Vân
Thê Pháp Vựng
雲棲法彙
Phần
7
Cổ Hàng Vân Thê
Châu Hoằng đại sư trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
(theo bản điện tử Gia
Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang
15. Vân Thê Đại Sư Di Cảo (雲棲大師遺稿)
15.1. Thư
* Thư trả lời Kinh Vương
(Nguyên thư của Kinh
Vương) Con bị trói buộc trong lồng cạm,
chẳng thể đến viếng cảnh danh sơn thù
thắng, bèn sắm sửa hương, kính sai vị
tăng trông coi nhang đèn là Tánh Khả đến triều
lễ Vân Thê, xin thầy ban pháp danh để gieo cái nhân cho
tương lai. Con mong xin ban pháp danh cho Kinh vương, Kinh
phi họ Lư, thứ phi họ Châu, Kinh thế tử, con thứ
tư là Trường Dương, con thứ năm là Bảo
Dương, con thứ sáu là Phục Dương. Ba người
hầu là Trường, Lư, Trân.
(Tổ hồi đáp)
Pháp danh đúng như lời truyền mà dâng lên. Ở
nơi tôn vinh, chẳng mê muội túc nhân, gieo ḷng thành nơi
nội giáo, lại c̣n tu ṛng Tịnh Độ, cầu nguyện
văng sanh, lồng cạm sẽ trở thành cảnh giới
đại giải thoát.
* Thư trả lời Phàn Sơn Vương[1]
(Nguyên thư của Phàn
Sơn Vương) Con ẩn cư tại vùng Giang Hán, sớm
nghe Ngài vốn có đức hạnh trọng vọng, muốn
nhiều lượt giăi bày nỗi niềm chất chứa
trong ḷng, lại sợ giống như chuyện xưa của
Thạch Đầu thiền sư[2],
phí uổng thời gian vô ích, nếu vẫn ơ hờ qua
ngày, sẽ chỉ tăng thêm nghiệp cho người khác.
Đại sư một thân thông suốt chánh pháp và quyền
nghi của Tam Tạng, hiện bày phương tiện khéo
léo, lợi ích trọn khắp trời, người, [khiến
cho] hết thảy hữu t́nh lần lượt quay về
nẻo chánh. Trên là giúp cho phong thái tinh thâm, huyền
diệu của hoàng triều, trong là khế hợp tông chỉ
Nê Hoàn (Niết Bàn) của Phật, Tổ, hiện bày mật
hạnh sâu diệu, cố nhiên là đệ tử đă sớm
nhận biết điều ấy. Chỉ v́ duyên đời
chưa xong, đối với đạo cao tột c̣n phải
đợi thời, h́nh tích chen lẫn trong đám tiểu
vương, tạm thời gởi thân nơi chuyện ứng
cơ hoằng pháp để mong chẳng cô phụ Phật,
Tổ.
Nếu có thể giúp cho Thiền môn chuyển sanh về
cơi Cực Lạc, ắt sẽ ĺa thai sanh trong cơi ngũ
trược, lại khởi đầu sự chuyển
sanh trong ba đời; đấy quả thật là
phương tiện của đệ tử, mà cũng là ư
chỉ nhỏ nhiệm ẩn ḿnh trong cơi tục vậy.
Trong pháp giới, bất luận công đức lớn hay
nhỏ, đại sư đều thành tựu, trọn
đủ Phật nhăn đă lâu, dùng trí huệ huyền diệu
để ngầm lănh hội, ắt biết chắc chắn
lời của Phó đại sĩ chẳng dối, [kiến
giải] của ngài Trí Giả đời Trần là có
căn cứ. [Chẳng biết] những điều
đệ tử vừa trần thuật trên đây có phải
là tận mắt thấy được chỗ tồn tại
của đạo lư hay không? Ngẫu nhiên có thiền nhân
Định Hư từ Lư Sơn vào đất Chiết,
con bèn nghĩ dâng thư kèm theo. Định Hư và đệ
tử xưa kia đă có duyên “kim vàng gieo vào bát”[3],
đối với những chuyện đệ tử xử
sự, và những chuyện ngưỡng mộ phẩm
đức từ bi [của đại sư] trong thường
nhật, Định Hư sẽ tự có thể thưa
tŕnh, nên con chẳng rườm lời ở đây. Cúi ḿnh xin thầy xét
soi. Ngày mồng Năm cuối Thu, đệ tử tự
tay kính tŕnh.
(Tổ
hồi đáp): Nhận được lời lẽ
đức hạnh cùng bản khắc in đẹp đẽ
từ xa, tôi kính cẩn đọc những lời tán tụng
đầu sách, đại để là “xưa nay thở
cùng một hơi, thấy chúng sanh và Phật b́nh đẳng”.
Tuy chưa hoàn toàn đọc xong, nhưng đă đại
khái thấy được kiến giải lỗi lạc.
Lại c̣n từ chỗ thầy Định Hư, tôi
đă được nghe khuôn mẫu cao cả, hạnh tốt
lành, dẫu cách xa ngàn dặm mà như đă từng gặp
mặt, khôn ngăn vui mừng!
Há chẳng phải là Ngài nương theo sức túc nguyện,
thị hiện h́nh tích trong nhà đế vương để
hoằng dương hóa độ trong thời Mạt Pháp
đó chăng? Định Hư rời đi quá nhanh, chẳng
kịp thưa tŕnh cặn kẽ, đành dâng lên mấy bản
kinh sách được khắc trong núi để Ngài xem rơ.
* Trả lời thiền
sư Long Tŕ Nhất Tâm
(Nguyên
thư của ngài Long Tŕ) Đệ ngụ tại chùa Phổ
Chiếu ở kinh đô, tính chờ tới lúc nhắm mắt
đó thôi! Từ mùa Xuân năm Mậu Thân bị các đồ
đệ hối thúc trở lại Long Tŕ, vừa đến
cuối Đông, khí lực đă suy nhược, họ cứ
buộc đệ phải nói năng loạn xạ, gọi
là thượng đường, tiểu tham v.v… Nói ǵ bèn ghi
nấy. Tới mùa Đông năm Canh Tuất, do bị bệnh
mà xem lại [những ghi chép ấy], thấy đă chất
chứa thành sách, chia thành hai phần, tức nhàn đàm và
văn thoại (những lời đàm luận vào buổi tối).
Do v́ một chuyện nhỏ, lếch thếch vào thành, gặp
các vị như Ngô Chi Củ… t́m kiếm
văn tự [của đệ], bèn đưa cho họ xem
[những ghi chép ấy]; do vậy, miễn cưỡng khắc
in để chia sẻ với các phương. Nhưng
đệ thẹn vô phước, nói lời này, các
phương chưa chắc có thể tin hay không? Nghĩ
trong cơi đời này khó gặp người có kim cang chánh
nhăn, lại c̣n
một điều
hiếm có là quên bẵng tánh mạng ra mặt ấn chứng
cho đệ, thốt lời hướng dẫn, tăng
thêm tín tâm cho các phương, đệ tiếc nuối sâu
xa. May được sư huynh là người đồng
tham, cho nên sai đồ đệ đến cầu huynh
ban một lời hướng dẫn, ngơ hầu nguồn
Tào đă khô cạn lại được tràn trề, cây
giác đă khô lại được sum suê. Mong huynh đừng
tiếc lời dạy dỗ, đệ cảm kích vô tận,
tột bậc cảm kích!
(Tổ hồi đáp)
1) Nhớ thuở huynh
cùng đệ tham học ḥa thượng Tiếu Nham tại
ngơ Liễu ở kinh đô tới nay đă ba mươi
năm rồi, nhưng sư huynh đă nắm giữ ấn
đơn truyền, xướng suất, hướng dẫn
trùng hưng Phật pháp đă suy đồi, hoang phế ở
phương Đông Nam. C̣n đệ nằm bệnh trong chốn
rừng sâu như ở dưới đáy giếng, vẳng
nghe tiếng sấm rền từ phương xa mà thôi, hổ
thẹn khôn xiết! Trước đó, đệ đă nhận
được thư huynh cùng các sách đă được
khắc in, vui sướng được thỏa thích niềm
mong ước từ xưa. Do thiếu duyên t́m được
người đưa tin, thưa thớt thăm hỏi
đă lâu, ngẫu nhiên do có người từ quư ấp
đến đây, đệ gởi tạm một phong
thư ngắn để thay lời vấn an, xin huynh dung
thứ.
2) Tấm thân tàn già bệnh,
suốt ngày nằm bẹp nơi giường, chiếu, bỗng
nhận được lời thăm hỏi, như nhận
được sức mạnh từ xa, mở xem một
phần [các sách đă in], nỗi niềm ấp ủ thô lậu
của đệ được thỏa thích rỗng rang.
Tiếc là đệ khốn khó quá mức, chưa thể
xem trọn hết, đă lâu chẳng động đến
bút nghiên, chẳng thể vâng mạng viết lời tựa
dẫn khởi. Chỉ v́ đèn Phật lờ mờ
đă lâu, gần như sắp tắt, sư huynh lấy việc
chấn hưng tông phong làm trách nhiệm của chính ḿnh, sao
đệ dám từ chối? Nay do bệnh ngặt, chỉ
đành tŕ hoăn mà thôi!
* Thư trả lời
pháp sư Giao Quang ở Lộ An
1) (Thư
thứ nhất của pháp sư Giao Quang) Từ lâu
đă nghe thầy con thuộc ḍng dơi Nho gia danh tiếng, nhiều
đời đỗ đạt, nhưng có thể nhanh
chóng phá tan lồng cạm, cao bước vượt ngoài
thế tục, ắt có kiến giải trác tuyệt. Đối với việc thấu
triệt sanh tử, trọn hết tánh năng, chỉ kham
nương cậy Phật pháp. Do vậy, thầy xuống
tóc ở trong núi, thanh tu để hóa độ cơi đời.
Lại nghe tăng tục, kẻ quyền quư suốt một
phương, không ai chẳng tôn sùng, ngưỡng mộ thầy. Do con
vẫn chưa kiến Đế tường tận là
như thế nào, thường mong phát tâm tham phỏng, hiềm
rằng duyên nghiệp bó buộc, thường tiếc nuối
v́ phước bạc, chướng sâu. Năm năm
trước, bỗng ở nơi điện hạ Sơn
Âm thuộc Bồ Sơn, con được đọc Di
Đà Sớ Sao của thầy, thấy mỗi chữ
đều thông trên (thông suốt Phật
lư) thấu dưới (thấu triệt Phật
sự), cùng tột [mọi khía cạnh] trong, ngoài, tinh, thô.
So ra, những vị chú giải
xưa kia hoặc lệch về bên Sự, hoặc thiên về
Lư, sẽ đều phải cam chịu lép vế vậy.
Hơn nữa, văn tự
[trong Sớ Sao] cố nhiên do kinh mà đơn giản, đại
lược, nhưng nghĩa lư mênh mông, bát ngát, chẳng thể thấu đạt ngằn
mé, gần như gồm trọn tổng
tŕ của pháp tạng. Như vậy th́ thầy của con
là người đă đạt được tủy[4]
nơi cửa ải của Tổ, thấu tột
cùng cội nguồn của biển giáo đó chăng? Hay thầy
là bậc Pháp Thân đại sĩ ứng hiện để
chỉ dạy kẻ mê? [Nếu chẳng phải vậy],
sao có thể thấu triệt cùng tận ư vị như thế
đó? Do vậy, con
suất lănh
Sơn Âm, hướng về Nam lễ bái đôi lượt.
Ngay hôm ấy, con sai thợ khắc in lại để thí
rộng răi. Gặp dịp Lăng Nghiêm Sớ của Giám[5]
đă được khắc xong, do người ở Lộ
An thúc giục, con vội vă lên miền Bắc, chẳng kịp
thưa tŕnh đầu đuôi. Chẳng lâu sau, Di Đà Sớ
Sao ở Bồ Sơn cũng khắc xong, con gởi một
trăm bộ sang đất Lộ (Lộ
An) để biếu tặng Thẩm
thiên tuế. Thiên tuế[6]
giở xem, ca ngợi tột bậc, liền thí tặng cho
bạn
tri âm tăng, tục, vương công
đại nhân, quan chức,
thiện tín, không ai chẳng hoan hỷ vâng nhận, cũng
là chuyện thù thắng chưa từng có tại đất
Lộ vậy! Do vậy, ḷng kính ngưỡng của Giám đối
với thầy con càng sâu, dốc hết tinh thần khát
ngưỡng, mong ngóng, chẳng thể nào sánh ví được!
Trước đây
không lâu, con bỗng gặp dịp thầy Vô Ngoại nhận
lời ủy thác mà triều bái Phổ Đà, nghe thiên tuế
cũng có lễ tiết thưa hỏi với thầy con;
do vậy, bèn gởi kèm một lá thư ngắn để
thay cho việc đích thân đến tham phỏng trước
ṭa, c̣n kèm dâng lên bản in Lăng Nghiêm Sớ con đă tiếm
lạm biên soạn gồm mười hai tập, trăm lạy
cầu xin thầy hải ấn chiếu soi, đừng tiếc
chỉ dạy chỗ đúng, sai. Lại mong thầy chẳng
tiếc công hồi âm, chỉ dạy từ xa, ngơ hầu
con chẳng cất bước vượt khỏi trăm
thành[7],
mà vạn dặm như được hầu hạ
trước mặt vậy. Mong mỏi lắm thay! Con nâng
bút viết thư mà ḷng kính ngưỡng tột bậc khôn
xiết, luôn mong thầy xét soi những chỗ con chưa thấu
tỏ trọn hết.
(Tổ hồi đáp)
Được ban tặng bản in tốt đẹp từ
xa, vừa giở xem một đôi điều, đă cảm
nhận [lời Sớ] tinh túy, tinh vi, châu đáo như
đạt được của báu lạ lùng, cảm kích
hân hoan khôn xiết! Do vị Tăng đến
đây trở về quá nhanh, tôi chưa kịp xem trọn hết,
vẫn cần phải chờ trống
ḷng đọc trọn hết để tuyên dương sự
pháp thí. Kẻ chẳng ra ǵ này tuổi già, huống hồ
núi sông xa xôi, tuy chưa thể đích thân gặp gỡ, mà
giao t́nh bằng thần thức đă vượt ngoài ngàn dặm!
2) (Thư thứ hai của pháp sư Giao Quang) Lần
trước khi thầy Vô Ngoại trở về
phương Bắc, con nhận được thư thầy
như được diện kiến từ
nhan, đích thân nhận lănh pháp ngữ. Thầy nói “do
chưa đọc xong, cho nên chẳng có ấn chứng”,
chẳng đáng than thở ba lượt ư? Bậc chí
nhân trân trọng, chẳng dễ dăi ức đoán cũng
như thế. Nhưng con ngày đêm tâm mong ngóng
phương Nam, chưa được nghe tin tức, chắc
là do chẳng thuận tiện nên thành ra như thế. Thầy
Vô Ngoại lại c̣n giao cho con các bản in tốt đẹp
do thầy con khắc, người được khai phát
cái tâm thô lậu, tối tăm cực nhiều, khôn ngăn
cảm tạ tha thiết.
Riêng đối với
chuyện luận định kinh Lăng Nghiêm, có một
đôi chỗ có thể thưa hỏi ḥng cầu được
lợi ích, con đă thưa tŕnh riêng kèm theo thư này, xin thầy
rảnh rang xem xong, ắt sẽ hồi âm chỉ dạy,
con hết sức mong mỏi! Bộ Di Đà Sớ Sao của
thầy con có lợi ích to lớn khế hợp thời
cơ tột bậc, con đă cực lực cổ vũ Tưởng
Nguyên Phong ở Sơn Âm in lại một trăm bộ
để dâng lên Thẩm quốc chúa, hễ gặp gỡ
những học nhân và cư sĩ tri âm, đều tột
bậc khen ngợi để họ đọc kỹ ḥng
gieo chủng tử tạo duyên về Tây. Trong tháng Tám mùa Thu
này, các vị sĩ phu, tông thất và dân chúng một
phương khẩn thỉnh con là Chân Giám rủ ḷng
thăng ṭa một trăm lẻ tám ngày trong mùa Đông
năm nay để giảng kỹ bộ Sớ Sao của
thầy con. Chỉ sợ thầy con bác đại tinh thâm,
chỉ thú vi diệu, sâu thẳm, e rằng con chẳng
đảm đương nổi, miễn cưỡng nhận
lănh gánh vác, nay đă hoàn thành. Con tính vào giữa tháng Chín sẽ
dâng hương chúc nguyện thầy, cầu xin thầy con
gia bị từ xa, muôn điều thưa tŕnh bất tận!
Con
kính cẩn đọc Trung Luận do thầy con khắc in,
đối với chỗ gạn hỏi
về cái tâm trong kinh Lăng Nghiêm, có nói: “Nếu luận
về vọng tâm, nó thật sự ở trong thân”. Con ngạc
nhiên, kinh hoảng! Nếu lời ấy là đúng, vậy
th́ lời chú giải của Giám đă hoàn toàn sai rồi! Giở
xem, nghiền ngẫm ư kinh nhiều lượt, [mới vỡ
lẽ] điều được gạn hỏi đầu
tiên vốn là gạn hỏi vọng tâm, chẳng phải là
gạn hỏi chân tâm. Những lời lẽ như “chẳng
ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng giữa”
v.v… chính là nói về vọng tâm, chẳng phải nói về
chân tâm. Nhưng nhiều người dễ bị mê muội
đối với nghĩa này, chính v́ chân tâm cũng có ba
nghĩa “chẳng ở” (tức chẳng ở trong,
ngoài, hay chặng giữa), vọng tâm có một nghĩa
riêng, tức là “tông
chỉ th́ giống nhau, nhưng cái nhân khác nhau”.
Vọng tâm lấy Vô Thể
làm nhân, chân tâm lấy cái Thể trọn khắp làm nhân. Thử
lập lượng[8]
để nói: Vọng tâm là hữu pháp, “chẳng ở
trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở
chặng giữa”;
đó là Tông; do vậy nói “nó chẳng có Thể”.
Lại suy lường mà nói: “Chân tâm là hữu pháp, chẳng
ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở chặng
giữa”; đó là Tông. Do vậy nói “cái Thể
trọn khắp”. Đó chính là Tông dường như giống
nhau, nhưng cái nhân [của chân tâm và vọng tâm] quả thật
[khác biệt] một trời, một vực. Bởi
đó, kinh này phá vọng tâm, bèn nói “vô xứ, vô thể”,
gọi là “tất cánh phá” (triệt để phá trừ).
Các kinh khác đối với chân tâm tuy chẳng lập
nơi chốn, nhưng thật sự chẳng phá trừ
cái Thể, do cái Thể thật sự tồn tại, chẳng
thể phá trừ rốt ráo
được! Kinh Viên Giác dạy “chư huyễn diệt
tận, phi huyễn bất diệt” (các huyễn đều
diệt hết, cái chẳng phải là huyễn sẽ chẳng
diệt) chính là ư này. Chú giải của mười vị
[luận sư trước đó] cố nhiên có rất nhiều
chỗ sai, nhưng đối với điều gạn hỏi
đầu tiên về cái tâm, đều biết là gạn hỏi
để phá vọng tâm mà thôi! Chỉ riêng chỗ sai lầm
trong sách Hoặc Vấn là có cùng cách nh́n với thầy; tuy
sách ấy đă được đưa vào Đại Tạng,
chẳng thể tin theo [cách nh́n ấy] được!
C̣n như [quan điểm
cho rằng] “vọng tâm thật sự ở trong”, chỉ
trong nhân thiên giáo là riêng có
sự chấp
trước này, toàn là cội rễ sanh tử sâu xa. Tiểu
Thừa hữu học chỉ c̣n
giữ mối nghi này, chứ trong địa vị Vô Học,
hoàn toàn chứng Ngă Không, đă triệt ngộ “vọng tâm
chẳng có Thể”, chẳng ở bên trong. Nếu nói “thật
sự tồn tại” tức là có cái Thể; lại nói “ở
trong” cũng chính là có nơi chốn. Thể và nơi chốn
đều có, v́ sao gọi là vọng tâm? Kinh dạy: “Nhất
mê vi tâm, quyết định hoặc vi sắc thân chi nội”
(hễ mê, ngỡ vọng tâm là chân tâm, chắc chắn sẽ
lầm lẫn tưởng rằng tâm ở trong sắc
thân). Phàm đă nói là “hoặc” (惑, mê hoặc) nhằm biểu thị
nó vốn chẳng ở trong thân, mà lầm lẫn chấp
nó ở bên trong. Nếu thật sự ở bên trong, v́ sao bảo
là “hoặc”? Do chúng sanh chấp trước vọng
tâm ở trong, tâm ta (vọng tâm) như lông rùa, sừng thỏ,
rốt cuộc chẳng có Thể. Do vậy, gọi là Ngă
Không. Đấy là chỗ chứng ngộ tột cùng của
Tiểu Thừa, là Đại Thừa sơ môn. V́ vậy
kinh Niết Bàn gọi điều này là Bán Tự Giáo.
Nhưng chắc là tâm
thầy thấy trong giáo có cách nói “khứ hậu, lai tiên”
(đi sau, đến trước)[9],
bèn nói thức thứ tám là chủ tể trong quả báo thuộc
một đời, quy kết mạng ở trong thân, cho nên
nói “thật sự ở trong” đó chăng? Đấy
là trong tông Pháp Tướng, Như Lai nói thuận theo tướng
trạng của pháp thế gian, đến thời Bát Nhă liền
phá sạch, huống hồ Đốn giáo và Viên giáo ư?
Do vậy, Bát Nhă nói “thọ giả tướng” chính
là nói đến điều này. Hăy nên biết:
Trong thức thứ tám, có một phần chân, một phần
vọng. “Chân” chính là chân tâm trọn khắp pháp giới, “vọng”
chính là tánh mạng làm chủ thể trong thân. Đă nói là “vọng”,
há thật sự có ư? Bởi lẽ, tánh mạng tồn
tại trong thân như bóng trăng trong nước, hoàn toàn
tương tự như thoát ĺa bản thể, nhưng rốt
ráo thật sự chẳng có chánh nhân. Chính v́ nó trá
ngụy như thế, cho nên nhân thừa, tiên thừa, và thiên
thừa đều trầm mê trong ấy, chẳng thấu
đạt nó hoàn toàn là không, uổng
phí khá nhiều công sức, vẫn chẳng thể thoát khỏi
tam giới được, há dám mong mỏi Phật đạo
ư? Đúng là đáng thương xót quá!
Lại hăy nên biết:
Chúng sanh trọn đủ chân tâm, nhưng cũng trọn
đủ vô minh, như vàng c̣n trong quặng. V́ thế, hiện
tiền chẳng có cái tâm thuần chân; bởi
lẽ, thuần chân sẽ liền mất danh xưng “chúng
sanh”. Nói cùng cực, chỉ trừ địa vị
Như Lai, như vàng ra khỏi quặng, chứ từ
Đẳng Giác trở xuống, vẫn thuộc vào hàng
chúng sanh, do c̣n có chút phần vô minh chưa hoàn toàn đoạn
sạch! Do vậy, cái tâm của chúng sanh được gọi
là Như Lai Tạng Tâm, tức là một danh xưng khác của
thức thứ tám. Bởi lẽ, hai chữ Như Lai là trọn
đủ Chân, c̣n một chữ Tạng tức trọn
đủ Vọng. V́ thế, rốt cuộc là trong các kinh,
đức Phật thật sự
đều nói kiểu này. Nhưng Ngài chỉ nói sơ qua
để nêu bày thâm ư, chẳng từng nói toạc cái tâm hiện
tiền ấy của chúng sanh chính là ǵ. Chỉ có kinh
Lăng Nghiêm nói toạc phân minh, [cái tâm hiện tiền ấy]
chính là sự thấy, nghe, hay, biết chẳng phân biệt
nơi sáu căn. Nếu thấy, nghe, hay, biết có phân biệt,
sẽ chính là cái tâm thuộc sáu thức trước. Do vậy,
kẻ ngu sẽ khó thể tách bạch Thức và Căn.
Lại hăy nên biết:
Trong tông Pháp Tướng, Bồ Tát tuy biết có tâm A Lại
Da thù thắng, nhưng hoàn toàn chẳng biết Như Lai Tạng
tâm vốn sẵn có trong sáu căn chính là thật thể của
A Lại Da thức, do giáo ấy gọi sáu căn là sắc
pháp, coi chúng [là đối tượng] để duy thức
duyên vào, chẳng xem đó là duy thức tối thắng.
Kinh Lăng Nghiêm thoạt đầu dùng việc gạn hỏi
cái tâm để quở trách [kiến giải] sai trái, và những
đoạn văn đề cao,
xiển minh vô thể, hoàn toàn phá trừ cái tâm thuộc sáu
thức trước. Kế đó, chỉ ra tánh Thấy
nơi mắt chính là tâm, mười phen hiển lộ sự
thù thắng, cho tới mở rộng thành “bốn khoa, bảy
đại” đều nhằm nêu tỏ Như Lai Tạng
tâm mà thôi! Đấy chính là tông chỉ trước nay
chưa từng nói trong kinh Lăng Nghiêm. Do vậy, kinh dạy:
“Chân phi chân khủng mê, ngă thường bất khai diễn”
(do sợ [chúng sanh] mê muội đối với chân và chẳng
chân, ta thường chẳng khai diễn) là v́ lẽ này; nhưng chẳng phải
là không nói đến Như Lai Tạng tâm, chỉ là trước
nay chưa từng nói “sáu
căn chính là tạng tâm”.
Đấy là chỗ riêng khác biệt với các kinh khác của
kinh Lăng Nghiêm. Sau khi yếu chỉ ấy được
tiết lộ, không chỉ là trong Giáo chẳng có bí mật,
ngay cả Tông cũng lại chẳng c̣n chỗ ẩn giấu.
Do vậy, các vị đại lăo kiêng dè bản Lăng
Nghiêm Tiên Chú là do ư này! V́ vậy, kinh văn tuy nhiều tới
mười quyển, nhưng từ đầu đến
cuối chỉ có là bốn chữ “phá Thức, chỉ
Căn” mà thôi.
V́ thế, trước
tiên dạy ngộ từ nơi nhăn căn; một thứ
ngộ, hết thảy đều ngộ. Cuối cùng là dạy
nhập nơi nhĩ căn, một thứ nhập th́ hết
thảy đều nhập. Bởi
đó, quyển năm [kinh Lăng Nghiêm] nói: “Nhữ
kim dục tri câu sanh vô minh, sanh tử kết căn, duy nhữ
lục căn, cánh phi tha vật” (nay ông muốn biết
vô minh bẩm sanh [của chúng sanh] và căn bản của
sanh tử, th́ chỉ t́m nơi sáu căn của ông, chẳng
có vật nào khác!) Đấy chính là do trong A Lại Da Thức
có một phần vọng. Kinh lại nói: “Nhữ phục
dục chứng Bồ Đề, Niết Bàn, an lạc giải
thoát, tịch tĩnh diệu thường, diệc nhữ
lục căn, cánh phi tha vật” (Ông lại muốn chứng
Bồ Đề, Niết Bàn, an lạc giải thoát, tịch
tĩnh diệu thường th́ cũng do sáu căn của
ông, chẳng có vật ǵ khác!) Đấy chính là do A Lại Da Thức
trọn đủ Chân toàn vẹn.
V́ thế, chư tổ đa phần
nói “chẳng ĺa trong thân, chẳng ĺa ngay nơi đây”,
cho tới “ra vào nơi vẻ mặt” đều là nói
tới sáu căn, chẳng phải là nói tới ngũ tạng
trong sắc thân. C̣n đối với cái chẳng dung suy
lường, bàn luận, chẳng thể phỏng đoán,
đều nhằm bác bỏ sáu thức, há c̣n có ư chỉ
nào khác nữa ư? Đấy là biện định, phân
biệt đại lược; tường tận th́
như trong lời Sớ [đă biện luận], chẳng
biết cao kiến của thầy con là như thế nào? Chân Giám từng hướng
về phương Nam, ngưỡng mộ tôn sư như
Phật, chẳng dám ngă mạn tranh biện, chỉ nghĩ
điều này có mối quan hệ chẳng nhẹ với
sanh tử, khó gặp bậc chí nhân, cho nên
chẳng dám bỏ lỡ. Những điều con nói
đúng hay sai, mong thầy quyết đoán rạch ṛi, đừng
ngần ngại, mong mỏi lắm thay!
(Tổ trả lời)
Thư thầy gởi đến chỉ
dạy về vọng tâm chẳng ở trong, ngoài, chặng
giữa, hết sức tinh tường, xác đáng. Lại
c̣n trong bộ [Lăng
Nghiêm Kinh] Chánh Mạch Sớ của thầy, luận
định về vọng tâm,
cũng không ǵ chẳng tinh tường, xác đáng. Nhưng
theo cái thấy thô lậu của tôi, nói “vọng cũng
có thể ở bên trong” là nói trong khi đang mê, chẳng
phải là luận về tâm thể. Do đó nói “cũng
được”. Ư nghĩa của chữ “cũng”
tự rơ ràng
rồi! Trong đó, lại
dẫn nước và băng làm thí dụ, tuy chúng vốn tự
chẳng có Thể, nhưng khi là băng, há chẳng đông
cứng một chỗ, mất đi tánh chất
lưu động ư? Có thể nói “vọng ở bên
trong” cũng vẫn đúng, do chẳng phải là thật
sự coi nó là ở bên trong.
Thử dùng một chuyện
để nghiệm chứng: Khi người đang ngủ
say, muốn đánh thức người ấy, ắt phải
dùng tay vỗ vào thân người ấy th́ người ấy
mới tỉnh, hay là dùng tay vỗ vào hư không th́ mới
có thể khiến cho người ấy tỉnh giấc? Ắt
phải gần cái thân người ấy th́ mới tỉnh,
hay là ở cách xa thân người ấy mà gọi sẽ có
thể khiến cho người ấy tỉnh giấc? Lư ấy
tự rơ rệt! Kinh dạy: “Nhất mê vi tâm, quyết
định Hoặc vi sắc thân chi nội” (hễ mê
chân tâm là vọng tâm, chắc chắn sẽ lầm lẫn
cho là cái tâm ấy ở trong sắc thân). Tuy là Hoặc,
nhưng trong khi đang mê hoặc, há chẳng rành rành ở
bên trong ư?
Huống chi ngay sau
đó, kinh lại dạy:
“Tuy tại sắc thân chi nội, bất phương Thể
biến thập phương, chánh biến thập
phương, bất phương hiện tại thân nội”
(Dẫu ở trong sắc thân, chẳng trở ngại cái
Thể trọn khắp mười phương. Ngay trong
khi trọn khắp mười phương, chẳng trở
ngại hiện tại trong thân). Ư nghĩa đă rơ ràng rồi!
Sớ giải của thầy vốn là ư chỉ chánh yếu
của kinh, tôi chỉ nêu kèm kiến giải thô lậu, xin
đừng ngờ vực. Nếu chẳng nêu kèm ư này, khi
nho sĩ ngoại đạo cật vấn, thầy sẽ
không có ǵ để ứng đối. Thầy cho rằng
“vọng tâm chẳng ở trong” là Tông, do vậy bảo nó chẳng
có Thể. Nay tôi nói “vọng tâm cũng ở trong” là Tông,
chính là v́ đang mê. “Băng cũng đông cứng” là Tông,
chính là v́ nó đang ở trạng thái ngưng đọng.
Khi đang ngưng đọng, rành rành là nó đông cứng,
chẳng trở ngại “đông cứng chẳng có Thể,
toàn thể là nước”. Như thế th́ hai ư thành lập
lẫn nhau, chẳng hề mâu thuẫn!
* Thư trả lời
ấp lệnh[10]
Tào Lỗ Xuyên ở Tô Châu
1) (Nguyên
thư thứ nhất của Tào Lỗ Xuyên) Đă lâu tôi
chẳng được gặp mặt lắng nghe lời
thầy dạy, xin thầy thứ lỗi. Tôi thường
giở xem những lời dạy do thầy đă khắc
in, được khơi gợi rất nhiều, cảm tạ
sâu xa, biết ơn sâu đậm. Tôi hướng về
phương Nam mong ngóng mây pháp, thiết tha ngưỡng vọng
được nương cậy sâu xa. Khéo sao thượng
nhân Đoạn Phàm Ngộ thuộc chốn quận hèn của
tôi đến dưới pháp đàn [của thầy] để
cầu pháp, bèn gởi kèm thơ này để vấn an thầy.
Kẻ bất tài vụng về này, gần là giữ đạo
Đông Lỗ (Nho học), xa là tôn sùng Tây Trúc (Phật giáo),
chính là một con mọt sách nơi đạo Nho và Thích, tới
nay đă bốn mươi năm rồi! Tôi cũng từng thỉnh
giáo nơi những vị thông đạt, tích lũy những
điều tâm đắc, mong được bậc đại
thiện tri thức chỉ bảo
cho đúng. Nay do Đoạn Phàm đến
đó, tôi
thừa dịp biểu lộ [tâm nguyện
ấy]. Đức Thích Tôn có Tam Tạng mười hai bộ
giáo, giống như trong biển cả rộng lớn bủa
giăng nhiều tấm lưới, lại c̣n giống
như những cái kho trữ lương thực lớn, nhỏ,
chỉ nên đàm luận điều to lớn mà bao gồm
những điều nhỏ nhặt, há có nên nêu ra một mà
phế nhiều ư?
Gần đây, trong vùng
tôi, có kẻ xướng suất thuyết “trải qua
nhiều kiếp mới thành thánh, ắt phải là Tiệm,
chẳng có Đốn”. Tiệm tu cũng do thánh giáo dạy,
chưa từng chẳng chánh xác, nhưng dùng Tiệm để
phủ định Đốn, sai mất rồi! Tôn giả
trong tâm ngầm tinh thông Đốn, Viên, bề ngoài hiển
dương pháp môn Tịnh Độ. Chư Phật
cũng là như thế, chẳng có ǵ đáng để ngờ
vực cả. Hiềm rằng gần đây trong thính chúng
chẳng ít người giống như
kinh Pháp Hoa đă nói “vừa nghe Phật
pháp, lập tức tin nhận”, tư duy mong chứng
đắc, thẳng thừng muốn do một vị thánh
là Di Đà mà phế sạch mười lăm vị
vương tử, do một kinh Tịnh Độ mà phế
sạch Tam Tạng mười hai bộ. Đấy chính là
điều kẻ bất tài này chẳng muốn nghe. Tuy là
thời Mạt Pháp, căn cơ của những người
ấy há chẳng có xảo hay độn ư? Có khi giống
như đức Thích Tôn v́ Ca Diếp, v́ Kiều Trần
Như mà nói như thế này, v́ Thiện Tài, v́ long nữ mà
nói như thế kia. Hai mươi lăm vị thánh, mỗi
vị chứng Viên Thông, ngài Văn Thù lại xưng tán một
cảnh giới khác. Chính là như thường nói: “Hôm
qua xác định, hôm nay bất định”. Lại c̣n
nói: “Đă nói Ngă là Không, lại chẳng phải là Không. Nói
Ngă là Hữu, lại chẳng phải là Hữu”. Đấy
là v́ làm lành không có nguyên tắc cố định, mà là sống
động, giống như trên mặt nước đè
cái hồ lô xuống, chẳng phải là pháp chết cứng.
Nếu khăng khăng chấp chặt một bề, sao
có thể lợi ích trời, người? Kính mong tôn giả
v́ đại chúng diễn nói,
tuyên dương giáo pháp Tịnh Độ,
hễ gặp người lợi căn bèn chỉ bày pháp
thượng thừa, viên dung thông đạt, chẳng tŕ
trệ nơi một góc, một
cạnh, khiến cho chim bằng lẫn
chim bé đều được thích nghi, cũng chẳng
phải là tận thiện tận mỹ ư?
Hơn nữa, kinh
Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm chính là Nhất
Thừa Viên Giáo vô thượng, là lời xứng
tánh cực đàm
của Như Lai, chẳng phải Giáo,
chẳng phải Tông, mà chính là Tông, chính là Giáo, chẳng phải
Không, chẳng phải Hữu, mà vô cấu, vô tịnh, c̣n
hơn hẳn kinh Pháp Hoa một bậc, các giáo thừa khác
dường như khó thể so sánh ưu khuyết
được nổi! Tôn giả ca ngợi kinh Di Đà
sánh bằng Hoa Nghiêm, tợ hồ chưa ổn thỏa; do
vậy, bèn viết luận
để tán dương, coi Tịnh Độ c̣n cao
hơn Hoa Nghiêm. Đấy chẳng phải là lẫn lộn
màu son với màu
tía ư? Nai và ngựa chỉ lẫn
cho nhau[11],
lại nói như thế nào được nữa? Nếu
không có ai nói ra điều này, ắt thiên hạ đời
sau sẽ cười chê nước Tần chẳng có
người vậy! Cũng mong tôn giả v́ người
căn cơ Tịnh Độ mà nói Tịnh Độ, v́
người căn cơ Hoa Nghiêm mà nói Hoa Nghiêm, đừng
chê gièm lẫn nhau, mà cũng đừng tiếm lạm, ngơ
hầu lưu thông Phật thừa, cùng phô bày cả năm
giáo, cùng
nhiếp trọn ba căn, cớ sao lại
khắc thuyền để t́m gươm[12],
bắn chim sẻ mà bỏ qua diều hâu?
Như kinh Hoa Nghiêm có bốn
pháp “tín, giải, hạnh, chứng”, khéo nói pháp này chắc
chẳng ai bằng Phương Sơn (Lư Thông Huyền). Nay ngôn luận của
Ngài vẫn c̣n trọn đó, có thể kiểm chứng
được! C̣n như Thanh Lương, tuy được
mọi người gọi là Hoa Nghiêm Bồ Tát, nhưng thật
ra chẳng hiểu giáo nghĩa và tông chỉ của Hoa
Nghiêm, cẩu thả đem kinh xé lẻ thành
bốn phần để đối ứng với bốn
pháp, khiến cho diệu nghĩa của Phật Lô Xá Na bị
vùi lấp trong cỏ hoang! Cũng nguyện tôn giả biện
định trắng đen, tách bạch sông Kinh và sông Vị[13],
nêu cao mặt trời rực rỡ nơi bầu trời
chân nghĩa. Chao ôi! Trong hiện thời, người
căn tánh bậc trung hoặc cao ngày càng thưa thớt, kẻ
bất tài này ngưỡng mộ, kính trọng tôn giả
như Thái Sơn, Tung Sơn vậy. V́ thế, chẳng dùng
lời lẽ ca ngợi đẹp đẽ mà dùng lời
lẽ khuyên nhủ. Biết tôn giả là bậc vô ngă, mà kẻ
bất tài này cũng chẳng v́ tâm riêng tư; do vậy mới lải
nhải, chỉ mong tôn giả thấu tỏ.
(Tổ trả lời) Từ
lâu tôi đă nghe cư sĩ dốc ư chuyên ṛng nơi Hoa
Nghiêm, tôi ôm ḷng kính ngưỡng tột bậc. Nay nhận
được thư dạy bảo ân cần [của
cư sĩ], thẳng thừng muốn nạp chúng sanh trọn
hết pháp giới
vào biển tánh Nhất Thừa; đó là đại nguyện
Phổ Hiền. Nhưng kẻ không ra ǵ này, tuy tôn sùng Tịnh
Độ, thật ra là sùng trọng Hoa Nghiêm chẳng khác
cư sĩ. Do Hoa Nghiêm trọn đủ vô lượng
môn, cầu sanh Tịnh Độ là một môn trong vô lượng
môn của Hoa Nghiêm. Đối với căn cơ hiện
thời, chẳng phải nêu ra một môn này để phế
Hoa Nghiêm! Trong thư, cư sĩ lại nói kẻ chẳng
ra ǵ này luận định kinh Di Đà ngang ngửa Hoa
Nghiêm, do vậy mà có chuyện soạn luận tôn xưng Tịnh
Độ cao hơn Hoa Nghiêm, luận ấy do ai soạn vậy?
Hoa Nghiêm như thiên tử, có ai lại nâng các vua chư hầu,
đại thần, trăm quan cao hơn thiên tử ư?
Nhưng kẻ chẳng ra ǵ này cũng chưa từng đề
cao [hai kinh ngang nhau]. Trong [A Di Đà Kinh] Sớ Sao, tôi đặc
biệt nói Hoa Nghiêm viên măn tột bậc, kinh Di Đà
được chút phần Viên, thuộc loại quyến
thuộc của kinh Hoa Nghiêm, hoàn toàn chẳng ngang bằng.
Cổ nhân xưng tụng Hoa Nghiêm so với các kinh khác, ví
như vầng mặt trời chói lọi rạng ngời
giữa trời, đoạt mất ánh sáng của các ngôi
sao, [lại như] núi Tu Di vắt ngang giữa biển, cao
vượt trội các ngọn núi khác, có ǵ sánh bằng
được? Điều này há c̣n đợi bàn luận
nữa ư?
Trong thư, cư
sĩ lại bảo tôi hăy nên tùy cơ nghi mà diễn giáo, tức
là nên v́ người [thuộc căn cơ] Tịnh Độ
mà nói Tịnh Độ, v́ người [thuộc căn
cơ] Hoa Nghiêm mà nói Hoa Nghiêm. Ư này hết sức hay,
nhưng trong ấy có hai nghĩa:
- Một là cùng dưỡng
dục ngàn loại căn cơ, đấy là chuyện xuất
thế của Như Lai, kẻ chẳng ra ǵ này chẳng thể
làm được! V́ thế, ngài Tào Khê truyền Trực Chỉ
Thiền, há có phải là Ngài chẳng thông hiểu các giáo
khác ư? Viễn công chuyên chủ tŕ Đông Lâm Liên Xă,
cũng chẳng phải chỉ tiếp độ kẻ
độn căn. C̣n như Vân Môn, Pháp Nhăn, Tào Động,
Quy Ngưỡng, Lâm Tế, tuy năm tông cùng phát xuất từ
một nguồn, nhưng cũng truyền trao hơi khác biệt.
Lập bày môn đ́nh, theo đúng lẽ phải nên như thế,
chẳng có ǵ là lạ, huống hồ kẻ chẳng ra ǵ
này thuộc địa vị phàm phu ư? Nếu hư vọng
bắt chước cổ nhân, hôm qua định, hôm nay bất
định, tràn lan chẳng có sư thừa, biến loạn
bất nhất, tuy gọi là “lợi người”, thật
sự là khiến cho người khác lầm lạc. V́ lẽ
nào vậy? [Hư vọng tự xưng] “ta là pháp
vương, tự tại trong các pháp”. Kẻ b́nh dân tự
xưng là quốc vương, chẳng thể không thận
trọng ư?
- Hai là nói Hoa Nghiêm sẽ
bao gồm Tịnh Độ, mà nói Tịnh Độ
cũng thông Hoa Nghiêm. Do vậy, người nói Hoa Nghiêm tự
nói Hoa Nghiêm, người nói Tịnh Độ tự nói Tịnh
Độ, cố nhiên là cùng tiến hành, chẳng trái nghịch
nhau! Người hiện thời chỉ biết Hoa Nghiêm rộng
hơn Cực Lạc, nhưng chẳng biết Di Đà tức
là [Tỳ Lô] Giá Na. Thư gởi tới c̣n nói “ngài Thanh
Lương chẳng hiểu giáo nghĩa và tông chỉ của
kinh Hoa Nghiêm, xé
lẻ bản kinh thành bốn phần nhằm
thuộc bốn pháp”. Tín, giải, hành, chứng
tuy xuyên suốt toàn bản kinh, nhưng kinh văn từ
đầu đến cuối cũng tự nhiên có thứ
tự, chẳng phải là ngài Thanh Lương cưỡng
chia chẻ. Sự xuyên suốt ấy được gọi
là Viên Dung. Theo thứ tự th́ gọi là Hàng Bố. Hàng Bố
chính là Viên Dung, bốn phần há có hại ǵ? Nếu chẳng
có Hàng Bố, Viên Dung là vật ǵ? Ắt phải trừ bỏ
Hàng Bố mới coi là Viên Dung, th́ chẳng phải là viên
dung!
Hơn nữa, Tín, Trụ,
Hạnh, Hồi Hướng, Địa cho đến
Đẳng Giác, Diệu Giác Phật, cũng chẳng phải là tự
tách toàn thể bản kinh thành năm mươi hai đoạn
ư? Sao chẳng dùng một câu để nói trọn
năm mươi hai đoạn, mà lại tạo thành kinh
văn nhiều quyển ngần ấy? Nhân bao trùm biển
quả, quả thấu triệt nguồn nhân. Nhân và quả
chưa hề chẳng đồng thời, mà cũng
chưa từng nhân tự là nhân, quả tự là quả!
Sao cứ phải chấp chặt tám mươi quyển bó
lại thành một khối, khăng khăng là quả chùy sắt
chẳng có lỗ hổng, sau đó mới bảo đấy
là Viên
Dung
ư? Chấp chặt một khối, chẳng cho phép tách rời,
tức là pháp bị giết chết cứng, là đóng chặt
cột chèo, là khăng khăng giữ hang, sao có thể coi
là sống động cho được?
Bộ luận của
ngài Phương Sơn vốn là lời đàm luận hùng
hồn ngàn đời, nhưng luận có luận thể, sớ
có sớ thể. Nói rơ chung những ư nghĩa chánh yếu,
Phương Sơn chuyên hưởng tiếng thơm cao hơn. Phân
tích, suy khảo cực sâu, thấu đạt tận cùng lẽ
vi tế, huyền diệu, th́ [các lập luận của]
Phương Sơn được Thanh Lương bổ sung mới tột
bực hoàn bị. Há riêng ǵ Phương Sơn, ngay như
các vị tổ [của tông Hoa
Nghiêm] từ Đỗ Thuận cho tới Hiền
Thủ cũng nhờ có ngài Thanh Lương [mà giáo nghĩa
Hoa Nghiêm] mới được hoàn bị to tát. Há riêng
chư tổ của tông Hoa Nghiêm, ngay như luận sớ
của trăm nhà đối với Tam Tạng mười
hai bộ loại cũng nhờ có ngài Thanh Lương mà hết
sức hoàn bị. Ngài Ôn Lăng [Giới Hoàn] giải kinh
Hoa Nghiêm, lấy ư của ngài Phương Sơn làm chủ
yếu, dùng ư của ngài Thanh Lương phụ trợ
đă là chẳng thỏa đáng, mà nay cư sĩ chỉ
trích [ngài Thanh Lương];
đó là chỗ kẻ chẳng ra ǵ này chưa hiểu
được.
Hơn nữa, ngài Long
Thọ từ cung rồng đọc được kinh Hoa
Nghiêm, bèn nguyện sanh Cực Lạc. Phổ Hiền là
trưởng tử của Hoa Nghiêm mà nguyện sanh Cực
Lạc. Văn Thù và Phổ Hiền cùng phù tá đức Giá
Na (Tỳ Lô Giá Na), được gọi là Hoa Nghiêm Tam
Thánh, lại nguyện sanh Cực Lạc, đều có chứng
cứ rơ ràng, rạng ngời như mặt trời, tinh tú.
Cư sĩ muốn đề xướng Hoa Nghiêm để
tạo thành phong khí cho bốn phương mà lại trái nghịch
Văn Thù, Phổ Hiền, Long Thọ, đấy lại là
chỗ kẻ chẳng ra ǵ này chưa hiểu được!
Huống chi
Phương Sơn nêu ra mười loại Tịnh Độ,
đối với Cực Lạc, tuy nói là Quyền,
nhưng Hoa Nghiêm Quyền Thật dung thông, Lư Sự vô ngại,
Sự Sự vô ngại. V́ thế, dâm pḥng, nơi giết
chóc, không ǵ chẳng phải là đạo tràng thanh tịnh,
huống hồ Cực Lạc bảy báu trang nghiêm ư? Bà
Tu Mật Đa và
Vô Yếm Túc đều là cổ Phật quyền xảo thị
hiện, huống hồ Di Đà trọn đủ vạn
đức ư? Cư sĩ dạo chơi trong môn Hoa Nghiêm
vô ngại, mà ngại Tịnh Độ; đấy lại
là chỗ kẻ không ra ǵ này chưa hiểu được!
Kẻ chẳng ra ǵ này
và cư sĩ cùng là bạn bè tốt lành chẳng trái nghịch
nơi Hoa Tạng, nhưng cư sĩ chẳng soi xét cái tâm
của kẻ kém cỏi này, tôi vẫn muốn lôi kéo cư
sĩ làm huynh đệ ruột thịt nơi thai sen, mong
cư sĩ chẳng coi tôi là người ngoài. Cư sĩ
yêu mến tôi, chẳng khen ngợi mà uốn nắn tôi, nay
tôi mạo muội khuyên nhủ, cũng giống như
cư sĩ yêu mến tôi vậy. Ôm bệnh thưa tŕnh
sơ sài đại khái, trọn chẳng hết ư
được, chỉ mong cư sĩ soi thấu mà rộng
dung!
2) (Thư thứ hai
của Tào Lỗ Xuyên) Do Đoạn Phàm thượng
nhân ở cái
quận hèn
tệ của tôi dâng thư bái yết,
tôi gởi kèm thơ theo nhằm biểu đạt tâm ư chân
thành. Do vậy, nhận được thư khuyên nhắc
của thầy tha thiết tột bậc, ân cần tột
cùng, tôi cảm tạ sâu xa. Trong thư thầy gởi đến
có nói: “Hoa Nghiêm trọn đủ vô lượng môn, cầu
sanh Tịnh Độ chỉ là một môn trong vô lượng
môn của Hoa Nghiêm. Đối với căn cơ hiện
thời, do một môn này mà nhập Hoa Nghiêm, chẳng phải
là nêu ra một môn để phế trừ Hoa Nghiêm”. Thầy
lại nói “Hoa Nghiêm viên măn cùng cực, chẳng thể
đặt pháp nào cao hơn được nữa” đều
là những luận định xác đáng. Bởi lẽ,
Hoa Nghiêm do Pháp Thân Phật nói, là diệu nghĩa Nhất Thừa,
khác xa các kinh, nhưng nhiều người cứ coi kinh này
là kinh do Phật Thích Ca nói. V́ thế, người sớ giải
kinh này, ngài Hiền Thủ là người đặt cơ
sở khởi đầu, Phương Sơn khế hợp
sâu xa tông chỉ ấy, c̣n Thanh Lương [khi chú giải
đă] chọn lựa chẳng tinh tường, Ôn Lăng
chẳng nói tường tận, c̣n có người soạn
[tổng hợp các ư nghĩa của kinh] thành Luân Quán th́ là
cành nhánh.
Ngài Ôn Lăng nói: “Phương
Sơn là chánh, Thanh Lương là phụ trợ”,
cách nh́n ấy trác tuyệt nhất, nhưng tôn giả cho là
chẳng thỏa đáng, dường như chẳng hiểu
Ôn Lăng, mà cũng chẳng thông hiểu Phương
Sơn! C̣n như các kinh luận chẳng liễu nghĩa,
phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện được
lưu hành riêng, và các luận như Khởi Tín đều
xưng nói Tịnh Độ, điều này há chẳng có
nguyên nhân? Nhưng trong kinh Hoa Nghiêm chưa từng nhắc
đến, tức là loại Tịnh Độ thứ
mười của Phương Sơn càng rơ rệt. Kinh
Pháp Hoa liệt kê mười sáu vị vương tử,
trong ấy có Phật Di Đà, nhưng chưa từng xác
quyết vị vương tử nào là [Phật Di Đà].
Kinh ấy tán thán công đức tŕ kinh, nói kèm thêm An Lạc
Tịnh Độ, thật ra là nói về nhân quả của
nữ nhân!
Trong kinh Thủ Lăng
Nghiêm, hai mươi lăm vị thánh chứng Viên Thông,
Văn Thù chẳng thiên trọng pháp nào, chỉ nói “phương
tiện có nhiều môn”, lại nói “thuận hay nghịch
đều là phương tiện”, nhưng kế
đó, do luận định [các
pháp môn] nhanh hay chậm khác nhau, bèn từ trong các pháp chẳng
có cao hay thấp, lại chưa hề chẳng chỉ bảo
quy hướng một môn vậy. V́ thế, Ngài phải quy
kết chung cực nơi Phổ Môn, chẳng đề cao
[pháp môn của ngài] Thế Chí, lại c̣n chê trách là vô thường,
là sanh diệt. Nếu đức Thích Tôn chỉ nói Đại,
Tiểu Di Đà Kinh hệt như đă đủ rồi,
cần ǵ phải [nói] Tam Tạng mười hai bộ
rườm rà chi nữa? Các vị như Hiền Thủ,
Thanh Lương nhiều lượt nêu ra năm giáo Tiểu,
Thỉ, Chung, Đốn, Viên, đều
được mọi người công nhận [cách phán giáo
ấy là thỏa đáng], nhưng chưa từng b́nh phẩm
Tịnh Độ, c̣n nhà Thiền lại càng quét sạch.
Ngôn luận của Đại Giám
(tổ Huệ Năng) khoan bàn tới, chỉ
nêu ra một hai điều. Như ngài Chí Công nói: “Người
trí biết tâm là Phật, kẻ ngu thích về Tây
Phương”. Như thiền sư Tề Kỷ nói: “Chỉ
có nẻo tắt để tu hành, vẫn là đi đường
ṿng y như cũ. Chỉ niệm A Di Đà Phật, niệm
rồi chẳng giúp được chuyện ǵ!” Lại nói: “Mọi người
các vị sáng tối qua lại trên đường tắt,
cớ sao ở ngay trước mặt mà bỏ lỡ A Di
Đà Phật”. Lại nói: “Hoặc là giống như
trên, bỏ cha trốn đi, lưu lạc nơi làng khác.
Đông lôi, Tây đụng, khổ thay A Di Đà Phật!”
Đối với ba câu nói ấy, có người cho là quá hà
khắc, nhưng há có phải là không có ư nghĩa ǵ! Các vị ấy nói
như thế ắt đều có đạo lư.
Cổ đức bảo:
“Hết thảy chúng sanh tự ḿnh mê hay ngộ khác nhau,
do mê tâm mà hướng ra ngoài, tu hành t́m kiếm Phật,
chưa ngộ tự tánh;
đấy chính là Tiểu Thừa”. Lại
có người nói: “Thẳng thừng đốn ngộ
cái tâm này vốn sẵn là Phật, không có một pháp để
có thể đạt được. Đấy là vô thượng
đạo. Đấy là Chân Như Phật. Người
học đạo chỉ sợ có một niệm, cách biệt
với đạo”. Lại có người
nói: “Trước mắt chẳng có pháp, ư ở ngay
trước mắt, nhưng nó (tức ư nghĩa chân thật)
chẳng phải là pháp ở ngay trước mắt. Nếu
hướng theo Phật, Tổ mà học, người ấy
chưa đủ mắt, sao chẳng hướng đến
sanh tử cho chắc chắn,
thỏa đáng, sẽ đến
nơi đâu để mong làm Phật, mong làm Tổ? [Nếu
chỉ mong Phật, Tổ] thay thế ngươi siêu thoát
sanh tử, sẽ khiến
cho người có trí cười nhạo ngươi!”
Do vậy, người thông đạt luôn nói “trải A-tăng-kỳ
kiếp siêng khổ tu hành, chẳng bằng một niệm
đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn”.
Lại nói: “Một niệm duyên khởi Vô Sanh, siêu xuất
cái học của Quyền Giáo trong tam thừa, huống hồ
chẳng luận tam thừa hay nhất thừa, điều
cốt yếu là chẳng có ngă và ngă sở”. Nay văng sanh Tịnh
Độ, ta là người có thể sanh, cơi nước là
chỗ để sanh về, tự và tha rành rành, sanh diệt
rơ rệt, ưa chán lăng xăng, [tức là đối với
các đạo lư trên đây] đều chưa thấu triệt.
Xét ra, người trước nay bàn luận liên thừa
(tu pháp môn Tịnh Độ), ắt nói: “Hoa nở thấy
Phật, ngộ Vô Sanh”, đại để là ắt phải
đợi văng sanh để thấy Di Đà rồi mới
từ Quán Âm hoặc từ Thế Chí, hay được Phật
Di Đà dạy bảo Vô Sanh, tới khi đó mới ngộ,
chẳng phải là thượng phẩm cực ít, trung và hạ
phẩm đông đảo, [khiến cho người tu hành] tợ hồ bị
trầm trệ trong A-tăng-kỳ kiếp ư?
[Cách tu hành ấy] dường như quanh quẩn, chậm
trễ! Huống chi muốn tu Tịnh Độ, cũng cần
phải tu trước bốn lần bốn thành mười
sáu Quán môn hữu vô. Thử hỏi điều được
quán là theo khuôn khổ, nguyên tắc nào? Người có thể
quán c̣n được mấy người? V́ thế,
người niệm Phật nhiều như lông ḅ, người
văng sanh như sừng lân, sao chẳng cầu ngược lại
nơi chính ḿnh, nơi ḿnh sẵn có Phật ư?
Hàn Sơn khích lệ
Phong Can, bảo “Sư
sang Ngũ Đài lễ Văn Thù, chẳng phải là
người cùng hàng với tôi”. Đấy
là điểm khác biệt do người thông đạt Phật
đạo thốt ra. Hơn nữa, hết thảy Phật
đạo dùng Kim Cang Bát Nhă để nhập môn, coi Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm là rốt ráo. Kinh Kim
Cang th́ nói: “Thật vô thiểu pháp khả đắc”
(thật sự chẳng có chút pháp nào để có thể
đạt được). Nhưng kinh Đại
Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm nói có hai thứ ngu
nơi Phật địa: Một là cái ngu do biết vi tế,
hai là cái ngu do biết cực vi tế. Do vậy, ngài A Nan tự
nói “chẳng trải qua A-tăng-kỳ kiếp mà đạt
được Pháp Thân”, người hiểu biết c̣n
quở trách. V́ thế nói là “Phật sang” (ghẻ
nơi Phật), hoặc nói là “Phật ma”. Văn Thù vừa
hơi khởi lên cái thấy có Phật, chưa khỏi bị
biếm trích vào giữa hai núi Thiết Vi.
Than ôi! Thấy sông có thể
cuốn trôi hương tượng, trí chủ chẳng tiếp
nhận công đức, tâm người tu đạo chẳng
có chỗ trụ, tung tích chẳng thể t́m kiếm. V́ thế,
chẳng trải qua Quyền Thừa, riêng nắm giữ Nhất
Thừa. Đấy chính là chỗ kẻ bất tài này
khăng khăng. Chư Phật, chư Tổ v́ một phần
chúng sanh kém hèn chấp trước ngă thức, cũng
như do các đệ tử Tiểu Thừa chỉ so
đo nương vào ư thức, dùng các thứ như sắc,
tâm v.v... trong hiện tại để làm chỗ
nương cậy nhiễm hay tịnh, v́ thương xót họ
sau khi Tứ Đại chia ĺa, linh thức không có chỗ
hướng về, như cá thiếu nước, lẩn quẩn
mà chết, cho nên chẳng thể không nương theo sự
lầm lỗi của họ mà xếp đặt họ
trong Tịnh Độ. Đấy cũng là một thứ
hóa thành vậy. Có lời truyền
rằng: “Nếu có thể ngộ thân pháp
tánh
và cơi pháp tánh, nếu quy vào chỗ chẳng
có vật; đó là Tịnh Độ chân thật”.
Như do biển tánh Hoa Nghiêm hiển hiện toàn thân [của
đức Phật], như nơi thân người có tám vạn
bốn ngàn lỗ chân lông, Đông Dược Sư, Tây Di
Đà, mỗi vị đều ở trong một lỗ
chân lông để thuyết pháp độ sanh. Nếu ai có
thể thấu triệt lỗ chân lông, quán triệt toàn
thân, chưa hề chẳng thể được! Nếu
vứt phăng toàn thân, vào trong một lỗ chân lông, không
chỉ là đảo ngược vị trí của biển
và bọt nước, mà c̣n như con nhặng húc đầu
vào giấy dán cửa sổ; đó là ǵ vậy?
Trong lá thư thưa
tŕnh lần trước của kẻ bất tài này, đă
thưa: “Hăy nên v́ kẻ Tịnh Độ mà nói Tịnh
Độ, hăy
nên v́ người Hoa Nghiêm mà nói Hoa
Nghiêm”, tôi tự cho là chẳng trái nghịch
pháp môn của chư Phật, mà cũng là một phiến
tâm sắt son v́ tôn giả. Tôn giả bèn muốn dẫn tôi
vào thai sen, tức là như người xưa đă nói: “Nếu
mang vật vào bến mê, tức là giống như bỏ
vàng gánh cỏ vậy!” Xét ra, cổ nhân c̣n nói: “Nếu
muốn rốt ráo chuyện này, cần phải hướng
đến đỉnh núi cao ngất mà đứng, phải
đi nơi đáy biển sâu thẳm, chứ giống
như vật mềm mại, ấm áp trong chốn khuê các,
chẳng nỡ bỏ th́ có tác dụng ǵ?” Lại c̣n nói:
“Các kinh đều nói hạnh chẳng sân hận”. Sự
sân hận ấy, phàm t́nh chẳng thể sánh bằng
được! “Hận” là hận hết thảy chúng sanh
đều có trí huệ và phước tướng của
Như Lai mà chẳng tự hay biết. “Sân” là sân v́ chính ḿnh
độ thoát chưa đến mức cùng cực! Do vậy,
tự giác, giác tha, có trí thế gian, có trí xuất thế
gian, có thượng thượng trí thế gian xuất thế
gian. Nói những điều ấy với người khác
sẽ chẳng bị chống trái, cự tuyệt, ngơ hầu
có thể lợi ích người khác.
Truy lại xưa kia,
thánh nhân tam giáo xuất hiện trong thế gian, không vị
nào chẳng v́ một đại sự. Lại c̣n xem xét thời
tiết nhân duyên, hễ lệch lạc th́ bù đắp, hễ
tệ bạc th́ cứu chữa, ẩn tàng nhỏ nhặt
th́ hiển lộ, cốt yếu là khai thị tâm tánh cho
người khác mà thôi! Do trong thiên hạ hiện thời,
Nho sĩ câu nệ chấp chặt vào chú thích của kinh
truyện, bậc khoáng đạt th́ tâm ch́m đắm trong
chuyện hư vô, huyền diệu, những kẻ khác tay
lần xâu chuỗi, miệng niệm Di Đà, từ
đường cái, chốn thành thị lớn cho đến
thôn nghèo, hẻm vắng, nh́n quanh chỗ ở đều
thấy [người như vậy] chen vai san sát. Tôn giả
lại hùa theo, phụ họa, chẳng đáng gọi là “thuận
theo giáo pháp của t́nh đời, sóng
tùy theo gió mà bủa vỗ” đó
chăng? Do vậy, kẻ bất tài này chẳng thể
không nghi.
Trong thư gởi
đến, Ngài lại nói: “Tuy tôn sùng Tịnh Độ,
thật sự đề cao Hoa Nghiêm”. Ngài
c̣n nói: “Do một môn Tịnh Độ này mà nhập Hoa
Nghiêm”. Điều này giống như cổ đức
đă nói: “Chỉ v́ hoằng truyền sự thật,
nhưng chúng sanh chẳng tin, cần phải v́ Thật mà
hành Quyền, dùng cạn để giúp cho sâu”. Lại
nói: “Sử dụng đúng lúc, miệng tuy nói Quyền,
trong tâm chẳng trái Thật, chỉ cốt sao khiến cho
hàm linh đều đạt được các lợi ích
Quyền và Thật”. Đó chính là điều kẻ bất
tài này thật sự khế ngộ, cung kính tiếp nhận,
cảm mộ, vui mừng. Thính chúng trong hội luôn có
người từ Hàng Châu đến đất Tô, không ai
chẳng phải đều nhất loạt ưa chuộng
cửu phẩm [văng sanh]. Đôi khi thầy bàn luận với
họ, dính dáng đôi chút thượng thừa, họ sẽ
kinh hăi trợn mắt, thậm chí cười cợt, lỗi
ấy ở nơi đệ tử ư? Hay là do thầy?
Đại trượng phu khí độ xông trời thẳm,
độ sanh là chuyện cấp bách. Như người xuất
thế [làm tăng], mở giảng đường,
đăng ṭa thuyết pháp, chẳng trọn đủ bản
lănh của bậc đại nhân, chỉ làm theo cử chỉ
của ông già bà cả ăn chay nơi ngơ hẻm, bỗng bị
người lanh lợi hỏi đến, toan hướng
đến Bắc Đẩu náu ḿnh ư? Hay là ẩn thân
trong núi Thiết Vi ư? Chẳng thấy nói: “Nếu là
chim đại bằng cánh vàng
(Ca Lâu La), tung cánh vượt
qua trăm ngàn do-tuần, như ngựa thần chỉ thấy
bóng rong ruổi khắp bốn phương tám hướng,
trọn chẳng tùy tiện ăn mổ, cũng chẳng
tùy tiện vùi thân?” Nói chung, chẳng
nương cậy Phật pháp, đại sự chẳng
thể xem nhẹ được, nguyện tôn giả hăy
đặc biệt lưu ư.
Thư Ngài gởi
đến lại nói: “Di Đà chẳng khác Giá Na, chỉ
v́ hóa cảnh (cảnh để
giáo hóa) và hóa nghi (phương pháp giáo hóa) mà mỗi mỗi
sai khác”. Bởi lẽ, điều cốt lơi
chung trong giáo nghĩa của chư Phật là nhân duyên.
Đă rơi vào nhân duyên, há chẳng có Đại hay Tiểu,
chắc chắn có sâu hay cạn. V́
thế nói “chư Phật là khác nhau”, th́ ngàn vị Phật
[xét theo Pháp Thân] là một vị Phật, chẳng thể
nói là khác. Nói “chư Phật là đồng”, hai vị
Biến Chiếu (Tỳ Lô Giá Na Phật) và Năng Nhân (Thích
Ca Mâu Ni) cũng tự bất đồng! Cổ nhân cho rằng
“hết thảy các pháp, đồng hay khác trùng trùng”.
Chẳng thể một mực đều là đồng, chẳng
thể một mực đều là khác. Chẳng thể coi
toàn đồng là toàn khác, chẳng thể coi toàn khác là toàn
đồng. Mê nơi hai môn “đồng, khác”, trí sẽ
chẳng tự tại. Nếu nói: “Cho rằng có thể
hướng về chỗ tuyết trắng t́m hoa lau, chẳng
lẽ dùng vỏ quưt của Ôn Châu để làm ra lửa
được ư? Ngài Thủ Sơ Tỉnh Niệm có
nói: “Làm bậc tông sư, cần phải có
con mắt chọn lựa pháp th́ mới được!”
V́ thế, từ xưa đă có niêm cổ, tụng cổ, lại
có biệt cổ (別古, nêu ra cách nói khác biệt cổ nhân),
miết cổ (憋古, đè nén cổ nhân).
Như nói: “Đạo tột cùng chẳng khó, chỉ kỵ
nhất là chọn lựa”. Lại nói: “Đạo
tột cùng khó nhất, cần phải chọn
lựa”. Do vậy, phần Đệ Bát Địa
trong kinh Hoa Nghiêm có nói: “Tịch diệt
chân cảnh hiện tiền”, c̣n nói: “Hăy nên dấy lên
trí sai biệt vô lượng”. Lại nói: “Quán sát phân
biệt các pháp môn”. Đấy là chẳng phải do tạo
tác mà thấu đạt t́nh huống vậy. Ta chiếu
soi, nhận biết tự tánh vốn tự viên minh như
gương báu lớn, tuy gương chẳng phân biệt
Hồ hay Hán, mà [h́nh bóng của người Hồ hay Hán hiện
trong gương] tự phân biệt. Như châu như ư, tuy
xanh, vàng chẳng khác, [nhưng đem vật có màu xanh hay
vàng đến gần châu, châu sẽ có màu] khác nhau. Nếu
là người đối với các pháp chẳng sanh kiến
giải nhị nguyên, có bao giờ ĺa khỏi chọn lựa
mà riêng cầu hiểu rơ. Những đạo lư ấy chính
là “chẳng
chọn lựa mà chọn lựa”. Đó chẳng phải
gọi là “trí thanh tịnh thiện xảo phân biệt”
ư?
Phương Sơn soạn
luận, Thanh Lương soạn sớ, đều là tổng
hợp Phật thừa, cùng xiển dương viên tông. Tuy
luận có luận thể, sớ có sớ thể, nhưng
cái quan trọng là nghĩa, chứ văn chẳng quan trọng.
Văn có thể sai khác, nhưng nghĩa là một. Nếu
xét theo nghĩa th́ kiến địa khác biệt vời vợi.
Thanh Lương diễn nói các kinh, thật sự là thiện
tri thức, nhưng chỉ riêng đối với kinh Hoa
Nghiêm, Ngài chỉ chú trọng giải thích theo từng câu, giảng
giải theo từng chữ, há chẳng vô bổ đối
với đức Xá
Na ư? Xét theo cương lănh chánh yếu dẫn khởi
toàn thể giềng mối, quả thật [Thanh
Lương] chẳng sánh bằng Táo Bách (Lư Trưởng
Giả)! Chẳng hiểu rơ sự khác biệt
giữa Thanh Lương và Táo Bách, tông chỉ và yếu
nghĩa của kinh Lô Xá Na rốt cuộc sẽ bị ẩn
tối. Nói tới bốn pháp “tín, giải, hành, chứng”
để xé rách toàn bộ bản kinh như chẻ vụn
hạt đậu, đó là vấn đề lớn nhất,
những điều khác lại càng nhiều! Kẻ bất
tài này cho là [Thanh Lương] chọn lựa chẳng tinh
tường, chẳng phải không có nguyên nhân. Nếu chẳng
cho là đúng, xin lại chất vấn Táo Bách đại
sĩ (Lư Phương Sơn)!
(Tổ
trả lời) Được ông rộng ḷng viết
thư nhiều lượt, tính ra tới
hai ngàn chữ, ngôn từ huyền diệu, biện bác tinh
diệu, tầng tầng lớp sâu rộng, thật
đáng ngưỡng mộ. Tôi trộm cho rằng ông yêu mến
tôi sâu xa, nhưng quá tốn văn từ. Nếu thật sự
muốn xiển dương Thiền Tông, chèn ép Tịnh
Độ, chẳng cần phải tốn nhiều lời,
sao không nói: “Tam thế chư Phật bị ta một ngụm
nuốt sạch! Đă là một Phật chẳng lập,
ai sẽ là A Di Đà?” Sao lại chẳng nói: “Nếu
ai thấu hiểu tâm, đại địa không tấc
đất”. Tấc đất đă đều chẳng
có, phương nào bèn có cơi Cực Lạc? Chỉ dùng hai lời
ấy để ví dụ hai ngàn chữ, sẽ đều
gồm trọn chẳng sót. Tôi tính mỗi mỗi đều
đáp lại, nhưng sợ phạm vào đấu tranh. Chẳng
đáp lại th́ chuyện này đối với đại
đạo quan trọng lắm, chẳng thể trọn một
bề im lặng. Do vậy, dám xin trần thuật đại
lược.
Thư gởi đến
nói “ngài Thanh Lương chọn lựa chưa tinh tường”,
ngu ư chẳng hiểu cư sĩ chê ngài Thanh Lương chọn
lựa Hoa Nghiêm là chẳng tinh tường ư? Hay cũng
là cư sĩ đối với ngài Thanh Lương chọn
lựa chưa tinh tường vậy? Thư ông lại bảo
“chỉ có kinh bất liễu nghĩa mới bàn về Tịnh
Độ”, lại c̣n kể ra phẩm Hạnh Nguyện
và Khởi Tín Luận. Hăy gác Khởi Tín lại đó, một
phẩm Hạnh Nguyện đă gồm trọn tám
mươi quyển của toàn bộ kinh, từ xưa
đến nay, ai dám bàn định phẩm ấy là bất
liễu nghĩa vậy? Cư sĩ riêng tôn sùng Hoa Nghiêm mà
phủ nhận phẩm Hạnh Nguyện, nếu phẩm Hạnh
Nguyện là bất liễu nghĩa th́ Hoa Nghiêm cũng là bất
liễu nghĩa! Thư ông lại nói “Pháp Hoa thọ kư
văng sanh Tịnh Độ là nhân quả của nữ nhân”,
vậy th́ long nữ thành Phật cũng chỉ là nhân quả
của nữ nhân ư? Nói Phật Di Đà là một trong
mười sáu vị vương tử, tức là Tỳ Lô
Giá Na cũng chỉ là vị Phật thuộc tầng thứ
mười ba trong hai mươi tầng của Hoa Tạng
ư? Cư sĩ chỉ tôn sùng Phật Tỳ Lô, sao chẳng
biết Tỳ Lô và Di Đà b́nh đẳng như nhau?
Thư ông lại nói “Lăng
Nghiêm chọn [pháp Viên Thông của] Quán Âm, bỏ ngài Thế
Chí”, lại c̣n
chê bai [pháp Viên Thông của ngài Thế
Chí] là vô thường sanh diệt. Vậy th́ ngài Kiều Trần
Như ngộ hai chữ “khách trần”, có thể nói là
thấu đạt vô thường, khế nhập chẳng
sanh diệt, sao chẳng được chọn lựa là
pháp Viên Thông? Nếu nói “Quán Âm thi đỗ, Thế Chí thi
trượt”, chẳng lẽ ông không nghe tỷ dụ “cá
vượt long môn sứt trán” là lời lẽ bịa đặt
ư? Thư ông gởi đến c̣n nói: Thiền sư Tề
Kỷ phê phán câu “chỉ có đường tắt tu hành”
trong kệ niệm Phật của cổ nhân rằng “vẫn
ṿng vèo y như cũ”, đối với câu “chỉ niệm
A Di Đà Phật” bèn phê là “niệm mà chẳng giúp
được chuyện ǵ”. Cư sĩ thấu đạt
Thiền Tông, sao chẳng biết đấy là các thầy
bên Thiền Tông thẳng thừng tháo niêm cởi
trói cho người khác để họ thấu hiểu thật
pháp, sao lại chấp chết cứng vào câu văn vậy?
Nếu thật sự là như vậy th́ cổ nhân có nói “đạp
lên đảnh Tỳ Lô để đi”, tức là không
chỉ Di Đà chẳng giúp được việc ǵ, mà Tỳ
Lô cũng chẳng giúp được việc ǵ ư? Những
lời lẽ như vậy trong ngữ lục truyện kư
có trăm ngàn vạn ức câu. Bốn mươi bốn
năm trước, lăo hủ cũng từng nói cho sướng
mồm khoái mép,
khoe tài hùng biện trong viết lách, về sau mới biết
hổ thẹn, chẳng c̣n dám như thế nữa, tới
nay vẫn c̣n rát mặt!
Tề Kỷ lại
c̣n nói “người cầu Tây Phương là kẻ bỏ
cha trốn đi, lưu lạc quê người, Đông
đụng, Tây va, khổ thay A Di Đà Phật!” Tôi từng
đáp rằng: “Như nay chính là như con nhớ mẹ,
trở về quê ḿnh, bỏ Đông,
được Tây, vui thay A Di Đà Phật!”
Hăy nói xem lời này cùng với lời Tề Kỷ nói sai
khác nhiều hay ít? Thư ông gởi đến lại nói: “Nhiều
kiếp tu hành, chẳng bằng một niệm đắc
Vô Sanh Pháp Nhẫn”. Cư sĩ đă đắc Vô Sanh
Pháp Nhẫn hay chưa? Nếu đă đắc, chẳng
nên coi ta là người có thể sanh, coi cơi nước là chỗ để
sanh về! V́ sao? Tâm chính là cơi, ai là người có thể
sanh (năng sanh)? Cơi chính là tâm, ǵ là cái để sanh về
(sở sanh)? Chẳng thấy có năng sanh và sở sanh mà
văng sanh, cho nên suốt ngày sanh mà chưa hề sanh! Do vậy,
thật sự là Vô Sanh. Ắt chẳng thể chấp nhận
sanh rồi sau đó mới gọi là vô sanh; [nếu hiểu
vô sanh như vậy] th́ chính là Đoạn Diệt Không, chẳng
phải là tông chỉ Vô Sanh!
Thư ông lại viết
rằng “ắt phải đợi hoa nở thấy Phật
th́ mới ngộ Vô Sanh, tức là quanh co, chậm chạp”.
Cư sĩ thấu đạt Thiền Tông, há chẳng biết
từ mê mà ngộ, như tỉnh giấc mộng, như
hoa sen nở? Người niệm Phật có người kiến
tánh ngay trong hiện đời, tức là hoa nở trong khoảnh
khắc. Có người văng sanh rồi mới kiến tánh,
tức là hoa nở lâu xa. Căn cơ có lợi hay độn,
công có siêng hay lười, cho nên hoa nở có chậm hay
nhanh, há có nên nhất loạt bảo là “quanh
co, chậm trễ”
ư? Thư ông lại viết rằng “Giá Na khác với
Di Đà”, sánh ví Hoa Tạng như toàn thân, ví von Tây
Phương như lỗ chân lông. Người sanh về
Tây Phương như tóm toàn thân nhét vào lỗ chân lông, đảo
ngược biển cả và bọt nước. Ví dụ
sự lớn nhỏ th́ đúng như vậy, nhưng
cư sĩ thông đạt Hoa Nghiêm Tông, sao lại chỉ
chấp nhận nhỏ vào lớn, chẳng chấp nhận
lớn vào nhỏ? Mà “lớn
và nhỏ nhập vào lẫn nhau”,
chính là một huyền trong mười huyền môn của
Hoa Nghiêm! Nêu ra bất khả thuyết bất khả thuyết
vô tận thế giới trong Hoa Tạng vào trong cơi Cực
Lạc, dẫu cho trong một hoa sen vẫn chưa đầy
một cánh sen, hoặc chỗ đất chừng bằng
hạt cải trong cánh sen. Vậy th́ toàn thân vào trong một
lỗ chân lông có trở ngại ǵ?
Thư gởi đến
lại nói: Đối với vị Tăng trong núi hoang, chỉ
dùng thượng thừa để hỏi, [người
được hỏi] tâm bèn kinh hăi, trố mắt. Cư
sĩ từng bảo “đối với người Hoa
Nghiêm hăy nên dùng Hoa Nghiêm để nói, đối với
người Tịnh Độ, hăy nên dùng Tịnh Độ
để nói”, cớ sao chẳng cho thuốc đúng bệnh
mà cứ cưỡng ép vậy?
Thư gởi đến lại nói: Lăo hủ đă xuất
thế, mở pháp đường, chẳng có bản lănh của
bậc đại nhân, mà lại thực hiện ngôn hạnh,
cử chỉ của mấy ông già bà cả ăn chay ngoài
ngơ chợ, nếu bị người lanh lợi đến
hỏi, hoặc bị người sáng mắt thúc ép,
đành phải náu ḿnh trong Bắc Đẩu ư? Hoặc
ẩn núp trong Thiết Vi ư? Lăo hủ chưa từng dám
nhận cái danh “xuất thế”, tự nhiên chẳng có bản
lănh của bậc đại nhân, đành gác lại đó
chẳng bàn;
nhưng dùng chuyện tu Tịnh Độ để biếm
nhẽ những ông già bà cả ăn chay, cổ nhân nói “chẳng
phải là chê bai những kẻ ngu phu ngu phụ đó, mà chính là bôi bác
Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ!”
Há chỉ riêng Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ,
phàm các vị Huệ Viễn, Thiện
Đạo, Thiên Thai, Vĩnh Minh, Thanh Lương, Khuê Phong,
Viên Chiếu, Chân Hiết, Hoàng Long, Từ Thọ, Trung Phong,
Thiên Như v.v… Các vị Bồ Tát, các vị thiện tri thức
đều là hạng ông già bà cả ăn chay ư? Lưu
Di Dân, Bạch Thiếu Phó (Bạch
Cư Dị), Liễu Liễu Châu (Liễu Tông Nguyên),
Văn Lộ Công (Văn Ngạn
Bác), Tô Trường Công
(Tô Đông Pha), Dương Vô Vi (Dương Kiệt, Dương Thứ
Công), Trần Oánh Trung
(Trần Quán) v.v… các vị đại quân tử
đều là hạng ông già bà cả ăn chay ư? Dẫu
họ chỉ là hạng ông già bà cả ăn chay, chỉ cần
niệm Phật văng sanh th́ liền đạt được
địa vị bất thoái chuyển, há có thể coi rẻ
được chăng? Hơn nữa, ông già bà cả
ăn chay tầm thường, kém cỏi, nhưng cẩn
thận ǵn giữ quy củ, tuy hành đúng, nhưng [bị
coi] là ngu muội cũng được đi; chứ kẻ thông
minh, biện tài, hư vọng bàn luận Bát Nhă, ăn thịt
no phè rồi đến t́m Tăng bàn chuyện Thiền, th́
là ma đấy!
Kẻ ngu quư ở chỗ
yên phận ngu, tôi xác thật đă xét ḿnh [là kẻ ngu muội],
thà làm ông già bà cả ăn chay, chẳng làm lăo ma dân, lăo ma nữ!
C̣n như bị người xưng là lanh lợi, người
sáng mắt đến hỏi han, căn vặn, ông già bà cả
ăn chay chẳng cần vượt cao lên Bắc Đẩu,
t́m kiếm Thiết Vi xa xôi, chỉ cần đặt tấm
đơn nơi yết hầu của người lanh lợi,
trải ṭa ngồi nơi tṛng mắt của người
sáng mắt. V́ lẽ nào vậy? Hăy dạy họ tạm
ngưng khẩu đầu tam-muội để hồi
quang phản chiếu. Nhưng cư sĩ đề cao Hoa
Nghiêm, tận lực công kích Tịnh Độ, lăo hủ tu
tập Tịnh Độ mà cực lực tán dương
Hoa Nghiêm; cư sĩ hăy lắng ḷng thử suy nghĩ xem, rốt
cuộc là như thế nào vậy?
Thư ông gởi đến
lại bảo: “Tôi khuyên ông cầu sanh Tịnh Độ
ví như bỏ vàng gánh gai, là hành sự điên đảo,
là chuyện khuất nhục to tát!” Nhưng thí dụ ấy
vẫn chưa thân thiết, nay tôi thay ông lập một thí
dụ: Như nông dân đến trước cửa nhà vị
đại trưởng giả giàu to đưa danh thiếp,
đ̣i ông ta đến căn nhà quê mùa của ḿnh, người
nghe đều cười ngất. Gă nông dân chẳng biết
tiến thoái, lại quét dọn ngơ hẻm, mưu tính thỉnh
lần nữa. Người cười nhạo bảo hắn:
“Trước kia, chủ nhân chẳng quở trách
ngươi là may lắm rồi, ngươi c̣n muốn làm
bà Phùng[14]
nữa ư?” Gă nông dân nói: “Tôi thấy các nhà giàu, có kẻ
giàu mà bất nhân, có kẻ ngoài giàu mà trong nghèo, có kẻ
chưa giàu mà đă kiêu căng trước, có kẻ trông
kho cho nhà người giàu mà ngỡ chính ḿnh giàu có. Hơn nữa,
Kim Cốc và Mỵ Ổ[15]
nay ở chỗ nào vậy? C̣n tôi là gă nhà quê hưởng niềm
vui thái b́nh, quên mất chính ḿnh nghèo hèn, do ḷng thương
xót mới thành ra như thế! Nay đă biết lỗi rồi!
Nay đă biết lỗi rồi!” Do vậy, cùng nhau cười
to, rời đi!
* Đáp thái sử Hoàng
Thận Hiên ở Tứ Xuyên
1) (Nguyên
thư) Ngày mồng Một tháng Tám, đệ tử Tịnh
Độ là Hoàng Huy dập đầu dâng thư lên thị
giả của Liên Tŕ ḥa thượng đại đạo
sư. Thầy là hậu thân của Viễn công (tổ Huệ
Viễn) ư? Hay là Bồ Tát từ cơi Tịnh Độ
nương sức bổn nguyện thị hiện nhiếp
hóa ư? Huy con hướng đến chuyện văng sanh
đă lâu, [thầy] như cầu bến để về
Tây, may là con được sống cùng thời [với thầy].
Hận v́ ḿnh túc nghiệp trầm trệ, ngu độn, chẳng
thể ngưỡng tiếp nguyện của A Di Đà Phật.
Những năm gần đây tín lực hơi sâu hơn, mới
biết đường tắt để tham học chỉ
có một cách này, mỗi lời nơi kim khẩu của
Như Lai đều nhắm vào đó. Chỉ v́ bị việc
quan bó buộc, chẳng thể nhanh chóng buông bỏ, sao có thể
tạm đến Vũ Lâm để dâng một nén
hương ư? Có Quư tỳ-kheo từ nơi
ấp hèn của con đến kinh
đô, nói thường được hầu dưới
pháp ṭa [của thầy], [cho biết thầy] thể lực
hết sức mạnh mẽ, sáng chiều dẫn dắt
chưa từng chán mệt, khiến cho con hết sức
vui mừng. Thầy của Quư tỳ-kheo là sư Minh Hải,
[Minh Hải] chính là cha ruột của ông ta, có đúc một
bức tượng Bạch Y Đại Sĩ, nói muốn
rước về ấp của con. Huy bèn nói: “Tịnh cảnh
Vân Thê chính là Di Lặc nội viện, c̣n chỗ nào thù thắng
hơn? Chỉ cần phát tâm rước về đó, khiến
cho đại chúng đảnh lễ, sẽ ngay lập tức
phóng vô lượng ánh sáng báu, tiếp dẫn Hải công (thầy
Minh Hải) ắt được văng sanh”. Quư tỳ-kheo
liền vui vẻ, giúp sức cho thầy nhanh chóng hoàn thành ư
nguyện. Con liền thừa dịp này, viết một bức
thư giăi bày những nỗi niềm ấp ủ dâng lên thầy
con:
Đệ tử đối
với con đường làm quan hết sức lănh đạm,
chỉ v́ đất Thục trọn chẳng có thầy bạn,
những người giao du quen biết tại kinh đô phần
nhiều hơn hẳn con. Họ thường cảnh tỉnh,
khơi gợi con, [khiến cho con] hằng ngày có sự giảm
thiểu [phiền trược], thêm phần tỉnh ngộ,
vẫn tạm đeo ấn, thắt đai, nhưng thật
ra khác nào tạm ngụ! Năm trước vợ con đă
mất, con chẳng tục huyền nữa, có một đứa
con th́ nó đă sanh được một cháu, giữ họ
trong nhà để phụng dưỡng cha con. Nay con
đơn thân phiêu bạt nơi đây, sống rày đây
mai đó, giống như ở nơi am, viện. Tuy trần
lao vướng vít bộn bề, chẳng dám tạm quên một
đại sự nhân duyên này.
Con vẫn nhớ mùa
Thu năm Kỷ Sửu, mộng thấy ḿnh lên một ṭa
tháp báu, người bạn cùng tuổi là Tiêu Nhược Hầu
tay cầm một quyển sách, đưa cho con xem. Đó
chính là bản Giới Sát Phóng Sanh Văn của thầy con.
Trong mộng, con xin và được tặng cho. Kể từ
ngày hôm ấy bèn thôi sát sanh. Hễ thấy sanh vật, bèn
chuộc lấy đem thả; hoặc nếu thừa sức
hơn, sẽ mua ngay các con vật đem thả. Lại c̣n
khắc in lại bài văn ấy nơi quê nhà để
thí tặng cho mọi người. Do chuyện này, duyên của
con với thầy chẳng cạn mỏng, nhưng con
chưa được gặp thầy. Ông Đào Châu Vọng
bằng tuổi con, cũng cùng phát tâm với Huy, nghe nói gần
đây càng thêm tinh tấn. Tuy chưa tham cứu thấu triệt
ngay, nhưng căn khí của ông ta chắc chắn có thể
đạt được thượng phẩm văng sanh.
Đệ tử vẫn do vậy, hễ nhắc tới
đều hổ thẹn. Nguyện thầy con rủ ḷng
tiếp dẫn, phàm tuyên đọc sớ văn đảnh
lễ sáng tối, mong được kèm thêm tên Hoàng Huy, hoặc
xưng là Huyễn Như, tức pháp danh con tự đặt.
Lại mong đối trước Vô Lượng Thọ
Như Lai, và hai vị đại sĩ Quán Âm, Thế Chí, v́
đệ tử chứng biết tín tâm này, do được
ḥa thượng từ bi chúc nguyện, từ quang sẽ
gia bị, sẽ vĩnh viễn đoạn phiền năo si
mê, sẽ làm chúng sanh đại tâm (Bồ Tát) chẳng thoái
chuyển đến cùng tột đời vị lai, làm quyến
thuộc Tịnh Độ. Đệ tử dẫu chẳng
thể chính tai nghe, vẫn có thể dùng tâm để nghe.
Cha con Hải công
nơi cái ấp hèn của con cũng hiếm có, mong thầy
hăy v́ tỳ-kheo Quư mà dắt d́u, chỉ dạy. Huy đă nói
với thầy ấy “cho đến hết thọ mạng,
đừng rời khỏi Vân Thê”. Nhưng do Hải công
đă tạo một bộ Đại Tạng pháp bảo,
bổn ư là muốn đưa về tặng cho vùng con, thầy
ấy muốn hoàn tất việc ấy rồi mới ở
yên nơi Vân Thê. Con muốn gởi một phần
lương bổng đạm bạc để làm một
bữa cơm chay, nhưng Quư tỳ-kheo trơ trọi, bất
tiện, đành đợi thư sau sẽ gởi. Người
Hàng Châu lên miền Bắc liên tục, xin thầy hăy tùy thời
ban pháp ngữ, ḥng trưởng dưỡng mầm tín.
Đối với những điều khác th́ thầy hăy v́
Phật, v́ pháp, v́ chúng sanh mà tự bảo trọng [thân thể].
Đệ tử Hoàng Huy dập đầu ḥa-nam.
Ngày
mồng Một tháng Giêng, đệ tử Hoàng Huy dập
đầu ḥa-nam. Con vừa nhận được mấy
loại trước tác của thầy, và từ chỗ
người bạn thấy Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ,
nêu tỏ nghĩa lư ẩn tàng của Chân Như, giống
như đích thân nhận lănh âm thanh giáo huấn của thầy.
Trong mười hai thời, đệ tử chẳng dám
không cố gắng, đề bên cạnh chỗ ngồi: “Tâm
tịnh th́ cơi Phật tịnh. Chẳng tịnh th́ thân khẩu
ư tam nghiệp và tấc ḷng đều là uế
ác, do đâu mà văng sanh? Chưa hề có chuyện ĺa tâm mà
giữ lấy Tịnh Độ được!” Tham
Thiền đă chưa được thấu triệt, nếu
chẳng thường xuyên giác chiếu, thống thiết một đao chặt đứt đôi,
sẽ do đâu mà thanh tịnh tam nghiệp? Đấy là
công phu thường nhật, chẳng biết bậc tông
tượng sâu thẳm nghĩ như thế nào? Trong lúc thuận
tiện, con đă cho người khắc mới một bộ
kinh Tư Ích dâng lên thầy xem. Đệ tử rất muốn
thọ đại giới, nhưng chưa thể, chính là
như câu nói “người biết pháp sẽ sợ hăi”.
Ngô Bổn Như nói thầy mạnh khỏe, [tin tức ấy]
an ủi tấm ḷng tưởng nhớ của kẻ
phương xa. Lại cúi lạy, mong thầy v́ pháp, v́ chúng
sanh, mà tự giữ ǵn thân thể.
(Tổ
trả lời) Qua thư gởi tới, biết ông v́
đạo thật sự khẩn thiết, tháng ngày vun bồi, tăng tấn,
tôi mừng rỡ, cảm thấy an ủi lắm. Lại
thấy mấy câu ông ghi bên chỗ ngồi, càng là cảnh tỉnh
thiết tha. Nguyện ông hăy thường vận dụng
cái tâm như thế, đă tịnh lại tịnh hơn, tịnh
hóa sáng suốt đến cùng tột, sẽ thông đạt
tự tánh, chẳng cầu Di Đà mà tự đạt
được, c̣n lo chi tham cứu chẳng thấu triệt!
Tôi đă nhận được kinh Tư Ích do ông gởi tới.
Kinh Di Đà viết bằng chữ vàng gởi tới
trước đó cũng đă nhận được, bèn
viết qua loa để phúc đáp. Những chuyện vụn
vặt khác chẳng nói tới.
Lại nữa, trước
kia, ông Từ từ kinh đô tới đây, có gởi tặng
hai chiếc quạt, có đề một chương Hoài Tịnh
Độ Thi
(thơ mong tưởng Tịnh Độ)
do ông soạn, tôi đă nhận được rồi. Vừa
rồi, ông Xuân Nguyên Tạ Thanh Liên có thuật lại ư thắc
mắc của ông đối với mấy câu tiếp theo
câu “chuyên tŕ danh hiệu” trong kinh A Di Đà, tôi có trả
lời với Thanh Liên, chẳng biết đă chuyển
đạt cho ông hay chưa? Bản kinh tạng này do ngài La
Thập dịch đầu tiên, ngài Huyền Trang dịch lại
một lần nữa, cũng như trong Hải Đông Sớ
đều không có những câu ấy, chớ nên nghi! Ngoài ra,
tôi gởi kèm hai bản Thiền Quan Sách Tấn và Trúc Song vừa
mới khắc để ông xem. Thư chẳng nói hết
ư được!
2) (Nguyên
thư) Ngày Hai Mươi Lăm tháng Giêng, đệ tử
Hoàng Huy dập đầu ḥa-nam kính hầu thầy con là
Liên Tŕ đại ḥa thượng. Trước đây, con
được thầy gởi cho các loại pháp thí đă
khắc in
gần đây, trộm thấy thầy
phước huệ nhị nghiêm, tinh tấn vô lượng.
Chuyện thầy sảy chân té vào nồi nước nóng,
chắc là báo nặng [chuyển thành] thọ nhẹ, hoặc
là thầy thị hiện sự răn nhắc từ
hư không đó chăng? Từ chuyện này, thầy con
đạt được chẳng ít. Sách Thiền Quan Sách
Tấn càng khiến người khác phát tâm mạnh mẽ.
Đệ tử thường ôm ư niệm ấy, nào ngờ
thầy biết trước mà ban cho con được
đọc tụng. [Nhận được sách], con hớn
hở chẳng thể kiềm chế được.
Đào Châu Vọng bằng tuổi con, thân thiết như
anh em, nay lại trở thành bạn đáng kính trong pháp môn,
cách biệt mấy năm, một mai gặp gỡ, dốc
cạn tấm ḷng, lại được nghe những ngôn
luận răn nhắc, cổ vũ,
hoan hỷ khôn xiết. Điều bất đồng là ông
ta ngầm gần hóa thành, đích thân được thọ
tŕ Bồ Tát đại giới nơi chỗ có của báu,
c̣n đệ tử bị một chức quan ràng buộc,
chẳng thể chắp cánh tạm thời t́m đến.
Con trang trọng đọc
tụng tác phẩm Phát Ẩn do thầy biên soạn, thầy
quả thật là công thần của Trí Giả đại sư.
Hiện thời, cách thánh đă xa, căn cơ chúng sanh nông
cạn, chẳng c̣n biết Mộc Xoa (giới luật) là
vật ǵ? Khi đức Phật nhập diệt, cố
nhiên Ngài đă sắc truyền đệ tử
nương vào giới để trụ, huống hồ
[t́nh đời] thời Mạt Pháp bạc bẽo, dối
trá, tập khí ác nghiệp sâu dầy, phước mỏng
như cánh ve, tội cao dường Tu Di ư? Con trộm
cho rằng: Phật, Bồ Tát chẳng bỏ chúng sanh, thị
hiện phương thuốc đối ứng đúng bệnh.
Hiện thời, không ǵ cấp thiết bằng giới luật
được! Thầy con nương nguyện lực mà
đến, dùng Tịnh Độ để nhiếp trọn
các căn, dùng Thiền pháp để sách tấn, dùng giới
luật để ngăn ngừa vi phạm, có thể nói
là từ bi vô lượng, rộng lớn đều trọn.
Đệ tử đă thọ ngũ giới của cư
sĩ trong ngày Rằm tháng Giêng năm hai mươi tám, nay lại
muốn thọ tŕ Bồ Tát đại giới, nhưng khổ
v́ cách xa thầy, muốn được bẩm thừa từ
xa, chẳng biết có được hay không?
Đối trước
kinh tượng thọ giới, tuy có kinh văn rơ ràng,
nhưng khó cầu tướng hảo, sợ rằng kẻ
hèn mọn, kém cỏi
[như con] sẽ chẳng thể đạt được!
Thầy con tuy ở ngoài ngàn dặm, nhưng một niệm
tịnh tín, Lạc bang chỉ trong một thước. Do vậy,
con đặc biệt thỉnh cầu, ngưỡng mong ḥa
thượng quyết đoán. Nếu thầy đoái
thương ḷng thành ân cần, rộng ḷng thương xót,
chấp thuận cho con thọ tŕ Bồ Tát đại giới,
nguyện thầy sớm ban lời khẳng định
để đệ tử vội dâng sớ thượng
tấu. Vào dịp được thầy chấp thuận
cho phép dâng sớ, đệ tử sẽ lễ ḥa thượng
từ xa, sẽ kính cẩn suốt đời phụng tŕ.
Nếu thầy nói giới bổn không có kinh văn rơ rệt,
khó thể dễ dăi chấp thuận, đệ tử sẽ
thống thiết sám hối túc chướng lẫn tội
khiên trong hiện thời, sẽ đợi thời tiết
nhân duyên, tuy chẳng dám thọ ngay, cũng nguyện vâng
theo [giới bổn để] hành tŕ, cốt sao trọn hết
tấm ḷng này. Nay con có mười lượng tiền
lương tính dùng để dâng một bữa cơm chay
cho A-xà-lê và đại chúng dưới ṭa, kính mong thầy
đại từ xét soi, thâu nhận. Viết thư này,
đệ tử không có cách nào diễn đạt tấm
ḷng quy y khẩn thiết cùng cực. Đệ tử Hoàng
Huy dập đầu ḥa-nam.
A Di Đà Kinh Sớ Sao do cố
cư sĩ Tŕnh Khang Bá phát nguyện khắc in và Giới Sớ Phát Ẩn
đồng thời được
khắc in hoàn tất, Khang Bá bèn qua đời. Khi ông ta mới
khắc, đệ tử thật sự cực lực
khuyên lơn ông ta, mong mỏi những sách ấy sẽ
được lưu thông tại kinh đô. Nay có người
muốn mang những bản ấy về phương Nam,
nói là ư muốn của Khang Bá. Chẳng biết khi Khang Bá lâm
chung [đă quyết định như thế nào], cho nên con
nói các bản khắc ấy nên để cùng chỗ với
tượng Phật. V́ ông ta đă từng quyên mộ
đúc tượng Phật giống như tượng
Chiên Đàn. Thoạt đầu, ông ta muốn rước
tượng ấy về phương Nam, nay đă giữ
tại chùa Từ Huệ, tức là chỗ đúc tượng
ban đầu. Ván khắc cũng giữ tại nơi
đó hay không, c̣n chưa quyết định. Nếu chẳng
lưu lại
nơi đây, con tính sẽ khắc lại bản mới,
cũng chẳng khó. Đối với sách Phát Ẩn, con
nghe nói thầy lại có bản tu đính mới, con sẽ
[khắc in] dựa theo bản đă hoàn thành.
Đệ tử một
niềm hộ pháp chí thành, chẳng dám không chân thành. Trước
kia, được thầy phó chúc con phải trở thành cột
trụ trong pháp môn;
do vậy, con tự nhắc
đi nhắc lại điều này. Trong quá khứ, con
chuyên tâm nơi Tịnh Độ, mong nhất tướng
thâm nhập. Mùa Xuân năm trước, con mới tham cứu
thoại đầu. Tuy nhiều lượt khai giải, rốt
cuộc là ư thức chuyển đổi, chẳng phải
là thẳng thừng gánh vác! Nhưng đệ tử
cũng trọn chẳng
dám thoái khuất chút nào, chụm đầu cùng Thạch Quỹ
[để tham cứu thảo luận], mang lại lợi
ích chẳng ít. Nhưng trần lao vô cùng, thân lẫn danh phiền
lụy, ắt là do cái nhân đời trước tạp loạn,
nghiệp chướng sâu dày đấy chăng? Tuy biết
chẳng chọn lựa tĩnh hay ồn, chỗ nào
cũng đều có thể dụng công được, rốt
cuộc công phu gián đoạn, chẳng thể thuần nhất.
Chính v́ vậy mà con hổ thẹn, sám hối. Do vậy, một
niệm tŕ giới càng cảm thấy khẩn thiết, sâu
nặng. Thầy dùng cách nào để khơi mở cho con,
khiến con mau thoát khỏi đường mê?
Đối với chuyện
tu hành của con ở nơi đây, cư sĩ Cát Kỷ
Chiêm sẽ có thể nói rơ. Ông Cát tin tưởng, hướng
về [Phật pháp], đúng là khó có! Trở về lần
này, ông ta sẽ lại lănh nhận những lợi ích mới
mẻ, có thể nói là “duyên thù thắng
trong nhiều đời”, đệ tử hết
sức hâm mộ, nhưng chẳng thể theo cùng. Nhưng
muốn được bẩm thọ, há chỉ do tai miệng
nơi h́nh mạo ư? Mùa Thu trước, có con nhện
nghe danh hiệu Phật mà đứng mất, cũng là chuyện
hết sức lạ! Con đă v́ nó dựng một ngôi tháp
nhỏ, viết bài văn ghi lại. Sau khi khắc in xong,
con sẽ gởi trong thư sau. Phạm Tử Kiều rời
khỏi kinh đô, từng tự tay chép một quyển Giới
Sát Phóng Sanh Văn, nhưng ông ta bị kẻ tùy tùng trộm
mất tài vật, vứt quyển sách tại Long Tưu thuộc
Vũ Đương. Rốt cuộc được rùa thần
dẫn đường, t́m lại được, quyển
sách trọn chẳng bị thấm ướt, ai cũng lấy
làm lạ. Tử Kiều trở về đất Hàng, chắc
có nhân duyên đảnh lễ, nhất định sẽ tự
kể tường tận chuyện này. Đấy đều
là do sức từ thiện của thầy con gia bị, há
dám quên đại ân, nhưng chẳng biết báo đền
[bằng cách nào]? V́ pháp, v́ chúng sanh, mong thầy cẩn trọng
giữ ǵn thân thể. Ngày Hai Mươi Lăm tháng Giêng,
đệ tử Hoàng Huy lại dập đầu ḥa-nam.
(Tổ
hồi đáp) Nguyện thọ Bồ Tát đại giới
từ xa, ư ấy hết sức chánh đáng, không có ǵ chẳng
thể được! Dẫu chẳng đạt
được tướng hảo, cũng chẳng có hại,
cái khó là [giữ vững lâu dài] cái tâm tốt lành. Thời Mạt,
hảo tướng khó đạt được, có tâm mong
chấp tướng, mong cầu ắt phải đạt
được, đâm ra sẽ phát sanh ma sự. Chỉ ǵn
giữ cái tâm tốt đẹp, đừng sanh ḷng ngờ
vực, bất luận lấy ngày Rằm tháng nào để
làm ngày thọ giới cũng được. Ông lại nói
trần lao tạp loạn, hăy tùy duyên vừa ứng phó, vừa
ǵn giữ. Cư sĩ thiện căn sâu dày, sẽ có ngày
được thỏa ư lớn lao, đừng lo sầu!
* Thư gởi các vị
cư sĩ Thái Sử Hoàng Thận Hiên và Chủ Chánh[16]
Vương Mặc Tŕ
Do
ông Dương Chí ở Hàng Châu sẽ được tập
ấm chức Hữu Vệ[17],
vào kinh nhận chức,
tôi gởi kèm một phong thư. Phụ thân quá cố của
ông Chí là Quư Châu Đô Khổn[18]
Dương Quốc Trụ. Ông ta tuy là dân vơ biền,
nhưng hạnh vượt trội các vị sĩ phu quân
tử, thanh liêm, nhân từ, rộng răi, người cùng thời
khó bằng được! Ông ta trung nghĩa, khảng khái,
vốn là phẩm cách mà tôi mong mỏi. V́ thế, kẻ chẳng
ra ǵ này giao du với ông ta rất lâu, càng đặc biệt
kính trọng sâu xa. Trước kia, ông qua đời trong chiến
dịch thảo phạt Dương Ứng Long[19],
kẻ chẳng ra ǵ này đau thương khôn nguôi, nhưng
lại nghe báo tin: “Ông ta bị bắt”. Nếu chẳng phải
trời diệt bọn di địch xấu ác, quét sạch
sào huyệt của chúng, Quốc Trụ c̣n hay mất chẳng
xác quyết được, ông ta phải mang nỗi oan khuất
đến ngày nào mới gột rửa được? Nay
th́ tung tích đă rơ ràng, công luận đă định, chỉ
sợ c̣n có người chưa biết tường tận,
tôi chẳng tiếc công nói cặn kẽ một phen. Ngoài
ra, tôi gởi kèm một số sách được khắc
in trong núi, chẳng nói trọn hết được!
* Đính kèm thư trả
lời của Hoàng Thái Sử (tức Hoàng Thận
Hiên)
Dương
sanh cầm thư tới, con tiếp nhận lời dạy [của thầy]
như [đích
thân] gặp mặt. Con côi của bậc
trung thần phải nên được ưu đăi, bổ
dụng, người phụ trách việc ấy đă lập
riêng một mục rồi. C̣n đối với mấy câu
[trong kinh Di Đà, được ghi là chép theo] bản
Tương Dương, tra cứu bản dịch của
ngài Huyền Trang và Hải Đông Sớ đều không có,
con mới tin lời thầy nói trước đó chẳng
phải là qua loa, rất hổ thẹn trước kia
đă nói năng sai lầm. Sớ Sao khắc đă sắp xong, từ
nay lưu thông, trọn pháp giới đều thành hoa sen
xanh, há chẳng là chuyện hết sức thỏa ư ư?
Đối với
Đông Triều (Đông cung), con đă có lời tâu xin ĺa chức,
do đại điển sẽ hoàn thành trong sáng tối, con
sẽ có thể dâng sớ xin về an dưỡng,
nhưng sẽ cách biệt thầy càng xa, chẳng thể
luôn được nghe dạy, chỉ có tấm ḷng này tới
lui quanh quẩn bên thầy mà thôi! Cha già của con giữ Thập
Trai
đă lâu, gần đây nghe nói cụ đă thôi ăn mặn
hai tháng. Nếu cụ ăn chay trường được,
đều là do bị cảm động bởi lời
khuyên bảo, cảm kích, bội phục khôn nguôi! Người
làng nói: “Gă đồ tể mua một con lợn từ chợ.
Ngày hôm sau chuẩn bị giết nó, lợn quỳ trước
kẻ đó xin tha mạng, lệ tuôn như mưa. Nhân
đó, nó chạy núp trong đáy kho, đánh cách mấy
cũng không chui ra! Cha già nghe chuyện, bèn vội đem tiền
chuộc lấy, lợn bèn tự chui ra, theo gă hầu trở
về, ai nấy đều than lạ! Nguyên nhân ăn chay
là như thế đó, cũng lạ lùng thay! Thư nhà
chưa gởi đến, nhưng người làng chẳng
phải là kẻ nói dối. Cha già bẩm tánh nhân từ, do
được chuyện này giúp phát khởi, cũng chẳng
phải là ngẫu nhiên! Nếu thuận tiện, trong
thư thầy ban cho con một, hai câu pháp ngữ để
Huy được đem về chúc thọ cho cha, c̣n có vật
nào trên đời sánh
bằng được nữa? Về thẳng
nhà, con
hết sức mệt mỏi,
Dương sanh hối thúc thư trả lời cấp
bách, con vội viết
qua quít, tâm t́nh bối rối, chẳng thể nêu trọn
được một phần ngàn. Ngày Hai Mươi Bảy
tháng Chín, đệ tử Hoàng Huy dập đầu ḥa-nam.
* Thư đáp quan Thái
Sử Quảng Thược[20]
Ngô Quán Ngă ở Đồng Thành
(Nguyên
thư) Cuối năm, từ chỗ xá điệt[21]
là Dụng Tiên, ḍ t́m biết được bậc “cây thuốc
của trời người”, trải qua sương gió càng
tươi tốt, là vầng mặt trời trí huệ
trong đường tối, con chần chừ đôi
lượt, cung kính chắp tay, v́ trọn khắp chúng sanh,
than là chưa từng có. Trong pḥng bệnh, con nhận
được pháp thí của ḥa thượng, lọt vào
tai, huân tập cái tâm, khác nào được thấm nhuần
chín dặm[22],
hận Quảng Thược dưới da chẳng có máu (ư
nói: Học lực nông cạn), chẳng thể từ ngoài
ngàn dặm mà tận mặt thọ lănh giáo huấn. Qua tác
phẩm Hoàng Minh Hộ Pháp Lục, con kính thấy thầy
tâm từ bi nhiếp thọ sâu xa, b́nh đẳng trọn
khắp, mà ba thiên chú giải của Dương Tông Bá lại
có thể nêu cao bờ bến đạo, có thể soi sáng
cho bọn nho sĩ mù tối, có thể nói là “đối
trị đúng bệnh, cứu văn thói tệ
đương thời trong thuở Mạt Pháp”. Quảng
Thược chẳng nài ngu muội, thô lậu, gọt
giũa văn tự trong phần chú giải, cho khắc in,
khiến cho kẻ Nhất Xiển Đề trong cơi này
hơi biết hổ thẹn, may ra cũng coi như là một
giọt trong biển pháp của đại sư. Nay do cậu
của con là Quảng Ngụ đến thăm viếng thầy,
con viết bốn lá thư kính vấn an thầy, ngoài ra c̣n
có tịnh tài để phóng sanh. Chắc là đại
sư đă chứng Đệ Bát Địa, trong lúc vô công
dụng, tạo chút tùy hỷ, muôn phần mong ḥa thượng
nhận lấy vật cúng của trẻ thơ, ngơ hầu
con được nhẹ bớt tội khiên trong mai sau. Quảng
Thược chẳng thể biểu đạt nỗi niềm
ngưỡng vọng, quyến luyến, xót xa, kính ngưỡng
cùng cực.
(Tổ trả lời)
Ngày mồng Mười tháng Giêng, tôi bị ói dữ dội,
gần như suy sụp. Mấy hôm sau, ban đêm thức dậy
lại
bị trượt chân, tới nay vẫn
phải vịn tường mà đi. Tinh thần mệt mỏi,
sức lực suy sụp, đầu váng, mắt ḷa, mặt
trời đă xế núi, chắc chẳng bao lâu sẽ chết.
Tôi đă nhận được phóng sanh từ
phương xa gởi đến, cám ơn lắm. Bản
chú giải Hộ Pháp Lục của Dương Tông Bá
đúng như ông đă luận định trong thư gởi
đến, có công dụng to lớn trong thời Mạt
Pháp, nhưng lời bạt tóm gọn chỉ thú của ba
thiên sách dung thông, xuyên suốt, lại càng sâu mầu. Lại
nghe chuyện tậu ruộng để làm chi phí phóng sanh,
tôi vốn có mười lạng tính làm phước sự,
ngẫu nhiên gặp duyên lành này, kính trao cho Kính Ngô dâng lên ông.
Thêm nữa, Kính Ngô
đến nói ông nghĩ rằng giới do chính ḿnh đă
thọ có thể thiếu khuyết nên sám hối. Thời cổ
đă có “thừa, giới,
hoăn, cấp” bốn
thứ liệu giản, “thừa
cấp giới hoăn”
hơn hẳn “giới
cấp thừa hoăn”.
Tôi trộm lấy làm lạ mắt của ông không thể
xem đọc, sao có thể viết văn? Không chỉ là kiến
thức trác tuyệt, mà c̣n thông hiểu sách vở rộng
khắp, cao tột, cổ phác, sâu thẳm, tợ hồ tay
chẳng ngừng lật xem các trước tác của bách
gia, người khác chẳng thể sánh bằng được!
Mong ông có thể xoay sự linh minh giác chiếu hơn
người ấy để chiếu liễu tự tâm, ắt
sẽ có ngộ nhập, tức là đại thông minh trong
hiện thời sẽ chuyển thành chân trí huệ, c̣n lo
chi giới bị thiếu khuyết nữa?
2)
(Nguyên thư) Quảng Thược mỗi lần từ
xá điệt hỏi thăm, biết thầy phước
vận tốt đẹp, mọi sự hanh thông, pháp nhuần
thấm rộng khắp, con v́ chúng sanh chắp tay hớn hở,
than là chưa từng có. Quảng Thược chưa chết,
tấm ḷng son vẫn chưa thể dùng để răn
đe, uốn nắn thói tật của chính ḿnh, ngược
ngạo dùng chó rơm, lôi kéo dây leo[23],
gánh tội khá dày! Ḥa thượng chẳng quở trách
nghiêm ngặt, lại c̣n khen ngợi quá mức. Đại khái là mẹ hiền nuôi nấng
con thơ, vừa nghe con ọ ẹ liền vỗ về;
Quảng Thược há dám tham cầu thầy dắt d́u,
khích lệ, hư vọng tự nghĩ chính ḿnh có ǵ xứng
đáng ư? Chỉ v́ thư thầy c̣n có chỗ chưa
chấp thuận hoàn toàn, khiến cho con như người
khát mong mỏi cam lộ, lại chẳng khác nào thấy mỗi
ngày như cả năm vậy! Nay em con là Ưng Sủng
được đảnh lễ, yết kiến dưới
pháp ṭa, con kính gởi kèm một lá thư ngắn để
được hướng dẫn về cách hầu hạ
thầy của người đệ tử, lại thỉnh
cầu thầy khai thị về phần Thanh Tịnh Minh Hối
(giáo huấn rơ ràng thanh tịnh), ngơ hầu trong đêm dài
sanh tử vị lai, vĩnh viễn vâng giữ trí quang,
đúng là chuyện chẳng nghĩ bàn trong bao kiếp lâu
xa. Nhờ mảnh giấy biểu đạt ḷng thành tha
thiết, năm vóc gieo sát đất.
(Tổ
trả lời) Thư ông gởi đến nói muốn
thấu hiểu triệt để chuyện chưa cùng tận,
nhưng [nội dung] những
sách vở [do ông] đă trước tác trước đó đă trọn đủ
rộng lớn, cũng chẳng có ǵ không cùng tận. Điều
chưa cùng tận không ở trong các sách ấy, mà ở
nơi nhất tâm. Quả thật là do biện tài [cuồn
cuộn] như sông treo, ngôn từ ngập trời, không ǵ
chẳng lưu xuất từ chân tâm mầu nhiệm sáng suốt
vậy. Kim Cang Sao Thanh Long mênh mông, bát ngát mấy vạn chữ,
nhưng rốt cuộc [ngài Đức Sơn Tuyên Giám]
đắc ngộ chính là khoảnh khắc ngài Long Đàm thổi
tắt một ngọn đèn. V́ thế nói: “Điều
chưa cùng tận là ở nơi nhất tâm”. Hiểu rốt
ráo cái tâm này, sẽ chẳng có ǵ không thấu hiểu rốt
ráo. Nếu chẳng tương ứng, hăy nhất tâm niệm
Phật, hết sức trọng yếu, hết sức quan
trọng đấy nhé!
3) Thư ông gởi
đến, có nói: “Dè dặt thận trọng v́ chưa thể
liễu ngộ đại sự này”. Đấy là ông lo
lắng, hay hết sức lo lắng? Đó chính là cái
như người đời thường nói “chuyện chẳng
đáng lo” vậy! Điều ấy chính là chánh nhân để
nhập đạo, xin hăy nhất tâm tham cứu cái vốn
cần phải tham mà thôi! Ngoài ra, các vị nổi tiếng
được kể trong Phù Sơn Sách[24]
đều ca ngợi, truyền thuật những lời
nói khi xem đánh cờ quân cờ đen trắng, [coi đó] là
những lời đàm luận thượng diệu. Những
lời lẽ ấy tuy được truyền tụng
ngàn đời, nhưng chỗ sâu thẳm của cụ Viễn
(thiền sư Pháp Viễn) không ở tại đó. Những
lời lẽ ấy kẻ thông minh trong hiện thời
cũng có thể nói, c̣n những điều vụn vặt
chẳng cần phải
đào khoét để mong thấu hiểu, chỉ cần thực
hành công phu an lạc của cụ Viễn mà thôi! Có công phu
như thế th́ mới có chứng ngộ như thế. Cổ
đức nói: “Chỉ sầu chẳng thành Phật, chẳng
sầu Phật không giải ngộ”. Lời ấy chí lư
thay! Mong ông hăy lưu ư!
4) Giới tại gia có
thiếu khuyết, xen tạp, cũng chẳng đáng trách.
Hăy nên biết “giới
hoăn thừa cấp”,
từ xưa đă có luận định rơ ràng. Chỉ mong
trong mười hai thời, mỗi khắc đều tham
cứu chuyện này, đoạn hết các duyên, chế tâm
một chỗ, ắt sẽ có lúc thấu triệt vậy!
4)
Chẳng có nghiệp mà bệnh, bệnh thuộc về nghiệp
trước, đời này phải đền trả nghiệp
ấy, cũng như đền trả nghiệp trong nhiều
đời, thường gọi là “báo nặng, thọ nhẹ”.
Phải nên sanh ḷng hoan hỷ, chớ phiền năo. Chuyện
đời do bệnh tật mà bỏ phế; do phế chuyện
đời mà được dịp tu đạo nghiệp;
đó lại gọi là “do họa mà được
phước”. Cũng phải nên sanh ḷng hoan hỷ, chớ
phiền năo. Chỉ nên buông xuống muôn duyên, nhất tâm nội
chiếu.
* Thư đáp
Phương Bá[25]
Ngô Bổn Như
(Nguyên thư)
Mùa Đông năm Quư Sửu, con mới rời
khỏi Vũ Lâm, vẫn mong sau khi lên kinh đô chầu vua
xong, c̣n có thể đến hầu dưới pháp ṭa. Chẳng
ngờ con bất xứng mà được vua sai làm tuần
phủ đất Thục (Tứ Xuyên). Lúc đó, con đă
dâng sớ xin về hưu, nhưng chẳng được
toại ư. Do đất Thục có người Quả Di[26]
phản loạn, thánh chỉ nghiêm ngặt đốc thúc,
con đi suốt ngày đêm đến chỗ trấn nhậm.
Chiến sự dồn dập suốt cả năm mới
thắng được quân địch. Gần đây, do
gă đầu sỏ đă bị chém đầu, những kẻ
hùa theo hắn được đối xử khoan dung, chẳng
bị giết sạch, địa phương đă
được an ổn; đấy cũng đều là do
sức gia bị của Tam Bảo. Chờ cho đến
sau khi cuốn giáp, cho lính nghỉ ngơi, con sẽ lại
dâng sớ xin hồi hưu, ḥng thỏa nguyện riêng. Con sẽ
chống gậy trúc đến thăm hỏi dưới
ṭa sen.
Gần đây, thầy hành đạo
chắc là càng thanh tịnh, an hảo, chỉ mong thầy
thường trụ tại thế, vĩnh viễn làm tṛng
mắt cho trời, người. Xa xôi vạn dặm, khôn
ngăn tưởng nhớ, kính thảo một bức
thư ngắn [để bày tỏ] nỗi hoảng sợ
trong tâm. Ngoài ra, con sắp sẵn một khúc vải tử
hoa, một đôi vớ dùng cho mùa hè, tạm để biểu
đạt ḷng nghĩ nhớ từ xa, mong thầy xét soi
[ḷng con tưởng nhớ thầy] bất tận. Đứa
con nhỏ của con là Đại Thành cậy con dâng lời
đảnh lễ
mong làm đệ tử, cầu thầy ban
cho nó pháp danh, tột bậc khẩn thiết xin thầy chỉ
dạy. Những lời trên đây kính bạch dưới
pháp ṭa của Liên Tŕ đại sư, ngày Mười Một
tháng Giêng, đệ tử Ngô Dụng Tiên ḥa-nam.
(Tổ
trả lời) Ân trạch của ông suốt mấy
năm đă trọn khắp cả tăng lẫn tục.
Do vậy, sau khi ông rời đi, [mọi người] vẫn
thường nghĩ nhớ. Hơn nữa, lệnh lang khí
độ khoát đạt, chẳng phải là hạng tầm
thường, càng phải nên dạy cháu nó uẩn tàng sự
cao minh, thâu liễm sâu xa, dưỡng thành ḷng nhân từ, nhẫn
nại, nhưng cương quyết, rộng răi th́ sự
thành tựu trong mai sau sẽ chẳng thể lường
được!
* Thư trả lời
hiếu liêm Bao Tâm Huyền ở Gia Hưng
(Nguyên
thư) Mỗi ngày đọc lại lá thư của thầy
con, thầy dùng chuyện đốt thuyền để dạy
bảo, bi và trí cùng hành, thật sự là đại pháp thí,
dám chẳng bội phục ư? Con chỉ nghĩ tới
bậc tiền bối như thiền sư Vĩnh Minh, khi
lấy tiền đem mua con vật để phóng sanh, há chẳng
biết phép vua ư? Cho đến khi sắp bị hành
h́nh, Ngài vẫn cười nói, há chẳng biết thế
pháp ư? Chém sạch hết thảy dây leo, bèn đạt
được Tông Kính treo cao, cho tới nay vẫn chiếu
soi, thâu nhiếp bên trong [Phật pháp]. Đối với hai
chữ “sanh tử”, đệ tử h́nh như đă khám
phá rơ ràng, huống hồ đối với lợi, suy, chê,
khen ư? Bởi lẽ, chúng sanh đang say sưa trong giấc
mộng, nếu
chẳng kiệt lực lay tỉnh, họ
há chịu quay đầu?
Như đối với
chuyện phóng sanh, cứu được một mạng
cũng chỉ nhằm trọn vẹn một niệm từ
bi, nhưng kẻ đánh cá quăng lưới kiếm lợi,
chẳng biết nghiệp báo, thầy con nói họ đọa
địa ngục hay chẳng đọa địa ngục?
[So với chuyện] cứu bạt họ trong đường
ác, sao không dùng phương tiện thiện xảo ép buộc
họ để cứu bạt khi họ c̣n đang làm
người vậy? Đốt một chiếc thuyền
là thật, vốn chỉ v́ một kẻ trông vườn
nhỏ nhoi. Hơn nữa, chiếc thuyền ấy hư
nát khôn kham, cho nên mượn chuyện này để khiến
cho người khác thấy nghe mà kinh sợ, chẳng ngờ
mọi người truyền tụng, truyền tới tai thầy.
Thầy nói “có ḷng bi, chẳng thể không có trí”, đệ
tử cho rằng “có trí th́ phải là có cái trí giống
như ngu”. Chẳng có trí, sẽ chẳng thể
vận dụng bi; chẳng ngu, sẽ chẳng thể
thành trí. Như mọi người sợ thị phi, chỉ
quản chính ḿnh, rốt cuộc cái tâm độ chúng sanh
chưa khẩn thiết, chưa rộng lớn. Ư thầy
nghĩ thế nào?
(Tổ
trả lời) Đọc thư ông gởi đến,
biết ông có đại tâm nguyện và sức mạnh to lớn
của Bồ Tát, đáng kính, đáng hâm mộ. Nhưng
người được gọi là Bồ Tát chẳng câu
nệ thường pháp, chỉ cốt sao lợi sanh;
cũng chưa từng chẳng xem xét cơ nghi, châm chước
thời thế, cho nên nói “có bi, có trí”, chẳng phải
là một mực quả cảm ắt làm, chẳng hề cố
kỵ! Như Khổng Tử thuở tại thế, chẳng
phải là Bồ Tát trong nhà Nho ư? C̣n như Y Doăn đuổi
vua, Liễu Hạ Huệ chẳng xấu hổ v́ phụng
sự hôn quân. Kính trọng vua, chẳng ngạo mạn, chọn
vua rồi sau đó mới thờ vua. Đó là thường
pháp. Y Doăn và Liễu Hạ Huệ chẳng câu nệ thường
pháp, có thể nói họ là bậc Bồ Tát. Nhưng v́ sao Lỗ
Ai Công tối tăm mà Khổng Tử chẳng xua đuổi
vua?
Lại c̣n nói “sự quân tận lễ” (thờ vua trọn hết
lễ)? Hỏi xem: Vua
nước Trần là vị vua nhận lấy nữ nhạc,
sao [Khổng Tử] chẳng phụng sự vị vua ấy
mà lại phơi phới rời đi? Há Khổng Tử chẳng
phải là Bồ Tát ư?
Thư ông gởi đến
có hỏi: Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ dùng tiền
công quỹ để phóng sanh, nay cư sĩ có thể lấy
tiền của thường trụ chùa Lăng Nghiêm để
phóng sanh hay chăng? Lại nói: Thiền sư Vĩnh Minh
khi sắp bị hành h́nh, cười nói thảnh thơi.
Sanh tử cũng là chuyện lớn, chuyện cười
nói khi sắp bị hành h́nh chẳng phải là chuyện dễ.
Bồ Tát xả đầu, mắt, tủy, năo như vứt
chiếc dép rách; nay có người xin đầu, mắt, tủy,
năo của cư sĩ, cư sĩ có
thể mặc t́nh [kẻ
tới xin] cắt, chặt, chém, đâm mà vẫn
an lạc tự tại, chẳng hề dao động trong
khi đó hay không? Ông lại nói: “Trừng trị trong loài
người hơn hẳn cứu bạt trong địa ngục”,
nhưng chúng sanh tạo địa ngục chẳng phải
chỉ là kẻ đánh cá! Ngay như trong một làng thôn,
con cháu ngỗ nghịch cha mẹ, kẻ cường hào lấn
hiếp dân đen, kẻ gian tà tạo đủ loại
chuyện ác hại người, quan phủ chưa bắt
được, h́nh luật chưa được thi hành,
cư sĩ có thể bắt được chúng để
tru lục ḥng giúp
chúng tránh khỏi địa ngục
hay chăng?
Ông lại nói: “Có trí th́
giống như trí của kẻ ngu”. Đă nói “giống
như trí của kẻ ngu, th́ rốt cuộc là trí, chẳng
phải ngu”, sao không thấy “giống như ngu mà thật sự
là ngu” ư? Nay có tăng sĩ kéo xiềng sắt nặng cả
trăm cân để đi quyên mộ, hóa duyên, có
kẻ gơ mơ một tiếng, hóa duyên năm ngàn lượng
bạc, đều có thể nói là “kẻ trí giống
như ngu” ư? Ông lại nói: “Người đốt thuyền
là kẻ người coi vườn, dùng danh tiếng đẹp
đẽ để ngầm lay động cái tâm kẻ ấy”,
sao biết [kẻ ấy] chẳng thừa dịp mà sanh sự?
So với chuyện [Thương Ưởng] thưởng
vàng cho kẻ dời gỗ[27],
khiến cho nước nhà hưng thịnh, mà cũng là lư
do khiến cho đất nước suy bại. Do thiên hậu (Vũ
Tắc Thiên)
ban chức tước cho kẻ tố cáo người khác
ngầm phạm tội mà triều chánh hưng thịnh,
nhưng cũng bởi đó mà suy bại. V́ sao? Những
cách ấy tạm bợ, chẳng thể dài lâu! Ông lại
nói thuyền đánh cá rách nát, đốt đi để nhờ
vào đó mà cảnh tỉnh mọi người, như vậy
th́ người đánh cá già nua, bệnh tật cũng có thể
giết phứt đi để cảnh tỉnh đại
chúng đó chăng? Khổng Tử nói: “Quân tử tri vi,
tri chương, tri nhu, tri cương” (quân tử biết
sự mở đầu vi tế, mà cũng biết kết
quả hiển lộ, biết mềm mỏng, biết cứng
rắn). Như trong cao kiến của ông chính là “tri
chương, tri cương”, chẳng biết “tri vi,
tri nhu” vậy! Khổng Tử nói: “Lâm
sự nhi cụ” (gặp chuyện phải biết sợ).
Như cao kiến của ông, tức là coi “Bắc Cung chẳng
sợ hăi”[28]
là chánh yếu, Khổng Tử xử sự chẳng có quy tắc
cứng ngắc nhất định, c̣n như cao kiến của
ông th́ Thiếu Chánh Măo[29]
đáng giết, nhưng kẻ đáng bị giết c̣n rất
nhiều, sao Khổng Tử chẳng nhất loạt xử
tử và tru diệt tam gia (Tam Hoàn nước Lỗ)? Cư
sĩ là người có tâm chân thật muốn hành Bồ Tát
đạo, tôi hết sức yêu mến, do sợ ông quá chấp
trước nên mới lắm lời, mong bậc cao minh xét
soi cặn kẽ!
* Thư trả lời
Trung Thừa[30]
Uông Tĩnh Phong ở Hồ Quảng
(Nguyên
thư) Thầy có thể tiếp nhận con
là kẻ thô lậu ở Tương Đàm (thuộc tỉnh
Hồ Nam), là một viên quan trông coi văn thư trong cơi tục,
chẳng biết do duyên đời trước như thế
nào mà hơi biết quy y Tam Bảo. Con thuở trẻ làm
huyện lệnh tại Kim Hoa, qua lại vùng ven sông Nghiêm
Lăng, tuy khá gần với nơi tiệc pháp của thầy,
nhưng
chẳng biết đến thưa hỏi.
Đợi tới khi toan hỏi han, núi sông đă cách trở,
nay lại c̣n rong ruổi gió bụi, đă già khọm rồi!
Tuy sanh trong cùng một thế giới với bậc chí
nhân, v́ sao rốt cuộc chẳng được ngóng thấy
môn tường của Ngài? Đêm vắng, lắng ḷng suy
nghĩ, đáng thẹn với h́nh bóng của chính ḿnh. Nay
có người bạn trong xă là Nguyên Văn H́nh Tam kính cẩn
phát tâm tới tham học, thỉnh pháp [dưới pháp ṭa của
thầy], con kính cẩn thông báo họ tên với vị chấp
sự. Nếu được quang minh rủ ḷng chiếu
xuống; đấy cũng là ngoài ngàn dặm mà như
được tận mặt gặp gỡ. Con có một bộ
kinh Kim Cang khắc theo lối chữ Triện, kính dâng thầy
xem xét. [Lại c̣n] một bộ Lăng Nghiêm Y Thích để
xin thầy chỉ dạy, ngưỡng vọng chốn mây
biển, năm vóc gieo sát đất.
(Tổ
trả lời) Bộ Lăng Nghiêm Y Thích đă từng
được Viên cư sĩ ở Cô Tô gởi tặng.
Sách ấy xiển dương tông chỉ của kinh, dung
thông, quán triệt thông suốt. Nay lại được
ông từ xa ban tặng, lại được thấy của
báu hiếm lạ, khôn ngăn vui mừng, cảm thấy
may mắn. Lại được bộ kinh Kim Cang khắc
theo lối chữ Triện, cũng xin cảm tạ. Lại
tŕnh cùng ông, Châu Hoằng do tuổi già bệnh tật vây bủa
nặng nề, đă đóng cửa, kín miệng, nhưng
do đại cư sĩ đem bản chú thích tinh diệu
từ xa gởi đến, quả thật chẳng thể
nào im lặng được! Ngu ư cho rằng bản [chú
thích] này chưa cần đem in, v́ ông chưa đến tuổi
“tri thiên mạng” (năm mươi) mà đă có kiến
giải như thế. Cứ thong thả, ắt sẽ có
tâm đắc mới mẻ. Phu tử bảy mươi tuổi
mới có thể thuận theo ḷng muốn, Triệu Châu tám
mươi vẫn c̣n hành cước. Lời lẽ của
kẻ cuồng vọng, vô tri như vậy đó, cúi mong
ông thấu hiểu, dung thứ.
* Thư trả lời
quan Kinh Triệu Vương Mặc Tŕ ở Thiệu
Hưng
(Nguyên
thư) Chốn Ngũ Vân sâu thẳm, đạo lữ tụ
tập, chính là thế giới Cực Lạc ở
phương này. Hận con là kẻ thô lậu, nghiệp nặng,
đọa lạc trong tràng phú quư, chẳng có duyên để
luôn được nghe giáo huấn răn nhắc nơi
pháp ṭa của thầy. Chuyện này tuy chẳng chia thành
nhàn, bận, tĩnh, ồn, nhưng thù tạc quá phiền,
liền bất tri bất giác ở ngay trước mắt
mà bỏ lỡ. Con ở ngay nơi cuộc đất Phổ
Hiền thị hiện, nhưng chưa thể hành Phổ
Hiền hạnh. Nói chung, mạng căn khó đoạn,
đại sự chưa thấu triệt, đủ loại
tu tŕ đều là nghiệp nhân. Tuổi đă ngoài năm
mươi, ngày lại qua ngày, do ngu độn mà thành
như thế, khôn ngăn đau buồn; đại sư
dùng cách ǵ để sách tấn con? Những kẻ sĩ và
bạn bè cùng chí hướng trong nước đă rơi rụng
quá nửa, người ngầm tu tập trong làng chỉ
c̣n huynh Thạch Quỹ, mà nay lại qua đời mất
rồi! Trong các vị cao túc dưới ṭa của đại
sư, vị nào kiệt xuất? Mưa pháp đầy trời,
con cháu ắp đất, tự chẳng thiếu người,
nhưng ắt mong có người trí huệ vượt trội
thầy gánh vác chuyện này, sợ rằng cũng chưa
chắc có thể có
nhiều, biết làm
thế nào? Gần đây, trong hàng
cư sĩ bốn phương tới tham lễ
sư môn, có người nào có thể kham nói chuyện này hay
chăng? Xin thầy chỉ dạy cho con tiện tham phỏng.
Đệ tử ngu xuẩn, kém cỏi, chẳng đáng nhắc
tới, nhưng ngày đêm chỉ khăng khăng một
niềm khát vọng hiểu rơ bổn địa, và thân cận,
lễ bái thiện tri thức, nguyện thầy ban lời
dạy!
(Tổ
trả lời) Nhận được
thư, biết ông ngày đêm đề khởi, tham cứu
chuyện này, tôi ở phương xa cảm thấy rất
vui mừng. Thời gần đây, khá có nhiều kẻ
lưu tâm chuyện này, nhưng kẻ bàn suông th́ đông,
người thật sự tu tập ít ỏi, đáng than lắm
thay! Cổ nhân cũng có vị ngộ đạo trong bận
rộn, do căn khí khó thể ḍ lường, mong ông hăy càng
lưu tâm chẳng để lui sụt.
* Thư trả lời
quan Tư Mă[31]
Giang Tây là Quách Thanh Loa
(Nguyên
thư) Con thoạt đầu tin sâu Tây Phương Tịnh
Độ mầu nhiệm sáng suốt như thế, mà
cũng đơn giản, dễ hành như thế. Cuối
cùng, đọc Di Đà Kinh Sớ Sao do thầy trước
tác, lại biết chỗ mầu nhiệm sáng suốt chẳng
rơi vào ngoan không (cái không trơ trơ). Trong cái đơn
giản, dễ hành, lại chẳng rơi vào thế tục nông
cạn. Kể
từ Viễn sư (tổ Huệ Viễn) tới nay, chỉ
có một ḿnh thầy mà thôi! Gần đây, con lưu lại
miền biên cương xa xôi để chinh phạt Dạ
Lang, trong chốn can qua, phần nhiều cậy vào Phật
lực, trọn chẳng có cách thoát khỏi Trần Sa, trở
về noi gương sáng Vân Thê. Kính sai một người
hầu đến dâng lời vấn an, kèm dâng lễ mọn,
ḥng cúng chay cho những vị theo thầy. Gần đây, ba
bốn đứa trẻ vào Lưu Đô (Nam Kinh), trên
đường ngang qua Tiền Đường liền
nghiêm túc, thành kính đảnh lễ [đại sư], may mắn
được thầy dạy bảo, họ liền
đem những lời ấy dạy lại con.
(Tổ
trả lời) Âm thanh đức hạnh bỗng từ
vạn dặm truyền đến thấm nhuần kẻ
khô mục này, cảm kích, mừng rỡ khôn xiết! Nếu
hiền công tử đến chỗ ngụ hoang tàn [của
tôi], tâm kẻ hèn này toan dùng Phật đạo và nhân luân
để khuyên lơn, chẳng ngại giao phó trọn hết.
Bất luận h́nh tướng là tăng hay tục, cốt
sao hiểu rơ tâm địa mà thôi! Chẳng rơ tôn ư có chấp
thuận hay không?
* Thư trả lời
quan Nghi Bộ[32]
Tăng Kim Giản ở Hồ Quảng
(Nguyên
thư) Trong mấy năm, con được hai lượt
chiêm bái pháp ṭa, được thầy ấn khả, chẳng
khác dạo Lạc bang, đích thân được đạo
sư thọ kư, cảm kích khôn xiết! Trước kia, con
chẳng tự suy xét sức ḿnh, lầm lạc đem tông
chỉ của ba kinh Lăng Già, Lăng Nghiêm, Kim Cang để
thỉnh giáo bậc thông hiểu sâu xa, mong may
mắn
được vị tông sư sáng mắt
kềm cặp con. Nếu con được thầy ban một
lời hoặc nửa câu để dùi mài lẫn nhau, há chỉ
là kẻ chẳng ra ǵ này may mắn, mà thật ra là vô lượng
chúng sanh may mắn! Kẻ chẳng ra ǵ này là phường bạch
y, há nên hư vọng bàn luận giáo điển? Lục Tổ
từng nói: “Phật tánh vốn chẳng có Nam, Bắc, mọi
rợ sai khác!” Trước kia, con từng bái yết các
vị Nguyệt Xuyên[33],
Hám Sơn, họ thường dẫn ngữ lục trong
Tông môn để ấn chứng kinh, trong ấy có khi phù hợp,
có khi chẳng phù hợp, con trộm chẳng cho là đúng.
Năm Kỷ Hợi, con tĩnh tọa tại Thiếu Lâm
hơn bốn mươi ngày, ngẫu nhiên nghe tiếng
chuông, chợt có tỉnh nhập, mới tin “hết thảy
ngôn ngữ thuộc Thế Đế đều chẳng
trái nghịch Thật Tướng”, sao lại riêng đối
với Phật ngữ mà tách thành hai? Con bèn coi Quyền là Thật,
coi Thật là Quyền, không ǵ chẳng thể được!
Nếu đem Tông và Giáo tách thành hai nẻo sừng sững,
đối với lời Phật dạy, tự chia sâu cạn,
sẽ khó thể thông suốt được! V́ thế, hễ
tách rời Tông và Giáo th́ thành tranh chấp. Hễ dung thông th́
chẳng tranh chấp. Kẻ chẳng ra ǵ này cũng muốn
cùng quy vào “chẳng tranh chấp”, ư đại sư như
thế nào? Ngoài ra, con có hai bài tựa để kết duyên
với cao đồ Thiệu Giác, trong âm thầm, mong được
thầy phê b́nh, chỉ dạy có
được hay chăng? [Nếu được như
thế], con hết sức cảm kích!
Mùa
Xuân năm trước, con đến bái phỏng nơi môn
đ́nh, vừa khéo nhận được sự giáo huấn
to lớn. Vừa đúng lúc chân thầy có tật, ngồi
nằm bất tiện, nhưng đă kết duyên thù thắng.
Tiếp đó, tṛ chuyện mấy lời, khác nào dạo Cực
Lạc nghe pháp âm, cảm kích khôn xiết. Ban đêm, con cùng
cao túc là Huệ Văn luận kinh, tâm mục được
mở mang rỗng rang, đủ biết trong hàng môn hạ,
bậc long tượng chen vai sát cánh, chẳng dễ kể
trọn! Từ biệt pháp tịch, con qua
chơi Tịnh Từ, khéo sao gặp Xuân Nguyên Đào Thạch
Lương đem hai bản chú giải Nhân Minh Luận và
Thành Duy Thức Luận do lệnh đồ là Thiệu Giác
biên soạn bảo con viết lời tựa, con chẳng nề
hà chính ḿnh nông cạn, thô lậu, tiếm lạm ghi lời
tựa ở đầu sách, lại cậy Thạch
Lương thỉnh môn hạ sửa đổi cho đúng
rồi mới đem in, chẳng biết ông ta có tŕnh rơ ư ấy
hay chưa?
Nếu có chỗ
chưa thỏa đáng, mong thầy hăy sửa chữa giùm.
Như học tṛ hiểu biết lầm lạc, thô thiển,
đơn giản, đại lược với Tông thông của
ba kinh Lăng Nghiêm, Lăng Già và Kim Cang, biết là sẽ bị
bậc thông hiểu cười nhạo. Chỉ là muốn
nhờ vào đấy để gieo cái nhân Bát Nhă, tích tụ
đôi chút Tịnh Độ tư lương, cho nên chẳng
tự biết xấu hổ. Chỉ mong đại sư
là bậc có đủ huệ nhăn, biết chỗ kém cỏi
của con, khẩn khoản xin thầy chỉ
dạy để con được sửa đổi. Lại
nguyện thầy viết lời tựa đầu sách
để chỉ ra nẻo mê cho người học mai sau,
há chỉ là tạo lợi ích cho riêng một kẻ học
tṛ là con. Hết sức mong mỏi! Nay con gởi Lăng
Già, Tâm Kinh, Đông Du Thảo để tŕnh thầy xem qua.
Trong [bản chú giải kinh] Kim Cang có chỗ chưa hoàn thiện,
con đă sửa đổi, cho khắc in, lại tiếp tục
cậy ông Châu Trượng gởi cho thầy, những
điều khác chẳng nói nữa!
(Tổ
trả lời) Ông Châu gởi đến ba bản in
Lăng Già, Tâm Học, Đông Du, do tôi bệnh tật quấn
trói, đi lại khó khăn, vừa mới xem qua, đă biết
có ư vị sâu xa. Lại được ông trống ḷng sai
viết tựa, xin cho phép tôi xem đọc cặn kẽ. Nếu
có ngu kiến ǵ, mai sau sẽ lại tŕnh lên. Xem lời tựa
cho Quán Duyên và Nhân Minh đă nêu tỏ chỉ thú của hai bộ
luận, lời lẽ đơn giản mà ư trọn hết,
đáng gọi là “diệu giải”. Vị Tăng ấy
đọc rộng, nhớ dai, cũng quả thật là
đáng khen ngợi, lời tựa hết sức đắc
thể vậy!
* Thư trả lời
Gia Hưng Quận Bá[34]
là ông Thái Ḥe Đ́nh
(Nguyên
thư) Chỉ có đại sư của con từ bi cứu
người, gột sạch tập khí cuồng dại,
phóng đăng, thẳng thừng quay về An Dưỡng, quả
thật là hóa thân của A Di Đà. Đệ tử tín tâm
khá thiết tha, nhưng tịnh nghiệp khó thuần, dốc
trọn một đời này để báo ân thầy,
như Hàn Tín lập trận quay lưng vào chỗ có nước,
[quân lính] muốn
lùi mà chẳng thể được! Kính mong trong cơi
Thường Tịch Quang ngầm ban ân gia hộ, che chở,
thiết tha mong cầu! Ngoài ra, con xin thầy chỉ điểm
đối với bản kinh đă khắc. Quyển cuối
của Thiên Phật Danh Kinh vốn bị đảo lộn,
bản trong Đại Tạng
cũng có chỗ sai lầm, chẳng biết khi nào nhân duyên
mới hội hợp?
(Tổ
trả lời) Ông để lại ân trạch rộng
khắp, người người đều thiết tha
tưởng nhớ. Bỗng nhận được thư
ông, tôi khôn ngăn hoan hỷ. Được ông cho biết
Thiên Phật Kinh Danh giữa bản
trong Đại Tạng và bản ở Tô
Châu có sai khác đôi chút, nhưng danh hiệu Phật trọn
chẳng có ǵ bất đồng, những điều sai biệt nhỏ nhặt khác
chẳng đáng biện luận! Tôi đă tám mươi tuổi,
già suy, mạng như đèn trước gió, chẳng biết
có lại được thấy nghi dung sáng láng của ông
nữa hay chăng?
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Việt Vương Mạnh Túc ở
Côn Sơn
(Nguyên
thư) Đệ tử Vương Quảng Việt
trăm lạy dưới pháp ṭa của đại sư:
Đệ tử làm quan bốn năm, chưa gởi một
lá thư đến pháp ṭa, do huyện con đang trông coi
nghèo khổ, sau khi tai ương liên tiếp xảy ra, suốt
ngày chỉ chú trọng cứu đói. Không gạo sẽ khó
thổi cơm, cuộc sống khá khổ sở. Hơn nữa,
con nghĩ rằng thay v́ chú trọng viết thư thăm
hỏi suông, sao bằng tuân hành lời dạy của đại
sư? Do vậy, con xin lương thực để phát chẩn,
nấu cháo để cứu sống dân đói chẳng tiếc
sức thừa. Đôi khi có những vụ án oan đă thành
án, khó thể xoay chuyển, đệ tử đốt
hương tŕnh với trời, nhất định rửa
oan cho họ, quan trên cũng thường thấu hiểu
mà thuận theo. Trong bốn năm, bổng lộc chẳng
thể nuôi sống người nhà; đó là t́nh h́nh làm quan
đại lược của đệ tử.
Khi tới nhậm chức,
vốn chẳng mang theo vợ con, từng dẫn
theo một người thiếp. Năm ngoái, do cô ta tánh hung
hăn, nên con đă khéo sắp xếp cho cô ta rời đi. Con
cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, được chiêm
lễ đại sĩ, hằng ngày ngoài việc tụng một
quyển kinh Di Đà ra, hễ kiếm được lúc
nhàn rỗi bèn đọc Lăng Nghiêm, ngữ lục của
Bàng cư sĩ v.v… Đại khái, đệ tử tuy có
chí, nhưng tập khí nhiều đời vẫn chưa trừ.
Do vậy, luôn luôn tự nhắc nhở, chỉ e thoái đọa,
thường nghĩ từ quan để chuyên tâm nơi tịnh
nghiệp, nhưng chuyện cưới hỏi [của con
cái] c̣n chưa xong, lại sợ khi tĩnh tọa cũng
có lúc chưa yên, chỉ đành đợi ngày tháng trôi qua.
Cuộc đời này cùng quẫn hay thông đạt, ngộ
đạo sớm hay trễ, nghe theo cơ duyên, xin đại
sư dạy cho một lời. [Con được tin] pháp
thể thầy khỏe mạnh từ chỗ các vị Lư
Trường Hành, Vương Nhược Sanh, hết sức
vui mừng. Đối với lời căn dặn về
tranh chăn trâu th́ đệ tử đă có. Nếu có bản
khắc in gần đây, xin ban cho con để tiện cung
kính đọc tụng. Con kính dâng hai lượng bạc từ
tiền lương bổng để đại sư may
thiền y, mong thầy xét soi ḷng thành mà tiếp nhận. Con
viết thư khôn ngằn chiêm ngưỡng tột bậc!
(Tổ
trả lời) Giữ đạo làm quan như thế,
yêu dân dưởng ấy, giải oan cứu khổ ngần
ấy, đáng xưng là bậc Bồ Tát trong giới quan
viên. Trong thư, ông có nói “cuộc đời này cùng quẫn
hay thông đạt, phó cho thời, mạng. Ngộ đạo
trễ hay sớm, nghe theo cơ duyên”, có thể nói là luận
định đích xác! Nay tuy sự đời chưa xong,
nhưng hễ được lúc nào rảnh rỗi, chớ
để luống qua, hăy
liền dấy khởi sự tham cứu của chính ḿnh. Lâu ngày sẽ tự
có chỗ ngộ nhập.
* Thư trả lời
quan Giá Bộ[35]
Quảng Nghiêu Vương Nhược Sanh ở Thái
Thương
(Nguyên
thư) Trước kia, con được thầy chỉ
dẫn, đề khởi câu thoại đầu “người
niệm Phật là ai?” Trong lúc bận bịu với cơi
trần, con chẳng thể thiết thực phụng hành,
nhưng hễ ngẫu nhiên dấy
khởi, liền cảm thấy bị quấy nhiễu bởi
một loại quang cảnh (cảnh giới) tương tự
với những ǵ đă xem từ sách vở thường
ngày hoặc do nghe thiện tri thức nói. Nếu quét sạch
những điều ấy, th́ lại như núi đồng,
vách sắt, mờ mịt chẳng biết chỗ nào có
phương tiện để tiến nhập! Mong thầy
từ mẫn, chỉ dạy một lời để vẹt
mây mê!
(Tổ
trả lời) Ông đă có chức quan, hăy nên coi sự vụ
của vua là nhiệm vụ cấp bách, đạo niệm
chưa thể mười phần tương ứng;
đó là lẽ tự nhiên, chẳng có chi là lạ, nhưng
hễ rảnh rỗi liền đề
khởi. Ông nói những ǵ mắt thấy, tai nghe đều quét trừ
sạch, lại mờ mịt chẳng có chỗ để
thực hiện, nhưng vạn duyên tuy đều trừ
sạch, mà thoại đầu vẫn riêng tồn tại,
sao không có chỗ để thực hiện? C̣n như thật
sự chẳng có chỗ để thực hiện; đấy
chính là chỗ để thực hiện!
2)
Trong thư, ông có nói về thư và chế nghĩa[36]
(văn bát cổ), hai điều ấy đều rất
hay đẹp. Những bài ông viết thâm nhập nghiên cứu
đạo lư nơi sự vật là những chuyện thiết
yếu, đúng là đuốc báu trong đường tối,
là kim vàng để tách bỏ màng mộng nơi mắt. Lại
c̣n những chuyện thuộc về Tịnh Độ
như ông đă hỏi, đại để là nhập
đạo có nhiều môn, chẳng khuyên tu Tịnh Độ
cũng chẳng trở ngại ǵ, nhưng trong hiện thời,
rất nên phải nói. Người thời cổ nếu chẳng
chú trọng Tịnh Độ, bèn thật sự dụng
tâm nơi Thiền. Thiền thành tựu th́ Tịnh Độ
cũng thành tựu! Người hiện thời chẳng
chú trọng Tịnh Độ, cũng chẳng thật sự
dụng
tâm tu Thiền, miệng bàn Thiền để
ra vẻ cao minh, nhưng
Thiền lẫn Tịnh Độ hai
đằng đều chẳng thành! Tịnh Độ do
chính miệng vàng của Thích Ca Như Lai đích thân khuyên bảo,
mười phương hằng sa Như Lai cùng dùng tướng
lưỡi rộng dài để cùng khuyên lơn,
Văn Thù, Phổ Hiền, Mă Minh, Long Thọ, Thiên Thai, Thanh
Lương, Vĩnh Minh v.v… vô lượng vị đại
thánh, đại hiền cùng khuyên nhủ. Chỉ kể từ
sau khi tổ Đạt Ma sáng lập Thiền Tông, chẳng
khuyên tu Tịnh Độ, chính v́ muốn nâng đỡ
đạo “đơn truyền trực chỉ”. Nếu lại
nói Tịnh Độ, đạo ấy (đơn truyền
trực chỉ) sẽ chẳng tỏ
rơ được! Bởi lẽ, lập bày môn đ́nh,
đúng lư nên như thế. Lại do thời tiết nhân
duyên, cũng phải nên như thế.
C̣n như các vị giảng
sư, không vị nào chẳng khuyên lơn; đó là v́ trong
Giáo hoặc chuyên nói Tịnh Độ, hoặc nói kèm Tịnh
Độ, kinh, luận, ngữ lục vằng vặc
như vầng nhật nguyệt giữa trời. Giảng
sư chuyên nghiên cứu, học tập giáo, cho nên diễn
nói thông suốt nghĩa này, nhằm bảo khắp người
đời. Đấy chính là chuyện phải nên làm thuộc
về chức phận. Giảng sư chẳng khuyên Tịnh
Độ, trong trăm ngàn người chỉ có một hai
kẻ! Làng tôi trước kia có vị pháp sư đắc
pháp, tới nay chỉ có vị ấy và môn nhân của vị
ấy mà thôi, chứ những vị khác [chẳng khuyên Tịnh
Độ] không thấy nhiều! Hơn nữa, đối
với chuyện nói phẩm Thế Chí Niệm Phật trong
kinh Lăng Nghiêm chẳng được dự vào pháp Viên
Thông, nỗi nghi hoặc này chẳng thể không nói rơ, có hai
đoạn đă được in từ trước xin gởi
kèm cho ông xem.
3)
Thư ông gởi tới có nói thế tục lắm nỗi
phiền lụy, chẳng thể triệt để gột
sạch phàm tục, nhưng cơi đời chưa đáng gọi
là phiền lụy! Pháp thế gian như làm con phụng sự
cha mẹ là hiếu, làm bầy tôi phụng sự vua là
trung, cho đến trọn vẹn nhân luân, đối
đăi sự vật, mỗi mỗi đều chẳng trở
ngại đạo. Cốt sao tuân theo lư mà tùy duyên, vô tâm thuận
ứng mà thôi. Khoa thi gần tới, hăy nên một ḷng
nơi cử nghiệp. Khi đỗ đạt, phát đại
thệ nguyện “ắt chẳng v́ phú quư, lợi lộc,
hiển đạt mà cô phụ sở học, mong được
như những vị bầy tôi nổi tiếng thời cổ”;
đó gọi là “tế thế” (giúp đời). Ắt
chẳng v́ phú quư, lợi lộc, hiển đạt mà mê mất
chánh niệm. Cốt sao hiểu rơ đại sự nhân
duyên này, đó gọi là “xuất thế”. Như vậy
th́ sĩ phu sẽ có thể đang làm quan mà tham Thiền,
chẳng ĺa tục mà nhập đạo! Mong hăy lưu tâm vậy!
* Thư đáp châu thủ[37]
Quảng Triêm Tiền Dưỡng Thuần
(Nguyên thư) Đệ
tử Tiền Quảng Triêm khấu bái trước pháp ṭa
của đại sư. Đệ từ ngu tối, tập
khí nồng đậm, sâu dày, đêm thanh phản tỉnh,
[nhận thấy] tội khiên thật nhiều! Nếu
như tu ṛng tịnh nghiệp, ắt
phải nhờ vào giảm bớt ngoại duyên, nhưng bị
chèo kéo bởi các mối quan hệ giữa con người
với nhau, chẳng cắt đứt được. Tuy
có khi tạm thời gác bớt được, nhưng xong
chuyện lại trở thành nỗi hối hận, đâm
ra cảm thấy bất an. Ư con muốn t́m một tĩnh
thất, kiếm một người có đạo hạnh
hướng dẫn, tận lực vứt bỏ chuyện
thế tục, chuyên tâm niệm tụng, nhưng những
điều vốn mong mỏi chưa xong! Không chỉ bị
trói buộc bởi cái nợ con cái, mà tâm t́nh ư niệm
cũng bị buộc ràng, [dẫu ở nơi] hẻo lánh
mà tâm vẫn ruổi rong, [như vậy th́] tuy xa ĺa [trần
thế] mà có ích chi đâu? Chờ chúng nó cưới hỏi
xong xuôi, ắt phải mất thời gian năm sáu năm,
sông trong khó đợi, hai cuộc chiến chưa yên, sẽ
do duyên nào đắc thắng? Xin thầy chỉ dạy. Lại
v́ đứa con c̣n bé, cứng đầu, kém cỏi, thầy
dạy chữ không uốn nắn nổi, nay phải tự
dạy bảo lấy, lại tăng thêm một mối lụy! Nếu bỏ lỡ dịp này chẳng
dạy, sẽ có thể dẫn đến [t́nh trạng] nó
chẳng thành tựu được ǵ, há chẳng phải
là nỗi hối hận to lớn ư? Đấy là điều
khó khắc phục!
Gần đây con đọc kinh sớ, tuy đại
lược nương theo kinh văn để hiểu ư,
nhưng tâm địa chẳng dung thông, như nh́n mặt
đất chẳng rơ, rốt cuộc nghi ngại khi đặt
chân. Con ngẫu nhiên xem Quán Tâm Luận Sớ của tổ
Thiên Thai, [thấy sách ấy] hoàn toàn nói về Chỉ Quán,
đă nêu rơ được đại cương, các điều
mục chi ly đều trọn, như uống nước
sông tự no, chẳng phiền t́m chi khác! Bậc thượng
căn có thể viên quán, mà kẻ trung hạ cũng có thể
kiêm tu, thật sự phù hợp Lăng Nghiêm, nhưng
người học lại càng dễ hiểu hơn, tợ
hồ là chỗ thiết thực nhất để tu tập,
con tính sẽ thiết thực tuân theo. Như trong phần
trên [đă nói], con bị tục duyên ràng buộc, chẳng
thể thuận tiện tùy ḷng mong muốn mà hành theo, chuyện
này nên làm như thế nào? Xin thầy chỉ dạy.
Con lại đọc pháp môn Trung Phong Tam Thời Hệ
Niệm, [nhận thấy tác phẩm
ấy] rất
khơi mở sự hiểu biết, đối với
chuyện có người nương cậy để giúp
răn nhắc, con hận chẳng có người cùng chí
hướng giúp cho. Nay trong hội Phóng Sanh, chỉ niệm
một bài chú nhỏ là chú Văng Sanh, trịnh trọng tụ
tập mà trọn chẳng có một mảy hữu ích cho
chính ḿnh, há chẳng đáng tiếc ư? Nay con liền
nương theo pháp này để hành, nhưng ở trong thuyền
trên mặt hồ th́ chẳng thuận tiện. Nếu kiến
lập hội này ở cái am nhỏ trong ao th́ hết sức
may mắn vậy! Một hội nhuốm vào thần thức,
sẽ gieo chủng tử trong ngàn kiếp. Nhưng cần
phải chọn người giới hạnh tinh khiết,
phát âm trong trẻo, thông hiểu thấu triệt văn
nghĩa làm pháp sư, ḥng có thể dấy lên ḷng tin tưởng,
ngưỡng mộ, có thể khiến cho người nghe
nghiêm túc kính cẩn. Nếu để kẻ tầm thường
chủ tŕ, sẽ chỉ tăng thêm tṛ cười, chẳng
thể làm [như vậy] được! Nếu chỉ
quyên tiền để mua con vật, tuy là thực hiện
điều thiện, chắc chỉ dẫn đến cái
quả nhỏ nhoi trong cơi trời, người, huống hồ
cách làm chưa chắc đă là tốt lành ư? Ngu kiến
là như thế, nếu có thể chấp nhận được, con sẽ làm theo lời
thầy dạy, ắt sẽ dấy khởi, cảm nhiều
người phát tâm vậy! Do người làm chủ hội
phụ trách nhiều việc lặt vặt, ắt cần
phải châm chước. Do theo lệ cũ qua loa, tợ hồ
sẽ có trở ngại nhỏ.
Con lại thấy Trung Phong Quảng Lục khuyên mọi
người trừ khử vọng niệm, chuyên tâm
tĩnh tọa, lấy ngộ làm kỳ hạn. Cố
nhiên con biết
vị này dụng tâm khẩn thiết v́ người khác,
nhưng xem tác phẩm của Ngài phong nhă, lại biết
Ngài chẳng phải là kẻ chỉ biết tĩnh tọa
si ngốc. Há chẳng phải là trước hết dùng
Định để lay động, sau là dùng Huệ để
dẹp trừ ư? Ngu ư cho rằng ắt phải là
trước ngộ, sau tu, hạnh khởi, giải tuyệt
th́ mới thỏa đáng. Chắc là có người do Thiền
mà đắc đạo, ắt phải do túc huệ khiến
thành ra như thế. Như người trong lúc tĩnh lặng,
có thể nhớ lại chuyện cũ, chứ lúc quá mức
bận bịu sẽ chẳng thể. Nếu trong ruộng
thức chẳng có chủng tử ấy, dẫu muốn
do một lượt tĩnh tọa mà thành công, sẽ là
như gă nông phu vụng về lấy một khoảnh ruộng
ngập mặn mà mong mùa màng tươi tốt tự sanh
trưởng, tự thâu hoạch, dẫu siêng
năng, há có được
ǵ?
Hơn nữa, phương tiện thiện xảo phần
nhiều ở trong Giáo, dụng binh ắt phải đọc
[binh thư của] Tôn, Ngô, viết văn ắt phải cậy
vào kinh, truyện. Đó gọi là “kư
đắc cổ thi thiên bách thủ, bất hội ngâm lai
dă hội ngâm” (nhớ trăm ngàn bài thơ cổ,
dẫu chẳng biết ngâm thơ cũng ngâm được!) Thiền nhân thời
cổ chưa chắc đă thông suốt trọn Tam Tạng,
nhưng cũng có vị do t́m cầu nơi công án mà đắc
ngộ. Ngộ rồi chẳng hạn cuộc trong công án,
mà cũng chẳng ra ngoài công án, chính là v́ [công án và cảnh
ngộ] kích phát lẫn nhau, khiến thành ra như thế. Chẳng
biết [con hiểu như thế] có đúng hay không, xin thầy
chỉ dạy!
(Tổ trả lời)
Thư ông gởi đến nói ư niệm tu đạo và gia
duyên, vật lộn nơi hai cuộc chiến ấy,
chưa yên được. Nay chỉ nên đối với
những chuyện như cưới hỏi v.v… cứ tùy sức,
tùy phần, chẳng hề cưỡng làm một chuyện
nào, sẽ chẳng trở ngại đạo niệm, chẳng
tạo thành hai mặt trận. Nếu khế hợp quán
tâm, hăy nên lập tức tu tập, cứ ắt đợi
xong xuôi tục duyên, sẽ chẳng có lúc nào giải quyết
xong!
Lại c̣n chỉ nên giữ
vững sự tham cứu của chính ḿnh, chẳng cần
phải cầu gấp giải ngộ. Ví như người
đi đường, cứ đi không ngừng, sẽ tự
có lúc về đến nhà. Đối với việc đời,
t́nh thế cũng là chẳng thể cưỡng đoạn
được! Chỉ thấy thấu suốt chúng
là hư huyễn, tùy duyên mà ứng theo, một mực ứng
tiếp, tâm sẽ tự nhàn, công sẽ tự tiến!
* Thư trả lời Đại Tham[38]
Quảng Bân Ông Châu Dă
(Nguyên thư)
Cách biệt thầy mười bốn tháng, con đă nhậm
chức mười một tháng rồi. Từ thời cổ,
Ngô Châu được coi là nơi dành cho kẻ lưu
đày. Tương truyền nơi đây có chướng
khí sanh khởi bệnh địch, [nhưng t́nh huống thật
sự] chẳng quá đáng như thế. Chỉ là thoắt
lạnh, thoắt nóng, thường luôn có sương mù âm
u, khó thể thích ứng. Những người cùng đến
thường răn nhắc nhau, may là con cẩn trọng,
chẳng ngă bệnh. Dân Quả Di không
khuấy động, phong tục của dân chúng khá hèn tệ,
mọi chuyện khoan hậu, b́nh ổn, h́nh phạt bỏ
xó chẳng dùng đến, hoàn toàn có thể vun bồi cái
tâm từ bi. Con thường nghĩ chính ḿnh học tập
ngôn luận của Nho gia đă lâu mà chẳng hiểu lư
trong đạo Nho. Luận Ngữ có câu: “Vị tri sanh,
yên tri tử?” (Chẳng biết sống, sao biết rơ chết?)
Nay con nên biết “sanh” bằng cách nào? Lập thân, cư xử
trong gia đ́nh, làm quan xử sự, không ǵ chẳng công
minh, b́nh đẳng, khoan dung, khắc chế chính ḿnh, yêu
thương người khác, chỉ sợ là sự tu tŕ
nhỏ nhặt ḥng ứng phó chuyện đời đó
thôi, đêm Ba Mươi tháng Chạp sẽ vô dụng, mịt
mờ trầm luân, làm sao được nữa? Mong thầy
từ bi chỉ dạy. Con chuẩn bị hai loại
đàn hương và tốc hương[39]
để cúng Phật, dâng thầy, cúi mong thầy tiếp
nhận. Ngày Rằm tháng Chín, Ông Nhữ Tấn Quảng Bân kính lạy.
(Tổ
trả lời) Trong thư gởi đến, đề
cập sanh tử. Nhà Nho nói “tri sanh” [tức là] nói về “sanh tử”.
Phật nói “vô sanh” là xuất sanh tử. Có kẻ hiểu
rơ mà chẳng thoát ra được, chứ chẳng có
người nào đă xuất sanh tử mà chẳng hiểu
rơ! Pháp xuất sanh tử được trần thuật
trong kinh luận cố nhiên là có nhiều môn. Nói giản
ước th́ là hai loại pháp môn Tham Thiền và Niệm Phật
mà thôi! Nay kính dâng một quyển sách, xin ông hăy chọn lựa
trong hai pháp ấy.
* Thư trả lời
quan Trung
Hàn[40]
Quảng Ngụ Doăn Đạm Như ở Giang Âm
(Nguyên
thư) Đệ tử kể từ lúc thọ giới
tới nay, như kẻ lạc đường ṃ mẫm
trong tăm tối, bỗng có được đèn sáng chiếu
tỏ nẻo đường trước mặt, khiến
chẳng đến nỗi đọa lạc.
Chỉ có điều trần lao chưa dứt, nghiệp
chướng chưa trừ, chẳng thể thẳng thừng
tiến hướng Chánh Giác, ḥng chẳng phụ
ḷng đại từ của thầy con. Đối với
dục vọng thế tục, đệ tử vốn nhạt
nhẽo, coi chức quan như chiếc dép rách. Chỉ v́
lưới ái quấn trói, chẳng có thuở giải thoát.
Nếu là người thượng căn thật sự, sẽ
có thể chẳng ĺa mà lập tức chứng Chân Như.
Cũng là do con phát nguyện chẳng chân thật, cho nên lênh
đênh nơi bờ sanh tử, hứng chịu nỗi sợ
hăi và phiền năo ấy! Mong thầy chẳng tiếc công
phê b́nh, chỉ dạy,
khiến cho con thoát cơn bệnh nguy kịch. Vô thường
vùn vụt, nghĩ tới điều này, ngũ tạng nứt
toạc, đau nhói. Chăm chăm ngóng về Đông, mong mỏi
lời dạy từ bi. Những điều khác con không nói
nữa!
(Tổ trả lời)
Người sống trong cơi trần, sẽ
chẳng tránh khỏi trần lao. Đă lạnh nhạt với
t́nh đời, hờ hững chức quan để chánh niệm
phân minh; đấy chính là từ ngay trong trần lao mà làm Phật
sự!
* Thư trả lời
quan Ấp Lệnh[41]
xứ Gia Hưng là Đại Duật Bao Nghi Phủ
1)
Ông đă nhậm chức, hăy nên coi đối xử nhân ái
đối với dân là chuyện bậc nhất. Khi mọi
chuyện cần phải xử trí thường ngày hoàn tất,
liền tham cứu; đối với công văn, án từ,
không ǵ chẳng phải là đạo tràng!
2) (Nguyên
thư) Đệ tử tài năng yếu kém, bẩm
tánh viễn vông, nơi này từ xưa đă có tiếng là
“khó cai trị”. Sáng tối dè dặt như đi trên
băng mỏng, may ra mới khỏi đọa xuống vực
sâu;
nhưng con phước đức
cạn mỏng, lũ lụt, hạn hán nhiều lượt
xảy ra, dưới là dân chúng chẳng kham bị vắt
kiệt mỡ màng, trên là có hạn ngạch thuế khóa chẳng
khoan dung, vừa vỗ về dân chúng vừa thúc giục thuế
má tới nỗi ấy, đủ mọi nỗi tỏ rơ
sự vụng về của con. Chỉ là trong chẳng
đánh mất chính ḿnh, ngoài chẳng phụ bạc dân
chúng, là do tự thề nương vào quang minh tạng của
thầy con rủ ḷng bi nhiếp thọ. Lần trước,
con nhận được thư chỉ dạy, lúc rảnh
rang ngoài công vụ liền tiếp tục sự tham
cứu
của chính ḿnh; đúng là tông chỉ
[tu hành] thẳng thừng thỏa đáng. Điều
đáng thẹn là con căn cơ kém cỏi, trong mười
hai thời, thường bị sơ sót, vẫn mong đại
từ ngầm gia bị, khiến cho con chẳng đến
nỗi đọa lạc trong hầm hố, hào rănh!
(Tổ
trả lời) “Trong chẳng đánh mất chính ḿnh,
ngoài chẳng phụ bạc dân”, chỉ hai lời này
đă bao gồm trọn hết chẳng sót cái đạo
phải tuân theo của kẻ làm quan lại. Vừa xử
lư sự vụ, vừa chú trọng
tu Thiền, đối với người b́nh thường
chuyện này khó khăn lắm, huống hồ người
mang chức quan, [công vụ] bề bộn cùng cực ư?
Nhưng thoạt đầu cảm thấy khó khăn, về
sau sẽ chứng dễ dàng. Tôi nằm bẹp, khốn khó
v́ bệnh tật, chẳng thể nói đến những
chuyện khác, mong ông rộng dung.
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Phất Lâu Tử Nhu ở Gia Định
(Nguyên
thư) Ngày Mồng Tám tháng Tám, đệ tử thọ
giới là Lâu Kiên Quảng Phất dập đầu kính lễ
dưới pháp ṭa của bổn sư ḥa thượng
đạo sư. Từ lâu, Quảng Phất đă thiết
tha ngưỡng vọng, may mắn được đảnh
lễ, tham yết thầy vào cuối Xuân, tâm thoạt đầu
chỉ muốn thọ Y Bồ Giới[42]
mà thôi! Được thầy nâng đỡ, khen ngợi,
v́ con nói đại giới. Lúc sắp giă biệt, lại
được nhận đủ loại pháp thí, chắc
đời này chẳng đến nỗi đọa lạc,
dám quên ḷng từ của thầy ư? Con từng buồn rầu
duyên đời chướng nặng, đă khổ v́ anh em
ít ỏi, lại khó có con nối dơi, mẹ hiền quyến luyến,
chưa bằng ḷng cho con buông bỏ. Hai tháng trước,
con sanh được một trai; nay con chẳng lo toan sau
này nó sẽ trưởng thành; do vậy, chấm dứt
ăn nằm, nhất ư [tŕ giới] thanh tịnh nghiêm ngặt,
ngơ hầu chẳng phụ sự tiếp dẫn [của thầy].
Chỉ hận bẩm tánh con tuy luôn hướng về nhân
từ, nhưng riêng ghét điều ác sâu xa, tuy cũng biết
đấy là phân biệt điên đảo, nhưng vướng
mắc chẳng nhẹ. Tuy con thống thiết tự
trách, nhưng hễ gặp chuyện bất b́nh, liền
trái nghịch cái tâm giác ngộ ngay, thẹn thùng, run sợ
xiết kể! Khéo sao có người bạn
vào núi, con nhờ chuyển thư
thăm hỏi thầy, bất giác tâm này đă ruổi
đến sườn núi Vân Thê rồi. Tiết Thu trời
lạnh dần, con cúi mong thầy v́ pháp, v́ chúng sanh mà vạn
phần trân trọng [thân thể].
(Tổ
trả lời) Chuộng thiện ghét ác là lẽ thường
t́nh của con người. Chẳng ghét điều ác tức
là giống như ác vậy! Nay ông nói do một chuyện
ghét ác mà chia thành hai cái tâm, sợ rằng chính ḿnh cũng
có sự ác ấy nên mới ghét. Chán ghét điều ác, dùng
đó để răn nhắc th́ được, nhưng
thấy điều ác của người khác bèn căm
ghét, lại c̣n căm ghét quá đáng th́ chẳng được!
Nhưng so giữa làm quan trong triều đ́nh và cai trị
dân th́ có chút khác biệt. Nắm giữ chức trách
thăng giáng quan viên, hoặc nắm quyền thưởng
phạt, chẳng lẽ mặc kệ ác hạnh của họ
mà chẳng biếm truất, chẳng trừng phạt
ư? Hăy nên dùng tâm hạnh chánh trực để xét theo [bản
chất, t́nh huống của] sự vật để xử
trí, dẫu suốt ngày ghét ác, nhưng chính
ḿnh chẳng vướng mắc vào đó.
Hăy châm chước cặn kẽ!
* Thư trả lời
quận thủ Nghiêm Thiên Tŕ ở Thường Thục
1) (Nguyên
thư) Tiểu nhi Nghiêm Lăng là một đứa ngu
độn, đắm ch́m trong lạc thú thế tục, trọn
chẳng có ư nguyện siêu thoát; may mà gần đây do mắc
phải hoạn nạn trong gia đ́nh, nó hơi động
tâm. Con thừa dịp bảo nó thân cận bậc hữu
đạo, c̣n được rưới cam lộ, sẽ
tỉnh ngộ đối với trần lao đấy
chăng? Vẫn mong nó lưu lại nơi đó mười
ngày hay một tháng để nhiễm đậm pháp
hương, dẫu thầy chẳng nói một lời nào,
mà đă rền tiếng như sấm. Người thân của
con là Vương Quư Ḥa, là người hết sức hiền,
mong được làm môn đồ của thầy; đấy
là điều may mắn nhất trong khi bất hạnh.
Trong cái nh́n nông cạn của con, dường như huynh
trưởng dùng thân phận tể quan để làm cho cơi
đời tốt đẹp hơn, chẳng rơ pháp nhăn thấy
như thế nào? Mong là thầy sẽ ứng theo căn
cơ mà dạy bảo, khiến cho [anh con] lúc đến
th́ trống rỗng, lúc về liền đầy ắp.
(Tổ trả lời) Lệnh
lang[43]
trầm ổn, đôn hậu, ít nói, chắc là do duyên đời
biến đổi, đúng là như thường nói “tâm
chí bị xúc động khiến tánh t́nh kiên nhẫn”,
tăng trưởng những điều trước
đó chẳng thể. Vương Quư Ḥa bị hai anh và các
bạn cưỡng ép rời đi rồi. Kính cẩn trả
lời như thế!
2) Đời người
nhàn rỗi hay bận rộn, cũng có định số,
cứ phải đợi tột bậc nhàn rỗi rồi
mới tu đạo, rốt cuộc sẽ chẳng có ngày
nào cả! T́m rảnh rỗi trong lúc bận bịu! Hễ
rảnh lúc nào, bèn thâu nhiếp cái tâm tán loạn khi đó,
nhiếp nó về chánh niệm, lâu ngày sẽ tự nhiên có sở
đắc.
* Thư trả lời
Trị Trung[44]
Quảng Án Viên Thương Nhụ
(Nguyên
thư) Con luôn nghĩ tưởng pháp môn Niệm Phật
chính là công phu thông trên, thấu dưới, chẳng ngại
nhiếp tâm thường niệm, cũng chẳng ngại
đọc tụng, nghiên cứu đến cùng tột lư.
Đệ tử ưa thích sâu xa Huyền Nghĩa Chỉ
Quán của tông Thiên Thai, do nó rốt cuộc cũng chỉ
là niệm Phật. V́ thế, Trí Giả đại sư
đem mười sáu phép Quán quy nạp thành Tam Quán, ư chỉ
ấy rất sâu, lư ấy rất diệu. Mong thầy ngoài
lúc Thiền Quán, sẽ dùng mấy hàng pháp ngữ để
chỉ dạy cho con chỗ trọng yếu trong dụng
công. Như Lai Thế Tôn siêng năng, khẩn thiết suốt
một đời chỉ v́ mong cho chúng sanh khai thị ngộ
nhập tri kiến của Phật. Dụng tâm của thầy
và Phật chẳng hai, như đệ tử là kẻ tầm
thường, tối tăm, chưa biết có thể nhập
đạo ấy hay chăng? Nguyện thầy dùng từ
thệ nhiếp thọ con, khiến cho con sớm khai ngộ.
Con sẽ đời đời kiếp kiếp làm pháp quyến
đệ tử.
(Tổ
trả lời) Thiền Tông và Tịnh Độ khác
đường, nhưng cùng về [một mục tiêu].
Đó gọi là “tham Thiền chỉ v́ hiểu
rơ sanh tử, niệm Phật chỉ mong liễu sanh tử”,
nhưng cần phải một môn thâm nhập. Thời gần
đây, người bẩm tánh mẫn tiệp chuộng bàn
Thiền, chỉ mong nói cho sướng miệng, c̣n người
căn cơ chậm lụt niệm Phật th́ lại niệm
hời hợt, chẳng quán tâm nữa, thường là
đôi đằng đều mất mát! Cao kiến [của
ông] rành rành chẳng sai, nay chỉ nên giữ lấy Định,
luôn luôn thiết tha niệm, đừng quên bẵng!
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Tấn Trần Giới Phu ở
Phước Kiến
1) (Nguyên
thư) Quảng Tấn cho rằng quán pháp sanh Tây tột
bậc đơn giản, dễ hành, cho tới khi xem Di
Đà Sớ Sao, mới ngộ “trăm lối, ngàn
môn, vốn chẳng chứng ngộ khác biệt!”
[Chỉ là do bị] trần cảnh lăng xăng tước
đoạt mà lại trở thành khó khăn! Nghĩ tưởng
xương chó như núi, Trá Ba[45]
không xa, lại run sợ, dựng cả tóc, mắt quáng, tâm
kinh hăi, phiêu dạt, không nơi nương tựa, chủ
khách đánh nhau loạn xạ. Kẻ giống như đệ
tử đáng thương xót nhất, bị xỏ mũi
lôi đi chẳng trở lại được, lắm
phen buồn rầu v́ hăm nhập khốn cảnh, chưa thể
[thơng tay] vào chợ, ngày nào sẽ quên trâu? Cúi mong ḥa thượng
từ bi thẳng thừng dẹp trừ gốc bệnh,
thống thiết răn dạy, sách tấn.
(Tổ
trả lời) Trong thư, ông nhắc đến chuyện
“vào chợ, thơng tay”; đó
là chuyện sau khi đă đắc đạo. Đúng là xa
xôi quá! Chính là như cổ nhân nói “nhất hồi nhập
thảo khứ, mạch tỵ duệ tương lai” (hễ
trâu xông vào đám cỏ, nắm
mũi lôi nó trở lại).
Đó chính là chuyện trong hiện thời, chẳng thể
thoái thác là khó khăn được! Khi đọc sách, viết
văn, hầu hạ cha mẹ, nuôi nấng con cái, khi làm chủ
hay làm khách, cho đến khi đỗ đạt ra làm quan,
trên là thờ vua, dưới là trị dân, mỗi khi lạc
vào đám cỏ phải lôi trở lại, những khi
đó đều là lúc phải dốc sức, tận lực
thực hiện.
2) Từ các trước
tác, thấy rơ là ông tài năng lỗi lạc hơn đời,
nay hồi tâm nơi môn này, chẳng phải là do có cội rễ
sâu xa từ trước, sao có thể đạt tới
như vậy được? Hăy nên luôn luôn phản chiếu:
Một bầu tinh hoa ấy từ nơi nào lưu xuất?
Như thế th́ sẽ chẳng phụ b́nh sanh vậy!
* Đính kèm thư hồi
đáp của Trần cư sĩ
Kể
từ khi được tham học, được thầy
truyền dạy tới nay, bỗng chốc đă trải
qua năm năm, [thế mà] con cứ mơ màng, tản mạn
qua ngày, lăng phí thời gian. Lại đọc lời răn
dạy từ ái của thầy rằng: “Chỉ xem một
bầu tinh hoa ấy từ nơi nào lưu xuất?” Chỉ
nửa lời kệ ấy đă đủ để nghiệm
chứng cái tâm, truy đi cầu lại, chẳng biết
đầu mối, vùi đầu, thiếu năo, ch́m đắm
đáng buồn, vẫn mong từ ân ra rả chỉ dạy.
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Vũ Tôn Kính Ngô ở Đồng Thành
1) (Nguyên thư)
Trong phẩm Phổ Môn, đức Phật nói “đáng nên
dùng thân tỳ-kheo để đắc độ, liền
hiện thân tỳ-kheo để thuyết pháp”. Thầy
là bậc đại bi Bồ Tát
hiện thân tái lai, nương thuyền đại
nguyện phiêu du trong biển sanh tử, chẳng chấp bờ
này, chẳng lưu bờ kia, chẳng trụ giữa ḍng,
chỉ chú trọng chuyện độ sanh, khiến cho
chúng sanh thuở Mạt Pháp chỉ cần mở miệng
[niệm Phật] liền văng sanh, tùy theo căn khí mà nhiếp
thọ tiến nhập. Công đức của thầy tán
dương chẳng thể tận! Gần đây, thầy
lại viết Sớ Sao cho kinh Di Đà, lại tạo
phương tiện tối thắng trong các phương tiện.
Chỉ bốn chữ ấy đă xoay chuyển càn khôn;
đó gọi là “mười đời xưa nay, từ
đầu đến cuối chẳng ĺa một niệm
hiện thời”. Con khát khao muốn tiếp nhận lời
dạy, nhưng không có cách nào được tiến dẫn.
Con nay đă tạo tượng Phật bốn mươi
tám nguyện, muốn rước về Tịnh Độ ở
phương khác để thờ phụng. Bàn bạc
chưa quyết định, gần đây, con gặp thầy
Tam Đức nói: “Vân Thê trong mười hai thời
thường lễ bốn mươi tám nguyện. Nếu
có được tượng
này để thờ phụng, sẽ là
hay khéo nhất”. Con liền bảo
khắp với tể quan và tứ chúng, không ai chẳng vui
mừng, cổ vũ, đồng thanh tán thán rằng: “Nhân
quả tương ứng, Tam Bảo tương xứng”.
Há chẳng phải là do thiện tri thức cảm vời,
hay là đệ tử có túc duyên với thầy đó
chăng? Chẳng biết thầy có chịu dung nạp hay
không? Con một dạ mong chờ pháp âm. Nếu thầy chẳng
vứt bỏ [lời thỉnh cầu của con] th́ đệ
tử may mắn lắm thay! Chúng sanh cơi này cũng may mắn
lắm thay!
(Tổ trả lời)
Thời Mạt Pháp bàn Thiền, lại chán nghe Tịnh
Độ. Cư sĩ nghiên cứu sâu xa ư Tổ, lại
c̣n gởi tâm nơi Lạc Bang, có thể nói là “Sự Lư dung thông, kiến
xứ viên dung thấu triệt” vậy.
Đối với thánh tượng được nói trong
thư, mọi người đều hoan hỷ, nếu
quang lâm tệ cảnh, mong hăy sai người đến chỉ
dạy trước để tiện nghênh đón.
2) Chúng sanh vô thỉ vô
chung mà cũng vô tận, tức là chúng sanh trong thế giới
thành Phật như các hạt mưa, mà chúng sanh trọn chẳng
thấy giảm, chư Phật trọn chẳng thấy
tăng. Đấy chính là lời nói chân thật! Con số “vô
thỉ,
vô chung,
vô tận” cực diệu. Đấy là cảnh
giới chẳng thể nghĩ bàn. Xứng Lư th́ chúng sanh
chính là Phật, Phật chính là chúng sanh.
3) Tam giáo một nhà, chẳng
thể nói là bất đồng. Tuy nói là “một nhà”,
nhưng trong một nhà có ông, cháu, cha, con, cũng chẳng thể
nói là hoàn toàn như nhau! Cứ ắt cưỡng thành giống
nhau, sao cho chẳng sai khác chừng bằng sợi tóc, sẽ
hoại tướng thế gian, gây hại chẳng cạn! Như một cội
cây, có rễ, có cành, có lá, trọn chẳng thể coi cành, lá
là rễ được!
* Thư trả lời
Thuyên Bộ[46]
Ngu Đức Viên
Thư
trả lời của Lợi Mă Đậu[47]
rơ ràng là do một vị sĩ phu ở kinh thành viết
thay, chứ hai lá thư Thật Nghĩa và Ky Nhân trước
đó, từ ngữ nặng nề, trúc trắc. C̣n lá
thư này lư lẽ rành rẽ, minh bạch, lưu loát, chẳng
giống các lá thư trước, biết là tà thuyết
đă thâm nhập ḷng người, có kẻ tin tưởng
sâu xa, tận lực giúp đỡ ông ta. Nhưng suy xét
đạo lư, [những điều ông ta lập luận] quả
thật nông cạn, thô lậu nực cười, văn từ
cũng quá dài ḍng, đáng chán. Đại để, kẻ
tin theo gă ma ấy ắt chẳng phải là người có
trí. Hơn nữa, biện tài của Hàn Dũ, Âu
Dương Tu, đạo học của anh em họ Tŕnh
(Tŕnh Di, Tŕnh Hạo), Châu Hy c̣n chẳng thể xô đổ
Phật, huống hồ gă ma nhỏ mọn ngu
xuẩn ư? Những thứ tà ma vặt vănh ấy sao
đáng biện định, thế mà [có kẻ] riêng cam tâm
phù tá, đáng than thay! Nếu những thuyết ấy ngày
càng lừng lẫy, thậm chí những vị nổi tiếng
đều bị mê hoặc, tôi tuy già nua, hủ lậu
cũng chẳng tiếc thân bệnh tật, chẳng nề
hà khẩu nghiệp, đứng lên cứu văn. Nay chỉ
đành coi những lời lẽ [tà thuyết của Lợi
Mă Đậu] như câu ca tiếng hát của ngư phủ,
mục đồng, hoặc muỗi vo ve, ếch ộp oạp
mà thôi!
2)
Được ông thăm hỏi, tôi cảm kích lắm,
nhưng trước kia đă từng dùng đôi nạng cho
xong đời, nay có thể đi lại vững vàng mấy
năm, an trụ [một chỗ] cũng là đúng lẽ. Nằm
chờ tuổi thọ hết, quả thật cam ḷng! Tuy Việt Nhân
có thể giúp người chết sống lại[48],
chẳng dám mong mỏi. Ao [phóng sanh] sắp được
hoàn thành, công đức vô lượng!
* Thư trả lời
Thái Sử Đào Thạch Quỹ ở Cối Kê
1)
Đă xem công án “vạn pháp quy vào đâu?” và “người
niệm Phật là ai?”, [phải
hiểu hai công án ấy] chẳng có hai ư! Hễ
thấu hiểu một công án th́ cả hai đều thấu
hiểu. Mong ông hăy chuyên tâm. Bài văn bia ở chùa này để
trống bên trái ḥng đợi bậc danh bút đă lâu. Nếu
ông chấp thuận [cất bút], sơn môn sẽ vô tận
quang minh, may mắn chi xiết! Gặp mặt sẽ có nhiều
điều muốn giăi bày.
2)
Tôi nghe chuyện phóng sanh tại Qua Sơn trong dịp Xuân mới,
các vị thượng thiện nhân vân tập vượt
xa hội [phóng sanh] tại Tây Hồ. Đối với chuyện
của ông Vương Vân Lai ở Nam Đô trước kia,
tâm ông ta vốn v́ Phật pháp, chứ chẳng có ư ǵ khác, ngẫu
nhiên tạo thành vấn nạn, khiến cho dư luận
xôn xao tại đất Việt, ông Vương hết sức
khốn đốn. Cư sĩ được mọi
người trọng vọng, nếu có thể dùng một
lời để hóa giải, những lời báng bổ sẽ
dần dần lắng xuống, ngơ hầu Vân Lai sẽ chẳng
thoái chuyển đối với công đức tu bổ và
kiến tạo tại chùa Dung Quang. V́ thế, khẩn cầu
ông lưu tâm, mong mỏi lắm thay!
3)
Tâm vốn chẳng ở trong, ngoài, chặng giữa, nay tạm
nhờ vào cái thân để nhiếp niệm là được
rồi, chẳng cần phải nhất định quán
dưới rốn. Thêm nữa, tham cứu câu thoại
đầu chữ Tử rất tốt. “Chẳng sống,
chẳng chết”, sợ là người đương
thời chưa tin tưởng. Lại nghĩ đến
pháp môn, dẫn chuyện của cổ nhân để an ủi,
thẹn [chính ḿnh] chẳng thể đảm
đương, nhưng đối với cư sĩ, t́nh
hộ pháp tột bậc khẩn thiết khôn xiết.
4) Lệnh
đệ trở về, tôi đă cậy [anh ta] truyền
đạt ư, không lâu sau sẽ lại sai người chuyên trách phúc
đáp lần nữa, chẳng cần phải
nhọc công gặp gỡ. Kẻ chẳng ra ǵ này cũng chẳng
thể tiễn biệt theo kiểu thế tục. Kính dâng
mấy loại sách được in từ trong núi, mong ông
nhận lấy th́ may lắm thay.
[Những điều được chép trong bộ]
Thiền Quan Sách Tấn đều
là công phu ổn thỏa do cổ nhân thật
sự nhọc nhằn thực hiện nhằm
nêu gương cho hậu hiền. Nay tôi mong ông giữ chắc
sự tham cứu của chính ḿnh ḥng đạt được
sự giác ngộ chánh đáng. Trung Phong quốc sư nói: “Câu
thoại đầu một chữ Tử hễ ngộ
được th́ mới là vui mừng, sung sướng”.
Nói chí lư thay! Mong hăy lưu tâm!
5) Vừa
khéo có một vị tăng đến thăm, chắc là
đi nhầm đường. Núi hoang chẳng có vật ǵ
để làm lễ vật đơn bạc ḥng biểu lộ ḷng tôn kính,
thế mà lại nhận được nhiều món tặng
vật quư báu, sao dám nhận lấy? Tiết trời lạnh
hơn, ngàn vạn phần hăy cẩn trọng. Cư sĩ
trước đó đă nhận lời phó thác của đức
Phật và vua quan để cai quản. Do vội vàng phong tỏa
núi, bỏ sót một bản Trúc Song Tùy Bút đă khắc, nay
bổ sung hai quyển. Sách này tuy là nhất thời tùy ư viết
thành, chẳng có cao luận huyền ngữ ǵ, nhưng
đều là những điều thực tế liên quan mật
thiết với thân tâm và tánh mạng. Hăy luôn mở xem để
làm dược vật trong ḥm thuốc. Bản in mới vừa
được giảo chánh, chưa thể gởi nhiều
được! Tôi gởi người chuyển tin đem
kèm theo, [thư viết] chẳng diễn tả trọn những
điều muốn nói.
6)
Qua thư của Cát Thủy Giám gởi đến, biết
quư thể vào kinh đô b́nh an, mạnh khỏe, tôi vui mừng
lắm. Tham thoại đầu là phương pháp hữu
hiệu đă được cổ nhân nghiệm chứng.
Nếu nhất thời chưa đạt được sự
tỏ ngộ, mong hăy kiên tŕ, nhẫn nại, đừng
dùng cái tâm muốn nhanh chóng thành công để tu tập.
* Thư trả lời
Thiêm Hiến[49]
Quản Đông Minh ở Tô Châu
1) Một vị tăng ở Chiết Giang từ giảng
ṭa Thiên Tŕ trở về, nói cư sĩ kích phát [đạo
tâm] của tứ chúng, t́nh khẩn thiết, lời lẽ
châu đáo, đại thể đều là chú trọng sự
tu chứng chân thật. Nhưng ông đổi cách giảng,
do người theo Thiền chỉ được một
phần mười, ông đă bỏ sót chín phần mười
[thính chúng] không quan tâm đến. Bởi lẽ, người
ở chốn núi non, rẫy bái thường trộm than thở
chánh pháp hoang vu, đèn Tổ sắp tắt ngóm, tôi chẳng
lượng đức, chẳng lượng sức, vội
làm con muỗi đội núi, ngă quỵ chẳng dậy nổi.
Ngóng nh́n chung quanh, lại đ́u hiu, hiếm có kẻ ngoại
hộ, há được như cư sĩ nương theo
túc nguyện, mạnh mẽ đứng dậy duy tŕ, chẳng
cô phụ lời phó chúc nơi Linh Sơn ư? Những
điều tôi muốn nói chỉ nhằm uốn nắn
thói tệ tích tụ đă lâu, ắt trái nghịch thói tục,
dễ sanh oán. Nguyện bậc cao minh rộng dung, thong thả
xem xét để thực hiện th́ pháp môn may mắn lắm
thay!
2)
Có hai vị tăng sinh tới đây, cầm theo thư của
ông và hai phần chánh, phụ của tác phẩm Lăi Trắc (蠡測) cho tôi xem. Xem qua một hai trang, tôi biết lời vấn
đáp ắt bàn luận cùng cực huyền lư,
nhưng do bệnh vừa đổ ra, chưa
thể xem trọn hết. Có người bạn trông thấy,
kinh ngạc khen là hy hữu, cầm đi chưa trả lại.
Do hai vị tăng sinh sẽ trở về
đất Ngô quá gấp, tôi đành viết thư này để
tỏ ḷng cảm tạ khẩn thiết, vẫn mong ông rộng
dung để mai sau sẽ thưa tŕnh cặn kẽ.
* Thư trả lời
Đại Hạnh Quảng Du Vương Tánh Hải ở
Giang Tây
1)
Vương Mặc Tŕ gởi thư đến. Trong
thư, kể cặn kẽ những chuyện không hay trong
lúc này, hăy nên giữ kín. Tôi biết ông yêu mến tôi tột
bậc, cũng lại hiểu tôi sâu đậm; đại
để là đôi bên có cùng ư tưởng. Cách biệt
đă lâu, tôi luôn thiết tha nghĩ tưởng, nhưng
các bạn trong núi không ai chẳng khăng khăng quyến
luyến, chẳng biết khi nào ông đến đây để
được an ủi một phen. Gần đây, Châu Mậu
Chánh bị ma quấy nhiễu, nhưng “ma” như
đă nói chẳng phải là dân thường mà là người
thuộc giới áo mũ (sĩ phu), đáng than lắm thay!
Riêng may mắn là có một hai vị nắm giữ quyền
thế thương xót, giúp đỡ; đấy là thiện
nhân trong thế gian vẫn chưa hết sạch. Đó lại
là một chuyện đáng mừng vậy.
2)
Cách biệt đă lâu, chẳng có thư từ thăm hỏi.
Tăng sĩ đến đây cho biết ông đă
được điều đi làm quan ở kinh kỳ, hoặc
nói ông vẫn làm quan ở các nơi, chưa biết t́nh h́nh
thật sự, chẳng dám gởi thư. Ư niệm sâu
đậm, ng̣i bút chẳng thể diễn tả trọn.
Nay v́ Minh Tông nhận lời thỉnh của ông Lưu, chắc
là c̣n nấn ná chưa trở lại, có lẽ sẽ gặp
gỡ. Do vậy, [thừa dịp này] biểu đạt nỗi
ḷng chất chứa. Một tấm ḷng chân thật chẳng
lừa dối nhỏ nhoi, ắt ông sẽ xét soi, bao dung chẳng
ngờ vực. Tôi gởi tặng
ba bản sách được khắc ngoài
núi, những điều khác chẳng nói nữa.
* Thư trả lời
Hiếu Liêm Quảng Trân Tạ Thanh Liên ở Giang Tây
1) Dấy
khởi thoại đầu là công phu để khai ngộ
khẩn thiết nhất trong Tông Môn. Người tu Tịnh
Độ liền dùng một tiếng Phật hiệu
để làm thoại đầu, đấy là diệu
pháp; nhưng tâm thô thiển, hời hợt, xao động,
sẽ chẳng thể tương ứng. Cần phải
lắng ḷng phản chiếu, tới khi lực cùng thế
kiệt, sẽ có tin tức, hoát nhiên khai ngộ!
2)
Qua thư gởi đến, biết ông buông bỏ hết
thảy tri giải trước kia, chỉ lẳng lặng
tham cứu thoại đầu, hết sức tốt lành!
Chỉ sợ chưa thấu triệt thoại đầu,
tri giải lại sanh, cần phải đề pḥng!
* Thư trả lời
Tư Lư[50]
Quảng Tuyên Vương Kiệu Hải ở Phước
Kiến
Nghe
ông thực hiện Phật sự to lớn, biến nhà
thành am, đúng là chẳng thẹn Bồ Tát hạnh môn, có
những điểm mà người xuất gia chẳng thể
sánh bằng được, nhưng ông nói khiêm tốn là “khuyến
hóa người thế tục, đối với Tông Môn trọn
chẳng đạt được ǵ!” Nay cũng chẳng
cần cầu Tông Môn chi khác, xin hăy vâng theo lời ngài Thiên
Như đă nói trong sách [Tịnh Độ] Hoặc Vấn:
“Chỉ dùng một
câu A Di Đà Phật làm thoại đầu”. Nếu
có thể chuyên chí, chẳng phân biệt, th́ đối với
Thiền Tông lẫn Tịnh Độ, sẽ là một
đá chọi hai chim.
* Thư trả lời
ông Hà thuộc Nghiêm Đạo Vũ ở
Hàng Châu
Được
ông giao giảo chánh kinh Tư Ích đă xong, lại nhận
được thư nói về chuyện liên quan tới
Thiên Trúc, kính xin tŕnh bày như sau: Cụ nội của ông
nương theo sức túc nguyện, hiện thân tể quan,
do tâm đại từ bi, nghĩ thương xót tăng
chúng thuở Mạt Pháp ít giữ giới hạnh, bèn dùng
cách bắt giữ những kẻ phạm lỗi trong số
ấy,
khiến cho những kẻ có tội biết sửa đổi,
kẻ vô tội càng thêm gắng sức. Do vậy, giữ
yên tăng đoàn, chẳng phải là tổn hại
tăng chúng. Nay ông phơi bày kẻ gian tà, bộc lộc
điều chúng nó giấu diếm, muôn miệng đều
vui sướng khen ngợi, oai hạnh truyền khắp
vùng. Tôi vâng theo lời ông căn dặn, xiển minh quy chế
của đức Phật để hướng dẫn
[tín chúng] ḥng dần dần cải hóa họ. Đó là sau trận
tuyết sương, khí lành ấm áp. Sau khi đă thực
hiện sự sát phạt, bèn uốn nắn bằng đức
hạnh mềm mỏng, nghĩa đă cùng tận, ḷng nhân
đă tột bậc. Công hộ pháp không chi hơn được
nữa! Chỉ v́ Châu Hoằng tôi già suy, bệnh tật,
lênh đênh, sống tạm bợ trong hang núi, lại thêm
chân què, đi lại cần phải có người nâng
đỡ, sao có thể phấn chấn tinh thần ra sức
ứng với ư đẹp tột bậc ủy thác trách
nhiệm cho được? Huống chi nay hàng xử sĩ[51]
do nghị luận ngang ngược mà bị bắt bớ,
tăng chúng hiện thời do khinh đời mà bị mắc
nạn, xét theo t́nh thế, cũng nên tránh né. Do vậy, xin
ông hăy nghĩ cách khác ḥng xứng với ư chỉ vậy.
Nhớ thuở trước
Đường Văn Hoàng (vua Văn Tông nhà Đường)
thí kinh Di Giáo trọn khắp các châu quận trong thiên hạ,
nay kinh này vốn là bản được in lại trong núi
này, lại c̣n được bổ sung chú thích bằng ư kiến
thô lậu của tôi. Ngu ư cho rằng chẳng bằng lưu thông kinh này trọn
khắp các tự viện, am đường trong ngoài thành
thuộc hai vùng núi Nam, Bắc, nơi lớn th́ mười
quyển, nơi vừa th́ năm quyển, nơi nhỏ
th́ một quyển để ai nấy đều thọ
tŕ, chẳng vi phạm, chắc là sẽ có thể giúp ích
trong muôn một!
* Thư trả lời
ấp lệnh Tô Châu là Quảng Dịch Triệu Niệm
Nga
Đọc
thư gởi đến, thấy ông v́ dân, v́ đạo,
hai đằng đều trọn hết tấm ḷng, một
niệm ấy chính là hạnh nguyện của Bồ Tát,
tôi vui mừng lắm. Lư thế gian và xuất thế gian vốn
chẳng chia cách, nhưng Sự ắt có trở ngại nhỏ.
Phải là sau khi đại ngộ th́ mới thể ḥa
thành một khối! Nay chỉ tùy duyên thuận theo thế
tục, chẳng quên giác chiếu mà thôi. Cai trị dân, xử
án, đă biết ông nắm giữ sâu xa ḷng đại từ,
chẳng cần phải hỏi nữa! Đối với
các loại [sanh vật] bị giết mổ trong đại
điển cúng tế, nếu sức chẳng thể cứu
th́ hăy
tŕ chú, niệm Phật để làm
phương tiện cứu tế. Kinh có chấp nhận
[cách làm ấy], không ǵ chẳng thể! Chú thích những lời
dạy của thánh nhân có khá nhiều loại, riêng sách Diễn
Nghĩa là tinh tường nhất, đúng là gần th́ có
thể làm lợi một phương, xa là lưu truyền
trăm đời.
* Thư trả lời
Phương Bá Trần Kính Đ́nh
Bậc
trưởng giả gởi thư ngày Hai Mươi Hai,
thư của Long Điền công cũng nói gởi thư
ngay hôm ấy, nhưng chiều tối ngày Hai Mươi Sáu
thư mới đến núi hoang, là do người cầm
thư chậm trễ như thế. Kẻ trong núi hoang gần
đây có cái tâm ấy, nhưng xét ra chẳng dễ thực
hiện, giữa chừng bèn ngưng. Ngày hôm qua, tôi nghe lời
căn dặn, suốt tối băn khoăn, chẳng thể
tṛn giấc. Lại lo dân đói đông đảo, nhưng
chỗ thí cháo chẳng rộng, lại chẳng có
phương cách phân phát, [dân đói] sẽ chen lấn, giẫm
đạp, hết sức bất tiện! Bốn, năm
chỗ c̣n ít, cần phải ấn định làm mười
chỗ ở mười cửa thành, do mười người
làm chủ. Kẻ trong núi hoang chỉ có thể đảm
nhận một chỗ, có vị tăng có đạo hạnh
[để trông coi], chẳng có tư tâm, c̣n phải có tám,
chín người [như thế] cùng hoàn thành th́ mới tốt
đẹp. Xin ông quyết định, mưa vừa
hơi dứt, tôi liền vào thành để lại xin ông dạy
bảo. Tạm phúc đáp sơ sài, chẳng nói cặn kẽ!
* Thư trả lời
quan Trung Thừa Ngô Kim Tỉnh
Thư
hôm qua nhắc đến Yến Sào Đồ (tranh chim yến
làm tổ);
đấy là cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn
trong khi Thiền Định của bậc thánh sư thời
cổ, hết sức tương tự với chuyện chim sẻ làm tổ trên
đỉnh đầu Như Lai. Quên sạch cơ xảo,
đoạn tận nhận thức, tâm như gỗ,
đá, sau đấy mới đạt tới cảnh này.
Há kẻ chẳng ra ǵ này là một ông tăng phàm phu mà có thể
suy lường nổi ư? Do chưa đạt tới cảnh
ấy, chẳng dám bàn xằng!
* Thư trả lời
cư sĩ Tống Hóa Khanh
1)
Trong Y Lục, đa phần dùng bốn toa thuốc Bổ
Trung Ích Khí Thang, Thập Toàn Đại Bổ Thang, Lục Vị
Địa Hoàng Hoàn, và Bát Vị Địa Hoàng Hoàn, nay tôi
đang dùng theo toa Thập Toàn Đại Bổ[52]
có gia giảm. Châu Đan Khê[53]
cho rằng “Âm
thường chẳng đủ, mà Dương thường
có dư”,
bèn sáng chế Bổ Âm Hoàn, người hiện thời
thường dùng bài thuốc ấy để trị chứng
hư tổn, gây tổn hại tánh mạng khá nhiều. V́
thế tôi nói kiến thức trong Y Lục hơn hẳn
Châu Đan Khê!
2) Tối
hôm qua, lại nhận được thư, biết sai dịch
và tăng chúng ở chùa Vân Cư đều bị trách phạt.
Chuyện này chỉ cần biện định rơ là hiểu
lầm, khiến cho kẻ sai dịch biết sợ, quan
viên áy náy là đủ rồi. Thế gian luôn có chuyện lầm
lẫn, ngay
như âm phủ cũng có khi bắt lầm,
đừng nên trách phạt th́ mới nên. Nhọc công ông hộ
tŕ Phật pháp tột bậc sâu đậm, thiết tha!
Chuyện của Vĩ Chân đang bán tín, bán nghi, nay nghe nói mới
biết là đích xác, khôn ngăn thương cảm! Mấy
năm liền, ông ta nói sẽ thọ Bồ Tát Giới, rốt
cuộc là nói suông. Chần chừ gây hại như thế
đó, đáng than lắm thay!
* Thư trả lời
quan Đô Khổn là Quảng Tĩnh Hứa Nguyên Chân ở
Phước Kiến
Nghe
nói ông ở Bạch Vân Động đúng như pháp mà tịnh
trụ, hết sức vui mừng, hết sức an ủi.
Bất luận đạo nghiệp thành tựu hay không,
đấy chính là người đă ở trong cơi Cực Lạc
vậy. Nguyện ông một dạ thanh tu, lại đừng
khởi mảy may ư niệm làm quan. Quang âm hữu hạn, dẫu
phong hầu vạn dặm, vẫn chẳng bằng tăng
tấn nơi đạo này. Trương Minh vừa mới
xuống tóc xuất gia, đúng là phong thái giải thoát cao cả.
Trước hết, cần phải lo liệu chuyện nhà
cho thỏa đáng, nhưng do xử sự bộp chộp,
dẫn đến phải bươn chải nơi cửa
công. Tuy đối với đạo lư to lớn th́ chẳng
ngại ǵ, nhưng gây bất măn cho miệng đời bàn
luận!
Gác chuyện này lại
đó, tính theo hiện thời, nay ông ta (Trương
Minh) đă là người xuống tóc, cốt
sao thận trọng từ đầu đến cuối
như nhau. Kẻ chẳng xuống tóc th́ quư ở chỗ ở
ngay trong cơi tục, vẫn giữ được chân tánh,
ai nấy một dạ tinh tấn, chú trọng phá Hoặc,
chứng trí, ngộ rơ tự tâm, nhằm giải quyết
xong xuôi chuyện này mà thôi! Có tóc hay không chẳng cần phải
bàn luận!
* Thư trả lời
Tông Bá Châu Đổng Tầm ở Hồ Châu
Tâm
vốn bất sanh, do duyên hợp mà sanh. Tâm vốn bất tử,
do duyên tan mà chết, dường như có sanh tử,
nhưng vốn chẳng đến, đi! Hiểu
được điều này, sẽ sanh thuận, tử
an, thường tịch, thường chiếu. Nếu
như chẳng thể, hăy nên buông xuống toàn thân, miên mật
tŕ niệm một câu A Di Đà Phật, cầu sanh Tịnh
Độ. Giả sử các duyên chưa tận, thọ mạng
chưa chấm dứt, càng nên niệm Phật, sẽ có lợi
ích to tát. Cổ nhân nói: “Pháp môn Niệm Phật là thuật
trường sanh của đấng Kim Tiên vậy!”
* Thư trả lời
Trịnh cư sĩ và Bạch cư sĩ ở Tô Châu
Những
bài văn hết sức hay, nhưng ai nấy đều chấp vào kiến
giải của chính ḿnh, chẳng dễ dùng miệng lưỡi để tranh
biện được! Hễ tranh biện càng cấp thiết
th́ chấp trước càng thêm cứng chắc, có lợi
ích chi đâu? Chẳng thà bỏ mặc chẳng hỏi
đến, dùng tâm lực ấy để thực hiện
công phu thuộc bổn phận của chính ḿnh sẽ hay
hơn!
* Thư trả lời
Binh Bộ Ngô Thủy Quang ở An Khánh
Được
ông từ xa gởi thư hỏi thăm, hết sức cảm
kích. Ngày Rằm tháng Giêng chân tôi bị bỏng nước
sôi, nay tuy đă lành hoàn toàn, nhưng chân bước chẳng
có sức, chỉ có thể đi lại trong pḥng. Hai sách
Trúc Song và Thiền Quan vừa mới khắc, mỗi loại
kính dâng hai bản. Trúc Song chẳng phải là thuộc loại
đàm luận nhàn rỗi trong hiện thời, trong ấy
đều là những lời thiết yếu liên quan thân,
tâm, tánh mạng. Thiền Quan Sách Tấn chính là công phu thực
hiện chân thật và nhân duyên chứng nghiệm của cổ
nhân, không ǵ chẳng nhằm ra rả dạy mọi người
tham cứu thoại đầu để mong chánh ngộ,
mong ông hăy xem tường
tận. Ngoài ra, lại c̣n các sách Thiền Hải, Sơn
Pḥng, Phóng Sanh Văn, mỗi thứ một bản, bảy
bức kinh tượng khắc mực để ông tặng
cho những người quen biết. Lại c̣n có một
đôi đũa gỗ từ Ngũ Đài, nguyện lúc
ông nâng đũa, sẽ thấy ngài Văn
Thù nơi Thanh Lương. Do đang bị bệnh nên viết
qua loa, chẳng thể nói trọn.
* Thư trả lời
cư sĩ Tôn Đại Hành ở Dư Diêu (nay
đă xuất gia, hiệu là Tử Tâm)
1) Nếu
sanh khởi tín tâm đối với Tịnh Độ, xem
Giáo th́ nên chuyên tâm xem Sớ Sao của kinh này, những kinh
khác sẽ xem sau. Xem Sớ Sao th́ đừng đọc một
mạch, mỗi lần đọc một ít để nhiều
ngày mới đọc xong. V́ nghiền ngẫm cặn kẽ
ư nghĩa, sau đấy sẽ tin sâu Tịnh Độ; đấy chính
là môn tột bậc trọng yếu để tu hành. Cổ
nhân nói “trong biển sanh tử, niệm Phật bậc nhất”,
chẳng phải là lời hư vọng!
2) Nếu
niệm lớn tiếng, niệm thầm, kim cang tŕ đều
vô ích mà đâm ra bị tổn hại, th́ hiện thời
trong lúc vọng tưởng tơi bời, chỉ nên nhè nhẹ
khởi tiếng niệm Phật để chế ngự
[vọng niệm], xem người niệm Phật là ai? Lâu
sau niệm khởi, lại khởi [Phật hiệu]
như thế, khán như thế. Nếu niệm chẳng dấy
lên, chỉ có khán. Các thứ văn tự cử nghiệp
đều ngưng dứt, dẫu ngưng dứt cũng
chẳng ảnh hưởng ǵ đến cử nghiệp.
* Thư trả lời
quận thủ Quảng Quy Từ Cảnh Am ở Tùng Giang
Các
triệu chứng đă hơn ba mươi ngày, ngu ư cho rằng
từ nay không nên uống thuốc quá nhiều, chớ nên uống
thuốc quá tạp. Hăy nên uống đôi chút thuốc có công
dụng b́nh ḥa. Ngoài việc giảm bớt ăn uống,
thận trọng trong ăn ở ra, hăy nên trống ḷng,
buông xuống vạn duyên, đừng tư lự, chớ
ưu sầu, chớ nóng giận, chớ bức bối,
hăy an tĩnh để dưỡng thân th́ mới nên!
* Thư trả lời
Chủ Chánh Quan Trương ở Hử Thự
Nhận
được thư, thẹn chẳng dám nhận [những
lời khen ngợi], nhưng mỗi mỗi đều dùng
ḷng chân thành để bảo ban, há lại dám chối từ!
Pháp danh ông xin đặt sẽ là Quảng Nguyên. Giới th́
chính là đối với Ngũ Giới, tŕ trọn vẹn,
tŕ một nửa, tŕ chút ít, tùy sức thực hiện. Gọi
là Quảng Nguyên là do bệnh từ thân sanh, thân từ nghiệp
sanh, nghiệp từ tâm sanh. Tâm do ǵ sanh? Nguyện trong khi rảnh
rỗi ngoài lúc
thù tạc hoặc xử lư công vụ,
hăy hồi quang quán chiếu nội tâm, t́m ṭi cội gốc,
lâu ngày ắt sẽ có sở đắc.
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Trí Mao Hiếu Nhược ở Hồ
Châu
Đối
với biến cố của lệnh
tôn, kẻ chẳng ra ǵ này tự phải nên dốc cạn
ḷng ngu thành, dùng Phật sự để phúng điếu,
an ủi, nhưng tấm thân suy bệnh, lại c̣n bị bỏng
v́ nước sôi, lênh đênh gian nguy, may là thoát chết. Tôi
vừa viết bài ca pháp sư chân què, lập thệ
ngưng đi lại, tính đóng cửa không ra ngoài, chỉ
trừ khi phóng sanh trong hội phóng sanh bên hồ là ra ngoài
thôi. Đối với nỗi ḷng tột bậc của
người con hiếu, tôi chẳng phải là không biết,
nhưng quả thật chẳng thể vâng mạng
được. Nhưng tôn quân[54]
chẳng có lỗi lầm to lớn, chuyện sát sanh
cũng chẳng phải phát xuất từ ư cụ, xin ông
hăy tự bớt buồn khổ. Nếu chẳng thể,
bèn có một cách: Hăy chính tay chép một quyển kinh Kim Cang,
công đức chẳng thể nghĩ bàn! Kẻ
chẳng ra ǵ này không đến [viếng tang] cũng chẳng
hại ǵ, có tới cũng vô ích. Kẻ chẳng ra ǵ này và
Hiếu Nhược biết nhau, quư ở chỗ hiểu
ḷng nhau!
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Duẫn Cù Nguyên Sơ ở Thường
Thục
Nếu
thời gian cấp bách, chẳng kịp làm đủ số
một ngàn điều thiện, hăy nên chí tâm phát nguyện:
“Nguyện khi đỗ đạt, ra làm quan, sẽ rộng
hành các điều thiện gấp bội. Quyết chẳng
v́ giữ vững chức quan của chính ḿnh mà nghe theo một
lời sai bảo chẳng hợp lẽ trời. Quyết
chẳng v́ giữ vững chức quan của chính ḿnh mà làm
một chuyện bất nghĩa. Quyết chẳng v́ giữ
vững chức quan của chính ḿnh mà gây tai ương cho một
người dân vô tội. Quyết chẳng v́ giữ vững
chức quan của chính ḿnh, dẫu biết rơ [kẻ khác] oan uổng
mà không minh oan. Quyết chẳng v́ giữ vững chức
quan của chính ḿnh mà ngưng dứt chẳng làm công đức
thỏa
đáng có lợi ích to lớn!” Có thể
như thế th́ đấy chính là một ngàn điều
thiện, chính là một vạn điều thiện, chính là
vạn vạn điều thiện!
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Việt Hứa Khuếch Như ở
Đức Thanh
Thư
ông gởi đến hỏi “để nhiếp tâm th́ dùng
cách quán tưởng, tưởng tượng ngồi,
đứng” v.v… Những điều ấy đều tùy
theo mỗi người, chẳng nhất định,
nhưng phải thường quán chẳng
gián đoạn, kẻ chưa sạch hết trần duyên
sẽ chẳng thể làm được! Tuy chưa thể
thường quán, vẫn là công phu, chẳng cần phải
ưu lự. Hơn nữa, trong trần duyên, quán pháp khó
thành. Chẳng bằng những khi rảnh rỗi ngoài lúc [bận
bịu v́] học nghiệp và gia nghiệp, hăy lặng lẽ
chấp tŕ danh hiệu. Chỉ quư từng chữ rơ ràng, từng
câu thân thiết, tâm sẽ tự nhiếp. Nếu [tu tập]
lâu ngày, chẳng thoái thất, tam-muội thành tựu; đấy
chính là Quán!
* Thư
trả lời Viên Hiếu Liêm ở Phước Kiến
Trẻ
nhỏ vốn chẳng thiếu khuyết cái thể viên
minh tịch chiếu, chỉ v́ mê hoặc mà chẳng phát ra.
Há chỉ trẻ con, con người từ thơ ấu
đến tráng niên, từ tráng niên đến già, từ già
đến chết, không ai chẳng đang mê, cái Thể
viên minh tịch chiếu ấy tuy có mà chẳng hiện, chẳng
phải là không có. C̣n như “nước Tào Khê, trà Triệu Châu”, chẳng cần phải dùng suy
đoán để gượng hiểu, chỉ quan tâm nơi sự tham cứu của chính ḿnh để cầu chánh ngộ.
Thế nào là sự tham cứu của chính ḿnh? Nếu đối
với pháp môn Niệm Phật tin đến nơi, chỉ
tham cứu “ai là người niệm Phật?”, đó
gọi là sự tham cứu của chính ḿnh.
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Thự Lưu Thủ Phục tại Hồ
Quảng
1)
Nhận được thư, biết ông bế quan, tạ
tuyệt mọi chuyện, lắng ḷng nghĩ tới đạo,
tôi cảm thấy hết sức an ủi. Cái hẹn của
Tây Hồ trong mùa Xuân năm tới có thể nói “Triệu
Châu tám mươi c̣n hành cước” trong hiện thời.
Tuy vậy, nếu quư thể mệt mỏi chẳng thể đi
nổi, chẳng cần phải chấp trước. Chỉ
nên thiết tha dụng tâm là nhiệm vụ trọng yếu
vậy!
2)
Phàm phu tâm buông lung, trước hết là học nhiếp
tâm, sau đấy mới đắc tâm (chứng ngộ
chân tâm). Để nhiếp tâm, chẳng phải chỉ có một
pháp. Công cao, dễ tiến, niệm Phật đứng
đầu! Cổ nhân nói: “Dư môn học đạo,
như nghĩ tử thượng ư cao sơn. Niệm
Phật văng sanh, tự phong phàm hành
ư thuận thủy” (Học đạo
trong các môn khác như con kiến trèo lên núi cao. Niệm Phật
văng sanh như thuận gió căng buồm xuôi ḍng). Khi tưởng
dấy lên, chẳng cần thực hiện cách trừ diệt
nào khác, chỉ khởi lên bốn chữ A Di Đà Phật,
tận lực chuyên chú; đó là công phu nhiếp
tâm. Bỗng dưng liễu ngộ th́ gọi là “đắc
tâm”. Xưa kia, có một người bạn bảo tôi
“người hiện thời thấy Lục Tổ nói ‘vốn
chẳng có một vật, chỗ nào nhuốm bụi bặm’,
bèn coi câu ‘luôn luôn siêng lau chùi’ của Thần Tú như
nhánh cỏ, chẳng biết ‘luôn luôn lau chùi’ chính là
chuyện của người học trong hiện thời!”
Tôi tán đồng sâu xa cách nói ấy. Hôm qua, được
nghe lời cao luận ấy, đúng là phù hợp với
chuyện này; do vậy bèn nhắc tới!
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Thụ Viên Tâm Viễn ở Tô Châu
Kẻ
sợ chết do chưa ngộ “vốn
sẵn vô sanh; vốn tự vô sanh”,
há có tử? Có ǵ mà sợ? Nhưng Vô Sanh chẳng dễ ǵ
ngộ ngay được, nay chỉ nên chuyên tâm chí thành niệm
Phật. Lâu ngày niệm tới nhất tâm bất loạn,
nhất định sẽ khai ngộ, ắt được
khai ngộ. Dẫu chẳng ngộ, do niệm lực một
đời, lâm chung tự biết chết rồi ắt sẽ
sanh về Tịnh Độ, như lưu lạc quê
người được trở về quê cũ. A Di
Đà Phật x̣e tay tiếp dẫn văng sanh, hoan hỷ vô
lượng, có chi mà sợ?
* Thư trả lời
cư sĩ Vương Trung Tuyền ở Dư Hàng
Đọc
thư gởi đến, hết sức kinh hăi, hết sức
bi thương, than thở chẳng ngừng, cớ sao thiện
nhân mà bị báo như vậy? Tôi nghĩ chắc là trong mạng
của ông chỉ nên có một đứa con, đứa con
thứ hai ấy ắt có túc nhân. Nó đến để
đ̣i nợ, chẳng phải là thừa kế gia nghiệp.
V́ thế, đời này nuôi nấng khôn lớn, dạy bảo
thành tài, v́ nó cưới hỏi lập gia đ́nh, mọi
việc hoàn bị. Nó đ̣i nợ đă xong, liền
phơi phới ra đi. T́nh cha con đă khô cạn chẳng
sót, đúng là chẳng cần phải khổ sở tưởng
nhớ, buồn nghĩ nữa! Nhưng lư tuy biết rơ,
t́nh vẫn so đo, há có thể ngay lập tức hoàn toàn
thoát khỏi? Cần phải luôn luôn được bạn
lành, người trí bầu bạn chỉ
bảo, an ủi, khuyên giải, và thường xem nội
điển có nói
“thế giới như hoa đốm trên không, đời
người là một giấc mộng, quyến thuộc tạm
thời nương nhau, bỗng chốc ly tán”. Dùng
đó để phá Hoặc, khiến cho cái tâm buông xuống.
Hăy thận trọng, chớ một ḿnh ở trong cảnh vắng
vẻ, vật vă buồn thương mà tự thân bị tổn
hại!
* Thư trả lời
Quảng Trúc Phạm Bang
Người
sắp tám mươi tuổi như mặt trời buổi
chiều xế về Tây, thời gian c̣n được mấy?
Nay hăy ngưng dứt hết thảy. Những bài tán thán
tượng nếu lưu xuất từ cái tâm chẳng
nghĩ bàn th́ được. Nếu nâng bút, suy nghĩ rồi
sau đó mới soạn thành th́ sẽ phiền lụy thêm
nhiều! Xin hăy thấu hiểu! Sanh tử là chuyện lớn,
những điều khác chẳng cần phải nói nữa!
* Thư trả lời
hiếu liêm Châu Quân Thăng ở Gia Hưng
Được
ông nghĩ tới, tôi cảm kích sâu xa. Trong lúc già suy lại
bệnh tật, có lúc được an khang đôi chút, bóng
nắng tàn đă xế về Tây, rốt cuộc quang cảnh
sót lại chẳng nhiều! Muôn sự trong thế gian
đều thuộc tiền duyên, như mộng, như huyễn,
chỉ tùy duyên thuận chịu. Đấy chính là môn giải
thoát trong cơi trần vậy!
* Thư trả lời
Trương cư sĩ ở Thiệu Hưng
Kiến
tạo tĩnh thất để cùng tu tịnh nghiệp; đấy là chuyện
tối thượng trong thế gian, nhưng cái thất ấy
chẳng cần phải toàn mỹ, [chỉ cần] đủ
để thờ Phật, kinh hành, tĩnh tọa, lễ
bái là được rồi! Cũng chẳng cần phải
đợi tới khi việc nhà đều sắp đặt
xong xuôi! Mỗi ngày đều có chuyện phát sanh; muốn
xong chuyện, cố nhiên chẳng có ngày nào xong! Dẫu lập
tức tu tập, đă thấy là chậm trễ rồi!
Trong biển sanh tử, pháp môn Niệm Phật đúng là bậc
nhất, hăy nên dốc trọn tấm ḷng!
* Thư trả lời
cư sĩ Ngô Bá Dương ở Hưu Ninh (nay
đă xuất gia, hiệu là Quảng An)
Kinh
Lăng Nghiêm phân biệt chỗ chân và vọng, chưa từng
nói đến chuyện quán tưởng Tây Phương, chấp
tŕ danh hiệu v.v… V́ sao hoàn toàn chẳng dính dáng mà không có
gió, cứ cuộn sóng, chê bai kẻ khác là vọng? Nếu bảo
là vọng th́ tọa Thiền cũng là vọng, tŕ giới
cũng là vọng, giảng kinh cũng là vọng; thậm
chí đắc Bồ Đề, nhập Niết Bàn cũng
là vọng! Hăy nên tự nhất tâm niệm Phật, đừng
sanh nghi!
* Thư trả lời
cư sĩ Tôn Quảng Lượng ở Thông Châu
Thư
gởi đến hỏi về Chân Đế xuất thế.
Thế tức xuất thế, chẳng cần cầu xuất!
Chân chẳng ở ngoài vọng, t́m chân để làm ǵ?
Chưa hiểu ư ấy, sao bằng nhất tâm niệm Phật.
Niệm đến cùng cực sẽ ngộ. Ngộ th́ chẳng
bàn nữa, dẫu chẳng đại ngộ, nhưng ĺa
cơi Sa Bà này, sanh về Tịnh Độ kia, tức là xuất
thế. Tiêu diệt tạp niệm, thuần nhất chánh
niệm, tức là Chân Đế. Nay cũng chẳng quản
là xuất hay chẳng xuất, chân hay chẳng chân, chỉ
cần công phu đạt đến nhất tâm, tự nhiên
sẽ ổn thỏa, thích đáng!
* Thư trả lời
cư sĩ Ngô Đại Túc ở Huy Châu
Nay
ông đang theo cử nghiệp, sao lại than trách công phu chẳng
thành phiến? Thời gian rảnh rỗi ngoài việc học
cử nghiệp, liền nhiếp tâm quy vào chánh niệm. Khi
đă dứt cử nghiệp th́ mới có thể thuần
nhất dụng tâm, chẳng cần đan xen hai niệm.
Hơn nữa, khi đang theo cử nghiệp th́ đừng
bận tâm được mất, coi như mộng, huyễn,
bọt, bóng là được!
* Thư trả lời
cư sĩ Ngô Đại Triệt
Niệm
Phật tức là tŕ chú. Sau khi niệm Phật đắc lực,
sẽ đối cảnh tự tại. Khởi tưởng
chán ĺa tức là môn đầu tiên trong giải thoát. Chỉ
cần trước mắt làm thế nào để đạt
được tự tại, giữ ǵn lâu ngày chẳng lui
sụt, sẽ tự có lúc tương ứng!
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Kinh Trương Hạnh Uyển
Đối
với lời nói của ngài Vân Môn như ông đă hỏi,
chẳng cần tham cứu những lời nói về giáo
ngoại biệt truyền. Chỉ cần xem những lời
Ngài nói th́ cần phải lui lại, từ ngay dưới
gót chân của chính ḿnh t́m ṭi, tham cứu, xem đó là đạo
lư ǵ. Sự t́m ṭi, tham cứu ấy cũng chẳng khó.
Đă tin vào niệm Phật, chỉ cần nội tâm xét
xem “người niệm Phật là ai?” sẽ là t́m ṭi,
tham cứu ngay dưới gót chân. Lâu ngày, sẽ chính là
như trong Chánh Ngoa Tập đă nói: “Chẳng
lo không đạt được chuyện huyền vi tột
bậc cuối cùng!”
* Thư
trả lời cư sĩ Kim Quảng Chương ở
Huy Châu
Chẳng
phải do túc nghiệp gây chướng th́ cũng là do túc tập
(tập khí trong đời quá khứ) khiến thành ra
như vậy. Túc tập đă tồn tại nhiều
đời, đạo niệm mới sanh trong hiện thời;
quân trơ trọi chẳng thắng nổi kẻ ḱnh địch
là lẽ tự nhiên! Lâu xa chẳng lui sụt, sự việc
ắt hoàn tất. Luận định thẳng thừng th́
bất luận tại gia hay xuất gia, ngộ tâm là xong!
Luận theo thế gian, người tại gia hết thảy
mọi chuyện phải thuận theo lẽ trời để
hành xử, c̣n “tươi,
khô, được, mất” phó
mặc duyên trước, như mộng, như huyễn,
như bọt, như bóng, chớ dấy động ư niệm.
Đó là chân hạnh!
* Thư trả lời
ấp lệnh Trương Tâm Ngu ở Thiểm Tây
Đọc
thiên sách Trí Khúc, đủ thấy học vấn của ông
ngay thẳng, nhạy bén sáng sủa, trọng yếu. Nói
đến chân thành và ḷng nhân, hoàn toàn dụng công nơi tâm
địa, lại có thể thực hiện công phu từ
ngay nơi bản thể, càng là sự thực hiện chân
thật, chẳng phải là kẻ làm suông nói giả! Chủ tŕ đạo
học, có ǵ c̣n cao hơn được nữa? Đối
với mối nghi giữa Nho và Thích như ông đă nói, nay
tôi dâng lên hai sách Tam Giáo B́nh Tâm Luận[55]
của Lưu học sĩ đời Tống và Tục
Nguyên Giáo Luận của Trầm đăi chiếu (Trầm
Sĩ Vinh) thuộc bổn triều (đời Minh).
Các sách này luận định về Nho và Thích khá minh bạch,
tường tận. Lại dâng lên một bộ kinh
Lăng Nghiêm, kinh này nói những điều sợ rằng
Thù, Tứ, Liêm, Lạc (Nho giáo và Tống Nho) chưa nói
đến, cũng chẳng phải là học thuyết Lăo
Trang có thể cùng bàn luận được. Xin ông hăy dùng
cái tâm b́nh đẳng, tâm tinh tế, tâm lâu dài để xem
đọc. Tuy ông quyết chí kế thừa Nho Tông,
nhưng rủ ḷng hỏi đến kẻ tài sơ học
cạn như tôi, cảm ḷng chân thành của ông, nên tôi chẳng
dám ẩn giấu.
* Thư trả lời
cư sĩ Kim Quảng Tụ
Thư
gởi đến hỏi về những sự như “cái
ải khẩn yếu cuối cùng”, “ư chỉ rất sâu”, “bổn
địa tương ứng”, và “thẳng thừng
đề ra, chỉ bày”. Khẩn thiết, sâu thẳm,
căn bản, thẳng thừng, đều là những câu
hỏi thiết yếu, nhưng chỉ cần suy xét nông cạn
là được rồi. Trừ sự giác tri linh thông vời
vợi ra, [những thứ khác] đều là hoăn đăi,
nông cạn, là ngọn, là cong vạy. Thật sự dấy
lên một niệm niệm Phật, thấy thấu suốt,
nhất định sẽ hoàn tất đại sự. Lại
chớ nên do thấy tôi nói như vậy liền tư duy,
suy đoán, đào bới để cầu thông suốt,
đâm ra sẽ bị mất mát. Chỉ có niệm nào
cũng thấu hiểu, tham cứu, thật sự tích tụ
công sức lâu ngày th́ mới là chứng ngộ!
* Thư trả lời
Đàn Lâm Quảng Huyền
Bậc
kỳ túc chưa thấy rơ ràng, chẳng đáng để
sợ hăi! Đại để là người ấy
chưa từng thật
sự vận dụng trọn hết tâm lực.
Nay đă mắc bệnh, cũng chẳng cần phải miễn
cưỡng dũng mănh thực hiện, chỉ nên vâng theo
kinh mà chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn, một
mực giảm bớt các duyên, điều ǵ có thể giảm
liền giảm ngay. Bất đắc dĩ mới thù tạc
cùng người khác, tự nhiên công phu sẽ đắc lực!
* Thư trả lời
cư sĩ Ngô Quảng Kính
Trong
núi Vũ Di đúng là chỗ để tu đạo. Đă
tin niệm Phật, chỉ cần trong tâm khán “người
niệm Phật là ai?” Đó chính là t́m ṭi, tham cứu ở
ngay dưới gót chân. Hơn nữa, tôn đường[56]
tuổi xế bóng, chẳng rơ ông có anh em để
phụng sự mẹ hay không? Nếu chẳng có người,
ông chớ nên xa ĺa dưới gối. Nhưng ngoài việc
phụng sự mẹ ra, muôn sự đều bó lại, xếp
trên gác cao, nơi đ́nh vi[57]
sẽ chính là chốn suối, đá!
* Thư đáp cư
sĩ Quảng Phạm Hàn Thanh Thái ở Dư Diêu
Thư
gởi đến hỏi về ư chỉ “thâm nhập một
môn”, điều ấy đại để v́ môn
đ́nh mỗi đằng mỗi khác mà nói. Nay người
niệm Phật chính là tham cứu nơi niệm Phật. Vẫn
như cũ là cùng một môn, chẳng phải là hai sự.
Nếu tham cứu chẳng tiện, liền thẳng thừng
niệm cũng được. Lại lập một thí dụ,
giống như học tập cử nghiệp. Kinh Dịch
và kinh Thi là hai môn, đúng
là chẳng thể kiêm [cả hai kinh],
v́ chẳng thể dùng cả hai kinh để đi thi. Chỉ
có kinh Dịch, có người nghiên cứu kinh văn, hoặc
giảng giải nghĩa lư, có thể nói là hai môn ư?
Chưa từng nghe nói giải thích ư
nghĩa và nghiên cứu kinh
văn mâu thuẫn nhau [đến
nỗi] chẳng thể kiêm cả hai được!
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Nhuận Tiền Thúc Đạt ở
Hồ Châu (về sau xuất
gia, hiệu là Cụ Mông)
Thư
của lệnh lang tôi đă để nguyên gởi lại.
Dẫu gặp ách nạn, hăy nhanh chóng dứt bặt các
duyên, một dạ nghĩ tới đạo, sẽ là do họa
mà được phước! Kinh Dịch nói “đảnh
điên chỉ, lợi xuất phủ?” (Cái đỉnh
bị nghiêng chân, có ai nhanh nhẹn đổ ngược những
thứ cặn bă trong đỉnh ra ngoài hay không?), chính là nói
về điều này!
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Ức Tôn Vô Cao ở Gia Hưng
1)
Nhận được thư, biết ông lưu tâm nơi
Giới học, vui mừng, cảm thấy an ủi lắm!
Trong đường đời, há có thể hoàn toàn tránh khỏi
hư luận? Lâu ngày, sẽ tự dần dần hóa giải. “Ỷ ngữ” như ông hỏi
chính là [những lời lẽ] hoa mỹ, bóng bẩy,
nhưng thiếu chân t́nh, và những ca từ, khúc hát dâm mỵ,
diễm t́nh, khiến cho tâm t́nh của con người phóng
đăng. “Vọng ngữ” như trong kinh đă nói chính là chỉ kẻ
phàm phu mà xằng bậy xưng là “thánh nhân”. Những điều
khác đều là “tiểu vọng”, được gọi
là “giới chẳng tinh chuyên”, chẳng gọi là “phá giới”.
Pháp môn vô lượng, nói tóm lại chẳng ngoài ba thứ
Giới, Định, Huệ. Hăy nên tuân theo kinh Lăng Nghiêm
dạy “dùng nhiếp tâm làm Giới”; do Giới sanh Định,
do Định phát Huệ. Ba câu nói ấy có thể phụng
hành suốt đời!
2)
Tôi ôm bệnh trong núi nghèo. Tuy nghĩ nhớ, chẳng tiện
gởi thư thăm hỏi. Tôi nghe trước đây
không lâu ông đă kết mối lương duyên; nhận
được thư hết sức vui mừng. [Đọc
thư] lại biết ông tuy ở trong duyên đời mà chẳng
quên tín lực, càng khiến cho tôi ôm niềm vui mừng từ
xa. Bởi lẽ, sống trong đời, cần phải
tùy duyên, chẳng cần phải đoạn sạch duyên
đời rồi mới tu đạo được. Chỉ
cần ngoài là thuận theo t́nh người, trong giữ trí
nhăn, lâu ngày sẽ tự có sở đắc.
3)
Được ông điếu tang cẩn thận, trước
hết xin cảm tạ. Phàm những kẻ xưng là thuộc
núi này, nhưng tham cầu tài vật ở các nơi, sẽ
chẳng phải là kẻ tốt lành trong hàng tăng sĩ.
Nếu có [người như vậy], mong ông hăy suy xét kỹ!
4)
Cách biệt đă lâu, trong khi nghĩ nhớ th́ người
giữ núi chuyển tới thư ông, mới biết ông
đă ngồi dạy học tại nhà họ Châu, khoa thi mới
lại gần đến, chẳng có thừa sức để
tham cứu đạo này;
chỉ giữ sao cho tâm chẳng quên, chí chẳng lùi là
được rồi!
5)
Nhật khóa được chú giải đại lược
trong thiếp kèm theo. Do
ông nay c̣n có cử nghiệp, sự tịnh tu quư ở chỗ
giản ước, thẳng chóng, chẳng thể rườm
rà! Như Quán Âm Văn, kinh Kim Cang, nếu chẳng
rảnh rỗi để tụng tŕ, cứ một mực
niệm Phật th́ công đức của chính ḿnh chẳng
ít!
* Thư trả lời
cư sĩ Tưởng Quảng Trật ở Dư Diêu
Người
mất lúc c̣n sống đă có tín căn, lâm chung chẳng mất
chánh niệm, chư thiên đến thỉnh vời, nếu
chẳng phải là túc thiện, há được như thế
ư? Huống hồ lại được [con cháu] lễ
sám giúp cho! Chẳng cần phải bi thương, hăy nên
sanh ḷng vui mừng. Con số tụng kinh mười vạn
biến tuy chưa có cách bù cho đủ, nhưng cũng chẳng
gây hại ǵ cho người mất. Tụng bù th́ người
c̣n lẫn kẻ mất hai đằng đều
được lợi!
* Thư trả lời
Bách Hộ[58]
Trương Quảng Điềm
Vọng
niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc. Bệnh lâu
ngày, một viên thuốc chẳng thể chữa lành
được. Vọng chất chứa, niệm tạm thời
chẳng thể trừ sạch được! Có cùng một
lư vậy! Bất luận vọng niệm tơi bời, chỉ
cốt sao niệm Phật chuyên ṛng, thiết tha, từng chữ
rơ ràng, từng câu nối tiếp, cực lực chấp
tŕ th́ mới có phần tiến hướng. Đó gọi
là sức thật sự chất chứa lâu ngày, sẽ có
ngày rỗng rang, ví như mài chày thành kim, luyện sắt
thành thép, chắc chắn chẳng dối! Nhập đạo
có nhiều môn, chỉ có một môn này thẳng tắt nhất,
chớ nên coi thường, chớ nên xem rẻ!
* Thư trả lời
cư sĩ Quảng Đ́nh Thịnh Như Lâm ở Ngô
Giang
Niệm
Phật ví như thuốc men, xem Giáo ví như sách thuốc.
Niệm Phật là trọng yếu, nhưng cũng cần
phải hiểu rơ Giáo. Nay trong mười hai thời, dùng
tám chín phần để niệm Phật, một, hai phần
để xem Giáo th́ mới nên!
* Thư trả lời
vị Tăng pháp danh Nhược Vô ở đất Sở
Tuổi
già lắm bệnh, chẳng thể xem tường tận.
Đối với các thứ nghị luận [do thầy gởi tới],
xem đại lược một hai phần, [tôi nhận thấy]
phần lớn đều sáng tỏ, thiết tha, thông
thoáng. Tuy vậy, chẳng bằng hăy gác lại đó, tận
tâm tận lực thực hiện công phu chân thật th́ mới
nên!
* Thư trả lời
cư sĩ Đại Châu Ngô Quư Lập ở Huy Châu
Chẳng
cần buồn bă tội
nghiệp sâu đậm, chẳng cần ngờ vực căn
tánh chậm lụt. Kinh dạy “chí tâm niệm A Di Đà
Phật một tiếng, diệt tội nặng trong tám vạn
ức kiếp sanh tử”, sao lại ngờ nghiệp
sâu? Hơn nữa, cổ thánh nói “chỉ có đường
tắt tu hành, chỉ niệm A Di Đà Phật”, lo chi
căn độn? Ông gặp người bạn họ
Phương, hăy nên bảo với ông ta điều này!
* Thư trả lời
cư sĩ Đại Thịnh Văn Tử Dữ
Thiền
và Giáo như chân và mắt giúp đỡ lẫn nhau,
nhưng cần lấy tu Thiền làm chủ, lấy hiểu
Giáo để giúp sức th́ mới nên!
* Thư gởi tiến
sĩ Vương Long Khê ở Thiệu Hưng
Cư
sĩ đă sớm vượt Vũ Môn, phá toang ngàn tầng
sóng dữ, kho tàng trong biển nay đă mở toang, thủ
hộ vạn quyển kinh Thiên Trúc. Thuyết pháp th́ miệng
thí mưa ngọt, tham cứu huyền lư th́ miệng chứa
châu thiêng, đại để là đă sớm tỏ lộ
trong tông ta vậy. Nay muốn dùng cái móc câu của Nhậm
công[59]
để câu cư sĩ, sợ cư sĩ giương
vây ra oai, khuấy đục ngầu chốn biển xanh.
Tiếng cười nơi Hổ Khê[60]
xưa kia vang rền hoàn vũ,
nay đến Long Khê lại đành chịu lép! Nhưng tuy
là như vậy, có một con suối, sáng sớm có cọp
dữ la cà, tối lại có rồng, rắn ẩn náu, hăy
nói xem: Đó gọi là ǵ vậy? Như thế th́ mới
được cụ Duy Ma chẳng keo tiếc biện tài,
dạy một câu chuyển ngữ!
* Thư gởi cư
sĩ Lưu La Dương ở Tô Châu
Trong
thư trước kia, tôi đă kính khuyên ông chuyên dùng niệm
Phật để cầu sanh Tịnh Độ; nhưng
đạo này chí huyền, chí diệu, cũng lại tột
bậc đơn giản, tột bậc dễ dàng! [Thế
mà] người cao minh coi thường! Sanh tử chẳng
ĺa một niệm; cho đến muôn pháp thế gian hay xuất
thế gian đều chẳng ĺa một niệm. Nay liền
dùng niệm này để niệm Phật, gần gũi,
chuyên ṛng, chân thật chi bằng? Nếu thấy thấu suốt
chỗ dấy khởi của ư niệm ấy, đó chính
là tự tánh Di Đà, là ư của tổ sư từ
phương Tây qua. Nếu chẳng ngộ được,
sẽ nương niệm lực ấy mà văng sanh Cực Lạc; lại
c̣n cắt ngang sanh tử, chẳng bị luân hồi, rốt
cuộc sẽ đại ngộ. Nguyện ông buông xuống
muôn duyên, trong mười hai thời, niệm nào cũng luôn
dũng mănh phát khởi. Đó là điều tôi tột bậc
mong mỏi.
* Thư gởi cư
sĩ Phùng Quân Cư ở Giang Âm
1)
[Những điều ông nói] trong thư gởi đến
khá hữu lư! Bởi lẽ, nơi nha môn mà thanh liêm, trong sạch,
sẽ chẳng tổn hại ḷng từ bi, tạo phước
cho dân, không ǵ chẳng phải là Phật pháp! Kẻ không ra
ǵ này dùng ư ấy để khuyên lệnh lang hăy nghe theo lệnh
của song thân, cậu ta dùng cớ “bệnh tật chẳng
kham lo liệu sự việc, muốn điều dưỡng
thọ mạng để thừa hoan lâu ngày dưới gối
của cha mẹ” để từ tạ. Nói như thế
cũng hữu lư, lại chẳng dám khăng khăng ép buộc
nữa! Vẫn mong bậc cao minh tự phán đoán.
2) Bảy
mươi tuổi xưa nay hiếm, trăm tuổi
được mấy ai? Nay trong cảnh xế chiều, đúng là nên buông xuống hoài băo, thấy
thấu suốt thế gian rơ ràng như một tấn tuồng,
có ǵ là chân thật? Chỉ dùng một câu A Di Đà Phật
để tiêu khiển tháng ngày, chỉ lấy
Tây Phương Cực Lạc thế giới làm nhà cửa
của chính ḿnh. Ta nay niệm Phật, mai sau sẽ sanh về
Tây Phương, may mắn chi bằng? Hăy phát sanh ḷng hoan hỷ to lớn, đừng
sanh phiền năo. Nếu gặp chuyện chẳng như ư,
liền chuyển biến ư niệm, một tiếng Phật
hiệu gấp gáp dấy lên để hồi quang phản
chiếu. Ta là người trong thế giới của A Di
Đà Phật, sao lại có sự hiểu biết giống
hệt người trong thế gian ư? Chuyển sân thành
hỷ, nhất tâm niệm Phật; đấy là pháp môn
đại an lạc, đại giải thoát của người
có trí huệ vậy!
* Thư gửi hiếu
liêm Quảng Tịch Phùng Thái Cù ở Giang Âm (nay
đă xuất gia, hiệu là Thường Tỉnh)
1)
Nghe nói tôn ông[61]
thân thể có chút bất an, lúc này đúng là nên hầu hạ
bên cạnh. Hơn nữa, đối với chuyện ra
ngoài tĩnh tu,
cũng chẳng cần phải hạn định số
năm cụ thể, chắc là nên kịp thời trở về
nhà thăm hỏi cha mẹ, không ǵ là chẳng được!
Cổ nhân nói “chống gậy chẳng trở ngại
thường qua lại” chính là nói đến chuyện
này: Chỉ cần trong
tâm buông xuống, qua lại sẽ giống hệt như chẳng
qua lại. Nếu hạn định thời gian [tĩnh
tu bên ngoài], sẽ đâm ra trở thành vướng mắc,
trở ngại! Hai bộ sách Sớ Sao và Pháp Hỷ tôi
đều nhận được. Lưu thông giáo pháp cùng tột,
công đức vô lượng. Thiên Vương Bổ Tâm
Hoàn [là loại] âm dược, phần nhiều lạnh
mát, nếu người dạ dày khỏe th́ uống
được, người yếu dạ dày chớ nên
dùng.
2) Lần trước tôi đă có lời
can gián: Chớ nên chấp chặt [“phải
xa ĺa người nhà để tĩnh tu”],
chắc là ông đă nghe lọt tai rồi. Kinh dạy: “Nội
tu Bồ Tát hạnh, ngoại hiện Thanh Văn thân”
(trong tu hạnh Bồ Tát, ngoài hiện thân Thanh Văn). Nay
trong th́ ǵn giữ tâm xuất thế, ngoài hiện pháp thế
gian mới nên. Như thế th́ gia đ́nh an tâm, tự ḿnh
cũng được ra vào tự tại, chẳng tác ư giải
thoát mà do vậy đă là giải thoát. Tôi gởi kèm theo một
bản Lạc Bang Văn Loại[62]
vừa mới khắc, và một quyển Thị Phi Quan.
3)
Nhận được thư cho biết ông mong truyền
đạt chí hướng của cổ nhân, chuyện ấy
không ǵ là chẳng thể được! Nhưng cũng chẳng
cần phải dứt bặt nói năng để tu hành,
v́ đôi bên cần phải nghị luận cùng tột lư.
Do bệnh tật, tôi chẳng thể phúc đáp tường
tận được!
4)
Nghe tin ông đạo thể khinh an, đạo niệm kiên
cố, nhưng cụ nhà bị bệnh nhẹ; đấy
là chuyện thường có nơi người già. Hăy nên
thường khiến cho cụ vui ḷng, đó là chuyện trọng
yếu. Tôi lại đúng như lời ông dạy, dâng lên một
con dao cạo tóc. Ư ấy cũng rất hay. Phật đạo
và nhân đạo trọn vẹn đôi đằng chẳng
mất, cổ nhân đă có người làm như thế.
Đỗ thừa tướng đời Đường
chính là người như thế đó. Lại c̣n gần
đây ông khá chuộng tham Thiền,
tuy đáng mừng, nhưng cũng hết sức đáng
lo! Lại có kẻ chấp Thiền phủ nhận Tịnh
Độ, chỉ mong ông dốc ḷng tin, chẳng bị dao
động th́ mới thành công!
* Thư gởi Thường
Tinh Quảng Tịch
1)
Thư ông gởi đến có nhắc tới chuyện thọ
giới th́:
- Một
là thân tôi suy bệnh, chẳng có sức kham nổi.
- Hai
là vốn thuận theo tâm của cổ nhân, nhưng do t́nh
thế [hiện thời], ắt chẳng thể được!
Đă không thể nào được, chỉ nên đối
trước Phật lễ bái tự thọ mà thôi.
Nếu nghi giới Bồ
Tát có kinh văn dạy về tự thọ, c̣n tỳ-kheo
giới chẳng có; nay
tôi giải thích như sau: B́nh thường, giới đàn
chẳng bị ngăn cấm, đàn [truyền giới] mở
ra mà cố ư chẳng đến thọ, cứ tự thọ,
sẽ đúng là có lỗi. Nay đất nước có chuyện
cấm đoán rơ ràng, đối trước Phật tự
thọ theo đúng lẽ phải nên như thế, chẳng
cần nghi! Chuyện này tôi chắc
chắn không làm; do vậy, trả lời riêng cho ông.
2) Từ
Phương Thượng nhắn tin nói “Thường
Tỉnh chẳng xuống tóc, chắc sẽ bỏ đạo”. Tôi phản đối, [nói như thế]
không đúng, ông ta tự có nguyên cớ tôi biết mà. Một
là lệnh tử mới mười hai hoặc mười
ba tuổi, chính là lúc giáo dục khẩn yếu. Hai là c̣n một
con gái chưa gả chồng. Chẳng thể dựa vào bề
ngoài mà sanh báng bổ được! Nghe chuyện này, tôi
mong báo cho ông biết gấp, nhưng khổ v́ không có
người thuận tiện [để chuyển lời],
nay may
mắn có Đại Vọng đến
đây, ngu ư cho rằng: Lệnh
ái hăy sớm hoàn hôn, do lệnh lang và thầy dẫn cô ta
đến trong núi, cứ cách đôi ba tháng trở về
nhà thăm mẹ một lần, và đích thân trở về
coi sóc gia nghiệp, ngơ hầu chuyện đời chẳng
phế bỏ, mà lời báng bổ cũng chẳng do
đâu dấy lên được! Mong bậc cao minh tự
quyết định!
* Thư gởi cư
sĩ Quảng Chấn Châu Tây Tông ở Gia Hưng
1)
Người sống trong cơi đời, gặp thuận cảnh,
tâm t́nh vui sướng, an ổn, gặp nghịch cảnh,
tâm t́nh lo lắng, bồn chồn; nhưng thuận chưa
đáng để coi là may mắn, nghịch chưa đáng
coi là chẳng may! Ch́m đắm trong cảnh thuận ư, cái
tâm xuất thế chẳng sanh. Do lo sợ, chẳng thỏa
chí, sau đấy sẽ chán ngán gông cùm nơi thân, nơi
đời mà cầu xuất thế. Do vậy, đối
trước muôn nỗi khổ chen nhau, chỉ dùng chánh trí
để quan sát khổ từ đâu mà sanh? Từ thân sanh.
Thân từ đâu sanh? Từ nghiệp sanh. Nghiệp do ǵ
sanh? Từ Hoặc sanh. Do Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp
thành thân, do thân chịu khổ; nhưng có thể phá Hoặc
th́ hết thảy không tịch. Dám hỏi phương pháp
để phá Hoặc là ǵ? Chỉ cần thấu hiểu
câu thoại đầu ḿnh đang tham cứu “người
niệm Phật là ai?” Đánh bại nỗi
nghi hoặc ấy, các Hoặc sẽ đều phá, hăy suy
nghĩ, đừng coi thường!
2)
Vào trường thi
[làm văn], đừng nên cố
ư [viết lách] kỳ lạ, cổ lỗ, cũng đừng
cố ư viết giản dị, mộc mạc, chỉ dựa
theo lư mà nêu tỏ cho cùng tận Lư mà thôi!
Dựa trên năng lực mà hết sức
thi thố, tận hết sức mà thôi, khiến cho kẻ
chuộng kỳ lạ, cổ kính chẳng thể chê ta dung
tục, người chuộng b́nh đạm, mộc mạc
cũng chẳng thể chê ta quái lạ. Đọc lên
sướng miệng, xem đến đă mắt. Dẫu
muốn bỏ mà chẳng thể bỏ, sẽ giống
như “vạn tuyển thanh tiền”[63],
ắt là bài văn sách thù thắng, mong ông hăy lưu tâm.
3)
Sau khi cách biệt, tâm t́nh nghĩ nhớ hết sức sâu
đậm, nhận được thư an ủi lắm!
Chỉ mong ông càng thêm tinh tấn tu hành.
Chuyện khiến tâm khốn khó, lo
nghĩ đều là cơ duyên giúp phát khởi giác ngộ,
chớ bị vướng mắc, chớ trầm trệ,
giữ sao cho nội tâm thư thái, sẽ thấy lực dụng
của học vấn. Bản khắc in trong núi vừa mới
xong, chẳng có kỳ hạn mở khóa giảng, tôi gởi
kèm [bản in ấy] theo thư!
4)
Nhận được thư, biết ông từ Kim Lăng
trở về, vui mừng, an ủi lắm! Nhưng chẳng
biết bệnh cũ đă hoàn toàn khỏi hẳn hay
chưa? Ông nói đến chuyện phỉ báng dẫn khởi
mối họa. Đó là do ông X… học vấn chưa trọn,
đức
chưa tu, cứ gấp gáp muốn làm
pháp sư, kẻ hèn này do hảo tâm mà phương
tiện giúp thành cho, giữ ông ta ở trong núi
này giảng kinh, muốn cho ông ta vừa giảng, vừa học,
kiêm tu đức hạnh. Ông ta coi thường, vội vă
cùng với người có cùng chí hướng mưu toan, tự
ở chỗ ḿnh th́nh ĺnh khai giảng, khua khoắng hóa duyên,
lại rêu rao kẻ hèn này
đích thân đến đó giảng kinh. Bất đắc
dĩ, tôi đến quở trách, ông ta khởi ác tâm v.v…
Người nghe bất b́nh, kéo nhau thưa lên quan, quả thật
chẳng phải ư của kẻ hèn này. Trong lúc tôi đang tận
lực cứu chữa, giải quyết, bọn họ bèn
hướng đến người chẳng hiểu rơ sự
t́nh phao tin đồn trăm mối! Sự
báng bổ do vậy mà sanh khởi. V́ vậy,
kẻ hèn này than thở: B́nh sanh một trăm chuyện,
chín mươi chín chuyện gom về nhẫn nhục. Hễ
một chuyện chẳng nhẫn, liền thành phiền
năo, cũng do nhất thời chấp trước. Thầy
phải nên giáo huấn tṛ, chẳng ngại tṛ ương
ngạnh, trái nghịch. Tôi mong v́ Phật môn chỉnh đốn
Thanh
Quy,
nhưng trong đời ác ngũ trược, đúng là chẳng
thể thực hiện được! Như kẻ hèn này
có thể nói là “chẳng
tự lượng sức, chẳng hổ thẹn”, khôn ngăn đau
xót! Đành hướng về người tri kỷ nói rơ một
phen, những điều khác đợi gặp mặt sẽ
nói tường tận!
5) Nhận được
thư, tâm tôi buồn bực. Kẻ chẳng ra ǵ này
cũng lại hoàn toàn chẳng có người giúp đỡ,
chứ người công kích th́ luôn có. Tôi nghĩ t́nh thế
gian nguy của ḿnh cũng giống như ông vậy. Cảnh
giới thế gian đại lược là như thế.
Hăy nên sớm quy vào tiền duyên, dùng lư để tự trừ,
càng thêm phần cung kính, cẩn thận, chớ nên v́ vậy
mà tính xa ĺa!
6) Cụ thân sinh của
ông chẳng dùng tài sản, mà dùng khí tiết thanh cao lưu lại
cho con cháu. Đúng là chuyện tốt đẹp! Nhưng
điều cấp bách trước mắt ai sẽ đảm
đương? Những chuyện của ông Trần, ông
Phùng, hai chuyện ấy chẳng biết rốt cuộc là
như thế nào? Do có người tiện dịp, bèn gởi
lễ bạc là năm đồng, cảm phiền ông
đối trước mộ phần của cụ tế
điện[64]
một chén nước, thêm một viên bùn, nhằm biểu
lộ khí tiết thanh cao đó thôi! Muôn phần đừng
từ khước, từ khước tức là coi tôi quá
xa lạ vậy!
7) Nghe ông bị bệnh,
hết sức lo lắng! Đă mắc bệnh, hăy nên coi
chuyện điều dưỡng thân mạng là ư nghĩa
to lớn bậc nhất. Mọi chuyện trong nhân gian
đều nên chấp nhận, hăy nên chuyện qua rồi
bèn thôi! Cứ ắt muốn chuyện ǵ cũng trọn hết
lễ số, sẽ bị nhọc nhằn, thương tổn,
bệnh tật ắt
sẽ đổ ra. Hăy nên buông xuống
muôn duyên, nhất tâm quán sát nội tâm th́ mới nên!
8) Nghe nói ông mắc bệnh,
nay đề
ra ba pháp:
- Một là đối
trị. Bệnh đă do mệt nhọc, u uất sanh ra, hăy
nên dùng an dật để trị mệt nhọc, dùng
thư thái để trị u uất. An dật chẳng phải
là lười biếng, chẳng phải là qua quít, phế sạch
vạn duyên. Như đứa trẻ mới sanh, sáu thức
chẳng chưa hoạt động, đó gọi là “an dật”.
“Thư thái” chẳng phải là tán loạn, buông lung, chẳng
kiêng dè. Biết thân thế như huyễn mộng, tùy duyên
thuận chịu, chẳng bị cảnh gây khó; tức
là nay có lành bệnh hay không, lẽ sống chết nơi
thân, nhất loạt buông xuống. Đó gọi là “thư
thái”.
- Hai là điều nhiếp
(điều ḥa, thâu nhiếp). Điều nhiếp bằng
cách ăn uống có chừng mực, thận trọng thuốc
thang. Ăn uống chẳng cần phải bàn nữa. Thuốc
men không nên dùng nhiều. Tôi biết những loại thuốc
đắng có tánh hàn như hoàng bách, hoàng cầm, hoàng liên
v.v… khiến cho kim hàn thủy lănh (tức phổi và thận
bị lạnh), chẳng thể bổ âm, chưa thể
giáng hỏa, mà vị khí (công năng của bao tử) bị
tổn hoại trước, [dẫn đến] chẳng
nuốt thức ăn xuống được, có thể dẫn
đến đi tả nguy ngập! Hăy nên bàn bạc với
bậc cao minh.
- Ba là chánh niệm, tức
là như đă nói trong phần
trước: Khổ từ thân sanh, thân từ nghiệp sanh
v.v… Bệnh chính
là một trong các nỗi khổ. Chúng xoay vần làm cái nhân
cho nhau, cũng giống như thế đó. Hăy nên gắng
gỏi, miên mật, sớm tối thấu hiểu, tham cứu.
Tham cứu chẳng được th́ chỉ cần dấy
lên một thoại đầu niệm Phật mà chính ḿnh
đang tham cứu để hồi quang tự xem xét. Biết
buông xuống một niệm ấy, Hoặc sẽ tự
phá. Hoặc đă phá, sẽ lần lượt tiêu diệt,
cũng lại giống như thế. Chỉ nên nỗ lực
thực hiện ba chuyện ấy!
9) Cần phải tin vạn
sự đều là túc duyên. Không chỉ thuận, nghịch,
cùng quẫn, hanh thông, cho đến sanh tử, đều
ném ra biển cả, đừng dấy ḷng lo âu, sợ sệt.
Hăy thâu thập thân, tâm, phản quán nội chiếu câu thoại
đầu ḿnh đang tham cứu. Hăy nhớ kỹ nhé, hăy ghi nhớ chặt
chẽ nhé!
10)
Niệm Phật không chỉ minh tâm mà c̣n không bệnh nào chẳng
trị. Nếu có ai khuyên ông theo học đạo thuật
(các phương pháp tu luyện của Đạo giáo), chớ
nên tin nhận, sợ đánh mất chánh tri kiến! Tôi
đặc biệt trần thuật sẵn!
11) Bệnh t́nh của
ông tới mức ấy cũng hết sức nguy hiểm.
Hăy nên viết ra những điều ông muốn căn dặn,
giao cho lệnh lang và tôn đường, khiến cho bụng
dạ trọn chẳng có ǵ vướng mắc, nhất
tâm chánh niệm. Nếu thường ngày tin tưởng
pháp môn Niệm Phật, có thể dùng tâm mục để nội
chiếu bốn chữ danh hiệu Phật sao cho rành rẽ,
phân minh chẳng gián đoạn. Dẫu cho hôm nay hay ngày mai
ĺa đời cũng đều được! Nếu
như chưa đi, sống đến một trăm hai
mươi tuổi cũng được. Đấy là lời
khẩn yếu, bạn bè b́nh sanh giao du với nhau là ở
chỗ này. Những chuyện khác đều là chuyện nhỏ
nhặt, chẳng rảnh để lo tới, chớ nên
tham sống sợ chết, lầm lẫn đại sự!
* Thư gởi cư
sĩ Đại Thăng Châu Nguyên Hậu ở Gia Hưng
Gặp
nhau hồi tháng Bảy, [thấy] cụ thân sinh của ông
nghẹn tiếng, thân h́nh c̣m cơi, biết bệnh cụ
đă ngặt. Hôm qua nghe tin cáo phó, buồn tiếc chẳng
thể nói nổi. Hăy mau chóng trong ṿng bốn mươi chín
ngày, tạo công đức tốt lành cho cụ. Chẳng cần
[thỉnh] tăng cho nhiều, dẫu chỉ một vị
mà chí tâm tụng kinh th́ cũng được!
* Thư gởi cư
sĩ Quảng Thọ Trịnh Bạch Sanh ở Tô Châu
1)
Do Thánh Sơ đến đây, tôi mới biết lệnh
huynh đă mất, các thiện hữu có ai bị ngă ḷng hay
chăng? Nếu ở trong núi ăn chay mà chết yểu,
người ta sẽ nói “ăn chay có thể khiến
người chết yểu, mọi người chớ nên
tŕ trai vậy!” Thế nhưng do Nhan Tử có ḷng nhân mà chết
yểu, cũng sẽ nói “ḷng nhân có thể khiến cho
người ta chết yểu, con người chớ nên có
ḷng nhân” ư? Lên núi vào tháng Bảy, nửa quả núi c̣n
hoang vu, tháng Chín bỗng ĺa đời, mạng người
vô thường như thế đó! Ngay trong lúc đáng cảm
thán, càng nên tinh tấn bội phần. Lại nữa, ăn
thịt hay ăn chay th́ mập hay gầy chắc là
có, nhưng chẳng dính dáng đến thọ hay yểu.
Mong ông nói lại với các bạn, mong lắm thay!
2)
Thư trả lời Tào Lỗ Xuyên lần nữa để
ở chỗ Thánh Sơ, chẳng biết ông có từng xem
chưa? E rằng lời lẽ trong ấy quá nghiêm khắc,
v́ Tào Lỗ Xuyên là người thấu hiểu sâu xa chỉ
thú kinh Hoa Nghiêm, ắt sẽ vui ḷng nghe những luận
định thẳng thắn!
* Thư gởi cư
sĩ Vương Đại Trác
Đối
với bệnh t́nh của ông, hăy nên đem những chuyện
ngoài thân, ngay cả tứ chi, trăm lóng xương nơi
thân đều tận t́nh buông xuống, khiến cho rỗng
không, chẳng có một vật. Nếu ắt chẳng thể
ngưng dứt được, hăy tạm thời ngưng
dứt, đợi sau này xử trí. Vọng tưởng lừng
lẫy chẳng thể chế ngự, hăy nên niệm Phật
mấy tiếng để đè nén. Phú quư, vinh hoa trong thế
gian cũng bất quá là chuyện trong một khoảng thời
gian, ách nạn khổ năo cũng bất quá là chuyện trong
một khoảng thời gian, bỗng dưng chẳng có.
Hơn nữa, muôn sự đều thuộc tiền duyên,
năng lực của con người chẳng thể làm thế
nào được! Hăy tận t́nh buông xuống, nhất tâm
niệm Phật. Tột bậc căn dặn!
* Thư gởi anh em
ông Hứa Thái Vi ở Gia Hưng
Hiếu
tử khi cha mẹ mất, dẫu cùng chết theo, vẫn
chưa trọn hết cái tâm vô cùng được! Nhưng
cổ nhân dẫu đau thương, chẳng hủy hoại
thân thể, gắng gượng trong lúc buồn bă cùng cực
mà tiết chế đau thương, v́ sao? Do thân hiện tại
của ta chính là thân do cha mẹ [sanh thành], dùng thân này để
tu đức, lập hạnh; đó chính là cha mẹ ta
thường c̣n, chẳng mất. Chẳng yêu mến thân
này, quá buồn rầu thành bệnh, nếu cha mẹ ta hay
biết, sẽ đâm ra thêm lo âu. Đấy là bi có thừa
mà trí chẳng đủ!
Hiếu tử là người trong cuộc, tôi dùng ngu kiến
quan sát bên cạnh, nguyện đừng ghét bỏ lời
nông cạn của tôi mà hăy suy nghĩ sâu xa. Gia đ́nh ông cả
nhà hiếu thảo, anh em ḥa thuận, hiếm thấy trong
cơi đời. Kẻ tàn
phế, hủ lậu [như tôi] kính trọng, yêu mến;
do vậy, cuồng vọng nói đến chuyện này!
* Thư gởi Cấp
Gián[65]
Quảng Am
Hồng Thanh Viễn
Đại
lang (con trai cả) ở trong núi, ư muốn lưu lại
tiêu khiển mấy hôm, sợ song thân mong nhớ. Lại
nghe nói cậu hai sanh bệnh nhọt, chẳng hoàn thành kỳ
thi. Đó gọi là “chẳng tính làm mà lại làm” vậy.
Hai vị lang quân đều là nhân tài tốt đẹp,
mong ông hăy đừng v́ chuyện đă qua mà than thở vô
ích, chỉ mong phấn chấn tinh thần, tương lai ắt
có sách lược đắc thắng!
* Thư gởi cư
sĩ Đại Tuân Văn Đàn Am
Cổ
đức đem lời [tốt lành] tặng người
khác. Lần này ông ra làm quan cai trị đă là chuyện trong
sáng tối, tôi thử trần thuật đại lược
chuyện hộ pháp. Nghe nói ngoại hộ Phật pháp giao
cho vua, quan, nhưng hộ pháp hiện thời đă có t́nh
trạng uốn cong lẽ chánh, xử trí không thích đáng,
đến nỗi tăng sĩ vui sướng ở trong
am, mà dân đen khóc ṛng nơi đồng hoang. Thích tử coi cân
đai là vênh vang, Nho sĩ bị họ
đoạt mũ áo, há chẳng hết sức đáng
thương ư? Chỉ có cư sĩ như ông giữ trọn
ḷng nhân, nay sẽ coi trung quân yêu dân là nhiệm vụ chánh yếu
của kẻ làm quan, kế đó mới dính dáng chuyện
hộ pháp, giữ ǵn lư, chẳng ch́m đắm trong h́nh
tích, giữ ǵn lẽ chánh, chẳng bị lôi kéo bởi t́nh cảm.
Che chở người hiền, chẳng thủ hộ kẻ
không ra ǵ; đó gọi là “thật sự hộ pháp”, vẫn
mong ông hăy lưu ư.
* Thư gởi cư
sĩ Tần Minh Trung
Pháp
môn vô lượng, cốt yếu là minh tâm. Môn trọng yếu
để minh tâm không ǵ bằng Niệm Phật. Những
lúc rảnh rỗi ngoài việc đọc sách và trước tác,
hoặc khi tâm phiền năo, hăy tĩnh
tọa niệm Phật, sẽ rất có lợi ích. Một
niệm tại Phật, tạp niệm sẽ ngưng lui,
tâm không, cảnh vắng, mầu nhiệm cỡ nào? Nguyện
đừng dễ dăi coi thường.
* Thư gởi cư
sĩ Quảng Lương Tần Nhậm Nam ở Ngô Giang
1)
Ông nói “mở mang u ám, tháo trói buộc bởi nghiệp”,
nếu thấu hiểu th́ u ám chính là quang minh, nghiệp trói
buộc không ǵ chẳng phải là giải
thoát. Nếu chẳng hiểu, chỉ luôn nhiếp tâm niệm
Phật, lâu dần tĩnh định, sẽ tự có thể
phát huệ.
2)
Tu hành cũng chẳng ắt phải nhọc nhằn,
điều yếu khẩn là thấu hiểu bổn tâm mà
thôi; nhưng chớ nên thấy
nói như thế ấy,
liền toan khoanh tay [bàng quan để] ngồi hưởng
thành tựu. Đối với chuyện “nhiếp niệm
thể cứu”, chớ nên xem nhẹ. Nhiếp niệm
và thể cứu cũng
chẳng phải là hai pháp. Nhiếp niệm
chẳng thôi, tâm sẽ tự sáng suốt. Ngay trong lúc
đang thể cứu chính là lúc thâu nhiếp, chỉ chịu
tin tưởng hành theo, sẽ đều đạt
được lợi ích to lớn.
* Thư gởi các con
trai của ông Tần Nhậm
Nam
1) Người xưa nói: “Đức
hạnh là gốc, văn nghệ là ngọn”. Gốc ngay
th́ ngọn sẽ chánh; đức hạnh lại là căn
cơ của văn nghệ. Ba vị bản tánh đều
thuần lương, chỉ v́ tập tục hiện thời
bạc bẽo, dễ khiến cho con người chuyển
dời, bậc có chí sẽ làm cột đá chống chọi
giữa ḍng, chẳng bị đoạt mất. Mai sau, tuy
làm chuyện hữu vi mà ắt là nhân vật quang minh, tuấn
vĩ, chẳng đọa thành hạng tầm thường!
2) Tham, sân, si được
gọi là Tam Độc, nhưng sân là thứ độc
nghiêm trọng nhất. Một vị tăng do nỗ lực cần kiệm, tích
cóp hai mươi năm có được sản nghiệp
ngàn vàng. Ngẫu nhiên v́ một chuyện nhỏ nhặt với
vị tăng gần đó mà tranh chấp, thưa kiện.
Trong ṿng mười ngày, tài sản ngàn vàng toàn bộ mất
sạch! Tích cóp hai mươi năm, mất sạch trong
mười ngày; giận dữ một buổi, quên bẵng
thân ḿnh và người thân, há chẳng đúng như thế
ư? Một niệm sân tâm dấy, tám vạn cửa
chướng mở. V́ thế nói là Nhẫn Nhục Ba La Mật.
* Thư gởi cư sĩ Đại Khí Thái Thản
Như ở Tô Châu
Học hành, cai quản gia
nghiệp, cầu con đều là những chuyện chánh
đáng trong
đời người,
nhưng cần phải đừng bị lụy bởi
đó; nhưng ba chuyện ấy chẳng thể
gây lụy
cho người, mà con người tự lụy đó thôi!
V́ sao? Học hành tuy để thi cử, nhưng thành công
hay không, phó cho tiền duyên, chẳng sanh vui, buồn, sao nó
gây lụy cho được? Lo liệu gia nghiệp tuy là
để mưu sinh, nhưng tùy duyên, tùy phần, xong việc
liền thôi, tâm chẳng cầu giàu sang, chẳng có tâm háo thắng,
sao gây lụy cho được? Cầu con tuy không có người
nối dơi là chuyện lớn, nhưng người chẳng
cưới vợ mới là bất hiếu, đế
vương cũng có người không con, [dùng con cái của
những người] chẳng phải ḍng chính để kế
thừa đại thống (ngôi vua), há [hoàng đế] chẳng
có tiền tài để lấy vợ ư? Có con hay không chẳng
bị động tâm, sao gây lụy cho được? Lại
c̣n nên biết ba chuyện này tuy nói là “chánh sự”, thật
ra cũng là hư huyễn, như trăng trong nước,
như cảnh trong mộng, tức là cũng giành được
nhàn rỗi trong bận rộn, luôn luôn tỉnh giác, hướng
về chánh niệm. Một mai Hoặc phá, [nội tâm] mới an nhiên.
* Thư gởi cư sĩ Đại Côn Tiền Nhụ
Nguyện ở Hồ Châu (khi đó, ông ta phát
nguyện thực hiện ba ngàn điều thiện)
Cổ nhân nói: “Người
có thiện nguyện, trời ắt thuận theo”. Lại
nói: “Nhân định cũng có thể thắng trời”. Trả
lại đai ngọc, chức quan tới Tam Công; cứu kiến
bị lụt, danh ghi đầu bảng vàng; chỉ quyết chí hành thiện mà
thôi!
* Thư gởi Tổng Nhung Quảng Chú Lư Cảnh
Sơn
Ngày hôm qua, tại Tây Hồ
đưa tiền phóng sanh chẳng gặp, nay có một lời
khuyên nhủ: Đối với chuyện của cháu nội
ông, ngàn vạn lần hăy dứt trừ nỗi buồn khổ,
hăy buông xuống, buông
xuống! V́ sao vậy? Đấy chính là cháu ông đến
đ̣i nợ. Nay nếu ông buồn khổ, ắt nó sẽ trở lại, vẫn như
cũ chẳng nuôi được, phơi phới rời
đi, càng tăng thêm buồn rầu, áo năo. Nếu buông xuống, dứt khổ, nó sẽ tuyệt vọng,
chẳng đến nữa, sẽ có con thật, cháu thật
sanh đến. Ngàn vạn phần hăy dứt khổ, buông
xuống, buông xuống; đó là điều
tôi thiết tha căn dặn. Chỉ
cần chẳng ngă ḷng, tận lực hành âm đức, sẽ
tự được thiện báo.
* Thư gởi cư sĩ Tiền Quảng Vân
Bị người khác nói ra
nói vào là chuyện nhỏ, dốc cạn t́nh thiên luân với
người thân yêu nhất mới là đại sự. V́
quyến luyến t́nh thủ túc, dẫn đến chậm
trễ nơi đường công danh. Đó chính là tâm địa
của thánh hiền. Trăm miệng khó vu vạ tấc
ḷng chân thật, một điều nhẫn có thể tiêu
ngàn loại chướng. Đô quân[66]
(vua Thuấn) chẳng nhớ nỗi oán [do đứa em
cùng cha khác mẹ là Tượng] lấp giếng, Hoằng
công chẳng hỏi chuyện bắn trâu[67],
cao vượt những kẻ tầm thường vạn
vạn lần. Hăy nhớ nhé!
* Thư gởi cư sĩ Ngô Đại Chiêm ở
Huy Châu
Nhà tích chứa điều
lành, ắt niềm vui có thừa. Người ấp ủ
thiện nguyện, trời ắt thuận theo, ắt
phước tăng cao, ắt tuổi thọ dài lâu, ắt
toại thanh danh, ắt con cháu đông đảo, chỉ cần
chính ḿnh siêng tu công lao tốt lành, chẳng bận tâm là cát
hay hung!
* Thư gởi cư sĩ Trần Xuân Dương
Niệm Phật chỉ dính
dáng nơi sự tướng; đó là cách nói đoán ṃ của
kẻ sai lầm, chẳng đáng tin tưởng! Có sách Tịnh
Độ Nghi Biện, đă gởi tặng cho ông xem hay
chưa? Nay lại dâng một quyển sách. Hơn nữa,
chương Thế Chí Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm có nói: “Bất
giả phương tiện, tự đắc tâm khai”
(chẳng nhờ vào phương tiện mà tâm được
tự mở mang), chẳng lẽ không có duyên do mà được
sáng tỏ ư? Mong ông hăy xem một lượt. Hôm qua, lại
bàn về sách Thiền Môn Khẩu Quyết, tôi đă sao lục
lá thư “trả lời ông Tống Hóa Khanh” về chuyện
lệnh thân t́m cầu sách Khẩu Quyết để tŕnh
lên ông. Sách ấy quả thật chẳng phải là ư chỉ
chánh yếu của tổ Thiên Thai hay đại đạo
trong Thiền môn, chớ nên v́ hai chữ Khẩu Quyết mà
tưởng sách ấy là lạ lùng, đặc biệt!
Tông Thiên Thai có kinh văn nói rơ cách tu hành chánh đáng, Thiền
môn tự có ư chân thật của tổ sư, sao lại bỏ
vàng mà quư chuộng đồng, sắt, chẳng ưa thi Tiến
Sĩ mà chuộng đi thi ba lần? Nghe nói trong thuyền
phóng sanh cũng có bàn luận chuyện này, có kẻ khuyên tôi
hành tŕ, tuy là hảo tâm, yêu mến tôi, nhưng đấy chẳng
phải là điều tôi mong mỏi. Mong ông hăy chuyển
đạt tới lệnh thân.
* Thư gởi quận thừa[68]
Thang Lân Sơ
Nhớ giao t́nh từ thuở
thơ ấu rành rành như mới hôm qua, nhưng đôi bên
đều bạc đầu cả rồi! Phù sanh như mộng,
huyễn, thật đáng than dài sườn sượt! Do
hai vị tăng từ Giang Hữu đến yết kiến,
nhân tiện tôi gởi lời giăi bày nỗi cảm khái cách
biệt lâu ngày!
* Thư gởi Đại Tham[69]
Tra Ngu Cao
Anh em họ Tăng là những
người lạ lùng. Họ gặp nỗi hoạn nạn
cũng đặc biệt lạ lùng. Nạn nẩy sanh bèn
thoát thân, [trong cảnh ngộ] trăm phần chết mà
được một phần sống, hiên ngang giữ vững
ư chí của chính ḿnh, điều đó lại càng kỳ lạ
hơn. Nhưng họ chẳng tự nhận biết sự
lạ lùng quá mức, do quá khích động đến nỗi
bị tổn thương, bị người
đương thời ghét bỏ, cái tâm ấy đáng dung
thứ, đáng thương xót. Giả sử họ chẳng
suy sụp ư chí, sau khi vấp ngă, lại dấn thân vào con
đường làm quan, ắt sẽ có sự nghiệp rạng
rỡ, chẳng cô phụ sự tri ngộ nhận làm môn hạ
của Ngài. Hôm qua, họ đến núi, tính [cùng sang]
bái yết Ngài, nhưng do mưa ngăn trở, chậm trễ
tới hôm nay. Kẻ chẳng ra ǵ này lại do thân thể bệnh
tật, chẳng thể cùng đi với họ, xin tạ
lỗi. Có hai loại sách được khắc ở ngoài
núi, xin gởi kèm theo, [những điều khác] chẳng thể
trần thuật hết.
* Thư gởi cư sĩ Quảng Dực Ngô Niệm
Từ ở Nam Thành
Nhập đạo
có nhiều môn, nhưng thẳng, chóng, giản dị, trọng
yếu, không ǵ bằng niệm Phật. Một môn Niệm
Phật trên là độ hàng lợi căn tối thắng,
dưới là thấu đến kẻ cực ngu, cực
độn. Bởi lẽ, đối với đạo “thông trên, thấu dưới”, đừng bị
lay động, mê hoặc bởi cách nh́n thế tục. Các
vị tôn túc từ xưa dạy người khác khán thoại
đầu, dấy nghi t́nh để mong họ sẽ đại
ngộ. Hoặc là khán chữ Vô, hoặc khán vạn pháp v.v…
chẳng phải chỉ một cách. Nay thử so sánh, “nếu
như vạn pháp quy vào một, một quy vào chỗ nào” hết
sức tương tự câu “người niệm Phật
là ai?” Nếu tham cứu thấu triệt “là ai?” th́ “một
quy vào đâu?” sẽ chẳng cần hỏi ai khác mà tự
rỗng rang! Cổ nhân nói “người niệm Phật
muốn tham Thiền, chẳng cần phải nêu lên câu thoại
đầu nào khác” chính là ư này. Niệm Phật mấy
câu, hồi quang tự khán xem câu niệm Phật ấy là
ǵ? Dụng tâm như thế, đừng quên, đừng
giúp[70],
lâu ngày sẽ tự tỉnh ngộ. Nếu chẳng thể
thẳng thừng niệm, cũng có thể giữ cho niệm
ấy chẳng ĺa Phật, Phật chẳng ĺa niệm, niệm
tột cùng, tâm rỗng không, cảm ứng đạo giao,
hiện tiền thấy Phật; đó là lẽ tất
nhiên!
* Thư gởi quan Tư Lư[71]
Hoàng Bành Tŕ ở Giang Tây
Bệnh từ thân sanh, thân từ
nghiệp sanh, nghiệp từ tâm sanh; tâm không th́ nghiệp
không, nghiệp không th́ thân không. Thân
đă không, bệnh do đâu mà sanh? Xin hăy rỗng không cái
tâm, tức là gặp chuyện hết sức trái ư, vẫn
coi như mộng, như huyễn, như bọt, như
bóng, an nhiên, thản nhiên, chẳng bận tâm mảy may, chỉ
hồi quang nội chiếu, không chỉ trừ bệnh, mà
đạo sẽ từ đó mà nhập.
* Thư gởi Hiếu Liêm Trí Đệ Vương Tử
Ngung ở Thái Thương
Nhà ông nhiều đời tu
đức dày, v́ sao thân thể ông mắc phải bệnh
ngặt ấy? Chẳng phải là do túc nghiệp khiến
thành ra như thế ư? Căn nguyên của bệnh tật
phần nhiều do sát sanh mà ra. V́ thế, riêng coi trọng
phóng sanh. Nay c̣n có những điều cần trần thuật: Đó là v́ thỉnh vị
tăng bên ngoài thay ḿnh sám hối, so với nội tâm tự
sám, công đức khác biệt rất xa. Xin ông hăy trống
ḷng, tận lực bỏ hết thảy các duyên, từ
trong cái tâm rỗng không ấy, chỉ niệm một câu A
Di Đà Phật. “Niệm” như vừa mới nói, chẳng
cần phải mở miệng, động lưỡi, cứ
lặng lẽ dùng tâm nhăn phản chiếu, từng chữ
từng chữ một phân minh, từng câu từng câu tiếp
nối, từ sáng đến tối, từ tối đến
sáng, tâm tâm chẳng gián đoạn. Nếu có đau khổ,
hăy nhẫn nại, nhất tâm chú ư niệm. Kinh dạy: “Chí
tâm niệm Phật một tiếng, diệt trọng tội
trong tám mươi ức kiếp sanh tử!” V́ thế,
công đức khác biệt vời vợi!
* Thư gởi cư sĩ Cố Quảng Tá ở Hồ
Châu
Ba chuyện của người
già:
- Một, đức Phật
dạy “mạng người tồn tại trong hơi thở”
là nói với hết thảy mọi người, huống hồ
người tám mươi tuổi ư? Chuyện nhà cần
phải xử trí, hăy đều nên xử trí xong xuôi. [Chuyện
ǵ] cần phải căn dặn, đều nên căn dặn,
thường khiến cho cái tâm chẳng có một chuyện
ǵ.
- Hai, ngoài chuyện lớn
ra, những chuyện vụn vặt khác cũng đều
vứt bỏ.
- Ba, ngoài các chuyện lớn
nhỏ ra, lại có phù du loạn tưởng quá khứ, hiện
tại, tương lai, diệt rồi lại sanh, càng xua
đuổi chúng càng kéo đến. Ngay trong lúc ấy,
hăy nên dũng mănh dấy lên chánh niệm, chiến đấu
với nó. Dẫu tạm thời chẳng thắng, chớ
nên ngă ḷng, hành tŕ lâu ngày, tự nhiên lũ ma diệt sạch,
thiên hạ thái b́nh.
Trên đây, tuy chia thành ba hạng
mục, nhưng nói chung đều thuộc về vọng
tưởng, như chuyện trong mộng, như h́nh bóng trong gương, như trăng
trong nước, hoàn toàn là rỗng không, chẳng thật,
nhưng chúng mê hoặc người đời, cần phải
dùng chánh trí để phá Hoặc!
* Thư gởi cư sĩ Tiền Quảng Nghệ
Bệnh từ thân sanh, thân từ
nghiệp sanh, nghiệp từ tâm sanh, tâm không th́ nghiệp
không, nghiệp không th́ thân không, thân không th́ bệnh không.
Buông xuống muôn duyên, nhất tâm chánh niệm. “Nhất
tâm chánh niệm” là chỉ đặt một câu Phật
hiệu trong cái tâm thanh tịnh.
* Thư gởi cư sĩ Hồng Đại Mậu
Lời Sớ viết: “Tuy
có mười sáu phép Quán, hễ nói Phật là trọn đủ.
Chỉ quán một vị Phật, đă thành văng sanh thượng
thượng phẩm”. Chỉ trong lúc này, do hăy c̣n một
mực đặt tâm nơi cử nghiệp, đợi khi
đoạt được áo gấm trở về, lại
gom góp nguyện trước vẫn chưa muộn.
* Thư gởi cư sĩ Tạ Quảng Dự
Ông cụ thân sinh của ông
tuy qua đời, thân thể của con chính là di thể của
cha mẹ. Dùng di thể ấy để nhất tâm niệm
Phật, đó là đại phương tiện để
báo ân cha mẹ, mà cũng chính là đại phương tiện
tối thượng để chính ḿnh siêu sanh tử.
* Thư gởi thị giả Trí Chân
Tôi đặc biệt căn
dặn Lư Nhị Đạo tháp tùng ông cùng đi, v́ sao
đùn đẩy ông ta đi trước, tự ḿnh th́ chần
chừ chuyện xuất gia? Hăy nên xa ĺa ân ái, chỉ trừ
thăm viếng cha mẹ đôi chút mà thôi; ngoài ra, thăm viếng
thân quyến, bái phỏng, kết giao bạn bè, đều chẳng
nên làm! Nay tôi đă già lụn, chẳng c̣n ở đời
được mấy chốc, ông tuy thơ dại,
nhưng chẳng phải là kẻ trường thọ,
cũng chẳng ở trên đời được bao lâu,
nếu chẳng kịp thời tiến thêm một bước,
phí uổng thời gian, sau này hối hận chẳng kịp!
Hăy nên suy nghĩ cặn kẽ, mau chóng trở về, chớ
nên lần khân nữa!
* Thư gởi cháu trai là Hứa Đông Hồ
Gần đây uống
thuốc như thế nào? Ngày hôm qua, tôi nghĩ đời
người vô thường, thời gian vùn vụt, trong cốt
nhục chí thân, người trung hậu chí thành chỉ có
ḿnh Đông Hồ mà thôi. Hăy nên tỉnh ngộ ư ấy, giác
ngộ đời người như mộng huyễn, muôn
sự đều giả, cùng quẫn, hanh thông, được,
mất phó mặc cho túc duyên! Hăy mở rộng tấm ḷng, giải
trừ ưu sầu, tự đạt được thong
dong. Giao phó nhà cửa cho các con, t́m nhàn trong bận, t́m vui
trong bực tức, niệm Phật tiêu khiển cho trọn
hết tuổi trời. Đó gọi là người trí,
đừng uổng công tự khổ, rốt cuộc chẳng có lợi ích ǵ!
* Cùng với ba vị văn học gia luận định
văn chương
Tác phẩm hay đẹp của
ba vị nói chung đều là dụng ư tinh thâm, nhưng cách
dùng chữ c̣n thô ráp, chưa đạt được ngữ
ư viên dung, khiến cho người đọc chẳng thể
không tốn công suy lường, [chẳng thể khiến
cho người đọc] vừa lọt vào mắt liền
gơ nhịp tán thưởng, không ǵ chẳng là do khi sáng tác
đă cố ư quá sức mà ra đó ư? Ngu ư cho rằng: Chẳng cần phải
cố ư dấy tâm săn đón sao cho phù hợp phong cách
được ưa chuộng trong hiện thời, chỉ
cốt sao lắng ḷng xem sách, khiến cho kiến địa rành
rẽ, đọc nhiều để bồi đắp
thêm, luyện tập nhiều cho thuần thục. Một
mai bỗng dưng thông suốt, khi hạ bút sẽ tung hoành
lưu loát, cuồn cuộn chẳng cùng tận, tự nhiên
thành chương, chẳng có dáng vẻ gian nan, nhọc nhằn,
chẳng toan hợp thời mà tự hợp thời. Châu của
Tùy Đế, ngọc bích của Biện Ḥa, của báu chân
thật tự nhiên, cũng lo ǵ chẳng được
người khác thưởng thức?
Vân Thê
Pháp Vựng
Phần
8
[1] Phàn Sơn
Vương là tước hiệu phiên vương
được ban cho Châu Chiêm Cương (con trai của
Minh Nhân Tông), và con của ông ta được tập ấm
tước hiệu này. Vị Phàn Sơn Vương
được nhắc tới ở đây là đời thứ
năm, tên là Châu Dực Xí (1568-1626), tự là Khuông Đảnh,
hiệu là Ẩn Chân Tử. Châu Dực Xí c̣n có tên tự là
Mạnh Thường và Chấn Nhạc, vốn là một
thi nhân nổi tiếng trong hoàng tộc nhà Minh. Các tác phẩm
tiêu biểu của ông ta là Chấn Nhạc Thi Thoại và Quảng
Yên Đường Tập.
[2] Thạch Đầu Hy Thiên là một
vị thiền sư lỗi lạc trong
Thiền Tông. Lúc
mười hai tuổi, gặp Lục Tổ thuyết pháp,
Sư cảm mộ đức hạnh bèn theo Tổ
xuất gia. Khi Thạch Đầu mười lăm tuổi,
Tổ viên tịch. Trước lúc mất, Thạch Đầu
hỏi: “Ḥa thượng mất
rồi, con sẽ nương tựa vào ai?” Tổ trả lời:
“Tầm tư khứ”. Thạch Đầu hiểu lầm
là Tổ dạy hăy suy nghĩ, tư lường để
thể ngộ chân tâm, nên suốt ngày lặng lẽ tọa
Thiền. Về sau, gặp một vị lăo tăng bảo
ư Tổ là hăy đi t́m Thanh Nguyên Hành
Tư (một đại đệ tử của Lục Tổ).
V́ “tầm tư khứ” thật sự nghĩa là “hăy
đi t́m Hành Tư”, Thạch Đầu lại hiểu
là “hăy t́m ṭi, suy tưởng”. Thạch Đầu vâng
lời, đến học với Thanh Nguyên Hành Tư và
đắc ngộ. Phàn Sơn Vương dùng chuyện này
để diễn tả ư sợ ḿnh ngu độn, hiểu
sai lời dạy của tổ Liên Tŕ đến nỗi phí uổng thời gian, ơ hờ
tu tŕ, không chỉ tạo chướng ngại cho chính ḿnh, mà c̣n tăng thêm nghiệp cho Tổ.
[3] Đây là một điển cố
trong Thiền Tông. Theo sách Phó Pháp Tạng, vị tổ thứ
mười lăm của Thiền Tông Ấn Độ là
Ca Na Đề Bà thoạt đầu là ngoại đạo.
Nghe danh tiếng của tổ Long Thọ, Ca Na Đề Bà
từ nước Sư Tử lặn lội đến
nước Kiều Tát La đ̣i tranh luận. Long Thọ sai
đệ tử đem một bát nước đầy ắp
đặt trước Ca Na Đề Bà. Đề Bà liền
thả một cây kim ch́m xuống tận đáy bát. Long Thọ
tán thán Đề Bà là bậc trí huệ dũng mănh, liền
tiếp chuyện và cuối cùng điểm hóa Ca Na Đề
Bà quy hướng Phật pháp. Theo các vị chú giải, bát
nước đầy biểu thị Long Thọ trí huệ
sung măn, không thiếu khuyết. Đề Bà thả kim ngụ
ư: Trí huệ của chính ḿnh cũng sắc bén có thể thấu
tột cùng nguồn cội của sự vật. Ở
đây, Phàn Sơn Vương dùng điển tích này để
biểu đạt chính ḿnh và Định Hư có sự thấu
hiểu thấu triệt tâm tánh lẫn nhau.
[4] Đây là một câu
chuyện trong Thiền Tông. Tổ Đạt Ma muốn truyền
trao y bát cho đệ tử, bèn bảo các đệ tử
nêu ra sự thấu hiểu đối với Phật pháp.
Thiền sư Đạo Phó thưa: “Chẳng chấp vào
văn tự, chẳng ĺa văn tự, đó là tác dụng
của đạo”. Tổ bảo: “Ông đạt được
phần da của ta”. Tỳ-kheo-ni Tổng Tŕ thưa: “Hễ
thấy th́ chẳng c̣n thấy nữa”. Tổ bảo: “Bà
đạt được phần thịt của ta”. Thiền
sư Đạo Dục thưa: “Tứ Đại vốn
không, Ngũ Ấm chẳng có, không có một pháp nào để
có thể đạt được”. Tổ khen: “Ông đạt
được phần xương của ta”. Hỏi đến
ngài Huệ Khả, chẳng thưa thốt ǵ, chỉ lễ
bái Tổ ba lượt, sau đó đứng im lặng. Tổ
khen: “Ông đạt được phần tủy của
ta” rồi phó chúc y bát cho Huệ Khả.
[5] Pháp sư Giao Quang có pháp danh là Chân
Giám.
[6] Thiên tuế
(ngàn năm) là danh xưng dành cho các thân vương (người
được phong tước vương trong hoàng tộc),
ngụ ư thấp hơn vạn tuế (danh xưng dành cho
hoàng đế). Nhưng có khi quyền thần lạm dụng,
như Ngụy Trung Hiền bắt mọi người gọi
hắn là cửu thiên tuế (chỉ kém vua một chút). Nguỵ
Trung Hiền vốn là hoạn quan, do vua Minh Hy Tông u mê, tin
tưởng hắn (cũng như do sự trợ giúp của
vú nuôi nhà vua là Khách Thị) khiến hắn thừa cơ
lũng đoạn triều chánh, nắm quyền hành ngang
ngửa với tể tướng (thủ phụ).
[7] Thiện Tài
đồng tử vâng lời dạy của Văn Thù Bồ
Tát lần lượt đi qua một trăm ṭa thành để
tham học với năm mươi ba vị thiện tri thức,
nên “bách thành yên thủy” được dùng với ư
nghĩa “đi tham học khắp các thiện tri thức”. Ở
đây, sư Giao Quang nói “bách thành bất cử túc” (chẳng
giở chân đi qua trăm thành) với hàm ư: Được
nhận lời dạy bảo của Tổ Liên Tŕ, sẽ
đại triệt đại ngộ, chẳng cần phải
khổ công đi tham học nữa.
[8] Lập lượng (立量) là một thuật ngữ trong Nhân Minh Học, xác lập
ba yếu tố là tông, nhân, dụ để so sánh ḥng lập
luận th́ gọi là Lập Lượng.
[9] Khi con người đầu thai,
thần thức (cụ thể là thức thứ tám) nhập
thai trước, nên gọi là “lai tiên”. Khi chết đi, thức
thứ tám rời đi sau cùng, nên gọi là “khứ hậu”.
[10] Ấp lệnh (邑令) là cách gọi khác của chức vụ
huyện lệnh (tri huyện).
[11] Triệu Cao là quyền thần
dưới thời Tần Nhị Thế (Doanh Hồ Hợi,
con trai thứ của Tần Thủy Hoàng). Có lần hắn
sai người hầu dẫn một con nai vào triều, bảo
Tần Nhị Thế đó là con ngựa. Nhị Thế
không tin, hỏi triều thần đó là nai hay ngựa. Các
quan sợ oai hoặc nịnh bợ Triệu Cao, đa số
bảo đó là con ngựa. Những kẻ khảng khái, bảo
đó là con nai, đều bị Triệu Cao ghi tên lại,
t́m cơ hội trừ khử. Do đó, thành ngữ “chỉ
nai bảo ngựa” hàm ư phê phán kẻ có mưu đồ
bất chánh, đổi trắng thay đen.
[12] Đây là một câu chuyện ngụ
ngôn trích từ chương Sát Lệnh của sách Lữ Thị
Xuân Thu với dụng ư chê bai kẻ ngu độn, cố
chấp, không thông hiểu quyền biến. Theo đó, có
người nước Sở khi vượt sông, đánh
rơi gươm xuống sông, bèn khắc kư hiệu lên mạn
thuyền, đợi thuyền ngừng chèo mới nhảy
xuống nước ṃ t́m gươm.
[13] Sông Kinh và sông Vị cùng bắt nguồn
từ địa vực Lục Bàn Sơn, hai sông chảy
đến vùng Cao Lăng thuộc thành phố Tây An (Trường
An) của Thiểm Tây th́ hợp lưu, nhưng do lượng
phù sa khác nhau, nước sông chia thành hai ḍng trong và đục phân minh
trong cùng một sông.
[14] Đây là một nhân vật
được nhắc tới trong thiên Tận Tâm Hạ trong sách Mạnh Tử:
Nước Tấn có một người nữ họ Phùng
là một người đàn bà hung hăn, là thợ săn thích
bắt hổ. Về sau, bà đổi nghề. Về sau,
dân chúng đuổi hổ, hổ chạy vào núp trong chỗ
núi hiểm, không ai dám xông vào. Họ thỉnh cầu bà Phùng,
bà liền xắn tay xông vào, bắt được hổ, mọi
người đều vui mừng. Điển tích này
được dùng với ngụ ư: Lại làm chuyện
đă quen làm. Ở đây, Tổ dùng từ ngữ này với
ngụ ư, gă nông phu ấy vẫn cứ noi theo vết xe
đổ, bị từ chối rồi mà vẫn cứ cố
ư mời mọc.
[15] Kim Cốc là khu vườn của
Thạch Sùng thời Tây Tấn, trong ấy có biệt thự
xa hoa, cảnh sắc ưu nhă, vàng, bạc, của báu chất
đống, đông đảo mỹ nữ, xa xỉ cùng cực.
Mỵ Ổ là thành lũy kiên cố (sử chép vách thành dày đến
bảy trượng) do Đổng Trác xây dựng tại thái ấp của
chính ḿnh (cách Trường An
250 dặm) vào cuối thời
Đông Hán, tự xưng là Vạn Tuế Ổ. Trong ấy
chứa đựng lương thực đủ ăn ba
mươi năm, vô số của báu, mỹ nữ, pḥng thủ
cực nghiêm. Nhưng cả hai nơi này đều bị
cướp phá tan hoang khi Thạch Sùng và Đổng Trác thất
thế.
[16] Chủ Chánh tức là cách gọi
khác của chức quan Chủ Sự. Vào đời Minh, chức
quan này thuộc Tùng Lục Phẩm, chưởng quản việc
truyền đạt công văn và xử lư các sự vụ
thường nhật thuộc Lục Bộ.
[17] Hữu Vệ ở đây là chức
quan chỉ huy Cấm Vệ Quân (quân bảo vệ hoàng thành
và hoàng thất). Chức quan này được thiết lập
từ đời Ngụy - Tấn, thuộc
Chánh Tam Phẩm. Thời Đường, quân cấm vệ
được chia thành mười hai vệ. Đến thời
Nguyên, Cấm Vệ Quân chỉ chia thành ba vệ là Tả Vệ,
Hữu Vệ, và Trung Vệ. Quan đứng đầu của
mỗi Vệ là Đô Chỉ Huy Sứ, phụ tá có Đô
Chỉ Huy, Kiểm Sự, Kinh Lịch, Tri Sự, và Chiếu Ma. “Tập ấm” (襲蔭) là con cháu được thừa hưởng chức
vị hoặc tước vị của cha ông.
[18] Đô Khổn (都閫) là tên gọi khác của chức
quan Đô Ty (都司). Chức quan này được thiết
lập từ thời Minh, thuộc Tứ Phẩm, ngang cấp
với Tri Phủ, chuyên quản trị quân sự. Thời
Minh, theo hệ thống quân giai, các chức quan vơ theo thứ
tự là Tổng Binh (c̣n gọi là Tổng Nhung), Phó Tổng
Binh, Tham Tướng, Du Kích, Đô Ty, Thủ Bị, Đề
Điều, Thiên Tổng, Bả Tổng, Bách Tổng. Từ
Tổng Binh đến Du Kích được gọi chung là
tướng quân, từ Đô Ty trở xuống là các chức
quan trong doanh trại quân đội.
[19] Dương Ứng
Long (1551-1600) là thổ ty đời thứ ba mươi của
Bá Châu. Khi cha ông ta là Dương Liệt mất, Ứng Long
được kế thừa chức thổ ty, mang tước
hiệu Bá Châu Tuyên Úy Ty Xá Nhân, và được thăng lên
thành Bá Châu Tuyên Úy Sứ. Thoạt đầu, Ứng Long tỏ
ra mẫn cán và trung thành với triều đ́nh. Sau đó,
do ông ta mang tham vọng mở rộng quyền lực, các
ḍng họ có thế lực tại Bá Châu than phiền ông ta
hống hách, truy ép cấp dưới tiến cống, nên
dâng sớ tố cáo Ứng Long mưu phản. Năm 1586,
do sự xúi giục của người thiếp,
Dương Ứng Long giết chết chánh thất
Trương Thị và mẹ bà ta. Do Trương Thị là
cáo mạng phu nhân, tuần phủ Tứ Xuyên là Vương
Kế Quang ra lệnh bắt giữ Ứng Long. Ứng Long
xin nộp hai mươi ngàn lạng bạc để chuộc
tội. Sau khi trở về Bá Châu, Ứng Long tiếp tục
vơ vét, khiến cho dân chúng tố cáo lần nữa. Tuần
phủ Vương Kế Quang dẫn quân chinh phạt, bị
Ứng Long đánh bại. Sau đó, triều đ́nh dùng
cách dụ hàng. Dương Ứng Long bèn giao nộp mười
hai người đồng đảng, và cho con là
Dương Khả Đống làm con tin, xin nộp bốn
mươi ngàn lạng vàng dần dần
để chuộc tội. Khi Khả Đống chết bất
thường tại Trùng Khánh, Ứng Long xin nhận thi hài
con, bị triều đ́nh rúng ép, thúc giục Ứng Long nộp
hết tiền chuộc. Ứng Long bèn quyết chí làm phản.
Quân Ứng Long tập kích, chiếm đóng bốn
mươi tám bản trại thuộc Hồ Quảng, tiêu
diệt toàn quân của tuần phủ Quư Châu, măi cho đến
năm 1600, quân Ứng Long bị quân Minh (dưới sự
lănh đạo của Bộ Binh Thị Lang Lư Hóa Long) trang bị
đại bác tấn công, quân Ứng Long đại bại.
Ngày Mười Bốn tháng Bảy năm ấy, thành
lũy cuối cùng là Hải Long Đồn bị phá,
Dương Ứng Long cùng hai ái thiếp treo cổ tự tử.
Tuy vậy, quan quân nhà Minh cũng bị thiệt hại khá
nặng trong chiến dịch chinh phạt này.
[20] Trong thư này cũng như trong
thư sau, pháp danh được đặt trước
tên thật của người nhận thư, sau chức
quan.
[21] Xá điệt (舍姪): Cách gọi khiêm xưng đối
với cháu trai (con của anh hay em trai của
chính ḿnh).
[22] Dựa theo ư câu nói: “Hà nhuận cửu
lư, trạch cập tam tộc” (Sông Hoàng Hà thấm nhuần
trọn khắp chín dặm, ân trạch thấu tận ba họ)
trong thiên Liệt Ngự Khấu của sách Trang Tử. Từ ngữ này dùng
với dụng ư ca
ngợi ân trạch dồi dào như nước Hoàng Hà có thể
tưới tắm trọn khắp chín dặm hai bên bờ.
[23] “Chó rơm” là con chó bện bằng rơm, cổ
nhân dùng để cúng tế (thay cho việc thật sự
giết chó), cúng xong th́ vứt đi, nên “chó rơm” thường
được dùng để sánh ví vật vô giá trị.
“Dây leo” ở đây phiếm chỉ những thứ rườm
rà, lằng nhằng, lan man. Cả câu có ư nói: Do tập khí,
ông Quảng Thược Ngô Quán Ngă cứ bận bịu những
chuyện không quan trọng (giống như chăm chú coi trọng
chó rơm), dẫn đến những chuyện phiền
toái, vụn vặt không dứt (giống như lôi kéo dây
leo).
[24] Tức ngữ lục của thiền
sư Phù Sơn Pháp Viễn.
[25] Vào thời Ân và Châu, chữ
Phương Bá dùng để chỉ trưởng quan của
các vua chư hầu. Về sau, từ ngữ
này được dùng
để chỉ chung các quan đứng đầu việc
hành chánh tại các địa phương. Riêng vào thời
Minh - Thanh, quan Bố Chánh Sứ tại mỗi tỉnh
thường được gọi là Phương Bá.
Nhưng ở đây, do ông Ngô được sai làm Tuần
Phủ là cấp trên của Bố Chánh (Bố Chánh chỉ
là trưởng quan hành chánh, trong khi Tuần Phủ quản
trị dân sự, hành chánh, quân đội lẫn
lương hướng của cả tỉnh), cho nên phải
hiểu Phương Bá được dùng theo ư nghĩa phiếm
chỉ chức quan đứng đầu một tỉnh.
[26] Quả Di (猓夷, hoặc c̣n đọc là Lơa Di) là một dân tộc thiểu
số ở Trung Hoa, đứng hàng thứ
bảy trong năm mươi lăm sắc dân thiểu số
được công nhận tại Trung Quốc. Họ c̣n
được gọi là người Di (彝), c̣n gọi là Nặc Tô (諾蘇), Lạp Tô, Ni Bộc, Hắc Di, Bạch Di, Hồng
Di, Cam Di, Hoa Yêu, Mật Xóa, La La, Bộc v.v… thường sống ở vùng núi
thuộc phía Tây Nam Trung Hoa (Vân Nam, Quư Châu, Tứ Xuyên, Quảng
Tây). Dân tộc này tự xưng là Lô Lô khi sống tại miền
Bắc Việt Nam (họ sống chủ yếu tại
các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng và Lào Cai). Có một bộ
phận nhỏ sống tại Lào, Thái và Miến Điện.
Tiếng Quả Di gần giống tiếng Miến Điện,
họ có văn tự riêng.
[27] Đời Tần Hiếu Công,
Thương Ưởng làm tướng quốc. Ông ta muốn
thi hành chánh sách mới để biến nước Tần
thành cường thịnh, nhưng sợ chánh sách mới
quá hà khắc, dân chúng sẽ chẳng tin tưởng chánh
quyền, bèn lập ra một kế: Tại kinh đô Hàm
Dương, Thương Ưởng cho dựng một khối
gỗ cao ba trượng tại cửa Nam kinh thành, hạ
lệnh ai dời được khối gỗ ấy sang
cửa Bắc sẽ được thưởng mười
lạng vàng, không ai tin tưởng làm theo. Ông ta lại truyền
lệnh, ai dời được, sẽ thưởng
năm mươi lạng. Có một người làm thử,
liền được thưởng ngay năm mươi
lạng. Do vậy, dân chúng tin chánh quyền nói là làm, cho nên chánh sách mới được tiến
hành thuận lợi.
[28] Bắc Cung là một họ kép thời
cổ. Bắc Cung ở đây là nói đến Bắc Cung Ảo,
dũng sĩ thời nước Tề thời Chiến Quốc.
Ông ta truy cầu cảnh giới dũng cảm bằng cách
cho người đâm kim vào thân mà bắp thịt chẳng
co rút, sắp bị vật nhọn đâm vào mắt mà chẳng
nháy, quan niệm chẳng nhịn bất cứ sự khinh
rẻ nào, đối diện với vua các nước chẳng
hề lộ vẻ sợ hăi.
[29] Thiếu Chánh Măo làm đại phu
nước Lỗ thời Xuân Thu, làm quan tới chức Thiếu
Chánh, khéo ăn nói khiến kẻ khác mê hoặc. Khổng Tử
làm Đại Tư Khấu nước Lỗ, kiêm quyền
tể tướng dưới thời Lỗ Định
Công. Sau khi nhậm chức bảy ngày, Khổng Tử
đă giết Thiếu Chánh Măo, phơi thây ba ngày. Khi học
tṛ hỏi nguyên do, Khổng Tử cho biết: “Thiếu Chánh Măo tâm hiểm
trá, hành vi lệch lạc nhưng cứng đầu, ngôn từ
trá ngụy khéo biện bác che lấp, ngả theo điều
sai trái…”
[30] Trung Thừa là một chức quan
được thiết lập từ thời Hán. Thoạt
đầu, Trung Thừa là thuộc hạ của quan Ngự
Sử Đại Phu, chịu trách nhiệm quản thủ
thư tịch, và xem xét tấu chương của các quan,
cũng như kiểm tra các án từ. Từ thời
Đông Hán trở đi, do Ngự Sử Đại Phu chuyển
làm Đại Tư Không, Trung Thừa được nâng
lên làm trưởng quan của Ngự Sử Đài. Đến
đời Minh, thành lập Đô Sát Viện, chức quan
Phó Đô Ngự Sử tương đương với
Ngự Sử Trung Thừa, nên Phó Đô Ngự Sử của
Đô Sát Viện thường được gọi là
Trung Thừa. Đồng thời, giữa thời Minh, các
quan Tuần Phủ đứng đầu các tỉnh đều
được kiêm hàm Ngự Sử Trung Thừa, nên Tuần
Phủ thường được gọi là Trung Thừa hoặc Phủ
Đài. Như vậy ông Uông Tĩnh Phong ở đây chính là
quan Tuần Phủ tỉnh Hồ Quảng thời Minh.
[31] Tư Mă là một chức
quan đă có từ thời Tây Châu, chưởng quản việc
binh bị. Về sau, danh xưng này thường được
dùng để gọi Binh Bộ Thượng Thư. Từ
thời Đường trở đi, tại các châu,
cũng thiết lập chức quan Tư Mă với danh
nghĩa phù tá cho Thứ Sử (người đứng
đầu một châu), nhưng đây là một chức
quan hữu danh vô thực, đa phần dùng cho các quan bị
biếm chức. Thời Minh - Thanh, chức Đồng Tri
thường được gọi là Tư Mă, Phân Phủ
hoặc Nhị Mă. Đồng Tri chính là quan phụ tá của
vị quan đứng đầu một cơ cấu hành
chánh. Chẳng hạn như quan phụ tá của Tri Châu
cũng gọi là Đồng Tri. Nói cách khác, quan phụ tá thứ
nhất th́ gọi là Đồng Tri, người kém hơn
ông ta một bậc th́ gọi là Thông Phán.
[32] Nghi Bộ là một cơ quan trực
thuộc bộ Lễ, có tên gọi đầy đủ là
Nghi Chế Thanh Sứ Ty (thường được gọi
tắt là Nghi Chế Ty hoặc Nghi Bộ), chịu trách nhiệm
quản lư các dịp lễ nhỏ trong triều đ́nh, lễ
nghi trong quân đội, phong tước, các sự vụ
thuộc giáo dục và khảo thí. Người đứng
đầu cơ quan này là Nghi Bộ Lang Trung (thuộc Chánh
Ngũ Phẩm), phụ tá là Nghi Bộ Viên Ngoại Lang (thuộc
Tùng Ngũ Phẩm), dưới Viên Ngoại Lang là ba vị
Chủ Sự.
[33] Nguyệt
Xuyên là ngài Nguyệt Xuyên Trấn Trừng (1547-1617), pháp tự
là Không Ấn, pháp hiệu Nguyệt Xuyên. Sư là một vị
đại sư trong tông Hoa Nghiêm thuộc pháp hệ Bảo
Thông. Sư được xưng tụng là một trong
năm vị cao tăng thời Vạn Lịch nhà Minh. Hai
tác phẩm nổi tiếng nhất của Sư là Thanh
Lương Sơn Chí và Vật Bất Thiên Chánh Lượng
Luận.
[34] Quận Bá vốn là danh xưng
tước vị của hàng quư tộc có quan chức thuộc
Tùng Tứ Phẩm thời Nguyên và Kim. Đến đời
Minh, nó trở thành danh xưng khác của Tri Phủ.
[35] Giá Bộ ở đây là trưởng
quan của Giá Bộ Lang Tào (một ty trực thuộc bộ
Binh), chuyên quản lư xe cộ và các mục trường (trại
chăn nuôi của quân đội). Chức vụ này
được đặt ra thời Ngụy - Tấn, trưởng
quan của Giá Bộ Lang Tào được
gọi là Giá Bộ
Thượng Thư, trực thuộc quyền cai quản
của Thượng Thư Tỉnh. Đến đời
Tây Ngụy, trưởng quan của cơ quan này gọi là
Giá Bộ Lang Trung. Đến đời Minh, chức quan
này thuộc Chánh Ngũ Phẩm, đặt thêm quan phụ
tá gọi là Giá Bộ Viên Ngoại Lang, và đổi tên bộ
này thành Xa Giá Thanh Sứ Ty, nhưng theo
thói quen, vẫn gọi là Giá Bộ
như cũ.
[36] Chế nghĩa (制義) c̣n gọi là Chế Nghệ (制藝), hoặc Thời Văn (時文), là một thể loại văn xuôi dùng để viết
đối sách trong thi cử thịnh hành từ
thời Minh, thường gọi nôm na là văn
Bát Cổ, v́ mỗi bài văn phải luôn chứa đựng tám phần là Phá Đề,
Thừa Đề (hai phần này là dẫn nhập), Khởi
Giảng, Nhập Thủ, Khởi Cổ, Trung Cổ, Hậu
Cổ (những phần này là các phần nghị luận
chánh yếu) và Thúc Cổ (phần kết luận). Do mỗi
phần phải có số chữ nhất định, tuân
theo quy luật đối ư, đối từ, đối vận
nghiêm ngặt, nên thường bị chê là g̣ bó, sáo rỗng.
Sĩ tử viết văn Bát Cổ cốt sao đọc
cho hay, réo rắt, nhồi nhét những câu trích từ kinh
điển Nho gia (theo quan điểm chú giải của Châu Hy), chứ nội dung toàn phù phiếm, cứng
ngắc theo khuôn sáo,
khen ngợi chung chung, không đề ra được một
kiến giải mới mẻ nào.
[37] Châu thủ (州守) có nghĩa là người
quản thủ một châu. Đây là cách gọi khác của
Châu Mục (州牧), hay quan Thứ Sử
(刺史). Do các quan viên thường
không làm tṛn trách nhiệm, Hán Văn Đế sai các quan ngự
sử tuần tra các địa phương, gọi là Thứ Ngự Sử (Thứ
có nghĩa là khiển trách, giám sát). Hán Vũ Đế lập
ra mười ba chức Thứ Ngự Sử (c̣n gọi tắt
là Thứ Sử) để trực tiếp trông coi các châu
Kư, Duyện, Thanh, Từ, Dự, U, Tinh, Lương, H́nh,
Dương, Ích, Sóc Phương và Giao Châu. Thứ Sử mỗi
năm vào tháng tám tuần hành khắp các huyện, phủ trực
thuộc châu ḿnh cai quản, giám sát quan viên địa
phương, trấn áp cường hào, cuối năm trở
về kinh đô bẩm báo lên Ngự Sử Trung Thừa.
Khi đó, Thứ Sử đóng vai tṛ giám sát, thấp hơn
vị trí Quận Thủ (người đứng đầu
một quận v́ thuở đó, cả nước chia thành
nhiều quận, chưa có tỉnh). Đến đời
Tùy, phế quận, đổi các đơn vị hành chánh
to nhất thành châu, Thứ Sử đứng đầu một
châu, vai tṛ không khác chức Thái Thú (đứng đầu quận
thời đó). Từ đời Tống trở đi, chức
vụ này được gọi là Tri Châu, nhưng dân chúng vẫn
quen gọi là Châu Thủ như trước.
[38] Đại Tham là danh xưng khác của
chức Tham Chánh, tức Tham Tri Chánh Sự, được
lập ra từ thời Đường, nhằm phụ tá
trưởng quan của Tam Tỉnh (Thượng Thư Tỉnh,
Trung Thư Tỉnh và Môn Hạ Tỉnh), có thể vào Chánh Sự
Đường tham gia thảo luận, coi như là phụ
tá của chức Tể Tướng, nhưng không phải
là chức quan chánh thức. Đến đời Tống, chức vụ này biến thành chức quan cố định. Đến
đời nhà Minh, chức Tham Chánh phụ tá Tể Tướng
bị phế, nhưng tại các địa phương
cũng có lập ra chức Tham Chánh nhằm giúp các quan đầu
tỉnh. Năm Hồng Vũ thứ chín, bỏ chức
quan đứng đầu tỉnh (Hành Tỉnh B́nh
Chương Chánh Sự), lấy Tuần Phủ đứng
đầu tỉnh, đặt chức Bố Chánh Sứ (chỉ quản trị việc hành
chánh trong tỉnh), lại lập ra Tả Hữu Tham Chánh
để giúp việc cho Bố Chánh Sứ.
[39] Tốc Hương c̣n gọi là
Hoàng Thục Hương là một loại trầm
hương. Đây là loài gỗ bạch đàn bị vùi sâu
trong đất, lâu ngày biến đổi thành trầm
hương, có màu vàng sậm. Trong sách Nam Phương Thảo
Mộc Trạng của Kê Hàm đời Tấn có ghi: “Đất
Giao Chỉ có cây mật hương, thân như cây liễu,
hoa trắng, trổ hoa chi chít, lá như lá cây quưt, rễ của
nó chính là hoàng thục hương”. Trong Bản Thảo Cương Mục,
Lư Thời Trân lại nói: “Lơi của cây gỗ có mùi
thơm, đem thả vào trong nước nếu ch́m lỉm
th́ là trầm thủy hương hay thủy trầm
hương. Ch́m một nửa th́ là sạn hương. Chẳng
ch́m th́ là Hoàng Thục Hương”.
[40] Trung Hàn là tên gọi riêng của chức
quan Nội Các Trung Thư, phụ trách việc biên soạn
chiếu chỉ, thông cáo, ghi chép, phiên dịch, vẽ tranh
để ghi lại các sự kiện quan trọng trong triều
đại, được xếp vào loại Tùng Thất
Phẩm. Trong quân đội cũng có chức quan này, nhưng gọi là Quân Trung Thư. Người
giữ chức quan này tối thiểu phải đậu Cử
Nhân. Tuy phẩm cấp không cao, nhưng thăng thưởng
khá nhanh, nên phần lớn chức vụ này do người
mới đỗ Tiến Sĩ đảm nhiệm.
[41] Ấp lệnh
là danh xưng để gọi người đứng
đầu một huyện, đôi khi c̣n gọi là ấp tể,
tức huyện lệnh hoặc tri huyện. Do tri huyện
thường phải quản mọi việc từ hành
chánh, thuế khóa, học hành, giáo dục, cho đến trị
an, nên đôi khi c̣n được gọi là Bách Lư Hầu.
[42] Y Bồ Giới chính là giới
Ưu Bà Tắc, tức Ngũ Giới. Do chữ Upāsaka ngoài phiên âm phổ biến
là Ưu Bà Tắc ra, c̣n được phiên âm là Ô Bà Tắc,
Y Bồ Tắc, Ưu Bà Bà Kha, hay Ô Ba Sách Ca.
[43] Lệnh lang: Kính ngữ để gọi
con trai của người khác.
[44] Trị Trung là chức quan có tên gọi
đầy đủ là Trị Trung Tùng Sự Sứ, thiết
lập từ thời Tây Hán, đảm nhiệm vai tṛ phụ
tá cho quan Thứ Sử (đứng đầu một châu),
chịu trách nhiệm xử lư văn thư do các phân ban
trong châu tấu tŕnh, nhưng địa vị thấp
hơn Biệt Giá một cấp. Đời Tùy đổi
chức quan này thành Tư Mă trong một thời gian ngắn, về sau đổi lại danh xưng Trị
Trung như cũ.
Đến đời Minh - Thanh, tại Thuận
Thiên Phủ và Ứng Thiên Phủ, cũng lập thêm chức Trị Trung để kiêm
nhiệm xử lư thường vụ.
[45] Trá Ba là cách nói gọn của Ba Trá
La (Patala), một trong các hàn lănh địa ngục.
[46] Thuyên Bộ (銓部) có nghĩa gốc là cơ quan chuyên
quản trị việc thuyên chuyển, bổ nhiệm các
quan chức, tức Lại Bộ sau này. Quyền hạn của
Lại Bộ diễn biến theo từng thời: Đời
Tùy - Đường, thăng giáng, bổ
nhiệm, thuyên chuyển, cách chức quan văn do Lại Bộ
phụ trách, quan vơ do Binh Bộ phụ trách. Đến
đời Tống, việc thăng giáng, bổ nhiệm,
thuyên chuyển quan văn từ các châu huyện do Lại Bộ
phụ trách, từ cấp Thiếu Khanh trở lên do
đích thân Thượng Thư Tỉnh quản trị,
nhưng quan viên tại kinh thành do chính Thẩm Quan Viện
điều động, quan vơ do Xu Mật Viện điều
động. Đến đời Minh, phục hồi quy
chế cũ, văn quan hoàn toàn do Lại Bộ điều
động, quan vơ do Binh Bộ điều động. Ông
Ngu Đức Viên tên thật là Ngu Thuần Hy, tên thuở nhỏ
là Ngu Nhân Kỳ, tên tự là Trường Nhụ và Đạm
Nhiên, hiệu là Đức Viên. Khi trao đổi thư này,
ông đang giữ chức Kê Tư Viên Ngoại Lang trong bộ
Lại, nên được gọi là Thuyên Bộ.
[47] Lợi Mă Đậu là tên phiên âm của
Matteo Ricci (1552-1610), một giáo sĩ thuộc ḍng Tên (Jesuite)
của Ư. Ông ta đến lănh địa
Macau của người Bồ Đào Nha tại Trung Hoa để truyền giáo trong niên hiệu Vạn
Lịch đời Minh. Ông ta chịu khó học hỏi
đạo Nho, kết giao với nhiều Nho sĩ, quan lại,
tự đặt hiệu là Tây Thái, được các Nho
sĩ gọi là Thái Tây tiên sinh. Ông ta từng
được vua Vạn Lịch (Minh Thần Tông) vời
vào cung để tham khảo ư kiến về thiên văn và
lịch pháp. Do nhiệt t́nh truyền
giáo, nhưng chưa đủ căn bản để hiểu sâu
triết học phương Đông, ông ta thường có
những lập luận khiên cưỡng để đề
cao tôn giáo của ḿnh, đả phá những triết lư
cơ bản của Phật giáo, Nho gia và Đạo giáo là
hủ bại, sai lầm. Lễ Bộ
Thượng Thư Từ Quang Khải là một trong những
người Hán nhiệt thành tin theo Lợi Mă Đậu, thậm
chí cải đạo sang Công Giáo, giúp Lợi Mă Đậu
và Hùng Tam Bạt (Sabatino de Ursis) dịch các tác phẩm của
phương Tây sang tiếng Hán. Lợi Mă Đậu
cũng là người đầu tiên biên soạn từ
điển Bồ Hán, và đề xướng cách dùng mẫu
tự Latin để ghi âm tiếng Hán.
[48] Đây là một câu
nói trích từ Biển Thước Thương Công Liệt
Truyện trong Sử Kư Tư Mă Thiên. Việt Nhân chính là danh
y Biển Thước (ông họ Tần, tên là Việt Nhân,
Biển Thước là hiệu). Tương truyền, khi
Biển Thước đi qua nước Quắc, nghe tin Thế
Tử nước ấy đột ngột qua đời.
Bằng tài nghệ y thuật, ông đă giúp Thế Tử tỉnh
lại và hồi phục. Do vậy, thiên hạ ca ngợi
ông có tuyệt kỹ “khởi tử hồi sanh”, ông
đă thẳng thắn nói: “Việt Nhân phi năng sanh tử
nhân dă, thử tự đương sanh giả, Việt
Nhân sử chi khởi nhĩ” (Việt Nhân chẳng thể
khiến cho người đă chết sống lại.
Người này vốn dĩ chưa chết. Việt Nhân chỉ
khiến cho người ấy tỉnh lại mà thôi). Về
sau, câu nói “Việt nhân năng sanh tử nhân” được
dùng với ư nghĩa “ca ngợi y thuật cao minh, tuyệt
diệu”.
[49] Thiêm Hiến là biệt danh của
chức Thiêm Đô Ngự Sử đời Minh. Đời
Minh, Ngự Sử Đài được đổi tên thành
Đô Sát Viện, có quyền hạn ngang hàng với Lục
Bộ. Đứng đầu Đô Sát Viện là Tả và
Hữu Đô Ngự Sử, phụ tá có Tả và Hữu
Thiêm Đô Ngự Sử. Dưới Đô Sát Viện lại
lập ra Thập Tam Đô Giám Sát Ngự Sử, chịu trách
nhiệm giám sát các quan lại địa phương. Thiêm
Đô Ngự Sử thuộc Chánh Tứ Phẩm, chuyên trách
việc đàn hặc các quan lại.
[50] Tư Lư là tên gọi tắt của
chức Tư Lư Tham Quân. Chức quan này được
đặt ra vào thời Bắc Tống. Trong năm Khai Bảo
thứ sáu (973) đời Tống Thái Tổ, đă đổi
Mă Bộ Viện ở mỗi châu thành Tư Khấu Viện,
đặt ra chức Tư Khấu Tham Quân. Sau đó, vào
năm Thái B́nh Hưng Quốc thứ tư (979), lại đổi Tư Khấu Viện
thành Tư Lư Viện, đổi Tư Khấu Tham Quân thành
Tư Lư Tham Quân. Chức quan này có nhiệm vụ
chưởng quản việc tố tụng, điều
tra tại các châu, thi hành án, tức là một chức quan trông coi
tư pháp.
[51] Xử sĩ (處士): Những người có tài đức,
học vấn sâu rộng, nhưng chọn cách sống ẩn
dật, chẳng muốn ra làm quan. Về sau, từ ngữ
này c̣n bao gồm những người có học nhưng
chưa làm quan. Xử sĩ đôi khi c̣n gọi là ẩn
sĩ, thiếu vi, hoặc cao sĩ.
[52] Thập Toàn
Đại Bổ là toa thuốc có tác dụng bồi bổ
sức khỏe, bao gồm tứ quân tử thang (nhân sâm hoặc
đảng sâm, bạch truật, phục linh và cam thảo),
tứ vật thang (đương quy, xuyên khung, bạch
thược, và thục địa hoàng), và hai vị thuốc
là hoàng kỳ và nhục quế.
[53] Châu Đan Khê là hiệu của Châu
Chấn Hanh (1281-1358), là một y sư nổi tiếng thời
Nguyên. Ông quê ở làng Đan Khê thuộc huyện Nghĩa Ô
thuộc Vụ Châu, tên tự là Ngạn Tu. Do gia đ́nh nhiều
đời sống tại Đan Khê, nên ông thường
được gọi là Châu Đan Khê, hoặc Đan Khê
Ông. Do ông hoạt động chủ yếu tại
phương Nam, nên c̣n có danh xưng là Nam Y. Ông cùng với
Lưu Hoàn Tố, Trương Tùng Chánh và Lư Cảo
được xưng tụng là Kim Nguyên Tứ Đại
Y Học Gia (bốn đại y học gia thời
Kim và Nguyên). Ông chủ
trương chú trọng bổ Âm, h́nh thành nên học phái
Dưỡng Âm trong y học cổ truyền. Ông trước
tác khá nhiều tác phẩm như Cách Trí Dư Luận,
Đan Khê Tâm Pháp, Kim Quỹ Câu Huyền, Y Học Phát Minh, Cục
Phương Phát Huy, Bổn Thảo Diễn Nghĩa Bổ
Di, Tố Vấn Củ Lược.
[54] Tiếng gọi tỏ vẻ kính trọng
cha của người khác.
[55] Tam Giáo B́nh Tâm Luận do Lưu Mật
soạn vào đời Nguyên trong Thái Định nguyên niên
(1324). Sách được soạn dựa theo sự tranh luận
của Nho, Thích, Đạo, nhấn mạnh ba giáo có công
năng bổ trợ nhau. Phật giáo trị tâm, Đạo
giáo trị thân, Nho giáo trị thế, đề cao Phật
giáo có trọn đủ đặc tánh thế gian và xuất
thế gian. Sách đồng thời bác bỏ các ư kiến
báng Phật của Phó Dịch, Hàn Dũ, Châu, Tŕnh.
[56] Tiếng tôn xưng mẹ người
khác.
[57] Đ́nh vi (庭幃) là nơi cha mẹ ở.
[58] Bách Hộ là một chức quan
được thiết lập trong quân
đội vào đầu thời
Kim, đứng đầu một trăm người lính trong quân ngũ, dưới
quyền cai quản của thiên hộ. Thiên hộ lại
chịu sự cai quản của vạn hộ. Tới thời
Minh, Bách Hộ trông coi một trăm hai
mươi người, thuộc
Chánh Lục Phẩm.
[59] Nhậm Công c̣n
được gọi là Nhậm Phụ, là một người giỏi câu cá
thời cổ, có chí hướng cao xa, tấm ḷng khoan
dung, đôn hậu, tiêu sái. Theo Thành Huyền Anh, Nhậm là tên một
quốc gia thời cổ, vị này là công tử nước
Nhậm, nên mới gọi
là Nhậm Công hay Nhậm Phụ. “Công tử” là con của vua chư
hầu. Về sau, từ ngữ Nhậm Công thường dùng để
chỉ bậc cao sĩ ẩn dật. Theo truyền thuyết,
ông ngồi trên đỉnh núi Cối Kê, vác một chiếc
cần câu to đùng, dây câu thô to, móc mồi câu là những tảng
mỡ trâu đă muối để làm mồi, thả dây câu
xuống biển Đông, chờ đợi cá lớn ngoài
biển đến cắn câu, kiên nhẫn ngồi chờ
năm này qua tháng khác, cuối cùng bắt được con
cá to lớn, xẻ thịt phơi khô biếu tặng dân
chúng cả một vùng Chiết Giang, Thương Ngô. Ở
đây, Tổ dùng thành ngữ này với ư nghĩa: Toan lôi
kéo cư sĩ Vương Long Khê vào pháp môn Tịnh Độ
(giống như Nhậm Công câu được con cá lớn,
cá vẫy vùng rất mạnh, phải tốn rất nhiều
công sức mới chế ngự được nó),
nhưng sợ cư sĩ biện tài mạnh mẽ, không
chịu quy tâm nơi pháp môn này, Tổ không thắng
được biện tài của ông ta.
[60] Tổ Huệ Viễn lập liên xă
tại Đông Lâm trên núi Khuông Lư để chuyên tu niệm
Phật, Ngài thề không bước chân ra khỏi núi, lấy
ḍng Hổ Khê làm ranh giới. Mỗi khi có khách đến
thăm, Sư chỉ tiễn chân đến Hổ Khê rồi
dừng lại. Tương truyền, một hôm, có Đào
Tiềm (Đào Uyên Minh) và đạo sĩ Lục Tu
Tĩnh đến thăm, khi tiễn khách quư ra về,
Sư mải tṛ chuyện, quên cả ngoại cảnh,
bước qua khỏi Hổ Khê. Nhận ra chính ḿnh đă
phá lệ, Sư cùng hai vị khách cười vang.
[61] Tiếng gọi tỏ vẻ tôn trọng
cha của người khác.
[62] Lạc Bang
Văn Loại là tác phẩm do ngài Tông Hiểu soạn trong
thời Nam Tống, sách hoàn thành vào năm Khánh Nguyên thứ
sáu (1200). Sách ghi chép các tác phẩm kinh luận trọng yếu
có liên quan đến Tịnh Độ, cũng như
trước thuật, thi kệ, truyện kư v.v… của cổ
đức.
[63] “Vạn tuyển thanh tiền”
là thành ngữ thường dùng để ca ngợi tài
năng xuất chúng, không thể phủ nhận được.
Điển tích này xuất phát từ chương
Trương Tiến Truyện trong bộ sử Tân
Đường Thư. Theo đó, để ca ngợi tài
năng văn chương tinh diệu được
người người yêu thích của đại văn học
gia Trương Trạc, Đường Đại Viên
đă dùng h́nh ảnh sánh ví: Đồng tinh chế đem
đúc thành tiền (gọi là “thanh tiền”), trải qua vạn
lần lựa chọn, đào thải giữa các đồng
tiền, vẫn luôn được chọn lấy.
[64] Tế điện (祭奠) là h́nh thức
thông qua tế lễ (bày vật cúng trước linh sàng hoặc
mộ phần, thắp hương, lễ bái, khấn khứa,
đọc văn tế nếu có) để tỏ ḷng truy
điệu một người đă khuất.
[65] Cấp Gián là danh xưng gọi
chung hai chức quan Cấp Sự Trung và Gián Nghị đại
phu. Cấp Sự Trung là chức quan hầu cận bên hoàng
đế, đóng vai tṛ cố vấn khi cần thiết,
có thể tham gia bàn bạc triều chánh, lo liệu mọi
việc cần thiết về chánh sự cho hoàng đế,
nên gọi là Cấp Sự. Đến đời Minh, Cấp
Sự Trung thuộc về lục bộ, có trách nhiệm
thường trực giám sát quan viên thuộc lục bộ, xem xét họ có vi phạm điển chế, trái
nghịch chiếu chỉ hay không, tức là có trách nhiệm
khuyên ngăn, can gián, giám sát, tương ứng với vai
tṛ của Gián Nghị Đại Phu. Do vậy, c̣n gọi
là Cấp Gián.
[66] Đô quân (都君) là danh xưng chung để chỉ
đế vương. Từ ngữ này thường được đặc biệt dùng để chỉ vua Thuấn.
Tôn Thích nói: “Gọi vua Thuấn là Đô Quân v́ lúc vua c̣n hàn
vi, đánh cá ở Lôi Trạch. Một năm, chỗ ấy
thành nơi tụ hội. Hai năm, trở thành ấp. Ba
năm, trở thành đô thị. V́ thế, gọi vua Thuấn
là Đô Quân”. Vua Thuấn có người em (tên là Tượng)
cùng cha khác mẹ, luôn ganh ghét, luôn cấu kết với mẹ
kế của Thuấn, toan hại chết Thuấn. Có lần,
kế mẫu sai Thuấn xuống vét giếng rồi bà ta
cùng Tượng lấp giếng với ác ư
khiến cho vua Thuấn chết
ngạt.
[67] Theo Bắc Sử và Tùy Thư, đời
Tùy có một vị đại thần tên là Ngưu Hoằng
tánh t́nh khoan dung, đôn hậu, luôn giữ cho gia đ́nh ḥa
thuận. Em trai ông là Ngưu Bật thích say sưa chè chén. Có
một hôm, Ngưu Bật say quá, bắn chết tươi
con trâu kéo xe. Vợ chạy đến khóc kể, ông điềm
tĩnh nói: “Th́ đem làm thịt khô ăn dần”. Mỗi
khi vợ kể lể chuyện hoang đường của
em trai, ông chỉ nói “đă biết” rồi điềm
tĩnh đọc sách.
[68] Quận Thừa là chức quan lập ra từ
thời Tần. Đây là quan phụ tá của Quận Thủ
(Thái Thú), trông coi sự vụ thuộc dân sự. Dưới
Quận Thừa là Trưởng Sử. Thời Hán Vũ
Đế, bỏ Quận Thừa tại các quận xa, mọi
sự vụ của Quận Thừa do Trưởng Sử
đảm nhiệm. Quận Thừa do triều đ́nh bổ
nhiệm. Khi cần thiết, Quận Thừa có thể
đảm nhiệm vai tṛ Thái Thú, nhưng phần lớn Quận
Thừa không có thực quyền. Thời Minh - Thanh, chữ Quận Thừa là danh từ
phiếm xưng chỉ các vị Phủ Đồng Tri (phó
tri phủ), Thông Phán v.v… Và quyền hành của Quận Thừa
từ trông coi kho lương được
mở rộng thành cai
quản dân, quản lư đồn điền, xử án v.v…
[69] Đại Tham
là danh xưng thông tục để gọi chức quan Thừa
Tuyên Bố Chánh Sứ Ty Tham Chánh, tức quan phụ tá hàng đầu
của một vị Bố Chánh Sứ (c̣n gọi là Phiên
Ty, hoặc Phiên Đài, Phương Bá, Đông Ty, quan đứng
đầu hành chánh một tỉnh. Về sau, phân quyền
thành Tổng Đốc, Tuần Phủ, Bố Chánh, Án Sát).
Tham Chánh có nhiệm vụ xử lư thường vụ các sự
vụ hành chánh trong một tỉnh.
[70] Nguyên văn “vật vong, vật trợ”
chính là cách nói gọn câu nói “tâm vật vong, vật trợ
trưởng” (tâm đừng quên, đừng giúp cho
tăng trưởng) trích từ thiên Công Tôn Sửu trong sách
Mạnh Tử. Theo các nhà chú giải, câu này có nghĩa là giữ
ǵn cái tâm ban đầu, quyết chí nỗ lực, hằng
ngày chẳng gián đoạn, đó là “tâm vật vong”;
nhưng cũng chẳng gấp rút, tham chấp những cái
lợi trước mắt, giống như trong chuyện
ngụ ngôn nông dân thấy lúa mọc chậm quá bèn giúp cho nó
tăng trưởng bằng cách kéo thân lúa cho dài hơn, rốt
cuộc lúa chết sạch!
[71] Tư Lư là chức
quan quản lư h́nh ngục hoặc trông coi tư pháp trong một
tỉnh.