7. Tất thành Chánh Giác ( : Ắt thành Chánh Giác)

 Trước đức Thế Gian Tự Tại Vương Như Lai, tỳ-kheo Pháp Tạng nói bốn mươi tám nguyện xong, lại đối trước Phật nói kệ tụng để nhắc lại các nguyện ấy và thỉnh Phật chứng minh. Do đại nguyện của Ngài chân thành, sâu rộng, nên ngay khi ấy cảm được trời tuôn mưa hoa, đất chấn động. Trên không trung có tiếng khen rằng “nhất định thành Phật”. Đấy là nội dung của phẩm thứ bảy này.

Chánh kinh:

佛 告 阿 難:爾 時 , 法 藏 比 丘 說 此 願 已,以 偈 頌 曰: 

我 建 超 世 志

必 至 無 上 道

斯 願 不 滿 足

誓 不 成 等 覺

復 為 大 施 主

普 濟 諸 窮 苦

令 彼 諸 羣 生

長 夜 無 憂 惱

     

     

     

     

   

   

   

  滿

 

   

   

   

Phật cáo A Nan: - Nhĩ thời Pháp Tạng tỳ-kheo thuyết thử nguyện dĩ, dĩ kệ tụng viết:

Ngă kiến siêu thế chí

Tất chí vô thượng đạo

Tư nguyện bất măn túc,

Thệ bất thành Đẳng Giác

Phục vi đại thí chủ   

Phổ tế chư cùng khổ,

Linh bỉ chư quần sanh,

Trường dạ vô ưu năo,

Xuất sanh chúng thiện căn,

Thành tựu Bồ Đề quả,

Ngă nhược thành Chánh Giác,

Lập danh Vô Lượng Thọ

Chúng sanh văn thử hiệu,

Câu lai ngă sát trung, 

Như Phật kim sắc thân ,

Diệu tướng tất viên măn,

Diệc dĩ đại bi tâm,

Lợi ích chư quần phẩm,

Ly dục thâm chánh niệm,

Tịnh huệ tu phạm hạnh.

 

Đức Phật bảo A Nan: “Khi ấy, tỳ-kheo Pháp Tạng nói lời nguyện ấy xong, dùng kệ tụng rằng:

Con lập chí siêu thế

Ắt đạt vô thượng đạo

Chẳng trọn vẹn nguyện ấy

Thề chẳng thành Đẳng Giác

Lại làm đại thí chủ

Phổ tế các cùng khổ

Khiến các quần sanh ấy

Đêm dài chẳng ưu năo

Xuất sanh các thiện căn

Thành tựu Bồ Đề quả

Nếu con thành Chánh Giác

Lấy hiệu Vô Lượng Thọ

Chúng sanh nghe hiệu ấy

Đều sanh trong nước con

Thân sắc vàng như Phật,

Diệu tướng đều viên măn

Cũng dùng tâm đại bi

Lợi ích các quần phẩm

Ly dục, chánh niệm sâu

Tịnh huệ tu phạm hạnh  

Giải:

Kiến () là lập. Chữ “siêu thế chí” được các nhà giải thích kinh hiểu theo nhiều cách khác nhau. Ngài Tịnh Ảnh bảo: “Những nguyện đă phát trong đời trước: Nguyện đắc Pháp Thân, cầu sanh Tịnh Độ gọi là nguyện siêu thế”.

Ngài Tịnh Ảnh gọi các nguyện quang minh vô lượng, thọ mạng vô lượng và chư Phật khen ngợi ghi trong bản Ngụy dịch là những nguyện thuộc về Pháp Thân; nguyện cơi nước thanh tịnh và nguyện cơi nước trang nghiêm là Tịnh Độ nguyện. Ngài Tịnh Ảnh chỉ coi năm nguyện ấy là siêu xuất thế gian, ngài Cảnh Hưng cũng nghĩ như vậy. Các vị Nghĩa Tịch, Vọng Tây lại cho rằng cả bốn mươi tám nguyện đều là nguyện siêu thế. Thuyết sau rất đúng.

Sách B́nh Giải nhận xét: “Sư tổ chúng ta (Ngài Thiện Đạo) bảo bốn mươi tám nguyện chẳng thể nghĩ bàn, cũng gọi là thệ nguyện vô ngại. Người đời cho rằng bốn mươi tám nguyện ấy mỗi nguyện riêng rẽ giống như những trái lật và trái hồng đặt cạnh nhau, đấy đều là những kiến giải hạn hẹp chẳng dung thông mà thôi! Chẳng phải như vậy! Ví như một bức gấm Tứ Xuyên khéo dệt thành hoa, quả, cành, lá giống như là có rễ, thân, cành, lá sai khác, nhưng thật sự chỉ là một bức gấm mà thôi. Phật nguyện cũng vậy, tuy có đến bốn mươi tám nguyện, nhưng chỉ là do một trí Chánh Giác thiện xảo trang nghiêm nên gọi là thệ nguyện vô ngại. Bốn mươi tám nguyện c̣n được gọi là nguyện chẳng thể nghĩ bàn, v́ mỗi nguyện trong bốn mươi tám nguyện đều đầy đủ công đức chẳng thể nghĩ bàn. Các nguyện dung nhập lẫn nhau, không bị chướng cách, nên gọi là vô ngại”. Do đây ta thấy được rằng bốn mươi tám nguyện dung nhập lẫn nhau, nguyện nào cũng đều là nguyện siêu thế cả.

Trong quyển Pháp Sự Tán, tổ Thiện Đạo c̣n bảo: “Tuy hoằng thệ nhiều đến bốn mươi tám nguyện, nhưng chỉ để nói lên Niệm Phật là việc thiết yếu nhất”, nghĩa là: Nguyện nào cũng v́ niệm Phật cả. Văng Sanh Luận bảo ba thứ trang nghiêm vào trong một pháp cú, một pháp cú là “chân thật trí huệ vô vi Pháp Thân”. Đại nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng bao gồm cả ba thứ trang nghiêm, viên măn một cách rốt ráo, hoàn toàn nhập vào một pháp cú là chân thật trí huệ vô vi Pháp Thân.

Vả lại, “tiếng, chữ đều là Thật Tướng” nên một câu danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật” chính là bản thể của Pháp Thân, chính là viên viên quả hải. Bốn mươi tám nguyện chỉ nhằm hiển thị danh hiệu A Di Đà Phật, nên danh hiệu A Di Đà Phật có đủ hết thảy các công đức diệu dụng của Di Đà bổn nguyện. Danh hiệu ấy là bản thể của tánh đức, do tu đức viên thành, nhiếp trọn cả tánh đức và tu đức không sót.

Bốn mươi tám nguyện chỉ nhằm đề cao Niệm Phật. Nguyện nào cũng bao hàm quả đức của Phật, nguyện nào cũng phơi bày trọn vẹn vô vi Pháp Thân, nên ta có thể nói nguyện nào cũng là nguyện Pháp Thân cả. Các nguyện dung nhập lẫn nhau không bị cách ngại; nguyện nào cũng chứa đựng vô lượng nguyện thù thắng vô thượng chẳng thể nghĩ bàn, chẳng hề có hạn lượng.

Nói cách khác, cái được gọi là “bốn mươi tám nguyện” ở đây cũng chỉ là giả danh nhằm tùy thuận chúng sanh, chứ thật ra bổn nguyện vô lượng. Hơn nữa, bổn nguyện tuy số đến vô lượng, nhưng rốt ráo chỉ là một pháp cú mà thôi.

Ngay cả chữ “siêu thế” cũng được các vị chú giải kinh giải thích mỗi người một khác. Ngài Nghĩa Tịch giảng “siêu thế” là không c̣n ở trong những địa vị thuộc thế gian nhưng chưa chứng Sơ Địa, nên gọi là “siêu thế”. Ngài Cảnh Hưng bảo “siêu thế” là đă viên măn địa vị Thập Hướng. Cả hai thuyết này đều bảo ngài Pháp Tạng khi ấy vẫn c̣n chưa chứng Sơ Địa.

Các vị Thiện Đạo, Đàm Loan… lại có kiến giải khác hẳn. Đại sư Đàm Loan bảo: “Pháp Tạng Bồ Tát ở nơi đức Thế Gian Tự Tại Vương Phật ngộ được Vô Sanh Pháp Nhẫn, địa vị của Ngài ngay khi ấy là Thánh Chủng Tánh (theo kinh Anh Lạc, Thánh Chủng Tánh là loại thứ bốn trong sáu chủng tánh. Thánh Chủng Tánh là Thập Địa Bồ Tát). Từ trong tánh ấy phát ra bốn mươi tám nguyện”.

Thiện Đạo đại sư cũng cho rằng ngài Pháp Tạng khi phát tâm đă thuộc hàng Thập Địa Bồ Tát. Như vậy, “siêu thế” là vượt khỏi địa vị Địa Tiền (quan điểm này coi những giai vị (địa vị chứng đắc) trước khi chứng được Sơ Địa đều thuộc về thế gian cả).

Hơn nữa, nguyện của Ngài không những chỉ vượt trội nguyện của tất cả người trong tam thừa mà c̣n thù thắng hơn nguyện của chư Phật. Kinh nói Pháp Tạng Bồ Tát trước khi phát tâm đă nói: “Ngă lập thị nguyện, đô thắng vô số chư Phật quốc giả” (Tôi lập nguyện này đều thù thắng hơn vô số các cơi nước Phật). Hậu Xuất Kinh Kệ cũng chép: “Phát nguyện du chư Phật, thệ nhị thập tứ chương” (Phát nguyện trỗi hơn chư Phật, lời thệ gồm hai mươi bốn chương), phần nói về sở nguyện thành tựu trong kinh Vô Lượng Thọ đây cũng chép: Vi diệu kỳ lệ, thanh tịnh trang nghiêm, siêu du thập phương nhất thiết thế giới” (Vi diệu, lạ lùng, đẹp đẽ, trang nghiêm, thanh tịnh, vượt xa hết thảy thế giới trong mười phương) và “A Di Đà Phật quang trung cực tôn, Phật trung chi vương” (quang minh của A Di Đà Phật tôn quư nhất trong các quang minh, Ngài là vua trong các vị Phật) chứng tỏ lời nguyện siêu thế của Pháp Tạng Bồ Tát cũng thù thắng hơn lời nguyện của chư Phật.

Thế giới Cực Lạc vô lượng thanh tịnh trang nghiêm, hiển lộ trọn vẹn tự tánh của đương nhân. Tâm này là Phật, tâm này làm Phật, lư sự vô ngại; nước, chim, cây cối cùng tuyên dương chánh pháp; sắc, thanh, mùi hương, ánh sáng đều khiến cho đạo niệm tăng trưởng; trùng trùng vô tận, tự tại vô ngại, toàn là viên minh cụ đức chẳng thể nghĩ bàn. Toàn thể là sự sự vô ngại pháp giới. Nghe danh hiệu lại chứng được Bất Thoái; trông thấy cây liền khế ngộ Vô Sanh; mười niệm ắt sanh về Tịnh Độ; phàm phu cũng dự vào Bổ Xứ. Những sự như vậy khắp các cơi nước mười phương không nơi nào khác có nổi, chỉ ḿnh cơi Đồng Cư Cực Lạc riêng có, nên gọi là nguyện vô thượng thù thắng siêu thế vậy.

Chữ Đạo trong câu “tất chí vô thượng đạo” (ắt đạt vô thượng đạo) chỉ Bồ Đề. Bồ Đề là đạo được Như Lai chứng đắc. Lại do đạo ấy không có ǵ hơn được nổi nên gọi là vô thượng, tức là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, như trong kinh Pháp Hoa, phẩm Thọ Lượng đức Phật nói: Mỗi tự tác thị ư, dĩ hà linh chúng sanh đắc nhập Vô Thượng Đạo, tốc thành tựu Phật thân” (Ta luôn suy nghĩ nên dùng cách nào khiến cho chúng sanh được chứng nhập vô thượng đạo, chóng thành tựu Phật thân). Cũng giống như vậy, Pháp Tạng Bồ Tát muốn cho chúng sanh chứng được vô thượng đạo. V́ vậy, chữ “tất chí” (ắt đạt) có thể hiểu theo hai cách như sau:

1. Tất chí vô thượng đạo” là chủ thể của bổn nguyện. Trong mỗi một nguyện, Ngài đều dùng Chánh Giác tự thề như hai câu kệ kế tiếp có nói: Tư nguyện bất măn túc, thệ bất thành Đẳng Giác” (Chẳng trọn vẹn nguyện này, thề chẳng thành Đẳng Giác). Như vậy, xét về toàn thể bốn mươi tám nguyện th́ tuy mỗi nguyện sai khác nhưng các đại nguyện đều xuất phát từ một điểm căn bản: Nhằm làm cho chúng sanh chứng nhập vô thượng đạo, cùng thành Chánh Giác. V́ vậy, phẩm Khuyến Tŕ của kinh Pháp Hoa có câu: “Ngă bất ái thân mạng, đản tích vô thượng đạo” (Ta chẳng quư thân mạng, chỉ tiếc vô thượng đạo). Do đó, “vô thượng đạo” là chủ thể của đại nguyện.

2. Coi vô thượng đạo là cái quả của đại nguyện. Tịnh Ảnh Sớ giảng: “Quyết định đắc quả nên bảo là ắt đạt vô thượng đạo”.

 “Phục vi đại thí chủ, phổ tế chư cùng khổ” (Lại làm đại thí chủ, phổ tế các cùng khổ): Đại thí chủ là người bố thí cho hết thảy mọi người, nhưng thí những ǵ: Thí tài vật hay là thí pháp? Sư Tịnh Ảnh bảo: “Pháp hóa lợi ích” nghĩa là pháp thí. Trái lại, ngài Cảnh Hưng cho rằng: “Muốn cứu vớt kẻ nghèo khổ ắt phải dùng tài thí”. Tông Kính Lục, quyển chín mươi lăm lại viết: “Do chẳng có pháp tài nên gọi là bần cùng”. Như vậy, “phổ tế cùng khổ” là thí cho cả pháp lẫn tài vật.

Do đó, câu: Hằng dĩ Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ, lục độ chi hạnh, giáo hóa an lập chúng sanh trụ ư vô thượng chân chánh chi đạo” (Luôn dùng hạnh sáu độ Bố Thí, Tŕ Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Trí Huệ để giáo hóa, an lập chúng sanh trụ nơi đạo vô thượng chân chánh) trong phẩm Tích Công Lũy Đức là nói về Pháp Thí; c̣n câu: Thủ trung thường xuất vô tận chi bảo, trang nghiêm chi cụ, nhất thiết sở tu tối thượng chi vật, lợi lạc hữu t́nh” (Trong tay thường tuôn ra vô tận các báu, vật trang nghiêm, hết thảy các vật cần dùng tối thượng để lợi lạc hữu t́nh) là nói về Tài Thí.

Như vậy, đại thí chủ phải tu cả hai loại pháp thí và tài thí như sách Hội Sớ bảo: “Dùng của cải để cứu giúp kẻ nghèo trong thế gian, dùng pháp độ khắp kẻ thiếu phước, nên gọi là đại thí chủ”. Ư nói: Dùng tài thí cứu vớt những kẻ bần cùng khốn khổ trong thế gian, dùng pháp thí để lợi lạc khắp tất cả những kẻ không có phước được nghe pháp nên gọi là “đại thí chủ”.

Linh bỉ chư quần sanh, trường dạ vô ưu năo” (Khiến các quần sanh ấy, đêm dài không phiền năo): Chúng sanh măi trầm luân trong sanh tử nên ví như đang ở trong “trường dạ” (đêm dài) như kinh thường nói: “Sanh tử trường dạ” (Đêm dài sanh tử). Đêm tượng trưng cho tối tăm không ánh sáng. Tâm chúng sanh bị vô minh che lấp nên hôn mê chẳng giác ngộ, ch́m trong biển sanh tử, oan uổng chịu đựng các nỗi khổ. V́ muốn khiến cho họ vĩnh viễn thoát khỏi hết thảy lo, buồn, khổ năo, thoát khỏi đêm dài sanh tử nên thí cho hai thứ pháp và tài, nhưng do ḷng từ bi cùng cực nên lại khiến cho họ được “xuất sanh chúng thiện căn, thành tựu Bồ Đề quả” (xuất sanh các thiện căn, thành tựu quả Bồ Đề).

Trong hết thảy các loại bố thí, cách bố thí sau đây là tối thượng: Làm cho hết thảy chúng sanh rốt ráo ĺa được khổ, được hưởng sự vui rốt ráo; nhưng muốn làm cho chúng sanh phát sanh được các thiện căn, thành tựu Bồ Đề th́ không chi hơn được pháp tŕ niệm danh hiệu Phật, cầu sanh Cực Lạc. Do vậy, Ngài nói tiếp rằng: Ngă nhược thành Chánh Giác, lập danh Vô Lượng Thọ, chúng sanh văn thử hiệu, câu lai ngă sát trung’ (Nếu tôi thành Chánh Giác, lập hiệu Vô Lượng Thọ, chúng sanh nghe hiệu ấy, đều sanh trong nước tôi). Bốn câu này chính là tâm tủy của đại nguyện, là tṛng mắt của toàn bộ kinh, là cánh tay mầu nhiệm độ sanh của mười phương Như Lai, là thuyền báu để hết thảy chúng sanh thoát khổ. Cả bốn mươi tám đại nguyện chỉ nhằm khai diễn ư nghĩa của bốn câu kệ trên, đúng như ngài Thiện Đạo bảo: “Nguyện nào cũng là để chỉ bày pháp Niệm Phật”.

Thánh hiệu A Di Đà có vô lượng nghĩa: vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng thanh tịnh, vô lượng trang nghiêm, vô lượng trí huệ, vô lượng Bồ Đề, cho đến vô lượng điều vô lượng. Vô lượng thọ biểu thị Pháp Thân thường trụ nên vô lượng thọ bao gồm hết thảy mọi thứ vô lượng. V́ vậy, danh hiệu của Như Lai vang khắp mười phương, chúng sanh được nghe danh đều sanh trong nước Ngài. Do xưng danh liền có nhiều thiện căn, được sanh Tịnh Độ nên chắc chắn chứng Bồ Đề. Thật là phương tiện rốt ráo thù thắng viên măn. Di Đà đại nguyện sở dĩ siêu thế và Phật được xưng tụng là đấng Nguyện Vương chính là do bởi những điều này.

Như Phật kim sắc thân, diệu tướng tất viên măn” (Thân sắc vàng như Phật, diệu tướng đều viên măn): Nguyện người sanh về nước tôi, thân tướng giống như Phật, thân đều có sắc vàng đủ cả ba mươi hai tướng tốt. Hai câu này nhắc lại nguyện thứ ba và thứ tư, chỉ nói thêm là thù thắng, viên măn, ngụ ư thân chúng sanh giống hệt như thân Phật.

Diệc dĩ đại bi tâm, lợi ích chư quần phẩm” (Cũng dùng tâm đại bi, lợi ích khắp các phẩm): Hai câu kệ trước nói về thân đức, hai câu kệ này nói đến tâm đức. Cần chú ư hai chữ “diệc dĩ” (cũng dùng) trong hai câu này. Chữ “diệc dĩ” ngụ ư: Nguyện rằng những người đă sanh về cơi tôi cũng đều giống như tôi (Pháp Tạng) dùng tâm đại bi tạo lợi ích cho khắp các loài chúng sanh. Lại nguyện rằng nhân dân cơi Cực Lạc đều giống như đức Phật: Xem các chúng sanh như chính thân ḿnh, cùng phát khởi tâm Đồng Thể Đại Bi như phẩm Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm đă nói: “Nhân ư chúng sanh nhi khởi đại bi, nhân ư đại bi sanh Bồ Đề tâm, nhân Bồ Đề tâm thành Đẳng Chánh Giác” (Nhân nơi chúng sanh mà khởi đại bi, do đại bi mà sanh tâm Bồ Đề, do tâm Bồ Đề mà thành Đẳng Chánh Giác). V́ vậy, nguyện chúng sanh sanh về cơi tôi phát tâm đại bi lợi ích khắp muôn loài. Chữ “phẩm” () có nghĩa là phẩm loại. “Lợi ích chư quần phẩm” nghĩa là làm lợi ích cho khắp hết thảy vô số chúng sanh muôn loài.

Ly dục thâm chánh niệm, tịnh huệ tu phạm hạnh” (Ly dục, chánh niệm sâu; tịnh huệ, tu phạm hạnh): Dục () là tham dục. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Ly dục thanh tịnh thị tối vi thắng” (Ly dục thanh tịnh là tối thắng). “Chánh niệm” là một trong Bát Chánh Đạo: Ĺa tà phân biệt, niệm Thật Tánh của pháp th́ gọi là Chánh Niệm. Quán Kinh Sớ giảng: “Xả Tướng nhập Thật gọi là Chánh Niệm”.

Sách Hội Sớ giảng chữ “tịnh huệ” như sau: “Tịnh huệ chính là Bát Nhă Ba La Mật, chẳng phải là trí huệ bất tịnh của nhân, thiên, Tiểu Thừa, nên gọi là tịnh huệ”.

“Phạm Hạnh” là hạnh thanh tịnh vô dục, là một trong năm hạnh kinh Niết Bàn dạy, là hạnh lợi tha của Bồ Tát để đối trị hết thảy điều bất thiện, ĺa lầm lỗi được thanh tịnh nên gọi là phạm hạnh. Vạn hạnh để chứng Niết Bàn cũng gọi là phạm hạnh.

Sách Hội Sớ nói: “Dục là nguyên nhân của các khổ, dùng Thí Độ và Giới Độ để xa ĺa, chánh niệm để khéo ǵn giữ như mặc áo giáp vào thành. Nhẫn Độ, Định Độ để tu hành [hạnh ly dục]. Tịnh huệ là Bát Nhă Độ, Tinh Tấn hiện diện trong cả năm độ. Đấy là Lục Độ của Bồ Tát”.

Ngài Vọng Tây hiểu hơi khác, Ngài coi “ly dục” là Thí, Giới, Nhẫn, “chánh niệm” là Thiền Định. Nói chung, ly dục, chánh niệm và tịnh huệ đều là Lục Độ của Bồ Tát. Tu sáu độ này ĺa được ba độc tham, sân, si nên bảo là “phạm hạnh”.

Ngài Vọng Tây lại bảo: “Ly dục chính là không tham, khéo chánh niệm là không sân, tịnh huệ là không si; đó gọi là Phạm Hạnh”.

Chánh kinh:

Nguyện ngă trí huệ quang,

Phổ chiếu thập phương sát,

Tiêu trừ tam cấu minh,

Minh tế chúng ách nạn

Tất xả tam đồ khổ

Diệt chư phiền năo ám

Khai bỉ trí huệ nhăn

Hoạch đắc quang minh thân

Bế tắc chư ác đạo

Thông đạt thiện thú môn

Vị chúng khai pháp tạng

Quảng thí công đức bảo

Nguyện trí huệ quang tôi

Chiếu khắp mười phương cơi

Tiêu trừ tối tam cấu

Độ khắp các ách nạn,

Đều bỏ tam đồ khổ

Diệt các tối phiền năo

Mở được mắt trí huệ

Đạt được thân quang minh

Bế tắc các đường ác

Thông đạt thiện thú môn

V́ chúng khai pháp tạng

Rộng thí báu công đức

Giải:

Đoạn trước nói về vô lượng thọ, đoạn này nói về vô lượng quang. Vô lượng thọ là Thể, vô lượng quang là Tướng và Dụng. Từ công dụng của thể tướng sanh ra vô biên đức giáo hóa và lợi ích.

Trong phần Định Thiện Nghĩa của tác phẩm Quán Kinh Sớ, đại sư Thiện Đạo đă bảo: “Mỗi một nguyện đều v́ chúng sanh”. Bài kệ này đă thể hiện rơ cái tâm ấy. Trong hai câu: Nguyện ngă trí huệ quang, phổ chiếu thập phương sát” (Nguyện trí huệ quang của tôi chiếu khắp mười phương cơi), chữ “trí huệ quang” có hai nghĩa:

1. Một là như kinh Niết Bàn dạy: “Quang minh danh vi trí huệ” (Quang minh gọi là trí huệ). Kinh Siêu Nhật Minh Tam Muội cũng dạy: “Đại trí phát ngoại, năng chiếu pháp giới, danh vi quang minh” (Đại trí phát ra ngoài, chiếu soi pháp giới th́ gọi là quang minh). Xin xem lại lời giải thích chi tiết về chữ “quang minh” ở phần trước; ở đây tôi chẳng nhắc lại.

2. Hai là như Đàm Loan đại sư viết trong tác phẩm Tán A Di Đà Phật Kệ: “Phật quang năng phá vô minh ám, cố Phật hựu hiệu Trí Huệ Quang” (Phật quang chiếu tan tăm tối vô minh, nên Phật hiệu là Trí Huệ Quang).

Câu đầu (tức là câu: “Phật quang năng phá vô minh ám”) giống với thuyết trên; câu sau (tức là câu “Cố Phật hựu hiệu Trí Huệ Quang”) ư nói Trí Huệ Quang là một trong những thánh hiệu của A Di Đà Phật và cũng là một trong mười hai thứ quang minh của Ngài.

Câu “nguyện ngă trí huệ quang” trích trong bản Tống dịch, câu này được bản Đường dịch ghi là “nguyện hoạch Như Lai vô lượng quang” (nguyện được Như Lai vô lượng quang). Theo đó, Trí Huệ Quang là Vô Lượng Quang. Vả lại, đức Di Đà tuy có mười hai danh hiệu, nhưng thật ra trong mỗi danh hiệu đều gồm trọn các đức tánh quang minh khác. V́ vậy, “Trí Huệ Quang” cũng là Vô Lượng Quang, Vô Biên Quang, Vô Ngại Quang, Vô Đẳng Quang, Thường Chiếu Quang, Thanh Tịnh Quang…. V́ vậy, trong câu kệ tiếp theo Ngài nói: “Phổ chiếu thập phương sát” (Chiếu khắp mười phương cơi). Vô lượng quang trọn khắp mười phương theo chiều ngang nên không cơi nào chẳng chiếu thấu.

Hơn nữa, quang minh ấy chính là trí huệ, chiếu tan tối tăm vô minh nhơ bẩn của chúng sanh nên trong những câu kệ tiếp đó, Ngài bèn nhắc lại những diệu dụng của quang minh trí huệ như “tiêu trừ tam cấu minh” v.v...

“Tiêu trừ tam cấu minh, minh tế chúng ách nạn” (Tiêu trừ tối tam cấu, độ khắp các ách nạn): Tam Cấu là tên gọi khác của ba độc tham, sân, si. “Minh” (: Tăm tối) là vô tri. Luận Câu Xá bảo: “Do các thứ vô tri che lấp thật nghĩa và chướng ngại cái thấy đúng đắn nên gọi là Minh”.

Trong cụm chữ “minh tế” ( , tạm dịch là “độ khắp”), Minh có nghĩa là sáng suốt, đầy đủ, đông nhiều, Tế là độ, là cứu. Sách Hội Sớ bảo “minh tế nghĩa là quảng tế” nên “minh tế” nghĩa là cứu độ một cách rộng lớn (v́ vậy, tạm dịch là “độ khắp”). “Ách” () là chướng ngại, trói buộc, là khổ sở. “Nạn” () là khổ nạn, tai nạn, khốn khổ.

V́ vậy, hai câu kệ này có thể hiểu một cách thô thiển như sau: Tiêu trừ ba độc tham sân si tăm tối, nhơ bẩn của chúng sanh, rộng cứu các thứ đau khổ và tai nạn. Các ách nạn nhiều đến vô số nên bảo là “chúng ách nạn” (các ách nạn). Trí quang của Phật có thể cứu vớt khắp tất cả.

Sách Hội Sớ giảng: “Tam Cấu là tham, sân, si. Ba Cấu này làm ô nhiễm tâm tánh nên gọi là Cấu (). Tam Cấu khiến cho chúng sanh mù tối nên gọi là Minh (), chúng là cái nhân làm ta lưu chuyển trong sanh tử. Các ách nạn là quả, tức là sáu đường và bốn loài vậy. Phật quang có đức tánh thanh tịnh, trí huệ, hoan hỷ chiếu rộng khắp, tiêu trừ sự tối tăm do ba chướng gây ra. Tập nhân đă diệt (tiêu diệt được hết cái nhân khổ năo của Tập Đế), khổ quả bèn dứt (chấm dứt cái khổ v́ lưu chuyển) nên bảo là minh tế (độ khắp)”.

Tất xả tam đồ khổ, diệt chư phiền năo ám”ều bỏ tam đồ khổ, diệt các tối phiền năo) là hai câu tiếp nối ư hai câu kệ trước. Tiêu trừ ba độc th́ thoát khỏi ba ác đạo. Do sự khổ trong tam đồ rất nặng nề nên Đại Thánh rủ ḷng thương xót nguyện khiến cho chúng sanh được xa ĺa. V́ vậy, trong bốn mươi tám nguyện, hai nguyện đầu tiên là “trong cơi nước không có ba ác đạo”“chẳng c̣n đọa vào ác đạo” nữa. Câu “tất xả tam đồ khổ” (đều bỏ tam đồ khổ) ở đây có cùng một ư nghĩa với hai nguyện trên.

“Ám” () là thí dụ: Vô minh, phiền năo che lấp nguồn tâm của chúng sanh khiến cho họ tối tăm, mù ḷa không thấy được, nên bảo là “ám”. Trí huệ quang của Phật như mặt trời, Phật trí chiếu tan vô minh, phiền năo, như ánh mặt trời xua tan tăm tối, nên bảo là “diệt chư phiền năo ám” (diệt các phiền năo tối tăm).

Khai bỉ trí huệ nhăn, hoạch đắc quang minh thân” (Mở con mắt trí huệ, đạt được thân quang minh): Công dụng của con mắt là để thấy nên ta thường dùng con mắt tiêu biểu cho cái Thấy. Kinh thường ví: Bát Nhă như con mắt, các Độ khác như mù. Nhà Thiền thường nói: “Hễ tham Thiền th́ phải nắm được tṛng mắt của lẽ Thiền, hễ học hỏi kinh giáo th́ phải nắm được con mắt của kinh giáo”. Những câu như vậy đều dùng con mắt để ví cho chánh kiến Bát Nhă.

Phẩm Ly Thế Gian của kinh Hoa Nghiêm có nói đến Thập Nhăn: Ngoài Ngũ Nhăn, con mắt thứ sáu là Trí Nhăn v́ nó thấy được các pháp. Con mắt thứ bảy là Quang Minh Nhăn v́ thấy được quang minh của Phật. Con mắt thứ tám là Xuất Sanh Tử Nhăn v́ thấy được Niết Bàn. Con mắt thứ chín là Vô Ngại Nhăn v́ thấy mọi pháp vô ngại. Con mắt thứ mười là Nhất Thiết Trí Nhăn, c̣n gọi là Phổ Nhăn v́ thấy được phổ môn pháp giới.

“Trí huệ nhăn” nói trong kinh đây có thể hiểu là Huệ Nhăn và Trí Nhăn trong Thập Nhăn vừa nói trên, cũng có thể hiểu là “Như Lai trí huệ đức tướng” mà chúng sanh sẵn có, nghĩa là Phật Nhăn.

Sách Hội Sớ viết: “Trí huệ nhăn chính là trí huệ, nghĩa là con mắt trí huệ sẵn có trong tâm chúng sanh. Do vô minh hư huyễn che lấp nên nhận lầm là tối tăm, mê muội. Trụ trong tối tăm, mê muội nên lầm tưởng Phật nhăn ở nơi khác. Phật quang phổ chiếu khai mở con mắt sẵn có trong tâm chúng sanh, diệt tan sự tối tăm, hôn ám từ vô thủy đến nay nên bảo là khai”; nghĩa là: Chúng sanh hôn ám, mù ḷa, vô tri, chẳng biết ḿnh sẵn có Phật Nhăn, tự lầm lạc tưởng ḿnh mù tối, tưởng rằng chỉ ḿnh đức Phật có Phật Nhăn. Nay do Phật quang phổ chiếu mà con mắt trí huệ sẵn có trong tâm chúng sanh được mở sáng nên tiêu diệt được hôn ám, tăm tối.

Sách Tam Tạng Pháp Số, quyển mười ba bảo có ba thứ “quang minh” như sau:

1. Ngoại quang minh như quang minh của mặt trời, mặt trăng, châu, lửa v.v... trừ được tăm tối.

2. Pháp quang minh: Diệu pháp trừ được sự tối tăm do ngu si.

3. Thân quang minh: Thân chư Phật, Bồ Tát và chư thiên có quang minh trừ được tối tăm như kinh nói: “Thân đảnh giai hữu quang minh chiếu diệu” (Thân và đảnh đều có quang minh chói ngời).

Nếu chỉ hiểu “thân quang minh” là thân có quang minh th́ chỉ là hiểu ở mức độ nông cạn. Hiểu sâu hơn, câu “hoạch đắc quang minh thân” (đạt được thân quang minh) có đến ba nghĩa:

1. Một là như kinh Thiên Thủ Đà Ra Ni nói: Đương tri kỳ nhân tức thị Quang Minh Tạng, nhất thiết Như Lai quang minh sở chiếu cố” (Hăy nên biết kẻ ấy chính là Quang Minh Tạng v́ được quang minh của hết thảy Như Lai chiếu đến). Do Phật quang phổ chiếu nên chúng sanh cấu (phiền năo) diệt, thiện sanh, huệ nhăn mở sáng, tịnh tâm tŕ niệm. Ngay khi ấy được quang minh của mười phương Như Lai chiếu soi, hộ tŕ, tự thân của hành giả liền trở thành tạng quang minh.

2. Hai là như sách Văng Sanh Luận Chú ghi: “Quang minh của Phật là tướng trí huệ” nên thân quang minh và mắt trí huệ là bất nhị. Mắt trí huệ được mở sáng nên thấy tánh rơ ràng, thành tựu thân quang minh một cách nhanh chóng.

3. Ba là như kinh Tư Ích bảo: “Như Lai thân giả, tức thị vô lượng quang minh chi nghĩa” (Thân Như Lai chính là tạng vô lượng quang minh), nghĩa là nguyện tất cả chúng sanh đều do chân thật trí huệ mà chứng được Pháp Thân Như Lai vậy.

Bế tắc chư ác đạo” (Đóng lấp các đường ác): Ác đạo là như kinh Địa Tŕ nói: “Thừa ác hạnh văng, danh vi ác đạo” (Đi theo hạnh ác nên gọi là ác đạo), tức là thực hành hạnh ác sẽ sa vào con đường này, c̣n gọi là “ác thú”, tức là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Ngoài ba ác thú vừa kể trên, cũng có kinh tính cả A-tu-la là ác thú nên gọi là Tứ Ác Thú. “Bế” () là đóng chặt, cũng có nghĩa là ngăn lấp khiến cho chúng sanh khỏi bị sa vào ách nạn ba đường ác hoặc bốn đường ác. Đấy là cách giải thích thô thiển ư nghĩa câu “bế tắc chư ác đạo”.

Sách Hội Sớ giải thích câu này ở mức độ sâu sắc hơn như sau: Lục đạo đều là ác đạo. Sách viết: “Lục đạo đều bị lưu chuyển nên gọi là ác đạo”. Thuyết của Hội Sớ quả thật có kinh văn làm chứng, bản Ngụy dịch kinh này ghi: “Hoành tiệt ngũ ác thú” (Cắt ngang năm đường ác). Do tính gộp Tu La vào trong các đường khác nên sáu đường trở thành năm đường. Kinh bảo “ngũ ác thú” (năm đường ác) là đúng như Hội Sớ đă hiểu: Lục đạo đều là ác đạo. V́ vậy, “bế tắc chư ác đạo” (bế tắc các đường ác) là đoạn trừ nẻo luân hồi trong sáu đường của chúng sanh, khiến họ thoát biển sanh tử. Phẩm ba mươi hai trong hội bản cũng bảo: “Hoành tiệt ư ngũ thú, ác đạo tự bế tắc” (Cắt ngang khỏi năm đường, ác đạo tự bế tắc - Câu này tổng hợp từ hai bản Hán dịch và Ngụy dịch).

“Thông đạt thiện thú môn”: “Thông đạt” là thông suốt, không úng tắc. “Môn” () có hai nghĩa: Một là sai biệt, hai là tiến nhập. Sách Đại Thừa Nghĩa Chương, quyển một giảng: “Phân định thành từng loại sai biệt nên gọi là Môn. Lại v́ có thể nhập vào, tiến vào, nên cũng gọi là Môn”. Pháp có nhiều thứ sai biệt, tức là có nhiều môn giúp chúng sanh chứng nhập Niết Bàn. Đấy là ư nghĩa của chữ “môn”. Do vậy, pháp được giảng trong mỗi kinh được gọi là môn hay pháp môn. Sách Tứ Giáo Nghi, quyển một chép: “Môn có nghĩa là thông suốt. Bốn cú pháp chân chánh (khổ, không, vô thường, vô ngă hoặc thường, lạc, ngă, tịnh) trong giáo pháp của đức Phật đă dạy đều khiến cho hành nhân lănh hội lư Thật Tướng chân tánh nên gọi là Môn”. Chữ “môn” trong kinh này nên được hiểu theo nghĩa nói trong Tứ Giáo Nghi.

Nói chung, chữ “thiện thú” chỉ ba đường lành trong sáu đường, nhưng trong kinh này, không thể hiểu chữ “thiện thú” như vậy được. Như trong phần trên, chúng ta đă thấy cả sáu đường đều là ác đạo, nên thiên đạo, nhân đạo cũng chẳng được coi là “thiện thú”. Như vậy, “thiện thú” chẳng phải là con đường hướng đến cơi trời, cơi người, mà là con đường quy hướng điều lành bậc nhất như sách Hội Sớ giảng: “Bồ Đề là chỗ quy hướng của sự lành bậc nhất nên gọi là thiện thú môn”.

Như vậy, pháp môn giúp ta chứng nhập được Bồ Đề diệu giác mới gọi là “thiện thú môn”. Môn này chỉ những bậc thượng thiện nhân đă phát tâm Bồ Đề mới có thể chứng nhập nổi, mới hiểu biết một cách thông suốt, nên gọi là “thông đạt thiện thú môn”. Tu pháp nào để thông đạt? Chỉ có ḿnh pháp môn Tịnh Độ phổ độ quần sanh thành tựu tịnh quốc mà thôi!

Vị chúng khai pháp tạng” (V́ chúng khai pháp tạng) là câu tiếp nối ư những câu trên. “Bế tắc chư ác đạo” (Đóng lấp các đường ác) là khiến cho chúng sanh đều thoát khỏi biển sanh tử, “thông đạt thiện thú môn” là đều lên được bờ Niết Bàn. Để thực hiện được lời nguyện ấy, trước hết phải khai thị tri kiến Phật, nên bảo “vị chúng khai pháp tạng”. Diễn rộng diệu pháp khiến cho đại chúng được ngộ nhập, dẫn về Cực Lạc cứu cánh Bồ Đề, nên bảo là “quảng thí công đức bảo” (rộng thí báu công đức). Chữ “chúng” () chỉ cửu giới chúng sanh gồm: Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn và hết thảy chúng sanh trong lục đạo.

“Khai” () là khai Phật tri kiến, ư nghĩa như chữ “khai thị” thường dùng.

“Pháp tạng” c̣n gọi là Phật pháp tạng chính là Lư Thể của pháp tánh, cũng chính là Như Lai Tạng Tánh sẵn có của người nghe pháp. Pháp tánh hàm tàng vô lượng tánh đức nên bảo là “pháp tạng”. Pháp tạng c̣n là giáo pháp của đức Phật dạy. Giáo pháp hàm tàng nhiều nghĩa nên gọi là “pháp tạng”; nhiều pháp tích tụ lại nên gọi là “pháp tạng”, có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn. Phẩm Bảo Tháp kinh Pháp Hoa ghi: “Tŕ bát vạn tứ thiên pháp tạng, vị nhân diễn thuyết” (Tŕ tám vạn bốn ngàn pháp tạng, v́ người khác diễn thuyết).

Luận Câu Xá cũng bảo: “Tất cả hữu t́nh có tám vạn bốn ngàn phiền năo: tham, sân, si v.v... nên để đối trị, đức Thế Tôn nói ra tám vạn pháp uẩn”. Do vậy, Phật nguyện v́ vô lượng chúng sanh khai hiển pháp tánh chân thật, lại giảng ra tám vạn bốn ngàn diệu pháp để đối trị phiền năo của chúng sanh. Nhưng trong tám vạn bốn ngàn pháp ấy, chỉ có mỗi ḿnh diệu pháp Tịnh Độ có thể ban cho chúng ta cái lợi chân thật, khiến cho khắp hết thảy hàm linh đều được độ thoát. Như vậy, giáo thuyết chủ yếu trong “pháp tạng” chính là kinh này.

“Quảng thí” (rộng thí) là cấp cho, ban cho khắp tất cả mọi loài, lợi lạc khắp hết thảy chúng sanh nên bảo là “quảng thí” (rộng thí). Vật dùng để thí là báu công đức.

Sách Nhân Vương Kinh Sớ của tông Thiên Thai giảng chữ “công đức” như sau: “Thí cho chúng sanh là Công, quy về ḿnh là Đức”. Sách Thắng Man Bảo Quật lại giảng: “Ác hết là Công, viên măn điều lành là Đức. Đức lại có nghĩa là có được, do tu công mà đạt được nên gọi là công đức”. Tổng hợp hai thuyết trên th́ lợi lạc chúng sanh và diệt ác là “công”, cái quả của công ấy gọi là “đức”. Đức c̣n có nghĩa là đạt được, do tu công nên đạt được quả ấy.

Chữ “bảo” (: của báu) ở cuối đoạn này chính là điểm ta cần phải hết sức lưu ư. Chữ “bảo” này khác nào như vẽ rồng xong bèn điểm tṛng mắt cho rồng. Cái được ngài Pháp Tạng khai hiển chính là của “báu”. Cái ta dùng để “rộng thí” cho chúng sanh cũng chính là của “báu” ấy. Chữ Bảo này lại có ba nghĩa:

1. Một là mỹ hiệu để tôn xưng, như xưng tụng Phật là Bảo Vương Như Lai, ca tụng Niệm Phật tam-muội là Bảo Vương tam-muội, tôn xưng ấn khế của chư Phật, Bồ Tát là bảo ấn v.v...

2. Bảo là dịch nghĩa của chữ Phạn “ma-ni”. Nhân Vương Kinh Lương Phận Sớ giảng: “Tiếng Phạn gọi là Ma Ni, Hán dịch là Bảo, nếu dịch theo ư nghĩa th́ là Như Ư Bảo Châu do nó thỏa măn bất cứ điều mong cầu nào”. Trong quyển chín kinh Niết Bàn c̣n bảo: “Ma-ni châu, đầu ư trược thủy, thủy tức vi thanh” (Châu Ma-ni bỏ trong nước đục, nước liền trong). Sách Di Đà Sớ Sao cũng viết: “Minh châu gieo vào nước đục, nước đục chẳng thể không trong. Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn không thể chẳng thành Phật”. Đây cũng là đem bảo châu ví với danh hiệu Phật.

3. Ba là như Trí Độ Luận, quyển bốn mươi bảy nói: “Trong các pháp, pháp bảo là của báu chân thật làm lợi ích cho đời này, đời sau, cho đến khi chứng được Niết Bàn”.

Chữ “bảo” trong kinh này có đủ những nghĩa như trên vừa thuật. Pháp được giảng là pháp bảo chân thật, pháp này mầu nhiệm đến cùng tột không chi hơn nổi nên gọi là “bảo”. Pháp này măn nguyện chúng sanh nên được ví với báu Như Ư.

Nói đích xác, của báu ấy chính là pháp Tŕ Danh Niệm Phật. Tâm ấn của pháp Niệm Phật kiên cố chẳng hoại khác nào kim cang nên được xưng tụng là “bảo”. Kinh Quán Phật Tam Muội Hải, phẩm Quán Phật Mật Hạnh có nói:

Thí hữu bần nhân, y hào quư y thực. Thời hữu vương tử xuất du, chấp đại bảo b́nh, b́nh nội tàng vương bảo ấn. Bần giả trá lai thân phụ, nă bảo b́nh đào tẩu. Vương tử giác chi, sử lục đại binh thừa lục hắc tượng truy chi. Tŕ b́nh nhân tẩu nhập không dă trạch trung, độc xà tự tứ diện lai, dục xỉ tŕ b́nh giả, hoảng cụ nhi Đông Tây tŕ tẩu. Kiến không trạch trung, hữu nhất đại thọ ông uất, đầu đới bảo b́nh, phan thọ nhi thượng. Thời lục binh tật tŕ chí thọ hạ, bần nhân kiến nhi thốn vương bảo, dĩ thủ phú diện. Lục hắc tượng dĩ tỵ giảo thọ đảo chi, bần nhân đọa địa. Thân thể tán hoại, duy kim ấn tại bảo b́nh phóng quang, độc xà kiến quang tứ tán. Phật cáo A Nan: - Trụ ư niệm Phật giả, tâm ấn bất hoại, diệc phục như thị” (Ví như có kẻ nghèo cùng dựa dẫm kẻ giàu sang để kiếm cái ăn, cái mặc. Khi ấy, có một vương tử ra ngoài chơi, mang theo b́nh báu lớn, trong b́nh đựng ấn báu của vua. Kẻ nghèo vờ đến thân cận, cướp b́nh bỏ chạy. Vương tử biết được, sai sáu tên lính khỏe mạnh cỡi sáu con voi đen đuổi theo. Kẻ ôm b́nh chạy vào chốn đầm lầy hoang vắng, rắn độc từ bốn phía bổ tới toan mổ gă ôm b́nh khiến hắn hoảng sợ chạy rảo Đông, Tây. Thấy trong đồng hoang có một cây to um tùm, hắn đầu đội b́nh báu, vịn cành leo lên. Khi ấy, sáu tên lính vùn vụt đuổi đến dưới gốc. Gă nghèo thấy vậy liền nuốt ấn vua, dùng tay bưng mặt. Sáu con voi đen dùng ṿi cuốn cây quật xuống. Gă nghèo té xuống đất, thân thể nát nhừ, chỉ c̣n ấn vàng trong b́nh báu tỏa sáng. Rắn độc thấy ánh sáng chạy tứ tán. Phật bảo: - Người trụ vào niệm Phật th́ tâm ấn chẳng hoại cũng giống như thế)

(Trong quyển chín mươi lăm sách Tông Kính Lục có chú giải đoạn kinh này tường tận, chẳng dẫn ra đây).

Nay chỉ bàn về câu cuối trong đoạn kinh trên đây: Phật cáo A Nan: Trụ ư niệm Phật giả, tâm ấn bất hoại, diệc phục như thị” (Phật bảo A Nan: - Trụ trong niệm Phật, tâm ấn chẳng hoại, cũng giống như thế): Rơ ràng, pháp môn Niệm Phật là pháp bảo chân thật chẳng hoại. Diệu pháp Niệm Phật “tâm này là Phật, tâm này làm Phật” toàn từ tánh khởi tu, hoàn toàn tu nơi tự tánh, tự tâm khởi niệm để niệm trở lại tự tâm, dùng Quả Giác của Phật làm cái nhân tâm của chúng ta nên cái nhân tâm ấy mau chóng đồng nhất với Quả Giác.

“Trụ ư Niệm Phật, tâm ấn bất hoại” (Trụ trong niệm Phật, tâm ấn chẳng hoại): Báu công đức chính là tâm này nên cái tâm ấn này được gọi là bảo ấn. Đại nguyện của Phật Di Đà là nguyện phổ độ chúng sanh thành Phật. Để thực hiện nguyện ấy nên mở toang pháp tạng, rộng thí báu vô thượng trang nghiêm bằng vô tận công đức. Báu ấy chính là pháp bảo chân thật “tín, nguyện, tŕ danh”. Câu “trụ ư Niệm Phật, tâm ấn bất hoại” đúng là tṛng mắt của cả một Đại Tạng giáo vậy.

Lúc tŕ danh niệm Phật chính là lúc tâm ấn phóng quang nên: “Một tiếng niệm Phật là một tiếng tâm”. Do vậy, kinh Đại Tập dạy: “Nhược nhân đản niệm A Di Đà, thị tức vô thượng thâm diệu Thiền” (Nếu ai chỉ niệm đức A Di Đà th́ đó chính là vô thượng thâm diệu thiền). Nếu có thể tin nhận được lời nói này th́ chính là hưởng được thâm ân của Phật, được Ngài mở con mắt trí huệ, đắc thân quang minh. Tâm ấn vừa nói đó chính là tâm ấn của các Như Lai, chính là cái gọi là “dĩ tâm truyền tâm” (lấy tâm truyền tâm) của chư Tổ. Được nghe ấn báu này nát thân khó thể báo đền nổi.

 

Chánh kinh:

滿

Như Phật vô ngại trí,

Sở hành từ mẫn hạnh,

Thường tác thiên nhân sư   

Đắc vi tam giới hùng

Thuyết pháp sư tử hống   

Quảng độ chư hữu t́nh

Viên măn tích sở nguyện   

Nhất thiết giai thành Phật

Như Phật vô ngại trí

Thực hiện hạnh từ mẫn

Thường làm thầy trời người

Làm đấng Tam Giới Hùng

Thuyết pháp sư tử rống

Rộng độ các hữu t́nh

Viên măn nguyện xưa kia

Hết thảy đều thành Phật

Giải:

Hai bài kệ này diễn tả ư nguyện cầu thành tựu Phật đức, nguyện phước huệ của ḿnh được như đấng Như Lai.

Câu đầu tiên “như Phật vô ngại trí” là nguyện trí huệ của ḿnh được như đức Phật vậy. “Vô ngại trí” chính là Phật trí thông đạt, không úng trệ, tự tại, dung thông. Kinh Niết Bàn, quyển tám nói: “Như Lai bất nhĩ, tất tri tự địa cập dĩ tha địa, thị cố Như Lai danh Vô Ngại Trí” (Như Lai chẳng như vậy, Ngài đều biết rơ tự địa và tha địa (xin xem lại phần trên đă giải thích về chữ “tự địa” và “tha địa”). Do vậy, Như Lai được gọi là Vô Ngại Trí).

Kinh Đại Tập, quyển một dạy: Vô ngại trí huệ vô hữu biên, thiện giải chúng sanh tam nghiệp sự” (Trí huệ vô ngại chẳng có bờ mé, khéo hiểu việc nơi tam nghiệp của chúng sanh). Kinh Vô Lượng Thọ bản Ngụy dịch, quyển hạ có câu: Phật nhăn cụ túc, giác liễu pháp tánh, dĩ vô ngại trí, vị nhân diễn thuyết” (Phật nhăn viên măn thấy rơ pháp tánh, dùng trí vô ngại v́ người khác diễn thuyết). Như vậy, ngài Pháp Tạng phát nguyện cầu được trí vô ngại này chính là để v́ cửu giới chúng sanh diễn thuyết diệu pháp khế lư, khế cơ hết thảy vô ngại.

“Sở hành từ mẫn hạnh” (Thực hiện hạnh từ mẫn): Nguyện cầu hạnh của ḿnh cũng được như hạnh từ mẫn của đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn do vô duyên đại từ thương xót chúng sanh đều như con một nên cứu vớt, gánh vác khiến cho họ đều được lên bờ kia. Do vậy, Pháp Tạng nguyện thực hành hạnh của Phật đă hành.

Như vậy, câu kệ trước là cầu trí huệ của Phật, câu này cầu đạt ḷng từ bi của Phật; trí, bi song hành, khế hợp Bồ Đề trọn vẹn. Bi và trí như hai cánh chim, chẳng thể thiếu một được.

Trong câu: Thường tác thiên nhân sư” (Thường làm thầy trời người), “Thiên nhân sư” là một trong mười hiệu của Như Lai. Chữ “Tam Giới Hùng” trong câu “đắc vi Tam Giới Hùng” (được làm đấng Tam Giới Hùng) cũng là một đức hiệu của Phật. Tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô Sắc giới. Phẩm Phương Tiện kinh Pháp Hoa có câu: “Thế Hùng bất khả lượng” (Đức Thế Hùng chẳng thể lường được). Ngài Tịnh Ảnh bảo: “Thế Hùng là danh xưng khác của Phật”. Phật đoạn sạch hết thảy phiền năo nên là bậc Đại Hùng trong tam giới. Nói chung, đoạn kinh này để tổng kết đại nguyện.

Trước hết nói đến “vô ngại trí” là cầu trí huệ, từ chữ “từ mẫn hạnh” trở đi bày tỏ thệ nguyện. Sách Hội Sớ bảo: “Nguyện là hướng đạo (người dẫn đường) của muôn hạnh, Huệ là con mắt của Phật đạo. Nguyện để dẫn dắt nhân hạnh, Huệ để chiếu soi Phật đạo. Nguyện Huệ viên măn th́ gọi là Như Lai nên nói là ‘đắc vi Tam Giới Hùng”. Trí huệ và thệ nguyện là nhân để thành Chánh Giác, viên măn được cả hai thứ ấy th́ từ nhân mà đắc quả nên làm bậc Đại Hùng trong tam giới.

“Thuyết pháp sư tử hống”: Nguyện ḿnh thuyết pháp giống như đức Thế Tôn, ở giữa đại chúng làm “sư tử hống”. Sư tử hống là thí dụ. Sư tử rống lên một tiếng, muôn thú đều run rẩy. V́ vậy, lời thuyết pháp vô úy quyết định của đức Thế Tôn được xưng tụng là “sư tử hống”. Kinh Niết Bàn, quyển hai mươi lăm có câu: “Sư tử hống giả, danh quyết định thuyết” (Sư tử hống là nói một cách quyết định). Trong kinh Duy Ma, phẩm Phật Quốc cũng có câu: “Diễn pháp vô úy, do như sư tử hống” (Diễn nói pháp không sợ hăi, ví như sư tử rống).

Ngài Tăng Triệu giảng rằng: “Sư tử hống là tiếng vô úy. Lời nói nào [của đức Phật] cũng chẳng e sợ quần tà, dị học, ví như sư tử rống lên, muôn thú đều nép phục”. Có thuyết pháp được như thế mới có thể “quảng độ chư hữu t́nh” (rộng độ các hữu t́nh). Vả lại, “quảng độ chư hữu t́nh” chính là căn bản của các đại nguyện của ngài Pháp Tạng nên nói: Bốn mươi tám đại nguyện, nguyện nào cũng v́ chúng sanh.

“Viên măn tích sở nguyện” (Viên măn nguyện xưa kia): Bảo là “tích sở nguyện” (nguyện xưa kia) là v́ Pháp Tạng Bồ Tát trong năm kiếp siêng năng tu tập, chọn lọc, tạo nên bốn mươi tám đại nguyện. Mỗi lời thệ đă phát đều được công viên quả măn nên bảo là “viên măn tích sở nguyện” (viên măn nguyện xưa kia). Lạ lùng thay câu nói “nhất thiết giai thành Phật” (hết thảy đều thành Phật), nát thân khắp hư không khó thể đáp đền! Câu này chính là bản thể của bốn mươi tám đại nguyện. Từ một câu này biến thành bốn mươi tám đại nguyện, mỗi một nguyện cũng chỉ nhằm thể hiện câu này. Văng Sanh Luận bảo ba thứ trang nghiêm (cơi Phật, Phật và Bồ Tát) “vào trong một pháp cú. Một pháp cú là thanh tịnh cú. Thanh tịnh cú là chân thật trí huệ vô vi Pháp Thân. Nên biết rằng sự thanh tịnh ấy có hai loại, những ǵ là hai loại? Một là khí thế gian[1] thanh tịnh, hai là chúng sanh thế gian thanh tịnh”. Câu “nhất thiết giai thành Phật” (hết thảy đều thành Phật) này đă chỉ rơ rành rành hai thứ trang nghiêm ấy.

Phẩm Tuyền Tŕ Công Đức trong kinh Vô Lượng Thọ đây có đoạn: Kỳ thủy nhất nhất tùy chúng sanh ư... ba dương vô lượng vi diệu âm thanh, hoặc văn Phật Pháp Tăng thanh, Ba La Mật thanh… cam lộ quán đảnh thọ vị thanh. Đắc văn như thị chủng chủng thanh dĩ, kỳ tâm thanh tịnh, vô chư phân biệt, chánh trực b́nh đẳng, thành thục thiện căn, tùy kỳ sở văn, dữ pháp tương ứng. Kỳ nguyện văn giả, triếp độc văn chi. Sở bất dục văn, liễu vô sở văn, vĩnh bất thoái chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm” (Nước ấy thuận ư của mỗi chúng sanh.... Sóng vang ra vô lượng âm thanh vi diệu, nghe tiếng Phật, Pháp, Tăng hoặc tiếng Ba La Mật... tiếng cam lộ quán đảnh nhận lănh địa vị... Được nghe các âm thanh như thế xong, tâm thanh tịnh không có các phân biệt, chánh chân, b́nh đẳng, thành tựu thiện căn. Điều ǵ được nghe cũng tương ứng với pháp. Ai muốn được nghe, tai liền nghe thấy. Ai chẳng muốn nghe, trọn chẳng nghe thấy, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác).

Nước là vật chất vô t́nh, sao lại có được vô lượng diệu dụng đến thế, tùy nghi thích ứng căn cơ, muốn nghe liền được nghe. Nước lại có đầy đủ công đức chẳng thể nghĩ bàn như thế này: Khiến cho người nghe trọn chẳng bị thoái chuyển! Rơ ràng là trong Nhất Chân pháp giới, một hạt bụi, một mảy lông không thứ nào chẳng viên minh cụ đức, một thứ là chân th́ hết thảy thứ là chân. Một mảy trần, một sợi lông không thứ nào chẳng là viên viên quả hải.

Theo sách Hiển Mật Viên Thông, viên viên quả hải chính là biển thánh giác quả đức vô thượng viên măn. Chúng sanh thế gian và khí thế gian đều thanh tịnh. Hữu t́nh, vô t́nh đều cùng thành Phật nên bảo: “Nhất thiết giai thành Phật” (Hết thảy đều thành Phật). Một câu nói này bóc trần tâm tủy của Tam Tạng và mười hai bộ kinh, mở toang huyền chỉ của một ngàn bảy trăm công án trong nhà Thiền, bộc lộ thẳng thừng mật ư “đại viên thắng huệ, đại viên măn” của Mật tông. Câu này chính là một pháp cú, chính là thanh tịnh cú, cũng có thể gọi theo nhà Thiền là “mạt hậu cú” (câu sau cùng hết), vạn đức cùng được phô bày, một pháp chẳng lập, nói năng, suy nghĩ đều chẳng nhằm, chỉ đành lặng im lănh hội.

 

Chánh kinh:

Tư nguyện nhược khắc quả,

Đại thiên ưng cảm động

Hư không chư thiên thần

Đương vũ trân diệu hoa

Nguyện ấy nếu ắt thành,

Đại thiên nên cảm động

Các thiên thần trên không

Nên mưa hoa trân diệu.

Giải:

Sách Hội Sớ giảng chữ “khắc quả” như sau: “Khắc () là khắc thành, tức là chắc chắn đạt được”. Thay v́ nói “khắc quả” ta thường nói là “quyết định thành tựu”. “Cảm” () là cảm ứng. Cảm thuộc về chúng sanh, Ứng thuộc nơi Phật, Bồ Tát.

Ư của đoạn kệ này là: Nếu bổn nguyện của tôi chắc chắn được thành tựu th́ hết thảy thánh chúng trong đại thiên thế giới hăy nên cảm động, hiện ra các điềm lành; từ trên hư không, Phạm thiên, Đế Thích và các thiên thần trên trời nên mưa xuống các hoa trời quư báu, lạ lùng, đẹp đẽ để chứng minh. Ngài Tịnh Ảnh bảo: “Bài kệ này cầu thỉnh chứng minh bằng cách hiện điềm lành. Nếu tôi quyết định thành tựu, cơi đại thiên nên rúng động, trời mưa xuống hoa nhiệm mầu”.

 

Chánh kinh:

難:法 已,應 動。天 華,以 上。自 言,決

Phật cáo A Nan:

- Pháp Tạng tỳ-kheo thuyết thử tụng dĩ, ứng thời phổ địa lục chủng chấn động, thiên vũ diệu hoa, dĩ tán kỳ thượng. Tự nhiên âm nhạc không trung tán ngôn, quyết định tất thành vô thượng Chánh Giác.

Phật bảo A Nan:

- Pháp Tạng tỳ-kheo nói bài tụng ấy xong, ngay khi ấy khắp cơi đất chấn động sáu cách, trời mưa diệu hoa rải lên trên thân Ngài. Trên không trung tự nhiên [có tiếng] âm nhạc khen ngợi: “Quyết định ắt thành vô thượng Chánh Giác”.

Giải:

Nói kệ vừa xong, lập tức có điềm lành ứng hiện nên bảo là “ứng thời” (ngay khi ấy). Đại địa chấn động là tướng lành ứng hiện nơi khí thế gian. Trời đổ mưa hoa, tấu nhạc, khen ngợi là điềm lành ứng hiện nơi hữu t́nh thế gian, nhằm chứng minh đại nguyện của ngài Pháp Tạng nhất định thành tựu. Chữ “phổ địa” chỉ đại địa trong toàn thế giới.

Về “lục chủng chấn động” (sáu thứ chấn động) có ba cách giải thích:

1. Chấn động trong sáu thời điểm nên gọi là “lục động”: Khi Phật nhập thai, khi Phật xuất thai, khi Phật thành đạo, khi Phật chuyển pháp luân, khi thiên ma khuyến thỉnh Phật nên xả mạng, khi Phật nhập Niết Bàn.

2. Do chấn động cả sáu phương nên gọi là lục động. Kinh Đại Phẩm Bát Nhă, quyển một chép: Nhĩ thời Thế Tôn cố tại sư tử ṭa, nhập Sư Tử Du Hư tam-muội, dĩ thần thông lực cảm động tam thiên đại thiên quốc độ, lục chủng chấn động. Đông dũng, Tây một, Tây dũng, Đông một, Đông dũng, Bắc một, Bắc dũng, Đông một, biên dũng, trung một, trung dũng, biên một, địa giai nhu nhuyễn, linh chúng sanh ḥa duyệt” (Lúc bấy giờ đức Thế Tôn vẫn ở trên ṭa sư tử, nhập Sư Tử Du Hư tam-muội, dùng sức thần thông làm cho các cơi nước trong tam thiên đại thiên sáu thứ chấn động: Đông vọt lên, Tây ch́m xuống; Tây vọt lên, Đông ch́m xuống; Nam vọt lên, Bắc ch́m xuống; Bắc vọt lên, Nam ch́m xuống; khắp chung quanh nổi lên, chính giữa ch́m xuống; chính giữa nổi lên, chung quanh ch́m xuống. Cả mặt đất đều nhu nhuyễn khiến chúng sanh vui thích). Như vậy, sáu phương Đông, Tây, Nam, Bắc, chính giữa và chung quanh bị chấn động nên gọi là “lục động”.

3. Ba là có sáu tướng chấn động. Do chấn động sáu cách nên gọi là Lục Động. Bản dịch kinh Hoa Nghiêm đời Tấn bảo “động, khởi, dũng, chấn, hống, giác” là lục động. Động () là lắc lư; khởi () là nhô lên cao; dũng () là hũng xuống, trồi lên; chấn ()là vang ra tiếng; hống   () là tiếng vang rền; giác () là khiến người khác biết, khiến cho chúng sanh giác ngộ.

Trong ba thuyết trên, thuyết thứ nhất nói về thời điểm chấn động; hai thuyết sau nói đến tướng trạng chấn động. Theo quyển tám Trí Độ Luận, nhân duyên khiến cho khắp cơi đất chấn động như sau: “V́ sao Phật chấn động tam thiên đại thiên thế giới? Đáp: V́ muốn cho chúng sanh biết rằng hết thảy đều là không, vô thường. Hơn nữa, giống như người muốn nhuộm áo, trước hết phải rũ bỏ bụi đất, đức Phật cũng giống như thế: Trước hết khiến cho chúng sanh trong tam thiên đại thiên thấy được thần lực của Phật sanh tâm kính trọng, nhu thuận; sau đấy, Phật mới thuyết pháp. V́ vậy, Phật chấn động cơi đất sáu cách”.

Ở đây, khắp cơi đất chấn động sáu cách để ứng với lời thề “đại thiên ưng cảm động” (đại thiên nên cảm động) của Pháp Tạng đại sĩ, đồng thời biểu thị: Nay Đại Sĩ phát nguyện, tương lai sẽ chuyển vô thượng đại pháp luân.

Bản Đường dịch ghi các ư “trời mưa diệu hoa”, “tự nhiên âm nhạc” như sau: “Thiên hoa, cổ nhạc măn hư không” (Hoa trời, âm nhạc tấu lên đầy dẫy hư không). Gia Tường Sớ giảng: “Đất động biểu thị hạnh nhân, mưa hoa biểu thị ắt được chứng quả. Tự nhiên có âm nhạc chứng tỏ sẽ đắc cơi vui mầu nhiệm, thuyết pháp giáo hóa chúng sanh”. Ư nói: Trong các điềm lành hiển hiện, đất chấn động biểu thị hạnh nguyện là cái nhân để đắc quả; mưa hoa: có hoa ắt sẽ có quả. Dùng ngay h́nh ảnh ấy để biểu thị đại nguyện ắt sẽ đắc quả. “Tự nhiên âm nhạc” là ắt được hưởng cơi vui mầu nhiệm và tuyên dương diệu pháp một cách rộng răi, giáo hóa chúng sanh vô tận.

Sách Hội Sớ giảng câu “tán ngôn quyết định tất thành vô thượng Chánh Giác” (khen ngợi rằng quyết định ắt thành vô thượng Chánh Giác) như sau: “Chắc chắn đắc quả không c̣n nghi ngờ ǵ nữa nên nói là ‘quyết định’. Bởi đấy là sự khẳng định chắc chắn nhất trong những lời đoan chắc nên bảo là ‘tất thành’ (ắt thành). Vô Thượng Chánh Giác là Phật quả, không ǵ hơn nổi Phật quả nên bảo là vô thượng”.

V́ sao ngay khi Pháp Tạng Đại Sĩ vừa phát nguyện xong, trên không trung liền có tiếng khen rằng: “Quyết định ắt thành vô thượng Chánh Giác”? Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận giảng điều này rất là tinh xác, ở đây tôi chỉ lược nêu đại ư như sau: Hết thảy cơi Phật chẳng thể được thành lập riêng ngoài một niệm trong cái tâm thanh tịnh của chúng sanh. Pháp Tạng Đại Sĩ phát ra thệ nguyện rộng sâu như vậy chỉ nhằm phá trừ vọng chấp của chúng sanh, khai hiển tâm lượng vốn có của đương cơ khiến họ biết được rằng Tịnh Độ chính là pháp tánh vốn sẵn như vậy, chẳng phải từ cái nào khác mà được.

V́ sao vậy? Tự tánh không tịch, ĺa khỏi các đường ác; tự tánh diệu viên (trọn vẹn mầu nhiệm) có đủ các tướng hảo; tự tánh vô ngại hiện sáu thần thông; tự tánh vô trụ chẳng thể đoạn diệt; tự tánh vô tác chẳng có hạn lượng; tự tánh chẳng phải ở ngoài như gió thổi khắp nơi; tự tánh chẳng ở trong như gương soi khắp tất cả; tự tánh quang minh như mặt trời chiếu khắp nơi; tự tánh b́nh đẳng như hương xông khắp mọi chốn. Bồ Tát tùy thuận tâm không tịch, tâm diệu viên, tâm vô ngại, tâm vô trụ, tâm vô tác, tâm không ngoài, tâm không trong, tâm quang minh, tâm b́nh đẳng sẵn có trong tự tánh của chúng sanh để trang nghiêm cơi Phật.

V́ vậy, bốn mươi tám nguyện, nguyện nào cũng chính là cái tâm sẵn có của chúng sanh. Dùng tự tâm để trang nghiêm tự tâm, trang nghiêm cơi của chính ḿnh như nước xuôi về biển, như âm vang ứng theo tiếng. Tâm và cơi chẳng hai, nhân quả đồng thời, nên Pháp Tạng phát nguyện xong trên không trung liền có tiếng khen ngợi “quyết định ắt thành vô thượng Chánh Giác”: Do cái nhân chẳng thể nghĩ bàn phát khởi cái quả chẳng thể nghĩ bàn; cái nhân chẳng thể nghĩ bàn lại chính là cái quả chẳng thể nghĩ bàn. Ai chuyên chí nơi Tịnh Độ phải nên tin nhận điều này. Chúng ta rất nên nghiền ngẫm lời luận ấy.



[1] Khí thế gian: Những ǵ thuộc về vật chất hay loài vô t́nh.