Vân Thê Pháp Vựng
雲棲法彙
Phần 8
Cổ
Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư
trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo bản điện tử Gia Hưng
Đại Tạng Kinh của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ
Trang
15.2. Vấn đáp
* Giải đáp cho Văn Cốc Quảng Ấn
1) Hỏi: Cổ nhân đă bẩm thọ “đơn
truyền trực chỉ”, sau đấy tu Tịnh nghiệp
muốn văng sanh, tức là sau khi đă ngộ bèn thuận
theo nguyện mà dấy hạnh, hay là chưa ngộ mà kiêm
tu hai hạnh? Nếu kiêm tu, sẽ rơi vào cái tâm mong ngóng,
cái tâm chia nhiều lối rẽ, sao đạt được
công phu thành phiến? Nếu đă ngộ th́ mỗi vi trần đều là Hoa Tạng,
chốn nào
cũng đều là liên bang, mười phương không
nơi nào chẳng được, cần ǵ cứ phải riêng sanh về Tây Phương?
Đáp: Người thật sự tin Tịnh Độ
quyết chí văng sanh, bất luận đă ngộ hay chưa
ngộ. Kẻ theo đuổi “đơn truyền trực
chỉ” mà chưa ngộ, tuy hằng ngày chú trọng tham
Thiền, chẳng trở ngại phát nguyện văng sanh, v́
chưa thể chẳng có thân “hậu hữu” (thân trong đời sau), rốt cuộc sẽ có chỗ để
sanh về.
Đó chẳng phải là cái tâm mong ngóng, hay tâm nhiều lối
rẽ! Đối với người đă ngộ, cổ
nhân nói: “Ngươi cho rằng hễ ngộ sẽ có thể bằng với chư Phật được
ư?” V́ thế, ngài Phổ Hiền là trưởng tử trong hội
Hoa Nghiêm, tuy mỗi vi trần đều
là Hoa Tạng, chỗ nào cũng là liên bang, nhưng phẩm
Hạnh Nguyện ắt khăng khăng nói văng sanh An Lạc.
Người đă ngộ mà c̣n như thế, người
chưa ngộ [cứ suy ra] ắt biết!
2) Hỏi: Tham Thiền quư ở chỗ “chẳng sanh một tâm nào”. Niệm Phật quư ở chỗ “tịnh niệm tiếp nối”. Nay tham cứu một môn Niệm Phật, cốt
ư để diệu ngộ mà được văng sanh. Nay khi
niệm Phật th́ tâm và Phật phân minh; khi tham cứu th́
hai đằng đều đoạn. Do đoạn nên công
tham cứu dần dần vượt trội, niệm lực
dần dần ít đi. Vậy th́ những lúc khác, sao có thể
cũng ngộ, cũng văng sanh cho được?
Đáp: “Một niệm chẳng sanh” là Thiền, chẳng phải là tham cứu.
Dấy niệm, khởi nghi bèn gọi là “tham”. Kinh Lăng
Nghiêm nói: “Hựu dĩ thử tâm phản phúc nghiên cứu”
(lại dùng tâm này để nghiên cứu nhiều lượt)
v.v… Đấy là “tham”. Khi niệm, hoặc khi tham,
đều thuộc về hữu niệm, chẳng hề
trái nghịch nhau!
3) Hỏi: “Tâm tức là Phật”
là cái lư “chẳng rong ruổi t́m cầu bên ngoài”. Hễ
tin đến nơi đến chốn, đă thấy thấu
triệt, sẽ tùy duyên tiêu nghiệp, đừng tạo
ương họa mới, tùy ư tự tại tu hành, là do
đợi cho thức khô cạn bèn tự đạt
được, hay là ngay trong khi đang
dấy khởi
nghi t́nh, bèn tận lực tham cứu cùng cực để
cầu diệu ngộ?
Đáp: Nếu thật sự
tin “tâm chính là Phật” đến nơi đến chốn,
thật sự thấy thấu triệt, sẽ trăm ngàn
phần thỏa đáng, chẳng c̣n ngờ vực, vướng
mắc nữa! Khi đó mới có thể tùy ư vẫy vùng! Nếu
chẳng phải vậy, chưa thể buông xuống tham cứu
được!
4) Hỏi: Tham Thiền tạm
thời có lúc các niệm chẳng sanh th́ câu thoại đầu
chẳng dấy lên nổi, cũng chẳng rơi vào không tịch,
và khi ứng đối các duyên, nếu cố ư khắc chế,
lại bị cổ nhân quở trách. Nếu mặc kệ,
sẽ chẳng thể tiếp tục [tham cứu]. Chỉ
trong khoảng giữa động và tĩnh ấy, đề
khởi tham cứu như thế nào để mau chóng đạt
được tương ứng?
Đáp: Tạm thời
đ́nh chỉ ư niệm, chẳng phải là rốt ráo thoại
đầu chẳng thể dấy khởi nổi. Vẫn
cứ [tiếp tục] dấy khởi [thoại đầu].
Nước chưa cùng, núi chưa tận, chẳng
được bỏ thuyền và mái chèo, [chẳng thể] ngưng đánh xe được!
5) Hỏi: Ngài Vĩnh Gia nói: “Ai
vô niệm? Ai vô sanh?” Ngài Vân Cư Đạo Tề nói: “Chẳng
đoạn phân biệt, chẳng xả tâm tướng!”
Điều ấy dường như là sau khi đă ngộ bèn có niệm tưởng!
Ngài Dũng Tuyền lại chẳng chấp thuận tâm niệm
tán loạn. [Cảnh giới của] ngài Ngưỡng
Sơn th́ quỷ thần c̣n chẳng biết, và ngài Thạch
Sương “nhất niệm và vạn năm như nhau”
v.v… đều là sau khi đă ngộ
bèn vô tưởng. Chẳng lẽ ứng duyên th́ có, mà ly
duyên th́ không ư? Đối với hai nghĩa Hữu và
Vô, xin thầy ban một lời quyết đoán.
Đáp: Hễ đại ngộ
th́ hữu niệm cũng được, vô niệm
cũng được. Đó gọi là “khi hít vào chẳng
trụ trong Ấm giới, thở ra chẳng dính dáng các
duyên”.
6) Ngài Vĩnh Minh nói: “Trước
là do nghe, lư giải, tin tưởng, tiến nhập; sau là
do chẳng suy nghĩ mà khế hợp, đồng nhất.
Hễ nhập tín môn, sẽ dự vào địa vị Tổ”. Địa vị Tổ rất sâu, do nghe
hiểu làm sao có thể chứng cho được? Huống
hồ ngài Vân Môn đă thấu triệt Pháp Thân, ngài Động
Sơn vẫn bắt [Vân Môn] thấu triệt toàn bộ.
Đó là chứng, chẳng phải là giải! Ở đây
nói “do giải mà địa vị tương xứng với
Tổ” ắt có nghĩa sâu ư?
Đáp: Ngài Vĩnh Minh nói “trước
là dùng nghe, lư giải, tin tưởng để
tiến nhập”, rồi lại nói “sau đó dùng chẳng suy nghĩ để khế hợp, đồng nhất”. Khế hợp,
đồng nhất th́ Pháp Thân đă thấu triệt, t́nh thức
đă hết sạch. Đấy là giải mà cũng là chứng,
nối tiếp ngôi vị Tổ cũng chẳng đáng
ư?
7) Hỏi: Sơ Tổ dạy
Lăng Già để ấn tâm, Hoàng Mai (Ngũ Tổ) dạy
đọc kinh Kim Cang để kiến tánh; c̣n như ngài
Câu Chi tŕ chú Chuẩn Đề, ngài
Thủ Sơn
tŕ Pháp Hoa, tợ hồ tham Thiền chẳng trở ngại
tŕ tụng, nhưng ngài Dược Sơn chẳng cho phép
xem kinh, Triệu Châu chẳng thích niệm Phật. Thậm
chí ngài Cao Phong nói “thoại đầu miên mật chính là một
quyển kinh chẳng đứt đầu”, lại tợ hồ cấm
tuyệt tụng tŕ, mà chú trọng chỉ khởi một câu
thoại đầu. Xét ra, từ đó tới nay, [người
hành Thiền] lấy tham thoại đầu làm chủ, kiêm
tŕ Hoa Nghiêm và niệm Phật làm công khóa. Nay con muốn
đ́nh chỉ các công khóa ấy, chuyên nhất tham Thiền,
chỉ giữ nguyện lực, chẳng biết có
được hay không?
Đáp: Chẳng ngại tŕ tụng,
hay chẳng cho phép tŕ tụng, cổ nhân tùy thời mà chế
định biện pháp thích nghi, tùy theo căn cơ mà dạy
bảo, mỗi đằng đều có kiến giải
riêng, chớ nên phủ định lẫn nhau. Nay ông muốn
ngưng tụng niệm công khóa, chuyên nhất tham cứu,
có ǵ là chẳng được?
8) Hỏi: “Chỉ sầu
chẳng làm Phật, đừng sầu Phật chẳng hiểu
lời”. Đó là giáo huấn của cổ nhân. Lại
c̣n “chớ đoạn trừ ngôn ngữ, thiêu được
nhiều xá-lợi, chẳng bằng trả lời một
câu chuyển ngữ của ta” cũng là giáo huấn của
cổ nhân. Người học hiện thời chẳng chú
trọng thật tu, chỉ chăm chú nơi cơ phong chuyển
ngữ; đúng là sai lầm! Nhưng con tự biết chính
ḿnh chưa ngộ, luôn luôn cảnh tỉnh chính ḿnh, chỉ
v́ kiến địa chẳng rơ, sợ sẽ tu mù, luyện
đui! V́ thế, trong ṿng thầy tṛ, bạn đạo, hỏi
đáp, xướng họa, cũng chẳng gây tổn
thương ǵ, đúng chăng? Nếu c̣n đang thuộc
địa vị tu học mà chẳng thông qua bàn bạc với
nhau, cứ phải đợi sau khi ngộ rồi mới
thốt lời, th́ do kiến địa c̣n thiếu sót, sẽ
do đâu mà dấy hạnh? Huống hồ un đúc lư tánh,
quyết trạch đúng sai, như “tam đăng cửu
thượng[1],
do một câu chưa hiểu mà lặn lội ngàn non”
đều được thực hiện trước khi
ngộ ư?
Đáp: Chẳng chú trọng thật
tu, thật chứng, chỉ cậy vào khẩu đầu
tam-muội để phô bày cơ phong, đấu tranh thua
thắng; chớ nên có loại ngôn ngữ ấy! Thật sự
v́ sanh tử, hễ tâm địa chưa sáng suốt th́ bàn
luận với nhau, xướng họa lẫn nhau, chẳng
thể không có loại ngôn ngữ ấy. “Tam đăng cửu
thượng, một câu ngàn non”, đừng bàn trước
khi chưa ngộ, dẫu cho sau khi đă ngộ, hăy c̣n có một
tầng ải cuối cùng, th́ cái công tham học ḥng cầu
được quyết trạch sẽ chưa thể
ngưng dứt được!
9) Hỏi: Người thấy
tự tánh sẽ tự tại trong sanh tử. Người
có thể làm chủ sẽ có thể chuyển nghiệp khi
lâm chung. Các vị tổ đă được tự tại
th́ chẳng bàn đến, chứ các vị thiền sư
Thảo Đường Thanh, Thừa Thiên Phật Ấn v.v… cách một đời liền
mê. Há ngộ có cạn hay sâu, tập khí có nhẹ hay nặng
ư? Hay là cũng do đại bi tăng thượng, vốn
cao vời mà thị hiện dấu tích thấp kém, nhưng người khác chẳng tự biết
ư? Nếu chẳng phải vậy, người học sao
có thể tin tưởng pháp môn kiến tánh cho được?
Đáp: Những vị
như Thảo Đường v.v… rốt cuộc là kiến
tánh, nhưng vẫn chưa đạt đến chỗ hết
sức thỏa đáng. Cổ nhân nói: “Biết tâm thấy
tánh, hăy nên như Nam Tuyền,
Triệu Châu. Thật sự chứng nhập chân thật,
hăy nên như Tuyết Phong, Huyền Sa”. Các vị đại lăo ấy
há có chuyện thân sau đọa lạc ư? Đúng như
ông đă hỏi, chính là ngộ có cạn hay sâu, chẳng thể
luận định là cảnh giới vốn cao vời nhưng
thị hiện thấp kém được!
* Trả lời Tuyết Kiệu Viên Tín
Từng là lăng tử riêng
thương xót người khác, một niềm khổ tâm
ấy đă được thấy trọn! Tuy vậy, hăy
xếp những điều sở đắc và niêm xướng hướng thượng trước kia qua một
bên, nơi đầu sào trăm thước, cần phải
tiến thêm một bước nữa.
* Nhận xét bài kệ do Tuyết Kiệu tŕnh lên
Bất giải Tây
Phương, bất học Thiền
(Chẳng hiểu Tây Phương, chẳng học Thiền).
Thấp tiếng, thấp tiếng[2].
Ngẫu lai trần thế
chỉ tùy duyên
(Bỗng vào trần thế chỉ tùy duyên).
Giải, học.
Tam gian mao ốc bàng khê trụ,
(Ba gian nhà tranh trụ bên suối).
Suối sâu, đường trơn.
Lưỡng phiến trúc song quan nguyệt miên
(Cài chặt song tre ôm trăng ngủ).
Xuân sắc đầy vườn, chẳng đóng
được!
Toái tận nạp y na hữu kết
(Nát sạch áo chằm, c̣n kết ǵ?)
Há chẳng giống như một tấc tơ chẳng
vướng mắc?
Dưỡng trường
đầu phát dục thành điên
(Nuôi dài đầu tóc muốn
thành điên).
Thành điên cũng chẳng ghét.
Tự tùng hội đắc
ngô sư ư
(Ư thầy thấu hiểu từ
khi ấy).
T́m nước trong bánh của
người Hồ[3].
Bạch tuyết phiêu phiêu lục
nguyệt thiên.
(Tháng Sáu sao mà tuyết trắng bay?)
Mùa Hạ thời tiết như mùa Đông, nóng lạnh
chẳng chánh đáng. Kiến xứ của ông cao, đẹp;
lại mong ông ít làm thơ kệ, dùng hạnh
đầu-đà trụ trong núi Song Kế để nối
tiếp huệ mạng của Tổ.
Xin thầy ban lời dạy
khiến cho con có thể trừ, có thể tiến.
“Trừ” là trừ khử cái
tâm có sở đắc. “Tiến” là tiến đến chỗ
chẳng thể đến được!
* Trả lời Tri Hy Quảng Quán
Hỏi: Nhà Thiền có nói: “Tâm
chính là cảnh. Cảnh chính là tâm”. Nếu nói “tâm chính
là cảnh” th́ tâm đạt đến chỗ nào, cảnh
ắt phải theo đến đó. Vậy th́ thế gian
hoàn toàn là cái tồn tại trong tâm, nhưng cảnh chẳng
phải là như vậy. Chẳng hạn như người
học tập cử nghiệp, ai chẳng mong đỗ
đạt, nhưng có kẻ suốt đời miệt mài
học hành, dốc cạn tâm lực, nhưng chẳng
đạt được một chức quan. Như vậy
th́ cái thuyết “tâm chính là cảnh” ở chỗ nào? Nếu
nói “cảnh chính là tâm” th́ cái tâm của hết thảy
chúng sanh vốn không có ǵ bất đồng, nhưng cái cảnh
được thấy trọn luôn có chỗ bất đồng.
Chẳng hạn như tại ngọn Nhật Quán ở
Thái Sơn, sáng sớm thấy mặt trời từ biển
mọc lên, vầng mặt trời to như cái ky, [phát ra] tiếng vang như sấm. Chỉ cùng là một
vầng mặt trời, cớ sao cảnh ấy riêng hiện
tại đó? Như vậy th́ cảnh vốn là cảnh ở
nơi đó, chẳng có mảy may nào dính dáng cái tâm của
chúng sanh ở nơi đây, sao có thể nói “cảnh chính
là tâm” cho được?
Đáp: Đối với tâm và cảnh, chẳng thể
dùng chuyện thế tục để bắt bẻ
được! Như đối với cảnh, chỉ
dùng chuyện xem mặt trời để nói, th́ [trong thế
gian], nước là một mà chư thiên thấy là lưu ly,
loài người thấy là nước, quỷ thấy là
máu mủ, đều thuộc loại này. Đối với
tâm, chỉ dùng chuyện đỗ đạt để nói
th́ cổ nhân có bảo: “Kẻ tham tiền tài luôn luôn
nghĩ tới tiền tài, cũng như ta nghĩ lấy
ra một đĩnh vàng, có được hay chăng?”
đều là t́nh huống tương tự. Tâm và dấu
tích đă phân biệt rành rành.
[Đối với thắc mắc] ‘như thế nào là “tâm
chính là cảnh”’, xin hăy tham cứu thêm; đừng
hỏi han ai khác?
* Trả lời vị tăng tên Hải Quang
Hỏi: Tôi nay chẳng tại
Đông, chẳng tại Tây, chẳng tại Nam, chẳng tại
Bắc, chẳng tại thượng, chẳng tại hạ.
Hết thảy đều chẳng tại. Tôi nay cũng tại
Đông, cũng tại Tây, cũng tại Nam, cũng tại
Bắc, cũng tại thượng, cũng tại hạ,
không đâu chẳng trọn khắp, đặc biệt đến
cầu truyền trao ca-sa, cầu thọ Cụ Túc Giới.
Kệ rằng: “Bồ Đề vốn có cây,
gương sáng cũng là đài. Vốn sẵn có một vật,
vốn chẳng bám bụi bặm”.
Đáp: Nếu ông “hết thảy chẳng tại”
th́ người nào thọ y? Nếu ông trọn khắp hết
thảy, y [ca-sa] sẽ nương vào chỗ nào? Nếu ông
“hết thảy đều chẳng trụ” th́ vốn
tự vô thể, dùng giới để làm ǵ? Nếu ông “trọn
khắp hết thảy” th́ vốn tự chẳng thiếu
sót, sao lại cầu Cụ Túc? Bồ Đề có cây,
gương sáng có đài, vốn sẵn có vật. Ba câu
trước lật nhào Tào Khê. “Vốn chẳng bám bụi
bặm”, một câu sau vẫn như cũ rơi vào khuôn
sáo cũ! Sao chẳng nói “vốn sẵn có một vật,
mặc cho bám bụi trần?”
* Trả lời vị tăng Ái Hiền
Hỏi: Làm ác, đọa tam
đồ; làm lành, sanh trời, người. Niệm Phật
sanh Tịnh Độ, tham Thiền ngộ tự tâm. Dám hỏi
kẻ đối với bốn chuyện ấy đều
chẳng làm sẽ đọa lạc vào chỗ nào?
Đáp: Chẳng làm ác, chẳng
làm lành, chẳng niệm Phật, chẳng tham Thiền, [người
như vậy] chẳng phải là bậc chân nhân không có
địa vị, ắt là gă lăng tử phiêu bạt. Lại
hỏi nay ông chính là loại nào vậy?
* Trả lời Thường Tỉnh Quảng Tịch
1) Người có thể quán
mộng, huyễn, bọt, bóng chính là người siêu xuất
mộng, huyễn, bọt, bóng. Người chẳng quán mộng,
huyễn, bọt, bóng chính là kẻ ở trong mộng.
2) Nếu nói là người
thoát khỏi mộng, tôi nào dám nhận? Bởi lẽ, tôi
đang ở trong mộng, chỉ là hơi khác so với kẻ
buông lung say ngủ là tôi dốc cạn sức rũ bỏ
để cầu làm người tỉnh mộng đó
thôi!
* Trả lời Thiếu Tham[4] Châu Hải
Môn
1) Hỏi: Đối với
Thiền cơ hướng thượng, thường là hễ
gặp người như thế, bậc tông sư sẽ
chẳng bỏ qua. Như Ô Khoa đại sư dùng “đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều lành” để
giáo huấn [ông Bạch Cư Dị], hoặc có lúc nhặt sợi
lông từ vải để thổi [nhằm khai thị cho
thị giả Hội Thông], như vậy th́ hành động
thổi ấy là thiện hay ác, là đồng hay khác với
ư chỉ “đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều lành”? Người sáng mắt liền lập
tức đốn ngộ; kẻ chẳng thông sáng sẽ
tách thành hai đằng, chẳng biết thiền sư phân
tích chuyện này như thế nào? Mong hăy dạy bảo minh
bạch cho con, đừng nói “chẳng phải là người
như thế sẽ khó nghe chuyện như thế!”
Đáp: “Đừng làm các
điều ác, vâng làm các điều lành” lập tức
sợi lông trên vải khắp đất, cần ǵ phải
đợi nhón lấy mà thổi? Lại c̣n nói đồng,
nói khác ư? Giả sử là đồng th́ đă sớm trở thành hai đằng rồi! Ngài Ô Khoa thoạt
đầu chưa từng dùng độn pháp để dạy
ông Bạch (Bạch Cư Dị), mà riêng đối xử
nồng hậu với thị giả của chính ḿnh. Tuy là
như vậy, đối với lời nói trước, dẫu
chẳng thấu hiểu huyền chỉ, chỉ một mực
dứt ác, hành thiện, cũng chẳng khiến cho người
khác bị lầm lạc. Nếu hiểu lầm, đối với những chỗ cổ nhân nói “Như Lai
chẳng đoạn ác niệm trong tánh”, bèn ương
bướng chẳng tu thiện v.v…, mối họa sẽ
chẳng nhỏ.
2) Hỏi: Nếu hiểu lầm
cổ nhân rồi ương bướng chẳng tu thiện,
sẽ gây họa chẳng nhỏ, vậy th́ đối với chỗ “vâng làm các điều thiện” cũng có kẻ hiểu lầm hay chăng? Nếu
hiểu lầm, sẽ gây họa lớn hay nhỏ? Xin thầy
khai thị.
Đáp: Sự hiểu lầm
trước sẽ gây họa trong tam đồ, sự hiểu
lầm sau sẽ gây họa trong đường trời,
người.
3) Hỏi: Cái quả của
tam đồ là ác đạo, nhân thiên cũng là tiểu quả.
Ĺa hai chỗ ấy, rốt ráo hướng về chỗ
nào để an thân lập mạng?
Đáp: Chỗ chẳng thể
an lập chính là chỗ an thân lập mạng.
4) Hỏi: Đối với
lời trước, chẳng lănh hội huyền chỉ,
chỉ một mực “đừng làm các điều ác,
vâng làm các điều lành” cũng chẳng khiến cho
người khác lầm lạc! Nếu gặp người
hiểu huyền chỉ, sẽ tiếp nhận như thế
nào?
Đáp: Chẳng cần thay
đổi đề mục, chỉ cần lănh hội cách
hành văn! Các điều thiện do ai vâng làm? Các điều
ác do ai chẳng làm?
5) Hỏi: Đă biết là
ai, ǵ là thiện? Ǵ là ác? Như trăng in bóng trong sông, há
chia trong, đục? Chẳng làm và vâng làm, cũng đúng,
cũng sai, đừng tùy tiện hành văn, mà phải nhận
rơ đề mục!
Đáp: Trăng tuy sáng, thanh
khiết, nhưng do nước trong hay đục mà h́nh
bóng hiện [trong nước] có mờ hay rơ sai biệt! Tâm
vốn rạng ngời, linh thông, do Sự có thiện
và ác mà dấu tích hiển hiện chia ra thăng hay đọa.
Há có nên bảo cái Thể của trăng vốn chẳng
trong hay đục, bèn cố ư nói
nước trong hay đục đều tốt đẹp
cả! Tâm thể vốn chẳng thiện, chẳng ác, bèn
nói “ác sự chẳng trở ngại!” Hễ giữ kiến chấp rỗng không, sẽ trái
nghịch Viên Tông. Biết thiện và ác cùng mất, sẽ vừa
khéo dứt ác, làm lành! Nếu khăng khăng ngăn cấm
“dứt ác” để “hành thiện”, vẫn là nhận biết
chưa chân thật! Như nay nắm quyền cai trị, há chẳng
thi hành sự cai trị nhân từ, trừ gian, khử tệ
ư? Vẫn y như cũ rơi vào “dứt ác, làm lành”! Bước
nào cũng giẫm nơi Hữu, miệng luôn bàn Không; đấy
chính là căn bệnh to lớn của kẻ thông minh tham
Thiền trong hiện thời.
Chắc có kẻ nói: Sĩ phu hiện thời phần
nhiều thích bàn luận lẽ cao huyền, ghét những luận
định b́nh phàm, chân thật, sao ông cứ ra rả một
câu “dứt ác, làm lành” vậy? Tôi nói: Chính v́ muốn họ
chán chỗ ưa thích, muốn họ
ưa thích chỗ
chán ghét! Đời gần đây, kẻ vẫy vùng trong bụi
trần mà bàn Thiền đông lắm, chứ người
thật chứng, thật ngộ hiếm hoi được một hai vị! Tôi uốn
nắn thói tệ ấy, chẳng thể không làm như vậy.
Thật đúng như một câu nói do cổ nhân đă
lưu lại: “Thông trên, thấu dưới chỉ là đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”. Nói
nông cạn, chỉ là tránh điều ác, bèn gọi là làm
lành. Dân lành giữ phận trong cái thôn chỉ có ba nhà cũng
như thế. Nói cùng cực th́ mảy may điều ác
đều hết sạch, muôn điều thiện vẹn
tṛn, [ngay cả] bậc trời trong trời,
bậc thánh là đức Thế Tôn
Như Lai cũng như thế! Nếu chấp chặt “dứt
ác, làm lành nhằm dạy hàng độn căn; nhón sợi lông trên vải để thổi
nhằm dạy bậc lợi căn”, lầm mất rồi!
* Trả lời quan hoằng đài Vương Nghiêm
Đạo ở đất Hàng
Hỏi: Đối với ba
câu hỏi thuộc Huyền Giáo, liên quan đến chủ
nhân ông… con nhất thời mờ mịt, chưa biết
đáp như thế nào. Quay về, lẳng lặng suy ngẫm, càng thêm bối rối, mê hoặc. Ngược
lại, con thử [khán vấn đề ấy] trong ban ngày
hay lúc rảnh rỗi th́ c̣n có thể cảnh tỉnh, chứ
hễ gặp chuyện, liền cảm thấy chẳng
đắc lực! Nếu bận việc, càng cảm thấy
không đắc lực. Con thử khán trong khi mộng mị,
ban ngày phát khởi một niệm dũng mănh, trong mộng
bèn có chỗ tương ứng. Hễ ban ngày có một niệm
lười nhác, tán loạn, trong mộng cũng có chỗ
tương ứng. Nói chung, dốc ư vào đó th́ tỉnh
táo, chẳng c̣n dốc ư th́ lơi lỏng. Dù ban ngày hay mộng,
đều phù hợp nhau. Như vậy th́ c̣n có thể lập
chí quyết định, dốc sức hướng thượng,
đạt tới chỗ gọi là “chẳng tỉnh, chẳng
mộng” th́ chủ nhân ông ở nơi đâu? Đấy thật
sự là chỗ đệ tử hết sức mê hoặc,
chẳng hiểu được!
Nếu bảo “lúc ấy không có chủ nhân ông”, th́ [người
đang ngủ say] vừa được gọi liền tỉnh,
rơ ràng [chủ nhân ông] cũng chẳng xa! Nếu bảo “lúc
ấy có chủ nhân ông” th́ chủ nhân ông rốt cuộc ở
đâu? Sau ngày Ba Mươi tháng Chạp, chẳng rơ quang cảnh
như trong mộng, hay là như quang cảnh “chẳng tỉnh,
chẳng mộng?” Nếu là như quang cảnh trong mộng,
chẳng qua [quang cảnh ấy] do ư tưởng kết
thành, rơ ràng chẳng phải là chỗ rốt ráo. Nếu
như quang cảnh “chẳng phải tỉnh,
chẳng phải mộng”, th́ sau khi diệt mất,
sẽ hoàn toàn chẳng linh thông, sự giải ngộ tu tŕ
hằng ngày có ích ǵ? Nếu nói “sau khi diệt mất liền
văng sanh chỗ khác”, [vậy th́] công phu chánh tâm thành ư của
nhà Nho lúc sống th́ thuận ứng, lúc mất th́ yên ổn,
hoàn toàn thọ dụng bất tận, cần ǵ đến
giáo pháp của bậc thánh nhân ở phương Tây nữa?
Mong thầy đại từ chỉ giáo từng điều
một!
Đáp: Thư gởi đến
đề cập ba câu hỏi trong Tuyết Nham Thất,
đối với điều thứ ba là “chỗ chẳng
tỉnh, chẳng mộng”, dẫu là bậc lợi căn
như ngài Cao Phong cũng không có lời nào để
đáp, không có lư nào để tŕnh bày. Niệm ở đâu,
nghĩ tại đó, sáu năm sau mới đại triệt
đại ngộ. Bởi lẽ, chuyện này chẳng thể
vứt bỏ, cũng chẳng thể dùi mài, chẳng thể
lần khân qua ngày, cũng chẳng thể gấp cầu
công hiệu. Lại chẳng thể tự nẩy sanh ư kiến,
lại chẳng thể cầu người khác giải nói.
Chỉ có cách đặt nó trong tâm khảm, miệt mài tham cứu, miên mật tham cứu, thật
sự tích lũy sức lực lâu ngày, một mai gặp gỡ
trên đường hẹp, va đụng nhau, chẳng
tránh né được, sẽ đột nhiên như đang
ngủ say bỗng tỉnh giấc.
Ông lại nói: “Nếu sau khi đă diệt, liền sanh
về chỗ khác, th́ chánh tâm thành ư của nhà Nho [sẽ giúp
cho Nho sĩ] lúc sống th́ thuận ứng, lúc mất th́
yên ổn, hoàn toàn thọ dụng bất tận, cần ǵ
đến Tây Phương!” Mấy lời ấy hết sức
có kiến giải! Hăy nên biết: Sự thấu triệt mối
nghi sau sáu năm của ngài Cao Phong ắt vượt ngoài
chỗ chánh tâm thành ư. Người xưa nói: “Mới biết
ngoài Châu, Khổng, riêng có bậc anh
hào”, chắc chắn
chẳng dối vậy! Minh công đă dùng chuyện này để
thể hội, phản quán, ngày sau ắt có sự giác ngộ
lớn lao. Tôi rất vui mừng vậy!
* Thư trả lời quan Cấp Gián Hà Vũ Nga
1) Hỏi: Đối với
chỗ vốn sẵn bị bệnh, làm thế nào để
trừ khử? Đối với chỗ thực hiện
trước mắt, có phương pháp ǵ hay chăng?
Đáp: Biết bệnh là huyễn,
chẳng cần trừ khử. “Không có chỗ thực hiện”
chính là chỗ vừa khéo để thực hiện.
2) Hỏi: Pháp môn có Giới,
Định, Huệ, cớ sao nói là “không thực hiện?”
Sơ học ắt cầu phương pháp để thực
hiện, như thế th́ mới có thể do Tiệm nhập
Đốn. Đối với kẻ đang làm quan, dụng
h́nh và giết chóc là chuyện chẳng tránh khỏi, đều
là chuyện bị nhà Phật ngăn cấm. Nay con muốn
quy y Tam Bảo, có nên bỏ chức về núi hay không?
Đáp: Hạ học thượng
đạt là lẽ trọng yếu để nhập môn
nhiếp tâm. Tâm tịnh, bệnh tự trừ. Xét theo
cơ duyên để hành h́nh, hay giết chóc, kinh có ghi chép rơ
ràng! Vẫn giữ chức mà ngộ tâm, thời cổ có
nhiều bậc cao sĩ [như thế đó].
3) Hỏi: Giữ chức mà tu hành, ngoại trừ niệm
Phật, lấy ǵ làm pháp trọng yếu để nhiếp
tâm? Tâm có hai thứ khó trừ là hôn trầm và tán loạn, lại
xin thầy dạy cho rơ.
Đáp: Kinh dạy: “Quy
nguyên vô nhị lộ, phương tiện hữu đa
môn” (về nguồn không hai nẻo, phương tiện
có nhiều môn). Lược khai thành ba, tùy ư hành tŕ:
- Niệm Phật môn: Một môn Niệm Phật Chỉ
và Quán cùng đủ.
- Chỉ Quán môn: Dùng Chỉ để dứt tán loạn.
Dùng Quán để quán hôn trầm.
- Tham Thiền môn: Lấy ngộ làm hạn, nhưng Chỉ
Quán cũng có đủ trong ấy.
* Trả lời quan Thuyên Bộ Ngu Đức Viên
Hỏi: Thuần Hy[5]
trong lúc đang rên rỉ [v́ bệnh tật], bỗng nhớ
tới một công án của thiền sư Huệ Nhật,
kính đem hỏi đại sư: “Xưa kia, Huệ Nhật
xuống tóc, không mặc ca-sa, không thọ giới Cụ
Túc, cầu lễ ḥa thượng Thần Quang. Ngài Thần
Quang nói: ‘Ta chẳng phải là thầy ông. Ông hăy lễ Tây
Viện’. Sư cầm một cái gậy trúc xanh nhỏ vào pháp đường của Tây Viện.
Tây Viện nói: ‘Vào Niết Bàn Đường đi’. Sư
vâng dạ, xoay gậy trúc mà vào. Khi đó, có khoảng
năm trăm vị tăng đang nhiễm bệnh thời
khí. Sư dùng gậy theo thứ tự mà điểm. Hễ
điểm liền dậy được”. Chẳng biết là nói vị
Tăng bị bệnh đứng dậy, hay là Huệ Nhật
đứng lên? Chẳng biết đầu gậy trúc có
bôi bao nhiêu ma hoàng quế chi thang[6]?
Sao chẳng điểm cùng lúc cho họ nhanh chóng đứng
dậy, mà lại điểm theo thứ tự? Chính con chẳng
có mắt, t́m thầy kiếm người chỉ điểm,
sao có thể điểm hóa người khác? Chẳng thọ
Cụ Túc Giới, khác ǵ khúc gỗ? Nếu gậy trúc đặt
trước khúc gỗ có thể khiến cho bệnh nhân dậy
được, cây tùng Nam Sơn đè gậy trúc, sẽ
thành Thái Y Viện ư?
Có người nói: “Huệ Nhật là bậc tái lai. Do vậy,
Tây Viện vội bảo Sư vào Niết Bàn Đường
chữa bệnh, do khi xưa Sư và năm trăm vị
tăng ấy có duyên”. Nhưng năm trăm vị tăng
nương vào Tây Viện để trụ, Tây Viện và họ
chẳng có duyên ư? Gậy trúc của Tây Viện lúc ấy
lại ở đâu? Nếu như ngày nay đại sư
được quận công thỉnh vào thành cứu bệnh
dịch, có c̣n cầm theo gậy trúc hay chăng? Ngàn vạn
bệnh nhân tung hoành nơi nhà thổ, tửu quán, một
cái gậy trúc trên đây c̣n điểm theo thứ tự
được hay chăng? Huống hồ đại
sư giới quang đă viên măn, sư đức (đức
hạnh của bậc thầy) đă vẹn toàn, trừ gậy
trúc ra, c̣n có các thần thông, diệu dụng
khác hay không? Kính mong thầy
đối trước đại chúng nêu rơ, sẽ đem
gậy trúc của Huệ Nhật xoay vào Ngũ Uẩn
độc, trước là điểm cho Thuần Hy
được lành bệnh, sau đó tận hư không, khắp
pháp giới, trong tiếng khảy ngón tay, chẳng ngại
theo thứ tự điểm hết, trong ấy (trong thế
gian) há c̣n có bệnh nhân ư? Hoặc là c̣n có một cách thực
hiện riêng, ngay cả gậy trúc cũng bị bệnh,
trước cửa ác quỷ đứng xúm xít, trên đất
cương thi nằm vắt ngang trong cỏ. Đấy
chính là cảnh giới khinh an, mạnh khỏe, đại
sư cũng cần phải nói toạc cho Thuần Hy th́ mới được!
Đáp: Ngài Huệ Nhật tự đành làm gă nghèo, bỏ
ḿnh, theo người khác. Tây Viện ủy khuất, vây hăm
b́nh dân, đẩy người sống vào chỗ chết.
Đáng tiếc là năm trăm vị Tăng chỉ biết
hễ bị điểm liền đứng dậy,
chưa hề có một hai người nằm khểnh, chẳng
đứng dậy, khiến cho Huệ Nhật hiển lộ
chuyện lạ, mê hoặc đại chúng, họa lây sang
con cháu! Vị chủ quận quan tâm sâu xa nỗi khổ
của dân, tôi là một sơn tăng vội dấn ḿnh vào
chốn nguy nan hiện thời, trong lúc cập rập, đánh mất gậy trúc, chẳng tránh khỏi vung nắm
tay trống rỗng hướng về chỗ ủng
thũng của cư sĩ đấm một phát, dám bảo
đảm bệnh trầm kha sẽ tiêu tan, máu độc
đầm đ́a, vạn mạch lưu thông, trăm lóng
xương thoải mái. Tuy là như thế, một người
sao có thể khiến cho mọi người lành bệnh
được? Chẳng thấy nói “dương hồi
phiến diệp, Xuân măn thiên lâm” (khí Dương hồi
sinh từng phiến lá, Xuân đầy ắp
ngàn rừng) ư? Chuyện này hăy gác lại đó. Chỉ
như suốt ngày nắm gậy trúc chỉ Đông, trỏ
Tây, chẳng bằng một mực trên khúc gỗ, sáng tŕ,
chiều giữ, giữ tới, giữ lui, bỗng dưng
cây khô lại nở hoa, sẽ là người chết lại
sống, nói chi gậy trúc hay khúc gỗ nữa? Dám đảm
bảo cây cỏ, rừng rậm khắp đại địa
sẽ đều thành Phật. V́ sao vậy? “Xanh xanh ngoài
vật: Hư không thể” chính là cái tâm vững chắc
ngay trong hiện thời.
* Trả lời quan Quận Bá Dư Tập Khê
Hỏi: Kinh Kim Cang rất nhiều
lượt tuyên dương “công đức thọ tŕ,
đọc tụng, giải nói cho người khác vượt
xa công đức do cúng dường trăm ngàn vạn ức
na-do-tha Phật”. Hiện nay, do lời này [mà người
ta] hễ liếc mắt xem, bàn bạc đôi chút, liền
tự chấp là công đức; nhưng kinh này lấy “vô
tướng, vô trụ” làm tông, chuyên v́ phá trừ hết
thảy các tướng công đức. V́ thế, những
người như Lương Vũ Đế tự nói
chính ḿnh có công đức vô lượng, tổ Đạt
Ma thẳng thừng phán định “chẳng có công đức!”
Nếu nói “hễ đọc tụng, giải nói, công
đức bèn vượt trội Phật”, tợ hồ
chẳng phải là ư chỉ chánh yếu của kinh, hay là những
lời lẽ [như thế] trong kinh nhằm khích lệ
khiến cho chúng sanh trong đời Mạt ưa thích đó
ư? Hay là huyền chỉ của kinh có cách nói khác ư? Có
người nói “kinh Kim Cang nêu tỏ tâm địa”, lại
có kẻ nói “xem kinh Kim Cang sẽ hiểu được [ư
nghĩa của] bốn câu Cấn Bối”[7].
Lại có kẻ bảo “bổn nguyên chân thật chẳng bị
xâm lấn, ăn ṃn, th́ gọi là Kim Cang”.
Đúng hay chăng? Lại mong thầy đều phân tích chỉ
dạy cho!
Đáp: Mối nghi thứ nhất:
Công đức tŕ kinh tối thắng như thế, thậm
chí hơn xa cúng dường chư Phật. Chẳng thấy
trong kinh có nói “nhất thiết chư Phật, cập
chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề
pháp, giai tùng thử kinh xuất” (hết thảy chư
Phật và Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của
chư Phật đều từ kinh này mà ra) ư? Tức
kinh này là mẹ của chư Phật, há công đức chẳng
tối thắng ư? Lại nghi do [kinh Kim Cang] lấy “vô
tướng, vô trụ” làm tông, chẳng nên tán thán công
đức, [v́ tán thán công đức] tợ hồ là trụ
tướng. [Nghi như vậy là do] chẳng biết công
đức ấy chính là công đức “vô công đức”;
đó gọi là công đức chân thật.
Ông lại nghi Đạt Ma quở
trách công đức do Vũ Đế đă làm, nhưng cái
bị ngài Đạt Ma quở trách là
phước đức, chẳng phải là công đức! Phước đức và công đức có khác biệt.
Vua hỏi: “Trẫm kể từ khi lên ngôi tới nay, dựng
chùa, chép kinh v.v… chẳng tính nổi số, có công đức
hay không?” Tổ Đạt Ma đáp: “Thật
sự chẳng có công đức!” [Bởi lẽ], đó là tiểu quả trong đường trời,
người, là cái nhân hữu lậu. Công đức ở
trong Pháp Thân, chẳng do tu phước, tức là phước
đức và công đức tự tách biệt rành rành!
Nhưng lại nói “tŕ giới, tu phước” là v́ sao? Ấy
là v́ làm phước mà chẳng trụ vào tướng
phước, phước liền thành công đức, chẳng
thể xem giống như phước nơi sự tướng
được! V́ thế, trong kinh đả phá phước
nơi mặt Sự, chẳng phải là phá trừ công
đức. Chỉ cần biết công đức ấy
cũng chẳng trụ chấp, tức là vẫn y như
cũ chẳng đánh mất tông chỉ “vô tướng,
vô trụ”.
Hơn nữa, nói “đọc tụng kinh này” chẳng
phải là niệm theo câu chữ một quyển, hai quyển.
Nói “giải nói kinh này” chẳng phải là giảng giải
văn nghĩa một, hai buổi liền gọi
là “thọ tŕ”. Nếu thật sự thọ tŕ, công
đức há có thể nghĩ bàn ư? Đấy là nói chân
thật, đúng theo lư, trọn chẳng phải là đả
động khiến cho người đời hoan hỷ,
cũng chẳng phải là cố ư lập ra huyền chỉ.
Kim Cang là bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất
giảm, chẳng đến, chẳng đi, chẳng một,
chẳng khác, chính là bổn nguyên chân thật, chính là tâm
địa vốn sẵn có. Ngộ thấu triệt điều
này, sẽ không ǵ chẳng thấu triệt, há riêng bốn
câu Cấn Bối ư? “Cấn kỳ bối, bất hoạch
kỳ thân” chỉ là không có ngă tướng. “Hành kỳ
đ́nh, bất kiến kỳ nhân” chỉ là không có nhân
tướng. [Nhưng kinh Kim Cang] c̣n có chúng sanh tướng
và thọ giả tướng, bèn biết Kim Cang bao trùm bốn
câu Cấn Bối, Cấn Bối chỉ nêu ra được
nửa bài kệ của Kim Cang!
Vậy mà người xưa nói “xem một bộ kinh
Hoa Nghiêm, chẳng bằng xem một quẻ Cấn”, có
thể bảo là lời lẽ xằng vậy!
Hoa Nghiêm trọn đủ vô lượng pháp môn, Kim Cang Bát
Nhă tuy tinh diệu tột bậc, vẫn là một pháp môn
trong vô lượng pháp môn của kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm
như thiên tử, Kim Cang Bát Nhă là một quan chức trong
văn vơ bá quan. Quẻ Cấn c̣n chưa nói trọn hết
Bát Nhă, mà muốn vượt trội Hoa Nghiêm, giống
như gă quan quèn chưa được xếp cùng hàng với
bậc khanh tướng, lại bảo hơn hẳn thiên
tử! Sai lầm ấy nói sao cho cùng? Những chuyện lan
man hăy gác lại đó, chỉ trong hiện thời, [hăy nói
xem] kinh này rốt cục là ở chỗ nào?
* Trả lời quan Tông Bá Vương Trung Minh
Hỏi: Khi mừng, giận,
buồn, vui chưa phát ra th́ là Trung. Lại nói: “Trung không
có cái Thể nhất định, tùy thời tồn tại”.
Đă nói là “tùy thời”, há chuyên chỉ “chưa phát ra”?
Đáp: Do tùy thời mà gọi
là Trung. V́ sao? Mừng, giận, buồn, vui chưa phát ra là “Trung
trong khi tĩnh”. Đă phát ra mà có thể kiềm chế
thích hợp th́ là “Trung trong khi động”. V́ thế gọi
là “cái Trung tùy thời”. Nếu nó có một cái Thể cố
định, trọn chẳng có lúc phát động, sẽ lệch
vào khô tịch, sao gọi là Trung cho được? Trung là
chẳng động, chẳng tĩnh, mà thường động,
thường tĩnh, chẳng thể nghĩ bàn tột bậc!
Nói tách ra th́ là Trung và Ḥa, nói gộp lại th́ một chữ
Trung đă gồm trọn hết.
Sách Trung Dung [luận định về Trung] chẳng ra
ngoài ư này. Đầu tiên nói: “Thiên mạng chi vị tánh” (Thiên
mạng được gọi là tánh). Khi chưa phát ra th́
thuộc về trời, chẳng thuộc về người.
Cái “tánh” vừa nói đó chính là Trung. Chẳng trở
ngại tùy thời phát ra là đạo hướng theo tánh. Dạy cho [mọi người] tu
đạo, an lập trời đất, sanh thành vạn vật v.v… Cuối cùng nói: “Thượng
thiên chi tải, vô thanh, vô xú, chí hỹ” (Trời cao chuyên
chở, chẳng có âm thanh, chẳng có mùi vị, đạt
tới tột cùng). Nói “chí” (至, tột cùng) th́ cái tột
cùng ấy chính là Trung. Trung Dung đă đạt tới cái tột
cùng ấy, chẳng trở ngại tùy thời phát khởi
Tam Đức, Ngũ Đạo, Cửu Kinh, Kinh Luân, Tham
Tán[8]
v.v… Lư tột cùng của tam giáo ở ngay trong ấy, không ǵ
chẳng quán triệt. Nay muốn chính là Nho, là Thích, là tục,
là chân, chỉ cần hướng vào trong ấy, sẽ trọn
đủ một mắt (tức là “trọn đủ huệ
nhăn”).
* Trả lời quan châu thủ Quảng Triêm Tiền Dưỡng
Thuần
1) Hỏi: Tâm này phóng dật đă
lâu, tuy dùng niệm Phật để nhiếp tŕ, tạm
được rồi lại mất, làm như thế nào
để ǵn giữ chẳng mất?
Đáp: Chỗ đất phản
nghịch lâu ngày, một trận chiến chẳng thể
đạt được hiệu quả! Chỉ cốt
sao kiên quyết, dũng mănh chẳng lùi, măi cho tới khi tâm
địa mở mang, sáng suốt, tự nhiên sẽ
vĩnh viễn đạt được!
2) Hỏi: Vượn (cái tâm
buông lung) vừa bị xiềng (nhiếp tâm), liền bị
hôn trầm. Dùng thanh tỉnh để chế ngự, phấn
chấn [tinh thần để đối trị] rồi lại
tán loạn, làm thế nào để hàng phục?
Đáp: Tịch tĩnh trị
tán loạn. Hễ tán loạn bèn sanh ra hôn trầm. Tỉnh
giác trị hôn trầm. Hễ hôn trầm liền sanh tán loạn.
Chỉ và Quán cùng đối trị, hôn trầm và tán loạn
sẽ đều lui. Nay chỉ cần chuyên ṛng sáng suốt
niệm Phật, niệm mà chẳng có một niệm nào, sẽ
là chuyên ṛng. Niệm mà phản chiếu, đó là sáng suốt.
Hễ chuyên ṛng th́ là Chỉ, sáng suốt chính là Quán. Một
pháp niệm Phật mà Chỉ và Quán cùng trọn!
3) Hỏi: Đi, đứng,
ngồi, nằm, trong bốn oai nghi đều có thể
tham cứu hay chăng? Như khi bận việc, bèn có
phương tiện để có thể hệ niệm hay
không?
Đáp: Đi, đứng, ngồi,
nằm đều có thể dụng tâm, nhưng khi ngồi là tốt nhất; nhưng người mới học, trước
hết cần phải đi nhiều, ngồi ít. Nếu
tham ngồi, hôn trầm sẽ chẳng thoái lui được!
Vô sự hay hữu sự đều có thể dụng tâm,
nhưng vô sự tốt hơn. Trước hết, cần
phải tu tập nơi chỗ an tĩnh; sau đó mới
có thể luyện tập nơi náo động. Đối
với phương tiện [để áp dụng] khi dính
dáng sự việc, cũng chẳng có cách nào khác, chỉ là [giữ
cho] niệm ấy tinh chuyên mà thôi. Thoạt đầu khó
tŕ, lâu ngày sẽ là tự nhiên.
4) Hỏi: Cổ nhân dùng quán
tâm làm mắt, lấy kinh giáo làm mặt trời. Mặt trời
chiếu sáng, mắt càng ngày càng nh́n xa. Lại nói: “Khô thiền
chẳng có huệ”. Nay một dạ niệm Phật, có
thể phát huệ hay không?
Đáp: Xem Giáo như đọc
sách thuốc. Dụng công nơi tâm địa như uống
thuốc. Trước hết, hiểu rơ sách thuốc, tự
nhiên là chánh lư. Người học đạo quư ở chỗ
biện định rành rẽ “tà, chánh, đại, tiểu,
thiên, viên” mà thôi. Nay chẳng rảnh để xem trọn
khắp, chỉ xem một kinh Lăng Nghiêm cũng
được! Đă chuyên tu Tịnh Độ, đối
với kinh luận và các sách Tịnh Độ đều
phải xem một lượt rồi mới buông xuống
văn tự, nhất tâm niệm Phật. C̣n như nói
đến Huệ th́ thông hiểu kinh giáo, khéo diễn nói,
chỉ bàn suông nơi miệng, chẳng đạt
được nơi tâm; đó là cuồng huệ. Chân tham
thật ngộ mới gọi là chánh huệ. Sau khi đă hiểu
rơ Giáo, nhất tâm niệm Phật, sẽ phát sanh cái huệ
ấy.
5) Hỏi: Bảy chỗ gạn
tâm [trong kinh Lăng Nghiêm], tâm chẳng ở trong, ngoài, khoảng
giữa. Nhị Tổ hỏi an tâm, [Sơ Tổ bảo
“đem cái tâm ra”, Nhị Tổ thưa t́m] tâm chẳng thể
được, [Sơ Tổ] nói “an tâm đă xong”.
Đấy chẳng phải là cảnh giới của phàm
phu, nay muốn trụ trong đối diện niệm (trạng
thái trực tiếp quán chiếu tâm niệm) th́ nên làm
như thế nào?
Đáp: Đừng quản bảy
chỗ hay tám chỗ, cũng đừng bận ḷng an hay chẳng
an, cũng đừng quan tâm đối diện hay không
đối diện, chỉ cần nhất tâm niệm Phật.
Cổ đức nói “hướng thẳng đến Vô
Thượng Bồ Đề, hết thảy đúng, sai
chẳng bận tâm!”
6) Hỏi: Kiếm sống,
chăm lo sản nghiệp đều chẳng trái nghịch
Thật Tướng. Thệ nguyện trong Phật pháp là cứu
vớt rộng răi, chẳng yêu mến tóc, da[9],
nhưng t́nh thức kiếm sống hễ c̣n một phần
mười th́ làm sao viên giải cho được?
Đáp: Nếu một mực
đề cao hướng tới giáo nghĩa cao thâm, không chỉ
là mưu sinh, lo liệu sản nghiệp, mà ngay cả giết,
trộm, dâm, dối, có bao giờ trái nghịch Thật
Tướng? Nay luận theo thế gian, một phần
mười là thường lư trong thế gian, cũng chẳng
trở ngại đạo, nhưng nếu là kẻ lừa
dối để kiếm lợi th́ chẳng được!
7) Hỏi: Học đạo
trước tiên cần phải có nhân duyên chứng
ngộ, đó gọi là “đốn ngộ, tiệm tu”.
Xem khắp các vị Thiền túc xưa nay, cố
nhiên là có vị coi kèm thêm Giáo để nói Thiền là rườm
rà, cũng có vị coi t́m ṭi trong kinh sớ là “vào biển
đếm cát”; nhưng [dựa theo] tông chỉ của
năm nhà (năm tông phái Thiền), ngữ lục, công án của
các vị tổ sư nhà Thiền, ai nấy đều tham
cứu cái tâm, tuy nói “chẳng do ǵ khác mà ngộ”,
nhưng chẳng phải là cái được gọi là “duyên
nhân” đó ư? Nếu đă không có người hướng
dẫn tốt lành, lại kém đa văn, ngồi khô khốc
đợi ngộ, có thể ngộ hay không? Nay con tuổi
đă cao, khó thể đọc trọn khắp, trí nhớ
chẳng như trước, vừa xem liền quên. Tức
là cái nhân duyên để ngộ chẳng thể có, làm thế
nào để chẳng đọa lạc? Chuyện này giống
như trong câu hỏi thứ tư, nhưng nỗi nghi hoặc
chất chứa vốn chỉ ở chỗ này, cho nên con lại
phiền muộn, bực dọc!
Đáp: Đại ư đă nói
trọn trong câu hỏi thứ tư. Chương Thế
Chí Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm lại nói: “Ức Phật,
niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất
định kiến Phật. Bất giả phương tiện,
tự đắc tâm khai” (nhớ Phật, niệm Phật,
hiện tại và tương lai, nhất định thấy
Phật. Chẳng nhờ vào phương tiện, mà tâm tự
khai ngộ); tức là niệm Phật há chẳng phải
là nhân duyên khai ngộ ư? Trong hai mươi lăm vị
thánh, [nguyên do] pháp [Niệm Phật] này chẳng được
chọn lựa là pháp Viên Thông đă được
biện định trong các bản khắc in như [A Di Đà Kinh] Sớ Sao, đừng
ngờ vực!
* Trả lời cư sĩ Châu Tây Tông
1) Hỏi: Trong khi bị khổ
sở bức bách, niệm Phật như thế nào?
Đáp: Khổng Tử nói “chung
thực tạo thứ điên bái bất vi nhân”[10].
Công phu “chẳng trái nghịch” ấy,
tuy nhất thời chẳng dễ [đạt được],
nhưng thực hiện chẳng ngừng, sẽ trở thành tự nhiên! Huống hồ hành tŕ rất
lâu, bỗng dưng có chỗ tỉnh th́ “khổ, lạc,
thuận, nghịch”, đạo đều ở trong ấy.
Đó gọi là “ho, khạc, vẫy tay, không ǵ chẳng phải
là ư của tổ sư từ phương Tây đến”,
cũng do thuần thục mà thôi!
2) Hỏi: Quán tướng hảo rộng lớn của
Phật chẳng thể thành tựu!
Đáp: Cổ đức bảo:
“Tâm chúng sanh xen tạp, quán tưởng khó thành. Đại
thánh xót thương, thẳng thừng khuyên chuyên tŕ danh hiệu”.
Nay hăy tŕ danh, đành gác quán tưởng lại chẳng bàn
nữa!
3) V́ sao giới học tại
gia khó ṛng rặt?
Đáp: Giới tại gia và
xuất gia tự chia thành sơ lược và cẩn mật,
[chỉ cần] chẳng vượt ngoài căn bản,
đối với những chỗ vi tế, dẫu hơi
có sai lệch cũng vô hại. Người xưa so sánh thừa
và giới hoăn hay gấp, coi “thừa gấp, giới hoăn”
là tối thắng; do vậy biết: Tu hành cố nhiên coi
tŕ giới là trọng yếu, nhưng thấy đế
lư, sáng tỏ tâm địa, lại càng là điều trọng
yếu tột cùng trong các điều trọng yếu.
Đó gọi là “thừa cấp”.
* Trả lời cư sĩ Vương Đại Khế
Hỏi: Đệ tử tự
xem bài Giới Sát Văn của thầy bèn ăn chay trường,
chỉ có điều cái tâm sắc dục lừng lẫy,
chẳng thể diệt trừ. Xin thầy phương tiện
dạy bảo, khiến cho con quán dục lạc hệt
như nỗi thê thảm do sát sanh, vĩnh viễn dẹp
trừ cái tội do dục ngăn chướng.
Đáp: Sát là chuyện khổ,
v́ thế nói là “thảm” dễ dàng. Dục là chuyện vui.
V́ thế nói nó là “thảm” sẽ khó khăn. Nay tôi lập một
thí dụ: Công khai bỏ thuốc độc trong đồ
ăn dở; đó là nỗi thảm của sự sát sanh.
Âm thầm bỏ thuốc độc vào trong đồ
ăn ngon, đó là nỗi thảm của dục. Người
trí tự suy nghĩ chuyện này!
* Trả lời cư sĩ Giang Quảng Ưu
1) Hỏi:
Nhất tâm bất loạn từ một ngày cho tới bảy
ngày, liền được văng sanh. Nếu nhất tâm trong
ṿng một ngày tới bảy ngày, sau đấy lại chẳng
nhất tâm, có
được văng sanh hay không?
Đáp:
Đă có thể nhất tâm, sau đó, tâm tán loạn đôi
chút, chắc chắn không tới mức quá sức tán loạn.
Như Nhan Tử (Nhan Uyên) suốt ba tháng chẳng trái nghịch
ḷng nhân, chẳng lẽ sau ba tháng đó, ông ta là kẻ ác? Những
người ấy dẫu trong tâm có vọng sanh, [cũng giống]
như chút tuyết trong ḷ lửa hừng hực, [tuyết]
chưa rơi vào ḷ đă tan mất, lẽ nào chẳng văng
sanh?
2) Tông Kính Lục
nói “nhậm vận” (tùy ư), có ǵ khác với “nhậm”
trong “tác chỉ nhậm diệt”[11]?
Đáp: Người Hồ
đến, Hồ hiện; Hán đến, Hán hiện;
đó là “nhậm vận”. Kênh đào hướng về
Đông, ắt nước chảy sang Đông. Kênh đào
hướng về Tây, ắt nước chảy về
Tây. Đó là tùy tiện (tức Nhậm trong Tác Chỉ Nhậm
Diệt).
3) Hỏi:
Con biết sâu xa ngũ dục chẳng thể [buông lung theo
chúng], nhưng lại không thể đoạn [ngũ dục]
là v́ sao?
Đáp:
Người có giải sẽ có ngộ. Đấy chỉ
là có giải mà chưa ngộ!
4) Hỏi:
Tịch (闢, hiểu thấu đáo sâu xa) và Giải
có ư nghĩa khác nhau như thế nào?
Đáp: Giải
như tranh vẽ thiên lư mă, Tịch th́ như [thật sự]
kéo một con thiên lư mă đến!
5) Hỏi:
Người tại gia tu hành sợ rằng trọn chẳng
sánh kịp người xuất gia?
Đáp: Tuy trăm người
thợ phải ở nơi chợ búa để thành tựu
sự nghiệp, nhưng người tại gia mà có thể
chứng đắc trong ngũ dục, như sen trong lửa,
sau đó gặp nước sẽ càng tăng trưởng.
Nếu sanh trong nước, sau đó gặp lửa, sợ
rằng sẽ cháy tiêu!
6) Hỏi: Tại
gia giữ giới như thế nào để bằng
người xuất gia?
Đáp: Giới
cũng chính là tháp báu chỉ có một tầng!
7) Hỏi: Khi
mới tỉnh ngủ, chánh niệm khi ấy chẳng bằng
trước đó?
Đáp: Cổ
nhân nói: “Khi tỉnh th́ mười phần tự làm chủ.
Trong mộng th́ một phần cũng chẳng làm chủ
được! Lúc sống mười phần tự làm chủ.
Lúc chết th́ một phần cũng chẳng làm chủ
được!”
8) Hỏi: Sợ
rằng kẻ chẳng tin Tịnh Độ chỉ vốn
là kẻ bạc phước?
Đáp: Lời
ấy rất đúng!
9) Hỏi:
Trong kinh Hoa Nghiêm, v́ sao Bồ Tát nói nhiều, Phật nói ít?
Đáp: Đấy
là đức Phật gia bị họ nói, như tể thần
(các quan đại thần) phụng mạng thiên tử mà
tuyên cáo sắc chỉ, chẳng phải là tể thần tự
chuyên!
10) Hỏi:
Tử Dương (Châu Hy) trọn luôn báng pháp, sẽ mắc
quả báo ǵ?
Đáp: Mỗi
thứ đều có báo. Ông ta là hiền nhân trong Nho gia, ắt
có phước trời, người, nhưng do đă bài bác
Phật, sẽ khó được nghe pháp!
* Trả lời cư sĩ Ngô
Quảng Dĩnh
1) Hỏi:
Phương pháp giữ thân, xử thế để có thể
suốt đời ǵn giữ, xin thầy hăy khai thị
điều cương lănh!
Đáp: Chỉ
cần nương theo một lời trong Luận Ngữ,
lại c̣n tiến thêm một bước, quán cơi đời
như mộng, quán thân như huyễn là được!
2) Hỏi:
Nho nói “tri hành”, Phật nói “ngộ tu”, [hai đằng
đều] chẳng riêng phế bỏ một điều
nào. Phái Thiền Tông chỉ nói “sau khi đă ngộ, bèn liễu
sanh tử” là v́ lẽ nào?
Đáp: Ngộ có lớn hay nhỏ.
Kẻ nói “ngộ rồi chẳng tu tŕ nữa” chắc là
phường “được chút ít đă cho là đủ”,
chẳng phải cuồng th́ là ngu.
3) Hỏi:
Thiện ác báo ứng, mỗi đằng đều ở
nơi thân người ấy, lục đạo thăng trầm
chẳng thể dối được! Nhưng lại có
chuyện con cháu lănh thay [cho tổ tiên] họa ương
hay cát khánh là v́ lẽ nào?
Đáp: Con
cháu mắc hại v́ là kẻ có ác nghiệp, sanh vào nhà cực
ác để hứng chịu họa ương, đôi bên
hoàn toàn tương ứng! Đối với cát khánh, có thể
dựa theo đó mà suy ra.
4) Hỏi:
Kinh ca ngợi phước do lễ bái, “từ dưới
đầu gối cho đến kim cang tế, cứ mỗi
hạt bụi là một địa vị Chuyển Luân
Vương”, nhân bé tí, quả to đùng, người
ta chẳng thể tin tưởng!
Đáp: Hạt
trái cây tuy bé mà có thể sanh ra ngàn cành, vạn lá!
5) Hỏi: Người
tu hành làm việc nặng nề, cố nhiên là bổn phận
của người ấy; nhưng nếu có kẻ sắc
thân yếu ớt, rũ tay ngồi yên, nhiếp tâm niệm
Phật th́ cũng có thể đắc đạo văng sanh
hay chăng?
Đáp: Thật
sự có thể nhất tâm bất động th́ được!
6) Hỏi:
Niệm Phật cố nhiên quư ở chỗ niệm niệm
liên tục, nhưng có lúc oai nghi không tề chỉnh, đâm
ra dường như khinh nhờn. Chẳng hạn như
lúc cởi khăn [đội đầu], mặc áo lót, ḿnh
trần nằm ngủ, hoặc tắm rửa, cho đến
khi đại tiểu tiện th́ đều có thể niệm
Phật hay không?
Đáp: Thầm
niệm th́ chẳng trở ngại.
7) Hỏi:
Xin thầy dạy rơ một câu tổng cương lănh về
Bồ Tát Giới!
Đáp: Phát tâm rộng lớn
là tổng cương lănh.
8) Hỏi:
Nếu có hai người, một người ăn thịt
nhưng chẳng phế niệm Phật, một người
ăn chay nhưng trọn chẳng niệm Phật. Hai
người ấy ai hơn?
Đáp: Hai
người ấy chỉ có cùng một bệnh! Người
niệm Phật tốt hơn một chút, tốt hơn
người chẳng biết có Phật!
9) Hỏi:
Lại có hai người, một người chưa từng
thọ giới mà chẳng phạm, một người từng
thọ giới nhưng vi phạm, tội người nào nặng
hơn?
Đáp: Giống
như hai người trước, do [người thọ
giới] tuy phạm, nhưng vẫn hơn người chẳng
biết có giới.
10) Hỏi:
Niệm Phật bốn chữ hoặc sáu chữ, hơi có
rườm rà hay đơn giản khác biệt. Kinh văn
chỉ nói “chấp tŕ danh hiệu”, dường
như chỉ có bốn chữ. Hiện thời, tùng lâm niệm
theo sáu chữ, rốt cuộc như thế nào mới là
đúng? Đại sư tự dùng cách nào?
Đáp: Bốn
chữ tự niệm, sáu chữ là niệm cùng đại
chúng.
11) Hỏi:
Suốt ngày niệm Phật, gặp phước bèn làm. Xin
thầy dạy rơ: Khi làm phước, tâm đặt nơi
chuyện làm phước, chẳng đặt nơi Phật
hiệu. Nắm lấy thứ này, buông thứ khác, có thể
gọi là nhất tâm bất loạn hay không?
Đáp: Gương
sáng vốn là không, vật tới bèn hiện. Đối với
gương rỗng không, có ǵ trở ngại cho người?
Chỉ là sự đưa đến bèn nghênh tiếp. Nếu
sự đă qua bèn lưu lại, vướng mắc, th́ là
bệnh!
* Trả lời cư sĩ
Châu Bạch Dân
Hỏi:
Tham Thiền và niệm Phật có thể sử dụng dung thông hay không?
Đáp: Nếu
đúng là hai vật th́ có thể sử dụng dung thông.
* Trả lời cư sĩ
Đới Chí Khiết
Hỏi: Nói
“dứt tuyệt niệm”, thật ra là nói về vọng
niệm, chứ chánh niệm Vô Sanh, há có thể dứt tuyệt?
Sau khi đă dứt bặt vọng, trí và cảnh hai đằng
đều mất, quang cảnh viên diệu chẳng thể
nghĩ bàn. Sáu con ngựa có thể điều phục, chứ
chánh niệm khó giữ. Nước trong mâm có thể nâng
lên, chứ vọng tâm khó chế ngự. Dẫu tŕ th́
đă đánh mất cái ban đầu, huống hồ lại
chẳng thể chế ngự lâu được! Lại
c̣n do mộng tưởng điên đảo, mắt nh́n vào
hoa đốm trên không. Lại mong thầy từ bi vẹt
mây mê cho con được thấy vầng thái dương
giữa trời, giúp cho con được lên bờ kia, siêu
độ chúng sanh, công đức vô thượng.
Đáp: Đă
đạt tới “cảnh và trí đôi đằng cùng mất”,
cần ǵ nói tŕ hay chế ngự nữa! Tŕ chẳng
được, chế ngự chẳng thể, sao chẳng
nhất tâm niệm Phật, tự nhiên chẳng tŕ mà tŕ, chẳng
chế ngự mà chế ngự, ngay trong mỗi niệm mà
nhận biết người niệm? Sau đấy mới
đạt tới “trí và cảnh đôi đằng cùng mất”,
đạt được Vô Sanh Nhẫn th́ mới có phần
tiến hướng. Đấy chính là thuyền từ,
chính là bờ kia, chính là công đức vô thượng.
* Trả lời cư sĩ Quảng
Ức Tôn Vô Cao
Hỏi: Gần
đây, con tŕ giới khá nghiêm, tuy đối với tiểu
đức chưa hoàn toàn thấu triệt, nhưng đối
với đại đức đă chẳng vi phạm.
Ngoài ra, thầy c̣n có một hai lời để con có thể
dùng làm châm ngôn suốt đời hay chăng?
Đáp:
Xưa kia, Tử Cống hỏi xin một lời để
[làm châm ngôn] suốt đời, phu tử dùng chữ Thứ
(恕, khoan dung) để đáp; nay tôi dùng một
chữ Giới để ông làm châm ngôn suốt đời,
không ǵ chẳng trọn hết! V́ lẽ nào vậy? Ấy
là v́ nhiếp tâm chính là giới. Nếu hướng theo pháp
môn tâm địa để lănh hội, hết thảy sẽ
trọn đủ, c̣n luận tŕ giới hay chẳng tŕ giới
chi nữa! Nếu chẳng phải vậy, cần phải
mỗi mỗi đều y giáo phụng hành. Kinh dạy: “Nhiếp
tâm là Giới, do Giới sanh Định. Do Định phát
huệ”. Định và Huệ chính là cái quả toàn vẹn
của đức Phật. Từ ngay nơi Định mà
chính là Huệ, tức là Tịch mà thường Chiếu. Từ
ngay nơi Huệ mà chính là Định, tức là Chiếu mà
thường Tịch. Thường tịch, thường
chiếu, gọi là Thường Tịch Quang, tức là hết
thảy đều bắt nguồn từ Giới. Giới
trọng yếu thay!
Giới có nhiều loại: Ưu-bà-Tắc
ngũ giới, Sa-di thập giới, Tỳ-kheo
hai trăm năm mươi giới, Bồ Tát mười
giới trọng, bốn mươi tám giới khinh, cho tới
ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh; nhưng chỉ
xét theo đại cương th́ Ngũ Giới là căn
bản. Nho cũng có khi nói tới Giới, tuy Giới [của
Nho gia] chưa hoàn bị, nhưng ngầm hợp với Giới
do đức Phật chế định. Phu tử nói quân tử
có ba giới, giới sắc thuộc dâm giới, giới
đấu đá thuộc vào sát giới, giới đắc
(tức chẳng lấy của cải phi nghĩa) thuộc vào
đạo giới (giới không trộm cắp). Dâm, giết,
trộm càng là trọng yếu nhất trong Ngũ Giới.
V́ thế, nêu ra điều trọng yếu để khái
quát những điều c̣n lại. C̣n như nói “trung tín,
chẳng uống rượu quá mức”, có thể
thấy trong những chỗ khác, cũng nhằm bồi
dưỡng sẵn giới này, khiến cho [quân tử] chẳng
buông lung. Nhưng giới của Nho sơ lược, giới
của Phật kín kẽ. Đức Phật chế định
giới sát, vi tế tới các loài trùng bọ; c̣n Nho chỉ
nói “vô cố sát ngưu, dương, khuyển, thỉ
đẳng” ([cấm không được] chẳng có duyên
cớ mà giết trâu, dê, chó, lợn v.v…), chẳng nói “không
giết”. Chỉ nói “điếu bất cương, dặc
bất túc” (câu chứ không thả lưới, chẳng
bắn con chim đang đậu), chẳng nói “không câu, không
bắn”.
Lại xét đến cùng cực,
vừa mới tức giận, ghen ghét, tức là sát giới
bất tịnh. Mắt
chấp sắc, tai chấp tiếng, tức là giới trộm
bất tịnh. Cách vách
nghe tiếng thoa, xuyến [khởi tâm đắm luyến], tức
là giới dâm bất tịnh. Đạt
tới mức thân và tâm đều đoạn th́ Sự và
Lư mới cùng trọn hết. Nay hằng ngày ở tại
nhà phụng sự song thân, dốc sức nơi đường
xe ngựa (theo đuổi khoa cử), sẽ là chỗ gởi
gắm của xă tắc, nhân dân [trong tương lai], chuyện
tŕ giới há có thể mỗi điều đều luận
định giống như người xuống tóc, khoác áo
thâm được ư? Do vậy, những điều khoản
vi tế chẳng thể hoàn toàn vâng giữ, sẽ chưa
phải là phá giới. Chỉ cốt sao dốc sức
nơi trọng yếu trong tâm học, một mai hoát nhiên
đại ngộ, dẫu ho, khạc, vung tay, không ǵ chẳng
phải là Tỳ Ni thanh tịnh! Thế nhưng, chớ nên
“chưa đắc mà nói là đắc”, phát sanh cuồng
giải, bèn nói “uống rượu và ăn thịt chẳng
trở ngại Bồ Đề, trộm cắp, hành dâm, chẳng
ngăn trở Bát Nhă”, đọa lạc vào cảnh giới
của Ma La. Nếu thật sự có thể luôn luôn phản
chiếu, mỗi khắc đều tự cảnh tỉnh,
dốc công sức tham cứu câu thoại đầu “người
niệm Phật là ai?”, sẽ không chỉ mai sau có chỗ
sáng tỏ, mà ngay trong hiện thời, sẽ tự đắc
lực, trong xử sự thường ngày sẽ làm chủ tể,
chẳng bị vật chuyển. Dẫu sống trong hoàn cảnh
thanh, sắc, danh lợi, vợ con, quyến thuộc ngày
đêm tiếp xúc, chẳng trở ngại chuyển dời
thích ứng cơi đời, ḥa lẫn trong cơi tục, tự
nhiên vượt khỏi bùn nhơ chẳng nhiễm. Đó
gọi là môn đại giải thoát trong cơi trần. Dùng
đó để tự lợi, dùng đó để lợi
tha, có ǵ mà chẳng tốt lành? Thư ông hỏi “nên làm
như thế nào để ở trong cơi đời mà chẳng
bị đời ô nhiễm, đă có ích cho người khác
lại có lợi cho ḿnh”, há ra ngoài những điều này
chăng? Mong ông hăy trân trọng, gắng sức thực hiện,
mong lắm thay!
* Trả lời cư sĩ Quảng
Thạc Trầm Ngu Công
Hỏi:
Nương theo sách Thiền Môn Khẩu Quyết để
tu tŕ như thế nào?
Đáp: Đây
là tiểu pháp môn phương tiện. Sách ấy c̣n chẳng
sánh bằng sách Đồng Mông Chỉ Quán, chớ nên chấp
là pháp an tâm rốt ráo!
15.3 Trích đáp (trích
lược các câu giải đáp – do lời hỏi rườm
rà nên không sao lục)
* Trả lời cư sĩ
Châu Giang Sơn (gồm hai điều)
Đọc
sách Trực Chỉ có thể nói là nắm được
tâm tông của đạo học, tôi hết sức khâm phục!
Tuy nhiên, nếu tựa đề của sách là Nho Môn Trực
Chỉ, tôi đâu dám chơ miệng! Nay nói là Thiền Môn Trực
Chỉ, sợ chưa đúng lắm! Tôi tàn phế, suy bại,
già nua, bệnh tật ngày càng nặng, thân thể suy nhược,
tinh thần hôn trầm, lười nhác, chẳng có sức
để ứng đối, đành nêu đại lược
một hai điều để phúc đáp.
Một, ông
chỉ căn cứ vào các thuyết “có giảm chẳng
tăng, hết thảy hiện thành” v.v… của các vị
quân tử thuộc môn hạ của phái Lương Tri (phái Lư Học của
Vương Dương Minh), liền muốn
ḥa hội Nho và Thích, bèn bảo Thiền Trực Chỉ của
Đạt Ma cũng chỉ là như vậy, nào có biết
Phật pháp chẳng phải là đạo lư ấy, há đàm luận dễ
dàng ư? Đừng tự lầm, khiến cho người
khác lầm lạc, gây hại chẳng nhỏ. Ông là người
tột bậc thông minh, hăy nên dùng b́nh tâm, hư tâm, tâm tinh tế,
tâm trầm ổn, tâm kiền thành, tâm chân thật để cầu xuất
thế, nhiều lượt thong thả xem đọc kinh
luận do Phật, Bồ Tát đă nói, và các ngữ lục, văn tự do các vị
tôn túc trước tác, sẽ tự có chỗ lư hội, chớ
nên qua loa!
Hai, Trúc Song
Tùy Bút có nói “tai không bằng mắt” là v́ kẻ chẳng
biết chữ lấy tai làm mắt. Tai nghe nhận hữu
hạn, c̣n mắt th́ xem đọc vô cùng. Lại mở rộng
ra, mắt xem đọc c̣n hữu hạn, nhưng tâm ngộ
sáng vô cùng hơn
nữa! Đấy chính là ư nghĩa kinh Lăng Nghiêm
chọn lựa sáu căn, mỗi đằng đều tự có ư
nghĩa riêng, có ǵ dính dáng đâu? Nhưng ông lại rộng
trích dẫn phần kinh văn nói về Nhĩ Căn Viên
Thông, tợ hồ bất b́nh v́ Nhĩ Căn bị ủy
khuất! Ví như trong cửa Khổng, luận định
ḷng nhân, riêng đề cao Nhan Tử (Nhan Uyên), nhưng
lúc nói đến chí hướng, lại đề cao
Tăng Điểm. Nay muốn v́ Nhan Tử bị ủy
khuất mà trách móc phu tử ca ngợi Tăng Điểm
th́ có được hay không?
Hơn nữa, Trúc Song Tùy Bút là
lời lẽ của gă phàm phu tàn phế, hủ bại, [thế
mà] ông c̣n hiểu lầm ư nghĩa, huống hồ đối
với lời lẽ của bậc đại thánh nhân vượt
thoát tam giới, huống hồ đối với lời lẽ
của bậc đại
thiện tri thức siêu việt là cụ Đại
Huệ Tông Cảo mà chẳng bị hiểu lầm ư?
Ông chỉ cần làm một bậc tông sư về đạo
học trong Nho môn, khơi gợi, hướng dẫn cho hậu nhân là hết
sức tuyệt diệu rồi! Chẳng cần phải viện
Giáo, dẫn Tông, b́nh luận ưu, khuyết, sợ rằng
lời lẽ đối với nghĩa lư thâm huyền sẽ
chẳng thỏa đáng, đâm ra chẳng hay! Đối với
chuyện “tịch cảm, hư không tiêu mất, giữ
sự u nhàn bên trong” v.v… của học phái Lương
Tri, tôi chẳng có sức để giải đáp hết.
Cứ phỏng theo [những điều vừa nói trên
đây] để suy ra, sẽ biết. Người xưa
có nói “chẳng thể coi Phật pháp như t́nh kiến
thông thường của con người”, tôi cũng biết
ông là bậc cao minh, ắt chẳng quở trách, cho nên mới
nói thẳng, mong ông dung thứ!
* Trả lời cư sĩ Quảng
Quyến Vương Vạn Cơ (năm
điều)
1) Nói “khiển
chi, hựu khiển chi” (trừ bỏ, lại trừ bỏ)
chính là lời
lẽ cùng tột. Người hiểu lầm lời
ấy, đối với các vọng tưởng cũng chẳng
dứt diệt, khiến cho cam lộ, đề hồ
đâm ra trở thành tỳ sương, trấm độc,
đáng than lắm thay! Nay chỉ thực hiện công phu
trong hết thảy các thời, chẳng dấy vọng niệm,
đợi tới đoạn sau sẽ lại lư giải.
2) Vô phân biệt mà đánh mất
Chiếu th́ gọi là vô kư, chẳng phải là trí. Có phân biệt
nhưng chiếu thể thường tịch, vẫn là
trí. Nay chẳng quản phân biệt hay không phân biệt, một
mực chuyên chú nơi chánh niệm.
3) Ngộ có cạn, sâu, lớn,
nhỏ, ngàn chốn, vạn chốn, hễ thấu triệt
th́ cũng tùy thuộc chỗ ngộ của chính ḿnh mà thôi!
Như chủ của một ấp sẽ thống ngự
ngàn vạn người trong ấp ấy, suy rộng ra th́
một quận, một nước cũng đều là
như thế. Cho tới đức Thế Tôn thấy sao
Mai mà đại ngộ th́ mới là thỏa đáng.
4) Biên chép kinh văn, sám hối
rất tốt. Muốn đoạn tuyệt tận cội
nguồn th́ cần phải Lư sám, tức là quán tánh của tội
vốn là không.
5) Niêm tụng công án của cổ
nhân, chẳng phải là không có kiến xứ, [nhưng trong
ấy] có đă đạt và chưa đạt (tức là
đă kiến đạo thấu triệt hay không). Người
hiện thời phần nhiều đoán ṃ, chẳng phải
là bậc đại triệt sẽ chẳng thể vạch
trần, tạm gác lại đó th́ hơn!
* Thư trả lời Tưởng
cư sĩ ở Dư Diêu (hai điều)
1) Dục
là căn bản sanh ra con người. Đúng là rất khó
đoạn trừ! Có Bất Tịnh Quán để trừ
đằng ngọn. Nếu xoay lại, tham cứu
chỗ khiến cho dục niệm dấy lên th́ là trị
đằng gốc. Nay chỉ cực lực tham cứu
chuyện niệm Phật là được.
2) Tŕ danh niệm Phật, lại
c̣n chuyên nhất tŕ danh, chỉ khi lễ Phật mới tác
quán th́ cũng được!
* Trả lời cư sĩ
Châu Bạch Dân (ba điều)
1) Tham Thiền
chẳng có phương tiện nào khác, chỉ cốt sao tin chắc
chắn, chẳng ngờ vực, như ngài Quy Sơn đă
nói “nghiên cứu lư tột cùng, coi ngộ là mục tiêu” mà
thôi!
2) Người khác bảo “ta
chỉ cầu Tây Phương”, tôi thật sự cầu
Tây Phương mà vẫn chưa thể. Người khác bảo
“ta c̣n tham cứu nghĩa lư”, tôi thật sự tham cứu
nghĩa lư nhưng vẫn chưa thấu triệt.
3) Cái thuyết “đảnh
thánh, nhăn thiên” ([khi
người mất] đỉnh đầu c̣n ấm sẽ
sanh vào cảnh giới của thánh nhân, mắt c̣n ấm th́
sanh lên trời) cũng chẳng hề luôn
đúng như thế. Nhân duyên lâm chung của tôn đường[12]
đương nhiên là cảnh giới tốt đẹp,
có thể biết quả báo trong đời sau sẽ thù thắng,
chẳng cần phải ngờ nữa!
* Trả lời cư sĩ
Cung Quảng Kỳ (ba điều)
1) Bất
luận tại gia hay xuất gia, chấp tŕ danh hiệu, nhất
tâm bất loạn; đó chính là bốn chữ “chấp
tŕ danh hiệu”, là chỗ để tiến nhập.
Đối với hai chữ “chấp tŕ”, đừng
loáng thoáng xem lướt qua!
2) Quay lại chiếu soi
“người niệm Phật là ai?” có cùng một ư nghĩa
với tham Thiền.
3) Có thể xem các kinh Đại
Thừa, nhưng phải chú trọng lấy chánh niệm
làm chủ.
* Trả lời Đại
Kính (ba điều)
1) Hai vị
Phật trong tháp, biểu thị “vật và ta chẳng
phân biệt, xưa nay nhất trí”, chẳng phải là Nhị
Đế (phẩm Hiện Bảo Tháp của kinh Pháp Hoa).
2) Tâm dùng ǵ làm Tông? Khiến cho mọi
người tự tham cứu, chẳng phải là đào, bới,
hỏi han người khác [mà ḥng lănh hội được].
3) Đối với giáo ư và
tông ư trên đây, chẳng cần phải vọng cầu, chỉ
tự ḿnh chuyên ṛng, siêng gắng niệm Phật. Niệm tới
mức nhất tâm bất loạn, sẽ tự ngộ nhập.
* Trả lời Khương
cư sĩ (năm điều)
1) Sau khi
chuyển thân (sanh tử luân hồi), vẫn chưa đạt
được “chẳng có thân sau” sau khi chuyển thân. Do vậy,
cầu sanh Tịnh Độ là chuyện quư báu.
2) Niệm Quán Âm chẳng có hiệu
nghiệm, có hai lẽ: Một là định nghiệp khó
chuyển, hai là do niệm lực chưa ṛng. Là thiện
nhân thật sự mà mắc họa, cũng có hai lẽ: Một,
định nghiệp khó chuyển; hai là tâm tuy lành, trí
chưa đủ.
3) Thấy thiện cảnh mà
lại báng bổ, tức là thiện căn đời
trước cạn, nhẹ. Đó là chuyện thường
có, chẳng đáng coi là lạ!
4) Do cảnh mà động tâm,
tuy tợ hồ tâm chuyển theo cảnh. Thử hỏi
người gỗ gặp cảnh có bao giờ chuyển
hay không? Rốt cuộc ngoài tâm chẳng có cảnh, cảnh
hoàn toàn là tâm.
5) Phật pháp tuy chẳng do
kinh tạng [c̣n hay mất] mà sẽ c̣n hay diệt mất,
nhưng chúng sanh ắt phải dựa theo văn tự
để nhập lư. Kinh xiển dương Phật tâm,
chùa nêu bày dấu tích của Phật, tự có hoăn, gấp,
nặng, nhẹ.
* Trả lời cư sĩ
Ngô Sĩ Cẩn
Sát sanh
đứng đầu Ngũ Giới, tại gia chẳng
giết chóc là đủ rồi. Nếu chẳng thể dứt
ăn thịt, ăn ba loại tịnh nhục cũng
được, dần dần nhập cảnh tốt
đẹp. Sau đó, chẳng ăn thịt; sẽ là
điều thiện nhất trong các điều thiện. Điều
thứ hai là trộm cắp, chuyện này chẳng cần
luận bàn. Thứ ba, chỉ cấm tà dâm, chẳng cấm
chánh dâm. Thứ tư là vọng ngữ cũng dễ tŕ. Thứ
năm là uống rượu, nếu chẳng thể giữ,
hăy giảm bớt, cũng sẽ dần dần nhập cảnh
tốt đẹp vậy! Đại để, tŕ toàn bộ
Ngũ Giới
th́ là măn phần Ưu-bà-tắc. Bán tŕ th́ là bán phần
Ưu-bà-tắc. Tŕ được một giới th́ là thiểu
phần Ưu-bà-tắc, cũng tùy theo mỗi người
mà tŕ vô ngại!
* Trả lời cư sĩ
Ngô Quảng Dĩnh
Do da làm trống
cúng Phật, trâu ḅ cũng có công. Dùng sừng làm đèn để
cúng Phật, dê cũng diệt tội!
* Trả lời cư sĩ
Đổng Quảng Thự
Kinh Dịch
nói: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh. Tích bất
thiện chi gia, tất hữu dư ương” (Nhà chất
chứa điều thiện, ắt mừng vui có thừa.
Nhà chất chứa điều bất thiện, ắt tai
ương có thừa). Nhà ông chính là nhà chất chứa
điều thiện, ngược lại, gia chủ mắc họa
ung nhọt, gia quyến bị nạn dịch bệnh là v́
sao? Có hai nguyên nhân:
- Một là do tai nạn nhỏ
mà tránh khỏi tai nạn to lớn, nạn nhẹ ḥng tránh
khỏi nạn nặng. Chính v́ chất chứa điều
thiện, tuy thấy ung nhọt, dịch bệnh, nhưng
chẳng tổn thương tấm thân. Nếu chẳng phải
do công năng của điều thiện, ắt có đại
tai, trọng nạn, chứ không chỉ như vậy mà
thôi. Đúng là phải nên cảm tạ Phật, trời, chớ
nên than van, oán hận.
- Hai là tuy chất chứa điều thiện,
vẫn chưa rộng lớn, so với kẻ hoàn toàn chẳng
tu thiện th́ hơn hẳn, nhưng so với người
muôn điều thiện đều trọn th́ chẳng sánh
bằng! Đúng là càng phải nên làm lành nhiều hơn,
đừng tự coi là đủ!
* Trả lời cư sĩ Hồng
Đại Từ (ba điều)
1) Tôi nhớ
lúc mười sáu, mười bảy tuổi, tự hẹn
ba mươi tuổi chẳng đậu khoa thi
Hương, sẽ bỏ cử nghiệp, ẩn ḿnh trong
chốn núi, hồ. Bốn mươi tuổi chẳng
đậu kỳ thi Hội, cũng quy ẩn trong làng quê,
quyết chẳng làm quan. Nay ông lấy hai mươi tám tuổi
làm kỳ hạn đă sớm hơn tôi rồi, sao lại
nói là chậm trễ? Hơn nữa, cha mẹ tôi đă qua
đời, tôi mới dám xuất gia. Tiên mẫu c̣n sống
th́ cử nghiệp có thể bỏ, nhưng chẳng thể
xuất gia.
2) Tôi chính mắt thấy có
người thay đổi kinh điển [Nho gia để
học tập], hoặc đổi trường học bèn
thi đậu; có người thay đổi kinh điển,
thay đổi trường học, nhưng vẫn như
cũ chẳng đậu! Phu tử nói: “Tử sanh hữu
mạng, phú quư tại thiên” (Chết, sống có số mạng;
phú quư bởi trời). Đạt được hay không là
do “có mạng”. V́ sao đă đọc sách của thánh nhân mà
lại hờ hững chẳng tin vậy? Tận tâm, tận
lực rồi mới nghe theo mạng trời. Đó là lời
lẽ chí lư vậy!
3) Đừng luận các loại
thể cách (cách hành văn) trong sáng, nồng nàn, khác lạ, hay
b́nh phàm, cũng chẳng bắt buộc phải đón ư của
quan chủ khảo, xu phụ những thứ được
ưa chuộng trong hiện thời! Chỉ cần cốt
sao văn tự tốt đẹp là được. “Văn
tự tốt đẹp” nghĩa là tương ứng với
đầu đề. Viết văn trong hiện thời
giống hệt như tả chân vậy, chỉ cốt sao
biểu lộ cho giống nhân vật. Nếu không, dẫu
bút lực mạnh mẽ, sắc bén, từ ngữ bóng bẩy,
có ích chi đâu?
15.4. Tạp đáp (các câu giải
đáp)
* Hỏi:
Đức Thế Tôn im lặng khá lâu, ngoại đạo
nói “hăy vẹt mây mê cho tôi”; Không Sanh (Tu Bồ Đề)
ngồi im lặng chẳng nói, Đế Thích thưa “khéo
nói Bát Nhă”.
Đáp: Im lặng khá lâu, mong muốn
khai mê, [khí trời] âm u muôn dặm. Nơi ngồi yên toan
nghe Bát Nhă, nói đă nhiều lúc. Tuy là như vậy, đạt
được ư chỉ nơi đầu ngọn roi, hoa
đốm lăng xăng trên hư không, rốt cuộc là
thấy ǵ vậy?
* Hỏi: Tự
tánh Tây Phương, duy tâm Tịnh Độ.
Đáp: Nếu
chỉ thẳng Tây Phương, không chỉ từ cơi Sa Bà này
vượt khỏi mười vạn ức cơi là sai, mà
nói đến tự tánh là đă dính vào đường
lối. Nếu thật sự bàn đến Tịnh Độ,
không chỉ ao báu, đất vàng, các thứ trang nghiêm là sai,
vừa nói đến duy tâm, đă trở thành cấu uế.
Ĺa cả hai bên ấy, như thế nào là Tây Phương Tịnh
Độ?
* Hỏi: Chỗ
hơn kém giữa Tịnh Độ và Thiền?
Đáp: Về
nguồn chẳng hai tánh, phương tiện có nhiều
môn. Nay kẻ chấp Thiền báng Tịnh Độ, chính
là chưa từng chân thật tham cứu. Kẻ chấp Tịnh
Độ báng Thiền, cũng chưa từng chân thật
niệm Phật. Nếu ai nấy đều thực hiện
công phu đạt tới chỗ triệt để cùng tận
nguồn cội, sẽ biết hai con đường ấy
vốn chẳng sai khác chừng hào ly!
* Hỏi:
Cách nào để chế ngự ma?
Đáp: Phàm
tất cả tướng đều là hư vọng. Ngay
như thánh cảnh hiện tiền, chớ nên hiểu là
thánh cảnh. Hễ chấp trước, liền rơi vào
“tay tà” (đọa
vào tà kiến). Huống chi ma cảnh và thánh tướng rốt
cuộc là có phân biệt. Dẫu ma có thể khéo léo biến
hiện, nhưng người sáng mắt vừa nh́n, sẽ
thấy thấu suốt rành rẽ phân minh, nó liền bại
lộ h́nh tích. Nếu chưa thể như thế,
cũng có cách thẳng tắt, chính là đơn thuần giữ
vững chánh niệm; bất luận là thánh hay ma, hết thảy
chẳng màng tới!
* Hỏi: Trong khi bị bệnh,
dụng tâm trừ khử như thế nào?
Đáp:
Người trong khi đang bị bệnh, nói chung có bốn
loại:
- Bị bệnh tật điều
khiển, quên mất chánh niệm, chẳng biết trừ
khử. Đó là dụng tâm của ngu phu.
- Tuy mắc bệnh duyên, vẫn
giữ vững chánh niệm, khéo léo trừ khử. Đó là
dụng tâm của kẻ sơ học.
- Tuy bệnh mà quên bẵng bệnh,
chánh niệm tự nhiên, chẳng cần trừ khử.
Đó là dụng tâm của bậc đại hiền.
- Do chúng sanh mà thị hiện
thân bệnh tật, bài trừ hay không bài trừ, hai đằng
ắt chẳng cần bàn tới. Đó là dụng tâm “chẳng
có ǵ dụng tâm” của chư Phật.
Người xưa có nói: “Lăo
tăng tự có cách an nhàn, tám khổ chen nhau nung nấu chẳng
ngại”. Pháp an nhàn ấy, kẻ ngu mê muội chẳng
biết; sơ học tuy biết, nhưng chẳng thể dùng.
Đó chính là chuyện thuộc phận sự của bậc
đại hiền. Nhưng nói th́ cực dễ, hành bèn cực
khó, chớ xem thường! Cơi đời có kẻ cuồng,
thấy người khác bị bệnh, bèn vội vàng khai
thị, hướng dẫn, hoặc nói: “Tứ Đại
vốn là không, há có bệnh ǵ?” Hoặc nói: “Buông xuống hết
thảy, đừng chấp vào bệnh tật”. Đúng th́
đúng đấy, hiềm rằng tới khi chính ḿnh bị
bệnh, quên tuốt những lời lẽ đă khai thị,
hướng dẫn người khác, vẫn y như cũ, chẳng
rỗng không được, chẳng buông xuống
được, bó tay chẳng biết làm sao, đành khuất
phục trước cửa tử mà thôi! Chúng ta thấy
điều này, hăy tự dũng mănh tỉnh ngộ,
chăm chú hướng tới hiệu quả chân thật,
đừng học theo tṛ hư giả. Hăy thừa dịp
Tứ Đại c̣n khỏe mạnh, lănh ngộ cái “vốn
Không” ấy (Tứ Đại vốn không), tức
là trong hiện
thời, ngay trước mắt phải buông xuống. Nếu
đợi bệnh nẩy sanh rồi mới thực hiện;
đó gọi là “giặc cướp
đến mới xây tường”, c̣n kịp
nữa chăng?
Tôi nhớ có vị tăng hỏi:
“Cổ đức c̣n có người chẳng bị bệnh
hay không?” Đáp: “Có chứ!” Lại hỏi: “Người chẳng
bệnh c̣n đến thăm ḥa thượng hay không?”
Đáp: “Lăo tăng thấy kẻ đó có phần”. Đối
với chữ Có trong câu đáp trước, kẻ sơ học
cũng biết. “Thấy kẻ đó có phần” trong câu
đáp sau, người tham Thiền đă lâu sợ chưa
thấu triệt được! Đối với chỗ
này của cổ nhân, rốt ráo là đạo lư như thế
nào? Rốt cuộc đắc tam-muội nào? Trong khi bệnh
khổ, an nhàn như thế đó, chúng ta hăy cùng nên gắng
công!
* Hỏi: Tu
tập công phu có nên tránh nơi ồn nào, giữ lấy chỗ
yên tĩnh hay không?
Đáp: Công
phu tối kỵ là chọn lựa. Người có chí tu học,
chỉ là một niệm chánh đáng thường đặt
trong dạ: Khi gặp tĩnh mịch cũng như thế,
khi gặp ồn náo cũng vẫn như thế. Bất luận
tĩnh hay ồn dời đổi [như thế nào], ư niệm
của ta quyết chẳng bị biến đổi! Có
như thế th́ mới chẳng gián đoạn. Đó gọi
là “khéo thực hiện công phu”. Há chẳng thấy cổ
nhân nói: “Người trí trừ tâm, kẻ ngu trừ cảnh”
ư? Nếu ắt cứ chán ghét ồn náo, giữ lấy
tĩnh, sợ rằng cảnh giới chẳng có lúc nào
tĩnh, mà cũng chẳng có chỗ nào tĩnh! Để
cầu tĩnh th́ không ǵ bằng ở trong núi sâu; nhưng
cái “tĩnh” của núi sâu là tiếng búa của tiều phu
vang tận tầng mây, tiếng sáo của mục đồng
lúc chiều tà, bên tai làm sao có thể an tĩnh cho được?
Dẫu cho tiếng búa tiều phu, tiếng sáo của mục
đồng có thể dứt tuyệt, khiến cho chúng chẳng
truyền vào tai ta, nhưng đêm thanh vượn hú, hổ
gầm, ban ngày th́ sẻ hót, quạ kêu, bên tai lại sao có
thể an tĩnh cho được? Dẫu vượn hú,
hổ gầm, sẻ hót, quạ kêu, có thể
xua đuổi khiến cho chẳng truyền đến tai
ta đi nữa, nhưng cuồng phong dấy lên khiến
muôn hang hốc gầm thét ầm ĩ, sấm rền khiến
ngàn non rung chuyển. Khi đó, người ghét ồn giữ
tĩnh có trừ dứt được hay không? Có xua đuổi
được hay không? Dùng đó để suy, cảnh giới
chắc chắn chẳng có lúc nào tĩnh, chắc chắn
chẳng có chỗ nào an tĩnh! Người học chỉ
sợ ư chí chẳng mănh liệt! Hễ giữ được
ư chí mănh liệt, có ǵ là chẳng thể?
* Hỏi:
Nhất tâm xưng danh th́ lại chấp vào cầu sanh, chẳng
phải là gần như hai niệm ư?
Đáp: Cầu
sanh th́ cần phải trong lúc sáng tối phát nguyện. C̣n nếu
lúc xưng danh th́ nhất tâm nhất niệm, chớ nên xen
tạp. Ví như kẻ theo đuổi cử nghiệp
đọc sách, viết văn, đó là hạnh; nhưng
đọc sách, viết văn là để làm ǵ vậy?
Mong thi đỗ tiến sĩ, đó là nguyện vậy!
(Những
câu trên đây đều chưa rơ do người nào hỏi).
* Ngộ của
nhà Nho và ngộ của nhà Phật tuy về nguyên tắc chẳng
sai khác, nhưng có sự sâu và cạn giữa cội gốc
và cành nhánh.
* Tu hành nếu chẳng hướng
theo Bát Nhă để dụng công, dẫu là Thiền Định
cũng hóa thành phước. Phước là cái nhân hữu lậu;
phước trời cũng có lúc tận!
* Thông Tông chẳng
thông Giáo, mở miệng liền nói nhăng, nói cuội.
V́ thế, mọi người trước hết cần
phải nên xem Giáo.
* Tông là Phật tâm, Giáo là Phật
ngữ.
* Ngồi
ngay ngắn niệm Phật, sợ khó nhiếp tâm, chẳng
bằng kinh hành.
* Tham cứu “người niệm
Phật là ai?” cần phải thật sự khởi
nghi. Nghi thật sự chưa khởi, hăy cứ thầm niệm.
* Tịnh Độ chẳng
phải là không có mặt trời, mặt trăng, chỉ là
Phật quang to lớn, mặt trời, mặt trăng bị
Phật quang che lấp.
* Ngôn ngữ Thiên Trúc thường
là nói đảo, như “kích y” (vạt trước của
áo dài) bèn nói là “y kích”, “đáo bỉ ngạn” (tới bờ
kia) là “bỉ ngạn đáo”.
* Kinh Lăng Nghiêm có thứ tự
nhất; v́ thế, mọi người hăy nên xem.
* Người Thiền Định
tuy nguyện lực chẳng sâu, vẫn có thể văng sanh;
nhưng người tu Tịnh nghiệp, Tín Nguyện Hạnh
như ba chân của cái đỉnh, thiếu một chẳng
thể được!
* Ḷng người như cái nhà
rách nát, vọng tưởng như giặc, đuổi xong
đằng Đông th́ đằng Tây kéo đến, đuổi
được phương Nam th́ phương Bắc kéo
đến.
* Người hiện thời
có thể đoạn trăm tư tưởng là đă tốt
rồi!
* Đối với lời lẽ
trong Tông môn, người đời chấp vào cách hiểu
ngu muội, chẳng thể lănh hội thật pháp.
* Tuy kiến địa của
Bàng cư sĩ cao hơn Vương Long Thư, nhưng thật
hạnh của Long Thư cũng là đích xác!
* Đại
Trang Nghiêm Luận[13]
tuy chưa phải là liễu nghĩa, nhưng có ích cho mọi
người.
* Cổ
nhân bổng hát (dùng gậy đập hay quát to) thích hợp
căn cơ của người [được chỉ
điểm]. Một gậy, một tiếng hét khiến
cho kẻ khác ngộ, chẳng phải như người
hiện thời chỉ chú trọng đánh người
khác!
* Đấy
là nói “Phật pháp cần phải nhường cho lăo
tăng”, người đó (người đến tham
học) liền lễ bái. Có thể thấy [được
chỉ điểm mà giác ngộ hay không] chẳng tại thần
thông. Thần thông chẳng phải là đạo. Hễ có
đạo, sẽ tự có thần thông; có thần thông, chưa
chắc có đạo. Chỉ luận về thần thông
th́ thần có thông, mà quỷ cũng có thông. Đạo
như một vị quan, thần thông như cờ, xe, trang
phục. Vốn có phương cách để cầu thần
thông: Hiện tại nhớ lại quá khứ, quá khứ lại
nhớ lại quá khứ sớm hơn, sẽ có thể biết
đời khác, nhưng đó chẳng phải là đạo.
* Nghiền
chết một con kiến, lại thọ một thân kiến.
Nghiệp ấy chưa tận, sao có thể chuyển sanh
vào đường khác? Chúng sanh đều là như thế,
chỉ có thể oan uổng hứng chịu nỗi khổ
do giết chóc.
* Lúc pháp diệt,
người ta giơ
lên một nhánh cỏ liền thành vũ khí, có thể giết
người. Lúc đó, các pháp đă diệt, chỉ lưu
lại một câu Di Đà để cứu người. Nếu
ai có thể niệm một câu Phật hiệu hoàn chỉnh,
sẽ là thầy của thế gian.
* Những
kẻ như Châu Tử Dương (Châu Hy) đều là
người hiền, dẫu [kiến giải] có đồng
hay khác, họ cũng chẳng sân hận đối
phương. Do vậy, chớ nên quá mức chê trách họ.
* Cái tâm bất
loạn chính là tâm vô trụ.
* Trong Quán
Kinh nói “thân Phật rộng lớn”, nhiều người
chẳng tin, như kiến trong hang, há biết trên đời
có trâu, ḅ ư? Thân chư thiên đă cao vô lượng, khi Phật
Di Lặc xuất thế, thân loài người cũng cao mấy
chục trượng!
* Thảo mộc
đều là chỗ quỷ thần cư ngụ, trên ấy
đều có cung thất, nhưng con người chẳng
thấy biết. V́ thế, chớ nên khinh thị đốn
cây cối.
* Người
tại gia dạy đệ tử chỉ là cày cấy hoặc
đọc sách, đừng nhất định phải mong
phú quư.
* Trẻ nhỏ
trong nhà đánh cha, chửi mẹ, [cha mẹ] lại ngược
ngạo bảo nó bướng bỉnh. Đấy chẳng
phải là cách dạy con.
* Pháp môn Niệm
Phật nói là Quyền th́ được, chứ nói là Thiên
(lệch lạc) th́ chẳng được!
* Như những
chuyện Lư Trác Ngô đă làm, sợ sẽ có hại cho Phật
pháp, vô ích cho Phật pháp.
* Cung h́nh[14]
chẳng biết bắt đầu từ khi nào? Đời
có vua như Nghiêu, Thuấn th́ mới có thể bỏ lệnh
cấm.
* Giảng học tại nha
môn, dẫu thôi giảng, vẫn là tuân thủ pháp luật mà
ngưng, cũng có hại ǵ đâu?
(Những
câu trên đây không rơ lời hỏi như thế nào).
15.5. Khai thị
* Phổ khuyến niệm Phật
1) Học
Phật đừng chú trọng biểu lộ h́nh thức
trang nghiêm, chỉ quư chân thật tu hành. Tại gia cư
sĩ không nhất định phải áo thâm, khăn đạo.
Người để tóc có thể mặc thường phục
niệm Phật, chẳng nhất định phải gơ mơ,
thúc trống. Người ưa tĩnh có thể tự lặng
lẽ niệm Phật, chẳng nhất định phải
kéo bè tụ hội. Người sợ chuyện rườm rà có thể
đóng cửa niệm Phật, chẳng cần nhất
định phải vào chùa nghe kinh. Người biết chữ
có thể nương theo Giáo mà niệm Phật. Ngàn dặm
thiêu hương chẳng bằng ngồi yên niệm Phật
nơi điện thờ tại nhà. Cung phụng tà sư,
chẳng bằng hiếu thuận cha mẹ mà niệm Phật.
Rộng giao du với bạn ma, chẳng bằng một
ḿnh thanh tịnh niệm Phật. Gởi kho[15]
cho kiếp sau, chẳng bằng hiện tại làm phước
niệm Phật. Hứa nguyện để được
tiêu tai, chẳng bằng sửa lỗi đổi mới niệm
Phật. Học tập sách vở của ngoại đạo,
chẳng bằng một chữ không biết mà niệm Phật.
Vô tri hư vọng bàn Thiền lư, chẳng bằng thật
thà tŕ giới niệm Phật. Mong cầu yêu quỷ linh
thông, chẳng bằng chánh tín nhân quả niệm Phật. Nói
tóm lại, đoan chánh cái tâm diệt ác. Niệm Phật như
thế được gọi là “thiện nhân”. Nhiếp
tâm trừ tán loạn, niệm Phật như thế
được gọi là “hiền nhân”. Ngộ tâm,
đoạn Hoặc, niệm Phật như thế,
được gọi là “thánh nhân”.
2) Một
là khuyên người cực nhàn niệm Phật. Cưới
gả đều xong, con cháu lo liệu gia nghiệp, an nhàn
vô sự, vừa khéo để tận tâm tận lực niệm
Phật. Hằng ngày niệm mấy ngàn câu, cho đến mấy
vạn. Hai là khuyên người nửa nhàn nửa bận niệm
Phật. [Việc] xong một nửa, hoặc chưa xong,
hoặc bận, hoặc nhàn, tuy chẳng cực nhàn,
cũng có thể lúc bận th́ lo việc, lúc nhàn th́ niệm
Phật. Mỗi ngày niệm mấy trăm câu cho tới mấy
ngàn. Ba là khuyên người cực bận niệm Phật.
Nhọc nhằn chuyện vua, bươn bả gia nghệp,
tuy chẳng có lúc nhàn, cũng cần phải t́m lúc rảnh
rỗi trong khi bận rộn, mỗi ngày sáng sớm mười
niệm cho tới trong một ngày có thể niệm vài
trăm câu!
* Phổ khuyến niệm Phật
văng sanh Tịnh Độ
Kinh Di
Đà dạy nếu ai niệm Phật, khi mạng sắp
hết, ắt sanh về cơi ấy. Quán Kinh lại nói
người niệm Phật sanh về cơi ấy, chia thành
chín phẩm sen. Bởi lẽ, pháp môn Niệm Phật này bất
luận nam, nữ, tăng, tục, bất luận sang, hèn,
hiền, ngu, chỉ cần nhất tâm bất loạn, tùy
thuộc công hạnh lớn hay nhỏ, chín phẩm văng sanh.
Do vậy biết: Trong thế gian, không có một ai chẳng
kham niệm Phật.
Nếu là người phú quư,
đang hưởng thụ, đúng là lúc nên niệm Phật.
Nếu là kẻ bần cùng, nhà nhỏ, lụy ít, đúng
là lúc nên niệm Phật. Nếu ai có con, cúng tế tông tộc có chỗ
gởi gắm, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai
không con, một thân tự do, đúng là lúc nên niệm Phật.
Nếu ai có con hiếu thảo, an hưởng sự phụng
dưỡng, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai con
cái ngỗ nghịch, [do vậy] tránh khỏi sanh ḷng yêu
thương quyến luyến, đúng là lúc nên niệm Phật.
Nếu ai chẳng bệnh, hăy thừa dịp thân đang khỏe
mạnh, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai mắc
bệnh, rất gần vô thường, đúng là lúc nên niệm
Phật. Nếu ai tuổi già, thời gian chẳng nhiều,
đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai c̣n trẻ, tinh thần
sáng suốt, nhạy bén, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu
ai thanh nhàn, tâm chẳng bị sự việc quấy nhiễu,
đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai đang bận bịu,
hăy t́m lúc rảnh rỗi trong khi bận rộn để
đúng lúc niệm Phật. Nếu ai xuất gia, tiêu dao
ngoài cơi đời, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu
là người tại gia, biết [tam giới] là nhà lửa,
đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai thông minh, thông hiểu
Tịnh Độ, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu
ai ngu độn, vụng về, chẳng có sở trường
ǵ, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu là người
tŕ luật, luật do đức Phật chế định,
đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai xem kinh, kinh do đức
Phật nói, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai tham
Thiền, Thiền là Phật tâm, đúng là lúc nên niệm Phật.
Nếu ai ngộ đạo, ngộ th́ cần phải
được Phật ấn chứng, đúng là lúc nên niệm
Phật. Khuyên khắp mọi người hăy khẩn cấp
niệm Phật, chín phẩm văng sanh, hoa nở thấy Phật.
Thấy Phật, nghe pháp, rốt ráo thành Phật, mới biết
tự tâm vốn sẵn là Phật.
* Trong hội Thủy Lục,
dạy trọn khắp mọi người Tŕ Danh Niệm
Phật tam-muội (được chép trong văn bản nghi
thức Thủy Lục)
Trộm
nghĩ Tịnh Độ là giáo pháp bắt nguồn từ
Thích Ca Thế Tôn, được xiển dương bởi
thánh hiền trải các đời. Do vậy, một môn Niệm
Phật được chia thành bốn loại, tức
là tŕ danh niệm Phật, quán tượng niệm Phật,
quán tưởng niệm Phật, và Thật Tướng niệm
Phật. Tuy có bốn loại sai khác, rốt ráo quy vào Thật
Tướng mà thôi! Lại đem ba loại trước nói
ước lượng thành hai, tức một là tŕ danh, hai
là quán tưởng. [Quán tưởng] th́ Thập Lục Quán
Kinh đă nói tường tận. Ở đây, luận bàn
tŕ danh. Kinh Di Đà nói “nghe nói A Di Đà Phật, chấp
tŕ danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, cho đến bảy
ngày, nhất tâm bất loạn. Người ấy khi lâm
chung, A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện trước
người ấy. Người ấy khi lâm chung, tâm chẳng
điên đảo, liền được sanh về cơi
nước Cực Lạc của A Di Đà Phật”.
Đấy là nguồn gốc to lớn khiến cho muôn
đời tŕ danh niệm Phật. Đấy chính là diệu
pháp do kim khẩu đích thân tuyên dương.
Cổ đức nói: “Quán
pháp lư vi tế, chúng sanh tâm xen tạp, dùng tạp tâm tu Quán,
quán tưởng khó thành. Đại thánh xót thương, thẳng
thừng khuyên chuyên tŕ danh hiệu”. Đấy là v́
xưng danh dễ dàng, hễ liên tục liền sanh. Đấy
là xiển dương công năng của tŕ danh niệm Phật,
là pháp trọng yếu để văng sanh Tịnh Độ.
Nếu tŕ danh mà thấu đạt sâu xa Thật Tướng,
sẽ có cùng công năng với diệu quán, thượng
thượng phẩm văng sanh chẳng c̣n ngờ chi! Thưa các vị Phật
tử hiện tiền, như trong phần Sám Hối
trước đó đă nói, thánh nhân Nhị Thừa, bậc
đại sĩ viên tâm, cho đến Đẳng Giác vẫn
cần phải sám hối. Họ đă đều sám hối,
lẽ nào chẳng cảm ứng văng sanh, huống hồ kẻ
thuộc địa vị phàm phu, là chúng sanh c̣n thuộc địa vị học
hỏi ư? Tôi nay kính v́ các Phật tử hiện tiền
trong lục đạo, đều cùng nhất tâm, xưng
danh hiệu Phật, cầu sanh Tịnh Độ, nguyện
Phật từ bi, riêng rủ ḷng nhiếp thọ, cứu vớt.
* Khuyên trọn khắp hăy kiêng
giết, phóng sanh (trước kia, bài này
được khắc riêng để lưu thông)
Ai nấy
đều yêu tánh mạng, loài vật nào cũng tham sống,
há nên giết thân thể chúng để thỏa thuê thói tham
ăn của chính ḿnh? Hoặc dùng đao bén mổ bụng,
hoặc dùng dao nhọn chọc tim, hoặc lột da, lóc vảy,
hoặc cắt họng, bóc vỏ, hoặc dùng nước
sôi sùng sục nấu sống ba ba, lươn, hoặc dùng
muối rượu ướp sống cua, tôm. Đáng
thương chúng nó hết sức đau đớn nhưng không có chỗ
nào vùng vẫy, khổ sở cùng cực khó nhẫn, [kẻ sát sanh] tạo ác
nghiệp ngập trời ấy, kết thành nỗi thù sâu
đậm muôn đời. Một mai vô thường, liền
đọa vào địa ngục, vạc sôi, ḷ than, rừng
gươm, núi đao. Khi chịu tội xong, vẫn
làm loài súc sanh, oan oan tương báo, mạng mạng trả
đền. Đền xong, làm người, lắm bệnh,
chết yểu, hoặc chết v́ rắn, cọp, hoặc
chết v́ đao binh, hoặc chết v́ quan phủ hành h́nh,
hoặc chết v́ thuốc độc, đều do sát sanh
cảm vời. Tôi nay ứa huyết lệ, dập đầu
ai oán thưa cùng người đời:
- Chẳng dám ép quư vị
ăn chay, chỉ là trước tiên khuyên quư vị kiêng giết.
Nhà kiêng giết được thiện thần thủ hộ,
tai ương ngang trái tiêu trừ, tuổi thọ dài lâu, con
cháu hiền hiếu, đủ thứ cát tường, khó
thể trần thuật trọn. Nếu lại có thể
tùy sức phóng sanh, cộng thêm niệm Phật, không chỉ
tăng cao phước đức, ắt sẽ tùy nguyện
văng sanh, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, nhập
địa vị bất thoái. Các nhân giả có duyên gặp
gỡ giáo huấn này, xin hăy hồi tâm, quyết chí thọ
tŕ, chớ sanh ngờ vực, hối hận. Nếu chẳng
thể hành, xin liền chuyển thí người khác,
cũng sẽ có công đức vô lượng.
* Khuyên răn đừng quá mức
khổ hạnh, hiển hiện
tướng lạ để mê hoặc đại chúng
Tăng nhân,
đạo nhân trong thời gần đây dùng gạch xếp
thành tường vây chỉ chứa được thân họ,
đứng thẳng trong đó, giống như đao
đút trong vỏ, hoặc bốn phía đóng đinh như
hạp sàng[16]. Có người
chặt một tay, dùng tro bôi lên, trét sơn, hoặc keo
để tŕnh cho mọi người thấy. Có người
đào đất thành hang, chôn ngược đầu xuống,
hai chân chổng
lên trời. Có người dùng gạch to tự đập
lưng ḿnh đến nỗi tím bầm. Có người mùa
Đông lạnh buốt, chân trần, chẳng mang vớ,
giày. Có người chỉ uống nước, coi đó là
trai giới, chẳng ăn ngũ cốc. Có người
hai chân đứng trên lan can cầu để lạy kinh,
khiến cho người
khác nh́n vào không ai chẳng kinh sợ. Có người kéo xiềng
sắt nặng cả trăm cân, mười cân, đủ
loại đủ vẻ như thế đó! Hỏi đến
duyên cớ, phần nhiều nhờ đó để quyên mộ
hóa duyên, lừa đời, dối dân, chẳng phải là tham th́
chính là ngu, đúng là đáng thương xót! Kính khuyên bậc
cao minh, hễ trông thấy lũ ấy, liền v́ họ chỉ
dạy, khuyên nhủ họ nhanh chóng ĺa bỏ ma sự
như thế, tận lực hành chánh đạo. Như thế
th́ Phật pháp hết sức may mắn vậy!
* Dạy cư sĩ
1) Kiêng sân
Đức
Phật nói: “Đương tri sân tâm thậm ư mănh hỏa.
Kiếp công đức tặc vô quá sân khuể” (Hăy nên biết
sân tâm c̣n quá lửa mạnh. Kẻ giặc cướp
đoạt công đức không ǵ hơn sân khuể). Luận
Ngữ cũng nói: “Nhất triêu chi phẫn, vong kỳ
thân dĩ cập kỳ thân” (phẫn nộ một buổi,
quên bẵng thân ḿnh và người thân). Ôi! Chẳng đáng
kiêng dè ư?
2) Cẩn thận đối với
rượu
Đức
Phật nói: “Dĩ nhất tửu cố, tịnh
phá tứ giới” (do uống rượu mà
phá trọn bốn giới). Lễ Kinh cũng nói: “Chung nhật
bách bái, dĩ khử tửu họa” (Suốt ngày trăm
lạy để trừ mối họa do rượu). Chớ
nên chẳng thận trọng ư?
3) Chọn lựa bạn bè
Đức
Phật dạy: “Thân cận thiện tri thức, viễn
ly ác tri thức” (Thân cận thiện tri thức, xa ĺa ác
tri thức). Tiên hiền cũng nói: “Ở cùng người
ác, như vào trong chợ cá, lâu ngày chẳng ngửi thấy
mùi hôi, cùng bị đồng hóa”. Ôi! Há chẳng nên lựa
chọn ư?
4) Sợ trời
Đức
Phật dạy: “Thiên dĩ lục trai nhật khảo
sát nhân gian thiện ác” (Chư thiên dùng sáu ngày chay để
khảo sát thiện ác của nhân gian). Sách vở thế
gian cũng nói: “Tư mạng táo thần vào ngày Ba
Mươi mỗi tháng bẩm lên trời tội phước
của con người”. Ôi! Chẳng đáng sợ ư?
* Dạy giảng chủ (hai điều)
1) Thanh danh
hiển hách, hăy dùng thâu liễm, ẩn tàng để ǵn giữ.
Lợi dưỡng sung túc, dùng kiệm ước, chất
phác để ǵn giữ. Được nhiều người chiêm
ngưỡng, dùng khiêm hạ để ǵn giữ. Bị
đồng bạn ganh tỵ, dùng ḥa thuận, nhẫn nại
để ǵn giữ.
2) Biện
định lư chẳng thể không rơ ràng, tránh vội
vàng, ương ngạnh. Chiết phục kẻ ác chẳng
thể không nghiêm, nhưng đừng hung bạo, hà khắc.
Giữ thân chẳng thể không trang nghiêm, nhưng đừng
cao ngạo. Đối xử với bạn bè chẳng thể
không ḥa hoăn, kỵ đùa bỡn, trào lộng.
* Giáo huấn sa-di
Đừng
tham tiền của, học nhẫn nhục, kiêng vui
chơi, siêng đọc tụng, xa ĺa kẻ trẻ tuổi,
thân cận bậc kỳ túc. Nghĩ tưởng cổ nhân
ăn cháo bằng loại lúa mạch cho ngựa ăn.
Nghĩ tưởng cổ nhân mặc áo phấn tảo.
Nghĩ tưởng cổ nhân ngủ dưới gốc
cây. Tuổi trẻ khổ hạnh, già hưởng phước. Hưởng phước
sớm, thọ mạng ngắn ngủi. Hễ mong mỏi xuất
thế, hăy nghe lời
tôi căn dặn!
* Dạy hai chúng tại gia
Trong đời
người, mẹ con, vợ chồng, quyến thuộc một
nhà đều là cái duyên hư huyễn từ đời
trước, tạm thời tụ họp, rốt cuộc
ắt biệt ly, chẳng đáng buồn khổ!
Cái đáng buồn, đáng khổ chính là luống uổng
suốt một đời chẳng niệm Phật vậy!
Nay chỉ cần buông xuống muôn duyên, hồi quang phản
chiếu niệm Phật; đấy chính là đại sự
khẩn yếu trong suốt một đời, chẳng cần
phải nói nhiều nữa! Ngoài ra, chỉ quản thuần
nhất niệm Phật. Niệm Phật th́ phải từng
chữ soi rọi vào tâm, rành rẽ, phân minh. Dụng tâm khẩn
thiết từng thời khắc, chẳng dung vọng
tưởng, tạp niệm. Trong khi lễ Phật sáng tối,
hăy chân thành, khẩn thiết phát nguyện cầu sanh Tịnh
Độ. Giữ vững như vậy cho đến lúc
lâm chung, tự nhiên chánh niệm hiện tiền, văng sanh A
Di Đà Phật Cực Lạc Tịnh Độ, liên hoa
hóa sanh, vĩnh viễn ĺa các nỗi khổ!
* Dạy bệnh nhân
1) Cổ
nhân có nói: “Bệnh là thuốc tốt lành cho chúng sanh”,
tức là người trong khi bị bệnh hăy nên sanh niềm hoan hỷ
to lớn; đối với hết thảy các chỗ chẳng
như ư, đừng dấy lên phiền năo. Lại nói “sanh
tử có mạng”, tức là người trong khi bị bệnh,
hăy nên sanh [ư tưởng] đại giải thoát, mặc
cho sống chết, đừng dấy tâm kinh hăi. Hơn nữa,
quá khứ như huyễn, hiện tại như huyễn,
vị lai như huyễn, tận hết sức buông xuống,
chỉ giữ chánh niệm mà thôi! Trong khi bị bệnh,
ngàn vạn phần yên ổn, nhẫn nại, đừng
ôm ḷng nóng ruột mong chóng lành bệnh. Đó là phương
cách tốt lành để chóng lành bệnh vậy!
2) Xử
trí chuyện nhà xong xuôi, hăy buông xuống muôn duyên, tâm
địa rỗng rang, chỉ niệm sáu chữ Phật
danh, thời khắc chẳng quên, tự nhiên nghiệp
chướng tiêu diệt. Nghiệp chướng đă tiêu,
tự nhiên đêm ngủ an ổn, thân tâm khỏe mạnh.
Người niệm Phật phải phát nguyện bỏ
đời ác này, sanh về cơi vui kia.
* Dạy các cư sĩ cao tuổi
Sắc thân
cố nhiên có suy yếu, gầy ṃn; pháp tánh vốn chẳng
thoái diệt! Trừ sạch vạn điều hệ lụy,
thuần tịnh nhất tâm. Tâm thanh tịnh th́ Tịnh
Độ sẽ thành, văng sanh th́ vô sanh tự đạt!
* Dạy thiện nữ nhân
lâm chung
Nam nữ h́nh
thể tuy khác, tánh linh minh chẳng hai, sao lại nói ngũ
lậu[17]? Chỉ quư
nhất tâm. Nhất tâm xưng niệm A Di Đà, quyết
định văng sanh cơi An Lạc.
* Dạy quan Trầm Thiếu
Tông Bá[18] về
chuyện cầu siêu cho kẻ chết yểu và cầu con
1) Cầu siêu cho kẻ chết
yểu
Phàm là
người sanh con mà nó chết yểu, khóc lóc c̣n hơn
tang cha mẹ! Nghĩ đến đau xé gan ruột, hăy v́
nó tụng kinh, lễ sám cho nhiều để giúp nó trong nẻo
cơi âm th́ tốt lành thay! Nhưng tụng kinh phải lănh hội
tâm Phật, lễ sám phải hiểu rơ lỗi của chính
ḿnh. Tâm Phật là đại
từ bi; lỗi của chính ḿnh là tạo sát nghiệp. Chẳng
hành từ bi, sẽ chẳng
đoạn sát nghiệp, kinh sám tuy nhiều, công đức
vẫn ít. Kể ra đại lược hai chuyện
như sau, mong ông hăy nỗ lực
thực hiện:
- Một,
đức Phật chế định ngũ giới,
điều trọng yếu đầu tiên là chẳng sát
sanh. Lại nói: “Đời trước trót sát sanh nhiều,
báo đời này là nỗi khổ chết yểu”.
Người làm cha mẹ, hăy nên đem tất cả quần
áo, đồ trang sức, đồ chơi hay vật yêu
quư của đứa con đă chết bán hết thành tiền,
mua các con vật phóng sanh để chuộc lỗi sát nghiệp,
ngơ hầu linh hồn [của con] hiện thời chẳng
đọa vào tam đồ; mai sau sẽ được trường
thọ.
- Hai, phàm
người sanh con, ba ngày, đầy tháng, trăm ngày, giáp
năm, thường đem các chúng sanh giết chóc, nấu
nướng, sắp đặt tiệc tùng. Tuy chuyện giết
chóc ấy do cha mẹ, chẳng liên can đứa con,
nhưng sự dấy lên ắt có nhân, tội cũng khó
tránh! Nghĩ tới đứa con đă chết, hăy vĩnh
viễn đoạn sát nghiệp, ngơ hầu hiện thời
hồn nó chẳng đọa tam đồ, mai sau đạt
được trường thọ.
Lại có
hai chuyện hăy nên kiêng dè:
- Một,
trẻ nhỏ mỗi khi bắt giữ ruồi, muỗi,
châu chấu, muỗi mắt, hoặc ném vào bầy kiến,
hoặc quăng vào mạng nhện. Trẻ nhỏ vô tri,
coi đó là vui đùa, cha mẹ vui thích chẳng cấm
đoán, thậm chí gây tổn thương cho đủ loại
trùng bọ nhỏ nhít, khó thể kể tận! Đấy
đều là cái nhân gây yểu mạng, chẳng thể
không răn dè!
- Hai, trẻ
nhỏ vô tri hoặc chửi cha mẹ, hoặc chửi bậc
tôn trưởng, cha mẹ vui cười chẳng ngăn cấm,
tuy thuộc đùa nghịch, nhưng đều là cái nhân
gây chết yểu, chẳng thể không răn dè!
2) Cầu con
Phàm là
người cầu con, hoặc cầu phước nơi
thần, hoặc làm Phật sự; hễ cầu thần
ban phước bèn sát sanh, lư ấy hết sức sai trái, chẳng
cần phải nói nữa! Phật sự th́ tụng kinh, lễ
sám như trong phần trước, và những chuyện
như tạo tượng Phật, tạo Phật điện,
treo phan, treo cờ, trai tăng, bố thí v.v… Nhưng Phật
đại từ bi, cốt yếu là người cầu
phải làm lành. Nếu chỉ làm phước đức
như trên, nhưng chẳng làm lành, tuy tốn nhiều tiền
của, chưa chắc đă có thể măn nguyện
được! Nêu ra đại lược hai chuyện
như sau, mong hăy gắng sức thực hiện:
- Một,
thiền sư Từ Thọ Hoài Thâm phỏng thơ Hàn
Sơn viết rằng: “Lăo ông tử khước nhi, trú dạ chùy
hung khốc: ‘Thống tâm triệt cốt tủy. Khiếu
vân ngă cô độc’. Hà bất phản tư lượng? Tứ
đạm trư dương nhục. Dương khởi
bất tư nhi? Trư diệc hữu quyến thuộc” (Ông lăo con
bị chết, ngày đêm đấm ngực khóc, đau
đớn thấu xương tủy, kêu rên ta cô
độc. Sao chẳng suy nghĩ lại: Ăn đẫy
thịt lợn, dê. Dê há chẳng xót con? Lợn cũng có quyến
thuộc!) Giết
con chúng nó để cầu ḿnh có con, há hợp lư ư? Há
yên ḷng được ư? Vĩnh viễn dứt sát nghiệp,
ắt sanh con tốt lành.
- Hai, Phùng
Thương mạng không có con, do chuyện trả lại
người thiếp, trời ban cho [con trai ông] đỗ
Tam Nguyên[19]. V́ thế
biết: Không có con chẳng cần phải cầu chi khác,
chỉ tự rộng tu âm đức. Tích đức sâu
dày, ắt sanh con tốt lành.
Lại có
hai chuyện nên kiêng dè:
- Một,
người hiện thời đă sanh con, chăm bẵm,
yêu tiếc như giữ tṛng mắt, nhưng coi con trai, con
gái nuôi (dưỡng
tử, dưỡng nữ) như cỏ rác, mặc
t́nh đánh đập. Con của chính ḿnh sanh ra th́ cao
lương, ngon, béo, trăm vị đầy tràn; con trai,
con gái nuôi th́ ăn uống thô dở, thậm chí tàn nhẫn
bỏ đói. Con ḿnh sanh ra th́ lượt là, gấm thêu, trang
nghiêm tột bậc. Con trai, con gái nuôi th́ áo rách vá víu che thân,
chẳng khỏi rét lạnh. Chúng cũng là con do cha mẹ
sanh ra, sao lại thiên vị bất công đến mức
như thế đó? Trời đất chẳng dung, quỷ
thần trừng mắt, theo đúng lư chẳng có con! Dẫu
có con đi nữa, con ắt gặp nhiều hung hiểm,
chẳng thể không kiêng dè!
- Hai, có người tuổi
già hoặc lấy thiếu nữ làm tỳ thiếp, ta chẳng
quản thức được nó, mà nó càng oán ta rất sâu.
Oán khí tích tụ, sẽ tổn đức, tiêu phước.
Theo đúng lẽ không con, dẫu có con đi nữa, con ắt
chẳng hiền. Chẳng thể không kiêng dè!
Bàn rằng:
Siêu độ kẻ chết yểu, cầu con, tuy nói là hai
sự, thật ra có cùng một nhân, v́ sao? Làm lành để
siêu độ kẻ chết yểu như trên, không chỉ
cứu giúp kẻ chết yểu, mà c̣n nương vào thiện
lực ấy, đứa con sanh sau đó ắt sẽ
phước huệ dài lâu. Làm lành để cầu con
như trên, không chỉ có được đứa con
nương vào thiện lực ấy, mà đứa con chết
trước cũng được siêu sanh vào chỗ thù thắng!
Nhất cử mà lưỡng tiện; v́ thế, hai chuyện
có cùng cái nhân! Hăy nên cùng hành!
* Chỉ dạy Định Am
thượng nhân
Tăng nhân
bỏ ứng viện[20]
để quy vào Thiền môn, ví như nhà Nho bỏ cử
nghiệp, bàn đạo học. Cả hai đều là chuyện
tốt đẹp, nhưng quy vào mà chẳng tu, bàn mà chẳng
hành, rốt cuộc có lợi ích ǵ đâu? Nay thấy
người bỏ ứng viện, hễ bước
ra khỏi cửa, đa số vào giảng tịch (theo học
Giáo). Chẳng biết giảng để nêu tỏ giáo. Sau
khi đă giảng rơ, chánh yếu là phải chú trọng
nương theo giáo để tu hành; nhưng vừa
mới vào giảng tịch, liền học mấy ư chỉ
của giáo nghĩa, sao chép mấy bài chú giải, viết mấy
ḍng văn tự, đề mấy câu thơ, vẽ vời
mấy nét bút, trang hoàng mấy dụng cụ dùng cho văn tự, mai sau giảng
được kinh, lên pháp ṭa, bèn cho là đă chứng quả,
chẳng biết ngoài những chuyện ấy, c̣n có chuyện
[cần phải làm]. Đó gọi là “vứt bỏ lưới
trời, lại sa vào lưới đất”, há chẳng
quá đáng tiếc ư? Hơn nữa, lúc thoạt đầu
bỏ ứng viện, đều có một bầu hảo
tâm; đấy chính là căn bản để thành Phật.
Nay th́ không chỉ trái nghịch cái tâm ban đầu, không chỉ
coi “tai nghe, miệng
nói” là đủ,
mà c̣n phải
chú trọng thật sự thực hiện, tham phỏng
minh sư, thân cận bạn lành, niệm nào cũng mang hoài
băo xuất thế từ đầu tới cuối, chớ
bị danh lợi buộc ràng để rồi ĺa thầy,
bỏ sự tu tập của chính ḿnh th́ mới chẳng
cô phụ, phí uổng.
Nếu chẳng vậy, rốt cuộc cũng chỉ là vẫn
theo thói ứng viện với quy mô lớn hơn mà thôi. Hăy
suy nghĩ đi!
* Dạy Tôn Đại Hành
Người
tham Thiền chỉ giữ lấy một công án, như tham
cứu “người niệm Phật là ai?” Tham chẳng
thấu đạt, lại tham cứu câu “vạn pháp quy
nhất, nhất quy về chỗ nào?” Nếu thấu
đạt một công án, những công án khác đều thấu
đạt hết. Nếu tự cảm thấy đă thấu
đạt [một
công án], mà đối với công án khác, vẫn c̣n có chỗ
chưa thấu đạt trọn hết, tức là công án
trước đó ngỡ
là đă thấu đạt vẫn chẳng
phải là thật sự thấu đạt, chẳng tránh
khỏi dính vào t́nh thức!
* Dạy Đại Đồng
1) Cổ nhân
dạy thân cận minh sư, cầu thiện tri thức,
nhưng thiện tri thức thật sự chẳng có chuyện
“miệng
truyền, tâm trao pháp môn bí mật”, chỉ
là gỡ niêm tháo trói cho người khác; đó là bí mật.
Nay chỉ cần “chấp tŕ danh hiệu nhất tâm bất
loạn”; tám chữ ấy chính là pháp môn bí mật để
gỡ niêm cởi trói, chính là con đường lớn
thênh thang để thoát sanh tử. Sáng niệm, tối niệm,
đi niệm, ngồi niệm. Niệm niệm liên tục,
tự thành tam-muội, chẳng cần phải cầu chi
khác nữa!
2) Cái tâm loạn
đă lâu, nhất thời khó định được.
Tâm niệm Phật chẳng rơ ràng, chẳng cần phải
lo. Chỉ cần công phu sâu dày, từng chữ từng câu
đều niệm bằng cái tâm.
* Dạy Từ Trí Ức (nay đă
xuất gia, pháp hiệu là Nguyên Triệt)
Kinh Di Giáo chính
là di chúc của đức Phật, chỉ nên tuân thủ
như vâng theo sắc chỉ của vua. Lại thêm trong
mười hai thời luôn luôn niệm Phật, sẽ tự
nhiên ở trong trược loạn mà chẳng mê mất!
* Dạy Trầm Quảng Suất
Trong Thế
Đế, nhận biết danh lợi, ân ái rốt ráo thành
Không, đó gọi là “thấy thấu suốt”. Nơi chân
thể, t́m sanh lăo bệnh tử vốn chẳng hề có;
đấy chính là “tu tŕ”. Sơ cơ và rốt ráo (Phật
quả) cùng quy vào một chỗ, nhân trùm biển quả. Rốt
ráo và sơ cơ chẳng hai, quả thấu triệt nguồn
nhân. Chỉ cốt sao minh tâm, chứ chẳng có pháp nào khác!
* Dạy Nghiêm Đại Triệt
Chẳng hiểu
rơ đại sự, đấy chính là lúc nào? Nếm mật,
nằm gai, một tấc thời gian quư như một thước
bích ngọc! Tạm thời giống như
người chết, nghiên cứu cùng tận chí lư, lấy
ngộ làm chuẩn mực.
* Dạy Lư cư sĩ ở
Mân Trung
Hai chữ Tham và Nghi chẳng
cần phải hiểu tách rời. Nghi là tên gọi khác của
Tham, đều
mang ư nghĩa “thể cứu,
truy xét”. Chỉ
khán câu “người niệm Phật là ai”, lấy ngộ
làm chuẩn mực là được rồi. Cổ đức
lại nói: “Khán thoại đầu chẳng được
suy tính, dùi mài, cũng đừng ném nó vào chỗ không làm ǵ
cả, chỉ nên thấy nó như thế nào?” Lời
này rất trọng yếu!
* Dạy các vị như Lâm
Đức Nhuận v.v… ở huyện
Mân
Lập hội
khuyên người để kết duyên là chuyện tốt
đẹp, nhưng hăy nên tĩnh lặng, chớ nên quá phô
trương. V́ sao vậy? Thói đời quen lệ xa xỉ
tột bậc, sợ dấy lên nạn sự. Người
trí hăy thận trọng!
* Dạy những vị
tăng như Chân Ngu v.v… ở đất Sở
Các bạn
chí niệm chuyên ṛng, hiểu biết cao tột, thật sự
là bạn thù thắng của Tây Phương. Nay có hai lời
căn dặn:
- Một, đừng trụ
nơi tiểu ngộ, hăy nên mong đại triệt.
- Hai, đang thuở mạt kiếp,
chớ nên kiến lập pháp môn quá rộng. Hăy ngầm tu,
hành sự cẩn thận, chờ tới khi trời rồng
thúc đẩy mới ra mặt th́ hơn!
* Dạy Tự Không Quảng
Thân (năm điều)
Thời Mạt
chẳng có đại pháp sư tốt đẹp như cổ
nhân, ấy là v́ người thừa dịp giảng kinh quá
nhiều, người dốc chí xem kinh quá ít. V́ thế, toàn
là pháp sư thuộc Thế Đế mà thôi! Nay hăy càng nên gắng
sức, chỉ coi việc nghiên cứu giáo lư tinh tường,
hoằng pháp nhằm khơi gợi cho kẻ mê là một
đại sự. Có mấy lời, mấy chuyện
được nêu ra như sau:
- Ăn uống,
y phục, pḥng ốc v.v… nếu cứ ắt cầu trọn
đủ, Phật pháp sẽ chẳng thể hoàn bị
được. Nay đối với sảnh đường
đă mua, có thể ở đó, những pḥng ốc khác sẽ
thực hiện dần dần. Cổ nhân cư trụ phần
nhiều là gian nọ [dần dần kiến tạo] nối
tiếp gian kia. Muốn tề chỉnh ngay một lúc, sẽ
mười phần tốn sức, gây trở ngại cho
đạo nghiệp.
- Hễ trụ
trong ngôi chùa giàu sang, sẽ chẳng thể cư xử
như nơi các tăng pḥng [b́nh phàm] được! Mọi
chuyện cần phải chuộng giản ước, thanh
đạm th́ mới có phong thái tu đạo.
- Ở
chung trong các tăng pḥng, cần phải khiêm nhượng,
ôn ḥa. Chớ nên coi ḿnh là pháp sư, sanh ḷng ngă mạn.
- Các văn
tự thuộc Tướng Tông như Nhân Minh, Quán Sở
Duyên Duyên[21] v.v… gần
đây đều có chú giải, có thể trống ḷng tham học
cổ nhân, châm chước hiện thời, chỉnh lư một
phen.
- Ở
trong chùa là nơi mọi con mắt nh́n vào, cần phải
mười phần cẩn thận, tuân thủ quy củ, cẩn
trọng nơi những hành vi nhỏ nhặt để
tránh bị dị nghị. Hăy suy nghĩ nhé!
* Dạy Vương Trí Đệ
Tâm không th́
nghiệp không, thân không, bệnh không. Nếu có tâm nghi, hăy
nên tận t́nh buông xuống. Kinh dạy: “Phàm sở hữu
tướng giai thị hư vọng” (phàm tất cả
các tướng đều là hư vọng). Đă thuộc
về hư vọng, giống như hoa đốm trên
không, như bọt nước trên mặt nước,
như chuyện trong mộng, có ǵ đáng nghi? Hăy giảm tư
lự, kiêng phiền năo, giận hờn, ăn uống có chừng
mực, thận trọng trong cuộc sống hằng ngày,
chỉ thời thời khắc khắc dùng câu niệm Phật
làm thoại đầu, đừng để quên mất.
Đấy chính là giác chiếu thường tồn tại,
tỉnh giác, chẳng mê muội.
* Dạy Minh Vũ Đại
Hiểu
Nhớ số
quá nhiều, buộc tâm quá gấp, cho nên đổ ra các bệnh.
Chỉ khăng khăng, miên mật, chẳng gián đoạn,
chẳng xen tạp; đó
chính là công phu. Chẳng cần phải khổ hạnh quá mức!
Vọng tưởng kiên cường, chiến đấu
lâu ngày, nó sẽ tự hàng phục, chẳng cần ngờ
vực!
* Dạy Châu Đại Hệ
Thoại
đầu chẳng trở ngại tĩnh, mà là tĩnh trở
ngại thoại đầu, do tham đắm tĩnh cảnh,
coi đó là lạc. Vẫn cần phải dụng tâm nơi
thoại đầu th́ mới được!
* Dạy Ngô Đại Tuấn
Chẳng cần
biết ngộ hay chẳng ngộ. Chẳng cần biết
có, không, trong, ngoài, chặng giữa, bất luận Chỉ hay
Quán, bất
luận đồng hay bất đồng với các pháp môn
khác. Nếu nghi t́nh chẳng dấy lên, cũng đừng
quản “là ai” hay “chẳng phải là ai”, chỉ chấp tŕ
danh hiệu, nhất tâm nhất ư, chẳng gián đoạn,
thuần nhất chẳng tạp mà hành tŕ.
* Dạy Vu Quảng Huệ
Cổ nhân
nói: “Tạp niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc”.
Niệm Phật đối trị tạp niệm, nhưng
chẳng thể trị là do niệm chẳng thân thiết! Khi tạp
niệm dấy lên, lập tức dụng tâm gắng công niệm
Phật nhiều hơn, từng
chữ, từng câu chuyên nhất, chẳng hai, tạp niệm
sẽ tự dứt.
* Dạy Vương Quảng Đệ
Không ǵ bằng
thẳng thừng chấp tŕ một câu A Di Đà Phật, tận
tâm tận lực mà niệm, chẳng tơ hào niệm chi khác.
Đấy chính là công án chữ Vô; chẳng cần phải
đề khởi các thoại đầu như chữ Vô
v.v… Thuần nhất niệm Phật. Niệm Phật thấu
trên (thông với Phật quả), ngàn chỗ, vạn chỗ
đều thông thấu.
* Dạy Quảng Kỳ
Cụ Bàng
(Bàng Long Uẩn) nói: “Mười phương đồng
tụ hội,
ai nấy học vô vi. Đấy là trường tuyển
Phật, tâm Không mới
thi đậu”. Tâm chưa thể rỗng
không, phải siêng năng
niệm Phật. Niệm niệm chẳng ngớt,
tâm sẽ tự rỗng rang!
* Dạy Tần Bội Ngọc
Cũng chẳng
phải là trong thân khởi nghi, cũng chẳng phải là Không
Không khởi nghi. Dùng hai điều ấy để so sánh
xem có được hay không th́ đúng là nghi chưa khởi.
Nếu thật sự có nghi, sẽ tự chẳng phải
như vậy. Cái nghi thật sự chưa dấy lên, chỉ
nên chánh niệm nhiếp tâm. Chẳng nghi, chẳng trở
ngại ǵ!
* Dạy Ngô Quảng Thụ
Đă chẳng
nghi sanh tử, chẳng nghi công án của cổ đức,
há nên sanh ḷng kinh sợ to lớn? Há nên vẫn để
mũi tên lo ngờ cắm vào tim? Người nói là “chẳng
nghi”, hăy c̣n có nghi! Xưa kia có hai vị tỳ-kheo phạm
dâm và sát, do một câu nói của ngài Duy Ma, tội diệt chẳng
c̣n sót! Nay nếu có thể như hai vị tỳ-kheo ấy
th́ chẳng cần bàn nữa. Nếu không, có một cách
khác. Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một tiếng
diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp
sanh tử”. Nếu kiền thành niệm Phật mười
vạn tám ngàn lần, không tội nào chẳng diệt! Đó là “thần chú” để
đối trị, như
gió cuốn mây, như mặt trời tiêu giọt
sương, như
giọt nước gieo vào biển cả, như mảnh
tuyết chạm vào ḷ lửa hừng, diệt trừ hết
sạch, chẳng c̣n tung tích nữa!
* Dạy ông Bành ở Tứ
Xuyên
Kẻ giáng
cơ mười trường
hợp chẳng được một trường hợp có thật,
đều là kẻ mạo danh vị tiên chi đó, nhưng
thật ra chẳng phải. Cầu cơ lâu ngày, [quỷ mị
giả danh thần tiên] có thể trộm tinh thần và
nguyên khí [của kẻ cầu cơ]. Chỉ có Phật là tam
giới đại sư. Nhất tâm niệm Phật, ắt
lũ tà tự dứt.
* Dạy thị giả Trí Chân
Đừng
tham cảnh dục nhiễm, đó là căn bản của
địa ngục. Đừng chấp đồ trân ngoạn,
chết chẳng mang theo được. Đừng lân la
nhà hào môn vọng tộc, v́ sẽ chôn vùi khí tiết thanh bạch.
Đừng chơi với bạn vô ích, do sẽ bị nhiễm
giống như [ở lâu trong] chợ cá sẽ dần dần bị nhuốm
[mùi tanh
hôi]. Đừng cậy trẻ khỏe, do mạng người
trong hơi thở. Đừng buông lung sân nộ nhất thời,
mai sau hối chẳng kịp!
* Dạy vị tăng Đại
Mỗ
Chưa kiến
tánh mà suy đoán cảnh giới kiến tánh, hết sức
vô ích! Chỉ có một điều cuối cùng mới là câu
hỏi thiết thực. Ông hỏi: “Đă biết Thiền
tọa quán tâm, sao chẳng nói niệm Phật quán tâm?” Há có hai
ư? Hăy thật thà thực hiện công phu, đợi tới khi kiến
tánh, sẽ lại
thấu hiểu, lănh hội!
* Dạy Đức
Chương Đại Vi
Thường
ngày có công phu thật sự th́ trong khi bệnh mới đắc
lực. Nay sao lại cưỡng cầu đạt
được? Dẫu vậy, cũng chỉ là miễn
cưỡng gắng sức thực hiện.
* Dạy Tôn Đại Trí
Ngoài tâm chẳng
có cảnh. Tâm không th́ cảnh vắng lặng. Huệ do
Định mà có được. Tâm tĩnh th́ sáng sủa
phát sanh.
* Dạy Hoàng Khâm ở Kiến
Xương
Hư rời
đi, thật quay về; chẳng bằng “thật đi,
hư về” càng tốt đẹp hơn. Cụ Bàng nói: “Chỉ
nguyện rỗng không hết thảy sở hữu, cẩn
thận đừng coi các thứ vốn không có là chân thật”.
* Dạy Lâm Vinh ở Phước
Kiến (Lâm Vinh trần thuật cặn
kẽ cảnh lạ mà ông ta đă thấy)
Kinh dạy:
“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”
(phàm tất cả các tướng đều là hư vọng).
Đối
với những ǵ mắt thấy, tai nghe, đều quét sạch
hết thảy, nhất tâm niệm Phật.
* Dạy Vô Ngung Đại
Phương
Tuổi trẻ,
thể chất tốt đẹp, hăy dụng tâm nơi chuyện
thuộc bổn phận của chính ḿnh, đừng v́ [các
thể thơ] năm chữ hay bảy chữ mà lăng phí ngày
tháng để
rồi phải hối hận về sau. Đại
sự đă hiểu rơ, [tới khi đó], ngâm vịnh hay
làm thơ cũng chẳng muộn!
* Dạy Tiết Quảng Duyệt
Tham cứu
chẳng tiện th́ chuyên tŕ danh cũng được, chỉ
cần đạt được nhất tâm, sẽ chẳng
bị chuyển theo cảnh.
* Dạy cư sĩ X…
Lời khai
thị thiết yếu nhất của cổ đức là
“tùy duyên tiêu nghiệp cũ, đừng tạo
ương họa mới”. Nay đủ loại chướng
đạo trước mắt đều do túc duyên mà ra, chớ
nên ưu năo, chỉ tùy duyên thuận chịu. Điều khẩn
yếu là chẳng c̣n tạo nghiệp căn cho
tương lai.
* Dạy cư sĩ Y…
Giữ vững
Ngũ Giới, nhất
tâm niệm Phật, hiếu dưỡng cha mẹ, cũng
khuyên lơn họ nhất tâm niệm Phật, cầu nguyện
cho mẹ lẫn con đều cùng sanh về Tịnh Độ,
tùy duyên sống qua ngày. Nếu có người cúng dường
th́ nhận, đừng đi quyên mộ. Đừng lập
hội niệm Phật, hăy giữ phận tu hành. Đấy
chính là bậc đại thiện nhân, là cư sĩ thật
sự trong thời Mạt Pháp vậy!
* Dạy bà Thạch thuộc
nhà họ Ông ở núi Động Đ́nh (cầu
đời sau làm quan)
Làm quan tuy tốt
đẹp, nhưng ỷ vào chức quan để tạo
nghiệp, về sau đọa lạc, thọ khổ vô
lượng. Hăy nên nhất tâm niệm Phật, cầu sanh
Tịnh Độ. Dẫu địa vị đạt tới
Tam Công, chẳng bằng ngự lên chín phẩm sen! Niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ vượt hẳn
làm quan rất ư là xa!
* Dạy bà Thạch thuộc nhà họ Hứa
ở núi Động Đ́nh (mong đời sau làm
Tăng)
Làm Tăng
tuy tốt đẹp, nhưng Tăng chẳng tu hành, đời
sau sẽ đọa lạc, chịu vô lượng khổ.
Hăy nên nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ.
Thân cận tượng giả bằng kim loại hay gỗ
điêu khắc, trang hoàng, chẳng bằng thân cận vị
Phật thật sự đang thuyết pháp trong hiện tại.
Làm Tăng trong Tịnh Độ hơn hẳn làm tăng
trong thế giới này rất xa!
* Dạy người học
1) Kẻ ngu
mê mà chẳng giác, hành sự điên đảo, luân chuyển
trong sanh tử, chẳng hề ngưng dứt. Thánh nhân xót
thương, dùng Tam Học
để dạy, tức là Giới để họ bớt
sai trái. Tức là Định để nhiếp tâm loạn.
Tức là Huệ để phá Hoặc cho họ. Bởi lẽ,
chướng tận, tâm không, khôi phục giác thể rạng
ngời, mênh mông, như ngủ say tỉnh giấc. Đại
để, vầng mặt trời chói lọi chẳng
đủ để sánh ví sự tinh minh ấy, bầu trời
lồng lộng chẳng đủ để sánh ví sự
cao rộng ấy. Đó là nêu đại lược Phật
đạo vậy, vẫn cần phải luận định
cao hơn nữa!
2) Người
hiện thời phần nhiều chuộng nói “tham, ngộ”,
ưa nói “liễu sanh tử”, chẳng biết liễu ngộ
trong cơi này rất khó, được gọi là “siêu thoát tam
giới theo chiều dọc”. Tư Đà Hàm c̣n phải một
lần qua lại, huống phàm nhân ư? Chúng sanh trong cơi này
phần nhiều sanh về Tây Phương trước rồi
sau đấy mới liễu ngộ. Pháp môn
“sanh về Tây Phương” được gọi là “vượt
thoát tam giới theo chiều ngang, muôn người chẳng
sót một”!
* Sáu chương dạy cháu là
Tôn Đại Thụ trong khi anh ta đang ngồi dạy học
Một, học
tập cử nghiệp chẳng phải chỉ là mong đỗ
đạt. Đọc sách thánh hiền th́ phải mong làm
thánh hiền. Mạnh Tử nói “đạt tắc kiêm thiện
thiên hạ”, tức là chuyện trị quốc, b́nh thiên
hạ; “cùng tắc độc thiện kỳ thân” tức
là chuyện thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia. Các chuyện bất
đồng, nhưng đều quy vào điều thiện!
Hai, viết
văn chương chẳng phải chỉ để nịnh
nọt quan chấm thi ḥng cầu được công danh!
Văn tự chính là tinh thần và tâm thuật của
người viết. Gian hiểm, quái lạ là văn
chương của phường tiểu nhân. Chánh đại
quang minh là văn chương của bậc quân tử.
Được hay mất đều có mạng! Chớ nên
thấy có kẻ gian hiểm quái dị mà đạt
được thuận tiện, liền bắt chước
làm theo!
Ba, theo thầy
không phải chỉ là mong học tài nghệ văn
chương, phải lấy đức hạnh làm gốc.
Vị thầy chỉ dạy ta văn tài, chẳng dạy
ta bằng đức hạnh, chẳng phải là thầy
hiền! Nếu gặp thầy hiền, cần phải
thân thiết như cha mẹ, kính trọng như thần
minh, phụng sự suốt đời!
Bốn, viết
lách không phải chỉ lúc vào trường thi mới trang
trọng, cẩn thận. Cần phải trong lúc khảo
thí b́nh nhật, giống
hệt như có quan giám khảo đang trông
coi, phải dốc cạn ḷng thành, dốc trọn cái tâm,
không thể chẳng hoàn thành quyển thi, chẳng thể
viết cẩu thả cho xong!
Năm,
đọc sách không chỉ cầu mới mẻ, cầu
vượt trội, cần phải thuận văn, thuận
lư. Trong mười phần, chín phần hăy nên nương
theo chú giải của Châu Hy.
Sáu, trong khi
ngồi dạy học, không chỉ canh năm thức dậy,
học tới nửa đêm th́ mới là siêng học. Chỉ
nên từ sáng sớm cho tới đêm thâu, suốt tháng chẳng
bỏ lỡ ngày nào, suốt ngày chẳng bỏ lỡ giờ
nào, dứt tuyệt đi loanh quanh, bớt nói năng, dứt
bặt chuyện vô bổ, khăng khăng miệt mài,
chuyên ṛng chẳng buông lung, tự nhiên sẽ ngày một tiến
hơn!
15.6. Cảnh sách
* Chân bị thương tự
quy định (bốn điều)
1) Từ
nay trở đi, lúc nào được gân xương nhẹ
nhàng, đi ngồi tùy ư, liền nghĩ tới chúng sanh
trong lục đạo đang khổ năo, nhất tâm chánh niệm.
2) Từ
nay trở đi, dẫu có kẻ chửi mắng ta thậm
tệ, không chỉ dùng lời lẽ báng bổ ta, thậm
chí c̣n tát vào mặt ta, nhổ vào mặt ta, ắt đều
thuận chịu, nhất tâm chánh niệm.
3) Từ
nay trở đi, dẫu có kẻ vong ân trái nghịch, ĺa bỏ
ta, đem cừu oán báo ân, ắt đều thuận chịu,
nhất tâm chánh niệm.
4) Từ
nay trở đi, dẫu có kẻ được sai khiến
mà không vâng lệnh, kẻ nhận lănh nhiệm vụ mà hành
xử không đúng pháp, bèn dùng chánh ngữ, hoặc dùng lời
lẽ khiêm tốn, tùy nghi mà nói năng. Nếu họ không
thay đổi th́ thôi, đừng dấy sân khuể, nhất
tâm chánh niệm.
* Bảy điều tự cảnh
tỉnh
Cổ nhân
từng nói: “Vua Vũ tiếc tấc bóng, dạy bảo
mọi người hăy nên tiếc thời gian”. Ta nay suy
tàn, há chẳng tiếc từng khoảng khảy ngón tay,
đừng dụng tâm xen tạp. “Chẳng dụng tâm xen tạp”
tức là ngoài việc chánh niệm điều ḿnh đang
tham cứu ra, hễ vừa mới
dấy một niệm tạp tưởng, liền lập
tức trừ sạch, nhiếp tâm quy vào chánh niệm, chẳng
thể chần chừ một thời khắc nào. Nay nêu ra
đại lược bảy sự, quả thật là v́
sanh tử mà xuất gia, thẳng thừng muốn hoàn tất
[liễu sanh tử] ngay trong một đời, dốc sức
tuân thủ, luôn luôn tự cảnh tỉnh:
- Một,
chẳng được chất chứa tài sản riêng, kiến
tạo pḥng ốc, mua ruộng đất, sắm sửa hết
thảy các vật tinh xảo tột bậc. Ngay như
kinh, tượng vốn được lưu truyền từ
thái cổ, phát xuất từ các bậc danh gia, đều
chớ nên lưu luyến, nhất tâm chánh niệm.
- Hai, chẳng
được làm các chuyện phước đức duyên
sự không khẩn yếu; đành chờ mai sau đă hiểu
rơ đại sự rồi mới làm vẫn chưa muộn.
Hiện thời, tạm gác vạn hạnh môn lại
đó, nhất tâm chánh niệm.
- Ba, không
được khởi tâm tham ái đối với sắc
đẹp, đừng khởi tâm tham ái đối với
vị ngon, đừng khởi tâm tham ái đối với
lời lẽ tốt đẹp, khen ngợi ta, đừng
khởi tâm sân năo đối với ác sắc, đừng khởi
tâm sân năo đối với các vị không ngon, đừng
khởi tâm sân năo đối với kẻ dùng lời ác chê
bai, hủy báng ta, dùng lời ác nghiệt nhục mạ ta,
dùng nắm đấm hung bạo thoi đánh ta, đủ
loại ác nghịch đối với ta. Cho đến chuyện
đă qua, dẫu thuận hay nghịch, chuyện
tương lai dẫu thuận hay nghịch, thảy đều
dứt bặt, giữ kiên cố như tường vách, nhất
tâm chánh niệm.
- Bốn,
chẳng được ngâm thơ, soạn văn, luyện thư pháp theo
thể chữ Chân (Khải Thư) hay Thảo Thư, đề
thiếp, soạn câu đối, gọt giữa văn từ,
đọc tràn lan các sách bên ngoài, nghị luận được,
mất, ưu, khuyết của kẻ khác, thậm chí cậy
vào sự ức đoán mà tâm ngạo nghễ trước
thuật, chưa ngộ thấu triệt Thiền mà hư
vọng dấy ư niêm tụng, b́nh luận. Hăy ngậm chặt
miệng lưỡi mà nhất tâm chánh niệm.
- Năm, chẳng
được kết giao với thân bằng, ứng phó lời
vời thỉnh, du sơn, ngoạn cảnh, nói năng tạp
nhạp, chuyện gẫu. Phàm đủ loại chuyện
thuộc Thế Đế, trừ những chuyện theo
đúng lẽ phải nên làm, quyết chẳng thể không
làm, những chuyện khác hăy đều thôi dứt, nhất
tâm chánh niệm.
- Sáu, chẳng
được tham đắm, buông lung, mặc sức ngủ
nghê. Chưa hiểu
rơ đại sự th́ phải nhọc nhằn chịu khổ,
nhất tâm chánh niệm.
- Bảy,
chẳng được cùng người đời tranh
đua tài năng, tranh danh, tranh oai thế, chưa đắc
nói đă đắc, chưa chứng mà nói chứng, dối
xưng là tri thức, hư vọng tự tôn cao. Chỉ nên
giữ phận hèn, giữ ngu, suốt đời ở
địa vị học hỏi để tự rèn luyện,
thường xuyên tinh tấn, nhất tâm chánh niệm.
Châu Hoằng
lúc mới xuất gia, lập chí hết sức chánh
đáng, ǵn giữ chí ấy rất vững vàng. Chỉ v́
thể chất yếu đuối, lẻ loi đi xa,
chưa đắc đạo mà đă ngă bệnh trước,
bất đắc dĩ, phải kết lều tranh để
ở. Tự cho rằng ẩn cư trong chốn rừng
sâu, chắc có thể trốn người, lánh đời,
nào ngờ lâu ngày chầy tháng, bất giác, bất tri, dần
dần trở thành tùng lâm, giảng tịch. Tuy chẳng dám tự
cao làm phương trượng, ngă mạn tự coi chính
ḿnh là hiền, thật sự cũng bị vướng lụy
chẳng ít. Nay bỗng đă tám mươi, mạng như
đuốc trước gió, hết sức kinh sợ, hết sức hổ
thẹn, ăn ngủ chẳng yên. Lại nghĩ: Vẫn
c̣n một hơi thở, sao chẳng tuổi già vẫn gắng
sức mạnh mẽ, dẫu thân lực mệt mỏi,
tâm lực vẫn có thể tự cường, tuy chẳng
kham bằng phong cách già nua vẫn hành cước của cổ
nhân, nhưng chẳng dụng tâm xen tạp, há nên tự ruồng
rẫy? Lại vận dụng toàn bộ ḷng thành thuở
đầu, lập lại thệ ước, một mặt
sách tấn chính ḿnh, một mặt khuyên lơn người
khác. Chắc cũng có người thoạt đầu siêng
năng, nửa chừng giải đăi như tôi đó
chăng? Mong hăy cùng gắng lên!
Các bài lăo
đường cảnh sách, bệnh đường cảnh
sách và sanh sở cảnh sách (cảnh sách nơi chỗ phóng sanh) đều
chép trong Cộng Trụ Quy Ước Tập.
* Cảnh tỉnh đại
chúng (tám điều)
Khi tôi
chưa xuất gia, đối với chuyện bất nhân,
bất nghĩa, vô lễ, vô trí, dẫu người khác
hướng dẫn tôi làm, tôi liền tự xấu hổ,
thẹn thùng, chẳng chịu làm mảy may nào! V́ lẽ nào
vậy? Đó là do đời trước tôi đă thân cận
người tốt, trong ruộng thức thứ tám lănh nạp
lời lẽ tốt lành. Do vậy, đời này hễ thấy
điều ác bèn hổ thẹn, chẳng chịu thực
hiện. Các vị phải thật thà thân cận người
lành. Hăy nên trong lúc sáng tối phát nguyện, hăy nên nguyện
đời đời kiếp kiếp thân cận thiện
tri thức.
Sau khi tôi xuất
gia, đến các nơi tham phỏng. Khi đó, môn đ́nh của
ngài Biến Dung hết sức hưng thịnh. Tôi đến
kinh đô khấu bái, đi bằng hai đầu gối
đến cầu thỉnh. Sư dạy: “Ngươi
hăy nên giữ bổn phận, chớ nên tham danh, trục lợi.
Chớ nên phan duyên. Chỉ cần nhân quả phân minh, nhất
tâm niệm Phật”. Tôi vâng lănh lời dạy, lui ra.
Người cùng đi cười to, bảo: “Mấy
câu nói ấy ai mà chẳng nói được! [Đối với
người] từ xa ngàn dặm t́m tới,
chỉ
nên nói chỗ hết sức cao diệu, [chứ lời ổng
nói] vốn chẳng đáng nửa đồng!”
Tôi nói: “Đó chính là chỗ thể hiện ưu điểm
của Ngài. Chúng ta khát ngưỡng, ngưỡng mộ, từ
xa tới đây. Ngài chẳng đàm huyền thuyết diệu,
bày ra vẻ cao xa với chúng ta, chỉ thật thà đem
công phu do chính ḿnh đă nhận biết hết sức gần
gũi, tinh tường, chân thật để ra rả
khai thị. V́ thế, đấy chính là chỗ hay của
Ngài”. Cho tới
nay, tôi thiết thực tuân thủ, chưa từng
buông mất.
Đối với mười
phương tăng chúng, [tôi coi như bậc] hiền thánh
xuất hiện rồi diệt mất, tôi gặp họ,
chưa từng bất kính. Người khác chưa quỳ,
tôi quỳ trước. Người khác chưa lạy, tôi
lạy trước. Trước kia, có một vị
tăng từ phương xa tới, do vị ấy xấu
xí, lam lũ, không ai chẳng khinh miệt. Tới khi gặp
tôi, vị ấy bèn đàm luận huyền chỉ kinh
Lăng Nghiêm đến tột cùng. Quư vị quyết chớ
nên khinh miệt người khác, hăy nhớ nhé! Nhớ kỹ
nhé!
Môn trọng
yếu để nhập đạo, tín là bậc nhất.
Chuyện ác mà chẳng có ḷng tin, c̣n chẳng thể thành tựu,
huống hồ việc thiện ư? Ví như đạo
tặc trong thế gian, khi bị bại lộ, quan phủ
không ai chẳng dùng cực h́nh, trói buộc. Về sau,
được thả, chúng nó vẫn y như cũ chẳng
hối cải! V́ lẽ nào vậy? Họ tin chắc theo
đường lối ấy: Chẳng tốn một
đồng tiền vốn nào mà tự đạt
được lợi ích vô kể. Do vậy, chịu đủ
mọi nỗi đau khổ, quyết chẳng lùi bước,
hối hận. Người hiện thời niệm Phật,
nếu chẳng chịu chân thật, thiết tha dụng
công, chính là v́ chưa từng suy nghĩ sâu xa, tin tưởng
chắc chắn. Chẳng cần nói họ không tin Tịnh
Độ, chỉ
như câu nói của đức Thế Tôn: “Nhân mạng tại
hô hấp gian” (Mạng người trong hơi thở). Nghĩa
lư của câu nói ấy chẳng phải là khó thấu hiểu,
khó diễn nói!
Quư vị chính mắt thấy, chính tai nghe, đă trải qua
khá nhiều
trường hợp cụ thể rồi, nay nếu quư vị
tin tưởng câu nói ấy, th́ đă sớm xong chuyện
rồi! Nếu quư vị chân thật tin tưởng
câu nói ấy, đối
với pháp môn Niệm Phật chẳng cần phải
khiến tôi phí sạch khí lực dặn ḍ ngàn lời muôn lẽ,
mà quư vị tự như nước tuôn vào ng̣i rănh, vạn
con trâu chẳng thể kéo lại được!
Như hôm trước, khi tống
tiễn một
vị tăng đă mất, các vị đă thấy
tấm gương ấy, hăy nên bi thương, chẳng
vui, đau đáu cảnh sách lẫn nhau rằng: “Đại
chúng! Tôi cùng quư vị hôm nay đưa tiễn vị
tăng này, ngày mai đưa tiễn vị tăng nọ,
chẳng biết bất giác lần lượt đến
phiên ḿnh. Khi
đó, hối hận chẳng kịp! Cần phải
vội vàng niệm Phật, đừng luống bỏ thời
khắc nào th́ mới nên”. Tôi thấy các vị tự
ḿnh cũng nói đáng tiếc, đối với người
khác cũng nói đáng tiếc; nhưng tới khi cổ
xướng[22] trong
tăng đường, vẫn nói cười thong dong
như cũ! Quư vị chỉ là kẻ chẳng tin tưởng
“mạng
người trong hơi thở” vậy!
Tôi thấy hàng hậu sanh mới
học vừa mới đặt một câu Phật hiệu
trong tâm, càng cảm thấy vọng tưởng tạp niệm
dấy lên tưng bừng, liền nói “công phu niệm Phật
chẳng thể nhiếp tâm”, chẳng biết căn nguyên sanh
tử của
quư vị từ vô lượng kiếp đến nay
sao có thể ngay lập tức đoạn được!
Hơn nữa, ngay trong lúc muôn niệm lăng xăng,
đúng là lúc thực
hiện công phu. Vừa mới thâu nhiếp liền tán
loạn ngay, vừa mới tán loạn
bèn thâu nhiếp, lâu ngày công phu thuần thục,
tự nhiên vọng niệm
chẳng dấy lên. Quư vị có thể nhận thấy kẻ vọng
niệm nặng nề là do thiếu sót câu Phật hiệu
này! Nếu lúc chẳng niệm Phật, [vọng niệm
như] sóng bủa trào vọt chẳng ngừng trong một
sát-na, há chính ḿnh có thể nhận biết hay không?
Niệm Phật có thể niệm
thầm, hoặc niệm lớn tiếng, hoặc kim cang
tŕ; nhưng niệm lớn tiếng khá tốn sức, niệm
thầm lại dễ hôn trầm. Chỉ là miên miên mật
mật, âm thanh nằm giữa môi và răng, đó gọi là
kim cang tŕ. Lại chớ nên chấp chặt! Nếu cảm
thấy tốn sức, chẳng ngại niệm thầm. Nếu
cảm thấy hôn trầm, chẳng ngại niệm lớn
tiếng. Người niệm Phật hiện thời chỉ
là tay gơ mơ, thuận miệng hét ầm lên, cho nên chẳng
được lợi ích! Ắt cần phải từng
câu từ miệng thoát ra, lọt vào tai, từng tiếng
đánh thức tự tâm. Ví như một người
đang ngủ say, người khác gọi kẻ nào đó,
người ấy liền tỉnh giấc. Do vậy, niệm
Phật có thể nhiếp tâm nhất.
Người hiện thời
chẳng chịu niệm Phật chỉ v́ coi rẻ Tây
Phương, chẳng biết sanh về Tây Phương chính
là phương cách khéo léo “đại đức, đại
phước, đại trí, đại huệ, đại
thánh, đại hiền” để chuyển Sa Bà thành Tịnh
Độ, chẳng giống các nhân duyên nhỏ nhoi! Quư vị
chỉ thấy trong thành này, trong một ngày một đêm,
có bao nhiêu người chết? Chẳng cần nói đến
sanh về Tây Phương, ngay như sanh lên trời, trong
trăm ngàn người c̣n chẳng được một!
Có kẻ tự phụ tu hành, chỉ là không đánh mất
thân người mà thôi! V́ thế, đức Thế Tôn
đại từ đại bi chỉ dạy pháp môn này,
công quá càn khôn, ân hơn cha mẹ, tan xương nát thân chẳng
đủ báo đáp! Thuở bé, tôi c̣n chưa biết niệm
Phật, thấy một bà cụ hàng xóm công khóa mỗi ngày
là niệm Phật một ngàn câu, hỏi cụ v́ sao như
thế? Cụ nói: “Chồng tôi thuở trước niệm
Phật, lúc mất rất tốt. V́ vậy, tôi niệm
như thế! Chồng tôi lúc mất trọn chẳng bị
bệnh tật, chỉ từ biệt người khác mà
thôi!” Cớ sao người xuất gia chẳng niệm
Phật?
* Chuyện bất tường
của người xuất gia
1) An tọa
trước tượng Phật để người
khác lễ bái, bất
tường!
2) Chửi
người khác trước Phật, bất tường!
3) Trên pháp
ṭa, quát mắng người khác, và khinh dễ bài xích tiền
hiền là sai lầm,
bất tường!
4) Đang mặc
áo lót, bị người khác lễ bái, bất tường!
5) Đang
ăn mà chửi người khác, bất tường!
6) Đối
với thức ăn, phân biệt ngon, dở, khởi tâm
ghét bỏ, bất tường!
7) Dùng lụa
là, gấm thêu làm quần áo sử dụng thường
ngày, bất tường!
8) Giường
nằm dùng nệm dày, đệm dày, mền bằng tơ,
lụa, trướng (màn che) bằng the, lượt, bất
tường!
9) Sáng sớm
chửi bới người khác, bất tường!
10) Ghét hiềm tín thí cúng dường
ít ỏi, bất tường!
11) Mua nô bộc
để chính ḿnh sai khiến như nhà phú quư, bất
tường!
12) Người khác nhọc nhằn,
riêng ta an nhàn, bất tường!
13) Người
khác nghèo túng, thiếu thốn, riêng ta giàu có, dư dả, bất
tường!
14) Tuổi
trẻ mà làm pháp sư giảng giải, làm thầy thí thực,
làm thầy trụ tŕ, bất tường!
15) Tuổi
trẻ cậy chút thông minh, khinh rẻ bậc lăo túc, bất
tường!
16) Cậy
ḿnh lớn tuổi, khinh rẻ hàng hậu tấn, bất
tường!
17) Vô cớ
mà được bố thí trọng hậu, bất tường!
18) Người
ta đối xử với ta bằng ḷng chí thành, ta dùng xảo
trá để đáp lại, bất tường!
19) Thích bàn
luận lỗi lầm và chuyện ẩn kín của kẻ
khác, bất tường!
20) Dùng của
thường trụ hoặc của công để làm lợi
hoặc giúp đỡ tục gia, bất tường!
21) Nuông chiều
đệ tử sa-di quá mức, cho nó ăn ngon, mặc
đẹp, bất tường!
22) Hễ thốt lời liền
thô tháp, nặng nề, khiến người khác khó ḷng chịu
đựng, bất tường!
23) Do có nhiều
người hộ pháp, nhiều tín thí, liền hư vọng
tự tôn, tự đại, bất tường!
24) Chẳng
bệnh tật mà sai người khác đổ bô nước
tiểu, bất tường!
25) Trong khi
bị bệnh, sân giận đối với người
chăm sóc, bất tường!
26) Mặc
thiên sam (áo dài, áo nhật b́nh) đi tiểu, bất tường!
27) Gặp
lụt lội, hạn hán v.v… oán hận trời đất,
bất tường!
28) Thiếu
nợ người khác, nghe họ chết, tâm sanh vui mừng,
bất tường!
29) Chưa
nói đă cười trước, bất tường!
30) Thông hiểu
giáo lư sơ sài, hư vọng đánh giá cổ nhân, coi
thường người hiện thời, bất tường!
31) Có chút
tri kiến, tự coi ḿnh là tông sư, bất tường!
Những
điều trên đây khiến giảm phước, chiết
thọ, chuốc nhiều họa hại; v́ thế nói là “bất
tường”. Hăy nên cùng nhau răn dè!
* Dạy trụ tŕ
Bớt tiền
mua lương thực cho tăng để dựng nhà
tăng, thiện tri thức khó trốn khỏi cái gông sắt
nóng. Dùng tiền mua gạch làm tiền mua ngói, kẻ thiền
ḥa thông tục khó tránh ngục hàn băng. Của công thuộc
chiêu-đề[23],
sao lại dùng để sắm b́nh, sắm hồ[24]?
Núi bạc của đại chúng, thế mà dùng để
mua búa, mua đục? B́nh, hồ rót vào vạc sôi sùng sục.
Búa, đục trọn đủ mà núi đao thành. Huống
hồ viên bột gạo cùng nuốt với ḥn sắt, tơ
bông với thai trâu cùng ở. Cái nhân đă hành dường
như nhỏ nhặt, cảm quả rất sâu! Chẳng
đáng buồn ư?
* Lời quở trách vứt bỏ
bă đậu[25]
Phung phí bừa
băi của trời, ắt có họa sanh. Kẻ khinh rẻ
ngũ cốc, phần
nhiều bị sét đánh. Chó, lợn cùng người
ăn uống, Mạnh Tử do vậy đau ḷng. Rượu
thịt, xa xỉ làm ao, rừng, vua Thương bởi
đó mất nước. Hơn nữa, cổ nhân c̣n nuốt
cám, bă, nay bă đậu ngon lành hơn cám, bă. Đại
sĩ c̣n ăn hạt cỏ, nay bă đậu chẳng ngon
lành hơn cỏ ư? Hiềm rằng phóng túng, kiêu
căng, xa xỉ, giống như đứa con nhà giàu phá của.
Hôn mê điên đảo, dường trẻ nít c̣n nằm
trong địu. Trước là cần phải phong kín cối
xay để răn đe, sau ắt đập nồi
để cấm vĩnh viễn.
* Dạy các vị trực viện
(ba điều)
1) Hội Thủy
Lục đầu đuôi nối tiếp nhau, kinh sám tiếp
tục chẳng ngừng. Xin thứ tự để tụng
kinh, gấp rút như tuyển chọn quan viên. Thỉnh
tăng làm pháp sự vội vàng như báo hỷ. Vị
sư coi kho suốt đêm tính toán, bất quá là sai phái, ứng
phó tiền tài, gồng
gánh, chuyển
vận, suốt ngày bươn bả, không ǵ chẳng
phải là mua bán hàng hóa, vật dụng cho đạo tràng!
Vị tăng trực ban chỉ nói hàng rào hư, nhà dột.
Kẻ thỉnh cầu được trụ lại chẳng
v́ niệm Phật, tham Thiền. Huống hồ ngoài chẳng
có đương gia, trong chẳng có thủ tọa; đại
chúng phần nhiều vướng mắc danh lợi, ai thật
sự v́ tử sanh? Cơm áo dư dật quá mức, chi phí
mười phần tốn kém, dựng tùng lâm như thế,
chẳng biết có phước hay là có nghiệp? Ta trụ
tại trùng lâm được hay chẳng trụ được?
Sau khi công khóa kết thúc, vị duyệt chúng nên tuyên đọc
bài viết này một lượt trong Phật đường.
Vị đương gia nhận lấy, cùng với các vị
quản sự và bậc lăo thành hiểu lư mau chóng
thương nghị để báo lại.
2) Kẻ bỏ giảng, quay về
Thiền, đổi chùa giảng thành chùa Thiền, tiếng
thơm lưu truyền xưa nay. Biến Thiền thành giảng,
chẳng phải là điều nên làm trong cơi đời
hưng thịnh. Nay đối với chuyện bàn luận
thuần nhất là tu Thiền hay giảng kinh, tạm
ngưng bàn có được hay không?
3) [Do trong núi không có Đương
Gia, chọn
ra] sáu người [luân phiên] thay mặt vị
đương gia. Đă gọi là “Đương
Gia” th́ từ
người già trăm tuổi cho đến sa-di trẻ
nít đều phải quản đến. Từ vật quư
trọng như tiền bạc, vải vóc, cho đến
cây kim, cọng cỏ, đều phải quản. Từ
trong điện đường cho đến ngoài điện
đường, cho tới các chỗ Thượng
Phương,
Trường
Thọ,
đều phải quán xuyến. Từ kẻ phá giới,
phạm pháp, cho đến
những lỗi lầm nhỏ nhặt đều phải
quản. Từ đại chúng trong bổn sơn (tùng lâm)
cho đến khách tăng tạm trụ và [các chấp sự]
ngoại trụ đều phải quản. Hơn nữa,
nay tuy gọi là Đương Gia, cũng chẳng phiền
quư vị phải tốn sức lo liệu gạo, củi,
lại chẳng phiền các vị bỏ tiền, nộp
lương thực, nộp thuế, lại chẳng
phiền các vị làm lương trưởng, lư trưởng,
lại chẳng phiền quư vị theo ban mà cầu mưa,
cầu tạnh, chỉ cần chuyên dụng tâm quản lư
sự vụ giúp đại chúng tu hành mà thôi! Nếu chẳng
chịu dụng tâm, hồ đồ qua ngày, chẳng suy
lường trong bốn mươi lăm ngày, chỉ có mười
lăm ngày là siêng nhọc thôi! Nếu vẫn chẳng dụng
tâm, thật sợ rằng long thiên sẽ trách tội, thần
già-lam nổi sân, đời này tổn lộc, giảm thọ,
mạng chung đọa vào đường ác! Há chẳng gắng
sức ư?
* Mười điều
đáng than
Già bệnh
mang tội, tự lầm, lầm người khác, tăng
Châu Hoằng dập đầu, bạch rằng: Do Hoằng
tuổi già, bệnh tật lâu ngày, sức ít, chuyện nhiều,
[thọ mạng như] lửa nháng từ đá xẹt, như
ngọn đèn trước gió, mạng chỉ c̣n trong
hơi thở. Trước đây đă tính ở am Trường
Thọ dưỡng bệnh mấy tháng, được ba
người bạn là Ngộ Trai, Phạm Bang và Thường
Tỉnh đón trở về, chẳng được
như nguyện. Đó là một điều đáng than.
Ba người bạn phát tâm
[trông nom sự vụ trong núi], chẳng lâu sau rời đi,
chẳng hoàn thành chuyện đă mong mỏi. Chúc Không kế
tiếp, cũng chẳng giữ trọn đến cuối.
Nay th́ sáu người thay phiên, chia thành ba ban, mỗi ban nửa
tháng, cũng chẳng phải là phương tiện lâu dài.
Am nhỏ, miếu nhỏ th́ Đương Gia mỗi
chuyện đều lo liệu tṛn cả năm, giao phó hoàn
chỉnh. Chỉ riêng có bổn sơn là [sáu người lần
lượt thay nhau làm Đương Gia] như
vậy. Đó là hai điều đáng than.
Một người hư vọng
làm chủ tể, đào bới phá hoại phong thủy của
Long sơn, một năm mà chết mười bảy
người, đại chúng dường như chẳng thấy,
chẳng nghe. Một người hư vọng làm chủ tể,
tại hậu sơn tạo dựng tường đá, cắt
đứt mạch núi dồn đến, chỉ uổng
phí tiền tài, lương thực, đâm ra khiến cho hổ, báo ẩn
núp, chiêu vời trộm cướp, [thế mà] đại
chúng chẳng thấy, chẳng nghe. Đó là ba điều
đáng than.
Tuy cứ mỗi nửa tháng,
tuyên đọc mười điều quy ước của
tăng chúng, mười chuyện tu thân, cho đến các
bài minh v.v… ở nhà bếp, nhà kho, cũng thành chuyện
cũ ứng phó qua quưt. Đó là bốn điều đáng
than.
Nhận lời phó thác niệm
Phật mà chẳng dốc ḷng thành, nhận lời ủy
thác bái kinh lễ sám cũng chẳng dốc ḷng thành. Đó
là năm điều đáng than.
Đức Phật chế
định chẳng nên nhận lấy vàng, bạc,
nhưng Tăng chẳng thể làm theo, đành dùng cách bố
thí để giảm bớt tội. Vậy mà chỉ làm
chuyện kinh sám, lại chẳng phải là hành bố thí,
đâm ra giống như kinh doanh! Đó là sáu điều
đáng than.
Hễ xuất gia, trước
tiên phải xét xem người ấy vốn trụ ở
chỗ nào, để mai sau tới khi [đạo tràng] giải
tán, khiến cho người ấy có chỗ quay về. Nay
thâu nạp tràn lan, không suy xét. Đó là bảy điều
đáng than.
Cả chùa bất luận già
trẻ, đều phải chẳng trái nghịch thập
giới luật nghi. Nay kẻ đă thọ Bồ Tát giới
mà hành vi c̣n chẳng bằng sa-di. Đó là tám điều
đáng than.
Đă nhiều lượt
căn dặn, nhưng chẳng tin theo, chẳng phải chỉ
một chuyện, nêu đại lược mấy chuyện:
- Căn dặn
người quản sự phải nên ḥa hợp, chẳng
trái nghịch, tranh chấp.
- Căn dặn người
trông coi vấn đề cư trụ và vườn tược, đừng
[phân chia công việc khiến đại chúng] nhàn nhă hay mệt
mỏi chẳng đồng đều.
- Căn dặn người gánh củi, gánh gạo v.v… ắt phải do thượng tọa lănh
chúng ghi chép.
- Căn dặn người có
bệnh, phải theo đúng cách thức treo màn.
- Căn dặn
người đă thọ Thập Giới, Cụ Túc Giới,
Đại Giới, ai nấy phải hành chuyện thuộc
giới của ḿnh, chớ nên hữu danh vô thật!
- Căn dặn
người phụ trách chỗ phóng sanh, phải theo
đúng thời răn nhắc.
- Căn dặn người
trông coi lăo đường, ắt phải kiểm tra
người chưa đủ tám mươi tuổi có theo
đại chúng dự khóa tối hay không?
- Căn dặn mỗi sáng cần
phải kiểm tra xem người trực đêm siêng,
lười, đúng cách thức thu vén b́nh an hay không?
- Căn dặn chẳng
được trả giá cao để mua hương giả
về đốt [khiến khói hương] xông hư kim
tượng.
- Căn dặn đăy lọc
nước dùng xong th́ phải đúng cách thức tẩy gột
sạch sẽ.
- Căn dặn kẻ tuổi
trẻ, học cạn chẳng nên giảng kinh. Phải nên
tra xét!
- Căn dặn vị tăng
trực ban, phàm những ǵ nói năng đúng lư, đều
phải nên tận lực hành.
- Căn dặn vào tiết
Xuân, Hạ, Thu, đ́nh chỉ kinh sám đạo tràng. Vạn
bất đắc dĩ th́ thỉnh tăng chúng ngoại trụ
(người không thường trụ trong núi) cử hành
[pháp sự] tại kinh bản đường. Nhưng nay
th́ cử hành ngay trong núi, mà tăng nhân thuộc bổn
sơn ngược lại phần nhiều trụ bên ngoài!
- Căn dặn nội lâu (lầu
trong nội viện) phải khóa chặt chẽ, vạn bất
đắc dĩ mới tạm mở ra, nhưng nay thường
xuyên mở.
- Căn dặn tống tiễn,
thiêu hóa vị tăng đă mất, cổ xướng
tăng vật, mỗi chuyện đều phải dấy
ḷng thương xót lớn lao, sanh ḷng cảnh ngộ to lớn.
Nay th́ [tăng chúng] hời hợt tống tiễn, thiêu hóa,
vui sướng cổ xướng, quen thói coi đó là chuyện
thường, hoàn toàn chẳng động tâm. Đó là chín điều
đáng than.
- Lại nữa,
nay mạng tôi như ngọn đèn trước gió, buổi
sáng khó giữ được đến tối, chẳng
ai tin tôi, chẳng ai thương xót tôi, sao trụ nơi
đây cho được! Đó là mười điều
đáng than.
* Ba điều đáng tiếc
Một là
nơi thâm sơn cùng cốc thanh tịnh u nhàn, đă không có
nam nữ huyên náo trong thôn xóm, cũng chẳng có khách khứa
đến viếng thăm, du ngoạn, núi non lô nhô, mùa
Đông có thể tránh gió lạnh, rừng cây rậm ŕ rợp
bóng, Hạ tiêu nóng bức. Nếu bỏ lỡ lúc này chẳng
tu hành; đó là một điều đáng tiếc.
Hai là củi,
nước thuận tiện, cơm áo sẵn sàng, giường
màn chỉnh tề, thuốc men trọn đủ, tắm gội
sắp đặt chỉnh tề, đèn đuốc sáng ngời.
Nếu bỏ lỡ lúc này chẳng tu hành, đó là hai điều
đáng tiếc
Ba là Châu Hoằng
tuy hành sự theo đại chúng, chỉ là một gă
tăng nhân tầm thường, đă chẳng thể kiến
tánh minh tâm, lại chẳng thể tích lũy công đức,
chỉ an phận giữ ḿnh, hành xử cẩn thận.
Trong thời Mạt Pháp này, cũng có thể làm một cây cột
nhỏ dưới mái thềm trong căn nhà che chở trọn
khắp chúng sanh của Phật, Tổ, cũng có thể
giúp làm một ḥn đá kê nơi cầu bến phổ độ
chúng sanh của Phật, Tổ, cũng có thể làm một
vị thuốc trong rương thuốc trị khắp
chúng sanh của Phật, Tổ. Than ôi! Hiến cái ṿ bằng
sành nơi vườn Kim Cốc[26],
khiến kẻ bàng quan bật cười. Dâng cơm bằng
lúa mạch bên sông Hô Đà[27],
há chẳng có lợi ích nhỏ nhặt ǵ ư? Nếu bỏ
lỡ lúc này chẳng tu hành, đó là ba điều đáng
tiếc!
Tuy vậy,
hễ có nói năng, chẳng ai nghe theo, đều do chính
ḿnh đức bạc, phước nhẹ vậy; chỉ
nên tự trách ḿnh, chẳng dám trách người. Nếu trời
cho sống thêm mấy năm, kiếp sống thừa
chưa hết, vẫn nên gượng bệnh ḥng báo ân Phật
để đền tạ đại chúng.
Ngày Hai Mươi Tám tháng Sáu
năm Vạn Lịch 43 (1615).
Đọc Mười Điều
Đáng Than và Ba Điều
Đáng Tiếc của Vân Thê lăo nhân, từng giọt đều
là tâm huyết, mỗi chữ là một giọt lệ, buồn
tiếc khôn cầm! Đau xót thay! Người đời
si dại, không ǵ bằng cha mẹ thương con, dẫu
chết vẫn không nhắm mắt. Vị lăo nhân này quả
thật có tâm thương xót, thiết tha đến mức
như thế. Than ôi! Người đời si dại v́
con cái, tấm
ḷng Bồ Tát si dại v́ chúng sanh, thấy chúng
sanh như con một. Dù con hay cháu, đều đích
thân được Ngài giáo hóa đến mức này, thấy
lăo nhân nhọc ḷng chiếu cố như thế, ba bốn lượt
căn dặn, dẫu sắt đá cũng phải tuôn lệ.
Nếu coi là tầm thường, đấy chính là kẻ
hết sức phụ bạc ân đức, trọn chẳng
hổ thẹn, diệt tuyệt lương tâm, chẳng phải
là người, há gọi là đệ tử Phật
được ư? Nếu có thể luôn niệm tụng
những lời Ngài dạy, sẽ chính là Pháp Thân của lăo
nhân thường trụ.
Ngày Mười Sáu tháng Hai
năm Đinh Tỵ (1617) thời Vạn Lịch, Hám
Sơn Đức Thanh ḥa-nam ghi.
15.7. Phần bổ di[28]
* Lời tựa cho bộ Tịnh
Độ Tư Lương Toàn Tập
Trang cư
sĩ tụ tập kinh luận Tịnh Độ xưa
nay, chọn lấy những lời trọng yếu, biên soạn
theo từng loại, đôi khi ghi thêm ư ḿnh. Sách hoàn thành,
đích thân t́m tới cửa, bảo tôi rằng: “Đây là
Tịnh Độ Tư Lương Toàn Tập”. Có người
nói nh́n vào trước thuật và sách vở Tịnh Độ
đầy ắp tráp, chứa đầy phè đăy, sao c̣n
biên soạn sách này?
Tôi nói: - Chẳng phải vậy!
Nay người nào hễ đi xa ngoài vạn dặm,
chưa nghe kẻ đó chán ghét tư lương nhiều!
Do vậy, đường xa gặp phải khó khăn, thiếu
thốn, một đồng tiền [quư như] một
đấu vàng, hạt gạo như cả kho thóc. Huống
hồ đứa con nghèo túng trăm ngàn kiếp chưa trở
về, vượt mười vạn ức vẫn khó tới
được cơi báu, há hiềm công đức pháp tài vừa
ân cần vừa phong phú, há ngại phiền rộn mở
bản đồ t́m kiếm đường lối ư?
Nơi làng ấp xa xôi, đ́u hiu, giảng một kinh, một
luận khó khăn khôn ngằn; nếu tác phẩm này
được lưu truyền rộng khắp, ai nấy
được đọc, sẽ biết đại lược
đầu mối trọng yếu của giáo pháp trong suốt
một đời đức Phật. Tuy vậy, chẳng
cầm theo một đồng, chẳng mang theo một hạt
gạo, trong khoảng một niệm, sanh về cơi Cực
Lạc, há cơi đời chẳng có người như thế
ư? Đối trước người như thế mà
nói tác phẩm như thế này, đúng là lời lẽ thừa
thăi. Nếu chẳng hoàn toàn đúng như thế, tác phẩm
này lưu hành cùng các sách Tịnh Độ, nào có biết chẳng
phải là không giúp thêm lợi ích ư?
* Viết sau bộ Kinh Sử
Hải Thiên Trực Âm
Hiển khảo[29]
là Minh Trai phủ quân, sanh ngày Mười Bốn tháng Bảy
năm Tân Hợi (1491) đời Hoằng Trị, mất
vào ngày Hai Mươi Mốt tháng Sáu năm Tân Dậu (1561) thời
Gia Tĩnh. Sách này do cụ đem từ kinh đô về, tới
nay đă bảy mươi năm rồi! Ân như trời
cao chưa báo, ân trạch răn dạy vẫn c̣n đó. Do
vậy, tôi bèn sửa sang những chỗ hư nát trong sách ấy,
đưa vào trong kho sách thường trụ của Vân Thê
nhằm tạo thuận tiện cho kẻ sơ học.
Nguyện tiên linh nhập bốn mươi hai loại vô
tướng trí môn, giống hệt như Thiện Tri Chúng
Nghệ đồng tử[30],
chứng diệu chỉ chẳng bàn tới trong suốt bốn
mươi chín năm, đích thân thấy Tỳ Lô Xá Na
Như Lai, sớm ĺa bảy nẻo trong Sa Bà, cao thăng
chín phẩm sen cơi An Dưỡng, báo trọn khắp bốn
ân, tam hữu đều giúp trọn. Chúng sanh trong pháp giới
cùng viên thành Chủng Trí.
Ngày Vu Lan
Bồn tháng Bảy năm Kỷ Hợi (1599) tức năm
Vạn Lịch 27, tỳ-kheo hiếu nam Châu Hoằng kính
đề.
* Trả lời thư của
quan tư mă Uông Nam Minh tại Tân An
Sơn dă nhớ
khi xưa nghe kinh Hoa Nghiêm tại Vô Môn Am, chỉ có cư
sĩ dùng đại danh xưng từ xa làm công đức
chủ của đại pháp diên. Khi đó, tôi biết
cư sĩ không chỉ là văn chương lẫy lừng
trong nước, mà c̣n là bậc ngoại hộ của truy
môn, chẳng quên lời Phật căn dặn, nương
bi nguyện mà hiện thân nơi đường cư
sĩ. Tôi thường tiếc nuối v́ chưa được
thấy oai nghi rạng ngời của cư sĩ, nhưng
tôi bẩm tánh cô quạnh, lại chẳng muốn vô cớ
t́m đến cửa công khanh, nay được cư
sĩ rủ ḷng chuốc vời, dám đem nỗi niềm
vướng mắc trong tâm thưa tŕnh sau trước. Bởi
lẽ, sơn dă trộm than thời gần đây dù
tăng hay tục, kẻ dùng lời
lẽ để luận đạo, chẳng phải là
không có người, nhưng người chăm chú đích
thân chứng ngộ quả thật ít ỏi lắm!
Một mạch Thiền Tông
như tơ mành sắp đứt, như ngọn đèn sắp
tắt trước gió, nếu chẳng phải là bậc
đại nhân trác tuyệt, sao có thể chấn hưng
khuôn mẫu của cổ nhân và di phong của tiên hiền
trong lúc mặt trời đă lặn? Sơn dă riêng suy
nghĩ mà ḷng đau đớn, nhưng [chính ḿnh] giải lẫn
hạnh đều nông cạn, mịt mờ, chẳng thể
phảng phất được một phần vạn các
vị tôn túc thời Tống, Nguyên. Chỉ có cư sĩ
nào kém các vị quân tử như Trương Tử Thiều,
Dương Đại Niên, Triệu Mạnh Phủ! Nay tuy
chẳng có duyên hội ngộ như rêu bám cội tùng,
nhưng nếu ông có lời dạy bảo, mong hăy dùng
thư từ để dốc cạn những điều
muốn nói, ngơ hầu tuy xa ngàn dặm mà như đối
diện chuyện tṛ. Nếu có thể chấn hưng mạt
vận của Thiền Tông ḥng cùng báo Phật ân, công chẳng
luống uổng vậy!
* Nói về chuyện chế ngự
ma
Tại làng
Thái Hư, có người khách hiệu là Vô Cơ giong thuyền
vào biển, toan phỏng theo h́nh tích của Bồ Tát, cầu
Như Ư châu vương để thực hiện sự bố
thí to lớn. Nương theo gió thuận mà giong thuyền,
đậu lại một ḥn đảo nhỏ. Có một
cô gái trẻ nghênh tiếp, dùng tư thái yểu điệu,
âm thanh mềm mại, khép chặt vạt áo, mà thưa rằng:
“Khách nhân từ đâu đến? Thiếp chờ Ngài
đă lâu rồi”. Khách nghĩ “ở nơi hoang vắng, hiếm
bóng người, [cô gái ấy] ắt là yêu quái”, toan chế
ngự cô ta. Cô gái thê lương nói: “Thiếp đă sớm
mồ côi, gặp người thích hợp mới xuất
giá. Nghe nói ông hành Bồ Tát đạo, trộm đem ḷng
riêng ngưỡng mộ. Nay gặp gỡ là do ư trời,
mong được làm kẻ hầu quét dọn cho ông th́ chết
cũng chẳng hận”. Nói xong, buồn bă, cảm
thương tuôn lệ. Khách vốn là bậc trưởng
giả, tin tưởng chẳng nghi, lại xót
thương cô ta khốn khổ; do vậy, bèn chở đi
cùng. Cô gái suốt ngày lo bếp núc, đêm chăm chỉ may
vá, nhọc nhằn vất vả, chưa từng chán mệt.
Khách hết sức mừng, vượt ngoài ḷng mong mỏi,
tự cho là có được vợ hiền.
Một đêm, cô ta ngủ say,
ngáy to. Khách liếc nh́n, thấy cô ta tóc đỏ chót, mặt
xanh lè, da toàn vảy, răng tua tủa ch́a ra ngoài. Khách hết
sức kinh hăi, kêu ầm lên, khiến cô ta tỉnh giấc.
Cô ta biết sự t́nh bại lộ, chẳng giấu diếm
được, phẫn nộ nói: “Ta là la-sát, sức có thể
lật úp thuyền của ngươi, có thể nuốt
máu thịt của ngươi, há ngươi chẳng sợ
ư?” Khách thong thả đáp: “Túi da gây lụy cho ta đă
lâu. Nếu ngươi đói ḷng, sẽ thí cho ngươi
được no nê một bữa! H́nh hài do Tứ Đại
giả hợp. Sống chết là duyên hư huyễn của
một kỳ báo thân. Ngươi uống máu ta, ăn thịt
ta, ta chẳng sao cả, có ǵ đáng sợ!” Bèn ngồi yên
như cũ. La Sát dùng hết mọi phương cách, thủ
đoạn [chẳng làm được ǵ], bèn nhảy xuống
nước biển bỏ đi, ngồi trên vách đá c̣n
nghiến răng chửi bới người khách. Khách
dường như chẳng nghe, phơi phới giong buồm
đến chỗ có của báu, t́m được châu mà trở
về. Như người khách vốn dùng tâm chí thành vào biển,
đối đăi với La Sát, từ đầu tới cuối
dùng cái tâm chí thành, tĩnh lặng, chẳng có mưu mẹo,
rốt cuộc chẳng bị ma gây khốn đốn. Do
vậy, không có mưu mẹo sẽ giống như thái
hư, thái hư th́ ma chẳng thể quấy nhiễu
được! Thậm chí nước chẳng thể nhấn
ch́m, lửa chẳng thể thiêu đốt được,
gió chẳng thể nghiền nát, hết thảy đều
chẳng thể hoại! Đức Phật nói: “Ta có tâm
nào chế ngự voi?” Xin thưa cùng những người
chế ngự ma vậy!
* Phóng sanh đồ thuyết
Kết xă
để phóng sanh đúng là chuyện tốt đẹp,
nhưng hoặc v́ có người bận rộn khó thể
có kỳ hạn nhất định. Có người thiếu
khuyết tiền bạc, khó theo đại chúng thực hiện.
Có kẻ tham lợi, ngược ngạo bắt sẵn hoặc
bắt nhiều để đem bán [cho người phóng sanh]. Nay tôi lập
ra một cách giản dị để tiến hành đồng
thời với cách thức ban đầu, chẳng bó buộc
thời gian, hễ thấy liền mua đem phóng sanh. Vào
tháng nào đó, gởi thư cho biết ngày nào sẽ phóng
sanh bao nhiêu con vật. Con vật lớn th́ đếm từng
con, loài vật nhỏ tính theo số cân nặng. Cuối
năm kết toán, giữ lại để tự kiểm
tra. Do vậy, làm bài tụng rằng:
“Người coi trọng mạng
sống, vật cũng yêu mến mạng. Phóng sanh hợp
ḷng trời, phóng sanh thuận Phật lệnh. Phóng sanh giải
oan kết; phóng sanh tội cấu sạch. Phóng sanh khỏi
tam tai. Phóng sanh ĺa cửu hoạnh. Phóng sanh thọ mạng dài.
Phóng sanh quan lộc thịnh. Phóng sanh con cháu vượng.
Phóng sanh nhà cửa hên. Phóng sanh chẳng ưu năo. Phóng sanh ít
tật bệnh. Phóng sanh: Quán Âm từ. Phóng sanh: Phổ Hiền
hạnh. Phóng sanh ngộ Vô Sanh. Phóng sanh: Sanh tử xong. Quả
báo sáng tợ gương”.
(“Con vật
lớn” như quạ, sẻ, rùa, ba, ba và các loài cá lớn. “Sanh
vật nhỏ” như tôm, ốc, ếch, ṣ và các loài cá nhỏ.
Tích lũy công đức, hăy nên biết quả báo chẳng
thể nghĩ bàn).
Tháng Giêng,
tháng Hai, tháng Ba, tháng Tư, tháng Năm, tháng Sáu, tháng Bảy,
tháng Tám, tháng Chín, tháng Mười, tháng Mười Một,
tháng Mười Hai, tháng Nhuận [dưới mỗi tháng
ghi phóng sanh được bao nhiêu sanh mạng]. Cả
năm tổng cộng phóng sanh (con vật lớn bao nhiêu,
loài vật nhỏ bao nhiêu).
* Lời chỉ dạy trọng
yếu về việc duyệt Đại Tạng
Đại
Tạng Kinh bất quá nói về Giới, Định, Huệ
mà thôi! Nhưng người duyệt tạng có hai lỗi lầm:
Một là chấp văn tự, mê nơi nghĩa lư. Hai là biết
nghĩa lư, nhưng chẳng hiểu tâm, phí uổng thời
gian, chỉ thành gieo duyên. Nếu có thể thấu đạt
Giới, Định, Huệ huân tu là một, kinh giáo trong
Đại Tạng sẽ được gọi là “niệm
niệm thường trụ”, tức là niệm trăm
ngàn vạn ức quyển kinh! Cũng lại biết Giới,
Định, Huệ ấy chính là pháp môn Niệm Phật, v́
sao? Giới có nghĩa là “ngăn ngừa sai trái”. Nếu
có thể nhất tâm niệm Phật, các ác chẳng dám nhập;
đó tức là Giới. Định có nghĩa là “trừ
tán loạn”. Nếu
nhất tâm niệm Phật, tâm chẳng duyên chi khác, tức
là Định! Huệ có nghĩa là “chiếu tỏ”. Quán âm
thanh niệm Phật từng chữ rơ ràng, cũng quán
năng niệm và sở niệm đều chẳng thể
được; đó chính là Huệ. Niệm Phật
như thế chính là Giới, Định, Huệ, cần
ǵ phải dơi theo văn, ḍ theo chữ duyệt Đại Tạng
Kinh nữa? Quang âm vùn vụt, mạng chẳng bền lâu!
Nguyện mọi người coi Tịnh nghiệp là nhiệm
vụ cấp bách, rất mong đừng coi lời tôi là
sai bét, chẳng thèm nghe!
* Dạy đại chúng
1) Các vị
vào núi sâu này vốn nhằm liễu sanh tử đại sự,
cớ sao quên bẵng cái tâm ban đầu, dần dần trở thành Thế
Đế? Từ nay về sau, hăy nên thống thiết sửa
đổi, chuyên lấy chuyện tu đạo làm nhiệm
vụ trọng yếu bậc nhất.
2) Khi đại chúng mới
phát tâm xuất gia, khi mới vào núi cầu trụ lại,
há chẳng có một điểm hảo tâm ư? Nhưng
tới nay lâu ngày, đều quên mất cái gốc! Bất
quá hằng ngày nhao nhác ăn uống, y phục, kinh sám, hoàn
toàn quên mất đại sự sanh tử. Nếu tôi chẳng
nói, tội quy vào tôi; tôi nói mà [mọi người] chẳng
nghe, chẳng phải lỗi của tôi vậy!
* Đáp lời vấn nạn
Chắc có
người hỏi: “Ông nói nhiều quá, háo danh đó
chăng?” Thưa: - Mạnh Tử có nói “ngă phi háo biện,
bất đắc dĩ dă” (ta chẳng phải là thích biện
luận, bất đắc dĩ đó thôi!) Tôi
riêng thích lắm mồm ư? Đoái trông chánh pháp suy sụp,
hoang phế, Tăng sĩ quen thói bạc bẽo, nghĩ
đến xót dạ, bàn đến tuôn lệ, [nhưng
chính ḿnh] đức mỏng, hạnh kém, chẳng thể
dùng thân ḿnh
để xướng suất, chỉ nói
suông ḥng cứu văn. Cũng biết là vô ích, nhưng tự
ḿnh chẳng thể ngưng! Huống hồ người hiểu
tôi và trách tội tôi thật sự cùng tồn tại,
người hiểu th́ thành danh, người trách tội
th́ thành báng. Ông cho là tôi háo danh, tôi cũng chẳng tránh né lời
phỉ báng. Than ôi!
* Thiếp
tạ tuyệt khách do già bệnh
1) Suy yếu, bệnh tật
ngày càng sâu, dần dần thành tê bại. Tuổi già suy sụp,
hữu hạn, những chuyện khẩn yếu lại vô
tận. Khẩn khoản nhờ tờ thiếp này để
trần t́nh, muôn phần mong từ bi rộng dung.
- Một,
tôn khách rủ ḷng đến thăm, chẳng thể bồi
tiếp trọn hết lễ được!
- Hai, định
kỳ hạn lập hội v.v… mời mọc tham dự,
tôi đều chẳng thể đến.
- Ba, hết thảy văn từ
như viết lời tựa, đề lời bạt,
thơ, kệ tụng, đều chẳng thể làm.
- Bốn, hết thảy chuyện
giao phó đều chẳng thể xử trí.
- Năm, các thư từ ban tặng,
có thể do thời gian chẳng thuận tiện, không thể
phúc đáp.
- Sáu, do thân thể bệnh tật,
mọi chuyện đều chẳng thể xử lư, mong sẽ
chỉ dạy khiến cho tôi được sám hối, cảm
tạ.
Mồng Một cuối Xuân
Đinh Đậu (1597) đời Vạn Lịch, Châu Hoằng
kính cẩn đề.
2) Gần
đây do già cả, bệnh tật liên tiếp, suy sụp,
hủ bại nhanh chóng, đầu váng, chân tê, mắt quáng,
tai điếc. Lại thêm chẳng có sức nói năng, suốt
ngày nằm bẹp. Nếu có xe cộ của bậc đại
nhân, tiên sinh t́m đến, hoặc được tri thức,
đạo hữu chống tích trượng đến
thăm, đă chẳng thể đưa, đón tận lễ,
lại chẳng thể ứng đối thích nghi, bất
đắc dĩ phải đóng cửa để trộm
t́m an nhàn. Tôi tột bậc biết ḿnh cuồng vọng,
trái nghịch, lười nhác, ngạo mạn, tội kể
sao cho xiết? Chỉ mong từ bi thương xót, khoan
dung, tha thứ. Châu Hoằng khôn ngằn run sợ, cảm
kích tột bậc.
Bệnh tăng đóng cửa
Châu Hoằng ḥa nam.
3) Châu Hoằng
già nua, bại xụi, nằm bệnh tại nhà nát, chân chẳng
thể đi, tai chẳng thể nghe, miệng chẳng thể
nói, trăm sự đều phế bỏ, chỉ đợi
hết tuổi thọ mà thôi. Nếu được bậc
đại nhân, tiên đạt quang lâm, chẳng thể tiếp
kiến. Muôn phần mong tha tội. Lại c̣n đại
đức các phương, đạo hữu, thân thuộc
đến đây, ni, tăng, người trong họ, đều
chẳng thể tiếp kiến. Thậm chí được
tặng quà, đều chẳng dám nhận. Thống thiết
mong lượng thứ, tôi cảm kích vô tận. Châu Hoằng
già bệnh kính cẩn bạch.
(Hễ
có người muốn thăm viếng, vị tri khách
tăng liền dùng tờ thiếp này dâng lên bẩm báo,
tránh t́nh trạng [khách đă tới] tận cửa mà chẳng
gặp, mắc tội ngạo mạn).
* Tờ thiếp đáp lời
hết thảy thư từ hỏi han
Già, bệnh
khốn đốn nặng nề, chẳng thể viết
lách cặn kẽ, mong mỏi từ bi dung thứ, tôi hết
sức cảm kích.
Châu Hoằng kính bạch.
* Thiếp từ tạ các thứ
mừng lễ khi tám mươi tuổi
Hoàng đế
Đường Văn Tông là chủ của muôn dân, chẳng
ăn mừng sanh nhật, huống hồ người xuất
gia làm Tăng ư? Đă gọi là tăng, lẽ ra phải
khác tục, thế mà sanh nhật vẫn tổ chức
ăn mừng. Nay tôi đề nghị dẫu lần khân
mười năm[31]
cũng đừng ăn mừng th́ mới được.
Nay Châu Hoằng già, bệnh, lênh đênh, sáng khó giữ
được tối, tuy biết Kính Sơn chẳng chấp
thuận trai kỳ cho ngày hôm sau, nếu vạn nhất kéo
dài được, chuyện cũng cần phải bẩm
báo sẵn. Lại mong soi xét tôi ngu tối mà xót
thương, rủ ḷng chiều theo lời tôi bẩm bạch:
Mảnh hương, nén hương, chút miến, miếng
bánh, cho đến một chiếc giày, một tấm
khăn, lễ mọn chừng một xu, một đồng,
thảy đều ngưng dứt. Ngưỡng mong tột cùng
thương xót, muôn phần cảm tạ! Nếu
chẳng dung thứ, những lễ vật được
ban tặng quyết chẳng dám nhận, nhất định
chẳng dám nhận!
Vị tăng già bệnh Châu
Hoằng ḥa-nam.
(Lại có người chẳng
tặng lễ vật mà ngầm làm đạo tràng kinh sám
th́ càng chẳng nên. Châu Hoằng dập đầu trăm lạy,
muôn phần khẩn khoản hăy thôi đi. Lại xin thấu
hiểu, dung thứ, hết sức mong mỏi).
* Lưu Quảng Bàn thỉnh
viết kệ thay cho ông ta chúc tụng trinh mẫu
Chỉ nguyện
nương Tam Bảo lực, xót thương gia bị mẹ
thượng thọ. Thân con hầu măi bên màn mẹ, mẹ
con nương tựa tu Tịnh nghiệp. Ngày xả thân
cùng nguyện văng sanh!
* Trả lời thư Quảng
Kiểu
1) Ông Tôn tới đây, thư và
lễ vật đều nhận được, cảm tạ.
Cái gọi là “tâm chuyển theo cảnh” chính là do tập
khí quá khứ từ vô thỉ khiến thành ra như vậy,
chẳng phải là trong một thời gian ngắn mà có thể
giải quyết được! Nay đừng quản vọng
có dấy lên hay không, chỉ một mực khán thoại
đầu, nhắc nhở chính ḿnh không ngừng, lâu ngày [vọng niệm] sẽ tự
diệt, chẳng thể gấp đạt được.
Lệnh lang pháp danh là Đại Thăng, khuyên cậu ta tŕ
giới “chẳng
giết chóc” ḥng tăng
thọ mạng lâu dài, và hăy khơi gợi [chỉ bảo cậu
ta] nhiều lượt.
2) (Quảng
Kiểu v́ mẹ đọa thai mà cầu sám hối)
Cổ nhân
nói: “Thà chín phẩm sen sanh bậc hạ, chẳng vào nhân
thế thọ thai bào”. Chán ghét bào thai, chỉ siêng niệm
Phật. Nhất tâm niệm Phật, liên hoa hóa sanh.
* Lời bạt cho bản khắc
đá kinh Kim Cang của Hạng Trưởng Công ở Gia
Ḥa
Cư
sĩ Trinh Huyền giỏi thư pháp, chẳng chép sách thế
gian, mà chép kinh Kim Cang Bát Nhă để khắc đá. Ông ta
nói: “Tôi chép kinh này, lấy trang nghiêm viên măn làm tông, xin thầy
ban một lời bạt”. Tôi già, bệnh, chẳng viết
lách đă lâu, bèn căn dặn người chuyển lời:
- Mong ông hăy v́ tôi bạch với
cư sĩ: Bát Nhă vô h́nh, Nhă là trang nghiêm. Bát Nhă chẳng ở
đâu, chỗ nào viên măn? Hiển hiện vô h́nh, tỏ lộ
sự
chẳng hiện diện, tức là chấm, vạch,
nét móc, nét hất trên đá. Chẳng ĺa chấm, vạch,
nét móc, nét hất mà đạt được tánh Không, đấy
là Bát Nhă chân thật. Mong hăy v́ tôi thưa với cư
sĩ.
* Luận học Đại Thừa
chẳng khinh Nhị Thừa
Không Cao Tử
hỏi Vân Thê rằng: “Có nên học Đại Thừa hay
không?” Đáp: “Đúng đấy!” “Chẳng nên học Nhị
Thừa ư?” Đáp: “Đúng vậy!” “Vậy th́ có thể
khinh Nhị Thừa hay không?” Đáp: “Chẳng thể!” Hỏi:
“Nghĩa là sao?” Đáp:
- Ở đây có hai nghĩa: Một
đằng là Đại Thừa không có tâm khinh người.
Một đằng là lư Nhị Thừa chẳng thể
khinh!
Hỏi: - Con
chưa thông đạt, nguyện nghe giải thích tường
tận.
Thưa: - Thường Bất
Khinh Bồ Tát chẳng phải được gọi là “kẻ đại
khinh” ư?
Nhưng Ngài lễ trọn
khắp tứ chúng. Nói “tứ chúng” tức
là phàm phu kém cỏi cũng đều được nêu ra, huống
hồ thánh nhân Nhị Thừa ư? Ngài nói: “Tôi chẳng
dám khinh quư ngài, quư ngài đều sẽ thành Phật”.
Đó là dụng tâm của Đại Thừa Bồ Tát. Chẳng
khinh những ḍng chảy nhỏ bé, cho nên biển xanh trở thành sâu thẳm.
Chẳng khinh đất thấp lè tè, cho nên Thái sơn, Hoa
sơn thành cao. Chẳng khinh kẻ b́nh phàm, cho nên thánh nhân
thành tựu đức hạnh. Khinh đời ngạo vật,
người hiền trong cơi đời c̣n chẳng làm, huống
hồ bậc được gọi là Bồ Tát ư?
Hơn nữa, Nhị Thừa
là người như thế nào? Các lậu đă tận, chẳng
c̣n phiền năo, [đă
đắc] Tam Minh, Lục Thông, mười tám thần biến.
Có thể coi thường được chăng? Những
kẻ khinh rẻ, chẳng biết đă tận
được bao nhiêu lậu, đoạn bao nhiêu phiền
năo, khai bao nhiêu minh, thấu triệt bao nhiêu Thông, đạt
được bao nhiêu thần biến? Dùng muỗi, nhặng
vũ nhục loan phượng, hiển nhiên là chẳng biết
tự lượng sức, há có thể nói “tiểu thánh chẳng
sánh bằng đại thánh, bọn ta là bậc Bồ Tát
ư?” Đại Thừa Bồ Tát phát tâm chẳng phải
mưu tính v́ một thân ḿnh, mà v́ pháp giới chúng sanh cầu đạo
vô thượng. Cho đến trải qua hằng
sa kiếp tu Lục Độ vạn hạnh, tâm chẳng
thoái thất, khiếp nhược, dùng vô lượng vô
biên công đức để tịnh hóa quốc độ
của Phật, giáo hóa chúng sanh, c̣n Thanh Văn và Duyên Giác
đều chẳng có chuyện ấy. Đó chính là sự
khác biệt khiến cho [Bồ Tát và Nhị Thừa] sai biệt
như ngày và kiếp, như trời với đất vậy.
Nay kẻ tự phụ là Bồ
Tát mà khinh Nhị Thừa, chẳng biết đă v́ bao nhiêu
chúng sanh mà phát tâm? Tu
bao nhiêu Độ (Ba La Mật)? Hành bao
nhiêu hạnh? Trải bao nhiêu kiếp? Trọn đủ bao
nhiêu công đức để [trang nghiêm] Tịnh Độ
lợi sanh? Ví như kẻ bốc vác, giă gạo trong chốn
làng quê, thân chẳng có ǵ để dựa dẫm, tự
xưng là công hầu, ngạo nghễ khinh miệt mệnh lệnh
của vị quan đứng
đầu quận ấp, chẳng đoái hoài, kẻ
đó chẳng bị nhục nhă, chẳng bị bại
vong, cũng
hiếm hoi lắm thay!
Hỏi: - Trong Giáo, ca ngợi Đại,
khen ngợi Viên, quở trách Thiên, bài xích Tiểu, cho tới
nói “chẳng
cùng học với hàng Thanh Văn, chẳng cùng họ chào hỏi” lại
là như thế nào?
Thưa: - Quá phận thay! Ông cố
chấp quá! Câu nệ ngôn từ, đánh mất ư nghĩa, gần
như cô phụ ư nghĩa trong kinh Phật. Những điều
nói trong kinh nhằm khuyến tấn hàng hậu học, muốn
ngăn trở đường ṃn Nhị Thừa, nhằm
khiến cho họ đều cùng dạo đường
Đại Thừa bằng phẳng, chẳng phải là nói
“Nhị Thừa đáng khinh”. Giống như nói “người
học Nho bèn học thẳng theo Khổng Tử, đừng
học theo Bá Di, Liễu Hạ Huệ”, chẳng phải là
nói “Bá Di, Liễu
Hạ Huệ đáng khinh’. Nếu không, quy y Tam Bảo
là giáo huấn rơ ràng của đức Phật, Nhị Thừa
chẳng được xếp vào Tam Bảo ư?
Điều đáng than nhất
là hiện thời, hễ thấy người ở ẩn
một ḿnh tu hành, bèn nói “đó là hàng Thanh Văn”; thấy
kẻ lo liệu sự vụ, quần tụ, bèn nói “đấy
là hạng Bồ Tát”. Ôi! Kẻ dính dáng cơi tục liền
được gọi là Bồ Tát, c̣n người tránh né ồn
náo bèn là Thanh Văn, chẳng phải là đối đăi
nông cạn với thánh hiền ư? Do vậy, nẩy sanh
đại ngă mạn, dấy đại tà giải, tự
cho ḿnh là đúng, khinh rẻ hết thảy. Gặp người
tŕ giới, bèn chê là chấp tướng. Gặp người
tinh tấn, bèn cười là nhọc thân. Gặp người
thật sự tu hành, bèn báng bổ là ngu si. Gặp người
tiết kiệm, bèn gièm chê là chất phác, thô lậu. Gặp
người thiền tịch, bèn hủy báng là khô khao. Gặp
người thận trọng, ít nói, bèn chê là vô tri, đến
nỗi tâm ngày càng cuồng vọng chẳng thâu liễm,
ngôn từ hoang đường chẳng kiểm điểm,
thân buông lung vượt ngoài quy củ, chuẩn mực, chẳng
hề kiêng dè. Hễ bị kẻ khác cật vấn, bèn
nói: “Ta là người học Đại Thừa, là người
hiểu Viên giáo, chẳng noi theo đường lối
thiên lệch, là người ngộ Đại Thừa, chẳng
câu nệ tiểu tiết”.
Than ôi! Trộm lấy hư
danh một thời, cam hứng chịu ương họa
chân thật muôn kiếp, đáng than thở khôn cùng! Như vậy
th́ kế sách hiện thời là như thế nào? Thưa: -
Người học Phật, hăy nên học theo Bồ Tát, chớ
nên có một niệm phát tâm Nhị Thừa, cũng chớ
nên có một niệm sanh tâm khinh thường Nhị Thừa!
* Một chương tạp vấn
Hỏi:
Vĩnh Gia Tập trích dẫn “kháp kháp dụng tâm thời,
kháp kháp vô tâm dụng” (vừa khéo khi dụng
tâm, vừa khéo tâm chẳng dụng). Có người
giải thích rằng: Lúc người học dụng tâm, lại
phải vô tâm. Thầy nói: “Chỗ này chẳng nói tới
công phu, mà là hiển thị tâm thể”. Con vẫn
chưa hiểu nghĩa, mong thầy luận định
tường tận.
Đáp: Phàm
xem kinh giáo, chớ nên xem phần chú thích trước.
Trước hết, hăy nên nghiền ngẫm mười
câu, hai mươi câu, cho đến một trăm câu trong chánh
văn, cốt sao đầu đuôi quán thông. Sau đấy
mới dùng chú thích để ḥa hợp, dung hội. Nay tôi thấy người
học đọc chánh văn xong, lập tức xem lời
chú giải, khiến cho lư chẳng thấu triệt viên măn,
đều do lỗi này. Đối với hai câu như ông
đă hỏi, nay tôi luận
định cặn kẽ. Người tu hành sở dĩ
chẳng thành tựu thánh đạo, tuôn nhập thiên kiến,
đều do chẳng nhận biết bản thể của
cái tâm. Chấp tâm là hữu, bèn rơi vào thường kiến.
Chấp tâm là vô, bèn rơi vào đoạn kiến. Ĺa hai nẻo
ấy, dẫu biết “hữu và vô cùng có”, nhưng
lại cho rằng “có rồi
lại không, không rồi lại có”. Đấy
cũng là chưa thấu đạt sự huyền diệu
của cái tâm, nào có biết khi hoàn toàn dụng tâm, hoàn toàn chẳng
có cái tâm để dùng.
“Kháp kháp” (恰恰) nói thông
tục là “vừa khéo”. Chẳng sai khác sau trước,
chẳng cách biệt tơ hào. “Kháp kháp” là nói “vừa
khéo”, vừa khéo ngay trong lúc dụng tâm, khéo sao chẳng có
tâm để có thể dùng. Bởi lẽ, ngay nơi niệm lự
sanh khởi, ông hăy thử quán ngược lại xem: Cái ǵ
là niệm lự? Ai là
người có niệm lự? Giống
như nói “đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt
tận” (ngay từ chỗ sanh ra, sẽ diệt mất
từ ngay chỗ ấy). Chẳng phải là dụng tâm
đă xong, trong chốc lát liền là vô tâm, mà là ngay khi dụng
tâm, ngay lúc đó là vô tâm, chẳng sai khác trước sau, chẳng
cách biệt tơ hào. Ngay nơi có mà không, bèn thấy
được chỗ mầu nhiệm của tâm. Nếu
là người có trí huệ, sẽ chẳng chấp chết
cứng câu nói, liền có thể đọc lại hai câu ấy
như sau: “Khéo sao lúc vô tâm, vừa khéo có tâm dụng”. Trong
lời lẽ của cổ nhân đă tự có ư nghĩa
này, nay chẳng nói là v́ lời văn tỉnh lược vậy.
V́ thế nói: “Vô tâm vừa khéo dùng, thường dùng vừa
khéo vô”. Do vậy, lại nói: “Nay nói chỗ vô tâm, chẳng
khác với hữu tâm”.
Chỉ có tâm thể vốn sẵn
là như thế. V́ thế, tiếp theo đó mới nói tới
công phu tỉnh tịch (惺寂, tỉnh
giác và tịch tĩnh), hai câu ấy chẳng thể phế.
Lệch sang “tịch tịch” (寂寂), tức là chẳng biết lư
“vừa
khéo dùng” của
vô tâm. Lệch về “tỉnh tỉnh” (惺惺, tỉnh giác),
tức là chẳng biết cái lư “thường dùng vừa
khéo Vô”. V́ thế,
bốn câu đầu tiên nêu thẳng thừng tâm thể, phần
văn từ ngay sau đó
chính là cơ sở của Chỉ Quán. Do vậy, có thể
thấy pháp Chỉ Quán hoàn toàn là cảnh tượng
nơi bổn địa, chẳng phải ở ngoài tâm thể
bèn lập riêng một pháp. Bất quá, dùng Chỉ Quán để
khôi phục bản thể Tịch Chiếu đó thôi! Hai chữ
“khéo sao” này dùng cực diệu, phân minh vạch ra tâm thể,
chẳng có bút lực ngàn cân, sẽ chẳng thể
đạt tới điều này. Nếu chẳng suy
nghĩ tinh tường, thầm khế hội, chỉ thuận
theo văn từ, dơi theo câu văn xem qua loa, ngàn năm sau cô
phụ nỗi khổ tâm của cổ nhân. Sau này, ông nghe
giáo cần phải cẩn thận. Tuy ở trong giảng
ṭa, đừng quên Thiền Quán, ḥng khiến cho tâm quang rạng
ngời bên trong, khi biện định, phân tích kinh văn, sẽ
càng tinh tường. Thánh giáo hun đúc bên ngoài, sẽ giúp
cho tinh thần lực càng kiên cố, học lẫn ngộ
cùng trọn, Định và Huệ thông nhau. Diệu môn để
nhập Lư chẳng vượt ra ngoài điều này!
* Bài tự trách của đại
sư
Kẻ chẳng
ra ǵ này nhớ thuở thiếu niên khi chưa xuất gia,
chẳng biết Tam Bảo, chẳng tin nhân quả, từ
thân khẩu ư tạo các ác nghiệp chẳng đợi bàn
nữa. Sau khi xuất gia, những điều to lớn
nơi thân nghiệp tuy cẩn trọng hộ tŕ, nhưng
những chỗ vi tế chắc chưa thể kiểm
điểm trọn, c̣n như khẩu nghiệp, chắc lại
càng quá đáng. Hoặc là do đàm luận tạp nham Thế
Đế, quên khuấy chánh niệm. Hoặc vô tri nói ṃ, trái
nghịch, lầm lẫn kinh Phật. Hoặc tâm phóng túng
bàn luận cùng cực xúc phạm, chống trái người
hiền đương thời; hoặc mặc sức quở
trách, khiến cho người
kém hơn, trẻ hơn bị phiền năo, tủi nhục.
Đủ loại tạo ác nơi miệng như thế,
kể sao cho xiết? C̣n như ư nghiệp, lại càng tệ
hơn nữa. Các ư niệm tham dục, sân hận, ghen ghét,
ngu si v.v… vừa diệt lại phát sanh, hoặc là giống
như không có,
nhưng thật ra là có, hoặc tùy tiện quên bẵng
cấm ngăn, hoặc tận lực chế ngự mà vọng niệm
càng mạnh mẽ. Đủ loại tạo ác nơi ư
như thế, kể sao cho xiết?
Do vậy, tự biết: Nay
ḿnh đang là phàm phu đủ mọi phiền năo trói buộc,
cách biệt đạo
xa vời vợi! Trên là dùng ǵ để tiếp nối huệ
mạng của Phật? Dưới là lấy ǵ để
khơi gợi cho hàng hậu học nơi bến mê? Gần
là dùng ǵ để báo đáp ân vơng cực như trời
cao? Xa là dùng ǵ để khô cạn biển khổ của
quần sanh? Do vậy, suốt ngày suốt đêm, hổ thẹn,
lo âu, hoảng sợ; đi, đứng, ngồi, nằm
như trong gai góc. Há lại dám tiêu suông tín thí, điềm
nhiên để luống qua ư? Nguyện đại chúng
thương cho ḷng chân thành của tôi, giúp cho chỗ thiếu
sót của tôi, khuyên răn, uốn nắn lẫn nhau để
cùng thành đạo nghiệp, nâng đỡ mạt vận
sắp rơi rụng. Đấy là điều kẻ chẳng
ra ǵ này canh cánh trong ḷng, chẳng thể buông xuống
được. Nếu bảo là kiến đạo đă
thấu triệt, chẳng cần nhờ cậy thầy bạn,
há tôi dám nhận ư?
* Lời bạt
Đại
sư Tông, Giáo hoằng thông, trời, người quy ngưỡng,
chẳng dám tự măn, tự đại, khiêm cung, tự chê
trách ḿnh như thế; đúng là dụng tâm của thánh hiền.
Người hiện thời tự phụ tri giải nửa
vời, liền hư vọng tự tôn, tự đại.
Thử kiểm điểm một phen, chỉ sợ chính họ
hồ đồ chẳng ít, chẳng phải là lừa dối
người khác, gạt gẫm chính ḿnh ư? Xin ai nấy
trong đêm thanh vắng, hăy tự suy nghĩ. Vào tiết
Đông năm Tân Sửu, tôi ngẫu nhiên dạo chợ, thấy
có một tập sách nhỏ ở sạp bán sách cổ, có tựa
đề là Sơn Pḥng Nhật Lục, do một vị
tăng húy là Quảng Toàn ở Hưu Ninh vào năm Mậu
Dần (1578) đời Vạn Lịch, sao lại trước
tác của Vân Thê đại sư và dùng khuôn chữ rời
do gia đ́nh tự khắc để sắp xếp, in
thành tập sách ấy. Trong ấy, có bài luận Học
Đại Thừa Chẳng Khinh Nhị Thừa, một bài
hỏi về Vĩnh Gia Tập, và thiên sách Tự Trách này,
đều là thuốc chữa trị đúng bệnh của
người đời, nhưng bộ Vân Thê Pháp Vựng
chưa chép. Tôi kinh ngạc, hoan hỷ quá ḷng mong mỏi. Do
vậy nghĩ trước tác của đại sư c̣n
có những tác phẩm trân quư chưa được phát hiện
quá nhiều, bản này c̣n giữ ở Tân An, đối với những
ǵ người biên tập chưa thể thâu thập,
tôi bèn khắc thêm để chia sẻ cùng mọi người.
Cư sĩ Tịnh Huệ
Trương Văn Gia thuộc Đôn Nhân Đường tại
Vũ Lâm kính ghi lời bạt.
Bồ Tát
giới đệ tử Lưu Huệ Văn xướng
suất con là Tánh Trạch thí tiền kính in.
Tháng Tư mùa Hạ năm
Quang Tự 25 (1899), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.
Vân Thê Pháp Vựng
Phần 8 hết
[1] Tam đăng cửu thượng: Thiền
sư Tuyết Phong thoạt đầu chưa ngộ, ba
lượt lên núi Đầu Tử để tham phỏng
thiền sư Đại Đồng và chín lần lên Động
Sơn để tham yết ngài Động Sơn
Lương Giới.
[2] Đối với mỗi câu kệ của
Tuyết Kiệu, tổ Liên Tŕ ghi một vài chữ nhận
xét.
[3] Bánh của
người Hồ (hồ bính) là một loại bánh nướng
gịn có nguồn gốc từ Tây Vực, mặt ngoài có rắc
thật nhiều hạt mè.
[4] Thiếu Tham là danh xưng khác để gọi
chức quan Tham Nghị thuộc Bố Chánh Sứ Ty đời
Minh. Tham Nghị và Tham Chánh (c̣n gọi là Đại Tham) cùng
là chức quan phụ tá về mặt hành chánh của Bố
Chánh Sứ (viên quan đứng đầu việc hành chánh
và thuế khóa của một tỉnh thời Minh – Thanh).
[5] Thuần Hy là tên thật của ông Ngu Đức
Viên.
[6] Ma hoàng quế chi thang là hai toa thuốc theo
sách Thương Hàn Luận, tức Ma Hoàng Thang và Quế Chi
Thang. Ma Hoàng Thang gồm các vị thuốc ma hoàng, quế
chi, hạnh nhân, cam thảo, có tác dụng nhuận phổi,
thúc đẩy toát mồ hôi. Quế Chi Thang gồm các vị
thuốc quế chi, bạch thược, cam thảo, gừng
tươi, đại táo (táo Tàu) có tác dụng điều
ḥa kinh lạc.
[7] “Bốn lời Cấn Bối” là nói tới
bốn câu trong phần Quái Từ nhằm giải thích quẻ
Cấn trong Châu Dịch: “Cấn kỳ bối, bất hoạch
kỳ thân, hành kỳ đ́nh, bất kiến kỳ nhân”.
Theo cách giải thích thông thường, Bối chính là cái
lưng, là phần chính ḿnh không thấy trực tiếp bằng
mắt được. Câu này diễn tả ư: Quẻ Cấn
tượng trưng cho sự thận trọng trong ứng
xử, ngưng dứt sự hướng ngoại truy cầu,
thâu liễm tâm tánh để quán chiếu nội tâm. Dẫu
sống trong gia đ́nh mà chẳng thấy bóng dáng của
người khác, sánh ví siêu việt ngoại vật, chẳng
tranh với đời, tâm không chấp giữ. Đây là
cách giải thích do Châu Hy dựa theo quan điểm Phật
Giáo Đại
Thừa, cho nên Tống
Nho sau này lại ngạo ngược cho rằng kinh Kim Cang
là chú giải của quẻ Cấn!
[8] Đây là những khái niệm được
đề cao trong sách Trung Dung:
- Tam Đức
(三德, tam đạt
đức) là nhân, trí và dũng.
- Ngũ Đạo
(五道) là năm
đại đạo (năm giềng mối) thuộc quan hệ
giữa con người với nhau, tức vua tôi, cha con, vợ
chồng, anh em, bè bạn.
- Cửu Kinh (九經) là chín chuẩn
mực để cai trị quốc gia, gồm tu thân, tôn hiền
(tôn trọng và thân cận người hiền), thân thân (yêu
thương, che chở người thân), kính đại thần
(kính trọng đại thần), thể quần thần
(thông hiểu và quan tâm quần thần, ngay cả những
quan chức thấp nhất cũng không bỏ sót, khiến
cho họ trung thành, tận tụy), tử thứ dân
(thương yêu dân chúng như con), lai bách công (phát triển,
nâng đỡ các ngành nghề, khiến cho kinh tế phát triển),
nhu viễn nhân (khéo léo đối đăi người ở
nơi xa xôi và ngoại bang), hoài chư hầu (khéo léo vỗ
về, đối xử mềm mỏng với các chư hầu).
- Kinh Luân (經綸): Tài năng
quy hoạch và cai trị thiên hạ.
- Tham tán (參贊): Tham là tham dự,
Tán là tán trợ, hàm nghĩa: Con người có thể phát
huy bản tánh chí thành, có thể tham dự sự sanh
trưởng của vạn vật trong trời đất,
đạt tới cảnh giới “thiên nhân hợp nhất”.
[9] Ư nói: Chẳng tiếc thân ḿnh để cứu
tế người khác.
[10] Đây là một câu nói của Khổng Tử
được chép trong thiên Lư Nhân sách Luận Ngữ: “Quân
tử vô chung thực chi gian vi nhân, tạo thứ tất
ư thị, điên bái tất ư thị” (người
quân tử dẫu [trong khoảng thời gian để]
ăn xong một bữa ăn cũng chẳng trái nghịch
ḷng nhân, dẫu lúc khẩn cấp ắt cũng như thế,
lúc khốn khó lưu lạc ắt cũng như thế).
[11] Đây là bốn căn bệnh của
người tu hành theo kinh Viên Giác:
- Tác (khởi tâm tạo tác): Hành nhân cho rằng
phải thông qua sự tạo tác trong tu hành, tích lũy công
đức hoặc tu một pháp nhất định mới
thành tựu giác ngộ, nhưng bản tánh vốn chẳng
phải do tạo tác mà thành, hễ có mong cầu th́ là vọng
tâm.
- Chỉ (dứt bặt vọng niệm):
Cho rằng phải tận lực áp chế, ngăn dứt
hết thảy vọng niện, khiến cho tâm niệm
ngưng đọng nơi tĩnh lặng tuyệt đối, hoặc cảnh
giới rỗng không th́ mới đắc đạo.
- Nhậm: Cho rằng hết thảy đều
tùy duyên, chẳng cần phải đoạn phiền năo, mà
cũng chẳng cần cầu Niết Bàn, cứ mặc kệ
cho cái tâm ruổi theo trần cảnh.
- Diệt: Cho rằng tu hành là phải
đem thân tâm, căn trần, phiền năo tiêu diệt toàn bộ,
tiến nhập vắng lặng chết cứng tuyệt
đối. Tu theo kiểu này sẽ hăm nhập Ngoan Không,
đánh mất tác dụng.
[12] Tôn đường: Danh xưng tôn kính dùng
để gọi mẹ của người khác.
[13] Đại
Trang Nghiêm Luận là một bộ sách cổ trong Phật
giáo, nội dung ghi chép những câu chuyện tiền thân của
đức Phật và những ngụ ngôn nhằm tuyên
dương Phật pháp, chủ yếu xiển dương
lư nhân quả, khuyến thiện, dứt ác v.v… Sách do ngài
Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán, gồm mười
lăm quyển. Tương truyền tác giả là Mă Minh Bồ
Tát, nhưng theo các nhà nghiên cứu (như học giả Lữ
Đức Tư) dựa trên nguyên bản tiếng Phạn
t́m thấy tại hang Thiên Phật Kizil (Tân Cương) th́
tác giả phải là Đồng Thọ (Cưu Ma La Đà).
[14] Cung h́nh (宮刑) là một
h́nh thức nhục h́nh cổ đại Trung Hoa, c̣n gọi
là yêm h́nh, hủ h́nh, tư mỵ h́nh, trác h́nh, âm h́nh, hoặc
tàm thất h́nh, hay chỉ gọi gọn là Cung. Đây là
h́nh phạt tước đoạt khả năng sinh nở
của tội nhân. Nam th́ thiến, nữ th́ bị tra khảo
đánh đập đến nỗi không bao giờ mang thai
được nữa. Một nhân vật nổi tiếng
bị phạt cung h́nh là sử gia Tư Mă Thiên v́ dám bênh vực
cho Lư Lăng (đại tướng thời Hán Vũ Đế, bị
các quan trong triều bức hại đến nỗi phải
đầu hàng giặc). H́nh phạt
này đă thấy ghi sớm nhất trong văn kiện thời Tây Châu, đến thời Hán Văn Đế bị phế
trừ, nhưng đến thời Hán Cảnh Đế lại
khôi phục. Thời Hán Vũ Đế, h́nh phạt này rất
phổ biến. Hễ bị kết tội mưu phản,
chánh phạm bị chém đầu hay chém ngang lưng, con
cái, cháu chắt chưa đến tuổi thành niên sẽ bị
phạt cung h́nh. Măi cho đến thời Tùy Văn Đế,
h́nh phạt này mới thật sự bị hoàn toàn băi trừ.
[15] Đây là một
tập tục trong tín ngưỡng cổ truyền Trung
Hoa. Người ta tin rằng khi một linh hồn
được đầu thai làm người th́ trước
đó, trong Âm Phủ, họ đă phải vay tiền từ
quan coi kho để vun bồi phước huệ, trưởng
dưỡng thành thân người th́ mới có thể đầu
thai. Do vậy, mỗi người sanh ra đă thiếu nợ
cơi Âm, phải luôn đốt tiền giấy, vàng mă, cúng bái
cơi Âm để trả nợ. Đó gọi là Thọ Sanh.
Đồng thời, để đời sau khỏi phải
nợ tiền cơi Âm quá nhiều khi đầu thai hay đói
khát v́ không có tiền tiêu xài trong khi đang chờ đợi
đi đầu thai tại cơi Âm, người ta đốt
sẵn tiền giấy để gởi vào kho trong âm phủ.
Đó gọi là Kư Khố (gởi kho) hay Trữ Súc. Nói chung,
đây là một hủ tục có lẽ do bọn thợ làm
vàng mă và các thầy cúng bày ra để kiếm lợi.
[16] “Hạp sàng” (匣床), c̣n gọi
là “tù sàng” (囚床), hoặc “áp sàng” (押床), là một dụng cụ để hành h́nh thời cổ.
Hạp sàng có h́nh dáng như một cái lồng dài. Tù nhân bị
nhét vào đó, tḥ đầu và chân tay ra. Hạp sàng có gông
để ràng đầu, xiềng cổ. Nơi ngực có
ḷi tói bằng sắt thít chặt, nơi bụng có tấm
gỗ nặng đè lên, chân tay đều bị cùm chặt
vào thành của hạp sàng, phía lưng có đóng đinh nhọn.
Dụng cụ này được chế tạo từ thời
Tống, đến thời Minh rất phổ biến, măi
đến cuối thời Thanh mới phế trừ.
[17] Theo Kim Cang Tâm Tổng Tŕ Luận, thân nữ
nhân có năm thứ chướng (trong thời quá khứ),
gọi là Ngũ Lậu:
1) Chẳng thể tự làm chủ thân thể
của chính ḿnh được.
2) Chẳng thể làm chủ nhân của gia
tộc.
3) Chẳng thể thành người lănh
đạo của đoàn thể, bộ tộc v.v…
4) Chẳng thể độc lập quản
lư tài vật.
5) Chẳng thể thành bậc thánh nhân giác
ngộ.
[18] Tông Bá theo sách Châu Lễ, có tên gọi đầy đủ là Xuân Quan Tông Bá, hoặc Đại
Tông Bá. Đây là
chức quan chưởng quản việc tế tự các
vị thần minh lập quốc,
cũng như chịu trách nhiệm tổ chức các dịp
tế lễ
hoặc lễ tiết trọng đại
trong triều đ́nh, cũng như bảo đảm các lệnh cấm theo lễ pháp
được tuân thủ. Về
sau, bộ Lễ c̣n quản trị việc giáo dục và
thi cử. Ngoài ra, Đại
Tông Bá c̣n chưởng quản việc
xác định phả hệ trong hoàng tộc, thứ tự
chiêu mục v.v...
Tới đời Minh - Thanh, Lễ Bộ chia thành bốn
ty: Nghi chế thanh sứ ty (đặc trách gia lễ và quân
lễ, quản lư khoa cử), Tự tế thanh sứ ty
(chưởng quản cát lễ và hung lễ), Chủ khách
thanh sứ ty (chủ quản binh lễ và tiếp đăi sứ
thần), và Tinh thiện thanh sứ ty (chịu trách nhiệm
tổ chức tiệc tùng, lương thực, chăn nuôi
trong các nông trang của triều đ́nh). Do sự vụ quá nhiều, các đời sau lập ra chức Thiếu Tông Bá (Tiểu Tông Bá) là quan phụ
tá của Đại Tông Bá. Thời Tùy, chức quan này
được đổi thành Thái Thường Thiếu
Khanh, xếp vào loại Trung đại phu. Tới khi Đại Tông Bá đổi thành Lễ Bộ Thượng
Thư th́ Lễ Bộ Thị Lang (phụ tá của Lễ
Bộ
Thượng Thư) vẫn
được gọi là Thiếu Tông Bá, nhiệm vụ chủ
yếu là tổ chức ngũ lễ,
tức các lễ cát (như cưới hỏi, đầy tháng của
các hoàng tử, hoàng tôn, sinh nhật, tế tự,
giỗ chạp v.v…), hung
(tang ma), quân (các dịp duyệt binh, hiến phù, mừng báo
tiệp, thăng
thưởng cho các tướng lănh), gia (những dịp ân
xá, kỷ niệm, chúc thọ…) và tân (đăi đằng,
tiếp kiến sứ bộ, ngoại giao, chiêu đăi các
quan khi vua ban yến cho quần thần v.v…)
[19] Theo Bất Khả Lục, cha của tể
tướng Phùng Kinh là Phùng Thương đă đến tuổi
trung niên mà không có con. Vợ khuyên chồng nên cưới thiếp.
Về sau, ông cầm tiền mua một người thiếp.
Viết xong khế ước, giao tiền xong xuôi, hỏi
cô gái ấy từ đâu đến? Cô chỉ ôm mặt
khóc ṛng, vặn hỏi măi, cô mới cho biết, cha cô do việc
quan bị thiếu nợ, sắp phải tù tội,
đành phải bán con làm thiếp để chuộc nợ.
Ông xót thương, lập tức đưa cô trả về,
biếu luôn số tiền mua thiếp. Khi trở về, vợ
hỏi, ông kể lại đầu đuôi. Vợ khen: “Ông
thiện tâm, âm đức như thế, chắc chắn
không thể nào chẳng có con”. Quả nhiên, một thời
gian sau, vợ có thai, sanh con trai là Phùng Kinh. Phùng Kinh về
sau đỗ đầu cả ba trường thi
(Hương, Hội và Đ́nh), làm quan tới chức Tể Tướng, thành tích chánh trị hiển
hách.
[20] Ứng viện ở đây có nghĩa là
tăng sĩ
chuyên làm kinh sám Phật sự (thường gọi là “ứng
phó đạo tràng”).
[21] Quán
Sở Duyên Duyên (Ālambanaparīkṣā)
là một bộ luận về Duy Thức do Trần Na Bồ
Tát (Dignāga) biên soạn, ngài
Huyền Trang dịch sang tiếng Hán. Theo đó, Sở Duyên
Duyên chính là khi tâm thức sanh khởi, nó phải hội
đủ hai điều kiện, tức là có thật thể
để có thể sanh khởi (tức là cái để tâm
có thể duyên (năng duyên) nương vào mà sanh khởi tâm
thức), và tướng phần (hay c̣n gọi là đới
bỉ tướng khởi, tức là một đối
tượng để cái tâm năng duyên có thể nhận
biết, thường gọi là “duyên vào”). Trong luận này,
ngài Trần Na vận dụng tam đoạn luận của
Nhân Minh Học để nêu ra một luận đề trọng
yếu: Nội
cảnh trong tâm thức dường như từ bên ngoài mà
hiện bóng trong tâm thức, nhưng thật ra nó là h́nh bóng
của nội cảnh do chính tâm thức biến hiện.
Do tánh chất trọng yếu của luận này, bộ luận
này có khá nhiều sách chú giải, như Quán Duyên Duyên Luận
Thích (do ngài Nghĩa Tịnh soạn), Quán Sở Duyên Chú Thích
(do Bổn Điều Phục Thiên soạn), Quán Sở Duyên
Duyên Luận Hội Thích (do ngài Minh Dục soạn), Quán Sở
Duyên Duyên Luận Trực Giải (do tổ Ngẫu Ích soạn),
Quán Sở Duyên Duyên Thích Luận Hội Thích (do Lữ Trừng
và Ấn Thương hợp soạn).
[22] Cổ xướng (估唱): Khi một
vị tăng đă mất, di vật của vị ấy
được đem ra định giá rồi xướng
lên để tăng chúng ra giá tranh nhau mua lấy.
[23] Chiêu đề (Caturdeśa), c̣n phiên âm là Thác-đấu-đề-xá,
dịch nghĩa là Tứ Phương. Do Ngụy Thái Vũ
Đế kiến tạo già lam, gọi đó là Chiêu Đề,
cho nên Chiêu Đề
bèn trở thành một danh xưng khác của tự viện.
[24] Hồ (壺) ở
đây là một dụng cụ để đựng chất
lỏng, thường làm bằng sành, sứ hay kim loại.
Hồ thường có dáng cao, h́nh tṛn hoặc vuông, bụng
phệ, sâu ḷng, miệng thót, hai bên phần cổ của
cái hồ thường có quai xách. Hồ phần nhiều có
nắp đậy, thường để đựng
nước, trà hay rượu. Nó cũng là dụng cụ đựng rượu, nhưng không có ṿi rót như cái nhạo của ta.
[25] Bă đậu (hủ tra, 腐渣) là phần c̣n lại sau khi
đă xay nát đậu nành, lọc lấy phần tinh túy
để làm sữa đậu nành, đậu hủ, hoặc
tương, chao. Nó c̣n được gọi bằng
các danh xưng tiểu đậu hủ, tra đậu hủ,
đậu mạt tử, thái đậu hủ, hợp tra,
lại đậu hủ, đậu mạt, mạt tử
thủy.
[26] Kim Cốc Viên là sản nghiệp riêng của
quan Vệ Úy Khanh Thạch Sùng kiến tạo bên sông Kim Cốc
thuộc Lạc Dương vào thời Tây Tấn, lộng
lẫy, xa hoa bậc nhất thời đó.
[27] Đây là một
điển tích thời Hán Quang Vũ Đế. Khi Lưu
Tú c̣n chưa lên ngôi, bôn ba khôi phục nhà Hán đă lọt vào
tay Vương Măng. Có lần ông cùng tùy tùng vượt sông
Hô Đà th́ hết sạch lương ăn, mọi người
đói khát cùng cực. Bộ tướng Phùng Dị dâng bát
cháo nấu bằng đậu và cơm nấu bằng lúa mạch
cho ông ăn đỡ đói. Do đó, khi ông lên ngôi (tức
Hán Quang Vũ Đế), đă từng ban chiếu nhắc
đến chuyện này để ban thưởng trọng
hậu cho Phùng Dị.
[28] Sau khi biên tập xong một tác phẩm (nhất
là biên soạn toàn tập), người biên tập
chợt phát hiện c̣n có những
bài viết chưa được đưa vào toàn tập,
bèn thêm vào. Đó gọi là phần Bổ Di (補遺, bổ sung những chỗ bị bỏ
sót).
[29] Hiển khảo (顯考):
Danh xưng để gọi cha ḿnh đă mất. “Phủ
quân” (府君) thoạt
đầu là kính ngữ để gọi đàn ông
nhằm tỏ vẻ tôn trọng. Về
sau, con cái khi viết lách, cũng thường gọi cha
ḿnh là “phủ quân”.
[30] Theo phẩm Nhập Pháp Giới của kinh
Hoa Nghiêm, Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử là vị
thiện tri thức thứ bốn mươi tư mà Thiện Tài đồng tử
đến tham học. Thiện Tri Chúng Nghệ đồng
tử truyền dạy pháp môn Tự Trí, tức là các
môn trí huệ tương ứng
với bốn mươi hai chữ cái (tự mẫu) trong
văn phạm Tất Đàm (Siddhāṃ,
c̣n gọi là Phạm tự, hoặc Phạm Thư). Bốn
mươi hai tự mẫu được phiên âm thành A,
Ra, Bả, Tả, Nẵng, La, Na, Ma, Noa, Sái, Phạ, Đa,
Dă, Sắt-trá, Ca, Sa, Măng, Nga, Tha, Nhạ, Sa-phạ, Đà, Xả, Khư, Khất-sái, Sa-đa, Nương,
Ra-tha, Bà, Tha, Sa-ma, Ha-phạ, Đa-sa, Già, Sá, Nạp, Phả,
Tắc-ca, Dă-sa, Thất-tả, Trá, Trà (A, ra, pa, ca, na,
la, da, ba, ḍa, ṣa, va, ta, ya, ṣṭa, ka, sa, ma, ga,
tha, ja, sva, dha, śa, kha, kṣa, sta, ña, rtha, bha, cha, sma, hva,
tsa, gha, ṭha, ṇa, pha, ska, ysa, śca, ṭa, ḍha). Mỗi
chữ ứng với một trí môn. Chẳng hạn, kinh Hoa
Nghiêm chép: “Xướng A tự
thời, nhập Bát Nhă Ba La Mật môn, danh Dĩ Bồ Tát
Oai Lực Nhập Vô Sai Biệt Cảnh Giới. Xướng
Đa tự thời, nhập Bát Nhă Ba La Mật môn, danh Vô
Biên Sai Biệt Môn” (Khi xướng chữ A, nhập Bát
Nhă Ba La Mật môn tên Dùng oai lực của
Bồ Tát nhập cảnh giới chẳng sai biệt. Khi
xướng chữ Đa, nhập Bát Nhă Ba La Mật môn tên
là môn Vô Biên Sai Biệt). Phật môn Trung Hoa c̣n có riêng một
nghi thức xướng tụng Hoa Nghiêm Tự Mẫu.
[31] Ư nói: Có người thay v́ ăn mừng
sinh nhật hằng năm, cứ mỗi mười
năm tổ chức sinh nhật một lần.