Vân Thê
Pháp Vựng
雲棲法彙
Phần
9
Cổ Hàng Vân Thê Châu
Hoằng đại sư trước tác
古杭雲棲袾宏大師著
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ
tử Như Ḥa
(theo bản điện tử Gia Hưng
Đại Tạng Kinh của CBETA)
Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ
Trang
16. Vân Thê
Cộng Trụ Quy Ước (雲棲共住規約 - quy ước về việc cùng ở chung
của chùa Vân Thê)
16.1. Vân Thê Cộng Trụ Quy Ước Thượng
Tập
16.1.1. Đại Đường (trong các điện đường chánh yếu của
chùa như Thiền đường, niệm Phật
đường v.v…)
*
Trong đường, bốn thời chỉ tĩnh
(tĩnh tọa), ba thời lễ bái tụng niệm,
một thời nhập quán.
1)
Thời thứ nhất (canh năm): Khi đến giờ
thắp hương chỉ tĩnh, tụng chú Lăng
Nghiêm, chương Thượng Phẩm Thượng Sanh [của
kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật], niệm Phật
một ngàn câu, hồi hướng bằng Tiểu Tịnh
Độ Văn[1].
2)
Thời thứ hai (buổi sáng): Khi hương chỉ
tĩnh đốt lên, dùng cơm trưa xong, tụng kinh
văn Bốn Mươi Tám Nguyện, niệm Phật
một ngàn câu, hồi hướng giống như
trước.
3)
Thời thứ ba (sau chánh Ngọ): Khi hương chỉ
tĩnh đốt lên, thời khóa tối tụng kinh Di
Đà, sám hối, xuất sanh[2]
xong, niệm Phật một ngàn câu, tụng Đại
Tịnh Độ Văn[3]
để hồi hướng.
4)
Thời thứ tư (đêm xuống): Khi hương chỉ
tĩnh đốt lên, niệm Phật một trăm câu,
trở về đơn, nhập quán, cát tường ngủ
nghỉ.
Chỉ
tĩnh, lễ tụng, nhập quán như thế là
tịnh nghiệp trong một ngày, chẳng rườm rà,
chẳng sơ sài, măi măi vâng giữ, chẳng để
hư hoại. Vào tháng nắng gắt, thời lễ
tụng buổi trưa có thể dời lên trước
giờ Ngọ.
*
Tiến đường (chấp thuận cho hành nhân
được ở trong một đường nào),
phải xem xét bốn việc [của người xin tiến
vào] có hợp cách thức hay không rồi mới cho vào (chi
tiết chép trong phần Biệt Tập).
*
Trong đường có bốn mươi tám đơn,
chúng thường trụ (bổn chúng) và chúng khách tăng,
mỗi chúng gồm hai mươi bốn đơn. Trong
số đó, để trống hai đơn dưới
tượng thánh tăng.
*
Người tuần hương[4]
đặt một lá phan nhỏ. Phan dài hai tấc, cán phan dài
một thước hai tấc. Người nào hôn trầm
th́ dùng phan chạm nhẹ vào đầu gối, không
được đánh loạn xạ. Có người
ngồi đă lâu th́ dùng phan phất thử trước
mắt, nếu chẳng phải hôn trầm th́ người
đó niệm Phật một câu. Hễ cảnh tỉnh hôn
trầm ba lần mà vẫn chẳng tỉnh, sẽ
đặt thẻ, gơ tịnh bản để đánh
thức. Kẻ thức dậy mà không chịu xuống
khỏi đơn, sẽ bị phạt hai mươi đồng.
Phạm nhiều lần chẳng sửa đổi, sẽ
trục xuất khỏi đường. Người
tuần hương làm lấy lệ cho xong chuyện,
chẳng dụng tâm, bị phạt hai mươi
đồng.
*
Định lượng thời gian đốt hương
phải chiếu theo tám tiết khí[5]
để gia giảm thời hạn. Phàm đốt
hương th́ trước hết là [hương
đốt cho thời gian] đứng dài một tấc,
kế đó là [hương thắp trong khi]
ngồi là một tấc; sau đó đi hay ngồi tùy ư.
Buổi tối, sau khi đứng và ngồi hết hai
tấc hương xong, xướng rằng: “Lăo,
tật, trọng vụ, học kinh chư đạo
hữu, hương đáo dục xuất giả xuất.
Tự nguyện tùy đường giả lưu” (Các
đạo hữu già yếu, bệnh tật, hoặc có
nhiệm vụ trọng yếu, hoặc học kinh,
hương đă cháy hết, ai muốn ra khỏi
đường th́ ra. Ai tự nguyện theo đại
chúng th́ ở lại). Khi cây hương kế tiếp
đă cháy hết, liền xướng rằng: “Khinh
vụ, hương đáo, dục xuất giả xuất,
tự nguyện tùy đường giả lưu”
(Người có nhiệm vụ nhẹ, hương đă
cháy tới lúc ai muốn ra th́ ra, ai tự nguyện theo
đại chúng th́ ở lại).
*
Người có việc cần ra khỏi đường,
phải đến chỗ vị Thủ Tọa xin thẻ bài.
Không có thẻ bài mà tự ư ra ngoài, phạt hai mươi đồng.
Ở ngoài điện đường, từ vị Trực
Viện trở xuống, hết thảy mọi
người đều có thể kiểm tra và cử
tội (trên thẻ bài viết hai
chữ Cáo Xuất (告出, xin ra ngoài)).
*
Xin nghỉ phép hoặc xuống núi, trong
các mùa Xuân, Hạ, Thu, nếu quá hạn một ngày, phạt
mười đồng; quá ba ngày tính là vắng mặt. Xin
nghỉ trong lúc mùa Đông, liền tính là khuyết
đơn, cho phép nghỉ. Lấy đường xa hay
gần làm hạn.
*
[Đối với đại chúng trong một
đường], các việc gánh gạo, gánh củi,
dạy kinh, chăm sóc người bệnh, trực
nhật trong tăng chúng… đều được
miễn, chỉ có hai việc Cảnh Sách
và Tuần Chiếu phải theo
đại chúng.
*
Cúng Phật không thực hiện trong bổn
đường, phải dời sang pháp đường.
Việc Cô Xướng (估唱,
hô đấu giá di vật của vị tăng đă
mất) không được làm trong đường ấy,
phải dời sang trai đường (cách thức
đấu giá chép trong Biệt Tập).
*
Phạt lỗi: Nếu việc liên quan đến nội
bộ trong đường, các vị Thủ Tọa,
Duyệt Chúng, Thư Kư họp với các vị Trực
Viện, cùng xử trí tại trai đường. Xong
việc phải về ngay, đừng nán lại lâu.
Nếu việc ở ngoài đường, không liên quan
đến nội bộ trong đường, không cần
ra.
*
Mồng Một và Rằm, nhóm chúng xong, lại bái lạy
lẫn nhau, kẻ gây phiền loạn bị phạt mười
đồng. Nếu là thầy tṛ th́ không bàn tới.
*
Sau thời sáng, khi chỉ tĩnh, người trực
nhật trong đường lễ Phật một lạy,
lễ hai bên đơn[6]
mỗi bên một lạy, người tuần
đường sẽ xá để hoàn tất lễ. Hai
thời c̣n lại chỉ cần xá trước Phật là
đủ. Tân giới tử học lễ nghi th́ tự làm
ở pháp đường; c̣n ở nơi đây (đại
đường) coi trọng Thiền Định, tư
duy, chớ nên gây phiền nhiễu.
*
Khi cạo tóc, nghe tiếng bang[7]
th́ đi ra. Khi trở về đường, chỉ
đối trước Phật lạy một lạy,
chẳng cần lạy hai bên đơn. Khi tắm gội [trở
về đường] cũng thế.
*
Buổi tối, khi báo chung vang lên, người ở ngoài
điện đường liền vào đường,
đối trước Phật lễ một lạy
rồi kinh hành. Người đến sau, nối tiếp
kinh hành, chẳng cần phải xếp hàng ngay ngắn.
Kẻ nào xúm Đông, tụm Tây, chụm đầu nói
năng tạp nhạp, bị phạt hai mươi
đồng.
*
Đối với lối đi kinh hành gần hai bên
chỗ kê đơn, không được tùy tiện
bước nhanh. Lối đi để kinh hành nhiễu
Phật th́ tùy ư sắp xếp.
*
Sau khi khai tĩnh (hết giờ chỉ tĩnh), nếu
[hành nhân trong đường] chẳng tu chánh niệm, chụm
đầu bàn tán tạp nhạp, người tuần
hương nhắc nhở vẫn không
thôi, sẽ phạt [những kẻ đó] hai
mươi đồng. Phạm lỗi nhiều lần th́
trục xuất khỏi đường. Nếu người
tuần hương không cử tội [những kẻ
đó], cùng bị phạt như nhau.
*
Có bệnh th́ treo màn [che đơn]. Nếu năm ngày
chẳng khỏi, th́ vào bệnh đường.
Người không chịu treo màn hoặc không chịu vào bệnh
đường th́ chẳng cử người chăm sóc.
Người bệnh [nếu cố chấp như vậy]
hễ qua đời, [di cốt] không được
đưa vào tháp Phổ Đồng. Người bệnh
nặng liền vào ngay bệnh đường th́ chẳng
luận tới.
*
Hễ có nghi ngờ liền hỏi cho rơ ràng, chớ nên âm
thầm che giấu, chịu đựng.
*
Người quen thuộc đến thăm viếng, không
được tṛ chuyện trong đường. Có thể
sang pḥng Hương Đăng tṛ chuyện đôi chút,
chẳng được nói lâu. Nói lâu sẽ phạt mười
đồng, quá lâu sẽ bị phạt ba mươi
đồng.
*
Đức Phật chế định, mùa Đông và Hạ
tọa Thiền, Xuân và Thu th́ hành Đầu Đà, hăy nên
hành pháp khất thực; nhưng khất
thực thuở thánh thế (thời Chánh Pháp
và Tượng Pháp), bậc
Thượng Tọa, A-xà-lê c̣n bị ma quấy nhiễu,
huống hồ thời Mạt Pháp này? Nay tạm châm
chước đổi khất thực thành chấp tác (làm
mọi việc lao động chân tay), bất đắc
dĩ mới đi khất thực.
*
Nay lấy bốn mùa chia thành bốn kỳ tu, Đông và
Hạ là chín mươi ngày, Xuân và Thu giảm ít hơn,
ước chừng bảy mươi ngày. Hết kỳ tu
th́ khách chúng tạm giải tán, tới kỳ an cư sau,
lại đến quải đơn. Chúng thường
trụ th́ trong một kỳ bèn đổi ban, có quy cách
nhất định. Khi kỳ tu đă kết thúc,
người trong đường không chịu ra,
người ngoài đường cố chen vào, đều
không chấp thuận!
*
Trong chúng, nếu có người tuy ở trong
Tịnh Nghiệp Đường, nhưng chẳng tu Niệm
Phật tam-muội mà tu các hạnh khác. Nay bổn
đường chuyên nhất niệm Phật, sợ gây lỡ
dở cho nhau, chẳng dám gượng ép giữ [kẻ
đó] lại. Sau này, nếu [người ấy] phát tâm
niệm Phật, có thể trở lại, không trở
ngại ǵ!
*
Đối với bốn mươi tám nguyện trong
bản khắc mới của kinh Vô Lượng Thọ
thời cổ, thời khóa buổi trưa tụng kinh
đó, mỗi lần tụng mười sáu nguyện, ba
ngày liền giáp ṿng. Mùa Hạ trời nóng th́ khỏi
tụng.
*
Trong đường, mỗi người đều có
đủ ba kinh Tịnh Độ: Một là Di Đà
Sớ Sao, hai là Quán Kinh Sớ Sao, ba là Đại Di Đà
Kinh theo cổ bản được khắc in mới.
Lại có bốn mươi tám nguyện bản khắc
mới, Tây Phương Nguyện Văn, và tràng hạt. Sáu
chuyện trên đây, khuyết một chẳng thể
được. Vào đường rồi mới
mượn dùng, cũng chẳng được!
*
Ngày cuối tháng, mỗi người được
cấp mười đồng, trích từ tiền phạt
các lỗi, dùng tiền đó để
mua hồ gột vải.
16.1.2. Tây
Đường
* Đường này có tổng cộng hai
mươi bốn đơn. Vị Thủ Tọa quản
lư chung tại đại đường. Ở đây,
chẳng lập riêng [Thủ Tọa cho] Tây
Đường, Hậu Đường, chỉ có vị
Đường Chủ lănh chúng, Duyệt Chúng phụ
trợ.
*
Đường này chỉ tiếp nhận khách chúng
(tăng chúng từ các nơi khác tới).
*
Cách khảo hạch cho phép nhập đường
giống như đại đường, hoặc vào đại
đường, hoặc vào Tây đường. Nếu
chẳng quyết định được
th́ rút thăm.
*
Canh năm, thức dậy theo hiệu lệnh của đại
đường. Rửa mặt xong, trở về Tây
đường chỉ tĩnh. Khi khai tĩnh, vào đại
đường tham dự khóa tụng. Ban ngày chỉ
tĩnh, ban đêm chỉ tĩnh, đều ở tại
Tây đường này.
*
Tuần hương mỗi lượt ba người,
một người đi tuần tại đơn phía Đông
đại đường, một người đi tuần
đơn phía Tây đại đường, một
người đi Tây đường.
*
Dùng cơm cháo tại Tây đường tuân theo nghi
thức của đại đường.
*
Tụng bốn mươi tám nguyện th́ vào đại
đường, [người thuộc Tây đường]
được xếp ngồi ở phần xuyên
đường (hành lang nối giữa hai đường)
để tụng.
*
Hết thảy mọi chuyện ra vào, cạo tóc, tắm
rửa, xin phép nghỉ, hoàn toàn tuân theo quy củ và cách
thức của đại đường, chẳng
phiền rườm lời!
*
Tiền cấp phát cuối tháng theo cách thức của
đại đường.
16.1.3. Luật
Đường (dùng chung
với pháp đường, không lập đường
riêng)
*
Mỗi người phải tự có giới kinh mà chính ḿnh
đă dùng để thọ giới, tức Sa Di Luật
Nghi, Tứ Phần Giới Bổn, và Giới Sớ Phát
Ẩn[8],
hễ thiếu một thứ, bị phạt ba mươi
đồng. Mỗi người phải có đủ y bát;
thiếu một thứ, phạt ba mươi đồng.
*
Xuống tóc, chỉ làm một lần
vào ngày cuối năm (chi tiết ghi trong Biệt Tập).
*
Người cầu được truyền thọ y;
nếu y chẳng đầy đủ, sẽ không
truyền trao.
*
Đối với người cầu thọ giới
tỳ-kheo, giới Bồ Tát, [vị quản sự]
phải thưa rơ về lệnh cấm của đất
nước, tận lực khước từ. Có quy cách
học giới (chép trong phần Biệt Tập).
*
Người mới xuống tóc, trước ngày tụng
giới một hôm, khảo hạch Sa Di Luật Nghi.
Nếu hiểu sai nghĩa, phạt năm đồng.
Đọc thuộc ḷng mà sai kinh văn, phạt
mười đồng. Hoàn toàn không nhớ được,
th́ gởi xuống ban Ngũ Giới. Khảo hạch
giới Tỳ-kheo và giới Bồ Tát, cũng phỏng theo
lệ này!
*
Người thọ Thập Giới, phải học
Luật năm Hạ, chẳng cho phép ra ngoài nghe giảng, nhưng
chẳng cấm học kinh tại bổn sơn. Luân phiên
xuất sanh, luân phiên làm thị giả trong đại
đường, luân phiên hành lễ. Nếu không có ai
chăm sóc người già th́ luân phiên chăm sóc.
Người nào thoái thất giới pháp, vào đêm tụng
giới, vị Giới Thủ sẽ xướng rằng:
“Người tên X… hoàn toàn chẳng học tập
Thập Giới, gởi xuống ban Ngũ Giới”. Ba
tháng sau, tŕnh được năm mươi điều
thiện th́ mới được khôi phục.
*
Người thọ giới tỳ-kheo, luân phiên cầu
đảo, luân phiên dạy khóa kinh, luân phiên tụng Ngũ
Giới, Thập Giới, giới tỳ-kheo, luân phiên trách
vấn (hỏi han, quở trách kẻ phạm lỗi).
Người thoái thất giới pháp, vào ngày tụng
giới cũng xướng theo cách thức như trên, gởi
xuống ban Thập Giới. Ba tháng sau, nộp
được bảy mươi điều thiện th́ khôi
phục lại vị trí cũ.
*
Người thọ giới Bồ Tát luân phiên tụng
giới Bồ Tát, luân phiên thuyết pháp, luân phiên dạy
kinh Đại Thừa, luân phiên bố thí, luân phiên trách
vấn, luân phiên Trực Viện, luân phiên lănh y. Đối
với người thoái thất giới pháp, vào ngày
tụng giới, xướng theo cách thức trên đây để
gởi xuống ban giới tỳ-kheo. Ba tháng sau, nộp
được chín mươi điều thiện th́ mới
khôi phục lại vị trí cũ.
*
Không tham dự tụng giới mỗi nửa tháng, cũng
chẳng gởi thuyết dục[9],
phạt mười đồng.
*
Mỗi nửa tháng tụng giới, nếu có người
cử tội [kẻ nào đó] vi phạm mười
điều tăng ước và các lỗi nặng khác,
người đọc quy ước tiếp nhận
lời cử tội. Người bị cử tội
nếu tâm chẳng thẹn th́ bước ra trước đại
chúng, thưa: “Tôi có lời biện bạch”. Duyệt Chúng
đáp: “Ngày mai biện bạch”, người đó lập
tức im lặng lui ra. Nếu c̣n làm ồn, gây nhiễu
loạn, phạt năm mươi đồng.
*
Người [từ bên ngoài núi] đến tụng giới,
phải đến đúng ngày tụng giới, nếu
đường xa th́ đến trước một
đêm, tụng xong lập tức quay về. Người
đến quá sớm, hoặc đi quá
trễ th́ không phải là người thật sự
đến tụng giới vậy.
*
Ngày mùng Một tháng Giêng, tại pháp đường sắp
xếp thứ tự theo giới lạp (tuổi hạ).
Ngày mùng Một tháng Ba, xếp thứ tự theo [thế
hệ trong] pháp phái. Ngày mùng Một tháng Năm, xếp
thứ tự theo năm sanh. Các tháng Bảy, Chín,
Mười Một cũng như thế. Mỗi năm
xếp hai lần (chi tiết được ghi trong
Biệt Tập).
*
Dối gạt quan phủ, gạt gẫm đại chúng,
như trốn thuế, giấu giếm lương
thực, cân đong non, già v.v… đều coi là trộm
cắp. Bậc phạt cao nhất là trục xuất
khỏi chùa!
* Đối với các
việc ở nhà kho, mua bán, phóng sanh, làm kinh sám, th́ tiền
cúng dường v.v… cứ nửa tháng phải kư tên, hóa
sớ [bẩm báo] để biểu thị sự thanh
bạch, hạ viện cũng phải ghi kèm danh tánh vào.
* Kẻ giả truyền
mệnh lệnh của thầy, lừa dối đại
chúng và hết thảy mọi người, bị phạt
năm trăm đồng. Sự việc nghiêm trọng th́
phạt xong liền trục xuất khỏi chùa.
* Tuổi chưa đến
sáu mươi mà nhận phụ nữ quy y, phạt năm
trăm đồng và trục xuất khỏi viện.
16.1.4. Pháp
đường
*
Trong đường, vào các mùa Xuân, Hạ, Thu, bày sẵn sáu
bộ kinh Hoa Nghiêm, chọn người có thể tụng,
ghi danh lên bảng. Mỗi ngày [những người đă
ghi danh] luân phiên lên tụng một quyển. Tụng hết
kinh, lại bắt đầu từ đầu. Ba tháng mùa
Đông th́ dừng, không tụng.
*
Học kinh phải theo thứ tự của kinh, không
được nhảy cóc. Người nhảy cóc, kinh
lớn th́ mỗi bộ phạt một trăm đồng,
kinh nhỏ mỗi bộ phạt năm mươi đồng.
Số tiền đó dùng để thỉnh kinh hoặc cúng
dường khách tăng.
*
Người dạy kinh phải ghi dấu trên kinh: Ngày… tháng…
do người (tên)… dạy.
*
Những bộ như Di Giáo, Cảnh Sách, Sùng Hạnh (Truy Môn Sùng
Hạnh Lục) v.v... đều
phải học thuộc ḷng, nỗ lực thực hành.
Cứ mỗi nửa tháng, rút mấy người ra
khảo hạch.
*
Pḥng in khắc kinh, tạo kinh, đều phải có
trương mục, mỗi mỗi phân minh. Nếu
không có người thành thật, đáng tin cậy
để chuyên trông coi, hăy chọn ra vài người
để luân phiên trông coi.
*
Người giảo chánh, đối chiếu kinh
được khố pḥng cấp chút thức ăn
nhẹ. Nếu ḍ được một chữ [sai sót
để chỉnh cho đúng] th́ được
thưởng năm điều thiện. Để
người khác ḍ ra một chữ sai [mà chính ḿnh bỏ sót]
th́ trừ năm điều thiện.
*
Giảng chủ luân phiên giảng các kinh Tịnh Độ,
một là Di Đà, hai là Quán Kinh, kế đến là các kinh
Pháp Hoa, Lăng Nghiêm v.v... Giảng xong lại giảng từ
đầu.
*
Học Giáo chia thành hai loại: Kẻ độn căn th́
học kinh văn, người lợi căn th́ t́m hiểu
nghĩa. “T́m hiểu nghĩa” lại có hai
loại: Một là nương theo lời dạy để
tu hành, hai là hiểu giáo để giảng giải.
[Chọn lựa] người sẽ làm giảng sư chẳng
được bừa băi, cần phải chọn
người có căn tánh hết sức nhạy bén, giữ
thân chẳng cẩu thả, ḥng tránh ngày sau [kẻ đó]
sẽ điếm nhục pháp môn!
*
Chẳng thưa với người trông coi, tự ư lén
học Diệm Khẩu, Thí Thực, và các văn bản
Diệm Khẩu, phạt năm trăm đồng.
*
Đối với kinh điển của thường
trụ, Hoa Nghiêm lấy hai mươi bốn bộ làm
chuẩn. Kinh Pháp Hoa, Lương Hoàng Sám đều lấy bốn
mươi tám bộ làm chuẩn. Số c̣n lại cúng
dường trên gác Đa Phật để đợi cúng
thí. Những bộ kinh vốn được gởi
đến để cúng dường vĩnh viễn cho núi
này th́ chẳng thuộc vào hạn lượng này!
16.1.5. Lăo
đường
* Người
tuổi tṛn bảy mươi, ở trong chùa tu hành cẩn
thận, chẳng có lỗi ǵ, mới có thể tiến
nhập [lăo đường]. Người
tám mươi tuổi th́ tùy nghi sắp xếp, chín
mươi tuổi th́ bất luận (“tùy nghi sắp
xếp” là xem xét hoàn cảnh, “bất luận” là đưa
thẳng vào).
*
Trong đường có mười đơn, trừ đi
một đơn dành cho kẻ chăm sóc người già,
thật sự là chín đơn. Người ngoài phụ
thêm vào th́ chẳng luận.
* Thuốc men, thức ăn
v.v… cần thiết cho người già, nếu Khố
Đầu, Phạn Đầu hoặc Điển Tọa[10]
keo kiệt không cho, phạt [những vị chấp sự
ấy] mười đồng. Thật sự chẳng nên
cho th́ phải đối trước đại chúng
bạch rơ. Nếu đem ḷng riêng đối xử thiên
vị, phạt tiền một trăm đồng.
* Người già bảy
mươi tuổi không có răng, nếu chẳng thể
nhai thức ăn sống hoặc cứng theo đại
chúng, hăy nên cho họ thức ăn mềm nấu chín
kỹ (lấy từ tiền phạt các lỗi).
* Cảnh sách thực
hiện mỗi nửa tháng một lần.
Nếu bỏ qua chẳng làm, phạt hai mươi đồng.
* Người già suy yếu, khóa
sáng có đến dự hay không chẳng luận. Khóa
tối bắt buộc phải theo đại chúng.
Chẳng đến, sẽ phạt theo lệ. Người
tám mươi tuổi th́ tùy nghi châm chước; chín
mươi tuổi th́ miễn hoàn toàn. Đối với
chuyện luân phiên trực Hương Đăng, người
đă tám mươi và chín mươi tuổi cũng áp
dụng theo lệ như trên.
* Ở trong chúng mà nhiều
lần tranh đấu, hoặc ra ngoài chơi sanh sự,
sẽ bị trục xuất khỏi đường.
* Mỗi cuối tháng,
cấp cho mỗi người mười đồng (trích
từ tiền phạt dùng để mua bột hồ).
16.1.6. Bệnh
đường
*
Trong đường, tấm đơn dài để
đặt người bệnh nhẹ. Đơn độc
lập để đặt người bệnh nặng.
Nếu hỗn loạn, phạt năm mươi đồng.
* Quy cách treo màn giống
như trong đại đường.
* Người bệnh
nặng vào đường, trước tiên,
[người trực nhật] phải chuẩn bị
hương, nến trước bàn thờ Phật. Vị Trực
Viện, ngoại thư kư, hậu đường duyệt
chúng v.v... cùng đưa [bệnh nhân] vào.
Đọc xong lời dặn ḍ, liền viết bảng
ghi chép tài sản (bản trướng, 板帳).
Chẳng viết theo đúng quy định mà tự ư
tăng giảm, [người viết bị] phạt
mười đồng. Người không muốn viết
bảng ghi chép tài sản th́ không sắp xếp đơn.
Người bệnh nhẹ th́ không cần viết bảng
ghi chép tài sản, chỉ cần thắp hương, nến
trước Phật, vị Trực Viện đưa
[bệnh nhân] vào là được.
* Lập một người thành
thật làm đường chủ để giữ sổ
sách, ghi rơ ngày... tháng... người nào vào đường. Phía
sau ghi rơ ngày... tháng... qua đời, hoặc ngày... tháng...
lành bệnh ra khỏi đường, đều phải
viết rơ ràng. Người lành bệnh ra khỏi
đường, lấy chuẩn mực là “tự dùng
cơm được”. Ghi chép thiếu sót, phạt
[đường chủ] mười đồng.
* Bệnh nhẹ th́ bảy
ngày cảnh sách một lần, bệnh nặng th́ cảnh
sách mỗi ngày một lần. Nếu bỏ qua chẳng
làm, phạt [đường chủ và người khán
bệnh (chăm sóc bệnh nhân)] hai
mươi đồng.
* Đối với
người chăm sóc bệnh nhân, [đường
chủ] trước tiên phải quỳ trước
Phật xin [có người] phát tâm. Ba lần thỉnh mà
không có ai, [đại đường] sẽ chiếu theo
thứ tự các đơn [trong đường ấy]
để [cử người] luân phiên trực
ban chăm sóc. Người không thể chăm sóc [bệnh
nhân] mà xin miễn, phải nộp tiền (lệ này có ghi
trong Biệt Tập).
* Chăm sóc người
bệnh phải phát tâm đại từ bi, chớ oán ghét
người bệnh, chớ làm trái ư người bệnh,
hăy nên như con hiếu phụng sự cha mẹ.
* Trong chúng, nếu có
người thông hiểu y lư, khảo hạch đạt
yêu cầu th́ lập làm chấp sự. Người chưa
thông hiểu mà hư vọng tự dùng thuốc, bị phạt
ba mươi đồng. Lỡ làm hại mạng
người th́ trục xuất khỏi viện.
Người tham cầu lợi lộc th́ trục xuất
khỏi viện.
*
Đối với thuốc thang, cơm nước cần thiết
cho người bệnh, nếu Khố Đầu, Phạn
Đầu, Điển Tọa keo kiệt không cho,
[những người ấy bị] phạt hai mươi đồng.
Nếu chẳng nên cho th́ biện bạch rơ ràng trước
đại chúng. Nếu đem ḷng riêng tư đối
xử thiên vị, bất công, phạt một trăm đồng.
*
Người bệnh nặng vào bệnh đường,
hăy nên dặn ḍ hậu sự, buông xuống muôn duyên,
nương theo lời cảnh sách, nhất tâm chánh
niệm. Lại nữa, chăm sóc người bệnh
nặng cần hai hoặc ba người, và thường
trụ cũng phải lo liệu chu đáo cho người
chăm sóc bệnh nhân.
*
Người bệnh nhẹ cũng nên an tĩnh niệm
Phật. Người có bệnh mà không giữ phận bệnh
nhân, ra ngoài chơi sanh sự, bị phạt mười đồng
và trục xuất khỏi bệnh đường
để trở về nhập chúng.
*
Đối với việc tống táng vị tăng bị
bệnh, nếu bệnh nhân vốn là vị Tăng Trực
Viện, cầm đầu đại chúng, hoặc là người
hiền hạnh, nhiều người đưa tiễn.
Nếu là tăng chúng thông thường hoặc chẳng
hiền hạnh, người nào thuận tiện bèn
đưa tiễn. Người ở trong chúng phạm
nhiều lỗi, bị mọi người ghét bỏ,
đại chúng không tống tiễn, chỉ có người
khiêng linh cữu và người đọc chúc văn mà thôi.
*
Tháp Phổ Đồng: Chính giữa là [di cốt
của] người của bổn sơn, bên trái là
thập phương, bên phải là cư sĩ.
Người thuộc bổn sơn mà bất tài hoặc
lắm lỗi th́ đặt tại bên trái hoặc bên
phải. Vợ của cư sĩ có tháp Phổ
Đồng riêng, chính giữa đặt [di cốt
của] Am chủ (ni), bên trái là ni chúng của
bổn am, bên phải là ni chúng các phương và Ưu-bà-di.
*
Cổ xướng (đấu giá di vật của vị
tăng đă mất): Tăng chúng tập hợp tại trai
đường, người chủ tŕ cầm vật
dụng trên tay, gọi tên mỗi vật rồi rút thăm,
người trúng thăm không mua th́ mới rút thăm chọn
người khác. Người đă mua được
một vật rồi th́ rút thẻ thăm ra, không
được mua trùng lại nữa.
16.1.7.
Các pḥng
*
[Người thuộc] các pḥng nếu không
có việc bận rộn chánh đáng phải làm mà không vào
đại đường tham gia khóa tụng sáng tối,
phạt hai mươi đồng. Giờ chỉ tĩnh
khóa tối không đến, phạt mười đồng.
Khi chưa xướng lời cho phép người già
bệnh ra trước, mà khi đến giờ, đă
tự ư ra trước, phạt mười đồng.
Khóa tụng buổi trưa th́ tùy tiện.
*
V́ việc công muốn vào đường, phải
đến khố pḥng lănh thẻ bài.
Chẳng có thẻ bài, không được vào. Nếu cho
[người không có thẻ bài]
tùy ư vào, người trực đường
bị phạt hai mươi đồng. Người vào
đường mà nói chuyện phiếm, nhiễu loạn
đại chúng, bị phạt hai mươi đồng.
Người ở trong đường nói chuyện tạp
nhạp với nhau cũng bị phạt giống như
vậy.
*
Mỗi pḥng có một người làm Thượng Tọa.
Trong chúng, nếu có người nói chuyện tạp
nhạp, ngủ gật, tranh luận, người ngoài vào
đường gây nhiễu loạn, vị Thượng
Tọa lập tức gơ mơ gỗ ba tiếng, lớn
giọng niệm Phật, đại chúng liền ḥa
tiếng niệm theo. Kẻ nào nghe tiếng mơ mà chẳng
làm theo, bị phạt mười đồng. Nếu Thượng
Tọa dung túng, che giấu chẳng cử tội, chịu
phạt y hệt.
*
Mỗi pḥng cử một người trực nhật,
gọi là “khán đơn”, cũng được giao
một cái mơ gỗ để cùng hành sự với
Thượng Tọa.
*
Mỗi pḥng cử hai người luân phiên trực đêm,
nội đường một người, tổng
cộng là ba người lo liệu. Nếu không lo liệu,
phạt hai mươi đồng. Để xảy ra
chuyện hư hao, mất mát, phạt gấp đôi.
*
Các pḥng xin phép nghỉ. Trong các mùa Xuân, Hạ, Thu, nếu quá
hạn một ngày, phạt năm đồng. Quá sáu ngày,
tính là khuyết đơn. Tháng mùa Đông, quá hạn
một ngày, phạt mười đồng; quá ba ngày tính là
khuyết đơn. Vị Trực Viện không kiểm tra,
xử lư, sẽ cùng chịu phạt.
16.1.8. Hạ
viện (các cơ sở trực
thuộc Vân Thê như sở phóng sanh tại Thượng
Phương)
* Thượng
Phương một nửa dành cho những người
gồng gánh, một nửa để phóng sanh. Người
trông viện nên thấu hiểu ư này. Một là khéo sắp
xếp cho người làm việc nặng khiến cho
họ được nghỉ ngơi yên ổn. Hai là hộ
tŕ các sanh vật được phóng sanh. Trên là pḥng chim
dữ, dưới là pḥng thú dữ, cho đến bờ ao
sụt lở bèn kịp thời thông báo tu bổ. Chẳng
được đổ nước dơ, nước
độc [vào ao], cũng chẳng được thả
cỏ [xuống ao cho cá ăn] quá nhiều. Đối
với các điều trên đây, nếu người
giữ viện chẳng tuân hành, sẽ bị cách chức,
thay thế.
*
Mỗi tối, đốt một cây định
hương. Kẻ chẳng đến tham dự [tụng
niệm, tĩnh tọa] th́ ghi danh, trả về núi.
Người giữ viện không làm, phạt năm
mươi đồng. Người đến nghỉ
lại mà không tuân hành, bị ghi tên, gửi trả về
núi; sau này không cho lưu ngụ nữa.
*
Người vô sự đi rong, chẳng cho nghỉ lại.
Người mạo danh chữa bệnh để trốn
việc, lười nhác, ghi tên, trả về núi.
*
Lập ra viện Trường Thọ chuyên để phóng sanh,
hộ tŕ sanh vật giống như tại Thượng
Phương, chẳng được cho người [không
có chức trách trông coi] ngủ lại. Nếu cho ở
lại, phạt ba mươi đồng.
* Người giữ
viện ở hai nơi trên đây, nếu vô cớ ra ngoài
rong chơi và làm ứng phó đạo tràng (tụng kinh sám
theo lời thỉnh), phạt năm mươi đồng.
* Tĩnh thất ở
Phạm thôn chuyên dùng làm nơi ra vào, qua lại, sắp
xếp gạo, lương thực, hết thảy các
vật, đặt cố định hai người trông
coi, hăy nên tận tâm chăm nom, chẳng được có
tâm riêng tư giữ người khác nghỉ lại,
cũng như cho người khác gởi gắm hành lư.
Hễ vi phạm, phạt năm mươi đồng.
* Núi Thiên Tŕ chuyên dùng
để cung cấp củi và rau, đề nghị
lập hai người thủ viện, một người
làm Tri Sơn, hai người làm Viên
Đầu (quản lư vườn rau) để
trông nom cai quản núi rừng, đề pḥng kẻ
tiểu nhân lén lút trộm cắp hoa lợi. Để
xảy ra mất mát, phạt tiền năm đồng.
Không được rủ rê người quen biết,
hoặc kẻ nhàn tản đến trú
ngụ, bày tiệc trà. Kẻ sử dụng lẫn lộn
vật của thường trụ th́ phạt gấp
bội. Kẻ vi phạm bị trục xuất khỏi
viện. Phỏng theo lệ của hạ viện, cứ
mỗi năm vào dịp cuối tháng Chạp mỗi năm
sẽ tiến hành bàn giao, nghe theo đại chúng quyết
định thay đổi hay giữ lại [người
đương nhiệm].
* Khóa tụng sáng tối
chẳng được lỡ thời hay lười nhác;
đối với kẻ vi phạm, theo lệ phạt
mười đồng.
16.2. Vân Thê Cộng Trụ Quy Ước Hạ
Tập
16.2.1. Quy
củ đối với người làm Trực Viện
* Căn dặn: Hăy thỉnh
người giải lẫn hạnh trọn đủ làm
chủ tùng lâm. Nếu không có người như thế,
tạm thời nương dựa theo thứ tự
giới lạp để làm Trực Viện tạm
thời. Người năng lực yếu th́ hai
người cùng làm. Người hoàn toàn không có năng
lực [đảm nhiệm] th́ nộp một lạng
bạc để xin miễn. Người có năng lực nhưng
xin miễn th́ nộp bốn lạng tám tiền[11]
để được miễn. Người từ
bảy mươi tuổi trở lên được
miễn ngay chuyện Trực Viện. Người chưa
đủ tuổi (mà xin miễn), mỗi tháng nộp
bốn tiền. Tuy theo thứ tự giới lạp,
đáng lẽ đến lượt, nhưng người
đó hành vi trọn chẳng đoan chánh, bị đại
chúng ghét bỏ, th́ loại ra chẳng dùng. Người không
chịu vâng theo lời răn dạy, lập lời thệ
nguyện th́ theo lệ nạp bốn lạng tám tiền
để được miễn.
* Vị Trực Viện
về sau làm chuyện trái đạo lư, [những
người khác] can gián, khuyên lơn chẳng nghe theo, th́
đại chúng họp lại, bàn định cách chức, thay
đổi người khác.
* Làm một quyển sổ,
phía trước viết lời răn dạy, phía sau
viết tên người [làm Trực Viện] theo từng
năm. Người làm không đủ năm th́ không ghi.
Người bị bệnh chẳng thể làm trọn
nhiệm kỳ cũng không ghi (lời văn răn dạy
ghi trong Biệt Tập).
* Mọi chuyện trong
chúng đều phải tŕnh lên vị Trực Viện. Chẳng
bạch mà tự ư làm, chuyện nhỏ phạt ba
mươi đồng, chuyện lớn phạt một
trăm đồng. Làm lỡ chuyện, phạt xong,
trục xuất khỏi viện. Nhưng vị Trực
Viện cũng không được v́ thế mà tùy ư chuyên
quyền, chẳng bàn bạc với các vị trưởng
lăo và các vị chấp sự. [Trực Viện] phạm lỗi
nhẹ th́ bị phạt, làm hỏng việc lớn th́
phạt xong băi chức, thay người.
* Từ các liêu pḥng thuộc
bổn sơn cho đến Thập Phương
Đường, vị Trực Viện đều nên
đi tuần tra xem xét. Đối với hạ viện,
cũng phải nửa tháng một lần kiểm tra, xem
xét. Nếu chính ḿnh bận việc, có thể sai
người đi thay. Nếu chỉ ngồi yên, chẳng
quan tâm những chuyện trên đây, nhẹ th́ bị phạt,
làm hỏng việc th́ phạt xong băi chức, thay
người.
* [Trực Viện] khó
thể một ḿnh thành tựu mọi việc, công lao do
nhiều người giúp sức, v́ một người
thấy nghe hữu hạn. Nay đem đại chúng cả
núi, lần lượt luân phiên theo từng ngày, mỗi
người bày tỏ những điều ḿnh muốn nói,
gọi là Tăng Trực. Lại nữa, hễ gặp
việc lớn liên quan tới tùng lâm, chẳng thể
trễ năi, lầm lỡ, th́ bất luận tăng hay
tục, già hay trẻ, hết thảy mọi người
đều phải nói ngay, chẳng giấu diếm,
chẳng cần đợi đến phiên đúng ban Tăng
Trực của ḿnh mới nói. Nếu vị Trực
Viện chẳng tiếp nhận lời tốt lành,
việc đáng làm mà chẳng làm, mỗi việc phạt hai
mươi đồng, việc lớn phạt gấp
đôi. Làm hỏng việc th́ phạt xong, trục xuất
khỏi viện.
* Mỗi nửa tháng kiểm
tra vị Thượng Tọa các pḥng. Người làm
đúng pháp th́ đăi trà khen ngợi, người
lười nhác chẳng đúng pháp th́ xử phạt.
Chẳng kiểm tra, phạt ba mươi đồng.
* Mỗi sáng kiểm tra
người trực đêm siêng năng hay lười nhác.
Không kiểm tra, [Trực Viện] bị phạt giống
như trên. Để xảy ra chuyện, phạt gấp
đôi.
*
Kỳ hạn của Trực Viện bắt đầu
từ mùng Một tháng Giêng cho đến ngày Rằm tháng
Chạp là tṛn nhiệm kỳ. Ngày Mười Sáu tháng
Chạp, người cũ và người mới cùng
phối hợp, bàn bạc với các chấp sự trong
ngoài về các sự vụ chánh yếu trong tùng lâm.
Đến đêm Giao Thừa, ban quản lư mới bắt
đầu hoạt động, ban quản sự cũ
nghỉ hưu.
16.2.2. Ngạch
định nhân số
*
Số lượng người trong và ngoài đường
đều được ấn định rơ ràng như
dưới đây, có khuyết thiếu mới
được bổ sung. Nếu hư vọng tự
tăng thêm một người, phạt năm lạng
bạc.
* Đại đường
gồm bốn mươi tám đơn. Lăo đường
mười đơn. Ngoài đường: Trực
Viện (một người), Khố Đầu (bốn
người), Tri Khách[12]
(hai người), Thư Kư (một người), Điển
Tọa (bốn người), Phạn Đầu (hai
người), Trà Đầu[13]
(ba người), Oản Đầu[14]
(hai người), Ma Đầu[15]
(hai người), Hỏa Đầu[16]
(năm người), Tịnh Đầu[17]
(hai người), Hương Đăng (hai người), Thị
Giả (bốn người), Sài Đầu[18]
(chín người), Viên Đầu[19]
(sáu người), Đảm Lực[20]
(hai người), Hóa Phạn[21]
(hai người), Phô Đường[22]
(mười tám người), Tư Sơn[23]
(hai người), Tư Ốc[24]
(một người), Ấn Pḥng[25]
(một người), Sơn Môn[26]
(một người), Sanh Sở[27]
(tám người), Trọng Dụng[28]
(mười người), Khinh Dụng[29]
(ba mươi người), Bệnh
Đường (một người), Khán
Lăo[30]
(một người), Hạ Viện
(tám người), Tạp Thâu[31]
(một người).
* Ngoài số người
khinh dụng đă định sẵn, những
người khác đều vào tiểu đường tham
dự khóa tụng sáng tối và khóa chỉ tĩnh ban ngày,
hoàn toàn tuân theo sự hành tŕ trong đại
đường. Chỉ có buổi tối nghe dạy
học kinh xong, ra ngoài đường làm việc xong, trở
về đường nhập quán.
* Chức Sài Đầu vào
tháng Tám và tháng Chín thỉnh những người phát tâm
đến giúp. Xong việc, ai nấy trở về
chức vụ cũ của ḿnh. Nếu do đó mà tự ư
thêm người vào, [Sài Đầu bị] phạt tiền
một ngàn đồng. Các chức vụ như Tri Khách,
Ngọa Cụ... lúc bận rộn mời người giúp,
cũng giống như vậy.
16.2.3. Tiết
giảm chi tiêu
*
Núi (ư nói toàn bộ đất đai thuộc chùa Vân Thê) không
được tậu măi thêm. [Chấp sự nào
tự ư] mua thêm một mẫu đất, [người
đó bị] phạt ba lạng bạc.
* Chẳng được xây
cất thêm nhà cửa. Nếu xét theo t́nh lư, thật sự
đáng nên xây dựng, đại chúng bàn bạc quyết
định rồi mới được làm. Nếu
vẫn như trước kia, [người nào] hư
vọng tự khởi công kiến tạo, cứ mỗi
gian nhà, [người ấy bị] phạt năm lạng
bạc.
* Lầu phía trên bếp
phải khóa chặt, bất đắc dĩ mới
bạch chúng bàn bạc. Tự tiện mở, phạt
năm trăm đồng.
* Vật phẩm dùng cho
tiệc trà th́ dùng ngay sản vật trong núi, như gạo
rang, đậu mặn, bạch quả, trái dương mai
(dâu rượu), các thứ đồ chiên. Thỉnh
thoảng mua ngoài chợ th́ chỉ được mua các
loại bánh táo, bánh hạt dẻ mà thôi. Cố t́nh sắm
sửa những món đắt tiền, tinh tế,
phạt tiền ba trăm đồng. Các vật phẩm
lấy ba hay bốn món làm lệ thường, năm món là
tối đa. Hễ vượt quá năm món, cứ
mỗi món [thừa ra], phạt ba mươi đồng! Trà
dùng cho tăng chúng thuộc bổn sơn th́ phải chia
về các đơn. Kẻ bày bàn la liệt, cứ mỗi
bàn, phạt năm mươi đồng. Nếu thí
chủ đặc biệt sắp bày th́ chẳng luận.
Hơn nữa, kẻ ở trên đơn, bày trà nói
chuyện tạp nhạp, phạt ba mươi đồng.
Nếu phân tán về các đơn mà chẳng tụ tập
bàn tán th́ chẳng luận.
* Bày cỗ chay dùng bốn
loại quả, bốn món ăn làm lệ thường.
Năm loại quả, năm món ăn là tối đa. Vượt
quá năm món, mỗi một món [thừa ra], phạt ba
mươi đồng.
* Món ăn thường ngày
th́ hai ngày ăn rau, một ngày ăn đậu phụ. Có
cỗ chay th́ chẳng luận. Phàm các loại rau
tươi, rau khô, dưa khô, cà khô, dương đậu
(đậu bắp) khô, đao
đậu[32] khô,
củ cải khô đều có thể mua. Cho đến khi
đăi cỗ chay, cũng chỉ dùng các loại
thường như đậu phụ v.v…, chẳng cần
phải t́m mua những thứ đắt đỏ như
nấm hương, nấm mỡ. Ai cố ư làm cỗ
thịnh soạn, phạt năm mươi đồng.
Tự ư hái nấm dại ăn, phạt mua ba trăm cân rau
nộp vào chùa.
* Khinh rẻ gạo vàng,
nhất định mua gạo trắng, cứ mỗi
thạch gạo mua vào, phạt ba trăm đồng
để góp tiền mua gạo vàng.
* Sử dụng dầu,
tương v.v… quá mức, sẽ tính theo giá trị phạt
đền, cứ một đồng đền gấp
đôi!
* Thức ăn có thể
ăn sống, nhưng lại cố t́nh tốn củi
nước để sắc, nấu; tính theo giá trị,
phạt tiền gấp năm, như luộc hạt
dẻ, luộc táo chẳng hạn!
*
Không được trái nghịch giờ dùng cơm cháo
của đại chúng, người bảy mươi
tuổi trở lên, chẳng luận! Người bệnh chẳng
luận, những kẻ khác bị phạt mười đồng.
*
Cố t́nh không ăn xác đậu[33]
mà cho súc vật ăn, hoặc bán cho nhà nuôi lợn, phạt
nộp đậu đền gấp năm. Nếu là
thức ăn của tăng chúng c̣n thừa, sợ bị
hư nát, đem dùng cho chỗ phóng sanh [để nuôi
những con vật ở đó] th́ chẳng luận.
*
Từ nơi trà pḥng, lấy nước nóng rửa mặt
không chừng hạn, hoặc sau khi đă nghe hai tiếng
bản, vẫn dùng ấm lấy trà mang về đơn
uống, thảy đều phạt mười đồng.
Trà Đầu không cử tội, cũng chịu phạt. Người
tự thân đến pḥng trà đứng uống th́ chẳng
luận, người già bảy mươi tuổi và
người bệnh chẳng luận, pḥng in chẳng luận.
*
Ban đêm không được nấu nướng. Tháng
cực rét, chỉ có thể nấu nước gừng hay táo
mà thôi. Ai đun nấu, bị phạt ba mươi đồng.
*
Thiện nhân đến chùa đăi cỗ chay, cúng Phật
xong, liền dẫn người ấy đến Thiền
đường, đối trước Phật,
lễ một lễ. Kế đó, đối với hai
hàng đơn, hoặc lễ một lạy, hoặc xá.
Kế đó, dẫn đến trước tượng Vi
Đà trong trai đường lễ một lạy, xá các
đơn hai bên. Nếu có người hứa nguyện
cúng trai tăng bao nhiêu vị, phải v́ họ ghi chép
tổng số rơ ràng, ngày hoàn măn làm lễ hồi
hướng.
*
Chớ nên thắp quá nhiều nến; tháng mùa Hạ càng
không nên. Đèn dầu có tim bằng cỏ thô, chỉ
thắp một sợi. Tim bằng cỏ mịn mới
được dùng đôi. Lại chớ nên mua các loại gỗ
cao giá làm hương, khiến khói hun hư hoại kim
tượng, đâm ra trở thành phạm
lỗi.
*
Chẳng đúng hạn định mà giặt giũ,
phạt tiền mười đồng. Người làm
việc nặng chẳng luận.
*
Mặc quần áo đẹp đẽ quá mức,
phạt một trăm đồng. Vạt xiêm quá dài th́
cắt bớt làm đai áo, thí cho mười phương.
*
Kẻ nào dùng chậu đồng để rửa mặt
th́ đoạt lấy đem bố thí. Hết thảy các
dụng cụ quá mức tinh xảo đều tịch thu đem
bố thí.
*
Bài minh nơi nhà tắm có câu: “Một
tháng tắm tám lần, tùng lâm hiếm nghe thấy”. Thế
mà hiện thời có người tắm hằng ngày,
dẫu là làm việc nặng, sợ cũng quá phận! Nay đành
thuận theo đó, nhưng bắt buộc đến
Khố Pḥng xin thẻ. Không có thẻ, chẳng
được vào nhà tắm. Cố ư tắm, phạt tiền
mười đồng. Dục Đầu (người
quản lư nhà tắm) dung túng, chẳng cử tội
[kẻ đó], sẽ cùng chịu phạt. Ngoài ra, chẳng
phải là người làm việc nặng, [kẻ nào] cố
ư muốn tắm, phải mua thẻ, Khố Pḥng sẽ xét
xem có được hay không. Nếu chẳng xét duyệt,
cứ cấp thẻ bừa băi, cứ mỗi thẻ
sẽ phạt mười đồng. Khi dùng thẻ th́ chẳng
dùng tiền. Nếu Dục Đầu tự thâu tiền,
sẽ bị phạt năm đồng. Từ ngày Hạ Chí
cho tới ngày Thu Phân th́ đại chúng mới
được tắm phổ biến, không dùng thẻ.
16.2.4. Ra ngoài
theo lời mời dự pháp hội
* Núi
này chuyên tu Tịnh nghiệp, tọa Thiền lâu dài;
nhưng pháp quyến ra ngoài giảng giải th́ nhiều,
người tu Thiền ít ỏi, sao có thể gọi là “chuyên
tu” cho được? Từ nay về sau, những ai
đang ở tại bổn sơn mà tự nguyện làm giảng
sư, cần phải hết sức thông hiểu giáo lư,
học vấn bao quát rộng răi, có đủ khả
năng hoằng pháp. Hơn nữa, ở bổn sơn,
trước hết phải giảng giải minh bạch
giới luật cho người mới học. Kế
đó là kinh luận Tịnh Độ, hoặc sau đó
nữa là các kinh luận thiết yếu. Nếu các nơi
có đến thỉnh, phải xem xét vị đứng
đầu hội ấy có thật sự v́ hoằng pháp
lợi sanh hay không? Nếu không, chẳng nhận lời
mời.
* Tuy là pháp quyến vốn
trụ ở bên ngoài, nhưng khi nhận lời tham dự
pháp hội, phải trở về bổn sơn thưa rơ, [những
vị chấp sự của bổn sơn] cần phải
xem xét giáo lư và học vấn của người [được
thỉnh] đó đă hoàn bị hay chưa? Nếu chưa
được như thế, phải nên khuyên thôi đi. Lại
nữa, [người được thỉnh] tuổi tác
chưa đến độ lăo thành mà đă làm giảng
sư, cũng nên khuyên thôi đi. Người tuổi
chưa lăo thành mà làm pháp sư chủ tŕ đàn thí thực,
cũng nên khuyên thôi đi!
Những
điều trên đây là phương tiện quyền
biến để ứng phó trong thời Mạt Pháp,
cần phải biết tu Thiền là chánh yếu.
16.2.5. Khách
tăng từ phương xa đến
*
Khách tăng đến tạm trú trong ṿng
ba, sáu, hoặc chín ngày, vị Tri Khách và ngoại thư kư
phải đến hỏi han. Nếu họ xin ở
lại, hăy nên xem xét. Nếu là kẻ chẳng thể cho
ở lại được, lập tức khéo léo từ
khước ngay, chẳng cần phải đợi
đến khi khuyết đơn (tức là trong
đường nào hoặc liêu pḥng nào có chỗ trống).
Người có thể lưu lại, ghi tên vào sổ sách,
xin họ tạm trở về. Tới ngày tụng giới
th́ đến, xem có khuyết đơn hay không. Nếu
chỗ khuyết th́ ít mà người muốn trụ
lại th́ đông, hăy dùng cách rút thăm để
định đoạt. Nếu là người tới tùy
hỷ (thăm viếng), chứ không phải cầu xin
ở lại th́ chẳng luận. Đối với
thời hạn ba, sáu, chín ngày như trên mà [chức sự]
không theo đúng kỳ hạn để hỏi han,
để họ cứ bấu víu, ương ngạnh
ở lại, th́ [mỗi vị chấp sự] bị phạt
năm trăm đồng và băi chức, thay
đổi [người quản sự].
*
Chỉ tĩnh buổi tối, đánh hai tiếng bản, người
tuần chiếu phải mời họ (khách tăng) vào
điện đường.
*
Người mới tạm đến, dù Tăng hay
tục, nếu chưa từng quen biết, bất luận
địa vị cao hay thấp, [người quản
sự] đều phải thành tâm đến thưa
hỏi tên họ và danh hiệu, trước kia thuộc
chùa nào, nhà ở nơi đâu, có từng gặp gỡ
bổn sư [của người ấy] hay chưa?
Chẳng thể [tiếp đăi] lười nhác, khinh mạn
được! Nếu gặp phải phường vô
lại, hăy nên ngoài th́ kính trọng, trong
th́ pḥng ngừa, chẳng thể nhất loạt dễ dăi
tin tưởng để đến nỗi xảy ra
chuyện không hay!
16.2.6. Pháp
quyến cư trụ bên ngoài
* Pháp
quyến trụ ngoài núi mà không tuân thủ tăng
ước về chuyện quyên mộ, hóa duyên phi lư,
ngược lại c̣n vào núi để quyên góp th́ không
chấp thuận.
*
Nhờ cậy xin đàn việt bố thí, chẳng
chấp thuận! Nhờ cậy xin tể quan cho gởi
thư từ, trước tác, thơ văn, cáo thị,
đề biển ngạch v.v… th́ đều chẳng chấp
thuận.
*
Ở ngoài núi mà chẳng chú trọng tu hành, lại làm các
trai hội theo pháp thế gian, [tăng chúng trong bổn
sơn] chẳng đến dự. [Nếu kẻ ấy]
làm các việc như khởi công xây cất, đắp
tượng v.v… theo pháp thế gian th́ [tăng chúng trong
bổn sơn] chẳng giúp đỡ.
*
Ở bên ngoài nhiều năm mà chẳng bước chân vào
núi, [trong các dịp] đáng nên đến dự, hoặc tụng
giới chẳng đến, [bổn sơn] chẳng công
nhận là pháp quyến nữa (Tụng giới th́ nửa
tháng đến một lần, hoặc mỗi tháng một
lần. Người ở xa th́ ba tháng, hoặc nửa
năm, hay một năm về một lần. Kẻ
chưa từng về bao giờ th́ chẳng giống
như pháp quyến, cho nên chẳng công nhận).
*
Kẻ ở bên ngoài phạm lỗi đáng phải quở
trách, tra hỏi, [bổn sơn sẽ sai người]
đến chỗ kẻ đó mềm mỏng khuyên răn,
uốn nắn. Nếu chẳng nghe theo, sẽ nhóm chúng
cắt đứt quan hệ (quở trách, tra vấn
phải có hai người cùng đi).
*
Người đến tụng giới, xướng danh
cùng một thể lệ với người trong núi.
*
Giờ chỉ tĩnh buổi tối, [pháp quyến từ
bên ngoài đến] đều vào trong đường theo
đại chúng [hành tŕ], người trực đêm [có trách
nhiệm] thúc giục, mời mọc.
*
Tuy trụ ngoài núi, nhưng đích xác tuân thủ quy
ước của bổn sơn, và siêng ṛng tu tập
đạo nghiệp, [bổn sơn] hăy nên cử
người đến thăm hỏi, an ủi. Nếu như
họ nghèo túng, phải nên giúp đỡ. Nếu [kẻ
đó] tuổi tác chưa già dặn, chưa thông đạt
lư mà đă liền bế quan, hăy đến thưa hỏi,
khuyên người ấy ngưng lại.
16.2.7. Vân
thủy tăng mười phương
*
Trong Thập Phương Đường, thờ thánh
tượng, đặt đèn lưu ly, hương,
nến, mơ, khánh, kê đơn theo vị trí nhất
định, đừng hỗn loạn. Buổi tối,
khi nghe hiệu lệnh khai tĩnh trong đại
đường, luân phiên cử mấy người ra lănh
chúng tụng niệm công khóa. Khóa tụng xong, [khách tăng] đều
trở về đơn của ḿnh chỉ tĩnh, mỗi
mỗi đều tuân theo quy cách trong Thiền
đường. Cho đến khi hết hương
(hết thời gian chỉ tĩnh), ai nấy ở nơi
đường của ḿnh nhập quán. Xong việc, khóa
cửa lại (bài văn nhập quán được
viết chữ lớn, dán trước đường).
*
[Khách tăng] đến chùa vào lúc gần giờ Ngọ,
đợi tới giờ Ngọ trai, th́ theo đại
chúng dùng cơm. Đến chùa gần tối th́ chờ
tới giờ ăn tối, theo đại chúng [dùng
cơm]. Nếu [đại chúng] vừa dùng cơm xong mà có
người đến th́ [trù pḥng] nấu cơm thêm cho
họ. Tới muộn th́ cho ở lại một đêm,
sáng hôm sau lên đường. Trời mưa th́ đợi
mưa tạnh, có bệnh th́ đợi lành bệnh mới
đi (tiêu chuẩn “lành bệnh” là tự dùng cơm
được).
*
Người có bệnh được cáng
tới nơi, phải xét hỏi lai lịch minh bạch
rồi mới tiếp nhận, lập tức viết
bảng ghi chép tài sản, lại làm một quyển sổ
riêng để ghi chép.
*
Nếu người thuộc mười phương
chăm sóc bệnh nhân, chớ nên để [người
ấy chăm sóc bệnh nhân] lâu dài, hăy tính thù lao theo ngày
rồi tiễn đi. Nếu là người của bổn
sơn chăm sóc [bệnh nhân] th́ ghi nhận điều
thiện theo đúng cách thức. Các thứ như thuốc
men v.v… được cấp phát [cho khách bị bệnh] theo
lệ giống như bổn sơn. Nếu ai keo kiệt
không cho, sẽ bị phạt giống như trong phần
trên.
*
Trong chúng có kẻ chẳng giữ Thanh Quy, người
quản trị sơn môn khéo léo khuyến hóa. Kẻ đó
không nghe th́ bạch chúng tra xét rơ ràng, bắt quỳ
hương, đánh trống trục xuất. Nếu [người
quản sự] chẳng bạch chúng mà đă vội vàng la
mắng, chửi bới bừa băi, sẽ bị phạt
một trăm đồng. Đánh đập bừa băi,
phạt năm trăm đồng.
*
[Người thuộc bổn sơn] giao dịch với
mười phương, hoặc đôi bên tặng quà cho
nhau, phạt tiền ba trăm đồng.
*
Khi khách chia tay rời đi, hăy xét xem trong số đó có
người đơn độc, già yếu đáng
ngại th́ phương tiện hộ tống.
*
Đối với người sáng đi, chiều
đến, đối đăi b́nh thường. Có
người từ phương xa lần đầu
đến bổn sơn, trai đường chuẩn
bị trà nước, bánh, quả
tiếp đăi rồi đưa về đơn, chẳng
được khinh suất.
*
Nhà vệ sinh ở phía Đông bên ngoài cũng cần
phải thắp đèn đuốc, đặt sẵn
mấy đôi giày cỏ bồ
lớn. Sau khi đại chúng giải tán, người trông
sơn môn quét dọn sạch sẽ.
*
Tường vây [quanh chùa] chỗ nào thấp, hoặc
những chỗ không cẩn mật, phải kịp
thời sửa sang. Nếu tŕ hoăn để xảy ra
chuyện, người quản lư sơn môn và Khố
Đầu cùng bị phạt một trăm đồng.
16.2.8. Các quy
định khác về mọi việc
*
Đối với chuyện gánh vác, vận chuyển
gạo, củi, tre, gỗ v.v… lập một người
lănh chúng để ghi chép lỗi: Khi đi th́ [nối
đuôi nhau] như xâu chuỗi, khi về th́ như tản
bộ. Người lănh chúng chẳng biết quản chúng,
phạt hai mươi đồng.
*
Khi đánh bang th́ toàn thể đại chúng đều cùng
đi. Kẻ chẳng đi phải nộp tiền,
lập một người để ghi tên. Kẻ đánh
bang loạn xạ, phạt năm mươi đồng.
*
Nhất loạt từ khước các đạo tràng kinh
sám. Nếu gặp lập đàn Thủy Lục th́ có
thể đến tham dự. Bất đắc dĩ
lắm th́ có thể niệm Phật để thay cho kinh
sám.
*
Hễ gặp hết thảy mọi chỗ có kẻ
chuyện gẫu, bông phèng, các vị Trực Viện, Khố
Đầu, Tăng Trực, Tri Khách đều có thể gơ
bản ba tiếng [để nhắc nhở]. Ba
lượt gơ bản mà họ không
ngưng, chẳng tản đi, liền đưa [những
kẻ đó] vào đường cử phạt. Không
đưa, [những vị chấp sự] sẽ cùng
bị phạt.
* Đôi bên chửi nhau,
trước hết phạt mỗi người bốn mươi
đồng; sau đó mới phân định sai đúng.
Đánh nhau th́ trước tiên phạt mỗi người một
trăm đồng, sau đó mới phân định lẽ đúng
sai. Kẻ bị mắng, bị đánh mà biết nhẫn
nhục chịu đựng, không đánh mắng trả
lại th́ được ghi nhận điều thiện
theo quy định.
* Giờ ăn, Hương
Đăng đọc bài minh Thực Tồn Ngũ Quán (quán
năm điều khi ăn). Kẻ nào nói
chuyện xen tạp ồn ào, người phô
đường (người dọn bày thức ăn
trong trai đường) sẽ đoạt bát đũa
[của kẻ đó]. Nếu người phô
đường không tịch thu, [chính người phô
đường sẽ] bị phạt hai mươi đồng.
Người quản sự không kiểm tra, cùng chịu
phạt (cả hai nơi đại đường và trai
đường đều áp dụng như vậy).
* Trong nhà tắm, kẻ nói
chuyện tạp nhạp, ồn ào, bị
phạt mười đồng. Mộc Đầu (người
trông coi nhà tắm) chẳng cử tội, bị phạt
hai mươi đồng.
* Kẻ tự đến bên
nồi lấy thức ăn hay lấy cơm, bị
phạt mười đồng. Các vị Phạn
Đầu v.v… chẳng cử tội [kẻ đó], cùng
chịu phạt.
*
Chẳng phải là bệnh nhân, cũng chẳng phải là
người già bảy mươi tuổi, [tự ư] đem
cơm cháo vào pḥng ăn, chẳng theo đại chúng, bị
phạt ba mươi đồng.
*
Vị Điển Tọa [khi nấu ăn] chẳng
nếm mùi vị trước, phạt mười đồng.
*
Các vị như Điển Tọa v.v… tự ư vào khố
pḥng lấy vật dụng mà không hỏi [xin phép Khố
Đầu], phạt mười đồng. Khố
Đầu không cử tội, cùng chịu phạt.
Người không có phận sự mà vào khố pḥng, mức
phạt cũng như trên.
*
Khố Đầu và Đương Gia đôi bên chẳng
thông báo cho nhau biết [những chuyện cần xử trí],
phạt mỗi người một trăm đồng.
*
[Người quản trị] khố pḥng không thông tri
đại chúng, tự ḿnh lập sổ sách, phạt hai trăm
đồng.
*
Pḥng tạm cho khách mới đến chỉ
được xếp cho tăng chúng, hành giả, thiện
hữu. Xếp loạn cho người khiêng kiệu, công
nhân v.v… ở, [chấp sự bị] phạt một
trăm đồng.
*
Bảng phân công phải theo thứ tự mà sai phái, ghi danh
phân công phân minh. Nếu thiên vị, bất công, mỗi
chuyện phạt bốn mươi đồng!
*
Vị Tăng Trực xử sự hợp t́nh, hợp lư,
nhưng người quản sự chẳng thi hành, cứ mỗi
chuyện [quản sự bị] phạt hai mươi đồng,
để xảy ra chuyện th́ phạt nặng.
*
Khi người bán hàng đến, hoặc người
cửa công (quan sai, nha dịch) t́m đến, chẳng
phải là chấp sự mà lại xúm nhau ḍm ngó, hoặc
thốt lời bừa băi, hoặc tranh giành mua vật
dụng, đều phạt một trăm đồng.
*
Tháng mùa Đông vây quanh ḷ, phải theo ban mà tiến, lui.
Nếu chen lấn hỗn loạn, phạt mười đồng.
*
Chẳng hỏi mà tự lấy vật thường
trụ, nếu dùng vào việc công, phạt mười đồng.
Nếu lấy làm của riêng, phạt gấp mười
giá trị.
*
Làm hư hoại vật của thường trụ,
phạt đền gấp đôi giá trị. Do tâm sân
hận mà phá hư, đền gấp mười. Vị
Oản Đầu rửa bát làm sứt vỡ, nếu do
cẩu thả, chẳng cẩn thận, cứ mỗi món
phạt đền một món. Nếu vật dụng
vốn đă hư tổn, nay mới vỡ vụn th́
miễn phạt đền.
*
Chặt phá bừa băi tre, gỗ của chùa, phạt
đền gấp năm. Phá hoại phong thủy [của
bổn sơn], phạt gấp trăm lần [giá trị]
và tẫn xuất. Đào bới đất núi bừa băi,
phạt năm trăm đồng. [Đào bới khiến]
phong thủy bị phá hoại, phạt mười ngàn đồng
và tẫn xuất.
*
Cho vay tiền lấy lời, cứ mỗi lạng,
phạt bốn trăm đồng. Dù là giúp đỡ
người khác trong lúc cấp bách, chẳng ăn lời,
cũng cần phải thưa với thường trụ
có được phép hay không? Chẳng thưa tŕnh, sẽ
phạt giống vậy!
*
Người đă có pháp danh cũ xin cầu đổi [pháp
danh mới], bắt buộc phải là: Bổn sư đă
qua đời, hoặc bổn sư là tà ma ngoại
đạo, hoặc bổn sư ở xa ngoài ba ngàn
dặm, hoặc vâng lệnh bổn sư đến xin
đổi th́ mới chấp thuận. Nếu vị Tri
Khách hồ đồ ghi tên tiếp nhận, sẽ bị
phạt năm mươi đồng. Để xảy ra chuyện,
phạt năm trăm đồng. Bất đắc
dĩ, chỉ nên đặt pháp tự cho kẻ đó mà
thôi!
*
Người tại gia đơn thân đến cầu pháp
danh, nếu không có người quen thuộc [bảo lănh] th́
cũng không chấp thuận.
*
Tại nơi phóng sanh, cảnh sách mỗi nửa tháng.
Nếu bỏ lỡ, phạt ba mươi đồng.
*
Người chăm sóc các con vật [tại chỗ phóng
sanh] đánh đập các con vật đến nỗi chúng
bị thương tổn, phạt năm trăm đồng.
Đến nỗi chết th́ phạt xong, sẽ tẫn
xuất. Chẳng tăng cường thủ hộ
đến nỗi chúng bị ác thú gây tổn hại,
hoặc bị kẻ ác trộm đi, phạt ba trăm đồng.
Thả rông súc vật gây tổn hại hoa lợi của
người khác, tính toán để đền bồi
gấp đôi.
* Thợ
nề, thợ da, thợ sắt v.v… ở lại lâu trong
núi đến bốn năm ngày, người quản
sự tính công, phạt tiền, cho tới ngày thứ
mười, phạt tiền công gấp ba.
*
Các khoản tiền nộp để miễn chấp tác và
tiền phạt, chẳng được để khố
pḥng tiêu dùng bừa băi như trước. Số tiền
đó do Duyệt Chúng giữ ch́a khóa. Khi Khố Pḥng thâu
nhận hộp [đựng tiền], Khố Đầu
liền sai thư kư ghi vào sổ, Trực Viện trực
tiếp chứng kiến, dành để chi dụng làm
phước. Dùng bừa băi, sẽ phạt đền
gấp mười.
*
Đại chúng nhóm họp mà chẳng đến, phạt
mười đồng. Nhóm họp toàn chùa mà không
đến, phạt ba mươi đồng.
*
Người trực đêm mỗi đêm xem xét các
đơn, [gặp việc] đáng báo lên mà chẳng báo,
phạt mười đồng. Trực đêm th́
người già được miễn, trẻ nhỏ
cũng miễn (già là bảy mươi [trở lên],
trẻ nhỏ là mười sáu tuổi [trở xuống]).
*
Khi dán bảng phân chia đơn, Trực Viện, Duyệt
Chúng, và nội thư kư cùng nhau thực hiện,
không được chuyên quyền. Hễ riêng
chuyên quyền, phạt năm mươi đồng.
*
Rau trồng trong vườn, những loài nào sanh nhiều
sâu bọ tổn hại mạng sống của các con
vật th́ đều nên ít trồng. Có thể trồng
nhiều các loại dưa, cà, đao đậu,
dương đậu, đậu đũa, mè v.v…
*
Ban đêm tự ư vào núi, phạt năm mươi đồng.
*
Cuối năm thực hiện niên khảo (quy cách ghi chi
tiết trong Biệt Tập).
16.3. Vân Thê
Cộng Trụ Quy Ước Biệt Tập
16.3.1. Tăng
ước (quy ước
dành cho tăng chúng)
Xả
tục vào núi, chỉ để cầu chuyện ǵ? Xa ĺa ồn
náo trong cơi trần, chuyên v́ tu hành. Nếu chẳng phải
vậy, đến đây có ích ǵ? Nay ước hẹn cùng
đại chúng, có thể thấu hiểu, cảm thông cho
nhau th́ mới có thể cùng ở. Nếu chẳng chịu tuân
hành, đừng mất công cộng trụ.
1) Quy
ước thứ nhất: Tôn sùng giới đức
Kẻ
phá căn bản đại giới, trục xuất
khỏi viện. Khi tụng giới, chẳng có nguyên do mà
không theo đại chúng [tụng giới],
trục xuất khỏi viện. Chẳng hiếu thảo
cha mẹ, trục xuất khỏi viện. Khinh miệt,
lấn hiếp sư trưởng, trục xuất
khỏi viện. Cố t́nh vi phạm lệnh cấm
của triều đ́nh và quan phủ, trục xuất
khỏi viện. Quen thói gần gũi nữ nhân, trục
xuất khỏi viện. Thọ giới đă qua một
năm mà chẳng hiểu giới tướng, trục
xuất khỏi viện. Thân cận tà sư, trục
xuất khỏi viện.
2) Quy
ước thứ hai: An bần lạc đạo
Kẻ
chẳng cam ḷng ăn uống đạm bạc, trục
xuất khỏi viện. Kẻ mặc y phục lộng
lẫy, trục xuất khỏi viện. Ôm đồm
chuyện kinh sám, trục xuất khỏi viện. Tranh giành
tiền cúng dường, trục xuất khỏi viện.
Kẻ lo làm ruộng, nuôi tằm, chăn nuôi, trục
xuất khỏi viện. Kẻ tụ tập nam nữ làm
trai hội theo pháp thế gian, trục xuất khỏi
viện.
3) Quy
ước thứ ba: Giảm duyên, chú trọng việc
căn bản
Không
có duyên cớ mà thường la cà nhân gian, nhiều
lượt đến nhà thế tục, trục xuất
khỏi viện. Học tập các thứ tạp nghệ
như ứng phó khoa nghi, từ chương, đàn sáo,
trục xuất khỏi viện. Học tập các việc
ngoại đạo như thiên văn, địa lư, bùa
phép, luyện đan v.v…, trục xuất khỏi viện. Tu
học theo các tà đạo như nín thở, tĩnh
tọa luyện công, ngũ bộ lục sách [của La
giáo] v.v…, trục xuất khỏi viện. Kẻ thích
khởi sự các việc xây dựng vô ích, trục xuất
khỏi viện.
4) Quy
ước thứ tư: Vâng giữ lẽ công chánh
Kẻ
quyên góp, hóa duyên phi lư, trục xuất khỏi viện. Kẻ
xâm đoạt, bớt xén của tín thí, trục xuất
khỏi viện. Tự tiện sử dụng vật
của chiêu-đề (đồ đạc của
mười phương thường trụ), trục
xuất khỏi viện. Phá hư vật dụng không
bồi thường, trục xuất khỏi viện.
Ăn uống không b́nh đẳng như đại chúng,
trục xuất khỏi viện. Không thưa tŕnh
đại chúng mà tự ư di chuyển vật dụng vô
chủ của tăng, trục xuất khỏi viện.
Gặp tài lợi, phản bội đại chúng mưu
cầu tư lợi, gặp nạn bèn bỏ mặc đại
chúng để mong thoát thân, trục xuất khỏi
viện.
5) Quy
ước thứ năm: Nhu ḥa nhẫn nhục
Kẻ
ngoác miệng chửi nhau, đấm đá nhau, trục
xuất khỏi viện. Kẻ cậy oai quyền chèn ép,
lấn hiếp kẻ khác, trục xuất khỏi
viện. Vô lễ, khinh mạn bậc kỳ túc, trục
xuất khỏi viện.
6) Quy
ước thứ sáu: Oai nghi chỉnh tề, nghiêm túc
Kẻ
cười đùa không chừng mực, trục xuất
khỏi viện. Kẻ khinh nhờn kinh tượng,
trục xuất khỏi viện. Áo, mũ cố ư khác
biệt đại chúng, trục xuất khỏi viện.
Lớn tiếng tranh luận, ba lượt can gián mà không
ngừng, trục xuất khỏi viện.
7) Quy
ước thứ bảy: Siêng tu hạnh nghiệp
Vô
duyên cớ, nhiều lần chẳng lễ bái, tụng
niệm, trục xuất khỏi viện. Chấp sự
khinh mạn, chẳng làm chuyện thuộc phận sự,
trục xuất khỏi viện. Ghét bỏ người
cảnh sách khi hôn trầm, trục xuất khỏi
viện. Khảo hạch kinh điển đă lâu mà
chẳng thông suốt, trục xuất khỏi viện.
Kẻ chẳng tin tưởng pháp môn Tịnh Độ,
trục xuất khỏi viện.
8) Quy
ước thứ tám: Tâm thẳng thắn khi ở trong
chúng
Kẻ
chuyên đâm thọc khiến đôi bên đấu đá,
trục xuất khỏi viện. Kẻ kéo bè lập
đảng, trục xuất khỏi viện. Kẻ mưu mẹo xảo
trá, chẳng thành thật, trục xuất khỏi viện.
Kẻ phỉ báng, nói xấu Thanh Quy, vu khống hủy báng
tăng chúng thanh tịnh, trục xuất khỏi viện.
Do t́nh thức riêng tư mà kết bạn bất chánh,
trục xuất khỏi viện.
9) Quy
ước thứ chín: Giữ bổn phận, dè dặt
Kẻ
to gan sanh sự, trục xuất khỏi viện. Nói sai kinh
luận, trục xuất khỏi viện. Hư vọng
b́nh phẩm cơ duyên của cổ đức, trục
xuất khỏi viện. Người không hiểu biết
lại trước thuật khiến cho kẻ
khác lầm lạc, trục xuất khỏi viện. Chiêu dụ,
chứa chấp hàng phi nhân, trục xuất khỏi
viện. Tự lập đồ chúng, trục xuất
khỏi viện. Tự tiện lưu giữ sa-di nhỏ
tuổi, trục xuất khỏi viện. Chính ḿnh c̣n
chưa sáng tỏ đạo lư mà đă ham làm thầy
người khác, trục xuất khỏi viện. Dụ
dỗ đệ tử người khác phản bội
bổn sư của họ, trục xuất khỏi
viện. Không có duyên cớ lớn lao mà tự tiện vào
công môn, trục xuất khỏi viện. Hư vọng bàn
luận sự được mất, đúng sai trong nền
chánh trị đương thời, trục xuất
khỏi viện. Khinh suất chê bai, báng bổ tiên thánh, tiên
hiền, trục xuất khỏi viện. Đem sản
nghiệp của thường trụ cho người khác,
trục xuất khỏi viện. Kẻ chiếm
đoạt sản nghiệp của người khác,
trục xuất khỏi viện. Kẻ lập riêng bếp
nấu, trục xuất khỏi viện.
10)
Quy ước thứ mười: Tùy thuận quy chế
Sai
bảo mà không làm, ngăn cấm mà không thôi, trục
xuất khỏi viện. Có lỗi bị phạt mà
chẳng phục tùng, trục xuất khỏi viện.
Ở trong chùa mà chẳng ghi danh vào danh sách tăng chúng,
trục xuất khỏi viện. Ương bướng,
chẳng cho người quản sự thực hiện
chức trách, trục xuất khỏi viện. Người
quản sự thay đổi các quy cũ đă
định, trục xuất khỏi viện. Mọi
chuyện chẳng bạch cùng thầy, bạn, phóng túng làm
càn, trục xuất khỏi viện. Cố t́nh qua lại
với kẻ phạm lỗi đă bị tẫn xuất,
trục xuất khỏi viện!
16.3.2.
Mười chuyện tu thân
Chưa
bàn đến chuyện học Phật, trước tiên
phải học cách tu thân; nay đặt ra mười đầu
mối, đại chúng hăy nên lắng nghe.
- Một là “chẳng có tâm
lừa dối”, tức là trộm cắp vật của
thường trụ, gạt gẫm vật dụng của
thí chủ, đem tài vật dùng để trang hoàng
tượng Phật, in kinh, trai tăng, lập trai hội,
xây chùa, đúc chuông, sửa cầu, đắp
đường như thế dùng riêng cho
ḿnh tiêu xài, cho đến những việc dối
người lừa quan, dối trời, gạt thần,
những tṛ ám muội, đều gọi là “tâm lừa
dối”.
- Hai là “chẳng tham tài”,
tức là chẳng trộm cắp, lừa gạt như
trong phần trên đă nói, nhưng ưa tích cóp tiền tài,
vải vóc, keo kiệt, chẳng
bố thí, hoặc tậu sản nghiệp để thâu
lợi, cho vay nợ lấy lăi, đều gọi là “tham
tài”.
-
Ba là “chẳng có tâm gian trá”, tức là gặp chuyện
đáng nên nói bèn nín nhịn chẳng nói, thấy lỗi lầm
đáng phải khuyên can nhưng điềm nhiên nh́n,
chẳng khuyên răn, bề ngoài ra vẻ khờ khạo,
trong tâm ngầm chứa đựng sự châm biếm,
đều gọi là “gian trá”.
-
Bốn là “chẳng sử dụng mưu kế”, tức là
chẳng an phận theo mạng trời, một mực
vận dụng mưu mẹo, hoặc mưu tính chỗ
ở, hoặc mưu tính đồ chúng, hoặc mưu tính
làm kinh sám, hoặc mưu cầu đàn việt bố thí, hoặc
mưu cầu làm pháp chủ, hoặc mưu cầu làm
thầy truyền giới, cho đến kết giao với
bạn ác, ra vào chốn nha môn, đối xử trọng
hậu hay lạt lẽo theo t́nh thức, yêu ghét theo ḷng
riêng, lập mưu tính kế làm các chuyện trái lư
đều gọi là “sử dụng mưu kế”.
- Năm là “chẳng chuốc
họa”, tức là khinh người, cười cợt
người khác, quát mắng, báng bổ người khác, ganh
ghét tài năng của người ta, phô bày điều ác
của kẻ khác, chiếm đoạt sản nghiệp
của người khác, thích khơi mào kiện cáo,
chẳng chịu nhường ai, đều gọi là “chuốc
họa”.
-
Sáu là “chẳng hoang phí”, tức là xây cất pḥng ốc to
lớn chẳng biết hổ thẹn, ăn uống
thịnh soạn mà chẳng biết hổ thẹn; mặc
y phục lộng lẫy chẳng biết hổ thẹn,
tậu nhiều sản nghiệp mà chẳng biết hổ
thẹn, xài vật dụng được chế tạo tinh
xảo mà chẳng biết hổ thẹn; khinh rẻ
ngũ cốc mà chẳng biết hổ thẹn; phóng túng du
ngoạn chẳng biết hổ thẹn; nuôi nấng tôi
tớ, kẻ hầu mà chẳng biết hổ thẹn;
đút lót trọng hậu cho bạn bè hoang đàng chẳng
biết hổ thẹn, thảy đều gọi là “hoang
phí”.
- Bảy là “chẳng gần
nữ sắc”, tức là kết làm đạo hữu
với các ni cô trẻ tuổi, nhận phụ nữ ngoài
đời làm mẹ nuôi, thường tới nhà
người trong họ để thăm hỏi
người thân, cho đến mẹ chưa tới
bảy mươi tuổi mà con đă ở cùng, chẳng
tránh né điều tiếng tỵ hiềm, đều
gọi là “gần nữ sắc”.
-
Tám là “chẳng chú trọng hướng ra ngoài”, tức là
lân la nhà giàu có, mon men nhà quyền quư, hoặc xin xỏ
thơ văn, xin đề biển ngạch, hoặc
dựa dẫm quyền thế, hoặc đ̣i hỏi
tiền bạc, suốt ngày bươn bả, chẳng
nghĩ giữ tâm thanh tịnh, thảy đều gọi
là “chú trọng hướng ra ngoài”.
-
Chín là “chẳng trốn tránh, lười nhác”, tức là
đối với việc lễ tụng sáng tối,
nhiều lượt lần khân, trễ năi, đối
với việc chấp tác siêng nhọc bèn lần khân
chẳng theo đại chúng, thảy đều gọi là “trốn
tránh, lười nhác”.
-
Mười là “chẳng lỡ thời”, tức là biết
rằng mạng tồn tại trong hơi thở, thời
gian chẳng đợi ai, chưa hiểu rơ đại
sự, tấc bóng đáng tiếc mà hờ hững
để luống qua, đó gọi là “lỡ thời”.
Chín
việc trước như đă nói trên đây, hành giả
rất nên răn chừa; việc cuối cùng, hăy nỗ
lực càng thêm gắng sức.
16.3.3. Lời
răn dành cho vị Trực Viện
Vị
Trực Viện cần phải có bốn loại tâm:
-
Một là tâm đại từ bi, ân cần chiếu
cố đại chúng, chẳng có tâm cay nghiệt.
-
Hai là tâm công bằng, thẳng thắn ví như gương
sáng, không thiên vị, tư túi.
-
Ba là tâm tột bậc cẩn thận, an phận thủ
thường, giữ ǵn bổn phận, chẳng phóng túng,
càn rỡ.
-
Bốn là tâm tột bậc siêng năng, dốc cạn ḷng
thành v́ đại chúng, chẳng có tâm tham lam, biếng nhác.
Nếu
đảm nhiệm suông trách nhiệm nặng nề,
chẳng phát bốn tâm ấy, cứ cẩu thả,
lần khân, khiến cho đại chúng lầm lỡ,
thần già-lam sẽ ghi lỗi, trời, rồng nổi
giận, khiến cho kẻ ấy tổn phước,
giảm thọ, hối hận th́ đă muộn màng! Hăy
cẩn trọng nhé!
16.3.4. Bài minh
tại các điện đường
16.3.4.1. Bài minh
ở phía Đông
Nhất
ngơa, nhất chuyên, nhất chúc, nhất phạn, đàn tín
chỉ cao, hành nhân huyết hăn, nhĩ giới bất tŕ,
nhĩ sự bất biện, khả cụ, khả ưu,
khả ta, khả thán.
(Một viên ngói, một kèo
nhà, một chén cháo, một bữa cơm, mỡ màng của
tín thí, mồ hôi máu hành nhân. Ngươi chẳng tŕ
giới, phận sự chẳng làm, đáng sợ, đáng
lo, thật đáng than thở!)
16.3.4.2. Bài minh
ở phía Tây
Nhất
thời, nhất nhật, nhất nguyệt, nhất niên,
lưu quang dị độ, huyễn h́nh phỉ kiên, phàm
tâm vị tận, thánh quả vị viên, khả kinh,
khả bố, khả bi,
khả liên.
(Một
thời, một ngày, một tháng, một năm, thời
gian dễ qua, huyễn thân khó bền, phàm tâm chưa
hết, thánh quả chưa tṛn, đáng sợ, đáng hăi,
đáng xót, đáng thương!)
16.3.4.3. Bài minh
ở khố pḥng
Vật
thuộc chiêu-đề, ty hào nan phạm, thủ tại
nhĩ cung, tất kính tất đạn. Thanh nhược
trừng đàm, chánh như trực cán, vô khúc vô tư, hà
ưu hà hoạn? Nhất hữu sai tŕ, long thiên giảo
khám, lẫm lẫm hà phong, mại sanh khương hán.
(Vật
thuộc thường trụ, tơ hào khó phạm, giữ
trọn cung kính, ắt kính, ắt dè. Thanh như đầm
trong, chánh như cây thẳng. Chẳng cong, vô tư, há lo
nghĩ ǵ? Hễ có sai sót, trời, rồng xét soi.
Gương xưa rạng rỡ: Chàng mua gừng
tươi[34]!)
16.3.4.4. Bài minh
ở nhà bếp
Tuyết
Phong phạn đầu, Quy Sơn điển tọa,
cổ đức phương phong, ư kim vị
đọa. Nhiếp nhĩ cuồng tâm, thận nhĩ
khẩu quá. Vận thủy, ban sài. Vật vong giá cá,
đường nội tọa Thiền, đường
ngoại Thiền tọa. Thùy tín truyền y, bất ly
đối ma.
(Tuyết
Phong làm phạn đầu, Quy Sơn làm điển
tọa. Cổ đức gương thơm măi, tới nay
vẫn chẳng suy. Nhiếp tâm cuồng của
ngươi, cẩn thận lời ăn nói. Gánh
nước và chở củi, đừng quên mất
điều ấy. Trong điện đường
ngồi Thiền, ngoài viện vẫn Thiền tọa. Ai
tin truyền y bát, chẳng ĺa chốn giă xay!)
16.3.4.5. Bài minh
ở nhà tắm
Sơn
nguy lộ viễn, trí kỳ sài tân, thược phủ
nhiên hỏa, hiệu kỳ lao cần. Nhất nguyệt bát
dục, tùng lâm hăn văn. Sa-di hư tiếu, phí thang giao lâm.
Tẩy tâm dịch lự, nhật tân hựu tân, hà dĩ báo
đức, hốt ngộ thủy nhân.
(Núi cao, đường xa,
kiếm củi đem về. Đổ nước, nhóm
lửa. Ra sức nhọc nhằn. Mỗi tháng
tắm tám lượt, chốn tùng lâm hiếm
nghe. Sa-di đùa bỡn, nước nóng giội nhau. Rửa
ḷng gột ư, ngày lại mới hơn. Làm sao báo
đức, bỗng ngộ cái nhân, của chất
nước này).
16.3.4.6. Bài minh
về hương đốt để nhập
định và quy củ
Đại
chúng huệ mạng, hệ nhĩ nhất nhân. Nhĩ
bất cố chúng, tội quy nhĩ thân.
(Huệ
mạng của đại chúng, phụ thuộc một ḿnh
ngươi. Ngươi chẳng quan tâm họ, tội quy
vào thân ngươi).
[Quy định về
đốt hương theo tiết khí]: Đông Chí (bốn
nén hương), Lập Xuân (ba nén rưỡi), Xuân Phân (ba
nén), Hạ Chí (hai nén), Lập Thu (hai nén rưỡi), Thu Phân
(ba nén), Lập Đông (ba nén rưỡi).
16.3.4.7. Kệ
thọ trai
Phật
chế tỳ-kheo: “Thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp
thoại, tín thí nan tiêu”. Đại chúng văn khánh thanh, các
chánh niệm.
(Đức
Phật chế định tỳ-kheo: Khi ăn phải
lắng ḷng quán năm điều. Tâm tán loạn, nói
chuyện xen tạp, khó tiêu của tín thí. Đại chúng
nghe tiếng khánh, ai nấy chánh niệm).
16.3.4.8. Kệ
thệ nguyện trước thần minh
Ám thất khuy tâm, thần
mục như điện, thiện ác báo ứng, tự
ảnh tùy h́nh, đản hữu tảo tŕ, chung vô lậu
vọng. Duy căng, duy thích, giới chi, thận chi.
(Pḥng
tối dối ḷng, mắt thần như chớp. Thiện
ác báo ứng, tợ bóng theo h́nh. Chỉ có sớm muộn,
trọn chẳng lọt lưới. Lo sợ, dè dặt.
Răn chừa, cẩn trọng).
Mỗi nửa tháng,
đối trước thần thệ nguyện, biểu
thị tâm thanh bạch. Thanh bạch hay không, chỉ có chính
ḿnh biết rơ, chứ người khác chẳng biết. Tuy
người chẳng biết, thần thật sự
biết. Nếu có kẻ ngu cuồng vọng đối
trước thần, tự nghĩ thần chỉ là
đất, gỗ, chắc là có
thể dối lừa, mong muốn may mắn trốn
khỏi ác báo. Dẫu tạm thời chưa báo, rốt
cuộc ắt chịu ương họa, không ai trốn
thoát được, há chẳng đáng sợ ư?
16.3.4.9. Lăo
đường cảnh sách
Đức
Phật dạy: “Mạng người vô thường,
ngắn ngủi trong hơi thở”. Thiếu niên c̣n
thế, huống chi người già? Nay tôi ân cần
đến nhắc nhở, khích lệ nhau, chỉ mong các
đại đức đừng v́ thấy tôi thấp kém
mà coi thường lời này. Hăy nên quán thân này: Mắt
mờ, tai điếc, tóc bạc, mặt nhăn, lưng
kḥm, eo cong, xương đau, gân rút, bước
đi loạng choạng, tinh thần tối tăm, bế
tắc. Ví như cảnh mặt trời chiều tà bóng xế
về Tây, ánh sáng chẳng c̣n được mấy! Cỏ
úa đón mùa Thu, tàn tạ trong khoảnh khắc. V́ thế
biết thân này chẳng mấy chốc ắt bước
vào tử môn, nẻo trước mù mịt, rốt cuộc
sẽ về đâu? Các đại đức! Nếu đúng là
chuyện của chính ḿnh đă xong, đấy là
điều kẻ ngu này chẳng biết! Nếu chẳng
phải vậy, há chẳng dũng mănh tỉnh ngộ vô
thường, dè dặt, cẩn trọng, nghĩ kỹ
Tịnh Độ, quyết chí văng sanh, buông bỏ muôn duyên,
nhất tâm niệm Phật (kết lại bằng hồi
hướng).
16.3.4.10.
Bệnh đường cảnh sách
Đức
Phật dạy: “Mạng người vô thường,
ngắn ngủi trong một hơi thở”. Người
b́nh thường c̣n như thế, huống ǵ người
bệnh? Nay tôi ân cần đến nhắc nhở, khích
lệ nhau, chỉ mong các đại đức đừng
v́ tôi thấp kém mà coi nhẹ lời này. Hăy tự quán thân
này: Tứ Đại chẳng điều ḥa, trăm lóng
xương sắp tan tác, ăn uống giảm dần,
thuốc men chữa trị vô hiệu, tiêu tiểu trên
giường chiếu, rên rỉ nơi gối, đệm.
Ví như cá bơi trong nồi, chốc lát bị nung nhừ;
ngọn đèn trước gió, trong sát-na tắt phụt. Do
vậy biết thân này chẳng lâu ắt gieo
vào cửa tử, nẻo trước mờ mịt,
rốt cuộc sẽ về đâu? Đại đức!
Nếu đúng là việc của chính ḿnh đă làm xong,
đó là điều kẻ ngu này chẳng biết
được. Nếu chẳng phải vậy, sao
chẳng dũng mănh tỉnh ngộ vô thường, sợ
hăi, dè dặt, nghĩ kỹ Tịnh Độ, quyết chí
văng sanh, buông xuống muôn duyên, nhất tâm niệm Phật
(đúc kết bằng hồi hướng).
16.3.4.11.
Cảnh sách nơi phóng sanh
Đức
Phật dạy: “T́nh đa, tưởng thiểu, lưu
nhập hoành sanh” (T́nh nhiều, tưởng ít, sẽ
tiến nhập vào loài có xương sống nằm ngang,
tức súc sanh). V́ thế biết các ngươi xưa do
tối tăm che lấp, ngu si, chẳng tu chánh niệm, nay
phải mang lông, đeo vảy, chịu lấy thân h́nh kém
cỏi này! Dưới nước, trên mặt đất,
bay trên không, đủ loại khác biệt, hoặc gieo ḿnh
vào lưỡi câu, mũi tên, hoặc sa vào lưới
rập, mạng nơi đao, thớt; hồn bay theo
nước sôi, ngọn lửa. May gặp các thiện
sĩ bỏ tiền tài chuộc thân các ngươi, muôn phần
chết mà được sống, đến cuộc
đất thù thắng này. Nay xin chư thánh ban cho các
ngươi sự linh thông, các ngươi hăy nên nhất
tâm, quy mạng Tam Bảo: Quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tăng (niệm ba lần). Quy y Tam Bảo rồi,
khiến cho nghiệp chướng của các ngươi
tiêu diệt, trí huệ mở sáng, phát Bồ Đề tâm, văng
sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, liên hoa
hóa sanh, nhập địa vị bất thoái. Đại
chúng hiện tiền hăy v́ các chúng sanh ấy, nhất tâm
niệm Phật (kết lại bằng hồi
hướng).
* Bài châm phân
chia thức ăn cho súc sanh
*
Nhân thượng Phật phạn, Phật tế cẩu
cơ. Tăng nghi học Phật, độc băo phi nghi.
Đại chúng phát từ bi tâm, sở thực chi dư, thí
phóng sanh sở.
(Người
dâng cơm cúng Phật, Phật giúp con chó đói. Tăng nên
học theo Phật, chớ một ḿnh no ḷng. Đại
chúng phát tâm từ bi, hễ cơm có dư, thí chỗ phóng
sanh).
Bài
văn này được làm thành bảng, treo ở nơi
phóng sanh, và trên các cột trong Thiền đường,
trước tượng Vi Đà trong trai đường
để bảo khắp đại chúng được
biết.
16.3.4.12. Nghi
thức tụng giới
Mỗi
tháng vào ngày Rằm và ngày Ba Mươi, sau khi khóa tối hoàn
tất, pháp đường gióng trống nhóm chúng. Vị
tăng tụng giới đến vị trí, đứng
thẳng, xướng rằng: “Những người
thọ năm giới hăy ra khỏi hàng. Những
người thọ năm giới hăy lắng nghe! Một
là không giết hại chúng sanh v.v… Các vị thọ giới
này, nếu ai phạm vào giới căn bản, phạm
lỗi căn bản th́ bị trục xuất; nếu có
lỗi nhỏ th́ ra trước đại chúng sám
hối”.
Kế
đó, xướng rằng: “Những người
thọ Thập Giới hăy ra khỏi hàng. Các vị thọ
mười giới hăy lắng nghe! Một là không giết
hại v.v… Các vị thọ giới này v.v…”.
Kế
đó, xướng rằng: “Những người
đang tu học giới Tỳ-kheo hăy ra khỏi hàng. Các
vị thọ giới Tỳ-kheo hăy lắng nghe! Đảnh
lễ chư Phật… Tăng đă nhóm hay chưa?....
Thưa chư đại đức! Đây là bốn pháp
Ba-la-di (cho đến) bảy pháp Diệt Tránh...” (nghi
thức chép đầy đủ trong các cổ bản,
ở đây không sao lục).
Kế
đó, xướng rằng: “Những người
đang tu học giới Bồ Tát hăy ra khỏi hàng”
Vị tăng tụng giới đến đứng
thẳng tại vị trí, bạch rằng: “(Con tên là….)
đảnh lễ ḥa-nam, kính bạch đại chúng… ”
Bạch xong, bước lên ṭa ngồi... cho đến khi
bước xuống ṭa (nghi thức chép đầy
đủ trong các cổ bản, ở đây không sao
lục).
16.3.4.13.
Lời căn dặn về chuyện nghe pháp
Chẳng
hiểu rơ Giáo, tự tiện dựa theo
ư riêng để tu hành, chính là kẻ ngu vậy. V́ lẽ
nào? Đi chơi đêm chẳng cầm đuốc, mờ
mịt chẳng có phương hướng. Dẫu
hiểu Giáo mà chẳng chú trọng tu hành, vẫn là kẻ
ngu muội. V́ sao vậy? Giống như kẻ chỉ nói
tên thức ăn để chữa đói, trọn
chẳng thể no ḷng được! Nay những vị nghe giảng,
chớ quên lời này. Nếu cho rằng lời này không
đúng, giáo hóa của cổ đức sáng vằng
vặc, nay dùng một đôi điều làm chứng:
-
Đức Phật chế định người xuất
gia, trước khi tṛn năm hạ, phải chuyên ṛng
giới luật. Sau năm hạ mới có thể nghe Giáo,
tham Thiền. Do vậy biết: Muốn dự vào giảng
ṭa, trước tiên ắt phải chuyên ṛng
học Giới. Đă hiểu rơ giáo lư, cần phải mau nỗ
lực tham Thiền.
-
Kinh điển có đủ loại thí dụ, cho
đến nói: “Như lung tấu âm nhạc, duyệt
bỉ bất tự văn. Ư pháp bất tu hành, đa
văn diệc như thị” (như kẻ điếc
tấu âm nhạc, khiến người khác vui thích, chính
ḿnh chẳng tự nghe. Nơi pháp chẳng tu hành, đa
văn cũng như thế). Do vậy biết: Suốt
đời chỉ nói suông, chẳng tránh khỏi bị chê
cười là tai điếc, chỉ có một mực
thật sự hành tŕ th́ mới thành tựu công hạnh tâm
đắc.
-
Vĩnh Gia đại sư nói: “Ta thuở trẻ
từng tích lũy học vấn, cũng từng t́m ṭi các
bản sớ giải kinh luận, phân biệt danh
tướng chẳng biết ngưng nghỉ, giống
như kẻ vào biển đếm cát, chỉ tự
khốn đốn”. Do vậy biết: Theo đuổi
cành nhánh, suốt ngày tâm nhọc nhằn mà công hạnh ngày
một thô vụng. Nếu thấu đạt tận cùng
cội nguồn, sẽ ǵn giữ càng giản lược
mà sở đắc càng sâu xa!
-
Ḥa thượng Quy Sơn nói: “Kẻ bậc trung chưa
thể đốn siêu, hăy nên lưu tâm nơi bối
diệp (kinh điển), cũng đừng phí uổng
thời gian”. Do vậy biết Ngài đă thuận theo
kẻ trung căn, khiến cho họ dần dần thông
hiểu đường lối, thẳng thừng cầu
cái quả bực thượng, đừng nên vướng
mắc nơi các phương tiện.
Nói
những điều trên đây, chẳng phải là tôi dám
đề cao Thiền, hạ thấp Giáo, chỉ nhằm
khuyên [hành nhân hăy] do Giáo mà nhập Thiền. Người
[thật sự] v́ sanh tử sẽ tin lời lẽ
tốt lành, chứ kẻ dốc chí nơi danh lợi
sẽ đâm ra dấy lời dị nghị. Ngày nay chấp
nhận lời uốn nắn cũng do các vị, mà
vứt bỏ [những lời khuyên siêng khổ]
để gieo ḿnh vào nước lửa cũng do quư
vị!
16.3.4.14. Quy
định về thưởng thiện, phạt lỗi
16.3.4.14.1.
Thiện môn
*
Đối với thiện sự thuộc làm phước,
cứ tính mỗi hai phân tiền là một điều
thiện. Nhặt được của rơi, đem
trả lại cho chủ nhân, bất luận là tiền hay
vật dụng, cứ tính mỗi ba phân tiền là một điều
thiện (nếu không theo quy định, yết bảng
công bố [nhặt được của rơi] th́ không
tính là điều thiện). Chăm sóc người bệnh
nhẹ một ngày tính là một điều thiện; [chăm
sóc người] bệnh nặng th́ mỗi ngày tính là ba điều
thiện. [Chăm sóc người] bệnh tột
bậc nghiêm trọng, cứ mỗi
ngày tính là năm điều thiện. Bị người
khác mắng chửi mà không chửi trả lại, tính là năm
điều thiện. Bị đánh mà chẳng đánh
trả lại, tính là mười điều thiện. Không
phải chấp sự mà tự ra sức làm việc
nhọc nhằn, tính là hai điều thiện (làm việc
nặng tính gấp đôi). Không phải là chấp sự mà
thường trụ sai đi xa bốn mươi dặm,
tính là hai điều thiện; đi xa một trăm
dặm th́ tính là năm điều thiện. Tuần
hương dụng tâm là hai điều thiện.
*
Đối với điều thiện thuộc loại
huệ, tụng thuộc kinh Phạm Vơng, Quán Kinh, Hạnh
Nguyện, cứ mỗi chuyện tính là tám điều
thiện. Thuộc ḷng bốn mươi tám đại
nguyện, tính là ba điều thiện. Thuộc ḷng Quy
Sơn Cảnh Sách, tính là ba điều thiện. Mồng
Một và ngày Rằm cầu nguyện đúng cách thức đă
quy định th́ là hai điều thiện. Tụng năm
giới, mười giới đúng cách thức đă quy
định th́ tính là hai điều thiện. Tụng
giới tỳ-kheo đúng pháp thức, tính là hai điều
thiện. Tụng giới Bồ Tát đúng pháp thức, tính
là ba điều thiện. Chấm dứt chuyện tranh
chấp, tính là một điều thiện. Khuyến hóa
người khác cải ác tùng thiện, tính là mười điều
thiện. Sa thải một kẻ không ra ǵ, tính thành hai
điều thiện. Tiến cử một bậc hiền
tài, tính là bốn điều thiện. Vạch rơ những
điều lợi hại trong chốn tùng lâm, mỗi chuyện tính
là hai điều thiện (việc lớn th́ tính gấp
đôi). Giảng diễn kinh luận, giảng một
quyển nhỏ, tính là ba điều thiện, giảng
quyển lớn tính là sáu điều thiện, quyển
cực nhỏ tính là một điều thiện (đối
với những điều trên đây, nếu nhận
tiền cúng dường th́ chẳng phải là thiện).
[Có người] đến hỏi kinh, giảng giải
nghĩa th́ là một điều thiện (kinh sâu th́ tính
gấp đôi). [Có người] hỏi chuyện mà có
thể xử lư [thỏa đáng], th́ là một điều
thiện (việc lớn tính gấp đôi). Thí thực mà
chẳng nhận tiền cúng dường, cứ một
đàn là bốn điều thiện. Tụng kinh mà
chẳng nhận tiền cúng dường, cứ tụng
được một quyển là một điều
thiện.
16.3.4.14.2.
Phạt môn
Phạt
bậc thượng, nộp năm trăm đồng.
Không có tiền, quỳ hương [sao cho đủ] một
trăm tấc hương. Chẳng quỳ th́ trừ một
trăm điểm thiện. Chẳng có điều
thiện th́ trục xuất khỏi viện; đó là
chuyện thuộc t́nh tiết nhẹ. Nếu t́nh tiết
nặng, ắt phải nạp tiền. Càng nghiêm trọng
hơn nữa th́ quỳ hương một phần
mười [số lượng quy định], tức là
quỳ mười tấc hương.
Phạt bậc trung
th́ nộp năm mươi đồng. Không có tiền th́ quỳ
hương mười tấc. Không quỳ th́ trừ mười
điểm thiện. [Tùy thuộc] t́nh tiết nặng hay
nhẹ mà áp dụng cùng một lệ như trên.
Phạt bậc
hạ, nộp năm đồng. Không có
tiền th́ quỳ hương mười tấc. Không
quỳ th́ trừ một điểm thiện. T́nh tiết
nhẹ hay nặng áp dụng cùng một lệ như trên.
Người
thoái giới (giữ giới thiếu sót) nếu tự
nguyện nộp gấp đôi bậc phạt để
sớm mong được khôi phục giới phẩm, nếu
t́nh tiết [phạm lỗi] nhẹ th́ có thể châm
chước chấp nhận. Nếu t́nh tiết nặng,
tuyệt đối chẳng chấp nhận.
16.3.4.15. Quy
định về miễn chấp tác
Miễn
trực đêm, nộp mười đồng. Xin miễn
gánh gạo, nộp năm đồng. Xin miễn gánh
củi, tùy theo quăng đường xa hay gần; gần
nhất th́ nộp hai đồng, xa nhất nộp tám đồng.
Xin miễn các việc chấp tác nhẹ, nộp
mười đồng. Xin miễn việc chăm sóc
người bệnh: Bệnh nhẹ nộp năm đồng;
bệnh nặng nộp mười đồng; bệnh tột
bậc nghiêm trọng, nộp ba mươi đồng. Xin
miễn làm Tăng Trực, nộp năm mươi đồng.
Xin miễn việc dạy kinh điển, nộp năm đồng.
Xin miễn việc trách vấn, nộp năm mươi
đồng. Những khoản tiền nộp trên đây
chỉ miễn một lần [vi phạm hay chấp tác
ấy mà thôi], lần sau [muốn miễn], lại phỏng
theo đó. Chỉ có trực đêm, cho phép cách áp dụng
nhẹ là dùng tiền đó để thuê người khác
trực thay; c̣n các khoản khác đều phải nộp
tiền cho thường trụ.
16.3.4.16. Quy
định về tẫn xuất
Đối
với kẻ bị tẫn xuất, gióng ba hồi
trống, dán tên tuổi [kẻ bị tẫn xuất] cạnh
bản tăng ước. Khi lần tụng giới
kế tiếp hoàn tất, mới gỡ bỏ tên ấy.
Kẻ đó ở bên ngoài biết sửa lỗi,
hướng lành, sám hối cầu được trụ
lại, được mười vị tăng bảo
lănh mới chấp thuận. Sau khi trở lại cộng
trụ mà vẫn y như trước, chẳng sửa
đổi, sẽ bị tẫn xuất lần nữa.
16.3.4.17. Quy
định về thứ tự xếp chỗ trong các
cuộc lễ
* Ngày
Mồng Một của tháng Giêng và tháng Bảy, xếp theo
giới lạp:
1) Các vị Bồ Tát
giới từ mười năm trở lên đứng
ở phía Đông, từ mười năm trở xuống
và người thọ Cụ Túc Giới, Thập Giới,
Ngũ Giới đứng ở phía Tây. Đại chúng cùng
hướng về phía Đông lễ một lễ, vị
giới trưởng hướng về phía Tây đáp
lễ.
2) Cụ Túc Giới từ
mười năm trở lên
đứng ở phía Đông, các vị thọ Ngũ
Giới v.v… đứng ở phía Tây. Lễ bái và đáp
lễ giống như trên.
3) Thập Giới
đứng ở phía Đông, từ mười năm
trở xuống và người thọ Ngũ Giới
đứng ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống
như trên.
* Ngày mồng Một tháng Hai
và tháng Chín, xếp theo thứ tự trong pháp
phái (theo chữ trong kệ truyền pháp. Người
chẳng thuộc pháp quyến của bổn sơn,
chẳng cần tới nhóm họp)[35]:
1) [Các vị có pháp danh
thuộc] hàng chữ Quảng đứng ở phía Đông,
từ chữ Đại trở xuống đứng ở
phía Tây. Đại chúng cùng hướng về phía Đông
lễ một lễ, các vị thuộc chữ Quảng
hướng về phía Tây đáp lễ.
2) [Các vị có pháp danh
thuộc] hàng chữ Đại đứng ở phía
Đông, từ chữ Trí trở xuống đứng ở
phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.
3) [Các vị có pháp danh
thuộc] hàng chữ Trí đứng ở phía Đông,
từ chữ Thành trở xuống đứng ở phía
Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.
* Ngày Mồng Một tháng
Năm và tháng Mười Một, xếp theo năm sanh:
1) Bảy mươi, tám
mươi tuổi trở lên đứng ở phía Đông,
từ sáu mươi tuổi trở xuống đứng
ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.
2) Năm mươi, sáu
mươi tuổi đứng ở phía Đông, từ
bốn mươi tuổi trở xuống đứng
ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.
3) Ba mươi, bốn
mươi tuổi đứng ở phía Đông, từ hai
mươi tuổi trở xuống đứng ở phía
Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.
16.3.4.18. Cách
thức khảo định hằng năm
Tăng
chúng và hành giả trong ngoài thuộc cả chùa
được chia thành ba bậc thượng, trung, hạ.
[Khi công bố], chỉ nêu những vị thuộc bậc thượng.
Thuộc bậc hạ không quá ba đến năm
người, bậc trung không cần phải nêu ra. Vị
Giới Thủ khai riêng một tờ, vị Thủ
Tọa khai riêng một tờ. Các vị kỳ túc khai riêng một
tờ. Vị Đương Gia khai riêng một tờ.
Nếu có ḷng riêng tư, cong vạy, bất công, sẽ
bị phạt nặng, đều khai hôm trước
ngày Ba Mươi tháng Chạp để gởi đến
các quản sự trong ngoài nhằm khảo
hạch riêng.
16.3.4.19. Cách
thức xin trụ lại [Vân Thê]
16.3.4.19.1. Xin
xuất gia
- Cha mẹ đích thân
đưa đến. Nếu không có cha mẹ, cần
phải là người cực thân.
- Để thẩm
định người [xin xuất gia] ấy có phải là
pháp khí thanh tịnh hay không, phải gồm tám điều:
1) Chẳng ngỗ nghịch
bất hiếu.
2) Chẳng phải là kẻ
phạm tội, trốn tránh.
3) Chẳng phải do t́nh
thế bức bách, nghèo cùng [để kiếm ăn bèn xin
xuất gia].
4) Chẳng phải là kẻ
tâm mong mỏi phóng dật.
5) Chẳng từng làm
chuyện ác.
6) Thân mạng chẳng
thuộc các nhà quyền quư (tức chẳng phải là nô
tỳ).
7) Chẳng mắc nợ
không trả.
8) Chẳng phải là kẻ
gia duyên chưa giải quyết xong.
- Đă biết đọc
tụng đại lược, tức là [đă biết
đọc tụng] kinh điển trong khóa tụng sáng
tối như Tâm Kinh, kinh Di Đà chẳng hạn.
- Khá thông hiểu viết
chữ, đọc sách, nghĩa là đối với sách
vở không cần phải học rộng, nhưng cũng
từng có học tập chút ít. Chữ viết không cần
phải tinh xảo, đẹp đẽ, nhưng cũng
có thể tùy phần biên chép.
Đối với bốn
chuyện trên đây, phải hợp cách thức th́ mới
chấp thuận!
16.3.4.19.2. Xin
nhập đường
-
Để [được chấp thuận] vào đại
đường, khảo hạch bốn chuyện:
1) Đă trọn đủ
năm hạ.
2) Giới luật nghiêm minh.
3) Thông hiểu Tịnh
Độ.
4) Thông hiểu đại
lược các giáo.
Bốn chuyện trên đây
phải hợp cách thức th́ mới chấp thuận.
- Để vào Tây
đường, khảo hạch sáu chuyện. Bốn
chuyện giống như trên, lại tăng thêm hai
chuyện: Một, hiểu rơ tinh tường giáo lư. Hai, chí
nguyện chân thật, thiết tha. Sáu chuyện trên đây
phải hợp cách thức th́ mới chấp nhận.
16.3.4.20. Quy
định về xuống tóc
*
Trước hết phải khảo sát lại bốn
việc của người xin xuất gia xem có ǵ trở
ngại hay không? Kế đó, khảo hạch xem
người ấy đă thông thuộc khóa tụng sáng
tối hay chưa. Nếu không có lầm lỗi ǵ trong
đại chúng th́ mới chấp thuận.
*
Bổn sơn chỉ thực hiện [lễ xuống tóc]
một lần vào cuối năm. Đối với
người đă xuống tóc từ bên ngoài tới đây
th́ không luận định thời gian này; nhưng ắt
phải khảo sát, thẩm tra cặn kẽ xem có nên
tiếp nhận hay không? Chớ nên dễ dăi chấp
thuận!
*
Nữ nhân đến xin xuống tóc, bắt buộc
phải do đích thân cha mẹ, cha mẹ chồng, hay
chồng, hoặc con cháu ruột thịt đưa
đến. Nếu không, kiên quyết từ khước,
chẳng chấp thuận.
16.3.4.21.
Quy định về học giới
* Thánh
chỉ nay đă nghiêm cấp mở giới đàn, tăng
chúng tự nên tuân thủ; nhưng chỉ là cấm tụ
tập đại chúng mở giới đàn thuyết
giới, chẳng cấm tự
ḿnh nương theo giới để tu hành. Nay đề
nghị mỗi người tự sắm sửa hai bộ
giới kinh để mỗi người tự
đối trước Phật vâng lănh, đọc
thuộc, giữ vững, th́ sẽ là giới tử chân
thật vậy! Mai sau, nếu giới đàn
được mở lại, sẽ theo đại chúng
đến thọ, chứng minh công đức. Nếu lâu
ngày chẳng được mở, cũng chẳng có ǵ
đáng thẹn là giới tử chân thật.
* Nếu mười
phương có người đến đây cầu
giới, lập tức đưa bài văn này cho họ xem
rồi từ khước.
16.4. Vân Thê
Cộng Trụ Quy Ước Phụ Tập (các
thể thức theo ước định)
16.4.1. Các
điều ước định
dành cho hàng chấp sự
16.4.1.1. Đương
Gia
* Đương
Gia là chỗ nương tựa của đại chúng,
cần phải phát tâm hết sức tốt lành để
nâng đỡ, ǵn giữ tùng lâm, phải trừ khử thói
tệ, phải hưng khởi điều lợi, chớ
nên hồ đồ qua ngày, chỉ mong sao măn hạn mà thôi!
Các chấp sự lớn nhỏ đều có người
gánh vác, Đương Gia quản chuyện ǵ? Cần
phải quản lư chung hết thảy, luôn luôn xem xét,
tuần hành khắp nơi, sáng tối dụng tâm,
đừng gây lầm lỡ cho chuyện tu hành to lớn
của đại chúng.
16.4.1.2. Tri Khố
*
Thu vào, chi ra tiền, gạo, và vật dụng của
thường trụ, phải ghi chép minh bạch. Ghi chép sai
sót, chịu năm lần phạt theo bậc hạ.
*
Ghi chép sổ sách phải theo thứ tự rơ ràng. Ghi chép
lộn xộn, phạt hai lần theo bậc hạ.
*
Tiền ăn của đại chúng trong núi, mỗi quư (mỗi ba tháng)
sau khi tiến đường (gia nhập điện
đường) ba ngày, Tri Khố cùng Giám Tự, Tri Sơn
v.v… cân đo, nhất loạt niêm phong, ghi chép. Khi muốn
trích ra sử dụng, phải bạch đại chúng
mở niêm phong. Nếu tự tiện lấy, phạt theo
bậc trung. Lấy xong, phải ghi ngay vào sổ. Tự
tiện lấy dùng riêng, phạt đền gấp mười.
*
Các khoản tiền trà, hoa lợi v.v… phải cùng với
các vị như Giám Tự v.v… cân rơ số lượng, niêm
phong, ghi rơ, thâu cất. Khi sử dụng, phải ghi sổ
minh bạch giống như trên.
*
Các loại vật dụng thuộc về ban vụ nào,
phải giao minh bạch cho ban vụ đó. Khi măn nhiệm,
phải cùng các vị như Giám Tự v.v… đối
chiếu sổ sách trước đó để bàn giao rơ
ràng. Hễ có điểm nào bàn giao không rơ ràng, sẽ
chịu h́nh phạt bậc trung. Để hao hụt mà
không tra xét, đền gấp đôi!
*
Tiền cúng trai tăng, tiền tụng kinh, các vật
được cúng dường v.v… mỗi mỗi
đều được tính đếm, thâu nhận minh
bạch. Tri Khố cùng với Giám Tự bàn bạc, châm
chước, theo đúng cách thức để mua sắm,
và phân phát công bằng cho đại chúng. [Tri Khố] tự
tiện dùng cho riêng ḿnh, phạt theo bậc trung. Nếu
sự việc nặng nề th́ trục xuất khỏi
viện
*
Trong đại chúng, nếu có người làm mất hay làm
hư vật dụng của thường trụ, [Tri
Khố] phải ghi sổ và thúc giục họ bồi
thường. Nếu không thúc giục, chính ḿnh phải đền thay. Số tiền
bồi thường đó dùng để mua lại đúng
vật dụng ấy, không được dùng lẫn
lộn.
*
Đối với cơm cháo, món lót dạ, [Tri Khố] bàn
bạc với Tri Chúng và Phạn Đầu để
định lượng nhiều hay ít, chớ nên hoang phí,
cũng chẳng được keo kiệt, cốt sao
vừa đúng. Làm sai chuyện, phạt theo
bậc trung. Nếu đưa cho đại chúng những
thứ hư thối, dễ gây ra bệnh, phạt ở bậc
trung.
*
Khi người chuyển vận đưa gạo, ḿ v.v…
tới, nhất nhất kiểm tra, thâu nhận minh
bạch, lại phải hỏi là của vị thí chủ
nào? Dùng để cúng trai như thế nào? Thực hiện
vào ngày nào? Chớ nên cẩu thả. Hễ hỏng
chuyện, sẽ bị phạt ở bậc trung.
*
Các vật dụng phải thường xuyên kiểm
điểm. Thức ăn chín chẳng được
để quá lâu đến nỗi hư thối. Các
thứ như tương, giấm v.v… không được
để mất nắp đậy đến nỗi
hư hoại. Sơ sót, sẽ bị phạt ở bậc
hạ. Nếu là vật quan trọng, gia tăng h́nh
phạt.
*
Các vật như y phục, nguyên liệu trà v.v… ngày có
mưa phải hun, sấy. Chẳng hong phơi, sẽ
bị phạt ở bậc hạ. Nếu bị hư
hoại, phải bồi thường.
*
Chẳng được tùy tiện cho các vị tăng
gởi gắm đồ vật. Đối với vật
dụng của vị tăng đă mất, càng phải nên
cẩn thận, chớ nên lầm lẫn sử dụng.
*
Vật dụng của thợ thuyền và hết thảy
các vật đem dùng liền ghi vào bảng nhỏ. Khi
họ trả lại, bèn xóa sổ minh bạch. Chẳng ghi,
sẽ bị phạt ở bậc hạ. Xảy ra
chuyện, phạt nặng thêm.
*
Các vật như giỏ, đ̣n gánh, dây thừng v.v… dùng
xong, phải thu gọn, trả đúng về chỗ cũ.
Hễ hư mất, sẽ phạt đền gấp
đôi.
*
Những ai đến khố pḥng để xin đồ
vật, [vị Tri Khố] phải tra xét minh bạch: Đáng
nên cho th́ cho. Chẳng cho, sẽ bị phạt ở
bậc hạ. Chẳng đáng nên cho mà
lén dùng vật của thường trụ ḥng tạo ân
nghĩa, sẽ bị phạt ở bậc trung; lại c̣n
bị phạt đền gấp đôi.
*
Người bệnh đem tiền tới khố pḥng mua
đồ, hoặc là rau quả, hoặc tương,
giấm v.v… Chớ nên không cho; cho nhiều hay ít theo đúng
lẽ công bằng.
*
Các vật dụng mà chấp sự đáng nên dùng như hương,
đèn, nến thơm, hoặc vật dụng vệ sinh, giày
cỏ v.v… th́ khố pḥng phải kịp thời sắm
sửa, chuẩn bị sẵn sàng. Nếu trễ năi,
vi phạm, phạt ở bậc hạ. Để xảy
ra chuyện th́ phạt nặng.
*
Chi phí hằng ngày ở hạ viện phải quy
định thành hạn ngạch, chẳng được
hỗn loạn. Không ghi chép hoặc lầm lẫn, phạt
gấp đôi ở bậc hạ. Chuyện lớn th́
phạt nặng.
*
Mỗi quư (mỗi ba tháng) phải kết toán một
lần. Không tính toán sẽ phạt ở bậc trung.
*
Biên lai, chứng từ nộp thuế lương thực
hằng năm phải theo thứ tự dán vào sổ. Sai
sót sẽ bị phạt ở bậc trung.
*
Ngày bàn giao khố pḥng, phải kiểm điểm rơ từng
khoản một để bàn giao. Lộn xộn chẳng
bàn giao, sẽ bị phạt ở bậc trung.
*
Bài minh về khố pḥng dán lên vách để chính ḿnh
thường tự xem đọc.
16.4.1.3. Tri Chúng
* Chuyên lo quản lư danh sách
đại chúng gia nhập hay rút lui [khỏi tùng lâm], ghi danh
hoặc xóa tên [trong sổ bộ]. Quên bẵng [chẳng ghi
chép], phạt ở bậc hạ. Để hư
chuyện, phạt nặng thêm.
* Sai phái, quản lư chấp
sự phải đúng lúc bổ sung. Khi giao phó chức trách,
phải sắm sửa trà nước, làm đơn
thỉnh, lễ bái [thỉnh cầu người ấy
đảm nhận]. Cần
phải nói rơ những điều cần thiết cho
người sẽ đảm nhiệm chức trách.
Nếu làm qua loa, phạt gấp năm ở bậc
hạ.
* Phải thường xuyên xem
xét trong chúng có người hiền, ngu, siêng hay lười.
Hễ ôm ḷng bất công, sẽ bị phạt ở bậc trung.
* Đặt sẵn mơ và khánh
ở mười hai chỗ. Hễ thấy có người nói
chuyện tạp nhạp liền gơ ra tiếng [để
cảnh cáo].
*
Sai người đi làm hóa chủ, phải chuẩn bị
cơm, hương, lễ bái, rồi bạch xin
phương trượng chỉ dạy. Nếu tự
tiện sai phái, sẽ bị phạt ở bậc trung.
*
Các chuyện như tiền, gạo, thuế lương
thực, hoa lợi, cúng trai v.v… đều báo với
khố pḥng để bàn bạc xử trí.
*
Bàn ghế, ghế dài ở pháp đường, đại
đường, trai đường bị hỗn
loạn, mất mát, hư hại, sẽ chịu phạt
ở bậc trung.
*
Khi an thiền kết chế (kết Hạ, kết
Đông), phải sắp sẵn chiếu trải,
đệm rơm, giường, màn v.v… Mùa Hạ,
phải chọn nơi thoáng mát. Mùa Đông phải dán kín
cửa sổ, và các thứ như ḷ sưởi đều
phải chuẩn bị sẵn sàng. Nếu qua loa, phạt
năm lần ở bậc trung.
*
Pḥng người bệnh, pḥng người già phải
thường xuyên đến kiểm tra, phân phát mền
nệm, thuốc thang, đèn lửa đầy đủ.
Nếu lười nhác, sẽ bị phạt ở bậc
trung.
16.4.1.4. Tri Khách
*
Khi có khách đến, phải mỗi mỗi điều
đ́nh, sắp xếp trà nước, bánh trái, chỗ
đơn nằm cho họ chu đáo. Nếu chưa
từng quen biết, lập tức cung kính hỏi thăm danh
hiệu, trụ xứ, chẳng được lơ là,
khinh mạn. Khinh mạn lần đầu, phạt bậc
hạ. Để lỡ chuyện, phạt thêm!
*
Hễ khách mới đến, nếu thiền
đường chưa phải là giờ chỉ tĩnh,
mời họ vào đường lễ Phật. Nếu
đă chỉ tĩnh, bảo cho khách biết lời mời
an đơn, hoặc xin họ tạm thời tùy hỷ,
đợi đến khi trong đường hết
chỉ tĩnh, đến thỉnh [vị Trực
Viện] cho nhập đường, hỏi một hàng
đơn là mấy vị, chẳng được sơ
sót.
*
Nếu khách muốn tùy hỷ thăm viếng các nơi
trong chùa, hăy nên dẫn họ đi xem.
*
Gặp dịp tín thí thiết trai, dâng cúng v.v… hăy cùng Đương
Gia bàn bạc cách tiến hành như cách
thức nói trong phần Tri Khố.
*
Đối với các thứ trai cúng, thức ăn
nhẹ v.v… phải áp dụng cùng một lệ cho tăng
chúng thuộc bổn sơn và khách đến thăm.
Nếu ôm ḷng riêng tư để rồi đối xử
nồng hậu hay đơn bạc, sẽ bị phạt
ở bậc trung.
*
Khi khách khứa và pháp quyến trụ bên ngoài đến
nơi, phải sắp đặt sẵn đệm
hoặc đơn bên ngoài cho họ. Tùy tiện đưa
vào thiền đường th́ chịu bậc phạt
ở bậc hạ. Trong đường, nếu tự ư chèo
kéo người khác, phạt ba lần ở bậc hạ.
Vị chấp sự biết mà chẳng cử tội,
bị phạt ở bậc trung.
*
Đối với các việc như [khách tăng
đến] xin quải đơn, cầu giới; trước
hết, vị Tri Khách phải tiếp đăi, gạn
hỏi. Hôm sau, dẫn đến gặp vị Giám Tự,
đúng theo cách thức xin quải đơn như đă
nói trong phần trước. Nếu qua loa, sẽ bị
phạt ở bậc trung.
*
Sĩ đại phu ở các nơi gởi thư
đến, [Tri Khách] nhận lấy cẩn thận rồi
chuyển giao, giao thư phúc đáp minh bạch tận tay
người mang thư đến. Sơ suất th́
phạt năm lần ở bậc hạ.
*
Các thứ giường, màn, gối, mền, chiếu
trải, bàn ghế, chậu rửa mặt, khăn tay, giá
đèn, ấm trà v.v… trong khách pḥng đều phải
kiểm điểm, sắp đặt đúng pháp. Nếu
thiếu sót, phạt năm lần theo bậc hạ.
*
Đối với các chuyện tiền, gạo, thuế
lương thực, hoa lợi, trai cúng v.v… phải cùng
với Đương Gia, Khố
Đầu, các vị chấp sự bàn bạc xử
trí.
*
Thí chủ đưa đến các con vật phóng sanh
như ḅ, hươu, lợn, dê v.v… phải thưa với Đương
Gia, Khố Đầu để ghi sổ: Vị thí
chủ nào mang con vật ǵ đến, giao cho người
trông nom chỗ phóng sanh là ai để thâu nhận, chăm
sóc.
*
Phàm ai muốn xin trụ lại, trước hết
cần bảo họ đọc quy ước của
bổn tự, xem họ có thể thật sự vâng
giữ từng điều hay không? Kế đó, họp các
vị chấp sự, xét lai lịch của người
ấy, xem xét họ lập tâm ra sao hết sức tường
tận đôi ba lượt. Nếu đích xác là
người lành, ổn thỏa, không có vi phạm, trở
ngại ǵ th́ mới có thể cho an đơn nhập chúng.
Nếu dễ dăi dung nạp, đến nỗi hạng phi
nhân xen tạp, vị Tri Khách cũng cùng bị trục
xuất khỏi chùa.
16.4.1.5. Thư Kư
Đối
với các việc chánh yếu của thường trụ,
sớ văn của thí chủ, hăy nên tận tâm biên chép,
chớ nên qua loa, cẩu thả!
16.4.1.6. Tri Sơn
*
Đất đai, ranh giới đất thuộc khu
vực chùa phải phân minh, chớ nên lấn chiếm,
hỗn loạn ranh giới của người khác
đến nỗi tranh chấp, kiện tụng. Mỗi
năm phải nhóm họp toàn thể
đại chúng để quan sát trong núi một
lượt.
*
Khai khẩn vườn tre, trồng trọt cây trà, và
dương mai v.v…, đốn củi ở khu núi có củi
nào trước, chỗ nào đốn sau, phải treo
bảng hiệu theo thứ tự, chẳng được
hỗn loạn. Kẻ chẳng vâng theo chỉ thị
sẽ bị cử tội, trừng phạt. Hễ dung
túng, chẳng xử lư, sẽ bị phạt ở bậc
trung.
*
Quây rào, phá tường, trổ cửa, lấp cửa,
phải kịp thời chỉnh đốn. Để
lỡ việc, phải chịu phạt ở bậc trung.
*
Thỉnh thoảng lên núi để trông nom, nh́n ngó, ḥng
ngăn ngừa kẻ tiểu nhân lén lút trộm cắp.
*
Đối với lương thực từ núi, hoa lợi
v.v… phải bàn bạc với người quản kho.
*
Cần phải gieo trồng tại các vườn,
ruộng ở các nơi, phải bàn bạc với Viên
Đầu để gieo trồng kịp thời, chẳng
được lỡ thời.
16.4.1.7. Tri Ốc
* Thường
xuyên coi sóc pḥng ốc thuộc các chỗ điện
đường, liêu xá, nhà bếp, nhà xưởng... Nếu
bị dột, hăy sớm lợp mái, hoặc cần tu
bổ, hoặc dựng mới, hăy thưa với Giám
Tự để kịp thời chỉnh lư. Để
hư chuyện, bị phạt ở bậc trung.
* Pḥng ốc thuộc hạ
viện cần phải sửa chữa mà không làm, sẽ bị
phạt hai lượt thuộc bậc hạ. Để
hỏng chuyện, phạt ở bậc trung.
16.4.1.8.
Trực Bản (直板)
*
Ngày đêm tuần tra các nơi, thấy
kẻ nói chuyện tạp nhạp, cười đùa,
liền gơ bản, niệm Phật mười câu
để nhắc nhở. Kẻ nào không vâng theo tiếng
bản để nhiếp tâm chánh niệm liền cử
phạt (nêu tội trước đại chúng để
xử phạt).
*
Trong đêm đi tuần, gơ bản trước Thiền
đường và các liêu pḥng. Trong khi ngủ mà có
người niệm Phật theo tiếng bản, bèn ghi
điều thiện cho người ấy.
*
Làm việc lấy lệ, chẳng cử tội, sẽ
bị phạt. Chẳng cử điều thiện, khi tra
xét thấy, sẽ bị phạt.
16.4.1.9.
Điển Tọa
* Hễ có tranh chấp,
đấu đá trong nhà bếp, [vị Điển
Tọa] khuyên họ thôi dứt. Họ không ngưng,
[Điển Tọa] gơ mộc
bản năm lượt. Vẫn không thôi, thúc liên tiếp
một hồi bản, người trực nhật trong và ngoài
đường sẽ tra xét và cử phạt. Nếu dung
túng chẳng cử tội, [Điển Tọa]
sẽ bị phạt ở mực hạ. Sự việc
lớn th́ phạt ở bậc trung.
*
Chẳng được nấu thức ăn thiên vị
cho một nhóm người nào. Người cho lẫn
người nhận đều bị phạt ở bậc
hạ. Chỉ trừ nấu riêng cho người bệnh
th́ chẳng luận.
*
Các thứ phẩm vật chưa cúng
Phật, chẳng được cho đại chúng ăn
trước. Người cho lẫn người nhận
đều bị phạt ở bậc hạ. Trừ
người bệnh th́ chẳng luận.
*
Nấu nướng mà không nếm thử trước,
dẫn đến mặn, nhạt không phù hợp, phạt
ở bậc hạ.
*
Dùng dầu, tương quá lố, phạt ở bậc
hạ. Nếu thí chủ đặc biệt đưa
tới, lại chẳng thể keo tiếc. Hễ cố ư
giảm bớt, phạt ở bậc trung.
*
Khi nấu đồ trai cúng, nấu thành hai loại, ôm ḷng
riêng tư đối xử trọng hậu hay
đơn bạc, bị phạt ở bậc trung.
*
Vô cớ dùng hồ tiêu, nấm hương, phạt ở bậc
hạ. Hái các loại nấm hoang để ăn, bị
phạt giống như vậy.
*
Ba thời đánh bản.
16.4.1.10.
Phạn Đầu
* Tháng
nóng, cơm cháo có thừa, hăy nên sớm chế biến sao
cho thơm ngon. Cho đại chúng ăn thứ ôi thiu, sẽ
bị phạt theo bậc hạ.
*
Khi cơm nước đă chuẩn bị xong, lại có
thêm người tới, nếu bị thiếu, cần
phải thưa với vị Trực Đường và Phô
Đường, giữ lại phần cơm để
đăi người tới sau. Trái lệ, sẽ bị
phạt theo bậc hạ.
*
Trong chúng có người tự mang chén bát đến bếp
lấy cơm hoặc thức ăn, vị Phạn
Đầu không cử tội, sẽ bị phạt ở bậc
hạ.
*
Nhóm lửa nấu nướng, chẳng báo trước
với người Hỏa Đầu phối hợp
đến nỗi nồi bị nứt vỡ, cả hai
cùng phải bồi thường.
*
Tháng Hè thay bể chứa nước mỗi ngày một
lần. Quét dọn máng dẫn nước ba ngày một
lần. Mùa Đông: Bể nước th́ ba ngày thay
nước một lần, máng nước bảy ngày quét
dọn một lần. Sơ sót, phải chịu phạt
theo bậc hạ.
*
Ba thời khai bang [báo giờ thọ trai].
16.4.1.11. Thái Đầu
* Rau sống phải
được rửa sạch, thay nước rửa ba
lượt. Dưa muối phải được
đậy nắp. Kẻ vi phạm sẽ bị phạt
ở bậc hạ.
*
Thùng hay chậu rửa rau, mỗi lần dùng xong, phải
dùng nước sạch rửa sạch, chớ nên
để chất bẩn lưu lại. Ai vi phạm
sẽ bị phạt ở bậc hạ.
*
Máng dẫn nước: Mùa Hè cứ ba ngày quét dọn
một lần. Mùa Đông bảy ngày quét một lần. Vi
phạm, sẽ bị phạt ở bậc hạ.
16.4.1.12. Trà Đầu
*
Canh năm bèn nhóm lửa đun nước. Không
được lập tức đổ ào nước vào
nồi ngay. Trước hết, cần phải xua trùng,
kiến [ra khỏi nồi]. Đổ nước bừa
băi sẽ bị phạt ở bậc hạ.
*
Đem các món ăn nhẹ đă hư ôi cho đại chúng
ăn, phạt năm lần ở bậc hạ.
*
Nước nóng rửa mặt đă sẵn sàng, giao cho Hương
Đăng xếp ở hành lang. Người
đến rửa mặt chẳng theo thứ tự,
ồn ào, hỗn loạn, sẽ bị phạt ở bậc
hạ. [Trà Đầu] chẳng cử tội, sẽ cùng
bị phạt.
*
Giá treo khăn tay, hăy nên rửa sạch sẽ. Người
trái phạm sẽ bị phạt ở bậc hạ.
*
Chậu rửa mặt hễ có người đem đi
chỗ khác dùng, [Trà Đầu] phải giành lại ngay.
Phạt người ấy mua đền một cái
chậu. Chẳng chịu đền, trục xuất
khỏi viện.
*
Khóa ăn nhẹ lúc canh năm, lượng định
đại chúng đừng quá nhiều, hoặc quá ít,
đợi đại chúng trở về đơn rồi
mới đưa vào trong điện đường.
*
Ngày cạo tóc theo quy định, chuẩn bị
nước ấm rồi đánh một hồi bang dài.
Hễ sơ suất, sẽ bị phạt ở bậc
hạ.
*
Trời đă sáng, lại có người lấy
nước nóng rửa mặt lần nữa, chẳng
được cho họ. Người cho lẫn
người nhận đều bị phạt ở bậc
hạ; trừ người già, bệnh, khách tăng th́
chẳng luận.
*
Gặp các ngày là ba, sáu, chín th́ quét máng nước một
lần. Sơ sót, phạt hai lần thuộc bực
hạ. Mùa Đông, gặp ngày năm, mười, quét
một lần.
*
Trong nồi trà chẳng cho kẻ nào nấu xen lẫn các
thứ vật khác. Chẳng cử tội, sẽ bị
phạt ở bậc hạ.
*
Phàm người vào liêu lấy trà hay nước ấm,
cần phải vào ngay, ra ngay, nhiếp tâm niệm Phật.
Kẻ lần chần, cười nói, cho phép Trà Đầu
cử tội, xử phạt. Nếu [Trà Đầu] bao dung,
không chịu cử báo, cùng chịu phạt.
*
Ngày tắm giặt theo quy định: Các mùa Xuân, Thu,
Đông là những ngày Mười Hai, Mười Ba, Hai
Mươi Bảy, Hai Mươi Tám. Chỉ có mùa Hạ là
mồng Hai, mồng Ba, Mười Hai, Mười Ba, Hai
Mươi Hai, Hai Mươi Ba, sai phạm sẽ bị
phạt ở bậc hạ.
*
Quy định ngày cạo tóc: Mỗi tháng vào các ngày mùng Bảy,
Mười Bốn, Hai Mươi Hai, Ba Mươi (tháng
thiếu là ngày Hai Mươi Chín). Làm sai hạn, sẽ
bị phạt ở bậc hạ.
16.4.1.13. Sài Đầu
* Trời nắng ráo,
phải sớm chuẩn bị củi sẵn cho ngày âm u,
mưa gió. Phạm sai lầm, sẽ phạt theo bậc
trung.
*
Lúc bận bịu phải thưa với vị Tri Chúng, vào
điện đường thỉnh trọn khắp
[mọi người giúp đỡ]. Tới kỳ hạn,
thúc ba hồi bang [để đại chúng biết mà cùng
làm]. Người sai phạm sẽ bị phạt ở bậc
hạ.
16.4.1.14 Hỏa
Đầu
*
Dưới bếp ḷ, không được
chất củi quá nhiều. Mỗi tối phải thâu
thập, quét dọn sạch sẽ. Vi phạm, sẽ
bị phạt ở bậc hạ.
*
Mỗi tháng phải thông ống khói một lần. Bỏ
bê sẽ bị phạt mười đồng.
16.4.1.15 Oản
Đầu
*
Bát đĩa ở các nơi phải thường xuyên t́m
kiếm, tuần tra để thu dọn. Sơ suất, sẽ
bị phạt ở bậc hạ. Người
mượn dùng bát, đĩa, phải kịp thời giao
trả. Ngầm giữ lâu ngày, sẽ bị phạt ở
bậc hạ. Khuyết thiếu chẳng kiểm tra, người
chấp sự tự ḿnh bồi thường.
*
Trong đại chúng, có người
đập vỡ bát, đĩa, vật dụng, phạt
đền gấp đôi. Nếu do sân hận mà đập
phá, đền gấp mười. Cố ư chẳng chịu đền,
trục xuất khỏi viện.
*
Oản Đầu rửa ráy, v́ cẩu thả mà làm
sứt vỡ, sẽ bị phạt ở bậc hạ. Do
thô tháo mà rửa vỡ, phạt hai lượt ở bậc
hạ. Trừ khi [bát đĩa] đă bị hư hỏng
từ trước th́ được miễn.
*
Thùng gánh nước, vào mùa hè, rửa xong liền úp
xuống. Để nước tích tụ lâu, sẽ bị
phạt ở bậc hạ.
*
Đem bát đĩa chuyên để cúng Phật dùng loạn
xạ, sẽ bị phạt ở bậc trung.
16.4.1.16. Ma Đầu
*
Phàm mọi việc xay giă, do Ma Đầu làm chủ.
[Nơi xay giă] cần phải dọn dẹp sạch
sẽ. Kẻ vi phạm sẽ bị phạt ở bậc
hạ.
*
Không chú tâm đến nỗi nguyên liệu bị mục
nát, bị phạt đền.
16.4.1.17. Viên Đầu
*
Vườn tược, ruộng đất các nơi
đúng thời tưới tắm, đáng gieo trồng
liền gieo trồng. Đáng thu hoạch th́ phải thu
hoạch ngay. Sơ sót th́ bị phạt ở bậc trung,
c̣n phải bồi thường.
* Ngoại trừ tháng tột
bậc rét buốt, chẳng được phép đốt
đất để dọn vườn. [Việc
đốt đất] chỉ bắt đầu từ ngày
Đông Chí, kết thúc vào ngày Lập Xuân. Sơ sót th́ bị
phạt ở bậc trung.
16.4.1.18
Tịnh Đầu
*
Đối với các chỗ như nhà vệ sinh ở phía
Đông, canh năm mỗi ngày, khi khai tĩnh phải
thắp đèn. Khi trời sáng, tắt đi. Tối
đến, lúc khai tĩnh lại thắp, khi nhập quán
bèn tắt. Không đúng thời th́ bị phạt ở bậc
hạ. Phải quét dọn mặt đất cho thanh
khiết. Trước bệ xí, đặt một chậu
lửa để đốt mạt cưa [khử mùi hôi].
* Phải thường xuyên
kiểm tra guốc gỗ, hễ bị tổn hoại th́
thưa với Tri Sự để sắm sửa.
* Khăn lau tay: Mùa Đông, ba
ngày giặt một lần. Mùa Hè, mỗi ngày giặt
một lần. Vi phạm, bị phạt ở bậc
hạ.
* Mỗi tháng, nhằm ngày
mồng Bảy, Mười Bốn, Hai Mươi Hai, Ba
Mươi (tháng thiếu là ngày Hai Mươi Chín) là bốn
lượt tắm cho trọn khắp đại chúng.
Mồng Ba, mồng Mười, Mười Tám, Hai
Mươi Sáu, bốn ngày này là tiểu dục (tắm
sơ qua). Những ngày c̣n lại dành cho những
người làm việc nặng, có thẻ bài chấp
thuận cho tắm. Khách mới vừa đến th́
chẳng luận. Nếu sơ sót, chẳng nghiêm túc, sẽ
phạt theo bậc hạ. Nếu [Tịnh Đầu] cho
phép tắm hỗn loạn, bao che dung túng, chấp sự
lẫn người tắm đều bị phạt.
16.4.1.19.
Phu phen gánh vác
* Người
gánh các vật, đều phải giao phó minh bạch cho nhà
kho. Nếu hàm hồ, sẽ bị phạt ở bậc
hạ.
* Nghỉ lại, liền
dùng ngay số gạo ḿnh đang gánh để nấu
cơm, trả tiền thuyền. Nếu lạm dụng
hoặc dùng bừa băi, hễ tra xét thấy,
sẽ là một đền mười. Tuy biết mà
chẳng cử tội, cũng bị phạt giống
như vậy.
16.4.1.20. Hóa Phạn
(người ra ngoài hóa duyên lương
thực)
* Khi ra ngoài phải đi nhanh,
về chóng, chẳng được xen vào chuyện nhà
người ta. Vi phạm sẽ bị phạt ở bậc
hạ.
*
Đến nhà người ta, chẳng được cùng
nữ nhân nói chuyện ở nơi kín đáo, gởi
đồ vật qua lại. Chuyện nhỏ th́ bị
phạt bậc trung, chuyện lớn th́ trục xuất
khỏi viện.
16.4.1.21. Phô Đường
* Dọn
cơm và canh, cần phải dốc ḷng cung kính, chẳng
được giằn chén bát ra tiếng. Vi phạm sẽ
bị phạt bậc hạ.
* Trong giờ ăn mà có
người nói chuyện tạp, nghe tiếng mơ báo tĩnh
mà vẫn không dứt, người Phô Đường
tịch thâu chén đũa [của kẻ đó]. Nếu dung
túng, ẩn giấu, [Phô Đường] bị phạt
tiền hai mươi đồng!
16.4.1.22. Hương
Đăng
* Người Hương
Đăng ở các nơi hăy nên xếp dọn bàn thờ
chỉnh tề, luôn luôn lau chùi. Người vi phạm
sẽ bị phạt bậc hạ.
* Dây treo đèn lưu ly
mỗi năm thay mới một lần, đến kỳ
hạn phải báo ngay với Tri Sự để mua
sắm. Nếu chẳng báo, phải bị phạt ở bậc
hạ, dẫn đến rơi vỡ, bị phạt bồi
thường.
* Phải dụng tâm
chỉnh ngay ngắn chụp đèn. Khi lắp chụp
đèn, phải vặn chặt, sợ tổn thương
tánh mạng loài vật. Vi phạm sẽ bị phạt
bậc hạ.
*
Mỗi tối trông chừng kỹ càng đèn đuốc.
Vi phạm sẽ bị phạt bậc hạ.
*
Hằng ngày thay nước, quét đất. Guốc gỗ
nơi pḥng vệ sinh phía Đông bị thiếu hay hư
hoại, phải báo với Tri Sự để mua sắm.
Vi phạm sẽ bị phạt bậc hạ.
*
Nước rửa tay ở trong đại
đường, mỗi ngày phải thay một lần. Vào
tháng nóng th́ thay hai lần. Mùa Đông th́ nước nóng,
khăn lau tay phải giặt sạch sẽ, hong phơi. Vi
phạm th́ sẽ bị phạt theo bậc hạ.
*
Đèn đuốc thắp trước Phật mà dùng
bừa băi hoặc thắp loạn xạ, cứ một
đền mười. Chẳng cử tội,
sẽ cùng chịu phạt.
*
Chuông, trống không được đánh sớm hay muộn.
Đánh sai lúc, sẽ bị phạt theo bậc hạ.
Thỉnh chuông không được giộng quá to khiến
pháp khí bị nứt vỡ. Vi phạm sẽ bị
phạt.
*
Trống không được đặt gần
tường bôi vôi. Cứ mỗi quư phải xoay mặt
trống một lần.
*
Tới ngày cạo tóc [theo quy định], nghe tiếng bang
liền vào trong đường để xem bảng ghi
tên, thỉnh vị được xếp cạo tóc
đầu tiên [xuất đường], lễ một
lạy. Sau đó nghe hai tiếng bang, người kế
tiếp bước ra. Nếu [đại chúng] đi ra
lộn xộn, mà chẳng cử tội, [Hương
Đăng] sẽ bị phạt bậc hạ.
16.4.1.23.
Thị giả
*
Mỗi buổi sáng phải dậy sớm,
trước hết tự rửa mặt, súc miệng xong
xuôi, sẽ ở trước cửa [pḥng thầy] khảy
ngón tay ba tiếng, hoặc nhẹ hắng giọng
[để báo hiệu sẽ vào pḥng thầy].
*
Bước vào, trước hết khêu bấc đèn,
hoặc khêu đèn lưu ly [cho sáng hơn], chẳng
được để tàn bấc rơi trên mặt
đất. Khi trời sáng liền tắt đèn.
*
Đến bên giường thầy, sẽ thưa hỏi:
“Đêm thầy ngủ có an ổn, thoải mái hay không?”
*
Sắp đặt chậu than sưởi cho thầy,
nước sôi và nước nóng để rửa mặt,
khăn lau mặt, ắt cần phải hong khô.
*
Xếp gấp chăn màn, phẩy lau giường,
chiếu.
*
Khi dùng cơm cháo, thong thả thưa sẵn với thầy,
sau đó dâng thức ăn cho thầy. Khi thầy ăn bèn
xuất sanh.
*
Thu dọn các vật dụng, quần áo, ghi nhớ chỗ
xếp cất.
*
Thay nước sạch trước tượng Phật,
thắp hương, lau bàn, quét dọn mặt đất
trong pḥng.
*
Khách đến, dâng trà, đứng hầu ở một
bên. Chờ [thầy và khách] uống xong, bèn đỡ
lấy chén.
*
Pha nước tắm cho vừa ấm, cầm sẵn
khăn tắm cho thầy.
*
Giặt giũ y phục của thầy, gột hồ,
xếp dọn đúng pháp.
*
Buổi tối đốt đèn lưu ly, thắp
hương các nơi.
*
Khóa lễ tối theo đại chúng tụng niệm
tại đại đường xong, dâng hương theo
quy định. Kẻ trái nghịch sẽ bị phạt
theo bậc hạ.
*
Tự ḿnh tọa thiền, hoặc học kinh, hết
giờ (hương tàn) th́ nhập quán.
*
Trao đổi thư tín, truyền đạt lời
thầy, phải nên ghi nhớ, thâu nhận minh bạch.
Hồ đồ sẽ bị phạt theo bậc hạ.
Nếu là chuyện lớn, sẽ
phạt nặng.
16.4.1.24. Khán
bệnh (chăm sóc bệnh nhân)
* Chăm sóc bệnh nhân:
Hễ thấy bệnh t́nh hơi trở nặng hơn,
liền thỉnh trọn khắp đại chúng phát tâm.
Nếu không có người phát tâm, hăy theo đúng giới
luật, luân phiên chăm sóc, ba ngày thay phiên một
lượt.
* Cần phải phát
đại nguyện, khởi tâm từ bi, đừng chán
nhàm, sợ mệt. Nếu bệnh nhân nói lời xúc
phạm, đừng dấy tâm sân, đừng tham y bát của
bệnh nhân, chỉ sanh tâm làm phước. Đó gọi là “khán
bệnh”. Nếu không có tâm chiếu cố, quan tâm,
bỏ bê không chăm sóc, sẽ bị phạt theo bậc
hạ.
16.4.1.25.
Chăm sóc người già
*
Mỗi sáng, thắp đèn, vào pḥng. Trời sáng bèn tắt
đèn.
*
Nước nóng rửa mặt, thức ăn nhẹ,
chậu than sưởi, nước sôi đều phải
chuẩn bị đầy đủ.
*
Ba bữa cơm cháo, thức ăn phải nấu mềm,
hợp khẩu vị.
*
Quét dọn sàn pḥng, lau bàn.
*
Thắp hương, thay nước trước
tượng Phật.
* Thuốc men, thức ăn
thích nghi.
* Giặt giũ y phục,
gột hồ, xếp cất đúng pháp.
* Chẳng được
lười nhác, điềm nhiên bỏ mặc người
già.
* Ba thời khóa tụng
phải theo đại chúng lên chánh điện tham dự.
* Buổi tối thắp
đèn, đuốc, cần phải cẩn thận. Khi
ngủ th́ tắt.
* Trả lời không
được nổi cáu, hăy nên nhẫn nhục, cung kính
tột bậc.
16.4.1.26.
Cảnh sách
* Luân
phiên cảnh tỉnh người già, người bệnh.
Mỗi lần cảnh sách là hai người cùng thực
hiện. Kẻ chẳng làm, phạt mỗi người hai
phân tiền.
* Cảnh sách tại lăo
đường, ngày Rằm và Ba Mươi mỗi tháng,
tháng thiếu là Hai Mươi Chín, tụng bài văn
cảnh sách lăo đường xong, niệm Phật ba trăm
câu, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng mỗi danh
hiệu ba lượt. Hồi hướng: Niệm
Phật công đức thù thắng hạnh…
* Cảnh sách tại bệnh
đường, các ngày mồng Tám, Rằm, Hai Mươi
Ba và Ba Mươi (tháng thiếu là ngày Hai Mươi Chín)
mỗi tháng. Nếu gặp người bệnh nặng,
cần phải cảnh sách hằng ngày, chẳng tính theo
ngày cố định nữa. Tụng bài văn cảnh
sách bệnh nhân xong, đồng thanh niệm Phật giống
như trên. Hồi hướng rằng: “Do công
đức niệm Phật trên đây, kính nguyện
tỳ-kheo (sa-di) tên… đang bị bệnh, nếu
các duyên chưa tận, sớm được b́nh phục.
[C̣n như] đại hạn khó trốn, sẽ mau
sanh về An Dưỡng, mười phương ba
đời hết thảy Phật…”
16.4.1.27. Sơn
Môn (người
gác cửa tam quan)
* Mười
phương vân thủy tăng đến, dẫn vào nhà
bếp, hỏi han xong, đăi trà. Uống trà xong, xếp
đơn cho họ, thâu dọn hành lư, thỉnh
người ấy lên đơn ngồi, đừng
để họ buông lung. Gặp kẻ buông lung, bèn mềm
mỏng uốn nắn. Kẻ tranh chấp, dùng lời ḥa
nhă ḥa giải. Kẻ quá đáng th́ bạch chúng,
nương theo thanh quy của tùng lâm để xử
đoán. Vị Sơn Môn nếu tự tiện thốt
lời thô tháp, sẽ bị phạt theo bậc trung. Khách có
ư muốn tùy hỷ đi thăm các nơi trong chùa, hăy
để cho họ xem, đừng cự tuyệt.
* Thấy quan viên đang
nhậm chức đến, phải báo sẵn cho vị Tri
Khách. Nếu là sĩ phu, hương hoạn[36]
th́ cũng vậy. Vi phạm th́ bị phạt theo bậc
hạ, chuyện lớn th́ phạt nặng.
* Khách ra khỏi cửa, có
người tiễn th́ đừng cự tuyệt. Không có
người tiễn th́ vị Sơn Môn đưa tiễn.
Vi phạm th́ bị phạt theo bậc hạ, chuyện
lớn th́ cân nhắc để phạt.
* Bậc thầy đức
hạnh có tín tâm từ phương xa tới, muốn tùy
hỷ viếng các nơi, hăy dẫn đi xem, đừng
cự tuyệt.
* Cúng trai, bữa ăn
nhẹ v.v… khách mười phương và người
thuộc bổn sơn có cùng một lệ. Nếu [vị
trông sơn môn] ôm ḷng riêng tư đối xử nồng
hậu hay tệ bạc th́ phạt theo bậc trung.
16.4.1.28.
Người được sai phái
* Được
thường trụ sai khiến, đừng viện
cớ thoái thác, ẩn tránh. Nếu bị sai phái bất
công, hăy nên nêu thẳng.
* Chẳng thể do
được sai phái mà thừa dịp thuận tiện
kiếm lợi.
16.4.1.29. Ấn
pḥng
* Phải
thường xuyên chăm nom các mộc bản kinh
điển để chẳng đến nỗi hư
hoại, rối loạn.
*
Nếu có kẻ tự khắc in riêng tư, chẳng
cử tội, sẽ bị phạt ở bậc trung.
16.4.2. Những
quy định nhỏ trong trai đường
*
Nhóm họp đại chúng với số lượng
nhỏ, thúc một hồi trống, ai không đến,
phạt gấp đôi theo bậc hạ.
* Nhóm họp toàn bộ
đại chúng, thúc ba hồi trống, ai không đến
sẽ bị phạt ở bậc trung.
* Người giữ
chức trách Tri Sự nổi giận, đấu đá
nhau, trước hết, phạt mỗi người
năm phân bạc. Người thuộc đại chúng can
dự vào th́ trước hết phạt mỗi
người bốn phân bạc. Sau đó, xét rơ lẽ
đúng sai, sẽ phạt thêm.
*
Kẻ nói chuyện phiếm ồn ào, tạp nhạp,
nếu người quản sự chẳng gơ bản
[cảnh cáo] th́ [người quản sự] bị phạt
ở bậc hạ.
*
Có chuyện đấu đá mà [người quản
sự] không gơ bản [cảnh cáo], sẽ bị phạt
ở bậc trung.
*
Đến thọ trai mà nói chuyện tạp nhạp,
người Phô Đường sẽ tịch thâu bát,
đũa [của kẻ đó].
*
Khi Thiền Đường đánh bản báo hiệu Quá
Đường xong, tại trai đường [những
người có chức trách] mới dọn thức ăn.
Nếu trước sau mất thứ tự, bị
phạt ở bậc trung.
*
Hết thảy khách khứa và vân thủy đạo
hữu đến, nếu chẳng phải là người
chấp sự mà chơ miệng nói năng bừa băi, mạo
phạm, th́ phạt ở bậc trung.
16.4.3. Những
phương tiện điều dưỡng cho
người chấp tác (có
kèm toa thuốc)
- Những người gánh
vác chớ nên vừa đến nơi liền cởi
bỏ y phục để hóng gió, bắt rận.
Người làm việc nặng nhọc khác cũng
giống như vậy.
- Ngày tiết trời mưa,
gió âm u, chớ nên phanh ngực áo.
- Đêm ngủ không
được để hở lưng, bụng, kẻo
bị nhiễm lạnh.
- Gánh gồng trong mưa, gió,
tuyết trở về, chớ nên dùng nước nóng
để rửa chân trần ngay, hăy nên dùng nước
ấm để rửa chân. Chờ một lúc sau mới
tắm gội, ắt phải tắm thấm đều
toàn thân th́ mới nên. Lúc áo bị ướt, hăy sấy khô
rồi mới mặc.
- Gánh gồng trở về,
chớ nên ăn ngay ḿ, cơm, hoặc thức ăn
lạnh. Hăy nên uống nước sôi hay trà nóng
trước, một lát sau mới ăn. Làm việc
nặng xong, cũng giống như vậy.
- Khi ăn cơm, ḿ đă no,
chớ nên ngủ ngay.
- Cảm thấy Tứ
Đại hơi bất an (trong người khó ở),
phải nhịn ăn ngay.
- Hơi cảm thấy nôn
nao, đau đầu, thân thể thoạt nóng thoạt
lạnh, có thể cạo gió, hoặc giác hơi ở
khủy chân, uống Ngũ Quả Thang[37],
nhịn ăn. Ai làm trái sẽ bị phạt ở bậc
trung. Làm hỏng chuyện, sẽ phạt thêm.
* Đính kèm toa
thuốc pḥng ngừa:
1)
Toa thuốc: Mạch nha, tía tô, trần b́, cam thảo, thần
khúc[38],
gừng tươi, sơn tra (mỗi vị lượng
bằng nhau), đun nước, sắc hai tiếng
đồng hồ c̣n tám phân, uống ngay khi c̣n nóng, lấy
đổ mồ hôi làm hạn.
2)
Cách khác: Hơi cảm thấy buồn nôn, dùng một nhúm
rưỡi muối, năm sáu bảy chén nước nóng,
pha thành nước muối nhạt, uống ngụm
lớn liên tục, lấy việc nôn sạch làm hạn.
Nếu chưa nôn, uống thêm vài bát nữa. Nôn sạch
cũng không sao!
16.4.4. Kệ
dùng bữa tối
Tăng thực nhị
thời, văn xan phi lư, quyền danh dược thạch. Chánh
niệm nghi tu. Tạp thoại, tán tâm, đoạt oản,
thâu trợ. Đại chúng văn khánh thanh, các chánh
niệm.
(Tăng
ăn hai bữa, bữa tối trái lư, tạm gọi
Dược Thạch. Nên tu chánh niệm. Nói tạp, tán tâm,
tịch thu bát, đũa! Đại chúng nghe tiếng khánh,
ai nấy chánh niệm).
16.4.5. Thông
lệ cho việc tăng trực
* Luân lưu dựa theo
bảng phân công tuần chiếu. Trong các đường,
không tính theo thứ tự luân phiên.
*
Người già, bệnh, tàn phế, trẻ nhỏ c̣n
để chỏm đều được miễn.
Người tự phát tâm luân phiên trực nhật th́
được phép, những người khác muốn
được miễn th́ nộp năm phân bạc.
*
Khóa lễ sáng hoàn tất, bàn giao sổ sách, trước
tiên đối trước Phật xá bái, kế đó
đối trước bàn Già Lam cầu chứng minh.
*
Đối với việc lớn trong tùng lâm, cũng
như những kẻ hiền, ngu, đúng, sai trong
đại chúng, nếu tâm chẳng công b́nh, chẳng
hợp lư v.v… đều phải một mực chí công vô
tư, nói thẳng, không giấu diếm. Nếu bắt
nạt người lành, sợ kẻ ác, sợ đầu
sợ đuôi, biết rơ mà nín nhịn chẳng nói, hoặc
có ḷng riêng tư thiên vị, bất công, sẽ bị
phạt bậc thượng và trục xuất khỏi
viện.
*
Ba tháng mới luân phiên trực một lần, nếu
vẫn làm lấy lệ cho xong chuyện, há c̣n có tâm làm
người hay chăng?
*
Nếu gặp việc [chẳng đúng lẽ] mà chẳng
nói, phạt năm phân bạc.
*
[Khi ghi chép sự kiện], ngày tháng viết ở
đầu ḍng, việc được nêu ra viết
thấp xuống một chữ. Viết không đúng cách
thức, phạt một phân bạc. Buổi sáng mỗi ngày,
sau khi nêu ra sự việc xong, phải chép vào sổ,
trước tiên gửi vào trong đường để
kiểm nhận, sau đó chuyển qua quản sự bên
ngoài để bàn bạc lần nữa. Chọn ra
chuyện đáng thực hiện th́ ghi vào sổ Sự Nghi
(sự việc cần làm). Chẳng theo đúng cách
thức, phạt mười đồng.
16.4.6. Sớ
thệ nguyện trước chư thần mỗi nửa
tháng
Thế
giới Sa Bà, một tứ thiên hạ, Nam Thiệm Bộ
Châu, nước Đại Minh, tỉnh Chiết Giang,
phủ Hàng Châu, huyện Tiền Đường, các vị
tăng chức sự chùa Vân Thê: Tri Khố (kư tên), Trực
Viện (kư tên), Tri Khách (kư tên), Tư Sơn (kư tên), Kinh
Thư (kư tên), Măi Biện (kư tên), cho đến hết
thảy những người có tiền bạc chuyển
qua tay, nhằm biểu lộ, giăi bày tâm hạnh thanh
bạch, ḥng nghiêm túc ǵn giữ giới luật, ḥng nêu
gương cho người đời sau, phát ḷng thành kính,
chân thật, chẳng dối, tâu tŕnh
mười tám vị thần thủ hộ già-lam[39],
thần Hoa Quang[40]
của bổn tự, thần Châu Tuyên Linh Vương[41],
thần Quan Thánh, tất cả các vị oai linh trong chùa,
nhật du, dạ du, lược thặng
sứ[42],
Tốc Báo Tư, các vị tôn thần. Vào ngày… tháng… năm
Vạn Lịch…. Chúng tôi được cử giữ các
chức sự như Tri Khố v.v… của chùa này cho
đến ngày… tháng này. Đối với hết thảy
tiền bạc, vải vóc, gạo, ḿ, rau quả,
đủ loại các vật, nếu có t́nh trạng xâm
đoạt, lừa dối, cẩu thả v.v…, nguyện
trong đời hiện tại, tự chuốc lấy
tổn lộc, giảm thọ, bệnh ngặt quấn
thân, hoặc gặp tai nạn dữ, báo ứng hiển
nhiên cho đại chúng trông thấy. Tới lúc lâm chung,
đọa lạc trong các đường ác địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chỉ nguyện thần minh
soi xét để răn đe người đến sau.
Ngày...
tháng... năm Vạn Lịch, các tăng sĩ có chức
sự… kính cẩn dâng sớ.
16.4.7. Ba ước
hẹn về nhận lời thỉnh
* Truyền
giảng kinh tại bổn tự, lập thệ chẳng
nhận thỉnh lễ, tạ lễ của hội
trưởng và tài vật của thính chúng.
* Người truyền hai
bộ giới pháp tại bổn tự, suốt
đời chẳng nhận tài vật của giới
tử.
*
Truyền pháp Du Già Thí Thực tại bổn tự, chẳng
được nhận tiền biếu riêng của thí
chủ.
16.4.8. Các quy
định về lưu thông tàng bản pháp bảo tại
Vân Thê
Lưu thông Phật pháp chẳng
phải là chuyện nhỏ. Từ khi đổi phạm
giáp (梵夾, lối
in kinh trên một mảnh giấy dài cuộn lại) thành
phương sách (方冊, sách
xếp giấy, khâu gáy bằng chỉ giống như sách
của Nho gia) nhằm thuận tiện lưu thông, ở
các chùa nổi tiếng tại các cuộc đất thù
thắng như Song Kính, Lăng Nghiêm, Lậu Trạch, Cô Tô,
Tân An, những người đồng tâm hiệp lực
cùng thực hiện đều có những điều
lệ riêng để thực hiện,
nhưng chưa kịp lập quy tắc tường
tận về thâu chi và thỉnh phát (thỉnh kinh và phân
phối kinh), nhưng việc thâu chi, thỉnh phát chính
là việc trọng yếu trong lưu thông. Nếu chẳng
đề pḥng nghiêm ngặt, lâu ngày sẽ nẩy sanh thói
tệ, gây hại càng lớn. Tức là pháp chưa lưu
thông, mà người lưu thông pháp đă trầm luân
trước! Sao có thể tùy tiện chẳng đặt
định ư?
Lại
nữa, lưu thông có hai loại: Một là chân thật
lưu thông, hai là lưu thông theo kiểu bán chác. Lưu thông
theo kiểu bán chác là gom kinh sách làm hàng hóa, bán hàng kiếm
lăi, tích lăi để làm giàu, giống như các tiệm sách
hiện thời. Đó là đường lối của
lũ con buôn! Chân thật lưu thông là xác lập cái tâm “chẳng
truyền pháp, sẽ không có cách nào độ sanh. Nếu
chẳng truyền pháp độ sanh, sẽ chẳng có cách
nào báo ân đức của Phật. Chỉ mong Phật pháp
xoay vần hoằng dương trong vô lượng cơi, vô
lượng đời”; ngoài ra chẳng mưu cầu
chi khác! Đó gọi là chân thật lưu thông vậy. Chân thật
th́ mới xứng gọi là công đức. Buôn bán chỉ
tăng thêm tội khiên. Hai đằng tợ hồ
giống nhau, nhưng khác hẳn, há chẳng nên cẩn
thận ư? Nay định ra sáu chương giao
ước, đặc biệt dặn ḍ cặn kẽ
ở phần thâu chi và thỉnh phát. Mong người lănh
trách nhiệm này đừng coi lời tôi là sai, vẫn
giữ măi chẳng thay đổi để truyền
đến mai sau, ngơ hầu chẳng phụ bạc đàn việt
tạo pháp, chẳng phụ công vua quan hộ pháp, chẳng
phụ bạc đức Phật Thế Tôn và hiền thánh
sư xưa nay thuyết pháp, diễn pháp!
1) Sao chép thận
trọng:
- Trước hết,
phải tra cứu những kinh chưa được
khắc in tại các nơi như Song Kính, Lăng Nghiêm,
Lậu Trạch, Cô Tô, Tân An v.v… rồi mới
được sao chép để khỏi bị khắc in
trùng lặp.
-
Khảo đính các bản kinh, nếu có sai khác, hăy dùng lư
để định đoạt, bên nào hợp lư hơn
th́ theo. Nếu chẳng thể quyết định, hăy tạm
theo một bản, chẳng được dựa theo ư
kiến chủ quan để tự tiện thay
đổi.
-
Nét chữ đều phải trang trọng, vuông vắn,
chỉnh tề, cẩn thận từ đầu
đến cuối. Đừng tốt đẹp lúc
đầu, phần sau cẩu thả.
-
Lối chữ (tự thể) phải dựa theo sách
Hồng Vũ Chánh Vận cũng như Tứ Thư
Ngũ Kinh mà giới nho sĩ học tập từ bé,
đừng dùng thể loại chữ
hiểm hóc, phá cách, khiến cho người khác khó nhận
biết. Lưu thông pháp bảo cốt yếu là khiến
cho người trí lẫn kẻ ngu đều có thể
thông hiểu!
-
Khi chép phải chú mục, chuyên tâm, đừng nghĩ
chuyện khác, ngơ hầu chẳng sai sót, th́ công đức
sẽ bằng với năm loại pháp sư.
-
Có người nói kinh văn cần phải chấm câu,
nhưng sợ mỗi người dựa theo ư riêng ḿnh mà
chấm câu, có thể đâm ra phạm sai lầm,
chẳng bằng vẫn giữ y như cũ th́ hơn.
-
Có người nói kệ tụng nên viết nối liền
một khối với phần Trường Hàng, chớ nên
tách riêng thành một đoạn câu, nhưng sợ rằng
theo lệ ấy đă lâu, mọi người đều
thấy thuận tiện, cũng chỉ nên y theo lối
cũ th́ hơn.
2)
Giảo chánh, đối chiếu cẩn thận:
-
Chép xong liền đối chiếu với nguyên bản. Hai
người phải dụng tâm ḍ đọc, so sánh. Chẳng
sai, chẳng sót th́ mới có thể giao cho thợ khắc.
Cẩn thận đừng làm qua loa! Cần phải dùng
người giảo chánh đối chiếu là
người thông đạt văn lư, lại cần có
một người tinh thông giáo pháp làm chủ.
-
Khắc xong, giảo chánh, đối chiếu một
lần nữa như trước.
3)
Khắc in cẩn thận:
-
Ngoài việc chọn thợ khắc
[mộc bản] có tay nghề tinh luyện, lại cần
phải là người tín tâm cung kính, chịu ăn chay,
giữ giới, tâm tánh an tĩnh th́ mới được.
Nếu chẳng vậy, dẫu có thư tiến cử,
vẫn chẳng dám chấp nhận.
-
Nơi giữ ván khắc cần phải sáng tối vừa
phải. Để gần chỗ nắng gió, sẽ dễ
nứt. Không có ánh mặt trời th́ dễ bị mục
nát.
4)
Ấn loát, đóng thành sách cẩn thận:
-
Chỉ dùng một loại giấy Thái
Sử Liêm để bôi mực, không được quá
đậm, không được quá nhạt, cốt sao rơ
ràng, sạch sẽ.
-
Ván khắc đă in xong, hăy lập tức xếp lên giá,
đưa trở về vị trí ban đầu, chớ nên
cẩu thả xếp loạn xạ.
-
Dùng chỉ đóng trang giấy [thành sách] theo cách thức
thông thường, sợi chỉ đừng quá nhỏ.
-
Dùng hồ bằng bột ḿ, đừng cho quá nhiều
nước.
5)
Cẩn thận trong thâu chi:
-
Bổn sơn vốn không có hóa chủ
(người đứng ra quyên góp). Nếu có thiện tín
đến vui vẻ giúp đỡ, tiền in kinh phải
thâu chi cẩn thận, ắt phải chân thành, ắt
phải giữ chữ tín. [Món tiền ấy] trừ
khắc kinh ra, chẳng được dùng xằng bậy
một xu hào nào, hoặc dùng làm các khoản chi phí khác, hoặc
mượn dùng để sắm y bát, hoặc lén dùng
để hậu đăi thân tộc, hoặc dùng để
biếu xén khách khứa v.v… Thậm chí tuy cũng là khắc
kinh, nhưng thứ được khắc là những tác
phẩm nằm ngoài Đại Tạng, chẳng phải là
thứ vốn có trong Đại Tạng, và dùng để
khắc các trước thuật của chính vị tăng
nhân ấy, đều chớ nên làm. Bởi lẽ, của
tín thí chuyên dùng để khắc kinh tạng. Trái
nghịch, rối loạn nhân quả, tội báo chẳng
nhỏ, hăy kiêng dè!
6)
Thận trọng trong việc thỉnh, phát:
- Châm
chước giá kinh ở các nơi, [tính toán] số
lượng giấy, b́a, giấy lót, chỉ, hồ, tiền
công thợ v.v… để định giá thành cho bộ kinh,
phương thức nhất định để khắc
in hoàn tất, chẳng được tăng giảm theo ư
riêng.
- Sổ bộ cần ghi rơ
ngày nào, người nào, thỉnh kinh sách ǵ, đă thâu chi phí
cho kinh là bao nhiêu. Mỗi quư tiểu kết một lần.
Mỗi năm tổng kết một lần, trừ đi
tiền vốn bao nhiêu, có lời bao nhiêu, ghi chép minh
bạch, cất giữ và niêm phong. Tiền vốn vẫn
dùng để in và đóng sách như cũ, tiền lời
hoặc dùng để khắc hoặc sửa chữa các
ván kinh bị hư hoại, chẳng được dùng
bậy một mảy nào để làm các loại chi phí khác!
Như trong phần trên đă nói, nhân quả rành rành, báo
ứng chẳng sai chạy, há chẳng đáng sợ ư?
Há chẳng nên cẩn thận ư?
16.4.9.
Quy cách cần chú ư tại Tàng Kinh Đường
Sở
dĩ kinh tạng ở các nơi lâu ngày bị thất
lạc đến nỗi bị hủy
hoại, tiêu diệt do hai nguyên nhân:
-
Một là cho mượn ra ngoài, tức là kẻ
mượn chẳng thể gấp gáp giao trả,
người quản lư lại chẳng thể siêng năng
giục đ̣i. Lâu ngày chầy tháng, chẳng biết kẻ
nào mượn. Đó là một lư do.
-
Hai là thiếu sự quản lư, tức là lúc đáng phơi
lại không phơi, lúc lấy ra không ghi sổ, lúc nhận
vào không xóa đi, lúc xem đọc không cẩn thận mở
đọc, đặt kinh nhẹ nhàng. Đó là hai lư do.
Nay
[các chuyện cần phải làm] được liệt kê
chi tiết như sau:
-
Kinh chẳng cho mượn ra ngoài, lấy sơn môn
(cửa tam quan) làm giới hạn. Dẫu là sáng
mượn, chiều trả, cũng quyết không cho
mượn. Nếu mượn đem ra ngoài, phạt ba
lạng bạc.
-
Tháng Sáu phơi kinh, chỉ chọn ngày nắng ráo, không
cần câu nệ cố định ngày mùng Sáu. Mỗi
lần phơi một trăm ḥm[43],
không được nhiều hơn. Không được
để [kinh sách] gần nhà bếp trong núi. Tháng Chín
lại phơi thêm một lần nữa.
-
Lấy xem phải ghi sổ, ngày nào tháng nào lấy ra, kinh
thuộc ḥm nào, do người nào lấy, phía dưới
để trống một hàng, đợi khi nhận
lại sẽ điền vào. Ghi chép thiếu sót sẽ
bị phạt một đồng.
-
Mở tủ lấy kinh ra và đặt kinh trở lại
xong, liền khóa lại. Quên khóa, phạt một
đồng.
-
Mỗi năm, ghi riêng ngày tháng năm nào đó, do ai
đảm nhiệm quản thủ Tàng Kinh
Đường.
16.4.10. Quy
ước về đạo tràng Thủy Lục
-
Người tụng kinh phải tắm
gội từ hôm trước. Sáng hôm sau tụng kinh cần
phải mắt đến, miệng đến, tâm
đến. Chẳng được trong khi tụng kinh xen
tạp những lời tạp nhạp, chẳng
được lúc tạm nghỉ trong khi tụng kinh bèn tán
gẫu.
-
Người niệm Phật chẳng được xoay
đầu ngó nghiêng, nh́n người, ngắm vật, hăy
nhất tâm xưng niệm, từng chữ phân minh.
-
Người chủ pháp chẳng được tán tâm
vọng tưởng, hăy nên mỗi mỗi theo đúng kinh
văn, dùng ḷng tinh thành tác quán.
-
Người biểu bạch chẳng được
hấp tấp, giản lược, hăy nên tuyên tụng
văn sớ theo thứ tự. Tiếng trống và năo
bạt cũng nên trang nghiêm, thanh nhă, chớ nên rườm
rà, ồn ào.
-
Thí thực phải tuân theo kinh văn, tinh thành kết
ấn, tụng chú, tác quán, ba chỗ tương
ứng, chẳng được hàm hồ, lúng búng, gấp
rút cho xong chuyện. Người bạch văn cũng
vậy. Lại chẳng được khi pháp sự
chưa hoàn tất đă lo thu dọn vật dụng, chén,
đĩa.
-
Người hầu đàn trong ngoài đều phải thành
kính, trang trọng, thanh khiết, chú tâm cẩn thận.
-
Khố pḥng phải lưu tâm sắp đặt, chuẩn
bị các vật dụng cần dùng thích hợp, chẳng
được cẩu thả, sơ sài.
-
Hành nhân trong Thủy Lục Đường càng phải thêm
chí thành bội phần.
Cần
phải tín tâm tiếp nhận, dụng tâm hành tŕ những
điều trên đây. Nếu chẳng chí thành, sẽ
tự chuốc tai họa, hối hận đă muộn
rồi!
16.4.11.
Đề nghị đối với đạo tràng
Thủy Lục
Ngưng hoặc
giảm làm trai đàn Thủy Lục để tránh
phạm sai lầm. Có người nói “đạo tràng
Thủy Lục đừng nên làm thường xuyên”. Tôi
suy nghĩ, [nhận thấy] quả thật có năm
lỗi:
1)
Làm thường xuyên sẽ bận bịu.
Bận bịu th́ sanh mỏi
mệt, các thứ cần lo liệu sẽ chẳng sắp
đặt hoàn bị. Đó là lỗi thứ nhất.
2)
Thỉnh thoảng mới làm một lần, sẽ sanh tâm
tưởng “hiếm gặp”, sẽ kính sợ. Nếu là
thường xuyên, sẽ thấy là
tầm thường, thiếu sót ḷng thành kính. Đó là
lỗi thứ hai.
3)
Vào các mùa Xuân, Hạ, Thu, khi tống thánh (tiễn đưa
chư thánh), hóa sớ và đồ cúng quá nhiều,
đốt cháy sẽ gây tổn hại cho trùng kiến. Đó là
lỗi thứ ba.
4)
Phóng Diệm Khẩu quá nhiều, có thể phạm sai sót;
do vậy, đâm ra chuốc vời quỷ quấy phá.
Đó là lỗi thứ tư.
5)
Không chỉ tăng chúng trễ năi, lười nhác, mà
cũng khiến cho trai chủ thiếu ḷng cung kính. Đó là
lỗi thứ lăm.
Lại
c̣n có những chỗ không nhận biết, khó thể
biết trọn. Vừa rồi, vị Đương Gia
của bổn sơn bỗng dưng bị bệnh
mất, nhà trai chủ cũng gặp tang sự. Vốn là
để cầu phước mà lại mắc họa.
Cổ thư đă chép: “Làm Thủy Lục mà chẳng có
ḷng thành, sẽ cảm vời ác báo”. Rành rành có chứng
cớ, há chẳng đáng sợ ư?
Nay
nghị định: Chỉ trong ba tháng mùa Đông mới
được cử hành một hai lần. Các tháng khác
trọn chẳng thể được. Phải nghiêm
ngặt tuân thủ, cẩn thận đừng nể t́nh
mà thuận theo đến nỗi đôi bên đều
bị tổn thương, căn dặn hết mực.
16.4.12. Quy
định phạt đối với kẻ tụng kinh,
lễ sám chẳng thành kính
-
Cử hành sái tịnh (nghiêm tịnh) mà không
đến, phạt hai mươi đồng.
-
Tụng kinh sám xong một trang rồi mới đến,
phạt bốn mươi đồng. Đối với
phần kinh thiếu sót, phạt tụng bù gấp đôi.
-
Nói chuyện phiếm, hư luận ngay trong lúc kinh sám, phạt
một trăm hai mươi đồng. Nếu nói vào trong
lúc tạm nghỉ kinh sám, phạt sáu mươi
đồng.
-
Tranh căi, phạt sáu mươi đồng. Tranh căi lớn
tiếng làm mất oai nghi, phạt một trăm hai
mươi đồng.
-
[Tụng niệm] chẳng phát ra tiếng, phạt tụng
lại từ đầu.
16.4.13. Thứ
tự học kinh theo pháp hiệu
(nghi là có
kẻ lén sửa đổi bài này, nay chia ra để ghi
chú phía sau)
* Người có pháp hiệu
chữ Pháp: Toàn thể kinh văn trong khóa tụng sáng
tối, Phật Tổ Tam Kinh (có bản gom Tứ Thập
Nhị Chương Kinh, Phật Di Giáo và Đàn Kinh kết
hợp lại. Có bản chẳng dùng Đàn Kinh mà
đổi bằng Quy Sơn Cảnh Sách, chẳng biết
ở đây dùng bản nào), Sa Di Yếu Lược, Tứ
Phần Giới Bổn, Phạm Vơng Giới Kinh, Thập
Lục Quán Kinh, Đại Di Đà Kinh, Kim Cang Kinh, Viên Giác
Kinh, Duy Ma Kinh, Lăng Nghiêm Kinh (sau kinh này, nên thêm kinh Lăng
Già), Pháp Hoa Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, Khởi Tín Luận (luận này
là cửa ngơ ban đầu để tiến nhập
Đại Thừa, không nên xếp sau kinh Hoa Nghiêm, hăy nên
chuyển lên đặt trước kinh Kim Cang).
* Người có pháp hiệu
chữ Báo: Khóa tụng sáng tối, Sa Di Yếu
Lược, Di Giáo Kinh, Tứ Phần Giới Bổn,
Phạm Vơng Giới Kinh, Thập Lục Quán Kinh, Đại
Di Đà Kinh, Kim Cang Kinh, Viên Giác Kinh, phẩm Phổ Môn, phẩm
Hạnh Nguyện.
* Người có pháp hiệu
chữ Hóa: Khóa tụng sáng tối, kinh
Di Đà (kinh này đă nằm trong khóa tụng sáng tối, chẳng
nên nêu riêng. Lại c̣n ghi sót Sa Di Yếu Lược,
chắc là bị sai sót, c̣n phải nên thêm kinh Di Giáo), kinh
Phạm Vơng (hai tên trước đều có chữ
Giới, riêng ở đây chẳng có, chẳng nên
để người có pháp hiệu này tụng kèm cả
quyển thượng), chương
Thượng Phẩm Thượng Sanh của Quán Kinh,
Tứ Phần Giới Bổn (bản này nên xếp
trước kinh Phạm Vơng).
Ba pháp hiệu trên đây
phải theo thứ tự để học kinh
điển, học xong một kinh mới được
tiến sang kinh tiếp theo. Ai nhảy cóc, học
vượt, phạt một đồng. Chưa học xong
kinh thuộc khóa tụng [hằng ngày], chẳng
được phép cho xuống tóc. Chưa biết [Sa Di
Luật Nghi] Yếu Lược, sẽ không được
tiến lên thọ Cụ Túc Giới. Chẳng biết Cụ
Túc Giới, chẳng được thọ Bồ Tát
Giới. Tuổi tṛn sáu mươi, cân nhắc mà giao cho khóa
tụng sáng tối. Khóa tụng chưa thuần thục mà
đă cho xuống tóc, cứ thiếu một chuyện,
liền phạt một đồng.
16.4.14. Mẫu
khai tăng tịch
Tăng tên là…, pháp tự…
Năm nay bao nhiêu tuổi, quê ở huyện… phủ…
tỉnh… là con thứ mấy của nhà họ… làm nghề
nghiệp ǵ… Xuất gia vào ngày… tháng… năm… tại
chỗ… xin làm học tṛ vị nào… Cùng trụ tại đó
bao nhiêu năm, nay trong ngày… tháng… năm nào đến xin
trụ chúng, hoặc tiến đường, hoặc làm
tạp vụ.
16.4.15. Mẫu
cầu thọ giới
Đệ
tử cầu giới tên là… bao nhiêu tuổi, là người
thuộc thành phố… huyện… phủ… tỉnh nào, hoặc
xuất thân là quân lính, thợ, dân, họ… Vào ngày... tháng...
năm..., xuất gia tại chùa... nơi..., lễ thầy
nào làm sư phụ. Nay vào ngày... tháng... năm..., may mắn
gặp được đấng đại từ bi phụ,
tiếp dẫn chúng sanh trong biển khổ, con phát tâm
Đại Thừa, sám trừ tội khiên
từ vô thỉ, cầu xin được truyền
giới… nên lập tờ tŕnh này.
Liệt
kê các vật dụng:
-
Đại y (có đủ).
-
Bồ Tát Giới Kinh (có đủ).
-
Bát sành (có đủ).
Ngày…
tháng… năm… cầu giới đệ tử… kính tŕnh.
16.4.16. Lời
răn truyền trao y
Đức
Phật chế tam y, chẳng được thiếu
một. Nay y chưa có đủ, phải bổ túc rồi
mới trao. Y lại bắt buộc bằng sợi gai,
vải bông không thích đáng. Về sau, hăy nên sửa lại
cho đúng. Đức Phật chế định “đầu
tṛn, áo vuông”, nên biết giới y chính là y phục
của người xuống tóc. Tại gia cư sĩ và
vợ của cư sĩ đều chẳng cần
nhận y. Nếu ắt cứ muốn nhận y, chỉ
nên đội lên đầu để cúng dường,
không được đắp mặc. Đắp y sẽ
đâm ra có tội lỗi, chớ nên không bảo rơ với
họ.
16.4.17. Thể
thức thọ giới
- Khi cầu thọ giới,
trước một tháng, thường trụ phải
giữ đầy đủ oai nghi, chuẩn bị lễ
phẩm, hương, nến, cùng đại chúng trong núi
cầm hương đến Phương Trượng
cầu thỉnh truyền giới.
- Người cầu thọ
đại giới, phải có đủ Bồ Tát Giới
Kinh, Tứ Phần Giới Bổn, Sa Di Yếu Lược.
Mỗi người tự nộp tiền “hương, nến,
thức ăn nhẹ, chiếu trải để lạy”
gồm ba phân bạc giao cho thường trụ chi
dụng.
- Người cầu thọ
Cụ Túc Giới, phải có đủ Tứ Phần
Giới Bổn, Sa Di Yếu Lược, nộp ba phân
bạc cho tiền hương, nến v.v…
- Người cầu thọ
giới cần phải có các loại y phục [tương
ứng với giới đă thọ], mỗi bộ
phải đều là đồ mới th́ mới
được. Nếu thật sự không có cách nào sắm
sửa, giặt sạch cũng được; nhưng áo
lót, hài cỏ, giày vải v.v… ắt cần phải là
đồ mới. Tam y và kinh sách chẳng được
cẩu thả, giản lược.
- Người cầu thọ
giới trước hết phải đến chỗ Tri Khách
báo danh. Tri Khách sẽ dẫn tới Thư Kư trong
điện đường để ghi sổ. Chẳng
được sơ xuất, lơ là bỏ sót tên
để đến lúc đó lại xảy ra sai sót.
*
Người cầu xuống tóc, nếu chưa biết Ngũ
Giới, chưa thuộc khóa tụng, sẽ
chẳng được xuống tóc thọ giới Sa Di.
Chẳng biết giới Sa Di, sẽ chẳng
được xin thọ Cụ Túc. Giới Cụ Túc
chẳng biết, sẽ không được tiến lên
thọ đại giới (Bồ Tát giới).
16.4.18. Quy
định về việc nhặt được của
rơi
* Phàm nhặt được
hết thảy mọi của rơi nào, lập tức báo
với Đương Gia, cất giữ trong khố pḥng,
lật hai chữ Thập Di (拾遺, nhặt được của rơi)
hướng ra ngoài để người làm mất
đồ biết. Nếu nhặt được vật
đánh rơi mà chẳng đưa sang khố pḥng, phạt
nặng, trục xuất khỏi viện.
* Người mất
đồ dán phiếu nêu rơ: Người nào vào ngày nào đó,
mất vật ǵ đó. Nếu thấy hai chữ Thập
Di, liền đến Khố Pḥng, [người quản
sự] đối chiếu xét kỹ; sau
đấy, giao trả. Kẻ mạo nhận sẽ bị
phạt nặng, trục xuất khỏi viện.
16.4.19. Cách
thức sám hối về lỗi đă phạm
16.4.19.1.
Lỗi nhẹ
*
Thập giới: Phạm lỗi ngồi giường cao
rộng lớn, đến xem nghe ca múa, quá Ngọ chẳng
tinh tấn, hoặc tích trữ vàng bạc chẳng bố
thí. [H́nh phạt]: Mỗi thứ nộp vào bệnh pḥng
một phân bạc. Không có bạc, lễ Phật năm
mươi lạy.
*
Cụ Túc Giới:
-
Phạm Tăng Tàn (Saṅghāvaśeṣa): Nộp tiền làm việc
nặng một tiền hai phân. Không có tiền, lễ
Phật sáu trăm lạy.
- Phạm Tát Kỳ Ba Dật Đề
(Naiḥsargika-prāyaścittika, Xả Đọa): Nộp vào bệnh pḥng bốn phân bạc.
Không có tiền, lễ Phật hai trăm lạy.
- Phạm hai pháp bất định, chín
mươi Ba Dật Đề (Pāyattika), bốn pháp hối quá. Đối với
mỗi lỗi, nạp hai phân bạc cho bệnh pḥng. Không
có tiền, lễ Phật một trăm lạy.
-
Phạm một trăm pháp ưng đương học,
hoặc bảy pháp diệt tránh, đối với mỗi
lỗi, nạp nửa phân bạc cho bệnh pḥng. Không có
tiền, lễ Phật hai mươi lăm lạy.
*
Bồ Tát Giới:
-
Phạm lỗi thuộc mười giới trọng:
Giới thứ sáu “rêu rao lỗi
tứ chúng”, giới thứ bảy “tự khen ḿnh, chê
người”, giới thứ tám “bỏn xẻn lại c̣n mắng
nhiếc”, giới thứ chín “giận dữ, chẳng
chấp nhận người khác xin lỗi”, nếu t́nh
tiết nhẹ, chuẩn theo lệ của tội Tăng Tàn.
-
Phạm bốn mươi tám giới khinh: Cân nhắc mà phạt
làm việc nặng theo kỳ hạn từ năm ngày, bốn
ngày, ba ngày, hai ngày, một ngày, hoặc nửa ngày.
16.4.19.2.
Lỗi nặng
* Phạm
giới Căn Bản, tạo đại ác nghiệp: Tẫn
xuất. [Người trót phạm] lại cầu xin
được trụ chúng, phải xét kỹ có chân
thật hối lỗi, sửa đổi hay không,
được hai mươi vị trong ngoài chùa bảo
đảm, bèn chấp nhận cho nhập chúng làm việc
nặng trong nửa năm. Người vốn làm việc
nặng [trước khi bị tẫn xuất] th́ tăng thêm
đến ba năm. [Người phạm lỗi ấy] chẳng
được đứng theo thứ tự trong ban.
Chẳng được mặc áo tràng, áo giới (ca-sa),
chẳng được xưng tên bằng pháp tự.
Mỗi đêm quỳ đọc giới văn. Nếu
không làm việc nặng, phải nộp một lạng tám tiền.
Mỗi đêm quỳ đọc giới văn đă
thọ. Ban đêm, lễ Phật một trăm lạy. Qua
ba tháng sám hối viên măn mới được nhập
chúng. Dù vốn đă thọ đại giới, nay phải
thọ lại năm giới, tích đủ một trăm
điều thiện mới hứa cho thọ mười
giới. Lại tích đủ một trăm điều
thiện, mới cho thọ Cụ Túc Giới. Lại tích
đủ một trăm điều thiện mới cho thọ
Bồ Tát giới.
* Lỗi đáng phải
trục xuất khỏi viện, nhưng xét về t́nh có
thể dung thứ, cho phép dùng điều thiện
để bồi đắp một lần phạt ở bậc
thượng, cho đến mười lần phạt theo
bậc thượng. Mỗi lần phạt ở bậc
thượng, trừ đi một trăm điều
thiện, cho phép theo vào trong chúng đứng theo đúng
thứ tự mà lễ Phật.
16.4.20. Cách
thức viết thiếp trách
hỏi
Ngươi
đă quy y Tam Bảo, thọ giới (ǵ đó), đáng
lẽ phải cẩn trọng ǵn giữ Thanh Quy, rộng
tu thiện pháp, cớ sao chẳng nghĩ đến
Phật, Tổ độ thoát, kinh điển khai sáng,
thầy bạn khuyên răn, cha mẹ sanh thành, mà lại mờ
mịt phóng túng tâm ư, làm việc phi pháp…. Ngươi nay chẳng
phải là đệ tử Phật, đúng là tội nhân
của thế gian, hăy mau sanh ḷng hổ thẹn to lớn, phát
tâm dũng mănh chân thật, hối lỗi, đổi
mới. Nếu không, trong th́ có h́nh phạt tẫn xuất
theo tăng luật, ngoài th́ có vương pháp tra khảo,
trừng trị ngươi. Sau khi chết, có địa
ngục chặt chém, thiêu nấu ngươi, cho đến
đọa lạc ngạ quỷ, lại làm súc sanh, há
chẳng đáng sợ ư?
Ngày...
tháng... năm..., sai vị thọ Bồ Tát giới tên là...
đi răn dạy lần thứ...
16.4.21. Mẫu
viết bản thanh toán tài sản khi một vị tăng
qua đời
Tỳ-kheo
(hoặc Sa-di) mang bệnh tên là..., pháp tự..., bao nhiêu
tuổi, là người huyện... phủ..., họ... Vào
ngày... tháng... năm... (xuất gia hoặc quải tháp)
tại bổn tự, ở trong chúng tu đạo. Vào
ngày... tháng... năm... bỗng gặp phải bệnh duyên,
sợ gió lửa chẳng dừng (vô thường xảy
đến), vào ngày… tháng… tiến
nhập Niết Bàn Đường. Tất cả y bát tùy
thân, xin cung thỉnh đại chúng sao lục làm thành
bản kê khai để tiện lo liệu hậu sự.
Kính mong đại chúng đều thấu hiểu.
Kê
khai: Vật ǵ số lượng bao nhiêu.
Ngày...
tháng... năm... Thủ Tọa (kư tên), Giám Viện (kư tên),
Tây Đường (kư tên), Tri Khố (kư tên), Duyệt Chúng (kư
tên), Tri Khách (kư tên), Thư Kư (kư tên), người chăm sóc
bệnh nhân (kư tên).
16.4.22. Thể
thức tống táng
*
Nhập khám (nhập liệm), tụng một quyển kinh
Di Đà, ba lượt Văng Sanh Chú, hồi
hướng: “Công đức niệm tụng trên đây
kính v́ lần nhập khám này của thượng tọa…
mới viên tịch, trang nghiêm báo địa, mười
phương ba đời….”
* Niệm tụng
trước khám, mỗi ngày luân phiên bốn người
dựa theo số đơn, tụng một quyển Tâm
Kinh, ba lượt Văng Sanh Chú, niệm Phật một trăm
câu, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng mỗi danh
hiệu ba lượt. Cử tán Tây Phương để
hồi hướng: “Vong linh trót tạo các ác nghiệp,
đều do vô thỉ tham, sân, si, từ thân, ngữ, ư phát
sanh ra, hết thảy tội căn đều sám hối.
Chỉ nguyện vong linh thần thức chẳng loạn,
chánh niệm về thẳng An Dưỡng, gặp mặt
Di Đà và thánh chúng, tu hành Thập Địa chứng
thường lạc. Nguyện đem công đức này…”
*
Khởi khám (di quan): Tụng một quyển kinh Di Đà, ba
lượt chú Văng Sanh, Biến
Thực Chân Ngôn, Cam Lộ Chân Ngôn, Phổ Cúng Dường
Chân Ngôn mỗi thứ ba lượt. Vị Duy-na cử
xướng: “Sắp dời linh khám để cử hành
điển lễ trà-tỳ, ngưỡng mong đại
chúng tụng hồng danh chư thánh, nhằm biểu lộ
tấm ḷng tiễn biệt, giúp cho nẻo giác”. Đại
chúng cầm hương niệm Phật, đưa tới
đàn thiêu hóa.
*
Trà tỳ (hỏa táng): Vị Duy-na cử xướng: “Ngày
hôm nay có thượng tọa… mới viên tịch, đă tùy
duyên mà thuận tịch, bèn theo đúng pháp trà-tỳ, thiêu
thân trăm năm hoằng đạo, một
đường nhập cảnh Niết Bàn. Kính mong
đại chúng giúp đỡ giác linh”. Niệm Phật
một trăm câu, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải
Chúng mỗi danh hiệu ba lượt. Cử tán Tây
Phương để hồi hướng: “Trên đây,
đă xưng dương thánh hiệu ḥng giúp văng sanh. Kính
nguyện gương huệ tỏa sáng, phong thái chân
thật rực rỡ khắp trong vườn Bồ
Đề, nở bừng hoa giác ư. Trong biển pháp tánh,
gột rửa tâm trần cấu. Rót trà tế ba
lượt, hương đốt một ḷ, kính tiễn
đường mây, ḥa-nam thánh chúng”.
*
Trà tỳ tịnh nhân (người phục vụ tại
tự viện chưa xuất gia): Cử xướng: “Ngày
hôm nay có vị tịnh nhân… mới quá văng, đă tùy duyên mà
có tận, bèn theo đúng pháp xà-duy, đốt thân trăm
năm khổ hạnh, nhập
cảnh một lối trang nghiêm. Kính mong tôn chúng giúp
đỡ vong linh”. Sau khi niệm
Phật xong, giống như trên, hồi hướng: “Trên
đây đă xưng dương thánh hiệu giúp đỡ
văng sanh. Kính mong cỏ hết nẻo đường, hoa
sanh đầu chày. Trong tuyển tăng đường, vô
kiến đảnh tướng thường tṛn xoe. Nơi
vườn cổ Phật, thân hữu lậu vĩnh
viễn giải thoát. Rót trà tế ba lượt,
hương đốt một ḷ, kính tiễn
đường mây, ḥa-nam thánh chúng”.
*
Bán đấu giá di vật của vị tăng đă
tịch: Thắp hương, tán xong, Duy-na xướng: “Phù
vân tan mất, chẳng c̣n lưu lại bóng.
Đuốc cháy sạch, ánh sáng tự diệt. Nay
xướng đấu giá nhằm biểu thị vô
thường. Ngưỡng mong đại chúng niệm Thanh
Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật…”
Bạch đại chúng: “Pháp xướng y dùng theo quy
củ thường lệ. Y mới, cũ, dài, ngắn,
đều nên xem xét. Tiền cần phải đủ
trăm, đừng hiềm cũ mới. Tiếng khánh
dứt rồi, chẳng chấp thuận đổi ư”. Xướng
xong, niệm Phật hồi hướng rằng: “Công
đức niệm tụng xướng y trên đây, kính v́
tân viên tịch thượng tọa… trang nghiêm báo
địa, thập phương tam thế…”
16.4.23. Cách
thức dựng tháp
Sách
Thích Thị Yếu Lăm trích dẫn Nam Hải Kư Quy
Truyện: “Xếp gạch đá mà làm, phía trên chẳng có
luân cái[44], phàm
thánh có thứ bậc khác biệt. Sơ Quả một
tầng, Nhị Quả hai tầng, Tam Quả ba tầng,
Tứ Quả bốn tầng. Bích Chi Phật mười
một tầng, Phật mười ba tầng. Phàm phu
tỳ-kheo có đức hạnh cũng
được lập tháp, nhưng không có cấp bậc”
Xem đó th́ biết, tháp không nên cất to lớn, bề
thế.
16.4.24.
Quy ước về thiện hội ở chùa
Thượng Phương
Hội
này cùng nhau đọc tụng kinh giới Đại
thừa, kiêm phóng sanh niệm Phật. Đây là các vị thượng
thiện nhân tụ hội một chỗ, cho nên
đặt tên như vậy.
1)
Định kỳ: Tỳ-kheo nửa tháng tụng giới
một lần, nay cư sĩ tuy chẳng xuất gia,
nhưng kinh Phạm Vơng là giới chung cho vua quan, thứ
dân, tăng ni cùng bẩm thọ. Nay nghị định
mỗi tháng họp lại một lần, cố
định vào ngày trước hôm cuối tháng, nhóm lại Thượng
Phương, ai muốn tham gia th́ ghi tên vào sổ.
2)
Đọc tụng: Khi mọi người đă tụ
tập, liền đối trước Phật tụng
một quyển giới kinh, niệm Phật năm trăm
câu, hoặc một ngàn câu. Một vị Tăng gơ mơ
dẫn chúng.
3)
Sắm sửa cúng dường: Tụng kinh xong, dùng ba
loại bánh trái làm tiệc trà cúng dường. Niệm
Phật xong, dùng ba món chay cúng chay. Mỗi vị tự bỏ
ra năm phân bạc giao cho vị tăng giữ viện lo
liệu.
4)
Nghị luận: Tụ họp cả ngày mà chẳng bàn
tới nghĩa lư, bị Tuyên Thánh (Khổng Tử) quở
trách. Nay chúng ta tụ tập, đối với chỗ
ngờ vực, vướng mắc trong kinh luận,
hoặc chỗ thiết yếu trong tu tŕ, ai nấy
đều thành thật bàn bạc trong chốc lát.
5)
Phóng sanh: Giới khinh thứ hai mươi trong kinh Phạm
Vơng có văn tự dạy phóng sanh. Nay nghị định:
Ai nấy tùy tâm bỏ tiền phóng sanh, chẳng câu nệ
nhiều hay ít, chẳng câu nệ có hay không, hoặc tự
ḿnh mang loài vật đến phóng sanh cũng
được!
6)
Vị chủ hội: Theo thứ tự chưởng
quản sổ sách. Hội đă quy định: Hôm
trước ngày cuối tháng chẳng cần phát thiếp
mời, tiền bạc cũng chỉ tùy ḷng đại
chúng, tối đa là năm phân, chỉ sắm sửa
hương, nến, trà nước, ghi sổ, bàn giao,
tới trước về sau mà thôi. Chẳng có việc ǵ
gây mệt nhọc, tốn kém, ai nấy đều có
thể làm chủ, ngơ hầu hội tồn tại lâu dài.
16.4.25. Các
việc cần lưu tâm tại ao nuôi cá
*
[Trong ao] nên thả các loại cá, tôm, trai, hến, cua,
rạm v.v…
* Trong ao chớ nên thả cá
lóc, cá trê, cá ngạnh, lươn vàng, ba ba v.v… v́ chúng sẽ
làm hại các loài cá lành khác.
* Trong ao đừng thả
ốc v́ cá trắm đen trong ao sẽ ăn ốc.
*
Không được đem nước rửa cạo
dầu mỡ, cám gạo v.v… đổ xuống ao, cá ăn
vào phần nhiều sẽ chết ngửa bụng.
*
Chẳng được mua quá nhiều cỏ tươi,
hăy nên cho ăn từng chút một.
*
Phải ngừa rái cá và các loài chim dữ đến bắt
cá.
16.4.26.
Đề nghị đối với chi phí dựng tháp
Về
chuyện phần mộ, tính gộp số tiền do các
đạo hữu cúng dường th́ tổng cộng là
hơn ba mươi bảy lượng. Nếu tôi tự
làm, mười lượng là đủ rồi. Nay đă
lăng phí hai mươi chín lượng,
chỉ c̣n tám lượng mà chỉ đủ tiền
để mua vật liệu bằng đá mà thôi. Về sau,
dùng tám lạng ấy để hoàn tất là xong! Ngoài ra,
không được nhận thêm một phân, một
đồng nào của các đạo hữu tại gia và xuất gia,
không được quyên góp hóa duyên một phân, một
đồng nào của người quen, kẻ lạ,
tiền y bát của tôi cũng không bỏ thêm một phân,
một đồng nào nữa. V́ sao? Y bát của tôi nên dùng
để làm phước, chẳng nên bắt chước
kẻ phú quư trong thế tục trang hoàng phần mộ
của chính ḿnh, khiến cho người hiểu biết
chê cười, tôi quyết chẳng làm. Xin báo sẵn cho
biết.
Sử
Ngư chết phơi áo quan ngoài trời[45],
từ xưa đến nay gọi là “thi gián” (屍諫, dùng xác chết
để khuyên can). Nay tôi trước đă không có ích ǵ cho
đại chúng, lư ra nên để quan tài bộc lộ, được
chôn cất là đă may lắm rồi, nay lại c̣n chôn
cất long trọng ư? Phí thêm tám lạng nữa là
số lượng đă cùng, lư đă tột. Ngoài tám
lượng ấy ra, chẳng thể tăng thêm một
phân, một đồng nào nữa! Dù có muốn mở minh
đường[46]
có thể chứa được một vạn con
ngựa, xây tháp báu bảy tầng, cũng tùy thuộc vào
đại chúng; nhưng chi phí tám lượng này dứt
khoát đă quyết định, tuyệt đối
chẳng thay đổi.
16.4.27. Kiến
nghị không thâu nạp con cháu họ Trầm xuất gia
[tại Vân Thê]
Người
khác họ và cùng họ nhưng không phải là thân nhân
của tôi th́ tự tuân theo bốn điều quy
định đối với người xuất gia,
chẳng cần bàn nữa. C̣n như con cháu trong họ
của Châu Hoằng, nhất loạt chẳng lưu
trụ. Nếu họ có ḷng chân thật học đạo,
có thể t́m vị thầy tốt lành khác, gia nhập
thiện hội khác. Kẻ nào [thuộc chùa Vân Thê] cố
t́nh thu lưu họ, bị phạt mười lạng
bạc, trục xuất khỏi viện. Chắc có kẻ
cật vấn: “La Vân (La Hầu La) là
con đức Phật, A Nan là em họ đức Phật,
Nan Đà là em ruột đức Phật. Cố nhiên đức
Phật cho họ nhập tăng đoàn, sao thầy cố
chấp đối với chuyện này?” Tôi thưa:
“Chẳng nghe người đàn ông nước Lỗ
từ khước người đàn bà hàng xóm ư? Ông ta
nói: - Liễu Hạ Huệ th́ được, chứ tôi
th́ chẳng thể được”. Chắc lại có
người bắt bẻ rằng: “Ôm phụ nữ
ngồi là chuyện hiềm nghi, khước từ rất
đúng; c̣n xuất gia là chuyện hết sức tốt
đẹp. Từ chối tợ hồ chẳng nên!” Tôi
đáp: “Ngồi ôm phụ nữ mà làm loạn, tội
chỉ ḿnh người đó. Chứ xuất gia chẳng
ra ǵ, họa lây cho đại chúng! Người đó mà
được như La Vân, A Nan, Nan Đà th́ cũng
được. Nếu chẳng vậy, khước
từ là đúng! Cổ nhân có nói: ‘Đổi con cho nhau mà
dạy’. Xin mượn câu ấy để làm cách
thức vậy!”
* Lời
căn dặn
Châu
Hoằng tôi v́ già, bệnh ngày một tăng, trước
đây có lập sẵn một tờ di chúc, nhưng đă bị
thất lạc. Lời căn dặn trong ấy vẫn
chưa nói hết ư, nay chẳng bàn tới nữa, riêng
dặn ḍ như sau:
Tôi
xuất gia lúc ba mươi hai tuổi, một bát, một
y, nhiều năm phong trần. Sau đó, trụ trong núi này,
tự nghĩ sẽ cô độc trọn đời, cùng
mục nát với cỏ cây. Chẳng ngờ trùng hưng
ngôi chùa đă hoang phế, đều do đàn tín,
đại hữu góp rường, góp ngói, vá chỗ hư,
dựng lại chỗ tàn, nối tiếp từng gian mà
thành chốn tùng lâm. Tuy thiếu vẻ tráng lệ, nhưng
cũng đủ để nương náu; nhưng
bổn ư là chuyên để đại chúng chân thật
tấn tu mà thôi. Nay đă già rồi, Tứ Đại c̣m
cơi, hai chân tê bại, như bóng chiều tà,
nước chảy về đông, thời gian chỉ
được thoáng chốc. Phải nên thuận tiện
ở yên cho hết tuổi thừa. Tuy kỳ hạn
chết chưa định, nơi chết chưa
định, tôi chết rồi mọi người sẽ
làm theo lời tôi hay không chẳng định
được, tùng lâm tồn tại hay hoang phế
chẳng định được, nhưng lẽ
đương nhiên là nay có nói ra, cố nhiên cũng
chẳng hại ǵ!
Cứ
nghĩ từ khi xuất gia đến nay, tôi luống tiêu
của tín thí, sống đă ôm nhiều nỗi thẹn, há
lại để xác thân đă chết này hoang phí hư
vọng ư? Khi thân này tạ thế, cho vào khám, trong th́
mặc áo cũ đă giặt sạch, ngoài th́ đắp
tấm y bảy điều thường dùng, trên th́
đầu cạo láng, dưới th́ ngồi xếp
bằng, đeo xâu chuỗi vào tay, tọa cụ xếp
trước mặt. Cho vào khám xong, lập tức dùng tro và
sơn gắn chặt, dù thân tộc đến, cũng
không được mở ra nữa. Không được
bày biện hiếu đường, không được bày
biện cúng dường long trọng, không được
mặc áo vải sô, đội khăn trắng, không
được báo tang bốn phương, không
được tụ họp thí chủ, quyến thuộc cử
hành nhiều đạo tràng theo thói tục. Chỉ cần
theo lệ thường cố xướng (bán đấu
giá di vật), theo lệ tụng niệm. Các thứ y bát
thảy đều dùng hết làm phước. Giữ khám
một thất, hai thất, cho đến bảy thất,
nếu không có người thiêu hóa th́ khiêng khám vào tháp. Tháp
cao năm thước, không được vượt quá
hạn lượng, trái nghịch chế định
của đức Phật. Không được xa xỉ
tốn tiền mời thợ đá [điêu khắc] và làm
những việc vô ích cho đám tang như minh tinh, minh khí,
nhà táng, âm nhạc, người dẫn lộ, treo chân dung, đề
bài vị (đề chủ) v.v... đều không nên làm; chỉ
nương theo quy củ thông thường, chư
tăng niệm Phật dẫn đường là
được rồi!
Tôi
vốn giữ phận ngu, ôm vụng, chưa hề
đại triệt đại ngộ, chưa từng làm
đại duyên, đại phước, chưa từng có
tam minh, lục thông, chỉ biết thật thà niệm
Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Đại chúng
chẳng được bày tṛ hư dối, vẽ vời
quái dị, bịa ra những chuyện thần kỳ
để lừa dối một thời, dối trá đời
sau, tăng nặng thêm cái đức kém cỏi của tôi!
Hơn nữa, chùa Vân Thê và chỗ phóng sanh ở
Thượng Phương với Trường Thọ trong
thành, nhân duyên từ đầu đến cuối
đều có bi kư, chẳng cần phải rườm
lời nữa. Kế đó, đất đai, pḥng ốc,
kinh sách, vật dụng trong núi này, cũng như tất
cả mọi thứ trong thất của tôi, dù lớn hay
bé, đều từ mười phương tín thí, chúng
tăng siêng năng ra sức, thuộc về thường
trụ, không có mảy may nào dính líu đến gia đ́nh tôi
hay gia đ́nh nào khác. Từ trước tới nay, tôi hoàn
toàn chẳng có quần áo, chăn màn bằng tơ lụa
đẹp đẽ, cũng chẳng ở trong pḥng xá tinh
xảo, cũng chẳng có giường, chơng, bàn, ghế
hoa mỹ, cũng không có đồ cổ ngoạn đáng
giá, cũng chẳng tích cóp vàng bạc, sản nghiệp,
cũng chẳng có ai vay mượn của tôi một xu,
một đồng nào, mà tôi cũng chẳng thiếu
nợ ai một xu, một đồng nào.
Phàm
những vật thuộc về Chiêu-đề, có long thiên
soi xét, một tấc đất, một viên đá, một
ngọn cỏ, một khúc gỗ, một cây kim, một
mảnh giấy, chẳng cho riêng ai, mà cũng chẳng
lấy dùng riêng. Người cho và người nhận,
tội lỗi ngang nhau, giảm thọ, chuốc họa,
chết đọa địa ngục, nhân quả rơ ràng, chớ
nên không cẩn thận. Tôi thấy người xuất gia
làm tăng ở địa phương này, khi có một
vị tăng qua đời th́ thân tộc kéo đến
đ̣i hỏi tài sản của người chết, đă
quen nếp thành thói. Thậm chí đ̣i chẳng
được c̣n kiện cáo. Cũng có vị tăng
tự bị ḷng ân ái ràng buộc, thiên vị thân tộc
của chính ḿnh, chẳng đoái hoài đồ chúng, tôi
hết sức hổ thẹn về điều ấy. Cha
ông tôi truyền lại sự liêm khiết, trung tín, chắc
là sẽ chẳng có chuyện này, nhưng chuyện
đời chẳng thể biết trước
được, cho nên không thể nói dự pḥng
trước. Lại có những pháp quyến ở bên ngoài,
trải nhiều năm chẳng tới bổn sơn, có
nhiều sự thể chưa am hiểu, ngày sau bỗng
dấy lời dị nghị, đại chúng quyết
chớ nên tin theo!
C̣n
như người kế tục trụ tŕ viện này, ắt
phải suy cử người hạnh lẫn giải
đều đáng trọng. Nếu chẳng có người
như thế, chọn người theo thứ tự
giới lạp để tạm giữ ḥng đợi
bậc hậu hiền. Nếu người sức yếu
th́ hai người cùng lănh. Người vốn có tỳ
vết th́ loại ra, người đă từng đảm
nhiệm mà xử sự phạm nhiều lỗi th́ họp
đại chúng bàn bạc công khai để thay thế.
Mười loại tăng ước từ đầu
đến cuối phải xác quyết tuân thủ, thánh
huấn Lục Ḥa phải cùng nhau tu tập. Chúng
thường trụ nên ít, chớ nên nhiều, làm việc
nên nhỏ, đừng nên lớn. Cam chịu nghèo khó,
vui với đạm bạc, chớ phóng túng tham cầu;
nhẫn nhục hành từ, chớ ham tranh chấp, kiện
tụng. Hăy đau đáu nghĩ tới sanh tử, quyết
chí văng sanh, ra sức tham cứu điều chính ḿnh
đang tham cứu, mong đạt diệu ngộ. Ai không
nghe lời tôi, chẳng phải là học tṛ của tôi
vậy.
Ngày Trùng Cửu năm Vạn
Lịch 36 (1608), lăo tăng Châu Hoằng cố gượng
bệnh ghi lại vào lúc bảy mươi bốn tuổi.
* Dặn ḍ thêm
Hết
thảy các sự thể tại bổn sơn, và các am
Thượng Phương, Trường Thọ, Hiếu
Nghĩa trong thành đều đă chép tường tận
trong tờ di chúc trước. Nay vào năm Ất Măo (1615),
ngày mùng Ba tháng Bảy, Châu Hoằng tôi già bệnh nguy
kịch, nay lại dặn ḍ trực tiếp trước
mặt mười hai vị cư sĩ tể quan như
Từ Dũ Hồ v.v… Ngày sau nếu có quyến thuộc ma
vương trong ngoài gây rối tăng ước, xâm
tổn thường trụ, chỉ mong chư vị hộ
pháp măi măi nghĩ nhớ Tam Bảo, chung sức
hộ tŕ. C̣n trong đại chúng chỉ nên an phận,
giữ đúng bổn phận, thật thà niệm Phật,
đừng tự hoen ố Thanh Quy. Ân cần dặn ḍ
lần nữa. Châu Hoằng phủ phục trên gối,
gượng bệnh ḥa-nam.
Đệ
tử thọ Bồ Tát Giới là Lưu Huệ Văn suất
lănh con trai là Tánh Trạch thí tiền kính cẩn khắc in.
Tháng
Năm, mùa Hạ năm Quang Tự 25 (1899), viết tại Kim
Lăng Khắc Kinh Xứ.
Vân Thê
Pháp Vựng
Phần 9
hết Vân Thê Pháp Vựng
雲棲法彙
Phần 9
[1] Tức là bài Từ Vân Sám Chủ Tịnh
Độ Văn do ngài Từ Vân Tuân Thức soạn vào
đời Tống. Bài này cũng được sử dụng
trong thời thứ ba của Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm:
“Nhất tâm quy mạng, Cực Lạc thế giới A
Di Đà Phật, nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngă, từ
thệ nhiếp ngă. Ngă kim chánh niệm, xưng Như Lai
danh…”
[2] Xuất sanh (xuất thực):
Trích một phần từ cơm cúng Phật, thí cho Đại
Bằng Kim Xí Điểu, quỷ Khoáng Dă v.v…
[3] Tức bài Tân Định Tây Phương Nguyện Văn do tổ Liên Tŕ soạn. Xin xem trong phần Chư Kinh Nhật Tụng Tập Yếu của bộ Vân Thê Pháp Vựng này. Bài này thường được gọi là Sám Khể Thủ trong các nghi thức nhật tụng thông dụng tại Việt Nam.
[4] Tuần hương
(c̣n gọi là giám hương) là vị Tăng có trách nhiệm đi
quanh trong Thiền đường,
hoặc Niệm Phật
đường trong suốt thời khóa tĩnh tọa hay
niệm tụng để xét thấy ai hôn trầm hay trạo
cử, vị ấy sẽ dùng hương
bản (thanh gỗ dẹp dài, có h́nh như lưỡi kiếm
to bản) để đập nhẹ vào vai người ấy
nhằm đánh thức hay cảnh tỉnh. Ở đây, tại
Vân Thê, đổi hương bản thành một lá phan nhỏ
có cán.
[5] Tám tiết khí là tám thứ
tiết khí chủ yếu trong hai mươi bốn tiết
khí của một năm. Tiết khí tức là cách phân định
thời gian dựa theo sự chuyển động của
mặt trời trên đường hoàng đạo, chia quỹ
đạo ấy thành hai mươi bốn cung, với mục
đích chia một năm thành hai mươi bốn giai
đoạn để giúp cho nông dân nhận biết bốn
mùa mà canh tác cho thích hợp. Mỗi tiết khí kéo dài từ
mười bốn tới mười sáu ngày. Tám tiết
khí chủ yếu bao gồm tứ lập (Lập Xuân, Lập
Hạ, Lập Thu, Lập Đông), hai chí (Đông Chí và Hạ
Chí), và hai phân (Xuân Phân và Thu
Phân).
[6] Đơn là tấm ván
dùng làm giường ngủ trong điện đường.
Do ván hẹp chỉ nằm vừa đúng một người
nên gọi là Đơn.
[7] Bang (梆) là một dụng cụ
để gơ ra tiếng bằng gỗ. Trong tự viện,
bang thường khắc thành h́nh con cá to treo lên, khoét rỗng,
dùng dùi để gơ báo hiệu. Thời cổ, người
tuần đêm dùng một khúc gỗ có h́nh hộp khoét rỗng
để gơ ra tiếng vang nhằm báo hiệu canh giờ.
Vật đó cũng gọi là bang (bang tử).
[8] Giới Sớ
Phát Ẩn là tên gọi tắt của bộ Phạm Vơng
Kinh Tâm Địa Phẩm Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ
Phát Ẩn do Liên Tŕ đại sư soạn nhằm chú
thích bộ Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ của Trí Giả
đại sư.
[9] Trong ngày tụng giới,
nếu v́ bận việc, bệnh tật, hay có chuyện bất ngờ
không đến tham dự được, phải nhờ
người thưa lại với người chủ tŕ
việc tụng giới rằng: “Tỳ-kheo X… v́ duyên sự chi
đó không thể đến tụng giới, nhưng rất
muốn được nghe tụng giới pháp v.v…” Đó gọi là “thuyết dục”. Nói với người khác, nhờ
người đó thuyết dục th́ gọi là “gởi dục”.
[10] Khố Đầu là
người quản trị nhà kho, Phạn Đầu là
trưởng ban của những người chuyên môn nấu
cơm. Điển Tọa là người coi sóc việc
ăn uống của đại chúng trong cả chùa. Điển
Tọa quản lư các vật liệu nấu ăn cho đại
chúng, bảo đảm không hoang phí, không thiếu hụt, bữa
ăn vừa miệng.
Đồng
thời, Điển Tọa là cấp trên của các Phạn
Đầu, Thái Đầu (hái rau, chuẩn bị rau cho trù
pḥng nấu ăn), Thủy Đầu
(người coi sóc nước sử dụng cho đại
chúng, chuyển vận nước từ giếng hoặc
suối đến các nơi cần thiết), Oản Đầu (người quản
lư bát đũa trong Trai Đường)…
[11] Theo quy chế
cổ, một lạng (lượng) là mười tiền.
Mỗi tiền là 3,75 gr. Lạng và Tiền vốn là
đơn vị để đo trọng lượng, về
sau cũng dùng để ước định giá trị
tiền bạc. Một cân là mười lượng. Hiện
thời, tại Trung Hoa Đại Lục, một lạng
được quy định là 50 gr, tại Hương Cảng
và Áo Môn là 37,799 gr (nhưng vàng hoặc bạc th́ một lạng
chỉ là 37,429 gr), tại Đài Loan một lạng chỉ
có 37.5 gr và quy định mười sáu lượng mới
là một cân. Trong khi đó, tại Việt Nam, ngoại trừ
vàng, bạc vẫn tính một lượng là 37,5 gr, một
lượng thông thường trong hàng hóa sẽ được
hiểu là 100 gr.
[12] Tri Khách: người có
trách nhiệm tiếp đăi khách viếng thăm chùa, hoặc
tiếp đăi, sắp xếp chỗ ăn ở cho vân thủy
tăng (du tăng).
[13] Trà Đầu: Người chuyên trông coi việc
trà nước trong tùng lâm.
[14] Oản Đầu: Người trông coi,
thu dọn, rửa ráy bát đũa.
[15] Ma Đầu: Người trông coi việc
xay giă thóc gạo, ép dầu v.v…
[16] Hỏa Đầu: Người trông coi việc
nhóm lửa trong bếp.
[17] Tịnh Đầu: Người trông coi việc
dọn dẹp, giữ sạch nhà vệ sinh, nhà tắm.
[18] Sài Đầu: Người trông coi việc
chặt củi, chuyển vận củi.
[19] Viên Đầu: Người trông coi,
chăm sóc vườn rau, cũng như các vườn cây
ăn trái.
[20] Đảm Lực: Người gồng
gánh, khiêng vác.
[21] Hóa Phạn: Người
đi ra ngoài hóa duyên, quyên mộ khi lương thực thiếu
thốn.
[22] Phô Đường:
Người xếp dọn thức ăn, phân phối thức
ăn cho đại chúng cũng như dọn dẹp trai
đường sau khi đại chúng dùng bữa xong.
[23] Tư Sơn: Trông coi
cây cối, tuần hành núi rừng để đảm bảo
không có ngoại nhân xâm phạm, chiếm đoạt hoa lợi
của cây cối trong núi, cũng như ngăn ngừa kẻ lén vào
núi săn bắn động vật.
[24] Tư Ốc: Người
trông nom pḥng ốc trong chùa, bảo đảm ngăn nắp,
kịp thời phát hiện pḥng ốc hư hoại để
xin sửa chữa, hoặc dựng mới.
[25] Ấn Pḥng: Người
trông coi xưởng in trong chùa.
[26] Sơn Môn: Người canh giữ cửa
tam quan của tùng lâm.
[27] Sanh Sở: Nhân viên trông
coi vườn phóng sanh.
[28] Trọng Dụng: Người làm việc nặng
trong chùa.
[29] Khinh Dụng: Những người
làm việc nhẹ hơn.
[30] Khán Lăo: Chịu trách nhiệm quản
lư những người theo luân phiên đến chăm sóc
người già.
[31] Tạp Thâu: Trông coi những việc
thu chi lặt vặt, là phụ tá của Khố Đầu.
[32] Đao đậu (sword
bean, scimitar bean), là một loại đậu c̣n được
gọi là hồng phượng đậu, hồng đao
đậu, hải đao đậu, ba tây đậu, hoặc
đao bản đậu, thuộc loại dây leo, có thể
mọc dài đến năm mét, phải làm giàn để
đậu trổ quả. Trái đậu màu xanh nhạt,
dài to bản, dẹp, mỗi trái có từ bốn đến
bảy hạt màu đỏ. Trái c̣n non có thể xào ăn giống
các loại đậu ván, đậu đũa v.v… Hạt
đậu có thể ăn. Khi hạt đậu phơi khô
sẽ rất cứng, người ta hay khắc chữ, xỏ
thành ṿng, gọi là “ṿng hồng đậu” để các cặp
t́nh nhân trao tặng cho nhau.
[33] Xác đậu (hủ
tra, 腐渣)
c̣n gọi là bă đậu, tức đậu nành (đậu
tương) ủ mềm, lọc ép lấy tinh chất
(như trong trường hợp lọc thành sữa đậu
nành để uống, hoặc chế thành đậu phụ,
đậu hủ ky v.v…), hoặc phần c̣n lại sau khi lọc
lấy phần nước tương trong trường hợp
ủ đậu làm tương. Phần bă c̣n lại ấy thường
dùng để nuôi súc vật hay chế biến thành món
ăn, hoặc dùng như gia vị, hoặc dùng để
bón cây.
[34] Đây là một công án
nổi tiếng trích từ sách Ngũ Đăng Hội
Nguyên: Khi chùa Động Sơn thiếu người đảm
đương chức vị Trụ Tŕ, quận thủ
(người đứng đầu một quận) thỉnh
thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn chọn giúp người.
Thiền sư Pháp Diễn đề cử thiền sư
Bảo Thọ Thủ Sơ với câu nói: “Anh chàng mua gừng
tươi được đấy!” Đó là v́ trước
kia thiền sư Bảo Thọ Thủ Sơ làm Khố
Đầu tại một chùa nọ, đi mua gừng cho
chùa, người bán tính giá rẻ hơn, sư Bảo Thọ
kiên quyết trả đúng giá, quyết không chiếm tiện
nghi cho nhà chùa. Do vậy, ngài Pháp Diễn ca ngợi Bảo
Thọ có tinh thần chánh trực, công bằng, giữ vẹn
Thanh Quy.
[35] Tổ Liên Tŕ theo pháp hệ
Hoa Nghiêm Tông, cho nên các đệ tử tại Vân Thê khi nhận
pháp danh cũng tuân theo bài kệ truyền pháp danh do ngài Khuê Phong Tông Mật đặt
ra: “Tông phước pháp đức nghĩa, Phổ Hiền
hạnh nguyện thâm, Văn Thù quảng đại trí,
thành đẳng chánh giác quả”. Pháp danh của tổ
Liên Tŕ vốn là Thù Hoằng (tức chữ thứ mười
bốn trong bài kệ trên), nhưng trước đó, Châu
Nguyên Chương (Minh Thái Tổ) không ưa chữ Thù (殊) v́ chữ này
do chữ Ngạt (歹 nghĩa là xấu
xa) và Châu (朱) ghép lại,
nên bắt đổi chữ Thù thành Châu (袾).
Do đó đệ tử của tổ Liên Tŕ có pháp danh là
chữ Quảng, đồ tôn theo thế hệ truyền
thừa lần lượt có pháp danh là Đại, Trí,
Thành. Liên Tŕ đại sư lại nối tiếp bài kệ
trên thành hai mươi chữ nữa: “Quả dữ nhân
giao triệt, tâm tùy cảnh khuếch thông. Huyền vi cơ
tất phẫu, lư tánh diệu hàm cùng”.
[36] Hương hoạn (鄉宦):
Quan viên đă từ chức hoặc xin nghỉ hưu về
sống trong làng.
[37] Ngũ Quả Thang là một thứ nước
uống có vị ngọt do hầm năm loại thảo mộc,
bao gồm quế viên (long nhăn), bạch
quả (ngân hạnh), hạt sen, ư dĩ, và hoa bách hợp, có thể thêm đường.
Loại nước uống này được tin là có tác dụng
cường kiện tỳ vị,
thanh nhuận và bồi bổ cơ thể. Đôi khi,
ngũ quả thang c̣n được thêm ngân nhĩ (nấm
tuyết).
[38] Thần khúc (神麴) là một vị thuốc
trong Đông Y. Cách chế biến thông thường là trộn
kỹ bột ḿ hoặc cám lúa ḿ với bột hạnh nhân
nhăo, bột đậu đỏ, và nước cốt của
các loại rau tươi như thanh hao hoa vàng (Artemisia annua,
ngải ngọt), ké đầu ngựa (Xanthium sibiricum, rough
cocklebur), rau răm nước (Persicaria hydropiper, water pepper)
cho đến khi đạt độ đặc thích hợp.
Hỗn hợp này được vắt thành các khối nhỏ,
xếp vào giỏ, phủ kín bằng lá gai hoặc lá dó,
để ủ lên men trong nhiệt độ ấm suốt
một tuần. Khi các sợi nấm màu vàng đă phát triển
trên mặt các khối ấy, chúng được lấy ra, cắt
thành miếng nhỏ hơn và phơi khô dưới ánh nắng
mặt trời. Theo Đông Y, thần khúc có vị ngọt,
cay, ấm, đi vào hai kinh tỳ và vị, có tác dụng
giúp tiêu hóa, trừ trướng bụng, khó tiêu, điều
ḥa tác dụng tiêu hóa, trị chứng thổ tả.
[39] Mười tám vị thần Già Lam: Theo
kinh Thất Phật Bát Bồ Tát Sở Thuyết Đại
Đà La Ni Thần Chú, có mười tám vị thần
vương chuyên thủ hộ già lam, bảo vệ tăng
chúng thanh tu, có danh hiệu như sau: Mỹ Âm, Phạm Âm,
Thiên Cổ, Xảo Diệu, Thán Mỹ, Quảng Diệu,
Lôi Âm, Sư Tử, Diệu Mỹ, Phạm Hưởng,
Nhân Âm, Phật Nô, Thán Đức, Quảng Mục, Diệu
Nhăn, Triệt Thính, Triệt Thị, và Biến Quán (c̣n gọi
là Biến Thị). Tại Ấn Độ, ngoài mười
tám vị kể trên, các tự viện c̣n thờ vua Ba
Tư Nặc, thái tử Kỳ Đà và trưởng giả
Cấp Cô Độc làm thần già lam. Tại Trung Hoa, thờ
Quan Thánh (Quan Công) đại diện cho các vị thần
già lam.
[40] Hoa Quang tức là Hoa Quang Đại Đế
(một vị thần hộ pháp của Đạo Giáo,
được Phật môn Trung Hoa coi là thần hộ pháp).
Vị này c̣n được gọi là Hoa Quang Tiên Sư, Mă
Thiên Quân v.v…
[41] Châu Tuyên Linh
Vương chính là Châu Hùng, sống vào đời Nam Tống,
nổi tiếng có hiếu, từng vào mùa Đông cởi trần,
phá băng, lặn hụp dưới nước để
bắt cá nấu cháo cho mẹ đang bị bệnh ăn.
Khi ông mất, được dân chúng lập miếu thờ,
được các đời vua đều sắc phong, một
trong những tước hiệu sắc phong là Tuyên Linh
Vương. Ông được coi như là phước thần
thủ hộ một vùng Nam Trung Hoa. Miếu thờ nổi
tiếng nhất của ông được dựng tại
thành phố Cù Châu, tỉnh Chiết Giang.
[42] Nhật Du, Dạ
Du và Lược Thặng Sứ là ba chức quan của âm
tào có trách nhiệm tuần du nhân gian, chưởng thiện,
phạt ác theo Đạo Giáo. Nhật Du Thần tuần tra
vào ban ngày, Dạ Du Thần tuần tra vào ban đêm. Lược
Thặng Sứ chủ quản tài lộc, có trách nhiệm
tước đoạt tài lộc nếu một người
do nguyên nhân nào đó mà tài lộc vượt quá số phần
được hưởng trong vận mạng, như khiến
cho kẻ đó bị bệnh nặng hoặc gặp tai
ương phải tiêu hết số tiền của vượt
ngoài phần định sẵn trong mạng. Tốc Báo
Tư là các quan lại trực thuộc Thành Hoàng hoặc
Đông Nhạc Đại Đế có trách nhiệm xem xét,
tấu tŕnh thiện ác của mỗi người lên Âm Tào.
[43] Ḥm là dịch từ chữ Hàm (函), có nghĩa gốc là cái hộp nhỏ. Do
kinh có số lượng nhiều, số quyển thuộc mỗi bộ
kinh lớn cũng nhiều,
lại c̣n do thời cổ kinh in trên những mảnh giấy
dài, cuộn lại thành trục (do vậy, gọi là Quyển), nếu không cẩn thận dễ
bị thất lạc, rách nát. V́ thế,
cổ nhân chế ra những cái hộp
đựng kinh để xếp những quyển kinh vào
đó, cho dễ t́m. Mỗi hộp như vậy thường
gọi là Hàm. Sau này, khi in kinh theo lối phương sách, vẫn
sử dụng Hàm để giữ kinh vừa để khỏi
thất lạc, vừa dễ t́m khi cần tra cứu. Mỗi hàm thường dùng một
chữ trong bài Thiên Tự Văn để đánh dấu
thứ tự (thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng
hoang, nhật nguyệt doanh trắc, thần tú liệt
trương….). Tùy theo các kinh được công nhận,
đưa vào Đại Tạng mà mỗi loại đại
tạng có số quyển và ḥm khác nhau. Chẳng hạn Phổ
Ninh Tạng (đời Nguyên) gồm 1.430 bộ kinh, chia
thành 6.010 quyển, không rơ số ḥm, c̣n Hồng Vũ Nam Tạng gồm 1.600 bộ
kinh, chia thành 7.000 quyển, 678 ḥm.
[44] Các ṿng tṛn xếp chồng lên nhau, biểu
thị lọng che trên tháp.
[45] Thời Xuân Thu, trong triều vua Vệ Linh
Công, có một vị hiền nhân là Cừ Bá Ngọc
được Khổng Tử tột bậc ca ngợi.
Quan đại phu Sử Ngư nhiều lần khuyên vua Vệ
trọng dụng Cừ Bá Ngọc, nhưng Vệ Linh Công u
mê, không dùng, lại trọng Di Tử Hà là một gă “tốt
mă giẻ cùi” vô tài, vô đức nắm giữ đại
quyền. Sử Ngư bệnh chết, trước khi mất,
căn dặn con: “Ta lúc sống chẳng cách nào khiến
cho vua trọng dụng Cừ Bá Ngọc, xa ĺa Di Tử Hà. Sống
đă không giúp vua thấy được nẻo chánh, chết
cũng không thành lễ. Ta chết rồi, hăy đem thi thể
bỏ tại bắc đường (chỗ phụ nữ
trong nhà giặt giũ)”. Con
ông vâng theo di chiếu, đưa quan tài không đậy nắp
đặt tại bắc đường. Vệ Linh Công viếng
tang, hỏi duyên cớ, hối hận, trọng dụng Cừ
Bá Ngọc, đuổi Di Tử Hà.
[46] Theo cổ lễ, trước phần mộ,
dựng một ṭa nhà để tiện cúng tế,
gọi là minh đường (明堂). Nếu là
người quyền quư, minh đường có ba gian: Tiểu
minh đường (ở sát ngay mộ), trung minh đường
(đ́nh viện ở khoảng đất trống kế
đó), đại minh đường (cất ở chỗ
xa mộ nhất nhưng vẫn thuộc vùng mộ).