưng tụng là một trong năm vị cao tăng thời Vạn Lịch nhà Minh. Hai tác phẩm nổi tiếng nhất của Sư là Thanh Lương Sơn Chí và Vật Bất Thiên Chánh Lượng Luận.

[34] Quận Bá vốn là danh xưng tước vị của hàng quư tộc có quan chức thuộc Tùng Tứ Phẩm thời Nguyên và Kim. Đến đời Minh, nó trở thành danh xưng khác của Tri Phủ.

[35] Giá Bộ ở đây là trưởng quan của Giá Bộ Lang Tào (một ty trực thuộc bộ Binh), chuyên quản lư xe cộ và các mục trường (trại chăn nuôi của quân đội). Chức vụ này được đặt ra thời Ngụy - Tấn, trưởng quan của Giá Bộ Lang Tào được gọi là Giá Bộ Thượng Thư, trực thuộc quyền cai quản của Thượng Thư Tỉnh. Đến đời Tây Ngụy, trưởng quan của cơ quan này gọi là Giá Bộ Lang Trung. Đến đời Minh, chức quan này thuộc Chánh Ngũ Phẩm, đặt thêm quan phụ tá gọi là Giá Bộ Viên Ngoại Lang, và đổi tên bộ này thành Xa Giá Thanh Sứ Ty, nhưng theo thói quen, vẫn gọi là Giá Bộ như cũ.

[36] Chế nghĩa (制義) c̣n gọi là Chế Nghệ (制藝), hoặc Thời Văn (時文), là một thể loại văn xuôi dùng để viết đối sách trong thi cử thịnh hành từ thời Minh, thường gọi nôm na là văn Bát Cổ, v́ mỗi bài văn phải luôn chứa đựng tám phần là Phá Đề, Thừa Đề (hai phần này là dẫn nhập), Khởi Giảng, Nhập Thủ, Khởi Cổ, Trung Cổ, Hậu Cổ (những phần này là các phần nghị luận chánh yếu) và Thúc Cổ (phần kết luận). Do mỗi phần phải có số chữ nhất định, tuân theo quy luật đối ư, đối từ, đối vận nghiêm ngặt, nên thường bị chê là g̣ bó, sáo rỗng. Sĩ tử viết văn Bát Cổ cốt sao đọc cho hay, réo rắt, nhồi nhét những câu trích từ kinh điển Nho gia (theo quan điểm chú giải của Châu Hy), chứ nội dung toàn phù phiếm, cứng ngắc theo khuôn sáo, khen ngợi chung chung, không đề ra được một kiến giải mới mẻ nào.

[37] Châu thủ (州守) có nghĩa là người quản thủ một châu. Đây là cách gọi khác của Châu Mục (州牧), hay quan Thứ Sử (刺史). Do các quan viên thường không làm tṛn trách nhiệm, Hán Văn Đế sai các quan ngự sử tuần tra các địa phương, gọi là Thứ Ngự Sử (Thứ có nghĩa là khiển trách, giám sát). Hán Vũ Đế lập ra mười ba chức Thứ Ngự Sử (c̣n gọi tắt là Thứ Sử) để trực tiếp trông coi các châu Kư, Duyện, Thanh, Từ, Dự, U, Tinh, Lương, H́nh, Dương, Ích, Sóc Phương và Giao Châu. Thứ Sử mỗi năm vào tháng tám tuần hành khắp các huyện, phủ trực thuộc châu ḿnh cai quản, giám sát quan viên địa phương, trấn áp cường hào, cuối năm trở về kinh đô bẩm báo lên Ngự Sử Trung Thừa. Khi đó, Thứ Sử đóng vai tṛ giám sát, thấp hơn vị trí Quận Thủ (người đứng đầu một quận v́ thuở đó, cả nước chia thành nhiều quận, chưa có tỉnh). Đến đời Tùy, phế quận, đổi các đơn vị hành chánh to nhất thành châu, Thứ Sử đứng đầu một châu, vai tṛ không khác chức Thái Thú (đứng đầu quận thời đó). Từ đời Tống trở đi, chức vụ này được gọi là Tri Châu, nhưng dân chúng vẫn quen gọi là Châu Thủ như trước.

[38] Đại Tham là danh xưng khác của chức Tham Chánh, tức Tham Tri Chánh Sự, được lập ra từ thời Đường, nhằm phụ tá trưởng quan của Tam Tỉnh (Thượng Thư Tỉnh, Trung Thư Tỉnh và Môn Hạ Tỉnh), có thể vào Chánh Sự Đường tham gia thảo luận, coi như là phụ tá của chức Tể Tướng, nhưng không phải là chức quan chánh thức. Đến đời Tống, chức vụ này biến thành chức quan cố định. Đến đời nhà Minh, chức Tham Chánh phụ tá Tể Tướng bị phế, nhưng tại các địa phương cũng có lập ra chức Tham Chánh nhằm giúp các quan đầu tỉnh. Năm Hồng Vũ thứ chín, bỏ chức quan đứng đầu tỉnh (Hành Tỉnh B́nh Chương Chánh Sự), lấy Tuần Phủ đứng đầu tỉnh, đặt chức Bố Chánh Sứ (chỉ quản trị việc hành chánh trong tỉnh), lại lập ra Tả Hữu Tham Chánh để giúp việc cho Bố Chánh Sứ.

[39] Tốc Hương c̣n gọi là Hoàng Thục Hương là một loại trầm hương. Đây là loài gỗ bạch đàn bị vùi sâu trong đất, lâu ngày biến đổi thành trầm hương, có màu vàng sậm. Trong sách Nam Phương Thảo Mộc Trạng của Kê Hàm đời Tấn có ghi: “Đất Giao Chỉ có cây mật hương, thân như cây liễu, hoa trắng, trổ hoa chi chít, lá như lá cây quưt, rễ của nó chính là hoàng thục hương”. Trong Bản Thảo Cương Mục, Lư Thời Trân lại nói: “Lơi của cây gỗ có mùi thơm, đem thả vào trong nước nếu ch́m lỉm th́ là trầm thủy hương hay thủy trầm hương. Ch́m một nửa th́ là sạn hương. Chẳng ch́m th́ là Hoàng Thục Hương”.

[40] Trung Hàn là tên gọi riêng của chức quan Nội Các Trung Thư, phụ trách việc biên soạn chiếu chỉ, thông cáo, ghi chép, phiên dịch, vẽ tranh để ghi lại các sự kiện quan trọng trong triều đại, được xếp vào loại Tùng Thất Phẩm. Trong quân đội cũng có chức quan này, nhưng gọi là Quân Trung Thư. Người giữ chức quan này tối thiểu phải đậu Cử Nhân. Tuy phẩm cấp không cao, nhưng thăng thưởng khá nhanh, nên phần lớn chức vụ này do người mới đỗ Tiến Sĩ đảm nhiệm.

[41] Ấp lệnh là danh xưng để gọi người đứng đầu một huyện, đôi khi c̣n gọi là ấp tể, tức huyện lệnh hoặc tri huyện. Do tri huyện thường phải quản mọi việc từ hành chánh, thuế khóa, học hành, giáo dục, cho đến trị an, nên đôi khi c̣n được gọi là Bách Lư Hầu.

[42] Y Bồ Giới chính là giới Ưu Bà Tắc, tức Ngũ Giới. Do chữ Upāsaka ngoài phiên âm phổ biến là Ưu Bà Tắc ra, c̣n được phiên âm là Ô Bà Tắc, Y Bồ Tắc, Ưu Bà Bà Kha, hay Ô Ba Sách Ca.

[43] Lệnh lang: Kính ngữ để gọi con trai của người khác.

[44] Trị Trung là chức quan có tên gọi đầy đủ là Trị Trung Tùng Sự Sứ, thiết lập từ thời Tây Hán, đảm nhiệm vai tṛ phụ tá cho quan Thứ Sử (đứng đầu một châu), chịu trách nhiệm xử lư văn thư do các phân ban trong châu tấu tŕnh, nhưng địa vị thấp hơn Biệt Giá một cấp. Đời Tùy đổi chức quan này thành Tư Mă trong một thời gian ngắn, về sau đổi lại danh xưng Trị Trung như cũ. Đến đời Minh - Thanh, tại Thuận Thiên Phủ và Ứng Thiên Phủ, cũng lập thêm chức Trị Trung để kiêm nhiệm xử lư thường vụ.

[45] Trá Ba là cách nói gọn của Ba Trá La (Patala), một trong các hàn lănh địa ngục.

[46] Thuyên Bộ (銓部) có nghĩa gốc là cơ quan chuyên quản trị việc thuyên chuyển, bổ nhiệm các quan chức, tức Lại Bộ sau này. Quyền hạn của Lại Bộ diễn biến theo từng thời: Đời Tùy - Đường, thăng giáng, bổ nhiệm, thuyên chuyển, cách chức quan văn do Lại Bộ phụ trách, quan vơ do Binh Bộ phụ trách. Đến đời Tống, việc thăng giáng, bổ nhiệm, thuyên chuyển quan văn từ các châu huyện do Lại Bộ phụ trách, từ cấp Thiếu Khanh trở lên do đích thân Thượng Thư Tỉnh quản trị, nhưng quan viên tại kinh thành do chính Thẩm Quan Viện điều động, quan vơ do Xu Mật Viện điều động. Đến đời Minh, phục hồi quy chế cũ, văn quan hoàn toàn do Lại Bộ điều động, quan vơ do Binh Bộ điều động. Ông Ngu Đức Viên tên thật là Ngu Thuần Hy, tên thuở nhỏ là Ngu Nhân Kỳ, tên tự là Trường Nhụ và Đạm Nhiên, hiệu là Đức Viên. Khi trao đổi thư này, ông đang giữ chức Kê Tư Viên Ngoại Lang trong bộ Lại, nên được gọi là Thuyên Bộ.

[47] Lợi Mă Đậu là tên phiên âm của Matteo Ricci (1552-1610), một giáo sĩ thuộc ḍng Tên (Jesuite) của Ư. Ông ta đến lănh địa Macau của người Bồ Đào Nha tại Trung Hoa để truyền giáo trong niên hiệu Vạn Lịch đời Minh. Ông ta chịu khó học hỏi đạo Nho, kết giao với nhiều Nho sĩ, quan lại, tự đặt hiệu là Tây Thái, được các Nho sĩ gọi là Thái Tây tiên sinh. Ông ta từng được vua Vạn Lịch (Minh Thần Tông) vời vào cung để tham khảo ư kiến về thiên văn và lịch pháp. Do nhiệt t́nh truyền giáo, nhưng chưa đủ căn bản để hiểu sâu triết học phương Đông, ông ta thường có những lập luận khiên cưỡng để đề cao tôn giáo của ḿnh, đả phá những triết lư cơ bản của Phật giáo, Nho gia và Đạo giáo là hủ bại, sai lầm. Lễ Bộ Thượng Thư Từ Quang Khải là một trong những người Hán nhiệt thành tin theo Lợi Mă Đậu, thậm chí cải đạo sang Công Giáo, giúp Lợi Mă Đậu và Hùng Tam Bạt (Sabatino de Ursis) dịch các tác phẩm của phương Tây sang tiếng Hán. Lợi Mă Đậu cũng là người đầu tiên biên soạn từ điển Bồ Hán, và đề xướng cách dùng mẫu tự Latin để ghi âm tiếng Hán.

[48] Đây là một câu nói trích từ Biển Thước Thương Công Liệt Truyện trong Sử Kư Tư Mă Thiên. Việt Nhân chính là danh y Biển Thước (ông họ Tần, tên là Việt Nhân, Biển Thước là hiệu). Tương truyền, khi Biển Thước đi qua nước Quắc, nghe tin Thế Tử nước ấy đột ngột qua đời. Bằng tài nghệ y thuật, ông đă giúp Thế Tử tỉnh lại và hồi phục. Do vậy, thiên hạ ca ngợi ông có tuyệt kỹ “khởi tử hồi sanh”, ông đă thẳng thắn nói: “Việt Nhân phi năng sanh tử nhân dă, thử tự đương sanh giả, Việt Nhân sử chi khởi nhĩ” (Việt Nhân chẳng thể khiến cho người đă chết sống lại. Người này vốn dĩ chưa chết. Việt Nhân chỉ khiến cho người ấy tỉnh lại mà thôi). Về sau, câu nói “Việt nhân năng sanh tử nhân” được dùng với ư nghĩa “ca ngợi y thuật cao minh, tuyệt diệu”.

[49] Thiêm Hiến là biệt danh của chức Thiêm Đô Ngự Sử đời Minh. Đời Minh, Ngự Sử Đài được đổi tên thành Đô Sát Viện, có quyền hạn ngang hàng với Lục Bộ. Đứng đầu Đô Sát Viện là Tả và Hữu Đô Ngự Sử, phụ tá có Tả và Hữu Thiêm Đô Ngự Sử. Dưới Đô Sát Viện lại lập ra Thập Tam Đô Giám Sát Ngự Sử, chịu trách nhiệm giám sát các quan lại địa phương. Thiêm Đô Ngự Sử thuộc Chánh Tứ Phẩm, chuyên trách việc đàn hặc các quan lại.

[50] Tư Lư là tên gọi tắt của chức Tư Lư Tham Quân. Chức quan này được đặt ra vào thời Bắc Tống. Trong năm Khai Bảo thứ sáu (973) đời Tống Thái Tổ, đă đổi Mă Bộ Viện ở mỗi châu thành Tư Khấu Viện, đặt ra chức Tư Khấu Tham Quân. Sau đó, vào năm Thái B́nh Hưng Quốc thứ tư (979), lại đổi Tư Khấu Viện thành Tư Lư Viện, đổi Tư Khấu Tham Quân thành Tư Lư Tham Quân. Chức quan này có nhiệm vụ chưởng quản việc tố tụng, điều tra tại các châu, thi hành án, tức là một chức quan trông coi tư pháp.

[51] Xử sĩ (處士): Những người có tài đức, học vấn sâu rộng, nhưng chọn cách sống ẩn dật, chẳng muốn ra làm quan. Về sau, từ ngữ này c̣n bao gồm những người có học nhưng chưa làm quan. Xử sĩ đôi khi c̣n gọi là ẩn sĩ, thiếu vi, hoặc cao sĩ.

[52] Thập Toàn Đại Bổ là toa thuốc có tác dụng bồi bổ sức khỏe, bao gồm tứ quân tử thang (nhân sâm hoặc đảng sâm, bạch truật, phục linh và cam thảo), tứ vật thang (đương quy, xuyên khung, bạch thược, và thục địa hoàng), và hai vị thuốc là hoàng kỳ và nhục quế.

[53] Châu Đan Khê là hiệu của Châu Chấn Hanh (1281-1358), là một y sư nổi tiếng thời Nguyên. Ông quê ở làng Đan Khê thuộc huyện Nghĩa Ô thuộc Vụ Châu, tên tự là Ngạn Tu. Do gia đ́nh nhiều đời sống tại Đan Khê, nên ông thường được gọi là Châu Đan Khê, hoặc Đan Khê Ông. Do ông hoạt động chủ yếu tại phương Nam, nên c̣n có danh xưng là Nam Y. Ông cùng với Lưu Hoàn Tố, Trương Tùng Chánh và Lư Cảo được xưng tụng là Kim Nguyên Tứ Đại Y Học Gia (bốn đại y học gia thời Kim và Nguyên). Ông chủ trương chú trọng bổ Âm, h́nh thành nên học phái Dưỡng Âm trong y học cổ truyền. Ông trước tác khá nhiều tác phẩm như Cách Trí Dư Luận, Đan Khê Tâm Pháp, Kim Quỹ Câu Huyền, Y Học Phát Minh, Cục Phương Phát Huy, Bổn Thảo Diễn Nghĩa Bổ Di, Tố Vấn Củ Lược.

[54] Tiếng gọi tỏ vẻ kính trọng cha của người khác.

[55] Tam Giáo B́nh Tâm Luận do Lưu Mật soạn vào đời Nguyên trong Thái Định nguyên niên (1324). Sách được soạn dựa theo sự tranh luận của Nho, Thích, Đạo, nhấn mạnh ba giáo có công năng bổ trợ nhau. Phật giáo trị tâm, Đạo giáo trị thân, Nho giáo trị thế, đề cao Phật giáo có trọn đủ đặc tánh thế gian và xuất thế gian. Sách đồng thời bác bỏ các ư kiến báng Phật của Phó Dịch, Hàn Dũ, Châu, Tŕnh.

[56] Tiếng tôn xưng mẹ người khác.

[57] Đ́nh vi (庭幃) là nơi cha mẹ ở.

[58] Bách Hộ là một chức quan được thiết lập trong quân đội vào đầu thời Kim, đứng đầu một trăm người lính trong quân ngũ, dưới quyền cai quản của thiên hộ. Thiên hộ lại chịu sự cai quản của vạn hộ. Tới thời Minh, Bách Hộ trông coi một trăm hai mươi người, thuộc Chánh Lục Phẩm.

[59] Nhậm Công c̣n được gọi là Nhậm Phụ, là một người giỏi câu cá thời cổ, có chí hướng cao xa, tấm ḷng khoan dung, đôn hậu, tiêu sái. Theo Thành Huyền Anh, Nhậm là tên một quốc gia thời cổ, vị này là công tử nước Nhậm, nên mới gọi là Nhậm Công hay Nhậm Phụ. “Công tử” là con của vua chư hầu. Về sau, từ ngữ Nhậm Công thường dùng để chỉ bậc cao sĩ ẩn dật. Theo truyền thuyết, ông ngồi trên đỉnh núi Cối Kê, vác một chiếc cần câu to đùng, dây câu thô to, móc mồi câu là những tảng mỡ trâu đă muối để làm mồi, thả dây câu xuống biển Đông, chờ đợi cá lớn ngoài biển đến cắn câu, kiên nhẫn ngồi chờ năm này qua tháng khác, cuối cùng bắt được con cá to lớn, xẻ thịt phơi khô biếu tặng dân chúng cả một vùng Chiết Giang, Thương Ngô. Ở đây, Tổ dùng thành ngữ này với ư nghĩa: Toan lôi kéo cư sĩ Vương Long Khê vào pháp môn Tịnh Độ (giống như Nhậm Công câu được con cá lớn, cá vẫy vùng rất mạnh, phải tốn rất nhiều công sức mới chế ngự được nó), nhưng sợ cư sĩ biện tài mạnh mẽ, không chịu quy tâm nơi pháp môn này, Tổ không thắng được biện tài của ông ta.

[60] Tổ Huệ Viễn lập liên xă tại Đông Lâm trên núi Khuông Lư để chuyên tu niệm Phật, Ngài thề không bước chân ra khỏi núi, lấy ḍng Hổ Khê làm ranh giới. Mỗi khi có khách đến thăm, Sư chỉ tiễn chân đến Hổ Khê rồi dừng lại. Tương truyền, một hôm, có Đào Tiềm (Đào Uyên Minh) và đạo sĩ Lục Tu Tĩnh đến thăm, khi tiễn khách quư ra về, Sư mải tṛ chuyện, quên cả ngoại cảnh, bước qua khỏi Hổ Khê. Nhận ra chính ḿnh đă phá lệ, Sư cùng hai vị khách cười vang.

[61] Tiếng gọi tỏ vẻ tôn trọng cha của người khác.

[62] Lạc Bang Văn Loại là tác phẩm do ngài Tông Hiểu soạn trong thời Nam Tống, sách hoàn thành vào năm Khánh Nguyên thứ sáu (1200). Sách ghi chép các tác phẩm kinh luận trọng yếu có liên quan đến Tịnh Độ, cũng như trước thuật, thi kệ, truyện kư v.v… của cổ đức.

[63] “Vạn tuyển thanh tiền” là thành ngữ thường dùng để ca ngợi tài năng xuất chúng, không thể phủ nhận được. Điển tích này xuất phát từ chương Trương Tiến Truyện trong bộ sử Tân Đường Thư. Theo đó, để ca ngợi tài năng văn chương tinh diệu được người người yêu thích của đại văn học gia Trương Trạc, Đường Đại Viên đă dùng h́nh ảnh sánh ví: Đồng tinh chế đem đúc thành tiền (gọi là “thanh tiền”), trải qua vạn lần lựa chọn, đào thải giữa các đồng tiền, vẫn luôn được chọn lấy.

[64] Tế điện (祭奠) là h́nh thức thông qua tế lễ (bày vật cúng trước linh sàng hoặc mộ phần, thắp hương, lễ bái, khấn khứa, đọc văn tế nếu có) để tỏ ḷng truy điệu một người đă khuất.

[65] Cấp Gián là danh xưng gọi chung hai chức quan Cấp Sự Trung và Gián Nghị đại phu. Cấp Sự Trung là chức quan hầu cận bên hoàng đế, đóng vai tṛ cố vấn khi cần thiết, có thể tham gia bàn bạc triều chánh, lo liệu mọi việc cần thiết về chánh sự cho hoàng đế, nên gọi là Cấp Sự. Đến đời Minh, Cấp Sự Trung thuộc về lục bộ, có trách nhiệm thường trực giám sát quan viên thuộc lục bộ, xem xét họ có vi phạm điển chế, trái nghịch chiếu chỉ hay không, tức là có trách nhiệm khuyên ngăn, can gián, giám sát, tương ứng với vai tṛ của Gián Nghị Đại Phu. Do vậy, c̣n gọi là Cấp Gián.

[66] Đô quân (都君) là danh xưng chung để chỉ đế vương. Từ ngữ này thường được đặc biệt dùng để chỉ vua Thuấn. Tôn Thích nói: “Gọi vua Thuấn là Đô Quân v́ lúc vua c̣n hàn vi, đánh cá ở Lôi Trạch. Một năm, chỗ ấy thành nơi tụ hội. Hai năm, trở thành ấp. Ba năm, trở thành đô thị. V́ thế, gọi vua Thuấn là Đô Quân”. Vua Thuấn có người em (tên là Tượng) cùng cha khác mẹ, luôn ganh ghét, luôn cấu kết với mẹ kế của Thuấn, toan hại chết Thuấn. Có lần, kế mẫu sai Thuấn xuống vét giếng rồi bà ta cùng Tượng lấp giếng với ác ư khiến cho vua Thuấn chết ngạt.

[67] Theo Bắc Sử và Tùy Thư, đời Tùy có một vị đại thần tên là Ngưu Hoằng tánh t́nh khoan dung, đôn hậu, luôn giữ cho gia đ́nh ḥa thuận. Em trai ông là Ngưu Bật thích say sưa chè chén. Có một hôm, Ngưu Bật say quá, bắn chết tươi con trâu kéo xe. Vợ chạy đến khóc kể, ông điềm tĩnh nói: “Th́ đem làm thịt khô ăn dần”. Mỗi khi vợ kể lể chuyện hoang đường của em trai, ông chỉ nói “đă biết” rồi điềm tĩnh đọc sách.

[68] Quận Thừa là chức quan lập ra từ thời Tần. Đây là quan phụ tá của Quận Thủ (Thái Thú), trông coi sự vụ thuộc dân sự. Dưới Quận Thừa là Trưởng Sử. Thời Hán Vũ Đế, bỏ Quận Thừa tại các quận xa, mọi sự vụ của Quận Thừa do Trưởng Sử đảm nhiệm. Quận Thừa do triều đ́nh bổ nhiệm. Khi cần thiết, Quận Thừa có thể đảm nhiệm vai tṛ Thái Thú, nhưng phần lớn Quận Thừa không có thực quyền. Thời Minh - Thanh, chữ Quận Thừa là danh từ phiếm xưng chỉ các vị Phủ Đồng Tri (phó tri phủ), Thông Phán v.v… Và quyền hành của Quận Thừa từ trông coi kho lương được mở rộng thành cai quản dân, quản lư đồn điền, xử án v.v…

[69] Đại Tham là danh xưng thông tục để gọi chức quan Thừa Tuyên Bố Chánh Sứ Ty Tham Chánh, tức quan phụ tá hàng đầu của một vị Bố Chánh Sứ (c̣n gọi là Phiên Ty, hoặc Phiên Đài, Phương Bá, Đông Ty, quan đứng đầu hành chánh một tỉnh. Về sau, phân quyền thành Tổng Đốc, Tuần Phủ, Bố Chánh, Án Sát). Tham Chánh có nhiệm vụ xử lư thường vụ các sự vụ hành chánh trong một tỉnh.

[70] Nguyên văn “vật vong, vật trợ” chính là cách nói gọn câu nói “tâm vật vong, vật trợ trưởng” (tâm đừng quên, đừng giúp cho tăng trưởng) trích từ thiên Công Tôn Sửu trong sách Mạnh Tử. Theo các nhà chú giải, câu này có nghĩa là giữ ǵn cái tâm ban đầu, quyết chí nỗ lực, hằng ngày chẳng gián đoạn, đó là “tâm vật vong”; nhưng cũng chẳng gấp rút, tham chấp những cái lợi trước mắt, giống như trong chuyện ngụ ngôn nông dân thấy lúa mọc chậm quá bèn giúp cho nó tăng trưởng bằng cách kéo thân lúa cho dài hơn, rốt cuộc lúa chết sạch!

[71] Tư Lư là chức quan quản lư h́nh ngục hoặc trông coi tư pháp trong một tỉnh.