24. Tam Bối Văng Sanh (三
輩 往
生: Ba bậc văng sanh)
Chánh kinh:
佛 告 阿 難,十 方 世 界 諸 天 人 民,其 有 至 心 願 生 彼 國,凡 有 三 輩。
Phật
cáo A Nan: - Thập phương thế giới chư thiên
nhân dân, kỳ hữu chí tâm nguyện sanh bỉ quốc,
phàm hữu tam bối.
Phật bảo
A Nan: - Nói chung, chư thiên nhân dân trong mười
phương thế giới những ai chí tâm nguyện sanh
về cơi kia th́ gồm có ba bậc.
Giải:
Phẩm trước là mười phương chư
Phật khen ngợi, đó chính là kết quả của nguyện
“chư Phật khen ngợi”.
Ấy là v́ chư Phật muốn cho chúng sanh nghe danh hiệu
phát tâm, ức niệm, thọ tŕ, thỏa nguyện
được văng sanh. Phẩm này bàn về các loại nhân
hạnh để văng sanh.
Phàm phu sau khi nghe danh hiệu Phật liền phát tâm. Do
tín nguyện có sâu - cạn nên phát tâm có lớn hay nhỏ,
tŕ tụng nhiều hay ít, tu tập có siêng, lười nhiều
nỗi sai khác. Túc căn của chúng sanh có vô lượng
sai biệt; phước đức, nhân duyên lại càng sai
khác hơn nữa. Người người khác nhau, kẻ
kẻ bất đồng. Do đó, đă có vô lượng
chúng sanh trong mười phương văng sanh th́ phẩm loại
của họ cũng phải vô lượng.
Đối với vô lượng phẩm loại sai khác
như thế, đức Thế Tôn chỉ tạm phân chia
một cách tổng quát nên trong phẩm này chỉ nói đến
ba bậc thượng, trung, hạ. Đấy là cách phân chia giản
lược nhất. Mỗi bậc lại tách ra làm ba loại
nhỏ nên thành ra chín loại; Quán kinh gọi là “chín phẩm”.
Mỗi phẩm trong chín phẩm đó lại có chín phẩm,
thành ra tám mươi mốt phẩm. Cứ lần lượt
khai triển như thế đến vô lượng.
Trong vô lượng thứ bậc ấy, nói một cách
tổng quát th́ gồm có ba bậc. Dẫu phẩm loại
của những người văng sanh thật khác xa nhau,
nhưng khi luận đến cái nhân chủ yếu để
văng sanh th́ chẳng ǵ khác hơn là “phát Bồ Đề tâm, một bề chuyên niệm A Di
Đà Phật”. Đấy chính là cương tông của toàn bộ
kinh này, là ch́a khóa để văng sanh Cực Lạc.
Ba bậc văng sanh chính là để phân loại bọn
phàm phu chúng ta sau khi đă văng sanh về Tịnh Độ. Nguyện
hạnh, công đức của từng bậc chính là khuôn
phép để chúng ta noi theo ḥng cầu được văng
sanh. Nếu ḷng chân thành cầu được văng sanh th́ phải
nên tuân theo những khuôn phép đó, khác nào tấm
gương sáng để ta luôn soi ḿnh, mong sao được
bằng.
Nên nhớ rằng Tịnh tông được xưng tụng
là Dị Hành Đạo (đạo dễ hành) là v́ so với
tám vạn bốn ngàn pháp môn mà nói th́ chỉ có pháp môn này dễ
dàng nhất nên mới gọi là “dị hành đạo”; chứ
nếu xét theo những điều được dạy
trong kinh này, ta thấy văng sanh cũng chẳng phải là việc
dễ. Nếu chẳng thật v́ sanh tử phát tâm Bồ Đề,
dùng tín nguyện sâu một dạ chuyên niệm mà mong văng
sanh th́ không thể nào được.
Kính mong những hành nhân trong hiện tại chớ đừng
thoáng nghe Tịnh tông là dễ tu liền sanh khinh mạn, tín
tâm hời hợt, chí nguyện lơ là, miệng bàn Tịnh
nghiệp, tâm tiếc trần duyên; như vậy mà cầu
sanh th́ biết đến bao giờ mới được!
Khi phán định chín phẩm trong Quán kinh có
tương đương với ba bậc trong kinh này hay
không, cổ đức đă lập ra lắm thuyết bất
nhất:
1. Trường phái coi những phẩm loại
được nói trong hai kinh là giống nhau th́ gồm những
vị như đại sư Đàm Loan, Cảnh Hưng, Gia
Tường, Liên Tŕ, Thiên Thai… Trong tác phẩm Lược Luận
An Lạc Tịnh Độ Nghĩa, ngài Đàm Loan nói: “Kinh Vô Lượng Thọ nói
người sanh về An Lạc chỉ có ba bậc thượng,
trung, hạ; kinh Quán Vô Lượng Thọ nói mỗi phẩm
lại chia ra làm thượng, trung, hạ. Ba lần ba thành chín, hợp thành chín phẩm”.
Tịnh Ảnh Sớ lại viết: “Phàm các nhân dân trong mười phương thế giới
nguyện sanh cơi ấy th́ có ba bậc. Gộp chung lại
để nói th́ như trong Quán kinh; nếu chia sơ lược
th́ có ba bậc, chia tỉ mỉ th́ thành ra chín”. Ngài Gia
Tường cũng viết trong Quán Kinh Sớ như sau: “Kinh Vô Lượng Thọ chỉ
nói ba bậc, c̣n trong kinh đây (chỉ kinh Quán Vô Lượng
Thọ) chia ba bậc thành chín bậc.
Ba bậc là thượng, trung, hạ. Chín bậc là thượng
phẩm có ba; trung, hạ cũng
có ba nên thành chín bậc”. Ngài Cảnh Hưng cũng bảo:
“Do chín phẩm trong kinh kia (Quán
kinh) gộp lại thành ba bậc
trong kinh này nên giáo nghĩa dạy trong hai kinh chẳng khác
nhau”. Ngài Liên Tŕ lại bảo: “Ba bậc, chín phẩm phù hợp khít khao với nhau,
nào c̣n ngờ chi!” Trong Quán Kinh Sớ, ngài Thiên Thai cũng
bảo: “Chín phẩm trong kinh
này (Quán kinh) chỉ là để
cho biết địa vị cao hay thấp, chúng chính là ba bậc
trong Đại kinh”.
2. Phái chủ trương các bậc, phẩm nói trong hai
kinh là khác nhau th́ có các vị như Linh Chi, Cô Sơn… Ngài Linh
Chi bảo ba bậc trong Đại kinh chỉ tương ứng
với Thượng Phẩm của Quán kinh chứ không dính
dáng ǵ đến sáu phẩm kia v́ trong Trung Phẩm và Hạ
Phẩm không nói đến việc phát Bồ Đề tâm. Quan
điểm của ngài Cô Sơn thoáng hơn; Ngài cho rằng
ba bậc trong kinh này chỉ tương ứng với
Thượng Phẩm và Trung Phẩm, chứ chẳng
thuộc ba phẩm Hạ v́ người văng sanh thuộc ba
bậc trong kinh này đều là thiện nhân; c̣n người
thuộc ba phẩm Hạ trong Quán kinh đều là ác nhân,
lúc lâm chung sám hối niệm Phật nên được văng
sanh. V́ vậy, các vị trên đều cho rằng chẳng
thể phối hợp các phẩm loại của hai kinh này
với nhau.
Trong tác phẩm Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư đă
dung hội các thuyết trên như sau:
“Sách Thảo Am Phụ Chánh
Giải bảo: ‘Ngài Thiên Thai coi chín phẩm giống với
ba bậc là v́ xét theo thứ bậc mà nói chứ chẳng
xét trên nhân hạnh mà bàn. Ư các vị như Cô Sơn, Linh Chi chẳng trái nghịch ư ngài
Thiên Thai, v́ sao vậy? Do ngài Thiên Thai phán định trên
phương diện thứ bậc nên ba bậc và chín phẩm
tương đồng. Hai vị đại sư lại
chỉ xét trên nhân hạnh nên
ba bậc chỉ tương ứng với trung, thượng
phẩm. Mỗi bên có cơ sở lập luận riêng nên
giáo nghĩa chẳng đồng. Do vậy, ư kiến các
Ngài chẳng trái nghịch
nhau’.
Dựa trên Thật Đế mà
luận th́ phiền năo khác ǵ Bồ Đề, sự ác lúc ban
đầu nào trở ngại sự lành lúc chung cục. Ác
nhân đă thành thiện th́ lẽ đâu chẳng xếp vào
hàng hiền thánh. Ba bậc chín phẩm thật phù hợp khít khao với nhau, há c̣n ngờ chi”.
Quan điểm dung thông của Ngài thật khế hợp
pháp yếu bởi v́ chủ trương phối hợp hai
kinh với nhau của những vị như Thiên Thai v.v… là
chú trọng vào địa vị sau khi văng sanh, chẳng luận
đến sự hành tŕ khi c̣n tu nhân; các vị như ngài
Linh Chi v.v… coi hai kinh khác nhau v́ chú trọng về mặt hành
tŕ khi tu nhân nên mới xét đến việc chưa từng
phát Bồ Đề tâm lẫn hành vi thiện ác lúc b́nh thời.
Do vậy, [hai vị cho rằng] ba phẩm Hạ trong Quán
kinh chẳng tương ứng với bậc Hạ nói
trong kinh này.
Trong đoạn văn trên của ngài Liên Tŕ, câu cuối:
“Sự ác lúc ban đầu nào
trở ngại sự lành lúc chung cục” khế hợp
thánh tâm rất sâu xa. Kẻ ác lúc lâm chung nếu có thể
sám hối phát tâm, chí tâm niệm Phật th́ kẻ ác đă
thành người lành nên cũng được Phật nhiếp
thọ, tùy nguyện văng sanh. Do vậy, Liên Tŕ đại
sư mới bảo: “Lẽ
đâu chẳng xếp vào hàng hiền thánh” đồng
lên Cực Lạc. Do những điều trên, ta thấy ba
bậc trong kinh này và chín phẩm trong kinh kia thật
tương ứng với nhau chẳng c̣n ngờ ǵ nữa.
Sách Báo Ân Luận cũng nói: “Bậc
Thượng trong kinh này tương ứng với người
xuất gia, hai bậc Trung, Hạ tương ứng với
người tại gia. Do có quá nhiều phẩm loại nên
chỉ đại lược nêu lên một cách tổng
quát: ‘Phàm hữu tam bối’ (Nói chung có ba bậc). Với
ba bậc ấy, Quán kinh cũng tạm tách sơ lược
thành chín phẩm. Kinh lại nêu hạng cực ưu và cực
giáng để bao quát vô lượng nhân hạnh sai khác”.
Lời bàn này cực hay. Trong Quán kinh, bậc Thượng
Thượng Phẩm chỉ trong khoảng búng ngón tay liền
được văng sanh, gặp Phật nghe pháp, liền ngộ
Vô Sanh Pháp Nhẫn, trong khoảnh khắc đến phụng
sự khắp các chư Phật, lần lượt
được thọ kư, trở về nước ḿnh,
đắc vô lượng trăm ngàn đà-ra-ni môn. Đấy
chính là hạng cực ưu (ưu thắng nhất) trong ba
phẩm.
Kẻ Hạ Hạ Phẩm là hạng Ngũ Nghịch,
Thập Ác. Khi tướng địa ngục hiện, lâm
chung sám hối, mười niệm được văng sanh
là hạng cực giáng (thấp nhất) trong bậc Hạ.
Quán kinh nêu lên hạng tối ưu cũng như bậc
tối hạ nên luận mới nói: “Nêu lên hạng cực ưu và cực giáng”. Thoạt
nh́n, dường như hai kinh khác nhau, nhưng thật ra ư
chỉ của chúng lại tương đồng.
Chánh kinh:
其 上 輩 者,捨 家 棄 欲 而 作 沙 門。發 菩 提 心。一 向 專 念 阿 彌 陀 佛。修 諸 功 德,願 生 彼 國。此 等 眾 生,臨 壽 終 時,阿 彌 陀 佛,與 諸 聖 眾,現 在 其 前。經 須 臾 間,即 隨 彼 佛 往 生 其 國。便 於 七 寶 華 中 自 然 化 生,智 慧 勇 猛,神 通 自 在。是 故 阿 難,其 有 眾 生 欲 於 今 世 見 阿 彌 陀 佛 者,應 發 無 上 菩 提 之 心。復 當 專 念 極 樂 國 土。積 集 善 根,應 持 迴 向。由 此 見 佛,生 彼 國 中,得 不 退 轉,乃 至 無 上 菩 提。
Kỳ
thượng bối giả, xả gia khí dục nhi tác
sa-môn, phát Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm
A Di Đà Phật, tu chư công đức, nguyện sanh bỉ
quốc. Thử đẳng chúng sanh, lâm thọ chung thời,
A Di Đà Phật, dữ chư thánh chúng, hiện tại kỳ
tiền. Kinh tu du gian, tức tùy bỉ Phật văng sanh kỳ
quốc, tiện ư thất bảo hoa trung tự nhiên hóa
sanh, trí huệ dũng mănh, thần thông tự tại. Thị
cố A Nan! Kỳ hữu chúng sanh, dục ư kim thế
kiến A Di Đà Phật giả, ưng phát Vô Thượng
Bồ Đề chi tâm. Phục đương chuyên niệm
Cực Lạc quốc độ, tích tập thiện
căn, ưng tŕ hồi hướng. Do thử kiến Phật,
sanh bỉ quốc trung, đắc Bất Thoái Chuyển,
năi chí Vô Thượng Bồ Đề.
Bậc Thượng
là hạng bỏ nhà, ĺa dục, làm sa-môn, phát Bồ Đề
tâm, một bề chuyên niệm A Di Đà Phật, tu các công
đức nguyện sanh sang cơi kia. Những chúng sanh ấy
lúc tuổi thọ sắp hết, A Di Đà Phật và các thánh
chúng hiện ra trước mặt. Trong khoảnh khắc
liền theo đức Phật ấy sanh về cơi kia, lại
tự nhiên hóa sanh trong hoa bảy báu, trí huệ dũng mănh,
thần thông tự tại.
A Nan! Do vậy,
nếu có chúng sanh nào muốn trong đời này được
thấy A Di Đà Phật th́ phải phát tâm Vô Thượng Bồ
Đề, lại nên chuyên nghĩ đến cơi nước Cực
Lạc, thiện căn đă tích tập nên đem hồi
hướng. Do đó, được thấy Phật, sanh
trong cơi kia, đắc Bất Thoái Chuyển cho đến
thành Vô Thượng Bồ Đề.
Giải:
Phàm phu có được dự phần vào bậc
Thượng văng sanh hay không là một vấn nạn lớn
trong Tịnh tông.
Cổ đức có vị bảo đây là hạnh Bồ
Tát (như có thuyết bảo Thượng Thượng Phẩm
phải là Bồ Tát từ Tứ Địa đến Thất
Địa, Thượng Trung Phẩm phải là từ Sơ Địa
đến Tứ Địa Bồ Tát; các phẩm khác cứ
theo đó mà suy. Phàm phu chỉ có thể đạt từ
Trung Phẩm Trung Sanh trở xuống mà thôi!) Nếu thật
sự là như vậy th́ đại nguyện vô thượng
của Phật Di Đà, cơi sen Tây Phương độc diệu,
pháp môn tŕ danh dễ hành, diệu pháp văng sanh thù thắng
đều thành hư luận, khiến cho diệu pháp Tịnh
tông chẳng thể nghĩ bàn lại thành ra pháp có thể
nghĩ bàn nổi ư! V́ vậy, đây chính là một
điều cốt lơi của Tịnh Tông; trong phần khái
yếu của bản chú giải này tôi đă tạm bàn
đôi điều nhưng chưa thể giăi bày hết ư chỉ
này, nên ở đây tôi lại thử tŕnh bày rơ hơn.
Đối với những sai lầm của cổ thuyết,
chúng ta may mắn có được đại sư Thiện
Đạo đời Đường. Ngài đă dẫn đủ
các kinh luận để cực lực đả phá cựu
thuyết. Trong Tứ Thiếp Sớ, đại sư
đă luận như sau:
“Lại xem phần Định
Thiện trong Quán kinh và ư nghĩa kinh văn ba bậc Thượng,
Trung, Hạ th́ toàn là sau khi đức Phật nhập diệt, phàm phu ngũ
trược chỉ do gặp duyên sai khác nên đến nỗi
có chín phẩm sai biệt.
V́ sao? Người trong ba phẩm
Thượng là phàm phu gặp duyên
Đại Thừa. Người trong ba phẩm Trung là phàm phu gặp
duyên Tiểu Thừa. Người trong ba phẩm Hạ là
phàm phu ngu ác, tạo ác nghiệp, lúc lâm chung nhờ bạn
lành, nương nguyện lực của Phật bèn
được văng sanh; đến khi hoa kia nở th́ mới phát tâm, chứ phải đâu
là người mới học Đại Thừa (cổ
đức bảo bậc Hạ là người mới học
Đại Thừa). Nếu hiểu
như thế th́ ḿnh lầm, làm người khác lầm, tai
hại quá sức!”
Trong bản sớ giải, Ngài c̣n dẫn mười
đoạn Quán Kinh để chứng minh luận thuyết
ấy, ở đây tôi không trích dẫn đủ. Chín phẩm
đài sen cơi Cực Lạc đều là nơi để
phàm phu đời trược văng sanh, chỉ do người
đời gặp duyên có Đại Thừa, Tiểu Thừa
sai khác nên sau khi văng sanh bèn có bậc Thượng, bậc
Trung, bậc Hạ bất đồng.
Tịnh tông là giáo pháp tối cực viên đốn. Nếu
phàm phu thuộc căn khí Đại Thừa có thể tin nhận
được nổi th́ sẽ giải ngộ trọn vẹn,
tu chứng trọn vẹn th́ sẽ vượt xa thường
nhân cả kiếp (người căn cơ viên đốn
tu một ngày bằng thường nhân tu một kiếp).
Do đó, họ có thể ngay trong một đời công hạnh
viên măn chứng ngay Thượng Phẩm.
Nay với bản kinh này, tôi dùng các luận khác để
chứng minh ba bậc văng sanh thật sự là v́ phàm phu,
kiêm v́ thánh nhân:
* Phẩm Tất Thành Chánh Giác (ắt thành Chánh Giác) trong
kinh này có những câu kệ như sau: “Linh bỉ chư quần sanh, trường dạ vô
ưu năo, xuất sanh chúng thiện căn, thành tựu Bồ
Đề quả. Ngă nhược thành Chánh Giác, lập danh
Vô Lượng Thọ. Chúng sanh văn thử hiệu, câu
lai ngă sát trung, như Phật kim sắc thân, diệu tướng
tất viên măn” (Khiến các quần sanh ấy, đêm dài
không ưu năo, xuất sanh các thiện căn, thành tựu quả
Bồ Đề. Nếu tôi thành Chánh Giác, lập hiệu Vô
Lượng Thọ. Chúng sanh nghe hiệu ấy, đều
sanh trong nước tôi, thân sắc vàng như Phật, diệu
tướng đều viên măn).
Bốn câu đầu nói lên nguyên do phát khởi đại
nguyện: Muốn cho hết thảy chúng sanh trong đêm dài
tăm tối được ĺa các ưu bi khổ năo, xuất
sanh căn lành thành tựu Bồ Đề. Ta thấy rơ Ngài thật
sự muốn cứu tế khắp hết thảy những
phàm phu đầy rẫy phiền năo c̣n trong đêm dài
tăm tối, khiến cho họ phát sanh thiện căn.
Bốn câu kệ kế tiếp nói đến pháp Ngài
dùng để phổ độ: “Chúng
sanh văn thử hiệu, câu lai ngă sát trung” (Chúng sanh nghe
danh hiệu này, đều sanh trong nước ta). Các chúng
sanh ấy cũng chính là quần sanh c̣n trong đêm dài ưu
năo. Bởi vậy, Thiện Đạo đại sư mới
bảo: “Ba bậc chín phẩm
toàn là v́ bọn phàm phu ngũ trược sau khi Phật nhập
diệt”.
Hai câu kệ cuối cùng: “Như
Phật kim sắc thân, diệu tướng tất viên măn” (Thân
sắc vàng như Phật, diệu tướng đều
viên măn) cho thấy phàm phu ưu năo một khi đă sanh cơi
kia th́ đều được chân thân kim sắc, diệu
tướng viên măn đầy đủ giống như Phật.
Tiếp đó, kinh c̣n nói: “Diệc
dĩ đại bi tâm, lợi ích chư quần phẩm, ly
dục thâm chánh niệm, tịnh huệ tu phạm hạnh”
(Cũng dùng tâm đại bi, lợi ích các quần phẩm.
Ly dục, chánh niệm sâu, tịnh huệ tu phạm hạnh),
ư nói: Những người văng sanh khi hoa nở thấy Phật,
thân tâm thanh tịnh ngay, trí huệ bén nhạy, đại bi
vô lượng, tự giác, giác tha thành tựu Bồ Đề.
Đấy đều là do sức oai thần, sức bổn
nguyện, nguyện trọn đủ, nguyện rơ ràng, kiên
cố, rốt ráo của A Di Đà Phật, nên mới có thể
khiến cho phàm phu trong đêm dài ưu năo đắc trí huệ
thanh tịnh, thân tâm như Phật. Rơ ràng là phàm phu mang tâm Đại Thừa
trong cơi này được Phật gia bị bèn văng sanh trong
thượng phẩm, đắc Vô Sanh Nhẫn th́ có chi là lạ?
Ngay câu đầu trong bài kệ tụng phát nguyện, tỳ-kheo
Pháp Tạng đă bảo: “Ngă lập
siêu thế chí” (Tôi lập chí siêu thế); những điều
vừa nói trên chính là chỗ siêu thế, lẽ nào lại
đem thói thường của mười phương
để luận bàn phẩm vị cơi Cực Lạc
ư?
Sách Vô Lượng Thọ Kinh Sao c̣n bảo: “Ngài Cảnh Hưng bảo rơ ba bậc
chín phẩm là phàm phu văng sanh nên Ngài giảng rằng: ‘Một
là phàm tiểu văng sanh, hai là đại thánh văng sanh’. Chữ ‘phàm tiểu’ chỉ ba bậc
[văng sanh]”.
Sách Du Tâm An Lạc Đạo cũng viết: “Lại nữa, bốn
mươi tám nguyện trước hết là v́ hết thảy
pháp phàm phu, rồi mới kiêm v́ tam thừa thánh nhân. Do vậy,
phải biết ư chỉ của tông Tịnh Độ là ‘vốn
v́ phàm phu, kiêm v́ thánh nhân”.
Hơn nữa, ngay trong câu đầu của phẩm này
đă bảo: “Thập
phương thế giới chư thiên nhân dân, kỳ hữu
chí tâm nguyện sanh bỉ quốc, phàm hữu tam bối”
(Nói chung, chư thiên, nhân dân trong mười phương thế
giới chí tâm nguyện sanh cơi kia th́ gồm có ba bậc).
Kinh nói cả ba bậc (tam bối) chỉ là chư thiên,
nhân dân trong mười phương, chẳng hề nói họ
là Bồ Tát hay Thanh Văn. Như vậy, ba bậc
được nêu trong kinh này trước hết là nhắm
đến phàm phu, nhưng trong kinh cũng nói kèm đến
thánh nhân như phẩm Bồ Tát Văng Sanh nói các hàng Bồ Tát
trong mười phương thế giới “đương văng sanh giả,
câu thuyết kỳ danh, cùng kiếp bất tận” (những
kẻ sẽ được văng sanh; nếu chỉ nêu danh
hiệu của họ th́ hết cả kiếp cũng chẳng
thể hết nổi).
“Xả gia, khí dục, nhi tác
sa-môn” (Bỏ nhà, ĺa dục, làm sa-môn): “Xả gia” là xuất gia, “tác sa-môn” là trở thành Tăng. Tỳ Bà Sa Luận
nói: “Nhà là nhân duyên phiền năo.
Xuất gia là để diệt cấu lụy nên phải
xa ĺa [nhà cửa]”. Pháp sư Huyền Uẩn cũng bảo:
“Xuất gia tạo ác rất
khó như thuyền lướt trên đất; tại gia
gây lỗi thật dễ như
thuyền buồm trôi trên biển. Lại nữa, xuất
gia tu đạo dễ dàng như thuyền buồm bơi
trên biển; tại gia tu phước
thật khó như thuyền đi trên cạn. Nhưng có kẻ
tâm xuất gia mà thân chẳng xuất gia, có kẻ thân xuất
gia tâm chẳng xuất gia. Nay
cả thân lẫn tâm đều phải xuất gia nên mới
bảo bỏ nhà, ĺa dục”.
Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận
cũng bảo: “Hết thảy
chúng sanh do khát ái nên có huyễn thân. Do huyễn thân nên có cơi
nước. Bỏ nhà ĺa dục th́ khát ái thanh tịnh nên cơi nước
cũng thanh tịnh. Kinh Đại Bát Nhă nói: ‘Bồ Tát Ma Ha Tát
chí tánh háo du chư Phật quốc độ, ưng viễn
ly xuất gia’ ([Nếu] Bồ Tát Ma Ha Tát có ḷng ham muốn chính
ḿnh sẽ đến được các cơi nước Phật
th́ phải nên viễn ly hạnh tại gia). Như vậy, xuất gia là chánh nhân Tịnh
Độ v́ viễn ly bất tịnh”.
Trong sách Du Tâm An Lạc Đạo, đại sư Hải
Đông Nguyên Hiểu đời Đường đă viết:
“Kinh Vô Lượng Thọ
nói đến nhân [văng sanh] của ba bậc. Bậc thượng
gồm năm câu:
- Một là ‘bỏ nhà ĺa dục
trở thành sa-môn’. Câu này chỉ rơ phương tiện phát
khởi chánh nhân.
- Hai là ‘phát Bồ Đề
tâm’, đấy chính là chánh nhân.
- Ba là ‘chuyên niệm
đức Phật kia’. Đấy là tu Quán.
- Bốn là ‘làm các công đức’,
đấy là khởi hạnh. Quán và Hạnh để trợ
giúp cho nghiệp được viên măn (Sư Nguyên Hiểu
coi Niệm Phật là trợ nghiệp; thuyết này chưa
ổn, trong phần bàn về tông thú của kinh, chúng ta
đă bàn, ở đây không nhắc lại).
- Năm là ‘nguyện sanh cơi
kia’. Đây chính là nguyện, bốn điều trên là hạnh.
Hạnh nguyện ḥa hợp mới được văng
sanh”.
Trong phần trên, Khởi Tín Luận đă bảo xuất
gia là chánh nhân của Tịnh Độ, Nguyên Hiểu đại
sư lại coi xuất gia chỉ là phương tiện
để phát khởi chánh nhân. Hai thuyết hơi khác nhau,
nhưng xét ra thuyết của ngài Nguyên Hiểu ổn thỏa,
thích đáng hơn!
Xét theo Quán kinh, trong cả ba phẩm Thượng chẳng
thấy nói phải xuất gia ; riêng trong phần Trung Phẩm
Thượng Sanh có bảo “tu
hành chư giới” (tu hành
các giới), Trung Phẩm Trung Sanh có nói: “Nhược nhất nhật nhất
dạ tŕ Sa Di Giới, nhược nhất nhật nhất
dạ tŕ Cụ Túc Giới”
(Nếu một ngày một đêm tŕ giới Sa Di, hoặc một
ngày một đêm tŕ Cụ Túc Giới). Trong cả
chín phẩm của kinh ấy, chỉ mỗi hai phẩm
trên nói rơ là xuất gia. Riêng kinh này khác hẳn, trong bậc
Thượng bảo là xuất gia, trong bậc Trung lại
bảo “bất năng hành tác
sa-môn” (chẳng thể
hành hạnh sa-môn). Ấy là do chúng sanh cơ duyên vô
lượng sai khác, sự tu hành lúc c̣n tu nhân cũng thiên sai
vạn biệt, mỗi người mỗi khác, chẳng ai
giống nhau. Tôi trộm nghĩ: Kinh chỉ phân chia các phẩm
vị một cách sơ lược để giảng
sơ về thứ bậc; đây chỉ là tùy bệnh cho
thuốc, tùy cơ thuyết pháp, nên chúng ta chẳng nên câu nệ
một chiều, chấp chết cứng vào văn tự.
Tôi trộm đoán rằng trong pháp hội Vô Lượng Thọ,
ngài A Nan là đương cơ, lại có một vạn
hai ngàn vị đại tỳ-kheo, năm trăm vị tỳ-kheo-ni
hiện diện. Các bậc đại đức xuất
gia như vậy đều đáng dự vào hạng văng
sanh bậc Thượng.
Vả lại, kinh này chính là bộ kinh đệ nhất
của Tịnh tông nên những điều dạy trong kinh
này đều là khuôn phép chánh tông: Bậc xuất gia tu
được văng sanh bậc Thượng là chuyện hợp
lẽ thường t́nh nên đức Phật thuận theo
nhân duyên ấy mà nói người văng sanh trong bậc Thượng
là bậc xuất gia, ĺa dục, tu hạnh sa-môn.
Quán kinh khác hẳn kinh này: Đương cơ trong pháp hội
ấy là Vy Đề Hy phu nhân, A Nan và Mục Liên chỉ đứng
hầu hai bên đức Phật; Thích, Phạm chư thiên
đứng trên không đổ mưa hoa [cúng dường].
Trong hội chỉ có hai vị A Nan và Mục Liên là bậc
tỳ-kheo đại quyền thị hiện, không có bậc
xuất gia nào khác. Trong pháp hội, bậc đương
cơ nghe pháp và hàng văng sanh bậc Thượng chủ yếu
là những người tại gia như Vy Đề Hy phu nhân
v.v… nên Phật ứng theo cơ duyên ấy chẳng nói
đến chuyện xuất gia trong phần giảng về
Thượng Phẩm văng sanh.
Quán kinh cũng dạy: “Vy
Đề Hy dữ ngũ bách thị nữ, văn Phật
sở thuyết, ứng thời tức kiến Cực Lạc
thế giới quảng trường chi tướng, đắc
kiến Phật thân cập bỉ nhị Bồ Tát, tâm sanh
hoan hỷ, thán vị tằng hữu, hoát nhiên đại ngộ,
đăi Vô Sanh Nhẫn. Ngũ bách thị nữ, phát A Nậu
Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề tâm, nguyện sanh bỉ
quốc. Thế Tôn tất kư, giai đương văng sanh.
Sanh bỉ quốc dĩ, hoạch đắc Chư Phật
Hiện Tiền tam-muội, vô lượng chư thiên, phát
Vô Thượng Đạo Tâm” (Vy Đề Hy và năm trăm thị nữ nghe lời
Phật dạy, ngay lập tức thấy được
tướng rộng lớn của thế giới Cực
Lạc, được thấy thân Phật và thân hai vị
Bồ Tát, tâm sanh hoan hỷ, khen là chưa từng có, hoát
nhiên đại ngộ, đạt Vô Sanh Nhẫn. Năm
trăm thị nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng
Chánh Giác, nguyện sanh cơi kia. Đức Thế Tôn thọ kư họ
sẽ đều được văng sanh. Sanh trong nước
ấy rồi sẽ đắc Chư Phật Hiện Tiền
tam-muội. Vô lượng chư thiên phát Vô Thượng Đạo
Tâm).
Ta thấy rơ, trong pháp hội Quán kinh, bậc
đương cơ toàn là căn khí Đại Thừa, lại
đều là hạng tại gia phát tâm. Những người
như thế chắc chắn là hạng văng sanh trong bậc
Thượng.
Vả lại, Vy Đề Hy phu nhân chứng đắc Vô
Sanh Pháp Nhẫn ngay trong hiện đời nên ắt phải
thuộc bậc Thượng Phẩm Thượng Sanh
nơi cơi Cực Lạc. Vy Đề Hy là phụ nữ tại
gia lại chứng đắc pháp nhẫn ngay trong hiện
đời, Thượng Phẩm văng sanh; đủ chứng
tỏ người văng sanh trong bậc Thượng chẳng
phải chỉ hạn cuộc trong hạng xuất gia,
cũng như chứng tỏ diệu pháp Tịnh tông phá tan
mọi quy cách, chí viên, cực đốn chẳng thể
nghĩ bàn.
Hơn nữa, sách Báo Ân Luận có nói: “Ông Lưu Di Dân ba lượt thấy Phật,
[được Phật] dùng áo phủ lên, [được]
tay Ngài xoa đầu, tự thấy ḿnh thuộc về
Thượng Phẩm, nhưng ông chẳng phải là bậc
xuất gia. Với chư tổ của Liên Tông và các vị
Duy Ma, Hiền Hộ v.v… hết
thảy các bậc văng sanh danh đức tăng lẫn tục,
ta đều có thể dựa theo đó mà suy vậy”. Đời
Tấn, ông Lưu Di Dân hợp cùng ngài Huệ Viễn niệm
Phật ở Lô Sơn, được văng sanh trước
cả ngài Huệ Viễn. Ngài Huệ Viễn lúc sắp tịch,
vừa xuất định thấy A Di Đà Phật thân chật
cả hư không. Trong viên quang của Ngài có các hóa Phật,
Quán Âm, Thế Chí đứng hầu hai bên. Lại thấy
ḍng nước tỏa quang minh chia làm mười bốn
nhánh, cùng chảy lên rót xuống, diễn thuyết các âm Khổ,
Không, Vô Thường, Vô Ngă. Phật bảo ngài Huệ Viễn:
“Ta do bổn nguyện lực
nên đến an ủi ông; sau bảy ngày nữa, ông sẽ
sanh về cơi ta”. Tổ lại thấy, những vị
trong Liên Xă đă văng sanh trước như các vị Phật
Đà Da Xá, Huệ Tŕ, Huệ Vĩnh, Lưu Di Dân v.v… đều
đứng hầu bên Phật, bước đến bảo:
“Sư phát tâm sớm nhưng
sao về muộn thế?” Lúc c̣n sống, ông Lưu Di Dân
ba lượt thấy Phật; sau khi tịch theo Phật
đến đón ngài Huệ Viễn. Đấy là một chứng
cớ chứng tỏ cư sĩ cũng có thể văng sanh
trong Thượng Phẩm.
Trong kinh Hoa Nghiêm, hàng tại gia chiếm đa số
trong năm mươi ba vị thiện tri thức của
Thiện Tài đồng tử. Trong Mật Tông, tổ
sư phái Cát Cư (Kargyupa) là cư sĩ (ngài Mă Nhĩ Ba
(Marpa)). Do tổ sư là hàng bạch y nên phái ấy thường
được gọi là Bạch Giáo. Cư sĩ Duy Ma chính
là Kim Túc Như Lai thị hiện. Mười sáu vị Hiền
Hộ Chánh Sĩ đều là tại gia Bồ Tát, là
thượng thủ hàng Bồ Tát trong hội này. Do vậy,
ta chớ nên chấp vào tướng tại gia hay xuất
gia mà sanh phân biệt!
Kinh này bảo Thượng Phẩm văng sanh là hạng xuất
gia, ĺa dục; Quán kinh chẳng hề nói Thượng Phẩm
văng sanh phải là xuất gia. Vy Đề Hy phu nhân là nữ
nhân tại gia lại được Thượng Phẩm
văng sanh; năm trăm thị nữ cũng Thượng Phẩm
văng sanh.
Thật ra, hai kinh chẳng hề mâu thuẫn với
nhau v́ Vy Đề Hy phu nhân đă mang tâm xuất gia. Ví dụ
như ở Trung Hoa, phương Nam coi gạo là thực phẩm
chủ yếu, phương Bắc coi lúa ḿ là thực phẩm
chính. Gạo, ḿ tuy khác nhưng đều có công dụng làm
thực phẩm chủ yếu nên cũng như nhau. V́ vậy,
người tại gia mang tâm xuất gia cũng có thể
sanh trong Thượng Phẩm. Trong Quán kinh, sau bậc
Thượng Phẩm, Trung Trung Phẩm là người xuất
gia; kinh Vô Lượng Thọ dạy người tại
gia cũng có thể sanh trong phẩm này. Phối hợp cả
hai kinh ta mới dễ nhận ra ư nghĩa chân thật. V́ vậy,
phải nên khéo hiểu thánh tâm, chớ đừng chấp
chết cứng vào văn tự. Nếu hiểu câu “xả gia, khí dục” (bỏ
nhà, ĺa dục) là chú trọng tại tâm xuất gia th́ ư chỉ
cả hai kinh thật chẳng sai khác.
Câu “phát Bồ Đề
tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật” (phát
Bồ Đề tâm, một dạ chuyên niệm A Di Đà Phật)
chính là cương lănh của toàn bộ kinh này. Câu này đă
được bàn tỉ mỉ trong phần nói về tông
thú. Sách Di Đà Yếu Giải coi “tín,
nguyện, tŕ danh” là tông của kinh Tiểu Bổn; bản
chú giải này lại dùng “phát Bồ
Đề tâm, một bề chuyên niệm” làm Tông, nhưng vẫn
cùng một ư chỉ. Tín - nguyện chính là một trong ba tâm
nói trong Quán kinh: Một là chí thành tâm, hai là thâm tâm, ba là hồi
hướng phát nguyện tâm. Theo Tứ Thiếp Sớ:
1. Chí thành tâm là chân thật tâm,
2. Thâm tâm là thâm tín tâm. Thâm tín tâm có hai điều:
- Một là tin quyết định một cách sâu xa rằng
thân ḿnh hiện tại là phàm phu tội ác, từ bao kiếp
đến nay thường ch́m đắm, lưu chuyển
chẳng có duyên ǵ để xuất ly.
- Hai là tin quyết định một cách sâu xa rằng
bốn mươi tám nguyện của A Di Đà Phật nhiếp
thọ chúng sanh, không c̣n lo âu, ngờ vực ǵ. Nương
theo nguyện lực của Ngài, quyết định
được văng sanh.
3. Hồi hướng phát nguyện tâm là từ trong tâm
tin tưởng sâu xa chân thật, đem hết thảy thiện
căn đă tu hồi hướng nguyện sanh cơi kia.
Do đó, ta thấy rằng “tín
nguyện” sách Yếu Giải nói đó chính là ba tâm của
Quán kinh, mà ba tâm của Quán kinh lại chính là Bồ Đề
tâm nói trong kinh này. “Phát Bồ Đề
tâm” nói trong kinh này chính là “tín
nguyện” nói trong Di Đà Yếu Giải.
Hơn nữa, “nhất
hướng chuyên niệm” chính là Tŕ Danh. Do hai bản Đại,
Tiểu A Di Đà Kinh nguyên lai chỉ là một kinh nên tông của
hai kinh ắt phải đồng nhất. Trong phần giảng
về tông thú đă giảng kỹ về “phát Bồ Đề tâm” nên ở đây chẳng bàn
nhiều. Tôi chỉ trích vài đoạn trong phần luận
về Bồ Đề tâm của An Lạc Tập để
độc giả tham khảo thêm. An Lạc Tập do ngài Đạo
Xước soạn, bàn luận những điểm rất
tinh yếu.
Dưới đây tôi sẽ trích nguyên văn, có chú giải
đôi chút nhằm giảng rơ phần nào lời luận. Đạo
Xước đại sư đă lập ra bốn điều
nghị luận quanh việc phát Bồ Đề tâm:
* Một là bàn về công dụng của Bồ Đề
tâm. Sách An Lạc Tập viết:
“Thứ nhất là nêu lên công
dụng của Bồ Đề tâm. Đại Kinh bảo phàm muốn
văng sanh Tịnh Độ th́ phải lấy Bồ Đề tâm
làm gốc. V́ sao? Bồ Đề chính là tên gọi của Vô
Thượng Phật Đạo. Nếu muốn phát tâm làm Phật th́ tâm ấy rộng
lớn trùm khắp pháp giới. Tâm ấy rốt ráo, ngang với
hư không. Tâm ấy lâu xa đến cùng tận đời
vị lai. Tâm ấy trọn khắp,
ĺa nhị thừa chướng. Nếu phát được
tâm ấy th́ khuynh đảo được sanh tử vô thỉ
và trầm luân trong các cơi. Đem tất cả công đức hồi
hướng Bồ Đề th́
đều có thể đạt tới Phật quả, chẳng
bị diệt mất”.
Tôi xin tạm giải thích thô thiển như sau: Trước
hết, luận dẫn Đại kinh để nói lên công dụng
của Bồ Đề tâm. “Đại kinh” chính là kinh Vô Lượng
Thọ. Các vị Tịnh Ảnh, Đạo Xước, Thiện
Đạo đều gọi kinh Vô Lượng Thọ là Đại
kinh; ngài Thiên Thai gọi là Đại Bổn.
Tâm
Bồ Đề chính là cái gốc để văng sanh Tịnh Độ. Nếu chẳng
phát được tâm này th́ dẫu cứ siêng tu nhưng
cũng khác nào nước chẳng có nguồn, cây không có cội
nên trọn chẳng thể văng sanh được. Từ
chữ “v́ sao” trở đi
là lời giải nghĩa.
Bồ Đề nghĩa là Giác. Vô Thượng Giác chính là
Phật. V́ vậy, Bồ Đề là danh xưng khác của Vô
Thượng Phật Đạo. “Phát
tâm làm Phật” nghĩa là phát khởi cái tâm “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.
Phát khởi được tâm như thế th́ ta vốn
đă là Phật, cái tâm “làm Phật”
này vốn sẵn đă là cái tâm “là
Phật” nên luận nói tiếp: Tâm này “rộng lớn”; về chiều dọc th́ suốt
cả ba đời, về chiều ngang th́ trọn khắp
hư không. “Rốt ráo” là
chân tế rốt ráo, là tột cùng của nguồn pháp. Chữ
“lâu xa” diễn tả tâm ấy
sáng suốt, lặng lẽ, chân thường, vĩnh viễn
thoát khỏi sanh diệt. “Trọn
khắp” là đầy đủ hết thảy, không thiếu,
không dư. Tâm như vậy có công đức chẳng thể
nghĩ bàn.
Nếu phát được tâm ấy th́ có thể dẹp
sạch mối sanh tử từ vô thỉ đến nay
cũng như sự trầm luân trong các cơi. Nếu lại
có thể đem công đức hồi hướng Bồ Đề
th́ quyết định chứng được Phật quả.
Tất cả công đức ấy nhất định chẳng
luống uổng, cũng chẳng bị tổn thất hay
diệt mất. Lời dạy này của tổ Đạo
Xước đă chỉ thẳng vào ngay công dụng của
Bồ Đề tâm: Vượt ra ngoài khả năng suy lường,
hiểu biết của chúng ta, thật là vi diệu khó
nghĩ bàn.
Xin lại dẫn Bồ Đề Tâm Luận của Mật
tông để chứng minh thêm; luận nói: “Tâm Bồ Đề này chứa đựng hết thảy
công đức của Bồ Tát. Nếu tu chứng xuất
hiện th́ làm đạo sư cho hết thảy. Nếu
quay trở về gốc th́ chính
là cơi nước Mật Nghiêm. Chẳng đứng dậy
khỏi ṭa mà có thể thành tựu hết thảy Phật
sự”. Công dụng của Bồ Đề tâm thật chẳng
thể nghĩ bàn.
* “Thứ hai là nêu lên Danh và
Thể của Bồ Đề, nhưng Bồ Đề có đến
ba thứ:
Một là Pháp Thân Bồ Đề,
hai là Báo Thân Bồ Đề, ba là Hóa Thân Bồ Đề.
a. Pháp Thân Bồ Đề chính
là Chân Như, Thật Tướng, Đệ Nhất Nghĩa
Không, tự tánh thanh tịnh. Thể không uế nhiễm, lư
xuất thiên chân, chẳng cần phải tu thành nên gọi
là Pháp Thân; là bản thể của Phật đạo nên gọi
là Bồ Đề.
b. Báo thân Bồ Đề là tu
đủ vạn hạnh, cảm được
cái quả báo thân Phật. Do quả tương ứng cái
nhân nên gọi là Báo Thân. Viên thông vô ngại nên gọi là Bồ
Đề.
c. Hóa Thân Bồ Đề là từ
Báo khởi Dụng, hướng đến muôn vàn căn
cơ nên gọi là Hóa Thân, lợi ích chúng sanh một cách viên
thông nên gọi là Bồ Đề”.
Xin giải thích: Thứ hai là bàn về Danh và Thể của
Bồ Đề, chia ra thành Pháp, Báo, Hóa ba thân để luận.
Pháp Thân Bồ Đề chính là Chân Như, Thật Tướng,
Đệ Nhất Nghĩa Không. Câu “tự
tánh thanh tịnh, thể không nhiễm uế” chính là
như Lục Tổ bên Thiền Tông nghe câu “vô trụ sanh tâm” chợt đại ngộ, bèn
nói: “Nào ngờ tự tánh vốn
tự thanh tịnh”. Ư nghĩa của câu “lư xuất thiên chân, chẳng cần phải tu thành”
giống như câu “nào ngờ tự
tánh, vốn tự đầy đủ” (“Lư xuất thiên chân” nghĩa là
lư tự nhiên như vậy, khác nào những chân lư hiển
nhiên trong trời đất). Do vốn tự đầy
đủ nên nào cần phải tu thành. Ngũ Tổ nghe nói
như thế bèn trao y bát, lập ngài Huệ Năng làm Tổ
thứ sáu. Ngài cũng nói: “Chẳng
biết bản tâm th́ học pháp vô ích. Nếu biết rơ bản
tâm của chính ḿnh, thấy tự tánh của chính ḿnh th́
đáng gọi là trượng phu, thiên nhân sư, Phật”.
Lúc ấy, đại sư Huệ Năng c̣n chưa xuống
tóc, vẫn c̣n là người làm việc nặng nhọc
trong chùa; một phen phát ngộ tâm này bèn thăng ngay lên
địa vị tổ sư. Đây chính là như Bồ Đề
Tâm Luận nói: “Nếu tu chứng
xuất hiện th́ làm đạo sư cho hết thảy…
Chẳng đứng dậy khỏi ṭa mà có thể thành tựu
hết thảy Phật sự”.
Tâm Bồ Đề vượt thoát phàm t́nh, công dụng khó
nghĩ tưởng. Tâm tánh như vậy được gọi
là Pháp Thân. Tâm tánh ấy là bản thể của Phật
đạo nên gọi là Bồ Đề.
Tiếp đó, Ngài giảng về Báo Thân. Pháp Thân vốn
sẵn đủ chính là Tánh Đức. Có công Tu Đức
th́ Tánh Đức mới được hiển lộ. V́
vậy, phải tu đủ vạn hạnh, công đức
trang nghiêm mới đắc báo thân Phật quả. Báo Thân
viên minh trọn đức, thông đạt vô ngại nên bảo
là “viên thông vô ngại”, nên gọi
là “Báo Thân Bồ Đề”. Từ
Báo Thân hiện ra Hóa Thân, tùy căn cơ mà hóa hiện, diệu
dụng vô cùng nên bảo là “lợi
ích chúng sanh một cách viên thông” và gọi là Hóa Thân Bồ
Đề.
* “Thứ ba là chỉ rơ phát
tâm có sai khác. Nay nói về hành giả tu nhân phát tâm th́ phải
có đủ ba điều:
1. Một là cần phải
hiểu thấu hữu, vô, tự tánh thanh tịnh từ
xưa đến giờ.
2. Hai là duyên tu vạn hạnh,
tám vạn bốn ngàn Ba La Mật môn v.v…
3. Ba là đại từ bi
làm gốc, luôn lấy việc độ sanh làm bản hoài
Ba nhân ấy tương ứng
với Đại Bồ Đề nên gọi là phát tâm Bồ Đề.
Lại như Tịnh Độ
Luận (tức là Văng Sanh Luận) bảo:
‘Nay phát Bồ Đề tâm
chính là tâm nguyện làm Phật. Tâm nguyện làm Phật chính
là tâm độ chúng sanh. Tâm độ chúng sanh chính là tâm nhiếp thủ chúng sanh sanh vào
cơi có Phật. Nay nguyện sanh Tịnh Độ th́ trước
hết cần phải phát Bồ Đề tâm”.
Xin giải thích: Phát tâm có sai khác, nghĩa là có hai loại
phát tâm:
- Trước hết, trong khi c̣n tu nhân cần phải
phát khởi ba thứ tâm sau đây:
1. Một là cần phải hiểu thấu Hữu, Vô,
và tự tánh vốn sẵn thanh tịnh từ xưa đến
nay.
Tự tánh thanh tịnh đă giải thích trong phần
trước. Câu “hiểu thấu
Hữu, Vô” chính là mấu chốt huyền nhiệm để
giải ngộ cái tâm. “Vô”
chính là như những chữ “vô”
được nêu lên liên tục từ “vô nhĩ căn” cho đến “vô trí diệc vô đắc” trong Tâm kinh; và cũng
giống như kinh Đại Bát Niết Bàn dạy: “Như thị nghịch thuận
nhập siêu thiền dĩ, phục cáo đại chúng, ngă
dĩ Phật nhăn, biến quán tam giới nhất thiết
chư pháp, vô minh bổn tế, tánh bổn giải thoát.
Ư thập phương cầu, liễu bất khả
đắc, suy bổn vô cố, sở nhân chi diệp, giai tất
giải thoát. Vô minh giải thoát cố, năi chí lăo tử, giai
đắc giải thoát. Dĩ thị nhân duyên, ngă kim an trụ
Thường Tịch Diệt Quang, danh Đại Niết
Bàn” (Lần lượt
thuận, nghịch nhập siêu Thiền Định như
thế xong, lại bảo đại chúng: ‘Ta dùng Phật
nhăn xem khắp hết thảy các pháp trong tam giới, tánh của
vô minh bổn tế vốn là giải thoát, t́m khắp
mười phương trọn chẳng thể được.
Do gốc là không, nên đối với cành lá đều
được giải thoát. Do giải thoát khỏi vô minh
nên cho đến với lăo tử đều được
giải thoát. Do nhân duyên ấy, ta nay an trụ trong
Thường Tịch Diệt Quang, gọi là Đại Niết
Bàn). Đây chính là lời dạy từ bi tha thiết tối
hậu của đức Thế Tôn. Đại sư Vĩnh
Minh đă nguyện trong vô lượng kiếp sẽ lột
da làm giấy, chẻ xương làm bút, lấy máu làm mực
biên chép đoạn văn trên để báo đáp từ ân.
Vô Minh vốn là không, nên làm ǵ có cành lá; hiểu vọng vốn
là không, nên chân tánh tự hiển lộ. Đó là ư nghĩa cốt
yếu của chữ “biết Vô”. C̣n “biết Hữu”
là như nhà Thiền thường bảo: “Cần phải biết Hữu th́ mới đắc”.
Trong Tâm Vương Minh, ngài Phó Đại Sĩ cũng bảo:
“Muối ḥa trong nước,
nước vẫn trong veo, quyết định là có,
nhưng chẳng thấy h́nh dáng. Tâm vương cũng thế:
Ngụ trong thân thể, ứng
dụng ra ngoài, thích ứng theo từng t́nh huống tự
tại vô ngại, hoàn thành các việc”. Bài minh đă dùng
thí dụ để chỉ rơ ai cũng tự có tâm
vương. Tâm vương quyết định là có, tùy
theo sự vật, t́nh huống phát huy diệu dụng,
nhưng chẳng thấy được h́nh dáng của tâm
vương.
Kinh Niết Bàn c̣n dạy: “Nhất
thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh” (Hết thảy chúng sanh đều
có Phật tánh). “Biết Hữu”
là biết có Phật Tánh vậy.
Sách Tâm Đăng Lục bảo: “Do đó, cổ đức đều muốn ai
cũng phải biết Hữu. Nếu chẳng biết Hữu
th́ toàn là hư vọng”. Trên đây tôi đă giải thích
thế nào là “biết Hữu”
và “biết Vô” để giảng
câu “thấu đạt Hữu,
Vô”. “Hiểu thấu” c̣n
có nghĩa là hiểu rơ cái tâm, thấu đạt cái gốc,
hiểu rơ tự tánh vốn sẵn thanh tịnh từ
xưa đến nay.
Tánh ấy giống như trực tâm được nói
trong Đại Thừa Khởi Tín Luận. Trực tâm là chánh
niệm pháp Chân Như.
2. Hai là “duyên tu vạn hạnh”,
điều này tương đương với thâm tâm
trong bộ luận trên: thích tu hết thảy các hạnh
lành.
3. Ba là “đại từ bi
làm gốc” tương đương với đại
bi tâm trong luận Khởi Tín: muốn dẹp tan hết nỗi
khổ của chúng sanh.
Ba thứ phát tâm như vậy tương
đương với ba tâm trong luận Khởi Tín nên bảo:
“Ba nhân ấy tương ứng
với Đại Bồ Đề”. V́ vậy, phát lên ba tâm ấy
chính là phát Đại Bồ Đề tâm.
- Tiếp đó, ngài Đạo Xước dẫn Tịnh
Độ Luận: Bồ Đề tâm chính là tâm nguyện thành
Phật độ sanh, tâm nhiếp thủ chúng sanh sanh về
Tịnh Độ.
Thoạt nh́n, nếu so với tâm trước th́ tâm này
dễ phát khởi hơn, nhưng thật ra chẳng phải
như vậy. Bởi v́ pháp môn Văng Sanh Tịnh Độ quả
thật là pháp khó tin. Tín tâm chưa sanh làm sao có thể phát
tâm nổi? Trong kinh A Di Đà, mười phương chư Phật
đă xưng tán đức Bổn Sư ở trong đời
Ngũ Trược “vị
chư chúng sanh thuyết thị nhất thiết thế
gian nan tín chi pháp” (v́ các
chúng sanh nói pháp hết thảy thế gian khó tin được
nổi). Phẩm Độc Lưu Thử Kinh (riêng
lưu lại kinh này) của kinh Vô Lượng Thọ
đây cũng bảo: “Nhược
văn tư kinh, tín nhạo thọ tŕ, nan trung chi nan, vô quá
thử nan” (Nếu nghe kinh này mà tin ưa, thọ tŕ
được th́ đó là điều khó nhất trong các
điều khó, không có ǵ khó hơn điều này). Rơ ràng là
có thể tin nổi pháp môn Tịnh Độ đă là một
điều khó khăn nhất trong các điều khó trong thế
gian!
Tin được pháp khó tin này th́ chính là đại trí.
Thuận theo tín tâm ấy phát khởi chí nguyện thành Phật
độ sanh cùng chứng Tịnh Độ; đó chính là Bồ
Đề tâm. Chỉ cần chân thật tin nhận th́ tự
nhiên phát được những tâm như trên đă nói. Đây
lại chính là phương tiện thù thắng của Tịnh
Tông.
Sách Di Đà Yếu Giải bảo: “Tin sâu phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề”.
Bởi vậy, người niệm Phật cần
phải sớm sanh tín, nguyện; v́ đó chính là phát tâm Bồ
Đề vậy.
* “Thứ tư là vấn
đáp, giải thích.
Hỏi: Nếu tu đủ
muôn hạnh cảm được Bồ Đề, được
thành Phật quả, th́ sao kinh Chư Pháp Vô Hành lại bảo:
‘Nhược nhân cầu Bồ Đề, tức vô hữu
Bồ Đề, thị nhân viễn Bồ Đề, do
như thiên dữ địa’ (Nếu ai cầu Bồ Đề
th́ chẳng có Bồ Đề. Người
ấy cách xa Bồ Đề như trời với đất)”
Xin giải thích: Có kẻ dựa vào kinh Chư Pháp Vô Hành
dạy: Nếu ai cầu Bồ Đề th́ chẳng có Bồ
Đề để đắc, sự mong cầu ấy càng
cách xa Bồ Đề như trời cách xa đất. Nếu
đă là như vậy, th́ nay tại sao lại bảo phải
tu vạn hạnh để đạt được quả
Bồ Đề ngơ hầu thành Phật? Dưới đây là lời
đáp của Tổ:
“Chánh thể của Bồ Đề
là lư cầu vô tướng. Nay dùng tướng để cầu
th́ chẳng đúng với Thật Lư nên bảo là người
ấy xa cách. V́ vậy, kinh dạy chẳng thể dùng tâm,
chẳng thể dùng thân để
đắc Bồ Đề”.
Xin giải thích: Bản thể chân chánh của Bồ Đề
khế hợp với Lư nên không có hết thảy tướng.
“Lư” là Thật Tế lư thể, cũng chính là Chân Như Thật
Tướng. Hành nhân nếu dùng tướng để cầu,
ư mong cầu quả Bồ Đề và có pháp để cầu
Bồ Đề, th́ đều là pháp chấp, đều là tạo
tướng, nên tự xa ĺa Thật Tế lư thể. Do vậy,
mới bảo là “chẳng
đúng với thật lư”. V́ vậy, người ấy
xa cách Bồ Đề.
“Nay tuy biết tu hành cầu
văng sanh, hiểu biết rơ ràng Lư Thể là vô cầu,
nhưng chẳng hoại giả danh nên tu đủ các hạnh.
Do đó, sẽ cảm được Bồ Đề. V́ vậy, Trí Độ Luận bảo:
‘Nếu ai thấy Bát Nhă là bị
trói buộc. Nếu ai chẳng thấy Bát Nhă th́ cũng bị
trói buộc. Nếu ai thấy Bát Nhă th́ được giải
thoát, nếu ai chẳng thấy Bát Nhă th́ cũng được giải thoát’. Long Thọ Bồ Tát giảng:
‘Nếu ở trong ấy mà chẳng
ĺa được tứ cú[1]
th́ bị trói buộc. Ĺa tứ cú th́ được giải
thoát’. Nay muốn cầu
Bồ Đề th́ chỉ nên tu hành như thế, ấy chính
là chẳng hành mà hành. Chẳng hành mà hành là chẳng trái nghịch
đại đạo lư Nhị Đế”.
Xin giải thích: “Chẳng
hành mà hành” chính là vô cầu mà cầu. Tuy biết Lư Thể
là vô cầu, Bồ Đề chẳng thể đắc,
nhưng vẫn tu đủ vạn hạnh để cảm
Bồ Đề, khéo khế hợp với Trung Đạo nên có thể
cảm ứng, khế hợp.
Tiếp đó, sách An Lạc Tập dựa vào Tịnh Độ
Luận đề xướng: Phàm ai muốn phát tâm Vô
Thượng Bồ Đề th́ trước hết phải
xa ĺa ba pháp trái nghịch Bồ Đề môn:
“Một là môn nương vào
trí huệ, chẳng cầu tự vui do xa ĺa Ngă tâm, tham chấp
tự thân.
Hai là môn nương vào từ
bi, dẹp khổ cho hết thảy chúng sanh do xa ĺa tâm chẳng
an lạc chúng sanh.
Ba là môn nương vào
phương tiện, tâm
thương xót hết thảy chúng sanh do xa ĺa tâm cung kính,
cúng dường thân ḿnh.
Đó gọi là xa ĺa ba pháp trái
nghịch Bồ Đề môn”.
Xin giải thích: Ba thứ pháp trái nghịch được
nói trong luận chính là: Một là “ngă
tâm, tham chấp tự thân”, hai là “tâm không an lạc chúng sanh”, ba là “tâm cung kính cúng dường tự thân”. Cần phải
xa ĺa ba tâm này.
Sách An Lạc Tập viết tiếp: “Bồ Tát xa ĺa ba pháp trái nghịch Bồ Đề môn
như thế liền đắc ba pháp tùy thuận Bồ Đề
môn. Những ǵ là ba?
- Một là Vô Nhiễm Thanh Tịnh
tâm, do chẳng v́ thân ḿnh cầu các sự vui. Bồ Đề là chốn thanh tịnh
vô nhiễm, nếu v́ tự thân cầu sự vui th́ trái nghịch
với Bồ Đề môn. Do đó, tâm vô nhiễm thanh tịnh
là tùy thuận Bồ Đề môn.
- Hai là An Thanh Tịnh tâm, v́
dẹp trừ hết thảy khổ cho chúng sanh. Bồ Đề
là chốn thanh tịnh an ổn hết thảy chúng sanh; nếu
chẳng khởi tâm làm cho hết thảy chúng sanh được
ĺa cái khổ sanh tử th́ trái
nghịch với Bồ Đề môn. Do vậy, dẹp hết
thảy nỗi khổ của chúng sanh là tùy thuận Bồ
Đề môn.
- Ba là Lạc Thanh Tịnh
tâm v́ muốn cho hết thảy chúng sanh đắc đại
Bồ Đề, v́ để nhiếp thủ chúng sanh sanh về
cơi Phật ấy. Bồ Đề là chốn thường vui
một cách rốt ráo. Nếu chẳng làm cho hết thảy
chúng sanh được hưởng cái vui rốt ráo th́ trái nghịch
với Bồ Đề môn.
Nương vào đâu để
đạt được sự vui rốt ráo ấy? Cần
phải nương vào Đại Nghĩa Môn. Đại Nghĩa
Môn chính là cơi Phật An Lạc. V́ vậy, ta phải làm cho hết
thảy chúng sanh chuyên dốc chí nguyện sanh cơi kia, muốn
làm cho họ chóng chứng Vô Thượng Bồ Đề”.
Trên đây, trong lời luận về pháp trái nghịch
và tùy thuận Bồ Đề môn, thật ra ngài Đạo Xước
đă chỉ rơ sự sai khác giữa những pháp tùy thuận
và trái nghịch với phát tâm. Hễ đă phát tâm th́ phải
tu Tịnh nghiệp, thường phải nên lănh hội rốt
ráo, chớ tự trái nghịch Bồ Đề môn, trái nghịch
bổn nguyện, tự ḿnh chướng ngại việc
văng sanh của chính ḿnh.
Với tông chỉ “nhất
hướng chuyên niệm A Di Đà Phật”, sách Di Đà Yếu
Giải bảo: “Trong hết thảy
phương tiện, t́m lấy pháp thẳng chóng nhất,
pháp viên đốn nhất, th́ không có ǵ bằng pháp niệm
Phật cầu sanh Tịnh Độ. Lại trong hết thảy pháp niệm Phật, t́m lấy
pháp giản dị nhất, pháp ổn thỏa, thích đáng
nhất, th́ không ǵ bằng tín nguyện, chuyên tŕ danh hiệu”.
Sách c̣n viết: “A Di Đà Phật
là vạn đức hồng danh. Dùng danh hiệu để
chiêu cảm vạn đức th́ không công đức nào là
chẳng đạt được. Do đó, chấp tŕ danh hiệu là Chánh Hạnh,
chẳng cần phải tu các hạnh: quán tưởng, tham
cứu v.v…thật rất
giản dị, rất thẳng chóng”.
Sách Viên Trung Sao cũng nói: “Kinh
này dạy kẻ phàm phu sơ tâm chỉ cần có miệng
xưng niệm được, có tâm để tưởng
niệm được th́ đều tu được.
V́ vậy kinh này dạy ra pháp
môn hết sức đơn giản, hết sức dễ
dàng vậy”, “nếu chấp tŕ danh hiệu th́ chẳng luận
bận, rảnh, chẳng kể động, tịnh,
đi, đứng, nằm,
ngồi, đều tu được cả. Do vậy biết
kinh này dạy ra pháp môn hết sức thẳng tắt vậy”
và: “Pháp xưng danh chẳng lựa
hiền, ngu, chẳng phân biệt nam, nữ, dù giầu hay
nghèo, dẫu sang hay hèn cũng đều tu được.
V́ vậy, biết kinh này chỉ ra pháp môn nhiếp trọn
các căn cơ hết sức
rộng lớn vậy”.
Sách Du Tâm An Lạc Đạo cũng nói:
“Danh hiệu chư Phật
do vạn đức chung đúc thành. Chỉ cần niệm
được danh hiệu một đức Phật th́
trong một niệm ấy đă niệm đủ vạn
đức” và: “Vô thỉ ác
nghiệp từ vọng tâm sanh, công đức niệm Phật
từ chân tâm khởi. Chân tâm như mặt trời, vọng
tâm như bóng tối. Chân tâm vừa khởi, vọng tâm liền
mất như mặt trời
vừa mọc, các sự tối tăm đều tiêu”.
Sách An Lạc Tập c̣n dẫn kinh Quán Phật Tam Muội
như sau:
“Phật khuyến phụ
vương hành Niệm Phật tam-muội, phụ
vương bạch Phật:
- Phật địa quả
đức, Chân Như Thật Tướng, Đệ Nhất
Nghĩa không, hà nhân bất di đệ tử hành chi?
Phật cáo phụ
vương:
- Chư Phật quả
đức, hữu vô lượng thâm diệu cảnh giới,
thần thông, giải thoát, phi thị phàm phu sở hành cảnh
giới, cố khuyến phụ vương hành Niệm Phật
tam-muội.
Phụ vương bạch
Phật:
- Niệm Phật chi công, kỳ
trạng vân hà?
Phật cáo phụ
vương:
- Như Y Lan lâm,
phương tứ thập do-tuần, hữu nhất khỏa
Ngưu Đầu Chiên Đàn, tuy hữu căn nha, do vị
xuất thổ. Kỳ Y Lan lâm, duy xú vô hương. Nhược
hữu đạm kỳ hoa quả, phát cuồng nhi tử.
Hậu thời Chiên Đàn căn nha, tiệm tiệm sanh
trưởng, tài dục thành thụ, hương khí mạo
thịnh, toại năng cải biến thử lâm, phổ
giai hương mỹ. Chúng sanh kiến giả, giai sanh hy hữu
tâm.
Phật cáo phụ
vương:
- Nhất thiết chúng sanh,
tại sanh tử trung, niệm Phật chi tâm, diệc phục
như thị. Đản năng hệ niệm bất chỉ,
định sanh Phật tiền. Nhất đắc văng
sanh, tức năng cải biến nhất thiết chư
ác thành đại từ bi. Như bỉ hương thụ,
cải Y Lan lâm”
(Phật khuyên phụ vương hành Niệm
Phật tam-muội. Phụ vương bạch Phật:
- Quả đức của Phật địa
là Chân Như Thật Tướng, Đệ Nhất Nghĩa
Không, sao Phật chẳng dạy đệ tử hành theo?
Phật bảo phụ vương:
- Quả đức của chư Phật
có vô lượng cảnh giới thâm diệu, thần thông,
giải thoát, chẳng phải là cảnh giới của
phàm phu hành được, nên Phật khuyên phụ
vương hành Niệm Phật tam-muội.
Phụ vương bạch Phật: -
Công năng của niệm Phật ra sao?
Phật bảo: - Như giữa cánh rừng
Y Lan rộng đến bốn mươi do-tuần, có một
cây Ngưu Đầu Chiên Đàn tuy đă bén rễ, nảy
mầm, nhưng chưa trồi lên khỏi mặt đất,
rừng Y Lan ấy chỉ có mùi thối không thơm tho ǵ. Nếu
có kẻ nào ăn phải hoa quả của cây Y Lan sẽ
phát cuồng mà chết. Lúc sau, mầm cây Chiên Đàn dần
dần tăng trưởng, vừa sắp mọc thành cây
th́ mùi thơm đă ngào ngạt, đủ sức biến
đổi cả khu rừng đó thành ra thơm ngát cả.
Chúng sanh trông thấy sanh ḷng hy hữu.
Phật bảo phụ vương:
- Tâm niệm Phật của hết thảy
chúng sanh trong sanh tử cũng giống như thế. Chỉ
cần hệ niệm chẳng ngơi th́ quyết sẽ
sanh ở trước Phật. Một phen đă văng sanh liền
biến cải hết thảy các ác thành đại từ
bi như cây có mùi thơm kia biến cải cả rừng Y
Lan).
Rừng Y Lan vừa nói ví cho Tam Độc, Tam Chướng,
vô biên các tội trong thân chúng sanh. Chiên Đàn ví cho tâm niệm
Phật của chúng sanh. “Tài dục
thành thụ” (Vừa sắp
mọc thành cây) là hết
thảy chúng sanh chỉ cần niệm liên tục chẳng
ngơi th́ đạo nghiệp sẽ hoàn thành.
Kinh Đại Bi cũng dạy: “Nhất
xưng Phật danh, dĩ thị thiện căn, nhập
Niết Bàn giới, bất khả cùng tận” (Xưng danh hiệu Phật một
tiếng th́ do căn lành ấy nhập vào Niết Bàn giới
chẳng thể cùng tận).
Kinh Xưng Dương Chư Phật Công Đức
cũng nói: “Nhược hữu
đắc văn Vô Lượng Thọ Như Lai danh giả,
nhất tâm tín nhạo, tŕ phúng tụng niệm... kỳ nhân
đương đắc vô lượng chi phước,
vĩnh đương viễn ly tam đồ chi ách. Thọ
chung chi hậu, giai đắc văng sanh bỉ Phật sát
độ” (Nếu có kẻ
được nghe danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật
Như Lai mà nhất tâm tin ưa, tŕ, phúng[2] tụng
niệm… kẻ ấy sẽ được vô lượng
phước, sẽ vĩnh viễn xa ĺa ách nạn tam đồ.
Sau khi mạng chung đều được văng sanh trong
cơi đức Phật kia).
Kinh Văn Thù Bát Nhă cũng nói: “Chúng sanh ngu độn, quán bất năng giải,
đản linh niệm thanh tương tục, tự đắc
văng sanh” (Chúng sanh ngu độn,
chẳng thể hiểu được Quán, chỉ nên dạy
họ [giữ được] tiếng niệm liên tục
th́ sẽ tự được văng sanh).
Sách Tịnh Tu Tiệp Yếu c̣n khen ngợi pháp môn Niệm
Phật như sau: “Sáu chữ
thống nhiếp vạn pháp, một môn chính là phổ môn.
Toàn thể Sự là Lư, toàn thể vọng đều quy về
chân, hoàn toàn từ tánh khởi tu, hoàn toàn tu nơi tánh. Học rộng vốn là thâm
nhập, chuyên tu chính là tổng tŕ. Từng tiếng, từng
tiếng đánh thức chính ḿnh, từng niệm, từng
niệm chẳng ĺa Bổn Tôn”.
Sách c̣n viết: “Vô Lượng
Thọ Quang là Bổn Giác của ta. Khởi tâm niệm Phật
gọi là Thỉ Giác. Mượn y báo, chánh báo của Phật
để hiển lộ tự tâm của chính ḿnh. Thỉ
Giác, Bổn Giác chẳng rời nhau, thẳng tiến trên
con đường giác ngộ. Mới hơi trái nghịch
đă đọa vào vô minh”.
Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận
cũng nói: “Cần phải biết
rằng một pháp Tŕ Danh thật là giản yếu nhất. Hành giả lúc sơ phát tâm phải
chú trọng định khóa (thời khóa nhất định):
Mỗi ngày niệm một ngàn tiếng hoặc một vạn
tiếng, hoặc mười ức tiếng, từ ít
đến nhiều, từ tán
nhập định, tùy theo niệm lực đều
được văng sanh”.
Sách An Lạc Tập cũng bảo: “Xưng danh cũng như vậy, chỉ nên chuyên chí
liên tục chẳng dứt th́ quyết định sanh về
trước Phật. Nay khuyên hàng hậu học nếu muốn
lănh hội Nhị Đế th́
chỉ cần hiểu niệm niệm là bất khả
đắc, đấy chính là Trí Huệ Môn. [Tuy hiểu
như vậy] nhưng vẫn hệ niệm liên tục chẳng
ngơi th́ chính là Công Đức
Môn. V́ vậy, kinh nói Bồ Tát Ma Ha Tát luôn dùng công đức
và trí huệ để tu tâm ḿnh. Nếu là kẻ mới học
chưa thể phá được tướng th́ chỉ nên dựa theo tướng
mà chuyên chí th́ không ai chẳng được văng sanh, chẳng
c̣n ngờ ǵ nữa”.
Những hành nhân hiện tại nên tin chắc lời dạy
ấy, chẳng cần trước hết phải ly
tướng làm ǵ, chỉ cần tŕ danh chăm chỉ, ṛng
rặt, bền chắc: “Nương
theo tướng mà chuyên chí th́ không ai chẳng được
văng sanh”. Đấy chính thật là kim chỉ nam để dẫn
chúng sanh vượt khỏi biển sanh tử vậy.
Trên đây, tôi đă dẫn rộng các kinh luận để
chứng minh lợi ích thù thắng của pháp Tŕ Danh Niệm
Phật.
Tŕ Danh phải chuyên chí, phải “một bề chuyên niệm” như sách Quán Niệm
Pháp Môn bảo: “Phật nói hết
thảy chúng sanh căn tánh bất đồng, có Thượng,
Trung, Hạ. Với mỗi căn tánh, Phật đều
khuyên chuyên niệm danh hiệu Vô Lượng Thọ Phật.
Hỏi: Năm thứ nhân
duyên (chỉ ngũ niệm môn) đều là Tịnh nghiệp,
sao lại chỉ với pháp Niệm Phật bảo phải
nhất hướng?
Đáp: Có ba nghĩa:
- Một là do phế các hạnh
[khác, chỉ] lập Niệm Phật mà nói như thế.
- Hai là để giúp cho chánh
nghiệp Niệm Phật nên nói ra các hạnh trợ nghiệp.
- Ba là do Niệm Phật là
chánh, các hạnh là phụ, nên bảo là nhất hướng”.
Xin giải thích như sau: Câu “nhất
hướng chuyên niệm” (một bề chuyên niệm)
có đến ba nghĩa:
- Một là phế bỏ các hạnh khác, chuyên lập hạnh
Niệm Phật, chỉ đề xướng một câu
Phật hiệu, thâm nhập một môn, chẳng lẫn tạp
các pháp khác; phế hết các hạnh, chỉ lập một
pháp niệm danh hiệu Phật. Đấy gọi là “nhất hướng chuyên niệm”.
- Hai là chỉ lấy Niệm Phật làm chánh nghiệp.
Để hỗ trợ chánh nghiệp này nên tu các hạnh khác.
Niệm Phật là chánh, các hạnh khác là phụ trợ.
Chánh nghiệp thống lănh các trợ nghiệp, trợ nghiệp
phụ thuộc chánh nghiệp. Chánh và Trợ viên dung, cùng
vào trong Di Đà Nhất Thừa nguyện hải nên bảo là “nhất hướng chuyên niệm”.
- Ba là Niệm Phật là chánh, các hạnh là phụ.
Chánh, phụ khác nhau, thứ tự phân minh. Lấy nhất
hướng chuyên niệm làm chủ yếu th́ tuy chẳng
bỏ tu các hạnh khác, vẫn gọi là “nhất hướng chuyên niệm”.
Lời luận trên rất ổn đáng. V́ thế,
người niệm Phật không ai chẳng kiêm tu các môn lễ
bái, phát nguyện, hồi hướng v.v…
Theo như những thuyết trên th́ người niệm
Phật có thể kiêm tŕ các chú Văng Sanh, Đại Bi, Chuẩn Đề
v.v… hoặc kiêm tŕ tụng các kinh như Tâm Kinh, Kim Cang v.v…
nhưng phải phân định rạch ṛi chánh hạnh, trợ
hạnh, niệm Phật miên mật th́ mới chẳng trái
với “nhất hướng
chuyên niệm”. Sách Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín
Luận đă giảng rơ ư chỉ ấy. Sách viết:
“Hành giả đă phát tâm Bồ
Đề th́ nên tu vạn hạnh của Bồ Tát. Với tất
cả điều thiện thế gian hay xuất thế
gian dù là nhỏ như mảy lông cho đến vô biên công
đức đều dùng thâm tâm, chí
thành tâm hồi hướng Cực Lạc th́ cũng gọi
là ‘nhất hướng chuyên niệm’. Chẳng cần buông
bỏ trăm việc mới gọi là chuyên niệm. Do Phật
tánh hiện diện trọn
khắp hết thảy chỗ nên c̣n có buông, có bỏ th́ chẳng
gọi là Niệm Phật”.
Lời luận này thật khế hợp thời
cơ, người đời hiện tại bận bịu
lắm việc khó ḷng buông bỏ tất cả để
suốt ngày niệm Phật. Chỉ cần tin sâu, nguyện
thiết cầu sanh Tịnh Độ. Gặp việc cứ
làm, xong việc lại niệm Phật. Thế pháp vốn
chẳng trở ngại Phật pháp; huống hồ là với
hết thảy hạnh lành thế gian, xuất thế gian
đều dùng cái tâm chí thành hồi hướng Cực Lạc.
Làm được như vậy th́ cũng gọi là “nhất hướng chuyên niệm”.
Theo Khởi Tín Luận, kiêm hành pháp thiện thế gian
c̣n được gọi là “nhất
hướng chuyên niệm”, huống là kiêm tu các pháp xuất
thế. Chẳng hạn như, trong cuốn Phạm Thất
Ngẫu Đàm, Ngẫu Ích đại sư đă viết: “Lại nữa, Thiền giả
muốn sanh về Tây Phương th́ chẳng cần phải
đổi sang niệm Phật, chỉ đầy đủ
tín, nguyện th́ tham thiền
chính là hạnh Tịnh Độ”. Hơn nữa, đại
sư từng bế quan kết đàn tŕ chú Văng Sanh cầu
sanh Tịnh Độ. Ngài lại c̣n viết những bài kệ
để phát thệ. Kệ rằng:
“Con dùng chí thành tâm, thâm tâm, hồi
hướng tâm, đốt tay ba cây hương (dùng ba cây
hương đốt cánh tay),
kết một thất tịnh đàn (kết đàn
nghiêm tịnh để tụng chú trong bảy ngày liền), chuyên tŕ chú Văng Sanh, chỉ trừ
lúc ăn ngủ. Nguyện đem công đức này, cầu
quyết sanh An Dưỡng”. Những việc ấy chứng
tỏ chỉ cần đủ tín nguyện cầu văng sanh
th́ dù tham thiền hay tŕ chú cũng đều là hạnh Tịnh
Độ.
Tác giả của bộ Di Đà Viên Trung Sao là U Khê đại
sư cả đời tu các pháp sám Pháp Hoa, Đại Bi, Kim
Quang Minh, Di Đà, Lăng Nghiêm không sót ngày nào. Lâm chung biết
trước thời khắc, tay viết năm chữ Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh, rồi cao giọng xướng tựa đề
kinh vài lượt, an nhiên viên tịch.
Như vậy, tu sám, tŕ kinh đều là hạnh Tịnh
Độ. Do đó, đă phát Bồ Đề tâm, tŕ danh hiệu
Phật th́ dẫu có kiêm tu các pháp khác cũng được
coi là “nhất hướng
chuyên niệm”, cũng được văng sanh.
Nhưng
kiêm tu nhiều môn chẳng bằng thâm nhập một môn,
nhất tâm chuyên chí xưng niệm Di Đà th́ mới dễ
khiến chỗ chín biến thành chỗ sống, chỗ sống
biến thành chỗ chín. Ái nhiễm tham đắm là chỗ
chín của chúng sanh. Bồ Đề chánh niệm là chỗ sống
sít của chúng sanh. Chỗ sống sít biến thành chín rục
th́ lúc lâm chung, khi bị các khổ bức bách mới vẫn
khởi lên được câu niệm Phật ḥng cảm
được Phật tiếp dẫn để được
văng sanh.
V́ vậy Thiện Đạo đại sư khai thị:
“Đại Thánh bi mẫn khuyên thẳng
chuyên xưng danh hiệu chính là v́ xưng danh dễ dàng.
Xưng danh liên tục liền được văng sanh. Nếu niệm được
liên tục th́ lấy cả đời làm hạn, mười
người tu mười người được văng
sanh, trăm người tu trăm người được
văng sanh. V́ cớ sao? V́ không tạo nghiệp duyên nên
được chánh niệm,
v́ được tương ứng với bổn nguyện
của Phật, v́ chẳng trái nghịch lời dạy, v́
thuận theo lời Phật vậy. Nếu bỏ chuyên niệm
đi tu tạp niệm th́ trong trăm người tu chỉ
được một hai kẻ
văng sanh, trong ngàn người tu hiếm được ba bốn
người văng sanh”.
Nói tóm lại, Tŕ Danh Niệm Phật chính là bổn
hoài của chư Phật, là phương tiện rốt
ráo, là con đường tắt nhất trong các đường
tắt. Đấy thật là lời luận muôn đời
chẳng suy xuyển bởi v́ người lúc lâm chung bị
muôn khổ bức bách, ngoại trừ tŕ danh ra khó ḷng khởi
các hạnh khác nổi. Quán kinh nói: Kẻ Ngũ Nghịch Thập
Ác đáng đọa ác đạo, lúc lâm chung gặp thiện
tri thức “giáo linh niệm Phật,
bỉ nhân khổ bức, bất hoảng niệm Phật,
thiện hữu cáo ngôn: - Nhữ nhược bất
năng niệm bỉ Phật giả, ưng xưng Vô
Lượng Thọ Phật. Như thị chí tâm, linh thanh bất
tuyệt, cụ túc thập niệm, xưng Nam Mô A Di Đà
Phật. Xưng Phật danh cố, ư niệm niệm
trung, trừ bát thập ức kiếp sanh tử chi tội,
mạng chung chi thời, kiến kim liên hoa, do như nhật
luân, trụ kỳ nhân tiền, như nhất niệm khoảnh,
tức đắc văng sanh Cực Lạc thế giới” (dạy cho niệm Phật
nhưng người ấy bị khổ bức bách chẳng
thể thanh thản niệm Phật nổi, thiện hữu
bảo rằng: ‘Nếu ông chẳng niệm đức Phật
ấy nổi (tức là chẳng thể niệm Phật
theo phương pháp quán tưởng được) th́ hăy
nên xưng danh Vô Lượng Thọ Phật’. Chí tâm như
thế chẳng để ngớt tiếng, đầy
đủ mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật
th́ do xưng danh đức Phật ấy, trong mỗi
niệm trừ được tội trong tám mươi ức
kiếp sanh tử. Lúc lâm chung, thấy hoa sen vàng giống
như vầng mặt trời ở trước mặt
người ấy, như trong khoảng một niệm liền
được sanh về thế giới Cực Lạc).
Kinh nói lâm chung chẳng thể quán Phật, chỉ có thể
niệm danh hiệu
Phật; rơ ràng là pháp Tŕ Danh rất dễ dàng. Lâm chung dễ
niệm nên được văng sanh thật là hết sức
ổn thỏa vậy. Câu “ư
niệm niệm trung, trừ bát thập ức kiếp sanh
tử chi tội” (trong mỗi
niệm trừ được tội
trong tám mươi ức kiếp sanh tử) chỉ rơ pháp này hết sức
viên đốn. Kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc lâm
chung mười niệm liền được văng sanh.
Phàm phu mang theo nghiệp [đi văng sanh] được bằng
ngay với bậc Bổ Xứ.
Pháp Tŕ Danh Niệm Phật không những đă giản dị,
ổn thỏa đến cùng cực mà c̣n là pháp tối cực
viên đốn nên mười phương Như Lai cùng khen
ngợi, ngàn kinh muôn luận cùng nêu. Các hành nhân thật phải
nên mau phát đại tâm, một bề chuyên niệm A Di Đà
Phật.
Kinh này lấy “phát Bồ Đề
tâm, nhất hướng chuyên niệm” làm tông. Hai điều
trên chẳng thể tách rời được v́ phát
Bồ Đề tâm là tín, nguyện; nhất hướng chuyên
niệm là hạnh. Ba thứ tín, nguyện, hạnh chẳng
thể thiếu một thứ.
Sách Di Đà Yếu Giải nói: “Tin
sâu phát nguyện chính là Vô Thượng Bồ Đề, tín nguyện
hợp lại chính là kim chỉ nam cho Tịnh Độ. Do vậy,
chấp tŕ danh hiệu mới là chánh hạnh”. Ư đại
sư Ngẫu Ích là: Tâm Vô Thượng Bồ Đề là kim chỉ
nam để tu Tịnh Độ. Nhà hàng hải dùng kim chỉ
nam để xác định phương hướng. Nếu
muốn vượt biển sanh tử về thẳng bờ
kia Cực Lạc th́ phải dùng Bồ Đề tâm để
dẫn đường nên người tu Tịnh nghiệp
chẳng thể không phát Bồ Đề tâm! Lại dùng Bồ
Đề tâm ấy để tŕ danh hiệu th́ mới là chánh
hạnh. Nói cách khác: Không có Bồ Đề tâm th́ dẫu
có tŕ danh hiệu cũng chưa phải là chánh hạnh.
Sách Di Đà Yếu Giải bảo: “Nếu không có tín, nguyện th́ dẫu có tŕ danh hiệu
đến mức gió lay chẳng động, mưa chẳng
thấm ướt, khác nào tường đồng, vách sắt
th́ vẫn chẳng đắc cái lư văng sanh. Kẻ tu Tịnh nghiệp chẳng
thể không biết điều này”. Nói cách khác, tuy phát Bồ
Đề tâm nhưng chẳng có nguyện, hạnh cầu sanh
Tịnh Độ, lại tu môn khác th́ chẳng phải là
căn cơ Tịnh Độ, cho nên cũng chẳng
được văng sanh! V́ vậy, trong cả ba bậc văng
sanh, kinh này đều bảo: “Phát
Bồ Đề tâm, nhất hướng chuyên niệm”,
nghĩa là đó là điều kiện phải có để
văng sanh của ba bậc.
“Tu chư công đức” (Tu các công đức):
Xem trong lời nguyện thứ mười chín “nghe danh phát tâm” của đức
Di Đà, ta thấy lời nguyện như sau: “Văn ngă danh hiệu, phát Bồ Đề tâm, phụng
hành lục Ba La Mật” (Nghe danh hiệu của tôi, phát
tâm Bồ Đề, phụng hành sáu Ba La Mật). Bản Hán dịch
c̣n ghi (bản Ngô dịch cũng ghi như thế): “Ư tối thượng đệ
nhất bối giả, tựu vô vi đạo, thường
tác Bồ Tát đạo, phụng hành Lục Ba La Mật
kinh giả, tác sa-môn bất đương khuy thất kinh
giới… Chí tinh nguyện dục sanh Vô Lượng Thọ
thanh tịnh Phật quốc, đương niệm chí
tâm, bất đoạn tuyệt giả” (Đối với
đạo vô vi, bậc đệ nhất tối thượng,
thường hành Bồ Tát đạo, phụng hành kinh Lục
Ba La Mật, làm sa-môn chớ nên khuyết phạm kinh giới…
Nếu chuyên ṛng nguyện được sanh trong cơi Phật
Vô Lượng Thọ th́ hăy nên niệm chí tâm, chẳng
để đoạn tuyệt). Tổng hợp ư nghĩa cả
hai kinh, ta thấy rằng “tu
chư công đức” là phụng hành sáu Ba La Mật.
Phần nói về Thượng Phẩm Thượng
Sanh trong Quán kinh cũng bảo “cụ
chư giới hạnh” (đầy
đủ các giới hạnh), “đọc tụng Đại thừa” và “tu hành lục niệm (lục
niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm
giới, niệm thí, niệm thiên), hồi hướng phát nguyện”. Thật ra
đó cũng chỉ là hành sáu Ba La Mật.
“Nguyện sanh bỉ quốc” (Nguyện sanh cơi ấy) là
như câu: “Sở hữu thiện
căn tâm tâm hồi hướng, nguyện sanh ngă quốc” (Tất
cả thiện căn tâm tâm hồi hướng nguyện
sanh cơi ta) trong nguyện thứ mười tám; câu “phục dĩ thiện căn hồi
hướng, nguyện sanh ngă quốc” (lại đem thiện
căn hồi hướng nguyện sanh cơi ta) trong nguyện
mười chín, câu “chí tâm hồi
hướng, dục sanh Cực Lạc, vô bất toại
giả” (chí tâm hồi hướng muốn sanh Cực Lạc
th́ không ai chẳng được toại ư) và “phát Bồ
Đề tâm, yếm hoạn nữ thân, nguyện sanh ngă quốc”
(phát Bồ Đề tâm, chán ngán thân nữ nguyện sanh cơi ta)
trong nguyện hai mươi mốt. Những nguyện
như vậy đều khuyên phát nguyện hồi hướng,
cầu sanh Tịnh Độ. Kinh A Di Đà nói: “Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện,
nguyện sanh bỉ quốc”
(Chúng sanh nghe vậy phải nên phát nguyện, nguyện sanh
sang cơi kia) và “nhược
hữu tín giả, ưng đương phát nguyện, sanh
bỉ quốc độ” (nếu
có ai tin tưởng th́ phải nên phát nguyện sanh về
cơi kia). Kinh cũng bảo: “Nhược
hữu nhân dĩ phát nguyện, kim phát nguyện,
đương phát nguyện, dục sanh A Di Đà Phật
quốc giả, thị chư nhân đẳng, giai đắc
Bất Thoái Chuyển ư A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ
Đề” (Nếu có kẻ
đă phát nguyện, nay phát nguyện, sẽ phát nguyện muốn
sanh về cơi nước Phật A Di Đà th́ những người
ấy đều đắc bất thoái chuyển nơi Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác). Rơ ràng “nguyện sanh bỉ quốc” (nguyện sanh về cơi ấy)
là điều trọng yếu để được
văng sanh Cực Lạc.
“Lâm thọ chung thời, A Di
Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ
tiền” (Lúc mạng sắp dứt, A Di Đà Phật và
các thánh chúng hiện ra trước người ấy) chính
là nguyện thứ hai mươi “lâm chung tiếp dẫn” được thành tựu.
Di Đà nguyện hải chuyên ban cho cái lợi chân thật. Kinh
Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ nói: “Thị thiện nam tử, hoặc
thiện nữ nhân, lâm mạng chung thời, Vô Lượng
Thọ Phật, dữ kỳ vô lượng Thanh Văn
đệ tử, Bồ Tát chúng câu, tiền hậu vi nhiễu,
lai trụ kỳ tiền, từ bi gia hựu, linh tâm bất
loạn. Kư xả mạng dĩ, tùy Phật chúng hội,
sanh Vô Lượng Thọ Cực Lạc thế giới
thanh tịnh Phật độ” (Lúc các thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân
ấy lâm chung th́ Vô Lượng Thọ Phật và vô lượng
Thanh Văn đệ tử của Ngài, các vị Bồ Tát
cùng vây quanh trước sau, đến đứng trước
mặt, từ bi gia hựu khiến cho tâm người ấy
chẳng loạn. Đă xả mạng rồi, liền theo chúng
hội của Phật sanh trong thế giới Cực Lạc
là cơi Phật thanh tịnh của Vô Lượng Thọ Phật).
Câu “từ bi gia hựu linh tâm bất
loạn” là tâm tủy của Tịnh tông.
Do Phật lực gia bị nên hành nhân mới được
tâm chẳng loạn. Khi đó, mười niệm liên tục
liền được văng sanh. V́ vậy, Tịnh tông
được xưng tụng là Quả Giáo, là tha lực
pháp môn, là đạo dễ hành, là thuyền từ độ
khắp muôn loài ; những lời khen ngợi như vậy
đều bắt nguồn từ câu ấy. Kinh nói: “Hạ bối giả lâm chung mộng
kiến bỉ Phật, diệc đắc văng sanh” (Kẻ trong bậc Hạ lâm chung
mộng thấy đức Phật ấy cũng được
văng sanh) lại càng hiển thị rơ tha lực thật
chẳng thể nghĩ bàn!
“Thất bảo hoa trung, tự
nhiên hóa sanh” (Tự nhiên hóa sanh trong hoa sen bảy báu): Kinh
nói “tự nhiên hóa sanh” nhằm chỉ rơ chẳng phải
là hóa sanh trong bốn cách sanh “noăn, thai, thấp, hóa”, như
sách Pháp Hoa Văn Cú nói: “Thai Kinh
nói: ‘Liên hoa sanh giả, phi thai noăn thấp hóa chi hóa sanh dă;
phi hóa nhi ngôn hóa dă’ (Sanh trong hoa sen chẳng phải là cách hóa
sanh thuộc bốn cách sanh: noăn, thai, thấp, hóa. Chẳng
phải là hóa mà nói là hóa)”; lại cũng chẳng phải
là thấp sanh như kinh Niết Bàn nói: Cô gái Am La Thọ
sanh từ bông hoa của cây ấy (cây Am La) nên gọi là “thấp sanh”. Do thảo mộc trong uế
độ thường có khí ẩm, những kẻ như
cô Am La Thọ nương theo hơi ẩm đó mà sanh ra. Trong Tịnh Độ, hoa sen
cùng người cùng sanh trong một lúc, tự nhiên hóa hiện,
chẳng nhờ đến khí ẩm mà sanh nên chẳng phải
là thấp sanh vậy.
“Trí huệ dũng mănh” là trí huệ
sáng suốt, nhạy bén, phá được quân giặc phiền
năo, kiêu mạn nên bảo là “dũng
mănh”. Trí Độ Luận nói: “Mũi
tên trí huệ cứng bén phá các giặc kiêu mạn”. Kinh
Duy Ma cũng bảo: “Dĩ trí huệ
kiếm phá phiền năo tặc” (Dùng gươm trí huệ phá giặc phiền năo).
Kinh Tâm Địa Quán cũng nói: “Pháp
bảo do như trí huệ lợi kiếm, cát đoạn
sanh tử, ly hệ phược cố” (Pháp bảo ví như gươm trí huệ bén nhọn
v́ nó chặt đứt sanh tử, ĺa khỏi hệ phược).
“Thần thông tự tại” là thần thông
vô ngại như kinh dạy:
“Năng ư chưởng trung tŕ nhất thiết thế
giới” (Có thể cầm hết thảy thế giới
trong ḷng bàn tay).
Quán kinh đă giảng rơ ba phẩm thuộc bậc
Thượng, nay tôi xin lược trích vài đoạn trong
cuốn Quán Kinh Nghĩa Sớ của ngài Gia Tường:
“Thứ nhất là Thượng
Phẩm Thượng Sanh: Phát Bồ Đề tâm, tu hành suốt
bảy ngày th́ sanh về cơi ấy, thấy thân đức
Phật ấy, nghe giảng diệu pháp liền ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn. Phải
biết rằng đấy là mức Vô Sanh của bậc
Thất Địa.
Thứ hai là Thượng Phẩm
Trung Sanh: Chẳng nhất thiết phải đọc tụng
kinh Đại Thừa, chỉ khéo hiểu được
nghĩa lư, tin sâu nhân quả, chẳng báng Đại thừa,
đem công đức ấy nguyện sanh về cơi kia th́ sẽ
được văng sanh trong hoa sen lớn trong ao bảy báu
nơi cơi đó. Qua một đêm hoa nở, trải qua một
tiểu kiếp đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đấy
cũng là mức Vô Sanh của bậc Thất Địa. Trong
Thượng Phẩm, thấy Phật nghe pháp, đắc
ngay Vô Sanh, c̣n trong Trung Phẩm
phải qua một tiểu kiếp mới đắc Vô
Sanh.
Thứ ba là Thượng Phẩm
Hạ Sanh. Hạng này cũng tin nhân quả, chẳng báng Đại
Thừa, ở trong hoa sen cơi ấy qua một ngày một
đêm hoa sen mới nở. Lại phải qua ba tiểu kiếp
mới đắc bách pháp minh môn, trụ Hoan Hỷ Địa. Do hạ phẩm đắc
Vô Sanh của bậc Sơ Địa nên ta biết hai phẩm
trên là Vô Sanh của Thất Địa ”.
Sách Di Đà Sớ Sao lại bảo trong bậc Thượng
Thượng Phẩm, cao nhất là bậc Bát Địa. Sách
viết: “[Giai vị trong] trong
thượng thượng phẩm là từ Nhất Địa
cho đến Bát Địa. Một phẩm đă gồm nhiều
phẩm nên với các phẩm khác cứ suy ra mà biết”.
Như vậy, bậc Thượng văng sanh thấy Phật
nghe pháp liền ngộ Vô Sanh có thể đạt tới bậc
Bát Địa, đủ chứng tỏ họ là bậc “trí huệ dũng mănh”.
Câu “dục ư kim thế
kiến A Di Đà Phật” (muốn trong đời này
được thấy A Di Đà Phật) ư nói: Hết thảy
chúng sanh trong hiện tại và tương lai muốn ngay
trong một đời đích thân mắt thấy A Di Đà Phật.
Quán kinh nói Thượng Phẩm Thượng Sanh th́ “A Di Đà Như Lai dữ Quán Thế
Âm, Đại Thế Chí, vô lượng hóa Phật, bách
thiên tỳ-kheo Thanh Văn đại chúng, vô lượng
chư thiên, thất bảo cung điện. Quán Thế Âm Bồ
Tát chấp Kim Cang đài, dữ Đại Thế Chí Bồ
Tát chí hành giả tiền. A Di Đà Phật phóng đại
quang minh, chiếu hành giả thân, dữ chư Bồ Tát, thọ
thủ nghênh tiếp. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, dữ
vô số Bồ Tát, tán thán hành giả, khuyến tấn kỳ
tâm, hành giả kiến dĩ, hoan hỷ dũng dược,
tự kiến kỳ thân thừa Kim Cang đài, tùy tùng Phật
hậu, như đàn chỉ khoảnh, văng sanh bỉ quốc”
(A Di Đà Như Lai và Quán Thế
Âm, Đại Thế Chí, vô số hóa Phật, trăm ngàn tỳ-kheo
Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên, cung
điện bảy báu. Quán Thế Âm Bồ Tát tay cầm
đài kim cang cùng Đại Thế Chí đến trước
hành giả. A Di Đà Phật phóng đại quang minh chiếu
thân hành giả, cùng với các đại Bồ Tát
đưa tay nghênh tiếp. Quán Thế Âm, Đại Thế Chí
và vô số Bồ Tát khen ngợi hành giả, khích lệ tâm
hành giả. Hành giả nghe xong, hoan hỷ, hớn hở, tự
thấy thân ḿnh ngồi đài kim cang, theo sau chân Phật
như trong khoảng khảy ngón tay liền văng sanh cơi kia).
Thượng Phẩm Trung Sanh th́ “mạng dục chung thời, A Di Đà Phật, dữ
Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô lượng đại
chúng quyến thuộc vi nhiễu, tŕ tử kim đài, chí
hành giả tiền, tán ngôn: ‘Nhữ hành Đại Thừa,
giải Đệ Nhất Nghĩa, thị cố ngă kim lai
nghênh tiếp nhữ’, dữ thiên hóa Phật nhất thời
thọ thủ. Hành giả tự kiến tọa tử kim
đài, hiệp chưởng xoa thủ, tán thán chư Phật.
Như nhất niệm khoảng, tức sanh bỉ quốc
thất bảo tŕ trung” (Lúc
mạng sắp hết, A Di Đà Phật và Quán Thế Âm, Đại
Thế Chí, vô lượng đại chúng, quyến thuộc
vây quanh, cầm đài tử kim đến trước hành
giả, khen rằng: ‘Ông hành Đại thừa hiểu Đệ
Nhất Nghĩa; v́ vậy, ta nay đến nghênh tiếp
ông’. Cùng với một ngàn vị hóa Phật cùng x̣e tay, hành
giả tự thấy ḿnh ngồi trên đài tử kim, chắp
tay khen ngợi chư Phật, như trong khoảng một
niệm liền sanh trong ao bảy báu nơi cơi nước
kia).
C̣n Thượng Phẩm Hạ Sanh th́ “hành giả mạng dục chung thời, A Di Đà Phật
cập Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, dữ chư Bồ
Tát, tŕ kim liên hoa, hóa tác ngũ bách Phật, lai nghênh thử
nhân. Ngũ bách hóa Phật, nhất thời thọ thủ,
tán ngôn: ‘Pháp tử! Nhữ kim thanh tịnh, phát vô thượng
đạo tâm, ngă lai nghênh nhữ’, kiến thử sự thời,
tức tự kiến thân tọa kim liên hoa. Tọa dĩ
hoa hợp, tùy Thế Tôn hậu, tức đắc văng sanh
thất bảo tŕ trung” (hành
giả lúc mạng sắp dứt, A Di Đà Phật và Quán Thế
Âm, Đại Thế Chí và các Bồ Tát cầm hoa sen vàng hóa ra
năm trăm vị Phật đến đón người
ấy. Năm trăm vị hóa Phật cùng lúc đưa tay
khen rằng: ‘Pháp tử! Nay ông thanh tịnh phát Vô Thượng
Đạo tâm, ta đến đón ông’. Lúc thấy sự đó
liền tự thấy thân ḿnh ngồi trên hoa sen vàng. Ngồi
xong, hoa sen khép lại, theo sau Thế Tôn, liền được
văng sanh trong ao bảy báu).
Quán kinh và kinh này cùng bảo trước lúc hành giả
chết thấy Phật đến đón; đó chính là “ngay trong đời này thấy A
Di Đà Phật”. Đời ác Ngũ Trược hiện nay là
lúc không có Phật mà lại thấy được đức
Phật Di Đà th́ thật là hy hữu, toàn là nhờ vào Nhất
Thừa nguyện hải của Phật Di Đà, sức bất
khả tư ngh́ của sáu chữ hồng danh. Lại
cũng do v́ hành giả phát tâm Bồ Đề, một dạ
chuyên niệm, rộng tích công đức, phát nguyện hồi
hướng, cầu sanh cơi kia nên tương ứng với
lời nguyện của Phật. Do đó, có thể thấy
đức Phật. Do thấy Phật nên liền được
văng sanh, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, ắt chứng
Vô Thượng Bồ Đề.
Cuối đoạn kinh này lại nhắc lại: “Ưng phát vô thượng Bồ
Đề chi tâm, phục đương chuyên niệm Cực
Lạc quốc độ” (Phải nên phát tâm Vô Thượng
Bồ Đề, lại nên chuyên nghĩ đến cơi nước
Cực Lạc). Đấy chính là chánh nhân văng sanh, lại c̣n bảo
thêm: “Tích tập thiện
căn, ưng tŕ hồi hướng” (Hăy nên đem thiện
căn đă tích tập để hồi hướng). Do nhân thù thắng nên ắt
phải cảm được quả báo mầu nhiệm.
Do đó, kinh bảo: “Do thử
kiến Phật, sanh bỉ quốc trung, đắc bất
thoái chuyển, năi chí vô thượng Bồ Đề”
(Do vậy thấy Phật sanh trong cơi kia, được bất
thoái chuyển cho đến thành Vô Thượng Bồ Đề). Do lời giải thích này
đề cao tha Phật[3]
sợ rằng sẽ có kẻ ngờ vực, hiểu lầm
Tâm tông, nên ở đây tôi xin dẫn lời ba cuốn luận
để chứng minh thêm.
* Một là Linh Phong đại sư viết trong sách Yếu
Giải rằng:
“Hỏi: Tâm này đă làm Phật,
tâm này đă là Phật, th́ sao lại chẳng nói đến
tự Phật là rốt ráo mà cứ cho tha Phật hơn tự
Phật là v́ sao thế?
Đáp: Pháp môn này hoàn toàn ở
chỗ hiểu rơ tha Phật chính là tự Phật. Nếu
kiêng nói đến tha Phật th́ chính là tha kiến (kiến
chấp c̣n thấy có người khác, pháp khác) chưa hết. Nếu thiên trọng tự Phật
lại là Ngă Kiến điên đảo.
Hơn nữa, trong bốn lợi
ích Tất-đàn[4],
ba thứ lợi ích cuối chẳng thể tự ḿnh phát
khởi. Nếu chẳng thể
mừng tin sâu xa nơi thế giới [Cực Lạc] th́
hai thứ lợi ích vui [Tịnh Độ], chán [Sa Bà] c̣n chẳng
thể phát sanh nổi, huống là ngộ nhập được
đức Phật nơi lư
tánh. Chỉ có thể dùng sự tŕ để thấu đạt
lư tŕ. Bởi vậy, Di Đà và thánh chúng hiện tiền chính
là bản tánh hiện rơ. Văng sanh cơi kia, thấy Phật nghe
pháp chính là thành tựu huệ thân, chẳng do người
khác mà ngộ.
Pháp môn này thâm diệu phá tan
hết thảy hư luận, chặt sạch hết thảy ư kiến,
chỉ bậc như Mă Minh, Long Thọ, Trí Giả… mới
có thể triệt để gánh vác, thực hiện nổi!
C̣n th́ những kẻ thế
trí biện thông, bọn tinh thông cả Thiền lẫn Nho tận
sức suy lường th́ càng suy nghĩ càng xa vời vợi,
chẳng bằng bọn ông già bà lăo dốt nát siêng ṛng niệm
Phật lại ngầm thông
được với Phật trí, thầm hợp đạo
mầu”.
* Hai là như Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận
nói:
“Hỏi: Lâm chung thấy Phật
th́ Phật đó là Tự Phật hay là Tha Phật? Nếu
là Tha Phật th́ thành ra nghiệp ma; nếu là Tự Phật
lại do tưởng lực tạo thành, hư vọng chẳng
thật, làm sao văng sanh được?
Đáp: Tự Phật hay Tha Phật cũng đều
là hư luận! Ta, người cùng mất, tự, tha nào khác.
Pháp Thân của chư Phật trạm nhiên thường tịch.
Do bổn nguyện nên cảm ứng đạo giao, là tự
mà cũng chính là tha, chẳng hư, chẳng thật, chỉ
là một Chân Như trọn
khắp pháp giới.
Chúng sanh do nghiệp duyên nên
có sanh tử phần đoạn một cách hư huyễn,
giống như người ru rú trong nhà chẳng thấy mặt
trời. Niệm lực chân thành,
vững chắc th́ huyễn duyên hết sạch như thể
mái nhà bị thủng, mặt trời chiếu sáng ḷa. Tùy ư
văng sanh nhưng vẫn thuộc trong cái vốn sẵn có”.
Lời luận này quét sạch hết thảy phân biệt,
tự hay tha, chúng sanh hay Phật đều thành hư luận.
Chỉ có một Chân Như không lay động, trọn khắp,
tùy ư văng sanh Cực Lạc nhưng vẫn không ngoài tự
tâm.
* Ba là như Di Đà Sớ Sao nói:
“Chấp Sự mê Lư th́ khác
nào trẻ nít, kẻ u mê đọc sách của bậc thánh
nhân đời xưa; mê muội, ấu trĩ nên chỉ
đọc mà chẳng hiểu rơ nghĩa. Bởi vậy suốt
ngày niệm Phật mà chẳng biết Phật niệm ǵ.
Chấp Lư mê Sự th́ khác
nào kẻ nghèo vớ được bằng khoán của
người giàu có liền tự bảo ḿnh giàu to, chẳng
biết là ḿnh chỉ đếm của cải người
ta, ăn nhằm ǵ đến ḿnh!
Cũng thế, kẻ tuy biết ‘tâm chính là Phật, Phật
chính là tâm’ lại đi phán đoán tâm chẳng phải là Phật.
V́ thế, ước về Lư th́ không có ǵ để niệm
được; ước theo Sự th́ trong cái không có ǵ
để niệm được,
ta cứ khăng khít niệm. Do niệm tức là vô niệm
nên Sự Lư song tu, bổn trí trở lại thấu đạt
Phật trí. Có như vậy mới gọi là đại
trí”.
Sách Sớ Sao c̣n nói: “Dẫu
chấp Sự mà niệm liên tục th́ vẫn chẳng mất
công lao, vẫn đạt được các phẩm;
ngược lại, chấp Lư mà tâm chưa tỏ ngộ
th́ bị mắc họa đọa lạc”.
Lời Sao viết: “Giả
sử cuồng huệ phóng túng tham đắm ngoan hư (ngoan
không), chưa từng tỏ ngộ
bản tâm mà lại khinh Tịnh Độ, miệt thị văng
sanh th́ cái hại ấy chẳng nhỏ; tức là mới
hiểu loáng thoáng cái Không mà
đă bác bỏ nhân quả, vội vội vàng vàng chiêu cảm
họa ương”.
Xin độc giả hăy đọc những lời này
hai ba lượt, chớ đừng chấp Lư phế Sự,
kiêng nói tha Phật, khinh rẻ Tịnh Độ để tự
chiêu cảm ương họa.
Chánh kinh:
其 中 輩 者,雖 不 能 行 作 沙 門,大 修 功 德,當 發 無 上 菩 提 之 心。一 向 專 念 阿 彌 陀 佛。隨 己 修 行,諸 善 功 德,奉 持 齋 戒,起 立 塔 像,飯 食 沙 門,懸 繒 然 燈,散 華 燒 香,以 此 迴 向,願 生 彼 國。其 人 臨 終,阿 彌 陀 佛 化 現 其 身,光 明 相 好,具 如 真 佛,與 諸 大 眾 前 後 圍 繞,現 其 人 前,攝 受 導 引。即 隨 化 佛 往 生 其 國,住 不 退 轉,無 上 菩 提。功 德 智 慧 次 如 上 輩 者 也。
Kỳ
trung bối giả, tuy bất năng hành tác sa-môn, đại
tu công đức, đương phát vô thượng Bồ
Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di
Đà Phật, tùy kỷ tu hành, chư thiện công đức,
phụng tŕ trai giới, khởi lập tháp tượng, phạn
thực sa-môn, huyền tăng nhiên đăng, tán hoa thiêu
hương. Dĩ thử hồi hướng, nguyện
sanh bỉ quốc. Kỳ nhân
lâm chung, A Di Đà Phật hóa hiện kỳ thân, quang minh
tướng hảo, cụ như chân Phật, dữ
chư đại chúng tiền hậu vi nhiễu, hiện kỳ
nhân tiền, nhiếp thọ đạo dẫn, tức tùy
hóa Phật văng sanh kỳ quốc, trụ Bất Thoái Chuyển,
vô thượng Bồ Đề, công đức trí huệ thứ như thượng bối giả
dă.
Bậc trung là
[những người] tuy chẳng thể thực hành hạnh
sa-môn, tu các công đức lớn lao, nhưng phải phát Bồ
Đề tâm, một bề chuyên niệm A Di Đà Phật. Tùy sức
ḿnh tu hành các công đức lành, phụng tŕ trai giới, tạo
dựng tháp tượng, đăi cơm sa-môn, treo phan, thắp
đèn, rải hoa, đốt hương, đem những
việc ấy hồi hướng nguyện sanh cơi kia. Lúc
người ấy lâm chung, A Di Đà Phật hóa ra thân có đủ
quang minh, tướng hảo như đức Phật thật
cùng các đại Bồ Tát vây quanh trước sau hiện
ra trước người ấy nhiếp thọ, dẫn
dắt. Người ấy liền theo hóa Phật văng sanh
nước kia, trụ Bất Thoái Chuyển Vô Thượng
Bồ Đề; công đức, trí huệ gần bằng bậc
trên.
Giải:
Sách Lược Luận nói: “Văng
sanh bậc Trung có bảy nhân duyên: Một là phát tâm Vô Thượng
Bồ Đề; hai là một mực
chuyên niệm Vô Lượng Thọ Phật; ba là tu các thiện
nghiệp dù nhiều hay ít, phụng tŕ trai giới; bốn
là tạo dựng tháp tượng; năm là dâng cơm cho
sa-môn; sáu là treo phan, thắp
đèn, rải hoa, đốt hương; bảy là đem
công đức ấy hồi hướng nguyện sanh sang
cơi kia”.
Sách Hội Sớ cũng nói giống như thế.
Điều thứ nhất là phát Bồ Đề tâm và điều
thứ hai là “một mực chuyên
niệm” đă được giải thích trong phần
trên nên ở đây chẳng nhắc lại.
Điều thứ ba là “tùy kỷ
tu hành chư thiện công đức” nghĩa là: Tùy theo sức ḿnh có thể
làm nổi mà nỗ lực làm các công đức lành.
Sách Đại Thừa Nghĩa Chương quyển mười
hai giảng chữ “trai giới”
như sau: “Đề pḥng, ngăn
cấm nên gọi là Giới (戒), khiết tịnh nên gọi là
Trai (齋)”. Sách Tứ
Phần Luật Âm Nghĩa giảng chữ Giới như
sau: “Giới là tên gọi khác của
Luật. Tiếng Phạn là Tam-bà-la, Hán dịch là Cấm.
Giới có nghĩa là ngăn cấm”. “Trai” có nghĩa là
chẳng ăn quá ngọ, chánh ngọ là chánh thời, c̣n những
lúc khác đều là phi thời. Đúng thời (chánh thời)
th́ ăn, phi thời chẳng ăn. Chẳng ăn quá ngọ
th́ gọi là “tŕ trai”. Sách Nam
Sơn Nghiệp Lưu cũng bảo: “Trai nghĩa là tề chỉnh, tề chỉnh cái tâm
ḿnh, hoặc có nghĩa là trong sạch”. Như vậy,
Tŕ Trai chính là trừ sạch những ǵ bất tịnh
trong tâm.
Sách Hội Sớ lại bảo: “Trai giới chính là Bát Quan Trai Giới và những giới
thuộc Tiểu Thừa hay Đại Thừa. Giới là thầy
của con người, đạo lẫn tục đều
phải tuân thủ. Tâm làm nghiệp
chủ, phàm lẫn thánh đều phải chế ngự
tâm. Chánh pháp trụ hay diệt toàn là nhờ vào Giới. Giới
sáng ngời như mặt trời, mặt trăng, tôn quư tựa
bảo châu. Thà chịu khát mà chết, chẳng đành uống
nước có trùng (nước chưa lọc sạch
c̣n có trùng nhỏ mắt không thấy được). Thà bị trói đến chết,
chẳng nỡ làm thương tổn lá cỏ”.
Lời Sớ đă bàn đến tột cùng điểm
trọng yếu của trai giới. Chánh pháp có tồn tại
được trong đời hay không toàn là cậy vào hành
nhân có giữ giới được hay không! V́ vậy, thà
mất cả thân mạng, chẳng trái nghịch giới
ḿnh đă thọ. Cư sĩ Bành Tế Thanh nói: “V́ vậy, phải biết rằng
tư lương Tịnh Độ toàn là cậy vào công đức.
Nền móng của công đức không ǵ hơn nổi tŕ giới.
Đó là v́ giới tịnh ắt tâm tịnh, tâm tịnh th́ quốc
độ tịnh”.
Thứ tư là “tạo lập
tháp tượng”: Tháp nói đủ là Tốt-đổ-ba (Stūpa), dịch là Miếu
(廟), hoặc là Phương Phần (方墳: ngôi mộ vuông), là nơi an trí xá-lợi của
Phật. Sách Hội Sớ bảo:
“Dựng tháp có ba nghĩa: Một
là để biểu dương bậc thù thắng hơn
người, hai là khiến cho người khác sanh ḷng tin,
ba là báo ân. Kinh Pháp Hoa dạy: ‘Chư Phật diệt độ
dĩ, cúng dường xá-lợi giả, khởi vạn ức
chủng tháp, kim ngân cập pha lê... Hoặc hữu khởi
thạch miếu, chiên đàn cập trầm thủy, mộc
mật, tịnh dư tài, chuyên, ngơa, nê, thổ đẳng,
nhược ư khoáng dă trung, tích thổ thành Phật miếu,
năi chí đồng tử hư, tụ sa vi Phật tháp, như
thị chư nhân đẳng, giai dĩ thành Phật đạo”
(Chư Phật đă diệt độ,
để cúng dường xá-lợi, nên dựng vạn ức
ngôi tháp bằng vàng, bạc, pha lê… Hoặc dựng miếu
bằng đá, bằng chiên-đàn, trầm thủy, mộc
mật, và những vật liệu khác, như ngói, gạch,
hoặc bùn đất…Hoặc ở nơi đồng trống,
đắp đất thành miếu Phật, cho đến
trẻ nít giỡn, vun cát thành tháp Phật, những người
như thế ấy, đều đă thành Phật đạo).
Chữ “tượng” (像) chỉ tượng Phật. Theo kinh Tăng Nhất A
Hàm, Phật thăng lên trời Đao Lợi, vua Ưu Điền
(Udayana) nhớ Phật nên dùng gỗ ngưu đầu
chiên-đàn khắc thành tượng Phật cao năm
thước. Đấy là tượng Phật đầu tiên
được khắc trong thế gian này. Kinh Pháp Hoa nói: “Nhược nhân vị Phật cố,
kiến lập chư h́nh tượng, khắc điêu thành
chúng tướng, giai dĩ thành Phật đạo” (Nếu ai v́ Phật kiến lập
các h́nh tượng Phật, khắc trổ thành các tướng
th́ đều đă thành Phật đạo).
Kinh Tạo Tượng Công Đức cũng nói: “Nhược nhân lâm chung, phát ngôn
tạo tượng, năi chí như khoáng mạch, năng trừ
tam thế bát thập ức kiếp sanh tử chi tội” (Nếu ai lúc lâm chung mà sai người
tạo tượng [Phật], thậm chí chỉ nhỏ bằng
hạt lúa mạch th́ trừ được tội trong tám
mươi ức kiếp sanh tử trong cả ba đời).
Thứ năm, “phạn thực
sa-môn” chính là Trai Tăng, nghĩa là đem cơm và thức
ăn cúng dường chúng Tăng. Kinh Lục Ba La Mật
Đa nói: “Dĩ thực thí giả,
thường thí ngũ sự. Vân hà vi ngũ? Nhất giả,
thí mạng. Nhược nhân vô thực, nan dĩ tế mạng.
Nhị giả, thí sắc. Nhân đắc thực cố,
nhan sắc ḥa duyệt. Tam giả, thí lực. Dĩ thị
thực cố, tăng ích khí lực. Tứ giả, thí lạc.
Dĩ thị thực cố, thân tâm an lạc. Ngũ giả,
thí biện. Nhược cơ ngạ giả, thân tâm khiếp
nhược, ngôn thuyết kiển nột, bất năng
biện liễu, linh thực sung túc, thân tâm dũng nhuệ,
đắc đại biện tài, trí huệ vô ngại”.
(Đem thức ăn để thí, chính
là thường thí năm sự. Những ǵ là năm?
- Một là thí mạng: Nếu người
không ăn th́ khó ḷng giữ mạng được.
- Hai là thí sắc: Do người ta
được ăn nên nhan sắc vui vẻ.
- Ba là thí lực: Do thức ăn ấy
nên được tăng trưởng khí lực.
- Bốn là thí sự vui sướng: Do
thức ăn ấy nên thân tâm an lạc.
- Năm là thí biện: Nếu người
bị đói khát th́ thân tâm khiếp nhược, nói năng
ấp úng, chẳng thể lưu loát nổi. Được
ăn no đủ th́ thân tâm mạnh mẽ, bén nhạy,
đắc đại biện tài, trí huệ vô ngại).
Sách Hội Sớ cũng nói: “Phạn
thực sa-môn là như kinh dạy: ‘Chánh linh đắc măn tứ
thiên hạ bảo, kỳ lợi bất như thỉnh nhất
thanh tịnh sa-môn nghệ xá cúng dường, đắc lợi
thù bội’ (Dù cho các báu
đầy ắp cả tứ thiên hạ vẫn chẳng
bằng thỉnh một vị sa-môn thanh tịnh đến
nhà cúng dường, được lợi c̣n gấp mấy
lần)”.
Thứ sáu, “huyền
tăng, nhiên đăng, tán hoa, thiêu hương” (treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt
hương).
“Tăng” (繒) nguyên là tên gọi
chung các loại lụa. “Huyền
tăng” (tạm dịch là “treo phan”) tức là dùng lụa
tạo thành các lá phan nhiều màu treo trong điện Phật.
Kinh Bách Duyên nói: “Phật tại
thế thời, hữu Ba Đa Ca, quá khứ tằng tác nhất
trường phan ư Bà Thi Phật tháp thượn. Tùng thị
dĩ lai, cửu thập nhất kiếp, thường hữu
đại phan phú ấm kỳ thượng, thọ phước
khoái lạc. Nhiên hậu xuất gia, đắc A La Hán” (Lúc Phật tại thế, có ông
Bà Đa Ca trong quá khứ từng làm một lá phan dài treo nơi
tháp của Bà Thi Phật (tức Tỳ Bà Thi Phật). Từ
đấy trở đi, trong chín mươi mốt kiếp
ông thường có tấm phan lớn phủ quanh thân, hưởng
phước khoái lạc. Sau đấy xuất gia thành A La
Hán).
“Nhiên” (燃) là đốt,
chữ “đăng” (燈) chỉ chung
các loại đèn đuốc thắp sáng. Kinh Thí Đăng
Công Đức dạy: “Phật cáo
Xá Lợi Phất: - Hoặc hữu nhân ư Phật tháp miếu
chư h́nh tượng, nhi thiết cúng dường cố,
phụng thí đăng minh, năi chí dĩ tiểu đăng
cự, hoặc tô du đồ nhiên, tŕ dĩ phụng thí, kỳ
minh duy chiếu nhất đạo, nhất giai. Xá Lợi
Phất! Như thử phước đức, phi thị
nhất thiết Thanh Văn, Duyên Giác sở năng khả
tri, duy Phật Như Lai năi năng tri chi” (Phật bảo Xá Lợi Phất:
‘Hoặc có người để cúng dường tháp miếu,
các h́nh tượng của Phật nên dâng cúng đèn sáng, thậm
chí một ngọn đèn, một cây đuốc nhỏ, hoặc
dùng dầu tô thắp lên để cúng thí. Dẫu đèn chỉ
tỏa ánh sáng soi được một lối đi, một
bậc thềm [của tháp miếu] th́ này Xá Lợi Phất!
Công đức như vậy hết thảy Thanh Văn,
Duyên Giác chẳng biết thể nổi, chỉ có đức
Phật Như Lai mới biết nổi thôi!”.
“Tán hoa” (散 華) là rải rắc hoa tươi
để cúng dường. Sách Hội Sớ nói: “Tán hoa là hoa nở thanh tịnh,
diệu sắc, diệu hương, đem rải khắp
các cơi Phật. Nếu có hoa nở, chư Phật sẽ
đến ngự trên ấy. V́ vậy, hạ giới dùng
hoa làm Tịnh Độ. Các hàng quỷ thần thấy sắc,
ngửi mùi hoa đâm ghét, khác nào thấy sắc, hương của phân dơ” (nghĩa
là các hàng quỷ thần coi sắc và hương hoa giống
như phân dơ nên ghét bỏ).
Đà Ra Ni Tập Kinh nói:
“Nhược tứ bộ
chúng, dĩ chúng hoa tán A Di Đà Phật, phát nguyện, tụng
chú giả, đắc thập chủng công đức. Hà giả
vi thập? Nhất giả, tự phát thiện tâm. Nhị
giả, linh tha phát thiện tâm. Tam giả, chư thiên hoan hỷ.
Tứ giả, tự thân đoan chánh, lục căn cụ
túc, vô hữu tổn hoại. Ngũ giả, tử sanh bảo
tŕ. Lục giả, sanh sanh thế thế, sanh ư trung quốc
cập quư tánh trung, sanh trị Phật văn pháp, bất
sanh biên địa cập hạ tánh trung. Thất giả,
thành Chuyển Luân Vương, vương tứ thiên hạ.
Bát giả, sanh sanh thế thế thường đắc
nam thân. Cửu giả, đắc sanh A Di Đà Phật quốc,
thất bảo hoa thượng kết già phu tọa, thành A
Bệ Bạt Trí. Thập giả, thành A Nậu Bồ Đề,
tọa ư thất bảo sư tử ṭa thượng,
phóng đại quang minh, dữ A Di Đà Phật đẳng
vô hữu dị dă” (Nếu bốn bộ
chúng dùng các thứ hoa rải lên A Di Đà Phật, phát nguyện,
tụng chú th́ được mười thứ công đức.
Những ǵ là mười? Một là tự phát thiện tâm,
hai là làm cho người khác phát sanh thiện tâm, ba là chư
thiên hoan hỷ, bốn là thân ḿnh đoan chánh, sáu căn
đầy đủ chẳng bị tổn hoại;
năm là chết đi sanh trong ao báu, sáu là đời đời
kiếp kiếp thường sanh nơi chính giữa đất
nước và sanh trong nhà quư tộc, sanh ra gặp Phật
nghe pháp, chẳng sanh nơi biên địa hoặc sanh trong
ḍng họ hèn kém; bảy là thành Chuyển Luân Vương làm
vua của bốn cơi thiên hạ; tám là đời đời
kiếp kiếp thường làm thân nam; chín là được
sanh về cơi Phật A Di Đà, ngồi xếp bằng trên hoa
sen bảy báu, thành bậc A Bệ Bạt Trí; mười là
thành Vô Thượng Chánh Giác, ngồi trên ṭa sư tử bảy
báu, phóng quang minh lớn giống như A Di Đà Phật không
khác).
“Thiêu hương” (燒 香) là thắp
nhang để cúng dường. Văng Sanh Tập Yếu ghi: “Tùy sức sắm sửa hoa
hương cúng dường”. Sách Hội Sớ nói: “Nếu có ai đốt
hương thơm, bọn ma sẽ bỏ chạy sang chỗ
khác, Phật, thần hoan hỷ thủ hộ, tu việc
lành ắt được thành tựu. Như đại
vương nước Na Càn Ha La hướng vọng về cơi đức Phật
đản sanh mà đốt hương, làm lễ. Khói
hương bay thẳng đến tinh xá của Phật
như mây lưu ly trắng, nhiễu quanh Phật bảy
ṿng, hóa thành đài vàng. Trong kinh Quán Phật có kể rơ chuyện này”.
Đại Nhật Kinh Sớ cũng ghi: “Thiêu hương [để biểu thị] ư nghĩa
trọn khắp pháp giới, như lúc thụ vương (cây
chúa, tức cây Ba Lợi Chất Đa La) trên cơi trời nở
hoa, mùi thơm thuận chiều gió hay ngược chiều
gió tự nhiên tỏa khắp. Bồ Đề hương
cũng vậy, mỗi một công đức được
lửa trí huệ thiêu,
được gió giải thoát thổi, theo sức bi nguyện
tự tại lan truyền, thơm khắp hết thảy.
V́ vậy bảo là thiêu hương”.
Tiếp đó, bản sớ này c̣n luận về Lư lẫn
Sự của việc thiêu hương nghĩa lư càng sâu sắc
hơn nữa!
Điều thứ bảy là “dĩ thử
hồi hướng, nguyện sanh bỉ quốc” (đem những việc ấy hồi hướng
nguyện sanh cơi kia). Sự khẩn yếu của việc
phát nguyện trong phần giải thích về bậc Thượng
văng sanh đă bàn qua; ở đây tôi lại trích dẫn bài kệ
khuyên người phát nguyện của ngài Từ Chiếu
Tông Chủ: “Tŕ giới chẳng
có tín, nguyện, th́ chẳng được sanh Tịnh Độ,
chỉ hưởng phước trời, người.
Phước hết chịu luân hồi… Do sức phát nguyện
tŕ giới, hồi hướng, nên sanh Lạc quốc. Cùng
hành tŕ như thế th́ ngàn người chẳng mất một
(ngàn người không sót người nào là không được
văng sanh)”.
Sách Hội Sớ lại bảo: “Hồi hướng nguyện sanh là khéo hồi hướng
các điều thiện như trên ắt sẽ tạo thành
cái nhân được văng sanh. Nếu chẳng hồi
hướng th́ chẳng thành cái nhân văng sanh”. Những câu
trên đây cùng chỉ rơ hồi hướng phát nguyện là
điều không thể thiếu được.
“Kỳ nhân lâm chung, A Di Đà Phật
hóa hiện kỳ thân, quang minh tướng hảo, cụ
như chân Phật” (Lúc người
ấy lâm chung, A Di Đà Phật hóa ra thân có đủ tướng
hảo, quang minh như đức Phật thật). SáchViên
Trung Sao nói: “Chữ ‘chân Phật’
chỉ Ứng Thân của Phật Di Đà. Hóa Thân từ Ứng
Thân biến ra, Ngài lại biến hóa ra thân ấy để
đến tiếp dẫn”. Sách Hội Sớ nói: “Đủ các tướng hảo,
quang minh như đức Phật thật nghĩa là như
trong Quán kinh nói ba phẩm bậc Thượng lúc lâm chung
đều thấy A Di Đà Phật và Hóa Phật đến
đón người ấy. V́ vậy, Chân Phật là đức
Phật được bậc thượng phẩm trông thấy, các phẩm khác cứ
căn cứ theo đó mà biết”.
Người bậc Trung lúc lâm chung được thấy
Hóa Phật cũng nhất định được văng
sanh v́ các thân của Phật chẳng một, chẳng khác,
nên người ấy đi theo Hóa Phật văng sanh An Lạc,
trụ bất thoái chuyển, nhưng “công đức trí huệ
thứ
như thượng bối giả dă” (công đức trí huệ kém hơn bậc
Thượng).
Ngoài ra, đối với ba phẩm văng sanh bậc
Trung, Quán kinh chẳng nói là đă phát Bồ Đề tâm. Sau khi
sanh về Cực Lạc, họ đều chứng quả
vị trong Thanh Văn Thừa. Chẳng hạn như, Trung
Phẩm Thượng Sanh khi hoa nở liền đắc quả
A La Hán; Trung Phẩm Trung Sanh bảy ngày hoa nở, đắc
Tu Đà Hoàn, sau nửa kiếp thành A La Hán; Trung Phẩm Hạ
Sanh cũng sau bảy ngày mới đắc Tu Đà Hoàn, phải
hết một tiểu kiếp mới thành A La Hán. Đấy
đều là thánh quả Tiểu thừa vậy.
Thiện Đạo đại sư bảo Trung Phẩm
Thượng Sanh là hạng phàm phu thượng thiện
căn tánh Tiểu Thừa; Trung Phẩm Trung Sanh là hạng
phàm phu Tiểu Thừa hạ thiện; Trung Phẩm Hạ
Sanh là hạng phàm phu làm điều lành thế gian, phước
lớn.
Các kinh, luận vừa dẫn dường như mâu thuẫn
với kinh này v́ những người thuộc bậc Trung
đều là hành nhân Đại Thừa đă phát Bồ Đề
tâm, hễ sanh về đó đều bất thoái chuyển
Vô Thượng Bồ Đề.
Sách Văng Sanh Luận nói: “Nhị
Thừa chủng chẳng sanh” nghĩa là hạng chủng
tánh Nhị Thừa chẳng thể văng sanh, thật khế
hợp với kinh này, nhưng lại mâu thuẫn những
kinh, luận nói trên. Với những điểm mâu thuẫn
ấy, ngài Tịnh Ảnh đă giải thích thật khéo
léo. Ngài viết như sau:
“Ngài Thiên Thân viết trong
Văng Sanh Kệ rằng chủng tánh Nhị Thừa đều
chẳng được văng sanh, Quán kinh lại bảo chúng
sanh Nhị Thừa cũng được văng sanh, nghĩa
là làm sao?
Xin giải thích: Nói Nhị
Thừa chẳng được
văng sanh là nói trong cơi này, nói về lúc văng sanh. Chúng sanh Tiểu
Thừa là [người] trước đă từng quen tu tập
[Tiểu Thừa], nhưng đến khi lâm chung phải
phát tâm Đại Thừa th́ mới được văng sanh. Nếu
dùng tâm Tiểu thừa cầu sanh cơi ấy th́ không khi nào được văng
sanh. V́ vậy, ngài Thiên Thân bảo chủng tánh Nhị Thừa
chẳng được văng sanh!
Hỏi: Nếu bảo là
đă dùng tâm Đại Thừa để văng sanh th́ tại sao
sanh qua cơi kia xong lại chứng Tiểu quả?
Đáp: Do người ấy vốn
đă tu tập Tiểu Thừa lâu ngày. Vốn ở cơi này
quen học cách quán sát Khổ, Vô Thường v.v… nên sanh qua
cơi kia, nghe nói Khổ, Vô Thường v.v… liền ngộ giải bèn chứng Tiểu quả. Vốn
do lúc lâm chung phát tâm Đại Thừa cầu văng sanh cơi kia nên
sau khi đă đắc quả La Hán trong cơi kia sẽ liền
cầu Đại Thừa (hồi Tiểu hướng Đại)”.
Chánh kinh:
其 下 輩 者,假 使 不 能 作 諸 功 德,當 發 無 上 菩 提 之 心,一 向 專 念 阿 彌 陀 佛。歡 喜 信 樂,不 生 疑 惑。以 至 誠 心,願 生 其 國。此 人 臨 終,夢 見 彼 佛,亦 得 往 生。功 德 智 慧 次 如 中 輩 者 也。
Kỳ hạ
bối giả, giả sử bất năng tác chư công
đức, đương phát vô thượng Bồ Đề
chi tâm, nhất hướng chuyên niệm A Di Đà Phật,
hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc. Dĩ chí thành tâm, nguyện sanh kỳ quốc.
Thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ Phật, diệc
đắc văng sanh, công đức trí huệ thứ như trung bối giả dă.
Bậc Hạ
là [những người] giả sử chẳng thể làm
các công đức th́ nên phát tâm Bồ Đề, một dạ
chuyên niệm A Di Đà Phật, hoan hỷ tin ưa, chẳng
sanh ngờ vực, dùng tâm chí thành nguyện sanh cơi kia.
Người ấy lâm chung mộng thấy đức Phật
đó cũng được văng sanh. Công đức trí huệ
kém hơn bậc trung.
Giải:
Bậc Hạ văng sanh có ba nhân duyên: Một là phát Bồ
Đề tâm, hai là một dạ chuyên niệm, ba là chí thành nguyện
sanh. So với bậc Trung, bậc này chỉ chẳng thể
làm các công đức.
“Hoan hỷ tín nhạo, bất
sanh nghi hoặc” (Hoan hỷ tin
ưa, chẳng sanh ngờ vực) chính là “chí tâm tín nhạo” (chí tâm tin ưa) đă nói trong
đại nguyện “mười
niệm ắt được văng sanh”.
“Dĩ chí thành tâm, nguyện sanh
kỳ quốc” (Dùng tâm chí thành
nguyện sanh cơi kia) chính là tâm chí thành và tâm hồi hướng
phát nguyện được nói trong Quán Kinh.
Hơn nữa, do ba bậc văng sanh đều nói “đương phát vô thượng
Bồ Đề chi tâm” (hăy
nên phát tâm Bồ Đề vô thượng) nên Tịnh
Ảnh Sớ mới viết: “Trong
ba bậc này, địa vị tuy sai khác, nhưng muốn
được văng sanh th́ đều phải phát tâm cầu
Đại Bồ Đề, chuyên niệm đức Phật ấy,
hồi hướng phát nguyện th́ mới được
văng sanh”.
Về câu “mộng kiến
bỉ Phật” (mộng thấy
đức Phật ấy) có đến hai cách giải thích
ư nghĩa hơi khác nhau:
1. Một là như ngài Vọng Tây cho rằng trước
hết là mộng thấy, lúc lâm chung chính mắt thấy.
Ngài viết: “Do v́ ba bậc
đều có mộng thấy, mắt thấy. Giác kinh nói về
bậc Thượng như sau: ‘Ư kỳ ngọa thùy
trung, mộng kiến Vô Lượng Thanh Tịnh Phật, cập
chư Bồ Tát, A La Hán, kỳ nhân thọ mạng dục
chung thời, Vô Lượng Thanh Tịnh Phật tắc tự
dữ chư Bồ Tát, phiên phi hành nghênh chi’ (Trong lúc ngủ
nghỉ, mộng thấy Vô Lượng Thanh Tịnh Phật
và các Bồ Tát, A La Hán. Người ấy lúc mạng sắp
hết th́ đích thân Vô Lượng Thanh Tịnh Phật và
các Bồ Tát, A La Hán bay đến đón tiếp).
Bậc Trung cũng mộng
thấy đức Phật. [Đó là] điềm báo trước
được văng sanh, lúc lâm chung [đức Phật sẽ]
đến đón. Do bổn nguyện lợi ích thù thắng
nên phải có đủ hết. Nếu Phật chẳng đến đón, hóa ra
là bổn nguyện dối bày. C̣n trong kinh văn chẳng
nói đến đón là chỉ để phân biệt sự
sai khác giữa ba bậc, nghĩa là: Bậc Thượng là
Báo Phật [đến đón], bậc Trung là Hóa Phật, bậc Hạ là mộng Phật.
Thật ra, sau khi mộng thấy Phật, ắt thấy Phật
đến đón. Do đó, Quán kinh nói ‘hóa Phật đến đón’. Ác nhân c̣n
được như thế, huống là thiện nhân?”
Lời biện luận trên đây có ba điểm chính:
* Đức Phật Di Đà có bổn nguyện lâm chung tiếp
dẫn nên nếu với bậc Hạ, Ngài chẳng đến
nghênh tiếp th́ sẽ trái nghịch với bổn nguyện.
* Theo Quán kinh, bậc Hạ đều là kẻ ác mà Phật
c̣n đến tiếp đón, bậc Hạ trong kinh này
đều là người lành, lẽ nào Phật lại chẳng
đón!
* Trong hai bậc Thượng và Trung được nói
trong hai bản dịch đời Hán và Ngô đều bảo
trước mộng thấy Phật, sau đấy lúc lâm
chung mới thấy Phật nên bậc Hạ cũng phải
hưởng tương tự. V́ vậy, kinh này bảo là
“mộng thấy” là nói về điều trước khi
lâm chung. Quán kinh bảo thấy Phật là nói lúc lâm chung. Đấy
là thuyết thứ nhất.
2. Riêng Hội Sớ bảo rằng đích thật là
Phật đến đón nhưng phảng phất như
trong giấc mộng. Sách viết: “Mộng thấy đức Phật ấy: Quán kinh
nói người trong ba phẩm Hạ trong khoảnh khắc
lâm chung, lửa địa ngục hiện đến, tuy
Phật có đến đón, nhưng thấy mơ hồ
chẳng rơ, tựa hồ như trong giấc mộng. Nếu
chẳng phải vậy th́ làm
sao thần thức an nhàn văng sanh nổi?”
Ư nói: Như Quán kinh dạy người thuộc Hạ
phẩm lúc lâm chung các ngọn lửa từ địa ngục
cùng lúc hiện tới, các khổ chen nhau bức bách, tuy Phật
hiện tiền nhưng thần thức chẳng thanh tịnh,
chẳng thật rơ ràng, chỉ thấy Phật một cách
phảng phất như trong giấc mộng; nên bảo là “mộng kiến bỉ Phật” (mộng thấy đức Phật
ấy). Nếu thật sự chẳng có Phật
đến đón th́ làm sao có thể an nhàn mười niệm
để thần thức theo Chân Phật sanh về Cực
Lạc?
Hai cách giải thích này tuy hơi khác nhau nhưng cùng chia
sẻ quan điểm: Người bậc Hạ văng sanh
cũng có Phật đến đón. Đường dẫu
khác nhưng cùng dẫn về một chốn nên tôi trích dẫn
cả hai thuyết để chứng minh ư chỉ đoạn
kinh này.
Người trong ba phẩm Hạ của Quán Kinh đều
là kẻ ác. Thiện Đạo đại sư bảo Hạ
Phẩm Thượng Sanh là kẻ phàm phu tạo tội Thập
Ác nhẹ, Hạ Phẩm Trung Sanh là kẻ phá giới phạm
tội bậc thứ, Hạ Phẩm Hạ Sanh là kẻ
phàm phu trọng tội tạo đủ Ngũ Nghịch,
Thập Ác v.v... Người thuộc Hạ Phẩm trong
Quán Kinh đều là ác nhân chẳng giống với người
bậc Hạ nói trong kinh này, v́ sao vậy?
Ngài Vọng Tây giải thích: “Là
v́ trong bậc Hạ có nhiều loại. Quán Kinh nói về kẻ
ác, kinh này bàn về người thiện. V́ thế, Giác Kinh
(tức là kinh Vô Lượng Thọ, bản Hán dịch) bảo: ‘Đương đoạn
ái dục, vô sở tham mộ, từ tâm, tinh tấn, bất
đương sân nộ, trai giới thanh tịnh, như
thị thanh tịnh giả, đương nhất tâm niệm
dục sanh Vô Lượng Thanh Tịnh Phật quốc” ([Ba bậc ấy] phải đoạn
ái dục, không tham đắm ǵ, từ tâm, tinh tấn, chẳng
nên sân nộ, trai giới thanh tịnh. Thanh tịnh như
thế rồi nhất tâm niệm, muốn được
sanh vào cơi Phật Vô Lượng Thanh Tịnh).
Do các phẩm loại văng sanh muôn vàn sai khác nên ba bậc
chín phẩm đều chỉ là cách phân định phẩm
loại một cách thô sơ. Ngay trong một bậc Hạ
đă phân ra vô số loại, kinh kia (Quán Kinh) nói về kẻ
ác, kinh này nói về người lành. Những người bậc
Hạ được nói trong bản Hán dịch đích thực
là người tu thiện.
Hơn nữa, người văng sanh thuộc Hạ phẩm
của Quán Kinh lúc sanh tiền tuy là người ác, nhưng
sau khi hoa nở lại đều là người Đại Thừa.
Hạ Phẩm Thượng Sanh sau bốn mươi chín
ngày hoa sen mới nở, qua mười tiểu kiếp mới
nhập Sơ Địa. Hạ Phẩm Trung Sanh phải sau sáu
tiểu kiếp hoa sen mới nở, nghe nói kinh điển
Đại Thừa rất sâu liền lập tức phát Vô
Thượng Đạo Tâm. Hạ Phẩm Hạ Sanh phải
đủ cả mười hai đại kiếp hoa sen mới
nở, nghe pháp hoan hỷ, ngay lập tức phát tâm Bồ Đề.
Ngài Gia Tường viết trong Quán Kinh Nghĩa Sớ
như sau: “Do Thượng Phẩm
tu nhân Đại Thừa nên đắc quả Đại Thừa.
Trung Phẩm do tu nhân Tiểu Thừa nên lại đắc
quả Tiểu Thừa. Hạ Phẩm tuy trong hiện tại
chẳng tu điều lành Đại Thừa lẫn điều
lành Tiểu Thừa, nhưng lúc
lâm chung gặp thiện tri thức giảng cho diệu pháp
Đại Thừa. Do nghe pháp Đại Thừa nên đắc quả
Đại Thừa”.
Kinh A Di Đà bảo những thiện nam tử, thiện nữ
nhân chấp tŕ danh hiệu được sanh về Tịnh
Độ th́ “kỳ nhân lâm mạng
chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện
tại kỳ tiền” (người
ấy lúc lâm chung, A Di Đà Phật cùng các thánh chúng hiện ở
trước mặt) rất
phù hợp với thuyết ba bậc văng sanh đều
được thấy Phật của kinh này.
Ngoài ra, như kinh Xưng Dương Chư Phật Công
Đức cũng nói: “Nhược
hữu đắc văn Vô Lượng Thọ Như Lai
danh giả... mạng dục chung thời, nhất tâm tín nhạo,
niệm bất vong xả, A Di Đà Phật tương
chư chúng tăng, trụ kỳ nhân tiền, Ma chung bất
năng hoại tư Đẳng Chánh Giác chi tâm” (Nếu có kẻ được
nghe danh hiệu của Vô Lượng Thọ Như Lai… lúc
lâm chung nhất tâm tin ưa, chẳng quên bỏ niệm th́
A Di Đà Phật dẫn chúng tăng đứng trước người
ấy, ma trọn chẳng thể phá hoại nổi tâm
Đẳng Chánh Giác của người đó)”.
Kinh Cổ Âm Vương cũng bảo: “Nhược hữu tứ chúng, năng chánh thọ
tŕ, bỉ Phật danh hiệu, lâm mạng chung thời, A Di
Đà Phật dữ chư đại chúng, trụ thử
nhân sở, linh kỳ đắc kiến” (Nếu có tứ chúng có thể
thọ tŕ danh hiệu đức Phật ấy một cách
chân chánh th́ lúc lâm chung, A Di Đà Phật liền cùng đại
chúng ở chỗ người ấy, khiến cho người
ấy được thấy).
Kinh Hoa Nghiêm lại dạy: “Như
Lai hữu thập chủng Phật sự. Nhất giả,
nhược hữu chúng sanh chuyên tâm ức niệm, tắc
hiện kỳ tiền” (Như
Lai có mười thứ Phật sự. Một là nếu có
chúng sanh chuyên tâm nghĩ nhớ Ngài th́ Phật sẽ hiện
ra trước mặt). Những đoạn kinh vừa
dẫn đều là những chứng cớ hiển nhiên
cho lời dạy trong kinh này.
Thế nhưng Như Lai vốn chẳng đến
đi, sao lại bảo Phật hiện trước mặt?
Ba vị đại sư Liên Tŕ, U Khê, Ngẫu Ích đă giảng
nghĩa điều này rất sâu xa. Những lời giảng
ấy rất tinh diệu, khế hợp bổn hoài đức
Phật nên tôi cung kính chép ra như sau:
* Trong quyển Sớ Sao, ngài Liên Tŕ bảo:
“Cổ đức bảo Phật
chẳng đến đi th́ làm sao lại có chuyện Phật
hiện ở trước mặt?
Đáp: Cảm ứng đạo
giao chẳng trở ngại chuyện đến hay đi! Chẳng thấy mà lại thấy
nên ngài Vĩnh Minh bảo: ‘Biết huyễn chẳng phải
là thật th́ tâm lẫn Phật đều mất. Chẳng
phải là vô huyễn tướng nên chẳng hoại tâm và
Phật’. Ngài lại bảo: ‘Pháp Thân chân Phật vốn chẳng
sanh diệt, từ chân thật mà hóa hiện ra như vậy
để tiếp dẫn căn cơ c̣n mê’.
Đây chính là bổn nguyện
công đức của Như Lai khiến cho chúng sanh hữu
duyên chuyên tâm tưởng niệm, ngay trong tự tâm thấy
được Phật đến đón, chẳng phải
là chư Phật thật sự sai hóa thân đến đón
tiếp. Thân Phật trạm nhiên thường tịch mà
chúng sanh thấy có đến, đi như ảnh hiện
trong gương, chẳng phải ở trong, chẳng phải
là bên ngoài, như chuyện trong mộng chẳng có, chẳng
không.
Lại như kinh dạy: ‘Ưng
dĩ Phật thân đắc độ giả, tức hiện
Phật thân nhi vị thuyết pháp” (Cần phải do Phật thân mới được
độ th́ Ngài liền hiện thân Phật để thuyết
pháp)’ cũng chính là ư này. V́ vậy,
nước trong th́ trăng tự hiện, tâm tịnh th́ Phật
tự hiện, nên mới bảo cảm ứng đạo
giao khó nghĩ bàn”.
* Trong tác phẩm Viên Trung Sao, đại sư U Khê viết:
“Phàm là thấy Phật th́ phải
bàn đến cảm ứng. Nếu b́nh thời tu tham Thiền
hoặc tu Không Quán, đă chú trọng quét sạch tất cả,
ngay cả Phật c̣n chẳng có; nếu bỗng thấy Phật
th́ ắt là cảnh ma hoặc do công dụng hiển hiện khiến cho đức Phật
trong tâm tự hiện, nhưng cũng phải quán Không, chớ
chấp vào tướng.
C̣n nay đă niệm Phật
cầu sanh Cực Lạc, lâm chung
thấy Phật th́ đó là do cái nhân này cảm ứng một
cách nhiệm mầu. Lại do chúng sanh và Phật vốn
cùng một Thể, cảm ứng đạo giao, pháp vốn
là như vậy. Nếu chẳng hiểu rơ điều này
lại vọng luận, tà đàm th́ chẳng những tự
chướng mà c̣n làm chướng người, sanh tội
lỗi lớn đối với pháp môn này!”
* Trong sách Yếu Giải, tổ Ngẫu Ích viết:
“Mười vạn ức
cơi chẳng ra ngoài tánh của một niệm tâm hiện tiền
của ta, v́ tâm tánh vốn không có bên ngoài. Lại
nương nhờ vào sức tiếp dẫn của đức
Phật ngay trong tự tâm nên khó ǵ mà chẳng được
sanh ngay. Như tấm gương chiếu
mấy mươi tầng núi, sông, lầu gác, tầng nào lớp
nấy rành rành, thật chẳng có xa gần. Cứ một
phen soi đến là đều hiện rơ cả, chẳng
có trước, sau!
Câu ‘tùng thị Tây
Phương quá thập vạn ức Phật độ, hữu
thế giới danh viết Cực Lạc’ (từ đây
đi qua Tây phương khỏi mười vạn ức
cơi Phật, có thế giới tên
là Cực Lạc) cũng có ư nghĩa giống như thế.
Câu ‘kỳ độ hữu Phật hiệu A Di Đà, kim
hiện tại thuyết pháp” (cơi ấy có Phật hiệu
là A Di Đà nay hiện c̣n thuyết pháp) cũng có cùng ư nghĩa
như thế.
Câu ‘kỳ nhân lâm mạng
chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện
tại kỳ tiền, thị nhân chung thời, tâm bất
điên đảo, tức đắc văng sanh A Di Đà Phật
Cực Lạc quốc độ” (người ấy lúc
lâm chung A Di Đà Phật và các thánh
chúng hiện ra trước mặt. Người ấy lúc
chết tâm chẳng điên đảo liền được
văng sanh cơi nước A Di Đà Phật) cũng có cùng ư nghĩa như
thế. Cần biết rằng mỗi chữ đều
là lời văn thiêng liêng về Hải Ấn tam-muội,
Đại Viên Kính Trí”.
Quả thật như lời đại sư Linh Phong
tán thán, từng chữ trong kinh này đều là lời
văn thiêng liêng diễn tả
Hải Ấn tam-muội, Đại Viên Kính Trí.
Cả ba lời luận bàn trên đều “thở cùng một lỗ mũi”
với các tổ Thiền lẫn Tịnh, chính là từ
trong Đại Quang Minh tạng tự nhiên biến hiện: Do
Tự và Tha chẳng hai nên Tự lẫn Tha đều hệt
như nhau. Do Tự và Tha chẳng hai nên vị Phật đến đón
đó chính là đức Phật trong tâm ḿnh. Lại do Tự
và Tha rành rành nên ngay từ nơi “Phật thật sự chẳng
đến, người cũng chẳng đi ấy”, lúc
lâm chung lại rành rành hiển hiện việc có Phật
đến đón văng sanh Cực Lạc. Sự, Lư viên dung tự
tại vô ngại, chỉ tin được nổi là
đă đạt lợi ích vô lượng.
Ngoài ba loại văng sanh trên đây, đoạn kinh tiếp
theo đây sẽ nói đến loại “nhất niệm tịnh
tâm, thập niệm, nhất niệm văng sanh”. Loại này
c̣n được gọi là “nhất tâm tam bối”.
Khái niệm “nhất tâm tam bối” do lăo pháp sư Từ
Châu, một vị đại đức bên Luật Tông ở
chùa Tịnh Liên, Bắc Kinh, đề xướng trong tác
phẩm Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ
Trang Nghiêm Thanh Tịnh B́nh Đẳng Giác Kinh Khoa Phán. Pháp sư
chính là một trong ba vị đại cao tăng hiện
đại của miền Hoa Bắc. Ngài từng chuyên giảng
kinh này ở Tế Nam và Bắc Kinh và từng soạn khoa
phán cho kinh này (tác phẩm khoa phán ấy được ấn
hành năm Kỷ Măo – 1939).
Pháp sư phán định “nhất tâm tam bối” của
Ngài và cụ Hạ hội tập kinh này có cùng một tâm
nhăn, cùng một đường lối, nêu tỏ được
những đều tinh vi, kín đáo mà người đời
trước chưa từng nêu ra, đă hiển lộ chân
lư mầu nhiệm của Tịnh tông đă bị ẩn
kín bấy lâu nay. Ư chỉ Thiền Tịnh bất nhị
cũng nhờ phán định này của Ngài mà càng
được bày tỏ rơ ràng.
Chánh kinh:
若 有 眾 生 住 大 乘 者,以 清 淨 心,向 無 量 壽。乃 至 十 念,願 生 其 國。聞 甚 深 法,即 生 信 解。乃 至 獲 得 一 念 淨 心,發 一 念 心 念 於 彼 佛。此 人 臨 命 終 時,如 在 夢 中,見 阿 彌 陀 佛,定 生 彼 國,得 不 退 轉 無 上 菩 提。
Nhược
hữu chúng sanh trụ Đại Thừa giả, dĩ
thanh tịnh tâm, hướng Vô Lượng Thọ, năi chí
thập niệm, nguyện sanh kỳ quốc, văn thậm
thâm pháp, tức sanh tín giải, năi chí hoạch đắc nhất
niệm tịnh tâm, phát nhất niệm tâm niệm ư bỉ
Phật. Thử
nhân lâm mạng chung thời, như tại mộng trung, kiến
A Di Đà Phật, định sanh bỉ quốc, đắc
Bất Thoái Chuyển Vô Thượng Bồ Đề.
Nếu có chúng
sanh trụ trong Đại Thừa, dùng tâm thanh tịnh hướng
về Vô Lượng Thọ Phật, dẫu chỉ mười
niệm nguyện sanh cơi kia, nghe pháp thậm thâm liền sanh
tin hiểu; thậm chí đạt được một niệm
tịnh tâm, phát nhất niệm tâm niệm đức Phật
kia th́ người ấy lúc mạng sắp dứt, giống
như ở trong mộng, thấy A Di Đà Phật, quyết
định sanh trong cơi ấy, được chẳng thoái
chuyển nơi Vô Thượng Bồ Đề.
Giải:
Cả đoạn kinh trên hoàn toàn trích từ bản
Đường dịch. Cả hai bản Ngụy dịch và
Đường dịch dường như xuất phát từ
cùng một Phạn bản, nhưng lời kinh trong bản
Đường dịch mạch lạc phân minh hơn, lời
văn phong phú, ư nghĩa sâu sắc vượt xa bản Ngụy
dịch. Bản Ngụy
dịch ghi chép những ư này tản mác ở đầu phẩm
lẫn cuối phẩm (Kinh Vô
Lượng Thọ bản Ngụy dịch không chia thành phẩm.
Cụ Hoàng Niệm Tổ dùng chữ “phẩm” ở đây
để chỉ toàn bộ
đoạn kinh lớn nói về tam bối văng sanh trong kinh ấy
– Chú thích của người dịch). Trước phần nói về bậc Thượng văng
sanh, bản Ngụy dịch chép: “Chư
hữu chúng sanh văn kỳ danh hiệu, tín tâm hoan hỷ,
năi chí nhất niệm chí tâm hồi hướng, nguyện
sanh kỳ quốc, tức đắc văng sanh” (Có các chúng
sanh nghe danh hiệu Ngài, ḷng tin hoan hỷ, thậm chí một
niệm chí tâm hồi hướng nguyện sanh cơi ấy
th́ liền được văng sanh); kế đó, trong phần
nói về bậc Hạ văng sanh lại bảo:
“Kỳ hữu chí tâm, dục
sanh bỉ quốc, giả sử bất năng tác chư
công đức, đương phát vô thượng Bồ
Đề chi tâm, nhất hướng chuyên niệm, năi chí
thập niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật,
nguyện sanh kỳ quốc. Nhược văn thâm pháp,
hoan hỷ tín nhạo, bất sanh nghi hoặc, năi chí nhất
niệm, niệm ư bỉ Phật, dĩ chí thành tâm nguyện
sanh kỳ quốc. Thử nhân lâm chung, mộng kiến bỉ
Phật, diệc đắc văng sanh, công đức trí huệ
thứ ư trung bối giả dă” (Có kẻ chí tâm
muốn sanh cơi ấy nhưng giả sử chẳng thể
làm các công đức th́ phải nên phát tâm Vô Thượng Bồ
Đề, một bề chuyên niệm, dẫu chỉ mười
niệm, niệm Vô Lượng Thọ Phật nguyện
sanh cơi Ngài. Nếu nghe pháp sâu mà hoan hỷ, tin ưa, chẳng
sanh ngờ vực thậm chí trong một niệm, niệm
đức Phật ấy, dùng tâm chí thành nguyện sanh về
cơi Ngài th́ người ấy lúc lâm chung mộng thấy
đức Phật đó cũng được văng sanh.
Công đức, trí huệ kém hơn bậc trung).
Dựa theo bản Ngụy dịch, đại sư Hải
Đông Nguyên Hiểu đời Đường đă viết trong
tác phẩm Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu như sau:
“Trong bậc Hạ, [kinh] nói
đến hai hạng người. Trong hai hạng người
đó, [với mỗi hạng] đều có ba câu. Ba câu của
hạng đầu là:
1. Một là giả sử chẳng
thể làm các công đức th́ phải phát Vô Thượng
Bồ Đề tâm, đấy là chánh nhân.
2. Hai là dẫu chỉ mười
niệm chuyên niệm đức Phật kia, đấy là
duyên để trợ giúp cho nghiệp được viên
măn.
3. Ba là nguyện sanh cơi kia,
nguyện này hợp với những hạnh trên tạo
thành cái nhân.
Đây là nói về hạng
người Bất Định Tánh.
Ba câu của hạng thứ
hai là:
1. Một là nghe pháp thậm
thâm, hoan hỷ tin ưa. Câu này nói rơ thêm về chánh nhân phát
tâm, hạng này chỉ khác
với hạng trên ở chỗ có ḷng tin sâu xa.
2. Hai là thậm chí trong một
niệm, niệm đức Phật kia. Đấy là duyên để
trợ giúp cho nghiệp
được viên măn. Câu này chỉ rơ: Hạng trên do không
có ḷng tin sâu xa nên cần phải có mười niệm, c̣n
hạng này do ḷng tin sâu xa nên chẳng cần phải đủ
cả mười niệm
(Trộm nghĩ: Ngài Nguyên Hiểu đưa ra thuyết
này v́ chỉ dựa trên bản Ngụy dịch. Nếu xét
theo hội bản, một niệm mà được văng
sanh th́ toàn là do đạt được một niệm tịnh
tâm. Từ trong nhất tâm, niệm danh hiệu Phật một
tiếng th́ ngay lập tức tương ứng với bổn
nguyện của Phật Di Đà; v́ vậy, khi lâm chung liền
được văng sanh).
3. Ba là dùng tâm chí thành nguyện
sanh cơi kia. Nguyện này hợp với những hạnh trên
tạo thành cái nhân. Đây là nói về hạng người thuộc
chủng tánh Bồ Tát
(Đấy là như bản Ngụy dịch chép là “trụ
Đại Thừa giả” (bậc trụ trong Đại
Thừa)).
Ư Ngài bảo: Trong bậc Hạ văng sanh có đến hai
hạng:
1. Một là hạng phát Bồ Đề tâm, mười niệm
thánh hiệu nguyện sanh cơi kia liền được văng
sanh. Đó là hạng Bất Định Tánh.
2. Hai là nghe pháp sanh ḷng tin sâu xa, thậm chí trong một
niệm nguyện sanh cơi kia liền được văng sanh.
Đấy là hạng chủng tánh Bồ Tát.
Ngài Nguyên Hiểu thật đă xét tường tận
phần kinh văn nói về bậc Hạ văng sanh trong bản
Ngụy dịch, nên nhận thấy rằng trong bậc Hạ
có các phẩm loại khác nhau. Thử hỏi “văn pháp thậm thâm, hoan hỷ
tín nhạo, bất sanh nghi hoặc” (nghe pháp thậm thâm, hoan hỷ, tin ưa, chẳng
sanh ngờ vực), trí huệ thù thắng như thế phải
là cảnh giới của hạng người nào? V́ vậy,
ngài Nguyên Hiểu mới gọi họ là “hạng người chủng tánh Bồ Tát”. Phải
là chủng tánh Bồ Tát mới có thể tin sâu, mới khởi
tâm niệm Phật, “dĩ chí
thành tâm, nguyện sanh kỳ quốc” (dùng tâm chí thành nguyện sanh về cơi Ngài). Những
người như vậy thật chẳng thể coi
là thuộc về hạng người bậc Hạ
được.
Báo Ân Luận cũng bảo: “Xét
kỹ ra, đoạn kinh nói về mười niệm văng
sanh đây là chuyên bàn về hạng người trụ
nơi Đại Thừa. Xét trong Đại Thừa, người
giải ngộ trong Thiền Tông và người giải ngộ
do đọc hết thảy kinh điển Đại Thừa
đều thuộc về hạng
này (tức là hạng “trụ trong Đại Thừa, mười
niệm văng sanh”). Những
người ấy chẳng chuyên tu Tịnh Độ, chẳng
hạn như các vị Trí Giả, Vĩnh Minh v.v…”
Kiến giải này so với lời bàn định của
ngài Nguyên Hiểu càng cao hơn một bậc nữa (chỉ
tiếc là dùng Vĩnh Minh đại sư làm thí dụ th́
chưa ổn thỏa mấy v́ Ngài ngày đêm niệm Phật
đến cả mười vạn tiếng). Kinh nói
người trụ trong Đại Thừa, tâm thanh tịnh,
nghe pháp thậm thâm liền sanh tin hiểu. Hạng người
trí huệ nhạy bén, tín nguyện kiên cố như vậy
th́ chỉ có các bậc đại lăo như Trí Giả,
Vĩnh Minh, Trung Phong mà thôi. Những vị căn cơ
ngang với các ngài Trí Giả, Vĩnh Minh, Trung Phong th́ lẽ
đâu thuộc bậc Hạ?
Bởi vậy, trong Hội Bản, sau phần nói về
bậc Hạ, cụ Hạ Liên Cư đă chép nguyên bản
Đường dịch thành một đoạn riêng với
thâm ư: Ngoài ba bậc văng sanh thường được nhắc
tới ra, c̣n có riêng một loại, tức là như pháp
sư Từ Châu đă phán định là hạng “nhất tâm tam bối”.
Hạng Nhất Tâm Tam Bối này có riêng cách tu giản
lược của bậc đại nhân, vượt khỏi
quy cách văng sanh thông thường. Cách tu giản lược
đó chính là “nhất tâm”. Chữ
“nhất niệm tịnh tâm”
nói trong phẩm này chính là chữ “nhất
niệm tịnh tín” được nói trong phẩm “Thập
Phương Phật Tán”. Trong phần trên đă nói:
“Năi chí năng phát nhất niệm tịnh tín, sở
hữu thiện căn chí tâm hồi hướng, nguyện
sanh bỉ quốc, tùy nguyện độ sanh” (Thậm
chí có thể phát niệm tịnh tín đem tất cả thiện
căn chí tâm hồi hướng nguyện sanh cơi kia đều
tùy nguyện văng sanh); phẩm
này lại dạy: “Năi chí hoạch đắc nhất niệm
tịnh tâm, phát
nhất niệm tâm, niệm ư bỉ Phật... định
sanh bỉ quốc” (Thậm chí đạt được một niệm tịnh
tâm, phát một niệm tâm, niệm đức Phật kia…
quyết định sanh về cơi ấy).
Tiền hô
hậu ứng[5] cùng hiển
hiện ư chỉ “nhất tâm, nhất niệm”. Đây thật
là diệu thể của pháp môn Tịnh Độ. Bản hội
tập của cụ Hạ và lời khoa phán của lăo pháp
sư Từ Châu đều khế hợp bổn hoài của
chư Phật, diễn bày sâu xa ư chỉ “Thiền - Tịnh
bất nhị”, thật là có công lớn với Thánh giáo.
Nhất tâm và nhất niệm tuy dùng chữ khác nhau,
nhưng ư nghĩa chỉ là một. Sách Giáo Hạnh Tín Chứng
nói: “Nhất niệm là tín tâm
không có nhị tâm nên bảo là nhất niệm; đấy gọi
là nhất tâm. Nhất tâm chính là cái nhân chân thật của
cơi báo độ thanh tịnh”. Nghĩa là: Ḷng tin không có
tâm nào khác xen vào th́ gọi là nhất tâm, mà cũng chính là nhất
niệm. Đó cũng gọi là cái nhân chân thật của thanh
tịnh báo độ, tức là người văng sanh ắt
sẽ chứng cơi Thật Báo Trang Nghiêm để thành bậc
Địa Thượng Đại Sĩ (bậc Bồ Tát từ
Sơ Địa trở lên). Do đây ta thấy công đức
của nhất tâm thù thắng chẳng thể nghĩ bàn.
Sách Tín Tâm Minh có câu: “Tín tâm bất
nhị, bất nhị tín tâm. Ngôn ngữ bặt dứt, chẳng
có quá khứ, vị lai, hiện tại”. Câu này cũng nhằm
minh thị “tín tâm bất nhị chính là nhất tâm chẳng
thể nghĩ bàn”. V́ vậy, một niệm tín tâm th́ tùy
nguyện được văng sanh.
Sách Viên Trung Sao lại bảo: “Tŕ danh nhất tâm bất loạn là nhân. Đắc nhất
niệm là nói về hạnh được thành tựu. Sức
của nhất niệm có công năng điều phục Hoặc
chướng. Lâm chung chánh niệm tự nhiên hiện tiền,
tất yếu được văng sanh Tịnh Độ”.
Ư nói: Tŕ danh tâm chẳng tán loạn là nhân hạnh, đạt
được “nhất niệm”
chính là quả thành tựu của hạnh. Nếu đạt
được nhất niệm th́ lúc lâm chung dẹp tan
được các Hoặc, chánh niệm tự nhiên hiện
tiền; đấy là cái nhân quyết định văng sanh.
Do vậy, kinh này dạy: “Phát
nhất niệm tâm, niệm ư bỉ Phật, định
sanh bỉ quốc” (Phát nhất
niệm tâm, niệm đức Phật ấy, quyết
định sanh về cơi kia).
Tuy sách Di Đà Yếu Giải c̣n bảo mười niệm
cho đến một niệm văng sanh là nói về lúc lâm
chung, nhưng thuyết ấy chẳng mâu thuẫn với
điều chúng ta đang bàn ở đây. Nếu b́nh thời
phát khởi được nhất niệm thanh tịnh
tâm, ngầm khế hợp lư thể, nhập được
nhất niệm, th́ do sức của nhất niệm, lúc
lâm chung sẽ thành tựu mười niệm hay một niệm
như Viên Trung Sao bảo: “Sức
của một niệm này có công năng điều phục
được các Hoặc chướng, lâm chung chánh niệm
tự nhiên hiện tiền”.
Trong nhất tâm lại có Sự lẫn Lư:
1. Sự nhất tâm là
như Di Đà Sớ Sao nói: “Nghe
danh hiệu Phật thường nhớ, thường niệm,
tâm duyên theo từng chữ phân minh. Câu trước, câu sau
liên tục chẳng dứt. Đi, đứng, nằm, ngồi chỉ có một niệm
này, không c̣n có niệm thứ hai, chẳng bị tham, sân, si
phiền năo tạp loạn. Về mặt Sự đă
đắc, nhưng chưa thấu triệt mặt Lư. Chỉ
được tín lực nhưng chưa thấy đạo
nên gọi là Sự nhất tâm”.
Sách Di Đà Yếu Giải lại bảo: “Chẳng luận là Sự tŕ hay Lư tŕ, tŕ đến mức
dẹp trừ được phiền năo, thậm chí Kiến
Hoặc lẫn Tư Hoặc đều hết sạch cả,
th́ đều là Sự nhất tâm”.
2. Lư nhất tâm là
như sách Di Đà Sớ Sao nói: “Nghe
danh hiệu Phật chẳng những chỉ ức niệm
mà ngay nơi niệm đó, quán trở lại soi xét tường
tận, truy đến tận căn nguyên, suy xét đến
cùng cực, đột nhiên khế hợp bản tâm của
chính ḿnh. Do thấy được Chân Đế nên gọi là
Lư nhất tâm”.
Sách Di Đà Yếu Giải bảo: “Chẳng luận là Sự tŕ hay Lư tŕ, tŕ đến mức
tâm khai ngộ thấy được vị Phật nơi
bản tánh th́ đều là
Lư nhất tâm”.
Trong hai thứ nhất tâm, Lư nhất tâm là tối
thượng.
Sách Di Đà Sớ Sao lại bảo: “Chấp tŕ danh hiệu, nhất tâm hướng đến
văng sanh chính là Sự nhất tâm. Chấp tŕ danh hiệu, trở
về tự tâm chính là Lư nhất tâm”.
Kinh Na Tiên nói: “Chư thiện
chi trung, độc hữu nhất tâm, tối vi đệ
nhất. Nhất kỳ tâm giả, chư thiện tùy chi” (Trong các điều thiện chỉ
có nhất tâm là cao tột nhất. Hễ nhất tâm rồi
th́ các điều thiện đều có). Sách Di Đà Sớ
Sao nói: “Toàn thể của nhất
tâm này là Phật. Nhất tâm này lại chính là Định bậc
nhất trong các thứ Định, nó chính là Niệm Phật
tam-muội của Bồ Tát, chính là Thiền Trực Chỉ
của Đạt Ma”.
Theo những kinh, luận vừa dẫn trên, nhất niệm
chính là nhất tâm, mà cái nhất niệm ấy lại chính
là tự tánh bản giác linh tri.
Ông Hạnh Tây Thị người Nhật bảo: “Nhất thừa chính là hoằng
nguyện, hoằng nguyện chính là Phật trí, Phật trí
chính là nhất niệm”. Ông Hạnh Tây lập ra nghĩa
nhất niệm như sau: Nếu tín tâm phàm phu tương ứng
được với nhất niệm Phật trí th́ sự
nghiệp văng sanh tự nhiên hoàn thành, chẳng cần phải
miệng lăm lăm niệm danh hiệu Phật cho nhiều.
Thuyết này tương tự như thuyết của
Báo Ân Luận: Người tu Thiền tông ngộ điều
ḿnh tham cứu hay người đọc kinh mà giải ngộ
rồi chuyên tu Tịnh Độ, nếu như đạt
được một niệm tịnh tín th́ được
tương ứng với Phật trí, xưng danh hiệu
Phật một tiếng liền được văng sanh.
Nhưng trong Tịnh tông, chữ “một niệm” hay “mười
niệm” lại chỉ việc phàm phu xưng niệm Phật
hiệu một tiếng hay mười tiếng. Chẳng hạn
như trong Vô Lượng Thọ Kinh Sớ, ngài Nghĩa Tịch
giảng: “Niệm chính là
xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Vừa hết sáu chữ ấy
là một niệm”, nghĩa là: Niệm tụng Phật
hiệu một tiếng là một niệm.
Quán kinh bảo Hạ Phẩm Hạ Sanh “như thị chí tâm, linh thanh bất tuyệt, cụ
túc thập niệm, xưng Nam Mô A Di Đà Phật, xưng
Phật danh cố, ư niệm niệm trung, trừ bát thập
ức kiếp sanh tử chi tội, mạng chung chi thời,
kiến kim liên hoa, do như xa luân. Như nhất niệm
khoảnh, tức đắc văng sanh Cực Lạc thế
giới” (chí tâm như thế
khiến cho chẳng ngớt tiếng, đầy đủ
mười niệm xưng Nam Mô A Di Đà Phật. Do xưng
danh hiệu Phật nên trừ được tội trong
tám mươi ức kiếp sanh tử. Lúc mạng chung thấy
hoa sen vàng to như bánh xe. Như trong khoảng một niệm
liền được văng sanh Cực Lạc thế giới).
Do vậy, ta thấy rằng “mười niệm”
chính là “mười tiếng”. Mười
niệm thậm chí một niệm lúc lâm chung như vậy
đều được văng sanh như ông Bành Tế Thanh
nói: “Như thật hồi
hướng, một niệm niệm Phật th́ không ai chẳng
văng sanh; đó là do sức bổn nguyện của Phật
vậy”.
So với cái tâm nhất niệm vừa bàn ở trên,
mười niệm lúc lâm chung được giảng trong
Quán kinh vừa tương đồng, vừa dị biệt.
Trong Sớ Sao, Liên Tŕ đại sư đă luận định
điều này rất mực tinh xác. Ngài viết:
“Nên biết rằng chí tâm niệm
A Di Đà Phật một tiếng th́ diệt được tội
trong tám mươi ức kiếp sanh tử; đấy
chính là nói về Lư nhất tâm. Ắt có kẻ ngờ rằng:
Tội đă nhiều kiếp, nghiệp
nặng chướng sâu, phải siêng năng sám hối lâu
ngày, tích tập công đức dần dần mới có thể
tiêu hết nổi, c̣n như niệm Phật một tiếng
lại có thể diệt tội nhiều kiếp, nhân bé, quả
to, làm sao tin nổi?
Nay bảo rằng: Chí tâm
chính là nhất tâm. Nếu là Sự nhất tâm th́ dẫu có
thể diệt tội, nhưng do sức nó thưa mỏng,
tội sẽ hiện trở lại. Niệm thật nhiều
chỉ có thể tiêu diệt chút ít tội khiên.
Chí tâm ở đây chính là thuộc về Lư nhất tâm.
Nhất tâm đă sáng tỏ th́ bao điều vọng chứa
chất liền tiêu ngay giống như nhà tối ngàn
năm, đem một ngọn đèn sáng vào, chẳng lẽ
bóng tối chẳng bị mất ngay hay sao? V́ vậy, lư lẽ ‘nhất xưng Nam Mô Phật,
giai dĩ thành Phật đạo’ (xưng Nam Mô Phật một
tiếng, đều đă thành Phật đạo) chẳng
phải riêng ḿnh kinh Diệu Pháp Liên Hoa mới có!
Kinh Pháp Hoa Tam Muội Quán
nói: ‘Thập phương chúng sanh, nhất xưng Nam Mô Phật
giả, giai đương tác Phật. Duy nhất Đại
Thừa, vô hữu nhị tam. Nhất thiết chư pháp,
nhất tướng, nhất môn, sở vị vô sanh vô diệt,
Tất Cánh Không tướng’ (Mười phương chúng sanh một phen xưng Nam Mô Phật
đều sẽ thành Phật, chỉ có một Đại Thừa,
chẳng có hai hay ba. Hết thảy các pháp là nhất tướng,
nhất môn, nghĩa là vô sanh, vô diệt, là tướng rốt
ráo không). Những lời như trên chẳng phải là [nói về] Lư nhất
tâm hay sao?”
Liên Tŕ đại sư bảo “chí tâm” nói trong Quán kinh chính là Lư nhất tâm. Đó là v́
khi lâm chung chính mắt thấy lửa địa ngục liền
sanh ḷng tin thật sự nên có thể nhanh chóng dứt muôn
duyên, chỉ tập trung vào một niệm; niệm niệm
ly niệm, niệm niệm chính là tâm, niệm niệm khế
hợp Chân Như, niệm niệm là Phật. Mười
niệm lâm chung như vậy đă khế hợp Lư nhất
tâm nên được diệt tội văng sanh.
Thế nào là chí tâm? Sách Vô Lượng Thọ Tông Yếu
dùng ngay thí dụ của ngài La Thập: Thí như có người
gặp phải ác tặc đuổi theo toan giết.
Người ấy rảo chạy, phải vượt sông
mới thoát. Lúc ấy, chỉ nghĩ cách vượt sông:
“Chỉ có niệm ấy chẳng
có niệm khác. Cái ư niệm vượt sông khi ấy chính là
nhất niệm. Thập niệm này chẳng xen lẫn niệm
nào khác. Hành giả cũng thế: Hoặc niệm danh hiệu
Phật, hoặc niệm tướng hảo của Phật
v.v... niệm Phật không gián đoạn cho đến
mười niệm. Chí tâm như thế th́ gọi là mười
niệm”.
Nghĩa là: Hành giả niệm Phật như người
muốn vượt sông trong thí dụ nói trên, chỉ có ư niệm
muốn vượt sông, không c̣n nghĩ ǵ khác, th́ gọi là
“chí tâm”. Niệm liên tục như thế cho đến
mười niệm th́ chính là thập niệm. Lúc lâm chung mà
làm được như thế th́ quyết định
văng sanh, thậm chí chỉ một niệm (xem Niệm Phật
Bảo Vương Luận) nhưng niệm tâm thuần nhất,
kiên cố th́ cũng được văng sanh. Đó là v́ thầm
hợp diệu đạo, khéo nhập Vô Sanh. V́ thế,
Ngũ Nghịch, Thập Ác lâm chung niệm Phật, thậm
chí một niệm cũng được văng sanh. Điều
này hiển lộ Di Đà bổn nguyện chẳng thể
nghĩ bàn. Cái quả do Bồ Tát Pháp Tạng tư duy tạo
thành chính là ở chỗ này. Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc
lâm chung tướng địa ngục hiện, các ngọn
lửa cùng hiện ra mà có thể xưng danh hiệu Phật
th́ sẽ nhanh chóng ĺa được vọng hoặc, nhập
Lư nhất tâm. Do khế hợp với Lư nên các tội tiêu
diệt liền sanh về Cực Lạc, chứng ngay ba thứ
Bất Thoái.
Nếu chẳng phải là phương tiện rốt
ráo nhất trong các phương tiện, là tối cực
viên đốn trong các thứ viên đốn th́ lẽ nào
đạt được như thế? Pháp môn Tịnh Độ
này có thể làm cho phàm phu ác nghịch thầm hợp nhất
tâm cho nên A Di Đà Phật được gọi là đấng
Nguyện Vương thật cũng chẳng ngoa!
Trong An Lạc Tập, đại sư Đạo Xước
cũng luận về thập niệm văng sanh như sau:
“Ông bảo ác nghiệp trong
một đời là nặng, coi điều thiện mười
niệm của hạng Hạ Phẩm là nhẹ th́ tôi nay sẽ
dùng nghĩa lư để so sánh. Nghĩa của nặng hay
nhẹ rơ ràng là cốt ở tại
tâm, tại duyên, tại quyết định, chứ chẳng
phải tại nơi thời tiết lâu, gần, nhiều,
ít.
1. Một, thế nào là tại
tâm? Lúc người ấy tạo tội tự
nương dựa vào tâm hư vọng
điên đảo để sanh khởi. C̣n thập niệm
đây lại dựa vào thiện tri thức phương tiện
an ủi, do nghe pháp Thật Tướng mà sanh (dựa
vào Thật Tướng mà sanh).
Một đằng thật, một đằng hư, lẽ nào so sánh được?
V́ sao? Ví như nhà tối
ngàn năm, nếu ánh sáng tạm chiếu vào sẽ liền
sáng tỏ. Há có dám bảo bóng tối ngàn năm trong nhà chẳng
bị mất đi hay sao? V́ vậy kinh Di Nhật Ma Ni Bảo
nói: ‘Phật cáo Ca Diếp Bồ
Tát: - Chúng sanh tuy phục sổ thiên cự ức vạn kiếp,
tại thọ dục trung, vị tội sở phú, nhược
văn Phật kinh, nhất phản niệm thiện, tội
tức tiêu tận dă’ (Phật bảo Ca Diếp Bồ Tát:
- Chúng sanh tuy trong mấy ngàn cự ức vạn kiếp ở
trong ái dục bị tội che lấp nhưng nếu khi
nghe kinh Phật mà một phen nghĩ đến điều
lành th́ tội liền tiêu diệt hết). Đấy gọi
là tại tâm.
2. Hai, thế nào là tại
duyên? Người ấy lúc tạo ác tự dựa vào vọng
tưởng, dựa vào phiền năo, quả báo, chúng sanh mà
sanh; c̣n mười niệm đây y chỉ tín tâm vô thượng,
nương vào danh hiệu thanh tịnh chân thật vô lượng công đức của
A Di Đà Phật mà sanh.
Ví như có người bị
trúng tên độc đứt gân, găy xương, nếu
nghe âm thanh của cái trống thuốc có tên là Diệt Trừ
th́ mũi tên độc liền
rớt ra, độc liền trừ, há dám bảo rằng
mũi tên ấy ngập sâu, thuốc độc ấy quá mạnh
dù có nghe tiếng trống cũng chẳng thể nhổ
tên, khử độc được hay sao? Đấy gọi
là tại duyên.
3. Ba, thế nào là tại quyết
định? Người ấy lúc tạo tội th́ tự
nương dựa vào cái tâm hữu hậu, tâm hữu gián
mà sanh; c̣n thập niệm đây y chỉ vào tâm vô hậu,
tâm vô gián mà khởi. Đấy gọi là quyết định.
Trí Độ Luận lại bảo:
‘Hết thảy chúng sanh lúc lâm chung bị đao phong cắt
thân h́nh, tử khổ đến bức bách, sanh ḷng hoảng
sợ lớn lao’. V́ vậy, gặp thiện tri thức liền
phát đại dũng mănh, tâm tâm liên tục; mười niệm
chính là thiện căn tăng thượng nên liền
được văng sanh. Lại cũng giống như kẻ
đối địch phá trận, cùng lúc tận dụng hết
sức lực nơi thân ḿnh. Điều lành thập niệm
cũng giống như vậy”.
Lại có kẻ nghĩ lâm chung thập niệm quá dễ
dàng nên toan tính đợi lúc lâm chung mới chuyên tu niệm.
Sách An Lạc Tập đả phá quan điểm ấy
như sau:
“Thập niệm liên tục
tựa hồ chẳng khó, nhưng kẻ phàm phu tâm như
ngựa hoang, thức quá khỉ vượn, rong ruổi sáu
trần chưa từng tạm dừng. Ai nấy phải nên phát ḷng tin, tự hạn
định tu niệm trước để tích tập
thành thói quen cho thiện căn kiên cố như Phật
đă bảo đại vương: ‘Nhân tích thiện hạnh,
tử vô ác niệm. Như thụ tiên khuynh, khuynh tất tùy
dă’ (Người tích hạnh lành, khi chết không có ác niệm.
Như cây trước đấy đă nghiêng về hướng
nào th́ khi đổ sẽ ngă theo phía đó). Một phen
đao phong xảy đến,
trăm nỗi khổ quấy thân, nếu trước
đấy đă chẳng từng quen tu tập th́ [lúc ấy]
niệm làm sao nổi?
Ai nấy nên cùng với
năm ba người cùng chí hướng kết thệ sẵn
để lúc lâm chung thay phiên nhau
đến giảng giải, v́ ta xưng danh hiệu Di Đà,
nguyện sanh cơi An Lạc, tiếng niệm tiếp nối
cho thành mười niệm. Ví như ấn sáp ấn xuống đất bùn, ấn
dẫu hoại nhưng các đường khắc trên ấn
đă in xuống. Lúc mạng này dứt chính là lúc văng sanh An
Lạc quốc. Một khi đă nhập vào Chánh Định
Tụ th́ c̣n lo lắng ǵ. Ai nấy đều nên suy
nghĩ cái lợi lớn này, sao c̣n chưa định sẵn
số hạn để niệm đi”.
Sách Di Đà Yếu Giải cũng nói:
“Nếu lúc b́nh thời chẳng
có công phu bảy ngày th́ làm sao lúc lâm chung đạt
được mười niệm hay một niệm. Vả
lại, kẻ Ngũ Nghịch Thập Ác trong Hạ Hạ
phẩm đều là do túc nghiệp chín muồi nên lúc lâm
chung mới gặp thiện hữu
khai ngộ liền tín nguyện. Điều này trong muôn trường
hợp chưa có được một, há nên cầu may
như thế ư?”.
Do vậy, ta thấy rằng cảnh giới nhất
tâm thật là sâu xa, u huyền. Bởi thế, kinh này đề
cao chuyên niệm. Ngẫu Ích đại sư bảo:
“Đức Phật trong một
câu niệm hiện tiền cũng vốn đă siêu t́nh ly
kiến, sao lại c̣n mất công bàn huyền, luận diệu,
chỉ cốt tin cho chắc, giữ cho bền, cứ thẳng
thét mà niệm. Suốt ngày đêm hoặc là mười vạn tiếng, hoặc năm vạn,
ba vạn làm số nhất định hoặc chẳng
định số làm chuẩn. Trọn cả một đời
này thề chẳng biến đổi. Nếu chẳng
được văng sanh th́ tam thế chư Phật thành ra nói dối hay sao?”
Ngài c̣n viết:
“Muốn đạt đến cảnh giới nhất
tâm bất loạn th́ cũng chẳng có thuật ǵ khác.
Bước đầu tu tập th́ dùng xâu chuỗi để
nhớ số cho rành rẽ nhằm ấn định công
khóa quyết định chẳng
thiếu. Lâu ngày thuần thục chẳng niệm mà tự
niệm. Lúc đấy, nhớ số cũng được,
chẳng nhớ số cũng được!
Nếu là kẻ sơ tâm mà
lại toan nói chỉ ưa học khán thoại đầu, chẳng nên chấp
tướng, muốn học viên dung tự tại, th́
đó chỉ toàn là kẻ tin chẳng sâu, hành chẳng tận
sức vậy”.
Đạo Xước đại sư cũng dạy: “Nếu người mới học
chưa thể phá được tướng th́ cứ
nương vào tướng mà chuyên chí, không ai chẳng
được văng sanh, đừng nghi ngờ ǵ!”. Do vậy,
kinh này chỉ dùng “phát Bồ Đề
tâm, một bề chuyên niệm” làm tông.
Trong đời mạt, kẻ tŕ danh tuy lắm mà
người văng sanh chẳng bao nhiêu nên sách An Lạc Tập
cũng nêu lời vấn đáp như sau:
“Nếu xưng niệm danh
hiệu A Di Đà Phật sẽ trừ được vô minh hắc
ám của mười phương chúng sanh và được
văng sanh th́ sao lại có chúng sanh xưng danh, ức niệm
mà vô minh vẫn c̣n, chẳng
được măn nguyện, nghĩa là làm sao?
Đáp: Do chẳng tu hành đúng
như thật, do chẳng tương ứng với danh
nghĩa. V́ cớ sao thế? V́ chẳng
biết Như Lai là thân Thật Tướng mà lại cho là
thân vật chất. Lại có ba điều chẳng
tương ứng:
- Một là tín tâm chẳng
thuần, lúc c̣n, lúc mất.
- Hai là tín tâm bất nhất,
nghĩa là chẳng quyết định.
- Ba là tín tâm chẳng liên tục, nghĩa
là có các niệm khác xen lẫn vào…
Nếu tâm liên tục th́ là
nhất tâm. Chỉ giữ được nhất tâm th́
đó chính là tâm thuần. Có đủ ba tâm ấy mà lại
chẳng được văng
sanh th́ chẳng bao giờ có lẽ ấy!”
Lời luận này đă chỉ đúng ngay căn bệnh
của hành nhân tu Tịnh nghiệp hiện đời: Niệm
Phật mà chẳng thể đắc quả văng sanh. Đó là
do chẳng biết Như Lai là thân Thật Tướng, nhận
lầm thân Ngài là thân vật chất, chấp trước
vào tướng, lầm lẫn sanh so đo, thiếu khuyết
trí huệ, hiểu sai nghĩa Trung Đạo. Lại c̣n mắc
ba thứ chẳng tương ứng. Ba thứ chẳng
tương ứng đó có thể dùng một câu để
bao quát cả, đó là: Tín tâm chẳng đủ! Tư
lương để văng sanh là Tín, Nguyện, Hạnh, khuyết
một chẳng thể được. Theo sách Yếu Giải:
Nếu
thiếu tín nguyện th́ dẫu tŕ danh như tường
đồng, vách sắt, mưa gió chẳng lọt, cũng
chẳng được văng sanh.
“Trụ Đại Thừa giả” (Kẻ trụ trong Đại Thừa) là
như phẩm Thí Dụ của kinh Pháp Hoa có nói: “Nhược hữu chúng sanh tùng
Phật Thế Tôn văn pháp tín thọ, cần tu tinh tấn,
cầu Nhất Thiết Trí, Phật Trí, Tự Nhiên Trí, Vô
Sư Trí, Như Lai tri kiến, lực, vô sở úy, mẫn
niệm an lạc vô lượng chúng sanh, lợi ích thiên
nhân, độ thoát nhất thiết, thị danh Đại
Thừa” (Nếu có chúng
sanh nghe pháp từ đức Phật Thế Tôn mà tin nhận,
siêng tu tinh tấn, cầu Nhất Thiết Trí, Phật Trí,
Tự Nhiên Trí, Vô Sư Trí, Như Lai tri kiến, lực, vô
sở úy, thương xót, an vui vô lượng chúng sanh, lợi
ích trời, người, độ thoát hết thảy, th́
gọi là Đại Thừa).
Sách Thập Nhị Môn Luận cũng nói: “Ma Ha Diễn (Mahayana) cao hơn Nhị
Thừa nên gọi là Đại Thừa. Chư Phật lớn
nhất mà thừa này đạt đến được
nên gọi là Đại. Chư Phật đại nhân dùng thừa
này nên gọi là Đại. Đại Thừa lại có thể diệt
trừ nỗi khổ lớn của chúng sanh, ban cho sự
đại lợi ích nên gọi là Đại. Lại dùng thừa này có thể
thấu triệt đến tận nguồn cội hết
thảy các pháp nên gọi là Đại”.
Quyển hai mươi tám kinh Đại Bảo Tích có nói: “Chư Phật Như Lai chánh chân
chánh giác sở hành chi đạo, bỉ thừa danh vi Đại
Thừa” (Đạo chánh chân,
chánh giác của chư Phật Như Lai hành, thừa ấy
gọi là Đại Thừa).
“Trụ Đại Thừa
giả” (Kẻ trụ trong Đại Thừa) tức là
người thường trụ trong pháp Đại Thừa
như vừa nói trên. Nên biết rằng kẻ ấy nào phải
là phàm phu hay Tiểu Thừa; tuy kẻ ấy mang nhục
thân nhưng vẫn được gọi là Bồ Tát.
“Thanh tịnh tâm” là tâm vô ngại,
vô cấu, tịnh tín (xem lời giải thích chi tiết
trong phần trước). Kinh Trung A Hàm, quyển bốn
mươi mốt bảo: “Thanh
tịnh tâm tận thoát dâm nộ si, thành tựu ư Tam
Minh” (Tâm thanh tịnh [là
tâm] hoàn toàn hết sạch dâm, nộ, si, thành tựu Tam
Minh). Tâm thanh tịnh như thế công đức khó
nghĩ bàn. V́ vậy, phẩm Thập Phương Phật
Tán có nói: “Năi chí năng phát nhất
niệm tịnh tín… tùy nguyện giai sanh” (Thậm chí có
thể phát được một niệm tịnh tín… tùy
nguyện văng sanh). Dùng tâm thanh tịnh như trên để
quy hướng Vô Lượng Thọ Phật nên bảo: “Dĩ thanh tịnh tâm, hướng
Vô Lượng Thọ Phật” (Dùng tâm thanh tịnh
hướng đến Vô Lượng Thọ Phật).
“Năi
chí thập niệm” (Dẫu chỉ mười niệm):
Chữ “năi chí” (dẫu chỉ)
là so với số nhiều để nói lên số ít như
ta hay nói “tối thiểu”.
Tín, nguyện, tŕ danh quy hướng Tịnh Độ như
trên th́ dẫu chỉ giữ được mười niệm
liên tục cũng quyết định được sanh
về cơi ấy. Mười niệm này gồm cả niệm
lúc b́nh thời lẫn khi lâm chung.
* Ngay trong lúc b́nh thời, mười niệm cũng có
hai thứ:
1. Một là như Thập Niệm do đức Phật
giảng trong kinh Di Lặc Phát Vấn như phần trên
đă dẫn, chẳng xen tạp kiết sử cho đến
Bồ Tát niệm, chẳng phải là phàm phu niệm. C̣n như
kinh này dạy: “Dĩ thanh tịnh
tâm, hướng Vô Lượng Thọ Phật, năi chí thập
niệm” (Dùng tâm thanh tịnh hướng về Vô Lượng
Thọ Phật, dẫu chỉ mười niệm) chính là
nói đến cái tâm đă hết sạch ba độc dâm,
nộ, si, thành tựu trí đức Tam Minh[6].
Dùng cái tâm như thế để tŕ danh hiệu Phật.
Niệm Phật như vậy công đức khó thể
nghĩ nổi. Dùng đây làm nhân th́ khi lâm chung quyết
định được văng sanh, nhưng đấy chỉ
là Thập Niệm của Bồ Tát.
2. Hai là pháp Thập Niệm buổi sáng của ngài Từ
Vân Sám Chủ: Mỗi ngày vào lúc sáng sớm, xúc miệng,
đốt hương, hướng về phía Tây chắp
tay, niệm Phật đủ mười hơi. Trong mỗi
hơi, tận lực niệm Phật hiệu, cứ hết
một hơi là một niệm. Cách này để tiếp dẫn
người bận rộn công chuyện hoặc siêng tu pháp
khác chẳng có nhiều thời gian để tu Tịnh
nghiệp. Trọn đời tu như vậy sẽ
được bổn nguyện, oai thần của đức
Phật gia bị nên cũng được văng sanh.
* Mười niệm trong lúc lâm chung là như Quán kinh dạy,
thầm hợp với Lư nhất tâm nên chắc chắn
được văng sanh.
Nói chung lại, các thứ mười niệm văng sanh
đều là do đại nguyện “mười niệm ắt được văng sanh”
của Di Đà hoằng thệ cảm thành.
“Nhất niệm tịnh
tâm”, “phát nhất niệm tâm” cũng như “nhất niệm tịnh tín” trong đoạn văn trước đều
là “nhất niệm” cả.
Nhất tâm này là bản thể của mười pháp giới,
là tên gọi khác của Chân Thật Tướng, cũng
chính là cái được kinh Na Tiên gọi là “tối vi đệ nhất” (thật là bậc nhất) hay Di
Đà Sớ Sao bảo: “Toàn thể
là Phật”.
“Phát nhất niệm tâm, niệm
ư bỉ Phật” (Phát một niệm tâm, niệm
đức Phật ấy) th́
“quyết sanh bỉ quốc” (quyết
định được sanh về cơi ấy) chính là giáo
nghĩa Nhất Niệm của ngài Hạnh Tây Thị
người Nhật đă đề xướng. Phàm phu nếu
có thể dùng tín tâm tương ứng với Phật trí
trong một niệm th́ sẽ được văng sanh. Hơn nữa, một niệm ấy
toàn thể là Phật, mà cái toàn thể ấy cũng chính là
đức Phật trong một niệm. Do niệm đức
Phật ấy nên trong một niệm liền được
tương ứng. V́ vậy, “định
sanh bỉ quốc, đắc Bất Thoái Chuyển Vô
Thượng Bồ Đề” (quyết định sanh
về cơi kia, được bất thoái chuyển nơi Vô
Thượng Bồ Đề).
“Thử
nhân lâm mạng chung thời, như tại mộng trung” (Người ấy lúc mạng
sắp dứt như trong giấc mộng): Do nhất niệm
văng sanh cũng chia ra ba bậc nên có nhiều phẩm loại.
Do đó, ảnh tượng lúc lâm chung cũng trở thành
sai khác:
1. Đối với bậc Thượng, ư tưởng
sanh tử đă hết, bản thể của phàm hay thánh
đều là không, hiểu rơ Phật chẳng đến,
đi, nhưng thấy Phật hiện đến, hiểu
rơ sanh tử vốn là không mà hóa hiện có văng sanh; bỏ
cơi này sanh về cơi kia đều như huyễn mộng.
V́ vậy bảo là “như trong
giấc mộng”.
2. Bậc Trung hiểu rơ thế gian đều như mộng,
huyễn, bọt nước, h́nh bóng thoáng qua, nên lúc lâm chung
chẳng lưu luyến ǵ, coi hệt như giấc mộng.
3. C̣n người bậc Hạ lúc lâm chung phảng phất
tựa hồ trong mộng được thấy đức
Phật ấy nên cũng được văng sanh (chỉ có
bậc Hạ trong ba bậc của nhất tâm tam bối là
chẳng giống với bậc Hạ văng sanh nói trong phần
Chánh Tông, c̣n hai bậc Thượng và Trung th́ giống. Đấy
là do nhất tâm tam bối là một loại riêng chẳng giống
với thói thường).
Do những điều trên ta thấy rằng phẩm loại
của những người niệm Phật mà đạt
được nhất tâm, được văng sanh thật
khác xa nhau lắm:
* Trên là thánh hiền, dưới đến phàm phu, niệm
Phật đạt đến nhất tâm, thậm chí “năng phát nhất niệm tịnh
tín” (phát được một
niệm tịnh tín) “hoạch
đắc nhất niệm tịnh tín, phát nhất niệm
tâm niệm ư bỉ Phật” (đạt được một niệm tịnh
tâm, phát một niệm tâm niệm đức Phật kia)
th́ đều được văng sanh.
* Thấp nhất là kẻ Ngũ Nghịch, Thập Ác
lúc lâm chung phát nguyện, chí tâm niệm Phật mười
tiếng liên tục, thậm chí chỉ niệm được
một tiếng, do ngầm khế hợp với Lư nhất
tâm nên cũng được văng sanh. Điều này thể hiện
rơ ràng công đức của nhất tâm thật là bậc nhất.
Pháp môn Tŕ Danh của Tịnh Độ vi diệu khó thể
nghĩ nổi: Ngũ Nghịch, Thập Ác lúc lâm chung niệm
Phật c̣n thầm hợp diệu đạo, khế hợp
Lư nhất tâm, liền vượt khỏi sanh tử, chứng
lên Bất Thoái. Rơ ràng là pháp môn Tŕ Danh là phương tiện
rốt ráo chẳng thể nghĩ bàn.
Trong hai loại văng sanh vừa nói trên:
- Một là tam bối văng sanh đều do “phát Bồ Đề tâm, nhất
hướng chuyên niệm”, đây chính là điều
được kinh này đề cao.
- Hai là một niệm tịnh tín, nhất niệm văng
sanh đều do “nhất niệm”.
“Nhất niệm” là Thật
Tướng, đó chính là bản thể của kinh này. Vả
lại, toàn thể của một niệm tịnh tâm là Bồ
Đề tâm, “niệm đức
Phật ấy” chính là chuyên niệm. Như vậy, “nhất
tâm tam bối” cũng chẳng ra ngoài tông chỉ của kinh
này.
Hơn nữa, Quán kinh bảo Ngũ Nghịch, Thập
Ác được văng sanh; kinh này dạy “duy trừ Ngũ Nghịch, phỉ báng chánh pháp” (chỉ trừ kẻ Ngũ Nghịch,
phỉ báng chánh pháp) th́ chẳng được văng sanh.
Trong Quán Kinh Nghĩa Sớ, ngài Gia Tường đă giải
thích vấn nạn ấy như sau:
“Phẩm thứ ba nói về
ba hạng người ác.
Trước hết, bàn về
người tạo Thập Ác, tiếp đó bàn đến
kẻ tạo tội Tứ Trọng, cuối cùng bàn về
kẻ Ngũ Nghịch, chẳng bàn đến hạng Báng
Pháp Xiển Đề (kẻ báng pháp gọi là “xiển-đề”) nên gọi là ‘ác chẳng tận’.
Thập Ác, Tứ Trọng,
Ngũ Nghịch đều được văng sanh Tây
phương. Nếu là kẻ báng pháp xiển-đề th́
chẳng được văng sanh! Xiển-đề chẳng tin pháp, khi lâm chung dẫu
nói có đức Vô Lượng Thọ Phật th́ vẫn
hoàn toàn chẳng tin nên chẳng được văng sanh”.
Sách An Lạc Tập đă bàn về vấn đề
này rất tường tận. Phần trên đă dẫn nên
ở đây tôi không nhắc lại.
Riêng tác phẩm Tứ Thiếp Sớ có quan điểm
khác hẳn. Ngài Thiện Đạo viết: “Như trong bốn mươi tám nguyện lại loại
trừ kẻ báng pháp, Ngũ Nghịch… Đức Như Lai sợ
chúng sanh tạo hai tội lỗi ấy nên phương tiện
nói ngăn ngừa là chẳng được văng sanh, chứ
chẳng phải là không tiếp độ… Nếu trót tạo
tội (rồi sám hối, phát nguyện, tŕ danh hiệu
Phật) th́ lại được
văng sanh”.
Hai bản sớ tuy giải thích khác nhau, nhưng thật
sự chẳng mâu thuẫn nhau. Ngài Gia Tường bảo
kẻ xiển-đề báng pháp chẳng thể khởi
ḷng tin nên chẳng được văng sanh. Ngài Thiện Đạo
bảo tuy họ là kẻ báng pháp Ngũ Nghịch, nhưng
lúc lâm chung, nghe pháp có thể sanh ḷng tin, sám hối, hồi
tâm, chí tâm tin ưa, nguyện sanh cơi kia, dẫu chỉ
mười niệm, th́ Phật rủ ḷng đại từ,
nên cũng được tiếp độ văng sanh Cực
Lạc. Do xiển-đề cũng có khả năng thành
Phật nên lúc lâm chung nếu họ sanh chánh tín th́ chẳng
c̣n là xiển-đề nữa. V́ thế, đức Phật
rủ ḷng Từ tiếp dẫn.
Nhưng kẻ xiển-đề lúc lâm chung sanh
được ḷng tin th́ thật là một điều khó
nhất trong những điều khó. Kẻ lâm chung mười
niệm văng sanh như Quán kinh dạy đă là trong vạn vạn
người mới có được một người.
C̣n nếu như Tứ Thiếp Sớ bảo kẻ báng
pháp Ngũ Nghịch lâm chung chí tâm tin ưa niệm Phật
văng sanh th́ trong ức ức người mới có
được một người.
Kinh Pháp Cổ lại bảo: “Nhược nhân lâm chung bất năng tác niệm,
đản tri bỉ phương hữu Phật, tác văng
sanh ư, diệc đắc văng sanh” (Nếu ai lúc lâm chung chẳng thể niệm nổi,
chỉ biết là phương kia có Phật liền khởi
ư văng sanh th́ cũng được văng sanh). Như Lai từ đức vi
diệu khó nghĩ bàn! V́ thế, sách An Lạc Tập bảo:
“Phải biết rằng
Như Lai có phương tiện thù thắng, nhiếp thủ
hộ tŕ tín tâm, chính là: Dùng việc chuyên nhớ tưởng
Phật làm nhân duyên để tùy nguyện văng sanh”.
Sách c̣n khen ngợi: “Nếu
nghe đức hiệu của A Di Đà Phật mà hoan hỷ,
khen ngợi, ngưỡng mộ, tâm quy y dẫu chỉ
trong một niệm, liền được đại lợi,
đầy đủ báu công đức. Giả sử lửa
dậy khắp cơi Đại Thiên cũng phải xông thẳng vào nghe danh hiệu Phật.
Nghe danh A Di Đà Phật th́ chẳng thoái chuyển. V́ vậy
hăy nên chí tâm dập đầu lễ”.
[1] Tứ cú là bốn câu “có, không, cũng có
cũng không, chẳng phải có chẳng phải không”.
[2] Phúng (諷) : đọc tụng
với giọng ngân nga. Xưa kia, người ta thường
phân biệt phúng là đọc dựa theo văn bản, c̣n
tụng (誦) là đọc thuộc
ḷng.
[3] Nếu nh́n theo mặt
Sự, Tha Phật tức là A Di Đà Phật ở Tây
Phương Cực Lạc thế giới, chứ không phải
là đức Phật thiên chân sẵn có trong tự tánh của
ta (Tự Phật).
[4]
Tất-đàn: nói đủ là Tứ
Tất-đàn (Siddhānta), tức là bốn phương diện
Phật dùng để hóa độ chúng sanh, gồm:
1. Thế
giới tất-đàn (tùy thuận pháp thế gian mà nói
nghĩa nhân duyên ḥa hợp để thuyết minh chân lư
duyên khởi);
2. Nhân tất-đàn
(tùy theo căn cơ và năng lực của từng chúng
sanh mà nói pháp xuất thế khiến họ sanh khởi thiện
căn);
3. Đối
trị tất-đàn (tùy bệnh cho pháp dược để
đối trị phiền năo);
4. Đệ nhất nghĩa tất-đàn (trực
tiếp dùng Đệ Nhất Nghĩa để sáng tỏ lư
Thật Tướng của các pháp).
[5] Do hai đoạn kinh văn này có ư
nghĩa bổ sung, soi sáng lẫn nhau, giống như kẻ
xướng, người họa nên cụ Hoàng Niệm Tổ
dùng chữ “tiền hô hậu ứng”.
[6]
Theo A Tỳ Đạt Ma Tập Dị
Môn Túc Luận, Tam Minh c̣n gọi là Vô Học Tam Minh, gồm:
1. Vô Học Văng Tùy Niệm Trí Tác Chứng
Minh: Đúng như thật nhớ biết chuyện trong nhiều
đời, nhiều kiếp trước. Nói cách khác,
đây chính là Túc Mạng Minh.
2. Vô Học Tử Sanh Trí Tác Chứng
Minh: Thiên nhăn siêu việt trời người thấy rơ các
hữu t́nh chết, sống, xấu, tốt, hèn kém, cao quư,
đường lành, đường ác v.v... Đây chính là
Thiên Nhăn Minh.
3.
Vô Học Lậu Tận Trí Tác Chứng Minh: Đúng như
biết rơ Tứ Thánh Đế, tâm được giải
thoát khỏi mọi hữu lậu v.v... Đây chính là Lậu
Tận Minh.