Tịnh Độ Thập
Nghi Luận Giảng Kư
凈土十疑論講記
Phần 2
Đời Tùy, Thiên Thai Trí Giả đại
sư thuyết
Pháp sư Trí Viên giảng giải
隋天台智者大師說
智圓法師講解
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử
Như Ḥa
Giảo chánh: Đức Phong và Huệ Trang
6. Mối nghi thứ sáu
(Luận) Đệ lục
nghi, vấn: Thiết linh cụ phược phàm phu, đắc
sanh bỉ quốc, tà kiến, tam độc đẳng
thường khởi, vân hà đắc sanh bỉ quốc, tức
đắc Bất Thoái, siêu quá tam giới?
(論)第六疑。問:設令具縛凡夫得生彼國,邪見三毒等常起,云何得生彼國,即得不退,超過三界?
(Luận:
Mối nghi thứ sáu, hỏi: Giả sử phàm phu đầy
dẫy triền phược được sanh về cơi ấy,
nhưng tà kiến, Tam Độc v.v… thường dấy
lên, lẽ nào sanh về cơi ấy liền đắc Bất
Thoái, vượt trỗi tam giới?)
Đối
phương lại nêu câu hỏi: Dẫu cho thần lực
của Phật có thể nhiếp tŕ phàm phu đầy dẫy
triền phược sanh về Tịnh Độ, cũng
chỉ là thay đổi nơi chốn. Tục ngữ có
câu: “Giang sơn dễ đổi,
bổn tánh khó dời”. Rốt cuộc kẻ ấy chẳng
đoạn phiền năo, hễ gặp cảnh duyên, tà kiến,
Tam Độc v.v… sẽ thường hiện hành. Lẽ
nào hễ sanh về cơi ấy, sẽ đắc Bất
Thoái Chuyển, vượt thoát tam giới ư? Đấy
vẫn là chuyện khó thể khiến cho kẻ khác tin
tưởng nổi!
Điều này bộc
lộ người ấy vẫn chẳng nhận biết
đặc điểm của pháp môn Tha Lực. Kinh Anh Lạc
nói [phải mất] một vạn kiếp mới đắc
Bất Thoái, mà ở đây th́ cứ sanh về Tịnh
Độ, sẽ liền đắc Bất Thoái, khiến
cho người ta chẳng thể không hoài nghi. Họ cảm
thấy thành quả quá lớn, quá thần tốc! Có thể
nào như vậy hay chăng? V́ sao vừa đến đó
bèn đắc Bất Thoái? Chẳng phải là vẫn
thường dấy khởi tà kiến, phiền năo v.v... đấy
sao? Hễ chúng dấy lên, sẽ rơi vào trong cái nhân của
tam giới, tất nhiên sẽ phải thọ cái quả tam
giới! Lẽ đâu nói là “vượt
khỏi tam giới” cho được? Hễ chúng dấy
lên, sẽ lui sụt vào luân hồi, lui sụt xuống Tiểu
Thừa v.v… lẽ nào nói là Bất Thoái cho được?
Đấy là nỗi nghi hoặc của họ!
Trả lời: Đấy
là v́ chẳng nhận biết thấu triệt sự sai
khác giữa hai thế giới, cho nên mới có nỗi ngờ
vực này! Tuy cùng là chúng sanh có chủng tử phiền năo,
nhưng sống trong những thế giới khác nhau, sẽ
có trạng huống thoái chuyển và chẳng thoái chuyển
khác biệt rành rành. Dùng thí dụ nông cạn, rơ thấy
để nói, khi chúng ta ở gần bậc thầy trọn
đủ đức hạnh, sẽ phát hiện [chính ḿnh]
chẳng phát tác ác niệm, thiện niệm dễ tăng tấn.
Khi ở gần bậc thầy tà ác, sẽ phát hiện
[chính ḿnh] tăng trưởng phiền năo, thiện niệm
diệt mất. Đấy là tác dụng của Tăng
Thượng Duyên. Do lư này có thể suy ra, Thoái Chuyển hay
Bất Thoái không chỉ do bản thân của cái nhân [gây nên Bất
Thoái], mà c̣n phụ thuộc Tăng Thượng Duyên bên
ngoài. Nếu một thế giới đă đạt đến
mức triệt để chẳng có duyên gây thoái chuyển,
trọn khắp mọi lúc luôn luôn là Tăng Thượng
Duyên cho điều thiện, dẫu là kẻ có thể thoái
chuyển, cũng sẽ chẳng xuất hiện hiện
tượng thoái chuyển; bởi
lẽ, nhân và duyên [gây thoái chuyển]
chẳng đầy đủ! Nếu
một thế giới đầy ắp các duyên gây thoái chuyển,
[các duyên ấy] luôn luôn chẳng gián đoạn, dẫu cho có các thiện căn, cũng
khó thể giữ cho chẳng lui sụt, sẽ nhận biết [người tu hành trong thế
giới ấy] thường là “một tiến, chín lùi”, tu
đạo cực khó đạt tới địa vị Bất Thoái
Chuyển.
Dùng lư lẽ
như vậy để quan sát, chọn lựa, sẽ có thể
xác nhận: Tu đạo trong uế độ do có khá nhiều
duyên gây thoái chuyển, đúng như kinh Anh Lạc đă
nói: “Kẻ tự lực [tu tập]
phải trải qua một vạn kiếp th́ mới có thể
đạt đến địa vị Bất Thoái Chuyển”. Nhưng thế giới Cực
Lạc do được Phật lực gia bị, trọn
khắp toàn là tịnh duyên, hoặc Tăng Thượng
Duyên cho điều
thiện. V́ thế, hễ văng sanh, sẽ
đạt đến địa vị Bất Thoái Chuyển.
Đối với chuyện này, [Trí Giả đại
sư] đă chia thành hai đoạn để thuyết
minh:
1) Văng sanh cơi ấy
do có năm nhân duyên mà Bất Thoái.
2) Do Bất Thoái
dài lâu, [chúng sanh trong cơi Cực Lạc] đều đắc
Vô Sanh Pháp Nhẫn.
6.1. Văng sanh cơi ấy do có năm nhân duyên mà Bất
Thoái
(Luận) Đáp: Đắc
sanh bỉ quốc, hữu ngũ nhân duyên Bất Thoái. Vân hà
vi ngũ? Nhất giả, A Di Đà Phật đại bi nguyện
lực nhiếp tŕ, cố đắc Bất Thoái. Nhị
giả, Phật quang thường chiếu, cố Bồ
Đề tâm thường tăng tấn Bất Thoái. Tam giả,
thủy, điểu, thụ lâm, phong thanh, nhạc hưởng,
giai thuyết Khổ, Không, văn giả thường khởi
niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng chi tâm, cố Bất
Thoái. Tứ giả, bỉ quốc thuần chư Bồ
Tát dĩ vi lương hữu, vô ác duyên cảnh, ngoại
vô thần, quỷ, ma, tà, nội
vô Tam Độc đẳng, phiền năo tất cánh bất
khởi, cố Bất Thoái. Ngũ giả, sanh bỉ quốc
tức thọ mạng vĩnh kiếp, cộng Bồ Tát,
Phật tề đẳng, cố Bất Thoái dă.
(論)答:得生彼國,有五因緣不退。云何為五?一者阿彌陀佛大悲願力攝持,故得不退。二者佛光常照,故菩提心常增進不退。三者水鳥樹林,風聲樂響,皆說苦空。聞者常起念佛念法念僧之心,故不退。四者彼國純諸菩薩以為良友,無惡緣境。外無神鬼魔邪,內無三毒等。煩惱畢竟不起,故不退。五者生彼國即壽命永劫,共菩薩佛齊等,故不退也。
(Luận: Đáp: Được
sanh vào cơi ấy, bèn có năm nhân duyên Bất Thoái. Những
ǵ là năm? Một là được nguyện lực đại
bi của A Di Đà Phật nhiếp tŕ, cho nên được
Bất Thoái. Hai là Phật quang thường chiếu; v́ thế, Bồ Đề tâm thường tăng
tấn, chẳng thoái chuyển.
Ba là nước, chim, rừng cây, tiếng gió, tiếng nhạc
đều nói Khổ, Không, kẻ nghe thấy thường
dấy ḷng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. V́
thế, Bất Thoái. Bốn là cơi nước ấy thuần
là các Bồ Tát làm bạn lành, chẳng có cảnh duyên ác.
Ngoài th́ chẳng có thần, quỷ, ma, tà, trong th́ chẳng có Tam Độc v.v… phiền năo
rốt ráo chẳng dấy lên, v́ thế Bất Thoái. Năm
là sanh vào cơi ấy, thọ mạng sẽ là muôn kiếp dài
lâu, bằng với Phật, Bồ Tát, cho nên Bất Thoái).
Trong năm nhân
duyên [vừa kể trên đây], bốn thứ đầu là
Biệt, điều thứ năm là Tổng. Ở đây,
nếu quan sát cảnh duyên theo các phương diện chủ
và bạn, y báo và chánh báo v.v… sẽ phát hiện toàn là các nhân
duyên để tăng tấn. V́ thế, chẳng thoái chuyển.
Ba điều đầu là nói do
được Phật nhiếp tŕ cho nên chẳng
thoái chuyển, điều thứ tư nhằm nói do được Bồ Tát nhiếp tŕ, cho
nên chẳng thoái chuyển. Đại bi nguyện lực của
Phật một mực nhiếp tŕ cái tâm của người
văng sanh, khiến cho họ chẳng thoái chuyển. Đă thế,
do Phật quang thường chiếu, cho nên Bồ Đề
tâm tăng tấn Bất Thoái. Thêm nữa, do thần lực
của Phật mà biến hiện nước, chim, rừng
cây, tiếng gió, tiếng nhạc đều luôn tuyên nói các
pháp như Khổ, Không v.v… Người nghe thấy sẽ dấy
ḷng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, một mực
noi theo pháp đạo, chẳng thoái chuyển. Lại nữa,
tiếp xúc các đạo hữu đều
là Bồ Tát, chẳng có ác duyên, đều là nhân duyên
tăng thượng pháp, chẳng thể khởi phiền
năo; cho nên chẳng thoái chuyển. Hoặc là nói theo hai
phương diện là y báo và chánh báo th́: Trông thấy tướng
thanh tịnh của các vị Phật, Bồ Tát, nghe âm thanh
thanh tịnh gia tŕ, cho nên chẳng thoái chuyển. Trong khí thế giới[1], các thứ quang
minh, nước, hương, hoa v.v… hễ thấy, nghe, nhớ
nghĩ, tiếp xúc, sẽ đều tăng thượng
thiện căn Bồ Đề. Do vậy,
chẳng thoái chuyển. Điều thứ năm là Tổng:
Do sanh vào thế giới Cực Lạc, sống lâu tới
vô lượng kiếp giống như chư Phật, Bồ
Tát, những nhân duyên tăng thượng trên đây niệm
nào cũng đều chẳng gián đoạn, lại có thể
giữ liên tục trong vô lượng kiếp,
đương nhiên là [chúng sanh trong cơi Cực Lạc] quyết
định chẳng thoái chuyển.
Nói chung, trong quốc
độ Cực Lạc, quan sát theo hai phương diện
Thời và Xứ. Đối với Xứ (處, nơi chốn) th́ có chữ Biến (遍, trọn khắp), trọn khắp tất cả
đều là Tăng Thượng Duyên cho Pháp. Đối với
Thời th́ có chữ Hằng (恒,
thường hằng), niệm nào cũng không ngừng
tăng thượng. Chẳng hạn như nói về âm
thanh, trong bản dịch đời Đường của
kinh A Di Đà (bản dịch của ngài Huyền Trang) có
nói: Nghe âm thanh vi diệu của âm nhạc trong cơi nước,
các ác phiền năo thảy đều tiêu diệt, vô lượng
thiện pháp lần lượt tăng trưởng, mau chóng chứng Vô Thượng
Chánh Đẳng Bồ Đề. Lại nói tới quang minh,
sắc, hương v.v… của hoa sen mầu nhiệm, khiến
cho người trông thấy sẽ khoan khoái, vui vẻ, chẳng
tham đắm, tăng trưởng vô lượng vô số
công đức thù thắng chẳng thể nghĩ bàn. Nghe
các loài chim chóc do đức Phật hóa hiện thuyết
pháp, sẽ có thể dùng vô lượng công đức do niệm
Phật, niệm Pháp, niệm Tăng huân tu thân ḿnh. Nghe các
âm thanh phát ra do gió thổi khua động lưới mành và cây
báu… đều dấy ḷng nghĩ nhớ vô lượng công
đức của Tam Bảo.
Suy từ sự việc
giống như thế, bèn phát hiện: Trọn khắp cơi ấy
là Tăng Thượng Duyên tăng trưởng đạo
tâm. Đă thế, trong khoảng thời gian [từ lúc văng
sanh] cho đến lúc thành tựu Vô Thượng Bồ
Đề, thọ mạng chẳng gián đoạn, một
mực xuất hiện các tướng Tăng Thượng.
Do vậy gọi là “đạt
đến địa vị Bất Thoái Chuyển”. Do vậy, sẽ
thấy tánh chất tột bậc thù thắng của đạo
này. Do v́ ứng hợp với Phật lực của A Di
Đà Phật, chỉ cần văng sanh, trong ṿng mấy
năm ngắn ngủi, sẽ đạt được
thành quả của việc tu hành vạn kiếp mà chỉ
cậy vào tự lực trong uế độ, tốc độ
hết sức mau chóng! Do vậy có thể biết: Pháp môn Tịnh
Độ là Đốn Giáo, những pháp môn khác như kinh
Anh Lạc [đă dạy] là Tiệm Giáo, chẳng thể nói
đánh đồng như nhau được!
Nói thêm đôi chút
về nguyên nhân khiến cho phiền năo rốt cuộc chẳng
thể dấy lên được. Giống như cái kiềng
ba chân, hễ khuyết một chân, nó sẽ chẳng đứng
vững được. Trong Câu Xá Luận có nói: Ba thứ
là chủng tử phiền năo, cảnh để duyên theo và
suy nghĩ phi lư cùng ḥa hợp th́ phiền năo mới dấy
lên. Hễ thiếu một điều, phiền năo sẽ
chẳng thể dấy lên được. Dẫu phàm phu văng sanh c̣n
có chủng tử phiền năo, nhưng trong cơi ấy chẳng
có cảnh duyên dẫn khởi các phiền năo sanh xuất. Hơn nữa, đối với trụ xứ, niệm
nào cũng đều là suy nghĩ về pháp, phù hợp Chân Đế
Vô Ngă, chẳng thể sanh khởi phiền năo nữa. Hoặc như Du Già Sư Địa Luận
đă nói, phiền năo có sáu cái nhân, ba điều trên đây
(chủng tử phiền năo, cảnh sở duyên, suy nghĩ
phi lư) chính là cơ sở, c̣n có [ba cái nhân nữa là] ổi tạp
(猥雜, tạp loạn rối ren), ngôn giáo, và quán
tập (慣習, huân tập thành thói quen). Cũng
tức là gặp phải những vị thầy ác, ngôn luận ác, chính ḿnh không ngừng huân
tập thành thói quen, sẽ dẫn tới sanh khởi phiền
năo. Nhưng trong thế giới Cực Lạc chẳng có
thầy ác và ngôn luận ác. Đến đó, cũng sẽ
chẳng có Quán Tập phiền năo, mà là Tức Diệt Phiền
Năo. Đấy là dùng Lư để chứng thực.
6.2. Do Bất Thoái dài lâu nên người trong cơi Cực
Lạc đều đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn
(Luận) Tại thử
ác thế, nhật nguyệt đoản xúc, kinh A-tăng-kỳ
kiếp, phục bất khởi phiền năo, trường
thời tu đạo, vân hà bất đắc Vô Sanh Nhẫn
dă. Thử lư hiển nhiên, bất tu nghi dă.
(論)在此惡世日月短促。經阿僧祇劫復不起煩惱,長時修道,云何不得無生忍也?此理顯然,不須疑也。
(Luận: Trong đời
ác này, năm tháng ngắn ngủi. [C̣n trong cơi Cực Lạc,
thọ mạng] trải qua A-tăng-kỳ kiếp, chẳng
dấy lên phiền năo, tu đạo lâu ngày, lẽ đâu chẳng
đắc Vô Sanh Nhẫn ư? Lư này hiển nhiên, chẳng
cần ngờ nữa!)
Ở đây,
[đại sư] dùng phương thức so sánh theo từng cặp để hiển lộ sự thù thắng của thế giới Cực
Lạc. Trong thế giới ác này của chúng ta, đời
người ngắn ngủi, chớp mắt đă sang
đời sau, thường gặp nỗi khó khăn khiến
[hành giả] chẳng thể tiếp tục tu đạo. Đời
này rất khó khăn mới tu hành được đôi
chút, chuyển sang đời sau lại quên sạch bách,
phải làm lại từ đầu, hoặc là lại bị thoái đọa. C̣n trong thế giới Cực
Lạc, do thọ mạng đạt đến A-tăng-kỳ
kiếp, trong lúc ấy, lại chẳng dấy lên phiền
năo, tu đạo lâu ngày; như vậy th́ lẽ
nào chẳng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn? Đạo lư này hết
sức rơ ràng, chẳng cần phải hoài nghi nữa!
Cũng dùng ba cái
nhân để chứng thực:
1) Do bất cứ
thời hay xứ nào cũng đều là duyên Bất Thoái,
cho nên chẳng có bất cứ lui sụt nào.
2) Do bất cứ
thời hay xứ nào cũng đều trọn đủ Tăng
Thượng Duyên, cho nên luôn tiến bộ.
3) Sự liên tục
ấy kéo dài tới vô lượng kiếp. Do như vậy, chỉ có
tiến, chẳng lùi. Niệm nào cũng đều liên tục,
lẽ nào chẳng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn? Chắc chắn
[chúng sanh trong cơi Cực Lạc] đều đạt đến
Vô Sanh Pháp Nhẫn, đều đạt tới thành Phật.
Do vậy, hễ văng sanh th́ sẽ là một trăm phần
trăm được giải thoát, một trăm phần
trăm dự vào địa vị Bất Thoái, một
trăm phần trăm viên măn Phổ Hiền hạnh nguyện,
một trăm phần trăm đều cùng thành Phật. Cũng
v́ vậy, cơi Phật ấy xuất hiện vô số Nhất
Sanh Bổ Xứ Bồ Tát. Đấy là kết quả của
Nhất Thừa đại bi nguyện hải.
7. Mối nghi thứ bảy
(Luận) Đệ thất
nghi, vấn: - Di Lặc Bồ Tát, nhất sanh bổ xứ,
tức đắc thành Phật. Thượng phẩm Thập
Thiện, đắc sanh bỉ xứ, kiến Di Lặc Bồ
Tát, tùy tùng hạ sanh tam hội
chi trung, tự nhiên nhi đắc thánh quả, hà tu cầu
sanh Tây Phương Tịnh Độ da?
(論)第七疑。問:彌勒菩薩一生補處即得成佛,上品十善得生彼處見彌勒菩薩。隨從下生三會之中,自然而得聖果。何須求生西方淨土耶?
(Luận: Mối nghi thứ bảy,
hỏi: - Di Lặc Bồ Tát nhất sanh bổ xứ liền
được thành Phật. Bậc thượng phẩm
Thập Thiện được sanh về chỗ ấy (Nội Viện
cung trời Đâu Suất), gặp Di Lặc Bồ Tát, theo
Ngài hạ sanh, trong ba hội tự nhiên đắc thánh quả,
cần ǵ phải cầu sanh về Tây Phương Tịnh
Độ?)
Trong phần
trước đă nói phàm phu cậy vào Phật lực có thể
cao thăng Tịnh Độ, lại c̣n đắc Bất
Thoái; v́ thế, mong cầu sanh về Tây Phương Cực
Lạc thế giới. Ở đây lại có nghi vấn:
V́ sao nhất định phải chọn lấy Tây
Phương? Di Lặc Bồ Tát là bậc Nhất Sanh Bổ
Xứ Bồ Tát, sắp thành Phật; người Thượng
Phẩm Thập Thiện có thể sanh vào Nội Viện
của trời Đâu Suất gặp Di Lặc Bồ Tát,
theo Di Lặc Bồ Tát hạ sanh nhân gian. Trong ba hội Long
Hoa, tự nhiên chứng đắc thánh quả. Do sanh vào
Đâu Suất Nội Viện và đắc thánh quả đều là chuyện
phàm phu có thể thực hiện thành công, lẽ
nào ắt cần phải cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ
nữa?
Trả lời: Sanh
lên Đâu Suất hay là sanh về Cực Lạc tùy thuộc
căn khí của cá nhân như thế nào. Trong lịch sử,
vào thời cổ có những vị như Huyền Trang,
Đạo Tuyên v.v… cận đại th́ có Thái Hư, Hư
Vân v.v… các Ngài đều lên đến Đâu Suất Nội Viện.
Nhưng nói theo phía bọn phàm phu chúng ta, phải suy lường
điểm then chốt, đối với hai phương
diện trọng yếu là văng sanh và chứng quả Bất
Thoái, hăy lựa chọn con đường nào có xác suất thành công cao hơn? Đấy là nói theo phương
diện tương ứng căn cơ. Sau khi đă cân nhắc
như trong phần sau, chúng ta sẽ nhận định
chính ḿnh phải nên sanh về Tây Phương Tịnh Độ.
(Luận) Đáp: - Cầu
sanh Đâu Suất, diệc viết “văn
đạo, kiến
Phật”, thế
dục tương tự, nhược tế tỷ giảo,
đại hữu ưu liệt, thả luận nhị chủng.
(論)答:求生兜率,亦曰聞道見佛,勢欲相似。若細比校大有優劣,且論二種。
(Luận: Đáp: - Cầu
sanh Đâu Suất th́ cũng là nói đến chuyện “nghe
đạo, thấy Phật”, t́nh thế
gần như tương tự [như tu Di Đà
Tịnh Độ], nhưng nếu so sánh cặn kẽ, sẽ có sự
hơn kém to lớn. Hăy luận theo hai điều sau
đây).
Trả lời: Cầu
sanh Đâu Suất cũng là nói đến chuyện nghe pháp
và thấy đức Bổ Xứ Phật, thoạt nh́n th́
tương tự như văng sanh Tây Phương. Nhưng so
sánh cặn kẽ, hai đằng sẽ có ưu khuyết
khá lớn. Vẫn là nói theo căn tánh của chúng ta th́ có
hai điều sai biệt to lớn:
1) Văng sanh Tây
Phương có xác suất thành công cao, do có phương tiện đặc biệt
của Phật nhiếp thọ.
2) Văng sanh Tây
Phương th́ toàn bộ đều đắc Bất
Thoái Chuyển, được thành thánh quả. Do lẽ này
mà cầu sanh Tây Phương.
7.1. Văng sanh Tây Phương có xác suất thành công cao, do có phương tiện đặc biệt
của Phật nhiếp thọ
(Luận) Nhất giả,
túng tŕ Thập Thiện, khủng bất đắc sanh. Hà
dĩ đắc tri? Di Lặc Thượng Sanh Kinh
vân: “Hành chúng tam-muội, thâm nhập Chánh Định, phương
thỉ đắc sanh”, cánh vô phương tiện tiếp dẫn
chi nghĩa. Bất như A Di Đà Phật bổn nguyện
lực, quang minh lực, đản hữu niệm Phật
chúng sanh, nhiếp thủ bất xả.
(論)一者縱持十善恐不得生,何以得知?彌勒上生經云:「行眾三昧,深入正定,方始得生。」更無方便接引之義。不如阿彌陀佛本願力、光明力,但有念佛眾生,攝取不捨。
(Luận: Một là dẫu tŕ
Thập Thiện, sợ chẳng được sanh [lên trời Đâu Suất]. V́ sao mà biết? Kinh Di Lặc
Thượng Sanh nói: “Hành các tam-muội, thâm nhập Chánh
Định th́ mới được sanh”, tức là không có
ư nghĩa “phương tiện tiếp dẫn”. Chẳng
như sức bổn nguyện và sức quang minh của A
Di Đà Phật [gia tŕ], chỉ cần có chúng sanh niệm
Phật, Ngài sẽ nhiếp giữ, chẳng buông bỏ).
V́ sao nói “văng sanh
Tây Phương dễ dàng hơn, xác suất
thành công càng cao hơn”? Có thể thông qua sự cân nhắc
trên thực tế và thí dụ để chứng thực
điều này. Trước hết, hăy xem t́nh h́nh văng sanh
Đâu Suất. Dẫu hành tŕ Thập Thiện, chỉ sợ
chẳng nhất định có thể sanh về đó. Do
đâu mà thấy được [điều này]? Di Lặc
Thượng Sanh Kinh[2] nói: “Tu hành các thứ tam-muội, thâm
nhập Chánh Định th́ mới có thể sanh về”,
có nghĩa là: Trừ những điều kiện trên đây ra,
chẳng c̣n có phương tiện tiếp dẫn nào khác!
Chẳng như pháp môn Di Đà, do sức bổn nguyện
và sức quang minh của A Di Đà Phật, chỉ cần
có người niệm Phật, Phật liền nhiếp thủ
chẳng bỏ, có phương tiện thù thắng tột
bậc!
Cũng có
nghĩa là điều kiện để văng sanh Tây Phương
chẳng cao! Chỉ cần niệm A Di Đà Phật, dẫu
chẳng đắc các thứ tam-muội, vẫn không sao cả!
Đă được quang minh của Phật nhiếp thọ,
đấy là do sức bổn nguyện của Phật quyết
định. Ngài đă thành tựu vô lượng quang, chiếu
trọn khắp vô-ương-số thế giới để nhiếp thủ chẳng
bỏ chúng sanh niệm Phật. Do sức công đức của
đại nguyện và đại hạnh từ vô lượng
kiếp đến nay, Ngài thành tựu quang minh, quang minh là phổ
biến, sẽ có thể chiếu thấu chúng ta. Đă vậy, yêu
cầu của Phật là chỉ cần chúng sanh tin tưởng,
niệm Ngài, bèn được Ngài nhiếp thọ. Xét theo hàm
nghĩa của sự nhiếp thọ, chúng sanh hết sức
dễ dàng được A Di Đà Phật nhiếp thọ.
(Luận) Hựu Thích Ca Phật thuyết
cửu phẩm giáo môn phương tiện tiếp dẫn,
ân cần phát khiển sanh bỉ Tịnh Độ. Đản
chúng sanh năng niệm Di Đà Phật giả, cơ cảm
tương ứng, tất đắc sanh dă. Như thế
gian mộ nhân năng thọ mộ giả, cơ hội tương
đầu, tất thành kỳ sự.
(論)又釋迦佛說九品教門方便接引,殷勤發遣生彼淨土。但眾生能念彌陀佛者,機感相應必得生也。如世間慕人能受慕者,機會相投必成其事。
(Luận: Hơn
nữa, Phật Thích Ca nói giáo môn cửu phẩm, [lập
ra] phương tiện tiếp dẫn, ân cần khơi gợi,
đưa [chúng sanh] sanh về
cơi Tịnh Độ ấy. Chỉ cần chúng sanh có thể
niệm A Di Đà Phật, cơ cảm tương ứng,
ắt được văng sanh. Như trong thế gian tuyển
mộ người, người được tuyển mộ
mà phù hợp cơ hội, ắt
sẽ thành công trong chuyện ấy).
Lại xét theo góc
độ văng sanh, trong Quán Kinh, Thích Ca Mâu Ni Phật đă
nói giáo môn chín phẩm, có các thứ hạnh môn từ hạ hạ
cho đến thượng thượng. Từ đó có thể
thấy, nhân sĩ thuộc các tầng lớp cao hay thấp
đều có thể được nhiếp thọ bởi
biển nguyện của A Di Đà Phật, cho đến kẻ
Ngũ Nghịch Thập Ác, chỉ
cần hồi tâm niệm Phật, đều được
Phật nhiếp thọ, có thể thấy được
ư nghĩa thuận lợi tột bậc [của pháp môn
này]. V́ thế, Phật Thích Ca ân cần tiễn đưa
chúng sanh sang thế giới Cực Lạc, v́ văng sanh dễ
dàng, xác suất thành công cao, cũng tức là chúng sanh chỉ cần
có đủ tín nguyện, niệm A Di Đà Phật
th́ sẽ cơ cảm tương ứng, chắc chắn
có thể văng sanh. Nói theo phương diện dễ dàng th́
sẽ giống như việc chiêu mộ người trong
thế gian, ai bằng ḷng chấp nhận chiêu mộ, sẽ
có thể đạt được các lợi
ích ấy. Nếu có tín tâm, bằng ḷng tiếp nhận sự tuyển mộ, th́ cơ hội giữa đôi bên (tức
người tuyển mộ và kẻ chấp nhận được
tuyển mộ) sẽ ứng hợp, sẽ nhất định có
thể thành tựu việc này!
Ví như nhà từ
thiện tổ chức đại hội Vô Già Bố Thí,
chỉ cần kẻ nào bằng ḷng đến nhận, nhất
định sẽ ban cho người ấy các thứ cần
dùng. Cũng giống như vậy, chỉ cần có tín tâm đối với A Di Đà Phật, bằng ḷng đến thế giới
Cực Lạc, nhất định sẽ thành tựu chuyện
ấy, đạt được điều mong muốn. Điều
kiện đă được hạ xuống đến mức
độ thấp nhất. Có thể khẳng định điều
này! Nói theo phía các hạng phàm phu đầy dẫy triền
phược, văng sanh Tây Phương Tịnh Độ dễ
dàng nhất, xác suất thành công cao nhất. Do đó, chúng ta chọn lựa
cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ.
7.2. Văng sanh Tây Phương th́ toàn bộ đều
đắc Bất Thoái Chuyển, được thành thánh
quả. Do lẽ này mà cầu sanh Tây Phương
Điều này phải
dựa trên sự sai biệt sau khi văng sanh hai cơi để
phán đoán. Từ đó, sẽ quyết định con
đường của chính ḿnh.
(Luận) Nhị giả,
Đâu Suất thiên cung thị Dục Giới, thoái vị giả
đa. Vô hữu thủy, điểu, thụ lâm, phong thanh,
nhạc hưởng, chúng sanh văn giả, tất niệm
Phật phát Bồ Đề tâm, phục diệt phiền
năo. Hựu hữu nữ nhân, giai trưởng chư thiên
ái trước ngũ dục chi tâm. Hựu thiên nữ vi diệu,
chư thiên đam ngoạn, bất năng tự miễn. Bất
như Di Đà Tịnh Độ, thủy, điểu, thụ
lâm, phong thanh, nhạc hưởng, chúng sanh văn giả,
giai sanh niệm Phật, phát Bồ Đề tâm, phục diệt
phiền năo. Hựu vô nữ nhân, Nhị Thừa chi tâm, thuần
nhất Đại Thừa thanh tịnh lương bạn.
Vị thử, phiền năo ác nghiệp tất cánh bất khởi,
toại chí Vô Sanh chi vị. Như thử tỷ giảo,
ưu liệt hiển nhiên, hà tu trí nghi dă.
(論)二者兜率天宮是欲界,退位者多。無有水鳥樹林風聲樂響,眾生聞者,悉念佛發菩提心伏滅煩惱,又有女人皆長諸天愛著五欲之心。又天女微妙諸天耽玩不能自勉,不如彌陀淨土水鳥樹林風聲樂響,眾生聞者,皆生念佛發菩提心伏滅煩惱。又無女人二乘之心,純一大乘清淨良伴。為此煩惱惡業畢竟不起,遂至無生之位。如此比校,優劣顯然,何須致疑也。
(Luận:
Hai là cung trời Đâu Suất là Dục Giới, kẻ
thoái thất địa vị đông đảo. Chẳng
có nước, chim, rừng cây, tiếng gió, tiếng nhạc
khiến cho chúng sanh nghe thấy đều niệm Phật,
phát Bồ Đề tâm, chế phục, diệt trừ phiền
năo. [Đâu Suất] lại có nữ nhân, đều khiến
cho cái tâm yêu đắm ngũ dục của chư thiên
tăng trưởng. Hơn nữa, thiên nữ vi diệu,
chư thiên đắm đuối, chẳng thể tự gắng sức được. Chẳng như Tịnh Độ
của Phật Di Đà, nước, chim, rừng cây, tiếng
gió, tiếng nhạc khiến cho chúng sanh nghe thấy, đều sanh ḷng niệm Phật, phát Bồ Đề
tâm, chế phục, diệt trừ phiền năo. Lại chẳng
có nữ nhân và cái tâm Nhị Thừa, thuần là bạn bè tốt
lành Đại Thừa thanh tịnh. V́ lẽ này, phiền
năo ác nghiệp rốt cuộc chẳng khởi, bèn đạt
tới địa vị Vô Sanh. So sánh như thế, [sẽ thấy] sự
hơn kém [giữa Cực Lạc và Đâu Suất] rành rành, chẳng cần phải nghi ngờ nữa!)
Trước hết,
hăy nh́n theo tỷ lệ đắc Bất Thoái. Cung trời Đâu Suất là
Dục Giới, kẻ lui sụt địa vị rất
nhiều. Nơi đó chẳng có nước, chim, rừng
cây, tiếng gió, tiếng nhạc lan truyền pháp âm vi diệu,
chúng sanh hễ nghe thấy [những âm thanh ấy] đều
có thể niệm Phật, phát Bồ Đề tâm, chế
phục, diệt trừ phiền năo, chẳng được
hưởng loại gia bị này! [Đâu Suất] lại
có nữ nhân khiến cho cái tâm yêu chấp ngũ dục của
chư thiên tăng trưởng. Hơn nữa, h́nh tướng
đẹp đẽ, âm thanh v.v… của thiên nữ đều
rất vi diệu, chư thiên đắm đuối yêu mến,
chẳng thể tự khích lệ chính ḿnh tu hành. Những
chuyện này đều đă nói rơ: Sanh về trời
Đâu Suất sẽ dễ bị mê trong ngũ dục,
thoái chuyển Bồ Đề.
Lại xem [t́nh
h́nh] văng sanh Tây Phương. Trong Tịnh Độ của
Phật Di Đà, nước, chim, rừng cây, tiếng gió,
tiếng nhạc đều lan truyền pháp âm vi diệu,
chúng sanh vừa nghe thấy đều sanh tâm niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng, phát Bồ Đề tâm, chế
phục, diệt trừ phiền năo. Lại chẳng có nữ
nhân và cái tâm Nhị Thừa, thuần nhất là bầu bạn
Đại Thừa thanh tịnh. Do có những trợ duyên ấy
duy tŕ, d́u dắt, phiền năo ác nghiệp rốt ráo chẳng
thể dấy lên. V́ thế, có thể đạt tới địa
vị Vô Sanh. So sánh như thế, [liền biết] văng sanh
Cực Lạc Tịnh Độ sẽ là một
trăm phần trăm Bất Thoái. Lại c̣n hễ sanh
đến đó, liền đắc Bất Thoái. Hai đằng sai khác rất
rơ ràng, có ǵ đáng để hoài nghi nữa chăng? Do vậy,
nói theo phía chúng ta, hăy nên chọn lựa văng sanh thế giới
Cực Lạc.
(Luận) Như Thích Ca Phật
tại thế chi thời, đại hữu chúng sanh kiến
Phật bất đắc thánh quả giả, như hằng
sa. Di Lặc xuất thế diệc nhĩ, đại hữu
bất đắc thánh quả giả, vị như Di Đà
Tịnh Độ, đản sanh bỉ quốc dĩ, tất
đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, vị hữu nhất nhân
thoái lạc tam giới, vị sanh tử nghiệp phược
dă.
(論)如釋迦佛在世之時,大有眾生見佛不得聖果者如恒沙。彌勒出世亦爾,大有不得聖果者。未如彌陀淨土,但生彼國已,悉得無生法忍,未有一人退落三界,為生死業縛也。
(Luận:
Như thuở Phật Thích Ca tại thế, có rất nhiều
chúng sanh tuy thấy Phật mà chẳng đắc thánh quả,
số ấy nhiều như cát sông Hằng. Phật Di Lặc
xuất thế cũng vậy, có rất nhiều người
chẳng đắc thánh quả. Chẳng bằng Tịnh
Độ Di Đà, chỉ sanh về cơi ấy, thảy đều
đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, chẳng có người nào lui
sụt, rơi vào tam giới, bị nghiệp sanh tử
trói buộc).
Kế đó, xét
theo phương diện chứng quả,
cũng có sự hơn kém khác biệt. Như thuở Phật Thích Ca
tại thế, có rất nhiều chúng sanh gặp đức
Phật mà chẳng đắc thánh quả, số lượng
nhiều như cát sông Hằng. Phật Di Lặc xuất thế
cũng giống như vậy, có rất nhiều người
chẳng đắc thánh quả. Chẳng như Tịnh
Độ Di Đà, chỉ cần sanh về cơi ấy, toàn
bộ đều đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn, chẳng có
một ai thoái thất, đọa lạc tam giới, bị
nghiệp sanh tử trói buộc. Sanh về Di Đà Tịnh
Độ, xác suất chứng quả là một trăm phần trăm!
V́ thế, chọn lựa văng sanh Tây Phương Tịnh
Độ.
Dưới
đây, lại dùng trường hợp thực tế để chứng minh điều này.
(Luận) Hựu văn
Tây Quốc Truyện vân: - Hữu tam Bồ Tát, nhất danh
Vô Trước, nhị danh Thế Thân, tam danh Sư Tử
Giác. Thử tam nhân khế chí đồng sanh Đâu Suất,
nguyện kiến Di Lặc. Nhược tiên vong giả,
đắc kiến Di Lặc, thệ lai tương báo. Sư
Tử Giác tiền vong, nhất khứ sổ niên bất lai.
Hậu Thế Thân vô thường, lâm chung chi thời, Vô
Trước ngữ vân: “Nhữ kiến Di Lặc, tức lai
tương báo”. Thế Thân khứ dĩ, tam niên thỉ lai.
Vô Trước vấn viết: “Hà ư như hứa đa thời
thỉ lai?” Thế Thân báo vân: “Chí bỉ thiên trung, thính Di Lặc
Bồ Tát nhất ṭa thuyết pháp, toàn nhiễu tức lai
tương báo, vị bỉ thiên nhật trường, cố
thử xứ dĩ kinh tam niên”. Hựu vấn:
“Sư Tử Giác kim tại hà xứ?” Thế Thân báo vân: “Sư
Tử Giác vị thọ thiên lạc, ngũ dục tự
ngu, tại ngoại quyến thuộc, tùng khứ dĩ lai,
tổng bất kiến Di Lặc”. Chư tiểu Bồ Tát
sanh bỉ, thượng trước ngũ dục, hà huống
phàm phu? Vị thử nguyện sanh Tây Phương, định
đắc Bất Thoái, bất cầu sanh Đâu Suất dă.
(論)又聞西國傳云,有三菩薩,一名無著,二名世親,三名師子覺。此三人契志同生兜率願見彌勒,若先亡者得見彌勒誓來相報。師子覺前亡,一去數年不來,後世親無常,臨終之時無著語云:「汝見彌勒即來相報。」世親去已三年始來。無著問曰:「何意如許多時始來?」世親報云:「至彼天中,聽彌勒菩薩一坐說法,旋繞即來相報。為彼天日長故,此處已經三年。」又問:「師子覺今在何處?」世親報云:「師子覺為受天樂,五欲自娛在外眷屬,從去已來總不見彌勒。」諸小菩薩生彼尚著五欲,何況凡夫?為此願生西方定得不退,不求生兜率也。
(Luận: Lại nghe bộ Tây
Quốc Truyện chép rằng: - Có ba vị Bồ Tát, vị
thứ nhất tên là Vô Trước, vị thứ hai tên là
Thế Thân, vị thứ ba tên là Sư Tử Giác. Ba người
ấy đồng ḷng nguyện cùng sanh lên Đâu Suất,
nguyện thấy Di Lặc. Nếu người nào mất
trước, được thấy đức Di Lặc, thề
sẽ trở lại báo tin. Sư Tử Giác chết trước,
chết đă mấy năm, chẳng thấy trở lại. Về sau, Thế
Thân vô thường; khi lâm chung, Vô Trước
bảo rằng: “Ông thấy đức Di Lặc th́ trở
lại báo tin ngay!” Thế Thân mất rồi, ba năm sau mới
quay lại. Vô Trước hỏi: “V́ sao lâu như vậy mới
trở lại?” Thế Thân đáp: “Tôi đến cơi trời
ấy, nghe Di Lặc Bồ Tát nói xong một bài pháp, đi
nhiễu Ngài một ṿng rồi trở về báo tin ngay. Do
ngày trên cơi trời ấy dài, cho nên trong xứ này đă trải
qua ba năm”. Lại hỏi: “Sư Tử Giác nay đang ở
chỗ nào?” Thế Thân đáp: “Sư Tử Giác đang
hưởng sự vui trên cơi trời, tự vui sướng
trong ngũ dục, c̣n ở chỗ quyến thuộc bên ngoài,
từ lúc mất đi cho
đến nay, ông ta chưa hề gặp đức Di Lặc”.
Các vị tiểu Bồ Tát sanh lên đó, c̣n đắm
đuối ngũ dục, huống hồ phàm phu? V́ lẽ
này, nguyện sanh về Tây Phương, chắc chắn đắc
Bất Thoái, chẳng cầu sanh Đâu Suất).
Lại nghe trong bộ
Tây Quốc Truyện có chép: Có ba vị Bồ Tát là Vô Trước,
Thế Thân, và Sư Tử Giác cùng lập chí nguyện, cùng sanh
Đâu Suất, nguyện thấy Di Lặc Bồ Tát. Họ
ước định nếu ai chết trước, gặp
ngài Di Lặc, sẽ trở lại báo tin. Sư Tử Giác
chết đầu tiên, mất đă mấy năm mà chẳng thấy trở lại. Sau đó, Thế Thân thị
hiện vô thường; lúc lâm chung, Vô Trước
dặn ḍ: “Ông gặp Di Lặc Bồ Tát sẽ đến
báo tin nhé”. Thế Thân mất rồi, ba năm sau mới trở
lại báo tin. Vô Trước hỏi: “Không ngờ phải
lâu như vậy ông mới trở lại”. Thế Thân trả
lời: “Tôi tới cơi trời đó, nghe Di Lặc Bồ
Tát giảng xong một thời pháp, đi nhiễu Ngài rồi
trở về báo tin ngay. Do thời gian trên cơi trời ấy
rất dài, cho nên trong nhân gian đă là ba năm”. Vô Trước
lại hỏi: “Sư Tử Giác nay đang ở đâu?” Thế
Thân trả lời: “Sư Tử Giác đang hưởng thụ
thiên lạc, ông ta đang vui đắm trong ngũ dục,
c̣n ở trong các vị quyến
thuộc tại ngoại
viện. Từ lúc ông ta mất cho đến nay, vẫn
chưa hề thấy Di Lặc Bồ Tát”. Như vậy
th́ hàng tiểu Bồ Tát sanh lên Đâu Suất c̣n đắm
đuối ngũ dục, huống hồ phàm phu? Thấy
rơ ràng t́nh h́nh này, bèn phát nguyện sanh về Tây Phương. Như
thế th́ chắc chắn sẽ đạt được
địa vị Bất Thoái Chuyển, chẳng cần cầu
[văng sanh] Đâu Suất.
8. Mối nghi thứ tám
(Luận) Đệ bát
nghi, vấn: - Chúng sanh vô thỉ dĩ lai, tạo vô lượng
nghiệp. Kim sanh nhất kỳ bất phùng thiện tri thức,
hựu phục tác nhất thiết tội nghiệp, vô ác bất
tạo. Vân hà lâm chung thập niệm thành tựu, tức
đắc văng sanh, xuất quá tam giới? Kết nghiệp
chi sự, vân hà khả thông?
(論)第八疑。問:眾生無始已來,造無量業。今生一期不逢善知識,又復作一切罪業。無惡不造,云何臨終十念成就,即得往生出過三界,結業之事云何可通?
(Luận:
Mối nghi thứ tám, hỏi: - Chúng sanh từ vô thỉ
đến nay đă tạo vô lượng nghiệp. Suốt
cả đời này, chẳng gặp thiện tri thức,
lại c̣n tạo hết thảy tội nghiệp, không
điều ác nào chẳng tạo. Lẽ nào lâm chung mười
niệm thành tựu liền được văng sanh, vượt
khỏi tam giới? Đối với các nghiệp đă kết,
làm sao nói cho suông được?)
Ở đây là
nghi ngờ, chất vấn: V́ sao kẻ suốt đời
tạo ác do mười niệm văng sanh bèn vượt thoát tam
giới? Nhân quả chẳng tương ứng! Cũng giống
như vậy, chúng sanh từ vô thỉ đến nay đă
tạo vô lượng nghiệp; đời này, trong
khi chẳng gặp gỡ thiện tri thức, lại
tạo hết thảy tội nghiệp, không chuyện ác
nào chẳng làm, tội nghiệp rất nặng, đáng phải
theo nghiệp nặng mà chuyển sanh vào trong các đường
sanh tử cực ác! Lẽ nào lâm chung trọn đủ mười
niệm “A Di Đà Phật”
sẽ vượt thoát tam giới, văng sanh Tịnh Độ?
Định luật “thuận theo nghiệp mà kết thành
cái quả [sẽ sanh trong đường nào]” làm sao dung
thông cho được? Khi lâm chung, tùy theo nghiệp nặng
hay nhẹ để quyết định chốn thọ sanh
trong đời kế tiếp; đă là tội
nghiệp nặng nề, mười niệm niệm Phật
nhẹ bẫng, làm sao có thể ngay lập tức sanh về Tịnh Độ, vượt thoát
tam giới cho được? Nhân quả chẳng phù hợp
quá mức!
Đối
với nghi vấn ấy, bèn trả lời như thế
này:
1) Một là suốt đời tạo ác hoàn
toàn chẳng thể phán định sức túc thiện [của
kẻ ác ấy] yếu kém. Trái lại, do khi lâm chung, gặp
thiện tri thức, mười niệm bèn thành tựu, cho thấy sức túc thiện mạnh
mẽ.
2) Hai là chẳng quyết định coi vô thỉ
ác nghiệp là nặng, xem mười niệm lâm chung là nhẹ.
8.1. Suốt đời tạo ác hoàn toàn chẳng
thể phán định sức túc thiện [của kẻ ác
ấy] yếu kém. Trái lại, do khi lâm chung, gặp thiện
tri thức, mười niệm bèn thành tựu cho thấy sức túc thiện mạnh
mẽ
(Luận) Đáp: - Chúng
sanh vô thỉ dĩ lai, thiện ác nghiệp chủng đa
thiểu cường nhược tịnh bất đắc
tri. Đản năng lâm chung ngộ thiện tri thức, thập
niệm thành tựu giả, giai thị túc thiện nghiệp
cường, thỉ đắc ngộ thiện tri thức,
thập niệm thành tựu. Nhược ác nghiệp đa
giả, thiện tri thức thượng bất khả phùng,
hà khả luận thập niệm thành tựu?
(論)答:眾生無始以來,善惡業種多少強弱並不得知,但能臨終遇善知識十念成就者,皆是宿善業強,始得遇善知識十念成就。若惡業多者,善知識尚不可逢,何可論十念成就?
(Luận: Đáp: - Chúng
sanh từ vô thỉ đến nay, nghiệp chủng thiện,
ác, nhiều, ít, mạnh, yếu, hoàn toàn chẳng biết.
Chỉ là kẻ có thể khi lâm chung gặp thiện tri thức,
mười niệm thành tựu th́ đều là do có túc thiện
nghiệp mạnh mẽ, cho nên mới
được gặp gỡ thiện tri thức, mười
niệm thành tựu. Nếu là kẻ ác nghiệp nhiều,
thiện tri thức c̣n chẳng thể gặp, há có thể bàn đến chuyện mười niệm thành tựu
chi nữa?)
Chúng sanh từ vô
thỉ tới nay, t́nh huống nhân duyên đặc biệt
phức tạp! Nghiệp chủng thiện ác tích tập
trong tâm mỗi loại nhiều hay ít, mạnh hay yếu,
cũng chẳng có cách nào dựa theo
biểu hiện nhất thời để luận
đoán cho được! Một chúng sanh tạo
tác rất nhiều ác nghiệp trong đời này, trong tâm
điền của người ấy, nghiệp chủng
thiện ác mỗi thứ nhiều hay ít, mạnh hay yếu,
chúng ta chẳng có Túc Mạng Thông và
Vi Tế Trí, cho nên hoàn toàn chẳng biết. Nhưng dùng cái
quả để suy ra cái nhân, khi hạng người này
lâm chung có thể gặp gỡ thiện tri thức, lại
c̣n vừa được khuyên bảo bèn phát tâm dũng
mănh, bén nhạy, mười niệm bèn thành tựu, vượt
khỏi tam giới. Đấy là biểu hiện của sức
túc thiện nghiệp mạnh mẽ! V́ thế mới gặp
thiện tri thức, lại c̣n mười niệm thành tựu.
Nếu ác nghiệp nhiều, c̣n chẳng gặp được
thiện tri thức, huống hồ mười niệm
thành tựu ư?
Loại người
này đều là hạng căn tánh mạnh mẽ, nhạy
bén, bất quá đời này v́ tập khí vọng động,
lập tức mê hoặc, một mực tạo ác, nhưng
thiện căn của người ấy rất sâu, hễ
gặp thiện tri thức bèn có thể hoàn toàn tỉnh ngộ,
có thể chuyển biến rất nhanh, tâm có thể dấy
khởi [ư nguyện vượt thoát tam giới, cầu sanh
Tịnh Độ], hiển nhiên là thiện chủng tử từ đời trước mạnh mẽ. Nếu không,
do căn tánh chậm lụt, kém cỏi, sẽ chẳng thể
dấy khởi cái tâm. Dẫu được thiện tri thức
khuyên lơn, vẫn chẳng có cách nào niệm được!
Giả sử có niệm th́ vẫn chẳng có cách nào
dũng mănh, bén nhạy. Trong cửa ải lâm chung khẩn yếu,
thế mà có thể [thành tựu] dễ dàng như vậy, thật
sự là bậc đại trượng phu! Hạng người
này thuộc loại người có thiện chủng đời
trước mạnh mẽ!
8.2. Chẳng quyết định coi vô thỉ ác nghiệp
là nặng, xem mười niệm lâm chung là nhẹ
[Phần này được]
chia thành hai phần:
1. Dùng đạo
lư để chứng thực.
2. Dùng thí dụ
và thánh giáo để chứng thực.
8.2.1. Dùng đạo lư
để chứng thực
(Luận) Hựu nhữ
dĩ vô thỉ dĩ lai ác nghiệp vi trọng, lâm chung thập
niệm vi khinh giả, kim dĩ đạo lư tam chủng giảo
lượng khinh trọng bất định, bất tại
thời tiết cửu cận, đa thiểu. Vân
hà vi tam? Nhất giả tại tâm, nhị giả tại
duyên, tam giả tại quyết định.
(論)又汝以無始已來惡業為重,臨終十念為輕者。今以道理三種校量輕重不定,不在時節久近多少。云何為三?一者在心,二者在緣,三者在決定。
(Luận: Lại v́ ông coi ác
nghiệp từ vô thỉ đến nay là nặng, mười
niệm lúc lâm chung là nhẹ, nay dùng ba loại đạo lư
để so sánh nhẹ nặng không nhất định, chẳng
do thời gian lâu hay mau, ít hay nhiều. Những ǵ là ba? Một
là tại tâm, hai là tại duyên, ba là tại quyết định).
Quư vị lại
cho rằng ác nghiệp đă tạo nhiều ngần ấy
từ vô thỉ tới nay là nặng, lâm chung mười niệm
niệm Phật là nhẹ, chuyện này không nhất định! Lư do của quư vị là thời gian từ vô thỉ
đến nay đặc biệt dài, số lượng ác
nghiệp đă tạo đặc biệt nhiều, c̣n thời
gian mười niệm khi lâm chung đặc biệt ngắn
ngủi, số lượng đặc biệt ít ỏi, [tức
là] dùng thời gian lâu hay mau, số
lượng nhiều hay ít để luận đoán nghiệp
nặng hay nhẹ; thế nhưng điều này không nhất
định. Do nguyên nhân nào? V́ nghiệp lực là tại
tâm, tại duyên, tại quyết định. Nay dùng ba cái
nhân ấy để cân nhắc, [sẽ thấy] mười
niệm khi lâm chung chưa chắc đă là nhẹ.
(Luận) Tại tâm giả,
tạo tội chi thời, tùng tự hư vọng điên
đảo sanh. Niệm Phật giả, tùng thiện tri thức,
văn thuyết A Di Đà Phật chân thật công đức
danh hiệu sanh. Nhất hư, nhất thật, khởi
đắc tương tỷ? Thí như vạn niên ám thất,
nhật quang tạm chí, nhi ám đốn diệt, khởi
dĩ cửu lai chi ám bất khẳng diệt da?
(論)在心者,造罪之時,從自虛妄顛倒生。念佛者,從善知識聞說阿彌陀佛真實功德名號生。一虛一實豈得相比?譬如萬年暗室,日光暫至而暗頓滅,豈以久來之暗不肯滅耶?
(Luận: Tại tâm:
Khi tạo tội là từ hư vọng, điên đảo
mà sanh. Niệm Phật th́ là từ thiện tri thức nghe
nói danh hiệu công đức chân thật của A Di Đà
Phật mà sanh. Một đằng hư, một đằng
thật, há so sánh được ư? Ví như nhà tối
ngàn năm, ánh nắng mặt trời vừa tạm chiếu
vào, tối tăm nhanh chóng diệt mất, há v́ tối
tăm đă lâu mà chẳng chịu diệt ư?)
Trước hết,
hăy nh́n vào trạng huống của nội tâm khi tạo nghiệp.
Khi tạo tội là từ sự điên đảo hư vọng
của chính ḿnh mà sanh. Ví như chấp trước có ta, có
sự vui sướng, v́ để ta đạt được
sự vui sướng mà chẳng nề hà thủ đoạn,
tạo các ác nghiệp giết, trộm, dâm v.v… Đấy
là từ chấp trước điên đảo, mê hoặc,
phân biệt hư vọng mà sanh. Từ vô thỉ kiếp
cho đến nay, chúng sanh một mực hăm trong trạng
thái mê hoặc, điên đảo, giống như đang
mơ một giấc mộng điên đảo. Nay đến
lúc lâm chung, bỗng từ thiện tri thức được
nghe danh hiệu công đức chân thật của A Di Đà
Phật, ngay khi đó, người ấy khởi tâm giác ngộ.
Giống như nhà tối ngàn năm, bỗng dưng xuất
hiện ánh đèn sáng, chẳng v́ tối tăm ngàn năm, nay quang minh
trong sát-na sẽ chẳng thể phá trừ tối tăm! Dẫu
u tối một ngàn năm, chỉ cần ánh đèn hiển
hiện trong sát-na, sẽ ngay lập tức phá tan sự tối
tăm chất chứa cả ngàn năm. Hoặc là ngủ
say cả ngàn năm, bỗng dưng thức giấc, sẽ
nhanh chóng diệt trừ giấc mê mộng cả ngàn
năm! Giống như thế đó, lẽ nào cái tâm giác ngộ
chẳng thể diệt trừ sự tối tăm si ám
ư?
(Luận) Tại duyên giả,
tạo tội chi thời, tùng hư vọng si ám tâm, duyên hư
vọng cảnh giới điên đảo sanh. Niệm Phật
chi tâm, tùng văn Phật thanh tịnh chân thật công đức
danh hiệu, duyên Vô Thượng Bồ Đề tâm sanh. Nhất
chân, nhất ngụy, khởi đắc tương tỷ?
Thí như hữu nhân bị độc tiễn trúng, tiễn
thâm, độc sấm, thương
cơ, phá cốt,
nhất văn Diệt Trừ dược cổ, tức tiễn
xuất, độc trừ, khởi dĩ tiễn thâm độc
sấm nhi bất khẳng xuất dă?
(論)在緣者,造罪之時,從虛妄癡暗心,緣虛妄境界顛倒生。念佛之心,從聞佛清淨真實功德名號,緣無上菩提心生。一真一偽豈得相比?譬如有人被毒箭中,箭深毒滲傷肌破骨。一聞滅除藥鼓,即箭出毒除,豈以箭深毒滲而不肯出也?
(Luận: Tại duyên là khi tạo
tội, từ cái tâm si mê, tối tăm, hư vọng,
duyên theo cảnh giới hư vọng điên đảo mà
sanh. Cái tâm niệm Phật do nghe danh hiệu có công đức
chân thật thanh tịnh của Phật, duyên theo tâm Vô Thượng
Bồ Đề mà sanh. Một đằng chân, một
đằng ngụy, há so sánh được ư? Ví như
có người bị trúng tên độc, mũi tên cắm
sâu, chất độc thấm đẫm, hư
thịt, vỡ xương, vừa nghe tiếng trống
thuốc Diệt Trừ, mũi tên liền rơi ra, chất
độc trừ diệt, há v́ tên cắm sâu, chất độc
thấm đẫm mà
mũi tên chẳng chịu rớt ra ư?)
Lại xem sự
sai biệt giữa tạo nghiệp và sở duyên của
hai bên. Sở duyên có sức tác dụng. Khi tạo tội, bên
trong là cái tâm hư vọng, điên đảo, si ám, bên ngoài
th́ duyên theo cảnh giới hư vọng, sanh khởi tâm thức
tạo tác điên đảo. C̣n cái tâm niệm
Phật là do nghe danh hiệu có công đức thanh tịnh
chân thật của Phật, dùng vạn đức hồng danh làm sở duyên mà sanh. Nhưng vạn đức
hồng danh chính là tâm Vô Thượng Bồ Đề của
Phật, mà cũng là cái tâm quang minh vô thượng, hóa thành tướng
biểu thị là danh hiệu. Ngẫu Ích đại sư
nói: “Danh hiệu Di Đà lấy
pháp giới làm Thể. Quang th́ theo chiều ngang trọn khắp
mười phương, Thọ th́ theo chiều dọc tột
cùng ba đời. Ngang và dọc thấu triệt lẫn
nhau chính là Pháp Giới Thể. Nêu lên cái Thể này làm thành
danh hiệu Di Đà. V́ thế, danh hiệu Di Đà chính là Bổn
Giác lư tánh của chúng sanh”. Sở duyên là “nam-mô A Di Đà Phật”, là tâm Vô Thượng Bồ
Đề, là chân thật. Một đằng chân, một
đằng ngụy, làm sao có thể so
sánh cho được?
Giống như
có người bị trúng tên độc, tên xuyên thấu thịt
xương, trúng độc rất sâu, nhưng vừa
được nghe âm thanh của cái trống thuốc Diệt
Trừ, ngay lập tức, mũi tên rớt ra, chất
độc trừ diệt. Lẽ đâu v́ mũi tên cắm
sâu, trúng độc nghiêm trọng, mà chẳng
thể trừ khử ư? Điều này cho thấy cái trống
thuốc Diệt Trừ có sức nhổ tên, trừ độc.
Người trúng độc duyên theo âm thanh đặc biệt
ấy bèn có thể nhổ tên, trừ độc. Cũng giống
như vậy, tuy hành giả từ vô thỉ đến nay
duyên theo cảnh giới điên đảo, dấy lên rất
nhiều nghiệp chướng độc tố, nhưng
vừa nghe danh hiệu chân thật Vô Thượng Bồ
Đề tâm của Như Lai, ngay lập tức có thể
dẹp trừ, khiến cho tâm [người ấy] thoát khỏi
tội chướng. Đây là sự khác biệt nơi sở
duyên.
(Luận) Tại quyết
định giả, tạo tội chi thời, dĩ hữu
gián tâm, hữu hậu tâm dă, niệm Phật chi thời,
dĩ vô gián tâm, vô hậu tâm, toại tức xả mạng,
thiện tâm mănh lợi, thị dĩ tức sanh.
(論)在決定者,造罪之時。以有間心有後心也。念佛之時,以無間心無後心,遂即捨命,善心猛利是以即生。
(Luận: Tại quyết
định là khi tạo tội th́ dùng cái tâm hữu gián, tâm
hữu hậu. Khi niệm Phật, sử dụng cái tâm vô
gián, tâm vô hậu, liền xả mạng, thiện tâm mạnh
mẽ, nhạy bén, do vậy liền sanh).
Thứ ba, nh́n theo
xu thế quyết định. Lúc b́nh thường tạo
tội, có cái tâm hữu gián, tức là có những cái tâm trái
nghịch v.v… gây gián đoạn. Chẳng hạn như sau
khi đă tạo [ác nghiệp] bèn hối hận, hoặc là
do dự trong khi tạo, có hậu tâm, [tức là] khởi
tâm sẽ tiếp tục tạo [cái nghiệp ấy] trong
mai sau. C̣n lâm chung mười niệm niệm Phật th́ chẳng
có các tâm khác gây gián đoạn, mà cũng chẳng có tâm tiếp
tục tạo tác hành vi ấy trong mai sau.
Trong khi ấy, [chỉ là] một niệm tâm mạnh mẽ,
nhạy bén niệm Phật ḥng văng sanh, biểu lộ xu thế
quyết định vậy.
8.2.2. Dùng thí dụ và thánh giáo để chứng thực
(Luận) Thí như thập
vi chi sách, thiên phu bất chế. Đồng tử huy kiếm,
tu du lưỡng phân. Hựu như thiên niên tích sài, dĩ nhất
đậu hỏa phần, thiểu thời tức tận.
(論)譬如十圍之索千夫不制,童子揮劍須臾兩分。又如千年積柴,以一豆火焚,少時即盡。
(Luận: Ví như sợi dây
thừng to mười ṿng ôm, ngàn người đàn ông chẳng
thể bứt đứt được. Đứa trẻ
vung gươm, khoảnh khắc thừng bèn đứt làm
đôi. Lại như củi tích tụ ngàn năm, dùng một
đốm lửa bé tí để đốt, trong một thời
gian ngắn đă cháy sạch).
Một là thí dụ
về đứa bé trai phá ṿng vây, tức là dây thừng to
mười ṿng ôm, ngàn người đều chẳng có
cách nào bứt đứt được. Đứa bé trai
vung lưỡi đao bén, trong giây lát, thừng đă bị
đứt thành hai đoạn. “Dây
thừng” ví như ác nghiệp đă tạo từ vô thỉ,
“to mười ṿng ôm” chỉ
số lượng nhiều, “ngàn
người chẳng thể bứt đứt được”
là nói phàm phu chẳng thể chế phục. “Đồng tử” (Bé trai) là
sánh ví hành giả sơ phát tâm niệm Phật. “Vung gươm” là nói mười
niệm niệm Phật thành tựu. “Khoảnh khắc đứt làm đôi”: Trong khoảng
co duỗi cánh tay, bèn xả cơi này, sanh sang cơi kia. Có nghĩa là đồng
tử phát tâm dũng mănh, nhạy bén, cầm đao bén, tức
là tŕ niệm danh hiệu Di Đà, cho nên trong nháy mắt có
thể thoát khỏi nghiệp chướng, tập khí, một
đao chặt đứt phăng nghiệp chướng và
tập khí từ quá khứ, ngay lập tức bỏ
phương này, sanh sang phương kia.
Hai là thí dụ một
đốm lửa đốt rụi củi chất ngàn năm.
“Ngàn năm” ư nói từ vô thỉ
đến nay. “Củi tích tụ”
là nói chất chứa rất nhiều phiền năo. “Lửa” là sánh ví trí huệ. “Một đốm lửa” nhằm nói rất ít.
Trong khi đó, nghe thiện hữu (thiện tri thức)
tuyên nói pháp môn Di Đà, khởi ḷng tin tưởng sâu xa,
dùng đốm lửa tâm trí huệ trong khoảng thời gian ngắn ngủi
bèn nhanh chóng đốt rụi phiền năo để văng
sanh. Điều này cũng cho thấy: Do sức quyết
định trong khi ấy mà có thể từ đó vượt
thoát.
(Luận) Hựu như hữu
nhân, nhất sanh dĩ lai, tu Thập Thiện nghiệp,
ưng đắc sanh thiên, lâm chung chi thời, khởi nhất
niệm quyết định tà kiến, tức đọa
A Tỳ địa ngục. Ác nghiệp hư vọng,
dĩ mănh lợi cố, thượng năng bài nhất
sanh chi thiện nghiệp, linh đọa ác đạo. Khởi
huống lâm chung mănh tâm niệm Phật, chân thật,
vô gián thiện nghiệp, bất năng bài vô thỉ ác nghiệp,
đắc sanh Tịnh Độ, vô hữu thị xứ!
(論)又如有人一生已來,修十善業應得生天。臨終之時起一念決定邪見,即墮阿鼻地獄。惡業虛妄以猛利故,尚能排一生之善業令墮惡道。豈況臨終猛心念佛,真實無間善業,不能排無始惡業,得生淨土,無有是處。
(Luận: Lại
như có người suốt đời tu Thập Thiện
nghiệp, đáng được sanh lên trời, khi lâm
chung, dấy lên một niệm quyết định tà kiến,
liền đọa vào địa ngục A Tỳ. Ác nghiệp
hư vọng, do mạnh mẽ, sắc bén, mà c̣n có thể gạt phăng thiện
nghiệp suốt một đời, khiến cho người
ấy đọa vào ác đạo. Huống chi thiện nghiệp
khi lâm chung, tâm dũng mănh niệm Phật, chân thật, chẳng
gián đoạn, mà lại chẳng thể dẹp
trừ ác nghiệp từ vô thỉ, khiến
cho người ấy được sanh về Tịnh
Độ, chẳng thể nào có chuyện đó!)
Kế đó, lại
dùng ác nghiệp để suy luận t́nh h́nh của thiện
nghiệp. Ví như có người suốt một đời này tu rất nhiều nghiệp Thập
Thiện, hẳn là sẽ sanh lên trời, nhưng lúc lâm
chung, dấy lên một niệm quyết định tà kiến,
ngay lập tức đọa vào địa ngục A Tỳ.
Ác nghiệp hư vọng, nhưng v́ nó dũng mănh, nhạy
bén, c̣n có thể gạt phăng thiện nghiệp suốt
cả một đời, khiến cho người ấy
đọa vào ác đạo. Huống hồ lâm chung, tâm
dũng mănh niệm Phật, đấy là thiện nghiệp
chân thật, chẳng gián đoạn, lẽ nào chẳng thể
dẹp phăng các ác nghiệp từ vô thỉ, được
sanh vào Tịnh Độ ư? Kiểu cật vấn ấy
chẳng thể thành lập được!
(Luận) Hựu vân: “Nhất
niệm niệm Phật, diệt bát thập ức kiếp
sanh tử chi tội”, vị niệm Phật thời, tâm
mănh lợi cố, phục diệt ác nghiệp, quyết
định đắc sanh, bất tu nghi dă.
(論)又云,一念念佛,滅八十億劫生死之罪。為念佛時心猛利故,伏滅惡業決定得生,不須疑也。
(Luận: Lại nói: “Một
niệm niệm Phật diệt
tội sanh tử trong tám mươi ức kiếp”, v́ khi
niệm Phật, do cái tâm mạnh mẽ, sắc bén bèn chế
phục, diệt trừ ác nghiệp, quyết định được
văng sanh, chớ nên nghi ngờ).
Trong kinh lại
nói: “Một niệm niệm Phật
diệt tội sanh tử trong tám mươi ức kiếp”.
Bởi lẽ, khi niệm Phật, do cái tâm dũng mănh, nhạy
bén, bèn có thể chế phục, diệt trừ ác nghiệp
phiền năo. Do đó, chớ nên hoài nghi, quyết định
có thể văng sanh.
Trên đây đă
dùng ba lư do là “tâm, duyên, quyết
định” cùng với các thí dụ tương cận cũng
như kinh giáo để chứng minh kẻ ác nghịch khi
lâm chung chí tâm mười niệm sẽ quyết định
có thể văng sanh.
8.3. Đừng tin vào những kiến giải quái lạ
(Luận) Thượng cổ
tương truyền, phán thập niệm thành tựu, tác Biệt Thời Ư
giả, thử định bất khả. Hà dĩ đắc
tri? Nhiếp Luận vân: “Do duy phát nguyện cố, toàn vô hữu
hạnh”. Tạp Tập Luận vân: “Nhược nguyện
sanh An Lạc quốc độ, tức
đắc văng sanh. Nhược văn Vô Cấu Phật
danh, tức đắc A Nậu Bồ Đề giả”, tịnh
thị biệt thời chi nhân, toàn vô hữu hạnh.
Nhược tương lâm chung vô gián thập niệm mănh lợi
thiện hạnh thị Biệt Thời Ư giả, kỷ hứa
ngộ tai! Nguyện hành giả thâm tư thử lư, tự
lao kỳ tâm, mạc tín dị kiến, tự đọa
hăm dă.
(論)上古相傳判十念成就,作別時意者,此定不可。何以得知?攝論云:「由唯發願故,全無有行。」雜集論云:「若願生安樂國土即得往生,若聞無垢佛名即得阿耨菩提者。」並是別時之因,全無有行。若將臨終,無間十念猛利善行是別時意者,幾許誤哉。願諸行者深思此理,自牢其心莫信異見,自墮陷也。
(Luận: Từ thuở
xưa đă truyền tụng, phán định mười
niệm thành tựu là Biệt Thời Ư[3],
điều này nhất quyết không thể nói như vậy
được. Do đâu mà biết? Nhiếp Luận nói:
“Do chỉ phát nguyện, hoàn toàn chẳng có Hạnh”. Tạp Tập Luận[4]
chép: “Nếu nguyện sanh về cơi nước An Lạc, sẽ liền được sanh về.
Nếu nghe danh hiệu Vô Cấu Phật, sẽ liền
đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”, [những
điều vừa nói đó] đều là cái nhân của biệt
thời, do hoàn toàn chẳng có hành. Nếu nghĩ thiện hạnh
mười niệm mạnh mẽ bén nhạy chẳng gián
đoạn là Biệt Thời
Ư th́ sai lầm lắm thay! Nguyện
hành giả suy nghĩ sâu xa lư này, tự kiên định cái
tâm của chính ḿnh, đừng tin theo những kiến giải
quái lạ, để rồi tự đọa lạc vậy).
Từ thượng
cổ đă lưu truyền thuyết phán định
mười niệm Phật thành tựu là ư thú Biệt
Thời! Nói như vậy chẳng đúng! V́ sao biết?
V́ t́nh huống được Nhiếp Luận và Tạp Tập
Luận phán định là Biệt Thời Ư chính là như thế
này: Nếu chỉ phát nguyện mà chẳng hành chút nào,
đó là ư thú Biệt Thời. Hoặc là như phát nguyện sanh về cơi
An Lạc liền có thể văng sanh, nghe danh hiệu của
Vô Cấu Phật sẽ đắc Vô Thượng Bồ
Đề, do những điều đó đều là tạo cái
nhân để cảm cái quả trong lúc khác, chẳng có chút
hạnh thật sự nào. Đấy là nói theo kiểu Biệt
Thời Ư. Nhưng nếu phán định thiện hạnh
mười niệm mạnh mẽ nhạy bén không gián
đoạn khi lâm chung là Biệt Thời Ư th́ đă hiểu
lầm rất lớn. Bởi lẽ, lâm chung đă có thiện
hạnh mười niệm nhạy bén, dũng mănh, chẳng
gián đoạn; đấy chính là Hạnh. Đă có Nguyện
và Hạnh, lẽ đâu chẳng thể văng sanh? Nguyện
các hành giả hăy suy nghĩ sâu xa ư nghĩa này, kiên định
tín tâm của chính ḿnh, đừng tin theo những cách nói khác
để rồi thoái thất tín tâm, chẳng c̣n cầu
sanh [Cực Lạc] nữa, sẽ bị đọa lạc
trong luân hồi, chẳng đạt được lợi
ích văng sanh to lớn.
9. Mối nghi thứ chín
(Luận) Đệ cửu nghi, vấn: - Tây Phương khứ thử thập vạn
ức Phật sát, phàm phu liệt nhược, vân hà khả
đáo? Hựu Văng Sanh Luận vân: “Nữ nhân cập căn
khuyết, Nhị Thừa chủng bất sanh”. Kư hữu thử
giáo, đương tri nữ nhân cập dĩ căn khuyết
giả, định tất bất đắc văng sanh.
(論)第九疑。問:西方去此十萬億佛剎,凡夫劣弱云何可到?又往生論云:「女人及根缺,二乘種不生。」既有此教,當知女人及以根缺者,定必不得往生。
(Luận: Mối nghi thứ chín, hỏi: - Tây
Phương cách đây mười vạn ức cơi Phật,
phàm phu hèn yếu, làm sao có thể đến đó được?
Văng Sanh Luận lại nói: “Nữ nhân và kẻ căn khuyết, giống Nhị Thừa chẳng sanh”. Đă có lời
dạy ấy, hăy nên biết là nữ nhân và kẻ căn
khuyết nhất định sẽ chẳng thể văng
sanh).
Ở đây, nêu
ra hai nghi vấn lớn:
1) Tây
Phương cách cơi này mười vạn ức Phật sát,
xa xôi dường ấy, năng lực của phàm phu rất
yếu, làm sao có thể đến đó cho được?
2) Đă là như
Văng Sanh Luận nói “nữ nhân,
căn khuyết, và chủng tánh Nhị Thừa chẳng thể
sanh về đó”, đấy chẳng phải là nữ
nhân và người căn khuyết quyết định chẳng
thể sanh về Tây Phương Tịnh Độ ư?
Đấy là nỗi
nghi hoặc rất lớn, dưới đây, sẽ
giải trừ từng điều một.
9.1. Chẳng cần lo ngại Tây Phương xa xôi,
phàm phu chẳng thể đến được
Phần này lại
thông qua giáo, lư, và tỷ dụ để chứng minh.
(Luận) Đáp: - Vị
đối phàm phu nhục nhăn sanh tử tâm lượng thuyết
nhĩ, Tây Phương khứ thử thập vạn ức
Phật sát, đản sử chúng sanh Tịnh Độ
nghiệp thành giả, lâm chung tại Định chi tâm, tức
thị Tịnh Độ thọ sanh chi tâm. Động niệm
tức thị sanh Tịnh Độ thời. Vị thử,
Quán Kinh vân: “Di Đà Phật quốc, khứ thử bất
viễn”.
(論)答:為對凡夫肉眼生死心量說爾,西方去此十萬億佛剎。但使眾生淨土業成者,臨終在定之心,即是淨土受生之心,動念即是生淨土時。為此觀經云:「彌陀佛國去此不遠。」
(Luận: Đáp: - V́ đối
ứng với tâm lượng sanh tử của hàng phàm phu
nhục nhăn mà nói như thế này: “Tây
Phương cách đây mười vạn ức cơi Phật”,
chỉ nhằm khiến cho những chúng sanh đă thành tựu
nghiệp Tịnh Độ khi lâm chung, cái tâm tại Định
chính là cái tâm thọ sanh Tịnh Độ. Hễ động
niệm bèn là lúc sanh vào Tịnh Độ. Do lẽ này, Quán
Kinh nói: “Cơi Phật Di Đà cách đây chẳng xa”).
Trả lời: Trước
hết, phải hiểu kinh nói “Tây
Phương cách đây mười vạn ức cơi Phật”
là nhắm vào hàng phàm phu nhục nhăn, tâm lượng sanh tử
mà nói. Ví như chúng ta cách mặt trăng trước mặt
bao xa? Cách xa cung trời Tam Thập Tam Thiên cỡ nào? Cứ
tính dần lên như thế đó, [sẽ thấy] cách thế
giới Cực Lạc khoảng chừng mười vạn
ức cơi Phật. Nhưng phải xác định rơ ràng: Giả
sử chúng sanh Tịnh nghiệp chín muồi, lâm chung sẽ
có Phật từ bi gia hựu, ngay trong lúc đó, nhất tâm
bất loạn ở trong Định, đấy là cái tâm
thọ sanh Tịnh Độ. Cảnh giới này hoàn toàn chẳng
giống hiện tại, lúc đó, [hành nhân Tịnh Độ]
đang ở trong thời khắc tâm thức ly thể
đặc thù, lại được Phật lực đặc
biệt gia bị, thuộc vào trạng huống “cái tâm
đang ở trong Định”. Do đó, trong khoảng một
niệm, liền sanh về Tịnh Độ. Do duyên cớ
này, Quán Kinh nói: “Cơi nước của Phật Di Đà cách đây chẳng xa”.
Lại cần phải
biết: Chân tâm của chúng ta trọn khắp hết thảy
mọi nơi, Di Đà Phật quốc ở ngay trong chân
tâm. Khi nhân duyên ḥa hợp, sẽ có thể tức thời
sanh vào Tịnh Độ trong tâm, chẳng cần lo lắng
xa xôi! Lại phải nghĩ, A Di Đà Phật là pháp giới
tâm, vào trọn khắp tâm tưởng của hết
thảy chúng sanh. Khi chúng ta lâm chung niệm Phật, Phật
quang đă nhiếp thọ, tự tâm và Phật tâm ḥa hợp,
ngay khi đó liền có thể sanh vào Tịnh Độ.
Điều này giống như tín hiệu do đài truyền
h́nh phát ra trọn khắp lănh vực
không gian rộng lớn, chỉ cần vặn đúng
băng tần tương ứng, ngay lập tức sẽ có thể xuất hiện âm thanh và h́nh ảnh.
Cũng giống như vậy, quang minh và nguyện lực
của Phật trọn khắp Vô Ương Số thế giới, lúc lâm chung, cái tâm niệm Phật
của chúng ta được Phật nhiếp thọ, ngay
khi ấy, duyên khởi ḥa hợp, bèn được tâm Phật
nhiếp thọ, do như vậy bèn có thể sanh về Tịnh Độ, chẳng cần lo lắng không
đến Tịnh Độ được!
Tiếp đó, lại
dùng phương thức so sánh để bảo chúng ta: Nhất
định có thể tới [Tịnh Độ].
(Luận) Hựu nghiệp
lực bất khả tư nghị, nhất niệm tức
đắc sanh bỉ, bất tu sầu viễn. Hựu
như nhân mộng, thân tuy tại sàng, nhi tâm ư thức, biến
chí tha phương nhất thiết thế giới, như
b́nh sanh bất dị dă. Sanh Tịnh Độ diệc
nhĩ, động niệm tức chí, bất tu nghi dă.
(論)又業力不可思議,一念即得生彼,不須愁遠。又如人夢,身雖在床,而心意識遍至他方,一切世界如平生不異也。生淨土亦爾,動念即至,不須疑也。
(Luận: Lại nữa,
nghiệp lực chẳng thể nghĩ bàn, một niệm
liền được sanh về đó, chẳng cần phải
lo xa xôi. Lại như người nằm mộng, thân tuy ở
trên giường, nhưng tâm ư thức đến trọn
khắp hết thảy các thế giới ở
phương khác, chẳng khác ǵ lúc b́nh thường. Sanh về
Tịnh Độ cũng thế, vừa động niệm
bèn tới, chẳng cần nghi ngờ nữa).
Hơn nữa,
nghiệp lực chẳng thể nghĩ bàn! Ví như trong một
niệm liền sanh vào địa ngục, hoặc trong một niệm liền
sanh lên cung trời.
Cũng giống như vậy, trong một niệm có thể
sanh về Tây Phương, chẳng cần lo rầu xa xôi. Lại
giống như người nằm mộng, thân thể tuy ở
trên giường, mà tâm ư thức có thể đến trọn
khắp hết thảy các thế giới ở phương
khác. Ban ngày chẳng đến xa được như vậy,
nhưng trong mộng, thuộc vào cảnh giới đặc
thù, đích xác là trong một niệm có thể đến thế
giới ở phương khác. Trong lịch sử, có rất
nhiều trường hợp để chứng minh. Hoặc là khi tu hành có thành tựu,
có thể tùy ư đến thế giới ở phương
khác, trong một niệm liền đến. V́ vậy, nói
là xa hay gần, nhanh hay chậm v.v… đều là nói theo trạng
thái tương ứng khi đó, chẳng thể do khoảng
cách ban ngày xa xôi, do trong một giờ chẳng đi được bao xa, mà suy đoán trong mộng [khoảng cách]
cũng xa chừng ấy, trong một giờ sẽ chẳng đi được bao xa [giống như khi ta đi
trong ban ngày]. [Nếu suy đoán] như vậy, quá nực
cười! Hoặc là chẳng thể dùng trạng huống
b́nh thường để suy đoán t́nh huống trong Thiền
Định, hoặc t́nh huống được gia bị đặc
thù v.v… Phải nghĩ như thế này: Ở trong mộng,
một niệm tâm có thể đến xa như thế,
căn bản là tốc độ mà nhục thân có thể
đi được vào ban ngày chẳng thể nào sánh bằng
[tốc độ và khoảng cách] trong mộng được!
Cũng như vậy, đến khi lâm chung, trong một sát-na
tâm thức ly thể, lại có Phật lực gia bị khiến
cho tâm chẳng loạn, trong trạng huống ấy, trong một
niệm bèn có thể sanh về Tịnh Độ, chẳng
cần hoài nghi!
Tiếp đó, giải
trừ nỗi nghi hoặc thứ hai. Điều này lại
cần phải hiểu ư nghĩa bao hàm trong giáo chứng do Văng
Sanh Luận đă nói: Chẳng phải là nói “ba loại
người ấy chẳng thể sanh về Tịnh Độ”,
mà có ư nói, “sau khi văng sanh, sẽ chẳng có ba loại t́nh huống
ấy”.
(Luận) “Nữ nhân cập
căn khuyết, Nhị Thừa chủng bất sanh” giả,
đản luận sanh bỉ quốc vô nữ nhân, cập vô
manh, lung, ấm, á nhân, bất đạo thử gian nữ
nhân, căn khuyết nhân bất đắc sanh bỉ.
Nhược như thử thuyết giả, ngu si toàn bất
thức kinh ư, tức như Vi Đề phu nhân, thị thỉnh
sanh Tịnh Độ chủ, cập
ngũ bách thị nữ, Phật thọ kư tất đắc
văng sanh bỉ quốc.
(論)女人及根缺,二乘種不生者,但論生彼國,無女人及無盲聾喑哑人,不道此間女人根缺人不得生彼。若如此說者,愚癡全不識經意。即如韋提女人,是請生淨土主,及五百侍女,佛授記悉得往生彼國。
(Luận: “Nữ nhân
và căn khuyết, chủng tánh Nhị Thừa chẳng
sanh” chỉ là luận định “đă sanh trong
cơi ấy (cơi Cực Lạc), sẽ không có nữ nhân và
không có kẻ mù, ḷa, ngọng, câm”, chẳng phải là nói “nữ
nhân và kẻ tàn tật trong cơi này (Sa Bà) chẳng thể sanh
về cơi đó”. Nếu kẻ nào nói như vậy (nữ
nhân và kẻ tàn tật chẳng thể văng sanh Cực Lạc),
chính là kẻ ngu si, hoàn toàn chẳng hiểu ư kinh. [Bởi lẽ],
như phu nhân Vi Đề Hy là người đứng
đầu cầu thỉnh [pháp môn] sanh về Tịnh Độ,
và năm trăm thị nữ đều được
đức Phật thọ kư sẽ sanh về cơi ấy).
Nói chung, câu này trong
Văng Sanh Luận nhằm nói: Sau khi đă sanh về Phật
quốc, sẽ chẳng có nữ nhân, chẳng có kẻ mù, điếc,
ngọng, câm, hoàn toàn chẳng phải là nói “nữ nhân và kẻ
tàn tật trong thế giới Sa Bà chẳng thể văng sanh
thế giới Cực Lạc”. Nếu nói
như vậy (tức nói “nữ nhân và kẻ tàn tật
trong thế giới Sa Bà chẳng thể văng sanh thế giới
Cực Lạc”) rất ngu si, căn bản là chẳng lư giải
ư nghĩa của kinh. Một chứng cớ phản bác [cách
hiểu sai lầm ấy]: Chẳng hạn như phu nhân Vi
Đề Hy là người chủ chốt thỉnh cầu
[đức Phật dạy cách] sanh về Tịnh Độ.
Đức Phật thọ kư bà ta và năm trăm thị nữ
đều văng sanh cơi ấy, đấy chẳng phải là
một trường hợp chứng minh nữ nhân có thể
sanh về cơi ấy hay sao? Kinh Pháp Hoa nói: Năm trăm
năm sau khi đức Như Lai diệt độ, có
người nữ nào nghe được bộ kinh ấy,
tu hành đúng như lời dạy, khi cô ta mạng chung, sẽ
văng sanh thế giới Cực Lạc. A Di Đà Phật và các
vị đại Bồ Tát sẽ vây quanh chỗ cô ta ở,
[cô ta] sẽ sanh trong hoa sen, ngự trên ṭa báu. Do điều
này bèn biết: Nữ nhân trong cơi này có thể sanh sang Tây
Phương.
(Luận) Đản thử
xứ nữ nhân, cập manh, lung, ấm, á nhân, tâm niệm
Di Đà Phật, tất sanh bỉ quốc dĩ, cánh bất
thọ nữ thân, diệc bất thọ căn khuyết
thân. Nhị Thừa nhân đản hồi tâm nguyện sanh
Tịnh Độ, chí bỉ cánh vô Nhị Thừa chấp
tâm. Vị thử cố vân: “Nữ nhân cập căn khuyết,
Nhị Thừa chủng bất sanh”. Phi vị thử xứ
nữ nhân cập căn khuyết nhân bất đắc
sanh dă. Cố Vô Lượng Thọ kinh tứ thập bát nguyện vân: “Thiết ngă đắc Phật,
thập phương thế giới nhất thiết nữ
nhân, xưng ngă danh hiệu, yếm ố nữ thân, xả mạng chi hậu,
cánh thọ nữ thân giả, bất thủ Chánh Giác”. Huống sanh bỉ quốc, cánh thọ nữ thân? Căn
khuyết giả diệc nhĩ.
(論)但此處女人及盲聾喑哑人,心念彌陀佛悉生彼國已,更不受女身,亦不受根缺身。二乘人但回心願生淨土,至彼更無二乘執心。為此故云:「女人及根缺,二乘種不生。」非謂此處,女人及根缺人不得生也。故無量壽經四十八願云:「設我得佛,十方世界一切女人,稱我名號厭惡女身,捨命之後更受女身者,不取正覺。」況生彼國更受女身?根缺者亦爾。
(Luận: Nhưng nữ
nhân và kẻ mù, điếc, ngọng, câm trong cơi này tâm niệm
A Di Đà Phật, đều sanh về cơi ấy rồi, sẽ
chẳng c̣n thọ thân nữ nữa, mà cũng chẳng thọ
thân tàn tật. Hàng Nhị Thừa chỉ hồi tâm nguyện
sanh về Tịnh Độ, sanh về cơi đó, sẽ chẳng c̣n cái tâm chấp trước của
hàng Nhị Thừa. V́ vậy bèn nói: “Nữ nhân và căn
khuyết, giống Nhị Thừa chẳng sanh”, chẳng phải là nói kẻ nữ và người
tàn tật trong cơi này chẳng được văng sanh [Cực
Lạc]. Do vậy, phần bốn mươi tám nguyện
trong kinh Vô Lượng Thọ có chép: “Nếu tôi thành Phật,
hết thảy người nữ trong mười
phương thế giới xưng danh hiệu của tôi, chán ghét thân nữ, sau khi xả mạng, lại thọ
thân nữ th́ tôi chẳng giữ lấy ngôi Chánh
Giác”. Huống hồ sanh về cơi ấy lại thọ thân
nữ nữa ư? Kẻ căn khuyết cũng giống
như vậy).
Nói “không có ba loại người ấy”
là nói nữ nhân và người căn khuyết (tàn tật) trong
cơi này niệm Phật, sau khi đă sanh về cơi ấy, sẽ
chẳng c̣n thọ thân nữ, mà là thân trượng phu, chẳng
c̣n thọ thân căn khuyết, mà là sáu
căn trọn đủ, hết sức thù thắng. Hàng Nhị
Thừa hồi tâm, nguyện sanh về Tịnh Độ, đến
đó, sẽ chẳng c̣n có tâm chấp trước của
Nhị Thừa nữa, sẽ chẳng chấp Nhị Thừa
là rốt ráo, hoặc vẫn khư khư chẳng bỏ ư
niệm thấp hèn “chỉ cầu một ḿnh ta giải
thoát [là đủ]”. V́ thế mới nói: Đă tới cơi đó, sẽ chẳng c̣n có hiện tượng
nữ nhân, kẻ thiếu căn, và chủng
tánh Nhị Thừa, hoàn toàn chẳng phải là nói “nữ
nhân và người căn khuyết trong cơi này chẳng thể
văng sanh phương ấy”.
Phần bốn
mươi tám nguyện của kinh Vô Lượng Thọ cũng
nói: “Nếu tôi thành Phật, hết thảy nữ nhân trong mười
phương thế giới xưng danh hiệu Phật,
chán ghét thân nữ. Sau khi đă xả mạng mà vẫn phải
thọ thân nữ, tôi sẽ chẳng giữ lấy
ngôi Chánh Giác”. Ngay như
xưng danh hiệu Phật, sau khi xả mạng mà c̣n chẳng
thọ nữ thân, huống hồ là sanh về cơi ấy,
làm sao có thể thọ thân nữ cho được? Hơn
nữa, làm sao có thể thọ thân căn khuyết cho nổi?
Nói chung, chẳng phải là nói “xét theo
cái nhân, ba loại người ấy chẳng văng sanh”, mà là
nói theo cái quả, tức là sau khi đă văng sanh, sẽ chẳng
có ba thứ hiện tượng ấy!
10. Mối nghi thứ mười
(Luận) Đệ thập
nghi. Vấn: - Kim dục quyết định cầu sanh Tây
Phương giả, vị tri tác hà hạnh nghiệp,
dĩ hà vi chủng tử, đắc sanh bỉ quốc? Hựu
phàm phu tục nhân giai hữu thê tử, vị tri bất
đoạn dâm dục, đắc
sanh bỉ phủ?
(論)第十疑。問:今欲決定求生西方者,未知作何行業,以何為種子,得生彼國?又凡夫俗人皆有妻子,未知不斷淫欲得生彼否?
(Luận: Mối nghi thứ
mười. Hỏi: - Nay kẻ quyết định muốn
cầu sanh Tây Phương, chưa biết phải làm hạnh
nghiệp nào, dùng những ǵ làm chủng tử để
được sanh về cơi ấy? Lại nữa, phàm phu
tục nhân đều có vợ con, chưa biết chẳng
đoạn dâm dục th́ có được sanh về cơi ấy
hay chăng?)
Câu hỏi được nêu ra là “sau khi đă liễu giải sự thù thắng của văng sanh Tây Phương, nay tôi muốn quyết
định cầu sanh Tây Phương, chẳng biết phải
làm hạnh nghiệp ǵ, dùng ǵ để làm chủng tử, ḥng có thể đạt thành diệu quả văng sanh
cơi ấy? Hơn nữa, phàm phu tục nhân đều có vợ
con, chẳng biết kẻ không đoạn dâm dục th́ có
thể sanh về cơi nước Cực Lạc hay chăng?”
Ở đây, nêu
lên hai vấn đề:
1) Hạnh nghiệp
để quyết định thành tựu văng sanh là ǵ? Hoặc
là chủng tử có thể thành tựu cái quả ấy là ǵ?
Người hỏi biết “để cầu cái quả, ắt
cần phải viên măn cái nhân”. Hễ nhân đă viên măn, quả
sẽ tự nhiên thành; không có nhân, sẽ trọn chẳng
có quả. Điều này thuộc về phương diện
thật tu, nơi tự tâm cần phải đi theo con
đường như thế nào? Tu tập hạnh nghiệp
ǵ th́ sẽ có thể cảm được cái quả
thù thắng như vậy? Hoặc là gieo chủng tử ǵ để vun bồi nó (cái nhân ấy) ḥng có thể văng sanh? Câu hỏi này đă đề cập
tới vấn đề duyên khởi rất trọng yếu
ḥng thành tựu văng sanh.
2) Tục nhân tại
gia có vợ, chẳng đoạn dâm dục, cũng chẳng
tránh khỏi lo âu chính ḿnh có thể văng sanh hay không? Hoặc
là phải nên nỗ lực như thế nào th́ mới có thể
tương ứng với Tây Phương ḥng được
văng sanh?
Dưới
đây chia làm [hai phần là] lược đáp (đáp đại
lược) và tế đáp (đáp cặn kẽ) để
giảng rơ. Trước hết là lược đáp.
(Luận) Đáp: Dục quyết
định sanh Tây Phương giả, cụ hữu nhị
chủng hạnh, định đắc sanh bỉ. Nhất
giả yếm ly hạnh, nhị giả hân nguyện hạnh.
(論)答:欲決定生西方者,具有二種行,定得生彼。一者厭離行,二者欣願行。
(Luận:
Đáp: Muốn quyết định sanh về Tây Phương
th́ trọn đủ hai loại hạnh, chắc chắn sẽ
sanh về cơi đó. Một là hạnh chán ĺa, hai là hạnh
ưa thích, nguyện sanh về đó).
Trả lời: Nếu
muốn quyết định được văng sanh Tây
Phương, hễ trọn đủ hai thứ hạnh, chắc
chắn có thể văng sanh. Một là hạnh chán ĺa, hai là hạnh
ưa thích, nguyện sanh sang đó.
Chư pháp đều
mang tánh chất duyên khởi. Duyên khởi lại ở nơi tâm,
điều then chốt trong tâm là ham muốn. Do vậy, ở
đây nói: Văng sanh Tây Phương là quả, nhân duyên của
nó phát triển thành hạnh tương ứng với Tây
Phương là hạnh chán ĺa và hạnh ưa thích, nguyện
sanh. Trong ấy, có bao hàm xuất
ly tâm và Bồ Đề tâm. Chán ĺa phương này (Sa Bà) là tâm xuất ly. Biết Tịnh Độ thù thắng,
xét theo phương diện tự lợi th́ là do được
giải thoát mà mong sanh về Tây Phương; đấy là
nội dung của tâm xuất ly. V́ để mau chóng đạt
được thành tựu ḥng độ chúng sanh mà mong sanh
về Tây Phương; đấy là nội dung của Bồ
Đề tâm.
“Chán” (Yếm) là tiêu cực muốn bỏ
phương này, “ưa thích”
(Hân) là tích cực muốn giữ lấy phương kia.
Hai đằng tách ra và hợp lại chính là tướng trạng
đầy đủ của nguyện Tịnh Độ. Từ
đây, phát triển thành các loại tịnh hạnh, tức
là Hạnh. Đă có Nguyện, đương nhiên là nhiếp
tŕ hết thảy thiện căn đều hồi hướng
sanh về Tây Phương, thẳng tiến về Tây Phương, khi đă
tích tụ đến một mức độ nhất
định, chắc chắn sẽ văng sanh Tây Phương.
V́ thế, phải biết: Duyên khởi để văng sanh Tây
Phương ở nơi Nguyện. Tín và Hạnh cũng
được bao gồm trong Nguyện, v́ có Nguyện thiết
tha, tất nhiên sẽ có Tín chân thật và Hạnh thiết
thực.
Kế đó, sẽ
giải thích cặn kẽ hai phần Yếm và Hân này.
10.1. Yếm Ly Hạnh
(Luận) Ngôn Yếm Ly Hạnh
giả, phàm phu vô thỉ dĩ lai, vị ngũ dục triền
phược, luân hồi ngũ đạo, bị thọ
chúng khổ, bất khởi tâm yếm ly ngũ dục, vị
hữu xuất kỳ. Vị thử,
thường quán thử thân nùng huyết thỉ niệu, nhất
thiết ác lộ, bất tịnh, xú uế. Cố Niết
Bàn Kinh vân: “Như thị thân thành, ngu si la-sát, chỉ trụ
kỳ trung. Thùy hữu trí giả, đương nhạo
thử thân?”
(論)言厭離行者,凡夫無始已來為五欲纏縛,輪迴五道備受眾苦,不起心厭離五欲未有出期。為此常觀此身膿血屎尿,一切惡露不淨臭穢。故涅槃經云:「如是身城,愚癡羅剎止住其中,誰有智者當樂此身?」
(Luận: Nói Yếm
Ly Hạnh là v́ phàm phu từ vô thỉ đến nay bị
ngũ dục trói buộc, luân hồi trong năm đường,
chịu đủ mọi nỗi khổ, chẳng dấy
tâm chán ĺa ngũ dục, sẽ chẳng có thuở nào thoát
khỏi. V́ lẽ này mà thường quán thân này máu mủ,
phân, tiểu, hết thảy các thứ xấu ác bộc lộ,
bất tịnh, hôi thối, bẩn thỉu. Do đó, kinh Niết Bàn nói: “Thân thành như thế, La-sát ngu
si ở trong ấy, có bậc trí nào sẽ yêu thích cái thân
này?”)
Nói Yếm Ly Hạnh
là phải thấy phàm phu từ vô thỉ tới nay, luôn bị
sự tham muốn ngũ dục Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc trói buộc. Do vậy, dấy lên các thứ phiền
năo, huân tập các loại nghiệp, bị nghiệp lực
lôi kéo mà luân hồi chẳng ngớt trong năm đường
địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, nhân, thiên, chịu
đủ các thứ các dạng khổ. Nếu chẳng dấy
lên cái tâm chán ĺa ngũ dục, vẫn tham đắm nó, do chẳng
đoạn cái nhân, sẽ chẳng đoạn được
nỗi khổ sanh tử luân hồi. V́ vậy, chẳng có
thuở vượt thoát sanh tử. Sau khi đă biết lỗi
hại của tham dục, phải thường quán cái thân
này có thể tánh bất tịnh. Bên trong là hết thảy
các thứ xấu ác bày ra như máu, mủ, phân, tiểu v.v…
Hễ lộ ra, sẽ khiến cho người
khác trông thấy bèn ghê tởm, chẳng thể chịu
đựng nổi tướng xú uế bất tịnh.
Trong quá khứ, cứ
nghĩ cái thân là bảo bối; hiện thời, sau khi
đă thấy nó bất tịnh, bèn
nghĩ: “Thân thể này như một thành thị, quỷ
la-sát ngu si đang ở trong ấy, có người trí huệ
nào sẽ ưa thích thân thể như vậy?” Giống như trong kinh Niết Bàn đă nói; từ
đó, trong tâm chẳng c̣n muốn bận ḷng nhiều về tấm thân này, chẳng c̣n muốn
làm nô lệ cho nó, v́ nó mà lo toan các thứ ngũ dục, thực
hiện các thứ che chở [tấm thân] nữa. Cội
nguồn của ḷng tham chính là v́ quư tiếc, yêu mến, bảo
vệ thân thể. Một khi đă phát hiện chỗ chẳng
đáng yêu đắm của nó, sẽ cảm thấy thân
thể giống như nhà xí này có hai bữa ăn để
duy tŕ mạng sống, có quần áo để che thân là
được rồi. Như vậy th́ mới thoát khỏi
nỗi tham ngũ dục v́ cái thân.
Phần này lại
chia thành hai phần:
1) Lư thú.
2) Thật tu.
10.1.1. Lư thú
Nếu nh́n từ
phương diện lư thú, [sẽ thấy] phàm phu suốt
ngày v́ cái Ta riêng tư (tư ngă) mà t́m cầu Sắc, Thanh,
Hương, Vị, Xúc, dấy lên vô số phiền năo, tạo
trọn hết các nghiệp, ở trong luân hồi chịu
khổ trong vô số đời. V́ thế, nhất định
phải ĺa ngũ dục. Tham đắm ngũ trần sẽ
phải chịu khổ không ngừng, đúng là đại tai
nạn. Nhăn Thức tham đắm Sắc pháp, giống
như con thiêu thân chết cháy trong ngọn lửa đèn.
Nhĩ Thức tham đắm âm thanh hay đẹp, giống
như dă thú nghe tiếng đàn tỳ bà mà bị thợ
săn giết chết. Tỵ Thức tham đắm hương
trần, giống như ong mật tham đắm mùi
thơm của hoa mà bị nhốt chết trong ḷng bông hoa.
Thiệt Thức tham đắm mỹ vị, giống
như con cá bị móc sắt móc trúng. Thân Thức tham đắm
xúc trần, giống như con voi to bị
hăm trong bùn lầy. Đấy chính là căn bản của
vô số mê loạn hiển hiện trong luân hồi, là cội
nguồn của vô số nỗi khổ. Cũng giống
như thế, tâm tham đắm ngũ dục, bị tham dục
trói buộc chính là cái gốc của các khổ. “Chư khổ sở nhân, tham dục
vi bổn” (Cái nhân của các nỗi khổ đều lấy
tham dục làm gốc) chính là ư nghĩa này.
Sau đó, nghĩ tưởng: Chỉ
có xa rời sự tham đắm đối với ngũ
dục th́ mới có thể từ khổ thoát ra. Vậy th́
phải buông xuống ngũ dục bằng cách nào? Phải
nghĩ, tham hưởng thụ thanh, sắc; tham kẻ
khác phái; tham phim ảnh và TV; tham món
ăn ngon, tham y phục đẹp đẽ, tham xe hơi v.v… tham bất cứ những món Sắc, Thanh,
Hương, Vị, Xúc nào cũng đều là v́
thân thể! Yêu quư, bảo vệ thân thể nhất, cho rằng trên cơi đời, nó cần được bảo vệ, đáng tôn trọng,
cung phụng nhất chính là nó. Hiện thời, nhất
định phải thấy rơ ràng bổn tướng của
thân thể. Khi phát hiện nó giống như một cái nhà
xí di động ô uế, là chỗ căn bản để phát xuất nỗi khổ lớn nhất, sẽ c̣n v́ nó mà tham lam nữa hay chăng? Chẳng cần
thiết, khi ấy, sẽ dấy ḷng chán ĺa, chẳng c̣n muốn làm
chuyện ǵ v́ nó nữa.
Ví như ở
cùng một bệnh viện, ẵm lầm
đứa trẻ, ngỡ đứa con của oán gia là con
đẻ của chính ḿnh, lănh về nhà, mấy chục
năm ngậm đắng nuốt cay, dốc ḷng dưỡng
dục, coi nó như tâm can bảo bối. Bỗng có một
ngày, kẻ khác nói cho người ấy biết chân tướng:
“Đấy là con của kẻ oán gia”. Do vậy mới biết
trước kia đă phí công, từ đấy về sau, cũng chẳng
c̣n dấy ḷng làm ǵ cho nó nữa. Đấy
là dấy ḷng chán ĺa. Cũng giống như vậy, một
khi đă phát hiện thân thể là một thứ chất chứa
cả đống
ô uế như
vậy, c̣n muốn v́ nó làm ǵ nữa chăng? Đă
thế, nó là nguồn gốc của muôn nỗi khổ, là khí
cụ của muôn nỗi khổ, là cỗ máy chế tạo
nỗi khổ chẳng có ǵ lớn hơn nữa, là đồ
đựng để tuôn ra nỗi khổ, c̣n muốn v́ nó
làm ǵ nữa hay chăng? Ngay lập
tức cảm nhận đấy là cái thân luân hồi, khổ
năo, hoạn nạn, phải ĺa bỏ, chớ nên bảo vệ
nó nữa, v́ nó mà tham, v́ nó mà cầu, tạo trọn hết các
nghiệp, chuốc lấy nỗi khổ to lớn dằng
dặc trong đời sau; khi ấy, sẽ sanh ḷng nhàm ĺa.
V́ thế, điều trọng yếu là phải thấy
cái thân yêu quư nhất của chính ḿnh là bất tịnh, thể
tánh của nó là khổ.
Nói tách ra th́ có hai
loại là bất tịnh và khổ, nói gộp chung th́ là một
chữ Khổ. Thấy nó chỉ có khổ, chẳng có lạc,
bèn chỉ mong hết sức nhanh chóng thoát khỏi, mà
cũng chẳng mong v́ nó làm ǵ nữa! Như vậy th́ sẽ
có thể từ thân thể mà phát sanh ư nguyện ĺa khỏi
sự tham đắm ngũ dục. Chán bỏ cái thân này, tức
là chán bỏ Sa Bà từ nguồn cội. Sau đó, lại
mong thay đổi cái thân này, cầu đạt được
cái thân thanh tịnh nơi Tịnh Độ. Đấy là
tu phương pháp chán ĺa.
(Luận) Hựu kinh vân:
“Thử thân chúng khổ sở tập, nhất thiết giai
bất tịnh. Ách phược ung sang đẳng, căn bổn vô
nghĩa lợi, thượng chí chư thiên thân giai diệc
như thị”.
(論)又經云:「此身眾苦所集,一切皆不淨,扼縛癰瘡等根本無義利,上至諸天身皆亦如是。」
(Luận: Kinh lại nói: “Thân
này là các khổ nhóm họp, hết thảy đều bất
tịnh. Là cái ách, là trói buộc, là ung nhọt, ghẻ v.v…
căn bản là chẳng có nghĩa lợi, trên là cho đến
thân của chư thiên cũng đều giống như vậy”).
[Đoạn này]
chia thành năm phần:
1) Thân này là chỗ
các khổ nhóm họp.
2) Ư nghĩa
được bao hàm trong các thí dụ như cái ách, trói buộc
v.v…
3) Ư nghĩa
được bao hàm trong các thí dụ như ung nhọt, ghẻ
v.v…
4) Ư nghĩa
được bao hàm trong “căn
bản vô nghĩa lợi”.
5) Ư nghĩa
được bao hàm trong “trên
là cho đến thân của chư thiên cũng đều giống
như vậy”.
10.1.1.1. Thân này là chỗ các khổ nhóm họp
Đối tượng
để quan sát chính là cái thân Ngũ Thủ Uẩn[5], hoặc
tương tục (tiếp nối), không chỉ là nhục
thân. Cái thân Ngũ Thủ Uẩn ấy chính là chỗ vô
lượng các điều khổ tụ tập. Trong ấy
bao hàm hai ư nghĩa:
1) Là chỗ tạo
tác các điều khổ, được gọi là “khổ khí” (苦器), mang ư nghĩa cỗ máy [tạo tác các nỗi khổ].
2) Là vật dụng
sanh ra các nỗi khổ, mang ư nghĩa đồ đựng.
“Vật dụng sanh ra các nỗi khổ” lại có
năm điều:
a. Vật dụng
tạo thành các nỗi khổ trong mai sau.
b. Vật dụng
xuất sanh các nỗi khổ.
c. Vật dụng
Khổ Khổ.
d. Vật dụng
Hoại Khổ.
e. Có tánh chất
của Hành Khổ.
10.1.1.1.1. [Thân Ngũ Uẩn là] vật dụng tạo
thành các nỗi khổ trong mai sau
Do nương vào
các Uẩn đă nhận lănh, sẽ có thể dẫn
đến các nỗi khổ từ đời sau trở
đi. Hiện thời, đă thành Ngũ Thủ Uẩn, có
năm loại pháp là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; do
đấy bèn khởi Hoặc, tạo nghiệp, có thể
dẫn đến các nỗi khổ từ đời sau trở
đi. Hoặc là do trong A Lại Da Thức chứa đựng
các thứ chủng tử khổ trong đời quá khứ,
nếu trong đời này chẳng cảm lấy quả khổ
th́ trong tương lai cũng sẽ đời đời
xuất sanh các nỗi khổ.
10.1.1.1.2. [Thân Ngũ Thủ Uẩn là] vật dụng
sanh ra các nỗi khổ
Đă thành tựu
Ngũ Thủ Uẩn, đấy chính là chỗ nương
tựa của các nỗi khổ “lăo, bệnh, tử, suy,
yêu thương mà phải chia ĺa, ganh ghét mà phải gặp
gỡ, cầu chẳng được” v.v… Trước mắt
đă tạo thành các uẩn thể[6]; trong
tương lai, sẽ không ngừng nẩy sanh các thứ khổ
năo trong một kỳ sanh tử (một đời người).
Nó chính là vật dụng to lớn để phát sanh các nỗi
khổ.
10.1.1.1.3. [Thân Ngũ Thủ Uẩn là] vật dụng
của Khổ Khổ và Hoại Khổ
Chủng tử của
hai thứ Khổ Khổ và Hoại Khổ theo sát chẳng
rời trong uẩn thể. V́ thế, lúc gặp duyên, chúng
nó sẽ từ đó mà không ngừng sanh ra Khổ Khổ
và Hoại Khổ.
10.1.1.1.4. Có tánh chất của Hành Khổ
Ngũ Thủ Uẩn
đă được tạo thành từ lúc tối sơ sẽ
biến thành tự tánh của Hành Khổ. Từ đấy
trở đi, hết thảy các Hành đều thuận
theo sức của Hoặc Nghiệp trong đời trước
mà tự tại chuyển biến, đấy chính là Hành Khổ.
Cũng là do lúc ban đầu, một niệm mê mất, cho
là có Ngă, có Ngă Sở (những thứ mà ta sở hữu), do
như vậy mà khởi Hoặc (dấy lên phiền năo) tạo
nghiệp, sanh ra tự tánh của Ngũ Thủ Uẩn. Từ
đấy một mực chẳng tránh khỏi trạng huống
để mặc cho sức Hoặc nghiệp tự tại
xoay chuyển, một mực đều là tự tánh đổi
dời, chẳng quay trở lại. V́ thế, gọi là “Hành Khổ tánh”. Giống
như Hoàng Hà từ chỗ phát nguyên (chỗ bắt nguồn)
bèn bắt đầu chảy thành gịng, từ đó cuồn
cuộn bất tuyệt tuôn xuống vùng hạ lưu,
chưa hề bị cắt đứt. Chỉ có bậc đă
đạt được địa vị thánh, dùng Vô Ngă
Không Huệ để cắt đứt nó th́ mới bắt
đầu đi ngược gịng. Trước khi xuất
hiện đối trị, một mực luôn dời đổi.
Cũng là từ một niệm tưởng lầm “có Ngă”, sau
đấy, do sức mạnh của Ngă Chấp mà khởi
Hoặc tạo nghiệp, chưa hề ngưng nghỉ. Do
vậy, khi cái quả xuất hiện, nghiễm nhiên vẫn
do sức mạnh ấy dẫn khởi các Uẩn sau
đó. Liên tục chẳng ngừng trong mỗi sát-na như
thế, trước khi bị cắt đứt, nó sẽ
tạo thành Hành Khổ tánh.
Nói chung, Thủ Uẩn
là năm loại vật dụng để tạo khổ,
nên nói là “chúng khổ sở tập”
(các khổ nhóm họp).
Lại xét theo
phương diện bất tịnh. Từ một niệm
lầm loạn, sau đấy, sẽ đánh mất sự
thanh tịnh, hoàn toàn thuộc vào trạng thái của kẻ
điên cuồng, ngỡ cái chẳng có là có, ngỡ cái có là
chẳng có. Do sức mạnh của sự chấp trước
Ngă và Ngă Sở mà không ngừng dấy lên các suy nghĩ lầm
loạn và chấp trước lầm loạn. Trong lúc bị
cái Ngă riêng tư và ḷng ham muốn riêng tư sai khiến,
đă dấy lên các loại phiền năo và nghiệp, những
thứ ấy đều là sự tạp nhiễm nơi
cái nhân. Quả báo xuất hiện từ sức
mê loạn ấy làm sao có tự tánh thanh tịnh cho
được? V́ thế, cái quả được gọi
là “sanh tạp nhiễm”. Nói
chung, trạng huống từ nhân cho đến quả
đều là tạp nhiễm, điều này được
gọi là “hết thảy đều
bất tịnh”. Do nơi nhân, chỉ có thể phát sanh phiền
năo tạp nhiễm và nghiệp tạp nhiễm, cho nên bất
tịnh; nơi quả th́ luân hồi, sanh trong tam giới,
nên gọi là “sanh bất tịnh”.
Hoặc nh́n từ hai phương diện thân và tâm, thân
người do ba mươi sáu vật bất tịnh hợp
thành, thuần túy bất tịnh. Trong tâm, không ǵ chẳng phải
là chấp trước cái Ngă riêng tư, dấy
khởi các loại phiền năo tham, sân, si… cũng như
phát khởi các hành động cầu lợi cho chính ḿnh.
Đấy chính là trạng thái phiền năo và nghiệp đều
bất tịnh.
10.1.1.2. Ư nghĩa bao hàm trong thí dụ về cái ách và
sự trói buộc
“Ách
phược” (扼縛) là giống như cái ách cày đè trên cổ con trâu,
một mực lôi con trâu tiến về trước. Đấy
là h́nh dung uẩn thân (thân do Ngũ Uẩn hợp thành) một
mực tùy ư xoay chuyển theo sức của Hoặc nghiệp,
là trạng thái khổ sở chẳng có mảy may tự tại.
Ví như kẻ
tù tội bị giam giữ trong ngục tù, bất cứ hành
vi ǵ cũng đều chẳng được tự tại,
phải chịu trừng phạt, bị sai khiến làm lao
dịch v.v… Cái thân Ngũ Uẩn của chúng ta bị sức
Hoặc nghiệp khống chế, một mực ở
trong t́nh trạng sanh tử khổ sở. Nh́n theo
phương diện đại lược th́ là không ngừng
thọ thân trong tam giới, sanh rồi chết, chết rồi
lại sanh, chẳng có cách nào thoát khỏi trạng huống
sanh tử. Xét tỉ mỉ, một mực thuộc trong sự
dời đổi của các Uẩn;
ở trong ấy, sẽ xuất hiện các nỗi khổ sanh, lăo, bệnh,
chết, yêu thương mà phải chia ĺa, oán ghét mà phải
tụ hội, cầu chẳng được v.v…, gặp
phải những cảnh giới hợp ư, chẳng hợp
ư, trung dung (không vừa ḷng,
không trái ư) v.v… không ngừng dấy lên tham,
sân, si. Nói chung, trạng huống nơi cái nhân là trong các Uẩn
đều có chủng tử phiền năo theo sát, cho nên chẳng
ngừng hiện hành phiền năo, tạo tác cái nhân của sự
khổ. Trạng huống nơi quả là do cái thân Ngũ Uẩn bị các chủng tử khổ theo sát nút,
không ngừng xuất hiện các thứ khổ. Tất cả
các hành vi đều do sức Hoặc nghiệp khống chế,
tất cả quả báo đều do sức Hoặc nghiệp
tạo tác, hoàn toàn là trạng huống tự tại xoay chuyển bởi nó (sức Hoặc nghiệp).
Giống như một
thớt ngựa bị dây cương khống chế, bị
roi quật, chỉ có thể không ngừng tiến về
trước, luôn bị người khác tùy ư xoay
chuyển. Lại giống như tù nhân hứng chịu h́nh
phạt, thồ đá đi về phía trước, chẳng
có mảy may thong dong, thảnh thơi nào! Lại như chiếc
thuyền nhỏ trôi giạt theo gió trong biển cả, sóng
gió hung tợn, gấp rút, mạnh mẽ, chẳng ngừng
một sát-na nào. Thuyền không ngừng bị sóng gió xô
đẩy, chẳng được tự tại tí nào. Lại
giống như một chiếc xe hơi loại nhỏ bị hư thắng, một mực chạy
như điên, cuối cùng lao xuống vách núi. Cũng là do
bị sức Hoặc nghiệp chi phối, Uẩn thân chẳng
thể không tiến về trước; sau khi tạm thời
an ổn, nhất định sẽ lao xuống vách núi.
Đấy là kiếp sống luân hồi, luôn không ngừng
tiến về trước, cuối cùng rơi khỏi vách
núi! Trạng huống của sức Hoặc nghiệp giống
như chiếc xe một mực chạy nhanh, bỗng xuất
hiện trạng huống hiểm ác, nhân duyên tụ tập
bèn rơi xuống vách núi, xe hủy, người chết.
Đă thế, chẳng phải là rơi xuống vách núi một
lần, đă rơi xuống vách núi rồi lại xuất
hiện một chiếc xe chạy tiến về trước,
sau đó lại đụng xe, lại bị hủy hoại.
Lại xuất hiện một chiếc xe khác v.v… Cứ
như thế chẳng hết, chẳng xong, một mực
ở trong t́nh trạng bị khống chế. Vào thời cổ,
chỉ có thể dùng h́nh tượng cái ách
cày của con trâu để thí dụ, ngày nay th́ có đủ
các loại, các dạng thí dụ. Nói chung là chính ḿnh chẳng
tự tại, hết thảy đều là trạng huống
mặc t́nh xoay chuyển theo thứ khác, toàn là trạng thái
khổ sở. Do như vậy bèn liễu giải, trạng
huống Ngũ Thủ Uẩn liên tục quả thật
khó ḷng chịu đựng. Đó chính bệnh trạng lớn
nhất trên cơi đời.
Trên đây là nói
đến sự tuần hoàn do không ngừng bị sức
Hoặc nghiệp hăm trong nỗi khổ, rơi vào trong sự
kiềm chế của sự khổ, chẳng có cách nào
thoát ra, nên gọi là “ách phược”.
Đây cũng là h́nh dung Hành Khổ, thuộc vào trạng huống một mực bị sức Hoặc nghiệp tự tại xoay chuyển. Phải từ trong ấy mà tỉnh
ngộ: Chúng ta từ vô thỉ cho đến đời này
bèn ngưng dứt, đă trải qua thời kiếp lâu dài
chẳng thấy bờ mé, một mực thuộc trong Hành
Khổ bị sức Hoặc nghiệp tự tại xoay
chuyển, chẳng tự tại. Đấy là cội nguồn
phát sanh hết thảy các nỗi khổ sanh tử. Trong ấy
có nỗi hoạn nạn cực đại là sanh tử, chẳng
giống như nỗi khổ sanh tử trong một khoảng
thời gian ngắn ngủi trong các t́nh h́nh thông thường
như ta thường nói; nó được gọi là Sanh Tử
Khổ Hải (biển khổ sanh tử). Nếu chẳng
t́m được phương pháp để giải trừ,
đối trị, sẽ chịu khổ vô hạn giống
hệt như vậy. Nếu chẳng thể dùng tự lực
để giải trừ cơ chế vận hành này, sẽ
vẫn bị nó lôi kéo đi theo hướng duyên khởi ấy. Đương nhiên là vận mạng
thuần khổ, chẳng lạc, chớ nên mong mỏi sẽ
có thể đạt được sự an lạc chân thật
trong ấy!
Chúng ta ắt cần phải tỉnh táo nhận biết điều này
th́ vận mạng mới có thể phát sanh chuyển
biến. Phương hướng để tiến hành,
phương hướng để nỗ lực sẽ biến
thành “phải giải trừ Ngũ Thủ Uẩn”, chẳng
phải là mong mỏi đạt được an lạc
nơi uẩn thể. Đấy chỉ là vọng tưởng
của kẻ si mà thôi! Một phen quyết đoán này sẽ
khiến cho chúng ta phát sanh cái tâm chán ĺa, mà cũng là mong thoát
ĺa nỗi khổ liên tục do Ngũ Thủ Uẩn.
10.1.1.3. Ư nghĩa bao hàm trong thí dụ về ung nhọt,
ghẻ độc
Khi ghẻ nhọt
chạm phải nước nóng, sự cảm nhận khổ
sở kịch liệt sẽ khống chế gắt gao
thân tâm, đau đớn không có cách nào chịu đựng
nổi! Đấy là thí dụ về trạng thái Khổ
Khổ. Nếu chạm vào nước lạnh, sẽ chẳng
bị nỗi đau đớn kịch liệt bức bách,
cảm thấy thoải mái, vui sướng. Trên
thực tế, chỉ là sự cảm nhận sai lầm khi Khổ
Thọ được giảm nhẹ. Đấy là thí dụ
về Hoại Khổ. Nhân duyên ḥa hợp bèn tạm thời
xuất hiện cảm nhận sai lầm là nỗi đau
khổ giảm nhẹ. Hễ nhân duyên tan tác, lại bị
hăm vào nỗi khổ. Nó có tánh chất diệt hoại, chẳng
phải là sự an lạc chân thật. Hơn nữa, khi ghẻ nhọt
chưa chạm vào nước nóng hay nước lạnh, cảm
giác rất b́nh lặng; trên thực tế, sự tồn
tại của vi trùng chẳng giảm bớt mảy may, căn bản
là chẳng giải trừ. Chỉ cần gốc bệnh
c̣n ẩn tàng, hễ gặp duyên, nó sẽ hiện hành Khổ
Khổ và Hoại Khổ chẳng gián đoạn. Do vậy,
hiện ra trạng thái tợ hồ b́nh lặng, thực tế
là trạng thái chờ đợi sự khổ bùng phát.
Đấy là thí dụ về Hành Khổ, từ đầu
đến cuối đều thuộc trong trạng thái của
cái nhân gây khổ, đương nhiên là tánh Khổ.
Nay quan sát thân Ngũ
Thủ Uẩn của ta và người khác, phải xác nhận
nó đích xác giống như ung nhọt, ghẻ lở. Có thể
phóng đại ung nhọt, ghẻ lở to một khoảng
thước bảy, nặng hơn một trăm cân, đại
khái là to bằng một người, phía ngoài bọc bằng
một tầng da mỏng lét, bên trong là cơ chế phát
sanh sự khổ. Nó bao gồm trạng huống của một
đống lớn tế bào nưng mủ
về mặt sinh lư, cùng với các thứ
chủng tử phiền năo và các thứ chủng tử khổ nơi tâm lư bám theo sát nút. Do vậy bèn biết: Trạng huống của nó
là một lớp da bên ngoài bọc lấy các thứ khổ
nhân độc tố, một mực dùng A Lại Da Thức
làm cơ chế huân tập, cất giữ chủng tử, thuận
theo sức duyên khởi mà hiển hiện chẳng dứt, khó thể suy lường được!
Một mai nhân duyên
của sự khổ chín muồi, nơi ung nhọt sẽ
phát sanh nỗi khổ to lớn hết sức kịch liệt
đối với thân tâm. Khi đó, hết sức khó thể
chịu đựng, nỗi khổ ḱm kẹp chính ḿnh, chẳng
có cách nào thoát khỏi. Có lúc các nhân duyên của phước
nghiệp chín muồi, sẽ cảm thấy có những cảm
giác vui sướng, tức Lạc Thọ,
nỗi thống khổ giảm bớt, khiến cho người
ta có cảm giác sai lầm là đang vui sướng. Nhưng
đột nhiên lại giống như ghẻ nhọt chạm
phải nước nóng, phát sanh Khổ Thọ (cảm nhận
sự đau khổ) dữ dội. Có lúc cảm thấy rất
b́nh thản, chẳng khổ, chẳng vui, cảm thấy
như thế đó. Nhưng điều này cũng chẳng
an ổn, v́ chủng tử phiền năo và chủng tử khổ
trong khối ung nhọt to lớn chẳng giải trừ
tí nào, chúng vẫn không ngừng tiếp nối, đang chờ
đợi nhân duyên. Khi bỗng dưng gặp phải cảnh
vừa ư hay trái ư, sẽ lại phát sanh tham, sân, lại bắt
đầu một loạt khổ nhân mới. Hoặc là khi
gặp gỡ các nhân duyên, thân thể lập tức ngă bệnh, xuất
hiện sự suy lăo, khó coi, hoặc là tử vong v.v… sự
khổ nạn to lớn bám chặt nơi tự tâm, chẳng
có cách nào thoát khỏi. Đó là trạng huống của Khổ
Thọ. Hoặc là bỗng dưng gặp các nỗi khổ
như yêu thương mà phải chia ĺa, oán ghét mà cứ phải
gặp gỡ, chiến tranh, ôn dịch, nạn đói v.v… từng
đợt khổ sở, ưu sầu đưa tới, cảm
thấy sống một ngày bằng cả năm, khi nào mới
có thể thoát khỏi? Có khi lại nghênh đón mùa Xuân, ánh nắng
tươi sáng, hoan ca, nói cười v.v… dường
như có đôi chút vui sướng. Trong đời người, thường
có t́nh trạng này, thật ra là Hoại Khổ. V́ mỗi
điều đều là giả tướng do nhân duyên duy
tŕ, hễ nhân duyên qua rồi, sẽ
lại rất tịch mịch, rất bất đắc
dĩ, chẳng có ư nghĩa ǵ, lại hăm trong ưu tư,
khổ sở. Hoặc là một khi thành công, hạnh phúc,
t́nh yêu v.v… trong quá khứ tan biến, những nỗi ưu
tư, khổ sở dữ dội khó thể chịu đựng
sẽ khống chế chính ḿnh. V́ thế, những điều
khoái lạc trong quá khứ đều là Hoại Khổ.
Đấy là trạng huống trong nhân gian.
Lại nói đến
chuyện lên trời hưởng lạc, bất quá cũng
chỉ là giảm chậm nỗi đau khổ trong một
thời gian khá dài, chẳng bị bức bách, sầu năo dữ
dội cho lắm! Ngay trong lúc họ đắc ư vênh vang,
tưng bừng hưởng lạc, bỗng dưng nhân
duyên thay đổi, quang cảnh [đắc ư, khoái lạc]
một thời ngay lập tức chẳng c̣n nữa, xuất
hiện nỗi khổ suy diệt to đùng. Khi ấy, hết
sức sợ hăi, sắp từ thiên giới đọa xuống,
t́nh huống ngày càng ảm đạm, thê lương, toàn bộ
các loại thọ dụng ngay lập tức chẳng c̣n nữa,
hết sức khó chịu đựng, sau đấy, rơi
vèo xuống hạ giới! Đáng thương nhất là
trở thành củi mới trong địa ngục Vô Gián, ghẻ
độc phát tác kịch liệt, các chủng tử địa
ngục trong ấy hiện hành, không ngừng bị lửa
mạnh thống khổ thiêu đốt triền miên vô số năm tháng không bờ bến, sống những
ngày tháng tối tăm, thê thảm chẳng nỡ nh́n. Cho tới
khi đỡ hơn đôi chút, sanh vào súc sanh đạo, hoặc
làm người, nỗi khổ cùng cực giảm nhẹ đôi chút,
nhưng rồi lại rất nhanh chóng đọa xuống.
Cũng giống như vậy, do v́ chẳng giải trừ
Tập Đế, các chủng tử do Ngă Chấp đă huân tập
thành sẽ không ngừng hiện hành; sau đấy, lại
huân tập thành chủng tử khác, chúng nó lại hiện
hành, một mực trôi lăn trong Hoặc
nghiệp khổ! Uẩn cũng là diễn biến theo từng
giai đoạn, là một thứ trạng huống khổ
sở to lớn dường ấy!
Sau khi đă lư giải
như vậy, sẽ biết bản thân ta là một thứ ung nhọt
to, một mực chẳng chữa lành! Nó không
ngừng biến đổi, đổi mới đủ vẻ,
xuất hiện các nỗi khổ chẳng cùng cực trong
sáu đường. Đấy chính là chỗ phát sanh sự
chán ghét. Một khi đă hiểu rơ Hành Khổ và Ngũ Thủ Uẩn Khổ,
sẽ có thể phát sanh ḷng chán ĺa triệt để.
10.1.1.4. Ư nghĩa bao hàm trong “căn bản vô
nghĩa lợi”
Từ một niệm
vô minh, sau khi đă trở thành Ngũ Thủ Uẩn, nó là tự
tánh của Hành Khổ, trở thành căn bản để
phát sanh vô lượng Khổ Khổ và Hoại Khổ. Nó
thuần là khổ nhân (cái nhân tạo ra khổ), thuần là dụng cụ xuất sanh khổ, tạo ra khổ. V́ thế, cũng chẳng có một
tí nghĩa lợi nào. Nói cách khác, nếu có thể đạt
được một chút an lạc chân thật trong ấy,
vậy th́ có thể định nghĩa nó c̣n có nghĩa lợi
chân thật, nhưng một tí an lạc chân thật cũng
chẳng đạt được. V́ thế, nó lại giống
như biển khổ thuần túy, lại giống như một
nhà xí thuần túy ô uế, hoặc vùng đất của la-sát, nên gọi là “chốn
khổ nạn vĩnh viễn”. Từ đây, có thể
thấy là căn bản chẳng có nghĩa lợi! Mong
cầu thật nghĩa trong ấy th́ đúng là kẻ si nói
mớ, mong mỏi những thứ tốt đẹp sẽ
xuất hiện trong ấy th́ hoàn toàn là suy tưởng
điên đảo, rốt cuộc chẳng thể thực
hiện được! Từ trong ấy, chúng ta phải
thấy thấu suốt triệt để, phát sanh cái tâm
chán ĺa triệt để.
10.1.1.5. Ư nghĩa bao hàm trong câu “trên là cho đến
thân chư thiên cũng đều như thế”
Nh́n theo trạng
huống toàn thể của luân hồi, [sẽ thấy] Ngũ
Thủ Uẩn tiếp nối chẳng ngừng. Ngay như
lên đến thiên giới, trạng huống này cũng chẳng
biến đổi, chỉ là trong toàn thể quá tŕnh lưu
chuyển, nó sẽ ngưng nghỉ tạm thời một
khoảng thời gian đó thôi. [Khi giai
đoạn ngưng nghỉ ấy] qua đi, sẽ lại
phát sanh Khổ Khổ. Bởi lẽ, thăng thiên chỉ là do sức mạnh
của phước nghiệp khiến cho Khổ Khổ tạm thời ngưng dứt, chẳng phát tác dữ dội trong một khoảng
thời gian, nhưng về căn bản là chẳng lành bệnh!
Nh́n từ phía Ngũ Thủ Uẩn đă h́nh thành, họ
(chư thiên) một mực mang bệnh của Ngũ Thủ
Uẩn, chưa hề lành bệnh. Ngă Chấp và phiền
năo trong ấy chẳng đoạn mảy may, luôn luôn là trạng
thái chủng tử phiền năo và chủng tử khổ một
mực theo đuổi. Do vậy, chắc chắn là sẽ
có hậu uẩn (thân Ngũ Uẩn trong đời kế
tiếp). T́nh trạng bệnh tật ấy chẳng tiêu trừ
chút nào, chắc chắn là sẽ diễn biến thành nỗi
khổ vô cùng vô tận.
Thân của
chư thiên giống như tạm thời ngủ say một
khoảng thời gian trước khi đọa lạc. Khi
sức nhân duyên duy tŕ [cái thân ấy] tiêu tan, nói theo chư
thiên trong Dục Giới, sẽ
nhanh chóng xuất hiện “suy tướng”[7]. Đó là nỗi khổ to lớn hết sức khó chịu
đựng được, sau đấy sẽ đọa
lạc. Nh́n từ Sắc Giới Thiên trở lên, họ sẽ
nhanh chóng xuất Định. Do chẳng có Định lực,
sẽ đọa lạc xuống cơi dưới. Đó là
trạng thái của ghẻ độc [âm ỉ], chỉ là
tạm thời dùng nước lạnh xoa lên chốc lát, do
thực hiện sự bảo vệ rất tốt, cho nên
nó tạm thời chẳng phát tác. Ngày nào đó, ĺa khỏi
sự bảo vệ, chạm phải nước nóng, Khổ
Thọ sẽ ngay lập tức bộc phát. Từ đây
có thể thấy: Thân trời và thân địa ngục
cũng đều ở trong
t́nh trạng bệnh khổ như nhau; bất
quá, thân trời thuộc lúc [bệnh t́nh] chẳng phát
tác, c̣n thân địa ngục nhằm lúc nó phát tác kịch
liệt! Nhưng khi thân trời qua đi, sẽ là thân địa
ngục, v́ rốt cuộc [bệnh khổ] sẽ phát tác, lại
c̣n phát tác rất mạnh. Do đó, nh́n từ toàn thể quá
tŕnh diễn biến, có thể nói là thân trời và thân địa
ngục đều đáng sợ như nhau! Giống
như thấy một người mang chứng bệnh ung
thư đang phát tác dữ dội, cảm thấy người
ấy hết sức đáng thương, nhưng một người
khác có cùng bệnh chứng giống y hệt, tuy chưa phát
bệnh, nhưng quan sát từ cơ chế duyên khởi, [sẽ
biết là] chẳng mấy chốc, [người đó] cũng rơi vào t́nh trạng đó.
Hai kẻ ấy giống nhau, bất quá sớm hay trễ một
bước đó thôi!
Chúng ta phải có
tầm nh́n dài lâu, nh́n thấy cơ chế tạo tác Tam Khổ
của Ngũ Thủ Uẩn; một
khi đă thấy rơ toàn thể quá tŕnh phát triển của
nó, sẽ biết thân trời và thân địa ngục giống
nhau. V́ sao nói như vậy? Thân địa ngục tạm
thời đọa lạc vào chỗ khổ sở nhất,
khi đă qua rồi, sẽ có thể quay lại làm người, làm trời,
nhưng chỉ cần chẳng xuất hiện cách đối
trị bằng Vô Ngă Không Huệ, vấn đề sẽ
chẳng giải quyết. Có thể thấy thân địa
ngục tạm thời phát tác dữ dội, nhưng trong
nhiều kiếp sau, lại có thể trở về thành
thân người, thân trời. Thăng thiên mấy vạn năm,
thậm chí bao nhiêu kiếp, sau đó lại đọa lạc,
rồi lại thăng lên… Nh́n vào toàn thể quá tŕnh, [sẽ
thấy] là họ tạm thời đọa xuống, [thời
gian đọa lạc] qua đi, sẽ có thể thăng
lên trở lại. Họ hiện thời đang ở trong t́nh trạng
Khổ Khổ, sau đó, sẽ
lại xuất hiện trạng thái Hoại Khổ và Hành
Khổ. Thân trời hiện thời thuộc trạng thái
Hoại Khổ hoặc Hành Khổ, nhưng chắc chắn
là bao nhiêu năm hoặc bao nhiêu kiếp mai sau, sẽ rơi
vào trạng thái Khổ Khổ. Nh́n vào toàn thể trạng
huống, bất quá là tạm thời một đằng ở
chân sóng, một đằng ở đỉnh sóng, chứ nh́n vào toàn thể trạng thái của sóng luân hồi,
sẽ thấy chẳng khác biệt! Vận
mạng luân hồi của chư thiên và vận mạng luân
hồi của chúng sanh trong địa ngục, nh́n vào trạng thái trong tương
lai, đều là như nhau!
Chúng ta đừng
nên ảo tưởng trong đoàn tàu khổ sở ấy sẽ
có trạng thái tốt đẹp đáng nói! Chỉ cần
không văng sanh Tịnh Độ, rơi vào trong luân hồi, bất
luận tạm thời là trạng huống ǵ đi nữa,
nh́n theo toàn thể, sẽ thấy đều là gịng luân hồi
khổ sở! Xét theo từng giai đoạn nhỏ, chúng
ta cảm thấy hiện thời tốt đẹp lắm,
có hạnh phúc, vui sướng, nhưng bậc trí thấu
triệt nỗi khổ thủ uẩn, sẽ
thấy giống như Tứ Bách Luận đă nói, “bậc trí quán cơi trời như
địa ngục”, cùng một kiểu, một dạng
như nhau! Ví như nh́n vào người trên địa cầu,
nh́n theo từng giai đoạn nhỏ, bèn có các loại trạng
thái sang, hèn, cao, thấp, nghèo, giàu, khổ, vui v.v… Nhưng
nh́n vào trạng huống luân hồi chung của mỗi hữu
t́nh, sẽ phát hiện “đều khổ như nhau!” Bất
cứ hữu t́nh nào cũng đă đều vô số lần
làm thiên vương, Chuyển Luân Vương, cũng đă
vô số lần vào địa ngục, trạng huống y
hệt như nhau! Đấy là trông thấy toàn thể tam
hữu (tam giới) hoàn toàn thuộc vào trạng huống
tam khổ (Khổ Khổ, Hoại Khổ, và Hành Khổ) tiếp
nối chẳng ngừng, toàn là trạng huống luân hồi. Từ
đó, sẽ có thể phát khởi cái tâm ghét trọn khắp tam hữu, tâm ghét trọn khắp
luân hồi.
10.1.2. Thật Tu
Chia thành hai phần:
1) Khổ quán, bất
tịnh quán v.v…
2) Phát nguyện.
10.1.2.1. Khổ Quán, Bất Tịnh Quán…
(Luận) Hành giả
nhược hành, nhược tọa, nhược thùy,
nhược giác, thường quán thử thân, duy khổ vô
lạc, thâm sanh yếm ly.
(論)行者若行若坐,若睡若覺,常觀此身唯苦無樂深生厭離。
(Luận: Hành giả
đi, ngồi, ngủ, thức, thường quán thân này chỉ
là khổ, chẳng lạc, sanh ḷng chán ĺa sâu xa).
“Thử thân” (Thân này) chỉ Ngũ Thủ Uẩn.
Sau khi đă liễu giải lư thú “khổ, vô lạc”, phải thường xuyên quán
hạnh, cũng tức là trong khi đi, đứng, ngồi,
nằm, ngủ nghê, tỉnh giấc v.v… trong hết
thảy các thời điểm và vị trí, trong hết thảy
oai nghi, đều phải quan sát tánh của Ngũ Thủ
Uẩn thuần là khổ, là cội nguồn của đại
hoạn (tai ương to lớn), là cội nguồn của vô lượng khổ. Hăy nên quan sát nó chính là pháp
đáng chán ghét nhất trên cơi đời, phát khởi ḷng
chán ghét đối với tự tánh của Khổ Uẩn,
tức là có đầy đủ ḷng chán ghét. Trong kinh luận,
chư Phật, Bồ Tát ở đă dạy rơ ràng: Tâm chán
ĺa hoặc tâm xuất ly là đối
với tự tánh của Thủ Uẩn, sẽ phát sanh ḷng chán, lo. Liễu tri rành rẽ, xác đáng nó chính là cội nguồn của nỗi khổ sanh
tử to lớn. Chúng ta thường nói “yếm hoạn thử thân” (chán ngán, lo ngại cái
thân này), “yếm ly sanh tử”
(chán ĺa sanh tử), “tùng luân hồi
trung giải thoát” (giải thoát khỏi luân hồi) v.v…
đều nhằm nói lên ư này.
Chúng sanh do một
niệm mê mất mà nẩy sanh Ngă Kiến, h́nh thành tự
tánh của Thủ Uẩn. Từ
đấy, niệm nào cũng tiếp nối, từ đầu
đến cuối, không có cách nào thoát khỏi trạng huống bị
nghiệp lực tự do xoay chuyển, một mực
đều là khổ nhân (cái nhân gây ra khổ), trạng thái
khổ, không ngừng hứng chịu cuộc sống luân hồi
chẳng hết, chẳng xong, phát triển thành biển khổ
không ngằn mé. Đă thấu triệt lư thú trên đây, sẽ biết
ghẻ độc ở ngay nơi đây, luân hồi ở
ngay nơi đây, thân chính ḿnh vướng phải căn bệnh
lớn nhất tên là “Ngũ Thủ
Uẩn bệnh”, [chính ḿnh] cũng là tù nhân đáng thương nhất. Hễ
nghĩ đến thể tánh của thân thể này, bèn sanh
ḷng chán ĺa rất lớn, mong nhanh chóng giải quyết vấn
đề này. Nếu không, khổ sở, ương hoạn
sẽ vô biên!
Giống như
thế đó, đă hiểu đạo lư trên đây rồi,
lại tác quán, có thể nghĩ tưởng: Cái thân này là
căn bệnh lớn nhất, trong ấy, chứa
đầy chủng tử phiền năo, chủng tử khổ. Hễ
gặp duyên, chúng nó sẽ dấy lên hiện hành, lại có
thể chiêu cảm cuộc sống luân hồi kế tiếp.
Giống như một gă tù nhân, biết chính ḿnh đang ở
trong trại tập trung của tam giới, bị phán xử
chịu hành h́nh luân hồi không kỳ hạn, vào những
lúc cố định hay bất ngờ, sẽ gặp phải
các nỗi khổ lớn, nhỏ, dài, ngắn v.v… đủ
h́nh, đủ vẻ! Gă ấy
nhất tâm suy tưởng: “Một mực là thuần khổ
chẳng vui như thế, đến khi nào ta mới có thể
vượt thoát?” Cũng giống như vậy, một
ḷng mong vượt thoát. Khi ấy, đối với hết thảy, chẳng
có một tí tâm ưa thích nào, chẳng ôm ấp bất cứ
ảo tưởng nào, biết ngoài khổ ra th́ vẫn là
khổ! Tạm thời ăn một bữa ngon lành, sau
đấy lại bị roi da hầu hạ. Tạm thời
ngủ một giấc, sau đấy, lại
bị đánh đấm. Đấy là thọ báo vô cùng vô tận,
vĩnh viễn chịu khổ không ngằn hạn. Sự
vui tạm thời chỉ bất quá cho quư vị được
giảm bớt [nỗi thống khổ], đến lần
sau, sẽ càng khổ hơn. Tạm thời ĺa bỏ
cũng chẳng phải là sự an ổn chân thật, mà là
nghênh tiếp một trận khổ của lần sau. Sau khi
đă liễu giải như vậy, thời thời khắc
khắc đều phải quan sát “chỉ có khổ, chẳng
vui”, sanh ḷng chán ghét đối với toàn thể cuộc
sống luân hồi, sanh ḷng chán ghét đối với hết
thảy các pháp trong luân hồi.
Giống như
trong một câu chuyện, trong quá khứ ở phương
Bắc của Tây Tạng, Tán-ba (糌粑, zanba)[8]
rất hiếm quư, rất khó có để ăn, người
dân nơi đó đa số ăn củ cải[9] để sống
sót. Trẻ nhỏ bất luận ăn củ cải
tươi hay củ cải khô, đều
nói: “Lại là củ cải, lại củ cải nữa!”
Giống như vậy, pháp luân hồi thuần khổ chẳng
vui, phải luôn luôn nhắc nhở chính ḿnh: “Lại là pháp sanh
tử, lại là pháp sanh tử. Khi nào ta sẽ có thể từ
trong lao ngục tam giới thoát ra, sanh vào chỗ an lạc
thanh tịnh?” Nhất tâm mong cầu giải thoát khỏi Ngũ
Thủ Uẩn như vậy, th́ gọi là Xuất Ly Tâm, bắt
đầu mong thoát ĺa luân hồi, chẳng phải là mong cầu
điều ǵ trong ấy. Có cái tâm ấy, lại phối hợp
với giáo pháp Tịnh Độ, biết A Di Đà Phật
từ vô lượng kiếp tới nay, do đại nguyện
và đại hạnh, đă thành tựu cơi Tịnh
Độ ở ngoài tam giới, dùng phương tiện
đơn giản và dễ dàng tột bậc để tiếp dẫn
chúng sanh về đó, ḥng tránh khỏi nỗi ưu hoạn
sanh tử to lớn. Do vậy, nhất tâm sanh về thế
giới Cực Lạc.
(Luận) Túng sử thê
pḥng bất năng đốn đoạn, tiệm tiệm
sanh yếm, tác thất chủng Bất Tịnh Quán.
(論)縱使妻房不能頓斷,漸漸生厭作七種不淨觀。
(Luận:
Dẫu chẳng thể đoạn ngay chuyện ân ái, hăy dần
dần sanh ḷng ghét bỏ, hành bảy thứ Bất Tịnh
Quán).
Ái dục giữa
vợ chồng cũng là một mối hệ lụy rất
lớn, trói buộc con người trong biển khổ Sa
Bà. Nói theo nguyên tắc, dẫu chẳng thể nhanh chóng dứt
bỏ chuyện ân ái giữa vợ chồng, cũng phải
dần dần sanh ḷng chán nhàm, hăy hành bảy thứ Bất
Tịnh Quán. Yêu hay ghét đều dựa trên cách nh́n! Nếu
nghĩ thân thể của đối phương rất khả
ái, rất thanh tịnh, sẽ sanh ḷng yêu mến. Thấy mọi
phương diện đều là bất tịnh, sẽ
sanh ḷng chán nhàm. V́ thế, Bất Tịnh Quán là nhân, sanh ḷng
chán ngán là quả. Từ các thứ quán
duyên, sẽ sanh ḷng chán nhàm. Tùy thuộc nhiều lần tập
quen, tâm chán nhàm cũng sẽ dần dần tăng trưởng. Do
vậy, có thể dần dần thoát ly dâm dục, hướng
về cơi nước hoa sen tịnh khiết.
Do chẳng thấy
rơ cội nguồn của thân thể đối phương,
hoàn cảnh sanh nở, quá tŕnh trước và sau của sự
thành tựu thân thể, tử vong v.v… lầm tưởng
thân thể của đối phương rất đáng
yêu, bị sức mạnh của sự tác ư (suy nghĩ, dấy
lên ư niệm) phi lư che chắn, sẽ chẳng
thấy đó là ô uế. Nay lại thấy các thứ bất
tịnh nơi đối phương th́ gọi là “tác Bất Tịnh Quán”. Nói
chung là quán thân thể của đối phương bất
tịnh.
(Luận) Nhất giả,
quán thử dâm dục thân tùng tham ái phiền năo sanh, tức
thị chủng tử bất tịnh.
(論)一者觀此淫欲身從貪愛煩惱生,即是種子不淨。
(Luận: Một là quán cái thân
dâm dục này sanh từ phiền năo tham ái, tức là chủng
tử bất tịnh).
Nếu chẳng liễu
giải nguồn cội của thân thể đối
phương, sẽ nghĩ đấy là thân thể thiên nhiên
thuần khiết. Hoặc là về căn bản, do bị
ngăn che bởi cái tâm chẳng nghĩ ngợi, cứ nghĩ nó (thân
thể của đối phương) đẹp đẽ,
tốt lành mà không ngừng sanh tham. Nay hăy một lần nữa
quan sát thân thể này từ đâu mà có. Ví như đối
phương là nữ, sẽ thấy thân thể của cô
ta do dâm dục mà sanh, do phiền năo tham ái mà có. Cũng tức
là trong giai đoạn Trung Ấm, trông thấy cha mẹ
ăn nằm, đối với cha sanh ḷng tham dục, muốn
giao hội với ông ta, bài xích mẹ. Do một niệm tâm
ấy, bèn vào trong thai mẹ, trở thành nữ nhân. Nh́n như
vậy, cô ta là do cái tâm tham ái ô uế mà có! Đấy là “chủng tử bất tịnh”
hoặc “nhân bất tịnh”.
(Luận) Nhị giả,
phụ mẫu giao hội chi thời, xích bạch ḥa hợp,
tức thị thọ sanh bất tịnh.
(論)二者父母交會之時赤白和合,即是受生不淨。
(Luận:
Hai là khi phụ mẫu giao hội, trắng đỏ ḥa hợp,
tức là thọ sanh bất tịnh).
Thứ hai, quan sát
hoàn cảnh khi đối phương nhập thai như thế
nào? Trong lúc cha mẹ đang gần gũi, tinh và huyết
ḥa hợp, nghiệp thức nhập vào tinh huyết. Từ
đấy thai nghén, sanh ra thân thể. Đấy là chỗ
nương vào, hoặc là hoàn cảnh thọ sanh bất tịnh.
Ví như gịi bọ thọ sanh trong phân nhơ, [chúng nó] thai
nghén sanh nở trong ấy. Nghĩ đến những thứ
thọ sanh trong tinh huyết ô uế dường ấy, sẽ biết chỗ để nương vào ḥng thọ
sanh rất bất tịnh!
(Luận) Tam giả, mẫu
thai trung tại sanh tạng hạ, cư thục tạng
thượng, tức thị trụ xứ bất tịnh.
(論)三者母胎中在生藏下居熟藏上,即是住處不淨。
(Luận: Ba là ở trong thai mẹ,
ở dưới sanh tạng, ở trên thục tạng, tức
là trụ xứ bất tịnh).
Thứ ba, quan sát
hoàn cảnh trụ thai của đối phương sau khi
đă thọ sanh, nghĩ [đối phương]
được sanh nở từ hoàn cảnh ô uế.
Cũng tức là ở trong thai mẹ th́ ở dưới “sanh tạng” tức
là phía dưới bao tử, ở trên “thục
tạng”, tức là phía trên ruột. Trụ xứ hết sức ô uế, tối
tăm, chật hẹp, chẳng thấy một chút ánh sáng
nào. Hơn nữa, thường xuyên bị chèn ép. Mẹ hoạt
động đôi chút, ví như đi lại, xoay eo, nằm
ngủ, lật người v.v… sẽ đều khiến
cho thai nhi chịu khổ dữ dội. Hơn nữa, bên trong thân mẹ hết sức hôi thối, bẩn thỉu. Dùng thân lợn để thí dụ, khi giết heo,
mổ phanh bụng nó ra, ngay lập tức phát ra mùi hôi thối
khó ngửi, khiến cho người ta nghe mùi phát ói. Trụ
xứ bất tịnh như thế đó!
(Luận) Tứ giả,
tại mẫu thai thời, duy thực mẫu huyết, tức
thị thực đạm bất tịnh.
(論)四者在母胎時唯食母血,即是食啖不淨。
(Luận: Bốn là khi ở
trong thai mẹ, chỉ ăn máu mẹ, tức
là ăn uống bất tịnh).
Thứ tư, quan
sát những thức ăn mà đối phương thọ dụng khi ở trong thai. Khi đó, do cuống rốn [của
thai nhi] nối liền với thân mẹ, nó ăn kinh huyết
của mẹ, rất chẳng thanh tịnh.
(Luận) Ngũ giả,
nhật nguyệt măn túc, đầu hướng sản môn,
nùng huyết câu xuất, xú uế
lang tạ, tức thị sơ sanh bất tịnh.
(論)五者日月滿足頭向產門,膿血俱出臭穢狼藉,即是初生不淨。
(Luận: Năm là ngày tháng trọn
đủ, đầu hướng đến sản môn,
máu mủ cùng túa ra, hôi thối, ô uế
hỗn độn, tức là sơ sanh bất tịnh).
Thứ năm, ở
trong thai đă đủ ngày đủ tháng, do gió nghiệp
thổi vào, đầu [thai nhi] tự nhiên quay ngược
xuống, hướng đến cửa ḿnh [của mẹ].
Từ xương chậu [của mẹ, đứa trẻ] thoát ra, bị sức ép mạnh
mẽ, giống như nỗi khổ trong địa ngục
Chúng Hợp. Thân thể mang theo máu, nhớt v.v… ô uế hỗn
độn. Khi đối phương ra khỏi thai là t́nh
h́nh bất tịnh như thế đó!
(Luận) Lục giả,
bạc b́ phú thượng, kỳ nội nùng huyết biến
nhất thiết xứ, tức thị cử thể bất
tịnh.
(論)六者薄皮覆上,其內膿血遍一切處,即是舉體不淨。
(Luận: Sáu là da mỏng che
lên trên, trong đó máu mủ trọn khắp hết thảy
các chỗ, tức là khắp thân bất tịnh).
Thứ sáu, bắt
đầu từ lúc sanh ra làm một đứa trẻ; sau
đó, dần dần trưởng thành, thiếu niên, thanh
niên, trung niên, lăo niên… Trong toàn thể quá tŕnh từng trải
ấy, có một cái thân thể, thể tánh của nó như
thế nào? Chỉ là một tấm da mỏng phủ trùm
lên trên; hễ xé ra, trong ấy sẽ là máu mủ trọn
khắp hết thảy các chỗ, hoặc là có thể trông
thấy trạng huống của Tứ Đại
Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Chẳng hạn,
xương xẩu, bắp thịt, tim, gan, tỳ, phổi
v.v… các nội tạng thuộc về Địa Đại.
Mồ hôi, nước tiểu, các chất lỏng trong
cơ thể v.v… thuộc về Thủy Đại. Các thứ
co bóp, chuyển động v.v… thuộc về Phong Đại.
Lại có nhiệt độ thân thể, nhiệt lực v.v… những món ấy thuộc về Hỏa Đại.
Nói chung, phải thấy [cái thân của ta] chỉ là Tứ
Đại ḥa hợp, chẳng có vật ǵ thanh tịnh. Hoặc
là quan sát trạng huống của ba mươi sáu loại
vật bất tịnh, hoàn toàn là t́nh h́nh bất tịnh. Nếu
lột lớp da ấy ra, đặt lên trên thớt, mỗi
thứ đều bày ra, có ai cảm thấy nó là thanh tịnh,
sanh ḷng luyến ái chẳng bỏ nổi ư? Hiện thời,
không thứ ǵ chẳng phải là bọc trong một tầng
da mà thôi! Người hiện thời khéo hóa trang, càng làm cho
người khác chẳng thấy rơ chân tướng,
nhưng thực tế vẫn là bất tịnh y hệt!
Từ đây sẽ
thấy, trong khoảng từ lúc mới đến nhân gian
cho tới khi tử vong, thân thể đối phương
mà chính ḿnh yêu mến đó thuộc về trạng huống
“toàn thể bất tịnh”. Từ
trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, chẳng có
được một tí vật thanh tịnh nào! Cái thân thể
vốn trước đó được coi là thuần khiết
nhất, xinh đẹp nhất trong cơi đời chỉ
là [cách nh́n] điên đảo đến cực điểm,
chỉ là sự suy nghĩ phi lư, do tập khí dâm dục huyễn
tưởng mà ra. Hiện thời, phải nên thấy đối
phương chỉ là vật huyễn hóa khắp thân bất
tịnh.
(Luận) Thất giả,
năi chí tử hậu bành trướng, lạn hoại, cốt
nhục tung hoành, hồ lang thực đạm, tức thị
cứu cánh bất tịnh.
(論)七者乃至死後膨脹爛壞,骨肉縱橫狐狼食啖,即是究竟不淨。
(Luận:
Bảy là cho đến sau khi chết, trương phềnh, nứt
nẻ, hư hoại, xương thịt vung văi, cáo, sói
ăn nuốt, tức là rốt ráo bất tịnh).
Thứ bảy là
quan sát kết cục cuối cùng. Sau khi đă chết, thân thể biến thành sắc đỏ bầm, trương
phềnh, hư nát, hư hoại, hư nát từng tầng một
như vậy. Cuối cùng, xương xẩu chia ĺa, từng miếng
thịt vung văi ngoài đồng, bị cáo, sói ăn nuốt.
Trông thấy rốt cuộc bất tịnh như vậy, cuối
cùng triệt để bộc lộ bổn tướng bất
tịnh.
(Luận) Tự thân kư nhĩ,
tha thân diệc nhiên. Sở ái cảnh giới nam nữ thân đẳng,
thâm sanh yếm ly, thường quán bất tịnh. Nhược
năng như thử quán thân bất tịnh chi giả, dâm
dục phiền năo, tiệm tiệm diệt thiểu.
(論)自身既爾他身亦然,所愛境界男女身等,深生厭離常觀不淨。若能如此觀身不淨之者,淫欲煩惱漸漸滅少。
(Luận: Thân của chính ḿnh
là như thế, thân người khác cũng thế. Đối
với cảnh giới yêu mến như thân nam nữ v.v…
sanh tâm chán ĺa sâu xa, thường quán bất tịnh. Nếu
có thể quán thân bất tịnh như thế, phiền năo
dâm dục sẽ dần dần diệt trừ hoặc giảm
bớt).
Thân thể của
chính ḿnh là như thế, thân thể của đối
phương cũng giống như vậy. Đối với
cảnh giới yêu mến, tức thân thể nam nữ v.v… thường
quán trạng huống
bất tịnh, sẽ sanh khởi ḷng chán ĺa rất
sâu! Nếu có thể quán thân
bất tịnh như vậy, phiền năo dâm dục sẽ
dần dần giảm bớt, có thể thoát khỏi
đó, nhất tâm sẽ tương ứng với nhân duyên
hóa sanh trong hoa sen thanh tịnh, dùng cái tâm vô nhiễm thanh tịnh
để cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế
giới.
(Luận) Hựu tác thập
tưởng đẳng quán, quảng
như kinh thuyết.
(論)又作十想等觀,廣如經說。
(Luận: Lại quán
mười thứ tưởng v.v.… như kinh đă nói chi tiết).
Thêm nữa là quán
mười thứ tưởng, cách quán chi tiết th́
như trong kinh đă dạy.
Thập tưởng:
Một, vô thường tưởng, hai là khổ tưởng,
ba là vô ngă tưởng; bốn là thực bất tịnh tưởng
(tưởng ăn những thứ bất tịnh), năm
là thế gian bất khả lạc tưởng (tưởng
thế gian chẳng đáng vui), sáu là tử tưởng
(suy tưởng cái chết, hoặc tưởng như
chính ḿnh đă chết), bảy là bất tịnh tưởng;
tám là đoạn tưởng, chín là ly
tưởng, mười là tận tưởng. Chữ
Đẳng là nói đến [những phép tưởng khác]
như cửu tưởng v.v… Cửu tưởng th́ một
là tưởng [xác chết] trương
phềnh, hai là tưởng hư hoại, ba là tưởng
máu vấy tràn lan, bốn là tưởng nưng mủ, nát rữa, năm là tưởng xanh bầm, sáu là tưởng
[xác chết bị chim thú] ăn nuốt, bảy là tưởng
[thịt, xương, da tan tác), tám là tưởng [da thịt
rữa nát hết, chỉ c̣n lại] xương, chín
là tưởng bị đốt trụi. Những phép quán
tưởng này đều khiến cho người ta thoát ĺa
dâm dục, trong tâm dần dần thanh tịnh. Nguyên lư của
chúng là do quán bất tịnh bèn sanh chán ghét. Do vậy, sẽ
thoát khỏi đó.
10.1.2.2. Phát nguyện
(Luận) Hựu phát nguyện,
nguyện ngă vĩnh ly tam giới tạp thực, xú uế
nùng huyết bất tịnh, đam hoang ngũ dục nam nữ
đẳng thân, nguyện đắc Tịnh Độ pháp
tánh sanh thân. Thử vị yếm ly hạnh.
(論)又發願,願我永離三界雜食,臭穢膿血不淨,耽荒五欲男女等身,願得淨土法性生身。此謂厭離行。
(Luận: Lại phát nguyện,
nguyện ta sẽ vĩnh viễn ĺa khỏi những thứ
thức ăn tạp loạn trong tam giới, hôi thối,
máu mủ bất tịnh, tham đắm ngũ dục bừa
băi với thân nam nữ v.v…, nguyện đạt được
tấm thân sanh bởi Pháp Tánh trong Tịnh Độ. Đấy
gọi là hạnh chán ĺa).
Trong phần trên,
đă quán cái thân Ngũ Thủ Uẩn chỉ có khổ,
không có lạc. Nó là nguồn gốc của hết thảy
các nỗi khổ sở, ương hoạn, là cội gốc
của hết thảy nỗi khổ sanh tử, đối
với nó mười phần chán ghét. Tiếp đó, nếu
chẳng văng sanh Tịnh Độ, chỉ là bi
quan uổng công, vẫn chẳng có ư nghĩa chi hết. Biết văng sanh Di
Đà Tịnh Độ liền có thể vượt thoát
Khổ Uẩn ngay trong một đời, bèn nhất tâm mong
cầu được tấm thân sanh bởi Pháp Tánh trong Tịnh
Độ. Đấy là hạnh chán ĺa.
Điều then
chốt ở đây chính là tu nguyện. Trong phần trước
là đă đạt được thắng giải (kiến
giải thù thắng), lại c̣n thường xuyên quan sát,
đương nhiên là cái tâm chán ĺa sẽ mạnh mẽ, sắc
bén, thường hằng. Sau đấy, phải
phát nguyện, dùng sự ham muốn mạnh mẽ, nguyện xả uẩn thân (cái thân do Ngũ Uẩn kết
thành) sanh tử để đạt lấy tấm
thân sanh bởi Pháp Tánh của Tịnh Độ. Phải
đạt tới mức [dũng mănh phát nguyện dẫu]
một vạn con trâu cũng chẳng lôi lại được.
Loại duyên khởi này tương ứng khít khao với
bi nguyện nhiếp thủ chúng sanh thoát khỏi nỗi khổ
thủ uẩn của đức Di Đà. Do vậy, có thể
cảm thông với tâm Phật mà được văng sanh.
Nói “vĩnh ly” (vĩnh viễn ĺa
khỏi) tức là nghĩ đây là kiếp sống cuối cùng, từ
nay về sau, vĩnh viễn thoát ly Ngũ Thủ Uẩn. Từ
chữ “tam giới” trở
đi là giải thích trạng huống của thân thể này. Do quan sát như trong phần trên đă nói, bèn liễu
giải: Phạm vi là tam giới, do thủ uẩn liên tục
bèn trải qua khắp các chỗ sanh trong Dục Giới, Sắc
Giới, và Vô Sắc Giới. Từ những
nơi đó, xuất hiện thân địa ngục, thân ngạ
quỷ, thân bàng sanh, thân Tu La, thân người, thân trời.
Các thứ trạng huống nơi các thân trong lục đạo
đều là các mắt xích trong thủ uẩn, là một thứ
biến hóa trong căn bệnh sanh tử không ngơi, không dứt.
Hết thảy các thân ấy đều là Khổ Uẩn,
chẳng cần những thứ ấy nữa, triệt
để chán ĺa! “Tạp thực”
bao gồm đoạn thực, xúc thực, tư thực,
và thức thực[10] v.v… những
thứ thọ dụng ấy nuôi sống cái thân này.
“Xú uế nùng huyết bất tịnh” (máu mủ hôi
thối, dơ bẩn, bất tịnh): Ví như thân thể
con người là do ba mươi sáu món vật bất tịnh
hợp thành, chẳng phải là pháp thanh tịnh. “Đam hoang ngũ dục” là
nói thân này đặc biệt ích kỷ. V́ để thỏa măn dục vọng của nó mà thọ dụng
Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, pháp quá mức, tham lam
chẳng chán! Nói “nam nữ”
nhằm biểu thị giới tính khác biệt. Những
điều này nhằm miêu tả, trần thuật phạm
vi, thể tánh, dục vọng và giới tính sai biệt v.v…
nơi cái thân Ngũ Thủ Uẩn.
Nói chung, xét theo nỗi
khổ chung hoặc h́nh thái khổ sở chung của Ngũ
Thủ Uẩn th́ tất cả h́nh thái và tất cả trạng
thái ăn uống, trạng thái thể tánh, trạng thái tham
dục, trạng thái giới tính sai khác v.v… trong lục
đạo, đối với hết thảy những thứ ấy, nhất loạt chán ĺa, cũng chẳng
cần đến chúng nữa. Trong phần trước
đă nói, từ một niệm Ngă Kiến khởi Hoặc,
bèn trở thành tự tánh Hành Khổ, đều là cái thân do
sức Hoặc nghiệp xuất hiện. Do vậy gọi
là Thủ Uẩn. “Thủ” (nắm giữ) có nghĩa là phiền năo. [Thân Ngũ Thủ Uẩn]
là cái thân do phiền năo dẫn khởi, chẳng có bất cứ
lạc tánh nào, c̣n cái thân Tịnh Độ được
gọi là “Pháp Tánh sanh thân”
(thân sanh bởi Pháp Tánh), thoát ly ba khổ. Sức oai thần
to lớn chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật
hợp với sức thiện căn và sức tín nguyện
của hành giả, sẽ hiện thành Pháp Tánh sanh thân. Nó là
cái thân thanh tịnh xuất hiện bởi sức Pháp Tánh,
chẳng c̣n xoay chuyển trong ṿng khổ sở, chỉ lạc,
không khổ, quá thù thắng!
Chúng ta chỉ cậy
vào tự lực mà muốn đoạn Hoặc chứng Chân
sẽ hết sức khó khăn, nhưng cậy thêm Phật
lực, bèn có thể văng sanh Tịnh Độ ngay
trong đời này. Hễ văng sanh, sẽ triệt để cắt đứt sự
liên tục của Thủ Uẩn. Do đạo lư này, nên gọi
là “vĩnh ly chư khổ”
(vĩnh viễn ĺa các nỗi khổ). Từ trạng huống “chỉ khổ, không vui” liên tục,
biến thành trạng huống “chỉ vui, không khổ” liên
tục. Đă có thể nhận biết chắc chắn rất cặn kẽ, vậy th́ tất nhiên là [ư nguyện
dũng mănh] cầu sanh Tịnh Độ sẽ tất nhiên là “một vạn con trâu không kéo lại
nổi”, nhất
tâm mong đạt được thân Tịnh Độ. Do
điều này, có thể đạt đến địa vị Bất
Thoái Chuyển, rốt ráo thành Phật trong một đời,
chẳng trải qua đời thứ hai, nhanh chóng thành tựu
Vô Sanh Pháp Nhẫn, niệm nào cũng tăng tấn trên Bồ
Đề đạo, nhanh chóng thành tựu viên măn phước
trí tư lương, hoàn thành Bồ Đề đại
đạo, quá thù thắng! Có loại tâm này, nhất định
mong thoát ĺa trạng huống Thủ Uẩn, giữ lấy
thân Tịnh Độ; đấy gọi là Yếm Ly Hạnh.
10.2. Hân Nguyện
hạnh
(Luận) Nhị minh Hân
Nguyện hạnh giả,
phục hữu nhị chủng: Nhất giả, tiên minh cầu
văng sanh chi ư; nhị
giả, quán bỉ Tịnh Độ trang nghiêm đẳng
sự, hân tâm nguyện cầu.
(論)二明欣願行者,復有二種,一者先明求往生之意,二者觀彼淨土莊嚴等事欣心願求。
(Luận:
Hai là nói về hạnh Hân Nguyện, lại
có hai loại: Một là trước hết nói rơ ư văng sanh,
hai là quán các sự trang nghiêm trong Tịnh Độ, tâm vui
thích nguyện cầu).
Thứ hai, nêu rơ
cách thực hiện hạnh Hân Nguyện.
Ở đây, lại c̣n phải hiểu rơ thứ tự
khai thông duyên khởi trong tâm, biết phải tiến hành từng
cấp, từng bậc như thế nào. Trước hết,
hiểu đích xác, rành rẽ dụng ư của việc cầu văng sanh,
cũng tức là v́ để nhanh chóng hoàn thành Bồ Đề
đạo, thực hiện nguyện vọng phổ độ
chúng sanh, mà cần phải dùng cầu sanh về thế giới
Cực Lạc làm môn “đường
tắt”. Trong ấy, có sự
suy xét, dụng tâm, hoặc ư đồ hết sức sâu xa.
Nói cách khác, v́ sao phải ưa thích mong cầu thế giới
Cực Lạc? Nhất định phải thấy lộ
tŕnh nơi nghĩa lư to lớn. Chẳng hiểu rơ đạo lư, ḷng tin
sẽ không sâu đậm, nguyện sẽ chẳng thiết
tha, hạnh sẽ chẳng chuyên ṛng. Một khi đă hiểu
rơ để chọn lựa đạo lư, biết nó là tuyến
đường thành Phật nhanh chóng tột
bậc thù thắng, hiểu lư hết sức rơ ràng, xác
đáng như vậy, tín tâm sẽ sâu đậm.
Tín tâm đă sâu đậm th́ nguyện
sẽ hết sức thiết tha, sẽ có căn bản
ưa thích, mong cầu. Sau đó, do cái tâm ưa thích mong cầu
thúc giục, sẽ bắt đầu tiến nhập Tịnh
Độ quán hạnh, hạnh sẽ hết sức chuyên,
nhất tâm tương ứng với Cực Lạc Tịnh
Độ và A Di Đà Phật. Như thế th́ sẽ xuất
hiện điều thứ hai, “quán
bỉ Tịnh Độ trang nghiêm đẳng sự, hân
tâm nguyện cầu” (quán những sự trang nghiêm trong Tịnh
Độ, tâm ưa thích nguyện cầu).
Thông qua hạng mục
thứ nhất để xác lập lộ tŕnh, kiến
lập chí nguyện; sau đấy sẽ bất biến,
hoàn toàn gieo ḿnh vào Tịnh Độ quán hạnh. Do vậy,
một mực duyên theo các sự trang nghiêm trong Tịnh
Độ để quán tưởng, tư duy, ức niệm.
Do sự duyên khởi của tâm lại dẫn về Tịnh
Độ, lại khiến cho nó (tín tâm) đă sâu lại càng sâu hơn, đă thuần lại càng thuần
hơn, đă kiên cố lại kiên cố hơn, tiếp thông và tương
ứng với biển nguyện của A Di Đà Phật.
[Đă hiểu lư rồi th́] nguyện sẽ hoàn toàn chẳng
giống với [nguyện của] kẻ chẳng hiểu
lư trước đó, [nguyện của kẻ chẳng hiểu
lư sẽ] hời hợt, qua loa, người khác nói sao th́ ta
cũng ừ hử làm vậy,
làm theo h́nh thức bề ngoài v.v… có sự khác biệt cả
một ngàn lần, một vạn lần v.v… V́ đă hiểu
rơ lư, có ḷng tin sâu sắc và nguyện thiết tha, sức tín
nguyện sẽ nhiếp tŕ cái tâm toàn diện dũng mănh gieo
trọn vào [pháp môn Tịnh Độ], tâm chuyên ṛng quán hạnh,
đương nhiên là quyết định văng sanh.
Do đây bèn biết:
Sự tu hành được kiến lập sau khi đă
đạt được kiến giải thù thắng, sẽ khác biệt một trời một vực với
sự tu hành mang tánh cách h́nh tướng khi chưa đạt được kiến giải thù thắng.
Có duyên khởi thiết thực, thâm nhập phát triển,
th́ mới quyết định được văng sanh. Nếu
không, tuy chẳng dám nói “tuyệt đối không thể
văng sanh”, nhưng do nhân duyên dầy hay mỏng, cạn hay
sâu, mạnh hay yếu v.v… mà sẽ có sự khác biệt cực
đại.
Dưới
đây, chia làm hai khoa mục để giải thích:
1) Nói rơ ư nghĩa
to lớn của việc cầu văng sanh.
2) Quán những sự
trang nghiêm của Tịnh Độ, tâm ưa thích nguyện
cầu.
10.2.1. Nói rơ ư nghĩa to lớn của việc cầu
văng sanh
Chia thành hai phần:
Nói đại lược và nói chi tiết. Nói đại lược
và nói chi tiết đều là cùng một ư nghĩa, đều
nhằm nói “cầu sanh Tịnh
Độ ḥng thành Bồ Đề để độ
chúng sanh”. Nói chi tiết là dựa theo chuyện ĺa khỏi
ba môn chướng ngại Bồ Đề để đạt
được ba môn thuận Bồ Đề trong Văng Sanh
Luận, ḥng thấy được đường
nẻo tiến nhập Đại Thừa đạo.
Trước hết là tu Bồ Đề tâm, sau đó bèn thấy
rằng: Chỉ có văng sanh Tịnh Độ th́ mới có thể
nhanh chóng đạt thành đại dụng của sức
bi trí, tự tại vô ngại nhiếp thủ trọn khắp
chúng sanh trở về pháp giới thanh tịnh. Do nguyên nhân ấy,
nhất tâm cầu sanh thế giới Cực Lạc.
10.2.1.1. Nói đại lược
(Luận) Minh văng
sanh ư giả, sở dĩ cầu sanh Tịnh Độ, vị
dục cứu bạt nhất thiết chúng sanh khổ cố.
Tức tự tư thổn, ngă kim vô lực, nhược tại
ác thế, phiền năo cảnh cường, tự vị nghiệp
phược luân nịch tam đồ, động kinh kiếp
số. Như thử luân chuyển, vô thỉ dĩ lai, vị
tằng hưu tức, hà thời năng đắc cứu
khổ chúng sanh? Vị thử cầu sanh Tịnh Độ,
thân cận chư Phật. Nhược chứng Vô Sanh Nhẫn,
phương năng ư ác thế trung cứu khổ chúng
sanh.
(論)明往生意者,所以求生淨土,為欲救拔一切眾生苦故。即自思忖,我今無力,若在惡世煩惱境強,自為業縛淪溺三塗動經劫數,如此輪轉無始已來未曾休息,何時能得救苦眾生?為此求生淨生親近諸佛,若證無生忍,方能於惡世中救苦眾生。
(Luận: Hiểu
rơ ư nghĩa văng sanh: Sở dĩ cầu sanh Tịnh Độ
là v́ muốn cứu vớt, dẹp trừ nỗi khổ của
hết thảy chúng sanh, bèn tự suy nghĩ, nay ta không có sức.
Nếu ở trong đời ác, cảnh phiền
năo mạnh mẽ, chính ḿnh bị nghiệp trói buộc, ch́m đắm
luân lạc trong tam đồ trải bao kiếp số. Trôi
lăn như thế từ vô thỉ đến nay chưa
từng ngưng dứt, bao giờ mới có thể cứu
khổ chúng sanh? V́ lẽ này bèn cầu sanh Tịnh Độ,
thân cận chư Phật. Nếu chứng Vô Sanh Nhẫn
th́ mới có thể ở trong đời ác cứu khổ
chúng sanh).
Trước hết,
xác định rơ ràng ư nguyện cầu sanh thế giới Cực
Lạc của chính ḿnh. Sở dĩ cầu sanh Cực Lạc
Tịnh Độ là v́ muốn cứu giúp, dẹp trừ nỗi
khổ nạn của hết thảy chúng sanh. Trước
đó đă tư duy nỗi khổ Ngũ Thủ Uẩn của
chính ḿnh, nhưng hết thảy chúng sanh đều có nỗi
khổ ấy, [hành nhân Tịnh Độ bèn] có tâm tưởng
suy từ ḿnh mà nghĩ đến người khác. Chính ḿnh
đă mong thoát khỏi đại khổ hải, vậy th́
hết thảy cha mẹ, chúng sanh cũng đều nên
thoát khỏi đại khổ hải. V́ lẽ này, chính
ḿnh nguyện gánh vác trọng trách đối với sự
nghiệp to tát này. Từ sự suy nghĩ sâu xa ấy, lại
trông thấy sự thù thắng của thế giới Cực
Lạc, cho nên nhất tâm vui thích, mong cầu văng sanh.
Nói cụ thể,
chính ḿnh hăy cân nhắc kỹ lưỡng hai con đường:
- Một
đằng là thọ sanh trong uế độ nhằm thời ô trược để thành tựu viên măn
đại nguyện này.
- Một
đằng khác là cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ
để thành tựu viên măn đại nguyện này.
Phải xem xác suất
thành công của hai con đường ấy như thế
nào. Đương nhiên là phải chọn con đường
nào có xác suất thành công cao, thành tựu nhanh chóng, ngơ hầu nhanh
chóng thực hiện nguyện vọng. Cân nhắc khách quan:
Hiện thời, chúng ta chẳng có năng lực; giả sử
sanh trong thế giới ác, các cảnh duyên dẫn khởi
các phiền năo tham, sân, si, mạn v.v… càng ngày càng mạnh,
nhưng chính ḿnh chẳng có Vô Sanh Nhẫn Lực, ở
trong cảnh giới như vậy, sẽ không có cách nào chống
chọi, sẽ rất nhanh chóng khởi Hoặc tạo nghiệp.
Tới lúc lâm chung, bị nghiệp buộc ràng, quá nửa sẽ
luân lạc trong tam đồ. Hễ đọa lạc, sẽ
là nhiều kiếp khó thể vượt thoát. Luân chuyển
như thế từ vô thỉ cho đến ngày nay, từ
đầu đến cuối chẳng hề ngưng ngớt.
Do đó, cậy vào tự lực, sẽ rất khó vượt
thoát gịng khổ! Chính ḿnh c̣n chẳng thể vượt
qua, làm sao có thể cứu độ chúng sanh đau khổ cho nổi? Có thể thấy là đi theo con đường
này, cơ bản là chẳng có cách nào thực hiện đại nguyện
độ sanh. Xét theo t́nh h́nh thông thường, vô số kiếp
sau mới có thể thực hiện được.
Một con
đường khác là nếu cầu sanh Tây Phương, trọn
đủ tín nguyện để niệm Phật, ngay trong
đời này sẽ có thể sanh về Tịnh Độ
thù thắng nhiệm mầu, đạt được Pháp
Tánh sanh thân, sẽ ngay lập tức
cắt đứt gịng khổ,
đạt lên địa vị Bất Thoái Chuyển, nhanh
chóng đạt được Vô Sanh Nhẫn Lực, có thể
rất nhanh chóng quay về thế giới Sa Bà độ chúng sanh. Đấy
là con đường có thể viên thành trong hai đời.
Đời này chẳng đầy mấy chục năm sẽ
được văng sanh, đời thứ hai bèn ở trong
Tịnh Độ thành Phật ngay trong một đời,
xác suất thành công là một trăm phần trăm, tốc
độ là hai đời bèn thành Phật.
Do vậy, con đường này hết sức thù thắng,
v́ cậy vào sức chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà
Phật. Sau khi đă cân nhắc như vậy, v́ thực hiện
đại nguyện cứu độ hết thảy chúng
sanh, chúng ta phải chọn lựa con đường tắt
để nhanh chóng thành tựu Vô Sanh Nhẫn Lực, tức là pháp môn Tịnh
Độ tự tha nhị lực hợp tu. Do vậy, nhất
tâm cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ.
Thông qua việc
cân nhắc hai con đường ấy, xác nhận v́ hoàn
thành bi nguyện phổ độ chúng sanh, bèn mong muốn đến Tây Phương Tịnh Độ
hết sức mau chóng, đích thân thấy A Di Đà Phật, đạt
được Vô Sanh Nhẫn Lực. Đấy
là đường lối kết hợp với Tịnh
Độ nơi cái tâm ḥng dẫn phát Bồ Đề tâm.
(Luận) Cố Văng Sanh
Luận vân: “Ngôn phát Bồ Đề tâm giả, chánh thị
nguyện tác Phật tâm. Nguyện tác Phật tâm giả, tắc
thị độ chúng sanh tâm. Độ chúng sanh tâm giả,
tắc thị nhiếp chúng sanh sanh Phật quốc tâm”.
(論)故往生論云:「言發菩提心者,正是願作佛心。願作佛心者,則是度眾生心。度眾生心者,則是攝眾生生佛國心。」
(Luận: Do đó,
Văng Sanh Luận viết: “Nói phát Bồ Đề tâm chính là
cái tâm nguyện làm Phật. Cái tâm nguyện làm Phật chính
là cái tâm độ chúng sanh. Cái tâm độ chúng sanh chính là
cái tâm thâu nhiếp chúng sanh sanh về cơi Phật”).
Do duyên cớ ấy,
trong Văng Sanh Luận có nói: “Phát
Bồ Đề tâm” được nói trong Tịnh
Độ chính là cái tâm nguyện làm Phật. Tâm nguyện
làm Phật chính là cái tâm mong thực hiện “độ hết thảy chúng sanh”. Cái tâm muốn thực hiện
“độ hết thảy chúng
sanh” chính là nguyện nhiếp hết thảy chúng sanh
sanh về cơi Phật.
Phải thấy
chính ḿnh cũng là một chúng sanh, độ chúng sanh
cũng là phải nhiếp cái tâm của chính ḿnh sanh về
Phật quốc. Nói cách khác, chúng ta mong cầu Bồ Đề
là nguyện làm Phật. Nguyện làm Phật th́ trước
hết phải độ chúng sanh nơi chính ḿnh, triệt
để tiêu trừ hết thảy những tướng
rối loạn xuất hiện bởi sức vô minh,
như thế chính là độ chúng sanh nơi chính ḿnh. Vậy
th́ độ như thế nào? Phải là sanh về cơi Phật,
được Phật lực gia bị khai phát bổn tánh; từ đấy trở đi, chẳng c̣n bị sức
Hoặc nghiệp xoay chuyển. Đó gọi là Bất
Thoái. Sau đấy, có thể dần dần khai phát tâm tánh,
hiển hiện vị Phật vốn sẵn có nơi tự
tánh. Để thực hiện điều này, chúng ta phải
sanh về cơi Phật, dùng sức đại giác của Phật
khiến cho tâm tánh của ta mở mang thông sáng, trụ
nơi sự sáng suốt vốn có trong tự tánh, chẳng
bị mê mất.
Sau đấy bèn
từ ḿnh mà nghĩ đến người khác: Ta đă sanh về
cơi Phật, nhưng hết thảy chúng sanh cũng đều ở trong t́nh cảnh giống hệt. Do
vậy, phải nhiếp thọ hết thảy chúng sanh cùng
sanh về cơi Phật. Đấy chính là ư nghĩa được
bao hàm trong Bồ Đề tâm của Tịnh Độ.
Điều này chẳng có ǵ khác hơn là kết hợp Bồ
Đề tâm với chuyện văng sanh Tịnh Độ, khiến
cho ta và người khác nhanh chóng thành tựu viên măn hai thứ
lợi (tự lợi và lợi tha), thành tựu Phật quả.
Bởi lẽ, Bồ Đề tâm chung khắp [cho mọi
pháp môn] và cầu sanh Tịnh Độ chẳng phải là
hai chuyện! Cầu sanh Tịnh Độ ḥng làm Phật để
độ chúng sanh; v́ để làm Phật độ chúng
sanh mà dùng Tịnh Độ làm con đường tắt.
Đấy chính là liễu giải ư nghĩa được
bao hàm trong Bồ Đề tâm của Tịnh Độ.
10.2.1.2. Nói chi tiết
(Luận) Hựu
nguyện sanh Tịnh Độ, tu cụ nhị hạnh.
Nhất giả, tất tu viễn ly tam chủng chướng
Bồ Đề môn pháp. Nhị
giả, tu
đắc tam chủng thuận Bồ Đề môn pháp.
(論)又願生淨土須具二行,一者必須遠離三種障菩提門法。二者須得三種順菩提門法。
(Luận: Lại nữa, nguyện sanh về Tịnh Độ,
cần phải có đủ hai hạnh: Một là ắt cần
phải viễn ly ba loại pháp chướng ngại Bồ
Đề môn; hai là ắt phải đạt được
ba loại pháp thuận Bồ Đề môn).
Tiếp đó, phải
hiểu rơ nguyện sanh về Tây Phương Tịnh Độ
th́ phải tu hành nơi hai phương diện Đại
Thừa: Một là ắt phải xa ĺa ba loại
pháp chướng ngại Bồ Đề môn, hai là ắt phải
đạt được ba loại pháp thuận Bồ
Đề môn. Văng sanh Tây Phương Tịnh Độ là
pháp môn để nhanh chóng thành tựu Phật đạo.
Trước hết, phải bài trừ ba loại pháp
chướng ngại Bồ Đề môn; sau
đó, sẽ có thể đạt được ba loại
pháp thuận Bồ Đề môn. Cái nhân đă trọn đủ
viên măn th́ sẽ có thể văng sanh. Sau
đó, nhanh chóng thành tựu Phật đạo. Do vậy, phải
đặc biệt chú ư kiến lập nhân địa. [Để giảng rơ ư này], chia
thành hai phần:
1) Chỉ rơ cái
nhân của Bồ Đề cần phải từ nơi ba
phần “bi, trí, lực” mà phát tâm thanh tịnh.
2) Chỉ rơ văng
sanh Tây Phương Tịnh Độ th́ sẽ có thể nhanh
chóng viên măn đại dụng của “bi, trí, lực”.
“Bi, trí, lực” tương ứng với trí huệ
môn, từ bi môn, và phương tiện môn được
nói trong luận (Văng Sanh Luận).
10.2.1.2.1. Chỉ rơ cái nhân của Bồ Đề cần
phải từ nơi ba phần “bi, trí, lực” mà phát tâm
thanh tịnh
(Luận) Hà giả vi (viễn
ly) tam chủng chướng Bồ Đề pháp? Nhất
giả, y trí huệ
môn, bất cầu tự lạc, viễn ly ngă tâm tham
trước tự thân cố. Nhị giả, y
từ bi môn, bạt nhất thiết chúng sanh khổ, viễn
ly vô an chúng sanh tâm cố. Tam giả, y
phương tiện môn, đương lân mẫn nhất
thiết chúng sanh, dục dữ kỳ lạc, viễn ly
cung kính cúng dường tự thân tâm cố.
(論)何者為(遠離)三種障菩提法?一者依智慧門,不求自樂,遠離我心貪著自身故。二者依慈悲門,拔一切眾生苦,遠離無安眾生心故。三者依方便門,當憐愍一切眾生欲與其樂,遠離恭敬供養自身心故。
(Luận: Những ǵ là (xa ĺa)
ba loại pháp chướng ngại Bồ Đề? Một
là nương vào trí huệ môn, v́ chẳng cầu tự vui
sướng, xa ĺa cái tâm tham đắm tự thân của ta.
Hai là nương vào từ bi môn, dẹp khổ cho hết
thảy chúng sanh, xa ĺa cái tâm chẳng làm cho chúng sanh an ổn.
Ba là nương theo phương tiện môn, hăy nên
thương xót hết thảy chúng sanh, v́ muốn ban vui cho
họ, xa ĺa cái tâm cung kính, cúng dường thân tâm của chính ḿnh).
Chia thành ba điểm
để nói rơ: Một là phải xa ĺa ba loại pháp
chướng Bồ Đề nào? Hai, v́ sao phải xa ĺa ba loại
pháp ấy? Ba là nương theo đường nẻo nào
để xa ĺa?
Phải xa ĺa ba
pháp:
1) Một, tâm ta
tham đắm thân thể của chính ḿnh, tức là v́ cái
tâm chấp Ngă mà tham đắm tự thân, v́ chính ḿnh mà t́m cầu
sự yên vui.
2) Hai là cái tâm chẳng
an ổn chúng sanh, tức là chẳng có tâm kéo chúng sanh ra khỏi biển khổ,
an lập họ nơi Vô Thượng Bồ Đề tâm.
3) Ba là cái tâm cung
kính cúng dường tự thân, tức coi ḿnh là chánh yếu,
hết thảy các phương tiện đều nhằm
phục vụ, cung kính, cúng dường lớn nhất cho
chính ḿnh!
V́ sao phải xa
ĺa các pháp chướng ngại Bồ Đề môn ấy?
Bổn tánh và lực dụng của chúng trái nghịch Bồ
Đề. Do vậy, ắt cần phải xa ĺa. Chúng ta mong
cầu sanh về Tịnh Độ ḥng thành tựu Bồ Đề,
[như vậy th́] nơi cái nhân, phải xa ĺa những duyên
khởi trái nghịch. Nếu không, sẽ xa rời Tịnh
Độ càng ngày càng xa, sẽ ĺa khỏi chuyện “phản bổn quy nguyên” (trở
lại nguồn cội) càng ngày càng xa. Hết thảy sự
tu hành đều phải thuận theo tánh mà tu, Tịnh
Độ do tự tâm thanh tịnh hiển hiện, cuối
cùng sẽ chứng nhập Thường Tịch Quang Tịnh
Độ. V́ vậy, trong hiện thời, ắt cần phải
xa ĺa các pháp gây chướng ngại Bồ Đề môn.
Nói cụ thể,
nếu do cái tâm ta tham đắm tự thân, sẽ một mực
v́ tư dục (ham muốn riêng tư) mà t́m cầu khoái lạc
cho chính ḿnh. Điều đó hoàn toàn tương phản với
bản tánh Vô Ngă, chỉ trở thành càng đi càng xa, phát triển
thành gịng khổ sanh tử càng ngày càng thô. V́ thế, ắt phải
xa ĺa nó th́ mới có thể tương ứng với Tịnh
Độ. Nói theo thể tánh, liễu tri Vô Ngă tức là phù
hợp Thật Tướng, là trở về. Chẳng biết
Vô Ngă, cứ tham chấp Ngă, th́ chính
là xa ĺa Bồ Đề. Nh́n theo lực dụng, do tư dục
mà thấy chính ḿnh đáng trọng, coi thường chẳng đoái hoài hết thảy
chúng sanh, cũng chẳng thấy nỗi khổ của chúng
sanh, chẳng có cái tâm an lập chúng sanh. Như thế th́ sẽ
chướng ngại sự hiển phát của tâm từ bi.
Hơn nữa, do lấy cái Ngă riêng tư làm trung tâm, chỉ
mưu cầu lợi lạc cho chính ḿnh, chẳng thể
thương xót hết thảy chúng sanh, sẽ chướng
ngại sự khai phát lực dụng của Bồ Đề,
sẽ chẳng thể dùng trí và bi để phát khởi vô
lượng sự nghiệp lợi ích chúng sanh. Nói chung, ba
loại pháp chướng ngại Bồ Đề môn đă
ngăn chướng thể tánh, từ bi, và lực dụng
của Bồ Đề. V́ vậy, phải xa ĺa chúng.
Do đó bèn hiểu
rơ, tu Đại Thừa Tịnh Độ, chỗ then chốt
gồm có ba điều: Thứ nhất là xa ĺa cái tâm tham
trước tự thân của ta, thứ hai là xa ĺa cái tâm chẳng
an ổn chúng sanh, thứ ba là xa ĺa cái tâm cung kính, cúng dường
tự thân. Đấy là chỗ cần phải nỗ lực.
Phải như thế nào để đạt thành hiệu
quả thật sự? Ắt cần dùng đường lối
hữu hiệu để tiến nhập.
Nói phân biệt th́:
1) Thứ nhất
là nương vào sự tu tập đường lối Vô
Ngă Không Huệ để thấy chẳng có Ngă,
quán sát nơi Uẩn chẳng có tư ngă (cái tôi riêng tư) ḥng
có thể đạt được. Cầu sự vui cho
chính ḿnh hoàn toàn là hành động ngu xuẩn, chỉ là do bị
sự ngu mê đối với chân thật nghĩa sai khiến
bèn khởi Hoặc tạo nghiệp đó thôi. Phải nh́n từ
duyên khởi để thấy đấy chính là thứ gây
suy tổn, là cội nguồn của khổ năo. Nếu vẫn
tham đắm, v́ chính ḿnh mà cầu
vui sướng, chắc chắn nó sẽ phát triển thành
nỗi khổ luân hồi to lớn. Chỉ cần dấy lên
một niệm tâm riêng tư chẳng hợp thiên lư, sẽ
bị trừng phạt, chẳng có cách nào trở lại.
Thấy được chỗ này càng sâu xa, càng thấu
triệt càng hay! Chẳng hạn như do sự tham danh, từ
đó bèn có cái tâm riêng tư chẳng hợp thiên lư. Sau
đấy, sẽ tranh giành, so đo, ganh ghét, kiêu mạn
v.v… cả một đống vọng động đều
xuất hiện. Càng tụ tập càng sâu như thế, chắc
chắn sẽ đọa lạc. Hoặc là do tham mối lợi
riêng tư, thấm dần chất độc từng chút một,
chắc chắn sẽ thọ khổ báo. Do vậy bèn phát
hiện: Cầu sự vui sướng cho chính ḿnh là hại chính ḿnh, ngă
ái chấp chính là cội nguồn suy tổn. Thông
qua điều này, sẽ tự nhiên xa ĺa cái tâm tham đắm
tự thân của ta.
Nói chung, để
thực hiện điều thứ nhất th́ dùng trí huệ
làm đường nẻo. Trước tiên là quán chiếu Vô
Ngă; kế đó, phát hiện Ngă Chấp là nguồn cội
của vạn nỗi khổ. Hết
thảy các
hành vi như v́ ta mà cầu lạc, cầu danh, cầu công
lao v.v… toàn bộ rốt cuộc đều thuộc vào suy
tổn. Nếu nhận định hết sức quyết
đoán ở chỗ này, phương hướng trong tâm sẽ
ngay lập tức xoay chuyển: Hễ thấy cái tâm lại
tham đắm tự thân th́ sẽ thấy sự tham đắm
ấy là chất độc, biết nó hết sức nguy
hiểm, ngay lập tức xa ĺa. Như thế th́ sau khi
đă phát sanh chánh kiến, đối với dục sẽ
khác hẳn, chẳng c̣n v́ tự thân cầu điều ǵ, lúc nào
cũng gạt bỏ cái Ngă, giải trừ tập khí chấp
ngă, tham ngă, sẽ bắt đầu làm ngược lại.
2) Thứ hai, phải
dốc sức xa ĺa cái tâm chẳng an ổn chúng sanh. V́ thế,
phải nương theo đường lối từ bi, cứu
vớt, dẹp trừ sự khổ của hết thảy
chúng sanh. Phương hướng nỗ lực là thông qua
pháp tu nhằm hiển lộ ḷng từ bi trong tự tâm. Chẳng
hạn như tư duy hết thảy hữu t́nh đều
là mẹ, có ân đức to tát đối với ta; v́ thế,
phải báo ân. Kế đó, do nghĩ đến nỗi khổ
mà phát sanh bi tâm, cũng chính là noi theo đường lối
trong cái tâm yếm ly ở phần trên, toàn bộ đều
suy nghĩ v́ hữu t́nh. Thấy các hữu t́nh đều giống
hệt như chính ḿnh, gặp phải nỗi khổ sanh tử
to lớn vô biên. Lại nghĩ họ đều là mẹ,
chẳng thể ngồi xem, chẳng đoái hoài. Nếu
không, sẽ mang gánh nặng phụ ân bội nghĩa quá to.
Sau khi dấy ḷng bất nhẫn như vậy, sẽ v́ các
hữu t́nh “mẹ” mà dốc sức suy xét. Giả sử chỉ
đặt họ trong quả vị thuộc đường
lành, tức là chẳng an bài tốt đẹp. Bởi lẽ, dẫu hưởng đại phú quư trong tam hữu
(tam giới), tự tánh [của sự hưởng thụ ấy]
vẫn là khổ, cuối cùng sẽ đều đọa
lạc. Nếu an bài họ nơi quả vị tịch diệt thuộc Tiểu Thừa, vẫn là
chẳng an bài tốt đẹp, v́ chẳng hiển phát vô
lượng công đức của tự tánh, trọn chẳng
phải là rốt ráo. Chỉ có dẹp trừ, cứu vớt
nỗi khổ sanh tử thô tháp cùng với nỗi khổ
đổi dời, biến hóa vi tế của hết thảy
hữu t́nh th́ mới có thể làm cho họ đạt
đến nơi an ổn nhất. Cũng giống như
vậy, thông qua tu tâm để phát triển ḷng từ bi.
Tâm từ bi tăng mạnh, sẽ xa ĺa phẩm chất
trái nghịch, tức là cái tâm chẳng tạo an ổn cho
chúng sanh.
3) Thứ ba, dốc
sức xa ĺa cái tâm cung kính, cúng dường tự thân.
Điều này lại phải dựa theo đường lối
“hành phương tiện”.
Do thương xót hữu t́nh thiếu khuyết an lạc mà
b́nh đẳng dấy khởi, tâm tư lẫn trí xảo
đều vận dụng để mưu cầu an vui cho
chúng sanh. Thông qua chuyện một dạ lập bày
phương cách ban cho chúng sanh an vui trong hiện tiền và
an lạc rốt ráo mà xa ĺa thói quen mang cái tâm “cung kính, cúng
dường tự thân”, thoát ĺa những phẩm tánh trái nghịch
Bồ Đề.
Nói trắng ra là
làm ngược lại. Ai nấy đều có trí lực
thiện xảo, sẽ hành phương tiện. Trong quá khứ,
đă từng ngỡ tự thân chính là một thứ cần
được yêu mến, bảo vệ nhất. V́ thế,
tất cả tài trí, tâm tư, kỹ xảo v.v… đều
vận dụng để cung kính, cúng dường tự
thân. Hiện thời, trước hết phải thấy
[cách nghĩ ấy] là sai, các Uẩn chỉ là hiện tướng
lầm loạn, trong ấy chẳng có Ngă, thế mà yêu mến, bảo
vệ tự thân, cung kính cúng dường tự thân như
thế đó. Thật ra là tổn hại chính ḿnh, tăng
cường pháp khổ. Hăy nên thấy Ngă Ái Chấp là cội
rễ của hết thảy suy tổn, Tha Ái Chấp là cội
nguồn của hết thảy lợi lạc, hành vi sẽ
đảo ngược lại!
Kế đó,
trước hết phải xác định rơ ràng trong quá khứ
chính ḿnh đă cung kính, cúng dường tự thân như thế
nào, sử dụng phương tiện môn sai lầm như
thế nào. Sau đấy, suy xét để chuyển biến
từ chỗ nào, đem hết thảy lực dụng
mưu cầu an lạc cho hết thảy chúng sanh. Như vậy
th́ sẽ chuyển đổi thành công, xa ĺa những thứ
trái nghịch Bồ Đề, có thể thuận lợi khai
phát Bồ Đề. Do vậy, [điều này] hết sức
then chốt.
Trong quá khứ,
đă coi thân tâm hoặc Ngũ Uẩn của chính ḿnh là
đối tượng yêu mến nhất, dùng hết thảy
các phương tiện để cung kính, cúng dường,
tô điểm, hết sức yêu quư nó, thậm chí đối
với một tấm áo, một
miếng bữa ăn, đều hết sức dụng tâm, chú trọng
tinh tế. Lại c̣n ban cho cái thân Ngũ Uẩn của chính
ḿnh các thứ địa vị, danh dự khiến cho nó
chói rạng lóa mắt, để cho nó được an nhàn hưởng
lạc, chẳng để cho nó phải chịu khổ
chút nào! Do vọng tâm ái chấp tự ngă thôi thúc, dùng các loại
phương pháp ḥng thỏa măn dục cầu riêng tư của
ta. Chẳng hạn như yêu thích vẻ đẹp, liền
t́m đủ mọi cách ḥng thông thạo kỹ
xảo trang điểm, mua sắm các thứ
mỹ phẩm, tô vẽ đủ mọi kiểu, ḥng khiến
cho mọi người phải dồn mắt vào ḿnh. V́
cơm áo, sinh hoạt thoải mái mà cũng thâu gom tin tức,
trù tính, mưu toan, so sánh, nghĩ bày phương cách để
chính ḿnh được no đủ. V́ để chính ḿnh được hiển hách, tôn quư, vinh hiển,
được kẻ khác hâm mộ sự thành tựu và phú
quư của chính ḿnh, bèn cũng sử dụng trọn hết các loại
phương pháp. Giống như vậy, v́ thỏa măn chính
ḿnh mà vận dụng tâm tư thủ đoạn, tức là đă vận dụng phương tiện
môn sai lầm, vận dụng tài trí sai chỗ mất rồi!
Hiện thời,
phải thấy điều đó hoàn toàn tương phản
với phương hướng hiện chứng Bồ
Đề. Làm như vậy, sẽ khiến cho t́nh kết
nơi cái Ngă riêng tư càng ngày càng nặng, tăng sâu
hơn cảm nhận sai lầm đối với tự
ngă, cho là thật sự có một cái Ngă, càng ngày càng chẳng
buông xuống được! Ví như một người
nữ, hằng ngày đều trang điểm rất tỉ
mỉ, muốn cho h́nh tượng của cô ta đặc
biệt to lớn, điều ấy sẽ khiến cho cảm
nhận sai lầm về cái Ngă riêng tư càng ngày càng to, hết
sức khó buông xuống. Nếu cứ một mực
như thế, sẽ được gọi là “thị dục thâm giả, thiên
cơ thiển” (tư dục ham muốn càng sâu th́ cơ
hội trở về bổn tánh chân thật càng cạn). “Thị dục” (嗜欲) chính là tư dục đắm chấp tự ngă,
nó ngày càng sâu đậm, “thiên
cơ” sẽ ngày càng nông cạn, tức là càng ngày càng khó
trở về bổn tánh và khó ngộ
được tự tánh thiên nhiên! V́ thế, đây là một đường
nẻo mê mất hết sức đáng sợ, chớ nên
tăng cường nó. Hễ càng tăng cường, sẽ
càng bị hăm sâu hơn, càng chẳng hiểu rơ, đến
nỗi đă bị hăm lại càng lún sâu hơn, vô số kiếp
đều chẳng thể xoay chuyển được. Giống như vậy đó, v́ cái
Ngă riêng tư mà mưu lợi chẳng tiếc trả giá hết
thảy, vận dụng các thứ xảo tâm, xảo trí,
suy tính phương pháp để duy tŕ thể diện, danh
dự cho nó, ban cho nó địa vị, dùng các phương
pháp để nuông chiều, bảo vệ nó, tức là
đă có cái nhân đọa lạc. Sức tập khí kiên cố
ấy sẽ khiến cho chính ḿnh trong bao kiếp lâu xa khó thể
chuyển ḿnh. Nay phải thấy đó chính là một
phương hướng cực kỳ điên đảo, chân
và giả chẳng thể cùng tồn tại. Chấp giả
th́ sẽ chôn vùi chân. Ngă và vô ngă chẳng thể cùng tồn
tại, hễ cố chấp cái Ngă riêng tư th́ sẽ
chẳng thể hành tŕ vô ngă, chẳng thấy trọn khắp
bản tánh. V́ thế, hết thảy đều phải
làm ngược lại!
Làm thể nào để
đẩy lùi cái tâm điên đảo ấy? Phải đổi
ḷng ích kỷ thành thương xót, suy từ ta mà nghĩ
đến kẻ khác: Chúng sanh và chính ḿnh thiếu khuyết
an lạc hệt như nhau, sau khi niệm tâm thương
xót đă dấy, tâm lượng bắt đầu lớn
hơn, bèn có thể hành Đại Thừa. Tâm lượng
biến thành lớn, đối với duyên khởi, sẽ
dễ dàng quay trở lại. Nếu một mực lẩn
quẩn nơi cái Ngă riêng tư, chẳng thoát ra được,
sẽ rất khó khai phát thiện tâm, chẳng cần nói
đến chuyện “hiện
chứng Bồ Đề”, ngay cả Đại Thừa
môn cũng chẳng tiến nhập được!
Hiện thời, chuyện
phải dốc sức làm là phải thay đổi toàn bộ
tâm thái và hành vi của cái tâm “mưu cầu lợi ích cho
chính ḿnh”, thay đổi phương hướng, thay đổi
đối tượng, tận lực vận dụng [tâm
trí và thể lực] vào việc lợi ích hết thảy
chúng sanh. Nguyên tắc là phát xuất từ Tha Ái Chấp (chấp
trước yêu thương người khác), làm nhiều
chuyện lợi tha, hành nhiều phương tiện;
đấy chính là vận dụng hết sức xảo diệu
để xoay chuyển phương hướng của cái
tâm. Trong quá khứ, một mực nghĩ tới chính ḿnh,
nay bèn nghĩ tới người khác. Trong quá khứ, cứ một mực nấu cho ḿnh một bữa ăn ngon, tự ḿnh trang điểm, nay đem toàn bộ tâm tư xảo kế đổi
thành lợi ích chúng sanh. Nghĩ đến những nghĩa
lợi mà chúng sanh đang khuyết thiếu tạm thời
cũng như rốt ráo, ta sẽ v́ họ mà mưu
cầu như thế nào? Thậm chí một tấm áo, một
bữa cơm, đều nghĩ lợi ích chúng sanh, hồi thí cho
chúng sanh, cho đến nhất cử nhất động
đều phải toan tính làm như thế nào để lợi
ích chúng sanh. Như vậy th́ sẽ dựa vào đường
nẻo hành phương tiện mà dần dần có thể
xa ĺa cái tâm cung kính cúng dường tự thân. Chuyển biến
từng bước như thế đó, chuyển tập
tánh [ích kỷ] thành lợi tha, sẽ dần dần xa ĺa
chướng ngại “lúc nào cũng nghĩ cho chính ḿnh”.
(Luận) Nhược
năng viễn tam chủng Bồ Đề chướng,
tắc đắc tam chủng thuận Bồ Đề
pháp.
(論)若能遠三種菩提障,則得三種順菩提法。
(Luận:
Nếu có thể xa ĺa ba thứ chướng Bồ Đề,
sẽ đạt được ba loại pháp thuận Bồ
Đề).
Nếu có thể
xa ĺa ba loại chướng ngại thành tựu Bồ
Đề đạo quả [như vừa nói] trong phần
trên, sẽ đạt được ba loại diệu
pháp tùy thuận Bồ Đề đạo quả; tức
là xa ĺa tâm tham đắm tự thân của ta, sẽ đạt
được cái tâm thanh tịnh vô nhiễm, xa ĺa cái tâm chẳng
an ổn chúng sanh, sẽ đạt tới cái tâm an ổn
thanh tịnh, xa ĺa cái tâm cung kính cúng dường tự thân,
sẽ đạt tới tâm lạc thanh tịnh.
Ba loại chướng
ngại đều là từ Ngă Chấp và ích kỷ mà xuất
hiện cái tâm tạp nhiễm, từ chấp trước
điên đảo mà phát triển thành tâm thái lầm loạn.
V́ thế, sẽ chướng ngại Bồ Đề. Xa
ĺa chúng nó th́ sẽ có thể khôi phục cái vốn sẵn có,
xuất hiện tâm thanh tịnh. Đấy là tùy thuận Bồ
Đề, gọi là “thuận
Bồ Đề pháp”. Nói chung, “ly Bồ Đề chướng” là xa ĺa cái tâm tạp
nhiễm có nguồn cội là Ngă Chấp để thành tựu
cái tâm thanh tịnh. Xa ĺa ba thứ chướng Bồ Đề
là xa ĺa ba thứ tâm tạp nhiễm, đắc ba loại
pháp thuận Bồ Đề là đắc ba loại tâm
thanh tịnh.
Tiếp đó,
[Trí Giả đại sư] giải thích danh xưng của
diệu pháp “ba loại thanh tịnh tâm”, nguyên nhân để
thành tựu pháp ấy, và v́ sao các pháp này là thuận Bồ
Đề môn.
(Luận) Nhất giả,
vô nhiễm thanh tịnh tâm, bất vị tự thân cầu
chư lạc cố. Bồ Đề thị vô nhiễm
thanh tịnh xứ, nhược vị tự thân cầu lạc,
tức nhiễm thân tâm chướng Bồ Đề môn. Thị
cố, vô nhiễm thanh tịnh tâm thị thuận Bồ
Đề môn.
(論)一者無染清淨心,不為自身求諸樂故。菩提是無染清淨處,若為自身求樂,即染身心障菩提門,是故無染清淨心,是順菩提門。
(Luận: Một là tâm vô nhiễm
thanh tịnh, do chẳng v́ tự thân mà cầu các điều lạc. Bồ Đề là chỗ vô nhiễm thanh tịnh,
nếu v́ tự thân mà cầu lạc, tức là nhuốm
nhơ thân tâm, chướng ngại Bồ Đề môn. V́ thế,
tâm thanh tịnh vô nhiễm tức là thuận Bồ Đề
môn).
Thứ nhất, sau
khi xa ĺa cái tâm tham đắm tự thân của chính ḿnh, sẽ
đạt được cái tâm thanh tịnh vô nhiễm,
ĺa phiền năo. V́ sao có thể đạt được
cái tâm thanh tịnh vô nhiễm? Do sức mạnh trí huệ
quyết đoán thấy vốn là Vô Ngă, do duyên theo cái Ngă
riêng tư mà dấy khởi tư dục cầu vui sướng,
sẽ chỉ chuốc vời nỗi khổ luân hồi to
lớn. Do vậy, chẳng c̣n cầu yên vui cho riêng bản thân, mà
cũng sẽ thoát khỏi trạng huống “chuyện ǵ cũng đều v́ Ngă ái chấp, bị
tư dục sai khiến bèn khởi Hoặc tạo nghiệp”, đạt
được tâm cảnh thanh tịnh vô nhiễm. Đấy
là diệu pháp bậc nhất ḥng đạt được cái tâm.
V́ sao nó là thuận
Bồ Đề môn? Điều này lại phải quan sát
theo chiều thuận và nghịch từ phương diện
nhân quả có phù hợp hay không, cũng tức là quan sát Bồ
Đề nơi cái quả của những ǵ đă làm có trạng
huống như thế nào, nhưng xét theo cái nhân và
tâm thái trước khi thực hiện, chỉ
có hai loại là thuận tùng và trái nghịch. Nh́n theo
phía trái nghịch, [hăy quan sát những ǵ đă làm đă] trái nghịch
Bồ Đề, ngăn che Bồ Đề như thế
nào. Nh́n theo phía thuận th́ [những hành vi đă làm] tùy thuận
Bồ Đề, khai phát Bồ Đề như thế
nào. Sau khi đă nhận thức chắc chắn, sẽ
biết: Tâm vô nhiễm thanh tịnh là thuận Bồ Đề
môn, mong thành tựu cái quả đại Bồ Đề th́
phải trụ trong loại tâm thái này. Nếu không, sẽ
xa ĺa Bồ Đề, chướng ngại, ngăn che Bồ
Đề. Bậc trí sẽ thấu đạt sâu xa lư duyên
khởi, nắm vững nguyên tắc bất biến, sẽ
có sự quyết đoán trong hành tŕ, sẽ lại nhiều
lượt huân tu, tùy thuận từ nơi ấy, cho đến
hoàn toàn đi theo phương hướng
thuận tánh, khai phát Bồ Đề. Cuối cùng, chắc
chắn sẽ hiển lộ triệt để Bồ
Đề, do khế hợp duyên khởi của chánh đạo.
Trong Bồ
Đề chẳng có cái Ngă riêng tư, cũng chẳng có cái Tha (người khác) đối đăi với
Ngă. Do vậy, chẳng thể v́ cái Ngă riêng tư mà làm ǵ, cầu
ǵ! Điều này được gọi là “vô nhiễm thanh tịnh xứ”, trạng huống
có mảy may Ngă Chấp, phiền năo, v́ cái Ngă riêng
tư mà tạo tác đều chẳng có. Kế đó, nh́n
từ địa vị tu nhân, nếu cho là có cái Ngă riêng
tư, có cái Ngă đáng yêu mến, bảo vệ nhất, v́
Ngă mà cầu lạc, chẳng hạn như cầu dục vọng
giữa nam và nữ v.v… sẽ phát hiện: Ngay lập tức,
thân tâm thuộc vào trạng thái nhuốm bẩn. Hoặc là
v́ cái Ngă riêng tư mà cầu danh vị, tôn vinh, quyền lực
v.v… cũng có thể thấy ngay lập tức là cái tâm chẳng
thanh tịnh. Suy ra tương tự, hễ v́ cái Ngă riêng
tư mà cầu lạc, cái đẳng khởi[11] trước
hết chính là chẳng thanh tịnh, dần dần phát triển
thành càng ngày càng chẳng thanh tịnh. Giống như Hoàng Hà khởi đầu bằng
một gịng nước đục nhỏ nhoi, dần dần
phát triển thành sóng bủa tận trời, sẽ xuất
hiện các phiền năo như tham, sân, si, mạn, ghen ghét v.v…
ngày càng mạnh mẽ, cùng với các nghiệp giết, trộm,
dâm, dối v.v... thân tâm hoàn toàn thuộc trong trạng thái ô
nhiễm. Giả sử trạng thái ô nhiễm ấy tùy thuận
Bồ Đề, nói theo lẽ tương đồng, cái
tâm ô nhiễm dấy lên càng nhiều, tạo tác ô nhiễm
phát triển ngày càng mạnh mẽ, sẽ càng gần với
Bồ Đề. Hiển nhiên là [giả thiết ấy] chẳng
thể thành lập, [bởi lẽ], trạng
huống ô nhiễm càng nặng, càng thô, sẽ ĺa Bồ
Đề càng xa, càng khó quay trở lại. Do vậy, có thể
đoán định, nó là trái nghịch Bồ Đề môn, hay chướng
ngại Bồ Đề môn.
Trái lại, giả
sử dùng vô ngă chánh kiến để nhiếp tŕ, thấy
chẳng có cái Ngă riêng tư để có thể đạt
được. Dùng duyên khởi chánh kiến để nhiếp tŕ, sẽ thấy tư ngă và tư dục là cội nguồn của
hết thảy các nỗi khổ. Do vậy, buông Ngă xuống,
chẳng c̣n v́ Ngă mà lại tính toán, cầu lấy điều
ǵ! Khi ấy, thân tâm sẽ chẳng bị nhuốm bẩn.
Cũng có nghĩa là: Chẳng thấy có tư ngă, sẽ chẳng
c̣n v́ tư ngă mà suy tính, đối với những lúc
bị quở trách, tán thưởng, hay danh lợi
ngay trước mặt v.v…
đều chẳng bị ảnh hưởng! T́nh huống
kiểu này là tùy thuận Bồ Đề, có thể trở
về Chân Như. Có thể thấy rằng: Chấp
trước đối với tư ngă càng nhỏ, sẽ
càng dễ quay về, càng tùy thuận Bồ Đề. Khi
ngay cả mảy may chấp trước tư ngă c̣n chẳng
có, sẽ có thể tiến nhập tâm thái đạm bạc
như tịch, b́nh đẳng, dần dần chứng
đắc pháp giới b́nh đẳng tánh, trở về
Chân Như. Nhận biết chắc chắn cả hai mặt
thuận và nghịch như vậy, bèn biết:
Nơi duyên khởi, cái tâm vô nhiễm thanh tịnh chắc
chắn là thuận Bồ Đề môn. Tu hành
như thế, chắc chắn sẽ đạt đến Bồ
Đề quả địa.
(Luận) Nhị giả,
an thanh tịnh tâm, vị bạt chúng sanh khổ cố. Bồ
Đề tâm thị an ổn nhất thiết chúng sanh thanh
tịnh xứ. Nhược bất tác tâm bạt nhất
thiết chúng sanh, linh ly sanh tử khổ, tức vi Bồ
Đề môn. Thị cố an thanh tịnh tâm thị thuận
Bồ Đề môn.
(論)二者安清淨心,為拔眾生苦故。菩提心是安隱一切眾生清淨處,若不作心拔一切眾生,令離生死苦,即違菩提門。是故安清淨心,是順菩提門。
(Luận: Hai là an thanh tịnh
tâm v́ dẹp khổ cho chúng sanh. Bồ Đề tâm là chỗ
thanh tịnh an ổn hết thảy chúng sanh. Nếu chẳng
khởi tâm dẹp trừ cho hết thảy chúng sanh, khiến
cho họ ĺa nỗi khổ sanh tử, th́ sẽ trái nghịch Bồ Đề môn. V́ thế,
an thanh tịnh tâm là thuận theo Bồ Đề môn).
Thứ hai là xa
ĺa trạng thái tạp nhiễm “không có cái tâm khiến cho
chúng sanh an ổn”, ḥng đạt tới cái tâm thanh tịnh an ổn chúng
sanh. V́ sao sẽ đạt được cái tâm an ổn
thanh tịnh? V́ tâm thái đă chuyển, v́ lập nguyện dẹp
trừ, cứu giúp nỗi khổ của chúng sanh. Trong quá
khứ đă bị trần cấu ích kỷ che chắn, chướng
ngại nghiêm trọng, hoàn toàn là cái tâm tạp nhiễm ích kỷ,
trơ ĺ, chẳng lập nguyện mong an lập
chúng sanh. Nay xa ĺa điều đó, sẽ hiện ra cái tâm
an ổn thanh tịnh.
V́ sao nó là thuận
Bồ Đề môn? Điều này lại phải từ nhân
quả mà quan sát chúng có thuận với nhau hay không. Bồ
Đề tâm nơi cái quả là chỗ thanh tịnh để
an ổn hết thảy chúng sanh. Bồ Đề tâm ở
đây là nói đến cái tâm giác ngộ sau khi bổn tánh hiển
lộ thấu triệt, hoàn toàn giác ngộ, nó trở thành chỗ thanh tịnh để hết
thảy chúng sanh đạt được an ổn. Bồ
Đề của Phật giống như một cái cây to
cành lá xum xuê, nó tỏa bóng mát rất lớn, chúng sanh đều
có thể hóng mát, được an vui dưới gốc
cây to. Nay hăy xét xem trạng thái nơi cái nhân
có tương ứng với trạng thái nơi cái quả
hay không? Nếu chẳng phát tâm cứu vớt hết thảy
chúng sanh, khiến cho họ đều thoát ly nỗi khổ
sanh tử, chỉ lo toan cho lợi ích của riêng ḿnh, chẳng
che chở, rợp bóng toàn thể chúng sanh giới, do trạng
thái ấy, rốt cuộc sẽ làm sao mà trở thành cội
đại thụ trong pháp giới phủ rợp, che chở
hết thảy chúng sanh cho được? Chẳng thể
nào! Chỉ có trong lúc tu nhân đă xuất hiện cái tâm an ổn
thanh tịnh, thí xả toàn bộ công đức và
phước đức của chính ḿnh cho chúng sanh, ngơ hầu
chúng sanh sẽ được thanh lương v́ khổ
đă dẹp trừ. Cứ như vậy mà không ngừng
khai phát, tăng trưởng tâm đại bi; rốt cuộc,
tâm đại bi mới có thể che phủ trọn khắp
toàn thể pháp giới, khiến cho hết thảy chúng sanh
đều được thanh lương. Nếu chỉ
v́ riêng một ḿnh cá nhân ta, chẳng phát tâm cứu vớt, dẹp trừ
nỗi khổ cho chúng sanh, mà nếu do trạng thái ấy vẫn
có thể thành tựu Bồ Đề, vậy th́ lẽ ra
kẻ càng ôm ḷng ích kỷ, sẽ thành Phật càng nhanh chóng
hơn; c̣n cái tâm ích kỷ càng nhỏ, sẽ càng chẳng thể
hiển phát đức hạnh của tâm đại bi, rời
ĺa đại Bồ Đề càng xa!
Ngược lại,
nếu xuất hiện cái tâm an ổn thanh tịnh, xa ĺa
tâm thái nhỏ bé ích kỷ, làm điều ǵ cũng lấy
pháp giới chúng sanh làm chánh yếu, muốn cứu vớt,
dẹp trừ nỗi khổ cho chúng sanh, lập nguyện và
hồi hướng như vậy, hiện tiền đang ở
trong trạng thái thanh tịnh, tương ứng với
tâm đại bi được hiển lộ, phát khởi
trọn khắp. Tu như vậy, cái tâm chẳng an ổn
chúng sanh, hoặc tâm thái ích kỷ tạp nhiễm nhỏ hẹp
sẽ dần dần chẳng c̣n. Tập tánh hễ chuyển biến, sẽ biến thành trạng
huống khai phát đại bi. Do nó tương ứng với
tâm đại bi trọn khắp nơi quả vị, sẽ
tùy thuận đường nẻo khai phát Bồ Đề
đại bi. V́ thế gọi là “thuận Bồ Đề môn”. Do xa ĺa chướng
ngại từ cái tâm chẳng an ổn chúng sanh, sẽ đạt
được cái tâm thanh tịnh an ổn. Đấy là cảnh giới “tiến đến, hướng theo quả vị Bồ
Đề, đại bi trọn khắp, có thể an ổn
hết thảy chúng sanh”. Có thể thấy là phương
hướng này hoàn toàn đúng.
(Luận) Tam giả, lạc
thanh tịnh tâm, dục linh nhất thiết chúng sanh đắc
đại Bồ Đề Niết Bàn cố. Bồ Đề
Niết Bàn thị tất cánh thường lạc xứ.
Nhược bất tác tâm linh nhất thiết chúng sanh
đắc tất cánh thường lạc, tức giá Bồ
Đề môn.
(論)三者樂清淨心,欲令一切眾生得大菩提涅槃故。菩提涅槃是畢竟常樂處,若不作心令一切眾生得畢竟常樂,即遮菩提門。
(Luận: Ba là lạc
thanh tịnh tâm, v́ muốn cho hết thảy chúng sanh đạt
được đại Bồ Đề Niết Bàn. Bồ
Đề Niết Bàn là chỗ thường lạc rốt
ráo. Nếu chẳng khởi tâm làm cho hết thảy chúng
sanh đạt được thường lạc rốt
ráo, tức là ngăn che Bồ Đề môn).
Thứ ba là xa ĺa
cái tâm cung kính, cúng dường chính ḿnh, sẽ đạt
được lạc thanh tịnh tâm. V́ sao sẽ đạt
được lạc thanh tịnh tâm? V́ muốn khiến
cho hết thảy chúng sanh đều đắc đại
Bồ Đề Niết Bàn, đấy mới là sự an lạc rốt ráo nhất. Cái tâm khi ấy sẽ
phát triển lớn nhất. Lúc mang giữ cái tâm cung kính,
cúng dường chính ḿnh th́ chính là lúc ở trong tạp nhiễm,
đặc biệt nhỏ nhen ích kỷ, có thể thấy rơ rệt là trạng thái trong lúc đó đă che lấp tâm lượng
thanh tịnh. Ngược lại, phát tâm khiến cho hết thảy chúng sanh đều đắc
đại Bồ Đề Niết Bàn, tâm lượng ấy
đă phát ra to lớn nhất, ứng hợp bổn tánh.
Chuyện ǵ cũng đều chẳng v́ chính ḿnh, mà v́ hết
thảy chúng sanh. Không chỉ là làm cho họ đạt được
niềm vui tạm thời trong cơi trời
người, hoặc niềm vui chẳng rốt ráo của
Tiểu Thừa, mà là khiến cho họ đạt
được niềm vui Vô Thượng Đại Bồ
Đề Niết Bàn, chẳng có cái tâm nào to lớn hơn
cái tâm ấy! Khi đó, các trạng thái hữu hạn, ích kỷ,
hẹp ḥi đều bị tiêu trừ. Do vậy, gọi
nó là “lạc thanh tịnh tâm”.
Niềm vui ấy lấy chuyện chúng sanh đạt
được niềm vui rốt ráo làm chủ, chỉ cần
coi trọng điều này, cái tâm sẽ thoát ĺa [sự chấp trước] riêng
tư cho chính ḿnh, tức là trạng thái “cung kính, cúng dường tự thân”, ngay lập tức
thuộc trong tâm lượng vô tư, xứng hợp tâm lượng
pháp giới, ngay khi ấy sẽ là trạng thái thanh tịnh,
cho nên gọi là “lạc thanh tịnh
tâm”.
V́ sao nó là thuận
Bồ Đề môn? Vẫn phải quan sát từ
phương diện duyên khởi thuận và nghịch. Trạng
huống của cái quả Vô Thượng Bồ Đề
là như thế nào? Chẳng có lầm lỗi, ương họa
thô thiển nơi Khổ và Tập, cũng như lỗi lầm,
ương họa chuyển dời, biến đổi vi tế,
ngay cả chuyển dời, ngay cả
biến đổi trong một sát-na cũng đều chẳng
có. V́ thế là chỗ rốt ráo thường lạc. Trong
khi chứng đắc quả đại Bồ Đề,
tự nhiên sẽ trở thành chỗ nương tựa cho hết thảy
chúng sanh được thọ dụng sự an lạc. Lực
dụng Bồ Đề đại bi bèn dẫn khởi hạnh
lợi tha, chắc chắn sẽ khiến cho chúng sanh đạt
được thường lạc rốt ráo, v́ chúng sanh
và chính ḿnh có cùng một Thể, chẳng thể có một
tí tư tâm nào, một tí hạn cuộc nào! Do đó, bất
cứ ai thành tựu vô thượng giác đạo sẽ
đều nhất định an trí hết thảy chúng
sanh hữu duyên nơi Vô Thượng Bồ Đề.
Ví như lúc chính
ḿnh đă giải thoát khỏi nỗi lo âu sanh tử to lớn
của Ngũ Thủ Uẩn, chứng nhập pháp giới,
chẳng có phân biệt chấp trước ta hay người.
Do vậy, đối đăi người khác như chính
ḿnh, đối với bất cứ một chúng sanh nào cũng
đều có thể dùng phương tiện lực dụng
để cứu vớt họa hoạn Ngũ Thủ Uẩn
của người ấy, dứt
diệt rốt ráo nỗi khổ sanh tử của họ.
Nói cao hơn một bước nữa, chính ḿnh xa ĺa nỗi
khổ chuyển dời, biến đổi vi tế, chẳng
có Biến Dịch sanh tử, dùng lực dụng của ḷng Đồng
Thể Từ Bi, đối với bất cứ chúng sanh nào
cũng đều có thể cứu giúp nỗi khổ v́ bị chuyển dời, biến đổi của kẻ ấy,
khiến cho họ đều thoát ĺa Biến Dịch sanh tử.
Cũng giống như vậy, do Bồ Đề là chốn
thường lạc rốt ráo, khi chứng đắc Bồ
Đề, sẽ xuất hiện Đồng Thể Đại
Bi, đối đăi pháp giới chúng sanh chẳng có chút tâm
thiên vị, lợt lạt, xa cách nào. Do đó, quyết định
sẽ dùng lực dụng phương tiện khiến cho chúng
sanh đạt được thường lạc rốt
ráo.
Lại nh́n vào trạng
thái của cái nhân. Nếu rơi vào tâm thái “cung kính, cúng
dường tự thân”, vậy th́ sẽ chẳng thể
phát tâm làm cho hết thảy chúng sanh đều đạt được
thường lạc rốt ráo, mà cũng là từ trong pháp
giới vốn sẵn b́nh đẳng bèn từ Không sanh
ra Có, xuất hiện cái Ngă riêng tư. Sau đấy, rất
coi trọng cái Ngă riêng tư, thấy các thứ khác đều
chẳng liên quan ǵ với ḿnh. Khi ấy, trọng điểm nơi hành
vi sẽ là toàn bộ đều xoay quanh thân tâm của chính
ḿnh. V́ để cho nó đạt được danh lợi,
dục lạc v.v… mà hành các thứ phương tiện, lúc
nào cũng lấy tự ngă làm trung tâm, phục vụ cho tự
ngă. Đương nhiên là sẽ trái ĺa trạng huống “tự và tha có cùng một Thể,
nguyện v́ chúng sanh đều đạt
được thường lạc rốt ráo mà làm hết thảy các phương tiện”. Cứ phát triển như vậy, chỉ có thể
khiến cho chấp trước ngày càng nặng hơn, ĺa đại
Bồ Đề tâm ngày càng xa hơn! Giả sử nó tùy thuận
đại Bồ Đề, vậy th́ đáng phải nên tôn
trọng, cung kính tự ngă, càng v́ tự ngă mà mưu cầu
lợi lộc riêng tư, sẽ càng tiếp cận đại
Bồ Đề. Nhưng làm như vậy, kết quả chỉ
là khiến cho cái tâm ích kỷ của ta ngày càng nặng hơn,
tâm càng ngày càng bế tắc hơn, phát sanh các thứ lầm
lỗi như tham dục, keo tiếc v.v… Khi tự ngă chẳng
được thỏa măn, sẽ sanh ra các phiền năo như ghen ghét, sân khuể v.v… Do tư dục làm gốc mà
xuất hiện các thứ tà phương tiện lực dụng,
sẽ đẩy con người ch́m sâu hơn trong luân hồi, ĺa đại
Bồ Đề ngày càng xa hơn. Do vậy, thấy rơ điều
này chính là pháp ngăn che Bồ Đề môn.
Trái lại, khi chính
ḿnh xuất hiện cái tâm an ổn thanh tịnh, chẳng c̣n
coi tự ngă là trung tâm, sẽ làm cho hết thảy chúng sanh
đạt được đại lạc Bồ Đề
rốt ráo. Khi ấy, suy nghĩ, phát nguyện v.v… sẽ
ngay lập tức thuận hợp Bồ Đề, phát triển
dần dần, càng ngày càng phù hợp bổn tánh. Tu thuận
tánh như vậy, sẽ tiêu trừ lực dụng điên
đảo của chuyện v́ tự ngă mà hành phương
tiện. Khi khai phát đến mức triệt để, sẽ
hoàn thành lực dụng trọn khắp nơi cái quả đại
Bồ Đề. Có thể thấy nó là thuận Bồ
Đề môn.
Nói chung, do trí huệ
môn, từ bi môn, và phương tiện môn mà xa ĺa ba món trái
nghịch, thành tựu ba món tùy thuận, trụ trong tâm thanh
tịnh mà tu tấn dần dần, rốt cuộc sẽ có
thể đạt được quả đại Bồ
Đề. Đó cũng là sức trí bi khai phát viên măn, xuất hiện
đại trí, đại bi, đại lực Bồ Đề
tâm viên măn trọn vẹn. Đấy gọi là “thành tựu Bồ Đề”.
Trên đây là nói rơ về sự nhập
môn Bồ Đề đạo. Chúng ta muốn chứng viên
măn quả đại Bồ Đề, trước hết,
nhân địa phải chánh đáng, cũng tức là trừ
khử tam chướng, phát tam tâm, xa ĺa sự tham trước
tự thân trong cái tâm của ta, phát khởi tâm vô nhiễm thanh
tịnh, xa ĺa cái tâm chẳng an ổn chúng sanh để phát
khởi cái tâm thanh tịnh an ổn chúng sanh, xa ĺa cái tâm cung
kính cúng dường tự thân để phát khởi cái tâm
lạc thanh tịnh. Ba cái tâm ấy nói phân biệt th́ sẽ
thuộc về bi, trí, lực, ở nơi nhân vị (địa
vị tu nhân), đă tương thuận với đại
Bồ Đề quả. Khi bi, trí, lực phát triển đến
mức rốt ráo th́ sẽ thành Phật, v́ chẳng có chút
Ngă Chấp nào, trở về trí chiếu sẵn có, lại
c̣n hiển phát đại bi, nguyện an lập hết thảy
chúng sanh, lại xuất hiện lực dụng, chỉ v́ chúng
sanh mà tạo lợi lạc. Cũng giống như vậy,
đă có ba cái nhân tương ứng; sau đó, sẽ
dần dần hiển lộ, khai phát, đạt đến
mức triệt để th́ sẽ thành Phật. Nếu
chuyển theo hướng trái nghịch, do v́ duyên khởi chẳng
thuận, chỉ có thể thuận theo sanh tử!
Nhận thức
như vậy để nhập môn; sau đấy,
điều then chốt là phải làm như thế nào ḥng ǵn
giữ cái nhân như vậy, cũng như khiến cho nó
nhanh chóng viên thành. Đấy mới là vấn đề nơi
đạo, dùng vấn đề này để suy xét [phải nên] sanh về Tịnh Độ, hay sanh vào uế độ.
Cuối cùng, [nhận biết đích xác]: Phát
nguyện sanh về Tịnh Độ sẽ có thể mau chóng viên thành. Do cái tâm ấy mà ưa thích,
mong cầu văng sanh Tịnh Độ.
Tịnh Độ Thập
Nghi Luận Giảng Kư
Phần 2 hết
[1]
Khí thế giới tức là các vật chất hoặc sắc
pháp trong một thế giới.
[2]
Di Lặc Thượng Sanh Kinh có
tên gọi đầy đủ là Di Lặc Bồ Tát Thượng
Sanh Đâu Suất Thiên Kinh, do ngài Thư Cừ Lương
Thanh dịch sang tiếng Hán dưới thời Lưu Tống.
Kinh thuật t́nh huống khi Di Lặc Bồ Tát mạng
chung trong nhân gian, sẽ sanh lên trời Đâu Suất, ngự
trong Nội Viện Tịnh Độ thuyết pháp, sự
thù thắng nơi cung Đâu Suất, dạy về pháp Thập
Niệm, cũng như các phương pháp tu hành để
sanh lên Nội Viện trời Đâu Suất. Bản kinh này
có khá nhiều bản chú sớ, như Di Lặc Kinh Du Ư do
ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy, Di Lặc Thượng
Sanh Kinh Tông Yếu do ngài Thích Nguyên Hiểu soạn, Quán Di Lặc
Thượng Sanh Đâu Suất Thiên Kinh Tán của ngài Khuy Cơ,
Tam Di Lặc Kinh Sớ của ngài Cảnh Hưng, Di Lặc
Thượng Sanh Kinh Thụy Ứng Sao Khoa của ngài Thủ
Thiên v.v…
[3]
Theo Phật Quang Sơn Đại Tự Điển, Biệt
Thời Ư (Kālāntarābhiprāya) là một trong bốn
loại ư thú. Biệt Thời Ư có nghĩa là cách nói theo một
ư nghĩa đặc biệt, c̣n có nghĩa là “nói theo một thời
điểm đặc biệt”.
Chẳng hạn như kinh nói “niệm
danh hiệu Đa Bảo Phật, chắc chắn chẳng
bị thoái đọa nơi Vô Thượng Bồ Đề”, hoặc “chỉ cần phát
nguyện, sẽ liền có thể sanh về Cực Lạc”. Đấy là cách
nói đặc biệt để khuyến khích cổ vũ
những kẻ lười nhác tu hành không chịu phát nguyện
văng sanh. Nhiếp Đại Thừa Luận quyển sáu viết:
“Do tụng tŕ danh hiệu
Đa Bảo Phật mà có thể đắc thượng
phẩm công đức. Ư Phật là muốn hiển thị
thượng phẩm công đức nơi hạnh nông cạn
v́ muốn [khiến cho người nghe] sẽ bỏ thói
lười nhác, siêng năng tu đạo, chứ chẳng
phải là chỉ niệm danh hiệu Phật [Đa Bảo]
sẽ lập tức chẳng thoái đọa, quyết
định đắc Vô Thượng Bồ Đề. Ví
như do một đồng tiền vàng mà buôn bán kiếm
được một ngàn đồng tiền vàng, chẳng
phải do một ngày mà sẽ đạt được
[món tiền đó], mà là do sẽ đạt được
một ngàn đồng trong lúc khác. Ư của Như Lai
cũng vậy. Một đồng tiền vàng này là cái nhân
của một ngàn đồng, tụng tŕ danh hiệu Phật
cũng thế, đó là cái nhân để chẳng thoái đọa
Bồ Đề”. Có kẻ do hiểu lầm ư luận
muốn nhấn mạnh sự hành tŕ để thành tựu
cái nhân, bèn lập luận
“không thể văng sanh
trong đời này, tu hành trong
đời này chỉ tạo cái nhân để
được văng sanh trong đời mai sau”.
Theo
đa số các giảng sư, ở đây, tổ Trí Giả
dùng chữ “Biệt
Thời Ư” theo một
ư nghĩa chuyên biệt đối với sự hành tŕ: Có kẻ
thấy kinh văn nói mười niệm thành tựu sẽ
được văng sanh, bèn tưởng là sự thành tựu
khi lâm chung chẳng cần do hành tŕ trong thường nhật,
cứ chờ đến khi lâm chung, do niệm Phật
mười niệm bèn có thể văng sanh.
[4]
Nhiếp Luận là tên gọi tắt của bộ Nhiếp
Đại Thừa Luận (Mahāyāna-samgraha) do Vô Trước
Bồ Tát biên soạn để chú thích phẩm Nhiếp
Đại Thừa trong bộ A Tỳ Đạt Ma Đại
Thừa Kinh. Bộ luận này được coi là giáo
điển trọng yếu của Duy Thức, có ba bản
dịch: 1) Bản do ngài Phật Đà Phiến Đa dịch
vào đời Bắc Ngụy, 2) Bản do
ngài Chân Đế dịch vào đời Trần, và 3) Bản do ngài
Huyền Trang dịch vào đời Đường. Bộ
Nhiếp Đại Thừa Luận được chú giải
bởi Thế Thân Bồ Tát và cũng lần lượt
được dịch sang tiếng Hán ba lần. Ngài Huyền
Trang c̣n dịch một bản chú thích khác mang tên Nhiếp
Đại Thừa Luận Vô Tánh Thích do ngài Vô Tánh biên soạn.
Vào thời cổ, Nhiếp Luận được nghiên cứu
mạnh mẽ, h́nh thành một tông phái gọi là Nhiếp Luận
Tông, tôn ngài Chân Đế làm tổ sư. Về sau, tông này
bị hội nhập vào Duy Thức Pháp Tướng Tông.
Tạp
Tập Luận (c̣n gọi là Đối Pháp Luận) là tên gọi
tắt của bộ Đại Thừa A Tỳ Đạt
Ma Tạp Tập Luận (Mahāyānābhidharma-samuccaya)
do An Huệ Bồ Tát soạn, ngài Huyền Trang dịch sang
tiếng Hán vào năm Vĩnh Huy thứ ba (652) đời
Đường Cao Tông thành mười sáu quyển. Sách này
nhằm chú thích bộ Đại Thừa A Tỳ Đạt
Ma Tập
Luận của ngài Vô Trước. Sách này vốn do đệ
tử của ngài Vô Trước là Giác Sư Tử biên soạn,
ngài An Huệ đă chỉnh lư,
tăng bổ, diễn giải thêm mà thành.
[5]
Ngũ thủ uẩn (Pabcupadanakkhandha) là năm sự chấp
thủ (chấp trước, nắm giữ) đối với
Ngũ Uẩn. Chẳng
hạn như trong Tương Ưng Bộ Kinh, đức
Phật đă dạy: “Này
chư tỳ-kheo! Tất cả sắc trong quá khứ, hiện
tại, vị lai, trong, ngoài, thô, tế, kém cỏi, thù thắng,
xa, gần, đều gọi là Sắc Uẩn. Chấp giữ
lấy nó th́ gọi là Sắc Thủ Uẩn”.
[6]
Uẩn Thể (蕴体) có nghĩa là các pháp được thành
bởi rất nhiều các nhân duyên tụ hợp, Uẩn có
nghĩa là “tích tụ”. Do vậy, Uẩn Thể bao gồm
các pháp hữu vi trong và ngoài thân tâm.
[7]
Khi chư thiên sắp chết, sẽ có năm thứ suy tướng
hiện ra:
1) Xiêm áo dơ bẩn.
2) Hoa trên đỉnh
đầu bị héo.
3) Thân thể hôi hám.
4) Nách rịn mồ
hôi.
5) Chẳng thích ṭa ngồi
của ḿnh.
Ngoài
ra c̣n năm tiểu suy tướng là:
1)
Y phục và vật trang nghiêm phát ra tiếng khiến chính
ḿnh chán ghét.
2)
Quang minh nơi thân bỗng nhiên mờ tối, yếu ớt.
3)
Khi tắm gội,
nước dính vào thân.
4)
Chấp vào cảnh giới.
5)
Mắt nháy lia lịa.
Có
năm tiểu suy tướng th́ không đến nỗi chắc chắn chết, nhưng khi đại suy
tướng hiện ra, vị trời ấy chắc chắn
sẽ chết.
[8]
Zanba chính là thực phẩm thường ăn hằng ngày ở
Tây Tạng. Đây là bột của một loại lúa đại
mạch thường gọi là Thanh Khỏa Mạch (Barley) rang lên, nghiền
nát. Khi ăn, họ trộn bột lúa mạch rang với
nước và bơ thành một món bột sền sệt,
có thể nắn thành nhiều h́nh dáng khác nhau cho đẹp
mắt, hay chỉ đơn giản trộn bột lúa mạch
rang với trà có pha bơ và một chút muối rồi bốc
ăn. Trong các tự viện, họ thường làm những
khối torma để dâng
cúng, tức là dùng bột
lúa mạch rang ḥa với nước và bơ, có thể cho
thêm chút mật hay đường (hoặc không có), đắp
thành một khối có h́nh nón, sau đó dùng bơ pha màu, nặn
thành những h́nh thù đẹp đẽ, hoa lá, chim, cá,
chư Phật, Bồ Tát để gắn trên những khối
bột ấy.
[9]
Nguyên văn là “mạn
thanh” (蔓菁, Turnip), có tên khoa học là Brassica Rapa Var, c̣n gọi
là Đại Đầu Thái, Kết Đầu Thái, Viên
Căn, Bàn Thái, hoặc Cáp La Cổ, có nguồn gốc từ
vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) của Trung Đông. Đây là một
loại rau có củ tṛn to, vỏ ngoài hồng sậm, hay
xanh, có nhiều chủng loại. Tại Trung Hoa, mạn
thanh thường dùng để nuôi ngựa, hoặc muối
khô để ăn với cơm. Có vùng do lương thực
khan hiếm, người ta thường ăn nó thay cơm
khi mùa màng đói kém. Trung Y tin là nó có tác dụng bổ gan, sáng
mắt, trị các loại mụn nhọt.
[10]
Đoạn thực là ăn bằng cách cắn nhỏ,
nhai, nuốt, tức là cách ăn thông thường của
các động vật trên thế gian này.
Xúc
thực là do ăn bằng cách dùng sáu căn để tiếp
xúc, sanh cảm thọ vui sướng, chẳng hạn
như quỷ thần ngửi mùi của thức ăn; hoặc
như khi xem diễn tuồng, xem các chương tŕnh biểu
diễn sẽ hào
hứng quên cả đói khát.
Tư
thực là ăn bằng cách suy tưởng, hoặc bằng
tưởng tượng, chẳng hạn nghĩ đến
trái mơ chua bèn chảy nước miếng, hoặc thấy
người cắn trái chua bèn cảm thấy ê răng.
Thức
thực chỉ lục thức, tức là do thế lực
của đoạn thực, xúc thực, và tư thực tạo
thành cái quả, chấp tŕ sanh mạng bất hoại, v́ thế
gọi là Thực. Chúng sanh trong địa ngục và Vô Sắc
Giới duy tŕ sanh mạng bằng Thức Thực.
[11]
“Đẳng khởi”
là một thuật ngữ chuyên biệt, có nghĩa là cùng lúc
phát khởi. Chẳng hạn do một thiện pháp, tự
tánh thiện trong tâm vương,
tâm sở và các điều thiện tương ứng sẽ
phát khởi trong cùng một lúc.