Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luân Quán Hội Nghĩa

phần 1

Đất Cổ Ngô, Ngẫu Ích Trí Húc trước thuật

妙法蓮華經綸貫會義

古吳後學蕅益智旭述

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa

Giảo duyệt: Đức Phong và Huệ Trang

 

Đôi lời giăi bày

 

          Có lẽ trong hàng Phật tử chúng ta, đối với các bộ kinh lớn, rất nhiều người chưa hề có dịp đọc hoặc nghe nói tới các kinh Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm, Đại Bát Niết Bàn, Đại Bát Nhă, Lăng Già, Đại Thừa Mật Nghiêm, Giải Thâm Mật, Duy Ma Cật, Thắng Man, Đại Bảo Tích v.v…, nhưng hễ là Phật tử theo truyền thống Bắc Tông, ắt hẳn không ai đă từng đọc tụng kinh Pháp Hoa, tối thiểu là tụng phẩm Phổ Môn. Có vị c̣n dùng phẩm Phổ Môn làm công khóa hằng ngày, hoặc có vị chuyên tụng Pháp Hoa. Có thể nói là “nhà nhà tụng Pháp Hoa, chùa chùa tụng Pháp Hoa”. Thậm chí có vị c̣n chuyên cần lễ bái từng chữ trong kinh Pháp Hoa. Trong đạo tràng Pháp Hoa, có vị c̣n thuộc nằm ḷng mấy phẩm. Có các liên hữu c̣n dùng việc tụng tŕ kinh Pháp Hoa làm trợ hạnh để cầu sanh Tịnh Độ. Có thể nói là kinh Pháp Hoa được giảng giải rất rộng răi, hầu như vị giảng sư nào cũng đă từng giảng kinh Pháp Hoa, hay một vài phẩm Pháp Hoa. Tuy vậy, có một điều rất lạ là các bản chú giải về kinh Pháp Hoa được phiên dịch sang Việt ngữ khá ít. V́ thế, khi vị đạo huynh anh cả của chúng tôi có hứng thú t́m hiểu kinh Pháp Hoa, chúng tôi đă t́m kiếm rất nhiều trên các trang mạng, nhưng không t́m được một bản chú giải kinh văn Pháp Hoa chi tiết, tường tận. Điểm qua các bài giảng, có lẽ v́ thời gian hạn chế, hay v́ căn cơ của đại chúng, có rất nhiều chi tiết trong kinh bị các vị giảng sư lướt qua không giảng, khiến cho chúng tôi ôm nghi vấn đă lâu, nhưng chưa t́m được lời giải đáp. Mang tâm tư t́m kiếm một bản chú giải gần gũi, dễ hiểu, chúng tôi đă đọc thử bản chú giải của Thái Hư đại sư th́ thấy Ngài chỉ giảng đại lược những nét chánh yếu, rất nhiều chi tiết lược đi. Một số bản chú giải cận đại như Pháp Hoa Kinh Dị Giải của pháp sư Phổ Hành th́ lại chuyên giảng từ ngữ và gần như là bản Bạch Thoại của chánh kinh, chứ không hoàn toàn chú trọng nghĩa lư thẳm sâu trong kinh văn. Bản dịch của Pháp Hoa Văn Cú th́ dịch quá sát từng chữ, nên rất khó đọc, khó lănh hội mật nghĩa, và khó gợi lên hứng thú cho độc giả.

          Sực nhớ vào năm 2000, khi đến Tịnh Tông Học Hội Dallas, mạt nhân đă thấy bộ Pháp Hoa Luân Quán Hội Nghĩa của tổ Ngẫu Ích (gồm 1.761 trang do Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội ấn tống, gồm hai phần là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luân Quán và Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thai Tông Hội Nghĩa), dày cộp như một quyển tự điển Anh Việt cỡ lớn. Do ḷng tham pháp, chúng tôi đă thỉnh về, lâu lâu lật xem vài trang mỗi khi rảnh rỗi, chứ không dám mong ước chuyển ngữ v́ tác phẩm này quá dài, quá khó. Trộm nghĩ Ngẫu Ích đại sư là tổ trung hưng của tông Thiên Thai, thâm nhập tột bậc giáo nghĩa Thiên Thai. Ngài lại được suy tôn là tổ Tịnh Độ, chắc chắn những lời chú giải của Ngài sẽ càng củng cố niềm tin Tịnh Độ cho các học nhân Tịnh Độ. Tiếc rằng văn phong của Tổ uyên áo, súc tích, sâu thẳm, giáo nghĩa Thiên Thai quá phức tạp, rất khó chuyển ngữ găy gọn được. Khổ nỗi kiến thức của mạt nhân chắp vá, thế học lẫn Phật học đều lem nhem, chẳng có khả năng viết lách cho nên hồn, chẳng biết cứ liều lĩnh chuyển ngữ lời dạy của Tổ th́ sẽ gieo thiện duyên hay tạo thêm tội nghiệp khiến cho người khác lầm lạc. Sư huynh Đức Phong vẫn rộng dung, luôn khuyến khích mạt nhân hăy gắng chuyển ngữ. Phần v́ muốn báo đáp thâm t́nh sách tấn, đảm đương việc ấn tống bao năm qua của anh, phần th́ mong chính ḿnh do dịp này mà có thiện duyên hiểu sâu hơn kinh Pháp Hoa, phần v́ tiếc nuối một tác phẩm trân quư cho đến nay vẫn chưa có ai dịch, cho nên đành bịt tai trộm chuông làm càn. Trong bản chuyển ngữ này, nếu lời giảng của pháp sư Phổ Hành đối với các từ ngữ trong chánh kinh chứa đựng những kiến thức hữu ích, chúng tôi sẽ ghi thêm thành lời chú thích và ghi rơ “pháp sư Phổ Hành chú thích”.

          Do tŕnh độ quá hạn chế, thấp kém, bản thân mạt nhân lại hoàn toàn chẳng có sự tu dưỡng và thâm nhập nào, chỉ hiểu theo nghĩa văn tự (mà cũng chẳng dám tin tưởng là chính ḿnh hiểu chánh xác), chắc chắn bản chuyển ngữ này chẳng tránh khỏi những sai sót không thể nào chấp nhận được, lời văn sẽ lôi thôi, rườm rà, gai mắt người đọc. Ngưỡng mong các vị thiện tri thức từ bi phủ chánh, hoặc dịch lại để một phen từ bi giảng giải của Tổ không bị mai một trong ḍng thời gian vô t́nh.

          Bửu Quang Tự đệ tử Như Ḥa khấu đầu kính bạch.

 

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luân Quán

Đất Cổ Ngô, hậu học Ngẫu Ích Trí Húc soạn      

妙法蓮華經綸

古吳後學蕅益智旭述

 

          Kinh Diệu Pháp Liên Hoa là lời đàm luận rốt ráo cùng tột của chư Phật. Vốn do Thích Ca Mâu Ni Như Lai kể từ khi thật sự thành Phật đến nay, đă trải qua chẳng thể nghĩ bàn A-tăng-kỳ kiếp, v́ độ chúng sanh, chẳng hề ngơi nghỉ, nhiều lượt thị hiện giáng sanh, nhiều lượt thị hiện nhập diệt, khiến cho kẻ chưa gieo thiện căn bèn gieo thiện căn, kẻ đă gieo thiện căn sẽ được thành thục, khiến cho kẻ đă thành thục được giải thoát. Tất cả các pháp vị chẳng ngoài bốn loại Tạng, Thông, Biệt, Viên. Tất cả các hóa nghi[1] chẳng ngoài bốn loại Đốn, Tiệm, Bí Mật, Bất Định. Lại c̣n dựa vào tám tướng thành đạo lần này để thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, đại lược gồm năm thời:

          1) Đầu tiên, [đức Phật] ngồi nơi Bồ Đề đạo tràng, v́ chúng sanh đại căn mà nói pháp Đại Thừa, được gọi là thời thứ nhất, tức thời Hoa Nghiêm. Xét theo hóa nghi th́ là Đốn. Ví như mặt trời mọc, chiếu vào núi cao trước. Lại như từ ḅ mà sanh ra sữa. Xét theo hóa pháp th́ kiêm cả Biệt và Viên. Viên nhằm thích hợp hàng lợi căn thuộc giới ngoại[2]; Biệt nhằm thích hợp hàng độn căn thuộc giới ngoại. Kẻ căn cơ nhỏ trọn chẳng có phần nơi pháp này, chẳng thấy, chẳng nghe.

          2) Do vậy, [đức Phật] chẳng ĺa đạo tràng Tịch Diệt[3], mà đến Lộc Uyển, v́ năm vị tỳ-kheo thuyết pháp Tứ Đế, diễn nói lư sanh diệt, và nói mười hai nhân duyên, chú trọng Lục Độ v.v… Thời này được là thời thứ hai, tức thời A Hàm. Xét theo hóa nghi th́ là khởi đầu của Tiệm Giáo. Ví như mặt trời chiếu xuống hang sâu, lại như từ sữa sanh ra lạc. Xét theo hóa pháp th́ là Tạng, chỉ phù hợp hàng độn căn thuộc giới nội (trong tam giới), khiến cho họ chuyển phàm thành thánh.

          3) Kế đó, nhờ vào các vị Đại Sĩ như Duy Ma v.v… xướng họa lẫn nhau, chê trách [các giáo nghĩa] thiên, tiểu, ca ngợi [các giáo nghĩa] đại và viên. Đó gọi là thời thứ ba, tức thời Phương Đẳng. Xét theo hóa nghi th́ thuộc về chặng giữa của Tiệm, ví như đến giờ thọ thực. Lại như từ lạc trở thành sanh tô. Xét theo hóa pháp th́ bàn trọn cả bốn giáo (Tạng, Thông, Biệt, Viên). Đối ứng với Bán Giáo mà nêu rơ Măn Giáo. Tạng là Bán Tự Giáo; Thông, Biệt, Viên là Măn Tự Giáo[4], khiến cho hàng lợi căn đạt được lợi ích viên măn, c̣n độn căn th́ đạt được lợi ích nửa phần. Trước hết [là khiến cho người được giáo hóa] trở thành bậc thánh, ngầm đạt được lợi ích chung.

          4) Kế đó, cùng với bốn vị đại đệ tử đồng chuyển pháp luân, dung hội hết thảy các pháp đều là Ma Ha Diễn (Mahāyāna, Đại Thừa), được gọi là thời thứ tư, tức thời Bát Nhă. Xét theo hóa nghi th́ là kết cục của Tiệm. Ví như gần chánh ngọ. Lại như từ trong sanh tô mà sanh ra thục tô. Xét theo hóa pháp th́ kèm theo Thông và Biệt; hoàn toàn giảng về Viên Giáo, khiến cho các căn cơ thuộc giới nội đều đạt được lợi ích “cộng Bát Nhă” của tam thừa trong Thông Giáo, c̣n các căn cơ thuộc giới ngoại sẽ đạt được lợi ích bất cộng Bát Nhă thuộc Biệt Giáo và Viên Giáo, trước hết là trở thành bậc thánh, ngầm đạt được lợi ích riêng biệt.

          5) Kế đó, trong hội Linh Sơn bèn khai Quyền, hiển Thật, khai cận, hiển viễn[5], được gọi là thời thứ năm, tức thời Pháp Hoa. Xét theo hóa nghi th́ là dung hội Tiệm để quy vào Đốn, mà cũng có thể nói là “chẳng phải Đốn, chẳng phải Tiệm”. Ví như mặt trời lúc chánh Ngọ, chiếu trọn khắp đại địa, [vạn vật] trọn chẳng có bóng nghiêng. Lại như từ thục tô sanh ra đề hồ. Xét theo hóa pháp th́ là thuần Viên, không một ai chẳng được làm Phật. Bổn hoài xuất thế do vậy mới được thỏa thích. Toàn thể phương tiện hóa độ chúng sanh của Như Lai, giềng mối rộng lớn lập bày giáo pháp đều được mở toang, nêu rơ trong kinh này. V́ thế, [kinh này] riêng được gọi là Diệu. C̣n như kinh Niết Bàn phù luật đàm thường[6] bất quá là uyển chuyển nhằm thích hợp kẻ độn căn trong thời Mạt, thực thi phương tiện lần nữa khiến cho họ cùng trở về chân thật.

          Hai loại hóa nghi Bí Mật và Bất Định hiện diện trọn khắp trong bốn thời trước, chỉ có thời Pháp Hoa là hiển lộ, chẳng phải là bí mật, là quyết định, chẳng phải là bất định.

          Kinh này được diễn thuyết tại Linh Sơn suốt tám năm, lá bối [chép kinh] được lưu truyền, ǵn giữ, chất đến tám dặm. Kinh được truyền vào Chấn Đán (Trung Hoa), gồm ba bản dịch[7]. Nay [bản kinh đang được đàm luận ở đây] chính là bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập, gồm bảy quyển, hai mươi tám phẩm. Từ xưa, các vị chú giải [kinh này] gồm nhiều loại khác nhau[8], hoặc đơn giản, hoặc rườm rà, nhưng chẳng đạt được lẽ chân thật, trọng yếu. Chỉ có Thiên Thai Trí Giả đại sư, thoạt đầu gặp Nam Nhạc Huệ Tư đại sư tại núi Đại Tô ở Quang Châu[9], ngài Huệ Tư truyền trao đạo tràng Phổ Hiền, dạy [ngài Trí Giả] tu Pháp Hoa tam-muội. Tụng kinh tới đoạn “thị chân tinh tấn, thị danh chân pháp cúng dường Như Lai” (đó là tinh tấn thật sự, được gọi là pháp cúng dường Như Lai thật sự) trong phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự, Ngài (Trí Giả đại sư) hoát nhiên đại ngộ, lặng lẽ nhập định, đích thân trông thấy một hội Linh Sơn nghiễm nhiên chưa tan, đạt được Nhất Toàn đà-la-ni. Từ đấy trở đi, hiểu thấu suốt kinh Pháp Hoa như Hy Ḥa[10] đối trước muôn h́nh tượng [trong thế gian], thấu đạt tướng của các pháp, dường gió mát lùa qua thái hư. Ngài bèn dùng năm tầng huyền nghĩa để giải thích Tổng Đề (đề mục chung, tức tên kinh Pháp Hoa). Tôn giả Chương An ghi thành bộ [Pháp Hoa] Huyền Nghĩa gồm mười quyển. [Trí Giả đại sư] lại dùng bốn ư để giải thích, quy kết ư nghĩa kinh văn. Tôn giả Chương An chép thành bộ [Pháp Hoa] Văn Cú gồm mười quyển.

 

I. Ngũ trùng huyền nghĩa

 

          Nói “năm tầng huyền nghĩa” th́:

          1) Một là dùng pháp và dụ (thí dụ) để đặt tên.

          2) Hai là kinh dùng Thật Tướng làm Thể.

          3) Ba là dùng nhân quả Nhất Thừa làm Tông.

          4) Bốn là lấy đoạn nghi, sanh tín làm Dụng.

          5) Năm là dùng vô thượng đề hồ làm giáo tướng.

          Nói “dùng bốn ư để giải thích kinh văn” th́:

          - Một là nhân duyên.

          - Hai là xét theo giáo [tức là dùng tứ giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên để luận định].

          - Ba là Bổn, Tích.

          - Bốn là quán tâm.

          Phần giải thích kinh văn rộng lớn, chưa thể nói cặn kẽ được. Nay nêu đại lược năm tầng huyền nghĩa:

         

1. [Tầng huyền nghĩa thứ nhất]: Dùng pháp và dụ để đặt tên kinh

 

          Hai chữ Diệu Pháp nói đến pháp. Hai chữ Liên Hoa là Dụ (thí dụ).     

          Nói đại lược, Pháp là chúng sanh pháp, Phật pháp, tâm pháp.

 

1.1. Diệu:

         

          Diệu, nói đại lược th́ gồm tương đăi diệu (相待妙, diệu do có sự đối đăi, so sánh) và tuyệt đăi diệu (絕待妙, diệu tuyệt đối, dứt bặt đối đăi, so sánh). Kinh dạy: “Vị linh chúng sanh khai thị ngộ nhập Phật chi tri kiến” (v́ khiến cho chúng sanh khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật).

          a) Nếu chúng sanh chẳng có tri kiến của Phật, làm sao bàn luận, khơi mở cho được? Hăy nên biết tri kiến của Phật uẩn tàng trong chúng sanh. V́ thế, chúng sanh pháp là Diệu.

          b) Phật pháp chẳng ra ngoài Quyền và Thật. Kinh dạy: “Thị pháp thậm thâm diệu, nan kiến, nan khả liễu, nhất thiết chúng sanh loại, vô năng tri Phật giả” (pháp này rất sâu mầu nhiệm, khó thấy, khó thể thấu hiểu. Hết thảy các loài chúng sanh, không ai có thể hiểu biết Phật), tức là tán thán Thật Trí mầu nhiệm. Kinh lại dạy: “Cập Phật chư dư pháp, diệc vô năng trắc giả” (và các pháp khác của Phật, cũng chẳng thể lường được), tức là tán thán Quyền Trí mầu nhiệm. Chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu suốt cùng tận Thật Tướng của các pháp. Các pháp là Quyền nơi Thật, Thật Tướng là Thật trong Quyền. V́ vậy, Phật pháp là Diệu.

          c) Phẩm An Lạc Hạnh chép: “Tu nhiếp kỳ tâm, quán nhất thiết pháp bất động, bất thoái” (Tu tập, thâu nhiếp cái tâm, quán hết thảy các pháp bất động, chẳng lui sụt). Kinh Phổ Hiền Quán nói: “Ngă tâm tự không, tội phước vô chủ. Quán tâm vô tâm, pháp bất trụ pháp” (Tâm ta tự không, tội phước chẳng có chủ. Quán tâm chẳng có tâm, pháp chẳng trụ vào pháp). Kinh Tịnh Danh dạy: “Quán thân Thật Tướng, quán Phật diệc nhiên, chư Phật giải thoát, đương ư chúng sanh tâm hạnh trung cầu” (Quán Thật Tướng của thân, quán Phật cũng thế. Hăy nên từ trong tâm hạnh của chúng sanh mà cầu sự giải thoát của chư Phật). Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Tâm, Phật, cập chúng sanh, thị tam vô sai biệt” (Tâm, Phật, và chúng sanh, ba pháp ấy chẳng sai khác). V́ thế, tâm pháp là Diệu.

          “Tương đăi diệu” (sự mầu nhiệm tương đối, có tánh chất đối đăi): Do pháp Bán Tự có đối đăi nên là Thô, thấu hiểu pháp Măn Tự th́ là Diệu. Trong Tam Tạng, chỉ có pháp Bán Tự thuộc về Sanh Diệt Môn, chẳng thể thông với lư viên măn; cho nên là Thô. Pháp Măn Tự là Bất Sanh Bất Diệt Môn; cho nên là Diệu. Lại như Phương Đẳng, Bát Nhă kèm theo phương tiện, thông với lư viên măn, cho nên là Thô. Nay kinh này hiển thị thẳng thừng lư viên măn, cho nên là Diệu.

          “Tuyệt đăi diệu” (sự mầu nhiệm tuyệt đối, chẳng có đối đăi): Nói ra pháp chẳng phân biệt, biên chính là trung[11], không ǵ chẳng phải là Phật pháp, mất sạch [các t́nh kiến chấp trước], thanh tịnh, chẳng c̣n có pháp để h́nh dung, so sánh. Đối đăi với điều ǵ mà là Thô? H́nh dung điều ǵ mà là Diệu? Chẳng có ǵ để đối đăi, chẳng biết gọi tên là ǵ, bèn cưỡng gọi là Tuyệt.

          “Diệu” hàm ư “chẳng thể nghĩ bàn”. Chẳng v́ Thô mà gọi là Diệu! Nếu nói là riêng có pháp giới rộng lớn, độc đáo, tuyệt diệu, th́ sẽ là có quá nhiều thứ, sao có thể gọi là Tuyệt cho được? Nay pháp giới thanh tịnh, chẳng thể dùng đối đăi để nêu bày, chẳng thể dùng Tuyệt (dứt bặt đối đăi) để nêu bày, đối đăi và tuyệt đối đều bị diệt mất. V́ thế nói là Tịch Diệt.

          Dùng hai thứ Diệu ấy [để phán dịnh] th́ trong ba pháp diệu trên đây (tức chúng sanh pháp, tâm pháp, và Phật pháp), chúng sanh pháp cũng đủ hai thứ Diệu (tức tương đăi diệu và tuyệt đăi diệu), Phật pháp và tâm pháp cũng có đủ hai thứ Diệu. V́ thế, gọi là Diệu Pháp.

          Lại nữa, giải thích Diệu rộng răi hơn th́ Tích Môn[12] gồm mười thứ diệu, Bổn Môn gồm mười thứ diệu, quán tâm gồm mười thứ diệu.

 

1.1.1. Mười điều diệu của Tích Môn:

 

          Một là cảnh diệu, hai là trí diệu, ba là hạnh diệu, bốn là vị diệu (địa vị mầu nhiệm), năm là tam pháp diệu (Giới, Định, Huệ đều diệu), sáu là cảm ứng diệu, bảy là thần thông diệu, tám là thuyết pháp diệu, chín là quyến thuộc diệu, mười là công đức lợi ích diệu.

          Cảnh Thật Tướng chẳng phải do Phật, chư thiên, hay con người tạo tác, mà vốn tự có, chẳng phải tới nay mới có. V́ thế, xếp điều này đầu tiên. Do mê lư nên dấy lên Hoặc (phiền năo); do thấu hiểu lư nên sanh trí. Trí là cái gốc của hạnh. Do có con mắt trí, bèn dấy lên chân Hạnh. Mắt, chân, và cảnh, ba pháp làm thành phương tiện, ngơ hầu nương vào phương tiện ấy, vào trong ao thanh lương, đạt các địa vị. Các địa vị trụ vào đâu? Trụ trong tạng bí mật của ba pháp. Đă trụ trong pháp ấy, tịch mà thường chiếu, chiếu các căn cơ trong mười pháp giới. Hễ có căn cơ thích hợp bèn ứng. Để ứng hiện phù hợp căn cơ th́ trước hết dùng thần thông nơi thân luân khiến cho họ (chúng sanh được hóa độ) kinh hăi, chấn động. Kế đến dùng khẩu luân để tuyên nói, chỉ dạy, khơi gợi, hướng dẫn. Họ đă được nhuần thấm mưa pháp, vâng nhận giáo pháp, trở thành quyến thuộc trong pháp, nhổ trừ gốc sanh tử, mở mang tri kiến của Phật, đạt được lợi ích to lớn. Năm điều diệu đầu tiên thuộc về tự hành, có đủ nhân và quả. Năm điều diệu sau đó thuộc về hóa tha (giáo hóa người khác), trọn đủ Năng và Sở (tức có người giáo hóa và đối tượng được giáo hóa).

          Kinh dạy: “Duy Phật dữ Phật năi năng cứu tận chư pháp Thật Tướng. Sở vị chư pháp như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bổn mạt cứu cánh đẳng” (Chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu suốt cùng tột Thật Tướng của các pháp, tức là các pháp tướng như thế, tánh như thế, lực như thế, tác như thế, nhân như thế, duyên như thế, quả như thế, báo như thế, gốc ngọn rốt ráo như thế). Đấy chính là cảnh diệu.

          “Ngă sở đắc trí huệ, vi diệu tối đệ nhất” (ta đạt được trí huệ, vi diệu tột bậc nhất): Dùng diệu huệ ấy để cầu vô thượng đạo, chính là trí diệu.

          “Bổn tùng vô số Phật, cụ túc hành chư đạo” (vốn từ vô số Phật, hành trọn đủ các đạo): Đă hành các đạo ấy rồi, đắc quả nơi đạo tràng. Phật tử đă hành đạo, đời sau sẽ thành Phật; đấy là hạnh diệu. Trời tuôn xuống bốn loại hoa, biểu thị Trụ, Hạnh, Hướng, Địa. Khai thị ngộ nhập cũng có ư nghĩa [nói đến] các địa vị. “Thừa thị bảo thừa, du ư tứ phương, trực chí đạo tràng” (ngồi xe báu ấy, dạo khắp bốn phương, đến thẳng đạo tràng): Bốn phương là nhân vị (địa vị trong khi tu nhân), đạo tràng là quả vị (địa vị khi chứng quả). Đấy chính là vị diệu.

          “Phật tự trụ Đại Thừa, như kỳ sở đắc pháp, định huệ lực trang nghiêm” (Phật tự trụ Đại Thừa, các pháp Ngài đă chứng, sức định huệ trang nghiêm): Đại Thừa chính là khuôn phép chân tánh. Định chính là khuôn phép giúp cho thành tựu. Huệ là khuôn phép để quán chiếu. Đấy chính là tam pháp diệu.

          “Ư tam thất nhật trung, tư duy như thị sự. Ngă dĩ Phật nhăn quán, kiến lục đạo chúng sanh” (Trong hai mươi mốt ngày, tư duy chuyện như thế. Ta dùng mắt Phật quán, thấy lục đạo chúng sanh): Đấy chính là cảm ứng diệu.

          Các chuyện như nhập định, tuôn mưa hoa, cơi đất chấn động, phóng quang v.v… chính là thần thông diệu.

          [Tu tập] các pháp do Ngài đă nói, sẽ đều đạt đến địa vị Nhất Thiết Trí. Đă nói, nay đang nói, sẽ nói, khó tin, khó hiểu nhất v.v… chính là thuyết pháp diệu.

          “Đản giáo hóa Bồ Tát, vô Thanh Văn đệ tử” (chỉ giáo hóa Bồ Tát, chẳng có đệ tử Thanh Văn), tức là quyến thuộc diệu.

          “Hiện tại, vị lai, nhược văn nhất cú, nhất kệ, ngă giai dữ thọ A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề kư, tu du văn chi, tức đắc cứu cánh Tam Bồ Đề, bất linh nhất nhân độc đắc diệt độ, giai dĩ Như Lai diệt độ nhi diệt độ chi” (Hiện tại, vị lai, nếu nghe một câu, một kệ, ta đều thọ kư Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong khoảnh khắc được nghe, liền đạt Chánh Giác rốt ráo, chẳng để cho riêng một ai được diệt độ, mà đều dùng sự diệt độ của Như Lai để độ họ). Đó chính là công đức lợi ích diệu.

 

1.1.2. Mười điều diệu thuộc Bổn Môn:

 

          Một là bổn nhân diệu, hai là bổn quả diệu, ba là bổn quốc độ diệu, bốn là bổn cảm ứng diệu, năm là bổn thần thông diệu, sáu là bổn thuyết pháp diệu, bảy là bổn quyến thuộc diệu, tám là bổn Niết Bàn diệu, chín là bổn thọ mạng diệu, mười là bổn lợi ích diệu.

          Bổn nhân diệu là từ nơi Bổn, thoạt đầu phát Bồ Đề tâm, hành Bồ Tát đạo. Như mười sáu vị vương tử trong thời Phật Đại Thông [Trí Thắng], hoằng truyền kinh để kết duyên, đều là những chuyện thực hiện trong thuở trung gian (tức là thời gian sau lúc đức Phật thật sự thành đạo trong quá khứ và trước lần thị hiện thành đạo trong thời hiện tại), chẳng phải là bổn nhân diệu. Trải qua số kiếp nhiều như mảy bụi mà hành đạo th́ gọi là bổn nhân diệu.

          Bổn quả diệu là nơi Bổn, thoạt đầu hành cái nhân viên diệu, khế đắc Thường Lạc Ngă Tịnh rốt ráo. Đó là bổn quả. Chẳng giữ lấy đạo tràng Tịch Diệt; báo thân Lô Xá Na thành Phật chính là bổn quả, chỉ giữ lấy cái quả đă chứng khi thành Phật thuở đầu từ bao kiếp rất rộng lớn lâu xa đến nay, đó là bổn quả diệu.

          Bổn quốc độ diệu: Vốn đă thành tựu cái quả, ắt có cơi nước để nương vào. Nay đă thị hiện ở trong cơi Đồng Cư, hoặc trong ba cơi (Tịch Quang, Thật Báo và Phương Tiện Hữu Dư). Trong khoảng trung gian, cũng có bốn cơi. Bổn Phật (Phật nơi Bổn Môn) cũng có bốn cơi, lại ở trong cơi nào? Kinh chép: “Tự tùng thị lai, ngă thường tại thử Sa Bà thế giới thuyết pháp, giáo hóa” (Từ đấy trở đi, ta thường ở trong thế giới Sa Bà này thuyết pháp, giáo hóa): Xét theo đoạn kinh văn ấy, đúng là chẳng phải hiện thời mới thị hiện trong Sa Bà, cũng chẳng phải là nơi chốn quyền biến thị hiện trong chặng giữa, mà chính là Sa Bà trong Bổn. Đó chính là bổn độ diệu!

          Bổn cảm ứng là đă thành tựu cái quả, liền có hai mươi lăm môn vương tam-muội đă chứng trong thuở ấy (lúc Phật Thích Ca thật sự thành Phật). Thệ nguyện từ bi, căn cơ và sự cảm vời có liên quan với nhau, có thể từ ngay nơi Tịch mà có thể Chiếu. Do vậy, gọi là bổn cảm ứng.

          Bổn thần thông là môn Hóa Thiền Vô Kư Hóa[13] đă chứng đắc xưa kia phù hợp với các môn từ bi thuộc lúc tu nhân nơi Bổn địa, thực hiện, hóa hiện các thứ thần thông, khiến cho chúng sanh kinh hăi, chấn động để độ chúng sanh. V́ thế nói là bổn thần thông.

          Bổn thuyết pháp chính là xưa kia thoạt đầu ngồi đạo tràng, thành Chánh Giác lần đầu tiên, chuyển pháp luân lần đầu tiên, dùng tứ biện tài để nói các pháp, th́ gọi là bổn thuyết pháp.

          Bổn quyến thuộc là những người được hóa độ trong khi thuyết pháp nơi Bổn địa. Như các vị [Bồ Tát] trụ ở phương dưới, ngài Di Lặc chẳng nhận biết, đấy chính là bổn quyến thuộc.

          Bổn Niết Bàn chính là đoạn đức Niết Bàn đă chứng trong bổn thời (lúc đức Phật thật sự thành đạo lần đầu tiên), mà cũng là đối với hai cơi Phương Tiện và Đồng Cư, [nơi đức Phật] đă trụ trong bổn thời, khi kẻ hữu duyên đă hết, đức Phật bèn nói là “nhập diệt”. Đấy chính là bổn Niết Bàn.

          Bổn thọ mạng: Đă nói “nhập diệt”, bèn có thọ mạng dài, ngắn, xa, gần.

          Bổn lợi ích là các công đức do quyến thuộc đă đạt được trong bổn thời.

 

1.1.3. Mười điều diệu thuộc về quán tâm:

         

          Tích Môn và Bổn Môn đều luận định quán tâm. Quán tâm thuộc Tích Môn được nói rải rác trong kinh văn. Quán tâm trong Bổn Môn th́ là “Phật như, chúng sanh như, nhất như, vô nhị như”. Phật đă quán tâm, đạt được bổn diệu. Vận dụng [quán tâm] trong Tích Môn th́ rộng lớn, chẳng thể xưng nói. “Ngă như, như Phật như” cũng nên quán tâm lưu xuất điều lợi to lớn ấy, cũng nguyện Như của ta sẽ mau chóng giống như Như của Phật. V́ thế, kinh văn chép: “Văn Phật thọ vô lượng, thâm tâm tu du tín. Kỳ phước quá ư bỉ, nguyện ngă ư vị lai, trường thọ độ chúng sanh. Như kim nhật Thế Tôn, chư Thích trung chi vương, đạo tràng sư tử hống, thuyết pháp vô sở úy. Ngă đẳng ư vị lai, nhất thiết sở tôn kính, tọa ư đạo tràng thời, thuyết thọ diệc như thị” (nghe nói đức Phật thọ vô lượng, thâm tâm tin tưởng trong khoảnh khắc, phước ấy hơn hẳn phước trước. Nguyện con trong đời mai sau, trường thọ độ chúng sanh, giống như đức Thế Tôn trong hiện thời là vua trong các vị Thích tử, sư tử hống nơi đạo tràng, thuyết pháp chẳng sợ hăi. Chúng con trong đời mai sau, được hết thảy tôn kính, lúc ngồi nơi đạo tràng, cũng sẽ giảng nói thọ mạng giống như thế). Đấy chính là bổn diệu thuộc về quán tâm, đạt được lợi ích nơi Lục Tức Tướng.

 

1.2. Liên Hoa:

 

          Kế đó, nói về Liên Hoa. [Hoa sen dùng để] thí dụ diệu pháp. Hoa có nhiều loại. Hoặc là chi chít toàn hoa, chẳng có quả, ví như ngoại đạo tu phạm hạnh rỗng tuếch, chẳng đạt được ǵ. Hoặc một hoa, nhiều quả, ví như phàm phu cúng dường cha mẹ, được quả báo sanh lên Phạm Thiên. Hoặc là nhiều hoa một quả, ví như các thứ khổ hạnh của Thanh Văn, chỉ đắc Niết Bàn. Hoặc là một hoa, một quả, ví như một hạnh viễn ly của Duyên Giác, cũng đắc Niết Bàn. Hoặc trước quả, sau là hoa, ví như đă đắc Tu Đà Hoàn rồi sau đó mới tu đạo. Hoặc là trước hoa, sau là quả, ví như Bồ Tát trước hết nhờ vào các duyên để tu, sau đấy sanh khởi sự chân tu. Các loại ấy đều là thô hoa, chẳng thể sánh ví Diệu Pháp được! Chỉ có hoa sen là hoa lẫn quả (hạt sen) đều nhiều, có thể sánh ví “nhân chứa đựng vạn hạnh, quả viên măn vạn đức”.

          Lại v́ có hạt mà trổ hoa, hoa lẫn hạt đều trọn đủ, có thể sánh ví “từ ngay nơi Thật mà là Quyền”. Hoa nở th́ hạt sen hiện ra, có thể sánh ví “từ ngay nơi Quyền mà là Thật”. Hoa rụng, hạt sen chín, hạt sen đă chín cũng rơi mất, có thể sánh ví “chẳng phải Quyền, chẳng phải Thật”. V́ thế, dùng hoa sen để sánh ví Diệu Pháp,

          Lại dùng hoa sen để sánh ví hai môn Tích và Bổn. Đối với mỗi môn, đều có ba thí dụ.

          Ba thí dụ thuộc về Tích Môn là:

          a. Một là hoa sen sanh ra, trong hoa ắt có hạt sen. Đó là v́ hiển lộ hạt sen mà trổ hoa, nhưng chẳng thể thấy hạt sen [khi hoa chưa nở tung]. Điều này ví như “v́ Thật mà khai Quyền”, có nghĩa là chưa thể biết Thật.

          b. Hai là hoa sen nở, hạt sen lộ ra, nhưng cần phải dùng hoa sen để dưỡng hạt sen. Ví như trong Quyền có Thật. Trước nay chẳng có ai biết, cho nên nay khai Quyền hiển Thật. Có nghĩa là cần phải do Quyền mà nhận biết rộng răi hằng sa Phật pháp. Chỉ v́ để thành tựu Thật, mà khiến cho [chúng sanh] nhận biết sâu xa tri kiến của Phật.

          c. Ba là hoa rụng, hạt sen chín, ví như phế Quyền lập Thật, chỉ có một Phật thừa, tiến thẳng đến đạo tràng. Bồ Tát do c̣n “có hành” (c̣n thấy có pháp để hành), cho nên chẳng thấy rơ ràng, chỉ giống như hoa sen nở, [nhưng hạt sen chưa chín]. Do chư Phật chẳng hành, nên thấy thấu suốt. Ví như hoa rụng th́ hạt sen đă chín muồi.

          Ba thí dụ thuộc về Bổn Môn:

          a. Một là hoa sen ắt có hạt, ví như Tích ắt có Bổn, Tích chứa đựng Bổn. Có nghĩa là tuy ở ngay nơi Bổn, nhưng khó biết ư chỉ của Phật, [chẳng hạn như bậc Bổ Xứ Bồ Tát như] ngài Di Lặc chẳng biết.

          b. Hai là hoa nở, hạt sen hiện ra, ví như khai Tích hiển Bổn (chỉ ra Tích để nêu bày Bổn), có nghĩa là từ ngay nơi Tích, có thể khiến cho Bồ Tát nhận biết phương tiện của Phật. Đă nhận biết Tích th́ sẽ lại biết Bổn, tăng đạo, tổn sanh[14].

          c. Ba là hoa rụng, hạt sen chín. Ví như phế Tích, hiển Bổn: Đă biết Bổn, chẳng c̣n mê Tích, chỉ thuộc về địa vị tu đạo nhằm viên măn Pháp Thân.

          Trong kinh lại có bảy thí dụ đều nhằm sánh ví Quyền và Thật; nay dùng hoa sen làm thí dụ chung. Bảy thí dụ là:

          - Một là thí dụ về ba loại xe và một loại xe thoát khỏi nhà lửa. Dùng ba loại xe để sánh ví Quyền, xe trâu trắng lớn nhằm sánh ví Thật.

          - Hai là thí dụ về đứa con nghèo túng trong phẩm Tín Giải. Dùng chuyện làm mướn để sánh ví Quyền, [được cha] giao phó gia nghiệp ví như Thật.

          - Ba là thí dụ về dược thảo. Dùng ba loại cỏ, hai loại cây để sánh ví Quyền, một cơi đất để sánh ví Thật.

          - Bốn là thí dụ về hóa thành (cái thành được biến hóa ra). Dùng chỗ biến hóa để sánh ví Quyền, bảo xứ (chỗ có của báu) nhằm sánh ví Thật.

          - Năm là thí dụ viên châu buộc vào chéo áo trong phẩm Thọ Kư. Dùng chuyện [người có viên châu buộc trong chéo áo mà chẳng hay biết, cứ làm thuê đắp đổi qua ngày], đạt được chút ít [đă vui sướng] để sánh ví Quyền, [được thiện tri thức chỉ ra viên châu trong chéo áo bèn] dùng bảo châu đổi chác để sánh ví Thật.

          - Sáu là thí dụ về Luân Vương trong phẩm An Lạc Hạnh. Dùng [chuyện Luân Vương] tùy theo công lao mà ban thưởng [cho quần thần] để sánh ví Quyền, [vua] tháo minh châu trong búi tóc [để ban thưởng] nhằm sánh ví Thật.

          Sáu thí dụ này đều là thí dụ “khai Quyền hiển Thật” trong Tích Môn.

          - Bảy là thí dụ về lương y trong phẩm Thọ Lượng. Dùng chuyện sai người báo tin cha đă chết để sánh ví Quyền, [lương y] trở về cho [các con] trông thấy nhằm sánh ví Thật. Đây chính là thí dụ nhằm “khai cận hiển viễn” (nêu rơ chuyện đức Phật thành Phật tại Bồ Đề đạo tràng cách lúc giảng kinh Pháp Hoa không xa là quyền biến thị hiện, nói rơ đức Phật đă thành đạo từ bao kiếp lâu xa) thuộc Bổn Môn.

          Lại c̣n có hai thí dụ “cỗ vua” (như người đói trông thấy cỗ vua mà chẳng dám ăn) và “đào giếng” đều chẳng phải hoàn toàn thí dụ về chuyện khai hiển trong một thời. V́ thế, Trí Giả đại sư lược đi, chẳng nêu ra. Người đời sau cứ nói là “chín thí dụ”, có thể nói [những người chủ trương như vậy] chỉ xét theo kinh văn, chẳng xét theo ư nghĩa!

 

1.3. Kinh

 

          Kinh là tên gọi chung các pháp do đức Phật đă nói. [Tên gọi của kinh này trong] tiếng Phạn là Tát Đạt Ma Phân Đà Lợi Tu Đa La (Saddharma Puṇḍarīka Sūtra). Tát Đạt Ma (Saddharma) được phương này (Trung Hoa) dịch là Diệu Pháp. Phân Đà Lợi (Puṇḍarīka, hoa sen trắng) dịch thành Liên Hoa, đă giải thích đầy đủ trong phần trước. Tên kinh này khác với các kinh; v́ thế, [Diệu Pháp Liên Hoa] gọi là Biệt [Đề]. Giáo pháp trong suốt một đời đức Phật đều gọi là Tu Đa La; v́ thế, [chữ Kinh] gọi là Thông [Đề].

          Tu Đa La (Sūtra) hoặc dịch là Kinh (), hoặc dịch là Khế (, phù hợp), hoặc dịch là Pháp Bổn (法本), hoặc dịch là Tuyến (, sợi dây), hoặc dịch là Thiện Ngữ Giáo (善語教), hoặc chẳng phiên dịch [chỉ phiên âm]. Từ ngữ này bao hàm năm nghĩa:

          - Một là Pháp Bổn (cội gốc của pháp), c̣n gọi là Xuất Sanh (出生).

          - Hai là Vi Phát (微發, phát khởi những điều vi tế), c̣n nói là Hiển Thị (顯示).

          - Ba là Dũng Tuyền (湧泉, suối trào).

          - Bốn là Thằng Mặc (繩墨, dây mực để đánh dấu của thợ mộc).

          - Năm là Kết Man (結鬘, xâu tràng hoa).

          Như vậy th́ năm cách dịch, năm ư nghĩa bao hàm, mỗi mỗi đều trọn đủ ba thứ Giáo, Hạnh, Lư. Giáo chính là Thế Giới Tất Đàn, Hạnh tức là Vị Nhân và Đối Trị Tất Đàn. Lư tức là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn[15].

          Lại nữa, các điều bậc thánh phương này (Trung Hoa) nói ra th́ được gọi là Kinh. Kinh là huấn pháp (訓法, pháp tắc giáo huấn), có nghĩa là dạy bảo pháp thường hằng để làm khuôn phép vâng giữ. Giáo đáng noi theo, Hạnh đáng noi theo, Lư đáng noi theo. V́ thế, gọi là Pháp. “Thường” có nghĩa là “chẳng thay đổi”. Thiên ma và ngoại đạo chẳng thể thay đổi, phá hoại, tức là Giáo Thường. Chân chánh chẳng xen tạp, chẳng thể vượt qua, tức là Hạnh Thường. Trong lặng, bất động, quyết chẳng hướng theo đường khác, chính là Lư Thường.

 

2. [Tầng huyền nghĩa thứ hai]: Dùng Thật Tướng làm Thể

 

          Kinh dạy: “Kim Phật phóng quang minh, trợ phát Thật Tướng nghĩa” (nay đức Phật tỏa quang minh, để giúp phát khởi nghĩa Thật Tướng). Lại nói: “Chư pháp Thật Tướng nghĩa, dĩ vị nhữ đẳng thuyết” (nghĩa Thật Tướng của các pháp đă v́ các ông mà nói). Lại nói: “Duy Phật dữ Phật, năi năng cứu tận chư pháp Thật Tướng” (Chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu hiểu tột cùng Thật Tướng của các pháp). Lại nói: “Chư Phật pháp cửu hậu, yếu đương thuyết chân thật” (pháp của chư Phật đă lâu ngày, phải nên nói chân thật). Lại nói: “Ngă dĩ tướng nghiêm thân, vị thuyết Thật Tướng ấn” (ta dùng các tướng để trang nghiêm thân thể, nhằm nói ấn Thật Tướng). Lại nói: “Khai phương tiện môn, thị chân thật tướng” (mở cửa phương tiện, chỉ bày tướng chân thật). Lại nói: “Quán chư pháp Thật Tướng” (quán Thật Tướng của các pháp). V́ thế biết chư Phật v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời, chỉ nhằm khiến cho chúng sanh mở mang tri kiến của Phật. Thấy lư Nhất Thật tức là lư “chẳng phải nhân, chẳng phải quả”.

 

3. [Tầng huyền nghĩa thứ ba]: Dùng nhân quả Nhất Thừa làm Tông

 

          Kinh này từ phẩm Tự cho đến phẩm An Lạc Hạnh nhằm phá trừ, phế bỏ phương tiện, khai hiển tri kiến chân thật của Phật, mà cũng nhằm nói rơ “thật nhân, thật quả” của các vị đệ tử, cũng như nêu bày “quyền nhân, quyền quả” của sư môn. Văn nghĩa tuy rộng, nhưng tóm gọn lại th́ chính là điều then chốt, trọng yếu này: Nhằm thành tựu “thật nhân, thật quả” cho các đệ tử. Nhân là chánh, quả là phụ. Do vậy, trong phần trước của kinh bèn nói về nhân và quả thuộc Tích Môn. Từ phẩm Tùng Địa Dũng Xuất cho đến phẩm Khuyến Phát nhằm từ Tích mà hiển thị Bổn, phế trừ phương tiện “tuổi thọ [thị hiện] gần đây” (tức tuổi thọ tám mươi năm của đức Phật Thích Ca trong thời đại chúng ta), nhằm nêu rơ thật quả dài lâu, cũng như chỉ rơ thật nhân, thật quả của các đệ tử, mà cũng nói rơ thật nhân, thật quả của sư môn. Tức là tỏ rơ thật quả của thầy, quả là chánh, nhân là phụ. V́ thế, phần sau của kinh đă nói rơ “bổn nhân, bổn quả”.

 

4. [Tầng huyền nghĩa thứ tư]: Lấy đoạn nghi sanh tín làm Dụng

 

          Tích Môn dùng Phật trí và Bồ Đề trí để đoạn vô minh lớn nhất trong bảy thứ phương tiện, cùng nhập cái nhân viên măn nơi Bổn Môn, phá trừ t́nh kiến chấp trước cận Tích (các sự tướng thị hiện trong đời đức Phật), sanh ḷng tin sâu xa đối với Bổn địa, cho đến đối với Đẳng Giác cũng khiến cho đoạn nghi, sanh tín.

 

5. [Tầng huyền nghĩa thứ năm]: Vô thượng đề hồ làm giáo tướng

 

           Các thí dụ về năm thời [giáo hóa trong một đời giáo hóa của đức Phật] đă được nói đại lược trong phần trước. Như thời Hoa Nghiêm nhằm thích ứng căn cơ thuộc Viên và Biệt, chiếu đến núi cao trước hết, nói thẳng vào công đức tu hành theo thứ tự hoặc không theo thứ tự thuộc [các địa vị trong] Thập Địa và Thập Trụ, chẳng biện định ư nghĩa Như Lai nói Đốn Giáo. Tứ A Hàm th́ nói chung về vô thường, biết Khổ, đoạn Tập, chứng Diệt, tu Đạo, nhưng chẳng nêu rơ ư nghĩa Như Lai do khéo léo tùy thuận cơ nghi mà lập bày Tiểu pháp. Các kinh thuộc thời Phương Đẳng phá trừ Tiểu pháp, quở trách những kiến chấp thiên lệch, ca ngợi Viên, khen ngợi Đại, hạnh nguyện từ bi, sự lư thù thắng tuyệt diệu, nhưng chẳng nêu rơ ư nghĩa [v́ sao] nói kèm thêm quở trách, tán thán. Thời Bát Nhă, cộng pháp th́ người thuộc cả ba thừa đều cùng nhập, biệt pháp th́ riêng Bồ Tát tiến nhập. [Nội dung các giáo pháp ấy] bao gồm rộng khắp Ấm, Nhập, thanh tịnh tột cùng, dung thông rỗng rang, mà cũng chẳng nêu rơ ư nghĩa Biệt và Cộng. Thời Niết Bàn sau cùng, đại lược phá trừ các pháp tu tập trong ba thời trước, dạy đại lược về ngũ vị[16], cũng chẳng nói cặn kẽ ư nghĩa v́ sao Như Lai lập bày giáo pháp từ khởi đầu để kết thúc bằng quy kết [các giáo pháp phương tiện về Nhất Thừa].

          Các kinh ấy đều nhằm phù hợp ư của người khác, khiến cho họ đạt được lợi ích, chẳng nói đến ư Phật, ư thú của Ngài là như thế nào. Nay kinh này chẳng vậy, phàm đối với chuyện nêu ra toàn bộ cương mục của pháp môn, các pháp Quán đại, tiểu, Thập Lực, Vô Úy, các thứ quy củ, thảy đều chẳng luận, v́ các kinh trước đó đă nói rồi. Kinh này chỉ luận định đại sự nhân duyên “nguồn cội ban bố giáo pháp của Như Lai”, [v́ sao dạy chúng sanh] giữ điều này, bỏ điều kia trong thời trung gian (tức là từ thời A Hàm đến thời Bát Nhă), [giảng dạy các pháp] Tiệm hoặc Đốn nhằm thích hợp thời cơ, và kết cục rốt ráo [của cả một đời giáo hóa]. Do vậy biết kinh này chỉ luận định đại cương về sự lập bày giáo pháp, chẳng nêu bày cương mục chi tiết. Ví như người tính toán, trước là lập ra các phép toán trung gian, sau đó loại bỏ các phép toán trung gian [chỉ giữ lấy kết quả cuối cùng] để t́m ra con số chánh yếu, không giữ lại [các con số lẻ] mấy đấu, mấy hộc. Chỉ v́ luận định thánh giáo sâu xa, khéo giảng nói thánh tâm, gần là khiến cho [chúng sanh nghe pháp sẽ] thấu hiểu cái nhân viên măn, xa là nêu bày bổn quả (cái quả thuộc bổn địa, bổn môn). Do vậy, [bậc đương cơ trong hội này] thưa hỏi nghi vấn chẳng ngớt. Nếu có thể biết tinh tường giáo tướng, sẽ biết hai trí Quyền và Thật của Như Lai.

 

II. Khoa phán kinh văn

 

          Đối với hai mươi tám phẩm của kinh văn, Trí Giả đại sư chia thành ba phần:

          - Phần đầu là phẩm Tự.

          - Từ phẩm Phương Tiện cho đến mười chín gịng kệ thuộc phẩm Phân Biệt Công Đức, mười lăm phẩm rưỡi ấy được gọi là Chánh Tông.

          - Từ sau phần kệ ấy (phần kệ tụng trong phẩm Phân Biệt Công Đức) cho đến hết kinh gồm mười một phẩm rưỡi gọi là phần Lưu Thông.

          Trong một thời (tức là đối với nội dung giáo pháp của kinh này), lại chia thành hai:

          - Từ phẩm Tự cho tới phẩm An Lạc Hạnh gồm mười bốn phẩm, thuộc về khai Quyền hiển Thật trong Tích Môn.

          - Từ phẩm Tùng Địa Dũng Xuất cho đến hết kinh, gồm mười bốn phẩm, chính là các phần Tự, Chánh Tông, và Lưu Thông nhằm khai cận hiển viễn của Bổn Môn.

          [Trong Tích Môn], phẩm đầu tiên (tức phẩm Tự) là Tự Phần, từ phẩm Phương Tiện cho đến phẩm Thọ Học Vô Học Nhân Kư là Chánh Tông. Từ phẩm Pháp Sư cho đến phẩm An Lạc Hạnh là Lưu Thông Phần.

          [Trong Bổn Môn, trong phẩm Tùng Địa Dũng Xuất], từ lúc các vị Bồ Tát từ phương dưới vọt lên cho tới khi ngài Di Lặc thưa hỏi chuyện ấy, đức Phật giải đáp; nửa phẩm ấy là Tự Phần. Từ câu “Phật cáo A Dật Đa” (đức Phật bảo ngài A Dật Đa) trở đi cho đến phần kệ của phẩm Phân Biệt Công Đức thuộc về phần Chánh Tông. Từ đó cho đến hết kinh, thuộc về phần Lưu Thông.

          Trước tiên, Tự th́ có Thông và Biệt. Thông là bao gồm chung hai môn; Biệt là phần chánh thuyết nói về tam châu (ba tầng thuyết pháp). Sau cùng là Lưu Thông th́ gồm có khuyến tŕ (khuyên nên thọ tŕ) và chúc lụy. Phần Khuyến Tŕ riêng thuộc về Bổn Môn. Chúc Lụy th́ chung cho toàn bộ đại kinh. Năm phẩm cuối của phần Tích Môn chỉ là phần Khuyến Tŕ thuộc Tích Môn. Trong phần Bổn Môn, phần Tự chỉ nhằm phát khởi Bổn Môn.

 

1. Khoa phán Tích Môn

 

          * Phẩm Tự (Nidāna) đứng đầu, gồm các phần Thứ Tự (次序, phần tựa nêu bày các điều theo thứ tự), Do Tự (由序, phần tựa nêu bày nguyên do), và Thuật Tự (述序, phần tựa trần thuật). Dùng sáu nghĩa như Như Thị, Thời v.v… để chứng tín (khiến cho người nghe do thấy các điều ấy mà tin tưởng kinh này thật sự do đức Phật nói ra); đó là Thứ Tự. Phóng quang minh hiện ra sáu loại tướng lành để làm duyên do phát khởi. Đó là Do Tự. Hỏi đáp để giải trừ nghi hoặc nhằm dẫn khởi phần chánh thuyết (Chánh Tông Phần), đó chính là phần Thuật Tự. V́ thế, phẩm này được gọi Tự Phẩm.

          * Kế đó là từ phẩm Phương Tiện (Upāyakauśalya) trở đi, có tam châu thuyết pháp:

          - Nay nói đến phẩm Phương Tiện, nêu ra tam thừa để nói Nhất Thừa, được gọi là Pháp Thuyết Châu (法說週). Thượng căn đắc ngộ, [đức Phật] thọ kư cho ngài Xá Lợi Phất.

          - Kế đó là phẩm Thí Dụ, nói đến ba loại xe và một loại xe, được gọi là Thí Thuyết Châu (譬說週). Trung căn đắc ngộ, thọ kư cho bốn vị đại đệ tử.

          - Kế đó là phẩm Hóa Thành Dụ, nói rơ chuyện kết duyên trong đời trước đă xong, lại nói đến chuyện [chỗ có của báu] cách xa ba trăm do-tuần, hoặc năm trăm do-tuần. Phần này được gọi là Nhân Duyên Thuyết Châu (因緣說週). Hạ căn đắc ngộ, thọ kư cho năm trăm và hai ngàn vị đệ tử.

          Đấy chính là phần Chánh Tông “khai Quyền hiển Thật” của Tích Môn.

          Nói đến phẩm Phương Tiện th́ đại lược có ba cách giải thích:

          1) Phương là pháp, Tiện là sử dụng. Khéo dùng pháp thiên lệch nhằm thích ứng với căn cơ của chúng sanh th́ gọi là Phương Tiện. Cách hiểu này có thể dùng để giải thích các kinh khác, chẳng phải là ư nghĩa của phẩm này.

          2) Phương Tiện là Môn. Môn có nghĩa là có thể thông qua (xuyên suốt), thông với pháp được thông. Phương Tiện là dùng chân thật làm môn, hiển lộ chân thật. Công năng [hóa độ] do từ phương tiện. Cách hiểu này có thể dùng để giải thích kinh này, nhưng chẳng phải là ư nghĩa của phẩm này.

          3) Phương là bí (, ẩn mật), Tiện là diệu. Khéo thông đạt phương tiện th́ là bí mật chân thật. Chỉ ra hạt châu vô giá trong chéo áo, cũng như viên châu duy nhất trên đỉnh đầu của vua, chẳng hai, chẳng khác. Chỉ ra kẻ làm công tự coi ḿnh là khách chính là con ông trưởng giả, cũng chẳng hai, chẳng khác. Nói như thế chính là bí mật, là diệu; đúng là ư nghĩa của phẩm này.

          Phẩm này thật sự nêu rơ tam thừa là Quyền, hiển thị Nhất Thừa là Thật, trong ấy lại có đại lược và nói rộng. Nói đại lược th́ hễ chấp trước bèn sanh nghi; nói rộng th́ là đoạn nghi, sanh tín. Ư chỉ trọng yếu nói đại lược chẳng ngoài mấy câu “chỉ có Phật và Phật mới có thể thấu suốt rốt ráo Thật Tướng của các pháp”. Đó chính là giềng mối rộng lớn của cả bản kinh, là chỗ sâu thẳm của các nghĩa. Nam Nhạc đại sư (ngài Huệ Tư) đă dựa theo ba nghĩa để lần lượt giảng giải:

          - Một, tướng ấy là Như, tánh ấy là Như, cho đến báo ấy là Như. Như có nghĩa là “chẳng khác”. Đó chính là nghĩa Không.

          - Hai là như thị tướng, như thị tánh, cho đến như thị báo, chỉ bày tánh và tướng của Không, đặt ra các danh tự dằng dặc sai khác. Đó chính là nghĩa Giả.

          - Ba là tướng như thế, tánh như thế, cho đến báo như thế. Như chính là Thị trong Trung Đạo Thật Tướng, tức là nghĩa Trung.

          Phân biệt cho dễ giải thích, cho nên nói là Không, Giả, Trung. Hễ thấu hiểu ư, bèn nói Không chính là Giả và Trung. Dựa theo Như để giải thích Không, một thứ là không th́ hết thảy đều không. Nêu ra Như để chỉ rơ tướng, một thứ giả th́ hết thảy đều là giả, chính là luận định về Trung. Một thứ trung th́ hết đều là trung, chẳng phải là một, hai, ba, nhưng lại là một, hai, ba, chẳng dọc, chẳng ngang, nên gọi là Thật Tướng. Chỉ có Phật và Phật thấu hiểu cùng tận rốt ráo pháp này. Mười pháp ấy thâu nhiếp hết thảy các pháp. Trí Giả đại sư lại dùng bốn lượt giải thích:

          - Một là dựa theo mười pháp giới.

          - Hai là dựa theo Phật giới.

          - Ba là dựa theo sự tách ra hay gộp lại.

          - Bốn là dựa theo địa vị.

          1) Một là dựa theo mười pháp giới, [mười pháp giới] chính là lục đạo và tứ thánh (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật). Pháp tuy vô lượng, nhưng xét ra chẳng ngoài mười pháp giới ấy. Trong mỗi pháp giới, tuy lại có nhiều tiểu loại, nhưng chẳng ra ngoài Thập Như (như thị tánh, như thị tướng, như thị nhân, như thị quả v.v…) Chẳng hạn như trong địa ngục giới, trong ấy có trọn đủ tướng, tánh… [cho đến] bổn mạt [cứu cánh như thế], mà cũng có đủ tánh, tướng, bổn mạt của súc sanh giới, cho đến trọn đủ tánh, tướng, bổn mạt của Phật giới, chẳng hề khuyết, giảm! Do vậy biết trong mỗi pháp giới đều có Thập Như của chín pháp giới kia. Nếu xét Thập Như của chín pháp giới trong địa vị của chính ḿnh th́ đều gọi là Quyền. Nếu xét theo Thập Như của Phật giới trong địa vị của chính ḿnh th́ gọi là Thật. Trong một, trọn đủ vô lượng; trong vô lượng có một. V́ thế, gọi là “chẳng thể nghĩ bàn”. Phàm phu tuy trọn đủ, nhưng tuyệt lư, mê muội nơi t́nh. Nhị Thừa tuy trọn đủ, nhưng lại xả ly (ĺa bỏ), cầu giải thoát. Bồ Tát tuy trọn đủ, nhưng chiếu chẳng trọn vẹn, cho nên gọi là “chẳng liễu giải”. Như Lai thấu hiểu trọn vẹn, ngang dọc đều trọn đủ.

          2) Hai là dựa theo Phật pháp giới để giải thích. Phật giới chẳng phải tướng, chẳng phải không có tướng, mà nói “như thị tướng” tức là nói đến nhân duyên của vạn thiện. V́ thế, kinh văn trong phần sau có chép: “Chúng bảo trang hiệu” (các thứ báu trang hoàng). Phật giới chẳng phải là tánh, chẳng phải không là tánh, mà nói “như thị tánh”, tức là nói đến liễu nhân[17] của trí huệ. V́ thế, kinh văn trong phần sau có nói: “Hữu đại bạch ngưu” (có trâu trắng lớn). Phật giới chẳng phải là Thể, chẳng phải không là Thể, mà nói “như thị Thể” tức là chánh nhân của Thật Tướng. V́ thế, trong kinh văn thuộc phần sau có câu: “Kỳ xa cao quảng” (xe ấy cao rộng). Phật giới chẳng phải là lực, chẳng phải không là lực, mà nói “như thị lực”, tức là nói tới căn, lực v.v… từ thiện của Bồ Đề đạo tâm. V́ thế, kinh văn trong phần sau có nói: “Hựu ư kỳ thượng, trương thiết hiến cái” (lại ở trên ấy, căng che rèm, lọng). Phật giới chẳng phải là tác, chẳng phải là bất tác, mà nói “như thị tác”, tức là nói vô công dụng đạo tùy ư. V́ thế, kinh văn trong phần sau có câu: “Kỳ tật như phong” (xe ấy chạy nhanh như gió). Phật giới chẳng phải là nhân, chẳng phải không nhân, mà nói là “như thị nhân”, tức là nói đến bốn mươi mốt địa vị. V́ thế, kinh văn trong phần sau có câu: “Thừa thị bảo thừa, du ư tứ phương” (ngồi xe báu ấy, dạo khắp bốn phương). Phật giới chẳng phảiduyên, chẳng phải là không có duyên, mà nói là “như thị duyên”, tức là nói đến hết thảy Bồ Đề trợ đạo. V́ thế, kinh văn trong phần sau có câu: “Hựu đa bộc tùng nhi thị vệ chi” (lại có nhiều người hầu theo hầu, bảo vệ). Phật giới chẳng phải là quả, chẳng phải không có quả, mà nói “như thị quả”, tức là nói Diệu Giác là rạng ngời,do cái nhân viên măn đạt được. V́ thế, kinh văn trong phần sau có nói: “Trực chí đạo tràng” (đến thẳng đạo tràng). Phật giới chẳng phải là báo, chẳng phải là không có báo, mà nói là “như thị báo” tức là nói đến Đại Bát Niết Bàn. V́ thế, kinh văn trong phần sau có nói: “Đắc vô lượng vô lậu thanh tịnh chi quả báo” (đạt được quả báo vô lượng thanh tịnh vô lậu). Phật giới chẳng phải ngọn, chẳng phải gốc, mà nói “gốc, ngọn”. Gốc chính là Phật tướng, ngọn chính là Phật báo, chính là Quyền nơi tự hành. Phật giới chẳng phải b́nh đẳng, chẳng phải bất b́nh đẳng, mà nói “rốt ráo b́nh đẳng” chính là nói đến Thật Tướng. Đó là Thật nơi tự hành, ngay nơi Thật mà chính là Quyền, cho nên nói là “bổn mạt” (本末, gốc và ngọn). Do ngay nơi Quyền chính là Thật, cho nên nói là Đẳng (b́nh đẳng).

          3) Ba là xét theo sự tách ra hay gộp vào. Như thập giới và thập như được quán nơi Phật tâm đều là vô thượng tướng cho đến vô thượng quả báo, chỉ là một Phật pháp giới như biển cả gồm thâu muôn gịng, ngàn xe đi cùng một đường. Đấy chính là Quyền và Thật nơi tự hành. Nếu thuận theo ư của kẻ khác th́ sẽ có Thập Như tức tánh, tướng v.v… của chín pháp giới khác; đó chính là Quyền và Thật nơi hóa độ người khác. Tuy hóa độ người khác có Thật, nhưng đều gắn bó với Quyền.
Tự hành tuy có Quyền, nhưng đều là Thật. Đấy chính là Quyền và Thật nơi tự hành và hóa độ người khác. Thuận theo người khác là tách ra, thuận theo chính ḿnh th́ là gộp lại. Chiếu trọn vẹn theo chiều dọc lẫn chiều ngang, tách ra hay gộp lại đều tự tại.

          4) Bốn là xét theo địa vị mà giải thích tướng như thế. Hết thảy chúng sanh đều có Thật Tướng, vốn tự sẵn có, đấy chính là tướng mạo của Như Lai Tạng. “Tánh như thế” chính là Đệ Nhất Nghĩa Không nơi trí huệ thuộc về Tánh Đức. “Thể như thế” chính là lư pháp tánh nơi Trung Đạo. Đấy là Tam Đức, mỗi địa vị trong mười pháp giới đều có. Nếu thấu suốt ba đức ấy, dự vào địa vị Thập Tín, th́ gọi là “lực như thế”“tác như thế”. Dự vào bốn mươi mốt địa vị [từ Sơ Trụ cho đến Đẳng Giác] th́ gọi là “nhân như thế, duyên như thế”. Nếu đạt tới địa vị Phật th́ gọi là “quả như thế, báo như thế”. Ba món đầu tiên gọi là gốc, ba món sau cùng gọi là ngọn. Đầu và sau đều cùng là ba đức. V́ thế nói là rốt ráo b́nh đẳng.

          Trong chuyện mở rộng “khai tam, hiển nhất” (vạch ra tam thừa nhằm hiển lộ nhất thừa), tuy dẫn trọn khắp “mười phương ba đời, Phật Phật đạo đồng”, đều chẳng ra ngoài “tứ nhất”, tức là Lư Nhất, Nhân Nhất, Hạnh Nhất, và Giáo Nhất.

          1. Lư Nhất: Xét theo “khai, thị, ngộ, nhập” tri kiến của Phật để nói th́ lại có bốn ư: Một là xét theo viên vị, hai là xét theo viên trí, ba là xét theo viên môn, bốn là xét theo quán tâm.

          1.1. Xét theo viên vị (các địa vị trong Viên Giáo), Khai chính là Thập Trụ. Đầu tiên là phá vô minh để mở Như Lai Tạng, thấy lư Thật Tướng. Thị chính là Thập Hạnh, đă trừ Hoặc chướng, hiển lộ cái Thể của tri kiến. Thể trọn vẹn vạn đức, các đức trong pháp giới được hiển thị phân minh. Ngộ chính là Thập Hồi Hướng, chướng đă trừ, Thể hiển lộ, hạnh pháp giới sáng tỏ, sự lư viên dung, chẳng c̣n hai nẻo. Nhập chính là Thập Địa, Lư và Sự đă dung thông, tự tại vô ngại, tự tại lưu truyền, tưới gội, tùy ḷng từ A đến Trà[18], vào trong biển Tát Bà Nhă (Sarvajñā, Nhất Thiết Trí). Nhưng đối với các giai vị mầu nhiệm của Viên đạo (Viên Giáo), trong mỗi địa vị đều trọn đủ công đức của bốn mươi mốt địa vị. Chỉ một môn Khai đă trọn đủ Thị, Ngộ, Nhập, cũng chẳng phải là tâm nào khác, chỉ là tri kiến như lư, chẳng có tướng phân biệt sâu hay cạn. Nhằm muốn tỏ rơ tri kiến như lượng, cho nên chia thành bốn giai vị (Trụ, Hạnh, Hồi Hướng, Địa).

          1.2. Hai là xét theo viên trí:

          - Một là đạo huệ, kiến đạo thật tánh. Trong thật tánh bèn được khai tri kiến của Phật.

          - Hai là đạo chủng huệ. Biết tướng riêng biệt “giải trừ nghi hoặc” của các đạo chủng thuộc mười pháp giới, mỗi mỗi đều là “thị tri kiến của Phật”.

          - Ba là Nhất Thiết Trí, biết hết thảy các pháp đều là nhất tướng tịch diệt. Tịch diệt tức là ngộ tri kiến của Phật.

          - Bốn là Nhất Thiết Chủng Trí, biết hết thảy các pháp nhất tướng, tức tịch diệt tướng. Các thứ hạnh, loại, tướng mạo đều biết, tức là nhập tri kiến của Phật.

          Lại nữa, đạo huệ đúng lư th́ gọi là Khai. Đạo chủng huệ như lượng th́ gọi là Thị. Nhất Thiết Trí lư và lượng chẳng hai th́ gọi là Ngộ. Nhất Thiết Chủng Trí lư và lượng cùng chiếu th́ gọi là Nhập. Đây cũng là xét theo thật lư, chẳng phân biệt là cạn hay sâu.

          1.3. Ba là xét theo bốn môn của Viên Giáo để giải thích bốn câu:

           - Không môn: Một thứ là không th́ hết thảy đều không, tức là Khai tri kiến của Phật.

          - Hữu môn: Một thứ có th́ hết thảy đều có, tức là Thị tri kiến của Phật.

          - Diệc Không diệc Hữu môn (môn vừa có vừa không): Hết thảy đều là vừa không vừa có, chính là Ngộ tri kiến của Phật.

          - Phi Không phi Hữu môn: Hết thảy chẳng phải có, chẳng phải không, chính là Nhập tri kiến của Phật.

           Chủ thể có thể thông (năng thông) gồm có bốn môn (tức bốn môn Có, Không, Cũng Có Cũng Không, Chẳng Có Chẳng Không), đối tượng được thông (sở thông) chỉ có một. Khai, Thị, Ngộ, Nhập là năng thông. Cái được biết, được thấy chính là lư sở thông.

          1.4. Xét theo quán tâm để giải thích: Quán lư Tam Đế (Không, Giả, Trung) nơi tâm tánh chẳng thể nghĩ bàn. Phép Quán ấy sáng sạch là Khai. Tuy chẳng thể nghĩ bàn, nhưng có thể phân biệt tâm “Không, Giả, Trung” rành rẽ, chẳng sai lạm, th́ gọi là Thị. Tâm Không, Giả, Trung tuy ba mà chính là một, tuy một mà là ba, cho nên gọi là Ngộ. Tâm Không, Giả, Trung chẳng phải là Không, Giả, Trung, nhưng cùng chiếu Không, Giả, Trung, th́ gọi là Nhập. Đấy là Nhất Tâm Tam Quán, mà chia thành Khai, Thị, Ngộ, Nhập sai khác.

          Đối với bốn cách giải thích ấy, tùy theo từng địa vị mà thấy Lư. Mỗi địa vị lại do trí mà lập. Trí phát sanh từ các môn. Mỗi môn được thành lập do quán [khác biệt]. Do quán nên thông với các môn. Do các môn được thông mà thành trí. Do trí được thành lập mà các địa vị được kiến lập. Do các địa vị được kiến lập nên thấy lư. Do thấy Lư nên là Lư Nhất.

          2. Chư Phật Như Lai chỉ giáo hóa hàng Bồ Tát, tức là Nhân Nhất.

          3. Các việc được thực hiện thường v́ một sự, tức là Hạnh Nhất.

          4. Chỉ v́ một Phật Thừa mà v́ chúng sanh thuyết pháp, tức là Giáo Nhất.

          Bốn môn Nhất ấy (Lư Nhất, Nhân Nhất, Giáo Nhất, Hạnh Nhất) dung hội trọn khắp quyền lư, quyền nhân, quyền hạnh, quyền giáo xưa kia, trở thành thật lư, thật nhân, thật hạnh, thật giáo trong hiện thời. V́ thế, gọi là “khai Quyền, hiển Thật”, khéo thông đạt các phương pháp, tức là “chân bí” vậy.

           * Phẩm thứ ba là phẩm Thí Dụ (Aupamya). Do sánh ví với t́nh huống thật sự, nên gọi là Thí. Răn dạy ḥng thấu hiểu th́ gọi là Dụ. Mượn điều này để sánh ví điều kia, nhờ vào chuyện nông cạn để huấn thị điều sâu xa. Trong phần Pháp Thuyết Châu thuộc kinh văn trong phẩm trước, bậc thượng căn đắc ngộ, hàng trung hạ căn vẫn chưa dứt mê muội. [Đức Phật] đại bi không ngơi, trí xảo mầu nhiệm vô biên, mượn chuyện cha con trong thế gian để sánh ví thầy tṛ nơi đạo xuất thế. Mượn nhà lửa để sánh ví tam giới; nhờ vào ba loại xe một loại xe để thí dụ tam thừa và nhất thừa. V́ thế, gọi là phẩm Thí Dụ.

          * Phẩm thứ tư là phẩm Tín Giải (Adhimukti). Hàng trung hạ căn nghe Thí Thuyết Châu, phát khởi tín tâm, sanh khởi giải ngộ, trừ nghi, hiểu rơ lư, bèn tự trần thuật thí dụ về đứa con nghèo túng, lănh ngộ ư chỉ của Pháp Thuyết Châu và Thí Thuyết Châu trên đây.

          * Phẩm thứ năm là phẩm Dược Thảo Dụ (Oṣadhī). Đất đai có thể sanh thành, mây mưa có thể nhuần tưới. Thảo mộc là cái được sanh thành, cái được nhuần tưới. Cái được sanh, được nhuận đều hữu dụng, mà dược thảo có tác dụng mạnh mẽ ví như các điều thiện hữu lậu đều có thể trừ ác, nhưng vô lậu là tối thắng. Bốn vị đại đệ tử trong đại chúng vô lậu dùng thí dụ để lănh hội thí dụ của Phật, thấu hiểu sâu xa thánh tâm. V́ thế, đức Phật trần thuật sự thành tựu của họ để mở rộng thêm.

          * Phẩm thứ sáu là phẩm Thọ Kư (Vyākaraṇa). [Thọ Kư trong] tiếng Phạn là Ḥa Già La (Vyākaraṇa), phương này dịch là Thọ Kư (授記), lại c̣n nói là Thọ Kư (受記), hoặc Thọ Quyết (受決), Thọ Bôn (受倴). Thọ () có nghĩa là trao cho, c̣n Thọ () nghĩa là “nhận được”. Kư () là ghi nhớ sự việc. Quyết () là quyết định. Bôn ()[19] là đă hết ngu muội. Đấy chính là thọ kư cho bốn người thuộc trung căn sẽ thành Phật.

          * Phẩm thứ bảy là phẩm Hóa Thành Dụ (Pūrvayoga). Tuy không có mà hiện hữu trong thoáng chốc th́ gọi là Hóa. Ngăn ngừa kẻ sai trái, chống lại kẻ đối địch, th́ gọi là Thành. Dùng điều này để sánh ví Niết Bàn của Nhị Thừa, [Niết Bàn] ấy do Quyền Trí của Như Lai thiết lập. Do sức của Quyền Trí, tuy là không mà nói là có. Dùng giáo để hóa hiện, pḥng ngự Kiến Tư, gọi là Niết Bàn. Đối với hai thừa Tạng và Thông, sanh ư tưởng an ổn, diệt độ, chẳng biết đó là hóa hiện. Thông Giáo Bồ Tát vào rồi lại ra, cũng chẳng biết đó là hóa hiện. Biệt Giáo từ cửa thành mà đi qua, chẳng coi đó là cùng cực, cũng chẳng nói đó là hóa hiện. Chỉ Viên Giáo hiểu biết không lầm lẫn, cũng chẳng cần thành nữa. V́ thế nói là “hóa thành”. Đấy chính là v́ kẻ hạ căn mà nói ra một phen nhân duyên trong đời trước.

          * Phẩm thứ tám là phẩm Ngũ Bách Đệ Tử Thọ Kư (Pañcabhikṣuśata-vyākaraṇa). Phẩm thứ chín là phẩm Thọ Học Vô Học Nhân Kư (Vyākaraṇa), tức là thọ kư trọn khắp kẻ hạ căn sẽ thành Phật. Phần Chánh Tông của Tích Môn đến đây là hết, năm phẩm sau đó thuộc phần Lưu Thông.

          * Hai phẩm Pháp Sư và Hiện Bảo Tháp nói rơ: Hoằng dương kinh sẽ có công phước sâu nặng. Phần Lưu Thông [nhằm giảng rơ cho kẻ] chưa nghe [sẽ được biết kinh này có] lợi ích rất lớn. Phẩm Đề Bà Đạt Đa dẫn chuyện hoằng dương kinh trong quá khứ, ta và người đều được lợi ích. Dùng điều đó để chứng tỏ công đức sâu nặng. Phẩm Tŕ [nhằm nói] tám vạn Đại Sĩ thành tựu nhẫn lực, hoằng dương kinh trong cơi này, những người vừa mới được thọ kư sẽ hoằng dương kinh trong cơi khác. Phẩm An Lạc Hạnh là v́ kẻ ngoại phàm[20] sơ tâm ham thích phước thù thắng, do thấy hàng Thanh Văn sợ hăi, Bồ Tát bị quở trách, tự xét chính ḿnh sức yếu ớt, vô ích cho chính ḿnh lẫn người, liền sanh tâm thoái thất. Đức Phật v́ kẻ như thế bèn nói các hạnh An Lạc. Nương theo các hạnh ấy để hoằng pháp, sẽ chẳng lo nguy hiểm, khổ sở. Lại nữa, trong phẩm Pháp Sư, đức Thích Ca tự nói công đức và phước báo do hoằng dương kinh, truyền nói lưu thông. Trong phẩm Hiện Bảo Tháp, Phật Đa Bảo và phân thân của Phật đều cùng chứng minh, phụ trợ, khuyên nhủ lưu thông.

          * Phẩm thứ mười là phẩm Pháp Sư (Dharmabhāṇaka). Pháp là quỹ tắc (軌則, quy tắc, chuẩn mực). Sư là bậc thầy răn dạy. Pháp tuy có thể noi theo, nhưng nó chẳng thể tự hoằng truyền, phải do có người thực hiện. Năm hạng người thông hiểu kinh đều có thể gọi là Sư. Nêu ra pháp để thành tựu sự tự hành, đều lấy diệu pháp làm thầy. Tôn diệu pháp làm thầy th́ tự hành sẽ được thành tựu. V́ thế nói là “pháp sư”. Lại dùng diệu pháp để dạy bảo người khác; v́ thế, nêu ra pháp, gọi pháp ấy là thầy. Do đó, gọi là pháp sư. Kinh văn [trong phẩm này] trước là tán thán năm loại pháp sư có thể tŕ pháp: Một là thọ tŕ, hai là đọc, ba là tụng, bốn là giải nói, năm là biên chép.

          Sau đó, khen ngợi pháp được tŕ, và dạy khuôn phép để lưu thông kinh, tức là “nhập Như Lai thất, trước Như Lai y, tọa Như Lai ṭa” (vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi ṭa của Như Lai). “Như Lai thất” là đại từ bi. Nếu là đồng thể [đại bi] th́ sẽ là Pháp Thân. Nếu hóa độ chúng sanh th́ là giải thoát. Có thể khiến cho chúng sanh quy về đồng thể th́ là Bát Nhă. “Áo Như Lai”: Nếu xét theo phương diện “được che phủ” th́ là Pháp Thân. Nếu xét theo phương diện “che phủ, trang nghiêm thân” th́ là Tịch Diệt Nhẫn. Nếu ḥa quang đồng trần nhằm lợi lạc chúng sanh th́ chính là giải thoát. Ṭa của Như Lai, nếu xét theo chủ thể có thể ngồi th́ chính là Bát Nhă. Nếu xét theo cái bị ngồi th́ là Pháp Thân. Thân và ṭa ngầm xứng hợp, chính là giải thoát. Tuy mỗi thứ đều có đủ [tam đức tức Pháp Thân, Bát Nhă và giải thoát], chỉ là một mà thành ba, dẫu là ba mà vẫn chẳng phải là ba, há tách ĺa thành chín đức ư? Do vậy, Bồ Tát thường quán Niết Bàn. V́ thế, khuyên người hoằng dương kinh hăy thường quán. Chẳng quán cái tâm hoằng truyền, sao có thể hiểu cái lư được hoằng dương? V́ thế, đức Phật dạy “vào nhà của ta, mặc áo của ta, ngồi ṭa của ta”. Nếu chẳng có ba pháp ấy, lấy ǵ để hoằng truyền kinh?

          * Phẩm thứ mười một là phẩm Hiện Bảo Tháp (Stūpasaṃdarśana). Tháp của Đa Bảo Phật (Prabhūtaratna) từ trong ḷng đất vọt ra, đại chúng đều trông thấy. [Từ trong tháp], phát ra âm thanh to lớn để chứng phần trước, phát khởi phần sau: Nhóm họp [phân thân của] Phật để mở tháp, ḥng phát khởi cho phần sau.

          * Phẩm thứ mười hai là Đề Bà Đạt Đa (Devadatta). Đề Bà Đạt Đa được phương này dịch là Thiên Nhiệt (天熱), v́ khi ông ta sanh ra, trời lẫn người đều cảm thấy nóng bức. Do vậy, đặt tên như thế. [Đề Bà Đạt Đa] thị hiện dấu tích hành nghịch hạnh, nhưng vốn là thầy của đức Phật. Chúng sanh bị phiền năo thiêu đốt nóng bức, cho nên Bồ Tát thị hiện mắc cùng bệnh để độ thoát. Kinh văn [trong phẩm này] trước là nói thuở xưa Đề Bà Đạt Đa truyền dạy kinh điển, [nhờ đó], đức Thích Ca thành đạo. Phần kinh văn tiếp đó nói hiện thời ngài Văn Thù giảng kinh, long nữ thành Phật.

          * Phẩm thứ mười ba là phẩm Tŕ (Utsāha), có thọ tŕ và khuyến tŕ.

          * Phẩm thứ mười bốn là phẩm An Lạc Hạnh (Sukhavihāra). Do thân chẳng có nguy hiểm, nên an. Do tâm chẳng có ưu năo, nên lạc. Do thân tâm an lạc, cho nên có thể thực hiện. Đó là dựa theo Sự để giải thích. Mặc áo Như Lai th́ Pháp Thân an. Vào nhà Như Lai th́ tâm giải thoát vui sướng. Ngồi ṭa của Như Lai th́ đạo hạnh Bát Nhă tăng tấn. Đấy là kèm thêm kinh văn của phẩm trước để giải thích. Trụ nơi địa vị nhẫn nhục, cho nên thân an; do không nóng vội, cho nên tâm lạc. Quán Thật Tướng của các pháp, nên có thể tăng tấn. Đấy là dựa theo kinh văn trong phẩm này để giải thích.

          “An” là bất động, tức lục đạo sanh tử lẫn Niết Bàn của thánh nhân Nhị Thừa đều chẳng thể động. “Lạc” là chẳng thọ (tiếp nhận). Chẳng tiếp nhận tác dụng rộng lớn của tam-muội, chẳng lănh thọ năm thứ thọ[21] của phàm phu, cho đến năm thứ thọ (cảm nhận) sanh kiến giải trong Viên Giáo cũng đều chẳng thọ. Hễ có thọ, sẽ có khổ. Chẳng có thọ, sẽ không có khổ. Chẳng khổ, chẳng lạc, bèn gọi là đại lạc. Hạnh là chẳng hành, tức chẳng hành hạnh phàm phu, chẳng hành hạnh của hiền thánh. V́ thế nói là “chẳng hành”, mà hành Trung Đạo. V́ thế, gọi là Hạnh. Đấy là giải thích theo pháp môn này.

          Kinh văn chia thành bốn đoạn, tức là dùng Chỉ, Quán, và từ bi để hướng dẫn tam nghiệp và thệ nguyện. Thân nghiệp có Chỉ; v́ thế, ĺa thô nghiệp nơi thân. Do có Quán, nên chẳng đạt được thân, chẳng đạt được thân nghiệp, chẳng đạt được chủ thể có thể ĺa (năng ly). Do không có ǵ để đạt được, chẳng đọa phàm phu. Do có từ bi, siêng tu thân nghiệp, lợi ích rộng răi hết thảy, chẳng đọa vào các địa vị thuộc Nhị Thừa. Do có Chỉ hạnh, bèn mặc áo Nhẫn Nhục. Do có Quán hạnh, ngồi ṭa của Như Lai. Do có từ bi, vào nhà của Như Lai. Hạnh Chỉ ĺa lỗi, liền thành Đoạn Đức. Quán hạnh chẳng chấp trước, liền thành Trí Đức. Từ bi lợi lạc người khác, liền thành Ân Đức. Ân Đức giúp cho Trí Đức thành tựu, Trí Đức có thể thông đạt Đoạn Đức. Đó gọi là an lạc hạnh nơi thân nghiệp. Các thệ nguyện nơi khẩu và ư cũng giống như thế. Tới đây, phần Lưu Thông của Tích Môn đă xong.

 

2. Khoa phán Bổn Môn

 

          * Phẩm thứ mười lăm là phẩm Tùng Địa Dũng Xuất (Bodhisattva-pṛthivīvivara-samudgama). Các vị Pháp Thân từ trong hư không thuộc phương dưới, chính là các đệ tử của đức Thích Ca trong bổn thời. Nay họ phụng mạng vọt lên để hoằng dương kinh. Ngài Di Lặc c̣n chẳng nhận biết. Do chuyện này mà phát khởi đại giáo khai cận, hiển viễn.

          * Phẩm thứ mười sáu là phẩm Như Lai Thọ Lượng (Tathāgatāyuṣpramāṇa), thật sự chỉ ra cận tích (dấu tích thị hiện trong thời gần đây, tức sự thị hiện thành Phật trong thế giới Sa Bà) để hiển lộ đức Phật đă vốn thành Phật từ thời lâu xa. Như Lai (Tathāgata) là hiệu chung của mười phương tam thế chư Phật, hai Phật, ba Phật, Bổn Phật, Tích Phật. Thọ () là thọ (, lănh nhận). Lượng () là nói đến hạn lượng. Phẩm này nói thẳng vào công đức của Báo Thân nơi bổn địa, nhưng trí huệ của Báo Thân ngầm khế hợp cả trên lẫn dưới, tam thân rành rành trọn đủ. V́ thế, gọi là phẩm Như Lai Thọ Lượng.

          * Phẩm thứ mười bảy là phẩm Phân Biệt Công Đức (Puṇyaparyāya). Đức Phật nói thọ lượng, các đệ tử cả ba đời đều đạt được các thứ lợi ích. Do nói ra công đức cạn hay sâu khác nhau, nên bảo là Phân Biệt. Trong phẩm này, có phần thọ kư, [đại chúng nghe giảng] bèn lănh ngộ, thông hiểu, và lưu thông. Đức Phật nói phần Trường Hàng nhằm thọ kư chung về Pháp Thân. Ngài Di Lặc nói kệ để tŕnh bày sự tiếp nhận, giải ngộ chung.

          Từ đấy trở đi là phần Lưu Thông. Trong phần này, trước hết nói đến Tứ Tín trong hiện tại, kế đó nói về ngũ phẩm sau khi diệt độ.

          Tứ Tín là:

          - Một là mỗi niệm đều tín giải, nhưng chưa thể diễn nói.

          - Hai là giải thích đại lược về tông thú [của kinh này].

          - Ba là rộng v́ người khác giảng nói.

          - Bốn là tin sâu, quán thành tựu.

          Ngũ phẩm là:

          - Một là trực tiếp phát khởi cái tâm tùy hỷ.

          - Hai là [đă có tâm tùy hỷ], lại c̣n tự thọ tŕ, đọc tụng.

          - Ba là khuyên người khác thọ tŕ, đọc tụng.

          - Bốn là c̣n thêm kiêm hành Lục Độ.

          - Năm là lại c̣n chánh hành Lục Độ.

          * Phẩm mười tám là phẩm Tùy Hỷ Công Đức (Anumodanāpuṇya-nirdeśa), nói về công đức do cái nhân thuộc sơ phẩm để khuyên lưu thông. “Tùy” là tùy thuận sự lư chẳng hai, chẳng khác. Hỷ là mừng cho ḿnh, mừng cho người. “Thuận lư” là nghe bổn địa hết sức lâu xa của Phật, tín thuận chẳng trái nghịch, chẳng hề vướng mắc mảy may ngờ vực. “Thuận sự” là nghe nói đức Phật lợi ích chúng sanh khắp ba đời, theo chiều dọc lẫn chiều ngang (tức là xét theo không gian và thời gian) đều gồm trọn, trọn khắp hết thảy mọi nơi, cũng chẳng có mảy may vướng mắc ngờ vực. Thuận lư sẽ có công đức chân thật. Thuận sự bèn có quyền công đức. Vui mừng v́ chính ḿnh tức là có trí huệ. Vui mừng v́ người khác là có từ bi. Gộp chung Quyền Trí Đoạn và Thật Trí Đoạn để nói; v́ vậy, nói là phẩm Tùy Hỷ Công Đức.

          * Phẩm thứ mười chín là phẩm Pháp Sư Công Đức (Dharmabhāṇa-kānuśamsṃā), nêu ra công đức của cái quả thuộc sơ phẩm để khuyên bảo lưu thông. [Cái quả ấy] chính là sáu căn thanh tịnh.

          * Phẩm thứ hai mươi là phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát (Sadāparibhūta), dẫn giải tội phước do tin tưởng hay hủy báng, nhằm làm chứng để khuyên lưu thông. Trong tâm ǵn giữ sự giải ngộ chẳng khinh, ngoài là tôn kính chẳng khinh cảnh. Thân lập hạnh Bất Khinh, miệng tuyên dương giáo nghĩa bất khinh. Người ta gọi Ngài là Bất Khinh. V́ thế, có tên là Thường Bất Khinh.

          Kinh văn thuộc ba phẩm rưỡi trên đây chính là phần Khuyến Tŕ Lưu Thông đă xong. Kế đó, kinh văn gồm tám phẩm, nói về sự phó chúc lưu thông, lại chia thành ba phần:

          - Hai phẩm Như Lai Thần Lực và Chúc Lụy giảng về chúc lụy lưu thông.

          - Năm phẩm từ phẩm Dược Vương trở đi, xét theo sự hóa độ người khác mà khuyên lưu thông.

          - Một phẩm Phổ Hiền là xét theo tự hành để khuyên lưu thông.

          * Phẩm thứ hai mươi mốt là phẩm Như Lai Thần Lực (Tathāgatarddhy-abhisaṃskāra). “Thần” là chẳng thể lường. “Lực” là vận dụng. “Chẳng thể lường” tức là cái Thể tự nhiên sâu xa; vận dụng th́ sức chuyển biến to lớn. Trong phẩm này, phó chúc pháp sâu, hiện mười thứ đại lực. V́ thế, gọi là phẩm Thần Lực.

          * Phẩm thứ hai mươi hai là phẩm Chúc Lụy (Anuparīndana). Chúc () là đức Phật giao phó, căn dặn. Lụy () là làm phiền các vị tuyên truyền. Đấy là do xét theo thánh chỉ (ư chỉ của Phật) mà đặt tên như vậy. Lại nữa, Chúc là cung kính tiếp nhận lời căn dặn, Lụy là cam tâm [thực hiện] chẳng nhọc nhằn. Đấy là sự đặt tên phẩm dựa theo ḷng kính thuận của Bồ Tát. Chúc lại là miệng vàng của Như Lai căn dặn, Lụy là Bồ Tát sắt son cung kính lănh nhận, gánh vác. Đó là luận định xét theo sự truyền trao và tiếp nhận gộp chung lại. V́ thế, Như Lai vươn ḿnh từ ṭa đứng dậy, duỗi tay xoa đỉnh đầu [đại chúng], truyền trao pháp khó được. Đại chúng khom ḿnh, chắp tay, đúng như lời sắc truyền của đức Thế Tôn mà phụng hành trọn vẹn, ân cần trao nhận; v́ thế gọi là Chúc Lụy.

          * Phẩm thứ hai mươi ba là phẩm Dược Vương Bồ Tát Bổn Sự (Bhaisajyarāja-pūrvayoga), nhằm đôn đốc bậc thầy hoằng pháp hăy nên dốc cạn thần lực, trọn hết thân mạng để hoằng dương đại pháp.

          * Phẩm thứ hai mươi bốn là phẩm Diệu Âm (Gadgadasvara). Phẩm thứ hai mươi lăm là phẩm Quán Thế Âm Phổ Môn (Samantamukha) đều nhằm khuyên hàng đệ tử thọ pháp hăy nên biết các vị Đại Sĩ ở phương khác tuân phụng mạng lệnh mà hoằng dương kinh, hiện trọn khắp các sắc thân, chẳng có h́nh tướng nhất định. Chớ nên dùng con mắt của trâu, dê để nh́n, đừng nên dùng sự hiểu biết phàm tục để suy lường! Đối với các điều được nghe, chớ nên sanh ư tưởng coi thường. Sanh ư tưởng coi thường th́ tâm sẽ chẳng nhiễm pháp.

          * Phẩm thứ hai mươi sáu là phẩm Đà La Ni (Dhāraṇī). Hoằng dương kinh trong đời ác, thường gặp nhiều năo hại, nguy nan. V́ thế, dùng chú để bảo vệ, khiến cho đạo được lưu thông.

          * Phẩm thứ hai mươi bảy là phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự (Śubhavyūharājapūrvayoga), nói duyên trước của bốn vị thánh, hiển lộ công đức của người hộ tŕ.

          * Phẩm thứ hai mươi tám là phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát (Samantabhadrotsāhana). Tiếng Phạn là Bật Thâu Tung Đà[22], cơi này dịch là Phổ Hiền, c̣n dịch là Biến Cát (徧吉, tốt lành trọn khắp). Đạo hàng phục trọn khắp là Phổ (), gần với địa vị tột cùng gọi là Hiền (). Khuyến Phát (勸發) là từ ngữ nói về sự quyến luyến pháp. Ngài ở cơi xa, nghe trọn vẹn kinh này, từ đầu đến cuối đă trọn vẹn, muốn khiến cho [đại chúng trong hiện tại và tương lai] đều cùng tự hành, giáo hóa người khác, vĩnh viễn chẳng ngớt. Do vậy, từ phương Đông đến [Sa Bà] để khuyến phát.

          Lại xét chung đối với sự sanh khởi theo thứ tự trong phần Lưu Thông thuộc mười một phẩm rưỡi này, hiện thời nghe kinh sẽ đạt được hai thứ lợi ích chân thật và tương tự. Như trong phần trước đă nói: Nếu được trực tiếp nghe một câu mà sanh ḷng tùy hỷ, sẽ có công đức c̣n hơn tứ tín trong hiện tại. Đời vị lai chẳng có Phật, sợ có kẻ sẽ sanh ḷng nghi ít phước, cho nên nói ngũ phẩm công đức sau khi đức Phật diệt độ. Do công đức nơi nhân vi diệu, bí mật, chẳng rơ ràng, lồ lộ như công đức nơi quả, cho nên nói phẩm Pháp Sư Công Đức. Nhân và quả cùng nêu, không ǵ bằng dẫn chứng phân minh. V́ thế nói phẩm Thường Bất Khinh.

          Tuy nêu ra chuyện của người trong quá khứ, chẳng bằng biến hóa trong hiện tại. V́ thế nói phẩm Như Lai Thần Lực. Tuy tỏ bày thần lực, chẳng bằng xoa đỉnh đầu phó chúc. V́ thế, nói phẩm Chúc Lụy. Tuy đă chúc lụy theo lối thông thường, chẳng bằng nêu bày trọn đủ thuật trọng yếu xả thân giữ đạo. V́ thế, nói phẩm Dược Vương. Tuy có thể giáo hóa bằng răn dạy, chẳng bằng răn dạy kẻ được giáo hóa hăy nên thuận theo pháp được nghe mà sanh ư tưởng coi đó như là Phật. V́ thế nói phẩm Diệu Âm và Quán Âm. Sơ tâm hoằng dương kinh, đă chẳng có thần lực, hăy nên nương vào sự chế ngự bên trong. V́ thế, nói phẩm Đà La Ni. Lại cần phải ngoại hộ (sự hộ tŕ từ bên ngoài), nên nói các phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương và Phổ Hiền, liên miên trùng điệp khiến cho đại pháp được phổ biến rộng khắp.

          Lại nữa, Phổ Hiền lại thỉnh đức Phật chánh thuyết, khuyến phát [người nghe] tự hành, rồi lại xin lưu thông để khuyến phát, giáo hóa người khác. Đức Phật dùng bốn pháp để đáp chung. Một là được chư Phật hộ niệm. Hai là gieo trồng các cội đức. Ba là nhập Chánh Định Tụ. Bốn là phát tâm cứu hết thảy chúng sanh. Đó chính là ư chỉ chánh yếu để giải đáp [thắc mắc] về chánh thuyết và lưu thông. V́ sao vậy? Tuy Phật chẳng thiên lệch, nhưng nếu có thể tránh xa ác, hướng theo thiện, bỏ mê hướng về chánh, khai quyền tri kiến, hiển lộ Phật tri kiến, th́ sẽ xứng hợp thánh tâm, được chư Phật hộ niệm. Nếu tri kiến của Phật đă khơi mở, ắt Bát Nhă chiếu sáng; đó là “gieo trồng các cội đức”, mà cũng là “nhập Chánh Định Tụ”, chẳng loạn, chẳng mê muội, chẳng lấy, chẳng bỏ, đó cũng là “phát tâm cứu chúng sanh”. Hăy nên biết bốn điều ấy và “khai Quyền hiển Thật” tuy tên gọi khác nhau, nhưng có cùng một Thể, chẳng hai, chẳng khác.

          Hơn nữa, “Phật hộ niệm”Khai tri kiến của Phật. “Gieo trồng các cội đức” là Thị tri kiến của Phật. “Phát tâm cứu chúng sanh” là Ngộ tri kiến của Phật. “Nhập Chánh Định Tụ” là Nhập tri kiến của Phật. Lẽ trọng yếu trong Tích Môn được gồm thâu trong bốn điều ấy. Lại nữa, Tích ắt có Bổn, từ Bổn mà khai, thị, ngộ, nhập. V́ thế, trong Tích có khai, thị, ngộ, nhập. Nay khai Tích bèn hiển Bổn. Bổn và Tích chẳng hai, chẳng khác. Dùng bốn pháp ấy để giải đáp lời thỉnh về chánh thuyết, ư nghĩa đă rơ ràng. Dùng bốn pháp ấy để đáp lời thưa hỏi về Lưu Thông, phương pháp để lưu thông th́ có ba hoặc bốn. Phát tâm cứu chúng sanh là “vào nhà Như Lai”. Nhập Chánh Định Tụ và được Phật hộ niệm là “mặc áo của Như Lai”. Gieo trồng các cội đức là “ngồi ṭa của Như Lai”. Đó là lẽ trọng yếu trong chuyện hoằng dương, tuyên nói, tuy có bốn pháp mà là ba.

          Lại nữa, phát tâm cứu chúng sanh là thệ nguyện an lạc hạnh. Nhập Chánh Định Tụ là ư an lạc hạnh. Gieo trồng các cội đức là khẩu an lạc hạnh. Chư Phật hộ niệm là thân an lạc hạnh. Hăy nên biết bốn điều sau chính là bốn điều trước. Một lời đáp tương ứng với hai lời thưa hỏi, nêu lên bốn điều để gồm trọn một bộ kinh. Trùng tuyên Pháp Hoa há chẳng vừa hay khéo, vừa mầu nhiệm ư?

          Ngưỡng mong một câu thấm đượm tâm thần, đều giúp lên bờ kia. Tư duy, tu tập, vĩnh viễn dùng làm tàu thuyền. Tùy hỷ thấy nghe, luôn làm chủ và bạn. Dù lấy hay bỏ, hễ lọt qua tai đều trở thành duyên. [Người thấy nghe] dù thuận tùng hay chống trái, rốt cuộc đều nhờ đấy mà giải thoát. Nguyện vào lúc giải thoát th́ y báo và chánh báo sẽ thường tuyên nói kinh mầu nhiệm này. Một cơi nước hay một mảy trần, không ǵ chẳng lợi lạc chúng sanh. Chỉ nguyện chư Phật ngầm hun đúc, gia bị. Hết thảy các vị Bồ Tát đều ngầm giúp oai linh, bất cứ chỗ nào chưa nói kinh này, sẽ đều khuyến thỉnh [diễn nói]. Phàm chỗ nào có kinh này được tuyên nói, sẽ đích thân thừa sự, cúng dường. Một câu, hay một kệ [của kinh này, sẽ đều giúp cho người thấy nghe] tăng tấn Bồ Đề. Một sắc, một hương, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển.

 

Phần tự sau Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luân Quán

 

          Xưa kia, ông Lư Thanh Liên (Lư Bạch)[23] lên lầu Hoàng Hạc, thấy bài thơ do Thôi Hạo[24] đă viết, bèn gác bút, do biết ḿnh chẳng thể làm thơ hay hơn được! Trí Giả đại sư đích thân chứng Pháp Hoa tam-muội, [kiến giải của] Quang Trạch[25] c̣n bị phá, huống hồ là các vị chú giải khác! Người đời sau lại lũ lượt tŕnh bày kiến giải, v́ chưa có học thức như Thanh Liên. Tôi đă viết bộ Phật Đảnh Huyền Văn (chú giải phần Huyền Nghĩa của kinh Lăng Nghiêm), các bạn đều khuyên chú giải Pháp Hoa, tôi kiên quyết dùng ư này để từ chối. Vừa khéo diễn giảng kinh điển mầu nhiệm tại Tử Vân, có pháp hữu Đạt Tế đứng trông coi khắc in kinh, mong tôi tóm tắt ư chỉ chánh yếu của toàn bộ bản kinh để tạo thuận tiện cho hàng sơ học. Do vậy, kính dựa theo Huyền Nghĩa và Văn Cú, trích lục những điều đại cương, đặt tên là Luân Quán, ngơ hầu người bén mảng sẽ biết ư vị của toàn thể. Nếu có ai chê cười tôi chỉ sao lục văn từ trong các sách đă có từ trước, tôi nào dám chối căi. Ngẫu Ích Trí Húc kính đề.

 

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thai Tông Hội Nghĩa

Quyển 1

Đất Cổ Ngô, hậu học Ngẫu Ích Trí Húc biên soạn

妙法蓮華經台宗會義卷一

古吳後學蕅益智旭述

          Nếu có ai hỏi Ngẫu Ích rằng:

          - Tôi nghe giảng kinh Pháp Hoa th́ không ai hay hơn tông Thiên Thai. V́ thế, Trí Giả đại sư sau khi diệu ngộ, dùng tứ vô ngại biện tài chẳng thể nghĩ bàn để tuyên nói hai sách Huyền Nghĩa và Văn Cú. Tôn giả Chương An ghi lại mỗi sách gồm mười quyển, chẳng khác ǵ ngài A Nan kết tập. Cho tới tôn giả Kinh Khê lại dùng sách Thích Thiêm để chắp cánh cho Huyền Nghĩa, viết sách Văn Cú Kư để chắp cánh cho Văn Cú. Do vậy, Giáo Quán sáng ngời, được xưng tụng là các vị tổ trung hưng [tông Thiên Thai]. Nương theo đó để tu chứng, người đắc đạo như rừng. Dẫu có thánh nhân xuất hiện lần nữa, cũng chẳng thể nói thêm một chữ thừa thăi nào! Trước kia, đă từng thấy trong lời Bạt cho phần Luân Quán của ông có nói: “Ví như bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hạo đă khiến cho Lư Bạch phải gác bút”. Tôi cũng khâm phục lời ấy. Nay sao lại vô duyên cớ viết lách vậy?

          Ngẫu Ích thưa: - Ôi! Đấy cũng là nỗi khổ tâm muôn phần bắt đắc dĩ của tôi. Tôi ngụ tại Ôn Lăng, viết Luân Quán là v́ muốn dẫn dụ người học Phật trong thiên hạ chẳng ai không dốc ḷng nơi tam đại bộ[26]. Nay bấm ngón tay đếm đă mười mấy năm rồi! Lưỡi đớ, tai điếc, chưa thể khuyên được đôi ba người dốc sức nơi Giáo Quán, họ đều than thở các bộ sách ấy mênh mông, rườm rà khác nào nh́n vào biển cả bát ngát. Nếu chẳng bỏ công trích yếu đại lược đôi chút, các pháp viên đốn trong các sách Huyền Nghĩa, Thích Thiêm của ngài Diệu Lạc[27] sẽ đành đến nỗi cất trên gác cao!

          Hỏi: - Nếu là như vậy, chỉ cần sao lục, trích yếu Văn Cú và Văn Cú Kư, phỏng theo lệ của sách Diệu Huyền Tiết Yếu là được rồi, sao lại khoa phán, đổi văn, lén trộm thêm vào ư ḿnh, gọi thẳng thừng là Hội Nghĩa vậy?

          Đáp: - Đấy càng là chuyện bất đắc dĩ! Thời cổ, kinh và chú sớ đều cùng lưu hành, cho nên sớ giải ư nghĩa của kinh, đối với các điều uyên áo, chẳng ngại nêu rơ tường tận, sâu xa, c̣n đối với những chỗ kinh nói rơ ràng th́ chỉ chia khoa, chỉ điểm đôi chút mà thôi. Người đời sau gượng ép ghép sớ vào kinh, khiến cho câu chữ trong kinh văn bị xé lẻ khi đọc. Nay muốn thuận theo kinh văn để diễn giải ư nghĩa, mà vẫn chẳng tổn thương huyết mạch của kinh văn, lẽ nào chẳng chia đại lược thành từng khoa? Trí Giả đại sư biện tài phô diễn. Sau khi đại sư thị tịch, ngài Chương An mới phỏng theo ngài A Nan kết tập. Tuy hoàn toàn phù hợp ư nghĩa của đại sư [đă dạy], chưa chắc đă một mực đều là lời văn của đại sư? V́ thế, văn phong cổ kính, chất phác, chẳng chú trọng gọt giũa bóng bảy, chỉ có đọc lâu mới biết sự hay khéo. Kẻ sơ tâm đối trước các tác phẩm ấy đều mờ mịt, lẽ nào chẳng thay đổi lời văn đôi chút ư? Tôn giả Kinh Khê vàng ṛng qua trăm lần luyện, văn lẫn nghĩa đều sâu xa, nhưng cũng v́ mang hơi hướng thuở Lục Triều[28], hơi chẳng hợp thời cơ cho lắm. Đối với chuyện xiển dương, tiết lộ ư chỉ ngoài lời của đại sư, kẻ luôn theo gịng đếm chữ sẽ trọn chẳng thể biết được, há cũng chẳng giống như lén thêm vào ư kiến của ḿnh ư? Pháp Hoa kinh tạng sâu chắc, u viễn, Trí Giả đại sư có thể khế hội cội nguồn kinh ấy, há có thể tuyên nói trọn hết những điều uẩn tàng ư? Tôn giả Chương An ghi lại những điểm trọng yếu, há có thể chép tường tận trọn hết được ư? Ngay như tôn giả Kinh Khê có thể xiển dương yếu nghĩa, cũng có thể phân tích trọn hết các lẽ khúc chiết ư? Nay tôi dùng điều sở đắc do suy nghĩ ngàn mối của phàm phu để phù hợp thời nghi, há v́ sợ bị chê gièm trái nghịch cổ nhân mà chẳng dốc cạn đôi chút hiểu biết ư? Ai biết tôi trộm lấy ư nghĩa để ghép thêm vào các khoa th́ chính là người hiểu tôi. C̣n ai chỉ thấy là hội nghĩa th́ trách tội tôi, đó cũng chỉ hội nghĩa đó thôi! Ngày mồng Năm giữa tiết Đông năm Kỷ Sửu (1649)[29], cất bút viết lời tựa.

*

          Để giải thích kinh này, lời văn được chia thành hai phần: Trước hết là [giải thích] đề mục, sau đó là nhập văn (dựa theo kinh văn để giải thích).

 

* Đề mục

 

          Phần đề mục gồm có hai phần: Một là tựa đề của kinh, hai là tựa đề của từng phẩm.

          Tựa đề của kinh đă giải thích đầy đủ như trong sách Huyền Nghĩa và Thích Thiêm, hoặc đại lược như trong sách Diệu Huyền Tiết Yếu; ở đây chẳng nhắc lại nữa. Nay trước hết giải thích tựa đề của mỗi phẩm, sau đấy mới nhập văn. Có hai mươi tám tựa đề của các phẩm, nay trước hết giải thích phẩm Tự, các phẩm khác th́ khi đến phần kinh văn [của phẩm ấy] sẽ giải thích.

 

1. Tự Phẩm đệ nhất (序品第一)

 

          “Tự” được giải thích là “tường tự” (庠序, dạy bảo)[30], ư nói giai vị, chủ khách vấn đáp đều được chỉ vẽ rành rẽ. Tự lại có ba nghĩa là Thứ, Do, và Thuật. Năm chuyện như thế được xếp ở đầu kinh, đó là Thứ Tự (lời tựa trần thuật theo thứ lớp). Phóng quang, hiện sáu loại tướng lành để làm đầu mối khởi phát [thuyết giảng kinh này]. Đó là Do Tự (phần tựa nhằm nêu duyên do). Hỏi đáp nhằm giải trừ điều nghi, dẫn khởi phần Chánh Thuyết (Chánh Tông), chính là trần thuật (tức Thuật Tự). Do có ba nghĩa ấy, cho nên gọi [phẩm này] là Tự.

          Phẩm trong tiếng Phạn là Bạt Cừ (Varga), phương này dịch là Phẩm. Những điều có ư nghĩa và thể loại giống nhau tụ tập trong một đoạn; v́ thế, gọi là Phẩm. Phẩm là do đức Phật tự nêu ra, như phẩm Tâm Địa trong kinh Phạm Vơng; hoặc do khi kết tập mà đặt tên, như Đại Luận trần thuật Đại Phẩm Bát Nhă vốn chỉ có ba phẩm (một là Tự, hai là Ma Sự, ba là Chúc Lụy), hoặc do người dịch thêm vào, như kinh Ma Ha Bát Nhă được ngài La Thập dịch thành chín mươi phẩm. Nay phẩm Dược Vương Bổn Sự là do đức Phật tự nói ra, phẩm Diệu Âm và Quán Âm là người kết tập [đặt tên phẩm]. Trong Phạn bản (nguyên văn bằng tiếng Phạn), các phẩm vốn đă có sẵn từ trước, trọn chẳng phải do người dịch thêm vào. Do [phẩm Tự] là khởi đầu của các phẩm, cho nên nói là “đệ nhất”.

          Phần giải thích kinh văn được chia thành ba:

          1) Trần thuật chung hai môn Bổn và Tích.

          2) Nói riêng Tích Môn và Bổn Môn.

          3) Lưu thông của Tích Môn và Bổn Môn.

          Để giải thích kinh văn, có bốn điều: Một là nhân duyên, hai là xét theo giáo (ước giáo), ba là Bổn và Tích, bốn là quán tâm. Từ khởi đầu là “như thị” cho đến kết thúc, đều dùng bốn ư ấy để giải thích kinh văn, nhưng nay viết đại lược, hoặc [chỉ nêu ra] ba, hai, hay một ư, cốt sao thấu hiểu ư mà thôi! Sở dĩ dùng bốn ư để giải thích là v́ nói rộng th́ khiến cho người trí không vui thích, nói đại lược th́ ư chẳng trọn. Tôi nay nói theo cách chiết trung để dễ hiểu nghĩa.

          Nhân duyên c̣n gọi là Cảm Ứng. Chúng sanh nếu chẳng phải là căn cơ, dẫu thân cận mà chẳng thấy. Do sức của thiện căn và ḷng từ, dẫu cách xa mà tự thông, cảm ứng đạo giao! V́ thế, dùng nhân duyên để giải thích. Phàm chúng sanh cầu giải thoát, căn cơ ấy đông nhiều. Thánh nhân ứng hiện, cũng ứng hiện thật nhiều. Nghĩa ấy càng rộng, chiết trung như thế nào? Đại Kinh[31] dạy: “Do sức thiện căn của ḷng Từ có vô lượng môn, nói đại lược th́ là thần thông”. Thần thông chính là tên gọi khác của Ứng. Đối ứng với Cảm bèn gọi là Ứng. Dẫu lập ra nhiều thứ ứng, chẳng ra ngoài ḷng Từ. Cầu giải thoát tuy nhiều, há vượt ngoài Cảm? V́ thế, hai chữ Cảm Ứng chiết trung sẽ hiểu rơ ngay.

          Mười phương cơ cảm rộng dường hư không, giáo pháp mênh mông, như thế nào là chiết trung? Nay luận theo quốc độ Sa Bà, dùng âm thanh làm Phật sự th́ cửa cam lộ sẽ mở. Nương theo tiếng để giáo hóa, giải thích, hoàn toàn dùng kim khẩu làm gốc, chẳng ít, chẳng nhiều, cách nói chiết trung đă rơ ràng. Phàm ứng cơ lập giáo th́ giáo có quyền, thật, cạn, sâu khác nhau.

          Từ Bổn mà đối ứng với Tích th́ do có nhiều căn cơ, nên giáo sai khác, Tích ắt rộng lớn, chiết trung như thế nào? Nay bỏ qua ngón tay [chỉ mặt trăng], giữ lấy vầng trăng, quên Tích, t́m Bổn. Tích tuy rộng, nhiều, luận theo Bổn th́ duy nhất, chiết trung đă rơ ràng vậy! Nếu truy tầm theo Tích th́ Tích rộng lớn, chỉ tự nhọc nhằn. T́m Bổn th́ Bổn cao, cao chẳng thể cùng cực. Như đếm vật báu của người khác, chính ḿnh chẳng có nửa đồng. Chỉ quán tâm ḿnh ḿnh cao rộng, đả động sự cảm ứng vô cùng của bậc thánh (Phật, Bồ Tát). Do căn cơ cảm ḥng chính ḿnh được lợi. V́ thế, dùng quán tâm để giải thích.

          Chứng xét theo nhân duyên là như phẩm Phương Tiện đă nói: “Thập phương chư Phật, vị nhất đại sự nhân duyên cố, xuất hiện ư thế” (Mười phương chư Phật, v́ một đại sự nhân duyên mà xuất hiện trong cơi đời).

          Chứng mà xét theo giáo th́ như phẩm Phương Tiện đă dạy: “Dĩ chủng chủng pháp môn tuyên thị ư Phật đạo” (dùng các thứ pháp môn tuyên nói, chỉ bày Phật đạo). Đại Kinh nói: “Thô ngôn, cập nhuyễn ngữ, giai quy Đệ Nhất Nghĩa” (Lời thô, lời mềm mỏng, đều quy vào Đệ Nhất Nghĩa).

          Chứng xét theo Bổn Tích th́ như phẩm Thọ Lượng đă nói: “Kim thiên, nhân, A Tu La, giai vị ngă thiểu xuất gia, khứ Già Da thành bất viễn, đắc Tam Bồ Đề, nhiên ngă thật thành Phật dĩ lai, vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp, dĩ tư phương tiện đạo lợi chúng sanh” (Nay trời, người, A Tu La đều nói ta xuất gia chẳng bao lâu, cách thành Già Da chẳng xa, đắc Chánh Giác, nhưng kể từ lúc ta thật sự thành Phật đến nay đă là vô lượng vô biên A-tăng-kỳ kiếp, dùng phương tiện ấy để hướng dẫn, lợi ích chúng sanh). Phẩm Ngũ Bách Thọ Kư nói: “Nội bí Bồ Tát hạnh, ngoại hiện thị Thanh Văn. Thật tự tịnh Phật độ, thị chúng hữu tam độc. Hựu hiện tà kiến tướng, ngă đệ tử như thị, phương tiện độ chúng sanh” (Trong ẩn hạnh Bồ Tát, ngoài hiện làm Thanh Văn. Thật tịnh cơi Phật ḿnh, thị hiện có tam độc. Lại hiện tướng tà kiến, đệ tử ta như thế, phương tiện độ chúng sanh). Đó chính là đối với thầy và tṛ đều nói Bổn Tích.

          Chứng xét theo quán tâm th́ như phẩm Thí Dụ nói: “Nhược nhân tín nhữ sở thuyết, tức vi kiến ngă, diệc kiến ư nhữ, cập tỳ-kheo tăng, tịnh chư Bồ Tát” (nếu có ai tin lời ông nói th́ chính là thấy ta, cũng thấy ông, và các tỳ-kheo tăng cùng với các Bồ Tát). Hăy nên biết: Đối với điều đă được nghe, tâm chắc thật quan sát, từ trong tín tâm, được thấy Tam Bảo. “Nghe nói” là Pháp Bảo. “Thấy ta” là Phật Bảo. “Thấy các ông” là Tăng Bảo.

          Nay lại dựa theo ba đoạn (Tự Phần, Chánh Tông, Lưu Thông) để nêu bày tướng nhân duyên. Chúng sanh từ lâu xa đă được Phật thiện xảo dạy cho gieo nhân duyên nơi Phật đạo. Trong khoảng thời gian ấy, mỗi khi gặp gỡ, Ngài lại dùng phương tiện khác lạ để giúp hiển thị Đệ Nhất Nghĩa ḥng thành thục họ. Ngày nay tuôn mưa hoa, chấn động cơi đất, dùng sự diệt độ của Như Lai để diệt độ họ. Lại nữa, đă gieo [cái nhân thành Phật] từ lâu xa, [cái nhân ấy] đă chín muồi trong quá khứ, đời gần đây được giải thoát, cho nên từ dưới đất vọt lên. Lại nữa, gieo nhân trong khoảng trung gian, bốn vị (sữa, lạc, sanh tô, thục tô) đă chín muồi, thoát khỏi thành Vương Xá, nay bèn khai, thị, ngộ, nhập.

          Lại nữa, đời này gieo nhân, đời kế tiếp chín muồi, đời sau nữa được giải thoát. Đắc độ trong vị lai là dựa theo ư này để nói. Đối với mỗi đoạn, đều nói ba đời, hoặc chín đời gieo nhân, chín muồi, giải thoát. Do có các nhân duyên như thế đó, cho nên có Tự Phần. Đại chúng thấy tướng lành hy hữu, bèn ngưỡng mộ, khâm kính, khát ngưỡng, muốn nghe đạo trọn đủ. Đức Phật bèn thừa dịp lập cách hóa độ, khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật. V́ thế có phần Chánh Thuyết. Không chỉ đại chúng thuở ấy đạt được lợi ích to lớn, năm trăm năm sau đều được thấm nhuần diệu đạo. V́ thế có Lưu Thông Phần. Đó chính là dựa theo ba đoạn để chỉ bày giáo tướng.

          Phần Tự này chẳng v́ trời, người hướng đến sự thanh cao mà tạo Tự, chẳng v́ Nhị Thừa tiểu đạo mà tạo Tự, chẳng v́ từ ngay nơi Không thông với Tam Đế mà tạo Tự, chẳng riêng v́ pháp Bồ Tát mà tạo Tự, mà chính là v́ “chánh trực xả phương tiện, chỉ nói vô thượng Phật đạo” mà tạo Tự. Phần Chánh Tông chẳng v́ chỉ bày thế gian mà chánh thuyết, chẳng v́ cái trí phân tích [leo lét] như ánh sáng đom đóm mà chánh thuyết, chẳng v́ chỉ bày Thể Pháp Trí giống như đèn đuốc mà chánh thuyết, chẳng v́ Đạo Chủng Trí giống như tinh tú và mặt trăng mà chánh thuyết, mà v́ chỉ bày Nhất Thiết Chủng Trí như ánh sáng mặt trời mà chánh thuyết. Phần Lưu Thông chẳng phải lá dương, trâu gỗ, ngựa gỗ mà lưu thông, chẳng phải lưu thông bán tự, chẳng phải lưu thông cộng tự, chẳng phải lưu thông biệt tự, mà thuần là lưu thông viên măn pháp măn tự trong Tu Đa La.

          Kế đó, xét theo ba đoạn chỉ bày Bổn Tích. Trong kiếp lâu xa, khi hành Bồ Tát đạo, đă tuyên dương kinh Pháp Hoa của vị Phật quá khứ, cũng có ba phần thượng, trung, hạ ngữ, cũng có Bổn và Tích, nhưng Phật Phật đối ứng nhau, cho nên vô cùng. Nay riêng lấy chuyện đức Thích Ca thoạt đầu thành Phật đă nói ra kinh Pháp Hoa gồm ba phần thượng, trung, hạ ngữ, chuyên gọi [kinh Pháp Hoa thuở đó] là Thượng, chuyên gọi [chuyện trong thuở đó] là Bổn. V́ lẽ nào? Do thành Phật lúc ban sơ, thuyết pháp thuở ban đầu. Trong chặng giữa, bèn tiến hành giáo hóa, giúp các vị Phật Đại Thông Trí Thắng, Nhiên Đăng v.v… tuyên dương ba phần của Pháp Hoa, chỉ gọi đó là Trung, là Tích. V́ lẽ nào? Trước đó đă có Thượng, đă có Bổn. Hiện thời, tại thành Vương Xá nói ba phần [của kinh Pháp Hoa] th́ gọi là Hạ, gọi là Tích. Cho tới vị lai, vĩnh viễn nói ra ba phần, vẫn chỉ có [ba phần kinh Pháp Hoa được nói] vào lúc ban sơ là Thượng, là Bổn. Ví như cây to, tuy có ngàn cành, vạn lá, luận về căn bản th́ cùng đều phát xuất từ một cội, chẳng thể nào truyền thừa cho nhau mà không chỉ về một cội ấy.

          Kế đó, dựa theo ba đoạn (Tự, Chánh Tông, Lưu Thông) để nêu bày chuyện quán tâm tướng. Xét theo cái tâm của chính ḿnh mà luận bàn ba phần Giới, Định, Huệ. Tu hành th́ Giới đầu tiên, Định là chặng giữa, Huệ sau cùng. Nếu xét theo pháp môn th́ Huệ là Bổn, Giới và Định là Tích. Lại nữa, Giới, Định, Huệ, mỗi môn đều có ba phần. Ba phần của Giới th́ trước hết là tiền phương tiện, chặng giữa là bạch yết-ma, cuối cùng là hoàn tất. Ba phần của Định th́ thoạt đầu là hai mươi lăm duyên, giữa là chánh quán, sau cùng là trải qua các duyên. Lại nữa, khéo nhập, xuất, trụ là ba phần của Định. Ba phần của Huệ th́ Không là phần Tự, Trung là Chánh Tông, Giả là Lưu Thông. Đă dựa theo ba phần để chỉ bày bốn loại tướng th́ phải nên sử dụng nghĩa này. Từ đầu là “như thị” cho đến rốt cuộc tác lễ nhi khứ” (làm lễ rời đi), đều dùng bốn ư (nhân duyên, xét theo giáo tướng, Bổn Tích, và quán tâm) để giải thích kinh văn. Hành giả hăy khéo suy lường. Bởi lẽ, nếu thoạt đầu, chẳng dùng nhân duyên để giải thích th́ vẫn chẳng khác ǵ kiến chấp của ngoại đạo! Dùng nhân duyên để nói th́ sẽ thông suốt, thông với toàn thể sự giáo hóa trong một đời đức Phật. Cần phải biết nay [luận định về] Tứ Tất Đàn nơi đại sự [xuất thế của đức Phật], chứ chẳng phải là cảm ứng nào khác. Khai hiển Tứ Tất Đàn th́ chẳng có ǵ ở ngoài một đạo. Tứ Tất Đàn lâu xa, các kinh khác đều chẳng có. Áp dụng Tứ Tất Đàn vào quán tâm th́ một phép Quán thâu nhiếp trọn các phép Quán khác. Dùng bốn phép Tứ Tất Đàn ấy, sẽ thông suốt từ đầu đến cuối.

          Đối với ba điều như xét theo giáo, Bổn Tích v.v… cũng cần phải trần thuật trọn khắp. Nếu kế đó, chẳng xét theo giáo để giải thích, sẽ chẳng thể biện định pháp nào là Thiên, Tiểu. V́ thế, dùng bốn pháp hay tám pháp để giản lược khơi mở, phế trừ v.v… Đối với các giáo pháp trước kia th́ giáo pháp hiện thời (tức giáo nghĩa trong kinh Pháp Hoa) mới là chân thật; hết thảy những ǵ có thể diễn nói không c̣n danh xưng khác nữa. V́ thế, cần phải nói rơ để phô tỏ kinh điển mầu nhiệm này.

          Nếu chẳng dùng điều thứ ba là Bổn Tích để giải thích, ai biết được sự siêu xuất? Giáo pháp trong một thời bàn về thân và cơi, chặng giữa và ngày nay, không ǵ chẳng nhằm lập bày Tích Môn. Chỉ ra Đại Thông [Trí Thắng Phật trong nhiều kiếp lâu xa về trước] giống như [chuyện mới vừa cách đây] hai ngày, [chúng sanh] trước là đă không thấu hiểu giáo nghĩa kín mật, lại c̣n mê muội đối với thân nơi Tích Môn, đến nay [do nghe thọ mạng vô lượng của Như Lai] mới trừ khử [sự mê chấp ấy]. V́ họ vẫn c̣n mê muội ôm cây đợi thỏ, nếu chẳng dùng điều thứ tư là quán tâm để giải thích, sẽ dùng ǵ để biện định công năng giáo hóa do kinh diễn nói, dùng ǵ để thực hiện cội gốc tu hành đă thành lập từ lâu? V́ thế, mỗi một câu nhập vào tâm thành quán, quán ứng hợp với kinh, chẳng phải là đếm của báu cho người khác, mới biết một bộ [Ma Ha] Chỉ Quán chính là công cụ để tu Pháp Hoa tam-muội. Gồm trọn bốn nghĩa ấy th́ mới có thể hiển thị đại lược chỗ chỉ quy của cả một bộ kinh. Hăy nên biết [chỉ dùng] hai hay ba điều [trong bốn ư ấy để giải thích] th́ vẫn c̣n đại lược, nếu chỉ dùng một điều để giảng giải th́ làm sao được nữa? V́ thế, đối với mỗi một câu đều có bốn nghĩa ấy, cho nên câu nào [trong kinh này] cũng đều khác với các giáo pháp khác!

 

1.1. Phần Thông Tự trần thuật Bổn Môn và Tích Môn

         

          Gồm hai phần: Một là nơi chốn nghe pháp, hai là đại chúng nghe giảng và phụng tŕ.

 

1.1.1. Nơi chốn nghe pháp

 

          (Kinh) Như thị ngă văn, nhất thời Phật trụ Vương Xá thành, Kỳ Xà Quật sơn trung.

          ()如是我聞。一時佛住王舍城耆闍崛山中。

          (Kinh: Tôi nghe như thế này, một thời đức Phật trụ tại thành Vương Xá, trong núi Kỳ Xà Quật).

 

          “Như thị” là nêu ra cái Thể của pháp được nghe. “Ngă văn” là người có thể tŕ. “Nhất thời” [là lúc] nghe và tŕ ḥa hợp, chẳng phải là thời nào khác. “Phật” là nói đến lúc được nghe từ Phật. “Vương thành Kỳ sơn” (thành Vương Xá, núi Kỳ Xà Quật) là chỗ nghe và thọ tŕ, cùng với “dữ đại tỳ-kheo” (và các đại tỳ-kheo) là đại chúng nghe và thọ tŕ. V́ thế, năm chuyện ấy được đặt ở đầu các kinh.

 

1.1.1.1. Như Thị

1.1.1.1.1. Giải thích Như Thị theo nhân duyên

 

          Đầu các kinh của tam thế chư Phật đều đặt chữ Như Thị. Đạo của chư Phật giống nhau, chẳng tranh chấp với cơi đời. Đó là Thế Giới Tất Đàn. Đại Luận (Đại Trí Độ Luận) viết: “Nêu lên thời và nơi chốn, khiến cho kẻ khác sanh ḷng tin”. Đó là Vị Nhân Tất Đàn. Lại nhằm đối trị, phá trừ hai chữ A và Âu của ngoại đạo, [hai chữ đó] chẳng Như, [mà cũng] chẳng Thị (A là không, Âu là có. Kinh của hết thảy ngoại đạo lấy hai chữ ấy làm đầu, bởi họ chấp trước hai điều ấy là cơ bản. Những điều được diễn giảng trong kinh của họ chẳng ra ngoài hai chữ ấy). Lại nữa, Như Thị là từ ngữ tín thuận. Tín th́ sẽ lănh hội Lư được nghe. Thuận th́ đạo thầy tṛ được thành tựu. Đó chính là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn.

 

1.1.1.1.2. Giải thích Như Thị theo giáo tướng

 

          Xét theo giáo để giải thích [Như Thị], do các kinh bất đồng, Như Thị cũng khác; chớ nên dùng một cái ch́a khóa để mở các cánh cửa! Lại nữa, kinh của Phật nói ra và [kinh do] ngài A Nan trùng tuyên chẳng khác, đó là Như. Năng thuyên (người nói kinh, tức Phật) diễn nói pháp sở thuyên (pháp được tuyên nói) là Thị. Nay A Nan truyền lại kinh văn, đức Phật nói như thế nào, Ngài sẽ diễn nói đúng như thế đó, chẳng thể dùng kinh văn thuộc Tiệm Giáo để truyền pháp chân thật thuộc Đốn Giáo, hoặc dùng kinh văn thuộc Thiên pháp để diễn nói pháp chân thật thuộc Viên Giáo. Nếu truyền lại hoặc diễn nói sai lầm, th́ kinh văn sẽ chẳng phải là Như. Văn chẳng Như th́ Lư chẳng Thị. Nghĩa này khó hiểu, cho nên phải xét kỹ thêm. Nếu nói: Đức Phật dạy rơ Tục Đế có văn tự, Chân Đế chẳng có văn tự. A Nan truyền lại văn tự thuộc về Tục Đế, chẳng khác lời đức Phật đă nói. V́ thế, gọi là Như. Nhờ vào văn tự thuộc về Tục Đế mà lănh hội lư Chân Đế, nên gọi là Thị. Đấy chính là Như Thị được nêu ra đầu tiên trong các kinh thuộc Tam Tạng.

          Nếu nói: Đức Phật giảng Sắc chính là Không, Không chính là Sắc, Sắc Không, Không Sắc, chẳng hai, chẳng khác. “Không và Sắc chẳng khác” là Như. Từ ngay nơi Sự chính là Chân, đó là Thị. A Nan truyền kinh văn của đức Phật chẳng sai khác, đó là Như. Năng Thuyên chính là Sở Thuyên, đó là Thị. Đó chính là ư nghĩa v́ sao Như Thị được đặt ở đầu các kinh thuộc Thông Giáo.

          Nếu nói đức Phật dạy sanh tử là hữu biên, Niết Bàn là vô biên, xuất sanh tử hữu biên, nhập Niết Bàn vô biên. Xuất Niết Bàn vô biên, nhập Trung Đạo. A Nan truyền pháp “xuất Hữu, nhập Vô, xuất Vô, nhập Trung” này chẳng khác lời Phật dạy, đó là Như. Từ cạn tới sâu, không ǵ chẳng phải là Thị, Đấy chính là Như Thị ở đầu các kinh thuộc Biệt Giáo.

          Nếu nói đức Phật giảng sanh tử chính là Niết Bàn, cũng chính là Trung Đạo, vậy th́ Niết Bàn há chẳng phải là Trung Đạo ư? Chân Như pháp giới, thật tánh, Thật Tế trọn khắp hết thảy mọi nơi, không ǵ chẳng phải là Phật pháp. A Nan truyền điều này chẳng khác lời Phật dạy, v́ thế gọi là Như. Như như bất động, cho nên gọi là Thị. Đấy chính là Như Thị ở đầu các kinh thuộc Viên Giáo.

 

1.1.1.1.3. Giải thích Như Thị theo Bổn Tích

 

          Xét theo Bổn Tích để giải thích Như Thị, th́ ba đời mười phương, ngang dọc đều như thế. Quá khứ xa vời vợi, hiện tại chầm chậm [trôi qua], vị lai vĩnh viễn, thảy đều như thế, chỗ nào là Bổn, chỗ nào là Tích? Lại xét Như Thị lúc đức Thích Tôn tối sơ thành đạo, đó là Bổn. Như Thị ở đầu các kinh khi Ngài thị hiện thành Phật trong chặng giữa và hiện thời đều là Tích. Lại nữa, Như Thị do A Nan truyền lại là Tích, c̣n Như Thị khi đức Phật nói chính là Bổn. Lại nữa, Như Thị do thầy lẫn tṛ cùng thông đạt, chẳng phải là khởi đầu hay hiện tại, mà cũng chẳng phải chặng giữa, đó là Bổn; c̣n Như Thị trong khoảng giữa và hiện tại th́ chính Tích.

 

1.1.1.1.4. Giải thích Như Thị theo quán tâm

         

          Dùng quán tâm để giải thích [Như Thị] th́ quán các nghĩa Như Thị theo Tất Đàn, giáo tướng, Tích Môn v.v… như trên đều là các pháp sanh bởi nhân duyên. Duyên sanh (sanh bởi duyên) th́ là Không, tức là Thông Quán. Nhân duyên chính là Không, là Giả, tức là Biệt Quán. Hai phép Quán ấy là phương tiện đạo để nhập Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa, cùng chiếu hai Đế (Chân Đế và Tục Đế), vừa là Thông Quán, vừa là Biệt Quán. Trên đây đều là Trung Đạo, chẳng phải Thông Quán, chẳng phải Biệt Quán.

          Kinh văn dạy: “Nhược nhân tín nhữ sở thuyết, tức đắc kiến ngă, diệc kiến ư nhữ cập tỳ-kheo tăng, tịnh chư Bồ Tát” (nếu ai có thể tin lời ông nói th́ chính là được thấy ta, mà cũng thấy ông và tỳ-kheo tăng cùng các vị Bồ Tát); đấy là chính phần kinh văn nói rơ về quán hạnh vậy. “Tín” là luận về căn cơ, c̣n Kiến th́ chính là Ứng, tức nhân duyên. Tín lại có cạn hay sâu, Kiến có Quyền và Thật, đủ mọi thứ phân biệt bất đồng. Đấy chính là xét theo giáo. Lại nữa, tin kinh văn của Pháp Hoa, sẽ thấy Bổn nơi Thật Tướng. Nếu thấy sự ứng hóa của Thân Tử (ngài Xá Lợi Phất), sẽ thấy Bổn của Ngài là Long Đà Phật (ngài Chân Đế nói ngài Tu Bồ Đề là Đông phương Thanh Long Đà Phật. Lại dẫn kinh Đại Bảo Tích nói ngài Xá Lợi Phất thành Phật, hiệu là Kim Long Đà. Chưa kiểm chứng [điều này]). Nếu thấy vị Thích Tôn mới thành Phật, cũng sẽ thấy vị Phật đă thành đạo trước đó đă lâu. Nếu thấy một ngàn hai trăm tỳ-kheo và tám vạn Bồ Tát, cũng sẽ thấy Bổn.

          Lại nữa, nghe kinh, tâm tin tưởng chẳng nghi ngờ, nhận biết tín tâm ấy sáng sạch, tức là “thấy Phật”. Huệ số (các tâm sở thuộc về Huệ) phân minh là “thấy ngài Thân Tử”. Các pháp số phân minh là “thấy các tỳ-kheo”. Tâm từ bi thanh tịnh là “thấy các vị Bồ Tát”.

          Bốn lượt giải thích Như Thị đă xong.

 

1.1.1.2. Ngă Văn

1.1.1.2.1. Giải thích Ngă Văn theo nhân duyên

 

          Giải thích Ngă Văn theo nhân duyên th́ có khi gọi điều này là Văn Như Thị v́ kinh vốn bất đồng, trước sau cùng nêu[32]. Đại Luận chép: “Nhĩ căn chẳng hư hoại, hễ có tiếng th́ có thể nghe”. Dấy ḷng muốn nghe, các duyên ḥa hợp [bèn có thể nghe], cho nên nói là Ngă Văn.

          Hỏi: - Phải nên nói là Nhĩ Văn (tai nghe), sao lại nói là Ngă Văn?

          Đáp: - Ngă là chủ thể của tai. Nêu ra Ngă sẽ thâu nhiếp các duyên. Đấy là giải thích [Ngă Văn] theo Thế Giới [Tất Đàn].

          Ngài A Nan thăng ṭa, nói là “ngă văn”, đại chúng đều buồn khóc, giống như trông thấy Như Lai, nay xưng là Ngă Văn. Lại nữa, ngài Văn Thù kết tập, trước xướng đề mục (tên gọi của bộ kinh), kế đó nói “như thị ngă văn”, đại chúng khi ấy đều buồn khóc. Cả hai trường hợp đều khiến cho [người nghe] sanh ḷng quyến luyến, hâm mộ điều thiện. Đấy là giải thích theo Vị Nhân [Tất Đàn].

          Thân A Nan tương tự thân Phật, chỉ thấp hơn Phật ba ngón tay (một ngón tay là hai tấc), đại chúng ngờ là đức Thích Ca lại xuất thế, hoặc [ngờ A Nan] là Phật từ phương khác đến, hoặc [ngờ rằng] A Nan đă thành Phật. Nay Ngài xướng “ngă văn”, ba mối nghi đều dứt. Đó là giải thích theo Đối Trị [Tất Đàn].

          A Nan là người đang học đạo, thuận theo thế tục, xưng là “ngă văn”. Trong Đệ Nhất Nghĩa, chẳng có Ngă, chẳng có Văn.

          Các lời giải thích [“ngă văn”] từ xưa đến nay đều là nương theo nghĩa nhân duyên. Nương theo nhân duyên [để giải thích] th́ ba nghĩa trước c̣n chưa trọn vẹn, huống hồ Đệ Nhất Nghĩa. Huống hồ xét theo giáo, Bổn Tích, quán tâm ư?

 

1.1.1.2.2. Giải thích Ngă theo giáo tướng

 

          Kế đó, xét theo giáo [để giải thích Ngă Văn] th́ Thích Luận[33] nói phàm phu do ba thứ mà xưng là Ngă, tức là ngă kiến, ngă mạn, và danh tự Ngă được lưu truyền trong cơi đời. Hàng hữu học chẳng có ngă kiến, chỉ có hai thứ sau. Hàng vô học hoàn toàn chẳng có ngă mạn, chỉ có một thứ [là danh tự Ngă]. Khi ngài A Nan nghe pháp, vẫn thuộc vào địa vị hữu học; nhưng Ngài chẳng có ngă kiến và có thể thể chế phục ngă mạn, chỉ thuận theo danh xưng thế tục, cho nên xưng là Ta chẳng phạm lỗi ǵ! Đấy là dùng ư nghĩa trong Tam Tạng (Tạng Giáo) để giải thích Ngă.

          Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận[34] viết: “Bốn câu xưng là ngă đều đọa vào tà kiến. Trong chánh pháp của Phật, chẳng có Ngă th́ ai nghe”. Đấy là dùng ư nghĩa của Thông Giáo để giải thích.

          Đại Kinh chép: “A Nan đa văn sĩ, tri ngă vô ngă nhi bất nhị, song phân biệt ngă vô ngă” (A Nan là bậc đa văn, biết ngă và vô ngă chẳng hai, cùng phân biệt ngă và vô ngă). Đó là dùng ư nghĩa của Biệt Giáo [để giải thích Ngă] (bất nhị là đăng địa (từ Sơ Địa trở lên), song chiếu là Địa Tiền[35]).

          Lại nữa, ngài A Nan biết ngă và vô ngă bất nhị, nhưng phương tiện làm thị giả, truyền tŕ trí huệ vô ngại của Như Lai, dùng âm thanh tự tại để truyền Quyền, truyền Thật, có ǵ là chẳng thể? Đó là dùng ư nghĩa Viên Giáo để giải thích Ngă.

          Lại nữa, kinh Chánh Pháp Niệm Xứ nói có ba vị A Nan:

          - A Nan Đà, phương này dịch là Hoan Hỷ, tŕ Tiểu Thừa Tạng.

          - A Nan Bạt Đà, phương này là dịch Hoan Hỷ Hiền, thọ tŕ Tạp Tạng.

          - A Nan Sa Già, phương này dịch là Hoan Hỷ Hải, tŕ Phật Tạng.

          Kinh A Hàm c̣n nói ngài Điển Tạng A Nan tŕ Bồ Tát Tạng.

          Đó là nói một người mà có trọn đủ tứ đức để truyền tŕ bốn pháp môn, ư nghĩa tự hiển lộ.

 

1.1.1.2.3. Giải thích Ngă theo Bổn Tích

 

          Nếu chưa lănh hội, tiến nhập, th́ có thể nói “A Nan do tùy thuận thế tục mà nói là Ngă”. Nếu nêu ra Tích để hiển Bổn, th́ Ngài đồng thời phát tâm [với Phật Thích Ca] ở chỗ Không Vương Phật, nhưng phương tiện thị hiện làm người truyền pháp, có ǵ là chẳng thể?

 

1.1.1.2.4. Giải thích Ngă theo Quán Tâm

           

          Quán tâm là quán các pháp được sanh bởi nhân duyên, tức Không, tức Giả, tức Trung. Tức Không là Ngă mà vô ngă. Tức Giả là phân biệt Ngă và Vô Ngă. Tức Trung là chân diệu ngă.

          Bốn lượt giải thích Ngă đă xong.

         

1.1.1.3. Giải thích chữ Văn

 

          Kế đó, giải thích chữ Văn. Giải thích theo nhân duyên th́ ngài A Nan sanh trong đêm đức Phật đắc đạo, hầu Phật chỉ hai mươi mấy năm. Lúc Ngài chưa hầu Phật, đương nhiên là chẳng nghe [các kinh do đức Phật đă nói trước đó]. Đại Luận viết: “Khi ngài A Nan kết tập pháp, tự nói: - Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên, lúc đó, tôi không thấy”. Do lần lượt nghe [từ người khác truyền lại] như thế, nên biết không phải kinh nào Ngài cũng đều [đích thân] nghe, [mà có những kinh Ngài] lần lượt được nghe từ người khác. Do tự ḿnh và người khác sai khác, cho nên nghe và chẳng nghe sai khác. Kinh chưa được nghe th́ ưa muốn nghe, đối với kinh đă được nghe bèn sanh hoan hỷ. Đó chính là Thế Giới Tất Đàn.

          Cổ nhân giải rằng: “A Nan đắc Phật Giác tam-muội lực, có thể tự nghe”. Đấy chính là Vị Nhân Tất Đàn. Kinh Báo Ân nói A Nan [khi được chư Tăng khuyên làm thị giả của đức Phật, bèn] có bốn điều cầu xin, [trong đó có một điều] là kinh nào chưa được nghe, xin đức Phật nói lại. Kinh lại nói đức Phật ngầm v́ ngài A Nan truyền dạy. Thai Kinh (kinh Bồ Tát Xử Thai) nói: “Phật tùng kim quan xuất kim tư, trùng vị A Nan hiện nhập thai chi tướng” (Từ trong kim quan, đức Phật duỗi cánh tay vàng ṛng, lần nữa v́ A Nan chỉ bày tướng nhập thai). Các kinh đều nghe, huống hồ các kinh được thuyết ở nơi khác. Đó chính là Đối Trị Tất Đàn. Nay kinh này nói ngài A Nan được thọ kư, liền nhớ lại bổn nguyện, phụng tŕ pháp của các vị Phật thuở trước đều như ngày nay. Đó chính là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn.

          Nếu xét theo giáo, Hoan Hỷ A Nan mặt như vầng trăng tṛn thanh tịnh, mắt như hoa sen xanh, đích thân truyền thừa ư chỉ của đức Phật chỉ, như đồ đựng hoàn chỉnh (không bị ṛ rỉ, sứt mẻ), truyền dạy, hóa độ người khác, như đổ từ b́nh này sang b́nh khác [chẳng rỉ sót giọt nào]. Đấy là truyền thừa pháp đă nghe mà thấy là có nghe. Hoan Hỷ Hiền trụ trong địa vị Hữu Học, đắc Không, Vô Tướng nguyện, các căn mắt, tai, mũi, lưỡi vô lậu, truyền tŕ pháp tuy nghe mà như chẳng nghe. Điển Tạng A Nan thọ lănh nhiều thứ, như mây to chứa mưa; đấy là truyền tŕ pháp chẳng nghe mà nghe vậy. A Nan Hải là bậc đa văn, tự nhiên có thể liễu giải thường và vô thường. Nếu biết Như Lai thường chẳng thuyết pháp, th́ gọi là “Bồ Tát trọn đủ đa văn”. Nước biển cả Phật pháp chảy vào tâm A Nan. Đấy là truyền tŕ pháp chẳng nghe mà chẳng nghe. Kinh này là do Hải A Nan tŕ ba thứ Bổn Tích của diệu pháp chẳng nghe mà chẳng nghe. Bốn loại Nghe trên đây đều là dẫn theo Tích, chứ Bổn địa chẳng thể nghĩ bàn, do chuyện thuộc về Bổn cao vời, khó lường được. Lư nơi Bổn sâu xa khó nghĩ, do sự giáo hóa nơi Bổn và Tích chẳng thể lường!

          Điều thứ tư là giải thích [chữ Văn] theo quán tâm. Quán pháp nhân duyên là quán “nghe mà nghe”. Quán Không là quán “nghe mà chẳng nghe”. Quán Giả là quán “chẳng nghe mà nghe”. Quán Trung tức là quán “chẳng nghe mà chẳng nghe”. Nhất niệm quán là diệu quán. Bốn lượt giải thích Ngă Văn đă xong.

 

1.1.1.4. Nhất thời

 

          a) Giải thích “nhất thời” theo nhân duyên, ngài Tăng Triệu nói: “[Nhất thời là] lúc đấng pháp vương mở pháp hội tốt lành”. Đó là Thế Giới Tất Đàn. Luận chép: “Ca La[36] là cách tính thời gian trong thực tế, nhằm lúc dạy các nội đệ tử, lúc ăn, đắp y”. Đó là Vị Nhân Tất Đàn. “Tam-ma-da là giả thời, nhằm phá tà kiến của ngoại đạo”. Đó là Đối Trị Tất Đàn. Nếu thời hợp với đạo th́ là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn.

          b) Xét theo giáo, nếu từ Kiến Đế trở lên, từ Vô Học trở xuống th́ gọi là “hạ nhất thời”. Nếu người thuộc tam thừa cùng nhập Đệ Nhất Nghĩa th́ gọi là “trung nhất thời”. Nếu từ đăng địa trở lên th́ gọi là “thượng nhất thời”. Nếu từ Sơ Trụ trở lên th́ gọi là “thượng thượng nhất thời”. Nay kinh này là “thượng thượng nhất thời”.         

          c) Xét theo Bổn Tích, các loại “nhất thời” trên đây đều là Tích. “Một thời” khi đức Phật thật sự đắc đạo trong kiếp lâu xa th́ là Bổn.

          d) Xét theo quán tâm, quán tâm th́ trước là Không, kế đó là Giả, sau cùng là Trung. Đó là quán tâm theo thứ tự. Quán tâm tức Không, tức Giả, tức Trung; đó là viên diệu quán tâm. Các pháp Quán ấy là thô diệu, v́ đều có quán ứng hợp với cảnh, bèn gọi là “nhất thời”. Tướng tức là Quán th́ chính là phép Quán trong kinh này.

          Bốn phen giải thích “nhất thời” đă xong.

 

1.1.1.5. Phật

           

          a) Xét theo nhân duyên để giải thích Phật th́ từ kiếp sơ chẳng bệnh, kiếp tận lắm bệnh. Lúc trường thọ th́ vui, lúc đoản thọ th́ khổ. Đông thiên hạ (Đông Thắng Thần Châu) th́ giàu và thọ, Tây thiên hạ (Tây Ngưu Hóa Châu) th́ lắm châu báu, nhiều ḅ, dê. Bắc thiên hạ (Bắc Câu Lô Châu) th́ chẳng có ǵ là của ta, chẳng có bầy tôi hay thuộc hạ. Thời và xứ như thế sẽ chẳng cảm Phật xuất thế. Lúc tám vạn tuổi, cho đến lúc [con người] thọ một trăm năm, Nam thiên hạ (Nam Diêm Phù Đề) chưa thấy quả mà đă tu nhân; v́ thế, đức Phật xuất hiện nơi ấy. Đó là giải thích theo Thế Giới Tất Đàn.

          Nếu mặt trời chẳng mọc, các hoa chưa sanh hay đă sanh trong ao đều bị héo tàn, chết rụi, chẳng c̣n ngờ chi. Nếu Phật xuất thế, sẽ có sát-lợi, bà-la-môn, cư sĩ, tứ thiên vương, cho đến Hữu Đảnh. Đấy là giải thích theo Vị Nhân Tất Đàn.

          Căn tánh tam thừa cảm Phật xuất thế, các căn tánh khác chẳng thể cảm, khéo đoạn chủng tánh Hữu Đảnh, vĩnh viễn thoát khỏi gịng sanh tử. Đó là nói theo Đối Trị Tất Đàn.

          Đức Phật đối với pháp tánh, chẳng động, chẳng xuất, có thể cảm chúng sanh khiến cho họ thấy động và xuất, nhưng Như Lai thật sự chẳng có động xuất, đó là nói theo Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn.

          b) Kế đến là xét theo giáo, Phật được gọi là Giác Giả, Tri Giả (bậc giác ngộ, bậc hiểu biết). Ở dưới cội đạo tràng (cội cây Bồ Đề), ba mươi bốn tâm đoạn tập khí Chánh Sử, nhận biết tổng tướng và biệt tướng của thế gian và xuất thế gian. Giác ngộ thế gian chính là Khổ, Tập; giác ngộ xuất thế gian th́ là Đạo, Diệt, và cũng có thể giác ngộ người khác. Thân cao một trượng sáu, thọ tám mươi năm, giống như một vị lăo tỳ-kheo. Đó chính là Phật tự giác, giác tha trong Tam Tạng (Tạng Giáo), có h́nh tướng giống như tỳ-kheo, hiện thân tôn quư đặc thù.

          Một niệm tương ứng, đoạn trừ các tàn dư tập khí; đó chính là Phật tự giác, giác tha trong Thông Giáo.

          Chỉ hiện tướng tôn quư, đặc thù, ngồi trên đài hoa sen, thọ Phật chức. Đó chính là Phật tự giác, giác tha trong Biệt Giáo.

          Ẩn ba tướng trên đây, chỉ hiện tướng như hư không chẳng thể nghĩ bàn, tức là vị Phật tự giác, giác tha trong Viên Giáo.

          V́ thế, kinh Tượng Pháp Quyết Nghi dạy: “Hoặc kiến Như Lai, trượng lục chi thân (Tạng), hoặc kiến tiểu thân, đại thân (Thông), hoặc kiến tọa liên hoa đài, vị thiên bách ức Thích Ca thuyết tâm địa pháp môn (Biệt), hoặc kiến thân đồng hư không, biến ư pháp giới, vô hữu phân biệt (Viên)” (hoặc thấy Như Lai thân cao một trượng sáu (Tạng Giáo); hoặc thấy thân lớn, thân nhỏ (Thông Giáo), hoặc thấy ngồi trên đài hoa sen, v́ ngàn trăm ức Thích Ca nói pháp môn tâm địa; hoặc thấy thân giống như hư không, trọn khắp pháp giới, chẳng có phân biệt. Đó là Viên Giáo), tức là nói về ư nghĩa này (Khoa Chú rằng: - Kinh này nhằm phơi bày khai hiển, chỉ ra quả đầu Phật[37] trong ba giáo trước chính là Pháp Thân Phật trong Viên Giáo. V́ thế, ba mươi hai tướng, tướng nào cũng vô biên. Đấy chính là tướng tôn quư, đặc thù, mà cũng chính là Pháp Thân. Do vậy, long nữ tán rằng: “Pháp Thân tịnh vi diệu, đủ ba mươi hai tướng”).

          c) Thứ ba là xét theo Bổn Tích, một Phật (Viên Giáo Phật) là Bổn, ba Phật (Phật trong Tạng, Thông, Biệt) là Tích (điều này nói theo Thể và Dụng nơi Bổn). Trong khoảng giữa, thị hiện nhiều lần xướng sanh, xướng diệt, đều là Tích. Chỉ có bốn vị Phật nơi Bổn Địa đều là Bổn (Thể và Dụng nơi Tích th́ đều là Tích, Thể và Dụng của Bổn th́ đều là Bổn).

          d) Thứ tư là giải thích theo quán tâm. Quán cái tâm sanh bởi nhân duyên. Trước là Không, kế đó là Giả, sau là Trung, th́ đều là Biến Giác (徧覺, giác trọn khắp). Quán tâm tức Không, tức Giả, tức Trung th́ là Viên Giác (Giác chỉ là trí; hăy nên dùng Lục Tức để phán định. Nếu dùng điều này để xét ba điều giải thích trước th́ cảnh trí chính là nhân duyên Phật. Cách quán theo Tạng, Thông v.v… chính là tứ giáo Phật. Từ Trung mà quán Không và Giả th́ chính là Bổn Tích Phật, chính là cái tâm của ta, tức là quán tâm Phật vậy). Bốn lượt giải thích chữ Phật đă xong.

 

1.1.1.6. Trụ

 

          a) Dùng nhân duyên để giải thích chữ Trụ, năng trụ (chủ thể trụ, ở đây là Phật) trụ tại chỗ để trụ. Chỗ để trụ chính là thành Vương Xá[38] trong Nhẫn độ (thế giới Sa Bà). “Năng trụ” tức là bốn oai nghi trụ thế chưa diệt. Đó chính là Thế Giới Tất Đàn. Lại nữa, Trụ là trụ trong mười thiện đạo, trụ trong Tứ Thiền. Đó là Vị Nhân Tất Đàn. Lại nữa, Trụ là trụ trong ba tam-muội (Không tam-muội, Vô Tướng tam-muội, Vô Nguyện tam-muội). Đó chính là Đối Trị Tất Đàn. Lại nữa, Trụ là trụ trong Thủ Lăng Nghiêm, tức Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn,

          b) Kế đó, xét theo giáo. Tam Tạng Phật từ Tích Môn (析門, phân tích, chia chẻ) phát sanh chân vô lậu, trụ Hữu Dư, Vô Dư Niết Bàn. Thông Giáo Phật từ Thể môn (thấu hiểu ngay nơi bản chất, không cần trải qua phân tích), phát sanh chân vô lậu, trụ Hữu Dư hoặc Vô Dư Niết Bàn. Biệt Giáo Phật từ thứ đệ môn (tu tập lần lượt theo các giai đoạn, địa vị) mà nhập, trụ trong bí mật tạng. Viên Giáo Phật hoàn toàn chẳng theo thứ đệ môn mà nhập, trụ trong bí mật tạng. Chỗ trụ của ba loại Phật đầu tiên đều là Năng lẫn Sở đều thô. Loại trụ sau cùng của Phật (chỗ trụ của Viên Giáo Phật), Năng lẫn Sở đều diệu. Trong kinh này, Viên Giáo Phật trụ trong diệu trụ.

          c) Thứ ba là luận theo Bổn Tích. Tam Tạng Phật đáng nên nhập Niết Bàn, do từ bi mà rủ ḷng thị hiện, dùng sanh thân trụ thế. Thông Giáo Phật thệ nguyện từ bi nâng đỡ những ai c̣n sót thừa tập khí, do độ chúng sanh mà làm Phật sự. Biệt Giáo Phật và Viên Giáo Phật đều do từ bi hun đúc pháp tánh, v́ thương xót chúng sanh mà rủ ḷng ứng hiện trong pháp giới. Hăy nên biết bốn loại Phật ấy đều trụ trong chỗ trụ của Bổn Phật, nhưng v́ ḷng từ bi mà trụ trong thành Vương Xá của Nhẫn Độ. Oai nghi trụ thế th́ gọi là Tích Trụ.

          d) Thứ tư là quán tâm. Quán trụ trong cảnh, hoặc trụ trong cảnh vô thường, tức các cảnh Không, cảnh Giả, cảnh Trung. Dùng pháp vô trụ để trụ trong cảnh; v́ thế gọi là Trụ (Nói “vô trụ” thông cả bốn giáo. Thô trí là thật sự chẳng trụ vào Lư.  Nếu trụ nơi Viên Giáo th́ sẽ thành dứt bặt đối đăi). Bốn phen giải thích về Trụ đă xong.

 

1.1.1.7. Vương Xá Thành Kỳ Xà Quật sơn

 

          a) Giải thích “Vương Xá thành, Kỳ Xà Quật sơn” theo nhân duyên th́ giống như sách Văn Cú đă giảng, không trích lục[39].

          b) Xét theo Giáo th́ như kinh Tượng Pháp Quyết Nghi dạy: “Nhất thiết đại chúng sở kiến bất đồng, hoặc kiến Sa La lâm địa, tất thị thổ, sa, thảo mộc, thạch bích. Hoặc kiến thất bảo thanh tịnh trang nghiêm, hoặc kiến thử lâm thị tam thế chư Phật sở du hành xứ. Hoặc kiến thử lâm tức thị bất khả tư nghị chư Phật cảnh giới chân thật pháp thể” (Hết thảy đại chúng thấy khác nhau, hoặc thấy cuộc đất nơi rừng Sa La đều là đất, cát, cây cỏ, vách đá. Hoặc thấy bảy báu thanh tịnh trang nghiêm, hoặc thấy rừng này là chỗ du hành của ba đời chư Phật, hoặc thấy rừng này chính là pháp thể chân thật nơi cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật). Phỏng theo đó mà biết nghĩa ở đây, có bốn cách thấy khác nhau. Chỗ trụ đă như thế th́ người trụ cũng vậy.

          c) Xét theo Bổn Tích th́ đối với Bổn, trụ trong thành tam đức (Pháp Thân, Bát Nhă, Giải Thoát) của vương tam-muội; c̣n Tích th́ là trụ nơi thành Vương Xá trong Nhẫn độ (cơi Sa Bà). Bổn là trụ trong núi Đại Niết Bàn tam đức, c̣n Tích th́ ngự tại núi Linh Thứu. Lại nữa, Bổn và Tích đều có núi Linh Thứu. Phẩm Thọ Lượng có nói: “Thường tại Linh Thứu sơn” (thường ở tại núi Linh Thứu); đó chính là Bổn.

           4) Xét theo quán tâm th́ Vương chính là tâm vương, Xá chính là Ngũ Ấm. Tâm vương tạo thành ngôi nhà ấy. Nếu chia chẻ ngôi nhà Ngũ Ấm, sẽ thấy nó là Không, Không chính là thành Niết Bàn. Quán kiểu này là nông cạn. Nếu thấy đất, cây cối, mà thấu hiểu ngôi nhà Ngũ Ấm chính là Không, Không là thành Niết Bàn. Đó là [cách quán của] Thông Giáo. Nếu quán ngôi nhà Ngũ Ấm, do diệt cái sắc ấy mà đạt được thường sắc. Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng lại như thế. Bốn đức ấy chính là chỗ chư Phật thường dạo chơi. Đó là Biệt Giáo. Nếu quán Ngũ Ấm chính là pháp tánh. Pháp tánh chẳng có Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Hết thảy chúng sanh chính là Niết Bàn, chẳng thể diệt nữa, là ngôi nhà rốt ráo không tịch. Niết Bàn như thế chính là Chân Như Thật Thể; đó chính là Viên quán (quán tâm trong Viên Giáo).

          Lại nữa, Sắc Ấm vô tri như núi. Thức Ấm như Linh, ba ấm Thọ, Tưởng, Hành như Thứu. Quán núi Linh Thứu vô thường, đó là Tích Không Quán. Quán núi Linh Thứu tức là Không, đó là Thể Không Quán. Quán Linh tức là trí tánh; đó là liễu nhân. Trí huệ trang nghiêm, Thứu liền tụ tập; đó là duyên nhân. Phước đức trang nghiêm, núi tức là pháp tánh. Chánh nhân bất động, ba pháp ấy được gọi là Bí Mật Tạng. Tụ trụ trong đó, mà cũng dùng điều đó để độ người khác; đấy chính là hai pháp quán Viên và Biệt; đó chính là Trung.

          Đối với Trung, Phật chuộng Trung Đạo, thăng lên trung thiên (thăng lên trời Đao Lợi thuyết pháp báo ân mẹ), giữa trưa [từ trời Đao Lợi] giáng xuống chính giữa đất nước, diệt độ lúc nửa đêm, [những điều ấy đều nhằm] biểu thị Trung Đạo. Nay ở trong núi, nói Trung Đạo (thường chuộng Trung Đạo là Thế Giới Tất Đàn. Thăng lên trung thiên, giữa trưa giáng xuống là Vị Nhân Tất Đàn. Diệt độ giữa đêm là Đối Trị Tất Đàn. Nói Trung Đạo th́ là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn. Các giáo đều có Trung Đạo, nhưng chia ra thành hữu thể hay vô thể sai khác. Xét theo Bổn Tích th́ quán viên lư, đó là Trung nơi Bổn. Thị hiện ĺa đoạn thường, đó là Trung nơi Tích. Đối với Trung được khai hiển trong kinh này, nếu xét theo Quán, sẽ chính là Không, chính là Trung, có đủ hai loại trong ấy). Phần thứ nhất luận về nơi chốn và thời gian nghe pháp đă xong.

 

1.1.2. Đại chúng nghe pháp và phụng tŕ

 

          Gồm hai phần:

          - Một là liệt kê đại chúng.

          - Hai là tổng kết đại chúng vân tập.

 

1.1.2.1. Liệt kê đại chúng

         

          Chia thành ba phần:

          - Một là chúng Thanh Văn.

          - Hai là chúng Bồ Tát.

          - Ba là tạp chúng (nhiều loại đại chúng).

          Các kinh phần nhiều là như thế. Cổ nhân nói là “có sự, có nghĩa”. “Sự” là xét theo sự thân cận về h́nh tích. H́nh tướng của hàng Thanh Văn đă thoát khỏi lưới tục, về dấu tích th́ họ thân cận Như Lai, so ra thân thiết hơn [các loại đại chúng khác] để chứng minh một bộ kinh, cho nên liệt kê đầu tiên. Trời người xét về h́nh tướng, y phục khác nhau; xét về dấu tích th́ cũng chẳng phải là kẻ chầu hầu, cho nên đối với việc chứng kinh, chẳng thân thiết cho lắm. V́ thế, xếp ra sau. Bồ Tát th́ h́nh tướng chẳng ràng buộc trong khuôn khổ, về dấu tích th́ không có chỗ nhất định. Đă chẳng giống như tục nhân, lại khác với Tăng; v́ thế, xếp vào giữa.

          Xét theo nghĩa, Thanh Văn chuộng Niết Bàn, trời người chấp trước sanh tử, mỗi đằng đều có chỗ thiên vị. Bồ Tát chẳng ưa chuộng, chẳng đắm chấp, ở nơi Trung Đạo cầu lấy những điều cốt lơi. V́ thế, các Ngài ở giữa hai đằng. Thích Luận cũng nói theo ư này. Cách giải nói này giống như giải thích cả hai điều. Giải thích theo mặt Sự th́ giống như [luận định theo phương diện] nhân duyên. Giải thích theo nghĩa th́ giống như xét theo giáo (Sự giống như nhân duyên, cần phải có đủ bốn món Tất Đàn. Nghĩa giống như xét theo giáo, lại cần phải luận định tám pháp. Sự chính là xét theo thân thể, cho nên nói thân hay sơ. Nghĩa chính là đế lư, cho nên nói Niết Bàn v.v… H́nh tướng, y phục khác nhau, tức là Thế Giới Tất Đàn. Thân cận là Sanh Thiện Tất Đàn. Sơ (lợt lạt) th́ là Phá Ác Tất Đàn. Chẳng thân, chẳng sơtức là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn. Xét theo nghĩa, tức là xét theo Tam Đế (Chân Đế, Tục Đế, Trung Đế), đem Đế đối ứng với Giáo th́ có thể biết bốn giáo (Tạng, Thông, Biệt, Viên). Đối với bốn giáo, biện định bốn [cơ nghi để giáo hóa] th́ có thể biết các nghĩa Tiệm, Đốn v.v…

          Lại nữa, hai thừa thuộc Nhị Thừa (Thanh Văn và Duyên Giác) đều ưa thích Niết Bàn, và bốn loại Bồ Tát (các vị Bồ Tát thuộc tứ giáo) đều chẳng ưa thích, chẳng chấp trước. V́ thế, các Ngài luôn thuộc Trung Đạo, chỉ hướng đến thật lư và lợi lạc người khác. V́ thế, ở trong Trung Đạo, cầu lấy điều cốt lơi, vượt xa phàm thánh. Nếu coi nhập Trung Đạo là Bồ Tát th́ tức là nói địa vị Bồ Tát trong Biệt Giáo, Viên Giáo, Thỉ Giáo, Chung Giáo.

          Dựa theo Bổn Tích để giải thích, hàng Thanh Văn trong ẩn giấu hạnh Bồ Tát, ngoài hiện h́nh tướng Thanh Văn, có bao giờ chấp chặt Niết Bàn? Trời người đều là bậc đại Bồ Tát, há c̣n đắm nhiễm sanh tử? Đều là từ nơi h́nh tích mà dẫn khởi thành hai bên (chấp Có và chấp Không), chứ nơi Bổn th́ luôn là Trung Đạo.

          Giải thích dựa theo quán tâm th́ từ Giả nhập Không Quán, là thiên về phá sanh tử. Từ Không mà nhập Giả Quán th́ chính là thiên trọng phá Niết Bàn. Trung Đạo chánh quán chẳng c̣n có trước sau (cũng nên xét theo nhân duyên để nói rơ về quán, khai hiển các giáo và quán theo phương diện Bổn Tích).

 

1.1.2.1.1. Chúng Thanh Văn

1.1.2.1.1.1. Chúng tỳ-kheo

1.1.2.1.1.1.1. [Nói về các vị được] nhiều người hay biết

1.1.2.1.1.1.1.1. Nêu bày chủng loại và số lượng

 

          (Kinh) Dữ đại tỳ-kheo chúng, vạn nhị thiên câu.

          ()與大比丘眾。萬二千人俱。

          (Kinh: Cùng với các vị đại tỳ-kheo, một vạn hai ngàn vị nhóm họp).

 

          “Dữ đại tỳ-kheo chúng” là nêu ra căn cơ của họ. “Một vạn hai ngàn người” nhằm nói số lượng đông đảo. “Dữ” () là “cộng” (, cùng với). Thích Luận dùng “thất nhất” (bảy điều “cùng một”) để giải thích chữ Cộng, tức là “nhất thời” (cùng một thời), “nhất xứ” (cùng một chỗ); đó là Thế Giới Tất Đàn, “nhất giới” (cùng một giới luật) (đó là Vị Nhân Tất Đàn), “nhất tâm, nhất kiến” (cùng một tâm, cùng một kiến giải); đó là Đối Trị Tất Đàn, “nhất đạo, nhất giải thoát” (đó là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn). Nếu dựa theo các giáo để nêu rơ “thất nhất” trong mỗi giáo th́:

          - Tam Tạng (Tạng Giáo) có một loại “thất nhất”, tức là “cùng cảm vời sanh trong thời có Phật, cùng ở Lộc Uyển, cùng một biệt giải thoát giới, cùng có tâm Nhất Thiết Trí, cùng có vô lậu chánh kiến, cùng có ba mươi bảy pháp trợ đạo, cùng có Hữu Dư Niết Bàn).

          - Thông Giáo có hai loại “thất nhất” (do chia thành lợi căn và độn căn, mà lợi ích có Viên và Biệt. Phải nên nói “ba loại thất nhất”, nhưng do nói tổng quát, cho nên cùng theo một lệ).

          - Biệt Giáo có vô lượng “thất nhất” (tự hành, giáo hóa người khác, theo chiều ngang hay theo chiều dọc đều có bốn môn, mỗi môn đều có Tứ Tất Đàn, cho nên tiến nhập sai khác).

          - Viên Giáo có một loại “thất nhất” (phát tâm và rốt ráo tuy là hai, nhưng chẳng khác biệt).

          Nếu chưa thấu đạt Tích th́ chính là “thất nhất” của Tam Tạng và Thông Giáo. Nếu đạt tới “khai tam thừa, hiển lộ nhất thừa” th́ liền nhập “thất nhất” của Viên Giáo.

          “Đại” trong tiếng Phạn là Ma Ha, cơi này dịch là Đại, cũng dịch là Đa (nhiều), và cũng dịch là Thắng. Độ lượng đáng tôn trọng, được các bậc đại nhân như thiên vương v.v… tôn kính; v́ thế nói là Đại. Vượt xa chín mươi lăm thứ ngoại đạo, cho nên nói là Thắng. Biết trọn khắp các kinh sách trong và ngoài giáo, cho nên nói là Đa.

          Lại nữa, số lượng tới một vạn hai ngàn vị, v́ thế nói là Đa. Nay nói rơ [các vị Thanh Văn ấy] có đại đạo, có đại dụng, có đại tri (大知, sự hiểu biết to lớn), cho nên nói là Đại. “Thắng” là đạo thù thắng, dụng thù thắng, hiểu biết thù thắng. V́ thế nói là Thắng. “Đa” là đạo nhiều, dụng nhiều, hiểu biết nhiều. V́ thế nói là Đa. Đạo chính là tánh niệm xứ, lớn hơn nhất thiết trí ngoại đạo. Dụng tức là Cộng Niệm Xứ, hơn hẳn bọn ngoại đạo có thần thông. Tri tức là Duyên Niệm Xứ, hơn hẳn Tứ Vi Đà (bốn kinh Vedas) của ngoại đạo (Đại là Thế Giới Tất Đàn, Đa là Vị Nhân và Đối Trị Tất Đàn. Thắng chính là Đệ Nhất Nghĩa).

          Xét theo giáo để giải thích “Đại, Đa, Thắng” th́:

          -  “Được bậc đại nhân tôn kính” là cách giải thích trong Tam Tạng.

          - Đại là được bậc đại lực La Hán tôn kính. Đa là biết trọn khắp pháp sanh diệt chính là pháp vô sanh diệt. Thắng là hơn hẳn bốn môn trong Tam Tạng. Đó là cách giải thích trong Thông Giáo.

          - Lại nữa, Đại là được bậc đại lực La Hán đă thấu hiểu pháp tôn kính. Đa là hằng sa Phật pháp đều biết. Thắng là hơn hẳn hàng Nhị Thừa. Đó là cách giải thích theo Biệt Giáo.

          - Lại nữa, Đại là được các vị đại Bồ Tát tôn kính. Đa là chẳng thể lường các pháp trong pháp giới đều biết. Thắng là hơn hẳn các vị Bồ Tát. Đấy là cách giải thích theo Viên Giáo.

          Xét theo Bổn Tích, các vị đại đức ấy từ lâu đă được chư Phật khen ngợi. Nơi Bổn, các Ngài đă đắc Thắng Tràng tam-muội từ trước, thành tựu Chủng Trí Biến Tri siêu việt các ngoại đạo. Về Tích, các Ngài đến phù tá Phật giáo hóa, thị hiện “đại, đa, thắng” trong ái kiến, ḥng dẫn khởi sữa trở thành lạc. Lại c̣n thị hiện “đại, đa, thắng” trong Tam Tạng, ḥng dẫn khởi lạc biến thành sanh tô. Lại thị hiện “đại, đa, thắng” trong Phương Đẳng, ḥng dẫn khởi sanh tô trở thành thục tô. Thị hiện “đại, đa, thắng” trong chuyển giáo[40] Bát Nhă, ḥng dẫn khởi thục tô trở thành đề hồ. V́ thế, thị hiện “đại, đa, thắng” trong thời Pháp Hoa; nhưng nơi Bổn th́ các Ngài “đại, đa, thắng” đă lâu.

          Xét theo quán tâm, Không Quán là Đại, Giả Quán là Đa, Trung Quán là Thắng. Lại nữa, thẳng thừng tiến nhập Trung Quán, tâm tánh rộng lớn, dường như hư không. V́ thế, gọi là Đại. Cùng ngăn che hai bên, vào biển tịch diệt; v́ thế, gọi là Thắng. Cùng chiếu cả hai Đế (Chân Đế và Tục Đế), chứa đựng rất nhiều, một tâm là hết thảy các tâm. V́ thế, gọi là Đa.     

          Tỳ-kheo bao gồm ba nghĩa Bố Ma (khiến cho ma sợ hăi), Phá Ác, và Khất Sĩ:

          - Ma thích sanh tử, do người này xuất gia, lại c̣n giáo hóa người khác cùng ĺa khỏi tam giới, trái nghịch ư ma. Ma dùng sức chế ngự, đâm ra lại bị năm thứ trói buộc, chỉ đành buồn rầu, sợ hăi mà thôi. V́ thế, gọi là Bố Ma.

          - Người xuất gia ắt phá bảy điều ác nơi thân và miệng[41]. V́ thế, gọi là Phá Ác.

          - Kẻ tại gia có ba thứ dưỡng mạng đúng như pháp, một là ruộng đất, hai là buôn bán, ba là làm quan. Đức Phật chẳng cho phép kẻ xuất gia làm các điều đó, chỉ xin ăn để tự nuôi sống. Thân an, đạo c̣n, phước lợi thí chủ. V́ thế gọi là Khất Sĩ.

          Ba nghĩa phối hợp th́ chính là ư nghĩa của “tỳ-kheo” (Bố Ma tức Thế Giới Tất Đàn. Khất Sĩ tức Vị Nhân Tất Đàn. Phá Ác tức Đối Trị Tất Đàn. Vượt khỏi tam giới chính là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn). Vừa mới thọ giới, tu Định, tu Huệ, đă có ba nghĩa Phá Ác, Bố Ma và Khất Sĩ, chẳng riêng hàng hậu tâm[42]. Cách giải thích của các vị chú sớ kinh, đều là tán thán các vị hậu tâm tỳ-kheo. Đó đều là [tuân theo] ư nghĩa giải thích trong Tam Tạng (Tạng Giáo). Nếu trải khắp các duyên để cầu lẽ chân th́ gọi là Khất Sĩ. Phá các phiền hoặc gây chướng ngại Lư th́ gọi là Phá Ác. Tu các hạnh ấy khiến cho bốn loại ma[43] kinh sợ. Đó là ư nghĩa [của tỳ-kheo] theo Thông Giáo. Nếu trải khắp Tam Đế để cầu lư th́ gọi là Khất Sĩ. Trừ Thông Hoặc và Biệt Hoặc th́ gọi là Phá Ác. Khiến cho tám ma, mười ma[44] kinh sợ, đó là ư nghĩa trong Biệt Giáo. Từ ngay nơi sanh tử mà cầu diệu vị Thật Tướng th́ gọi là Khất Sĩ. Thấu đạt “phiền năo tức Bồ Đề” th́ gọi là Phá Ác. Ma giới chính là Phật giới; đó là ư nghĩa trong Viên Giáo.

          Nếu chưa nêu ra Tích th́ chỉ hiểu hai nghĩa trước. Nếu đă phô bày Bổn, sẽ có đủ các ư nghĩa sau.

          Xét theo Bổn Tích, nơi Bổn đă lên đỉnh núi Niết Bàn, giă biệt cha mẹ “vô minh si ái” và vợ con “kết nghiệp”, ra khỏi căn nhà Phần Đoạn, Biến Dịch, trừ Ngũ Trụ đă lâu, có ác nào mà chẳng phá, đạt được pháp hỷ chân thật như ăn cháo sữa, chẳng cần ǵ nữa! Tŕ Nhiếp Thủ Chúng Sanh Giới của Đạo Cộng Thi La Ba La Mật để hàng phục ma giới, tức là có thể tiếp nhận, nắm vững “Phật giới Như”. Công đức nơi Bổn Địa đă thành tựu từ lâu, v́ điều phục chúng sanh bèn nơi Tích thị hiện thành “ngũ vị” tỳ-kheo (các tỳ-kheo thuộc năm vị “sữa, lạc, sanh tô, thục tô, đề hồ”) để truyền dạy, dẫn dắt chúng sanh. [Nếu muốn nói tỉ mỉ] th́ hăy phỏng theo lời giải thích trong phần trước.   

          Xét theo quán tâm, quán một niệm tâm thanh tịnh như hư không, chẳng bị gông cùm Nhị Biên trở ngại. Đại huệ b́nh đẳng, chẳng trụ, chẳng chấp, th́ gọi là “xuất gia”. Dùng Trung Quán để tự bồi đắp, nuôi sống Pháp Thân huệ mạng th́ gọi là Khất Sĩ. Quán Ngũ Trụ phiền năo[45] chính là Bồ Đề, th́ gọi là Phá Ác. Hết thảy điên đảo nơi các biên (tức các chấp trước đối đăi) không ǵ chẳng phải là Trung Đạo, tức là Bố Ma (Trung Quán đă là như thế, đem Không, Giả, theo thứ tự, không theo thứ tự v.v… đối ứng với từng giáo sẽ có thể biết).

          “Chúng” trong tiếng Phạn là Tăng Già (Saṃgha), cơi này dịch là Ḥa Hợp Chúng. Một người, hai người, ba người, đều chẳng gọi là Tăng, từ bốn người trở lên mới gọi là Tăng. Ḥa theo mặt Sự là không có chúng khác[46]. Ḥa theo mặt Pháp là không có lư khác. Đức Phật thường cùng một ngàn hai trăm năm mươi người quây quần, các kinh có thể nói [số lượng Thường Tùy Chúng] nhiều hoặc ít hơn, không nhất định. Thích Luận nói có bốn loại Tăng:

          - Chẳng nương theo tịnh mạng th́ gọi là phá giới Tăng.

          - Chẳng hiểu pháp và giới luật, gọi là ngu si Tăng.

          - [Thông hiểu] ngũ phương tiện th́ gọi là tàm quư Tăng (vị Tăng biết hổ thẹn).

          - Nhẫn được pháp khổ sở th́ gọi là chân thật Tăng.

          Ở đây, chỉ có các vị chân thật Tăng (Tứ Niệm và tứ thiện căn, gọi là Ngũ Phương Tiện. Chúng ḥa hợp là Thế Giới Tất Đàn. Thường theo Phật là Vị Nhân Tất Đàn v́ sanh điều lành cho chúng sanh. Từ câu “Thích Luận nói” trở đi, chính là Đối Trị Tất Đàn, v́ loại trừ kẻ ác. Từ chữ “ở đây” trở đi chính là Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn v́ ở nơi chân thật).

          Nếu xét theo bốn giáo, các vị Tăng ấy (Tăng chúng trong hội Pháp Hoa) trọn khắp năm địa vị Thiên, Viên v.v… đều cùng làm người nghe pháp. Đấy chính là sự chứng tín trong Viên Giáo vậy.

          Xét theo Bổn Tích, nơi Bổn th́ ḥa hợp cùng lư Thật Tướng. Lại c̣n ḥa hợp với cơ duyên của chúng sanh trong pháp giới. Nơi Tích th́ là vị Tăng bán tự sự lư (chỉ thông hiểu một phần sự lư, chưa liễu đạt trọn vẹn), gồm khắp “ngũ vị” nhằm dẫn khởi chúng sanh.

          Xét theo quán tâm, thoạt đầu học Trung Quán, dự vào địa vị tương tự. Chưa phát khởi lẽ chân, thẹn với các vị Đệ Nhất Nghĩa Thiên, xấu hổ đối với các vị thánh nhân. Đó chính là tàm quư Tăng. Nếu quán huệ đă phát th́ chính là chân thật Tăng. Nếu khác với điều này th́ là hai loại Tăng trước đó. Chẳng nương theo quán hạnh th́ là phá giới Tăng. Chẳng hiểu quán tướng th́ gọi là ngu si Tăng.

          Nêu ra bộ loại đă xong, nói đến số lượng th́ là một vạn hai ngàn người (số lượng khác biệt [với các kinh khác] chính là Thế Giới Tất Đàn. [Chúng sanh] do nghe số lượng [đông đảo] ấy mà sanh khởi điều thiện th́ là Vị Nhân Tất Đàn. Phá Ác (tức Đối Trị Tất Đàn) và nhập chân (Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn) có thể phỏng theo đó mà biết. Chẳng luận định theo bốn giáo v́ giáo khác nhau, nhưng số lượng giống nhau; cho nên chẳng giải thích khác biệt. Nếu tùy theo con số mà sanh kiến giải th́ là giáo sai khác. Hỏi: “Hễ liệt kê đại chúng và người đắc đạo, v́ sao con số ấy phải là số tṛn, không khuyết thiếu?” Đáp: Phần giải thích về con số tổng quát “năm ngàn” trong Thích Luận đă viết: “Dù nhiều hay ít hơn, đều tính tṛn số”).

          Xét theo Bổn Tích, nơi Bổn th́ là một vạn hai ngàn vị Bồ Tát. Nơi Tích th́ là một vạn hai ngàn vị Thanh Văn.

          Xét theo quán tâm, quán mười hai Nhập, mỗi Nhập có đủ mười pháp giới. Mỗi giới lại có đủ mười giới, thành ra Bách Giới (một trăm giới). Mỗi giới đều có mười môn Như Thị (như thị tướng, như thị tánh v.v…) thành ra Thiên Như. Mỗi Nhập đă là như thế th́ mười hai Nhập sẽ thành một vạn hai ngàn pháp môn.

 

1.1.2.1.1.1.1.2. Nêu rơ địa vị và tán thán phẩm đức

 

          (Kinh) Giai thị A La Hán, chư lậu dĩ tận, vô phục phiền năo, đăi đắc kỷ lợi, tận chư hữu kết, tâm đắc tự tại.

          ()皆是阿羅漢。諸漏已盡。無復煩惱。逮得己利。盡諸有結。心得自在。

          (Kinh: Đều là A La Hán, đă hết các lậu, chẳng c̣n phiền năo, chính ḿnh đă đạt được lợi ích, hết sạch các hữu kết, tâm đạt được tự tại).

 

          “A La Hán” là nêu ra địa vị. Từ chữ “chư lậu” trở đi là lời tán thán phẩm đức.

          A La Hán (Arhat) dịch là Ứng Chân (應真), hoặc dịch là Chân Nhân (真人), hoặc dịch là Vô Trước (無著, chẳng chấp trước), hoặc dịch là Bất Sanh (不生), hay Ứng Cúng (應供), hoặc chẳng dịch. [Danh từ này] bao gồm ba nghĩa:

          - Nghĩa thứ nhất là Vô Sanh (無生), do chẳng thọ thân sau.

          - Nghĩa thứ hai là Sát Tặc (殺賊, giết giặc) do đă đoạn sạch Kiến Tư.

          - Nghĩa thứ ba là Ứng Cúng do có thể làm phước điền.

          Cách giải thích này chính là ư nghĩa trong Tạng Giáo và Thông Giáo. Nếu xét theo Biệt Giáo và Viên Giáo, không chỉ sát tặc mà c̣n sát bất tặc! “Bất tặc” chính là Niết Bàn, cũng cần phải phá. Đấy chính là nghĩa Sát Tặc (nói là “bất tặc” v́ từ Nhị Thừa mà đặt tên. Nếu đối với Viên Giáo và Biệt Giáo, [Thiên Chân Niết Bàn] vẫn gọi là “tặc”. V́ thế, cần phải giết!) Chẳng sanh nơi sanh, mà cũng chẳng sanh nơi “chẳng sanh”. Vô lậu là bất sanh (coi Vô là chứng, sẽ sanh ở ngoài tam giới, [như vậy th́] bất sanh mà lại là sanh, cho nên chẳng cho nó sanh). Không chỉ là ứng cúng, mà c̣n là cúng ứng (tức cúng dường người đáng được cúng dường th́ gọi là “cúng ứng”. Như Phật hóa hiện làm đạo nhân, đến cúng dường các tỳ-kheo trong A Lan Nhă). Đấy đều là tán thán công đức của Sơ Địa trong Biệt Giáo hoặc Sơ Trụ trong Viên Giáo trở lên.

          Xét theo Bổn Tích, nơi Bổn bèn chẳng nhận lấy tam-muội, đối với hai bên đều không chấp trước. V́ thế gọi là Bất Sanh. Do đoạn Ngũ Trụ Hoặc, nên gọi là Sát Tặc. Có thể tạo phước cho chín đường, lợi ích rộng lớn chúng sanh; v́ thế gọi là Ứng Cúng. Phương tiện độ chúng sanh trong ngũ vị lần lượt truyền dạy “Bất Sanh, Sát Tặc, Ứng Cúng” th́ đều thuộc về Tích. Lại nữa, Bổn là Pháp Thân, Tích là chính ḿnh thị hiện tự đạt được lợi ích. Nơi Bổn là Bát Nhă, c̣n Tích là Bất Sanh. Nơi Bổn là giải thoát, nơi Tích là Sát Tặc (Bổn là b́nh đẳng đại huệ. Chẳng phá, chẳng không phá th́ mới có thể thị hiện dấu tích Bất Sanh nơi các giáo. Nơi Bổn đă chứng giải thoát. Chẳng tặc, chẳng bất tặc th́ mới có thể thị hiện Sát Tặc trong các địa vị. Nơi Bổn đă đắc Pháp Thân, chẳng phải là Ứng hay Bất Ứng th́ mới có thể thị hiện làm Ứng Cúng).

          Xét theo quán tâm, Không Quán là Bát Nhă, Giả Quán là giải thoát, Trung Quán là Pháp Thân. Lại từ Giả nhập Không Quán, cũng có ba nghĩa. Cho đến Trung Đạo Quán giết giặc vô minh, chẳng sanh tâm nhị biên. Cúng dường vị ấy sẽ giống như cúng dường đức Thế Tôn. Kinh Phương Đẳng dạy: “Cúng Phật cập Văn Thù, bất như thí hành Phương Đẳng giả nhất thực sung khu” (Cúng Phật và Văn Thù chẳng bằng cúng dường một bữa ăn cho người hành Phương Đẳng được no ḷng). Kinh này dạy: “Hủy tán Phật, tội phước do khinh, hủy tán tŕ kinh giả, tội phước thậm trọng” (Hủy báng hay tán thán Phật, tội phước vẫn c̣n nhẹ; hủy báng hay tán thán người tŕ kinh, tội phước rất nặng). V́ sao vậy? Phật chẳng có ư tưởng ăn, đă ĺa tám gió[47] từ lâu, chẳng bị hao tổn hay tăng ích. Thí cho người tŕ kinh khiến cho họ được toàn vẹn thân xác, tiếp tục mạng báo, sanh trưởng Pháp Thân, tăng huệ mạng; cho nên có ích. Nếu hủy báng, sẽ khiến cho họ ưu năo, lui sụt, hối hận. Nếu họ đă đánh mất dịp tốt th́ sẽ chẳng thể cứu chữa, cho nên tổn hại to lớn.

           Hai câu “chư lậu dĩ tận, vô phục phiền năo” (các lậu đă hết, chẳng c̣n phiền năo) nhằm tán thán phẩm đức Sát Tặc. Lậu chính là Tam Lậu[48]. Câu “đăi đắc kỷ lợi” (chính ḿnh đă đạt được lợi) nhằm tán thán phẩm đức Ứng Cúng. Nhân quả trong tam giới đều gọi là Tha (người khác); công đức của Trí Đoạn đều gọi là “kỷ lợi”. Chính ḿnh có lợi ích trọn đủ, cho nên trở thành Ứng Cúng.

          Hai câu “tận chư hữu kết, tâm đắc tự tại” (hết sạch kết phược trong tam hữu, tâm được tự tại) nhằm tán thán phẩm đức Bất Sanh. “Chư hữu” chính là hai mươi lăm chỗ Hữu Sanh. “Kết” chính là cái nhân của hai mươi lăm chỗ hữu sanh[49]. Tâm tự tại, ắt huệ tự tại. Định và Huệ trọn đủ, đều là người giải thoát.

          Xét theo Bổn Tích, Bất Sanh chẳng sanh là đại Niết Bàn, gịng phiền năo hữu lậu đă cạn nguồn từ lâu, chẳng c̣n đọa lạc trong các địa vị thuộc Nhị Thừa và phàm phu. Đấy chính Bất Sanh nơi Bổn. Công đức Trí Đoạn Thật Tướng của Pháp Thân th́ gọi là “kỷ lợi” nơi Bổn. Đạt được vương tam-muội, phá hai mươi lăm hữu, hiển xuất Ngă tánh, trọn đủ tám món tự tại[50], th́ gọi là Sát Tặc nơi Bổn, c̣n nơi Tích th́ là phô bày công đức của Nhị Thừa.

          Xét theo quán tâm, Trung Đạo chánh quán chẳng ṛ rỉ hai bên Không và Giả, đă diệt phiền năo nhị biên. Tâm tánh có thể quán gọi là “thượng định”. Viên châu trong chéo áo, kho tàng bí mật chính là “kỷ lợi”. Chánh quán Trung Đạo th́ sẽ đoạn trừ kết tặc (giặc kết sử). Do chẳng có kết sử, các hữu cũng đoạn. Nhị biên chẳng thể trói buộc cái tâm, cho nên tâm tự tại. Dẫu có phiền năo mà như chẳng có phiền năo. “Chẳng đoạn phiền năo mà nhập Niết Bàn” chính là ư nghĩa của đoạn kinh này.

 

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luân Quán Hội Nghĩa phần 1 hết



[1] Hóa nghi (化儀) là phương thức giáo hóa chúng sanh của đức Phật, c̣n nội dung của kinh điển dùng để giáo hóa chúng sanh th́ gọi là “hóa pháp”. Hóa pháp gồm:

1. Tam Tạng Giáo (thường gọi tắt là Tạng Giáo), tức là Tiểu Thừa Giáo. Đức Phật v́ hàng tam thừa nói kinh A Hàm, chỉ nói về Không, và tu Tích Không Quán (phép Quán Không bằng cách chia chẻ, phân tích sự vật. Phép Quán này c̣n gọi là Chuyết Độ Quán), nhập Vô Dư Niết Bàn, chỉ chế phục Kiến Tư phiền năo, chưa hoàn toàn đoạn trừ.

2. Thông Giáo: Tức giáo pháp dạy chung cho Thanh Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát. Đây là bước đầu của Đại Thừa do thấu hiểu lư như huyễn tức không (vạn vật do nhân duyên thành lập, giống như huyễn giả).

3. Biệt Giáo tức giáo pháp chẳng thông với hai giáo trước, chỉ nói với hàng Bồ Tát v́ Nhị Thừa chẳng thể lănh hội được. Giáo này nương theo thứ đệ tam quán (quán Không, Giả, Trung theo thứ tự).

4. Viên Giáo có nghĩa là giáo pháp chẳng lệch lạc, viên dung, trọn đủ, hiển thị sở ngộ của Phật, cũng chính là giáo pháp nội chứng của Phật. Phép Quán trong giáo này là Nhất Tâm Tam Quán và Thể Không Quán (thấu hiểu trực tiếp Không, chẳng cần phải trải qua phân tích, chia chẻ các pháp).

Hóa nghi gồm:

1. Đốn: Thoạt đầu lúc mới thành đạo, đức Phật đem giáo pháp Ngài đă nội chứng trực tiếp dạy cho chúng sanh, tương đương với kinh Hoa Nghiêm.

2. Tiệm: Nội dung các giáo pháp từ cạn đến sâu, tương đương với các kinh thuộc ba thời A Hàm, Phương Đẳng và Bát Nhă.

3. Bí Mật: Tùy theo căn cơ và năng lực của chúng sanh mà đức Phật dạy các giáo pháp phù hợp. Do giáo pháp tương ứng với một loại căn cơ nhất định, chẳng phải là căn cơ ấy sẽ không thể lănh hội, nên gọi là Bí Mật.

4. Bất Định: Các căn cơ bất đồng tuy cùng hiện diện trong cùng một pháp ṭa, sẽ do năng lực khác biệt, mà lănh hội, đạt được pháp ích sai khác. V́ thế, gọi là Bất Định.

[2] Giới ngoại (界外): Quốc độ ở ngoài tam giới, tức Tịnh Độ của chư Phật, Bồ Tát. Tam giới được gọi là “giới nội”.

[3] Tịch Diệt đạo tràng, c̣n gọi là A Lan Nhă Pháp Bồ Đề Tràng, tức là ṭa kim cang nơi đức Phật ngồi dưới cội Bồ Đề thành đạo ở phía Nam thành Già Da trong nước Ma Kiệt Đà. Theo Hoa Nghiêm Thám Huyền Kư, nói là Tịch Diệt bao hàm bốn nghĩa:

1. Chướng diệt.

2. Chứng diệt, tức chứng ngộ lư tịch diệt.

3. Hiển lộ đức tịch diệt: Thị hiện mười thân của Phật và pháp Phổ Hiền v.v…

4. Do lợi ích chúng sanh mà thành tựu Diệt.

[4] Bán Tự: Giáo pháp chưa diễn tả trọn vẹn chân lư, mang tính chất quyền biến, ví như chữ chưa viết trọn vẹn. Bán Tự thường dùng để sánh ví giáo pháp quyền tiểu, Măn Tự là giáo pháp diễn tả trọn vẹn chân lư, phô bày Thật Tướng.

[5] Khai cận, hiển viễn: Tức là như trong phẩm Thọ Lượng, đức Phật chỉ ra chuyện thị hiện thành Phật nơi Bồ Đề Đạo Tràng, tu khổ hạnh sáu năm v.v... đều là thị hiện các tướng thành đạo trong thời gần đây, chứ thật ra, đức Phật đă thành đạo từ vô lượng kiếp lâu xa.

[6] Phù luật đàm thường (扶律談常) là dụng ngữ của tông Thiên Thai mô tả giáo pháp của kinh Niết Bàn. Do đức Phật xót thương chúng sanh đời Mạt là phường độn căn, dễ dấy lên đoạn kiến, phá hủy giới luật, quên mất giáo thừa, ngỡ Như Lai là vô thường, đọc tụng, tin tưởng kinh sách ngoại đạo. V́ thế, trong kinh Niết Bàn, đức Phật ra rả nhắc nhở giới luật. Đó là “phù luật”. Lại chuyên nói về lư Phật tánh thường trụ, cho nên gọi là “đàm thường”.

[7] Theo pháp sư Phổ Hành, ba bản dịch của kinh Pháp Hoa là:

- Bản sớm nhất là kinh Chánh Pháp Hoa do sa-môn Trúc Pháp Hộ ở Đôn Hoàng dịch trong niên hiệu Vĩnh Khang thời Tấn Huệ Đế tại An Thanh Môn của Trường An, gồm hai mươi tám phẩm.

- Bản dịch thứ hai tức là bản dịch Diệu Pháp Liên Hoa Kinh của ngài Cưu Ma La Thập dịch vào năm Đinh Dậu (397) trong niên hiệu Hoàng Sơ thời Văn Hoàn Đế (Diêu Hưng) nhà Hậu Tần tại vườn Tây Minh ở Trường An, gồm hai mươi bảy phẩm.

- Bản thứ ba là Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh gồm bảy quyển, hai mươi tám phẩm, do ngài Xà Na Quật Đa và Đạt Ma Cấp Đa dịch vào năm Tân Dậu (601) thời Tùy Văn Đế trong niên hiệu Nhân Thọ. Kinh được dịch tại chùa Đại Hưng Thiện ở Trường An.

Bản của ngài La Thập thiếu mất phẩm Đề Bà Đạt Đa, và một số bài kệ (chẳng hạn phần kệ trong phẩm Phổ Môn), các phần này về sau được lấy từ bản Thiêm Phẩm ghép vào bản dịch của ngài La Thập. Theo tự điển Phật Quang Sơn, thật ra, có sáu bản dịch, nhưng ngoài ba bản vừa kể trên, ba bản kia đều bị thất lạc, chỉ c̣n biết tên gọi (dựa theo danh mục trong Khai Nguyên Thích Giáo Lục) là Chánh Pháp Hoa Tam Muội Kinh (sáu quyển), Tát Đàm Phân Đà Lợi Kinh (sáu quyển), và Phương Đẳng Pháp Hoa Kinh (năm quyển).

[8] Kinh Pháp Hoa được chú giải sớm nhất bởi ngài Thế Thân qua tác phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Ba Đề Xá (hiện thời có hai bản dịch bằng tiếng Hán của Bồ Đề Lưu Chi và Lặc Na Ma Đề). Chú giải bộ luận này có bộ Pháp Hoa Kinh Luận Thuật Kư (do ngài Nghĩa Tịch và Nghĩa Nhất cùng biên soạn) và bộ Pháp Hoa Luận Sớ của ngài Cát Tạng. Chú sớ kinh Pháp Hoa tại Trung Hoa qua các thời đại (chỉ tính đến thời ngài Ngẫu Ích) bao gồm các tác phẩm sau:

- Pháp Hoa Kinh Sớ (hai quyển) do ngài Trúc Đạo Sanh soạn vào thời Lưu Tống.

- Pháp Hoa Kinh Nghĩa Kư do ngài Quang Trạch viết trong thời Nam Lương.

- Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa do ngài Nam Nhạc Huệ Tư viết vào đời Trần.

- Pháp Hoa Văn Cú và Pháp Hoa Huyền Nghĩa của ngài Trí Khải (Trí Giả đại sư).

- Pháp Hoa Nghĩa Sớ, Pháp Hoa Huyền Luận, Pháp Hoa Thống Lược, Pháp Hoa Du Ư của ngài Gia Tường Cát Tạng viết vào đời Tùy.

- Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Tán do ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường.

- Pháp Hoa Ngũ Bách Vấn Luận do ngài Kinh Khê Trạm Nhiên soạn vào đời Đường.

- Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Yếu Giải do ngài Giới Hoàn soạn vào đời Tống.

- Pháp Hoa Kinh Hợp Luận của Huệ Cung và Trương Thương Anh biên soạn vào đời Tống.

- Pháp Hoa Kinh Khoa Chú do ngài Nhất Như viết dưới đời Minh.

- Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thai Tông Hội Nghĩa, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa Tiết Yếu, và Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luân Quán của ngài Ngẫu Ích viết vào đời Minh.

- Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thông Nghĩa và Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Hệ Tiết của ngài Hám Sơn Đức Thanh.

Ngoài ra c̣n phải kể đến các tác phẩm chú giải của chú sớ như Pháp Hoa Văn Cú Kư (chú giải Pháp Hoa Văn Cú) và Pháp Hoa Kinh Huyền Nghĩa Thích Thiêm của ngài Trạm Nhiên, các bộ Khoa Chú của các vị Thủ Luân (đời Tống), Từ Thiện Hành (đời Nguyên) v.v… Hoặc các sách khai triển từ giáo nghĩa của kinh Pháp Hoa như Ma Ha Chỉ Quán (của tổ Trí Khải), Chỉ Quán Phụ Hành Truyền Hoằng Quyết, Chỉ Quán Sưu Yếu Kư, Chỉ Quán Đại Ư, Pháp Hoa Tam Muội Bổ Trợ Hành Nghi, Thỉ Chung Tâm Yếu (các tác phẩm này đều do ngài Kinh Khê viết) v.v…

[9] Quang Châu (光州, đừng lầm với Quảng Châu) nay là huyện Quang Sơn, tỉnh Hà Nam. Núi Đại Tô cách thành phố Tín Dương 22 km. Chùa Tịnh Cư trên núi này được coi là tổ đ́nh của tông Thiên Thai v́ tổ Nam Nhạc Huệ Tư đă đến đây kết am tu hành, khai đàn truyền pháp vào năm Thiên Bảo thứ năm (554) đời Bắc Tề. Nơi đây c̣n nhiều cảnh đẹp được ghi vào huyện chí như Túy Chúc Phong, Bạch Liên Tŕ, Nhị Môn Quán Thiên, Tiên Nhân Động, Điếu Ngư Đài v.v… Trong Phật giáo Trung Hoa, núi này được coi là nơi hành đạo của Nhị Thánh (tổ Huệ Tư và tổ Trí Khải, tức Trí Giả đại sư v́ tổ Trí Khải đắc pháp nơi đây), Nhị Vĩ (tức luật sư Đạo Ngạn, tổ khai sơn chùa Tịnh Cư trên nền thảo am của tổ Huệ Tư. Vị kia là Giám Chân, đệ tử của ngài Đạo Ngạn. Ngài Giám Chân đă sáu lần từ Trung Hoa vượt biển sang Nhật, truyền thừa Luật Tông, được tôn là Sơ Tổ Luật Tông của Nhật Bản).

[10] Hy Ḥa là gọi tắt của Hy thị và Ḥa thị. Theo truyền thuyết, vua Nghiêu đă sai Hy Trọng, Hy Thúc, Ḥa Trọng và Ḥa Thúc chia nhau ở bốn phương quan sát thiên tượng (các diễn biến trên bầu trời) để chế định lịch pháp.

[11] “Biên” là chấp vào một phương diện đối đăi, chẳng hạn có, không, tốt, xấu, thiện, ác v.v… thường gọi là Nhị Biên. Trung là không chấp trước vào sự đối đăi.

[12] Tích Môn là những điều thuộc về sự ứng hiện, Bổn Môn là sự nội chứng, thật sự. Nói cách khác, Bổn Môn ví như vầng trăng thật sự, c̣n Tích Môn là bóng trăng in trong nước. Chẳng hạn như Bổn Môn là đức Phật đă thành đạo từ nhiều kiếp lâu xa, c̣n Tích Môn là Ngài thị hiện giáng sanh tại thành Ca Tỳ La Vệ, hiện tám tướng thành đạo, thuyết pháp bốn mươi chín năm v.v…

[13] Vô Kư Hóa Hóa Thiền chỉ trong sự vô ngại tương ứng, tu tập Thiền Định biến hóa vô cùng. Theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa, trong Pháp Giới Thứ Đệ Môn có chín loại đại Thiền, trong đó môn thứ sáu là Nhất Thiết Hạnh Thiền, hàm nhiếp hết thảy các hành pháp Thiền Định trong Đại Thừa. Nhất Thiết Hạnh Thiền lại được chia nhỏ thành mười ba loại, loại thứ hai trong ấy được gọi là Vô Kư Hóa Hóa Thiền, tức là môn Thiền Định tùy ư vận dụng theo ư muốn, biến hóa vô cùng, tự tại vô ngại.

[14] Đây là một thuật ngữ của tông Thiên Thai nhằm diễn tả lợi ích của Bổn Môn Pháp Hoa. Đạo là trí Trung Đạo, sanh là Biến Dịch Sanh Tử. “Tăng đạo tổn sanh” nghĩa là trí Trung Đạo dần dần tăng tấn, Biến Dịch Sanh Tử dần dần tổn giảm. Nói cách khác, đây là quá tŕnh tăng tấn từ Sơ Trụ tiến dần đến địa vị Đẳng Giác trong bốn mươi hai địa vị của Bồ Tát.

[15] Tất Đàn (Siddhānta) có nghĩa là “bố thí trọn khắp”, hoặc “thành tựu”. Tứ Tất Đàn tức là dùng bốn sự thành tựu để giáo hóa chúng sanh, nhằm đối ứng với các nhu cầu của chúng sanh có căn cơ khác biệt gồm:

- Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn c̣n gọi là Nhập Lư Tất Đàn, nhằm hướng dẫn chúng sanh tiến nhập thật lư. Tức là đức Phật dùng trí huệ Thật Tướng Bát Nhă của Đại Thừa, thông qua các thứ phương tiện thiện xảo để hướng dẫn chúng sanh tiến nhập trực tiếp nội chứng của Phật, chứng nhập chân lư, phá trừ nghi hoặc.

- Thế Giới Tất Đàn, c̣n gọi là Lạc Dục Tất Đàn, tức là tùy thuận pháp thế gian để xiển minh đạo lư nhân duyên ḥa hợp.

- Các Các Vị Nhân Tất Đàn (thường gọi tắt là Vị Nhân Tất Đàn), c̣n gọi là Sanh Thiện Tất Đàn, ứng theo căn cơ và năng lực bất đồng của chúng sanh mà giải nói các pháp xuất thế, khiến cho chúng sanh sanh khởi thiện căn, kiến lập tín tâm, tuần tự thăng tấn.

- Đối Trị Tất Đàn, c̣n gọi là Đoạn Ác Tất Đàn, đối trị các phiền năo của chúng sanh, tùy theo căn bệnh mà nói pháp dược, khiến cho chúng sanh giải thoát ác nghiệp.

[16] Ngũ vị là năm vị của sữa (sữa, lạc, sanh tô, thục tô, đề hồ) được dùng làm thí dụ trong kinh Đại Bát Niết Bàn. Trí Giả đại sư đă dùng chuyện này để phán định năm thời giáo pháp của đức Phật: Năm thời giáo pháp được tuần tự nói ra nhằm tương ứng với căn cơ của chúng sanh tuần tự thăng tấn:

1. Vị sữa (Kṣīraṁ), như thời Hoa Nghiêm giống như sữa sanh ra từ ḅ. Lúc đó, căn cơ của Nhị Thừa chưa chín muồi, rất nhạt mỏng giống như sữa mới vắt.

2. Vị lạc (Dadhi): Sữa biến thành lạc, giống như sau thời Hoa Nghiêm đức Phật nói kinh A Hàm, căn cơ nghe hiểu kinh A Hàm là Tiểu Thừa.

3. Vị sanh tô (Navanītaṁ): Căn cơ Tiểu Thừa chín muồi, dần dần tiến nhập Đại Thừa Thông Giáo.

4. Vị thục tô (Gholaṁ): Chất tô càng được tinh chế hơn, căn cơ Thông Giáo đă chín muồi, trở thành căn cơ Đại Thừa Biệt Giáo.

5. Vị đề hồ (Sarpimaṇḍa): Thục Tô được nung luyện trở thành Đề Hồ. Ví như sau thời Bát Nhă, nói kinh Pháp Hoa và Niết Bàn khiến cho căn cơ Biệt Giáo thành căn cơ Viên Giáo.

[17] Gọi là “liễu nhân” v́ xét theo bản thể của cái nhân. Liễu có nghĩa là làm sáng tỏ hoặc liễu ngộ. Như đèn chiếu soi khiến cho người khác có thể thấy rơ mọi vật th́ đèn là liễu nhân của cái Thấy.

[18] Trong văn tự Tất Đàm (Siddhāṃ) của tiếng Phạn cổ, gồm có bốn mươi hai chữ, khởi đầu bằng chữ A và kết thúc bằng chữ Trà (ksa). Kinh Hoa Nghiêm có một chương riêng nói về Hoa Nghiêm Tự Mẫu, tức là bốn mươi hai chữ Phạn này, mỗi chữ tương ứng với một môn giải thoát. Các kinh Mật Giáo như Kim Cang Đảnh, Văn Thù Sở Vấn đă mở rộng thành năm mươi hai tự mẫu, và coi đó là Pháp Mạn Đà La, bao gồm trọn vẹn hết thảy các pháp trong tam giới. Do vậy, nói “từ A đến Trà” tức là nói hết thảy các pháp từ đầu đến cuối chẳng c̣n thừa sót.

[19] Bôn ở đây là cách viết lối chữ cổ của Bổn (, ngu muội). V́ thế, Tổ giải thích Bôn là “liễu bôn” (đă hết ngu muội).

[20] Ngoại phàm chính là địa vị phàm phu trong sự tu hành, thấp hơn nội phàm. Nói cụ thể, địa vị Ngũ Đ́nh Tâm trong Thanh Văn, Niệm Trụ trong Biệt Giáo, Thập Tín Phục Nhẫn trong Viên Giáo được gọi là ngoại phàm. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương giảng: “Ngoại phàm là kẻ hướng ra ngoài cầu lư, chưa thể dứt tướng để nội duyên chân tánh, cho nên gọi là ngoại phàm. Chưa xả phàm thân Phần Đoạn trong lục đạo, nên gọi là Phàm”.

[21] Ngũ Thọ của phàm phu là năm thứ cảm nhận, tức ưu thọ, hỷ thọ, khổ thọ, lạc thọ, và xả thọ.

[22] Phổ Hiền Bồ Tát c̣n có danh xưng khác là Vishvabhadra (thường dịch là Biến Cát), và được thường được phiên âm là Bật Thâu Bạt Đà. Có lẽ chữ Tung Đà ở đây là Bạt Đà bị chép sai.

[23] Lư Bạch (701-762), tự là Thái Bạch, hiệu là Thanh Liên cư sĩ, là một đại thi nhân thuộc đời Thịnh Đường. Cùng với Đỗ Phủ trở thành biểu tượng cho Đường thi. Do thích uống rượu và tài làm thơ, ông được người đương thời gọi là Tửu Tiên, hay Trích Tiên Nhân. Trong tác phẩm nổi tiếng về thơ Đường là Đường Thi Tam Bách Thủ (ba trăm bài thơ Đường) do Tôn Thù biên soạn, có đến 42 bài là thơ của ông.

[24] Thôi Hạo (?-754) là một thi nhân đời Đường, quê ở Biện Châu (nay là thành phố Khai Phong tỉnh Hà Nam), không được ghi chép nhiều về tiểu sử. Chỉ biết ông đỗ Tiến Sĩ năm Khai Nguyên 10 (722), từng làm Giám Sát Ngự Sử, rồi làm thuộc hạ của Tiết Độ Sứ Hà Đông, huyện úy huyện Phù Câu, Thái Bộc Tự Thừa, chức quan cao nhất của ông là Tư Huân Viên Ngoại Lang, tức là quan trường lận đận. Thơ của ông hay, nhưng bị thất lạc nhiều, chỉ c̣n giữ được bốn mươi hai bài. Bài thơ nổi tiếng nhất của ông chính là bài thơ vịnh Hoàng Hạc Lâu. Hoàng Hạc Lâu là một ṭa lầu trên núi Xà Sơn thuộc Vũ Xương, thành phố Vũ Hán (tỉnh Hồ Bắc), là một trong bốn ngôi lầu nổi tiếng của đất Giang Nam. Hoàng Hạc Lâu hiện thời có năm tầng, cao 50,4 mét. Ṭa lầu này được xây từ năm Hoàng Vũ thứ hai (223) đời Đông Ngô do sắc lệnh của vua nước Ngô là Tôn Quyền. Ṭa lầu này bị thiêu hủy và xây lại nhiều lần (riêng trong thời Minh – Thanh, ngôi lầu này đă bị bảy lần phá hủy v́ chiến tranh, loạn lạc). Ngôi lầu hiện thời được xây dựng lại vào năm 1985 trên nền cũ. Theo truyền thuyết, tiên nhân Vương Tử An thích tu tiên, từng thấy trên lầu này có vị tiên cưỡi hạc vàng giáng xuống, cùng họ Vương uống rượu. Sau đó cỡi hạc bay đi mất. V́ thế, lầu này có tên gọi là Hoàng Hạc Lâu.

Bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hạo như sau: “Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, bạch vân thiên tải không du du, t́nh xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, phương thảo thê thê Anh Vũ châu. Nhật mộ hương quan hà xứ thị? Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Thi sĩ Tản Đà dịch như sau: Hạc vàng ai cưỡi đi đâu? Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu c̣n trơ! Hạc vàng đi mất từ xưa, ngh́n năm mây trắng bây giờ c̣n bay. Hán Dương sông tạnh cây bày, băi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non. Quê hương khuất bóng hoàng hôn, trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai?”

[25] Quang Trạch (467-529) là vị Tăng sống vào đời Nam Triều. Bảy tuổi xuất gia, có pháp hiệu là Pháp Vân. Cùng với Tăng Mân và Trí Tạng được xưng ba vị đại pháp sư đời Lương. Sư thường trụ tích tại chùa Quang Trạch ở Giang Tô, nên người đời thường gọi Sư là Quang Trạch. Sư khéo giảng Pháp Hoa, tác phẩm chú sớ kinh Pháp Hoa của Sư được gọi là Quang Trạch Sớ, có tên gọi đầy đủ là Pháp Hoa Kinh Nghĩa Kư.

[26] Tức là ba bộ sớ giải kinh Pháp Hoa của tổ Trí Giả, gồm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú (giải thích kinh văn), Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa (giảng về ngũ trùng huyền nghĩa của kinh Pháp Hoa), và Ma Ha Chỉ Quán (cách tu Chỉ Quán), mỗi bộ gồm mười quyển. Các tác phẩm này đều do ngài Quán Đảnh Chương An ghi lại. Ba bộ chú sớ này được tôn là điển tịch căn bản của người học giáo nghĩa Thiên Thai.

[27] Diệu Lạc là biệt hiệu của ngài Kinh Khê Trạm Nhiên, tổ thứ sáu của tông Thiên Thai. Do Ngài trụ tích tại chùa Diệu Lạc ở Thường Châu, chuyên giảng Pháp Hoa, người đương thời gọi Ngài là Diệu Lạc đại sư.

[28] Lục Triều là từ ngữ của người đời Đường tạo ra để gọi sáu triều đại trước thời Tùy - Đường, chủ yếu là nói đến các triều đại ở phương Nam Trung Hoa, gồm:

- Nhà Đông Ngô (c̣n gọi là Tôn Ngô, Tam Quốc Ngô) do Tôn Quyền sáng lập, tồn tại từ năm 229 đến năm 280, truyền được bốn đời vua, đóng đô ở Kiến Nghiệp (tức Nam Kinh hiện thời).

- Nhà Đông Tấn (317-420) do Tư Mă Duệ sáng lập (tức là tiếp nối của nhà Tây Tấn sau khi Hoa Bắc lần lượt bị các dân tộc ngoài biên ải, tức các sắc dân Nam Hung Nô, Bạch Nô, Đinh Linh, Thiết Phất, Lô Thủy Hồ, Thác Bạt Tiên Ty, Vũ Văn Tiên Ty, Khương, Phù Dư v.v… tràn vào chia cắt lănh thổ, lập thành mười sáu quốc gia, sử gọi là Ngũ Hồ Thập Lục Quốc). Nhà Đông Tấn đóng đô ở Kiến Khang (Nam Kinh), truyền được mười một đời vua. Tới đời Tấn An Đế (Tư Mă Đức Tông) bị quyền thần Hoàn Huyền ép nhường ngôi. Hoàn Huyền đổi quốc hiệu thành Sở, sử thường gọi là nhà Hoàn Sở. Lưu Dụ khởi binh chinh phạt, giết chết Hoàn Huyền, khôi phục nhà Đông Tấn. Sau một thời gian, đến năm 420, Lưu Dụ phế Tấn Cung Đế (Tư Mă Đức Văn), tự lên ngôi, đổi quốc hiệu thành Tống, tức nhà Lưu Tống.

- Lưu Tống (420-479), c̣n gọi là nhà Tiền Tống, do Lưu Dụ sáng lập, cũng đóng đô ở Kiến Khang, truyền được chín đời vua. Vua cuối cùng Lưu Chuẩn (Tống Thuận Đế) là con rối trong tay quyền thần Tiêu Đạo Thành, được ông ta đưa lên ngôi năm 477 rồi bị phế thành Nhữ Âm Vương năm 479, Tiêu Đạo Thành lên làm vua, đổi quốc hiệu thành Tề. Tháng Năm năm ấy, Lưu Chuẩn bị giết khi mới tṛn 12 tuổi.

- Nam Tề (479-502), c̣n gọi là Tiêu Tề, do Tiêu Đạo Thành sáng lập, cũng đóng đô tại Kiến Khang, truyền được bảy đời vua.

- Nam Lương (502-557), c̣n gọi là Tiêu Lương, Tiền Lương, hoặc Nam Triều Lương, do Tiêu Diễn (Lương Vũ Đế) sáng lập, đóng đô tại Kiến Khang, truyền được sáu đời vua.

- Trần (557-589), c̣n gọi là Nam Trần, do Trần Bá Tiên soán ngôi nhà Lương từ tay Lương Kính Đế (Tiêu Phương Trí), cũng đóng đô tại Kiến Khang, truyền được năm đời vua. Vua cuối cùng là Trần Hậu Chủ (Trần Thúc Bảo) si ám, ham ăn chơi, hưởng lạc, bị Tùy Văn Đế xua quân nam chinh, tiêu diệt nhà Trần, thống nhất Trung Hoa.

Ngài Kinh Khê Trạm Nhiên (717-782) sống vào thời Đường.

[29] Đại sư viết bộ Hội Nghĩa này lúc Ngài 51 tuổi (tức năm Thuận Trị thứ sáu đời nhà Thanh. Nếu tính theo niên hiệu đời Minh th́ là năm Vĩnh Lịch thứ ba nhà Nam Minh, năm Khánh Đức thứ nhất đời Lê Thần Tông nhà Hậu Lê của Việt Nam). Theo pháp sư Hoằng Nhất viết trong bộ Ngẫu Ích Đại Sư Niên Phổ, tổ Ngẫu Ích trụ tại Linh Phong, đang bị bệnh vẫn cất bút viết Hội Nghĩa vào tháng Chạp năm ấy, đến tháng Giêng năm sau th́ hoàn thành.

[30] “Tường tự” trong nghĩa gốc là trường học. Đời Ân Thương gọi trường học là Tường, từ đời Châu th́ gọi là Tự. Do vậy, trường học được gọi chung là Tường Tự; sau đó, mở rộng thành ư nghĩa dạy bảo.

[31] Đại Kinh có thể hiểu tổng quát là các kinh Đại Thừa, hoặc tùy theo tông phái mà Đại Kinh có thể hiểu khác nhau. Chẳng hạn Tịnh Độ Đại Kinh th́ là kinh Vô Lượng Thọ, c̣n ở đây, do Tổ hoàn toàn nói theo cách giảng giải của tông Thiên Thai, th́ Đại Kinh chính là kinh Ma Ha Bát Nhă.

[32] Ư nói tùy theo từng thời đại mà có vị dịch kinh ghi là “như thị ngă văn”, “ngă văn như thị”, hoặc “văn như thị”.

[33] Thông thường, Thích Luận là tên gọi khác của Đại Trí Độ Luận, v́ bộ luận này nhằm giải thích kinh Đại Phẩm Bát Nhă, cho nên thường gọi là Đại Luận hay Thích Luận. Nếu xét theo Mật Giáo th́ Thích Luận chính là bộ Thích Ma Ha Diễn Luận, tức là sách chú giải bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận do Long Thọ Bồ Tát trước tác. Bộ luận này được ngài Phiệt Đề Ma Đa dịch sang tiếng Hán vào thời Diêu Tần, gồm mười quyển. Khi ngài Không Hải đem bộ luận này về Nhật Bản và hoằng dương Mật Tông, đă chủ trương bộ luận này là kinh sách căn bản phải học của tất cả các hành giả Chân Ngôn Tông. Ngu ư cho rằng ở đây phải hiểu Thích Luận theo nghĩa thứ hai, v́ trong toàn bộ tác phẩm, Tổ luôn dùng chữ Đại Luận để chỉ Đại Trí Độ Luận.

[34] Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận c̣n gọi là Thập Trụ Luận, do ngài Long Thọ trước tác nhằm giải thích kinh Thập Trụ (tức là bản dịch khác của phẩm Thập Địa trong kinh Hoa Nghiêm). Tác phẩm này được ngài Cưu Ma La Thập dịch sang tiếng Hán gồm mười sáu quyển. Hiện thời, bộ luận này chỉ c̣n lại phần nói về hai địa đầu tiên trong Thập Địa (tức Hoan Hỷ Địa và Ly Cấu Địa). Có thuyết nói là Ngài chỉ dịch hai địa vị đầu tiên. Tương truyền, khi ngài Long Thọ ở trong long cung, đọc bộ Hoa Nghiêm Kinh tiểu bổn gồm mười vạn bài tụng (tức 40.000 câu) đă soạn một bộ sách chú giải có tựa đề là Đại Bất Tư Nghị Luận, Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận chỉ là một phẩm trong bộ sách ấy.

[35] Địa Tiền là các địa vị trước khi đạt tới Sơ Địa, tức Thập Trụ, Thập Hạnh, và Thập Hồi Hướng.

[36] Ca La (Kāla), c̣n phiên âm là Ca Lă, dịch nghĩa là Thật Thời. Theo Duy Thức, Thời có hai loại: Thật Thời (Ca La) và Giả Thời (Tam-ma-da). Khi luật điển nói đến các thời gian thọ trai, đắp y, chấp tác, tụng niệm, thiền quán v.v… th́ đó là Thật Thời, c̣n như kinh nói một thời, một ngày, cho đến một kiếp th́ là Giả Thời. Theo Danh Nghĩa Tập, Thật Thời tức là thời gian hiểu theo Tục Đế, c̣n Tam-ma-da (Giả Thời) là nói phương tiện, hay nói theo Đệ Nhất Nghĩa Đế.

[37] Quả đầu Phật là một thuật ngữ trong tông Thiên Thai để nói đến quả vị Phật trong mỗi giáo. Do quả vị Phật cao nhất, nên gọi là quả đầu.

[38] Vương Xá (Rājagṛha), đôi khi được phiên âm là La Duyệt Kỳ, là kinh đô của nước Ma Kiệt Đà (Magādha), tức quốc gia của vua A Xà Thế thuộc vương triều Haryanka thuở đức Phật tại thế. Vương Xá nay là thành phố Rajgir thuộc tiểu bang Bihar của Ấn Độ.

[39] Nhằm thuận tiện cho các liên hữu tham khảo, chúng tôi xin trích dịch đoạn giải thích về thành Vương Xá trong Pháp Hoa Văn Cú như sau: “Thành Vương Xá được Thiên Trúc gọi là La Duyệt Kỳ Già La. Phương này (Trung Hoa) dịch La Duyệt Kỳ là Vương Xá. Già La được cơi này dịch là Thành. Tên nước là Ma Già Đà, phương này dịch là Bất Hại, do không có tử h́nh. Nước này c̣n gọi là Ma Kiệt Đề, phương này dịch là Thiên La. Thiên La là tên của nhà vua. Dùng tên vua để đặt tên cho nước. Vị vua ấy là cha của Bác Túc. Trong kiếp lâu xa xưa kia, vị vua ấy đứng đầu một tiểu quốc. Vua đi tuần trong núi, gặp một con sư tử cái. Mọi người bỏ chạy tán loạn, sư tử cái bèn cùng vua giao phối. Tṛn một tháng sau, nó đến điện vua để sanh nở. Vua biết đó là con ḿnh, nói dối ‘ta không có con; đây là trời ban cho’. Bèn đặt tên cho đứa bé là Thiên Tứ (trời ban), nuôi làm Thái Tử. Do chân [Thái Tử] có vằn nhiều màu, nên gọi là Bác Túc (chân vằn vện). Về sau, [Bác Túc] nối ngôi vua, thích ăn thịt, dặn nhà bếp không được thiếu thịt. Có một lúc thiếu thịt, [đầu bếp] bèn lấy trẻ nhỏ mới chết ở phía Tây kinh thành làm món ăn. Vua khen rất ngon, truyền lệnh thường nấu món thịt ấy. Đầu bếp mỗi ngày bắt một người [làm thịt], toàn quốc âu sầu, sợ hăi. Một ngàn tiểu quốc dấy binh phế vua, bỏ [nhà vua] trong núi Kỳ Xà Quật. Các La Sát bắt vua làm quỷ vương. Do vậy, vua thề với sơn thần sẽ bắt một ngàn vị vua đem tế núi. Vua bắt được chín trăm chín mươi chín người, c̣n thiếu vua Phổ Minh. Về sau, vua Bác Túc t́m cách bắt được vua Phổ Minh. Vua Phổ Minh khóc ṛng, tiếc hận suốt đời nói thật, mà nay phải trái lời. Bác Túc thả cho Phổ Minh về nước. Phổ Minh bèn bố thí to lớn, lập Thái Tử, rồi đến chịu chết, vẻ mặt vui sướng, tâm an ổn. Bác Túc hỏi duyên cớ, vua đáp:Do được nghe thánh pháp”. Do vậy, Bác Túc bảo Phổ Minh nhắc lại, [giáo pháp ấy] khen ngợi rộng răi ḷng Từ, chê trách chuyện giết hại; [Phổ Minh] lại c̣n nói Tứ Phi Thường Kệ. Bác Túc nghe pháp, đạt đến địa vị Không B́nh Đẳng, tức Sơ Địa. Bèn đối với một ngàn vị vua, lấy mỗi người một giọt máu, ba cọng tóc cho xong lời nguyện với sơn thần. Bác Túc và một ngàn vị vua cùng lập thành quách tạo thành một đại quốc trong năm quả núi, giao các tiểu quốc cho con cháu của một ngàn vị vua. Một ngàn vị vua đều thay phiên nhau trông coi việc nước của đại quốc. Đă thế, trăm họ trong năm quả núi bảy lượt làm nhà, bảy lượt bị lửa cháy. Trăm họ bàn với nhau: “Do chúng ta bạc phước nên nhiều lần bị cháy sạch, vua có phước lực, cho nên nhà cửa chẳng cháy. Từ nay trở đi đều chẳng gọi là nhà của ta mà là nhà của vua”. V́ thế, gọi là thành Vương Xá. Hơn nữa, Bác Túc đắc đạo, bèn tha cho ngàn vị vua. Ngàn vị vua được ân xá ở nơi ấy, nên gọi là Vương Xá (vua xá tội). Nhưng các nhà chú giải kinh mượn âm chữ Xá trong ốc xá (nhà cửa) để ghi lại. Nhân duyên trích từ Đại Luận và các kinh… Núi Kỳ Xà Quật được cơi này dịch là Linh Thứu, cũng dịch là Thứu Đầu, c̣n dịch là Lang Tích… Đỉnh núi giống chim Thứu (chim ưng), bèn đặt tên núi theo h́nh dáng đỉnh núi. Lại nói phía Nam núi có rừng Thi Đà (rừng bỏ xác người chết), chim Thứu ăn xác chết xong bèn đậu trong núi ấy. Người đương thời gọi là Thứu Sơn. Lại có người giải thích: Phật trong quá khứ và Phật hiện tại đều ngự tại núi ấy. Sau khi đức Phật diệt độ th́ La Hán trụ ở đó. Lúc pháp diệt th́ Bích Chi Phật trụ. Không có Bích Chi Phật th́ quỷ thần ở đó. Đă là nơi ở của thánh nhân linh thiêng th́ nói chung có ba chuyện, v́ vậy gọi là núi Linh Thứu. [Nơi đó] có năm tinh xá: Bệ Bà La Bạt Thứ, phương này dịch là Chủ Huyệt, Tát Đa Ban Na Cầu Ha, phương này dịch là Thất Diệp, Nhân Đà Thế La Cầu Ha, phương này dịch là Xà Thần Sơn, Tát Bá Thứ Hồn Trực Ca Bát Bà La, phương này dịch là Thiếu Độc Lực Sơn; năm là Kỳ Xà Quật Sơn”.

[40] Đây là một thuật ngữ chuyên biệt của tông Thiên Thai để mô tả thời Bát Nhă. Từ ngữ này xuất phát từ bộ Thiên Thai Tứ Giáo Nghi của ngài Đế Quán. Nói đầy đủ th́ là “chuyển giáo, phó tài, dung thông, đào thải”. Trong hội Bát Nhă, do được Phật lực gia bị, ngài Tu Bồ Đề thay đức Phật diễn nói pháp môn Bát Nhă cho các hàng Bồ Tát. Đó gọi là “chuyển giáo”. “Dung thông” là tức là dung hội vô ngại. V́ Bát Nhă xiển dương hết thảy các pháp đều là Đại Thừa, Đại và Tiểu dung hội, chẳng hai, chẳng khác. “Phó tài” (giao phó tài sản), ngụ ư kể từ trong phẩm Tín Giải, các Thanh Văn chuyển giáo hiển lộ ư Phật, tức là đă đem gia nghiệp, tài sản của Phật giao phó cho các Thanh Văn, khác nào trưởng giả giao phó tài sản cho đứa con nghèo túng. “Đào thải” hàm ư gột trừ cấu uế. Do các thời trước đó gây nên t́nh chấp có Đại, Tiểu sai biệt, đến thời Bát Nhă chỉ bày Đại Tiểu dung thông, phá chấp trước đối với nhị biên và Trung Đạo, gột sạch các cấu uế kiến hoặc.

[41] Bảy điều ác nơi thân và miệng là giết, trộm, dâm, nói dối, nói đôi chiều, nói thêu dệt, và ác khẩu.

[42] Hậu tâm có nghĩa là sau khi đă sơ phát tâm, đă có thời gian tu tập lâu dài, an trụ trong pháp mà ḿnh đang tu tập, chẳng bị thoái chuyển.

[43] Tứ ma: Phiền Năo Ma, Uẩn Ma, Tử Ma và Thiên Ma.

[44] Tám ma tức là bốn loại ma trên đây, cộng với vô thường, vô lạc, vô ngă, vô tịnh. Bốn loại trước là ma của phàm phu, bốn loại sau là ma của Nhị Thừa.

Thập ma gồm Uẩn Ma (Ngũ Uẩn khiến cho chúng sanh bị chướng lấp thánh đạo), phiền năo ma, nghiệp ma, tâm ma (tức cái tâm ngă mạn), tử ma (thọ mạng hữu hạn, chưa tu thành công th́ đă phải chết), thiên ma, thiện căn ma (chấp trước thiện căn do ḿnh đă làm), tam-muội ma (chấp trước cảnh giới Thiền Định mà ḿnh đă đạt được), thiện tri thức ma (keo tiếc pháp, chẳng thể chỉ bày, hướng dẫn người khác), Bồ Đề pháp trí ma (khởi trí chấp trước đối với Bồ Đề, chướng lấp chánh đạo, gây hại cho huệ mạng).

[45] Căn bản phiền năo có thể sanh ra các thứ chi mạt phiền năo (phiền năo cành nhánh), th́ gọi là Trụ Địa. Phiền năo nơi Trụ Địa có năm thứ:

1. Kiến Nhất Xứ Trụ Địa tức các Kiến Hoặc trong tam giới như Thân Kiến v.v…

2. Dục Ái Trụ Địa tức là phiền năo trong Dục Giới, ngoại trừ Kiến Hoặc và vô minh.

3. Sắc Ái Trụ Địa là phiền năo thuộc Sắc Giới ngoại trừ Kiến Hoặc và Vô Minh.

4. Hữu Ái Trụ Địa là phiền năo thuộc về Vô Sắc Giới, ngoại trừ Kiến Hoặc và vô minh.

5. Vô Minh Trụ Địa là hết thảy vô minh trong tam giới.

[46] Ư nói Tăng chúng ḥa hợp th́ không xé lẻ thành từng nhóm riêng biệt hay phân chia phe phái.

[47] Tám gió” (bát phong) là tám thứ thái độ của người khác đối với ta, c̣n gọi là Thế Bát Pháp (tám pháp thế gian) bao gồm lợi (có lợi), suy (hao tổn), hủy (hủy báng), dự (đề cao), xưng (ca ngợi), cơ (chê trách), khổ, lạc. Tám điều ấy dấy động phiền năo bùng cháy, nên gọi là “bát phong”.

[48] Tam Lậu (Traya āsravāh) là Dục Lậu (Kāmāsrava, hết thảy phiền năo trong Dục Giới ngoại trừ vô minh), Hữu Lậu (Bhavāsrava, các phiền năo trong Sắc Giới và Vô Sắc Giới, ngoại trừ vô minh), Vô Minh Lậu (Avidyāsrava, vô minh trong khắp tam giới).

[49] Tức là hai mươi lăm chỗ luân hồi sanh tử trong tam giới. V́ có nhân ắt có quả, nhân quả chẳng mất nên gọi là Hữu, tức là cái quả Dị Thục của hữu t́nh trong tam giới, gồm địa ngục hữu, súc sanh hữu, ngạ quỷ hữu, A Tu La hữu, Phất Bà Đề hữu (Đông Thắng Thần Châu), Cù Da Ni hữu (Tây Ngưu Hóa Châu), Uất Đan Việt hữu (Bắc Câu Lô Châu), Diêm Phù Đề hữu, Tứ Thiên Xứ hữu, Tam Thập Tam Thiên Xứ hữu, Diễm Ma Thiên hữu, Đâu Suất Thiên hữu, Hóa Lạc Thiên hữu, Tha Hóa Tự Tại Thiên hữu, Sơ Thiền hữu, Đại Phạm Thiên hữu, Nhị Thiền hữu, Tam Thiền hữu, Tứ Thiền hữu, Vô Tưởng hữu, Tịnh Cư A Na Hàm hữu, Không Xứ hữu, Thức Xứ hữu, Bất Dụng Xứ hữu, và Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ hữu.

[50] Bát tự tại c̣n gọi là Bát Biến Hóa, hoặc Bát Thần Biến:

1. Có thể thị hiện một thân thành nhiều thân.

2. Có thể thị hiện thân nhỏ như vi trần mà trọn khắp tam thiên đại thiên thế giới.

3. Thân to lớn nhưng nhẹ nhàng cất ḿnh lên đến chỗ rất xa.

4. Thấy vô lượng loại chúng sanh.

5. Các căn có thể sử dụng lẫn nhau, chẳng hạn mắt có thể nghe, tai có thể thấy v.v…

6. Đạt được hết thảy các pháp mà chẳng có ư tưởng là đă đắc.

7. Nói một bài kệ mà trải qua vô lượng kiếp.

8. Thân trọn khắp các xứ ví như hư không.