24. Tam Bối Văng Sanh ( : Ba bậc văng sanh)

 Chánh kinh:

難,十 民,其 國,凡 輩。

Phật cáo A Nan: - Thập phương thế giới chư thiên nhân dân, kỳ hữu chí tâm nguyện sanh bỉ quốc, phàm hữu tam bối.

Phật bảo A Nan: - Nói chung, chư thiên nhân dân trong mười phương thế giới những ai chí tâm nguyện sanh về cơi kia th́ gồm có ba bậc.

Giải:

Phẩm trước là mười phương chư Phật khen ngợi, đó chính là kết quả của nguyện “chư Phật khen ngợi”. Ấy là v́ chư Phật muốn cho chúng sanh nghe danh hiệu phát tâm, ức niệm, thọ tŕ, thỏa nguyện được văng sanh. Phẩm này bàn về các loại nhân hạnh để văng sanh.

Phàm phu sau khi nghe danh hiệu Phật liền phát tâm. Do tín nguyện có sâu - cạn nên phát tâm có lớn hay nhỏ, tŕ tụng nhiều hay ít, tu tập có siêng, lười nhiều nỗi sai khác. Túc căn của chúng sanh có vô lượng sai biệt; phước đức, nhân duyên lại càng sai khác hơn nữa. Người người khác nhau, kẻ kẻ bất đồng. Do đó, đă có vô lượng chúng sanh trong mười phương văng sanh th́ phẩm loại của họ cũng phải vô lượng.

Đối với vô lượng phẩm loại sai khác như thế, đức Thế Tôn chỉ tạm phân chia một cách tổng quát nên trong phẩm này chỉ nói đến ba bậc thượng, trung, hạ. Đấy là cách phân chia giản lược nhất. Mỗi bậc lại tách ra làm ba loại nhỏ nên thành ra chín loại; Quán kinh gọi là “chín phẩm”. Mỗi phẩm trong chín phẩm đó lại có chín phẩm, thành ra tám mươi mốt phẩm. Cứ lần lượt khai triển như thế đến vô lượng.

Trong vô lượng thứ bậc ấy, nói một cách tổng quát th́ gồm có ba bậc. Dẫu phẩm loại của những người văng sanh thật khác xa nhau, nhưng khi luận đến cái nhân chủ yếu để văng sanh th́ chẳng ǵ khác hơn là “phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm A Di Đà Phật”. Đấy chính là cương tông của toàn bộ kinh này, là ch́a khóa để văng sanh Cực Lạc.

Ba bậc văng sanh chính là để phân loại bọn phàm phu chúng ta sau khi đă văng sanh về Tịnh Độ. Nguyện hạnh, công đức của từng bậc chính là khuôn phép để chúng ta noi theo ḥng cầu được văng sanh. Nếu ḷng chân thành cầu được văng sanh th́ phải nên tuân theo những khuôn phép đó, khác nào tấm gương sáng để ta luôn soi ḿnh, mong sao được bằng.

Nên nhớ rằng Tịnh tông được xưng tụng là Dị Hành Đạo (đạo dễ hành) là v́ so với tám vạn bốn ngàn pháp môn mà nói th́ chỉ có pháp môn này dễ dàng nhất nên mới gọi là “dị hành đạo”; chứ nếu xét theo những điều được dạy trong kinh này, ta thấy văng sanh cũng chẳng phải là việc dễ. Nếu chẳng thật v́ sanh tử phát tâm Bồ Đề, dùng tín nguyện sâu một dạ chuyên niệm mà mong văng sanh th́ không thể nào được.

Kính mong những hành nhân trong hiện tại chớ đừng thoáng nghe Tịnh tông là dễ tu liền sanh khinh mạn, tín tâm hời hợt, chí nguyện lơ là, miệng bàn Tịnh nghiệp, tâm tiếc trần duyên; như vậy mà cầu sanh th́ biết đến bao giờ mới được!

Khi phán định chín phẩm trong Quán kinh có tương đương với ba bậc trong kinh này hay không, cổ đức đă lập ra lắm thuyết bất nhất:

1. Trường phái coi những phẩm loại được nói trong hai kinh là giống nhau th́ gồm những vị như đại sư Đàm Loan, Cảnh Hưng, Gia Tường, Liên Tŕ, Thiên Thai… Trong tác phẩm Lược Luận An Lạc Tịnh Độ Nghĩa, ngài Đàm Loan nói: “Kinh Vô Lượng Thọ nói người sanh về An Lạc chỉ có ba bậc thượng, trung, hạ; kinh Quán Vô Lượng Thọ nói mỗi phẩm lại chia ra làm thượng, trung, hạ. Ba lần ba thành chín, hợp thành chín phẩm”. Tịnh Ảnh Sớ lại viết: “Phàm các nhân dân trong mười phương thế giới nguyện sanh cơi ấy th́ có ba bậc. Gộp chung lại để nói th́ như trong Quán kinh; nếu chia sơ lược th́ có ba bậc, chia tỉ mỉ th́ thành ra chín”. Ngài Gia Tường cũng viết trong Quán Kinh Sớ như sau: “Kinh Vô Lượng Thọ chỉ nói ba bậc, c̣n trong kinh đây (chỉ kinh Quán Vô Lượng Thọ) chia ba bậc thành chín bậc. Ba bậc là thượng, trung, hạ. Chín bậc là thượng phẩm có ba; trung, hạ cũng có ba nên thành chín bậc”. Ngài Cảnh Hưng cũng bảo: “Do chín phẩm trong kinh kia (Quán kinh) gộp lại thành ba bậc trong kinh này nên giáo nghĩa dạy trong hai kinh chẳng khác nhau”. Ngài Liên Tŕ lại bảo: “Ba bậc, chín phẩm phù hợp khít khao với nhau, nào c̣n ngờ chi!” Trong Quán Kinh Sớ, ngài Thiên Thai cũng bảo: “Chín phẩm trong kinh này (Quán kinh) chỉ là để cho biết địa vị cao hay thấp, chúng chính là ba bậc trong Đại kinh”.

2. Phái chủ trương các bậc, phẩm nói trong hai kinh là khác nhau th́ có các vị như Linh Chi, Cô Sơn… Ngài Linh Chi bảo ba bậc trong Đại kinh chỉ tương ứng với Thượng Phẩm của Quán kinh chứ không dính dáng ǵ đến sáu phẩm kia v́ trong Trung Phẩm và Hạ Phẩm không nói đến việc phát Bồ Đề tâm. Quan điểm của ngài Cô Sơn thoáng hơn; Ngài cho rằng ba bậc trong kinh này chỉ tương ứng với Thượng Phẩm và Trung Phẩm, chứ chẳng thuộc ba phẩm Hạ v́ người văng sanh thuộc ba bậc trong kinh này đều là thiện nhân; c̣n người thuộc ba phẩm Hạ trong Quán kinh đều là ác nhân, lúc lâm chung sám hối niệm Phật nên được văng sanh. V́ vậy, các vị trên đều cho rằng chẳng thể phối hợp các phẩm loại của hai kinh này với nhau.

Trong tác phẩm Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư đă dung hội các thuyết trên như sau:

“Sách Thảo Am Phụ Chánh Giải bảo: ‘Ngài Thiên Thai coi chín phẩm giống với ba bậc là v́ xét theo thứ bậc mà nói chứ chẳng xét trên nhân hạnh mà bàn. Ư các vị như Cô Sơn, Linh Chi chẳng trái nghịch ư ngài Thiên Thai, v́ sao vậy? Do ngài Thiên Thai phán định trên phương diện thứ bậc nên ba bậc và chín phẩm tương đồng. Hai vị đại sư lại chỉ xét trên nhân hạnh nên ba bậc chỉ tương ứng với trung, thượng phẩm. Mỗi bên có cơ sở lập luận riêng nên giáo nghĩa chẳng đồng. Do vậy, ư kiến các Ngài chẳng trái nghịch nhau’.

Dựa trên Thật Đế mà luận th́ phiền năo khác ǵ Bồ Đề, sự ác lúc ban đầu nào trở ngại sự lành lúc chung cục. Ác nhân đă thành thiện th́ lẽ đâu chẳng xếp vào hàng hiền thánh. Ba bậc chín phẩm thật phù hợp khít khao với nhau, há c̣n ngờ chi”.

Quan điểm dung thông của Ngài thật khế hợp pháp yếu bởi v́ chủ trương phối hợp hai kinh với nhau của những vị như Thiên Thai v.v… là chú trọng vào địa vị sau khi văng sanh, chẳng luận đến sự hành tŕ khi c̣n tu nhân; các vị như ngài Linh Chi v.v… coi hai kinh khác nhau v́ chú trọng về mặt hành tŕ khi tu nhân nên mới xét đến việc chưa từng phát Bồ Đề tâm lẫn hành vi thiện ác lúc b́nh thời. Do vậy, [hai vị cho rằng] ba phẩm Hạ trong Quán kinh chẳng tương ứng với bậc Hạ nói trong kinh này.

Trong đoạn văn trên của ngài Liên Tŕ, câu cuối: “Sự ác lúc ban đầu nào trở ngại sự lành lúc chung cục” khế hợp thánh tâm rất sâu xa. Kẻ ác lúc lâm chung nếu có thể sám hối phát tâm, chí tâm niệm Phật th́ kẻ ác đă thành người lành nên cũng được Phật nhiếp thọ, tùy nguyện văng sanh. Do vậy, Liên Tŕ đại sư mới bảo: “Lẽ đâu chẳng xếp vào hàng hiền thánh” đồng lên Cực Lạc. Do những điều trên, ta thấy ba bậc trong kinh này và chín phẩm trong kinh kia thật tương ứng với nhau chẳng c̣n ngờ ǵ nữa.

Sách Báo Ân Luận cũng nói: “Bậc Thượng trong kinh này tương ứng với người xuất gia, hai bậc Trung, Hạ tương ứng với người tại gia. Do có quá nhiều phẩm loại nên chỉ đại lược nêu lên một cách tổng quát:Phàm hữu tam bối’ (Nói chung có ba bậc). Với ba bậc ấy, Quán kinh cũng tạm tách sơ lược thành chín phẩm. Kinh lại nêu hạng cực ưu và cực giáng để bao quát vô lượng nhân hạnh sai khác”.

Lời bàn này cực hay. Trong Quán kinh, bậc Thượng Thượng Phẩm chỉ trong khoảng búng ngón tay liền được văng sanh, gặp Phật nghe pháp, liền ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn, trong khoảnh khắc đến phụng sự khắp các chư Phật, lần lượt được thọ kư, trở về nước ḿnh, đắc vô lượng trăm ngàn đà-ra-ni môn. Đấy chính là hạng cực ưu (ưu thắng nhất) trong ba phẩm.

Kẻ Hạ Hạ Phẩm là hạng Ngũ Nghịch, Thập Ác. Khi tướng địa ngục hiện, lâm chung sám hối, mười niệm được văng sanh là hạng cực giáng (thấp nhất) trong bậc Hạ.

Quán kinh nêu lên hạng tối ưu cũng như bậc tối hạ nên luận mới nói: “Nêu lên hạng cực ưu và cực giáng”. Thoạt nh́n, dường như hai kinh khác nhau, nhưng thật ra ư chỉ của chúng lại tương đồng.

Chánh kinh:

者,捨 門。發 心。一 佛。修 德,願 國。此 生,臨 時,阿 佛,與 眾,現 前。經 間,即 國。便 生,智 猛,神 在。是 難,其 者,應 心。復 土。積 根,應 向。由 佛,生 中,得 退 轉,乃 提。

Kỳ thượng bối giả, xả gia khí dục nhi tác sa-môn, phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, tu chư công đức, nguyện sanh bỉ quốc. Thử đẳng chúng sanh, lâm thọ chung thời, A Di Đà Phật, dữ chư thánh chúng, hiện tại kỳ tiền. Kinh tu du gian, tức tùy bỉ Phật văng sanh kỳ quốc, tiện ư thất bảo hoa trung tự nhiên hóa sanh, trí huệ dũng mănh, thần thông tự tại. Thị cố A Nan! Kỳ hữu chúng sanh, dục ư kim thế kiến A Di Đà Phật giả, ưng phát Vô Thượng Bồ Đề chi tâm. Phục đương chuyên niệm Cực Lạc quốc độ, tích tập thiện căn, ưng tŕ hồi hướng. Do thử kiến Phật, sanh bỉ quốc trung, đắc Bất Thoái Chuyển, năi chí Vô Thượng Bồ Đề.

Bậc Thượng là hạng bỏ nhà, ĺa dục, làm sa-môn, phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm A Di Đà Phật, tu các công đức nguyện sanh sang cơi kia. Những chúng sanh ấy lúc tuổi thọ sắp hết, A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện ra trước mặt. Trong khoảnh khắc liền theo đức Phật ấy sanh về cơi kia, lại tự nhiên hóa sanh trong hoa bảy báu, trí huệ dũng mănh, thần thông tự tại.

A Nan! Do vậy, nếu có chúng sanh nào muốn trong đời này được thấy A Di Đà Phật th́ phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, lại nên chuyên nghĩ đến cơi nước Cực Lạc, thiện căn đă tích tập nên đem hồi hướng. Do đó, được thấy Phật, sanh trong cơi kia, đắc Bất Thoái Chuyển cho đến thành Vô Thượng Bồ Đề.

Giải:

Phàm phu có được dự phần vào bậc Thượng văng sanh hay không là một vấn nạn lớn trong Tịnh tông.

Cổ đức có vị bảo đây là hạnh Bồ Tát (như có thuyết bảo Thượng Thượng Phẩm phải là Bồ Tát từ Tứ Địa đến Thất Địa, Thượng Trung Phẩm phải là từ Sơ Địa đến Tứ Địa Bồ Tát; các phẩm khác cứ theo đó mà suy. Phàm phu chỉ có thể đạt từ Trung Phẩm Trung Sanh trở xuống mà thôi!) Nếu thật sự là như vậy th́ đại nguyện vô thượng của Phật Di Đà, cơi sen Tây Phương độc diệu, pháp môn tŕ danh dễ hành, diệu pháp văng sanh thù thắng đều thành hư luận, khiến cho diệu pháp Tịnh tông chẳng thể nghĩ bàn lại thành ra pháp có thể nghĩ bàn nổi ư! V́ vậy, đây chính là một điều cốt lơi của Tịnh Tông; trong phần khái yếu của bản chú giải này tôi đă tạm bàn đôi điều nhưng chưa thể giăi bày hết ư chỉ này, nên ở đây tôi lại thử tŕnh bày rơ hơn.

Đối với những sai lầm của cổ thuyết, chúng ta may mắn có được đại sư Thiện Đạo đời Đường. Ngài đă dẫn đủ các kinh luận để cực lực đả phá cựu thuyết. Trong Tứ Thiếp Sớ, đại sư đă luận như sau:

“Lại xem phần Định Thiện trong Quán kinh và ư nghĩa kinh văn ba bậc Thượng, Trung, Hạ th́ toàn là sau khi đức Phật nhập diệt, phàm phu ngũ trược chỉ do gặp duyên sai khác nên đến nỗi có chín phẩm sai biệt.

V́ sao? Người trong ba phẩm Thượng là phàm phu gặp duyên Đại Thừa. Người trong ba phẩm Trung là phàm phu gặp duyên Tiểu Thừa. Người trong ba phẩm Hạ là phàm phu ngu ác, tạo ác nghiệp, lúc lâm chung nhờ bạn lành, nương nguyện lực của Phật bèn được văng sanh; đến khi hoa kia nở th́ mới phát tâm, chứ phải đâu là người mới học Đại Thừa (cổ đức bảo bậc Hạ là người mới học Đại Thừa). Nếu hiểu như thế th́ ḿnh lầm, làm người khác lầm, tai hại quá sức!”

Trong bản sớ giải, Ngài c̣n dẫn mười đoạn Quán Kinh để chứng minh luận thuyết ấy, ở đây tôi không trích dẫn đủ. Chín phẩm đài sen cơi Cực Lạc đều là nơi để phàm phu đời trược văng sanh, chỉ do người đời gặp duyên có Đại Thừa, Tiểu Thừa sai khác nên sau khi văng sanh bèn có bậc Thượng, bậc Trung, bậc Hạ bất đồng.

Tịnh tông là giáo pháp tối cực viên đốn. Nếu phàm phu thuộc căn khí Đại Thừa có thể tin nhận được nổi th́ sẽ giải ngộ trọn vẹn, tu chứng trọn vẹn th́ sẽ vượt xa thường nhân cả kiếp (người căn cơ viên đốn tu một ngày bằng thường nhân tu một kiếp). Do đó, họ có thể ngay trong một đời công hạnh viên măn chứng ngay Thượng Phẩm.

Nay với bản kinh này, tôi dùng các luận khác để chứng minh ba bậc văng sanh thật sự là v́ phàm phu, kiêm v́ thánh nhân:

* Phẩm Tất Thành Chánh Giác (ắt thành Chánh Giác) trong kinh này có những câu kệ như sau: “Linh bỉ chư quần sanh, trường dạ vô ưu năo, xuất sanh chúng thiện căn, thành tựu Bồ Đề quả. Ngă nhược thành Chánh Giác, lập danh Vô Lượng Thọ. Chúng sanh văn thử hiệu, câu lai ngă sát trung, như Phật kim sắc thân, diệu tướng tất viên măn” (Khiến các quần sanh ấy, đêm dài không ưu năo, xuất sanh các thiện căn, thành tựu quả Bồ Đề. Nếu tôi thành Chánh Giác, lập hiệu Vô Lượng Thọ. Chúng sanh nghe hiệu ấy, đều sanh trong nước tôi, thân sắc vàng như Phật, diệu tướng đều viên măn).

Bốn câu đầu nói lên nguyên do phát khởi đại nguyện: Muốn cho hết thảy chúng sanh trong đêm dài tăm tối được ĺa các ưu bi khổ năo, xuất sanh căn lành thành tựu Bồ Đề. Ta thấy rơ Ngài thật sự muốn cứu tế khắp hết thảy những phàm phu đầy rẫy phiền năo c̣n trong đêm dài tăm tối, khiến cho họ phát sanh thiện căn.

Bốn câu kệ kế tiếp nói đến pháp Ngài dùng để phổ độ: “Chúng sanh văn thử hiệu, câu lai ngă sát trung” (Chúng sanh nghe danh hiệu này, đều sanh trong nước ta). Các chúng sanh ấy cũng chính là quần sanh c̣n trong đêm dài ưu năo. Bởi vậy, Thiện Đạo đại sư mới bảo: “Ba bậc chín phẩm toàn là v́ bọn phàm phu ngũ trược sau khi Phật nhập diệt”.

Hai câu kệ cuối cùng: “Như Phật kim sắc thân, diệu tướng tất viên măn” (Thân sắc vàng như Phật, diệu tướng đều viên măn) cho thấy phàm phu ưu năo một khi đă sanh cơi kia th́ đều được chân thân kim sắc, diệu tướng viên măn đầy đủ giống như Phật.

Tiếp đó, kinh c̣n nói: “Diệc dĩ đại bi tâm, lợi ích chư quần phẩm, ly dục thâm chánh niệm, tịnh huệ tu phạm hạnh” (Cũng dùng tâm đại bi, lợi ích các quần phẩm. Ly dục, chánh niệm sâu, tịnh huệ tu phạm hạnh), ư nói: Những người văng sanh khi hoa nở thấy Phật, thân tâm thanh tịnh ngay, trí huệ bén nhạy, đại bi vô lượng, tự giác, giác tha thành tựu Bồ Đề. Đấy đều là do sức oai thần, sức bổn nguyện, nguyện trọn đủ, nguyện rơ ràng, kiên cố, rốt ráo của A Di Đà Phật, nên mới có thể khiến cho phàm phu trong đêm dài ưu năo đắc trí huệ thanh tịnh, thân tâm như Phật.  Rơ ràng là phàm phu mang tâm Đại Thừa trong cơi này được Phật gia bị bèn văng sanh trong thượng phẩm, đắc Vô Sanh Nhẫn th́ có chi là lạ? Ngay câu đầu trong bài kệ tụng phát nguyện, tỳ-kheo Pháp Tạng đă bảo: “Ngă lập siêu thế chí” (Tôi lập chí siêu thế); những điều vừa nói trên chính là chỗ siêu thế, lẽ nào lại đem thói thường của mười phương để luận bàn phẩm vị cơi Cực Lạc ư?

Sách Vô Lượng Thọ Kinh Sao c̣n bảo: “Ngài Cảnh Hưng bảo rơ ba bậc chín phẩm là phàm phu văng sanh nên Ngài giảng rằng: ‘Một là phàm tiểu văng sanh, hai là đại thánh văng sanh’. Chữ ‘phàm tiểu’ chỉ ba bậc [văng sanh]”.

Sách Du Tâm An Lạc Đạo cũng viết: “Lại nữa, bốn mươi tám nguyện trước hết là v́ hết thảy pháp phàm phu, rồi mới kiêm v́ tam thừa thánh nhân. Do vậy, phải biết ư chỉ của tông Tịnh Độ là ‘vốn v́ phàm phu, kiêm v́ thánh nhân”.

Hơn nữa, ngay trong câu đầu của phẩm này đă bảo: “Thập phương thế giới chư thiên nhân dân, kỳ hữu chí tâm nguyện sanh bỉ quốc, phàm hữu tam bối” (Nói chung, chư thiên, nhân dân trong mười phương thế giới chí tâm nguyện sanh cơi kia th́ gồm có ba bậc). Kinh nói cả ba bậc (tam bối) chỉ là chư thiên, nhân dân trong mười phương, chẳng hề nói họ là Bồ Tát hay Thanh Văn. Như vậy, ba bậc được nêu trong kinh này trước hết là nhắm đến phàm phu, nhưng trong kinh cũng nói kèm đến thánh nhân như phẩm Bồ Tát Văng Sanh nói các hàng Bồ Tát trong mười phương thế giới “đương văng sanh giả, câu thuyết kỳ danh, cùng kiếp bất tận” (những kẻ sẽ được văng sanh; nếu chỉ nêu danh hiệu của họ th́ hết cả kiếp cũng chẳng thể hết nổi).

“Xả gia, khí dục, nhi tác sa-môn” (Bỏ nhà, ĺa dục, làm sa-môn): “Xả gia” là xuất gia, “tác sa-môn” là trở thành Tăng. Tỳ Bà Sa Luận nói: “Nhà là nhân duyên phiền năo. Xuất gia là để diệt cấu lụy nên phải xa ĺa [nhà cửa]”. Pháp sư Huyền Uẩn cũng bảo: “Xuất gia tạo ác rất khó như thuyền lướt trên đất; tại gia gây lỗi thật dễ như thuyền buồm trôi trên biển. Lại nữa, xuất gia tu đạo dễ dàng như thuyền buồm bơi trên biển; tại gia tu phước thật khó như thuyền đi trên cạn. Nhưng có kẻ tâm xuất gia mà thân chẳng xuất gia, có kẻ thân xuất gia tâm chẳng xuất gia. Nay cả thân lẫn tâm đều phải xuất gia nên mới bảo bỏ nhà, ĺa dục”.

Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận cũng bảo: “Hết thảy chúng sanh do khát ái nên có huyễn thân. Do huyễn thân nên có cơi nước. Bỏ nhà ĺa dục th́ khát ái thanh tịnh nên cơi nước cũng thanh tịnh. Kinh Đại Bát Nhă nói: ‘Bồ Tát Ma Ha Tát chí tánh háo du chư Phật quốc độ, ưng viễn ly xuất gia’ ([Nếu] Bồ Tát Ma Ha Tát có ḷng ham muốn chính ḿnh sẽ đến được các cơi nước Phật th́ phải nên viễn ly hạnh tại gia). Như vậy, xuất gia là chánh nhân Tịnh Độ v́ viễn ly bất tịnh”.

Trong sách Du Tâm An Lạc Đạo, đại sư Hải Đông Nguyên Hiểu đời Đường đă viết:

“Kinh Vô Lượng Thọ nói đến nhân [văng sanh] của ba bậc. Bậc thượng gồm năm câu:

- Một là ‘bỏ nhà ĺa dục trở thành sa-môn’. Câu này chỉ rơ phương tiện phát khởi chánh nhân.

- Hai là ‘phát Bồ Đề tâm’, đấy chính là chánh nhân.

- Ba là ‘chuyên niệm đức Phật kia’. Đấy là tu Quán.

- Bốn là ‘làm các công đức’, đấy là khởi hạnh. Quán và Hạnh để trợ giúp cho nghiệp được viên măn (Sư Nguyên Hiểu coi Niệm Phật là trợ nghiệp; thuyết này chưa ổn, trong phần bàn về tông thú của kinh, chúng ta đă bàn, ở đây không nhắc lại).

- Năm là ‘nguyện sanh cơi kia’. Đây chính là nguyện, bốn điều trên là hạnh. Hạnh nguyện ḥa hợp mới được văng sanh”.

Trong phần trên, Khởi Tín Luận đă bảo xuất gia là chánh nhân của Tịnh Độ, Nguyên Hiểu đại sư lại coi xuất gia chỉ là phương tiện để phát khởi chánh nhân. Hai thuyết hơi khác nhau, nhưng xét ra thuyết của ngài Nguyên Hiểu ổn thỏa, thích đáng hơn!

Xét theo Quán kinh, trong cả ba phẩm Thượng chẳng thấy nói phải xuất gia ; riêng trong phần Trung Phẩm Thượng Sanh có bảo “tu hành chư giới” (tu hành các giới), Trung Phẩm Trung Sanh có nói: “Nhược nhất nhật nhất dạ tŕ Sa Di Giới, nhược nhất nhật nhất dạ tŕ Cụ Túc Giới” (Nếu một ngày một đêm tŕ giới Sa Di, hoặc một ngày một đêm tŕ Cụ Túc Giới). Trong cả chín phẩm của kinh ấy, chỉ mỗi hai phẩm trên nói rơ là xuất gia. Riêng kinh này khác hẳn, trong bậc Thượng bảo là xuất gia, trong bậc Trung lại bảo “bất năng hành tác sa-môn” (chẳng thể hành hạnh sa-môn). Ấy là do chúng sanh cơ duyên vô lượng sai khác, sự tu hành lúc c̣n tu nhân cũng thiên sai vạn biệt, mỗi người mỗi khác, chẳng ai giống nhau. Tôi trộm nghĩ: Kinh chỉ phân chia các phẩm vị một cách sơ lược để giảng sơ về thứ bậc; đây chỉ là tùy bệnh cho thuốc, tùy cơ thuyết pháp, nên chúng ta chẳng nên câu nệ một chiều, chấp chết cứng vào văn tự. Tôi trộm đoán rằng trong pháp hội Vô Lượng Thọ, ngài A Nan là đương cơ, lại có một vạn hai ngàn vị đại tỳ-kheo, năm trăm vị tỳ-kheo-ni hiện diện. Các bậc đại đức xuất gia như vậy đều đáng dự vào hạng văng sanh bậc Thượng.

Vả lại, kinh này chính là bộ kinh đệ nhất của Tịnh tông nên những điều dạy trong kinh này đều là khuôn phép chánh tông: Bậc xuất gia tu được văng sanh bậc Thượng là chuyện hợp lẽ thường t́nh nên đức Phật thuận theo nhân duyên ấy mà nói người văng sanh trong bậc Thượng là bậc xuất gia, ĺa dục, tu hạnh sa-môn.

Quán kinh khác hẳn kinh này: Đương cơ trong pháp hội ấy là Vy Đề Hy phu nhân, A Nan và Mục Liên chỉ đứng hầu hai bên đức Phật; Thích, Phạm chư thiên đứng trên không đổ mưa hoa [cúng dường]. Trong hội chỉ có hai vị A Nan và Mục Liên là bậc tỳ-kheo đại quyền thị hiện, không có bậc xuất gia nào khác. Trong pháp hội, bậc đương cơ nghe pháp và hàng văng sanh bậc Thượng chủ yếu là những người tại gia như Vy Đề Hy phu nhân v.v… nên Phật ứng theo cơ duyên ấy chẳng nói đến chuyện xuất gia trong phần giảng về Thượng Phẩm văng sanh.

Quán kinh cũng dạy: “Vy Đề Hy dữ ngũ bách thị nữ, văn Phật sở thuyết, ứng thời tức kiến Cực Lạc thế giới quảng trường chi tướng, đắc kiến Phật thân cập bỉ nhị Bồ Tát, tâm sanh hoan hỷ, thán vị tằng hữu, hoát nhiên đại ngộ, đăi Vô Sanh Nhẫn. Ngũ bách thị nữ, phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, nguyện sanh bỉ quốc. Thế Tôn tất kư, giai đương văng sanh. Sanh bỉ quốc dĩ, hoạch đắc Chư Phật Hiện Tiền tam-muội, vô lượng chư thiên, phát Vô Thượng Đạo Tâm” (Vy Đề Hy và năm trăm thị nữ nghe lời Phật dạy, ngay lập tức thấy được tướng rộng lớn của thế giới Cực Lạc, được thấy thân Phật và thân hai vị Bồ Tát, tâm sanh hoan hỷ, khen là chưa từng có, hoát nhiên đại ngộ, đạt Vô Sanh Nhẫn. Năm trăm thị nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nguyện sanh cơi kia. Đức Thế Tôn thọ kư họ sẽ đều được văng sanh. Sanh trong nước ấy rồi sẽ đắc Chư Phật Hiện Tiền tam-muội. Vô lượng chư thiên phát Vô Thượng Đạo Tâm).

Ta thấy rơ, trong pháp hội Quán kinh, bậc đương cơ toàn là căn khí Đại Thừa, lại đều là hạng tại gia phát tâm. Những người như thế chắc chắn là hạng văng sanh trong bậc Thượng.

Vả lại, Vy Đề Hy phu nhân chứng đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn ngay trong hiện đời nên ắt phải thuộc bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh nơi cơi Cực Lạc. Vy Đề Hy là phụ nữ tại gia lại chứng đắc pháp nhẫn ngay trong hiện đời, Thượng Phẩm văng sanh; đủ chứng tỏ người văng sanh trong bậc Thượng chẳng phải chỉ hạn cuộc trong hạng xuất gia, cũng như chứng tỏ diệu pháp Tịnh tông phá tan mọi quy cách, chí viên, cực đốn chẳng thể nghĩ bàn.

Hơn nữa, sách Báo Ân Luận có nói: “Ông Lưu Di Dân ba lượt thấy Phật, [được Phật] dùng áo phủ lên, [được] tay Ngài xoa đầu, tự thấy ḿnh thuộc về Thượng Phẩm, nhưng ông chẳng phải là bậc xuất gia. Với chư tổ của Liên Tông và các vị Duy Ma, Hiền Hộ v.v… hết thảy các bậc văng sanh danh đức tăng lẫn tục, ta đều có thể dựa theo đó mà suy vậy”. Đời Tấn, ông Lưu Di Dân hợp cùng ngài Huệ Viễn niệm Phật ở Lô Sơn, được văng sanh trước cả ngài Huệ Viễn. Ngài Huệ Viễn lúc sắp tịch, vừa xuất định thấy A Di Đà Phật thân chật cả hư không. Trong viên quang của Ngài có các hóa Phật, Quán Âm, Thế Chí đứng hầu hai bên. Lại thấy ḍng nước tỏa quang minh chia làm mười bốn nhánh, cùng chảy lên rót xuống, diễn thuyết các âm Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngă. Phật bảo ngài Huệ Viễn: “Ta do bổn nguyện lực nên đến an ủi ông; sau bảy ngày nữa, ông sẽ sanh về cơi ta”. Tổ lại thấy, những vị trong Liên Xă đă văng sanh trước như các vị Phật Đà Da Xá, Huệ Tŕ, Huệ Vĩnh, Lưu Di Dân v.v… đều đứng hầu bên Phật, bước đến bảo: “Sư phát tâm sớm nhưng sao về muộn thế?” Lúc c̣n sống, ông Lưu Di Dân ba lượt thấy Phật; sau khi tịch theo Phật đến đón ngài Huệ Viễn. Đấy là một chứng cớ chứng tỏ cư sĩ cũng có thể văng sanh trong Thượng Phẩm.

Trong kinh Hoa Nghiêm, hàng tại gia chiếm đa số trong năm mươi ba vị thiện tri thức của Thiện Tài đồng tử. Trong Mật Tông, tổ sư phái Cát Cư (Kargyupa) là cư sĩ (ngài Mă Nhĩ Ba (Marpa)). Do tổ sư là hàng bạch y nên phái ấy thường được gọi là Bạch Giáo. Cư sĩ Duy Ma chính là Kim Túc Như Lai thị hiện. Mười sáu vị Hiền Hộ Chánh Sĩ đều là tại gia Bồ Tát, là thượng thủ hàng Bồ Tát trong hội này. Do vậy, ta chớ nên chấp vào tướng tại gia hay xuất gia mà sanh phân biệt!

Kinh này bảo Thượng Phẩm văng sanh là hạng xuất gia, ĺa dục; Quán kinh chẳng hề nói Thượng Phẩm văng sanh phải là xuất gia. Vy Đề Hy phu nhân là nữ nhân tại gia lại được Thượng Phẩm văng sanh; năm trăm thị nữ cũng Thượng Phẩm văng sanh.

Thật ra, hai kinh chẳng hề mâu thuẫn với nhau v́ Vy Đề Hy phu nhân đă mang tâm xuất gia. Ví dụ như ở Trung Hoa, phương Nam coi gạo là thực phẩm chủ yếu, phương Bắc coi lúa ḿ là thực phẩm chính. Gạo, ḿ tuy khác nhưng đều có công dụng làm thực phẩm chủ yếu nên cũng như nhau. V́ vậy, người tại gia mang tâm xuất gia cũng có thể sanh trong Thượng Phẩm. Trong Quán kinh, sau bậc Thượng Phẩm, Trung Trung Phẩm là người xuất gia; kinh Vô Lượng Thọ dạy người tại gia cũng có thể sanh trong phẩm này. Phối hợp cả hai kinh ta mới dễ nhận ra ư nghĩa chân thật. V́ vậy, phải nên khéo hiểu thánh tâm, chớ đừng chấp chết cứng vào văn tự. Nếu hiểu câu “xả gia, khí dục” (bỏ nhà, ĺa dục) là chú trọng tại tâm xuất gia th́ ư chỉ cả hai kinh thật chẳng sai khác.

Câu “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật” (phát Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm A Di Đà Phật) chính là cương lănh của toàn bộ kinh này. Câu này đă được bàn tỉ mỉ trong phần nói về tông thú. Sách Di Đà Yếu Giải coi “tín, nguyện, tŕ danh” là tông của kinh Tiểu Bổn; bản chú giải này lại dùng “phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm” làm Tông, nhưng vẫn cùng một ư chỉ. Tín - nguyện chính là một trong ba tâm nói trong Quán kinh: Một là chí thành tâm, hai là thâm tâm, ba là hồi hướng phát nguyện tâm. Theo Tứ Thiếp Sớ:

1. Chí thành tâm là chân thật tâm,

2. Thâm tâm là thâm tín tâm. Thâm tín tâm có hai điều:

- Một là tin quyết định một cách sâu xa rằng thân ḿnh hiện tại là phàm phu tội ác, từ bao kiếp đến nay thường ch́m đắm, lưu chuyển chẳng có duyên ǵ để xuất ly.

- Hai là tin quyết định một cách sâu xa rằng bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật nhiếp thọ chúng sanh, không c̣n lo âu, ngờ vực ǵ. Nương theo nguyện lực của Ngài, quyết định được văng sanh.

3. Hồi hướng phát nguyện tâm là từ trong tâm tin tưởng sâu xa chân thật, đem hết thảy thiện căn đă tu hồi hướng nguyện sanh cơi kia.

Do đó, ta thấy rằng “tín nguyện” sách Yếu Giải nói đó chính là ba tâm của Quán kinh, mà ba tâm của Quán kinh lại chính là Bồ Đề tâm nói trong kinh này. “Phát Bồ Đề tâm” nói trong kinh này chính là “tín nguyện” nói trong Di Đà Yếu Giải.

Hơn nữa, “nhất hướng chuyên niệm” chính là Tŕ Danh. Do hai bản Đại, Tiểu A Di Đà Kinh nguyên lai chỉ là một kinh nên tông của hai kinh ắt phải đồng nhất. Trong phần giảng về tông thú đă giảng kỹ về “phát Bồ Đề tâm” nên ở đây chẳng bàn nhiều. Tôi chỉ trích vài đoạn trong phần luận về Bồ Đề tâm của An Lạc Tập để độc giả tham khảo thêm. An Lạc Tập do ngài Đạo Xước soạn, bàn luận những điểm rất tinh yếu.

Dưới đây tôi sẽ trích nguyên văn, có chú giải đôi chút nhằm giảng rơ phần nào lời luận. Đạo Xước đại sư đă lập ra bốn điều nghị luận quanh việc phát Bồ Đề tâm:

* Một là bàn về công dụng của Bồ Đề tâm. Sách An Lạc Tập viết:

“Thứ nhất là nêu lên công dụng của Bồ Đề tâm. Đại Kinh bảo phàm muốn văng sanh Tịnh Độ th́ phải lấy Bồ Đề tâm làm gốc. V́ sao? Bồ Đề chính là tên gọi của Vô Thượng Phật Đạo. Nếu muốn phát tâm làm Phật th́ tâm ấy rộng lớn trùm khắp pháp giới. Tâm ấy rốt ráo, ngang với hư không. Tâm ấy lâu xa đến cùng tận đời vị lai. Tâm ấy trọn khắp, ĺa nhị thừa chướng. Nếu phát được tâm ấy th́ khuynh đảo được sanh tử vô thỉ và trầm luân trong các cơi. Đem tất cả công đức hồi hướng Bồ Đề th́ đều có thể đạt tới Phật quả, chẳng bị diệt mất”.

Tôi xin tạm giải thích thô thiển như sau: Trước hết, luận dẫn Đại kinh để nói lên công dụng của Bồ Đề tâm. “Đại kinh” chính là kinh Vô Lượng Thọ. Các vị Tịnh Ảnh, Đạo Xước, Thiện Đạo đều gọi kinh Vô Lượng Thọ là Đại kinh; ngài Thiên Thai gọi là Đại Bổn.

Tâm Bồ Đề chính là cái gốc để văng sanh Tịnh Độ. Nếu chẳng phát được tâm này th́ dẫu cứ siêng tu nhưng cũng khác nào nước chẳng có nguồn, cây không có cội nên trọn chẳng thể văng sanh được. Từ chữ “v́ sao” trở đi là lời giải nghĩa.

Bồ Đề nghĩa là Giác. Vô Thượng Giác chính là Phật. V́ vậy, Bồ Đề là danh xưng khác của Vô Thượng Phật Đạo. “Phát tâm làm Phật” nghĩa là phát khởi cái tâm “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.

Phát khởi được tâm như thế th́ ta vốn đă là Phật, cái tâm “làm Phật” này vốn sẵn đă là cái tâm “là Phật” nên luận nói tiếp: Tâm này “rộng lớn”; về chiều dọc th́ suốt cả ba đời, về chiều ngang th́ trọn khắp hư không. “Rốt ráo” là chân tế rốt ráo, là tột cùng của nguồn pháp. Chữ “lâu xa” diễn tả tâm ấy sáng suốt, lặng lẽ, chân thường, vĩnh viễn thoát khỏi sanh diệt. “Trọn khắp” là đầy đủ hết thảy, không thiếu, không dư. Tâm như vậy có công đức chẳng thể nghĩ bàn.

Nếu phát được tâm ấy th́ có thể dẹp sạch mối sanh tử từ vô thỉ đến nay cũng như sự trầm luân trong các cơi. Nếu lại có thể đem công đức hồi hướng Bồ Đề th́ quyết định chứng được Phật quả. Tất cả công đức ấy nhất định chẳng luống uổng, cũng chẳng bị tổn thất hay diệt mất. Lời dạy này của tổ Đạo Xước đă chỉ thẳng vào ngay công dụng của Bồ Đề tâm: Vượt ra ngoài khả năng suy lường, hiểu biết của chúng ta, thật là vi diệu khó nghĩ bàn.

Xin lại dẫn Bồ Đề Tâm Luận của Mật tông để chứng minh thêm; luận nói: “Tâm Bồ Đề này chứa đựng hết thảy công đức của Bồ Tát. Nếu tu chứng xuất hiện th́ làm đạo sư cho hết thảy. Nếu quay trở về gốc th́ chính là cơi nước Mật Nghiêm. Chẳng đứng dậy khỏi ṭa mà có thể thành tựu hết thảy Phật sự”. Công dụng của Bồ Đề tâm thật chẳng thể nghĩ bàn.

* “Thứ hai là nêu lên Danh và Thể của Bồ Đề, nhưng Bồ Đề có đến ba thứ:

Một là Pháp Thân Bồ Đề, hai là Báo Thân Bồ Đề, ba là Hóa Thân Bồ Đề.

a. Pháp Thân Bồ Đề chính là Chân Như, Thật Tướng, Đệ Nhất Nghĩa Không, tự tánh thanh tịnh. Thể không uế nhiễm, lư xuất thiên chân, chẳng cần phải tu thành nên gọi là Pháp Thân; là bản thể của Phật đạo nên gọi là Bồ Đề.

b. Báo thân Bồ Đề là tu đủ vạn hạnh, cảm được cái quả báo thân Phật. Do quả tương ứng cái nhân nên gọi là Báo Thân. Viên thông vô ngại nên gọi là Bồ Đề.

c. Hóa Thân Bồ Đề là từ Báo khởi Dụng, hướng đến muôn vàn căn cơ nên gọi là Hóa Thân, lợi ích chúng sanh một cách viên thông nên gọi là Bồ Đề”.

Xin giải thích: Thứ hai là bàn về Danh và Thể của Bồ Đề, chia ra thành Pháp, Báo, Hóa ba thân để luận.

Pháp Thân Bồ Đề chính là Chân Như, Thật Tướng, Đệ Nhất Nghĩa Không. Câu “tự tánh thanh tịnh, thể không nhiễm uế” chính là như Lục Tổ bên Thiền Tông nghe câu “vô trụ sanh tâm” chợt đại ngộ, bèn nói: “Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh”. Ư nghĩa của câu “lư xuất thiên chân, chẳng cần phải tu thành” giống như câu “nào ngờ tự tánh, vốn tự đầy đủ” (“Lư xuất thiên chân” nghĩa là lư tự nhiên như vậy, khác nào những chân lư hiển nhiên trong trời đất). Do vốn tự đầy đủ nên nào cần phải tu thành. Ngũ Tổ nghe nói như thế bèn trao y bát, lập ngài Huệ Năng làm Tổ thứ sáu. Ngài cũng nói: “Chẳng biết bản tâm th́ học pháp vô ích. Nếu biết rơ bản tâm của chính ḿnh, thấy tự tánh của chính ḿnh th́ đáng gọi là trượng phu, thiên nhân sư, Phật”. Lúc ấy, đại sư Huệ Năng c̣n chưa xuống tóc, vẫn c̣n là người làm việc nặng nhọc trong chùa; một phen phát ngộ tâm này bèn thăng ngay lên địa vị tổ sư. Đây chính là như Bồ Đề Tâm Luận nói: “Nếu tu chứng xuất hiện th́ làm đạo sư cho hết thảy… Chẳng đứng dậy khỏi ṭa mà có thể thành tựu hết thảy Phật sự”.

Tâm Bồ Đề vượt thoát phàm t́nh, công dụng khó nghĩ tưởng. Tâm tánh như vậy được gọi là Pháp Thân. Tâm tánh ấy là bản thể của Phật đạo nên gọi là Bồ Đề.

Tiếp đó, Ngài giảng về Báo Thân. Pháp Thân vốn sẵn đủ chính là Tánh Đức. Có công Tu Đức th́ Tánh Đức mới được hiển lộ. V́ vậy, phải tu đủ vạn hạnh, công đức trang nghiêm mới đắc báo thân Phật quả. Báo Thân viên minh trọn đức, thông đạt vô ngại nên bảo là “viên thông vô ngại”, nên gọi là “Báo Thân Bồ Đề”. Từ Báo Thân hiện ra Hóa Thân, tùy căn cơ mà hóa hiện, diệu dụng vô cùng nên bảo là “lợi ích chúng sanh một cách viên thông” và gọi là Hóa Thân Bồ Đề.

* “Thứ ba là chỉ rơ phát tâm có sai khác. Nay nói về hành giả tu nhân phát tâm th́ phải có đủ ba điều:

1. Một là cần phải hiểu thấu hữu, vô, tự tánh thanh tịnh từ xưa đến giờ.

2. Hai là duyên tu vạn hạnh, tám vạn bốn ngàn Ba La Mật môn v.v…

3. Ba là đại từ bi làm gốc, luôn lấy việc độ sanh làm bản hoài

Ba nhân ấy tương ứng với Đại Bồ Đề nên gọi là phát tâm Bồ Đề.

Lại như Tịnh Độ Luận (tức là Văng Sanh Luận) bảo:

Nay phát Bồ Đề tâm chính là tâm nguyện làm Phật. Tâm nguyện làm Phật chính là tâm độ chúng sanh. Tâm độ chúng sanh chính là tâm nhiếp thủ chúng sanh sanh vào cơi có Phật. Nay nguyện sanh Tịnh Độ th́ trước hết cần phải phát Bồ Đề tâm”.

Xin giải thích: Phát tâm có sai khác, nghĩa là có hai loại phát tâm:

- Trước hết, trong khi c̣n tu nhân cần phải phát khởi ba thứ tâm sau đây:

1. Một là cần phải hiểu thấu Hữu, Vô, và tự tánh vốn sẵn thanh tịnh từ xưa đến nay.

Tự tánh thanh tịnh đă giải thích trong phần trước. Câu “hiểu thấu Hữu, Vô” chính là mấu chốt huyền nhiệm để giải ngộ cái tâm. “Vô” chính là như những chữ “vô” được nêu lên liên tục từ “vô nhĩ căn” cho đến “vô trí diệc vô đắc” trong Tâm kinh; và cũng giống như kinh Đại Bát Niết Bàn dạy: “Như thị nghịch thuận nhập siêu thiền dĩ, phục cáo đại chúng, ngă dĩ Phật nhăn, biến quán tam giới nhất thiết chư pháp, vô minh bổn tế, tánh bổn giải thoát. Ư thập phương cầu, liễu bất khả đắc, suy bổn vô cố, sở nhân chi diệp, giai tất giải thoát. Vô minh giải thoát cố, năi chí lăo tử, giai đắc giải thoát. Dĩ thị nhân duyên, ngă kim an trụ Thường Tịch Diệt Quang, danh Đại Niết Bàn” (Lần lượt thuận, nghịch nhập siêu Thiền Định như thế xong, lại bảo đại chúng: ‘Ta dùng Phật nhăn xem khắp hết thảy các pháp trong tam giới, tánh của vô minh bổn tế vốn là giải thoát, t́m khắp mười phương trọn chẳng thể được. Do gốc là không, nên đối với cành lá đều được giải thoát. Do giải thoát khỏi vô minh nên cho đến với lăo tử đều được giải thoát. Do nhân duyên ấy, ta nay an trụ trong Thường Tịch Diệt Quang, gọi là Đại Niết Bàn). Đây chính là lời dạy từ bi tha thiết tối hậu của đức Thế Tôn. Đại sư Vĩnh Minh đă nguyện trong vô lượng kiếp sẽ lột da làm giấy, chẻ xương làm bút, lấy máu làm mực biên chép đoạn văn trên để báo đáp từ ân.

Vô Minh vốn là không, nên làm ǵ có cành lá; hiểu vọng vốn là không, nên chân tánh tự hiển lộ. Đó là ư nghĩa cốt yếu của chữ “biết Vô”. C̣n “biết Hữu” là như nhà Thiền thường bảo: “Cần phải biết Hữu th́ mới đắc”. Trong Tâm Vương Minh, ngài Phó Đại Sĩ cũng bảo: “Muối ḥa trong nước, nước vẫn trong veo, quyết định là có, nhưng chẳng thấy h́nh dáng. Tâm vương cũng thế: Ngụ trong thân thể, ứng dụng ra ngoài, thích ứng theo từng t́nh huống tự tại vô ngại, hoàn thành các việc”. Bài minh đă dùng thí dụ để chỉ rơ ai cũng tự có tâm vương. Tâm vương quyết định là có, tùy theo sự vật, t́nh huống phát huy diệu dụng, nhưng chẳng thấy được h́nh dáng của tâm vương.

Kinh Niết Bàn c̣n dạy: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” (Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh). “Biết Hữu” là biết có Phật Tánh vậy.

Sách Tâm Đăng Lục bảo: “Do đó, cổ đức đều muốn ai cũng phải biết Hữu. Nếu chẳng biết Hữu th́ toàn là hư vọng”. Trên đây tôi đă giải thích thế nào là “biết Hữu”“biết Vô” để giảng câu “thấu đạt Hữu, Vô”. “Hiểu thấu” c̣n có nghĩa là hiểu rơ cái tâm, thấu đạt cái gốc, hiểu rơ tự tánh vốn sẵn thanh tịnh từ xưa đến nay.

Tánh ấy giống như trực tâm được nói trong Đại Thừa Khởi Tín Luận. Trực tâm là chánh niệm pháp Chân Như.

2. Hai là “duyên tu vạn hạnh”, điều này tương đương với thâm tâm trong bộ luận trên: thích tu hết thảy các hạnh lành.

3. Ba là “đại từ bi làm gốc” tương đương với đại bi tâm trong luận Khởi Tín: muốn dẹp tan hết nỗi khổ của chúng sanh.

Ba thứ phát tâm như vậy tương đương với ba tâm trong luận Khởi Tín nên bảo: “Ba nhân ấy tương ứng với Đại Bồ Đề”. V́ vậy, phát lên ba tâm ấy chính là phát Đại Bồ Đề tâm.

- Tiếp đó, ngài Đạo Xước dẫn Tịnh Độ Luận: Bồ Đề tâm chính là tâm nguyện thành Phật độ sanh, tâm nhiếp thủ chúng sanh sanh về Tịnh Độ.

Thoạt nh́n, nếu so với tâm trước th́ tâm này dễ phát khởi hơn, nhưng thật ra chẳng phải như vậy. Bởi v́ pháp môn Văng Sanh Tịnh Độ quả thật là pháp khó tin. Tín tâm chưa sanh làm sao có thể phát tâm nổi? Trong kinh A Di Đà, mười phương chư Phật đă xưng tán đức Bổn Sư ở trong đời Ngũ Trược “vị chư chúng sanh thuyết thị nhất thiết thế gian nan tín chi pháp” (v́ các chúng sanh nói pháp hết thảy thế gian khó tin được nổi). Phẩm Độc Lưu Thử Kinh (riêng lưu lại kinh này) của kinh Vô Lượng Thọ đây cũng bảo: “Nhược văn tư kinh, tín nhạo thọ tŕ, nan trung chi nan, vô quá thử nan” (Nếu nghe kinh này mà tin ưa, thọ tŕ được th́ đó là điều khó nhất trong các điều khó, không có ǵ khó hơn điều này). Rơ ràng là có thể tin nổi pháp môn Tịnh Độ đă là một điều khó khăn nhất trong các điều khó trong thế gian!

Tin được pháp khó tin này th́ chính là đại trí. Thuận theo tín tâm ấy phát khởi chí nguyện thành Phật độ sanh cùng chứng Tịnh Độ; đó chính là Bồ Đề tâm. Chỉ cần chân thật tin nhận th́ tự nhiên phát được những tâm như trên đă nói. Đây lại chính là phương tiện thù thắng của Tịnh Tông.

Sách Di Đà Yếu Giải bảo: “Tin sâu phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề”. Bởi vậy, người niệm Phật cần phải sớm sanh tín, nguyện; v́ đó chính là phát tâm Bồ Đề vậy.

* “Thứ tư là vấn đáp, giải thích.

Hỏi: Nếu tu đủ muôn hạnh cảm được Bồ Đề, được thành Phật quả, th́ sao kinh Chư Pháp Vô Hành lại bảo: ‘Nhược nhân cầu Bồ Đề, tức vô hữu Bồ Đề, thị nhân viễn Bồ Đề, do như thiên dữ địa’ (Nếu ai cầu Bồ Đề th́ chẳng có Bồ Đề. Người ấy cách xa Bồ Đề như trời với đất)”

Xin giải thích: Có kẻ dựa vào kinh Chư Pháp Vô Hành dạy: Nếu ai cầu Bồ Đề th́ chẳng có Bồ Đề để đắc, sự mong cầu ấy càng cách xa Bồ Đề như trời cách xa đất. Nếu đă là như vậy, th́ nay tại sao lại bảo phải tu vạn hạnh để đạt được quả Bồ Đề ngơ hầu thành Phật? Dưới đây là lời đáp của Tổ:

“Chánh thể của Bồ Đề là lư cầu vô tướng. Nay dùng tướng để cầu th́ chẳng đúng với Thật Lư nên bảo là người ấy xa cách. V́ vậy, kinh dạy chẳng thể dùng tâm, chẳng thể dùng thân để đắc Bồ Đề”.

Xin giải thích: Bản thể chân chánh của Bồ Đề khế hợp với Lư nên không có hết thảy tướng. “Lư” là Thật Tế lư thể, cũng chính là Chân Như Thật Tướng. Hành nhân nếu dùng tướng để cầu, ư mong cầu quả Bồ Đề và có pháp để cầu Bồ Đề, th́ đều là pháp chấp, đều là tạo tướng, nên tự xa ĺa Thật Tế lư thể. Do vậy, mới bảo là “chẳng đúng với thật lư”. V́ vậy, người ấy xa cách Bồ Đề.

“Nay tuy biết tu hành cầu văng sanh, hiểu biết rơ ràng Lư Thể là vô cầu, nhưng chẳng hoại giả danh nên tu đủ các hạnh. Do đó, sẽ cảm được Bồ Đề. V́ vậy, Trí Độ Luận bảo:Nếu ai thấy Bát Nhă là bị trói buộc. Nếu ai chẳng thấy Bát Nhă th́ cũng bị trói buộc. Nếu ai thấy Bát Nhă th́ được giải thoát, nếu ai chẳng thấy Bát Nhă th́ cũng được giải thoát’. Long Thọ Bồ Tát giảng:Nếu ở trong ấy mà chẳng ĺa được tứ cú[1] th́ bị trói buộc. Ĺa tứ cú th́ được giải thoát’. Nay muốn cầu Bồ Đề th́ chỉ nên tu hành như thế, ấy chính là chẳng hành mà hành. Chẳng hành mà hành là chẳng trái nghịch đại đạo lư Nhị Đế”.

Xin giải thích: “Chẳng hành mà hành” chính là vô cầu mà cầu. Tuy biết Lư Thể là vô cầu, Bồ Đề chẳng thể đắc, nhưng vẫn tu đủ vạn hạnh để cảm Bồ Đề, khéo khế hợp với Trung Đạo nên có thể cảm ứng, khế hợp.

Tiếp đó, sách An Lạc Tập dựa vào Tịnh Độ Luận đề xướng: Phàm ai muốn phát tâm Vô Thượng Bồ Đề th́ trước hết phải xa ĺa ba pháp trái nghịch Bồ Đề môn:

“Một là môn nương vào trí huệ, chẳng cầu tự vui do xa ĺa Ngă tâm, tham chấp tự thân.

Hai là môn nương vào từ bi, dẹp khổ cho hết thảy chúng sanh do xa ĺa tâm chẳng an lạc chúng sanh.

Ba là môn nương vào phương tiện, tâm thương xót hết thảy chúng sanh do xa ĺa tâm cung kính, cúng dường thân ḿnh.

Đó gọi là xa ĺa ba pháp trái nghịch Bồ Đề môn”.

Xin giải thích: Ba thứ pháp trái nghịch được nói trong luận chính là: Một là “ngă tâm, tham chấp tự thân”, hai là “tâm không an lạc chúng sanh”, ba là “tâm cung kính cúng dường tự thân”. Cần phải xa ĺa ba tâm này.

Sách An Lạc Tập viết tiếp: “Bồ Tát xa ĺa ba pháp trái nghịch Bồ Đề môn như thế liền đắc ba pháp tùy thuận Bồ Đề môn. Những ǵ là ba?

- Một là Vô Nhiễm Thanh Tịnh tâm, do chẳng v́ thân ḿnh cầu các sự vui. Bồ Đề là chốn thanh tịnh vô nhiễm, nếu v́ tự thân cầu sự vui th́ trái nghịch với Bồ Đề môn. Do đó, tâm vô nhiễm thanh tịnh là tùy thuận Bồ Đề môn.

- Hai là An Thanh Tịnh tâm, v́ dẹp trừ hết thảy khổ cho chúng sanh. Bồ Đề là chốn thanh tịnh an ổn hết thảy chúng sanh; nếu chẳng khởi tâm làm cho hết thảy chúng sanh được ĺa cái khổ sanh tử th́ trái nghịch với Bồ Đề môn. Do vậy, dẹp hết thảy nỗi khổ của chúng sanh là tùy thuận Bồ Đề môn.

- Ba là Lạc Thanh Tịnh tâm v́ muốn cho hết thảy chúng sanh đắc đại Bồ Đề, v́ để nhiếp thủ chúng sanh sanh về cơi Phật ấy. Bồ Đề là chốn thường vui một cách rốt ráo. Nếu chẳng làm cho hết thảy chúng sanh được hưởng cái vui rốt ráo th́ trái nghịch với Bồ Đề môn.

Nương vào đâu để đạt được sự vui rốt ráo ấy? Cần phải nương vào Đại Nghĩa Môn. Đại Nghĩa Môn chính là cơi Phật An Lạc. V́ vậy, ta phải làm cho hết thảy chúng sanh chuyên dốc chí nguyện sanh cơi kia, muốn làm cho họ chóng chứng Vô Thượng Bồ Đề”.

Trên đây, trong lời luận về pháp trái nghịch và tùy thuận Bồ Đề môn, thật ra ngài Đạo Xước đă chỉ rơ sự sai khác giữa những pháp tùy thuận và trái nghịch với phát tâm. Hễ đă phát tâm th́ phải tu Tịnh nghiệp, thường phải nên lănh hội rốt ráo, chớ tự trái nghịch Bồ Đề môn, trái nghịch bổn nguyện, tự ḿnh chướng ngại việc văng sanh của chính ḿnh.

Với tông chỉ “nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật”, sách Di Đà Yếu Giải bảo: “Trong hết thảy phương tiện, t́m lấy pháp thẳng chóng nhất, pháp viên đốn nhất, th́ không có ǵ bằng pháp niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Lại trong hết thảy pháp niệm Phật, t́m lấy pháp giản dị nhất, pháp ổn thỏa, thích đáng nhất, th́ không ǵ bằng tín nguyện, chuyên tŕ danh hiệu”.

Sách c̣n viết: “A Di Đà Phật là vạn đức hồng danh. Dùng danh hiệu để chiêu cảm vạn đức th́ không công đức nào là chẳng đạt được. Do đó, chấp tŕ danh hiệu là Chánh Hạnh, chẳng cần phải tu các hạnh: quán tưởng, tham cứu v.v…thật rất giản dị, rất thẳng chóng”.

Sách Viên Trung Sao cũng nói: “Kinh này dạy kẻ phàm phu sơ tâm chỉ cần có miệng xưng niệm được, có tâm để tưởng niệm được th́ đều tu được. V́ vậy kinh này dạy ra pháp môn hết sức đơn giản, hết sức dễ dàng vậy”, “nếu chấp tŕ danh hiệu th́ chẳng luận bận, rảnh, chẳng kể động, tịnh, đi, đứng, nằm, ngồi, đều tu được cả. Do vậy biết kinh này dạy ra pháp môn hết sức thẳng tắt vậy” và: “Pháp xưng danh chẳng lựa hiền, ngu, chẳng phân biệt nam, nữ, dù giầu hay nghèo, dẫu sang hay hèn cũng đều tu được. V́ vậy, biết kinh này chỉ ra pháp môn nhiếp trọn các căn cơ hết sức rộng lớn vậy”.

Sách Du Tâm An Lạc Đạo cũng nói:

“Danh hiệu chư Phật do vạn đức chung đúc thành. Chỉ cần niệm được danh hiệu một đức Phật th́ trong một niệm ấy đă niệm đủ vạn đức” và: “Vô thỉ ác nghiệp từ vọng tâm sanh, công đức niệm Phật từ chân tâm khởi. Chân tâm như mặt trời, vọng tâm như bóng tối. Chân tâm vừa khởi, vọng tâm liền mất như mặt trời vừa mọc, các sự tối tăm đều tiêu”.

Sách An Lạc Tập c̣n dẫn kinh Quán Phật Tam Muội như sau:

“Phật khuyến phụ vương hành Niệm Phật tam-muội, phụ vương bạch Phật:

- Phật địa quả đức, Chân Như Thật Tướng, Đệ Nhất Nghĩa không, hà nhân bất di đệ tử hành chi?

Phật cáo phụ vương:

- Chư Phật quả đức, hữu vô lượng thâm diệu cảnh giới, thần thông, giải thoát, phi thị phàm phu sở hành cảnh giới, cố khuyến phụ vương hành Niệm Phật tam-muội.

Phụ vương bạch Phật:

- Niệm Phật chi công, kỳ trạng vân hà?

Phật cáo phụ vương:

- Như Y Lan lâm, phương tứ thập do-tuần, hữu nhất khỏa Ngưu Đầu Chiên Đàn, tuy hữu căn nha, do vị xuất thổ. Kỳ Y Lan lâm, duy xú vô hương. Nhược hữu đạm kỳ hoa quả, phát cuồng nhi tử. Hậu thời Chiên Đàn căn nha, tiệm tiệm sanh trưởng, tài dục thành thụ, hương khí mạo thịnh, toại năng cải biến thử lâm, phổ giai hương mỹ. Chúng sanh kiến giả, giai sanh hy hữu tâm.

Phật cáo phụ vương:

- Nhất thiết chúng sanh, tại sanh tử trung, niệm Phật chi tâm, diệc phục như thị. Đản năng hệ niệm bất chỉ, định sanh Phật tiền. Nhất đắc văng sanh, tức năng cải biến nhất thiết chư ác thành đại từ bi. Như bỉ hương thụ, cải Y Lan lâm”

(Phật khuyên phụ vương hành Niệm Phật tam-muội. Phụ vương bạch Phật:

- Quả đức của Phật địa là Chân Như Thật Tướng, Đệ Nhất Nghĩa Không, sao Phật chẳng dạy đệ tử hành theo?

Phật bảo phụ vương:

- Quả đức của chư Phật có vô lượng cảnh giới thâm diệu, thần thông, giải thoát, chẳng phải là cảnh giới của phàm phu hành được, nên Phật khuyên phụ vương hành Niệm Phật tam-muội.

Phụ vương bạch Phật: - Công năng của niệm Phật ra sao?

Phật bảo: - Như giữa cánh rừng Y Lan rộng đến bốn mươi do-tuần, có một cây Ngưu Đầu Chiên Đàn tuy đă bén rễ, nảy mầm, nhưng chưa trồi lên khỏi mặt đất, rừng Y Lan ấy chỉ có mùi thối không thơm tho ǵ. Nếu có kẻ nào ăn phải hoa quả của cây Y Lan sẽ phát cuồng mà chết. Lúc sau, mầm cây Chiên Đàn dần dần tăng trưởng, vừa sắp mọc thành cây th́ mùi thơm đă ngào ngạt, đủ sức biến đổi cả khu rừng đó thành ra thơm ngát cả. Chúng sanh trông thấy sanh ḷng hy hữu.

Phật bảo phụ vương:

- Tâm niệm Phật của hết thảy chúng sanh trong sanh tử cũng giống như thế. Chỉ cần hệ niệm chẳng ngơi th́ quyết sẽ sanh ở trước Phật. Một phen đă văng sanh liền biến cải hết thảy các ác thành đại từ bi như cây có mùi thơm kia biến cải cả rừng Y Lan).

Rừng Y Lan vừa nói ví cho Tam Độc, Tam Chướng, vô biên các tội trong thân chúng sanh. Chiên Đàn ví cho tâm niệm Phật của chúng sanh. “Tài dục thành thụ” (Vừa sắp mọc thành cây) là hết thảy chúng sanh chỉ cần niệm liên tục chẳng ngơi th́ đạo nghiệp sẽ hoàn thành.

Kinh Đại Bi cũng dạy: “Nhất xưng Phật danh, dĩ thị thiện căn, nhập Niết Bàn giới, bất khả cùng tận” (Xưng danh hiệu Phật một tiếng th́ do căn lành ấy nhập vào Niết Bàn giới chẳng thể cùng tận).

Kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức cũng nói: “Nhược hữu đắc văn Vô Lượng Thọ Như Lai danh giả, nhất tâm tín nhạo, tŕ phúng tụng niệm... kỳ nhân đương đắc vô lượng chi phước, vĩnh đương viễn ly tam đồ chi ách. Thọ chung chi hậu, giai đắc văng sanh bỉ Phật sát độ” (Nếu có kẻ được nghe danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật Như Lai mà nhất tâm tin ưa, tŕ, phúng[2] tụng niệm… kẻ ấy sẽ được vô lượng phước, sẽ vĩnh viễn xa ĺa ách nạn tam đồ. Sau khi mạng chung đều được văng sanh trong cơi đức Phật kia).

Kinh Văn Thù Bát Nhă cũng nói: “Chúng sanh ngu độn, quán bất năng giải, đản linh niệm thanh tương tục, tự đắc văng sanh” (Chúng sanh ngu độn, chẳng thể hiểu được Quán, chỉ nên dạy họ [giữ được] tiếng niệm liên tục th́ sẽ tự được văng sanh).

Sách Tịnh Tu Tiệp Yếu c̣n khen ngợi pháp môn Niệm Phật như sau: “Sáu chữ thống nhiếp vạn pháp, một môn chính là phổ môn. Toàn thể Sự là Lư, toàn thể vọng đều quy về chân, hoàn toàn từ tánh khởi tu, hoàn toàn tu nơi tánh. Học rộng vốn là thâm nhập, chuyên tu chính là tổng tŕ. Từng tiếng, từng tiếng đánh thức chính ḿnh, từng niệm, từng niệm chẳng ĺa Bổn Tôn”.

Sách c̣n viết: “Vô Lượng Thọ Quang là Bổn Giác của ta. Khởi tâm niệm Phật gọi là Thỉ Giác. Mượn y báo, chánh báo của Phật để hiển lộ tự tâm của chính ḿnh. Thỉ Giác, Bổn Giác chẳng rời nhau, thẳng tiến trên con đường giác ngộ. Mới hơi trái nghịch đă đọa vào vô minh”.

Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận cũng nói: “Cần phải biết rằng một pháp Tŕ Danh thật là giản yếu nhất. Hành giả lúc sơ phát tâm phải chú trọng định khóa (thời khóa nhất định): Mỗi ngày niệm một ngàn tiếng hoặc một vạn tiếng, hoặc mười ức tiếng, từ ít đến nhiều, từ tán nhập định, tùy theo niệm lực đều được văng sanh”.

Sách An Lạc Tập cũng bảo: “Xưng danh cũng như vậy, chỉ nên chuyên chí liên tục chẳng dứt th́ quyết định sanh về trước Phật. Nay khuyên hàng hậu học nếu muốn lănh hội Nhị Đế th́ chỉ cần hiểu niệm niệm là bất khả đắc, đấy chính là Trí Huệ Môn. [Tuy hiểu như vậy] nhưng vẫn hệ niệm liên tục chẳng ngơi th́ chính là Công Đức Môn. V́ vậy, kinh nói Bồ Tát Ma Ha Tát luôn dùng công đức và trí huệ để tu tâm ḿnh. Nếu là kẻ mới học chưa thể phá được tướng th́ chỉ nên dựa theo tướng mà chuyên chí th́ không ai chẳng được văng sanh, chẳng c̣n ngờ ǵ nữa”.

Những hành nhân hiện tại nên tin chắc lời dạy ấy, chẳng cần trước hết phải ly tướng làm ǵ, chỉ cần tŕ danh chăm chỉ, ṛng rặt, bền chắc: “Nương theo tướng mà chuyên chí th́ không ai chẳng được văng sanh”. Đấy chính thật là kim chỉ nam để dẫn chúng sanh vượt khỏi biển sanh tử vậy.

Trên đây, tôi đă dẫn rộng các kinh luận để chứng minh lợi ích thù thắng của pháp Tŕ Danh Niệm Phật.

Tŕ Danh phải chuyên chí, phải “một bề chuyên niệm” như sách Quán Niệm Pháp Môn bảo: “Phật nói hết thảy chúng sanh căn tánh bất đồng, có Thượng, Trung, Hạ. Với mỗi căn tánh, Phật đều khuyên chuyên niệm danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật.

Hỏi: Năm thứ nhân duyên (chỉ ngũ niệm môn) đều là Tịnh nghiệp, sao lại chỉ với pháp Niệm Phật bảo phải nhất hướng?

Đáp: Có ba nghĩa:

- Một là do phế các hạnh [khác, chỉ] lập Niệm Phật mà nói như thế.

- Hai là để giúp cho chánh nghiệp Niệm Phật nên nói ra các hạnh trợ nghiệp.

- Ba là do Niệm Phật là chánh, các hạnh là phụ, nên bảo là nhất hướng”.

Xin giải thích như sau: Câu “nhất hướng chuyên niệm” (một bề chuyên niệm) có đến ba nghĩa:

- Một là phế bỏ các hạnh khác, chuyên lập hạnh Niệm Phật, chỉ đề xướng một câu Phật hiệu, thâm nhập một môn, chẳng lẫn tạp các pháp khác; phế hết các hạnh, chỉ lập một pháp niệm danh hiệu Phật. Đấy gọi là “nhất hướng chuyên niệm”.

- Hai là chỉ lấy Niệm Phật làm chánh nghiệp. Để hỗ trợ chánh nghiệp này nên tu các hạnh khác. Niệm Phật là chánh, các hạnh khác là phụ trợ. Chánh nghiệp thống lănh các trợ nghiệp, trợ nghiệp phụ thuộc chánh nghiệp. Chánh và Trợ viên dung, cùng vào trong Di Đà Nhất Thừa nguyện hải nên bảo là “nhất hướng chuyên niệm”.

- Ba là Niệm Phật là chánh, các hạnh là phụ. Chánh, phụ khác nhau, thứ tự phân minh. Lấy nhất hướng chuyên niệm làm chủ yếu th́ tuy chẳng bỏ tu các hạnh khác, vẫn gọi là “nhất hướng chuyên niệm”.

Lời luận trên rất ổn đáng. V́ thế, người niệm Phật không ai chẳng kiêm tu các môn lễ bái, phát nguyện, hồi hướng v.v…

Theo như những thuyết trên th́ người niệm Phật có thể kiêm tŕ các chú Văng Sanh, Đại Bi, Chuẩn Đề v.v… hoặc kiêm tŕ tụng các kinh như Tâm Kinh, Kim Cang v.v… nhưng phải phân định rạch ṛi chánh hạnh, trợ hạnh, niệm Phật miên mật th́ mới chẳng trái với “nhất hướng chuyên niệm”. Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận đă giảng rơ ư chỉ ấy. Sách viết:

“Hành giả đă phát tâm Bồ Đề th́ nên tu vạn hạnh của Bồ Tát. Với tất cả điều thiện thế gian hay xuất thế gian dù là nhỏ như mảy lông cho đến vô biên công đức đều dùng thâm tâm, chí thành tâm hồi hướng Cực Lạc th́ cũng gọi là ‘nhất hướng chuyên niệm’. Chẳng cần buông bỏ trăm việc mới gọi là chuyên niệm. Do Phật tánh hiện diện trọn khắp hết thảy chỗ nên c̣n có buông, có bỏ th́ chẳng gọi là Niệm Phật”.

Lời luận này thật khế hợp thời cơ, người đời hiện tại bận bịu lắm việc khó ḷng buông bỏ tất cả để suốt ngày niệm Phật. Chỉ cần tin sâu, nguyện thiết cầu sanh Tịnh Độ. Gặp việc cứ làm, xong việc lại niệm Phật. Thế pháp vốn chẳng trở ngại Phật pháp; huống hồ là với hết thảy hạnh lành thế gian, xuất thế gian đều dùng cái tâm chí thành hồi hướng Cực Lạc. Làm được như vậy th́ cũng gọi là “nhất hướng chuyên niệm”.

Theo Khởi Tín Luận, kiêm hành pháp thiện thế gian c̣n được gọi là “nhất hướng chuyên niệm”, huống là kiêm tu các pháp xuất thế. Chẳng hạn như, trong cuốn Phạm Thất Ngẫu Đàm, Ngẫu Ích đại sư đă viết: “Lại nữa, Thiền giả muốn sanh về Tây Phương th́ chẳng cần phải đổi sang niệm Phật, chỉ đầy đủ tín, nguyện th́ tham thiền chính là hạnh Tịnh Độ”. Hơn nữa, đại sư từng bế quan kết đàn tŕ chú Văng Sanh cầu sanh Tịnh Độ. Ngài lại c̣n viết những bài kệ để phát thệ. Kệ rằng:

“Con dùng chí thành tâm, thâm tâm, hồi hướng tâm, đốt tay ba cây hương (dùng ba cây hương đốt cánh tay), kết một thất tịnh đàn (kết đàn nghiêm tịnh để tụng chú trong bảy ngày liền), chuyên tŕ chú Văng Sanh, chỉ trừ lúc ăn ngủ. Nguyện đem công đức này, cầu quyết sanh An Dưỡng”. Những việc ấy chứng tỏ chỉ cần đủ tín nguyện cầu văng sanh th́ dù tham thiền hay tŕ chú cũng đều là hạnh Tịnh Độ.

Tác giả của bộ Di Đà Viên Trung Sao là U Khê đại sư cả đời tu các pháp sám Pháp Hoa, Đại Bi, Kim Quang Minh, Di Đà, Lăng Nghiêm không sót ngày nào. Lâm chung biết trước thời khắc, tay viết năm chữ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, rồi cao giọng xướng tựa đề kinh vài lượt, an nhiên viên tịch.

Như vậy, tu sám, tŕ kinh đều là hạnh Tịnh Độ. Do đó, đă phát Bồ Đề tâm, tŕ danh hiệu Phật th́ dẫu có kiêm tu các pháp khác cũng được coi là “nhất hướng chuyên niệm”, cũng được văng sanh.

Nhưng kiêm tu nhiều môn chẳng bằng thâm nhập một môn, nhất tâm chuyên chí xưng niệm Di Đà th́ mới dễ khiến chỗ chín biến thành chỗ sống, chỗ sống biến thành chỗ chín. Ái nhiễm tham đắm là chỗ chín của chúng sanh. Bồ Đề chánh niệm là chỗ sống sít của chúng sanh. Chỗ sống sít biến thành chín rục th́ lúc lâm chung, khi bị các khổ bức bách mới vẫn khởi lên được câu niệm Phật ḥng cảm được Phật tiếp dẫn để được văng sanh.

V́ vậy Thiện Đạo đại sư khai thị: “Đại Thánh bi mẫn khuyên thẳng chuyên xưng danh hiệu chính là v́ xưng danh dễ dàng. Xưng danh liên tục liền được văng sanh. Nếu niệm được liên tục th́ lấy cả đời làm hạn, mười người tu mười người được văng sanh, trăm người tu trăm người được văng sanh. V́ cớ sao? V́ không tạo nghiệp duyên nên được chánh niệm, v́ được tương ứng với bổn nguyện của Phật, v́ chẳng trái nghịch lời dạy, v́ thuận theo lời Phật vậy. Nếu bỏ chuyên niệm đi tu tạp niệm th́ trong trăm người tu chỉ được một hai kẻ văng sanh, trong ngàn người tu hiếm được ba bốn người văng sanh”.

Nói tóm lại, Tŕ Danh Niệm Phật chính là bổn hoài của chư Phật, là phương tiện rốt ráo, là con đường tắt nhất trong các đường tắt. Đấy thật là lời luận muôn đời chẳng suy xuyển bởi v́ người lúc lâm chung bị muôn khổ bức bách, ngoại trừ tŕ danh ra khó ḷng khởi các hạnh khác nổi. Quán kinh nói: Kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác đáng đọa ác đạo, lúc lâm chung gặp thiện tri thức “giáo linh niệm Phật, bỉ nhân khổ bức, bất hoảng niệm Phật, thiện hữu cáo ngôn: - Nhữ nhược bất năng niệm bỉ Phật giả, ưng xưng Vô Lượng Thọ Phật. Như thị chí tâm, linh thanh bất tuyệt, cụ túc thập niệm, xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Xưng Phật danh cố, ư niệm niệm trung, trừ bát thập ức kiếp sanh tử chi tội, mạng chung chi thời, kiến kim liên hoa, do như nhật luân, trụ kỳ nhân tiền, như nhất niệm khoảnh, tức đắc văng sanh Cực Lạc thế giới” (dạy cho niệm Phật nhưng người ấy bị khổ bức bách chẳng thể thanh thản niệm Phật nổi, thiện hữu bảo rằng: ‘Nếu ông chẳng niệm đức Phật ấy nổi (tức là chẳng thể niệm Phật theo phương pháp quán tưởng được) th́ hăy nên xưng danh Vô Lượng Thọ Phật’. Chí tâm như thế chẳng để ngớt tiếng, đầy đủ mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật th́ do xưng danh đức Phật ấy, trong mỗi niệm trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Lúc lâm chung, thấy hoa sen vàng giống như vầng mặt trời ở trước mặt người ấy, như trong khoảng một niệm liền được sanh về thế giới Cực Lạc).

Kinh nói lâm chung chẳng thể quán Phật, chỉ có thể niệm danh hiệu Phật; rơ ràng là pháp Tŕ Danh rất dễ dàng. Lâm chung dễ niệm nên được văng sanh thật là hết sức ổn thỏa vậy. Câu “ư niệm niệm trung, trừ bát thập ức kiếp sanh tử chi tội” (trong mỗi niệm trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử) chỉ rơ pháp này hết sức viên đốn. Kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc lâm chung mười niệm liền được văng sanh. Phàm phu mang theo nghiệp [đi văng sanh] được bằng ngay với bậc Bổ Xứ.

Pháp Tŕ Danh Niệm Phật không những đă giản dị, ổn thỏa đến cùng cực mà c̣n là pháp tối cực viên đốn nên mười phương Như Lai cùng khen ngợi, ngàn kinh muôn luận cùng nêu. Các hành nhân thật phải nên mau phát đại tâm, một bề chuyên niệm A Di Đà Phật.

Kinh này lấy “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm” làm tông. Hai điều trên chẳng thể tách rời được v́ phát Bồ Đề tâm là tín, nguyện; nhất hướng chuyên niệm là hạnh. Ba thứ tín, nguyện, hạnh chẳng thể thiếu một thứ.

Sách Di Đà Yếu Giải nói: “Tin sâu phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề, tín nguyện hợp lại chính là kim chỉ nam cho Tịnh Độ. Do vậy, chấp tŕ danh hiệu mới là chánh hạnh”. Ư đại sư Ngẫu Ích là: Tâm Vô Thượng Bồ Đề là kim chỉ nam để tu Tịnh Độ. Nhà hàng hải dùng kim chỉ nam để xác định phương hướng. Nếu muốn vượt biển sanh tử về thẳng bờ kia Cực Lạc th́ phải dùng Bồ Đề tâm để dẫn đường nên người tu Tịnh nghiệp chẳng thể không phát Bồ Đề tâm! Lại dùng Bồ Đề tâm ấy để tŕ danh hiệu th́ mới là chánh hạnh. Nói cách khác: Không có Bồ Đề tâm th́ dẫu có tŕ danh hiệu cũng chưa phải là chánh hạnh.

Sách Di Đà Yếu Giải bảo: “Nếu không có tín, nguyện th́ dẫu có tŕ danh hiệu đến mức gió lay chẳng động, mưa chẳng thấm ướt, khác nào tường đồng, vách sắt th́ vẫn chẳng đắc cái lư văng sanh. Kẻ tu Tịnh nghiệp chẳng thể không biết điều này”. Nói cách khác, tuy phát Bồ Đề tâm nhưng chẳng có nguyện, hạnh cầu sanh Tịnh Độ, lại tu môn khác th́ chẳng phải là căn cơ Tịnh Độ, cho nên cũng chẳng được văng sanh! V́ vậy, trong cả ba bậc văng sanh, kinh này đều bảo: “Phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”, nghĩa là đó là điều kiện phải có để văng sanh của ba bậc.

“Tu chư công đức” (Tu các công đức): Xem trong lời nguyện thứ mười chín “nghe danh phát tâm” của đức Di Đà, ta thấy lời nguyện như sau: “Văn ngă danh hiệu, phát Bồ Đề tâm, phụng hành lục Ba La Mật” (Nghe danh hiệu của tôi, phát tâm Bồ Đề, phụng hành sáu Ba La Mật). Bản Hán dịch c̣n ghi (bản Ngô dịch cũng ghi như thế): “Ư tối thượng đệ nhất bối giả, tựu vô vi đạo, thường tác Bồ Tát đạo, phụng hành Lục Ba La Mật kinh giả, tác sa-môn bất đương khuy thất kinh giới… Chí tinh nguyện dục sanh Vô Lượng Thọ thanh tịnh Phật quốc, đương niệm chí tâm, bất đoạn tuyệt giả” (Đối với đạo vô vi, bậc đệ nhất tối thượng, thường hành Bồ Tát đạo, phụng hành kinh Lục Ba La Mật, làm sa-môn chớ nên khuyết phạm kinh giới… Nếu chuyên ṛng nguyện được sanh trong cơi Phật Vô Lượng Thọ th́ hăy nên niệm chí tâm, chẳng để đoạn tuyệt). Tổng hợp ư nghĩa cả hai kinh, ta thấy rằng “tu chư công đức” là phụng hành sáu Ba La Mật.

Phần nói về Thượng Phẩm Thượng Sanh trong Quán kinh cũng bảo “cụ chư giới hạnh” (đầy đủ các giới hạnh), “đọc tụng Đại thừa”“tu hành lục niệm (lục niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên), hồi hướng phát nguyện”. Thật ra đó cũng chỉ là hành sáu Ba La Mật.

“Nguyện sanh bỉ quốc” (Nguyện sanh cơi ấy) là như câu: “Sở hữu thiện căn tâm tâm hồi hướng, nguyện sanh ngă quốc” (Tất cả thiện căn tâm tâm hồi hướng nguyện sanh cơi ta) trong nguyện thứ mười tám; câu “phục dĩ thiện căn hồi hướng, nguyện sanh ngă quốc” (lại đem thiện căn hồi hướng nguyện sanh cơi ta) trong nguyện mười chín, câu “chí tâm hồi hướng, dục sanh Cực Lạc, vô bất toại giả” (chí tâm hồi hướng muốn sanh Cực Lạc th́ không ai chẳng được toại ư) và “phát Bồ Đề tâm, yếm hoạn nữ thân, nguyện sanh ngă quốc” (phát Bồ Đề tâm, chán ngán thân nữ nguyện sanh cơi ta) trong nguyện hai mươi mốt. Những nguyện như vậy đều khuyên phát nguyện hồi hướng, cầu sanh Tịnh Độ. Kinh A Di Đà nói: “Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện, nguyện sanh bỉ quốc” (Chúng sanh nghe vậy phải nên phát nguyện, nguyện sanh sang cơi kia)“nhược hữu tín giả, ưng đương phát nguyện, sanh bỉ quốc độ” (nếu có ai tin tưởng th́ phải nên phát nguyện sanh về cơi kia). Kinh cũng bảo: “Nhược hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện, đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật quốc giả, thị chư nhân đẳng, giai đắc Bất Thoái Chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề” (Nếu có kẻ đă phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn sanh về cơi nước Phật A Di Đà th́ những người ấy đều đắc bất thoái chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác). Rơ ràng “nguyện sanh bỉ quốc” (nguyện sanh về cơi ấy) là điều trọng yếu để được văng sanh Cực Lạc.

“Lâm thọ chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền” (Lúc mạng sắp dứt, A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện ra trước người ấy) chính là nguyện thứ hai mươi “lâm chung tiếp dẫn” được thành tựu. Di Đà nguyện hải chuyên ban cho cái lợi chân thật. Kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ nói: “Thị thiện nam tử, hoặc thiện nữ nhân, lâm mạng chung thời, Vô Lượng Thọ Phật, dữ kỳ vô lượng Thanh Văn đệ tử, Bồ Tát chúng câu, tiền hậu vi nhiễu, lai trụ kỳ tiền, từ bi gia hựu, linh tâm bất loạn. Kư xả mạng dĩ, tùy Phật chúng hội, sanh Vô Lượng Thọ Cực Lạc thế giới thanh tịnh Phật độ” (Lúc các thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân ấy lâm chung th́ Vô Lượng Thọ Phật và vô lượng Thanh Văn đệ tử của Ngài, các vị Bồ Tát cùng vây quanh trước sau, đến đứng trước mặt, từ bi gia hựu khiến cho tâm người ấy chẳng loạn. Đă xả mạng rồi, liền theo chúng hội của Phật sanh trong thế giới Cực Lạc là cơi Phật thanh tịnh của Vô Lượng Thọ Phật). Câu “từ bi gia hựu linh tâm bất loạn” là tâm tủy của Tịnh tông.

Do Phật lực gia bị nên hành nhân mới được tâm chẳng loạn. Khi đó, mười niệm liên tục liền được văng sanh. V́ vậy, Tịnh tông được xưng tụng là Quả Giáo, là tha lực pháp môn, là đạo dễ hành, là thuyền từ độ khắp muôn loài ; những lời khen ngợi như vậy đều bắt nguồn từ câu ấy. Kinh nói: “Hạ bối giả lâm chung mộng kiến bỉ Phật, diệc đắc văng sanh” (Kẻ trong bậc Hạ lâm chung mộng thấy đức Phật ấy cũng được văng sanh) lại càng hiển thị rơ tha lực thật chẳng thể nghĩ bàn!

“Thất bảo hoa trung, tự nhiên hóa sanh” (Tự nhiên hóa sanh trong hoa sen bảy báu): Kinh nói “tự nhiên hóa sanh” nhằm chỉ rơ chẳng phải là hóa sanh trong bốn cách sanh “noăn, thai, thấp, hóa”, như sách Pháp Hoa Văn Cú nói: “Thai Kinh nói: ‘Liên hoa sanh giả, phi thai noăn thấp hóa chi hóa sanh dă; phi hóa nhi ngôn hóa dă’ (Sanh trong hoa sen chẳng phải là cách hóa sanh thuộc bốn cách sanh: noăn, thai, thấp, hóa. Chẳng phải là hóa mà nói là hóa)”; lại cũng chẳng phải là thấp sanh như kinh Niết Bàn nói: Cô gái Am La Thọ sanh từ bông hoa của cây ấy (cây Am La) nên gọi là “thấp sanh”. Do thảo mộc trong uế độ thường có khí ẩm, những kẻ như cô Am La Thọ nương theo hơi ẩm đó mà sanh ra. Trong Tịnh Độ, hoa sen cùng người cùng sanh trong một lúc, tự nhiên hóa hiện, chẳng nhờ đến khí ẩm mà sanh nên chẳng phải là thấp sanh vậy.

“Trí huệ dũng mănh” là trí huệ sáng suốt, nhạy bén, phá được quân giặc phiền năo, kiêu mạn nên bảo là “dũng mănh”. Trí Độ Luận nói: “Mũi tên trí huệ cứng bén phá các giặc kiêu mạn”. Kinh Duy Ma cũng bảo: “Dĩ trí huệ kiếm phá phiền năo tặc” (Dùng gươm trí huệ phá giặc phiền năo). Kinh Tâm Địa Quán cũng nói: “Pháp bảo do như trí huệ lợi kiếm, cát đoạn sanh tử, ly hệ phược cố” (Pháp bảo ví như gươm trí huệ bén nhọn v́ nó chặt đứt sanh tử, ĺa khỏi hệ phược).

“Thần thông tự tại” là thần thông vô ngại như kinh dạy: “Năng ư chưởng trung tŕ nhất thiết thế giới” (Có thể cầm hết thảy thế giới trong ḷng bàn tay).

Quán kinh đă giảng rơ ba phẩm thuộc bậc Thượng, nay tôi xin lược trích vài đoạn trong cuốn Quán Kinh Nghĩa Sớ của ngài Gia Tường:

“Thứ nhất là Thượng Phẩm Thượng Sanh: Phát Bồ Đề tâm, tu hành suốt bảy ngày th́ sanh về cơi ấy, thấy thân đức Phật ấy, nghe giảng diệu pháp liền ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn. Phải biết rằng đấy là mức Vô Sanh của bậc Thất Địa.

Thứ hai là Thượng Phẩm Trung Sanh: Chẳng nhất thiết phải đọc tụng kinh Đại Thừa, chỉ khéo hiểu được nghĩa lư, tin sâu nhân quả, chẳng báng Đại thừa, đem công đức ấy nguyện sanh về cơi kia th́ sẽ được văng sanh trong hoa sen lớn trong ao bảy báu nơi cơi đó. Qua một đêm hoa nở, trải qua một tiểu kiếp đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đấy cũng là mức Vô Sanh của bậc Thất Địa. Trong Thượng Phẩm, thấy Phật nghe pháp, đắc ngay Vô Sanh, c̣n trong Trung Phẩm phải qua một tiểu kiếp mới đắc Vô Sanh.

Thứ ba là Thượng Phẩm Hạ Sanh. Hạng này cũng tin nhân quả, chẳng báng Đại Thừa, ở trong hoa sen cơi ấy qua một ngày một đêm hoa sen mới nở. Lại phải qua ba tiểu kiếp mới đắc bách pháp minh môn, trụ Hoan Hỷ Địa. Do hạ phẩm đắc Vô Sanh của bậc Sơ Địa nên ta biết hai phẩm trên là Vô Sanh của Thất Địa ”.

Sách Di Đà Sớ Sao lại bảo trong bậc Thượng Thượng Phẩm, cao nhất là bậc Bát Địa. Sách viết: “[Giai vị trong] trong thượng thượng phẩm là từ Nhất Địa cho đến Bát Địa. Một phẩm đă gồm nhiều phẩm nên với các phẩm khác cứ suy ra mà biết”. Như vậy, bậc Thượng văng sanh thấy Phật nghe pháp liền ngộ Vô Sanh có thể đạt tới bậc Bát Địa, đủ chứng tỏ họ là bậc “trí huệ dũng mănh”.

Câu “dục ư kim thế kiến A Di Đà Phật” (muốn trong đời này được thấy A Di Đà Phật) ư nói: Hết thảy chúng sanh trong hiện tại và tương lai muốn ngay trong một đời đích thân mắt thấy A Di Đà Phật. Quán kinh nói Thượng Phẩm Thượng Sanh th́ “A Di Đà Như Lai dữ Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô lượng hóa Phật, bách thiên tỳ-kheo Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên, thất bảo cung điện. Quán Thế Âm Bồ Tát chấp Kim Cang đài, dữ Đại Thế Chí Bồ Tát chí hành giả tiền. A Di Đà Phật phóng đại quang minh, chiếu hành giả thân, dữ chư Bồ Tát, thọ thủ nghênh tiếp. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, dữ vô số Bồ Tát, tán thán hành giả, khuyến tấn kỳ tâm, hành giả kiến dĩ, hoan hỷ dũng dược, tự kiến kỳ thân thừa Kim Cang đài, tùy tùng Phật hậu, như đàn chỉ khoảnh, văng sanh bỉ quốc” (A Di Đà Như Lai và Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số hóa Phật, trăm ngàn tỳ-kheo Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên, cung điện bảy báu. Quán Thế Âm Bồ Tát tay cầm đài kim cang cùng Đại Thế Chí đến trước hành giả. A Di Đà Phật phóng đại quang minh chiếu thân hành giả, cùng với các đại Bồ Tát đưa tay nghênh tiếp. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí và vô số Bồ Tát khen ngợi hành giả, khích lệ tâm hành giả. Hành giả nghe xong, hoan hỷ, hớn hở, tự thấy thân ḿnh ngồi đài kim cang, theo sau chân Phật như trong khoảng khảy ngón tay liền văng sanh cơi kia).

Thượng Phẩm Trung Sanh th́ “mạng dục chung thời, A Di Đà Phật, dữ Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô lượng đại chúng quyến thuộc vi nhiễu, tŕ tử kim đài, chí hành giả tiền, tán ngôn: ‘Nhữ hành Đại Thừa, giải Đệ Nhất Nghĩa, thị cố ngă kim lai nghênh tiếp nhữ’, dữ thiên hóa Phật nhất thời thọ thủ. Hành giả tự kiến tọa tử kim đài, hiệp chưởng xoa thủ, tán thán chư Phật. Như nhất niệm khoảng, tức sanh bỉ quốc thất bảo tŕ trung” (Lúc mạng sắp hết, A Di Đà Phật và Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô lượng đại chúng, quyến thuộc vây quanh, cầm đài tử kim đến trước hành giả, khen rằng: ‘Ông hành Đại thừa hiểu Đệ Nhất Nghĩa; v́ vậy, ta nay đến nghênh tiếp ông’. Cùng với một ngàn vị hóa Phật cùng x̣e tay, hành giả tự thấy ḿnh ngồi trên đài tử kim, chắp tay khen ngợi chư Phật, như trong khoảng một niệm liền sanh trong ao bảy báu nơi cơi nước kia).

C̣n Thượng Phẩm Hạ Sanh th́ “hành giả mạng dục chung thời, A Di Đà Phật cập Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, dữ chư Bồ Tát, tŕ kim liên hoa, hóa tác ngũ bách Phật, lai nghênh thử nhân. Ngũ bách hóa Phật, nhất thời thọ thủ, tán ngôn: ‘Pháp tử! Nhữ kim thanh tịnh, phát vô thượng đạo tâm, ngă lai nghênh nhữ’, kiến thử sự thời, tức tự kiến thân tọa kim liên hoa. Tọa dĩ hoa hợp, tùy Thế Tôn hậu, tức đắc văng sanh thất bảo tŕ trung” (hành giả lúc mạng sắp dứt, A Di Đà Phật và Quán Thế Âm, Đại Thế Chí và các Bồ Tát cầm hoa sen vàng hóa ra năm trăm vị Phật đến đón người ấy. Năm trăm vị hóa Phật cùng lúc đưa tay khen rằng: ‘Pháp tử! Nay ông thanh tịnh phát Vô Thượng Đạo tâm, ta đến đón ông’. Lúc thấy sự đó liền tự thấy thân ḿnh ngồi trên hoa sen vàng. Ngồi xong, hoa sen khép lại, theo sau Thế Tôn, liền được văng sanh trong ao bảy báu).

Quán kinh và kinh này cùng bảo trước lúc hành giả chết thấy Phật đến đón; đó chính là “ngay trong đời này thấy A Di Đà Phật”. Đời ác Ngũ Trược hiện nay là lúc không có Phật mà lại thấy được đức Phật Di Đà th́ thật là hy hữu, toàn là nhờ vào Nhất Thừa nguyện hải của Phật Di Đà, sức bất khả tư ngh́ của sáu chữ hồng danh. Lại cũng do v́ hành giả phát tâm Bồ Đề, một dạ chuyên niệm, rộng tích công đức, phát nguyện hồi hướng, cầu sanh cơi kia nên tương ứng với lời nguyện của Phật. Do đó, có thể thấy đức Phật. Do thấy Phật nên liền được văng sanh, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, ắt chứng Vô Thượng Bồ Đề.

Cuối đoạn kinh này lại nhắc lại: “Ưng phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, phục đương chuyên niệm Cực Lạc quốc độ” (Phải nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, lại nên chuyên nghĩ đến cơi nước Cực Lạc). Đấy chính là chánh nhân văng sanh, lại c̣n bảo thêm: “Tích tập thiện căn, ưng tŕ hồi hướng” (Hăy nên đem thiện căn đă tích tập để hồi hướng). Do nhân thù thắng nên ắt phải cảm được quả báo mầu nhiệm. Do đó, kinh bảo: “Do thử kiến Phật, sanh bỉ quốc trung, đắc bất thoái chuyển, năi chí vô thượng Bồ Đề” (Do vậy thấy Phật sanh trong cơi kia, được bất thoái chuyển cho đến thành Vô Thượng Bồ Đề). Do lời giải thích này đề cao tha Phật[3] sợ rằng sẽ có kẻ ngờ vực, hiểu lầm Tâm tông, nên ở đây tôi xin dẫn lời ba cuốn luận để chứng minh thêm.

* Một là Linh Phong đại sư viết trong sách Yếu Giải rằng:

“Hỏi: Tâm này đă làm Phật, tâm này đă là Phật, th́ sao lại chẳng nói đến tự Phật là rốt ráo mà cứ cho tha Phật hơn tự Phật là v́ sao thế?

Đáp: Pháp môn này hoàn toàn ở chỗ hiểu rơ tha Phật chính là tự Phật. Nếu kiêng nói đến tha Phật th́ chính là tha kiến (kiến chấp c̣n thấy có người khác, pháp khác) chưa hết. Nếu thiên trọng tự Phật lại là Ngă Kiến điên đảo.

Hơn nữa, trong bốn lợi ích Tất-đàn[4], ba thứ lợi ích cuối chẳng thể tự ḿnh phát khởi. Nếu chẳng thể mừng tin sâu xa nơi thế giới [Cực Lạc] th́ hai thứ lợi ích vui [Tịnh Độ], chán [Sa Bà] c̣n chẳng thể phát sanh nổi, huống là ngộ nhập được đức Phật nơi lư tánh. Chỉ có thể dùng sự tŕ để thấu đạt lư tŕ. Bởi vậy, Di Đà và thánh chúng hiện tiền chính là bản tánh hiện rơ. Văng sanh cơi kia, thấy Phật nghe pháp chính là thành tựu huệ thân, chẳng do người khác mà ngộ.

Pháp môn này thâm diệu phá tan hết thảy hư luận, chặt sạch hết thảy ư kiến, chỉ bậc như Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả… mới có thể triệt để gánh vác, thực hiện nổi! C̣n th́ những kẻ thế trí biện thông, bọn tinh thông cả Thiền lẫn Nho tận sức suy lường th́ càng suy nghĩ càng xa vời vợi, chẳng bằng bọn ông già bà lăo dốt nát siêng ṛng niệm Phật lại ngầm thông được với Phật trí, thầm hợp đạo mầu”.

* Hai là như Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận nói:

“Hỏi: Lâm chung thấy Phật th́ Phật đó là Tự Phật hay là Tha Phật? Nếu là Tha Phật th́ thành ra nghiệp ma; nếu là Tự Phật lại do tưởng lực tạo thành, hư vọng chẳng thật, làm sao văng sanh được?

Đáp: Tự Phật hay Tha Phật cũng đều là hư luận! Ta, người cùng mất, tự, tha nào khác. Pháp Thân của chư Phật trạm nhiên thường tịch. Do bổn nguyện nên cảm ứng đạo giao, là tự mà cũng chính là tha, chẳng hư, chẳng thật, chỉ là một Chân Như trọn khắp pháp giới.

Chúng sanh do nghiệp duyên nên có sanh tử phần đoạn một cách hư huyễn, giống như người ru rú trong nhà chẳng thấy mặt trời. Niệm lực chân thành, vững chắc th́ huyễn duyên hết sạch như thể mái nhà bị thủng, mặt trời chiếu sáng ḷa. Tùy ư văng sanh nhưng vẫn thuộc trong cái vốn sẵn có”.

Lời luận này quét sạch hết thảy phân biệt, tự hay tha, chúng sanh hay Phật đều thành hư luận. Chỉ có một Chân Như không lay động, trọn khắp, tùy ư văng sanh Cực Lạc nhưng vẫn không ngoài tự tâm.

* Ba là như Di Đà Sớ Sao nói:

Chấp Sự mê Lư th́ khác nào trẻ nít, kẻ u mê đọc sách của bậc thánh nhân đời xưa; mê muội, ấu trĩ nên chỉ đọc mà chẳng hiểu rơ nghĩa. Bởi vậy suốt ngày niệm Phật mà chẳng biết Phật niệm ǵ.

Chấp Lư mê Sự th́ khác nào kẻ nghèo vớ được bằng khoán của người giàu có liền tự bảo ḿnh giàu to, chẳng biết là ḿnh chỉ đếm của cải người ta, ăn nhằm ǵ đến ḿnh!

Cũng thế, kẻ tuy biết ‘tâm chính là Phật, Phật chính là tâm’ lại đi phán đoán tâm chẳng phải là Phật. V́ thế, ước về Lư th́ không có ǵ để niệm được; ước theo Sự th́ trong cái không có ǵ để niệm được, ta cứ khăng khít niệm. Do niệm tức là vô niệm nên Sự Lư song tu, bổn trí trở lại thấu đạt Phật trí. Có như vậy mới gọi là đại trí”.

Sách Sớ Sao c̣n nói: “Dẫu chấp Sự mà niệm liên tục th́ vẫn chẳng mất công lao, vẫn đạt được các phẩm; ngược lại, chấp Lư mà tâm chưa tỏ ngộ th́ bị mắc họa đọa lạc”.

Lời Sao viết: “Giả sử cuồng huệ phóng túng tham đắm ngoan hư (ngoan không), chưa từng tỏ ngộ bản tâm mà lại khinh Tịnh Độ, miệt thị văng sanh th́ cái hại ấy chẳng nhỏ; tức là mới hiểu loáng thoáng cái Không mà đă bác bỏ nhân quả, vội vội vàng vàng chiêu cảm họa ương”.

Xin độc giả hăy đọc những lời này hai ba lượt, chớ đừng chấp Lư phế Sự, kiêng nói tha Phật, khinh rẻ Tịnh Độ để tự chiêu cảm ương họa.

 Chánh kinh:

者,雖 門,大 德,當 心。一 佛。隨 行,諸 德,奉 戒,起 像,飯 門,懸 燈,散 香,以 向,願 國。其 終,阿 身,光 好,具 佛,與 繞,現 前,攝 引。即 國,住 退 轉,無 提。功 也。

Kỳ trung bối giả, tuy bất năng hành tác sa-môn, đại tu công đức, đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, tùy kỷ tu hành, chư thiện công đức, phụng tŕ trai giới, khởi lập tháp tượng, phạn thực sa-môn, huyền tăng nhiên đăng, tán hoa thiêu hương. Dĩ thử hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc. Kỳ nhân lâm chung, A Di Đà Phật hóa hiện kỳ thân, quang minh tướng hảo, cụ như chân Phật, dữ chư đại chúng tiền hậu vi nhiễu, hiện kỳ nhân tiền, nhiếp thọ đạo dẫn, tức tùy hóa Phật văng sanh kỳ quốc, trụ Bất Thoái Chuyển, vô thượng Bồ Đề, công đức trí huệ thứ như thượng bối giả dă.

Bậc trung là [những người] tuy chẳng thể thực hành hạnh sa-môn, tu các công đức lớn lao, nhưng phải phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm A Di Đà Phật. Tùy sức ḿnh tu hành các công đức lành, phụng tŕ trai giới, tạo dựng tháp tượng, đăi cơm sa-môn, treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương, đem những việc ấy hồi hướng nguyện sanh cơi kia. Lúc người ấy lâm chung, A Di Đà Phật hóa ra thân có đủ quang minh, tướng hảo như đức Phật thật cùng các đại Bồ Tát vây quanh trước sau hiện ra trước người ấy nhiếp thọ, dẫn dắt. Người ấy liền theo hóa Phật văng sanh nước kia, trụ Bất Thoái Chuyển Vô Thượng Bồ Đề; công đức, trí huệ gần bằng bậc trên.

Giải:

Sách Lược Luận nói: “Văng sanh bậc Trung có bảy nhân duyên: Một là phát tâm Vô Thượng Bồ Đề; hai là một mực chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật; ba là tu các thiện nghiệp dù nhiều hay ít, phụng tŕ trai giới; bốn là tạo dựng tháp tượng; năm là dâng cơm cho sa-môn; sáu là treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương; bảy là đem công đức ấy hồi hướng nguyện sanh sang cơi kia”.

Sách Hội Sớ cũng nói giống như thế.

Điều thứ nhất là phát Bồ Đề tâm và điều thứ hai là “một mực chuyên niệm” đă được giải thích trong phần trên nên ở đây chẳng nhắc lại.

Điều thứ ba là tùy kỷ tu hành chư thiện công đức”  nghĩa là: Tùy theo sức ḿnh có thể làm nổi mà nỗ lực làm các công đức lành.

Sách Đại Thừa Nghĩa Chương quyển mười hai giảng chữ “trai giới” như sau: “Đề pḥng, ngăn cấm nên gọi là Giới (), khiết tịnh nên gọi là Trai ()”. Sách Tứ Phần Luật Âm Nghĩa giảng chữ Giới như sau: “Giới là tên gọi khác của Luật. Tiếng Phạn là Tam-bà-la, Hán dịch là Cấm. Giới có nghĩa là ngăn cấm”. “Trai” có nghĩa là chẳng ăn quá ngọ, chánh ngọ là chánh thời, c̣n những lúc khác đều là phi thời. Đúng thời (chánh thời) th́ ăn, phi thời chẳng ăn. Chẳng ăn quá ngọ th́ gọi là “tŕ trai”. Sách Nam Sơn Nghiệp Lưu cũng bảo: “Trai nghĩa là tề chỉnh, tề chỉnh cái tâm ḿnh, hoặc có nghĩa là trong sạch”. Như vậy, Tŕ Trai chính là trừ sạch những ǵ bất tịnh trong tâm.

Sách Hội Sớ lại bảo: “Trai giới chính là Bát Quan Trai Giới và những giới thuộc Tiểu Thừa hay Đại Thừa. Giới là thầy của con người, đạo lẫn tục đều phải tuân thủ. Tâm làm nghiệp chủ, phàm lẫn thánh đều phải chế ngự tâm. Chánh pháp trụ hay diệt toàn là nhờ vào Giới. Giới sáng ngời như mặt trời, mặt trăng, tôn quư tựa bảo châu. Thà chịu khát mà chết, chẳng đành uống nước có trùng (nước chưa lọc sạch c̣n có trùng nhỏ mắt không thấy được). Thà bị trói đến chết, chẳng nỡ làm thương tổn lá cỏ”.

Lời Sớ đă bàn đến tột cùng điểm trọng yếu của trai giới. Chánh pháp có tồn tại được trong đời hay không toàn là cậy vào hành nhân có giữ giới được hay không! V́ vậy, thà mất cả thân mạng, chẳng trái nghịch giới ḿnh đă thọ. Cư sĩ Bành Tế Thanh nói: “V́ vậy, phải biết rằng tư lương Tịnh Độ toàn là cậy vào công đức. Nền móng của công đức không ǵ hơn nổi tŕ giới. Đó là v́ giới tịnh ắt tâm tịnh, tâm tịnh th́ quốc độ tịnh”.

Thứ tư là “tạo lập tháp tượng”: Tháp nói đủ là Tốt-đổ-ba (Stūpa), dịch là Miếu (), hoặc là Phương Phần (方墳: ngôi mộ vuông), là nơi an trí xá-lợi của Phật. Sách Hội Sớ bảo:

“Dựng tháp có ba nghĩa: Một là để biểu dương bậc thù thắng hơn người, hai là khiến cho người khác sanh ḷng tin, ba là báo ân. Kinh Pháp Hoa dạy: ‘Chư Phật diệt độ dĩ, cúng dường xá-lợi giả, khởi vạn ức chủng tháp, kim ngân cập pha lê... Hoặc hữu khởi thạch miếu, chiên đàn cập trầm thủy, mộc mật, tịnh dư tài, chuyên, ngơa, nê, thổ đẳng, nhược ư khoáng dă trung, tích thổ thành Phật miếu, năi chí đồng tử hư, tụ sa vi Phật tháp, như thị chư nhân đẳng, giai dĩ thành Phật đạo” (Chư Phật đă diệt độ, để cúng dường xá-lợi, nên dựng vạn ức ngôi tháp bằng vàng, bạc, pha lê… Hoặc dựng miếu bằng đá, bằng chiên-đàn, trầm thủy, mộc mật, và những vật liệu khác, như ngói, gạch, hoặc bùn đất…Hoặc ở nơi đồng trống, đắp đất thành miếu Phật, cho đến trẻ nít giỡn, vun cát thành tháp Phật, những người như thế ấy, đều đă thành Phật đạo).

Chữ “tượng” () chỉ tượng Phật. Theo kinh Tăng Nhất A Hàm, Phật thăng lên trời Đao Lợi, vua Ưu Điền (Udayana) nhớ Phật nên dùng gỗ ngưu đầu chiên-đàn khắc thành tượng Phật cao năm thước. Đấy là tượng Phật đầu tiên được khắc trong thế gian này. Kinh Pháp Hoa nói: “Nhược nhân vị Phật cố, kiến lập chư h́nh tượng, khắc điêu thành chúng tướng, giai dĩ thành Phật đạo” (Nếu ai v́ Phật kiến lập các h́nh tượng Phật, khắc trổ thành các tướng th́ đều đă thành Phật đạo).

Kinh Tạo Tượng Công Đức cũng nói: “Nhược nhân lâm chung, phát ngôn tạo tượng, năi chí như khoáng mạch, năng trừ tam thế bát thập ức kiếp sanh tử chi tội” (Nếu ai lúc lâm chung mà sai người tạo tượng [Phật], thậm chí chỉ nhỏ bằng hạt lúa mạch th́ trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử trong cả ba đời).

Thứ năm, “phạn thực sa-môn” chính là Trai Tăng, nghĩa là đem cơm và thức ăn cúng dường chúng Tăng. Kinh Lục Ba La Mật Đa nói: “Dĩ thực thí giả, thường thí ngũ sự. Vân hà vi ngũ? Nhất giả, thí mạng. Nhược nhân vô thực, nan dĩ tế mạng. Nhị giả, thí sắc. Nhân đắc thực cố, nhan sắc ḥa duyệt. Tam giả, thí lực. Dĩ thị thực cố, tăng ích khí lực. Tứ giả, thí lạc. Dĩ thị thực cố, thân tâm an lạc. Ngũ giả, thí biện. Nhược cơ ngạ giả, thân tâm khiếp nhược, ngôn thuyết kiển nột, bất năng biện liễu, linh thực sung túc, thân tâm dũng nhuệ, đắc đại biện tài, trí huệ vô ngại”.

(Đem thức ăn để thí, chính là thường thí năm sự. Những ǵ là năm?

- Một là thí mạng: Nếu người không ăn th́ khó ḷng giữ mạng được.

- Hai là thí sắc: Do người ta được ăn nên nhan sắc vui vẻ.

- Ba là thí lực: Do thức ăn ấy nên được tăng trưởng khí lực.

- Bốn là thí sự vui sướng: Do thức ăn ấy nên thân tâm an lạc.

- Năm là thí biện: Nếu người bị đói khát th́ thân tâm khiếp nhược, nói năng ấp úng, chẳng thể lưu loát nổi. Được ăn no đủ th́ thân tâm mạnh mẽ, bén nhạy, đắc đại biện tài, trí huệ vô ngại).

Sách Hội Sớ cũng nói: “Phạn thực sa-môn là như kinh dạy: ‘Chánh linh đắc măn tứ thiên hạ bảo, kỳ lợi bất như thỉnh nhất thanh tịnh sa-môn nghệ xá cúng dường, đắc lợi thù bội’ (Dù cho các báu đầy ắp cả tứ thiên hạ vẫn chẳng bằng thỉnh một vị sa-môn thanh tịnh đến nhà cúng dường, được lợi c̣n gấp mấy lần)”.

Thứ sáu, huyền tăng, nhiên đăng, tán hoa, thiêu hương” (treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương).

“Tăng” () nguyên là tên gọi chung các loại lụa. “Huyền tăng” (tạm dịch là “treo phan”) tức là dùng lụa tạo thành các lá phan nhiều màu treo trong điện Phật. Kinh Bách Duyên nói: “Phật tại thế thời, hữu Ba Đa Ca, quá khứ tằng tác nhất trường phan ư Bà Thi Phật tháp thượn. Tùng thị dĩ lai, cửu thập nhất kiếp, thường hữu đại phan phú ấm kỳ thượng, thọ phước khoái lạc. Nhiên hậu xuất gia, đắc A La Hán” (Lúc Phật tại thế, có ông Bà Đa Ca trong quá khứ từng làm một lá phan dài treo nơi tháp của Bà Thi Phật (tức Tỳ Bà Thi Phật). Từ đấy trở đi, trong chín mươi mốt kiếp ông thường có tấm phan lớn phủ quanh thân, hưởng phước khoái lạc. Sau đấy xuất gia thành A La Hán).

“Nhiên” () là đốt, chữ “đăng” () chỉ chung các loại đèn đuốc thắp sáng. Kinh Thí Đăng Công Đức dạy: “Phật cáo Xá Lợi Phất: - Hoặc hữu nhân ư Phật tháp miếu chư h́nh tượng, nhi thiết cúng dường cố, phụng thí đăng minh, năi chí dĩ tiểu đăng cự, hoặc tô du đồ nhiên, tŕ dĩ phụng thí, kỳ minh duy chiếu nhất đạo, nhất giai. Xá Lợi Phất! Như thử phước đức, phi thị nhất thiết Thanh Văn, Duyên Giác sở năng khả tri, duy Phật Như Lai năi năng tri chi” (Phật bảo Xá Lợi Phất: ‘Hoặc có người để cúng dường tháp miếu, các h́nh tượng của Phật nên dâng cúng đèn sáng, thậm chí một ngọn đèn, một cây đuốc nhỏ, hoặc dùng dầu tô thắp lên để cúng thí. Dẫu đèn chỉ tỏa ánh sáng soi được một lối đi, một bậc thềm [của tháp miếu] th́ này Xá Lợi Phất! Công đức như vậy hết thảy Thanh Văn, Duyên Giác chẳng biết thể nổi, chỉ có đức Phật Như Lai mới biết nổi thôi!”.

“Tán hoa” ( ) là rải rắc hoa tươi để cúng dường. Sách Hội Sớ nói: “Tán hoa là hoa nở thanh tịnh, diệu sắc, diệu hương, đem rải khắp các cơi Phật. Nếu có hoa nở, chư Phật sẽ đến ngự trên ấy. V́ vậy, hạ giới dùng hoa làm Tịnh Độ. Các hàng quỷ thần thấy sắc, ngửi mùi hoa đâm ghét, khác nào thấy sắc, hương của phân dơ” (nghĩa là các hàng quỷ thần coi sắc và hương hoa giống như phân dơ nên ghét bỏ).

Đà Ra Ni Tập Kinh nói:

“Nhược tứ bộ chúng, dĩ chúng hoa tán A Di Đà Phật, phát nguyện, tụng chú giả, đắc thập chủng công đức. Hà giả vi thập? Nhất giả, tự phát thiện tâm. Nhị giả, linh tha phát thiện tâm. Tam giả, chư thiên hoan hỷ. Tứ giả, tự thân đoan chánh, lục căn cụ túc, vô hữu tổn hoại. Ngũ giả, tử sanh bảo tŕ. Lục giả, sanh sanh thế thế, sanh ư trung quốc cập quư tánh trung, sanh trị Phật văn pháp, bất sanh biên địa cập hạ tánh trung. Thất giả, thành Chuyển Luân Vương, vương tứ thiên hạ. Bát giả, sanh sanh thế thế thường đắc nam thân. Cửu giả, đắc sanh A Di Đà Phật quốc, thất bảo hoa thượng kết già phu tọa, thành A Bệ Bạt Trí. Thập giả, thành A Nậu Bồ Đề, tọa ư thất bảo sư tử ṭa thượng, phóng đại quang minh, dữ A Di Đà Phật đẳng vô hữu dị dă” (Nếu bốn bộ chúng dùng các thứ hoa rải lên A Di Đà Phật, phát nguyện, tụng chú th́ được mười thứ công đức. Những ǵ là mười? Một là tự phát thiện tâm, hai là làm cho người khác phát sanh thiện tâm, ba là chư thiên hoan hỷ, bốn là thân ḿnh đoan chánh, sáu căn đầy đủ chẳng bị tổn hoại; năm là chết đi sanh trong ao báu, sáu là đời đời kiếp kiếp thường sanh nơi chính giữa đất nước và sanh trong nhà quư tộc, sanh ra gặp Phật nghe pháp, chẳng sanh nơi biên địa hoặc sanh trong ḍng họ hèn kém; bảy là thành Chuyển Luân Vương làm vua của bốn cơi thiên hạ; tám là đời đời kiếp kiếp thường làm thân nam; chín là được sanh về cơi Phật A Di Đà, ngồi xếp bằng trên hoa sen bảy báu, thành bậc A Bệ Bạt Trí; mười là thành Vô Thượng Chánh Giác, ngồi trên ṭa sư tử bảy báu, phóng quang minh lớn giống như A Di Đà Phật không khác).

“Thiêu hương” ( ) là thắp nhang để cúng dường. Văng Sanh Tập Yếu ghi: “Tùy sức sắm sửa hoa hương cúng dường”. Sách Hội Sớ nói: “Nếu có ai đốt hương thơm, bọn ma sẽ bỏ chạy sang chỗ khác, Phật, thần hoan hỷ thủ hộ, tu việc lành ắt được thành tựu. Như đại vương nước Na Càn Ha La hướng vọng về cơi đức Phật đản sanh mà đốt hương, làm lễ. Khói hương bay thẳng đến tinh xá của Phật như mây lưu ly trắng, nhiễu quanh Phật bảy ṿng, hóa thành đài vàng. Trong kinh Quán Phật có kể rơ chuyện này”.

Đại Nhật Kinh Sớ cũng ghi: “Thiêu hương [để biểu thị] ư nghĩa trọn khắp pháp giới, như lúc thụ vương (cây chúa, tức cây Ba Lợi Chất Đa La) trên cơi trời nở hoa, mùi thơm thuận chiều gió hay ngược chiều gió tự nhiên tỏa khắp. Bồ Đề hương cũng vậy, mỗi một công đức được lửa trí huệ thiêu, được gió giải thoát thổi, theo sức bi nguyện tự tại lan truyền, thơm khắp hết thảy. V́ vậy bảo là thiêu hương”.

Tiếp đó, bản sớ này c̣n luận về Lư lẫn Sự của việc thiêu hương nghĩa lư càng sâu sắc hơn nữa!

Điều thứ bảy là dĩ thử hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc” (đem những việc ấy hồi hướng nguyện sanh cơi kia). Sự khẩn yếu của việc phát nguyện trong phần giải thích về bậc Thượng văng sanh đă bàn qua; ở đây tôi lại trích dẫn bài kệ khuyên người phát nguyện của ngài Từ Chiếu Tông Chủ: “Tŕ giới chẳng có tín, nguyện, th́ chẳng được sanh Tịnh Độ, chỉ hưởng phước trời, người. Phước hết chịu luân hồi… Do sức phát nguyện tŕ giới, hồi hướng, nên sanh Lạc quốc. Cùng hành tŕ như thế th́ ngàn người chẳng mất một (ngàn người không sót người nào là không được văng sanh)”.

Sách Hội Sớ lại bảo: “Hồi hướng nguyện sanh là khéo hồi hướng các điều thiện như trên ắt sẽ tạo thành cái nhân được văng sanh. Nếu chẳng hồi hướng th́ chẳng thành cái nhân văng sanh”. Những câu trên đây cùng chỉ rơ hồi hướng phát nguyện là điều không thể thiếu được.

Kỳ nhân lâm chung, A Di Đà Phật hóa hiện kỳ thân, quang minh tướng hảo, cụ như chân Phật” (Lúc người ấy lâm chung, A Di Đà Phật hóa ra thân có đủ tướng hảo, quang minh như đức Phật thật). SáchViên Trung Sao nói: “Chữ ‘chân Phật’ chỉ Ứng Thân của Phật Di Đà. Hóa Thân từ Ứng Thân biến ra, Ngài lại biến hóa ra thân ấy để đến tiếp dẫn”. Sách Hội Sớ nói: “Đủ các tướng hảo, quang minh như đức Phật thật nghĩa là như trong Quán kinh nói ba phẩm bậc Thượng lúc lâm chung đều thấy A Di Đà Phật và Hóa Phật đến đón người ấy. V́ vậy, Chân Phật là đức Phật được bậc thượng phẩm trông thấy, các phẩm khác cứ căn cứ theo đó mà biết”.

Người bậc Trung lúc lâm chung được thấy Hóa Phật cũng nhất định được văng sanh v́ các thân của Phật chẳng một, chẳng khác, nên người ấy đi theo Hóa Phật văng sanh An Lạc, trụ bất thoái chuyển, nhưng công đức trí huệ thứ như thượng bối giả dă” (công đức trí huệ kém hơn bậc Thượng).

Ngoài ra, đối với ba phẩm văng sanh bậc Trung, Quán kinh chẳng nói là đă phát Bồ Đề tâm. Sau khi sanh về Cực Lạc, họ đều chứng quả vị trong Thanh Văn Thừa. Chẳng hạn như, Trung Phẩm Thượng Sanh khi hoa nở liền đắc quả A La Hán; Trung Phẩm Trung Sanh bảy ngày hoa nở, đắc Tu Đà Hoàn, sau nửa kiếp thành A La Hán; Trung Phẩm Hạ Sanh cũng sau bảy ngày mới đắc Tu Đà Hoàn, phải hết một tiểu kiếp mới thành A La Hán. Đấy đều là thánh quả Tiểu thừa vậy.

Thiện Đạo đại sư bảo Trung Phẩm Thượng Sanh là hạng phàm phu thượng thiện căn tánh Tiểu Thừa; Trung Phẩm Trung Sanh là hạng phàm phu Tiểu Thừa hạ thiện; Trung Phẩm Hạ Sanh là hạng phàm phu làm điều lành thế gian, phước lớn.

Các kinh, luận vừa dẫn dường như mâu thuẫn với kinh này v́ những người thuộc bậc Trung đều là hành nhân Đại Thừa đă phát Bồ Đề tâm, hễ sanh về đó đều bất thoái chuyển Vô Thượng Bồ Đề.

Sách Văng Sanh Luận nói: “Nhị Thừa chủng chẳng sanh” nghĩa là hạng chủng tánh Nhị Thừa chẳng thể văng sanh, thật khế hợp với kinh này, nhưng lại mâu thuẫn những kinh, luận nói trên. Với những điểm mâu thuẫn ấy, ngài Tịnh Ảnh đă giải thích thật khéo léo. Ngài viết như sau:

“Ngài Thiên Thân viết trong Văng Sanh Kệ rằng chủng tánh Nhị Thừa đều chẳng được văng sanh, Quán kinh lại bảo chúng sanh Nhị Thừa cũng được văng sanh, nghĩa là làm sao? 

Xin giải thích: Nói Nhị Thừa chẳng được văng sanh là nói trong cơi này, nói về lúc văng sanh. Chúng sanh Tiểu Thừa là [người] trước đă từng quen tu tập [Tiểu Thừa], nhưng đến khi lâm chung phải phát tâm Đại Thừa th́ mới được văng sanh. Nếu dùng tâm Tiểu thừa cầu sanh cơi ấy th́ không khi nào được văng sanh. V́ vậy, ngài Thiên Thân bảo chủng tánh Nhị Thừa chẳng được văng sanh!

Hỏi: Nếu bảo là đă dùng tâm Đại Thừa để văng sanh th́ tại sao sanh qua cơi kia xong lại chứng Tiểu quả?

Đáp: Do người ấy vốn đă tu tập Tiểu Thừa lâu ngày. Vốn ở cơi này quen học cách quán sát Khổ, Vô Thường v.v… nên sanh qua cơi kia, nghe nói Khổ, Vô Thường v.v… liền ngộ giải bèn chứng Tiểu quả. Vốn do lúc lâm chung phát tâm Đại Thừa cầu văng sanh cơi kia nên sau khi đă đắc quả La Hán trong cơi kia sẽ liền cầu Đại Thừa (hồi Tiểu hướng Đại)”.

Chánh kinh:

者,假 使 德,當 心,一 佛。歡 樂,不 惑。以 心,願 國。此 終,夢 佛,亦 生。功 也。

Kỳ hạ bối giả, giả sử bất năng tác chư công đức, đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật, hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc. Dĩ chí thành tâm, nguyện sanh kỳ quốc. Thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ Phật, diệc đắc văng sanh, công đức trí huệ thứ như trung bối giả dă.

Bậc Hạ là [những người] giả sử chẳng thể làm các công đức th́ nên phát tâm Bồ Đề, một dạ chuyên niệm A Di Đà Phật, hoan hỷ tin ưa, chẳng sanh ngờ vực, dùng tâm chí thành nguyện sanh cơi kia. Người ấy lâm chung mộng thấy đức Phật đó cũng được văng sanh. Công đức trí huệ kém hơn bậc trung.

Giải:

Bậc Hạ văng sanh có ba nhân duyên: Một là phát Bồ Đề tâm, hai là một dạ chuyên niệm, ba là chí thành nguyện sanh. So với bậc Trung, bậc này chỉ chẳng thể làm các công đức.

“Hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc” (Hoan hỷ tin ưa, chẳng sanh ngờ vực) chính là “chí tâm tín nhạo” (chí tâm tin ưa) đă nói trong đại nguyện “mười niệm ắt được văng sanh”.

Dĩ chí thành tâm, nguyện sanh kỳ quốc” (Dùng tâm chí thành nguyện sanh cơi kia) chính là tâm chí thành và tâm hồi hướng phát nguyện được nói trong Quán Kinh.

Hơn nữa, do ba bậc văng sanh đều nói “đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm” (hăy nên phát tâm Bồ Đề vô thượng) nên Tịnh Ảnh Sớ mới viết: “Trong ba bậc này, địa vị tuy sai khác, nhưng muốn được văng sanh th́ đều phải phát tâm cầu Đại Bồ Đề, chuyên niệm đức Phật ấy, hồi hướng phát nguyện th́ mới được văng sanh”.

Về câu mộng kiến bỉ Phật” (mộng thấy đức Phật ấy) có đến hai cách giải thích ư nghĩa hơi khác nhau:

1. Một là như ngài Vọng Tây cho rằng trước hết là mộng thấy, lúc lâm chung chính mắt thấy. Ngài viết: “Do v́ ba bậc đều có mộng thấy, mắt thấy. Giác kinh nói về bậc Thượng như sau: ‘Ư kỳ ngọa thùy trung, mộng kiến Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, cập chư Bồ Tát, A La Hán, kỳ nhân thọ mạng dục chung thời, Vô Lượng Thanh Tịnh Phật tắc tự dữ chư Bồ Tát, phiên phi hành nghênh chi’ (Trong lúc ngủ nghỉ, mộng thấy Vô Lượng Thanh Tịnh Phật và các Bồ Tát, A La Hán. Người ấy lúc mạng sắp hết th́ đích thân Vô Lượng Thanh Tịnh Phật và các Bồ Tát, A La Hán bay đến đón tiếp).

Bậc Trung cũng mộng thấy đức Phật. [Đó là] điềm báo trước được văng sanh, lúc lâm chung [đức Phật sẽ] đến đón. Do bổn nguyện lợi ích thù thắng nên phải có đủ hết. Nếu Phật chẳng đến đón, hóa ra là bổn nguyện dối bày. C̣n trong kinh văn chẳng nói đến đón là chỉ để phân biệt sự sai khác giữa ba bậc, nghĩa là: Bậc Thượng là Báo Phật [đến đón], bậc Trung là Hóa Phật, bậc Hạ là mộng Phật. Thật ra, sau khi mộng thấy Phật, ắt thấy Phật đến đón. Do đó, Quán kinh nói ‘hóa Phật đến đón’. Ác nhân c̣n được như thế, huống là thiện nhân?”

Lời biện luận trên đây có ba điểm chính:

* Đức Phật Di Đà có bổn nguyện lâm chung tiếp dẫn nên nếu với bậc Hạ, Ngài chẳng đến nghênh tiếp th́ sẽ trái nghịch với bổn nguyện.

* Theo Quán kinh, bậc Hạ đều là kẻ ác mà Phật c̣n đến tiếp đón, bậc Hạ trong kinh này đều là người lành, lẽ nào Phật lại chẳng đón!

* Trong hai bậc Thượng và Trung được nói trong hai bản dịch đời Hán và Ngô đều bảo trước mộng thấy Phật, sau đấy lúc lâm chung mới thấy Phật nên bậc Hạ cũng phải hưởng tương tự. V́ vậy, kinh này bảo là “mộng thấy” là nói về điều trước khi lâm chung. Quán kinh bảo thấy Phật là nói lúc lâm chung. Đấy là thuyết thứ nhất.

2. Riêng Hội Sớ bảo rằng đích thật là Phật đến đón nhưng phảng phất như trong giấc mộng. Sách viết: “Mộng thấy đức Phật ấy: Quán kinh nói người trong ba phẩm Hạ trong khoảnh khắc lâm chung, lửa địa ngục hiện đến, tuy Phật có đến đón, nhưng thấy mơ hồ chẳng rơ, tựa hồ như trong giấc mộng. Nếu chẳng phải vậy th́ làm sao thần thức an nhàn văng sanh nổi?”

Ư nói: Như Quán kinh dạy người thuộc Hạ phẩm lúc lâm chung các ngọn lửa từ địa ngục cùng lúc hiện tới, các khổ chen nhau bức bách, tuy Phật hiện tiền nhưng thần thức chẳng thanh tịnh, chẳng thật rơ ràng, chỉ thấy Phật một cách phảng phất như trong giấc mộng; nên bảo là “mộng kiến bỉ Phật” (mộng thấy đức Phật ấy). Nếu thật sự chẳng có Phật đến đón th́ làm sao có thể an nhàn mười niệm để thần thức theo Chân Phật sanh về Cực Lạc?

Hai cách giải thích này tuy hơi khác nhau nhưng cùng chia sẻ quan điểm: Người bậc Hạ văng sanh cũng có Phật đến đón. Đường dẫu khác nhưng cùng dẫn về một chốn nên tôi trích dẫn cả hai thuyết để chứng minh ư chỉ đoạn kinh này.

Người trong ba phẩm Hạ của Quán Kinh đều là kẻ ác. Thiện Đạo đại sư bảo Hạ Phẩm Thượng Sanh là kẻ phàm phu tạo tội Thập Ác nhẹ, Hạ Phẩm Trung Sanh là kẻ phá giới phạm tội bậc thứ, Hạ Phẩm Hạ Sanh là kẻ phàm phu trọng tội tạo đủ Ngũ Nghịch, Thập Ác v.v... Người thuộc Hạ Phẩm trong Quán Kinh đều là ác nhân chẳng giống với người bậc Hạ nói trong kinh này, v́ sao vậy?

Ngài Vọng Tây giải thích: “Là v́ trong bậc Hạ có nhiều loại. Quán Kinh nói về kẻ ác, kinh này bàn về người thiện. V́ thế, Giác Kinh (tức là kinh Vô Lượng Thọ, bản Hán dịch) bảo: ‘Đương đoạn ái dục, vô sở tham mộ, từ tâm, tinh tấn, bất đương sân nộ, trai giới thanh tịnh, như thị thanh tịnh giả, đương nhất tâm niệm dục sanh Vô Lượng Thanh Tịnh Phật quốc” ([Ba bậc ấy] phải đoạn ái dục, không tham đắm ǵ, từ tâm, tinh tấn, chẳng nên sân nộ, trai giới thanh tịnh. Thanh tịnh như thế rồi nhất tâm niệm, muốn được sanh vào cơi Phật Vô Lượng Thanh Tịnh).

Do các phẩm loại văng sanh muôn vàn sai khác nên ba bậc chín phẩm đều chỉ là cách phân định phẩm loại một cách thô sơ. Ngay trong một bậc Hạ đă phân ra vô số loại, kinh kia (Quán Kinh) nói về kẻ ác, kinh này nói về người lành. Những người bậc Hạ được nói trong bản Hán dịch đích thực là người tu thiện.

Hơn nữa, người văng sanh thuộc Hạ phẩm của Quán Kinh lúc sanh tiền tuy là người ác, nhưng sau khi hoa nở lại đều là người Đại Thừa. Hạ Phẩm Thượng Sanh sau bốn mươi chín ngày hoa sen mới nở, qua mười tiểu kiếp mới nhập Sơ Địa. Hạ Phẩm Trung Sanh phải sau sáu tiểu kiếp hoa sen mới nở, nghe nói kinh điển Đại Thừa rất sâu liền lập tức phát Vô Thượng Đạo Tâm. Hạ Phẩm Hạ Sanh phải đủ cả mười hai đại kiếp hoa sen mới nở, nghe pháp hoan hỷ, ngay lập tức phát tâm Bồ Đề.

Ngài Gia Tường viết trong Quán Kinh Nghĩa Sớ như sau: “Do Thượng Phẩm tu nhân Đại Thừa nên đắc quả Đại Thừa. Trung Phẩm do tu nhân Tiểu Thừa nên lại đắc quả Tiểu Thừa. Hạ Phẩm tuy trong hiện tại chẳng tu điều lành Đại Thừa lẫn điều lành Tiểu Thừa, nhưng lúc lâm chung gặp thiện tri thức giảng cho diệu pháp Đại Thừa. Do nghe pháp Đại Thừa nên đắc quả Đại Thừa”.

Kinh A Di Đà bảo những thiện nam tử, thiện nữ nhân chấp tŕ danh hiệu được sanh về Tịnh Độ th́ “kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền” (người ấy lúc lâm chung, A Di Đà Phật cùng các thánh chúng hiện ở trước mặt) rất phù hợp với thuyết ba bậc văng sanh đều được thấy Phật của kinh này.

Ngoài ra, như kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức cũng nói: “Nhược hữu đắc văn Vô Lượng Thọ Như Lai danh giả... mạng dục chung thời, nhất tâm tín nhạo, niệm bất vong xả, A Di Đà Phật tương chư chúng tăng, trụ kỳ nhân tiền, Ma chung bất năng hoại tư Đẳng Chánh Giác chi tâm” (Nếu có kẻ được nghe danh hiệu của Vô Lượng Thọ Như Lai… lúc lâm chung nhất tâm tin ưa, chẳng quên bỏ niệm th́ A Di Đà Phật dẫn chúng tăng đứng trước người ấy, ma trọn chẳng thể phá hoại nổi tâm Đẳng Chánh Giác của người đó)”.

Kinh Cổ Âm Vương cũng bảo: “Nhược hữu tứ chúng, năng chánh thọ tŕ, bỉ Phật danh hiệu, lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư đại chúng, trụ thử nhân sở, linh kỳ đắc kiến” (Nếu có tứ chúng có thể thọ tŕ danh hiệu đức Phật ấy một cách chân chánh th́ lúc lâm chung, A Di Đà Phật liền cùng đại chúng ở chỗ người ấy, khiến cho người ấy được thấy).

Kinh Hoa Nghiêm lại dạy: “Như Lai hữu thập chủng Phật sự. Nhất giả, nhược hữu chúng sanh chuyên tâm ức niệm, tắc hiện kỳ tiền” (Như Lai có mười thứ Phật sự. Một là nếu có chúng sanh chuyên tâm nghĩ nhớ Ngài th́ Phật sẽ hiện ra trước mặt). Những đoạn kinh vừa dẫn đều là những chứng cớ hiển nhiên cho lời dạy trong kinh này.

Thế nhưng Như Lai vốn chẳng đến đi, sao lại bảo Phật hiện trước mặt? Ba vị đại sư Liên Tŕ, U Khê, Ngẫu Ích đă giảng nghĩa điều này rất sâu xa. Những lời giảng ấy rất tinh diệu, khế hợp bổn hoài đức Phật nên tôi cung kính chép ra như sau:

* Trong quyển Sớ Sao, ngài Liên Tŕ bảo:

“Cổ đức bảo Phật chẳng đến đi th́ làm sao lại có chuyện Phật hiện ở trước mặt?

Đáp: Cảm ứng đạo giao chẳng trở ngại chuyện đến hay đi! Chẳng thấy mà lại thấy nên ngài Vĩnh Minh bảo: ‘Biết huyễn chẳng phải là thật th́ tâm lẫn Phật đều mất. Chẳng phải là vô huyễn tướng nên chẳng hoại tâm và Phật’. Ngài lại bảo: ‘Pháp Thân chân Phật vốn chẳng sanh diệt, từ chân thật mà hóa hiện ra như vậy để tiếp dẫn căn cơ c̣n mê’.

Đây chính là bổn nguyện công đức của Như Lai khiến cho chúng sanh hữu duyên chuyên tâm tưởng niệm, ngay trong tự tâm thấy được Phật đến đón, chẳng phải là chư Phật thật sự sai hóa thân đến đón tiếp. Thân Phật trạm nhiên thường tịch mà chúng sanh thấy có đến, đi như ảnh hiện trong gương, chẳng phải ở trong, chẳng phải là bên ngoài, như chuyện trong mộng chẳng có, chẳng không.

Lại như kinh dạy: ‘Ưng dĩ Phật thân đắc độ giả, tức hiện Phật thân nhi vị thuyết pháp” (Cần phải do Phật thân mới được độ th́ Ngài liền hiện thân Phật để thuyết pháp)’ cũng chính là ư này. V́ vậy, nước trong th́ trăng tự hiện, tâm tịnh th́ Phật tự hiện, nên mới bảo cảm ứng đạo giao khó nghĩ bàn”.

* Trong tác phẩm Viên Trung Sao, đại sư U Khê viết:

“Phàm là thấy Phật th́ phải bàn đến cảm ứng. Nếu b́nh thời tu tham Thiền hoặc tu Không Quán, đă chú trọng quét sạch tất cả, ngay cả Phật c̣n chẳng có; nếu bỗng thấy Phật th́ ắt là cảnh ma hoặc do công dụng hiển hiện khiến cho đức Phật trong tâm tự hiện, nhưng cũng phải quán Không, chớ chấp vào tướng.

C̣n nay đă niệm Phật cầu sanh Cực Lạc, lâm chung thấy Phật th́ đó là do cái nhân này cảm ứng một cách nhiệm mầu. Lại do chúng sanh và Phật vốn cùng một Thể, cảm ứng đạo giao, pháp vốn là như vậy. Nếu chẳng hiểu rơ điều này lại vọng luận, tà đàm th́ chẳng những tự chướng mà c̣n làm chướng người, sanh tội lỗi lớn đối với pháp môn này!”

* Trong sách Yếu Giải, tổ Ngẫu Ích viết:

“Mười vạn ức cơi chẳng ra ngoài tánh của một niệm tâm hiện tiền của ta, v́ tâm tánh vốn không có bên ngoài. Lại nương nhờ vào sức tiếp dẫn của đức Phật ngay trong tự tâm nên khó ǵ mà chẳng được sanh ngay. Như tấm gương chiếu mấy mươi tầng núi, sông, lầu gác, tầng nào lớp nấy rành rành, thật chẳng có xa gần. Cứ một phen soi đến là đều hiện rơ cả, chẳng có trước, sau!

Câu ‘tùng thị Tây Phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu thế giới danh viết Cực Lạc’ (từ đây đi qua Tây phương khỏi mười vạn ức cơi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc) cũng có ư nghĩa giống như thế. Câu ‘kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà, kim hiện tại thuyết pháp” (cơi ấy có Phật hiệu là A Di Đà nay hiện c̣n thuyết pháp) cũng có cùng ư nghĩa như thế.

Câu ‘kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền, thị nhân chung thời, tâm bất điên đảo, tức đắc văng sanh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ” (người ấy lúc lâm chung A Di Đà Phật và các thánh chúng hiện ra trước mặt. Người ấy lúc chết tâm chẳng điên đảo liền được văng sanh cơi nước A Di Đà Phật) cũng có cùng ư nghĩa như thế. Cần biết rằng mỗi chữ đều là lời văn thiêng liêng về Hải Ấn tam-muội, Đại Viên Kính Trí”.

Quả thật như lời đại sư Linh Phong tán thán, từng chữ trong kinh này đều là lời văn thiêng liêng diễn tả Hải Ấn tam-muội, Đại Viên Kính Trí.

Cả ba lời luận bàn trên đều “thở cùng một lỗ mũi” với các tổ Thiền lẫn Tịnh, chính là từ trong Đại Quang Minh tạng tự nhiên biến hiện: Do Tự và Tha chẳng hai nên Tự lẫn Tha đều hệt như nhau. Do Tự và Tha chẳng hai nên vị Phật đến đón đó chính là đức Phật trong tâm ḿnh. Lại do Tự và Tha rành rành nên ngay từ nơi “Phật thật sự chẳng đến, người cũng chẳng đi ấy”, lúc lâm chung lại rành rành hiển hiện việc có Phật đến đón văng sanh Cực Lạc. Sự, Lư viên dung tự tại vô ngại, chỉ tin được nổi là đă đạt lợi ích vô lượng.

Ngoài ba loại văng sanh trên đây, đoạn kinh tiếp theo đây sẽ nói đến loại “nhất niệm tịnh tâm, thập niệm, nhất niệm văng sanh”. Loại này c̣n được gọi là “nhất tâm tam bối”.

Khái niệm “nhất tâm tam bối” do lăo pháp sư Từ Châu, một vị đại đức bên Luật Tông ở chùa Tịnh Liên, Bắc Kinh, đề xướng trong tác phẩm Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh Khoa Phán. Pháp sư chính là một trong ba vị đại cao tăng hiện đại của miền Hoa Bắc. Ngài từng chuyên giảng kinh này ở Tế Nam và Bắc Kinh và từng soạn khoa phán cho kinh này (tác phẩm khoa phán ấy được ấn hành năm Kỷ Măo – 1939).

Pháp sư phán định “nhất tâm tam bối” của Ngài và cụ Hạ hội tập kinh này có cùng một tâm nhăn, cùng một đường lối, nêu tỏ được những đều tinh vi, kín đáo mà người đời trước chưa từng nêu ra, đă hiển lộ chân lư mầu nhiệm của Tịnh tông đă bị ẩn kín bấy lâu nay. Ư chỉ Thiền Tịnh bất nhị cũng nhờ phán định này của Ngài mà càng được bày tỏ rơ ràng.

Chánh kinh:

者,以 心,向 壽。乃 念,願 國。聞 法,即 解。乃 心,發 佛。此 時,如 中,見 佛,定 國,得 退 提。

Nhược hữu chúng sanh trụ Đại Thừa giả, dĩ thanh tịnh tâm, hướng Vô Lượng Thọ, năi chí thập niệm, nguyện sanh kỳ quốc, văn thậm thâm pháp, tức sanh tín giải, năi chí hoạch đắc nhất niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm niệm ư bỉ Phật. Thử nhân lâm mạng chung thời, như tại mộng trung, kiến A Di Đà Phật, định sanh bỉ quốc, đắc Bất Thoái Chuyển Vô Thượng Bồ Đề.

Nếu có chúng sanh trụ trong Đại Thừa, dùng tâm thanh tịnh hướng về Vô Lượng Thọ Phật, dẫu chỉ mười niệm nguyện sanh cơi kia, nghe pháp thậm thâm liền sanh tin hiểu; thậm chí đạt được một niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm niệm đức Phật kia th́ người ấy lúc mạng sắp dứt, giống như ở trong mộng, thấy A Di Đà Phật, quyết định sanh trong cơi ấy, được chẳng thoái chuyển nơi Vô Thượng Bồ Đề.

Giải:

Cả đoạn kinh trên hoàn toàn trích từ bản Đường dịch. Cả hai bản Ngụy dịch và Đường dịch dường như xuất phát từ cùng một Phạn bản, nhưng lời kinh trong bản Đường dịch mạch lạc phân minh hơn, lời văn phong phú, ư nghĩa sâu sắc vượt xa bản Ngụy dịch. Bản Ngụy dịch ghi chép những ư này tản mác ở đầu phẩm lẫn cuối phẩm (Kinh Vô Lượng Thọ bản Ngụy dịch không chia thành phẩm. Cụ Hoàng Niệm Tổ dùng chữ “phẩm” ở đây để chỉ toàn bộ đoạn kinh lớn nói về tam bối văng sanh trong kinh ấy – Chú thích của người dịch). Trước phần nói về bậc Thượng văng sanh, bản Ngụy dịch chép: “Chư hữu chúng sanh văn kỳ danh hiệu, tín tâm hoan hỷ, năi chí nhất niệm chí tâm hồi hướng, nguyện sanh kỳ quốc, tức đắc văng sanh” (Có các chúng sanh nghe danh hiệu Ngài, ḷng tin hoan hỷ, thậm chí một niệm chí tâm hồi hướng nguyện sanh cơi ấy th́ liền được văng sanh); kế đó, trong phần nói về bậc Hạ văng sanh lại bảo:

“Kỳ hữu chí tâm, dục sanh bỉ quốc, giả sử bất năng tác chư công đức, đương phát vô thượng Bồ Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm, năi chí thập niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật, nguyện sanh kỳ quốc. Nhược văn thâm pháp, hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc, năi chí nhất niệm, niệm ư bỉ Phật, dĩ chí thành tâm nguyện sanh kỳ quốc. Thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ Phật, diệc đắc văng sanh, công đức trí huệ thứ ư trung bối giả dă” (Có kẻ chí tâm muốn sanh cơi ấy nhưng giả sử chẳng thể làm các công đức th́ phải nên phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, một bề chuyên niệm, dẫu chỉ mười niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật nguyện sanh cơi Ngài. Nếu nghe pháp sâu mà hoan hỷ, tin ưa, chẳng sanh ngờ vực thậm chí trong một niệm, niệm đức Phật ấy, dùng tâm chí thành nguyện sanh về cơi Ngài th́ người ấy lúc lâm chung mộng thấy đức Phật đó cũng được văng sanh. Công đức, trí huệ kém hơn bậc trung).

Dựa theo bản Ngụy dịch, đại sư Hải Đông Nguyên Hiểu đời Đường đă viết trong tác phẩm Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu như sau:

“Trong bậc Hạ, [kinh] nói đến hai hạng người. Trong hai hạng người đó, [với mỗi hạng] đều có ba câu. Ba câu của hạng đầu là:

1. Một là giả sử chẳng thể làm các công đức th́ phải phát Vô Thượng Bồ Đề tâm, đấy là chánh nhân.

2. Hai là dẫu chỉ mười niệm chuyên niệm đức Phật kia, đấy là duyên để trợ giúp cho nghiệp được viên măn.

3. Ba là nguyện sanh cơi kia, nguyện này hợp với những hạnh trên tạo thành cái nhân.

Đây là nói về hạng người Bất Định Tánh.

Ba câu của hạng thứ hai là:

1. Một là nghe pháp thậm thâm, hoan hỷ tin ưa. Câu này nói rơ thêm về chánh nhân phát tâm, hạng này chỉ khác với hạng trên ở chỗ có ḷng tin sâu xa.

2. Hai là thậm chí trong một niệm, niệm đức Phật kia. Đấy là duyên để trợ giúp cho nghiệp được viên măn. Câu này chỉ rơ: Hạng trên do không có ḷng tin sâu xa nên cần phải có mười niệm, c̣n hạng này do ḷng tin sâu xa nên chẳng cần phải đủ cả mười niệm

(Trộm nghĩ: Ngài Nguyên Hiểu đưa ra thuyết này v́ chỉ dựa trên bản Ngụy dịch. Nếu xét theo hội bản, một niệm mà được văng sanh th́ toàn là do đạt được một niệm tịnh tâm. Từ trong nhất tâm, niệm danh hiệu Phật một tiếng th́ ngay lập tức tương ứng với bổn nguyện của Phật Di Đà; v́ vậy, khi lâm chung liền được văng sanh).

3. Ba là dùng tâm chí thành nguyện sanh cơi kia. Nguyện này hợp với những hạnh trên tạo thành cái nhân. Đây là nói về hạng người thuộc chủng tánh Bồ Tát (Đấy là như bản Ngụy dịch chép là “trụ Đại Thừa giả” (bậc trụ trong Đại Thừa)).

Ư Ngài bảo: Trong bậc Hạ văng sanh có đến hai hạng:

1. Một là hạng phát Bồ Đề tâm, mười niệm thánh hiệu nguyện sanh cơi kia liền được văng sanh. Đó là hạng Bất Định Tánh.

2. Hai là nghe pháp sanh ḷng tin sâu xa, thậm chí trong một niệm nguyện sanh cơi kia liền được văng sanh. Đấy là hạng chủng tánh Bồ Tát.

Ngài Nguyên Hiểu thật đă xét tường tận phần kinh văn nói về bậc Hạ văng sanh trong bản Ngụy dịch, nên nhận thấy rằng trong bậc Hạ có các phẩm loại khác nhau. Thử hỏi “văn pháp thậm thâm, hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc” (nghe pháp thậm thâm, hoan hỷ, tin ưa, chẳng sanh ngờ vực), trí huệ thù thắng như thế phải là cảnh giới của hạng người nào? V́ vậy, ngài Nguyên Hiểu mới gọi họ là “hạng người chủng tánh Bồ Tát”. Phải là chủng tánh Bồ Tát mới có thể tin sâu, mới khởi tâm niệm Phật, “dĩ chí thành tâm, nguyện sanh kỳ quốc” (dùng tâm chí thành nguyện sanh về cơi Ngài). Những người như vậy thật chẳng thể coi là thuộc về hạng người bậc Hạ được.

Báo Ân Luận cũng bảo: “Xét kỹ ra, đoạn kinh nói về mười niệm văng sanh đây là chuyên bàn về hạng người trụ nơi Đại Thừa. Xét trong Đại Thừa, người giải ngộ trong Thiền Tông và người giải ngộ do đọc hết thảy kinh điển Đại Thừa đều thuộc về hạng này (tức là hạng “trụ trong Đại Thừa, mười niệm văng sanh”). Những người ấy chẳng chuyên tu Tịnh Độ, chẳng hạn như các vị Trí Giả, Vĩnh Minh v.v…”

Kiến giải này so với lời bàn định của ngài Nguyên Hiểu càng cao hơn một bậc nữa (chỉ tiếc là dùng Vĩnh Minh đại sư làm thí dụ th́ chưa ổn thỏa mấy v́ Ngài ngày đêm niệm Phật đến cả mười vạn tiếng). Kinh nói người trụ trong Đại Thừa, tâm thanh tịnh, nghe pháp thậm thâm liền sanh tin hiểu. Hạng người trí huệ nhạy bén, tín nguyện kiên cố như vậy th́ chỉ có các bậc đại lăo như Trí Giả, Vĩnh Minh, Trung Phong mà thôi. Những vị căn cơ ngang với các ngài Trí Giả, Vĩnh Minh, Trung Phong th́ lẽ đâu thuộc bậc Hạ?

Bởi vậy, trong Hội Bản, sau phần nói về bậc Hạ, cụ Hạ Liên Cư đă chép nguyên bản Đường dịch thành một đoạn riêng với thâm ư: Ngoài ba bậc văng sanh thường được nhắc tới ra, c̣n có riêng một loại, tức là như pháp sư Từ Châu đă phán định là hạng “nhất tâm tam bối”.

Hạng Nhất Tâm Tam Bối này có riêng cách tu giản lược của bậc đại nhân, vượt khỏi quy cách văng sanh thông thường. Cách tu giản lược đó chính là “nhất tâm”. Chữ “nhất niệm tịnh tâm” nói trong phẩm này chính là chữ “nhất niệm tịnh tín” được nói trong phẩm “Thập Phương Phật Tán”. Trong phần trên đă nói:

Năi chí năng phát nhất niệm tịnh tín, sở hữu thiện căn chí tâm hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc, tùy nguyện độ sanh” (Thậm chí có thể phát niệm tịnh tín đem tất cả thiện căn chí tâm hồi hướng nguyện sanh cơi kia đều tùy nguyện văng sanh); phẩm này lại dạy: “Năi chí hoạch đắc nhất niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm, niệm ư bỉ Phật... định sanh bỉ quốc” (Thậm chí đạt được một niệm tịnh tâm, phát một niệm tâm, niệm đức Phật kia… quyết định sanh về cơi ấy).

Tiền hô hậu ứng[5] cùng hiển hiện ư chỉ “nhất tâm, nhất niệm”. Đây thật là diệu thể của pháp môn Tịnh Độ. Bản hội tập của cụ Hạ và lời khoa phán của lăo pháp sư Từ Châu đều khế hợp bổn hoài của chư Phật, diễn bày sâu xa ư chỉ “Thiền - Tịnh bất nhị”, thật là có công lớn với Thánh giáo.

Nhất tâm và nhất niệm tuy dùng chữ khác nhau, nhưng ư nghĩa chỉ là một. Sách Giáo Hạnh Tín Chứng nói: “Nhất niệm là tín tâm không có nhị tâm nên bảo là nhất niệm; đấy gọi là nhất tâm. Nhất tâm chính là cái nhân chân thật của cơi báo độ thanh tịnh”. Nghĩa là: Ḷng tin không có tâm nào khác xen vào th́ gọi là nhất tâm, mà cũng chính là nhất niệm. Đó cũng gọi là cái nhân chân thật của thanh tịnh báo độ, tức là người văng sanh ắt sẽ chứng cơi Thật Báo Trang Nghiêm để thành bậc Địa Thượng Đại Sĩ (bậc Bồ Tát từ Sơ Địa trở lên). Do đây ta thấy công đức của nhất tâm thù thắng chẳng thể nghĩ bàn.

Sách Tín Tâm Minh có câu: “Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm. Ngôn ngữ bặt dứt, chẳng có quá khứ, vị lai, hiện tại”. Câu này cũng nhằm minh thị “tín tâm bất nhị chính là nhất tâm chẳng thể nghĩ bàn”. V́ vậy, một niệm tín tâm th́ tùy nguyện được văng sanh.

Sách Viên Trung Sao lại bảo: “Tŕ danh nhất tâm bất loạn là nhân. Đắc nhất niệm là nói về hạnh được thành tựu. Sức của nhất niệm có công năng điều phục Hoặc chướng. Lâm chung chánh niệm tự nhiên hiện tiền, tất yếu được văng sanh Tịnh Độ”.

Ư nói: Tŕ danh tâm chẳng tán loạn là nhân hạnh, đạt được “nhất niệm” chính là quả thành tựu của hạnh. Nếu đạt được nhất niệm th́ lúc lâm chung dẹp tan được các Hoặc, chánh niệm tự nhiên hiện tiền; đấy là cái nhân quyết định văng sanh. Do vậy, kinh này dạy: “Phát nhất niệm tâm, niệm ư bỉ Phật, định sanh bỉ quốc” (Phát nhất niệm tâm, niệm đức Phật ấy, quyết định sanh về cơi kia).

Tuy sách Di Đà Yếu Giải c̣n bảo mười niệm cho đến một niệm văng sanh là nói về lúc lâm chung, nhưng thuyết ấy chẳng mâu thuẫn với điều chúng ta đang bàn ở đây. Nếu b́nh thời phát khởi được nhất niệm thanh tịnh tâm, ngầm khế hợp lư thể, nhập được nhất niệm, th́ do sức của nhất niệm, lúc lâm chung sẽ thành tựu mười niệm hay một niệm như Viên Trung Sao bảo: “Sức của một niệm này có công năng điều phục được các Hoặc chướng, lâm chung chánh niệm tự nhiên hiện tiền”.

Trong nhất tâm lại có Sự lẫn Lư:

1. Sự nhất tâm là như Di Đà Sớ Sao nói: “Nghe danh hiệu Phật thường nhớ, thường niệm, tâm duyên theo từng chữ phân minh. Câu trước, câu sau liên tục chẳng dứt. Đi, đứng, nằm, ngồi chỉ có một niệm này, không c̣n có niệm thứ hai, chẳng bị tham, sân, si phiền năo tạp loạn. Về mặt Sự đă đắc, nhưng chưa thấu triệt mặt Lư. Chỉ được tín lực nhưng chưa thấy đạo nên gọi là Sự nhất tâm”.

Sách Di Đà Yếu Giải lại bảo: “Chẳng luận là Sự tŕ hay Lư tŕ, tŕ đến mức dẹp trừ được phiền năo, thậm chí Kiến Hoặc lẫn Tư Hoặc đều hết sạch cả, th́ đều là Sự nhất tâm”.

2. Lư nhất tâm là như sách Di Đà Sớ Sao nói: “Nghe danh hiệu Phật chẳng những chỉ ức niệm mà ngay nơi niệm đó, quán trở lại soi xét tường tận, truy đến tận căn nguyên, suy xét đến cùng cực, đột nhiên khế hợp bản tâm của chính ḿnh. Do thấy được Chân Đế nên gọi là Lư nhất tâm”.

Sách Di Đà Yếu Giải bảo: “Chẳng luận là Sự tŕ hay Lư tŕ, tŕ đến mức tâm khai ngộ thấy được vị Phật nơi bản tánh th́ đều là Lư nhất tâm”.

Trong hai thứ nhất tâm, Lư nhất tâm là tối thượng.

Sách Di Đà Sớ Sao lại bảo: “Chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm hướng đến văng sanh chính là Sự nhất tâm. Chấp tŕ danh hiệu, trở về tự tâm chính là Lư nhất tâm”.

Kinh Na Tiên nói: “Chư thiện chi trung, độc hữu nhất tâm, tối vi đệ nhất. Nhất kỳ tâm giả, chư thiện tùy chi” (Trong các điều thiện chỉ có nhất tâm là cao tột nhất. Hễ nhất tâm rồi th́ các điều thiện đều có). Sách Di Đà Sớ Sao nói: “Toàn thể của nhất tâm này là Phật. Nhất tâm này lại chính là Định bậc nhất trong các thứ Định, nó chính là Niệm Phật tam-muội của Bồ Tát, chính là Thiền Trực Chỉ của Đạt Ma”.

Theo những kinh, luận vừa dẫn trên, nhất niệm chính là nhất tâm, mà cái nhất niệm ấy lại chính là tự tánh bản giác linh tri.

Ông Hạnh Tây Thị người Nhật bảo: “Nhất thừa chính là hoằng nguyện, hoằng nguyện chính là Phật trí, Phật trí chính là nhất niệm”. Ông Hạnh Tây lập ra nghĩa nhất niệm như sau: Nếu tín tâm phàm phu tương ứng được với nhất niệm Phật trí th́ sự nghiệp văng sanh tự nhiên hoàn thành, chẳng cần phải miệng lăm lăm niệm danh hiệu Phật cho nhiều.

Thuyết này tương tự như thuyết của Báo Ân Luận: Người tu Thiền tông ngộ điều ḿnh tham cứu hay người đọc kinh mà giải ngộ rồi chuyên tu Tịnh Độ, nếu như đạt được một niệm tịnh tín th́ được tương ứng với Phật trí, xưng danh hiệu Phật một tiếng liền được văng sanh.

Nhưng trong Tịnh tông, chữ “một niệm” hay “mười niệm” lại chỉ việc phàm phu xưng niệm Phật hiệu một tiếng hay mười tiếng. Chẳng hạn như trong Vô Lượng Thọ Kinh Sớ, ngài Nghĩa Tịch giảng: “Niệm chính là xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Vừa hết sáu chữ ấy là một niệm”, nghĩa là: Niệm tụng Phật hiệu một tiếng là một niệm.

Quán kinh bảo Hạ Phẩm Hạ Sanh “như thị chí tâm, linh thanh bất tuyệt, cụ túc thập niệm, xưng Nam Mô A Di Đà Phật, xưng Phật danh cố, ư niệm niệm trung, trừ bát thập ức kiếp sanh tử chi tội, mạng chung chi thời, kiến kim liên hoa, do như xa luân. Như nhất niệm khoảnh, tức đắc văng sanh Cực Lạc thế giới” (chí tâm như thế khiến cho chẳng ngớt tiếng, đầy đủ mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Do xưng danh hiệu Phật nên trừ được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử. Lúc mạng chung thấy hoa sen vàng to như bánh xe. Như trong khoảng một niệm liền được văng sanh Cực Lạc thế giới). Do vậy, ta thấy rằng “mười niệm” chính là “mười tiếng”.  Mười niệm thậm chí một niệm lúc lâm chung như vậy đều được văng sanh như ông Bành Tế Thanh nói: “Như thật hồi hướng, một niệm niệm Phật th́ không ai chẳng văng sanh; đó là do sức bổn nguyện của Phật vậy”.

So với cái tâm nhất niệm vừa bàn ở trên, mười niệm lúc lâm chung được giảng trong Quán kinh vừa tương đồng, vừa dị biệt. Trong Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư đă luận định điều này rất mực tinh xác. Ngài viết:

“Nên biết rằng chí tâm niệm A Di Đà Phật một tiếng th́ diệt được tội trong tám mươi ức kiếp sanh tử; đấy chính là nói về Lư nhất tâm. Ắt có kẻ ngờ rằng: Tội đă nhiều kiếp, nghiệp nặng chướng sâu, phải siêng năng sám hối lâu ngày, tích tập công đức dần dần mới có thể tiêu hết nổi, c̣n như niệm Phật một tiếng lại có thể diệt tội nhiều kiếp, nhân bé, quả to, làm sao tin nổi?

Nay bảo rằng: Chí tâm chính là nhất tâm. Nếu là Sự nhất tâm th́ dẫu có thể diệt tội, nhưng do sức nó thưa mỏng, tội sẽ hiện trở lại. Niệm thật nhiều chỉ có thể tiêu diệt chút ít tội khiên.

Chí tâm ở đây chính là thuộc về Lư nhất tâm. Nhất tâm đă sáng tỏ th́ bao điều vọng chứa chất liền tiêu ngay giống như nhà tối ngàn năm, đem một ngọn đèn sáng vào, chẳng lẽ bóng tối chẳng bị mất ngay hay sao? V́ vậy, lư lẽ ‘nhất xưng Nam Mô Phật, giai dĩ thành Phật đạo’ (xưng Nam Mô Phật một tiếng, đều đă thành Phật đạo) chẳng phải riêng ḿnh kinh Diệu Pháp Liên Hoa mới có!

Kinh Pháp Hoa Tam Muội Quán nói: ‘Thập phương chúng sanh, nhất xưng Nam Mô Phật giả, giai đương tác Phật. Duy nhất Đại Thừa, vô hữu nhị tam. Nhất thiết chư pháp, nhất tướng, nhất môn, sở vị vô sanh vô diệt, Tất Cánh Không tướng’ (Mười phương chúng sanh một phen xưng Nam Mô Phật đều sẽ thành Phật, chỉ có một Đại Thừa, chẳng có hai hay ba. Hết thảy các pháp là nhất tướng, nhất môn, nghĩa là vô sanh, vô diệt, là tướng rốt ráo không). Những lời như trên chẳng phải là [nói về] Lư nhất tâm hay sao?”

Liên Tŕ đại sư bảo “chí tâm” nói trong Quán kinh chính là Lư nhất tâm. Đó là v́ khi lâm chung chính mắt thấy lửa địa ngục liền sanh ḷng tin thật sự nên có thể nhanh chóng dứt muôn duyên, chỉ tập trung vào một niệm; niệm niệm ly niệm, niệm niệm chính là tâm, niệm niệm khế hợp Chân Như, niệm niệm là Phật. Mười niệm lâm chung như vậy đă khế hợp Lư nhất tâm nên được diệt tội văng sanh.

Thế nào là chí tâm? Sách Vô Lượng Thọ Tông Yếu dùng ngay thí dụ của ngài La Thập: Thí như có người gặp phải ác tặc đuổi theo toan giết. Người ấy rảo chạy, phải vượt sông mới thoát. Lúc ấy, chỉ nghĩ cách vượt sông:

“Chỉ có niệm ấy chẳng có niệm khác. Cái ư niệm vượt sông khi ấy chính là nhất niệm. Thập niệm này chẳng xen lẫn niệm nào khác. Hành giả cũng thế: Hoặc niệm danh hiệu Phật, hoặc niệm tướng hảo của Phật v.v... niệm Phật không gián đoạn cho đến mười niệm. Chí tâm như thế th́ gọi là mười niệm”.

Nghĩa là: Hành giả niệm Phật như người muốn vượt sông trong thí dụ nói trên, chỉ có ư niệm muốn vượt sông, không c̣n nghĩ ǵ khác, th́ gọi là “chí tâm”. Niệm liên tục như thế cho đến mười niệm th́ chính là thập niệm. Lúc lâm chung mà làm được như thế th́ quyết định văng sanh, thậm chí chỉ một niệm (xem Niệm Phật Bảo Vương Luận) nhưng niệm tâm thuần nhất, kiên cố th́ cũng được văng sanh. Đó là v́ thầm hợp diệu đạo, khéo nhập Vô Sanh. V́ thế, Ngũ Nghịch, Thập Ác lâm chung niệm Phật, thậm chí một niệm cũng được văng sanh. Điều này hiển lộ Di Đà bổn nguyện chẳng thể nghĩ bàn. Cái quả do Bồ Tát Pháp Tạng tư duy tạo thành chính là ở chỗ này. Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc lâm chung tướng địa ngục hiện, các ngọn lửa cùng hiện ra mà có thể xưng danh hiệu Phật th́ sẽ nhanh chóng ĺa được vọng hoặc, nhập Lư nhất tâm. Do khế hợp với Lư nên các tội tiêu diệt liền sanh về Cực Lạc, chứng ngay ba thứ Bất Thoái.

Nếu chẳng phải là phương tiện rốt ráo nhất trong các phương tiện, là tối cực viên đốn trong các thứ viên đốn th́ lẽ nào đạt được như thế? Pháp môn Tịnh Độ này có thể làm cho phàm phu ác nghịch thầm hợp nhất tâm cho nên A Di Đà Phật được gọi là đấng Nguyện Vương thật cũng chẳng ngoa!

Trong An Lạc Tập, đại sư Đạo Xước cũng luận về thập niệm văng sanh như sau:

“Ông bảo ác nghiệp trong một đời là nặng, coi điều thiện mười niệm của hạng Hạ Phẩm là nhẹ th́ tôi nay sẽ dùng nghĩa lư để so sánh. Nghĩa của nặng hay nhẹ rơ ràng là cốt ở tại tâm, tại duyên, tại quyết định, chứ chẳng phải tại nơi thời tiết lâu, gần, nhiều, ít.

1. Một, thế nào là tại tâm? Lúc người ấy tạo tội tự nương dựa vào tâm hư vọng điên đảo để sanh khởi. C̣n thập niệm đây lại dựa vào thiện tri thức phương tiện an ủi, do nghe pháp Thật Tướng mà sanh (dựa vào Thật Tướng mà sanh). Một đằng thật, một đằng hư, lẽ nào so sánh được?

V́ sao? Ví như nhà tối ngàn năm, nếu ánh sáng tạm chiếu vào sẽ liền sáng tỏ. Há có dám bảo bóng tối ngàn năm trong nhà chẳng bị mất đi hay sao? V́ vậy kinh Di Nhật Ma Ni Bảo nói: ‘Phật cáo Ca Diếp Bồ Tát: - Chúng sanh tuy phục sổ thiên cự ức vạn kiếp, tại thọ dục trung, vị tội sở phú, nhược văn Phật kinh, nhất phản niệm thiện, tội tức tiêu tận dă’ (Phật bảo Ca Diếp Bồ Tát: - Chúng sanh tuy trong mấy ngàn cự ức vạn kiếp ở trong ái dục bị tội che lấp nhưng nếu khi nghe kinh Phật mà một phen nghĩ đến điều lành th́ tội liền tiêu diệt hết). Đấy gọi là tại tâm.

2. Hai, thế nào là tại duyên? Người ấy lúc tạo ác tự dựa vào vọng tưởng, dựa vào phiền năo, quả báo, chúng sanh mà sanh; c̣n mười niệm đây y chỉ tín tâm vô thượng, nương vào danh hiệu thanh tịnh chân thật vô lượng công đức của A Di Đà Phật mà sanh.

Ví như có người bị trúng tên độc đứt gân, găy xương, nếu nghe âm thanh của cái trống thuốc có tên là Diệt Trừ th́ mũi tên độc liền rớt ra, độc liền trừ, há dám bảo rằng mũi tên ấy ngập sâu, thuốc độc ấy quá mạnh dù có nghe tiếng trống cũng chẳng thể nhổ tên, khử độc được hay sao? Đấy gọi là tại duyên.

3. Ba, thế nào là tại quyết định? Người ấy lúc tạo tội th́ tự nương dựa vào cái tâm hữu hậu, tâm hữu gián mà sanh; c̣n thập niệm đây y chỉ vào tâm vô hậu, tâm vô gián mà khởi. Đấy gọi là quyết định.

Trí Độ Luận lại bảo: ‘Hết thảy chúng sanh lúc lâm chung bị đao phong cắt thân h́nh, tử khổ đến bức bách, sanh ḷng hoảng sợ lớn lao’. V́ vậy, gặp thiện tri thức liền phát đại dũng mănh, tâm tâm liên tục; mười niệm chính là thiện căn tăng thượng nên liền được văng sanh. Lại cũng giống như kẻ đối địch phá trận, cùng lúc tận dụng hết sức lực nơi thân ḿnh. Điều lành thập niệm cũng giống như vậy”.

Lại có kẻ nghĩ lâm chung thập niệm quá dễ dàng nên toan tính đợi lúc lâm chung mới chuyên tu niệm. Sách An Lạc Tập đả phá quan điểm ấy như sau:

“Thập niệm liên tục tựa hồ chẳng khó, nhưng kẻ phàm phu tâm như ngựa hoang, thức quá khỉ vượn, rong ruổi sáu trần chưa từng tạm dừng. Ai nấy phải nên phát ḷng tin, tự hạn định tu niệm trước để tích tập thành thói quen cho thiện căn kiên cố như Phật đă bảo đại vương: ‘Nhân tích thiện hạnh, tử vô ác niệm. Như thụ tiên khuynh, khuynh tất tùy dă’ (Người tích hạnh lành, khi chết không có ác niệm. Như cây trước đấy đă nghiêng về hướng nào th́ khi đổ sẽ ngă theo phía đó). Một phen đao phong xảy đến, trăm nỗi khổ quấy thân, nếu trước đấy đă chẳng từng quen tu tập th́ [lúc ấy] niệm làm sao nổi?

Ai nấy nên cùng với năm ba người cùng chí hướng kết thệ sẵn để lúc lâm chung thay phiên nhau đến giảng giải, v́ ta xưng danh hiệu Di Đà, nguyện sanh cơi An Lạc, tiếng niệm tiếp nối cho thành mười niệm. Ví như ấn sáp ấn xuống đất bùn, ấn dẫu hoại nhưng các đường khắc trên ấn đă in xuống. Lúc mạng này dứt chính là lúc văng sanh An Lạc quốc. Một khi đă nhập vào Chánh Định Tụ th́ c̣n lo lắng ǵ. Ai nấy đều nên suy nghĩ cái lợi lớn này, sao c̣n chưa định sẵn số hạn để niệm đi”.

Sách Di Đà Yếu Giải cũng nói:

“Nếu lúc b́nh thời chẳng có công phu bảy ngày th́ làm sao lúc lâm chung đạt được mười niệm hay một niệm. Vả lại, kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác trong Hạ Hạ phẩm đều là do túc nghiệp chín muồi nên lúc lâm chung mới gặp thiện hữu khai ngộ liền tín nguyện. Điều này trong muôn trường hợp chưa có được một, há nên cầu may như thế ư?”.

Do vậy, ta thấy rằng cảnh giới nhất tâm thật là sâu xa, u huyền. Bởi thế, kinh này đề cao chuyên niệm. Ngẫu Ích đại sư bảo:

“Đức Phật trong một câu niệm hiện tiền cũng vốn đă siêu t́nh ly kiến, sao lại c̣n mất công bàn huyền, luận diệu, chỉ cốt tin cho chắc, giữ cho bền, cứ thẳng thét mà niệm. Suốt ngày đêm hoặc là mười vạn tiếng, hoặc năm vạn, ba vạn làm số nhất định hoặc chẳng định số làm chuẩn. Trọn cả một đời này thề chẳng biến đổi. Nếu chẳng được văng sanh th́ tam thế chư Phật thành ra nói dối hay sao?”

Ngài c̣n viết:

 Muốn đạt đến cảnh giới nhất tâm bất loạn th́ cũng chẳng có thuật ǵ khác. Bước đầu tu tập th́ dùng xâu chuỗi để nhớ số cho rành rẽ nhằm ấn định công khóa quyết định chẳng thiếu. Lâu ngày thuần thục chẳng niệm mà tự niệm. Lúc đấy, nhớ số cũng được, chẳng nhớ số cũng được!

Nếu là kẻ sơ tâm mà lại toan nói chỉ ưa học khán thoại đầu, chẳng nên chấp tướng, muốn học viên dung tự tại, th́ đó chỉ toàn là kẻ tin chẳng sâu, hành chẳng tận sức vậy”.

Đạo Xước đại sư cũng dạy: “Nếu người mới học chưa thể phá được tướng th́ cứ nương vào tướng mà chuyên chí, không ai chẳng được văng sanh, đừng nghi ngờ ǵ!”. Do vậy, kinh này chỉ dùng “phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm” làm tông.

Trong đời mạt, kẻ tŕ danh tuy lắm mà người văng sanh chẳng bao nhiêu nên sách An Lạc Tập cũng nêu lời vấn đáp như sau:

“Nếu xưng niệm danh hiệu A Di Đà Phật sẽ trừ được vô minh hắc ám của mười phương chúng sanh và được văng sanh th́ sao lại có chúng sanh xưng danh, ức niệm mà vô minh vẫn c̣n, chẳng được măn nguyện, nghĩa là làm sao?

Đáp: Do chẳng tu hành đúng như thật, do chẳng tương ứng với danh nghĩa. V́ cớ sao thế? V́ chẳng biết Như Lai là thân Thật Tướng mà lại cho là thân vật chất. Lại có ba điều chẳng tương ứng:

- Một là tín tâm chẳng thuần, lúc c̣n, lúc mất.

- Hai là tín tâm bất nhất, nghĩa là chẳng quyết định.

- Ba là tín tâm chẳng liên tục, nghĩa là có các niệm khác xen lẫn vào…

Nếu tâm liên tục th́ là nhất tâm. Chỉ giữ được nhất tâm th́ đó chính là tâm thuần. Có đủ ba tâm ấy mà lại chẳng được văng sanh th́ chẳng bao giờ có lẽ ấy!”

Lời luận này đă chỉ đúng ngay căn bệnh của hành nhân tu Tịnh nghiệp hiện đời: Niệm Phật mà chẳng thể đắc quả văng sanh. Đó là do chẳng biết Như Lai là thân Thật Tướng, nhận lầm thân Ngài là thân vật chất, chấp trước vào tướng, lầm lẫn sanh so đo, thiếu khuyết trí huệ, hiểu sai nghĩa Trung Đạo. Lại c̣n mắc ba thứ chẳng tương ứng. Ba thứ chẳng tương ứng đó có thể dùng một câu để bao quát cả, đó là: Tín tâm chẳng đủ! Tư lương để văng sanh là Tín, Nguyện, Hạnh, khuyết một chẳng thể được. Theo sách Yếu Giải: Nếu thiếu tín nguyện th́ dẫu tŕ danh như tường đồng, vách sắt, mưa gió chẳng lọt, cũng chẳng được văng sanh.

 Trụ Đại Thừa giả” (Kẻ trụ trong Đại Thừa) là như phẩm Thí Dụ của kinh Pháp Hoa có nói: “Nhược hữu chúng sanh tùng Phật Thế Tôn văn pháp tín thọ, cần tu tinh tấn, cầu Nhất Thiết Trí, Phật Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Sư Trí, Như Lai tri kiến, lực, vô sở úy, mẫn niệm an lạc vô lượng chúng sanh, lợi ích thiên nhân, độ thoát nhất thiết, thị danh Đại Thừa” (Nếu có chúng sanh nghe pháp từ đức Phật Thế Tôn mà tin nhận, siêng tu tinh tấn, cầu Nhất Thiết Trí, Phật Trí, Tự Nhiên Trí, Vô Sư Trí, Như Lai tri kiến, lực, vô sở úy, thương xót, an vui vô lượng chúng sanh, lợi ích trời, người, độ thoát hết thảy, th́ gọi là Đại Thừa).

Sách Thập Nhị Môn Luận cũng nói: “Ma Ha Diễn (Mahayana) cao hơn Nhị Thừa nên gọi là Đại Thừa. Chư Phật lớn nhất mà thừa này đạt đến được nên gọi là Đại. Chư Phật đại nhân dùng thừa này nên gọi là Đại. Đại Thừa lại có thể diệt trừ nỗi khổ lớn của chúng sanh, ban cho sự đại lợi ích nên gọi là Đại. Lại dùng thừa này có thể thấu triệt đến tận nguồn cội hết thảy các pháp nên gọi là Đại”.

Quyển hai mươi tám kinh Đại Bảo Tích có nói: “Chư Phật Như Lai chánh chân chánh giác sở hành chi đạo, bỉ thừa danh vi Đại Thừa” (Đạo chánh chân, chánh giác của chư Phật Như Lai hành, thừa ấy gọi là Đại Thừa).

“Trụ Đại Thừa giả” (Kẻ trụ trong Đại Thừa) tức là người thường trụ trong pháp Đại Thừa như vừa nói trên. Nên biết rằng kẻ ấy nào phải là phàm phu hay Tiểu Thừa; tuy kẻ ấy mang nhục thân nhưng vẫn được gọi là Bồ Tát.

“Thanh tịnh tâm” là tâm vô ngại, vô cấu, tịnh tín (xem lời giải thích chi tiết trong phần trước). Kinh Trung A Hàm, quyển bốn mươi mốt bảo: “Thanh tịnh tâm tận thoát dâm nộ si, thành tựu ư Tam Minh” (Tâm thanh tịnh [là tâm] hoàn toàn hết sạch dâm, nộ, si, thành tựu Tam Minh). Tâm thanh tịnh như thế công đức khó nghĩ bàn. V́ vậy, phẩm Thập Phương Phật Tán có nói: “Năi chí năng phát nhất niệm tịnh tín… tùy nguyện giai sanh” (Thậm chí có thể phát được một niệm tịnh tín… tùy nguyện văng sanh). Dùng tâm thanh tịnh như trên để quy hướng Vô Lượng Thọ Phật nên bảo: “Dĩ thanh tịnh tâm, hướng Vô Lượng Thọ Phật” (Dùng tâm thanh tịnh hướng đến Vô Lượng Thọ Phật).

 “Năi chí thập niệm” (Dẫu chỉ mười niệm): Chữ “năi chí” (dẫu chỉ) là so với số nhiều để nói lên số ít như ta hay nói “tối thiểu”. Tín, nguyện, tŕ danh quy hướng Tịnh Độ như trên th́ dẫu chỉ giữ được mười niệm liên tục cũng quyết định được sanh về cơi ấy. Mười niệm này gồm cả niệm lúc b́nh thời lẫn khi lâm chung.

* Ngay trong lúc b́nh thời, mười niệm cũng có hai thứ:

1. Một là như Thập Niệm do đức Phật giảng trong kinh Di Lặc Phát Vấn như phần trên đă dẫn, chẳng xen tạp kiết sử cho đến Bồ Tát niệm, chẳng phải là phàm phu niệm. C̣n như kinh này dạy: “Dĩ thanh tịnh tâm, hướng Vô Lượng Thọ Phật, năi chí thập niệm” (Dùng tâm thanh tịnh hướng về Vô Lượng Thọ Phật, dẫu chỉ mười niệm) chính là nói đến cái tâm đă hết sạch ba độc dâm, nộ, si, thành tựu trí đức Tam Minh[6]. Dùng cái tâm như thế để tŕ danh hiệu Phật. Niệm Phật như vậy công đức khó thể nghĩ nổi. Dùng đây làm nhân th́ khi lâm chung quyết định được văng sanh, nhưng đấy chỉ là Thập Niệm của Bồ Tát.

2. Hai là pháp Thập Niệm buổi sáng của ngài Từ Vân Sám Chủ: Mỗi ngày vào lúc sáng sớm, xúc miệng, đốt hương, hướng về phía Tây chắp tay, niệm Phật đủ mười hơi. Trong mỗi hơi, tận lực niệm Phật hiệu, cứ hết một hơi là một niệm. Cách này để tiếp dẫn người bận rộn công chuyện hoặc siêng tu pháp khác chẳng có nhiều thời gian để tu Tịnh nghiệp. Trọn đời tu như vậy sẽ được bổn nguyện, oai thần của đức Phật gia bị nên cũng được văng sanh.

* Mười niệm trong lúc lâm chung là như Quán kinh dạy, thầm hợp với Lư nhất tâm nên chắc chắn được văng sanh.

Nói chung lại, các thứ mười niệm văng sanh đều là do đại nguyện “mười niệm ắt được văng sanh” của Di Đà hoằng thệ cảm thành.

“Nhất niệm tịnh tâm”, “phát nhất niệm tâm” cũng như “nhất niệm tịnh tín” trong đoạn văn trước đều là “nhất niệm” cả. Nhất tâm này là bản thể của mười pháp giới, là tên gọi khác của Chân Thật Tướng, cũng chính là cái được kinh Na Tiên gọi là “tối vi đệ nhất” (thật là bậc nhất) hay Di Đà Sớ Sao bảo: “Toàn thể là Phật”.

“Phát nhất niệm tâm, niệm ư bỉ Phật” (Phát một niệm tâm, niệm đức Phật ấy) th́ “quyết sanh bỉ quốc” (quyết định được sanh về cơi ấy) chính là giáo nghĩa Nhất Niệm của ngài Hạnh Tây Thị người Nhật đă đề xướng. Phàm phu nếu có thể dùng tín tâm tương ứng với Phật trí trong một niệm th́ sẽ được văng sanh.  Hơn nữa, một niệm ấy toàn thể là Phật, mà cái toàn thể ấy cũng chính là đức Phật trong một niệm. Do niệm đức Phật ấy nên trong một niệm liền được tương ứng. V́ vậy, “định sanh bỉ quốc, đắc Bất Thoái Chuyển Vô Thượng Bồ Đề” (quyết định sanh về cơi kia, được bất thoái chuyển nơi Vô Thượng Bồ Đề).

 “Thử nhân lâm mạng chung thời, như tại mộng trung” (Người ấy lúc mạng sắp dứt như trong giấc mộng): Do nhất niệm văng sanh cũng chia ra ba bậc nên có nhiều phẩm loại. Do đó, ảnh tượng lúc lâm chung cũng trở thành sai khác:

1. Đối với bậc Thượng, ư tưởng sanh tử đă hết, bản thể của phàm hay thánh đều là không, hiểu rơ Phật chẳng đến, đi, nhưng thấy Phật hiện đến, hiểu rơ sanh tử vốn là không mà hóa hiện có văng sanh; bỏ cơi này sanh về cơi kia đều như huyễn mộng. V́ vậy bảo là “như trong giấc mộng”.

2. Bậc Trung hiểu rơ thế gian đều như mộng, huyễn, bọt nước, h́nh bóng thoáng qua, nên lúc lâm chung chẳng lưu luyến ǵ, coi hệt như giấc mộng.

3. C̣n người bậc Hạ lúc lâm chung phảng phất tựa hồ trong mộng được thấy đức Phật ấy nên cũng được văng sanh (chỉ có bậc Hạ trong ba bậc của nhất tâm tam bối là chẳng giống với bậc Hạ văng sanh nói trong phần Chánh Tông, c̣n hai bậc Thượng và Trung th́ giống. Đấy là do nhất tâm tam bối là một loại riêng chẳng giống với thói thường).

Do những điều trên ta thấy rằng phẩm loại của những người niệm Phật mà đạt được nhất tâm, được văng sanh thật khác xa nhau lắm:

* Trên là thánh hiền, dưới đến phàm phu, niệm Phật đạt đến nhất tâm, thậm chí “năng phát nhất niệm tịnh tín” (phát được một niệm tịnh tín) “hoạch đắc nhất niệm tịnh tín, phát nhất niệm tâm niệm ư bỉ Phật” (đạt được một niệm tịnh tâm, phát một niệm tâm niệm đức Phật kia) th́ đều được văng sanh.

* Thấp nhất là kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc lâm chung phát nguyện, chí tâm niệm Phật mười tiếng liên tục, thậm chí chỉ niệm được một tiếng, do ngầm khế hợp với Lư nhất tâm nên cũng được văng sanh. Điều này thể hiện rơ ràng công đức của nhất tâm thật là bậc nhất.

Pháp môn Tŕ Danh của Tịnh Độ vi diệu khó thể nghĩ nổi: Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc lâm chung niệm Phật c̣n thầm hợp diệu đạo, khế hợp Lư nhất tâm, liền vượt khỏi sanh tử, chứng lên Bất Thoái. Rơ ràng là pháp môn Tŕ Danh là phương tiện rốt ráo chẳng thể nghĩ bàn.

Trong hai loại văng sanh vừa nói trên:

- Một là tam bối văng sanh đều do “phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”, đây chính là điều được kinh này đề cao.

- Hai là một niệm tịnh tín, nhất niệm văng sanh đều do “nhất niệm”.

“Nhất niệm” là Thật Tướng, đó chính là bản thể của kinh này. Vả lại, toàn thể của một niệm tịnh tâm là Bồ Đề tâm, “niệm đức Phật ấy” chính là chuyên niệm. Như vậy, “nhất tâm tam bối” cũng chẳng ra ngoài tông chỉ của kinh này.

Hơn nữa, Quán kinh bảo Ngũ Nghịch, Thập Ác được văng sanh; kinh này dạy “duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp” (chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp) th́ chẳng được văng sanh. Trong Quán Kinh Nghĩa Sớ, ngài Gia Tường đă giải thích vấn nạn ấy như sau:

“Phẩm thứ ba nói về ba hạng người ác.

Trước hết, bàn về người tạo Thập Ác, tiếp đó bàn đến kẻ tạo tội Tứ Trọng, cuối cùng bàn về kẻ Ngũ Nghịch, chẳng bàn đến hạng Báng Pháp Xiển Đề (kẻ báng pháp gọi là “xiển-đề”) nên gọi là ‘ác chẳng tận’.

Thập Ác, Tứ Trọng, Ngũ Nghịch đều được văng sanh Tây phương. Nếu là kẻ báng pháp xiển-đề th́ chẳng được văng sanh! Xiển-đề chẳng tin pháp, khi lâm chung dẫu nói có đức Vô Lượng Thọ Phật th́ vẫn hoàn toàn chẳng tin nên chẳng được văng sanh”.

Sách An Lạc Tập đă bàn về vấn đề này rất tường tận. Phần trên đă dẫn nên ở đây tôi không nhắc lại.

Riêng tác phẩm Tứ Thiếp Sớ có quan điểm khác hẳn. Ngài Thiện Đạo viết: “Như trong bốn mươi tám nguyện lại loại trừ kẻ báng pháp, Ngũ Nghịch… Đức Như Lai sợ chúng sanh tạo hai tội lỗi ấy nên phương tiện nói ngăn ngừa là chẳng được văng sanh, chứ chẳng phải là không tiếp độ… Nếu trót tạo tội (rồi sám hối, phát nguyện, tŕ danh hiệu Phật) th́ lại được văng sanh”.

Hai bản sớ tuy giải thích khác nhau, nhưng thật sự chẳng mâu thuẫn nhau. Ngài Gia Tường bảo kẻ xiển-đề báng pháp chẳng thể khởi ḷng tin nên chẳng được văng sanh. Ngài Thiện Đạo bảo tuy họ là kẻ báng pháp Ngũ Nghịch, nhưng lúc lâm chung, nghe pháp có thể sanh ḷng tin, sám hối, hồi tâm, chí tâm tin ưa, nguyện sanh cơi kia, dẫu chỉ mười niệm, th́ Phật rủ ḷng đại từ, nên cũng được tiếp độ văng sanh Cực Lạc. Do xiển-đề cũng có khả năng thành Phật nên lúc lâm chung nếu họ sanh chánh tín th́ chẳng c̣n là xiển-đề nữa. V́ thế, đức Phật rủ ḷng Từ tiếp dẫn.

Nhưng kẻ xiển-đề lúc lâm chung sanh được ḷng tin th́ thật là một điều khó nhất trong những điều khó. Kẻ lâm chung mười niệm văng sanh như Quán kinh dạy đă là trong vạn vạn người mới có được một người. C̣n nếu như Tứ Thiếp Sớ bảo kẻ báng pháp Ngũ Nghịch lâm chung chí tâm tin ưa niệm Phật văng sanh th́ trong ức ức người mới có được một người.

Kinh Pháp Cổ lại bảo: “Nhược nhân lâm chung bất năng tác niệm, đản tri bỉ phương hữu Phật, tác văng sanh ư, diệc đắc văng sanh” (Nếu ai lúc lâm chung chẳng thể niệm nổi, chỉ biết là phương kia có Phật liền khởi ư văng sanh th́ cũng được văng sanh). Như Lai từ đức vi diệu khó nghĩ bàn! V́ thế, sách An Lạc Tập bảo: “Phải biết rằng Như Lai có phương tiện thù thắng, nhiếp thủ hộ tŕ tín tâm, chính là: Dùng việc chuyên nhớ tưởng Phật làm nhân duyên để tùy nguyện văng sanh”.

Sách c̣n khen ngợi: “Nếu nghe đức hiệu của A Di Đà Phật mà hoan hỷ, khen ngợi, ngưỡng mộ, tâm quy y dẫu chỉ trong một niệm, liền được đại lợi, đầy đủ báu công đức. Giả sử lửa dậy khắp cơi Đại Thiên cũng phải xông thẳng vào nghe danh hiệu Phật. Nghe danh A Di Đà Phật th́ chẳng thoái chuyển. V́ vậy hăy nên chí tâm dập đầu lễ”.


 



[1] Tứ cú là bốn câu “có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không”.

[2] Phúng () : đọc tụng với giọng ngân nga. Xưa kia, người ta thường phân biệt phúng là đọc dựa theo văn bản, c̣n tụng () là đọc thuộc ḷng.

[3] Nếu nh́n theo mặt Sự, Tha Phật tức là A Di Đà Phật ở Tây Phương Cực Lạc thế giới, chứ không phải là đức Phật thiên chân sẵn có trong tự tánh của ta (Tự Phật).

[4] Tất-đàn: nói đủ là Tứ Tất-đàn (Siddhānta), tức là bốn phương diện Phật dùng để hóa độ chúng sanh, gồm:

1. Thế giới tất-đàn (tùy thuận pháp thế gian mà nói nghĩa nhân duyên ḥa hợp để thuyết minh chân lư duyên khởi);

2. Nhân tất-đàn (tùy theo căn cơ và năng lực của từng chúng sanh mà nói pháp xuất thế khiến họ sanh khởi thiện căn);

3. Đối trị tất-đàn (tùy bệnh cho pháp dược để đối trị phiền năo);

4. Đệ nhất nghĩa tất-đàn (trực tiếp dùng Đệ Nhất Nghĩa để sáng tỏ lư Thật Tướng của các pháp).

[5] Do hai đoạn kinh văn này có ư nghĩa bổ sung, soi sáng lẫn nhau, giống như kẻ xướng, người họa nên cụ Hoàng Niệm Tổ dùng chữ “tiền hô hậu ứng”.

[6] Theo A Tỳ Đạt Ma Tập Dị Môn Túc Luận, Tam Minh c̣n gọi là Vô Học Tam Minh, gồm:

1. Vô Học Văng Tùy Niệm Trí Tác Chứng Minh: Đúng như thật nhớ biết chuyện trong nhiều đời, nhiều kiếp trước. Nói cách khác, đây chính là Túc Mạng Minh.

2. Vô Học Tử Sanh Trí Tác Chứng Minh: Thiên nhăn siêu việt trời người thấy rơ các hữu t́nh chết, sống, xấu, tốt, hèn kém, cao quư, đường lành, đường ác v.v... Đây chính là Thiên Nhăn Minh.

3. Vô Học Lậu Tận Trí Tác Chứng Minh: Đúng như biết rơ Tứ Thánh Đế, tâm được giải thoát khỏi mọi hữu lậu v.v... Đây chính là Lậu Tận Minh.