Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 8

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師著

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

15.2. Vấn đáp

* Giải đáp cho Văn Cốc Quảng Ấn

 

1) Hỏi: Cổ nhân đă bẩm thọ “đơn truyền trực chỉ”, sau đấy tu Tịnh nghiệp muốn văng sanh, tức là sau khi đă ngộ bèn thuận theo nguyện mà dấy hạnh, hay là chưa ngộ mà kiêm tu hai hạnh? Nếu kiêm tu, sẽ rơi vào cái tâm mong ngóng, cái tâm chia nhiều lối rẽ, sao đạt được công phu thành phiến? Nếu đă ngộ th́ mỗi vi trần đều là Hoa Tạng, chốn nào cũng đều là liên bang, mười phương không nơi nào chẳng được, cần ǵ cứ phải riêng sanh về Tây Phương?

Đáp: Người thật sự tin Tịnh Độ quyết chí văng sanh, bất luận đă ngộ hay chưa ngộ. Kẻ theo đuổi “đơn truyền trực chỉ” mà chưa ngộ, tuy hằng ngày chú trọng tham Thiền, chẳng trở ngại phát nguyện văng sanh, v́ chưa thể chẳng có thân “hậu hữu” (thân trong đời sau), rốt cuộc sẽ có chỗ để sanh về. Đó chẳng phải là cái tâm mong ngóng, hay tâm nhiều lối rẽ! Đối với người đă ngộ, cổ nhân nói: “Ngươi cho rằng hễ ngộ sẽ có thể bằng với chư Phật được ư?” V́ thế, ngài Phổ Hiền là trưởng tử trong hội Hoa Nghiêm, tuy mỗi vi trần đều là Hoa Tạng, chỗ nào cũng là liên bang, nhưng phẩm Hạnh Nguyện ắt khăng khăng nói văng sanh An Lạc. Người đă ngộ mà c̣n như thế, người chưa ngộ [cứ suy ra] ắt biết!

2) Hỏi: Tham Thiền quư ở chỗ “chẳng sanh một tâm nào”. Niệm Phật quư ở chỗ “tịnh niệm tiếp nối”. Nay tham cứu một môn Niệm Phật, cốt ư để diệu ngộ mà được văng sanh. Nay khi niệm Phật th́ tâm và Phật phân minh; khi tham cứu th́ hai đằng đều đoạn. Do đoạn nên công tham cứu dần dần vượt trội, niệm lực dần dần ít đi. Vậy th́ những lúc khác, sao có thể cũng ngộ, cũng văng sanh cho được?

          Đáp: “Một niệm chẳng sanh” là Thiền, chẳng phải là tham cứu. Dấy niệm, khởi nghi bèn gọi là “tham”. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Hựu dĩ thử tâm phản phúc nghiên cứu” (lại dùng tâm này để nghiên cứu nhiều lượt) v.v… Đấy là “tham”. Khi niệm, hoặc khi tham, đều thuộc về hữu niệm, chẳng hề trái nghịch nhau!

          3) Hỏi: “Tâm tức là Phật” là cái lư “chẳng rong ruổi t́m cầu bên ngoài”. Hễ tin đến nơi đến chốn, đă thấy thấu triệt, sẽ tùy duyên tiêu nghiệp, đừng tạo ương họa mới, tùy ư tự tại tu hành, là do đợi cho thức khô cạn bèn tự đạt được, hay là ngay trong khi đang dấy khởi nghi t́nh, bèn tận lực tham cứu cùng cực để cầu diệu ngộ?

          Đáp: Nếu thật sự tin “tâm chính là Phật” đến nơi đến chốn, thật sự thấy thấu triệt, sẽ trăm ngàn phần thỏa đáng, chẳng c̣n ngờ vực, vướng mắc nữa! Khi đó mới có thể tùy ư vẫy vùng! Nếu chẳng phải vậy, chưa thể buông xuống tham cứu được!

          4) Hỏi: Tham Thiền tạm thời có lúc các niệm chẳng sanh th́ câu thoại đầu chẳng dấy lên nổi, cũng chẳng rơi vào không tịch, và khi ứng đối các duyên, nếu cố ư khắc chế, lại bị cổ nhân quở trách. Nếu mặc kệ, sẽ chẳng thể tiếp tục [tham cứu]. Chỉ trong khoảng giữa động và tĩnh ấy, đề khởi tham cứu như thế nào để mau chóng đạt được tương ứng?

          Đáp: Tạm thời đ́nh chỉ ư niệm, chẳng phải là rốt ráo thoại đầu chẳng thể dấy khởi nổi. Vẫn cứ [tiếp tục] dấy khởi [thoại đầu]. Nước chưa cùng, núi chưa tận, chẳng được bỏ thuyền và mái chèo, [chẳng thể] ngưng đánh xe được!

          5) Hỏi: Ngài Vĩnh Gia nói: “Ai vô niệm? Ai vô sanh?” Ngài Vân Cư Đạo Tề nói: “Chẳng đoạn phân biệt, chẳng xả tâm tướng!” Điều ấy dường như là sau khi đă ngộ bèn có niệm tưởng! Ngài Dũng Tuyền lại chẳng chấp thuận tâm niệm tán loạn. [Cảnh giới của] ngài Ngưỡng Sơn th́ quỷ thần c̣n chẳng biết, và ngài Thạch Sương “nhất niệm và vạn năm như nhau” v.v… đều là sau khi đă ngộ bèn vô tưởng. Chẳng lẽ ứng duyên th́ có, mà ly duyên th́ không ư? Đối với hai nghĩa Hữu và Vô, xin thầy ban một lời quyết đoán.

          Đáp: Hễ đại ngộ th́ hữu niệm cũng được, vô niệm cũng được. Đó gọi là “khi hít vào chẳng trụ trong Ấm giới, thở ra chẳng dính dáng các duyên”.

          6) Ngài Vĩnh Minh nói: “Trước là do nghe, lư giải, tin tưởng, tiến nhập; sau là do chẳng suy nghĩ mà khế hợp, đồng nhất. Hễ nhập tín môn, sẽ dự vào địa vị Tổ”. Địa vị Tổ rất sâu, do nghe hiểu làm sao có thể chứng cho được? Huống hồ ngài Vân Môn đă thấu triệt Pháp Thân, ngài Động Sơn vẫn bắt [Vân Môn] thấu triệt toàn bộ. Đó là chứng, chẳng phải là giải! Ở đây nói “do giải mà địa vị tương xứng với Tổ” ắt có nghĩa sâu ư?

          Đáp: Ngài Vĩnh Minh nói “trước là dùng nghe, lư giải, tin tưởng để tiến nhập”, rồi lại nói “sau đó dùng chẳng suy nghĩ để khế hợp, đồng nhất”. Khế hợp, đồng nhất th́ Pháp Thân đă thấu triệt, t́nh thức đă hết sạch. Đấy là giải mà cũng là chứng, nối tiếp ngôi vị Tổ cũng chẳng đáng ư?

          7) Hỏi: Sơ Tổ dạy Lăng Già để ấn tâm, Hoàng Mai (Ngũ Tổ) dạy đọc kinh Kim Cang để kiến tánh; c̣n như ngài Câu Chi tŕ chú Chuẩn Đề, ngài Thủ Sơn tŕ Pháp Hoa, tợ hồ tham Thiền chẳng trở ngại tŕ tụng, nhưng ngài Dược Sơn chẳng cho phép xem kinh, Triệu Châu chẳng thích niệm Phật. Thậm chí ngài Cao Phong nói “thoại đầu miên mật chính là một quyển kinh chẳng đứt đầu”, lại tợ hồ cấm tuyệt tụng tŕ, mà chú trọng chỉ khởi một câu thoại đầu. Xét ra, từ đó tới nay, [người hành Thiền] lấy tham thoại đầu làm chủ, kiêm tŕ Hoa Nghiêm và niệm Phật làm công khóa. Nay con muốn đ́nh chỉ các công khóa ấy, chuyên nhất tham Thiền, chỉ giữ nguyện lực, chẳng biết có được hay không?

          Đáp: Chẳng ngại tŕ tụng, hay chẳng cho phép tŕ tụng, cổ nhân tùy thời mà chế định biện pháp thích nghi, tùy theo căn cơ mà dạy bảo, mỗi đằng đều có kiến giải riêng, chớ nên phủ định lẫn nhau. Nay ông muốn ngưng tụng niệm công khóa, chuyên nhất tham cứu, có ǵ là chẳng được?

          8) Hỏi: “Chỉ sầu chẳng làm Phật, đừng sầu Phật chẳng hiểu lời”. Đó là giáo huấn của cổ nhân. Lại c̣n “chớ đoạn trừ ngôn ngữ, thiêu được nhiều xá-lợi, chẳng bằng trả lời một câu chuyển ngữ của ta” cũng là giáo huấn của cổ nhân. Người học hiện thời chẳng chú trọng thật tu, chỉ chăm chú nơi cơ phong chuyển ngữ; đúng là sai lầm! Nhưng con tự biết chính ḿnh chưa ngộ, luôn luôn cảnh tỉnh chính ḿnh, chỉ v́ kiến địa chẳng rơ, sợ sẽ tu mù, luyện đui! V́ thế, trong ṿng thầy tṛ, bạn đạo, hỏi đáp, xướng họa, cũng chẳng gây tổn thương ǵ, đúng chăng? Nếu c̣n đang thuộc địa vị tu học mà chẳng thông qua bàn bạc với nhau, cứ phải đợi sau khi ngộ rồi mới thốt lời, th́ do kiến địa c̣n thiếu sót, sẽ do đâu mà dấy hạnh? Huống hồ un đúc lư tánh, quyết trạch đúng sai, như “tam đăng cửu thượng[1], do một câu chưa hiểu mà lặn lội ngàn non” đều được thực hiện trước khi ngộ ư?

          Đáp: Chẳng chú trọng thật tu, thật chứng, chỉ cậy vào khẩu đầu tam-muội để phô bày cơ phong, đấu tranh thua thắng; chớ nên có loại ngôn ngữ ấy! Thật sự v́ sanh tử, hễ tâm địa chưa sáng suốt th́ bàn luận với nhau, xướng họa lẫn nhau, chẳng thể không có loại ngôn ngữ ấy. “Tam đăng cửu thượng, một câu ngàn non”, đừng bàn trước khi chưa ngộ, dẫu cho sau khi đă ngộ, hăy c̣n có một tầng ải cuối cùng, th́ cái công tham học ḥng cầu được quyết trạch sẽ chưa thể ngưng dứt được!

          9) Hỏi: Người thấy tự tánh sẽ tự tại trong sanh tử. Người có thể làm chủ sẽ có thể chuyển nghiệp khi lâm chung. Các vị tổ đă được tự tại th́ chẳng bàn đến, chứ các vị thiền sư Thảo Đường Thanh, Thừa Thiên Phật Ấn v.v… cách một đời liền mê. Há ngộ có cạn hay sâu, tập khí có nhẹ hay nặng ư? Hay là cũng do đại bi tăng thượng, vốn cao vời mà thị hiện dấu tích thấp kém, nhưng người khác chẳng tự biết ư? Nếu chẳng phải vậy, người học sao có thể tin tưởng pháp môn kiến tánh cho được?

          Đáp: Những vị như Thảo Đường v.v… rốt cuộc là kiến tánh, nhưng vẫn chưa đạt đến chỗ hết sức thỏa đáng. Cổ nhân nói: “Biết tâm thấy tánh, hăy nên như Nam Tuyền, Triệu Châu. Thật sự chứng nhập chân thật, hăy nên như Tuyết Phong, Huyền Sa”. Các vị đại lăo ấy há có chuyện thân sau đọa lạc ư? Đúng như ông đă hỏi, chính là ngộ có cạn hay sâu, chẳng thể luận định là cảnh giới vốn cao vời nhưng thị hiện thấp kém được!

 

* Trả lời Tuyết Kiệu Viên Tín

 

          Từng là lăng tử riêng thương xót người khác, một niềm khổ tâm ấy đă được thấy trọn! Tuy vậy, hăy xếp những điều sở đắc và niêm xướng hướng thượng trước kia qua một bên, nơi đầu sào trăm thước, cần phải tiến thêm một bước nữa.

 

* Nhận xét bài kệ do Tuyết Kiệu tŕnh lên

 

          Bất giải Tây Phương, bất học Thiền

(Chẳng hiểu Tây Phương, chẳng học Thiền).

Thấp tiếng, thấp tiếng[2].

          Ngẫu lai trần thế chỉ tùy duyên

(Bỗng vào trần thế chỉ tùy duyên).

Giải, học.

          Tam gian mao ốc bàng khê trụ,

(Ba gian nhà tranh trụ bên suối).

Suối sâu, đường trơn.

Lưỡng phiến trúc song quan nguyệt miên

(Cài chặt song tre ôm trăng ngủ).

Xuân sắc đầy vườn, chẳng đóng được!

Toái tận nạp y na hữu kết

(Nát sạch áo chằm, c̣n kết ǵ?)

Há chẳng giống như một tấc tơ chẳng vướng mắc?

          Dưỡng trường đầu phát dục thành điên

          (Nuôi dài đầu tóc muốn thành điên).

Thành điên cũng chẳng ghét.

          Tự tùng hội đắc ngô sư ư

          (Ư thầy thấu hiểu từ khi ấy).

          T́m nước trong bánh của người Hồ[3].

          Bạch tuyết phiêu phiêu lục nguyệt thiên.

(Tháng Sáu sao mà tuyết trắng bay?)

Mùa Hạ thời tiết như mùa Đông, nóng lạnh chẳng chánh đáng. Kiến xứ của ông cao, đẹp; lại mong ông ít làm thơ kệ, dùng hạnh đầu-đà trụ trong núi Song Kế để nối tiếp huệ mạng của Tổ.

          Xin thầy ban lời dạy khiến cho con có thể trừ, có thể tiến.

          “Trừ” là trừ khử cái tâm có sở đắc. “Tiến” là tiến đến chỗ chẳng thể đến được!

         

* Trả lời Tri Hy Quảng Quán

 

          Hỏi: Nhà Thiền có nói: “Tâm chính là cảnh. Cảnh chính là tâm”. Nếu nói “tâm chính là cảnh” th́ tâm đạt đến chỗ nào, cảnh ắt phải theo đến đó. Vậy th́ thế gian hoàn toàn là cái tồn tại trong tâm, nhưng cảnh chẳng phải là như vậy. Chẳng hạn như người học tập cử nghiệp, ai chẳng mong đỗ đạt, nhưng có kẻ suốt đời miệt mài học hành, dốc cạn tâm lực, nhưng chẳng đạt được một chức quan. Như vậy th́ cái thuyết “tâm chính là cảnh” ở chỗ nào? Nếu nói “cảnh chính là tâm” th́ cái tâm của hết thảy chúng sanh vốn không có ǵ bất đồng, nhưng cái cảnh được thấy trọn luôn có chỗ bất đồng. Chẳng hạn như tại ngọn Nhật Quán ở Thái Sơn, sáng sớm thấy mặt trời từ biển mọc lên, vầng mặt trời to như cái ky, [phát ra] tiếng vang như sấm. Chỉ cùng là một vầng mặt trời, cớ sao cảnh ấy riêng hiện tại đó? Như vậy th́ cảnh vốn là cảnh ở nơi đó, chẳng có mảy may nào dính dáng cái tâm của chúng sanh ở nơi đây, sao có thể nói “cảnh chính là tâm” cho được?

Đáp: Đối với tâm và cảnh, chẳng thể dùng chuyện thế tục để bắt bẻ được! Như đối với cảnh, chỉ dùng chuyện xem mặt trời để nói, th́ [trong thế gian], nước là một mà chư thiên thấy là lưu ly, loài người thấy là nước, quỷ thấy là máu mủ, đều thuộc loại này. Đối với tâm, chỉ dùng chuyện đỗ đạt để nói th́ cổ nhân có bảo: “Kẻ tham tiền tài luôn luôn nghĩ tới tiền tài, cũng như ta nghĩ lấy ra một đĩnh vàng, có được hay chăng?” đều là t́nh huống tương tự. Tâm và dấu tích đă phân biệt rành rành. [Đối với thắc mắc] ‘như thế nào là “tâm chính là cảnh”’, xin hăy tham cứu thêm; đừng hỏi han ai khác?

 

* Trả lời vị tăng tên Hải Quang

         

          Hỏi: Tôi nay chẳng tại Đông, chẳng tại Tây, chẳng tại Nam, chẳng tại Bắc, chẳng tại thượng, chẳng tại hạ. Hết thảy đều chẳng tại. Tôi nay cũng tại Đông, cũng tại Tây, cũng tại Nam, cũng tại Bắc, cũng tại thượng, cũng tại hạ, không đâu chẳng trọn khắp, đặc biệt đến cầu truyền trao ca-sa, cầu thọ Cụ Túc Giới. Kệ rằng: “Bồ Đề vốn có cây, gương sáng cũng là đài. Vốn sẵn có một vật, vốn chẳng bám bụi bặm”.

Đáp: Nếu ông “hết thảy chẳng tại” th́ người nào thọ y? Nếu ông trọn khắp hết thảy, y [ca-sa] sẽ nương vào chỗ nào? Nếu ông “hết thảy đều chẳng trụ” th́ vốn tự vô thể, dùng giới để làm ǵ? Nếu ông “trọn khắp hết thảy” th́ vốn tự chẳng thiếu sót, sao lại cầu Cụ Túc? Bồ Đề có cây, gương sáng có đài, vốn sẵn có vật. Ba câu trước lật nhào Tào Khê. “Vốn chẳng bám bụi bặm”, một câu sau vẫn như cũ rơi vào khuôn sáo cũ! Sao chẳng nói “vốn sẵn có một vật, mặc cho bám bụi trần?”

 

* Trả lời vị tăng Ái Hiền

 

          Hỏi: Làm ác, đọa tam đồ; làm lành, sanh trời, người. Niệm Phật sanh Tịnh Độ, tham Thiền ngộ tự tâm. Dám hỏi kẻ đối với bốn chuyện ấy đều chẳng làm sẽ đọa lạc vào chỗ nào?

          Đáp: Chẳng làm ác, chẳng làm lành, chẳng niệm Phật, chẳng tham Thiền, [người như vậy] chẳng phải là bậc chân nhân không có địa vị, ắt là gă lăng tử phiêu bạt. Lại hỏi nay ông chính là loại nào vậy?

 

* Trả lời Thường Tỉnh Quảng Tịch

 

          1) Người có thể quán mộng, huyễn, bọt, bóng chính là người siêu xuất mộng, huyễn, bọt, bóng. Người chẳng quán mộng, huyễn, bọt, bóng chính là kẻ ở trong mộng.

          2) Nếu nói là người thoát khỏi mộng, tôi nào dám nhận? Bởi lẽ, tôi đang ở trong mộng, chỉ là hơi khác so với kẻ buông lung say ngủ là tôi dốc cạn sức rũ bỏ để cầu làm người tỉnh mộng đó thôi!

 

* Trả lời Thiếu Tham[4] Châu Hải Môn

 

          1) Hỏi: Đối với Thiền cơ hướng thượng, thường là hễ gặp người như thế, bậc tông sư sẽ chẳng bỏ qua. Như Ô Khoa đại sư dùng “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành” để giáo huấn [ông Bạch Cư Dị], hoặc có lúc nhặt sợi lông từ vải để thổi [nhằm khai thị cho thị giả Hội Thông], như vậy th́ hành động thổi ấy là thiện hay ác, là đồng hay khác với ư chỉ “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành”? Người sáng mắt liền lập tức đốn ngộ; kẻ chẳng thông sáng sẽ tách thành hai đằng, chẳng biết thiền sư phân tích chuyện này như thế nào? Mong hăy dạy bảo minh bạch cho con, đừng nói “chẳng phải là người như thế sẽ khó nghe chuyện như thế!”

          Đáp: “Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành” lập tức sợi lông trên vải khắp đất, cần ǵ phải đợi nhón lấy mà thổi? Lại c̣n nói đồng, nói khác ư? Giả sử là đồng th́ đă sớm trở thành hai đằng rồi! Ngài Ô Khoa thoạt đầu chưa từng dùng độn pháp để dạy ông Bạch (Bạch Cư Dị), mà riêng đối xử nồng hậu với thị giả của chính ḿnh. Tuy là như vậy, đối với lời nói trước, dẫu chẳng thấu hiểu huyền chỉ, chỉ một mực dứt ác, hành thiện, cũng chẳng khiến cho người khác bị lầm lạc. Nếu hiểu lầm, đối với những chỗ cổ nhân nói “Như Lai chẳng đoạn ác niệm trong tánh”, bèn ương bướng chẳng tu thiện v.v…, mối họa sẽ chẳng nhỏ.

          2) Hỏi: Nếu hiểu lầm cổ nhân rồi ương bướng chẳng tu thiện, sẽ gây họa chẳng nhỏ, vậy th́ đối với chỗ “vâng làm các điều thiện” cũng có kẻ hiểu lầm hay chăng? Nếu hiểu lầm, sẽ gây họa lớn hay nhỏ? Xin thầy khai thị.

          Đáp: Sự hiểu lầm trước sẽ gây họa trong tam đồ, sự hiểu lầm sau sẽ gây họa trong đường trời, người.

          3) Hỏi: Cái quả của tam đồ là ác đạo, nhân thiên cũng là tiểu quả. Ĺa hai chỗ ấy, rốt ráo hướng về chỗ nào để an thân lập mạng?

          Đáp: Chỗ chẳng thể an lập chính là chỗ an thân lập mạng.

          4) Hỏi: Đối với lời trước, chẳng lănh hội huyền chỉ, chỉ một mực “đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành” cũng chẳng khiến cho người khác lầm lạc! Nếu gặp người hiểu huyền chỉ, sẽ tiếp nhận như thế nào?

          Đáp: Chẳng cần thay đổi đề mục, chỉ cần lănh hội cách hành văn! Các điều thiện do ai vâng làm? Các điều ác do ai chẳng làm?

          5) Hỏi: Đă biết là ai, ǵ là thiện? Ǵ là ác? Như trăng in bóng trong sông, há chia trong, đục? Chẳng làm và vâng làm, cũng đúng, cũng sai, đừng tùy tiện hành văn, mà phải nhận rơ đề mục!

          Đáp: Trăng tuy sáng, thanh khiết, nhưng do nước trong hay đục mà h́nh bóng hiện [trong nước] có mờ hay rơ sai biệt! Tâm vốn rạng ngời, linh thông, do Sự có thiện và ác mà dấu tích hiển hiện chia ra thăng hay đọa. Há có nên bảo cái Thể của trăng vốn chẳng trong hay đục, bèn cố ư nói nước trong hay đục đều tốt đẹp cả! Tâm thể vốn chẳng thiện, chẳng ác, bèn nói “ác sự chẳng trở ngại!” Hễ giữ kiến chấp rỗng không, sẽ trái nghịch Viên Tông. Biết thiện và ác cùng mất, sẽ vừa khéo dứt ác, làm lành! Nếu khăng khăng ngăn cấm “dứt ác” để “hành thiện”, vẫn là nhận biết chưa chân thật! Như nay nắm quyền cai trị, há chẳng thi hành sự cai trị nhân từ, trừ gian, khử tệ ư? Vẫn y như cũ rơi vào “dứt ác, làm lành”! Bước nào cũng giẫm nơi Hữu, miệng luôn bàn Không; đấy chính là căn bệnh to lớn của kẻ thông minh tham Thiền trong hiện thời.

Chắc có kẻ nói: Sĩ phu hiện thời phần nhiều thích bàn luận lẽ cao huyền, ghét những luận định b́nh phàm, chân thật, sao ông cứ ra rả một câu “dứt ác, làm lành” vậy? Tôi nói: Chính v́ muốn họ chán chỗ ưa thích, muốn họ ưa thích chỗ chán ghét! Đời gần đây, kẻ vẫy vùng trong bụi trần mà bàn Thiền đông lắm, chứ người thật chứng, thật ngộ hiếm hoi được một hai vị! Tôi uốn nắn thói tệ ấy, chẳng thể không làm như vậy. Thật đúng như một câu nói do cổ nhân đă lưu lại: “Thông trên, thấu dưới chỉ là đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện”. Nói nông cạn, chỉ là tránh điều ác, bèn gọi là làm lành. Dân lành giữ phận trong cái thôn chỉ có ba nhà cũng như thế. Nói cùng cực th́ mảy may điều ác đều hết sạch, muôn điều thiện vẹn tṛn, [ngay cả] bậc trời trong trời, bậc thánh là đức Thế Tôn Như Lai cũng như thế! Nếu chấp chặt “dứt ác, làm lành nhằm dạy hàng độn căn; nhón sợi lông trên vải để thổi nhằm dạy bậc lợi căn”, lầm mất rồi!

 

* Trả lời quan hoằng đài Vương Nghiêm Đạo ở đất Hàng

 

          Hỏi: Đối với ba câu hỏi thuộc Huyền Giáo, liên quan đến chủ nhân ông… con nhất thời mờ mịt, chưa biết đáp như thế nào. Quay về, lẳng lặng suy ngẫm, càng thêm bối rối, mê hoặc. Ngược lại, con thử [khán vấn đề ấy] trong ban ngày hay lúc rảnh rỗi th́ c̣n có thể cảnh tỉnh, chứ hễ gặp chuyện, liền cảm thấy chẳng đắc lực! Nếu bận việc, càng cảm thấy không đắc lực. Con thử khán trong khi mộng mị, ban ngày phát khởi một niệm dũng mănh, trong mộng bèn có chỗ tương ứng. Hễ ban ngày có một niệm lười nhác, tán loạn, trong mộng cũng có chỗ tương ứng. Nói chung, dốc ư vào đó th́ tỉnh táo, chẳng c̣n dốc ư th́ lơi lỏng. Dù ban ngày hay mộng, đều phù hợp nhau. Như vậy th́ c̣n có thể lập chí quyết định, dốc sức hướng thượng, đạt tới chỗ gọi là “chẳng tỉnh, chẳng mộng” th́ chủ nhân ông ở nơi đâu? Đấy thật sự là chỗ đệ tử hết sức mê hoặc, chẳng hiểu được!

Nếu bảo “lúc ấy không có chủ nhân ông”, th́ [người đang ngủ say] vừa được gọi liền tỉnh, rơ ràng [chủ nhân ông] cũng chẳng xa! Nếu bảo “lúc ấy có chủ nhân ông” th́ chủ nhân ông rốt cuộc ở đâu? Sau ngày Ba Mươi tháng Chạp, chẳng rơ quang cảnh như trong mộng, hay là như quang cảnh “chẳng tỉnh, chẳng mộng?” Nếu là như quang cảnh trong mộng, chẳng qua [quang cảnh ấy] do ư tưởng kết thành, rơ ràng chẳng phải là chỗ rốt ráo. Nếu như quang cảnh “chẳng phải tỉnh, chẳng phải mộng”, th́ sau khi diệt mất, sẽ hoàn toàn chẳng linh thông, sự giải ngộ tu tŕ hằng ngày có ích ǵ? Nếu nói “sau khi diệt mất liền văng sanh chỗ khác”, [vậy th́] công phu chánh tâm thành ư của nhà Nho lúc sống th́ thuận ứng, lúc mất th́ yên ổn, hoàn toàn thọ dụng bất tận, cần ǵ đến giáo pháp của bậc thánh nhân ở phương Tây nữa? Mong thầy đại từ chỉ giáo từng điều một!

          Đáp: Thư gởi đến đề cập ba câu hỏi trong Tuyết Nham Thất, đối với điều thứ ba là “chỗ chẳng tỉnh, chẳng mộng”, dẫu là bậc lợi căn như ngài Cao Phong cũng không có lời nào để đáp, không có lư nào để tŕnh bày. Niệm ở đâu, nghĩ tại đó, sáu năm sau mới đại triệt đại ngộ. Bởi lẽ, chuyện này chẳng thể vứt bỏ, cũng chẳng thể dùi mài, chẳng thể lần khân qua ngày, cũng chẳng thể gấp cầu công hiệu. Lại chẳng thể tự nẩy sanh ư kiến, lại chẳng thể cầu người khác giải nói. Chỉ có cách đặt nó trong tâm khảm, miệt mài tham cứu, miên mật tham cứu, thật sự tích lũy sức lực lâu ngày, một mai gặp gỡ trên đường hẹp, va đụng nhau, chẳng tránh né được, sẽ đột nhiên như đang ngủ say bỗng tỉnh giấc.

Ông lại nói: “Nếu sau khi đă diệt, liền sanh về chỗ khác, th́ chánh tâm thành ư của nhà Nho [sẽ giúp cho Nho sĩ] lúc sống th́ thuận ứng, lúc mất th́ yên ổn, hoàn toàn thọ dụng bất tận, cần ǵ đến Tây Phương!” Mấy lời ấy hết sức có kiến giải! Hăy nên biết: Sự thấu triệt mối nghi sau sáu năm của ngài Cao Phong ắt vượt ngoài chỗ chánh tâm thành ư. Người xưa nói: “Mới biết ngoài Châu, Khổng, riêng có bậc anh hào”, chắc chắn chẳng dối vậy! Minh công đă dùng chuyện này để thể hội, phản quán, ngày sau ắt có sự giác ngộ lớn lao. Tôi rất vui mừng vậy!

 

* Thư trả lời quan Cấp Gián Hà Vũ Nga

 

          1) Hỏi: Đối với chỗ vốn sẵn bị bệnh, làm thế nào để trừ khử? Đối với chỗ thực hiện trước mắt, có phương pháp ǵ hay chăng?

          Đáp: Biết bệnh là huyễn, chẳng cần trừ khử. “Không có chỗ thực hiện” chính là chỗ vừa khéo để thực hiện.

          2) Hỏi: Pháp môn có Giới, Định, Huệ, cớ sao nói là “không thực hiện?” Sơ học ắt cầu phương pháp để thực hiện, như thế th́ mới có thể do Tiệm nhập Đốn. Đối với kẻ đang làm quan, dụng h́nh và giết chóc là chuyện chẳng tránh khỏi, đều là chuyện bị nhà Phật ngăn cấm. Nay con muốn quy y Tam Bảo, có nên bỏ chức về núi hay không?

          Đáp: Hạ học thượng đạt là lẽ trọng yếu để nhập môn nhiếp tâm. Tâm tịnh, bệnh tự trừ. Xét theo cơ duyên để hành h́nh, hay giết chóc, kinh có ghi chép rơ ràng! Vẫn giữ chức mà ngộ tâm, thời cổ có nhiều bậc cao sĩ [như thế đó].

3) Hỏi: Giữ chức mà tu hành, ngoại trừ niệm Phật, lấy ǵ làm pháp trọng yếu để nhiếp tâm? Tâm có hai thứ khó trừ là hôn trầm và tán loạn, lại xin thầy dạy cho rơ.

          Đáp: Kinh dạy: “Quy nguyên vô nhị lộ, phương tiện hữu đa môn” (về nguồn không hai nẻo, phương tiện có nhiều môn). Lược khai thành ba, tùy ư hành tŕ:

- Niệm Phật môn: Một môn Niệm Phật Chỉ và Quán cùng đủ.

- Chỉ Quán môn: Dùng Chỉ để dứt tán loạn. Dùng Quán để quán hôn trầm.

- Tham Thiền môn: Lấy ngộ làm hạn, nhưng Chỉ Quán cũng có đủ trong ấy.

 

* Trả lời quan Thuyên Bộ Ngu Đức Viên

 

          Hỏi: Thuần Hy[5] trong lúc đang rên rỉ [v́ bệnh tật], bỗng nhớ tới một công án của thiền sư Huệ Nhật, kính đem hỏi đại sư: “Xưa kia, Huệ Nhật xuống tóc, không mặc ca-sa, không thọ giới Cụ Túc, cầu lễ ḥa thượng Thần Quang. Ngài Thần Quang nói: ‘Ta chẳng phải là thầy ông. Ông hăy lễ Tây Viện’. Sư cầm một cái gậy trúc xanh nhỏ vào pháp đường của Tây Viện. Tây Viện nói: ‘Vào Niết Bàn Đường đi’. Sư vâng dạ, xoay gậy trúc mà vào. Khi đó, có khoảng năm trăm vị tăng đang nhiễm bệnh thời khí. Sư dùng gậy theo thứ tự mà điểm. Hễ điểm liền dậy được”. Chẳng biết là nói vị Tăng bị bệnh đứng dậy, hay là Huệ Nhật đứng lên? Chẳng biết đầu gậy trúc có bôi bao nhiêu ma hoàng quế chi thang[6]? Sao chẳng điểm cùng lúc cho họ nhanh chóng đứng dậy, mà lại điểm theo thứ tự? Chính con chẳng có mắt, t́m thầy kiếm người chỉ điểm, sao có thể điểm hóa người khác? Chẳng thọ Cụ Túc Giới, khác ǵ khúc gỗ? Nếu gậy trúc đặt trước khúc gỗ có thể khiến cho bệnh nhân dậy được, cây tùng Nam Sơn đè gậy trúc, sẽ thành Thái Y Viện ư?

Có người nói: “Huệ Nhật là bậc tái lai. Do vậy, Tây Viện vội bảo Sư vào Niết Bàn Đường chữa bệnh, do khi xưa Sư và năm trăm vị tăng ấy có duyên”. Nhưng năm trăm vị tăng nương vào Tây Viện để trụ, Tây Viện và họ chẳng có duyên ư? Gậy trúc của Tây Viện lúc ấy lại ở đâu? Nếu như ngày nay đại sư được quận công thỉnh vào thành cứu bệnh dịch, có c̣n cầm theo gậy trúc hay chăng? Ngàn vạn bệnh nhân tung hoành nơi nhà thổ, tửu quán, một cái gậy trúc trên đây c̣n điểm theo thứ tự được hay chăng? Huống hồ đại sư giới quang đă viên măn, sư đức (đức hạnh của bậc thầy) đă vẹn toàn, trừ gậy trúc ra, c̣n có các thần thông, diệu dụng khác hay không? Kính mong thầy đối trước đại chúng nêu rơ, sẽ đem gậy trúc của Huệ Nhật xoay vào Ngũ Uẩn độc, trước là điểm cho Thuần Hy được lành bệnh, sau đó tận hư không, khắp pháp giới, trong tiếng khảy ngón tay, chẳng ngại theo thứ tự điểm hết, trong ấy (trong thế gian) há c̣n có bệnh nhân ư? Hoặc là c̣n có một cách thực hiện riêng, ngay cả gậy trúc cũng bị bệnh, trước cửa ác quỷ đứng xúm xít, trên đất cương thi nằm vắt ngang trong cỏ. Đấy chính là cảnh giới khinh an, mạnh khỏe, đại sư cũng cần phải nói toạc cho Thuần Hy th́ mới được!

Đáp: Ngài Huệ Nhật tự đành làm gă nghèo, bỏ ḿnh, theo người khác. Tây Viện ủy khuất, vây hăm b́nh dân, đẩy người sống vào chỗ chết. Đáng tiếc là năm trăm vị Tăng chỉ biết hễ bị điểm liền đứng dậy, chưa hề có một hai người nằm khểnh, chẳng đứng dậy, khiến cho Huệ Nhật hiển lộ chuyện lạ, mê hoặc đại chúng, họa lây sang con cháu! Vị chủ quận quan tâm sâu xa nỗi khổ của dân, tôi là một sơn tăng vội dấn ḿnh vào chốn nguy nan hiện thời, trong lúc cập rập, đánh mất gậy trúc, chẳng tránh khỏi vung nắm tay trống rỗng hướng về chỗ ủng thũng của cư sĩ đấm một phát, dám bảo đảm bệnh trầm kha sẽ tiêu tan, máu độc đầm đ́a, vạn mạch lưu thông, trăm lóng xương thoải mái. Tuy là như thế, một người sao có thể khiến cho mọi người lành bệnh được? Chẳng thấy nói “dương hồi phiến diệp, Xuân măn thiên lâm” (khí Dương hồi sinh từng phiến lá, Xuân đầy ắp ngàn rừng) ư? Chuyện này hăy gác lại đó. Chỉ như suốt ngày nắm gậy trúc chỉ Đông, trỏ Tây, chẳng bằng một mực trên khúc gỗ, sáng tŕ, chiều giữ, giữ tới, giữ lui, bỗng dưng cây khô lại nở hoa, sẽ là người chết lại sống, nói chi gậy trúc hay khúc gỗ nữa? Dám đảm bảo cây cỏ, rừng rậm khắp đại địa sẽ đều thành Phật. V́ sao vậy? “Xanh xanh ngoài vật: Hư không thể” chính là cái tâm vững chắc ngay trong hiện thời.

 

* Trả lời quan Quận Bá Dư Tập Khê

 

          Hỏi: Kinh Kim Cang rất nhiều lượt tuyên dương “công đức thọ tŕ, đọc tụng, giải nói cho người khác vượt xa công đức do cúng dường trăm ngàn vạn ức na-do-tha Phật”. Hiện nay, do lời này [mà người ta] hễ liếc mắt xem, bàn bạc đôi chút, liền tự chấp là công đức; nhưng kinh này lấy “vô tướng, vô trụ” làm tông, chuyên v́ phá trừ hết thảy các tướng công đức. V́ thế, những người như Lương Vũ Đế tự nói chính ḿnh có công đức vô lượng, tổ Đạt Ma thẳng thừng phán định “chẳng có công đức!” Nếu nói “hễ đọc tụng, giải nói, công đức bèn vượt trội Phật”, tợ hồ chẳng phải là ư chỉ chánh yếu của kinh, hay là những lời lẽ [như thế] trong kinh nhằm khích lệ khiến cho chúng sanh trong đời Mạt ưa thích đó ư? Hay là huyền chỉ của kinh có cách nói khác ư? Có người nói “kinh Kim Cang nêu tỏ tâm địa”, lại có kẻ nói “xem kinh Kim Cang sẽ hiểu được [ư nghĩa của] bốn câu Cấn Bối”[7]. Lại có kẻ bảo “bổn nguyên chân thật chẳng bị xâm lấn, ăn ṃn, th́ gọi là Kim Cang”. Đúng hay chăng? Lại mong thầy đều phân tích chỉ dạy cho!

          Đáp: Mối nghi thứ nhất: Công đức tŕ kinh tối thắng như thế, thậm chí hơn xa cúng dường chư Phật. Chẳng thấy trong kinh có nói “nhất thiết chư Phật, cập chư Phật A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp, giai tùng thử kinh xuất” (hết thảy chư Phật và Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác của chư Phật đều từ kinh này mà ra) ư? Tức kinh này là mẹ của chư Phật, há công đức chẳng tối thắng ư? Lại nghi do [kinh Kim Cang] lấy “vô tướng, vô trụ” làm tông, chẳng nên tán thán công đức, [v́ tán thán công đức] tợ hồ là trụ tướng. [Nghi như vậy là do] chẳng biết công đức ấy chính là công đức “vô công đức”; đó gọi là công đức chân thật.

Ông lại nghi Đạt Ma quở trách công đức do Vũ Đế đă làm, nhưng cái bị ngài Đạt Ma quở trách là phước đức, chẳng phải là công đức! Phước đức và công đức có khác biệt. Vua hỏi: “Trẫm kể từ khi lên ngôi tới nay, dựng chùa, chép kinh v.v… chẳng tính nổi số, có công đức hay không?” Tổ Đạt Ma đáp: “Thật sự chẳng có công đức!” [Bởi lẽ], đó là tiểu quả trong đường trời, người, là cái nhân hữu lậu. Công đức ở trong Pháp Thân, chẳng do tu phước, tức là phước đức và công đức tự tách biệt rành rành! Nhưng lại nói “tŕ giới, tu phước” là v́ sao? Ấy là v́ làm phước mà chẳng trụ vào tướng phước, phước liền thành công đức, chẳng thể xem giống như phước nơi sự tướng được! V́ thế, trong kinh đả phá phước nơi mặt Sự, chẳng phải là phá trừ công đức. Chỉ cần biết công đức ấy cũng chẳng trụ chấp, tức là vẫn y như cũ chẳng đánh mất tông chỉ “vô tướng, vô trụ”.

Hơn nữa, nói “đọc tụng kinh này” chẳng phải là niệm theo câu chữ một quyển, hai quyển. Nói “giải nói kinh này” chẳng phải là giảng giải văn nghĩa một, hai buổi liền gọi là “thọ tŕ”. Nếu thật sự thọ tŕ, công đức há có thể nghĩ bàn ư? Đấy là nói chân thật, đúng theo lư, trọn chẳng phải là đả động khiến cho người đời hoan hỷ, cũng chẳng phải là cố ư lập ra huyền chỉ. Kim Cang là bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, chẳng đến, chẳng đi, chẳng một, chẳng khác, chính là bổn nguyên chân thật, chính là tâm địa vốn sẵn có. Ngộ thấu triệt điều này, sẽ không ǵ chẳng thấu triệt, há riêng bốn câu Cấn Bối ư? “Cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân” chỉ là không có ngă tướng. “Hành kỳ đ́nh, bất kiến kỳ nhân” chỉ là không có nhân tướng. [Nhưng kinh Kim Cang] c̣n có chúng sanh tướng và thọ giả tướng, bèn biết Kim Cang bao trùm bốn câu Cấn Bối, Cấn Bối chỉ nêu ra được nửa bài kệ của Kim Cang!

Vậy mà người xưa nói “xem một bộ kinh Hoa Nghiêm, chẳng bằng xem một quẻ Cấn”, có thể bảo là lời lẽ xằng vậy! Hoa Nghiêm trọn đủ vô lượng pháp môn, Kim Cang Bát Nhă tuy tinh diệu tột bậc, vẫn là một pháp môn trong vô lượng pháp môn của kinh Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm như thiên tử, Kim Cang Bát Nhă là một quan chức trong văn vơ bá quan. Quẻ Cấn c̣n chưa nói trọn hết Bát Nhă, mà muốn vượt trội Hoa Nghiêm, giống như gă quan quèn chưa được xếp cùng hàng với bậc khanh tướng, lại bảo hơn hẳn thiên tử! Sai lầm ấy nói sao cho cùng? Những chuyện lan man hăy gác lại đó, chỉ trong hiện thời, [hăy nói xem] kinh này rốt cục là ở chỗ nào?

 

* Trả lời quan Tông Bá Vương Trung Minh

 

          Hỏi: Khi mừng, giận, buồn, vui chưa phát ra th́ là Trung. Lại nói: “Trung không có cái Thể nhất định, tùy thời tồn tại”. Đă nói là “tùy thời”, há chuyên chỉ “chưa phát ra”?

          Đáp: Do tùy thời mà gọi là Trung. V́ sao? Mừng, giận, buồn, vui chưa phát ra là “Trung trong khi tĩnh”. Đă phát ra mà có thể kiềm chế thích hợp th́ là “Trung trong khi động”. V́ thế gọi là “cái Trung tùy thời”. Nếu nó có một cái Thể cố định, trọn chẳng có lúc phát động, sẽ lệch vào khô tịch, sao gọi là Trung cho được? Trung là chẳng động, chẳng tĩnh, mà thường động, thường tĩnh, chẳng thể nghĩ bàn tột bậc! Nói tách ra th́ là Trung và Ḥa, nói gộp lại th́ một chữ Trung đă gồm trọn hết.

Sách Trung Dung [luận định về Trung] chẳng ra ngoài ư này. Đầu tiên nói: “Thiên mạng chi vị tánh” (Thiên mạng được gọi là tánh). Khi chưa phát ra th́ thuộc về trời, chẳng thuộc về người. Cái “tánh” vừa nói đó chính là Trung. Chẳng trở ngại tùy thời phát ra là đạo hướng theo tánh. Dạy cho [mọi người] tu đạo, an lập trời đất, sanh thành vạn vật v.v… Cuối cùng nói: “Thượng thiên chi tải, vô thanh, vô xú, chí hỹ” (Trời cao chuyên chở, chẳng có âm thanh, chẳng có mùi vị, đạt tới tột cùng). Nói “chí” (至, tột cùng) th́ cái tột cùng ấy chính là Trung. Trung Dung đă đạt tới cái tột cùng ấy, chẳng trở ngại tùy thời phát khởi Tam Đức, Ngũ Đạo, Cửu Kinh, Kinh Luân, Tham Tán[8] v.v… Lư tột cùng của tam giáo ở ngay trong ấy, không ǵ chẳng quán triệt. Nay muốn chính là Nho, là Thích, là tục, là chân, chỉ cần hướng vào trong ấy, sẽ trọn đủ một mắt (tức là “trọn đủ huệ nhăn”).

 

* Trả lời quan châu thủ Quảng Triêm Tiền Dưỡng Thuần

 

          1) Hỏi: Tâm này phóng dật đă lâu, tuy dùng niệm Phật để nhiếp tŕ, tạm được rồi lại mất, làm như thế nào để ǵn giữ chẳng mất?

          Đáp: Chỗ đất phản nghịch lâu ngày, một trận chiến chẳng thể đạt được hiệu quả! Chỉ cốt sao kiên quyết, dũng mănh chẳng lùi, măi cho tới khi tâm địa mở mang, sáng suốt, tự nhiên sẽ vĩnh viễn đạt được!

          2) Hỏi: Vượn (cái tâm buông lung) vừa bị xiềng (nhiếp tâm), liền bị hôn trầm. Dùng thanh tỉnh để chế ngự, phấn chấn [tinh thần để đối trị] rồi lại tán loạn, làm thế nào để hàng phục?

          Đáp: Tịch tĩnh trị tán loạn. Hễ tán loạn bèn sanh ra hôn trầm. Tỉnh giác trị hôn trầm. Hễ hôn trầm liền sanh tán loạn. Chỉ và Quán cùng đối trị, hôn trầm và tán loạn sẽ đều lui. Nay chỉ cần chuyên ṛng sáng suốt niệm Phật, niệm mà chẳng có một niệm nào, sẽ là chuyên ṛng. Niệm mà phản chiếu, đó là sáng suốt. Hễ chuyên ṛng th́ là Chỉ, sáng suốt chính là Quán. Một pháp niệm Phật mà Chỉ và Quán cùng trọn!

          3) Hỏi: Đi, đứng, ngồi, nằm, trong bốn oai nghi đều có thể tham cứu hay chăng? Như khi bận việc, bèn có phương tiện để có thể hệ niệm hay không?

          Đáp: Đi, đứng, ngồi, nằm đều có thể dụng tâm, nhưng khi ngồi là tốt nhất; nhưng người mới học, trước hết cần phải đi nhiều, ngồi ít. Nếu tham ngồi, hôn trầm sẽ chẳng thoái lui được! Vô sự hay hữu sự đều có thể dụng tâm, nhưng vô sự tốt hơn. Trước hết, cần phải tu tập nơi chỗ an tĩnh; sau đó mới có thể luyện tập nơi náo động. Đối với phương tiện [để áp dụng] khi dính dáng sự việc, cũng chẳng có cách nào khác, chỉ là [giữ cho] niệm ấy tinh chuyên mà thôi. Thoạt đầu khó tŕ, lâu ngày sẽ là tự nhiên.

          4) Hỏi: Cổ nhân dùng quán tâm làm mắt, lấy kinh giáo làm mặt trời. Mặt trời chiếu sáng, mắt càng ngày càng nh́n xa. Lại nói: “Khô thiền chẳng có huệ”. Nay một dạ niệm Phật, có thể phát huệ hay không?

          Đáp: Xem Giáo như đọc sách thuốc. Dụng công nơi tâm địa như uống thuốc. Trước hết, hiểu rơ sách thuốc, tự nhiên là chánh lư. Người học đạo quư ở chỗ biện định rành rẽ “tà, chánh, đại, tiểu, thiên, viên” mà thôi. Nay chẳng rảnh để xem trọn khắp, chỉ xem một kinh Lăng Nghiêm cũng được! Đă chuyên tu Tịnh Độ, đối với kinh luận và các sách Tịnh Độ đều phải xem một lượt rồi mới buông xuống văn tự, nhất tâm niệm Phật. C̣n như nói đến Huệ th́ thông hiểu kinh giáo, khéo diễn nói, chỉ bàn suông nơi miệng, chẳng đạt được nơi tâm; đó là cuồng huệ. Chân tham thật ngộ mới gọi là chánh huệ. Sau khi đă hiểu rơ Giáo, nhất tâm niệm Phật, sẽ phát sanh cái huệ ấy.

          5) Hỏi: Bảy chỗ gạn tâm [trong kinh Lăng Nghiêm], tâm chẳng ở trong, ngoài, khoảng giữa. Nhị Tổ hỏi an tâm, [Sơ Tổ bảo “đem cái tâm ra”, Nhị Tổ thưa t́m] tâm chẳng thể được, [Sơ Tổ] nói “an tâm đă xong”. Đấy chẳng phải là cảnh giới của phàm phu, nay muốn trụ trong đối diện niệm (trạng thái trực tiếp quán chiếu tâm niệm) th́ nên làm như thế nào?

          Đáp: Đừng quản bảy chỗ hay tám chỗ, cũng đừng bận ḷng an hay chẳng an, cũng đừng quan tâm đối diện hay không đối diện, chỉ cần nhất tâm niệm Phật. Cổ đức nói “hướng thẳng đến Vô Thượng Bồ Đề, hết thảy đúng, sai chẳng bận tâm!”

          6) Hỏi: Kiếm sống, chăm lo sản nghiệp đều chẳng trái nghịch Thật Tướng. Thệ nguyện trong Phật pháp là cứu vớt rộng răi, chẳng yêu mến tóc, da[9], nhưng t́nh thức kiếm sống hễ c̣n một phần mười th́ làm sao viên giải cho được?

          Đáp: Nếu một mực đề cao hướng tới giáo nghĩa cao thâm, không chỉ là mưu sinh, lo liệu sản nghiệp, mà ngay cả giết, trộm, dâm, dối, có bao giờ trái nghịch Thật Tướng? Nay luận theo thế gian, một phần mười là thường lư trong thế gian, cũng chẳng trở ngại đạo, nhưng nếu là kẻ lừa dối để kiếm lợi th́ chẳng được!

          7) Hỏi: Học đạo trước tiên cần phải có nhân duyên chứng ngộ, đó gọi là “đốn ngộ, tiệm tu”. Xem khắp các vị Thiền túc xưa nay, cố nhiên là có vị coi kèm thêm Giáo để nói Thiền là rườm rà, cũng có vị coi t́m ṭi trong kinh sớ là “vào biển đếm cát”; nhưng [dựa theo] tông chỉ của năm nhà (năm tông phái Thiền), ngữ lục, công án của các vị tổ sư nhà Thiền, ai nấy đều tham cứu cái tâm, tuy nói “chẳng do ǵ khác mà ngộ”, nhưng chẳng phải là cái được gọi là “duyên nhân” đó ư? Nếu đă không có người hướng dẫn tốt lành, lại kém đa văn, ngồi khô khốc đợi ngộ, có thể ngộ hay không? Nay con tuổi đă cao, khó thể đọc trọn khắp, trí nhớ chẳng như trước, vừa xem liền quên. Tức là cái nhân duyên để ngộ chẳng thể có, làm thế nào để chẳng đọa lạc? Chuyện này giống như trong câu hỏi thứ tư, nhưng nỗi nghi hoặc chất chứa vốn chỉ ở chỗ này, cho nên con lại phiền muộn, bực dọc!

          Đáp: Đại ư đă nói trọn trong câu hỏi thứ tư. Chương Thế Chí Viên Thông trong kinh Lăng Nghiêm lại nói: “Ức Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật. Bất giả phương tiện, tự đắc tâm khai” (nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại và tương lai, nhất định thấy Phật. Chẳng nhờ vào phương tiện, mà tâm tự khai ngộ); tức là niệm Phật há chẳng phải là nhân duyên khai ngộ ư? Trong hai mươi lăm vị thánh, [nguyên do] pháp [Niệm Phật] này chẳng được chọn lựa là pháp Viên Thông đă được biện định trong các bản khắc in như [A Di Đà Kinh] Sớ Sao, đừng ngờ vực!

 

* Trả lời cư sĩ Châu Tây Tông

         

          1) Hỏi: Trong khi bị khổ sở bức bách, niệm Phật như thế nào?

          Đáp: Khổng Tử nói “chung thực tạo thứ điên bái bất vi nhân”[10]. Công phu “chẳng trái nghịch” ấy, tuy nhất thời chẳng dễ [đạt được], nhưng thực hiện chẳng ngừng, sẽ trở thành tự nhiên! Huống hồ hành tŕ rất lâu, bỗng dưng có chỗ tỉnh th́ “khổ, lạc, thuận, nghịch”, đạo đều ở trong ấy. Đó gọi là “ho, khạc, vẫy tay, không ǵ chẳng phải là ư của tổ sư từ phương Tây đến”, cũng do thuần thục mà thôi!

2) Hỏi: Quán tướng hảo rộng lớn của Phật chẳng thể thành tựu!

          Đáp: Cổ đức bảo: “Tâm chúng sanh xen tạp, quán tưởng khó thành. Đại thánh xót thương, thẳng thừng khuyên chuyên tŕ danh hiệu”. Nay hăy tŕ danh, đành gác quán tưởng lại chẳng bàn nữa!

          3) V́ sao giới học tại gia khó ṛng rặt?

          Đáp: Giới tại gia và xuất gia tự chia thành sơ lược và cẩn mật, [chỉ cần] chẳng vượt ngoài căn bản, đối với những chỗ vi tế, dẫu hơi có sai lệch cũng vô hại. Người xưa so sánh thừa và giới hoăn hay gấp, coi “thừa gấp, giới hoăn” là tối thắng; do vậy biết: Tu hành cố nhiên coi tŕ giới là trọng yếu, nhưng thấy đế lư, sáng tỏ tâm địa, lại càng là điều trọng yếu tột cùng trong các điều trọng yếu. Đó gọi là “thừa cấp”.

 

* Trả lời cư sĩ Vương Đại Khế

 

          Hỏi: Đệ tử tự xem bài Giới Sát Văn của thầy bèn ăn chay trường, chỉ có điều cái tâm sắc dục lừng lẫy, chẳng thể diệt trừ. Xin thầy phương tiện dạy bảo, khiến cho con quán dục lạc hệt như nỗi thê thảm do sát sanh, vĩnh viễn dẹp trừ cái tội do dục ngăn chướng.

          Đáp: Sát là chuyện khổ, v́ thế nói là “thảm” dễ dàng. Dục là chuyện vui. V́ thế nói nó là “thảm” sẽ khó khăn. Nay tôi lập một thí dụ: Công khai bỏ thuốc độc trong đồ ăn dở; đó là nỗi thảm của sự sát sanh. Âm thầm bỏ thuốc độc vào trong đồ ăn ngon, đó là nỗi thảm của dục. Người trí tự suy nghĩ chuyện này!

 

* Trả lời cư sĩ Giang Quảng Ưu

 

          1) Hỏi: Nhất tâm bất loạn từ một ngày cho tới bảy ngày, liền được văng sanh. Nếu nhất tâm trong ṿng một ngày tới bảy ngày, sau đấy lại chẳng nhất tâm, có được văng sanh hay không?

          Đáp: Đă có thể nhất tâm, sau đó, tâm tán loạn đôi chút, chắc chắn không tới mức quá sức tán loạn. Như Nhan Tử (Nhan Uyên) suốt ba tháng chẳng trái nghịch ḷng nhân, chẳng lẽ sau ba tháng đó, ông ta là kẻ ác? Những người ấy dẫu trong tâm có vọng sanh, [cũng giống] như chút tuyết trong ḷ lửa hừng hực, [tuyết] chưa rơi vào ḷ đă tan mất, lẽ nào chẳng văng sanh?

          2) Tông Kính Lục nói “nhậm vận” (tùy ư), có ǵ khác với “nhậm” trong “tác chỉ nhậm diệt”[11]?

Đáp: Người Hồ đến, Hồ hiện; Hán đến, Hán hiện; đó là “nhậm vận”. Kênh đào hướng về Đông, ắt nước chảy sang Đông. Kênh đào hướng về Tây, ắt nước chảy về Tây. Đó là tùy tiện (tức Nhậm trong Tác Chỉ Nhậm Diệt).

          3) Hỏi: Con biết sâu xa ngũ dục chẳng thể [buông lung theo chúng], nhưng lại không thể đoạn [ngũ dục] là v́ sao?

          Đáp: Người có giải sẽ có ngộ. Đấy chỉ là có giải mà chưa ngộ!

          4) Hỏi: Tịch (闢, hiểu thấu đáo sâu xa) và Giải có ư nghĩa khác nhau như thế nào?

          Đáp: Giải như tranh vẽ thiên lư mă, Tịch th́ như [thật sự] kéo một con thiên lư mă đến!

          5) Hỏi: Người tại gia tu hành sợ rằng trọn chẳng sánh kịp người xuất gia?

Đáp: Tuy trăm người thợ phải ở nơi chợ búa để thành tựu sự nghiệp, nhưng người tại gia mà có thể chứng đắc trong ngũ dục, như sen trong lửa, sau đó gặp nước sẽ càng tăng trưởng. Nếu sanh trong nước, sau đó gặp lửa, sợ rằng sẽ cháy tiêu!

          6) Hỏi: Tại gia giữ giới như thế nào để bằng người xuất gia?

          Đáp: Giới cũng chính là tháp báu chỉ có một tầng!

          7) Hỏi: Khi mới tỉnh ngủ, chánh niệm khi ấy chẳng bằng trước đó?

          Đáp: Cổ nhân nói: “Khi tỉnh th́ mười phần tự làm chủ. Trong mộng th́ một phần cũng chẳng làm chủ được! Lúc sống mười phần tự làm chủ. Lúc chết th́ một phần cũng chẳng làm chủ được!”

          8) Hỏi: Sợ rằng kẻ chẳng tin Tịnh Độ chỉ vốn là kẻ bạc phước?

          Đáp: Lời ấy rất đúng!

          9) Hỏi: Trong kinh Hoa Nghiêm, v́ sao Bồ Tát nói nhiều, Phật nói ít?

          Đáp: Đấy là đức Phật gia bị họ nói, như tể thần (các quan đại thần) phụng mạng thiên tử mà tuyên cáo sắc chỉ, chẳng phải là tể thần tự chuyên!

          10) Hỏi: Tử Dương (Châu Hy) trọn luôn báng pháp, sẽ mắc quả báo ǵ?

          Đáp: Mỗi thứ đều có báo. Ông ta là hiền nhân trong Nho gia, ắt có phước trời, người, nhưng do đă bài bác Phật, sẽ khó được nghe pháp!

 

* Trả lời cư sĩ Ngô Quảng Dĩnh

 

          1) Hỏi: Phương pháp giữ thân, xử thế để có thể suốt đời ǵn giữ, xin thầy hăy khai thị điều cương lănh!

          Đáp: Chỉ cần nương theo một lời trong Luận Ngữ, lại c̣n tiến thêm một bước, quán cơi đời như mộng, quán thân như huyễn là được!

          2) Hỏi: Nho nói “tri hành”, Phật nói “ngộ tu”, [hai đằng đều] chẳng riêng phế bỏ một điều nào. Phái Thiền Tông chỉ nói “sau khi đă ngộ, bèn liễu sanh tử” là v́ lẽ nào?

Đáp: Ngộ có lớn hay nhỏ. Kẻ nói “ngộ rồi chẳng tu tŕ nữa” chắc là phường “được chút ít đă cho là đủ”, chẳng phải cuồng th́ là ngu.

          3) Hỏi: Thiện ác báo ứng, mỗi đằng đều ở nơi thân người ấy, lục đạo thăng trầm chẳng thể dối được! Nhưng lại có chuyện con cháu lănh thay [cho tổ tiên] họa ương hay cát khánh là v́ lẽ nào?

          Đáp: Con cháu mắc hại v́ là kẻ có ác nghiệp, sanh vào nhà cực ác để hứng chịu họa ương, đôi bên hoàn toàn tương ứng! Đối với cát khánh, có thể dựa theo đó mà suy ra.

          4) Hỏi: Kinh ca ngợi phước do lễ bái, “từ dưới đầu gối cho đến kim cang tế, cứ mỗi hạt bụi là một địa vị Chuyển Luân Vương”, nhân bé tí, quả to đùng, người ta chẳng thể tin tưởng!

          Đáp: Hạt trái cây tuy bé mà có thể sanh ra ngàn cành, vạn lá!

          5) Hỏi: Người tu hành làm việc nặng nề, cố nhiên là bổn phận của người ấy; nhưng nếu có kẻ sắc thân yếu ớt, rũ tay ngồi yên, nhiếp tâm niệm Phật th́ cũng có thể đắc đạo văng sanh hay chăng?

          Đáp: Thật sự có thể nhất tâm bất động th́ được!

          6) Hỏi: Niệm Phật cố nhiên quư ở chỗ niệm niệm liên tục, nhưng có lúc oai nghi không tề chỉnh, đâm ra dường như khinh nhờn. Chẳng hạn như lúc cởi khăn [đội đầu], mặc áo lót, ḿnh trần nằm ngủ, hoặc tắm rửa, cho đến khi đại tiểu tiện th́ đều có thể niệm Phật hay không?

          Đáp: Thầm niệm th́ chẳng trở ngại.

          7) Hỏi: Xin thầy dạy rơ một câu tổng cương lănh về Bồ Tát Giới!

Đáp: Phát tâm rộng lớn là tổng cương lănh.

          8) Hỏi: Nếu có hai người, một người ăn thịt nhưng chẳng phế niệm Phật, một người ăn chay nhưng trọn chẳng niệm Phật. Hai người ấy ai hơn?

          Đáp: Hai người ấy chỉ có cùng một bệnh! Người niệm Phật tốt hơn một chút, tốt hơn người chẳng biết có Phật!

          9) Hỏi: Lại có hai người, một người chưa từng thọ giới mà chẳng phạm, một người từng thọ giới nhưng vi phạm, tội người nào nặng hơn?

          Đáp: Giống như hai người trước, do [người thọ giới] tuy phạm, nhưng vẫn hơn người chẳng biết có giới.

          10) Hỏi: Niệm Phật bốn chữ hoặc sáu chữ, hơi có rườm rà hay đơn giản khác biệt. Kinh văn chỉ nói “chấp tŕ danh hiệu”, dường như chỉ có bốn chữ. Hiện thời, tùng lâm niệm theo sáu chữ, rốt cuộc như thế nào mới là đúng? Đại sư tự dùng cách nào?

          Đáp: Bốn chữ tự niệm, sáu chữ là niệm cùng đại chúng.

          11) Hỏi: Suốt ngày niệm Phật, gặp phước bèn làm. Xin thầy dạy rơ: Khi làm phước, tâm đặt nơi chuyện làm phước, chẳng đặt nơi Phật hiệu. Nắm lấy thứ này, buông thứ khác, có thể gọi là nhất tâm bất loạn hay không?

          Đáp: Gương sáng vốn là không, vật tới bèn hiện. Đối với gương rỗng không, có ǵ trở ngại cho người? Chỉ là sự đưa đến bèn nghênh tiếp. Nếu sự đă qua bèn lưu lại, vướng mắc, th́ là bệnh!

 

* Trả lời cư sĩ Châu Bạch Dân

 

          Hỏi: Tham Thiền và niệm Phật có thể sử dụng dung thông hay không?

          Đáp: Nếu đúng là hai vật th́ có thể sử dụng dung thông.

 

* Trả lời cư sĩ Đới Chí Khiết

 

          Hỏi: Nói “dứt tuyệt niệm”, thật ra là nói về vọng niệm, chứ chánh niệm Vô Sanh, há có thể dứt tuyệt? Sau khi đă dứt bặt vọng, trí và cảnh hai đằng đều mất, quang cảnh viên diệu chẳng thể nghĩ bàn. Sáu con ngựa có thể điều phục, chứ chánh niệm khó giữ. Nước trong mâm có thể nâng lên, chứ vọng tâm khó chế ngự. Dẫu tŕ th́ đă đánh mất cái ban đầu, huống hồ lại chẳng thể chế ngự lâu được! Lại c̣n do mộng tưởng điên đảo, mắt nh́n vào hoa đốm trên không. Lại mong thầy từ bi vẹt mây mê cho con được thấy vầng thái dương giữa trời, giúp cho con được lên bờ kia, siêu độ chúng sanh, công đức vô thượng.

          Đáp: Đă đạt tới “cảnh và trí đôi đằng cùng mất”, cần ǵ nói tŕ hay chế ngự nữa! Tŕ chẳng được, chế ngự chẳng thể, sao chẳng nhất tâm niệm Phật, tự nhiên chẳng tŕ mà tŕ, chẳng chế ngự mà chế ngự, ngay trong mỗi niệm mà nhận biết người niệm? Sau đấy mới đạt tới “trí và cảnh đôi đằng cùng mất”, đạt được Vô Sanh Nhẫn th́ mới có phần tiến hướng. Đấy chính là thuyền từ, chính là bờ kia, chính là công đức vô thượng.

 

* Trả lời cư sĩ Quảng Ức Tôn Vô Cao

 

          Hỏi: Gần đây, con tŕ giới khá nghiêm, tuy đối với tiểu đức chưa hoàn toàn thấu triệt, nhưng đối với đại đức đă chẳng vi phạm. Ngoài ra, thầy c̣n có một hai lời để con có thể dùng làm châm ngôn suốt đời hay chăng?

          Đáp: Xưa kia, Tử Cống hỏi xin một lời để [làm châm ngôn] suốt đời, phu tử dùng chữ Thứ (恕, khoan dung) để đáp; nay tôi dùng một chữ Giới để ông làm châm ngôn suốt đời, không ǵ chẳng trọn hết! V́ lẽ nào vậy? Ấy là v́ nhiếp tâm chính là giới. Nếu hướng theo pháp môn tâm địa để lănh hội, hết thảy sẽ trọn đủ, c̣n luận tŕ giới hay chẳng tŕ giới chi nữa! Nếu chẳng phải vậy, cần phải mỗi mỗi đều y giáo phụng hành. Kinh dạy: “Nhiếp tâm là Giới, do Giới sanh Định. Do Định phát huệ”. Định và Huệ chính là cái quả toàn vẹn của đức Phật. Từ ngay nơi Định mà chính là Huệ, tức là Tịch mà thường Chiếu. Từ ngay nơi Huệ mà chính là Định, tức là Chiếu mà thường Tịch. Thường tịch, thường chiếu, gọi là Thường Tịch Quang, tức là hết thảy đều bắt nguồn từ Giới. Giới trọng yếu thay!

Giới có nhiều loại: Ưu-bà-Tắc ngũ giới, Sa-di thập giới, Tỳ-kheo hai trăm năm mươi giới, Bồ Tát mười giới trọng, bốn mươi tám giới khinh, cho tới ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh; nhưng chỉ xét theo đại cương th́ Ngũ Giới là căn bản. Nho cũng có khi nói tới Giới, tuy Giới [của Nho gia] chưa hoàn bị, nhưng ngầm hợp với Giới do đức Phật chế định. Phu tử nói quân tử có ba giới, giới sắc thuộc dâm giới, giới đấu đá thuộc vào sát giới, giới đắc (tức chẳng lấy của cải phi nghĩa) thuộc vào đạo giới (giới không trộm cắp). Dâm, giết, trộm càng là trọng yếu nhất trong Ngũ Giới. V́ thế, nêu ra điều trọng yếu để khái quát những điều c̣n lại. C̣n như nói “trung tín, chẳng uống rượu quá mức”, có thể thấy trong những chỗ khác, cũng nhằm bồi dưỡng sẵn giới này, khiến cho [quân tử] chẳng buông lung. Nhưng giới của Nho sơ lược, giới của Phật kín kẽ. Đức Phật chế định giới sát, vi tế tới các loài trùng bọ; c̣n Nho chỉ nói “vô cố sát ngưu, dương, khuyển, thỉ đẳng” ([cấm không được] chẳng có duyên cớ mà giết trâu, dê, chó, lợn v.v…), chẳng nói “không giết”. Chỉ nói “điếu bất cương, dặc bất túc” (câu chứ không thả lưới, chẳng bắn con chim đang đậu), chẳng nói “không câu, không bắn”.

Lại xét đến cùng cực, vừa mới tức giận, ghen ghét, tức là sát giới bất tịnh. Mắt chấp sắc, tai chấp tiếng, tức là giới trộm bất tịnh. Cách vách nghe tiếng thoa, xuyến [khởi tâm đắm luyến], tức là giới dâm bất tịnh. Đạt tới mức thân và tâm đều đoạn th́ Sự và Lư mới cùng trọn hết. Nay hằng ngày ở tại nhà phụng sự song thân, dốc sức nơi đường xe ngựa (theo đuổi khoa cử), sẽ là chỗ gởi gắm của xă tắc, nhân dân [trong tương lai], chuyện tŕ giới há có thể mỗi điều đều luận định giống như người xuống tóc, khoác áo thâm được ư? Do vậy, những điều khoản vi tế chẳng thể hoàn toàn vâng giữ, sẽ chưa phải là phá giới. Chỉ cốt sao dốc sức nơi trọng yếu trong tâm học, một mai hoát nhiên đại ngộ, dẫu ho, khạc, vung tay, không ǵ chẳng phải là Tỳ Ni thanh tịnh! Thế nhưng, chớ nên “chưa đắc mà nói là đắc”, phát sanh cuồng giải, bèn nói “uống rượu và ăn thịt chẳng trở ngại Bồ Đề, trộm cắp, hành dâm, chẳng ngăn trở Bát Nhă”, đọa lạc vào cảnh giới của Ma La. Nếu thật sự có thể luôn luôn phản chiếu, mỗi khắc đều tự cảnh tỉnh, dốc công sức tham cứu câu thoại đầu “người niệm Phật là ai?”, sẽ không chỉ mai sau có chỗ sáng tỏ, mà ngay trong hiện thời, sẽ tự đắc lực, trong xử sự thường ngày sẽ làm chủ tể, chẳng bị vật chuyển. Dẫu sống trong hoàn cảnh thanh, sắc, danh lợi, vợ con, quyến thuộc ngày đêm tiếp xúc, chẳng trở ngại chuyển dời thích ứng cơi đời, ḥa lẫn trong cơi tục, tự nhiên vượt khỏi bùn nhơ chẳng nhiễm. Đó gọi là môn đại giải thoát trong cơi trần. Dùng đó để tự lợi, dùng đó để lợi tha, có ǵ mà chẳng tốt lành? Thư ông hỏi “nên làm như thế nào để ở trong cơi đời mà chẳng bị đời ô nhiễm, đă có ích cho người khác lại có lợi cho ḿnh”, há ra ngoài những điều này chăng? Mong ông hăy trân trọng, gắng sức thực hiện, mong lắm thay!

 

* Trả lời cư sĩ Quảng Thạc Trầm Ngu Công

 

          Hỏi: Nương theo sách Thiền Môn Khẩu Quyết để tu tŕ như thế nào?

          Đáp: Đây là tiểu pháp môn phương tiện. Sách ấy c̣n chẳng sánh bằng sách Đồng Mông Chỉ Quán, chớ nên chấp là pháp an tâm rốt ráo!              

 

15.3 Trích đáp (trích lược các câu giải đáp – do lời hỏi rườm rà nên không sao lục)

* Trả lời cư sĩ Châu Giang Sơn (gồm hai điều)

 

          Đọc sách Trực Chỉ có thể nói là nắm được tâm tông của đạo học, tôi hết sức khâm phục! Tuy nhiên, nếu tựa đề của sách là Nho Môn Trực Chỉ, tôi đâu dám chơ miệng! Nay nói là Thiền Môn Trực Chỉ, sợ chưa đúng lắm! Tôi tàn phế, suy bại, già nua, bệnh tật ngày càng nặng, thân thể suy nhược, tinh thần hôn trầm, lười nhác, chẳng có sức để ứng đối, đành nêu đại lược một hai điều để phúc đáp.

          Một, ông chỉ căn cứ vào các thuyết “có giảm chẳng tăng, hết thảy hiện thành” v.v… của các vị quân tử thuộc môn hạ của phái Lương Tri (phái Lư Học của Vương Dương Minh), liền muốn ḥa hội Nho và Thích, bèn bảo Thiền Trực Chỉ của Đạt Ma cũng chỉ là như vậy, nào có biết Phật pháp chẳng phải là đạo lư ấy, há đàm luận dễ dàng ư? Đừng tự lầm, khiến cho người khác lầm lạc, gây hại chẳng nhỏ. Ông là người tột bậc thông minh, hăy nên dùng b́nh tâm, hư tâm, tâm tinh tế, tâm trầm ổn, tâm kiền thành, tâm chân thật để cầu xuất thế, nhiều lượt thong thả xem đọc kinh luận do Phật, Bồ Tát đă nói, và các ngữ lục, văn tự do các vị tôn túc trước tác, sẽ tự có chỗ lư hội, chớ nên qua loa!

          Hai, Trúc Song Tùy Bút có nói “tai không bằng mắt” là v́ kẻ chẳng biết chữ lấy tai làm mắt. Tai nghe nhận hữu hạn, c̣n mắt th́ xem đọc vô cùng. Lại mở rộng ra, mắt xem đọc c̣n hữu hạn, nhưng tâm ngộ sáng vô cùng hơn nữa! Đấy chính là ư nghĩa kinh Lăng Nghiêm chọn lựa sáu căn, mỗi đằng đều tự có ư nghĩa riêng, có ǵ dính dáng đâu? Nhưng ông lại rộng trích dẫn phần kinh văn nói về Nhĩ Căn Viên Thông, tợ hồ bất b́nh v́ Nhĩ Căn bị ủy khuất! Ví như trong cửa Khổng, luận định ḷng nhân, riêng đề cao Nhan Tử (Nhan Uyên), nhưng lúc nói đến chí hướng, lại đề cao Tăng Điểm. Nay muốn v́ Nhan Tử bị ủy khuất mà trách móc phu tử ca ngợi Tăng Điểm th́ có được hay không?

Hơn nữa, Trúc Song Tùy Bút là lời lẽ của gă phàm phu tàn phế, hủ bại, [thế mà] ông c̣n hiểu lầm ư nghĩa, huống hồ đối với lời lẽ của bậc đại thánh nhân vượt thoát tam giới, huống hồ đối với lời lẽ của bậc đại thiện tri thức siêu việt là cụ Đại Huệ Tông Cảo mà chẳng bị hiểu lầm ư? Ông chỉ cần làm một bậc tông sư về đạo học trong Nho môn, khơi gợi, hướng dẫn cho hậu nhân là hết sức tuyệt diệu rồi! Chẳng cần phải viện Giáo, dẫn Tông, b́nh luận ưu, khuyết, sợ rằng lời lẽ đối với nghĩa lư thâm huyền sẽ chẳng thỏa đáng, đâm ra chẳng hay! Đối với chuyện “tịch cảm, hư không tiêu mất, giữ sự u nhàn bên trong” v.v… của học phái Lương Tri, tôi chẳng có sức để giải đáp hết. Cứ phỏng theo [những điều vừa nói trên đây] để suy ra, sẽ biết. Người xưa có nói “chẳng thể coi Phật pháp như t́nh kiến thông thường của con người”, tôi cũng biết ông là bậc cao minh, ắt chẳng quở trách, cho nên mới nói thẳng, mong ông dung thứ!

 

* Trả lời cư sĩ Quảng Quyến Vương Vạn Cơ (năm điều)

 

          1) Nói “khiển chi, hựu khiển chi” (trừ bỏ, lại trừ bỏ) chính là lời lẽ cùng tột. Người hiểu lầm lời ấy, đối với các vọng tưởng cũng chẳng dứt diệt, khiến cho cam lộ, đề hồ đâm ra trở thành tỳ sương, trấm độc, đáng than lắm thay! Nay chỉ thực hiện công phu trong hết thảy các thời, chẳng dấy vọng niệm, đợi tới đoạn sau sẽ lại lư giải.

2) Vô phân biệt mà đánh mất Chiếu th́ gọi là vô kư, chẳng phải là trí. Có phân biệt nhưng chiếu thể thường tịch, vẫn là trí. Nay chẳng quản phân biệt hay không phân biệt, một mực chuyên chú nơi chánh niệm.

3) Ngộ có cạn, sâu, lớn, nhỏ, ngàn chốn, vạn chốn, hễ thấu triệt th́ cũng tùy thuộc chỗ ngộ của chính ḿnh mà thôi! Như chủ của một ấp sẽ thống ngự ngàn vạn người trong ấp ấy, suy rộng ra th́ một quận, một nước cũng đều là như thế. Cho tới đức Thế Tôn thấy sao Mai mà đại ngộ th́ mới là thỏa đáng.

4) Biên chép kinh văn, sám hối rất tốt. Muốn đoạn tuyệt tận cội nguồn th́ cần phải Lư sám, tức là quán tánh của tội vốn là không.

5) Niêm tụng công án của cổ nhân, chẳng phải là không có kiến xứ, [nhưng trong ấy] có đă đạt và chưa đạt (tức là đă kiến đạo thấu triệt hay không). Người hiện thời phần nhiều đoán ṃ, chẳng phải là bậc đại triệt sẽ chẳng thể vạch trần, tạm gác lại đó th́ hơn!

 

* Thư trả lời Tưởng cư sĩ ở Dư Diêu (hai điều)

 

          1) Dục là căn bản sanh ra con người. Đúng là rất khó đoạn trừ! Có Bất Tịnh Quán để trừ đằng ngọn. Nếu xoay lại, tham cứu chỗ khiến cho dục niệm dấy lên th́ là trị đằng gốc. Nay chỉ cực lực tham cứu chuyện niệm Phật là được.

2) Tŕ danh niệm Phật, lại c̣n chuyên nhất tŕ danh, chỉ khi lễ Phật mới tác quán th́ cũng được!

 

* Trả lời cư sĩ Châu Bạch Dân (ba điều)

 

          1) Tham Thiền chẳng có phương tiện nào khác, chỉ cốt sao tin chắc chắn, chẳng ngờ vực, như ngài Quy Sơn đă nói “nghiên cứu lư tột cùng, coi ngộ là mục tiêu” mà thôi!

2) Người khác bảo “ta chỉ cầu Tây Phương”, tôi thật sự cầu Tây Phương mà vẫn chưa thể. Người khác bảo “ta c̣n tham cứu nghĩa lư”, tôi thật sự tham cứu nghĩa lư nhưng vẫn chưa thấu triệt.    

3) Cái thuyết “đảnh thánh, nhăn thiên” ([khi người mất] đỉnh đầu c̣n ấm sẽ sanh vào cảnh giới của thánh nhân, mắt c̣n ấm th́ sanh lên trời) cũng chẳng hề luôn đúng như thế. Nhân duyên lâm chung của tôn đường[12] đương nhiên là cảnh giới tốt đẹp, có thể biết quả báo trong đời sau sẽ thù thắng, chẳng cần phải ngờ nữa!

 

* Trả lời cư sĩ Cung Quảng Kỳ (ba điều)

 

          1) Bất luận tại gia hay xuất gia, chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm bất loạn; đó chính là bốn chữ “chấp tŕ danh hiệu”, là chỗ để tiến nhập. Đối với hai chữ “chấp tŕ”, đừng loáng thoáng xem lướt qua!

2) Quay lại chiếu soi “người niệm Phật là ai?” có cùng một ư nghĩa với tham Thiền.

3) Có thể xem các kinh Đại Thừa, nhưng phải chú trọng lấy chánh niệm làm chủ.

 

* Trả lời Đại Kính (ba điều)

         

          1) Hai vị Phật trong tháp, biểu thị “vật và ta chẳng phân biệt, xưa nay nhất trí”, chẳng phải là Nhị Đế (phẩm Hiện Bảo Tháp của kinh Pháp Hoa).

2) Tâm dùng ǵ làm Tông? Khiến cho mọi người tự tham cứu, chẳng phải là đào, bới, hỏi han người khác [mà ḥng lănh hội được].

3) Đối với giáo ư và tông ư trên đây, chẳng cần phải vọng cầu, chỉ tự ḿnh chuyên ṛng, siêng gắng niệm Phật. Niệm tới mức nhất tâm bất loạn, sẽ tự ngộ nhập.

 

* Trả lời Khương cư sĩ (năm điều)

 

          1) Sau khi chuyển thân (sanh tử luân hồi), vẫn chưa đạt được “chẳng có thân sau” sau khi chuyển thân. Do vậy, cầu sanh Tịnh Độ là chuyện quư báu.

2) Niệm Quán Âm chẳng có hiệu nghiệm, có hai lẽ: Một là định nghiệp khó chuyển, hai là do niệm lực chưa ṛng. Là thiện nhân thật sự mà mắc họa, cũng có hai lẽ: Một, định nghiệp khó chuyển; hai là tâm tuy lành, trí chưa đủ.

3) Thấy thiện cảnh mà lại báng bổ, tức là thiện căn đời trước cạn, nhẹ. Đó là chuyện thường có, chẳng đáng coi là lạ!

4) Do cảnh mà động tâm, tuy tợ hồ tâm chuyển theo cảnh. Thử hỏi người gỗ gặp cảnh có bao giờ chuyển hay không? Rốt cuộc ngoài tâm chẳng có cảnh, cảnh hoàn toàn là tâm.

5) Phật pháp tuy chẳng do kinh tạng [c̣n hay mất] mà sẽ c̣n hay diệt mất, nhưng chúng sanh ắt phải dựa theo văn tự để nhập lư. Kinh xiển dương Phật tâm, chùa nêu bày dấu tích của Phật, tự có hoăn, gấp, nặng, nhẹ.

 

* Trả lời cư sĩ Ngô Sĩ Cẩn

 

          Sát sanh đứng đầu Ngũ Giới, tại gia chẳng giết chóc là đủ rồi. Nếu chẳng thể dứt ăn thịt, ăn ba loại tịnh nhục cũng được, dần dần nhập cảnh tốt đẹp. Sau đó, chẳng ăn thịt; sẽ là điều thiện nhất trong các điều thiện. Điều thứ hai là trộm cắp, chuyện này chẳng cần luận bàn. Thứ ba, chỉ cấm tà dâm, chẳng cấm chánh dâm. Thứ tư là vọng ngữ cũng dễ tŕ. Thứ năm là uống rượu, nếu chẳng thể giữ, hăy giảm bớt, cũng sẽ dần dần nhập cảnh tốt đẹp vậy! Đại để, tŕ toàn bộ Ngũ Giới th́ là măn phần Ưu-bà-tắc. Bán tŕ th́ là bán phần Ưu-bà-tắc. Tŕ được một giới th́ là thiểu phần Ưu-bà-tắc, cũng tùy theo mỗi người mà tŕ vô ngại!

 

* Trả lời cư sĩ Ngô Quảng Dĩnh

 

          Do da làm trống cúng Phật, trâu ḅ cũng có công. Dùng sừng làm đèn để cúng Phật, dê cũng diệt tội!

 

* Trả lời cư sĩ Đổng Quảng Thự

 

          Kinh Dịch nói: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương” (Nhà chất chứa điều thiện, ắt mừng vui có thừa. Nhà chất chứa điều bất thiện, ắt tai ương có thừa). Nhà ông chính là nhà chất chứa điều thiện, ngược lại, gia chủ mắc họa ung nhọt, gia quyến bị nạn dịch bệnh là v́ sao? Có hai nguyên nhân:

- Một là do tai nạn nhỏ mà tránh khỏi tai nạn to lớn, nạn nhẹ ḥng tránh khỏi nạn nặng. Chính v́ chất chứa điều thiện, tuy thấy ung nhọt, dịch bệnh, nhưng chẳng tổn thương tấm thân. Nếu chẳng phải do công năng của điều thiện, ắt có đại tai, trọng nạn, chứ không chỉ như vậy mà thôi. Đúng là phải nên cảm tạ Phật, trời, chớ nên than van, oán hận.

- Hai là tuy chất chứa điều thiện, vẫn chưa rộng lớn, so với kẻ hoàn toàn chẳng tu thiện th́ hơn hẳn, nhưng so với người muôn điều thiện đều trọn th́ chẳng sánh bằng! Đúng là càng phải nên làm lành nhiều hơn, đừng tự coi là đủ!

 

* Trả lời cư sĩ Hồng Đại Từ (ba điều)

 

          1) Tôi nhớ lúc mười sáu, mười bảy tuổi, tự hẹn ba mươi tuổi chẳng đậu khoa thi Hương, sẽ bỏ cử nghiệp, ẩn ḿnh trong chốn núi, hồ. Bốn mươi tuổi chẳng đậu kỳ thi Hội, cũng quy ẩn trong làng quê, quyết chẳng làm quan. Nay ông lấy hai mươi tám tuổi làm kỳ hạn đă sớm hơn tôi rồi, sao lại nói là chậm trễ? Hơn nữa, cha mẹ tôi đă qua đời, tôi mới dám xuất gia. Tiên mẫu c̣n sống th́ cử nghiệp có thể bỏ, nhưng chẳng thể xuất gia.

2) Tôi chính mắt thấy có người thay đổi kinh điển [Nho gia để học tập], hoặc đổi trường học bèn thi đậu; có người thay đổi kinh điển, thay đổi trường học, nhưng vẫn như cũ chẳng đậu! Phu tử nói: “Tử sanh hữu mạng, phú quư tại thiên” (Chết, sống có số mạng; phú quư bởi trời). Đạt được hay không là do “có mạng”. V́ sao đă đọc sách của thánh nhân mà lại hờ hững chẳng tin vậy? Tận tâm, tận lực rồi mới nghe theo mạng trời. Đó là lời lẽ chí lư vậy!

3) Đừng luận các loại thể cách (cách hành văn) trong sáng, nồng nàn, khác lạ, hay b́nh phàm, cũng chẳng bắt buộc phải đón ư của quan chủ khảo, xu phụ những thứ được ưa chuộng trong hiện thời! Chỉ cần cốt sao văn tự tốt đẹp là được. “Văn tự tốt đẹp” nghĩa là tương ứng với đầu đề. Viết văn trong hiện thời giống hệt như tả chân vậy, chỉ cốt sao biểu lộ cho giống nhân vật. Nếu không, dẫu bút lực mạnh mẽ, sắc bén, từ ngữ bóng bẩy, có ích chi đâu?

 

15.4. Tạp đáp (các câu giải đáp)

         

          * Hỏi: Đức Thế Tôn im lặng khá lâu, ngoại đạo nói “hăy vẹt mây mê cho tôi”; Không Sanh (Tu Bồ Đề) ngồi im lặng chẳng nói, Đế Thích thưa “khéo nói Bát Nhă”.

Đáp: Im lặng khá lâu, mong muốn khai mê, [khí trời] âm u muôn dặm. Nơi ngồi yên toan nghe Bát Nhă, nói đă nhiều lúc. Tuy là như vậy, đạt được ư chỉ nơi đầu ngọn roi, hoa đốm lăng xăng trên hư không, rốt cuộc là thấy ǵ vậy?

          * Hỏi: Tự tánh Tây Phương, duy tâm Tịnh Độ.

          Đáp: Nếu chỉ thẳng Tây Phương, không chỉ từ cơi Sa Bà này vượt khỏi mười vạn ức cơi là sai, mà nói đến tự tánh là đă dính vào đường lối. Nếu thật sự bàn đến Tịnh Độ, không chỉ ao báu, đất vàng, các thứ trang nghiêm là sai, vừa nói đến duy tâm, đă trở thành cấu uế. Ĺa cả hai bên ấy, như thế nào là Tây Phương Tịnh Độ?

          * Hỏi: Chỗ hơn kém giữa Tịnh Độ và Thiền?

          Đáp: Về nguồn chẳng hai tánh, phương tiện có nhiều môn. Nay kẻ chấp Thiền báng Tịnh Độ, chính là chưa từng chân thật tham cứu. Kẻ chấp Tịnh Độ báng Thiền, cũng chưa từng chân thật niệm Phật. Nếu ai nấy đều thực hiện công phu đạt tới chỗ triệt để cùng tận nguồn cội, sẽ biết hai con đường ấy vốn chẳng sai khác chừng hào ly!

          * Hỏi: Cách nào để chế ngự ma?

          Đáp: Phàm tất cả tướng đều là hư vọng. Ngay như thánh cảnh hiện tiền, chớ nên hiểu là thánh cảnh. Hễ chấp trước, liền rơi vào “tay tà” (đọa vào tà kiến). Huống chi ma cảnh và thánh tướng rốt cuộc là có phân biệt. Dẫu ma có thể khéo léo biến hiện, nhưng người sáng mắt vừa nh́n, sẽ thấy thấu suốt rành rẽ phân minh, nó liền bại lộ h́nh tích. Nếu chưa thể như thế, cũng có cách thẳng tắt, chính là đơn thuần giữ vững chánh niệm; bất luận là thánh hay ma, hết thảy chẳng màng tới!    

* Hỏi: Trong khi bị bệnh, dụng tâm trừ khử như thế nào?

          Đáp: Người trong khi đang bị bệnh, nói chung có bốn loại:

- Bị bệnh tật điều khiển, quên mất chánh niệm, chẳng biết trừ khử. Đó là dụng tâm của ngu phu.

- Tuy mắc bệnh duyên, vẫn giữ vững chánh niệm, khéo léo trừ khử. Đó là dụng tâm của kẻ sơ học.

- Tuy bệnh mà quên bẵng bệnh, chánh niệm tự nhiên, chẳng cần trừ khử. Đó là dụng tâm của bậc đại hiền.

- Do chúng sanh mà thị hiện thân bệnh tật, bài trừ hay không bài trừ, hai đằng ắt chẳng cần bàn tới. Đó là dụng tâm “chẳng có ǵ dụng tâm” của chư Phật.

Người xưa có nói: “Lăo tăng tự có cách an nhàn, tám khổ chen nhau nung nấu chẳng ngại”. Pháp an nhàn ấy, kẻ ngu mê muội chẳng biết; sơ học tuy biết, nhưng chẳng thể dùng. Đó chính là chuyện thuộc phận sự của bậc đại hiền. Nhưng nói th́ cực dễ, hành bèn cực khó, chớ xem thường! Cơi đời có kẻ cuồng, thấy người khác bị bệnh, bèn vội vàng khai thị, hướng dẫn, hoặc nói: “Tứ Đại vốn là không, há có bệnh ǵ?” Hoặc nói: “Buông xuống hết thảy, đừng chấp vào bệnh tật”. Đúng th́ đúng đấy, hiềm rằng tới khi chính ḿnh bị bệnh, quên tuốt những lời lẽ đă khai thị, hướng dẫn người khác, vẫn y như cũ, chẳng rỗng không được, chẳng buông xuống được, bó tay chẳng biết làm sao, đành khuất phục trước cửa tử mà thôi! Chúng ta thấy điều này, hăy tự dũng mănh tỉnh ngộ, chăm chú hướng tới hiệu quả chân thật, đừng học theo tṛ hư giả. Hăy thừa dịp Tứ Đại c̣n khỏe mạnh, lănh ngộ cái “vốn Không” ấy (Tứ Đại vốn không), tức là trong hiện thời, ngay trước mắt phải buông xuống. Nếu đợi bệnh nẩy sanh rồi mới thực hiện; đó gọi là “giặc cướp đến mới xây tường”, c̣n kịp nữa chăng?

Tôi nhớ có vị tăng hỏi: “Cổ đức c̣n có người chẳng bị bệnh hay không?” Đáp: “Có chứ!” Lại hỏi: “Người chẳng bệnh c̣n đến thăm ḥa thượng hay không?” Đáp: “Lăo tăng thấy kẻ đó có phần”. Đối với chữ Có trong câu đáp trước, kẻ sơ học cũng biết. “Thấy kẻ đó có phần” trong câu đáp sau, người tham Thiền đă lâu sợ chưa thấu triệt được! Đối với chỗ này của cổ nhân, rốt ráo là đạo lư như thế nào? Rốt cuộc đắc tam-muội nào? Trong khi bệnh khổ, an nhàn như thế đó, chúng ta hăy cùng nên gắng công!

          * Hỏi: Tu tập công phu có nên tránh nơi ồn nào, giữ lấy chỗ yên tĩnh hay không?

          Đáp: Công phu tối kỵ là chọn lựa. Người có chí tu học, chỉ là một niệm chánh đáng thường đặt trong dạ: Khi gặp tĩnh mịch cũng như thế, khi gặp ồn náo cũng vẫn như thế. Bất luận tĩnh hay ồn dời đổi [như thế nào], ư niệm của ta quyết chẳng bị biến đổi! Có như thế th́ mới chẳng gián đoạn. Đó gọi là “khéo thực hiện công phu”. Há chẳng thấy cổ nhân nói: “Người trí trừ tâm, kẻ ngu trừ cảnh” ư? Nếu ắt cứ chán ghét ồn náo, giữ lấy tĩnh, sợ rằng cảnh giới chẳng có lúc nào tĩnh, mà cũng chẳng có chỗ nào tĩnh! Để cầu tĩnh th́ không ǵ bằng ở trong núi sâu; nhưng cái “tĩnh” của núi sâu là tiếng búa của tiều phu vang tận tầng mây, tiếng sáo của mục đồng lúc chiều tà, bên tai làm sao có thể an tĩnh cho được? Dẫu cho tiếng búa tiều phu, tiếng sáo của mục đồng có thể dứt tuyệt, khiến cho chúng chẳng truyền vào tai ta, nhưng đêm thanh vượn hú, hổ gầm, ban ngày th́ sẻ hót, quạ kêu, bên tai lại sao có thể an tĩnh cho được? Dẫu vượn hú, hổ gầm, sẻ hót, quạ kêu, có thể xua đuổi khiến cho chẳng truyền đến tai ta đi nữa, nhưng cuồng phong dấy lên khiến muôn hang hốc gầm thét ầm ĩ, sấm rền khiến ngàn non rung chuyển. Khi đó, người ghét ồn giữ tĩnh có trừ dứt được hay không? Có xua đuổi được hay không? Dùng đó để suy, cảnh giới chắc chắn chẳng có lúc nào tĩnh, chắc chắn chẳng có chỗ nào an tĩnh! Người học chỉ sợ ư chí chẳng mănh liệt! Hễ giữ được ư chí mănh liệt, có ǵ là chẳng thể?

          * Hỏi: Nhất tâm xưng danh th́ lại chấp vào cầu sanh, chẳng phải là gần như hai niệm ư?

          Đáp: Cầu sanh th́ cần phải trong lúc sáng tối phát nguyện. C̣n nếu lúc xưng danh th́ nhất tâm nhất niệm, chớ nên xen tạp. Ví như kẻ theo đuổi cử nghiệp đọc sách, viết văn, đó là hạnh; nhưng đọc sách, viết văn là để làm ǵ vậy? Mong thi đỗ tiến sĩ, đó là nguyện vậy!  

          (Những câu trên đây đều chưa rơ do người nào hỏi).

          * Ngộ của nhà Nho và ngộ của nhà Phật tuy về nguyên tắc chẳng sai khác, nhưng có sự sâu và cạn giữa cội gốc và cành nhánh.

* Tu hành nếu chẳng hướng theo Bát Nhă để dụng công, dẫu là Thiền Định cũng hóa thành phước. Phước là cái nhân hữu lậu; phước trời cũng có lúc tận!

          * Thông Tông chẳng thông Giáo, mở miệng liền nói nhăng, nói cuội. V́ thế, mọi người trước hết cần phải nên xem Giáo.       

* Tông là Phật tâm, Giáo là Phật ngữ.

          * Ngồi ngay ngắn niệm Phật, sợ khó nhiếp tâm, chẳng bằng kinh hành.

* Tham cứu “người niệm Phật là ai?” cần phải thật sự khởi nghi. Nghi thật sự chưa khởi, hăy cứ thầm niệm.

* Tịnh Độ chẳng phải là không có mặt trời, mặt trăng, chỉ là Phật quang to lớn, mặt trời, mặt trăng bị Phật quang che lấp.

* Ngôn ngữ Thiên Trúc thường là nói đảo, như “kích y” (vạt trước của áo dài) bèn nói là “y kích”, “đáo bỉ ngạn” (tới bờ kia) là “bỉ ngạn đáo”.

* Kinh Lăng Nghiêm có thứ tự nhất; v́ thế, mọi người hăy nên xem.

* Người Thiền Định tuy nguyện lực chẳng sâu, vẫn có thể văng sanh; nhưng người tu Tịnh nghiệp, Tín Nguyện Hạnh như ba chân của cái đỉnh, thiếu một chẳng thể được!

* Ḷng người như cái nhà rách nát, vọng tưởng như giặc, đuổi xong đằng Đông th́ đằng Tây kéo đến, đuổi được phương Nam th́ phương Bắc kéo đến.

* Người hiện thời có thể đoạn trăm tư tưởng là đă tốt rồi!

* Đối với lời lẽ trong Tông môn, người đời chấp vào cách hiểu ngu muội, chẳng thể lănh hội thật pháp.

* Tuy kiến địa của Bàng cư sĩ cao hơn Vương Long Thư, nhưng thật hạnh của Long Thư cũng là đích xác!

          * Đại Trang Nghiêm Luận[13] tuy chưa phải là liễu nghĩa, nhưng có ích cho mọi người.

          * Cổ nhân bổng hát (dùng gậy đập hay quát to) thích hợp căn cơ của người [được chỉ điểm]. Một gậy, một tiếng hét khiến cho kẻ khác ngộ, chẳng phải như người hiện thời chỉ chú trọng đánh người khác!

          * Đấy là nói “Phật pháp cần phải nhường cho lăo tăng”, người đó (người đến tham học) liền lễ bái. Có thể thấy [được chỉ điểm mà giác ngộ hay không] chẳng tại thần thông. Thần thông chẳng phải là đạo. Hễ có đạo, sẽ tự có thần thông; có thần thông, chưa chắc có đạo. Chỉ luận về thần thông th́ thần có thông, mà quỷ cũng có thông. Đạo như một vị quan, thần thông như cờ, xe, trang phục. Vốn có phương cách để cầu thần thông: Hiện tại nhớ lại quá khứ, quá khứ lại nhớ lại quá khứ sớm hơn, sẽ có thể biết đời khác, nhưng đó chẳng phải là đạo.

          * Nghiền chết một con kiến, lại thọ một thân kiến. Nghiệp ấy chưa tận, sao có thể chuyển sanh vào đường khác? Chúng sanh đều là như thế, chỉ có thể oan uổng hứng chịu nỗi khổ do giết chóc.

          * Lúc pháp diệt, người ta giơ lên một nhánh cỏ liền thành vũ khí, có thể giết người. Lúc đó, các pháp đă diệt, chỉ lưu lại một câu Di Đà để cứu người. Nếu ai có thể niệm một câu Phật hiệu hoàn chỉnh, sẽ là thầy của thế gian.

          * Những kẻ như Châu Tử Dương (Châu Hy) đều là người hiền, dẫu [kiến giải] có đồng hay khác, họ cũng chẳng sân hận đối phương. Do vậy, chớ nên quá mức chê trách họ.

          * Cái tâm bất loạn chính là tâm vô trụ.

          * Trong Quán Kinh nói “thân Phật rộng lớn”, nhiều người chẳng tin, như kiến trong hang, há biết trên đời có trâu, ḅ ư? Thân chư thiên đă cao vô lượng, khi Phật Di Lặc xuất thế, thân loài người cũng cao mấy chục trượng!

          * Thảo mộc đều là chỗ quỷ thần cư ngụ, trên ấy đều có cung thất, nhưng con người chẳng thấy biết. V́ thế, chớ nên khinh thị đốn cây cối.

          * Người tại gia dạy đệ tử chỉ là cày cấy hoặc đọc sách, đừng nhất định phải mong phú quư.

          * Trẻ nhỏ trong nhà đánh cha, chửi mẹ, [cha mẹ] lại ngược ngạo bảo nó bướng bỉnh. Đấy chẳng phải là cách dạy con.      

          * Pháp môn Niệm Phật nói là Quyền th́ được, chứ nói là Thiên (lệch lạc) th́ chẳng được!

          * Như những chuyện Lư Trác Ngô đă làm, sợ sẽ có hại cho Phật pháp, vô ích cho Phật pháp.

          * Cung h́nh[14] chẳng biết bắt đầu từ khi nào? Đời có vua như Nghiêu, Thuấn th́ mới có thể bỏ lệnh cấm.

* Giảng học tại nha môn, dẫu thôi giảng, vẫn là tuân thủ pháp luật mà ngưng, cũng có hại ǵ đâu?

          (Những câu trên đây không rơ lời hỏi như thế nào).

 

15.5. Khai thị

* Phổ khuyến niệm Phật

 

          1) Học Phật đừng chú trọng biểu lộ h́nh thức trang nghiêm, chỉ quư chân thật tu hành. Tại gia cư sĩ không nhất định phải áo thâm, khăn đạo. Người để tóc có thể mặc thường phục niệm Phật, chẳng nhất định phải gơ mơ, thúc trống. Người ưa tĩnh có thể tự lặng lẽ niệm Phật, chẳng nhất định phải kéo bè tụ hội. Người sợ chuyện rườm rà có thể đóng cửa niệm Phật, chẳng cần nhất định phải vào chùa nghe kinh. Người biết chữ có thể nương theo Giáo mà niệm Phật. Ngàn dặm thiêu hương chẳng bằng ngồi yên niệm Phật nơi điện thờ tại nhà. Cung phụng tà sư, chẳng bằng hiếu thuận cha mẹ mà niệm Phật. Rộng giao du với bạn ma, chẳng bằng một ḿnh thanh tịnh niệm Phật. Gởi kho[15] cho kiếp sau, chẳng bằng hiện tại làm phước niệm Phật. Hứa nguyện để được tiêu tai, chẳng bằng sửa lỗi đổi mới niệm Phật. Học tập sách vở của ngoại đạo, chẳng bằng một chữ không biết mà niệm Phật. Vô tri hư vọng bàn Thiền lư, chẳng bằng thật thà tŕ giới niệm Phật. Mong cầu yêu quỷ linh thông, chẳng bằng chánh tín nhân quả niệm Phật. Nói tóm lại, đoan chánh cái tâm diệt ác. Niệm Phật như thế được gọi là “thiện nhân”. Nhiếp tâm trừ tán loạn, niệm Phật như thế được gọi là “hiền nhân”. Ngộ tâm, đoạn Hoặc, niệm Phật như thế, được gọi là “thánh nhân”.

          2) Một là khuyên người cực nhàn niệm Phật. Cưới gả đều xong, con cháu lo liệu gia nghiệp, an nhàn vô sự, vừa khéo để tận tâm tận lực niệm Phật. Hằng ngày niệm mấy ngàn câu, cho đến mấy vạn. Hai là khuyên người nửa nhàn nửa bận niệm Phật. [Việc] xong một nửa, hoặc chưa xong, hoặc bận, hoặc nhàn, tuy chẳng cực nhàn, cũng có thể lúc bận th́ lo việc, lúc nhàn th́ niệm Phật. Mỗi ngày niệm mấy trăm câu cho tới mấy ngàn. Ba là khuyên người cực bận niệm Phật. Nhọc nhằn chuyện vua, bươn bả gia nghệp, tuy chẳng có lúc nhàn, cũng cần phải t́m lúc rảnh rỗi trong khi bận rộn, mỗi ngày sáng sớm mười niệm cho tới trong một ngày có thể niệm vài trăm câu!

 

* Phổ khuyến niệm Phật văng sanh Tịnh Độ

 

          Kinh Di Đà dạy nếu ai niệm Phật, khi mạng sắp hết, ắt sanh về cơi ấy. Quán Kinh lại nói người niệm Phật sanh về cơi ấy, chia thành chín phẩm sen. Bởi lẽ, pháp môn Niệm Phật này bất luận nam, nữ, tăng, tục, bất luận sang, hèn, hiền, ngu, chỉ cần nhất tâm bất loạn, tùy thuộc công hạnh lớn hay nhỏ, chín phẩm văng sanh. Do vậy biết: Trong thế gian, không có một ai chẳng kham niệm Phật.

Nếu là người phú quư, đang hưởng thụ, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu là kẻ bần cùng, nhà nhỏ, lụy ít, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai có con, cúng tế tông tộc có chỗ gởi gắm, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai không con, một thân tự do, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai có con hiếu thảo, an hưởng sự phụng dưỡng, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai con cái ngỗ nghịch, [do vậy] tránh khỏi sanh ḷng yêu thương quyến luyến, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai chẳng bệnh, hăy thừa dịp thân đang khỏe mạnh, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai mắc bệnh, rất gần vô thường, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai tuổi già, thời gian chẳng nhiều, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai c̣n trẻ, tinh thần sáng suốt, nhạy bén, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai thanh nhàn, tâm chẳng bị sự việc quấy nhiễu, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai đang bận bịu, hăy t́m lúc rảnh rỗi trong khi bận rộn để đúng lúc niệm Phật. Nếu ai xuất gia, tiêu dao ngoài cơi đời, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu là người tại gia, biết [tam giới] là nhà lửa, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai thông minh, thông hiểu Tịnh Độ, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai ngu độn, vụng về, chẳng có sở trường ǵ, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu là người tŕ luật, luật do đức Phật chế định, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai xem kinh, kinh do đức Phật nói, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai tham Thiền, Thiền là Phật tâm, đúng là lúc nên niệm Phật. Nếu ai ngộ đạo, ngộ th́ cần phải được Phật ấn chứng, đúng là lúc nên niệm Phật. Khuyên khắp mọi người hăy khẩn cấp niệm Phật, chín phẩm văng sanh, hoa nở thấy Phật. Thấy Phật, nghe pháp, rốt ráo thành Phật, mới biết tự tâm vốn sẵn là Phật.

 

* Trong hội Thủy Lục, dạy trọn khắp mọi người Tŕ Danh Niệm Phật tam-muội (được chép trong văn bản nghi thức Thủy Lục)

 

          Trộm nghĩ Tịnh Độ là giáo pháp bắt nguồn từ Thích Ca Thế Tôn, được xiển dương bởi thánh hiền trải các đời. Do vậy, một môn Niệm Phật được chia thành bốn loại, tức là tŕ danh niệm Phật, quán tượng niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, và Thật Tướng niệm Phật. Tuy có bốn loại sai khác, rốt ráo quy vào Thật Tướng mà thôi! Lại đem ba loại trước nói ước lượng thành hai, tức một là tŕ danh, hai là quán tưởng. [Quán tưởng] th́ Thập Lục Quán Kinh đă nói tường tận. Ở đây, luận bàn tŕ danh. Kinh Di Đà nói “nghe nói A Di Đà Phật, chấp tŕ danh hiệu, hoặc một ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày, nhất tâm bất loạn. Người ấy khi lâm chung, A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện trước người ấy. Người ấy khi lâm chung, tâm chẳng điên đảo, liền được sanh về cơi nước Cực Lạc của A Di Đà Phật”. Đấy là nguồn gốc to lớn khiến cho muôn đời tŕ danh niệm Phật. Đấy chính là diệu pháp do kim khẩu đích thân tuyên dương.

Cổ đức nói: “Quán pháp lư vi tế, chúng sanh tâm xen tạp, dùng tạp tâm tu Quán, quán tưởng khó thành. Đại thánh xót thương, thẳng thừng khuyên chuyên tŕ danh hiệu”. Đấy là v́ xưng danh dễ dàng, hễ liên tục liền sanh. Đấy là xiển dương công năng của tŕ danh niệm Phật, là pháp trọng yếu để văng sanh Tịnh Độ. Nếu tŕ danh mà thấu đạt sâu xa Thật Tướng, sẽ có cùng công năng với diệu quán, thượng thượng phẩm văng sanh chẳng c̣n ngờ chi! Thưa các vị Phật tử hiện tiền, như trong phần Sám Hối trước đó đă nói, thánh nhân Nhị Thừa, bậc đại sĩ viên tâm, cho đến Đẳng Giác vẫn cần phải sám hối. Họ đă đều sám hối, lẽ nào chẳng cảm ứng văng sanh, huống hồ kẻ thuộc địa vị phàm phu, là chúng sanh c̣n thuộc địa vị học hỏi ư? Tôi nay kính v́ các Phật tử hiện tiền trong lục đạo, đều cùng nhất tâm, xưng danh hiệu Phật, cầu sanh Tịnh Độ, nguyện Phật từ bi, riêng rủ ḷng nhiếp thọ, cứu vớt.

 

* Khuyên trọn khắp hăy kiêng giết, phóng sanh (trước kia, bài này được khắc riêng để lưu thông)

 

          Ai nấy đều yêu tánh mạng, loài vật nào cũng tham sống, há nên giết thân thể chúng để thỏa thuê thói tham ăn của chính ḿnh? Hoặc dùng đao bén mổ bụng, hoặc dùng dao nhọn chọc tim, hoặc lột da, lóc vảy, hoặc cắt họng, bóc vỏ, hoặc dùng nước sôi sùng sục nấu sống ba ba, lươn, hoặc dùng muối rượu ướp sống cua, tôm. Đáng thương chúng nó hết sức đau đớn nhưng không có chỗ nào vùng vẫy, khổ sở cùng cực khó nhẫn, [kẻ sát sanh] tạo ác nghiệp ngập trời ấy, kết thành nỗi thù sâu đậm muôn đời. Một mai vô thường, liền đọa vào địa ngục, vạc sôi, ḷ than, rừng gươm, núi đao. Khi chịu tội xong, vẫn làm loài súc sanh, oan oan tương báo, mạng mạng trả đền. Đền xong, làm người, lắm bệnh, chết yểu, hoặc chết v́ rắn, cọp, hoặc chết v́ đao binh, hoặc chết v́ quan phủ hành h́nh, hoặc chết v́ thuốc độc, đều do sát sanh cảm vời. Tôi nay ứa huyết lệ, dập đầu ai oán thưa cùng người đời:

- Chẳng dám ép quư vị ăn chay, chỉ là trước tiên khuyên quư vị kiêng giết. Nhà kiêng giết được thiện thần thủ hộ, tai ương ngang trái tiêu trừ, tuổi thọ dài lâu, con cháu hiền hiếu, đủ thứ cát tường, khó thể trần thuật trọn. Nếu lại có thể tùy sức phóng sanh, cộng thêm niệm Phật, không chỉ tăng cao phước đức, ắt sẽ tùy nguyện văng sanh, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, nhập địa vị bất thoái. Các nhân giả có duyên gặp gỡ giáo huấn này, xin hăy hồi tâm, quyết chí thọ tŕ, chớ sanh ngờ vực, hối hận. Nếu chẳng thể hành, xin liền chuyển thí người khác, cũng sẽ có công đức vô lượng.

 

* Khuyên răn đừng quá mức khổ hạnh, hiển hiện tướng lạ để mê hoặc đại chúng

 

          Tăng nhân, đạo nhân trong thời gần đây dùng gạch xếp thành tường vây chỉ chứa được thân họ, đứng thẳng trong đó, giống như đao đút trong vỏ, hoặc bốn phía đóng đinh như hạp sàng[16]. Có người chặt một tay, dùng tro bôi lên, trét sơn, hoặc keo để tŕnh cho mọi người thấy. Có người đào đất thành hang, chôn ngược đầu xuống, hai chân chổng lên trời. Có người dùng gạch to tự đập lưng ḿnh đến nỗi tím bầm. Có người mùa Đông lạnh buốt, chân trần, chẳng mang vớ, giày. Có người chỉ uống nước, coi đó là trai giới, chẳng ăn ngũ cốc. Có người hai chân đứng trên lan can cầu để lạy kinh, khiến cho người khác nh́n vào không ai chẳng kinh sợ. Có người kéo xiềng sắt nặng cả trăm cân, mười cân, đủ loại đủ vẻ như thế đó! Hỏi đến duyên cớ, phần nhiều nhờ đó để quyên mộ hóa duyên, lừa đời, dối dân, chẳng phải là tham th́ chính là ngu, đúng là đáng thương xót! Kính khuyên bậc cao minh, hễ trông thấy lũ ấy, liền v́ họ chỉ dạy, khuyên nhủ họ nhanh chóng ĺa bỏ ma sự như thế, tận lực hành chánh đạo. Như thế th́ Phật pháp hết sức may mắn vậy!

 

* Dạy cư sĩ

1) Kiêng sân

         

          Đức Phật nói: “Đương tri sân tâm thậm ư mănh hỏa. Kiếp công đức tặc vô quá sân khuể” (Hăy nên biết sân tâm c̣n quá lửa mạnh. Kẻ giặc cướp đoạt công đức không ǵ hơn sân khuể). Luận Ngữ cũng nói: “Nhất triêu chi phẫn, vong kỳ thân dĩ cập kỳ thân” (phẫn nộ một buổi, quên bẵng thân ḿnh và người thân). Ôi! Chẳng đáng kiêng dè ư?

 

2) Cẩn thận đối với rượu

 

          Đức Phật nói: “Dĩ nhất tửu cố, tịnh phá tứ giới” (do uống rượu mà phá trọn bốn giới). Lễ Kinh cũng nói: “Chung nhật bách bái, dĩ khử tửu họa” (Suốt ngày trăm lạy để trừ mối họa do rượu). Chớ nên chẳng thận trọng ư?

 

3) Chọn lựa bạn bè

 

          Đức Phật dạy: “Thân cận thiện tri thức, viễn ly ác tri thức” (Thân cận thiện tri thức, xa ĺa ác tri thức). Tiên hiền cũng nói: “Ở cùng người ác, như vào trong chợ cá, lâu ngày chẳng ngửi thấy mùi hôi, cùng bị đồng hóa”. Ôi! Há chẳng nên lựa chọn ư?

 

4) Sợ trời

 

          Đức Phật dạy: “Thiên dĩ lục trai nhật khảo sát nhân gian thiện ác” (Chư thiên dùng sáu ngày chay để khảo sát thiện ác của nhân gian). Sách vở thế gian cũng nói: “Tư mạng táo thần vào ngày Ba Mươi mỗi tháng bẩm lên trời tội phước của con người”. Ôi! Chẳng đáng sợ ư?

 

* Dạy giảng chủ (hai điều)

 

          1) Thanh danh hiển hách, hăy dùng thâu liễm, ẩn tàng để ǵn giữ. Lợi dưỡng sung túc, dùng kiệm ước, chất phác để ǵn giữ. Được nhiều người chiêm ngưỡng, dùng khiêm hạ để ǵn giữ. Bị đồng bạn ganh tỵ, dùng ḥa thuận, nhẫn nại để ǵn giữ.

          2) Biện định lư chẳng thể không rơ ràng, tránh vội vàng, ương ngạnh. Chiết phục kẻ ác chẳng thể không nghiêm, nhưng đừng hung bạo, hà khắc. Giữ thân chẳng thể không trang nghiêm, nhưng đừng cao ngạo. Đối xử với bạn bè chẳng thể không ḥa hoăn, kỵ đùa bỡn, trào lộng.

 

* Giáo huấn sa-di

 

          Đừng tham tiền của, học nhẫn nhục, kiêng vui chơi, siêng đọc tụng, xa ĺa kẻ trẻ tuổi, thân cận bậc kỳ túc. Nghĩ tưởng cổ nhân ăn cháo bằng loại lúa mạch cho ngựa ăn. Nghĩ tưởng cổ nhân mặc áo phấn tảo. Nghĩ tưởng cổ nhân ngủ dưới gốc cây. Tuổi trẻ khổ hạnh, già hưởng phước. Hưởng phước sớm, thọ mạng ngắn ngủi. Hễ mong mỏi xuất thế, hăy nghe lời tôi căn dặn!

 

* Dạy hai chúng tại gia

 

          Trong đời người, mẹ con, vợ chồng, quyến thuộc một nhà đều là cái duyên hư huyễn từ đời trước, tạm thời tụ họp, rốt cuộc ắt biệt ly, chẳng đáng buồn khổ! Cái đáng buồn, đáng khổ chính là luống uổng suốt một đời chẳng niệm Phật vậy! Nay chỉ cần buông xuống muôn duyên, hồi quang phản chiếu niệm Phật; đấy chính là đại sự khẩn yếu trong suốt một đời, chẳng cần phải nói nhiều nữa! Ngoài ra, chỉ quản thuần nhất niệm Phật. Niệm Phật th́ phải từng chữ soi rọi vào tâm, rành rẽ, phân minh. Dụng tâm khẩn thiết từng thời khắc, chẳng dung vọng tưởng, tạp niệm. Trong khi lễ Phật sáng tối, hăy chân thành, khẩn thiết phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ. Giữ vững như vậy cho đến lúc lâm chung, tự nhiên chánh niệm hiện tiền, văng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc Tịnh Độ, liên hoa hóa sanh, vĩnh viễn ĺa các nỗi khổ!

 

* Dạy bệnh nhân

 

          1) Cổ nhân có nói: “Bệnh là thuốc tốt lành cho chúng sanh”, tức là người trong khi bị bệnh hăy nên sanh niềm hoan hỷ to lớn; đối với hết thảy các chỗ chẳng như ư, đừng dấy lên phiền năo. Lại nói “sanh tử có mạng”, tức là người trong khi bị bệnh, hăy nên sanh [ư tưởng] đại giải thoát, mặc cho sống chết, đừng dấy tâm kinh hăi. Hơn nữa, quá khứ như huyễn, hiện tại như huyễn, vị lai như huyễn, tận hết sức buông xuống, chỉ giữ chánh niệm mà thôi! Trong khi bị bệnh, ngàn vạn phần yên ổn, nhẫn nại, đừng ôm ḷng nóng ruột mong chóng lành bệnh. Đó là phương cách tốt lành để chóng lành bệnh vậy!

          2) Xử trí chuyện nhà xong xuôi, hăy buông xuống muôn duyên, tâm địa rỗng rang, chỉ niệm sáu chữ Phật danh, thời khắc chẳng quên, tự nhiên nghiệp chướng tiêu diệt. Nghiệp chướng đă tiêu, tự nhiên đêm ngủ an ổn, thân tâm khỏe mạnh. Người niệm Phật phải phát nguyện bỏ đời ác này, sanh về cơi vui kia.

 

* Dạy các cư sĩ cao tuổi

 

          Sắc thân cố nhiên có suy yếu, gầy ṃn; pháp tánh vốn chẳng thoái diệt! Trừ sạch vạn điều hệ lụy, thuần tịnh nhất tâm. Tâm thanh tịnh th́ Tịnh Độ sẽ thành, văng sanh th́ vô sanh tự đạt!

 

* Dạy thiện nữ nhân lâm chung

         

          Nam nữ h́nh thể tuy khác, tánh linh minh chẳng hai, sao lại nói ngũ lậu[17]? Chỉ quư nhất tâm. Nhất tâm xưng niệm A Di Đà, quyết định văng sanh cơi An Lạc.

 

* Dạy quan Trầm Thiếu Tông Bá[18] về chuyện cầu siêu cho kẻ chết yểu và cầu con

1) Cầu siêu cho kẻ chết yểu

 

          Phàm là người sanh con mà nó chết yểu, khóc lóc c̣n hơn tang cha mẹ! Nghĩ đến đau xé gan ruột, hăy v́ nó tụng kinh, lễ sám cho nhiều để giúp nó trong nẻo cơi âm th́ tốt lành thay! Nhưng tụng kinh phải lănh hội tâm Phật, lễ sám phải hiểu rơ lỗi của chính ḿnh. Tâm Phật là đại từ bi; lỗi của chính ḿnh là tạo sát nghiệp. Chẳng hành từ bi, sẽ chẳng đoạn sát nghiệp, kinh sám tuy nhiều, công đức vẫn ít. Kể ra đại lược hai chuyện như sau, mong ông hăy nỗ lực thực hiện:

          - Một, đức Phật chế định ngũ giới, điều trọng yếu đầu tiên là chẳng sát sanh. Lại nói: “Đời trước trót sát sanh nhiều, báo đời này là nỗi khổ chết yểu”. Người làm cha mẹ, hăy nên đem tất cả quần áo, đồ trang sức, đồ chơi hay vật yêu quư của đứa con đă chết bán hết thành tiền, mua các con vật phóng sanh để chuộc lỗi sát nghiệp, ngơ hầu linh hồn [của con] hiện thời chẳng đọa vào tam đồ; mai sau sẽ được trường thọ.

          - Hai, phàm người sanh con, ba ngày, đầy tháng, trăm ngày, giáp năm, thường đem các chúng sanh giết chóc, nấu nướng, sắp đặt tiệc tùng. Tuy chuyện giết chóc ấy do cha mẹ, chẳng liên can đứa con, nhưng sự dấy lên ắt có nhân, tội cũng khó tránh! Nghĩ tới đứa con đă chết, hăy vĩnh viễn đoạn sát nghiệp, ngơ hầu hiện thời hồn nó chẳng đọa tam đồ, mai sau đạt được trường thọ.

          Lại có hai chuyện hăy nên kiêng dè:

          - Một, trẻ nhỏ mỗi khi bắt giữ ruồi, muỗi, châu chấu, muỗi mắt, hoặc ném vào bầy kiến, hoặc quăng vào mạng nhện. Trẻ nhỏ vô tri, coi đó là vui đùa, cha mẹ vui thích chẳng cấm đoán, thậm chí gây tổn thương cho đủ loại trùng bọ nhỏ nhít, khó thể kể tận! Đấy đều là cái nhân gây yểu mạng, chẳng thể không răn dè!

          - Hai, trẻ nhỏ vô tri hoặc chửi cha mẹ, hoặc chửi bậc tôn trưởng, cha mẹ vui cười chẳng ngăn cấm, tuy thuộc đùa nghịch, nhưng đều là cái nhân gây chết yểu, chẳng thể không răn dè!

 

2) Cầu con

 

          Phàm là người cầu con, hoặc cầu phước nơi thần, hoặc làm Phật sự; hễ cầu thần ban phước bèn sát sanh, lư ấy hết sức sai trái, chẳng cần phải nói nữa! Phật sự th́ tụng kinh, lễ sám như trong phần trước, và những chuyện như tạo tượng Phật, tạo Phật điện, treo phan, treo cờ, trai tăng, bố thí v.v… Nhưng Phật đại từ bi, cốt yếu là người cầu phải làm lành. Nếu chỉ làm phước đức như trên, nhưng chẳng làm lành, tuy tốn nhiều tiền của, chưa chắc đă có thể măn nguyện được! Nêu ra đại lược hai chuyện như sau, mong hăy gắng sức thực hiện:

          - Một, thiền sư Từ Thọ Hoài Thâm phỏng thơ Hàn Sơn viết rằng: “Lăo ông tử khước nhi, trú dạ chùy hung khốc: ‘Thống tâm triệt cốt tủy. Khiếu vân ngă cô độc’. Hà bất phản tư lượng? Tứ đạm trư dương nhục. Dương khởi bất tư nhi? Trư diệc hữu quyến thuộc” (Ông lăo con bị chết, ngày đêm đấm ngực khóc, đau đớn thấu xương tủy, kêu rên ta cô độc. Sao chẳng suy nghĩ lại: Ăn đẫy thịt lợn, dê. Dê há chẳng xót con? Lợn cũng có quyến thuộc!) Giết con chúng nó để cầu ḿnh có con, há hợp lư ư? Há yên ḷng được ư? Vĩnh viễn dứt sát nghiệp, ắt sanh con tốt lành.

          - Hai, Phùng Thương mạng không có con, do chuyện trả lại người thiếp, trời ban cho [con trai ông] đỗ Tam Nguyên[19]. V́ thế biết: Không có con chẳng cần phải cầu chi khác, chỉ tự rộng tu âm đức. Tích đức sâu dày, ắt sanh con tốt lành.

          Lại có hai chuyện nên kiêng dè:

          - Một, người hiện thời đă sanh con, chăm bẵm, yêu tiếc như giữ tṛng mắt, nhưng coi con trai, con gái nuôi (dưỡng tử, dưỡng nữ) như cỏ rác, mặc t́nh đánh đập. Con của chính ḿnh sanh ra th́ cao lương, ngon, béo, trăm vị đầy tràn; con trai, con gái nuôi th́ ăn uống thô dở, thậm chí tàn nhẫn bỏ đói. Con ḿnh sanh ra th́ lượt là, gấm thêu, trang nghiêm tột bậc. Con trai, con gái nuôi th́ áo rách vá víu che thân, chẳng khỏi rét lạnh. Chúng cũng là con do cha mẹ sanh ra, sao lại thiên vị bất công đến mức như thế đó? Trời đất chẳng dung, quỷ thần trừng mắt, theo đúng lư chẳng có con! Dẫu có con đi nữa, con ắt gặp nhiều hung hiểm, chẳng thể không kiêng dè!

- Hai, có người tuổi già hoặc lấy thiếu nữ làm tỳ thiếp, ta chẳng quản thức được nó, mà nó càng oán ta rất sâu. Oán khí tích tụ, sẽ tổn đức, tiêu phước. Theo đúng lẽ không con, dẫu có con đi nữa, con ắt chẳng hiền. Chẳng thể không kiêng dè!

          Bàn rằng: Siêu độ kẻ chết yểu, cầu con, tuy nói là hai sự, thật ra có cùng một nhân, v́ sao? Làm lành để siêu độ kẻ chết yểu như trên, không chỉ cứu giúp kẻ chết yểu, mà c̣n nương vào thiện lực ấy, đứa con sanh sau đó ắt sẽ phước huệ dài lâu. Làm lành để cầu con như trên, không chỉ có được đứa con nương vào thiện lực ấy, mà đứa con chết trước cũng được siêu sanh vào chỗ thù thắng! Nhất cử mà lưỡng tiện; v́ thế, hai chuyện có cùng cái nhân! Hăy nên cùng hành!

 

* Chỉ dạy Định Am thượng nhân

 

          Tăng nhân bỏ ứng viện[20] để quy vào Thiền môn, ví như nhà Nho bỏ cử nghiệp, bàn đạo học. Cả hai đều là chuyện tốt đẹp, nhưng quy vào mà chẳng tu, bàn mà chẳng hành, rốt cuộc có lợi ích ǵ đâu? Nay thấy người bỏ ứng viện, hễ bước ra khỏi cửa, đa số vào giảng tịch (theo học Giáo). Chẳng biết giảng để nêu tỏ giáo. Sau khi đă giảng rơ, chánh yếu là phải chú trọng nương theo giáo để tu hành; nhưng vừa mới vào giảng tịch, liền học mấy ư chỉ của giáo nghĩa, sao chép mấy bài chú giải, viết mấy ḍng văn tự, đề mấy câu thơ, vẽ vời mấy nét bút, trang hoàng mấy dụng cụ dùng cho văn tự, mai sau giảng được kinh, lên pháp ṭa, bèn cho là đă chứng quả, chẳng biết ngoài những chuyện ấy, c̣n có chuyện [cần phải làm]. Đó gọi là “vứt bỏ lưới trời, lại sa vào lưới đất”, há chẳng quá đáng tiếc ư? Hơn nữa, lúc thoạt đầu bỏ ứng viện, đều có một bầu hảo tâm; đấy chính là căn bản để thành Phật. Nay th́ không chỉ trái nghịch cái tâm ban đầu, không chỉ coi “tai nghe, miệng nói” là đủ, mà c̣n phải chú trọng thật sự thực hiện, tham phỏng minh sư, thân cận bạn lành, niệm nào cũng mang hoài băo xuất thế từ đầu tới cuối, chớ bị danh lợi buộc ràng để rồi ĺa thầy, bỏ sự tu tập của chính ḿnh th́ mới chẳng cô phụ, phí uổng. Nếu chẳng vậy, rốt cuộc cũng chỉ là vẫn theo thói ứng viện với quy mô lớn hơn mà thôi. Hăy suy nghĩ đi!

 

* Dạy Tôn Đại Hành

 

          Người tham Thiền chỉ giữ lấy một công án, như tham cứu “người niệm Phật là ai?” Tham chẳng thấu đạt, lại tham cứu câu “vạn pháp quy nhất, nhất quy về chỗ nào?” Nếu thấu đạt một công án, những công án khác đều thấu đạt hết. Nếu tự cảm thấy đă thấu đạt [một công án], mà đối với công án khác, vẫn c̣n có chỗ chưa thấu đạt trọn hết, tức là công án trước đó ngỡ là đă thấu đạt vẫn chẳng phải là thật sự thấu đạt, chẳng tránh khỏi dính vào t́nh thức!

         

* Dạy Đại Đồng

 

          1) Cổ nhân dạy thân cận minh sư, cầu thiện tri thức, nhưng thiện tri thức thật sự chẳng có chuyện “miệng truyền, tâm trao pháp môn bí mật”, chỉ là gỡ niêm tháo trói cho người khác; đó là bí mật. Nay chỉ cần “chấp tŕ danh hiệu nhất tâm bất loạn”; tám chữ ấy chính là pháp môn bí mật để gỡ niêm cởi trói, chính là con đường lớn thênh thang để thoát sanh tử. Sáng niệm, tối niệm, đi niệm, ngồi niệm. Niệm niệm liên tục, tự thành tam-muội, chẳng cần phải cầu chi khác nữa!

          2) Cái tâm loạn đă lâu, nhất thời khó định được. Tâm niệm Phật chẳng rơ ràng, chẳng cần phải lo. Chỉ cần công phu sâu dày, từng chữ từng câu đều niệm bằng cái tâm.

 

* Dạy Từ Trí Ức (nay đă xuất gia, pháp hiệu là Nguyên Triệt)

         

          Kinh Di Giáo chính là di chúc của đức Phật, chỉ nên tuân thủ như vâng theo sắc chỉ của vua. Lại thêm trong mười hai thời luôn luôn niệm Phật, sẽ tự nhiên ở trong trược loạn mà chẳng mê mất!

 

* Dạy Trầm Quảng Suất

 

          Trong Thế Đế, nhận biết danh lợi, ân ái rốt ráo thành Không, đó gọi là “thấy thấu suốt”. Nơi chân thể, t́m sanh lăo bệnh tử vốn chẳng hề có; đấy chính là “tu tŕ”. Sơ cơ và rốt ráo (Phật quả) cùng quy vào một chỗ, nhân trùm biển quả. Rốt ráo và sơ cơ chẳng hai, quả thấu triệt nguồn nhân. Chỉ cốt sao minh tâm, chứ chẳng có pháp nào khác!

 

* Dạy Nghiêm Đại Triệt

 

          Chẳng hiểu rơ đại sự, đấy chính là lúc nào? Nếm mật, nằm gai, một tấc thời gian quư như một thước bích ngọc! Tạm thời giống như người chết, nghiên cứu cùng tận chí lư, lấy ngộ làm chuẩn mực.

 

* Dạy Lư cư sĩ ở Mân Trung

 

          Hai chữ Tham và Nghi chẳng cần phải hiểu tách rời. Nghi là tên gọi khác của Tham, đều mang ư nghĩa “thể cứu, truy xét”. Chỉ khán câu “người niệm Phật là ai”, lấy ngộ làm chuẩn mực là được rồi. Cổ đức lại nói: “Khán thoại đầu chẳng được suy tính, dùi mài, cũng đừng ném nó vào chỗ không làm ǵ cả, chỉ nên thấy nó như thế nào?” Lời này rất trọng yếu!

 

* Dạy các vị như Lâm Đức Nhuận v.v… ở huyện Mân

 

          Lập hội khuyên người để kết duyên là chuyện tốt đẹp, nhưng hăy nên tĩnh lặng, chớ nên quá phô trương. V́ sao vậy? Thói đời quen lệ xa xỉ tột bậc, sợ dấy lên nạn sự. Người trí hăy thận trọng!

 

* Dạy những vị tăng như Chân Ngu v.v… ở đất Sở

 

          Các bạn chí niệm chuyên ṛng, hiểu biết cao tột, thật sự là bạn thù thắng của Tây Phương. Nay có hai lời căn dặn:

- Một, đừng trụ nơi tiểu ngộ, hăy nên mong đại triệt.

- Hai, đang thuở mạt kiếp, chớ nên kiến lập pháp môn quá rộng. Hăy ngầm tu, hành sự cẩn thận, chờ tới khi trời rồng thúc đẩy mới ra mặt th́ hơn!

 

* Dạy Tự Không Quảng Thân (năm điều)

 

          Thời Mạt chẳng có đại pháp sư tốt đẹp như cổ nhân, ấy là v́ người thừa dịp giảng kinh quá nhiều, người dốc chí xem kinh quá ít. V́ thế, toàn là pháp sư thuộc Thế Đế mà thôi! Nay hăy càng nên gắng sức, chỉ coi việc nghiên cứu giáo lư tinh tường, hoằng pháp nhằm khơi gợi cho kẻ mê là một đại sự. Có mấy lời, mấy chuyện được nêu ra như sau:

          - Ăn uống, y phục, pḥng ốc v.v… nếu cứ ắt cầu trọn đủ, Phật pháp sẽ chẳng thể hoàn bị được. Nay đối với sảnh đường đă mua, có thể ở đó, những pḥng ốc khác sẽ thực hiện dần dần. Cổ nhân cư trụ phần nhiều là gian nọ [dần dần kiến tạo] nối tiếp gian kia. Muốn tề chỉnh ngay một lúc, sẽ mười phần tốn sức, gây trở ngại cho đạo nghiệp.

          - Hễ trụ trong ngôi chùa giàu sang, sẽ chẳng thể cư xử như nơi các tăng pḥng [b́nh phàm] được! Mọi chuyện cần phải chuộng giản ước, thanh đạm th́ mới có phong thái tu đạo.

          - Ở chung trong các tăng pḥng, cần phải khiêm nhượng, ôn ḥa. Chớ nên coi ḿnh là pháp sư, sanh ḷng ngă mạn.

          - Các văn tự thuộc Tướng Tông như Nhân Minh, Quán Sở Duyên Duyên[21] v.v… gần đây đều có chú giải, có thể trống ḷng tham học cổ nhân, châm chước hiện thời, chỉnh lư một phen.

          - Ở trong chùa là nơi mọi con mắt nh́n vào, cần phải mười phần cẩn thận, tuân thủ quy củ, cẩn trọng nơi những hành vi nhỏ nhặt để tránh bị dị nghị. Hăy suy nghĩ nhé!

 

* Dạy Vương Trí Đệ

 

          Tâm không th́ nghiệp không, thân không, bệnh không. Nếu có tâm nghi, hăy nên tận t́nh buông xuống. Kinh dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (phàm tất cả các tướng đều là hư vọng). Đă thuộc về hư vọng, giống như hoa đốm trên không, như bọt nước trên mặt nước, như chuyện trong mộng, có ǵ đáng nghi? Hăy giảm tư lự, kiêng phiền năo, giận hờn, ăn uống có chừng mực, thận trọng trong cuộc sống hằng ngày, chỉ thời thời khắc khắc dùng câu niệm Phật làm thoại đầu, đừng để quên mất. Đấy chính là giác chiếu thường tồn tại, tỉnh giác, chẳng mê muội.

 

* Dạy Minh Vũ Đại Hiểu

 

          Nhớ số quá nhiều, buộc tâm quá gấp, cho nên đổ ra các bệnh. Chỉ khăng khăng, miên mật, chẳng gián đoạn, chẳng xen tạp; đó chính là công phu. Chẳng cần phải khổ hạnh quá mức! Vọng tưởng kiên cường, chiến đấu lâu ngày, nó sẽ tự hàng phục, chẳng cần ngờ vực!

         

* Dạy Châu Đại Hệ

 

          Thoại đầu chẳng trở ngại tĩnh, mà là tĩnh trở ngại thoại đầu, do tham đắm tĩnh cảnh, coi đó là lạc. Vẫn cần phải dụng tâm nơi thoại đầu th́ mới được!

         

* Dạy Ngô Đại Tuấn

 

          Chẳng cần biết ngộ hay chẳng ngộ. Chẳng cần biết có, không, trong, ngoài, chặng giữa, bất luận Chỉ hay Quán, bất luận đồng hay bất đồng với các pháp môn khác. Nếu nghi t́nh chẳng dấy lên, cũng đừng quản “là ai” hay “chẳng phải là ai”, chỉ chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm nhất ư, chẳng gián đoạn, thuần nhất chẳng tạp mà hành tŕ.

 

* Dạy Vu Quảng Huệ

 

          Cổ nhân nói: “Tạp niệm là bệnh, niệm Phật là thuốc”. Niệm Phật đối trị tạp niệm, nhưng chẳng thể trị là do niệm chẳng thân thiết! Khi tạp niệm dấy lên, lập tức dụng tâm gắng công niệm Phật nhiều hơn, từng chữ, từng câu chuyên nhất, chẳng hai, tạp niệm sẽ tự dứt.

 

* Dạy Vương Quảng Đệ

 

          Không ǵ bằng thẳng thừng chấp tŕ một câu A Di Đà Phật, tận tâm tận lực mà niệm, chẳng tơ hào niệm chi khác. Đấy chính là công án chữ Vô; chẳng cần phải đề khởi các thoại đầu như chữ Vô v.v… Thuần nhất niệm Phật. Niệm Phật thấu trên (thông với Phật quả), ngàn chỗ, vạn chỗ đều thông thấu.

 

* Dạy Quảng Kỳ

 

          Cụ Bàng (Bàng Long Uẩn) nói: “Mười phương đồng tụ hội, ai nấy học vô vi. Đấy là trường tuyển Phật, tâm Không mới thi đậu”. Tâm chưa thể rỗng không, phải siêng năng niệm Phật. Niệm niệm chẳng ngớt, tâm sẽ tự rỗng rang!

 

* Dạy Tần Bội Ngọc

 

          Cũng chẳng phải là trong thân khởi nghi, cũng chẳng phải là Không Không khởi nghi. Dùng hai điều ấy để so sánh xem có được hay không th́ đúng là nghi chưa khởi. Nếu thật sự có nghi, sẽ tự chẳng phải như vậy. Cái nghi thật sự chưa dấy lên, chỉ nên chánh niệm nhiếp tâm. Chẳng nghi, chẳng trở ngại ǵ!

 

* Dạy Ngô Quảng Thụ

 

          Đă chẳng nghi sanh tử, chẳng nghi công án của cổ đức, há nên sanh ḷng kinh sợ to lớn? Há nên vẫn để mũi tên lo ngờ cắm vào tim? Người nói là “chẳng nghi”, hăy c̣n có nghi! Xưa kia có hai vị tỳ-kheo phạm dâm và sát, do một câu nói của ngài Duy Ma, tội diệt chẳng c̣n sót! Nay nếu có thể như hai vị tỳ-kheo ấy th́ chẳng cần bàn nữa. Nếu không, có một cách khác. Kinh dạy: “Chí tâm niệm Phật một tiếng diệt trọng tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử”. Nếu kiền thành niệm Phật mười vạn tám ngàn lần, không tội nào chẳng diệt! Đó là “thần chú” để đối trị, như gió cuốn mây, như mặt trời tiêu giọt sương, như giọt nước gieo vào biển cả, như mảnh tuyết chạm vào ḷ lửa hừng, diệt trừ hết sạch, chẳng c̣n tung tích nữa!

 

* Dạy ông Bành ở Tứ Xuyên

 

          Kẻ giáng cơ mười trường hợp chẳng được một trường hợp có thật, đều là kẻ mạo danh vị tiên chi đó, nhưng thật ra chẳng phải. Cầu cơ lâu ngày, [quỷ mị giả danh thần tiên] có thể trộm tinh thần và nguyên khí [của kẻ cầu cơ]. Chỉ có Phật là tam giới đại sư. Nhất tâm niệm Phật, ắt lũ tà tự dứt.

 

* Dạy thị giả Trí Chân

 

          Đừng tham cảnh dục nhiễm, đó là căn bản của địa ngục. Đừng chấp đồ trân ngoạn, chết chẳng mang theo được. Đừng lân la nhà hào môn vọng tộc, v́ sẽ chôn vùi khí tiết thanh bạch. Đừng chơi với bạn vô ích, do sẽ bị nhiễm giống như [ở lâu trong] chợ cá sẽ dần dần bị nhuốm [mùi tanh hôi]. Đừng cậy trẻ khỏe, do mạng người trong hơi thở. Đừng buông lung sân nộ nhất thời, mai sau hối chẳng kịp!

 

* Dạy vị tăng Đại Mỗ

 

          Chưa kiến tánh mà suy đoán cảnh giới kiến tánh, hết sức vô ích! Chỉ có một điều cuối cùng mới là câu hỏi thiết thực. Ông hỏi: “Đă biết Thiền tọa quán tâm, sao chẳng nói niệm Phật quán tâm?” Há có hai ư? Hăy thật thà thực hiện công phu, đợi tới khi kiến tánh, sẽ lại thấu hiểu, lănh hội!

 

* Dạy Đức Chương Đại Vi

 

          Thường ngày có công phu thật sự th́ trong khi bệnh mới đắc lực. Nay sao lại cưỡng cầu đạt được? Dẫu vậy, cũng chỉ là miễn cưỡng gắng sức thực hiện.

 

* Dạy Tôn Đại Trí

 

          Ngoài tâm chẳng có cảnh. Tâm không th́ cảnh vắng lặng. Huệ do Định mà có được. Tâm tĩnh th́ sáng sủa phát sanh.

 

* Dạy Hoàng Khâm ở Kiến Xương

 

          Hư rời đi, thật quay về; chẳng bằng “thật đi, hư về” càng tốt đẹp hơn. Cụ Bàng nói: “Chỉ nguyện rỗng không hết thảy sở hữu, cẩn thận đừng coi các thứ vốn không có là chân thật”.

 

* Dạy Lâm Vinh ở Phước Kiến (Lâm Vinh trần thuật cặn kẽ cảnh lạ mà ông ta đă thấy)

 

          Kinh dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” (phàm tất cả các tướng đều là hư vọng). Đối với những ǵ mắt thấy, tai nghe, đều quét sạch hết thảy, nhất tâm niệm Phật.

 

* Dạy Vô Ngung Đại Phương

 

          Tuổi trẻ, thể chất tốt đẹp, hăy dụng tâm nơi chuyện thuộc bổn phận của chính ḿnh, đừng v́ [các thể thơ] năm chữ hay bảy chữ mà lăng phí ngày tháng để rồi phải hối hận về sau. Đại sự đă hiểu rơ, [tới khi đó], ngâm vịnh hay làm thơ cũng chẳng muộn!

 

* Dạy Tiết Quảng Duyệt

 

          Tham cứu chẳng tiện th́ chuyên tŕ danh cũng được, chỉ cần đạt được nhất tâm, sẽ chẳng bị chuyển theo cảnh.

 

* Dạy cư sĩ X…

 

          Lời khai thị thiết yếu nhất của cổ đức là “tùy duyên tiêu nghiệp cũ, đừng tạo ương họa mới”. Nay đủ loại chướng đạo trước mắt đều do túc duyên mà ra, chớ nên ưu năo, chỉ tùy duyên thuận chịu. Điều khẩn yếu là chẳng c̣n tạo nghiệp căn cho tương lai.

 

* Dạy cư sĩ Y…

 

          Giữ vững Ngũ Giới, nhất tâm niệm Phật, hiếu dưỡng cha mẹ, cũng khuyên lơn họ nhất tâm niệm Phật, cầu nguyện cho mẹ lẫn con đều cùng sanh về Tịnh Độ, tùy duyên sống qua ngày. Nếu có người cúng dường th́ nhận, đừng đi quyên mộ. Đừng lập hội niệm Phật, hăy giữ phận tu hành. Đấy chính là bậc đại thiện nhân, là cư sĩ thật sự trong thời Mạt Pháp vậy!

 

* Dạy bà Thạch thuộc nhà họ Ông ở núi Động Đ́nh (cầu đời sau làm quan)

 

          Làm quan tuy tốt đẹp, nhưng ỷ vào chức quan để tạo nghiệp, về sau đọa lạc, thọ khổ vô lượng. Hăy nên nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Dẫu địa vị đạt tới Tam Công, chẳng bằng ngự lên chín phẩm sen! Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ vượt hẳn làm quan rất ư là xa!

 

* Dạy bà Thạch thuộc nhà họ Hứa ở núi Động Đ́nh (mong đời sau làm Tăng)

 

          Làm Tăng tuy tốt đẹp, nhưng Tăng chẳng tu hành, đời sau sẽ đọa lạc, chịu vô lượng khổ. Hăy nên nhất tâm niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Thân cận tượng giả bằng kim loại hay gỗ điêu khắc, trang hoàng, chẳng bằng thân cận vị Phật thật sự đang thuyết pháp trong hiện tại. Làm Tăng trong Tịnh Độ hơn hẳn làm tăng trong thế giới này rất xa!

 

* Dạy người học

 

          1) Kẻ ngu mê mà chẳng giác, hành sự điên đảo, luân chuyển trong sanh tử, chẳng hề ngưng dứt. Thánh nhân xót thương, dùng Tam Học để dạy, tức là Giới để họ bớt sai trái. Tức là Định để nhiếp tâm loạn. Tức là Huệ để phá Hoặc cho họ. Bởi lẽ, chướng tận, tâm không, khôi phục giác thể rạng ngời, mênh mông, như ngủ say tỉnh giấc. Đại để, vầng mặt trời chói lọi chẳng đủ để sánh ví sự tinh minh ấy, bầu trời lồng lộng chẳng đủ để sánh ví sự cao rộng ấy. Đó là nêu đại lược Phật đạo vậy, vẫn cần phải luận định cao hơn nữa!

          2) Người hiện thời phần nhiều chuộng nói “tham, ngộ”, ưa nói “liễu sanh tử”, chẳng biết liễu ngộ trong cơi này rất khó, được gọi là “siêu thoát tam giới theo chiều dọc”. Tư Đà Hàm c̣n phải một lần qua lại, huống phàm nhân ư? Chúng sanh trong cơi này phần nhiều sanh về Tây Phương trước rồi sau đấy mới liễu ngộ. Pháp môn “sanh về Tây Phương” được gọi là “vượt thoát tam giới theo chiều ngang, muôn người chẳng sót một”!

 

* Sáu chương dạy cháu là Tôn Đại Thụ trong khi anh ta đang ngồi dạy học

 

          Một, học tập cử nghiệp chẳng phải chỉ là mong đỗ đạt. Đọc sách thánh hiền th́ phải mong làm thánh hiền. Mạnh Tử nói “đạt tắc kiêm thiện thiên hạ”, tức là chuyện trị quốc, b́nh thiên hạ; “cùng tắc độc thiện kỳ thân” tức là chuyện thành ư, chánh tâm, tu thân, tề gia. Các chuyện bất đồng, nhưng đều quy vào điều thiện!

          Hai, viết văn chương chẳng phải chỉ để nịnh nọt quan chấm thi ḥng cầu được công danh! Văn tự chính là tinh thần và tâm thuật của người viết. Gian hiểm, quái lạ là văn chương của phường tiểu nhân. Chánh đại quang minh là văn chương của bậc quân tử. Được hay mất đều có mạng! Chớ nên thấy có kẻ gian hiểm quái dị mà đạt được thuận tiện, liền bắt chước làm theo!

          Ba, theo thầy không phải chỉ là mong học tài nghệ văn chương, phải lấy đức hạnh làm gốc. Vị thầy chỉ dạy ta văn tài, chẳng dạy ta bằng đức hạnh, chẳng phải là thầy hiền! Nếu gặp thầy hiền, cần phải thân thiết như cha mẹ, kính trọng như thần minh, phụng sự suốt đời!

          Bốn, viết lách không phải chỉ lúc vào trường thi mới trang trọng, cẩn thận. Cần phải trong lúc khảo thí b́nh nhật, giống hệt như có quan giám khảo đang trông coi, phải dốc cạn ḷng thành, dốc trọn cái tâm, không thể chẳng hoàn thành quyển thi, chẳng thể viết cẩu thả cho xong!

          Năm, đọc sách không chỉ cầu mới mẻ, cầu vượt trội, cần phải thuận văn, thuận lư. Trong mười phần, chín phần hăy nên nương theo chú giải của Châu Hy.

          Sáu, trong khi ngồi dạy học, không chỉ canh năm thức dậy, học tới nửa đêm th́ mới là siêng học. Chỉ nên từ sáng sớm cho tới đêm thâu, suốt tháng chẳng bỏ lỡ ngày nào, suốt ngày chẳng bỏ lỡ giờ nào, dứt tuyệt đi loanh quanh, bớt nói năng, dứt bặt chuyện vô bổ, khăng khăng miệt mài, chuyên ṛng chẳng buông lung, tự nhiên sẽ ngày một tiến hơn!

 

15.6. Cảnh sách

* Chân bị thương tự quy định (bốn điều)

 

          1) Từ nay trở đi, lúc nào được gân xương nhẹ nhàng, đi ngồi tùy ư, liền nghĩ tới chúng sanh trong lục đạo đang khổ năo, nhất tâm chánh niệm.

          2) Từ nay trở đi, dẫu có kẻ chửi mắng ta thậm tệ, không chỉ dùng lời lẽ báng bổ ta, thậm chí c̣n tát vào mặt ta, nhổ vào mặt ta, ắt đều thuận chịu, nhất tâm chánh niệm.

          3) Từ nay trở đi, dẫu có kẻ vong ân trái nghịch, ĺa bỏ ta, đem cừu oán báo ân, ắt đều thuận chịu, nhất tâm chánh niệm.

          4) Từ nay trở đi, dẫu có kẻ được sai khiến mà không vâng lệnh, kẻ nhận lănh nhiệm vụ mà hành xử không đúng pháp, bèn dùng chánh ngữ, hoặc dùng lời lẽ khiêm tốn, tùy nghi mà nói năng. Nếu họ không thay đổi th́ thôi, đừng dấy sân khuể, nhất tâm chánh niệm.

 

* Bảy điều tự cảnh tỉnh

 

          Cổ nhân từng nói: “Vua Vũ tiếc tấc bóng, dạy bảo mọi người hăy nên tiếc thời gian”. Ta nay suy tàn, há chẳng tiếc từng khoảng khảy ngón tay, đừng dụng tâm xen tạp. “Chẳng dụng tâm xen tạp” tức là ngoài việc chánh niệm điều ḿnh đang tham cứu ra, hễ vừa mới dấy một niệm tạp tưởng, liền lập tức trừ sạch, nhiếp tâm quy vào chánh niệm, chẳng thể chần chừ một thời khắc nào. Nay nêu ra đại lược bảy sự, quả thật là v́ sanh tử mà xuất gia, thẳng thừng muốn hoàn tất [liễu sanh tử] ngay trong một đời, dốc sức tuân thủ, luôn luôn tự cảnh tỉnh:

          - Một, chẳng được chất chứa tài sản riêng, kiến tạo pḥng ốc, mua ruộng đất, sắm sửa hết thảy các vật tinh xảo tột bậc. Ngay như kinh, tượng vốn được lưu truyền từ thái cổ, phát xuất từ các bậc danh gia, đều chớ nên lưu luyến, nhất tâm chánh niệm.

          - Hai, chẳng được làm các chuyện phước đức duyên sự không khẩn yếu; đành chờ mai sau đă hiểu rơ đại sự rồi mới làm vẫn chưa muộn. Hiện thời, tạm gác vạn hạnh môn lại đó, nhất tâm chánh niệm.

          - Ba, không được khởi tâm tham ái đối với sắc đẹp, đừng khởi tâm tham ái đối với vị ngon, đừng khởi tâm tham ái đối với lời lẽ tốt đẹp, khen ngợi ta, đừng khởi tâm sân năo đối với ác sắc, đừng khởi tâm sân năo đối với các vị không ngon, đừng khởi tâm sân năo đối với kẻ dùng lời ác chê bai, hủy báng ta, dùng lời ác nghiệt nhục mạ ta, dùng nắm đấm hung bạo thoi đánh ta, đủ loại ác nghịch đối với ta. Cho đến chuyện đă qua, dẫu thuận hay nghịch, chuyện tương lai dẫu thuận hay nghịch, thảy đều dứt bặt, giữ kiên cố như tường vách, nhất tâm chánh niệm.

          - Bốn, chẳng được ngâm thơ, soạn văn, luyện thư pháp theo thể chữ Chân (Khải Thư) hay Thảo Thư, đề thiếp, soạn câu đối, gọt giữa văn từ, đọc tràn lan các sách bên ngoài, nghị luận được, mất, ưu, khuyết của kẻ khác, thậm chí cậy vào sự ức đoán mà tâm ngạo nghễ trước thuật, chưa ngộ thấu triệt Thiền mà hư vọng dấy ư niêm tụng, b́nh luận. Hăy ngậm chặt miệng lưỡi mà nhất tâm chánh niệm.

          - Năm, chẳng được kết giao với thân bằng, ứng phó lời vời thỉnh, du sơn, ngoạn cảnh, nói năng tạp nhạp, chuyện gẫu. Phàm đủ loại chuyện thuộc Thế Đế, trừ những chuyện theo đúng lẽ phải nên làm, quyết chẳng thể không làm, những chuyện khác hăy đều thôi dứt, nhất tâm chánh niệm.

          - Sáu, chẳng được tham đắm, buông lung, mặc sức ngủ nghê. Chưa hiểu rơ đại sự th́ phải nhọc nhằn chịu khổ, nhất tâm chánh niệm.

          - Bảy, chẳng được cùng người đời tranh đua tài năng, tranh danh, tranh oai thế, chưa đắc nói đă đắc, chưa chứng mà nói chứng, dối xưng là tri thức, hư vọng tự tôn cao. Chỉ nên giữ phận hèn, giữ ngu, suốt đời ở địa vị học hỏi để tự rèn luyện, thường xuyên tinh tấn, nhất tâm chánh niệm.

          Châu Hoằng lúc mới xuất gia, lập chí hết sức chánh đáng, ǵn giữ chí ấy rất vững vàng. Chỉ v́ thể chất yếu đuối, lẻ loi đi xa, chưa đắc đạo mà đă ngă bệnh trước, bất đắc dĩ, phải kết lều tranh để ở. Tự cho rằng ẩn cư trong chốn rừng sâu, chắc có thể trốn người, lánh đời, nào ngờ lâu ngày chầy tháng, bất giác, bất tri, dần dần trở thành tùng lâm, giảng tịch. Tuy chẳng dám tự cao làm phương trượng, ngă mạn tự coi chính ḿnh là hiền, thật sự cũng bị vướng lụy chẳng ít. Nay bỗng đă tám mươi, mạng như đuốc trước gió, hết sức kinh sợ, hết sức hổ thẹn, ăn ngủ chẳng yên. Lại nghĩ: Vẫn c̣n một hơi thở, sao chẳng tuổi già vẫn gắng sức mạnh mẽ, dẫu thân lực mệt mỏi, tâm lực vẫn có thể tự cường, tuy chẳng kham bằng phong cách già nua vẫn hành cước của cổ nhân, nhưng chẳng dụng tâm xen tạp, há nên tự ruồng rẫy? Lại vận dụng toàn bộ ḷng thành thuở đầu, lập lại thệ ước, một mặt sách tấn chính ḿnh, một mặt khuyên lơn người khác. Chắc cũng có người thoạt đầu siêng năng, nửa chừng giải đăi như tôi đó chăng? Mong hăy cùng gắng lên!

          Các bài lăo đường cảnh sách, bệnh đường cảnh sách và sanh sở cảnh sách (cảnh sách nơi chỗ phóng sanh) đều chép trong Cộng Trụ Quy Ước Tập.

 

* Cảnh tỉnh đại chúng (tám điều)

 

          Khi tôi chưa xuất gia, đối với chuyện bất nhân, bất nghĩa, vô lễ, vô trí, dẫu người khác hướng dẫn tôi làm, tôi liền tự xấu hổ, thẹn thùng, chẳng chịu làm mảy may nào! V́ lẽ nào vậy? Đó là do đời trước tôi đă thân cận người tốt, trong ruộng thức thứ tám lănh nạp lời lẽ tốt lành. Do vậy, đời này hễ thấy điều ác bèn hổ thẹn, chẳng chịu thực hiện. Các vị phải thật thà thân cận người lành. Hăy nên trong lúc sáng tối phát nguyện, hăy nên nguyện đời đời kiếp kiếp thân cận thiện tri thức.

          Sau khi tôi xuất gia, đến các nơi tham phỏng. Khi đó, môn đ́nh của ngài Biến Dung hết sức hưng thịnh. Tôi đến kinh đô khấu bái, đi bằng hai đầu gối đến cầu thỉnh. Sư dạy: “Ngươi hăy nên giữ bổn phận, chớ nên tham danh, trục lợi. Chớ nên phan duyên. Chỉ cần nhân quả phân minh, nhất tâm niệm Phật”. Tôi vâng lănh lời dạy, lui ra. Người cùng đi cười to, bảo: “Mấy câu nói ấy ai mà chẳng nói được! [Đối với người] từ xa ngàn dặm t́m tới, chỉ nên nói chỗ hết sức cao diệu, [chứ lời ổng nói] vốn chẳng đáng nửa đồng!” Tôi nói: “Đó chính là chỗ thể hiện ưu điểm của Ngài. Chúng ta khát ngưỡng, ngưỡng mộ, từ xa tới đây. Ngài chẳng đàm huyền thuyết diệu, bày ra vẻ cao xa với chúng ta, chỉ thật thà đem công phu do chính ḿnh đă nhận biết hết sức gần gũi, tinh tường, chân thật để ra rả khai thị. V́ thế, đấy chính là chỗ hay của Ngài”. Cho tới nay, tôi thiết thực tuân thủ, chưa từng buông mất.

Đối với mười phương tăng chúng, [tôi coi như bậc] hiền thánh xuất hiện rồi diệt mất, tôi gặp họ, chưa từng bất kính. Người khác chưa quỳ, tôi quỳ trước. Người khác chưa lạy, tôi lạy trước. Trước kia, có một vị tăng từ phương xa tới, do vị ấy xấu xí, lam lũ, không ai chẳng khinh miệt. Tới khi gặp tôi, vị ấy bèn đàm luận huyền chỉ kinh Lăng Nghiêm đến tột cùng. Quư vị quyết chớ nên khinh miệt người khác, hăy nhớ nhé! Nhớ kỹ nhé!        

          Môn trọng yếu để nhập đạo, tín là bậc nhất. Chuyện ác mà chẳng có ḷng tin, c̣n chẳng thể thành tựu, huống hồ việc thiện ư? Ví như đạo tặc trong thế gian, khi bị bại lộ, quan phủ không ai chẳng dùng cực h́nh, trói buộc. Về sau, được thả, chúng nó vẫn y như cũ chẳng hối cải! V́ lẽ nào vậy? Họ tin chắc theo đường lối ấy: Chẳng tốn một đồng tiền vốn nào mà tự đạt được lợi ích vô kể. Do vậy, chịu đủ mọi nỗi đau khổ, quyết chẳng lùi bước, hối hận. Người hiện thời niệm Phật, nếu chẳng chịu chân thật, thiết tha dụng công, chính là v́ chưa từng suy nghĩ sâu xa, tin tưởng chắc chắn. Chẳng cần nói họ không tin Tịnh Độ, chỉ như câu nói của đức Thế Tôn: “Nhân mạng tại hô hấp gian” (Mạng người trong hơi thở). Nghĩa lư của câu nói ấy chẳng phải là khó thấu hiểu, khó diễn nói! Quư vị chính mắt thấy, chính tai nghe, đă trải qua khá nhiều trường hợp cụ thể rồi, nay nếu quư vị tin tưởng câu nói ấy, th́ đă sớm xong chuyện rồi! Nếu quư vị chân thật tin tưởng câu nói ấy, đối với pháp môn Niệm Phật chẳng cần phải khiến tôi phí sạch khí lực dặn ḍ ngàn lời muôn lẽ, mà quư vị tự như nước tuôn vào ng̣i rănh, vạn con trâu chẳng thể kéo lại được!

Như hôm trước, khi tống tiễn một vị tăng đă mất, các vị đă thấy tấm gương ấy, hăy nên bi thương, chẳng vui, đau đáu cảnh sách lẫn nhau rằng: “Đại chúng! Tôi cùng quư vị hôm nay đưa tiễn vị tăng này, ngày mai đưa tiễn vị tăng nọ, chẳng biết bất giác lần lượt đến phiên ḿnh. Khi đó, hối hận chẳng kịp! Cần phải vội vàng niệm Phật, đừng luống bỏ thời khắc nào th́ mới nên”. Tôi thấy các vị tự ḿnh cũng nói đáng tiếc, đối với người khác cũng nói đáng tiếc; nhưng tới khi cổ xướng[22] trong tăng đường, vẫn nói cười thong dong như cũ! Quư vị chỉ là kẻ chẳng tin tưởng “mạng người trong hơi thở” vậy!

Tôi thấy hàng hậu sanh mới học vừa mới đặt một câu Phật hiệu trong tâm, càng cảm thấy vọng tưởng tạp niệm dấy lên tưng bừng, liền nói “công phu niệm Phật chẳng thể nhiếp tâm”, chẳng biết căn nguyên sanh tử của quư vị từ vô lượng kiếp đến nay sao có thể ngay lập tức đoạn được! Hơn nữa, ngay trong lúc muôn niệm lăng xăng, đúng là lúc thực hiện công phu. Vừa mới thâu nhiếp liền tán loạn ngay, vừa mới tán loạn bèn thâu nhiếp, lâu ngày công phu thuần thục, tự nhiên vọng niệm chẳng dấy lên. Quư vị có thể nhận thấy kẻ vọng niệm nặng nề là do thiếu sót câu Phật hiệu này! Nếu lúc chẳng niệm Phật, [vọng niệm như] sóng bủa trào vọt chẳng ngừng trong một sát-na, há chính ḿnh có thể nhận biết hay không?

Niệm Phật có thể niệm thầm, hoặc niệm lớn tiếng, hoặc kim cang tŕ; nhưng niệm lớn tiếng khá tốn sức, niệm thầm lại dễ hôn trầm. Chỉ là miên miên mật mật, âm thanh nằm giữa môi và răng, đó gọi là kim cang tŕ. Lại chớ nên chấp chặt! Nếu cảm thấy tốn sức, chẳng ngại niệm thầm. Nếu cảm thấy hôn trầm, chẳng ngại niệm lớn tiếng. Người niệm Phật hiện thời chỉ là tay gơ mơ, thuận miệng hét ầm lên, cho nên chẳng được lợi ích! Ắt cần phải từng câu từ miệng thoát ra, lọt vào tai, từng tiếng đánh thức tự tâm. Ví như một người đang ngủ say, người khác gọi kẻ nào đó, người ấy liền tỉnh giấc. Do vậy, niệm Phật có thể nhiếp tâm nhất.

Người hiện thời chẳng chịu niệm Phật chỉ v́ coi rẻ Tây Phương, chẳng biết sanh về Tây Phương chính là phương cách khéo léo “đại đức, đại phước, đại trí, đại huệ, đại thánh, đại hiền” để chuyển Sa Bà thành Tịnh Độ, chẳng giống các nhân duyên nhỏ nhoi! Quư vị chỉ thấy trong thành này, trong một ngày một đêm, có bao nhiêu người chết? Chẳng cần nói đến sanh về Tây Phương, ngay như sanh lên trời, trong trăm ngàn người c̣n chẳng được một! Có kẻ tự phụ tu hành, chỉ là không đánh mất thân người mà thôi! V́ thế, đức Thế Tôn đại từ đại bi chỉ dạy pháp môn này, công quá càn khôn, ân hơn cha mẹ, tan xương nát thân chẳng đủ báo đáp! Thuở bé, tôi c̣n chưa biết niệm Phật, thấy một bà cụ hàng xóm công khóa mỗi ngày là niệm Phật một ngàn câu, hỏi cụ v́ sao như thế? Cụ nói: “Chồng tôi thuở trước niệm Phật, lúc mất rất tốt. V́ vậy, tôi niệm như thế! Chồng tôi lúc mất trọn chẳng bị bệnh tật, chỉ từ biệt người khác mà thôi!” Cớ sao người xuất gia chẳng niệm Phật?

 

* Chuyện bất tường của người xuất gia

 

          1) An tọa trước tượng Phật để người khác lễ bái, bất tường!

          2) Chửi người khác trước Phật, bất tường!

          3) Trên pháp ṭa, quát mắng người khác, và khinh dễ bài xích tiền hiền là sai lầm, bất tường!

          4) Đang mặc áo lót, bị người khác lễ bái, bất tường!

          5) Đang ăn mà chửi người khác, bất tường!

          6) Đối với thức ăn, phân biệt ngon, dở, khởi tâm ghét bỏ, bất tường!

          7) Dùng lụa là, gấm thêu làm quần áo sử dụng thường ngày, bất tường!

          8) Giường nằm dùng nệm dày, đệm dày, mền bằng tơ, lụa, trướng (màn che) bằng the, lượt, bất tường!

          9) Sáng sớm chửi bới người khác, bất tường!

10) Ghét hiềm tín thí cúng dường ít ỏi, bất tường!

          11) Mua nô bộc để chính ḿnh sai khiến như nhà phú quư, bất tường!

12) Người khác nhọc nhằn, riêng ta an nhàn, bất tường!

          13) Người khác nghèo túng, thiếu thốn, riêng ta giàu có, dư dả, bất tường!

          14) Tuổi trẻ mà làm pháp sư giảng giải, làm thầy thí thực, làm thầy trụ tŕ, bất tường!

          15) Tuổi trẻ cậy chút thông minh, khinh rẻ bậc lăo túc, bất tường!

          16) Cậy ḿnh lớn tuổi, khinh rẻ hàng hậu tấn, bất tường!

          17) Vô cớ mà được bố thí trọng hậu, bất tường!

          18) Người ta đối xử với ta bằng ḷng chí thành, ta dùng xảo trá để đáp lại, bất tường!

          19) Thích bàn luận lỗi lầm và chuyện ẩn kín của kẻ khác, bất tường!

          20) Dùng của thường trụ hoặc của công để làm lợi hoặc giúp đỡ tục gia, bất tường!

          21) Nuông chiều đệ tử sa-di quá mức, cho nó ăn ngon, mặc đẹp, bất tường!

22) Hễ thốt lời liền thô tháp, nặng nề, khiến người khác khó ḷng chịu đựng, bất tường!

          23) Do có nhiều người hộ pháp, nhiều tín thí, liền hư vọng tự tôn, tự đại, bất tường!

          24) Chẳng bệnh tật mà sai người khác đổ bô nước tiểu, bất tường!

          25) Trong khi bị bệnh, sân giận đối với người chăm sóc, bất tường!

          26) Mặc thiên sam (áo dài, áo nhật b́nh) đi tiểu, bất tường!

          27) Gặp lụt lội, hạn hán v.v… oán hận trời đất, bất tường!

          28) Thiếu nợ người khác, nghe họ chết, tâm sanh vui mừng, bất tường!

          29) Chưa nói đă cười trước, bất tường!

          30) Thông hiểu giáo lư sơ sài, hư vọng đánh giá cổ nhân, coi thường người hiện thời, bất tường!

          31) Có chút tri kiến, tự coi ḿnh là tông sư, bất tường!

          Những điều trên đây khiến giảm phước, chiết thọ, chuốc nhiều họa hại; v́ thế nói là “bất tường”. Hăy nên cùng nhau răn dè!

 

* Dạy trụ tŕ

 

          Bớt tiền mua lương thực cho tăng để dựng nhà tăng, thiện tri thức khó trốn khỏi cái gông sắt nóng. Dùng tiền mua gạch làm tiền mua ngói, kẻ thiền ḥa thông tục khó tránh ngục hàn băng. Của công thuộc chiêu-đề[23], sao lại dùng để sắm b́nh, sắm hồ[24]? Núi bạc của đại chúng, thế mà dùng để mua búa, mua đục? B́nh, hồ rót vào vạc sôi sùng sục. Búa, đục trọn đủ mà núi đao thành. Huống hồ viên bột gạo cùng nuốt với ḥn sắt, tơ bông với thai trâu cùng ở. Cái nhân đă hành dường như nhỏ nhặt, cảm quả rất sâu! Chẳng đáng buồn ư?

 

* Lời quở trách vứt bỏ bă đậu[25]

 

          Phung phí bừa băi của trời, ắt có họa sanh. Kẻ khinh rẻ ngũ cốc, phần nhiều bị sét đánh. Chó, lợn cùng người ăn uống, Mạnh Tử do vậy đau ḷng. Rượu thịt, xa xỉ làm ao, rừng, vua Thương bởi đó mất nước. Hơn nữa, cổ nhân c̣n nuốt cám, bă, nay bă đậu ngon lành hơn cám, bă. Đại sĩ c̣n ăn hạt cỏ, nay bă đậu chẳng ngon lành hơn cỏ ư? Hiềm rằng phóng túng, kiêu căng, xa xỉ, giống như đứa con nhà giàu phá của. Hôn mê điên đảo, dường trẻ nít c̣n nằm trong địu. Trước là cần phải phong kín cối xay để răn đe, sau ắt đập nồi để cấm vĩnh viễn.

 

* Dạy các vị trực viện (ba điều)

 

          1) Hội Thủy Lục đầu đuôi nối tiếp nhau, kinh sám tiếp tục chẳng ngừng. Xin thứ tự để tụng kinh, gấp rút như tuyển chọn quan viên. Thỉnh tăng làm pháp sự vội vàng như báo hỷ. Vị sư coi kho suốt đêm tính toán, bất quá là sai phái, ứng phó tiền tài, gồng gánh, chuyển vận, suốt ngày bươn bả, không ǵ chẳng phải là mua bán hàng hóa, vật dụng cho đạo tràng! Vị tăng trực ban chỉ nói hàng rào hư, nhà dột. Kẻ thỉnh cầu được trụ lại chẳng v́ niệm Phật, tham Thiền. Huống hồ ngoài chẳng có đương gia, trong chẳng có thủ tọa; đại chúng phần nhiều vướng mắc danh lợi, ai thật sự v́ tử sanh? Cơm áo dư dật quá mức, chi phí mười phần tốn kém, dựng tùng lâm như thế, chẳng biết có phước hay là có nghiệp? Ta trụ tại trùng lâm được hay chẳng trụ được? Sau khi công khóa kết thúc, vị duyệt chúng nên tuyên đọc bài viết này một lượt trong Phật đường. Vị đương gia nhận lấy, cùng với các vị quản sự và bậc lăo thành hiểu lư mau chóng thương nghị để báo lại.

2) Kẻ bỏ giảng, quay về Thiền, đổi chùa giảng thành chùa Thiền, tiếng thơm lưu truyền xưa nay. Biến Thiền thành giảng, chẳng phải là điều nên làm trong cơi đời hưng thịnh. Nay đối với chuyện bàn luận thuần nhất là tu Thiền hay giảng kinh, tạm ngưng bàn có được hay không?

3) [Do trong núi không có Đương Gia, chọn ra] sáu người [luân phiên] thay mặt vị đương gia. Đă gọi là “Đương Gia” th́ từ người già trăm tuổi cho đến sa-di trẻ nít đều phải quản đến. Từ vật quư trọng như tiền bạc, vải vóc, cho đến cây kim, cọng cỏ, đều phải quản. Từ trong điện đường cho đến ngoài điện đường, cho tới các chỗ Thượng Phương, Trường Thọ, đều phải quán xuyến. Từ kẻ phá giới, phạm pháp, cho đến những lỗi lầm nhỏ nhặt đều phải quản. Từ đại chúng trong bổn sơn (tùng lâm) cho đến khách tăng tạm trụ và [các chấp sự] ngoại trụ đều phải quản. Hơn nữa, nay tuy gọi là Đương Gia, cũng chẳng phiền quư vị phải tốn sức lo liệu gạo, củi, lại chẳng phiền các vị bỏ tiền, nộp lương thực, nộp thuế, lại chẳng phiền các vị làm lương trưởng, lư trưởng, lại chẳng phiền quư vị theo ban mà cầu mưa, cầu tạnh, chỉ cần chuyên dụng tâm quản lư sự vụ giúp đại chúng tu hành mà thôi! Nếu chẳng chịu dụng tâm, hồ đồ qua ngày, chẳng suy lường trong bốn mươi lăm ngày, chỉ có mười lăm ngày là siêng nhọc thôi! Nếu vẫn chẳng dụng tâm, thật sợ rằng long thiên sẽ trách tội, thần già-lam nổi sân, đời này tổn lộc, giảm thọ, mạng chung đọa vào đường ác! Há chẳng gắng sức ư?

 

* Mười điều đáng than

 

          Già bệnh mang tội, tự lầm, lầm người khác, tăng Châu Hoằng dập đầu, bạch rằng: Do Hoằng tuổi già, bệnh tật lâu ngày, sức ít, chuyện nhiều, [thọ mạng như] lửa nháng từ đá xẹt, như ngọn đèn trước gió, mạng chỉ c̣n trong hơi thở. Trước đây đă tính ở am Trường Thọ dưỡng bệnh mấy tháng, được ba người bạn là Ngộ Trai, Phạm Bang và Thường Tỉnh đón trở về, chẳng được như nguyện. Đó là một điều đáng than.

Ba người bạn phát tâm [trông nom sự vụ trong núi], chẳng lâu sau rời đi, chẳng hoàn thành chuyện đă mong mỏi. Chúc Không kế tiếp, cũng chẳng giữ trọn đến cuối. Nay th́ sáu người thay phiên, chia thành ba ban, mỗi ban nửa tháng, cũng chẳng phải là phương tiện lâu dài. Am nhỏ, miếu nhỏ th́ Đương Gia mỗi chuyện đều lo liệu tṛn cả năm, giao phó hoàn chỉnh. Chỉ riêng có bổn sơn là [sáu người lần lượt thay nhau làm Đương Gia] như vậy. Đó là hai điều đáng than.            

Một người hư vọng làm chủ tể, đào bới phá hoại phong thủy của Long sơn, một năm mà chết mười bảy người, đại chúng dường như chẳng thấy, chẳng nghe. Một người hư vọng làm chủ tể, tại hậu sơn tạo dựng tường đá, cắt đứt mạch núi dồn đến, chỉ uổng phí tiền tài, lương thực, đâm ra khiến cho hổ, báo ẩn núp, chiêu vời trộm cướp, [thế mà] đại chúng chẳng thấy, chẳng nghe. Đó là ba điều đáng than.

Tuy cứ mỗi nửa tháng, tuyên đọc mười điều quy ước của tăng chúng, mười chuyện tu thân, cho đến các bài minh v.v… ở nhà bếp, nhà kho, cũng thành chuyện cũ ứng phó qua quưt. Đó là bốn điều đáng than.

Nhận lời phó thác niệm Phật mà chẳng dốc ḷng thành, nhận lời ủy thác bái kinh lễ sám cũng chẳng dốc ḷng thành. Đó là năm điều đáng than.

Đức Phật chế định chẳng nên nhận lấy vàng, bạc, nhưng Tăng chẳng thể làm theo, đành dùng cách bố thí để giảm bớt tội. Vậy mà chỉ làm chuyện kinh sám, lại chẳng phải là hành bố thí, đâm ra giống như kinh doanh! Đó là sáu điều đáng than.

Hễ xuất gia, trước tiên phải xét xem người ấy vốn trụ ở chỗ nào, để mai sau tới khi [đạo tràng] giải tán, khiến cho người ấy có chỗ quay về. Nay thâu nạp tràn lan, không suy xét. Đó là bảy điều đáng than.

Cả chùa bất luận già trẻ, đều phải chẳng trái nghịch thập giới luật nghi. Nay kẻ đă thọ Bồ Tát giới mà hành vi c̣n chẳng bằng sa-di. Đó là tám điều đáng than.

Đă nhiều lượt căn dặn, nhưng chẳng tin theo, chẳng phải chỉ một chuyện, nêu đại lược mấy chuyện:

          - Căn dặn người quản sự phải nên ḥa hợp, chẳng trái nghịch, tranh chấp.

- Căn dặn người trông coi vấn đề cư trụ và vườn tược, đừng [phân chia công việc khiến đại chúng] nhàn nhă hay mệt mỏi chẳng đồng đều.

- Căn dặn người gánh củi, gánh gạo v.v… ắt phải do thượng tọa lănh chúng ghi chép.

- Căn dặn người có bệnh, phải theo đúng cách thức treo màn.

          - Căn dặn người đă thọ Thập Giới, Cụ Túc Giới, Đại Giới, ai nấy phải hành chuyện thuộc giới của ḿnh, chớ nên hữu danh vô thật!

          - Căn dặn người phụ trách chỗ phóng sanh, phải theo đúng thời răn nhắc.

- Căn dặn người trông coi lăo đường, ắt phải kiểm tra người chưa đủ tám mươi tuổi có theo đại chúng dự khóa tối hay không?

- Căn dặn mỗi sáng cần phải kiểm tra xem người trực đêm siêng, lười, đúng cách thức thu vén b́nh an hay không?

- Căn dặn chẳng được trả giá cao để mua hương giả về đốt [khiến khói hương] xông hư kim tượng.

- Căn dặn đăy lọc nước dùng xong th́ phải đúng cách thức tẩy gột sạch sẽ.

- Căn dặn kẻ tuổi trẻ, học cạn chẳng nên giảng kinh. Phải nên tra xét!

- Căn dặn vị tăng trực ban, phàm những ǵ nói năng đúng lư, đều phải nên tận lực hành.

- Căn dặn vào tiết Xuân, Hạ, Thu, đ́nh chỉ kinh sám đạo tràng. Vạn bất đắc dĩ th́ thỉnh tăng chúng ngoại trụ (người không thường trụ trong núi) cử hành [pháp sự] tại kinh bản đường. Nhưng nay th́ cử hành ngay trong núi, mà tăng nhân thuộc bổn sơn ngược lại phần nhiều trụ bên ngoài!

- Căn dặn nội lâu (lầu trong nội viện) phải khóa chặt chẽ, vạn bất đắc dĩ mới tạm mở ra, nhưng nay thường xuyên mở.

- Căn dặn tống tiễn, thiêu hóa vị tăng đă mất, cổ xướng tăng vật, mỗi chuyện đều phải dấy ḷng thương xót lớn lao, sanh ḷng cảnh ngộ to lớn. Nay th́ [tăng chúng] hời hợt tống tiễn, thiêu hóa, vui sướng cổ xướng, quen thói coi đó là chuyện thường, hoàn toàn chẳng động tâm. Đó là chín điều đáng than.       

 - Lại nữa, nay mạng tôi như ngọn đèn trước gió, buổi sáng khó giữ được đến tối, chẳng ai tin tôi, chẳng ai thương xót tôi, sao trụ nơi đây cho được! Đó là mười điều đáng than.

 

* Ba điều đáng tiếc

 

          Một là nơi thâm sơn cùng cốc thanh tịnh u nhàn, đă không có nam nữ huyên náo trong thôn xóm, cũng chẳng có khách khứa đến viếng thăm, du ngoạn, núi non lô nhô, mùa Đông có thể tránh gió lạnh, rừng cây rậm ŕ rợp bóng, Hạ tiêu nóng bức. Nếu bỏ lỡ lúc này chẳng tu hành; đó là một điều đáng tiếc.

          Hai là củi, nước thuận tiện, cơm áo sẵn sàng, giường màn chỉnh tề, thuốc men trọn đủ, tắm gội sắp đặt chỉnh tề, đèn đuốc sáng ngời. Nếu bỏ lỡ lúc này chẳng tu hành, đó là hai điều đáng tiếc

          Ba là Châu Hoằng tuy hành sự theo đại chúng, chỉ là một gă tăng nhân tầm thường, đă chẳng thể kiến tánh minh tâm, lại chẳng thể tích lũy công đức, chỉ an phận giữ ḿnh, hành xử cẩn thận. Trong thời Mạt Pháp này, cũng có thể làm một cây cột nhỏ dưới mái thềm trong căn nhà che chở trọn khắp chúng sanh của Phật, Tổ, cũng có thể giúp làm một ḥn đá kê nơi cầu bến phổ độ chúng sanh của Phật, Tổ, cũng có thể làm một vị thuốc trong rương thuốc trị khắp chúng sanh của Phật, Tổ. Than ôi! Hiến cái ṿ bằng sành nơi vườn Kim Cốc[26], khiến kẻ bàng quan bật cười. Dâng cơm bằng lúa mạch bên sông Hô Đà[27], há chẳng có lợi ích nhỏ nhặt ǵ ư? Nếu bỏ lỡ lúc này chẳng tu hành, đó là ba điều đáng tiếc!

          Tuy vậy, hễ có nói năng, chẳng ai nghe theo, đều do chính ḿnh đức bạc, phước nhẹ vậy; chỉ nên tự trách ḿnh, chẳng dám trách người. Nếu trời cho sống thêm mấy năm, kiếp sống thừa chưa hết, vẫn nên gượng bệnh ḥng báo ân Phật để đền tạ đại chúng.

Ngày Hai Mươi Tám tháng Sáu năm Vạn Lịch 43 (1615).

 

Đọc Mười Điều Đáng Than và Ba Điều Đáng Tiếc của Vân Thê lăo nhân, từng giọt đều là tâm huyết, mỗi chữ là một giọt lệ, buồn tiếc khôn cầm! Đau xót thay! Người đời si dại, không ǵ bằng cha mẹ thương con, dẫu chết vẫn không nhắm mắt. Vị lăo nhân này quả thật có tâm thương xót, thiết tha đến mức như thế. Than ôi! Người đời si dại v́ con cái, tấm ḷng Bồ Tát si dại v́ chúng sanh, thấy chúng sanh như con một. Dù con hay cháu, đều đích thân được Ngài giáo hóa đến mức này, thấy lăo nhân nhọc ḷng chiếu cố như thế, ba bốn lượt căn dặn, dẫu sắt đá cũng phải tuôn lệ. Nếu coi là tầm thường, đấy chính là kẻ hết sức phụ bạc ân đức, trọn chẳng hổ thẹn, diệt tuyệt lương tâm, chẳng phải là người, há gọi là đệ tử Phật được ư? Nếu có thể luôn niệm tụng những lời Ngài dạy, sẽ chính là Pháp Thân của lăo nhân thường trụ.

Ngày Mười Sáu tháng Hai năm Đinh Tỵ (1617) thời Vạn Lịch, Hám Sơn Đức Thanh ḥa-nam ghi.

 

15.7. Phần bổ di[28]

* Lời tựa cho bộ Tịnh Độ Tư Lương Toàn Tập

         

          Trang cư sĩ tụ tập kinh luận Tịnh Độ xưa nay, chọn lấy những lời trọng yếu, biên soạn theo từng loại, đôi khi ghi thêm ư ḿnh. Sách hoàn thành, đích thân t́m tới cửa, bảo tôi rằng: “Đây là Tịnh Độ Tư Lương Toàn Tập”. Có người nói nh́n vào trước thuật và sách vở Tịnh Độ đầy ắp tráp, chứa đầy phè đăy, sao c̣n biên soạn sách này?

Tôi nói: - Chẳng phải vậy! Nay người nào hễ đi xa ngoài vạn dặm, chưa nghe kẻ đó chán ghét tư lương nhiều! Do vậy, đường xa gặp phải khó khăn, thiếu thốn, một đồng tiền [quư như] một đấu vàng, hạt gạo như cả kho thóc. Huống hồ đứa con nghèo túng trăm ngàn kiếp chưa trở về, vượt mười vạn ức vẫn khó tới được cơi báu, há hiềm công đức pháp tài vừa ân cần vừa phong phú, há ngại phiền rộn mở bản đồ t́m kiếm đường lối ư? Nơi làng ấp xa xôi, đ́u hiu, giảng một kinh, một luận khó khăn khôn ngằn; nếu tác phẩm này được lưu truyền rộng khắp, ai nấy được đọc, sẽ biết đại lược đầu mối trọng yếu của giáo pháp trong suốt một đời đức Phật. Tuy vậy, chẳng cầm theo một đồng, chẳng mang theo một hạt gạo, trong khoảng một niệm, sanh về cơi Cực Lạc, há cơi đời chẳng có người như thế ư? Đối trước người như thế mà nói tác phẩm như thế này, đúng là lời lẽ thừa thăi. Nếu chẳng hoàn toàn đúng như thế, tác phẩm này lưu hành cùng các sách Tịnh Độ, nào có biết chẳng phải là không giúp thêm lợi ích ư?

 

* Viết sau bộ Kinh Sử Hải Thiên Trực Âm

 

          Hiển khảo[29] là Minh Trai phủ quân, sanh ngày Mười Bốn tháng Bảy năm Tân Hợi (1491) đời Hoằng Trị, mất vào ngày Hai Mươi Mốt tháng Sáu năm Tân Dậu (1561) thời Gia Tĩnh. Sách này do cụ đem từ kinh đô về, tới nay đă bảy mươi năm rồi! Ân như trời cao chưa báo, ân trạch răn dạy vẫn c̣n đó. Do vậy, tôi bèn sửa sang những chỗ hư nát trong sách ấy, đưa vào trong kho sách thường trụ của Vân Thê nhằm tạo thuận tiện cho kẻ sơ học. Nguyện tiên linh nhập bốn mươi hai loại vô tướng trí môn, giống hệt như Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử[30], chứng diệu chỉ chẳng bàn tới trong suốt bốn mươi chín năm, đích thân thấy Tỳ Lô Xá Na Như Lai, sớm ĺa bảy nẻo trong Sa Bà, cao thăng chín phẩm sen cơi An Dưỡng, báo trọn khắp bốn ân, tam hữu đều giúp trọn. Chúng sanh trong pháp giới cùng viên thành Chủng Trí.

          Ngày Vu Lan Bồn tháng Bảy năm Kỷ Hợi (1599) tức năm Vạn Lịch 27, tỳ-kheo hiếu nam Châu Hoằng kính đề.

 

* Trả lời thư của quan tư mă Uông Nam Minh tại Tân An

         

          Sơn dă nhớ khi xưa nghe kinh Hoa Nghiêm tại Vô Môn Am, chỉ có cư sĩ dùng đại danh xưng từ xa làm công đức chủ của đại pháp diên. Khi đó, tôi biết cư sĩ không chỉ là văn chương lẫy lừng trong nước, mà c̣n là bậc ngoại hộ của truy môn, chẳng quên lời Phật căn dặn, nương bi nguyện mà hiện thân nơi đường cư sĩ. Tôi thường tiếc nuối v́ chưa được thấy oai nghi rạng ngời của cư sĩ, nhưng tôi bẩm tánh cô quạnh, lại chẳng muốn vô cớ t́m đến cửa công khanh, nay được cư sĩ rủ ḷng chuốc vời, dám đem nỗi niềm vướng mắc trong tâm thưa tŕnh sau trước. Bởi lẽ, sơn dă trộm than thời gần đây dù tăng hay tục, kẻ dùng lời lẽ để luận đạo, chẳng phải là không có người, nhưng người chăm chú đích thân chứng ngộ quả thật ít ỏi lắm!

Một mạch Thiền Tông như tơ mành sắp đứt, như ngọn đèn sắp tắt trước gió, nếu chẳng phải là bậc đại nhân trác tuyệt, sao có thể chấn hưng khuôn mẫu của cổ nhân và di phong của tiên hiền trong lúc mặt trời đă lặn? Sơn dă riêng suy nghĩ mà ḷng đau đớn, nhưng [chính ḿnh] giải lẫn hạnh đều nông cạn, mịt mờ, chẳng thể phảng phất được một phần vạn các vị tôn túc thời Tống, Nguyên. Chỉ có cư sĩ nào kém các vị quân tử như Trương Tử Thiều, Dương Đại Niên, Triệu Mạnh Phủ! Nay tuy chẳng có duyên hội ngộ như rêu bám cội tùng, nhưng nếu ông có lời dạy bảo, mong hăy dùng thư từ để dốc cạn những điều muốn nói, ngơ hầu tuy xa ngàn dặm mà như đối diện chuyện tṛ. Nếu có thể chấn hưng mạt vận của Thiền Tông ḥng cùng báo Phật ân, công chẳng luống uổng vậy!

 

* Nói về chuyện chế ngự ma

         

          Tại làng Thái Hư, có người khách hiệu là Vô Cơ giong thuyền vào biển, toan phỏng theo h́nh tích của Bồ Tát, cầu Như Ư châu vương để thực hiện sự bố thí to lớn. Nương theo gió thuận mà giong thuyền, đậu lại một ḥn đảo nhỏ. Có một cô gái trẻ nghênh tiếp, dùng tư thái yểu điệu, âm thanh mềm mại, khép chặt vạt áo, mà thưa rằng: “Khách nhân từ đâu đến? Thiếp chờ Ngài đă lâu rồi”. Khách nghĩ “ở nơi hoang vắng, hiếm bóng người, [cô gái ấy] ắt là yêu quái”, toan chế ngự cô ta. Cô gái thê lương nói: “Thiếp đă sớm mồ côi, gặp người thích hợp mới xuất giá. Nghe nói ông hành Bồ Tát đạo, trộm đem ḷng riêng ngưỡng mộ. Nay gặp gỡ là do ư trời, mong được làm kẻ hầu quét dọn cho ông th́ chết cũng chẳng hận”. Nói xong, buồn bă, cảm thương tuôn lệ. Khách vốn là bậc trưởng giả, tin tưởng chẳng nghi, lại xót thương cô ta khốn khổ; do vậy, bèn chở đi cùng. Cô gái suốt ngày lo bếp núc, đêm chăm chỉ may vá, nhọc nhằn vất vả, chưa từng chán mệt. Khách hết sức mừng, vượt ngoài ḷng mong mỏi, tự cho là có được vợ hiền.

Một đêm, cô ta ngủ say, ngáy to. Khách liếc nh́n, thấy cô ta tóc đỏ chót, mặt xanh lè, da toàn vảy, răng tua tủa ch́a ra ngoài. Khách hết sức kinh hăi, kêu ầm lên, khiến cô ta tỉnh giấc. Cô ta biết sự t́nh bại lộ, chẳng giấu diếm được, phẫn nộ nói: “Ta là la-sát, sức có thể lật úp thuyền của ngươi, có thể nuốt máu thịt của ngươi, há ngươi chẳng sợ ư?” Khách thong thả đáp: “Túi da gây lụy cho ta đă lâu. Nếu ngươi đói ḷng, sẽ thí cho ngươi được no nê một bữa! H́nh hài do Tứ Đại giả hợp. Sống chết là duyên hư huyễn của một kỳ báo thân. Ngươi uống máu ta, ăn thịt ta, ta chẳng sao cả, có ǵ đáng sợ!” Bèn ngồi yên như cũ. La Sát dùng hết mọi phương cách, thủ đoạn [chẳng làm được ǵ], bèn nhảy xuống nước biển bỏ đi, ngồi trên vách đá c̣n nghiến răng chửi bới người khách. Khách dường như chẳng nghe, phơi phới giong buồm đến chỗ có của báu, t́m được châu mà trở về. Như người khách vốn dùng tâm chí thành vào biển, đối đăi với La Sát, từ đầu tới cuối dùng cái tâm chí thành, tĩnh lặng, chẳng có mưu mẹo, rốt cuộc chẳng bị ma gây khốn đốn. Do vậy, không có mưu mẹo sẽ giống như thái hư, thái hư th́ ma chẳng thể quấy nhiễu được! Thậm chí nước chẳng thể nhấn ch́m, lửa chẳng thể thiêu đốt được, gió chẳng thể nghiền nát, hết thảy đều chẳng thể hoại! Đức Phật nói: “Ta có tâm nào chế ngự voi?” Xin thưa cùng những người chế ngự ma vậy!

 

* Phóng sanh đồ thuyết

 

          Kết xă để phóng sanh đúng là chuyện tốt đẹp, nhưng hoặc v́ có người bận rộn khó thể có kỳ hạn nhất định. Có người thiếu khuyết tiền bạc, khó theo đại chúng thực hiện. Có kẻ tham lợi, ngược ngạo bắt sẵn hoặc bắt nhiều để đem bán [cho người phóng sanh]. Nay tôi lập ra một cách giản dị để tiến hành đồng thời với cách thức ban đầu, chẳng bó buộc thời gian, hễ thấy liền mua đem phóng sanh. Vào tháng nào đó, gởi thư cho biết ngày nào sẽ phóng sanh bao nhiêu con vật. Con vật lớn th́ đếm từng con, loài vật nhỏ tính theo số cân nặng. Cuối năm kết toán, giữ lại để tự kiểm tra. Do vậy, làm bài tụng rằng:

“Người coi trọng mạng sống, vật cũng yêu mến mạng. Phóng sanh hợp ḷng trời, phóng sanh thuận Phật lệnh. Phóng sanh giải oan kết; phóng sanh tội cấu sạch. Phóng sanh khỏi tam tai. Phóng sanh ĺa cửu hoạnh. Phóng sanh thọ mạng dài. Phóng sanh quan lộc thịnh. Phóng sanh con cháu vượng. Phóng sanh nhà cửa hên. Phóng sanh chẳng ưu năo. Phóng sanh ít tật bệnh. Phóng sanh: Quán Âm từ. Phóng sanh: Phổ Hiền hạnh. Phóng sanh ngộ Vô Sanh. Phóng sanh: Sanh tử xong. Quả báo sáng tợ gương”.

          (“Con vật lớn” như quạ, sẻ, rùa, ba, ba và các loài cá lớn. “Sanh vật nhỏ” như tôm, ốc, ếch, ṣ và các loài cá nhỏ. Tích lũy công đức, hăy nên biết quả báo chẳng thể nghĩ bàn).

          Tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba, tháng Tư, tháng Năm, tháng Sáu, tháng Bảy, tháng Tám, tháng Chín, tháng Mười, tháng Mười Một, tháng Mười Hai, tháng Nhuận [dưới mỗi tháng ghi phóng sanh được bao nhiêu sanh mạng]. Cả năm tổng cộng phóng sanh (con vật lớn bao nhiêu, loài vật nhỏ bao nhiêu).

 

* Lời chỉ dạy trọng yếu về việc duyệt Đại Tạng

 

          Đại Tạng Kinh bất quá nói về Giới, Định, Huệ mà thôi! Nhưng người duyệt tạng có hai lỗi lầm: Một là chấp văn tự, mê nơi nghĩa lư. Hai là biết nghĩa lư, nhưng chẳng hiểu tâm, phí uổng thời gian, chỉ thành gieo duyên. Nếu có thể thấu đạt Giới, Định, Huệ huân tu là một, kinh giáo trong Đại Tạng sẽ được gọi là “niệm niệm thường trụ”, tức là niệm trăm ngàn vạn ức quyển kinh! Cũng lại biết Giới, Định, Huệ ấy chính là pháp môn Niệm Phật, v́ sao? Giới có nghĩa là “ngăn ngừa sai trái”. Nếu có thể nhất tâm niệm Phật, các ác chẳng dám nhập; đó tức là Giới. Định có nghĩa là “trừ tán loạn”. Nếu nhất tâm niệm Phật, tâm chẳng duyên chi khác, tức là Định! Huệ có nghĩa là “chiếu tỏ”. Quán âm thanh niệm Phật từng chữ rơ ràng, cũng quán năng niệm và sở niệm đều chẳng thể được; đó chính là Huệ. Niệm Phật như thế chính là Giới, Định, Huệ, cần ǵ phải dơi theo văn, ḍ theo chữ duyệt Đại Tạng Kinh nữa? Quang âm vùn vụt, mạng chẳng bền lâu! Nguyện mọi người coi Tịnh nghiệp là nhiệm vụ cấp bách, rất mong đừng coi lời tôi là sai bét, chẳng thèm nghe!

 

* Dạy đại chúng

 

          1) Các vị vào núi sâu này vốn nhằm liễu sanh tử đại sự, cớ sao quên bẵng cái tâm ban đầu, dần dần trở thành Thế Đế? Từ nay về sau, hăy nên thống thiết sửa đổi, chuyên lấy chuyện tu đạo làm nhiệm vụ trọng yếu bậc nhất.

2) Khi đại chúng mới phát tâm xuất gia, khi mới vào núi cầu trụ lại, há chẳng có một điểm hảo tâm ư? Nhưng tới nay lâu ngày, đều quên mất cái gốc! Bất quá hằng ngày nhao nhác ăn uống, y phục, kinh sám, hoàn toàn quên mất đại sự sanh tử. Nếu tôi chẳng nói, tội quy vào tôi; tôi nói mà [mọi người] chẳng nghe, chẳng phải lỗi của tôi vậy!

 

* Đáp lời vấn nạn

 

          Chắc có người hỏi: “Ông nói nhiều quá, háo danh đó chăng?” Thưa: - Mạnh Tử có nói “ngă phi háo biện, bất đắc dĩ dă” (ta chẳng phải là thích biện luận, bất đắc dĩ đó thôi!) Tôi riêng thích lắm mồm ư? Đoái trông chánh pháp suy sụp, hoang phế, Tăng sĩ quen thói bạc bẽo, nghĩ đến xót dạ, bàn đến tuôn lệ, [nhưng chính ḿnh] đức mỏng, hạnh kém, chẳng thể dùng thân ḿnh để xướng suất, chỉ nói suông ḥng cứu văn. Cũng biết là vô ích, nhưng tự ḿnh chẳng thể ngưng! Huống hồ người hiểu tôi và trách tội tôi thật sự cùng tồn tại, người hiểu th́ thành danh, người trách tội th́ thành báng. Ông cho là tôi háo danh, tôi cũng chẳng tránh né lời phỉ báng. Than ôi!

 

* Thiếp tạ tuyệt khách do già bệnh

 

1) Suy yếu, bệnh tật ngày càng sâu, dần dần thành tê bại. Tuổi già suy sụp, hữu hạn, những chuyện khẩn yếu lại vô tận. Khẩn khoản nhờ tờ thiếp này để trần t́nh, muôn phần mong từ bi rộng dung.

          - Một, tôn khách rủ ḷng đến thăm, chẳng thể bồi tiếp trọn hết lễ được!

          - Hai, định kỳ hạn lập hội v.v… mời mọc tham dự, tôi đều chẳng thể đến.

- Ba, hết thảy văn từ như viết lời tựa, đề lời bạt, thơ, kệ tụng, đều chẳng thể làm.

- Bốn, hết thảy chuyện giao phó đều chẳng thể xử trí.

- Năm, các thư từ ban tặng, có thể do thời gian chẳng thuận tiện, không thể phúc đáp.

- Sáu, do thân thể bệnh tật, mọi chuyện đều chẳng thể xử lư, mong sẽ chỉ dạy khiến cho tôi được sám hối, cảm tạ.

Mồng Một cuối Xuân Đinh Đậu (1597) đời Vạn Lịch, Châu Hoằng kính cẩn đề.

          2) Gần đây do già cả, bệnh tật liên tiếp, suy sụp, hủ bại nhanh chóng, đầu váng, chân tê, mắt quáng, tai điếc. Lại thêm chẳng có sức nói năng, suốt ngày nằm bẹp. Nếu có xe cộ của bậc đại nhân, tiên sinh t́m đến, hoặc được tri thức, đạo hữu chống tích trượng đến thăm, đă chẳng thể đưa, đón tận lễ, lại chẳng thể ứng đối thích nghi, bất đắc dĩ phải đóng cửa để trộm t́m an nhàn. Tôi tột bậc biết ḿnh cuồng vọng, trái nghịch, lười nhác, ngạo mạn, tội kể sao cho xiết? Chỉ mong từ bi thương xót, khoan dung, tha thứ. Châu Hoằng khôn ngằn run sợ, cảm kích tột bậc.

Bệnh tăng đóng cửa Châu Hoằng ḥa nam.

          3) Châu Hoằng già nua, bại xụi, nằm bệnh tại nhà nát, chân chẳng thể đi, tai chẳng thể nghe, miệng chẳng thể nói, trăm sự đều phế bỏ, chỉ đợi hết tuổi thọ mà thôi. Nếu được bậc đại nhân, tiên đạt quang lâm, chẳng thể tiếp kiến. Muôn phần mong tha tội. Lại c̣n đại đức các phương, đạo hữu, thân thuộc đến đây, ni, tăng, người trong họ, đều chẳng thể tiếp kiến. Thậm chí được tặng quà, đều chẳng dám nhận. Thống thiết mong lượng thứ, tôi cảm kích vô tận. Châu Hoằng già bệnh kính cẩn bạch.

          (Hễ có người muốn thăm viếng, vị tri khách tăng liền dùng tờ thiếp này dâng lên bẩm báo, tránh t́nh trạng [khách đă tới] tận cửa mà chẳng gặp, mắc tội ngạo mạn).

 

* Tờ thiếp đáp lời hết thảy thư từ hỏi han

 

          Già, bệnh khốn đốn nặng nề, chẳng thể viết lách cặn kẽ, mong mỏi từ bi dung thứ, tôi hết sức cảm kích.

Châu Hoằng kính bạch.

 

* Thiếp từ tạ các thứ mừng lễ khi tám mươi tuổi

 

          Hoàng đế Đường Văn Tông là chủ của muôn dân, chẳng ăn mừng sanh nhật, huống hồ người xuất gia làm Tăng ư? Đă gọi là tăng, lẽ ra phải khác tục, thế mà sanh nhật vẫn tổ chức ăn mừng. Nay tôi đề nghị dẫu lần khân mười năm[31] cũng đừng ăn mừng th́ mới được. Nay Châu Hoằng già, bệnh, lênh đênh, sáng khó giữ được tối, tuy biết Kính Sơn chẳng chấp thuận trai kỳ cho ngày hôm sau, nếu vạn nhất kéo dài được, chuyện cũng cần phải bẩm báo sẵn. Lại mong soi xét tôi ngu tối mà xót thương, rủ ḷng chiều theo lời tôi bẩm bạch: Mảnh hương, nén hương, chút miến, miếng bánh, cho đến một chiếc giày, một tấm khăn, lễ mọn chừng một xu, một đồng, thảy đều ngưng dứt. Ngưỡng mong tột cùng thương xót, muôn phần cảm tạ! Nếu chẳng dung thứ, những lễ vật được ban tặng quyết chẳng dám nhận, nhất định chẳng dám nhận!

Vị tăng già bệnh Châu Hoằng ḥa-nam.

(Lại có người chẳng tặng lễ vật mà ngầm làm đạo tràng kinh sám th́ càng chẳng nên. Châu Hoằng dập đầu trăm lạy, muôn phần khẩn khoản hăy thôi đi. Lại xin thấu hiểu, dung thứ, hết sức mong mỏi).

         

* Lưu Quảng Bàn thỉnh viết kệ thay cho ông ta chúc tụng trinh mẫu

         

          Chỉ nguyện nương Tam Bảo lực, xót thương gia bị mẹ thượng thọ. Thân con hầu măi bên màn mẹ, mẹ con nương tựa tu Tịnh nghiệp. Ngày xả thân cùng nguyện văng sanh!

 

* Trả lời thư Quảng Kiểu

 

          1) Ông Tôn tới đây, thư và lễ vật đều nhận được, cảm tạ. Cái gọi là “tâm chuyển theo cảnh” chính là do tập khí quá khứ từ vô thỉ khiến thành ra như vậy, chẳng phải là trong một thời gian ngắn mà có thể giải quyết được! Nay đừng quản vọng có dấy lên hay không, chỉ một mực khán thoại đầu, nhắc nhở chính ḿnh không ngừng, lâu ngày [vọng niệm] sẽ tự diệt, chẳng thể gấp đạt được. Lệnh lang pháp danh là Đại Thăng, khuyên cậu ta tŕ giới “chẳng giết chóc” ḥng tăng thọ mạng lâu dài, và hăy khơi gợi [chỉ bảo cậu ta] nhiều lượt.

          2) (Quảng Kiểu v́ mẹ đọa thai mà cầu sám hối)

          Cổ nhân nói: “Thà chín phẩm sen sanh bậc hạ, chẳng vào nhân thế thọ thai bào”. Chán ghét bào thai, chỉ siêng niệm Phật. Nhất tâm niệm Phật, liên hoa hóa sanh.

 

* Lời bạt cho bản khắc đá kinh Kim Cang của Hạng Trưởng Công ở Gia Ḥa    

 

          Cư sĩ Trinh Huyền giỏi thư pháp, chẳng chép sách thế gian, mà chép kinh Kim Cang Bát Nhă để khắc đá. Ông ta nói: “Tôi chép kinh này, lấy trang nghiêm viên măn làm tông, xin thầy ban một lời bạt”. Tôi già, bệnh, chẳng viết lách đă lâu, bèn căn dặn người chuyển lời:

- Mong ông hăy v́ tôi bạch với cư sĩ: Bát Nhă vô h́nh, Nhă là trang nghiêm. Bát Nhă chẳng ở đâu, chỗ nào viên măn? Hiển hiện vô h́nh, tỏ lộ sự chẳng hiện diện, tức là chấm, vạch, nét móc, nét hất trên đá. Chẳng ĺa chấm, vạch, nét móc, nét hất mà đạt được tánh Không, đấy là Bát Nhă chân thật. Mong hăy v́ tôi thưa với cư sĩ.

 

* Luận học Đại Thừa chẳng khinh Nhị Thừa

         

          Không Cao Tử hỏi Vân Thê rằng: “Có nên học Đại Thừa hay không?” Đáp: “Đúng đấy!” “Chẳng nên học Nhị Thừa ư?” Đáp: “Đúng vậy!” “Vậy th́ có thể khinh Nhị Thừa hay không?” Đáp: “Chẳng thể!” Hỏi: “Nghĩa là sao?” Đáp:

- Ở đây có hai nghĩa: Một đằng là Đại Thừa không có tâm khinh người. Một đằng là lư Nhị Thừa chẳng thể khinh!

Hỏi: - Con chưa thông đạt, nguyện nghe giải thích tường tận.

Thưa: - Thường Bất Khinh Bồ Tát chẳng phải được gọi là “kẻ đại khinh” ư? Nhưng Ngài lễ trọn khắp tứ chúng. Nói “tứ chúng” tức là phàm phu kém cỏi cũng đều được nêu ra, huống hồ thánh nhân Nhị Thừa ư? Ngài nói: “Tôi chẳng dám khinh quư ngài, quư ngài đều sẽ thành Phật”. Đó là dụng tâm của Đại Thừa Bồ Tát. Chẳng khinh những ḍng chảy nhỏ bé, cho nên biển xanh trở thành sâu thẳm. Chẳng khinh đất thấp lè tè, cho nên Thái sơn, Hoa sơn thành cao. Chẳng khinh kẻ b́nh phàm, cho nên thánh nhân thành tựu đức hạnh. Khinh đời ngạo vật, người hiền trong cơi đời c̣n chẳng làm, huống hồ bậc được gọi là Bồ Tát ư?

Hơn nữa, Nhị Thừa là người như thế nào? Các lậu đă tận, chẳng c̣n phiền năo, [đă đắc] Tam Minh, Lục Thông, mười tám thần biến. Có thể coi thường được chăng? Những kẻ khinh rẻ, chẳng biết đă tận được bao nhiêu lậu, đoạn bao nhiêu phiền năo, khai bao nhiêu minh, thấu triệt bao nhiêu Thông, đạt được bao nhiêu thần biến? Dùng muỗi, nhặng vũ nhục loan phượng, hiển nhiên là chẳng biết tự lượng sức, há có thể nói “tiểu thánh chẳng sánh bằng đại thánh, bọn ta là bậc Bồ Tát ư?” Đại Thừa Bồ Tát phát tâm chẳng phải mưu tính v́ một thân ḿnh, mà v́ pháp giới chúng sanh cầu đạo vô thượng. Cho đến trải qua hằng sa kiếp tu Lục Độ vạn hạnh, tâm chẳng thoái thất, khiếp nhược, dùng vô lượng vô biên công đức để tịnh hóa quốc độ của Phật, giáo hóa chúng sanh, c̣n Thanh Văn và Duyên Giác đều chẳng có chuyện ấy. Đó chính là sự khác biệt khiến cho [Bồ Tát và Nhị Thừa] sai biệt như ngày và kiếp, như trời với đất vậy.

Nay kẻ tự phụ là Bồ Tát mà khinh Nhị Thừa, chẳng biết đă v́ bao nhiêu chúng sanh mà phát tâm? Tu bao nhiêu Độ (Ba La Mật)? Hành bao nhiêu hạnh? Trải bao nhiêu kiếp? Trọn đủ bao nhiêu công đức để [trang nghiêm] Tịnh Độ lợi sanh? Ví như kẻ bốc vác, giă gạo trong chốn làng quê, thân chẳng có ǵ để dựa dẫm, tự xưng là công hầu, ngạo nghễ khinh miệt mệnh lệnh của vị quan đứng đầu quận ấp, chẳng đoái hoài, kẻ đó chẳng bị nhục nhă, chẳng bị bại vong, cũng hiếm hoi lắm thay!

Hỏi: - Trong Giáo, ca ngợi Đại, khen ngợi Viên, quở trách Thiên, bài xích Tiểu, cho tới nói “chẳng cùng học với hàng Thanh Văn, chẳng cùng họ chào hỏi” lại là như thế nào?

Thưa: - Quá phận thay! Ông cố chấp quá! Câu nệ ngôn từ, đánh mất ư nghĩa, gần như cô phụ ư nghĩa trong kinh Phật. Những điều nói trong kinh nhằm khuyến tấn hàng hậu học, muốn ngăn trở đường ṃn Nhị Thừa, nhằm khiến cho họ đều cùng dạo đường Đại Thừa bằng phẳng, chẳng phải là nói “Nhị Thừa đáng khinh”. Giống như nói “người học Nho bèn học thẳng theo Khổng Tử, đừng học theo Bá Di, Liễu Hạ Huệ”, chẳng phải là nói “Bá Di, Liễu Hạ Huệ đáng khinh’. Nếu không, quy y Tam Bảo là giáo huấn rơ ràng của đức Phật, Nhị Thừa chẳng được xếp vào Tam Bảo ư?

Điều đáng than nhất là hiện thời, hễ thấy người ở ẩn một ḿnh tu hành, bèn nói “đó là hàng Thanh Văn”; thấy kẻ lo liệu sự vụ, quần tụ, bèn nói “đấy là hạng Bồ Tát”. Ôi! Kẻ dính dáng cơi tục liền được gọi là Bồ Tát, c̣n người tránh né ồn náo bèn là Thanh Văn, chẳng phải là đối đăi nông cạn với thánh hiền ư? Do vậy, nẩy sanh đại ngă mạn, dấy đại tà giải, tự cho ḿnh là đúng, khinh rẻ hết thảy. Gặp người tŕ giới, bèn chê là chấp tướng. Gặp người tinh tấn, bèn cười là nhọc thân. Gặp người thật sự tu hành, bèn báng bổ là ngu si. Gặp người tiết kiệm, bèn gièm chê là chất phác, thô lậu. Gặp người thiền tịch, bèn hủy báng là khô khao. Gặp người thận trọng, ít nói, bèn chê là vô tri, đến nỗi tâm ngày càng cuồng vọng chẳng thâu liễm, ngôn từ hoang đường chẳng kiểm điểm, thân buông lung vượt ngoài quy củ, chuẩn mực, chẳng hề kiêng dè. Hễ bị kẻ khác cật vấn, bèn nói: “Ta là người học Đại Thừa, là người hiểu Viên giáo, chẳng noi theo đường lối thiên lệch, là người ngộ Đại Thừa, chẳng câu nệ tiểu tiết”.

Than ôi! Trộm lấy hư danh một thời, cam hứng chịu ương họa chân thật muôn kiếp, đáng than thở khôn cùng! Như vậy th́ kế sách hiện thời là như thế nào? Thưa: - Người học Phật, hăy nên học theo Bồ Tát, chớ nên có một niệm phát tâm Nhị Thừa, cũng chớ nên có một niệm sanh tâm khinh thường Nhị Thừa!

 

* Một chương tạp vấn

 

          Hỏi: Vĩnh Gia Tập trích dẫn “kháp kháp dụng tâm thời, kháp kháp vô tâm dụng” (vừa khéo khi dụng tâm, vừa khéo tâm chẳng dụng). Có người giải thích rằng: Lúc người học dụng tâm, lại phải vô tâm. Thầy nói: “Chỗ này chẳng nói tới công phu, mà là hiển thị tâm thể”. Con vẫn chưa hiểu nghĩa, mong thầy luận định tường tận.

          Đáp: Phàm xem kinh giáo, chớ nên xem phần chú thích trước. Trước hết, hăy nên nghiền ngẫm mười câu, hai mươi câu, cho đến một trăm câu trong chánh văn, cốt sao đầu đuôi quán thông. Sau đấy mới dùng chú thích để ḥa hợp, dung hội. Nay tôi thấy người học đọc chánh văn xong, lập tức xem lời chú giải, khiến cho lư chẳng thấu triệt viên măn, đều do lỗi này. Đối với hai câu như ông đă hỏi, nay tôi luận định cặn kẽ. Người tu hành sở dĩ chẳng thành tựu thánh đạo, tuôn nhập thiên kiến, đều do chẳng nhận biết bản thể của cái tâm. Chấp tâm là hữu, bèn rơi vào thường kiến. Chấp tâm là vô, bèn rơi vào đoạn kiến. Ĺa hai nẻo ấy, dẫu biết “hữu và vô cùng có”, nhưng lại cho rằng “có rồi lại không, không rồi lại có”. Đấy cũng là chưa thấu đạt sự huyền diệu của cái tâm, nào có biết khi hoàn toàn dụng tâm, hoàn toàn chẳng có cái tâm để dùng.

“Kháp kháp” (恰恰) nói thông tục là “vừa khéo”. Chẳng sai khác sau trước, chẳng cách biệt tơ hào. “Kháp kháp” là nói “vừa khéo”, vừa khéo ngay trong lúc dụng tâm, khéo sao chẳng có tâm để có thể dùng. Bởi lẽ, ngay nơi niệm lự sanh khởi, ông hăy thử quán ngược lại xem: Cái ǵ là niệm lự? Ai là người có niệm lự? Giống như nói “đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” (ngay từ chỗ sanh ra, sẽ diệt mất từ ngay chỗ ấy). Chẳng phải là dụng tâm đă xong, trong chốc lát liền là vô tâm, mà là ngay khi dụng tâm, ngay lúc đó là vô tâm, chẳng sai khác trước sau, chẳng cách biệt tơ hào. Ngay nơi có mà không, bèn thấy được chỗ mầu nhiệm của tâm. Nếu là người có trí huệ, sẽ chẳng chấp chết cứng câu nói, liền có thể đọc lại hai câu ấy như sau: “Khéo sao lúc vô tâm, vừa khéo có tâm dụng”. Trong lời lẽ của cổ nhân đă tự có ư nghĩa này, nay chẳng nói là v́ lời văn tỉnh lược vậy. V́ thế nói: “Vô tâm vừa khéo dùng, thường dùng vừa khéo vô”. Do vậy, lại nói: “Nay nói chỗ vô tâm, chẳng khác với hữu tâm”.

Chỉ có tâm thể vốn sẵn là như thế. V́ thế, tiếp theo đó mới nói tới công phu tỉnh tịch (惺寂, tỉnh giác và tịch tĩnh), hai câu ấy chẳng thể phế. Lệch sang “tịch tịch” (寂寂), tức là chẳng biết lư “vừa khéo dùng” của vô tâm. Lệch về “tỉnh tỉnh” (惺惺, tỉnh giác), tức là chẳng biết cái lư “thường dùng vừa khéo Vô”. V́ thế, bốn câu đầu tiên nêu thẳng thừng tâm thể, phần văn từ ngay sau đó chính là cơ sở của Chỉ Quán. Do vậy, có thể thấy pháp Chỉ Quán hoàn toàn là cảnh tượng nơi bổn địa, chẳng phải ở ngoài tâm thể bèn lập riêng một pháp. Bất quá, dùng Chỉ Quán để khôi phục bản thể Tịch Chiếu đó thôi! Hai chữ “khéo sao” này dùng cực diệu, phân minh vạch ra tâm thể, chẳng có bút lực ngàn cân, sẽ chẳng thể đạt tới điều này. Nếu chẳng suy nghĩ tinh tường, thầm khế hội, chỉ thuận theo văn từ, dơi theo câu văn xem qua loa, ngàn năm sau cô phụ nỗi khổ tâm của cổ nhân. Sau này, ông nghe giáo cần phải cẩn thận. Tuy ở trong giảng ṭa, đừng quên Thiền Quán, ḥng khiến cho tâm quang rạng ngời bên trong, khi biện định, phân tích kinh văn, sẽ càng tinh tường. Thánh giáo hun đúc bên ngoài, sẽ giúp cho tinh thần lực càng kiên cố, học lẫn ngộ cùng trọn, Định và Huệ thông nhau. Diệu môn để nhập Lư chẳng vượt ra ngoài điều này!

 

* Bài tự trách của đại sư

 

          Kẻ chẳng ra ǵ này nhớ thuở thiếu niên khi chưa xuất gia, chẳng biết Tam Bảo, chẳng tin nhân quả, từ thân khẩu ư tạo các ác nghiệp chẳng đợi bàn nữa. Sau khi xuất gia, những điều to lớn nơi thân nghiệp tuy cẩn trọng hộ tŕ, nhưng những chỗ vi tế chắc chưa thể kiểm điểm trọn, c̣n như khẩu nghiệp, chắc lại càng quá đáng. Hoặc là do đàm luận tạp nham Thế Đế, quên khuấy chánh niệm. Hoặc vô tri nói ṃ, trái nghịch, lầm lẫn kinh Phật. Hoặc tâm phóng túng bàn luận cùng cực xúc phạm, chống trái người hiền đương thời; hoặc mặc sức quở trách, khiến cho người kém hơn, trẻ hơn bị phiền năo, tủi nhục. Đủ loại tạo ác nơi miệng như thế, kể sao cho xiết? C̣n như ư nghiệp, lại càng tệ hơn nữa. Các ư niệm tham dục, sân hận, ghen ghét, ngu si v.v… vừa diệt lại phát sanh, hoặc là giống như không có, nhưng thật ra là có, hoặc tùy tiện quên bẵng cấm ngăn, hoặc tận lực chế ngự mà vọng niệm càng mạnh mẽ. Đủ loại tạo ác nơi ư như thế, kể sao cho xiết?

Do vậy, tự biết: Nay ḿnh đang là phàm phu đủ mọi phiền năo trói buộc, cách biệt đạo xa vời vợi! Trên là dùng ǵ để tiếp nối huệ mạng của Phật? Dưới là lấy ǵ để khơi gợi cho hàng hậu học nơi bến mê? Gần là dùng ǵ để báo đáp ân vơng cực như trời cao? Xa là dùng ǵ để khô cạn biển khổ của quần sanh? Do vậy, suốt ngày suốt đêm, hổ thẹn, lo âu, hoảng sợ; đi, đứng, ngồi, nằm như trong gai góc. Há lại dám tiêu suông tín thí, điềm nhiên để luống qua ư? Nguyện đại chúng thương cho ḷng chân thành của tôi, giúp cho chỗ thiếu sót của tôi, khuyên răn, uốn nắn lẫn nhau để cùng thành đạo nghiệp, nâng đỡ mạt vận sắp rơi rụng. Đấy là điều kẻ chẳng ra ǵ này canh cánh trong ḷng, chẳng thể buông xuống được. Nếu bảo là kiến đạo đă thấu triệt, chẳng cần nhờ cậy thầy bạn, há tôi dám nhận ư?

 

* Lời bạt

 

          Đại sư Tông, Giáo hoằng thông, trời, người quy ngưỡng, chẳng dám tự măn, tự đại, khiêm cung, tự chê trách ḿnh như thế; đúng là dụng tâm của thánh hiền. Người hiện thời tự phụ tri giải nửa vời, liền hư vọng tự tôn, tự đại. Thử kiểm điểm một phen, chỉ sợ chính họ hồ đồ chẳng ít, chẳng phải là lừa dối người khác, gạt gẫm chính ḿnh ư? Xin ai nấy trong đêm thanh vắng, hăy tự suy nghĩ. Vào tiết Đông năm Tân Sửu, tôi ngẫu nhiên dạo chợ, thấy có một tập sách nhỏ ở sạp bán sách cổ, có tựa đề là Sơn Pḥng Nhật Lục, do một vị tăng húy là Quảng Toàn ở Hưu Ninh vào năm Mậu Dần (1578) đời Vạn Lịch, sao lại trước tác của Vân Thê đại sư và dùng khuôn chữ rời do gia đ́nh tự khắc để sắp xếp, in thành tập sách ấy. Trong ấy, có bài luận Học Đại Thừa Chẳng Khinh Nhị Thừa, một bài hỏi về Vĩnh Gia Tập, và thiên sách Tự Trách này, đều là thuốc chữa trị đúng bệnh của người đời, nhưng bộ Vân Thê Pháp Vựng chưa chép. Tôi kinh ngạc, hoan hỷ quá ḷng mong mỏi. Do vậy nghĩ trước tác của đại sư c̣n có những tác phẩm trân quư chưa được phát hiện quá nhiều, bản này c̣n giữ ở Tân An, đối với những ǵ người biên tập chưa thể thâu thập, tôi bèn khắc thêm để chia sẻ cùng mọi người.

Cư sĩ Tịnh Huệ Trương Văn Gia thuộc Đôn Nhân Đường tại Vũ Lâm kính ghi lời bạt.

          Bồ Tát giới đệ tử Lưu Huệ Văn xướng suất con là Tánh Trạch thí tiền kính in.

Tháng Tư mùa Hạ năm Quang Tự 25 (1899), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.

Vân Thê Pháp Vựng

Phần 8 hết



[1] Tam đăng cửu thượng: Thiền sư Tuyết Phong thoạt đầu chưa ngộ, ba lượt lên núi Đầu Tử để tham phỏng thiền sư Đại Đồng và chín lần lên Động Sơn để tham yết ngài Động Sơn Lương Giới.

[2] Đối với mỗi câu kệ của Tuyết Kiệu, tổ Liên Tŕ ghi một vài chữ nhận xét.

[3] Bánh của người Hồ (hồ bính) là một loại bánh nướng gịn có nguồn gốc từ Tây Vực, mặt ngoài có rắc thật nhiều hạt mè.

[4] Thiếu Tham là danh xưng khác để gọi chức quan Tham Nghị thuộc Bố Chánh Sứ Ty đời Minh. Tham Nghị và Tham Chánh (c̣n gọi là Đại Tham) cùng là chức quan phụ tá về mặt hành chánh của Bố Chánh Sứ (viên quan đứng đầu việc hành chánh và thuế khóa của một tỉnh thời Minh – Thanh).

[5] Thuần Hy là tên thật của ông Ngu Đức Viên.

[6] Ma hoàng quế chi thang là hai toa thuốc theo sách Thương Hàn Luận, tức Ma Hoàng Thang và Quế Chi Thang. Ma Hoàng Thang gồm các vị thuốc ma hoàng, quế chi, hạnh nhân, cam thảo, có tác dụng nhuận phổi, thúc đẩy toát mồ hôi. Quế Chi Thang gồm các vị thuốc quế chi, bạch thược, cam thảo, gừng tươi, đại táo (táo Tàu) có tác dụng điều ḥa kinh lạc.

[7] “Bốn lời Cấn Bối” là nói tới bốn câu trong phần Quái Từ nhằm giải thích quẻ Cấn trong Châu Dịch: “Cấn kỳ bối, bất hoạch kỳ thân, hành kỳ đ́nh, bất kiến kỳ nhân”. Theo cách giải thích thông thường, Bối chính là cái lưng, là phần chính ḿnh không thấy trực tiếp bằng mắt được. Câu này diễn tả ư: Quẻ Cấn tượng trưng cho sự thận trọng trong ứng xử, ngưng dứt sự hướng ngoại truy cầu, thâu liễm tâm tánh để quán chiếu nội tâm. Dẫu sống trong gia đ́nh mà chẳng thấy bóng dáng của người khác, sánh ví siêu việt ngoại vật, chẳng tranh với đời, tâm không chấp giữ. Đây là cách giải thích do Châu Hy dựa theo quan điểm Phật Giáo Đại Thừa, cho nên Tống Nho sau này lại ngạo ngược cho rằng kinh Kim Cang là chú giải của quẻ Cấn!

[8] Đây là những khái niệm được đề cao trong sách Trung Dung:

- Tam Đức (三德, tam đạt đức) là nhân, trí và dũng.

- Ngũ Đạo (五道) là năm đại đạo (năm giềng mối) thuộc quan hệ giữa con người với nhau, tức vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn.

- Cửu Kinh (九經) là chín chuẩn mực để cai trị quốc gia, gồm tu thân, tôn hiền (tôn trọng và thân cận người hiền), thân thân (yêu thương, che chở người thân), kính đại thần (kính trọng đại thần), thể quần thần (thông hiểu và quan tâm quần thần, ngay cả những quan chức thấp nhất cũng không bỏ sót, khiến cho họ trung thành, tận tụy), tử thứ dân (thương yêu dân chúng như con), lai bách công (phát triển, nâng đỡ các ngành nghề, khiến cho kinh tế phát triển), nhu viễn nhân (khéo léo đối đăi người ở nơi xa xôi và ngoại bang), hoài chư hầu (khéo léo vỗ về, đối xử mềm mỏng với các chư hầu).

- Kinh Luân (經綸): Tài năng quy hoạch và cai trị thiên hạ.

- Tham tán (參贊): Tham là tham dự, Tán là tán trợ, hàm nghĩa: Con người có thể phát huy bản tánh chí thành, có thể tham dự sự sanh trưởng của vạn vật trong trời đất, đạt tới cảnh giới “thiên nhân hợp nhất”.

[9] Ư nói: Chẳng tiếc thân ḿnh để cứu tế người khác.

[10] Đây là một câu nói của Khổng Tử được chép trong thiên Lư Nhân sách Luận Ngữ: “Quân tử vô chung thực chi gian vi nhân, tạo thứ tất ư thị, điên bái tất ư thị” (người quân tử dẫu [trong khoảng thời gian để] ăn xong một bữa ăn cũng chẳng trái nghịch ḷng nhân, dẫu lúc khẩn cấp ắt cũng như thế, lúc khốn khó lưu lạc ắt cũng như thế).

[11] Đây là bốn căn bệnh của người tu hành theo kinh Viên Giác:

- Tác (khởi tâm tạo tác): Hành nhân cho rằng phải thông qua sự tạo tác trong tu hành, tích lũy công đức hoặc tu một pháp nhất định mới thành tựu giác ngộ, nhưng bản tánh vốn chẳng phải do tạo tác mà thành, hễ có mong cầu th́ là vọng tâm.

- Chỉ (dứt bặt vọng niệm): Cho rằng phải tận lực áp chế, ngăn dứt hết thảy vọng niện, khiến cho tâm niệm ngưng đọng nơi tĩnh lặng tuyệt đối, hoặc cảnh giới rỗng không th́ mới đắc đạo.

- Nhậm: Cho rằng hết thảy đều tùy duyên, chẳng cần phải đoạn phiền năo, mà cũng chẳng cần cầu Niết Bàn, cứ mặc kệ cho cái tâm ruổi theo trần cảnh.

- Diệt: Cho rằng tu hành là phải đem thân tâm, căn trần, phiền năo tiêu diệt toàn bộ, tiến nhập vắng lặng chết cứng tuyệt đối. Tu theo kiểu này sẽ hăm nhập Ngoan Không, đánh mất tác dụng.

[12] Tôn đường: Danh xưng tôn kính dùng để gọi mẹ của người khác.

[13] Đại Trang Nghiêm Luận là một bộ sách cổ trong Phật giáo, nội dung ghi chép những câu chuyện tiền thân của đức Phật và những ngụ ngôn nhằm tuyên dương Phật pháp, chủ yếu xiển dương lư nhân quả, khuyến thiện, dứt ác v.v… Sách do ngài Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán, gồm mười lăm quyển. Tương truyền tác giả là Mă Minh Bồ Tát, nhưng theo các nhà nghiên cứu (như học giả Lữ Đức Tư) dựa trên nguyên bản tiếng Phạn t́m thấy tại hang Thiên Phật Kizil (Tân Cương) th́ tác giả phải là Đồng Thọ (Cưu Ma La Đà).

[14] Cung h́nh (宮刑) là một h́nh thức nhục h́nh cổ đại Trung Hoa, c̣n gọi là yêm h́nh, hủ h́nh, tư mỵ h́nh, trác h́nh, âm h́nh, hoặc tàm thất h́nh, hay chỉ gọi gọn là Cung. Đây là h́nh phạt tước đoạt khả năng sinh nở của tội nhân. Nam th́ thiến, nữ th́ bị tra khảo đánh đập đến nỗi không bao giờ mang thai được nữa. Một nhân vật nổi tiếng bị phạt cung h́nh là sử gia Tư Mă Thiên v́ dám bênh vực cho Lư Lăng (đại tướng thời Hán Vũ Đế, bị các quan trong triều bức hại đến nỗi phải đầu hàng giặc). H́nh phạt này đă thấy ghi sớm nhất trong văn kiện thời Tây Châu, đến thời Hán Văn Đế bị phế trừ, nhưng đến thời Hán Cảnh Đế lại khôi phục. Thời Hán Vũ Đế, h́nh phạt này rất phổ biến. Hễ bị kết tội mưu phản, chánh phạm bị chém đầu hay chém ngang lưng, con cái, cháu chắt chưa đến tuổi thành niên sẽ bị phạt cung h́nh. Măi cho đến thời Tùy Văn Đế, h́nh phạt này mới thật sự bị hoàn toàn băi trừ.

[15] Đây là một tập tục trong tín ngưỡng cổ truyền Trung Hoa. Người ta tin rằng khi một linh hồn được đầu thai làm người th́ trước đó, trong Âm Phủ, họ đă phải vay tiền từ quan coi kho để vun bồi phước huệ, trưởng dưỡng thành thân người th́ mới có thể đầu thai. Do vậy, mỗi người sanh ra đă thiếu nợ cơi Âm, phải luôn đốt tiền giấy, vàng mă, cúng bái cơi Âm để trả nợ. Đó gọi là Thọ Sanh. Đồng thời, để đời sau khỏi phải nợ tiền cơi Âm quá nhiều khi đầu thai hay đói khát v́ không có tiền tiêu xài trong khi đang chờ đợi đi đầu thai tại cơi Âm, người ta đốt sẵn tiền giấy để gởi vào kho trong âm phủ. Đó gọi là Kư Khố (gởi kho) hay Trữ Súc. Nói chung, đây là một hủ tục có lẽ do bọn thợ làm vàng mă và các thầy cúng bày ra để kiếm lợi.

[16] “Hạp sàng” (匣床), c̣n gọi là “tù sàng” (囚床), hoặc “áp sàng” (押床), là một dụng cụ để hành h́nh thời cổ. Hạp sàng có h́nh dáng như một cái lồng dài. Tù nhân bị nhét vào đó, tḥ đầu và chân tay ra. Hạp sàng có gông để ràng đầu, xiềng cổ. Nơi ngực có ḷi tói bằng sắt thít chặt, nơi bụng có tấm gỗ nặng đè lên, chân tay đều bị cùm chặt vào thành của hạp sàng, phía lưng có đóng đinh nhọn. Dụng cụ này được chế tạo từ thời Tống, đến thời Minh rất phổ biến, măi đến cuối thời Thanh mới phế trừ.

[17] Theo Kim Cang Tâm Tổng Tŕ Luận, thân nữ nhân có năm thứ chướng (trong thời quá khứ), gọi là Ngũ Lậu:

1) Chẳng thể tự làm chủ thân thể của chính ḿnh được.

2) Chẳng thể làm chủ nhân của gia tộc.

3) Chẳng thể thành người lănh đạo của đoàn thể, bộ tộc v.v…

4) Chẳng thể độc lập quản lư tài vật.

5) Chẳng thể thành bậc thánh nhân giác ngộ.

[18] Tông Bá theo sách Châu Lễ, có tên gọi đầy đủ là Xuân Quan Tông Bá, hoặc Đại Tông Bá. Đây là chức quan chưởng quản việc tế tự các vị thần minh lập quốc, cũng như chịu trách nhiệm tổ chức các dịp tế lễ hoặc lễ tiết trọng đại trong triều đ́nh, cũng như bảo đảm các lệnh cấm theo lễ pháp được tuân thủ. Về sau, bộ Lễ c̣n quản trị việc giáo dục và thi cử. Ngoài ra, Đại Tông Bá c̣n chưởng quản việc xác định phả hệ trong hoàng tộc, thứ tự chiêu mục v.v... Tới đời Minh - Thanh, Lễ Bộ chia thành bốn ty: Nghi chế thanh sứ ty (đặc trách gia lễ và quân lễ, quản lư khoa cử), Tự tế thanh sứ ty (chưởng quản cát lễ và hung lễ), Chủ khách thanh sứ ty (chủ quản binh lễ và tiếp đăi sứ thần), và Tinh thiện thanh sứ ty (chịu trách nhiệm tổ chức tiệc tùng, lương thực, chăn nuôi trong các nông trang của triều đ́nh). Do sự vụ quá nhiều, các đời sau lập ra chức Thiếu Tông Bá (Tiểu Tông Bá) là quan phụ tá của Đại Tông Bá. Thời Tùy, chức quan này được đổi thành Thái Thường Thiếu Khanh, xếp vào loại Trung đại phu. Tới khi Đại Tông Bá đổi thành Lễ Bộ Thượng Thư th́ Lễ Bộ Thị Lang (phụ tá của Lễ Bộ Thượng Thư) vẫn được gọi là Thiếu Tông Bá, nhiệm vụ chủ yếu là tổ chức ngũ lễ, tức các lễ cát (như cưới hỏi, đầy tháng của các hoàng tử, hoàng tôn, sinh nhật, tế tự, giỗ chạp v.v…), hung (tang ma), quân (các dịp duyệt binh, hiến phù, mừng báo tiệp, thăng thưởng cho các tướng lănh), gia (những dịp ân xá, kỷ niệm, chúc thọ…) và tân (đăi đằng, tiếp kiến sứ bộ, ngoại giao, chiêu đăi các quan khi vua ban yến cho quần thần v.v…)

[19] Theo Bất Khả Lục, cha của tể tướng Phùng Kinh là Phùng Thương đă đến tuổi trung niên mà không có con. Vợ khuyên chồng nên cưới thiếp. Về sau, ông cầm tiền mua một người thiếp. Viết xong khế ước, giao tiền xong xuôi, hỏi cô gái ấy từ đâu đến? Cô chỉ ôm mặt khóc ṛng, vặn hỏi măi, cô mới cho biết, cha cô do việc quan bị thiếu nợ, sắp phải tù tội, đành phải bán con làm thiếp để chuộc nợ. Ông xót thương, lập tức đưa cô trả về, biếu luôn số tiền mua thiếp. Khi trở về, vợ hỏi, ông kể lại đầu đuôi. Vợ khen: “Ông thiện tâm, âm đức như thế, chắc chắn không thể nào chẳng có con”. Quả nhiên, một thời gian sau, vợ có thai, sanh con trai là Phùng Kinh. Phùng Kinh về sau đỗ đầu cả ba trường thi (Hương, Hội và Đ́nh), làm quan tới chức Tể Tướng, thành tích chánh trị hiển hách.

[20] Ứng viện ở đây có nghĩa là tăng sĩ chuyên làm kinh sám Phật sự (thường gọi là “ứng phó đạo tràng”).

[21] Quán Sở Duyên Duyên (Ālambanaparīkṣā) là một bộ luận về Duy Thức do Trần Na Bồ Tát (Dignāga) biên soạn, ngài Huyền Trang dịch sang tiếng Hán. Theo đó, Sở Duyên Duyên chính là khi tâm thức sanh khởi, nó phải hội đủ hai điều kiện, tức là có thật thể để có thể sanh khởi (tức là cái để tâm có thể duyên (năng duyên) nương vào mà sanh khởi tâm thức), và tướng phần (hay c̣n gọi là đới bỉ tướng khởi, tức là một đối tượng để cái tâm năng duyên có thể nhận biết, thường gọi là “duyên vào”). Trong luận này, ngài Trần Na vận dụng tam đoạn luận của Nhân Minh Học để nêu ra một luận đề trọng yếu: Nội cảnh trong tâm thức dường như từ bên ngoài mà hiện bóng trong tâm thức, nhưng thật ra nó là h́nh bóng của nội cảnh do chính tâm thức biến hiện. Do tánh chất trọng yếu của luận này, bộ luận này có khá nhiều sách chú giải, như Quán Duyên Duyên Luận Thích (do ngài Nghĩa Tịnh soạn), Quán Sở Duyên Chú Thích (do Bổn Điều Phục Thiên soạn), Quán Sở Duyên Duyên Luận Hội Thích (do ngài Minh Dục soạn), Quán Sở Duyên Duyên Luận Trực Giải (do tổ Ngẫu Ích soạn), Quán Sở Duyên Duyên Thích Luận Hội Thích (do Lữ Trừng và Ấn Thương hợp soạn).

[22] Cổ xướng (估唱): Khi một vị tăng đă mất, di vật của vị ấy được đem ra định giá rồi xướng lên để tăng chúng ra giá tranh nhau mua lấy.

[23] Chiêu đề (Caturdeśa), c̣n phiên âm là Thác-đấu-đề-xá, dịch nghĩa là Tứ Phương. Do Ngụy Thái Vũ Đế kiến tạo già lam, gọi đó là Chiêu Đề, cho nên Chiêu Đề bèn trở thành một danh xưng khác của tự viện.

[24] Hồ (壺) ở đây là một dụng cụ để đựng chất lỏng, thường làm bằng sành, sứ hay kim loại. Hồ thường có dáng cao, h́nh tṛn hoặc vuông, bụng phệ, sâu ḷng, miệng thót, hai bên phần cổ của cái hồ thường có quai xách. Hồ phần nhiều có nắp đậy, thường để đựng nước, trà hay rượu. Nó cũng là dụng cụ đựng rượu, nhưng không có ṿi rót như cái nhạo của ta.

[25] Bă đậu (hủ tra, 腐渣) là phần c̣n lại sau khi đă xay nát đậu nành, lọc lấy phần tinh túy để làm sữa đậu nành, đậu hủ, hoặc tương, chao. Nó c̣n được gọi bằng các danh xưng tiểu đậu hủ, tra đậu hủ, đậu mạt tử, thái đậu hủ, hợp tra, lại đậu hủ, đậu mạt, mạt tử thủy.

[26] Kim Cốc Viên là sản nghiệp riêng của quan Vệ Úy Khanh Thạch Sùng kiến tạo bên sông Kim Cốc thuộc Lạc Dương vào thời Tây Tấn, lộng lẫy, xa hoa bậc nhất thời đó.

[27] Đây là một điển tích thời Hán Quang Vũ Đế. Khi Lưu Tú c̣n chưa lên ngôi, bôn ba khôi phục nhà Hán đă lọt vào tay Vương Măng. Có lần ông cùng tùy tùng vượt sông Hô Đà th́ hết sạch lương ăn, mọi người đói khát cùng cực. Bộ tướng Phùng Dị dâng bát cháo nấu bằng đậu và cơm nấu bằng lúa mạch cho ông ăn đỡ đói. Do đó, khi ông lên ngôi (tức Hán Quang Vũ Đế), đă từng ban chiếu nhắc đến chuyện này để ban thưởng trọng hậu cho Phùng Dị.

[28] Sau khi biên tập xong một tác phẩm (nhất là biên soạn toàn tập), người biên tập chợt phát hiện c̣n có những bài viết chưa được đưa vào toàn tập, bèn thêm vào. Đó gọi là phần Bổ Di (補遺, bổ sung những chỗ bị bỏ sót).

[29] Hiển khảo (顯考): Danh xưng để gọi cha ḿnh đă mất. “Phủ quân” (府君) thoạt đầu là kính ngữ để gọi đàn ông nhằm tỏ vẻ tôn trọng. Về sau, con cái khi viết lách, cũng thường gọi cha ḿnh là “phủ quân”.

[30] Theo phẩm Nhập Pháp Giới của kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử là vị thiện tri thức thứ bốn mươi tư mà Thiện Tài đồng tử đến tham học. Thiện Tri Chúng Nghệ đồng tử truyền dạy pháp môn Tự Trí, tức là các môn trí huệ tương ứng với bốn mươi hai chữ cái (tự mẫu) trong văn phạm Tất Đàm (Siddhāṃ, c̣n gọi là Phạm tự, hoặc Phạm Thư). Bốn mươi hai tự mẫu được phiên âm thành A, Ra, Bả, Tả, Nẵng, La, Na, Ma, Noa, Sái, Phạ, Đa, Dă, Sắt-trá, Ca, Sa, Măng, Nga, Tha, Nhạ, Sa-phạ, Đà, Xả, Khư, Khất-sái, Sa-đa, Nương, Ra-tha, Bà, Tha, Sa-ma, Ha-phạ, Đa-sa, Già, Sá, Nạp, Phả, Tắc-ca, Dă-sa, Thất-tả, Trá, Trà (A, ra, pa, ca, na, la, da, ba, ḍa, ṣa, va, ta, ya, ṣṭa, ka, sa, ma, ga, tha, ja, sva, dha, śa, kha, kṣa, sta, ña, rtha, bha, cha, sma, hva, tsa, gha, ṭha, ṇa, pha, ska, ysa, śca, ṭa, ḍha). Mỗi chữ ứng với một trí môn. Chẳng hạn, kinh Hoa Nghiêm chép: “Xướng A tự thời, nhập Bát Nhă Ba La Mật môn, danh Dĩ Bồ Tát Oai Lực Nhập Vô Sai Biệt Cảnh Giới. Xướng Đa tự thời, nhập Bát Nhă Ba La Mật môn, danh Vô Biên Sai Biệt Môn” (Khi xướng chữ A, nhập Bát Nhă Ba La Mật môn tên Dùng oai lực của Bồ Tát nhập cảnh giới chẳng sai biệt. Khi xướng chữ Đa, nhập Bát Nhă Ba La Mật môn tên là môn Vô Biên Sai Biệt). Phật môn Trung Hoa c̣n có riêng một nghi thức xướng tụng Hoa Nghiêm Tự Mẫu.

[31] Ư nói: Có người thay v́ ăn mừng sinh nhật hằng năm, cứ mỗi mười năm tổ chức sinh nhật một lần.