Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 9

Cổ Hàng Vân Thê Châu Hoằng đại sư trước tác

古杭雲棲袾宏大師著

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

(theo bản điện tử Gia Hưng Đại Tạng Kinh của CBETA)

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

16. Vân Thê Cộng Trụ Quy Ước (雲棲共住規約 - quy ước về việc cùng ở chung của chùa Vân Thê)

16.1. Vân Thê Cộng Trụ Quy Ước Thượng Tập

16.1.1. Đại Đường (trong các điện đường chánh yếu của chùa như Thiền đường, niệm Phật đường v.v…)

 

* Trong đường, bốn thời chỉ tĩnh (tĩnh tọa), ba thời lễ bái tụng niệm, một thời nhập quán.

1) Thời thứ nhất (canh năm): Khi đến giờ thắp hương chỉ tĩnh, tụng chú Lăng Nghiêm, chương Thượng Phẩm Thượng Sanh [của kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật], niệm Phật một ngàn câu, hồi hướng bằng Tiểu Tịnh Độ Văn[1].

2) Thời thứ hai (buổi sáng): Khi hương chỉ tĩnh đốt lên, dùng cơm trưa xong, tụng kinh văn Bốn Mươi Tám Nguyện, niệm Phật một ngàn câu, hồi hướng giống như trước.

3) Thời thứ ba (sau chánh Ngọ): Khi hương chỉ tĩnh đốt lên, thời khóa tối tụng kinh Di Đà, sám hối, xuất sanh[2] xong, niệm Phật một ngàn câu, tụng Đại Tịnh Độ Văn[3] để hồi hướng.

4) Thời thứ tư (đêm xuống): Khi hương chỉ tĩnh đốt lên, niệm Phật một trăm câu, trở về đơn, nhập quán, cát tường ngủ nghỉ.

Chỉ tĩnh, lễ tụng, nhập quán như thế là tịnh nghiệp trong một ngày, chẳng rườm rà, chẳng sơ sài, măi măi vâng giữ, chẳng để hư hoại. Vào tháng nắng gắt, thời lễ tụng buổi trưa có thể dời lên trước giờ Ngọ.

* Tiến đường (chấp thuận cho hành nhân được ở trong một đường nào), phải xem xét bốn việc [của người xin tiến vào] có hợp cách thức hay không rồi mới cho vào (chi tiết chép trong phần Biệt Tập).

* Trong đường có bốn mươi tám đơn, chúng thường trụ (bổn chúng) và chúng khách tăng, mỗi chúng gồm hai mươi bốn đơn. Trong số đó, để trống hai đơn dưới tượng thánh tăng.

* Người tuần hương[4] đặt một lá phan nhỏ. Phan dài hai tấc, cán phan dài một thước hai tấc. Người nào hôn trầm th́ dùng phan chạm nhẹ vào đầu gối, không được đánh loạn xạ. Có người ngồi đă lâu th́ dùng phan phất thử trước mắt, nếu chẳng phải hôn trầm th́ người đó niệm Phật một câu. Hễ cảnh tỉnh hôn trầm ba lần mà vẫn chẳng tỉnh, sẽ đặt thẻ, gơ tịnh bản để đánh thức. Kẻ thức dậy mà không chịu xuống khỏi đơn, sẽ bị phạt hai mươi đồng. Phạm nhiều lần chẳng sửa đổi, sẽ trục xuất khỏi đường. Người tuần hương làm lấy lệ cho xong chuyện, chẳng dụng tâm, bị phạt hai mươi đồng.

* Định lượng thời gian đốt hương phải chiếu theo tám tiết khí[5] để gia giảm thời hạn. Phàm đốt hương th́ trước hết là [hương đốt cho thời gian] đứng dài một tấc, kế đó là [hương thắp trong khi] ngồi là một tấc; sau đó đi hay ngồi tùy ư. Buổi tối, sau khi đứng và ngồi hết hai tấc hương xong, xướng rằng: “Lăo, tật, trọng vụ, học kinh chư đạo hữu, hương đáo dục xuất giả xuất. Tự nguyện tùy đường giả lưu” (Các đạo hữu già yếu, bệnh tật, hoặc có nhiệm vụ trọng yếu, hoặc học kinh, hương đă cháy hết, ai muốn ra khỏi đường th́ ra. Ai tự nguyện theo đại chúng th́ ở lại). Khi cây hương kế tiếp đă cháy hết, liền xướng rằng: “Khinh vụ, hương đáo, dục xuất giả xuất, tự nguyện tùy đường giả lưu” (Người có nhiệm vụ nhẹ, hương đă cháy tới lúc ai muốn ra th́ ra, ai tự nguyện theo đại chúng th́ ở lại).

* Người có việc cần ra khỏi đường, phải đến chỗ vị Thủ Tọa xin thẻ bài. Không có thẻ bài mà tự ư ra ngoài, phạt hai mươi đồng. Ở ngoài điện đường, từ vị Trực Viện trở xuống, hết thảy mọi người đều có thể kiểm tra và cử tội (trên thẻ bài viết hai chữ Cáo Xuất (告出, xin ra ngoài)).

* Xin nghỉ phép hoặc xuống núi, trong các mùa Xuân, Hạ, Thu, nếu quá hạn một ngày, phạt mười đồng; quá ba ngày tính là vắng mặt. Xin nghỉ trong lúc mùa Đông, liền tính là khuyết đơn, cho phép nghỉ. Lấy đường xa hay gần làm hạn.

* [Đối với đại chúng trong một đường], các việc gánh gạo, gánh củi, dạy kinh, chăm sóc người bệnh, trực nhật trong tăng chúng… đều được miễn, chỉ có hai việc Cảnh Sách và Tuần Chiếu phải theo đại chúng.

* Cúng Phật không thực hiện trong bổn đường, phải dời sang pháp đường. Việc Cô Xướng (估唱, hô đấu giá di vật của vị tăng đă mất) không được làm trong đường ấy, phải dời sang trai đường (cách thức đấu giá chép trong Biệt Tập).

* Phạt lỗi: Nếu việc liên quan đến nội bộ trong đường, các vị Thủ Tọa, Duyệt Chúng, Thư Kư họp với các vị Trực Viện, cùng xử trí tại trai đường. Xong việc phải về ngay, đừng nán lại lâu. Nếu việc ở ngoài đường, không liên quan đến nội bộ trong đường, không cần ra.

* Mồng Một và Rằm, nhóm chúng xong, lại bái lạy lẫn nhau, kẻ gây phiền loạn bị phạt mười đồng. Nếu là thầy tṛ th́ không bàn tới.

* Sau thời sáng, khi chỉ tĩnh, người trực nhật trong đường lễ Phật một lạy, lễ hai bên đơn[6] mỗi bên một lạy, người tuần đường sẽ xá để hoàn tất lễ. Hai thời c̣n lại chỉ cần xá trước Phật là đủ. Tân giới tử học lễ nghi th́ tự làm ở pháp đường; c̣n ở nơi đây (đại đường) coi trọng Thiền Định, tư duy, chớ nên gây phiền nhiễu.

* Khi cạo tóc, nghe tiếng bang[7] th́ đi ra. Khi trở về đường, chỉ đối trước Phật lạy một lạy, chẳng cần lạy hai bên đơn. Khi tắm gội [trở về đường] cũng thế.

* Buổi tối, khi báo chung vang lên, người ở ngoài điện đường liền vào đường, đối trước Phật lễ một lạy rồi kinh hành. Người đến sau, nối tiếp kinh hành, chẳng cần phải xếp hàng ngay ngắn. Kẻ nào xúm Đông, tụm Tây, chụm đầu nói năng tạp nhạp, bị phạt hai mươi đồng.

* Đối với lối đi kinh hành gần hai bên chỗ kê đơn, không được tùy tiện bước nhanh. Lối đi để kinh hành nhiễu Phật th́ tùy ư sắp xếp.

* Sau khi khai tĩnh (hết giờ chỉ tĩnh), nếu [hành nhân trong đường] chẳng tu chánh niệm, chụm đầu bàn tán tạp nhạp, người tuần hương nhắc nhở vẫn không thôi, sẽ phạt [những kẻ đó] hai mươi đồng. Phạm lỗi nhiều lần th́ trục xuất khỏi đường. Nếu người tuần hương không cử tội [những kẻ đó], cùng bị phạt như nhau.

* Có bệnh th́ treo màn [che đơn]. Nếu năm ngày chẳng khỏi, th́ vào bệnh đường. Người không chịu treo màn hoặc không chịu vào bệnh đường th́ chẳng cử người chăm sóc. Người bệnh [nếu cố chấp như vậy] hễ qua đời, [di cốt] không được đưa vào tháp Phổ Đồng. Người bệnh nặng liền vào ngay bệnh đường th́ chẳng luận tới.

* Hễ có nghi ngờ liền hỏi cho rơ ràng, chớ nên âm thầm che giấu, chịu đựng.

* Người quen thuộc đến thăm viếng, không được tṛ chuyện trong đường. Có thể sang pḥng Hương Đăng tṛ chuyện đôi chút, chẳng được nói lâu. Nói lâu sẽ phạt mười đồng, quá lâu sẽ bị phạt ba mươi đồng.

* Đức Phật chế định, mùa Đông và Hạ tọa Thiền, Xuân và Thu th́ hành Đầu Đà, hăy nên hành pháp khất thực; nhưng khất thực thuở thánh thế (thời Chánh Pháp và Tượng Pháp), bậc Thượng Tọa, A-xà-lê c̣n bị ma quấy nhiễu, huống hồ thời Mạt Pháp này? Nay tạm châm chước đổi khất thực thành chấp tác (làm mọi việc lao động chân tay), bất đắc dĩ mới đi khất thực.

* Nay lấy bốn mùa chia thành bốn kỳ tu, Đông và Hạ là chín mươi ngày, Xuân và Thu giảm ít hơn, ước chừng bảy mươi ngày. Hết kỳ tu th́ khách chúng tạm giải tán, tới kỳ an cư sau, lại đến quải đơn. Chúng thường trụ th́ trong một kỳ bèn đổi ban, có quy cách nhất định. Khi kỳ tu đă kết thúc, người trong đường không chịu ra, người ngoài đường cố chen vào, đều không chấp thuận!

* Trong chúng, nếu có người tuy ở trong Tịnh Nghiệp Đường, nhưng chẳng tu Niệm Phật tam-muội mà tu các hạnh khác. Nay bổn đường chuyên nhất niệm Phật, sợ gây lỡ dở cho nhau, chẳng dám gượng ép giữ [kẻ đó] lại. Sau này, nếu [người ấy] phát tâm niệm Phật, có thể trở lại, không trở ngại ǵ!

* Đối với bốn mươi tám nguyện trong bản khắc mới của kinh Vô Lượng Thọ thời cổ, thời khóa buổi trưa tụng kinh đó, mỗi lần tụng mười sáu nguyện, ba ngày liền giáp ṿng. Mùa Hạ trời nóng th́ khỏi tụng.

* Trong đường, mỗi người đều có đủ ba kinh Tịnh Độ: Một là Di Đà Sớ Sao, hai là Quán Kinh Sớ Sao, ba là Đại Di Đà Kinh theo cổ bản được khắc in mới. Lại có bốn mươi tám nguyện bản khắc mới, Tây Phương Nguyện Văn, và tràng hạt. Sáu chuyện trên đây, khuyết một chẳng thể được. Vào đường rồi mới mượn dùng, cũng chẳng được!

* Ngày cuối tháng, mỗi người được cấp mười đồng, trích từ tiền phạt các lỗi, dùng tiền đó để mua hồ gột vải.

 

16.1.2. Tây Đường

 

          * Đường này có tổng cộng hai mươi bốn đơn. Vị Thủ Tọa quản lư chung tại đại đường. Ở đây, chẳng lập riêng [Thủ Tọa cho] Tây Đường, Hậu Đường, chỉ có vị Đường Chủ lănh chúng, Duyệt Chúng phụ trợ.

* Đường này chỉ tiếp nhận khách chúng (tăng chúng từ các nơi khác tới).

* Cách khảo hạch cho phép nhập đường giống như đại đường, hoặc vào đại đường, hoặc vào Tây đường. Nếu chẳng quyết định được th́ rút thăm.

* Canh năm, thức dậy theo hiệu lệnh của đại đường. Rửa mặt xong, trở về Tây đường chỉ tĩnh. Khi khai tĩnh, vào đại đường tham dự khóa tụng. Ban ngày chỉ tĩnh, ban đêm chỉ tĩnh, đều ở tại Tây đường này.

* Tuần hương mỗi lượt ba người, một người đi tuần tại đơn phía Đông đại đường, một người đi tuần đơn phía Tây đại đường, một người đi Tây đường.

* Dùng cơm cháo tại Tây đường tuân theo nghi thức của đại đường.

* Tụng bốn mươi tám nguyện th́ vào đại đường, [người thuộc Tây đường] được xếp ngồi ở phần xuyên đường (hành lang nối giữa hai đường) để tụng.

* Hết thảy mọi chuyện ra vào, cạo tóc, tắm rửa, xin phép nghỉ, hoàn toàn tuân theo quy củ và cách thức của đại đường, chẳng phiền rườm lời!

* Tiền cấp phát cuối tháng theo cách thức của đại đường.

 

16.1.3. Luật Đường (dùng chung với pháp đường, không lập đường riêng)

 

* Mỗi người phải tự có giới kinh mà chính ḿnh đă dùng để thọ giới, tức Sa Di Luật Nghi, Tứ Phần Giới Bổn, và Giới Sớ Phát Ẩn[8], hễ thiếu một thứ, bị phạt ba mươi đồng. Mỗi người phải có đủ y bát; thiếu một thứ, phạt ba mươi đồng.

* Xuống tóc, chỉ làm một lần vào ngày cuối năm (chi tiết ghi trong Biệt Tập).

* Người cầu được truyền thọ y; nếu y chẳng đầy đủ, sẽ không truyền trao.

* Đối với người cầu thọ giới tỳ-kheo, giới Bồ Tát, [vị quản sự] phải thưa rơ về lệnh cấm của đất nước, tận lực khước từ. Có quy cách học giới (chép trong phần Biệt Tập).

* Người mới xuống tóc, trước ngày tụng giới một hôm, khảo hạch Sa Di Luật Nghi. Nếu hiểu sai nghĩa, phạt năm đồng. Đọc thuộc ḷng mà sai kinh văn, phạt mười đồng. Hoàn toàn không nhớ được, th́ gởi xuống ban Ngũ Giới. Khảo hạch giới Tỳ-kheo và giới Bồ Tát, cũng phỏng theo lệ này!

* Người thọ Thập Giới, phải học Luật năm Hạ, chẳng cho phép ra ngoài nghe giảng, nhưng chẳng cấm học kinh tại bổn sơn. Luân phiên xuất sanh, luân phiên làm thị giả trong đại đường, luân phiên hành lễ. Nếu không có ai chăm sóc người già th́ luân phiên chăm sóc. Người nào thoái thất giới pháp, vào đêm tụng giới, vị Giới Thủ sẽ xướng rằng: “Người tên X… hoàn toàn chẳng học tập Thập Giới, gởi xuống ban Ngũ Giới”. Ba tháng sau, tŕnh được năm mươi điều thiện th́ mới được khôi phục.

* Người thọ giới tỳ-kheo, luân phiên cầu đảo, luân phiên dạy khóa kinh, luân phiên tụng Ngũ Giới, Thập Giới, giới tỳ-kheo, luân phiên trách vấn (hỏi han, quở trách kẻ phạm lỗi). Người thoái thất giới pháp, vào ngày tụng giới cũng xướng theo cách thức như trên, gởi xuống ban Thập Giới. Ba tháng sau, nộp được bảy mươi điều thiện th́ khôi phục lại vị trí cũ.

* Người thọ giới Bồ Tát luân phiên tụng giới Bồ Tát, luân phiên thuyết pháp, luân phiên dạy kinh Đại Thừa, luân phiên bố thí, luân phiên trách vấn, luân phiên Trực Viện, luân phiên lănh y. Đối với người thoái thất giới pháp, vào ngày tụng giới, xướng theo cách thức trên đây để gởi xuống ban giới tỳ-kheo. Ba tháng sau, nộp được chín mươi điều thiện th́ mới khôi phục lại vị trí cũ.

* Không tham dự tụng giới mỗi nửa tháng, cũng chẳng gởi thuyết dục[9], phạt mười đồng.

* Mỗi nửa tháng tụng giới, nếu có người cử tội [kẻ nào đó] vi phạm mười điều tăng ước và các lỗi nặng khác, người đọc quy ước tiếp nhận lời cử tội. Người bị cử tội nếu tâm chẳng thẹn th́ bước ra trước đại chúng, thưa: “Tôi có lời biện bạch”. Duyệt Chúng đáp: “Ngày mai biện bạch”, người đó lập tức im lặng lui ra. Nếu c̣n làm ồn, gây nhiễu loạn, phạt năm mươi đồng.

* Người [từ bên ngoài núi] đến tụng giới, phải đến đúng ngày tụng giới, nếu đường xa th́ đến trước một đêm, tụng xong lập tức quay về. Người đến quá sớm, hoặc đi quá trễ th́ không phải là người thật sự đến tụng giới vậy.

* Ngày mùng Một tháng Giêng, tại pháp đường sắp xếp thứ tự theo giới lạp (tuổi hạ). Ngày mùng Một tháng Ba, xếp thứ tự theo [thế hệ trong] pháp phái. Ngày mùng Một tháng Năm, xếp thứ tự theo năm sanh. Các tháng Bảy, Chín, Mười Một cũng như thế. Mỗi năm xếp hai lần (chi tiết được ghi trong Biệt Tập).

* Dối gạt quan phủ, gạt gẫm đại chúng, như trốn thuế, giấu giếm lương thực, cân đong non, già v.v… đều coi là trộm cắp. Bậc phạt cao nhất là trục xuất khỏi chùa!

          * Đối với các việc ở nhà kho, mua bán, phóng sanh, làm kinh sám, th́ tiền cúng dường v.v… cứ nửa tháng phải kư tên, hóa sớ [bẩm báo] để biểu thị sự thanh bạch, hạ viện cũng phải ghi kèm danh tánh vào.

          * Kẻ giả truyền mệnh lệnh của thầy, lừa dối đại chúng và hết thảy mọi người, bị phạt năm trăm đồng. Sự việc nghiêm trọng th́ phạt xong liền trục xuất khỏi chùa.

          * Tuổi chưa đến sáu mươi mà nhận phụ nữ quy y, phạt năm trăm đồng và trục xuất khỏi viện.

 

16.1.4. Pháp đường

 

* Trong đường, vào các mùa Xuân, Hạ, Thu, bày sẵn sáu bộ kinh Hoa Nghiêm, chọn người có thể tụng, ghi danh lên bảng. Mỗi ngày [những người đă ghi danh] luân phiên lên tụng một quyển. Tụng hết kinh, lại bắt đầu từ đầu. Ba tháng mùa Đông th́ dừng, không tụng.

* Học kinh phải theo thứ tự của kinh, không được nhảy cóc. Người nhảy cóc, kinh lớn th́ mỗi bộ phạt một trăm đồng, kinh nhỏ mỗi bộ phạt năm mươi đồng. Số tiền đó dùng để thỉnh kinh hoặc cúng dường khách tăng.

* Người dạy kinh phải ghi dấu trên kinh: Ngày… tháng… do người (tên)… dạy.

* Những bộ như Di Giáo, Cảnh Sách, Sùng Hạnh (Truy Môn Sùng Hạnh Lục) v.v... đều phải học thuộc ḷng, nỗ lực thực hành. Cứ mỗi nửa tháng, rút mấy người ra khảo hạch.

* Pḥng in khắc kinh, tạo kinh, đều phải có trương mục, mỗi mỗi phân minh. Nếu không có người thành thật, đáng tin cậy để chuyên trông coi, hăy chọn ra vài người để luân phiên trông coi.

* Người giảo chánh, đối chiếu kinh được khố pḥng cấp chút thức ăn nhẹ. Nếu ḍ được một chữ [sai sót để chỉnh cho đúng] th́ được thưởng năm điều thiện. Để người khác ḍ ra một chữ sai [mà chính ḿnh bỏ sót] th́ trừ năm điều thiện.

* Giảng chủ luân phiên giảng các kinh Tịnh Độ, một là Di Đà, hai là Quán Kinh, kế đến là các kinh Pháp Hoa, Lăng Nghiêm v.v... Giảng xong lại giảng từ đầu.

* Học Giáo chia thành hai loại: Kẻ độn căn th́ học kinh văn, người lợi căn th́ t́m hiểu nghĩa. “T́m hiểu nghĩa” lại có hai loại: Một là nương theo lời dạy để tu hành, hai là hiểu giáo để giảng giải. [Chọn lựa] người sẽ làm giảng sư chẳng được bừa băi, cần phải chọn người có căn tánh hết sức nhạy bén, giữ thân chẳng cẩu thả, ḥng tránh ngày sau [kẻ đó] sẽ điếm nhục pháp môn!

* Chẳng thưa với người trông coi, tự ư lén học Diệm Khẩu, Thí Thực, và các văn bản Diệm Khẩu, phạt năm trăm đồng.

* Đối với kinh điển của thường trụ, Hoa Nghiêm lấy hai mươi bốn bộ làm chuẩn. Kinh Pháp Hoa, Lương Hoàng Sám đều lấy bốn mươi tám bộ làm chuẩn. Số c̣n lại cúng dường trên gác Đa Phật để đợi cúng thí. Những bộ kinh vốn được gởi đến để cúng dường vĩnh viễn cho núi này th́ chẳng thuộc vào hạn lượng này!

 

16.1.5. Lăo đường

 

          * Người tuổi tṛn bảy mươi, ở trong chùa tu hành cẩn thận, chẳng có lỗi ǵ, mới có thể tiến nhập [lăo đường]. Người tám mươi tuổi th́ tùy nghi sắp xếp, chín mươi tuổi th́ bất luận (“tùy nghi sắp xếp” là xem xét hoàn cảnh, “bất luận” là đưa thẳng vào).

* Trong đường có mười đơn, trừ đi một đơn dành cho kẻ chăm sóc người già, thật sự là chín đơn. Người ngoài phụ thêm vào th́ chẳng luận.

          * Thuốc men, thức ăn v.v… cần thiết cho người già, nếu Khố Đầu, Phạn Đầu hoặc Điển Tọa[10] keo kiệt không cho, phạt [những vị chấp sự ấy] mười đồng. Thật sự chẳng nên cho th́ phải đối trước đại chúng bạch rơ. Nếu đem ḷng riêng đối xử thiên vị, phạt tiền một trăm đồng.

          * Người già bảy mươi tuổi không có răng, nếu chẳng thể nhai thức ăn sống hoặc cứng theo đại chúng, hăy nên cho họ thức ăn mềm nấu chín kỹ (lấy từ tiền phạt các lỗi).

          * Cảnh sách thực hiện mỗi nửa tháng một lần. Nếu bỏ qua chẳng làm, phạt hai mươi đồng.

          * Người già suy yếu, khóa sáng có đến dự hay không chẳng luận. Khóa tối bắt buộc phải theo đại chúng. Chẳng đến, sẽ phạt theo lệ. Người tám mươi tuổi th́ tùy nghi châm chước; chín mươi tuổi th́ miễn hoàn toàn. Đối với chuyện luân phiên trực Hương Đăng, người đă tám mươi và chín mươi tuổi cũng áp dụng theo lệ như trên.

          * Ở trong chúng mà nhiều lần tranh đấu, hoặc ra ngoài chơi sanh sự, sẽ bị trục xuất khỏi đường.

          * Mỗi cuối tháng, cấp cho mỗi người mười đồng (trích từ tiền phạt dùng để mua bột hồ).

 

16.1.6. Bệnh đường

                  

          * Trong đường, tấm đơn dài để đặt người bệnh nhẹ. Đơn độc lập để đặt người bệnh nặng. Nếu hỗn loạn, phạt năm mươi đồng.

          * Quy cách treo màn giống như trong đại đường.

          * Người bệnh nặng vào đường, trước tiên, [người trực nhật] phải chuẩn bị hương, nến trước bàn thờ Phật. Vị Trực Viện, ngoại thư kư, hậu đường duyệt chúng v.v... cùng đưa [bệnh nhân] vào. Đọc xong lời dặn ḍ, liền viết bảng ghi chép tài sản (bản trướng, 板帳). Chẳng viết theo đúng quy định mà tự ư tăng giảm, [người viết bị] phạt mười đồng. Người không muốn viết bảng ghi chép tài sản th́ không sắp xếp đơn. Người bệnh nhẹ th́ không cần viết bảng ghi chép tài sản, chỉ cần thắp hương, nến trước Phật, vị Trực Viện đưa [bệnh nhân] vào là được.

           * Lập một người thành thật làm đường chủ để giữ sổ sách, ghi rơ ngày... tháng... người nào vào đường. Phía sau ghi rơ ngày... tháng... qua đời, hoặc ngày... tháng... lành bệnh ra khỏi đường, đều phải viết rơ ràng. Người lành bệnh ra khỏi đường, lấy chuẩn mực là “tự dùng cơm được”. Ghi chép thiếu sót, phạt [đường chủ] mười đồng.

          * Bệnh nhẹ th́ bảy ngày cảnh sách một lần, bệnh nặng th́ cảnh sách mỗi ngày một lần. Nếu bỏ qua chẳng làm, phạt [đường chủ và người khán bệnh (chăm sóc bệnh nhân)] hai mươi đồng.

          * Đối với người chăm sóc bệnh nhân, [đường chủ] trước tiên phải quỳ trước Phật xin [có người] phát tâm. Ba lần thỉnh mà không có ai, [đại đường] sẽ chiếu theo thứ tự các đơn [trong đường ấy] để [cử người] luân phiên trực ban chăm sóc. Người không thể chăm sóc [bệnh nhân] mà xin miễn, phải nộp tiền (lệ này có ghi trong Biệt Tập).         

          * Chăm sóc người bệnh phải phát tâm đại từ bi, chớ oán ghét người bệnh, chớ làm trái ư người bệnh, hăy nên như con hiếu phụng sự cha mẹ.

          * Trong chúng, nếu có người thông hiểu y lư, khảo hạch đạt yêu cầu th́ lập làm chấp sự. Người chưa thông hiểu mà hư vọng tự dùng thuốc, bị phạt ba mươi đồng. Lỡ làm hại mạng người th́ trục xuất khỏi viện. Người tham cầu lợi lộc th́ trục xuất khỏi viện.

* Đối với thuốc thang, cơm nước cần thiết cho người bệnh, nếu Khố Đầu, Phạn Đầu, Điển Tọa keo kiệt không cho, [những người ấy bị] phạt hai mươi đồng. Nếu chẳng nên cho th́ biện bạch rơ ràng trước đại chúng. Nếu đem ḷng riêng tư đối xử thiên vị, bất công, phạt một trăm đồng.

* Người bệnh nặng vào bệnh đường, hăy nên dặn ḍ hậu sự, buông xuống muôn duyên, nương theo lời cảnh sách, nhất tâm chánh niệm. Lại nữa, chăm sóc người bệnh nặng cần hai hoặc ba người, và thường trụ cũng phải lo liệu chu đáo cho người chăm sóc bệnh nhân.

* Người bệnh nhẹ cũng nên an tĩnh niệm Phật. Người có bệnh mà không giữ phận bệnh nhân, ra ngoài chơi sanh sự, bị phạt mười đồng và trục xuất khỏi bệnh đường để trở về nhập chúng.

* Đối với việc tống táng vị tăng bị bệnh, nếu bệnh nhân vốn là vị Tăng Trực Viện, cầm đầu đại chúng, hoặc là người hiền hạnh, nhiều người đưa tiễn. Nếu là tăng chúng thông thường hoặc chẳng hiền hạnh, người nào thuận tiện bèn đưa tiễn. Người ở trong chúng phạm nhiều lỗi, bị mọi người ghét bỏ, đại chúng không tống tiễn, chỉ có người khiêng linh cữu và người đọc chúc văn mà thôi.

* Tháp Phổ Đồng: Chính giữa là [di cốt của] người của bổn sơn, bên trái là thập phương, bên phải là cư sĩ. Người thuộc bổn sơn mà bất tài hoặc lắm lỗi th́ đặt tại bên trái hoặc bên phải. Vợ của cư sĩ có tháp Phổ Đồng riêng, chính giữa đặt [di cốt của] Am chủ (ni), bên trái là ni chúng của bổn am, bên phải là ni chúng các phương và Ưu-bà-di.

* Cổ xướng (đấu giá di vật của vị tăng đă mất): Tăng chúng tập hợp tại trai đường, người chủ tŕ cầm vật dụng trên tay, gọi tên mỗi vật rồi rút thăm, người trúng thăm không mua th́ mới rút thăm chọn người khác. Người đă mua được một vật rồi th́ rút thẻ thăm ra, không được mua trùng lại nữa.

 

16.1.7. Các pḥng

 

* [Người thuộc] các pḥng nếu không có việc bận rộn chánh đáng phải làm mà không vào đại đường tham gia khóa tụng sáng tối, phạt hai mươi đồng. Giờ chỉ tĩnh khóa tối không đến, phạt mười đồng. Khi chưa xướng lời cho phép người già bệnh ra trước, mà khi đến giờ, đă tự ư ra trước, phạt mười đồng. Khóa tụng buổi trưa th́ tùy tiện.

* V́ việc công muốn vào đường, phải đến khố pḥng lănh thẻ bài. Chẳng có thẻ bài, không được vào. Nếu cho [người không có thẻ bài] tùy ư vào, người trực đường bị phạt hai mươi đồng. Người vào đường mà nói chuyện phiếm, nhiễu loạn đại chúng, bị phạt hai mươi đồng. Người ở trong đường nói chuyện tạp nhạp với nhau cũng bị phạt giống như vậy.

* Mỗi pḥng có một người làm Thượng Tọa. Trong chúng, nếu có người nói chuyện tạp nhạp, ngủ gật, tranh luận, người ngoài vào đường gây nhiễu loạn, vị Thượng Tọa lập tức gơ mơ gỗ ba tiếng, lớn giọng niệm Phật, đại chúng liền ḥa tiếng niệm theo. Kẻ nào nghe tiếng mơ mà chẳng làm theo, bị phạt mười đồng. Nếu Thượng Tọa dung túng, che giấu chẳng cử tội, chịu phạt y hệt.

* Mỗi pḥng cử một người trực nhật, gọi là “khán đơn”, cũng được giao một cái mơ gỗ để cùng hành sự với Thượng Tọa.

* Mỗi pḥng cử hai người luân phiên trực đêm, nội đường một người, tổng cộng là ba người lo liệu. Nếu không lo liệu, phạt hai mươi đồng. Để xảy ra chuyện hư hao, mất mát, phạt gấp đôi.

* Các pḥng xin phép nghỉ. Trong các mùa Xuân, Hạ, Thu, nếu quá hạn một ngày, phạt năm đồng. Quá sáu ngày, tính là khuyết đơn. Tháng mùa Đông, quá hạn một ngày, phạt mười đồng; quá ba ngày tính là khuyết đơn. Vị Trực Viện không kiểm tra, xử lư, sẽ cùng chịu phạt.

 

16.1.8. Hạ viện (các cơ sở trực thuộc Vân Thê như sở phóng sanh tại Thượng Phương)

 

          * Thượng Phương một nửa dành cho những người gồng gánh, một nửa để phóng sanh. Người trông viện nên thấu hiểu ư này. Một là khéo sắp xếp cho người làm việc nặng khiến cho họ được nghỉ ngơi yên ổn. Hai là hộ tŕ các sanh vật được phóng sanh. Trên là pḥng chim dữ, dưới là pḥng thú dữ, cho đến bờ ao sụt lở bèn kịp thời thông báo tu bổ. Chẳng được đổ nước dơ, nước độc [vào ao], cũng chẳng được thả cỏ [xuống ao cho cá ăn] quá nhiều. Đối với các điều trên đây, nếu người giữ viện chẳng tuân hành, sẽ bị cách chức, thay thế.

* Mỗi tối, đốt một cây định hương. Kẻ chẳng đến tham dự [tụng niệm, tĩnh tọa] th́ ghi danh, trả về núi. Người giữ viện không làm, phạt năm mươi đồng. Người đến nghỉ lại mà không tuân hành, bị ghi tên, gửi trả về núi; sau này không cho lưu ngụ nữa.

* Người vô sự đi rong, chẳng cho nghỉ lại. Người mạo danh chữa bệnh để trốn việc, lười nhác, ghi tên, trả về núi.

* Lập ra viện Trường Thọ chuyên để phóng sanh, hộ tŕ sanh vật giống như tại Thượng Phương, chẳng được cho người [không có chức trách trông coi] ngủ lại. Nếu cho ở lại, phạt ba mươi đồng.

          * Người giữ viện ở hai nơi trên đây, nếu vô cớ ra ngoài rong chơi và làm ứng phó đạo tràng (tụng kinh sám theo lời thỉnh), phạt năm mươi đồng.

          * Tĩnh thất ở Phạm thôn chuyên dùng làm nơi ra vào, qua lại, sắp xếp gạo, lương thực, hết thảy các vật, đặt cố định hai người trông coi, hăy nên tận tâm chăm nom, chẳng được có tâm riêng tư giữ người khác nghỉ lại, cũng như cho người khác gởi gắm hành lư. Hễ vi phạm, phạt năm mươi đồng.

          * Núi Thiên Tŕ chuyên dùng để cung cấp củi và rau, đề nghị lập hai người thủ viện, một người làm Tri Sơn, hai người làm Viên Đầu (quản lư vườn rau) để trông nom cai quản núi rừng, đề pḥng kẻ tiểu nhân lén lút trộm cắp hoa lợi. Để xảy ra mất mát, phạt tiền năm đồng. Không được rủ rê người quen biết, hoặc kẻ nhàn tản đến trú ngụ, bày tiệc trà. Kẻ sử dụng lẫn lộn vật của thường trụ th́ phạt gấp bội. Kẻ vi phạm bị trục xuất khỏi viện. Phỏng theo lệ của hạ viện, cứ mỗi năm vào dịp cuối tháng Chạp mỗi năm sẽ tiến hành bàn giao, nghe theo đại chúng quyết định thay đổi hay giữ lại [người đương nhiệm].

          * Khóa tụng sáng tối chẳng được lỡ thời hay lười nhác; đối với kẻ vi phạm, theo lệ phạt mười đồng.

 

16.2. Vân Thê Cộng Trụ Quy Ước Hạ Tập

16.2.1. Quy củ đối với người làm Trực Viện

 

          * Căn dặn: Hăy thỉnh người giải lẫn hạnh trọn đủ làm chủ tùng lâm. Nếu không có người như thế, tạm thời nương dựa theo thứ tự giới lạp để làm Trực Viện tạm thời. Người năng lực yếu th́ hai người cùng làm. Người hoàn toàn không có năng lực [đảm nhiệm] th́ nộp một lạng bạc để xin miễn. Người có năng lực nhưng xin miễn th́ nộp bốn lạng tám tiền[11] để được miễn. Người từ bảy mươi tuổi trở lên được miễn ngay chuyện Trực Viện. Người chưa đủ tuổi (mà xin miễn), mỗi tháng nộp bốn tiền. Tuy theo thứ tự giới lạp, đáng lẽ đến lượt, nhưng người đó hành vi trọn chẳng đoan chánh, bị đại chúng ghét bỏ, th́ loại ra chẳng dùng. Người không chịu vâng theo lời răn dạy, lập lời thệ nguyện th́ theo lệ nạp bốn lạng tám tiền để được miễn.

          * Vị Trực Viện về sau làm chuyện trái đạo lư, [những người khác] can gián, khuyên lơn chẳng nghe theo, th́ đại chúng họp lại, bàn định cách chức, thay đổi người khác.

          * Làm một quyển sổ, phía trước viết lời răn dạy, phía sau viết tên người [làm Trực Viện] theo từng năm. Người làm không đủ năm th́ không ghi. Người bị bệnh chẳng thể làm trọn nhiệm kỳ cũng không ghi (lời văn răn dạy ghi trong Biệt Tập).
          * Mọi chuyện trong chúng đều phải tŕnh lên vị Trực Viện. Chẳng bạch mà tự ư làm, chuyện nhỏ phạt ba mươi đồng, chuyện lớn phạt một trăm đồng. Làm lỡ chuyện, phạt xong, trục xuất khỏi viện. Nhưng vị Trực Viện cũng không được v́ thế mà tùy ư chuyên quyền, chẳng bàn bạc với các vị trưởng lăo và các vị chấp sự. [Trực Viện] phạm lỗi nhẹ th́ bị phạt, làm hỏng việc lớn th́ phạt xong băi chức, thay người.

          * Từ các liêu pḥng thuộc bổn sơn cho đến Thập Phương Đường, vị Trực Viện đều nên đi tuần tra xem xét. Đối với hạ viện, cũng phải nửa tháng một lần kiểm tra, xem xét. Nếu chính ḿnh bận việc, có thể sai người đi thay. Nếu chỉ ngồi yên, chẳng quan tâm những chuyện trên đây, nhẹ th́ bị phạt, làm hỏng việc th́ phạt xong băi chức, thay người.

          * [Trực Viện] khó thể một ḿnh thành tựu mọi việc, công lao do nhiều người giúp sức, v́ một người thấy nghe hữu hạn. Nay đem đại chúng cả núi, lần lượt luân phiên theo từng ngày, mỗi người bày tỏ những điều ḿnh muốn nói, gọi là Tăng Trực. Lại nữa, hễ gặp việc lớn liên quan tới tùng lâm, chẳng thể trễ năi, lầm lỡ, th́ bất luận tăng hay tục, già hay trẻ, hết thảy mọi người đều phải nói ngay, chẳng giấu diếm, chẳng cần đợi đến phiên đúng ban Tăng Trực của ḿnh mới nói. Nếu vị Trực Viện chẳng tiếp nhận lời tốt lành, việc đáng làm mà chẳng làm, mỗi việc phạt hai mươi đồng, việc lớn phạt gấp đôi. Làm hỏng việc th́ phạt xong, trục xuất khỏi viện.

          * Mỗi nửa tháng kiểm tra vị Thượng Tọa các pḥng. Người làm đúng pháp th́ đăi trà khen ngợi, người lười nhác chẳng đúng pháp th́ xử phạt. Chẳng kiểm tra, phạt ba mươi đồng.

          * Mỗi sáng kiểm tra người trực đêm siêng năng hay lười nhác. Không kiểm tra, [Trực Viện] bị phạt giống như trên. Để xảy ra chuyện, phạt gấp đôi.

* Kỳ hạn của Trực Viện bắt đầu từ mùng Một tháng Giêng cho đến ngày Rằm tháng Chạp là tṛn nhiệm kỳ. Ngày Mười Sáu tháng Chạp, người cũ và người mới cùng phối hợp, bàn bạc với các chấp sự trong ngoài về các sự vụ chánh yếu trong tùng lâm. Đến đêm Giao Thừa, ban quản lư mới bắt đầu hoạt động, ban quản sự cũ nghỉ hưu.

 

16.2.2. Ngạch định nhân số

 

* Số lượng người trong và ngoài đường đều được ấn định rơ ràng như dưới đây, có khuyết thiếu mới được bổ sung. Nếu hư vọng tự tăng thêm một người, phạt năm lạng bạc.

          * Đại đường gồm bốn mươi tám đơn. Lăo đường mười đơn. Ngoài đường: Trực Viện (một người), Khố Đầu (bốn người), Tri Khách[12] (hai người), Thư Kư (một người), Điển Tọa (bốn người), Phạn Đầu (hai người), Trà Đầu[13] (ba người), Oản Đầu[14] (hai người), Ma Đầu[15] (hai người), Hỏa Đầu[16] (năm người), Tịnh Đầu[17] (hai người), Hương Đăng (hai người), Thị Giả (bốn người), Sài Đầu[18] (chín người), Viên Đầu[19] (sáu người), Đảm Lực[20] (hai người), Hóa Phạn[21] (hai người), Phô Đường[22] (mười tám người), Tư Sơn[23] (hai người), Tư Ốc[24] (một người), Ấn Pḥng[25] (một người), Sơn Môn[26] (một người), Sanh Sở[27] (tám người), Trọng Dụng[28] (mười người), Khinh Dụng[29] (ba mươi người), Bệnh Đường (một người), Khán Lăo[30] (một người), Hạ Viện (tám người), Tạp Thâu[31] (một người).

          * Ngoài số người khinh dụng đă định sẵn, những người khác đều vào tiểu đường tham dự khóa tụng sáng tối và khóa chỉ tĩnh ban ngày, hoàn toàn tuân theo sự hành tŕ trong đại đường. Chỉ có buổi tối nghe dạy học kinh xong, ra ngoài đường làm việc xong, trở về đường nhập quán.

          * Chức Sài Đầu vào tháng Tám và tháng Chín thỉnh những người phát tâm đến giúp. Xong việc, ai nấy trở về chức vụ cũ của ḿnh. Nếu do đó mà tự ư thêm người vào, [Sài Đầu bị] phạt tiền một ngàn đồng. Các chức vụ như Tri Khách, Ngọa Cụ... lúc bận rộn mời người giúp, cũng giống như vậy.

 

16.2.3. Tiết giảm chi tiêu

 

          * Núi (ư nói toàn bộ đất đai thuộc chùa Vân Thê) không được tậu măi thêm. [Chấp sự nào tự ư] mua thêm một mẫu đất, [người đó bị] phạt ba lạng bạc.

          * Chẳng được xây cất thêm nhà cửa. Nếu xét theo t́nh lư, thật sự đáng nên xây dựng, đại chúng bàn bạc quyết định rồi mới được làm. Nếu vẫn như trước kia, [người nào] hư vọng tự khởi công kiến tạo, cứ mỗi gian nhà, [người ấy bị] phạt năm lạng bạc.

          * Lầu phía trên bếp phải khóa chặt, bất đắc dĩ mới bạch chúng bàn bạc. Tự tiện mở, phạt năm trăm đồng.

          * Vật phẩm dùng cho tiệc trà th́ dùng ngay sản vật trong núi, như gạo rang, đậu mặn, bạch quả, trái dương mai (dâu rượu), các thứ đồ chiên. Thỉnh thoảng mua ngoài chợ th́ chỉ được mua các loại bánh táo, bánh hạt dẻ mà thôi. Cố t́nh sắm sửa những món đắt tiền, tinh tế, phạt tiền ba trăm đồng. Các vật phẩm lấy ba hay bốn món làm lệ thường, năm món là tối đa. Hễ vượt quá năm món, cứ mỗi món [thừa ra], phạt ba mươi đồng! Trà dùng cho tăng chúng thuộc bổn sơn th́ phải chia về các đơn. Kẻ bày bàn la liệt, cứ mỗi bàn, phạt năm mươi đồng. Nếu thí chủ đặc biệt sắp bày th́ chẳng luận. Hơn nữa, kẻ ở trên đơn, bày trà nói chuyện tạp nhạp, phạt ba mươi đồng. Nếu phân tán về các đơn mà chẳng tụ tập bàn tán th́ chẳng luận.

          * Bày cỗ chay dùng bốn loại quả, bốn món ăn làm lệ thường. Năm loại quả, năm món ăn là tối đa. Vượt quá năm món, mỗi một món [thừa ra], phạt ba mươi đồng.

          * Món ăn thường ngày th́ hai ngày ăn rau, một ngày ăn đậu phụ. Có cỗ chay th́ chẳng luận. Phàm các loại rau tươi, rau khô, dưa khô, cà khô, dương đậu (đậu bắp) khô, đao đậu[32] khô, củ cải khô đều có thể mua. Cho đến khi đăi cỗ chay, cũng chỉ dùng các loại thường như đậu phụ v.v…, chẳng cần phải t́m mua những thứ đắt đỏ như nấm hương, nấm mỡ. Ai cố ư làm cỗ thịnh soạn, phạt năm mươi đồng. Tự ư hái nấm dại ăn, phạt mua ba trăm cân rau nộp vào chùa.

          * Khinh rẻ gạo vàng, nhất định mua gạo trắng, cứ mỗi thạch gạo mua vào, phạt ba trăm đồng để góp tiền mua gạo vàng.

          * Sử dụng dầu, tương v.v… quá mức, sẽ tính theo giá trị phạt đền, cứ một đồng đền gấp đôi!

          * Thức ăn có thể ăn sống, nhưng lại cố t́nh tốn củi nước để sắc, nấu; tính theo giá trị, phạt tiền gấp năm, như luộc hạt dẻ, luộc táo chẳng hạn!

* Không được trái nghịch giờ dùng cơm cháo của đại chúng, người bảy mươi tuổi trở lên, chẳng luận! Người bệnh chẳng luận, những kẻ khác bị phạt mười đồng.

* Cố t́nh không ăn xác đậu[33] mà cho súc vật ăn, hoặc bán cho nhà nuôi lợn, phạt nộp đậu đền gấp năm. Nếu là thức ăn của tăng chúng c̣n thừa, sợ bị hư nát, đem dùng cho chỗ phóng sanh [để nuôi những con vật ở đó] th́ chẳng luận.

* Từ nơi trà pḥng, lấy nước nóng rửa mặt không chừng hạn, hoặc sau khi đă nghe hai tiếng bản, vẫn dùng ấm lấy trà mang về đơn uống, thảy đều phạt mười đồng. Trà Đầu không cử tội, cũng chịu phạt. Người tự thân đến pḥng trà đứng uống th́ chẳng luận, người già bảy mươi tuổi và người bệnh chẳng luận, pḥng in chẳng luận.

* Ban đêm không được nấu nướng. Tháng cực rét, chỉ có thể nấu nước gừng hay táo mà thôi. Ai đun nấu, bị phạt ba mươi đồng.

* Thiện nhân đến chùa đăi cỗ chay, cúng Phật xong, liền dẫn người ấy đến Thiền đường, đối trước Phật, lễ một lễ. Kế đó, đối với hai hàng đơn, hoặc lễ một lạy, hoặc xá. Kế đó, dẫn đến trước tượng Vi Đà trong trai đường lễ một lạy, xá các đơn hai bên. Nếu có người hứa nguyện cúng trai tăng bao nhiêu vị, phải v́ họ ghi chép tổng số rơ ràng, ngày hoàn măn làm lễ hồi hướng.

* Chớ nên thắp quá nhiều nến; tháng mùa Hạ càng không nên. Đèn dầu có tim bằng cỏ thô, chỉ thắp một sợi. Tim bằng cỏ mịn mới được dùng đôi. Lại chớ nên mua các loại gỗ cao giá làm hương, khiến khói hun hư hoại kim tượng, đâm ra trở thành phạm lỗi.

* Chẳng đúng hạn định mà giặt giũ, phạt tiền mười đồng. Người làm việc nặng chẳng luận.

* Mặc quần áo đẹp đẽ quá mức, phạt một trăm đồng. Vạt xiêm quá dài th́ cắt bớt làm đai áo, thí cho mười phương.

* Kẻ nào dùng chậu đồng để rửa mặt th́ đoạt lấy đem bố thí. Hết thảy các dụng cụ quá mức tinh xảo đều tịch thu đem bố thí.

* Bài minh nơi nhà tắm có câu: “Một tháng tắm tám lần, tùng lâm hiếm nghe thấy”. Thế mà hiện thời có người tắm hằng ngày, dẫu là làm việc nặng, sợ cũng quá phận! Nay đành thuận theo đó, nhưng bắt buộc đến Khố Pḥng xin thẻ. Không có thẻ, chẳng được vào nhà tắm. Cố ư tắm, phạt tiền mười đồng. Dục Đầu (người quản lư nhà tắm) dung túng, chẳng cử tội [kẻ đó], sẽ cùng chịu phạt. Ngoài ra, chẳng phải là người làm việc nặng, [kẻ nào] cố ư muốn tắm, phải mua thẻ, Khố Pḥng sẽ xét xem có được hay không. Nếu chẳng xét duyệt, cứ cấp thẻ bừa băi, cứ mỗi thẻ sẽ phạt mười đồng. Khi dùng thẻ th́ chẳng dùng tiền. Nếu Dục Đầu tự thâu tiền, sẽ bị phạt năm đồng. Từ ngày Hạ Chí cho tới ngày Thu Phân th́ đại chúng mới được tắm phổ biến, không dùng thẻ.

 

16.2.4. Ra ngoài theo lời mời dự pháp hội

 

          * Núi này chuyên tu Tịnh nghiệp, tọa Thiền lâu dài; nhưng pháp quyến ra ngoài giảng giải th́ nhiều, người tu Thiền ít ỏi, sao có thể gọi là “chuyên tu” cho được? Từ nay về sau, những ai đang ở tại bổn sơn mà tự nguyện làm giảng sư, cần phải hết sức thông hiểu giáo lư, học vấn bao quát rộng răi, có đủ khả năng hoằng pháp. Hơn nữa, ở bổn sơn, trước hết phải giảng giải minh bạch giới luật cho người mới học. Kế đó là kinh luận Tịnh Độ, hoặc sau đó nữa là các kinh luận thiết yếu. Nếu các nơi có đến thỉnh, phải xem xét vị đứng đầu hội ấy có thật sự v́ hoằng pháp lợi sanh hay không? Nếu không, chẳng nhận lời mời.

          * Tuy là pháp quyến vốn trụ ở bên ngoài, nhưng khi nhận lời tham dự pháp hội, phải trở về bổn sơn thưa rơ, [những vị chấp sự của bổn sơn] cần phải xem xét giáo lư và học vấn của người [được thỉnh] đó đă hoàn bị hay chưa? Nếu chưa được như thế, phải nên khuyên thôi đi. Lại nữa, [người được thỉnh] tuổi tác chưa đến độ lăo thành mà đă làm giảng sư, cũng nên khuyên thôi đi. Người tuổi chưa lăo thành mà làm pháp sư chủ tŕ đàn thí thực, cũng nên khuyên thôi đi!

Những điều trên đây là phương tiện quyền biến để ứng phó trong thời Mạt Pháp, cần phải biết tu Thiền là chánh yếu.

 

16.2.5. Khách tăng từ phương xa đến

         

* Khách tăng đến tạm trú trong ṿng ba, sáu, hoặc chín ngày, vị Tri Khách và ngoại thư kư phải đến hỏi han. Nếu họ xin ở lại, hăy nên xem xét. Nếu là kẻ chẳng thể cho ở lại được, lập tức khéo léo từ khước ngay, chẳng cần phải đợi đến khi khuyết đơn (tức là trong đường nào hoặc liêu pḥng nào có chỗ trống). Người có thể lưu lại, ghi tên vào sổ sách, xin họ tạm trở về. Tới ngày tụng giới th́ đến, xem có khuyết đơn hay không. Nếu chỗ khuyết th́ ít mà người muốn trụ lại th́ đông, hăy dùng cách rút thăm để định đoạt. Nếu là người tới tùy hỷ (thăm viếng), chứ không phải cầu xin ở lại th́ chẳng luận. Đối với thời hạn ba, sáu, chín ngày như trên mà [chức sự] không theo đúng kỳ hạn để hỏi han, để họ cứ bấu víu, ương ngạnh ở lại, th́ [mỗi vị chấp sự] bị phạt năm trăm đồng và băi chức, thay đổi [người quản sự].

* Chỉ tĩnh buổi tối, đánh hai tiếng bản, người tuần chiếu phải mời họ (khách tăng) vào điện đường.

* Người mới tạm đến, dù Tăng hay tục, nếu chưa từng quen biết, bất luận địa vị cao hay thấp, [người quản sự] đều phải thành tâm đến thưa hỏi tên họ và danh hiệu, trước kia thuộc chùa nào, nhà ở nơi đâu, có từng gặp gỡ bổn sư [của người ấy] hay chưa? Chẳng thể [tiếp đăi] lười nhác, khinh mạn được! Nếu gặp phải phường vô lại, hăy nên ngoài th́ kính trọng, trong th́ pḥng ngừa, chẳng thể nhất loạt dễ dăi tin tưởng để đến nỗi xảy ra chuyện không hay!

 

16.2.6. Pháp quyến cư trụ bên ngoài

 

          * Pháp quyến trụ ngoài núi mà không tuân thủ tăng ước về chuyện quyên mộ, hóa duyên phi lư, ngược lại c̣n vào núi để quyên góp th́ không chấp thuận.

* Nhờ cậy xin đàn việt bố thí, chẳng chấp thuận! Nhờ cậy xin tể quan cho gởi thư từ, trước tác, thơ văn, cáo thị, đề biển ngạch v.v… th́ đều chẳng chấp thuận.

* Ở ngoài núi mà chẳng chú trọng tu hành, lại làm các trai hội theo pháp thế gian, [tăng chúng trong bổn sơn] chẳng đến dự. [Nếu kẻ ấy] làm các việc như khởi công xây cất, đắp tượng v.v… theo pháp thế gian th́ [tăng chúng trong bổn sơn] chẳng giúp đỡ.

* Ở bên ngoài nhiều năm mà chẳng bước chân vào núi, [trong các dịp] đáng nên đến dự, hoặc tụng giới chẳng đến, [bổn sơn] chẳng công nhận là pháp quyến nữa (Tụng giới th́ nửa tháng đến một lần, hoặc mỗi tháng một lần. Người ở xa th́ ba tháng, hoặc nửa năm, hay một năm về một lần. Kẻ chưa từng về bao giờ th́ chẳng giống như pháp quyến, cho nên chẳng công nhận).

* Kẻ ở bên ngoài phạm lỗi đáng phải quở trách, tra hỏi, [bổn sơn sẽ sai người] đến chỗ kẻ đó mềm mỏng khuyên răn, uốn nắn. Nếu chẳng nghe theo, sẽ nhóm chúng cắt đứt quan hệ (quở trách, tra vấn phải có hai người cùng đi).

* Người đến tụng giới, xướng danh cùng một thể lệ với người trong núi.

* Giờ chỉ tĩnh buổi tối, [pháp quyến từ bên ngoài đến] đều vào trong đường theo đại chúng [hành tŕ], người trực đêm [có trách nhiệm] thúc giục, mời mọc.

* Tuy trụ ngoài núi, nhưng đích xác tuân thủ quy ước của bổn sơn, và siêng ṛng tu tập đạo nghiệp, [bổn sơn] hăy nên cử người đến thăm hỏi, an ủi. Nếu như họ nghèo túng, phải nên giúp đỡ. Nếu [kẻ đó] tuổi tác chưa già dặn, chưa thông đạt lư mà đă liền bế quan, hăy đến thưa hỏi, khuyên người ấy ngưng lại.

 

16.2.7. Vân thủy tăng mười phương

 

* Trong Thập Phương Đường, thờ thánh tượng, đặt đèn lưu ly, hương, nến, mơ, khánh, kê đơn theo vị trí nhất định, đừng hỗn loạn. Buổi tối, khi nghe hiệu lệnh khai tĩnh trong đại đường, luân phiên cử mấy người ra lănh chúng tụng niệm công khóa. Khóa tụng xong, [khách tăng] đều trở về đơn của ḿnh chỉ tĩnh, mỗi mỗi đều tuân theo quy cách trong Thiền đường. Cho đến khi hết hương (hết thời gian chỉ tĩnh), ai nấy ở nơi đường của ḿnh nhập quán. Xong việc, khóa cửa lại (bài văn nhập quán được viết chữ lớn, dán trước đường).

* [Khách tăng] đến chùa vào lúc gần giờ Ngọ, đợi tới giờ Ngọ trai, th́ theo đại chúng dùng cơm. Đến chùa gần tối th́ chờ tới giờ ăn tối, theo đại chúng [dùng cơm]. Nếu [đại chúng] vừa dùng cơm xong mà có người đến th́ [trù pḥng] nấu cơm thêm cho họ. Tới muộn th́ cho ở lại một đêm, sáng hôm sau lên đường. Trời mưa th́ đợi mưa tạnh, có bệnh th́ đợi lành bệnh mới đi (tiêu chuẩn “lành bệnh” là tự dùng cơm được).

* Người có bệnh được cáng tới nơi, phải xét hỏi lai lịch minh bạch rồi mới tiếp nhận, lập tức viết bảng ghi chép tài sản, lại làm một quyển sổ riêng để ghi chép.

* Nếu người thuộc mười phương chăm sóc bệnh nhân, chớ nên để [người ấy chăm sóc bệnh nhân] lâu dài, hăy tính thù lao theo ngày rồi tiễn đi. Nếu là người của bổn sơn chăm sóc [bệnh nhân] th́ ghi nhận điều thiện theo đúng cách thức. Các thứ như thuốc men v.v… được cấp phát [cho khách bị bệnh] theo lệ giống như bổn sơn. Nếu ai keo kiệt không cho, sẽ bị phạt giống như trong phần trên.

* Trong chúng có kẻ chẳng giữ Thanh Quy, người quản trị sơn môn khéo léo khuyến hóa. Kẻ đó không nghe th́ bạch chúng tra xét rơ ràng, bắt quỳ hương, đánh trống trục xuất. Nếu [người quản sự] chẳng bạch chúng mà đă vội vàng la mắng, chửi bới bừa băi, sẽ bị phạt một trăm đồng. Đánh đập bừa băi, phạt năm trăm đồng.

* [Người thuộc bổn sơn] giao dịch với mười phương, hoặc đôi bên tặng quà cho nhau, phạt tiền ba trăm đồng.

* Khi khách chia tay rời đi, hăy xét xem trong số đó có người đơn độc, già yếu đáng ngại th́ phương tiện hộ tống.

* Đối với người sáng đi, chiều đến, đối đăi b́nh thường. Có người từ phương xa lần đầu đến bổn sơn, trai đường chuẩn bị trà nước, bánh, quả tiếp đăi rồi đưa về đơn, chẳng được khinh suất.

* Nhà vệ sinh ở phía Đông bên ngoài cũng cần phải thắp đèn đuốc, đặt sẵn mấy đôi giày cỏ bồ lớn. Sau khi đại chúng giải tán, người trông sơn môn quét dọn sạch sẽ.

* Tường vây [quanh chùa] chỗ nào thấp, hoặc những chỗ không cẩn mật, phải kịp thời sửa sang. Nếu tŕ hoăn để xảy ra chuyện, người quản lư sơn môn và Khố Đầu cùng bị phạt một trăm đồng.

 

16.2.8. Các quy định khác về mọi việc

 

          * Đối với chuyện gánh vác, vận chuyển gạo, củi, tre, gỗ v.v… lập một người lănh chúng để ghi chép lỗi: Khi đi th́ [nối đuôi nhau] như xâu chuỗi, khi về th́ như tản bộ. Người lănh chúng chẳng biết quản chúng, phạt hai mươi đồng.

* Khi đánh bang th́ toàn thể đại chúng đều cùng đi. Kẻ chẳng đi phải nộp tiền, lập một người để ghi tên. Kẻ đánh bang loạn xạ, phạt năm mươi đồng.

* Nhất loạt từ khước các đạo tràng kinh sám. Nếu gặp lập đàn Thủy Lục th́ có thể đến tham dự. Bất đắc dĩ lắm th́ có thể niệm Phật để thay cho kinh sám.

* Hễ gặp hết thảy mọi chỗ có kẻ chuyện gẫu, bông phèng, các vị Trực Viện, Khố Đầu, Tăng Trực, Tri Khách đều có thể gơ bản ba tiếng [để nhắc nhở]. Ba lượt gơ bản mà họ không ngưng, chẳng tản đi, liền đưa [những kẻ đó] vào đường cử phạt. Không đưa, [những vị chấp sự] sẽ cùng bị phạt.

          * Đôi bên chửi nhau, trước hết phạt mỗi người bốn mươi đồng; sau đó mới phân định sai đúng. Đánh nhau th́ trước tiên phạt mỗi người một trăm đồng, sau đó mới phân định lẽ đúng sai. Kẻ bị mắng, bị đánh mà biết nhẫn nhục chịu đựng, không đánh mắng trả lại th́ được ghi nhận điều thiện theo quy định.

          * Giờ ăn, Hương Đăng đọc bài minh Thực Tồn Ngũ Quán (quán năm điều khi ăn). Kẻ nào nói chuyện xen tạp ồn ào, người phô đường (người dọn bày thức ăn trong trai đường) sẽ đoạt bát đũa [của kẻ đó]. Nếu người phô đường không tịch thu, [chính người phô đường sẽ] bị phạt hai mươi đồng. Người quản sự không kiểm tra, cùng chịu phạt (cả hai nơi đại đường và trai đường đều áp dụng như vậy).

          * Trong nhà tắm, kẻ nói chuyện tạp nhạp, ồn ào, bị phạt mười đồng. Mộc Đầu (người trông coi nhà tắm) chẳng cử tội, bị phạt hai mươi đồng.

          * Kẻ tự đến bên nồi lấy thức ăn hay lấy cơm, bị phạt mười đồng. Các vị Phạn Đầu v.v… chẳng cử tội [kẻ đó], cùng chịu phạt.

* Chẳng phải là bệnh nhân, cũng chẳng phải là người già bảy mươi tuổi, [tự ư] đem cơm cháo vào pḥng ăn, chẳng theo đại chúng, bị phạt ba mươi đồng.

* Vị Điển Tọa [khi nấu ăn] chẳng nếm mùi vị trước, phạt mười đồng.

* Các vị như Điển Tọa v.v… tự ư vào khố pḥng lấy vật dụng mà không hỏi [xin phép Khố Đầu], phạt mười đồng. Khố Đầu không cử tội, cùng chịu phạt. Người không có phận sự mà vào khố pḥng, mức phạt cũng như trên.

* Khố Đầu và Đương Gia đôi bên chẳng thông báo cho nhau biết [những chuyện cần xử trí], phạt mỗi người một trăm đồng.

* [Người quản trị] khố pḥng không thông tri đại chúng, tự ḿnh lập sổ sách, phạt hai trăm đồng.

* Pḥng tạm cho khách mới đến chỉ được xếp cho tăng chúng, hành giả, thiện hữu. Xếp loạn cho người khiêng kiệu, công nhân v.v… ở, [chấp sự bị] phạt một trăm đồng.

* Bảng phân công phải theo thứ tự mà sai phái, ghi danh phân công phân minh. Nếu thiên vị, bất công, mỗi chuyện phạt bốn mươi đồng!

* Vị Tăng Trực xử sự hợp t́nh, hợp lư, nhưng người quản sự chẳng thi hành, cứ mỗi chuyện [quản sự bị] phạt hai mươi đồng, để xảy ra chuyện th́ phạt nặng.

* Khi người bán hàng đến, hoặc người cửa công (quan sai, nha dịch) t́m đến, chẳng phải là chấp sự mà lại xúm nhau ḍm ngó, hoặc thốt lời bừa băi, hoặc tranh giành mua vật dụng, đều phạt một trăm đồng.

* Tháng mùa Đông vây quanh ḷ, phải theo ban mà tiến, lui. Nếu chen lấn hỗn loạn, phạt mười đồng.

* Chẳng hỏi mà tự lấy vật thường trụ, nếu dùng vào việc công, phạt mười đồng. Nếu lấy làm của riêng, phạt gấp mười giá trị.

* Làm hư hoại vật của thường trụ, phạt đền gấp đôi giá trị. Do tâm sân hận mà phá hư, đền gấp mười. Vị Oản Đầu rửa bát làm sứt vỡ, nếu do cẩu thả, chẳng cẩn thận, cứ mỗi món phạt đền một món. Nếu vật dụng vốn đă hư tổn, nay mới vỡ vụn th́ miễn phạt đền.

* Chặt phá bừa băi tre, gỗ của chùa, phạt đền gấp năm. Phá hoại phong thủy [của bổn sơn], phạt gấp trăm lần [giá trị] và tẫn xuất. Đào bới đất núi bừa băi, phạt năm trăm đồng. [Đào bới khiến] phong thủy bị phá hoại, phạt mười ngàn đồng và tẫn xuất.

* Cho vay tiền lấy lời, cứ mỗi lạng, phạt bốn trăm đồng. Dù là giúp đỡ người khác trong lúc cấp bách, chẳng ăn lời, cũng cần phải thưa với thường trụ có được phép hay không? Chẳng thưa tŕnh, sẽ phạt giống vậy!

* Người đă có pháp danh cũ xin cầu đổi [pháp danh mới], bắt buộc phải là: Bổn sư đă qua đời, hoặc bổn sư là tà ma ngoại đạo, hoặc bổn sư ở xa ngoài ba ngàn dặm, hoặc vâng lệnh bổn sư đến xin đổi th́ mới chấp thuận. Nếu vị Tri Khách hồ đồ ghi tên tiếp nhận, sẽ bị phạt năm mươi đồng. Để xảy ra chuyện, phạt năm trăm đồng. Bất đắc dĩ, chỉ nên đặt pháp tự cho kẻ đó mà thôi!

* Người tại gia đơn thân đến cầu pháp danh, nếu không có người quen thuộc [bảo lănh] th́ cũng không chấp thuận.

* Tại nơi phóng sanh, cảnh sách mỗi nửa tháng. Nếu bỏ lỡ, phạt ba mươi đồng.

* Người chăm sóc các con vật [tại chỗ phóng sanh] đánh đập các con vật đến nỗi chúng bị thương tổn, phạt năm trăm đồng. Đến nỗi chết th́ phạt xong, sẽ tẫn xuất. Chẳng tăng cường thủ hộ đến nỗi chúng bị ác thú gây tổn hại, hoặc bị kẻ ác trộm đi, phạt ba trăm đồng. Thả rông súc vật gây tổn hại hoa lợi của người khác, tính toán để đền bồi gấp đôi.

* Thợ nề, thợ da, thợ sắt v.v… ở lại lâu trong núi đến bốn năm ngày, người quản sự tính công, phạt tiền, cho tới ngày thứ mười, phạt tiền công gấp ba.

* Các khoản tiền nộp để miễn chấp tác và tiền phạt, chẳng được để khố pḥng tiêu dùng bừa băi như trước. Số tiền đó do Duyệt Chúng giữ ch́a khóa. Khi Khố Pḥng thâu nhận hộp [đựng tiền], Khố Đầu liền sai thư kư ghi vào sổ, Trực Viện trực tiếp chứng kiến, dành để chi dụng làm phước. Dùng bừa băi, sẽ phạt đền gấp mười.

* Đại chúng nhóm họp mà chẳng đến, phạt mười đồng. Nhóm họp toàn chùa mà không đến, phạt ba mươi đồng.

* Người trực đêm mỗi đêm xem xét các đơn, [gặp việc] đáng báo lên mà chẳng báo, phạt mười đồng. Trực đêm th́ người già được miễn, trẻ nhỏ cũng miễn (già là bảy mươi [trở lên], trẻ nhỏ là mười sáu tuổi [trở xuống]).

* Khi dán bảng phân chia đơn, Trực Viện, Duyệt Chúng, và nội thư kư cùng nhau thực hiện, không được chuyên quyền. Hễ riêng chuyên quyền, phạt năm mươi đồng.

* Rau trồng trong vườn, những loài nào sanh nhiều sâu bọ tổn hại mạng sống của các con vật th́ đều nên ít trồng. Có thể trồng nhiều các loại dưa, cà, đao đậu, dương đậu, đậu đũa, mè v.v…

* Ban đêm tự ư vào núi, phạt năm mươi đồng.

* Cuối năm thực hiện niên khảo (quy cách ghi chi tiết trong Biệt Tập).

 

16.3. Vân Thê Cộng Trụ Quy Ước Biệt Tập

16.3.1. Tăng ước (quy ước dành cho tăng chúng)

 

Xả tục vào núi, chỉ để cầu chuyện ǵ? Xa ĺa ồn náo trong cơi trần, chuyên v́ tu hành. Nếu chẳng phải vậy, đến đây có ích ǵ? Nay ước hẹn cùng đại chúng, có thể thấu hiểu, cảm thông cho nhau th́ mới có thể cùng ở. Nếu chẳng chịu tuân hành, đừng mất công cộng trụ.

 

1) Quy ước thứ nhất: Tôn sùng giới đức

 

Kẻ phá căn bản đại giới, trục xuất khỏi viện. Khi tụng giới, chẳng có nguyên do mà không theo đại chúng [tụng giới], trục xuất khỏi viện. Chẳng hiếu thảo cha mẹ, trục xuất khỏi viện. Khinh miệt, lấn hiếp sư trưởng, trục xuất khỏi viện. Cố t́nh vi phạm lệnh cấm của triều đ́nh và quan phủ, trục xuất khỏi viện. Quen thói gần gũi nữ nhân, trục xuất khỏi viện. Thọ giới đă qua một năm mà chẳng hiểu giới tướng, trục xuất khỏi viện. Thân cận tà sư, trục xuất khỏi viện.

 

2) Quy ước thứ hai: An bần lạc đạo

 

Kẻ chẳng cam ḷng ăn uống đạm bạc, trục xuất khỏi viện. Kẻ mặc y phục lộng lẫy, trục xuất khỏi viện. Ôm đồm chuyện kinh sám, trục xuất khỏi viện. Tranh giành tiền cúng dường, trục xuất khỏi viện. Kẻ lo làm ruộng, nuôi tằm, chăn nuôi, trục xuất khỏi viện. Kẻ tụ tập nam nữ làm trai hội theo pháp thế gian, trục xuất khỏi viện.

 

3) Quy ước thứ ba: Giảm duyên, chú trọng việc căn bản

 

Không có duyên cớ mà thường la cà nhân gian, nhiều lượt đến nhà thế tục, trục xuất khỏi viện. Học tập các thứ tạp nghệ như ứng phó khoa nghi, từ chương, đàn sáo, trục xuất khỏi viện. Học tập các việc ngoại đạo như thiên văn, địa lư, bùa phép, luyện đan v.v…, trục xuất khỏi viện. Tu học theo các tà đạo như nín thở, tĩnh tọa luyện công, ngũ bộ lục sách [của La giáo] v.v…, trục xuất khỏi viện. Kẻ thích khởi sự các việc xây dựng vô ích, trục xuất khỏi viện.

 

4) Quy ước thứ tư: Vâng giữ lẽ công chánh

 

Kẻ quyên góp, hóa duyên phi lư, trục xuất khỏi viện. Kẻ xâm đoạt, bớt xén của tín thí, trục xuất khỏi viện. Tự tiện sử dụng vật của chiêu-đề (đồ đạc của mười phương thường trụ), trục xuất khỏi viện. Phá hư vật dụng không bồi thường, trục xuất khỏi viện. Ăn uống không b́nh đẳng như đại chúng, trục xuất khỏi viện. Không thưa tŕnh đại chúng mà tự ư di chuyển vật dụng vô chủ của tăng, trục xuất khỏi viện. Gặp tài lợi, phản bội đại chúng mưu cầu tư lợi, gặp nạn bèn bỏ mặc đại chúng để mong thoát thân, trục xuất khỏi viện.

 

5) Quy ước thứ năm: Nhu ḥa nhẫn nhục

 

Kẻ ngoác miệng chửi nhau, đấm đá nhau, trục xuất khỏi viện. Kẻ cậy oai quyền chèn ép, lấn hiếp kẻ khác, trục xuất khỏi viện. Vô lễ, khinh mạn bậc kỳ túc, trục xuất khỏi viện.

 

6) Quy ước thứ sáu: Oai nghi chỉnh tề, nghiêm túc

 

          Kẻ cười đùa không chừng mực, trục xuất khỏi viện. Kẻ khinh nhờn kinh tượng, trục xuất khỏi viện. Áo, mũ cố ư khác biệt đại chúng, trục xuất khỏi viện. Lớn tiếng tranh luận, ba lượt can gián mà không ngừng, trục xuất khỏi viện.

 

7) Quy ước thứ bảy: Siêng tu hạnh nghiệp

 

Vô duyên cớ, nhiều lần chẳng lễ bái, tụng niệm, trục xuất khỏi viện. Chấp sự khinh mạn, chẳng làm chuyện thuộc phận sự, trục xuất khỏi viện. Ghét bỏ người cảnh sách khi hôn trầm, trục xuất khỏi viện. Khảo hạch kinh điển đă lâu mà chẳng thông suốt, trục xuất khỏi viện. Kẻ chẳng tin tưởng pháp môn Tịnh Độ, trục xuất khỏi viện.

 

8) Quy ước thứ tám: Tâm thẳng thắn khi ở trong chúng

 

Kẻ chuyên đâm thọc khiến đôi bên đấu đá, trục xuất khỏi viện. Kẻ kéo bè lập đảng, trục xuất khỏi viện. Kẻ mưu mẹo xảo trá, chẳng thành thật, trục xuất khỏi viện. Kẻ phỉ báng, nói xấu Thanh Quy, vu khống hủy báng tăng chúng thanh tịnh, trục xuất khỏi viện. Do t́nh thức riêng tư mà kết bạn bất chánh, trục xuất khỏi viện.

 

9) Quy ước thứ chín: Giữ bổn phận, dè dặt

 

Kẻ to gan sanh sự, trục xuất khỏi viện. Nói sai kinh luận, trục xuất khỏi viện. Hư vọng b́nh phẩm cơ duyên của cổ đức, trục xuất khỏi viện. Người không hiểu biết lại trước thuật khiến cho kẻ khác lầm lạc, trục xuất khỏi viện. Chiêu dụ, chứa chấp hàng phi nhân, trục xuất khỏi viện. Tự lập đồ chúng, trục xuất khỏi viện. Tự tiện lưu giữ sa-di nhỏ tuổi, trục xuất khỏi viện. Chính ḿnh c̣n chưa sáng tỏ đạo lư mà đă ham làm thầy người khác, trục xuất khỏi viện. Dụ dỗ đệ tử người khác phản bội bổn sư của họ, trục xuất khỏi viện. Không có duyên cớ lớn lao mà tự tiện vào công môn, trục xuất khỏi viện. Hư vọng bàn luận sự được mất, đúng sai trong nền chánh trị đương thời, trục xuất khỏi viện. Khinh suất chê bai, báng bổ tiên thánh, tiên hiền, trục xuất khỏi viện. Đem sản nghiệp của thường trụ cho người khác, trục xuất khỏi viện. Kẻ chiếm đoạt sản nghiệp của người khác, trục xuất khỏi viện. Kẻ lập riêng bếp nấu, trục xuất khỏi viện.

 

10) Quy ước thứ mười: Tùy thuận quy chế

 

          Sai bảo mà không làm, ngăn cấm mà không thôi, trục xuất khỏi viện. Có lỗi bị phạt mà chẳng phục tùng, trục xuất khỏi viện. Ở trong chùa mà chẳng ghi danh vào danh sách tăng chúng, trục xuất khỏi viện. Ương bướng, chẳng cho người quản sự thực hiện chức trách, trục xuất khỏi viện. Người quản sự thay đổi các quy cũ đă định, trục xuất khỏi viện. Mọi chuyện chẳng bạch cùng thầy, bạn, phóng túng làm càn, trục xuất khỏi viện. Cố t́nh qua lại với kẻ phạm lỗi đă bị tẫn xuất, trục xuất khỏi viện!

 

16.3.2. Mười chuyện tu thân

 

Chưa bàn đến chuyện học Phật, trước tiên phải học cách tu thân; nay đặt ra mười đầu mối, đại chúng hăy nên lắng nghe.

          - Một là “chẳng có tâm lừa dối”, tức là trộm cắp vật của thường trụ, gạt gẫm vật dụng của thí chủ, đem tài vật dùng để trang hoàng tượng Phật, in kinh, trai tăng, lập trai hội, xây chùa, đúc chuông, sửa cầu, đắp đường như thế dùng riêng cho ḿnh tiêu xài, cho đến những việc dối người lừa quan, dối trời, gạt thần, những tṛ ám muội, đều gọi là “tâm lừa dối”.

          - Hai là “chẳng tham tài”, tức là chẳng trộm cắp, lừa gạt như trong phần trên đă nói, nhưng ưa tích cóp tiền tài, vải vóc, keo kiệt, chẳng bố thí, hoặc tậu sản nghiệp để thâu lợi, cho vay nợ lấy lăi, đều gọi là “tham tài”.

- Ba là “chẳng có tâm gian trá”, tức là gặp chuyện đáng nên nói bèn nín nhịn chẳng nói, thấy lỗi lầm đáng phải khuyên can nhưng điềm nhiên nh́n, chẳng khuyên răn, bề ngoài ra vẻ khờ khạo, trong tâm ngầm chứa đựng sự châm biếm, đều gọi là “gian trá”.

- Bốn là “chẳng sử dụng mưu kế”, tức là chẳng an phận theo mạng trời, một mực vận dụng mưu mẹo, hoặc mưu tính chỗ ở, hoặc mưu tính đồ chúng, hoặc mưu tính làm kinh sám, hoặc mưu cầu đàn việt bố thí, hoặc mưu cầu làm pháp chủ, hoặc mưu cầu làm thầy truyền giới, cho đến kết giao với bạn ác, ra vào chốn nha môn, đối xử trọng hậu hay lạt lẽo theo t́nh thức, yêu ghét theo ḷng riêng, lập mưu tính kế làm các chuyện trái lư đều gọi là “sử dụng mưu kế”.

          - Năm là “chẳng chuốc họa”, tức là khinh người, cười cợt người khác, quát mắng, báng bổ người khác, ganh ghét tài năng của người ta, phô bày điều ác của kẻ khác, chiếm đoạt sản nghiệp của người khác, thích khơi mào kiện cáo, chẳng chịu nhường ai, đều gọi là “chuốc họa”.

- Sáu là “chẳng hoang phí”, tức là xây cất pḥng ốc to lớn chẳng biết hổ thẹn, ăn uống thịnh soạn mà chẳng biết hổ thẹn; mặc y phục lộng lẫy chẳng biết hổ thẹn, tậu nhiều sản nghiệp mà chẳng biết hổ thẹn, xài vật dụng được chế tạo tinh xảo mà chẳng biết hổ thẹn; khinh rẻ ngũ cốc mà chẳng biết hổ thẹn; phóng túng du ngoạn chẳng biết hổ thẹn; nuôi nấng tôi tớ, kẻ hầu mà chẳng biết hổ thẹn; đút lót trọng hậu cho bạn bè hoang đàng chẳng biết hổ thẹn, thảy đều gọi là “hoang phí”.

          - Bảy là “chẳng gần nữ sắc”, tức là kết làm đạo hữu với các ni cô trẻ tuổi, nhận phụ nữ ngoài đời làm mẹ nuôi, thường tới nhà người trong họ để thăm hỏi người thân, cho đến mẹ chưa tới bảy mươi tuổi mà con đă ở cùng, chẳng tránh né điều tiếng tỵ hiềm, đều gọi là “gần nữ sắc”.

- Tám là “chẳng chú trọng hướng ra ngoài”, tức là lân la nhà giàu có, mon men nhà quyền quư, hoặc xin xỏ thơ văn, xin đề biển ngạch, hoặc dựa dẫm quyền thế, hoặc đ̣i hỏi tiền bạc, suốt ngày bươn bả, chẳng nghĩ giữ tâm thanh tịnh, thảy đều gọi là “chú trọng hướng ra ngoài”.

- Chín là “chẳng trốn tránh, lười nhác”, tức là đối với việc lễ tụng sáng tối, nhiều lượt lần khân, trễ năi, đối với việc chấp tác siêng nhọc bèn lần khân chẳng theo đại chúng, thảy đều gọi là “trốn tránh, lười nhác”.

- Mười là “chẳng lỡ thời”, tức là biết rằng mạng tồn tại trong hơi thở, thời gian chẳng đợi ai, chưa hiểu rơ đại sự, tấc bóng đáng tiếc mà hờ hững để luống qua, đó gọi là “lỡ thời”.

Chín việc trước như đă nói trên đây, hành giả rất nên răn chừa; việc cuối cùng, hăy nỗ lực càng thêm gắng sức.

 

16.3.3. Lời răn dành cho vị Trực Viện

 

Vị Trực Viện cần phải có bốn loại tâm:

- Một là tâm đại từ bi, ân cần chiếu cố đại chúng, chẳng có tâm cay nghiệt.

- Hai là tâm công bằng, thẳng thắn ví như gương sáng, không thiên vị, tư túi.

- Ba là tâm tột bậc cẩn thận, an phận thủ thường, giữ ǵn bổn phận, chẳng phóng túng, càn rỡ.

- Bốn là tâm tột bậc siêng năng, dốc cạn ḷng thành v́ đại chúng, chẳng có tâm tham lam, biếng nhác.

Nếu đảm nhiệm suông trách nhiệm nặng nề, chẳng phát bốn tâm ấy, cứ cẩu thả, lần khân, khiến cho đại chúng lầm lỡ, thần già-lam sẽ ghi lỗi, trời, rồng nổi giận, khiến cho kẻ ấy tổn phước, giảm thọ, hối hận th́ đă muộn màng! Hăy cẩn trọng nhé!

 

16.3.4. Bài minh tại các điện đường

16.3.4.1. Bài minh ở phía Đông

 

          Nhất ngơa, nhất chuyên, nhất chúc, nhất phạn, đàn tín chỉ cao, hành nhân huyết hăn, nhĩ giới bất tŕ, nhĩ sự bất biện, khả cụ, khả ưu, khả ta, khả thán.

          (Một viên ngói, một kèo nhà, một chén cháo, một bữa cơm, mỡ màng của tín thí, mồ hôi máu hành nhân. Ngươi chẳng tŕ giới, phận sự chẳng làm, đáng sợ, đáng lo, thật đáng than thở!)

 

16.3.4.2. Bài minh ở phía Tây

 

          Nhất thời, nhất nhật, nhất nguyệt, nhất niên, lưu quang dị độ, huyễn h́nh phỉ kiên, phàm tâm vị tận, thánh quả vị viên, khả kinh, khả bố, khả bi, khả liên.

          (Một thời, một ngày, một tháng, một năm, thời gian dễ qua, huyễn thân khó bền, phàm tâm chưa hết, thánh quả chưa tṛn, đáng sợ, đáng hăi, đáng xót, đáng thương!)

 

16.3.4.3. Bài minh ở khố pḥng

 

          Vật thuộc chiêu-đề, ty hào nan phạm, thủ tại nhĩ cung, tất kính tất đạn. Thanh nhược trừng đàm, chánh như trực cán, vô khúc vô tư, hà ưu hà hoạn? Nhất hữu sai tŕ, long thiên giảo khám, lẫm lẫm hà phong, mại sanh khương hán.

          (Vật thuộc thường trụ, tơ hào khó phạm, giữ trọn cung kính, ắt kính, ắt dè. Thanh như đầm trong, chánh như cây thẳng. Chẳng cong, vô tư, há lo nghĩ ǵ? Hễ có sai sót, trời, rồng xét soi. Gương xưa rạng rỡ: Chàng mua gừng tươi[34]!)

 

16.3.4.4. Bài minh ở nhà bếp

 

          Tuyết Phong phạn đầu, Quy Sơn điển tọa, cổ đức phương phong, ư kim vị đọa. Nhiếp nhĩ cuồng tâm, thận nhĩ khẩu quá. Vận thủy, ban sài. Vật vong giá cá, đường nội tọa Thiền, đường ngoại Thiền tọa. Thùy tín truyền y, bất ly đối ma.

          (Tuyết Phong làm phạn đầu, Quy Sơn làm điển tọa. Cổ đức gương thơm măi, tới nay vẫn chẳng suy. Nhiếp tâm cuồng của ngươi, cẩn thận lời ăn nói. Gánh nước và chở củi, đừng quên mất điều ấy. Trong điện đường ngồi Thiền, ngoài viện vẫn Thiền tọa. Ai tin truyền y bát, chẳng ĺa chốn giă xay!)

 

16.3.4.5. Bài minh ở nhà tắm

 

Sơn nguy lộ viễn, trí kỳ sài tân, thược phủ nhiên hỏa, hiệu kỳ lao cần. Nhất nguyệt bát dục, tùng lâm hăn văn. Sa-di hư tiếu, phí thang giao lâm. Tẩy tâm dịch lự, nhật tân hựu tân, hà dĩ báo đức, hốt ngộ thủy nhân.

          (Núi cao, đường xa, kiếm củi đem về. Đổ nước, nhóm lửa. Ra sức nhọc nhằn. Mỗi tháng tắm tám lượt, chốn tùng lâm hiếm nghe. Sa-di đùa bỡn, nước nóng giội nhau. Rửa ḷng gột ư, ngày lại mới hơn. Làm sao báo đức, bỗng ngộ cái nhân, của chất nước này).

 

16.3.4.6. Bài minh về hương đốt để nhập định và quy củ

 

          Đại chúng huệ mạng, hệ nhĩ nhất nhân. Nhĩ bất cố chúng, tội quy nhĩ thân.

          (Huệ mạng của đại chúng, phụ thuộc một ḿnh ngươi. Ngươi chẳng quan tâm họ, tội quy vào thân ngươi).

          [Quy định về đốt hương theo tiết khí]: Đông Chí (bốn nén hương), Lập Xuân (ba nén rưỡi), Xuân Phân (ba nén), Hạ Chí (hai nén), Lập Thu (hai nén rưỡi), Thu Phân (ba nén), Lập Đông (ba nén rưỡi).

 

16.3.4.7. Kệ thọ trai

 

          Phật chế tỳ-kheo: “Thực tồn ngũ quán, tán tâm tạp thoại, tín thí nan tiêu”. Đại chúng văn khánh thanh, các chánh niệm.

          (Đức Phật chế định tỳ-kheo: Khi ăn phải lắng ḷng quán năm điều. Tâm tán loạn, nói chuyện xen tạp, khó tiêu của tín thí. Đại chúng nghe tiếng khánh, ai nấy chánh niệm).

 

16.3.4.8. Kệ thệ nguyện trước thần minh

 

          Ám thất khuy tâm, thần mục như điện, thiện ác báo ứng, tự ảnh tùy h́nh, đản hữu tảo tŕ, chung vô lậu vọng. Duy căng, duy thích, giới chi, thận chi.

          (Pḥng tối dối ḷng, mắt thần như chớp. Thiện ác báo ứng, tợ bóng theo h́nh. Chỉ có sớm muộn, trọn chẳng lọt lưới. Lo sợ, dè dặt. Răn chừa, cẩn trọng).

          Mỗi nửa tháng, đối trước thần thệ nguyện, biểu thị tâm thanh bạch. Thanh bạch hay không, chỉ có chính ḿnh biết rơ, chứ người khác chẳng biết. Tuy người chẳng biết, thần thật sự biết. Nếu có kẻ ngu cuồng vọng đối trước thần, tự nghĩ thần chỉ là đất, gỗ, chắc là có thể dối lừa, mong muốn may mắn trốn khỏi ác báo. Dẫu tạm thời chưa báo, rốt cuộc ắt chịu ương họa, không ai trốn thoát được, há chẳng đáng sợ ư?

 

16.3.4.9. Lăo đường cảnh sách

 

Đức Phật dạy: “Mạng người vô thường, ngắn ngủi trong hơi thở”. Thiếu niên c̣n thế, huống chi người già? Nay tôi ân cần đến nhắc nhở, khích lệ nhau, chỉ mong các đại đức đừng v́ thấy tôi thấp kém mà coi thường lời này. Hăy nên quán thân này: Mắt mờ, tai điếc, tóc bạc, mặt nhăn, lưng kḥm, eo cong, xương đau, gân rút, bước đi loạng choạng, tinh thần tối tăm, bế tắc. Ví như cảnh mặt trời chiều tà bóng xế về Tây, ánh sáng chẳng c̣n được mấy! Cỏ úa đón mùa Thu, tàn tạ trong khoảnh khắc. V́ thế biết thân này chẳng mấy chốc ắt bước vào tử môn, nẻo trước mù mịt, rốt cuộc sẽ về đâu? Các đại đức! Nếu đúng là chuyện của chính ḿnh đă xong, đấy là điều kẻ ngu này chẳng biết! Nếu chẳng phải vậy, há chẳng dũng mănh tỉnh ngộ vô thường, dè dặt, cẩn trọng, nghĩ kỹ Tịnh Độ, quyết chí văng sanh, buông bỏ muôn duyên, nhất tâm niệm Phật (kết lại bằng hồi hướng).

 

16.3.4.10. Bệnh đường cảnh sách

 

Đức Phật dạy: “Mạng người vô thường, ngắn ngủi trong một hơi thở”. Người b́nh thường c̣n như thế, huống ǵ người bệnh? Nay tôi ân cần đến nhắc nhở, khích lệ nhau, chỉ mong các đại đức đừng v́ tôi thấp kém mà coi nhẹ lời này. Hăy tự quán thân này: Tứ Đại chẳng điều ḥa, trăm lóng xương sắp tan tác, ăn uống giảm dần, thuốc men chữa trị vô hiệu, tiêu tiểu trên giường chiếu, rên rỉ nơi gối, đệm. Ví như cá bơi trong nồi, chốc lát bị nung nhừ; ngọn đèn trước gió, trong sát-na tắt phụt. Do vậy biết thân này chẳng lâu ắt gieo vào cửa tử, nẻo trước mờ mịt, rốt cuộc sẽ về đâu? Đại đức! Nếu đúng là việc của chính ḿnh đă làm xong, đó là điều kẻ ngu này chẳng biết được. Nếu chẳng phải vậy, sao chẳng dũng mănh tỉnh ngộ vô thường, sợ hăi, dè dặt, nghĩ kỹ Tịnh Độ, quyết chí văng sanh, buông xuống muôn duyên, nhất tâm niệm Phật (đúc kết bằng hồi hướng).

 

16.3.4.11. Cảnh sách nơi phóng sanh

 

          Đức Phật dạy: “T́nh đa, tưởng thiểu, lưu nhập hoành sanh” (T́nh nhiều, tưởng ít, sẽ tiến nhập vào loài có xương sống nằm ngang, tức súc sanh). V́ thế biết các ngươi xưa do tối tăm che lấp, ngu si, chẳng tu chánh niệm, nay phải mang lông, đeo vảy, chịu lấy thân h́nh kém cỏi này! Dưới nước, trên mặt đất, bay trên không, đủ loại khác biệt, hoặc gieo ḿnh vào lưỡi câu, mũi tên, hoặc sa vào lưới rập, mạng nơi đao, thớt; hồn bay theo nước sôi, ngọn lửa. May gặp các thiện sĩ bỏ tiền tài chuộc thân các ngươi, muôn phần chết mà được sống, đến cuộc đất thù thắng này. Nay xin chư thánh ban cho các ngươi sự linh thông, các ngươi hăy nên nhất tâm, quy mạng Tam Bảo: Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng (niệm ba lần). Quy y Tam Bảo rồi, khiến cho nghiệp chướng của các ngươi tiêu diệt, trí huệ mở sáng, phát Bồ Đề tâm, văng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, liên hoa hóa sanh, nhập địa vị bất thoái. Đại chúng hiện tiền hăy v́ các chúng sanh ấy, nhất tâm niệm Phật (kết lại bằng hồi hướng).

 

* Bài châm phân chia thức ăn cho súc sanh

 

          * Nhân thượng Phật phạn, Phật tế cẩu cơ. Tăng nghi học Phật, độc băo phi nghi. Đại chúng phát từ bi tâm, sở thực chi dư, thí phóng sanh sở.

          (Người dâng cơm cúng Phật, Phật giúp con chó đói. Tăng nên học theo Phật, chớ một ḿnh no ḷng. Đại chúng phát tâm từ bi, hễ cơm có dư, thí chỗ phóng sanh).

Bài văn này được làm thành bảng, treo ở nơi phóng sanh, và trên các cột trong Thiền đường, trước tượng Vi Đà trong trai đường để bảo khắp đại chúng được biết.

 

16.3.4.12. Nghi thức tụng giới

 

Mỗi tháng vào ngày Rằm và ngày Ba Mươi, sau khi khóa tối hoàn tất, pháp đường gióng trống nhóm chúng. Vị tăng tụng giới đến vị trí, đứng thẳng, xướng rằng: “Những người thọ năm giới hăy ra khỏi hàng. Những người thọ năm giới hăy lắng nghe! Một là không giết hại chúng sanh v.v… Các vị thọ giới này, nếu ai phạm vào giới căn bản, phạm lỗi căn bản th́ bị trục xuất; nếu có lỗi nhỏ th́ ra trước đại chúng sám hối”.

Kế đó, xướng rằng: “Những người thọ Thập Giới hăy ra khỏi hàng. Các vị thọ mười giới hăy lắng nghe! Một là không giết hại v.v… Các vị thọ giới này v.v…”.

Kế đó, xướng rằng: “Những người đang tu học giới Tỳ-kheo hăy ra khỏi hàng. Các vị thọ giới Tỳ-kheo hăy lắng nghe! Đảnh lễ chư Phật… Tăng đă nhóm hay chưa?.... Thưa chư đại đức! Đây là bốn pháp Ba-la-di (cho đến) bảy pháp Diệt Tránh...” (nghi thức chép đầy đủ trong các cổ bản, ở đây không sao lục).

Kế đó, xướng rằng: “Những người đang tu học giới Bồ Tát hăy ra khỏi hàng” Vị tăng tụng giới đến đứng thẳng tại vị trí, bạch rằng: “(Con tên là….) đảnh lễ ḥa-nam, kính bạch đại chúng… ” Bạch xong, bước lên ṭa ngồi... cho đến khi bước xuống ṭa (nghi thức chép đầy đủ trong các cổ bản, ở đây không sao lục).

 

16.3.4.13. Lời căn dặn về chuyện nghe pháp

 

Chẳng hiểu rơ Giáo, tự tiện dựa theo ư riêng để tu hành, chính là kẻ ngu vậy. V́ lẽ nào? Đi chơi đêm chẳng cầm đuốc, mờ mịt chẳng có phương hướng. Dẫu hiểu Giáo mà chẳng chú trọng tu hành, vẫn là kẻ ngu muội. V́ sao vậy? Giống như kẻ chỉ nói tên thức ăn để chữa đói, trọn chẳng thể no ḷng được! Nay những vị nghe giảng, chớ quên lời này. Nếu cho rằng lời này không đúng, giáo hóa của cổ đức sáng vằng vặc, nay dùng một đôi điều làm chứng:

- Đức Phật chế định người xuất gia, trước khi tṛn năm hạ, phải chuyên ṛng giới luật. Sau năm hạ mới có thể nghe Giáo, tham Thiền. Do vậy biết: Muốn dự vào giảng ṭa, trước tiên ắt phải chuyên ṛng học Giới. Đă hiểu rơ giáo lư, cần phải mau nỗ lực tham Thiền.

- Kinh điển có đủ loại thí dụ, cho đến nói: “Như lung tấu âm nhạc, duyệt bỉ bất tự văn. Ư pháp bất tu hành, đa văn diệc như thị” (như kẻ điếc tấu âm nhạc, khiến người khác vui thích, chính ḿnh chẳng tự nghe. Nơi pháp chẳng tu hành, đa văn cũng như thế). Do vậy biết: Suốt đời chỉ nói suông, chẳng tránh khỏi bị chê cười là tai điếc, chỉ có một mực thật sự hành tŕ th́ mới thành tựu công hạnh tâm đắc.

- Vĩnh Gia đại sư nói: “Ta thuở trẻ từng tích lũy học vấn, cũng từng t́m ṭi các bản sớ giải kinh luận, phân biệt danh tướng chẳng biết ngưng nghỉ, giống như kẻ vào biển đếm cát, chỉ tự khốn đốn”. Do vậy biết: Theo đuổi cành nhánh, suốt ngày tâm nhọc nhằn mà công hạnh ngày một thô vụng. Nếu thấu đạt tận cùng cội nguồn, sẽ ǵn giữ càng giản lược mà sở đắc càng sâu xa!

- Ḥa thượng Quy Sơn nói: “Kẻ bậc trung chưa thể đốn siêu, hăy nên lưu tâm nơi bối diệp (kinh điển), cũng đừng phí uổng thời gian”. Do vậy biết Ngài đă thuận theo kẻ trung căn, khiến cho họ dần dần thông hiểu đường lối, thẳng thừng cầu cái quả bực thượng, đừng nên vướng mắc nơi các phương tiện.

Nói những điều trên đây, chẳng phải là tôi dám đề cao Thiền, hạ thấp Giáo, chỉ nhằm khuyên [hành nhân hăy] do Giáo mà nhập Thiền. Người [thật sự] v́ sanh tử sẽ tin lời lẽ tốt lành, chứ kẻ dốc chí nơi danh lợi sẽ đâm ra dấy lời dị nghị. Ngày nay chấp nhận lời uốn nắn cũng do các vị, mà vứt bỏ [những lời khuyên siêng khổ] để gieo ḿnh vào nước lửa cũng do quư vị!

 

16.3.4.14. Quy định về thưởng thiện, phạt lỗi

16.3.4.14.1. Thiện môn

 

* Đối với thiện sự thuộc làm phước, cứ tính mỗi hai phân tiền là một điều thiện. Nhặt được của rơi, đem trả lại cho chủ nhân, bất luận là tiền hay vật dụng, cứ tính mỗi ba phân tiền là một điều thiện (nếu không theo quy định, yết bảng công bố [nhặt được của rơi] th́ không tính là điều thiện). Chăm sóc người bệnh nhẹ một ngày tính là một điều thiện; [chăm sóc người] bệnh nặng th́ mỗi ngày tính là ba điều thiện. [Chăm sóc người] bệnh tột bậc nghiêm trọng, cứ mỗi ngày tính là năm điều thiện. Bị người khác mắng chửi mà không chửi trả lại, tính là năm điều thiện. Bị đánh mà chẳng đánh trả lại, tính là mười điều thiện. Không phải chấp sự mà tự ra sức làm việc nhọc nhằn, tính là hai điều thiện (làm việc nặng tính gấp đôi). Không phải là chấp sự mà thường trụ sai đi xa bốn mươi dặm, tính là hai điều thiện; đi xa một trăm dặm th́ tính là năm điều thiện. Tuần hương dụng tâm là hai điều thiện.

* Đối với điều thiện thuộc loại huệ, tụng thuộc kinh Phạm Vơng, Quán Kinh, Hạnh Nguyện, cứ mỗi chuyện tính là tám điều thiện. Thuộc ḷng bốn mươi tám đại nguyện, tính là ba điều thiện. Thuộc ḷng Quy Sơn Cảnh Sách, tính là ba điều thiện. Mồng Một và ngày Rằm cầu nguyện đúng cách thức đă quy định th́ là hai điều thiện. Tụng năm giới, mười giới đúng cách thức đă quy định th́ tính là hai điều thiện. Tụng giới tỳ-kheo đúng pháp thức, tính là hai điều thiện. Tụng giới Bồ Tát đúng pháp thức, tính là ba điều thiện. Chấm dứt chuyện tranh chấp, tính là một điều thiện. Khuyến hóa người khác cải ác tùng thiện, tính là mười điều thiện. Sa thải một kẻ không ra ǵ, tính thành hai điều thiện. Tiến cử một bậc hiền tài, tính là bốn điều thiện. Vạch rơ những điều lợi hại trong chốn tùng lâm, mỗi chuyện tính là hai điều thiện (việc lớn th́ tính gấp đôi). Giảng diễn kinh luận, giảng một quyển nhỏ, tính là ba điều thiện, giảng quyển lớn tính là sáu điều thiện, quyển cực nhỏ tính là một điều thiện (đối với những điều trên đây, nếu nhận tiền cúng dường th́ chẳng phải là thiện). [Có người] đến hỏi kinh, giảng giải nghĩa th́ là một điều thiện (kinh sâu th́ tính gấp đôi). [Có người] hỏi chuyện mà có thể xử lư [thỏa đáng], th́ là một điều thiện (việc lớn tính gấp đôi). Thí thực mà chẳng nhận tiền cúng dường, cứ một đàn là bốn điều thiện. Tụng kinh mà chẳng nhận tiền cúng dường, cứ tụng được một quyển là một điều thiện.

 

16.3.4.14.2. Phạt môn

 

Phạt bậc thượng, nộp năm trăm đồng. Không có tiền, quỳ hương [sao cho đủ] một trăm tấc hương. Chẳng quỳ th́ trừ một trăm điểm thiện. Chẳng có điều thiện th́ trục xuất khỏi viện; đó là chuyện thuộc t́nh tiết nhẹ. Nếu t́nh tiết nặng, ắt phải nạp tiền. Càng nghiêm trọng hơn nữa th́ quỳ hương một phần mười [số lượng quy định], tức là quỳ mười tấc hương.

Phạt bậc trung th́ nộp năm mươi đồng. Không có tiền th́ quỳ hương mười tấc. Không quỳ th́ trừ mười điểm thiện. [Tùy thuộc] t́nh tiết nặng hay nhẹ mà áp dụng cùng một lệ như trên.

Phạt bậc hạ, nộp năm đồng. Không có tiền th́ quỳ hương mười tấc. Không quỳ th́ trừ một điểm thiện. T́nh tiết nhẹ hay nặng áp dụng cùng một lệ như trên.

Người thoái giới (giữ giới thiếu sót) nếu tự nguyện nộp gấp đôi bậc phạt để sớm mong được khôi phục giới phẩm, nếu t́nh tiết [phạm lỗi] nhẹ th́ có thể châm chước chấp nhận. Nếu t́nh tiết nặng, tuyệt đối chẳng chấp nhận.

 

16.3.4.15. Quy định về miễn chấp tác

 

          Miễn trực đêm, nộp mười đồng. Xin miễn gánh gạo, nộp năm đồng. Xin miễn gánh củi, tùy theo quăng đường xa hay gần; gần nhất th́ nộp hai đồng, xa nhất nộp tám đồng. Xin miễn các việc chấp tác nhẹ, nộp mười đồng. Xin miễn việc chăm sóc người bệnh: Bệnh nhẹ nộp năm đồng; bệnh nặng nộp mười đồng; bệnh tột bậc nghiêm trọng, nộp ba mươi đồng. Xin miễn làm Tăng Trực, nộp năm mươi đồng. Xin miễn việc dạy kinh điển, nộp năm đồng. Xin miễn việc trách vấn, nộp năm mươi đồng. Những khoản tiền nộp trên đây chỉ miễn một lần [vi phạm hay chấp tác ấy mà thôi], lần sau [muốn miễn], lại phỏng theo đó. Chỉ có trực đêm, cho phép cách áp dụng nhẹ là dùng tiền đó để thuê người khác trực thay; c̣n các khoản khác đều phải nộp tiền cho thường trụ.

 

16.3.4.16. Quy định về tẫn xuất

 

Đối với kẻ bị tẫn xuất, gióng ba hồi trống, dán tên tuổi [kẻ bị tẫn xuất] cạnh bản tăng ước. Khi lần tụng giới kế tiếp hoàn tất, mới gỡ bỏ tên ấy. Kẻ đó ở bên ngoài biết sửa lỗi, hướng lành, sám hối cầu được trụ lại, được mười vị tăng bảo lănh mới chấp thuận. Sau khi trở lại cộng trụ mà vẫn y như trước, chẳng sửa đổi, sẽ bị tẫn xuất lần nữa.

 

16.3.4.17. Quy định về thứ tự xếp chỗ trong các cuộc lễ

         

          * Ngày Mồng Một của tháng Giêng và tháng Bảy, xếp theo giới lạp:

          1) Các vị Bồ Tát giới từ mười năm trở lên đứng ở phía Đông, từ mười năm trở xuống và người thọ Cụ Túc Giới, Thập Giới, Ngũ Giới đứng ở phía Tây. Đại chúng cùng hướng về phía Đông lễ một lễ, vị giới trưởng hướng về phía Tây đáp lễ.

          2) Cụ Túc Giới từ mười năm trở lên đứng ở phía Đông, các vị thọ Ngũ Giới v.v… đứng ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.

          3) Thập Giới đứng ở phía Đông, từ mười năm trở xuống và người thọ Ngũ Giới đứng ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.

          * Ngày mồng Một tháng Hai và tháng Chín, xếp theo thứ tự trong pháp phái (theo chữ trong kệ truyền pháp. Người chẳng thuộc pháp quyến của bổn sơn, chẳng cần tới nhóm họp)[35]:

          1) [Các vị có pháp danh thuộc] hàng chữ Quảng đứng ở phía Đông, từ chữ Đại trở xuống đứng ở phía Tây. Đại chúng cùng hướng về phía Đông lễ một lễ, các vị thuộc chữ Quảng hướng về phía Tây đáp lễ.

          2) [Các vị có pháp danh thuộc] hàng chữ Đại đứng ở phía Đông, từ chữ Trí trở xuống đứng ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.

          3) [Các vị có pháp danh thuộc] hàng chữ Trí đứng ở phía Đông, từ chữ Thành trở xuống đứng ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.

          * Ngày Mồng Một tháng Năm và tháng Mười Một, xếp theo năm sanh:

          1) Bảy mươi, tám mươi tuổi trở lên đứng ở phía Đông, từ sáu mươi tuổi trở xuống đứng ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.

          2) Năm mươi, sáu mươi tuổi đứng ở phía Đông, từ bốn mươi tuổi trở xuống đứng ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.

          3) Ba mươi, bốn mươi tuổi đứng ở phía Đông, từ hai mươi tuổi trở xuống đứng ở phía Tây. Lễ bái và đáp lễ giống như trên.

 

16.3.4.18. Cách thức khảo định hằng năm

 

Tăng chúng và hành giả trong ngoài thuộc cả chùa được chia thành ba bậc thượng, trung, hạ. [Khi công bố], chỉ nêu những vị thuộc bậc thượng. Thuộc bậc hạ không quá ba đến năm người, bậc trung không cần phải nêu ra. Vị Giới Thủ khai riêng một tờ, vị Thủ Tọa khai riêng một tờ. Các vị kỳ túc khai riêng một tờ. Vị Đương Gia khai riêng một tờ. Nếu có ḷng riêng tư, cong vạy, bất công, sẽ bị phạt nặng, đều khai hôm trước ngày Ba Mươi tháng Chạp để gởi đến các quản sự trong ngoài nhằm khảo hạch riêng.

 

16.3.4.19. Cách thức xin trụ lại [Vân Thê]

16.3.4.19.1. Xin xuất gia

 

          - Cha mẹ đích thân đưa đến. Nếu không có cha mẹ, cần phải là người cực thân.

          - Để thẩm định người [xin xuất gia] ấy có phải là pháp khí thanh tịnh hay không, phải gồm tám điều:

          1) Chẳng ngỗ nghịch bất hiếu.

          2) Chẳng phải là kẻ phạm tội, trốn tránh.

          3) Chẳng phải do t́nh thế bức bách, nghèo cùng [để kiếm ăn bèn xin xuất gia].

          4) Chẳng phải là kẻ tâm mong mỏi phóng dật.

          5) Chẳng từng làm chuyện ác.

          6) Thân mạng chẳng thuộc các nhà quyền quư (tức chẳng phải là nô tỳ).

          7) Chẳng mắc nợ không trả.

          8) Chẳng phải là kẻ gia duyên chưa giải quyết xong.

          - Đă biết đọc tụng đại lược, tức là [đă biết đọc tụng] kinh điển trong khóa tụng sáng tối như Tâm Kinh, kinh Di Đà chẳng hạn.

          - Khá thông hiểu viết chữ, đọc sách, nghĩa là đối với sách vở không cần phải học rộng, nhưng cũng từng có học tập chút ít. Chữ viết không cần phải tinh xảo, đẹp đẽ, nhưng cũng có thể tùy phần biên chép.

          Đối với bốn chuyện trên đây, phải hợp cách thức th́ mới chấp thuận!

 

16.3.4.19.2. Xin nhập đường

 

          - Để [được chấp thuận] vào đại đường, khảo hạch bốn chuyện:

          1) Đă trọn đủ năm hạ.

          2) Giới luật nghiêm minh.

          3) Thông hiểu Tịnh Độ.

          4) Thông hiểu đại lược các giáo.

          Bốn chuyện trên đây phải hợp cách thức th́ mới chấp thuận.

          - Để vào Tây đường, khảo hạch sáu chuyện. Bốn chuyện giống như trên, lại tăng thêm hai chuyện: Một, hiểu rơ tinh tường giáo lư. Hai, chí nguyện chân thật, thiết tha. Sáu chuyện trên đây phải hợp cách thức th́ mới chấp nhận.

 

16.3.4.20. Quy định về xuống tóc

 

* Trước hết phải khảo sát lại bốn việc của người xin xuất gia xem có ǵ trở ngại hay không? Kế đó, khảo hạch xem người ấy đă thông thuộc khóa tụng sáng tối hay chưa. Nếu không có lầm lỗi ǵ trong đại chúng th́ mới chấp thuận.

* Bổn sơn chỉ thực hiện [lễ xuống tóc] một lần vào cuối năm. Đối với người đă xuống tóc từ bên ngoài tới đây th́ không luận định thời gian này; nhưng ắt phải khảo sát, thẩm tra cặn kẽ xem có nên tiếp nhận hay không? Chớ nên dễ dăi chấp thuận!

* Nữ nhân đến xin xuống tóc, bắt buộc phải do đích thân cha mẹ, cha mẹ chồng, hay chồng, hoặc con cháu ruột thịt đưa đến. Nếu không, kiên quyết từ khước, chẳng chấp thuận.

 

16.3.4.21. Quy định về học giới

 

          * Thánh chỉ nay đă nghiêm cấp mở giới đàn, tăng chúng tự nên tuân thủ; nhưng chỉ là cấm tụ tập đại chúng mở giới đàn thuyết giới, chẳng cấm tự ḿnh nương theo giới để tu hành. Nay đề nghị mỗi người tự sắm sửa hai bộ giới kinh để mỗi người tự đối trước Phật vâng lănh, đọc thuộc, giữ vững, th́ sẽ là giới tử chân thật vậy! Mai sau, nếu giới đàn được mở lại, sẽ theo đại chúng đến thọ, chứng minh công đức. Nếu lâu ngày chẳng được mở, cũng chẳng có ǵ đáng thẹn là giới tử chân thật.

          * Nếu mười phương có người đến đây cầu giới, lập tức đưa bài văn này cho họ xem rồi từ khước.

 

16.4. Vân Thê Cộng Trụ Quy Ước Phụ Tập (các thể thức theo ước định)

16.4.1. Các điều ước định dành cho hàng chấp sự

16.4.1.1. Đương Gia

 

          * Đương Gia là chỗ nương tựa của đại chúng, cần phải phát tâm hết sức tốt lành để nâng đỡ, ǵn giữ tùng lâm, phải trừ khử thói tệ, phải hưng khởi điều lợi, chớ nên hồ đồ qua ngày, chỉ mong sao măn hạn mà thôi! Các chấp sự lớn nhỏ đều có người gánh vác, Đương Gia quản chuyện ǵ? Cần phải quản lư chung hết thảy, luôn luôn xem xét, tuần hành khắp nơi, sáng tối dụng tâm, đừng gây lầm lỡ cho chuyện tu hành to lớn của đại chúng.

 

16.4.1.2. Tri Khố

 

* Thu vào, chi ra tiền, gạo, và vật dụng của thường trụ, phải ghi chép minh bạch. Ghi chép sai sót, chịu năm lần phạt theo bậc hạ.

* Ghi chép sổ sách phải theo thứ tự rơ ràng. Ghi chép lộn xộn, phạt hai lần theo bậc hạ.

* Tiền ăn của đại chúng trong núi, mỗi quư (mỗi ba tháng) sau khi tiến đường (gia nhập điện đường) ba ngày, Tri Khố cùng Giám Tự, Tri Sơn v.v… cân đo, nhất loạt niêm phong, ghi chép. Khi muốn trích ra sử dụng, phải bạch đại chúng mở niêm phong. Nếu tự tiện lấy, phạt theo bậc trung. Lấy xong, phải ghi ngay vào sổ. Tự tiện lấy dùng riêng, phạt đền gấp mười.

* Các khoản tiền trà, hoa lợi v.v… phải cùng với các vị như Giám Tự v.v… cân rơ số lượng, niêm phong, ghi rơ, thâu cất. Khi sử dụng, phải ghi sổ minh bạch giống như trên.

* Các loại vật dụng thuộc về ban vụ nào, phải giao minh bạch cho ban vụ đó. Khi măn nhiệm, phải cùng các vị như Giám Tự v.v… đối chiếu sổ sách trước đó để bàn giao rơ ràng. Hễ có điểm nào bàn giao không rơ ràng, sẽ chịu h́nh phạt bậc trung. Để hao hụt mà không tra xét, đền gấp đôi!

* Tiền cúng trai tăng, tiền tụng kinh, các vật được cúng dường v.v… mỗi mỗi đều được tính đếm, thâu nhận minh bạch. Tri Khố cùng với Giám Tự bàn bạc, châm chước, theo đúng cách thức để mua sắm, và phân phát công bằng cho đại chúng. [Tri Khố] tự tiện dùng cho riêng ḿnh, phạt theo bậc trung. Nếu sự việc nặng nề th́ trục xuất khỏi viện

* Trong đại chúng, nếu có người làm mất hay làm hư vật dụng của thường trụ, [Tri Khố] phải ghi sổ và thúc giục họ bồi thường. Nếu không thúc giục, chính ḿnh phải đền thay. Số tiền bồi thường đó dùng để mua lại đúng vật dụng ấy, không được dùng lẫn lộn.

* Đối với cơm cháo, món lót dạ, [Tri Khố] bàn bạc với Tri Chúng và Phạn Đầu để định lượng nhiều hay ít, chớ nên hoang phí, cũng chẳng được keo kiệt, cốt sao vừa đúng. Làm sai chuyện, phạt theo bậc trung. Nếu đưa cho đại chúng những thứ hư thối, dễ gây ra bệnh, phạt ở bậc trung.

* Khi người chuyển vận đưa gạo, ḿ v.v… tới, nhất nhất kiểm tra, thâu nhận minh bạch, lại phải hỏi là của vị thí chủ nào? Dùng để cúng trai như thế nào? Thực hiện vào ngày nào? Chớ nên cẩu thả. Hễ hỏng chuyện, sẽ bị phạt ở bậc trung.

* Các vật dụng phải thường xuyên kiểm điểm. Thức ăn chín chẳng được để quá lâu đến nỗi hư thối. Các thứ như tương, giấm v.v… không được để mất nắp đậy đến nỗi hư hoại. Sơ sót, sẽ bị phạt ở bậc hạ. Nếu là vật quan trọng, gia tăng h́nh phạt.

* Các vật như y phục, nguyên liệu trà v.v… ngày có mưa phải hun, sấy. Chẳng hong phơi, sẽ bị phạt ở bậc hạ. Nếu bị hư hoại, phải bồi thường.

* Chẳng được tùy tiện cho các vị tăng gởi gắm đồ vật. Đối với vật dụng của vị tăng đă mất, càng phải nên cẩn thận, chớ nên lầm lẫn sử dụng.

* Vật dụng của thợ thuyền và hết thảy các vật đem dùng liền ghi vào bảng nhỏ. Khi họ trả lại, bèn xóa sổ minh bạch. Chẳng ghi, sẽ bị phạt ở bậc hạ. Xảy ra chuyện, phạt nặng thêm.

* Các vật như giỏ, đ̣n gánh, dây thừng v.v… dùng xong, phải thu gọn, trả đúng về chỗ cũ. Hễ hư mất, sẽ phạt đền gấp đôi.

* Những ai đến khố pḥng để xin đồ vật, [vị Tri Khố] phải tra xét minh bạch: Đáng nên cho th́ cho. Chẳng cho, sẽ bị phạt ở bậc hạ. Chẳng đáng nên cho mà lén dùng vật của thường trụ ḥng tạo ân nghĩa, sẽ bị phạt ở bậc trung; lại c̣n bị phạt đền gấp đôi.

* Người bệnh đem tiền tới khố pḥng mua đồ, hoặc là rau quả, hoặc tương, giấm v.v… Chớ nên không cho; cho nhiều hay ít theo đúng lẽ công bằng.

* Các vật dụng mà chấp sự đáng nên dùng như hương, đèn, nến thơm, hoặc vật dụng vệ sinh, giày cỏ v.v… th́ khố pḥng phải kịp thời sắm sửa, chuẩn bị sẵn sàng. Nếu trễ năi, vi phạm, phạt ở bậc hạ. Để xảy ra chuyện th́ phạt nặng.

* Chi phí hằng ngày ở hạ viện phải quy định thành hạn ngạch, chẳng được hỗn loạn. Không ghi chép hoặc lầm lẫn, phạt gấp đôi ở bậc hạ. Chuyện lớn th́ phạt nặng.

* Mỗi quư (mỗi ba tháng) phải kết toán một lần. Không tính toán sẽ phạt ở bậc trung.

* Biên lai, chứng từ nộp thuế lương thực hằng năm phải theo thứ tự dán vào sổ. Sai sót sẽ bị phạt ở bậc trung.

* Ngày bàn giao khố pḥng, phải kiểm điểm rơ từng khoản một để bàn giao. Lộn xộn chẳng bàn giao, sẽ bị phạt ở bậc trung.

* Bài minh về khố pḥng dán lên vách để chính ḿnh thường tự xem đọc.

 

16.4.1.3. Tri Chúng

 

          * Chuyên lo quản lư danh sách đại chúng gia nhập hay rút lui [khỏi tùng lâm], ghi danh hoặc xóa tên [trong sổ bộ]. Quên bẵng [chẳng ghi chép], phạt ở bậc hạ. Để hư chuyện, phạt nặng thêm.

          * Sai phái, quản lư chấp sự phải đúng lúc bổ sung. Khi giao phó chức trách, phải sắm sửa trà nước, làm đơn thỉnh, lễ bái [thỉnh cầu người ấy đảm nhận]. Cần phải nói rơ những điều cần thiết cho người sẽ đảm nhiệm chức trách. Nếu làm qua loa, phạt gấp năm ở bậc hạ.

          * Phải thường xuyên xem xét trong chúng có người hiền, ngu, siêng hay lười. Hễ ôm ḷng bất công, sẽ bị phạt ở bậc trung.

          * Đặt sẵn mơ và khánh ở mười hai chỗ. Hễ thấy có người nói chuyện tạp nhạp liền gơ ra tiếng [để cảnh cáo].

* Sai người đi làm hóa chủ, phải chuẩn bị cơm, hương, lễ bái, rồi bạch xin phương trượng chỉ dạy. Nếu tự tiện sai phái, sẽ bị phạt ở bậc trung.

* Các chuyện như tiền, gạo, thuế lương thực, hoa lợi, cúng trai v.v… đều báo với khố pḥng để bàn bạc xử trí.

* Bàn ghế, ghế dài ở pháp đường, đại đường, trai đường bị hỗn loạn, mất mát, hư hại, sẽ chịu phạt ở bậc trung.

* Khi an thiền kết chế (kết Hạ, kết Đông), phải sắp sẵn chiếu trải, đệm rơm, giường, màn v.v… Mùa Hạ, phải chọn nơi thoáng mát. Mùa Đông phải dán kín cửa sổ, và các thứ như ḷ sưởi đều phải chuẩn bị sẵn sàng. Nếu qua loa, phạt năm lần ở bậc trung.

* Pḥng người bệnh, pḥng người già phải thường xuyên đến kiểm tra, phân phát mền nệm, thuốc thang, đèn lửa đầy đủ. Nếu lười nhác, sẽ bị phạt ở bậc trung.

 

16.4.1.4. Tri Khách

 

* Khi có khách đến, phải mỗi mỗi điều đ́nh, sắp xếp trà nước, bánh trái, chỗ đơn nằm cho họ chu đáo. Nếu chưa từng quen biết, lập tức cung kính hỏi thăm danh hiệu, trụ xứ, chẳng được lơ là, khinh mạn. Khinh mạn lần đầu, phạt bậc hạ. Để lỡ chuyện, phạt thêm!

* Hễ khách mới đến, nếu thiền đường chưa phải là giờ chỉ tĩnh, mời họ vào đường lễ Phật. Nếu đă chỉ tĩnh, bảo cho khách biết lời mời an đơn, hoặc xin họ tạm thời tùy hỷ, đợi đến khi trong đường hết chỉ tĩnh, đến thỉnh [vị Trực Viện] cho nhập đường, hỏi một hàng đơn là mấy vị, chẳng được sơ sót.

* Nếu khách muốn tùy hỷ thăm viếng các nơi trong chùa, hăy nên dẫn họ đi xem.

* Gặp dịp tín thí thiết trai, dâng cúng v.v… hăy cùng Đương Gia bàn bạc cách tiến hành như cách thức nói trong phần Tri Khố.

* Đối với các thứ trai cúng, thức ăn nhẹ v.v… phải áp dụng cùng một lệ cho tăng chúng thuộc bổn sơn và khách đến thăm. Nếu ôm ḷng riêng tư để rồi đối xử nồng hậu hay đơn bạc, sẽ bị phạt ở bậc trung.

* Khi khách khứa và pháp quyến trụ bên ngoài đến nơi, phải sắp đặt sẵn đệm hoặc đơn bên ngoài cho họ. Tùy tiện đưa vào thiền đường th́ chịu bậc phạt ở bậc hạ. Trong đường, nếu tự ư chèo kéo người khác, phạt ba lần ở bậc hạ. Vị chấp sự biết mà chẳng cử tội, bị phạt ở bậc trung.

* Đối với các việc như [khách tăng đến] xin quải đơn, cầu giới; trước hết, vị Tri Khách phải tiếp đăi, gạn hỏi. Hôm sau, dẫn đến gặp vị Giám Tự, đúng theo cách thức xin quải đơn như đă nói trong phần trước. Nếu qua loa, sẽ bị phạt ở bậc trung.

* Sĩ đại phu ở các nơi gởi thư đến, [Tri Khách] nhận lấy cẩn thận rồi chuyển giao, giao thư phúc đáp minh bạch tận tay người mang thư đến. Sơ suất th́ phạt năm lần ở bậc hạ.

* Các thứ giường, màn, gối, mền, chiếu trải, bàn ghế, chậu rửa mặt, khăn tay, giá đèn, ấm trà v.v… trong khách pḥng đều phải kiểm điểm, sắp đặt đúng pháp. Nếu thiếu sót, phạt năm lần theo bậc hạ.

* Đối với các chuyện tiền, gạo, thuế lương thực, hoa lợi, trai cúng v.v… phải cùng với Đương Gia, Khố Đầu, các vị chấp sự bàn bạc xử trí.

* Thí chủ đưa đến các con vật phóng sanh như ḅ, hươu, lợn, dê v.v… phải thưa với Đương Gia, Khố Đầu để ghi sổ: Vị thí chủ nào mang con vật ǵ đến, giao cho người trông nom chỗ phóng sanh là ai để thâu nhận, chăm sóc.

* Phàm ai muốn xin trụ lại, trước hết cần bảo họ đọc quy ước của bổn tự, xem họ có thể thật sự vâng giữ từng điều hay không? Kế đó, họp các vị chấp sự, xét lai lịch của người ấy, xem xét họ lập tâm ra sao hết sức tường tận đôi ba lượt. Nếu đích xác là người lành, ổn thỏa, không có vi phạm, trở ngại ǵ th́ mới có thể cho an đơn nhập chúng. Nếu dễ dăi dung nạp, đến nỗi hạng phi nhân xen tạp, vị Tri Khách cũng cùng bị trục xuất khỏi chùa.

 

16.4.1.5. Thư Kư

 

Đối với các việc chánh yếu của thường trụ, sớ văn của thí chủ, hăy nên tận tâm biên chép, chớ nên qua loa, cẩu thả!

 

16.4.1.6. Tri Sơn

 

          * Đất đai, ranh giới đất thuộc khu vực chùa phải phân minh, chớ nên lấn chiếm, hỗn loạn ranh giới của người khác đến nỗi tranh chấp, kiện tụng. Mỗi năm phải nhóm họp toàn thể đại chúng để quan sát trong núi một lượt.

* Khai khẩn vườn tre, trồng trọt cây trà, và dương mai v.v…, đốn củi ở khu núi có củi nào trước, chỗ nào đốn sau, phải treo bảng hiệu theo thứ tự, chẳng được hỗn loạn. Kẻ chẳng vâng theo chỉ thị sẽ bị cử tội, trừng phạt. Hễ dung túng, chẳng xử lư, sẽ bị phạt ở bậc trung.

* Quây rào, phá tường, trổ cửa, lấp cửa, phải kịp thời chỉnh đốn. Để lỡ việc, phải chịu phạt ở bậc trung.

* Thỉnh thoảng lên núi để trông nom, nh́n ngó, ḥng ngăn ngừa kẻ tiểu nhân lén lút trộm cắp.

* Đối với lương thực từ núi, hoa lợi v.v… phải bàn bạc với người quản kho.

* Cần phải gieo trồng tại các vườn, ruộng ở các nơi, phải bàn bạc với Viên Đầu để gieo trồng kịp thời, chẳng được lỡ thời.

 

16.4.1.7. Tri Ốc

         

          * Thường xuyên coi sóc pḥng ốc thuộc các chỗ điện đường, liêu xá, nhà bếp, nhà xưởng... Nếu bị dột, hăy sớm lợp mái, hoặc cần tu bổ, hoặc dựng mới, hăy thưa với Giám Tự để kịp thời chỉnh lư. Để hư chuyện, bị phạt ở bậc trung.

          * Pḥng ốc thuộc hạ viện cần phải sửa chữa mà không làm, sẽ bị phạt hai lượt thuộc bậc hạ. Để hỏng chuyện, phạt ở bậc trung.

 

16.4.1.8. Trực Bản (直板)

 

          * Ngày đêm tuần tra các nơi, thấy kẻ nói chuyện tạp nhạp, cười đùa, liền gơ bản, niệm Phật mười câu để nhắc nhở. Kẻ nào không vâng theo tiếng bản để nhiếp tâm chánh niệm liền cử phạt (nêu tội trước đại chúng để xử phạt).

* Trong đêm đi tuần, gơ bản trước Thiền đường và các liêu pḥng. Trong khi ngủ mà có người niệm Phật theo tiếng bản, bèn ghi điều thiện cho người ấy.

* Làm việc lấy lệ, chẳng cử tội, sẽ bị phạt. Chẳng cử điều thiện, khi tra xét thấy, sẽ bị phạt.

 

16.4.1.9. Điển Tọa

         

          * Hễ có tranh chấp, đấu đá trong nhà bếp, [vị Điển Tọa] khuyên họ thôi dứt. Họ không ngưng, [Điển Tọa] gơ mộc bản năm lượt. Vẫn không thôi, thúc liên tiếp một hồi bản, người trực nhật trong và ngoài đường sẽ tra xét và cử phạt. Nếu dung túng chẳng cử tội, [Điển Tọa] sẽ bị phạt ở mực hạ. Sự việc lớn th́ phạt ở bậc trung.

* Chẳng được nấu thức ăn thiên vị cho một nhóm người nào. Người cho lẫn người nhận đều bị phạt ở bậc hạ. Chỉ trừ nấu riêng cho người bệnh th́ chẳng luận.

* Các thứ phẩm vật chưa cúng Phật, chẳng được cho đại chúng ăn trước. Người cho lẫn người nhận đều bị phạt ở bậc hạ. Trừ người bệnh th́ chẳng luận.

* Nấu nướng mà không nếm thử trước, dẫn đến mặn, nhạt không phù hợp, phạt ở bậc hạ.

* Dùng dầu, tương quá lố, phạt ở bậc hạ. Nếu thí chủ đặc biệt đưa tới, lại chẳng thể keo tiếc. Hễ cố ư giảm bớt, phạt ở bậc trung.

* Khi nấu đồ trai cúng, nấu thành hai loại, ôm ḷng riêng tư đối xử trọng hậu hay đơn bạc, bị phạt ở bậc trung.

* Vô cớ dùng hồ tiêu, nấm hương, phạt ở bậc hạ. Hái các loại nấm hoang để ăn, bị phạt giống như vậy.

* Ba thời đánh bản.

 

16.4.1.10. Phạn Đầu

 

          * Tháng nóng, cơm cháo có thừa, hăy nên sớm chế biến sao cho thơm ngon. Cho đại chúng ăn thứ ôi thiu, sẽ bị phạt theo bậc hạ.

* Khi cơm nước đă chuẩn bị xong, lại có thêm người tới, nếu bị thiếu, cần phải thưa với vị Trực Đường và Phô Đường, giữ lại phần cơm để đăi người tới sau. Trái lệ, sẽ bị phạt theo bậc hạ.

* Trong chúng có người tự mang chén bát đến bếp lấy cơm hoặc thức ăn, vị Phạn Đầu không cử tội, sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Nhóm lửa nấu nướng, chẳng báo trước với người Hỏa Đầu phối hợp đến nỗi nồi bị nứt vỡ, cả hai cùng phải bồi thường.

* Tháng Hè thay bể chứa nước mỗi ngày một lần. Quét dọn máng dẫn nước ba ngày một lần. Mùa Đông: Bể nước th́ ba ngày thay nước một lần, máng nước bảy ngày quét dọn một lần. Sơ sót, phải chịu phạt theo bậc hạ.

* Ba thời khai bang [báo giờ thọ trai].

 

16.4.1.11. Thái Đầu

 

          * Rau sống phải được rửa sạch, thay nước rửa ba lượt. Dưa muối phải được đậy nắp. Kẻ vi phạm sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Thùng hay chậu rửa rau, mỗi lần dùng xong, phải dùng nước sạch rửa sạch, chớ nên để chất bẩn lưu lại. Ai vi phạm sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Máng dẫn nước: Mùa Hè cứ ba ngày quét dọn một lần. Mùa Đông bảy ngày quét một lần. Vi phạm, sẽ bị phạt ở bậc hạ.

 

16.4.1.12. Trà Đầu

 

* Canh năm bèn nhóm lửa đun nước. Không được lập tức đổ ào nước vào nồi ngay. Trước hết, cần phải xua trùng, kiến [ra khỏi nồi]. Đổ nước bừa băi sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Đem các món ăn nhẹ đă hư ôi cho đại chúng ăn, phạt năm lần ở bậc hạ.

* Nước nóng rửa mặt đă sẵn sàng, giao cho Hương Đăng xếp ở hành lang. Người đến rửa mặt chẳng theo thứ tự, ồn ào, hỗn loạn, sẽ bị phạt ở bậc hạ. [Trà Đầu] chẳng cử tội, sẽ cùng bị phạt.

* Giá treo khăn tay, hăy nên rửa sạch sẽ. Người trái phạm sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Chậu rửa mặt hễ có người đem đi chỗ khác dùng, [Trà Đầu] phải giành lại ngay. Phạt người ấy mua đền một cái chậu. Chẳng chịu đền, trục xuất khỏi viện.

* Khóa ăn nhẹ lúc canh năm, lượng định đại chúng đừng quá nhiều, hoặc quá ít, đợi đại chúng trở về đơn rồi mới đưa vào trong điện đường.

* Ngày cạo tóc theo quy định, chuẩn bị nước ấm rồi đánh một hồi bang dài. Hễ sơ suất, sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Trời đă sáng, lại có người lấy nước nóng rửa mặt lần nữa, chẳng được cho họ. Người cho lẫn người nhận đều bị phạt ở bậc hạ; trừ người già, bệnh, khách tăng th́ chẳng luận.

* Gặp các ngày là ba, sáu, chín th́ quét máng nước một lần. Sơ sót, phạt hai lần thuộc bực hạ. Mùa Đông, gặp ngày năm, mười, quét một lần.

* Trong nồi trà chẳng cho kẻ nào nấu xen lẫn các thứ vật khác. Chẳng cử tội, sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Phàm người vào liêu lấy trà hay nước ấm, cần phải vào ngay, ra ngay, nhiếp tâm niệm Phật. Kẻ lần chần, cười nói, cho phép Trà Đầu cử tội, xử phạt. Nếu [Trà Đầu] bao dung, không chịu cử báo, cùng chịu phạt.

* Ngày tắm giặt theo quy định: Các mùa Xuân, Thu, Đông là những ngày Mười Hai, Mười Ba, Hai Mươi Bảy, Hai Mươi Tám. Chỉ có mùa Hạ là mồng Hai, mồng Ba, Mười Hai, Mười Ba, Hai Mươi Hai, Hai Mươi Ba, sai phạm sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Quy định ngày cạo tóc: Mỗi tháng vào các ngày mùng Bảy, Mười Bốn, Hai Mươi Hai, Ba Mươi (tháng thiếu là ngày Hai Mươi Chín). Làm sai hạn, sẽ bị phạt ở bậc hạ.

 

16.4.1.13. Sài Đầu

 

          * Trời nắng ráo, phải sớm chuẩn bị củi sẵn cho ngày âm u, mưa gió. Phạm sai lầm, sẽ phạt theo bậc trung.

* Lúc bận bịu phải thưa với vị Tri Chúng, vào điện đường thỉnh trọn khắp [mọi người giúp đỡ]. Tới kỳ hạn, thúc ba hồi bang [để đại chúng biết mà cùng làm]. Người sai phạm sẽ bị phạt ở bậc hạ.

 

16.4.1.14 Hỏa Đầu        

 

* Dưới bếp ḷ, không được chất củi quá nhiều. Mỗi tối phải thâu thập, quét dọn sạch sẽ. Vi phạm, sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Mỗi tháng phải thông ống khói một lần. Bỏ bê sẽ bị phạt mười đồng.

 

16.4.1.15 Oản Đầu

 

* Bát đĩa ở các nơi phải thường xuyên t́m kiếm, tuần tra để thu dọn. Sơ suất, sẽ bị phạt ở bậc hạ. Người mượn dùng bát, đĩa, phải kịp thời giao trả. Ngầm giữ lâu ngày, sẽ bị phạt ở bậc hạ. Khuyết thiếu chẳng kiểm tra, người chấp sự tự ḿnh bồi thường.

* Trong đại chúng, có người đập vỡ bát, đĩa, vật dụng, phạt đền gấp đôi. Nếu do sân hận mà đập phá, đền gấp mười. Cố ư chẳng chịu đền, trục xuất khỏi viện.

* Oản Đầu rửa ráy, v́ cẩu thả mà làm sứt vỡ, sẽ bị phạt ở bậc hạ. Do thô tháo mà rửa vỡ, phạt hai lượt ở bậc hạ. Trừ khi [bát đĩa] đă bị hư hỏng từ trước th́ được miễn.

* Thùng gánh nước, vào mùa hè, rửa xong liền úp xuống. Để nước tích tụ lâu, sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Đem bát đĩa chuyên để cúng Phật dùng loạn xạ, sẽ bị phạt ở bậc trung.

 

16.4.1.16. Ma Đầu

 

* Phàm mọi việc xay giă, do Ma Đầu làm chủ. [Nơi xay giă] cần phải dọn dẹp sạch sẽ. Kẻ vi phạm sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Không chú tâm đến nỗi nguyên liệu bị mục nát, bị phạt đền.

 

16.4.1.17. Viên Đầu

 

          * Vườn tược, ruộng đất các nơi đúng thời tưới tắm, đáng gieo trồng liền gieo trồng. Đáng thu hoạch th́ phải thu hoạch ngay. Sơ sót th́ bị phạt ở bậc trung, c̣n phải bồi thường.    

          * Ngoại trừ tháng tột bậc rét buốt, chẳng được phép đốt đất để dọn vườn. [Việc đốt đất] chỉ bắt đầu từ ngày Đông Chí, kết thúc vào ngày Lập Xuân. Sơ sót th́ bị phạt ở bậc trung.

 

16.4.1.18 Tịnh Đầu

 

          * Đối với các chỗ như nhà vệ sinh ở phía Đông, canh năm mỗi ngày, khi khai tĩnh phải thắp đèn. Khi trời sáng, tắt đi. Tối đến, lúc khai tĩnh lại thắp, khi nhập quán bèn tắt. Không đúng thời th́ bị phạt ở bậc hạ. Phải quét dọn mặt đất cho thanh khiết. Trước bệ xí, đặt một chậu lửa để đốt mạt cưa [khử mùi hôi].

          * Phải thường xuyên kiểm tra guốc gỗ, hễ bị tổn hoại th́ thưa với Tri Sự để sắm sửa.

          * Khăn lau tay: Mùa Đông, ba ngày giặt một lần. Mùa Hè, mỗi ngày giặt một lần. Vi phạm, bị phạt ở bậc hạ.

          * Mỗi tháng, nhằm ngày mồng Bảy, Mười Bốn, Hai Mươi Hai, Ba Mươi (tháng thiếu là ngày Hai Mươi Chín) là bốn lượt tắm cho trọn khắp đại chúng. Mồng Ba, mồng Mười, Mười Tám, Hai Mươi Sáu, bốn ngày này là tiểu dục (tắm sơ qua). Những ngày c̣n lại dành cho những người làm việc nặng, có thẻ bài chấp thuận cho tắm. Khách mới vừa đến th́ chẳng luận. Nếu sơ sót, chẳng nghiêm túc, sẽ phạt theo bậc hạ. Nếu [Tịnh Đầu] cho phép tắm hỗn loạn, bao che dung túng, chấp sự lẫn người tắm đều bị phạt.

 

16.4.1.19. Phu phen gánh vác

         

          * Người gánh các vật, đều phải giao phó minh bạch cho nhà kho. Nếu hàm hồ, sẽ bị phạt ở bậc hạ.

          * Nghỉ lại, liền dùng ngay số gạo ḿnh đang gánh để nấu cơm, trả tiền thuyền. Nếu lạm dụng hoặc dùng bừa băi, hễ tra xét thấy, sẽ là một đền mười. Tuy biết mà chẳng cử tội, cũng bị phạt giống như vậy.

 

16.4.1.20. Hóa Phạn (người ra ngoài hóa duyên lương thực)

 

          * Khi ra ngoài phải đi nhanh, về chóng, chẳng được xen vào chuyện nhà người ta. Vi phạm sẽ bị phạt ở bậc hạ.

* Đến nhà người ta, chẳng được cùng nữ nhân nói chuyện ở nơi kín đáo, gởi đồ vật qua lại. Chuyện nhỏ th́ bị phạt bậc trung, chuyện lớn th́ trục xuất khỏi viện.

 

16.4.1.21. Phô Đường

 

          * Dọn cơm và canh, cần phải dốc ḷng cung kính, chẳng được giằn chén bát ra tiếng. Vi phạm sẽ bị phạt bậc hạ.

          * Trong giờ ăn mà có người nói chuyện tạp, nghe tiếng mơ báo tĩnh mà vẫn không dứt, người Phô Đường tịch thâu chén đũa [của kẻ đó]. Nếu dung túng, ẩn giấu, [Phô Đường] bị phạt tiền hai mươi đồng!

 

16.4.1.22. Hương Đăng

 

          * Người Hương Đăng ở các nơi hăy nên xếp dọn bàn thờ chỉnh tề, luôn luôn lau chùi. Người vi phạm sẽ bị phạt bậc hạ.

          * Dây treo đèn lưu ly mỗi năm thay mới một lần, đến kỳ hạn phải báo ngay với Tri Sự để mua sắm. Nếu chẳng báo, phải bị phạt ở bậc hạ, dẫn đến rơi vỡ, bị phạt bồi thường.

          * Phải dụng tâm chỉnh ngay ngắn chụp đèn. Khi lắp chụp đèn, phải vặn chặt, sợ tổn thương tánh mạng loài vật. Vi phạm sẽ bị phạt bậc hạ.

* Mỗi tối trông chừng kỹ càng đèn đuốc. Vi phạm sẽ bị phạt bậc hạ.

* Hằng ngày thay nước, quét đất. Guốc gỗ nơi pḥng vệ sinh phía Đông bị thiếu hay hư hoại, phải báo với Tri Sự để mua sắm. Vi phạm sẽ bị phạt bậc hạ.

* Nước rửa tay ở trong đại đường, mỗi ngày phải thay một lần. Vào tháng nóng th́ thay hai lần. Mùa Đông th́ nước nóng, khăn lau tay phải giặt sạch sẽ, hong phơi. Vi phạm th́ sẽ bị phạt theo bậc hạ.

* Đèn đuốc thắp trước Phật mà dùng bừa băi hoặc thắp loạn xạ, cứ một đền mười. Chẳng cử tội, sẽ cùng chịu phạt.

* Chuông, trống không được đánh sớm hay muộn. Đánh sai lúc, sẽ bị phạt theo bậc hạ. Thỉnh chuông không được giộng quá to khiến pháp khí bị nứt vỡ. Vi phạm sẽ bị phạt.

* Trống không được đặt gần tường bôi vôi. Cứ mỗi quư phải xoay mặt trống một lần.

* Tới ngày cạo tóc [theo quy định], nghe tiếng bang liền vào trong đường để xem bảng ghi tên, thỉnh vị được xếp cạo tóc đầu tiên [xuất đường], lễ một lạy. Sau đó nghe hai tiếng bang, người kế tiếp bước ra. Nếu [đại chúng] đi ra lộn xộn, mà chẳng cử tội, [Hương Đăng] sẽ bị phạt bậc hạ.

 

16.4.1.23. Thị giả

 

* Mỗi buổi sáng phải dậy sớm, trước hết tự rửa mặt, súc miệng xong xuôi, sẽ ở trước cửa [pḥng thầy] khảy ngón tay ba tiếng, hoặc nhẹ hắng giọng [để báo hiệu sẽ vào pḥng thầy].

* Bước vào, trước hết khêu bấc đèn, hoặc khêu đèn lưu ly [cho sáng hơn], chẳng được để tàn bấc rơi trên mặt đất. Khi trời sáng liền tắt đèn.

* Đến bên giường thầy, sẽ thưa hỏi: “Đêm thầy ngủ có an ổn, thoải mái hay không?”

* Sắp đặt chậu than sưởi cho thầy, nước sôi và nước nóng để rửa mặt, khăn lau mặt, ắt cần phải hong khô.

* Xếp gấp chăn màn, phẩy lau giường, chiếu.

* Khi dùng cơm cháo, thong thả thưa sẵn với thầy, sau đó dâng thức ăn cho thầy. Khi thầy ăn bèn xuất sanh.

* Thu dọn các vật dụng, quần áo, ghi nhớ chỗ xếp cất.

* Thay nước sạch trước tượng Phật, thắp hương, lau bàn, quét dọn mặt đất trong pḥng.

* Khách đến, dâng trà, đứng hầu ở một bên. Chờ [thầy và khách] uống xong, bèn đỡ lấy chén.

* Pha nước tắm cho vừa ấm, cầm sẵn khăn tắm cho thầy.

* Giặt giũ y phục của thầy, gột hồ, xếp dọn đúng pháp.

* Buổi tối đốt đèn lưu ly, thắp hương các nơi.

* Khóa lễ tối theo đại chúng tụng niệm tại đại đường xong, dâng hương theo quy định. Kẻ trái nghịch sẽ bị phạt theo bậc hạ.

* Tự ḿnh tọa thiền, hoặc học kinh, hết giờ (hương tàn) th́ nhập quán.

* Trao đổi thư tín, truyền đạt lời thầy, phải nên ghi nhớ, thâu nhận minh bạch. Hồ đồ sẽ bị phạt theo bậc hạ. Nếu là chuyện lớn, sẽ phạt nặng.

 

16.4.1.24. Khán bệnh (chăm sóc bệnh nhân)

 

          * Chăm sóc bệnh nhân: Hễ thấy bệnh t́nh hơi trở nặng hơn, liền thỉnh trọn khắp đại chúng phát tâm. Nếu không có người phát tâm, hăy theo đúng giới luật, luân phiên chăm sóc, ba ngày thay phiên một lượt.

          * Cần phải phát đại nguyện, khởi tâm từ bi, đừng chán nhàm, sợ mệt. Nếu bệnh nhân nói lời xúc phạm, đừng dấy tâm sân, đừng tham y bát của bệnh nhân, chỉ sanh tâm làm phước. Đó gọi là “khán bệnh”. Nếu không có tâm chiếu cố, quan tâm, bỏ bê không chăm sóc, sẽ bị phạt theo bậc hạ.

 

16.4.1.25. Chăm sóc người già

 

* Mỗi sáng, thắp đèn, vào pḥng. Trời sáng bèn tắt đèn.

* Nước nóng rửa mặt, thức ăn nhẹ, chậu than sưởi, nước sôi đều phải chuẩn bị đầy đủ.

* Ba bữa cơm cháo, thức ăn phải nấu mềm, hợp khẩu vị.

* Quét dọn sàn pḥng, lau bàn.

* Thắp hương, thay nước trước tượng Phật.

          * Thuốc men, thức ăn thích nghi.

          * Giặt giũ y phục, gột hồ, xếp cất đúng pháp.

          * Chẳng được lười nhác, điềm nhiên bỏ mặc người già.

          * Ba thời khóa tụng phải theo đại chúng lên chánh điện tham dự.

          * Buổi tối thắp đèn, đuốc, cần phải cẩn thận. Khi ngủ th́ tắt.

          * Trả lời không được nổi cáu, hăy nên nhẫn nhục, cung kính tột bậc.

 

16.4.1.26. Cảnh sách

 

          * Luân phiên cảnh tỉnh người già, người bệnh. Mỗi lần cảnh sách là hai người cùng thực hiện. Kẻ chẳng làm, phạt mỗi người hai phân tiền.

          * Cảnh sách tại lăo đường, ngày Rằm và Ba Mươi mỗi tháng, tháng thiếu là Hai Mươi Chín, tụng bài văn cảnh sách lăo đường xong, niệm Phật ba trăm câu, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng mỗi danh hiệu ba lượt. Hồi hướng: Niệm Phật công đức thù thắng hạnh…

          * Cảnh sách tại bệnh đường, các ngày mồng Tám, Rằm, Hai Mươi Ba và Ba Mươi (tháng thiếu là ngày Hai Mươi Chín) mỗi tháng. Nếu gặp người bệnh nặng, cần phải cảnh sách hằng ngày, chẳng tính theo ngày cố định nữa. Tụng bài văn cảnh sách bệnh nhân xong, đồng thanh niệm Phật giống như trên. Hồi hướng rằng: “Do công đức niệm Phật trên đây, kính nguyện tỳ-kheo (sa-di) tên… đang bị bệnh, nếu các duyên chưa tận, sớm được b́nh phục. [C̣n như] đại hạn khó trốn, sẽ mau sanh về An Dưỡng, mười phương ba đời hết thảy Phật…”

 

16.4.1.27. Sơn Môn (người gác cửa tam quan)

 

          * Mười phương vân thủy tăng đến, dẫn vào nhà bếp, hỏi han xong, đăi trà. Uống trà xong, xếp đơn cho họ, thâu dọn hành lư, thỉnh người ấy lên đơn ngồi, đừng để họ buông lung. Gặp kẻ buông lung, bèn mềm mỏng uốn nắn. Kẻ tranh chấp, dùng lời ḥa nhă ḥa giải. Kẻ quá đáng th́ bạch chúng, nương theo thanh quy của tùng lâm để xử đoán. Vị Sơn Môn nếu tự tiện thốt lời thô tháp, sẽ bị phạt theo bậc trung. Khách có ư muốn tùy hỷ đi thăm các nơi trong chùa, hăy để cho họ xem, đừng cự tuyệt.

          * Thấy quan viên đang nhậm chức đến, phải báo sẵn cho vị Tri Khách. Nếu là sĩ phu, hương hoạn[36] th́ cũng vậy. Vi phạm th́ bị phạt theo bậc hạ, chuyện lớn th́ phạt nặng.

          * Khách ra khỏi cửa, có người tiễn th́ đừng cự tuyệt. Không có người tiễn th́ vị Sơn Môn đưa tiễn. Vi phạm th́ bị phạt theo bậc hạ, chuyện lớn th́ cân nhắc để phạt.

          * Bậc thầy đức hạnh có tín tâm từ phương xa tới, muốn tùy hỷ viếng các nơi, hăy dẫn đi xem, đừng cự tuyệt.

          * Cúng trai, bữa ăn nhẹ v.v… khách mười phương và người thuộc bổn sơn có cùng một lệ. Nếu [vị trông sơn môn] ôm ḷng riêng tư đối xử nồng hậu hay tệ bạc th́ phạt theo bậc trung.

 

16.4.1.28. Người được sai phái

 

          * Được thường trụ sai khiến, đừng viện cớ thoái thác, ẩn tránh. Nếu bị sai phái bất công, hăy nên nêu thẳng.

          * Chẳng thể do được sai phái mà thừa dịp thuận tiện kiếm lợi.

 

16.4.1.29. Ấn pḥng

 

          * Phải thường xuyên chăm nom các mộc bản kinh điển để chẳng đến nỗi hư hoại, rối loạn.

* Nếu có kẻ tự khắc in riêng tư, chẳng cử tội, sẽ bị phạt ở bậc trung.

 

16.4.2. Những quy định nhỏ trong trai đường

 

          * Nhóm họp đại chúng với số lượng nhỏ, thúc một hồi trống, ai không đến, phạt gấp đôi theo bậc hạ.

          * Nhóm họp toàn bộ đại chúng, thúc ba hồi trống, ai không đến sẽ bị phạt ở bậc trung.

          * Người giữ chức trách Tri Sự nổi giận, đấu đá nhau, trước hết, phạt mỗi người năm phân bạc. Người thuộc đại chúng can dự vào th́ trước hết phạt mỗi người bốn phân bạc. Sau đó, xét rơ lẽ đúng sai, sẽ phạt thêm.

* Kẻ nói chuyện phiếm ồn ào, tạp nhạp, nếu người quản sự chẳng gơ bản [cảnh cáo] th́ [người quản sự] bị phạt ở bậc hạ.

* Có chuyện đấu đá mà [người quản sự] không gơ bản [cảnh cáo], sẽ bị phạt ở bậc trung.

* Đến thọ trai mà nói chuyện tạp nhạp, người Phô Đường sẽ tịch thâu bát, đũa [của kẻ đó].

* Khi Thiền Đường đánh bản báo hiệu Quá Đường xong, tại trai đường [những người có chức trách] mới dọn thức ăn. Nếu trước sau mất thứ tự, bị phạt ở bậc trung.

* Hết thảy khách khứa và vân thủy đạo hữu đến, nếu chẳng phải là người chấp sự mà chơ miệng nói năng bừa băi, mạo phạm, th́ phạt ở bậc trung.

 

16.4.3. Những phương tiện điều dưỡng cho người chấp tác (có kèm toa thuốc)

 

          - Những người gánh vác chớ nên vừa đến nơi liền cởi bỏ y phục để hóng gió, bắt rận. Người làm việc nặng nhọc khác cũng giống như vậy.

          - Ngày tiết trời mưa, gió âm u, chớ nên phanh ngực áo.

          - Đêm ngủ không được để hở lưng, bụng, kẻo bị nhiễm lạnh.

          - Gánh gồng trong mưa, gió, tuyết trở về, chớ nên dùng nước nóng để rửa chân trần ngay, hăy nên dùng nước ấm để rửa chân. Chờ một lúc sau mới tắm gội, ắt phải tắm thấm đều toàn thân th́ mới nên. Lúc áo bị ướt, hăy sấy khô rồi mới mặc.

          - Gánh gồng trở về, chớ nên ăn ngay ḿ, cơm, hoặc thức ăn lạnh. Hăy nên uống nước sôi hay trà nóng trước, một lát sau mới ăn. Làm việc nặng xong, cũng giống như vậy.

          - Khi ăn cơm, ḿ đă no, chớ nên ngủ ngay.

          - Cảm thấy Tứ Đại hơi bất an (trong người khó ở), phải nhịn ăn ngay.

          - Hơi cảm thấy nôn nao, đau đầu, thân thể thoạt nóng thoạt lạnh, có thể cạo gió, hoặc giác hơi ở khủy chân, uống Ngũ Quả Thang[37], nhịn ăn. Ai làm trái sẽ bị phạt ở bậc trung. Làm hỏng chuyện, sẽ phạt thêm.

 

* Đính kèm toa thuốc pḥng ngừa:

 

1) Toa thuốc: Mạch nha, tía tô, trần b́, cam thảo, thần khúc[38], gừng tươi, sơn tra (mỗi vị lượng bằng nhau), đun nước, sắc hai tiếng đồng hồ c̣n tám phân, uống ngay khi c̣n nóng, lấy đổ mồ hôi làm hạn.

2) Cách khác: Hơi cảm thấy buồn nôn, dùng một nhúm rưỡi muối, năm sáu bảy chén nước nóng, pha thành nước muối nhạt, uống ngụm lớn liên tục, lấy việc nôn sạch làm hạn. Nếu chưa nôn, uống thêm vài bát nữa. Nôn sạch cũng không sao!

 

16.4.4. Kệ dùng bữa tối

 

          Tăng thực nhị thời, văn xan phi lư, quyền danh dược thạch. Chánh niệm nghi tu. Tạp thoại, tán tâm, đoạt oản, thâu trợ. Đại chúng văn khánh thanh, các chánh niệm.

          (Tăng ăn hai bữa, bữa tối trái lư, tạm gọi Dược Thạch. Nên tu chánh niệm. Nói tạp, tán tâm, tịch thu bát, đũa! Đại chúng nghe tiếng khánh, ai nấy chánh niệm).

 

16.4.5. Thông lệ cho việc tăng trực

 

          * Luân lưu dựa theo bảng phân công tuần chiếu. Trong các đường, không tính theo thứ tự luân phiên.

* Người già, bệnh, tàn phế, trẻ nhỏ c̣n để chỏm đều được miễn. Người tự phát tâm luân phiên trực nhật th́ được phép, những người khác muốn được miễn th́ nộp năm phân bạc.

* Khóa lễ sáng hoàn tất, bàn giao sổ sách, trước tiên đối trước Phật xá bái, kế đó đối trước bàn Già Lam cầu chứng minh.

* Đối với việc lớn trong tùng lâm, cũng như những kẻ hiền, ngu, đúng, sai trong đại chúng, nếu tâm chẳng công b́nh, chẳng hợp lư v.v… đều phải một mực chí công vô tư, nói thẳng, không giấu diếm. Nếu bắt nạt người lành, sợ kẻ ác, sợ đầu sợ đuôi, biết rơ mà nín nhịn chẳng nói, hoặc có ḷng riêng tư thiên vị, bất công, sẽ bị phạt bậc thượng và trục xuất khỏi viện.

* Ba tháng mới luân phiên trực một lần, nếu vẫn làm lấy lệ cho xong chuyện, há c̣n có tâm làm người hay chăng?

* Nếu gặp việc [chẳng đúng lẽ] mà chẳng nói, phạt năm phân bạc.

* [Khi ghi chép sự kiện], ngày tháng viết ở đầu ḍng, việc được nêu ra viết thấp xuống một chữ. Viết không đúng cách thức, phạt một phân bạc. Buổi sáng mỗi ngày, sau khi nêu ra sự việc xong, phải chép vào sổ, trước tiên gửi vào trong đường để kiểm nhận, sau đó chuyển qua quản sự bên ngoài để bàn bạc lần nữa. Chọn ra chuyện đáng thực hiện th́ ghi vào sổ Sự Nghi (sự việc cần làm). Chẳng theo đúng cách thức, phạt mười đồng.

 

16.4.6. Sớ thệ nguyện trước chư thần mỗi nửa tháng

 

          Thế giới Sa Bà, một tứ thiên hạ, Nam Thiệm Bộ Châu, nước Đại Minh, tỉnh Chiết Giang, phủ Hàng Châu, huyện Tiền Đường, các vị tăng chức sự chùa Vân Thê: Tri Khố (kư tên), Trực Viện (kư tên), Tri Khách (kư tên), Tư Sơn (kư tên), Kinh Thư (kư tên), Măi Biện (kư tên), cho đến hết thảy những người có tiền bạc chuyển qua tay, nhằm biểu lộ, giăi bày tâm hạnh thanh bạch, ḥng nghiêm túc ǵn giữ giới luật, ḥng nêu gương cho người đời sau, phát ḷng thành kính, chân thật, chẳng dối, tâu tŕnh mười tám vị thần thủ hộ già-lam[39], thần Hoa Quang[40] của bổn tự, thần Châu Tuyên Linh Vương[41], thần Quan Thánh, tất cả các vị oai linh trong chùa, nhật du, dạ du, lược thặng sứ[42], Tốc Báo Tư, các vị tôn thần. Vào ngày… tháng… năm Vạn Lịch…. Chúng tôi được cử giữ các chức sự như Tri Khố v.v… của chùa này cho đến ngày… tháng này. Đối với hết thảy tiền bạc, vải vóc, gạo, ḿ, rau quả, đủ loại các vật, nếu có t́nh trạng xâm đoạt, lừa dối, cẩu thả v.v…, nguyện trong đời hiện tại, tự chuốc lấy tổn lộc, giảm thọ, bệnh ngặt quấn thân, hoặc gặp tai nạn dữ, báo ứng hiển nhiên cho đại chúng trông thấy. Tới lúc lâm chung, đọa lạc trong các đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chỉ nguyện thần minh soi xét để răn đe người đến sau.

Ngày... tháng... năm Vạn Lịch, các tăng sĩ có chức sự… kính cẩn dâng sớ.

 

16.4.7. Ba ước hẹn về nhận lời thỉnh

 

          * Truyền giảng kinh tại bổn tự, lập thệ chẳng nhận thỉnh lễ, tạ lễ của hội trưởng và tài vật của thính chúng.

          * Người truyền hai bộ giới pháp tại bổn tự, suốt đời chẳng nhận tài vật của giới tử.

* Truyền pháp Du Già Thí Thực tại bổn tự, chẳng được nhận tiền biếu riêng của thí chủ.

 

16.4.8. Các quy định về lưu thông tàng bản pháp bảo tại Vân Thê

 

          Lưu thông Phật pháp chẳng phải là chuyện nhỏ. Từ khi đổi phạm giáp (梵夾, lối in kinh trên một mảnh giấy dài cuộn lại) thành phương sách (方冊, sách xếp giấy, khâu gáy bằng chỉ giống như sách của Nho gia) nhằm thuận tiện lưu thông, ở các chùa nổi tiếng tại các cuộc đất thù thắng như Song Kính, Lăng Nghiêm, Lậu Trạch, Cô Tô, Tân An, những người đồng tâm hiệp lực cùng thực hiện đều có những điều lệ riêng để thực hiện, nhưng chưa kịp lập quy tắc tường tận về thâu chi và thỉnh phát (thỉnh kinh và phân phối kinh), nhưng việc thâu chi, thỉnh phát chính là việc trọng yếu trong lưu thông. Nếu chẳng đề pḥng nghiêm ngặt, lâu ngày sẽ nẩy sanh thói tệ, gây hại càng lớn. Tức là pháp chưa lưu thông, mà người lưu thông pháp đă trầm luân trước! Sao có thể tùy tiện chẳng đặt định ư?

Lại nữa, lưu thông có hai loại: Một là chân thật lưu thông, hai là lưu thông theo kiểu bán chác. Lưu thông theo kiểu bán chác là gom kinh sách làm hàng hóa, bán hàng kiếm lăi, tích lăi để làm giàu, giống như các tiệm sách hiện thời. Đó là đường lối của lũ con buôn! Chân thật lưu thông là xác lập cái tâm “chẳng truyền pháp, sẽ không có cách nào độ sanh. Nếu chẳng truyền pháp độ sanh, sẽ chẳng có cách nào báo ân đức của Phật. Chỉ mong Phật pháp xoay vần hoằng dương trong vô lượng cơi, vô lượng đời”; ngoài ra chẳng mưu cầu chi khác! Đó gọi là chân thật lưu thông vậy. Chân thật th́ mới xứng gọi là công đức. Buôn bán chỉ tăng thêm tội khiên. Hai đằng tợ hồ giống nhau, nhưng khác hẳn, há chẳng nên cẩn thận ư? Nay định ra sáu chương giao ước, đặc biệt dặn ḍ cặn kẽ ở phần thâu chi và thỉnh phát. Mong người lănh trách nhiệm này đừng coi lời tôi là sai, vẫn giữ măi chẳng thay đổi để truyền đến mai sau, ngơ hầu chẳng phụ bạc đàn việt tạo pháp, chẳng phụ công vua quan hộ pháp, chẳng phụ bạc đức Phật Thế Tôn và hiền thánh sư xưa nay thuyết pháp, diễn pháp!

 

          1) Sao chép thận trọng:

 

          - Trước hết, phải tra cứu những kinh chưa được khắc in tại các nơi như Song Kính, Lăng Nghiêm, Lậu Trạch, Cô Tô, Tân An v.v… rồi mới được sao chép để khỏi bị khắc in trùng lặp.

- Khảo đính các bản kinh, nếu có sai khác, hăy dùng lư để định đoạt, bên nào hợp lư hơn th́ theo. Nếu chẳng thể quyết định, hăy tạm theo một bản, chẳng được dựa theo ư kiến chủ quan để tự tiện thay đổi.

- Nét chữ đều phải trang trọng, vuông vắn, chỉnh tề, cẩn thận từ đầu đến cuối. Đừng tốt đẹp lúc đầu, phần sau cẩu thả.

- Lối chữ (tự thể) phải dựa theo sách Hồng Vũ Chánh Vận cũng như Tứ Thư Ngũ Kinh mà giới nho sĩ học tập từ bé, đừng dùng thể loại chữ hiểm hóc, phá cách, khiến cho người khác khó nhận biết. Lưu thông pháp bảo cốt yếu là khiến cho người trí lẫn kẻ ngu đều có thể thông hiểu!

- Khi chép phải chú mục, chuyên tâm, đừng nghĩ chuyện khác, ngơ hầu chẳng sai sót, th́ công đức sẽ bằng với năm loại pháp sư.

- Có người nói kinh văn cần phải chấm câu, nhưng sợ mỗi người dựa theo ư riêng ḿnh mà chấm câu, có thể đâm ra phạm sai lầm, chẳng bằng vẫn giữ y như cũ th́ hơn.

- Có người nói kệ tụng nên viết nối liền một khối với phần Trường Hàng, chớ nên tách riêng thành một đoạn câu, nhưng sợ rằng theo lệ ấy đă lâu, mọi người đều thấy thuận tiện, cũng chỉ nên y theo lối cũ th́ hơn.

 

2) Giảo chánh, đối chiếu cẩn thận:

 

- Chép xong liền đối chiếu với nguyên bản. Hai người phải dụng tâm ḍ đọc, so sánh. Chẳng sai, chẳng sót th́ mới có thể giao cho thợ khắc. Cẩn thận đừng làm qua loa! Cần phải dùng người giảo chánh đối chiếu là người thông đạt văn lư, lại cần có một người tinh thông giáo pháp làm chủ.

- Khắc xong, giảo chánh, đối chiếu một lần nữa như trước.

 

3) Khắc in cẩn thận:

 

- Ngoài việc chọn thợ khắc [mộc bản] có tay nghề tinh luyện, lại cần phải là người tín tâm cung kính, chịu ăn chay, giữ giới, tâm tánh an tĩnh th́ mới được. Nếu chẳng vậy, dẫu có thư tiến cử, vẫn chẳng dám chấp nhận.

- Nơi giữ ván khắc cần phải sáng tối vừa phải. Để gần chỗ nắng gió, sẽ dễ nứt. Không có ánh mặt trời th́ dễ bị mục nát.

 

4) Ấn loát, đóng thành sách cẩn thận:

 

- Chỉ dùng một loại giấy Thái Sử Liêm để bôi mực, không được quá đậm, không được quá nhạt, cốt sao rơ ràng, sạch sẽ.

- Ván khắc đă in xong, hăy lập tức xếp lên giá, đưa trở về vị trí ban đầu, chớ nên cẩu thả xếp loạn xạ.

- Dùng chỉ đóng trang giấy [thành sách] theo cách thức thông thường, sợi chỉ đừng quá nhỏ.

- Dùng hồ bằng bột ḿ, đừng cho quá nhiều nước.

 

5) Cẩn thận trong thâu chi:

 

- Bổn sơn vốn không có hóa chủ (người đứng ra quyên góp). Nếu có thiện tín đến vui vẻ giúp đỡ, tiền in kinh phải thâu chi cẩn thận, ắt phải chân thành, ắt phải giữ chữ tín. [Món tiền ấy] trừ khắc kinh ra, chẳng được dùng xằng bậy một xu hào nào, hoặc dùng làm các khoản chi phí khác, hoặc mượn dùng để sắm y bát, hoặc lén dùng để hậu đăi thân tộc, hoặc dùng để biếu xén khách khứa v.v… Thậm chí tuy cũng là khắc kinh, nhưng thứ được khắc là những tác phẩm nằm ngoài Đại Tạng, chẳng phải là thứ vốn có trong Đại Tạng, và dùng để khắc các trước thuật của chính vị tăng nhân ấy, đều chớ nên làm. Bởi lẽ, của tín thí chuyên dùng để khắc kinh tạng. Trái nghịch, rối loạn nhân quả, tội báo chẳng nhỏ, hăy kiêng dè!

 

6) Thận trọng trong việc thỉnh, phát:

 

          - Châm chước giá kinh ở các nơi, [tính toán] số lượng giấy, b́a, giấy lót, chỉ, hồ, tiền công thợ v.v… để định giá thành cho bộ kinh, phương thức nhất định để khắc in hoàn tất, chẳng được tăng giảm theo ư riêng.

          - Sổ bộ cần ghi rơ ngày nào, người nào, thỉnh kinh sách ǵ, đă thâu chi phí cho kinh là bao nhiêu. Mỗi quư tiểu kết một lần. Mỗi năm tổng kết một lần, trừ đi tiền vốn bao nhiêu, có lời bao nhiêu, ghi chép minh bạch, cất giữ và niêm phong. Tiền vốn vẫn dùng để in và đóng sách như cũ, tiền lời hoặc dùng để khắc hoặc sửa chữa các ván kinh bị hư hoại, chẳng được dùng bậy một mảy nào để làm các loại chi phí khác! Như trong phần trên đă nói, nhân quả rành rành, báo ứng chẳng sai chạy, há chẳng đáng sợ ư? Há chẳng nên cẩn thận ư?

 

16.4.9. Quy cách cần chú ư tại Tàng Kinh Đường

 

Sở dĩ kinh tạng ở các nơi lâu ngày bị thất lạc đến nỗi bị hủy hoại, tiêu diệt do hai nguyên nhân:

- Một là cho mượn ra ngoài, tức là kẻ mượn chẳng thể gấp gáp giao trả, người quản lư lại chẳng thể siêng năng giục đ̣i. Lâu ngày chầy tháng, chẳng biết kẻ nào mượn. Đó là một lư do.

- Hai là thiếu sự quản lư, tức là lúc đáng phơi lại không phơi, lúc lấy ra không ghi sổ, lúc nhận vào không xóa đi, lúc xem đọc không cẩn thận mở đọc, đặt kinh nhẹ nhàng. Đó là hai lư do.

Nay [các chuyện cần phải làm] được liệt kê chi tiết như sau:

- Kinh chẳng cho mượn ra ngoài, lấy sơn môn (cửa tam quan) làm giới hạn. Dẫu là sáng mượn, chiều trả, cũng quyết không cho mượn. Nếu mượn đem ra ngoài, phạt ba lạng bạc.

- Tháng Sáu phơi kinh, chỉ chọn ngày nắng ráo, không cần câu nệ cố định ngày mùng Sáu. Mỗi lần phơi một trăm ḥm[43], không được nhiều hơn. Không được để [kinh sách] gần nhà bếp trong núi. Tháng Chín lại phơi thêm một lần nữa.

- Lấy xem phải ghi sổ, ngày nào tháng nào lấy ra, kinh thuộc ḥm nào, do người nào lấy, phía dưới để trống một hàng, đợi khi nhận lại sẽ điền vào. Ghi chép thiếu sót sẽ bị phạt một đồng.

- Mở tủ lấy kinh ra và đặt kinh trở lại xong, liền khóa lại. Quên khóa, phạt một đồng.

- Mỗi năm, ghi riêng ngày tháng năm nào đó, do ai đảm nhiệm quản thủ Tàng Kinh Đường.

 

16.4.10. Quy ước về đạo tràng Thủy Lục

 

- Người tụng kinh phải tắm gội từ hôm trước. Sáng hôm sau tụng kinh cần phải mắt đến, miệng đến, tâm đến. Chẳng được trong khi tụng kinh xen tạp những lời tạp nhạp, chẳng được lúc tạm nghỉ trong khi tụng kinh bèn tán gẫu.

- Người niệm Phật chẳng được xoay đầu ngó nghiêng, nh́n người, ngắm vật, hăy nhất tâm xưng niệm, từng chữ phân minh.

- Người chủ pháp chẳng được tán tâm vọng tưởng, hăy nên mỗi mỗi theo đúng kinh văn, dùng ḷng tinh thành tác quán.

- Người biểu bạch chẳng được hấp tấp, giản lược, hăy nên tuyên tụng văn sớ theo thứ tự. Tiếng trống và năo bạt cũng nên trang nghiêm, thanh nhă, chớ nên rườm rà, ồn ào.

- Thí thực phải tuân theo kinh văn, tinh thành kết ấn, tụng chú, tác quán, ba chỗ tương ứng, chẳng được hàm hồ, lúng búng, gấp rút cho xong chuyện. Người bạch văn cũng vậy. Lại chẳng được khi pháp sự chưa hoàn tất đă lo thu dọn vật dụng, chén, đĩa.

- Người hầu đàn trong ngoài đều phải thành kính, trang trọng, thanh khiết, chú tâm cẩn thận.

- Khố pḥng phải lưu tâm sắp đặt, chuẩn bị các vật dụng cần dùng thích hợp, chẳng được cẩu thả, sơ sài.

- Hành nhân trong Thủy Lục Đường càng phải thêm chí thành bội phần.

Cần phải tín tâm tiếp nhận, dụng tâm hành tŕ những điều trên đây. Nếu chẳng chí thành, sẽ tự chuốc tai họa, hối hận đă muộn rồi!

 

16.4.11. Đề nghị đối với đạo tràng Thủy Lục

 

          Ngưng hoặc giảm làm trai đàn Thủy Lục để tránh phạm sai lầm. Có người nói “đạo tràng Thủy Lục đừng nên làm thường xuyên”. Tôi suy nghĩ, [nhận thấy] quả thật có năm lỗi:

1) Làm thường xuyên sẽ bận bịu. Bận bịu th́ sanh mỏi mệt, các thứ cần lo liệu sẽ chẳng sắp đặt hoàn bị. Đó là lỗi thứ nhất.

2) Thỉnh thoảng mới làm một lần, sẽ sanh tâm tưởng “hiếm gặp”, sẽ kính sợ. Nếu là thường xuyên, sẽ thấy là tầm thường, thiếu sót ḷng thành kính. Đó là lỗi thứ hai.

3) Vào các mùa Xuân, Hạ, Thu, khi tống thánh (tiễn đưa chư thánh), hóa sớ và đồ cúng quá nhiều, đốt cháy sẽ gây tổn hại cho trùng kiến. Đó là lỗi thứ ba.

4) Phóng Diệm Khẩu quá nhiều, có thể phạm sai sót; do vậy, đâm ra chuốc vời quỷ quấy phá. Đó là lỗi thứ tư.

5) Không chỉ tăng chúng trễ năi, lười nhác, mà cũng khiến cho trai chủ thiếu ḷng cung kính. Đó là lỗi thứ lăm.

Lại c̣n có những chỗ không nhận biết, khó thể biết trọn. Vừa rồi, vị Đương Gia của bổn sơn bỗng dưng bị bệnh mất, nhà trai chủ cũng gặp tang sự. Vốn là để cầu phước mà lại mắc họa. Cổ thư đă chép: “Làm Thủy Lục mà chẳng có ḷng thành, sẽ cảm vời ác báo”. Rành rành có chứng cớ, há chẳng đáng sợ ư?

Nay nghị định: Chỉ trong ba tháng mùa Đông mới được cử hành một hai lần. Các tháng khác trọn chẳng thể được. Phải nghiêm ngặt tuân thủ, cẩn thận đừng nể t́nh mà thuận theo đến nỗi đôi bên đều bị tổn thương, căn dặn hết mực.

 

16.4.12. Quy định phạt đối với kẻ tụng kinh, lễ sám chẳng thành kính

 

- Cử hành sái tịnh (nghiêm tịnh) mà không đến, phạt hai mươi đồng.

- Tụng kinh sám xong một trang rồi mới đến, phạt bốn mươi đồng. Đối với phần kinh thiếu sót, phạt tụng bù gấp đôi.

- Nói chuyện phiếm, hư luận ngay trong lúc kinh sám, phạt một trăm hai mươi đồng. Nếu nói vào trong lúc tạm nghỉ kinh sám, phạt sáu mươi đồng.

- Tranh căi, phạt sáu mươi đồng. Tranh căi lớn tiếng làm mất oai nghi, phạt một trăm hai mươi đồng.

- [Tụng niệm] chẳng phát ra tiếng, phạt tụng lại từ đầu.

 

16.4.13. Thứ tự học kinh theo pháp hiệu

(nghi là có kẻ lén sửa đổi bài này, nay chia ra để ghi chú phía sau)

 

          * Người có pháp hiệu chữ Pháp: Toàn thể kinh văn trong khóa tụng sáng tối, Phật Tổ Tam Kinh (có bản gom Tứ Thập Nhị Chương Kinh, Phật Di Giáo và Đàn Kinh kết hợp lại. Có bản chẳng dùng Đàn Kinh mà đổi bằng Quy Sơn Cảnh Sách, chẳng biết ở đây dùng bản nào), Sa Di Yếu Lược, Tứ Phần Giới Bổn, Phạm Vơng Giới Kinh, Thập Lục Quán Kinh, Đại Di Đà Kinh, Kim Cang Kinh, Viên Giác Kinh, Duy Ma Kinh, Lăng Nghiêm Kinh (sau kinh này, nên thêm kinh Lăng Già), Pháp Hoa Kinh, Hoa Nghiêm Kinh, Khởi Tín Luận (luận này là cửa ngơ ban đầu để tiến nhập Đại Thừa, không nên xếp sau kinh Hoa Nghiêm, hăy nên chuyển lên đặt trước kinh Kim Cang).

          * Người có pháp hiệu chữ Báo: Khóa tụng sáng tối, Sa Di Yếu Lược, Di Giáo Kinh, Tứ Phần Giới Bổn, Phạm Vơng Giới Kinh, Thập Lục Quán Kinh, Đại Di Đà Kinh, Kim Cang Kinh, Viên Giác Kinh, phẩm Phổ Môn, phẩm Hạnh Nguyện.

          * Người có pháp hiệu chữ Hóa: Khóa tụng sáng tối, kinh Di Đà (kinh này đă nằm trong khóa tụng sáng tối, chẳng nên nêu riêng. Lại c̣n ghi sót Sa Di Yếu Lược, chắc là bị sai sót, c̣n phải nên thêm kinh Di Giáo), kinh Phạm Vơng (hai tên trước đều có chữ Giới, riêng ở đây chẳng có, chẳng nên để người có pháp hiệu này tụng kèm cả quyển thượng), chương Thượng Phẩm Thượng Sanh của Quán Kinh, Tứ Phần Giới Bổn (bản này nên xếp trước kinh Phạm Vơng).

          Ba pháp hiệu trên đây phải theo thứ tự để học kinh điển, học xong một kinh mới được tiến sang kinh tiếp theo. Ai nhảy cóc, học vượt, phạt một đồng. Chưa học xong kinh thuộc khóa tụng [hằng ngày], chẳng được phép cho xuống tóc. Chưa biết [Sa Di Luật Nghi] Yếu Lược, sẽ không được tiến lên thọ Cụ Túc Giới. Chẳng biết Cụ Túc Giới, chẳng được thọ Bồ Tát Giới. Tuổi tṛn sáu mươi, cân nhắc mà giao cho khóa tụng sáng tối. Khóa tụng chưa thuần thục mà đă cho xuống tóc, cứ thiếu một chuyện, liền phạt một đồng.

 

16.4.14. Mẫu khai tăng tịch

 

          Tăng tên là…, pháp tự… Năm nay bao nhiêu tuổi, quê ở huyện… phủ… tỉnh… là con thứ mấy của nhà họ… làm nghề nghiệp ǵ… Xuất gia vào ngày… tháng… năm… tại chỗ… xin làm học tṛ vị nào… Cùng trụ tại đó bao nhiêu năm, nay trong ngày… tháng… năm nào đến xin trụ chúng, hoặc tiến đường, hoặc làm tạp vụ.

 

16.4.15. Mẫu cầu thọ giới

 

Đệ tử cầu giới tên là… bao nhiêu tuổi, là người thuộc thành phố… huyện… phủ… tỉnh nào, hoặc xuất thân là quân lính, thợ, dân, họ… Vào ngày... tháng... năm..., xuất gia tại chùa... nơi..., lễ thầy nào làm sư phụ. Nay vào ngày... tháng... năm..., may mắn gặp được đấng đại từ bi phụ, tiếp dẫn chúng sanh trong biển khổ, con phát tâm Đại Thừa, sám trừ tội khiên từ vô thỉ, cầu xin được truyền giới… nên lập tờ tŕnh này.

Liệt kê các vật dụng:

- Đại y (có đủ).

- Bồ Tát Giới Kinh (có đủ).

- Bát sành (có đủ).

Ngày… tháng… năm… cầu giới đệ tử… kính tŕnh.

 

16.4.16. Lời răn truyền trao y

 

Đức Phật chế tam y, chẳng được thiếu một. Nay y chưa có đủ, phải bổ túc rồi mới trao. Y lại bắt buộc bằng sợi gai, vải bông không thích đáng. Về sau, hăy nên sửa lại cho đúng. Đức Phật chế định “đầu tṛn, áo vuông”, nên biết giới y chính là y phục của người xuống tóc. Tại gia cư sĩ và vợ của cư sĩ đều chẳng cần nhận y. Nếu ắt cứ muốn nhận y, chỉ nên đội lên đầu để cúng dường, không được đắp mặc. Đắp y sẽ đâm ra có tội lỗi, chớ nên không bảo rơ với họ.

 

16.4.17. Thể thức thọ giới

 

          - Khi cầu thọ giới, trước một tháng, thường trụ phải giữ đầy đủ oai nghi, chuẩn bị lễ phẩm, hương, nến, cùng đại chúng trong núi cầm hương đến Phương Trượng cầu thỉnh truyền giới.

          - Người cầu thọ đại giới, phải có đủ Bồ Tát Giới Kinh, Tứ Phần Giới Bổn, Sa Di Yếu Lược. Mỗi người tự nộp tiền “hương, nến, thức ăn nhẹ, chiếu trải để lạy” gồm ba phân bạc giao cho thường trụ chi dụng.

          - Người cầu thọ Cụ Túc Giới, phải có đủ Tứ Phần Giới Bổn, Sa Di Yếu Lược, nộp ba phân bạc cho tiền hương, nến v.v…

          - Người cầu thọ giới cần phải có các loại y phục [tương ứng với giới đă thọ], mỗi bộ phải đều là đồ mới th́ mới được. Nếu thật sự không có cách nào sắm sửa, giặt sạch cũng được; nhưng áo lót, hài cỏ, giày vải v.v… ắt cần phải là đồ mới. Tam y và kinh sách chẳng được cẩu thả, giản lược.

          - Người cầu thọ giới trước hết phải đến chỗ Tri Khách báo danh. Tri Khách sẽ dẫn tới Thư Kư trong điện đường để ghi sổ. Chẳng được sơ xuất, lơ là bỏ sót tên để đến lúc đó lại xảy ra sai sót.

* Người cầu xuống tóc, nếu chưa biết Ngũ Giới, chưa thuộc khóa tụng, sẽ chẳng được xuống tóc thọ giới Sa Di. Chẳng biết giới Sa Di, sẽ chẳng được xin thọ Cụ Túc. Giới Cụ Túc chẳng biết, sẽ không được tiến lên thọ đại giới (Bồ Tát giới).

 

16.4.18. Quy định về việc nhặt được của rơi

 

          * Phàm nhặt được hết thảy mọi của rơi nào, lập tức báo với Đương Gia, cất giữ trong khố pḥng, lật hai chữ Thập Di (拾遺, nhặt được của rơi) hướng ra ngoài để người làm mất đồ biết. Nếu nhặt được vật đánh rơi mà chẳng đưa sang khố pḥng, phạt nặng, trục xuất khỏi viện.

          * Người mất đồ dán phiếu nêu rơ: Người nào vào ngày nào đó, mất vật ǵ đó. Nếu thấy hai chữ Thập Di, liền đến Khố Pḥng, [người quản sự] đối chiếu xét kỹ; sau đấy, giao trả. Kẻ mạo nhận sẽ bị phạt nặng, trục xuất khỏi viện.

 

16.4.19. Cách thức sám hối về lỗi đă phạm

16.4.19.1. Lỗi nhẹ

 

          * Thập giới: Phạm lỗi ngồi giường cao rộng lớn, đến xem nghe ca múa, quá Ngọ chẳng tinh tấn, hoặc tích trữ vàng bạc chẳng bố thí. [H́nh phạt]: Mỗi thứ nộp vào bệnh pḥng một phân bạc. Không có bạc, lễ Phật năm mươi lạy.

* Cụ Túc Giới:

- Phạm Tăng Tàn (Saṅghāvaśeṣa): Nộp tiền làm việc nặng một tiền hai phân. Không có tiền, lễ Phật sáu trăm lạy.

- Phạm Tát Kỳ Ba Dật Đề (Naiḥsargika-prāyaścittika, Xả Đọa): Nộp vào bệnh pḥng bốn phân bạc. Không có tiền, lễ Phật hai trăm lạy.

- Phạm hai pháp bất định, chín mươi Ba Dật Đề (Pāyattika), bốn pháp hối quá. Đối với mỗi lỗi, nạp hai phân bạc cho bệnh pḥng. Không có tiền, lễ Phật một trăm lạy.

- Phạm một trăm pháp ưng đương học, hoặc bảy pháp diệt tránh, đối với mỗi lỗi, nạp nửa phân bạc cho bệnh pḥng. Không có tiền, lễ Phật hai mươi lăm lạy.

* Bồ Tát Giới:

- Phạm lỗi thuộc mười giới trọng: Giới thứ sáu “rêu rao lỗi tứ chúng”, giới thứ bảy “tự khen ḿnh, chê người”, giới thứ tám “bỏn xẻn lại c̣n mắng nhiếc”, giới thứ chín “giận dữ, chẳng chấp nhận người khác xin lỗi”, nếu t́nh tiết nhẹ, chuẩn theo lệ của tội Tăng Tàn.

- Phạm bốn mươi tám giới khinh: Cân nhắc mà phạt làm việc nặng theo kỳ hạn từ năm ngày, bốn ngày, ba ngày, hai ngày, một ngày, hoặc nửa ngày.

 

16.4.19.2. Lỗi nặng

 

           * Phạm giới Căn Bản, tạo đại ác nghiệp: Tẫn xuất. [Người trót phạm] lại cầu xin được trụ chúng, phải xét kỹ có chân thật hối lỗi, sửa đổi hay không, được hai mươi vị trong ngoài chùa bảo đảm, bèn chấp nhận cho nhập chúng làm việc nặng trong nửa năm. Người vốn làm việc nặng [trước khi bị tẫn xuất] th́ tăng thêm đến ba năm. [Người phạm lỗi ấy] chẳng được đứng theo thứ tự trong ban. Chẳng được mặc áo tràng, áo giới (ca-sa), chẳng được xưng tên bằng pháp tự. Mỗi đêm quỳ đọc giới văn. Nếu không làm việc nặng, phải nộp một lạng tám tiền. Mỗi đêm quỳ đọc giới văn đă thọ. Ban đêm, lễ Phật một trăm lạy. Qua ba tháng sám hối viên măn mới được nhập chúng. Dù vốn đă thọ đại giới, nay phải thọ lại năm giới, tích đủ một trăm điều thiện mới hứa cho thọ mười giới. Lại tích đủ một trăm điều thiện, mới cho thọ Cụ Túc Giới. Lại tích đủ một trăm điều thiện mới cho thọ Bồ Tát giới.

          * Lỗi đáng phải trục xuất khỏi viện, nhưng xét về t́nh có thể dung thứ, cho phép dùng điều thiện để bồi đắp một lần phạt ở bậc thượng, cho đến mười lần phạt theo bậc thượng. Mỗi lần phạt ở bậc thượng, trừ đi một trăm điều thiện, cho phép theo vào trong chúng đứng theo đúng thứ tự mà lễ Phật.

 

16.4.20. Cách thức viết thiếp trách hỏi

 

Ngươi đă quy y Tam Bảo, thọ giới (ǵ đó), đáng lẽ phải cẩn trọng ǵn giữ Thanh Quy, rộng tu thiện pháp, cớ sao chẳng nghĩ đến Phật, Tổ độ thoát, kinh điển khai sáng, thầy bạn khuyên răn, cha mẹ sanh thành, mà lại mờ mịt phóng túng tâm ư, làm việc phi pháp…. Ngươi nay chẳng phải là đệ tử Phật, đúng là tội nhân của thế gian, hăy mau sanh ḷng hổ thẹn to lớn, phát tâm dũng mănh chân thật, hối lỗi, đổi mới. Nếu không, trong th́ có h́nh phạt tẫn xuất theo tăng luật, ngoài th́ có vương pháp tra khảo, trừng trị ngươi. Sau khi chết, có địa ngục chặt chém, thiêu nấu ngươi, cho đến đọa lạc ngạ quỷ, lại làm súc sanh, há chẳng đáng sợ ư?

Ngày... tháng... năm..., sai vị thọ Bồ Tát giới tên là... đi răn dạy lần thứ...

 

16.4.21. Mẫu viết bản thanh toán tài sản khi một vị tăng qua đời

 

Tỳ-kheo (hoặc Sa-di) mang bệnh tên là..., pháp tự..., bao nhiêu tuổi, là người huyện... phủ..., họ... Vào ngày... tháng... năm... (xuất gia hoặc quải tháp) tại bổn tự, ở trong chúng tu đạo. Vào ngày... tháng... năm... bỗng gặp phải bệnh duyên, sợ gió lửa chẳng dừng (vô thường xảy đến), vào ngày… tháng… tiến nhập Niết Bàn Đường. Tất cả y bát tùy thân, xin cung thỉnh đại chúng sao lục làm thành bản kê khai để tiện lo liệu hậu sự. Kính mong đại chúng đều thấu hiểu.

Kê khai: Vật ǵ số lượng bao nhiêu.

Ngày... tháng... năm... Thủ Tọa (kư tên), Giám Viện (kư tên), Tây Đường (kư tên), Tri Khố (kư tên), Duyệt Chúng (kư tên), Tri Khách (kư tên), Thư Kư (kư tên), người chăm sóc bệnh nhân (kư tên).

 

16.4.22. Thể thức tống táng

 

          * Nhập khám (nhập liệm), tụng một quyển kinh Di Đà, ba lượt Văng Sanh Chú, hồi hướng: “Công đức niệm tụng trên đây kính v́ lần nhập khám này của thượng tọa… mới viên tịch, trang nghiêm báo địa, mười phương ba đời….”

          * Niệm tụng trước khám, mỗi ngày luân phiên bốn người dựa theo số đơn, tụng một quyển Tâm Kinh, ba lượt Văng Sanh Chú, niệm Phật một trăm câu, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng mỗi danh hiệu ba lượt. Cử tán Tây Phương để hồi hướng: “Vong linh trót tạo các ác nghiệp, đều do vô thỉ tham, sân, si, từ thân, ngữ, ư phát sanh ra, hết thảy tội căn đều sám hối. Chỉ nguyện vong linh thần thức chẳng loạn, chánh niệm về thẳng An Dưỡng, gặp mặt Di Đà và thánh chúng, tu hành Thập Địa chứng thường lạc. Nguyện đem công đức này…”

* Khởi khám (di quan): Tụng một quyển kinh Di Đà, ba lượt chú Văng Sanh, Biến Thực Chân Ngôn, Cam Lộ Chân Ngôn, Phổ Cúng Dường Chân Ngôn mỗi thứ ba lượt. Vị Duy-na cử xướng: “Sắp dời linh khám để cử hành điển lễ trà-tỳ, ngưỡng mong đại chúng tụng hồng danh chư thánh, nhằm biểu lộ tấm ḷng tiễn biệt, giúp cho nẻo giác”. Đại chúng cầm hương niệm Phật, đưa tới đàn thiêu hóa.

* Trà tỳ (hỏa táng): Vị Duy-na cử xướng: “Ngày hôm nay có thượng tọa… mới viên tịch, đă tùy duyên mà thuận tịch, bèn theo đúng pháp trà-tỳ, thiêu thân trăm năm hoằng đạo, một đường nhập cảnh Niết Bàn. Kính mong đại chúng giúp đỡ giác linh”. Niệm Phật một trăm câu, Quán Âm, Thế Chí, Thanh Tịnh Hải Chúng mỗi danh hiệu ba lượt. Cử tán Tây Phương để hồi hướng: “Trên đây, đă xưng dương thánh hiệu ḥng giúp văng sanh. Kính nguyện gương huệ tỏa sáng, phong thái chân thật rực rỡ khắp trong vườn Bồ Đề, nở bừng hoa giác ư. Trong biển pháp tánh, gột rửa tâm trần cấu. Rót trà tế ba lượt, hương đốt một ḷ, kính tiễn đường mây, ḥa-nam thánh chúng”.

* Trà tỳ tịnh nhân (người phục vụ tại tự viện chưa xuất gia): Cử xướng: “Ngày hôm nay có vị tịnh nhân… mới quá văng, đă tùy duyên mà có tận, bèn theo đúng pháp xà-duy, đốt thân trăm năm khổ hạnh, nhập cảnh một lối trang nghiêm. Kính mong tôn chúng giúp đỡ vong linh”. Sau khi niệm Phật xong, giống như trên, hồi hướng: “Trên đây đă xưng dương thánh hiệu giúp đỡ văng sanh. Kính mong cỏ hết nẻo đường, hoa sanh đầu chày. Trong tuyển tăng đường, vô kiến đảnh tướng thường tṛn xoe. Nơi vườn cổ Phật, thân hữu lậu vĩnh viễn giải thoát. Rót trà tế ba lượt, hương đốt một ḷ, kính tiễn đường mây, ḥa-nam thánh chúng”.

* Bán đấu giá di vật của vị tăng đă tịch: Thắp hương, tán xong, Duy-na xướng: “Phù vân tan mất, chẳng c̣n lưu lại bóng. Đuốc cháy sạch, ánh sáng tự diệt. Nay xướng đấu giá nhằm biểu thị vô thường. Ngưỡng mong đại chúng niệm Thanh Tịnh Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na Phật…” Bạch đại chúng: “Pháp xướng y dùng theo quy củ thường lệ. Y mới, cũ, dài, ngắn, đều nên xem xét. Tiền cần phải đủ trăm, đừng hiềm cũ mới. Tiếng khánh dứt rồi, chẳng chấp thuận đổi ư”. Xướng xong, niệm Phật hồi hướng rằng: “Công đức niệm tụng xướng y trên đây, kính v́ tân viên tịch thượng tọa… trang nghiêm báo địa, thập phương tam thế…”

 

16.4.23. Cách thức dựng tháp

 

Sách Thích Thị Yếu Lăm trích dẫn Nam Hải Kư Quy Truyện: “Xếp gạch đá mà làm, phía trên chẳng có luân cái[44], phàm thánh có thứ bậc khác biệt. Sơ Quả một tầng, Nhị Quả hai tầng, Tam Quả ba tầng, Tứ Quả bốn tầng. Bích Chi Phật mười một tầng, Phật mười ba tầng. Phàm phu tỳ-kheo có đức hạnh cũng được lập tháp, nhưng không có cấp bậc” Xem đó th́ biết, tháp không nên cất to lớn, bề thế.

 

16.4.24. Quy ước về thiện hội ở chùa Thượng Phương

 

Hội này cùng nhau đọc tụng kinh giới Đại thừa, kiêm phóng sanh niệm Phật. Đây là các vị thượng thiện nhân tụ hội một chỗ, cho nên đặt tên như vậy.

1) Định kỳ: Tỳ-kheo nửa tháng tụng giới một lần, nay cư sĩ tuy chẳng xuất gia, nhưng kinh Phạm Vơng là giới chung cho vua quan, thứ dân, tăng ni cùng bẩm thọ. Nay nghị định mỗi tháng họp lại một lần, cố định vào ngày trước hôm cuối tháng, nhóm lại Thượng Phương, ai muốn tham gia th́ ghi tên vào sổ.

2) Đọc tụng: Khi mọi người đă tụ tập, liền đối trước Phật tụng một quyển giới kinh, niệm Phật năm trăm câu, hoặc một ngàn câu. Một vị Tăng gơ mơ dẫn chúng.

3) Sắm sửa cúng dường: Tụng kinh xong, dùng ba loại bánh trái làm tiệc trà cúng dường. Niệm Phật xong, dùng ba món chay cúng chay. Mỗi vị tự bỏ ra năm phân bạc giao cho vị tăng giữ viện lo liệu.    

4) Nghị luận: Tụ họp cả ngày mà chẳng bàn tới nghĩa lư, bị Tuyên Thánh (Khổng Tử) quở trách. Nay chúng ta tụ tập, đối với chỗ ngờ vực, vướng mắc trong kinh luận, hoặc chỗ thiết yếu trong tu tŕ, ai nấy đều thành thật bàn bạc trong chốc lát.

5) Phóng sanh: Giới khinh thứ hai mươi trong kinh Phạm Vơng có văn tự dạy phóng sanh. Nay nghị định: Ai nấy tùy tâm bỏ tiền phóng sanh, chẳng câu nệ nhiều hay ít, chẳng câu nệ có hay không, hoặc tự ḿnh mang loài vật đến phóng sanh cũng được!

6) Vị chủ hội: Theo thứ tự chưởng quản sổ sách. Hội đă quy định: Hôm trước ngày cuối tháng chẳng cần phát thiếp mời, tiền bạc cũng chỉ tùy ḷng đại chúng, tối đa là năm phân, chỉ sắm sửa hương, nến, trà nước, ghi sổ, bàn giao, tới trước về sau mà thôi. Chẳng có việc ǵ gây mệt nhọc, tốn kém, ai nấy đều có thể làm chủ, ngơ hầu hội tồn tại lâu dài.

 

16.4.25. Các việc cần lưu tâm tại ao nuôi cá

 

          * [Trong ao] nên thả các loại cá, tôm, trai, hến, cua, rạm v.v…

          * Trong ao chớ nên thả cá lóc, cá trê, cá ngạnh, lươn vàng, ba ba v.v… v́ chúng sẽ làm hại các loài cá lành khác.

          * Trong ao đừng thả ốc v́ cá trắm đen trong ao sẽ ăn ốc.

* Không được đem nước rửa cạo dầu mỡ, cám gạo v.v… đổ xuống ao, cá ăn vào phần nhiều sẽ chết ngửa bụng.

* Chẳng được mua quá nhiều cỏ tươi, hăy nên cho ăn từng chút một.

* Phải ngừa rái cá và các loài chim dữ đến bắt cá.

 

16.4.26. Đề nghị đối với chi phí dựng tháp

 

          Về chuyện phần mộ, tính gộp số tiền do các đạo hữu cúng dường th́ tổng cộng là hơn ba mươi bảy lượng. Nếu tôi tự làm, mười lượng là đủ rồi. Nay đă lăng phí hai mươi chín lượng, chỉ c̣n tám lượng mà chỉ đủ tiền để mua vật liệu bằng đá mà thôi. Về sau, dùng tám lạng ấy để hoàn tất là xong! Ngoài ra, không được nhận thêm một phân, một đồng nào của các đạo hữu tại gia và xuất gia, không được quyên góp hóa duyên một phân, một đồng nào của người quen, kẻ lạ, tiền y bát của tôi cũng không bỏ thêm một phân, một đồng nào nữa. V́ sao? Y bát của tôi nên dùng để làm phước, chẳng nên bắt chước kẻ phú quư trong thế tục trang hoàng phần mộ của chính ḿnh, khiến cho người hiểu biết chê cười, tôi quyết chẳng làm. Xin báo sẵn cho biết.

Sử Ngư chết phơi áo quan ngoài trời[45], từ xưa đến nay gọi là “thi gián” (屍諫, dùng xác chết để khuyên can). Nay tôi trước đă không có ích ǵ cho đại chúng, lư ra nên để quan tài bộc lộ, được chôn cất là đă may lắm rồi, nay lại c̣n chôn cất long trọng ư? Phí thêm tám lạng nữa là số lượng đă cùng, lư đă tột. Ngoài tám lượng ấy ra, chẳng thể tăng thêm một phân, một đồng nào nữa! Dù có muốn mở minh đường[46] có thể chứa được một vạn con ngựa, xây tháp báu bảy tầng, cũng tùy thuộc vào đại chúng; nhưng chi phí tám lượng này dứt khoát đă quyết định, tuyệt đối chẳng thay đổi.

 

16.4.27. Kiến nghị không thâu nạp con cháu họ Trầm xuất gia [tại Vân Thê]

 

          Người khác họ và cùng họ nhưng không phải là thân nhân của tôi th́ tự tuân theo bốn điều quy định đối với người xuất gia, chẳng cần bàn nữa. C̣n như con cháu trong họ của Châu Hoằng, nhất loạt chẳng lưu trụ. Nếu họ có ḷng chân thật học đạo, có thể t́m vị thầy tốt lành khác, gia nhập thiện hội khác. Kẻ nào [thuộc chùa Vân Thê] cố t́nh thu lưu họ, bị phạt mười lạng bạc, trục xuất khỏi viện. Chắc có kẻ cật vấn: “La Vân (La Hầu La) là con đức Phật, A Nan là em họ đức Phật, Nan Đà là em ruột đức Phật. Cố nhiên đức Phật cho họ nhập tăng đoàn, sao thầy cố chấp đối với chuyện này?” Tôi thưa: “Chẳng nghe người đàn ông nước Lỗ từ khước người đàn bà hàng xóm ư? Ông ta nói: - Liễu Hạ Huệ th́ được, chứ tôi th́ chẳng thể được”. Chắc lại có người bắt bẻ rằng: “Ôm phụ nữ ngồi là chuyện hiềm nghi, khước từ rất đúng; c̣n xuất gia là chuyện hết sức tốt đẹp. Từ chối tợ hồ chẳng nên!” Tôi đáp: “Ngồi ôm phụ nữ mà làm loạn, tội chỉ ḿnh người đó. Chứ xuất gia chẳng ra ǵ, họa lây cho đại chúng! Người đó mà được như La Vân, A Nan, Nan Đà th́ cũng được. Nếu chẳng vậy, khước từ là đúng! Cổ nhân có nói: ‘Đổi con cho nhau mà dạy’. Xin mượn câu ấy để làm cách thức vậy!”

 

* Lời căn dặn

 

Châu Hoằng tôi v́ già, bệnh ngày một tăng, trước đây có lập sẵn một tờ di chúc, nhưng đă bị thất lạc. Lời căn dặn trong ấy vẫn chưa nói hết ư, nay chẳng bàn tới nữa, riêng dặn ḍ như sau:

Tôi xuất gia lúc ba mươi hai tuổi, một bát, một y, nhiều năm phong trần. Sau đó, trụ trong núi này, tự nghĩ sẽ cô độc trọn đời, cùng mục nát với cỏ cây. Chẳng ngờ trùng hưng ngôi chùa đă hoang phế, đều do đàn tín, đại hữu góp rường, góp ngói, vá chỗ hư, dựng lại chỗ tàn, nối tiếp từng gian mà thành chốn tùng lâm. Tuy thiếu vẻ tráng lệ, nhưng cũng đủ để nương náu; nhưng bổn ư là chuyên để đại chúng chân thật tấn tu mà thôi. Nay đă già rồi, Tứ Đại c̣m cơi, hai chân tê bại, như bóng chiều tà, nước chảy về đông, thời gian chỉ được thoáng chốc. Phải nên thuận tiện ở yên cho hết tuổi thừa. Tuy kỳ hạn chết chưa định, nơi chết chưa định, tôi chết rồi mọi người sẽ làm theo lời tôi hay không chẳng định được, tùng lâm tồn tại hay hoang phế chẳng định được, nhưng lẽ đương nhiên là nay có nói ra, cố nhiên cũng chẳng hại ǵ!

Cứ nghĩ từ khi xuất gia đến nay, tôi luống tiêu của tín thí, sống đă ôm nhiều nỗi thẹn, há lại để xác thân đă chết này hoang phí hư vọng ư? Khi thân này tạ thế, cho vào khám, trong th́ mặc áo cũ đă giặt sạch, ngoài th́ đắp tấm y bảy điều thường dùng, trên th́ đầu cạo láng, dưới th́ ngồi xếp bằng, đeo xâu chuỗi vào tay, tọa cụ xếp trước mặt. Cho vào khám xong, lập tức dùng tro và sơn gắn chặt, dù thân tộc đến, cũng không được mở ra nữa. Không được bày biện hiếu đường, không được bày biện cúng dường long trọng, không được mặc áo vải sô, đội khăn trắng, không được báo tang bốn phương, không được tụ họp thí chủ, quyến thuộc cử hành nhiều đạo tràng theo thói tục. Chỉ cần theo lệ thường cố xướng (bán đấu giá di vật), theo lệ tụng niệm. Các thứ y bát thảy đều dùng hết làm phước. Giữ khám một thất, hai thất, cho đến bảy thất, nếu không có người thiêu hóa th́ khiêng khám vào tháp. Tháp cao năm thước, không được vượt quá hạn lượng, trái nghịch chế định của đức Phật. Không được xa xỉ tốn tiền mời thợ đá [điêu khắc] và làm những việc vô ích cho đám tang như minh tinh, minh khí, nhà táng, âm nhạc, người dẫn lộ, treo chân dung, đề bài vị (đề chủ) v.v... đều không nên làm; chỉ nương theo quy củ thông thường, chư tăng niệm Phật dẫn đường là được rồi!

Tôi vốn giữ phận ngu, ôm vụng, chưa hề đại triệt đại ngộ, chưa từng làm đại duyên, đại phước, chưa từng có tam minh, lục thông, chỉ biết thật thà niệm Phật, cầu sanh Tịnh Độ. Đại chúng chẳng được bày tṛ hư dối, vẽ vời quái dị, bịa ra những chuyện thần kỳ để lừa dối một thời, dối trá đời sau, tăng nặng thêm cái đức kém cỏi của tôi! Hơn nữa, chùa Vân Thê và chỗ phóng sanh ở Thượng Phương với Trường Thọ trong thành, nhân duyên từ đầu đến cuối đều có bi kư, chẳng cần phải rườm lời nữa. Kế đó, đất đai, pḥng ốc, kinh sách, vật dụng trong núi này, cũng như tất cả mọi thứ trong thất của tôi, dù lớn hay bé, đều từ mười phương tín thí, chúng tăng siêng năng ra sức, thuộc về thường trụ, không có mảy may nào dính líu đến gia đ́nh tôi hay gia đ́nh nào khác. Từ trước tới nay, tôi hoàn toàn chẳng có quần áo, chăn màn bằng tơ lụa đẹp đẽ, cũng chẳng ở trong pḥng xá tinh xảo, cũng chẳng có giường, chơng, bàn, ghế hoa mỹ, cũng không có đồ cổ ngoạn đáng giá, cũng chẳng tích cóp vàng bạc, sản nghiệp, cũng chẳng có ai vay mượn của tôi một xu, một đồng nào, mà tôi cũng chẳng thiếu nợ ai một xu, một đồng nào.

Phàm những vật thuộc về Chiêu-đề, có long thiên soi xét, một tấc đất, một viên đá, một ngọn cỏ, một khúc gỗ, một cây kim, một mảnh giấy, chẳng cho riêng ai, mà cũng chẳng lấy dùng riêng. Người cho và người nhận, tội lỗi ngang nhau, giảm thọ, chuốc họa, chết đọa địa ngục, nhân quả rơ ràng, chớ nên không cẩn thận. Tôi thấy người xuất gia làm tăng ở địa phương này, khi có một vị tăng qua đời th́ thân tộc kéo đến đ̣i hỏi tài sản của người chết, đă quen nếp thành thói. Thậm chí đ̣i chẳng được c̣n kiện cáo. Cũng có vị tăng tự bị ḷng ân ái ràng buộc, thiên vị thân tộc của chính ḿnh, chẳng đoái hoài đồ chúng, tôi hết sức hổ thẹn về điều ấy. Cha ông tôi truyền lại sự liêm khiết, trung tín, chắc là sẽ chẳng có chuyện này, nhưng chuyện đời chẳng thể biết trước được, cho nên không thể nói dự pḥng trước. Lại có những pháp quyến ở bên ngoài, trải nhiều năm chẳng tới bổn sơn, có nhiều sự thể chưa am hiểu, ngày sau bỗng dấy lời dị nghị, đại chúng quyết chớ nên tin theo!

C̣n như người kế tục trụ tŕ viện này, ắt phải suy cử người hạnh lẫn giải đều đáng trọng. Nếu chẳng có người như thế, chọn người theo thứ tự giới lạp để tạm giữ ḥng đợi bậc hậu hiền. Nếu người sức yếu th́ hai người cùng lănh. Người vốn có tỳ vết th́ loại ra, người đă từng đảm nhiệm mà xử sự phạm nhiều lỗi th́ họp đại chúng bàn bạc công khai để thay thế. Mười loại tăng ước từ đầu đến cuối phải xác quyết tuân thủ, thánh huấn Lục Ḥa phải cùng nhau tu tập. Chúng thường trụ nên ít, chớ nên nhiều, làm việc nên nhỏ, đừng nên lớn. Cam chịu nghèo khó, vui với đạm bạc, chớ phóng túng tham cầu; nhẫn nhục hành từ, chớ ham tranh chấp, kiện tụng. Hăy đau đáu nghĩ tới sanh tử, quyết chí văng sanh, ra sức tham cứu điều chính ḿnh đang tham cứu, mong đạt diệu ngộ. Ai không nghe lời tôi, chẳng phải là học tṛ của tôi vậy.

 Ngày Trùng Cửu năm Vạn Lịch 36 (1608), lăo tăng Châu Hoằng cố gượng bệnh ghi lại vào lúc bảy mươi bốn tuổi.

 

* Dặn ḍ thêm

 

Hết thảy các sự thể tại bổn sơn, và các am Thượng Phương, Trường Thọ, Hiếu Nghĩa trong thành đều đă chép tường tận trong tờ di chúc trước. Nay vào năm Ất Măo (1615), ngày mùng Ba tháng Bảy, Châu Hoằng tôi già bệnh nguy kịch, nay lại dặn ḍ trực tiếp trước mặt mười hai vị cư sĩ tể quan như Từ Dũ Hồ v.v… Ngày sau nếu có quyến thuộc ma vương trong ngoài gây rối tăng ước, xâm tổn thường trụ, chỉ mong chư vị hộ pháp măi măi nghĩ nhớ Tam Bảo, chung sức hộ tŕ. C̣n trong đại chúng chỉ nên an phận, giữ đúng bổn phận, thật thà niệm Phật, đừng tự hoen ố Thanh Quy. Ân cần dặn ḍ lần nữa. Châu Hoằng phủ phục trên gối, gượng bệnh ḥa-nam.

Đệ tử thọ Bồ Tát Giới là Lưu Huệ Văn suất lănh con trai là Tánh Trạch thí tiền kính cẩn khắc in.

Tháng Năm, mùa Hạ năm Quang Tự 25 (1899), viết tại Kim Lăng Khắc Kinh Xứ.

 

Vân Thê Pháp Vựng

Phần 9 hết Vân Thê Pháp Vựng

雲棲法彙

Phần 9

 

 

 



[1] Tức là bài Từ Vân Sám Chủ Tịnh Độ Văn do ngài Từ Vân Tuân Thức soạn vào đời Tống. Bài này cũng được sử dụng trong thời thứ ba của Trung Phong Tam Thời Hệ Niệm: “Nhất tâm quy mạng, Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, nguyện dĩ tịnh quang chiếu ngă, từ thệ nhiếp ngă. Ngă kim chánh niệm, xưng Như Lai danh…”

[2] Xuất sanh (xuất thực): Trích một phần từ cơm cúng Phật, thí cho Đại Bằng Kim Xí Điểu, quỷ Khoáng Dă v.v…

[3] Tức bài Tân Định Tây Phương Nguyện Văn do tổ Liên Tŕ soạn. Xin xem trong phần Chư Kinh Nhật Tụng Tập Yếu của bộ Vân Thê Pháp Vựng này. Bài này thường được gọi là Sám Khể Thủ trong các nghi thức nhật tụng thông dụng tại Việt Nam.

[4] Tuần hương (c̣n gọi là giám hương) là vị Tăng có trách nhiệm đi quanh trong Thiền đường, hoặc Niệm Phật đường trong suốt thời khóa tĩnh tọa hay niệm tụng để xét thấy ai hôn trầm hay trạo cử, vị ấy sẽ dùng hương bản (thanh gỗ dẹp dài, có h́nh như lưỡi kiếm to bản) để đập nhẹ vào vai người ấy nhằm đánh thức hay cảnh tỉnh. Ở đây, tại Vân Thê, đổi hương bản thành một lá phan nhỏ có cán.

[5] Tám tiết khí là tám thứ tiết khí chủ yếu trong hai mươi bốn tiết khí của một năm. Tiết khí tức là cách phân định thời gian dựa theo sự chuyển động của mặt trời trên đường hoàng đạo, chia quỹ đạo ấy thành hai mươi bốn cung, với mục đích chia một năm thành hai mươi bốn giai đoạn để giúp cho nông dân nhận biết bốn mùa mà canh tác cho thích hợp. Mỗi tiết khí kéo dài từ mười bốn tới mười sáu ngày. Tám tiết khí chủ yếu bao gồm tứ lập (Lập Xuân, Lập Hạ, Lập Thu, Lập Đông), hai chí (Đông Chí và Hạ Chí), và hai phân (Xuân Phân và Thu Phân).

[6] Đơn là tấm ván dùng làm giường ngủ trong điện đường. Do ván hẹp chỉ nằm vừa đúng một người nên gọi là Đơn.

[7] Bang (梆) là một dụng cụ để gơ ra tiếng bằng gỗ. Trong tự viện, bang thường khắc thành h́nh con cá to treo lên, khoét rỗng, dùng dùi để gơ báo hiệu. Thời cổ, người tuần đêm dùng một khúc gỗ có h́nh hộp khoét rỗng để gơ ra tiếng vang nhằm báo hiệu canh giờ. Vật đó cũng gọi là bang (bang tử).

[8] Giới Sớ Phát Ẩn là tên gọi tắt của bộ Phạm Vơng Kinh Tâm Địa Phẩm Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ Phát Ẩn do Liên Tŕ đại sư soạn nhằm chú thích bộ Bồ Tát Giới Nghĩa Sớ của Trí Giả đại sư.

[9] Trong ngày tụng giới, nếu v́ bận việc, bệnh tật, hay có chuyện bất ngờ không đến tham dự được, phải nhờ người thưa lại với người chủ tŕ việc tụng giới rằng: “Tỳ-kheo X… v́ duyên sự chi đó không thể đến tụng giới, nhưng rất muốn được nghe tụng giới pháp v.v…” Đó gọi là “thuyết dục”. Nói với người khác, nhờ người đó thuyết dục th́ gọi là “gởi dục”.

[10] Khố Đầu là người quản trị nhà kho, Phạn Đầu là trưởng ban của những người chuyên môn nấu cơm. Điển Tọa là người coi sóc việc ăn uống của đại chúng trong cả chùa. Điển Tọa quản lư các vật liệu nấu ăn cho đại chúng, bảo đảm không hoang phí, không thiếu hụt, bữa ăn vừa miệng. Đồng thời, Điển Tọa là cấp trên của các Phạn Đầu, Thái Đầu (hái rau, chuẩn bị rau cho trù pḥng nấu ăn), Thủy Đầu (người coi sóc nước sử dụng cho đại chúng, chuyển vận nước từ giếng hoặc suối đến các nơi cần thiết), Oản Đầu (người quản lư bát đũa trong Trai Đường)…

[11] Theo quy chế cổ, một lạng (lượng) là mười tiền. Mỗi tiền là 3,75 gr. Lạng và Tiền vốn là đơn vị để đo trọng lượng, về sau cũng dùng để ước định giá trị tiền bạc. Một cân là mười lượng. Hiện thời, tại Trung Hoa Đại Lục, một lạng được quy định là 50 gr, tại Hương Cảng và Áo Môn là 37,799 gr (nhưng vàng hoặc bạc th́ một lạng chỉ là 37,429 gr), tại Đài Loan một lạng chỉ có 37.5 gr và quy định mười sáu lượng mới là một cân. Trong khi đó, tại Việt Nam, ngoại trừ vàng, bạc vẫn tính một lượng là 37,5 gr, một lượng thông thường trong hàng hóa sẽ được hiểu là 100 gr.

[12] Tri Khách: người có trách nhiệm tiếp đăi khách viếng thăm chùa, hoặc tiếp đăi, sắp xếp chỗ ăn ở cho vân thủy tăng (du tăng).

[13] Trà Đầu: Người chuyên trông coi việc trà nước trong tùng lâm.

[14] Oản Đầu: Người trông coi, thu dọn, rửa ráy bát đũa.

[15] Ma Đầu: Người trông coi việc xay giă thóc gạo, ép dầu v.v…

[16] Hỏa Đầu: Người trông coi việc nhóm lửa trong bếp.

[17] Tịnh Đầu: Người trông coi việc dọn dẹp, giữ sạch nhà vệ sinh, nhà tắm.

[18] Sài Đầu: Người trông coi việc chặt củi, chuyển vận củi.

[19] Viên Đầu: Người trông coi, chăm sóc vườn rau, cũng như các vườn cây ăn trái.

[20] Đảm Lực: Người gồng gánh, khiêng vác.

[21] Hóa Phạn: Người đi ra ngoài hóa duyên, quyên mộ khi lương thực thiếu thốn.

[22] Phô Đường: Người xếp dọn thức ăn, phân phối thức ăn cho đại chúng cũng như dọn dẹp trai đường sau khi đại chúng dùng bữa xong.

[23] Tư Sơn: Trông coi cây cối, tuần hành núi rừng để đảm bảo không có ngoại nhân xâm phạm, chiếm đoạt hoa lợi của cây cối trong núi, cũng như ngăn ngừa kẻ lén vào núi săn bắn động vật.

[24] Tư Ốc: Người trông nom pḥng ốc trong chùa, bảo đảm ngăn nắp, kịp thời phát hiện pḥng ốc hư hoại để xin sửa chữa, hoặc dựng mới.

[25] Ấn Pḥng: Người trông coi xưởng in trong chùa.

[26] Sơn Môn: Người canh giữ cửa tam quan của tùng lâm.

[27] Sanh Sở: Nhân viên trông coi vườn phóng sanh.

[28] Trọng Dụng: Người làm việc nặng trong chùa.

[29] Khinh Dụng: Những người làm việc nhẹ hơn.

[30] Khán Lăo: Chịu trách nhiệm quản lư những người theo luân phiên đến chăm sóc người già.

[31] Tạp Thâu: Trông coi những việc thu chi lặt vặt, là phụ tá của Khố Đầu.

[32] Đao đậu (sword bean, scimitar bean), là một loại đậu c̣n được gọi là hồng phượng đậu, hồng đao đậu, hải đao đậu, ba tây đậu, hoặc đao bản đậu, thuộc loại dây leo, có thể mọc dài đến năm mét, phải làm giàn để đậu trổ quả. Trái đậu màu xanh nhạt, dài to bản, dẹp, mỗi trái có từ bốn đến bảy hạt màu đỏ. Trái c̣n non có thể xào ăn giống các loại đậu ván, đậu đũa v.v… Hạt đậu có thể ăn. Khi hạt đậu phơi khô sẽ rất cứng, người ta hay khắc chữ, xỏ thành ṿng, gọi là “ṿng hồng đậu” để các cặp t́nh nhân trao tặng cho nhau.

[33] Xác đậu (hủ tra, 腐渣) c̣n gọi là bă đậu, tức đậu nành (đậu tương) ủ mềm, lọc ép lấy tinh chất (như trong trường hợp lọc thành sữa đậu nành để uống, hoặc chế thành đậu phụ, đậu hủ ky v.v…), hoặc phần c̣n lại sau khi lọc lấy phần nước tương trong trường hợp ủ đậu làm tương. Phần bă c̣n lại ấy thường dùng để nuôi súc vật hay chế biến thành món ăn, hoặc dùng như gia vị, hoặc dùng để bón cây.

[34] Đây là một công án nổi tiếng trích từ sách Ngũ Đăng Hội Nguyên: Khi chùa Động Sơn thiếu người đảm đương chức vị Trụ Tŕ, quận thủ (người đứng đầu một quận) thỉnh thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn chọn giúp người. Thiền sư Pháp Diễn đề cử thiền sư Bảo Thọ Thủ Sơ với câu nói: “Anh chàng mua gừng tươi được đấy!” Đó là v́ trước kia thiền sư Bảo Thọ Thủ Sơ làm Khố Đầu tại một chùa nọ, đi mua gừng cho chùa, người bán tính giá rẻ hơn, sư Bảo Thọ kiên quyết trả đúng giá, quyết không chiếm tiện nghi cho nhà chùa. Do vậy, ngài Pháp Diễn ca ngợi Bảo Thọ có tinh thần chánh trực, công bằng, giữ vẹn Thanh Quy.

[35] Tổ Liên Tŕ theo pháp hệ Hoa Nghiêm Tông, cho nên các đệ tử tại Vân Thê khi nhận pháp danh cũng tuân theo bài kệ truyền pháp danh do ngài Khuê Phong Tông Mật đặt ra: “Tông phước pháp đức nghĩa, Phổ Hiền hạnh nguyện thâm, Văn Thù quảng đại trí, thành đẳng chánh giác quả”. Pháp danh của tổ Liên Tŕ vốn là Thù Hoằng (tức chữ thứ mười bốn trong bài kệ trên), nhưng trước đó, Châu Nguyên Chương (Minh Thái Tổ) không ưa chữ Thù (殊) v́ chữ này do chữ Ngạt (歹 nghĩa là xấu xa) và Châu (朱) ghép lại, nên bắt đổi chữ Thù thành Châu (袾). Do đó đệ tử của tổ Liên Tŕ có pháp danh là chữ Quảng, đồ tôn theo thế hệ truyền thừa lần lượt có pháp danh là Đại, Trí, Thành. Liên Tŕ đại sư lại nối tiếp bài kệ trên thành hai mươi chữ nữa: “Quả dữ nhân giao triệt, tâm tùy cảnh khuếch thông. Huyền vi cơ tất phẫu, lư tánh diệu hàm cùng”.  

[36] Hương hoạn (鄉宦): Quan viên đă từ chức hoặc xin nghỉ hưu về sống trong làng.

[37] Ngũ Quả Thang là một thứ nước uống có vị ngọt do hầm năm loại thảo mộc, bao gồm quế viên (long nhăn), bạch quả (ngân hạnh), hạt sen, ư dĩ, và hoa bách hợp, có thể thêm đường. Loại nước uống này được tin là có tác dụng cường kiện tỳ vị, thanh nhuận và bồi bổ cơ thể. Đôi khi, ngũ quả thang c̣n được thêm ngân nhĩ (nấm tuyết).

[38] Thần khúc (神麴) là một vị thuốc trong Đông Y. Cách chế biến thông thường là trộn kỹ bột ḿ hoặc cám lúa ḿ với bột hạnh nhân nhăo, bột đậu đỏ, và nước cốt của các loại rau tươi như thanh hao hoa vàng (Artemisia annua, ngải ngọt), ké đầu ngựa (Xanthium sibiricum, rough cocklebur), rau răm nước (Persicaria hydropiper, water pepper) cho đến khi đạt độ đặc thích hợp. Hỗn hợp này được vắt thành các khối nhỏ, xếp vào giỏ, phủ kín bằng lá gai hoặc lá dó, để ủ lên men trong nhiệt độ ấm suốt một tuần. Khi các sợi nấm màu vàng đă phát triển trên mặt các khối ấy, chúng  được lấy ra, cắt thành miếng nhỏ hơn và phơi khô dưới ánh nắng mặt trời. Theo Đông Y, thần khúc có vị ngọt, cay, ấm, đi vào hai kinh tỳ và vị, có tác dụng giúp tiêu hóa, trừ trướng bụng, khó tiêu, điều ḥa tác dụng tiêu hóa, trị chứng thổ tả.

[39] Mười tám vị thần Già Lam: Theo kinh Thất Phật Bát Bồ Tát Sở Thuyết Đại Đà La Ni Thần Chú, có mười tám vị thần vương chuyên thủ hộ già lam, bảo vệ tăng chúng thanh tu, có danh hiệu như sau: Mỹ Âm, Phạm Âm, Thiên Cổ, Xảo Diệu, Thán Mỹ, Quảng Diệu, Lôi Âm, Sư Tử, Diệu Mỹ, Phạm Hưởng, Nhân Âm, Phật Nô, Thán Đức, Quảng Mục, Diệu Nhăn, Triệt Thính, Triệt Thị, và Biến Quán (c̣n gọi là Biến Thị). Tại Ấn Độ, ngoài mười tám vị kể trên, các tự viện c̣n thờ vua Ba Tư Nặc, thái tử Kỳ Đà và trưởng giả Cấp Cô Độc làm thần già lam. Tại Trung Hoa, thờ Quan Thánh (Quan Công) đại diện cho các vị thần già lam.

[40] Hoa Quang tức là Hoa Quang Đại Đế (một vị thần hộ pháp của Đạo Giáo, được Phật môn Trung Hoa coi là thần hộ pháp). Vị này c̣n được gọi là Hoa Quang Tiên Sư, Mă Thiên Quân v.v…

[41] Châu Tuyên Linh Vương chính là Châu Hùng, sống vào đời Nam Tống, nổi tiếng có hiếu, từng vào mùa Đông cởi trần, phá băng, lặn hụp dưới nước để bắt cá nấu cháo cho mẹ đang bị bệnh ăn. Khi ông mất, được dân chúng lập miếu thờ, được các đời vua đều sắc phong, một trong những tước hiệu sắc phong là Tuyên Linh Vương. Ông được coi như là phước thần thủ hộ một vùng Nam Trung Hoa. Miếu thờ nổi tiếng nhất của ông được dựng tại thành phố Cù Châu, tỉnh Chiết Giang.

[42] Nhật Du, Dạ Du và Lược Thặng Sứ là ba chức quan của âm tào có trách nhiệm tuần du nhân gian, chưởng thiện, phạt ác theo Đạo Giáo. Nhật Du Thần tuần tra vào ban ngày, Dạ Du Thần tuần tra vào ban đêm. Lược Thặng Sứ chủ quản tài lộc, có trách nhiệm tước đoạt tài lộc nếu một người do nguyên nhân nào đó mà tài lộc vượt quá số phần được hưởng trong vận mạng, như khiến cho kẻ đó bị bệnh nặng hoặc gặp tai ương phải tiêu hết số tiền của vượt ngoài phần định sẵn trong mạng. Tốc Báo Tư là các quan lại trực thuộc Thành Hoàng hoặc Đông Nhạc Đại Đế có trách nhiệm xem xét, tấu tŕnh thiện ác của mỗi người lên Âm Tào.

[43] Ḥm là dịch từ chữ Hàm (函), có nghĩa gốc là cái hộp nhỏ. Do kinh có số lượng nhiều, số quyển thuộc mỗi bộ kinh lớn cũng nhiều, lại c̣n do thời cổ kinh in trên những mảnh giấy dài, cuộn lại thành trục (do vậy, gọi là Quyển), nếu không cẩn thận dễ bị thất lạc, rách nát. V́ thế, cổ nhân chế ra những cái hộp đựng kinh để xếp những quyển kinh vào đó, cho dễ t́m. Mỗi hộp như vậy thường gọi là Hàm. Sau này, khi in kinh theo lối phương sách, vẫn sử dụng Hàm để giữ kinh vừa để khỏi thất lạc, vừa dễ t́m khi cần tra cứu. Mỗi hàm thường dùng một chữ trong bài Thiên Tự Văn để đánh dấu thứ tự (thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang, nhật nguyệt doanh trắc, thần tú liệt trương….). Tùy theo các kinh được công nhận, đưa vào Đại Tạng mà mỗi loại đại tạng có số quyển và ḥm khác nhau. Chẳng hạn Phổ Ninh Tạng (đời Nguyên) gồm 1.430 bộ kinh, chia thành 6.010 quyển, không rơ số ḥm, c̣n Hồng Vũ Nam Tạng gồm 1.600 bộ kinh, chia thành 7.000 quyển, 678 ḥm.

[44] Các ṿng tṛn xếp chồng lên nhau, biểu thị lọng che trên tháp.

[45] Thời Xuân Thu, trong triều vua Vệ Linh Công, có một vị hiền nhân là Cừ Bá Ngọc được Khổng Tử tột bậc ca ngợi. Quan đại phu Sử Ngư nhiều lần khuyên vua Vệ trọng dụng Cừ Bá Ngọc, nhưng Vệ Linh Công u mê, không dùng, lại trọng Di Tử Hà là một gă “tốt mă giẻ cùi” vô tài, vô đức nắm giữ đại quyền. Sử Ngư bệnh chết, trước khi mất, căn dặn con: “Ta lúc sống chẳng cách nào khiến cho vua trọng dụng Cừ Bá Ngọc, xa ĺa Di Tử Hà. Sống đă không giúp vua thấy được nẻo chánh, chết cũng không thành lễ. Ta chết rồi, hăy đem thi thể bỏ tại bắc đường (chỗ phụ nữ trong nhà giặt giũ)”. Con ông vâng theo di chiếu, đưa quan tài không đậy nắp đặt tại bắc đường. Vệ Linh Công viếng tang, hỏi duyên cớ, hối hận, trọng dụng Cừ Bá Ngọc, đuổi Di Tử Hà.

[46] Theo cổ lễ, trước phần mộ, dựng một ṭa nhà để tiện cúng tế, gọi là minh đường (明堂). Nếu là người quyền quư, minh đường có ba gian: Tiểu minh đường (ở sát ngay mộ), trung minh đường (đ́nh viện ở khoảng đất trống kế đó), đại minh đường (cất ở chỗ xa mộ nhất nhưng vẫn thuộc vùng mộ).